CHÉN QUỲNH

VÕ CÔNG LIÊM

ANH EM-NGUYEN SON

Tranh Nguyên Sơn

phố nghiêng con dốc
tưởng em xa hút cơn mê trần thế ngụy
về đây nghe cỏ mật cháy sinh tồn liễu vọng
phiếm cung thương ngàn trùng mây đưng đợi
hy vọng thơm ngát tiếng vọng trầm kha
đột phá giữa đêm đen nguyệt động rơi chao ải
tư tưởng trào dâng ngại sắc chi
mây đục khí tàn tích cố đế âm thụ hưởng
sông mỏi mòn chảy tiết điệu phôi pha
hứng chịu cơn thử thách qụi xuống lưng gù cỏ dại mọc hoang mang
mùa đảnh lễ niệm nam mô hương cung dưỡng cầu triều thiên ngộ ứng
em mắt ngọc phì nhiêu con suối chảy
theo dung nhan một thời yêu vô cớ cổ sơ đầu núi quái
cười phiến diện chao nghiêng hồn lãng tử đoái hoài nghi
nâng chén quỳnh ẻo lả thổi mây trôi ngừng đập
dưới vừng nhật nguyệt lắng sâu miền tư nghị
uống một chung cho đời thêm hoang phế lạ chiêu anh!

xin đừng ngại
hồn chao đảo đợi em từ ngõ phố
gió chạnh lòng viên giả ngoại quá giang đường ô thước
mạch ngầm ngã mạn thuyền xưa chớp đôi mắt phượng
chiết cung thương đem về dâng tế độ
lục hường một quẻ
nằm phế thải trong tư liệu hoang mang bạc mái đình cổ kính tàn suy
phiến đời treo võng tưởng cửa băng trình
tiếng mõ khua cấp báo gà nhảy rào tung hô vạn vạn tuế lên ngôi
đêm gieo mình qúa sá cở ngại chi mô
quỳnh hương một đóa đọa ngọa sân trường nhục bồ đoàn em có biết
chiêu anh! hỡi chiêu anh
lẽ gì em phải khép chén quỳnh thi?
xin đừng sợ
thảng thốt đêm đen chiếu rọi ánh đèn tục lụy đỏ hoen môi sầu dị nghị
đổ về tôi
xa ngát nghìn trùng: “may mà có em đời còn dể thương”
ta núc cạn chén quỳnh làm sứ giả lênh đênh đếm trời đêm sâu hoáy
con chim ngứa cổ hát nghêu ngao…xin đừng khóc một mình
chờ ./.


VÕ CÔNG LIÊM (ca.ab. yyc .tháng chạp âm . jan/2011)
.

CẢM NHẬN VỚI HƯ VÔ

VÕ CÔNG LIÊM

cropped-bienrong.jpg

tôi đuổi đam mê vào bóng tối
để được trở về
lòng đất chờ đợi
đêm không ngủ của dĩ vãng đau thương
cho ngày mai khoảng trống vô cùng
ghì kéo những đốm lửa
không sắc
không màu
không ảnh
với hư vô

sông vẫn chảy cho biển ngậm ngùi
và . núi đứng đợi trên mảnh đời còn lại ./.

VÕ CÔNG LIÊM (chestermere. ab.ca. tết mậutý 2008)
Rút từ tập: ‘Thơ võcôngliêm.Thi tuyển 2000/2008’ (4/2008)

TUYẾT THU

VÕ CÔNG LIÊM

nhớ Huế xưa.
nắng trốn sau lùm cây
cho lá vàng chết yểu
rơi
theo
mưa
rơi
thu năm ni nhớ thu năm nớ
hồi đó trên sân thượng phố lầu nhà cũ
có giàn hoa lý tím màu buông nhánh đổ
em . mỉm nụ nhiệm mầu
cho tóc thả gió bay
để lại hoài niệm cũ
thành phố âm u buồn
đêm le lói ngọn đèn
lệ là dòng nước chảy
bên bờ quạnh hiu . tôi
tuyết phủ khăn sô lên hàng cây ngoài ngõ
trong tôi lạnh cúm đôi vai gầy
và . cỏ vàng úp mặt dưới lòng sâu
tuyết thu
lung linh bóng nguyệt
gió thu
sò sè hơi thở
bên bếp lửa quê nhà
trong căn nhà của mẹ
tôi . nghe như ai ngoài đó
ngong ngóng một tàn thu
trong hình hài tuổi nhỏ

tuyết thu
em . lặng đứng bên trời thiên thu ./.

VÕ CÔNG LIÊM (ca.ab.yyc . cuối 10/2022)

 

NỖI BUỒN HẠNH PHÚC

VÕ CÔNG LIÊM

1hoaem

tặng: linh lan ppl
có lẽ một ngày
nào đó
bờ môi em lãng quên
theo ngày tháng nhìn thâu đêm trên vũng hoang
lại nghe trở về
mùa xuân đến chậm hơn bao giờ
chiều nằm nghiêng nghe gió thổi từ xa rỗng tuếch
gắng nắm lấy nhữngg dự tưởng mong manh
vòng ngực đuổi theo nhịp thở sặc mùi bóng tối
‘em cho anh mùa xuân’*
khi thời gian trôi đi qúa mau hơn nửa thế kỷ qua
ươm đầy hạt lệ
nỗi buồn hạnh phúc
em để lại sau lần cửa khép
những chùm hôn khiêu gợi gió
hay chỉ là mộng ảo giăng đầy trí nhớ
hình như tình yêu là con tàu không bến đậu
con dế mèn đứng đợi suốt đêm thâu
và . nghe những tiếng thì thầm
có phải không anh ?
tôi . kể em nghe những chuyện tình thần thánh
khi tôi bị trói chặt trong phòng hơi ngạt
hạnh phúc tìm thấy ở cuối đường hầm dày hắc ín
là chứng tích cuộc tình cháy dở hôm qua
ôi vòng tay bao la ôm chặt con chó ốm
không ngu ngơ không đoái hoài không thương mong
phải chi chúng mình là đôi chim di trốn tuyết
mỗi khuôn mặt ẩn giấu một điều gì không nói
mà chính em đang gặm mòn những tan nát nhiều khi
con đường trải đầy cô đơn chật hẹp
trong khoảnh khắc hân hoan xúc cảm
gọi tôi về cho rộng cánh đường bay
những vết xước vào đời còn tím bầm trên thân xác
trong căn phòng sặc mùi ẩm mốc tình yêu
và núc cạn nỗi buồn còn lại lên bờ ngực khép
cho say mềm em trên nỗi ưu tư còn lại
tình yêu tôi tợ như nước tràn bờ lai láng chảy

the end
tôi liệm tôi vào hòm thư
email
những gì còn lại bên đời quạnh hiu ./.

VÕ CÔNG LIÊM (ca.ab.yyc . cuối tháng 8/2022)
*thơ: Kim Tuấn / nhạc: Nguyễn Hiền

BIỂN SẮC

VÕ CÔNG LIÊM

anhseduaemve

ta về tắm nắng trời đô thị
một khúc tiêu tương ngỡ như là
trăng nước đời xưa
xanh mắt ngọc
gió lướt bên đường vén áo em
tha phương . hề . tha phương
trong xanh trong nắng trắng trong em
nắng xanh trời trắng nắng trong tôi
bước đi mà nhớ trăng phương ấy
nhớ mãi tình tôi lạc lối về
chợt nghe như thấy tình như đã
phôi pha . hề . phôi pha
hóa ra tiền thân chưa trọn kiếp
để làm hạt bụi với trần gian
bay qua đất lạ tình chi lạ
hồn viá quay cuồng giữa bãi không
viễn xứ . hề . viễn xứ
thấm thoát mà nay đã tới rồi
một thời lãng đảng một trời mây
xua tan quá khứ trời vô dự
một biển sắc không một vừng nhật nguyệt
cả đời thua thiệt
trọn gói hư hao
chảy theo dòng đời
mộng
tan
theo
xa phương trời nghe đời lên vọng cổ
ngó lại mình vốn liếng chỉ si mê
gió phất phơ xoắn vó người vô ngạ
động hoang vu cười suốt giữa miên trường . khổ thay
đá dầm mình nằm nghe đất thở nỗi sầu ơi . một chặn
vong thân . hề . vong thân
thất thểu vào đời vỗ cánh vô ưu
mưa triền miên từng khúc dạ lý buồn
về ngủ khoẻ cho mình quên mệt mỏi
ngát cánh gió làm tình em trắng trợn giữa hoang đường
cho miên man như mưa rơi từng cọng cuốn lá xanh cành
sầu mây em nhạc khúc thuở ban đầu . yêu dấu đó
dưới trời giông ta đứng ngóng vô hình . chung
con thuyền
lơ lững
đọt nước
ướt tóc
em
nhớ vạn đò năm xưa nằm quyến rũ vỗ bình bịch
lọn sóng ngang đầu cho ngát hương trầm một cõi xa đưa
này người ơi
cho ta về tắm gội thuở nằm nôi
chỉ
một
lần
rồi
thôi ./.
VÕ CÔNG LIÊM (vn.hue festival 5/2016)

THƠ VÕ CÔNG LIÊM

mua-1
TRỞ MÙA

chạm phải bờ môi
em . trải dài nỗi nhớ
xé từng mảng thời gian
vừa đụng tới trên tay
mắt môi là cảm xúc đồng tình
nhớ xưa hò hẹn là con sông tắt nghẽn
buồn tan trên môi
tóc nhuộm màu nhung nhớ
thơm mùi rạ khô
tôi . ở đó giữa bộn bề hư thực
vị giác đòi hỏi một cái gì
trong em biển dậy thì
màu trắng xa lạ trong mắt
trở mùa
em và tôi nếm thử một lần
ở đời
hư thực vẫn qua tay
tôi . như ngọn phi lao phóng vào vũng tối
em . như con nước nắng mưa chưa gặp gỡ
hình như trời đã sang mùa chiều qua trên dốc đá
nơi chúng mình đã hẹn nhưng chưa bao giờ gặp.

MƯA

tên gọi
em là mưa
chảy dài theo ngày tháng
nỗi nhớ đến bất ngờ
điệu buồn sóng sánh trên vai
cỏ linh hồn vuốt ve từng sợi nhớ
cho nắng lọt qua mắt môi khờ dại
mái ngói thơm nâu xếp thời gian ngang dọc
lên màu đất hoàng thổ với ký ức thuở nào
sợi khói vô tình cuốn vào em
một chủ nhật buồn
xô ước mơ về miền quá khứ
tôi . neo ảo giác trong mắt em
mưa tràn môi hôm ấy
gió thổi lùa tóc mây
con đường quen hơi thở
trên từng cọng nhớ
nắng tẻ chiều nay
giữa hôn mê thời gian
mưa qua cầu cong đuôi mắt
chân mềm gõ phiến dương cầm
đêm sụt sùi nhan sắc
đêm lén lút vụng dại
đêm đồng lõa tắt đèn
những chiều mưa cô độc rừng núi
chim bay về tổ ướt cánh mây ngàn
tôi . cổ tích nắng đục mưa trong
em . thần thoại trước tròn sau méo
màu mắt đã ráng chiều
màu thời gian bạc phếch.

GỢI NHỚ

tôi . đọc lời nhắn trên phôn
mà nhớ ngày xưa
vòng tay xiết chặt
lên thân thể nóng rang mùa hạ
em . úp mặt lên ngực tôi dịu dàng
đôi vú căng đầy chạm mạnh vào tôi
những nụ hôn ùa vào ngập tiếng không lời
mắt em khép hờ mường tượng ngày đến hẹn
đọt nắng luồng vào em rất dữ dội bắn vào tôi
để thấy em nguyên vẹn hình hài trong mắt nhớ
những giọt nước mắt khô lăn dài trên má phấn
em kéo chăn đắp lên người tôi cho giấc ngủ say tròn
để không thấy em nhìn em khỏa thân trong gương soi
bằng những kín đáo không cần thiết cho thêm thiết tha
nhoài mình ra nắm tay em trong hơi thở phập phồng
để được nếm những gì còn sót lại trên châu thổ bao la
đêm nuốt chửng vị mặn ở đầu môi không biên giới
cho lần tha phương mơ ngày về để thấy dáng em
nằm trong nỗi nhớ muộn màng của kị sĩ không đầu

em ở đó
đợi anh tới
để không thấy em lần nữa
bên kia sóng xô bờ cát chảy
tôi đến hẹn
kể em nghe
một chuyện tình thần thánh*
chưa từng có trong cuộc đời này ./.

VÕ CÔNG LIÊM (ca.ab.yyc . đầu tháng 7/2022)

*Dựa ý ca khúc : ‘ghost story’ Carrie Underwood hát..

BIÊN GỌI

VÕ CÔNG LIÊM

chieu21     

xin một chút tình còn lại

của tháng ngày qua

em . cơn khát mùa hạ nở

là chiếc đèn lóe sáng trong đêm

mặt biển toé lửa

tôi . choáng váng nỗi buồn vô hạn

những bọt biển lấp đầy trí nhớ

biển gọi

một lần trong đời dưới chân đầy bụi bám

cho nên bờ môi em như đọt nắng giữa ban trưa

dính mưa bay vào tôi dù cho biển động lỡ thì

và trong em lớp sóng phiêu bồng ảo vọng

biển xua tan những mộng mị hoang đường

để được trở về trong chân thật của tình yêu

biển gọi

tên em một sáng chờ mưa

để sóng xô bờ môi em thêm ẩm ướt

cho hình hài lộng gió trắng trời trong

tóc xanh từ buổi trăng rằm

tóc bay mái đẩy tóc bàng bạc rơi

nhớ không ? lần đầu trên biển vắng

em tắm nắng ngất ngư gió chướng

kỉ niệm chói lòa

hoa trắng mọc đầy trên biển vắng

mới hay chúng mình bay trong mộng ảo

và biển rộng lượng dan tay đón chào

cho hư hao ngút ngàn xa bờ bãi

biển gọi

sóng dụ dỗ làm tình

và tôi hửng hờ bước chậm vào đêm

gió mang tiếng cười quái gở

để thấy trăng về dã dượi tình tôi

thôi ! cho nụ hôn ở lại

những con sóng kéo nhau vào bờ

biển không thắc mắc còn lại dấu chân còng

ôm gió giữa chốn lưu đày bóng tịch dương

cơn lốc xoáy cho biển hốt hoảng . em

đôi chân khép lại

để gió luồng vào

khe hở cuộc đời . tôi

đón nắng một ngày biển gọi thầm tên.

 

VÕ CÔNG LIÊM (ca.ab.yyc . giữa tháng 6/2022)

 

 

Thơ Võ Công Liêm

mua-1

 

NHỚ (II)
thì ra hôm đó
gặp em trên đường phố
em . mặc áo màu hay áo hoa ?
cho ta nhớ
như bây giờ lần nữa
bài thơ em viết tặng tôi
nghe như tiếng vọng từ tâm độ nào

VỀ GIỮA NGỌ
ngủ quên giữa chốn hoang đường
em như lộng ngọc ta đoài đoạn ta.

NẮNG VÀNG
em trốn nắng vào sáng ngày này
không thể giấu mình qua từng nhịp thở
làm sao biết được ngày mai trời không nắng
dù nắng có về hay không xin một lần cho đở nhớ
hãy chạm khẽ trên từng bước đi của ngày xưa đó
lẫn vào nhau trong sáng mai không một bóng hình
thừa thải để đêm giật lùi trí nhớ hoang mang
tôi . cất mùa xuân vào con tàu làm bằng hộp cá
hình như nắng pha màu cho nhạt màu sương ?
giữa ngàn hoa thơm nồng cơn gió lạ
trong nắng hạ em thêu thùa bóng mát
cho mắt hoang đường ghi lại dấu ngày xưa
nắng đùa cợt lên mắt môi em một thuở nào
những ngón tay lạnh ngắt . đêm thừa thãi vô cùng
tình yêu đột nhiên biến mất vào vũng sâu thung lũng
hãy cho tôi một điều trong trí nhớ lặng câm
giữa núi đồi nghe như hơi thở dậy
nắng vàng hoe
nắng so le
hãy dụ trăng vào huyền thoại ái tình cho thêm mật đắng
tháng nắng đọng trên môi màu hồng hoang tiền sử
thời gian chặt đứt trong em tợ như hoa vừa chớm nở
sóng sánh đôi hàng mi còn đọng lại trên mắt môi
thuở đó ngọt nước phù sa trăng nhìn nguyệt ướt
mái âm dương xô giễu cợt về lún phún rêu xanh
nhớ một huế xưa bốn bề hư thực
nắng nghiêng vai khung thành đại nội
lấp lánh mắt xanh nở nụ nhiệm mầu
tôi . nghĩ đến lan huệ hồng đào quyện vàng ký ức
em . mênh mông trời áo tím qua cầu
với con đường quen hơi thở mùa đông.

DẤU XƯA
tặng: joe nguyễn .x. h.
người da đỏ chỉ tay vào cột totem
không còn ai ngoài chim ưng
đứng đó
để thấy
người ta ném chữ vào mặt quan tòa
khai báo một vụ án bằng lưỡi dao cạo
trong lúc
nhận ra
người đàn bà sanh phải hội chứng ‘đao’
chẳng hiểu
ai là
người có tội được đến nhà thờ xoa dầu thêm sức
biết mình còn man rợ một ngày bóng nắng tràn môi
còn nhớ
hay quên
có ai gọi giữa dòng sông một ngày nắng chết
từ khi sanh ra không chứng từ khai sinh khai tử
người lính ngủ quên trên họng súng trường
thuộc điạ pháp ngang nhiên đi tàu bay giấy
căn nhà cỏ . đống rơm . ký ức đầy môi tuổi trẻ
họ nhốn nháo dịch bò điên tràn lan thế giới
tôi . xin nụ hôn ân huệ trước khi kêu án
không còn ai ngoài chim ưng
người da đỏ ôm tay vuốt khói ngày mái tóc còn dài
thì ra
mình tôi
ngày đặc quánh hiện tại quá khứ không tương lai
một ngày bàng hoàng nỗi nhớ trong tôi
ly rượu nhạt màu huyết dụ trên bàn cơm buổi tối
hình như bầy chim sẻ ngong ngóng chờ một cái gì
ngoài đó có những cọng rau thơm hái vội chiều nay
đến sáng mai thì ngập nắng phù du
trong toa tàu điện người mù ngủ quên ga đậu
đánh thức linh hồn mặc khải của tôi ơi
không còn ai ngoài chim ưng
tôi . đứng dưới mưa nghe đời đi qua vội
trên băng tầng không số nhớ tiếng hát trên sân cỏ
đêm sài gòn khô như củi mục vắng bóng thời gian
sắc không
mình tôi
ngồi dưới chân cầu chữ Y mà nhớ dấu xưa ./.

VÕ CÔNG LIÊM (ca.ab.yyc . cuối tháng 5/2022)

     LIÊN HOA KINH / SADDHARMAPUNDARÌKA SÙTRA / LOTUS SÙTRA / ĐẠI THỪA KINH / MAHÀYÀNA SÙTRA / GREAT VEHICLE SÙTRA / Và BỒ TÁT / BODHISATTVA

Gallery

This gallery contains 2 photos.

Võ Công Liêm              Là lòng đại từ, đại bi, lòng xót thương của Phật (Buddha compassion). Một tình yêu dâng hiến sâu xa và hết lòng. Một tình yêu tôi luyện được ghi nhận trong Liên … Tiếp tục đọc

THÁNG NẮNG (II) – MÙA CHÍN

VÕ CÔNG LIÊM

vcl dam mee001

TRANH VÕCÔNGLIÊM:‘Đam mê /Passionate’

THÁNG NẮNG (II)

tặng: lang

ghé lại em

một ngày nắng hạ

tóc em dài

thả gió theo mây

rót mời em

ly rượu nồng khổ hạnh

em vô lượng

xua tan từ muôn kiếp

xin thắp nhặt những gì còn lại

để mai về trong nắng trắng trong

tháng nắng mùa sen chưa kịp nở

bóng thời gian loang lỗ đoạn trường

ngắt từng nhịp thở một thời đó đây

màu âm thanh bùng lên ngọn lửa

ngày xé rách trí nhớ hoang vu

và . len vào tim rất đơn côi

bên hiên mòn quạnh quẽ

tháng nắng

vàng hoe từng cọng nhỏ

nơi mùa hạ đi qua

một lần

những ngọn gió trĩu mệt

trên đôi chân mang nỗi buồn trái tim

tôi . ngược ngạo ngôn từ trong đáy mắt

em . gom từng điệu ru buồn tênh ngày hẹn

những giọt hiếm hoi rơi về quá khứ

phương nam ơi !

chiều trên bến quên nguồn

nước lợ tung tăng bầy cá đuối

xin ngất tạnh

lá xanh non mùa nhớ

với cơn gió trái chiều

nắng lõa thể trên tay

ôm từng hơi thở

ngọt trong bóng chiều hoang dại

lạc mất dáng cười trên từng lối đi quen

để mưa cứ hoài nỗi buồn ngất dai . em

nắng vã vào tôi những nụ cười nhếch mép

em ở đó với hình hài quen thuộc đi qua

một lần gặp nhau rồi chia xa

ký úc buồn tênh sóng sánh chao nghiêng

có thể . không nắng không mưa mà lặng thinh

để nghe hương lửa dậy trong lòng . đêm đọng lại.

 

MÙA CHÍN

 

em nhớ cho

khi tôi đưa em vào mộng ảo cỏ linh hồn phiêu du tuyệt đối

lên bờ vai bình sứ gặm đầy hoa cúc huệ hồng lan cánh gián

tôi . lãng đãng trên bầu trời màu xanh ươm không nồng lắm

chưa một lần thắm thía cơn mê đến muộn sau này khi nắng tràn

và hái những nụ tầm xuân ướp vào mắt môi em thuở mới nhú

để trôi đi vĩnh viễn bên bờ hạnh phúc không có thực như đã yêu

em . giấu trong mắt nhiều cách nhìn về tôi trong một thoáng nắng

chập chùng nỗi buồn chất đống vắt vẻo qua từng thớ thịt trong tôi

những gì không thuộc ranh giới đúng sai tôi đứng lặng theo bóng

đêm ngập tràn như lời thao thức vụng dại cho hôn mê lấn lát

bôi xóa những rạn nứt . kí ức mưa là nỗi buồn đông đặc theo sau

dạo quanh phố để tìm cái gì đã mất mà thật không có gì để tìm

ngoài mùa chin đang chờ những ngón tay dài như lệ sa ngất lạnh

tôi gạt bỏ những quá khứ vụng dại . chấp chới bay đi với đôi cánh

gãy một lần . một lần ứa máu để lại một vết sẹo dài trong tim

nhịp thao thức xô tôi vào miền lặng cùng em tan vào chiều vỡ tiếng

tôi . không còn biết bắt đầu từ đâu khi đụng phải viền môi em

mùa chin hái vội những gì còn lại trong thành phố mùa đông

đêm thành phố không có em phố lạnh ngắt như trời băng giá

cháy trong mắt tôi ngày xưa trên vũng tối âm u đầy sao vỡ

những mộng mơ nằm lặng im như xác chết ở nhà thương thí

chờ tan vào bụi . trên tay tôi chùm trái chín ngoảnh nhìn bờ bụi

những ngôn từ yêu em là vu vơ khó hiểu . những cọng cỏ biết nói

chảy dài trên đường gân tay tôi khô cằn nỗi nhớ dù mỏi mệt chồn chân

dù đã tan hoang theo gió trải chiều . dù đường chim bay mãi còn xa

em nhớ cho

một linh hồn yếu đuối trên dặm trường tùng lộ đầy gai góc tóe máu

tôi . tin em trở về nguyên vẹn hình hài trong trí nhớ của sáng mai nào

một mùa đông chết yểu và nỗi nhớ vây quanh trong kim tự tháp

của mộ chôn đóng hộp nghìn năm . tôi còn nhớ tiếng hát em ngày nào

trong vũng tối âm u tuyệt vọng ngọn gió ngoài khơi thổi khô bụi bám

trong vườn đầy cỏ hoa yêu dấu để em đốt những giấc mơ xưa cũ

là ngày em không còn nghĩ gì về tôi trên ngọn gió lao xao thổi tới

có thể một ngày em muốn đi trên con đường lạ lẫm . một lần rồi thôi

có thể một ngày em chả hiểu nổi về tôi mang mùa hoang dại đi đâu ?

em . để bàn tay lạnh nguội thả tuổi mình bay vào nơi không hẹn đến

của chiếc lá khô cong mình trước gió đột ngột trong tiếng mưa hối hả

tôi . cắt dán những mảnh vụn nhét đầy vào túi xách cho kịp lên đường

trên vai tôi còn thiếu một quá khứ sỗ sàng bỏ lại trong căn nhà xưa đó

đã một lần sống lại để được yêu . tình yêu chân thật giữa mùa trăng

huyền hoặc của dòng sông mãi mãi ra đi không về nguồn mà để nhớ . tôi

hình dung từ một hiện tại quá khứ tương lai để được ôm em trong tay

giữa giờ hấp hối cho cỏ linh hồn phiêu du tuyệt đối trong tôi và em ./.

 

VÕ CÔNG LIÊM (ca.ab.yyc . chủ nhật 1/ 5/2022)

 

THÁNG TƯ TRỜI TUYẾT – CHIỀU (II) – TÀN

VÕ CÔNG LIÊM

image002

TRANH VẼ VÕ CÔNG LIÊM: ‘1943-Mùi Dê’

CHIỀU (II)

bóng ngã cô thôn
buồn nghe đông nhớ
tây đoài đoạn rơi
chiều về
siết chặt
vòng tay
lệ tuôn dòng chảy
hai hàng bóng tôi
chiều
hoàng hôn nghiêng vai trời quá khứ
núc cạn chén sầu một kiếp phong ba
nhớ xưa trên tầng tháp cổ
mưa lệ âm thầm mưa lệ rơi
cổ xe ngày đó bay theo gió
mưa khóc đời tôi mưa khóc mình tôi
nhớ xưa
những cụm hoa chẻ gió trong tay nhớ
chẳng để lại chi chẳng buồn chi
trời quá khứ đổ xô vào hiện tại
nhìn lá vàng bay nhớ đất xưa
ta . lặng lẽ giữa trời cô tịch
bóng chiều dương đứng ngóng mặt trời quay
trong vô cùng hồn nghe như tuyệt vọng
nuốt lệ một lần nuốt lệ ngàn sau
lặng nhìn bóng ngã một đời bên nhau

chiều
lang thang
nhớ
hoang mang
bạc trắng lửa hồng một thuở xa đưa
giờ đây nghìn dặm xa cách đó
một tiếng muôn trùng
vọng cố nhân.

TÀN
đời một kiếp phù du
trắng tay
trắng cả
một trời hư vô.

THÁNG TƯ TRỜI TUYẾT
sáng rùng mình đứng dậy
nếu tháng tư chưa kịp nắng
chắc khó gặp nhau giữa mùa trăng lên khơi
tuyết còn giáng xuống nụ cười nhếch mép
lao xao vườn cây nghe lá úa bay về
tuyết phủ đầy ô cửa kính
thở mù hơi sương bạc phếch kinh kỳ
em . óng mượt giấc chiêm bao hôm đó
tôi . lén nghe lời ai gọi một sáng trời
đánh thức những hôn mê ngày cũ
những hàng cây chóng mặt đứng chờ
bạt ngàn một mùa trăng biệt xứ
bờ trăng nghiêng vai
cho tóc thả gió
đầu ngón tay gõ nhịp lác tách đau uốn ván
một ngày chất đống những âm thanh
hòa trong chén trà đậm mùi nước cạn
lạnh ngắt lên vai phù phiếm một thời
đôi vú em cho tôi mường tượng ươm mầm
và . mãi mãi em cười theo nắng một sớm mai
những ca khúc đâm thủng tim tôi ngọt lịm
để tôi không còn nghe thấy những tàn tích năm cũ
buổi sáng thở dốc qua từng cơn giẫy giụa
đôi mắt nhòe ướt đụng phải gió tháng tư
chạm phải điều gì trong khúc dạo đầu số. 2 Beethoven
bềnh bồng như lá mùa thu trong nỗi nhớ
liếm đầu lưỡi dao mà nhớ sự thật thuần chất
trong hơi thở rã mục buồn tênh ngày hạn gió
thổi tưng bừng trên vai gầy guộc nhớ của năm nào
còn nhỏ giọt bao dòng sông quên nguồn nước về xuôi
cứ ngỡ rằng có thật là cơn gió nhiều ngày dồn lại đó
mường tượng em len vào tôi giữa khe hở yêu thương
gió không về để thổi khô bụi bám trong vườn xanh lá
cho tan hoang những chiều mưa em ngồi khóc một mình
là mặc sức tha hồ mộng mị đuối thời gian hụp nắng trong
đọt tuyết mong manh lỏa thể trắng ngần một sáng ướt nhẹp
tôi . chới với tiếng mèo con dập dềnh nắng . gió . tuyết . mưa
một ngày xưa xa lắc xa lơ buồn trĩu mệt
mưa mốc meo theo ngày tháng hửng hờ
tôi dìu em về một trời mưa khác của tím huế tôi ơi
con đường lạnh tanh nỗi niềm hất hủi một thời trong tôi
đêm đọng tiếng còi dưới thềm ga nhỏ . tôi gọi tên em
xô tôi vào miền lặng thinh trong nhịp thao thức nhớ ppl
gạt phức những mộng mị hoang tàn ngày đó yêu em
cháy trong mắt đầy ảo giác hôm qua . hôm nay . ngày mai
nước mắt khô lõm sâu kỷ niệm như tan vào bụi mờ
tôi . ôm những bong bóng bay vào trời thầm lặng

đêm qua
tháng tư trời bão tuyết
xé nát những con đường
giựt mình
tưởng mùa đông trở lại
vùi dập mấy dòng sông
trên tay
mềm yêu dấu . tôi
gọi tên em cho đở nhớ ./.

VÕ CÔNG LIÊM (ca.ab.yyc . 19/4/2022)

 

Thơ Võ Công Liêm

bienmoon

CON ĐƯỜNG

đại lộ thoát y

dài đôi cánh mỏi

thân trầy trưột da

phơi trần nhân thế

xưa đã đi qua

trên con đường mòn

cánh đồng cỏ dại

rẽ một đường ngôi

bên lồi bên lõm

quạnh hiu tôi

giữa trời bảng lảng

một bóng cô thôn

cả đời lặn lội

xé nát tim tôi

úp mặt khóc cười

tôi . lặng lẽ đi

nhớ xưa bụi hồng bay trắng tay

sinh ra lớn lên cùng cây cỏ

tiếng nhẹ hôm nào nay tiếng ơi

em . vi lô thả tóc theo gió

cánh diều sà xuống vùng đất nhỏ

cho sông dài theo dấu chân chim

con đường khai sinh từ dạo đó

tên em và tên tôi

không sắc huyền nặng hỏi ngã

không có chi mô răng rứa đó tề

con đường

chạy dài về ngõ chợ

đợi nắng

leo thang hái trái bồng

con đường

mặt áo màu da tái

ổ gà ổ chuột một vài nơi

con đường cũ một cảnh hai quê

nhớ mà thương cả đời lận đận

con đường bước mòn đôi guốc mộc

cho tới hoàng hôn nhạt nắng phai

và . em từ đó hông đôi má

sợ gió mưa chiều bạc môi son

 

con đường

đổi họ thay tên

tôi và em thường quen đi lại

đại lộ huy hoàng hay bóng tịch dương?

 

TỨ TUYỆT

gãy một khúc đàn

ôm từng sợi nhớ

đi theo nắng chiều

trong lòng đất đục

giữa chốn phong ba.

 

QUÁN VẮNG

một mình ngoài hiên vắng

con chim sẽ đến gần

bên tách cà phê đen

lặng lẽ nhìn . bay xa

đưa tay vói lấy trời vô tận

một thuở yêu người mộng tàn phai.

ĐỢI GIÓ

tặng: nguyễn thị khánh minh.

em nhắn tin chiều nay ở góc đường x.

qua đèn xanh đỏ em ngồi dưới tàng cây mùa đông

tôi . đến giữa trời nhá nhem một nhục thể què quặt

không còn nhớ ngày tháng hôm nay ở nơi đâu

một phương trời xa lạ hay phố vắng không đèn

hình như em ở đó trong bóng tối nhập nhòa . đêm

tôi gọi tên em khi tàu chuyển bánh để lại tiếng còi

ở cuối trời hư vô . qua lời nhắn tin em ngồi đợi gió

giữa rừng lửa cháy theo khói mây bay một ngày rất lạ.

VÕ CÔNG LIÊM (ca.ab.yyc . đầu tháng 4/2022)

 

 

 

 

XE TĂNG VÀ BẦY QUẠ ĐEN

VÕ CÔNG LIÊM

xe tank

nhớ xưa
giữa thành phố budapest
hungary khóc rũ rượi
dưới lớp sóng phế hưng
mạc tư khoa
xích xe tăng tràn ngập
sóng xô bờ danube blue
hãy để cho tim đập
như tiếng súng đại liên
những loài thú hoang
đôi mắt giả chết
giữa thành phố ‘kiếp’*
một thuở yêu nhau
xe tăng và bầy quạ đen
hãy đi ngủ đi giữa ban ngày
áo lụa xanh vàng phất phới bay
trên cáng đồng cỏ hoa yêu dấu
nhớ không ?
thiên an môn ngày đó
đánh sập mũi xe tăng
u-k-rain tôi ơi !
người anh hùng dân tộc
em . không khóc những gì sụp đổ
mà khóc một đời bạc trắng như vôi
tôi . yêu tiếng nước tôi
từ khi mới ra đời**
những rạn nứt hồi đó
nối tiếp muôn đời nhau
trả lại tôi ngày xưa thân ái
con đường mưa lá me rơi
phố chợ thân quen
con sông bến nước
đại lộ thênh thang
lúa ngô thơm ngát
u-k-rain không chết !
người tình tôi không chết
u-k-raniên không khóc lẻ loi
yêu nước người như yêu nước tôi
em và tôi trên bước đường dã chiến ./.

VÕ CÔNG LIÊM (ca.ab.yyc . đầu tháng 3/2022)

* Kiếp/ Kyiv – Thủ đô U-k-ra-niên/Ukraine . Dân số hơn 44 triệu.
** Nhạc từ của Phạm Duy
.

NGƯỜI EM MẮT NÂU

VÕ CÔNG LIÊM

10DL

gởi: pplang.
bóng chiều ngồi bên nhau
trong vũ trụ bao la
là tinh tú tuổi trẻ
như ảo ảnh
như sao rơi
vệt sáng mộc tinh băng qua tôi và em
tôi . ngọn gió chận đường ngang bướng
em . con sông dài lấp đầy phù sa trắng
và . mưa róc rách trên luống đất hoang
tiếng khóc khô rơi chậm
bên hiên vắng một mình
đêm trộm hết hình hài
đến từ cõi vô cùng
rượu rót mãi không say
trắng mắt nghìn thu vẫn đợi chờ
núi sông không hạn hữu
đầu đội tuyết trắng bay
có bao giờ em hỏi
tình ta có phôi pha ?
nếm chút tình còn lại
người em mắt nâu
tóc vàng sợi nhỏ*
mùa xuân đi qua
tặng tôi vị mặn
tặng em xanh lá
đất nứt nở khóc thầm
gió bẻ từng cành nhánh
mưa xô đời ẩm đục
rụng xuống bờ hoang vu
ngọn tình buồn đưa tiễn
trong mắt biếc thôi miên
lượm lặt tiếng cười xa vắng đó
cho âm vang đứng lại giữa muôn trùng
chuộc lỗi thời gian phiêu lãng một thời
những tháng ngày mưa khóc hoài không ngớt
đến bây giờ nghìn trùng xa cách một mỏi mòn

kỷ niệm tan theo
biến vào hư vô
tôi . gọi tên em như trối chết
em . trong cánh cửa khép hửng hờ

vòng tay mường tượng nhớ
mắt môi angkor wat
angkor thom một trời nhân thế
trong người em mắt nâu . tôi ./.

VÕ CÔNG LIÊM (ab.ca.yyc . rằm tháng giêng âm /2022)

* dựa ý thơ của Cung Trầm Tưởng..

CHO TÔI

VÕ CÔNG LIÊM

chim bay

cho tôi
là cụm khói bay vào trời vô tận
cho tôi
là đá một đời lặng tiếng nghe kinh
cho tôi
là cây cỏ hoang vu để phiêu du cùng năm tháng
cho tôi
về ấp mộng ủ bốn mùa tình tự với quê hương sông nước
chẳng mang sang . chẳng đoái hoài . một đời vô lự không tha oán
để nghe âm vọng từ chuông đổ . để thấy mình ta không đơn côi
thái cổ trầm hương về cuối buổi . một mình trong bóng bóng quan san
xin em
thắp nhặt đời ta nhé . giữa chốn lưu đày tưởng như mơ
xin tôi
làm thân tế độ cõi ta bà . một thời thất đảo với thất kinh
hóa kiếp tôi một con dê xồm bất lực đứng ngóng đời không mấy xe đưa
vói tay muôn dặm xa cách mãi đợi đến bây giờ hoa đã tàn phai trong mắt em
đưa ta về biển mặn với trùng khơi thì hồn tôi xin phản phất chốn trăng sao*
sông có đợi chờ hay núi vẫn thờ ơ một dòng nước chảy một tình ta trôi
cho tôi
về với gió
cho tôi
làm sương rung
cho tôi
mây mưa bay
là mộng vô cùng trong thi thể một thời phóng đãng với nương dâu
ôi nhân gian ! có nghe chăng tình là thế một nước non đoài vạn cổ sầu
thì ra thấy mình vô vị quá bỏ cuộc chơi chung giữa hí trường :
nào văn nào họa nào thi tứ bốn bể là không vẫn như không . tôi
lấy chi mà trang trải nợ tang bồng hồ thỉ dưới ánh thiều quang một cảo thơm
thôi lui về căn nhà cỏ nhặt lá vàng khô mà an ủi phận mình số kiếp lao đao

tôi

một đời bại hoại

em

vời vợi trăng soi ./.

VÕ CÔNG LIÊM (ca.ab.yyc. tiết mạnh thu . nhật thực 23/10/2014)
*dựa ý thơ Quách Thoại.

NGUYÊN THỦY CỦA TÌNH YÊU

VÕ CÔNG LIÊM

cropped-heart-2.jpg

cho tôi về

nguyên thủy của tình yêu

là trăng sao bóng nước

hồn thu thảo

dưới từng nhánh sông dài

trôi đời tôi như rong trôi

về biển

để nghe sóng vỗ

một thân phận mòn

những đốm lửa quạnh hiu

hớp gió chướng

xoáy vào đời

những dị ứng

rêu mốc tôi

bánh xe lăn

một trời nhân thế đó

kiếp phù du . vũng tối đợi chờ

nước mắt khô chảy hoài không bến đậu

sương gió đời ta muôn dặm lữ chốn trầm kha

mưa đăm chiêu rớt hột nơi quan hà

lá bỏ rừng xưa vào quên lãng tình tôi

rồi cũng theo mây về cội của thuở nào hay

tôi . mất đi một mùa thu vàng nắng trắng bay

với hình hài khô quánh dưới lòng sâu

còn nhớ không những mùa trăng huyền hoặc?

trên cánh đồng tuổi nhỏ mọc thơ ngây

mùa đông chở những ngọn khói về trong nhớ

và . sơn dương tôi đứng ngóng trời vô lự

ngoài thung lũng nơi mặt trời không có thực

ôi ! thiên thu sao người xanh màu lá

cho tôi về trong nỗi nhớ tha hương

 

xin nhập cuộc một lần

để

không còn

là vì sao lạc giữa muôn phương ./.

 

VÕ CÔNG LIÊM (ca.ab.yyc 1/7/2015)

TRĂNG TRÁNG LỆ

VÕ CÔNG LIÊM

trang2

đến rồi đi
là những lúc rời xa thành phố
nụ hôn ở lại
giữa trời
con sông khát vọng
một thời đó đây
khi năm tháng đi qua
run run bờ môi ầm ừ chưa nói
ngẫu hứng dưới hiên nhà
mùa đông bỏ tôi một mình
gặm nỗi buồn dưới trăng
lời yêu rụng xuống
trăng hoàng hôn thấp thoáng
thời gian liệu có nắm bắt được
một thời thất nghiệp tình nhân bốn mùa
đếm từng giọt nước mắt buông thả
để trở về nhật ký những tháng ngày qua
em . cát bụi mờ nhân ảnh
tôi . đón gió giữa mùa trăng
trên môi hồng một thoáng
hỏi trăng mấy độ thu sang
khép bờ ngực thở giữa mùa trăng tráng lệ
lời yêu hiền như cỏ tháng giêng
là lúc tôi đánh cắp tất cả của em
giấc ngủ theo về dưới bóng trăng
ám ảnh cuộc đời phù du tuyệt vọng
buổi sáng buồn khóc như buồn nôn
và . ra đi như bình minh lạ
tợ hồ một giấc chiêm bao
bất chợt thành quen giữa mùa trăng tráng lệ
lời trăng chảy từng dòng trên sông vắng lạnh

chẳng còn gì ngoài tiếng động hư không
chẳng còn gì ngoài cánh tay đã mỏi
còn lại màu trăng huyền hoặc
trên mắt môi đầy sao mọc.

CÀ PHÊ STARBUCKS
sáng lom khom trên con đường cũ
những ngày cận tết tuyết rơi đầy
trong cơn lạnh hấp hối
lây lất mùa đông
xuân ngoài đó
vẩy tay chào
xuân vụt bay
thiếu nữ bước vào
mang mang màu nhớ
áo mùa xuân theo sau
màu thời gian không phai ?
trong tách cà phê
đen huyền không phải là đen
ngọt đường không phải là đường
tôi . một mình nghe đời đi qua vội ./.

VÕ CÔNG LIÊM (ca.ab.yyc ..rằm tháng chạp âm 1/2022)

XUÂN ĐI XUÂN ĐẾN

    VÕ CÔNG LIÊM            

tet 2022                                        

                                                                     XUÂN LẠI ĐẾN

   Dựa ý bài thơ của thiền sư Mãn Giác (1052-1096) làm tựa cho luận đề mùa xuân năm nay. Một bài thơ mang tính thời gian và không gian vô cùng, vô tận một chuyển hóa trường tồn đọng lại trong bài thơ tứ tuyệt với âm điệu ngũ ngôn và thất ngôn lồng vào nhau như đan kết cuộc nhân sinh; đọc lại giữa lúc xuân về như lời tri ân bậc thiền thơ với phẩm vua phong Nhập nội Đạo tràng Tử y đại sa môn:

                                                                     ‘Xuân khứ bách hoa lạc

                                                                       Xuân đáo bách hoa khai

                                                                        Sự trục nhãn tiền quá

                                                                       Lão tòng đầu thượng lai

                                                                     Mạc vị xuân tàn hoa lạc tận

                                                                    Đình tiền tạc dạ nhất chi mai’

Dịch:

                                                                    ‘Xuân ruổi trăm hoa rụng

                                                                       Xuân tới trăm hoa cười

                                                                        Trước mắt, việc đi mãi

                                                                          Trên đầu, già đến rồi

                                                                 Đừng tưởng xuân tàn hoa rụng hết

                                                                Đêm qua sân trước một nhành mai’

                                                                    (Ngô Tất Tố chuyển sang Việt ngữ)

Thiền sư không làm nhiều thơ nhưng bài nào cũng là tuyệt thế, nhất là bài kệ ‘Cáo tật thị chúng’ của Mãn Giác là để đời. Khởi từ chỗ đó thi ca thật sự hiện thân qua những vần thơ của những nhà thơ đời trước và đời sau là chứng tích của lịch sử thi ca mùa xuân. Ngợi ca thiên nhiên như một sự hòa nhập vào hồn thơ bằng một cảm xúc hòa điệu cùng vạn vật để thấy tiết xuân là quan trọng hơn những mùa khác và được nhắc nhở cũng như lập lại những gì đặc thù của mùa xuân là lẽ sống trường sinh mà ai cũng mong đợi. Cuộc đời là thế; cái cũ thì tàn lụi, cái mới thì trổi dậy. Xưa nay đều vậy; thôi thì mặc cái gì đến sẽ đến, sống biết bao lâu nữa để ngừng chơi, bởi; nó mang tầm vóc quan trọng của đời người. Hồn và xác du nhập vào thiên nhiên qua nhiều cách chơi xuân: chơi chữ, xin chữ là sắc xuân, hoa lá cành là hương xuân và thi ca là hồn xuân. Dựa vào phong vị đó để ‘hái lộc tâm hồn’ qua vần điệu của thơ để có một chút hứng xuân. Không biết bao nhiêu thú ăn chơi của mùa xuân; đôi khi trong cái mới đầu năm người ta dựa vào thi ca như niềm tin hay như mộng huyễn, như bào ảnh để rồi tức cảnh thành thơ. Xưa nay thi nhân thường đối cảnh sinh tình, trạng huống đó thoát thai từ tâm thức để có ý và lời thơ qua diễn trình của bốn mùa. Đó là lý do mà chúng ta tìm thấy cái chân như của con người đứng trước thiên nhiên. Lời thơ tuy khác nhau nhưng ý thơ lại tương phùng, tương hợp mà đôi khi cùng một chí lớn để diễn tả cái bao la, vi diệu thâm sâu trong đó, tuy nhiên; nơi thơ có cái phi lý mà hợp lý; cái sự đó gọi là thơ. Thí dụ: ‘Hoa đào năm ngoái còn cười gió đông’(Nguyễn Du); thuận tai nhưng nghịch lý giữa hoa đào năm ngoái tàn rồi thì làm sao cười với gió đông năm nay, nhưng; đây là một gợi nhớ của thi nhân, của ‘ý tại ngôn ngoại’. Thành ra đọc thơ, ngâm thơ, diễn thơ của mùa xuân là một thẩm quan sâu lắng giữa nhà thơ và hồn thơ trong cùng một trạng huống, nó chứa một chất liệu khác nhau nhưng đồng thể với nhau. Ở đây chúng ta đơn cử một số thơ cổ điển và hậu cổ điển, một số thơ hiện đại và hậu hiện đại, cùng một cảm thức qua hồn thi sĩ để lại mỗi khi xuân về. Đặc biệt năm mươi năm mùa xuân đi qua là một gợi nhớ xuân Mậu Thân (1968) và xuân Mậu Tuất (2018) hai mùa của Khỉ và Chó là hai mùa xuân hòa nhập vào vũ trụ thi ca và vũ trụ con người, những gì mang nặng tâm tư bi thảm cuộc đời. Giờ chỉ còn tiếng nói thi ca.

Trong lý lẽ cuộc đời sự gì trôi chảy không thể vượt được thời gian mà thời gian là ‘bóng thiều quang’; chính thời gian lôi cuốn cuộc đời trôi chảy, thi nhân biết điều đó, bởi; thời gian là yếu tố của sinh và diệt là chứng cớ của thi nhân cho một đoái hoài, coi thiên nhiên và mùa xuân là điều mới lạ và cũng là động lực làm cho đời sống thi vị hơn dù dưới cảnh quang nào. Ngay cả những kẻ có tài chỉ đến một lần phi thường và có khi đến với sáo mòn, rỗng tuếch. Vì thời gian mà xuất thần tuyệt đỉnh và là gì đi nữa đều xẩy ra trong cùng một cảm thức / Every genius is at once extraordinary and banal’ (A. Camus). Đấy là hiện hữu sống thực nơi con người. Do đó; thi ca không đặc hiện hữu vào thơ mà nói lên biến cố, sự kiện tất thảy là hình ảnh bi thảm của cuộc đời đang sống. Thơ xuân hầu hết là hoài niệm để nhớ về.

Thi nhân đời trước: Ức Trai Nguyễn Trãi (1380-1442). Trong tác phẩm ‘Ức Trai Thi Tập’ gồm có 105 bài thơ chữ Hán và ‘Quốc Âm Thi Tập’ bằng chữ Nôm. Nguyễn Trãi làm rất nhiều thơ xuân, mô tả một mùa xuân phong phú và thi vị là biểu tượng cho cái đẹp thiên nhiên mà Người đã sống từ thuở ấu thời cho tới khi lâm chung, chất chứa một nỗi niềm sâu lắng, bàng bạc trong thơ Hán Nôm. Thơ Nôm của tiên sinh ngập tràn sức sống mãnh liệt mang hơi thở của tình yêu. Xuân trong thơ Hán mang một tâm tư sâu lắng, tượng hình, đôi khi bình dị đơn sơ cảnh quê nhưng lại nói lên cái tráng lệ trong đó. Đọc bài thơ tả cảnh quê của Nguyễn Trãi ‘Trại Đầu Xuân Độ’ (Bến đò xuân đầu trại) để thấy ở đó một hiện sinh:

                                                                     Độ đầu xuân thảo lục như yên,

                                                                 Xuân vũ thiêm lai thủy phách thiên.

                                                              Dã kính hoang lương hành khác thiểu,

                                                                     Cô châu trấn nhật các sa miên.

Dịch:

                                                                      Bến xuân khói cỏ xanh lơi

                                                             Lại thêm nước vỗ lưng trời mưa xuân

                                                                     Đường quê người ít vắng tanh

                                                                Suốt ngày bãi cát thuyền nằm lẻ loi.

                                                                                     (Ngô Tất Tố chuyển dịch Việt ngữ)

Nguyễn trãi làm bài thơ này của những tháng năm ở Côn Sơn; đưa vào thơ cả một không gian và thời gian với những nét đặc trưng của thủy thái họa, một thể thơ siêu hình mà thực chất, bởi; thi nhân xử dụng một thứ ngữ ngôn ảm đạm của mùa xuân qua chữ thơ ‘mưa xuân’ và ‘nước vỗ trời’ là hai thứ thường có trong những ngày xuân mà chỉ có Nguyễn Trãi diễn tả nét đặc thù đó trong thơ. Nhưng đặc biệt trong thơ của Nguyễn Trãi phải tìm hiểu ở thơ chữ Hán ông xử dụng mùa thu là mùa chỉ đạo, ngược lại trong thơ chữ Nôm mùa xuân tràn ngập hoa lá cành, nhiều sắc màu. Quả vậy; cảm hứng dành cho mùa xuân hơn cả : ‘Đông phong từ hẹn tin xuân đến / Đầm ấm hoa nào chẳng tốt tươi’ (QATT).

Chưa hết; nguồn thơ xuân của bậc tài hoa thi tứ Nguyễn Trãi đã trải lòng bằng một cảm thức đa dạng để nói lên xuân. Nhà thơ đời trước vốn có hồn lãng mạn thi ca, lãng mạn ở chỗ ‘đối cảnh sinh tình’ hay ‘ý tại ngôn ngoại’ mà phải biến hóa thần thông (thơ), bởi; trước mắt của quê hương xưa là sinh động, đơn sơ và tráng lệ trong ‘con chữ’, đưa ngữ ngôn thơ vào thiên nhiên một cách minh-mị để thơ nhập hóa siêu thoát của mùa xuân qua bài thơ thất ngôn, bát cú Xuân Nhật Hữu Cảm (Ngày Xuân Cảm Tác) :

                                                                       Vũ dục bì mai nhuận tế chi

                                                                      Bế môn ngột ngột tọa thư si

                                                                     Bán phần xuân sắc nhàn sai quá

                                                                         Ngũ thập suy ông dĩ tự tri

                                                                    Cố quốc tâm trì phi điểu quyện

                                                                         Ân ba hải khoát túng lân trì

                                                                     Sinh bình đởm khí luân khuân tại

                                                                     Túy đảo đông phong phú nhất thi

Nghĩa:

(Mưa xuân rắc nhẹ trên những nhành mai như thử làm cho cánh tơ thêm tốt tươi. Người mê thơ cửa đóng then cài ngồi ngất ngưởng trong thư phòng. Mùa xuân thấm thoát đã trôi qua nửa vời. Tuổi năm mươi người đối cảnh không khỏi cảm thấy suy yếu (lòng).Tâm tư dấy lên; ước ao như chim tung cánh mỏi bay về quê cũ. Ơn vua như biển cả mênh mông đành hoản để cho kình ngư uốn lội tự do. Nghĩ lại mình khí phách ngang tàng vẫn còn đó. Thôi ! hãy say nghiêng ngả trước gió đông và ngâm một bài thơ để giải sầu).

Dịch:

                                                                       Lâm râm mưa bụi gột hoa mai

                                                              Khép chặt phòng thơ ngất ngưởng ngồi

                                                                       Già nửa phần xuân cam bỏ uổng

                                                                         Tới năm chục tuổi biết suy rồi

                                                                       Mơ màng nước cũ chim bay mỏi

                                                                       Khơi thẳm nguồn ơn, cá khó bơi

                                                                        Đởm khí ngày nào rầy vẫn đó

                                                                     Đè nghiêng ngọn gió đọc thơ chơi.

                                                                                       (Ngô Tất Tố chuyển sang Việt ngữ)

Quả vậy; nhà thơ là một con người nghệ sĩ tài hoa mới có những vần điệu thoát tục. Xưa có nói ‘văn dĩ tải đạo’ còn ‘ca dĩ đàm tình’ nghĩa là thi ca có thể bày tỏ tình cảm, một thứ tình nhân bản. Hai câu thơ cuối tác giả chơi chữ một cách tài tình siêu việt ngữ ngôn thơ. Hai chữ đó của bậc trí tài ‘Đởm khí’ và ‘Túy đảo’ xử dụng thiệt là hiếm có giữa đời này; một lối diễn tả tinh tế và thâm hậu.Người theo Tây học cho rằng chơi-chữ chỉ có Victor Hugo; rất cạn lọc con chữ và Sainte-Beuve người đẻ-chữ siêu thần, nhưng; trên lãnh vực thi ca xử dụng con-chữ và chữ-thơ của Nguyễn Trãi mới đạt tới chân như thi ca, không ai hơn.Ngần ấy cũng đủ thấy thi nhân với hoài niệm trước thiên nhiên và tình người là tuyệt cú !

Nguyễn Trãi còn nhiều bài thơ xuân khác cũng là thể thơ trác tuyệt. So sánh giữa Nguyễn Trãi và Đổ Phủ cũng bằng giọng thơ đó; dù có cao có thấp qua bài ‘Xuân dạ hỷ vũ’ (Đêm xuân mừng cơn mưa):

‘Tùy phong tiềm nhập dạ / Nhuận vật tế vô thanh’ (Mưa xuân theo gió vào đêm / Thấm tươi muôn vật êm đềm vô thanh) (ĐP) với hai câu cuối: ‘Sinh Bình đởm khí luân khuân tại / Túy đảo đông phong phú nhất thi’ (Đởm khí ngày nào rầy vẫn đó / Đè nghiêng ngọn gió đọc thơ chơi) (NT). Hai nhà thơ đều chứa một thứ triết lý nhân sinh. Một đằng nói lên cái nhẹ nhàng không mê mà tỉnh, không buồn mà vui cho một cái gì không sắc, không màu của vô thanh. Một đằng phản ảnh niềm kiêu hãnh, một khí phách ngang tàng bàng bạc cho những khi rỗi. Hai nhà thơ cùng một giác quan bén nhạy qua cảm thức thi ca.

Xuân đi, xuân đến với mọi nơi, mọi người từ già, trẻ nít, thành thị tới nông thôn với những sắc tố đặc biệt của xuân: cảnh đẹp có hương hoa quả phẩm, thời điểm thích hợp giữa người và vật, tâm trí bình thường và an vui hưởng thụ để hòa nhập vào tiết xuân. Lạ thay! nữ sĩ Hồ Xuân Hương nhìn xuân dưới một lăng kính khác; không vui xuân mà buồn xuân. Tại sao ? Bởi thời gian đã bào mòn ‘nhan sắc’ của con người là nỗi lòng trái ngang giữa đời và người. Đó là thảm trạng bi đát của những con người thất tình, thất chí; huống hồ nữ sĩ Xuân Hương là mặc khách văn nhân thời làm sao mà không đau khổ trước những đối tượng hữu thể, là vì; thời gian làm cho cuộc đời tan biến qua những biến thiên trong đời (sau khi thi nhân đi sứ Trung Quốc về giữa họ Nguyễn và họ Hồ là hố thẳm) cả đôi bên chỉ nhìn thời gian như cái chết để nhìn tất cả là cát bụi và trở lại trong cuộc chơi khác ‘tout va sous terre et rentre dans le jeu’, sự đó chính là mất mát trong từng giây phút: ‘Hởi ai ơi! Chơi lấy kẻo hoài / Chữ rằng Xuân bất tái lai’ (Nguyễn Công Trứ). Là nguyên cớ sinh ra bất mãn, chán chường không còn thấy thời gian hiện hữu của mùa xuân mà trở nên thời gian biến dịch, một thứ không lạm bàn hay coi đây là thứ thời gian ‘bất khả tư nghị / no comment’. Xuân của nữ sĩ giờ là ‘mơ xuân’ không còn là hiện hữu thực thể mà nó nằm trong dạng vô-tri-tính của hữu-thể-tính; đó là cảm thức của con người đứng trước đau khổ và tuyệt vọng. Vì vậy; Hồ Xuân Hương dấn thân là đối diện trước một phản kháng thời gian và con người để có những vần thơ bất mãn, ngang tàng, không còn là giới hạn của hiện hữu, thành thử; chuyển vần ngoại tại và ý thức hiện hữu đều trong qui trình của thời gian trôi chảy; để lại những gì bi đát cuộc đời và hoài niệm cho những cuộc tình đi qua, có lẽ; mối tình của Tố Như là nỗi sầu bi ai, da diết, với Tổng Cóc hay Chiêu Hổ, rồi làm lẽ Phủ Vĩnh Tường, rồi nhập cuộc chơi ở Cổ Nguyệt đường là những chặn đường dấn thân, cam go và sầu bi của một xã hội đầy ước lệ…Ta hãy nghe đôi điều tâm sự của nữ sĩ qua bài thơ thất ngôn bát cú, một bài thơ Nôm nổi tiếng trong tập Xuân Hương thi vịnh; tựa bài thơ: ‘Hữu Cảm’.

                                                         Thảm hại chiều xuân chẳng nể nhau

                                                                 Yêu hoa chi để với hoa sầu

                                                       Nửa sân phong nguyệt chưa chồi ngọc

                                                             Một bức thư tình lặng hạt châu

                                                           Hồn bướm năm canh bầu bạn Thỏ

                                                             Cầu Ô muôn kiếp vợ chồng Ngâu

                                                           Tương tư biết thuở nào khuây khỏa

                                                          Giọt nước duềnh Tương đã đến đâu.

Toàn thể của bài thơ có một đối lập (contrast) giữa tiết xuân mà hoa xuân chưa nở rộ, ý nói cuộc tình nghịch cảnh khó mà tương hợp với Tố Như tiên sinh. Hai câu đầu của bài thơ ‘phá’ và ‘thừa’ là một phản ảnh, là thương tích của nữ thi nhân cho một mùa xuân mất tình yêu. Có vậy mới sanh ra chữ ‘duềnh’ là dè bỉu khinh thường; chữ đó mới gọi là tuyệt chiêu thi tứ. Qua mấy thế kỷ tình ý đó không thể phai nhạt với thời gian. Tài của người thi nhân là: ‘Nhất phiến tài tình thiên cổ lụy’ (ND). ‘Hữu Cảm’ là nghĩ ngược, trái với đời thường gọi là ‘nghinh tân tống cựu’, nhưng; Hồ nữ sĩ chơi cái chưa ai chơi; đúng nghĩa chơi-xuân bằng câu nói: ‘cảm cựu tống tân xuân’. Đấy là tâm trạng người tài hoa, phận bạc chỉ ôm dĩ vãng để thương tiếc mỗi khi xuân về; đón xuân là ngồi lại để nghe mưa khóc. Cho nên chi thơ Hồ Xuân Hương sống đúng nghĩa của nhà thơ, bởi; trong đó cái điều mà cổ nhân thường nói: ‘đại phàm vật bất đắc kỳ bình tắc minh’ (vật bất bình thì phát ra thành tiếng) Thi ca trở nên siêu thực là ở chỗ đó.

Thi nhân đời sau: Đã sản sinh vô số thi nhân, khởi từ đầu tk. Hai mươi cho tới về sau, và; ở mỗi thi sĩ lại có cái nhìn cách riêng cho mùa xuân dưới nhiều thể loại khác nhau hoặc phá cách. Nhan sắc thi ca không còn thuộc thời gian cổ điển mà phi thời gian của hiện đại, một lối phá thể là chối bỏ vĩnh viễn cái tàn tích cố cựu, vượt biên để tìm thấy tự do của ngữ ngôn thi ca, tìm thấy cái phi lý và hữu lý mà biến mơ thành thực đó là hiện hữu tại thế để mà quên xưa ‘dream in order to forget’(S. Freud). Tất cả trong đam mê mà ra, đam mê ở đây là vượt thoát cho một bản ngã chủ quan của những lý do phi lý có từ xã hội, tôn giáo, luật tắc sự đó gọi là siêu nhạy bén (superego) nó thuộc về tâm sinh lý giữa người làm thơ và đối tượng hiện thể để cấu thành sắc dục thi ca (sensuous poetry). Thi ca giờ đây trở nên hiện tượng vượt ra khỏi hiện thể của lý trí (over-mind). Cảm xúc của thi nhân đời sau có những chuyển dịch bất ngờ thuộc tư tưởng để thành thơ, một phần thuộc tạng thể tâm lý mà người làm thơ buộc phải hòa nhập để mơ về như ước thệ nguyện giữa lúc giao thoa với bốn mùa, với thiên nhiên là những gì tiếp cận trực tiếp. Con người mùa cũ không thể nhận được gì; mà tất cả là dưới nỗi buồn biệt xứ khi xuân về ‘sous les tristesses moissonnées’. Cho nên chi cất tiếng có nghĩa là tiếng gọi; gọi bằng tiếng huyền hoặc của thơ ca, bởi; nó sinh ra khát vọng: của nhung nhớ, của thương yêu, của đoái hoài là hoài niệm của xuân về.

Trong số thi nhân gần đây kẻ đi người ở như bài thơ ‘Xuân Ý’ của Hồ Dzếnh. Bài thơ thi sĩ viết đã lâu qua thể thất ngôn:

                                                           …

                                                           Sắc biếc giao nhau, cành bắt cành,

                                                          Nước trong, hồ ngợp thủy tinh xanh,

                                                             Chim bay cánh chĩu trong xuân ý,

                                                               Em đợi chờ ai, khuất bức mành?

                                                            …

Trong mỗi đoạn thơ Hồ Dzếnh đã chơi chữ bằng ngữ ngôn siêu thoát thơ: ‘Cho chẩy lan thành một suối hương’ Sao lại ‘chẩy’ mà không chầy, không chảy, không dẫy. Không! đó là vi diệu ngữ ngôn của thi ca cho một hiện thể siêu thoát của ngôn từ, không ẩn dụ mà nó trở thành bí truyền của thi ca. Ở câu hai: ‘Chim bay cánh chĩu trong xuân ý’. Không nên lý giải ngữ ngôn thơ mà hiểu đó là ngôn ngữ của thi ca.

Nguyễn Bính thực tế hơn, mượt mà, dung dị như thơ ngây. Nhưng chữ nghĩa có tính siêu hình lịch sử:

                                                               Hôm nay còn xuân mai còn xuân

                                                                   Phơi phới mưa sa nhớ cố nhân

                                                                      Đã có yêu nhau là đến thế

                                                           Đừng về Chiêm quốc nhé Huyền Trân.

Đây là những bài thơ tượng trưng chớ thực ra thi nhân Nguyễn Bính cũng như những nhà thơ khác có vô số tình-thơ: thơ cho bốn mùa, thơ tình người và đời là những bài thơ tuyệt xuất không thể bình giải một cách thông thường mà làm mất đi cái thi vị thơ; chỉ một vài bài của những nhà thơ đời trước và đời sau đã cảm hóa được sự thế của trần gian.Từng con chữ, từng phân đoạn, từng chấm phết là ý tình của thi ca.

Giữa hiện đại và hậu hiện đại đi vào tiết xuân chúng ta bắt gặp một số thi nhân cận đại nói về xuân trong một ý tứ khép kín, nhưng; phải tìm thấy trong chất thơ của họ với hàm ý trong cái ‘ý tại ngôn ngoại’. Xuân về trong trí hơn là xuân có thực qua bài thơ lục bát của Cung Trầm Tưởng. Bài thơ: ‘Quá Độ’

                                                                 Hoa xuân nồng, trái xuân ngon

                                                          Mùa xuân công chúa hương còn ở đây

                                                                     Em đi hài biếc chân mây

                                                             Sao tua diêm dúa đong đầy mắt nâu

                                                                  Da mơn tóc mượt chưa sầu

                                                               Gió tung lên trái tú cầu của vua.

Chất liệu thơ nói tới xuân như một chuyển hướng giữa xuân cũ và xuân mới, tiềm ẩn trong một ngữ ngôn của bóng và hình như nghi vấn tuổi đời thực hay mơ. Quả vậy; khi ở cái tuổi chín muồi và tuổi trẻ thanh xuân là nghịch lý tư duy, bởi; xưa là mộng lãng mạn của Paris và nay là thực của đoái hoài cho một thứ nghệ thuật thi ca hơn là nghệ thuật trừu tượng một thứ hóa chất của thơ. Thi sĩ biết điều này; xuân là cảm thức, tết là hoài niệm chớ nó không phải thứ để sờ mó được; nhưng ‘nắm bắt’ được sự chuyển vần của vũ trụ giữa muôn màu của tiết đầu cho một năm, mới sanh ra Nguyên Đán: ‘xuân từ trong ấy mới ban ra / xuân chẳng riêng ai khắp mọi nhà’. Xuân và Tết nó cũng có phẩm trật của nó mới gọi là mùa xuân thiêng liêng (!). Nhưng lời thơ già giặn và tràn đầy kinh nghiệm của người làm thơ hôm qua và hôm nay. Bắt nguồn từ 1968 (Mậu Thân) cho tới ngày ‘bỏ chạy’(4/1975) là thời điểm dấn thân trước cuộc đời của thi nhân và từ đó dàn trải qua nhiều bài thơ khác nhau; nhưng tựu chung hướng về quê cũ đã mất để hóa thân lưu đày…Sáng giá qua thi khúc ‘Ai Tư Vãn’ và ‘Bài ca Níu quan tài’ được liệt loại thi ca bất hủ.Một trong những nỗi lòng của thi sĩ Cung Trầm Tưởng đã viết thành nhạc-thơ trong đó.

Có một sự tương giao giữa thi nhân với thi nhân nghĩa là cùng cảnh ngộ, cho dù cách biệt không gian, trong quạnh hiu giữa Cung Trầm Tưởng và Thanh Tâm Tuyền luôn nhớ đến nhau. Được nhà thơ siêu thực Thanh Tâm Tuyền diễn tả như sau qua bài thơ ‘Ngày Đến’:

                                                       Nhà hoang vách trống gió luồng

                                                      Vắng tanh nỗi nhớ dập dồn bong vang

                                                       Ngả lưng trên đất mơ màng

                                                       Hé trời trôi giạt ngỡ ngàng tấm thân.

                                                                   (Long Giao 9/1975)

Chính thời điểm đó Thanh Tâm Tuyền thật sự nhớ tết như bài thơ: ‘Chiều cuối năm trồng sắn ở Lào-Kay’ rồi kế đến: ‘Nhổ cỏ hương nhu nhớ bạn’ là những bài thơ ‘đau lòng con quốc quốc’ ở trong tù. Đọc xem bài thơ siêu thực tả cảnh xuân như thế nào trong cảm thức của thi sĩ:

                                                       Vang Vang Trời Vào Xuân

                                                       Mặt trời hồng như trăng

                                                         Thức lòng ta buổi sớm

                                                           Gió núi thổi rộn ràng

                                                        Gọi nghe biển dậy sóng

                                                       Đứng vững không khỵu chân

                                                       Trên mảnh đất nghèo khổ

                                                            Thở hít tận vô cùng

                                                         Ngây say đóa hồng rợ

                                                         Vang vang trời vào xuân

                                                           Ta bật kêu mừng rỡ

                                                             Ơi bạn bè xa xăm

                                                           Tim ta cũng cháy đỏ

                                                       Rực thắm bóng trắng ngần.

                                                         (Vĩnh Phú. K2 Tân Lập)

Đó là tâm lý bi thương, là hình ảnh cuộc đời ‘nhuốm máu’; bài thơ ứng vào thời điểm giao thoa của ‘tiếng’ thời gian, thanh âm của con người đứng trước một cảnh đời hết sức bi thảm (tragedy), nhưng; trong bi thảm cuộc đời là hình ảnh trung thành với chân lý, trung thành với cuộc đời; chấp nhận như một định hệ. Ngần ấy nói lên được cuộc đời có những ngăn cách: giữa ngoại giới và nội giới và ở chỗ đó cho ta thấy thi nhân đang mơ-về trong vũ trụ tâm hồn qua cuộc đời bằng một lối suy diễn khác của từng con chữ /Au fond de chaque mot.Tương giao của ngữ ngôn thơ mới thấy thi sĩ Thanh Tâm Tuyền đang sống.

Hậu hiện đại. Hậu siêu thực thơ xuân. Tìm thấy ở đây một tiết tấu của nhạc-thơ-mới trong cung cách dáng điệu (figuration) của thơ xuân, mở lên một chân trời kỳ lạ. Không một chút ngại ngùng mà hợp với trào lưu thi ca đương đại. Đọc lại sự phô diễn xuân qua thơ của một số thi nhân gần đây như một hòa âm điền dã giữa cũ và mới. Với phong cách thơ xuân của Vi Thùy Linh ta mới thấy được chất mới của nó trong một hỗn hợp hiện đại và siêu thực, một thứ âm nhạc giao duyên mới lạ của nhạc vừa trầm tích của ‘ngũ cung thơ’ chứa ở đó một phong vị thơ mới, siêu thực, tự do hình thức mỗi khi ca ngợi mùa xuân:

                                                       Lại một giao thừa xuân hực nhựa

                                                       Để mặc những người đàn ông đến và đi, ngoài cánh cửa

                                                      Mười bảy đêm giao thừa đi qua…

                                                       Rồi lịch cũng không muốn xé

                                                       Tờ lịch lẻ loi đến đầu giường, như lá bùa sã cánh

                                                        Chị nhặt lên

                                                         dán lại

                                                         đêm…

Một biểu cảm về thơ xuân. Bài thơ trên tác giả chia hai nhịp với một bố cục khác nhau của biểu tượng thuộc tượng hình. Thơ Vi Thùy Linh thường kết cấu như vậy; chất thơ siêu hình và siêu thực là cả một đoạn trường giữa trạng huống tâm hồn đang giao cấu trong một không gian và thời gian vô tận; đối kháng giữa hiện thực và siêu thực. ‘dán lại’ ‘đêm’ là một bày tỏ thông thường, không việc gì thắc mắc…

Hình ảnh thơ của Vi Thùy Linh có thể làm cho ta ngạc nhiên, nhưng ngạc nhiên hơn là hình ảnh không xa lìa đối tượng, gắn bó với đối tượng có nghĩa rằng gắn mình vào đó là khám phá nội giới mình qua đối tượng hữu thể, một liên hệ cho môi giới mình: ‘Chị nhặt lên’ đó là ngôi thứ nhất của phạm trù thi ca và văn chương; một lối chơi khác của nữ thi sĩ ‘dán lại’ là đồng lõa để đi vào ‘đêm’. Không sợ chi mà e lệ!

Tóm lại; thơ xuân là nhịp thở của tình yêu dưới những lời nhắn khác nhau nhưng có một: nỗi niềm và hoài niệm. Đấy là hiện hữu cuộc đời đang sống của thời gian và sự kiện . Xưa ước lệ theo Đường luật nhưng không phải vì thế mà đóng khung hay khóa kín; mà phải thừa nhận thi nhân xử thế đúng đường lối thi ca chủ nghĩa. Ngày nay diễn tả với tư thế khác, cấu trúc thơ có nhịp điệu, sự đó gọi là nhạc-thơ-mới điêu luyện và tài tình ở thể thơ hiện đại với nhiều sắc tố khác nhau cho một siêu lý thuộc thi ca.

Không có gì quá cũ và cũng không có gì quá mới. Bởi; ‘tất cả cái đẹp của chúng ta là cái vô hình, cái vô hình không nắm bắt được’ (Atoine de Saint-Exsupéry). Ngay cả mùa xuân nó chỉ là cái bóng của quá khứ mà quá khứ là gì nếu không phải là câu chuyện sống động về cuộc đời. Chớ đừng tưởng xuân tàn hoa rụng hết, đêm qua sân trước một nhành mai là còn đó. Dẫu cho xuân đi, xuân đến, xuân lại đến là lẽ thường tình nhưng con người đón nhận như thách đố với thời gian. Thi ca chỉ là bày tỏ nỗi lòng ./.

VÕ CÔNG LIÊM (ca.ab.yyc Trăng đầy. 31/1/2018)

NỖI BUỒN THƯỢNG ĐẾ / HUYỀN THOẠI CỦA HOÀNG HÔN

VÕ CÔNG LIÊM

conon
NỖI BUỒN THƯỢNG ĐẾ

chúa biết trần gian lắm khổ đau
lửa cháy
nước ngập
bão bùng một khi
lại thêm chiến dịch thình lình bất dzơn
nhà thương nhà nhớ
cũng đành vậy thôi
ai nhè phận số long đong
không chết lửa
cũng chết chìm
một mai có bị đừng trách ông trời
chúa thương chúa cứu dân lành mỗi khi
đại dịch 19 phản hồi
từ đâu đem đến đổ thừa cho ông
lạy trời cơn lụt mỗi năm
tràn be té hủ
con cá lội
dưới sông cũng buồn
lạy trời chận đứng gió cuồng
tan gia bại sản
con kè kè
cũng thất kinh

lạy chúa con là người ngoại đạo*
bài thánh ca buồn lại buồn hơn
xin cho mưa thuận gió hòa
để mai mốt
bay về một chuyến
cho đở nhớ thầy u
đã lắm lần
chúa buồn
thế sự
đổi thay
e rằng mặt lạ** từ đâu xuống trần
đứng xa vạn dặm mắt lồi trợn trong
chúa buồn da diết là buồn
nỗi buồn còn đó biết đâu mà lường
trên cao nhìn xuống đớn đau phận người
tại vì trái cấm đời xưa thuở nào
chớ chi biết sớm thì hay vô cùng
‘lỗi tại tôi mọi đàng’***
amen !

HUYỀN THOẠI CỦA HOÀNG HÔN

nắng phả vào tôi như buốt giá tim đau như lệ sa bà
bàn tay em thuở nọ dưới mái sân trường ngày đó
đêm giã từ vang vang ngoài ngõ em nhớ không ?
để về dưới tuyết nghe bao la tự tình
thời gian ngã màu từ những khoảng trống không cùng
gọi tên em như nuối chết . bàn tay khẽ chạm vào ngực thở
phục sinh ! ôi phục sinh mùa đông rụng tràn môi em
tóc dài vuốt mặt chiều không tả
trăng nghiêng vai dưới trời quá khứ
khoát lạnh lên mình nỗi nhớ mong
huyền thoại của hoàng hôn trên sân thượng cuộc đời lất phất bay
biến tôi vào cõi hư vô không dấu tích không hư hao không hối tiếc
với nụ cười hoang dại thuở xanh ngát rừng phong
vọng từ huyết lệ của tận cùng đất đục gầm dưới mộ
tôi không là tôi với cát bụi mù tăm . chẳng là chi chẳng là không (1)
cho dù có chi chăng . tôi bước vào cõi lặng . trong bóng hoàng hôn tôi.

HÀI-KÚ THƠ

Tới đây xem
những cành hoa gãy gió . thật
đau đớn thay phận má hồng.
(võcôngliêm phỏng dịch bài thơ Hài-Kú của Ba Tiêu) (2)

Come see
real flowers
of this painful world.
(BASHÕ)

VÕ CÔNG LIÊM (ca.ab.yyc . Xmas-Eve 2021)

* Dựa vào lời nhạc của người nào..
** Aliens (UFO)
*** Rút từ kinh cầu nguyện của Thiên Chúa giáo.
(1) ‘quidquid est, est; quidquid non est, non est.’ (Descartes)..
(2) Ba-tiêu/Bashõ: Thi nhân Nhật Bản (1644-1694); người ưa trồng chuói .

BẠN TỐT BẠN XẤU (II)

 MỘT THUỞ XƯA NAY

VÕ CÔNG LIÊM

LTG: Trong só những tác giả ghi ở đây người viết chưa một lần gặp gỡ nhưng lại gặp nhau trong thơ văn tưởng như đã quen nhau từ lâu. Bởi; trong văn chương họ đã để lại một cảm nhận thiết thực đối với đời. Họ là những nhân vật tôi yêu qúy và trân trọng. Dẫu đã gặp hay chưa gặp nhau đều là những người bạn tốt. Thực hiện tùy hứng như một kỷ niệm cho nhau không ngoài mục đích nào khác. Mong vậy. (vcl)

Xin đọc BẠN TỐT BẠN XẤU, PHẦN I ,theo link dưới đây:

BẠN TỐT BẠN XẤU – MỘT THUỞ XƯA NAY

LUÂN HOÁN

   Tôi đọc thơ Luân Hoán từ thuở còn ở ghế nhà trường và cho tới khi vào đời. Mỗi bài thơ của anh đăng trên báo hay bạn bè chép lại tôi đều ‘gậm nhấm’ với những lời thơ tuyệt cú, ấp ủ nó như tình thư một đóa. Đọc thơ Luân Hoán là một nhận thức sâu sắc qua từng con chữ từ mở cho tới kết, nó song hành và quyện vào nhau như mạch thở, luân lưu trong hệ thần kinh siêu thoát không vướng đục, đượm nhiều sắc tố khác nhau đưa thơ vào một thế giới riêng biệt không ảnh hưởng một trường phái nào khác, có nghĩa rằng Luân Hóan có lập trường để dựng thơ với tư cách không vị nể mà vị tình. Thơ anh làm hầu hết theo thể lục bát có khi ngũ ngôn, thất ngôn mà trong mỗi câu thơ đan kết vào nhau rất duyên dáng nhờ có âm điệu, nhạc điệu, một thể thơ vắt dòng đúng điệu tưởng như thơ mới hơn thơ mới; cho nên chi thơ Luân Hoán dễ dàng đi vào lòng người, đặc biện ngôn ngữ thơ Luân Hoán biến mình vào âm điệu bình dân tợ như ca dao, tục ngữ hay ngụ ngôn. Ấy là điều hiếm và khó cho những người thường hay làm thơ. Từ chỗ đó mà tên tuổi anh không lạ đối với quần chúng từ trước cho tới nay. Tôi nghe nói anh làm thơ từ khi còn học ở bậc tiểu học, anh lớn dần với thời gian và trưởng thành từ thể xác đến tâm hồn. Thế nhưng anh vẫn giữ nguyên trạng của một nhà thơ chân chính, một nhà thơ ‘phong vị phú’ dẫu đời là ‘nhãn trung phù thế’ biến đổi thăng trầm, nhưng; anh một mực là kẻ sĩ không thuộc về ai mà thuộc về thi ca. Trung với thơ và hiếu với tình do đó mới có bút danh Luân Hoán là vậy. Cái hay của Luân Hoán là trầm lắng, anh không tỏ một dấu hiệu gì là thi sĩ giữa quần chúng hay bạn bè. Anh trở thành người ‘Việt trầm lặng’ không nói nhiều ngay cả đối thoại hay thư từ. Có thể cho nhà thơ quá hà tiện chữ nghĩa? -Luân Hoán rộng đường thơ nhưng đó là bản chất của con người khi đã mang thân phận thi nhân là biến mình trong thế thủ hơn biểu dương; đó là bản chất trung thực của người làm thơ hôm nay. Cũng có thể là ‘behavior’ của con người. Tôi thích tánh khí đó. Thơ Luân Hoán bình dân không cầu kỳ, không sáo mòn đọc lên tưởng như đùa cợt với con chữ, nhưng; trong sâu thẳm đó là cái nhìn nhân sinh quan cho một tổng thể của thơ và người -Of poems and man- nói thế cho cạn lời người bạn thơ của tôi. Đào sâu thơ Luân Hóan thì thấy cách hành thơ, vận thơ là một cấu trúc đặc biệt; đó là một thứ triết lý thi ca. Không ngạc nhiên! Bởi; thi sĩ phơi mở tột độ cảm thức siêu thoát trong thơ một cách đích thực.

Trước thời chiến hay hậu chiến, trong nước hay ngoài nước Luân Hoán không đổi tư chất, không lấy chuyện xưa bàn chuyện nay. Gần như anh chấp nhận mọi thứ trên đời như một định hệ; về sau anh có thái độ ẩn dật theo tinh thần nhà nho ngày xưa? hay anh đứng lại để nhìn, nhìn ở chính mình và nhìn ở chính người đâu là chân lý cuộc đời. Nghĩa rằng anh dựa vào phép lưỡng phân là tâm không biệt để hành xử cuộc đời. Hay trong sâu thẳm của thơ Luân Hoán là thứ: ‘văn chương tàn tức nhược như y’ (ND) biết đâu đó chăng!

 

Năm 2013 ngồi đợi vợ đi chợ, mở máy gặp thư Luân Hoán gởi thăm. Tôi ngạc nhiên đuợc nhà thơ tôi yêu để tâm với lời lẽ chân tình. Theo suy nghĩ có lẽ anh bắt gặp văn thơ của tôi trên các báo mà đâm ra tâm đắc đến với tôi. Tiện thể gợi ý muốn viết về Luân Hoán. Anh đáp lời và sẽ cung cấp những gì tôi cần đến; rất thật tình! Trả lời thư: ‘Tất cả những gì về thơ và hình ảnh của anh tôi đã có trong trí’. Mấy ngày sau giữa tháng 10 tôi viết: ‘Luân Hoán nhà thơ đương đại’ bài đã được nhận đăng trên một số báo trong và ngoài nước như một cảm thông sống thực về người bạn thơ của tôi.Tình thân hữu đó kết nối cho tới bây giờ.

NGUYỄN XUÂN HOÀNG (1940-2014)

chandung nxhoang

Tranh Vẽ Võ Công Liêm :Chân Dung Nguyễn Xuân Hoàng

Trước và sau 1975 tôi thoáng gặp Nguyễn Xuân Hoàng ở đường Phạm Ngũ Lão Q3 Sàigòn bên cạnh đó có Bùi Giáng, Mai Thảo, một đôi khi có Thanh Tâm Tuyền và một số nhà văn thơ khác; bởi con đường đó là nơi phát hành, in ấn sách báo. Thực ra thuở đó tôi chỉ là thằng va-ga-bông, không một chữ thơ/văn nhưng lại ưa dừng chân mỗi khi ngang qua và nghe ngóng khi người ta gọi tên nhau mà nhìn họ như những người bình thường khác và cũng chẳng biết gì về giá trị văn học nghệ thuật ở mỗi con người của họ.

Đó là cơ hội đã đánh mất, một hối tiếc về sau này của tôi. Dù rằng tôi theo học triết ở trường Văn Học đường Phan Thanh Giàng (cũ) là những gì cần thiết cho môn học của tôi. Thời điểm đó Nguyễn Xuân Hoàng là nhà giáo dạy triết học ở Nha Trang. Sau cuộc chiến tôi không còn gặp ai trên con đường xưa cũ đó, phố thị đã thay đổi dưới một hình thức thương mãi khác và hầu như một số văn nhân thời ấy đã ly tán hoặc đi về một phương trời nào đó; cũng có thể họ rút lui vì thời thế hoặc ẩn dật như một sự trốn tránh sợ theo đuổi. Văn nhân sợ như thú vật sợ mắc bẫy, sợ cho sự sống về sau (lấy gì nuôi vợ con). Hoàn cảnh cuộc đời biến đổi khủng khiếp khi tỉnh khi say chả biết đâu mà định lượng phải, trái. Cuối cùng buông xuôi!

Sau 1975 tan hàng, chạy làng, mỗi người mỗi phương, mạnh ai nấy sống, hướng đi tới là ‘thoát’ tôi bặt tin từ mọi phiá, tôi hóa thân tầm gởi giữa một Sài gòn sụp đổ. Người ta bắt đầu hướng ra biển hoặc lên non tìm động ‘mai vàng’. Bộ mặt Sàigòn thay đổi từ phồn vinh giả tạo đến vô sản giả hiệu. Tôi cuốn theo chiều gió và trôi theo giòng đời; một cuộc đời khốn đốn và khổ lụy, không lối thoát.Tôi trở thành con chuột rúc.

Cơ may đưa đẩy tôi đến đất mới vào 1979 ở Canada và lập lại cuộc đời từ tay trắng tới trắng tay mà vẫn cho đó là tuyệt thú của cuộc đời. Chẳng buồn chi, chằng hề chi. Trong cảnh sống xa xứ là một bắt đầu của cuộc đời qua ngôn ngữ, tập quán, phong thổ và nghề nghiệp. Đầu óc tôi trống, không còn thú vị. Mười năm sau mua được tập truyện của Nguyễn Xuân Hoàng (NXB Văn USA 1998). Tôi lúc đó tợ như đi giữa sa mạc gặp nước. Tập truyện dưới tựa đề: ‘Bất cứ lúc nào, Bất cứ ở đâu’ là một tạp ghi những gì trước và sau 1975. Nhờ đó mà vơi đi nỗi nhớ. Mãi tới năm 2012 duyên tình nào đưa tôi gặp Nguyễn Xuân Hoàng? Nhớ không nhầm họa sĩ Đinh Cường cho tôi điạ chỉ email. Hai chúng tôi trao đổi thư email hằng tuần, Anh viết: -thích đọc những bài viết của tôi trên báo mạng và giấy. Anh thích tranh tôi và gợi ý vẽ chân dung anh- Chân dung Nguyễn Xuân Hoàng thực hiện sau đó. Anh muốn giữ để kỷ niệm nhưng chưa tới tay thì anh đã ra đi. Tới năm 2013 thì nghe tin anh lâm trọng bệnh. Với tôi; Nguyễn Xuân Hoàng là người anh văn học và người bạn qúi. Tôi sung sướng, hãnh diện và coi đó là kỷ niệm để đời. Được biết anh là nhà văn, nhà thơ, nhà báo từ ngày còn ở Việtnam cho đến khi ra nước ngoài. Anh nổi tiếng xưa nay trong giới văn nghệ và quần chúng. Sống ở nước ngoài anh sáng giá. Nguyễn Xuân Hoàng đứng ra thành lập hay hợp tác cho: Văn Học, Người Việt, Thế Kỷ 21, báo Văn , Việt Mercury, BBC Việt cho tới những ngày cuối đời.

 

Anh không để lại gì ngoài sự cống hiến cho văn học nghệ thuật và một nền văn hóa tồn lưu cho Việtnam.

Quá trễ tràng cho tôi, một cái gì hụt hẫng đáng tiếc thay. Giờ đây anh đang nằm trong cõi tịnh tuyệt đỉnh.

NGUYỄN THỊ KHÁNH MINH

Tôi làm quen Nguyễn Thị Khánh Minh qua những bài thơ của thị đăng trên tạp chí (Hợp Lưu), báo mạng (Thư Viện Sáng Tạo) và rải rác một vài bài báo khác. Đọc thơ hay nhâm nhi thơ của họ Nguyễn là một chấn động tâm tư, bởi; thơ thị làm như truyện ngắn, đơn thuần và chơn chất, tinh khiết không pha chế hay đõm dáng, nó thực như đời thường, nhưng; thực trong đời thường là nỗi thống khổ riêng tư, là tiếng nói không lời chỉ mượn lời thơ để phủ dụ. Đọc nhiều thơ của nữ thi sĩ họ Nguyễn, càng sâu sắc bao nhiêu tôi ‘si tình’ bấy nhiêu. Đó là tả tình cho người làm thơ, bởi; nó cùng một tạng thể với tôi. Nói cho ngay tôi yêu Nguyễn Thị Khánh Minh như thuở mới lớn hay thuở còn ở sân trường đại học. Yêu thật, yêu không chối cải. Nếu thị cho tôi quá lộng ngôn thì điều đó bắt tôi phải làm thơ để giải oan. Chớ biết làm răng bi chừ. Vui thôi!

Tôi nhận thư email của y thị gời muốn tôi viết cái bạt cho tập thơ sắp tới và cuối tháng 12/2019 Nguyễn Thị Khánh Minh gởi tặng tôi tập thơ mới nhất dưới tựa đề ‘Ngôn ngữ Xanh’. Tập thơ vừa độ, in ấn đẹp với nhiều văn nhân tên tuổi ghi nhận cảm tưởng về đời và thơ của thị. Không biết bắt nguồn từ đâu thị muốn có cái bạt của tôi dành cho tác phẩm sắp in. Tôi vui! được nước phóng bút ngay sau đó. Và ; từ đó đến nay tôi ngong ngóng đợi chờ tiếng thơ mới của Nguyễn Thị Khánh Minh. Tôi vẫn đợi chờ cho dù bóng đã xế tà ở cái tuổi hiếm này. Có bề gì tôi vẫn trân qúi nó như hạt ngọc xanh của ngôn ngữ xanh: ‘Sao lại xanh? Bởi em là màu xanh / Why blue ? Because I am blue’ (Marc Chagall). Đấy là điều tự nhiên thôi !

Trong lời bạt cho tập thơ sau này, tôi ‘gõ’ khá dài chữ nghĩa như nước vỡ bờ, như thoát ly những ấm ức vốn tích lũy dành cho một cảm tưởng đáng qúy, bởi; ‘thi sĩ làm thơ dưới nhiều dạng, thơ không vần, thơ xuôi, thơ tự do tất cả đã chất chứa những bức xúc, những hoài niệm xưa cũ là tiếng vọng của người phản kháng, của thân phận làm người, của kẻ vong thân, của kẻ lưu đày và quê nhà…’ (Trích trong lời bạt của VCL).

Trang cuối Ngôn ngữ Xanh phần tác giả/tác phẩm: Thì ra nữ sĩ là người quê hương miền cát trắng, con chim bạt ngàn từ Bắc xa xôi bay về dựng tổ ở trường luật Sàigòn (1974) cho nên chi thơ của thị có tính lý luận phán xét; lời thơ lưu loát là tiềm tàng của một sự dày công. Nhờ đó mà rất nhiều báo chí đón nhận thi ca của thị và cho ra nhiều tác phẩm để đời. Tôi hân hạnh được làm bạn thơ với thi sĩ Nguyễn Thị Khánh Minh.

TRẦN HỮU THỤC

Tôi biết tên tuổi Trần Hữu Thục khi ở nước ngoài. Chớ 100% không hay biết anh là người gốc Huế, đất nước Thần Kinh với tôi và bằng hữu thân quen. Tôi biết tên anh như người khách lạ. Bao nhiêu tiểu luận, ký sự, truyện ngắn, dài của anh viết lần lược đến trong tâm não tôi. Tôi cũng chẳng phải săn lùng cái danh thị đó mà tự tìm thấy trong văn chương của anh. Tôi biết cụ thể là Trần Hữu Thục hiện định cư ở miền Đông nước Mỹ. Biết ra anh đã dấn thân và đắm chìm trong hai thế giới ngàn năm văn vật (Việtnam) và tân thế giới (Mỹ) là một dằn co trước cuộc đời anh đã lớn lên và đang sống. Anh lao đầu vào mọi tình huống của đất nước cũ/mới như một thử thách của vận mệnh. Ở quê nhà hay trên đất tạm dung sau thời kỳ hậu chiến là những nghề nghiệp đã biến đổi cuộc đời anh, tuy nhiên; Trần Hữu Thục là người ăn học nhất là chuyên về triết học để rồi đi sĩ quan (Ngụy) để rồi đi tù (Cọng sản) để rôi đi theo diện (HO) và không biết bao nhiêu thứ đổi đời khác nhau. Đặt chân tới đất Đế quốc chưa hẳn phải là thiên đường (như hằng mơ ước, như để trả thù đời) tất cả là thực và ảo (như anh đã có lần nói tới). Đủ biết là anh phấn đấu cật lực trước tình thế cũ/mới là cho anh những bài học đáng kể, những thử thách đó là anh đang tùng học ở ‘đại học đời’ hơn cả đại học đường. Học đời cho anh nhiều kinh nghiệm sống, học đường chỉ là công thức, bài bản để chuẩn bị; chớ không thể áp dụng một cách triệt để. Tôi nghĩ anh nhận thức được điều dó mới viết thành sách. Ngần ấy đủ thấy sự can đảm trường kỳ mà anh đã đón nhận. Kỳ thực thì anh không còn dư một chút thì giờ để ‘nhàn cư vi bút mực’; thế nhưng anh tự đấu tranh để thành công những tác phẩm mà anh ấp ủ từ lâu là điều đáng ngợi ca. Song hành cùng thời điểm đó tôi bắt gặp tập truyện ‘Vết Xước Đầu Đời’ dưới bút danh Trần Doãn Nho. (Xb. 1995.USA). Tôi hết lòng khâm phục người bạn cùng quê tôi; khí khái và lẫm liệt người con xứ Huế. May thay trong những thư gởi về quê nhà thì mới hay Trần Hữu Thục là bạn hữu của một số văn nghệ sĩ Thừa Thiên. Và; từ đó có đôi lần thư từ (emails) thăm hỏi nhau. Buổi đó anh định cư ở miền Đông Hoa kỳ cùng gia đình mà có lần tôi điện thăm nhưng gặp lúc anh không có nhà. Biết ra; giờ đây anh đã thiên di về miền Nam Hoa Kỳ. Cho dù anh có thay đổi nơi này hay chốn nọ. Anh nhớ cho ‘chọn lựa nào cũng đau khổ’ chả có nơi nào là thiên đường điạ giới chỉ có một thiên đường duy nhất là đến với ‘nhàn cư vi bút mực’ là tuyệt thế dẫu ở đó có chút mắm ruốc đi chăng, nhưng; đó là quê nhà.

Năm 2007 tôi nhận tập sách anh gởi tặng với nhan đề ‘Tác giả, Tác phẩm & Sự kiện’ (Xb. Văn Mới 2005 USA) Kèm theo sách tặng anh ghim một thư tay gởi riêng tôi với đôi lời: ‘ …Lại vui hơn khi được biết anh là Huế chay.Tôi ở Thành Nội trước 1975 và ở Gia Hội sau 1975.Tôi có nhiều bạn quen ở Vỹ Dạ…’. Tôi sinh ra và lớn lên ở Vỹ Da, cũng ở Thành Nội và thường hay đi lại trên con đường Gia Hội. Tiếc thay bọn mình không gặp nhau ở thời điểm đó, có lẽ; có quá nhiều biến động mà anh em mình không gặp nhau. Nhưng; tôi đã gặp anh trong văn chương thi tứ của anh; như tôi đã gặp. Được là bạn với anh là hạnh phúc tôi (chữ của Du Tử Lê). Mong tình cảm này dài lâu như cái tình của Huế xưa. Dẫu bỏ Huế mà đi !

ĐINH CƯỜNG (1939-2016)

   Nói là chưa một lần gặp nhau thì quả là không đúng, nhưng với họa sĩ Đinh Cường như tôi đã biết và thường hay gặp ở cà phê Huế hay một vài nơi giới văn nhân gặp nhau và thường khi thấy Đinh Cường ở Central Culturel d’Alliance Francaise /Trung tâm Văn hóa Pháp văn Đồng minh hội đường Lê Lợi Huế, ở đó không xa Sàigòn Morin Hotel bây giờ. Theo chỗ tôi được biết và nghe giọng nói của anh là biết anh dân miền Nam. Anh sinh ở Thủ Dầu Một, học ở Sàigòn và sau đó ra Huế học trường Cao đẳng Mỹ thuật Huế từ đầu thập niên 1960. Sống và làm việc ở Huế, anh cư ngụ ở Huế lâu hơn những nơi khác. Dạy học trường Đồng Khánh (1967) và thành hôn ở đó (vợ người Huế họ Hồ). Đinh Cường coi Huế như quê hương thứ hai. Họa sĩ chọn đất cố đô như một hòa hợp giữa linh hồn và thể xác. Bởi; trong anh chứa những gì trầm uất của đất cố đô và có một cái gì thơ mộng ở Huế đó là lý do níu kéo đời anh. Sao biết được? -Chẳng hạn xem tranh anh vẽ nặng hình ảnh của gái Huế: thường ngồi nơi khung cửa, bên hồ sen, hay sau lưng văn miếu, bến sông của Huế ẩn hiện trong một thế giới mộng mơ đầy thi vị, cảnh vật hữu tình của đồi núi, chùa chiền, sông, biển, gió mây hòa chung vào tranh và thơ của Đinh Cường và một đôi khi nhớ về Đàlạt là phong cảnh nơi anh đã sống một lần. Đó là nói về nhận định nghệ thuật chớ giao lưu với Đinh Cường thời tôi chưa được một lần, kể cả một số văn nghệ sĩ tăm tiếng một thời ở Huế; thấy đó ngó chơi chớ chưa thù tạc như nhạc sĩ Trịnh Công Sơn (gần lắm; mặc dù mẹ tôi là bạn thân với mẹ TCS) Đinh Cường và Trịnh Công Sơn là bạn tâm giao, bên cạnh đó những người như tôi biết và trò chuyện có anh Bửu Ý, Bửu Chỉ, Thái Ngọc San, Nguyễn Đính Trần Vàng Sao. Cùng học mỹ thuật Huế với Đinh Cường có anh Trịnh Cung. Những năm 1960/65 tôi thấy một đôi lần Trịnh Cung vát giá vẽ về bãi bể Thuận An để phóng vẽ, đầu đội mũ rơm (như Van Gogh) quần áo không mấy thẳng nếp. Tôi thích phong cách đó. Tôi đứng xa nhìn người nghệ sĩ một cách say mê, không biết họa sĩ Trịnh Cung còn nhớ hay quên? Tôi biết nhiều giới văn nhân Huế nhưng tôi không đến gần vì khác ‘lifestyle’, bởi; tôi là thứ va-ga-bông, học ít chơi nhiều cho nên được đứng nhìn, nghe ngóng là cao qúi lắm rồi. Gia nhập thì chắc chắn không có tôi: văn thơ họa là ‘cảnh trí’ trong tâm hồn tôi mà thôi chớ chưa một lần phơi mở. Họa sĩ Đinh Cường như tôi đã biết nhiều nhất ở thập niên 1960 là nơi tôi thường đến thư viện Pháp, họa sĩ ngồi trên ghế bành với những cuốn sách ‘Art’ của Pháp và thế giới. Tôi trộm nhìn Đinh Cường trong ăn vận từ đôi giày cho tới chiếc cà-vạt (cravate) rất thời trang đúng điệu. Đương nhiên anh là thầy giáo dạy vẽ ở Trường Đồng Khánh là trường nữ. Còn tôi đến đó đâu phải ‘mọt sách’ mà đến với Paris Matchs, Ciné magazine và đọc thơ Pháp, thuở đó Pháp ngữ của tôi lờ mờ chữ được chữ không, nhưng; thích tới đó, bởi; căn nhà Tây cổ xưa với nét đẹp kiến trúc Pháp nằm bên bờ sông Hương rất thơ mộng và đã một hai lần chụp hình lưu niệm với bà đầm, hơn nữa thích được nhìn nụ cười của bà quản thủ thư viện Pháp mỗi khi…Thời gian phôi pha; tôi bỏ Huế mà đi; đi tứ phương cho tới ngày mất dấu.

Năm 2012 tôi trao đổi văn nghệ với họa sĩ Đinh Cường, qua email gởi thăm được anh đón nhận nồng nàn và được anh nhận xét về tranh vẽ của tôi . Tôi qúi tấm bụng của anh Đinh Cường là con người xây dựng hơn tỏ bày. Những khi đi Việtnam về anh thường gởi cho xem hình chụp chung với những người thân quen. 2015 đến 2016 tôi vắng thư email anh gởi; được biết khoảng thời gian đó anh ra vào bệnh viện bất thường và sau đó nghe tin anh qua đời. Tôi vội vàng vẽ chân dung Đinh Cường qua trí nhớ. Có một điều rất ‘đồng bóng’ hằng tuần anh vẫn đọc bài của tôi trên ĐTHT/VCL không biết có thực vậy không anh ? Tôi tin !

PHAN TẤN HẢI

   Anh là người Phật giáo chính thống. Anh không mặc áo cà sa hay cạo đầu như những sư sãi hay tỳ kheo khác, anh cũng chẳng phải là cư sĩ Phật giáo hay đã là tu sĩ ‘rủ áo nhà chùa’ để hoàn tục. Không! Phan Tấn Hải nguyên chất người tu Phật, học Phật, tìm tới Phật để thấy được Phật đó là tâm nguyện của anh trong suốt hành trình của một Thiền giả; có nghĩa rằng anh đã tu tập Thiền dưới những tông phái khác nhau trong kinh điển và ngoài kinh điển để đạt tới trí huệ nhân tâm. Thành ra có nhiều người nhìn Phan Tấn Hải là người rao giảng Phật giáo. Nhìn như thế là sai lầm cho một người hết lòng tìm học Phật. Cốt tủy việc tu học của Phan Tấn Hải là lấy thiền để lý giải như phương thức hóa trị (chemotherapy) ngay cả việc xử dụng công án hay thiền đốn ngộ; trong công việc tu tập Thiền là để đi tới tánh không, không vướng, không trượt mà giữ cái thế trong bóng không vướng tục; cái cốt của Thiền là ‘giáo ngoại biệt truyền / bất lập văn tự’ (Phật Bồ Đề Đạt Ma) mà vẫn là Đạo. Đó là nói theo tinh thần của Thiền Phật giáo cho ra lẽ; đúng sách vở, bài bản chúng ta cần đọc và nghiên cứu nhiều tác phẩm nói về Phật học của Nguyên Giác Phan Tấn Hải mới thấm nhuần tư tưởng đạo lý nhà Phật (nói chung) chớ không nên lạm bàn một thứ triết lý siêu thần như vậy.

Nói về Phật ‘hằng hà sa số Phật’ nhưng; chưa chắc đã đạt tới đích Phật. Nhìn kỹ Phan Tấn Hải là người lắm công phu để cung dưỡng Phật, Pháp, Tăng là điều khó cho người nào tìm đến Phật. Anh Phan Tấn Hải là người thực hiện những gì anh nghĩ đến, hiểu đến và biết đến Phật học một cách thâm hậu. Hiếm có trên đời này nhất là cái buổi thế sự thăng trầm quân mạc vấn, muôn hình vạn trạng, chân lý ngã nghiêng… Khó lắm! Nhưng; anh Phan Tấn Hải nhứt tâm đem tâm-bồ-đề ra để phân tích đạo tràng qua từng tông phái hay chư vị pháp thân và phân tách một cách cụ thể thế nào là Thiền tu tập, bởi; theoTông Chỉ thì không dựa vào pháp tu mà đi từ chân-không mới đạt được tướng Phật, là tâm trong sạch không một mảy may ngay cả tiếng động rì rào…Anh đã thực hiện in ấn sách Phật, mạng báo để Phật tử khắp nơi hiểu trọn ý nhà Phật dẫu tu theo phái Bắc tông hay Nam tông chỉ là nhản hiệu mà thôi. Cái học Phật, tu Phật là đi từ không sang có hay ngược lại là Không / Nothingness để bắt gặp cái vô-tâm; là phương tiện thiện xảo trong phép tu học Phật. Thực vậy; anh chuyên những gì có liên quan đến Phật giáo, ngay cả sách vở, báo chí và truyền thông (báo mạng). Biết rằng hành trình đi vào Phật học anh có từ Việtnam trước khi định cư ở miền Nam California USA. Con đường tu học Phật còn dài nhưng anh không ngưng nghỉ mà là nhu cầu cần thiết cho đời người.

Tôi làm quen anh Phan Tấn Hải; bước đầu tìm thấy văn thơ và họa của anh trên báo mạng và giấy khoảng đó năm 2012. Sau lần cho ra tập ‘Tranh Vẽ Võ Công Liêm’ vào năm 2013 (NXB HNV/Việtnam) Dịp đó thi sĩ Du Tử Lê góp ý với tôi nhớ tặng một tập cho Phan Tấn Hải. Tôi làm ngay như ý DTL. Anh Phan Tấn Hải đã viết lời nhận định tập tranh vẽ của tôi trên báo Người Việt. Đọc văn phong của Phan Tấn Hải ngoài việc tu học Phật anh còn là một nghệ nhân trong cách thức của người làm văn nghệ. Tôi rất trân trọng. Và; Từ đó chúng tôi thường liên lạc với nhau. Hai năm qua cơn đại dịch hoành hành mà cường độ đó thu ngắn lại, ngoại trừ một đôi khi. Coi anh như người bạn thâm tình cùng chí hướng trong khuôn khổ của người tu học Phật. Trước sau tôi vẫn giữ nguyên vẹn tình thân hữu cao qúi với anh Nguyên Giác Phan Tấn Hải.

ĐỖ QUYÊN

   Năm 2010 tôi đọc bài thơ của Đỗ Quyên trên vanchuongviet.org tựa đề bài thơ ; ‘Ba Người Nữ Một Mùa Thu’ (Trường ca thơ). Thoáng lướt qua đã làm tôi tá hỏa tam tinh. Đọc đi đọc lại nhiều lần, suy đi nghĩ lại hơn cả tiếng đồng hồ vẫn còn trong vòng luẩn quẩn loanh quanh của ‘lưu linh đế thích’. Tôi định thần và lần lược đọc từng con chữ xem cái sự diễn trình của thơ nó đến và đi như thế nào và nó nhập hồn thi nhân trong khía cạnh nào, góc độ nào giữa không gian và thời gian để thành thơ. Tôi ấp mộng như gà mái ấp trứng chờ một ngày đẹp trời có cơ duyên để lãnh hội những gì Đỗ Quyên nghĩ và viết, bởi; lực viết và đầu óc sáng tạo chữ nghĩa của anh là một tư duy thâm hậu, một lý tài siêu thực của một nhãn quang bao quát, một tổng thể lý luận với chi tiết vô cùng tận như anh diễn tả trong tập truyện tiểu thuyết ‘Trung Việt Việt Trung’ ngần ấy cũng đủ thấy cái duy lý của nó. Thơ anh làm là một hình thái khác biệt hơn những hình thức của thơ khác; nếu đem ra ‘phòng mổ’ thì trong thân thể của thơ anh làm xương, thịt khác nhau, tế bào khác nhau, nó dính chùm, đan kết chằn chịt như hệ thần kinh không thể cắt ra từng đọan rồi ghép nối vào nhau. Phải là một bác sĩ chuyên môn thơ mới mổ cái thân thể đó ra thành thơ một cách chí lý; biến mình vào trong vũ trụ của thi ca. Thơ Đỗ Quyên là dòng thơ đương đại, ngay cả thơ tân hình thức cũng không thể đem ra nói đó là thơ tân hình thức. Tại sao? -nó là cõi riêng của thi ca, nó ra khỏi lãnh điạ của thi ca, loại thơ phá thể, phá cách công khai từ con chữ đến hành/vận thơ một cách siêu lý và tài tình. Không những một bài thơ, nhiều bài thơ khác xuất hiện hơn thập niên qua vẫn chứa hồn và tính đó cho tới bây giờ; văn/thơ của Đỗ Quyên gieo vào đó một thể cách xây dựng thơ ‘khác đời’ không riêng thi ca, văn chương tiểu thuyết, tiểu luận hay tùy bút đều chứa ở đó một cái gì muôn hình vạn trạng trong một tư tưởng vượt thoát từ ước lệ sang tiền lệ của văn/thơ đương đại. Quả không ngoa! Đây; đọc xem:

Mở đầu của bài thơ ‘Trường ca’. Thi sĩ viết: ‘Mùa thu đến và đi theo những bàn chân lá’ thơ đó nha! chớ không phải văn xuôi. Thường lắm nhưng lạ lắm; lạ từ hình ảnh đến thể cách của thơ. Đúng là ‘trường ca’ trong bài thơ;tựa: ‘Balcony tựa lối đi cày vạt’. Tôi cắt ra đây một đoạn để thấy ‘tốc độ’ thơ của Đỗ Quyên :

‘Cán ngón tay gọi thơ ra từ đầu

Tìm măng tụi bây đừng láu táu

Ai vặn thêm cho chút nhiệt đới

Để những người vợ không phải trở mình khi đêm lại’

 

‘Còn bao nhiêu chiếc xe đêm đuổi

Con dốc mãi cõng những mảng băng cong không đến’

 

‘Thi sĩ biết bàn tay vừa nhặt lên

Sợi tóc màu của mình tự rụng trong đêm’

Một câu ‘thơ-chảy’/’streaming-line’ khác của thi sĩ Đỗ Quyên như thế này:

‘Sáng sớm thứ bảy hai sẻ non đậu lên ban-công làm mắt cho bộ mặt

Căn phòng sau một đêm hóa thành phòng’

Tiếp sau đó anh liệt kê vào thơ những thi nhân trước thế kỷ và sau thế kỷ như một tỏ bày qua từng dung nhan của thi ca và thi nhân (quá dài không thể ghi hết.Tìm đọc những bài thơ/văn của ĐQ trên mạng báo). Ngần ấy cũng đủ thấy Đỗ Quyên không khác Cao Bá Quát; Đỗ Quyên vô số chữ nghĩa, vô số bồ chữ làm sao mà chia sẻ cho nhân gian (?) riêng anh thì biết mấy cho vừa. Phê bình thơ Đỗ Quyên là phải sống và làm việc như anh thời mới cầm bút phê bình hay nhận định. Còn phê cho có phê là luộc bún chưa chín nước.

Đọc văn/thơ của Đỗ Quyên thật lý thú. Nó mang lại cho ta một hình ảnh thơ siêu thực, thơ biến đổi (meta) của thể thơ siêu hình học (metaphysics poetry) một thể thơ rất khó dựng thành thơ, nhưng; với Đỗ Quyên không còn lạ nó trở nên ngón sở trường; ấy là điều tôi muốn nói hôm nay về thi ca hiện đại của Đỗ Quyên.

Mùa hè 2016 Đỗ Quyên gởi tặng tôi tập truyện (Tiểu thuyết) ‘Trung Việt Việt Trung’ dày ngon ngót 447 trang in ấn công phu (NXB Người Việt Books) tôi trân qúy đọc, đọc dài, đọc sâu qua từng phân đoạn luận để tìm thấy ngọn nguồn dựng nên một tiểu thuyết (tiểu thuyết mới) hay đó là tiểu thuyết đặc tên?.

Được biết Đỗ Quyên là người hay chữ anh đã đi qua các trường lớp từ Âu Châu sang Mỹ Châu để học và hành. Anh dồi mài chữ nghĩa thật lắm công phu, rất ít người trẻ tuổi mà thực hiện như anh. Tôi hết lòng khâm phục ý chí của Đỗ Quyên. Không những học chuyên môn anh còn sáng tác nhiều tác phẩm giá trị khác. Thật là người tài hoa văn vật. Đỗ Quyên cho tôi những cảm tình nồng hậu với lời thăm hỏỉ chân tình.

Kết thân với văn/thi sĩ Đỗ Quyên là hạnh phúc lớn.

HUỲNH HỮU ỦY

   Nói cho ngay tôi không quen biết Huỳnh Hữu Ủy và anh cũng chẳng biết tôi là cha chòi chú chóp nào cả. Thế nhưng giữa thập niên 60, ở Huế; tôi nghe bạn bè cũng như giới cầm cọ nói về Huỳnh Hữu Ủy. Sưu tra thì biết anh không phải dân dao/cọ hay đúc đồng, nặn tượng. Cái tên đã lạ mà tiếng đồn nghe lạ hơn. Thôi thì rứa hay rứa cái đã; không thể nghe qua rồi bỏ, tôi ghim nó trong đầu và đặc trọng tâm về điều này. Lân la với bạn bè thì ra anh là nhà phê bình hội họa xưa/nay. Hình như tôi gặp Huỳnh Hữu Ủy một đôi lần đâu đó hoặc nơi phòng triễn lãm tranh (ở Huế), hay ở cà phê bên hữu ngạn hay tả ngạn sông Hương ? Anh cao ráo, linh hoạt và trông cái gương mặt đầy đặn, không tròn không méo, không đẹp trai như những văn nghệ sĩ khác. Anh với tôi đồng trang lứa, nhưng; được cái anh có tài hơn tôi. Thôi! Thì rứa hay rứa cái đã, tiếng lành đồn xa. Thế nào cũng có ngày diện kiến để học hỏi. Nhưng; đến bao giờ mới gặp người nói về vẽ mà không vẽ, người nói về điêu khắc mà không đìêu khắc. Thuở đó giữa thập niên 1960 tôi lêu lỗng chơi nhiều hơn học, thích vẽ (vẻ) vời nhưng không vẽ, thích văn/thơ mà ghét văn/thơ. Ngông! Ngông thật. Giờ đây là một ân hận hối tiếc. Thì ra Huỳnh Hữu Ủy người quê hương tôi có một điều gì lẫm liệt trong đó. Anh là người chuyên trị những gì có liên can đến nghệ thuật hội họa, một nhà phê bình, nhận định ‘đường gươm’ của hội họa, những gì là nghệ thuật Đông Sơn, tranh giấy, đồ đồng, đồ gốm, tượng đúc, tượng chạm từ phù điêu đế trống đồng…Tôi hết lòng khâm phục một trí tuệ tài hoa như thế. Đọc được cuốn ‘Đường Bay Của Nghệ Thuật’ của Huỳnh Hữu Ủy viết giữa năm 1964, là lúc anh mới 18 tuổi mà có một nhận định sâu sắc và chi tiết như vậy là tuyệt xuất. Được vậy chỉ có trời cho chớ ai mà nói và viết như Huỳnh Hữu Ủy. Hiếm! bởi; anh không xuất thân đào tạo hay chuyên môn về nghệ thuật, ngay cả trường mỹ thuật anh cũng không học tới. Cái hay ở chỗ không qua trường lớp mà làm được mới là thiên tài, sự đó xưa nay ta đã tìm thấy như Mozart mấy học nhạc 5 tuổi đã viết nhạc và chơi đàn dương cầm, họa thì vô số cho nên chi đó mới lạ, mới là phi thường. Phê bình là điều không phải dễ như ta nghĩ, nó có một trí tuệ phán xét, có con mắt nhìn và một mẫu hoà màu trong trí tưởng như xử dụng computeur hiện nay. Với phê bình văn chương văn/thơ là chuyện thường tình, cứ dẫn ra, mổ xè từng phân đoạn, ‘bí’ đem văn/thơ của tác giả ra mổ như mổ xác người; đúng thì ‘hay lắm’ mà trật thì ‘tại ngoại hầu tra’.Còn hội họa hay đúc/tạc là hiện thực của vật thể, bao gồm một bố cục chặt chẽ, có tiết tấu làm nên tác phẩm chớ không thể sao lục sách này vở nọ mà cho rằng nhận thức từ cái làm ra tác phẩm. Phê bình hay nhận định hội họa, điêu khắc là người có óc mỹ thuật, có đôi mắt 3D mới nhìn thấu cái lăng kính đó. Phê mà dựa vào điển tích, điển cố hay lấy xưa lấp vô nay để nói vào tác phẩm thì đó không phải phê bình; nói về đúc/tạt đồng, sắt, gốm hay đất nung cũng phải biết nó thuộc chất liệu gì để làm nên mới là nhận định còn bằng không đó chỉ là lời nói khách quan, nó không sát diễn trình của văn chương, nghệ thuật. Nói chung viết về hội họa tợ như khách thưởng lãm chớ nó không nói lên chiều sâu của nó mà chỉ nói bề ngoài của nó mà thôi. Huỳnh Hữu Ủy không phê bình hay nghĩ tới hội họa theo dạng đó, anh viết lên những cái chưa ai viết về hội họa như tranh vẽ trên giấy, trên bố, trên ván hay tranh mộc bản một cách chi tiết và rộng mở làm cho người trong cuộc cũng như ngoài cuộc thấy được chân tướng của nghệ thuật. Tôi kính phục những người làm công việc đó khởi từ giữa tk. hai mươi cho tới nay.

Thú thật mà nói chỉ có Huỳnh Hữu Ủy làm được việc này. Ngoài chuyện phê bình, nhận định hội họa qua từng trường phái, đúc/tạt qua từng thời đại đều được anh phân tích rất chi tiết; ngoài ra anh còn viết nhiều tùy bút khác đề cập những gì không xa hội họa. Chưa gặp Huỳnh Hữu Ủy bao giờ nhưng nhận ra được một con người tài hoa trí tuệ; hiếm có giữa đời này. Dẫu sao những tác phẩm anh để lại là một tiếp nối cho những thế hệ mai sau học hỏi và nghiên cứu. Ước được hàn huyên với anh một lần là toại nguyện con đường văn nghệ tôi yêu và lao đầu vào trong cái thú đam mê nghệ thuật của ‘một vài chung lếu láo’-tôi.

VƯƠNG TRÙNG DƯƠNG.

Tôi đọc một số bài viết của Vương Trùng Dương trên báo chí và trên mạng vi tính. Đọc nhiều mới thấy bộ óc sưu tập của anh vĩ đại; nghĩa là ‘bộ nhớ’ của anh tợ như hồ sơ lưu trữ, rành rọt và chi tiết mỗi khi anh đặc bút để viết, anh viết nhiều thể loại khác nhau. Nhân một buổi điện đàm người bạn học cũ (Liên Kỳ) có hỏi tới Vương Trùng Dương, bạn tôi hồ hởi cho ngay điạ chỉ email. Sau đó tôi liên lạc với Vương Trùng Dương về chuyện viết lách. Anh không ngần ngại trả lời thư tôi gởi; thú thật Vương Trùng Dương chả biết cái tên thằng tôi là ai và từ đâu đến trong và ngoài văn chương xưa nay. Thư anh gởi cho tôi, đọc thấy con người anh ngay: cởi mở và thân tình như đã quen nhau. Năm 2008 là năm tôi mở mục ĐTHT/VCL trong danh mục đó có tên Vương Trùng Dương. Dĩ nhiên hằng tuần đều có văn/thơ/họa gởi cho anh. Và; từ đó anh rút ra đưa lên báo của tờ ‘Sàigòn nhỏ’ và ‘caliweekly magazine’ mà anh phụ trách; cứ thế cho đến khi hai tờ báo đó ‘sập tiệm’. Tánh nào tật nấy anh xoay tứ phương không báo thì mạng hay f/b. Anh có đưa văn/thơ/họa của tôi vào những trang báo như bạn tôi kể lại. Anh cho biết những bài viết (về triết học) hợp khí huyết anh, bởi anh là sinh viên triết trước 1975. Khi biết ra nhau anh Vương Trùng Dương và tôi như đã quen nhau từ xưa đến nay. Đấy là điều đáng nhớ! Đào sâu lý lịch của Vương Trùng Dương ngoài bút danh này anh còn mang trong hồn trên dưới 10 bút danh khác nhau từ trước 1975 và sau 1975. Quả là con người can trường. Can trường ở đây trên lãnh vực văn học, nhưng; không can trường trên lãnh vực chính trị, anh nghiêng hẳn vào văn chương, cho dù; anh là sĩ quan của trường Chiến tranh Chính trị / Đàlạt ngang hàng trường Võ bị Quốc gia Đàlạt. Nhưng lạ thay anh không ‘phơi’ bộ quân phục trước quần chúng khi anh đến định cư ở Hoa Kỳ theo diện HO 1990. Anh hoạt động văn học nghệ thuật ráo riết từ báo chí đến truyền thông. Với tình hình kinh tế chính trị trên đất Mỹ vấn đề xuất bản hay in ấn có phần đình trệ, người đọc thường vào mặt (screen) vi tính hơn mặt giấy (news) báo chí. Dựa vào yếu tố tâm lý đó anh nghiêng vào vi tính qua những bài viết khác nhau. Anh thường viết về giới văn học nghệ thuật xưa/nay rất đầy đủ và tình tiết. Viết nhiều đến độ tôi gọi là bộ óc lịch sử nhân văn. Khởi từ ngày đến định cư cho tới nay anh viết trên mọi lãnh vực, trên mọi khía cạnh khác nhau như người tình không chân dung mà anh gìn giữ từ bấy lâu nay.

Bút danh của anh gây cho tôi thêm chú ý. Người làm thơ/văn thường chọn bút danh cho mình, một là bí danh hai là tạo cái tên cho mình để dễ thu hút người đọc, vừa mới lạ, vừa có tính đặc thù làm cho cái tên có tính ‘phong vận, kỳ vân’ của người làm văn chương.Tôi nghĩ anh chọn bút danh đó không phải ngẫu nhiên mà chọn cho mình cái tên ‘thời thượng’ trước một trào lưu văn hóa đổi thay qua nhiều tên gọi, phản ở đó cái gì a-dzua, bắt chước, cốp-pi-cat làm mất hay thi vị của nó. Không chừng nhại theo đã không có tiếng thơm như người ta mà hóa ra mất ‘tiếng nói’.Vương Trùng Dương độc lập và khéo chọn bút danh cho mình dẫu trên dưới mười bút danh khác nhau, nhưng; nhất thiết không ‘đụng hàng’ một ai trong giới văn nghệ.

Thú thật tôi mến bút danh đó và con người đó; con người mang tên Vương Trùng Dương như đã cầu chứng.

Tên gọiVương Trùng Dương cho ta một gợi nhớ Đông Chu Liệt Quốc bên Tàu, cho ta hình dung những nhân vật truyền bí trong truyện kiếp hiệp của Kim Dung. Đó là nói theo chủ nghĩa đặc tên, chớ cái tên Vương Trùng Dương là thứ thiệt được xếp hạng xưa nay, không thể hình dung từ mà nặng lòng suy tư cho một người miệng chưa nói mà mắt đã cười của con người một đời dấn thân cho chữ nghĩa văn chương.

Kết thân với Vương Trùng Dương là hân hạnh cho tôi, học được cái sức can trường đó như tôi nghĩ.

TRẦN VẤN LỆ

Thoạt kỳ thủy khi đọc thơ của họ Trần tôi in trong đầu là nhà thơ nữ giả trai để che đi sự thật nào đó hay ẩn tàng một sự gì trong thơ và người. Không! âm ngữ của thơ là nam. Lần hồi nhận ra thi sĩ là nam giới. Thiệt ra cái chữ Lệ có đôi phần ảnh hưởng trong thơ của tôi thường chơi chữ ‘lệ’ chẳng hạn ‘lệ tràn mi’ ‘lệ ướt’. ‘ước lệ’ (nghĩa bóng chảy nước mắt, nghĩa đen là qui ước) nói chung cái gì có ‘lệ’ là tôi yêu. Thậm chí ca khúc của TCS ‘Ướt mi’ tôi cho là lệ chảy và từ đó tôi yêu chữ lệ một cách ngang nhiên, không câu nệ là tên ai hay của ai. Suốt dặm trường theo đuổi về thi ca tìm đọc, tìm học của những năm đầu thập niên 1990/1995 là những năm tương đối bình yên tinh thần với những người mới định cư ở nước ngoài và có chút thời gian thi thố văn/thơ trên báo giấy; báo giấy lúc đó có giá, tiền báo/sách khá cao, lại được nhiều người chiếu cố, có khi đặt mua dài hạng, như để có thêm ‘tài liệu’ hơn thế nữa cho vơi đi nỗi nhớ quê nhà, người viết bài báo thường nghiêng về ‘tình hoài hương/nostalgia’ là trọng tâm của tâm lý quần chúng. Ở Mỹ thì nhiều nhà sách, nhà in mở ra đắc như tôm tươi. Chiếm vị thế trên thị trường sách báo. Ở Canada và Âu châu một vài nước cũng xây dựng trên lãnh vực đó như tiếng nói của người đồng hương xa xứ. Họ viết, nói như để hả dạ, để chưởi bới không sợ ai và chẳng ai sợ ai vì đã đến được bến bờ tự do. Thù cọng sản mạnh hơn bao giờ; không ai dám đụng. Cho tới khi HO ‘đổ bộ’ lên thềm lục điạ Mỹ Châu thì rầm rộ hơn, văn chương khởi sắc từ đó. Ở Canada có tờ Làng Văn là uy tín và là nơi trăm hoa đua nở trên đất lạnh tình nồng và lắm thi/văn nhân đăng đàn, diễn thuyết trước có tiếng sau có miếng. 10 năm sau đó tờ Làng Văn đi ngủ giữa mùa thu lá bay tình thế có phần thay đổi. Ôn lại, đọc lại một số báo Làng Văn bắt gặp rất nhiều bài thơ của Trần Vấn Lệ. Thơ anh làm đại đa số là thơ tả tình, tả cảnh hơn là thơ tả oán, đặc biệt thể thơ không vần với dàn trải như văn xuôi là ngón sở trường của thi sĩ Trần Vấn Lệ. Trước đó anh có cho ra đời nhiều tập thơ mỏng dính, bià và ruột còn tệ hơn giấy ‘Giải phóng’ mới chiếm miền Nam. Những tập thơ đó, theo sự chú ý của tôi không phải bày bán mà dùng để biếu/tặng. Cũng nên biết bán gì thì có ai mua, bán thơ thì ít khi kiếm lời mà khổ công cho tác giả và chủ bán. Trần Vấn Lệ hiểu điều đó từ khi anh đi học tập về. Anh dạy học trở lại ở Đàlạt và từ đó anh càng thương càng nhớ Đàlạt, bởi; ở đó anh lắm người yêu, dù rằng anh gốc Bình Thuận mà ít khi anh nhắc tới; Một cái Đàlạt hai cái Đàlạt vì có em trong đó. Theo sát dòng thi ca tư tưởng của Trần thi sĩ mỗi ngày, mỗi tháng, mỗi năm anh vượt thoát từ ngữ ngôn thơ đến cách dụng thơ, mới thấy rõ nơi con người yêu thơ, phát tiết thơ dữ dội như thế. Trần Vấn Lệ là nhà thơ tôi dành cảm tình lớn nhất.

Vào năm 2016 không biết trời xui đất khiến mỗi lần điện đàm bạn học cũ của tôi đều nghe bạn nhắc tới Trần Vấn Lệ. Tôi vồ lấy như cọp vồ nai tơ. -Cho tôi biết thi sĩ họ Trần giờ ở nơi mô? -Ở đây nè, ngồi cà phê đây nè! Bạn tôi nói. Và; từ đó tôi và thi sĩ họ Trần kết thân. Kể cho nhau bao nhiêu chuyện thăng trầm. Ôm máy vi tính ‘rà mìn’ quê nhà từ Cao Bằng, Lạng Sơn, cho tới Mũi Cà Mâu, Hòn Lụt, Hòn Dái anh đều gởi cho tôi xem. Biết ra anh nhớ quê hương từ ngày rời xa đi theo diện HO. Tôi không dẫn thơ anh làm ở đây.Thừa! Viết xác, viết đúng thì coi như đọc thơ anh. Mong anh hiểu cho. Dẫu là gì hay là gì tôi không còn coi Trần Vấn Lệ là nhà thơ mà coi như anh em ruột thịt; là vì bộc bạch rất tình thiệt chả đượm màu hoa lá cành như những nhà thơ khác. Trần Vấn Lệ để lại trong tôi nhiều kỷ niệm vui buồn tợ như tuổi thiếu thời.

 

VÕ CÔNG LIÊM (ca.ab.yyc. Xmas-day 2021)

Thơ Võ Công Liêm

image001

TRANH VẼ Võ Công Liêm: ‘ Dưới cơn tuyết thổi / Under snow blower’

THI CA NGẪU HỨNG

xuân chưa về đã thấy chim én lượn
chim bay vào mây xa
không để lại dấu tích
chỉ một vờn mây trắng bay
những cụm hoa thạch thảo
nằm trơ mình với núi cao
thương thay xuân không về đón lấy
nhánh tương tư nhánh mong manh trước gió
một chút tình bỏ lại đường mưa
xa quê nhà xuôi nam tỉnh lẻ
biết nơi nào trú ẩn
gặp bạn cũ xẻ miếng cơm manh áo
lót đường mấy dậm sơn khê
tháng giêng ăn tết xa nhà
tìm nhau để gặp mộng đà thả neo
dõi mắt thời gian khốn đốn năm nào
thương đời thương kiếp phong ba
phù thế giáo trong mắt trần tục
trông cảnh tiến một chương ly ngữ
hái sen với giấc chiêm bao
thấy em trong mộng tưởng như đời thường
sen nhả tơ sen
nhựa sen vướng gót
tình không dứt được
chẳng biết giờ đây em ở nơi mô ?
ngày lạnh lùng khôn tả
đêm chuốc sầu tự thú
muốn về thăm đợi mãi ngọn thu phong
gió nơi đâu cho lá vàng bay . cuối đường trần
ta vẫn đợi dù trời đã ngã hoàng hôn
áo thổi ngoài thân trùm huyễn hoặc
bóng mây ngang qua quầng mắt nhớ
quê nhà xa lắc xa lơ
nỗi lòng quan tái biết đâu mà tìm
‘long nhãn trừng trừng không tưởng tượng
khả liên đối diện bất tương tư’*
dặm khách ly hương bao nỗi nhớ
khó mà gỡ rối tơ lòng một khi
trăng chờ nước lên cùng tuế nguyệt
mộng vỡ tan theo một sắc không
bạc đầu còn thấy được quê cũ
cảnh đó giờ đây đâu còn nữa
địch khúc một thời nghe vọng lại
tưởng như đùa cợt với núi sông
thoảng nghe mà rơi lệ theo dòng nước
cõi nhân gian vật đổi sao dời
thành quách rêu phong thành quách mới
giữa ngọ nhớ xưa thương hải tan điền
hề ! nại hồn hề ! biết làm răng ?
cây trong rừng có cây sống cây chết
làm thân gỗ đứng không sinh không diệt
một đời sống mãi với hư vô
biết ra ‘không chết’ mới là chân kinh.
*Thơ chữ Hán của Nguyễn Du (trong Bắc Hành Tạp lục)

THỦY HỎA*

hỏa tinh thủy tinh
chìm vào biển lửa
lửa bốc lên cao cho đời rực rỡ
nước âm thầm trôi giữa bến sông
là những gì ta muốn thử
tôi . nâng niu ngọn lửa tình ái
dẫu một lần và mãi mãi nghìn sau
ghét phải nói nên lời
dập nát như băng trường tình
điều to lớn đó
Và . chỉ một lần thôi.
*võcôngliêm phỏng dịch sang Việt ngữ bài thơ ‘Fire And Ice’ của thi sĩ Robert Frost (1874-1963) USA.

FIRE AND ICE

Some say the world will end in fire,
Some say in ice
From what I’ve tasted of desire
I hold with those who favour fire.
But if it had to perish twice,
I think I know enough of hate
To say that for destruction ice
Is also great
And would suffice
(1923)
(Thơ rút từ: ‘Thi ca Hiện đại / Modern Poetry’. Volume VII. Second Edition by Prentice-Hall 1962. USA)

GỌI NHỚ

ta gọi tên em cho đở nhớ
từ sâu thẳm miên man sầu biệt xứ
hôm nay tình như đã phôi pha
trên vai gầy guộc nhớ
trong cánh tay dài của biển
con chim cô độc . tôi
với thân thể bại hoại
nín đau thương vào huyệt mộ
để nghe hương lửa dậy trong lòng

căn nhà xưa cũ đó
mái dột bao nhiêu lần…

VÕ CÔNG LIÊM (ca.ab. yyc . giữa tháng 12/2021)

ĐOẠN GHI CUỐI NĂM

VÕ CÔNG LIÊM
hoa3
tưởng nhớ thi sĩ Du Tử Lê (1942-2019)

tháng mười hai
vật vã cơn mê
mùa dịch cách ly
đường đi xuống phố
che mặt che mày
nắng ế ẩm lên vai gầy
tháng ngày buồn lê thê
ngoài trời tuyết bay nhẹ
độ lạnh -10 c
hàng cây chít khăn tang
hương khói mờ nhân ảnh
tưởng mùa xuân năm nọ
súng nổ hay pháo nổ
không thấy bóng người qua
gió đứng
căng nỗi buồn vạn cổ
nhớ ra tháng dương đi tháng âm tới
sanh nhật . tôi . không ngày tháng
lặng đứng nhìn
dưới lủng sâu
dấu chân chim trên tuyết
chiều mù mây xám bay
nhớ về một huế xưa
sân trải đầy vạn thọ
em . thoáng qua mành thưa
tháng chạp đâu đã tới
tết về trong tháng tây
những cụm hoa bẻ gió
xuân gãy nhánh hoa đào
trên tay em hồng hồng tuyết tuyết
trong tôi bốn mùa bóng tịch dương
thèm cốc cà phê đen giữa lúc này
cho đở nhớ một sàigon eden hay pagoda
em . trong cửa kiến
tôi . tượng đá buồn
chiều cuối năm dương lịch
nouvelle année đi qua ngã ba chuồng chó
bổ lẻ những cụm từ dã man không cầu chứng
lên xe lục tỉnh ‘em mỉm nụ nhiệm mầu’*
tôi lặng đứng . giữa trời mưa gió bão bùng

đoạn ghi cuối năm ngày tháng đó
chẳng còn thấy ai bóng với hình.
*Thơ của Quách Thoại (1930-1957)

TÌM NƠI ẨN DẬT VÀ KHÔNG THÂY BẠN Ở NHÀ
Dưới cội thông già
người ở nơi mô ?
thưa rằng :
‘thầy tôi đi nhặt hoa thơm cò qúi
đó đây trong rừng’
Nhưng than ôi !
mây che mấy lớp biết đâu mà mò*
*võcôngliêm phỏng dịch bài thơ dưới đây của (Jia Dao) Giả Đảo (779-845)

LOOKING FOR The RECLUSE And NOT FINDING HIM HOME
I asked his servant under the pines
he said: ‘The master has gone to pick herbs
He is somewhere out there in the hills’
But the clouds so deep I know not where.
(Trích trong tập Thiền Thơ / Zen Poems) Thi tuyển của Peter Harris / Pocket Poets USA 1999.

VÕ CÔNG LIÊM (ca.ab.yyc. đầu tháng 12/2021)

Thơ Võ Công Liêm

chim bay

CHIỀU

mái tây hiên nguyệt gác chênh chênh*
một trời nhân thế
một đời qua
một trời lung linh
cùng tuế nguyệt
một hoàng hôn xuống một đời trôi
chiều
nghe từng nhung nhớ
để thấy mơ màng mộng tàn phai
chiều
soi bóng mặt hồ
trên từng ngón xuân nồng
một thời phế đế một lần qua
chiều
nuốt dòng dư lệ
của tháng năm mòn trên nẽo trần ai
đời là thế thời phải thế
xin một chút hương thừa làm bằng chứng yêu em
và . nằm xuống sau ngọn đồi trước tròn sau méo
sông lênh đênh chảy theo bốn cửa thành một thuở
để xuôi về biển mẹ trong tay nhớ ngàn sau

chiều
lốm đốm
trên lớp da mòn tóc trắng phêu
chiều
gục xuống
ta . khóc đời ta một kiếp lưu vong.
*ý thơ của Tản Đà Nguyễn Khác Hiếu (1889-1939).

ĐẤY LÀ ĐIỀU MUỐN NÓI*

ta ăn
nhiều mận chín
ngọt như cây cà rem

và em
có thể dành
ăn sáng mai

đừng buồn . đấy là điều muốn nói
vì quá ngon
mà hóa ra lạnh lùng.
*võcôngliêm dịch từ thơ của William Carlos Williams (1883-1963)

THIS IS JUST TO SAY

I have eaten
the plums
that were in
the icebox

and which
you were probably
saving
for breakfast

Forgive me
they were delicious
so sweet
and so cold.

NHỚ XƯA

cùng lúc ấy
gió ngàn phương tiếp dẫn
tôi . bước qua những thăng trầm tục lụy
tuổi phù du đắm đuối gọi xuân về . người đã ngủ
tự ngàn năm còn nhớ bóng quan san
xin giữ lại những bước đi thầm lặng
trong ngõ về giữa ngọ lá lao xao . em trên đôi tay ngà ngọc vuốt
hửng hờ tuyệt trụ thẩn thờ đó đây để cho sa mạc buồn tênh cuối trời
mây lục điạ bềnh bồng sương đục tận nắng vàng đất trích phù vân
bây giờ ai biết lòng ai / từ phiêu du đó lênh đênh trận tiền
lăng cổ miếu lui về trong tịch mịch để nghe hương lửa đánh thức mình
nhớ xưa . xa lạ từ trời . biết không không biết . một lần đó đây . thôi mà !
tay mò mẩm động vào khe nước rịn cho lăn lóc ngậm trái bồ hòn một khi
mặt trời soi mấy dăm trường có ai tào lục bốn bề ngổn ngang ? -tôi
sầu biệt xứ trưa về nghe tiếng vọng tưởng như lời nhắn gởi buổi ban đầu
mấy mùa xanh đá mấy đời xanh rêu cho ba sinh hương lửa khép mình
tam thu cho triền miên mọc cho triền miên cong . lá rơi
từng phiến tơ chùng lai láng chảy / nhựa xuân rồng lộn một huế xưa
thắp nhặt cho tròn giấc ngủ luân hồi một kiếp sau . có có không không
miệng thế gian khi tròn khi méo giữa ta bà bóng sập vây quanh
chiêm bao từ ngõ ngách về / dưới mưa mấy bận câu thề chưa khô
nắng dâng đầu ngọn ưu phiền . gió lủa quá khứ cơn buồn gia tăng
nhớ xưa . huế lạnh đông tàn sau lưng cửa sập* mọc nhành liễu ru
bóng hoàng thành trở giấc từ lâu cho sao mai mọc bốn bề như không
đêm như nối bước biểu tình đèn soi bóng nước hửng hờ một khi
em . ngồi vấn sợi tóc quăn đợi cho năm tháng hứng đêm khuya về
một lần hội nhập gió hoang . ôm vòng tay lại nhớ hoang mang bóng hình
sương đọng lại trên tầng tháp cổ mặc cuồng phong xé nát con tim
buồn bạc xứ lên tấm thân tàn che gió phong sương phủ đầy bóng tối
tôi . lạc bước đường trần giữa chốn ta bà miệng hùm gan sứa giết chết tình tôi
trong giờ hấp hối níu xa xưa lại để hồn lung linh bóng vía giữa triền hạn reo
xin khất lại những thăng trầm cố đế một thời một đời chó ăn đá gà ăn muối
vỡ tan hoang trên trận địa không biên giới để cho cát vàng thổi gió theo mây
và . chìm vào quên lãng dưới lòng sâu xanh biếc không mộ chí suốt đời sau
còn gì nữa không ? chả thấy . chả nghe . chả biết . chả nói . tê mô răng rứa
chỉ nghe gió thở mưa tuông mây đục đậu giữa trời bao la không sắc màu
thôi nhé ! đêm tới gần bên tôi trong tiếng còi xe đang đợi để đưa về . . .

em . có nhớ xưa trên cầu phượng vĩ ?
tôi . nghe như tơ liễu uốn quanh mình.

VÕ CÔNG LIÊM (ca.ab.yyc . remembrance-day 11/11/2021)
*Cửa-sập: Cửa nội thành sập trong trận chiến Mậu Thân (1968) có tên gọi từ đó. Nay đã tu bổ và đổi tên gọi khác.

 

THƠ VÕ CÔNG LIÊM

NHỚ (II)

tưởng niệm: Nguyễn thị Mai Anh (1931-2021)
chẳng có chi
chẳng buồn chi
có không không có vốn là như không
hư vô
một tiếng thì thầm
motminhđể mai mới thấy tinh anh giữa đời
xin gác lại một trời xưa cũ đó
dưới bóng cờ phất phới mặt trời soi
có nhớ hay không chẳng đặng đừng
một trời thế kỷ một lần qua
sắc son cho trọn tình nhân thế
có đó
hay không
tình như đã
kinh luân khởi tâm thượng*
không có
có không
một thời lặn lội bờ sông
để cho con cá hóa rồng chín sông
vì dân
vì nước
vì tình
có chi thì có một đời chẳng quên

hởi những người nằm xuống
khí thiêng sông núi hồn thục nữ
cho hoa mai nở một lần đó thôi.
*Thơ Nguyễn Công Trứ (1778-1858) :’kinh bang tế thế, luân thường đạo lý lấy tâm làm đầu’

NẮNG ĐIẠ NGỤC

nắng lung linh
nắng khép mình
đêm tối trần gian đau đớn vô cùng
con là sáo / mẹ là ngàn vạn gió*
giữa chốn ba đào bóng tịch dương
lời ai oán đầu thai trong mưa gió
ngút ngàn say bóng ngập bóng lùa
hồn dã man đi đầu trong điếu đóm
nghĩa xa người chuyển điệu càng khôn
đường đi xuống phố che mặt che mày cách bóng đứng
nguyên từ lộ tuyến miêu cương giữa trưa ngột gió một phiên trường đó đây
nắng chói chan đưa em vào nội . nắng khỏa thân qua bốn cửa thành
hương giang một tối mưa dầm nghe lời truy điệu điệu hùng tâm kia
trần gian mở lối trần gian
thiên nha bóng đứng / thiên nha đón chờ
nắng địa ngục mát hương hoa địa ngục
cho trăng bạch tuột mê man cõi đời

mưa có một lần mà mây vẫn đợi
sáng mai về em tắm nốt mủa trăng.
* Thơ Xuân Diệu (1916-1985)


LỜI GIÃ TỪ
em về tắm nốt mùa trăng cho thơm lúa mới cho tình lên ngôi . không
những cánh hoa bẽ gió đã sang mùa nhớ trong tay nguyệt
vườn xưa lặng lẽ một sáng trời trong trong lòng người cô phụ
bốn bề hừng hực cháy
thấm nhuần ơn thệ nguyện
em . đang nghe mùa thu thở giữa trời tuyệt chủng bóng quan san
một thời phế đế ta về trong ký ức yêu thương nồng hậu của bốn mùa
xin ngất tạnh những điêu tàn mục nát trên dặm trường gian khổ ai ơi
giã từ một hành trang lỡ vận trên con tàu ngập nước thuyền nan xưa
hãy quên đi để về trong tĩnh lặng . để nghe sông núi hờn sông núi
giã từ tình yêu khốn đốn
trên mảng đời còn lại
tôi . đứng bên này giọt lệ ngàn sau để nghe nhung nhớ sầu ly biệt
xin được nắm tay em một lần như đã hứa của chiều mưa giông tới.

VÕ CÔNG LIÊM (ca.ab.yyc. Rememberace-day 11/11/2021)

   VÕ CÔNG LIÊM

hue-truongtien11

 

NHỚ HUẾ (II)

tặng: phan như mai

phượng đã rủ xuống

ngày mưa trong mắt em

những sợi tơ chùng

huế một trời miên man

dưới chân mềm thuở nọ

em . một trời lộng gió

cho tóc mượt mà bay

tôi . một trời bạc xứ

tha phương . hề . tha phương

huế âm thầm nghe mưa

những giọt sầu ai oán

huế bây giờ hay huế thuở xưa

những con đường đó

có còn hay không ?

phố cũ nghiêng mình nhớ

con tàu chạy mãi không ga đậu

giữa trời bảng lảng bóng hoàng hôn

và . trăng đã phai màu mấy dặm khuya

nghe như đồng vọng mơ hồ quá

một thuở xa người mắt lệ trùng khơi

 

nhớ xưa

màu tím hoa sim đó

thổi gió bay về trong mắt em

huế bây giờ hay huế thuở xưa

mấy trời thế kỷ . huế của tôi ơi !

image001

TRANH VẼ VÕ CÔNG LIÊM: ‘Hỏa Tinh / Mars’

         CHIM SÂM CẦM

đâu còn là chiều dài của thời gian

để nghe hương lửa dậy trong lòng

một khúc tiêu sầu chan chứa lệ

cho tới bây giờ mộng đã tan theo.

       NGÀY THÁNG CŨ

đập cổ kính tìm thấy bóng lênh đênh vọng nguyệt lầu

hình như tình yêu vừa hé nụ để nghe hơi thở chạm tơ lòng

vườn thức trắng đêm nghe mùi hương đã nhớ . em ở đây hay ở nơi đâu ?

chiều cổ tích bên khung trời hội cũ để em về nắng cong nhung nhớ

và . sáng tinh mơ mở khoé mắt cười trên mái đầu xanh uơm tuổi nhỏ

đêm ngã vào tôi xoa bóng tối tình cờ lên vành môi kỷ niệm

khẽ chạm vào em bằng trí nhớ mông lung như một lần đã gặp

em hỏi tôi bao giờ trở lại . ở vùng trời cỏ cháy tận sao khuya

bềnh bồng cho gió thổi mây trôi về cuối trời nhập thế nhân gian

tôi . không phải là tôi . je n’est pas moi . của ngày tháng cũ . hôm nay

những nụ cười phẩy gió giữa mùa thu chết yểu không văn tự

trên sông vắng của tháng ngày qua . tôi lao đầu vào bóng đêm tự sát.

 

VÕ CÔNG LIÊM (ca.ab.yyc . cuối tháng 10/2021)

CỦA CHÓ VÀ NGƯỜI

VÕ CÔNG LIÊM

378we5

người đàn bà ngồi ôm chó
lông xù tóc trắng xóa
phủ đầy tai mắt mũi miệng
tên gọi đi-va
trời chuyển mưa
dưới căn nhà cổ
đi-va của mẹ
chó vẫy đuôi mừng
đi-va . đi ra . đi vô . đi ỉa . đi đái
ngoài hiên giọt mưa thu
của ngày xưa hoàng thị
người đàn bà ngồi ôm chó
nhớ thuở đi-va còn bé
thường hay khóc đêm
nay hơn bảy mươi tuổi đời
thân mềm như gái mười ba
người đàn bà ngồi ôm chó
chó cười trong mắt chó
người cười trong tay nhớ
một sáng trời mùa thu
chó tru
người ru
vu vơ bài hát xa xưa
người đàn bà ngồi ôm chó
giữa chó và người
một đời lên xe xuống chó
một đời bạc trắng như vôi
cả hai đứng dậy
căn nhà cổ bậc khóc
đêm và ngày vắng tanh
đi-va
đi ra
đi vô
đỉ ỉa
đi đái
ngoài kia trời đang mưa ./.

VÕ CÔNG LIÊM (ca.ab.yyc. sáng chủ nhật 17/10/2021)

 

Thơ Võ Công Liêm

Thu221

THU ẨM

núc cạn chén
mừng tuổi đời đi qua
còn lại gì giữa mùa thu lá đổ
tháng năm dài mòn mỏi kiếp đời dư
núc cạn chén
để thấy phong ba một kiếp người
lá trên cành còn níu chút thời gian
có còn hơn không giữa mùa đại dịch
may mà có em đời còn dễ thương*
núc cạn chén
mùa thu nắng đái lên vai gầy khổ hạnh
trên dặm trường xa ngát đến ngàn sau
một đời chắt lọc hoang mê tình dã sử
mưa hoàng hôn rơi chậm quá ê chề
núc cạn chén
để thấy mình là bụi
giữa trần gian lắm thứ có không
cuộc đời trôi như con thuyền xé bóng
núc cạn chén
không còn chi nuối tiếc
và . lá bay về nơi chốn hư vô
núc cạn chén
một mùa thu chết
để nghe tàn phai theo tháng năm.
* lời nhạc của Phạm Duy.

SANG MÙA
tháng mười nực cười
sợ mùa khô lá cháy
trên tay buốc lạnh tháng ngày
vàng hoe đứng bóng
thân tàn lũy xưa
mùa đông rụng đầy trí nhớ
trong khoang thuyền bỏ hoang
vòng tay đón gió
dưới mắt môi . em
nụ hoa chớm nở
nhớ mùa thu qua.

HÌNH NHƯ
ta sợ bóng tối đe doạ linh hồn nhược tiểu
lên thân thể hao gầy phiến diện trí nhớ hoang mang
em . trong lồng kính tình yêu nhá nhem chiều tắt nắng . ta
những ngón tay dài như lệ sa trong vùng nhiệt đới đam mê
chuông gióng ắt tình thâu đêm giữa trời lảng vảng bóng ô lâu
mùa thu chín ổi lá trên cành . đáy đất hờn ghen liễu vẫn xanh.

VÕ CÔNG LIÊM (ca.ab.yyc . đầu tháng 10/2021)

 

SỚM THU / NĂM MƯƠI NĂM

VÕ CÔNG LIÊM

Thu221

SỚM THU
đêm qua lá ngủ trên cành
sáng ra vàng rộm cả trời chân mây
thu đến thu đi thu lại đến
một trời bát ngát tiêu tương nhớ
xưa trên tay mềm yêu dấu
dưới trời
thả tóc theo mây
một đời
mộng vỡ tan theo
đuổi theo
bóng ngã theo màu thời gian
tôi . ấp mộng ủ vàng tay nhớ
một thoáng xưa về mộng dưới trăng
vàng lá bay mênh mông
úa màu quan tái đau
mùa nhớ
đưa em vào quá khứ
xanh màu lá
ướt mắt môi
tàn thu
bay theo gió
một chiều tắt nắng . em
ưới mi đời phôi pha
trên từng ngón xuân nồng . tôi
một thời dưới thân tàn ma dại
nép bên đời một quạnh hiu thôi.

UỐNG RƯỢU
một chiều thu
mời em
cùng tôi giữa mùa đại dịch
chén thừa chén cạn chén đời trôi
mời em
núc hết
cõi trần ai
mật đắng với chua cay . và
hứng giọt sầu cho nhau
lên ngọn hoàng hôn rơi.

NĂM MƯƠI NĂM
tặng: người vợ quê.
hề ! mới hôm qua
mà nay vàng lá úa
bao mùa thu đi qua
nửa trời thế kỷ ươn
mừng tuổi thơ yêu dấu
buồn tuổi đời chưa chôn
để nghe con nai vàng ngơ ngát
đạp trên lá vàng khô*
ướt tràn hoen mi em ./.

VÕ CÔNG LIÊM (ca.ab.yyc. vào thu 9/2021)

* mượn ý thơ của Lưu Trong Lư