MỘT BUỔI ĐI VỀ (II)


VÕ CÔNG LIÊM

aovang

nắng trải dài hoang dại
ngày xa rời thực tế
đêm ướt sủng cụm từ
hoang mang đời hoang mang
mưa nắng vô thường tận
một buổi đi về trăng úa đường xưa
tóc xanh che mái hiên nhà ngày đó
tồn liên tồn lại tồn sa mạc buồn
nhớ thét từ đây bóng nhạn sa
đê mê quần dại ngất từ nỗi riêng
lệ pha một dãi phương trường
mộng phiêu du chiêng đàn cuối bóng rừng thưa
miền u tịch lố lăng phù trầm nhân nghĩa thác cô thôn
gọi sương ở lại chút tình cố đô
để cho gió động phù du kiếp nào
trang trí tuệ lá cửa sách xếp lại tàng y một buổi nào
giấc trường tồn lật qua lật lại tồn du mộng hoài
tha di lại nhớ sa di cuối đường trần
ai từ dạo phượng ru cổng chào
chung hổ phách cạn chén sầu
em . nghiệng một nửa / ta . nghiêng một đời
chiều pha lê tưởng chừng nguyệt hắc
đêm giữa triều ngọ môn chưa ngon giấc
một trời mênh mông tuyết trắng phau
rừng xưa
gió dậy
hoang đàn
em . trề môi đợi giọt sầu đong đưa
ta . hồ ly tinh một kiếp giang hồ tận
giữa cõi ta bà trà trộn với ma trơi
em ngoắt nón lá ta truồng trần như
hốt nhiên xuân đến
bất ngờ nẻo xa
sông nại hà đêm đêm vùi dập
giữa lòng sâu thi thể thần thông
ngữ diệc phi thường túy điệu hằng tâm
cẩm đoạn phù vân đoản mạch nhiên
cõi trần . gian dị . tâm . bồi hồi . loan
tiềm nhập lòng mây nhẹ gió đùa
ngã sa đồn trú giữa thinh không nào ?
với con đường miên trường nọ thốt đầu kinh
từ trụ lang sát-na-vô-tận-số cuối mùa chiêm bao
là khác vọng thét từ cửa qủy nhập môn trường
khảm kha thể điệu phong tình một mai
rừng lõa thể đơm bông vàng thu mắt biếc

ngắt từ độ huệ lan chưa nếm nụ
xuân đã về kinh nguyệt hốt nhiên thành
sắc âm dương trước sau như vọng động
buổi đi về trong nắng trắng trời trong ./.

VÕ CÔNG LIÊM (ca.ab.yyc . Mùa lễ xanh St. Patrick’s day 17/3/2021)

VÕ CÔNG LIÊM

ke say-drunker

TRANH VẼ VÕ CÔNG LIÊM : ‘ Kẻ say / Drunker’


MẤY LỜI VÔ NGHĨA

động thất lạc chiều nghiêng bẻ gió
chướng qui trần nằm yên ngoài ngõ đợi
cho thênh thang rơi chậm chốn hoang đường
lương nguyệt màu mắt xanh dung thệ nguyện
sắc kính loan cùng mây viễn xứ . sóng lung linh điệp trùng
trẹo ca tiền mưa xuân nhật đào khoa vũ
dạ lý ngư ghềnh dậy giữa lòng đêm
bờ kinh hải nhập sào . ua uất thành trúc phiên tác nệ
cộng tích dư phương lệ mãn y nhiễu kinh phi
dị muội ta về trong nhịp khắc cô lâu dữ bóng
trời bỏ ngõ ngụ ngôn trần thế
bất kiến lộ nhân
duy kiến thổ
mấy lời vô nghĩa đốt thành than
mặc khải dự cuộc đêm trầm tịch hố
oanh giạt thê lương khâu tình thế sự
đáo mộng thường khi gạc bóng chiều
hoang mang bả tửu khan hoa hữu hiền
tuyệt mộ trong mưa như hải điểu
ngã nguyện đời dư vô xứ tuyết
thu tha . dạ hàn . ức xuyên
vọng phu xứ
giang du du
gió tây về đem đông tới nửa vời
mây biệt xứ giăng mắt trời quá khứ
nước buồn ơi . phất phơ màu gió cũ . sương phơi gió
tang hạ khởi vô sơn thượng nguyệt
hề chi gió phương nam thổi xuống đám lục bình
bình minh sa mạc hồn phiêu du nẻo về
ngã tập kiều ngụ ngôn vô dữ ngữ
từ vô tận tạng tam tăng nhị trùng
vô nghĩa tình thư
vô nghĩa tình như
vô nghĩa đời dư
sầu cổ độ hoang mang trời nhiệt đới
thù bất cộng đái thiên . hề . bất động
lạc chốn giang hồ lăng phong tuyết
ngụ ngôn xuân đầu trại cuối hạ đến thu sầu
ngược ngạn dòng sông chũy như chu
lịch hành thiên ngoại phiêu bồng
đó đây mặc cả mù sương ngộ chừng
bốn mươi năm mỏi gối đan trình
nghe như vọng ảo một đời thất thanh
phi phong hồn . tái nạm gầu gân sách đầy một gánh
thất kinh cõi người
màu lan man u huyền bỗng nhớ
hoàng hồn dậy . tuyết chưa tan
mấy mươi năm một kiếp người
rút về tịch dự nghe thêm ơ hờ
như băng trường tình giữa chốn phù hư

đói thương con nước
đói thương phận người
xa kinh kỳ biệt tích ly
gọi cho hương phấn sơ khai nhị trùng ./.

VÕ CÔNG LIÊM (ca.ab.yyc. đầu tháng 3/2021)

DU DU

VÕ CÔNG LIÊM

image001

TRANH VẼ VÕ CÔNG LIÊM : Người đội nón đen / Man with black hat..

gởi: một số bạn học cũ.
ta . du đảng một đời
một thời mật đắng với chua cay
ta . du côn lăng loàn vào thế sự
mặt trắng như vôi
đu đưa mặt trời
đánh đu mặt trăng
ta . du thủ bởi đời không thực
ảo hóa hư vô ta niệm nam vô
ta. du thực thất nghiệp bốn mùa
cuối thiên nhiên ngập ngừng hoa cỏ lạ
lớp phiêu bồng tiêu diêu miền cực lạc
hỏi thêm rằng du dủ con nước gập ghềnh chăng ?
bờ thê ngủ thiếp cơn mê dậy thì
ta . phù du nắng chẻ đầu ngọn phố
chao ôi ! du đảng du côn du thủ
một lần du thực hóa lênh đênh
nằm nghe tâm sự giữa bờ mộng di
du du . hề . du du
thét gào đức hạnh bồng lai
thét gào lồng tỏa mười phương đó tề
thét từ tâm điạ vô tư chốn trần
du côn mánh mung chôm chỉa
du đảng lăng loàn thế tục
du thủ buôn thúng bán bưng
du thực vào chốn hoang đường cổ sơ
du dương nghe vọng tiếng đàn trần ai
ta . đu đưa cho lá trên cành nghe nhịp thở
giờ nguyên thủy giục đơm bông nhị trùng
trường hư . đoản thán . mấn đầu
thù du em vốn xồn loa một mình
giọt âm u ngậm vừng trăng giữa đời
xe hoa mục nát vô ngần tịch liêu
ta . đốn mạt một thời rất tự vệ
hốt nhiên ta nhớ hốt nhiên thành
nằm mê miên trường mộng nhũ hoa
trái chín em thơm dài tay nhớ
du hồn dụ bóng mộng dưới trăng
thưa rằng :
du du một đời
du đảng một kiếp
du thủ hóa thân
du thực chạy làng
du côn tá hỏa du thiên điạ
du học . hóa mộng du đời hết kinh

con ruồi con muỗi con ve ve
con vi con rút con kè kè đó đây

du du
thỏa chí
mộng đời
thế gian ./.

VÕ CÔNG LIÊM ( ca.ab.yyc . Cuối 2/2021)

HỘI CHỨNG


VÕ CÔNG LIÊM

12

bỏ hết vào trong bị
lang thang đi
hoang một đời
quên luôn dòng sông bạc mệnh
hoang phế một thời
những núi đồi lồng lộng
tuổi thơ . ngây si mê
đắm đuối như cơn say
mưa hứng giọt sầu
hàng cây đứng bóng
hội chứng down syndrome
tinh thể mòn sinh lý
bệnh viện hết chỗ nằm
đại dịch tràn lan
tôi . gọi cô vi cô vút làm bằng chứng yêu em một lần trong đời
không bóng người qua lại . con đường sưởi ấm mùa đông
em . đứng lặng nghe đời đi qua vội giữa buổi hôn hoàng
bóng xế tà trên võng mô tình ái những cụm hoa buốt gió
lên từng phiến tơ chùng nghe âm vang từ biệt muôn trùng
phố ngủ đêm về còn thức trắng tiếng hồ cầm réo rắt canh thâu
cho âm ba đồng vọng để trăng . về lột xác tình ta một thuở nào
ngoai kia nghe như mơ hồ một thời lãng đãng với trăng treo
nghĩ về tiếng hát cuốn gió
nghĩ về rèm xưa đã khép
nghĩ về một ngày chia xa
cát bụi ơ hờ cát bụi ơi !
trên vĩa hè đếm từng cọng lá
khe khẽ tiếng mẹ ru năm nào
gió bấc hà nội
buồn lên cơn sốt
nhớ sài gòn phố núi cao
dưới sân trường đại học
em . xa trời quá khứ
tôi . một kiếp vong thân
hội chứng méo mó
hắt hiu trời phương ấy

hoang mê hoang mang say
tình tang tình tang theo
gió đập cửa kính
đèn phựt theo mây

tôi . bỏ cuộc chơi mùa đại dịch
em . chờ thu tới cho lá bay ./.

VÕ CÔNG LIÊM (ca.ab.yyc . 29 / 1/ 2021)

SẦU THỔI XUỐNG ĐẦY*

Võ Công Liêm

200808CatTrang

thứ bảy trắng trời
mây xám bay
chiều giáo đường khai kinh hồi chuông đổ
trên bước đường tùng lộ
chưa một lần đêm rơi vào cát bụi
cát bụi mệt mỏi
ngủ trên vai trần
đôi ngực thở trắng tinh
đợi trăng về lấp kín không gian
tôi . nghe từng bước âm thầm
tiếng thời gian lần vào cõi vắng
nắng thổi xuống hàng mi
sáng ngập đường đi về hội trẩy
hoa buông tay trần nhảy điệu hoan ca
áp huyết cao phập phồng trên giường bệnh
xin mũi vác xin làm dấu thánh để đời
bên kia đường khung cửa đã khép hờ
chim xa bay niềm nhớ
em . buông tay cho quá khứ lên xe
của tháng ngày mưa lũ ngập tràn sông
vòng tay ôm gối tròn mộng mị
mới thoáng đó mà giờ đây xa ngát
bình minh dậy từ khi trăng mười bốn
ngoái nhìn bở ngỡ sau màn gió
bỏ cuộc trần ai trong tiếng hát chơi vơi
lên từng phiến tơ chùng
giữa bao la huyền thoại
hắc hiu giọt dương cầm
trăng mệt nhoài
mắt môi cháy bỏng chiêm bao
sài gòn nhớ
chiều mưa ngồi trong cửa kính
đêm tháp ngà
em . đứng bên đời dưới bóng quạnh hiu
mê hoảng những vụng dại bất thường đến
cho tóc bay giữa trời tháng hạ
chưa hết đông mà sầu thổi xuống đầy
biển nhớ hoài một vừng trăng dang dở
tôi . ghì chặt nỗi đau gậm nhấm
núc cạn những gì man dại đời nhau

một vùng tuyết trắng
giữa lòng đất đục
những cành lá ngủ
mấy độ thu về ./.

VÕ CÔNG LIÊM (ca.ab.yyc cuối 1/2021)

* dựa ý thơ của Trịnh Cung

NGƯỜI ĐI NGƯỜI Ở NGƯỜI VỀ

Võ Công Liêm

LE_THU_2-e1611075508284

nhớ: tiếng thời gian Lệ Thu (1943-2021)

nhớ xưa
trăng khuyết một lần
những bốc đồng quá đổi
viễn mộng với trăng sao
oanh vàng
con chim thuở nhỏ nằm im tiếng
bờ cát phẳng phiu bạc nắng hồng
biển nhớ một đời biển nhớ ai ?
tình đi khuất bóng mờ nhân ảnh
để tiếng thời gian sống với đời

tọa thiền
giữa trời đứng bóng
chiêm nghiệm tình phôi pha
cứu rỗi
linh hồn ướt sủng mơ hồ đó

người đi
theo mây gió
người ở
buồn cách ly
người về
bạc khói sương

dĩ vãng vàng thu không trở lại
một mùa thu chết đọng trên mi
còi rúc nhắc nhở tàu chưa đến
giữa chốn ba đào bóng tịch dương .

TIẾNG ĐỘNG

con tàu nghiến nát tim tôi
nghe ran ran trời quá khứ
một chiều rất bạt gió
giữa trời tuyết trắng bay .

DỊ ỨNG

đêm chẻ những cành lá ngủ
say miên man say như mơ
vườn lạnh
đón những thắc mắc vô kỵ
cho đời mệt mỏi buông tay .

VÕ CÔNG LIÊM (ca.ab.yyc. 16/1/2021)

 

 

 

TRỜI THÁNG GIÊNG

VÕ CÔNG LIÊM

le thu 2

tưởng niệm: Lệ Thu (1943-2021)*
vỡ tung hoài niệm cũ
có điều gì bất ngờ
hoa cỏ lau nghiêng ngã
theo sau mặt nạ cười
fuck . fuck . fuck . khoái khẩu
cờ bay theo gió cờ bay
trời tháng giêng
đầy um ruồi muỗi châu chấu đá voi
những trái mít đái buồn tay chưa hái
va chạm giữa đời cùng đám ma trơi
ba que xỏ lá vang vang trời nhiệt đới
mùa đông hiền lành trên ngọn cao
khổ nhục kế vỡ toang
covid trên giường bệnh
người tình tôi ở đó bấy lâu nay
xin khất lại một ngày không xa lắm
hát nốt cuộc tình tôi
vườn mai chưa hé nụ
gió rất lạ
thổi vào đầu ngón tay
em . đánh thức bình minh dậy
giờ thứ hai lăm xuôi tay từ đó
khẽ động dưới chân mềm
mặc cảm tê buốc nước đá
từ nguồn rung thầm kín
tháng giêng ngủ ngon
tháng giêng phớt lờ
mưa lất phất bay
‘trên tầng tháp cổ’
người ta thổi phồng thần tượng hoang đường
không cầu chứng suốt đời trốn lạnh dưới cơn mưa
những cụm từ dã man dưới đôi mắt kính trắng
nhớ tên tuổi trong chiến hào một đời không mộ chí
nào có ai hay !
tương tư đột nhập bất ngờ
khoanh vùng thành phố chết
nỗi buồn lục điạ
môi trường rác rến
tháng giêng thả khói
rưng rưng mùa hoa gạo
nhạy cảm loài sâu bọ
nguyên âm biến dạng thành vần
lạc điệu câu hò đứt bóng 1975
lên xe về miền quá khứ
tôi . hình dung từ mùa thu không trở lại
tình ngoài chạm vào sâu thẳm
khóa chặc cánh cửa mạn nhện

tháng giêng khóc lẻ loi
trên hành lang bệnh viện
tiếng hát đi theo gió
chao động giữa thinh không ./.

VÕ CÔNG LIÊM (ca.ab.yyc giữa tháng giêng tây / 2021)
*Lấy tin từ báo Người Việt (California USA)

 

 

Thơ Võ Công Liêm

muaSG


CƠN MƯA MÙA ĐÔNG

Riêng cho: bs. dương đình hùng

tháp chuông nhà thờ
bỗng dưng khựng lại
giữa đêm
loài thú hoang
trườn mình vào bóng tối
ngã qụy dưới chân tình yêu bất chợt
rằng em cho ta một nụ cười
hổ thẹn bởi bàn tay
nhem nhúa đó
cơn mưa mùa đông
đau nhói con tim
không biết tóc em ướt hay ướt theo mưa ?
ngoài sân những đốm lửa lập loè cháy
khi trời tắt bóng
buồn theo cơn mưa
gió thổi ngược chiều
ta . đưa hiện tại vào đêm
mà mùa đông thì ở trên cao
nghe vọng câu hò
nhớ chợ đồng xuân năm 1954
phơi đầy thịt chó lá mơ phai
ta . nhắp chén tạc chén thù
lúc trời vừa sáng
xanh xanh diệp lục tố
trên tay
cụm hoa còn non nớt
hái vội
một chiều rất hoang liêu .

Ý NGHĨ VỤN

mặt trời đi ngủ sớm
nỗi kinh hoàng nghe rộn bước chân đi
và . mắt môi em thơm màu son thuở nọ
trên chiếc võng đu đưa gánh xác về bệnh xá
chập choạng tuổi mòn nghe tiếng được tiếng không
mùa thu cõng em đi hái lá vàng thu năm nọ
chắc chiu hoài niệm bất ngờ khi bước vào đời
vùng trí tuệ đông cứng mùa đông bắc băng dương
con đường thành nội ướt đường mưa xứ huế
em . nhìn những phiến đá buồn cô độc lang thang
phố khép lưng chừng nhớ sương rung chiều đà lạt
đêm ngủ quên trên vĩa hè một đời không than thở
giữa ngã ba ngã bảy nghe lạ con đường mới đổi tên
trăng tẻ nhạt vô cùng
nghĩ về những gì hụt hẫng
nghĩ về một cuộc tình bỏ hoang
nghĩ về thời quá khứ đen than đá
không cần thêm bớt nghĩa lý của danh từ
ngụ ngôn trổ bông dưới lăng kính chiêm bao
gậm nhấm vài câu thơ mỏng dính tặng người yêu dấu
vấp phải đời phàm tục
con thuyền vỡ toang
cát bụi vỡ toang
phóng thích những con chim ra khỏi nhà bọc kiến đen
cảm giác đông nước đá
chờ mũi vắc-xin làm dấu thánh
tuột dưới chân cầu vô định
tôi . đứng dậy thì trời đã nhá nhem
con chuồn chuồn biết nói
không thể có điều đó
ngoài tầm tay của biển
em . nhặt những cánh hoa trốn gió cho ngày chủ nhật
thiêm thiếp cơn mộng dữ
viên thuốc độc bọc đường làm quà tặng bữa tân hôn
chiều treo mình bên cửa sổ nghe vọng tiếng thương ai

chờ trăng núp bóng
húp vội chén tình .

MƯA
tặng: joe hùng nguyễn

ta nghe rất gần những khoảng cách
sau lưng nhà thờ đức bà
sài gòn mưa âm thầm
chảy dài trên con đường một chiều
tự do
hay
đồng khởi
con đường vẫn lá me bay
chủ nhật đóng khung cửa kính
tôi . về khuân vác lại
một đống tàn dư
của thuở nào ./.

VÕ CÔNG LIÊM (ca.ab.yyc . đầu tháng 1/2021)

TRĂNG DỰ KHUYẾT

Vtrang2Õ CÔNG LIÊM

 

giữa cơn mộng ảo bất thường
buồn vui mất dấu
tình xưa lại về
này em . trăng viễn xứ phơi hồng đôi má
chiều cô thôn nắng tẻ đơn thuần
viền khoe môi đỏ trăng thề nguyệt dư
ba xuân tịch mịch u huyền
lắng nghe tâm sự giữa trời hư vô
sao mộc hóa vờn ve sao thổ giới*
tám trăm năm
một hẹn hò
tồn lưu tại thế
tồn lui lại gần
giữa trời thế gian
thiên điạ du du hà cớ sự
so vai thế kỷ lồng che mấy mùa
ta chôn giấu cả một đời
trăng mênh mông trải nhánh tư hiền
nằm thê thảm với bồn chồn điệu xưa
em . cô thôn vẫn ngoan hiền một khi
rằng trong thi thể trắng ngần đường tơ
trăng đầu ngọn
tôn liều dự nhựt thân qui
dã tập kiều môn hồn du thủ
vầng thiên di ngạ ưu phiền
hồng vô mịch xứ bất thăng tình
trăng say lõa thể cườm tay ngả mời
về giữa ngọ
trắng bàng hoàng
khép đôi môi lại trăng thề thuở xua
hố vô ngần ánh sáng quá như nhiên
dàn trải mộng phương lan
điệp trùng đại hải gầm vang
em . đến cùng ta
tiếng không lời
cho trăng dự khuyết một đời lãng quên
nụ thơ ngây hái ưu phiền
từ phiêu du đó tới vầng nhật quang
thần thiêng liêng
khai trường ngữ
cho vừng dương hoằng viễn
mà quặn nhớ niềm đau
đêm giả từ
lời cầu khẩn
một đóa hồng
yếu trong tay
trăng khép lại

giữa thinh không
hồn nhập hồn ./.

VÕ CÔNG LIÊM (ca.ab.yyc jan 1/2021)

*Mộc tinh (Jupiter) / Thổ tinh (Saturn)

Thơ Võ Công Liêm

mona lisaGỞI NGƯỜI TÌNH XƯA

nghĩ về : Mona Lisa (1452-1519)
dịch cơn rộng mối bờ môi
não thiên lấp loé biển thôi giận hờn
hồn tê liệt nỗi bâng khuâng
che khuất bóng tối mờ em nẽo về
cây cô thôn xõa lá ưu phiền
miền cô tịch nọ lộ tuyến đường miên man
nằm trong gối chiếc lại mơ bàng hoàng
chân đi chập choạng bên đường mộ quan
ngọc dồn tồn lọa viễn thương ngậm ngùi
sát na vô tận hắc chiều liễu dương
đứng nghiêng bóng đợi tâm tùy tiện di
chuyển thân tâm ngát mùi hương lập tồn
tại vì đất đục cõi trần diệt vong
hốt nhiên tự tại tồn lui trở đi trở lại cho đời ngát hương
ta về một cõi bình minh dậy nắng ở trên cao nắng rọi hồn
buốc lạnh canh tàn bóng ngạ dương
lưỡng quyền dục mõ phi nghi đáo
lập lờ độc cước vào hang động mò
để em nằm trải mộng mê đường thuở xưa
đường trần ai biết bốn lề trúc thưa
giữa khuya âm trực dương đà ngủ mê
để trăng vàng võ ta về bóng hoang
tàn cơn vi diệu sao mòn tứ phương
chấp tay xin vái nguyện cầu
cho mai sau đó
như nhiên cuộc đời
ngọc thỏ dồn lân du ngã thượng
phiêu diêu dục mã tự đời Thuấn Nghiêu
âm ti bóng đổ bên đường vọng quan
về lấp cõi thế trận đồ ngã ba
cho cây lá trổ
miên trường lũy xưa
tiêu diêu viễn tượng thâm u xứ
phù du kiều lộ mấy mươi đoạn trường
nhớ cho tâm sự lại tồn
luống tưởng di hề diệu thời ngụ trang
lá cây bải hoải trăm đường nhớ
rằng khe thốt nốt cho môi hé cười
dòm trộm miêu cường lộ tuyến xưa
lồng che nguyệt bạch ngã tự tư
ta . phiêu du chốn ta bà
thơ theo óng chuốt bốc lừng
hồn lùa cuồng hứng kiêu hùng một khi
thuần chất chiếc lá đong đưa
trên tay là nhánh hoa chưa lộ thần
năm xưa dâng tặng giữa triều
ngự quan dài đường hái trái lệ chi
cho thơm thân xác ngọc ngà nửa đêm
miền vĩnh cữu hạnh đơn tuyền
khép đôi môi lại ngõ hầu khác xưa
ngắt hoa tiềm tạng nặc mù sương rung
trăng thế kỷ chén quỳnh tương một thời
tháng năm thiêm thiếp hồn sa mạc buồn ./.

(ca.ab.yyc. cuối năm 12/2020)

COVID 19

ta úp mặt khóc
một chiều côi cút
linh hồn mục nát
đợi gió đông về
hoàng hôn rủ bóng
cô Vi cô Vảy
quá nửa vừng trăng
buồn vui lẫn lộn
giữa trời
hoang vu
không một
bóng hình

NẮNG

tặng: thi sĩ TVL
giữa trưa đứng bóng
nắng cực vô cùng
xin một chút tình
cho người khất thực

GIẢ SỬ

mùa đông ta gọi mùa xuân
rồi òa lên khóc như trẻ thơ
tuyết rơi vào sa mạc ướt mắt bò cạp
con chim trốn tuyết bay về đâu nhỉ ?
ta về một cõi đìu hiu gió
giữa chốn ta bà bóng tịch dương

VŨNG TỐI

giữa trời thế kỷ mấy tỷ vì sao đang chuyển động
một trời đất đục cho gió hân hoan uống mặt trời
để theo mưa mở ra từng ngõ lạ dưới chân người
hoa tuế nguyệt vung vải một thời một đời hư vô tận
vấn khăn mỏ quạ lất phất gió sương ươm mắt ngọc
ta . phóng túng chưa dứt tửu nhục thê noa sát tan am
những cánh cửa mở tung lời khấn nguyện như đã
đoạn tuyệt trần gian cho mắt mi xanh lá ngủ
cho đỉnh trời nom thấy ánh dương soi . thoi thóp thở
làm hình tượng người tình chân thật một đời mưa nắng
có bên nhau vào đời dưới bầu trời ẩm đục quá trần ai
sát na thời gian không có trăng đáy nước làm nhân chứng
chỉ tay lên trời là mộng không thành thực giữa thế gian
sự thật xoáy vào đời bằng lời mật ngữ đại chuẩn đề
hóa thân làm người cho thử thách muôn năm vận số
vũng tối ngã qụy khi mặt trời vừa thức dậy một sớm
mai nào cho cuộc tình tháo vát mảng trăng sao vô lượng
kiếp phù du cho ‘khoé mắt biển sâu / cho đời hoa bát ngát’*
hóa giải đời tha ma điạ tha trùng trùng duyên khởi nghiệp
thoát khỏi vòng phàm tục . ta bà ha ta ra ma . úm ma ni ./.

VÕ CÔNG LIÊM (ca.ab.yyc . mùa đại dịch . Xmas. 12/2020)
*Thơ: Thanh Tâm Tuyền.

TÀN PHAI /VỤ ĐÔNG XUÂN (III)

VÕ CÔNG LIÊM

1phonho

TÀN PHAI

tặng: vương trùng dương.

rồi những lần ra đi
bỏ lại những con đường
con trâu bụi cỏ
hồn nhiên tôi
một thoáng mơ phai
những đốm lửa lập lòe trí nhớ
trong hang cùng ngõ hẹp
biển khổ đứng dậy
rong rêu sống lại
một lần trong đời người tù khổ sai
được yêu em bằng trái chín thật thà
trên băng tầng vô cực của gió
mưa giông bão
với bùn lầy
đưa nhau vào
cuối đường hầm
tuyệt chủng thời gian
chôn vùi quá khứ
quá khứ rắn độc
hổ mang thuồng luồng
dao gâm lựu đạn
đốt cháy linh hồn
vùi dập thể xác
tôi . đưa em vào động thần thất
không một bóng
mặt trời đen
để giao hoan
cho thỏa mộng
giang hồ một kiếp từ đây
lạc bước sang ngang làm lính thú
của chó và người
sa mạc lõa thể
dưới lòng cát bụi
cát bụi hôn mê
tôi . hô hào tôi trong vũng tối điêu tàn
em . giao chiến em từng giọt mưa đau
rồi những lần ra đi
không một dấu tích
‘xin chiếc lá vàng làm bằng chứng yêu em’*
một thời mạt pháp
với trời hư không
tàn phai !
niệm câu thần chú mà đãnh lễ . nam vô phật
‘a di lỵ đá tất đam
a ly lỵ đá tý ca lam’
đêm mông lung mưa rơi bất tận
sáng đường trần mộng mị qua đêm
mắt môi em dị nghị giữa chốn ba đào
những bải cỏ sâu đêm còn thắp đuốc
bằng lời yêu ca dao
lên xe về miền đất hứa
một lần bỏ cuộc chơi
xa chốn bụi đời
‘làm cây thông đứng giữa trời mà reo’
lang thang
sắc lạnh
một đời
chiêm bao ./.

(ca.ab.yyc. 1 /dec/2020)
*Những chữ trong ngoặc đơn là tùy hứng không dẫn chứng nó là của ai. Bởi nó là vô nghĩa thơ. vcl

VỤ ĐÔNG XUÂN (III)

tháng chạp tây
bỏ ngõ vụng về
nắng núp sau tà áo
tuyết phất phơ mùa gió đứng
đông về chưa ?
mà lá đã nghiêng cành
cuối đường mưa
hiên khung trăng trải vụng
mây mùa thu rụng tàn hơi thở
bềnh bồng trôi
như hằng mơ
cõi lạ len qua từng ngõ ngách
xuân lấp ló sau mành đứng đợi
nghe đâu đây tiếng ai gọi hồn
tháng giêng chập chửng đi
giữa lòng đất mẹ
để qua tháng mình trần trải gió
ngáp tàn dư lệ của tháng năm
lất phất mùa đông năm nọ
chờ em dưới mưa sâu
gió bấc hà hơi ấm
liễu buông lơi mưa phùn
những cụm hoa bẻ gió
lướt qua khung trời chất đầy mộng mị
thời gian phôi pha miên man nỗi nhớ
tóc em đổi màu mây theo gió bay
để nghe
tiếng ngất
của biển
chờ nước lên tát cạn bờ môi
trăng bỏ dở cơ hội
tím hoa ngoài hàng dậu
lưa thưa mắt mưa mùa đông
mùa chín chưa hái
non tháng năm chờ
em . nhặt hộ dùm tôi
qua đông xuân đền bù quá khứ
cho hoa thơm xanh ngát
cho nắng chảy lung linh
một trời biền biệt xa đưa
ngoài hiên mưa rơi . mưa rơi

tôi . gọi tên em
một trời thế kỷ
giữa chốn ba đào
làm con quốc kêu ./.

VÕ CÔNG LIÊM (ca. ab.yyc . đầu tháng 12/2020)

ĐẾN GẦN THƯỢNG ĐẾ

                                                CỦA CON NGƯỜI

VÕ CÔNG LIÊM                             

MM

TRANH VẼ: ‘M.M dựa đồ họa của Andy Warhol’ Khổ: 15” X 26” Trên giấy bià cứng. Acrylics+mixed+ house-paint. Vcl#22112020. *Andy Warhol (1928-1987) Sanh ở Pittsburgh (PA/USA) Chết ở New York (NY/USA). Gốc Tiệp Khắc (Czech). Nghệ sĩ chuyên vẽ minh họa trên ảnh và hình ảnh quảng cáo. Kỹ thuật về đồ thị (serigraph technique) Để lại nhiều tác phẩm Pop Art. Tranh và đồ họa hiện có ở Viện bảo tàng Nghệ thuật Hiện đại và Đương đại. Đã triển lãm nhiều nơi trên thế giới. Được xếp là danh họa của tk.thứ Hai mươi.(Art of 20th Century by Taschen)

   Trên nguyên tắc đây là một ý niệm hiểu biết hết sức đầy đủ của vấn đề; là những gì do từ nhận thức ở nơi chúng ta với sự hiện hữu của Thượng đế. Chúng ta phải coi đây là điều hệ trọng để đến gần Thượng đế của con người –Man’s approach to God là tùy vào sở năng tự nhiên thuộc trí tuệ của con người; đó là điều mà con người tìm đếnThượng đế giữa lúc này. Sự này tùy vào niềm tin. Chỉ có như vậy mới mong đưa chúng ta đến hình ảnh của chủ đề, một chủ đề hoàn toàn sống thực không còn ngại nghi là Thượng đế có thật hay cho đó là sự siêu nhiên để lôi cuốn vào niềm tin –the super-natural gift of faith.

Để hợp lý hóa; chúng ta dựa vào những gì thuộc quan điểm triết học để làm sáng tỏ vấn đề, với một vài ý niệm có từ những lý thuyết khác nhau; là một tổng thể để xác định hay không có Thượng đế giữa cõi đời này. Biết rằng chúng ta đang sống trong thế giới khoa học thực dụng là một phủ nhận sự có mặt của Thượng đế. Tuy nhiên; bên cạnh sự phát triễn của nền khoa học hiện đại, có thể cho chúng ta thấy được sự vĩ đại của vũ trụ, một vũ trụ ‘super-nature’ vừa sáng tạo vừa tạo thành là một khả năng vô biên buộc con người phải nhìn nhận hiện hữu của nó (existence of God). Triết học hay lý thuyết chỉ là phương tiện để lý giải thực hư chớ không phải là cứu cánh tuyệt đối để đạt mục đích. Hiện hữu của Thượng đế nằm trong nhận thức và hiểu biết nơi con người.Có thể đó là hình ảnh của sự thật,có thể đó là hình thái của siêu hình.

Vật lý học ngày nay đã minh định cụ thể và không thể vượt qua trí tuệ và văn hóa của chúng ta. Đó là một tiến trình và một thành quả lớn lao; tuyệt vời và xứng đáng ngợi ca. Vậy thì cái gì cho là xấu xa, hay cho đó là một thứ vật lý tạp nham và một thứ nguyên tử hóa (atomizing) đã có trong chúng ta, nhưng; phải biết và hiểu về điều này một cách minh chính, tức không còn hoài nghi giữa thực, giữa mộngảo là hình ảnh chưa thực lòng tin một cách thấu triệt. Đòi hỏi tin là nhận thức, là hiểu rõ về nó một cách tự nhiên, đó là sự thật về lãnh vực hiểu biết và là một hạn định về nó –but; to be aware of its very nature, its true field of knowledge and its limitation. Cho nên chi tánh hư tật xấu là cái gì cần có để trợ vào cho một thứ tâm lý và hiểu biết khác. Tánh hư tật xấu cần có là một sự đổi mới (tư duy) về những gì siêu hình –What is badly needed is a renewal of metaphysics. Xa đi những thứ trần ai là lột bỏ ở chính chúng ta cái thứ ‘hình nhi tượng học’, nó không sống thực mà trở nên mơ hồ, trừu tượng, không còn là đối tượng chủ thể giữa người và vũ trụ. Vũ trụ là hình tượng học, một sự sáng lập vô hình mà hữu hình. Đấy chính là nhận thức trước một hiện hữu tại thế; con người không thể chối bỏ sự hiện hữu của con người, dẫu dưới hình thức nào hoặc từ nguồn gốc nào từ phôi sinh đến hình thành, lấy đó để xác nhận thực hư, xác nhận giữa mộng và ảo là minh định đối tượng chủ thể, không còn nghi ngờ cho đó là thứ không kế tục hay tiếp nối giữa thế giới vật lý học và thế giới của siêu hình học. Không dẫn ở đây thời kỳ quá độ của chủ nghĩa khoa học, cho dù là hình ảnh hiện đại (the modern image) mà tạo ra phức tạp, nhiều thứ bí truyền và nhiều thứ nhiêu khê (fecund) trong một thỉnh cầu thực nghiệm –là thứ hình ảnh thuộc về siêu hình hoặc cho đó là ý tưởng thực thể để dựng nên có thực; rồi từ đó cho chúng ta cái điều không thể đánh giá được về hình nhi tượng học (symbolical) hoặc đây là chuyện lạ phi thường thuộc hiện tượng học (phenomenological) đưa tới sự nhầm lẫn giữa ‘hình tượng’ và ‘biểu tượng’ trong lúc chúng ta đặc vấn đề một cách rốt ráo.

Đó là nhận thức thế nào là vấn đề xử sự (matter behaves), nhưng; không thể chỉ thị hay truyền đạt chúng ta những gì thuộc triết học hoặc bản thể học là vấn đề gì đây (what matter is). Thực ra; cả hai vấn đề đòi hỏi một nhận thức thấu triệt là chủ thể vấn đề được đặc ra giữa có và không có thượng đế là vấn đề chủ lực của niềm tin. Thượng đế không buộc ‘chúng sinh’ phải tin theo mà để con người tự tin theo là bản thể như-nhiên, là chủ hữu. Giờ đây; thời cơ cho ta những gì có thể hóa giải được giữa khoa học và hiểu biết vì những thứ đó là khát vọng tâm trí con người –The opportunity is now given for that reconciliation between science and wisdom for which the human mind thirsts. Từ cái chỗ đặc vấn đề và xử lý hoàn cảnh là động lực ý thức có nơi con người chớ không phải là động lực ‘ban phép’ có nơi Thượng đế. Cái sự lý này là dấu hiệu chìm đắm để muốn tìm thấy một lần nữa cảm thức của Hiện hữu / the sense of Being . Sở dĩ đi tìm cái lý chính đáng trong triết học là chúng ta đi tìm một sự sáng tỏ của hiện hữu, vì; lý do này nọ hay vì bản thể học lôi cuốn hay trong mọi lý do khác nhau. Sự thực chủ nghĩa hiện sinh là nêu ra lý do –True existentialism is the work of reason; chớ chẳng phải là lý thuyết hóa giải cho hiện hữu và thực chất của nó. (trong L’Être et l’Essence by Étienne Gilson) Bởi; như thế này: nó là thứ trực giác của hiện hữu của một thứ trí năng vô hình –it is the intuition of being (abstractive intellection). Lý lẽ này được coi như tư tưởng của Plato hoặc của Spinoza là sự cớ thuộc trí năng của con người đi vào trong lãnh điạ của siêu hình và có thể xem nó là trí năng thuộc siêu hình học (metaphysical intelligence). Nói chung mọi lý thuyết có từ Plato, Aristotle đến Thomas Aquinas, Descartes và Leibniz. Là những gì mà các triết gia đã cống hiến những chứng cứ cụ thể hoặc đã biện minh về sự hiện hữu của Thượng đế. Thực ra bên trong của trực giác là của hiện hữu hoặc những gì minh bạch cho một giá trị hiện hữu, cái đó được coi là một hiện hữu nguyên trạng (absolute existence) hoặc một Hiện hữu chẳng có chi cả (Being-without-nothingness) là một tổng thể vượt quá khả năng của con người để đối diện trước một hiện hữu của Thượng đế.Việc này không còn mới mẻ gì để tìm đến Thượng đế, nó đến trong nhận thức hiểu biết của những gì bình dị, đơn sơ, một sự thức tỉnh hồn nhiên và một năng lực giải thoát là chức năng của những gì đến từ cõi ngoài của vô tận. Thuở xa xưa khoa-học-triết đã chứa những thứ vô lý, thứ khoa học hình ảnh hơn là tìm thấy, hình ảnh đó nôm na là hình tượng thuộc biệt hiệu bản thể học (pseudo-ontological) chớ chẳng đem lại một hiệu năng nào hơn giữa nhận thức hiểu biết về thế giới tâm sinh lý để đi tới nhận thức hiểu biết về Thượng đế. Cảm thức về Hiện hữu là nguyên tắc trong những gì thuộc vũ trụ tư tưởng của họ là đưa vào đó một khí hậu cảm nhận thích nghi và ngày nay tri giác tự nhiện là một hiện hữu tại thế, có thể lấy từ ý niệm hóa và hợp lý hóa khoa học thực chứng để xác nhận sự kiện giữa hữu thức và vô thức mà không lạc mất một năng lực có từ bên trong của tri giác, bởi; cơ bản của nhận thức chính là tri giác của hiện hữu dành cho một hiện hữu tại thế mà lâu nay ra công tìm kiếm để xác nhận cho một sự thật như-nhiên. Bởi; con người luôn luôn hoài nghi, hoài nghi ngay cả bản thể của mình đang sống; hình ảnh Thượng đế trở nên ‘khách quan’ dưới mắt của con người. Hiện diện của Thượng đế như chứng tỏ cho một hiện hữu sống thực và chỉ đến trong một thỉnh cầu của đòi hỏi. Cho nên chi muốn đạt tới niềm tin là do con người tìm đến Thượng đế, tuyệt đối Thượng đế không tìm tới con người trong khi con người còn nghi vấn giữa hữu thể và tha thể. Hoài nghi tất không có niềm tin. Cốt tủy của tôn giáo là rao giảng niềm tin là chứng giám cho sự thật, sự thật hiện hữu của tại thế. Đến với Thượng đế là cái lý do của con người trong cái gọi là nguồn sinh lực của nó, là một lý lẽ tự nhiên –Human reason’s approach to god in its primordial vitality is a natural reasoning., gần giống như tri giác hoặc là sinh lực không thể chống lại được là trí năng phản chiếu một thứ tri giác hiện hữu. Bởi như thế này: Hiện-hữu-với-không-có-gì (Being-with-nothingness) là làm cho trí tuệ gắn bó vào cái cần thiết của cái gọi là Hiện-hữu-không-có-chi-cả (Being-without-nothingness), bởi; hai dữ kiện là một năng lực chiếu sáng của tri giác là cầm giữ trí tuệ và cũng là nghĩa vụ để nhận thấy sự hiện hữu về nó.

Như vậy việc này nó đến trong một tiến trình hết sức tự nhiên, trong một tri giác lóe sáng ban sơ có từ những hệ trọng chắc chắn để có một hệ trọng khác được sống còn (linh hồn và thể xác tái sinh) một cách chắc chắn hơn –Thus it naturally procceds; in a primary intuitives flash, from imperative certainly to imperative certainty (!). Là những gì có từ trong tư tưởng Descartes cho tới Kierkegăard và được coi là tư duy hiện đại có từ thời đó cho tới thời nay; nó bao hàm một tổng thể về ý niệm thuộc tri giác là một đòi hỏi ở nhận thức để nhìn thấy sự hiện hữu tuyệt đối (Thượng đế) đối với con người. Cho nên chi cái gì thuộc sở hữu chủ là của /of /de cái đó là một xác định cụ thể giữa không là ‘cái quyền’ của con người tìm đến Thượng đế; phạm vi đó chưa hẳn phải hoàn toàn để chối bỏ hay khước từ về sự siêu hình và nếu cho là đã được thanh tẩy (cleaned) của những gì không có lý tính, không thể dung thông (irrationalism). Nếu tư duy đó khăng khăng cho rằng Thượng đế chỉ là hình ảnh của tôn thờ hoặc dưới một lăng kính khách quan khác, nghĩa là chưa hẳn tin có thực trong hiện hữu; Thượng đế nằm dưới dạng thức siêu hình hơn là thực thể sống động. Vị chi đến với Thượng đế của con người trong một tri giác trong bóng không vướng đục; ánh sáng vi-diệu-tính-không sẽ mở đường cho một nhận biết mới hơn. Nhận thức hiểu biết là điều hết sức đặc biệt tự nhiên có từ nhận biết thấu đáo của con người. Tức nhận thức, hiểu biết của con người về Thượng đế (man’s knowledge of God). Nó xác định một cách minh bạch hơn bất cứ những gì thuộc lý lẽ khác hoặc những gì phát triễn của khoa học là hợp lý (logical) vốn dĩ đã chứng minh.

Mỗi khi chú ý hay để tâm tới kinh nghiệm luân lý, chúng ta sẽ có thể nhận ra rằng luân lý đạo đức là cần thiết đối với đời và đạo , nó luôn song hành trong một tri giác cố hữu để hình thành thế nào tín ngưỡng của tôn giáo; mà trong đó có Thượng đế; như vậy là ý thức đến một thứ luân lý tồn lưu cho một hiện thể tại thế và hướng tới cái sự tốt lành cho một việc làm có lợi ích của sự tốt đó –the good for the sake of the good, là đi thẳng tới cuộc đời của chúng ta và đây là cách thức nhận biết về Thượng đế, là sinh khí sống động của cuộc đời. Kinh nghiệm luân lý nằm trong con người là một cân nhắc, đắng đo về đấng tôn thờ tức Thượng đế. Người đã chọn lựa một sự chân thật tốt bonum honestum dành cho con người; đó là chặn cuối đời của Thượng đế với một sự sáng tạo khéo léo đầy mỹ thuật mà trong những thứ đó đều đem lại cái gì tốt đẹp –tri giác giữ vững giá trị về trí năng là hành vi, tác động của tồn lưu nhân thế. Ở đây cái sự đạt tới là đạt tới cái sự tồn lưu, tồn lại, tồn thể là tâm khí vững vàng không buông thả mà nhảy vào trong một hiện hữu sống thực –the plunge into real existence. Nhưng nhớ cho cái điểm này: cái đặc quyền bất khả phân của tri giác là của hiện hữu, là cái khuấy động đi tới trong ý thức (conscious) và nhận thức (conceptually) là một diễn cảm bày tỏ, một nhận thức không thể lý giải về những gì hiện hữu của Thượng đế. Cuối cùng đặc Thượng đế trong dạng siêu hình với hình tượng để tôn thờ. Đó là những gì cùng thời cho một khám phá mới về những gì cơ bản hào phóng và phong phú của hiện hữu tồn lưu nhân thế.

Nhưng đây là điều không thể cho đó là nguyên nhân cao cả của hiện hữu tồn lưu, điều đó sẽ không mấy thỏa mãn cái loại chứng cao cả hiện hữu mà nó nằm trong nghi vấn của vấn đề. Chỉ đến trong nhận thức hiểu biết của con người mà thôi; cảm thức của hiện hữu là không những chỉ biết về hiện hữu của Thượng đế mà trong đó bao gồm tất cả những gì mà con người nghĩ tới do từ tri giác để nhận biết., một sự nhận biết được coi là điều có thực tự nhiên (natural truths) và một năng lực tự nhiên (natural forces) là một kết hợp đầy đủ có từ trí tuệ con người (human mind). Con người biết rằng: Thượng đế tự ép mình để sống có tình yêu, đồng thời tự ép mình trong cuộc sống và tự ép mình trong hiện hữu tồn lưu. Dữ kiện để tạo niềm tin giữa con người và Thượng đế có thể có tương quan qua tình bằng hữu, cùng chung hưởng khổ đau và sống chung nhau trong một thế giới đại đồng và chia sẻ cùng nhau là tương ái giữa buồn vui hay hạnh phúc bên nhau là cảm thức giữa Thượng đế và trí năng sáng tạo của Người –common bliss between God and His intelligent creatures. Đấy là sự thật chân chính, là những gì bao hàm của siêu nhiên (supernatural), của những gì được ban ơn và lòng độ lượng có từ Thượng đế và Con người trong cùng một niềm tin ./.

VÕ CÔNG LIÊM (ca.ab.yyc . cuối 11/ đầu 12 / 2020)

ĐỌC THÊM: ‘Thượng đế đã chết’ của võcôngliêm. Hiện có trên một số báo mạng và giấy trong và ngoài nước hoặc email theo đ/c đã ghi.

TRĂNG THUNG LŨNG

VÕ CÔNG LIÊM

chim buồn đậu cánh cô thôn
cho trăng xế bóng
buồn khóc cuối trời
ta về một cõi đìu hiu gió
giữa chốn mây ngàn lá cuốn bay
hình hài một thuở xanh rêu
vàng thu mấy độ cây nghiêng
ngõ chờ
trăng quá tải
trăng sầu ngọn cao
sự thật trải lên giấy
trắng nguyên sơ
mắt xanh ngọc
gót sen mềm
em . liễu rủ một thời thành nội huế
sáu câu hò bạt gió với thời gian
những cánh hoa gục
đầu khóc xước mướt
sáng trời nửa đêm
em . tắm trăng nguyệt bạch
tôi . núp bóng từ bi
hái trộm những vụng dại
trăng nguyệt thực
xực mặt trời
trăng vỗ về đêm dài vô tận
trăng ôm lòng đau giữa tiếng cười

tôi . xô đẩy tôi
làm tình trắng trợn
dưới trăng thung lũng
với bụi tre già ./.

VÕ CÔNG LIÊM (ca.ab.yyc . rằm tháng mười âm 11/2020)

CẢM NHẬN NGHỆ THUẬT GIỮA CUỘC ĐỜI

VÕ CÔNG LIÊM

     Sự thật cuộc đời nếu người ta nhận ra được; một phụ nữ đẹp mặc chiếc áo dạ hội tuyệt hảo với đôi môi héo úa thời khuyết điểm đó không còn nghĩa là đẹp, nhưng; vì cái điểm nhỏ nhặt đọng trên môi mà có thể làm cho người ta không buồn để ý tới, ngắm nghía hay chiêm ngưỡng cái đẹp của tạo hóa.

Nhưng vẽ về một người đàn bà như thế có thể là một suy đồi, tác hại lớn, là nói lên cái thô lỗ, tục tằn một áp đảo vào cái nhìn của nam phái, bởi; cái đẹp là toàn diện trên tất cả mọi thứ.Và từ chỗ đó cho ta một kinh nghiệm rộng rãi về xấu xa, gớm guốc của bức tranh và phẩn uất đối với họa nhân (cũng có một số người cảm nhận điều đó như một chấp thuận và người ta có thể tùy thuộc vào đó như một đối đãi tinh thần của người họa sĩ)Cảm xúc được nói đến trong tranh có thể do từ một bất ngờ bộc phát (instantaneous)bén nhạy hơn cái nhìn cảm thức của người xem (viewer’s mind) cũng có thể đó là một phát hiện bao gồm tất cả lý do liên can tới vẽ. Do từ động vọng thuộc tâm lý, là những thứ đưa đến một đáp ứng vấn đề cho nguồn cơn phát sinh ra vẽ. Là cảm thức con người giữa cuộc đời –is a man’s sense of life. Cảm thức của cuộc đời là một mở đầu nhận thức ý niệm tương quan của siêu hình, một xúc cảm, tiềm thức hòa nhập, để định lượng được những gì thuộc con người và thuộc về tồn lại –A sense of life is a pre-conceptual equivalent of metaphysics, an emotional, subconsciously integrated appraisal of man and of existence.

Cảm thức cuộc đời của người nghệ sĩ là khống chế và tiết điệu được trong tác phẩm của mình, hướng tới một cái nhìn chung cục để bỏ vào trong tranh; từ chọn lựa tiêu đề đến chất liệu khéo léo là chi tiết cho một đặc chất của tranh. Chính sự cớ đó đã hòa điệu vào cảm thức của người xem, văn chương cũng thế là một đồng tình hòa hợp giữa người viết và người đọc. Họa lấy màu sắc thay tiếng nói là việc khó thực hiện, nhưng nói lên được ấy mới là tinh xảo. Đấy là câu trả lời đến một tác phẩm nghệ thuật bằng một xáo động nội tại; hẳn nhiên đó là tác động của nhận và thuận hoặc chối bỏ và phê phán.

Nói như thế không có nghĩa rằng cảm thức cuộc đời là hợp lý, là chuẩn mực của cái gọi là yêu chuộng thẩm mỹ; kể cả người họa sĩ và người xem. Cảm thức cuộc đời không thể sai lầm –A sense of life is Not infallible. Nhưng; cảm thức đó khơi nguồn từ nghệ thuật mà ra, một cơ cấu thuộc tâm lý học mà những thứ đó có thể do từ khả năng con người tạo ra được một chỗ đứng, vị trí cách riêng như là nghệ thuật. –But a sense of life is the source of art, the psychological mrchanism which enables man to create a realm such as art. Một lý lẽ nhận thức là hoà nhập và cảm thông giữa đối tượng hội họa làm cho người vẽ và người xem không còn ‘responds’ vấn đề mà đòi hỏi ý thức được hay không ý thức được.Đó là cốt tủy nghệ thuật.

Cảm xúc là một hệ lụy vướng vào trong nghệ thuật chớ không phải cảm xúc trong cái nghĩa thông thường của từ ngữ hay dùng. Qua kinh nghiệm sinh lý hay vật lý thì có nhiều thứ ‘cảm thức/sense’ hoặc là ‘cảm nhận/feel’ nhưng; có hai đặc điểm liên can đến xúc cảm/emotions: một do từ cơ năng tức khắt và một do từ cường độ thúc đẩy, một cá tính uyên bát thâm hậu (không hẳn đây là xác quyết) giá trị nghĩa lý đưa tới một kinh nghiệm riêng tư cho bộ môn hội họa mà đánh giá sự tương quan cuộc đời và nghệ thuật; lời lẽ đó gọi là cảm xúc: ‘đấy là nghĩa lý cuộc đời đối với tôi / this is what life means to me’. Đừng để ý tới cái lẽ tự nhiên hoặc nội dung về cái nhìn siêu hình, trừu tượng của người nghệ sĩ. Rứa thì lấy chi để bày tỏ cho một tác phẩm nghệ thuật; căn nguyên nào? Dạ thưa; dưới tất cả mọi khiá cạnh nhỏ nhặt nhất là: Cuộc đời ở đây như tôi nhận thấy. Là; cái thâm hậu cần thiết đáp ứng cho người thưởng lãm hoặc người đọc. Dưới mọi yếu tính tối thiểu: Đây là cuộc đời (hoặc không phải cuộc đời) như tôi đã biết. Cái đó là điều ắt có và đủ cho một nhận thức thuộc nghệ thuật; mặc khác là nhu cầu sáng tạo của người nghệ sĩ làm nên.

Khoa tâm lý thuộc nhận thức hiểu biết (the psycho-epistemological) là tiến trình của thông đạt giữa họa nhân và người thưởng lãm hoặc văn nhân và độc giả được diễn tiến như sau: họa nhân khởi sự với một tư duy trừu tượng mà phải cụ thể hóa (concretize) để mang vào đó một thực chất đúng nghĩa thích ứng một cách đặc biệt, người thưởng lãm phải nhận thấy cái sự đặc biệt, cái hợp nhất chất liệu và chiếm trọn hình ảnh trừu tượng từ những gì đã để lại trong tranh; có như vậy là đạt tới chân-không của hội họa và siêu lý của văn chương. Nói theo kiểu ẩn dụ; tạo ra được một tiến trình tương tợ về hình ảnh (của vẽ) như một tiến trình của cái sự giao giảm trong tranh; nhìn vào đó như một cảm thông gần gũi, tương xứng nhau, một diễn biến của lãnh vực hội họa. Nhớ cho; đây không có nghĩa là truyền thông cho mục đích ban đầu của người nghệ sĩ; mục đích chính của họa nhân là mang lại cái nhìn của con người và những gì thuộc về tồn lưu trong một thực thể; nhưng mỗi khi mang lại thực thể thì phải là một cái gì đã được diễn giải trong điều kiện đối tượng của nó… Nói vòng vo tam quốc ba chuyện đời cổ lỗ sĩ là không tác động giữa thời đại này mà gây rối trí, nhầm lẫn đến người đọc vì quá nhiều câu hỏi cho một vấn đề; thành ra cái lối văn,vẽ đã không thông mà vướng vào cái tư kỷ tự tại để trở thành độc ngôn, độc diễn. Thí dụ: Một văn sĩ nhà binh kể chuyện ông Táo: một ông trong đó không chịu chầu trời; tức thời bị quy tội là ‘phản thùng’ không đồng phục, không đồng hướng. Quay đầu trở lại với trần gian. Đâu có quần mà bảo đồng phục cho màu áo ông Táo, ông Điạ. Ông cầm bút quên rằng ông Táo nọ chối bỏ nhiệm vụ vì ông mất ‘chính nghĩa’ không quần; ngay bản thân tác giả cũng đã mất chính nghĩa vì không thực hiện đúng chức năng mà chỉ sống trong hoài niệm, hoài niệm của một tư duy bại hoại, không hoán cải để đổi mới tư duy mà rơi vào vòng luẩn quẩn mất nhuệ khí của kẻ thích khách; đấy là lý do ‘nghệ thuật vị nghệ thuật’ để nói tới.Thể loại nghệ thuật như rứa là nhai lại, rập khuôn, moi móc mất tính sáng tạo nghệ thuật mà trở nên ngu xuẩn nghệ thuật.Nhảm! Răng rứa -như đã đưa đường dẫn lối khi đi vào đề tài này là trọng tâm về ‘ý niệm nhận thức/ conceptual’ của sự nhận biết, vì rằng; họ (nghệ sĩ) cần năng lực để tập trung vào giòng sáng tạo như chuỗi liên hoàn và một đối kháng toàn diện của những gì ý niệm về siêu hình trong một ý thức nhận biết tức thời: họ cần một cái nhìn lãnh hội của tồn lại, tồn lưu, tồn lứa là trọn vẹn cái giá chân-như của người nghệ sĩ (thứ thiệt).Còn nghệ sĩ (giả hiệu) đánh mất ý niệm chính yếu để xây dựng tác phẩm; cho nên chi mất luôn cả sáng tác và sáng tạo mà chỉ mở một lối về của hư ảo; chỉ vì tư kỷ (egotism) mà ra. Tất thảy đều là thứ nghệ thuật vô nghĩa. Mà cần một cảm thức con người giữa cuộc đời, vì; cảm thức cuộc đời không thể nhầm lẫn.

Chọn đúng mục đích, tọa độ, một con đường hướng tới tương lai, bảo trì một hợp nhất và liên đới đến cuộc đời của họ ‘He needs a comprehensive view of existence to integrate his values, to choose his goals, to plan his future, to maintain the unity and coherence of his life’. Nhiệm vụ hợp nhất của khoa tâm lý là một mối dây liên lạc tự động làm ra, cho nên chi tác phẩm thực hiện như một qui tụ sẳn có từ ý thức không cần phải đi qua một dự phóng của tư tưởng mà gợi lên từ trong nhận thức hiểu biết. Có nhiều dữ kiện đặc biệt hiện ra hoặc vượt qua bằng trí tưởng của chuỗi trừu tượng là nằm trong ý niệm giao tiếp (of interconnected concepts) thuộc trí tuệ con người. Nhận thức được trừu tượng là dây chuyền chủ lực, mà tất cả mọi thứ khác đều tùy thuộc vào đó. Rứa cho nên chuỗi dây chuyền là cho mọi thứ như một tinh thần hợp nhất, trọn vẹn, phục vụ có mục đích, một thể thức phù hợp và chuẩn mực. Nhận thức được trừu tượng là lập nên một thiết yếu chuẩn mực có tiết độ giao thông giữa hiện thực và nghệ sĩ. Rứa thì cái gì là chính yếu? -Cái sự cần thiết đó là ý thức nhận biết để thấy rõ lớp lang của tồn sinh từ tất cả mọi phiá –epistemologically essential to distinguish one class of existents from all others. Còn nói về trừu tượng có qui tắc là thiết lập ở đó một cái gì chuẩn mực. Rứa thì cái gì tốt giữa chính yếu và qui tắc? -Trừu tượng thẩm mỹ là cơ cấu bởi tiết điệu: rứa cái gì là quan trọng? –esthetic abstraction are formed by the criterion of: what is important? Lý luận theo chiều hướng này có thể làm cho tư duy người nghệ sĩ thêm có vấn đề giữa nhận thức và trí năng; tuy hai mà một, bởi văn,vẽ dưới dạng thức nào đều có một chủ đề cụ thể nói lên cá tính con người. Văn,vẽ vẫn có triết thuyết của nó, thời mới làm nên sự việc. Vị chi; giữa khách thể và chủ thể phải hòa âm điền dã thì mới thấy được chân lý tối thượng của việc sáng tác. Chớ ‘đừng tưởng xuân tàn hoa rụng hết / đêm qua sân trước nở cành hoa’. Cứ tưởng thế cho nên chi phóng bút, phóng họa mà quên đi bản chất tự tại, tự kỷ của mình đang rơi vào một tâm tư rối loạn của hố thẳm tội lỗi… Người nghệ sĩ đứng trước cuộc đời có một cái nhìn vô tư, trong sáng và thoát tục thì tác phẩm mới có thẩm mỹ, dù là thẩm mỹ trừu tượng nó vẫn để lại một chân tướng xác thực. Nói cho ngay trong mọi chọn lựa chính yếu để đạt một giá trị, kể cả những tác phẩm nghệ thuật (văn, thơ, họa, kịch…) là đi từ thể tài đến chủ thể cho tới cây cọ hay cho một thể định từ xác thực. Đều thu nhận từ ý nghĩa thuộc về trừu tượng bởi chỉ ở một sự kiện hiện hữu đã bao gồm hoặc một hiện hữu ‘quan trọng’ là điều ắt có và đủ -From theme to subject to brushstroke or adjective-acquires metaphysical significance by the mere fact of being included, or being ‘important’ enough to include. Lý luận này đã cho thí dụ ở trên: là yêu cầu cảm thức nhận biết thì mới đạt tới nhân tâm của người nghệ sĩ, dù dưới dạng thức nào hay hoàn cảnh nào đi nữa.

Như đã dẫn nhập cho một luận đề mở đầu; nếu miêu tả về cái bờ môi héo úa của người đàn bà đẹp, thì đó là điều không thể cho là sự thật cuộc đời hay cho đó là một thứ siêu hình lạ thường đầy ý nghĩa, bởi; cái phẩm tích (virtuous character) qua dấu vết bề ngoài là cả một hiện thực trong họa phẩm. Cái đó được phơi mở rõ rệt là những gì thuộc cái đẹp và không chừng đó là nét riêng để đem lại một sức quyến rủ hay mê hoặc của người đàn bà (không phải đẹp ở chiếc áo dạ vũ lộng lẫy) nhưng có một chút gì ‘héo úa’ do từ đau khổ gây ra là một thách đố quyến rủ trước sức mạnh của nam giới. Tín hiệu đó là sự thật cuộc đời. –người đàn bà đẹp có thể là ‘mãnh lực / ‘might’ có từ bờ môi héo úa. Do thẩm mỹ không tương xứng. Nghệ thuật không quan tâm tới sự cố hiển nhiên hoặc ngay cả những gì như thế, nhưng với những gì có tính cách siêu hình của họ là ý nghĩa quan trọng đối với con người –Art is not concerned with actual occurrences or events as such, but with their metaphysical significance to man. Dưới dạng tiềm thức; thì không cần gì nhận biết tới lý thuyết thẩm mỹ, nhưng vì tính chất hình ảnh mà phải dựng bằng hiện thực; sự cớ cho ta hiểu ngầm rằng đó là cái vẻ tự nhiên của nghệ thuật (nature of art). Đây cũng là thể cách biến loại mà hầu hết tác động trong hư cấu và trong tất cả những đường nét hội họa đều xử dụng như đặc thù trong tác phẩm. Dù là minh họa hay phát thảo vẫn là khiá cạnh quan trọng khác biệt giữa cuộc đời thực của truyện thời sự (news story) và của truyện hư cấu (fiction story): truyện thời sự cũng như thơ thời cuộc, thơ kể lể là đông cứng (concrete) từ biến chứng xã hội, tin tức, thế sự là những thứ không vẽ lên được một cái gì phi phàm hoặc có thể người ta không tìm thấy những gì liên đới của trừu tượng trong cuộc đời. Còn truyện hư cấu là một trừu tượng, cái đó là một yêu sách đối với vũ trụ quan –fiction story is an abstraction that claims universality là để người ta cảm nhận được cái năng lực cá nhân là một xúc cảm mãnh liệt về những truyện thuộc hư cấu, dù cho có phiạ ra đi nữa. Cảm xúc có thể là một thực thể chắc chắn trong khi người ta tìm thấy trong ý nghĩ trừu tượng lại là thực thể của cuộc đời thực (real life). Thừa nhận; không do từ cảm thức của nhận biết để ngờ vực, nhưng trong cảm thức cho phép ta trầm tư những gì thuộc bên ngoài của trừu tượng; đó là thức (mind) trong một thể thức thuộc cục diện tồn lưu, tồn lại và tồn tụ; thì đó là hiện hữu nhận thức giữa đời này. Nghệ thuật cho đời nhiên liệu, một tư duy hài hòa, một chủ thể tương quan ở cõi vô biên trí tuệ, một sự thay mặt cho cảm nhận và cảm thức là hiện thực, là cảm thức chủ lực của cuộc đời, là cảm nhận hài hòa nhân thế, là những gì có thể tương tợ như  sống thực trong thế giới lý tưởng của con người -Art gives him that fuel; the pleasure of contemplating the objectified reality of one’own sense of life is the pleasure of feeling what it would be like to live in one’s ideal word. Nhiên liệu không phải cứu cánh có từ học hỏi (một phần) mà do từ kinh nghiệm sống làm nên và cũng chẳng phải là lý thuyết chính yếu ngay cả thông điệp từ sách vở, báo chí truyền thông, nhưng; đời-cho dữ kiện qua kinh nghiệm sống, trong một bất chợt của siêu hình hay trừu tượng mà làm vui cuộc đời . Một giây phút thôi rồi xa nhau nghìn trùng; đó là đời cho ta (life-giving) một hiện hữu với tồn lưu, tồn lại, tồn lân, tồn lui nhân thế với thời gian –A moment of love for existence. Hoặc; dưới một mức độ thấp nhất của cực số vô lý, phản ảnh tính cách cục bộ hóa vấn đề của cảm thức nông cạn hiểm độc, nhưng cuộc đời đã cung cấp cho con người với bao hình ảnh chinh phục cái ác ý, thâm hiểm, phá hoại, đã phá để chiếm cứ cái độc tôn, độc quyền và độc sáng là những gì ghen tị về cái tồn lụt nhân thế; nghĩa là tụt lùi về cái gọi là cảm thức con người giữa cuộc đời (a sense of life) mà trở nên báo ân, báo oán. Nhưng nhớ cho điều này mà lưu niệm: ’lấy ân báo oán thời oán ấy tiêu tan chớ lấy oán báo oán thời oán ấy chập chờn’ nó không dứt mà ngược lại nó ứ trong tâm can như lời phẩn nộ (rút trong kinh nhà Phật) kinh điển cho đó là dục giới, dục sắc, dục tính; sự cớ đó tác hại cho nghệ thuật hội họa và nghệ thuật văn chương, cả hai thứ làm cho nghệ thuật suy đồi, thời đâu còn gọi là đương đại, đương thời, thời đâu còn gọi là tiểu thuyết mới, tiểu thuyết hiện đại; không chừng cổ lỗ sĩ trở về cổ lỗ sĩ biết tới bao giờ mới dừng(!); còn như quyết để phục thù ‘ơn đền, oán trả’ theo kiểu nhà binh thì dấy lên một nghiệp chướng, ở đó chỉ là lời giải thích để bao che cuộc đời, là đánh bại và phá hủy tất cả giá trị của con người. Hỏng cho việc sáng tạo của người nghệ sĩ.

Thể thức của nghệ thuật là cho đời một phút giây ảo tưởng, đó là những gì nghệ thuật cho là đúng –cái sự xấu xa, sai trái là tác động thuộc những gì siêu hình.Từ ngày nghệ thuật thành hình là phát sinh ra triết học (triết học của nhân loại là trộn lẫn vào đó bi thảm cuộc đời / mankind’s philosophy is tragically mixed).

Hầu hết nghệ thuật thế giới bao gồm một vài dẫn dụ lớn lao; sa ngã cũng là một khẳng định dứt khoát. Vị chi sự thật hay sai trái đem lại một thứ triết lý riêng tư của người nghệ sĩ, nó không vin vào thẩm mỹ học để nói lên sự kiện trong hội họa cũng như trong văn chương, có thể tạo cái khác biệt để thu hút người đọc, người xem không chừng chứa cái giả tạo hơn là sáng tạo nhưng không nhất thiết vị nghệ thuật mà cố tạo cái thẩm mỹ trong họa cũng như trong văn chương. Có một vài nghĩa khác thuộc triết học,tuy nhiên; có một cái nhìn ẩn tàng của cuộc đời nằm trong tác phẩm. Đấy là yếu tố cần thiết thuộc về tác phẩm nghệ thuật. Họa phẩm xấu; chiếm hữu một phần trong sự bắt chước‘copycat’cái đó hoàn toàn không phải là sáng tạo của nghê thuật, nó chỉ sống còn ở các cửa hàng vỉa hè mà thôi. Rứa cho nên làm nghệ thuật cần có một phản ảnh trung thực, chủ đề của một tác phẩm nghệ thuật là bày tỏ cái tồn lại của con gười, trong khi ấy kiểu thức bày tỏ về cái nhìn là ý thức của con người. Lối trình bày, diễn tả siêu hình (metaphysics) là của người nghệ sĩ. Còn diễn tả theo nhận thức hiểu biết (psycho-epistemology) là của người văn chương (văn, thơ, dịch thuật). Chọn lựa một thể tài là nói rõ khiá cạnh của hiện hữu tồn lại người nghệ sĩ. Một cái gì quan trọng và một cái gì đáng giá của một hiện hữu tạo tác và trầm mặc của nghệ nhân. Trong mọi thể cách của hội họa người ta chọn một trong những thể tài tiêu biểu để nói lên vóc dáng, hình tượng anh hùng như một giải bày, phân tích cái điều tự nhiên của con người hoặc có thể chọn bản thống kê hòa hợp chất màu của cái không phân biệt được, hoặc có thể chọn cái bầy nhầy, trườn trượt, mẫu thức xấu…để tạo nét đặc thù. Về văn ta có thể nhận biết tính anh hùng lịch sử, anh hùng cá thể là sự kiện thuộc tinh thần (Victor Hugo) hoặc một cố công, rán sức để hoàn thành tác phẩm (Michelangelo) hoặc vinh quang chiến thắng (Shakespeare) hoặc có thể từ chỗ thứ dân đến quyền qúy (Tolstoy) hoặc người ta thấy được qủy ám như một chủ đề cho một luận đề tố cáo (Dostoevsky) hoặc dưới một tư duy biến dạng giữa người và vật (Kafka) hoặc hãi hùng, khiếp sợ (Goya) hoặc bấn loạn tâm can (Van Gogh). Đó là trường hợp chủ thể cho mỗi đề tài, cái đó cũng là một dự phóng cho cái nhìn vào tác phẩm nghệ thuật nơi con người dung thân trong vũ trụ quan. Kiểu cách của người nghệ sĩ là phát sinh từ nhận thức hiểu biết của họ và trong một ngụ ý ẩn tàng, một phản ảnh chiếu vào cái nhìn nhận thức của con người, của hiệu lực hoặc của suy thoái, tất cả chính xác và riêng biệt cho từng thể loại và định mức được chức năng của mỗi thứ. Kiểu cách hầu như có một cái gì phức tạp, hổn độn chính sự cớ đó là yếu tố nghệ thuật, gần như lột tả trọn vẹn, thường thì xáo trộn do từ trạng thái tâm lý. Một nội tại chất chứa đối kháng từ nỗi khổ của người nghệ sĩ, có nhiều người khác thì lại ưa làm lớn hay mù tăm trong tác phẩm của mình. Thí dụ: trường hợp của Salvador Dali; một hổn hợp làm sáng tỏ kiểu thức riêng, một thứ siêu hình lạnh lẽo của thứ chủ nghĩa tự nhiên. Từ đó phát sinh ra nhiều phong trào phản kháng ý thức trong văn chương và hội họa; chống đối bằng một ý thức lớn, biểu thị qua hiện tượng trường phái lập phương (Cubism) là khám phá để tìm kiếm cho một tri thức con người qua hội họa, bởi; chủ thể của hội họa như cái mà con người không nhận thấy được chúng –down and down to the rebellion against consciousness, expressed by a phenomenon such as Cubism which seeks specifically to disintergrate man’s consciousness by painting ojects as man does not perceive them.

Kiểu thức của văn nhân có thể là dự phóng, có thể là pha chế vào đó nhiều lý do và cảm xúc từ một rung động như trường hợp của Victor Hugo và một số văn nhân cùng một cảm thức như vậy.Văn phong, bút pháp là vận chuyển những gì có thể gọi là: ‘cảm thức nhận biết cuộc đời / psycho-epistemological sense of life’. Đấy là lý do tại sao phong cách đó quá nguyên tắc quan trọng trong nghệ thuật đối với nghệ sĩ và người đọc, người xem và tại sao sự quan trọng đó là một trau chuốt, dồi mài như là một vấn đề tích lũy thâm hậu của cá nhân? Nghĩa rằng; cảm thức có tác động. Nghĩa rằng; trân qúy tự tại (self-esteem) hoặc trân qúy cái sai lầm tự tại (pseudo-self-esteem). Thì ra sự cớ đó là che đậy cái nhầm lẫn, cái sa ngã tự tại.

Cảm thức cuộc đời là gốc ngọn của nghệ thuật, nhưng đó không phải là đặc quyền, đặc chế cho khả năng của người nghệ sĩ –A sense of life is the source of art, but it is not the sole qualification of an artist. Còn nói về thẩm mỹ quan thì đó chỉ là cành nhánh của triết học (từ triết học nghĩa là đẹp). Nhưng nhớ cho triết gia không vin vào đó mà đi tới những cành nhánh của khoa học (dù là triết học khoa học) để có một cảm thức hoặc cảm xúc như một chuẩn mực công lý; vậy cho nên chi không-thể-đạt tới lãnh vực của thẩm mỹ. Dù gì cảm thức nhận biết chưa hẳn là một chức năng trang bị đầy đủ để nói tới thẩm mỹ là cần có trong tác phẩm nghệ thuật. Nghệ thuật vị nghệ thuật nó có một lãnh điạ khác biệt cho môi trường người nghệ sĩ.

Thẩm mỹ là việc chính yếu áp dụng vào tất cả bộ môn nghệ thuật; không coi đó là tác động triết học của từng cá thể nghệ sĩ. Mà nhớ cho rằng triết học đưa đường dẫn lối vào dự phóng của đối tượng nghệ thuật. Thế nhưng; cứ để ý và xác nhận bởi khoa học thẩm mỹ / science of esthetics tạo thành nghệ thuật chớ không ngoài một cơ cấu nào khác; đấy là việc phải làm mà hầu như triết học hiện đại đã suy nhược trước hiện tình một cách thê thảm. Vô hình chung khoa thẩm mỹ học lại đứng trên bộ môn triết học nghệ thuật.

Từ chỗ nghệ thuật là một hỗn hợp triết học, thời đó không phải là việc tương phản giữa triết học và nghệ thuật (vì rằng nghệ thuật là nghệ thuật, triết học là triết học). Rứa thì tôi có quyền nói: ‘Đây là tác phẩm lớn của nghệ thuật hội họa, nhưng tôi không thích’ hoặc ‘Đây là tác phẩm văn chương vĩ đại đáng tiêm nghiệm, nhưng tôi ghét’. Là chứa đựng cụ thể một cách xác quyết trong lời nói vì nó tồn lại hai sự cớ: Thứ nhất là đề cập đến cái nguyên chất của thẩm mỹ được đánh giá cao.Thứ hai là mực độ thâm hậu thuộc triết học là bao trùm tất cả cảm thức cuộc đời nhiều hơn giá trị thẩm mỹ. Dù đó là quyền chọn lựa của từng cá tính, vì rằng nó có nhiều khía cạnh khác biệt từ mỗi con người vui thú hay yêu thích cho mỗi giá trị tác phẩm. Nhưng; có cái khác hơn là mối quan hệ hấp dẫn nhất giữa cuộc đời này –other than sense-of-life affinity, mà không ai tìm thấy; chẳng qua cũng từ đối tượng chủ đề mà ra. Răng lạ rứa? Dạ thưa, cảm thức cuộc đời là bao trùm đầy đủ nghĩa lý (nhân sinh, triết lý và nghệ thuật) chỉ có con người cảm thức được một cái gì thâm sâu, uyên bác trong đó, một xúc cảm mãnh liệt về một tác phẩm nghệ thuật. Nhưng không phải vì rứa  mà cho đó có tầm cở (levels) hoặc dựa vào cấp độ của yêu thích (degrees of liking) để rồi đi tới kết luận: ngổn ngang gò đống vây quanh, không giải quyết cho một bản chất tự tại vì suy tư cho một hiện hữu tồn tồn nhân thế…Đứng trên tư duy này là đánh mất lập trường cho một xác quyết về tác phẩm nghệ thuật; sự khác biệt là có cái tương tợ lẫn nhau giữa tình cảm, quan hệ và hữu nghị; yếu tố cô đọng đưa tới tâm thức người nghệ sĩ là chứa đựng tinh thần nghệ thuật (xem và suy đọc và nghiệm) để trước khi đánh giá cho một tác phẩm nghệ thuật và cảm thức của cuộc đời – Art and Sense of Life.

Rứa cho nên chi việc học hỏi là chuyển dịch cái ý nghĩa của nghệ thuật trong đối tượng từ ngữ, khám phá cái không có để mà tiêm nghiệm nghệ thuật trong một phơi mở cần thiết đối với vai trò của con người. Người nghệ sĩ là huỵch toẹt cái linh hồn trần trụi trong tác phẩm của mình –An artist reveals his naked soul in his work. Rứa thì may ra mềm lòng người ngắm và người đọc một cách thỏa mãn, thích thú. Chớ nằng nặc mà bảo phải sạch, phải đẹp, phải như ri, như rứa không tì vết thì mới chịu chơi; quả là nặng lòng vị kỷ. Nhưng; không chừng ‘héo úa’ của người đẹp là cái thức tỉnh nội tại giữa thẩm mỹ và cái thâm cung bí sử triết lý của tồn lại, tồn lưu, tồn lụt nằm trong cái ‘chơi chịu’ đó. Kiều tài sắc vẹn toàn nhưng biết đâu trong cái đau khổ đoạn trường nàng lại có cái hấp dẫn kín đáo mà làm cho bao người hùng điêu đứng. Có ai trong đời cùng một cảm nhận như rứa không? Sự cớ đó chính là cảm thức cuộc đời đang sống ./.

VÕ CÔNG LIÊM (ca.ab.yyc. mồng ba tết Ất Mùi 21/2/2015) SÁCH ĐỌC: ‘A Philosophy of Literature’ by Aym Rand. A Signet Book from New American Library by Bantam Book, Inc. USA 1962.

ƯỚT MI HUẾ

VÕ CÔNG LIÊM

huế phải hứng chịu
mưa to gió lớn
huế buồn thiu thỉu
‘trời hành cơn lụt mỗi năm’
khóc lời ai oán
khóc đời nhiễu nhương
những tháng năm môi son má phấn
trên con đường phủ lá me bay . em
phố cũ giờ đây hoang phế ngập lụt
chảy theo hương giang về nơi biển xá
huế . phủ đầu những cơn mưa bội bạc
mang theo gió cuốn cho bão tràn hôn mê
tháng chín nghe gió xô con đường lê lợi
tháng mười xơ xác mái lá chợ đông ba
gia hội trường tiền ngập cả đường đi
lội nước trắng hai bờ cỏ lau xanh mướt
tháng mười một cầu cong cầu thẳng đứng nuốt gió
ướt mi huế . mà nhớ mùa xuân năm sáu tám
chẻ hai dòng nước ngăn cách tình ta một huế xưa
gió có tạt mưa có xan
tình tôi đứng đầu sóng
cho huế về lại chốn ngàn năm
để thấy trăng trong gió
và . mây trôi theo mưa
những cơn bão mang con số tử
vận mệnh huế cũng chìm trong đắng cay
hởi người em xóm học
huế có còn là mùa thu cũ
hay chìm trong lũ lụt của tháng ngày qua
sông tràn be
nước xối xả
gió điên cuồng
đổ lên đầu ngọn
núi ngự bình trước tròn sau méo
một thuở yêu người mát mặt với non sông
những căn biệt thự đánh ghen thời tiết đó
để lại con đường không bóng người qua
mùa dịch đỏ che mặt che mày như kẻ cướp
lầm than tôi linh hồn đã qụy
cho mưa bão tha hồ vuốt mặt đám bần dân
con vện trên mái rạ
ngơ ngáo giữa cõi đời
sông trôi về đâu sông ?
bỏ huế mà đi
thêm sầu cổ độ
bỏ huế mà đi
du mục cả đời
bỏ huế mà đi
một kiếp vong thân

ướt mi huế . cho thôi mưa gió
gạt giọt lệ . cho nước đừng trôi
về nơi biển xá một trời nhân thế ./.

VÕ CÔNG LIÊM (ca.ab.yyc. tháng 11/2020)

TRÊN XE BUÝT/MƯA GIÓ THÁNG MƯỜI

VÕ CÔNG LIÊM



TRÊN XE BUÝT

người thứ mười bước lên
xe buýt chuyển bánh
chạy trong đêm
ngoài phố những ngọn đèn nhấp nháy
như sao băng dưới mắt người
đàn ông mù ôm cây đàn bầu gục đầu nói nhảm
bên kia dãy ghế người đàn bà tuổi ngoài hăm nhăm
con đĩ đứng đường
mất ngủ đêm qua
mộng du tình ái
đường phố rơi vào
đêm sâu hoáy tình cờ
tôi . vồ chụp tôi
trong vòng tay nhớ
kêu răng rắc trên những ngón tay khô
đã một lần đeo nhẫn cưới trong đời . một người
chưa bao giờ cưới người tình làm vợ cho dù là
con đĩ đứng đường giữa đêm đen sài gòn lố nhố
sau những năm tháng một chín bảy lăm cho tới khi
những chuyến xe buýt chở nhau về lục tỉnh miền tây
người đàn ông mù ôm cây đàn bầu gảy khúc bi ai
nghe như ru
như thao thức
như đồng vọng
người đàn bà làm thân con đĩ đứng đường
trong sạch như tờ giấy
trắng nguyên vẹn hình hài
chưa một lần gian dối
trên xe buýt
còn lại tôi
với bóng tối
xe buýt chuyển bánh
người đàn ông mù
ôm cây đàn bầu
con đĩ khả kính
mỉm nụ nhiệm mầu
xe buýt chuyển bánh
về nơi không có người

chỉ thấy
người đàn ông mù
con đĩ đứng đường
băng qua lộ
giữa ban ngày
không đèn hiệu ./.

(ca.ab.yyc. Thanksgiving day 10/2020)

MƯA GIÓ THÁNG MƯỜI

hiu hiu buồn căn
gác nhỏ ế ẩm một chủ đề
những bước chân chập choạng
thêu dệt mùa trăng đi qua
và chảy dài lên mi mắt
nghe réo rắt cơn bão số 5
chậm hơn một giờ dự báo
từ đất nước đưa về
mưa gió tháng mười ‘ngẩn đầu tư cố hương’
sóng ngập
xô giạt những cọng buồn vô cớ
cửa đóng then cài
chờ mưa
trắng bạc màu con nước
tràn be té hủ lẫn lộn đường mương
ngày cuối tuần cây ngả nghiêng đổ xuống
chận con đường tình của tôi thời xa xưa đó
trí nhớ hoang mang buồn thế kỷ
cảm giác lạnh lúc em vừa thức dậy
tóc rối gợi hình
mùa thu rũ lá bay
giữa cơn đại dịch không có chỗ đứng
nghiêng tóc chẻ nắng chiều ngắt gió
cho vong thân hồn lạc bước chốn phù vân
mưa bất chợt thức dậy
em . ngoái nhìn sông đã trôi theo
dòng nước đầm đià dưới bàn chân bó
bắt chụp tháng mười mùa lũ
bên tách cà phê không đường
pha vội giữa trời mưa
bên kia đập đá nước xấp xỉ nhảy lên bờ
đôi tay thở dài năm ngón
len lén thấm lạnh
đợi hồng thêm một chút
cho nắng rộ bờ vai

em . mơn man cành liễu rũ
mùa gió bấc ngập ngừng
ngoài sân xanh cỏ biếc
tôi . ngược chiều theo gió mưa
giữa trời bát ngát
không một bóng hình
nơi chốn ta bà ./.

VÕ CÔNG LIÊM (ca.ab.yyc. tuần chay 22/10/2020)

Tranh Vẽ Võ Công Liêm: Thiếu Nữ Tóc Ngắn / Young girl with Short Hair’

Ý THỨC MỚI TRONG VĂN HỌC NGHỆ THUẬT

VÕ CÔNG LIÊM

TRANH VẼ VÕ CÔNG LIÊM : ‘Người Đàn bà Độc diễn Đàn bầu / Perform Solo (with one Stringed)’.

gởi: Luăn Hoán . Nguyễn Vy Khanh . Khánh Trường

   Ai là người được gọi là ý thức mới và nhận thức mới trong văn học nghệ thuật? –Who are to be the new consciousness and new intellectuals in the culture and art? -Cái đó là vấn đề nêu ra cho một chủ đề của tiểu luận, một phân tách những gì thuộc văn học nghệ thuật; thảo luận để tìm thấy sự tiến trình của nó, xác định sự biến cách của nó; giới thiệu những gì thăng hoa và những gì suy tàn trên con đường tiến lên xã hội chủ nghĩa tư tưởng cho một tư duy phục hưng nhận thức (an intellectual renaissance): Bất luận nam hay nữ là lớp người có ý thức muốn nghĩ tới những gì mà người ta đang sống giữa đời này; đấy là lý do, là giá trị mà họ đang hiện diện trong cuộc đời và cũng không vì điều đó mà ‘bó tay’ để đi đến một thứ văn hóa nghệ thuật tuyệt vọng trong một thứ văn chương ta bà, hùm-bà-lằn hiện đại bởi của những gì yếm thế, phù hư mà ở đây người ta không thể đầu hàng trước một thế giới mù tăm và kiềm chế bởi những gì ngu xuẩn không nhân tính. Cho nên chi ý thức mới là nhận thức toàn diện cả hai bề mặt của văn học nghệ thuật: chiều dài của thời gian và chiều rộng của không gian với cái nhìn trong sáng và đích thực giữa hữu thức và vô thức để xác định vấn đề của sự thật làm nên và xác quyết cho một giá trị tồn lưu nhân thế; xác quyết thế nào là ý thức cũ và ý thức mới dưới một lăng kính vừa độc đáo vừa để đời. Muốn đạt tới chân tướng đích thực tất phải xóa đi những tàn tích, cố cựu vốn dĩ mất lập trường cho những gì sâu sắc và tinh tế trong ngữ cảnh văn học và nghệ thuật giữa một kỷ nguyên mới. Đó là bước tiến hóa của nhân loại trong khoa học kỹ thuật, khoa học văn chương, khoa học nhân văn và những bộ môn khác làm nên lịch sử có tính chất sáng tạo nghệ thuật, sáng tạo văn phong, ngữ ngôn với một ý thức toàn diện để lãnh hội trọn vẹn ý nghĩa của nó. Không chứa chấp một tư duy lạm dụng hay vay mượn ‘chữ nghĩa’ để nói lên cá thể của mình, hành trang một ngữ ngôn vừa ‘mị-dân’ vừa giả dối là hoàn toàn suy đồi, lạc hậu, phù phiếm, ngụy trang như thế là biến văn chương chữ nghĩa mù tăm lạc đường trần, tác hại cho nền văn học nghệ thuật hiện đại. Do đó đòi hỏi ở đây một ý thức mới; giới thiệu những gì cần thiết có tính chất triết học, bởi triết học là cơ bản lý luận, phân tích nguồn cơn tự sự cho những gì người ta muốn đạt tới một viễn ảnh hợp nhất và trung thực của hiện hữu tồn lưu –for those who wish to acquire an integrated view of existence. Dựa trên tri thức khách quan (objective knowledge) để chống lại những thoái trào làm hư hại cho những thế hệ về sau, nghĩa là phải có một ý thức trung thực không vin vào một lý do ‘dụ dỗ’ đang thành hình trong một qui ước có tính chất giáo điều thuộc thần bí, ẩn tàng (mysticism), có chiều hướng vị tha (altruism) và một thứ chủ nghĩa tập thể cộng đồng (collectivism). Hầu như ẩn cái không thực trong đó. Đấy là thể tài cho lý luận về ý thức mới hôm nay.

Dự phóng cho một ý thức mà người ta nhận ra đây như một trách nhiệm để làm nên một nhận thức mới. Nó chứa đựng một yếu tính thuộc triết học chuyển từ những tiểu luận và giới thiệu một phát thảo của hệ thống thuộc triết học mới –It contains the main philosophical passages from its essaies and presents the outline of a new philosophical system. Chắc chắn trong cảm thức đó, bất cứ là nhà văn viết dưới dạng thức nào đều là những nhà tư tưởng, bởi; người ta không thể giới thiệu một con người hiện hữu tồn lưu nhân thế mà không có một dàn dựng khung cảnh thuộc tư duy của mình, dù dàn dựng rõ ràng minh bạch hoặc một hàm ý trong truyện của họ; dù có hay không có ý thức về nó đều có chứa ít nhiều niềm tin về sự nhận biết hoặc nhận biết dưới dạng tiềm thức, bởi; dưới cái nhìn cơ bản của con người và những gì thuộc hiện hữu tồn lưu vốn đã có một sự đối kháng mà gần như là một lý thuyết hiện sinh trong triết học. Đó là biện chứng của con người đứng trước một ý thức mới ngày nay: là định rõ mục đích, giải thích và gìới thiệu sự hiện diện với ý niệm của con người. Cho những gì mà người ta có thể thấy lợi ích trong biên niên thời gian đều phát triển qua tư duy –For those who may be interested in the chronological development of our thinking. Qua tư duy này có thể đưa tới một ngữ văn bí tỉ, khó nhận ra đâu là hữu thức và đâu là vô thức. Phải có ý thức nhạy bén trong nhận biết (conscious intelligence) thì may ra mở múi cho một ý thức mới, còn bằng không nó cứ là đà trong một tri thức cạn cợt chưa vượt thoát ra khỏi những gì là bí tỉ khó giải thích (mysterious). Tại sao? Triết học đã là một liên kết, tiếp giáp vào nội thức bởi tâm lý, nhận thức tự tạo, khoa học thần kinh, khoa học hình thành vật thể và lý thuyết tiến hóa cho tới những danh xưng chính yếu –Philosophy has been joined by psychology, artificial intelligence, neuroscience, ethology and evolutionary theory, to name the principals. Trong tám mươi năm trước, khởi điểm từ 1930 cho đến nay có nhiều cao trào trong nước cũng như nhiều khuynh hướng khác nhau (chính trị, tôn giáo, văn hóa…) đã bừng dậy qua từng bộ môn, đặc biệt thi văn họa là thành viên trong cuộc cách mạng văn hóa; triết học tự nó là tiến trình trong ngữ cảnh của trí tuệ: điểm chính là tháo gở những trạng huống bất thường của trí tuệ, nhưng; cung cấp một ý niệm sáng suốt của những gì có thể cho đó là tự nhiên, một lý thuyết chuyển thể của trí tuệ giữa những gì mà chúng ta phải biết cách chọn lựa cho một ý thức mới và nhận biết mới là một sự lý trong sáng, những thể loại biểu lộ là nhu cầu cần thiết nếu chúng ta tạo những lý do để chọn lựa giữa triết học và người triết học để có một ý thức mới trong cái gọi là tư chất triết học đương đại. Thí dụ: Một nhà giáo dạy triết ý thức được vai trò chức năng, nhiệm vụ của một nhà mô phạm thời ý thức được vai trò đạo đức là chủ lực hành động, dù là ngoại giới lôi cuốn nhưng không vì thế mà hóa ra ta bà thế giới, mai nhà chùa mốt nhà thờ, khi áo dòng, khi áo cà sa hình thức đó là hình tượng phủ dụ, đội lốt che đậy hành tung cho một tác động vô trách nhiệm và từ đó đưa dẫn trí tuệ vào trạng thái khủng khoảng mất nhân tính sanh ra bê tha, phát ngôn bừa bãi như kẻ vô thần. Đứng trước hoàn cảnh đó cho ta một ý thức mới để nhận định cho một ý thức cũ vốn nhai lại, rập khuôn không định hướng đâu tà, đâu chính hay vì những chứng tích mù mờ mà hóa ra mù mờ (?). Ý thức như thế không có chi là ‘conscious intelligence’ mà đưa tới một tập đoàn ngu xuẩn, hỗn độn, bởi thần tượng hóa cho một thiên tài chưa từng có. Cái nhìn thiển cận chính là cái nhìn sa đọa, bạc nhược cho một ý thức mới ngày nay mà cần có một suy luận để chọn lựa giữa họ và ta – we are to make are reasoned choice between them…Tâm lý học dạy cho chúng ta một vài điều thật bất ngờ về những gì nhận ra được và cậy vào những gì nhận thức từ bên trong.(Đây là vấn đề quan trọng từ khi có một vài lý thuyết về trí lực để rồi nương vào một cách nặng nề trong những gì thuộc tự thức nội giới, thiết tưởng như là một tiết lộ từ bên trong / This is an important matter, since some theories of mind rely heavily on what self-conscious introspection is supposed to reveal). Nhận thức về tâm lý và tri thức giả tạo là phát sinh một kiểu thức khiêu khích của nhận thức, là những điều mang lại một tư duy tạp nhạp không ý thức; trong lúc tiến trình của nhận thức hướng tới một ý thức toàn diện hợp thời trang là phá vỡ những thành quách ý thức cổ điển không thiết thực, cho dù ý thức đó đã được đồng hóa để hợp thức hóa. Chủ nghĩa ý thức hệ là đầu mối những gì cố cựu chuyển sang thời kỳ đổi mới tư duy để có một khái niệm đúng đắng cho ý thức mới trong mọi lãnh vực, lãnh vực được chú ý tới ở văn học nghệ thuật là chỉ tiêu để nhận biết qua một liên lạc trung gian giữa trí tuệ và ý thức mới hơn trước. Ý thức mới trong văn học nghệ thuật đòi hỏi những gì? -Không đòi chi cả mà đòi cho bằng được một ý thức trung thực trước một viễn cảnh cuộc đời, biến trình xã hội và một dự phóng vào đời với tất cả những gì trong sáng cho nhận định cũng như phê bình, một phương hướng định lượng được giá trị của nó; tuyệt nhiên không vì một lý do nào hay căn cứ vào những gì phi thực để tạo nên ‘thần tượng’ trong ý thức; nhìn như thế không phải là người thức thời mà chứng minh cho thấy một nội tạng vốn đã tàn tích suy thoái tư tưởng. Ý thức là lập trường cố định, nhận biết được những gì của hữu thức và vô thức là tác động do từ trí tuệ gây nên. Con người hiện sinh là con người có ý thức nhận biết không còn mù mờ để phán đoán trước những gì đang sống. Tác động của ý thức là tác động vào vấn đề thuộc về ngữ ngôn (The Semantical Problem) bên cạnh vấn đề bản thể tính siêu hình (The Ontological Problem) Cả hai vấn đề tựu chung trong một vấn đề thuộc về tri thức nhận biết (The Epistemological). Đó là ba nguồn cơn đưa tới ý thức mới bằng một khám phá cho từng trường hợp và phản biện cho ba lý thuyết đưa ra: Thứ nhất có nghĩa là cảm thức nhận biết về tâm lý là bắt nguồn từ tác động trong bản chất. Thứ hai là khẳng định có nghĩa là bắt nguồn từ tác động vào định nghĩa. Thứ ba là yêu sách có nghĩa là bắt nguồn từ nơi chốn trong hệ thống pháp lý. Cả ba trường hợp là một chứng tỏ trung thực; tuy chiều hướng khác nhau nhưng cùng một phục hưng nhận thức. Phục hưng nhận thức là gì? (đã dẫn ở trên). -Nó là một lý thuyết bao gồm trong mọi lý thuyết, là cung cấp nguồn phát sinh ra ý thức mới là thái độ đối xử có tính chất triết học –an alternative theory was provided by the philosophical behaviorists; những thứ đó nó nằm trong ngữ cảnh thuyết duy ngã (semantic solipsism). Ngữ cảnh duy ngã là cái chi chi? -Đặc vấn đề như thế là có tính chất ngụy biện, bởi; duy ngã là luận văn của những gì nhận thức ra được, điều có thể dự trử cho một nhận biết tức khắc tức tự nó mà ra. Và; từ đó có thể cho chúng ta tìm thấy kinh nghiệm của vấn đề và ý thức (Matter and Consciousness) trong một liên trình đưa tới ý thức, tất phân biệt được giữa hữu thể và tha thể. Cái sự đó là trạng huống cảm nhận chủ quan (subjective feelings). Nghĩa là: có tính chất bí truyền (mystics) hoặc bởi một sự chối bỏ kịch liệt là lý do chối bỏ để có một giá trị luân lý cái đó là giá trị phán quyết cho một xác định ý thức sự kiện xẩy ra hợp lý hay không hợp lý. Giữa tình thế đó ta phải nhìn qua từng góc độ của nó mới nhận ra được ý thức trong triết thuyết mang lại. Không bộ môn nào đứng đơn lẽ trong ý thức tư duy, nghĩa là đã chất chứa hoặc tiềm ẩn những gì thuộc triết học của nó. Thí dụ: Phản kháng ngấm ngầm trong vai trò thách đố của Zarathustra (trong Ecce Homo) là đồng dạng tương đố của Raskolnikov (trong Hồi Ký Viết Dưới Hầm / Notes from the Underground) một bức xúc Ivan Karamazov (trong Anh em nhà Họ Karamazov /The Brothers Karamazov) là ý thức mới của Nietzsche và của Dostoevsky; một ý thức bi thảm, một ý thức thuộc nhân bản mà họ đã sáng tạo trong những tác phẩm bắt đầu của họ. Từ đó cho ta nhận thức được ý niệm của ý thức mới là làm sống thực như cuộc đời trải qua từng nhân vật. Chúng ta có thể tìm thấy những ý thức khác qua nhân vật như Kiều (Nguyễn Du) Chí Phèo (Nam Cao) là một bộc bạch qua ý thức triết học nhân vật. Tất cả là tượng hình cho những gì gọi là ý thức mới trong văn học nghệ thuật là vậy. Cho nên chi giữa ý thức cũ và ý thức mới không còn là ngăn cách, biên giới mà là tổng thể chứa đựng một thứ triết học của văn chương (A Philosophy of Literature). Vậy thì triết học văn chương chứa cái gì trong đó? Hỏi cái này tất đụng phải một thứ nghệ thuật khác (dù cổ điển hay đương đại) cho một tâm lý tri thức nhận biết thuộc về nghệ thuật (The Psycho-Epistemology of Art). Dẫn ở trên là lý do cho một thành quả có từ ý thức mang lại; nghĩa là thanh lý những nhận thức cạn cợt, suy thoái trước đây làm hư hại cho một trào lưu, lý thuyết, trong văn học nghệ thuật; bởi do từ bí tỉ của tư duy đã không nhìn thấy giá trị thâm hậu mà tác giả muốn nói lên những gì muốn nói tới: là phơi mở, huỵch toẹt cái điều mà con người phải nhận biết (ý thức). Ý thức này không phải là ý thức kia; nghĩa là không dựa vào mà tìm thấy từ sự phát tiết để làm thế nào thấy được nội giới bên trong; là đưa dẫn từ lý trí (mind) chớ không từ tri giác (perceptual). Cho nên chi đứng trước một hoàn cảnh của văn học nghệ thuật nói chung là đòi hỏi một ý thức mới cho vấn đề; chỉ có suy luận, những gì là bi thảm, tuyệt vọng và một sự tàn phá âm thầm là những gì đã xẩy ra qua bao thế kỷ trong cái ngấm ngầm bí ẩn không thể nhận ra được sở nghiệp của nhận thức. Điều mà không bao giờ biết đến –One can never know; only surmise, what tragedies, despair and silent devastation have been going on for over a century in the invisible underground of the intellectual profession. Cái cạn cợt, không kinh nghiệm, không chuyên nghiệp đều đến trong điạ hạt của nhận biết với một cảm thức không sáng tỏ (the inarticulate sense) của trào lưu. Ở đây chúng ta tìm kiếm cái lý lẽ vấn đề để trả lời thành quả đầy đủ ý nghĩa của hiện hữu tồn lưu của con người, tìm ra được những gì thuộc triết học với một phương hướng đi tới nhận thức cho một nhận thức mới (For the New Intellectual). Đưa sự lý này vào đây không biết có bí tỉ không? -Đấy là vấn đề. Không! mà đấy là nguồn cơn của nghệ thuật đặc trong sự kiện; đó là nhận thức từ tri thức của con người là thể chất thuộc về nhận thức (conceptual). Khi đã ý thức vai trò của nhận biết thì ý thức được sự kiện một cách sáng tỏ, không ấm ớ hội tề, chi mô răng rứa mà thêm mù mờ; chớ bây giờ biết lấy chi để giải thích hơn. Nguyên nhân xưa nay cứ nói ý thức là cụm từ được mô tả từ tri giác; cái tri giác này gần như tự động hóa cho thành vấn đề chớ chưa nhận thức thấu đáo của từ ngữ ‘ý thức / consciouness’ có từ đâu và sinh ra từ đâu. Tuy có tính chất siêu hình trừu tượng nhưng khám phá ra được nó thì tự nhiên hiện hữu với đời và tồn lại với ngữ văn trong văn chương, còn nếu như (as if) chưa thấu đáo với tư duy thì chắc chắn ý thức đó đi ngược với những trào lưu đang phát tiết. Đấy là sự nguy hiểm của nhận biết. Nghệ thuật ‘nó là / it does’ có mục đích và ‘nó là’ phục vụ nhu cầu của con người, không cần phải có vật chất, chất liệu làm nên nhưng cần ý thức nơi con người làm nên. Nghệ thuật là cái điều không thể giải thích được, để buộc vào sự sống còn của con người. –Art is inextricably tired to man’s survival, but a need of man’s consciousness. Không có nghĩa là nêu lên tính chất vật lý mà là một sự bảo tồn và sống còn của ý thức. Thí dụ: Người đàn ông nọ nắm được nhận thức hiểu biết và đưa tới hành động; không có nghĩa là đơn độc, một tri giác cô lập trong hành động mà hành động trong dạng thức trừu tượng. Cho nên chi nhận thức hành động là ý thức được sự kiện để hành động. Đứng trước hoàn cảnh thuộc văn học nghệ thuật là đòi hỏi một nhận thức thấu triệt, đưa vấn đề ngữ ngôn và ngữ cảnh đến một nơi chốn toàn vẹn để có một ý thức nhận biết giá trị của nó; nhưng đó là then chốt trong chính nó mà ra –but is an end in itself. Sự lý này phục vụ không mục đích khác hơn là thưởng ngoạn. Thí dụ khác: Nhạc sĩ nọ phát tiết nhạc từ qua ngẫu hứng, gần như thể loại thi ca vô nghĩa (nonsence poetry hay còn gọi là fatrasie) chính trong vô nghĩa (của ngẫu hứng chớ không phải của mô-típ văn chương) cốt làm giàu âm thanh, nhạc điệu, có khi bất chấp cung bậc nhạc lý. Thế rồi trở nên thứ âm nhạc thuần túy. Nhạc sĩ (ngẫu hứng) thính giả (bắt chụp) cả hai tâm lý khác nhau; bắt nguồn từ vô thức chớ không phải từ hữu thức sinh ra. Vì vậy trong nghĩa cử nhận thức chiều sâu của nghệ thuật (luôn cả thi ca, hội họa, âm nhạc) phải nhận biết và có ý thức mới để nhận ra nó thời mong định được phương hướng của nghệ thuật. Tại sao? -vì ngữ ngôn là ẩn số, là ký hiệu của tai nghe mắt thấy (visiual-auditory) đó là chức năng phục vụ của tâm lý tri thức nhận biết (psycho-epistemological) là chức năng của biến đổi dạng thể trừu tượng trong dạng thức cục bộ hoặc chứng tỏ dạng thức chính xác, cụ thể đều nằm trong tâm lý tri thức nhận biết cũng là dạng thức tương đương cụ thể cho một tác động giữa ý thức trí tuệ và chức năng tự động của dạng tiềm thức. Nói tới đây đưa ta về thế giới của siêu hình –siêu hình là khoa học, là xử lý cho một cơ bản tự nhiên của thực chất; liên can đến một thứ trừu tượng rộng lớn của con người. Bao gồm mọi thứ cụ thể, cục bộ, khuôn phép mà người ta nắm lấy, cảm nhận được, bao luôn cả những gì rộng lớn của nhận biết và một chuỗi dây chuyền về nhận thức ý niệm chính những gì hiện ra; là những gì mà con người cầm giữ lấy nó với một tọa độ cho ý thức mới tức thời. Con người cần có một nhận thức nhận biết đó là năng lực đưa tới một nền văn học nghệ thuật: Nghệ thuật là một chọn lựa tái sáng tạo thiết thực hợp cho một cái gì thuộc về siêu hình xét đoán hợp lý –Art is a selective re-creation of reality according to an artist’s metaphysical value-judgments. Văn học nghệ thuật là cụ thể hóa (concretization) về những gì là siêu hình. Văn học nghệ thuật mang lại ý niệm nhận thức đến từ tri giác và từ tri giác gây nên ý thức để gói trọn tâm tư một cách trực tiếp trong tư duy; nếu những dữ kiện đó xẩy ra cùng một lúc, đồng thời là một giao thông tư tưởng có tính cách đạo đức luân lý. Nói tới đây không có nghĩa văn học nghệ thuật là thay thế cho tư duy triết học, nhưng; cũng không phải trợ vào những gì thuộc văn học nghệ thuật, cách thức đạo đức mà chỉ còn lại một vị trí của những gì thuộc lý thuyết nghệ thuật cơ chế (theoretical engineering). Nghệ thuật và văn chương là mẫu thức tạo tác –Art and literature is the model-builder. Nhưng; tất cả đã ảnh hưởng và đó là thông điệp như một kết quả: -Nghệ thuật là không có nghĩa đưa tới đích giáo dục. –Art is not the means to any didactic end, và; Nghệ thuật không có nghĩa là sao chép hay rập khuôn –Art is not the means of literal transcription. Đó là sự khác biệt giữa ý thức cũ và ý thức mới đều bao hàm trong một ý thức (awareness) hiện đại hơn.

Trong ba thập niên sau này; ý thức nhận biết về giá trị thuộc văn học nghệ thuật ở nước ta chuyển hướng rõ rệt; một thứ triết học tự nó đã làm nên một tiến trình có ý nghĩa trên phương diện tự nhiên của trí tuệ; phần chính không còn thấy hỗn mang, gò đống trong cách suy diễn hay văn phong cục bộ mà thoát ra bởi nhờ vào phương tiện kỹ thuật cho một trạng thái thông thường tự thức của trí tuệ (mind’s self-knowledge) nhưng cung cấp ở đó những ý niệm nhận thức trong sáng của những gì phát tiết tự nhiên không còn khuôn phép hay ước lệ mà chủ trương cho một phương hướng nhận thức sâu xa. Thế nào là mới trong văn học và nghệ thuật? -là những gì có thể thay thế hay chọn lựa trong những lý thuyết đã đề ra và nhận ra những gì sáng suốt trong ý thức nhận biết, những thể loại chứng tỏ là nhu cầu cần thiết mà những thứ đó tạo ra nguyên cớ cho việc chọn lựa; chọn lựa trong một ý thức mới. Đấy là vấn đề được nêu ra cho ý thức nhận biết: nhấn mạnh vào những gì có liên đới đến ngữ cảnh của văn chương, khai thác triệt để có một tư duy sáng tỏ, trung thực và phản biện mọi cá tính chủ quan; vượt ra khỏi con đường quá độ vốn ẩm thấp, độc hữu và ước lệ giữa trào lưu đổi mới tư duy, cốt để bước lên con đường xã hội chủ nghĩa tư tưởng; nghĩa là giải phóng toàn bộ vũng lầy còn ứ đọng trong tư tưởng để có một ý thức mới kiện toàn, một tư tưởng không bị khống chế bởi ngoại giới đưa tới mà cần có một thảo luận đặc biệt chống lại cái viễn ảnh cố cựu tiêu chuẩn: một thảo luận ngữ ngôn riêng tư –had a futher argument against the standard view: the private language argument. Đó chính là con đường sáng tác; đòi hỏi một tư duy độc lập, không hệ lụy ngay cả việc chịu ảnh hưởng một số tác giả làm nên, ảnh hưởng vào đó chỉ là lâm thời chớ không thể xem đó là trường phái riêng tư cho mình. Nếu duy trì nó tức là đưa mình lên giàn hỏa thiêu…Vậy thì yêu cầu gì có ý thức mới nơi người văn nghệ sĩ? -Hỏi cái này có tính chất lý tài và biện minh cho cái lý riêng tư. Vì rằng; thời gian biến chuyển con người chớ con người không chuyển biến thời gian tất giữa người và thời gian là biện chứng tư duy để vượt thoát ra khỏi một tư tưởng ‘bùn lầy nước đọng’ không còn trong vòng luẩn quẩn, vu vơ mà cần có một tư duy mới cho một ý thức mới tức cải thiện để bước đi xa là dẫn độ đến con đường văn học nghệ thuật. Nói ra đây có vẻ triết thuyết. Thực ra; nó tụ trong quan điểm của lý thuyết hóa của ngữ văn (the Semantic of theoretical terms) cho nên chi viễn cảnh của ý thức mới là bùng nỗ trong một trạng thái kích động (stated); cái mà ta thường cho là thuật ngữ của lý thuyết (theoretical terms); mà là cảm thức có từ trí tuệ (common-sense); thời tất không cho đó là ý thức trước một ý thức mới. Thí dụ: Văn sĩ Z. và thi sĩ X. họ có những phát tiết từ trí tuệ nhưng họ không khai thác tư duy mà chủ quan trong tư duy vì cho rằng họ độc hữu trong tư duy, phát sinh ra ngữ ngôn riêng để tạo hiện tượng; thật ra cả hai chưa ý thức vai trò nhân thế mà ‘dựa hơi’. Nói theo lý thuyết đó là hành động theo bản năng một cách tự động hóa vấn đề để nói lên cái kích thích hứng khởi mà không tỏ rõ bởi ý thức (philosophical behaviorism) để rồi cả văn và thơ trở nên thụt lùi không còn định lượng mặt hàng thực giả cho trào lưu mới. Vì vậy con người làm nên là vượt thời gian bằng một ý thức cải cách và đổi mới tư duy không còn vướng tục mà bước ra cõi ngoài của ngữ ngôn để đạt tới cái nguyên vẹn hình hài của con người hiện sinh với một tư duy trong sáng và bày tỏ chân lý sự thật của tâm hồn và thể xác, đồng điệu trong một tinh thần mới nghĩa là phải mới từ trong ra ngoài do từ ý thức mang lại của trí tuệ hướng đến tri thức tuyệt đối, quan điểm mọi biểu tượng xẩy ra là do tác động trực tiếp; một đôi khi ý thức đã vượt giới hạn của nhận định làm cho nhận thức tư tưởng trở nên siêu hình trừu tượng (metaphysics) mà phải biết vận hành để có một khái niệm cụ thể về ý thức là ở chỗ đó. Ý thức mới là nhận định sáng tỏ thực hư của vấn đề. Nhận thức ở đây là có một trí tuệ minh bạch để xác quyết vấn đề nghĩa là không chạy-theo để a-tòng hay rập-khuôn tất cả những hình thái như thế gọi chung là tư tưởng vô thức, bởi; trí tuệ hỏa mù thì làm cho nhận định lạc hướng trước một hiện hữu tại thế; trong lúc những gì gọi là ‘ý thức’ hoàn toàn khác với thực tế mà đó chỉ là ngữ ngôn phô diễn cho một quá trình đã tham dự. Ý thức mới phải độc lập trong tư tưởng, tức không bị khống chế bởi tri giác mà do từ trí tuệ làm nên. Tựu chung định hướng đó không thể đi tới ý thức mới. Ý thức mới là hình thái tạo nên chất lượng trong cách viết đầy sáng tạo hơn, mới hơn..

Ý thức trong sáng là ý thức mới; cũng không phải vận hành qua tất cả tri giác (The Theory-Ladenness of All Perception) mà vận hành qua trí tuệ thì cuộc đời tươi sáng và mở rộng. Trí tuệ là não thức tìm thấy ở chính nó như có một cái gì rắc rối, phức tạp và không thể nào hiểu thấu trong lúc cố quyết đi tìm thế giới vô tận ở cõi ngoài mà xưa nay đã mắc phải. Cái sự ‘mắc phải’ là căn bệnh trầm thống, một thứ tệ đoan văn hóa xẩy ra giữa thập niên 50, 60 và đầu 75 ở miền Nam là dấu tích suy thoái tư tưởng, nghĩa là chưa định rõ phương hướng thế nào là ý thức và thế nào là vô thức; lý do mắc phải bởi ngọn gió chướng của tư tưởng phương Tây. Thừa nhận nó như một thứ văn chương độc hữu và coi đó là thần tượng cố hữu. Lý thuyết của họ như giáo điều lấy đó làm cơ bản, biến nó như trào lưu đương đại mà quên ở chính mình cũng có thể làm nên thế sự. Sở dĩ yếm thế trước trào lưu đương đại phương Tây với nhiều lý do khác nhau nhất là lãnh vực văn học nghệ thuật hiện đại. Lý do tìm thấy ở sự phát tiết trí tuệ là nguồn cơn của mặc cảm bị trị, bởi; họ đã thổi vào một sắc khí độc dược và mê hoặc như món hàng thời thượng. Chính vì thế mà nguồn phát tiết tư duy đi qua từng thời kỳ đều lấy đó mà rập khuôn, một thứ ước lệ hủ hóa, nghĩa là không thoát tục và độc lập ở chính mình. Đấy là nguy cơ không biết đến nay đã giác ngộ hay chưa? Nhận ra được tư duy chiếm cứ thì không thể ý thức được sự kiện; nhưng phải xuyên thủng một tiến trình phát triển về nhận thức: thời trí tuệ sẽ bừng lên với một ý thức mới, phát tiết từ trong con người của chúng ta để làm nên một nền văn học nghệ thuật hiện đại và trong sáng hơn xưa ./.

VÕ CÔNG LIÊM (ca.ab.yyc. 5/ 8/2016 / Hiệu đính 15/9/2020).

TÌM ĐỌC : Những bài của võcôngliêm:

– Vô Thức Hữu Thức

– Ý Nghĩa Của Nghệ Thuật.

– Triết Lý Cuộc Đời.

– Triết Học Nghệ Thuật.

– Phân tích Tâm lý thuộc Triết học Tự nhiên.

– Phương pháp thuộc về Phân tích trong Văn chương.

– Ý nghĩa của Nghệ thuật.

Hiện có trên một số báo mạng và giấy trong và ngoài nước hoặc email theo điạ chỉ đã ghi.

VÕ CÔNG LIÊM và THƠ

CHƠI TRĂNG

gởi: trịnh cung. rừng . lê thánh thư

tôi . ném màu lên vải bố
nhầy nhụa
chảy
từng dòng
nước màu như nước mắt
người con gái
trắng tinh màu giấy
trắng hiện nguyên hình
thiếu nữ trong tranh
bóng tối
nhìn trộm
nguyệt thực
giữa đêm đen tịch mịch
tôi . phá thể cùng trăng
lột trần
xoa bóp
liếm láp
húp trăng
cái thời rồng lộn
đến mai thức dậy
trăng loã thể
trên giường bệnh
hội chứng coronavirus
vương niệm của hành tinh ?
và . sẽ chết như sao rơi vào bất tận*
cho một thời một đời phiêu bạt giang hồ
với trăng treo đầu ngõ
hóa thân con dê xồm
trên sừng dưới râu
làm thân tế thần
chơi trăng
một lần mát mặt với nhân gian
nơi mặt trời ngủ yên
ngoài kia những vì sao
lẻ loi chờ đợi
một ngày trong đời
của võ công liêm
toàn thân bại hoại giữa mùa trăng
xin khất lại ngày rằm
năm tới
chơi trăng
vọc trăng
cho đã cuộc đời

sống chỉ
một lần
chết mãi
nghìn năm ./.

(ca.ab.yyc. lễ vu-lan tháng 9/2020)
*mượn ý thơ của Quách Thoại.

CHÓ SỦA

đêm đi ngủ chưa ?
mà đời còn thức trắng
để nghe gió thổi
tợ nhung mềm
lên ngực thở
tôi . kỵ sĩ không đầu
sang giờ dậu
chó còn tru
thì ra hồn ma bóng quế
chó sủa
từng hồi
trong giấc chiêm bao
trở giấc
chó gào
như cào
một đời lăn lộn
tôi . hoang mang tôi
tình trôi mênh mông trôi
em . thờ ơ em
theo sương mơ hồ theo
chó sủa
mà nhớ
một đời
đêm buồn khóc nghe như mưa khóc
ngày buồn tẻ nghe như buồn nôn
chó tru đầu xóm hay cuối xóm
lời thì thầm qua cơn say từng miếng
ngon mà nhớ cuộc cờ tây năm nọ
nếm chút phong tình trên sông hòa
tiếng chày kình từ xa vọng lại giữa
lòng đêm thêm thổn thức ai ơi
tiếng chó tru . sá chi hề ! đêm nghe tiếng tù
và nhớ kiếp ba sinh hương lửa một thời xưa huế
trăng treo đầu ngọn
tre lả lơi bay
theo điệu cung thương
chơi vơi bóng hình em
vuốt ve từng ngón xuân nồng
chó tru đưa con nước về nguồn
mà nhớ thuở xa xưa
chó tru trăng lồng bóng
một thời xa đưa
trong tay nải bước lê trên chốn vỉa hè
thu rụng tới đông tàn với đôi tay quờ quạng
mò đêm giữa dòng hương trăng sao ẩm đục
đất có còn hay đã phôi pha
giựt mình
chó sủa
nghe như chuông gọi hồn ai
giữa chốn ba đào bóng tịch dương ./.

(ca.ab.yyc. đầu tháng 9/2020)

NGỌN GIÓ ĐẦU THU

sáng trời
đụng phải
mây đưa
ướt trong mạch thở
ướt ngoài hiên xưa
ngọn gió đầu thu
rơi từng ngọn lá
vàng bay một thuở
xa người mấy thu ?
nắng chậm sáng nay lá vẫn chờ
nghe râm râm từng lóng xương mềm
ký ức đụng chạm bất ngờ
giữ nguyên màu kỷ niệm
ngày phẳng lặng hoa ngoài hàng dậu rụng
tơi bời đêm qua bầy quạ đen mổ đá
động biển căn nỗi nhớ
lời thơ nhốt trong khung cửa hẹp
ngoài trời nghe từng cuộn gió thổi
ngọn lửa hực cháy mấy ngày nay
cho không gian mặc màu tang chế
người lính cứu hỏa thoát nạn
và . lửa hân hoan cháy cho tới tận cùng
mùa dịch còn hấp hối đậu trên những nhánh cây
tôi . đốt nốt cây nhang tàn để truy điệu
con chim nhỏ thiêu thân trong rừng xưa đã khép
nằm xếp cánh mềm ngủ vùi trong giấc điệp nghìn thu
những khoảnh khắc bất chợt nhớ
lửa vẫn cháy hoang
rừng khô đã chết
cho sương phủ đầu phô
loài cỏ dại yêu dấu
cất tiếng hát trăm năm
về nơi xứ mẹ ngút ngàn xa
cho tôi được yêu em bằng trái chín nồng nàn
trong nỗi tận cùng của dòng sông vô tận đó
chảy miết chảy hoài cho định mệnh thêm đau
thu vẫn dật dờ trên từng khung cửa cấm

mùa thu không có nơi nương tựa cho vàng lá bay
khao khát trong em nghe mùi hương thạch thảo
của người thi sĩ xa xưa ngồi gặm nhấm những câu thơ
tôi .vô nghĩa một cách quái gở
nếu được làm con đĩ đứng đường
mà tôi có lần mắt xanh dã thú lên thân thể người con gái
tuổi mới nhú măng non vành khuyên trước gió một chiều
lãng đãng mưa bay ngoài ngõ trúc một trời bạc mệnh
xa đi ruồi muỗi
tôi
thả tóc theo gió
về nơi tịch mịch
nơi đó
gió nào vỗ cánh bay
vào nửa lưng trời đã cũ
sương mốc meo nằm yên bên bờ đá
đã hoang tàn trong gió hú chiều hôm
những cánh hoa bẻ gió
đợi mùa đông tới
mây cuộn tròn hư vô
tôi . hứng những ngọn lá mùa thu trong vườn nhà ngoại
một thời nham nhờ . trụy lạc linh hồn . con chó ốm
cắm đầu chạy vào sa mạc hoang vu có kên kên bò cạp
chờ liếm láp mùa thu của tôi
mùa thu chết năm nào trong vũng tối ăn năn ./.

VÕ CÔNG LIÊM (ca.ab.yyc. cháy rừng . 9/2020)

ÁNH SÁNG VÔ TẬN PHẬT

VÕ CÔNG LIÊM  

TRANH VẼ VÕ CÔNG LIÊM : ‘Bồ Đề Đạt Ma / Bodhidhama’

 

                                                                                                                                            Kính dâng: song thân.

    Theo kinh điển nhà Phật gọi là ‘Vô tận Phật / the Buddha of Infinite Light’ hay vô tận của ‘Vô lượng Pháp  / Abhidharma of Infinite’ là đỉnh cao trí tuệ, là hào quang, thứ ánh sáng vi diệu tỏa muôn phương. Phật giáo Tây Tạng (Tibetan Buddhist) cho đó là những gì trội hẳn, là những gì hiện diện nơi Phật. Amitabha: Phạn ngữ (Sanskrit) gọi là cõi sáng vô tận (Infinite Light) hay còn gọi là  ánh sáng vô biên (Boundless Light). Thân tâm ngài tinh anh và soi rọi được tôn thờ dưới ba mươi hai ký hiệu khác nhau với tám mươi dấu hiệu tỏ rõ cho một hiện hữu tồn lưu nhân thế, hiện thân giữa vũ trụ loài người. Ngọn đuốc soi đường với một thứ ánh sáng không thể tưởng được, chiếu rọi vào nơi vô cực tính của mười phương, một thứ ánh sáng vi diệu: ánh sáng của ngài là đức độ, hiện thực hóa và trí tuệ -His lights are the virtues, realization and wisdom. Một năng lực chưa từng có, một thân tâm bừng sáng cho những gì của cực đại, của khôn ngoan, của hân hoan tuyệt đối. Bởi; ở chính ngài là cuộc đời trải rộng là vô hạn lượng cho một kết tinh của ánh sáng vô tận Phật –he is also known as the Buddha of Infinite Light.

Lời dạy của Người sắc bén vững chắc là giáo pháp. Giải thoát là trí toàn năng của Phật, một cõi thanh tịnh đại hải và vi diệu –deep peace and wisdom.Trí tuệ của Phật là tình yêu và lòng từ bi cho tất cả những gì đau đớn, bi thảm. Trong lòng đất trinh nguyên của ngài là nguồn sáng vô tận, nó bao gồm của hai loại người đi tìm thứ ánh sáng cho chính họ và giải thoát (enlightenment) cho chính họ (shravaka and pratyeka-buddha) và người kia đi tìm giải thoát cho chúng sinh là Bồ tát (Bodhisattva) là hai đối tượng của Phật; nghĩa là họ nhận ra được cõi sáng là con đường giải thoát tự tại, nó không còn là cảnh giới của tục lụy; Bồ tát là sở hữu chủ, chiếm cứ gấp năm lần nhận biết phi thường : (1) cầm giữ được khả năng vi-diệu-tính-không để đưa chúng sanh đến bờ giác. (2) Bồ tát có một khả năng nhớ phi thường từ quá khứ đến hiện tại qua lời cầu nguyện. (3) một thi thể thánh thiện (celestial bodies), một đôi mắt tinh tú sáng ngời có thể nhìn xuyên qua vũ trụ mười phương trong tụ điểm hiện hữu tồn sinh mà chỉ có những đấng bồ tát thực hiện được.(4) Bồ tát là một thính thị siêu nhiên có thể nghe và hiểu những gì Phật dạy qua lời kinh tiếng kệ hay qua lời nguyện. (5) Bồ tát nhận biết về tất cả tâm trạng của chúng sinh : hạnh phúc, đau khổ là một phục vụ như tỏ bày. Trong tất cả biến dịch của bồ tát là vi diệu tánh không cung cấp niềm vui an lạc và lợi ích khác cho hằng hà sa số sinh linh trong vũ trụ loài người. Bởi; đây là những gì mà chúng sanh đã nghi ngờ về việc tái sinh trong đất-phật hoặc thiếu tin tưởng trong năng lực của Phật, của thứ ánh sáng vô tận đó và là lời nguyện của ngài–This is; because they have had doubts about taking rebirth in the pure land or lacked full faith in the power of the Buddha of Infinite Light and his wows. Chúng ta chưa đạt được; bởi chúng ta chưa gặp phải hoặc chưa nhận thấy thế nào là chân-như, thế nào là như-lai-phật, chưa bắt gặp chánh-pháp. Thực ra thuyết pháp không có thuyết nào để thuyết nên gọi là pháp (trong Kim Cang) Còn nói ‘pure land’ cái đó là ‘Chân như tuyệt đối’ hay còn gọi là Đất Phật hay Phật độ (buddha-land) là cõi không; còn nói ‘Niết Bàn’ hay ‘Cực lạc’ là dự phóng cho tương lai hay kiếp sau mà phải hiểu một cách thâm hậu của ‘Tâm-sai-biệt’ và ‘Tâm-vô-sai-biệt’ tức là ‘niện’ với ‘vô-niện’ là nằm giữa hữu thức (consciousness) và vô thức (unconsciousness). Như vậy ta nhận ra được cái gì là sai biệt và cái gì không sai biệt. Cụ thể; giáo lý nhà Phật là một tổng hợp của vô lượng tính đi từ cõi vô minh đến cảnh giới của giác ngộ (enlightenment) để nhận ra trong vũ trụ loài người là do từ Nghiệp / Karma. Nghiệp thì có thiện nghiệp ác nghiệp. Cái sự này được một số đông tu học phật cho là phương tiện để đạt tới mục đích của Phật-thừa. Nói một cách minh chính thiện hay ác đều do vô-minh mà ra cả, chả phải lấy thiện mà tu tập hay lấy ác mà phá trừ. Cả hai thứ: Ác thì nó chứa ích kỷ. Thiện cũng chỉ là hình thức khác của ‘ngã chấp’ tức nghĩ cho chính mình; nó nằm trong dạng ‘ngã mạn /subtitle de l’égotisme’ mà ra chớ chẳng phải là gì. Tu học là một việc, hành là một việc. Cái khó của Phật giáo là nhận thức; đó là yếu tố làm nên phật sự. Từ chỗ đó suy ra lời nói của Cổ Đàm sau khi thuyết pháp xong. Ngài nói: ‘Ta đã ròng rã bốn mươi chín năm thuyết pháp nhưng chưa từng nói một lời’ (trong Lăng Già) là một hàm ý tối hậu, gián tiếp nhắc nhở chúng sanh vào cái ‘nghiệp’. Ngay trong kinh Pháp Cú (Dhammapada) của Tiểu Thừa có lời day: ‘cần phải thoát khỏi sự trói buộc của thiện-nghiệp và ác-nghiệp mới đi tới giải thoát, bằng không nó nằm trong trầm luân của tội lỗi, bởi cả hai duy trì một thứ vô thức của ngã mạn’. Mà phải thoát khỏi cảnh mộng huyễn, bào ảnh của sinh tử luân hồi mới đáo bỉ ngạn. Đáo bỉ ngạn ở đây là cõi sáng, một thứ ánh sáng tuyệt đối ở nơi chốn nguyên trinh của phật-độ, bởi; chỉ có một thứ ánh sáng duy nhất ‘vô tận Phật’ mới giải trừ, cái đó còn gọi là Phật-tánh tức là đạt tới trạng thái hết mê. Nghĩa là chuyển sang ngộ, nói rộng ra mê là vô-minh, tâm não bị lu mờ trước đám mây che sáng. ‘Chi tông chỉ’ là gì? chỉ vào trăng để thấy vô tận Phật ;đó là chân lý nhà Phật ngoài ra chẳng còn gì để nói mà chỉ còn lại tâm , tâm sáng không còn thiện / ác vây quanh, có chăng đó là cái nghiệp, một qui luật tự nhiên của nhân quả hay còn gọi là luật-nhân-quả -Karma, the Natural Law of Causality- Nghiệp là ngữ cảnh của Phật giáo coi nó như qui luật, luật đó khống chế trên tất cả mọi thứ. Trong mọi hành động thuộc tâm trí và tâm sinh lý khởi đầu bằng tâm ý để rồi trở nên sự cố, cái đó là do thiếu thận trọng đưa tới hậu quả trầm trọng; là do từ hiện thực của cá thể mà ra. Với đạo Phật ngăn ngừa hay hướng dẫn tới những chi tiết lớn lao về hậu quả chính xác đã xẩy ra và sẽ theo sau những hành động hay cử chỉ một cách rõ ràng nhưng ‘mắt đời’ không nhận ra, bởi; nghiệp quả là một hội chứng siêu hình, có thể xẫy ra hôm nay hay ngày mai điều đó khó đo lường và định liệu.

Nói chung; khuôn mẫu hay cách thức có thể xác thực được minh bạch là do tư tưởng mà có. Đúng ra đó là sự thể trở lại của cuộc đời –the events of life’s cycle. Nó nằm trong qui trình của vay trả chớ chẳng đâu xa. Tất cả nguyên nhân và hậu quả do từ cảm thức hủy diệt ở nơi ta là thói quen thường có trong ý niệm tâm lý và tư tưởng của mỗi con người. Cái đó là ngọn nguồn trong những gì Phật giáo cho là bám lấy ở nơi chốn của tự tại hay tự ngã / self  là ý niệm phân biệt giữa chủ thể và khách thể. Cho nên chi trong cái nghiệp là cái tự mình tạo ra thì cũng tự mình hủy diệt; mà đời thường gọi là ‘nghiệp dĩ’ là do từ chữ ‘số mệnh’ mà có; đúng ra nghiệp hay mệnh thuộc về Tâm Pháp. Phật giáo Tây Tạng nhìn tâm-pháp thuộc về Nhân tức do tâm thức tạo ra. Thí du: Người có tính tham là có ở bản chất ham muốn, tích lũy ở tiềm thức (alaida) muốn tiêu trừ để đến gần ánh sáng trước mắt phải có tâm pháp nghĩa là phải có ‘tương vi nhân’ tức biết thương người như thương mình thời không còn thấy tham vọng là gì cả. Bởi; mỗi người của chúng ta đều có một thức a-lại-da riêng để nắm lấy sinh mệnh của mình. Nói chung nó nằm trong tâm-thức. Thức theo Phạn ngữ (Sanskrit) là hàm chứa, tất cả mọi hiện tượng đều có hạt giống (chủng tư) ẩn núp trong thức. Thức ở đây là chỗ chứa của A-lại-đa-thức (Alaya Vijnana) có khi gọi Tạng thức: nơi chứa hạt giống của tất cả các pháp. Cho nên chi; luận ra được nơi nào có ánh sáng vô tận Phật và nơi nào không có ánh sáng là do từ tâm thức của mỗi con người tạo ra trong và ngoài đó.

Với tư duy của triết gia Phật giáo Tây Tạng Nagarjuna cho rằng: ‘Tất cả vọng niệm đến từ cái sự tham lam ích kỷ ở tự tại / All beings have come from grasping at ‘self’’. Cái sự đó; là chiều hướng của trí tuệ là ôm đầm vào để trở nên dính liền nhau đưa tới đối tượng tư tưởng và nhận thức; đó là nguồn cơn của những gì đến trong ta cũng coi đó là đối ngẫu hiện hữu tồn lưu nhân thế. Tham vọng, ham muốn là ở tại ta, là lối về của ý, là nhận thức có từ lý trí là một nhập cuộc trung thực. Chủ thể trí tuệ bao gồm tất cả những gì thuộc hiện tượng luận cái sự đó mọc lên từ tâm thức của chúng ta. Đấy là ý thức ‘đáo bỉ ngạn / paramita’ một cách rõ ràng minh bạch và được coi là chân lý tối thượng của nhà Phật. Quan trọng của đạo Phật là nhận thức; tức loại bỏ mọi vọng niệm, mọi vô-trước: là không dính vào; thời mới thấy nghĩa lý cuộc đời đang sống, bằng không chỉ ‘ve vãn’ với bóng tối thời bóng tối vây quanh như ngục tù.

Trong cái nhìn của đạo Phật; tự tại / self nó bao gồm ‘cái tôi /me’ và ‘cái của tôi /mine’, nhưng; điều đó cũng là cái sự bao quanh trong tất cả mọi hiện tượng, nẫy mầm trong hữu thức của chúng ta. Tuy nhiên; để phù hợp tới nhận thức cao siêu của Phật giáo thời đừng nói cái tự tại của mình, đạt được thời coi đó là vững chắc cho một hiện hữu tồn lưu và không có gì thay đổi để đi vào thế giới của ánh sáng, một thứ ánh sáng vô cùng tận và vô biên., bởi; chúng ta thật sự bị thu hút vào trong cái nghiệp –because; we are in the grip of karma; ảo ảnh suy tư và thái độ của chúng ta là kết quả đưa tới đau đớn và khổ lụy, tất cả điều đó đến quá thực cho chúng ta –our delusory thinking and behaviour result in pain and suffering that are all too real to us. Nói chung cái vòng luẩn quẩn bi lụy đó tiếp tục lập đi, lập lại ở chính nó như tiếp tục, như mệnh lệnh, đó là luật nhân quả của cuộc đời. Cảm thức ưu phiền, khổ lụy là ngọn nguồn của buộc phải ở chính mình để cho việc luân hồi tái sinh. Trong khi đó trạng thái lạc quan của trí tuệ là phương tiện để giải thoát. Thế nhưng chúng ta cần tu luyện thân tâm để có một tâm hồn an lành và cho tới cái chết được thanh thản và mong ước kiếp sau nghiệp và mệnh được vẹn toàn như ý.

Cuối cùng; chu kỳ ảo ảnh của cuộc đời là : đi tới cái chết và sau cái chết được biết tới như một samsara trong kinh điển của Phạn ngữ (Sanskrit) giải thích: trong bánh xe luân hồi của cuộc đời (wheel of life) có ba bực thấp nhất và ba bực cao nhất: Thấp nhứt: (1) Vùng điạ ngục /hell realms. (2) Vùng đói rách, ma trơi qủy ám /hungry ghost. (3) Vùng súc sanh / animal realm. Cao nhất: (1) Vùng gần thượng đế / realm of the demigods (2) Vùng của Trời /realm of the gods. (3) Vùng người / human realm. Tất cả kinh qua thời kỳ tu tập và kinh nghiệm sống. Trong luận thuyết của giáo phái Tây Tạng có bốn thời kỳ chính miêu tả những gì quan tâm đến gọi là bardo (chữ của Phật giáo Tây Tạng): là thông điệp của cuộc đời, là thời kỳ chuyễn hóa giữa sự chết và tái sinh qua ba thời kỳ: ‘đời’, ‘chết’ và ‘lẽ tự nhiên’. Đấy là dấu hiệu cho ta nhận thức nghĩa lý cuộc đời là vòng quay mà con người phải đón nhận như luật sinh tồn và là chu kỳ của luật nhân quả. Hầu như mọi tôn giáo trên thế gìới luôn hướng đến ‘tương lai’ cho một kiếp sau với hứa hẹn tuyệt đỉnh; đó là hoài vọng để được tôn thờ, đặc biệt Phật giáo Tây Tạng coi bardo là một trải nghiệm (glimpses of the Bardo) của cuộc đời trước khi chết họ tin vào phần hồn hơn phần xác. Theo quan điểm thuộc về văn chương Phật giáo Tây tạng cho rằng những người nhập định (meditators) phải quên đi thể xác của mình cho những ngày ở thời gian nhập hồn vào thế giới vô hình, những người nhập định biết đây là sự trở về từ cõi chết (delogs (TaTg) / return from death) là sự trở về trong thi thể thánh thiện của họ và ghi nhận rằng đó là một hành trình kỳ diệu và tưởng chừng như phép lạ đã được tái sinh (reborn), hoạt cảnh đó tợ hồ như tiếng chuông rung lan trải tận đáy điạ ngục cực kỳ diệu vợi.

Đất Phật / Pure land là nơi không diễn tả hết, không một lời để nói, bởi; nơi đây là hoan lạc và một cảnh giới thanh bình, ở đó chỉ có phật, biểu lộ một sự trong sáng xuyên qua tất cả những gì gọi là từ bi hỷ xả không cần đến những gì là quyền qúy cao sang, những thứ đó không hiện diện ở nơi phật tổ / pure land và được nhận đây là nơi giải thoát toàn diện tức đạt tới cảnh trí của Niết bàn (Nirvana) là của đại ngộ. NgộKhông là nơi không còn thiện và ác nghĩa là không có Nghiệp và Mệnh, không còn hai thứ lưỡng phân quấn quýt. Ở đó chỉ còn lại năng lực danh xưng của Phật –The Power of the Buddha’s Name . Danh xưng đó là cánh cửa sổ xuyên qua những gì chúng ta có thể nhìn thấy Ánh sáng Vô tận của Phật và một chân hạnh phúc trong đất phật. Phật giáo Đại thừa (Mahayana Buddhism) dạy chúng ta thực hiện những gì trong kinh điển bao gồm: những thể, âm thanhtrí tuệ để đi tới giải thoát. Nhưng; muốn đạt được mục đích chúng ta cần đi vào, xuyên qua những gì mà ta bắt gặp ở đại môn; bất cứ là gì mà ở đó chỉ có hình ảnh phật với một âm thanh đầy phẩm lượng. Đại môn có tên là Amitabha, đứng nơi đó chỉ có phật độ giúp cho chúng ta đến gần phật với một năng lực của ngài đưa tới chúng ta. Danh xưng Amitabha là hiện diện phật, trí tuệ, lòng xót thương và trí năng. Ngài ở trong chúng ta và với chúng ta –he is in us and with us. Vậy chúng ta tập trung tư tưởng vào và nhất quán với danh xưng của phật là chính chúng ta hiến dâng những gì thành quả đã đạt được là chính chúng ta tự giải thoát cho chính chúng ta. Bất luận là gì chúng ta thấy, nghe và cảm nhận là những gì đến gần với Phật.

Rút lại; tu Phật là tu để chấm dứt dòng luân hồi nghiệp quả, tu là thoát ra khỏi mọi vọng niệm, chấp trượt, vô trước , bởi; những thứ đó là bóng tối vô hình luôn đòi hỏi trong ta và dán cứng đời ta, không soi sáng mà ‘kẽm gai’ chận đường để lại cái vô-minh không ánh sáng. Giá trị tuyệt đối để tu là hướng tới chánh-pháp tức đó là cõi sáng vô tận Phật. Một nhà tu Phật bên xứ Thiên Trúc (Ấn Độ) đã nói: ‘Ni l’homme de vertu, ni l’homme de vice ne sont plus près de la Vérité… / Người đạo đức đầy đức tốt, người xấu xa đầy tật xấu. Không ai gần với Chân lý cả…Chân lý tuyệt đối là vượt ra khỏi hai đức tính đó, đừng vin vào đạo đức để nói đạo đức, đừng che cái xấu để nói cái tốt mà đòi hỏi nguyên nhân do đâu mà có tức là nó nằm trong ngã thức. Nếu nhận thức nghĩa lý thâm hậu của nó để phá trừ và đi tới cái tinh anh duy nhất tức thị không là không còn chi mà chỉ còn ở đó một thứ ánh sáng vô tận, vô biên Phật.

Nói rộng ra đó là cõi sáng tuyệt đối mà thôi. Trong kinh Pháp Cú (Dhammapada) của Phật giáo Tiểu Thừa có thể xem đây là giáo lý chính thống về phép tu-nghiệp hay còn gọi tu-thiện-nghiệp là phải thoát khỏi mọi vọng niệm, mọi trói buộc của Thiện và Ác mà nhắm hướng giải thoát. Còn nói theo Thiền phái tu tập thì coi đó là con đường ‘tiệm-pháp’ (voie graduclle) hay lý cho cùng là ‘đốn ngộ’ để đi tới ‘vô trước’; tức là con đường đi tới ‘thiên thừa’ qua phép tu bằng cách ‘luyện khí công’ hay là phương tiện thiện xảo là con đường và phương tiện để phá trừ, ngoài ra không có con đường nào hơn để giải thoát.

Chúng ta có tất cả kinh nghiệm về tu-chứng và nghiệp-quả là lúc trí tuệ chúng ta lấp đầy niềm an lạc, thời bất luận là gì ngay cả thấy, nghe và cảm nhận đều mang lại hạnh phúc; một thứ hạnh phúc thực sự, bởi; lúc đó trí tuệ chúng ta trong sáng không vướng đục, ngược lại trí tuệ chúng ta khuấy động hay phát khùng thời mọi thứ xưng quanh tợ như bóng tối, hết lối thoát. Vậy thì; nếu chúng ta xua đuổi lòng căm ghét, hận thù thời chúng ta tái sinh một tâm hồn trong trắng và cao thượng…Trong tất cả lời cầu nguyện hay tĩnh lự là đặc ta vào một tinh thần nhất quán, lấy tâm làm chính. Nhà Phật chỉ kêu gọi ở tâm-thức chớ không kêu gọi phải cầu mà đòi hỏi ở cung ngưỡng thực sự với một tấm lòng thương yêu nồng nàn là cửa ngõ của tâm hồn. Có nhiều người tu một cách tích cực nhưng vẫn chưa đạt ý (Phật) bởi; khả năng tu chứng đòi hỏi một sự hiến dâng trọn vẹn, nhưng; điều đó chưa hẳn phải –But; it is not a must.Tu hay nguyện là mong cầu đến với Ánh sáng Vô tận Phật; đó là chỉ tiêu tu-chứng-phật-pháp, không có phương pháp nào hơn ngoài ‘tâm phật / pure land’ là giác ngộ, là giải thoát thì mọi nghiệp chướng sẽ tiêu tan ./ .

VÕ CÔNG LIÊM (ca.ab.yyc . mủa lễ Vu Lan 9/2020).

SÁCH ĐỌC: Mahàyàna Buddhism and Hinayàna Buddhism by Paul Williams. Routledge London UK / New York USA 1994.

YẾU TÍNH Của THI CA TÂN HÌNH THỨC

  VÕ CÔNG LIÊM

TRANH VẼ VÕ CÔNG LIÊM : ‘Chân dung TTKM / TTKM’s Portrait’

 

   ‘Thượng đế đã sinh ra rất nhiều nhà thơ nhưng lại rất ít thơ’ (Charles Bukowski).

   Trong mọi trưòng phái thi ca đều có cái chất riêng của nó; nói theo phạm trù hội họa gọi đó là ‘matière’, là thực chất, chất liệu để thành thơ; một sáng tạo khéo léo (creative/skill) và đó cũng được coi là bề mặt của thơ; có khi tiềm ẩn trong dạng hoang đường (mythic metaphor) khó hiểu nhưng tăng thêm phần linh động cho thơ. Trong thơ dù bất luận mọi thể loại hay trường phái nào đều đòi hỏi một dạng thức bí truyền với một tiết tấu lạ lùng từ con chữ đến cách hành văn thời mới ‘nên thơ’. Ở đây chúng ta không đặc nặng vấn đề làm thơ mà tìm thấy nơi thơ có những sắc tố khác biệt, bởi; thơ là như-nhiên, là cõi-phi nó có từ tâm thức siêu lý phát sinh qua ngữ ngôn để thành thi tứ của thơ. Một lối thơ đặc trưng mang nhiều sắc thái khác nhau, tuôn chảy không dứt hoặc có khi dừng lạị để tiếp nối theo dòng luân chuyển như cách đọc không ngừng ở cuối dòng. Đó là yếu tính của thi ca tân hình thức –The Elements of New formalist Poetry. Bởi; như thế này: thi ca là cuộc chơi / the poetry game hay cho đó là trò chơi thi ca hay ‘thả thơ’ mà xưa nay đã có lần trải nghiệm. Nếu bạn hỏi một nhà thơ: ‘có cái gì hay trong đó? Nhân gian có gì lạ hơn không?  Đó là câu hỏi mà nhiều người yêu thơ sẽ trả lời: ‘tôi! tôi chả mấy thích’ hoặc nhà thơ Tây phương W.H. Auden nói: ‘thi ca chẳng làm nên sự thể / poetry makes nothing happen’. Cái đó nó thuộc về tâm lý nội tại, một sự chối bỏ của cái gọi là ‘bất khả thi’; yếu tính đó chính là chân lý như nhiên, nó thuộc vũ trụ của tâm hồn được khám phá nhờ cái nhìn vào cõi ngoài mà bắt gặp cái nhìn của ngoại giới, cũng từ chỗ đó mà thơ lần vào con đường siêu hình một cách tự nhiên, hài hòa giữa những lúc mưa nắng bất thường và chính trong sự bất thường đó là hạt lệ của thi ca tân hình thức. Chính vì vậy mà ngôn ngữ thi ca tân hình thức là một hiện hữu ở chính mình, bởi; trong thâm cung của mỗi con chữ tôi chứng kiến sự sinh ra tôi /Au fond de chaque mot j’assiste à ma naissance; đó là một tiếp giáp tương quan của sáng tạo, của ngôn từ. Thi ca tân hình thức không cần đến sự vật ngoại giới mà cần sự vật nội giới làm hình ảnh tiếp thu để trở thành ngữ-thơ trong ngôn từ; đó là lối chơi dũng cảm , tuồng như nửa đùa nửa thật của trò chơi chữ /game of words /jeu de mots. Nhưng; trong cuộc chơi thơ là một khám phá không ngừng mà thi ca tân hình thức là một biểu hiện:biểu dương ngữ ngôn là đối tượng giữa bản thể và tha thể. Biểu dương hình ảnh là cái nhìn trừu tượng của tâm thức. Biểu dương tâm trạng là ý thức thức tỉnh trực tiếp của bơ vơ, của bi thảm, của phân ly, của dày xéo. Cho nên chi thi ca tân hình thức không còn là  ‘hình thức’ của cái vỏ bề ngoài mà hình thức chứa đựng một nội tâm bị phủ quyết; họ bung lên để tìm thấy mặt trời ở chính mình và ở chính người là một xác quyết đầy chất sáng tạo mới.

Những thi sĩ hiện đại cũng như những nhà thơ tân hình thức là không muốn mang sang hay tỏ bày cho cái việc ‘trình diễn’ thơ. Họ làm thơ trong một khả năng không giới hạn, ăn ngay nói thiệt, họ đi từ nồi niêu để thấy trong nồi niêu là đồng thau, là vàng son rút từ cái không vần điệu của thơ không vần (blank verse) để biến mình vào một thể thức mới hơn (new formalist); nó gần giống như truyện không có câu chuyện. Đúng ra chúng ta không đứng ở vị trí khách quan mà thẩm định tấm lòng chung thủy thi ca của thi sĩ mà đụng chạm về quan điểm của họ. Thi ca là cơ bản cho một cuộc chơi, là luật thường tình của ngón nghề ăn ngay nói thiệt được bày tỏ trong hai phương diện của : người viết người đọc đó là cách chơi. Nếu người đọc chưa đả thông trọn vẹn hay cà giựt thì cuộc chơi sẻ không thực hiện được –Poetry is essentially a game, with artificial rules and it take two: a writer and reader to play it. If the reader is reluctant, the game will not work. Quả vậy! trong thơ tân hình thức có thể giúp cho ta tạo ra tiếng nói con người để cùng nhau đi tới tiếng nói trí tuệ là một phản ảnh thực tế giữa người làm thơ và người đọc thơ. Thơ tân hình thức ‘luân phiên tụng niệm’ là kiểu cách người chơi thơ. Một lối canh tân mới của thi ca tân hình thức. Họ thao tác trong việc dựng thơ là đổi mới tư duy trong trường phái của tân hình thức.

Chúng ta cũng biết rằng thơ tân hình thức là một trào lưu văn chương có từ cuối tk. thứ hai mươi và đầu tk. thứ hai mươi mốt, một trường phái mới và bốc lửa. Trong đó đáng kể thi ca Mỹ châu, đặc biệt ở Hoa kỳ đã được thăng tiến như một sự trở về âm luật của thơ (metrical) và cước vận của thơ (rhymed verse). Tranh luận giữa hai trào lưu thi ca vẫn còn tiếp tục trong thời sự của văn chương, tuy nhiên; dạng thơ tân hình thức còn duy trì và tung hoành trên mạng báo nhiều hơn ở lúc này. Nhớ cho; năm 2006 thi ca tân hình thức đã trở nên ‘phủ sóng’ một cách vững chắc trong luật tắc của văn chương đương đại Mỹ. Ngược lại; người ta coi thơ tân hình thức gần như thứ tản văn, một thứ văn xuôi tầm thường (prosaic); vì thế mà đưa tới cái nhìn nhỏ nhặt và ấn vào đó một cách sâu đậm về mặt tình cảm của con người qua thi ca tân hình thức và nhìn nó như thứ không hợp thời trang. Cuối cùng đưa tới phê phán một cách thậm tệ; một lối thơ có cung cách trưởng giả pha chất phong kiến (bourgeois)… Thế nhưng; trào lưu thi ca tân hình thức lại được bộc phát một cách mãnh liệt kể từ 1960 đến 1978 như một trào lưu thi ca đương đại.

Thơ tân hình thức không có chi là trưởng giả hay coi thường các thể thơ khác hay đặc mình trong vị trí cố hữu của người chơi thơ, trái lại; nó đã đánh thức trong ta cho một trả lời củng cố về nhịp điệu của vần thơ, dù cho ngắt dòng hay vắt dòng hay lập lại là thể thức dụng văn của thi ca tân hình thức. Nhưng; nếu nhìn một cách độ lượng thi ca tân hình thức còn có chức năng khác bằng một kết hợp đặc biệt của những gì thuộc âm nhạc, một thi ngữ có vần điệu. Thí dụ: Nhạc của Trịnh Công Sơn hầu hết xử dụng nhạc từ theo dạng tân hình thức, bỏ lửng, vắt dòng đưa tới những nhạc từ rất lạ đời; nếu như nghe kỹ thì điệu nhạc nghe mới hơn và tạo nét đặc thù cho nhạc mà ngay cả thơ là ở chỗ đó. Bình thơ và nhạc không thể dẫn chứng  hay ‘phanh phui’ để nói cái hay mà phải nhận biết yếu tính của thơ, nhất là thơ tân hình thức nó có một sự hổn hợp đặc biệt của những gì thuộc âm nhạc và phẩm lượng của ngữ ngôn –It is a special combination of musical and linguistic qualities. Chúng ta bỏ mất nhịp điệu (rhythm) trong thơ chẳng khác nào ta bỏ mất thanh điệu (nhạc) hay giọng điệu (thơ) khi bàn về thơ và âm nhạc. Người ta thường phổ thơ để thành nhạc ít khi nghe phổ thơ THT để thành nhạc, ngoại trừ nhạc sĩ Trịnh Công Sơn hay Ngô Thụy Miên, họ đã trình diễn con chữ trong nhạc có ‘điệu’ của tân hình thức. Nghe lạ tai và mới lạ trong suy tư. Thơ hay nhạc là những khoảnh khắc thức tỉnh của đời sống con người. Ngôn ngữ là phương tiện cho thơ chớ thơ không phải là phương tiện của ngữ ngôn. Nhạc thơ cũng thế và chỉ có một không hai là thi nhạc sĩ Bob Dylan (Mỹ) mà thôi. Dylan hát như đọc thơ là điều hiếm có ở cõi đời này.

Những nhà thơ tân hình thức mở rộng và chấp nhận mọi khuynh hướng từ quá khứ tới hiện đại, phá vỡ những biên giới giữa nhiều bộ môn nghệ thuật khác nhau, giữa hội họa, âm nhạc và văn chương, giữa hình thức nghệ thuật nầy với bât cứ hình thức nghệ thuật nào khác. Tân hình thức còn chấp nhận mọi khám phá của những phong trào tiên phong khác, từ thế hệ Beat, trường phái New York đến những thi pháp của Olsm, Creeley theo quan điểm ‘nothing is true everything is permitted’(Trong Tân Hình Thức của Khế Iêm –Văn Mới 2000). Nói chung thơ là một hổn hợp bởi ba nghệ thuật: âm nhạc, truyện kể và hội họa qua màu sắc của con chữ. Trong thơ tân hình thức ta bắt gặp thường xuyên ngữ điệu như thế. Thi ca Tân hình thức là một áp đặt con chữ để đi tới thích ứng của thơ, đi tới một điều kiện hiện hữu trong những gì mà chúng ta tìm thấy ở chính chúng ta, nó giúp cho chúng ta diễn đạt của đọc thơ qua trạng thái của tâm thức –it helps us articulate our states of mind. Trần Dần có một bài thơ và nhiều bài thơ khác diễn cảm bằng một thứ tình cảm éo le, chan chứa. Đọc xem để thấy thơ tiền chiến và hậu tiền chiến đã dẫm chân lên môi trường của tân hình thức:

‘Bước lặng

Tôi về cõi lặng?

một trời

tôi vẫn lạc quan đen

tôi bước lặng bên tôi

không một ai – mà vẫn bước

đều

cho đến lúc say nâu

tôi rẽ vào phố lặng

(Trong bài thơ tựa đề Nhân Sinh của Trần Dần NXB Đà Nẵng 2007)

Một bài thơ khác của Trần Dần qua cách thức vắt dòng nhưng vẫn liên kết trong ngữ điệu của thơ tân hình thức:

tôi khóc thu không – nhưng thu

không không khóc

cũng không cười?

không trống?

chỉ là lằng lặng thu không’

(Trong bài Uẩn khúc Ga cuối)

Thời kỳ hậu một chín bảy lăm là con đường ngược chiều giữa tiền chiến và thế hệ tiếp nối, phủ nhận toàn bộ lối thơ xưa cũ, ước lệ của lục bát, thơ 7, 8 chữ hoặc thơ xuôi, thơ không vần ngay cả ca dao dùng ngữ điệu thông thường, bởi; những thể thơ như thế dựa vào ngữ điệu hay vần điệu để thành lời thơ, ngược lại thơ tân hình thức dựa vào thể âm luật (metrical) với kỹ thuật vắt dòng (enjambment); vắt dòng bất cứ nơi nào trong câu thơ và đôi khi tiếp tục như thế cho tới cuối dòng… Thế nhưng có những luật tắc tương tợ lẫn nhau: ‘Tân hình thức và Tự do gần giống nhau, gần với cách nói thông thường, còn tạo được nhịp điệu…’ (Khế Iêm. Trong tập Tân Hình Thức. 2000 USA). Nói vậy Chầu văn hay Hầu văn, hò Giã gạo, Đồng bóng là nhạc cổ điển Huế cũng đã xử dụng nhịp điệu của hình thức tân hình thức mà vẫn lôi cuốn người nghe qua những câu hò vấn đáp suông sã và nhịp nhàng mà giờ đây đã phục sinh. Nếu xếp những thứ đó để trở thành văn xuôi thời nó trở nên văn kể chuyện hoặc cho đó là thơ không vần có phần nhẹ nhàng hơn cả văn xuôi một cách trung thực bởi không bận tới yếu tố thị giác.

Hậu 75 phát sinh những dòng thơ mới hơn cả thơ mới, nó mang mang chất tân hình thức; bởi nó không ngừng lại theo ước lệ của thơ; vì thế mà làm cho thơ không thoát theo trí tưởng mà làm mất ‘duyên thơ’:

‘Mưa bay lất phất gió căm căm

Đường lầy trơn nhà cửa tối tăm

Trốn đâu lũ trẻ mặt lem luốc

Co ro đứng coi tù qua thôn

vác bó cuốc bước loạng choạng

về trong xây xẩm buổi tàn đông

lạnh lẽo nhà ai không đèn lửa

ảm đạm lòng ta chiều cuối năm’

(Thanh Tâm Tuyền. Trại Vĩnh Phú Đông 1976)

Có những câu thơ xen lẫn nhau là một sự kết hợp  giữa 5 chữ (ngũ ngôn) sáu, bảy chữ (lục, thất ngôn) là luật tắc của Trung Hoa mà chúng ta thường bắt gặp trong thơ dân gian của Việt Nam như trong Ca Huế của thơ Tứ Đại Cảnh, Nam Ai, Nam Bằng…) Với âm sắc đó với chất thơ lắp đặc (poetry installation) phản phất chất thơ trình diễn (the poetry art-performance) hơn cả thơ có vần điệu. Đọc bài thơ này:

‘Đêm đã nhuốm màu lên làn da em

Lên đôi mắt vòng vòng một quầng đêm

Đêm đã nhuốm màu lên đôi bàn tay em

Để em không thể nhìn thấy anh

Bằng xúc giác

Đêm đã nhuốm màu lên lưỡi của em

Để em không thể nhìn thấy anh

Bằng vị giác

Dêm đã tràn vào từng sợi thủy tinh của chiếc đèn vàng

Và khe khẻ hát

Để em không thể nhìn thấy anh

Bằng thính giác’

(Đêm và Anh của Ly Hoàng Ly Hà Nội 2006).

Đấy là những gì mà nhà thơ khéo xử lý (tact) để cho dòng thơ trở nên nhịp nhàng cân đối, câu này liên kết câu kia dẫu có vắt dòng hay ngắt dòng vẫn duy trì đường nét phá thể của hình thức mới. Nhận thức được điều này thời đó là tính đa dạng của thi ca –acknowledges the diversity of poetry. Khéo xử con chữ cũng như vận thơ thì đạt tới cái đích của thơ, phải thấu đáo cho thơ có ‘hồn’ nhiên  thì thơ mới có trọng lượng. Đó là chỉ tiêu làm thơ. Tân hình thức đòi hỏi xử thế con chữ trong mọi cách hành văn thơ là việc cần chú ý cho thơ tân hình thức, nếu không biết vận dụng ngữ ngôn thi ca một cách trong suốt thì thơ tân hình thức bị nghẽn một cách vô lý, vô vị so ra không đúng đường lối thơ vô nghĩa (nonsense-poetry) mà tuột hậu giữa con đường cái quan của tân hình thức. Nói ra nghe dễ cho việc làm thơ, nhưng; không phải dễ như một số đông đã làm thơ. Họ chú trọng làm thơ theo khuynh hướng của thị hiếu; thấy dễ ‘chơi’ cho nên chơi thử mà thành thiệt. Làm thơ trở thành thói quen như hút thuốc lá hoặc có khi phỏng theo hay cốp-pi (imitation) để cho ra thơ rồi từ đó biến mình thành thi sĩ. Thơ tân hình thức là một vận dụng trí tuệ, vận chuyển con chữ để kết dòng là sở đắc của người làn thơ theo thể thức mới. Nói đúng ra; ai làm thơ cũng được cả, nó hao hao với nhau có gì khác mà phân tích, chẳng qua bày vẻ cho thêm chuyện và dựa vào đó để bình thơ chớ không tìm thấy yếu tính của thi ca. Cho nên chi hằng triệu bài văn bình giải thơ, từ xưa đến nay tợ như hò mái nhì, đả đớt như mem cơm. Văn và thơ song hành kiểu đó thì có khác chi ‘mùa thu lá bay’. Cứ đem ba cái chuyện đời xưa ra bình giải thì hóa ra nó trở về cái ‘nonsense’ mà không thấy mình đang rơi vào hố thẳm của văn chương. Hãy sáng tạo là yêu cầu mật thiết cho người làm thơ; sở dĩ như thế vì tương quan sáng tạo là tương quan của ngôn từ. Cái sâu thẳm của thơ tân hình thức là con chữ gần như tiếp giáp với cuộc đời, lời thơ phát ra với một tâm như nhiên, một tiếp cận giữa người và thơ. Henri Bosco nói: ‘J’ai mes allumettes: les mots’ Đó là định đề cố hữu của người làm thơ; nói chung, với thơ tân hình thức lấy ngôn từ để soi sáng nội tâm mỗi khi nhận ra vũ trụ ngoại giới là thấy mình hiện hữu với tâm trạng của mình. Cái sự đó nó nằm trong bối cảnh của tân hình thức. Thơ của tân hình thức là đi vào trong kịch tính (drama) và trong sự diễn giải (narration) là vai trò chủ thể đối diện với tha thể trong một liên trình tiếp diễn của trạng huống tâm lý hay cảnh quang vật lý. Như vậy chúng ta đã đạt tới yếu tính  trong thi ca bằng một cố gắng làm nên thơ. Sự đó là nồng cốt miêu tả của thi tứ, sự đó nó đến với chúng ta như nhận lấy sự cảm thấy và thói tính của thi nhân –It is of the essence of poetic description that it come to us charged with the poet’s feelings and attitudes. Nhưng; đôi khi trong thơ lại ẩn tàng (implicit) đôi khi lại bộc bạch (explicit) bằng lời thơ tự thuật hay tự phê về mình. Sở trường của thơ tân hình thức là vắt dòng hay chuộng vần điệu, nhưng; lại sở đoản trong trong phong cách trình diễn, bởi vấn đề của của chất giọng (tone) hay nhịp điệu (rhythm) và ẩn dụ (metaphor). Chú ý vào bốn câu thơ mở đầu trong tập Tân Hình Thức của tác giả Khế Iêm. Thái độ hoặc cảm xúc gì đã truyền đạt qua lời thơ và làm thế nào để nhận ra sự vận chuyển đó. Bài thơ được chia ra 5 đoản khúc. Dẫn ở đây 3 đoản khúc:

Khi tôi ngồi uống cà phê ngoài lề

đường và kể lại câu chuyện đã được

kể lại từ nhiều đời mà đời nào

cũng giống đời nào, mà lời nào cũng

giống lời nào, về người đàn bà và

đàn con nheo nhóc (nơi góc phố được

gọi là chỗ chết, nơi góc phố được

gọi là chỗ sống), kẻ những đường kẻ

bằng than đen, gãy góc, xấu xí như

cái bóng trong tấm hình cũ, như dĩ

nhiên hôm nay ngày mai ngày mốt, như

thế thôi thì thế thôi, biết đâu chừng

(Hai khúc  sau lập lại của hai khúc đầu)

(Tân Hình Thức Và Câu Chuyện Kể của Khế Iêm)

Sang bằng bài thơ thì đó là chuyện kể, chuyện kể bằng thơ. Thơ tân hình thức giản dị như cơm với cá như mạ với con. Chúng ta đọc để ‘nghe’ chớ chẳng phải bình luận, Vì; nó là thơ tân hình thức. Là tinh thể của tâm hồn theo thể thức mới; nó phản chiếu vào đó những nghi vấn cuộc đời để thành thơ. Nó đang cần một sự giải thoát. Nói chung nó là thứ thuộc ngữ ngôn siêu hình (metaphorical language). Gần như trong thi ca tân hình thức chứa đựng một thứ siêu hình, trừu tượng và một thứ ngữ ngôn chăm biến hay ‘chọc quê’, bởi; ngôn từ của tân hình thức có thể giúp cho chúng ta nắm được mối tương quan của người làm thơ và người đọc thơ, cái đó là mạch nối giữa những gì lạ lẫm hoặc giúp cho ta làm nên một đối xử giữa có và không của thơ. ẩn tàng và mai mỉa là cơ bản cặp đôi của ngữ ngôn thi tứ -Methaphor and irony are the twin bases of poetical language. Tuy nhiên; vẫn nhìn nhận việc xử dụng ngữ ngôn như thế là nhấn mạnh vào hình ảnh (image emphasizes) một sự bộc phát tự nhiên của tình thương yêu, thứ đến là hài hòa một cách điềm nhiên để cho thơ thoát tục. Yếu tính thi ca tân hình thức là chú trọng tới âm luật của câu thơ với tất cả vần điệu là hiệu năng trong thi ca. Trong Anh ngữ cái sự chuyển thành thơ có nghĩa rằng đó là vấn đề to tát của chất giọng (accents) và ngắt câu (pauses). Ngắt câu là chấm dứt bằng một ngữ pháp thông thường cái đó gọi là diễn đọc và viết thành thơ và như thể tạo ra ký hiệu cho ngữ ngôn. Đọc tập thơ ‘Có Những Ngày’ của nhà thơ tân hình thức Hồ Đăng Thanh Ngọc để thấy những gì thuộc nhịp điệu (rhythmical) mà tác giả xử dụng trong cùng một khuôn khổ của thơ, nó không đi ngoài những gì của tân hình thức, một điều gì rất thường nhưng chất chứa cái vô hạn trong đó đúng vị trí của thơ tân hình thức, một tỏ rõ chung tình giữa người và vật. Đọc để thấy, nghe và suy ngẫm suốt trong hơn 70 bài thơ đóng tập (NXB Thuận Hóa. Huế 2019) là một phản ảnh cụ thể của thơ tân hình thức:

Có một hoàng hôn như chiêm

Bao như ai đó đốt câu thơ cũ

thả vào cánh cò như ai

đó kêu lên có con chim gãy chân

lạc vào rừng ngón mưa như

ai đó kêu lên bắt lấy giấc mơ

bỏ vào chai rượu như ai

đó kêu lên bắt lấy hoàng hôn thả

vào bóng đêm như ai đó

kêu lên bắt lấy con chim chơi trò

trốn tìm như ai đó kêu

lên về nhà bắt khói kẻo khói bay

mất chỉ còn một dấu hỏi

như ai đó kêu lên hãy bắt lấy

khói kẻo khói bay mất sẽ

chỉ còn một dấu lạnh có một hoàng

hôn như thế có ai kêu

lên

(Một Hoàng Hôn)

Hậu 75 với một thế hệ đã qua; hai muơi lăm năm trên đất người đã sản sinh những người Mỹ gốc Việt làm thơ Việt ngữ là thời điểm bùng dậy của trào lưu thi ca tân hình thức, hình thức này đã ảnh hưởng không ít vào tâm hồn của người xa xứ. Quả vậy; dòng thơ tân hình thức đến đúng lúc hơn bao giờ, bởi; trong thâm tâm người làm thơ, thời ấy; như có một sự khước từ bởi bức tử như vết sẹo khó phai mờ; đó là một sự trải qua lắm chông gai. Người làm thơ lúc này không lấy qui ước để làm thơ là vì khó để phát huy tư tưởng, nó gò ép, gượng gạo, thập thò như đứng trong vòng thép gai. Cho nên họ phá rào để nói những gì từ lòng họ một cách thỏa thê qua con chữ, phản ảnh trực tiếp những đoái hoài mong đợi để vượt thoát, để gặp gỡ tự do và từ đó họ phóng mình vào một hình thức mới hơn như ngôn ngữ thoát tục, là một sự vượt thoát vô hạn hữu không bị chận lại (unrestrict), phủ nhận để đón nhận là hai môi trường của tâm trạng muốn bung lên bằng văn từ hay thi tứ cho một sự phản kháng, phản kháng qua tâm thức. Tâm thức ở đây là đối tượng chủ thể được qui về trong cái nhìn tương quan sự vật, một cái nhìn so sánh sự vật: cái gì của quá khứ và cái gì của hiện tại để làm sáng tỏ vũ tụ tâm hồn là hòa nhập vào cái vũ trụ mơ về bằng mọi nỗ lực khác nhau…Lấy thi ca để xoa dịu, lấy thi ca để phàn kháng đó chính là đối tượng biểu dương, nhờ đó mà thấy được tâm trạng của mình. Đó là lý luận trên cương vị giải bày tâm trạng để nhập cuộc qua lời thơ, tiếng nhạc, họ hòa nhập như một ‘hòa âm điền dã’ đúng tiêu chuẩn của trường phái thi ca đương đại. Thơ tân hình thức là ‘à la mode’ hợp thời trang thời thượng giữa lúc này.

Cuối cùng những dòng thơ là tự nó đánh dấu của một chấm câu đúng chỗ -The end of a line of verse is itself a mark of punctuation, cái chấm câu đúng chỗ ta gọi là chấm hết (end-stopped) thơ tân hình thức không chấm hết mà nó được tiếp tục trong những gì thuộc ngữ pháp mà được coi như dòng thơ tuôn chảy (line run-on) hoặc cùng lắm là không ngắt câu hay vắt dòng (enjambed) mà thêm vào đó những gì khác lạ hơn.Thi nhân thường dùng thơ không vần hay thơ tự do là vì; nó có tính chất độc lập ở cái chỗ ngắt câu (enjambment) để cho con chữ của họ thêm trọng lượng trong thi ca. Chúng ta tìm thấy những gì trong đó. Qua tập thơ ‘Ngôn Ngữ Xanh’ NXB Văn Học Press. USA 2019 của thi sĩ Nguyễn Thị Khánh Minh. Với nữ sĩ họ Nguyễn đã dựng thơ tân hình thức trước thời điểm Hoa Kỳ liệt kê tân hình thức là thi ca đương đại. Ý thức đó đã đến từ trong tâm hồn của người biệt xứ, chớ chẳng phải đến bây giờ mới là đương đại. Nói chung giữa kỷ nguyên của thập niên chín mươi đã hình thành thơ tân hình thức ở Việtnam nhưng chẳng mấy quan tâm vì ‘bộ dáng’ khác lạ của nó cho nên chi phong trào tiên khởi tân hình thức không mấy chú ý. Thế nhưng; trường phái tân hình thức ở nước ta nhập cuộc trước thời điểm bùng dậy khắp toàn cầu. Bởi; một điều rất tự hào là người Việt chuộng thi ca như mạch sống. Đọc lại những bài thơ tân hình thức trước đây như một chứng tích của hình thức thi ca mới.

1.

Tôi đã mở cửa ban mai. Bằng nụ cười

Tôi đã đóng cửa ban mai. Bằng tiếng khóc

Thì đâu là nơi. Của ánh sáng. Của bóng tối

Ngoài tôi

2.

Tôi che ánh nắng

Để tìm một bóng mát

Qua khe hở của tấm màn

Sót một đường sáng mong manh

Đường chỉ trắng. Long lanh hơn cái ánh sáng nó che

Cũng tựa như vậy. Khi tôi ngồi trong bong tối

3.

Đừng bật thêm đèn nữa

Ngày đã sáng lắm rồi

(Xin lỗi) hay vì con mắt tôi

Đã quen rồi bóng tối …

(Sáng. Tối) Thơ NTKM 2002.

Hầu hết những bài thơ tân hình thức của nữ thi sĩ Nguyễn đã thực hiện là dựng trong một khung cảnh của đổi mới tư duy, thiết kế và cấu trúc đúng đường lối chủ trương của tân hình thức, bởi; rõ nét nhất ở chỗ gieo vần là yếu tính quan trọng trong thi ca âm nhạc –Rhyme is an important element in musical poetry (như đã dẫn ở trên). Nhưng; ít đi những gì kịch tính trong thi ca. Trong thơ của Nguyễn tạo được âm thanh một thứ âm thanh ‘nguyên chất /purely’ có thẩm mỹ cách (aesthetical) coi như là phong thái của thơ tân hình thức, cái đó gọi là điệp vận và âm vọng (alliteration and assonance). Nói rộng ra cho trọn ý: Điệp vận là lập lại cái đã có cùng chữ, cùng nghĩa. Âm vọng là lập lại cái ‘âm thanh’ nguyên âm trong cùng một nghĩa hoặc phụ trợ vào dòng thơ. Đấy là yếu tính của thi ca tân hình thức.

Tóm lại bất cứ thể loại nào phải thực hiện đúng với tâm hồn thơ.Thơ đòi hỏi một sự độc lập, và sáng tạo không câu nệ cưỡng ép cung cầu. Thi ca là một cảm thức nhạy bén từ trí tuệ không vì một lý do nào mà phải ‘gò lưng’ hay ‘rặn đẻ’ để thành thơ. Thi ca phản ảnh lòng chân và hồn nhiên là việc tự nhiên cấu thành. Ai cũng là thi sĩ nhưng có ba hạng thi sĩ. Thi sĩ có ‘tầm cở’ và thi sĩ ‘ba phải’ thời nhất thiết không thể liệt kê là thi sĩ của thi ca ; ngay cả hàng hiệu chưa hẳn phải là hàng thiệt huống là thơ ./.

VÕ CÔNG LIÊM (ca.ab.yyc. cuối tháng 8/2020)

VĂN CHƯƠNG Và NGHỆ THUẬT

 VÕ CÔNG LIÊM    

                VĂN CHƯƠNG Và NGHỆ THUẬT

     gởi: nguyễn đức tùng. đỗ quyên và lê thánh thư.

    Hình như hai thứ này luôn gần gũi nhau. Nói đến văn chương là có nghệ thuật. Nhưng mỗi thứ có một sắc tố đặc thù của nó chớ không phải là khiá cạnh riêng biệt khi nói đến mà phải hoà hợp hay dung thông vào nhau để có một tư duy độc đáo và cao độ; cái đó là phong cách phát huy cho vấn đề kiểu cách của văn chương –the matter of literary style mới làm sống thực chức năng của nó, bởi; văn tức là người, nghĩa tức là hồn –Style and Meaning. Nhưng; văn chương là lương tri, là thẩm quan của người viết và người đọc. Nếu đứng trên cương vị chủ quan mà nhận xét theo chiều hướng cố vị thì chính sự lý này đem lại những rắc rối khác mà chức năng, nhiệm vụ của người viết là để làm sao cho người đọc một cái gì đơn sơ, dễ hiểu  –but his literary conscience was troubled and his duty to his readers was plain. Đấy là nghệ thuật viết văn chớ đừng cố tạo cái thâm sâu cùng cốc mà đưa tới một sự ngu xuẩn, vớ vẩn. Còn đứng ra phản thùng hay phản phé thì cả hai đều nghiêng hẳn về lẽ phải của mình. Tác giả là người quá hăng say cho những gì viết ra hay nghĩ tới (whole-souled) cho những vấn đề muốn đặc ra và ngay trong phút chốc hay chỉ giây lát thoáng qua tất cả là một bung phá tột bực đến trong trí, dẫu là tính chất hư cấu đều cân nhắc, đắng đo suy xét (wholeness) một cách rốt ráo để thành văn; trạng huống đó thuộc hồn (soul) và hiếm khi bắt chụp được mỗi khi sáng tác trong vị trí giữa người và hồn, đấy là hai đặc chất mà chúng ta tìm thấy một cách rõ nét, nó thuộc hình dạng hay trình độ thấm thấu qua trí tuệ ở mỗi nhà văn hay nhà thơ dù cố tạo một sắc thái khác đi nữa để nói lên nhân tính của mình, đó là cơ may để phơi bày lên giấy trắng mực đen cái của mình muốn nói –the occasion was a paper of mine in which. Là; những gì nói đến; cho nên chi tư duy bộc phát chính là cái đẹp xẩy ra, là một trải rộng vấn đề về cuộc đời chúng ta đang sống; đó là những gì mà tác giả đã chín chắn và cảm nhận được, có nghĩa rằng tư duy lớn dần theo kinh nghiệm của thời gian. Giọng văn dù ‘trang điểm’ cách mấy cũng đủ nhận ra được tác giả ở góc độ nào của tuổi tác và trình độ, cảm thấy như không thêm được gì hơn và cảm thấy mù mờ trong ý chữ nghĩa. Viết văn hay làm thơ là phản ảnh trung thực cái duy tâm chủ nghĩa. Không vì một sự cớ nào mà nói lên cái không thuộc của ‘conscience’ mà cần có một tâm như trong sáng và thực mới vực được đạo. Đấy là yếu tố xây dựng văn và cảm hứng thơ; còn mượn tiếng hay tỏ vẻ, kể lể để nâng giá trị cá nhân thì hoàn toàn phản biện với lương tâm. Văn chương và nghệ thuật không phải là món hàng thương mãi cần rao bán, nó trở thành sở hữu chủ của độc giả; đó là giá trị đích thực. Đôi khi chỉ một tác phẩm mà đi vào lịch sử văn chương, ngược lại ‘sản xuất’nhiều trên mặt báo chỉ là giá trị sản lượng chớ không có giá trị thành phẩm. Văn chương ngày nay hầu như đi lạc hướng chủ đề, khác hẳn văn chương thuở xưa: -chuộng tinh túy hơn là thể cách. Sự cớ này dần dà làm xáo trộn cả trào lưu hiện đại. Văn chương lương tâm là phải thực như cuộc đời đã sống, còn đặc điều thì cái đó gọi là văn chương vô lương tâm (unconscience) mà trở nên tội phạm (criminal) như một số văn thi sĩ đã lạm dụng chữ nghĩa hay lạm dụng diễn đàn (dễ dãi) mà phóng bút bừa bãi che đậy sự thật. Thứ thi văn như thế là thứ văn chương tha hóa và dễ bị đào thải giữa trào lưu văn chương đang đòi hỏi một sự thật có thực. Sự cớ đó gọi là bi thảm của văn chương (The Literary of Tragedy). Mà thay vào đó một ‘kích thích tố’ đặc biệt hơn không đè nặng hay phải cố gắng; dẫu vận dụng cho ‘con chữ’ lạ hơn, làm cho câu văn thêm trì trệ và hồ lốn. Đấy là những gì có hiệu năng để phản bác vào bất cứ câu văn, ngữ cú đều đưa đến cái chết –these are charges sufficient to condemn any phrase to death. Văn hay Thơ là ngữ ngôn chuyển tải đặc dưới ký hiệu tự nhiên của ngữ ngôn (The Nature of Symbolic Language). Thành ra người viết thường dẫn chứng hay viện cớ qua ký hiệu của chữ nghĩa là ngữ ngôn bị đè nặng trong tâm trí; kiểu thức này còn gọi là ám thị tư tưởng, có nghĩa là làm rõ vấn đề bên trong qua một thứ khác –something that stands for something else. Chứng minh như thế tuồng như không thực mà đưa tới sự phản trắc trong lương tâm của văn chương. Nhưng; ngược lại ký hiệu ngữ ngôn là một thứ dụng ngôn bày tỏ kinh nghiệm bên trong (inner); nếu như nó có một kinh nghiệm cảm biến nhạy bén (sensory experience). Ký hiệu ngữ ngôn là một thế giới bên ngoài đồng thời là ký hiệu thế giới bên trong. Ký hiệu chữ nghĩa phơi mở tâm hồn và trí tuệ nơi chúng ta –a symbol for our souls and our minds. Văn chương và nghệ thuật là thế đấy!

Từ chỗ đó cho ta một nhận định sắc bén hơn. Bởi; văn chương và nghệ thuật là một thứ hòa âm điền dã, nghĩa là không cầu kỳ nhưng có trọng tâm cho một lý tưởng và bao hàm một ý nghĩa tổng quát từ bên ngoài đến bên trong của tác giả và tác phẩm thì nó sẽ là một ký hiệu tự nhiên qua ngữ ngôn, văn phong và hành văn; nghệ thuật của văn chương là biết vận dụng và ‘điều hòa không khí’ giữa tác giả và độc giả là một cảm thông giao lưu tư tưởng; nghệ thuật còn có một vai trò khác trong văn chương là ngữ điệu, một chất liệu chứa hợp tố vui buồn lẫn lộn, phơi mở cái thật của tâm hồn. Quan trọng của văn chương là phản ảnh nhân tính của con người, do đó văn chương đòi hỏi cái thực dù ‘phiạ’ nhưng phải thực chất thì câu văn không bị ‘lạm phát’ kể cả lạm phát tư tưởng sanh ra ‘dzỗm’ mà không hay biết, nhưng độc giả tìm thấy cái tâm trạng thực hay không thực của tác giả, ngay cả những chi tiết vụn vặt, những thứ đó làm tê liệt, bại hoại cho văn chương mất nghĩa lý (tức lý thuyết) và nghệ thuật của chữ nghĩa không màu không sắc rơi vào vũng cạn. Thành thử xử dụng dưới dạng thức nào đòi hỏi phải thực mới vực được đạo. Phiạ với đời để sống thì được nhưng phiạ với văn chương là phải tội, dù xây dựng trong hư cấu nhưng phải sống thực với đời thời tất đó là nghệ thuật viết văn. Thí dụ: Z. ngoài đời đi lính hạ sĩ quan mà viết ký sự là sĩ quan bộ binh (đâu có thành chung mà vô đại học). Khổ thay! tác giả đưa dữ kiện không thực vào ký sự thì văn bản trở nên không thực; chẳng qua cả tin ở chính mình. Đó là một nhầm lẫn lớn lao. Thí dụ khác: Y. viết văn thường pha thứ văn chương trào phúng vào truyện từ đầu ải cho tới cuối mũi đọc ra thấy tác giả đặc điều không thực mà trở nên đỏm dáng trong văn chương một cách tệ. Z và Y cùng một quan điểm, bên thơ, bên văn nhưng không ‘cải cách ruộng đất’ làm cho văn thơ biến thể (metamorphosis) rất là dị hợm. Một thứ biến thể khác biến thể của người khác.Thành ra vai trò làm văn, làm thơ là một cấu thành qua trí tuệ có tính nghệ thuật văn chương lồng vào trong đó. Mới ra hồn !    

Nói chung; lợi ích văn chương có thể cải thiện về trí tưởng tượng của tác giả và một vài vi phạm ngữ pháp, nhưng; giữa tác giả và độc giả phớt lờ mà quên đi những chi tiết đối với văn chương. Nguy hại hơn nữa của thi văn nhân cứ cho rằng không ai trách cứ về lối diễn trình của mình để rồi: văn một đường và nghĩa một nẻo, trình tự một văn phong không đầu, không đuôi mà biến thể dị ứng; cái sự đó có thể là loại quái dị (wildest-kind) của một nhà thông thái dzỗm (pedantry) mà trở nên lối hành văn chỉ thị cuộc đời. Có lẽ ở đây chúng ta thấy được lý do tại sao thi sĩ không những chỉ là người hiếm có để có thể hướng về sự thấm thấu trong phát biểu của thế giới thi ca –Perhaps here we see one reason why the poet is not only very seldom a person one would turn to for insight into the state of the world (poetry); mà tuồng như quá cả tin hoặc quá chất phác đã an vị để chúng ta tin vào. Suy ra; thi sĩ ở tầm cở đó chỉ tội cái chưa đạt tới đỉnh cao của văn chương, cho nên chi họ rơi vào hoàn cảnh ù lì, trước sau như một mất tính sáng tạo để thơ văn chìm vào thủy tử, bởi; chủ quan không nhìn thấy giá văn chương là đổi mới tư duy để đi vào thế giới văn chương và nghệ thuật hoặc có thể họ quên trong văn chương có nghệ thuật để sáng tác. Đặc thù của văn thơ là có màu sắc mới điểm tô cho tác phẩm ‘hội họa văn chương’ thành văn, thành thơ hay là chỉ việc nấu gạo ra cơm chớ không phân biệt được gạo nào ngon cơm và gạo nào không ngon cơm. Đó là tệ đoan trong văn chương lo việc sản xuất cho ra gạo chớ không lọc lừa hột gạo chữ.

Vòng vo tam quốc cho ra sự lý thường tình về cách làm ra thơ văn đúng nghĩa xưa nay thì phải thừa nhận những tác phẩm trước có một chỗ đứng riêng, chỗ đó là tính nghệ thuật của nó: ‘Tố Tâm’ Hoàng Ngọc Phách (trước 1922) lối dụng văn có phần cả nể nhưng thoát tục; dù rằng ngữ pháp chưa chuẩn mực so với ngày nay nhưng toàn tập tác phẩm chứng minh cho một cuộc cách mạng văn hóa của tiểu thuyết mới chớ đợi gì phải có A. Robbe-Grillet mới xác nhận cái nớ, cái ni mà tồn lại, tồn lui. Về sau; khi phong trào thi văn bộc phát thì khai sinh nhiều tác phẩm giá trị vừa có tính chất tân truyện vừa có tính chất triết lý nhân sinh như ‘Chí Phèo’ của Nam Cao, ‘Số Đỏ’, ‘Làm Đĩ’ của Vũ Trọng Phụng hoặc Nguyễn Tuân với Tùy bút  hay Tú Mở là cả một trào lộng, giễu đời trong văn chương, tất thảy mang tính chất nghệ thuật hội họa văn chương. Đến thời cận đại phát sinh nhiều thi, văn nhân mở ra nhiều hiện tượng mới; điển hình: Bình Nguyên Lộc, Sơn Nam, Lê Xuyên đượm sắc quê hương dân tộc vào truyện, khơi dậy như khiêu khích đánh động cho một danh xưng mến yêu của vùng quê yêu dấu – exasperation at social hypocrisies. Thi ca phát biểu qua nhiều trường phái khác nhau, không còn qui cách, ước lệ mà nó chất chứa cả trào lưu thi ca đương đại.Trước có Xuân Diệu, Huy Cận, Trần Dần, Phùng Quán và sau có Lê Đạt, Tế Hanh, Quách Thoại, Thanh Tâm Tuyền, Tô Thùy Yên là những giòng thơ như chạm đụng vào nhau, là qui ước bởi ‘conventions collide’; đấy là điều mà họ cố thực hiện khác đi những gì đã có ‘different they are’. Cho nên chi trào lưu thi văn là hoán chuyển qua kinh nghiệm thời gian để vượt thời gian đi vào giá trị nhất thể của nó, đứng riêng một cõi mới gọi là thi văn đương đại còn thứ văn chương lập lại là thói tính bắt chước, ‘copy-cat là imitate’ cái đó là phản đề của văn chương và nghệ thuật. Vị chi cuộc đời và văn chương từ chỗ đó cả hai đã là một qui ước hóa xã hội (conventionlized) là những gì mà chúng ta muốn nói tới, là những gì bao quát chớ cuộc đời không giống như hoặc giản đơn như trong văn chương mô tả. Ngược lại văn chương là một bày tỏ đối kháng trước vấn đề của con người và xã hội. Trong văn chương và nghệ thuật là nhất thể còn nghệ thuật văn chương là nhị thể, nghĩa là cái này có thời cái kia không. Nhưng; không vì thế mà ảnh hưởng vào nhau cho dù là khuynh hướng hay trường phái; nó phải độc lập trong ngữ cảnh, tiết điệu và nghĩa chữ mới nói lên được nghệ thuật: tinh túy và sáng tạo trong văn chương thời nay. Thế nhưng; cái rập khuôn từ xưa đến giờ vẫn còn tồn lại, tồn lưu không chịu tồn lui; nhất là lối bình giải thi ca hay phê bình tác phẩm văn học nghệ thuật không tìm thấy một thể thức nào mới hơn mà cứ một thể điệu nhai lại. Thường trích đoạn thơ hay văn làm dẫn chứng, lối sáo mòn đó đã không khai thác triệt để tiềm tàng của tác giả hay ẩn ý trong tác phẩm; kiểu thức đó là gián tiếp đâm sau lưng tác giả mà không tìm thấy thâm hậu của tác giả, lối bình giải đó là lối luận văn cổ điển xa xưa ở cấp tiểu học. Đó là cái họa bi thảm của văn chương và nghệ thuật. Văn chương và nghệ thuật Việt Nam là tinh hoa phát tiết qua từng thời đại, kỷ nguyên và để lại vô số tác phẩm qúy nhưng trong đó vẫn có chất Việt Nam; một thứ Việt Nam chủ nghĩa (Vietnamesenism) gần như phổ cập hóa (popularized) vào văn giới; điều đó không thể nào cải cách mà trở thành cục bộ cứng ngắc khó chuyển hoá cho một văn chương hiện đại kỷ nguyên – for the modern literary era. Thành ra Việt Nam chủ nghĩa là tế bào máu đã ăn sâu vào não thức cho nên chi phát tiết cùng một thể điệu. Đi tìm nguồn sáng tạo và hình thức mới trong hằng triệu thi sĩ quả là khó huống là tìm cho ra một nhà văn chân thật đúng nghĩa là khó hơn. Cho dẫu có một cuộc cách mạng văn hóa như kiểu Mao Trạch Đông đi chăng cũng không thể đánh bạt thứ văn hóa cục bộ vốn đã tồn lứa, tồn lần trong máu con người chúng ta. Thế nhưng; cho tới nay vẫn chưa có cuộc cách mạng văn hóa bùng dậy vượt thời gian và không gian. (chưa có Nobel).

Trí tưởng trong văn chương không đến nổi  phải thử thách hay giảo nghiệm; cái đó không liên hệ đến văn chương một cách trực tiếp trong cuộc đời hay trong hiện thực; liên quan đến văn chương trong cách thức khác là xây dựng qua một cấu trúc văn tự của trí tưởng lưu động để hoàn thành tác phẩm và tiếp tục nâng đôi cánh để bay cao, bởi; chúng ta không nhận ra sự bén nhạy tương quan của văn chương, của cuộc đời hoặc chúng ta cho đó là viễn cảnh chân trời của văn chương là thế giới mà ở đó không hiện thực ngoại trừ là hình ảnh con người hiện thực. Tuy vi diệu nhưng vẫn không hiện thực giữa đời.

Dĩ nhiên; trong những tác phẩm vĩ đại để lại chưa hẳn đã tuyệt đối là một thứ văn phong chất chứa đa hiệu mà đôi khi trong đó vẫn có cái ấm ớ, nửa úp, nửa mở trong cách diễn từ, nhưng; không phải là điều để nói ra mà thường khi như muốn được nhìn thấy sự khác biệt trong đó của một lý thuyết chính đáng. Có hai thứ chia ra trong kinh nghiệm văn chương. Trí tưởng giúp cho nhà văn có hai cái lợi tốt và đáng giá hơn là có một ít hiện thực trong đời mà đòi hỏi ở độc giả nhìn vào đó như một hiện thực vững chắc cho cả hai trong kinh nghiệm văn chương. Ở đây; văn chương không không phải là thế giới mộng mơ mà hiện thực của cuộc đời; dẫu là hư cấu. Khác với tư duy thi ca là sống trong trí tưởng để thành thơ và rất hiếm khi phản ảnh hiện thực trong thơ, ngoại trừ người ta đem ra bình giải. Văn chương và nghệ thuật là cả trí tuệ đan chiết vào nhau do từ sáng tạo mà ra, cũng có thể là một bày tỏ sâu đậm nhưng chỉ đạt tới một thỏa mãn giấc mơ mà thôi –literature would express only a wish-fulfilment dream.

Có một số người đưa ra câu hỏi tại sao thi nhân muốn nói lên bi thương hay tuyệt vọng, đau khổ trong khi thế giới thơ có bao nhiêu điều để ngợi ca, bao nhiêu gợi ý khác cho hạnh phúc, tình yêu là những thứ mà cần cho thơ, nhưng; trong thơ có một vài thứ nằm trong bệnh của não: -cảm thức bềnh bồng, buông thả, nổi trôi…thời tất những thứ đó nằm ngoài phạm trù văn chương. Chúng ta không thể lý sự cái siêu phàm đó. Một thứ biểu tượng thi ca, một ký hiệu của ngữ ngôn trong văn chương. Chính cái mơ hồ trừu tượng trong thơ là một thứ nghệ thuật siêu hình khó tìm thấy chỉ có tiềm thức tích lũy để tự khởi, tự phát cho thi văn tuyệt cú mà thôi. Dù biến thơ văn vào lãnh điạ nào, hình thức nào, kiểu dáng nào, nó vẫn giữ nguyên vị trí của nó, nghĩa là không mất chất hay chịu ảnh hưởng một cách vô lý mà hại đến văn thơ.

Nói chi thì nói; chúng ta chỉ rút ra một nửa của văn chương và nghệ thuật trong đó có những ngữ ngôn tuyệt cú, tuyệt hứng và quá đạt là những gì mà chúng ta cảm nhận ra rằng nó đứng riêng một cõi nhưng đó là sự đắm chìm thuộc dạng vô thức –The top half of literature is the world expressed by such words as sublime, inspiring, and the like; where what we feel is not detachment but absorption. Đặc thù của văn chương và nghệ thuật không nhất thiết phải kinh qua kinh nghiệm mà kinh nghiệm thời gian tu tập trong cuộc đời, có thể đó là một trong ngàn lý do khác, bởi; cuộc đời không bao giờ là tầm độ nói lên kinh nghiệm mà chỉ là ảo tưởng cuộc đời đến với chúng ta. Chỉ có nghệ thuật và khoa học có thể thực hiện rốt ráo qua kinh nghiệnm tu tập. Điều duy nhất đối với văn chương là dọn đường và xếp loại trí tưởng của con người như những gì tự có của nó. Nói ra nghe như mâu thuẩn cho một lý giải về văn chương nhưng kỳ thực trong đó cũng có cái khó của nó mà nhiều người vẫn chưa thông đạt đường lối chủ nghĩa văn chương và nghệ thuật một cách thiết thực hay quá ám thị trong ngữ ngôn hay quá cường độ về kinh nghiệm của văn chương. Cả hai thứ này gần như sinh lý trong con người khi muốn thực hiện cái đạt-tới (wish-fulfillment) cho thỏa thê đó là nguyện vọng của người cầm bút, cầm cọ. Khi nói đến văn chương và nghệ thuật thì đây không phải là thế giới mộng mơ (dream-world). Nhưng; nói như thế là võ đoán cho một xác quyết; thực tế văn chương nó có hai cái mơ: -một là mơ đạt-tới và một là mơ của ước ao; cả hai là trọng tâm hướng tới. Và; trở nên viễn cảnh của ý thức. Thứ nghệ thuật này dựa theo triết gia Plato: “mơ là thức dậy từ trí tuệ, tác phẩm của trí tưởng là loại ra từ một cuộc đời bình thường / is a dream for awakened minds, a work of imagination withdrawn from ordinary life”. Vậy thì thi sĩ và người mộng là khác biệt hoàn toàn. Mơ của Hàn Mặc Tử là mộng-thi-ca khác mơ của người bình thường là mơ ao ước (trúng số). Cái sự đó là cuộc đời bình thường cho một ao ước chung.Văn chương là bao bọc những thứ khác, một thứ nghệ thuật truyền thông và cùng ao ước như nhau. Dưới đáy vực của văn chương còn có một thể thức khác là tiềm thức. Một năng lực tiềm tàng qua trí tuệ của con người.

Vậy văn chương là gì? Nghệ thuật là gì? Hai biểu tượng này những người phê bình luôn luôn gọi là phán xét của văn chương / a judge of literature. Phán cái chi? -phán cái lý không cho rằng thi nhân, văn nhân là vị trí tuyệt đỉnh, nhưng phán xét để thấy đủ giá trị một vài thứ trong văn chương, chỉ phán xét cái đúng đắng, hợp lý trên chiếc ghế quan tòa nhận biết của luật pháp / a knowledge of law. Văn chương nói lên tất cả nhưng không phải đó là một tổng thể để phô diễn. Mèo đen hay mèo tam thể là màu sắc con mèo chớ màu đen hay trắng không phải là tổng thể phô diễn riêng cho con mèo. Văn chương cũng vậy!

Văn chương là hé mở như một khải huyền nhân loại, bộc lộ toàn diện của con người đến với con người. Với lời phê phán thẳng thừng chớ đây không phải thể thức phán xét; nhưng đây là một nhận thức siêu lý của những gì được bộc bạch trắng đen cho một phán quyết trung thực của văn chương và nghệ thuật ./. VÕ CÔNG LIÊM (ca.ab.yyc. Phục sinh 4/2017)

VÕ CÔNG LIÊM (ca.ab.yyc. Phục sinh 4/2017)

MẸ ƠI

VÕ CÔNG LIÊM

me20nam

 

con sống trong trí tưởng
những ngày thơ ấu thuở xa đưa
với tháng ngày chôn vùi theo dĩ vãng
trong mái ngói vườn xưa
những mưa nắng bất thường
con nhớ mẹ với nụ cười vô lượng
trên gò má thiên nhiên chiều đứng bóng
của mùa đông giá lạnh
dòng sông mênh mông trôi
con sống trong trí tưởng
những tháng ngày xa xôi
bên kia bờ giới tuyến
kỷ niệm có còn không ?
trong trái tim héo mòn
cả đời sống chia xa
con sống trong trí tưởng
giữa đất trời
ngút ngàn mưa gió xô
quê nhà và lưu đày
vòng tay âu yếm đó
mà nhớ áo nâu sòng
cúi đầu niệm nam mô
nghe mưa dậy trong lòng
trở giấc chiêm bao
mẹ đã đi rồi
trong cõi xa mờ xa
biết đến bao giờ mới gặp lại
con sống trong trí tưởng
với trái chín vàng khô
để nhớ mẹ ngày xưa
bên nấm mồ đã cũ
một đời vong thân . tôi
trong nỗi đau đoạn trường

mưa vẫn mưa rơi
một chiều tắt nắng
sông trải đầy tay
biển vẫn đợi chờ

con sống trong trí tưởng
suốt đời mất dấu xưa ./.

VÕ CÔNG LIÊM (ca.ab.yyc. kỵmẹ thángtư 2020

VĂN CHƯƠNG LÀ GÌ (II)

VÕ CÔNG LIÊM

vcl-diem hen

TRANH VẼ Võ Công Liêm ‘Điểm Hẹn / Rendez-vous’

‘Thiên tuế trường ưu vi tử tiền’ Nguyễn Du*

Nếu đó là một thứ văn chương lý thuyết, rõ ràng, minh bạch thời tất sự đó được gọi là văn chương có lý thuyết.Từ chỗ đó chúng ta bắt đầu đặc vấn đề:văn chương là gì ? what is literature?Thế nào là văn chương.
Đã có nhiều cố gắng khác nhau để minh định cho văn chương. Người ta có thể minh định nó. Thí dụ: giàu trí tưởng tượng để viết trong một cảm thức hư cấu / writing in the sense of fiction; là những gì viết mà trong đó không đúng sự thật về văn –writing which is not literally true. Dù có viết vắn tắt đều phản ảnh tính người dưới những đề tài đều hướng tới văn chương; thiết tưởng điều này sẽ không tránh khỏi khi viết văn. Đã là hư cấu, tất dựa vào tâm lý học để hình dung quá trình khi dựng thành chuyện cho truyện.
Tk. thứ mười tám ở Việt Nam cho đến nay chỉ xuất hiện một thứ văn chương lỗi lạc, xuất chúng khác thường đó là Nguyễn Du (1765-1820) nó bao hàm cả một lý thuyết nhân sinh vừa tâm lý vừa sinh lý là nhân tố cấu thành trong văn chương, bất luận từ thời nào đều dựng vào đó cái lý chính đáng, phản ảnh trọn vẹn tính nhân bản là cốt tủy của văn chương. Đồng thời hay những thế kỷ về sau có nhiều thi văn nhân xuất hiện với lối trình diễn văn chương khác nhau nhưng tựu chung trong hình thức sáng tác đều là hư cấu; văn chương tả chân không nhất thiết là ‘chuyện có thực / true story’ mà dựng vào đó một trí tưởng sống thực, dẫu là hư cấu nhưng vẫn có một lý thuyết chung hay riêng về con người và xã hội; gọi chung là văn chương hư cấu ngay cả thi ca cũng như văn xuôi đều xuất xứ từ trí tưởng của hư cấu hóa mà ra.
Sự khác biệt giữa sự thật (fact) và hư cấu (fiction), tuồng như khác hẳn những gì chúng ta nghĩ tới, không nhiều thì ít, bởi; nó đứng cách riêng ở chính nó là sự cố thường đưa tới tranh luận; sự đó là phản lại giữa những gì thuộc lịch sử và những gì thuộc thẩm mỹ nghệ thuật (artistic). Sự thật không thích ứng ở tất cả những gì thuộc thần thoại hay tiền sử mà vẫn coi như là sự thật. Thí dụ: Sơn Tinh, Thủy Tinh, chuyện Âu Cơ, chuyện Mỵ Nương, Phù Đổng Thiên Vương đã thần thánh hóa từ hư cấu chuyện để thành truyện.
Cuối tk. thứ mười bảy và đầu tk. mười tám văn chương tiểu thuyết Việt Nam nở rộ trong một văn phong ảnh hưởng xã hội, dưới lốt ‘giáo điều’ của từ chương, tích cú, điển tích, điển cố được coi là thích ứng và hợp lý; chưa thấy ở đó dấu hiệu sáng tạo, nó ảnh hưởng một phần văn tự cổ từ Hán Nôm chuyển qua Quốc ngữ là cả vấn đề được nêu ra; tuy nhiên, thi văn thời đó nửa hư, nửa thật dường như thấy được một ít sự thật và hư cấu; hẳn nhiên cả hai không mấy là xác thực một cách trung thực. Có lẽ một trong hai thứ đó cần có một thể cách riêng để đi tới bên nhau. Có lẽ văn chương là một định nghĩa rõ ràng không tùy vào những gì thuộc hư cấu hoặc trí tưởng, nhưng nó được coi ngữ ngôn thông thường trong lề lối mới hơn. Trên phương diện lý thuyết; văn chương là thể cách viết thay lời là những gì thể hiện trong lời văn: phẩn nộ, thương yêu là vai trò làm người mà Nam Cao đã thấy trong tác phẩm Chí Phèo, qua hành động táo bạo với ngữ ngôn dung tục là đặc chất trung thực của văn chương tả chân, một lột tả phơi mở, không ấp úng mà làm lạc hướng văn chương. Chỉ tiêu của văn chương là đi đúng hướng cỏn ngược lại thì đó là tư duy mất cân đối giữa quan trọng và không quan trọng –there is a disproportion between the signifiers and signifieds. Bởi như thế này: ngữ ngôn của ta đưa tới một chú ý ở tự nó, phơi ra một chất liệu hiện thể qua câu nói ‘em chả’ có tính chất làm dáng hay đòi hỏi, tả như vậy trong văn chương gọi là tả thực. Ở đây tác giả muốn nói đến chất liệu thực tướng văn bản của văn chương là ở tự nó. Văn chương không là thứ tôn giáo ngụy tạo hoặc tâm lý hoặc khoa học xã hội nhưng nó phải là một cơ cấu hóa ngữ ngôn cách riêng –literature was not pseudo-religion or psychology or sociology, but; a particular organization of language thời mới tạo cho văn chương độc sáng và lạ lẫm.Tác phẩm văn chương đã không những là phương tiện truyền bá cho ý tưởng, phản ảnh bề mặt xã hội một cách trung thực mà thể hiện của một vài thực nghiệm. Nó còn làm cho chữ nghĩa trở nên siêu thoát, không còn là chủ thể của vấn đề hoặc do cảm quan sanh ra; đấy là một sự nhầm lẫn để thấy cách diễn đạt bên trong văn chương, vô hình chung nói cho cá nhân mình hơn là nói việc đại chúng, bởi; nhận thức chưa thấm thấu với kinh nghiệm chưa thấu đáo trong cuộc sống thường có. Thí dụ: nhà văn nữ viết về nhà thơ nam là biểu lộ một sự đam mê thái quá, biến lỏng thành đặc, biến ảo thành thực là xử dụng phương pháp hóa trị (chemotherapy) trong văn chương một cách bừa bãi qua tư thế lý giải thơ văn, biến con chữ và văn phong không thoát ly khỏi vũng lầy, bởi; cả văn thi nhân cùng một tạng thể. Dẫn cái không đáng dẫn đưa văn chương vào ngõ cụt. Cái đó gọi là văn chương tha hóa. Tình trạng này thường xẫy ra mỗi khi nhận định hay phê bình thơ văn đều có tính chất rập khuôn.
Vậy thì dựng lên đó văn chương thuộc hư cấu (fictional) hay văn chương trí tưởng (imagination)? Cả hai tình huống đó đôi khi không thực ở chính mình để trốn cái xấu bên trong hoặc có thể che lấp một sự giả dối nào đó không muốn nói ra…Cái đó gọi là văn chương ta thán. Điều này đã làm cho chữ nghĩa không còn là chủ đề muốn nói với một cảm thức sâu sắc mà là một sự nhầm lẫn trong tư duy của tác giả muốn đề ra.Tất cả ý tứ đó phát sinh từ thói tính kiểu cách hoặc hình thức hóa để chứng tỏ vai trò của mình đang hiện diện với đời. Kiểu cách đó gọi là văn chương dung tục; một hình thức dị hợm, buồn nôn không hợp cảnh đối với con người văn nghệ đang trên đường dấn thân cho một bày tỏ sống thưc giữa người và đời.
Hình thức chủ nghĩa là phần cơ bản nồng cốt thích hợp cho ngữ ngôn học nhất là học cách viết văn, bởi; ngữ ngôn học trong vấn đề của hình thức thể loại, quan tâm tới ngữ điệu và cấu trúc hành văn khác hơn những gì trong đời thường nhưng vẫn thấy ở đó một thứ rất thường. Hình thức đã vượt qua sự phân tích của văn chương như ‘đạt yêu cầu’ / Formalists passed over the analysis of literary ‘content’ là thói tính thường bắt gặp một khi viết về ký sự hay phóng sự là lối viết như ‘đặt hàng’ nó không còn là sáng tạo của văn chương. Đạt được là động cơ thúc đẩy một cách đơn thuần của thể thức, một cơ hội thuận tiện cho thực tập về hình thức viết lách. Cho nên chi lối viết đó không thay đổi giọng điệu mà trở nên cục bộ ngay cả trong văn và thơ; hai thứ này nó đòi hỏi phải sáng tạo mới hình thành văn chương độc hữu (property).
Văn chương; bởi một sự buộc phải chúng ta trong vai trò kịch tính ý thức của ngữ ngôn cho đẹp ý lẫn lời, coi đây là thể thức đáp lễ và dẫn đưa chủ đề có thêm cảm giác mới. Thế giới của ngữ ngôn chứa đựng những gì có sinh khí và hiện đại hóa; đó là tác động trong văn chương. Bởi; như thế này: đối với hình thức chủ nghĩa cho rằng văn chương là chức năng chuộng về lượng /differential liên quan giữa thể loại luận văn hay thuyết trình, nó không còn là chân lý ngàn đời cho một sự độc hữu –it was not an eternally given property mà chỉ để lại cái thói tính (formalists) không thực khi viết thành văn. Có lẽ; văn chương là phương tiện cho một vài điều nghịch lý hay phản đề của nhiều cách viết khác nhau hoặc nâng lên một giá trị cao hơn. Văn chương là một cảm thức trong sáng phát sinh từ trí tuệ; dẫu đó là một sự rỗng tuếch vẫn có phần sáng tỏ –empty sort of definition. Dù cho chúng ta yêu sách nào đi nữa sự đó không tác động vào trong ngữ ngôn của viết lách, càng đòi hỏi luật tắc thời chúng ta vẫn không đạt tới cái cốt tủy của văn chương, bởi; đôi khi ta tìm thấy ngữ ngôn của văn chương tợ như đùa, nhưng trong cái sự đùa là một thứ ẩn tàng khác của cách viết hay nói. Có thể nó tạo thêm thi vị cho người đọc hoặc mang lại một ý nghĩ khác cho một vượt thoát của tư duy. Đôi khi đọc một tiểu thuyết là tìm quên trong thích thú, khác hẳn từ chỗ đọc bảng tên đường như một chỉ dẫn cần thiết; thế thì làm thế nào đọc một đoạn văn chương triết học để lãnh hội trong trí tuệ của ta? Đó là vấn đề đòi hỏi ở nhận thức hiểu biết, một nhận thức bao quát hơn là nhận thức chuyên nghiệp. Văn chương không có giới hạn mà đòi hỏi một sự vượt thoát tư duy trong ý thức sáng tạo tư tưởng là hình thức đả thông tư tưởng. Người không học triết vẫn nhận ra rằng cuộc đời là một triết lý. Kẻ chuyên nghiệp lại có cái nhìn chủ quan trong tư duy, phát sinh từ một tư duy ‘đốn mạt’ của hờn dỗi bởi chưa đạt được một cách thỏa lòng (content). Thành ra văn chương là nhu cầu cần thiết để lãnh hội ý tứ thâm hậu trong câu văn như lời nói lý thuyết, là kim chỉ nam dành cho người viết và đọc. Văn chương là gạch nối của truyền thông, văn chương không phải là tự sự đem chuyện đời xưa ra kể chuyện đời nay; cái đó gọi là văn chương tham vọng đã tham vọng thì không còn gọi là văn chương.
Độc đáo của văn chương là thoát ly mọi tình huống của ‘ao tù nước đọng’ bung lên để tìm thấy mặt trời, bởi: ‘văn chương chỉ dung nạp được những người biết đào sâu, biết tìm tòi, khơi những nguồn chưa ai khơi và sáng tạo những gì chưa ai có’ (trong Đời Thừa của Nam Cao) Cái đó gọi là văn chương thức tỉnh giữa sự thật và hư cấu là đứng giữa tâm thức và trí tưởng đủ khả năng giúp ta sáng tạo những gì mà ta nhận thức được; đặc nhiệm của văn chương là mang tính chất sáng tạo nghệ thuật, quên tất cả để tạo nên quan hệ tương giao giữa người với văn chương, dựng vào đó một vũ trụ dự cuộc để hoàn thành sứ mệnh văn nghệ đúng phương hướng của văn chương tự thức ; đó là chỉ tiêu, là minh định cụ thể để thành văn.

Trong cảm thức này không một khả năng nào của một kết hợp bày tỏ hay phát biểu hay hành văn một cách vô bổ cả -In this sense; there is no possibility of a wholly disinterested statement- Nhưng; cũng có thể đó là vị trí của hình ảnh tạo nên cho một cảm thức khác nhau giữa hư (fiction) và thực (in fact) mà coi đó là lời bày tỏ có nhiều lợi ích cho về sau này. Có lẽ điều này cho là lạ lùng, quái gở và cũng có thể là tuyệt vời, kỳ diệu nó mang nhiều điều lạ hơn là kiểu cách đồng dạng, đồng nghĩa, là thói tính quen lề, quen thói, rập khuôn, đúc lại, dẫn chứng…Tất cả thứ đó là a-tòng trong lối bình văn thơ thường hay xãy ra. Bởi cái sự a-tòng đó mà mất tính sáng tạo trong văn chương, bởi vì; chúng ta không tìm thấy cái sự lợi ích cấu thành qua sự nhận biết / knowledge để làm sáng tỏ lời văn trong khi viết, việc này không phải là định kiến đơn thuần mà tạo vào đó một thứ phiêu lưu kỳ lạ cho văn chương. Yêu cầu đó là nhận thức hiểu biết có thể đem lại cái giá tự do (value-free) hay gọi là không thuế (tax-free) là việc không còn ngại cho việc viết lách để đưa vào đó một giá trị cho văn chương. Đây không phải vấn đề của đổ lỗi mà cũng chẳng phải vơ đũa cả nắm; thực ra là nhận định khách quan của tâm sinh lý thường có, là cốt đạt tới cái nguyên thủy /pure có trong ta cho một thứ phê bình thuộc nghệ thuật văn chương là điều hợp lý và lợi ích.
Nói về ‘văn chương và hệ tư tưởng /literature and ideology’ như thể coi đây là biểu tượng cách ly, mà cả hai gần như có một quan điểm chung giữa trí tuệ và lý trí. Văn chương đúng nghĩa tâm lý là có một cái gì để lại (inherited) về sau; hệ tư tưởng sẽ tiếp nối như một khám phá khác của văn chương, một quan hệ gần gũi giữa con người và xã hội. Có thể về sau được coi là chứng cứ tồn lưu, tồn lại của văn chương ./.

VÕ CÔNG LIÊM (ca.ab.yyc. 15/7/2020)

* ‘Trước khi chết lo mãi chuyện nghìn năm’ (Nguyễn Du)

ĐỌC THÊM: ‘Văn Chương Là Gì’ của võcôngliêm (3/2020). Hiện có trên một số báo mạng và giấy trong và ngoài nước hoẳc email theo đ/c đã ghi.

VƯỜN ĐÊM

VÕ CÔNG LIÊM

 

29cw2v5

cây lá ôm lòng đau
những cánh hoa rũ xác
nằm tê liệt chờ trăng
sao rơi lẻ loi
giữa đêm buồn độc chiếc
ngày nắng úa
buốt lạnh
vườn đêm
cây
trèo
lên
tới
đọt
trăng xoa
vào hồn
ngọn phong ba bủa vây
xé đêm từng mảng nhỏ
cánh hoa uất kim cương
vật vã trước gió đùa
đêm thao thức
nhớ trăng xưa cùng tuyết nguyệt
dưới mái hiên nhà
nắng chẻ hai hàng nắng chẻ đôi
đêm vụt tắt
những cánh hoa bẻ gió
thị giác mờ hơi sương
đêm nghe mưa
như cẩm sắt* réo rắt cung thương
mà nhớ xưa áo nâu chàm dưới trời áy náy sao khuya
vườn đêm nghe thăm thẳm xa đưa trời đã dậy
mà hồn thì vất vưởng theo mây về gió cho sáng mai
nắng không về nắng sáng vườn cây để hoa thêm mướt
dưới lòng đất lã chã tiếng khua đêm trở mình
căn nhà ố màu hoen biến chất từ dạo ấy
mưa gió điên cuồng thổi không mệt mỏi
trong huyệt mộ hồn vọng lại ngàn xưa
thuở sinh thời đội nắng che mưa cho cây lá xanh um
vườn đêm đi vào cõi lặng
rơi vào thế kỷ trước
những chiếc lá vàng thu
trở mình giấc mơ cũ
giữa vườn đêm ngập tiếng hoang ca

đưa tay sờ không gian ngoài đó
đám siêu vi phất phơ trở gió
mùa dịch hút cạn mắt đời xưa
nằm phơi cánh gió giữa đêm hè ./.

VÕ CÔNG LIÊM (ca.ab.yyc. đầu tháng 7/2020)

* cẩm sắt (không phải cầm sắt) Cẩm: là gấm. Sắt: là đàn. Cẩm sắt một loại đàn 25 dây.

BÍ TRUYỀN CỦA THIỀN

VÕ CÔNG LIÊM

vcl thieu nua toc ngan

Tranh Vẽ Võ Công Liêm: Thiếu Nữ Tóc Ngắn / Young girl with Short Hair’

 

‘Một ngày nào có kẻ như ta nhưng không phải là ta’
(Cổ Đàm Phật Thích Ca)

Nhu cầu trí tuệ không bao giờ ngưng nghỉ. Quả vậy; với một kinh nghiệm nhỏ nhoi thì chắc chắn kinh nghiệm này không thể bao quát mà nhìn thấy trí tuệ của con người và quan sát vào đó để làm thế nào phát hiện những điều mới lạ, hữu ích đối với người tu tập về Thiền. Đây là một tác động mới và khai phá một tư duy mới, tìm hiểu một cách chính xác về cái ‘đạo’ mà không đi qua một sự tôi luyện công phu mà gần như một chủ động ở chính mình và tự kiểm soát ở chính mình. Cái sự cớ này thường hay xẩy ra khi đứng trước ngưỡng cửa của Thiền và cứ thế mà giao động tâm tư như một câu hỏi rằng mình đã ‘chứng ngộ’ để đi vào Thiền hay giữa trạng huống đó đã làm mê hoặc và kinh ngạc trước đối tượng tu tập về Thiền. Rứa thì trong Thiền có gì huyền nhiệm về nó –The Mystery of Zen để đạt tới chân truyền?
Dữ kiện này đã đưa con người tới một nhận thức cho một quyết định dứt khoát trước hoàn cảnh dấn thân; cái đó là tầm nhìn vào thời gian và không gian, là thiết thực quan trọng của việc làm (hành động) với một hiệu năng đặc biệt hơn. Bí truyền về Thiền khởi động từ công án, từ kinh điển hoặc từ kệ để nhập Thiền? Không! nhập Thiền là tuệ giác, là đi tới chân như tánh không; nghĩa là vượt thoát nhập vào vũ trụ như nhiên tức đi vào cõi tịnh để nhập định không còn thấy mình giữa ngoại giới và nội giới; nhờ đó mới có một nhận thức nhất quán về Thiền.Tâm như trong bóng không còn vướng dù là hạt bụi. Cái đó là bí truyền. Cho một thí dụ khác trong cách xử thế về Thiền : một thức giả sống ở Nhật học tập về cách xử dụng cung tên, kiếm thuật thời làm thế nào để luyện trí mà trong cách hành xử có thể cho ông ta hiểu được bí truyền giáo điều của Thiền qua từng giáo phái Thiền Phật giáo –To understand the esoteric doctrines of the Zen sect of Buddhisms. Chính cái đó là thâm hậu cho một tư tưởng nhập cuộc; cho nên chi nói đến Thiền là cả công phu về trí và thân cả hai cơ cấu hữu cơ đó là vận hành cho việc nhập thiền một cách rốt ráo. Đúng như rứa; vì những gì của Thiền là những gì xa lạ đến với đời sống chúng ta và đó cũng là điều mà chúng ta muốn biết tới và nhất là ở Nhật việc tu tập Thiền không còn là cái đạo mà là nghệ thuật (Zen in the Art). Thiền Phật giáo không những chỉ tìm thấy những gì huyền nhiệm trong kinh điển, đặc biệt ở Đông phương mà còn là một giáo phái khai mở trí tuệ tới đỉnh cao, một khám phá mới và chắc chắn là một trong những phép tu tập khó khăn để đạt đến. Một lý thuyết không thể trải rộng để phân tích lý sự có dính líu tới trí tuệ, sự kiện đó thường là một tương quan bình thường giữa sư và đệ tử là việc giản đơn không có chi xa lạ đối với giáo phái, bởi; thiền sư cảm thấy vô dụng để giải thích từng giai đoạn một và biện minh về những gì có thể thông đạt được qua từng giáo lý. Cái gọi là bí truyền Thiền ngay cả người tu tập cũng đã thấy được cái huyền nhiệm bao la vi diệu của Thiền. Bí truyền của Thiền là học về những gì nghệ thuật tu tập là nói lên những gì về nó. Tức là cảm thức được Thiền. Cảm thức đó không bao giờ dừng lại trước một hiện hữu vật thể. Con cóc nhảy vào bờ ao là con cóc nghe và nhận được tiếng động của sóng nước trong tĩnh lặng. Người tu Thiền và con cóc là một cảm thức dự cuộc đồng hóa. Đứng trước hoàn cảnh này cho ta một ý niệm về cái chân như Thiền; bất kể là giáo phái nào nhập thiền là ‘Phá’ và ‘Chuyển’; cho nên chi Thiền đi vào thanh tịnh là ở chỗ đó. Thật ra Tổ sư Thiền (Zen Master) không lấy Pháp để truyền đạt mà phải thấy được Tánh trước khi nói đến Thiền, bởi; đốn được thiền không phải đi qua giáo điều mà nhìn vào thiền như thực chứng thời mới ngộ được thiền: ‘Nhất thiết tu đa la giáo như tiêu nguyệt chỉ’ tất cả giáo điều chỉ là ngón tay chỉ trăng. (Kinh Viên Giác). Nói như rứa Thiền không phải là ‘đạo’?-Thiền không có kinh điển để rao giảng, Thiền là một trong những thứ nghệ thuật vĩ đại trong cuộc sống. Có lẽ vĩ đại nhất mà không học qua một ai. Thiền không môn đăng hộ đối. Thiền đến bất cứ lúc nào, thời nào Thiền cần có. Đạo của Thiền là không có khởi đầu và không có kết thúc. Càng đi sâu vào Thiền càng thấy bí tỉ để rồi trở nên phán đoán qua giòng ý thức (the irrational functions of consciousness) nghĩa là dựa trên cảm quan (sens du reel). Rứa cho nên chi thấy được Thiền tức chấp nhận với Thiền cái nghịch lý của nó: ‘Một trong Tất Cả và Tất Cả là Một’ là trạng huống hoàn toàn mang tính xúc cảm. Cái quan trọng trong bí truyền Thiền là Tuệ-giác (Prajnã chữ của Sanskrit) ngoài ra chả tìm thấy gì trong cửa Khổng sân Trình mà chỉ thấy cửa Không của Thiền là tuệ-giác tức là Ngộ (Satori chữ của Nhật).Theo nghĩa Phạn ngữ còn có tính chất không sợ không than oán ‘sans peur et sans re-proche’. Nhưng nhớ cho phân biệt giữa cái này với cái kia, giữa tốt và xấu, giữa giữa là chấp trượt vì chấp trượt là phá luật Thiền thêm phiền não thì không thể định-thiền (meditation). Đòi hỏi của Thiền là Ngộ để thức tỉnh, khống chế cái vô thức để có hữu thức. Bí truyền của Thiền là chứa đựng những gì thuộc về phân tâm học (Freud và Jung) những vấn đề tâm thức tâm lý cấu tạo nên vô thức chuyển sang ý thức là mục tiêu thuộc tâm thức của Thiền. Tổ sư Thiền chỉ rao giảng hầu hướng tới tâm bình đẳng và ám chỉ sự việc ở tận thâm cung của giáo điều, của kinh kệ Thiền Phật giáo mà thôi, chớ không ngoài một mục đích nào khác hơn. Nhờ đó người ta hiểu được giá trị tối thượng của giáo điều không riêng về mặt luân lý đạo đức nhưng đưa con người đi vào hiện hữu. Trong bất cứ định hướng nào đều có chứa bí truyền của Thiền –Any rate had solved the mystery of Zen. Giáo điều của Thiền không thể nào phân tích từ cái-không; mà nó phải sống thực –The doctrine of Zen cannot be analyzed from without: it must be lived. Nhưng cho dù điều đó không thể phân tích được, Thiền xử dụng ám ngữ để giải thích mà thường bắt gặp ở công án hay trong đối đáp mà ra. Nói bóng gió chính là tín điều cho chúng ta nhận thức về một duy lý thích thú và thiết thực hơn là rao giảng luật tắc. Như đã nói ở trên bí truyền của Thiền là vượt thoát, là thức tỉnh để không còn luẩn quẩn, vu vơ mà làm hư hại cho một tâm thức nhận biết về những gì thanh cao diệu vợi, trong sáng giữa tâm và thân. Người tu Thiền với trọng tâm là giải thoát để đi tới toàn thiện tính năng. Tuy nhiên hướng tới Thiền thời bắt gặp những kỳ bí, những gì không nhận biết một cách đặc biệt và cũng chưa hẳn để phải quên. Gom lại với nhau; Thiền đưa dẫn chúng ta hướng tới lẽ sống của cuộc đời là nhìn đời một cách như nhiên, thế nhưng; trong Thiền vẫn có một sự mê hoặc sâu lắng và chứa đựng một vài giá trị riêng biệt mà chúng ta phải quan tâm đến nó. Nguyên nghĩa của Thiền là trầm tư. Một tư duy chính của giáo phái Phật giáo. Ngần ấy thôi; nhưng chắc chắn nó có một giá trị độc nhất và một tinh thần cao đẹp. Bởi; nó đã phát sinh ra một chất lượng nghệ thuật cao, khác biệt hơn mọi khác biệt, nhất là bộ môn hội họa; vì vẽ là trầm tư với hình tượng –To paint is to meditate upon forms trong thể chủ động thuộc trí tuệ để nhìn thấy được sự vật của ngoại giới thời mới du nhập vào nội giới (là phát tiết, là sáng tạo trong tư duy bừng sáng). Lối nhận thức của thiền và lối nhận thức của người họa sĩ là một. Răng rứa? –Là cái nhìn trực chỉ chân tâm, có thể nói đó là cái-bên-trong. Nói theo Suzuki là trạng huống vô thức, một thứ vô-thức-vũ-trụ. Một vô thức đồng hóa chân thành của người nghệ sĩ. Vô thức theo nghĩa Thiền là cái huyền nhiệm, cái ‘vô tri’ siêu lý chính vì thế có tính cách phi-khoa-học hay còn gọi là tiền-khoa-học là đòi hỏi một sự tôi luyện ý thức. Vô thức của họa sĩ là Cảm: là nền tảng dựng nên hiện thể trước mắt. Cái thấy chưa phải là đủ để nhận biết, người họa sĩ phải sống bằng tâm thật trong đời mình đang sống…Nhiều lúc cho người họa sĩ là vị-ngã. Thứ vị-ngã không nắm bắt được, cái thứ bất-khả-đắc ‘anupalabdha’(Phạn ngữ).Ngã vừa đức lý và tâm lý. Nếu chúng ta biết một vài điều về Phật giáo thời chúng ta có thể nói rằng Thiền đến gần với những giáo phái khác. Tuy nhiên; có một vài điều lệch lạc trong cuộc sống của Thiền nghĩa là có một năng lực tác động về hành xử, có một cái gì gay go hoặc mơ hồ, lộn xộn như vồ chụp mà trên thực tế cần phải tránh xa, có một vài điều giống như bỡn cợt…Trong cảm thức này; tĩnh lự / meditation không có nghĩa là những gì chúng ta thường nghĩ tới cho những nhà tư tưởng là trầm lắng để mới có những phân tích hiện thực, một cái gì bao che cho tôn giáo và đạo đức. Có nghĩa là một vài điều không thể phân chia, nhưng cho tất cả. Không có hệ thống, nhưng có tổ chức. Không dài dòng văn tự (long-drawn-out), nhưng tức thì. Có nghĩa rằng những thứ đó gần giống như từ ngữ mà ta gọi là ‘tri giác / intuition’ và ‘nhận thức / realization’. Cũng có nghĩa là con đường của cuộc đời mà trong đó không có một phân đoạn luận giữa tư duy và hành động; không còn là vực thẳm của đau khổ; như vậy cho ta hiểu biết tất cả những gì thuộc về của chúng ta, giữa trí tuệ vô thức và hữu thức và không còn phân biệt tuyệt đối giữa ngã thức và vũ trụ bên ngoài dù cho giữa những khác biệt từng phần của vũ trụ vô cùng và những gì thuộc vế tất cả. Sự quan hệ của sư và đệ tử rất quan trọng, gần như thiêng liêng; nhất là ở Viễn Đông, và; đệ tử khó lòng nghĩ đến việc rời xa sư hoặc thể hiện thái độ qua những phương thức của sư đưa ra. Tuy vậy; ở đây vẫn xem là việc phi thường mà đệ tử tuồng như nhận ra được. Những môn sinh trẻ tuổi không ở đối tượng hiện thể để có một trí tuệ bừng dậy, một ý thức khôn khéo (wisdom) để đối đáp một cách tức thời mà đưa vào hành động phục dịch để có ý niệm nhận thức giữa tâm và thức ở chính mình: bửa củi, lặt rau, gánh nước, quét sân, nấu ăn… là huấn nhục để thêm nghị lực kiên nhẫn, chịu đựng để về sau đưa lần vào khuôn phép. Đại sư thỏa thuận nhận lãnh nhưng vẫn giữ vai trò của cái-không(without) là đưa ra cái vỏ kiếm mà không có thanh kiếm. Thói tính trở lại như trước; ngoại trừ một đôi khi sư có thể đánh vào người tu sĩ trẻ bằng cây khẻ, bất luận khi nào trong lúc phục dịch, đánh khẻ là phương thức cảnh giác là thức tỉnh để trở về với hiện thực; không cần biết đệ tử đang nghĩ gì. Cái lối tu thiền từ hành động đến lời nói đều chứa một bí tích không thể giải được, hiểu được, nhận được mà đòi hỏi của Thiền là ý thức; tức quán triệt là Ngộ ở thân tâm. Linh hồn Thiền phái xưa nay đều duy trì một cái ‘ngông’ của đạo lý như giáo điều. Đó là cái khó tu tập bí truyền của Thiền. Nhớ cho: đòi hỏi của Thiền là phá chấp mọi hạnh nguyện lợi để đi tới chân-như-tánh-không.

Tĩnh lự Thiền không có nghĩa là tọa thiền và trầm tư –Zen meditation does not mean sitting and thinking. Trái lại; Thiền có nghĩa là Hành và Suy (luận). Thí dụ: Kiếm sư dạy cho môn sinh biết cách ngăn ngừa để chống trả bằng lực và trí trong khi bị tấn công bất ngờ; tức thời phải biết vận dụng trí năng với một bản năng tự vệ; kiếm khách phải có đôi mí mắt khép hờ như chận đứng đôi mắt đối phương trong cái thế đe dọa để chống trả. Đưa ra cái thí dụ như rứa nghe qua không có chi để lãnh hội hay tư duy cả. Nhưng; giữa lúc ấy thầy và trò đang truyền ‘y bát’ cho nhau bằng nội lực chớ không bằng kiếm thuật, có nghĩa là biết vận dụng hoàn cảnh để thích nghi hoàn cảnh chính cái đó là thâm hậu của Thiền. Cái bí truyền của Thiền là truyền đạt để đi tới chân-như-tánh-không. Siêu lý của Thiền Phật giáo qui tụ cái tinh anh trong đó; ‘Thiền đã tôi thế đấy’ hoặc ‘Zarathustra đã thốt thế đấy’ là cốt tủy của đạo Phật. Ngần ấy thôi mà có một sức chứa vĩ đại. Việc làm của sư là hướng tới cứu cánh với mục đích đánh đổ bức tường giữa tư tưởng và hành động: là ở cái lúc làm tan chảy một thân tâm bùng nổ, một cảm thức nhen nhúm và một trí tuệ bại hoại có như vậy mới hoàn tất một cách bén nhạy và thấu đạt chất Thiền. Bí truyền Thiền là làm cho người ta hiểu đến Thiền. Răng rứa? ‘giáo ngoại biệt truyền’ chớ có chi mô mà chất vấn, lộn xộn, hùm-bà-lằn !
Trở lại cái chất Thiền ; nơi chứa chấp tiềm ẩn qua vấn đáp, hành động. Tất cả qui tụ trong một trạng thái tỉnh ngộ nghĩa là không động để tâm tĩnh trước hoàn cảnh. Dù là ‘phiến động’ chăng nữa. Trong biên niên Thiền có nhiều câu trả lời đột xuất, tối nghĩa là để chấm hết câu hỏi đưa ra. Thí dụ: Có người học trò hỏi đại sư; ‘Phật là gì?’ Sư trả lời: ‘Tên trò là Cu Cương’ hoặc giữa sư với sư vấn đáp: ‘Ngay cả họa sĩ không thể vẽ chính nó’ Sư kia trả lời: ‘Vô nghĩa ’. Rồi lại nói: ‘Cái miệng là khẩu nghiệp’. Chuyện khác: Môn đệ hỏi đại sư: ‘Con chó có Phật tính không?’ Đại sư trả lời: ‘Gâu! Gâu!’. Thì đó là những gì chính con chó có thể nói được. Sự cố đó giờ đây coi như chỉ trích để tấn công Thiền, bởi; những gì nói ra là tín điều của sơ khai, thô thiểm hoặc là loài dã thú. Nghe không có chi là mệnh lệnh hay tín điều; mà tợ như hư-không. Bí truyền của Thiền là rứa đó; có đó mà không có đó. Bất-Nhị-Pháp (Advaya) nghĩa là không phải Có tuyệt đối mà chẳng phải Không tuyệt đối. Rứa thì răng đây? -Có chi mô! vì; tất cả là ‘dịch’ là ‘phi ngã’nghĩa là Có ta đó và Không có ta đó ‘moi et non-moi’. Hay Thiền muốn chơi chữ để bỡn cợt thế gian? Không;Thiền trung thực cho một tâm-như; thiền biết tự-tánh (le soi) thì biết được tất cả là phương tiện độc nhất để giải thoát. Thiền xử dụng ‘ngông’ và ‘bỡn cợt’ cốt để thức tỉnh. Xem câu này có dính chất Thiền không đây: ‘ngựa trắng không phải là ngựa’ (Công Tôn Long. Tư tưởng gia Trung Hoa). Rứa thì con gì?
Đích thực của Thiền có thể là một sự từ chối khéo –The adherents of Zen deny that; mà dựa vào ‘tự giác, giác tha’ hoặc có thể có nhiều điều mà họ phớt lờ cái sự lý bắt bẻ hoặc làm ra cái dấu hiệu bí ẩn mà ý nghĩa đó chỉ là cái điều vô nghĩa –Or more probably they would ignore the criticism, or make some crytic remark which meant that it was pointless. Thiền có một cõi riêng trong thâm cung bí sử của cô đơn, vắng lặng. Cứu cánh của Thiền là dạy cho chúng ta sống, như một phương cách cuối cùng, chúng ta hành động để tất cả phải có một cuộc sống; cho mình ‘ên’. Có nhiều lời chỉ trích nguy hại cho Thiền; có thể đó là hư-không hoặc có thể mục đích của nó là thủ tiêu tất cả những ý nghĩ khác cùng đến một lúc. Thật khó lòng để chứng minh thực hư một cách trọn vẹn, bởi; với tất cả chủ thuyết của Phật giáo là –Hư-Không /Nothingness. Và; nhớ cho những gì đại sư Thiền nói thật sự là như-không (nihilistic). Vũ Hán hỏi Đạt-Ma: ‘Cái gì là cơ bản tối hậu và cái gì là linh thiêng chính yếu nơi cửa Phật’ Đạt-Ma trả lời:‘Một sự trống rỗng vĩ đại và chẳng có thánh ý gì trong đó cả’.–The emperor asked: ‘what was the ultimate and hollies principle of Buddhism’ Bodhidharma replied: ‘Vast emptiness, and nothing holy in it’.Mục đích hay phương tiện thiện xảo đối với Thiền là tiêu diệt, đó là cách suy tư và thay thế; vô thức là có thể đi đến cái chết, nhưng hữu thức thì điều đó không còn phân tích, lý giải nhưng kinh nghiệm sống là ‘trực chỉ nhân tâm’. Dù là luật tắc qui định cho người cầu nguyện; ở đây: không kinh điển, không lễ nghi, không tôn thờ, không nơi đến và đi cho kiếp sau. Thiền là một tôn giáo triết học. Jung (tâm sinh lý gia) ghi nhận Thiền có mục đích, cứu cánh của nó, phát sinh một thứ tôn giáo đối đáp, một chuyển thể. Jung nói: ‘chuyển thể là tiến trình không thể so sánh để đánh giá với sự hiểu biết trí tuệ’(The transformation process is incommensurable with intellect). Dẫu là gì; Thiền luôn luôn là tác động lợi ích nhưng lại thường ‘ốm đau’ trong cô đơn. Thiền lặng trong thanh thản tâm hồn.Thiền giác ngộ để giải thoát mang lại một cảm thức tuyệt đối. Thiền là nguồn sáng bao la diệu vợi. Nhưng Thiền là trạng huống không thể giải bày một cách rõ nét.Trong Thiền Phật giáo thường vặn những lời vấn đáp hóc búa, nghịch lý. Răng rứa; với mục đích gì cho lối tu Thiền? -Thức tỉnh. Cứu cánh gì? -Đi tới chân-không. Là phương tiện thiện xảo của Thiền ./.

VÕ CÔNG LIÊM (ca.ab.yyc. 1/7/2015)

SÁCH ĐỌC:
– ‘Zen Buddhism and Psychoanalysis’ by D.T. Suzuki, Erich Fromm & R. De Martino. George Allen & Unwin.1973.
– ‘Great Works of Philosophy’ by Robert Paul Wolff. New American Library. USA and CANADA. 1969.

CÁO TRẠNG

VÕ CÔNG LIÊM

image001

TRANH VẼ VÕ CÔNG LIÊM : ‘Biến dạng / Metamorphosis’

tôi qui tội tôi
giết người không gươm dao
bằng chữ nghĩa âm hồn vọng
tôi gông cùm tôi
trên răng dưới dế một thời
ăn chay nằm đất suốt đời đi hoang
tôi phỉ báng tôi
đầu trâu mặt ngựa giả dạng làm người
hiếp dâm con kiến con trùn con tôm con cua
tôi kêu trời tôi
sanh phải nhằm thời :
vô ra thằng cha khi nãy mặt dày mày dạng
toàn phường giá áo túi cơm cửa khổng sân trình
học hành dăm ba chữ dạy đời lố nhố lăng nhăng
có khi làm thi sĩ có khi làm văn sĩ có khi làm con khỉ
múa gươm trong bị cô gái đồ long chữ nghĩa mênh mông
đứng đường gáy vu vơ đại học quân trường không kể xiết
tôi gọi tên tôi cho đở nhớ sàigòn đêm rít tiếng kèn đồng
mắm ruốt quê hương là người đó sáng dưa trưa muối túi cà
xin làm người khất thực niệm chữ nam mô sanh quán bát nhã
ba la mật a di đà bỏ xứ ra đì chết vô gia cư vô điạ táng trên cõi đời
toàn là thứ mặt trắng như vôi một thời phất cờ theo gió trốn lính
trốn dịch bỏ giáo vô chùa mặc áo cà sa hùm bà lằn bầu cua cá cọp
ôi ! miệng lưỡi thế gian không xương nhiều đường lắc léo
ca bài con cá khâu vá tứ tung cổ lỗ sĩ một đời sợ lãng quên
lịch sử không có chứng từ thế vì khai sanh đổi tên đổi họ chưởi bới
toe tua chết dọc bờ dọc bụi hoá thân cô hồn các đảng ăn trộm chữ
khoe tài khoe tướng múa gậy tầm vông in sách từng đống để thờ
xấu hay làm tốt dốt hay nói chữ ông chả ra ông thằng chả ra thằng
vượt biển vượt biên đường dài vạn dậm kê khai lý lịch thường trú
làm người hát rong trong thành phố một thời chịu đắng nuốt cay
xin nhận nơi đây làm quê hương với người tình không chân dung
thế rồi một buổi chiều vàng ngồi buồn gải háng dái lăn tăn
ngẫm sự đời mà thương con mụ kiếm* cái cò lặn lội bờ sông
học văn học võ bỏ hoang . ba sinh hương lửa một đời oái ăm
sáng tạo các anh hãy còn sáng tạo** phê bình phê phán rập khuôn
nồi nào úp vung nấy chẳng gì là mới với tư duy . thưa mông xừ !
kệ . mua vui cũng được một vài trống canh*** cho xong sự đời ?

tôi . trễ tràng một chuyến tốc hành đi về phương đông
giữa mùa giá tuyết buổi hoàng hôn trên ga vắng người ./.

VÕ CÔNG LIÊM (ca.ab.yyc. cuối 6/2020)

* ‘mụ kiếm’ chữ thơ của Tú Xương.
** ‘sáng tạo các anh hãy còn sáng tạo’ thơ Quách Thoại.
*** ‘mua vui cũng được một vài trống canh’ thơ Nguyễn Du.

VÀO VỚI THƠ

VÕ CÔNG LIÊM

hoa hong den

TRANH : VÕCÔNGLIÊM . MẶT TRỜI ĐEN / BLACK SUN

Nói về thơ có cần bàn thêm không? Thiết tưởng điều này thừa; mà chỉ phiếm đàm một cách khách quan như xem một vở kịch vậy; ‘khi vui thì đậu, khi buồn lại bay’ đó là ý tứ vô tư mỗi khi đi vào với thơ.
Vậy thơ là gì? Câu hỏi này đã có từ khi chưa lập văn tự, thơ phát sanh hồi tiền cổ, thuở hồng hoang khai thiên lập điạ đã có thơ đi theo. Thiên nhiên và tâm trạng hòa đồng trong một dạng thức vô cớ nhưng lại hữu hình, hữu tình chính điểm này đã xâm nhập vào hồn để thành thơ. Nói theo phân tâm học của Freud và Jung thì cho rằng: nếu mỗi khi tâm với não giao động hỗn loạn đưa tới bất bình thường và sinh ra ảo giác; nói thế có tính võ đoán cho người làm thơ; tâm tư lắng đọng, trí tuệ phát khởi, giòng thơ tuôn trào như tự nó. Nguồn thi hứng của thơ là nguồn vô biên, vô tận số (sát-na) nó bao trùm cả vũ trụ quan trong chuỗi hành tinh văn học. Thế giới của thơ, một nơi vô hình chung được gọi là ‘cõi thơ’. Thí dụ: đang làm một việc gì thì bỗng bắt gặp mùi hương hoa lài, mùi nước lợ, bóng dáng cũ xuất hiện trong tri giác, khứu giác nơi mà chung quanh chỉ là tiếng động xe cộ ồn ào, huyên náo. Đó là cảm thức bị đánh thức để hướng tới hoài niệm về một tiền đề xẩy ra trước đây, và; tự nhiên xuất thần thành những câu thơ, bài thơ bất hủ, xuyên thủng một tâm thức khác mà thành thơ-ca, nhạc-thơ. Từ đó ta gọi trong thơ có nhạc, trong nhạc có thơ hay trong thơ có họa trong họa có thơ -thi trung hữu họa, họa trung hữu thi- (Tô Đông Pha) là vậy. Nói cách khác; hồn thi sĩ bùng dậy dưới mọi môi trường của cảm hóa mà thành thơ, nhà thơ là một xúc cảm lớn. Vậy thơ đâu dành cho thi sĩ, thơ đã phát tiết từ lòng mẹ mà ra nhưng tư duy đó lại nằm trong thâm sâu cùng cốc (deeper) của tiềm thức; hơn thế nữa trí năng đang trong thời kỳ mở mang (development) để thành hình ngữ ngôn. Thơ khắp mọi nơi và khắp mọi người, thơ chẳng riêng ai giữa không gian và thời gian này. Cái xúc cảm lớn lao đó chính là cái mơ về, nhưng phải hiện thực để thơ đi vào tư tưởng thi ca: bài thơ hay hoặc dở là do yếu tố đó, nhưng thơ có những đòi hỏi lạ kỳ nghĩa là phải nằm ở giữa Hồn và Thức, phải đồng điệu, quyện vào nhau thì ta thấy được ‘thơ tức là người’. Đọc thơ Nguyễn Du, thơ Nguyễn Trãi cho ta nhận thấy một tri thức uyên bác ở người; bởi họ là ‘con nhà tông không giống lông cũng giống cánh’ có lớp lang, có phẩm trật lại là người học cao, hiểu rộng. Cho nên thơ đã thả vào đó những ý thơ bất diệt, những áng thơ tuyệt cú và đi vào miên viễn thanh cao. Thuở nào cũng thế; làm thơ hay làm văn nó đòi hỏi một tri thức thâm hậu thời mới thành thi văn trác tuyệt; cho nên chi người làm thơ dù trải dài cả một lịch sử làm thơ chăng nữa, giòng thơ đó vẫn ngân nga những giọng điệu xưa cũ không thoát ra được chất thơ vì rằng hồn và thức là một phản ảnh rõ nét. Thơ thật sự cần thiết cho cảm thức và có lợi cho lý trí là hai bề mặt cho đời và người; ấy là Đạo vậy và cốt tủy của thơ được trở nên hiện hữu tối thượng; ấy là Siêu Thoát vậy. Muốn tới con đường đó nhà thơ phải phá chấp hoàn cảnh ngoại giới để xâm nhập vào nội giới dưới một dạng thức dành cho thơ; tuyệt đối không vị ngã, ngay cả ngã mạn trong thơ; vì đó là ý thức Mạt-Na (tức là thức thứ 7 trong 7 thức Mạt-Na) : là bản chất so đo, hơn thua, phô diễn về cái ngã (moi/self/ego) hơn là xuất thần thơ; mấy thứ đó làm băng hoại hồn ‘thi sĩ’, dù có là gì đi nữa cũng thành tro bụi. Thơ là hồn; tức ‘hồn ai nấy giữ’ là vậy. Nhà thơ có uốn nắn con chữ, làm đẹp câu thơ cho bài thơ tràn trề thẩm mỹ quan thì cái hồn đó quẩn quanh trong cái trình độ thơ đó mà thôi. Khó để gọi là thơ siêu thoát. Như đã nói thơ là thức; dù cho thơ biểu hiện dưới hình thức nào hay ẩn tàng, ẩn dụ nét thơ vẫn chứa đựng một chất liệu thanh cao diệu vợi. Thức ở đây không phải là thức tĩnh mà thức là nhận biết (acknowledge of sence) của tri thức. Anh bửa củi đứng giữa rừng cảm tác thành thơ nhưng cảm thức đó là thức của vô-thức-thơ. Hiểu biết tới đó thì thơ tới đó; chớ không thể vượt qua tầm nhìn của tri thức. Hiếm khi mà nắm bắt được cái thức có trình độ. Dẫu có sở học chăng nữa nhưng ‘khí thế’ không phải con nhà tông thì nó cũng lộ ra trong thơ cái đặc chất đó. Suy xét như thế có tính chủ quan và phiến diện. Nhưng đi sâu vào vị thơ ít nhiều có cái chất thơ phản ảnh trong ấy: Nguyễn Bính là nhà thơ trữ tình nhưng nhìn sâu vẫn thấy được khí thế của con nhà thơ và nhiều nhà thơ khác cũng một trường hợp tương tợ cho nên thơ họ giàu là vậy. Thơ không đơn giản, Người ta chỉ liếc nhìn một đôi câu hay nhâm nhi cũng đủ thấy cái thực chất trong thơ một cách trọn vẹn. –Nothing simple. One glance, the repetition half aloud of a couple of verses sufficed (Hermann Hesse by On Poems)* .
Thượng đế cho mỗi người mỗi hồn khác nhau, mỗi mặt khác nhau nhưng phải biết phân bón, vun xới, điểm tô thì cái mầm đó mới phát tiết tinh anh; ngoại trừ thiên bẩm ngay cả hội họa cũng thế đều phải có hồn và thức. Dù có lột cho cạn cùng chất sắc đó nó vẫn còn nguyên trạng của tự nó (itself) trong thơ, trong tranh. Nói chung trên bình diện văn học nghệ thuật đều bao gồm một chất liệu của hồn và thức thời mới liên hợp vào nhau mới sáng tỏ ý và lời, nhất là nhu cầu của thơ. Văn thơ họa nhạc là tương thức.
Trở lại câu hỏi thơ là gì? Thơ là dạng tính của cõi phi. Thơ không là gì cả và chẳng có gì cả để đề xuất hay bình giải mà đi tới bí tỉ, sáo mòn, dẫn chứng lối cổ xưa không còn là hiện đại hóa (modernization) cho một nhận định hay phê bình về thơ. Thơ không đặc câu hỏi mà đã đặc câu hỏi thì không còn là thơ mà hoàn toàn phá vỡ hồn và khí thơ. Ngược lại; thơ là đặc quyền của cái gọi là bất khả tư nghị. Nói thế tất thơ đã khống chế một cái gì của riêng mình? Đành vậy; nhưng phải có tư duy thâm hậu chuyển hóa thành thơ thời mới mong có được ngữ điệu hay ngữ ngôn của thơ. Ở hoàn cảnh này không vì cõi phi mà phá ‘luật’ của giới hạn thơ. Thơ không đòi hỏi cầu kỳ mà đòi hỏi một cái gì như-nhiên trong suốt; có vướng lụy, phàm tục thơ cũng là trong suốt. Điển hình của hai nhà thơ đương đại Hàn Mạc Tử và Tố Hữu. Một chất thơ khoa học thơ và một chất thơ khoa học chánh trị thơ; thời xem cái nào là tồn lưu và cái nào là hủy diệt. Tuy nhiên; không vì quá lãng mạn mà làm cho thơ tắt nghẽn giữa dòng đời trôi chảy, thơ cần phải thông-hóa và không-hóa mới thành thơ. Đó là siêu lý của thơ có tính chất triết học, ngay cả trong thơ bình dân như ca dao, tục ngữ, hò vè đều hàm chứa một triết lý nhân sinh trong đó. Làm thơ là lấy cái tủy của thơ chớ đâu phải viết lên cái cảm thức đó là thành thơ của người thi sĩ. Ngày nay có nhiều nhà thơ đứng trên quan điểm đó; nghĩa là nhìn thấy mình nhiều hơn thấy người. Hẳn nhiên! Nhưng cần có một hòa đồng nhân thế thì thơ mới truyền lưu. Còn như thơ kể chuyện, thơ tự sự, thơ sức khoẻ, thơ ta bà, thơ thời sự vẫn cuộn vào đó cái hiện hữu chính mình, một ‘cái ta’ ẩn tàng trong đó. Thơ như thế khác chi lấy dao chém vào thơ. Kẻ bửa củi, thằng bé lên năm làm thơ là làm thơ. Lão Tử (Lao-Tzu) nói: ‘cho dù đất sét có thể nắn ra cái bình nhưng thực chất của cái bình là trống không’(though clay may be moulded into a vase; the essence of the vase is in the emptiness). Ngày nay thơ vượt bức tường âm thanh qua nhiều giới tính, phát huy qua nhiều thể loại khác nhau, phát sinh nhiều khuynh hướng: siêu thực, dã thú, đa đa, lập thể, thơ lắp, thơ sờ và thơ khối…, Chủ xướng giòng thi ca đương đại: tự do, không vần, thơ xuôi, hình thức, tân hình thức, thơ vô nghĩa và ngay cả thi ca trình diễn…Bất luận xây dựng dưới hình thức nào, thể cách nào. Mặc; ‘cái đặc quyền của cái nghề làm thơ là không cần phải chứng minh, không biện lý mà vẫn thu thập’ (J. M. Guyau) đó mới là thực chất của thơ.

Thơ thường là sự phơi mở hay bày tỏ một cái gì chất chứa trong tim; hầu như những nhà thơ trẻ muốn có một ‘thẩm quyết / verdict’ về cái gì mình muốn nói và muốn tìm đến nhà xuất bản để gởi gắm tâm hồn. Và; những thi sĩ trẻ luôn luôn muốn tạo ngạc nhiên và ‘ngộ’ được cái của mình. Có người; có kinh nghiệm do thiên phú hoặc họ thu lượm được từ bạn đồng song nếu không ấp ủ trong trứng nước của người mẹ họ -if not from their mother’s womb- nghĩa là sinh ra để làm thơ (born to poet). Miệt thị quá! có tài về thơ là một chuyện nhưng tài mà không trí (thức) thì cái đó gọi là thơ xuôi (plane); như đã nói ở trên phải song hành thì mới tuyệt xuất còn bằng không thi uổng công tạo hóa(!). Chân lý mà nói ở cái tuổi dậy thì đã chớm nảy ý thức yêu, đượm trong hồn một tinh thần lãng mạn của tự thức và từ đó xâm nhập vào tiềm thức cho tới khi kết tinh và linh hóa vào trạng huống của thơ và chính sự cớ đó đã chìm lắng vào tâm hồn ‘thi nhân’, do đó; ngàn bài thơ đều vướng tình, thể hiện dưới thể điệu khác nhau, đôi khi ngợi ca, đôi khi che giấu mà tưởng rằng khó có ai biết được nỗi lòng của mình, nhưng thơ tức là người; mà họ tưởng độc quyền trong cõi phi đó. Nếu tương phản được; thời đó là bài thơ hay, cảm hóa được, còn bằng không bài thơ đó không nhìn đó là thơ –if it resembled them; it was good , otherwise it was of no account.(Hermann Hesse / My Belief). Điều này không phải là mục đích càn dở. Nhưng ở đây chúng ta hướng đến nghệ thuật thi ca không những chỉ moi móc bài thơ dở để ‘vạch lá bắt sâu’ mà đào sâu vào cái lý của thơ; cái sự cớ này thường thấy ở những người làm thơ, ngoại trừ bài thơ đó làm ra cho chính họ mà mỗi đôi khi cái quan niệm đó hóa ra tầm thường không cần thiết phải làm, thế nhưng dòng chảy còn tồn tại và cứ nhìn mình là chính, là hay hơn người cho nên ‘posted’ được là nhu cầu của thi nhân. Và; dần dà nó trở thành thói quen (bad habit). Cho nên chuyện làm thơ không phải dễ và đơn giản, vì rằng thơ ai làm cũng được từ thượng vàng hạ cám nhưng phải nói một cách chân chính thơ có ba loại thơ: thơ có hồn, có chất thì gọi là nguồn thơ ‘lý tưởng’, loại này cực siêu để trở nên vô-ngôn-thơ còn hầu hết là loại thơ thường tình, phổ thông, đơn điệu có khi còn gọi là vô-thức-thơ. Có một vài sự cớ hiển lộ ở chính nó đưa tới mơ hồ tối nghĩa (nếu được coi là vô-nghĩa-thơ). Trường hợp như thế bài thơ trở nên tẻ, khô, héo và không có sinh khí; mà là một lỗ trống, như có cái gì bộc phá chống chế thơ.–it was at once boring, dry and lifeless; it was full of holes, something in the rebelled against it. Không chừng nhà thơ cho rằng nhận định như thế là thái độ không hợp thời trang (?). Một đôi khi sự cớ xẩy ra một cách đơn giản, ngẫu nhiên đối với người đọc cho là bài thơ dở và từ đó trở nên định kiến giữa tác phẩm và tác giả. Nhưng không lâu những gì cho là xấu (bad poems), đột nhiên tìm thấy mùi hương trong đó, một cái gì lạ lùng nhân thế, một cái gì hồn nhiên lạ, hiển lộ một cái gì dịu dàng và một cái gì lầm lở, sai sót đều được chạm tới một cách đặc biệt, bởi; tất cả là dấu hiệu thân ái, vui thích một lối bày tỏ trong thơ như một đối chiếu, so sánh của thuật ngữ thơ và làm cho bài thơ đẹp ý, đẹp tình. Gần như một lối chơi chữ có tính bông đùa mà nghe như bình thường. Sở dĩ có những dáng thơ như thế một phần chịu ảnh hưởng quá nhiều trào lưu tư tưởng mới; nhất là các khuynh hướng thơ, đó là nhu cầu đòi hỏi của thời đương đại, ngay cả những nhà thơ của những trường phái khác nhau. Những bài thơ nổi tiếng trước đây đều được coi là dòng thơ cổ điển và đứng sau trào lưu mới, gọi là tân thi ca (new-poetry) nó khống lĩnh toàn cầu để chế ra nhiều thể loại khác nhau. Thi vị hóa từ những nhà thơ trẻ, tâm hồn trẻ, sáng tạo một ngữ ngôn mới lạ, dù rằng đọc lên nghe ngủng ngẳng nhưng lại ăn hợp thời đại. Thi ca đó được gọi là thi ca đương đại, vấn đề của người làm thơ hôm nay là phá luật để tạo hiện tượng. Phỏng chừng như những gì họ sáng tác ra được là hợp tình, hợp lý. Ý thức chủ quan đã đánh đổ họ, nhưng không; đôi khi giòng thơ trẻ làm mới trong cách trình diễn mà không bắt gặp cái dở nằm trong thơ. Lý do dễ tìm thấy nguồn cơn cho một bài thơ: trải vào đó một vài cái không đều đặng như tiếng gào, tiếng dục, dáng điệu một tác động trong hồn sự sống như tìm cái thế phòng ngự cho chính nó hoặc để trở nên ý thức cho một cảm thức qua kinh nghiệm làm thơ. Có thể đó là một phát khởi từ tâm thức mà ra hoặc là chức năng quan trọng không còn là thơ mà là phán xét hay, dở của bài thơ. Có vô vàn ngẫu hứng thành thơ và có vô vàn lý do trong ngữ ngôn của thơ. Không có thi nhân nào hay hơn thi nhân nào, không có thi nhân nào là đúng hơn cả để yên vị vào đó –No one of them does better than the others, no one is more in the right than the rest (The Soul of Poems by Hermann Hesse).
Thời bây giờ; những bài thơ ‘đẹp’ tuồng như có nghi ngờ cái gì không thực trong đó và một cái gì lấn cấn trong đó, những thứ đó đã thuần hóa và thích nghi như chuyên môn và nghi thức.Và; tuồng như là thế giới riêng tư của nhà thơ, đỏm dáng tỏ ra hay chữ; cái đó hoàn toàn ngố ngáo đến người đọc và làm cho người ta nghĩ đến cái hay không còn nữa ở bài thơ đẹp (beautiful poems). Để rồi cùng nhau chấp thuận dễ dàng, tất cả thuần thục, tất cả giống như thân ruột, đăng đàn diễn tế một cách vô tư. Tư duy đó đứng lại ở người làm thơ, còn tư duy của người đọc là chạy cho tới khi đụng phải một vị thơ thực chất, trong sáng không chứa chất vị ngã. Chớ đừng nghĩ bài thơ xấu là dở; nó vẫn có cái tinh anh của nó .Từ đó người ta thấy cái đẹp trong cái xấu của thơ (beautiful ‘bad-poems’). Như thế không một bài thơ nào có thể cho là dở tệ. Cần phải chiêm nghiệm mới thấy được thơ. Ngay những bài thơ năm ba chữ là thể loại khó đúc kết, nếu chứa một bản ngã tự tại, vì; thơ hay văn mà có ‘cái đáng ghét’ trong đó thời thể loại đó coi như không phải là thơ. Loại đó chỉ là thể thơ trình diễn dưới một góc độ nào đó thôi. Bất luận là gì phải có hồn và thức mới kết duyên với thơ. Nhớ cho! Cảm hứng đưa tới thơ, chớ thơ không đưa tới cảm hứng. Thơ dễ cho mọi người nhưng thơ rất chướng khí và khó tính; được cái là giàu lòng vị tha. Ở điểm đó mà thơ mọc lên như cỏ. ‘Thượng đế đã sanh ra nhiều thi sĩ nhưng lại rất ít thơ’ (Charles Bukowski).

Giờ đây có một vài điều xẩy ra trong thơ với điều kiện giảm đi nỗi ưu tư, ràng buộc luật lệ hay cả nể mà cần buông thả để cho thơ được tự do, có thể đó là điều làm cho nhà thơ nhẹ nhõm tâm hồn cho mình và cho người khác, có thể là một linh động và một cảm thức trong thơ. Đó là một bài thơ đẹp! Dù cho đây là điều chắc chắn vô nghĩa (no means). Bài thơ ‘đẹp’ (ý và lời) làm cho nhà thơ yêu qúy, phẩm chất của thơ đã tạo được phần nào giá trị của thơ; đó là cái không cần phải chú ý đến ngọn nguồn thơ, thần thánh hóa hay vô tội của thơ; những thứ đó đi vào tâm của thi nhân bằng tất cả giác quan và ý thức, khêu gợi trong ký ức thâm sâu những gì khoái cảm tiền kiếp hay về một cõi xa mờ đã khuất. Vì thế thơ dở hay thơ hay chỉ đến trong một khoảnh khắc ngắn ngủi để rồi đánh giá một cách vội vàng. Vậy thì đọc thơ làm chi? Không một thi sĩ nào lại đi làm một hay nhiều bài thơ dở cho chính họ? Thử xem và sẽ thấy những dấu hiệu trong thơ dở. Nói cho ngay đôi khi trong cái dở nó đã làm cho mình thích thú, hơn là đọc những bài thơ hay có tính từ chương, qui luật vô hình trung tạo cảm giác lạ lùng, xa lạ không chừng lại chóng quên. Đứng trên lăng kính này không thể cho ta một định nghĩa xác quyết về thơ, trong hồn thơ nó bao hàm và chứa đựng cái ‘thánh thể’ ẩn tàng mà làm cho thi ca trở nên sinh động ngay cả bài thơ dở cũng có cái sinh động của nó. Cái sự diễn giải thơ tợ như diễn giải phim ảnh; nghĩa là có khúc cần phải giữ và có khúc cần phải cắt bỏ, cốt tạo một bố cục chặt chẽ. Tuy nhiên những bài thơ như thế vẫn liên hoàn. Cho nên chi dưới bất cứ dạng thơ nào đều có một giá trị tối thượng của nó. Phê bình thơ là một nhầm lẫn, là ‘tội ác’ đã khai chiến với thơ, nhưng cũng đừng vin vào thơ để tàn phá thơ; chỉ có những kẻ ngoại đạo đứng ngoài giáo đường thơ mới hành xử như thế, bởi; họ chưa đạt tới cái tinh anh hiển lộ trong thơ. Cũng không trách điều này vì thơ muôn vàn lý sự của nó. Nó có một cõi riêng, bởi; cái đẹp của thơ tạo nên cái nhìn khát vọng, tạo một vũ trụ thơ, vũ trụ của dự cuộc. Do đó thi ca có một quyền hạng tối hậu: bất khả thi và bất khả tư nghị. ‘thi thị khả giảng bất khả giảng chi gian’. Là thế đó!
Thi ca trong sáng và thực chất là thi ca thời thượng, qúy phái, trang trọng. Thơ siêu thoát là thơ không trói buộc, hệ lụy hay vị ngã mà trong đó phải có hồn và thức thời mới hòa hợp trọn vẹn lẫn ý và lời dù là thơ bình dân đi nữa. Thơ đời nào cũng vậy hay bất cứ trường phái, khuynh hướng nào, dưới mọi dạng thức trình diễn của thơ; việc yêu cầu tối thiểu là phải thoát tục và thực tướng của thơ thời mới thành thơ ./.

VÕ CÔNG LIÊM (ca.ab.yyc 17/8/2014)

* Hermann Hess (1877-1962) Văn thi sĩ Đức. Nobel Văn chương 1946.

CỤM HOA TRƯỚC GIÓ

VÕ CÔNG LIÊM

caysung4

NGỦ ĐÒ

sáng mồng một thả trôi con nước một mình
bóng hình em dài tay như chó ốm buồn
trăng chao động hồn ai khua thức dậy
em lột trần em cho gió bỏ hoang sơ

ĐOẠN CUỐI

tình yêu tắt thở hồi chiến sự
một nhánh đào non phơi trước ngõ
ngoảnh đầu về xưa ta cùng nhớ
hai đứa mình rất đổi ngạc nhiên

HƯƠNG THÀNH NỘI

em . nằm úp mặt khóc chiều giông tới
tôi . đút cô đơn vô bốn cửa thành

NGUYỆT

quỳnh nở hoang đêm tóc rối ngủ
bỏ lại đường xưa bóng ngã chiều

HOA PHÙ DUNG

thả cụm khói thỏa mãn
vào hư vô
ngắt cành hoa thù tạc
một mình tôi
nằm đơn chiếc ru buồn ngủ
một thoáng mơ hồ lạc ngả đường mưa

THƯ GỞI NGƯỜI TÌNH CŨ
tặng chị mộng nhiên

năm mười lăm trưởng thành trước tuổi để
tặng em chùm hoa dại trong nắng ban trưa
những gì xẫy ra sau đó em tròn hai mươi tuổi
cách năm tuổi đời bỗng nhớ buổi tròn trăng . em
ngả nghiêng cười đột ngột tắm nắng tháng hè sang
tôi . ăn trái cấm nguyên thủy đầu đời giọng nói u ơ
bỗng nhớ một cái gì chưa đạt yêu cầu để gọi tên em
hương-nguyệt-quế lần gặp gỡ cho đở khát giữa lúc
em gọi tên tôi con thú hoang suốt đời lang thang vô
thừa nhận giờ thứ hai lăm giới nghiêm cấm ngặt
tôi vẫn không tìm thấy em trong đó trước gương
soi đôi lưỡng quyền cao vời vợi nơi mặt trời ngã
xuống dòng sông trải dài tiếng chuông chiều gọi đò
qua bên kia mà tôi đang ngóng đợi một nụ cười
giao tình như lần gặp gở . lúc đó tôi muốn nhào tới
ôm vào ngực em để nghe thở từng khúc thêm kỉ niệm
và đọc lại những bức thư tình đến người thi sĩ trẻ của
rainer maria rilker như tôi gởi cho em bao nhiêu lần
gặp trên đường về từ sở thông tin thừa thiên huế
tôi đuổi mắt nhìn sau lưng em với đôi mông tròn no
hình như trong gió có tiếng nói thì thầm trên chiếc cầu gãy
làm cho đôi bờ sông nghẽn đục tiếng hò lơ mời gọi
tôi và em làm tình mưởng tượng trên sóng nước và hôn
lên má thắm giai nhân tợ như còn sót lại bên cầu vĩ tuyến
chúng mình là kẻ vong nô tình yêu không thể đổi thay mà
chấp nhận thương đau để đi vào đời thênh thang lộng gió
thổi ngang đầu và tóc em vuốt mặt tôi lần cuối cho tới
bây giờ chúng mình là cây san hô muôn màu dưới đáy biển
bây giờ chúng mình là rong rêu đu đưa những khúc tình
bây giờ chúng mình là tiếng sóng dương cầm theo sau đó
mãi mãi là tình yêu trăng sao như đã hứa ngày đầu mới gặp
em trên đường về . tôi chống nạnh bên chiếc xe đạp sơn màu
vàng thổ là quê hương mình đó có sắn ngô khoai thay gạo
đỏ nấu cháo với cá kho khô . nhớ không em . khi đã yêu
khó tìm thấy một mộng nhiên của thuở ban đầu trên đường
vào xóm ô lâu như chuyện thần thoại để nghe từng bước chân
âm thầm trên thềm gạch bát tràng in dấu hoang sơ một dạo
tôi hóa thân con thú dữ cắn xé mắt môi em
cho lệch đường ngôi . cuối cùng xin chiếc lá bàng làm
bằng chứng yêu em* (nhà em có nhiều cây bàng lá đỏ !)

trước khi treo mình trên ngọn cao
gió tạt mưa xan một kiếp giang hồ tận ./.

VÕ CÔNG LIÊM (ca.ab.yyc đầu tháng 6/2020)

*nhại ý thơ Nguyễn Đình Toàn.

 

KẺ ĂN MÀY

Võ Công Liêm chuyển ngữ

vcl ke an may

Tranh Vẽ Võ Công Liêm “Kẻ Ăn Mày”

GIỚI THIỆU: Trong phạm vi phát triển về văn chương nước Nga. Anton Chekhov phá cách đường lối xưa cũ dựng vào đó một văn phong mới lạ với những truyện không có câu chuyện, nhưng được chú ý nhiều nhất. Giọng văn trung thực và có khuynh hướng nói lên vai trò làm người ở tk. mười chín là nhịp cầu đi tới tk. hai mươi. Những sự kiện rất mới lạ có từ những gì lớn lao mà ông đã gặp trong đời. Truyên ngắn ‘Kẻ Ăn Mày / The Beggar’ được xuất bản lần đầu có tên là ‘Nishchii’ đăng trên báo Petersburg vào ngày 19 tháng Giêng 1887. Những truyện của ông viết có tính chất năng động và thảm cảnh xã hội; ngụ ý hơn là miêu tả công khai, để lại cho độc giả nhiều hình ảnh bất ngờ. Chekhov sống và thấy đều được diễn tả dưới ngòi bút trung thực và chân tình với một chất liệu luân lý đạo đức có mục tiêu rõ ràng trong mỗi tác phẩm truyện của ông. (vcl).

***

‘Bẩm ngài, xin cho một chút tình thương, ngó tới kẻ khốn cùng này, một thằng đói rách! Ba ngày nay tôi không có một hột cơm. Cũng không có nổi năm xu để thuê một chỗ nằm. Tôi xin thề trước Chúa.
Ở tám tuổi tôi học với thầy giáo làng để rồi tôi mất luôn cái nơi cần tới nó. Tôi đọa ngoạ như kẻ bị oan. Suốt cả năm trời giờ đây tôi phải có việc để làm…’
Luật sư biện hộ Khavôsốp (Skvorsov) nhìn vào cái xác xơ bần cùng, mớ tóc nâu vàng, khoát bộ mặt thảm sầu, ngu si đần độn ở nơi hắn, đôi mắt lờ đờ như kẻ say lại thêm mụn đỏ trên gò má, hình như đã gặp hắn đâu đây; nếu thật là người mà tôi đã gặp .
Tôi hiện công tác của tỉnh hạt Kaluga. Kẻ ăn mày tiến lại: ‘nhưng tôi không có một xu dính túi. Giúp tôi đi, rũ lòng thương, tôi xấu hổ phải nói điều này, nhưng; tôi buộc lòng bởi đây là hoàn cảnh’.
Đôi mắt của Khavôsốp dòm xuống đôi giày bốt to tướng của người đàn ông, một chiếc cao, một chiếc thấp, đột nhiên y nhớ ra điều gì. Coi kià; việc này đến với tôi. Tôi đã gặp hắn trước một ngày hôm qua trên đường Sadovaya. Luật sư biện hộ nói. Nhưng; hình như anh đã nói với tôi anh là học trò đã bị tống ra khỏi đó mà không có thầy giáo làng. Anh nhớ không?
‘Không! không! không phải vậy’ Người ăn mày lẩm bẩm trong miệng, đoạn lại nói. ‘Tôi là thầy giáo làng, và nếu ông muốn tôi trình giấy tờ cho mà xem’.
‘Đừng đặt bày nghe! Anh nhớ lại đi, chính anh là học trò ở trường làng, ngay cả việc tống anh ra khỏi trường. Anh không nhớ sao?’
Khavôsốp đỏ bừng mặt, quay đầu về kẻ ăn mày mà nhìn ra vẻ bỏ ghét.
‘Đây là điều không thực, thưa ngài!’. Hắn vừa khóc vừa nói. Đây là hành động lừa gạt, bịp bợm. Tôi sẽ đưa anh tới cảnh sát. Rõ khốn! Cho dù anh là kẻ cơ hàn, đói rách, việc đó không cần phải gian dối một cách vô liêm sĩ và xấu hổ’.
Như kẻ thất hồn, thất viá đẩy cửa bước vào và nhìn lấm la, lấm lét quanh dinh thự tợ như kẻ trộm.
‘Tôi . Tôi không láo’ Hắn lẩm bẩm trong miệng. ‘tôi có thể trình giấy chứng minh thư cho ông xem’
‘Ai mà tin hắn cho được?’ Khavôsốp vẫn còn tức. ‘Anh không biết rằng điều này rất là hèn hạ, lừa bịp ảnh hưởng tới tình cảm, việc này chạm tới nhà giáo và học sinh trong xã hội? Coi việc đó như dấy loạn!’
Khavôsốp mất tính hòa nhã và bắt đầu quở trách không còn thương xót kẻ ăn mày. Sự khinh suất đó làm cho người đói rách giận dữ thêm ra. Khavôsốp đánh giá ở chính ông ta một con người tốt, tâm hồn dịu dàng, lòng xót thương cho tất cả những gì bất hạnh. Đặc nó trong một sự thử thách hàng đầu với một ít vấn đề cho ông ta, như thấy ở mình thái độ bất kính người nghèo; sự đó cần trải lòng đến người cùng khổ, cần có lương tâm ở nơi ông.Trước sự lãnh đạm của người thất thế tiếp tục phản kháng cái vô tội đó, nhưng; sớm muộn sự im lặng sẽ bùng dậy mà nghĩ tới thắt cổ trong cái việc thất bại này.
‘Thưa ngài’ Kẻ ăn mày nói. Hắn đặc tay lên trái tim. ‘Sự thể là thế! Tôi – đã nói láo! Tôi chẳng phải học trò mà chẳng phải thầy giáo.Tất cả là giả tưởng. Xưa tôi hát trong ca đoàn Nga rồi hất tôi ra cho tôi là thằng rượu chè, ăn chơi trác táng. Nhưng; không còn cách gì hơn? Tôi không thể dối trá’. Không một ai cho tôi bất cứ cái gì để tôi nói lên sự thật. Với sự thật người ta có thể đói mà chết hoặc chết lạnh vì thiếu ăn. Lý lẽ đó hợp lý, Tôi hiểu, nhưng; tôi có thể làm được gì?
‘Ông làm được gì?. Anh hỏi tôi làm được gì?’ Khavôsốp hét lớn, đến gần kẻ ăn mày. ‘Làm thôi! Những gì anh làm được! Anh phải làm!’.
‘Làm –vâng , tôi biết ở chính tôi, nhưng; ở đâu để tôi tìm việc làm?’.
Chúa ơi! Ông phán xét quá đáng. Quát lên!. Kẻ ăn mày mỉm nụ cười cay đắng.
‘Ờ đâu tôi có thể tìm ra việc làm bằng tay chân?’. ‘Thiệt là quá trễ cho tôi trở nên nhân viên thư ký; bởi trong cái việc trao đổi, giao thương người ta tìm đến những người trai trẻ; không ai lại đi nhận tôi cho làm phu khuân vác hay người gác gian, mà người đó chưa một lần vào đời, và; tôi biết là không ai thuê mướn tôi đâu’.
‘Vô lý! Ông luôn luôn đứng về phiá pháp lý! Thì làm thế nào anh bửa củi cho tôi?’
‘Tôi không thể từ chối việc đó, nhưng ngồi đây dù khéo việc bửa củi mà không có cơm ăn thì cũng như không’.
Hừ ! Anh có vòng vo trong cách nói nầy nói nọ. Quá lắm; thì cũng không cần đến anh mà anh đã từ chối. Việc bửa củi dành cho tôi phải không?’
‘Dạ thưa ngài; tôi muốn’.
‘Tốt lắm. Chúng ta sẽ tìm việc để làm. Tuyệt vời – chúng ta sẽ gặp lại’.
Khavôsốp lúng túng, đôi tay run run liên tiếp; không có cảm giác gì ác ý cả để rồi bỗng dưng nhớ bửa ăn gà ngoài trời.
‘Đây! O-gà (Olga) Ông ta nói: ‘đưa người đàn ông này vào trong chòi gỗ và để cho ông ta bửa củi’.
Người hắn trông như thằng bù nhìn áo quần rách tươm, quằn đôi vai xuống như thể là hốt hoảng, phân vân điều gì sau khi ăn uống, hẳn nhiên thấy được cái sự rề rề của hắn là biết hắn không ưa việc bửa củi, vì hắn quá đói mà lại bắt làm, dễ hiểu thôi, bởi; hắn tự trọng và cả nể đấy mà, chớ thật tình hắn kẹt mà không nói nên lời. Đúng thế, hắn luôn nghĩ tới thứ rượu trắng vô-ka, cái đó làm cho sức khoẻ của hắn yếu mòn và không còn cảm giác gì để nghiêng về việc làm ăn một cách cần cù, chịu khó.
Khavôsốp vội vã đi vào phòng ăn.Từ cửa sổ người ta có thể thấy cái chòi gỗ và mọi thứ khác đổ dồn vào trong sân. Đứng bên cửa sổ Khavôsốp thấy mùi khói nấu và kẻ ăn mày ra khỏi sân vườn với cửa sau, băng qua con đường tuyết dơ để đến chòi gỗ. O-gà, nàng nhìn xoi bói, phẩn nộ vào người làm thuê, lấy cùi chỏ đẩy hắn qua một bên, không cần khóa cửa và giận dữ đá mạnh cánh cửa chòi. Rồi bỏ đi.
‘Chúng ta có thể gián đoạn khi người đàn bà đi qua với tách cà phê’ – ‘cái gì gây ra giữa lúc này’ Khavôsốp nghĩ lung tung chả đúng lúc, đúng chỗ.
Kế tới hắn thấy mình là thầy giáo giả, học sinh giả ngồi cạnh hắn trên khúc gỗ dài và bỗng nhiên nhớ tới cái nhọt đỏ trên gò má hắn đã có từ lâu. Người đàn bà chặt phụp cái rìu xuống gần chân hắn, cải cọ hết sức giận dữ với những lời lẩm bẩm trên môi, bắt đầu quở trách hắn một cách vô cớ. Kẻ ăn mày rụt rè kéo miếng gỗ nhỏ về phiá hắn, đặc giữa đôi chân và vỗ nhẹ lên chiếc rìu. Lơ lửng như muốn té xuống. Kẻ ăn mày một lần nữa kéo miếng gỗ về phía hắn, thổi nhẹ lên đôi tay lạnh cóng và gõ nhẹ lên cái rìu một cách thận trọng, hắn sợ đụng lên đôi bốt của hắn hoặc vô ý cắt đứt mấy ngón tay. Đôi đũa gỗ rơi xuống mặt đất nghe nhẹ nhàng, hắn đưa mắt nhìn.
Cơn giận dữ của Khavôsốp đã biến mất, giờ đây cảm thấy có một chút ân hận và cả thẹn bởi chính ông, vin vào những gì hư hỏng, say sưa, những đau ốm đột ngột, đẩy người ta làm việc giữa mùa giá lạnh.
‘Được, không sao’ Ông ta nghĩ vậy. Đi tới phòng làm việc ngang qua phòng ăn ‘Tôi làm đúng mà’.
Một giờ sau O-gà đến và báo cáo với Khavôsốp củi đã chất đầy trong chòi.
‘Tốt! Đưa cho hắn nửa hào Nga’ Khavôsôp nói. ‘Nếu hắn muốn trở lại để bửa củi vào ngày đầu của mỗi tháng. Thời chúng ta tìm việc cho hắn làm’.
Ngày đầu của tháng hắn đến với cái vẻ túng thiếu thì tìm việc cho hắn làm với giá nửa hào Nga, dù hắn có đứng trơ người ra năn nỉ cũng thế thôi.
Từ đó về sau hắn thường có mặt ở sân vườn; cứ thế mà kiếm việc cho hắn làm. Bi chừ thì hắn lấy xên mà xúc tuyết, rồi kêu hắn sắp củi cho ngay ngắn trong chòi, đập bụi nơi mấy tấm thảm và nệm ngủ. Cứ thế hắn nhận từ hai mươi đến bốn mươi đồng Nga và mỗi khi như thế cho hắn một đôi cái quần cũ.
Cùng lúc đó thì Khavôsốp dọn tới một nơi khác, ông ta mướn hắn phụ giúp đóng gói và chuyển một số đồ đạc. Lúc này kẻ ăn mày không còn say sưa, không còn ủ dột mà trở nên ít nói. Hắn bưng vác những thứ quá nặng và đi theo sau chiếc xe thùng chất đầy đầu, thế mà không mấy bận rộn. Hắn chỉ rùng mình vì lạnh và trở nên bối rối khi đó tay lái xe nhạo báng cho hắn lười, gã quá yếu đuối, nói chuyện tầm phào không có chi lạ ngoài cái áo khoát đẹp muốn khoe. Sau đó chuyển hết đồ mà Khavôsốp đã giao cho hắn.
‘À nè; tôi thấy lời lẽ của tôi có hiệu quả’ Biện lý nói; trong tay cầm một đồng xu Nga.’ Đây nè cho cái nhọc nhằn của anh. Tôi thấy anh có vẻ lo ngại và không phản đối việc làm. Anh tên gì?’
‘Lư-kốp’ (Lushkov).
Được, Lư-kốp; bây giờ tôi cung cấp cho anh một việc khác, công ty vệ sinh. Anh viết được không?’
‘Tôi viết được’.
Ngày mai cầm thư này đến bạn tôi và họ sẽ cho anh biết việc để làm. Làm chăm, không rượu chè, hút xách và nhớ những gì tôi dặn anh. Chào!’
Đưa anh đến đúng chỗ rồi đó. Khavôsốp vỗ nhẹ vào vai Lư-kốp một cách thân mật, nói cho ngay giúp hắn một tay đở được phần nào. Lư-kốp cầm lấy bức thư và kể từ đó không còn làm sân nhà và chòi gỗ.
Hai năm qua. Vào một buổi chiều, thấy Khavôsốp đút tay lấy vé đi xem hát, hắn nhận ra một người nhỏ nhắn đứng bên cạnh ông biện lý với chiếc áo cổ lông thú cũ kỹ và cái mũ da hải cẩu đã bạc màu. Người đàn ông nhỏ thó rụt rè hỏi người bán vé cho một chỗ ngồi dành riêng, mỗi vé thêm hai đồng hào Nga.
“Lư-kốp, anh phải không?’ Khavôsốp thốt. Có nhận ra người đàn ông nhỏ thó này trước kia cũng bửa củi. Anh khoẻ mạnh không? Anh làm gì nơi đây? Thế nào công việc đến đâu rồi?’.
‘Tốt! Bây giờ tôi là công chứng viên vô nghạch và lương tôi một tháng ba mươi lăm đồng rúp-Nga’.
‘Cảm ơn Trời! Quá qúy.Tôi sung sướng cho việc làm của anh. Tôi hãnh diện, rất hãnh diện Lư-kốp. Trong nhận thức, anh biết, anh là đứa con yêu của Chúa. Tôi đưa anh vào con đường sáng, anh biết chứ. Ê! anh nhớ không những gì nung nấu trong tôi là dành cho anh. Đôi chân tôi như muốn chôn cứng xuống lòng đất ngày đầu gặp anh hôm đó. Cám ơn, cám ơn con người già nua này cho tôi không quên những lời lẽ của tôi’.
‘Tôi cũng cám ơn anh luôn’. Lư-kốp nói. ‘Nếu tôi không đến với anh thời chắc tôi cứ cho tôi là thầy giáo hay là học sinh của ngày nay. Đúng đấy; tôi như con chim lạc bầy nay bay đến để được anh che chở, tôi lôi tôi ra khỏi điạ ngục trần gian này. ‘Tôi quá sung sướng. Quả vậy’.
‘Cám ơn những tiếng nói chân tình và việc làm. Ông nói những gì trong sáng, tốt đẹp cho đời tôi. Tôi rất biết ơn ông và dạy cho tôi mọi điều kể cả nấu ăn. Chúa sẽ ban ơn và cho anh gặp một người đàn bà đôn hậu! Ông thốt lời hay ý đẹp và tôi sẽ là người chịu ơn ông cho tới ngày nằm xuống, nhưng; nói đúng ra, đó là những gì ông cho tôi ăn. O-gà, cô ta đã cứu giúp tôi’.
‘Cái gì thế?’
‘Như thế này. Khi đầu tôi đến nhà ông ngày đầu được giao việc bửa củi, O-gà cô ta thường bắt đầu bằng tiếng nói: ‘Ôi! anh say rồi hả anh’ Ôi ! sao anh tạo ra sự khốn đốn! Không có chi nơi anh chỉ còn lại sự tồi tệ’. Cuối cùng nàng ngồi đối diện với tôi và trở nên buồn, nhìn vào mặt tôi mà khóc. ‘Ôi! anh thật là người đàn ông xui nhiều hơn may. Không có gì làm anh hài lòng trong thế giới này và ở đây sẽ là không trong cái thế giới anh đến. Tất cả là không. Anh là thằng nghiện ngập! Anh sẽ xuống điạ ngục. Ôi chao! anh là thằng bất hạnh’. Và rồi nàng sẽ gánh vác hết thảy. anh biết rồi đó, nó nằm trong trạng thái căng thẳng. Tôi không nói cho nàng biết bao nhiêu bí ẩn và khổ đau, biết bao nhiêu nước mắt và mồ hôi nàng đã đổ xuống trong công việc của tôi. Những việc chính, nàng còn bửa củi cho tôi. Thưa ngài, ông có biết bửa củi tôi chẳng bẻ một que nhỏ cho ông, chớ đừng nói bửa? Nàng O-gà làm hết thảy. Tại sao nàng cứu giúp tôi, tại sao tôi thay đổi, tại sao tôi bỏ uống rượu, dưới mắt nàng tôi không thể giải thích. Tôi chỉ biết rằng, nợ nàng những lời ăn tiếng nói và việc làm cao thượng, một thay đổi chiếm cứ hồn tôi. O-gà đưa tôi đến con đường ngay thẳng và tôi sẽ không bao giờ quên. Để rồi; đến lúc bắt đầu đi; đi tới cái chuông đang dộng từng hồi. Lư-kốp cúi đầu chào và rời khỏi chỗ dành ưu tiên trong rạp hát ./.

VÕ CÔNG LIÊM (ca.ab.yyc . 1 tháng 6/2020)

*’Kẻ ăn mày/The Beggar’ Trong tuyển tập của Anton Chekhov (1860-1904). Nhà văn, nhà viết kịch sanh ở Nga và chết ở Đức.
Nguyên bản tiếng Anh của Joe Andrew by Wordworth Classics. Võcôngliêm chuyển sang Việt ngữ.
TRANH VẼ: ‘1943’ Khổ 15” X 25” Trên giấy cứng. Acrylics+India-ink+House-paint. Vcl#1552017.

1943

GIỚI NGHIÊM

VÕ CÔNG LIÊM

corona virus

ôn dịch
đại họa phủ sóng khắp nơi
bế môn tỏa cảng ăn chơi cọ mình
ngồi buồn . gải háng dái lăn tăn
nhớ xưa truyền hịch chống xâm lăng
ngày nay truyền dịch tràn lan mọi người
em . trốn dịch cho đời không thấy mặt
tôi . trốn dịch như trốn lính đầu quân ngày nào
có đánh nhau đâu mà thua thiệt
kẻ thù bất cộng đái thiên
tại trời hay tại nhân gian
hay là có kẻ chơi trong giấu ngoài ?
giới nghiêm
cuộc chiến đã tàn chưa
cho tôi đi lại thênh thang giữa đời
hát vu vơ hát điên cuồng
cho em dắt chó giữa đường cái quan
sống chỉ một lần chết mãi nghìn sau
giới nghiêm
sáng dưa
trưa muối
túi cà
ăn chay niệm phật một thời hư ăn
làm thân tế độ kiếp này được tha
để cho mai mốt không còn có chi
ôn dịch
đại họa
toàn cầu
sống chết bất thường chả sợ ma trơi
cá chết không thúi sông
cọp chết để da
người ta chết để tiếng
mộ chí ghi tên
chết cho ôn dịch thần sầu
một đời
khó quên
giới nghiêm
với chuyện ta bà
thuở xưa có dịch
mà đâu cấm đường
chết vô tư
chết bình thường
không sợ dịch
chả sợ ma
hề ! giới nghiêm

thằng bé
buồn cười
hơn
buồn khóc ./.

VÕ CÔNG LIÊM (ca.ab.yyc. mùa dịch covid-19 / cuối tháng 5/2020)

CHIỀU NGỒI BÊN CỬA SỔ

VÕ CÔNG LIÊM

beach-and-sunset

thu về chưa nhỉ ?
mà nắng đợi trên cành
tóc bay từng sợi nhớ
nghe nhẹ tâm hồn đau
một sáng buồn dâng hương
và . hoa gãy trên tay
những đóa hồng lẻ loi
để nắng thu về trong mắt trong
những bước chân xưa níu kéo trời dĩ vãng
chiều khoanh tay bên cửa đợi gió bay về
sáng rực rỡ hồn đi vào tịch mịch
cho lang thang ngày qua mau trên bước đường tùng lộ
đôm đốm sáng trời đêm mở hội dọc bờ hương lau lách
tháng năm còn lại rủ bóng theo nhau sóng cuốn xa bờ
đêm trầm mình trôi theo sông trôi ngày lệ ứa trong tim
tình tôi đầu ngọn gió
một trời biền biệt xa
đợi trăng về giữa chốn tịch liêu
mưa dội bùn cong khung nhớ
mà nắng vẫn phả vào mắt môi em long lanh
cho tôi về một mình trong nỗi nhớ
tháng tư . tháng năm . đầu hạ chợp chờn mưa rụng
thêm bao la trên từng ngón thon dài thuở măng non
tôi . lêu bêu như gã điên khùng
vườn khua thức để hoang mang đụng phải thân gầy
mấy độ thu về cho mưa thở dài đau nhói tình tan
và . trong bất chợt thấy mình du đãng
giữa cõi đời tay trắng trắng tay
lửa tắt rồi cho tâm tư chợt nhớ
ngày ốm bệnh căng con chữ trên tàn lá
vàng xưa ngồi chẻ tóc trắng bay
cho đá nghe kinh ngậm sầu nhân thế
âm u vọt nhảy từng giọt sương mù
tiễn đưa người cho trọn kiếp đời sau

chiều ngồi bên cửa sổ
nghe ngóng tin vui . tôi
khẽ chạm vào hồn . em ./.

VÕ CÔNG LIÊM (ca.ab.yyc. mùa dịch 5/2020)

CUỘC ĐỜI Và SỰ LỚN DẦN Của TRÍ TUỆ

VÕ CÔNG LIÊM

image001

TRANH VẼ VÕ CÔNG LIÊM : Người đội nón đen / Man with black hat..

Sự đó nghe qua như bài bản (test) cũ kỹ, chả phải mới, bởi; con người và thời gian là một trải nghiệm rộng rãi, nó phát ra từ suy tư để hình thành cho một văn bản, điều đó quả như thông thường cho một thế hệ đã qua –it was quite a generation ago giữa cuộc đời đang sống; một thiết kế dàn dựng để trở thành văn. Nói ra có tính triết lý: giả như văn bản gởi đi, thì sự đó như biết trước rằng nó sẽ biến mất và chắc chắn trong tiến trình nó sẽ không để lại những gì chứng minh cho sự việc;‘test’ trở nên lời nhắn gởi. Nhưng thực ra đó là một chuẩn bị qua kinh nghiệm thâu tóm để thành văn bản. Điều này là một thực hành thông thường và phổ biến qua những gì gây ra từ trí tuệ: của khôn ngoan hay ngu xuẩn. Thực tế nó chỉ là bài bản không cần thiết. Nhưng; đứng về mặc khác thì nó là một diễn trình của cuộc đời và sự lớn dần của trí tuệ -the Life and Growth of the Mind- trong mỗi con người khi hành động. Cho nên chi cuộc đời là một biến động dữ dội, nhưng trong tiến trình của lớn dần có khi tưởng tượng mà trở nên kỳ quái và không thực, trong khi chúng ta đang trực diện trước một hoàn cảnh thử thách, bởi; trong thử thách là đe dọa đến tính mệnh con người. Người ta thành lập hàng rào phòng thủ cho một bệnh lý tâm thần và thể xác; dựng vào đó những gì có tính cách ‘huyền thoại’. Nhưng; nó hẳn là không thực? –But is it actually so unreal? Chúng ta không nghĩ vậy. Bởi; thực chất của sự kiện vốn đã xẫy ra, những gì đã cảnh báo là quan tâm trước một hiện tượng liên đới giữa người với người. Nó đã trở thành văn bản hiện thực, nếu thực sự có mặt ở đó, thế nhưng; người ta vẫn theo đuổi và tìm hiểu nguồn cơn tự sự do đâu mà có và đến từ đâu, người ta phớt lờ về điều này mà ngấm ngầm trong phương hướng khác giữa kinh tế và chính trị; đấy là sự lớn dần có qui mô bên ngoài của sự lý. Một dữ kiện lạ lùng về trí tuệ của con người, mà sự kiện hoàn toàn khác lạ một cách đột ngột thấy rõ (sharply) có từ thân thể con người mà ra. Dấu hiệu khác cho thấy rằng những gì ở đây là định vị một cách chính xác việc tăng trưởng trong sự ngay thẳng để phát triển bén nhạy, khéo léo và thanh cao. Trên thực tế những thể xác của con người đã bắt đầu đi tới suy giảm bởi thời gian –in fact; many persons’ bodies have begun to deteriorate by that time.

Dẫu là gì trong tình thế biến đổi bất thường hoặc đứng trước một viễn cảnh suy thoái mà ảnh hưởng đến tinh thần và thể xác, nhưng không phải vì thế mà làm ‘cụt hứng’ trong tư thế phát triển; khoa học võ trang một thứ vũ khí mới để chinh phục, nhưng; nhớ cho điều này không có giới hạn để đưa tới một tổng số của sự lớn dần và phát triển; cái đó trí tuệ có thể chế ngự được –But there is no limit to the amount of growth and development; that the mind can sustain. Trí tuệ không thể ngưng phát tiết ở bất cứ tác nhân nào hay tuổi tác. –The mind does not stop growing at any particular age. Phát triển theo mức độ thời gian, chính vì thời gian đã đưa tới một tác động suy thoái / deterioration qua từng ngày tháng…
Trí tuệ có thể teo rút giống như cơ bắp; nếu nó không dùng tới hay vận động. Teo rút trí tuệ cơ bắp là hình phạt, là những gì chúng ta bỏ quên việc tôi luyện. Sự đó là chứng cứ của việc hao mòn trí tuệ là con bệnh cực kỳ ghê gớm –atrophy of the mind is a mortal disease. Cho nên chi ‘động não’ là một tác động thực hành cho cơ não (trí tuệ) được cân bằng, hấp thụ thứ ánh sáng mới đầy chất sáng tạo hơn.
Như đã giải ở trên, con người và thời gian là một trải nghiệm nó phát ra từ suy tư để thành văn bản, dữ kiện đó trở nên thông thường; bài bản không còn là sáng tạo mà nó đi qua kinh nghiệm thiết kế để thành văn, một lối hành văn thông thường không mang tính đặc thù trong khi viết về văn chương. Và; đây là hình phạt thê thảm –And; this is a terrible penalty; là một thứ bài bản, chả phải mới mà rút tiả để dàn dựng cho ra văn, một thứ văn chương gần như nhắn gởi hơn là lý giải, lấy chứng từ để chứng minh, sự đó làm hao mòn của trí tuệ -that atrophy of the mind- Bởi nó chỉ nói lên cuộc đời trong một hạn hẹp nào đó và sự lớn dần của trí tuệ gần như thói quen không thể là văn bản (text) chính thức. Thí dụ: văn nhân Trần Dụ Ân chuyên viết phóng sự hay ký sự thường mô tả những quan hệ bình thường của thi văn nhân là viết theo dạng ‘feuilleton’ của thời báo chí miền Nam giữa thập niên 1960; gần như tìm chuyện để viết thành văn qua từng loạt (serial) chớ chẳng phải là truyện /chuyện mà hóa ra ‘xe cán chó, chó cán xe’ là chuyện bình thường tợ như thông tin thời sự, nó chẳng đánh động như một dữ kiện mà là chuyện nghe qua rồi bỏ, bởi; giữa khách thể và chủ thể cùng một tâm trạng bi đát như nhau, nó không dính gì đến lịch sử của văn chương mà tuồng như chuyện đọc đêm khuya, hò ru con. Ký sự như thế mất tính nghệ thuật sáng tạo, vòng vo trong ao tù nước đọng. Tương tợ những trường hợp khác kéo dài cho tới ngày nay của những văn sĩ, thi sĩ quen tên thường xử dụng ‘bài bản’ phê bình thơ / văn trong lối diễn trình xưa cũ, rập khuôn của những tác giả thời tiền chiến và hậu tiền chiến; tất cả bài bản (test) trở thành văn nhắn gởi. Không tác động mà duy trì thứ văn, thơ cổ lỗ sĩ không đổi mới tư duy để tạo cái ‘matière’ vào đó!
Đấy là những gì đã ghi nhận được về sự sống hiện hữu của con người (human beings) và nó sẽ có thể là điều chính đáng khác biệt giữa trí năng khôn ngoan của con người (homo sapiens) và những loài động vật khác; cho dẫu đó là một thứ siêu vi (virus) đi chăng. Vậy thì những gì xẫy ra là khám phá mới của nhân loại, khám phá từ thể chất đến tinh thần, từ tập thể đến cộng đồng là ý thức tình nhân loại, là đối tác giữa khoan dung và hài hòa; dấu hiệu của sự lớn dần phát sinh từ ý thức của trí tuệ. Mỗi khi con người cần có bên nhau, không còn biên giới thời gian và không gian, không một đối tượng nào là cố hữu; sự lý này không là tâm trạng để vượt ra khỏi giai đọan trong sự phát triễn mở mang này. Nhưng đó là dấu hiệu tiên phong lớn lao hơn bao giờ, là tiến trình mang lại sự lớn dần của cuộc đời, lớn dần của trí tuệ. Cái đó gọi là hiện tượng dung thông giữa thần và xác; con người là một hiện hữu sống thực, xung quanh chúng ta trong cuộc sống hằng ngày là nguồn năng lực trợ vào nhau và coi đó là kỳ diệu, những ấn tượng đậm nét đó là trí tuệ của chúng ta làm nên hay không làm nên, nó dựa trên cơ sở nhận thức hiểu biết, dựa trên trình độ để thành thơ /văn là những gì phản ảnh trung thực. Giả như không hiểu lý thuyết về Nietzsche, quan điểm của Hermann Hesse thì không cần phải dẫn chứng một cách hàm hồ; vô hình chung lộ hẳn cái không thực của trí tuệ, đó là mấu chốt đưa tới ‘atrophy’ một cách trầm trọng và nguy hại đến sinh mệnh văn chương cho hôm nay và mai sau. Bất luận viết gì phải là thực chứng. Dẫu là ký sự đi chăng nó có một tác động đả thông hơn là tán dương một cách vu vơ. Nói cho ngay sự đó có một ít hoặc không có hiệu năng –Eventually; they have little or no effect. Từ đó suy ra cuộc đời và sự lớn dần của trí tuệ là đi theo nhịp bước của tiến trình trau dồi và thực hành để cho cơ bắp toàn thể (corpse) phát tiết một trí tuệ trong sáng và lưu lại một giá trị lâu dài giữa cách viết và đọc, nó không hao tổn tinh thần và thể xác, ngược lại tồn lưu nhân thế. Hai lãnh vực này là vai trò chính để thành hình cho một trí tuệ sáng suốt và độc lập trong tư duy hành văn.Có nghĩa rằng độc lập trong tự phát (spontaneous) có thể là hành vi đưa tới sáng tạo hơn những gì nhai lại hay rập khuôn, thời tất không cho đó là phát huy của cuộc đời đang sống và sự trưởng thành của trí tuệ, bởi; ước lệ chính là rào cản con đường đi tới phát triển, dù phát triển trong hạn hẹp cố hữu là đưa văn chương vào con đường bế tắt mà cuộc đời là biến đổi theo thời gian; văn chương song hành cùng nhịp thở là dấu vết của đổi mới tư duy. Có thể có một vài động lực của cấu tạo văn bản -Some dynamics of textuality- là điều kiện của từng con chữ trong văn bản hoàn toàn khác biệt từ khi phát thành lời (văn hay thơ). Viết thành lời là độc lập và đầy đủ ngữ cảnh của mạch văn trong những gì nói thành lời đến cùng trong một hiện hữu. Chữ nằm trong thế tự nhiên của nó, viết thành chữ là một phần của sự thật –the words in its natural, written word is a part of a real. Còn thốt (utterance) là một tỏ bày sống thực (không pha chế hay phiạ). Chữ luôn luôn bổ nghĩa cho một tổng thể tình trạng mà lại có nhiều nghĩa hơn cả lời nói (verbal). Chữ nghĩa không bao giờ xuất hiện đơn độc mà nằm trong ngữ cảnh giản đơn của những con chữ (words). Từ chỗ đó được đánh giá cao về mặt vật lý và tâm lý của dòng tư tưởng phát tiết từ trí tuệ bằng sự phân tích rút từ nhận định của não thức mà trong cơ (muscle) của não chính là cơ quan đầu não phát sinh ra trí tuệ. Thành ra cuộc đời song hành với sự lớn dần của thời gian mới cấu thành một trí tuệ độc đáo trong tư thế vững chãi.Là văn chương mới ngày nay.

-Khoảng cách -Độ chính xác -Lựa chọn cách viết -Văn phong chỉnh đốn: Là cấu trúc cách viết có ý thức –Writing restructures consciousness trong một khoảng cách (distance) mà cách viết có tính chất khai phá, mở mang một thể loại mới chính xác hơn (precision) trong lối diễn đạt hóa cách viết (grapholecy verbalization) để cho văn phong được chỉnh đốn (magnavocabularies) bằng cách di chuyển nó đi tới một nghĩa cử phong phú, nhưng; chao đảo, lộn xộn là sự thường có trong ngữ cảnh của mỗi khi thốt thành lời hoặc viết thành văn (như văn thi sĩ LTTV và nữ văn sĩ Mỹ Anais Nin) đã huỵch toẹt, phá rào , phơi mở cho thể loại văn chương dâm ô, tục tĩu không còn thấy ở đó một sự chọn lựa cách viết mà trong lối diễn đạt hóa cách viết, có thể hợp nhãn người yêu dục và không hợp nhãn người yêu đạo đức (giả) nó nằm trong ngoặc kép riêng tư; thế nhưng nó tỏ ra ở đó cái khoe khoang, bộc bạch chung của trí tuệ khôn ngoan, khéo léo, như lối kể chuyện hoặc vắn tắt như trong tục ngữ -can be impressive in their magniloquence and communal wisdom, as in formal narrative or brief, as in proverbs- của chính tác giả. Hẳn nhiên sự khôn ngoan trí tuệ phải là cái gì với một tổng số và sự tương quan dễ đổ gãy ở phạm vi xã hội –Yet wisdom has to do with a total and relatively infrangible social contex. Chuyện kể là vận dụng ngữ ngôn và tư tưởng không ghi chép cho một phân tích chính xác, gần như tự phát để thành văn, nhưng đây không phải là điều thông thường hay dễ dàng diễn đạt, nó có ‘chất xám’ đặc biệt nằm cuối của não bộ; cho nên chi cái sự bộc phát (spontaniousness) nó trở thành văn/thơ một cách tài tình và độc đáo; tục mà thanh. Dĩ nhiên; tất cả ngữ ngôn và tư duy là có mức độ phẩm trật của việc phân tích từ con chữ cho tới văn phong; cả hai nó cuộn vào nhau nên văn là ở chỗ đó. Viết hay kể nó đòi hỏi cái độ giao tiếp trong ngữ cảnh như đã dẫn. Nhưng nhớ cho viết từ con chữ để thành lời là một dẫn độ sắc bén và tế nhị của cá tính, là tạo ở chính mình một cái gì trong sáng: không yểu điệu thục nữ, không dương (facial expression), không cường điệu, không một nghe ngóng tin ai mà phải thấy trước, biết trước của ngữ thuật, tất cả có thể bao trùm cả ý nghĩa, chứng từ có thể có cho từng đối tượng trong mọi tình huống khác nhau. Cho nên chi viết ký sự không phải là phóng sự mà cô đọng một văn phong thoát tục giữa khách thể và chủ thể ký mới trở nên linh động và tích trữ ở đó một tâm hồn khách quan hơn chủ quan. Vì vậy ký-sự phải tách ra khỏi khách thể và chủ thể thì ký mới linh động và thoát tục bằng không như tự khoe mình giữa chủ thể và khách thể cùng một ‘trời lận đận’. Cốt tủy của viết là sáng tạo và độc lập là đưa văn chương tới đỉnh cao. Ký không gây chú ý lớn như truyện ngắn, truyện dài, tùy bút hay tản văn, ký chỉ giữ vai trò ‘kể chuyện’ ghi lại hoài niệm cũ mới (chronicle memory).Thoạt kỳ thủy tác nhân được kể đến trong ký dần dà chìm sâu vào quá khứ mà chỉ thấy tác giả ký-sự ở đó mà thôi. Buồn tệ!

Dĩ nhiên; mỗi lần bắt đầu đặc bút xuống viết là cảm thấy có một sự gì ngay thẳng, đúng đắng và phân giải sự lý một cách chính xác là đem lại bên trong một sự tự nhiên để cảm thông sâu đậm trong lời văn như lời phát biểu hiện thực. Dù cho tư tưởng của Plato đòi hỏi con chữ phải rõ ràng trong thể thức đối đáp; mới là đúng nghĩa đưa tới hiệu năng của viết lách trong sự tiến trình của trí năng (neotic), bởi; nói, viết hay thốt là trong ý thức để hành văn; ngay cả Socrates và Plato họ đã thừa hưởng một tổng thể hóa của chữ nghĩa: không cần lý giải, phân tích, thuyết minh qua một thể thức đối đáp mà tự nó đã giải thích để thành văn trong tác phẩm của văn chương trí tuệ -the works of a literate mind- như đã có.
Thế giới của trí năng (trí tuệ) đã mở cửa bằng một sự tái tục chính xác là một sự bày tỏ thấy được và một thông tin hết sức tương xứng đúng nghĩa của lời nói được miêu tả (verbal description), là những gì thuộc tâm lý có thực. Hiệu năng không những chỉ khoa học mà hiệu năng ngay trong văn chương đã có ./.

VÕ CÔNG LIÊM (ca.ab.yyc. 1/5/2020)

 

MÂY XUỐNG

VÕ CÔNG LIÊM

may

tặng: nguyễn mai ninh
con nắng tàn rơi
buồn thế kỷ
trong vạt gió từ khơi
tháng năm . theo nhau về nơi viễn xứ
thời gian trôi giạt
lần mò đi vào ngõ cụt ngẫu hứng bất ngờ
những con đường đóng băng không người lái
hát vu vơ những tình khúc lỡ dỡ bỏ quên sầu
phố thị buồn say nâu
trầm mình trong nỗi nhớ
chưa lần gặp gỡ mà nhớ thương ngày tháng cũ
đêm đóng cửa rượu nồng đã chén . lần qua tay nhớ đêm về
vĩa hè nghiêng xiêu đèn vàng phố lạ
đứng một mình trong quanh hiu . tôi
và em . cửa mở tự bao giờ ngày đơm thơm trái chín
đậu trên cành mà ngỡ như hôm qua đã một lần yêu
cuối sân ga mờ ảo bóng chân mây . phố đóng then cài
khúc Mozart buồn lai láng cho tim đập chậm tháng năm chờ
mòn xoáy vào mùa đông . cong queo nỗi nhớ mắt môi em rực rỡ
yêu thương trên từng nhánh sông trôi vào biển nhớ
để mưa gió rủ nhau về ôm mái nắng lang thang
mùa dị biệt không gian khép kín vào khung nhớ
tôi . buộc chặc linh hồn cho ngàn cõi chiêm bao vượt thoát

của điệu buồn hụt hẫng
đêm gục đầu sám hối
trong ngăn cách chia xa
bóng hoàng hôn tím dần
nghe mưa ngủ trên tay
chiều rơi vào cố quận
cho tới khi mây xuống
tôi . con chim cô độc ./.

VÕ CÔNG LIÊM (ca.ab.yyc 10/5/2020)

PHỐ NGỦ

Võ Công Liêm

thai thanh
nhớ: thái thanh (1934-2020)
nắng chẻ trên vai buồn đứng bóng
hoàng hôn xa lạ giữa lưng đèo
con đường mồ côi
mấy ngã đường tình
phố ngủ
then cài
phố nắng
buồn thiu
em . đầu hạ giờ đây thôi nhịp bước
tôi . hôn mê uống cạn những khúc tình
ngày
buồn
tênh
đêm
nhầy
nhụa
ta đứng bên này vĩ tuyến thuở mộng mơ
cách xa mấy dặm nụ hôn nồng
bẻ tay nắm ngón nghe thương nhớ
nghìn trùng xa cách có trùng khơi ?
con đường một chiều
của sài gòn nhỏ
lặng lẽ âm thầm
nhạc tiễn người đi
lời ca thắp nhặt vuốt tiếng thời gian
ngậm đá nghe kinh một tiếng chày kình
giới nghiêm giờ ngọ người đóng chặt cửa
có hẹn nhau rồi bóng xế cũng tàn dư
xin khất lại một ngày rất gần gũi
để nghe tiếng hát tợ nhung mềm
đêm màu hồng buồn man nỗi nhớ
sài gòn rít tiếng kèn đồng thêm đau đớn
nhả ngọn khói tròn cuộn lên môi thơm
tình yêu tình cờ đợi đến hôm nay
mắt môi em là biển trời xanh bát ngát
những chuyến xe không người lái đợi cuối chân trời
mắt cười tráng lệ cho lá ngủ trên tay
ôm vào lòng linh hồn nhược tiểu
những nhát dao vào đời theo mây về bên mái rạ
nghe mưa . giữa trời hoang vắng cho mặc sức ngây thơ
thành phố đau nỗi nhớ . đêm giả từ hà nội buồn lăn bánh
biển khóc một đời hoang vu mi ướt chạm vành môi đẫm lệ
đâu phải đêm nay phố ngủ mà nhớ ngọc hồi năm tháng phôi pha
cho xe cát lênh đênh tràn mi mắt . cho ngực thở từng lời yêu dấu
bước chân lên lầu thanh thế hôm qua mà nhớ đến ngày sau đó
em . là cầu thê húc là năm cửa ô là bồng lai tiên cảnh tự do ơi
tôi . nhặt từng con chữ làm sâu bọ tình nhân trong vĩnh cửu

một lần rồi thôi
như giọt mưa rơi
vào lòng sa mạc
của tình ca hụt hẫng dưới hiên trăng ./.

VÕ CÔNG LIÊM (ca.ab.yyc . cuối 4/ 2020)

BẠN VĂN VÀ TÔI

Võ Công Liêm

tinhvat

TRANH VẼ Võ Công Liêm: ‘Tĩnh vật Hoa trái’

Nhà văn Bình Nguyên Lộc có nói: ‘về quê là lên nguồn đời mình’ tôi xét lời nói ấy quả không ngoa cho những khách tha phương mỗi khi nhớ quê. Cái lòng hăm hở đó như lời cảnh báo, vì lẽ; quê hương là nắm nhau, cuống rốn tuy có xa mặt cách lòng nhưng không phải vì thế mà chối bỏ hay đoạn tuyệt. Nó có cái hồn thiêng trong chúng ta.Từ chỗ đó; nó ray rứt, nó quấn quýt, nó ôm đầm như thân phận kẻ lưu đày.
Một số người trước đây hối hả ra đi cho bằng được như thử bị quê hương ruồng rẫy hay ‘khai trừ’. Nghe ra tợ như có điều gì phũ phàng, tàn nhẫn. Thoạt kỳ thủy; mới nhận ra rằng ‘home sweet home’ là nơi về của mái nhà xưa mà cả đôi bờ coi như lời hẹn ước. Dẫu là nghìn trùng xa cách nhưng lòng hoài hương vẫn hiện hữu không dứt. Người đi hay người ở đều nhìn nhận tình quê chan chứa. Bạn tôi tha phương cầu thực một thời như tôi. Nói rằng: -thương đọt bí, đọt bầu chi lạ! Tưởng bạn tôi lãng mạn hóa cuộc đời. Suy rộng thấy bạn tôi thật lòng. Không phải giải thích và chẳng phải nói nhiều. Thì ra; chúng ta cùng cảnh ngộ. Mà khi đã ngộ ra được thì không còn chi để trách cứ mà cho rằng quá đả khuynh?. Tôi hối hả ra đi và lâm vào hoàn cảnh tương tợ như vậy. Nói cho ngay; chuyện ra đi có nhiều nghĩa khác nhau, nhưng riêng tôi đi là ‘tu nghiệp’ để thấy mình thấy ta, trăm trận trăm thắng là ở chỗ đó. Cho nên chi học mấy cũng thấy mình ngu mà không thấy trận nào thắng cả; từ đó chỉ học ở tình bạn là cao qúy. Bởi; trong cái tình người nó chứa cái tình đất nước muôn năm. Xưa hối hả đi thì nay hối hả về là thế.
Về quê lần này tôi được cái hân hạnh đón tiếp một số văn nhân cũ, mới. Kỳ thực thì không có ai mới cả mà tuồng như đã biết nhau từ lâu; tuy không bằng xương bằng thịt nhưng đã gặp nhau trong văn thơ và đã nói với nhau nhiều điều như đã thân quen, bởi; dễ hiểu điều này qua cụm từ ‘style c’est l’homme’ cho nên chi không còn là người xa lạ hay qua một trung gian nào mà chúng tôi đến với cái tình chân. Tình người cao qúi đọng trong một tâm hồn tha thiết, không vin vào nhau để giới thiệu cái ‘le moi’ qủi quái và đáng ghét đó. Hầu hết bạn văn tôi không có thái độ ấy; dù một mảy may nhỏ nhen đều không có mà dâng một tấm lòng cao thượng. Qúi mến nhau mới gọi là thân nhau; bất luận ở nơi nào.

Yoshiro Soseki: Thi sĩ đương đại; con chim sẻ mùa xuân.
Đến Nhật Bản vào đầu tháng hai, tháng xuân hoa anh đào nở, khí trời heo heo như bên nhà. Ở chơi một tuần mà gắn bó vô cùng; cái tình Nhật là cái tình ‘hiệp sĩ đạo’ trọng danh dự hơn trọng tiền bạc.Tôi thân quen người bạn Nhật trong thoáng chốc mà trở nên cái tình dài lâu, bởi; chúng tôi ăn ngay nói thực, chả phải giấu điều gì, chẳng phải là biên giới ‘khách nước ngoài’ cho nên mạnh miệng. Chúng tôi bày tỏ bằng ‘nội công’ tâm truyền tâm và giữa chúng tôi bình đẳng không ‘face talk’ không ‘money talk’. Yoshiro đưa chúng tôi tham quan nhiều nơi.Chúng tôi không còn xa lạ qua sự trọng khách của chủ nhà. Một cái thưa hai cái trình…Gặp nhau tình cờ như đã hẹn ở cửa hàng sushi; món ăn truyền thống Nhật, một lối ẩm thực có lồng chất Thiền vào trong cách sống. Chúng tôi ngỡ ngàng trước cảnh quang, bối rối trong kiểu cách ăn sushi và uống sakê, thực khách hầu hết là dân Nhật, phần đông ngồi ở bàn ghế thấp hoặc phòng riêng có gối ngồi. Chúng tôi ngồi ở quầy để trực tiếp nhìn những tay đầu bếp ‘múa võ’, cạnh tôi một thiếu nữ khác, tuổi ngoài ba mươi đưa mắt mỉm cười thân thiện, và; từ đó chúng tôi trao đổi nhiều chuyện khác nhau, dần dà mới hay nàng là thi nhân, tuy nàng kín đáo về chuyện làm thơ nhưng cuối cùng nàng cho biết nàng yêu thơ. Hóa ra chúng tôi là những người trong làng văn nghệ mà gặp nhau tình cờ.Tôi chẳng nói với nàng tôi làm thơ và nàng cũng chẳng nói nàng là thi sĩ. Nhưng gặp nhau trên cái đất văn vật này cũng đã ngộ ra được cái chất thơ trong con người thơ…Nhớ những khi ngồi ăn mì gói, uống sake trong con hẻm nhỏ mà nhớ con hẻm quê nhà. Đất nước mình có nhiều đặc ưu hơn nơi khác nhưng không biết ‘dụng võ’ cho nên mai một mà chỉ hướng đến cái của người khác làm chuẩn. Nhìn cung cách Yoshiro mà nghĩ đến dáng kiều của ta; cũng có thể do từ phong thổ, tập quán tạo nên?
Hôm nàng tiễn chúng tôi ra phi cảng trao tặng tập thơ mới xuất bản (dĩ nhiên là Nhật ngữ) để giao duyên văn hóa.Tôi không hiểu một chữ hay một nghĩa nào nhưng hình thức qua lối dựng thơ tôi cũng nhận biết được hồn thơ của thi sĩ bộc bạch một cái gì chân tình trong thơ, bởi; nhìn con người của Yoshiro không thể có một nghi ngờ nào hơn. Duyên kỳ ngộ! Yoshiro cho biết thêm: nàng là con cháu nhà văn lừng lẫy Nhật Natsume Soseki (1867-1916) với tác phẩm tiểu thuyết nổi tiếng Kokoro và đã được dịch qua nhiều ngoại ngữ. Gia tộc nàng gốc Đông Kinh. Thì ra; hạnh phúc đến bất ngờ là hạnh phúc có thực ở đời.

Kiệt Tấn: Dân miệt vườn . Uống cạn tào ráo ván.
Sau tết ở Sàigòn trời âm u, bởi; có những trận mưa lai rai làm cho đường sá còn rịn mùi ẩm thấp. Chúng tôi gặp nhau ở ‘Thềm Xưa’ nơi Thân Trọng Minh thường ‘tọa thiền’ một mình hoặc một vài bạn thân quen xưa cũ. Cái sự đến của Thân Trọng Minh thường thấy trầm ngâm, kín đáo là đặc chất của người lương y. Tôi gặp Kiệt Tấn ở đây. Chúng tôi nhìn nhau như đã quen nhau lâu lắm nay mới hội ngộ. Kiệt Tấn có nụ cười nửa mép như nhân vật trong truyện của anh viết. Tôi biết Kiệt Tấn thuở thập niên sáu mươi (60). Mỗi lần đọc truyện anh, tôi thường phán chữ Đan Mạch (đ.m.) vào văn anh. Hôm nay gặp lại nhau tôi kể cho anh biết về cái sự vụ phải dùng ngôn ngữ Denmark với anh vì tôi phục cái ngông nghênh văn chương của anh. -Được thôi! Kiệt Tấn nói. Ngày hôm sau tôi uống rượu với nhà văn tả thực này mới thấy lòng phấn khởi. Phong cách về già của Kiệt Tấn là đà như E. Hemingway mỗi khi uống rượu. Cả hai nhà văn này có cái sâu lắng thâm hậu, nghĩa là ‘rịm rím một vịm troi’ ở cái chỗ đó mới thành văn hay. Nhà văn chân tình là nói toạt những gì như thật trong sự nghiệp cũng như trong cuộc đời, những gì mà đời ít ai thực hiện được. Nếu đem tinh thần Kiệt Tấn ra so sánh với H. Miller thì không khác nhau mấy. Một đằng hụỵch toẹt và một đằng kín đáo thâm trầm. Huỵch toẹt của Miller là thẳng thừng, huỵch toẹt của Kiệt Tấn là huỵch toẹt hơn cả huỵch toẹt đó là nhà văn có một mớ kinh nghiệm đầy đầu trong cách dụng văn: khôn ngoan và trí tuệ. Bởi cả hai nhà văn này đa tình và lãng mạn trong đời và trong văn chương; cả hai đều có chất ‘đế’ trong hồn nên dựng truyện có đế. Điều này không ngạc nhiên chi mấy. Nhưng ngạc nhiên phong thái Kiệt Tấn không thay đổi, dẫu lúc này anh không bỏ hồn vào viết lách một cách dữ dội như xưa. Anh cho tái lại*là vại nước đái.Tư duy của nhà văn là biết dừng đúng lúc để cho sự nghiệp của mình không dừng lại. Đấy là chân chính. Kiệt Tấn chỉ cúi nhìn và cười nụ cười ‘tre trúc’.
Chúng tôi gặp nhau rất tình cờ; tôi ở phương này, anh ở phương kia trên cùng một hành tinh này nhưng sự gặp gỡ tợ như đã có hẹn. Cái nhìn trực diện của Kiệt Tấn là nhìn để nhận diện giữa ta và người, giữa chủ thể và tha thể có cùng hợp chất để dung thông. Đó là cảm quan của tôi khi nhìn ‘bộ dáng/ body /corps’ của anh là một con người ‘dày dạn phong sương’. Nhưng không! cảm giác đó hoàn toàn nghịch lý trong tôi, bởi; trong anh đã phản phất một sự thật có thực qua cử chỉ và lời nói. Quả vậy; anh đã hoà tan vào đó một hóa chất kích thích tố để sống dậy một lần trong tôi và anh. Tôi đón nhận sự chân tình nơi anh cũng như trong văn chương anh là cả một bung phá tiềm tàng, một tiềm thức trú ngụ trong dạng thức của trí tuệ để phát sinh thành ngữ ngôn trong văn chương cũng như trong đời thường…Rất nhiều văn nhân nhận định, bình giải hay phê bình con người Kiệt Tấn trong vai trò khách thể, dựa qua tác phẩm của anh đã viết ra; lối mổ xẻ đó không có một tác động nào nơi nhà văn mà chỉ là người đứng nhìn sự kiện; gần như rập khuôn, nhai lại, khách sáo trí thức, nó không nói toát cái hóa trị (chemistry) là bản chất cố hữu nơi anh một cách độc đáo để thành hình ngữ ngôn trong tác phẩm. Lối bình giải cổ điển là tác hại cho tác giả đã gởi gắm toàn diện tình người, tình nước tình non vào trong đó và đại diện cho chính mình. Trên kệ sách của tôi có một số tác phẩm của Kiệt Tấn. Từ tập ‘Nụ Cười Tre Trúc’, ‘Nghe Mưa’ ‘Em Điên Xõa Tóc’; chừng đó đủ để cho tôi thấy được hồn tác giả ký gởi những gì là bi thương thống thiết. Anh hơn tôi có đôi ba tuổi nhưng anh lớn hẳn hơn tôi về mọi thể kể cả sự nghiệp văn chương của anh mà tôi đọc như một hoài niệm ký ức. Thế nhưng; giữa chúng tôi phá chấp, không còn có tâm phân biệt. Hai chúng tôi sống thực như chưa bao giờ sống. Đấy cũng là cơ duyên hay là ‘hữu xạ tự nhiên hương’ không biết ráp cái câu ngạn ngữ này có phù hợp nhân thế văn nghệ? Nhưng; có thể do từ một tâm thức phản kháng, một thứ phản kháng trí tuệ xâm nhập vào tri giác tôi. Hôm ngồi uống rượu với Kiệt Tấn mới nhận ra đặc chất nơi con người anh: không văn hoa bóng bẩy, không từ ngữ văn chương, không khách sáo đường bệ. Một bản chất tự tại hiếm có ở những nhà văn. Bọn chúng tôi uống đầy. Rượu vơi cạn. Tôi tính chào từ giả anh để ngày mai bay về đất tạm dung nhưng không nói, bởi; nói ra cái từ đó không đẹp lòng nhau. Tôi xô cửa, gật đầu nói: -Về! về đây là trở về ‘revêrs/back’ cái gì thuộc ‘daydream’ có nghĩa gặp như mơ-về giữa ban ngày. Gặp gỡ ở phương này, phương nọ là vũ trụ gặp gỡ của ‘dans les rêveriers cosmiques’ trong tôi và Kiệt Tấn. Cho nên chi; giữa chúng tôi là một hiện hữu, hiện hữu sống thực của: ‘je pense; donc je suis /cogito (Descartes).Tôi nghĩ Kiệt Tấn hiểu ý tôi.
* Tái lại: tái bản tác phẩm.

Đỗ Hồng Ngọc: Bác sĩ của văn chương hay còn gọi là bác sĩ chịu chơi.
Đỗ Hồng Ngọc đa dạng trên lãnh vực văn nghệ như tôi đã biết hơn là trên sự nghiệp chuyên môn. Anh có con mắt cười khi nói chuyện cho nên chi dễ cảm thông với người đọc.Thơ anh làm chân tình như hồn anh. Văn anh viết phản vào đó cái bản lai diện mục thực với chức năng y sĩ; thành ra giọng điệu không có chi là tàng ẩn hay ngụ ý, anh vẽ ký họa tài tình, anh không buông tha còn đứng ra dẫn chương trình cho bè bạn mỗi khi cần đến lời giới thiệu. Anh sốt sắng, không từ nan. Mấy đặc chất đó làm cho tôi nghĩ đến anh. Gặp Đỗ Hồng Ngọc và nhận ra anh qua nụ cười, nụ cười không ‘pha chế’ như đời thường cười. Tôi ký tặng tập truyện cho người bạn hiền lành mà tôi tha thiết được gặp. Tuy sơ ngộ nhưng đã để lại cho nhau cái tình văn nghệ thật sự. Chúng tôi trao đổi chuyện xưa, chuyện nay như cái tình anh em, như cái tình đồng điệu đã có trước đây. Ở tuổi hoàng hôn nhưng với Đỗ Hồng Ngọc không thấy chi hoàng hôn nơi anh. Anh viết khoẻ như hồn thanh niên từ xưa đến giờ. Cái hồn nhiên trong văn chương anh đã đạt tới đỉnh cao và anh đã ký tặng nhiều đầu sách cho độc giả bốn phương. Với một trí tuệ như vậy, thời tất trong đám người cầm ống nghe ít có như anh có. Thơ văn của anh chứa chất một tâm hồn lãng mạn và trữ tình…Anh nắm tay tôi giã từ mà lòng đầy hứa hẹn như tình nhân thuở anh còn ở đại học y khoa. Nhưng; riêng tôi cái nắm tay của anh như một hụt hẫng vừa bắt chụp thì lại bay xa. Anh cười vỗ về tôi như một cảm thông dài lâu.Tấm lòng của anh là tấm lòng của biển.Tâm hồn Đỗ Hồng Ngọc rộng mở từ nụ cười cho tới cử chỉ không thể nào mà không tin ở con người thật thà như thế. Gặp Đỗ Hồng Ngọc là một hạnh ngộ dài lâu. Bước đi thong thả của anh mang theo một tư duy sống động nơi tôi.

Elena Pucillo Trương: Một con người hai cuộc đời.
Tôi gặp chị trong một buổi cơm thân mật ở toà soạn Quán Văn của anh Nguyên Minh và một số đồng sự. Xuất hiện ở cửa phòng tôi nhận ra Elena, chị ném đến chúng tôi nụ cười khoan nhã và ưu ái. Trong đôi mắt của chị tôi đã đọc được những gì chị muốn nói. Mà thật! Trên dưới mười năm về với Việtnam, dạy ở đại học Việt, giao du thân mật với người Việt; từ chỗ đó không còn thấy chi là ‘khách nước ngoài’ mà hóa ra là con dâu xứ Nẫu. Ngặc thay! màu da, màu tóc không thể Việt hóa 100% cho ra Quảng, nhưng; để hoà nhập giữa hai cuộc đời chị tự lột bỏ cái áo khoát của thành quách La Mã, những hào quang ánh sáng minh tinh điện ảnh lừng danh để về sống chết với đất Chiêm (Bình Định); âu đó cũng là một gắn bó với định mệnh. Elena hiểu điều này hơn ai hết và rồi đi tới một quyết định dứt khoát là về làm con dân nước Việt. Chỉ trong vòng 10 năm chị nói tiếng Việt gần như thông thạo kể cả những lời nói thô tục chị hiểu rành rọt. Đó là một chứng minh của vợ chàng Trương; không những trong anh mà ngay cả cộng đồng lớn lao chị đã phủ dụ cái sai biệt đó, không ai nhìn chị là bà đầm Ý Đại Lợi. Dần dà người ta quen phong cách của chị: với nước mắm, hột vịt lộn hay ba cái thứ đồ nhậu chị nhúng đũa bình thường. Không phải chị nhắm thử cho biết cuộc đời mà chị ăn như thử chị là người Việt. Hoà nhập của Elena là cả một triết lý nhân sinh: dấn thân để thấy nghĩa lý cuộc đời. Do đó văn chương của chị mang màu sắc Đông phương hơn Tây phương. Chị viết sung mãn qua nhiều thể loại. Chị kềm kẹp đức lang quân để chuyển hóa ngữ ngôn gốc trở nên ngữ ngôn Việt tộc. Đọc những tác phẩm chị viết là cả một cảm thông sâu đậm. Nhờ vào yếu tố đó mà chị gần gũi với quần chúng. Tôi ví chị như nữ tiểu thuyết gia Mỹ Pearl S. Buck từng sống ở Trung Hoa, học ăn học nói để trở nên Tàu; nhưng so ra Elena khác với những người ly hương, nghĩa là họ không đánh đổi như Elena đánh đổi với cuộc đời chị. Tôi thầm phục lòng quả cảm của một người đàn bà xa xứ.Trong sâu thẳm của chị là con người tiên phong giữa mảng trời đầy màu sắc lạ lùng và dị biệt mà là kẻ khám phá mới cho tâm hồn dự cuộc. Chấp nhận mọi hoàn cảnh dù nắng mưa bất thường ở đất phương Nam; nhưng chị đã chinh phục để không còn thấy mình đơn độc giữa xứ lạ quê người. Tôi đọc một số tác phẩm chị viết cho tôi một lòng tự hào vô hạn. Một người bạn mà tôi mong được kết thân. Trong một bài viết ngắn: ‘Chung Một Đam Mê’ tôi thấy chị là một tài tử đa xuân tứ. Chúng tôi ngưỡng mộ qua tài năng và cái tình đối xử của chị. Elena Trương đã được một số văn nhân thừa nhận là ‘kẻ đưa đường’ mở lối trên chặn đường văn chương hiện nay. Chị là nhà văn nước ngoài hiếm ở đời này và được ngợi ca như một nhà văn chân thật. Nhận định về chị không một khác biệt nào hơn. Elena Pucillo Trương đã hóa Việt, bởi; chị sống thực giữa cuộc đời đang sống.

Từ Sâm: Một tinh thần tự khởi.
Trên không gian của chuyến bay Air Canada đọc thư email của bạn bè gởi thăm; trong đó có thư của Từ Sâm. Tôi ‘click’ ngay như vồ chụp một cái gì vừa tuột khỏi tầm tay. Tôi biết Từ Sâm mấy năm qua nhưng cứ để dành trong trí như ‘kỷ vật’ chờ có cơ hội giao duyên. Nay anh đến trong cái tình cờ nhưng hữu duyên vô cùng. Anh gõ xuống: ‘biết anh ở nhà Nguyên Minh mà không được dịp gặp nhau’ ngần ấy thôi cũng thấy được cái chân tình của con người văn nghệ. Trong cuộc đời sự gặp gỡ là cái trùng trùng duyên khởi bất ngờ và cũng khó mà định lượng nó đến từ đâu hay nó đến như cái nghiệp dĩ; nói theo ngữ ngôn ngày nay là ‘tình văn nghệ không hẹn mà gặp’. Quả là qúy ở đời này! Từ Sâm có gương mặt của tu sĩ hơn là kẻ phàm phu, anh hiền lành và thiện tâm trong đôi mắt nhân ái đó.Tôi chưa một lần ‘xáp lá cà’ vơi Từ Sâm thì lấy đâu mà có nhận xét như thế? -Tôi đọc nhiều thơ anh làm, những bài nhận định nghệ thuật anh viết, phê bình tác phẩm, tác giả anh soạn là chứng cớ để thấy được nhau. Giọng văn thủy chung, không có một gián tiếp nặng nhẹ mà hầu như anh ngợi ca cuộc đời và ngợi ca tình yêu; đấy là yếu tố cấy lên tế bào da mặt của anh và trong huyết lệ của anh để từ đó anh có một tinh thần tự khởi, một tinh thần của tư duy chớ không phải tinh thần của sự cố. Đứng trên vai trò khách quan nhận định về thi ca đương đại; có thể thấy Từ Sâm thuộc trường phái siêu thực qua bài thơ ‘Trăng Viên Mãn’ mà anh cho ra đời đã lâu. Không những một bài tượng trưng mà nhiều bài thơ khác đều một thể như thế. Sắp xếp lại từ A tới Z đều nhận ra đó là giòng thi ca đương đại. Về văn anh phân tích, lý giải, dẫn chứng rất cụ thể từng đường nét như vẽ tranh sơn dầu, nghĩa là thận trọng trong ‘gam’ màu cũng như ‘con chữ’ nó đan kết vào nhau hoà hợp (composition) như một bố cục chặt chẽ; thật không quá lời về điều này. Cho nên chi; hôm nay ‘kỷ vật’ đó được ‘khui’ ra như đập đồng binh nuôi con heo nái mà bản thân tôi ao ước từ lâu. Nói thêm về thơ của Từ Sâm tuồng như anh dốc sức vào đó qua một ngữ ngôn thống thiết trong đó có chứa một ít của bi thương, một cái gì tàng ẩn ngoài cái gương mặt tu sĩ của anh; không biết mỗi bài thơ anh nói những gì về nó, nhưng; chắc chắn ở đó là một sự kết tinh trong cách biểu đạt tư tưởng bằng ngôn từ. Từ chỗ thơ tự do, tân hình thức Từ Sâm biến dạng vào vô thể thơ có duyên lạ. Cơ may hạnh phúc chỉ tìm thấy để đạt tới sự chiếm cứ ‘le bonheur est dans a la quête la conquête’ qua mạch thơ, văn mà anh đã thực hiện xưa nay. Kết thân với người bạn văn nghệ như Từ Sâm là dấu ấn trong tôi.

Huế: Quê nhà.
Và tôi; mỗi lần về quê là phải đi Huế. Bởi; Huế là trầm tích trong tôi, là hoài niệm nơi đã cất giữ những kỷ niệm khó quên của thời mới lớn (ở 9 tuổi) và cái thời vào đời. Huế trở nên chứng nhân cho tình yêu và lịch sử. Những nhân tố đó đưa tôi tìm về Huế như một ‘awakening’ để được sống lại giữa thực và hư. Huế phải có đặc chất đó như nắng mưa mà ai cũng ‘kêu trời’. Không có cái thứ đó không ai gọi là Huế. Huế có cái tàng tích cố cựu xâm chiếm vào con người Huế. Do đó tôi hiện hữu; một hiện hữu dấn thân và thấm thấu vào cái hồn Thần Kinh trong máu lệ tôi. Dân Huế hầu như ai cũng ưa lý sự, cứng đầu, chướng kì và một tự ái lớn lao hay giận. Những ai chưa biết Huế cho Huế khó tính. Đúng! cái này chịu ảnh hưởng ít nhiều nơi mấy ‘mệ’, bởi mấy mệ có cái tự ti mặc cảm trong con người mấy mệ. Nói nôm na là ‘thủ’; đó là ngón nghề thâm hậu mà ít ai tìm thấy. Tôi chơi thân với mấy mệ trong làng, trong xóm cũng như trong trường; đi sâu vào lòng đất địch mới thấy mấy mệ thủ vô hậu. Cái thủ khinh mạng. Tợ như những người kỳ thị chủng tộc; ngoài ngó rứa mà trong không phải rứa. Huế đặc thù là đó: ăn, uống, nói, cười đều có cách riêng của nó. Huế không giống ai và không ai giống Huế. Đó là lý do về để tìm thấy cái đã mất giữa thời đại hỗ mang, thuồng luồng. Có chăng là có trong trí tưởng mà thôi. Nó hoang tàn, bảng lảng bóng chiều mây. Dù là thành quách có tu sửa để thu hút khách ngoại chớ khách nội không mấy hồ hởi với cái gọi là ‘đổi mới tư duy’ theo khuynh hướng kinh tế thị trường; lạc hướng đi.
Tôi sinh ra và lớn lên ở Huế. Học và hành ở Huế; có vô số bạn bè, nhưng; tìm cho ra một ‘thằng bạn’ chân tình là điều khó. May mắn thay trong số bạn học cũ, chỉ còn một hai thằng tại thế, còn một số khác tằng tiu tỉ tiện thì hầu như để gió cuốn đi hoặc để trôi theo với giòng đời. Bởi; không tìm thấy cái chân tâm của nó. Vì vậy; phải nhận thức cái thực, cái giả của Huế. Người ta định nghĩa Huế thâm trầm là phải, vì; trong Huế chứa cái thâm trầm ‘đểu cáng’ khó tìm thấy. Răng rứa? Nó núp sau lưng Thành Nội Huế mà ít ai bắt gặp và nhận ra. Nó lắc léo như câu hò mái đẩy hay nam ai, nam bằng; là rứa đó!.
Thành ra; về Huế chỉ có thi sĩ Cung Thiêm Phan Như Chạy là chân tình trước sau như một.Thuở học cùng lớp; thi sĩ thường dùng tiếng Đan Mạch dành cho tôi. Nhưng nghĩ lại tiếng đ.m. của nhà thơ nó kết cấu trong một từ ngữ thân tương và chân thật. Lần này vợ chồng thi sĩ mời chúng tôi ăn cơm tối tại nhà riêng (kiểu cách này ít có ở nhà thơ họ Phan).Thừa nhận mụ vợ thi sĩ khéo tay dọn bàn, nhưng họ không quên rượu dành cho tôi. Nhớ đời! Trong lúc hào hứng thi sĩ hứa sẽ đưa chúng tôi đến thăm một người bạn cũng biết nhâm nhi rượu. Tôi sướng quá và chờ đợi để gặp người đối ẩm đồng điệu, đồng sàn. Chúng tôi cởi xe đến chùa Liên Trì trên dốc núi Ngự. Tưởng bạn tôi đưa đi bái Phật đầu năm. Không! ngôi biệt thự nằm cạnh chùa. Tôi cho đây là sự sắp xếp kỳ diệu (nhà gần chùa mau thành Phật, nhà gần chợ mau thành kẻ chợ). Thiệt ra; đây là câu nói văn chương bình dân nói theo kiểu nhân gian chơi thôi. Nhưng; chủ nhân ngôi biệt thự đó đã thoát tục từ lâu để đi vào chân-không. Dẫu tiếng chuông sáng trưa chiều tối có gióng lên chăng cũng không phải để thức tĩnh; nó không còn tác động giữa chốn này đối với một nhà nữ mô phạm. Tiếng chuông là một thúc bách sự dấn thân của kẻ tìm đạo lý nhân tâm để được về sống với đời thường. Một đời thường ở cõi Sát-na (Ksanikam) là cõi thời gian vô tận số, nghĩa là ra khỏi cái hạn hữu bất biến để đi vào hư không. Tôi cho sự chọn lựa cuộc sống như thế là chân tình để xa trần tục, xa lớp bụi thế gian chớ không phải xa trần tục để đi vào cõi tịnh; mà là phép tu chứng để đạt chánh quả. Đó là biện minh cho lý giải Phật tính giữa Tu và Tục khác nhau vô bờ bến. Biết đâu cái lẽ thường đó lại là ‘đáo bỉ ngạn’… Mở cửa đón chúng tôi với nụ cười thanh tao hòa nhã. Tôi ôm lấy chủ nhân theo phép tây, bởi chủ nhân vốn có máu tây. -Bọn mình thân nhau gọi bà, gọi cô thấy không chân tình. Chị Thanh Ngọc nói. Không ngờ buổi sơ ngộ mà vui đến thế; chị thiết đãi một bửa ăn đậm chất quê hương pha một chút kiểu cách Tây phương: vịt hầm rượu vang, món ngầu pín dầm chua ngọt, dưa món, tét, chưng còn lại hôm tết. Ôi chao! ngon đáo để. Giữa lúc đó tôi khui chai Lamb/Rum đen có vị hương. Chị Thanh Ngọc đón ly rượu tôi mời một cách trân qúy. Bữa nay mới gặp tay đối ẩm thứ thiệt. Rượu thấm vào người nghe thơm (phải đái ra rượu mới hết buồn / dĩ bĩnh đồng tiêu vạn cổ sầu). Đó là phương thức tiêu sầu và quên, một đặc hiệu và phổ biến nhất trên trần gian này. Chị Ngọc và tôi uống hết chai. Trong cơn mơ màng tôi nhớ Tuyết Thu em chị Ngọc, người mà tôi thầm yêu chớ không dám dòm. Chuyện ăn uống đầu năm ở nhà người bạn văn là một hạnh phúc tôi. Chị Thanh Ngọc lớn tuổi nhưng rất hào phóng khó tìm thấy nơi nhà giáo có một nếp sống nhân sinh như thế. Chị Ngọc là dân Huế thứ gộc cho nên con người chị đã nói hết về Huế. Đón nhận một người bạn văn cao qúy giữa lúc này như một hòa âm điền dã đối với chúng tôi. Chị đưa chúng tôi ra ngõ về mà lòng còn lưu luyến bên nhau. Chưa bao giờ gặp mà tợ như đã thân quen tự bao giờ. Mượn câu thơ của Nguyễn Du để gởi tâm sự vào đây: ‘Sinh tiền bất tận tôn trung tửu / Tử hậu thùy kiêu mộ thượng bôi’.
(Lúc sống không uống cạn rượu trong chén để sau khi chết thì ai là người đem rượu tưới lên mộ mình).
Rượu là tiếng nói của con người đã từng chứng kiến bao nhiêu đổ vỡ ở cõi đời và ở cõi lòng là nỗi đau trong người tôi cũng như trong người khác.Nhưng giờ đây; bạn văn và tôi là cơ duyên được sống lại trong một hiện hữu tồn lưu nhân thế giữa đời này.Tôi chỉ nói lời biết ơn nồng nhiệt của kẻ tha phương ./.

VÕ CÔNG LIÊM (ca.ab.yyc. Cuối Mar 2017)

PHÔI PHA II

Võ Công Liêm

thoiken2

Tranh Vẽ Võ Công Liêm: Người thổi kèb saxo – Saxo-man

ĐÊM
nhốt những cụm từ
chữ nghĩa
vào
khỏa thân
đen

NGÀY
rạn nứt
con phố
hẩm hiu
chết buồn
THÁNG
nuốt
chửng
tờ
lịch
vong

NĂM
phôi pha
đời
chưa một
lần
cập bến ./.

VÕ CÔNG LIÊM (ca.ab.yyc. kỵ mẹ . 22/ 3/2020)

TỪ SINH LÝ ĐẾN TÂM LÝ

Võ Công Liêm

image002

Tranh Vẽ Võ Công Liêm: ‘Không nhận ra / Unknowable’

Điều không có thể bất khả thi để đè nén trước một ấn tượng gây nên của sống và chết; sự đó con người coi là lẽ thường cho một cảm tính chung, đặc vào một tiêu chuẩn biến tánh, tìm kiếm một năng lực, đạt kết quả hữu hiệu sức khoẻ cho chính họ và đó thật là kỳ lạ trong những thứ khác; trong khi chúng ta coi thường những gì là thực sự có một giá trị trong cuộc đới –It is impossible to resit the impression that people common-sense apply false standarts, seeking power, success health for themselves and admiring them in others; while underrating what is truly valuable in life. Giữa hoàn cảnh hiện thời; sự cớ mà chúng ta đương đầu như đang ở cái giốc đứng (ramp-up) gồ ghề khó bề ‘giải phóng’ dù có ban bố những sắc luật khác nhau, tựu chung chỉ đi tới việc thực hiện cách ly thuộc sinh lý (physical distancing),việc đó nó nằm trong phạm trù sinh lý và tâm lý, vừa ngăn ngừa, vừa theo dõi tiến trình hoạt động giữa hữu thể và tha thể trong cùng một hiện tượng chung. Hẳn nhiên đã vượt qua những phán quyết tổng quát, là một trong những phương hướng ngừa dịch và chửa dịch ở giai đoạn này; người ta cho đó là sự cớ hết sức nguy hiểm mà đó là triệu chứng, với những tốn kém khác nhau của vũ trụ con người và đó là của tâm thần cuộc đời –the rich variety of the human world and its mental life. Tuy nhiên; điều mà con người không thể cho là việc làm giản đơn mà là nỗ lực tìm kiếm giữa những gì con người hành động và suy nghĩ, đấy là hành động đa dạng hóa vấn đề của những gì mà người ta mong muốn, là cảm nhận đặc biệt dành cho những gì mất tính tự do và chủ quyền, là cái mà con người đã tìm thấy ở chính họ và nhiều việc khác sẽ xẫy ra cho hôm nay và ngày mai. Nó biến dạng từ qui tắc đơn sơ trở thành sắc luật (acts) gần như bao trùm hằng triệu người khác trên điạ cầu này; cảm nhận đó người ta nghiêng hẳn về cái gì của tuyệt đối và trong cảm thức đó chính là sự ‘miên viễn / eternity’, một sự gì vô cùng của Thượng đế. Nhưng; thượng đế vô tư trước biến thiên tự nhiên của vũ trụ mà con người không thể ngăn chận được. Cảm nhận đó đôi khi không còn hữu hạn (limitless), không còn biên giới (unbounded) chỉ còn lại mặt phẳng, một mặt phẳng không bóng người. Đấy là cảm nhận chủ quan rõ ràng không thay đổi được –This feeling was a purely subjective fact, không còn là tín điều –not an article of faith và cũng không đoan chắc sự đó do từ bê tha, đồi trụy, ăn dơ ở bẩn dính vào để phát sinh, nhưng; nó đến trong một nguyên cớ tự nhiên mà chúng ta khó tìm thấy để xác quyết cụ thể. Vậy nó từ đâu đến và sanh ra từ đâu. Đó là câu hỏi được đặc ra hôm nay như một biện chứng pháp, một biến chứng chưa từng có, nó khó khăn hơn những gì đã khám phá. Ấy là vấn đề đang lùng kiếm cho một lý do xẫy đến khắp toàn cầu; đấy là vấn đề được thẩm định. Chắc chắn là phải tiêu phí vào một giá rất cao hơn những gì đã tiêu phí trước đây. Để rồi người ta nêu lên tiêu đề gọi là tôn giáo nơi chính con người –one was entitled to call oneself religious, dù cho; dưới mọi niềm tin nào chỉ là niềm tin trong một thứ ảo giác mà thôi.

Chỉ còn lại vấn đề hôm nay liệu có làm được hay không, có thực chứng và lợi ích, liệu nó sẽ có thể là một nhận thức tốt đẹp như thể là fons et origo của tất cả những gì mà tôn giáo cần đến nó. Thực ra chúng ta đang biện minh trong sự tìm kiếm cái gì gọi là phân tâm học (psychoanalytic), việc này có thể nói là di truyền (genetic) hay vi nhiễm (infection), phát sinh từ cảm thức mà ra, hay cho đó là cảm thức tự tại (a sense of self), của bản thể ở nơi ta (our own ego). Bản thể hiện ra nơi ta là bản thể tự trị, đồng thề để cùng nhau lên đường chống trả mọi thứ khác nhau là bài học dạy cho chúng ta những gì là ảo giác, một thứ bản ngã tồn tại và kéo dài trong tư duy của chúng ta; triệu chứng này có phần ảnh hưởng đến vật lý hơn là tâm lý, nó nằm trong một thứ tâm lý vô thức (unconscious psychical). Ngăn cách hay cách ly giữa cái bên trong (internal) và cái bên ngoài (external) là một phục vụ rất đổi tự nhiên cho một mục đích có tính chất thực hành; trong sự đó nó cung cấp để che chở, bảo vệ chống lại những gì ô nhiễm, những gì không được hợp lý hóa là kinh nghiệm và những đe dọa của bệnh dịch mang tới.
Dữ kiện chính là công ăn việc làm, rõ ràng qua cách thức loại bỏ hay đóng cửa; chắc chắn không làm hài lòng từ chỗ không trở nên lại trở nên trong một tình huống chẳng đặng đừng. Tình thế đã xô ngã từ tinh thần đến vật chất đem lại một sự khủng khoảng toàn cầu. Một chứng bệnh vừa tâm lý, vừa sinh lý; gọi nó là bệnh lý tâm thần (mental-illness) hay tâm thần lành mạnh (mental-wellness). Cái đó chính là điểm khởi đầu mang lại ý nghĩa những gì thuộc bệnh lý hỗn loạn –from without becomes the starting point for significant pathological disorders. Đấy là yếu tố cần thiết để thực thi hơn là ban hành điều kiện cách.
Dựa trên quan điểm này, bản ngã tách ra khỏi ở chính nó từ những gì của thế giới bên ngoài, bởi; chúng ta quá cơ bản, quá đặc nặng vấn đề là thái độ hô hào hơn cảnh tỉnh, sự đó gần như tăng không giảm, một đe dọa gián tiếp khơi dậy trong tinh thần và thể xác của người bị nhiễm và trở nên bệnh lý tâm thần hơn là tâm thần lành mạnh. Hay là; đặc nó trong qui chế đúng đắng, bản thể là nguyên thủy bao hàm cho tất cả, nhưng; sau đó mới cách ky hoặc tự cách ly, hoặc ở trong thế giới bên ngoài từ chính nó –Or; to put it more correctly, the ego is originally all-inclusive, but; later it separates off or self-isolation or quarantine an external world from itself. Hiện diện cảm thức của chúng ta về cái tự mình / self là như thể chỉ có mình biết mình, cái còn lại bản thể ở chính chúng ta và thế giới bên ngoài. Thực ra; gọi nó thì, là, hoặc là nó nằm trong khâu tâm thần hay do từ ảnh hưởng khác –either in the mental sphere or in other spheres. Hẳn nhiên chúng ta đã tìm thấy tất cả dạng thể của cuộc đời vẫn còn hiện hữu tới hôm nay.
Chúng ta dừng lại ở đây phòng ngự nhiều vấn đề có thể xẫy ra hoặc được duy trì trong tình trạng thuộc khâu tâm thần, nhưng nó có một sự gì mê hoặc trong đó và trong đó mang nhiều ý nghĩa khác nhau, việc này có lẽ chúng ta thông qua; dù cho nó không có nhiều điều chưa hội đủ cho một cơ sở đưa ra mà chỉ là một dự phóng cho tương lai, quan trọng là chúng ta tìm ra được thuốc chửa (vaccines) để ngăn ngừa giữa lúc đang bành trướng (overwhelming). Đấy là vấn đề cấp thời trước sự lan tỏa đáng sợ. Tuy nhiên; yếu tố đưa tới hủy hoại có thể có nhiều sự lý của căn bệnh: cảm cúm, sổ mũi, ho hen, tiêu chảy … là điều thường xẫy ra ở thành phố lớn đông cư dân như New York, Vũ Hán ngay cả những nơi ít có những xáo động về mặt xã hội, những nơi êm ả như Rome, Madrid, London…; khó khăn cho chúng ta là làm sao khai trừ, tiêu diệt bởi sự tàn phá của siêu vi mà chúng ta xem nó như kẻ thù chung và cũng không vin vào triệu chứng lý hóa nhiên (organic chemistry) mà cho đó là bệnh lý tự nhiên. Thực ra ở đây quá nhiều điều để tìm thấy nó như là hiện tượng mới lạ giữa kỹ nguyên này, kể cả mới lạ đối với nghành y khoa; thế nhưng khoa học y khoa không cho đó lạ lẫm đối với con người. Chính vì vậy mà cần có vật tư để phòng ngừa. Đấy là điều mà chúng ta không đặc nó trong vị trí giảng giải hay dẫn chứng mà đây là một ấn tượng bởi nhiều nghĩa của bất luận tương quan nào –we are not in a position to illustrate this phenomenon by means of any parallel. Có lẽ; chúng ta đi quá xa vấn đề giữa bệnh lý và tâm lý là hai đối tượng tuy gần kề nhưng lại phản đề, bởi; do từ nhận thức hoặc thực hiện mà xa vấn đề muốn nói tới, huống là muôn vàn câu hỏi đưa ra trước một dữ kiện lâm nguy; đó là những gì đã qua, có thể là điều cầm giữ những gì còn có trong đời qua ‘mãn tính’ của sinh lý và tâm lý để không còn tàn phá cho một thể xác lâm nguy mà tạo vào đó một trí năng kiên cố, cho dù có đặc nó vào trong trường hợp của khả năng sinh lý học (physiology sphere) thì sự đó chỉ dựa trên cơ sở xưa cổ gây thêm mù mờ trước một hiện tình khoa học hiện đại. Cho nên chi yêu cầu khẩn thiết là có một xã hội cách ly (social distance) là để phòng ngừa nhiễm bệnh; nhưng sự đó có cách ly khỏi nhiễm thể? Có lẽ; ‘phòng bệnh hơn chửa bệnh’ là yêu cầu cần có cho hôm nay.Người ta sợ về điều này, bởi; quá trình lịch sử đã chứng minh dữ kiện về dịch đã trải dài từ thời Trung cổ cho tới cận đại của đầu tk.hai mươi mốt đã giết hằng triệu người qua những cơn đại dịch khác nhau. Phải chăng đây là vận chuyển của tử sinh, vận chuyển của vũ trụ (?).
Nói về tầm ảnh hưởng hay lãnh vực kích cầu (sphere) thời cái đó nó nằm trong những gì coi đây là bắt nguồn từ ảo giác mà ra, là hình ảnh cuộc đời, mỗi khi cảm thức sự phát triễn thì cơn bệnh theo hình ảnh trở nên trầm trọng, không nhận ra hiện tượng sinh lý mà dựng vào đó cái ám ảnh tâm lý thúc đẩy vào hoàn cảnh hiện thời, một diễn cảm rõ ràng cho những gì đã miễn trừ có từ yêu cầu qua những trải nghiệm thực tế là dành cho một mục đích nào đó, nghĩa là lấp đầy những gì mong muốn trong công việc khó khăn phải đương đầu giữa hai hoàn cảnh sinh lý và tâm lý. Đạt tới mục đích là chúng ta đi qua những dặm đường khó khăn hơn bao giờ, nghĩa là ta phải thách thức (challenge) như yêu cầu để đi tới mục đích, mục đích được xác thực (positive-aim) trên những dặm đường nào đó có thể chúng ta giành được tất cả ao ước –On neither route can we attain all we desire. Sinh lý có thể gây ra từ dương, âm tính hay trong động tác gần kề mà sanh ra vi nhiễm; từ chỗ đó phát sanh dây chuyền trong cộng đồng, lan truyền có tính nhạy cảm trong những trường hợp xẫy ra. Vì vậy người ta đo lường bệnh lý do một phần ảnh hưởng vào đó, một phần trong đời sống hằng ngày với những nguyên cớ khác nhau. Dựa trên lý luận của phâm tâm học: bất luận là ai, con người sanh ra đặc biệt không thuận lợi ở khả năng và không trọn vẹn để đạt yêu cầu việc truyền tinh là do đặt vào đó sự cấu thành có từ tính dục của nam và nữ –Any one who has been born with a particularly unfavourable instinctual constitution and who has not properly undergone the transformation and reordering of the components of (his/her)libido (S. Freud). Thực ra chưa hẳn phải từ người hay động vật hay lý hóa nhiên có thể đến từ trong kinh nghiệm của đời sống mà ra. Khoa học hiện nay là một tiến trình tìm kiếm để xác nhận hơn là xét đoán sự việc.

Hiện tại chúng ta đang đối diện trước một cơn đại dịch, song le; đó là nhiệm vụ khó khăn hơn bao giờ và cũng là một chuyển đổi lớn lao giữa người với người, giữa tinh thần và thể xác là những điều mà trước đây con người xem nhẹ hơn những thứ khác, bởi; con người chối bỏ mọi niềm tin, con người lợi dụng niềm tin mỗi khi tuyệt vọng và chỉ đến trong một đòi hỏi thiết tha. Bệnh lý thuộc sinh vật học do con người gây nên chớ không phải có từ thiên nhiên hay từ lý hóa nhiên mà có; đó là hình thức qui nạp để có nguyên nhân và hậu quả dưới một danh xưng mỹ miều ‘vương niệm siêu vi /coronavirus’, nhưng; thực ra vì tiên tiến hiện đại con người ‘đã xả’ vào đó bao thứ ô nhiễm là triệu chứng không một ai hay và từ đó đổ lỗi hay chụp mũ vào những đối tượng khác nhau; con người đã hàm hồ buộc tội trước một bi thảm xã hội đang ‘trừng phạt’. Một sự trừng phạt vô hình nhưng hữu hình; dẫu là gì khoa học phủ nhận mọi giáo điều để đi tới một xác định cụ thể. Đó là tiến trình của nhân loại kinh qua bao khám phá khác nhau. Lần này; giữa sinh lý và tâm lý đã cho một tinh thần đại đồng hơn là phân tranh. Nghĩa là nó đến với toàn cầu chớ không đến cho mỗi quốc gia. Đấy là điều cho ta nhận thức trước hoàn cảnh chung và cùng nhau nhận một mệnh lệnh bí truyền, bởi: -chối bỏ tức nhận tội trước một khủng khoảng bệnh lý toàn cầu xẫy ra từng giờ, từng ngày của tháng năm. Dập tắt ngọn lửa này là một đòi hỏi thực tập công phu cho một trận chiến không kẻ thù mà trở nên phòng thủ dưới tiêu đề xã hội cách ly từng người một (social distance oneself). Nhớ rằng ‘cách ly’ không còn là ngăn ngừa bệnh lý mà chúng ta đang đoạn tuyệt trước một giới hạn cố hữu. Một thời đại biến thiên vô hạn hữu. Đạt được là phép lạ!
Không ai hứa hẹn sẽ tiêu diệt và bình thường hóa vấn đề một cách cấp thời; mà nỗ lực tìm thấy để ngừa (vaccine) là phương án hữu hiệu. Cả tin thì cho đây là lời phán của Thượng đế: ‘mệnh lệnh bí truyền / inscrutable decrees’. Con người căn cứ trên lời rao để nhận ra đau đớn và hạnh phúc là tiếng nói an ủi tối hậu không có điều kiện mà chỉ có niềm tin. Chinh phục được là chức năng của con người. Nhân tố đó chính là khám phá mới, là thực chứng, là phép lạ tìm thấy giữa con người với con người ./.

VÕ CÔNG LIÊM (ca.ab.yyc. giữa tháng 4/2020)

Thơ Võ Công Liêm

thanh gia2

MÙA CHAY

tôi . lăn tay vào sổ đoạn trường
giữa mùa chay
năm ngón tay
‘run như run
thần tử thấy long nhan’*
nội bất xuất
ngoại bất nhập
tôi . đóng đinh tôi trong bốn bức tường
giá vẽ khô màu cùng gỗ đá
gió mưa đứng lại giữa triền hạn reo
con chim cô độc cất cao tiếng gáy
cho nhẹ linh hồn một kiếp phù du
tôi . hóa thân làm người trốn mặt
giữa chốn ba sinh bóng với hình
hoàng hôn chẻ giữa hai hàng
mi ướt một đời lệ thắm lên môi
con đường chiều nay như chết đói
những ngọn khô buồn theo heo may
em . đứng chờ ai giữa bãi đời ?
chẳng một ai chờ chẳng một ai trông
đưa tay hứng lấy trời vô tận
giữa mùa chay xin nguyện chữ nam mô

tôi . nghe tôi buồn rơi mênh mông
trả lại . những gì tai biến với thời gian
tháng ngày khổ hạnh theo mưa rớt
trên vai nặng trĩu bước chân gầy
làm thân tế độ
giữa trời hoang vu

tôi
phục sinh
tôi ./.

VÕ CÔNG LIÊM (ca.ab.yyc. Good Friday 4/2020)

*ý thơ của Hàn Mặc Tử
KHÚC THÁNG BA

đập vỡ trí tưởng băng hoại
loài vi rút không tên
mang dấu tích tiền kiếp
ngoài kia là đám mây u ám thổi
xuống đời những bi lụy thống thiết
đau thương . em khóc từng ngón xuân nồng
lên vừng trán mênh mông tuổi nhỏ một thời
làm người như nhánh rong khô bềnh bồng trôi theo con nước
nắng mưa bất thường đổ lệ khóc đêm nay cho sáng bình minh
đuổi vô ảnh vào huyệt mộ
làm bằng chứng yêu em một đời và . mắt em ướt màu nắng
môi hé mở cho tóc lang thang bay vào nơi không mộ chí
trong sạch như loài thú hoang
không hơn thua không cầu cạnh
xin làm người hát rong không cầu chứng
tôi . đột qụy tư tưởng
em . đoái hoài mộng du
khúc tháng ba
trần truồng thi thể
chết khô trên tuyến đường
đông châu liệt quốc
bốn mùa dị biệt
phất phơ thổi gió
ngáp phải nhằm ruồi
chiều lục tỉnh ốm

đại dịch . hề !
tiễn đưa người
về nơi
không ai hay .

PHÙ VÂN
tôi thả trôi tôi
thân tàng ma dại
giữa chốn hồng trần
tôi cầm tù tôi
trên răng dưới dế
cả đời thất thế .

NAM MÔ

hồn nhiên tôi thốt . lời kinh thần chú
nhẹ nhát dao vào đời
côn trùng hoà tấu . bi khúc thương đau
a ly lỵ đá tý ca lan*
thuyền hà vi hề độc vãn**

nam mô a lị gia bà lô hê . kiết đế
nam mô vi rút ta bà ha . thế giới
nam mô chúng sanh cực lạc sát na
ma hà yà na . ba la mật đa tâm kinh .

VÕ CÔNG LIÊM (ca.ab.yyc. covid-19 . 30/3/2020).

* thần chú Sanskrit của Pali và Sri Lanka.
** ‘hà cớ chi mà lẻ loi’(vcl)

Thơ Võ công Liêm

vcl-tranh1

Tranh Vẽ Võ Công Liêm: ‘Người đàn bà ngồi nhìn nghiêng đầu với Áo-dài xanh / Seated woman head in profile with green ‘Ao-dai’

NỖI BUỒN BẮC CỰC II

tặng: pmh và một số bạn cũ.
nắng đã rộ từ mây
và . xuân ấp mộng cũ
bằng ngữ ngôn nhân tạo
khép những khúc tình dở dang vào độ
xuân thì em đứng trông
gió mùa biển động dậy
theo nhịp điệu sầu dâng
nắng mở cửa
nghe tiếng khóc đầu đời
nắng gió trở về buồn nôn thậm tệ
nắng đứng
hái từng đọt ưu phiền
gió xé
từng hạt mưa mau cho
đầy chén tương tư nhớ một thời
vong nô tôi dị biệt từng giờ
chôn một đời tạm trú không nguôi
năm tháng chờ mưa chân dội bước
nằm mơ mình lột tả thân côi
mưa khóc đời đi nhé !
rơi vào hư vô . không
tràn lên mắt môi . em
biển ru từ dạo ấy
tôi . tai biến một thời say mưa liên miên .

SỎI ĐÁ

mùa đông đưa tôi về nghe như không
ngoài kia trời xuống thật gần
sóng vô biên phủ lấp đầy
xoáy vào đời như sỏi đá lăn .

TỰ SỰ

màu dĩ vãng phai dần
trong trí nhớ
để tồn lưu tồn lại
tại lưu tồn ./.

VÕ CÔNG LIÊM (ca.ab.yyc . cuối 3/2020)

VÕ CÔNG LIÊM: TÂM THỨC

BỒ-ĐỀ-ĐẠT-MA Và HUỆ-KHẢ

hoasen2
gởi : nguyên giác phan tấn hải.

Nói đến tâm thức tức cho ta một ý niệm về ngã thức; có nghĩa là nhận thức (awareness) hay ý thức trong sáng (consciousness) là một cái thức chân tâm để thấy được giữa tâm với tâm. Còn thức ở chính mình; là biểu thị như một cái gì thuộc về ta, ở ‘tôi/moi/self’ là cái tôi thuộc về ‘ngã mạn / the ego’ cái đó thuộc bản chất. Mỗi khi nói ‘ngã’ hay ‘tư kỹ’ là cá thể hóa của cái ngã phân biệt của chủ thể hiện thực, một cái ngã tư duy, phân biệt những gì không phải là mình mà nó thuộc Cõi Khác/ Others, tức gián tiếp chỉ cái tôi ngã mạn, nói cách khác là phủ nhận chính mình là một thứ phi ngã. Tuy nhiên không tránh khỏi thuyết nhị nguyên hay lưỡng phân tự tại. Một chủ thể sinh động trước hoàn cảnh, hoàn cảnh tự do và trách nhiệm, một vượt thoát khác dưới dạng thức khách thể thụ động, một cái gì đã qui định để rồi đi tới trách nhiệm bản thân. Cái đó là bản chất tự tại, một bản chất chứa đựng cái vị ngã trong ngã thức. Đó là duyên hay nghiệp của con người trong đời sống thường ngày; cũng có thể đó là chủ-thể-nghịch-tính (self-contracdictory) giữa bản chất (essence) và ngã thức (self-conscious). Ở đây biểu thị cái toàn thể tính bất khả tri đối với thế giới của nó hoặc ở chính nó. Cũng có thể vì bất khả phân mà chối bỏ: Không! Đó là tiếng thốt phủ định giữa chân tâm và giả lập. Bởi; trong giả lập là ‘độ’ nhưng phải chối từ là phủ định từ, vì; không thể đưa người ta qua sông lụy; cái cốt tủy của Phật là giải thoát để qua khỏi bến mê mà phải ‘phá trừ kiến chấp’ là cái gì không qua một quy trình giáo lý hay giáo điều. Thời mới tới ‘đáo-bỉ-ngạn’ của một tâm thức. Thiền phái là phá chấp để đạt tới chân tâm. Chân tâm là gì? Là bát-nhã (prajnã) là trong sáng tối thượng (transcendence consciousness) tức là Trí-Huệ-Bát-Nhã (vajra prajnã paramita).Đó là lý do hướng tới một tâm thức siêu việt.
Ở vị trí này chúng ta đối diện giữa hai đối tượng chủ thể và khách thể. Một ngã thức Bồ Đề Đạt Ma là bản ngã nhận thức và Huệ Khả là ngã vị nhận thức; xác nhận chính mình tức là cá thể chính mình (the Ego), đồng thời có cái ngã phân biệt trong đó, phân biệt khỏi những gì không phải là mình mà là một xác định nghi ngờ như là chủ thể xác nhận và là cái gì buộc xác nhận; xác nhận hai bề mặt giữa thầy và trò là một sự kiện hiện sinh đề ra cho chính mình. Thời giữa hai cái lập tức đó: ngã thức và vị ngã là cả một khích hoạt ở chính nó. Một bên chủ thể linh động, có trách nhiệm (Bồ Đề Đạt Ma). Một bên là khách thể thụ động, muốn dự cuộc (Huệ Khả). Sự khởi dậy của ngã thức đánh dấu sự khởi dậy của chủ-thể-tính, Cả hai coi như là chủ thể gặp gỡ và thừa nhận. Sự lý như thế nhà Phật cho là nhân duyên của cấu thành, một thiết kế khởi dậy từ tâm thức, biểu thị như thế thời gọi là sứ mệnh. Hơn thế nữa; chủ thể bản ngã và khách thể ngã vị tham dự vào chủ thể tính của đối tượng đang rơi vào hoàn cảnh khốn cùng, trắc ẩn và tình thương; có thể đó là chủ thể tra vấn, hoài nghi, hiểu và nhận, đánh giá và phán đoán trước hoàn cảnh. Có phải đó là nội thức phản kháng trước sự lý để đi tới quyết định và thi hành? Cái đó là vĩ đại của bản ngã trong ngã thức. Đó là phẩm cách của con người trong đời sống, một đối đầu thật sự của người xử thế chân tu đứng trước hoàn cảnh. Giờ đây chủ thể và khách thể chỉ còn cách nương vào ý-thức của Thức-Mạt-Na (Manas Vijnãna) có nghĩa là chấp một Ngã của ngã thức để hành xử cái gọi là A-Lại-Đa-Thức (Alaya Vijnãna). Bồ Đề Đạt Ma phải quay về với Vô-Niệm, vì; vô-niệm tức vô-thức. Thức là bản lai diện mục. Nhất là phái Thiền của Bồ Đề Đạt Ma là hướng tới chính giác của tâm-vô-niệm tức tâm-không-phân-biệt. Với Huệ Khả lúc này là hướng tới cái vị-ngã-dự-cuộc; cái công việc có vẻ bất-khả-tư-nghị giữa một ý thức cám dỗ -hay bị bó buộc vào hoàn cảnh- một thứ chối bỏ chính mình như một chủ thể chân thực. Nhìn hiện thể bi đát như chứng thực hiện thực của yêu cầu. Bởi vậy; vô-niệm tức là không phân chia. Giữa Bồ Đề Đạt Ma và Huệ Khả phải thực hiện một trí huệ vô biên của cái ‘vô-niệm’. Vì sao? -Niệm là vô-thức trong tạng-thức. Họ phải nghĩ ở chính họ:’Ta không phải là Ta và cái không phải là Ta tức là Ta’. Có cái gì nghịch lý? Không! Đó là –chân không (nothingness): cái như-không, như-phật, như-lai, như-tạng-giới của cái gọi là bất diệt và hữu diệt ‘la discrimination de la non-discrimination’ trong một tâm thức như-nhiên, trong bóng không vướng đục.
Do đó; dù có thăm dò, tìm hiểu chân lý tối thượng của một tâm thức là cả một nỗ lực bởi bản ngã; để đối trị với mâu thuẩn, với tình huống hoặc rơi vào ảo ảnh có tính chất hư-vô và hủy-diệt. Trong đời sống hiện hữu bản ngã thường kết hợp vào nhiều mức độ khác nhau, giữa tri giác và nhận thức. Chính trong ý niệm này là một khởi thủy hiện sinh là mục tiêu tối hậu của Thiền. Cốt cách ‘diện bích’ của Bồ Đề Đạt Ma là để tìm tới một phân tâm quán triệt. Nhưng con đường của Thiền là thức tỉnh. Không lấy ‘diện bích’ làm đối thể; mà lấy ‘diện bích’ đối diện thực thể với Thần Quang. Một thách đố giữa kẻ tu Phật và giữa kẻ muốn y áo với Phật. Đó là mẫu thức bản ngã thách đố cho cả hai. Theo “Truyền Đăng Lục” Thần Quang là bật thông đạt, uyên bác đạo lý nhân tâm, rộng đường sách vở, giỏi về lẽ huyền nhiệm. Coi giáo lý Khổng Lão là lễ thuật, phong qui. Lý thuyết của Trang, Mạnh chưa tận diệu lý. Thần Quang chối bỏ đi tìm đạo ‘chân-không’. Thần Quang đem tâm thức của người yêu đạo hoà nhập vào một tâm thức tâm lý để tìm tới chân lý tánh không. Ở Thiếu Lâm có vị sư người xứ Thiên Trúc (Ấn độ) tu đạt đạo đã nhiều lần nhập cảnh. Sư thường diện bích để tham Thiền chẳng nghe rao giảng. Kiên trì theo dõi cái chân tâm tu học đó. Vào mùa giá tuyết Thần Quang quyết tâm xin tu học. Đứng dưới tuyết, tuyết phủ ngập người. Sáng ra; Bồ Đề Đạt Ma thấy kẻ lạ đến cầu xin tu Phật: -‘Đạo huyền diệu vô thượng Phật, nhiều lượng kiếp, hành cái khó hành, nhẫn được cái không nhẫn’. Bồ Đề Đạt Ma nói.Thần Quang với mối bất an, tâm động bỗng nghe qua thức tỉnh. Thần Quang vị pháp quên thân đoạn rút đao chặt cánh tay trái dâng lên sư. Sư tin vào lòng tu; nhận làm đệ tử đổi tên là Huệ Khả.
Câu chuyện có tính chất huyền thoại, hoang đường. Hành động và cử chỉ của đôi bên chưa phải là nhất tâm mà chứa một bản ngã bất ổn, một rối loạn tâm tư, một phản kháng nội tại là nột nghịch-lý-tính tu học. Cái lưỡng lự và hoài nghi của vị sư Ấn với một người muốn dự cuộc. Tâm trạng cả hai giữa lúc này một đằng là cứu cánh, một đằng là phương tiện nhưng cả hai lại cùng một mục đích. Đúng vậy; đó là ước thệ hiện sinh, một yếu tố phân tâm lý học, một bản ngã tự tại giữa chối từ và gia nhập. Dù sử tính như một biến cố; cuộc tìm kiếm là nguồn cơn phát sinh từ ‘khổ hạnh / passion’ mà ra, cái đó là cái nghiệp một hệ lụy trói buộc con người khổ cảnh là cấu thành để phải thoát ly cảnh giới. Cái nhân tố quyết định của Thiền là dòng sinh mệnh vô biên mà đối diện chân thực của bản ngã trong ngã thức. Bồ Đề Đạt Ma cho rằng: ‘không thể tìm thấy chân lý bên ngoài’ lời khẳng định đó chính là cái tâm bên trong ‘inner’ của người tu Phật.Trong thuật ngữ nhà Phật; ta có thể coi ‘tâm’ là bản ngã như là chủ thể, nó chứa một cái gì bao la, rộng mở, nó khác chữ tâm / Psyche (Hy Lạp) và tâm / Geist (Đức) có lối diễn tả gần gũi hơn. Vậy bản ngã như là chủ thể là gì? –Là trạng huống chủ-thể-tính bị ước định, bị dày vò vì bất an và lo âu cầu xin được an tâm. Có thể đó là một đối tượng chủ thể (Huệ Khả) nó sẽ không bao giờ là đối thượng khách thể (Bồ Đề Đạt Ma) ngoại trừ cả hai là một tương hợp. Mọi nỗ lực như thế là để gạt bỏ một chủ thể thụ động trước hoàn cảnh. Huệ Khả chỉ ao ước một điều là giải tỏa cái tâm bất an trước một thực thể hiện hữu. Không một thắc mắc, không một lý sự, cũng chẳng phải quá khứ vị lai, trực chỉ nhân tâm vào cái sống động tha thiết trước một con người đau khổ. Tổ nói: ‘tương tâm lai vị nhữ an / đem tâm ra đây ta an tâm cho’ Không phải đây là công án Thiền mà là đem ra cái bản-ngã-chủ-thể để gọt rửa phiền não; đó là tối hậu căn bản, không phải là bản ngã có vấn đề mà bản ngã chính là vấn đề. Ý rằng; ai là kẻ không phiền não chỉ cho tôi xem; mà đó là vượt qua cái khe hở phân ly nội tại và ngoại tại để có thể nhận thức trọn vẹn và chân thực nó là ai và nó là gì để an tâm.

Tâm thức của Bồ Đề Đạt Ma và Huệ Khả là thứ tâm thức A-Lại-Đa (Alaya), tâm bình đẳng, tâm không phân biệt, tâm không hình thể mà tâm Vũ trụ bao la vô cùng tận, a-lại-đa-thức bao hàm luôn vạn pháp là một nhứt thể -L’Alaya; c’est chacun de nous, c’est chaque chose et c’est l’ incommensurable TOUT (Le Bouddhisme du Bouddha par Alexandra David Néel). A-Lại-Đa là có trong mỗi chúng ta, là mỗi sự vật mà cũng tất cả vạn hữu vô biên, vô lượng chúng sanh nằm trong đó. Mặc khác; người đệ tử đối với vị thầy hằng cửu đồng thời cũng là vị thầy trao y áo mà vì lòng bi mẫn đã xô đẩy vào cái hố thẳm nội tại, một yêu cầu của dục tính ít nhiều hư hại cho một tâm thức giác ngộ, một tâm bất an, dày vò, sống sượng trong hành động chặt tay. Sự hiến dâng của Huệ Khả cũng động đến tâm thức của Bồ Đề Đạt Ma. Đó là sự liệt nhược giả dối không phát sinh trực tiếp từ vết thương hay đây là mâu thuẩn nội tại đối đầu với chân-không? Chính cái tâm thức đó phát sinh từ bản ngã như kẻ mang vết thương ‘tội lỗi’. Trạng huống tâm thức giữa thầy và đệ tử là nội dung bản ngã không phi-chủ-thể và cũng không thực sự phi-khách-thể. Tuy nhiên đây không phải là tiền-ngã-thức (pre-ego-consciousness) kiểu thức này nằm trong dạng thức của ngã thức u mê trẻ con, ngã thức bại hoại tâm bệnh, ngã thức tê liệt thuốc mê v..v.. Đó là cái bản ngã hoàn toàn tận triệt không còn là chủ thể hay khách thể. Mà đó ‘thủy tử’ nước chết để đạt tới chân không là phải diệt, trừ, phá thời mới mong tìm thấy ánh sáng của ‘huệ-minh’ Ngay cả khi nhập diệt Phật nói với môn đệ : ‘xưa nay ta chẳng nói một lời nào’.Trong hàm ý đó vẫn nhận ra được tánh không của Phật là Ngộ tức nhân tâm ‘một chữ tâm bằng ba chữ tài’ (Kiều) là triết siêu lý của nhà Phật. Mà; Phật đâu phải là tôn giáo, bởi; tất cả mọi thứ đều vô thường (anityâ sarve samskâra) và tất cả cái gì vô thường đều được kết thúc trong đau khổ. Tất cả những gì đau khổ đều vô ngã là vì cái gì vô-ngã là không (sunyam). Khi cả thầy và đệ tử nhận thức ý tứ Phật tức đạt tới nhân tâm cho một tâm thức phá-ngã nghĩa là không thấy chính mình mà chỉ thấy chân-không vô-vị-ngã. Bởi thế đứng trước hoàn cảnh này Bồ Đề Đạt Ma và Huệ Khả phải đem tâm ra truyền tâm một cách quán triệt để đi tới ‘đạo-đế’ nghĩa là tìm thấy độc đạo là giải thoát là bát-chánh-đạo để qui về Huệ, Bát-nhã, Giới và Định nhưng phải cần có giáo (sruta) và luận (cintâ) thời mới thấy được Phật tính trong con người tu học Phật, mới thấy được Đại-huệ một thứ Huệ-minh, đó là; một nhận thức trực tiếp giữa sự kiện mà không cần phải nhờ vào mặc khải hay giáo huấn nào khác. Huệ Khả chặt tay dâng thầy như một bày tỏ để tìm tới đạo; cái lý đó không phải chứng minh hết lòng tận tụy của Huệ Khả mà là nhận tội như để cứu chuộc. Tâm siêu việt ở Bồ Đề Đạt Ma là thấy được huệ-minh trong Huệ Khả, do đó đã an tâm cho Huệ Khả bằng tâm Bát nhã.
Đứng trên bình diện phân tâm học (psychoanalytic) dù là tâm lý khoa học nhưng tác động để thấy cái lý như nhiên đã cấu thành bằng một tục truyền để trở nên đạo lý. Freud nhìn sự kiện dưới mắt triết lý và đức lý để lý giải trạng huống thuộc tâm thức. Chủ ý của nó là củng cố Bản ngã (Ego) khiến cho nhận thức độc lập vượt ra khỏi Siêu ngã (Super-Ego) mà cần mở rộng trí huệ để thích ứng hoàn cảnh và có thể thích ứng cho chính nó qua một tư duy mới mẻ hơn là Di-ngã (Id), bởi; ở đâu có Di-ngã ở đó có Bản ngã. Theo khoa phân tâm học giải thích về tâm thức cho cả hai chủ thể và khách thể là tìm tới ‘giải thoát con người’ ra khỏi triệu chứng tâm thần với một tinh thần dồn nén, đau khổ (Huệ Khả) và một thách đố thực tại (Bồ Đề Đạt Ma). Freud quan niệm rằng: ‘kiến thức đưa tới chuyển hóa’ rằng là lý thuyết hay phi lý thuyết, thực hành hay phi thực hành đều không được phân ly, cách biệt mà tự trị như một chuyển hoá vì cái sự tương quan đó dựa trên tình yêu và chân lý, nghĩa là; thừa nhận thực tại bằng một ngăn ngừa giả dối hay bịp bợm nào đó. Vị chi; tâm thức ở đây là một dàn trải của trí huệ, một trí huệ siêu việt thời cái ‘huyền thoại’ được chứng thực là ở chỗ đó. Nó không còn phiền lụy tư duy mà ở đây mở rộng cánh cửa về tâm thức của thiền đốn ngộ.
Tinh thần của Bồ Đề Đạt Ma và Huệ Khả là đòi hỏi một tâm thúc giác ngộ để thấy ‘ta không phải là ta’ thì đó là liễu quán chân tâm. Bản ngã trong ngã thức vừa là một hành động vừa là sự kiện. Thật ra; ngã thức bình thường đã vượt qua dù không phân biệt giữa chủ thể và khách thể, chính mình cũng không phải mình nó bao bọc toàn thể lãnh vực của hiện hữu ngay cả phân biệt giữa hữu và phi hữu. Lý luận như thế để phân định giữa hai đối tượng, nghĩa là cái gì của Bồ Đề Đạt Ma là chánh pháp và cái gì của Huệ Khả là trí tuệ đó là bình diện giữa chủ thể và tha thể. Cái biểu thị là cái được biểu thị, cái mà nhận cho là biểu thị Tự Thể, còn cái xin gia nhập là biểu thị Tự-Thể-Ngã. Phân biệt được như thế tất đạt tới tâm thức giác ngộ. Một sự cớ trong sáng, rõ ràng, vi diệu mà bấy lâu nay chúng sinh lần mò trong vũ trụ vô thức (unconsciousness) mà không thấy huệ-minh chiếu sáng vào tâm-như. Cũng chính nhờ ngộ bản ngã tự tại tiêu tan mà phát tỉnh bản ngã để thấy ta không còn là ta tức phát tỉnh của Tự-thể. Tĩnh ở đây là căn nguyên không còn động vọng, tĩnh ở chỗ không bao giờ còn có hiện hữu tồn lưu. Thật vậy; phát tỉnh được Tự thể là nhận thức được chủ thể tính của bản ngã. Thể tính của Thiền là loại bản ngã xa lià nhân thế; còn nuôi nấng nó thời không tồn lưu mà gieo vào một thứ bản-ngã-chết/thủy-tử. Đau khổ là mối bận tâm không giải trừ ,vì; ‘Ego’ còn vây quanh như cái nghiệp. Nói rút lại; tâm thức ở đây là thức tỉnh chỉ còn lại cái tâm vô lượng là thành tựu của Tự thể. Vì rằng; chính-nó và không-chính-nó như là thực tướng hiện hữu trong không gian. Đúng thế! Cái này gọi là say đắm hôn mê ‘ecstasis’ thời làm sao vượt ra được cái bản-ngã-tự-tại giữa hữu thể và phi hữu thể. Mà; biểu hiện ở đây lòng xót thương sống động thức dậy từ Tự thể; xác nhận toàn diện một hữu thể ở Bồ Đề Đạt Ma và một Tự thể khác là giải thoát toàn diện về ngã thức ở Huệ Khả.

Nhìn chung đã cho chúng ta nhận thức được bản ngã là bản lai diện mục qua từng cá thể. Muốn có một cảm thức trong sáng, chói rọi là có từ vô-ngã để đi tới chân-không của huệ-minh. Triệt thoái cái ngã tự tại (Ego) và cái ngã bản chất (Self) tại thế là tới bến bờ giải thoát; một tinh thần vô lự nghĩa là không còn ranh giới giữa Có và Không mà vốn đã là Không. Thời không còn gì hơn mà chỉ còn lại một tinh thần trong sáng cho một thân tâm trường cửu. Cưu mang là nghiệp chướng. Đạo trong sáng là tâm trong sáng của chân-lý-tánh-không; không đục không trong, không tất cả. Rũ bỏ hết để thấy như-phật là bất diệt và hiện hữu tồn lưu nhân thế. Cho dù; chúng ta đang nhập cuộc giữa những cổ xe truyền thừa (vehicles) lớn nhỏ khác nhau, đều tới một bến của Trí-Huệ; một điểm dừng tuyệt đối, vô biên của con người. Nơi chẳng phải là Niết Bàn! ./.

VÕ CÔNG LIÊM (ca.ab.yyc 23/10/2014)

SÁCH ĐỌC : ’Quan Niệm Giải Thoát trong Phật Giáo Cũ’ của Linh Mục Thiện Cẩm. Đại Nam. SGN 1970.
TÌM ĐỌC THÊM: Những bài viết về Phật giáo Đại Thừa và Tiểu Thừa của võcôngliêm trên một số báo mạng và tc. giấy trong và ngoài nước hoặc email theo đia chỉ.

  WW III

 Võ Công Liêm

the world

chiến dịch phòng thủ
thế chiến thứ ba
trên khắp toàn cầu
thứ vũ khí
không người lái
lan toả
nơi nơi
không đầu
không mắt
không tay chân
không súng đạn
không xung kích
chốt
1980
nỗ
2019
chết lần hồi
không trăn trối
chiến tranh không biên giới
phòng không
cánh diều
cánh cụp

dập
chụp
chận
đồng minh
2020
hỏa lò báo động
năm tỷ do thái
rình rập
chiến tranh không biên giới
võ trang
xịt
bịt
nín
câm
cuối cùng chết như rạ
chủ nghĩa siêu vi mới
thế giới cúi đầu chào
hiện tượng thiên niên kỉ
lan tỏa như bóng đè
chiến tranh không biên giới
từng bước chân âm thầm
tôi . về cố đô tôi
nhận diện hạt mưa mau
loài qủy ám
không hình không sắc không hộ chiếu
tôi . che mặt tôi
làm người giác đấu
không đao to búa lớn
tôi . tại ngoại
hầu tra . thế chiến thứ ba
nỗ ./.

VÕ CÔNG LIÊM (Bangkok/Pattaya . 3/2020)