Đêm Giao Thừa Với Nỗi Lười Biếng Ngọt Ngào

PHẠM NGA

hoa2

Cái bổn-phận-sự được xem là cuối cùng năm cũ của tôi là phụ bà xả bày chiếc bàn nhỏ ra bên cạnh cây mai già ở sân trước, xếp đặt đầy đủ phẩm vật chuẩn bị cúng đón giao thừa. Nhà nào cũng cửa đóng, then cài, ngõ xóm chợt im ắng lạ thường vào thời khắc năm cũ/năm mới sắp bàn giao. Cặp đèn ly được đốt lên, tạo một khoảnh sáng lung linh, thật ấm cúng trên chiếc bàn cúng…
Tôi lặng lẽ rút lên phòng, ê ẩm cái lưng tuổi già sau mấy ngày cập rập đón Tết nên nằm dài trên giường – nghỉ ngơi chờ giao thừa thôi! Đêm nay, tôi không mở các đài phim Mỹ AXN, HBO, StarMovies…trên ti-vi như thói quen giải trí từ cả mấy chục năm qua mà rà chọn đài SCTV3. Đài này chuyên phát các chương trình phục vụ thiếu nhi nhưng 6 giờ sáng mới bắt đầu, còn giờ này chỉ phát nhạc hòa tấu và đang đêm giao thừa nên có ‘chạy’ lời chúc Tết. Thật hay ho là tình cờ đài lại đang cho nghe album “On The Mirror” lừng danh của Yanni. Hơn thế, lại đúng các bài tôi rất ưa chuộng lâu nay, cứ nghe đi nghe lại mãi không chán – nhất là lúc viết lách là mở luôn thật nhỏ trên PC, như các bản: A Love For Life, The Morning Light, Once Upon A Time, On The Mirror… (tạm dịch mấy cái tựa là: Tình Yêu Cuộc Sống, Ánh Ban Mai, Ngày Xửa Ngày Xưa, Phản Chiếu Từ Tấm Gương Soi…).
Vài phút giây nữa là tôi coi như bước vào tuổi ta 71 và cái lão vừa chớm “thất thập cổ lai hy” đang tự cho phép mình lười biếng, khỏi làm việc gì cả, chỉ nằm dài, nằm im mà nghe nhạc. Cuộc đời lại đang rộng lượng bỏ qua cho cái trò lười biếng, phi lao động của tôi, còn ban tặng cho tôi một chuỗi âm nhạc tuyệt vời! Chỉ từ một cái ti-vi cũ mèm, chứ nào phải từ cả một giàn amply, loa HIFI… hoành tráng nào đâu, thế mà những bản hòa tấu hiện đại này (Yanni tự gọi các tác phẩm của mình như thế) đã chuyển tải đến người nghe dòng nhạc điệu hết sức tuyệt diệu. Luôn ăn ý với nhạc điệu của bản nhạc được gọi tên, những cái tựa bản nhạc, như Tình Yêu Cuộc Sống, Ngày Xửa Ngày Xưa, Ánh Ban Mai…, đã quá thích hợp để êm ả vun bồi cho cảm xúc trầm lắng của tôi cùng những ai đang nhìn lại dĩ vãng coi-như-cũng-tạm-được một năm qua, đồng thời nhen nhóm trong lòng một ít kỳ vọng vào tương lai cuộc sống…
Chưa hết.Trong lúc cái lưng già đã chịu êm ả trở lại, tôi mơ màng nghe nhạc, hưởng thụ niềm an lạc nhỏ bé của mình thì đúng 12 giờ đêm. Giao thừa rồi! Tôi hơi tiếc rẻ nhưng cũng tắt tivi, chổi dậy và định bước ra hàng hiên trên gác để hít thở nay bầu không khí ngoải trời đang tươi nhuận chánh-hiệu-năm-mới, bỗng cái điện thoại trên bànkêu lóc cóc…
A! Bạn bè tới tấp gởi message chúc Tết đúng giao thừa, đúng ngay lúc ngôi chùa cạnh nhà bập bùng gõ trống mừng Năm Mới!
Phải nói là bạn bè thiệt siêng năng, vừa chúc Tết, chúc Năm Mới cho gia đình tôi lần nữa ngay thời điểm giao thừa, mặc dù mấy ngày cận Tết chúng tôi đã rộn ràng trao đổi nhau, hết chúc riêng rổi chúc chung, không biết bao nhiêu là email, tin nhắn cùng entry chúc Tết, chúc Xuân, chúc Năm Mới trên Facebook, Messenger và Gmail với đủ thứ hình ảnh, tranh vẽ, nhạc minh họa đủ kiểu đủ màu kèm theo.
Tôi cảm thấy hạnh phúc tràn đầy khi nhận ra đã có những bạn bè thương mình, quý mình đến nỗi chỉ mấy giây sau 12 giờ đêm giao thừa đã gởi ngay lời chúc Tết đến mình, bởi để chuẩn bị chúc Tết đúng giao thừa, người ta thường ‘khóa’ sẵn vài cái tên thân thương nhất trong danh sách ưu-tiên-số-1của riêng mỗi người và các bạn tôi đã quyết định cho tôi đứng đầu danh sách. Anh chị em đã giành hết mấy giây đầu tiên rất thiêng liêng của năm mới để trước tiên là chúc Tết tôi, sau đó mới có thể chúc tới ai khác, bởi trên điện thoại không thể nào bấm song song cùng lúc các message.
Gần hai giờ sáng rồi. Tôi lãng đãng đắm mình trong nỗi lười biếng ngọt ngào, cũng là một cảm giác hạnh phúc thật tươi mới giữa đời thường nên tự hứa sáng mai mùng Một (chỉ vài giờ nữa thôi) nhất định sẽ dậy thật sớm để làm việc-cần-làm-ngay là chúc Tết hồi âm những message quý giá mà bạn bè thân thương vừa gởi cho ngay giao thừa…
PHẠM NGA

PHỐ, ĐÊM, MƯA

Tản văn Pham Nga

1.
Những ngày này, bởi ảnh hưởng của liên tục những cơn bão ngoài Trung, Sài Gòn mưa liên lỉ, hết cơn lớn, ào ạt trút nước lại đến cơn nhỏ lâm râm kéo dài. Tôi đành bó gối ngồi nhà, bởi ngại mưa gió nên cả những công việc cần thiết phải đi – trong đó có đi bộ ở công viên, cần cho việc trị tiểu đường- cũng đành bỏ qua hay gác lại, nói gì đến chuyện đi chơi, ra quán quen gặp bạn già tán gẩu… Càng nên ít ra đường, đến nơi công cộng còn vì ‘giãn cách xã hội’ có mức độ vẫn còn cần thiết bởi Covid19 chỉ lắng xuống, chưa hề kết liễu. Đành xa cách, vắng mặt đối với phố phường thân quen.
Vâng, trước mùa bão tháng 10, nghĩa là chỉ mới nửa tháng trước, khi ‘giãn cách’ bởi dịch bệnh được nới lỏng, mọi người dù có nghiêm chỉnh mang khẩu trang hay không vẫn có thể ít nhiều thong dong ra phố, từ ngoại ô vào nội thành hay từ Sài Gòn đi các tỉnh và ngược lại… Giờ đây, đến lượt thời tiết mưa gió lì lợm kéo dài cũng gây ‘giãn cách’ chẳng vui vẻ gì hơn dù chỉ bó buộc, hạn chế về không gian giữa con người với nơi chốn con người muốn lui tới hơn là ‘giãn cách’ xã hội, tức giữa người với người để phòng dịch lây lan trong cộng đồng.
Đêm nằm thao thức, nghe tiếng mưa rơi ngoài trời khi thì vang rền khi thì khẽ khàng buồn thiu. Lại chạnh nghĩ đến bão lũ tàn khốc vửa qua đã gây nhiều tang thương, mất mát cho bà con các tỉnh miền trung Trung bộ.
Trời đã khuya, văng vẳng tiếng hát karaôkê bên nhà hàng xóm:“Ðêm khuya mưa rơi rơi trên đường vắng/ Ðôi chân lang thang tâm tư trầm lắng…” . Mặc cho cái giọng nam trung thô thiển rớt nhịp hoài của anh hàng xóm, tôi vẫn bàng hoàng bởi từ thời trẻ trai đã thích dòng rumba/boléro đơn sơ, không cầu kỳ mà thật dễ mến của Văn Phụng. Và lúc này, đang đêm mưa buồn lại tình cờ được nghe bài ‘Giã từ đêm mưa’ với nhạc điệu khoan thai mà đầy níu kéo của ông nữa thì thật hạnh phúc.

2.
Xưa nay trong văn học nghệ thuật, từ một mẫu minh họa cho tập thơ, cuốn truyện cho đến khuôn hình trang trí bìa một bản nhạc, thường hay có hình ảnh phố đêm – những con đường, những góc phố vắng lặng, im lìm. Và, như các tác giả thường đươc gợi cảm hứng hay chọn làm nguyên mẫu, đó thường là thành phố Sài Gòn thân thương này.
Bởi được thể hiện trong văn chương nghệ thuật nên những “văn ảnh” phố phường này luôn có cách điệu. Trước hết là có mưa – mưa nhẹ nhàng, lướt thướt thôi cho thêm phần buồn bã cảnh đường phố ban đêm. Kế đó, trong văn ảnh thường là những con đường nhỏ, hẹp hay ngõ hẻm lụp xụp, nhà cửa cũ kỹ, mộc mạc thôi chứ không cần thiết là đại lộ nguy nga, cao ốc hào nhoáng. Đôi khi, như trong ca từ bản ‘Phố đêm’ (Phạm Đình Chương), lãng đãng có “ánh đèn vàng hắt hiu” – ánh sáng vàng vọt, yếu ớt, thê lương mới phù hợp chủ đề về phố mưa buồn, phù hợp với chính hình ảnh rất quen nơi các tờ nhạc in ngày trước: chàng nhạc sĩ nghèo, cây guitar cũ mang trên vai, lầm lũi bước đi dưới ánh đèn đường. Chứ phải nói là xa lạ, lạc điệu là loại ánh sáng ngày (day light) trắng toát của đèn néon cao áp chiếu sáng các đại lộ, cầu bắt qua sông, giao lộ hay vài đoạn xa lộ đi qua khu phố, thị trấn.

3.
Nhớ thời trẻ trai, tôi vẫn lo học hành đàng hoàng nhưng do có phần bắt chước ‘nghệ sĩ tính’ từ các đàn anh ban C, nhiều bận tôi đã cùng nhóm bạn thân rong chơi phố phường Sài Gòn, luôn cả vào giờ giấc rất khuya muộn. Cả bọn thích đi bộ lang thang hay chạy xe thật chậm qua những con phố đêm vắng lặng không bóng người. Gặp lúc đô thành có lịnh giới nghiêm, cả bọn vẫn lì lợm, lang thang đến sát giờ còi hụ mới chịu quay về. Hay nếu có mưa nhẹ, lất phất trên đầu thì càng thú vị, đến nổi đứa nào có đem theo áo mưa cũng không lấy ra mặc vào khi mưa đã rớt hột. Có khi đang chạy honda ngoài đường, trời đang tạnh ráo bỗng mưa kéo đến, gió nổi lên rào rạt cùng sấm chớp ì ầm, cả bọn lại thích chí cười vang, kể cả các cô bạn ngồi yên sau cũng vui hẳn lên. Nỗi phấn chấn, hứng khởi kỳ cục khi nhận được những giọt mưa đầu tiên rơi xuống mặt!
Đến thời tốt nghiệp, ra trường, đi dạy học, đi làm báo, lãnh lương thì bù khú chút đỉnh với anh em. Nhớ những lần tình cờ ‘bắt’ được ngoài phố mấy tên bạn thân thiết, bạn thơ văn…đã rất lâu không gặp là dẹp hết mọi bận tâm hay kế hoạch trong ngày, ngay lúc đó kéo nhau ‘tấp’ đại vô một quán nhậu, sạp nhậu xập xệ lạ hoắc thấy trên vỉa hè. Quán chỉ có rượu đế, rượu thuốc cùng cóc ổi, đậu phộng…, cũng chẳng hề kén chọn, cứ mãi miết vừa ‘xây tua’ vửa hỏi thăm nhau tin tức bạn gần bạn xa, đứa này đứa khác. Rồi cơn mưa chợt đến, tấm bạt che mưa cũ rách chẳng ra trò trống gì, mưa dột mưa hắt làm ướt đẫm cả tóc, cả lưng mấy gã bợm ké né ngồi đó. “Tữu phùng tri kỷ thiên bôi thiểu”, anh em bạn bè vẫn tỉnh bơ nâng ly, chén tạc chén thù. Có điều cũng lạ, cũng ngộ là ai nấy dù uống nhiều, uống liên tục như thế nhưng chưa lần nào có ai say gục đến phải nằm lại tại chỗ. Nhậu đã đã mà trời còn mưa thì ‘10 lần như 1’, cả bọn kéo hết vào một quán cà phê.
Cứ như mưa trời chẳng những không có vẻ gì gây khó dễ băng nhậu tri kỷ tụi tôi, ngược lại còn góp vui, góp phẩn giúp bữa nhậu ‘tao ngộ chiến’ càng tăng thêm phần hào hứng, thú vị. Lúc này nếu tình cờ hay ho là mượn được cây guitar, chắc chắn sẽ có bạn đòi ai đó hát cho nghe hay tự hát luôn những ca khúc rumba/boléro, những nhạc phẩm cùng nhạc sĩ theo ‘gu’ riêng của bọn tôi, cũng đẫm nước mưa hay đẫm… rượu đế, như: Mưa Sài Gòn mưa Hà Nội (Phạm Đình Chương phổ thơ Hoàng Anh Tuấn), Những ngày xưa thân ái (Phạm Thế Mỹ), Trăng tàn trên hè phố (Phạm Thế Mỹ), Giã từ đêm mưa (Văn Phụng), Phố đêm (Phạm Đình Chương), Những bước chân âm thầm (Y Vân), Mưa đêm ngoại ô (Đỗ Kim Bảng)… Và chắc chắn cả bọn sẽ không bỏ qua nhạc Trịnh Công Sơn, trong đó có bài tuy không phải rumba/ boléro nhưng ‘trứ danh’ là ngay ở câu đầu đã nhắc luôn tới mưa: “Mưa vẫn hay mưa trên tầng tháp cổ” (Diễm xưa), hay “Em đứng lên gọi mưa vào hạ” (Gọi tên bốn mùa), hay mưa rơi suốt bài suốt bản luôn là “Trời mưa, trời mưa không dứt. Ô hay mình vẫn cô liêu”(Lời buồn thánh).
Phố. Đêm. Mưa. Ba yếu tố ngoại cảnh thân quen đã góp phần làm nên bao kỷ niệm sâu sắc cho thời học sinh lớp tú tài cùng thời sinh viên thư-sinh-mặt trắng chúng tôi. Cái thời bọn trẻ tóc còn xanh nhưng đã không khỏi già háp bởi những trăn trở, thao thức về thân phận trong cuộc chiến kéo dài, vẫn có lúc mơ mộng, có lúc hát ca, có lúc là những đêm mưa dịu dàng, cả đám cùng lang thang, chạy xe chầm chậm, vô định qua những con đường im vắng của Sài Gòn…
PHẠM NGA
(Tháng 10 bão lũ)

NGÔI CHÙA CỔ TRÊN NÚI CHÂU THỚI

Ký PHAM NGA

Rằm tháng Tám vừa rồi, cũng là Tết Trung Thu vốn năm nào cùng rộn ràng vui vẻ, nay tiếc là cái dịch Covid 19 hiện vẫn còn đe dọa nên chùa Phổ Quang (Phú Nhuận) dù vẫn nghi ngút khói nhang nhưng rõ ràng là khá vắng khách thập phương.
Lâu nay, cứ ngày rằm hay mùng 1 là vợ chồng tôi hay đi chùa, riêng tôi còn có job riêng là chụp ảnh. Trong bộ sưu tập ảnh các chùa, đình, miếu, lăng, đền… của mình, tôi tâm đắc nhất là các ngôi chùa cổ. Từ lâu rồi, đã lặn lội săn ảnh chùa chiền khắp các vùng gần/xa Sài Gòn, trí nhớ tôi lại đặc biệt ghi đậm hình ảnh Châu Thới sơn tự ở thị xã Dĩ An, Bình Dương, mà tôi đã đến khoảng năm 2007, 2008…

Thời đó, ngay ranh giới hai tỉnh Bình Dương với Đồng Nai, đường quốc lộ 1K còn đang sửa chữa, đào xới ngổn ngang, bụi đường mù mịt. Đứng ở vệ đường nhìn lên núi Châu Thới, tôi thấy thấp thoáng một mái chùa bèn quẹo xe luôn vào một con đường nhựa gần đó. Nhưng cánh cổng đóng kín của cơ quan tên là Công ty cổ phần Bê tông 620 đã ngăn tôi lại. Đường cấm! Một người dân chỉ cho tôi đi lối khác, là phải trở ra quốc lộ, cứ thấy bên kia đường có bảng hiệu lò gốm “T&C” thì bên này là đầu một con đường khác dẫn lên Châu Thới sơn tự.
Con đường nhỏ, cũng được cán nhựa nhưng mấp mô và lở lói, dành cho khách thập phương dài khoảng 1 cây số, phình rộng trước cổng tam quan chùa rồi uốn éo thêm chừng nửa cây số nữa mới dẫn vào chùa. Nhưng như để tỏ lòng thành, thay vì dùng xe hai bánh, xe hơi nhỏ chạy thẳng lên chùa, một số khách hành hương chọn cách leo núi từ cổng tam quan. Một tư liệu cho biết núi Châu Thới chỉ cao 85 mét và con đường bậc thang chỉ bắt đầu từ lưng chừng núi nhưng dưới ánh nắng gay gắt, phải nói là vất vả, hụt hơi khi phải leo tới 220 bậc xi măng. Ân cần chia sẻ nỗi khó nhọc của khách leo núi, đám người ăn xin ngồi rải rác ở các bậc thang đã xua đuổi mấy con bò cứ vô tư gặm cỏ, đứng choáng cả mặt đường. Họ thi nhau mời bà con nghỉ chân, ghé vô mấy sạp bán đồ giải khát để nằm võng, dùng nước cho khỏe rồi chỉ xin bố thí cho “năm trăm” thôi. Thấy tấm bảng “xưng xâm lạnh, mát” tô đậm nét, treo trước một quán cóc thì tôi cảm thấy càng khát nước hơn nhưng đành thôi, vì còn phải leo tiếp lên cao để chụp ảnh mấy bà thầy bói. Cũng mời chào khách ngồi xuống chiếu của mình để coi “tình duyên, gia đạo”, nhưng một ông thầy có vẻ điềm đạm hơn, lo sửa sang lại bình hoa trong mâm thờ tượng Quan Âm bày trên chiếu, trong mâm có cả một con búp-bê gái nhồi bông…
Cổng chùa hiện ra trước sự phấn khởi của những ai đổ mồ hôi leo núi. Tôi dừng bước để …thở, cũng kịp nhận ra rằng trước mặt mình là cổng sau chùa Châu Thới. Khuôn viên chùa rộng mênh mông nhưng khi đã vượt qua cổng chùa, mấy chiếc xe hơi vẫn chầm chậm chạy tiếp dọc theo hông chùa để vào bãi đậu nằm ở khu vực mặt tiền ngôi chùa.
Theo đài điện thoại 0650.1080, chuyên giải đáp mọi thứ câu hỏi về địa phương tỉnh Bình Dương, chùa Châu Thới được xây năm 1612, tính đến nay đã được 395 năm, nhưng theo nội dung của tấm bảng cắm ở cổng tam quan, đến năm 1989 chùa này mới được công nhận là một di tích lịch sử – văn hóa, khi chùa còn thuộc địa phận huyện Thuận An, tỉnh Sông Bé, chứ không phải thuộc huyện Dĩ An, tỉnh Bình Dương như hiện giờ. Nhìn chung thì đây là một ngôi chùa cồ được xây theo lối kiến trúc chùa Trung Hoa, thuộc phái Phật giáo Bắc tông. Phù điêu hình rồng bay, phượng múa có mặt khắp trong khuôn viên chùa, từ những ngai thờ Tam vị Phật tổ, Di Lặc Bồ tát cho đến chỗ thờ Quan Công, Thái Thượng Lão quân… Cũng do ảnh hưởng của Khổng giáo và Lão giáo vốn đã đề huề, hòa hợp với Phật giáo trong tín ngưỡng văn hóa người Trung quốc tự xa xưa, cả Sơn thần – không thuộc hàng ngũ các vị Phật, Bồ tát trong Phật giáo – cũng chễm chệ ngồi trong một ngôi miếu nhỏ gần bãi đậu xe.
Vì ở mặt tiền chùa không có lối vào chánh điện, tôi theo chân một đoàn hành hương vòng ra phía sau chùa, len qua một khung cửa rất hẹp mới lọt được vào điện thờ Bồ tát Quan Âm. Khói hương nghi ngút, tượng Quan Âm được choàng bộ y áo thật lộng lẫy, lấp lánh nhũ vàng nhũ bạc, trông không khác chút nào so với những bộ áo mão rất diêm dúa, nặng nề do một số thương gia, nghệ sĩ cải lương dâng cúng Bà Chúa Xứ ở chùa Bà Châu Đốc hay bà Thiên Hậu ở chùa Bà vùng Chợ Lớn. Ngược lại, ở điện thờ Phật Di Lặc mà phía sau lưng vị Phật có diện mạo rất vui vẻ, xuề xòa này là tượng Phật Thích Ca Mâu Ni, có gì đó “nam tính” hơn, thật sự trang nghiêm hơn, khi tượng đồng của cả hai vị Phật đều được miễn phần y áo thướt tha, tua ren đủ màu đủ sắc! Gần đó là hai vị sư và một vị cư sĩ tóc dài chỉ mặc nâu sòng mộc mạc, chăm chú giải đoán các lá xăm cho khách hành hương. Tôi nhớ, khi nhận lời coi thêm về tình duyên, gia đạo, phong thái của ba vị này thật đạo mạo, khác hẳn mấy bà, ông thầy bói ngồi dưới đất, và cổng chùa đã là lằn ranh giới hạn địa bàn hoạt động của họ cùng giới hành khất.

Khi theo chân mọi người len lách tìm lên khu tầng trên của chùa bằng những đoạn thang lầu rất hẹp, tôi nhớ đã nghe mấy bà Phật tử ồ lên xôn xao “ Kìa, đằng kia kìa, Phật ngàn tay ngàn mắt!”. Cái điện thờ Phật Thiên Thủ Thiên Nhãn cùng Long Thiên Hộ pháp này chỉ rộng khoảng 4mx5m, được một nhóm cư sĩ góp công góp của xây dựng trong 2 năm và hoàn thành năm 1991. Màu sắc tưới rói như được tô vẽ mới ngày hôm qua, nhất là trên màu da “ngàn cánh tay” và đôi môi đỏ chót của tượng Phật. Và dù điện thờ này nhỏ hẹp như thế vẫn đủ chỗ cho một thùng công quả, có mặt bình thường như những thùng công quả, công đức khác được đặt trước mỗi điện thờ, bệ thờ trong nội điện cũng như ngoài sân chùa.
Lúc đó, thấy một bác lớn tuổi đang ngồi nghỉ ở một băng đá trong sân chùa, tôi bước đến ngồi bên cạnh và xin phép hỏi vài câu. Bác cho biết là sư Huỳnh Lý, trụ trì chùa, thường vắng mặt ở chùa do nhiệm vụ lớn lao của mình trong ban lãnh đạo trung ương hội Phật giáo trong nước. Dù vậy, giới Phật tử luôn nhắc đến thầy Lý qua cuộc đấu tranh không khoan nhượng đối với ông Sơn, khi đó là giám đốc Xí nghiệp khai thác đá số 3. Vài năm sau ngày 30/4/75, xí nghiệp này đã kéo máy móc, công nhân đến lưng chừng núi Châu Thới, ra sức đục đẽo, dùng chất nổ bắn phá đá núi. Cái công trường khai thác đá khốc liệt này đã làm vạt hẳn phần vách núi ở khu vực mặt tiền nhà chùa nhìn xuống. Khách thập phương vắng bóng hẳn. Sư Huỳnh Lý đã miệt mài khiếu kiện suốt từ tỉnh ra đến Hà Nội thì công trường chỉ chuyển hướng phá núi là đào sâu xuống đất, tạo thành một cái ao khồng lố ngay chân núi. Sau cùng thì trung ương ra lịnh cho Xí nghiệp số 3 phải rút quân, dời công trường đi chỗ khác tuy không rời bỏ vùng núi Châu Thới. Trong 10 năm gần đây, tình hình đã tạm yên tĩnh, sư trụ trì chùa tổ chức, kêu gọi bá tánh góp sức trùng tu, xây dựng lại ngôi cổ tự. Khách thập phương đã đến chùa đông đảo trở lại…
Chỉ vào một nhóm tượng bên hông chùa, diễn lại cảnh các vị sư và muôn thú quần tụ trước Phật Thích Ca ngồi trên tòa sen, bác lớn tuổi còn cho biết đó là một trong những công trình tạo ấn tượng nhất qua các đợt chùa trùng tu suốt từ trong chánh điện ra tới khuôn viên.
Cám ơn bác Phật tử “thạo tin”, tôi đã ra đứng tựa vào bờ thành đá xanh bao lấy khuôn viên chùa, ngó mông lung. Cảnh quan khu vực chân núi cùng con đường bậc thang khi ấy rất khô hanh, cây cỏ còi cọc, cháy vàng và phủ đầy bụi đỏ. Nghe nói ở vùng này đã có hệ thống nước máy nhưng nước quá yếu nên người dân tiếp tục dùng nước giếng nhiễm phèn, mà phải đào sâu hơn 50 mét thì phèn mới giảm. Khi quay nhìn về phía phần sau và bên hông chùa, tôi đã thấy màu nâu sậm của những loại đá cổ xưa trông mát mẻ được phần nào. Tôi mường tượng lại khu điện thờ Phật Di Lặc và Phật Thích Ca. Hình như trong toàn bộ nội thất nhà chùa, cái màu nâu đồng – trầm mặc và yên nghỉ – nơi hai pho tượng lâu đời này mới ít nhiều còn ẩn chứa những dư âm, dư ảnh của quãng thời gian gần bốn thế kỷ đăng đẳng mà ngôi cổ tự này đã trải qua. Tôi cũng đã cảm thấy trong lòng yên ả, nhẹ nhàng khi nhìn những cặp chân đèn và áng thờ bằng gỗ gụ sẫm đen, hay đôi liễng phủ nhũ vàng mà những nét chữ Hán mực đỏ đã bạc màu thời gian.
Không có gì phải nghi ngờ về công lao của vị sư trụ trì chùa Châu Thới trong cuộc đấu tranh kéo dài hằng chục năm dài để bảo vệ cảnh quan, nền móng nhà chùa và giành lại bầu không khí yên lành, tĩnh tại cho nơi thờ phượng Phật tổ, cũng như những nỗ lực lớn lao của sư nhằm tổ chức, vận động cho công trình trùng tu chùa, tôn tạo ngôi chùa duy nhất trên núi Châu Thới – ngôi cổ tự đẹp đẽ, nổi tiếng khắp các tỉnh miền Đông nam bộ trong suốt mấy thể kỷ qua… Tuy nhiên, riêng tôi đã cảm thấy nơi diện mạo đã tôn tạo cho ngôi cổ tự có chút gì đó ít nhiều gây ảnh hưởng tiêu cực đến tính chất và giá trị cổ xưa rất quí báu của di tích lịch sử văn hóa Châu Thới sơn tự. Đó là sự lạc lõng, xa lạ nơi một số chất liệu “hiện đại”có mặt đây đó trong chùa, như những bảng đèn, vòng đèn néon đem trang trí các bệ thờ hay đem làm thành vầng hào quang trên phần đầu các pho tượng cổ, cùng những mảng màu sơn đỏ, vàng, xanh, tím…tươi chói, đầy vẻ phô trương, có phần lạm dụng khi sơn phết, sửa sang lại chỗ này, chỗ kia trong ngôi chùa có số tuổi đến gần 400 năm này.

PHẠM NGA

(Biên tập lại, Trung Thu Canh Tý 2020)
.

NHỮNG VẾT Ố TRÊN TƯỜNG QUÁN CÀ PHÊ

PHẠM NGA

pham nga trg quan

Nhớ thời trẻ trai, thập niên 60 và đầu 70 thế kỷ trước, ngày đêm giờ giấc nào tôi cùng bạn bè cũng đều có thể rủ nhau ra quán café, có khi cả 3 cữ sáng/chiều/tối. Thời xưa ấy, đô thành Sài Gòn chỉ mới có vài triệu dân nhưng đã nổi tiếng sầm uất, nhiều đường phố náo nhiệt. Tuy nhiên, đâu đó trong cái thành phố ồn ã này vẫn tồn tại vài khoảnh không gian trầm lắng, gần như đóng kín.
Những địa điểm hơi khuất lánh ấy là các quán cà phê không hề thuộc hạng hoành tráng phô trương ở các đại lộ mà chỉ khiêm tốn náu mình trong những con đường nhỏ – cứ là đường nhỏ dù có khi thuộc một quận trung tâm thành phố – và mặt bằng quán nào cũng thật nhỏ hẹp, bàn ghế chỉ đủ kê khoảng 10 bộ trở lại, tiêu biểu như cà phê Hồng ở đường Pasteur, khuTân Định, hay cà phê Chi, đường Nguyễn Phi Khanh, Đa Kao, cùng thuộc quận 1 Sài Gòn. Có điều là do cung cách lặng lẽ của chủ quán và điềm đạm của hầu hết khách quen đã chọn loại quán này, nhịp sống trong quán thường trôi chậm rãi, Chậm rãi như từng giot cà phê phin ung dung nhỏ xuống ly, mặc cho bên ngoài quán sinh hoạt cuộc sống có hối hả xe cộ, xô bồ mưa nắng…
Hòa mình đã dài lâu trong đám dân ghiền café và đã nhẵn mặt ở một vài quán quen, một lần nọ khi ngồi ở cà phê Hồng ở cuối đường Pasteur, thật thú vị là tôi đã nhận ra mình với họ – những người ngồi quán, đa số là lớp trẻ – ngoài điểm giống nhau là tâm lý vào quán thường ai cũng chọn ngay chỗ ngồi sát vách tường để tha hồ dựa lưng, còn có điểm giống nhau nữa, tượng hình hơn. Đó là:
“Nhìn những vết ố, không thể phân biệt được vết nào mới vết nào cũ, theo năm tháng,cứ lưu lại ngang ngang nhau trên các mặt tường trong quán, có lẽ từ tóc hay mồ hôi lưng của khách ngồi uống cà phê, tôi chợt nghĩ hình như ở cái thời chiến tranh, bất ổn còn kéo dài này, lớp trẻ chúng tôi có cùng một cỡ xương sống mệt mỏi, chán chường.” (*)
PHẠM NGA

(*)Trích bài ký “Cà phê quán, một sắc thái văn nghệ”. trên nhật báo Nhân Xã Thời Báo ở Sài Gòn năm 1970 (sau rút gọn tên, thành Thời Báo).

TẢN MẠN VỀ KHỔ ĐAU VÀ VƯỢT THOÁT KHỔ ĐAU

tản văn PHẠM NGA

khodau 1

“Đời người là bể khổ!”, sống ở đời đã là người thì ai trong chúng ta cũng đều ít nhiều từng trải qua những kinh nghiệm hiển nhiên, rất cụ thể về khổ đau. Nguyên từ ‘khổ’ cùng từ ghép ‘khổ tâm’thường được dùng để biểu thị những tình trạng xấu, tiêu cực, thương tổn về tinh thần, cảm xúc, như khi bị mất người thân, mất tài sản, thất tình, thi rớt, bị đuổi việc, làm ăn thua lỗ, tù tội…; còn từ ‘đau’ cùng từ láy ‘đau đớn’ biểu thị nghiêng về tình trạng xấu, tiêu cực, thương tổn nơi thể xác hay cảm nhận giác quan do báo động ‘đau’ từ hệ thần kinh, như khi bị thương tích trên người, bệnh tật, đau nhức ở một bộ phận cơ thể, giải phẫu…
Tuy nhiên, như cả phương Tây cùng phương Đông đều công nhân, con người tức TÔI/CHỦ THỂ từ căn bản là một thực tại duy nhất/thống nhất, có 2 phần TÂM lý và THỂ lý hoạt động song hành nhịp nhàng, luôn hỗ tương, ảnh hưởng nhau. Ví dụ: nói “Tôi khổ vì cái khớp vai đau mãi” là chuẩn nhất theo quan điểm ‘Tâm thể lý song hành’nêu trên, cho thấy cái tôi chủ thể đã cảm nhận mình bị khổ (thương tổn tâm lý) khi khớp vai bị đau (thương tổn thể lý). Tương tự, trong ngôn ngữ văn chương một chút thì có từ ‘đau thương’ thật hay, bắt đầu bằng chữ ‘đau’nghe nghiêng về thể xác nhưng chữ ‘thương’ đi kèm đã cho thấy ngay là chủ thể ‘tôi’ đang bị thương tổn nhất định cả về tâm hồn lẫn thân xác. Còn nói: “Răng tôi đau” thì ai cùng hiểu, nhưng chính xác hơn nên nói là “Tôi đau răng”, theo nghĩa ‘Tôi đau ở răng’.
Cũng chính con người chúng ta, khi rơi vào khổ đau thì cái khổ cái đau dù nặng nề, chua xót đến mấy, ta luôn tìm cách này cách khác để vượt thoát thảm trạng một cách gần như phản xạ tự nhiên Đó cũng là biểu hiện của bản năng tự vệ/sinh tồn bẩm sinh của loài người, vốn trong cuộc sống đã không ngừng chống trả lại khổ đau mỗi khi các dạng khổ đau xảy đến như những mối nguy đe dọa hay đã trực tiếp xâm hại nhân cách tâm lý hay sức khỏe thể xác.

1.
Đời người là bể khổ mênh mông, đối lại thì con người cũng có những phương cách chủ quan rất đa dạng nhằm vượt thoát khổ đau. Thật đơn giản như chuyện một đứa bé bị ngã, người mẹ có mặt lúc đó sẽ ngay lập tức ra tay giúp con mình thoát ra khỏi cảm giác đau đớn và sợ hãi. Mỗi bà mẹ đều có cách riêng để dỗ dành con mình, người thì vừa vuốt xoa chỗ đau vừa dịu dàng trấn an: “Không sao đâu con à. Nè không đau, không đau nghe!”, người thì ôm con vào lòng, hôn lên chỗ đau, thủ thỉ: “Cục cưng của mẹ hết đau nhé!”; có người còn giả bộ đánh nhẹ lên mặt sân, cho con mình thấy là đã trừng phạt ‘thủ phạm’ vừa khiến nó ngã, rằng; “Chết mày nè, dám làm cu Tí đau hả? Chết mày nè!”.
Tương tự những bà mẹ cố gắng trấn an con mình, trong một số trường hợp gay go người viết bài này cùng đã cố gắng tự trấn tỉnh bằng niềm tin tôn giáo, điển hình như cái lần đầu tiên không-thể-nào-quên bị BS làm nội soi ruột già trong bênh viện. Lần đó, bởi không được hướng dẫn trước chu đáo nên tôi không biết yêu cầu nội soi có gây mê, cách này dù có tốn tiền hơn gấp 2.5 lần so với không gây mê đi nữa cũng rất đáng làm, bởi khi thấm thuốc mê, thiếp đi thì mình không thể cảm thấy đau đớn gì, coi như ngủ một giấc dậy mọi việc xong xuôi hết. Đằng này, tôi đã phải chịu đau đớn khủng khiếp khi BS đẩy cái ống nội soi dần dần vào sâu trong ruột già mình và đau đến toát mồ hôi, muốn xỉu khi ống quẹo ‘cua’.Tôi đã mấy lần báo “đau quá bác sĩ ơi!”nhưng ông này chỉ trấn an tôi: “Chú ráng chịu đau chút đi, sẽ xong nhanh đây!”. Tôi cũng có nghe cô y tá nói nhỏ: “Thôi BS cho tạm ngưng, chích cho ổng một mũi giảm đau đi, cho ổng đỡ đau chút”, vậy mà cái ông thầy thuốc khó thương kia không rõ vì lý do gì đã không đồng ý… Trong cơn đau tôi chợt buộc miệng niệm, niệm liên tục: “Nam mô cứu khổ cứu nạn Quan Thế Âm bồ tát” như đã từng niệm trong một số hoàn cảnh ngặt nghèo, sinh tử trong cuộc đời. Kết quả theo tôi nhớ là cảm giác đau đớn có giảm bớt đôi phẩn, giúp tôi đã có thể tiếp tục chịu đựng cái đau cho đến khi thủ thuật nội soi kết thúc.
Trong cơn khổ đau, nhiều người trong chúng ta còn tìm cách chuyển hướng tâm tưởng mình từ cơn phiền muộn tối tăm sang các ý tưởng, hồi tưởng tươi sáng hơn, như: vừa mất người thân thì ôn lại quãng thời gian cùng nhau gần gũi, cùng sinh hoạt thật hạnh phúc với người ấy trong gia đình; đang thất tình, bị cách trở thì nhớ lại các kỷ niệm vui vẻ, ngọt ngào với người ấy; đang thất thế, bị ‘đì’ ở nơi làm việc thì nhớ lại thời được cấp trên quí trọng, đồng nghiệp nể nang bởi công lao, thành tích của mình…
Có điều là trong trường hợp đau khổ vì tình, coi chừng bị phản ứng ngược khi hồi tưởng những kỷ niệm vui vầy bên người yêu. Làm như vậy có thể sẽ nguôi ngoai nhung nhớ phần nào, nhưng ngược lại, cũng có thể ‘khó sống’ hơn khi bị dội ngược vào cảm giác cô đơn, hiu quạnh không thể chịu nổi, nhất là khi còn phát sinh nghi ngờ, oán trách.
Nhân đây mới thấy vai trò ‘hai mặt’ tráo trở ghê gớm của óc tưởng tượng. Cũng chính quan năng tâm lý này có thể giúp kẻ thất tình hay bị tình yêu trắc trở tạm thoát khỏi khổ đau một khi chìm đắm trong hình ảnh tưởng tượng rằng mai mốt đây làm lành, tha hồ âu yếm vui vẻ bên nhau…; nhưng ngược lại, cùng chính óc tưởng tượng có thể vẽ vời, tô đậm, bi đát hóa thêm thảm kịch, chẳng hạn tưởng tượng người mình yêu giờ này đã bôi bạc, đang tay-trong-tay với người khác.
khodau 2Rồi trong nỗi khổ tâm vì bị thua thiệt, mất mát quyền lợi, địa vị hay bị làm nhục, khinh rẽ, xua đuổi…, người ta có thể tự an ủi, như nghĩ: “Nhìn lên không bằng ai, nhìn xuống không ai bằng mình” hay nghĩ cụ thể đến một người/những người thua kém hơn mình nhiều về mặt này/mặt khác, đáng lý họ phải khổ tâm nhưng thực tế họ vẫn cứ đang vui sống bình thường, vậy mình tiếc nuối làm gì nhừng danh vọng, địa vị vừa mất? Nhìn chung, người khổ tâm vì bị thua sút, mất mát quyền lợi, địa vị, có thể dễ tìm cách cứu vãn, dễ nghĩ ra cách giải quyết thảm trạng, khắc phục những thiệt hại mất mát hơn một khi họ chịu tự ‘phá giá đồng bạc’, bằng lòng với điều kiện, thân phận hiện có. “Cái số, cái mạng của mình như vậy mà! Đành chịu thôi!”. Lúc này, niềm tin vào tín ngưỡng, tôn giáo có dịp lên ngôi, và Trời, Phật, Chúa sẽ được con người khổ đau khẩn thiết kêu cầu như những thế lực vô hình, siêu nhiên sẽ đứng ra độ trì, giải cứu cho họ thoát ra khỏi nghịch cảnh, thảm cảnh gây khổ đau.
Đáng suy nghĩ là có người lại vượt thoát khổ đau bằng cách, dù thực tế thảm trạng vẫn diễn ra y nguyên thế nhưng họ vẫn như nhắm mắt phủ nhận (với chính mình) giá trị của nguồn cội hay tác nhân gây khổ đau cho họ – tâm lý này được gọi là ‘ngụy tín’, làm liên tưởng đến con đà điểu, giống chim có thói cứ gặp điều gì nguy hiểm đe dọa quá thì chỉ rúc đầu vào bụi rậm, không chạy trốn nữa, bởi đà điểu “nghĩ” rằng khi mình không thấy mối nguy bởi đã rúc đầu vào bụi thì mối nguy sẽ biến mất thôi! Còn trong vở kich dân gian Nghêu Sò Ốc Hến, có cảnh thầy bói Nghêu bị lính của quan huyện chận đường tra xét, đã tát tai lão thầy bói mù mà miệng lưỡi rất ranh ma, xiêng xỏ cay độc này, lão Nghêu vẫn cười gằn, bảo tên lính: “Mày đánh tao, tao không đau gì cả, mày mới đau vì khác gì mày đã đánh bố mày!”.
Đỉnh điểm của tâm lý khổ nhục còn khiến người ta không những ngụy tín ‘hạ giá’, khinh bỉ đối phương như lão Nghêu mà còn nung nấu ý định đồng thời vạch ra kế hoạch trả đũa, trả thù người gây khổ đau cho mình.Hay khi đã tuyệt vọng, họ lại mơ hồ muốn tự vẫn cho rồi, như thể tin rằng chỉ có cái chết mới giúp họ vượt thoát được mọi khổ đau.

3.
Trong cơn khổ đau, bên cạnh những phương cách vượt thoát chủ quan khởi phát từ nội tâm, con người còn có thể ngẫu nhiên được giải thoát khỏi khổ đau nhờ tác động ngoại tại. Ví dụ như cơn phiền muộn có thể dần hồi nguôi ngoai khi ngoại cảnh thiên nhiên xung quanh ta bỗng có biến đổi hay ho, tích cực, như: cơn mưa hay làn gió mát mẻ thổi qua, ánh trăng mơ màng ló dạng, tia nắng mặt trời chiếu đến thật rực rỡ… Ngay trong tâm trạng bình thường, ai ai cũng đều dễ chú ý và thích thú hình ảnh của bầu trời xanh ngát, ánh trăng mờ ảo, bãi biển cát trắng ngần… Lại càng thu hút và tăng thêm hiệu quả xoa dịu niềm đau khi trong những khung cảnh thơ mộng ấy còn vang vọng tiếng hát, tiếng đàn, tiếng chim hót, tiếng sáo diều, tiếng tụng kinh gõ mõ, tiếng mẹ ru con, tiểng suối chảy róc rách hay sóng vỗ rì rào… Có lần, trong một cơn khổ đau trầm kha, tôi tìm đến một quán cà phê thật vắng vẻ ngồi gặm nhấm nỗi niềm, chợt trong câu chuyên trao đổi của hai người lạ ngồi bàn bên cạnh có nhắc đến Nha Trang, đất quê hồn hậu mà đã mấy chục năm tôi không có dịp quay về. Tự nhiên họ nhắc đến một vài nơi chốn ở thành phố này xa xưa, vốn đã rất quen thuộc, thân thương từ thời tôi còn niên thiếu đến tuổi thành niên, như: bãi tắm ở khu ‘Thông tin’ nhìn ra, cà phê Hân gần rạp Tân Tân, vườn dừa bên Kim Bồng… Tôi mê mãi lắng nghe chuyện-của-người-ta mà như trong chốc lát chợt được thoát khỏi hiện tại đau buồn này mà quay về với một chặng quá khứ thật êm đềm, để rồi nỗi buồn đau lặng lẽ thối lui tự hồi nào không hay…

3.
Do con người chủ quan tự suy lý hay do ngoại cảnh khách quan tác động vào thảm cảnh, thân tâm con người đau khổ sẽ có những chuyển biến khác nhau, nhưng nhìn chung, tiếc rằng kết quả hồi phục tâm lý hiếm khi toàn vẹn, kể cả khi nguyên nhân, tác nhân gây khổ đau không tồn tại nữa.
Do cách này cách khác, nỗi khổ tâm hay đau đớn dần hồi có thể giảm nhẹ đi, tâm trạng từ quay cuồng trong khổ hận có thề từ từ thăng bằng, tức bình tĩnh trở lại, vết thương trên châu thân có thể lần hồi giảm đau hay gần như hết đau hẳn. Hay ngược lại, khổ tâm quá sâu nặng tất nhiên sẽ rất lâu nguôi ngoai hay vết thương trên thân thể quá trầm trọng sẽ lâu lành, cứ đau âm ỉ mãi thôi.
Hẳn là khi nỗi khổ đau đạt đến cao trào, người ta thường chuyển từ bi hận sang dửng dưng, lạnh lùng, trong lòng không còn niềm vui nỗi buồn nào. Vâng, đã cạn dòng nước mắt, như một ca khúc xưa của The Rolling Stones muốn nói rằng khi ấy người ta chỉ ngồi yên, thấm thía sự bất lực của mình – có giàu có cũng không đánh đổi được gì và chỉ còn muốn được nghe con trẻ hát hay tiếng mưa rơi…
My riches can’t buy everything
I want to hear the children sing
All I hear is the sound
Of rain falling on the ground .
(AS TEARS GO BY, The Rolling Stones 1966)
Thực tế đã cho thấy khổ đau tột độ có thể khiến con người hóa điên hóa dại, la hét gây náo động hay chạy rong phá phách; ngược lại họ cũng có thể im lìm, bất động, như tâm hồn họ chợt trống rỗng, tê dại, vắng bặt mọi cảm xúc, nghĩ suy, dù là cảm nghĩ tiêu cực (chán sống) hay tích cực (hy vọng). Không còn “sóng gió trong lòng” gì nữa nhưng lại là một kiểu bình an đáng sợ!
Nguyên khoảng hơn 20 năm trước, người viết bài này có một người bạn thân đã rơi vào tâm cảnh tối tăm khủng khiếp này. Thời ấy gia đình chị ngụ ở thành phố Vũng Tàu, chồng chị là Việt kiều Mỹ về nước mờ công ty thiết kế – xây dựng ngành cầu đường. Biến cố khủng khiếp đã xảy đến, anh bị kết án từ hình về tội tham nhũng trong công trình (liên doanh) làm tuyến đại lộ lớn nhất thời đó cho Vũng Tàu, còn tên cán bộ cao cấp vốn chính là đầu sỏ chủ mưu tham ô thì chỉ bị án chung thân. Nhận xác chồng bị bắn ở pháp trường về chôn cất xong, chị bạn đã không nói một tiếng nào suốt 2 tháng, có nghĩa khổ đau, uất hận đã khiến chị tắt nghẹn tiếng nói…

PHẠM NGA
(tháng 6-2020)

Hoang Tưởng Ngày Thiếu Nhi 1 – 6

Phạm Nga

1.
tre nam duongMột sáng chúa nhật, một anh bạn hẹn tôi uống cà phê gần cổng Nhà Thiếu nhi thành phố mà không phải chỗ nào khác vì trúng bữa anh phải đưa con đến đây học vẽ. Lâu rồi, từ hồi chưa xây tòa nhà mới thật hoành tráng thì cái trung tâm sinh hoạt lớn nhất thành phố  này vẫn đã dành riêng cho trẻ em đến vui chơi, học tập các môn có tính năng khiếu như hội hoạ, âm nhạc, võ thuật.v.v… Có một dạo, dù còn phải kiếm sống khá chật vật, tôi cũng ráng đưa con gái mình đến học vẽ trong dịp hè. Con bé thích học đàn dương cầm hơn nhưng học phí môn này thì cao mà phần thực tập, ngồi vào đàn thì khá ít ỏi. Đành tránh qua một bên môn chơi quí tộc này thôi!
Nắng đã lên cao, tôi dắt xe ra về thì tình cờ gặp một phụ nữ đang chờ rước con ở cổng. Chị cười, gật đầu khi cháu bé khoanh tay chào mẹ. Chợt chị ngăn con mình lại, nói nhỏ:
“Nè, con có thấy ông đứng ở gốc cây kia hôn? Mẹ con mình cũng khó nhưng ông còn đang khó hơn mình nữa con à. Ông không có con cháu nuôi dưỡng ở nhà nên già yếu như ngoại con rồi mà còn phải ra đường… Con thấy ông tội nghiệp hôn? Vậy thì con tới giúp ông đi há?”.
Chị đưa con một tờ 5000 đồng, chỉ về phía một cụ già ăn xin đang đứng, gần như ẩn núp ở một gốc cây to trên vỉa hè. Đứa bé ngoan ngoan “dạ”, đĩnh đạc bước đến trước mặt cụ già, nói lí nhí gì đó rồi hai tay kính cẩn đưa ra tờ bạc…
Tôi chợt cảm thấy xốn xang. Chị phụ nữ, với chiếc “cánh én” rách yên, bộ đồng phục công nhân chị đang mặc cũng không lành lặn gì, vậy mà không hiểu sao chị đã tránh dùng từ “nghèo”, chỉ dùng từ “khó” khi dạy con mình? Hay “nghèo” nghe có vẻ quá ức chế, như rất nhiều người nhất định cho là mình nghèo là do số mạng trói buộc, còn “khó’ thì có thể chỉ là tạm thời, còn có hy vọng vượt qua, như người ta vẫn thường vẫn an ủi nhau với cách nói “khó khăn trước mắt…”?
Nhưng dù đang thuộc phía người nghèo, chị phụ nữ khả kính vẫn dạy cho con mình – dạy cả cho tôi nữa, đã thầm lén chứng kiến nãy giờ – một bài học về lòng nhân ái, thói quen làm việc thiện, một cách tuyệt vời!
Rõ ràng điều đáng quí không phải ở số tiền cho mà ở cách cho, như em bé đã học được từ mẹ mình. Thật tình tôi không chắc là tôi, xuất thân nhà giáo – có thể cả cái bà phấn son lòe loẹt vừa dừng chiếc xe hơi bảng số xanh mới tinh hảo để rước cậu con béo phị – biết cách dạy con mình về lòng thương người bằng một phương pháp giản dị nhưng đầy tính thuyết phục như vậy.
Nhìn theo hai mẹ con người-tốt đi xa, tôi lại có một thắc mắc khác từ hình ảnh cụ già ăn xin.Trên vỉa hè vắng người đang có một thanh niên bày bán các loại báo chí trên mặt đất. Tôi mua đại một tờ rồi hỏi: “Chắc cháu đã bán ở đây lâu rồi hả? Có thấy dân ăn xin được vô trong nhà thiếu nhi không?”. Cậu ta vừa dáo dác nhìn về phía cuối đường – chắc sợ công an đến hốt – vừa đáp: “Dạ đâu có được, bảo vệ đuổi hết. Chỉ có người tàn tật bán vé số thì may ra, nhưng bữa nào đông các em quá thì cũng khó được cho vô…”. Tôi mới nhớ ra rằng trong cả tiếng đồng hồ ngồi cà phê, chuyện vãn với anh bạn vừa rồi trong căn-tin, đã không thấy bóng dáng người ăn xin nào. Hèn chi, lúc nãy cụ già cứ đứng hoài ở gốc cây bên ngoài nhà thiếu nhi, tưởng là cụ trốn nắng.
2.
Tôi chạy xe về phía dinh Thống Nhất thì bệnh “khó tiêu” nặng nề trong tâm tưởng lại tái phát. Đó là mấy em bé, không rõ là người Campuchia hay người dân tộc thiểu số nào khác, đang xin ăn quanh quẩn ở một ngã tư cách nhà thiếu nhi chừng ba, bốn trăm mét. Dưới nắng bụi, đứa nào cũng đen nhẻm, hôi hám, áo quần rách nát. Một đứa nhỏ xíu được chị nó bế trên tay thì ở truồng, mũi dãi lòng thòng. Tất cả đều thảm thương, tơi tả. Chỉ có mấy cái gáo nhựa, tô nhựa màu xanh màu đỏ mà các em đang chìa ra xin ăn là mới tinh, sáng lòa, nổi bật một cách kỳ cục, không hiểu nổi.
Dân thiểu số kéo về thành phố Sài Gòn xin ăn là một hình ảnh đã quá quen thuộc trước mắt mọi người, nhưng lòng tôi cứ bâng khuâng. Vừa rồi, tại nhà thiếu nhi, các em bé đứa nào đứa nấy trông cũng sạch sẽ, khoẻ mạnh, thậm chí béo phì – đúng là mẫu khách quí được chào đón, chăm sóc, dạy dỗ ở một tòa biệt thự đồ sộ, khang trang, thoáng mát. Hơn thế, hẳn để bảo vệ khung cảnh sang trọng của mình, nơi đây cấm cửa dân ăn xin.
Tôi tự hỏi: “Có thể suy đoán là do sợ mất trật tự, mất vệ sinh, mất cắp đồ đạc… nên Nhà thiếu nhi cấm dân ăn xin. Nhưng nếu người ăn xin là thiếu nhi thì sao? Nhà thiếu nhi là dành cho thiếu nhi cơ mà, và trong nội qui Nhà thiếu nhi đâu có điều khoản đặc biệt nào qui định việc cấm cửa thiếu-nhi-ăn-xin?”.
Rồi tôi mơ hồ cầu xin ai đó, rằng: “Thưa ban giám đốc Nhà thiếu nhi, nếu quý vị trả lời là chưa nghiên cứu về thiếu-nhi-ăn-xin thì xin quý vị cũng nên linh động, uyển chuyển mà cho phép…”. Một giọng lạnh giá bác ngay thỉnh cầu của tôi: “Không thể! Chức năng chúng tôi là đón nhận, phục vụ thiếu niên – nhi đồng vào sinh hoạt, nghĩa là vui chơi, tập luyện, nâng cao năng khiếu. Còn về phần các em ăn xin, nếu có vào đây cũng đâu có sinh hoạt gì mà chỉ có… xin ăn, nên không thuộc chức năng của Nhà thiếu nhi mà thuộc ngành thương binh – xã hội. Chỉ có một trường hợp duy nhất có thể được xem xét là, nếu các em ăn xin vào đây không phải để xin ăn mà là để sinh hoạt, tức phải giống các thiếu nhi khác khi đến đây…”.
Cắt! Tôi lập tức tự bật qua OFF.
Nãy giờ, mọi hỏi-đáp, thỉnh cầu gì đó chỉ là do tôi hoang tưởng nhưng tôi đã muốn điên lên thật sự vì cách lý giải dài dòng rất “công chức” của ai đó, cứ “sinh hoạt” rồi lại “xin ăn” rối tung cả lên. Nhưng tôi “cắt” không phải vì đã tỉnh cơn điên, mà vì… Trời hỡi! Có người bình thường nào mà tưởng tượng ra nổi chuyện một ngày nào đó, các em bé ăn xin dơ dáy, hôi hám kia quăng mấy cái gáo nhựa xin ăn để hiên ngang bước vào Nhà thiếu nhi, rồi đường bệ lựa chọn môn sinh hoạt – học tập, điền vào phiếu đăng ký, đóng tiền học, như học đàn piano, học hội họa, học múa ba-lê…? Con cái nhà lao động nghèo và cả một số gia đình trung lưu còn không dám mơ đến những môn “quý tộc” cao sang này nữa là!
Nhận trọng trách quản lý Nhà thiếu nhi, ban giám đốc khả kính của chúng ta – nhất định cũng là người bình thường, thì nhất định họ có yêu mến trẻ em, ít ra là theo chừng mực của bất cứ con-người-có-trái-tim nào khác trên đời này. Vậy làm sao quí ban giám đốc lại có thể giả định một trường hợp là “các em ăn xin vào đây không phải để xin ăn mà là để sinh hoạt”, hoàn toàn có thể khiến các em ăn xin nghe mà vô cùng tủi nhục?
Ngay điều giả định đầu tiên trong thỉnh cầu mê muội của tôi, là “Ban giám đốc linh động cho phép trẻ em ăn xin vào… xin ăn trong Nhà thiếu nhi!” thì đã là hoang tưởng rồi vì chuyện này may ra chỉ có thể có trong loại truyện cổ tích thời hiện đại dành viết về những ông tiên, bà tiên tự nhiên mà xuất hiện trong giới quan chức quản lý. 
3.
Tôi đã có phần tỉnh táo trở lại nhưng hoang tưởng trong tôi vẫn lì lợm, không-biết-tiếp-thu, vì nó nhất định “sinh hoạt” theo phạm trù cảm xúc mềm mại của riêng mình, chứ không theo cùng những phạm trù lý luận duy lý, duy hệ thống cứng ngắt, lạnh lùng của những nhà công chức chuyên nghiệp.
Hoang tưởng vừa xúi tôi trình ra một thỉnh cầu vớt vát: “Vậy thì vào ngày Quốc tế Thiếu Nhi hằng năm, như sắp tới ngày 1 tháng 6 rồi kìa, thì sao? Vâng, thưa ban giám đốc, đúng rồi, đó là ngày lễ lớn, tầm cỡ quốc tế, thuộc nguyên con vào chức năng của quí vị chứ không phải của ai khác. Ngày mà toàn thể nhân loại, đứng đầu là Liên Hợp Quốc, đồng loạt dành tất cả những gì tốt đẹp nhất trên đời này cho thiếu nhi, nhất là trẻ em thuộc các nước nghèo, đang phát triển như Việt Nam ta. Vậy ban giám đốc có hạ cố, uyển chuyển cho phép các em xin ăn vào Nhà thiếu nhi sinh hoạt, chung vui cùng với mọi thiếu niên – nhi đồng khác hay không? Xin một lần duy nhất này thôi cũng được. Hay quí vị cứ cho phép các em vô để “sinh hoạt” thôi, “xin ăn” thì vẫn cấm tiệt cũng được…”.
Cắt! Lại phải cắt.
Hoang tưởng ơi, nếu không thể làm khó dễ người khác chút nào đó thì cũng không nên làm khổ chính mình. Có điều này là dễ dàng nhất đây. Hãy tưởng tượng về đoạn đường từ cái ngã tư có các em bé ăn xin đến cổng Nhà thiếu nhi thì riêng đối với các em bé đang sống bên lề xã hội ấy, đoạn đường này không phải chỉ dài có vài trăm mét, mà phải dài tới bằng đường… lên trời! 
4.
Vừa rồi, từ chuyện chị phụ nữ nghèo dạy con làm việc thiện cho đến chuyện các em bé xin ăn, sống nhờ vào lòng từ thiện của mọi người, chuyện nào cũng khiến cho tôi xúc động sâu xa nên tôi rơi vào hoang tưởng. Buồn nhất là khi tôi “dựa hơi” ngày Quốc Tế Thiếu Nhi 1 tháng 6 để cầu xin ai đó một cách vô vọng.

Đúng ra, không cần ai phải dạy đời cho ai, cũng như không cần phải chờ đến ngày 1 tháng 6 hằng năm, chúng ta mới suy gẫm về cách dạy con trẻ về lòng nhân ái. Bao lâu trong cuộc sống vẫn còn những người lớn, những đứa trẻ vô cảm trước tình cảnh nghèo khó, khổ sở của người khác thì đó vẫn là một món nợ lớn lao, thuộc trách nhiệm của toàn xã hội và mỗi gia đình. Riêng về chuyện những em bé ăn xin thì vấn đề người lang thang, bụi đời, xin ăn.v.v…, ở mọi lứa tuổi và sắc tộc, trước hết là trách nhiệm, phần hành của ngành thương binh – xã hội. Tiếc là hiệu quả công tác của ngành này còn quá hạn chế nên trên đường phố còn quá nhiều dân ăn xin, lang thang đầu đường xó chợ.
Nhưng “Đừng tuyệt vọng, tôi ơi, đừng tuyệt vọng…” (Tôi tự biết mình còn có một cái tật khó ưa, hay bị bạn bè cười mà tha thứ cho, đó là thỉnh thoảng tôi cứ lấy nhạc Trịnh Công Sơn mà minh họa cho nỗi niềm của mình). Xung quanh ta vẫn còn nhiều điều tuyệt diệu để có thể sống và hy vọng vào cuộc đời.
Vào những dịp lễ Quốc tế Thiếu nhi, Tết Trung thu, Giáng sinh, Tết nguyên đán.v.v…, từ lâu đã có những nhà hảo tâm, những nhà hoạt động xã hội, những nhà tu hành, những chị tiểu thương ở các chợ, những thanh niên nam nữ tình nguyện trong nước hoặc đến từ những đất nước xa xôi, có cả những nhân viên – người Việt cùng người nước ngoài – của những công ty nước ngoài, liên doanh, tư nhân…, cả khách du lịch ba-lô nữa, họ chia nhau tìm đến những vĩa hè, những gầm cầu, những công viên trong thành phố. Tại những nơi tạm-trú-khỏi-đăng-ký này của dân lang thang, bụi đời, cơ nhỡ, những con người tốt bụng ấy đã tặng quà – chủ yếu là thức ăn và quần áo, giày dép – cho các trẻ em kém may mắn, không phân biệt dân thành phố, dân các tỉnh, người kinh, người Thượng gì cả. Giữa đêm tối – phải là đêm hôm khuya khoắc mới gặp đông đủ các em đi kiếm ăn trở về “nhà” – họ còn chơi trò chơi, kể chuyện, hò hát, hớt tóc, cắt móng tay, sứt ghẻ… cho các em. Và không chờ đến các dịp hè hay lễ tết, đã có những lớp học tình thương do những người tình nguyện mở ra, đôi khi ngay trên các vỉa hè thiếu ánh sáng, để dạy chữ, dạy nghề cho trẻ em bụi đời, cùng những hoạt động ngày càng mở rộng của những Nhà Mở , Làng Thiếu nhi SOS… do các tổ chức thiện nguyện nước ngoài thành lập và các cơ sở bảo trợ, nuôi dạy trẻ em nghèo, mồ côi, khuyết tật, cơ nhỡ của các vị sư, các nữ tu, nhà giáo về hưu… Đơn giản là họ chỉ biết ngày đêm hoạt động với mục tiêu “Tất cả vì thiếu nhi” mà không cần ai đó ghi cho thành tích nhì nhằng này nọ, rằng là tổ chức công hay tư, cá nhân hay tập thể, hoạt động thường xuyên hay nhất thời, do tiền túi riêng, tiền quyên góp hay tiền tài trợ.v.v…
Tất cả những việc làm của những người-tốt nói trên đều có ý nghĩa cao đẹp, ít nhiều đều góp phần cải thiện tình hình nghèo đói trong cộng đồng xã hội. Đó là cách mà những con người tốt kia đã làm, đã đến với các trẻ em nghèo khổ, lang thang.
Ngược lại, cái cách mà các em bé ăn xin có thể đến, có thể được bước vào một nơi chốn có treo bảng là dành riêng phục vụ trẻ em, thiếu niên – nhi đồng, thì vẫn chỉ là trò vẽ vời trong hoang tưởng vớ vẩn của riêng tôi…

Phạm Nga

Tháng Ba, Coi Bóng Hát Tế Vía Bà

* Phạm Nga

via ongba
 
1.
Hằng năm, cứ trong vòng tháng Ba âm lịch như lúc này là ở khắp nội/ngoại thành Sài Gòn, các ngôi miếu thờ Ngũ Hành rộ lên cúng vía Bà – tên dân gian gọi chung cho Năm Bà tức Ngũ Hành Nương Nương. Như hôm 19 ta, lễ vía Bà ở chùa Vạn Thọ bên bờ kênh Nhiêu Lộc đã diễn ra suốt ngày đêm.
Buổi sáng đã có một nhóm tế nam, với y trang đĩnh đạc áo thụng xanh, nón cánh chuồng, chuyên diễn nghi thức học trò lễ, nhưng được bà con, cô bác mong đợi và kéo đến xem đông hơn là mấy em bóng, nhóm tế này chỉ vào đám buổi xế trưa.
Được mời tế Bà đã nhiều năm liên tục tại ngôi miếu này, chị Năm Tốt, trưởng nhóm, cho biết: “Hàng năm, cứ cỡ 18,19  tháng này, tôi đi kêu mấy chị em quá khó là khó vì ai nấy tứ tán hết, cũng tại cùng lúc quá nhiều miếu Ngũ Hành ở Sài Gòn đều cúng vía Bà. Như xong ở đây, đến năm giờ chiều là chị em tôi phải lập tức chạy xuống miếu Bà ở Thủ Đức”.
Xưa nay, hể nói tới dân bóng rỗi  – hay gọn hơn, dân bóng – người ta liên tưởng ngay đến các cậu thanh niên pê-đê, tức là nam giới nhưng vẫn được coi là nữ giới, vẫn là “mấy chị em” như chị Năm Tốt vừa đề cập.
Tuy nhiên, qua thâm niên hơn 30 năm theo nghề, chị Năm cho biết là nghề tế gắn liền với hình ảnh những cậu con trai – cả đàn ông trung niên nữa –  ưỡn a ưỡn ẹo mặc đồ phụ nữ, nhưng đúng ra, một nhóm tế thông thường bao giờ cũng gồm luôn cả các cô gái, các chị trung niên, các má lớn tuổi và các chú, các ông nữa. Điển hình như nhóm của chị đang lãnh đám ở đây, quả là rất đề huề về các mặt giới tính, tuổi tác, thế hệ…
 
2.
Đứng cạnh bàn thờ Bà là chị Bảy Thi, tuổi khoảng trên dưới 50, đang vừa gõ trống lịnh vừa hát, tụng “Chầu mời” tức phần mở đầu một buổi tế đúng bài bản. Ngồi gần đó là ông Ba Lựa, tuổi phải trên 60, vốn là nhạc sĩ cổ nhạc, đã từng theo gánh hát và chơi trên đài phát thanh. Sát bên là chú Hai Xiêm trung niên, đang thủ cây ghi-ta điện phím lõm để hòa theo tiếng đàn cò của ông Ba.
Tập kế của “Chầu mời” đáng lý là phần việc của bà Phước, nhưng bữa nay do bận việc nhà, bà không đến được. Tên tuổi của má Phước – tuổi cỡ 70 – thì nức tiếng trong nghề tế bóng hiện nay ở Sài Gòn. Các nhóm tế khác như nhóm Bạch Hồng ở quận 8, Bảy Tước ở Tân Qui, Ngọc Quyên ở quận 6, Minh Đức ở Hốc Môn .v.v, hễ gặp má thì thảy đều cung kính, cúi đầu trước vị sư mẫu dạy nghề  tế, múa, hát này.
Chị Năm Tốt đã bước ra, khoác vào chiếc áo tế do chị Bảy Thi trao lại, tiếp tục hát “Chầu mời” thay cho má Phước.  Áo tế –  hay áo lễ, được may bằng gấm đỏ, kiểu không có tay áo, giống áo đạo bào của thầy cúng, thầy pháp nhưng rực rỡ hơn vì nhiều chỗ đính hạt cườm, thêu kim nhũ rất kiểu cọ, rối rắm. Chị Bảy Thi nói đây là một chiếc áo cũ, đã bao lần xuất hiện trên sân khấu hát bội mà một bạn hát (diễn viên) nhường lại, có sửa sang chút đỉnh, nên chỉ tốn có 400,000 đồng, chứ may mới phải tốn cả triệu.
Chợt bà con bá tánh xì xào. Từ chỗ đứng, chỗ ngồi xa thì nhiều người rủ nhau đến gần bàn thờ Bà hơn. Diễn viên được khán giả mong đợi nhất nảy giờ đã khoác chiếc áo tế lên thân hình thon thả của mình. Vẫn là hát “Chầu mời” tiếp nhưng bà con không hề thấy chán, vì đó là em Ngọc Hậu xinh đẹp ra đứng trước micrô.
Lúc ngồi tại bàn uống trà, đối diện với Hậu, tôi đã không khỏi thầm khen đôi mắt, đôi mày được make-up rất kỹ càng cùng làn da khá mịn màng trên khuôn mặt của chàng trai 33 tuổi, đang mặc áo bà ba mỏng tanh, lộ rõ nịt ngực này. Không biết tên khai sinh của anh bóng này là gì nhưng về cái nghệ danh “Ngọc Hậu” nghe đầy nữ tính, rất gợi cảm kia thì anh chàng đã chọn cho mình suốt gần 20 năm theo nghề. Tôi có cảm giác như, dù có là hậu duệ thiệt thọ của bà Eva hay không đi nữa, em Hậu, với mặt-mũi-mình-mẫy như thế, trông vẫn trẻ, khá trẻ so với cái tuổi Mẹo tức 34 tuổi ta của em.
Tôi thoáng nghe được từ bàn trà bên cạnh, một ông nào đó thốt ra luôn một câu nghe rất kỳ cục, rằng: “Cái thằng…, coi bộ còn muốn đẹp hơn con gái!”.
Trước cái nhìn không việc gì phải kềm chế của phía đàn ông xung quanh, Hậu có vẻ thích thú, hả dạ –  kiểu phụ nữ tự biết là mình đẹp. Hậu còn có luôn cái kiểu rất con gái là cúi mặt lõn lẽn, chạy trốn ánh mắt chăm chăm của người đối diện, khi kiếm chuyện hỏi tôi:
 – Chú… nhà báo hả? Chú có chụp hình bàn thờ tổ của tụi này không vậy?
Đang ngắm người đẹp bóng, thật tình là tôi có giật mình, bèn giả lả hỏi lại:
 – À, à… Nghề tế cũng có tổ riêng sao Hậu? Bàn nào đâu?
Tại một chiếc bàn nhỏ kê gần các nhạc công, được xem là biểu trưng “Tổ” của nghề tế là một bức tranh lụa vẽ hai tiên nữ đứng cạnh một cái cây có 12 đóa hoa vàng nở rộ mà Hậu gọi là cây “bông Càn Thọ”. Khi không có được bức tranh hiếm quí, chỉ truyền thừa trong nghề tế này thì các nhóm tế có thể thay thế bằng bức tranh Bát Tiên, theo kiểu hình vẽ “Bát tiên quá hải” trang trí trên những cái chén, cái tô xưa của Trung Quốc, gồm một số nhân vật huyền thoại Trung Hoa cổ, như Hà Nguyệt Cô, Lã Đồng Tân, Tế Điên, Lý Thiết Quày.v.v…

3.
Kết thúc màn “Chầu mời” và tạm nghỉ vài phút, Hậu ra diễn nghi thức kế tiếp là múa tế “dưng bông”. Em vừa xỏ vô người chiếc váy lụa trắng là tiếng đàn, tiếng trống, nhịp song loan đã háo hức vang rền.
Cứ mỗi lần Hậu sãi bước, lượn người tới bàn Tổ là một trong một bộ 5 cái chén đầy ắp bông cúc vàng để trên bàn lần lượt biến thành một thứ đạo cụ ngộ nghĩnh. Hậu lấy từng cái chén, khéo léo để lên đầu, buông tay, ngồi thụp xuống, đứng lên, xoay tròn nhiều vòng, chấp tay lạy…, mỗi cử chỉ đều nhuần nhuyễn, tinh tế y như của một nữ vũ công chuyên nghiệp, dạn dày kinh nghiệm. Những chuỗi động tác nhanh, gọn, dứt khoát như thế cứ như từ thân hình mảnh mai, thướt tha của Hậu mà hòa quyện một cách mông lung, hư ảo vào những cụm khói nhang, khói trầm đang tỏa lan nghi ngút từ các bàn thờ lớn, nhỏ trong miếu. Ông chánh tế tóc bạc trắng, mặc áo thụng xanh đang đứng cạnh bàn thờ Bà, gần như giật mình, thảng thốt khi vũ công thoáng một cái đã tiến đến sát bên ông, trao chén hoa cúc để ông đặt lên bàn thờ…
Tiếng đàn, trống đã dịu đi khi các chị em nhóm tế luân phiên phục vụ cho nghi thức “Gởi” của bà con cô bác. Gởi có nghĩa là khách dự lễ đưa một ít tiền cùng mảnh giấy ghi tên, họ của mình cho người tế để người này ê a tụng những lời cầu xin Bà phò hộ cho người “gởi” được gia đạo bình an, buôn may bán đắt…
Buổi tế đã náo nhiệt trở lại với phần diễn cuối cùng: múa dân gian. Tùy theo người tế cầm vật gì trên tay mà phần múa này sẽ phân ra là múa mâm vàng/mâm bạc, múa bông huệ, múa lục bình… Đậm nét nghệ thuật múa dân gian nhất, giống trên sân khấu ca-múa-nhạc nhất là múa mâm vàng, hôm nay cũng do Ngọc Hậu biểu diễn.
Trước tiên, từ bàn thờ Tổ, Hậu trình ra một tòa lâu đài đồ mã cao khoảng 5 – 6 tấc, được phất bằng giấy nhũ vàng óng ánh và được dán dính vào giữa một cái mâm nhôm cỡ trung. Vài người bước vào, dùng cọng bún dán sơ sài vào mâm thêm mấy tờ giấy bạc 100 000 đồng, 50 000 đồng. Muốn hưởng những tờ tiền thưởng đó thì trong tất cả các động tác của cánh tay cầm, đỡ mâm, người múa phải làm sao cho những tờ bạc không rơi khỏi mâm. Hậu có làm rơi hết một tờ 50 000 đồng trong một thoáng úp ngược mâm. Bù lại, mọi người phải vỗ tay khen ngợi khi Hậu tung xoáy mâm lên khoảng không với khi Hậu ngửa mặt, dựng vành mâm vào nhân trung, rồi chu môi, giang rộng hai  tay, vừa múa vừa giữ thăng bằng cho mâm vàng trong khoảng 2 – 3 phút.
Rồi chiếc áo tế lại được Hậu cỡi ra, giao cho một “nghệ sĩ” bóng khác. Đó là em Đào, có vẻ lớn tuổi hơn Hậu, giọng tế khàn khàn và nước da ngăm đen thì khó có thể nói là xinh đẹp như Hậu. Nhưng Đào múa giỏi hơn. Sau màn múa không chút khiếm khuyết với một cành hoa huệ dựng đứng trên vai, Đào ngửa mặt, rồi từ chỗ nhân trung dưới lỗ mũi, em dựng thẳng đứng một đoạn ống nước bằng nhựa. Kế đó, Đào từ từ thụp người xuống và quì thẳng lưng, tay giữ cho ống nước đứng yên, một bạn diễn bước vào đặt trên đầu kia của cái ống hai con dao cho nằm ngang, cái dưới cái trên theo hình chữ thập. Khi mọi thứ đã thăng bằng, Đào nói nhỏ “Xong!”, cả hai người cùng buông tay, bạn diễn lui ra, Đào từ từ đứng lên…  Nhà tạp kỹ đã khiến mọi người muốn nín thở khi vừa giữ thăng bằng cho mấy món hung khí, vừa uốn éo thân mình theo tiếng đàn, trống. Xong màn múa dao, ai nấy đều vỗ tay tán thưởng, thưởng thêm tiền để Đào diễn tiếp qua màn múa mâm bạc để trên trán với kiểu quì xoạc hai chân, ưỡn lưng xuống nái sát mặt đất…
 
4.
Theo chị Năm Tốt, tháng Ba là tháng làm ăn khấm khá nhất của nghề tế bóng.  Các nhóm tế liên tục đi diễn từ các miếu Ngũ Hành ở quận Nhất, Bình Thạnh, Gò Vấp, đình thần ở Phú Nhuận, miếu Bà ở Tân Phú, cho đến Dinh Cô ở Long Hải, Bà Rịa.v.v…, vài khi đến diễn cả ở những ngôi miếu nhỏ xíu trong đất vườn tư gia nào đó. Về thù lao, không tính đến phần tiền bà con gởi khi nhờ tụng cầu gia đạo bình an, bèo nhất cho một buổi vào đám cũng vào cỡ 3 – 4 triệu đồng. Tháng Tư thì “lai rai” vì trong tháng này chỉ có vía Bà Chúa Xứ và vía Bà Thiên Hậu. Còn các tháng khác trong năm, các nhóm chỉ chờ được kêu đi cúng Bà Cữu Thiên Huyền Nữ hay Bà Mẹ Sanh ở các vùng ngoại thành, tại nhà các gia đình còn theo tập tục xưa, với thù lao một buổi chỉ  1 triệu hay 1 triệu rưởi…
Chị Năm chắt lưỡi nói nghề tế là nghề tay-trái nên khó có ai sống nổi, dù là sống tạm qua ngày tháng, nếu chỉ làm có mỗi nghề này.
Bấy lâu nay, khi theo nghề tế chuyên nghiệp, với ít nhiều kiêu hãnh, những bạn bóng như em Hậu, em Đào đã tự phân biệt mình với các em pêđê chỉ có thể đi hát đám, có nghĩa là ca, diễn tân nhạc, cổ nhạc, trích đoạn tuồng cải lương một cách nghiệp dư ở những đám ma, đám cúng thất hay giỗ chạp. Cũng mang tiếng là bán nam bán nữ như dân pê-đê và vài khi túng kẹt quá thì cũng phải chấp nhận đi hát đám lai rai cùng các nhóm pê-đê để “kiếm chút cháo”, nhưng dân bóng theo nghề tế phải trải qua cả một quá trình bái sư, thờ tổ, học nghề, khổ công tập dợt với nhóm… Muốn được theo nhóm, bạn bóng nào cũng phải biết sử dụng thuần thục, khi thì nhạc khí là cái trống lịnh, khi thì đạo cụ độc đáo là cành hoa huệ, tách trà, bình bông, cái mâm vàng, con dao yếm… Rồi các chị em cũng phải thật điêu luyện, diễn cảm khi hát “Chầu mời”, tụng lời “Gởi” của bá tánh, và đặc biệt không được phép có sai sót về các tuyệt kỹ múa tế như múa “dưng bông” hay múa dân gian là múa mâm vàng, mâm bạc.
Nói gọn lại, có tài nghề như thế thì các bạn bóng rất xứng đáng được gọi là những nghệ sĩ ca múa nhạc và tạp kỹ chuyên nghiệp. Đặc biệt khi xuất hiện trước mắt công chúng, các bạn bóng không chỉ là những nghệ sĩ ca, múa dân tộc phục vụ cho nhu cầu giải trí của bà con mà còn là những thầy tế, thầy cúng chuyên thực hiện một số nghi thức tế, lễ rất đặc trưng, phục vụ cho mảng tín ngưỡng dân gian của người Việt vùng Nam bộ.
Có điều là, rất chua chát, hẩm hiu đối với các nghệ sĩ bóng, đó là xưa nay các chị em chỉ được trình diễn toàn ở những sàn diễn thường rất chật hẹp, gò bó, như một khoảng sân, mặt thềm nào đó ở các ngôi miếu, đình, chùa, nhà tư gia…, nhiều khi chỉ là chiếc chiếu cũ trải ra trước quan tài.
 
PHAM NGA
(Tháng ba Canh Thìn)

XÁC CẬU

Phạm Nga

thumbnai1l

1.

Cô gái đang ngồi bỗng ngã người nằm ngữa trên chiếc chiếu rách, hai chân co lên, rồi dễ dàng kéo một bàn chân lên miệng để mút ngón chân cái. Mấy người đàn bà nảy giờ ngồi xung quanh cô gái, kể cả các mụ hung dữ, nanh nọc nhất, đồng loạt khúm núm cúi đầu, như tự thu nhỏ mình lại trước một sức mạnh vô hình và thì thào “Cậu về! Cậu về rồi!”. Họ chấp tay, lầm bầm khấn vái, có người khóc lóc, sụp lạy…

Từ bên sân nhà mình nhìn sang, hắn hiểu ngay là cô gái vừa không còn là chính mình nữa mà đã biến thành xác. Theo bà con ở đây, có một hồn ma rất thiêng của một cậu bé trai tên Yến đã chết vào thời nào không rõ. Cậu đã chọn xác để nhập vào mà cứu-nhân-độ-thế, được một thời gian thì lại có tin truyền rằng Yến đúng ra là một hoàng tử chứ không phải con nhà dân dả nên bà con lại càng thần phục: Cậu Yến thăng lên thành Cậu hoàng Yến.

Cậu, vẫn nằm ngữa, bắt đầu đớt đát nói tiếng trẻ thơ, nghe khi được khi không. Lập tức bà Sáu chủ nhà “dịch” lại bằng giọng ồ ề của bà, nghe cũng rất mệt. Rằng cậu đã nói chỉ một tâm cứu nhân độ thế, không màng lợi lộc nên mấy ông cốc bà cốc không nên cúng lễ vật, tiền bạc làm gì. Rằng con nữ kia đừng buồn chuyện thằng chồng đi lấy bậy nữa, cứ lo tu nhân tích đức đi, từ từ cậu sẽ dạy cho nó tỉnh ngộ mà quay về với vợ con. Rằng bá gia cứ tiếp tục tu trì, làm việc thiện và nhớ đừng nghe lời ai hết! Nghe hôn?…Mọi người, tức là bá gia, cứ việc cúi đầu dà dà, dạ dạ liên tục. Nhưng không biết cậu sẽ nghĩ gì, dạy gì khi biết được ở rất gần “giảng đàn” của cậu, đang có gã nhà hàng xóm đứng khuất bên kia dãy hàng rào bông bụp, vô cùng nghịch đạo vô lễ bởi hắn không hề kính cẩn lắng nghe cậu dạy mà chỉ chăm chăm ngó vô háng của xác.

Khách quan mà nói, xác tức con nữ có tên là Gái hay tên gì khác cũng không đáng để ai quan tâm vì đã nói, một khi được làm xác của cậu thì cô ta không còn bản ngã, nhân cách, tên tuổi riêng gì nữa. Cũng từ đây, vào lúc bình thường nghĩa là những khi không có cậu nhập, mọi người đều trân trọng gọi là ‘cô’, ‘thưa cô’ chứ đâu dám gọi tên Gái. Điều đáng nói là khi cô nằm ngữa ra như lúc này, dù ở phần trên là kiểu trẻ thơ hồn nhiên mút tay nhưng ở phần dưới vẫn cứ là kiểu banh háng, uốn éo, vẫn cứ là kiểu đàn bà trâng tráo gợi dục. Những nếp quần lót cứ lồ lộ, tô hô, khiến gã hàng xóm xốn xang tưởng tượng…, mà đã ba, bốn ngày rồi, vợ hắn lại kẹt. Nghĩa là giờ này hắn không tích đức, diệt dục gì ráo mà chỉ tích máu, cương cứng…

2.

Sau ngày 30-4, không được dạy học nữa, gã hàng xóm đành lui về quê vợ kiếm sống. Đó là một vùng quê gần chợ nhưng vô cùng nghèo khó. Tối tăm từ khung cảnh – mỗi tuần chỉ hai đêm có điện – cho đến lòng người: ở đây không được vào công nhân viên nhà nước ‘có tiêu chuẩn’ thì chỉ còn những nghề lao động nặng nhọc, lam lủ, ít tiền. Ngày ngày hắn phụ đẩy xe ba bánh chở đồ hàng bông, hàng rẫy ngoài chợ, chiều tối về thì bập vô mấy xị rượu, mấy con khô bên ngọn đèn dầu để quên đi những sọt khoai lang, khoai mì, bí rợ quá nặng cho một tên thầy giáo “mất dạy”…Thường khi say rồi hắn làm biếng ăn cơm nhưng cứ sau khi ra giếng tắm truồng trong bóng tối, hắn lại hay siêng năng mò vô vợ hắn. Ở trong buồng, bóng tối phủ đầy – tiết kiệm dầu hôi – nhưng hắn vẫn nhận ra được cặp mắt, cặp vú vợ mình hình như lấp lánh sáng. Sáng yếu ớt như chút xíu hạnh phúc héo hon, độc nhất còn sót lại trên đời này.

Cùng khổ, tuyệt vọng dễ khiến người ta tìm tới những chỗ dựa ít kén chọn hay những niềm an ủi ít tốn kém cho cả tâm linh lẫn cảm xúc. Như chuyện con gái của hắn tự nhiên hay bị thức giấc giữa đêm. Con nhỏ mới sáu tuổi nên không thể kể lại rõ ràng nó thấy gì trong khi ngủ đến nỗi phải choàng thức và khóc lóc. Vậy là mấy bà hàng xóm giành quyền giải nghĩa với vợ hắn, rằng cháu nó đã bị người-khuất-mày-khuất-mặt tìm đến hù dọa, phá phách. Quan sát sinh hoạt ban ngày của con nhỏ, đồng thời tìm hiểu kỹ về sức khỏe của nó…, hắn không tìm ra được nguyên nhân ác mộng thì cứ bị vợ hắn thúc gịuc việc cúng kiếng, cầu thầy. Hắn nổi điên!

Một tối, hắn nhậu rỉ rả rất khuya với thằng đạp xe ba bánh ở miếng thềm trước nhà, nó chán hắn đến nỗi lén bỏ về hồi nào không hay. Còn lại một mình trong bóng tối, đèn đã cạn dầu mà vợ hắn đang giận nên chẳng thèm ra dọn dẹp, bỏ mặc hắn nằm dài ra đất như cái mền rách.

Hắn bắt đầu chữi – một hành vi mà từ trước tới giờ mọi người không hề thấy ở hắn, dù đã nhiều lần hắn cũng say dữ dội.

Đ.mẹ, vậy là có thằng nào con nào đó tên là người khuất mày khuất mặt tới phá con tao? Một đứa hay mấy đứa? Hay toàn thể tụi bây? Đâu cần đông đủ long trọng dzữ dzậy? Con tao chỉ là một đứa nít thôi mà? Không đứa nào trả lời à? Tốt! Dù sao thì cũng cho tao được phép kính cẩn nghiêng mình gởi lời.. đ. mẹ tới toàn thể quí vị. Nghe rõ chớ hả? Để tao nghỉ chút xíu, mệt quá… Tiếp đây. Phải, tao lập lại là con tao chỉ là một đứa nít sáu tuổi, yếu ớt, ốm nhách và nó chỉ là con của một thằng cũng ốm nhách, nghèo mạt là tao đây. Tụi bây là những đấng khuất mày khuất măt? Có chức danh nào khác nữa không? Hả? Gì? Người cõi trên? Người cõi âm? Trân trọng kính chào nhưng tụi bây đúng ra chỉ là lũ chó cắn áo rách. Chớ còn gì nữa? Người cõi trên bề trên gì đó thì phải lo phù hộ, độ trì cho đám dân đen dưới trần gian này sống đỡ đỡ một chút chớ! Đằng này tụi bây lại… Tụi bây có lao động không hả, có đổ mồ hôi sôi nước mắt kiếm cơm không hả? Hay rảnh quá rổi chỉ biết đi ăn hiếp con nít. Vinh quang quá hả? Ma cha con tao có chọc ghẹo gì bây đâu? Thôi, tao mệt quá, tao lạy xin tụi bây đừng tới phá con tao nữa, để cho nó được ngủ yên mai dậy còn đi học. Còn nếu không thì… tụi bây có ngon thì tới phá tao đi. Phải, quên con tao đi rồi tới chơi với tao, tao thế mạng con tao, được chưa? Tao đây nè, có ngon thì tới đây. Tao hả? Hồi xưa tao là ai là gì bây khỏi cần biết, giờ thì tao đếch là gì cả, chỉ là một thằng khố rách áo ôm, nhà cửa sự nghiệp không có, cày cả ngày muốn tắt thở mà cũng không đủ kiếm được nổi một miếng thịt nhỏ xíu cho vợ con tao ăn kẹp với rau củ cho đỡ khổ nữa. Nhưng được cái tao là thằng lương thiện, nghèo thì nghèo chớ tao chưa hề gạt gẫm, chơi xấu ai. Mà là người lương thiện thì tao đếch sợ tụi bây, nghe chưa? Tụi bây có biết ông Khổng tử bên Tàu không, ổng có nói câu “Đức trọng quĩ thần kinh”, có nghĩa khi ta là con người lương thiện, trong sạch thì quĩ thần còn phải kinh sợ ta, việc gì ta phải sợ quĩ thần…Thôi, tao mệt quá, lời cuối tao nói cho tụi bây biết, một là tụi bây cứ ngồi yên trên bàn thờ để người ta thắp nhang, cha con tao và tụi bây không ai chọc ai, còn nếu không thì hai là tụi bây có ngon cứ tới chơi tao. Hay là ngay giờ đi, thằng nào con nào ngon thì hiển linh hiện ra đi, tao đây nè. Tao thách đó! Sao, không dám hả? Dzậy mà kêu là người cõi trên. Đ.mẹ tụi bây, đ. mẹ toàn thể tụi bây…

Mơ hồ hắn cảm thấy trong lúc mình lãi nhãi, hình như tới phần giới thiệu sơ nét diện mạo và hoàn cảnh cùng mạt của cha con hắn, hắn đã khóc. Mơ hồ trong những khoảng lặng, hắn cảm thấy hình như mình chân thành thèm chết mới xin “thế mạng” vì… lạy Trời, con hắn là tương lai, còn hắn thì không.

Những ngày sau đó, mọi người tránh mặt gã hàng xóm, cứ như ai cũng kiêng cữ không đến gần kẻ xấu. Hắn thì chỉ nhớ mang máng một số ý tưởng chất chứa trong bài độc thoại đêm đó chứ không biết gì về mức độ âm thanh cùng số lượng khán thính giả có mặt hoặc khuất mặt. Vậy mà, cứ như quan hệ nhân quả, có chuyện lạ xảy diễn, không biết hung cát thế nào.

Đó là tự nhiên có một cặp vợ chồng lạ mặt đến ở trọ sát bên cạnh nhà hắn. Họ đều còn trẻ, anh chồng làm nghề bốc vác ở chợ, không có gì đặc biệt. Chị vợ thì đáng để ý hơn, nhưng không phải bởi nhan sắc, vóc dáng. Hàng xóm đến làm quen thì được cho biết cái cô tên Gái này đã từng là cô giáo, thợ may và cả ni cô nữa, nhưng hiện giờ không thấy cô ta làm gì cả. Cô trầm lặng, ít nói, ít khi ra khỏi nhà cũng như ít khi nấu cơm cho chồng ăn. Có điều là cô bị chứng bịnh gần như động kinh, thỉnh thoảng đột nhiên ngã ra, ngất đi một lát rồi tỉnh, bình thường trở lại như không có gì xảy ra, bà con hàng xóm khỏi cần cạo gió, giựt tóc mai gì cho rộn chuyện.

Nhưng trước sau gì cuộc trình diễn cũng phải bắt đầu. Sân khấu: không cần phông màn âm thanh ánh sáng, chỉ là một manh chiếu rách. Vốn ở miếng sân trước nhà cô Gái đến trọ, lâu nay cứ vào chiều tối – mùa này chiều nào cũng rất mau tối, rất nhiều bóng tối –manh chiếu này hay được thả ra, làm chỗ họp cho mấy bà ngồi lê đôi mách. MC : bà Sáu chủ nhà phụ trách. Cũng không ai có ý kiến, thắc mắc gì về chuyện nhà bà Sáu có đạo, có bàn thờ Chúa mà bà lại tin chuyện đồng bóng.

Cậu đã hiển linh trong một lần Gái động kinh vô cùng khác thường. Cô gái đã không nằm im, nhắm mắt như mọi lần khác, đằng này lại co lên hai chân, tay kéo một bàn chân lên sát miệng để mút ngón chân cái, cặp mắt mở láo liên và thỏ thẻ giọng trẻ thơ. Bà Sáu thấy lạ liền xáp vô, ghé sát mặt Gái. Ban đầu bà hỏi: ” Hả, hả? Mày nói gì tao nghe không được. Hả? Con nhỏ này bữa nay sao lạ…“, rồi bỗng đổi giọng: “Hả? Trời ơi! Dạ? Cậu!? Dạ…Cậu, con lạy Cậu. Dạ con hiểu rồi!” Bà sụp lạy mấy lạy vô thân mình cô gái rồi quay lại mọi người, giọng khác hẳn, kinh hoàng: ” Mấy bà con ơi, té ra đây là Cậu, Cậu về nhập con Gái, ủa, xin lỗi, nhập cổ để cứu nhân độ thế!”. Không khác gì một nhà tiên tri báo tin đấng Chúa mới, vừa ra đời trên chiếc chiếu rách của người nghèo khó! Kế đó, Chúa cũng chọn luôn chiếc chiếu rách làm giảng đàn.

Mọi sự đảo lộn. Bắt đầu từ cô gái. Với trạng thái nhị – trùng – bản – ngã (hay tam trùng? đa trùng?), Gái là đàn bà, đồng thời là xác, và vì Cậu vốn là hài nhi nên Gái cũng là đứa bé trai luôn luôn nằm ngữa. Bà Sáu là chủ nhà nhưng đang kính cẩn cúi lạy con nhỏ thuê nhà và chắc chắn không lấy tiền nhà nữa, đồng thời bà cũng là MC thông dịch, còn lãnh luôn việc giảng nghĩa và bình luận thêm cho lời lẽ của “phức thể” đàn bà + xác + đứa bé… Đám đàn bà con nít xung quanh biến thành những bà cốc, con nữ, thằng nam… Chi tiết quan trọng: Cậu không hiện diện (ai thấy? mặt mũi, hình tướng, quần áo Cậu ra sao?) nhưng luôn luôn hiện hữu trong tin tưởng của những ai tin là có Cậu. Rồi tin tưởng nhanh chóng biến thành tin đồn. Hơn thế, thỉnh thoảng vị khuất-mày-khuất-mặt này thông qua xác mà coi như đã hiển linh thành người trần. Có điều là khi Cậu sử dụng cái thế thân (avatar) dạng “phức thể” đàn bà +xác+ đứa bé như đã phân tích, tuy cụ thể sờ-mó-được nhưng bá gia cũng cần phải kính cẩn tưởng tượng thêm nhiểu nữa mới mơ hồ cảm nhận được thần thái uy nghi của Cậu. Chi tiết ít quan trọng: không thấy có thêm phần cờ quạt, nhang đèn, múa may, rùng mình, ợ ngáp, cười khóc.v.v… theo kiểu lên đồng, nhập xác cổ điển thường thấy trong nước xưa nay.

Một điều nữa là không rõ các bá gia có hiểu hết câu “Đừng nghe lời ai hết” được nhắc đi nhắc lại trong lời dạy của Cậu (hay của xác? hay của MC?) hay không, mà khởi từ buổi khai pháp đó, một cách kín đáo, lặng lẽ – không có lịch họp định kỳ rõ ràng như kiểu họp câu lạc bộ phụ nữ, phụ lão… dưới phường, cái hội trầm mặc kia cứ sinh hoạt bữa có bữa không trong cái ánh sáng nhờ nhợ, buồn bã vào buổi sẫm chiều, ở cái miếng sân hình như thu hẹp và đóng kín hơn khi bóng tối sung sướng ùa về ngự trị.

Qua xác, cộng thêm MC, Cậu giảng dạy việc đạo, việc đời, việc tu hành, việc diệt dục, đặc biệt là về ý nghĩa và sự chuẩn bị cho cái chết. Cậu cũng nhận lời chữa bịnh cho bá gia , nhưng không có thảo dược hay tàn nhang nước thãi bài bản theo kiểu thầy pháp cổ điển, Cậu chỉ dạy người bệnh uống thuốc tây ta gì cũng được, nhưng cần nhất là phải làm việc thiện và thường xuyên cầu xin Cậu độ trì, và nếu là số mạng phải bệnh tật thì Cậu sẽ xin với Trên cho từ từ mà giải hạn, hết bệnh. Cậu không nói Trên là đấng nào, cứ ngầm hiểu là ở bất cứ cõi nào, dù là con người, thần tiên hay ma quĩ cũng đều luôn luôn có cấp trên là được.

Thỉnh thoảng vì bá gia nài xin quá thể, Cậu cũng cho số đề nhưng vấn đề là không bao giờ có một con số cụ thể nào được Cậu xác quyết rằng thế nào cũng trúng. “Đêm qua ta thấy…”, Cậu chỉ mơ hồ nói đến một lô hình ảnh lẫn lộn vài con vật, đồ vật gì đó, rồi qua diễn dịch vô tư, thoải mái của MC, ai hiểu ra là con gì cứ tự đánh con nấy. Mặt khác, tế nhị hơn, dù Cậu không ra lời dạy hay chính thức đặt thành vấn đề, bà con vẫn lén Cậu, lũ lượt đem các loại phẩm vật đến tặng cho Gái theo ý thích của cô. Cô ăn chay, chắc là thích trái cây, nhưng qua lời của MC tiết lộ, cô có thích quần áo hàng mút-xơ-lin màu tối.

Phải kể thêm là qua tâm sự của chồng Gái thố lộ trong một bữa say xỉn bên nhà gã hàng xóm, Gái thích quần lót hàng va-li-ze có thêu, ren chút đỉnh, mặc dù trong bóng tối thì không ai thấy ren, thêu gì. Anh ta dặn đừng nói với ai nên gã hàng xóm chỉ nói với vợ và vậy là vợ hắn mở đầu cho kiểu tặng phẩm vật loại đặc biệt này để mấy bà khác bắt chước.

Riêng có một phần tâm sự rất lâm ly của chồng Gái mà gã hàng xóm còn dấu vợ. Đó là, quá đả bởi một sự hào phóng rẻ tiền cùng tin cậy hoàn toàn nơi bạn nhậu ‘tình thương mến thương’, anh chồng nói nhỏ là từ ngày được Cậu nhập, trên giường Gái chỉ nằm im lặng, xuôi xị, không còn tỏ vẻ có cảm giác hưởng ứng dù có được kích thích hết cỡ, riết rồi chồng cô đành ngủ chay. Cũng vẫn xác thịt đó nhưng nay lại là xác của Cậu rồi, thiêng liêng biết mấy? Gã hàng xóm không nhớ nổi anh chồng đã kể lại chuyện kín này bằng giọng tự hào hay uẩn ức nữa.

Quan hệ trao đổi giữa đôi bên là xác Cậu và bá gia cứ diễn ra thật kín kẽ, đầm thắm. Đầm thắm đến mức không ai nói gì về kết quả của những việc cứu nhân độ thế của Cậu. Không nghe ai nói bệnh của họ có hết hay không, nhưng tốt hơn là không nên khai bệnh hoài – nhất là con nít bệnh này nọ – nếu không muốn nghe Cậu tiết lộ thiên cơ rằng Cõi Trên đang có đợt tuyển người hầu hạ chư thần. Và chỉ có người run rủi bỗng trúng số đề mới mừng rỡ báo tin tài lộc của mình, tất nhiên chỉ khoanh lại trong trong kỳ xổ số họa hiếm ngày hôm đó thôi, vì dù người vừa trúng đề tiếp tục đến dự các buổi Cậu nhập xác, tiếp tục ghi nhận những con số Cậu cho, nhưng chẳng nghe họ trúng tiếp bữa nào nữa.

Vài gia đình xào xáo được Cậu khuyên răn, hòa giải đã hòa thuận trở lại, không cần phải nhờ đến người lớn tuổi hay chính quyền phân xử nữa. Riêng gia đình gã hàng xóm thì vui vẻ hơn vì không rõ có phải do trận chữi liều mạng của hắn đêm đó hay không, tự nhiên con hắn không còn bị ác mộng nữa. Gã hàng xóm đã đoán là vợ mình, nếu không ớn cái tật lý sự, phân tích đủ mọi mặt, mọi khía của hắn thì nhất định cô nàng đã ra tay cải tạo hắn. Hoặc cô sẽ nói : “Anh thấy chưa, vì cái tội vô đạo, không biết tin tưởng quỹ thần, say xỉn rồi mới dám chữi bới, thách thức thần linh, nên Cõi Trên mới ra ơn, thay vì trừng phạt anh lại cho Xác Cậu đến ở cạnh nhà mình và, dù anh vẫn không chịu tin tưởng, một số chuyện tốt đẹp – dù nhỏ nhoi, không có tầm cỡ quốc gia đại sự như anh đòi hỏi – cũng đã đến với gia đình mình và bà con hàng xóm…” . Chỉ có điều đáng tiếc là Thượng đế mà những người loại như cái gã gốc nhà giáo này tin tưởng chắc phải ở một cõi nào khác hay không ở cõi nào cả, chứ không phải là như đang có ở đây là kiểu thần linh loại 2, chuyên trình diễn ở đâu cũng những bài bản múa máy, ợ ngáp giống nhau đến nhàm chán.

Thôi, đó là chuyện của cõi trên, cõi âm gì đó. Trong khi ở cõi này, lúc này, trong cái xóm tối tăm, khuất lánh này, chuyện xác Cậu đến với đám người nghèo khổ và vô vọng là chuyện cũng không đến nỗi tồi. Xác nguyên là cô giáo/thợ may/ni cô gì đó thì cũng là thứ người lạc loài, khốn khó, trôi dạt trong/bởi thời thế như gã hàng xóm, phu xe ba bánh, nguyên là nhà giáo mà thôi.

PHẠM NGA

(Trích tuyển tập ký/truyện THỨ NHỤC DỤC TỦI NHỤC, bìa và phụ bản Roger Mapes & T.K, Australia 2007)

           

BỮA RƯỢU

PHẠM NGA

RUOU

BỮA RƯỢU THÁNG CHẠP CỦA CÁC THẦY GIÁO

1.

Hôm nay đã mùng 10 tháng chạp, cái chợ nhỏ bên cạnh nhà thờ Xóm Thuốc Gò Vấp rộn rịp người đi mua sắm đồ Tết. Chờ bà xả vào chợ mua mấy bộ quần áo làm quà Tết cho cháu nội, Hòa ngồi ở một quán cà phê gần cổng nhà thờ. Anh chạnh nhớ  đâu khoảng hơn 20 năm trước, có thời gian mình đã thường ghé nhà hai người bạn thân ngụ trong giáo xứ này.

Hòa có nhóm bạn 4 – 5 người, cùng dạy học ở chế độ cũ, nay cùng ngụ ở vùng Gò Vấp, gặp nhau vẫn thường gọi nhau “thầy” dù chế độ mới không cho dạy học nữa. Bạn trong nhóm đều rơi vào khó khăn, thiếu thốn ngay sau ngày 30 tháng 4 năm 75. Có điều là, dù cùng xuất thân là nhà giáo, kiểu truân chuyên, khó khăn của riêng mỗi thầy lại đều mang đầy cá tính, không ai giống ai.

Mở đầu là thầy Ngạn. Là chủng sinh nhà dòng giỏi tiếng Pháp, Ngạn tu xuất năm 17 tuổi, chỉ mới có tú tài I đã lập tức được một trường tư thục ở Đà Lạt mời dạy môn Pháp văn. Sau tháng 4-75, Ngạn đi học tập cải tạo với tư cách hiệu trưởng một trường tiểu học công lập và “được” nghỉ dạy luôn. Trôi nổi mãi qua mấy huyện nông thôn Hốc Môn, Bình Chánh…, cuối cùng anh về được vùng ven đô là giáo xứ Xóm Thuốc thuộc quận Gò Vấp. Cuộc sống bắt đầu dễ thở một chút khi chồng đạp xích lô, vợ bán quần áo trẻ em trong cái chợ nhỏ cạnh nhà thờ.

Một sinh nhật của Ngạn nhằm tháng chạp âm lịch, anh chỉ mời nhóm bạn nhà giáo cũ. Thời ấy, không được dạy học nữa, đám Ngạn, Hòa… mỗi người làm một nghề, không dính gì tới công nhân viên chức nhà nước, như: đạp xích lô, dịch sách, chạy hàng tạp hóa, thư ký văn phòng hợp tác xã, coi số tử vi…, tất nhiên thu nhâp đều thấp mà sống qua ngày. Do đó, sinh nhật phu xích lô Ngạn chỉ có vài lít rượu thuốc, một con gà vừa nấu cháo vừa làm gỏi và vài gói đậu phộng rang. Về “vật chất” chủ nhà bình thãn dọn ra chỉ như thế, về “tinh thần” cũng không kém phần đạm bạc một khi khách đến cũng bình thãn chìa ra quà sinh nhật chỉ là cuốn sách cũ mèm hay tập thơ vàng ố. Cũng không có gì bất tiện khi cả đám trải giấy báo ngồi dưới đất rồi ung dung nhấm rượu theo cách riêng…

2.

Cuộc đổi đời 30 tháng 4 đã khiến các thầy giáo ít nhiều đều từ chán đời đến bất đắc chí, từ bi quan đến buông trôi, nên khác với thời trước 30 tháng 4, hể gặp nhau thì thay vì chỉ uống cà phê, nay có thêm uống rượu. Nghĩa là trong cao trào người dân ở phía Nam nhậu rộ lên, uống rượu nhiều hơn trước thời “được giải phóng”, lần hồi các cựu giáo chức vốn dĩ mực thước đã thỉnh thoảng gầy độ nhậu, y như đàn ông ở các ngành nghề khác.  Có điều là, sau 30 tháng 4, do hầu hết người dân nghèo mạt đi, còn hàng hóa, lương thực – trong đó có các loại bia, rượu tây – thì khan hiếm, mắc mỏ nên dân nhậu – trong đó có các thầy giáo –  chuyển qua rượu đế, rượu thuốc rẻ hơn nhiều.

Giống những tín đồ nhút nhát mới vào đạo, các thầy giáo e ngại bị hối, bị phạt ở kiểu uống ‘xây tua’ thông thường nên khi nhậu với nhau, cách uống được sửa lại cho hiền lành hơn, cũng như sẽ miễn sát phạt nhau. Đó là không có ly ‘xây tua’ mà có chai rươu nhỏ ‘xây tua’, chai đến ai thì người đó tự rót tới-đâu-cũng-được vào ly riêng của mình, còn chưa uống cạn ly của mình thì cứ cho chai ‘xây tua’ qua người bên cạnh. Dù kiểu uống này đã từng bị vài ông, vài anh không phải nhà giáo tình cờ tham gia phê bình rằng không vui bởi không hào hứng, sôi động, nhưng đám Ngạn, Hòa… vẫn không thay đổi kiểu uống, bởi chỉ với kiểu uống ‘xây tua’ mềm mỏng, ‘không sát phạt’ ấy họ mới thấy thoải mái, dễ chịu. Phong cách nhà giáo rơi rớt của họ là dù có đang nghèo khó, thiếu thốn cũng vẫn có cái chất từ tốn, nho nhã trong cư xử, ăn uống…

Hòa nhớ khi đã ngà ngà, Ngạn xướng một câu:

Chiều ba mươi, thầy giáo tháo giầy ra chợ bán,

Một thầy tên Thiện, cũng ngụ trong giáo xứ Xóm Thuốc, đã đối lại khá chỉnh:

Sáng mùng một, giáo chức ‘dứt’ cháo đón xuân sang.

Men rượu thuốc càng lúc càng khiến cho mỗi câu chuyện, mỗi đề tài trao đổi giũa bạn bè trở nên thú vị, hào hứng hơn. Độ nhậu hiền lành của các thầy giáo kết thúc ở liều lượng vừa phải khi vị khách ít nói nhất lên tiếng nhắc nên dừng cái chai ‘xây tua’ để chủ nhà còn dọn dẹp, nghỉ ngơi vì sớm mai chị còn phải dọn hàng ra chợ, anh còn phải đẩy xe ra kiếm khách…

3.

Sau bao nhiêu khó khăn, run rủi thế nào đó mà cuộc sống của Ngạn thầy-giáo-đạp-xích-lô một thời nay lại rất ổn, đó là nhờ có 3 con gái thì vợ chồng đứa đầu đang làm chủ một doanh nghiệp lớn về ngành IT và hai đứa sau đều yên bề gia thất khá giã ở châu Âu. Bạn bè cũ đã tròn mắt bất ngờ khi nghe Ngạn từng đi du lich Mỹ và vài nước châu Âu, còn chơi ngông sắm xe mô tô phân khối lớn…

Cũng run rủi thế nào đó, những người khác của nhóm thầy-giáo-tháo-giày hơn 20 năm trước nhìn chung cũng thoát nghèo, cũng khá lên. Dẫn đầu chính là thầy Thiện  – người duy nhất sau 30 tháng 4 được cho tiếp tục dạy môn Văn ở một trường cấp 3 trong quận. Vốn mộ đạo, nhút nhát và không đẹp trai, bạn bè đã làm cò tình giới thiệu cho Thiện 1-2 cô cũng đều là con chiên ngoan đạo, hiền hậu nết na, nhưng không vụ nào thành đôi. Run rủi đến năm 58 tuổi, Thiện gặp gỡ trong giáo họ một cô đã 45 tuổi, y tá trong BV Nhi đồng 2, nên duyên trong xác định rằng lấy nhau chỉ để có bạn đời chăm sóc nhau. Nhờ bên gia đình cô y tá rất giàu, anh em ở cả nước ngoài nên cặp ‘tình già’ không có con này đã định cư an nhàn ở đất Mỹ…

Về các thầy khác trong nhóm, ngẫu nhiên thú vị là họ thoát nghèo, khá lên đa phần là nhờ con cái. Như thầy Hạnh,  khi cuộc sống bắt đầu tạm ổn bằng chấm số tử vi thì khổ thảm vì vợ mất bởi ung thư cùng con trai mất bởi tai nạn xe cô, nay anh già ngoài 70 vẫn coi như “độc thân vui tính, tiền bạc rủng rỉnh” bởi dòng tu của cô chị – con gái lớn của Hạnh – đã giới thiệu một ông người Pháp giàu có về cưới cô em, ông rể đã cất luôn cho cha vợ một căn phố lầu 3 tầng… Đến thầy San, sau 30 tháng 4 từng ngồi sửa giày dép ngoài đường, bán cà phê cóc, dịch tài liệu giảng dạy cho nhà dòng…, cặm cụi phụ cho con gái du học Pháp với học bổng bán phần, tốt nghiệp thạc sĩ trở về làm việc lương cao, lấy chồng không thể không giàu… Đến thầy Hòa, người trẻ nhất, cũng mơ mộng, lãng đãng nhất trong bọn, bấy lâu nay việc ngăn phòng trong nhà cho sinh viên thuê lấy thu nhập cũng tạm ổn trong khi chờ  đi định cư ở Úc do con bảo lãnh…

4.

Nay lại tháng chạp, lại sinh nhật thầy Ngạn. Từ căn nhà nhỏ xíu trong giáo xứ, Ngạn đã về ở một căn phố lầu ‘3 tấm’ thật khang trang trong hẻm lớn… Chủ nhà gõ ly, tuyên bố khai mạc đại tiệc ê hề cao lương mỹ vị: “ Các thầy à, thầy Thiện có gởi về 200 đô, dặn là phụ vô cho tôi làm vừa sinh nhật vừa tất niên cả nhóm bữa nay, và… Đặc biệt đáng cho điểm 10 là dù bao năm qua rồi, thầy Thiện đã nhắc cái ước-gì-có-đủ-bốn-màu của thầy Hòa ngày trước. Và cái hiện thực đủ-bốn-màu đã có hôm nay các ông ạ!”.

Trong quãng hơn 20 năm về trước, trong một độ nhậu ở nhà cũ của Ngạn, tất nhiên là rượu thuốc nhà nghèo, nhân khi tán chuyện “hồi trước…”, có người nhắc đến những loại hàng Mỹ tốt, ngon có tiếng nhưng giá hạ bởi được bán trong PX quân đội Mỹ mà đám thầy giáo có thể nhờ mấy người bạn Mỹ mua dùm, như: quẹt máy Zippo, kiếng mát Rayban, các loại rượu Blach and White, Johnnie Walker …, Hòa đã xuýt xoa: “Ước gì giờ này mà tụi mình có chai Johnnie Walker nhãn đỏ, hay ngon hơn, chai nhãn đen! Thôi, ước gì có đủ luôn bốn chai bốn nhãn đỏ, đen, xanh, vàng đi, mới là nhất trên đời!”

Kìa, ở đầu bàn tiệc thầy Ngạn-hay-chơi-ngông đã cho khui cùng lúc các chai whisky Johnnie Walker đủ bốn mùi/hương vị thông dụng tức bốn nhãn (label) của loại whisky hay được gọi tếu là “Ông Mỹ Đi Bộ” này, là: đỏ (red), đen (black), xanh (blue) và vàng kim (gold). Tại bàn còn để rải rác nhưng lon soda ướp lạnh cùng những cái chung nhỏ, để các thầy ung dung tự tại, tha hồ nhấm rượu theo ý riêng, hoặc là uống whisky pha soda (consomation), hoặc uống nguyên chất whisky (sec) từng chung nhỏ cho “thơm râu” tùy ý; còn kiểu cách thì ‘xây tua’ mềm mỏng, không sát phạt lâu nay của riêng họ,

5.

Thật chậm rãi với xen kẽ các quãng dừng nghỉ, Hòa lần lượt thưởng thức từng nhãn Johnnie Walker đỏ, đen và xanh bằng từng cặp ly, một chung nhỏ nguyên chất rồi một ly pha soda. Phải nói là đã thấm rượu, đã bắt đầu say nên Hòa ra dấu cho cậu phục vụ bàn khoan rót chai Johnnie Walker nhãn vàng kim vào chung nhỏ của anh. Hòa ngồi im ắng, nhìn bạn bè quanh mình, thoáng khép hờ đôi mắt.

Từ khi bước vào tuổi già, đối diện thời khắc năm tàn tháng tận, tâm-trạng-tháng-chạp của Hòa trở nên một kiểu trầm cảm ray rức, phiền muộn mơ hồ.

Tuy nhiên, vài năm gần đây, cũng vào các ngày cuối tháng chạp,  khi ngồi suy nghĩ tính sổ năm cũ, nhân tiện cho cả quãng dài vài chục năm quá khứ, anh nhận ra trong lòng mình nhạt dần cái cảm giác tiếc nuối, thất vọng về các dự phóng lớn lao từ tuổi thanh xuân và thay vào đó nỗi dửng dưng, an phận.

Như hôm kia, tình cờ ngồi cà phê một mình cạnh nhà thờ Xóm Thuốc mà nhớ  quãng thời gian hơn 20 năm về trước hay ghé nhà Ngạn và Thiện, phải nói cảm nhận của Hòa  tràn đầy thương cảm đối với quá khứ, dù khách quan mà nói, cuộc sống của anh cùng nhóm bạn cựu nhà giáo đã sáng sủa hơn thời 20 – 30 năm trước khá nhiều khi thầy nào thầy nấy tuy không phất lên giàu sụ nhưng cũng tạm đủ sung túc nhờ đám con cái thành đạt, dễ dàng  nuôi lại bố mẹ già. Rồi một lát sau, hoài niệm bi quan ấy lại chuyển sang dửng dưng, hanh khô cảm xúc.

Và hôm nay, Ngạn cùng Thiện đã bỏ ra vô số tiền tổ chức họp mặt tất niên nhóm bằng bữa tiệc ê hề các món đặc sản cùng rất tốn hao, chơi ngông là món uống whisky Johnnie Walker đủ bốn màu; chủ tiệc còn nhấn mạnh đây là thực hiên một mơ ước bâng quơ của Hòa đã thố lộ vào cái thời cả đám bạn còn rất khó khăn, thiếu thốn. Vậy mà Hòa, từ cảm giác ban đầu hồ hỡi hòa mình vào không khí náo nhiệt chung với mọi người tại bàn tiệc, dần hồi anh như mỏi mê gục ngã vào nhưng hoài niệm đầy ray rức. Rượu ngon, rượu mơ ước nay đã có ê hề đấy nhưng anh uống một cách ung dung chừng mực để chỉ say nhẹ nhàng, nhưng rốt cuộc, càng uống trong lòng Hòa càng phiền muộn không đâu…

Có lẽ trong bất cứ hoàn cảnh đã ‘đổi đời’ cao sang, phú quý nào, người ta – nhất là một nhà giáo –  luôn thầm lặng có cảm-xúc-nợ-nần đối với quá khứ nghèo, buồn của mình?

PHẠM NGA

(cận Tết Canh Tý 2020)

Đà Lạt, Mùa Giáng Sinh Ngày Xưa…

PHẠM NGA

  dalat mua

1.

Hòa biết bản “Bài thánh ca buồn” của nhạc sĩ Nguyễn Vũ khi Hòa mới 15 tuổi, đang học lớp đệ tam C trường Pétrus Ký. Ông nhạc sĩ tài hoa đã kể thuở còn một cậu bé 14 tuổi sống trên Đà Lạt, ngày ngày đi lễ ở nhà thờ Con Gà thì tình cờ gặp một cô gái rất xinh. Mở lời làm quen thì biết cô ấy lớn hơn mình 2 tuổi nhưng trái tim vụng dại của cậu con trai mới lớn vẫn đập loạn nhịp trước bóng dáng thiếu nữ có mái tóc dài buông thả, đẹp như mộng ảo giữa cảnh sắc đồi thông Đà Lạt sương mù.

Hòa mê mẩn trước lời kể của nhạc sĩ Nguyễn Vũ, rằng có một lần tan lễ Giáng sinh thì trời đổ mưa, cô gái nép vội vào mái hiên ngôi nhà nọ gần nhà thờ, ông cũng đứng trú bên cạnh. Những kỷ niệm và xúc cảm thiết tha lần ấy chính là nguồn cảm hứng để ông viết nên bản “Bài thánh ca buồn” sau này.

Năm Hòa ngồi lớp đệ nhị C là 1965, Hòa lại càng thích bản “Bài thánh ca buồn” bởi bắt đầu quen Vi ở Sài Gòn, bởi ngẫu nhiên Vi cũng là người gốc Đà Lạt, cũng lớn hơn Hòa 2 tuổi, cũng duyên dáng, cũng tóc dài, nghĩa là có khá nhiều điểm giống cô gái trong chuyện tình dịu ngọt thời thơ dại của nhạc sĩ Nguyễn Vũ …

Cuối tháng 12 năm ấy chợt có kỳ trại đặc biệt được Bộ Giáo dục thời đó tổ chức vào dịp Giáng sinh, ưu ái dành cho ban đại diện học sinh và các lớp trưởng khối đệ nhị cấp của riêng bốn trường lớn nhất Sài Gòn là Pétrus Ký, Chu Văn An, Gia Long và Trưng Vương được đi chơi Đà Lạt 5 ngày. Hòa là lớp trưởng nên được dự kỳ trại có cái tên “Anh Đào” thật đẹp này.

Có cơ hội lần đầu tiên lên Đà Lạt, lại trúng ngay mùa Noel, Hòa nghĩ ngay đến Vi, bởi khi đó Hòa chỉ có Vi là người quen/bạn duy nhất có nhà ở thành phố này.

2.

Đỗ tú tài nhất xong, Vi từ biệt bố mẹ xuống Sài Gòn học sư phạm mẫu giáo. Do người bà con giới thiệu, cô gái đến ở trọ trong trường Mạnh Mẫu, nơi em gái út của Hòa đang theo học, vốn là một trường mẫu giáo nổi tiếng ở khu Tân Định. Một lần nọ, vào giờ tan học buổi chiều, anh tài xế ở nhà lái xe đi rước con bé, Hòa rảnh nên cũng theo chơi. Đang thơ thẩn ngồi chờ trước sân chơi xích đu, cầu tuột, Hòa thấy một cô gái thật trẻ ra phụ các cô giáo trông chừng bọn học con trai lí lắc hay leo trèo, nhảy nhót quá đáng. Gương mặt cô gái không trang điểm nhưng vẫn thùy mị dịu dàng. Mái tóc Vi đen tuyền, xỏa ngang vai, còn giọng khuyên bảo bọn trẻ nghe cứ ngọt như mật ong…, Vi thu hút Hòa ngay từ cái nhìn đầu tiên. Rồi thư viết cho nhau đã nhiều nhưng ngồi bên nhau trong khuôn viên nhà trường thì còn ít bởi để giữ gìn cho các thiếu nữ ở trọ, qui định về khách thăm viếng ở trường Mạnh Mẫu rất nghiêm nhặt.

Vi nhận lời hẹn gặp và cho Hòa địa chỉ ở Đà Lạt. Hòa sung sướng đến muốn bay bổng lên trời xanh. Thế là đến tuổi 16 cậu mình mới được thỏa mơ ước cháy bỏng từ thời thiếu niên là được lên Đà Lạt, đặt chân đến thành phố của Ngàn Hoa, thành phố Sương Mù… như văn chương, âm nhạc thường ngợi ca. Càng hạnh phúc, hát ca hơn là trong chuyến du lịch miễn phí diệu kỳ này, Hòa sẽ có dịp gần gũi hơn với cô bạn xinh đẹp vào đúng dịp Giáng sinh, nghĩa là gần như Hòa sẽ được thể nhập trọn vẹn – chứ không phải ngồi tưởng tượng nữa – vào khung trời lãng mạn tuyệt vời của bản “Bài thánh ca buồn”.

3.

Trời mới rạng đông, trại viên trại Anh Đào được đưa ra phi trường Tân Sơn Nhứt, ngồi máy bay quân sự C123 lên Đà Lạt. Mờ sáng đã đến phi trường Liên Khàng, thời tiết thật tuyệt diệu, không quá lạnh như Hòa tưởng tượng. Có chuyện hơi buồn cười là suốt 5 ngày trại, toàn thể bọn trại viên con trai lại được cho về ở chỗ của… con gái:  trường nữ trung học Bùi Thị Xuân. Ổn định chỗ ở xong, trại viên được tự do ra phố vài tiếng, chỉ cần 11 giờ 30 phải về lại trường để đi ăn cơm trưa.

Theo một nhóm bạn xuống đến bờ hồ Xuân Hương thì Hòa tách ra, nói với tụi nó là cần đi tìm, thăm nhà bà con. Hòa đứng bên lề đường, dáo dác kiếm taxi. Ở Sài Gòn thời ấy có một kiểu sử dụng xe taxi khá tiện lợi, đó là bạn có thể gọi bất cứ chiếc taxi chạy ngang đang chở khách nhưng vẫn còn ghế trống, thường là xe sẽ dừng lại để tài xế hỏi bạn đi đâu, nếu lộ trình bạn cần đi thuận chiều với lộ trình của khách đã ngồi trước trên xe thì tài xế sẽ đồng ý chở bạn đi chung, ai xuống trước cứ trả phần tiền xe của mình… Hòa vừa quắt trúng chiếc taxi đã có hai sinh viên sĩ quan trường Võ Bị Đà Lạt ngồi ghế sau. Cửa xe vừa đóng là Hòa vội vàng nói ngay, cố ý cho cả ba người trên xe cùng nghe:

-Chào các anh, làm ơn chỉ dùm và cho tôi đến địa chỉ này, số 23 đường Biệt Thự, bờ hồ Xuân Hương. Tôi ở Sài Gòn, đây là lần đầu tiên lên Đà Lạt, muốn ghé thăm người bà con…

Một anh SVSQ ngồi phía sau vui vẻ trả lời ngay:

-Hên cho anh rồi, đường Biệt Thự ở ngay phía bờ mờ mờ bên kia, đây vòng qua đó chừng 10 – 12 phút thôi, phải không bác tài?

Mọi việc đều diễn ra suôn sẻ, Hòa vừa hí hửng vừa nôn nao đầy lòng. Chiếc taxi dừng lại cạnh một bãi cỏ thật xanh bên đường, Hòa hỏi bác tài tiền xe bao nhiêu thì bác ta lại quay nhìn hai người khách phía ghế sau. Cũng cái anh SVSQ vui tính lại nhanh miệng nói:

-Có bao nhiêu đâu anh bạn. Đúng ra ở Đà Lạt rất ít người đi chung xe taxi như ở Sài Gòn nên hiếm có ai quắt xe đã có khách như anh vừa rồi. Thôi, rất vui nghe anh học ở Sài Gòn, lên dự trại thăm Đà Lạt. Để tụi tôi tính cho, coi như cho anh quá giang. Lo đi tìm nhà người bà con đi nhé!

Hòa không ngờ ngày đầu tiên ở Đà Lạt mình đã may mắn gặp được người tử tế như vậy nên xăng xái bắt tay cám ơn hai anh SVSQ, cám ơn cả bác tài. Họ cười, chúc Hòa vui vẻ trọn những ngày ở Đà Lạt.

Từ lề đường nhìn lên chỉ thấy dốc đồi thoai thoải, lối đi ngoằn nghèo chạy giữa những bãi cỏ xanh rờn cùng những mái nhà thưa thớt, ẩn mình giữa những cây thông cao vút nên ở đâu cũng đầy bóng râm. Nhà số 23 nằm khuất ở một sườn đồi cách đường lộ bên dưới khá xa nên có vẻ đìu hiu, vắng lặng. Gõ cửa rất lâu Vi mới ra mở cửa với nụ cười thật phấn khích, vẻ bất ngờ vươn đầy ánh mắt…

Vi mời Hòa vào nhà, rót tách trà actixô bảo Hòa uống liền cho ấm. Nhà đang chỉ có mỗi mình Vi. Ngồi chốc lát là Hòa đã khẽ đề nghị cô bạn ra ngoài ngõ, ngồi chơi ở bãi cỏ trên sườn đồi thoai thoải phía trước cổng nhà.

Đã là hiện thực cái trường đoạn phim trữ tình, thơ mộng nhất mà cậu con trai tuổi 16 đã khổ công vẽ vời sẵn từ những đêm cậu mình bỏ ngủ, nằm tưởng tưởng đủ điều trước ngày đi Đà Lạt.

Ở lần gặp trước gần đây nhất, Hòa đã vừa hỏi Vi xin địa chỉ ở Đà Lạt vừa hỏi nàng có về nhà nghỉ mùa Giáng sinh không. May mắn là Vi sẽ về nhà trước cả ngày trại Anh Đào khai mạc và tận sau Tết dương lịch mới trở xuống Sài Gòn. Tuy nhiên, khi ấy Hòa chỉ nói là trong mấy ngày trại sẽ cố gắng, sắp xếp thời gian để tìm đến nhà Vi, gọi là gặp nhau ở nhà bạn, quê hương bạn cho thân thương hơn. Do đó khi thấy Hòa ở cửa, Vi nói ngay bất ngờ quá đi!  Giờ ngồi trên bãi cỏ, Vi giải thích thêm rằng dù có đồng ý cái hẹn “để trống ngày giờ” nhưng trong thâm tâm nàng lại cảm thấy biết đâu sẽ có trở ngại này khác khiến Hòa không thể sắp xếp, thực hiện được chuyện hai đứa gặp nhau được trên Đà Lạt, nhất là vào dịp đặc biệt là Giáng sinh.

Giờ đây Hòa đang ngồi với cô bạn gái trên bãi cỏ ngập lá vàng khô. Hoàn toàn chỉ có hai đứa, không có con mắt dòm ngó nào của thiên hạ xung quanh.

Lúc nào gặp Vi, Hòa cũng thấy cô thật thùy mị, dễ yêu. Đặc biệt là khi trở về với khí hậu Đà Lạt, đôi má Vi trở nên hồng hào thật quyến rũ, không còn màu trắng, thoáng xanh nhợt nhạt bình thường như lúc ở Sài Gòn.

Thỉnh thoảng bờ vai hai đứa chạm khẽ vào nhau. Hòa còn thầm mong, thèm nhiều hơn nữa, như được nắm tay, hay được ôm qua vai người con gái. Vi trong thực tế là cô bạn gái lớn hơn Hòa 2 tuổi, học cũng trên lớp, nhưng trong “kịch bản” của Hòa, nàng đã mơ hồ hóa thành người yêu bé bỏng. Hòa thêu dệt, lý tưởng hóa kịch bản này đến nổi, do gặp nhau đột ngột, cô gái có sửa soạn gì đâu mà chỉ mặc bộ đồ bộ bình thường ở nhà, gương mặt cũng không trang điểm chút nào nhưng Hòa vẫn thấy Vi thật xinh đẹp và quyến rũ.

Được ngồi sát bên Vi, Hòa đã hết sức sung sướng bởi hai lẽ, một là được gần gũi Vi với mối cảm xúc ngất ngây hình-như-là-tình-yêu đang lên ngôi dù Hòa chưa hề tỏ tình, hai là được thưởng thức cảnh tượng lãng mạn đang trở thành hiện thực từ những gì Hòa tô vẽ trước đó…

Hòa kể Vi nghe hiện Hòa đang “tạm trú” ở một nơi khá đặc biệt, đó là trường con gái. Mỗi tổ nam sinh được đưa vào một lớp học để tự động ghép bàn làm chỗ ngủ, ba-lô túi xách cứ để bừa trên ghế, nhà vệ sinh chung thì ở cuối dãy… Cô bạn cười ha ha, trêu Hòa là hãy biết mang ơn ban tổ chức trại, hãy ráng tìm trong các hộc bàn coi có cái kẹp tóc, gói muối ớt cùng miếng ổi xanh nào không, hay lãng mạn hơn thì một sợi tóc dài thiệt dài nào đó rồi ráng mà tưởng tượng đó là của một cô bé dân Đà Lạt thiệt xinh nên hãy viết lá thư làm quen để lại trong hộc bàn, “Nghề của dân ban C mà!”. Hòa trêu lại nàng, hỏi khẽ “Xinh như Vi phải không? Có Vi đây rồi thì mình còn phải đi tìm cô nào khác nữa?”.

Cô bạn gái hốt nhiên hóa thành nửa-bạn-nửa-người-yêu, đôi má đỏ hồng hơn nữa vì thẹn thùng và cúi mặt cười tủm tỉm, cũng để tránh ánh mắt say đắm, khát thèm yêu thương của người con trai. Rồi hai đứa im lặng thật lâu. Có cảm xúc gì đó chợt dâng lên ngọt ngào, êm ái thấm sâu vào tâm tưởng…

Nhờ Hòa có cẩn thận bảo trước với Vi rằng cần tập trung về cái trường con gái ấy trước 11 giờ 30 nên dù hai đứa mê mãi thủ thỉ chuyện trò, cô bạn vẫn kịp nhắc Hòa. Vi đưa Hòa xuống đến lề đường, hai đứa đều có vẻ bâng khuâng, bàng hoàng như vừa tỉnh một cơn mộng ảo giữa ban ngày. Hòa âu yếm bắt tay Vi, nàng để yên cho Hòa xiết nhẹ, giữ thật lâu bàn tay mình. Hòa lưu luyến vớt vát hơi ấm nồng nàn từ người con gái, nhưng khi nói lời từ biệt thì câu mình lại không thể nói hẹn gặp lại lần nữa tại Đà Lạt này, bởi Hòa chạnh nghĩ chỉ còn bốn ngày trại, chương trình thăm viếng các nơi thì đặc kín sáng chiều

4.

Một, hai năm sau, tình bạn của Hòa và Vi vẫn cứ thế, không tiến triển thành tình yêu. Vi vẫn khoan hòa, tế nhị như có ý chờ đợi Hòa, còn Hòa vẫn thấy không ổn, vẫn ngại tỏ tình với người con gái lớn hơn mình hai tuổi và còn vào đời, trưởng thành sớm hơn mình nữa.

Nói chung, Hòa vẫn tiếp tục là một tên con trai tân nhát gái, vẫn mộng tưởng với loại tình yêu “duy tâm” hiền lành. Chỉ được cái là về viết thư tình, cậu mình có thêm một số kinh nghiệm cảm xúc để viết hay hơn – theo nghĩa lâm ly hơn, tạo ấn tượng hơn để con gái chịu bóc xem các lá thư kế tiếp… 

Có lần Hòa đem chuyện lên Đà Lạt gặp Vi kể cho một thằng bạn học lớn hơn Hòa cũng đúng 2 tuổi, từng trải nhiều mối tình và thuộc hạng hơi Casanova Sát Gái một chút. Nghe xong chuyện, hắn không thèm hỏi lại câu nào mà chỉ cười nhếch mép, phân tích chỉ dạy cho Hòa hai khía cạnh hay và dở đối lập nhau của vấn đề. Một là, vào các dịp Noel thì bọn con trai luôn ước mơ có được, có đủ những thứ quí giá, như có xe máy mới, được mời dự dạ vũ cùng tiệc réveillon và quí hơn hết là có đào xinh xắn, là bạn gái hay người yêu đều được, để cùng đi chơi Noel – điều này thì vào dịp Noel năm đó, cái hay của Hòa là dù còn khờ, Hòa vẫn may mắn có đào tuy phải mò lên đến tận xứ sở sương mù. Hai là, cái dở của Hòa là lúc đó đúng là Hòa khờ quá, còn con nít quá, không biết lợi dụng ngay hoàn cảnh chỉ có một mình cô gái ở nhà, chỉ biết rủ nhau ra ngồi bãi cõ, tựa vai nhau nói chuyện chay thì hiền quá!

Tất nhiên, có bị đàn anh về chuyện bồ bịch, yêu đương kia chê là “con nít”, “khờ” gì thì cũng ráng mà chịu nhưng Hòa đã rây lọc, chỉ tiếp thu ý kiến nào nghe đứng đắn, lương thiện từ thằng bạn nổi tiếng là Casanova bạc tình kia.

Dù sao, Hòa đã nhận ra là vào mùa Giáng sinh phiêu lãng trên Đà Lạt năm nào,  mình đã được thỏa ước nguyện. Như được phép lạ từ Chúa Hài Đồng, cậu con trai 16 tuổi ấy, lần đầu tiên trong đời đã được cùng cô bạn gái ngồi khăng khít bên nhau trên đồi thông đầy lá rụng. Đây là cuộc hẹn hò hình-như-là-tình-yêu lãng mạn nhất mà cậu con trai mới lớn đã phóng rọi và thăng hoa từ một tình bạn thắm thiết với một thiếu nữ hiền lành nết na, mà dù sau này không bay bổng thành tình yêu đi nữa thì cũng vẫn luôn là một tình bạn thật đẹp, thật thuần khiết, trong sáng đến muôn đời…

PHẠM NGA

(cận Giáng sinh 2019)

Tình Yêu Như Một Kỳ Tích

Thư viện của bài

This gallery contains 1 photo.

Điểm phim

 
Tên phim: Forrest Gump (1994) – Đạo diễn: Robert Zemeckis – Kịch bản: Eric Roth – Diễn viên: Tom Hanks, Robin Wright Penn, Gary Sinise, Mykelti Williamson, Sally Field, David Brisbin… – Sản xuất: Paramount Pictures (Mỹ) – Trình chiếu: https://www.youtube.com/watch?v=QiGEz5lypjs và Kênh 9GO (Sydney), 18/10/2019.

1.

Tính từ lúc phim ‘Forrest Gump’ được vinh danh trong giải Oscar năm 1994, đến nay đã  15 năm qua, nhưng khi có dịp xem lại – như trên kênh 9GO Sydney phát ngày 18/10/2019 , nhiều khán giả – dù đã xem đi xem lại nhiều lần cuốn phim ngoại hạng này – đã y như lần xem đầu tiên, vẫn vô cùng ngỡ ngàng, xúc động trước số phận nghiệt ngã của anh chàng Forrest, nhân vật chính.

Theo dõi bộ phim, người xem trải qua thật nhiều tâm trạng, từ bất ngờ, xúc động, cảm thông cho đến hi vọng rồi lại thất vọng cho nhân vật chính. Có thể xem cuộc đời của Forrest Gump (Tom Hanks đóng) là những mảnh ghép ấn tượng của cuộc sống nhiều người Mỹ trong thập niên 60- 70 thế kỷ trước. Từ một nước Mỹ đầy phân liệt thời đó, âm hưởng của một thế hệ lạc loài và phản kháng (The Lost Generation), cộng thêm ảnh hưởng gần/xa của các tư tưởng hiện sinh, hư vô từ Henry Miller, Ernest Heminway, J.P.Sartre, Albert Camus…, đã thường vương vất trong hành vi và suy nghĩ của nhiều nhân vật trong phim, như Dan (Gary Sinise) – anh thương binh cụt giò hay nổi điên, Jenny (Robin Wright Penn)- cô gái ‘khi nắng khi mưa’, dân hippy lang thang, đám biểu tình phản chiến ở quãng trường Thời Đại… Tiếp tục đọc

Từ Một Góc Khuất Trong Công Viên

Thư viện của bài

This gallery contains 1 photo.

 Phạm Nga

Trong Công Viên Người Ta Mới Nghe Rõ Được Thứ Âm Thanh Khá Hiếm Hoi Giữa Phố Xá, Đó Là Tiếng Hót Líu Lo Của Chim Chóc, Có Khi Là Tiếng Kêu The Thé Của Loài Chim Lạ Nào Đó Trên Đỉnh Những Cây Sọ Khỉ Cao Ngất. Vào Mùa Hè, Lạ Lùng Là Tiếng Ve Sầu, Nghe Cứ Âm Âm, Mơ Hồ Ở Cùng Khắp Những Tán Lá Cây…>

   Sau ngày công viên Gia Định 2 mở cửa phía bên kia đường Hoàng Minh Giám, rộng rãi hơn và cảnh trí cũng đẹp công viên cũ bên này đường, tôi vẫn tiếp tục đến chỗ cũ mà từ dạo ấy, tên nó dài hơn một chút cho phân biệt: công viên Gia Định 1. 

 Có thể là do sức ì tâm lý của tuổi già mà người ta cứ trung thành với một quán cà phê, một sạp báo, một tiệm hớt tóc quen thuộc nào đó của mình, như riêng tôi cứ tiếp tục chọn “sân gôn” cũ – như dân địa phương quen gọi. Đúng ra, còn vì tôi ngại đi bộ băng qua đường. Thật ngán khi công viên của tôi mở cửa lúc mờ sáng, không khí đã nặng ô nhiễm mùi xăng dầu, bụi bậm và tiếng động vì sát bên là một cái ngã năm náo nhiệt – được mở rộng ra từ ngã ba Chú Ía Gò Vấp, một xóm mại dâm nổi tiếng thời chiến tranh –  đã rất đông xe cộ các loại rồi.

1.

Trời sáng dần, trên con đường chính lát gạch con sâu, dài khoảng 800 mét, chạy viền theo chu vi công viên, đã có lũ lượt người đi bộ, chạy bộ, mà đi bộ, nếu bước nhanh thì mất khoảng 10 phút. Sau khi đi bộ chừng 3 – 4 vòng vô chừng, tôi thường rẽ vào một nhánh đường nhỏ, chọn một góc khuất thường vắng người, lơ đãng tập vài động tác và Tiếp tục đọc

Kẻ lai vãng cửa chùa

Thư viện của bài

This gallery contains 1 photo.

Phạm Nga

“Tánh anh nóng nảy, nổi cộc lên thì coi hung lắm, phải đi chùa
cho nó trầm tính lại”. Đã một thời, nhiều lần vợ tôi đã nhận xét
và đề nghị như vậy.
Ngày xưa, bố tôi theo Tây học, từ Bắc vào Nam làm báo, ra cả
báo Pháp và dịch sách, tánh khí nghệ sĩ, phóng dật, khiến cho
căn nhà nhỏ của gia đình ở khu Đa Kao thời đó thỉnh thoảng lại
chộn rộn cái không khí văn chương chữ nghĩa. Có lần, lấy cớ
khui một chai rượu chát rất xưa, bố tôi mời vài người bạn thân
đến nhà chơi. Cần nói thêm là trong số văn hữu của bố tôi thời
đó, tôi khoái một bác cùng dân Bắc kỳ, để chút râu kiểu Hitler
dưới mũi, thường phong nhã với bộ cánh veston, foulard với ống
píp, đó là nhà thơ/nhà văn Tchya Đái Đức Tuấn. Núp phía sau
một bức bình phong, tôi lén theo dõi người lớn nói đủ thứ
chuyện trên đời. Chợt tôi nghe bác Tchya cười, vỗ vai bố tôi, gật
gù bảo: “…Vậy là toa cũng rất libéral về vấn đề tôn giáo!”.
Phải nói là, trước khi tôi đủ lớn khôn để tìm hiểu cho thật rõ các
tính từ “libéral”, “libertin”… có nghĩa là gì thì bố tôi đã có quan
niệm rất phóng khoáng về vấn đề tín ngưỡng, nghĩa là vợ con
trong nhà ai muốn theo đạo nào cũng được. Bố tôi không hề
bày tỏ một ý kiến, nhận xét nào về chuyện mẹ tôi sùng đạo
Phật, qui y tại chùa, có pháp danh cũng như bày khuôn thờ
Phật Bà Quan Âm phía trên bàn thờ ông bà, hay chuyện em gái
tôi được mấy xơ trường Thiên Phước ở Tân Định dẫn dắt vô đạo
Thiên Chúa khi em học tiểu học rồi trung học chương trình Pháp Tiếp tục đọc

Phạm Nga * Điểm Phim : tâm thức lãng mạn Pháp lên ngôi

Thư viện của bài

This gallery contains 3 photos.

Điểm Phim  Phim A GOOD YEAR, tâm thức lãng mạn Pháp lên ngôi *A Good Year: Sản xuất: 20thCenturyFox  Pictures 2006  – Đạo diễn: Ridley Scott – Kịch bản: Marc Klein – Diễn viên: Russell Crowe , Marion Cotillard , … Tiếp tục đọc