ĐÔNG VỀ NHỚ RƯỢU MỘT THỜI/ĐỘC ẨM HỒ TRƯỜNG/ĐÈO BỒNG

NGUYÊN LẠC

RUOU BUON
ĐÔNG VỀ NHỚ RƯỢU MỘT THỜI
.
“Rượu chiều dăm bẩy chén
Giữa lúc trời mưa khan
Kéo nhau về cuối phố
Thấy trời ở dưới chân”

“Ta còn sống hay chết
Có xá chi lúc buồn
Hồn trong ơn mỹ nữ
Xác ngoài ơn rượu ngon” *
.
1.
Quán kia sao vui thế
Ta vào chơi xem sao
Các em đua chào hỏi
Thử coi chết thằng nào
.
Mai trở về rừng thẫm
Đêm ngắm những vì sao
Nhớ cơn say bè bạn
Nhớ mỹ nhân mời chào
.
2
Bao năm rồi tôi hỡi
Sau một cuộc ba đào
Sáng nay người lữ khách
Bên phố lạ buồn sao!
.
Ly cà- phê sao đắng!
Khói thuốc vương mắt đau!
Lặng ngồi bên góc vắng
Nhớ cơn say thuở nao
.
Bạn bè giờ ra sao?
Mỹ nhân biệt phương nào?
Cách chi tìm lại được?
Thời “một lứa cùng nhau” [**]
.
Người “lận đận” nơi đâu?
Có biết ta đang sầu?
Lưu vong đời cơm áo
Tàn xuân mộng … bạc đầu!
.

3.
Sáng nay phố người đông
Tím trắng đỏ xanh hồng
Sao lòng buồn muốn khóc
Dặn lòng quên … Sao không?!
.
Quên đi vết thương lòng!
Quên đi cuộc tang thương!
Mở chi ngăn ký ức
Để bay ra mùi hương?
.
4.
Sáng nay trời trở lạnh
Một mùa đông lại về
Bao năm rồi vẫn thế
Mùa mưng mủ vết thương!
.
Mùa đông về chi hở?
Để ta nhớ quê hương
Tuyết băng rơi chi hở?
Để ta nhớ cố nhân
.
Bao năm rồi vẫn thế!
Đông về nỗi đoạn trường
Thiên thu ta chắc thế
Lòng vẫn hoài cố hương
……….
[*] Thơ Hà Thúc Sinh
[**] “Cùng một lứa bên trời lận đận” – Phan Huy Thực/Bạch Cư Dị

ĐỘC ẨM HỒ TRƯỜNG
.
Đông phong thấu lạnh hồn luân lạc
Nâng chén sầu ta lại mời ta!
.
1.
Ta mời Ngươi cạn bôi sầu tửu
Ta mời Ngươi nghiêng chén nhớ thương
Ta cùng Ngươi mời khắp mười phương
Ta cùng Ngươi thống hận Hồ Trường
.
Khúc ngâm Hồ Trường! Thơ cổ Hồ Trường
Ai say. Ai tỉnh? Ai còn. Ai không?
Ai giờ miên viễn hư không
Ai giờ cay đắng lưu vong đoạn trường
.
Thuở nào bão nổi đau thương
Năm nào tan tác … Cố nhân đâu mời?
Thôi thì ta cùng với Ngươi
Cạn đi bầu rượu … khóc cười thế gian
.
Tháng nào buông súng nhớ không?
Nhớ chi Ngươi hỡi? Tang thương kiếp người!
Nghẹn chi? “Bể khổ cuộc đời”
Thẹn chi? “Thời thế thế thời phải thôi”
.
Rượu hề! Ngươi hãy nâng bôi
Cạn hề! Hận tửu ta say Hồ Trường
.
“Hồ trường! Hồ trường! Ta biết rót về đâu?
Nào ai tỉnh? Nào ai say?
Chí ta, ta biết! Lòng ta, ta hay
Nam nhi sự nghiệp ư hồ thỉ!
Hà tất cùng sầu với cỏ cây” [*]
.
2.
Đông phong luân lạc cô miên
Hận ta đập chén ta cuồng với ta
Cố nhân? Đầy mắt lệ nhòa
Tha hương. Cô lữ… Xót xa Hồ Trường!
.
Rượu này ta rưới mười phương
Bạn ơi có nhớ Hồ Trường cùng ngâm?
Còn gì? Thôi đã huyễn không!
Còn đây chén đắng … hết mong lời thề!
.
3.
Hồ Trường ta rót cho ta!
Khổ đau ta nhận xót xa ai cùng?
Mọi điều rồi sẽ hư không
Lời kinh: Không Sắc … bụi hồng thế gian
.
Hợp tan tan hợp do duyên!
Bước qua bờ đó … ưu phiền còn không?
Hồn luân lạc. Lạnh đông phong
Nỗi lòng thời cũ Hồ Trường y nguyên!
……………
[*] Các câu thơ trong Hồ Trường -Nguyễn Bá Trác

ĐÈO BỒNG

(Nhại thơ Bùi Giáng)
.
Sáng nay ta bổng đèo bồng
Bên đây rượu đế cháo lòng bên kia
Có thêm em gái ngồi kề
Trần gian tuyệt thế… có chi thiên đường?

Cuộc đời dù lắm tai ương
“Còn hai con mắt bình thường một con”
.Nguyên Lạc

TẢN MẠN ĐÔI ĐIỀU VỀ TRÀ-KỲ 8

Thư viện của bài

This gallery contains 4 photos.

Nguyên Lạc ẤM NGHI HƯNG THEO THỜI GIAN Theo sách Dương Tiện Mính Hồ Lục (Sách về các ấm trà vùng Dương Tiện) của Chu Cao Khởi thì đời Chính Đức, Gia Tĩnh nhà Minh có Cung Xuân tài nghệ tuyệt vời, … Tiếp tục đọc

Ý NGHĨ MÙA ĐÔNG

Thơ Nguyên Lạc
 
 
Ý NGHĨ MÙA ĐÔNG
.
Đợi. mặt trời không lên
Chờ. chiều vàng không đến
Mù sương se sắt lạnh
Mùa đông … lại mùa đông!

 

Tình xa nên sầu gần
Người xa nên nhớ thương
Yêu người yêu quê hương
Quê hương tôi rất buồn!

Quê hương tôi nhớ lắm
Còn đâu màu cúc hoa
Giờ máu tim đỏ thẫm
Đoạn trường người kinh qua?

Mùa đông rồi lại đến!
Mùa lạnh luồn thịt da
Mùa tha hương nhung nhớ
Mùa trắng tuyết phôi pha
.
2.
Sáng chờ nắng… Không lên!
Đêm ngủ yên… Chẳng tới!
Có gì mà chờ đợi?
Đợi chờ cũng vậy thôi!

Đời. một cuôc rong chơi
Ai rồi cũng sẽ rồi…
Ai rồi cũng sẽ tới
Đợi. không đợi vậy thôi

Không cần phải mong đợi
Tới phiên thì … bỏ chơi
Làm gì mà phải vội?
Vô thường đời Tâm Kinh!

 
.
.
PHIÊU BỒNG
.
Sáng nay lòng chợt phiêu bồng
Thấy em đứng đó buồn tanh mặt người
Anh đây sao chẳng mỉm cười?
Thôi anh tự diễn “đười ươi” tấu hài

 

Yêu đời uống rượu sáng nay
Vừa nâng ly đã chớm say ngà ngà
Chớm chừng đã chợt bỏ ra
Đừng say mút chỉ rầy rà tít mây
” [*]

Rượu đời vừa uống đã say
Rượu tình vừa nhắp thang mây phiêu bồng
Ta mơ… mơ “lá hoa cồn
Ta mơ “em mọi” hú hồn “đười ươi”

Em còn buồn nữa hay thôi?
Muôn đời ta vẫn cánh bay “chuồn chuồn”
Chuồn chuồn châu chấu” nhớ luôn
Chăn bò đồi vắng “mơ mòng” chiêm bao [**]

Cuộc đời dài có là bao
Phiêu bồng ta hãy … sầu đau làm gì?
…………
[*] Các câu thơ trong Uống rượu yêu đời – Như sương- Bùi Giáng
[**] Anh lùa bò vào đồi sim trái chín – Bùi Giáng
– Những chữ trong “…” là của Bùi Giáng

.

.

 
XUÂN VỀ
.
1.
Một nhành đào khoe sắc
Xuân về rồi phải không?
Chim líu lo ca hát
Trăm hoa rực ánh hồng
.
Mây trắng trời lam bay
Về phuơng nào ai biết?
Xuân sao lòng thê thiết?
Đào hoa“… thơ nhói lòng! [*]
.
Cố nhân rổi xa biệt!
Vó câu vèo qua song
Lột vỏ từng tờ lịch  
Còn chữ sầu bên trong!
.
2.
Một nhành đào nở sớm
Xuân về người biết không?
Còn đâu thời hoa mộng
Sương tuyết màu thời gian!
.
Một nhành đào khoe sắc
Một nỗi lòng mênh mang
Tha hương đời lận đận
Xuân về lệ lưng tròng!
.
3.
Chớ bảo rằng vô vọng
Ðêm qua sân … cành ma
i” [**]

Nhớ thơ sư Mãn Giác
An ủi lòng ai hoài
.
Nhưng được không tôi hỡi?
Sao vẫn tiếng thở dài?!
Xuân về lòng da diết
Ửng hồng đào hoa ai” [*]
………..
[*] Ý thơ Thôi Hô
[**]  Mạc vị xuân tàn hoa lạc tận/Đình tiền tạc dạ nhất chi mai (Thiền sư Mãn Giác)
.

..
Nguyên Lạc

TẢN MẠN ĐÔI ĐIỀU VỀ TRÀ (Kỳ 7)

Thư viện của bài

This gallery contains 1 photo.

Nguyên Lạc  Biên khảo . DỤNG CỤ UỐNG TRÀ .Như đã biết ở phần trên: Đoàn trà là bánh trà được bỏ thẳng vào bình nước nóng đang sôi, rồi rót nước trà ra chén uống. Mạt trà là bột trà … Tiếp tục đọc

ĐÂU CẦN CHỜ ĐÊM GIÁNG SINH ĐẾN PHẢI KHÔNG EM?

Nguyên Lạc
 
cuoiconduong

1.
Đêm Giáng Sinh Chúa hiện xuống trần
mang niềm tin mới cho nhân thế: Công bằng. Bác ái
Có ích kỷ không em?
Khi anh không thích em bác ái
Em phải yêu thương riêng chỉ mình anh!
.
Đêm đâu cần vọng về những tiếng chuông ngân
Khi em đến
ngàn tiếng chuông tình vang hồn anh ngây ngất
Đêm ngọt ngào như mật
như chiêm bao
như cổ tích
Đêm khát khao
Em. bãi cát nhung êm đợi chờ
Anh. sóng biển mơn man phủ tràn
những nụ hôn thân trầm hương ngát
.
Đêm. chỉ riêng anh và em
Vòng tay đan nồng ấm
vũ điệu Rumba mê đắm
hai thân người cháy bỏng quyện tan nhau
.
Đêm mang tin vui.
lời tình ca anh hát
Ngợi ca thần tình yêu Cupid
Em. bắn mũi tên vàng ngay tim. anh ngất
Nên suốt đời anh mãi “vọng một phương”
.

2.
Đâu cần chờ đến đêm Giáng Sinh đâu em!
Để chuông ngân vang mang tin mừng mới
Bất cứ đêm nào quắt quay mong đợi
Em đến …  là đêm Giáng Sinh!
.
Hiện hữu em … cứu rỗi đời anh!

Có tội lỗi lắm không?
Có ích kỷ lắm không?
Khi nghĩ em là Chúa riêng
mang tin mừng chỉ độc nhất anh thôi
.
Cảm ơn em!
suối tóc nhung êm
mật ngot môi cong
Và cảm ơn thân trầm
ngực rằm dâng hiến
.

3.
Đâu cần chờ đến đêm Giáng Sinh đâu em!
Ngàn nến hồng lấp lánh rạng tâm khi em đến
đêm nồng nàn
đêm khát khao
đêm ngọt ngào
đêm mê đắm
Đêm ngất hồn say hương mật tình ta

Đâu cần chờ đêm Giáng Sinh đến phải không em?
.

Nguyên Lạc

CHIỀU THU LÁ ĐỎ

Giọt đắng nào rơi lòng em tức tưởi
Đâu phải cỏ cây anh cũng có trái tim sầu
Phiến gió chiều nay lay động nụ trúc đào
Rơi về phương ấy khúc ca dao buồn
.
Đâu phải cỏ cây anh cũng có trái tim buồn
Lệ đỏ lá thu không mắt thẫm
Nghe trong hồn vỡ bờ sóng động
Lạnh một dòng sầu nỗi tàn phai
.
Đúng là em chẳng phải là ai
Tà huy đổ bóng dài tóc xõa
Điệp khúc chiều tiếng ai nức nở
Đâu phải cỏ cây anh cũng là người!
.
Nguyên Lạc

TẢN MẠN ĐÔI ĐIỀU VỀ TRÀ-KỲ 5

Thư viện của bài

This gallery contains 1 photo.

Nguyên Lạc LOẠI TRÀ – DANH TRÀ (tt) III. Các loại trà khác1. Việt namTrước khi nói đến trà Việt, tôi xin nhắc lại sơ lược quan niệm về nguồn gốc trà.Theo Đỗ Ngọc Quỹ: “Từ tài liệu khảo cứu … Tiếp tục đọc

THU THA HƯƠNG

 
Nguyên Lạc
 

.
Sao trăm năm vẫn huyền mắt sâu?
Mây tóc em sao không nhạt màu?
Chiều nay nghiêng nắng rơi lá đỏ
Đầy mắt thu ơi một bóng sầu
.
Sao li tan mãi hoài li tan?
Sao trong ta nguyệt vẫn không tàn?
Thu chi cho sáng vầng trăng đó?
Soi rõ làm chi nỗi điêu tàn?!
.
Sao xuân thu vẫn hình bóng ai?
Muôn trùng âm điệp khúc tình hoài
Đêm tha hương trăng thu trắng quá
Soi rõ hồn xanh huyễn mộng dài!
.
Sao mùa thu không là mùa thu?
Một mùa thu môi má ai nồng
Đêm thu cô lữ rơi lệ đỏ
Se sắt thu phong nỗi hư huyền
.
Sao trong tâm vẫn hoài cố nhân?
Kiếp lưu vong một kiếp sống mòn
Xuân thu sương điểm sầu dài tóc
Khóc nỗi tàn phai tuổi xuân hồng!  
.

THU NHỚ CẦN THƠ ĐÊM GIàTỪ

Nguyên Lạc
.
1.
Thu về tôi nhớ lắm
Nhớ lắm nhớ một người
Một người của một thời
Một thời xuân mộng đó

Cần Thơ đêm lộng gió
Đèo nhau con đường quen
“Người còn nhớ hay quên”? [*]
Tay ôm đầu nghiêng tựa

Tóc huyền êm nhung lụa
Môi khúc tình thiết tha
– Mai anh rừng núi lạ
Có nhớ phố thân quen?

Người rồi chốn quan san
Mang theo hồn … bối rối
Nụ hôn ngon góc tối
Run rẩy đôi vai gầy
.
2.
Tang thương ai có hay!
Bão loạn kiếp đọa đày
Mười năm rồi trở lại
Dã nhân khóc “mây bay”!

Cố nhân tìm đâu thấy
Vẫn phố xưa đường này
Nhưng sao giờ lạ lẫm
Đâu phiến môi đắm say?
.
3.
Thu về nơi phố lạ
Lá phong lệ đỏ đầy
Quắt quay hồn cô lữ
Nhớ người … Nhớ lắm thay!

Thu phong lá thở dài
Buồn tôi hay buồn ai?
Một mùa thu lại đến!
Bao năm rồi tình hoài

Thu về nơi đất khách
Tôi nhớ lắm một thời
Tôi nhớ lắm mắt môi
Biết bao giờ thôi đây?

Loạn cuồng đời lá bay!
Người bay tận phương nào?
“Làm sao mà quên được?” [*]
Nụ hôn góc đêm nao
.
4.
Cố nhân! Tôi nhớ lắm
Đêm Cần Thơ giã từ
– Mai anh miền quan tái
Xa vắng em đợi chờ …

Bao giờ… biết bao giờ?
Cố nhân ơi nghìn trùng
Mù xa tình sương khói
Tìm đâu? Chỉ huyễn mong!

Tha hương… mòn … năm tháng
Còn chi? Chỉ hư không!
Quên đi! Lòng hằng nhủ
Nỗi nhớ vẫn y nguyên!
……….
[*] Lời nhạc trong bài Nghìn Năm Vẫn Chưa Quên – Phạm Duy 
Nguyên Lạc

QUÊ HƯƠNG CÒN GÌ?

Nguyên Lạc


Quê hương còn gì để nhớ?
Dối gian chia rẽ lòng người!
Mệnh danh yêu thương tổ quốc
Máu xương lãng phí dân tôi!
.
Quê hương còn gì để nhớ ?
Chia nhau trên những tai ương [*]
Cười vui trên những căm hờn
Trưởng giả học đòi “giao hưởng”
.
Mệnh danh tương lai dân tộc
Dạy con em chữ lạ lùng
Thiên tai đói nghèo dân khóc!
Chia nhau cùng hưởng “công trình” [**]
.
Quê ơi khổ đau hãy chịu !
Dân ơi oan nghiệt phải đành !
Mệnh danh giang sơn giàu mạnh
Tạo bao thống hận điêu linh !
.
Quê hương chắc còn để nhớ?
Hận ai đốt cháy cơ đồ!
Bao nhiêu công ơn tiên tổ
Tư dục họ nỡ thờ ơ!
.
Người ơi sao không lên tiếng!
Chúng quên xương máu ông cha
Dân Việt ơi mau góp tiếng!
Kẻo mai mất trắng sơn hà
……….
[*] Ăn chặn đồ cứu tế
[**] Xây nhà hát giao hưởng Thủ Thiêm để lấy đất của dân và những công trình khác.
.
Nguyên Lạc


TẢN MẠN ĐÔI ĐIỀU VỀ TRÀ (Kỳ 2) –

Nguyên Lạc

..

LỊCH SỬ, NGUỒN GỐC PHÁT TRIỂN VÀ CON ĐƯỜNG ĐI CỦA TRÀ

  1. Tên khoa học

Năm 1753, Carl Von Liaeus, nhà thực vật học Thụy Điển, đặt tên khoa học cây trà là Camellia Sinensis thuộc họ Theacae, xác định cây trà có nguồn gốc Trung Quốc. Thế nhưng một số học giả Anh lại cho rằng nguồn gốc cây trà là Ấn Độ. Cuộc tranh luận về quê hương cây trà đã kéo dài trên hai thế kỷ.

Năm 1976, Djemukhatze, Viện sĩ Thông tấn Viện Hàn lâm khoa học Liên Xô (cũ), sau khi đi khảo sát vùng trà cổ thụ trong 2 năm tại miền bắc Việt Nam, bằng phương pháp sinh hóa thực vật, lại xác định Việt Nam là quê hương cây trà trên thế giới, theo sơ đồ tiến hóa sau đây:


Camellia — trà Việt Nam — trà Vân Nam lá to — trà Trung Quốc — trà Ấn Độ

– Ta nên nhớ rằng: Khi nhà thực vật học lấy một địa danh nào đặt tên (như sinensis: Trung Hoa) không có nghĩa nơi đó là cái nôi của một loài, mà thường do nơi đó là nơi lần đầu tiên phát hiện), do vậy không thể dựa vào từ “Sinensis” để nói cây trà có nguồn gốc từ Trung Hoa.

.

2. Trà – huyền thoại và lịch sử

Hình như tất cả những gì có người Trung Hoa tham gia vào đều có bên cạnh một vài huyền thoại; trà cũng không ngoại lệ. Ít ra người Trung Hoa có hai huyền thoại về trà: một huyền thoại mang sắc thái người Hoa Bắc và một mang sắc thái người Hoa Nam.
. Huyền thoại thứ nhất của người Hoa Bắc cho rằng cho rằng người đầu tiên phát hiện ra trà chính là Thần Nông (2737- 2697 tr. Công Nguyên). Truyền thuyết này lại được giới thiệu trong cuốn Trà Kinh của Lục Vũ (vào năm 780 sau Công nguyên).
Vua Thần Nông là vị Hoàng Đế huyền thoại rất giỏi về nông nghiệp và y dược. Ngài nếm nhiều loại cây cỏ để tìm dược tính trị bệnh cho dân; “Thần Nông một ngày nếm thử một trăm loại thảo dược và gặp bẩy mươi loại độc và tự mình giải độc.”. Sự tích tìm ra cây trà của Thần Nông cũng được dệt bằng một huyền thoại thần bí. Một hôm, Vua Thần Nông cùng vợ con lên núi, giữa chừng núi vua thấy khát nước thì ngay lúc đó một chiếc lá rơi xuống cạnh chân Ngài. Thần Nông lượm lên và vò nát trong tay mình, chất nhựa dính vào ngón tay và Ngài đưa lên miệng nếm. Vị đăng đắng cho Thần Nông biết nó có dược tình và cảm thấy cơn khát mất đi. Thần Nông bèn đem chiếc lá đó sắc lên, và Ngài là người đầu tiên uống trà. Lại có truyền thuyết nói Thần Nông đun nước dưới một gốc cây, lá cây này rụng và rơi vào nồi. Nước trong nồi có màu vàng xanh và mùi vị thơm ngon, uống vào hết khát: đó là trà.
Người Trung Hoa chứng minh huyền thoại này bằng cách trưng ra cuốn ‘Thần Nông Bản Thảo” , trong đó có ghi tính dược cây trà. Nhưng thực ra tác phẩm này là một biên khảo vào thời Tần-Hán (khoảng năm 220 sau Công Nguyên) do nhiều nhà y học ghi chép và về sau Đào Hoằng Cảnh (457 – 536) chỉnh lý lại và người đời sau bổ sung và sửa đổi khá nhiều. Có điều chúng ta cần lưu ý trong Trung Y (y học Trung Hoa) không thấy cổ phương danh tiếng nào dùng trà làm vị thuốc và trong các hiệu thuốc đông dược chẳng thấy ai dùng đến trà cả.
Người Trung Hoa nói thế. Các học giả phương Tây dựa vào tài liệu Trung Hoa thuật lại thế và chúng ta nhắm mắt tin thế. Rồi người Nhật phụ họa thêm truyền thuyết trà là một cây thuốc như sau: vào đời Chiến Quốc một danh y truyền dạy y thuật cho con trai, nhưng chỉ mới truyền được bảy phần thì ông qua đời. Tưởng là phần còn lại thất truyền, nào ngờ nơi mộ ông ta mọc lên một loại cây hội đủ dược tính phần y thuật còn truyền sót; đó là cây trà. Càng về sau, các tài liệu đều ghi: “Khởi đầu trà là một vị thuốc, sau trở thành thứ nước uống giải khát.”
Củng cố thêm cho nguồn gốc cây trà và văn hóa trà xuất phát từ Trung Hoa, người Hoa Bắc còn đưa ra huyền thoại “Các vua nhà Chu đã dùng trà tế lễ từ năm 221 trước Công Nguyên”. Huyền thoại này thực sự có cơ sở chăng?! Nếu từ thời kỳ Xuân Thu Chiến Quốc người Trung Hoa đã dùng trà trong tế tự, ắt điều này phải có ghi trong các kinh lễ của các bậc thánh nhân như Chu Công và Khổng Tử. Đáng tiếc, Kinh Lễ hay Lễ Ký do Đức Khổng Tử san định cũng không hề thấy nói đến trà; sách Luận Ngữ do học trò ngài ghi lại các lời Ngài dạy hàng ngày cũng chẳng thấy nói đến trà; Kinh Thi cũng do Ngài san định là một tác phẩm ghi chép lại các bài ca dao trong dân gian không hề có một chữ trà hay chữ đồ. Trở ngược dòng lịch sử, sách Chu Lễ ghi rất chi li lễ tiết đời Chu cũng không thấy có chữ trà, Hoặc quay xuống đến đời Hán chúng ta thấy có cuốn Sử Ký của Tư Mã Thiên (khoảng những năm 90 trước Công Nguyên), có một thiên Lễ Thư, hay Hán Thư cũng không dành cho trà một chữ. Qua đó có thể nói ít nhất đến đời Hán trà chưa hề được biết đến ở Trung Hoa.
Trái lại chúng ta dễ dàng thấy chữ “tửu” trong các tác phẩm vừa nói, với câu nói nổi tiếng “Vô tửu bất thành lễ”. Điều này cho thấy việc vua nhà Chu dùng trà tế lễ là sự gán ghép đời sau. Nho gia không phải rồi, vậy trà có phải của Đạo gia chăng?! Chắc chắn là không vì biểu tượng thường đi kèm với các vị tiên gia là phất trần và bình rượu chứ không phải ấm trà, và giới đạo gia có thứ rượu Quỳnh tương trên tiên giới thần diệu như nước cam lồ bên Phật giáo. Chỉ mãi sau đến đời Chu Hy (cuối Nam Tống) mới xuất hiện một bài thơ gắn ông tiên với lò nấu trà. Như vậy có thể nói điều Lục Vũ ghi trong Trà Kinh “Thần Nông là ông tổ cây trà” có thể chỉ là lời lượm lặt trong dân gian thích thêu dệt huyền thoại của người Trung Hoa mà thôi.
. Huyền thoại thứ hai của người Hoa Nam. Huyền thoại này cho rằng chính Bồ Đề Đạt Ma (Bodhidarma), Sơ tổ Thiền Trung Hoa, là người mang cây trà từ Ấn Độ vào Trung Hoa (năm 519 sau Công Nguyên). Nhờ cây trà mà Ngài thức suốt 9 năm để ngồi nhìn vách đá quán tưởng công án. Tin vào truyền thuyết này nên về sau Thiền Nam Tông có nghi thức uống trà trước tượng Bồ Đề Đạt Ma. Xoay quanh Bồ Đề Đạt Ma lại có một huyền thoại thần bí hơn, lại do người Nhât phụ họa: Sau ba năm diện bích, tổ Đạt Ma kiệt sức và ngủ lịm đi. Khi tỉnh dậy, tổ hối hận và lo lắng, cắt hai mi mắt mình liệng xuống đất. Ít lâu sau nơi đó mọc lên một loại cây bụi, tổ Đạt Ma lấy lá của nó nấu lên uống thì tỉnh ngủ hẳn. Và Ngài tiếp tục diện bích cho hết 9 năm.

Cũng lưu ý là các tác phẩm như Hán Sở Tranh Hùng, Tam quốc Chí có nhiều lần nói đến việc uống trà, nhưng điều này không thể khẳng định trà có từ đời Hán vì các tác phẩm này viết vào đời nhà Minh, thời trà Trung Hoa đang ở giai đoạn hoàng kim. Việc các cây bút văn chương lồng một số chi tiết nho nhỏ quen thuộc đương thời vào câu chuyện không phải là điều không xảy ra nếu không muốn nói rất thường.

Còn nếu lấy huyền thoại làm chứng cứ thì e rằng người Việt biết uống trà và có một nền văn hóa trà sâu xa từ thời Hùng Vương (ngang đời nhà Chu). Ai trong chúng ta cũng đều biết câu chuyện cổ tích Trương Chi – Mỵ Nương , hai chữ Mỵ Nương đủ khẳng định bối cảnh câu chuyện xảy ra vào thời Hùng Vương rồi. Chuyện kể tóm tắt rằng: Chàng lái đò Trương Chi có giọng hát thật hay làm xiêu lòng Mỵ Nương. Nhưng khi gặp khuôn mặt xấu xí của chàng lái đò Mỵ Nương đâm thất vọng, ngược lại trước nhan sắc của Mỵ Nương Trương Chi về ốm tương tư rồi mất. Trương Chi chết hóa thành một hòn ngọc, người thợ đá tạc thành một cái chén uống trà dâng cho gia đình Mỵ Nương. Cứ mỗi lần rót nước trà vào chén Mỵ Nương thấy trong đó có hình chiếc đò bơi qua bơi lại và một tiếng hát từ cõi xa xăm nào đó vọng lại. Thương cảm, Mỵ Nương khóc, giọt nước mắt rơi vào chén trà và chén trà tan thành nước.

Bên cạnh, người Trung Hoa trưng ra một số tư liệu lịch sử để chứng minh nguồn gốc cây trà của họ. Sự viện dẫn này dựa vào thương mại để chứng minh cây trà và văn hóa trà có nguồn gốc từ Trung Hoa:
. Dẫn Con Đường Trà Cổ (Trà Mã Cổ Đạo): Đây là con đường núi ngoằn ngoèo đi xuyên qua vùng núi Vân Nam – Tứ Xuyên phía Tây Nam trung Hoa, phương tiện vận chuyển chủ yếu là lừa và ngựa. Theo tư liệu của Trung Hoa con đường này hình thành vào đời nhà Đường (618-907), và trà của Trung Hoa theo đường đó bán cho các nước phía Nam.
Điều này không mấy hữu lý vì tính theo thời gian vùng này thuộc về đất nước Nam Chiếu – Đại Lý. Thực tế cũng cho thấy đời Đường chưa cai trị được vùng đất này, nếu không muốn nói có nhiều chiến tranh qua lại giữa Trung Hoa và các bộ tộc (nhất là khi vùng này hình thành quốc gia) tại nơi đây. Cứ liệu đáng tin nhất; năm 629 khi Đường Tam Tạng có ý qua Hồ Quốc (tức Ấn Độ) thỉnh kinh, ông phải lén đi vì Đường Thái Tông cấm đi ra nước ngoài. Lý do cấm đoán đó là vì các vùng biên giới không yên ổn và nhà Đường lúc đó không đủ sức thảo phạt . Tình hình như thế cho thấy con đường này thực sự dưới quyền kiểm soát của Nam Chiếu – Đại Lý, trà từ vùng này chuyển đi các vùng lân cận và Hoa Nam để bán . Luận cứ này cho thấy con đường Trà Mã Cổ Đạo này không do nhà Đường mở ra, thực tế nó là một con đường tự phát nhằm trao đổi hàng hóa nhỏ lẻ với Hoa Nam và các nước lân cận Đại Lý. Trà quả là sản phẩm của con đường này nhưng chủ nhân là Đại Lý chứ không phải Trung Hoa. Chính vì thế ta sẽ thấy tập quán uống trà những nước quanh Đại Lý cũ không hề giống thói quen uống trà của người Trung Hoa.

(Phần huyền thoại và lịch sử này được trích từ quyển Trà Thư trong Trà Luận của nhà biên khảo Đức Chính)

.


3. Truy lại cội nguồn nền văn hóa trà


Qua những điều trên chúng ta đã biết: Trà là sản phẩm của Con Đường Trà Cổ (Trà Mã Cổ Đạo) và chủ nhân của nó là nước Đại Lý.
Lãnh thổ nước Đại Lý bao gồm 3 tỉnh: Vân Nam, Quý Châu và tỉnh Tứ Xuyên ngày nay. Nước này còn chiếm một phần vùng thượng du miền Bắc Việt Nam và một phần lãnh thổ của Myanmar hiện nay. Trước khi thành lập nước Đại Lý, vùng đất này là của người Bạch và người Di, gồm 6 bộ tộc (gọi là chiếu) Mông Huề, Việt Thác, Lãng Khung, Đằng Đạm, Thi Lãng, Mông Xá, trong số đó Mông Xá là bộ tộc mạnh nhất nằm ở phía nam nên thường gọi là Nam Chiếu. Năm 737, thủ lãnh của Mông Xá là Bì La Cáp mượn thế lực của Đường Huyền Tông thống nhất các chiếu khác thành lập ra nước Nam Chiếu. Điều này có ghi trong Đại Việt Sử Ký Toàn Thư: “Trong khoảng năm Khai Nguyên (713-742) đời vua Huyền Tông nhà Đường, Nam Chiếu là Bì La Cáp cường thịnh lên, mà 5 chiếu kia suy hèn đi. Bì La Cáp mới đút lót cho quan tiết độ sứ đạo Kiếm Nam là Vương Dục để xin hợp cả 6 chiếu lại làm một. Triều đình nhà Đường thuận cho, và đặt tên là Qui Nghĩa. Từ đó Nam Chiếu càng ngày càng thịnh lên, đem quân đi đánh Thổ Phồn (Tây Tạng)… Bấy giờ Nam Chiếu đã mạnh lắm, bèn xưng đế và đặt quốc hiệu là Đại Mông rồi lại đổi là Đại Lễ…” Triều đại này tồn tại đến năm 902, Đoàn Tư Bình nổi lên thành lập nước Đại Lý.

.

(Hình Bản đồ nước Đại Lý)

.

Vương Quốc Đại Lý tồn tại trên vùng đất này từ năm 937 cho đến năm 1253; kế tiếp nhau bởi 22 đời xưng đế, trong đó có nhân vật Đoàn Chính Thuần được Kim Dung hư cấu vào tiểu thuyết võ hiệp của mình. Sau năm 1253, Đại Lý mất vào tay Nguyên Mông nhưng dòng họ Đoàn vẫn cai trị vùng đất này với tước danh Tổng quản đến tận năm 1387 (vị tổng quản cuối cùng là Đoàn Thế) bị diệt dưới tay Minh Thái Tổ Chu Nguyên Chương. Nước Đại Lý đổi thành phủ Đại Lý, người Bạch và người Di nước lưu lạc xuống phương Nam. Một số thành các dân tộc người ở Việt Nam, Lào và Myanmar (như Thái Trắng, Thái Đen, Thái Đỏ, Lô lô, Nùng); một nhóm đông hơn di chuyển sâu về hướng Nam thành lập nước Thái Lan ngày nay.
Nếu Trung Hoa cho rằng Vân Nam – Tứ Xuyên ngày nay là của Trung Quốc nên nguồn gốc từ Trung Quốc mà ra; chúng ta cũng có thể nói vùng Thượng Du Bắc Việt Nam ngày nay của Việt Nam xưa thuộc Đại Lý, vậy Việt Nam cũng là cái nôi của thế giới. Theo tôi điều này không hay ho chút nào. Hãy như người Việt, cứ để nền văn hóa Óc Eo là tài sản của vương quốc Phù Nam, Tháp Chàm của người Chăm, … chứ không nhận bừa của người Việt. Tương tự, cội nguồn của trà là người Đại Lý, một vương quốc cổ nay không còn nữa. Và có thể các nhóm dân tộc dùng ngôn ngữ Tạng-Miến như người Thái vùng Tây-Bắc miền Bắc Việt Nam là một thành tố đại diện còn tồn tại đến ngày nay.
Nghiên cứu về văn hóa nên lấy mốc từ khi một sự kiện trở nên phổ quát và đi vào tư tưởng, chứ không nên vin vào một vài chứng cứ vật thể nhỏ để khẳng định đã có một nền văn hóa. Cũng như khi cắm ngọn cờ trên mặt trăng không thể khẳng định con người đã sống trên mặt trăng vào thời điểm đó. Chính trị và văn hóa khác biệt nhau ở chỗ này.
Vậy tại sao ngày nay khi nói đến trà người ta nghĩ ngay đến Trung Hoa và Nhật Bản. Đó là vì họ có phương thức truyền bá tư tưởng tốt: người Trung Hoa bằng các huyền thoại và cửa miệng các Hoa Kiều (chưa kể ngụy thư đời sau viết gán cho người đời trước để làm chứng cứ giả tạo); người Nhật có tác phẩm Book of the Tea của Okakura Kakuzo gây tiếng vang trên thế giới và gây tò mò người Phương Tây nơi nghi thức trà của họ vừa cầu kỳ vừa thoang thoảng kỳ bí.

(Phần truy lại cội nguồn này được trích từ quyển Trà Thư trong Trà Luận của nhà biên khảo Đức Chính)
.

  1. Các giai đoạn phát triển trà

Cây trà nguyên thổ sản của miền Hoa Nam, đã dược các nhà thực vật học và dược vật học Trung Hoa biết đến từ những thời đại rất xa xưa. Các văn gia cổ điển gọi nó bằng những tên khác nhau: Đồ (Tou), Thiết (Tach), Thuấn (Chung), Giả (Kha), và Minh (Ming), và trà được tán dương là có hiệu năng làm cho người ta hết mệt nhọc, tinh thần sảng khoái, ý chí tăng cường và thị lực hồi phục. Người ta không chỉ dùng trà làm thuốc uống bên trong, mà còn hay dùng như một thứ cao đắp ở bên ngoài để trị phong thấp nữa. Các môn đồ Đạo gia coi trà là một vị trọng yếu trong môn thuốc trường sinh bất lão; còn các tăng đồ Phật giáo thì thường dùng trà để chống lại cơn buồn ngủ trong những giờ ngồi trầm tư mặc tưởng dài đằng đẵng.

Tuy nhiên, phương pháp uống trà thời kỳ ấy hãy còn cổ lỗ hết sức. Người ta lấy lá trà đem hấp lên, bỏ vào cối giã, làm thành bánh rồi đem nấu với gạo, gừng, muối, vỏ cam, hương liệu, sữa, và một đôi khi cả hành nữa! Tập quán này cũng còn thịnh hành trong dân xứ Tây Tạng và các bộ tộc Mông Cổ, họ chế tất cả các vị kể trên thành một chất “xi rô” kỳ xảo. Lối dùng những lát chanh của người Nga tập uống trà tại những đội thương lữ quán Trung Hoa là một lối cổ còn sót lại.

Sau nhờ thiên tài của Đường triều, trà mới được “giải thoát” khỏi trạng thái thô lậu này và được lý tướng hóa một cách tuyệt diệu. Lục Vũ ở khoảng giữa thế kỷ thứ tám, là đệ nhất sứ đồ của trà. Ông sinh vào thời kỳ mà Phật giáo, Đạo giáo và Khổng giáo đang tìm đường tổng hợp với nhau. Phiến thần luận của tượng trưng chủ nghĩa lúc bấy giờ có ý muốn phản chiếu cái “Phổ biến” (Universal) ra khỏi cái “Đặc thù” (the Particular). Lục Vũ là một nhà thơ, nhận thấy trong bộ đồ trà cũng có đủ cả sự điều hòa và trật tự như trong mọi sự vật khác. Trong tác phẩm danh tiếng của ông là cuốn Trà Kinh (Kinh thư của Trà Đạo), ông đã định thức hóa Pháp điển về Trà. Từ đó ông được thờ như vị thần giám hộ của các nhà buôn trà Trung Hoa.

Nhưng trà chỉ thật sự phổ cập ở khắp Trung Hoa bắt đầu từ thời Nguyên khi Đại Lý bị diệt và dòng họ Đoàn quy thuận, trà mới có cơ sở thông thương rộng hơn. Qua đời Minh (1368-1644), việc buôn bán trà trở nên rất thịnh vượng nên triều đình lập ra “Bộ Trà Mã” để quản lý và thu thuế, kết quả tất yếu của việc sáp nhập nước Đại Lý vào Đại Minh. Trong bối cảnh đó nhiều tay bút bàn về trà sinh sôi nảy nở là điều tất yếu, và thường hay đề danh tính người đời trước để dễ thuyết phục người đọc (đời nhà Minh nổi tiếng nhiều ngụy tác). Tuy vậy để xuất khẩu trà quy mô phải đợi đến khi kỹ thuật canh tác phát triển và trà được trồng nhiều ở các vùng như Hồ Nam, Hồ Bắc, Chiết Giang, Giang Tô, Lãnh Nam, Kinh Tương, Phúc Kiến, nghĩa là khó sớm hơn thế kỷ 14.
.

5. Bước đi của trà

  • Vào cuối thế kỷ thứ mười sáu, người Hòa Lan truyền đi cái tin ở Đông phương có loại thức uống làm bằng một thứ lá cây rất ngon. Các nhà du lịch Giovanni Batista Ramusio (1559), L.Almeida (1576), Maffeno (1528), Tareira (1610), cũng nói đến trà. Trong năm cuối cùng kể trên, thương thuyền của Hòa Lan Đông Ấn Độ Công ty đem những lá trà đầu tiên về Âu châu. Trà được nước Pháp biết đến năm 1636, và lọt vào nước Nga năm 1638. Năm 1650, nước Anh hoan nghênh trà và khi nói đến trà thì ca ngợi coi là “một món đồ uống ngon tuyệt, tất cả các y sĩ đều tán thành món đồ uống Trung Hoa, mà người Trung Hoa gọi là trà, các nước khác thì gọi là tê (thé) hay ti (tea)”. Trà đã bắt đầu được coi là thức uống quốc tế
    Sự giao lưu thương mại giữa Trung Hoa và các nước phương Tây ngày một lớn mạnh bắt đầu từ triều đại nhà Thanh. Khi Hoàng đế Trung Hoa “ngự hít” điếu thuốc lá đầu tiên được mang đến từ Châu Âu, thì Nữ hoàng Anh Quốc cũng đang nhấm nháp tách trà đầu tiên. Vào khoảng năm 1615, các thương gia Anh Quốc với công ty Đông Ấn Độ nhận thức được sự có mặt của Trà. Trà đã nhanh chóng được truyền bá khắp Châu Âu và gần 100 năm sau, khối lượng trà nhập khẩu vào Anh tăng từ 100 pound/năm lên đến hơn 5 triệu pound/năm. Điều này đòi hỏi cần phải có nhiều phương tiện lớn mới mang được tải trọng trà như thế từ Trung Hoa.
  • Tại Anh: Theo sử liệu,thì chính Nữ Công Tước Bedford, tác giả quyển “Năm giờ uống trà” rất được người Anh ưa thích. Bà cũng là người đã tạo ra phong trào uống trà vào buổi chiều tại xứ sương mù. Ngày nay tới nhà bất cứ một người Anh nào, đặc biệt là giới trung và thượng lưu trí thức, ai cũng phải lóe mắt trước sự khéo tay và vô cùng thẩm mỹ của các bà nội trợ , trong việc trang trí bàn uống trà với khăn phủ bàn có bình hoa tươi và bộ bình trà làm bằng bạc và sứ men Trung Hoa. Người Anh từ lâu có tập quán đãi khách loại trà sữa hay trà chanh. Cũng theo sử liệu, thì vào thế kỷ XVIII, khi Anh chiếm Hồng Kông và nhiều thành phố lớn khác tại Trung Hoa như Thiên Tân, Thượng Hải, Quảng Châu đã du nhập tập tính uống trà của người Tàu về bản quốc.

  • Tập quán uống trà ở Anh phát triển mau lẹ không thể tưởng tượng dược, trong nửa đầu thế kỷ thứ mười tám, những quán cà phê ở London, trên thực tế, đã biến thành những phòng trà, nơi hẹn hò của những bậc anh tài như Addison và Steele, tiêu khiển bên những “món trà”. Chẳng bao lâu, trà trở thành một món cần thiết cho đời sống sinh hoạt – một món có thể đánh thuế được.
  • Tại Hoa Kỳ: Hằng năm theo thống kê, thì dân chúng Hoa Kỳ tiêu thụ cả chục triệu tấn trà, bằng mọi hình thức như uống nóng, lạnh, trà nguyên chất hay ướp các loại hoa, uống không hay uống chung với đường thêm mật ong, sữa, kem, chanh. Người Mỹ uống nhiều loại trà, từ thứ gọi là Decaffeinated Tea hoặc các loại trà lá, kể cả dược trà bằng lá ổi, lá hồng để trị bệnh va làn tan mỡ, gọi là Herbal Tea.
    Xin được nhắc qua về vụ Trà đã dự phần hết sức quan trọng trong sự kiện lịch sử hiện đại. Thuộc địa Mỹ cam chịu áp chế cuả Anh cho đến khi sức nhẫn nhục của con người không thể chịu đựng được nữa, phải nổi dậy trước những khoản thuế quá nặng đánh vào Trà. Nền độc lập của Mỹ bắt đầu từ ngày người ta quẳng những thùng trà xuống hải cảng Boston: Người Mỹ đã vùng dậy mà ném cả 342 thùng trà xuống biển, để rồi bắt đầu cuộc khởi nghĩa giành độc lập năm 1773. Cố nhiên là không lỗi ở trà, và cũng không phải chỉ vì trà, mà còn nhiều lý do khác nữa; nhưng đã nói đến trà thì cứ nên cho rằng, nhờ đó mà cái gọi là Boston Tea Party trở thành bất hủ.
  • Tại Nhật: Cuối thế kỷ 11 đầu thế kỷ 12, cùng với Thiền, trà ở Trung Hoa tràn sang Nhật. Người Nhật tiếp thu cả hai thứ văn hoá vật chất và tôn giáo này, đem nó hoà quyện với văn hoá bản địa và nâng lên thành triết lý riêng của dân tộc là Trà Đạo.
  • Trà đạo bao gồm những nghi lễ thiêng liêng thấm đượm chất tâm linh tôn giáo, khiến cuộc thưởng trà trở thành một cuộc lễ.
    Ngày nay Triết Lý Trà của người Nhật đã trở thành một nghi thức chính thống của một tôn giáo gọi là Trà Đạo, hình thành từ thời kỳ Mạc Phủ Tướng Quân ở thế kỷ thứ XV. Những trà đồ trước khi bước vào trà thất đã tự mình rũ bỏ hết cái thế giới ồn ào bon chen, nhập vào sự tĩnh lặng của tâm hồn, quên hết kể cả cái ta phiền toái đáng phiền.
  • Cho đến thế kỷ 19 mà Trung Hoa vẫn còn là nơi độc quyền sản xuất trà bán ra khắp toàn thế giới. Thuở ấy người ta chỉ mới biết mua trà về pha chế thêm, mang bỏ vào hộp, đóng thùng dán lên các thứ nhãn hiệu rồi đưa đi bán lại mà thôi. Càng ngày thấy nhu cầu càng tăng và nguồn lợi càng rõ ràng vĩ đại, người ta nghĩ đến mang giống trà đi trồng ở các miền đất đai các xứ khác mới đủ cung cấp cho cả thế giới.
    Người Anh quốc là kẻ tiên phong đã biết dùng ngay đất thuộc địa của mình, tức là xứ Ấn Độ thời ấy, làm nơi trồng trọt và sản xuất trà, thay vì phải mua từ người Trung Hoa. Họ đã lấy giống trà từ Trung Hoa, đón một số chuyên viên Trung Hoa trong ngành trồng tỉa cũng như pha chế, đưa những người nầy sang Ấn Độ để dạy cách thức trồng trọt pha chế cho dân địa phương, và họ đã thành công.
    Ngoài ra còn những vùng mà cây trà được trời ban cho cũng mọc lên tự nhiên và hợp khí hậu không kém trà của Trung Hoa đó là những vùng như Việt Nam, Miến Điện, Mã Lai, Lào, Miên.
    .
    (Còn tiếp nhiều kỳ)
    .
    Nguyên Lạc

TẢN MẠN ĐÔI ĐIỀU VỀ TRÀ (Kỳ 1)

Nguyên Lạc

Li nói đu:

C Nguyn Hiến Lê,  thy tôi, có nói: “Mun hc điu gì thì hãy viết về điều đó“. Tôi đã áp dng câu này khi hc v Kinh Dch, thy rt có hiu qu. Nay tôi đang hc v thú ung trà, tìm hiu v trà,  tôi cũng s áp dng điu c Nguyn dy.

Như thông l, tôi tìm hiu sách v, bài viết ca tin nhân, ca các đàn anh thâm sâu v điu mình cn hc, ghi li có h thng cho d dàng nh. Xin hiểu cho, đây chỉ là những ghi chép vụn vặt trong quá trình học hỏi, nên chắc nó sẽ có rất nhiều thiếu sót, mong các bậc cao minh ch dn thêm. Tôi mo mui chia s nhng điu tôi đã ghi chép, gi đến các bn ri lng nghe nhng li phn hi,  góp ý chân thành đ chnh sa cho điu mình tìm hc đưc chính xác.

Tập tiểu luận này nặng về VĂN CHƯƠNG hơn NGHIÊN CỨU, chủ ý của tác giả là muốn cung cấp các bạn những điều “vui vẻ” trong lúc “trà dư tửu hậu”. Nếu các bạn muốn nghiên cứu sâu, xin hãy tìm hiểu các tác phẩm của các nhà nghiên cứu mà tôi đã sưu tầm, tham khảo. Đó là: Trà Đạo của tác giả Kakuzo Okakura, Niệm Thư của nữ sĩ Minh Đức Hoài Trinh, Trà Luận của nhà nghiên cứu Đức Chính, Trà kinh của Vũ Thế Ngọc, các bài viết của Nguyễn Duy Chính và trên FB  .v.v…

Nếu đc gi tìm thy đưc nhiu đu lý thú trong tp tiu lun này, thì đó là công ca các nhà nghiên cu mà tác gi sưu tm; còn nếu thy nó d, đy khiếm khuyết, thì đó là li ca tác gi bài viết, hiu biết còn quá nhiu hn hp, xin tha li cho. Trân trng

.

MỤC LỤC

Tiểu luận này được chia làm nhiều mục:

– Giới thiệu

– Vài bài văn thơ về trà

– Lịch sử, nguồn gốc phát triển và con đường đi của trà

– Sơ lược Trà Kinh của Lục Vũ

– Các hình thức trà

– Các loại trà, danh trà

– Cách trồng và chế biến trà

– Dụng cụ uống trà

– Các loại ấm trà danh tiếng

– Các loại chén uống trà

– Cách thức pha trà, thưởng thức trà

– Sơ lược về Trà Đạo Nhật Bản

– Phần phụ lục- Phiếm luận

*

Gii thiu:

Ông bà ta có câu “Khách đến nhà không trà thì rượu”. Với nhiều người, uống trà không chỉ đơn thuần là giải khát, mà còn là thú vui tao nhã thưởng thức hương vị thơm, ngọt, chát, nồng của ” Dịch thể ngạnh ngọc bào” – bọt của chất lỏng màu ngọc bích (Tên người xưa gọi nước trà). Trà, rượu và cà-phê là 3 thức uống hầu như hiện nay ai cũng yêu thích. Đối với cụ Trần Tế Xương thì : “Một trà, một rượu, một đàn bà/ Ba cái lăng nhăng nó quấy ta”. Về “yêu trà”, tôi xin dẫn ra đây vài lời của nữ sĩ Minh Đức Hoài Trinh, trong chương sách Nghệ Thuật Yêu Trà của bà, đại khái:

   – “Yêu là cả một nghệ thuật, mà đã là nghệ thuật thì cần phải có sự nghiên cứu kỹ càng, và sự hướng dẫn chu đáo. Muốn yêu ai thì cần phải tìm hiểu tính tình, biết cả từ tính tốt đến tính xấu, những ưu khuyết điểm, xét xem có thích hợp với mình không. Khi đã biết rõ rồi mới yêu thì tình mới bền. Trà cũng như người, cổ nhân gọi trà là Tình Nhân, và ngày xưa cũng như bây giờ có những người yêu trà, chờ đợi giờ phút được ngồi cạnh ấm trà như chờ đợi giờ phút hò hẹn với người yêu“- (Minh Đc Hoài Trinh)

Ngồi cạnh ấm trà một mình vào buổi sáng tinh sương hay với tri kỷ trong đêm khuya, thì không cần phải dùng đến lời nói; đọc cho nhau nghe một câu thơ, hay mỗi người nói một mẩu chuyện rồi thả tâm tư suy nghĩ; chẳng cần bàn cãi nhiều lời, khói trà và hương trà sẽ đưa hai tâm tư đến cùng một điểm. Hai người tri âm tri kỷ đã trở thành một.

Chúng ta hãy cùng nhau nhắp một chén trà. Ánh sáng xế trưa đương chiếu vào bụi trúc, dòng suối đương róc rách vui tai, và tiếng ngàn thông đương rì rào trong ấm trà của chúng ta. Hãy thả hồn mơ vào chỗ vô thường, tha thẩn trong cái vẻ cuồng dại mỹ miều của vn vật.

Lý Chi Lai, (Lichilai) một kẻ yêu trà,  một thi sĩ đời Tống đã cho rằng, đời có 3 mối hận nhất là : “Những thanh niên ưu tú bị hư hỏng vì một chế độ giáo dục sai lầm; những bức danh họa bị mất giá trị vì những kẻ phàm phu tục tử tán thưởng; và những cánh trà ngon bị hao phí quá nhiều vì những bàn tay bất tài vầy vò.

Trà không có cái tính chất tự tôn xằng như của rượu, tự ý thức như của cà phê, hay ngây thơ khờ khạo như của ca cao – (Bảo Sơn – Trà Đạo, dịch từ cuốn The Book of Tea của Okakura Kakuzo)

.

VÀI BÀI VĂN THƠ V TRÀ

.

Ghi theo trình tự trước sau:

 1. Thi nhân đời Đường , Lô Đồng – hay Lư Đồng ( 778 – 835 ) có bài thơ tả cảm giác khi uống trà được người đời khen xuất thần: Trà Ca  

.

Nhất oản hầu vẫn nhuận

Nhị oản phá cô muộn

Tam oản sưu khô trường

Duy hữu văn tự ngũ thiên quyển

Tứ oản phát khinh hãn

Bình sinh bất bình s

Tận hướng mao khổng tán

Ngũ oản cơ cốt thanh

Lục oản thông tiên linh

Thất oản khiết bất đắc

Duy giác lưỡng dịch tập tập thanh phong sinh

Lời dịch:

Chén thứ nhất làm trơn cổ họng

Chén thứ hai làm tan nỗi buồn phiền

Chén thứ ba thấm vào ruột đang khô héo

Chỉ còn lại năm nghìn cuốn sách

Chén thứ tư làm mồ hôi rướm ra

Những chuyện bất bình trong đời

Cũng theo lỗ chân lông mà bay đi

Chén thứ năm làm cơ thể sạch sẽ

Chén thứ sáu đưa ta tới cõi tiên

Chén thứ bảy không uống được nữa

Chỉ thấy hai bên cánh tay gió phần phật thổi

.

2. C Trần Tế Xương đã từng có bài thơ thở than:

.

Một trà, một rượu, một đàn bà

Ba cái lăng nhăng nó quấy ta

Chừa được cái nào hay cái nấy

Có chăng chừa rượu với chừa trà…”

.

3. Nhà văn Nguyn Tuân có truyện ngắn lý thú viết về trà “Những Chiếc Ấm Đất” – trong quyển Vang Bóng Một Thời. Xin trích vài đoạn:

“Ngày xưa, có một người ăn mày cổ quái. Làm cái nghề khất cái là phải cầm bằng rằng mình không dám coi ai là thường nữa; thế mà hắn còn chọn lựa từng cửa rồi mới vào ăn xin. Hắn toàn vào xin những nhà đại gia thôi và cố làm thế nào cho giáp được mặt chủ nhân rồi có xin gì thì hắn mới xin. Có một lần hắn gõ gậy vào đến lớp giữa một nhà phú hộ kia, giữa lúc chủ nhà cùng một vài quý khách đang ngồi dùng bữa trà sớm. Mọi người thấy hắn mon men lên thềm, và ngồi thu hình ở chân cột một cách ngoan ngoãn, mọi người không nói gì cả, để xem tên ăn mày định giở trò gì. Hắn chả làm gì cả, chỉ nhìn mọi người đang khoan khoái uống trà. Hắn đánh hơi mũi, và cũng tỏ vẻ khoan khoái khi hít được nhiều hương trà nóng tản bay trong phòng. Thấy mặt mũi người ăn mày đã đứng tuổi không đến nỗi bẩn thỉu quá, chủ nhân bèn hỏi xem hắn muốn xin cơm thừa hay là canh cặn, hay là hơn nữa, hắn lại muốn đòi xôi gấc, như kiểu người trong phương ngôn. Hắn gãi tai, tiến gần lại, tủm tỉm và lễ phép xin chủ nhân cho hắn “uống trà tàu với!”. Mọi người tưởng hắn dở người. Nhưng tại sao không nỡ đuổi hắn ra và còn gọi hắn lại phía bàn cho hắn nhận lấy chén trà nóng. Hắn rụt rè xin lỗi và ngý muốn được uống nguyên một ấm trà mới kia. Hắn nói xong, giở cái bị ăn mày của hắn ra, cẩn thận lấy ra một cái ấm đất độc ẩm. Thấy cũng vui vui và lạ lạ, mọi người lại đưa cho hắn mượn cả khay trà và phát than tàu cho hắn đủ quạt một ấm nước sôi, thử xem hắn định đùa định xược với bọn họ đến lúc nào mới chịu thôi. Hắn xin phép đâu đấy rồi là ngồi bắt chân chữ ngũ, tráng ấm chén, chuyên trà từ chén tống sang chén quân, trông xinh đáo để. Lúc này không ai dám bảo hắn là ăn mày, mặc dầu quần áo hắn rách như tổ đỉa. Uống một chén thứ nhất xong, uống đến chén thứ nhì, bỗng hắn nheo nheo mắt lại, chép môi đứng dậy, chắp tay vào nhau và thưa với chủ nhà: “Là thân phận một kẻ ăn mày như tôi được các ngài cao quý rủ lòng thương xuống, thực kẻ ty tiện này không có điều gì dám kêu ca lên nữa. Chỉ hiềm rằng bình trà của ngài cho nó lẫn mùi trấu ở trong. Cho nên bề dưới chưa được lấy gì làm khoái hoạt lắm”. Hắn lạy tạ, tráng ấm chén, lau khay hoàn lại nhà chủ. Lau xong cái ấm độc ẩm của hắn, hắn thổi cái vòi ấm kỹ lưỡng cất vào bị, rồi xách nón, vái lạy chủ nhân và quan khách, cắp gậy tập tễnh lên đường. Mọi người cho là một thằng điên không đý đến. Nhưng buổi chiều hôm ấy, cả nhà đều lấy làm kinh sợ người ăn mày vì, ở lọ trà đánh đổ vung vãi ở mặt bàn, chủ nhân đã lượm được ra đến mươi mảnh trấu”.

Ông cụ Sáu nghe khách kể đến đấy, thích quá, vỗ đùi mình, vỗ đùi khách, kêu to lên:

– Giá cái lão ăn mày ấy sinh vào thời này, thì tôi dám mời anh ta đến ở luôn với tôi để sớm tối có nhau mà thưởng thức trà ngon. Nhà, phần nhiều lại toàn là ấm song ấm quý.

– Cổ nhân cũng bịa ra một chuyện cổ tích thế để làm vui thêm cái việc uống một tuần nước đấy thôi. Chứ cụ tính làm gì ra những thứ người lạ ấy. Ta chỉ nên cho nó là một câu giai thoại.

– Không, có thể như thế được lắm mà. Tôi chắc cái lão ăn mày này đã tiêu cả một cái sản nghiệp vào rừng trà Vũ Di Sơn nên hắn mới sành thế và mới đến nỗi cầm bị gậy. Chắc những thứ trà Bạch Mao Hầu và trà Trảm Mã hắn cũng đã uống rồi đấy ông khách ạ. Nhưng mà, ông khách này, chúng ta phải uống một ấm trà thứ hai nữa chứ. Chẳng nhẽ nghe một câu chuyện thú như thế mà chỉ uống với nhau có một ấm thôi.

Thế rồi trong khi cụ Sáu tháo bã trà vào cái bát thải rộng miệng vẽ Liễu Mã, ông khách nâng cái ấm quần ẩm lên, ngắm nghía mãi và khen:

– Cái ấm của cụ quý lắm đấy. Thực là ấm Thế Đức màu gan gà. “Thứ nhất Thế Đức gan gà; – thứ nhì Lưu Bội; – thứ ba Mạnh Thần”. Cái Thế Đức của cụ, cao nhiều lắm rồi. Cái Mạnh Thần song ẩm của tôi ở nhà, mới dùng nên cũng chưa có cao mấy.

Cụ Sáu vội đổ hết nước sôi vào ấm chuyên, giơ cái ấm đồng cò bay vào sát mặt khách:

– Ông khách có trông rõ mấy cái mấu sùi sùi ở trong lòng ấm đồng không? Tàu, họ gọi là kim hỏa. Có kim hỏa thì nước mau sủi lắm. Đủ năm cái kim hỏa đấy.

– Thế cụ có phân biệt thế nào là nước sôi già và nước mới sủi không?

– Lại “ngư nhãn, giải nhãn” chứ gì. Cứ nhìn tăm nước to bằng cái mắt cua thì là sủi vừa, và khi mà tăm nước to bằng mắt cá thì là nước sôi già chứ gì nữa”.

(Những Chiếc Ấm Đất trong Vang Bóng Một Thời – Nguyễn Tuân)

…………

Ngày xưa người ta lắng đọng tâm hồn vào chén trà ngay trước khi nó được pha, các cụ thưởng thức trà ngay từ tiếng reo của nước đang đun nên tinh tế phân biệt ba loại nước sôi: độ thứ nhất là nước sôi “giải nhãn” trông như mắt loài cua (mới chớm sôi); độ thứ nhì là “ngư nhãn” tức bọt nước lăn tăn trông giống như mắt đàn cá đang lội gần mặt nước (sôi vừa); cuối cùng là nước sôi to. (Chú thích của Nguyên Lạc trích  từ Trà Kinh Lục Vũ)

.

4. Cái thú trong khi ch đi

Uống trà, cái thú không phải chỉ lúc uống mà cả khi trong lúc đợi chờ. Mời bạn đọc những trích đoạn này:

– “Rồi người khách khom người chui qua cánh cửa nhỏ cao không quá ba bộ để vào gian phòng. Bất cứ khách nào, quyền quý hay thấp hèn, cũng đều như vậy cả nhằm ý nói với khách về đức tính khiêm hạ. Khách theo thứ tự trước sau chờ nơi trì hợp (machiai), từng người một khe khẽ bước vào nơi ấy, nghiêng đầu chào bức họa hay bình hoa cắm đặt nơi sàng gian (tokonoma), rồi vào chỗ ngồi của mình không gây một tiếng động, Khi tất cả khách mời đều an tọa và một sự tĩnh lặng thật sư ngự trị, ngoại trừ tiếng nước reo trong ấm sắt, chủ nhân mới bước vào phòng. Những miếng sắt xếp khéo léo dưới đáy ấm reo lên nghe rõ theo một giai điệu lạ kỳ tuồng như tiếng vọng của thác nước bị mây che khuất, nghe như tiếng biển nơi xa xăm dập dồn vỗ vào vách đá, tiếng phong ba quét rít qua các bụi tre rừng, hay tiếng thông reo trên ngọn đồi xa lắc”– (Trà Đạo – Bảo Sơn dịch từ cuốn The Book of Tea của Okakura Kakuzo)

– Trong truyện ngắn “Chén trà trong sương sớm”, Nguyễn Tuân còn thi vị hóa việc đun nước pha trà, cho từng hòn than ngọn lửa một linh hồn và linh hồn đó hòa nhập vào người thưởng trà:

 “Thỉnh thoảng, từ hòn than tự tiêu diệt buột ra một tiếng khô, rất khẽ và rất gọn. Thế rồi hòn than sống hết một đời khoảng chất. Bây giờ hòn than chỉ còn là một điểm lửa ấm ấp trong một cái vỏ tro tàn dầy và trắng xốp. Cụ Ấm vuốt lại hai mái tóc trắng, cầm thanh đóm dài đảo lộn tàn than trong hỏa lò, thăm hỏi cái hấp hối của lũ vô tri vô giác. CẤm bỏ thêm một vài hòn than hoa nữa vào hỏa lò. Than hoa không nổ lép bép như than tầu; nhưng từ ruột ấm đồng bị nung nấu đã lâu, có tiếng thở dài của khối nước sắp biến thể. Nước đã lên tiếng để nhắc người ta nghĩ đến nó.”- (Chén trà trong sương sớm – Nguyễn Tuân)

.

5. Các bài thơ gn đây v trà

– Thi sĩ Trần Phù Thế có bài thơ về trà:

Nhìn cốc trà bốc khói

Buổi sáng trời âm u

Cách ly, cách ly dịch

Một mình giỡn với thơ

.

Đưa cốc trà lên môi

Uống từng ngụm nho nhỏ

Nghe mùa thu than thở

Nghe mùa thu cựa mình

Hương trà như hương gái

Thơm thơm tuổi trăng rằm

Lòng ta như trẻ lại

Rộn ràng tuổi mười lăm

Nhâm nhi cốc trà sáng

Nghe lòng chút bình an …

(Buổi sáng uống trà một mình – Trần Phù Thế)

–  Thi sĩ Võ Thạnh Văn có bài thơ về trà:

Trà Vũ Di – Ấm Nghi Hưng

Lò đun gỗ quế. Nước chưng suối dòng

Hồn Lục Vũ – Phách Lô Đồng

Má thơm hương sớm. Môi hồng nhụy khuya

(Xuân Trà Tụng – Võ Thạnh Văn)

.

–  Thi sĩ Trần Bảo Kim Thư có bài thơ về trà:

Mỗi sáng nhấp môi mấy tách trà

Hương thơm thoang thoảng quyện bay xa

Thái Nguyên, Bảo Lộc … mùi tinh khiết

Long Tỉnh, Quan Âm … chất đậm đà

Cậu trẻ yêu đời luôn xoắn xuýt

Lão ông thích chí mãi khề kha

Sớm chiều đối ẩm cùng bè bạn

Rõ thú thanh nhàn đệ nhất đa!

(Trà – Trần Bảo Kim Thư)

.

–  Cảm xúc riêng của tác giả bài viết về trà:

a.

Thức dậy pha trà sáng nguyên xuân

Mời em, hãy cạn chén thơ anh!

Vị có ngọt ngào hay cay đắng

Vẫn chúc đời nhau vạn sự lành!

(Chén Trà Nguyên Xuân – Nguyên Lạc)

b.

Thiết quan âm, Trảm mã trà?

Hầu trà, Trinh nữ hay trà Kỳ Môn?

Sang hèn, danh lợi có không

Tri âm, tri kỷ chén lòng nhớ lâu

.

Mời người ta hãy cùng nhau

Chén trà nhân ái đẹp câu Đạo trà *

(Chén Trà Nhân Sinh- Nguyên Lạc)

…………

 Trong các bài thơ trên:

– Lục Vũ , Lô Đồng là các Trà thánh, Trà thần của Trung Hoa

– Ấm Tử sa Nghi Hưng: Thế Đức, Lưu Bội, Mạnh Thần là loại ấm trà/ trà hồ nổi tiếng của Trung Hoa

– Trảm mã trà, Hầu trà, Trinh nữ trà, Thiết Quan Âm trà – một loại Ô long trà (trà Oolong), Trà Vũ Di, Kỳ Môn Hồng trà … là những loại trà tàu có tiếng. Trà Thái Nguyên , Bảo Lộc là của Việt Nam.

– * Trà Đạo, tác giả Kakuzo Okakura (1862 – 1913), một nhà nghiên cứu về trà lừng danh của Nhật Bản. Ông  đã viết: “Trà Đạo là một tôn giáo lập ra để tôn sùng cái đẹp trong những công việc tầm thường của sinh hoạt hàng ngày. Nó là nghi thức của đức tinh khiết và sự hòa hợp; nó làm cho người ta cảm thấy sự huyền bí của lòng hổ tương nhân ái và ý nghĩa lãng mạn của trật tự xã hội”. Theo ông, triết lý của Trà Đạo không phải chỉ là một chủ nghĩa thẩm mỹ đơn giản theo ý nghĩa thông thường của nó, vì triết lý này cùng với luận lý và tôn giáo biểu thị tất cả quan niệm của chúng ta về con người và tạo hóa”.

Chúng ta sẽ gặp các điều kể trên lần lượt trong các phần sau.

.(Còn tiếp nhiều kỳ)

Nguyên Lạc

CHIỀU THU PHONG

Nguyên Lạc

2.
Chiều vàng lá thu phong
Tiếng thu động trong hồn
Có người đầu sương điểm
Đứng lặng vời thu không!
.
Chiều lá đổ thu phong
Đầy mắt vời vô vọng
Ra đi là vĩnh biệt
Đã biết rồi sao mong?
.

3.
Rót thêm một ly đầy
Nhòe mắt hương rượu cay
Chiều thu xưa lá đổ
Tiễn người hay hồn tôi?
.
Thu phong mây trắng bay
Tà huân tiếng thở dài
Cố nhân? Này ly đắng
Mời bóng ta cùng say!
.
Chiều tàn … Ly rượu nầy
Rót thêm mời ai đây?
Biệt li chiều thu ấy
Cố say …
Nhưng sao không?!
.
Nguyên Lạc

LỜI RU MẸ.

Nguyên Lạc


“Gió mùa thu mẹ ru con ngủ
Năm canh chầy thức đủ vừa năm” (Hát ru Nam bộ)

.
À ơi mẹ hỡi mùa thu
Mùa thu năm đó biệt mù con đi
Đem theo tàn mộng xuân thì
Bao năm chờ đợi… còn gì nữa đâu?!
.
Ngày về trông trước nhìn sau
Tìm đâu bóng mẹ? … “Trên đầu mây bay” 
Bao năm “cải tạo” đủ dài
Đủ cho mắt mẹ khóc ai hóa mù!
.
À ơi con hỡi mùa thu
Những lời ru mẹ nghìn thu vẫn còn
Bao năm mẹ đã ru con
Giờ con ru lại … lời buồn mẹ ru
.
À ơi con hỡi mùa thu
À ơi mẹ hỡi… Tìm đâu bóng hình?!
.
Nguyên Lạc

ĐỜI TRẢ LỜI CHO TA

Nguyên Lạc

ao dai trang1

Tranh Nguyễn Sơn

*
Ba mươi năm có đủ
Quên cuộc tình cũ xưa?
Ba mươi năm có đủ
Quên nỗi buồn tiễn đưa?
.
Chiều bên sông khói phủ
Mờ bóng hình dấu yêu
Thuyền trôi xuôi ra biển
Cô vạc khổ khóc chiều
Tím một dòng thê thiết!
Đắng một lòng hắt hiu!

*
Ba mươi năm có đủ?
Quên mối tình dấu yêu!
Đêm mắt đầy mong đợi
Người xa mãi … phương nào
.
Ba mươi năm cơ khổ
Bao mộng đời vỡ tan!
Lời dối gian giả ngụy
Thanh xuân ấy lụi tàn
.
Ba mươi năm mãi đợi
Mắt lệ nhòa xuân thu
Thời gian đâu chờ đợi
Người ở lại bạc đầu!

*
Chẳng thà không gặp nhau
Thì đâu buồn tiễn biệt!
Chẳng thà đừng hứa nhau
Thì trăm năm đâu là …!
.
Ba mươi năm có đủ?
Đời trả lời cho ta!
Cho nỗi buồn đưa tiễn
Chiều khói phủ sông xưa

*
Chẳng thà đừng gặp lại
Mãi một nỗi mong chờ
Gặp chi buồn mắt đợi?
Nhạt màu tình xưa xa!
.
Ai bây giờ lạ lẫm
Đâu người cũ năm xưa!
Nhìn nhau đầy mắt lạ
Đã từng quen biết chưa?!

*
Ba mươi năm dài đủ?
Để riêng đời nhớ mong!
Gặp chi rồi chia ngả
Người còn nhớ chi không?
.
Ba mươi năm chắc đủ
Quên hứa nào phải không?
Phải chi đừng gặp lại
Giữ hình bóng riêng lòng!

*
Ba mươi năm hoài phí
Cả một thời thanh xuân!
Lạnh lùng … người bước vội
Kẻ hụt hẫng … lưng tròng!

*
Người. lại rồi xứ lạ
Ta. một trời hư không!
.

ĐỌC THƠ CỔ NHỚ NGƯỜI XƯA : NGUYỄN DU

Nguyên Lạc

THƠ TƯỞNG NIỆM NGUYỄN DU

nguyen-duNhân kỷ niệm 200 năm ngày mất của Đại thi hào Tiên Điền Nguyễn Du (1820- 2020) tôi làm bài thơ tưởng niệm này:

TƯỞNG NIỆM NGUYỄN DU
.
“Bất tri tam bách dư niên hậu
Thiên hạ hà nhân khấp Tố Như” *

*
Nến trầm đêm đọc người xưa
“Thập loài văn tế” xót xa hồn này
Tiên Điền thơ cổ kinh thay
Rợn hồn từng chữ từng lời oan khiên
.
“Còn chi ai quí ai hèn
Còn chi mà nói ai hiền ai ngu
Một phen thay đổi sơn hà
Mảnh thân chiếc lá biết là về đâu” [1]
.
“Long thành cầm giả” khúc đau
Ngậm ngùi thơ cổ bể dâu cuộc đời
Sắc hương đệ nhất một thời
Ðàn cầm thánh thoát giờ rồi tàn phai [2]
.
Trăm năm thoáng chốc thở dài
Bồi hồi chuyện cũ thương ai mà buồn
Động lòng khói sóng Tiền Đường [3]
Thương Kiều phận bạc “Đoạn trường tân thanh”
.
Hai trăm năm đấng tài danh
Bài thơ tưởng niệm con dâng tặng người
Đất nước tôi dân tộc tôi
Nguyễn Du hai chữ rạng ngời Việt Nam
……………
* Không biết hơn ba trăm năm sau/ Thiên hạ ai người khóc Tố Như?- Độc Tiểu Thanh ký- Nguyễn Du
[1] Câu thơ trong “Văn tế thập loại chúng sinh” – Nguyễn Du
[2] Quái để giai nhân nhan sắc suy/ Song nhãn trừng trừng không tưởng tượng/ Khả liên đối diện bất tương tri – “Long thành cầm giả ca” – Nguyễn Du
[3] Thúy Kiều trầm mình trên sông Tiền Đường- Đoạn Trường Tân Thanh
.
Nguyên Lạc
.
BÀI THƠ TƯỞNG NIỆM CỦA LÂM THANH SƠN

Sẵn đây, tôi xin giới thiệu đến các bạn thêm bài thơ tưởng niệm Nguyễn Du của bạn Lâm Thanh Sơn, ở Hà Nội – một trong những người thuộc nhóm Tình Tự Dân Tộc chúng tôi, nhóm quyết chí giải oan cho đại thi hào Nguyễn Du – cụ bị “ai đó” kết án “đạo văn” Kim Vân Kiều Truyện của Tàu, “bê nguyên xi” truyện này dịch ra văn vần: Đoạn Trường Tân Thanh- Truyện Kiều. [*]
Link nhóm Tình Tự Dân Tộc:
https://www.facebook.com/groups/1141641829504367/?hc_location=ufi
Đây là bài thơ tác giả Lâm Thanh Sơn gởi đến tôi:

NHỚ NGUYỄN DU
Kính Gởi Cụ Tiên Điền
( Nhân kỷ niệm 200 năm ngày mất của Đại thi hào Nguyễn Du 1820- 2020 ).
Lâm Thanh Sơn
.
Hai trăm năm đã trôi qua
Hoa tàn, trăng khuyết xót xa những chiều
Đâu Kim Trọng, đâu Thuý Kiều?
Ai làm tan những lời yêu đá vàng …

Giai nhân, tài tử bẽ bàng
Long thành nức nở tiếng đàn Cầm ca
Mấy triều đại ấy trôi qua
Ngai vàng, điện ngọc hoá ra bụi rồi

Chỉ còn lại bấy nhiêu lời
Giữa nhân gian với cuộc đời đảo điên
Nào ai vua sáng, tôi hiền
Triều sau, sóng trước triền miên cõi người

Anh hùng cũng đến thế thôi
Văn nhân, thy sỹ cũng đời bỏ đi
Bảng vàng, bia đá ra gì
Ngàn năm dầu dãi khắc ghi hận lòng

Lối người xưa phủ rêu phong
Một lời một vận vào vòng tai ương
Con nghe trong sóng Tiền Đường
Chiều nay ngào nghẹn đoạn trường tân thanh …!
.
LỜI KẾT
“Truyện Kiều còn, tiếng ta còn. Tiếng ta còn, nước ta còn” (Phạm Quỳnh)
Bài diễn thuyết về Truyện Kiều này được Phạm Quỳnh đọc nhân lễ kỷ niệm ngày giỗ Nguyễn Du vào ngày 8 tháng 12 năm 1924, tức ngày mồng 10 tháng 8 năm Giáp Tý do Hội Khai trí tiến đức của ông tổ chức.

Nhân đọc lại dòng thơ cổ làm rạng danh nước Việt, tôi đốt 3 nén hương trầm để tưởng nhớ đến người xưa, đến công ơn của tiền nhân: Đại thi hào Nguyễn Du, người đã đóng góp biết bao công sức cho nền văn học nước nhà.
.
Nguyên Lạc
……………
[*] Đổng Văn Thành – China cho rằng: “Nguyễn Du chẳng những chỉ mượn đề tài của tiểu thuyết Trung Quốc mà dường như bê nguyên xi […]. Nguyễn Du không có bất kỳ một sáng tạo mới nào, chỉ chuyển thuật khá trung thực nội dung tiểu thuyết của Thanh Tâm Tài Nhân…” [ “Minh Thanh tiểu thuyết luận tùng” GS. Đổng Văn Thành – Theo Phạm Tú Châu “So sánh Truyện Kim Vân Kiều Trung Quốc và Việt Nam”]
“So sánh Truyện Kim Vân Kiều Trung Quốc và Việt Nam”
http://www.talawas.org/talaDB/showFile.php?res=5966&rb=0102

@ Mờii đọc :
– “Long Thành Cầm Giả Ca” của Nguyễn Du
http://www.art2all.net/tho/laiquangnam/lqn_nguyendu_longthanhcamgiaca_gioithieu.htm

ĐỌC THƠ CỔ NHỚ NGƯỜI XƯA: LÝ THUỜNG KIỆT

Nguyên Lạc

ban dap lap

ĐỌC THƠ CỔ: NAM QUỐC SƠN HÀ
.
1. Bài cảm xúc 1

“Kẻ sĩ phương Nam ai đâu hở ?
Trực chỉ theo ta phận má đào
Biển Đông ngày hội non sông mở” [*]
Cùng giữ giang sơn hỡi đồng bào
.
1.
Kẻ sĩ phương Nam ở nơi nào?
Rượu bia bóng đá luận anh hào!
Khóc la mê đắm ca sĩ lạ!
Quên mất cha ông đổ máu đào!
.
Kẻ sĩ phương Nam ở nơi nào?
Tào lao ngất ngưởng hút thuốc lào!
Biệt phủ bồ đào quên nhiễu sự
Đâu biết ngư dân khổ thế nào!
.
2.
Kẻ sĩ phương Nam vẫn thét gào
Chỉ vào giặc Bắc nước của tao
Nghịch ý trời phân, bây dám phạm
Toi đời, tiêu mạng với dân tao
.
“Nam quốc sơn hà Nam đế cư
Tiệt nhiên định phận tại thiên thư
Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm
Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư” [**]
.………….
[*] Thơ Phạm Thanh Vân
[**] Nam quốc sơn hà – Lý Thường Kiệt
.
2. Bài cảm xúc 2
.
Khóc đợi bao năm mà trời chưa sáng!
Mù bấy nhiêu năm chưa thấy bình minh!
Buồn lòng thay thảm cảnh quê mình
Ai thục nữ anh hùng? Hãy cùng dựng xây đất nước!
.
Đừng ngồi đó gục đầu sướt mướt
Hãy xăn tay bồi đắp sơn hà
Hãy nhớ ơn xương máu ông cha
Quyểt giữ vẹn cơ đồ tiên tổ?
.
LÝ THUỜNG KIỆT

1. Tiểu sử:
Lý Thường Kiệt (1019 – 1105) là một nhà quân sự, nhà chính trị rất nổi tiếng vào thời nhà Lý nước Đại Việt. Ông làm quan qua ba triều Lý Thái Tông, Lý Thánh Tông, Lý Nhân Tông và đạt được nhiều thành tựu to lớn, khiến ông trở thành một trong hai danh tướng vĩ đại nhất nhà Lý:
Ông nổi bật với việc chinh phạt Chiêm Thành (1069), đánh phá 3 châu Khâm, Ung, Liêm nước Tống (1075-1076), rồi đánh bại cuộc xâm lược Đại Việt của quân Tống do Quách Quỳ, Triệu Tiết chỉ huy (1077). Ông đã làm tể tướng hai lần dưới thời Lý Nhân Tông và là một trong 3 người phụ chính khi vua này còn nhỏ tuổi. Năm 2013, Bộ Văn hóa, Thể và Du lịch liệt ông vào trong những 14 vị anh hùng dân tộc tiêu biểu nhất trong lịch sử Việt Nam.

2. Bài hịch/ thơ Nam Quốc Sơn Hà
Năm 1076, (tức đời Tống Hy Ninh năm thứ 9). Mùa xuân, tháng 3, nhà Tống sai viên tướng sừng sỏ Quách Quỳ đem quân sang xâm lấn nước ta; hợp với quân Chiêm Thành và Chân Lạp ba mặt giáp công.
Tại sông Như Nguyệt, Lý Thường Kiệt dùng một diệu kế: Ông kỷ lưỡng chọn một ngôi miếu vốn nổi tiếng linh thiêng, “đền thờ thần sông ” nằm ở phía nam sông Như Nguyệt – đền thờ hai vị anh hùng Trương Hát & Trương Hống, vốn là hai võ tướng dưới thời Triệu Quang Phục – đọc bài Hịch/ thơ “Nam Quốc Sơn Hà” – bài thơ đã được xem là tuyên ngôn độc lập đầu tiên của đất nước. Hơn một ngàn năm trôi qua bài thơ vẫn còn và sẽ còn tồn tại mãi, không bao giờ đi vào quên lãng trong hồn người Việt.
Thật là một diệu kế của một danh tướng. Trong thế trận tưởng đã nghiêng về phía quân Tống, bổng đảo chiều khi binh sĩ nghe bài thơ phát ra từ miếu thần.
.
” Một đêm quân sĩ chợt nghe ở trong đền của Trương tướng quân là thần sông Như nguyệt, có tiếng đọc to rằng:
Nam quốc sơn hà Nam đế cư
Tiệt nhiên phân định tại thiên thư
Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm?
Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư!
.
Dịch thơ:
(Núi sông nước Nam thì vua Nam ở
Cương giới đã ghi rành rành ở trong sách trời
Cớ sao lũ giặc bạo ngược kia dám tới xâm phạm?
Chúng bay hãy chờ xem, thế nào cũng chuốc lấy bại vong
Nam quốc sơn hà – Lý Thường Kiệt)
.
Khí thế quân Nam trở nên bừng bừng như có thần nhân hổ trợ, Tống quân bị tổn thất nặng nề. Quân Tống tiến thoái lưỡng nan từ dạo ấy. Lý Thường Kiệt đề nghị giảng hòa nhằm giảm sự khổ đau cho nhân dân. Quách Quỳ thấy kéo dài là sẽ thua nên thuận lui binh. ” [Theo Laiquangnam và Wikipedia]
.
Nhân đọc lại dòng thơ cổ yêu nước, tôi đốt 3 nén hương trầm để tưởng nhớ đến người xưa, đến công ơn của tiền nhân đã đổ ra biết bao xương máu để xây dựng và bảo vệ nước nhà.
.
Nguyên Lạc

ĐỌC THƠ CỔ NHỚ NGƯỜI XƯA: ĐẶNG DUNG

Nguyên Lạc

tranh 1=dang dung

Tranh của Trần Duy Thuận

ĐỌC THƠ CỔ: CẢM HOÀI
.
1. Bài cảm xúc 1
.
Phí chi bút mực anh hùng luận?
Ai người nước Việt hãy cùng ta
Nói chi cho lắm mòn chữ nghĩa?
Xăn áo cùng nhau giữ sơn hà!
.
“Quốc thù vị báo đầu tiên bạch,
Kỷ độ Long Tuyền đới nguyệt ma” *
“Đầu bạc giang san thù chưa trả” **
Mấy độ mài gươm dưới trăng tà
.
Ngàn năm vẫn nhớ lời thơ cổ
Rạng đấng hùng anh của nước nhà
Hoài Cảm Đặng Dung lời thê thiết
Nén trầm tôi kính … mắt lệ nhòa!
………..
* Câu thơ trong bài Cảm hoài – Đặng Dung
** Tản Đà dịch
.
2. Bài cảm xúc 2
.
“Quốc thù vị báo đầu tiên bạch,
Kỷ độ Long Tuyền đới nguyệt ma”
.
Dưới trăng mài kiếm Long Tuyền
Mài luôn cho bén lời nguyền nước non
Thề rằng quyết giữ vẹn toàn
Giang sơn gấm vóc mãi còn thiên thu
“Tiệt nhiên định phận thiên thư” +
Kiếm này ta chém giặc thù xâm lăng!
………
+ Nam Quốc Sơn Hà – Lý Thường Kiệt
.
PHÂN TÍCH HAI CHỮ ANH HÙNG

“Anh” trong “anh hùng’ có nghĩa là tốt đẹp, tài hoa hơn người, kiệt xuất, xuất chúng. Nghĩa gốc của chữ “anh” là loài hoa đẹp nhất.
Còn “hùng” trong “anh hùng” có nghĩa là người dũng mãnh tài giỏi, siêu quần, kiệt xuất
Anh hùng: Nhân vật phi phàm xuất chúng, chỉ người có kiến giải, tài năng siêu quần xuất chúng.
.
ĐỊNH NGHĨA ANH HÙNG
“Anh hùng là hành động của một người vì đại cuộc không xem sự sống chết của mình là quan trọng tuyệt đối, sống vì tha nhân, hy sinh vì dân tộc, cho dù có phải chết thì vui lòng đón nhận. Khi bàn đến hai từ “anh hùng” thì ý niệm thành công không nằm trong thuộc tính định nghĩa cho từ đó. Thử tra hai từ Heros trong các bộ Encyclopedia thì biết. Đông Tây đều định nghĩa như thế” (Laiquangnam)
.
LUẬN ANH HÙNG
Ta thử luận về vài nhân vật nổi tiếng được cho là anh hùng:
.
1. Kinh Kha
– Nhân vật Kinh Kha này ai cũng biết qua việc hành thích Tần Thủy Hoàng. Nhân vật này thường được nhiều người Việt nhắc đến, ca tụng trong nhiều bài văn thơ. Suy gẫm chuyện Kinh Kha, tôi thấy ông ta đâu phải là người anh hùng.
Nguyễn Du đã chê bai: Kinh Kha đi thích khách Tần Thủy Hoàng chỉ vì có người biết đến mình và vì sự đối đãi thừa mứa. Kinh Kha chỉ là một con rối, hành động không vì tấm lòng trung dũng (diệt kẻ tàn bạo, phò người đức độ), đâu có hy sinh vì dân tộc, mà hành động chỉ vì sự mua chuộc và kích động của người khác.
Đây là trích đoạn bài thơ chữ Hán của Nguyễn Du, phần chê bai Kinh Kha.
.
Thần dũng nghị nhiên duy độc quân.
Đồ đắc Điền Quang khinh nhất vẫn.
Khả liên vô cô Phàn Ô Kỳ,
Dĩ đầu tá nhân vô hoàn thì.
Nhất triêu uổng sát tam liệt sĩ,
Hàm Dương thiên tử chung nguy nguy.
(Kinh Kha Cố Lý– Thơ chữ Hán Nguyễn Du)
.
Dịch thơ
Liều thân chỉ vì kẻ biết mình,
Huống được Điền Quang tự đâm cổ.
Khá thương Phàn Kỳ chẳng tội chi.
Đem đầu cho mượn chẳng hoàn gì.
Một sớm chết oan ba liệt sĩ.
Hàm Dương, Thiên tử vẫn uy nghi.
(Nhất Uyên dịch)
.
Kinh Kha là nhân vật Tàu, người Tàu có ca tụng hay không là chuyện của họ; tại sao ta là người Việt mà lại ca tụng, vinh danh?!
– Anh hùng là như Đặng Dung của VIỆT NAM ta đây, ta hãy thử luận bàn về nhân vật này.
.
2. Đặng Dung
Đặng Dung (1373 – 1414) con trai của Đặng Tất. Ông là tướng lĩnh của vua Trùng Quang Trần Quý Khoáng – nhà Hậu Trần trong lịch sử Việt Nam.
Theo Đại Việt sử ký toàn thư:
Các vị anh hùng -dưới sự lãnh đạo của Đặng Dung đã đánh nhau ròng rã trên dưới bảy năm (1407-1413) với 80 vạn quân dân binh Minh do Trương Phụ đẫn đạo xâm lấn Việt Nam, một binh lực hơn hẳn mình nhiều lần
.
“Chuyện khó tin trong binh sử thế giới, trường hợp hy hữu này duy chỉ có trong quân sử Đại Việt. Khi vị tướng tư lệnh lại là cầm đầu toán người nhái cảm tử rất gọn nhẹ đánh thẳng vào sào huyệt kẻ tử thù. Tháng 8/1413, được biết quân Trương Phụ vào đến Thuận Hóa, và kéo binh tập kết vào ngã ba sông này để tổ chức cuộc săn đuổi vua quan Hậu Trần đang đóng quân ở trên bờ; quan thái phó Nguyễn Súy và quan đại tư mã Đặng Dung nửa đêm chia quân đến đánh Trương Phụ. Quan thái phó Nguyễn Súy dùng thuyền nhẹ đánh nghi binh, giặc Minh trào về phía Nguyễn Suý, và thừa lúc đó Quan tư mã Đặng Dung lao mình xuống nước trước, hơn mươi chiến sĩ cảm tử quân lao theo sau. Họ bơi nhanh về phía thuyền lớn nhất, sáng nhất trên sông. Từ dấu hiệu của Đặng Dung, bọn họ leo lên được thuyền của Trương Phụ, dùng đoản đao thịt lẹ các tên lính trên sàn. Họ nhào vào tên mập mạp nhất, phương phi nhất và đã bắt sống tên này, lôi y xuống nước. Y la lên. Do vì không biết thường ngày tên Trương Phụ mặc quần áo gì, do chưa thấy mặt kẻ thù lần nào, nên họ đã bắt lầm. Thừa cơ Trương Phụ lập tức nhảy xuống sông lấy cái thuyền con mà chạy thoát.”(Laiquangnam)
Đánh nhau ròng rã trên dưới bảy năm (1407-1413) với một binh lực hơn hẳn mình, có lúc quân đội Đặng Dung cũng đã thắng nhiều trận lẫy lừng, nhưng dài hơi thì cuộc đọ sức đã không cân sức. Than ôi! ông đã bại trận! Trên đường bị bắt đưa về Yên Kinh ( Bắc Kinh ngày nay) để làm nhục, vua tôi Đặng Dung đã ca hát như không có chuyện gì xảy ra, thắng bại là lẽ thường tình đối với người tráng sĩ một khi họ đã toàn tâm toàn ý, hết lòng, hết sức vì dân tộc. Đặng Dung, trong vai trò lãnh đạo cuộc kháng chiến, đã ngâm cho vua tôi nghe bài thơ Cảm Hoài này, vừa ngâm vừa gõ nhịp xuống ván gỗ thuyền, cùng vui và sẵn sàng đón nhận mọi sự trả thù tàn bạo của kẻ thù. Trên đường bị giải về Yên Kinh, Trung Quốc ông và vua Trùng Quang đã nhảy xuống sông tự vẫn.
Qua các điều trên, rõ ràng ta thấy Đặng Dung mới xứng đáng hai chữ anh hùng
.
3. Bài thơ Cảm Hoài
Đây là bài thơ Cảm Hoài (Nỗi niềm hoài bão) của Đặng Dung.
Bài thơ này là một bản anh hùng ca mang tâm trạng về thế sự, trong ấy thể hiện rõ phong cách của người tráng sĩ, người anh hùng trong cơn quốc nạn. Lý Tử Tấn, một học giả thời Lê, tác giả Chuyết Am văn tập, khi đọc bài thơ này đã hết lời ca tụng người sáng tác ra nó là “phi hào kiệt chi sĩ bất năng” (không phải là kẻ sĩ hào kiệt thì không thể sáng tác được như vậy).
.
Cảm Hoài
.
Thế sự du du nại lão hà
Vô cùng thiên địa nhập hàm ca
Thời lai đồ điếu thành công dị
Vận khứ anh hùng ẩm hận đa
Trí chúa hữu hoài phù địa trục
Tẩy binh vô lộ vãn thiên hà
Quốc thù vị báo đầu tiên bạch
Kỷ độ Long Tuyền đái nguyệt ma.
.
Tạm dịch nghĩa:

Nối Niềm Hoài Bảo

Thế sự mang mang lại tuổi già
Thiên hạ thì vô cùng hãy nhập vào mà hát hàm ca
Thời đến bọn đồ tể, bọn câu cá cũng thành công dễ dàng
Thời qua anh hùng cũng đành nuốt hận
Hết lòng vì chúa có hoài bão xoay trục đất
Rửa giáp binh không lối kéo ngược dòng sông ngân hà
Thù nước chưa báo thì đầu bạc trước
Bao thời qua đội trăng mà mài kiếm long tuyền.
.
Vua Lê Thánh Tôn có tặng cho dòng dõi họ Đặng hai câu thơ:
Quốc sĩ vô song, song quốc sĩ
Anh hùng bất nhị, nhị anh hùng
.
Nhân đọc lại dòng thơ cổ yêu nước, tôi đốt 3 nén hương trầm để tưởng nhớ đến người xưa, đến công ơn của tiền nhân đã đổ ra biết bao xương máu để xây dựng và bảo vệ nước nhà.
.
Nguyên Lạc
…………….
@ Mờii đọc :
– Đặng Dung với Cảm Hoài, phần 1
http://www.art2all.net/tho/laiquangnam/lqn_dangdung_p1.htm
– Niệm Đặng Dung của Phạm Ngọc Lư
http://www.art2all.net/chantran/chantran_tho/phamngoclu/niemdangdung.html

TÌNH BUỒN CA DAO LỤC BÁT 1

Nguyên Lạc

tran din cuon

Trang Đinh Cường

I. Tình Bậu Duyên Quê

“Bậu như con vịt chết chìm
Thò tay qua vớt, cá lìm kìm cắn tay” [*]

*
Rạch nhỏ hai bên có hàng bần
Rụng bông quyến dụ cá lòng tong
Trên bờ thương bậu tìm lưới vó
Vớt cá lòng tong, cá ròng ròng

*
Lòng tong và cá ròng ròng
Kho tiêu cho bậu đừng hòng quên qua
Ví dù bậu có xa ta
Mùi cá kho tộ chắc là … khó quên?
.
Bậu xa qua sống mình ên!
Chiều chiều ra rạch buồn tênh … qua tìm
Lục bình trôi xuống trôi lên
Bậu như con cá lìm kìm … mất tăm
.
Bậu còn nhớ cá lòng tong
Kho tiêu cùng cá ròng ròng. bậu ăn?
Tình qua bậu nhớ hay không?
Duyên quê kho cá lòng tong … ròng ròng! [**]
………..
[*] Má ơi ! Con vịt nó chết chìm
Con thò tay xuống vớt cá lìm kìm nó cắn tay con” [Ca dao]
[**] Ròng ròng:- Cá lóc con/ – Khóc ròng ròng
.
.
II. Bậu Đi
.
Tìm em “mút chỉ cà tha”*
“Mút mùa lệ thủy” xót xa khôn cùng
Thấy trăng rụng xuống đáy sông
Nghe sầu trĩu nặng đoạn lòng bi thương
.
Bậu quên lời hứa tình chung
Bao năm qua kíếm nghìn trùng dấu chim
“Tìm em như thể tìm chim
Chim bay biển Bắc anh tìm biển Đông”
.
Buồn tình cá đớp bóng trăng
Buồn qua đêm vắng trái bần rụng rơi
Vị bần chua lắm bậu ơi
Vị đời cay đắng bậu rồi mù không
.
Huơ tay lạnh một chỗ nằm
Chăn nghiêng gối lệch mất tăm bậu rồi
Ngã ba ngã bảy dòng đời
“Mút mùa lệ thủy” tìm “lòi con ngươi”
.
Bậu rồi như áng mây trời
Sông xưa tím biếc hoa trôi lục bình
Bậu đi để lại mùi hương
Bậu đi để lại đoạn trường trong qua
.
Nhớ bậu nhớ cháo le le
Ngọt canh bông bí ngọt chè hột sen **
……….
* “Mút chỉ cà tha”,”Mút mùa lệ thủy” : Phương ngữ Nam bộ với nghĩa hoài hoài, tận cùng, rất xa … Cũng có nghìa là miên viễn.
** Thương chồng nấu cháo le le/ Nấu canh bông bí nấu chè hạt ( hột) sen – ca dao
.
Nguyên Lạc

NƯỚC MẮT QUÊ HƯƠNG

Nguyên Lạc

khoc1
Sáng hôm nay
góc quán cà- phê xứ người. thả hồn theo khói thuốc bay
Lặng ngắm từng giọt cà-phê sầu đọng đáy ly
Ngắm vui vẻ phố chợ kẻ đến người đi
Sao nhớ quá ánh mắt quê hương
và câu vọng cổ một thời đã mất
.
Nhớ hôm nao
cùng nhau xuống vùng ruộng thấp
Gió nhẹ nhàng đưa đẩy lúa sữa mởn đòng đòng
Em nơm bắt được một con cá lóc
Chuối đọt non quấn nướng cùng thỏa lòng. em nhớ không?
.
Bên ly rượu đế hai ta cùng nhắm
Câu vọng cổ em ca hòa theo tiếng nhạc anh đàn
Tiếng hát em. ánh mắt nụ cười sâu lắng
Ngất ngây ta uống “nước mắt quê hương” [*]
.
Đất nước ta không phải thiên đường
Thiên đường hở? Chỉ ở mép môi ai đó
Quê hương ta một thời khốn khó
Chúng ta uống say. quên đời. ngày đó. em nhớ hay quên?
.
Say! chúng ta say “nước mắt quê hương”
Rượu Tây dành riêng nhóm nói “thiên đường”
Nhóm “đổi đời”. chủ biệt phủ xênh xang
Say! chúng ta say bên ly rược đế. cùng câu ca vọng cổ
.
“Nước mắt quê hương” và câu ca vọng cổ
Thương lắm em ơi nỗi khổ quê mình!
Thảm lắm em ơi đất nước điêu linh!
Người lữ khách sáng nay
bên tách cà- phê sao hồn quá đắng?
.
Ai gởi giùm tôi chút đường cho cà-phê bớt đắng
Tôi gởi đến em … giọt nước mắt cho quê hương
Giọt lệ này tôi khóc cho hai chữ “thiên đường”
Em tôi ơi! Đoài phương đó. ruộng năm cũ vẫn còn con cá lóc?
.
Sáng hôm nay
góc quán cà-phê xứ người. thả hồn theo khói thuốc bay
lữ thứ thở dài. tuyết sương màu tóc
thẫn thờ lòng muốn khóc
Ôi nhớ làm sao!
Câu vọng cổ một thời và ánh mắt em thương
.
Nguyên Lạc
………………..
[*] “Nước mắt quê hương” là rượu nếp – rượu đế – tiếng gọi thân mật của người dân miền Nam

MÙA ĐÔNG SẼ DÀI: LONG SERA D’HIVER

Nguyên Lạc

snow

PAUL MAURIAT

Bản nhạc “Long sera l´hiver” được sáng tác bởi nhạc sĩ Jacques Plante và Claude Carrère 1968, được ca sĩ Sheila thâu vào dĩa lần đầu, sắp xếp và dàn dựng bởi Paul Mauriat.
Vài hàng về Paul Mauriat:
Paul Julien André Mauriat nhà soạn nhạc kiêm nhạc trưởng dàn nhạc Le Grand Orchestre de Paul Mauriat. Ông là người Pháp. Những bản hit nổi tiếng như Love is Blue, El Bimbo, Toccata, Penelope…
Paul Mauriat và một số nhạc sĩ khác cổ động cho phong trào nhạc nhẹ – the easy listening – ai nghe cũng hiểu và cảm được, khác với nhạc cổ điển – muốn thưởng thức nhạc cổ điển cần phải có “căn bản” kiến thức âm nhạc tối thiểu.
.
BẢN NHẠC LONG SERA D’HIVER

Bản nhạc “Long sera l´hiver”, rất phổ biến thập niên 60 -70, tình cờ tôi được nghe lại và rất thích nên muốn chuyển dịch lời nhạc thành thơ, chia sẻ cùng các bạn.
Đây là đường link dẫn tới bản nhạc “Long sera l´hiver”:
Không lời:
https://youtu.be/2tBIArfBcH8
Có lời:
Sheila – Long Sera L’Hiver
https://youtu.be/ampKesGS5B8
Bài hát rất hay, tôi xin ghi ra nguyên văn bài hát – tiếng Pháp, cùng lời dịch tiếng Anh và sẵn dịp tôi phóng dịch ra thơ tiếng Việt:

1. Nguyên tác – lời nhạc Pháp
.
Long sera d’hiver
.
Long sera l´hiver, my love!
Tu n´es plus près de moi
Je me sens si seule
Dans la neige et le froid
.
Long sera l´hiver, my love!
Le monde est sans pitié
Pour tous ceux qui s´aiment
Et qui sont séparés
.
Et la Terre toute entière
Ne courbe les roseaux
Que c´est triste, un ciel gris
Sans aucun chant d´oiseau
.
Oui, j’ai tant besoin de toi
Oui, car je m’ennuie sans toi
Ici, où tout est sombre et désert
.
Long sera l’hiver, my love!
Mais je me suis jurée
Qu’au premier soleil
J’irai te retrouver
.
Ni les mers, ni les terres
Ne pourront m’arrêter,
De frontière en frontière
Vers toi, je m’en irai
Et tu ouvriras les bras
Oui, et tu me garderas, là-bas
.
Long sera l’hiver, my love!
Et tu ouvriras les bras
Oui, et tu me garderas, là-bas
Long sera l’hiver mais nous aurons gagné
De rester ensemble pour l’éternité
.
Long sera l’hiver, my love!
.
2. Phóng dịch thành thơ lời Việt

Tôi tạm phóng dịch thành thơ lời Việt như sau:
.
Mùa đông sẽ dài
.
Mùa Đông sẽ dài em ơi
Em không còn ở bên tôi
Đơn côi anh đang đơn côi
Bên trời buốt lạnh tuyết rơi
.
Mùa đông sẽ dài em ơi
Tàn nhẫn, tàn nhẫn cuộc đời
Sao buộc người thương yêu nhau
Chịu cảnh ly biệt xa rời?
.
Tuyết đừng phủ cong lau lách
Buồn lắm xám thẫm bầu trời
Buồn lắm không tiếng chim hót
Khắp cùng trái đất người ơi!
.
Rất cần em cạnh bên tôi
Mọi thứ không em chán rồi
Nơi đây tối tăm vắng vẻ
Nhưng tôi tự thề tôi sẽ
Tìm em khi trời vừa lên
.
Biển cả núi đồi biên giới
Không đâu ngăn cản được tôi
Và em sẽ rộng vòng tay
Ôm tròn giữ tôi ở đó
.
Mùa Đông sẽ dài em ơi
Và em sẽ rộng vòng tay
Em trọn giữ tôi ở đó
Mùa đông sẽ dài chắc thế
Nhưng sao thắng được chúng ta
Mãi bên nhau chẳng lìa xa
.
Mùa Đông sẽ dài em ơi
.
LỜI KẾT
Long will be Winter/ Long sera l´hiver tôi dịch là “Mùa đông sẽ dài”, nếu các bạn nào thích dịch thành “Lâu quá sẽ thành mùa Đông” thì tùy. Tuy nhiên, hãy nhớ rằng: Ta đừng để như vậy, hãy “hâm nóng tình” lên nha bạn hiền!
Chúc hạnh phúc.
.
Nguyên Lạc
………………
@. Phụ lục:

1. Bản nhạc chuyến dịch lời Anh

Long will be Winter
.
Long will be winter, my love!
You’re not near me anymore.
I feel so alone
In the snow and cold
.
Long will be winter, my love!
The world is merciless
For all those who love
And that are separated
.
And the whole Earth
Do not bend the reeds
How sad, a grey sky
Without any bird song
.
Yes, I need you so much.
Yes, because I’m bored without you
Here, where everything is dark and deserted
.
Long will be winter, my love!
But I swore
That at the first sun
I will find you
.
Neither the seas nor the lands
Can’t stop me,
From border to border
To you, I will go
And you will open your arms
Yes, and you will keep me there
.
Long will be winter, my love!
And you will open your arms
Yes, and you will keep me there
Long will be winter but we will have won
To stay together for eternity
.
Long will be winter, my love!
.
2. Vài hàng về nhạc EASY LISTENING
Nhạc cổ điến hầu như “thống trị” suốt thế kỹ 17,18,19 phương Tây, muốn thưởng thức nhạc này cần phải có “căn bản” kiến thức âm nhạc tối thiểu. Hình như chúng dành cho tầng lớp ” thượng lưu trí thức”, “trưởng giả”.
Paul Mauriat, Franck Pourcel và một số nhạc sĩ khác là những người đầu tiên khởi xướng về loại nhạc nhẹ êm dịu – the easy listening, ai nghe cũng hiểu và cảm được – ở những nơi như là phòng khách, phòng đợi khách sạn v.v…
Hiện nay có thêm nhạc êm dịu New Age
Về nhạc Easy listening hiện nay các ca nhạc sĩ có tếng là Andrea Bocelli, Cesaria Evora, Julio Iglesias …
– Julio Iglesias: một ca sĩ, nhạc sĩ người Tây Ban Nha, ông là ca sĩ có dĩa bán chạy nhất trong lịch sử trong thể nhạc Latin và cũng là một trong những ca sĩ có đĩa bán nhiều nhất thế giới. Phạm Duy có chuyển lời Việt vài bài. Tôi có nhiều kỹ niệm với bài La Paloma do ông hát trước 75. Ca sĩ Lệ Thu có hát bài lời Việt: Cánh Buồm Xa Xưa
. La Paloma – Julio Iglesias
https://youtu.be/CZfN2y7tgfE
. Cánh Buồm Xa Xưa (La Paloma) – Giọng ca Lệ Thu
https://youtu.be/kgmZAtNhYKw
– Andrea Bocelli là ca nhạc sĩ người Ý- ông là người khiếm thị/ blind man từ 5 tuổi.
Bài tôi thích nghe ông hát là Bésame Mucho/ Kiss me a lot (nghĩa là “Hãy hôn em thật nhiều”)
. Andrea Bocelli – Besame Mucho
https://youtu.be/fTxcrjBGves
– Cesária Évora (1941 – 2011) là nữ ca sĩ nổi tiếng người Cabo Verde/ Cape Verde – Tây Phi, với biệt danh “barefoot diva” (“nữ danh ca chân trần”) vì khi biểu diễn bà không mang giày dép.
. Cesaria Evora – Besame Mucho
https://youtu.be/LLsg_Lk819s
– Yanni là nhạc sĩ người Hy Lạp – Greek, ông đang sống ở Mỹ với những album nhạc New Age rất hay.
. Yanni – “Until the Last Moment”
https://youtu.be/9WECMgGG8dg
. Yanni – Felitsa- Live
https://youtu.be/CN7y6FVBdR8

Nhạc các ông bà này bạn có thể search trên You Tube

ĐỘC ẨM / SẦU QUÊ / CÔ ĐƠN

Nguyên Lạc

 

ruou va em

Trang Nguyen Trong Khoi

ĐỘC ẨM
.
Dallas tìm đâu người tri kỷ?
Để ngất cùng ta khúc Hồ Trường
Nhìn quanh nhìn quất cao ốc Mỹ
Rượu uống mình ên có đau không?
.

SẦU QUÊ
.
“Nhật mộ hương quan hà xứ thị
Yên ba giang thượng sử nhân sầu” [*]
.
Chiều xuống vời quê nơi nao hở?
Đèn Cali xanh đỏ phát rầu
Trên sông khói sóng nơi đâu tỏa?
Ở đây cao ốc dựng bóng sầu
.
Tri kỷ nhìn quanh … một tiếng thở!
Rượu uống mình ên có sao đâu?
………………
[*] Trời về chiều muộn, tự hỏi quê nhà nơi đâu?/ Trên sông khói toả, sóng gợn, khiến người sinh buồn! – Hoàng Hạc Lâu – Thôi Hiệu
CÔ ĐƠN

mua rungLất phất chiều mưa bay phố núi
Mắt vời xa. Ly cà-phê đắng… Ta chờ!
Chờ ai? Em? Người từ tiền kiếp?
Đến rồi đi! Tan rồi hợp? Huyễn mơ
.
Người đến nhé. ta vẫn chờ em đó!
Phố chiều nay mưa sợi nhỏ … rất buồn
Khói thuốc mờ. mắt đợi. mong manh
Người sẽ đến! Có. không? Mộng. thực?
.
Đừng vội vã nếu là có thật
Ta vẫn chờ
chờ mãi… đến lai sinh
Sẽ hạnh ngộ?
Nào ai biết được
Chỉ một điều… ta. vẫn mãi chờ em!
.
Lất phất chiều nay mưa phố núi
Khói thuốc cay. Ly cà-phê đắng… Ta chờ!
Chờ ai? Đợi chờ ai đây hở?
Chỉ một điều rất rõ … cô đơn!
.
Nguyên Lạc

 

SÂN GA ĐỢI NGƯỜI

chim sunset

.
Mình tôi chiều giữa sân ga
Đợi người. tôi đợi
Nhưng mà đợi ai?
Tàu qua vụt. tiếng thở dài
Cô đơn ghế lạnh. chiều phai. nắng tàn
.
Nghe hồn buốt lạnh sương tan
Mắt tìm nỗi nhớ…
Chỉ bàng hoàng đêm
Mắt đêm đèn khóc ga thềm
Về thôi! Chờ đợi chi thêm? Bóng sầu
.
Con tàu xưa ấy về đâu?
Bóng hình ngày cũ “trắng màu mây bay”
.
Ga đêm một bóng đổ dài
Đợi. Tôi vẫn đợi
Nhưng rồi đợi ai?
.
Nguyên Lạc\

HÃY KHÓC LÊN ĐI PHƯỢNG

Nguyên Lạc

hoa phuong vi

(Cảm tác khi được tin những cây phượng bị đốn hạ hàng loạt trong các ngôi trường ở Việt Nam) [*]

1.
Màu huyết phượng. màu máu tim tôi đó
Màu yêu thương tuổi thơ dại học đường
Ôi! màu hoa phượng đỏ … rơi tóc em thương
Màu mực tím. màu giấy hồng. ngại ngùng thư ngỏ
.
Màu huyết phượng của một thời son trẻ
Đã theo tôi suốt cả kiếp đời
Đường đón đưa cánh phượng rơi rơi
Màu tim đỏ thắm tình tôi một thuở
.
Màu mực tím. màu hoa phượng đỏ
Tàn lá xanh che mát sân trường
Che mát ngại ngần thơ dại tay run
Trao lưu bút ép cánh hoa. kèm thư. hè nhung nhớ
.
Mãi trong tôi vẫn màu hoa đó
Vẫn phượng thẫm màu máu đỏ tim tôi
Vẫn tiếng ve reo. cánh phượng rơi nhung tóc mây người
Dù rất biết phôi pha tháng năm. tuyết sương màu điểm
.

2.
Sẽ còn không đỏ màu phượng vỹ
Sẽ còn không mượt mà hoa rơi tóc ai nhung
Vì mất lương tri nhỏ nhen ích kỷ
Vì những mưu toan tư dục. đoạn đành đốn gốc yêu thương
.
Thôi chắc sẽ rồi mù dấu thiên đường
Thiên đường tuổi thơ thư hồng mực tím
Khóc lên đi ngôi trường. phượng sẽ rồi mất biến
Bởi ai đó vô tâm muốn xóa bỏ tình người
.

3.
Rồi sẽ tìm đâu phượng đỏ ngôi trường?
Rồi sẽ tìm đâu điêp khúc ve thương?
Tàn lá xanh che những chờ đợi ngại ngần
Mực tím. thư hồng. tương tư tình ngỏ
.
Hãy khóc lên đi những người tuổi trẻ
Hãy khóc lên đi bụi phấn bạc đầu
Đường về tuổi thơ sẽ rồi cấm cửa
Phượng thắm sân trường … cổ tích đời sau!
.
Không phượng. ngôi trường còn có gì đâu?
Mực tím. thư hồng. lưu bút? Tim đau!
.
Nguyên Lạc
………
[*] Mời đọc những đoạn văn này:

1. Người ta chặt Phượng không thương tiếc, biến nó thành phong trào. Coi việc chặt Phượng như là phong trào ba không đã từng rầm rộ diễn ra cách đây chưa lâu.
Thưa ông bộ trưởng Phùng Xuân Nhạ, đồng kính thưa chính phủ cao quý. Nếu không ra tay ngăn chặn “phong trào” chặt Phượng, nếu vẫn hăng máu “đào tận gốc, đốc tận rễ” với Phượng, thì dòng tộc Phương chúng tôi sẽ bị tuyệt chủng. Dòng tộc Phượng chúng tôi, có đời sống như mọi loài vật, ngoài ra còn có tâm tính, có linh hồn của nó. Nếu nhẫn tâm hủy diệt dòng tộc Phượng, các ngươi phải trả giá, con cháu các ngươi cũng bị vạ lây. Trời không tránh được luật nhân – quả, chứ đừng nói kẻ phàm tục như các ngươi.
(Nguồn: Bá Tân – Báo Tiếng Dân)

2. Với việc các trường VN chặt cây phượng vỹ, xã hội hiện nay nói chung và nền tảng giáo dục nói riêng, cái tính vô trách nhiệm nó quá lớn, nó làm mất lương tri của những người đang đứng trên bục giảng và kể cả các cán bộ quản lý trong Bộ GD&ĐT.
Cây phượng nó là thơ, là nhạc, là tâm hồn học trò bao nhiêu thế hệ VN.
Tại nhiều trường học, cây phượng đang bị ‘thảm sát’ oan uổng vì bị coi là mối đe dọa đối với tính mạng học trò, chẳng lẽ một cây gãy đổ thì cả giống loài bị kết tội?
Tuy nhiên thay vì cắt tỉa, tìm phương pháp ngăn chận những cây nguy hiểm, nhiều trường học lại đốn hạ toàn bộ những cây phượng đang có. Nếu trường nào cũng áp dụng cách này, loài cây được mệnh danh là hoa học trò sẽ hoàn toàn bị trục xuất khỏi môi trường của học trò. Và khái niệm sân trường sẽ không còn gợi nhắc đến một nơi rợp bóng mát của cây xanh mà trở thành khoảng không gian trụi lủi chỉ có sàn bê tông và nắng gắt.(Chặt nhầm còn hơn bỏ sót – Báo Mới)

MƯA CẦN THƠ

Nguyên Lạc

muamua 1
Phố người thảng thốt mưa rơi
Sầu luồn ngất ngất một thời xa xưa
.
Mưa tình góc khuất ru mơ
Nhung thơm tóc xỏa nghiêng bờ vai tôi
Nồng nàn một nụ hôn môi
Ngọt ngào câu nói “anh ơi thương hoài”
.
Mưa ướt má mưa ướt môi
Cần Thơ một thuở có tôi yêu người
Con đường lất phất mưa rơi
Tung tăng chân sáo em cười giòn tươi
.
Mưa trong mắt. sầu trong tôi
Đón đưa trễ hẹn lệ đầy ngây thơ
Ly chè tạ lỗi ngày xưa
Trường Đoàn Thị Điểm như vừa hôm qua
.
Em lên đại học Văn khoa
Cái Răng một thuở cúc hoa áo dài [*]
Đường về vàng cả chiều phai
Trong tôi rạng rỡ hình hài dấu yêu
.
Mưa thương nhớ biết bao nhiêu
Rộn ràng bến chợ Ninh Kiều lang thang
Tay trong tay. quán đèn vàng
Mắt trong mắt. nhạc “Em tan trường về”
.
“Em tan trường về đường mưa nho nhỏ
Em đi dịu dàng, bờ vai em nhỏ
Chim non lề đường, nằm im dấu mỏ
Ôm nghiêng tập vở, tóc dài tà áo vờn bay”
.
“Em tan trường về, mưa bay mờ mờ
Em tan trường về, anh theo ngọ về
Anh trao vội vàng, chùm hoa mới nở
Ép vào cuối vở muôn thuở còn thương” [**]
.
Mưa. lữ khách. nỗi nhớ quên
Làm sao quên được mà quên đây người?
Những cơn mưa của một thời
Cần Thơ yêu dấu có người tôi yêu!
.
Phố người một bóng hắt hiu
Mưa đêm lất phất nghiêng xiêu ngăn đời
Ngoài trời. mưa mãi không thôi!
Trong tôi. mưa nhớ một thời có em
.
Nguyên Lạc
………………
[*]. Trường đại học Văn Khoa trên đường về Cái Răng, Cần Thơ
[**] Lời nhạc Ngày Xưa Hoàng Thị – Phạm Duy
Attachments

KHI CHỢT GẶP NGÔI TRƯỜNG

Nguyên Lạc

ao-dai-6
Tưởng rằng quên được một thời
Khóa trong tiềm thức lâu rồi … xưa xa
Ô kìa! Cuối phố phải là …?
Không đâu tôi nhé!
Chỉ là nhớ thương
.
Ve reo. huyết phượng con đường
Dáng em trắng cả ngôi trường tuổi mơ
Có tôi run ngất tờ thơ
Mắt ai lá trúc nhung tơ tóc thề
.
Môi hồng vẫn thắm đam mê?
Khổ đau có đã …?
Đi về chung. riêng?
.
Vẫn tôi. vẫn nỗi muộn phiền
Trường xưa. lối cũ. hiện tiền đó sao?
Không đâu! Chỉ xót xa nào
Ngôi trường lạ lẫm. cớ sao lại buồn?
.
Thời gian bóng vụt qua song
Làm sao níu được xuôi dòng nước trôi?
Thôi đành thôi nhé. đành thôi!
Phượng hồng tình đó một đời riêng mang!
.
Bể dâu cùng với điêu tàn
Bao giờ hạnh ngộ?
Ly tan đang là
Vô thường lời Phật dạy ta
Lục Như kệ tụng chắc là tâm an? [*]
.
Tịnh không điệp khúc muôn trùng
Lắng khuya. tích tắc. nhịp buồn thời gian
Tiếng chim cô lẻ vọng âm
Chong đêm nến lệ
buốt căm nỗi hoài!
.
Cố nhân? Một tiếng thở dài
Mù sương cố lý đoạn đoài …
Biết chăng?
.
Nguyên Lạc
……………..
[*] Kệ Lục Như – Kinh Kim Cang: Như mộng, huyễn, bào, ảnh/ Như lộ diệc như điện (Như mộng, huyễn, bọt, bóng/Như sương, như chớp loé)

NHỮNG BÀI THƠ VỀ MƯA

Nguyên Lạc

muamua 1

I. Mưa
.
1.
Tôi hứng giọt mưa rơi
Nếm thử … mùi đăng đắng!
Lòng hình như … nằng nặng?
Quê hương hạn mưa chưa?
.
Trời bên đó đã mưa?
Anh nhớ em nhiều lắm
Nhớ mưa lăn má thắm
Môi em ướt anh hôn
.
Xuân nơi này mưa luôn
Mưa … mưa … như trút nước
Không mưa êm … lất phất
Ngày anh biết yêu em
.
Những cơn mưa thân quen
Thuở nao giờ đã mất
Nụ hôn mưa có thật?
Mưa ướt tóc em tôi
.
2.
Ngoài trời mưa … mưa rơi
Mưa như ai trút nước
Dội hồn tôi lạnh buốt
Biết nơi nào trốn đây?
.
Mưa ơi! Thôi ngưng rơi
Tôi nhớ môi xưa lắm
Mưa êm … ướt má thắm
Không dị hợm mưa đây
.
Mưa. mưa … suốt cả ngày
Mưa ngập đường xe chạy
Mưa mù mịt … tương lai!
Mưa ngăn đường ngăn lối
.
Chỉ chừa lại một lối
Lối hướng về em tôi
Lất phất nhẹ mưa rơi
Ướt tóc … hôn bối rối
.
Mưa ơi! Ngừng đi thôi
Mưa buốt lạnh lắm rồi
Tôi ơi! Ngừng đi thôi
Nhớ thêm chi? Đủ rồi!

II. Câu Nói Trong Mưa

Nhớ câu em nói trong mưa
“Em nào có biểu thương vừa thôi nha!”
.
Nhớ em quá xá quà xa
Mưa đang trút nước … em và câu xưa
Bao năm cứ ngỡ hôm qua
Tình yêu anh giấu bây giờ còn thơm
.
Tận sâu ngăn kín tâm hồn
Lâu lâu mở khóa … tay ôm tim mình
Nhớ mưa ướt tóc em xinh
Lăn tròn má thắm … uống tình môi ngoan
.
Bây giờ vẫn nhớ mùi hương
Cơn mưa câu nói có còn không em?
“Em nào có biểu anh thương?”
Thương chi cho lắm? Để vương một đời!
.
Mưa chi? Mưa mãi không thôi!
Mưa rơi có biết động tôi một trời?
Ngưng đi!
Tôi lạy mưa ơi!
Để tôi đừng nhớ …
câu người trong mưa

III. Lời Em Mưa Đó
.
Mưa ngoài đó vẫn còn mưa mãi
Mưa vẫn hoài có xóa được tình ai
Có xóa được dấu chân gót nhỏ
Mắt môi người hương vẫn khôn nguôi
.
Mưa ngoài đó vẫn mưa … mưa mãi
Ta một mình lần nữa sầu ai
“Thương lắm chi? Hôn vừa thôi nhé”
Lời tình vui mưa lất phất bay
.
Có chút buồn tiếng mưa ngoài đó
Có chút giận hờn người đã xa ta
Nhưng thương rất nhiều lời em mưa đó
Làm sao bây giờ? Nhớ có phôi pha?
.
Gió cứ thổi và mưa cứ mãi
Từng hạt sầu dòng chảy xót xa
Giận. buồn. thương trong ta quyện mãi
Biết khi nào…?
Gió táp mưa sa!

Nguyên Lạc

 

NHỮNG BÀI TỨ TUYỆT

Nguyên Lạc

khoang cach

1. Tím Cả Đoạn Trường
.
Sương rơi trắng cả con đường
Em rơi tím cả đoạn trường trong anh!
Tinh đầu sương khói mong manh
Nhân sinh dâu bể nỗi lòng trăm năm

2. Nụ Cười
.
chợ đời gom nhặt sân si
lên chùa vấn Phật có gì đổi cho
mĩm cười hai chữ âu lo
về nhà mẹ hỏi … Cười to thế à
.

3. Căn Bệnh Tình Yêu
.
Tình yêu căn bệnh lạ lùng
Ai mà nhiễm phải không khùng cũng điên
Điên thì ta hãy cứ điên!
Yêu thì ta cứ! Không tình sống chi?
.

4. Tội Cho Qua
.
Gió lay rụng trái mù u
Giận ai bậu nói đi tu cho rồi?
Tội cho qua lắm bậu ơi!
Bậu đi tu chắc sự đời qua xong!
.

5. Cuộc Tang Thương
.
Chim quyên khản cổ khóc trùn
Anh hùng mạt vận lên rừng đốt than
Khói than che mất trăng vàng
Nhân sinh thống hận cuộc tang thương nào
.
.
6. Đêm Độc Ẩm Bên Hồ
.
Huơ tay khuấy bóng trăng vàng
Sao nghe tâm buốt vô vàn nỗi ai
Ngâm câu “đoạn thuỷ ” vẫn hoài [*]
Nghiêng bầu uống cạn thở dài hư không!
………..
[*] Trừu đao đoạn thủy thủy cánh lưu/ Rút dao chém nước, nước càng chảy mạnh (Lý Bạch)
.

7. Tiếng Vọng Chiều
.
Hắt hiu trĩu nặng tà huân
Ngút xa não vọng lũng ngàn câu thơ
“Nghìn năm mây trắng hững hờ”
Có không tâm động bến bờ tử sinh
.

8. Hoa Tím Bằng Lăng
.
Bằng Lăng hoa tím tôi về
Tìm em chỉ thấy lời thề đã phai
Đâu xưa áo trắng tóc dài …?
Mùa hè sao lạnh tím ai nỗi lòng!
.

9. Quỳnh Mơ
.
Đêm em về với tôi
Đóa quỳnh mãn khai đợi
Hương quỳnh ngọt đẫm môi
Để ngày đừng mong đợi
.

10. Quên Chưa?
.
Níu tay người hỏi thu phai?
Thưa em thu đó vẫn hoài thu xưa!
Níu mây trời hỏi quên chưa?
Xuân thu hương sắc đủ vừa trăm năm!
.
Nguyên Lạc

HOA HỒNG XANH VÀ LÁ DIÊU BÔNG

Nguyên Lạc

.
BÀI THƠ BLUE ROSES – HOA HỒNG XANH

hoa hong xanh
Hoa Hồng Xanh – Blue Roses là bài thơ của Rudyard Kipling, một văn thi sĩ người Anh.

I. Vài Hàng Tiểu Sử Rudyard Kipling
Joseph Rudyard Kipling (sinh tại Mumbai, Ấn Độ 30 tháng 12, 1865 – qua đời 18 tháng 1, 1936) là một trong những tác giả nổi tiếng nhất ở Vương quốc Anh, cả về văn xuôi và thơ, vào cuối thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 20. Rudyard Kipling đoạt giải Nobel Văn học năm 1907 – ông được trao giải Nobel khi mới 42 tuổi – là người trẻ tuổi nhất trong lịch sử giải Nobel Văn học.

 

 

Các tác phẩm tiêu biểu:
– Plain Tales from the Hills (Truyện kể núi đồi, 1887)
– The Jungle Book (Sách Rừng xanh, 1894), tập truyện – dựng thành phim
– The Five Nations (Năm dân tộc, 1903), thơ
– If (Nếu, 1910), thơ – Cuối thế kỷ XX, đài BBC đã đề nghị thính giả chọn những bài thơ hay nhất của các nhà thơ Anh, bài thơ này được chọn nhiều nhất.
– Đặc biệt bài thơ Blue Roses được rất nhiều người biết đến và thích. Có người cho nó thuộc về thơ “Siêu thực”. […”Chủ nghĩa/Trường phái Siêu thực (Surrealism) là khuynh hướng nghệ thuật bắt nguồn từ chủ nghĩa Tượng trưng và Phân tâm học, đặt phi lý tính lên trên lý tính. Chủ trương, khuynh hướng trường phái nầy nhằm giúp con người thoát ra khỏi mọi xiềng xích xã hội. Chủ nghĩa siêu thực cố gắng diễn tả tiềm thức bằng cách trình bày các vật thể và sự việc như được thấy trong những giấc mơ”…] (Nguồn Wikipedia)
.

II. Bài thơ Blue Roses

Xin giới thiệu đến các bạn bài thơ Blue Roses, theo tôi đầy cảm xúc, đánh động lòng người.
.
Nguyên tác:
Blue Roses
By Rudyard Kipling
.
Roses red and roses white
Plucked I for my love’s delight.
She would none of all my posies–
Bade me gather her blue roses.
.
Half the world I wandered through,
Seeking where such flowers grew.
Half the world unto my quest
Answered me with laugh and jest.
.
Home I came at wintertide,
But my silly love had died,
Seeking with her latest breath
Roses from the arms of Death.
.
It may be beyond the grave
She shall find what she would have.
Mine was but an idle quest–
Roses white and red are best
.

III. Ý nghĩa của hoa hồng xanh

Hoa hồng xanh tượng trưng cho những điều không thể thành hiện thực, hoặc không thể đạt được. Bởi hoa hồng xanh rất hiếm trong tự nhiên, nên nó đại diện cho điều gì đó hầu như không nằm trong tầm tay của con người, một giấc mơ không thể thực hiện.
.
IV. Dịch Thơ Blue Roses

Có nhiều người dịch bài thơ Blue Roses, sau đây là các bài dịch tiêu biểu:

1. Nguyễn Viết Thắng dịch:
.
Hoa hồng xanh
.
Tôi mang đến tặng em
Hoa hồng đỏ và trắng.
Không hiểu sao em bỗng
Nói em thích hồng xanh.
.
Tôi đi khắp thế gian
Tìm thứ hoa như vậy.
Nhưng người ta cười nói:
“Chẳng có ở trên trần”.
.
Tôi trở về mùa đông
Em của tôi đã chết
Em có còn nhận biết
Hoa từ tay Tử thần.
.
Biết đâu nơi suối vàng
Có loài hoa ao ước.
Chẳng có hoa nào đẹp
Bằng hoa cõi trần gian.
.
2. Trần Đức Phổ dịch:
.
Bông Hồng Xanh
.
Hoa hồng đỏ, hoa hồng trắng
Tôi hái trao tặng người thương
Vô tình nàng chê chẳng nhận
Đòi màu xanh biếc hoa hường!
.
Lang thang nửa vòng trái đất
Chẳng đâu mọc thứ hoa này
Hỏi tìm nửa vòng trái đất
Chỉ toàn cười mỉa, chua cay
.
Trở về trong mùa đông lạnh
Người yêu thơ dại qua đời
Nhìn nàng trút hơi thở cuối,
Tử thần cướp đóa hồng tôi!
.
Có lẽ bên kia thế giới
Nàng tìm thấy được niềm vui
Riêng tôi chân tình chẳng đổi
Hồng đỏ. hồng trắng tuyệt vời!
.
3. Nguyên Lạc phóng dịch
.
a. Vài ý riêng về dịch thơ nước ngoài:

Trước khi phóng dịch bài thơ, tôi xin ghi ra đây vài ý chủ quan:
– Dịch thơ từ tiếng nước ngoài, nhất là tiếng đa âm – các nước phương Tây, ra tiếng đơn âm – tiếng Việt; hoặc ngược lại, là một điều rất khó. Coi chừng “dịch là diệt”. Dịch chính xác từng mặt chữ – giống như các dịch giả chuyên nghiệp, thì bài thơ sẽ không mượt mà. Theo tôi, thi nhân chỉ cần nắm bắt được “hồn thơ”, dịch theo ngôn ngữ riêng của mình – với điều kiện đừng quá xa rời nguyên bản – thì bài thơ dịch sẽ mượt mà hơn.
– Tiêu biểu viêc nắm vững “hồn thơ” rồi dịch rẩt tài hoa là trường hợp Phan Huy Vịnh, dịch câu thơ chữ Hán của Bạch Cư Dị ra tiếng thuần Việt mà nhiều người cho là còn hay hơn câu nguyên tác:
Đồng thị thiên nhai luân lạc nhân => Cùng một lứa bên trời lận đận
– Với những điều nói trên, tôi sẽ không dịch chính xác theo mặt chữ một vài từ/ chữ, chỉ dịch thoát chúng theo ý/tứ câu/bài thơ.
Thí dụ: “The grave” không dịch là “mộ phần”, “nghĩa địa”, “chết” … mà dịch là “cõi khác”. Tương tợ, “Half the world” tôi không dịch là “nửa vòng trái đất”, mà dịch là “khắp cùng trái đất”, “khắp cùng thiên hạ” cho mạnh nghĩa, vân vân…
.
b. Phóng dịch bài thơ:
Tôi sẽ cố gắng nắm “hồn thơ”, theo sát nguyên tác để dịch bài thơ Blue Roses . Chủ quan, trong công việc dịch thuật văn thơ nước ngoài, ai cũng tham khảo các người dịch trước, tôi cũng không ngoại lệ.
Đúng ra bài thơ này có nhiều người dịch rồi, tôi không nên dịch; nhưng vì đồng ý với nhiều người cho rằng nó thuộc về thơ “Siêu thực”, và giống như bài thơ Việt Nam nhiều người yêu thích- đã được các nhạc sĩ tài hoa phổ nhạc : Lá Diêu Bông của thi sĩ Hoàng Cầm – nên tôi dịch lại.
Bài thơ hầu như là loại thơ 6 chữ, do đó theo chủ quan tôi, dịch thơ theo loại 5 chữ thì thiếu chữ, không diễn tả hết ý nguyên bản; còn dịch bằng 6/8, 7 hoặc 8 chữ … thì dư chữ và khó khăn. Tôi sẽ phóng dịch bằng thơ 6 chữ như thi sĩ Trần Đức Phổ.
Đây là bài phóng dịch thơ của tôi:
.
HOA HỒNG XANH
.
Hoa hồng trắng hoa hồng đỏ
Hái tặng làm vui tình nhân
Không phải màu hoa mong muốn
Nàng đòi xanh biển hoa hồng!
.
Lang thang khắp cùng trái đất
Tìm đâu được thứ hoa này
Hỏi tìm khắp cùng thiên hạ
Nhận toàn giễu cợt mỉa mai
.
Về đúng ngay lúc mùa đông
Ngây thơ yêu đang hấp hối
Tìm nàng thở hơi thở cuối
Hoa hồng trong tay Tử thần!
.
Có lẽ bên kia cõi khác
Nàng sẽ tìm được hồng xanh
Riêng tôi tấm lòng không khác
Trắng đỏ tuyệt nhất luôn dành
.

BÀI THƠ LÁ DIÊU BÔNG
.
Lá Diêu Bông là bài thơ của Hoàng Cầm, thi sĩ người Việt. Bài thơ Blue Roses – Hoa Hồng Xanh khiến ta liên tưởng đến bài thơ Lá Diêu Bông của thi sĩ Hoàng Cầm, vì cả hai đều nói đến sự truy tìm những điều không thể thành hiện thực.
Bài thơ Lá Diêu Bông viết về một câu chuyện có thật, câu chuyện về mối tình đầu tiên trong đời Hoàng Cầm với người con gái lớn tuối, đáng chị mình.
.
1. Tiểu sử Hoàng Cầm
Hoàng Cầm tên thật là Bùi Tằng Việt, sinh năm 1921 (một bài báo ở Saigon gần đây cho biết ông sinh vào năm 1922) tại Làng Lạc Thổ, Huyện Lang Tài, Phủ Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh trong một gia đình Nho Giáo. Hoàng Cầm học Tiểu Học tại Bắc Giang rồi lên Hà Nội học Trung Học và đậu Tú Tài II Pháp. Khi còn đang học lớp Ðệ Tứ, Hoàng Cầm phóng tác cuốn Graziella của Lamartine thành chuyện Việt Nam với tên Hận Ngày Xanh. Tiểu thuyết đầu tay của Hoàng Cầm là Thoi Mộng, viết vào năm 1943. Trở về Bắc Giang, dạy học tại trường La Clarté, Hoàng Cầm vẫn viết văn, làm thơ để gửi đăng trên các báo Tiểu Thuyết Thứ Năm, Tiểu Thuyết Thứ Bẩy. Anh là người dịch truyện Ba Tư Một Ngàn Ðêm Lẻ ra Việt ngữ… [Hoàng Cầm Trong Tôi – Phạm Duy]
.
2. Nguyên văn bài thơ
.
Lá Diêu Bông
.
Đứa nào/ tìm được lá diêu bông
Từ nay ta gọi là chồng.
Mùa Đông sau em tìm thấy lá
Chị lắc đầu/Trông nắng vãn bên sông
Ngày cưới chị/ Em tìm thấy lá
Chị cười xe chỉ ấm trôn kim
Chị ba con/ Em tìm thấy lá
Xoè tay phủ mặt chị không nhìn.
Từ thuở ấy/ Em cầm chiếc lá
Đi đầu non cuối bể/ Gió quê vi vút gọị
Diêu bông hời … ới Diêu bông!”.
(Hoàng Cầm)
.
3. Phổ nhạc bài thơ Lá Diêu Bông
– Năm 1984 bài thơ Lá Diêu Bông của Hoàng Cầm đã được nhạc sĩ Phạm Duy phổ nhac, cùng tên. Nội dung bài thơ được giữ nguyên, Phạm Duy chỉ thêm vào hai câu lục bát ở cuối bài:

Em đi trăm núi nghìn sông
Nào tìm thấy lá diêu bông bao giờ?

– Ngoài ra, khoảng năm 1990, nhạc sĩ Trần Tiến phổ lại nhạc với lời mới cho bài thơ này, bài hát mang âm hưởng dân ca Bắc bộ, lấy tên là “Sao em nỡ vội lấy chồng”.

Trích lời bài hát “Sao em nỡ vội lấy chồng” – Trần Tiến :
.
Bướm vàng đã đậu trái mù u rồi
Lấy chồng sớm làm gì, để lời ru thêm buồn
Ru em thời thiếu nữ xa xôi
Còn đâu bao đêm trăng thanh
Tát gàu sòng, vui bên anh
Ru em thời con gái kiêu sa
Em đố ai tìm được lá diêu bông
Em xin lấy làm chồng
. . .
Thương em tôi tìm được lá diêu bông
Sao em nỡ vội lấy chồng
Diêu bông hỡi diêu bông
Sao em nỡ vội lấy chồng!
.
4. Về lá diêu bông:
Lá diêu bông là lá gì ?
– Lá diêu bông (lá bông diêu thì đúng hơn) là thứ lá đặc biệt ở làng Ðình Bảng, Bắc Ninh, phụ nữ thời xưa thường vắt ra nước rồi bôi lên mặt cho da dẻ được hồng hào tươi đẹp – theo Phạm Duy
– Lá diêu bông được nhà thơ Hoàng Cầm giải thích rằng đó là lá của hoa phiêu diêu, hoa trong mộng tưởng. Tình yêu luôn đẹp và phiêu diêu như vậy.

***
Theo chủ quan của tác giả bài viết thì cả hai bài thơ đều hay, đầy cảm xúc. Vấn đề được nêu ra ở đây là:
– Những điều bản thân mình mong muốn mà “không thể trở thành hiện thực”, khi người mình thương yêu “vẫn hiện hữu” và người mình thương yêu đã bị “Thần Chết cướp đi”, cái nào thảm hơn cái nào?
.
Nguyên Lạc
……………….
Mời nghe:
– Lá Diêu Bông (Thơ Hoàng Cầm, nhạc Phạm Duy – Ý Lan hát)
https://www.youtube.com/watch?v=2mazKAw_vZQ
– Sao Em Nỡ Vội Lấy Chồng (Nhạc Trần Tiến – ca sĩ Tố My)
https://www.youtube.com/watch?v=QAyrm8jA_a8

VỀ MỘT DÒNG SÔNG

Nguyên Lạc

uminh4-tram

Cần Thơ gạo trắng nước trong
Ai đi đến đó lòng không muốn về
(ca dao)

BÀI THƠ NHỚ BẾN NINH KIỀU

Tình cờ gặp bài thơ và hình chụp của ông bạn thi sĩ Quảng Nam thăm bến Ninh Kiều, TP Cần Thơ, khiến tôi nhớ nó quá, vội họa những lời thơ nầy:

TỚI BẾN NINH KIỀU
(Nguyễn Hàn Chung)

Anh hăm hở tới Ninh Kiều
xung quanh vắng ngắt mĩ miều cù cưa
cái thời nắng khổ tìm mưa
nói chung chấm hết nên chừa vậy thôi

Thơ họa:

NHỚ BẾN NINH KIỀU
.
Bao năm quên bến Ninh Kiều
Chợt nay thấy ảnh buồn nhiều oán sâu!
Cái thời mắt liếc môi trao
Cái thời mưa đượm tình nhau… Xóm Chài!
.
Vẫn còn hoài mãi một đời
Dù bao thống hận lũ người ác nhân
Gây chi bao chuyện tang thương?
Để cho oan nghiệt sâm thương đôi bờ!
.
Còn đâu đại học Cần Thơ!
Còn đâu đường phượng thắm hoa đỏ trời!
Tiếc thương chi? Cũng rồi thôi!
Nhớ thương chi? Để lệ rơi kiếp người?
(Nguyên Lạc)
.
Bài thơ trên cũng khiến tôi chạnh long nhớ đến hai câu ca dao nhân dân của “một thời tôi cố quên”, thời 75 như sau:
Chiều chiều trên bến Ninh Kiều
Dưới chân tượng Bác, đĩ nhiều hơn dân!
(Ca Dao Nhân Gian Thời XHCN Việt Nam)
.
Trong bài thơ họa có hai cụm từ: XÓM CHÀI và ĐẠI HỌC CẦN THƠ các bạn miền ngoài không rõ, nên đã hỏi. Tôi xin được giải thích rõ về hai cụm từ này, cùng những gì liên quan đến nó để các bạn tường.
.
VỀ ĐỊA DANH XÓM CHÀI

1. Xóm Chài
Xóm Chài là một xã đối diện với bến Ninh Kiều nhìn qua sông nhỏ Cần Thơ. Xã này nằm trên doi đất nhô ra, kẹp giữa bởi sông Hậu và sông nhánh Cần Thơ .
Bến Ninh Kiều tọa lạc tại ngã ba sông Hậu và sông nhánh Cần Thơ, trước 1975 là Căn Cứ Hải Quân vùng 4 VNCH. Về phải, con sông nhỏ Cần Thơ nầy chạy qua Công viên Ninh Kiều, chợ Cần Thơ rồi đến huyện Cái Răng – có chợ nổi nổi tiếng và cầu lớn bằng xi măng bắt ngang qua, nối liền quốc lộ 4, chạy xuống Sóc Trăng và Cà Mau. Cầu này, năm 1968 bị mìn CS nổ xập, ban ngày, làm một số xe đò chở đầy người và một số bộ hành (dân đi bộ buôn bán) rơi xuống sông chết. Sau đó cầu được xây lại.
Từ Cái Răng, dòng sông chạy đến Phong Điền, Cầu Nhiếm vang tiếng về những vườn cam bạt ngàn. Cam xanh (Cam sành) rất ngọt, được thương lái chuyện vận lên tận Sài gòn. Đây là quê của “nàng” hiện tại.
Nửa đoạn đường Cái Răng đến Phong Điền, khoảng xà Nhơn Ái nếu rẽ trái là kênh/ kinh đào thẳng tấp: Kênh/ Kinh Xáng Xà-No rồi đến huyện Phụng Hiệp – Ngã Bảy , nơi 7 con sông nhỏ gặp nhau.
.
“Hò ơ …. Cái Răng, Ba Láng, Vàm Xáng, Xà No.
Anh có thương em thì mua một con đò
Để em qua lại. Hò ơ… để em qua lại thăm dò ý anh.”
.
Cá trê trắng nấu với rau cần
Muốn về Kinh Xáng cho gần với em
(ca dao)
.
a. Kênh Xáng Xà-No

Kênh Xáng Xà No – Gọi tắt là kinh (kênh) Xáng, một dòng kênh do thực dân Pháp đào – Năm 1901 kênh Xà No được khởi công, đến tháng 7/1903 hoàn thành – nhằm khai thác vùng đất hoang miền Hậu Giang. Bề ngang trên mặt kênh rộng 60 mét, đáy 40 mét, độ sâu từ 2,5-9 m, dài 39 km nối liền sông Cần Thơ (ngã ba Vàm Xáng, làng Nhơn Ái, Phong Điền, Cần Thơ) đến sông Cái Lớn (ngọn rạch Cái Tư, nay thuộc thị xã Vị Thanh, tỉnh Hậu Giang). Sông Cái Lớn chảy ra biển, vùng vịnh Thái Lan.
Có người cho rằng, gọi tên kênh là Xà No vì được đọc trại từ Saint-Tanoir, tên của người Pháp chỉ huy xáng đào con kênh này. Theo nhà văn Sơn Nam thì cái tên Xà No bắt nguồn từ tiếng Khmer: “Srok Snor – xóm có cây điên điển”.

b. Huyện Phung Hiệp – Ngã Bảy

Được gọi là Ngã Bảy vì sông chia 7 ngả sông toả đi các hướng khác nhau.
.
Dòng sông chia nhánh làm bảy ngả
Biết ngả nào tôi dõi em đây?
Xuôi dòng con nước ngày xưa ấy
Bỏ lại mình tôi khóc ròng đầy
Bỏ lại mình tôi bên bãi vắng
Cây bần buồn rụng trái nào hay!
Bìm bịp kêu giọng khàn đôi tiếng
Nước lớn đầy bảy ngả mù mây!
(Dò Tìm Trên Sông Ngã Bảy – Nguyên Lạc)
.
Huyện Phung Hiệp thuộc tỉnh vừa thành lập (khoảng 1961 – 1962 thời ông TT Ngô Đình Diệm): Tỉnh Chương Thiện. Khoảng năm 1972 (?) TT Nguyễn văn Thiệu bổ nhiệm một vị đại tá rất trẻ, tốt nghiệp từ trường Thiếu Sinh Quân làm Tỉnh trưởng : Đại tá HỒ NGỌC CẨN, tính tới 1975 (năm ông chết) mới vừa 33 tuổi. Vị đại tá Tỉnh trưởng này không chịu đầu hàng ngày 30/4 nên bị Uỷ Ban Quân Quản CS kết án tử hình và định ngày xử bắn tại sân vận động (sân bóng đá) Cần Thơ khoảng cuối tháng 5/1975 (?). Chính quyền CS bắt tất cả mọi gia đình ở thành phố Cần Thơ phải có người đến xem xử, trong đó có gia đình tôi, nếu không sẽ bị kết án chống “Cách Mạng”!
Mặc bộ bà ba đen, mắt bị bịt kín, bị trói thút vào cột bắn, ông được CS “ân huệ” cho nói lời cuối, với ý mớm ăn năn hối lỗi đã chống lại Cách Mạng.
Đây là câu nói cuối cùng của ông Cẩn: “Việt Nam Cộng Hòa muôn n…ă..m…!”
Tên lính CS vội vã bụm miệng ông và nhét giẻ vào.
Sau đó một loạt súng nổ, một phát súng ân huệ, ông Cẩn qua đời, xác được vùi trong bãi tha ma bên đường, ngang Trại Nhập Ngũ vùng 4 thời VNCH.

2. Trở lại bến Ninh Kiều.
Từ bến Ninh Kiều nhìn về sông Hậu rộng lớn, hướng sang trái là bến bắc/ bến phà Cần Thơ chảy đến Long Xuyên. Hướng sang phải chảy ra biển Đông, ngang qua Đại Ngãi (Vàm Tấn) quê tôi, cách cửa biển khoảng 20 km (khoảng 17 miles).
.
– Hò ơ ớ ơ ơ …
Đất Sóc Trăng khô cằn nước mặn
Anh ra Vàm Tấn chở nước về xài
Về nhà sau trước không ai (ơ ờ)
Hò ơ ớ ơ ơ …
Hỏi ra em đã … theo trai mất rồi (ơ ơ)
(Hò ca dao)

— bậu về Đại Ngãi mình ên
bỏ quên kẹp tóc bắt đền tội ta
bậu quên là tại bậu mà
tại sao bậu bắt đền ta một đời
tội này không chịu bậu ơi !
(Bậu về – Trần Phù Thế)

— Tha phương cơm áo tháng ngày
Hồn quê xưa cũ vẫn hoài trong tôi
Cái tên Vàm Tấn tôi ơi!
Trăm năm vẫn nhớ những lời ca dao
“Ra sông, đổi nước ngọt nào
Về nhà, trông trước trông sau vắng nàng
Hỏi ra đã bỏ mất đàng
Theo trai bậu nỡ phụ phàng tình tôi”
Cái tên. Đại Ngãi tôi ơi!
Làm sao quên được. một thời thiết tha?
(Nhớ Về Vàm Tấn/ Đại Ngãi – Nguyên Lạc)

Trước khi đến xã Đại Ngãi khoảng 3 km (2 miles) là xã Nhơn Mỹ, thuộc huyện Kệ Sách, quê hương của vợ sau Đại tướng Cao Văn Viên (Tổng Tham Mưu Trưởng quân lực VNCH)
Chợ xã Nhơn Mỹ tọa lạc trên bờ đất tại ngã ba bờ phải sông Hậu (hướng chạy ra biển) và rạch Nhơn Mỹ. Phía đối diện chợ Nhơn Mỹ, giữa sông Hậu là cồn Quốc Gia (quê của cô bạn gái đầu đời). Đây là nơi ông TT Nguyễn Văn Thiệu có lần ghé thăm, vì nó nổi tiếng trù phú với vườn sầu riêng và chôm chôm.
Ngày 1/5/1975, chú của người bạn gái, xã trưởng Nhơn Mỹ đã bị xử tử tại chợ. Cổ bị xiết bởi một khăn rằn choàng (chàng) tắm, hai đầu khăn kéo bởi 2 tên du kích. Vì ông ta to con, khỏe mạnh giãy giụa, không ngộp thở, nên hai tên du kích, mỗi đầu khăn một tên, lôi ông ta xuống mé bãi rạch Nhơn Mỹ để trấn nước. Ông vùng vẫy nên chúng không đè đầu ông xuống nước được. Một tên khác bèn lấy dao đâm vào bụng ông để làm yếu sức. Ông bị xiết cổ và dìm chết ngộp. (Kể đúng theo lời của cô bạn gái, cháu ông xã trưởng)

3. Gia đình tôi.
Riêng về phần gia đình tôi ở Đại Ngãi:
– Anh Nguyễn Văn Yên tr/uy HQ (VNCH) vượt trại”cải tạo” Chi Lăng (Châu Đốc) chạy vào rừng (1976). Giữa đêm vang dội tiếng súng săn đuổi, mất tích: “40 năm con thơ vẫn đợi” đến nay!
– Cha Nguyễn Văn Hỷ bị bắt, hành hạ trong ngục tú CS và chết trong vụ đàn áp tôn giáo.
.
Đêm tháng tư tha hương. thấy dòng lệ khổ
Tiễn người anh cơ khổ ngục tù
Khóc người anh đêm vượt trại hận thù
Tan biến vào rừng thẳm
40 năm con thơ vẫn đợi!
Đêm tháng tư tha hương. thấy gì tôi hỡi?
Thấy con đường khập khiễng cha đi
Mắt lệ nhòa trên đôi nạng sầu bi
Vào tử ngục. rồi mạng vong. vì hận thù tôn giáo!
(Đêm Tháng Tư Tha Hương Thấy Gi? – Nguyên Lạc)
.
– Gia đình tôi liều chết vượt thoát năm 1986 sau hơn 10 năm sống trong “thiên đường CS” trên một ghe con đi sông dài 10 mét, không hầm trú. Sau 7 ngày te tua mới tới đuợc đảo Bi- Đong (Malaysia), may mắn không ăn thịt người (vừa chết).
.
Đêm tháng tư tha hương. thấy gì tôi hỡi?
Thấy sự thét gầm khủng khiếp của trùng dương
Thấy sự nhỏ bé của con người trước sóng nộ cuồng
cùng nỗi vô vọng. hãi hùng … trước vô cùng biển cả
Thấy đói khát, chết chóc, đau thương …
Thấy những dòng lệ ứa
Mẹ ngất con. chồng khóc vợ…
Thấy uất hận lũ hải tặc hung tàn
(Đêm Tháng Tư Tha Hương Thấy Gi? – Nguyên Lạc)
.
4. Trở lại dòng sông Hậu.
Vừa qua Đại Ngãi, trên đường ra biển, giữa sông nổi lên một dãi đất lớn gọi là Cù lao Dung (Gọi là Cồn nếu dãi đất nổi lên nhỏ). Cù lao Dung nổi lên giửa sông Hậu, khoảng vàm Đại Ngãi chạy dài độ 20 km (khoảng 17 miles) ra đến gần cửa biển. Trên Cù lao này CS có thiết lập Trại “cải tạo” Cồn Cát, để giam giữ các sĩ quan “Ngụy” và các người vượt biển đi tìm tự do bị bắt. Đây cũng là nơi gia đình tôi “chém vè”, chờ đến giữa đêm tối không trăng, lên ghe con thả theo nước ròng trôi ra cửa biển để không gây tiếng động, kẻo Công An biên phòng phát hiện và bắn chẳng nương.
Bãi bùn của cù lao này cũng là nơi vùi bao nhiêu xác người, bị đập đầu chặt cổ giữa đêm, trong cuộc tổ chức vượt biển giả để cướp vàng, có liên hệ đến”Công An kiến cường” huyện Long Phú.
.
Bao năm đời này vẫn nhớ
Đêm thâu xuôi mái theo dòng
Người đi không lời từ biệt
Buồn ơi. tím biếc dòng sông!
.
Quê hương ta ơi. thôi nhé!
Buồn ơi. nước mắt lưng tròng!
Rặng cây quê hương mờ bóng
Có còn gặp lại được không?
(Trích đoạn bài thơ Quê Hương – Nguyên Lạc )

***

Tất cả các câu chuyện đều liên quan đến dòng sông Hậu (sông lớn hoặc sông con). Dòng sông đã in đậm trong tâm khảm!
Mọi người đều có một dòng sông riêng mình. Hãy trân trọng nó!
Từ dòng sông Hậu thân yêu và buồn thảm này tôi mới có những bài viết: CÂU CHUYỆN HAI DÒNG SÔNG (1), CHUYỆN DÒNG SÔNG QUÊ TÔI (2) và CHUYỂN TÌNH VÙNG U MINH (3) vân vân …

Ta sẽ không về thăm lại dòng sông
Của thời hung bạo cũ
.
Xác em nhỏ trôi theo dòng bão lũ
Được tin người
tim nhé … cố yên!
Và đêm dài
đêm nhé … hãy ngoan!
Ai rồi cũng
đến miền miên viễn!
.
Ta sẽ không về thăm lại dòng sông
Của thời quá vãng
Quên đi nhé … quên đi … quên đi nhé!
Đã xa rồi … quên nhé … xa lắm xa!
(Nguyên Lạc)
.
Quên được không?!
.
VỀ ĐẠI HỌC CẦN THƠ

1. Đại học Cần Thơ
Đại học Cần Thơ nằm phía trái, gần Phòng Phát thanh (phát sóng) Cần Thơ trên đường từ Cần Thơ về Cái Răng, Vị Thanh, Sóc Trăng rồi Cà Mau.
Năm 1968 sau trận Mậu Thân, tôi bước vào ngưỡng cũa đại học này với niềm háo hức cùng với giấc mộng “lấp bể vá trời” của tuổi trẻ. Thời trẻ này, sách Phạm Công Thiện luôn giữ trên tay và là sách “gối đầu giường”. Phạm Công Thiện là “thần tượng” của những người trẻ như tôi giai đoạn này. Mỗi lời của ông đều là “chân lý”. Tôi hít hà , uống những lời văn, thơ của ông. Cho những điều ông “ngôn” đều đúng, không chút nghi ngờ. Bắt chước ông, chê Sách Học Làm Người của Nguyễn Hiến Lê (Thời gian là câu trả lời đúng đắn nhất!)
Phạm Công Thiện đã mở ra cho chúng tôi một “Khung Trời Cao Rộng” và cũng đưa đến chúng tôi một niềm nghi ngờ (HỐ THẲM). Hệ lụy: “…đã ít nhiều làm cho thanh niên tỏ vẻ hoài nghi về những hoài bão, lựa chọn của mình. Tâm trạng não nề, chán ngán của tầng lớp thanh niên, trí thức thời kỳ ấy như một đám mây u ám, cứ vần vũ mãi trên bầu trời, che lấp khoảng không gian không xanh, không hồng. Ngày xưa một mình chàng Kinh Kha qua sông Dịch với con chủy thủ trên tay và vĩnh viễn không quay lại điểm xuất phát! Ngày nay, hàng ngàn Kinh Kha qua hàng trăm sông Dịch như thế với nỗi băn khoăn ồn ào, hy vọng và thất vọng trộn lẫn.(Đọc lại “Kỷ Vật Cho Em” của Lính Phuơng – Nguyễn Lệ Uyên)
Qua sông Dịch là gia nhập vào quân đội, thành người chiến sĩ quân lực VNCH, thành người chỉ uy mà tâm trạng như vậy thì than ôi!
Lịch sử ngàn năm cho thấy: Chống kẻ HUNG BẠO (kẻ dồn ép, đốc thúc hết mọi xương máu của người dân, dùng bất kể mọi thủ đoạn để nhất quyết thắng cuộc chiến một mất một còn) mà lòng hoang mang như thế thì cầm chắc sự thất bại! Kết quả thì các bạn đã biết rồi đó!
Nhắc ra đây để rút ra một bài học mà tự hối tiếc và tự trách mình, chứ không có ý chê trách hay kết tội. Các người trẻ hãy lấy làm kinh nghiệm để tránh những vết đổ sau này. Và cũng xin đừng lấy nó – những việc tiêu cực đã kể – mà tự hãnh diện hoặc ngược lại, tự mình hành hạ mình, tự liếm vết thương lòng mà thất chí. Còn lại chút hơi sức hãy đóng góp vào việc đấu tranh cho sự tồn vong của dân tộc.
.
2. Tổng Hội Sinh Viên Đaị Học Cần Thơ
Trở lại trường Đaị Học Cần Thơ, tôi có chân trong Ban Chấp Hành Tổng Hội Sinh Viên. Tôi đã ngây thơ, bầy đàn, không suy nghĩ, cổ động và dẫn đầu những cuộc xuống đường gây hỗn loạn trật tự xã hội. Trong BCH nầy, Phạm Văn Sinh (sư phạm khoa học), sau 1975 lộ rõ là một đảng viên CS. Tên thứ hai là Ngô Phúc Hiện (luật khoa), anh cô bạn gái tôi, là Đoàn viên Thanh niên CS. Tên này, sau 30/4//1975 là phó phòng Thương Mại thành phố Cần Thơ . Trong lúc mọi người dân đói, phải ăn độn bo bo, ăn cơm với muối, thì hắn cùng tên trưởng phòng (cán bộ từ bưng biền ra) nhân viên phòng và công an (Bắc chi viện) rượu bia tràn ly, thuốc cán (đầu lọc) khói mờ mắt mỗi ngày. Cách Mạng đấy!
.
Quê tôi buồn lắm ai ơi !
Từ ngày bão nổi đổi dời bể dâu
Một thời cùng ước mộng đầu
“Vá trời lấp bể” hẹn câu tình người
.
Những “đêm không ngủ” lửa ngời *
Câu ca lời hát dựng đời mai sau
Khung trời đại học thuở nào
Tay ôm. mắt ngỏ. môi trao nụ cười
.
Oan khiên đâu phải do trời
Quê hương tan rã bởi lời dối gian
Điêu tàn cùng với ly tan
Mộng mơ tuổi trẻ lụi tàn từ đây
.
Từ ngày ngụy ngữ lên ngôi
Từ ngày giai cấp phân đôi ta thù
……….
[*] Sinh viên trước 1975 thường tổ chức những đêm không ngủ để hát tình ca và nhạc “đấu tranh”
(Trích đoạn: Một Thời – thơ Nguyên Lạc)
,
LỜI KẾT
Qua trên là những chuyện lên quan đến dòng sông trong tâm thức cùng “Một Thời Ta Cố Quên” của tôi. Quên được không?!
Tất cả điều trên là sử liệu từ nhân dân. Chắc nó sẽ không có trong Lịch Sử Việt Nam Hiện Đại vì theo CS: Lịch sử phải phục vụ cho chế độ!
Đấy, các văn thi nhạc sĩ! Nỗi trầm luân nhân thế. Đừng “cỡi ngựa xem hoa” nỗi đau của người dân thấp bé mà mãi chỉ biết lo phục vụ cho một thiếu số đặc quyền. Hãy viết bằng cảm xúc, bằng con tim của mình. Đừng cố tạo ra cái ly, cái chai hào nhoáng, màu rượu đẹp đẽ, nhưng không có một chút mùi vị nào để lại trên đầu lưỡi của người thưởng thức. Hãy tạo ra cái hương vị ngọt ngào của viên muối nhỏ trên đầu lưỡi của các “chàng Kiều” hiện đại (người sĩ quan trẻ VNCH đi cải tạo) đang đói meo trong các “Thanh Lâu” (trại cải tạo) [Từ Nguyên Lạc dùng trong bài viết về thi sĩ Phạm Hồng Ân)(3)

Xin được kết thúc bài bằng hai câu thơ Khuyết Danh:
Ai muốn chép công ta chép oán
Công riêng ai đó oán ta chung!
(Mã Viện – Khuyết Danh)
.
Nguyên Lạc
…………………
Ghi chú:
(1) http://t-van.net/?p=31929
(2) http://t-van.net/?p=32146
(3) http://t-van.net/?p=31461

VẾT THƯƠNG

Nguyên Lạc

mail

1.
Hai mươi năm đời vốn đã buồn thiu
Từ lúc gặp em ta hết tên liều
Yêu những con đường thương đôi mắt biếc
Thơm tóc em bay … Thương lắm … rất nhiều!
.
Tà áo Văn khoa trắng cả buổi chiều
Mắt liếc dao cau chém hồn ta tiêu
Chân sáo bên nhau nhạc tình quán vắng
Môi son ngon nồng … Yêu biết bao nhiêu!
.
Tạm biệt Sài Gòn lòng sao không đành
Trong hồn lính trận ngực ngải trầm ngoan
Đâu biết từ ly rồi là mãi mãi!
Trại thẳm rừng sâu mất dấu kinh thành

2.
Mười năm ngục tù dã nhân trở lại
Hụt hẫng bơ vơ ngả cũ thị thành
Hàng me gục đầu sáng chiều hiu quạnh
Biết tìm em đâu? Mây trắng trôi nhanh!
.
Lối cũ trường xưa tám hướng đường thành
Một con dã nhân lên xuống loanh quanh
Mười năm không gặp con tim rướm máu
Nhất quyết tìm em cơ khổ cũng đành!
.
Một câu trả lời sấm động trời xanh
Con tim dã nhân dao chém tan tành!
Ngày ấy tang thương có người vượt biển
Cuồng nộ trùng dương …
Thôi nhé phải đành!
.
Thôi hết còn đâu
Xa cách nghìn trùng!
Thôi hết còn đâu!
Còn gì mà mong …?

3.
Bao tháng năm qua thời đó cố quên
Tháng tư trở về mưng mủ vết thương
Mỗi tháng tư về rượu say để ngủ
Rượu vẫn không say!
Đầy mắt cuộc tình!
.
Nguyên Lạc

 

THÁNG TƯ THỐNG HẬN HỒ TRƯỜNG

1. Lữ Thứ Hồ Trường
.

ho truong nguyenbatracChiều tha hương tháng tư người lính cũ
Nâng chén sầu chiêu hồn chiến hữu xưa
Hãy về đây cùng ta đối tửu
Khúc Hồ Trường ngày cũ. nhớ. quên?
.
Hồ Trường! Hồ Trường! Tháng Tư buông súng
“Chí ta, ta biết! Lòng ta, ta hay”
“Trời đất mang mang tri kỷ là ai?”
“Lại đây cùng ta cạn một Hồ Trường” [*]
.
Cô lữ. Tháng tư. Chiều …
Người lính cũ
Nâng chén Hồ Trường
Đâu bạn hữu xưa?
Chỉ thấy mây trôi … tiếng chiều nức nở!
Vẳng tiếng chuông âm …
Nhân thế vô thường!
…………..
[*] Những câu thơ trong bài Hồ Trường -Nguyễn Bá Trác. Được sắp xếp lại theo ngất ngưởng say.

2. Thống Hận Hồ Trường
.

Thanh xuân vỡ mộng “dời non”
Ta ơi! Cố đứng dù mòn thời gian
Tháng Tư! Người nhớ hay quên?
Nâng ly thống hận khúc ngâm Hồ Trường [*]
.
Hồ Trường! Thơ cổ Hồ Trường
Ai say. Ai tỉnh? Bước đường lưu vong
Tháng Tư buông súng oán không?
Phố người. Cô lữ …
Cố nhân?
Hồ Trường!
.
“Hồ Trường! Biết rót về đâu?”
Ai người tri kỷ cạn sầu cùng ta?
Hắt hiu lữ thứ chiều tà
Rượu nghiêng ta đổ …
Xót xa Hồ Trường!
………..
[*] “Vỗ gươm mà hát/ Nghiêng bầu mà hỏi/ Trời đất mang mang ai người tri kỷ/ Lại đây cùng ta cạn một hồ trường/ Hồ trường! Hồ trường!/ Ta biết rót về đâu?(Hồ Trường – Nguyễn Bá Trác)

3. Tương Tiến Tửu Ai?

“Nhân sinh đắc ý nâng bầu vui uống trọn…
Ba trăm chung ta uống cạn một lần”…(NL dịch – Mời uống rượu – Lý Bạch)[1]
.
Ai người tri kỷ cùng ta cạn chén?
Ngâm khúc cổ thi thống hận Hồ Trường
Hồ Trường! Hồ Trường! Ta rót mười phương
Chiêu hồn chiến hữu đắng môi Hồ Trường
.
“Hồ Trường! Hồ Trường! Ai say ai tỉnh?”
Nhớ Tháng Tư nao nâng chén Hồ Trường? [2]
“Tháng Tư buông súng” còn nhớ hay quên?
“Nhân sinh thất chí” thống hận Hồ Trường!
.
Tháng Tư năm đó lạc mất đời nhau
Đoạn trường dâu bể tình đã còn đâu?
Kiếp đời tha phương tìm đâu tri kỷ?
“Tương tiến tửu” ai? Trọn chén Hồ Trường!
……………….
[1] Nhân sinh đắc ý tu tận hoan…/ Hội tu nhất ẩm tam bách bôi…(Tương tiến tửu -Lý Bạch) Dịch nghĩa: Con người ta sống mà được đắc ý thì nên hết sức vui…/ Gặp nhau nên uống một lần ba trăm chén (Mời uống rượu)
[2] Hồ trường: “Vỗ gươm mà hát/ Nghiêng bầu mà hỏi/ Trời đất mang mang ai người tri kỷ/ Lại đây cùng ta cạn một hồ trường (Hồ Trường -Nguyễn Bá Trác)
.
Nguyên Lạc

 

Thơ Nguyên Lạc

nguyet mo

NGƯỜI TÌNH

Người tình tôi những vần thơ
Hồn tôi thờ thẫn ngu ngơ bước vào
*
Tìm tình tôi ngóng trăng sao
Thấy trời thăm thẳm một màu đìu hiu
Tìm tình chỉ thấy cô liêu
Những chiều thu vắng hắt hiu lá sầu
.
Chờ tình tôi thấy mưa mau
Góc đời quán vắng khúc đau sợi buồn
“Nghìn trùng xa cách” sâm thương *
“Giang đầu giang vĩ sông Tương nhắn lời” **
.
Người tình đêm huyễn mộng trôi
“Đêm ba mươi đến thăm người” đón xuân ***
Người tình một thuở bâng khuâng
Phượng hồng theo dấu ngại ngần trao thơ
.
Người tình tôi nỗi bơ vơ
Cô miên đất khách bạc phơ mái đầu
Tìm tình tôi biết tìm đâu?
Phố người lạ lẫm trăng màu bể dâu
.
Người tình xuân đến buồn sao
Đâu vàng hoa nắng? Trắng màu tuyết rơi
Người tình chong nến mồ côi
Tiếng đời tích tắc ngoài trời trăng đau
.
Tìm tình thôi hết mùa ngâu
Còn đâu đàn quạ nối cầu sông Ngân
Người tình giọt nhớ lưu vong
Dạ quỳnh không nở đêm mong hương người
.
Người tình ly rượu trên tay
Câu thơ nhức nhối đắng cay lời tình

*
Thế gian nhiều nỗi điêu linh
Ước mơ vô vọng tìm tình trong thơ
Thôi tôi đành chịu dại khờ
Tình tôi khóc ngấ́t bên bờ tử sinh
.
Người đâu?
Tôi khóc một mình
Nghìn năm nhan sắc …
Chỉ hình bóng thơ
……………..
* Nghìn trùng xa cách người đã đi rồi/ Còn gì đâu nữa mà khóc với cười/ (Nghìn trùng xa cách – Nhạc Phạm Duy)
** Quân tại Tương giang đầu/ Thiếp tại Tương giang vĩ/ Tương tư bất tương kiến/ Đồng ẩm Tương giang thuỷ. – Lương Ý Nương
*** Em đến thăm anh đêm ba mươi/ Còn đêm nào vui bằng đêm ba mươi… (Em Đến Thăm Anh Đêm 30 – Nhạc Vũ Thành An, thơ Nguyễn Đình Toàn)

NGUYỆT MƠ

Hôm nay xuống phố tìm người
Thấy không? Không thấy! Đâu rồi dáng thân?
Thấy không? Chỉ thấy người dưng
Thấy không? Không thấy! Sáng rằm trăng nao?
.
Thôi tôi trở lại đồi cao
Ngắm mây lũng thấp ngắm màu ráng pha
Ngắm dòng suối biếc trong veo
Ngắm trăng giỡn nước thông reo gió hòa
Sóng trăng nhung mượt lụa là
Thấy em nguyệt rạng bao la khôn cùng
.
Thì ra tình vẫn mông lung
Làm sao tìm thấy ở vùng phố đông?
Phố đông phố của người dưng
Trời cao biển thấp trập trùng trăng soi
.
Nguyệt em vẫn mãi trong tôi
Tìm nơi phố thị
Muôn đời huyễn mong
Hiểu lòng nhân thế
Chắc không?
Núi cao lũng thấp thôi cùng nguyệt mơ
.
Nguyên Lạc

 

Thơ Nguyên Lạc

biển chiều VTV

RƯỢU CHIỀU LỮ THỨ
.
Tay nâng chén rượu chiều rơi
Mời ai cạn chén kiếp đời lưu vong?
Mời em. nhan sắc còn không?
Mời tôi. tan mộng trăm năm nỗi sầu!
.
Hồ Trường biết rót về đâu? [*]
Về đâu rồi cũng một màu tàn phai!
.
Uống đi! Cạn chén đắng cay
Xé câu thơ cổ thả bay lũng chiều
Tà huy đổ bóng liêu xiêu
“Hồ Trường! Say. tỉnh?”
Hắt hiu đất trời!
.
Sao không say hở tôi ơi?
Tỉnh chi? Sầu với cỏ cây. Hồ Trường!
……….
[*] “Vỗ gươm mà hát/ Nghiêng bầu mà hỏi/ Trời đất mang mang ai người tri kỷ/ Lại đây cùng ta cạn một hồ trường/ Hồ trường! Hồ trường!/ Ta biết rót về đâu? (Hồ Trường -Nguyễn Bá Trác)
.
THÁNG BA NĂM ĐÓ

Tháng ba người nhớ hay không?
“Tháng ba gãy súng” não nùng đời nhau [*]
.
Tháng ba lại tháng ba nào
Tháng ba năm đó làm sao quên người?
Tháng ba vỡ mộng tình đôi
Tháng ba buồn lắm tình tôi nghìn trùng!
.
Mười năm Từ Thức về trần
Thấy đời hụt hẫng đoạn trường bể dâu
Tìm người tôi biết tìm đâu?
Tìm trong nỗi nhớ những câu nhạc tình
“Chanh đường uống ngọt môi trinh”[**]
Phố xưa góc cũ …
U minh cuộc đời!
.
Thôi tôi mất dấu em rồi!
Tháng ba năm đó tàn đời thanh xuân!
Chiều nay nâng chén Hồ Trường
Hồn người năm cũ nỗi lòng tháng ba
.
Tháng ba thời đó đã xa
Xa rồi. xa lắm… sao ta đắng lòng?
Tháng ba còn nhớ hay không?
Tháng ba. đừng nhớ!
Dặn lòng … Lại quên!
.
Tháng ba nâng chén mình ên
Hồn người lính cũ buồn tênh cuộc tình
Tháng ba nghiêng chén nhân sinh
Mời hồn chiến hữu …
An bình viễn phương!
.
Vô thường. đời đó vô thường
Thôi thì. đây rượu thay hương … khóc người!
…………..
[*] Tên sách “Tháng Ba Gãy Súng” – hồi ký Cao Xuân Huy
[**] Lời nhạc Trả Lại Em Yêu của Phạm Duy
..
CHIÊU HỒN
.
Động chiều tám sải hồng chung
Nhắc người: Sinh Tử. Sắc Không. Vô thường
Chiêu hồn chiến hữu mười phương
Rượu đây nghiêng chén thay hương tưởng người
.
Chén nghiêng rượu đổ tôi mời
Bạn. miên viễn. hãy cùng tôi đối sầu
Thanh xuân tàn mộng còn đâu!
Tang thương. oan nghiệt. xa nhau nghìn trùng
.
Thôi thì đây chén tình chung
Nhớ không? thơ cổ Hồ Trường cùng ngâm
Xa rồi xa lắm buồn không?
Vĩnh hằng cõi đó bình thường bạn tôi?
.
Tháng ba! Lại tháng ba rồi!
“Tháng ba gãy súng” một thời cố quên [*]
Chiều nay lữ thứ buồn tênh
Rượu. câu thơ cổ. thay hương khóc người
……………..
[*] Tên sách hồi ký của Cao Xuân Huy
.
NÂNG CHÉN HỒ TRƯỜNG
.
Lũng chiều hoa cỏ bâng khuâng
Tay cầm hạt lệ hòa cùng chén cay
Hồ Trường rót nỗi sầu dài
Rót về xa đó phương đoài mù sương
.
Trách đời dâu bể đoạn trường
Hận người chia rẽ sâm thương nghìn trùng
Còn đâu lời hứa tình chung?
“Ba sinh hương lửa”. Não nùng tình tôi [*]
.
Thôi thì “bèo dạt mây trôi”
Thôi thì lữ thứ kiếp đời lưu vong
Chiều nay sương lạnh trong hồn
Tay nâng chén đắng Hồ Trường …
Mời ai?
.
Ai người tri kỷ cùng tôi?
Ngâm câu thơ cổ đắng môi Hồ Trường
Hồ Trường tôi rót một phương
Lũng chiều
Cô lữ
Quê hương
Nguyệt người
.…………….
[*] Hương lửa là cây hương đang cháy.”Hương lửa ba sinh” được dùng để chỉ lời nguyền, lời thề có ứng nghiệm đến ba kiếp, ba đời người: Quá khứ, hiện tại và kiếp sau.

Nguyên Lạc

 

KHÔNG LÀM THƠ, LÀM GÌ?

Nguyên Lạc

nguyenlac-1

Buồn, buột miệng bạn hỏi:
– “Làm thơ để làm chi?”
Không làm thơ, làm gì?
Bạn trả lời tôi đi
.
Thâm Tâm buồn ly khách
Chí lớn bàn tay không
Chúng ta cùng “một lứa” [1]
“Lận đận” đời lưu vong
.
Tha phương buồn không bạn?
Áo cơm nợ tháng năm
Sờ đầu dài tóc trắng
Không làm thơ, làm gì?
.
Làm thơ nhớ quê hương
Quê hương tôi Việt Nam
Lập quốc đã ngàn năm
“… định phận tại Thiên Thư!” [2]
.
Giọt cà phê ưu tư
Khói vương mắt lệ mờ
Hồn thống trầm lính cũ
Không làm thơ, làm gì?
.
Tôi cầm ly cà- phê
Quá khứ đọng đáy ly
Không làm thơ, làm gì?
Bạn trả lời tôi đi?
.
Không làm thơ, làm gì?
Chẳng lẽ bóp nát ly?
.
Nguyên Lạc
………………
[1] Đồng thị thiên nhai lưu lạc nhân/Cùng một lứa bên trời lận đấm- Bạch Cư Dị/ Phan Huy Vịnh
[2] Nam quốc sơn hà Nam đế cư/Tiệt nhiên định phận tại thiên thư/Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm/Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư. (Nam quốc sơn hà – Lý Thường Kiệt)

VĨNH BIỆT THÁI THANH

Nguyên Lạc

thai thanh

“Người Về” hay người đã ra đi?
Đi. Về. người hỡi cũng “Biệt Ly” *
“Dòng Sông Xanh” biếc “Thuyền Viễn Xứ”
“Con Thuyền Không Bến” “… Ngàn Dặm Ra Đi”
.
“Ngậm Ngùi” “Hoài Cảm” thương tiếc người đi
“Nghìn Trùng Xa Cách” biết nói năng chi?
“Mùa Thu Chết” rồi, “Ngàn Thu Áo Tím”
“Bài Hương Ca Vô Tận” hạt lệ phân kỳ
.
“Nghìn trùng xa cách người đã đi rồi”
“Còn gì đâu nữa …” người của một thời!
Người đi “Còn Chút Gì Để Nhớ”
Một chút này thôi mãi muôn đời
.
“Đường Xưa Lối Cũ” tìm đâu thấy
Lên non tôi tìm “Động Hoa Vàng”
“Đôi Mắt Người Sơn Tây” thăm thẳm
Tiễn người buồn như người ấy “Sang Ngang”
.
“Mơ Giấc Mộng Dài” “Bên Cầu Biên Giới”
“Mộng Du” “Dạ Khúc” riêng nhớ tưởng người
Muôn trùng miên viễn an bình nhé!
Vĩnh biệt! Lời buồn tiễn … Thơ tôi!
………..
* Dùng tên một số bài nhạc Thái Thanh đã hát
.
Nguyên Lạc

 

 

BA MƯƠI NĂM VẪN …

Nguyên Lạc 

ao dai phuong
.
Ba mươi năm vẫn còn thương
Ngây thơ ngày đó còn vương tới giờ
.
1.
Tới giờ em vẫn còn thơ
Trong anh em vẫn dáng xưa nhu mì
Gió nào cuốn được bay đi?
Ba mươi năm vẫn mê si tình nàng
.
Tan trường tha thướt áo sương
Ba mươi năm đó còn thương tới giờ
Em mười sáu tuổi ngây thơ
Anh hai mươi tuổi ngẩn ngơ tóc thề
.
2.
Đổi thay dâu bể não nề
Đau thương nhân thế bốn bề điêu linh
Ba mươi năm vẫn bóng hình
Thướt tha áo lụa tan trường ngày xưa
.
Em mười sáu tuổi ngây thơ
Anh hai mươi tuổi ngẩn ngơ phượng hè
Viễn phương lữ khách nhớ về
Ba mươi năm vẫn si mê một người
.
3.
Mong manh như hạt sương mai
Ba mươi năm vẫn trong tôi thuở nào
Trường xưa dài áo lụa đào
Mùa hè phượng đỏ tình nào tôi say!
.
Ba mươi năm vẫn không thôi
Em mười sáu tuổi và tôi dại khờ
Hai mươi tôi vẫn ngu ngơ
Dĩ nhiên tình đó … vần thơ ưu hoài!
.

RA KHƠI

Nguyên Lạc  
biển chiều VTV
Mênh mông nước với trời
Nhấp nhô thuyền ra khơi
Trên đầu trăng nức nở
Sóng xô lụa vàng phơi
.
Thuyền lung linh mờ tỏ
Tay chạm hạt tình rơi
Câu biệt li mắt đỏ
Khôn cùng đường chia phôi
.
Thuyền viễn phương mờ ảo
Trăng dõi bóng lưng trời
Sông Tương dù hai ngả
Nước chỉ một giòng thôi
.
Hương tóc bay muôn thuở
Tiếng tình mưa thu rơi
Quỳnh mãn khai đêm vỡ
Nhan sắc hoài khôn nguôi!
.
Mênh mông nước chạm trời
Nhấp nhô thuyền xa trôi
Lung linh mờ … mờ … bóng
Môi mặn hạt tình rơi!

.  

TIỄN BẠN VỀ CÕI …

.
Tiễn người tôi tiễn đưa người
Khăn tang áo trắng cùng lời biệt ly
Biệt ly bạn đã ra đi
Ra đi là mãi phân kỳ bạn ơi!
.
Tiễn người mây trắng lưng trời
Tiễn người tôi tiễn buồn ơi nghìn trùng!
.
Biển đời lệ khổ nhân sinh
Thì thôi hãy nhớ Tâm kinh: Vô thường *
.
Nguyên Lạc
…………….
Xá Lợi Tử! Sắc bất dị không, không bất dị sắc. Sắc tức thị không, không tức thị sắc… (Bát Nhã Tâm Kinh)

Thơ Nguyên Lạc

ao-dai-6

NGƯỜI VỀ MÙA DÃ QUỲ NỞ
.
Dã quỳ vàng cả chiều hoang
Tìm em chỉ thấy lụi tàn trong tôi
Giọt sầu uống cạn đi thôi
Lệ tình hãy nuốt để rồi phân ưu
.
Mùa thu lâu lắm mùa thu
Mùa thu năm đó xuân thu chia lìa
Người rồi từ giả ra đi
Dã quỳ vàng cuộc từ ly đã từng
.
Người về lạnh một mùa đông
Dã quỳ đang nở nhưng không thắm vàng
Tà huy đổ bóng chiều tan
Màu quỳ úa thẫm như than người về
.
Về chi? Không mãi ra đi
Về chi? Đắ́ng cuộc từ ly ngày nào
Dã quỳ cánh rũ hư hao
Người về hụt hẫng thấy đau lời thề!
.
Nguyên Lạc 

 NGƯỜI VỀ TÌM LẠI MÀU HOA

.
Tường vy mùa nở tôi về
Thấy tôi đứng giữa bốn bề tàn phai
Giáo đường “chuông gọi hồn ai”?
Về chi? Chỉ thấy nỗi hoài cố nhân
.
Đường xưa lạ lẫm bước chân
Phố xưa hiu hắt bâng khuâng góc sầu
Quán xưa đâu? Cố nhân đâu?
Cà-phê giọt đắng rơi câu nhạc buồn
.
Mười năm không gặp tưởng quên” *
Bao năm cách biệt dặn lòng hãy thôi …
Về chi? Hụt hẫng tình tôi
Người giờ mắt lạ biết rồi có quen?!
.
Tường vy sắc tím buồn tênh
Người về tìm lại cuộc tình đã qua
Đã qua có nghĩa mù xa
Làm sao giữ được ánh tà huy phai?
.
Nguyên Lạc
………………
Mười Năm Không Gặp (Mười Năm Tình Cũ ) – tên bài nhạc Trần Quảng Nam

LỤC VÂN TIÊN CÕNG MẸ VIỆT NAM

Nguyên Lạc

1.

Trước đèn xem truyện Tây Minh [*]
Giận loài ngạ quỷ vong tình tiền nhân
Nước non rồi sẽ còn không ?
Chúng đem dâng trọn mưu toan Hán hồ
Quên câu Nam quốc Sơn hà [**]
Đoạn đành đốt cháy cơ đồ Việt Nam
Rồi xong dòng dõi rồng tiên
Hận phường bội nghĩa bạc tình ông cha!

2.

Vân Tiên giải cứu Mẹ già
Tránh phường bạo ngược cõng ra sân ngoài
Vân Tiên cõng Mẹ chạy dài
Đụng phường thảo khấu vội quày vào trong
Vân Tiên cõng Mẹ chạy rong
Đụng phường phù Hán vội vòng quay lui
Vân Tiên cõng Mẹ trở lùi
Gặp phải một lũ dùi cui vong tình
Vân Tiên uất hận bất bình
Ghét thay cho lũ âm binh côn đồ
.
Vân Tiên vội cõng Mẹ vô
Gặp phải một lũ xí xô xí xào
Giật mình chẳng biết tại sao?
Corona chúng truyền vào nước ta
Vân Tiên hoảng vía chạy xa
Biên cương mở ngõ Corona tung hoành
Vân Tiên cõng Mẹ loanh quanh
Khẩu trang đã hết thôi đành Mẹ ơi
Phương nao bỏ chạy đây trời?
Tội thay dân Việt sẽ rồi bình an?
.
Dối người lẽo lự ngụy ngôn
Giang sơn xã tắc đem dâng Hán triều
Thế là gấm vóc sẽ tiêu
Thế là nước Việt mến yêu tan tành!
Ngẩng đầu than với trời xanh
Hận cho một lũ lưu manh bạc tình
Biết bao xương máu dân mình
Công ơn tiên tổ chúng đành lãng quên!
.

“Chạy miết rồi đụng vô mình
Vân Tiên cõng mẹ thình lình ngộ ra”
Ngàn năm xây dựng sơn hà
Thiên thu vẫn mãi … mãi là Việt Nam
.
Nguyên Lạc
……………….
[*] Tây Minh là những bài Trương Tái tóm lược và diễn giảng những điều ông tâm đắc về triết lý nhân sinh của đạo Nho, những nguyên lý đạo đức của thánh hiền mà ông học được và đem truyền thụ theo cách hiểu của mình cho học trò.
Nguyễn Đình Chiểu đọc và tâm đắc bài Tây Minh, ông dùng nó làm nền tảng tư tưởng triết học cho nhân vật Lục Vân Tiên.
Kêu rằng bớ đảng hung đồ
Chớ quen làm thói hồ đồ hại dân
[**] Nam quốc sơn hà Nam đế cư/ Tiệt nhiên định phận tại thiên thư/ Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm/ Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư.- Lý Thường Kiệt

….

+ Nhân vụ dịch viêm phổi Vũ Hán do vi khuẩn Corona truyền vào Việt Nam, tôi đăng lại bài thơ này. Bài thơ này trích từ bài viết cùng tên đã đăng 

LỤC VÂN TIÊN CÕNG MẸ VIỆT NAM – Nguyên Lạc

HỒN NGƯỜI LÍNH CŨ

Nguyên Lạc
LINH VO DANH2

Đã rồi một trận máu tanh
Hồn xưa lính cũ tan thành quách xưa
Lạc ơi! Gió lạnh mưa thưa
Bao năm hồn cũ bây giờ còn đâu?

 (Trần Phù Thế)
.
*

Mùa xuân hoa nở khoe màu
Hồn người lính cũ nỗi sầu thời qua
Còn đâu? Tình đó thiết tha
Ngày xuân đất khách chỉ là … người ơi!
.
Bạn bè dăm đứa một thời
Khói cay đôi mắt. giọt rơi đáy sầu
Lính ơi! đâu có gì đâu?
Mà lòng trầm thống. mà rầu xuân thu
.
Buồn chi? Chỉ khói sương mù
Hợp. tan. hạt bụi bay vù thời không
Lời kinh. vạn pháp vô thường
“Thịnh suy. mộng huyễn bọt sương chớp lòe.” [*]
.
Nguyên Lạc
……………….
[*] “Nhất thiết hữu vi pháp/ Như mộng, huyễn, bào, ảnh/ Như lộ diệc như điện/ Ưng tác như thị quán.”- kinh Kim Cang
Dịch nghĩa: Tất cả pháp hữu vi/ Như mộng, huyễn, bọt, bóng/ Như sương, như chớp loé/ Hãy quán chiếu như thế.

TRĂNG NGUYÊN TIÊU

Nguyên Lạc

trang-31

Hiên đời lữ khách mồ côi
Nguyên tiêu trăng lạnh trêu tôi bóng hình
Quỳnh hương trầm ngát thân trinh
Vẳng khuya điệp khúc muôn trùng vọng âm
.
Cố nhân sương khói mù không
Đã rồi yêu dấu mông lung nghìn trùng
.
Nguyên tiêu huyễn mộng trăng chung
Đào hoa nhân diện … ánh hồng nơi nao“? *
Nhớ câu thơ cổ buồn sao
Khứ niên kim nhật “… Kiếp nào gặp đây?
.
Tôi và tôi chén rượu cay
Nguyệt và tôi mối tình hoài thiên thu!
……….
Ý thơ: “Khứ niên kim nhật thử môn trung/ Nhân diện đào hoa tương ánh hồng/ Nhân diện bất tri hà xứ khứ/ Đào hoa y cựu tiếu đông phong” – Đề Đô Thành Nam Trang của Thôi Hiệu
.
Nguyên Lạc

NGUYÊN TIÊU
CỐ NHÂN LỘNG NGUYỆT

.
“Nguyên tiêu chi dạ hoa lộng nguyệt” (thơ Đường) (*)
“Từ khi em là nguyệt/ trong tôi có những mặt trời” (Trịnh Công Sơn) (**)

.
*
Trăng trong hắt đổ bóng dài
Cố nhân lộng nguyệt?
Trang đài quỳnh xưa
Nguyên tiêu. hoa mãn khai chưa?
Để tôi huyễn mộng hương xưa khơi tình!
.
Nguyên tiêu. rực ký ức mình
Trong tôi trọn vẹn bóng hình nguyệt xưa
Mưa đêm níu giữ chân về
Tay ôm tình ngất đê mê quỳnh người
.
Từng vuông da thịt ngọt môi
Cho nhau quên cả đất trời ngoài song
Tiếng mưa cùng tiếng nhạc lòng
Hòa tan từng nốt …
Đêm mong vô cùng
.
*
Người rồi mất dấu tình chung
Nguyên tiêu thinh vắng tôi cùng bóng tôi!
Tưởng như trăng chỉ trăng thôi
Lộng tôi. nguyệt sáng
Trêu tôi. bóng người!
.
Từ khi em nguyệt trong tôi…“(**)
Từ em thôi nguyệt … Mồ côi trăng tàn!
.
Nguyên tiêu trăng sáng khôn cùng
Cố nhân lộng nguyệt hãi hùng thi nhân
Một trăng. Một bóng. Mông lung
Thiên thu tình nguyệt vô ngần em ơi!
………
(*) Đêm Nguyên tiêu hoa đùa giỡn trăng
(**) Từ khi trăng là nguyệt/ đèn thắp sáng trong tôi
Từ khi em là nguyệt/ trong tôi có những mặt trời (Trịnh Công Sơn)

.
Nguyên Lạc