Thơ Nguyên Lạc

RƯỢU CHIỀU LỮ THỨ
.
Tay nâng chén rượu chiều rơi
Mời ai cạn chén kiếp đời lưu vong?
Mời em. nhan sắc còn không?
Mời tôi. tan mộng trăm năm nỗi sầu!
.
Hồ Trường biết rót về đâu? [*]
Về đâu rồi cũng một màu tàn phai!
.
Uống đi! Cạn chén đắng cay
Xé câu thơ cổ thả bay lũng chiều
Tà huy đổ bóng liêu xiêu
“Hồ Trường! Say. tỉnh?”
Hắt hiu đất trời!
.
Sao không say hở tôi ơi?
Tỉnh chi? Sầu với cỏ cây. Hồ Trường!
……….
[*] “Vỗ gươm mà hát/ Nghiêng bầu mà hỏi/ Trời đất mang mang ai người tri kỷ/ Lại đây cùng ta cạn một hồ trường/ Hồ trường! Hồ trường!/ Ta biết rót về đâu? (Hồ Trường -Nguyễn Bá Trác)
.
.
THÁNG BA NĂM ĐÓ

Tháng ba người nhớ hay không?
“Tháng ba gãy súng” não nùng đời nhau [*]
.
Tháng ba lại tháng ba nào
Tháng ba năm đó làm sao quên người?
Tháng ba vỡ mộng tình đôi
Tháng ba buồn lắm tình tôi nghìn trùng!
.
Mười năm Từ Thức về trần
Thấy đời hụt hẫng đoạn trường bể dâu
Tìm người tôi biết tìm đâu?
Tìm trong nỗi nhớ những câu nhạc tình
“Chanh đường uống ngọt môi trinh”[**]
Phố xưa góc cũ …
U minh cuộc đời!
.
Thôi tôi mất dấu em rồi!
Tháng ba năm đó tàn đời thanh xuân!
Chiều nay nâng chén Hồ Trường
Hồn người năm cũ nỗi lòng tháng ba
.
Tháng ba thời đó đã xa
Xa rồi. xa lắm… sao ta đắng lòng?
Tháng ba còn nhớ hay không?
Tháng ba. đừng nhớ!
Dặn lòng … Lại quên!
.
Tháng ba nâng chén mình ên
Hồn người lính cũ buồn tênh cuộc tình
Tháng ba nghiêng chén nhân sinh
Mời hồn chiến hữu …
An bình viễn phương!
.
Vô thường. đời đó vô thường
Thôi thì. đây rượu thay hương … khóc người!
…………..
[*] Tên sách “Tháng Ba Gãy Súng” – hồi ký Cao Xuân Huy
[**] Lời nhạc Trả Lại Em Yêu của Phạm Duy
..
CHIÊU HỒN
.
Động chiều tám sải hồng chung
Nhắc người: Sinh Tử. Sắc Không. Vô thường
Chiêu hồn chiến hữu mười phương
Rượu đây nghiêng chén thay hương tưởng người
.
Chén nghiêng rượu đổ tôi mời
Bạn. miên viễn. hãy cùng tôi đối sầu
Thanh xuân tàn mộng còn đâu!
Tang thương. oan nghiệt. xa nhau nghìn trùng
.
Thôi thì đây chén tình chung
Nhớ không? thơ cổ Hồ Trường cùng ngâm
Xa rồi xa lắm buồn không?
Vĩnh hằng cõi đó bình thường bạn tôi?
.
Tháng ba! Lại tháng ba rồi!
“Tháng ba gãy súng” một thời cố quên [*]
Chiều nay lữ thứ buồn tênh
Rượu. câu thơ cổ. thay hương khóc người
……………..
[*] Tên sách hồi ký của Cao Xuân Huy
.
.
NÂNG CHÉN HỒ TRƯỜNG
.
Lũng chiều hoa cỏ bâng khuâng
Tay cầm hạt lệ hòa cùng chén cay
Hồ Trường rót nỗi sầu dài
Rót về xa đó phương đoài mù sương
.
Trách đời dâu bể đoạn trường
Hận người chia rẽ sâm thương nghìn trùng
Còn đâu lời hứa tình chung?
“Ba sinh hương lửa”. Não nùng tình tôi [*]
.
Thôi thì “bèo dạt mây trôi”
Thôi thì lữ thứ kiếp đời lưu vong
Chiều nay sương lạnh trong hồn
Tay nâng chén đắng Hồ Trường …
Mời ai?
.
Ai người tri kỷ cùng tôi?
Ngâm câu thơ cổ đắng môi Hồ Trường
Hồ Trường tôi rót một phương
Lũng chiều
Cô lữ
Quê hương
Nguyệt người
.…………….
[*] Hương lửa là cây hương đang cháy.”Hương lửa ba sinh” được dùng để chỉ lời nguyền, lời thề có ứng nghiệm đến ba kiếp, ba đời người: Quá khứ, hiện tại và kiếp sau.

Nguyên Lạc

 

KHÔNG LÀM THƠ, LÀM GÌ?

Nguyên Lạc

nguyenlac-1

Buồn, buột miệng bạn hỏi:
– “Làm thơ để làm chi?”
Không làm thơ, làm gì?
Bạn trả lời tôi đi
.
Thâm Tâm buồn ly khách
Chí lớn bàn tay không
Chúng ta cùng “một lứa” [1]
“Lận đận” đời lưu vong
.
Tha phương buồn không bạn?
Áo cơm nợ tháng năm
Sờ đầu dài tóc trắng
Không làm thơ, làm gì?
.
Làm thơ nhớ quê hương
Quê hương tôi Việt Nam
Lập quốc đã ngàn năm
“… định phận tại Thiên Thư!” [2]
.
Giọt cà phê ưu tư
Khói vương mắt lệ mờ
Hồn thống trầm lính cũ
Không làm thơ, làm gì?
.
Tôi cầm ly cà- phê
Quá khứ đọng đáy ly
Không làm thơ, làm gì?
Bạn trả lời tôi đi?
.
Không làm thơ, làm gì?
Chẳng lẽ bóp nát ly?
.
Nguyên Lạc
………………
[1] Đồng thị thiên nhai lưu lạc nhân/Cùng một lứa bên trời lận đấm- Bạch Cư Dị/ Phan Huy Vịnh
[2] Nam quốc sơn hà Nam đế cư/Tiệt nhiên định phận tại thiên thư/Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm/Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư. (Nam quốc sơn hà – Lý Thường Kiệt)

VĨNH BIỆT THÁI THANH

Nguyên Lạc

thai thanh

“Người Về” hay người đã ra đi?
Đi. Về. người hỡi cũng “Biệt Ly” *
“Dòng Sông Xanh” biếc “Thuyền Viễn Xứ”
“Con Thuyền Không Bến” “… Ngàn Dặm Ra Đi”
.
“Ngậm Ngùi” “Hoài Cảm” thương tiếc người đi
“Nghìn Trùng Xa Cách” biết nói năng chi?
“Mùa Thu Chết” rồi, “Ngàn Thu Áo Tím”
“Bài Hương Ca Vô Tận” hạt lệ phân kỳ
.
“Nghìn trùng xa cách người đã đi rồi”
“Còn gì đâu nữa …” người của một thời!
Người đi “Còn Chút Gì Để Nhớ”
Một chút này thôi mãi muôn đời
.
“Đường Xưa Lối Cũ” tìm đâu thấy
Lên non tôi tìm “Động Hoa Vàng”
“Đôi Mắt Người Sơn Tây” thăm thẳm
Tiễn người buồn như người ấy “Sang Ngang”
.
“Mơ Giấc Mộng Dài” “Bên Cầu Biên Giới”
“Mộng Du” “Dạ Khúc” riêng nhớ tưởng người
Muôn trùng miên viễn an bình nhé!
Vĩnh biệt! Lời buồn tiễn … Thơ tôi!
………..
* Dùng tên một số bài nhạc Thái Thanh đã hát
.
Nguyên Lạc

 

 

BA MƯƠI NĂM VẪN …

Nguyên Lạc 

ao dai phuong
.
Ba mươi năm vẫn còn thương
Ngây thơ ngày đó còn vương tới giờ
.
1.
Tới giờ em vẫn còn thơ
Trong anh em vẫn dáng xưa nhu mì
Gió nào cuốn được bay đi?
Ba mươi năm vẫn mê si tình nàng
.
Tan trường tha thướt áo sương
Ba mươi năm đó còn thương tới giờ
Em mười sáu tuổi ngây thơ
Anh hai mươi tuổi ngẩn ngơ tóc thề
.
2.
Đổi thay dâu bể não nề
Đau thương nhân thế bốn bề điêu linh
Ba mươi năm vẫn bóng hình
Thướt tha áo lụa tan trường ngày xưa
.
Em mười sáu tuổi ngây thơ
Anh hai mươi tuổi ngẩn ngơ phượng hè
Viễn phương lữ khách nhớ về
Ba mươi năm vẫn si mê một người
.
3.
Mong manh như hạt sương mai
Ba mươi năm vẫn trong tôi thuở nào
Trường xưa dài áo lụa đào
Mùa hè phượng đỏ tình nào tôi say!
.
Ba mươi năm vẫn không thôi
Em mười sáu tuổi và tôi dại khờ
Hai mươi tôi vẫn ngu ngơ
Dĩ nhiên tình đó … vần thơ ưu hoài!
.

RA KHƠI

Nguyên Lạc  
biển chiều VTV
Mênh mông nước với trời
Nhấp nhô thuyền ra khơi
Trên đầu trăng nức nở
Sóng xô lụa vàng phơi
.
Thuyền lung linh mờ tỏ
Tay chạm hạt tình rơi
Câu biệt li mắt đỏ
Khôn cùng đường chia phôi
.
Thuyền viễn phương mờ ảo
Trăng dõi bóng lưng trời
Sông Tương dù hai ngả
Nước chỉ một giòng thôi
.
Hương tóc bay muôn thuở
Tiếng tình mưa thu rơi
Quỳnh mãn khai đêm vỡ
Nhan sắc hoài khôn nguôi!
.
Mênh mông nước chạm trời
Nhấp nhô thuyền xa trôi
Lung linh mờ … mờ … bóng
Môi mặn hạt tình rơi!

.  

TIỄN BẠN VỀ CÕI …

.
Tiễn người tôi tiễn đưa người
Khăn tang áo trắng cùng lời biệt ly
Biệt ly bạn đã ra đi
Ra đi là mãi phân kỳ bạn ơi!
.
Tiễn người mây trắng lưng trời
Tiễn người tôi tiễn buồn ơi nghìn trùng!
.
Biển đời lệ khổ nhân sinh
Thì thôi hãy nhớ Tâm kinh: Vô thường *
.
Nguyên Lạc
…………….
Xá Lợi Tử! Sắc bất dị không, không bất dị sắc. Sắc tức thị không, không tức thị sắc… (Bát Nhã Tâm Kinh)

Thơ Nguyên Lạc

ao-dai-6

NGƯỜI VỀ MÙA DÃ QUỲ NỞ
.
Dã quỳ vàng cả chiều hoang
Tìm em chỉ thấy lụi tàn trong tôi
Giọt sầu uống cạn đi thôi
Lệ tình hãy nuốt để rồi phân ưu
.
Mùa thu lâu lắm mùa thu
Mùa thu năm đó xuân thu chia lìa
Người rồi từ giả ra đi
Dã quỳ vàng cuộc từ ly đã từng
.
Người về lạnh một mùa đông
Dã quỳ đang nở nhưng không thắm vàng
Tà huy đổ bóng chiều tan
Màu quỳ úa thẫm như than người về
.
Về chi? Không mãi ra đi
Về chi? Đắ́ng cuộc từ ly ngày nào
Dã quỳ cánh rũ hư hao
Người về hụt hẫng thấy đau lời thề!
.
Nguyên Lạc 

 NGƯỜI VỀ TÌM LẠI MÀU HOA

.
Tường vy mùa nở tôi về
Thấy tôi đứng giữa bốn bề tàn phai
Giáo đường “chuông gọi hồn ai”?
Về chi? Chỉ thấy nỗi hoài cố nhân
.
Đường xưa lạ lẫm bước chân
Phố xưa hiu hắt bâng khuâng góc sầu
Quán xưa đâu? Cố nhân đâu?
Cà-phê giọt đắng rơi câu nhạc buồn
.
Mười năm không gặp tưởng quên” *
Bao năm cách biệt dặn lòng hãy thôi …
Về chi? Hụt hẫng tình tôi
Người giờ mắt lạ biết rồi có quen?!
.
Tường vy sắc tím buồn tênh
Người về tìm lại cuộc tình đã qua
Đã qua có nghĩa mù xa
Làm sao giữ được ánh tà huy phai?
.
Nguyên Lạc
………………
Mười Năm Không Gặp (Mười Năm Tình Cũ ) – tên bài nhạc Trần Quảng Nam

LỤC VÂN TIÊN CÕNG MẸ VIỆT NAM

Nguyên Lạc

1.

Trước đèn xem truyện Tây Minh [*]
Giận loài ngạ quỷ vong tình tiền nhân
Nước non rồi sẽ còn không ?
Chúng đem dâng trọn mưu toan Hán hồ
Quên câu Nam quốc Sơn hà [**]
Đoạn đành đốt cháy cơ đồ Việt Nam
Rồi xong dòng dõi rồng tiên
Hận phường bội nghĩa bạc tình ông cha!

2.

Vân Tiên giải cứu Mẹ già
Tránh phường bạo ngược cõng ra sân ngoài
Vân Tiên cõng Mẹ chạy dài
Đụng phường thảo khấu vội quày vào trong
Vân Tiên cõng Mẹ chạy rong
Đụng phường phù Hán vội vòng quay lui
Vân Tiên cõng Mẹ trở lùi
Gặp phải một lũ dùi cui vong tình
Vân Tiên uất hận bất bình
Ghét thay cho lũ âm binh côn đồ
.
Vân Tiên vội cõng Mẹ vô
Gặp phải một lũ xí xô xí xào
Giật mình chẳng biết tại sao?
Corona chúng truyền vào nước ta
Vân Tiên hoảng vía chạy xa
Biên cương mở ngõ Corona tung hoành
Vân Tiên cõng Mẹ loanh quanh
Khẩu trang đã hết thôi đành Mẹ ơi
Phương nao bỏ chạy đây trời?
Tội thay dân Việt sẽ rồi bình an?
.
Dối người lẽo lự ngụy ngôn
Giang sơn xã tắc đem dâng Hán triều
Thế là gấm vóc sẽ tiêu
Thế là nước Việt mến yêu tan tành!
Ngẩng đầu than với trời xanh
Hận cho một lũ lưu manh bạc tình
Biết bao xương máu dân mình
Công ơn tiên tổ chúng đành lãng quên!
.

“Chạy miết rồi đụng vô mình
Vân Tiên cõng mẹ thình lình ngộ ra”
Ngàn năm xây dựng sơn hà
Thiên thu vẫn mãi … mãi là Việt Nam
.
Nguyên Lạc
……………….
[*] Tây Minh là những bài Trương Tái tóm lược và diễn giảng những điều ông tâm đắc về triết lý nhân sinh của đạo Nho, những nguyên lý đạo đức của thánh hiền mà ông học được và đem truyền thụ theo cách hiểu của mình cho học trò.
Nguyễn Đình Chiểu đọc và tâm đắc bài Tây Minh, ông dùng nó làm nền tảng tư tưởng triết học cho nhân vật Lục Vân Tiên.
Kêu rằng bớ đảng hung đồ
Chớ quen làm thói hồ đồ hại dân
[**] Nam quốc sơn hà Nam đế cư/ Tiệt nhiên định phận tại thiên thư/ Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm/ Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư.- Lý Thường Kiệt

….

+ Nhân vụ dịch viêm phổi Vũ Hán do vi khuẩn Corona truyền vào Việt Nam, tôi đăng lại bài thơ này. Bài thơ này trích từ bài viết cùng tên đã đăng 

LỤC VÂN TIÊN CÕNG MẸ VIỆT NAM – Nguyên Lạc

HỒN NGƯỜI LÍNH CŨ

Nguyên Lạc
LINH VO DANH2

Đã rồi một trận máu tanh
Hồn xưa lính cũ tan thành quách xưa
Lạc ơi! Gió lạnh mưa thưa
Bao năm hồn cũ bây giờ còn đâu?

 (Trần Phù Thế)
.
*

Mùa xuân hoa nở khoe màu
Hồn người lính cũ nỗi sầu thời qua
Còn đâu? Tình đó thiết tha
Ngày xuân đất khách chỉ là … người ơi!
.
Bạn bè dăm đứa một thời
Khói cay đôi mắt. giọt rơi đáy sầu
Lính ơi! đâu có gì đâu?
Mà lòng trầm thống. mà rầu xuân thu
.
Buồn chi? Chỉ khói sương mù
Hợp. tan. hạt bụi bay vù thời không
Lời kinh. vạn pháp vô thường
“Thịnh suy. mộng huyễn bọt sương chớp lòe.” [*]
.
Nguyên Lạc
……………….
[*] “Nhất thiết hữu vi pháp/ Như mộng, huyễn, bào, ảnh/ Như lộ diệc như điện/ Ưng tác như thị quán.”- kinh Kim Cang
Dịch nghĩa: Tất cả pháp hữu vi/ Như mộng, huyễn, bọt, bóng/ Như sương, như chớp loé/ Hãy quán chiếu như thế.

TRĂNG NGUYÊN TIÊU

Nguyên Lạc

trang-31

Hiên đời lữ khách mồ côi
Nguyên tiêu trăng lạnh trêu tôi bóng hình
Quỳnh hương trầm ngát thân trinh
Vẳng khuya điệp khúc muôn trùng vọng âm
.
Cố nhân sương khói mù không
Đã rồi yêu dấu mông lung nghìn trùng
.
Nguyên tiêu huyễn mộng trăng chung
Đào hoa nhân diện … ánh hồng nơi nao“? *
Nhớ câu thơ cổ buồn sao
Khứ niên kim nhật “… Kiếp nào gặp đây?
.
Tôi và tôi chén rượu cay
Nguyệt và tôi mối tình hoài thiên thu!
……….
Ý thơ: “Khứ niên kim nhật thử môn trung/ Nhân diện đào hoa tương ánh hồng/ Nhân diện bất tri hà xứ khứ/ Đào hoa y cựu tiếu đông phong” – Đề Đô Thành Nam Trang của Thôi Hiệu
.
Nguyên Lạc

NGUYÊN TIÊU
CỐ NHÂN LỘNG NGUYỆT

.
“Nguyên tiêu chi dạ hoa lộng nguyệt” (thơ Đường) (*)
“Từ khi em là nguyệt/ trong tôi có những mặt trời” (Trịnh Công Sơn) (**)

.
*
Trăng trong hắt đổ bóng dài
Cố nhân lộng nguyệt?
Trang đài quỳnh xưa
Nguyên tiêu. hoa mãn khai chưa?
Để tôi huyễn mộng hương xưa khơi tình!
.
Nguyên tiêu. rực ký ức mình
Trong tôi trọn vẹn bóng hình nguyệt xưa
Mưa đêm níu giữ chân về
Tay ôm tình ngất đê mê quỳnh người
.
Từng vuông da thịt ngọt môi
Cho nhau quên cả đất trời ngoài song
Tiếng mưa cùng tiếng nhạc lòng
Hòa tan từng nốt …
Đêm mong vô cùng
.
*
Người rồi mất dấu tình chung
Nguyên tiêu thinh vắng tôi cùng bóng tôi!
Tưởng như trăng chỉ trăng thôi
Lộng tôi. nguyệt sáng
Trêu tôi. bóng người!
.
Từ khi em nguyệt trong tôi…“(**)
Từ em thôi nguyệt … Mồ côi trăng tàn!
.
Nguyên tiêu trăng sáng khôn cùng
Cố nhân lộng nguyệt hãi hùng thi nhân
Một trăng. Một bóng. Mông lung
Thiên thu tình nguyệt vô ngần em ơi!
………
(*) Đêm Nguyên tiêu hoa đùa giỡn trăng
(**) Từ khi trăng là nguyệt/ đèn thắp sáng trong tôi
Từ khi em là nguyệt/ trong tôi có những mặt trời (Trịnh Công Sơn)

.
Nguyên Lạc

THƠ, CA DAO CHO NGÀY LỄ TÌNH YÊU

Nguyên Lc

luvtim

SƠ LƯỢC VỀ NGÀY VALENTINE

  1. Ý nghĩa của ngày Valentine

Ngày Valentine (tên tiếng Anh là Valentine’s Day, Saint Valentine’s Day) còn được gọi là ngày lễ tình yêu, ngày lễ tình nhân, diễn ra vào ngày 14/2 hàng năm. Đây là một trong những ngày lễ lớn tại châu Âu và Bắc Mỹ. Nó được đặt tên theo Thánh Valentine – một trong những vị Thánh tử vì đạo Kitô giáo đầu tiên.

 Valentine chính là dịp để cả thế giới tôn vinh tình yêu đôi lứa, tình cảm giữa các đôi tình nhân và rộng hơn là tình cảm bạn bè khác phái. Mỗi khi đến Valentine, người ta lại bày tỏ tình cảm cho nhau thông qua những lời chúc ngọt ngào hay những món quà ý nghĩa như thiệp, hoa hồng, socola, tấm thiệp tình yêu xinh xắn …

.

  1. Nguồn gốc của ngày Valentine

Có rất nhiều giả thuyết về nguồn gốc của ngày lễ tình nhân Valentine, nhưng giả thuyết được nhiều người chấp nhận nhất là câu chuyện của vị linh mục có tên Valentine dưới thời Hoàng đế La Mã Claudius II ở thành La Mã (Rome).

Vào khoảng thế kỷ thứ III, Đế quốc La Mã phải tham gia nhiều cuộc chiến tranh. Do gặp khó khăn trong việc kêu gọi các chàng trai trẻ tham gia nhập ngũ – họ không muốn xa gia đình hay người yêu. Claudius II cho rằng hôn nhân chỉ làm đàn ông yếu mềm, nên ông đã ban lệnh cấm người dân tổ chức lễ đính hôn hoặc đám cưới để toàn lực tập trung vào chiến tranh.

Sắc lệnh của nhà vua vấp phải sự phản đối của nhiều người, trong đó có linh mục Valentine ở thành La Mã và Thánh Marius. Họ tiếp tục cử hành lễ cưới cho các đôi vợ chồng trẻ trong bí mật. Không lâu sau đó, việc này bị phát hiện, linh mục Valentine bị bắt và kết án tử hình bằng thức kéo lê và bị ném đá cho đến chết vào ngày 14/2/273. Tuy nhiên vào buổi chiều trước khi ra pháp trường, ông đã gửi tấm “thiệp Valentine” đầu tiên cho con gái của người cai tù, ông này tên Asterius – một người thiếu nữ mù lòa bẩm sinh đã được ông chữa lành bằng phép màu lạ. Trên tấm thiệp, mà linh mục Valentine gửi có ký tên “dal vostro Valentino” (From your Valentine – từ Valentine của em/con). Dần dần, ngày 14 tháng 2 hằng năm đã trở thành ngày mà các cặp tình nhân trao đổi các bức thông điệp của tình yêu. Thánh Valentine cũng từ đó trở thành vị Thánh bổn mạng của những lứa đôi.

– Những cánh chim tình của Chaucer

Năm 1382, nhà thơ Geoffrey Chaucer viết một bài thơ “Nghị hội của đám đông” (Parlement of Foules) trong đó có những câu nói về ngày Thánh Valentine:

.

For this was on saint Valentine’s day

When every birds came there to choose his make…

Vì vào ngày Thánh Valentine này,

Những cánh chim bay về đó để chọn bạn tình…

.

Bài thơ này được viết để tôn vinh kỷ niệm một năm lễ đính hôn của Vua Richard II của Anh với Anne của Bohemia, một hiệp ước hôn nhân đã được ký kết vào ngày 02 tháng 5 năm 1381, và hôn lễ được cử hành 8 tháng sau đó

( Theo Wikipedia)

.

Valentine ban đầu chỉ là ngày lễ riêng ở Bắc Mỹ và châu Âu, nhưng sau này nó được phổ biến tại hầu hết các quốc gia trên thế giới, trong đó có cả Việt Nam

.

  1. Các ngày Valentine

Theo truyền thống thì Valentine chỉ có 1 ngày duy nhất vào 14/2 hằng năm. Tuy nhiên 1 ngày lễ tình nhân dường như chưa đủ để người ta thể hiện hết tình cảm với nhau, nên ngoài ngày Valentine 14/2 chánh ra, người ta đã tổ chức thêm 2 ngày Valentine nữa:  Vào ngày 14/3 và ngày 14/4. Vậy có 3 ngày Valentine:

– Valentine đỏ

Valentine đỏ là ngày lễ tình nhân truyền thống, được tổ chức vào ngày 14/2 theo “truyền thuyết” về Thánh Valentine. Đây là dịp để người ta bày tỏ tình cảm của mình với người thương/yêu thông qua những món quà, những lời chúc thật ngọt ngào.

– Valentine trắng

Valentine trắng (White Day, White Valentine) được tổ chức vào ngày 14/3 hằng năm, đúng một tháng sau ngày Valentine đỏ. Valentine trắng bắt nguồn từ câu chuyện của một chàng trai Nhật Bản, 1965. Anh muốn đáp lại tình cảm của cô gái đã tặng quà cho mình vào Valentine đỏ nên đã làm một hộp kẹo trắng như tuyết rất to để gửi đến cô gái. Từ đó, Ngày Trắng ra đời.  White Day lần đầu tiên được tổ chức vào năm 1978 ở Nhật Bản rồi dần được biến thể trở thành Valentine trắng phổ biến rộng rãi ở nhiều nước trên thế giới.

Valentine trắng là “ngày trả lời” đối với ngày Valentine đỏ. Vào ngày này, các chàng trai sẽ đáp lại tình cảm của người con gái yêu mến mình trong suốt thời gian qua bằng một món quà ý nghĩa hoặc lời nói thật cảm động.

Valentine đen

Valentine đen có nguồn gốc từ Hàn Quốc, diễn ra vào ngày 14/4. Khác với Valentine đỏ và Valentine trắng, Valentine Đen là ngày dành riêng cho những thành viên của hội độc thân (FA).

.

HAI BÀI THƠ VỀ TƯƠNG TƯ

Nhân ngày lễ tình yêu, tôi xin dịch và giới thiệu đến bạn 2 bài thơ chữ Hán ngắn nói về tình yêu, về tương tư cùa 2 thi sĩ: Một người hiện tại và một người “ngàn năm trước”:

.

1 . Thơ về tương tư cùa Hạt Cát

– Nữ sĩ Hạt Cát tên thật Trần Thị Bạch Vân, bút hiệu thường dùng: Hạt Cát, Lăng Già Nguyệt, Sa Sa, Lạp Sa … Cựu học sinh trường Trịnh Hoài Đức tỉnh Bình Dương, quê Lái Thiêu Việt Nam. Hiện đang sống ở Mỹ.

Nữ sĩ là tác giả thi tập Bạch Vân Vô Sở Trú mà tôi đã giới thiệu năm 2019 [*]

.

– 4 câu thơ

.

Tương Tư Nguyệt

.

Mang mang canh trường hàn nguyệt,

Tình hoài nhất thốn đa đoan,

Nguyệt chiếu sơn vân dã thảo

Tương tư hà xứ chung ngân?

.

Dịch nghĩa:

Đêm dài, ánh trăng lạnh, mênh mông

Một tấc tình thương nhớ ngổn ngang

Trăng soi chiếu mây núi, cỏ hoang dại

Nhớ nhung biết bờ bến tận cùng nơi đâu?

( Hạt Cát)

.

Nguyên Lạc chuyển ngữ

.

Trăng Tương Tư

.

Mênh mang đêm dài trăng lạnh

Chút tình thương nhớ đa đoan

Trăng soi mây ngàn cỏ nội

Tương tư bờ bến đâu tìm?

.

  1. 2. Thơ về tương tư cùa Yến Thù

–  Yến Thù hay Án Thù 晏殊 (991-1055 – thời Bắc Tống) tự Đồng Thúc, người huyện Lâm Xuyên (nay thuộc tỉnh Giang Tây), 7 tuổi đã làm văn, về sau làm quan tới Tể tướng. ông nổi tiếng trên văn học sử với tập Chân ngọc từ [Thi viện]

.

– 4 câu thơ trong Xuân Hận

.

Vô tình bất tự đa tình khổ

Nhất thốn hoàn thành thiên vạn lũ

Thiên nhai địa giác hữu cùng thời

Chỉ hữu tương tư vô tận xứ

(Xuân hận – Yến Thù)

.

Dịch nghĩa: 

Kẻ vô tình đâu thấu hiểu nỗi khổ của người đa tình,

Một tấc tương tư cũng biến thành ngàn vạn sợi sầu khổ.

Chân trời góc bể có cũng có điểm cuối cùng

Chỉ có tương tư là mãi vô tận.

.

Phóng dịch:

Chân trời gốc bể đâu xa

“Trường tương tư”* mãi bao la không bờ

Đa tình khác kẻ thờ ơ

Tấc thôi thương nhớ vạn tơ kết sầu

(Hận xuân)

………..

* Mượn tên tựa đề bài thơ “Trường tương tư” của  Lương Ý Nương. Trong bài thơ này có 4 câu nổi tiếng hầu như ai cũng biết: Ngã tại Tương giang đầu/Quân tại Tương giang vĩ/Tương tư bất tương kiến/Đồng ẩm Tương giang thuỷ.

 

.

CA DAO VỀ TÌNH YÊU

Xin ghi ra đây 4 câu ca dao về tình yêu đôi lứa nổi tiếng

.

Lá này gọi lá xoan đào

Tương tư gọi nó thế nào hở em?

Lá khoai anh ngỡ lá sen

Bóng trăng anh ngỡ bóng đèn em khêu

(Ca dao)

.

LỜI KẾT

Xin được dùng bài thơ sau đây xem  như là lời kểt cho bài viết về ngày lễ tình yêu:

.

Tặng người yêu dấu

.

Mời nhau cạn chén rượu đầy

Ngoài song xuân đến trong nầy tình ta

Tặng người yêu dấu ngày xưa

Chút tình cùng nỗi xót xa ngậm ngùi

Buốt lòng đã để em tôi

Cháy màu tóc mượt một đời còng lưng

Trao em một gã lừng khừng

Tưởng như thông thái. nửa khùng nửa ngu

Tặng luôn “ảo vọng mùa thu”

Đại ngôn tuổi trẻ cùng bao dại khờ!

.

Cảm ơn chẳng phải tình vờ!

Dìu nhau đi đến bến bờ tử sinh

Ơn em trọn kiếp ân tình

Nếu không… một kiếp điêu linh khổ nàn!

.

Nguyên Lạc

……………

[*] Giới thiệu tập thơ Bạch Vân Vô Sở Trú – Nguyên Lạc

http://t-van.net/?p=40987

http://www.art2all.net/tho/nguyenlac/nguyenlac_gioithieu-bachvanvosotru.htm

NGƯỜI LÍNH CŨ

Nguyên Lạc

bienvang
“Khách uống cà phê toàn lính lão
thản nhiên như chẳng thấy thời gian
khui bao thuốc lá ra ngồi đốt
rồi búng lung tung những cái tàn…
Lính lão dễ thương hơn lính trẻ” – (Trần Vấn Lệ)

.
“Khách uống cà phê toàn lính lão”
Làm bộ như chẳng thấy tóc sương
Điếu thuốc trên tay mờ dĩ vảng
Buồn búng lung tung những mảnh hồn
.
“Lính lão dễ thương hơn lính trẻ”
Vì biết thương ai? Chỉ bóng hình …
Tuổi trẻ còn bao điều vui vẻ
Quá khứ buồn không lính lão mình?
.
Sáng nay có một người lính cũ
Đáy cốc cà phê đắng bóng tình
Khói thuốc ngày xưa vương cay mắt
Quá khứ buồn không lính lão mình?
.
Nguyên Lạc

HAI CHỮ QUÊ HƯƠNG

 Nguyên Lc

nguyenlac-1

HỌA THƠ ĐƯỜNG

Thơ Đường hay Đường thi được xem là thơ hay nhất của các thi nhân đời Đường, trong đó một số được làm theo thể thơ Đường Luật, số còn lại làm theo những thể thơ khác mà đa số là thơ Cổ phong: Cổ phong hay Cổ thể là loại thơ có trước đời nhà Đường, phóng khoáng và tự do về niêm luật – không theo niêm luật nhất định.

Bài “Dịch Thủy Tống Biệt” tiễn Kinh Kha qua sông Dịch, đi hành thích Tần Thủy Hoàng của Lạc Tân Vương là thơ Cổ phong ̣́

Từ bài “Dịch Thủy Tống Biệt”, nhiều bạn thơ, trong đó có thi sĩ kiêm nhà bình thơ DHD họa, Nguyên Lạc xin họa theo ghóp vui.

  1. HỌA THƠ CỔ PHONG

Xin được ghi lại nguyên tác:

Dịch Thủy Tống Biệt

(Lạc Tân Vương)

Thử địa biệt Yên Đan

Tráng sĩ phát xung quan

Tích thời nhân dĩ một

Kim nhật thủy do hàn.

Nguyễn Hiến Lê dịch:

Tiễn Biệt Trên Bờ Sông Dịch

Đây chỗ biệt Yên Đan

Tóc dựng khí căm gan

Anh hùng xưa đã khuất

Nước lạnh hận chưa tan.

 

DHD họa thơ:

 

Khứ niên tráng sĩ biệt

Dịch Thủy hàn căm căm

Kim nhật vọng cố quốc

Bạch đầu tâm bất trầm.

 

Nguyên Lạc lược dịch:

 

Anh hùng xưa ra đi

Nước sông Dich lạnh căm

Hôm nay nhớ cố quốc

Bạc đầu lòng không an

 

Nguyên Lạc họa thơ:

 

Khứ niên mạt sĩ biệt

Đông hải hàn “căm căm”

Kim nhật vọng cố quốc

Cố nhân hề vô âm!

.

Và thêm hai câu:

Kim nhật vọng cố quốc

Cố nhân … bất khả tầm!

 

Nguyên Lạc tự lược dịch

 

Cùng sĩ xưa ra đi

Nước biển Đông lạnh căm (*)

Nay nhớ về cố quốc

Người xưa giờ biệt tăm

Nay nhớ về cố quốc

Người xưa … ơi nơi nào?! (không thể tìm!)

………….

(*) “Căm căm” là tiếng Nôm, hai chữ nữ sĩ DHD định dùng là “băng băng” nhưng đưa vào thơ thấy không hay nên nữ thi sĩ đọc luôn “căm căm” cho nghe se sắt hơn – Vì xét về âm thanh cũng gần nhau. Tôi đùa với nữ sĩ nên dùng “căm căm” để họa, đúng ra là “lẫm lẫm” [凛凛: Lẫm lẫm là lạnh lắm lắm, rét căm căm]

– Ý 2 câu “Cùng sĩ xưa ra đi/ Nước biển Đông lạnh căm”  tác giả muốn nói là ra đi “vượt thoát” sau 1975.

  1. HỌA CÂU PHÚ TÔ ĐÔNG PHA

.Vọng mỹ nhân hề THIÊN nhất phương

(Tiền Xích Bích phú – Tô Đông Pha)

(Ngóng người đẹp trời chỉ một phương)

Nguyên Lạc họa

 

Mộng cố nhân hề ĐỊA đa phương

Thêm 1 câu tâm trạng:

ởng cố hương hề NHÂN đon trường

Nguyên Lạc lược dịch:

Mơ người xưa đất nhiều hướng

ởng cố hương lòng đứt ruột

  1. THIÊN, ĐỊA, NHÂN

Về 3 chữ THIÊN, ĐỊA và NHÂN trong các câu thơ trên:

Trong Dịch học:  Vạch dương ( __ vạch liền) là ; vạch âm (- – vạch dứt) là không.

Trời trên, đất dưới và người ở giữa: Quẻ CÀN: 3 vạch dương ☰ . Quẻ CÀN là quẻ tốt, hạnh thông.

Người (NHÂN) mà:  Trên  THIÊN – trời không có (- – vạch dứt) ; dưới ĐỊA – đất  cũng không có (- – vạch dứt). Trời và đất = QUÊ HƯƠNG không có thì NHÂN – người làm sao vui vẻ, hạnh thông được? Vì lúc đó quẻ CÀN biến thành quẻ KHẢM (Thủy): – Vạch dương ở giữa , hai vạch âm: một trên một dưới. NHÂN- người trên không trời, dưới không đất – nghĩa là không có QUÊ HƯƠNG.

          ☰  Càn (Kiền)

          ☵  Khảm (thủy)

     KHẢM là nước: Nước chảy lang thang không nói cố định. Không quê hương ai mà không lang thang?

Hãy cố gắng bảo vệ quê hương mình để còn nó. Mong thay!

LỜI KẾT

Qua trên, Nguyên Lạc tôi họa thơ Đường cho vui cùng với bạn thơ. Tuy nhiên, những dòng thơ này cũng là tâm sự của kẻ tha hương:

Kim nhật vọng cố quốc

Cố nhân hề vô âm!

Kim nhật vọng cố quốc

Cố nhân … bất khả tầm!

Xin tặng các lữ khách vẫn hoài vọng quê nhà bài thơ nhớ quê hương của tôi, xem như lời kết.

QUÊ HƯƠNG VẪN MÃI THIÊN THU

Quê hương bứt gốc ra đi

Quê hương là nỗi phân ly não lòng

Quê hương là những dòng sông

Quê hương là khói đốt đồng chiều lam

.

Quê hương lời đó linh thiêng

Máu xương giữ nước lời nguyền khắc ghi

Quê hương dù có biệt ly

Vẫn hoài cố lý vẫn lời nước non

.

Quê hương một tấm lòng son

Tổ tiên ơn nghĩa mãi còn thiên thu

“Sơn hà Nam quốc đế cư

Tiệt nhiên phận định thiên thư rành rành”

.

Quê hương người hỡi sao đành?

Quên câu ” kiến nghĩa” lợi danh riêng mình! **

.

Nguyên Lạc

……………..

* Nam quốc sơn hà Nam đế cư

Tiệt nhiên phận định tại thiên thư

Lý Thường Kiệt

** Kiến nghĩa bất vi vô dõng giả/ Lâm nguy bất cứu mạt anh hùng.

Thấy việc nghĩa trước mắt mà không làm không phải là người anh dũng/ Thấy chuyện nguy nan không cứu không đáng mặt anh hùng.

Nguyên Lạc

 

BUỒN KHÔNG NGƯỜI LÍNH CŨ

Nguyên Lạc

.LINH VO DANH2
Chiều vội vã tà huy nhòa bóng
Đông phong về lăn chiếc lá tàn thu
Có bóng người cao thấp lối sương mù
Đời lữ khách mòn theo từng năm tháng
.
Sâu góc vắng khói thuốc cay vương mắt
Dĩ vảng buồn theo từng giọt cà-phê
Khúc tình xa quá khứ lại về
Thời đã cũ. nhớ chi. người lính cũ?
.
“Lứa lận đận chúng ta cùng một lũ” [*]
Mất còn ai ngày tháng hao mòn?
Đã rồi tình sương khói hư không
Đầu tuyết điểm. buồn không. người lính cũ?

.
*
Chiều cuối năm buồn chi người lính cũ?
Bận lòng chi. đáy cốc bóng hình?
Lặng nhìn chi. khói thuốc lung linh?
Để quay quắt. để thống trầm lòng lính cũ?
.
Người lính cũ búng bay tàn thuốc vỡ
Búng bay không. từng mảnh vỡ hồn sầu?
Búng bay không. hằn những vết sẹo đau?
Tha phương. quán lạ. vọng cố nhân…
Buồn không người lính cũ?
.
Mắt phố đầy. một bóng người khập khiễng
Đêm cuối năm. từng bước quá khứ buồn
Đêm đón đưa bè bạn đã từng …
Tan sương khói!
Buồn không người lính cũ?
.
Nguyên Lạc
………..
[*] Đồng thị thiên nhai luân lạc nhân/ Tương phùng hà tất tằng tương thức – (Tỳ Bà Hành- Bạch Cư Dị)
Cùng một lứa bên trời lận đận/ Gặp gỡ nhau lọ sẵn quen nhau – (Phan Huy Vịnh dịch)

ĐỜI TRẢ LỜI CHO TA

Nguyên Lạc

1minh

1.

Bấy nhiêu năm có đủ
Quên cuộc tình cũ xưa?
Bấy nhiêu năm có đủ
Quên nỗi buồn tiễn đưa?
.
Chiều bên sông khói phủ
Bóng hình ai hắt hiu
Thuyền trôi xuôi ra biển
Đời chắc rồi cô liêu!
.
Bấy nhiêu năm có đủ?
Quên mối tình dấu yêu!
Đêm mắt đầy mong đợi
Người xa mãi phương nào
.
Bấy nhiêu năm mãi đợi
Tóc điểm màu xuân thu
Thời gian đâu chờ đợi
“Bạch vân … không du du” [*]
.
2.

Chẳng thà không gặp nhau
Thì đâu buồn tiễn biệt!
Chẳng thà đừng hứa nhau
Thì trăm năm đâu là …
.
Bấy nhiêu năm có đủ?
Đời trả lời cho ta!
Cho nỗi lòng đưa tiễn
Chiều khói phủ sông xưa
.
Chẳng thà đừng gặp lại
Mãi một nỗi đợi chờ
Gặp lại chi mắt lạ?
Nhạt màu tình xưa xa!
.
Ai bây giờ lạ lẫm
Phải người muôn năm xưa?
Đâu thật thà môi thắm?
Ta từng quen biết chưa?!
.
Bấy nhiêu năm dài đủ?
Để riêng đời nhớ mong!
Gặp chi rồi chia ngả
Người còn nhớ chi không?
.
Bấy nhiêu năm chắc đủ
Quên hứa nào phải không?
Phải chi đừng gặp lại
Giữ hình bóng riêng lòng!
.
3.

Bấy nhiêu năm hoài phí
Cả một đời thanh xuân!
Lạnh lùng người bước vội
Kẻ chờ đợi lưng tròng!
.
Người. lại rồi viễn xứ
Kẻ. một trời hư không!
.
Nguyên Lạc

……………
[*] thơ Thôi Hiệu  

CHÈ TRONG NỖI NHỚ

Nguyên Lạc và Lê Văn Quới

don_ganh
.
Mỗi tên chè – một nỗi thương
Mỗi tên chè – gợi mùi hương nhớ đời
.
Cần Thơ thành phố thân yêu của tôi, thành phố của một thời, một thời mộng mơ. Thành phố của những con đường, những ngõ ngách thân quen, những quán cà – phê với những bài ca muôn thuở. Đặc biệt là những quán chè bên lề đường của thời áo trắng môi hồng phượng đỏ. Những chén chè ngọt lịm môi người, ngào ngạt hương yêu.
Ai mà ở bến Ninh Kiều không nghe tiếng rao chè tha thiết, ngọt ngào, ngân nga kéo dài trầm bổng nửa khuya: “Ai ăn chè bột khoai, đậu xanh, nước dừa, đường cát hô.ô.ô…hôn? lời rao gợi nhớ đến bài ca vọng cổ “Gánh chè khuya” của soạn giả Viễn Châu, qua giọng ca ngọt ngào, trầm ấm của “Đệ nhứt danh ca” Út Trà Ôn và “sầu nữ” Út Bạch Lan. Chỉ đoạn ca mở đầu, người nghe cảm thấy tâm hồn bâng khuâng, xao xuyến:
“Nghe tiếng rao/ Trong đêm dài u buồn/ Đêm từng đêm thầm vang bên phố vắng/ Nghe tiếng rao/ Như một lời kêu than cho số kiếp phụ phàng…”
Về chè của Cần Thơ, tôi xin giới thiệu đến các bạn bài viết rất lý thú của thầy Lê Văn Quới, đồng nghiệp và cũng là đàn anh cùng dạy ở Cần Thơ trước 1975.
Trước khi vào bài viết của thầy Quới, tôi xin bàn sơ về hai chữ CHÈ và TRÀ:
.
CHÈ, TRÀ
.
1. Chè – Sweet Soup/ Sweet gruel – là món tráng miệng trong ẩm thực Việt Nam và nhiều nước khác. Còn trà – tea – là thức uống nổi tiếng như cà-phê -coffee .
Có lẽ không ở đâu như ở xứ mình, chè rất thông dụng và có sức sống mãnh liệt. Tiếng “chè” đã được nhắc bên tai đứa bé từ lúc nó vừa tròn tháng tuổi. Đó là món “chè ỉ ” không thể thiếu trong lễ cúng mừng đầy tháng và thôi nôi cho bé.
Trong ngôn ngữ phía Bắc nước ta, hai từ “chè” và “trà” thường dùng lẫn lộn và trong thực đơn các món chè miền Bắc có một số loại chè rất lạ với miền Nam, chẳng hạn như chè bà cốt, chè con ong, chè hạt lựu, chè hoa cau, chè kho… Ngược lại, một số loại chè có thể xem là món đặc sản, là sự sáng tạo của đồng bào Nam bộ mà miền Bắc xa lạ như chè thưng, chè củ năng trứng cút, chè chuối, chè bà ba, chè táo xọn …
.
2. Riêng tại miền Trung, như Quảng Nam thì dân chúng còn phân biệt rõ ràng: Thường nói uống nước chè, gồm chè chín (chè đã sơ chế ), chè tươi , chè xanh (hái trên cây vào chưa sơ chế, sấy ). Còn uống trà là mua những gói trà hoặc hộp trà về nấu nước sôi để pha trà uống . Chè thì phải nấu chứ không thể chế nước sôi để pha. Còn chè, món tráng miệng trong ẩm thực nấu với đậu, hoặc những loại ngũ cốc khác với đường thì được gọi là chè ngọt.
.
3. Trích đoạn bài viết về CHÈ của thầy Lê Văn Quới bên dưới rất hay, nhưng có lẽ thầy quá nghiêm chỉnh chăng? Trong phần bàn về chữ CHÈ, theo tôi còn hơi thiêu thiếu, tôi xin ghi ra thêm cho đầy đủ “bộ tam sên”.
Nam bộ quê tôi có vài phương ngữ liên quan đến “chè” ” rất vui.
Thí dụ như “đi ăn chè” và “cho chó ăn chè”
– Đi ăn chè: Đi tìm “ngọt ngào” ngoài luồng.
– Cho chó ăn chè: Nói tình trạng “mút mùa lệ thủy” hay “mút chỉ cà- tha” rồi bị ói mữa của các “ông thần men”. (“…” là phương ngữ “giang hồ” nam bộ, ghi ra cho vui nhe các bạn)
.
Thơ rằng:
Khoan khoan ngồi đó chớ đi
Bạn bè tri kỷ mấy khi sum vầy
Bà đâu ta bảo bà này
Hãy ra bờ ruộng lùa bầy vịt non
Ca-ri vịt, tiết canh ngon
Vài chai rượu rắn cho tròn đệ huynh
.
Uống cho trọn nghĩa trọn tình
“Mút mùa lệ thủy” rồi mình … đứt dây!
(Nguyên Lạc)

Đùa chút cho vui nhe các bạn, có gì bỏ qua.
.
4. Trong ca dao, có vài bài vui liên hệ đến chè/ trà.
Để tặng các bạn vài nụ cười, tôi xinh trích đoạn ra đây bài ca dao, tân cũng như cổ liên hệ đến vụ hái chè/ trà:
.
Cô Gái Hái Chè – Chính Bản
.
Hôm qua em đi hái chè
Gặp thằng phải gió nó đè em ra
Em lạy mà nó chẳng tha
Nó đem đút cái mả cha nó vào
.
Cô Gái Hái Chè – Phó Bản
.
Hôm qua lên núi hái chè
Có thằng mất dạy nó đè em ra
Nó đè em chẳng dám la
Em đè lại nó… nó la quá trời
.

TƯƠNG TƯ TIẾNG RAO CHÈ
.
Phần trích đoạn sau đây là của GS Lê Văn Quới.
.
[ … 1. Cái “hồn chè” sống mãi trong tôi chính là tiếng rao chè. Những năm sống ở Chợ Lớn (khoảng 1958 – 1963), tôi quen tai với tiếng rao chè của người Hoa: “Chí mà phủ… ủ; lục tào xá… á” mà mỗi lần nghe lại không nhịn được cười. Cười vì cái âm cuối cụt lủn, chỉ ủ ủ, á á rồi ngưng, rồi chìm lẫn giữa phố vắng, đường khuya.
Tháng 9/1964, tôi đến Cần Thơ dạy học. Đêm nghỉ ở khách sạn Thế Giới (đường Thủ Khoa Huân) gần bến Ninh Kiều. Nửa đêm, bỗng nghe tiếng rao chè; “Ai ăn chè bột khoai, bún tàu, đậu xanh, nước dừa, đường cát hôôôônnn…? Tiếng “hôn” kéo dài ngân nga, như bay như lượn, trôi nổi chơi vơi suốt một cung đường. Tiếng rao tha thiết, ngọt ngào của một cô gái miền Tây. Lần đầu tôi được nghe, sao mà xao xuyến quá! Tiếng rao khiến tôi nghĩ đến bao cảnh đời tần tảo, bao số phận chìm nổi giữa chiến tranh… rồi tôi thao thức cả đêm.
Như thế, đêm đầu hội ngộ Cần Thơ, tôi đã tương tư một tiếng rao chè! “Nhất thanh, nhì sắc…” Tôi hình dung những cô gái miền Tây sông nước, những cô gái Cần Thơ đều có chất giọng ngọt ngào như giọng cô gái rao chè. Và trong sâu thẳm lòng tôi như vút lên câu hát cũ: “Đến đây thì ở lại đây – Bao giờ bén rễ xanh cây hãy về”. Và tôi đã gắn bó với quê hương tình yêu này từ ấy đến nay.
.
2. Những năm 1960, ở Cần Thơ có nhiều quán chè, chốn gặp gỡ lãng mạn của giới học sinh sinh viên và cũng là của tất cả mọi người. Hai nơi bán chè nổi tiếng nhất là những quán đá đậu nhỏ trên đường Ngô Quyền – nơi có hai trường trung học: trường nam Phan Thanh Giản và trường nữ Đoàn Thị Điểm – và quán chè bưởi La San ở đường 30/4 hiện nay. Tôi trở thành khách hàng thường xuyên hai nơi này. Chè ngon là từ cái không khí của quán chè, từ những bâng khuâng ngọt ngào mà sâu thẳm gợi lên từ tiềm thức, từ giọng nói tiếng cười tươi tắn trữ tình của những người trẻ, và như từ lâu lắm trong ký ức bởi một tiếng rào chè…
Một điều thật bất ngờ là từ tờ báo tường của lớp tôi phụ trách, lại xuất hiện mấy câu thơ liên quan đến chè:
.
Buồn mang mang – ôi nỗi buồn mang mang
Anh hỏi em – cô gái trường Đoàn
Lòng có buồn như kẻ ở trường Phan
Khi tiếng rao chè vừa mới qua ngang?
.
Những câu thơ không đề tác giả. Và tôi – người thấy giáo trẻ, chợt ngỡ ngàng vì cảm thấy mình hình như chưa hiểu hết học sinh mình. Cái tâm trạng “nghe tiếng rao chè” mà lòng “mang mang” cũng chính là tâm trạng của tôi – của một thời trong quá khứ. Người học trò tôi không biết tên đó rõ ràng là khách đồng điệu của tôi! Từ đó, tôi nảy sinh ý tưởng là tìm tòi bằng mọi cách tất cả những bài thơ của người Cần Thơ viết về chè. Tôi đã tập hợp được hơn 30 bài. Những bài thơ tôi gìn giữ có giá trị như một loại văn học dân gian.
Tôi chia những bài thơ này làm hai loại: 1. Những câu viết riêng cho những cô gái bán chè, tác giả có thể là những khách tình si thuộc nhiều lứa tuổi; 2. Những câu “đặc sản” của giới học sinh, viết chỉ để gởi cho nhau.
.
Ở loại thứ nhất, xin dẫn mấy đoạn thơ sau:
.
Người là thi sĩ – làm thơ
Anh là “chè sĩ” – vẩn vơ phố phường
Mỗi tên chè – một tên thương
Mỗi tên chè – gợi mùi hương nhớ đời
Đậu đen, đậu đỏ… thơm môi
Chè thưng, bột bán, phổ tai ngọt mềm.
.
Nhìn viên xôi nước phát thèm
Ba chìm bảy nổi thân em vẫn tình
Mát lòng một chén đậu xanh
Thắm duyên chè bưởi ai đành quên ai!
Dù đi khắp biển sông dài
Tiếng rao chè! vẫn đêm ngày tương tư!
.
Ở loại thứ hai, có những câu tiêu biểu:
.
Cần Thơ có lắm quán chè
Quán ở vỉa hè – quán thật khang trang
Chè bưởi nổi tiếng La San
Con đường đá đậu – trường Đoàn lừng danh
Xôn xao nữ tú nam thanh
Gần xa nô nức, yến oanh hẹn hò!
Đẹp thay cái tuổi học trò
Chén chè mát ngọt để cho tinh nồng.
.
Cuộc sống ngày một đổi thay. Nếp sinh hoạt đô thị không còn giống ngày xưa. Tiếng rao chè hàng đêm ngày càng thưa vắng! Mai này có thể ở thành phố sẽ không còn bóng dáng những gánh hàng rong. Tôi bồi hồi nghĩ đến tiếng rao chè và ngậm ngùi cho “những người muôn năm cũ”…] [Lê Văn Quới]
.
LỜI KẾT
.
Ôi Cần Thơ thương nhớ. Cần Thơ của những chén chè ngọt lịm thân thương. Cần Thơ của “Một thời ta cố quên”.
Xin mượn câu nói sau đây và vài câu thơ để kết thúc bài viết này – chắc nó pha trộn giữa vui và buồn?
– “Không ai tắm hai lần trên một dòng sông” – Heraclitus (triết gia Hy Lạp cổ đại)
– Thời gian – nước chảy qua cầu/ Tiếng rao chè cũ đã vào hư vô

Và:
.
Cái thời mắt liếc dao cau
Cái thời đưa đón tình nhau Ninh Kiều[*]
Ly chè ngào ngạt hương yêu
Hoài trong tâm tưởng dù chia nghìn trùng
(Nhớ bến Ninh Kiều – Nguyên Lạc)
.
Tất cả chỉ còn là kỷ niệm, chỉ còn là dĩ vãng khôn nguôi!
.
Nguyên Lạc
……………
[*] Thời Đệ nhất Cộng Hoà, chính quyền Việt Nam Cộng hòa nâm 1957 đã cho lập nơi bến sông Cần Thơ một công viên cây kiểng và bến dạo mát: Ninh Kiều. Kế tiếp là chợ Cần Thơ.

NĂM TÝ LẠM BÀN CHUYỆN CHUỘT (2)

Nguyên Lc

tuoi ty_Nam Phương

 

Phần II

CHUỘT TRONG ĐỜI SỐNG, KHOA HỌC & VĂN CHƯƠNG

CHUỘT TRONG BỆNH HỌC

     Ngoài những sự phá hoại trong nhà, ngoài đồng, ngoài đường phố quanh các thùng rác, thân xác của chuột từ nước miếng, nước tiểu đến phân chuột đều có độc chất có thể gây tử vong cho loài người. Bọ chét Xenopsylla cheopis trên mình chuột được xem là nguyên nhân gây bệnh dịch hạch. Năm 1347 lục địa Á- Âu bị bệnh dịch càn quét khiến cho hàng triệu người chết.

Chuột mang hại cho loài người:

– Bệnh thương hàn chuột (rat- borne typhus)

– Bệnh leptospirosis do ký sinh trùng Leptospira interrogans gây ra sốt vàng da, bắp thịt đau nhức, tổn hại đến gan, thận, màng óc, cột xương sống và dẫn đến tử vong.

– Bệnh salmonellosis do nhiễm trùng Salmonella enterica gây nóng sốt, nôn mửa, thổ tả.

– Bệnh trichinosis do nhiễm trùng Trininella spiralis gây tiêu chảy, nóng sốt, bắp thịt suy nhược v.v.

– Hội chứng hô hấp vi khuẩn Hanta (HPS: Hantavirus Pulmonary Syndrome) gây sốt, vỡ phế mạch.

– Hội chứng thận và sốt xuất huyết (HFS: Hemorrhagic Fever with Renal Syndrome)

(Theo Phạm Đình Lân)

  1. Về bệnh dịch hạch

     Dịch hạch là một loại bệnh do vi khuẩn Yersinia pestis hình que thuộc họ Enterobacteriaceae gây ra. Bọ chét Xenopsylla cheopis sống trên mình chuột được xem là yếu tố trung gian trong việc truyền bệnh.

Vậy chuột có liên quang đến bệnh dịch hạch – căn bịnh đã cướp đi sinh mạng con người một cách khủng khiếp, gấp nhiều lần thiên tai.

  1. Cái Chết Đen

     Cái Chết Đen là tên gọi của một đại dịch xảy ra ở châu Á và châu Âu trong thế kỷ XIV, mà đỉnh điểm là ở châu Âu từ năm 1346 đến năm 1350 đã lây lan đến mức không kiểm soát được. Bệnh dịch Cái Chết Đen được coi là một trong những đại dịch chết chóc nhất trong lịch sử nhân loại, ước tính nạn dịch này đã giết chết từ 30% tới 60% dân số của châu Âu và giảm dân số toàn cầu từ khoảng 450 triệu người xuống còn từ 350 đến 375 triệu người vào năm 1400.

     Quan điểm truyền thống cho rằng nguyên nhân của đại dịch này là sự bùng phát của bệnh dịch hạch gây ra bởi vi khuẩn Yersinia pestis tuy nhiên cho đến thời gian gần đây đã có những ý kiến nghi ngờ quan điểm này. Địa điểm bùng phát của cái Chết Đen thường được cho là ở Trung Á sau đó căn bệnh này nhiều khả năng thông qua loài chuột trên các tàu buôn mà lan đến bán đảo Krym vào năm 1346 rồi xâm nhập vào vùng Địa Trung Hải và châu Âu. Sự tàn phá khủng khiếp của cái Chết Đen đã dẫn đến nhiều thay đổi lớn trong xã hội châu Âu như việc ra đời của nhiều tôn giáo mới hay sự chuyển đổi về cơ bản của kinh tế và xã hội châu Âu, tạo ra những ảnh hưởng sâu sắc tới tiến trình lịch sử của châu lục này.

     Ước tính châu Âu đã phải mất tới 150 năm để phục hồi dân số như trước thời gian đại dịch, sau này dịch hạch còn nhiều lần bùng phát trở lại tại đây và nó chỉ biến mất vào thế kỷ XIX -(Wikipedia)

  1. Nạn dịch hạch đầu thế kỷ thứ 20

     Ở thế kỷ thứ 20 trên thế giới từng xảy ra nạn dịch hạch khủng khiếp nhất lịch sử, làm thiệt mạng hơn 20 triệu người từ Âu châu lan sang các nước Á châu và Trung đông. Chuột đã truyền bệnh đến con người hai thứ bệnh: dịch hạch (Bubinic) và phổi có nước (Pneumonia). Loài vi khuẩn Yersinia pestis hình que chiều dài từ 1 μm đến 5 μm. Đây là một loại trực khuẩn Gram âm, thuộc họ Enterobacteriaceae. Vi khuẩn gây bệnh dịch hạch có thể bị tiêu diệt ở nhiệt độ 550C trong vòng 30 phút, ở 1000C trong vòng 1 phút và các thuốc sát khuẩn thường dùng.

  1. Chữa trị bệnh dịch hạch và bắt giết chuột
  1. Huyết thanh chữa trị bệnh dịch hạch

   Chuột truyền bệnh do loại bọ chét Xenopsylla cheopis sống ký sinh trên chuột. Những trung tâm thí nghiệm, các nhà khoa học dùng chuột nhiều hơn thỏ hay cừu, nên hàng triệu con chuột được thí nghiệm tìm ra nhiều kết quả hữu ích cho Y học. Năm 1894 bác sĩ Alexandre Émile Jean Yersin người Pháp gốc Thụy sĩ (sinh năm 1863- †1943 tại Nha Trang) là nhà vi khuẩn học khám phá ra vi khuẩn Yersinia pestis. Yersin cũng là nhà thám hiểm khám phá cao nguyên Lâm Viên và tìm con đường bộ từ miền Trung sang Campuchia và Lào, ông là người thành lập trường Y Đông Dương (sau nầy là Đại học Y khoa Hà Nội) và làm hiệu trưởng đầu tiên của trường nầy. Bệnh dịch hạch xảy ra tại Hồng Kông năm 1894. Yersin là thành viên của “trường phái Pasteur”. Ông Shibasaburo Kitasato (1894- †1934), một nhà vi khuẩn học người Nhật học trường đại học Y khoa Tokyo, từng làm việc cùng Dr. Robert Koch ở Đức (1885- †1891), năm 1890 ông cùng Emil von Behring cấy được vi trùng bệnh phong đòn gánh. Ông cũng giúp tìm ra chất kháng độc tố cho bệnh bạch hầu và bệnh than (tiếng Anh: anthrax). Ông cũng tham gia nghiên cứu tìm vi khuẩn gây bệnh dịch hạch. Tuy nhiên chính Yersin là người đã tìm vi khuẩn Yersinia pestis gây ra bệnh. Vi khuẩn này lúc đầu được gọi là Pasteurella pestis, và sau đó được đặt lại tên theo tên của Yersin. Nhờ nhà bác học Yersin chế huyết thanh chữa trị bệnh dịch hạch.

  1. Bắt giết chuột, bẫy chuột

     Kẻ thù của chuột là Chó, Mèo, Rắn, Trăn, Chồn Cáo, Chim Cu, Chim Ưng… Nhưng kẻ thù đáng sợ nhất vẫn là … loài người.

  1. Gài bẫy, dùng thuốc độc để diệt chuột, hun khói để chuột bị ngộp phải chạy ra khỏi hang để bắt.
  2. Nuôi mèo để bắt chuột trong nhà và nuôi chó để săn chuột ngoài đồng.

   Ở Việt Nam người ta có hai cách xua đuổi chuột không cần mèo.

– Cách thứ nhất: bắt một con chuột cạo lông và sơn trên da chuột ba hay bốn màu khác nhau rồi thả chuột về hang. Các chuột khác thấy con chuột kỳ dị có ba, bốn mầu thì bỏ chạy. Chuột có ba, bốn màu có nhu cầu kết bạn đồng loại nên rượt theo. Các chuột khác càng sợ càng chạy mau bao nhiêu thì chuột màu càng rượt theo nhanh bấy nhiêu. Thế là cả đàn chuột rời xa hang ổ của chúng.

– Cách thứ hai: bắt một con chuột đực, mổ ngọai thận và nhét vào đó miễng chai cà nhuyễn rồi khâu lại.. Xức thuốc cho vết mổ lành lại rồi thả cho chuột về hang ổ cũ. Chuột bị ngứa ngáy khó chịu và trở nên hung dữ bất thường nên rượt đồng loại mà cắn. Các chuột khác sợ nó cắn nên bỏ hang ổ mà chạy, đi tìm nơi khác để sống.

CHUỘT TRONG ĐỜI SỐNG

  1. Vài điều về chuột

 – Những người đi sông đi biển, họ rất sợ chuột có mặt trên tàu ghe của mình, vì nó cạp lủng ghe tàu lúc nào không hay; cho nên dưới ghe họ có lập bàn thờ, thờ Ông Tý.

– Như đã nói ở trên, thị giác của chuột lại kém, nhưng bù lại thính giác của chuột rất tinh nên chuột hình như “biết nghe tiếng người”; cho nên khi muốn gài bẩy chuột trong nhà,  ta phải lặng lẽ mà gài, không nên đánh tiếng trước chuột nó nghe và không dại gì vào bẫy. Đây là kinh nghiệm tiền nhân.

– Chuột thích ăn mỡ; nếu mở đựng trong chai thì chuột ta cho đuôi vào chai cho mỡ thấm vào đuôi rồi rút đuôi ta liếm, từ từ thưởng thức, chứ không cần làm ngã chai cho mỡ đổ ra.

– Chuột có thể ăn cắp quả trứng,. Muốn thế nó cần phải rủ chuột khác  ôm quả trứng, rồi chuột ta gặm đuôi chuột này  kéo về hang. Chuyện này sẽ được kể rõ ràng ở phần dưới, mục: Chuột Trong Văn Chương.

  1. Mối lợi ca chuột: Món ăn
  1. Tht chuột món ăn tuyệt vời

Ngoài những cái hại như phá phách, gieo bệnh như đã biết, chuột cũng mang lợi ích cho loài người. Đó là một nguồn thịt to lớn. Thịt chuột được ăn thường là chuộc đồng.

   – Ngày xưa người La Mã ăn thịt chuột ngủ Glis glis thuộc gia đình Gliridae.

   – Người Trung Hoa, Việt Nam và nhiều dân tộc khác trên lục địa Á-Phi- Trung, Nam Mỹ đều ăn thịt chuột. Ở Việt Nam người ta quay chuột như quay gà và làm mắm chuột, khô chuột.

   – Riêng người Việt ở các tỉnh đồng bằng sông Cữu Long, thường ăn các loại chuột đồng/Microtus vì loại chuột nầy chỉ ăn lúa, ốc cua ngoài đồng, mập sạch thịt thơm ngon, khác với chuột ở thành phố vì dơ bẩn ở hang cống nhiểm bệnh,

    – Chuột lại là món ăn ngon lành béo bở của nông dân với các món: Chuột nướng trui, chuột rô ti, chuột xào lăn, chuột xào bún nấm củ hành… Bắt được nguyên ổ chuột con còn đỏ hỏn thì cho vào hũ rượu đế ngâm chừng ba tháng là uống được. Nghe nói thứ rượu chuột nầy trị bịnh trật đả thấp khớp rất công hiệu. Theo y học dân tộc cổ truyền thì thịt chuột đực có thể trị bệnh té ngã, tan máu bầm; phân chuột trị được bệnh kinh phong; còn đất của chuột đùn lên cũng có thể trị bịnh co rút, tê thấp.

  1. Phân biệt chuột đồng và chuột nhà:

– Nhiều người, không phải xuất thân ở chốn đồng quê nên cũng khó phân biệt được chuột nào là chuột đồng, chuột nào là chuột nhà. Chuột đồng có bộ lông rất mướt, màu nâu vàng có xen đen hoặc xám lợt. Ở nhà quê cũng có chuột cống mà chuột cống ở đồng khôngt nhiều, lông chuột cống ở nhà quê cũng màu xám nhưng loại màu xám có pha đen, lông mướt. Sự khác biệt rất dễ nhận thấy. Chuột đồng có dáng dấp khỏe mạnh tươi mát hơn đám chuột nhà. Chuột chui ống cống ở thành thị, sợ ánh sáng, mình ghẻ lở, lông xù, thấy phát sợ thì làm sao làm món ăn nuốt trôi được.

  1. Cách săn bắt chuột

    Sau đây là vài cách săn chuột đồng dưới quê.

    – Săn bắt chuột bằng chó săn

    Săn bắt chuột cần phải có chó săn có tài đánh hơi bắt chuột. Chó săn được tuyển chọn “có nghề”, đúng nòi “chó săn chuột” truyền thống. Chó săn được huấn luyện từ lúc còn nhỏ. Thường thì bắt chuột nhắt, chuột con cho Cún “ngửi” bắt hơi, cho tập vồ, tập cắn, tập tha… (không được ăn, không được cắn chết). Kế tiếp, thả chuột vào hang bắt Cún con đi “tìm”, thả chuột xuống ao cho Cún bơi, ngoạm đưa vào bờ cho chủ. Tập đánh hơi vào các hang xem hang nào có chuột, lúc đó chỉ phải nhẹ nhàng “vẫy đuôi” (báo hiệu) thôi, để chuột khỏi thấy động  mà vọt ra chạy mất… (theo Nguyễn Khôi)

Vào mùa khô, chuột ở tứ tán, không tập trung như mùa nước, thường ở những hang dọc theo kinh, rạch. Dẫn chó theo đánh hơi, hang nào có chuột thì chó dùng hai chân trước cào bới đất, người ta lấy thùng múc nước đổ vào hang, chuột vọt ra một ngách, ngõ khác nào đó. Chúng thường hoảng sợ phóng xuống nước, chó săn nhà ta phóng lội rượt. Trong tích tắc chó cắn được đầu chuột lội vào bờ, chạy đến ngoe nguẩy đuôi nhả ra báo cáo lập công với chủ. Chuột được bỏ vào giỏ, hoặc buộc lại thành xâu. Hang nào, chó không đào bới mà nó đứng sủa hoặc mặt lấm lét thì người ta biết rằng hang đó là hang rắn. Gặp hang rắn hổ mang, loài rắn dữ nhứt, nó cắn, nọc độc truyền sang nhanh, có người không kịp về đến nhà thì đã sôi bọt mồm, ngất ngư và đôi khi chết trên đường về nhà.

    – Săn bắt chuột bằng đăng, lp

   – Cách săn bắt bằng chó trên chỉ có tính cách tài tử, sau đây là cách săn bắt chuột quy mô của Nguyễn Viết Tân:

   ” Lúa vùng này năng xut đã kém, mà chut đng còn phá ddi. Nhng đám lúa gn lung đìa luôn luôn phi ct tr, vì nước sâu nên chín chm hơn chcao. Chut dn về đây nên dưới mt đt in đy du chân chut. Người ta cm đăng, đt lp như bt cá, trên lp còn phmt cái chài, va ngăn chut chy thoát, va có thbt thêm được ít chim c cao đang ln lút dưới bi lúa không bay ra được. Bình thường, lp tre hay lưới chài, bn chut coi có ra gì vi hàm răng sc bén, nhưng lúc đang brượt đui, chúng chlo chy mà thôi. Có đôi khi hdùng phương pháp dm cù: Chng năm mười người chy vòng quanh mt đám lúa hay c, đp nhp xung, càng lúc càng nhvòng li. Sau cùng, cù chcòn ln bng cái nia, chut quay đu vào gia, thò cmy trăm cái đuôi ra ngoài. Người ta nm đuôi tng chú, đp mnh xung đt, ri vt ra phiá sau. Chut lt da, xào sả ớt nhu mt ba, còn bao nhiêu mi đem ra chbán (Nguyễn Viết Tân-Việt Báo)

Cách săn bắt chuột ở miệt thứ của Rạch Giá, Cần Thơ :  Có nhiều cách bắt chuột, ngoài cách đâm, đập, đổ nước, xông khói vào hang chuột phóng ra, người ta đập,”dậm cù” hoặc cho chó lội, rượt theo cắn bắt. Những vùng ở miệt thứ của Rạch Giá, vùng Cờ Đỏ của Cần Thơ hay những vùng nào có nhiều sậy, lác, cỏ ống cao rậm rạp và là nơi sinh sôi nẩy nở chuột nhiều. Người ta dùng trâu hoặc bò đuổi, đi càn quét để chuột sợ chạy rần rần đến chỗ có đăng chận cản lại. Chuột chạy theo chân đăng tìm chỗ trống chui thoát qua nơi đó đã đặt sẵn những cái lọp, có miệng để chuột chạy vào mà lại không có lối ra. Quần bắt chuột như thế có khi một lần được mấy trăm con. (Chuyện Đồng Quê -Trần Văn)

  1. Cách làm tht chuột

– Có hai cách : ở Châu Đốc, Long Xuyên, Cần Thơ… người ta thường dùng nước sôi nhúng chuột vào rồi lột da rửa sạch, chặt bỏ đầu, mổ bụng chỉ lấy gan. Cách làm chuột thứ hai, người ta đập chuột cho thật chết cho vào một bẹ chuối, buộc kín lại hoặc chỉ để trên bẹ chuối, dùng lá cây hoặc rơm rạ đốt một chập chừng hơn năm phút thấy bẹ chuối bị cháy nhiều, lấy chuột ra lột da. Làm chuột cách nầy thịt chuột thơm hơn nhưng tốn công hơn và có thể xem như không sạch bằng lột da bằng nước sôi, có thể tro, bụi than của rơm rạ dính vào da thịt chuột. Lột da bằng cách thui nầy thường thấy ở vùng Trà Vinh, Sóc Trăng, Bạc Liêu. Đường nào cũng tới La Mã, chuột cũng bị lột da.

Làm cách nào cũng được miễn sao chuột được sạch và nhanh, có đủ thời giờ còn để chuột ráo nước rồi người ta ướp nào ngũ vị hương, hành tỏi, xì dầu, bột ngọt. Hồi xưa, lúc tôi còn nhỏ, làm gì có bột ngọt, người ta cho thêm một chút đường hoặc có người không ướp thêm đường, vì thịt chuột đã ngọt và béo rồi.

  1. Vũ̀ng và món thịt chuột miền Nam

   Chuột là món ăn đặc sản của VN bây giờ. Tôi xin nhờ ông Vũ Bằng kể với các bạn về món thịt chuột:

   “Chut săn đưc đem về đập chết ri đem thui, lt da, mbng, ly bt mchcha li lá gan ri đem ngâm nưc phèn, tht chut đdn lên sau ln ln xung mu, trng phau phau và láng bóng như da ngưi trinh n; có đôi chli ng hng lên. Không, không, cách gì anh cũng phi nhn vi tôi rng cái da tht mn màng y ha hn không biết bao nhiêu, hp dn không biết chng nào và trphi anh là Liu HHuê không nói gì, chnếu anh cũng là ngưi như tôi thì mun gì anh cũng phi liên tưng mt cách tc tĩu và ti li đến thân thngc ngà “dy dy sn đúc” ca cô Năm Trng Gà – chng gì cũng ni tiếng là “ngưi đp Long Xuyên” mt thu.

Cái ging chut này thui lên ri lt da ăn mi thit ngon, chứ đem nhúng nưc sôi thì trông như chut chết sình, không nhng đã không đp mt mà ăn vào li không thơm. Bi thế, chut bán chhu hết đu đem thui vàng ri lt da không có ai bán chut sng trphi phi chuyên chttnh này sang tnh khác, tnhà quê ra kch.

Chut lá lt, chut cun, chut xé phay và chut lúc lc. Nhưng làm cho ta sưng ckhu giác, thgiác và thính giác cùng mt lúc có llà cái món chut nưng vàng trên than hng, mrt xung than cháy xèo xèo, bc lên mt mùi thơm điếc mũi còn hơn cbún chbăm và chmiếng ca ngưi Hà Ni. Ngi ở đầu xóm cui xóm chngi thy mùi thơm cũng bt thèm và phi chi đng mt câu cho… đã tc! Rưu đế c nht ngâm sâm và bìm bp, hthmt trăm ngày ly lên ung ri gp mt miếng vàng ngy như mùi da đng, nóng hôi hi, chm nưc mm sả ớt, đim my si xoài thái chri nhai rt ttvà ly hai ngón tay nhón mt tí rau thơm, mt tí húng cây hay mt tí ngò tây, anh sthy – quái! Sao cái tht này nó mm thế nh, mà li ngt, mà li thơm mt cách rùng rn, mê ly thế nh!

Ăn tht gà, tht bò, tht vt, tht heo, xong món này thì đi món khác, điu y ai cũng thy ri và có như thế thì ngưi ăn mi lming và không thy ngán. Ôi chao, đến cái tht chut thì huyn diu lm: nhu tht chut ri, đến lúc ăn cơm li dùng toàn nhng món chut luôn, vy mà chng thy ngán mt ly ông c, trái li vn cngon ơ, ăn mun… chết cơm mà ming vn cmun còn ăn na. Mê không để đâu cho hết là món chut bm nhxào rau mò om cp vi bánh tráng nưng và món chut xào bu ăn va mát va thơm, ta ta như cơm trn vi trng cáy mà li ăn thêm vi my ngn rau sng chùa Hương vy.

Nguyên Đi sTây Ban Nha mà anh va nói đó, lúc y làm Đi sứ ở Trung Hoa, dưi triu Mãn Thanh. Hoàng đế Trung Hoa, Tây Thái Hu có mt ln mi đi din ca mưi tám nưc Âu Mỹ đến dmt ba tic đc nht vô nh, không tin khoáng hu. Dba tic y v, ông ta viết mt hi ký dy bng mt cun sách, thut li tcách tchc, trưng bày, lli thù tiếp, ăn ung cho đến chi tiết các món ăn mà ngưi đu bếp ca nhà vua đã nghiên cu và nu nưng đcho quan khách thưng thc trong hi hp, kinh hoàng, và tán thưng liên tiếp sut ctun – là vì ba tic y kéo dài trong sut ctun, chsao! Ăn ung say sưa ri, ai mun ngcó phòng riêng và ngưi đp như tiên hu h; ai có công vic phi đi, ctnhiên ri li về ăn; còn ai mun đánh bài, ăn thuc, thì sang mt khu riêng có đcác th“tệ đoan xã hi” cdùng thca ri li quay vmà ăn ung, ăn ung thế nào kcho thích khu thì thôi. Vì đc thiên hi ký đó trên dưi hai mươi năm nay ri, anh không thnhhết chi tiết các món ăn lnht, quí nht và ngon nht thế gii đkli cho em thương; chnhtrong các món y có mt món kêu là sâm th. Sâm là cây sâm, thlà chut, sâm thlà chut sâm.

K, sao li có thchut gì là chut sâm?

– Nguyên Đi sTây Ban Nha thut li rng đến món ăn đc bit y thì có mt ông quan đng lên gii thiu trưc ri quân hu dưng lên bàn tic cho mi quan khách mi cái đĩa con bng ngc trong có mt con chut bao tchưa mmt, đhon hn hãy còn ca quy – nghĩa là mt con chut bao tsng. Bao nhiêu quan khách thy thế chết lng đi bi vì nếu phi theo giao tế mà ăn cái món này thì… nht đnh phi… trli hết nhng món gì đã ăn trưc đó. Mi ngưi nhìn nhau. Tây Thái Hu cm nĩa xúc con chut bao tử ăn đcho mi ngưi bt chưc ăn theo. Con chut kêu chi chí, ngưi tinh mt thy mt tia máu vt ra… Hoàng đế Trung Hoa thong thva nhai va suy nghĩ như thmun kéo dài cái thú ăn tuyt diu ra đcho cái thú y thm nhun trí óc và cơ th. Và Ngài nói: “Mi chư v“. Nhưng không mt vnào đng đũa, cngi đơ ra mà nhìn. Tây Thái Hu bèn cưi mà nói đùa: “Tôi tiếc không thm nhun đưc cái văn minh Âu Mca các ngài, nhưng riêng vcái ăn thì tôi thy qucác ngài chm tiến, không biết cái gì là ngon là b. Vmón đó, các ngài có lcòn phi hc nhiu ca ngưi Á Đông”.

Không mt ông nào trli vì có lcác ông đi din y đến lúc y đu bán tín bán nghi không biết ăn chut bao tnhư thế là văn minh hay man dã. Tuy nhiên ngưi ta có thchc chn là chưa có mt nưc nào trên thế gii li có mt món ăn tinh vi, quí báu, cu kỳ đến thế bao gi. Chut mi đẻ đem nuôi trong lng kính cho ăn toàn sâm thưng ho hng và ung nưc sui, đến khi đra con thì ly nhng con đó nuôi riêng cũng theo cách thc đó đcho sinh ra mt lp chut mi, nhưng lp chut mi này vn chưa dùng đưc. Cnuôi như thế đến đi thba, chut mi thc là “thp toàn đi b“, ngưi ta mi ly nhng con chut bao tca thế hmi này ra ăn và ăn như thế tc là ăn tt ccái tinh hoa, bén nhy, khôn ngoan ca ging chut cng vi tt ctính cht ci lão hoàn đng, ci thoàn sinh, tráng dương bthn ca cây sâm vn đưc y lý Đông Phương đt lên hàng đu thn dưc tcchí kim trong tri đt.”   (Món Lạ Miền Nam  V Bằng)

……….

@. Ghi chú thêm về Từ Hi Thái hậu (Cixi 1835 – †1908):  Với đời sống xa hoa ăn uống cầu kỳ, nên người đầu bếp phải biến chế nhiều thức ăn bổ khoẻ cho Thái hậu như: bắt chuột trắng trên núi Ngự Hằng về nuôi lúc mới đẻ con, họ đem nuôi trong lồng kính cho ăn toàn sâm thượng hảo hạng và uống nước suối, đến khi đẻ ra con thì lấy những con đó nuôi riêng cũng theo cách thức đó để sinh ra một lớp chuột mới, nhưng lớp chuột mới này vẫn chưa dùng được. Cứ nuôi như thế đến đời thứ ba, thế hệ chuột nầy là “thập toàn đại bổ”, người ta lấy những con vừa đẻ còn đỏ hồng nên gọi là “chuột bao tử/ pinkie mouse” ăn như thế tức là ăn tất cả cái tinh hoa có tính chất cải lão hoàn đồng, cường dương bổ thận. Dù Thái hậu đã ăn các loại chuột đó, cũng như mỗi ngày đầu bếp nấu 500 nón ăn khác nhau, nhưng bà đã không vượt qua qui luật của tạo hóa.

.Vài món thịt chuột của miền Nam

.  Ngoài các món chính như nướng, rô-ti, còn món chuột áp chảo, xào lá dang, rau ngổ, lá cách, nấu hủ tíu. Người ta còn làm mắm, làm khô, muối sả ớt. Món chuột muối sả ớt, nướng hoặc chiên, người thợ cày rất thích. Sau đây là món rô-ti:

   – Bắc chảo lên bếp, đợi chảo nóng cho một ít mỡ heo vào, nhiều khi không có mỡ heo, người ta lấy mỡ chuột. Đợi mỡ tan cho vào vài tép tỏi. Mỡ phi xong gắp chuột từng con cho vào chảo. Chảo trung bình, không lớn lắm cũng không nhỏ lắm, chiên một lúc nãm, ba con. Lửa riu riu, dù có mất thời giờ một chút, chuột lâu vàng. Nếu đốt lửa cao, mau vàng, gọi là chín háp như trái cây vú ép, thịt chuột hay bất cứ thịt, cá gì cũng không được ngon lắm hoặc không thật chín. Chiên một bên vàng, lật sang bên kia chiên tiếp, từ từ không vội lắm, như thế thịt chuột rô-ti mới thật ngon.

   Trong lúc đợi chuột chín vàng, người đầu bếp còn lo làm nước mắm ớt chanh, tỏi và không quên khi vắt chanh hết nước, thái xác vỏ chanh một ít cho vào nước mắm. Xác chanh màu trăng trắng cùng với màu xanh của vỏ và màu đỏ tươi của ớt nổi lềnh bềnh trên mặt nước mắm màu nâu nhạt, tạo thành nhiều màu sắc thật hấp dẫn. Trong lúc bà nội trợ lo chiên chuột và làm nước mắm thì ông chồng cắt rau, đặc biệt là rau rắp cá, thêm một chút rau răm, rau húng, tía tô, kinh giới hoặc lá quế, rau tần, có rau gì ăn cũng được, sẽ làm tăng cái ngon của thịt chuột. Ăn thịt chuột mà thiếu rau thì quả thật làm giảm độ ngon hết hai, ba mươi phần trăm. Dĩa rau sống đa dạng còn kèm theo nào dưa leo hoặc chuối chát, khế, khóm hay cả đào lộn hột …

Ở nhà quê, còn có loại rau ăn chua chua chát chát như ngành ngạnh, rau chiết, rau chốc, đọt xoài, đọt cây cóc.

(Trích trong Chuyện Đồng Quê -Trần Văn)

.Rat Temple – Đền Chuột; Thiên đường của chuột

.   – Theo tạp chí National Geographic, ngôi đền của đạo Hindu có tên là Karni Mata ở Rajasthan còn được gọi là “Đền Chuột” (Rat Temple). Nơi đây có khoảng 25.000 con chuột sinh sống và được mọi người “tôn kính”. Đó là “thiên đường” của chuột.

Karni Mata là tên của một vị nữ thần, bà ước muốn có một ngôi nhà cho loài chuột mà kiếp trước là “những người hành nghề kể chuyện” (storytellers). Vào năm 1900, một ngôi đền được xây dựng để vinh danh thần Karni Mata và… những con chuột. Một đội ngũ nhân viên hơn 500 người có nhiệm vụ hàng ngày nuôi chuột bằng hạt ngũ cốc và sữa, đồng thời họ cũng có trách nhiệm làm vệ sinh trong đền.

   – Theo nguồn khác thì Karni Mata Temple là một ngôi đền Ấn độ giáo nằm cách thành phố Bikaner 30 km, trong vùng Rajasthan. Ngôi đền này được dựng lên để thờ phụng Karni Mata, một vị thần của Ấn độ giáo.

Theo truyền thuyết, người con trai yêu quý của Karmi Mata là Laxman bị chết đuối khi xuống hồ uống nước. Thần Karni Mata cầu khẩn Tử thần giúp con ông sống lại. Lúc đầu thì bị từ chối , nhưng sau nể tình Karni Mata, thần chết cho Laxman và tất cả các người con trai khác của Karni Mata được đầu thai làm chuột.

Ngôi đền là “thiên đường” của hơn 25,000 chú chuột. Các chú tha hồ ăn thức ngon vật lạ và uống sửa tươi do thí chủ cúng dường. Các chú ăn no rửng mở nên sanh đẻ đông nhung nhúc.

.Chuột trong phim nh

      Về phim hoạt họa của Walt Disney (1901-1966) với hàng trăm nhân vật do ông dựng nên. Trong số đó, có khá nhiều chó, mèo. Riêng chú chuột láu lỉnh Mickey dễ thương này được tạo ra năm 1928 bởi họa sĩ Ub Iwerks và ông Walt Disney lồng tiếng. Hãng phim Walt Disney ấn định ngày sinh của chú chuột này là ngày 18 tháng 11, thời điểm tung ra (năm 1928) bộ phim Steamboat Willie ở New Yorker. Sau sự thành công đó các phim ra đời. Mickey and the Beanstalk-Mickey’s Christmas Carol. Micky, Donald & Goofy im Märchenland. Walt Disney lồng tiếng cho Mickey từ năm 1928 đến 1946, sau đó chuyên gia hiệu ứng âm thanh James G. MacDonald đảm nhiệm vai trò này. Hiện nay, giọng nói của Mickey được thể hiện bởi Wayne Allwine. Doanh thu hàng năm phim lên đến hơn 2,2 tỷ đô la. Disneyland không thể vắng bóng chú chuột dễ thương chào đón quan khách.

     Con chuột Mickey trong tranh và phim hoạt họa Walt Disney, có lẽ là chú chuột lừng danh nhất thế giới hiện đại. Hãng phim này trong năm 2007 đã sản xuất một phim hoạt họa lừng danh, đoạt nhiều giải thưởng quốc tế,  « Ratatouille », một cách chơi chữ, lấy tên một món ăn bình dân, tương đương với món bung của ta, và bắt đầu bằng tiếng Rat (chuột).

ty chuot 3

                             (Hình chuột Mickey)

  Mèo chuột nếu theo nghĩa đen của người Việt chúng ta ám chỉ người đàn ông lập gia đình mà có thêm bồ bịch, nhưng trong show hoạt hoạ nổi tiếng mèo là Tom, chuột là Jerry thì khác. Show hoạt họa ” Tom and Jerry”, rất hấp dẫn chinh phục khán giả của mọi lứa tuổi. Show nhiều tập Tom and Jerry do Cty MGM sản xuất tại Hollywood từ năm 1940 đến 1967 được 161 show hoạt hoạ chiếu trên Tivi cũng như ở Kino được nhận giải Oscar, do hai đạo diễn William Hanna và Joseph Barbera được người ta gọi là “The king of Tom and Jerry”. Năm 2000, tạp chí TIME công bố Tom and Jerry là một trong những show truyền hình hay nhất mọi thời đại.
     Phim ” Ratatouille”, kể chuyện con chuột Rémy chạy lạc vào một tiệm ăn lớn ở Paris, lừng danh là nơi có nhiều tiệm ăn ngon. Tình thế đẩy đưa, chú chuột Rémy trở thành một đầu bếp xuất sắc, được làng chuột Paris bảo vệ và ủng hộ. Phim có tính cách ngụ ngôn, vui nhộn, truyền cảm;  nhạc hay, ý nhị, tinh tế. Phim ” Ratatouille” cũng đã được nhiều giải thưởng trên thế giới (Theo Nguyễn Quý Đại)

  1. Vài việc liên quan đến chữ chuột
  1. Cuộc sống ngày càng văn minh, hiện đại chuột cũng đi vào lịch sử máy điện toán – computer với “computer mouse”: tiếng Việt gọi là “con chuột máy tính”. Đây chính là “thiết bị ngoại vi” giúp người sử dụng có thể theo dõi sự di chuyển trên màn hình. Douglas Engelbart phát minh ra nó năm 1963, ông gọi là “con chuột” chỉ vì cái đuôi có dây nối với máy vi tính giống như… con chuột. Ngày nay còn có “chuột không dây” nhưng vẫn bị gọi “chết tên” là… con chuột!

      Con chuột là bộ phận thân thiết nhất với bàn tay, có lẽ dịch từ tiếng Anh Mouse, tiếng Pháp Souris, là chuột nhắt, chứ không phải là chuột cống, Rat, mang âm vang xấu hơn.

     – Chữ Mouse (Chuột) được thịnh hành kể từ khi thế giới bước sang thời đại computer.

     – Chữ Rat trong tiếng Anh còn có nghĩa là kẻ phản bội, phản đảng.

  1. Chuột rút (Krampus), hay vọp bẻ, là cảm giác đau gây ra bởi sự co rút, thường là co cơ. Chuột rút có thể xảy ra với những vận động viên thể thao hoạt động với cường độ cao, mất nước và khoáng chất do ra mồ hôi nhiều, Chuột rút chân lúc ngủ đêm là sự co cơ có thể xảy ra ở cơ bắp chân, cơ bàn chân trong lúc ngủ hay nằm nghỉ. Triệu chứng có thể là cẳng chân duỗi đơ với các ngón chân quắp xuống. Chuột rút kiểu này có thể xảy thoáng qua trong vài giây hoặc vài phút và sự đau kéo dài một lúc sau đó. Chuột rút kiểu này hay xảy ra với người lớn tuổi, nhưng cũng có thể xảy ra với bất cứ ai. Có thể lý do là thiếu một số khoáng chất như: Magnesium, thiếu nước hoặc nằm bất động lâu quá. bệnh giãn tĩnh mạch hoặc xơ vữa mạch máu. Theo kinh nghiệm nếu bị chuột rút chân trái đưa tay phải lên, hoặc ngược lai sẽ hết.
  2. Bị chuột cắn cũng nguy hiểm như bị chó dại cắn vì nước miếng chuột rất độc.

CHUỘT TRONG VĂN CHƯƠNG

chuot an cap

     (Hnh chuột ăn cắp trứng)

  1. Chuột Rồng: Long Th

Chuột ăn cắp trứng rất hay. Các bạn sẽ biết được chúng làm như thế nào trong truyện sau đây, (thay vì trứng, chuột ôm chuông) nói về một con chuột kỳ dị gọi là Long Thử của ông Hồ Hữu Tường, trong truyện ngắn nổi tiếng một thời của cụ: “Con Thằn Lằn Chọn Nghiệp”.

Truyện rằng: Con thằn lằn vốn biết nguyện vọng của nhà sư: là hễ tụng xong lần cuối cùng thứ một nghìn, thì nhà sư sẽ lên giàn hỏa mà tự thiêu;  nó nghĩ: nhà sư lòng còn mê tín nên muổn cứu. Con thằn lằn uống dầu của đỉa đèn cho tắt lữa, không cho nhà sư đọc kinh Phật được, Phát hiện ra, nhà sư mới giận, tay cầm dùi mõ nhắm ngay đầu con thằn lằn mà đập mạnh. Con thằn lằn bị đánh vỡ đầu chết.  Sau đó con thằn lằn đầu thai thành con chuột, có hình dạng giống con rồng.

   “…Bởi là do con thằn lằn đầu thai, nên khi chuột ta sanh ra, thì hình vóc còn mang máng giống con thằn lằn. Mẹ nó lầm tưởng là rồng. Bèn đặt tên cho nó là Long Thử.

Long Thử lớn lên, có vẻ trầm ngâm, đạo mạo. Lời nó kêu chít chít nào, nghe cũng có ý nghĩa ưu thời mẫn thế. Một hôm, nó gọi một bạn chuột lực lưỡng theo nó. Té ra, nó đã gặp được một nơi góc tàu ngựa, một cái lục lạc to bằng quả trứng, nên về gọi bạn theo nó. Đến nơi, nó nằm ngửa ra, ôm lục lạc vào lòng, và bảo bạn cắn đuôi nó mà kéo, như là kéo xe vậy. Kéo nó tới đâu, thì tiếng lục lạc kêu lên rổn rảng. Mà bạn nó, vì cắn đuôi nó mà kéo, đi chỉ nghe theo lịnh nó chít chít điều khiển, nên chẳng biết trước sẽ hướng vào đâu, thành ra không sợ sệt chi. Long Thử ra lịnh cho kéo đến lão mèo, tính đem lục lạc mà mang vào cổ lão mèo, như trước kia, lúc nó còn là hồn con thằn lằn, nó đã nghe nói vậy.

Nằm một góc, lừ đừ, lão mèo nghe vang tiếng lục lạc. Bèn giương mắt nhìn, chẳng biết con gì, đầu chẳng thấy mặt mũi chi, chỉ thấy một cái vòi quơ qua quơ lại, để tìm phương hướng, lại có đến tám chân, bốn chân để đi, bốn chân lại chổng lên mà nghỉ, mà kêu rống chẳng ngơi. Lão mèo quá sợ nhảy phóc lên nóc nhà, kêu “miao! miao!” rất là kinh hãi.

Lũ chuột núp trong hang, nãy giờ thấy mèo rình không dám ra. Bây giờ thấy mèo hoảng nhảy đi bèn nà ra. Con nào đói thì mau mau đi tìm mà ăn vụng. Một số đông lại bu quanh Long Thử, lên tiếng chê bai:

– Việc này có gì là khó. Ai mà nằm ngửa ôm lục lạc chẳng được? Vì lối ăn cắp trứng ấy, chuột nào mà chẳng biết? Chỉ vì mèo dại, thấy hai con chuột cắn đuôi nhau, lầm tưởng là con quái gì, mà sanh sợ thôi!

Chẳng dè, nằm trên mái nhà, lão mèo nghe và hiểu tiếng chuột. Lão nhìn xuống, thấy quả là Long Thôm lục lạc, nằm ngửa cho một con chuột khác cắn đuôi; và cái mà lão lúc nãy tưởng đâu là cái vòi quơ qua quơ lại, thật sự, chỉ là cái đuôi chuột! Lão vừa thẹn cho lão, vừa phục Long Thử đa mưu, vừa phát ghét lũ chuột vô ân, đã buông lời chê bai kẻ mới cứu mình khỏi nạn. Từ trê mái nhà, lão mèo phóng xuống, mỗi một tay hay chơn, sè vuốt mà móc họng một chuột.

Tất cả các chuột khác hoảng chạy tứ tán. Long Thử và bạn nó cũng giựt mình hoảng hốt chạy theo, chun vào   hang mà trốn. Chừng tinh thần định tỉnh lại, lũ chuột bèn lập tòa án chuột để mà xử Long Thử. Long Thử bị buộc tội là Thử gian, làm chuột mà lãnh lịnh của mèo, hại loài chuột của mình. Bằng cớ là bấy lâu nay, lão mèo mỗi lượt chỉ móc họng được một chuột mà thôi; còn bây giờ, mèo và Long Thử toa rập, để cho mèo giết một lần bốn trự chuột. Nếu không phải nhờ Thử-gian đồng lõa mà giúp, dễ gì mèo chụp một lượt đến bốn chuột? Lời buộc tội quá hữu lý như vậy, đủ bằng cớ thiết thực như vậy, dễ gì Long Thử đem tâm tình của mình, một tâm tình vô hình, không biết tựa vào đâu, để mà chứng minh, để nói rằng mình chỉ có lòng cứu độ loài chuột, chớ chẳng có dạ phụng sự cho mèo để hại chuột? Long Thử bị kết án tử hình. Điều này nó dễ chấp nhận, nếu nó phải đem cái chết của nó làm điều kiện, để cứu độ loài chuột, mà nó quá thương yêu. Song cái bản án của nó, “tội Thử gian,” làm cho nó đau khổ vô cùng; vì nó mang một cái oan vô tận, không ai giải cho được.(Con Thằn Lằn Chọn Nghiệp – Hồ Hữu Tường)

Sao các bạn, nghĩ sao về Long Thử?

  1. Của Chuột Và Người ca John Ernst Steinbeck Jr.

   Của Chuột Và Người – Of Mice and Men:  Sách xuất bản tháng 2/1937, thời kinh tế Mỹ khủng hoảng, kể về tình bạn và những ước mơ chung của George và Lennie, hai công nhân nông nghiệp lang thang khắp nơi để kiếm sống.

Lấy bối cảnh nước Mỹ thời Đại suy thoái, cuốn tiểu thuyết mỏng đã trở thành kinh điển này kể một câu chuyện chân thực và hấp dẫn, dù bi kịch, về hai kẻ bên lề cố gắng tìm lấy một chỗ cho mình trong một thế giới nghiệt ngã. Lang thang khắp nơi tìm việc, George và Lennie, người bạn to lớn ngờ nghệch của hắn, chẳng có gì ngoài nhau và một giấc mơ chung: rằng một ngày nào đó họ sẽ kiếm đủ tiền để mua một trang trại. Nhưng rồi cũng như trong câu thơ của Robert Burus-  “Những dự tính hoàn hảo của chuột và người thường không thực hiện được” – đã gợi cảm hứng cho nhan đề tác phẩm này, như trong chính cuộc đời này, những dự định tốt nhất thường đổ bể, những giấc mơ đẹp nhất thường không thành, mọi hy vọng của họ đã bị kết liễu ngay khi số phận đẩy Lennie ngờ nghệch đến chỗ gây ra một tội lỗi bất khả sửa chữa, để rồi từ đó hy vọng lao thẳng tới thất vọng và tất cả rơi vào một kết cục bi thảm không thể vãn hồi…

John Ernst Steinbeck Jr. (1902–1968) là nhà văn vĩ đại người Mỹ từng giành giải Pulitzer năm 1939 và Nobel văn chương năm 1962.Ông để lại một sự nghiệp đồ sộ với hàng chục tiểu thuyết, truyện ngắn và sách phi hư cấu, trong đó đáng chú ý nhất có thể kể đến Của chuột và người (1937), The Long Valley (1938), The Grapes of Wrath (1939), East of Eden (1952), The Winter of Our Discontent(1961), và Travels with Charley (1962).

  1. Chuột trong văn chương
  1. Thảo Thử Hịch của Nguyễn Đình Chiểu

     Cụ Nguyễn Đình Chiểu, 1822-1888, có bài Thảo thử hịch (Hịch đánh chuột) toàn bài gồm 40 câu. Cụ đồ Chiểu đã mượn con chuột để chỉ bọn tham quan ô lại, những kẻ cường bạo hại dân, pha hoại luân thường đạo lý, chia rẽ cha con, chồng vợ… Nói tóm lại con chuột tiêu biểu cho tà gian, cường bạo; vì thương dân yêu nước, bảo vệ đạo lý nên phải ra lệnh tiêu diệt hết loài gian ác:

.

  Gọi danh hiệu : chuột xạ, chuột lắt, chuột chù, chuột cống, anh em dòng họ nhiều tên;

 Tra quán chỉ ; ở nhà, ở ruộng, ở lạch, ở ngòi, bầu bạn non sông lắm lối

Lớn nhỏ răng đều bốn cái, ăn của người thầm kín biết bao nhiêu;

Vắn dài râu mọc hai chia, vắng mặt chủ hung hăng đà lắm lúc

Cớ sao đem lòng qu quái;

Cớ sao còn làm thói gian tham?

Nền x tắc là nơi báo bổ, can chi mi đào lỗ đào hang?

Sâu hiểm bấy tấm lòng nghiệt thử cục cứt ra cũng nhọn hai đầu;

Báu xót chi manh áo thử cầu, tấm da lột không đầy ba tấc.

Giận là giận trộm đồ bàn Phật, trốn án mà xưng vương;

Căm là căm cắn sách kẻ nho, đành lòng mà phá đạo.

Ví có ngàn giòng nước khảm, khôn bề rửa sạch tội đa dâm;

Dẫu cho muôn nén vàng đoài, cũng khó mua riêng hình bất xá.

Chớ để con nào sơ lậu, phi ra tay lấp lỗ tam bành;

Đừng cho chúng nó xẩy ra, phi hết sức trừ đồ lc tặc.(Thảo thử hịch – Nguyễn Đình Chiểu )

Chuột bị kết án đa dâm vì … mắn đẻ.

  1. Vài Thành ngữ nổi tiếng

   – Mèo khóc Chuột – Miêu Khốc Lão Thử , ý muốn nói: Chỉ làm bộ thương xót mà thôi! Cả câu là “Miêu khốc lão thử giả từ bi” Mèo khóc chuột là lòng từ bi giả dối, để che mắt thiên hạ nhằm muốn đạt được một mục đích nào đó.

Thành ngữ Miêu Khốc Lão Thử có xuất xứ từ truyện Thuyết Đường, hồi thứ 62. Đây là câu nói mỉa mai của tướng Trình Giảo Kim nói với Tần Vương Lý Thế Dân, khi Tần Vương đến điếu tang tiểu tướng La Thành vừa mới bị Ân Tề nhị vương hại chết. Trình Giảo Kim cho là Tần Vương chỉ giả bộ thương xót để cho các tướng khác cảm động mà liều mình bán mạng để giúp nhà Đường tạo dựng nên cơ nghiệp mà thôi, chớ chẳng phải thương xót thật tình. Nên câu… Mèo khóc Chuột có nghĩa tương đương như là câu “Nước mắt cá sấu” của ta vậy.

   – Chuột Sa Hũ Nếp để chỉ người gặp dịp may đưa đến bất ngờ mà trở nên no đủ giàu sang, thường dùng để mĩa mai những người ở rể cho các nhà giàu.

.

Gió bấc non thổi lòn hang chuột,

Thấy chị hai mầy… tao đứt ruôt đứt gan!

Khi đã được vào làm rể để cùng ngủ chung một nhà rồi, đến đêm cô gái đã ướm thử lòng và thách thức chàng trai:

Chuột kêu chút chít trong lò,

Lòng anh có muốn thì mò lại đây!

.

Thách thức xong, cô lại sợ chàng trai hưng phấn quá mà bộp chộp không cẩn thận, nên lại nhắc nhở:

.

Chuột kêu chút chít trong rương,

Anh đi cho khéo, kẻo… đụng giường má hay!

Cái anh chàng làm rể nầy cũng lém lỉnh lắm, anh ta đã liệu trước tình huống lỡ mà xảy ra:

Má hay má hỏi đi đâu? Thì đáp là…

Con đi bắt chuột cho mèo con ăn!

(Theo Đỗ Chiêu Đức)

.

   – Tai Voi Mặt Chuột để chỉ tướng mạo khuôn mặt của những kẻ tiểu nhân nham hiểm, tâm địa hung ác hay phá phách và hại người khác.

   – Cháy Nhà Mới Lòi Ra Mặt Chuột để chỉ chuyện gì đó hay người nào đó đến nước cuối cùng mới để lộ ra cái xấu, cái âm mưu thâm hiểm của mình.

     – Chuyện mèo chuột: Cảnh “mèo rình chuột” hầu như diễn ra hàng ngày nhưng không hiểu sao người ta lại hay dùng thành ngữ “chuyện mèo chuột” để diễn tả một cuộc tình thơ mộng của đôi trai tài, gái sắc. Có ẩn ý gì chăng?

Hình như trong lối nói đó có hàm ý mèo là “chàng” và chuột là “nàng”: Chàng sẽ “ăn tươi nuốt sống” nàng?. Chắc không? Biết đâu ngược lại nàng chính là con mèo lanh lợi, còn chuột lại là chàng vốn khù khờ nên bị nàng “ăn gỏi”. Xem ra thì một bên tám lạng bên kia cũng vừa nửa cân, không biết “mèo nào cắn mỉu nào”

  1. Ca dao tc ngữ về chuột

.

  – Con mèo trèo lên cây cau

Hỏi thăm chú chuột đi đâu vắng nhà

Chú chuột đi chợ đường xa

Mua mắm mua muối giỗ cha chú mèo

.

  – Chuột chù chê khỉ rằng hôi,

Khỉ lại trả lời: cả họ mầy thơm

chuột chê xó bếp chẳng ăn

Chó chê nhà dột ra nằm bụi tre.

.

  1. Ngôn ngữ Việt Nam đề cập nhiều đến chuột như:

Cháy nhà ra mặt chuột.

Chuột đội vỏ trứng (người đạo đức giả)

Chuột sa hủ nếp (nam nhân nghèo nhưng có vợ giàu)

Chuột gặm chân mèo (không biết lượng sức khi gặp một đối thủ mạnh hơn)

Chuột cắn dây buộc mèo (dại dột khi cứu kẻ hại mình)

.

  1. Chuột trong tướng mệnh

Các thầy tướng Đông Phương cho rằng người có tai nhỏ như tai chuột thì không thọ và người có mặt như mặt chuột thì không phải là đấng trượng phu quân tử.

***

   Qua trên, đó là những gì tôi đã sưu tầm và tổng hợp cho có hệ thống mạch lạc, mong các bạn tìm thấy ở đây vài điều lý thú và vui trong ba ngày Tết. Chúc Xuân mới anh khang và thịnh vượng.

Nguyên Lc

……………

Nguồn tham kho: Nguyễn Đình Chiểu, Vũ Bằng, Hồ Hữu Tường, Đặng Tiến, Đỗ Chiêu Đức, Nguyễn Quý Đại, Phạm Đình Lân, Nguyễn Viết Tân, Trần Văn, Nguyễn Ngọc Chính, Wikipedia …

NĂM TÝ LẠM BÀN CHUYỆN CHUỘT (1)

Nguyên Lạc
ty chuot 4

Dẫn nhập:
Nhân dịp Xuân về, Nguyên Lạc tôi gởi đến các bạn bài LẠM BÀN về Tý/ Thử/ Chuột này cùng với lời chúc an khang và thịnh vượng. Mong các bạn tìm thấy được vài điều lý thú, đáng quan tâm.
Nào, mời các bạn nâng ly cùng hát!
.
Ngày xuân nâng chén ta chúc nơi nơi!

Nhấp chén đầy vơi
Chúc người người vui!

Nhấc cao ly này!
Hãy chúc ngày mai sáng trời tự do
Nước non thanh bình
Muôn người hạnh phúc chan hoà!
(Ly rượu mừng – Phạm Đình Chương – 1975)
.
*
Để vào bài, mời thưởng lãm bài thơ về năm chuột “hết ý” của “lão niên thi sĩ” Hoàng Xuân Sơn:
.
N ă m c h u ộ t
.
Hoang mang với đá tai mèo
Ờ con chuột nhắt/ Cứ trèo lên/ Xem
A/ Năm tí rồi sao? hèn
gì lũ nhỏ cứ bon chen/ hà rầm
Mình cứ một tuổi/ dập. bầm
vẫn xuân lai láng/ còn hăm/ động đình
Con chuột/ Be bé/ Xinh xinh
Xin đừng cắn cái dập dình/ Nước/ Nôi
(Hòang Xuân Sơn)
.
Phần I
TỔNG QUÁT VỀ TÝ/ CHUỘT

VỀ CHỮ TÝ
Năm mới này là năm Canh Tý. Tý là gì? Canh là gì? Ta thử bàn xem:
1. Tý
– Nghĩa Tiếng Nôm: Có vài nghĩa như: Tí tẹo, tí hon; một tí; phong thấp; phong tê liệt; cánh tay …
– Nghĩa tiếng Hán Việt: Có rất nhiều nghĩa, nhưng nghĩa chúng ta chú ý nhất cho bài viết là nghĩa này: – Tý 子 đứng đầu Thập Nhị Địa Chi, cầm tinh Thử 鼠 là con Chuột.

Tuổi Tý là con chuột nhà
Bắt vịt bắt gà khoét lỗ đào hang.
(Bài Vè 12 Con Giáp)

– Đứng đầu Thập Nhị Địa Chi là Tý 子, cầm tinh Thử 鼠 là con Chuột: Vậy năm Tý là năm Chuột, Chuột được gọi một cách văn vẻ là Thử.
Chuột là loại gặm nhấm có xương sống, máu đỏ, sinh con.
Tên khoa học của chuột là Mus musculus thuộc gia đình Muridae.
Tên gọi thông thường của chuột là:
.
Việt Nam: Chuột; Thử (Hán Việt)
Anh: Rat; Mouse (chuột nhà)
Pháp: Rat; Souris
Trung Hoa: 子 zǐ ; 鼠 Shu (âm thành Thử)
Nhật Bản: Nezumi (chuột lắc), Sozoku (chuột lớn)
Hàn: 자 ja
.
2. Canh: Sơ lược về Can và Chi

a. Can Chi (干支), đôi khi gọi dài dòng là Thiên Can Địa Chi (天干地支) hay Thập Can Thập Nhị Chi (十干十二支), là hệ thống đánh số thành chu kỳ được dùng tại các nước có nền văn hóa Á Đông :

b. Thiên Can được xác định và hình thành dựa vào năm Hành, phối hợp âm dương: Giáp(1) ất (2) bính (3) đinh(4) mậu (5) kỷ (6) canh(7) tân (8) nhâm (9) quí (10).
– Số lẻ là dương can (giáp, bính, mậu, canh, nhâm)
– Số chẵn là âm can (ất, đinh, kỷ, tân, quí)
– Ngày lẻ là dương can – thiên về đối ngoại và ngày chẵn được xem là âm can – thiên về đối nội.

c. Địa Chi được tính dựa vào tuổi của mỗi người – tức 12 con giáp và mỗi con giáp ứng với 1 con số: Tý (1), Sửu (2), Dần (3), Mão (4), Thìn (5), Tỵ (6), Ngọ (7), Mùi (8), Thân (9), Dậu (10), Tuất (11), Hợi (12).
Những Địa chi có số thứ tự là số lẻ được xem là dương chi: Dương chi chỉ kết hợp với dương can. Tương tự, Địa chi số chẵn là âm chi và chỉ kết hợp với âm can.
d. Mỗi năm theo Thập Nhị Đại Can tức: Tý, Sửu, Dần, Mẹo Thìn, Tỵ, Ngọ, Mùi, Thân, Dậu, Tuất, Hợi. chiếu theo cung Hoàng đạo, chuột là con vật đầu tiên trong 12 con giáp, chuột nhỏ bé nhưng thông minh và lém lỉnh.
Cứ 60 năm (Lục thập hoa giáp) ta có năm cùng can chi. Thí dụ: Năm 1960 là năm Canh Tý, năm 1960 + 60 = 2020 cũng là Canh Tý.

3. Canh Tý
Năm 2020 là năm Canh Tý 庚子. Canh là ngôi thứ 7 của Thiên Can. Kể về âm dương ngũ hành thì Canh Tân thuộc Kim là Vàng; còn Tý thuộc Thử 鼠 là con Chuột. Nên Canh Tý là con Chuột Vàng.

4. Đêm 5 canh, ngày 6 khắc
Năm Tý đứng đầu Thập Nhị Địa Chi, nhưng tháng Tý không phải là tháng Giêng mà là tháng Mười Một, và giờ Tý không phải là buổi sáng đầu ngày mà là nửa đêm từ 11pm cho đến 01 am của ngày hôm sau; theo như câu nói của dân gian là:
Nửa đêm, giờ Tý, canh ba …
.
Tháng Tý là tháng 11; giờ Tý từ 23 giờ đến 1 sáng – canh ba
Theo người xưa:
a. Đêm 5 canh: mỗi canh 2 giờ.
– Canh 1: Từ 19 giờ đến 21 giờ tức giờ Tuất/ Canh 2: Từ 21 giờ đến 23 giờ khuya tức giờ Hợi/ Canh 3: Từ 23 giờ đến 1 giờ sáng tức giờ Tý/ Canh 4: Từ 1 giờ đến 3 giờ sáng tức giờ Sửu/ Canh 5: Từ 3 giờ đến 5 giờ sáng tức giờ Dần/

b. Ngày 6 khắc: mỗi khắc 2 giờ 20 phút.
– Khắc 1: Từ 5 giờ đến 7 giờ 20 sáng/ Khắc 2: Từ 7 giờ 20 đến 9 giờ 40 sáng/ Khắc 3: Từ 9 giờ 40 đến12 giờ trưa/ Khắc 4: Từ 12 giờ đến 14 giờ 20 xế trưa/ Khắc 5: Từ 14 giờ 20 đến16 giờ 40 chiều/ Khắc 6: Từ 16 giờ 40 đến 19 giờ tối.
.
Nửa đêm giờ Tí canh ba
Vợ tôi con gái đàn bà nữ nhi
– Nửa đêm, giờ tý, canh ba: Đều là thời điểm lúc nửa đêm.
– Con gái, đàn bà, nữ nhi đều nói về một việc: Vợ tôi là giới nữ.
.
Đúng là “huề vốn” phải không các bạn?
.
5. Chuyện vui về tuổi Tý
Còn về tuổi? Bạn đã từng nghe qua chuyện Tuổi Tý chưa?
Tậng các bạn chuyện vui – hay buồn? – này. Mời xem.
Chuyện rằng:

“Có một nhà nho thi đỗ, được vua bổ nhậm làm tri huyện ở một huyện nọ. Ông rất thanh liêm, không bao giờ nhận của đút lót; do đó, khi về hưu, ông trở về quê sống rất đạm bạc với người vợ già trong căn nhà nhỏ trên mảnh đất hương quả.
Cuộc sống ngày càng khó khăn, thiếu trước hụt sau. Hàng ngày, ông ra vào thở vắn than dài. Nhớ mùi thịt béo, nhớ hơi rượu nồng mà ông thiếu vắng bấy lâu nay. Người vợ nhìn chồng mà đau đứt ruột.
Rồi một buổi nọ, người vợ dọn lên bàn một đĩa thịt gà và một chai rượu tăm. Mùi rượu thịt xông lên làm ông rỏ dãi. Chưa kịp hỏi vợ, ông gắp nhai một miếng thịt, chiêu một hớp rượu rồi khà một tiếng rõ to.
Một luồn sảng khoái rần lên trong người. Ôi hạnh phúc!
Ông tì tì thưởng thức, thoáng chóc đã sạch láng rượu thịt. Xong tiệc, mặt mài hớn hở, ông hỏi bà vợ:
– Đâu mà bà có được điều tuyệt vời này?
– Dạ thưa quan anh, thiếp thành thật không dám giấu giếm. Số là lúc quan anh còn làm tri huyện, một bữa nọ có một thương nhân đến lén gặp thiếp và hỏi tuổi quan anh; hắn nói là sẽ tặng quan anh một món quà đặc biệt cho sinh nhật. Thiếp nói rằng quan anh tuổi Tý. Ngày hôm sau anh ta lén đưa thiếp một con chuột nhỏ bằng vàng. Thiếp vội giấu cho đến tận bây giờ, làm của phòng thân lúc khó khăn. Gần đây, thiếp không đành nhin quan anh rầu buồn, nên mới đem bán nó mua chút rượu thịt và một số gạo thóc dành cho việc ăn uống hàng ngày. Xin quan anh thứ lỗi.
– Chậc chậc, ông nhà nho tặc lưỡi, tiếc quá, tiếc quá!… phải chi bà …sụt tôi một tuổi, nói tôi … tuổi Sửu”.
(Kể theo trí nhớ chuyện tôi đã đọc trước 1975 – Không nhớ tên tác giả)[ trong Chuyện Vui Cuối Tuần – Nguyên Lạc]

.
VÀI NÉT TỔNG QUÁT VỀ CHUỘT

1.
a. Chuột được tìm thấy khắp nơi trên thế giới ngoại trừ Nam Băng Châu. Ngay cả Greenland và Iceland là những vùng băng giá quanh năm cũng có chuột sinh sống. Chuột là loài ăn tạp. Chúng ăn khoai củ, lúa thóc, thảo mộc, thịt, cá và các sinh vật nhỏ khác.
Chuột kiếm ăn ban đêm nhưng thị giác của chuột lại kém. Bù lại thính giác của chuột rất tinh. Khứu giác của chuột rất tốt. Người ta dùng chuột để khám phá bãi mìn, bịnh tật của loài người hay thử nghiệm thuốc. Chuột có thể nghe những tiếng động nhẹ cách xa 10- 15 m dễ dàng. Chuột có bốn chân. Hai chân sau to lớn và mạnh nên chạy và phóng nhảy rất nhanh. Nên mới có nhóm chữ nhanh như chuột lắc.
Trong các loài động vật chuột và thỏ nổi tiếng về khả năng sinh sản. Một con chuột mới sinh được 02 hay 03 tháng tuổi bắt đầu yêu đương, mang thai và sinh con. Một con chuột cái có thể có từ 24 đến 72 con chuột con trong một năm. Ở Mỹ Châu có lộc thử (deer mouse) mang tên khoa học Peromyscus maniculatus thuộc gia đình Cricetidae sinh 14 lứa trong một năm! Chuột cái vừa sinh đã quan hệ tình dục với chuột đực và mang thai trong vòng 24 giờ đồng hồ sau. Thời kỳ mang thai chỉ kéo dài lối 30 ngày mà thôi. Ba mươi (30) ngày sau có thêm một bầy con khác. Mỗi lứa có từ 04 đến 12 con chuột con. Tuổi thọ trung bình của chuột xê dịch từ 1 đến 3 năm. Trong thời kỳ động cỡn một chị Chuột có thể ái ân chăn gối với hàng trăm người yêu khác phái trong một đêm. Các chuột con mới sinh không có lông, mình trần trụi, da mỏng màu đỏ hồng. Vì vậy người Anh gọi các chuột con mới sinh là pinkies.
Vì mắn đẻ nên chuột bị kết án đa dâm.
.
b. Chuột là loài gặm nhấm, đại cương ta có:
– Chuột nhà nhỏ con nhưng phá hại đồ đạc và gây nhiễm độc cho thức ăn trong nhà đáng kể. Ở các nước Âu- Mỹ chuột nóc nhà Rattus Rattus thường gây cúp điện hay hoả hoạn vì cắn phá các đường dây điện trong nhà.
– Chuột đồng to lớn, sống trong hang và phá hoại mùa màng. Mỗi con chuột ăn tối thiểu 10 ki- lô hoa màu trong năm. Một gia đình chuột 200 con ăn 2,000 ki- lô hoa màu trong năm. Những con số này cho thấy sự phá hại kinh khiếp của Thử tộc. Chuột đồng phá hại ruộng lúa trên đồng bằng sông Cửu Long. Chuột đào hang dưới chân đê dọc theo sông Hồng làm cho chân đê yếu khiến dễ bị vỡ gây nạn lụt khủng khiếp vào mùa mưa.
– Chuột cống là chuột thành phố, to lớn nhưng trông nghèo nàn và bẩn thỉu vì sống dưới cống hôi thối và ẩm ướt. Tên khoa học của chuột cống là Rattus norvegicus thuộc gia đình Muridae. Chuột cống là chuột thành phố. Chúng mang bịnh cho loài người không ít.
– Chuột chù hay chuột xạ là chuột có mỏ nhọn, mắt gần như mù. Loài chuột này mang tên khoa học Sorox palutris thuộc gia đình Soricidae. Chuột toát mùi xạ khó chịu. Nước miếng chuột xạ có độc chất soricidin được dùng làm thuốc trị cao huyết áp, nhức đầu. Chuột xạ lội và lặn dưới nước rất giỏi nên người Anh gọi chuột xạ là water shrew. Người Việt Nam không thích nhưng không ghét chuột xạ. Người ta tin rằng đêm chuột xạ kêu thì ngày hôm sau sẽ có khách đến nhà. Khách thân quen tùy theo tiếng chuột kêu nhiều hay ít: Nhiều, liên hồi thì khách thân, ít thì khách lạ. Kinh nghiệm bản thân tôi, ở quê luôn đúng.
– Chuột bạch hay chuột Tàu là thân thuộc sang trọng trong đại gia đình chuột. Người ta nuôi chuột bạch trong nhà để biểu diễn trong các chiếc đu trong chuồng. Chuột bạch cũng được dùng trong các phòng thí nghiệm. Loài người dùng chuột bạch, cũng như chuột Ấn (Bọ) trong các phòng thí nghiệm để thử nghiệm thuốc. Thử tộc cũng được dùng để nghiên cứu bịnh Alzheimer, cao huyết áp. Chúng tôi cũng giúp cho các nhà y học sửa chữa dây cột sống bị tổn thương. Người Trung Hoa và Việt Nam dùng các chuột con mới sinh còn đỏ ối để ngâm rượu thuốc. Rượu nầy dành cho các sản phụ mới sinh uống để phục hồi sức khỏe.
– Bọ có hình dạng như chuột nhưng mập và có bộ lông rất đẹp. Tên khoa học của bọ là Cavia porcellus thuộc gia đình Cavidae. Người ta dùng bọ (Cobaye) trong phòng thí nghiệm để thử thuốc, chẩn đoán bịnh tiểu đường, ho lao, bịnh scurvy vì thiếu sinh tố C, rối loạn khi mang thai v.v…
– Chuột rằn (Zebra mouse) trong sa mạc Sahara mang tên khoa học Lemniscomys barbarus thuộc gia đình Muridae ăn trái cây và sống trên cây như nhen, sóc chớ không sống trong hang hay cống rãnh. (Theo Phạm Đình Lân)
.
2.
Chuột sống gần với loài người gọi là chuột nhà Hausmaus/ Mus musculus. Theo tài liệu thời tiền sử từ 10.000 năm trước công nguyên (CN) chuột ở Ấn Độ từ đó đến các vùng các vùng Trung đông Ai Cập 4000 trước CN, Hy Lạp Tây Ban Nha 1000 trước CN và theo tàu buôn hay theo các cây trôi đến các lục điạ khác như Nam Mỹ, Phi châu và Úc Châu.
Chuột thuộc loại động vật có vú, đuôi dài 7-10 cm, mũi nhọn và lỗ tai dựng đứng, mắt không nhìn thấy xa, không phân biệt được màu sắc, bù lại chuột có khả năng cảm nhận mùi vị, thức ăn rất tốt mà không cần ngậm trong miệng, rất thính tai, do đó khi nghe một tiếng động nhỏ, chuột chạy trốn ngay, các răng cửa dài cứng bé nhọn để gặm nhấm, thân dài từ 7 đến 11 cm nặng 20-25 g, lông thường màu xám nâu, tuy nhiên cũng có loại lông trắng gọi là chuột bạch. Đời sống chính của loài chuột vào ban đêm đi tìm thức ăn, ban ngày lẩn trốn ở trong hang hay chỗ kín. Ngoài thiên nhiên chuột sống từng đàn, chuột leo trèo nhanh có thể bò ngược trên trần nhà, trên dây, nhảy vọt, chạy nhanh, bơi lội và có tài đào đất làm hang để ở, hay làm tổ trên cây, trong các bụi rậm, chuột thuộc loại ăn tạp, ăn các loại ngũ cốc, rau cỏ non, côn trùng, cua, cá … Chuột có tính đa nghi, thường di chuyển trên đường mòn, hay men theo bờ, nghi ngờ chỗ lạ, thức ăn lạ, chuột nếm thử thức ăn trước khi ăn nhiều, chuột cũng khôn ngoan, ngậm vào đuôi nhau để qua sông, chuột ăn cắp trứng gà, phải dùng bốn chân ôm qủa trứng nằm ngửa để con khác ngậm đuôi mình kéo về hang … Chuột cái có chửa trong vòng 3 tuần đẻ đến 10 con, lúc sinh chuột con chưa mở mắt, điếc, da trần truồng màu hồng, khoảng 10 ngày sau chuột con mọc đủ lông, 15 ngày mở mắt, nhưng còn nằm trong ổ bú sửa mẹ. Từ 21 ngày chuột con rời bỏ mẹ, tự đi tìm thức ăn, sức nặng khoảng 6 gr. Sau 6 – 8 tuần tuổi chuột cái có thể tiếp tục sinh sản. Chuột sinh sản rất mau, chuột luôn gặm nhấm để mài răng, cắn phá làm hư hại mùa màng, mỗi ngày một con chuột cống ăn hết 100gr, nếu 1 triệu con ăn như vậy thì hao tốn hàng chục tấn thực phẩm! Người miền Nam rất sợ loại chuột từ hang Pắc Pó không những ăn tạp mà còn ăn cả đất và thịt người. Theo qui luật tự nhiên về cân bằng sinh thái, nên phải có các loại khác sinh ra để trừ khử bớt chuột đó là: mèo, chim cú, qụa, rắn, diều hâu. Bởi vì những con nầy thường săn chuột làm mồi. (Chuột Trong Đời Sống & Khoa Học Nguyễn Quý Đại)
.
(Còn tiếp Phần II)
.
Nguyên Lạc
……………
Nguồn tham khảo: Vũ Bằng,Hồ Hữu Tường, Đặng Tiến, Đỗ Chiêu Đức, Nguyễn Quý Đại, Phạm Đình Lân, Nguyễn Viết Tân, Wikipedia …

ÁO LỤA SÓC TRĂNG

Nguyên Lạc

aodaiquehuong

Ai về đất Sóc quê tôi *
Nhớ thăm Hoàng Diệu một thời đã xa
Một thời yểu điệu thướt tha
Trắng dài áo lụa đón đưa con đường
.
Nhớ thăm cây điệp sân trường
Hoa vàng rơi nhẹ lời thương tóc người
Nhớ thăm … nhiều lắm người ơi
Trong tôi trọn cả đất trời Sóc Trăng
.
2.
Phương này giờ tuyết trổ bông
Muôn trùng trắng phủ. Nỗi lòng quê tôi
Nhớ thương … thôi cũng chỉ rồi
Đêm ba mươi lạnh ngoài trời tuyết bay
.
Có người lữ khách mồ côi
Đón xuân xứ lạ thấy đời hư không
Sóc Trăng thời đó còn không?
Dáng ai ngày đó … còng lưng nắng đời?
.
Sóc Trăng vẫn mãi trong tôi
Trắng dài áo lụa trọn đời … Thiên thu!
..
Nguyên Lạc

ĐÊM BA MƯƠI

Nguyên Lạc

em1

1.
Xin mời giai nhân
Bồ đào đêm xuân
Rượu tình hãy uống
Say điếng đôi mình
.
Đêm ngoài ba mươi
Trời đất lặng thinh
Chờ nghe tiếng ngất?
Hấp hối đôi tình?
.

2.
Xin mời tôi ơi!
Ly đắng mồ côi
Bồ đào đêm ấy
Nồng nàn chờ xuân
Giờ rồi đâu thấy?
Đêm ngoài tuyết băng!
.
Đón xuân xứ lạ
Trắng tuyết muôn trùng
Lạnh hồn cô lữ
Mối tình không chung
.

3.
Đêm ngoài ba mươi
Tuyết trắng rơi rơi
Một người lữ khách
Say khướt rượu đời
.
Bồ đào đêm ấy?
Đâu rồi ngực xuân?
.
Đón xuân xứ lạ
Đêm trắng muôn trùng
Mồ côi nến lệ
Khóc tình hư không
.

4.
“Em đến đêm ba mươi” [*]
Nụ quỳnh mãn khai môi
Dung nham tràn máu nóng
Địa chấn tiêu một đời
.
Nhan sắc đêm ba mươi
Trói tim này thiên thu!
.
Nguyên Lạc
…………..
– Rượu Bồ đào là rượu Champagne
[*] Em đến thăm anh đêm ba mươi
Còn đêm nào vui bằng đêm ba mươi.

Tay em lạnh để cho tình mình ấm
Môi em mềm cho giấc ngủ em thơm
(Nhạc Vũ Thành An, thơ Nguyễn Đình Toàn)

Quê Hương Vẫn Mãi Thiên Thu

Nguyên Lạc

rong-vnQuê hương bức gốc ra đi
Quê hương là nỗi phân ly não lòng
Quê hương là những dòng sông
Quê hương là khói đốt đồng chiều lam
.
Quê hương lời đó linh thiêng
Máu xương giữ nước lời nguyền khắc ghi
Quê hương dù có biệt ly
Vẫn hoài cố lý vẫn lời nước non
.
Quê hương một tấm lòng son
Tổ tiên ơn nghĩa mãi còn thiên thu
“Sơn hà Nam quốc đế cư
Tiệt nhiên phận định thiên thư rành rành”
.
Quê hương người hỡi sao đành?
Quên “câu kiến nghĩa” lợi danh riêng mình! **
.
Nguyên Lạc
…………………
Nam quốc sơn hà Nam đế cư
Tiệt nhiên phận định tại thiên thư
Lý Thường Kiệt

** Kiến nghĩa bất vi vô dõng giả/ Lâm nguy bất cứu mạt anh hùng.
Thấy việc nghĩa trước mắt mà không làm không phải là người anh dũng/ Thấy chuyện nguy nan không cứu không đáng mặt anh hùng.

HÃY VỀ ĐI

Nguyên Lạc

cropped-hoa-mai-3.png

HÃY VỀ ĐI

1.
.Đầu xuân hoa rộ màu tươi thắm
Em hãy về đi hái lộc đầu
Biệt xứ lưng tròng xa thăm thẳm
Để lại nơi đây một nỗi sầu
.
Để lại riêng tôi hoài huyễn mộng
Chong đêm mơ chỉ bóng nguyêt rầu
Xuân đến phương người hoa có thắm?
Có nhớ không em ước hẹn nào?
.
2.
Đầu xuân hoa nở màu tươi thắm
Sao mãi hồn tôi rêu phủ màu
Em hãy về đi xuân rồi đó
Mang theo chút nắng ấm tình nhau
.
Đầu xuân chim líu lo ngoài ngõ
Hoan ca mừng đón nắng xuân hồng
Ta mãi vẫn chờ … chờ em đó
Từ lúc phân ly lệ lưng tròng
.
Hãy về em nhé. về em nhé?
Mang theo nắng ấm sưởi ta đông

XUÂN VỀ

.Một nhành mai khoe sắc
Xuân về rồi phải không?
Chim líu lo ca hát
Sao sầu động trong lòng?
.
Mây trắng trời lam bay
Về phuơng nào ai biết?
Tóc xanh giờ có hay?
Màu thời gian da diết!
.
Năm cũ rồi giã biệt
“Vó câu vèo qua song”
Lột vỏ từng tờ lịch  
Còn chữ sầu bên trong
.
Một nhành mai nở sớm
Xuân về người biết không?
Ngày mới hương xuân đượm
Sao lệ ứa lưng tròng?!
.
Một khối tình rất cũ
Sao hoài mới trong tâm ?!

Nguyên Lạc

LẠI MỘT MÙA ĐÔNG

Nguyên Lạc

snow
1.
Chớm đông lạnh mặt trời không dậy sớm
Bạc sầu sương vương mắt cây trơ
Có chiếc lá tiếc cành nức nở
Nuối tiếc chi? Rồi cũng đổi mùa
.
Trời tàn thu đông phong đến vội
Lạnh lùng chi? Trời chẳng nắng hồng
Bao năm rồi buốt giá mùa đông
Nhớ thương lắm quê hương tôi nắng ấm
.
Tôi nhớ lắm dòng Hậu Giang yên ắng
Ôm vào lòng thành phố Cần Thơ
Thành phố của tôi. thành phố mộng mơ
Từng ngõ ngách thân quen. từng ngôi trường hoa phượng vĩ
.
Thành phố của tôi. lứa bạn bè tri kỷ
Những quán đêm. góc phố hẹn hò
Những quán chè ngọt lịm môi mơ
Tựa bước lang thang bến đêm Ninh Kiều rạng rỡ
.
Thành phố của tôi: Cần Thơ một thuở
Thuở yêu người. thuở xuân mộng lên ngôi
Thành phố của tôi một thuở … đã rồi
Mù xa thăm thẳm. lận đận đời viễn xứ!
.
2.
Sáng mùa đông biết cách chi ấm hở?
Mặt trời đâu? Những tia ấm rực hồng?
Thắp giùm tôi chút nắng được không?
Cho tôi rọi hồn … Tìm lại Cần Thơ ngày cũ
.
Thành phố của tôi. mối tình xưa cũ
Cố nhân ơi! Tôi vắng mất người rồi
Cố lý ơi! Chỉ hoài niệm mà thôi
Cô lữ. Lưu vong …
Một mùa đông lại đến!
.
Nguyên Lạc

ĐÂU CẦN CHỜ ĐẾN ĐÊM GIÁNG SINH PHẢI KHÔNG EM?

Nguyên Lạc

tran din cuon

Trang Đinh Cường

1.
Đêm Giáng Sinh Chúa hiện xuống trần
mang niềm tin mới cho nhân thế: Công bằng. Bác ái
Có ích kỷ không em?
Khi anh không thích em bác ái
Em phải yêu thương riêng chỉ anh thôi!
.
Đêm đâu cần vọng về những tiếng chuông ngân
Khí em đến. ngàn tiếng chuông tình vang hồn anh ngây ngất
Đêm ngọt ngào như chiêm bao
như cổ tích
Đêm khát khao
Đêm huyễn mơ
em. bãi cát nhung êm đợi chờ
anh. nghìn sóng biển phủ tràn
những nụ hôn thân trầm hương ngát
.
Đêm. chỉ riêng anh và em
Vòng tay đan nồng ấm
vũ điệu Rumba mê đắm
hai thân người cháy bỏng quyện tan nhau
.
Đêm mang tin vui.
lời tình ca anh hát
ngợi ca thần tình yêu Cupid. em. bắn mũi tên vàng ngay tim. anh ngất
Nên suốt đời anh mãi vọng một phương

2.

Đâu cần chờ đến đêm Giáng Sinh đâu em!
để chuông ngân vang niềm tin mới
Bất cứ đêm quắt quay mong đợi
Em đến là đêm Giáng Sinh!
.
Hiện hữu em cứu rỗi đời anh!
Có tội lỗi lắm không?
khi nghĩ em là Chúa
mang tin mừng riêng chỉ anh
.
Cảm ơn em. suối tóc êm nhung
mật ngot môi cong
Và cảm ơn thân trầm
ngực rằm dâng hiến

3.
Đâu cần chờ đến đêm Giáng Sinh đâu em!
Ngàn nến hồng lấp lánh rạng tâm khi em đến
đêm nồng nàn đêm khát khao đêm mê đắm
Đâu cần chờ đến đêm Giáng Sinh phải không em?
.
Nguyên Lạc

CHIỀU TRÊN BIỂN VẮNG.

Nguyên Lạc
Bien Ho 2

Ngóng về cố lý xa xăm
Thấy tôi và bóng nghìn năm nỗi sầu
Quê hương giờ biết nơi đâu?
Quê hương là một nỗi đau đoạn trường!
.
Mười năm lòng vẫn vấn vương
Mười năm canh cánh một phương: Phương đoài! *
Đoài phương người biết có ai?
Tha phương cô lữ nỗi hoài thiên thu
.
Đoài kia cố lý xa mù
Chiều trên biển vắng hải âu khóc người
Trời hồng ngụp lặn trùng khơi
Bỏ tôi ngần sóng biển lời nhân gian
.
Ngóng về cố lý xa xăm
Mồ côi biển lạnh trọn hồn cố nhân
.

Nguyên Lạc

VÀI Ý VỀ CHỮ DÙNG TRONG THƠ (8)

Nguyên Lc

nguyenlac_chandung

Tiếp nối theo loạt bài viết “Vài Ý Về Chữ Dùng  Trong Thơ” [*] đã đăng trên FB và các trang web, hôm nay tôi sẽ tiếp tục phân tích việc dùng chữ trong thơ qua việc trả lời cho nhóm tự gọi là: CÁNH ĐẠI BÀNG của THI CA ĐƯƠNG ĐẠI VN.

Dưới cuối bài là copy Email của nhóm này [**], nó đã được họ phát tán rộng khắp để tấn công cá nhân tôi, vì tôi dám “góp ý” về bài bình thơ “có cánh”, dù dưới bài bình thơ này đã có ghi: “Rất mong nhận được những ý kiến trao đổi của các bạn!” 

BÀN VỀ HAI CHỮ MIÊN TRƯỜNG

Để hiểu rõ cụm chữ “miên trường”, hãy thử xét câu thơ sau đâyy:

“Miên trường trở giấc hồn cô quạnh” – XYZ

  1. Như đã biết: Chữ Hán Việt là chữ Hán viết theo chữ Việt. Thí dụ câu: 君 在  湘  江  頭 (thuần Hán) – Quân tại Tương giang đầu (Hán Việt) – Chàng ở đầu sông Tương (thuần Việt)

Trong các bài trước tôi đã phân tích: Tiếng Hán Việt cũng giống tiếng Anh: Tính từ đứng trước danh từ, khác với tiếng Việt

Thí dụ: Bạch mã (H) White horse (A) Ngựa trắng (V)

  1. Theo nghĩa: Trường là dài, Miên là miên viễn = rất dài. Vậy tập hợp “Miên trường” nghĩa là dài dài, dài rất dài, dài dằng dặc.

– Câu thơ trên muốn nói gì?

– Nếu muốn nói đang ngủ rồi trở giấc, ta phải nói “Trường miên”, vì  Trường là dài, Miên là ngủ; Trường miên là giấc ngủ/ giấc mộng dài. Do đó câu thơ trên phải được viết: “Trường miên trở giấc hồn cô quạnh”.

  1. Ta biết rõ tác giả câu thơ trên đã “mượn” 2 chữ Miên trường trong bài thơ “Chào Nguyên Xuân” của cụ Bùi Giáng.

– Trong bài thơ Chào Nguyên Xuân, theo tôi hiểu cụ Bùi Giáng ̣đùa với 2 chữ Miên trường trong câu thơ “Mùa xuân phía trước miên trường phía sau“. Miên trường như giải thích trên là dài dài. Ghép vào câu thơ nó có nghĩa tếu: “Mùa xuân phía trước dài dài phía sau”: Phía trước mùa xuân vui thì phía sau cũng dài dài … mùa xuân vui. Phải cụ đùa không?

– Vâng, cụ đùa nhưng cười ra nước mắt. Đó là cái tuyệt vời của Bùi Giáng:  Câu thơ vui, nhưng thường ẩn trong đó là sự não lòng. Phía sau “dài dài” cũng có thể mùa thu hay mùa đông , mùa sầu mùa nhớ…

Đây là câu thơ có sự đối tỷ, sự so sánh trước và sau: Trước là mùa xuân thì sau phải mùa xuân hay mùa nào đó. Trước là cảm xúc- mùa xuân vui – thì sau phải cũng là cảm xúc – mùa vui hay buồn nào đó – chứ không thể là giấc ngủ/ giấc mộng – nếu hiểu miên trường là giấc ngủ/ giấc mộng dài (?).

Người “hậu bối” làm thơ sao không suy nghĩ cho thông nghĩa, lại vội vàng hít hà rồi “cố tình nhét đại” vào các câu thơ “nghiêm chỉnh” của mình, vô tình “hại” cụ Bùi, phải không?

BÀN VỀ TÀ HUY VÀ ĐOÀI

Sau đây là lời trong Email của nhà bình luận Nguyễn Xuân Dương mà “nhà thơ” Đỗ Anh Tuyến đã phát tán rộng khắp trong nhóm “Elites” của các ông để chê tôi “không biết gì”.

“Theo ông Nguyễn Khôi thì trong bốn bài gọi là thơ đăng trong THƠ BẠN THƠ 9 thì có ba bài ông sử dụng cụm từ BÓNG TÀ HUY, TÀ HUY, TÀ HUY BAY cụm từ này độc nhất chỉ có thi sỹ Bùi Giáng sử dụng trước đây. Tôi tin một cách chắc chắn rằng ông Nguyễn Lạc không biết nghĩa của cụm từ BÓNG TÀ HUY BAY, ông thấy lạ thì ông ăn cắp thôi ạ. Còn vào trang ông ấy đọc những cái gọi là thơ của ông ấy thì càng chứng minh ông rất ngô nghê và thơ thuộc loại thiểu năng trí tuệ khi ông đưa ra từ PHƯƠNG ĐOÀI rồi ông chú thích “Phương đoài là phương tây, nhìn từ nước Mỹ”. Nghe cứ cười đến vỡ bụng mất thôi”. – Lời ca Nguyễn Xuân Dương

Tôi sẽ vận dụng cái đầu “thuộc loại thiểu năng trí tu” để xét cụm chữ Tà huy và chữ Đoài mà ông Nguyễn Xuân Dương đã chê tôi “không biết nghĩa” xem sao.

  1. Tà huy

Tà huy: The setting sun, sun set, sun đown – Tiếng Anh

Xin ghi lại lời “vàng ngọc” của ông Nguyễn Xuân Dương :

“Tôi tin một cách chắc chắn rằng ông Nguyễn Lạc không biết nghĩa của cụm từ BÓNG TÀ HUY BAY, ông thấy lạ thì ông ăn cắp thôi ạ” – Lời NXD

Tôi sẽ phân tích cụm chữ “Tà Huy” để trả lời đến các “nhà thông thái” Nguyễn Xuân Dương và Đỗ Anh Tuyến:

  1. Kết hợp Tà huy có thể hiểu trên cơ sở lắp ghép nghĩa của các thành tố tạo nên nó:

Tà huy do ghép 2 chữ: Tà và Huy

-Tà 斜 : lệch, vẹo, nghiêng, xiên, chéo, dốc

– Huy 暉 :Ánh sáng (mặt trời), nắng, ánh nắng

Nghĩa của  cả kết hợp Tà huy giống như Tà dương

– Ánh mặt trời chiều ngả về tây -Từ điển trích dẫn

– Ánh nắng nghiêng của buổi chiều.- Từ điển Nguyễn Quốc Hùng

  1. Tà dương

Dương 昜 :

– mặt trời

– dương: Trong âm dương – Lưỡng nghi (NL)

Tà dương là mặt trời xế về tây – Từ điển Nguyễn Quốc Hùng

  1. Về “Bóng tà huy bay”

– Tà huy, ánh sáng mặt trời chiều rọi vào cây cối, nhà cửa, núi đồi vân vân… tạo ra những bóng nghiêng. Do mặt trời chiều từ từ lặn, các bóng từ từ nghiêng thêm, nếu có thế nói là chạy dần trên mặt đất; làm sao gọi là bay được mà viết là “bóng tà huy bay”? Viết “Bóng tà huy nghiêng” thì có thể chấp thuận được.

Hai ông nói:”chắc chắn rằng ông Nguyễn Lạc không biết nghĩa” vậy nhờ giải thích giùm làm sao “bóng tà huy” BAY? Tôi đang “đứng dựa cột” cờ nghe “lời vàng ngọc” đây.

– Xin được thưa thêm, nếu câu thơ được viết như thế này thì “đắc địa”:  “Áo tà huy bay”:

Áo em màu nắng chiều đang bay không đẹp sao?

  1. Tà huy, tà dương cũng gợi ý đến tuổi cuối đời, tuổi xế chiều …
  2. Đoài

Xin ghi lại “lời vàng ngọc” của ông Dương:

“Còn vào trang ông ấy đọc những cái gọi là thơ của ông ấy thì càng chứng minh ông rất ngô nghê và thơ thuộc loại thiểu năng trí tuệ khi ông đưa ra từ PHƯƠNG ĐOÀI rồi ông chú thích “Phương đoài là phương tây, nhìn từ nước Mỹ”. Nghe cứ cười đến vỡ bụng mất thôi”. Nguyễn Xuân Dương

Tôi đã hỏi hai ông tại sao “cười đến vỡ bụng”? Sai chổ nào xin giải thích? Tôi xin “rửa tai chờ “lời vàng tiếng ngọc” của các ông, nhưng không thấy các ông trả lời. Thôi thằng tôi ” thiểu năng trí tuệ” này phải tự giải thích xem sao:

– Tại sao phương Tây gọi là phương ĐOÀI? Vì trong Hậu Thiên Bát Quái của Dịch: Quẻ Đoài nằm ở hướng Tây, ngược với nó là quẻ Chấn nằm ớ hướng Đông. Chính vì điều này người ta mới gọi phương/ hướng Tây là phương/ hướng Đoài.

– Khi tôi chú thích 2 chữ PHƯƠNG ĐOÀI trong bài thơ, trên tay tôi có quả cầu vẽ hình thế giới: Mỹ tôi đang sống cách VN qua biển Thái Bình Dương- Pacific Ocean, VN gọi là Biển Đông; VN ở phuơng tây, phương mặt trời lặn nếu nhìn từ Mỹ.

– Do những điều nhận xét trên, tôi mới chú thích:

“Phương đoài (Phương tây): Danh từ địa lý và ước lệ: nói lên sự thương nhớ, hoài niệm nhớ về. VN ở phuơng tây nhìn từ Mỹ” (Bài thơ Góc quê hương sau nhà)

Sao? lời giải thích của kẻ “thô thiển trí tuệ” này ra sao? Xin lãnh giáo.

— Xin ghi thêm:

-Trong các câu thơ của tôi, Đoài ngoài nghì̃a địa lý là phương hướng tây; nó còn hàm ý là phương thương nhớ, vùng ký ức… và còn là cõi về của người : “về cõi Tây phương” = chết.

– Đoài cũng có nghĩa đoài đoạn – “thương nhớ đoài đoạn”:

Tôi nhớ xứ Đoài mây trắng lắm

(Đôi mắt người Sơn Tây – Quang Dũng)

Nên nhớ người xưa có câu “… dựa cột mà nghe”, chắc tôi không cần viết trọn câu?

LỜI KẾT

– Thơ phải tự nhiên như hơi thở. Đừng cố tìm những từ thật kêu, những cấu trúc thật lạ nhưng không chút cảm xúc, trống rỗng, vô hồn. Thơ bật ra từ cảm xúc, từ tâm thức chứ không phải từ cái đầu, từ lý trí.

– Đừng nên “mượn” người trước, người khác những chữ mà mình không hiểu rõ nghĩa , không biết cách sử dụng; cố tình gán ghép càn vào thơ mình để “tạo dáng”, mà không biết rằng câu thơ có khi trở thành sáo rỗng, vô nghĩa.

Nguyên Lạc

………………

[*] Vài Ý Về Chữ Dùng  Trong Thơ- Nguyên Lạc

http://phudoanlagi.blogspot.com/2019/11/vai-y-ve-chu-dung-trong-tho-1-nguyen-lac.html

[**]. Đây là lời trong Email của nhóm “Đại Bàng”:

[ … Chú Bùi Mạnh Hiệp còm dưới bài “Nguyên Lạc và những chày cối”:

“Mình nghĩ thế này Xuyến ạ: Thắng thua làm gì… Nếu là đại bàng thì dù giông bão đại bàng vẫn cất cánh bay- nhưng nếu là con sâu con kiến… có châm nọc đốt người…. mãi mãi vẫn chỉ là loài sâu loài kiến. Để thời gian quý báu mà chăm con, sáng tác thơ văn chia sẻ với bạn bè, chấp gì loại sâu kiến làm mình cũng nhỏ đi.”

Anh thấy chí lí đấy Tuyến ạ.

Việt Kháng

From:thanh tuan<datinh_1974@yahoo.com>

Date: Wed, Nov 20, 2019 at 9:24 AM… ]

CÀ-PHÊ ĐÊM

vango
CÀ-PHÊ ĐÊM
.
Sâu góc quán đêm ly cà phê đắng
Từng giọt trầm rơi buồn đọng trên môi
Nhạc khúc Tình sầu* người rồi xa vắng
Giọt đắng tiếng đời cô lữ đêm trôi!
.
Nguyên Lạc
…………….
* Tình sầu (The sorrow of love) – nhạc Trịnh Công Sơn

MƯỜI NĂM ĐẾM TRÁI ĐỜI

Nguyên Lạc

1minh

Ta ngồi đếm trái mù u
Đếm luôn thương nhớ xuân thu rụng buồn
Người rồi đã bỏ quê hương
10 năm hơi hướm còn vương đến giờ
.
10 năm ta vẫn đợi chờ
10 năm chắc đủ phôi pha tình người?
10 năm ta vẫn mồ côi
Ta ngồi ta đếm trái đời mù u
.
Đếm luôn tóc điểm sương mù
Tình ta người có đền bù đặng không?
Rạch buồn ngày vẫn ngóng trông
Lặng lờ lên xuống tím bông lục bình
.
10 năm người vẫn bặt tin
10 năm vò võ một mình ta mong
Mù u rụng trái bên sông
10 năm ta đếm đếm luôn tuổi sầu
.
10 năm chắc cũng đủ lâu
Để người quên mất tình nhau một thời?
10 năm đủ héo một đời
10 năm ta dõi bóng người chim bay
.
10 năm vẵn mối tình hoài
Trăn năm chắc vẫn … Dù ai bạc tình!
.
Nguyên Lạc

NHỮNG BÀI TỨ TUYỆT

Nguyên Lạc  

tranh thieu nu

1. TRẦM TƯ ĐÊM BÊN SÔNG
.
Tóc rồi sương điểm theo năm tháng
Sắc cùng tàn phai theo tuổi đời
Ai xui trăng rụng trên dòng lắng
Một kiếp người thôi thế nhân ơi!2. NGÀY CŨ

Biết tìm đâu quê hương ngày cũ
Thời đã qua con nước xa nguồn
Khóc sương điểm tóc đời cô lữ
Nỗi tàn phai lạnh buốt hư không!

3. HƯ KHÔNG
.
Trăm năm dâu bể điêu tàn
Ngàn năm mây trắng trên ngàn vẫn bay
Chuông chiều tám sải gọi ai?
Giật mình lữ thứ thở dài hư không!


4. ĐÊM ĐỢI CHỜ
Chong đêm đầy mắt đợi người
Đôi tay ta dụi kẻo rồi mờ sương
Thấy chi? Tích tắc đêm trường
Quỳnh hương nở đóa còn vương đến giờ!

.
Nguyên Lạc  

CẮN ĐI NỖI NHỚ

Nguyên Lạc

ao dai dai

Em ơi cắn hộ anh buồn
Cắn luôn anh trái tim mòn tả tơi
” *

Cắn hồn phố lạ mưa rơi
Cắn anh nỗi nhớ một thời đã xa
.
Cắn anh tha thướt lụa là
Cắn anh gác trọ thật thà hiến dâng
Cắn bàn tay cắn gót chân
Cắn luôn vuông cổ xuống lần ngực thơm
.
Cắn anh  hồn điếng trăm năm
Làm sao quên được thân trầm mê hương?
Mai về tìm lại cố nhân
Nơi đâu? Có chắc còn “hiền ma soeur“? **

Mưa chiều cắn nỗi hoài mơ
Cắn anh Đà Lạt sương mờ thông reo
Cắn anh ly biệt ngày nào
Dã quỳ không nở đúng mùa em ơi!
.
Nỗi buồn còn cắn nữa thôi?
Cắn đi Đà Lạt một thời yêu ai!
……….
Thơ Trần Vấn Lệ
** Thơ Nguyền Tất Nhiên/ nhạc Phạm Duy
.

Nguyên Lạc

PHẬT CHÚA CŨNG KHÓC

Nguyên Lạc

Tưởng niệm 39 “thùng nhân” chết cóng tại London
.
39 người đông cứng trong container
Trái tim nhân loại phải sững sờ
Xứ sở “thiên đường” sao chối bỏ?
Ngôn từ ngụy trá đã rõ chưa?
.
Phật và Chúa ngày nay lệ đổ
Nỗi trầm luân nghiệp chướng dân mình
Bao oan khiên đành phải lặng thinh
Câu cứu khổ xin dành đời khác
.
Ôi Việt Nam sao quá nhiều điều ác
Những nhân danh “hạnh phúc con người”
Họ ngụy trang lừa gạt dân tôi
Đưa con đỏ đến tận cùng nỗi khổ.
.
Phật và Chúa ngày nay lệ đổ
Chùa nhà thờ nhiều kẻ giật giành
Bọn buôn thần bán thánh cạnh tranh
Kinh cứu khổ tìm đâu người hỡi?!
.
Nguyên Lạc

CHỈ TẠI CHIỀU THU

Nguyên Lạc

chieu thu
.
Chỉ là một chiếc lá
Sao nỗi niềm trong ta?
Chỉ hanh làn gió thoảng
Sao mắt ta lại nhòa?
.
Chỉ là một chiếc lá
Dĩ nhiên … vì mùa qua
Chỉ là một nỗi nhớ
Cô lữ sao xót xa?
.
Chiếc lá nào héo úa?
Chiếc lá nào lìa xa?
Tiếng thu nào se sắt?
Mùa thu nào thiết tha?
.
Tình thu nào vệt khói?
Tan mờ xa mờ xa
Đời quay cuồng lốc xoáy
Quê hương rồi chỉ là!
.
Chỉ là một chiếc lá
Sao thấy cả mùa thu?
Chỉ sợi chiều rất mảnh
Sao thấy thiên thu sầu?
.

GIỚI THIỆU TẬP THƠ: BẠCH VÂN VÔ SỞ TRÚ

Thư viện của bài

This gallery contains 1 photo.

Nguyên Lạc
.

(Ảnh bìa tập thơ)

VÀI HÀNG TIỂU SỬ

Cảm ơn nữ sĩ Hạt Cát đã gởi tặng thi phẩm Bạch Vân Vô Sở Trú (Mây Trắng Thong Dong) như món quà quý.  Tập thơ in rất trang trọng và rất đẹp.
Xin được ghi ra đây vài hàng về tiểu sử của nữ sĩ:
Hạt Cát tên thật Trần Thị Bạch Vân, bút hiệu thường dùng: Hạt Cát, Lăng Già Nguyệt, Sa Sa, Lạp Sa … Cựu học sinh trường Trịnh Hoài Đức tỉnh Bình Dương, quê Lái Thiêu Việt Nam. Hiện đang sống ở Mỹ.
Tập thơ Bạch Vân Vô Sở Trú gồm 125 bài thơ chữ Hán đủ các thể loại, sau mỗi bài thơ chữ Hán, tác giả còn phiên âm ra Hán Việt và dịch ra thơ thuần Việt rất mượt mà. Về thơ chữ Hán, tác giả làm theo lối chữ phồn thể – Lối chữ hiện được dùng tại Đài Loan, Hồng Kông, Singapore và trong các tác phẩm cổ của văn học Việt Nam. Thi sĩ Hạt Cát cho biết là chị đã học chữ Hán từ gia đình, từ bạn bè. Chị học và yêu thích chữ Hán, rồi làm thơ dễ dàng như làm bằng tiếng mẹ đẻ – tiếng Việt

NHAN ĐỀ BẠCH VÂN  VÔ SỞ TRÚ

Trước khi giới thiệu vài bài thơ tiêu biểu của nữ sĩ Hạt Cát, tôi có vài ý  về nhan đề của thi tập

1. Được biết người cha là nhà Nho, thầy giáo; cụ dặt tên cho các người con gái đều bẳt đầu bằng chữ Mây (Vân). Gia đình có 4 người con gái: Bạch Vân, Thanh Vân, Hồng Vân và Huỳnh Vân.
Tên đặt ảnh hưởng đến cuộc đời riêng chăng? Mây thì phải lơ lửng, lang thang lưng trời:
Phiêu vân bạch mộ không / Quá kiều hốt tâm vong (Chiều hôm mây trắng lênh đênh/ Qua cầu lơ đãng bỏ quên tim này – Hạt Cát) Tiếp tục đọc

TÔI VẪN KIẾM

Nguyên Lạc

mat nhin2

Tôi vẫn kiếm
Một tình yêu chân thật
Phiến môi người. nụ hoa nắng chiều thu
Ánh mắt người. không xanh trắng. vẫn ngây thơ
Và như thế tôi một đời vẫn kiếm!
Và như thế tôi một đời biếc tím
Thấy nhói tim đôi môi chuốt bén ngời!
Thôi tôi ơi. Thôi nhé tôi ơi!
Vẫn hoài kiếm những ngôn lời chân thật
.
Và như thế
Tôi vẫn hoài cô độc!
Những vần thơ những ký tự tan nhòa
Lòng giấy nào ai dệt bằng phù phiếm?
Giọt mực nào?
Rồi. cũng chỉ phôi pha!
.
Và như thế
Tôi một đời vẫn kiếm
Tôi sầu tôi chiếc lá rụng tàn thu!
Tôi hận tôi sao vẫn mãi sương mù?
Sao?
Tôi vẫn kiếm

một tình yêu chân thật!

Nguyên Lạc

KHÚC TÌNH HOÀI

Nguyên Lạc

dtle

(Tưởng niệm thi sĩ Du Tử Lê)
.
Riêng đời “cọc nhọn trăm năm”
Ta “chim bói cá” trên ngàn viễn bay
“Thụy du” một khúc tình hoài
Ta không còn nữa lệ ai khóc người?
.
“Sẽ mang theo được những gì?”
“Bên kia thế giới” Thụy ơi nghìn trùng!
……….
“…” Lời thơ Du Tử Lê
.
Nguyên Lạc

CHIỀU THU LÁ ĐỎ

Nguyên Lạc

thuthuthu
.
Giọt tim nào rơi lòng em nức nở
Đâu phải cỏ cây anh cũng có tim sầu
Phiến gió chiều nay lay động nụ trúc đào
Rơi về phương ấy khúc ca dao buồn
.
Đâu phải cỏ cây anh cũng có tim buồn
Lệ đỏ lá chiều thu phong mắt thẫm
Nghe trong hồn vỡ bờ sóng động
Lạnh một dòng xót nỗi tàn phai!
.
Đúng là em chẳng phải là ai!
Tà huy đổ bóng dài tóc xõa
Điệp khúc chiều tiếng ai nức nở
Đâu phải cỏ cây anh cũng là người!
.
Nguyên Lạc
.
Mời nghe nhạc:
Chiều thu lá đỏ – thơ Nguyên Lạc, nhạc Mộc Thiêng
http://www.art2all.net/nhac/mocthieng/chieuthulado.mp3

VỀ NHAN ĐỀ GỐC CỦA TRUYỆN KIỀU

Phê bình Nguyên Lạc

 

Truyện Kiều chữ Nôm 2

Trong quá trình sưu tầm tài liệu để viết tiếp phần 2 và phần 3 bài TRẬN CHIẾN CHƯA NGƯNG: Đoạn Trường Tân Thanh và Kim Vân Kiều Truyện, tình cờ tôi gặp bài viết: “Nhan đề gốc của “Truyện Kiều” của Đinh Văn Tuấn đăng trên trang Tạp chí Sông Hương SỐ 310 (T.12-14) và trên nhiều trang khác, trong cũng như ngoài nước. Ông Đinh Văn Tuấn Đưa ra kết luận như “đinh đóng cột” thế này:
“Nay, chúng tôi là hậu học, sau khi đã tìm hiểu lại ngọn nguồn, xin đề nghị trả lại nhan đề gốc do thi hào Nguyễn Du đặt cho một tuyệt tác thi ca nổi tiếng trong và ngoài nước từ gần 2 thế kỷ qua, đó là KIM VÂN KIỀU TRUYỆN 金 雲 翹 傳 “
“… Truyện Kiều cũng thế, nguyên truyện Trung Quốc là tiểu thuyết Kim Vân Kiều truyện 金 雲 翹 傳 của Thanh Tâm Tài Nhân và tự nhiên cụ Nguyễn Du cũng sẽ đặt nhan đề là Kim Vân Kiều truyện”[“Nhan đề gốc của “Truyện Kiều”- Đinh Văn Tuấn ][*]
Và trong bài: “145 Năm Tầm Nguyên Truyện Kiều” – Hợp Lưu 01/11/2015 ông Tuấn lại tái khẳng định:
Văn bản Truyện Kiều phục cổ do chúng tôi tái lập sẽ lấy nhan đề khởi thủy do Nguyễn Du đặt là Kim Vân Kiều truyện 金 雲 翹 傳 chứ không lấy nhan đề Đoạn Trường tân thanh hay Truyện Kiều như chúng tôi đã khảo chứng qua bài viết “Nhan đề gốc của truyện Kiều”-Tạp chí Nghiên cứu và Phát triển, S. 6(113) (2014)

Đây là những lý do ông Đinh Văn Tuấn nêu ra để đưa đến kết luận cả quyết trên.

Trước khi xét và phản hồi từng điểm của ông Tuấn, tôi có những ý này:
— Cám ơn ông đã không “bất kính” với cổ nhân (chữ ông Đinh Văn Tuấn), đã tìm hiểu lại một cách khoa học để phục hồi lại “nhan đề gốc của ‘Truyện Kiều’ ” Nguyễn Du.
— Ông: “đề nghị trả lại nhan đề gốc do thi hào Nguyễn Du đặt cho một tuyệt tác thi ca nổi tiếng trong và ngoài nước từ gần 2 thế kỷ qua đó là KIM VÂN KIỀU TRUYỆN”. Xin hỏi: – Sau KIM VÂN KIỀU TRUYỆN còn có thêm hàng chữ nào không ông? Thí dụ như Thanh Tâm Tài Nhân? Kim Thánh Thán bình…?
Mời ông đọc những lời này của ông “bạn vàng phương Bắc” Đổng Văn Thành:
[ … Phải chăng tác giả Trung Quốc Thanh Tâm tài nhân – con người “tầm thường”, “không thể cứu chữa” – đã làm hỏng đề tài Vương Thúy Kiều đến nỗi không một chỗ nào coi được, phải hoàn toàn nhờ sự gia công “thiên tài” của tác giả Việt Nam Nguyễn Du mới biến miếng sắt bỏ đi thành vàng ròng lấp lánh?...”] (Phạm Tú Châu “So sánh Truyện Kim Vân Kiều Trung Quốc và Việt Nam”; 200 năm nghiên cứu bàn luận “Truyện Kiều”, Nxb. Giáo dục, Hà Nội 2005)
[ … “Nhìn tổng thể, tôi thấy Truyện Kiều của Nguyễn Du bất luận về nội dung hay về nghệ thuật đều không vượt được bản gốc mà nó mô phỏng, tức – Truyện Kiều của Trung Quốc –
Ông Đổng còn nói: “Nguyễn Du còn thêm chân cho rắn khiến chúng mâu thuẫn với hoàn cảnh và tình tiết trong toàn bộ nguyên tác”] [Nguồn: Nguyễn Huệ Chi -Trở lại câu chuyện so sánh Kim Vân Kiều truyện với Truyện Kiều của ông Đổng Văn Thành]
– Và cũng mời ông đọc lại những hàng chữ chính ông chú thích sau đây:
Kim Vân Kiều” là sách gì? Chưa nói đến sự tích thiệt không, chưa kể văn chương hay dở, chỉ nhắc đến cái tên sách thì nghe đã không thể nào ngửi được; vì sao thế? Phàm bộ truyện nào, dầu trong có bao nhiêu nhân vật mặc lòng, chỉ là một người làm chủ nhân: sự tích là sự tích một người chủ nhân ấy, thì tên sách cũng theo đó mà gọi….ông Nguyễn Du chắc không đặt tên dốt như thế? Dù cái tên ấy là nguyên bản của Tàu, là nguyên bản của Tàu thì càng đủ biết rằng truyện ấy đặt ra bởi một anh Tàu dốt nào đó mà thôi.” [Ngô Đức Kế (1878-1929) , Luận về chánh học cùng tà thuyết, Tạp chí Nam Phong số 86. 1924][**]
Chắc ông Đinh Văn Tuấn cho rằng cái tên sách “Kim Vân Kiều” hay ho lắm nên muốn gán cho cụ Tiên Điền, thi hào ông không “bất kính”?

Giờ xin lần lượt vào từng điểm, cùng những nhận xét và phản hồi của tôi:
I.
[ Dựa vào bản khắc Liễu Văn Đường 1866, là bản cổ nhất hiện còn lại ta thấy ở dòng cuối cùng của bản LVĐ 1866 đã khắc là Kim Vân Kiều truyện quyển hoàn 金 雲 翹 傳 卷 完 (bản Liễu Văn Đường 1871, bản Thịnh Mỹ Đường 1879… cũng khắc như vậy), ngay cả bản Đoạn trường tân thanh, Kiều Oánh Mậu 1902 ở trang cuối cũng vẫn ghi “Kim Vân Kiều truyện chung”金 雲 翹 傳 終 (xem hình). Vậy nhan đề gốc là Kim Vân Kiều Truyện 金 雲 翹 傳 ] – Đinh Văn Tuấn.

Bản khắc LVĐ và KOM

(Hình 1 – ảnh 2 bản khắc LVĐ và KOM)

.
@. Trả lời:
Tôi xin lần lượt trả lời từng bản khắc:
1. Bản khắc Liễu Văn Đường : Kim Vân Kiều truyện quyển hoàn 金 雲 翹 傳 卷 完
– Theo tôi, ông Đinh Văn Tuấn nghĩ là: Sách (quyển) Kim Vân Kiều truyện hoàn tất, xong.
Vì chữ Hán nhiều nghĩa, ai cũng có thể hiểu, suy diễn theo ý riêng nên câu này cũng có thể có nghĩa: Sách kể chuyện 3 người: Kim, Vân, Kiều đã hoàn tất, xong.
– Theo tôi, nghĩa thứ 2 đúng hơn. Tại sao? Vì:
Năm 1820, tháng 9 cụ Nguyễn Du mất. Mộng Liên Đường Nguyễn Đăng Tuyển đề từ cho truyện thơ cụ lại có đến Đoạn Trường Tân Thanh . Ông đã giải thích tên Đoạn Trường Tân Thanh như sau:
“Truyện Thuý Kiều chép ở trong lục Phong tình, ta không bàn làm gì. Lục Phong tình cũng đã cũ rồi. Tố Như tử xem truyện, thấy việc lạ, lại thương tiếc đến những nỗi trắc trở của kẻ có tài, bèn đem dịch ra quốc âm, đề là Đoạn trường tân thanh, thành ra cái lục Phong tình vẫn là cái lục cũ, mà cái tiếng Đoạn trường lại là cái tiếng mới vậy”.[Đề Từ Đoạn Trường Tân Thanh – Tiên phong Mộng Liên Đường Nguyễn Đăng Tuyển]
Phạm Quý Thích lại có bài : “Thính Đoạn Trường Tân Thanh hữu cảm”. Cả hai bài, theo tục truyền Phạm Quý Thích đã in cùng Đoạn Trường Tân Thanh trước 1821 và giảng cho học trò, nên mới có tập cho Minh Mạng xem ( bản Liễu Văn Đường) Phù hợp với tục truyền của học trò ông: Bản phường – Hàng Gai Hà Nội. Năm 1830 Tổng thuyết vua Minh Mạng đổi tên Đoạn Trường Tân Thanh thành Kim Vân Kiều truyện, rồi đến 1871, Tổng thuyết lần 2, của vua Tự Đức sửa tên thành Kim Vân Kiều tân truyện (Giải thích rõ thêm ở dưới)
Bên cạnh nội dung truyện Kiều của Đại thi hào Nguyễn Du, bản Liễu Văn Đường còn có Bài tựa (bằng thơ Đường thất ngôn bát cú) của Lãng Đường Phạm Tiên sinh – Phạm Qúy Thích, bằng chữ Hán: “Đoạn trường tân thanh đề từ”(hoặc “Thính Đoạn trường tân thanh hữu cảm”).

Giai nhân bất thị náo Tiền Đường
Bán thế yên hoa trái vị thường
Ngọc diện khởi ưng mai Thủy quốc
Băng tâm tự khả đối Kim lang
Đoạn trường mộng lý căn duyên liễu
Bạc mệnh cầm chung oán hận trường
Nhất phiến tài tình thiên cổ lụy
Tân Thanh đáo để vị thùy thương

Dịch nghĩa
Nếu người đẹp Thuý Kiều mà không đi đến sông Tiền Đường,
Thì nửa đời lầu xanh vẫn chưa trả xong nợ.
Mặt ngọc của nàng đâu cần phải chìm xuống thuỷ cung,
Lòng băng tuyết của nàng thì xứng đáng gặp chàng Kim lắm.
Giấc mộng đoạn trường nay đã biết rõ nguồn cơn,
Khúc đàn Bạc mệnh dứt rồi nỗi hận còn vương.
Vì một mảnh tài tình mà ngàn năm còn luỵ,
Tác phẩm Tân Thanh này vì ai mà thương cảm đau lòng.
(Nguồn: Dương Quảng Hàm, Việt Nam văn học sử yếu, Trung tâm học liệu xuất bản, 1968)

Câu 5 có 2 chữ “đoạn trường“, câu cuối của bài thơ này là:
Tân Thanh đáo để vị thùy thương” Dương Quảng Hàm dic̣h: “Tác phẩm Tân Thanh này vì ai mà thương cảm đau lòng”.
Phần đầu sách đã xác điṇh tên tập thơ là Đoạn Trường Tân Thanh, không lẻ Phạm Qúy Thích “tự chặt tay mình” mà cuối sách viết khác?
Trường hợp này cũng tương tự như câu trong bản khắc Kiều Oánh Mậu ở dưới.

ĐTTT Kiều Oánh Mậu 1902

(Hình 2 – ảnh bản in Kiều Oánh Mậu 1902 )

.
2.  Bản khắc Kiều Oánh Mậu“Kim Vân Kiều truyện chung”金 雲 翹 傳 終

.
— Đinh Văn Tuấn nghĩ là: Kim Vân Kiều truyện kết cuộc, hết. Như trên đã nói, câu này cũng có thể nghĩ: Truyện kể 3 người Kim, Vân, Kiều kết cuộc, hết.
Cũng giống như trên, nghĩa thứ 2 đúng hơn. Vì:
Đến năm 1883 Tự Đức qua đời. Triều đình Huế lúc này thực chất chỉ là bù nhìn, toàn bộ chính trường đều do người Pháp đã đạo diễn . 9 năm sau, năm 1902 cựu quan nhà Nguyễn, chủ bút tờ báo Đồng Văn là Kiều Oánh Mậu mới cho tái bản phục hồi tên cũ là Đoạn Trường Tân Thanh, có sự phụng mệnh vua đọc và kiểm duyệt của 3 cộng tác và Hàn Lâm kiểm thảo Ngô Thúc Dụ Thư. Có sự kiểm duyệt của quan Hàn Lâm kiểm thảo Ngô Thúc Dụ Thư thì không phải là chuyện đùa. Phải coi bản Đoạn Trường Tân Thanh do Kiều Oánh Mậu chủ trì biên soạn là cãi chính cuối cùng của đại diện triều Nguyễn chứa đựng nội dung trung thực nhất: Ghi đúng tên, nguồn gốc của Truyện Kiều.
Và cũng giống như trên, đã phục hồi tên tập thơ là Đoạn Trường Tân Thanh không lẻ Kiều Oánh Mậu “tự chặt tay mình” mà cuối sách viết khác?
— Câu bản khắc Kiều Oánh Mậu này còn có thể thêm một nghĩa: Chấm dứt cái tên “Kim Vân Kiều Truyện” từ đây, (Kim Vân Kiều Truyện cáo chung): – Để kết thúc một câu truyện, sách in đề tựa Đoạn Trường Tân Thanh (ở trang bìa), ta chỉ cần một chữ chung (hết) ở trang cuối, như bao cuốn sách khác là xong, sao lại tự dưng ghi “Kim Vân Kiều truyện chung”? Ở đây cần hiểu là: Truyện này tên Đoạn Trường Tân Thanh, cái tên Kim Vân Kiều truyện đã chấm dứt từ cãi chính này.
Suy luận nào cũng là suy luận, nhưng suy luận nào hợp với bằng chứng nhất do người đọc lựa chọn.
— Xin nói rõ thêm vài hàng: Trong lời dẫn thứ 3 của ấn bản Kiều Oánh Mậu, có nói rằng “Minh Mạng đặt tên nay theo đó mà giữ”, cũng chẳng qua là cách bào chữa giữ danh dự cho tiên vương thôi. Từ xưa đến nay, chả có ông nào làm vua, làm chủ tịch… mà tự nhận lỗi cả, nếu muốn thì đổ thừa cấp dưới hiểu sai ý thôi. Kiều Oánh Mậu là cựu quan nhà Nguyễn, nhượng bộ quan Hàn Lâm một chút, giữ uy tín cho tiên vương cũng dễ hiểu thôi, miễn mục đích đạt được. Tên đã phục hồi, đề từ của Phạm Quý Thích và Mộng Liên Đường cũng còn đó, đời sau tự hiểu.

II.
Ngoài ra, còn một tục truyền khác lại cho vua Minh Mạng đã cho đổi tên Kim Vân Kiều truyện thành Đoạn trường tân thanh nữa, theo bản Nôm Kim Vân Kiều truyện 金 雲 翹 傳, ký hiệu V.N.B.60, không rõ niên đại, có đoạn chép tay (bút lông) như sau:
“…Tiên Điền Nguyễn Du diễn xuất quốc âm danh Kim Vân Kiều truyện, phụng Minh Mạng ngự lãm (tứ) (cãi) (vi) Đoạn Trường Tân Thanh (tòng kinh bản dã)… 仙田阮攸演出國音名金雲翹傳,奉明命御覽(賜)(改)(為)斷腸新聲(從京本也)” (… Nguyễn Du ở Tiên Điền diễn ra quốc âm, đặt tên là Kim Vân Kiều truyện, được vua Minh Mạng đọc và (cho) (đổi) (tên) (làm) Đoạn Trường Tân Thanh (đó là theo bản kinh)…] – Đinh Văn Tuấn

@. Trả lời:

.
Xin ông Đinh Văn Tuấn ghi lại cho đầy đủ cả lời của vua Minh Mạng, tôi thấy có điều gì “nhập nhằng” ở đây:
— Lập luận ông khiên cưỡng và “trở ngược đầu”: Vua Minh Mạng đổi tên Đoạn Trường Tân Thanh thành Kim Vân Kiều truyện, sao ông suy diễn ngược lại? Có ý gì?
Nếu Minh Mạng đổi tên Kim Vân Kiều thành Đoạn Trường Tân Thanh thì sao tất cả các bản in đều in là Kim Vân Kiều hoặc Kim Vân Kiều Tân Truyện, mà không là Đoạn Trường Tân Thanh? Cãi lệnh vua được sao? Muốn tru di hả? Phải đợi mãi đến Tự Đức chết, 1883 thì 9 năm sau tên Đoạn Trường Tân Thanh mới được phục hồi bởi Kiều Oánh Mậu 1902.
— Mời đọc đoạn này:
Tàng bản ký hiệu VN B60: Bên trong là các trang thơ Truyện Kiều chữ Nôm. Bìa sách ghi bằng bút sắt:
明命御覽(賜)(名)斷腸新聲. 金雲翹傳 (mấy chữ này viết bằng bút sắt).
Phiên âm là:
Minh Mạng ngự lãm (tứ) (danh) Đoạn Trường Tân Thanh Kim Vân Kiều truyện.
Thông thường ta hiểu là: Minh mạng đã đọc ban ân (tứ) tên( danh) Đoạn Trường Tân Thanh: Kim Vân Kiều truyện.
Như vậy đây là bản Đoạn Trường Tân Thanh trình Minh Mạng duyệt và Minh Mạng đổi tên thành Kim Vân Kiều truyện, có thể có chỉnh sửa, là bản gốc của bản Kinh về sau.
Nhưng mặt bìa sau ai đó viết chú thích bằng bút lông:
雲翹傳,本北國青心才人錄, 仙田阮攸演出國音名金雲翹傳, 奉明命御覽(賜)(改)(為)斷腸新聲(從京本也), 華 堂進士笵貴適題辭… (viết bằng bút lông)
Phiên âm là:
Kim Vân Kiều truyện, bản Bắc quốc Thanh Tâm tài nhân lục, Tiên Điền Nguyễn Du diễn xuất quốc âm danh Kim Vân Kiều truyện, phụng Minh Mạng ngự lãm (tứ) (cãi) (vi) Đoạn Trường Tân Thanh (tòng kinh bản dã) Hoa Đường Tiến sĩ Phạm Quý Thích đề từ…
[Sách Kim Vân Kiều truyện vốn là sách Thanh Tâm tài nhân lục của Bắc quốc, Nguyễn Du ở Tiên Điền diễn ra quốc âm, đặt tên là Kim Vân Kiều truyện, được vua Minh Mạng đọc và (cho) (đổi) (tên) (làm) Đoạn Trường Tân Thanh (đó là theo bản kinh). Phạm Quý Thích, người Hoa Đường, đậu Tiến sĩ đề từ…] (Theo Trần Văn Giáp)

.
@ Nhận xét:.

— Bút tích viết bằng bút sắt ở trên có thể cho là của Minh Mạng:

  • Một là, giọng văn đó của vua trực tiếp phê. Giống như ngày nay văn bản cấp dưới trình cấp trên, cấp trên phê: đã đọc Đoạn Trường Tân thanh, tên đổi Kim Vân Kiều truyện.
  • Hai là bút tích Minh Mạng viết : “ Thanh Tâm Tài Tử cổ kim minh lương đề tập biên” cũng bằng viết sắt ( có ảnh kèm theo)

Thanh Tâm Tài Tử ( Tổng thuyểt 1830- Minh Mạng)

(Hình 3 – ảnh Tổng thuyết Minh Mạng)

— Bút tích sau viết bằng bút lông là giọng văn thuật lại” phụng Minh Mạng ngự lãm”(thể theo Minh Mạng đã đọc), tức là của người khác, viết bút lông không phải của Minh Mạng. Ta không biết rõ ai viết, viết vào thời nào; và vì sao trong một câu ngắn gọn của Minh Mạng lại suy diễn chi tiết như thế? Do đó không thể tin cậy được. Theo tôi, “ai đó” ghi thêm và chắc “có ý” gì đó?
Tuy nhiên, cả hai bút tích viết đều có nhắc tới Đoạn Trường Tân Thanh. Tháng 9 năm 1820 Nguyễn Du quy tiên. Trong khi đó Mộng Liên Đường Nguyễn Đăng Tuyển ( có nhiều người nhầm Mộng Liên Đường là Phạm Quý Thích) đề từ lại nói đến Đoạn Trường Tân Thanh . Ông đã giải thích Đoạn Trường Tân Thanh là “tiếng kêu mới xé ruột”. Phạm Quý Thích lại có bài : Thính Đoạn Trường Tân Thanh hữu cảm. Cả hai bài, theo tục truyền Phạm Quý Thích đã in cùng Đoạn Trường Tân Thanh trước 1821, giảng cho học trò, nên mới có tập cho Minh Mạng xem. Phù hợp với tục truyền của học trò ông: bản phường – Hàng Gai Hà Nội. Cần thấy rằng học trò Phạm Quý Thích là những tiến sĩ, cử nhân, thám hoa…Nhiều vị đã kế thừa ông làm thầy, và học trò của các vị này lại làm thầy cho đến 1919 bỏ Nho học. Cho nên tục truyền mà lại có giá trị vì thời gian liên tục và không lâu.
Minh Mạng tuyên triệu Phạm Quý Thích vào Kinh, năm 1821 nhưng ông cáo bệnh (theo tiểu sử Phạm Quý Thích), học trò ông lại nhiều người làm quan của triều đình bảo vệ ông. Cho phép ta suy luận việc này có liên quan đến ấn bản Phường. Không có mặt Phạm Quý Thích và Mộng Liên Đường, Minh Mạng đành đổi tên Đoạn Trường Tân Thanh ra Kim Vân Kiều truyện như bản VN B60 ghi bút tích và đã chỉ đạo Hàn Lâm Viện viết bình giảng truyện Kiều theo hướng làm ngơ việc phản ánh xã hội, phê phán vương triều… nếu ai quan tâm thì xem đó chỉ là chuyện bên Tàu (như Nguyễn Du đã cố tránh né vì “họa văn tư”̣). Tập trung hướng vào than tiếc và an ủi sự gian nan giữa tài và mệnh như hình thức câu truyện. Cuốn này ắt có lưu ở Hàn Lâm Viện nên năm 1902, Kiều Mậu Oánh mới chú giải, lấy lại tên Đoạn Trường Tân Thanh, có sự kiểm duyệt của Hàn lâm kiểm thảo Ngô Thúc Dụ Thư. [theo Lê Nghị]

@. Nhận xét của tôi:
– Bút sắt thời trước chí các vị vương giả dùng. Vua Minh Mạng chắc được các sứ thần Pháp tặng bút sắt Paker, nên suy ra các hàng chữ viểt bằng bút sẳt là thật sự của ông.
– Do Minh Mạng đổi tên nên các bản in sau này đều lấy tên Kim Vân Kiều Truyện, hoặc Kim Vân Kiều Tân Truyện. Cuốn thơ cổ nhất được in tìm được hiện nay mang tên Kim Vân Kiều là bản in 1866 thời Tự Đức. Năm 1875 khi Trương Vĩnh Ký chuyển ra quốc ngữ ở Saigon, lấy tên Kim Vân Kiều, không nhắc gì đến Đoạn Trường Tân Thanh.
– Đã là nhà “nghiên cứu khoa học” thì phải minh bạch và khách quan, vậy sao ông Đinh Văn Tuấn ớ trên lại không ghi rõ đầy đủ lời phê bằng bút sắt của vua Minh Mạng ra? Ông có ý gì mà giấu nó?

III.
Nếu thật có nhan đề Đoạn trường tân thanh do chính tác giả đặt thì theo ý chúng tôi, không một ai dám tự tiện đặt lại tên (dù đó là người bạn tri kỷ), đáng ngờ hơn nữa là sửa lại bằng một cái tên rất bình thường là “Kim Vân Kiều”. Ngược lại, từ “Kim Vân Kiều” gốc Hán rất dễ bị sửa thành một nhan đề hay và ý nghĩa sâu sắc là “Đoạn trường tân thanh”, nhất là khi tin và dựa vào mấy chữ “đoạn trường tân thanh” từ bài thơ của cụ Phạm Quý Thích.
Có thể một nhà Nho nổi tiếng nào đó lúc ấy đã tự ý đổi nhan đề là Đoạn trường tân thanh hoặc cũng có thể là Tiên Phong Mộng Liên Đường chủ nhân khi xác nhận cụ Nguyễn Du đặt nhan đề là Đoạn trường tân thanh nên người sau mới tin theo như Nguyễn Hữu Lập, Kiều Oánh Mậu... ] – Đinh Văn Tuấn

.

@. Trả lời:
— Trước ông Đinh Văn Tuấn cho rằng: nếu Đoạn Trường Tân Thanh là tên có thật thì ai dám đổi, dù là bạn tri kỷ. Sau ông lại cho rằng một nhà nho nổi tiếng nào đó đổi. Xin hỏi nhà nho nào nổi tiếng thi tài hơn Nguyễn Du được nhắc tới? Người ta chỉ thấy Phạm Quý Thích là thầy của bao nhiêu tiến sĩ, cử nhân cũng chỉ vịnh Đoạn Trường Tân Thanh và Mộng Liên Đường một ông quan nổi tiếng tài hoa cũng chỉ sáng tác: Tục Đoạn Trường Tân Thanh.
Vậy thì ai đổi?
— Vua Minh Mạng đổi được không?
Xin nhắc lại ở trên:
“Minh Mạng ngự lãm (tứ) (danh) Đoạn Trường Tân Thanh Kim Vân Kiều truyện”
(Minh Mạng đã đọc ban ân (tứ) tên( danh) Đoạn Trường Tân Thanh : Kim Vân Kiều truyện)
— Ông Đinh Văn Tuấn có biết tại sao Minh Mạng đổi tên không?
Vì cái tên đó nhạy cảm chính trị. Nội dung của Đoạn Trường Tân Thanh “có độc” cho vương triều, mặc dù đã mượn tên chính sử Tàu và địa danh Tàu, nhưng cái tên nghe không ổn: Đoạn Trường Tân Thanh là “tiếng kêu mới đứt ruột”.
Tục truyền vua Minh Mạng ngồi uống trà và đã phê bình câu “Dọc ngang nào biết trên đầu có ai” khi vua vừa mới lên ngôi năm 1820.
Có ông vua nào muốn nghe thiên hạ ngâm nga “Tiếng kêu xé ruột” giữa thời ” thịnh thái” không? Có ông vua nào thích nghe “Dọc ngang nào biết trên đầu có ai”không? Có ông vua nào thích nghe những lời phê phán xã hội, suy rộng ra là chỉ trích vương triều của mình không?
— Vì sao gọi là ban ân?: Đúng ra là phải tịch thu, cấm lưu hành; nhưng vì tác phẩm lỡ lưu hành và vì nó quá hay, nên cho tiếp tục lưu hành nhưng phải đổi tên
Đó là lý do mới đổi tên. Dù gì vua Minh Mạng cũng biết trọng người tài, nếu không cụ Nguyễn Du dễ gì thoát khỏi “họa văn tự”

IV.
Cụ Phạm không dùng chữ “độc” (đọc) mà dùng chữ “thính” (nghe) cũng đủ để cho thấy nhà thơ không phải “đọc” một truyện thơ có nhan đề là Đoạn trường tân thanh. Không có gì bảo đảm là Phạm Quý Thích đã viết chính xác nhan đề Đoạn trường tân thanh] – Đinh Văn Tuấn

.
@. Trả lời:
— “thính” (nghe) bạn tri kỷ, tri âm Nguyễn Du đọc truyện thơ của bạn có nhan đề là Đoạn trường tân thanh không được sao?
Chỉ có chú em Nguyễn Du đọc cho ông anh thân thiết Phạm Quý Thích nghe, chứ ai? Chú nó sống không dám công bố, chết rồi mình công bố vậy. Phạm Quý Thích, bạn tri kỷ tri âm của Nguyễn Du, lớn hơn Nguyễn Du 6 tuổi và mất sau 5 năm.
*
Còn nhiều điểm nữa cần bàn, nhưng thôi tới đây tôi nghĩ cũng tạm đủ để độc giả hiểu rõ lòng ông Đinh Văn Tuấn . Tôi chỉ muốn nhắc lại những lời sau đây tự ông viết trong bài viết ông:
Đào Duy Anh đã từng tin như vậy: “Sách mà ta thường gọi là Truyện Kiều hay là Truyện Thúy Kiều, Nguyễn Du đặt nguyên đề là Đoạn Trường tân thanh. Lập Trai Phạm Quý Thích là bạn thân của Nguyễn Du, khi đem khắc bản để in mới nhân nguyên truyện của người Trung Quốc tên là Kim Vân Kiều truyện mà đổi tên là Kim Vân Kiều truyện”, hay học giả Hoàng Xuân Hãn cũng đã từng nói: “Có nhẽ cụ Nguyễn Du đặt tên truyện là Đoạn Trường Tân Thanh thực đấy, chứ không phải là Kim Vân Kiều đâu. Kim Vân Kiều là tên của sách Tầu. Rồi sau những người khắc khác, trở lại cái tên cũ của người Tầu và để là Kim Vân Kiều Truyện”– Đinh Văn Tuấn
Xin nói rõ, tôi chỉ chú trọng đển tên thật của Nguyễn Du đặt cho truyện thơ mình, còn về nguồn gốc truyện thơ thì có những bài viết khác.
Tôi thật lấy làm lạ:
– Ông Đinh Văn Tuấn đã nói là kính trọng (không “bất kính”- chữ của ông) cụ Nguyễn Du, thế mà tại sao lại muốn gán “cái tên sách thì nghe đã không thể nào ngửi được”(lời cụ Ngô Đức Kế) cho truyện thơ của đại thi hào? [**]

.
Ôi, thương thay cho cụ Nguyễn Du!
.
Nguyên Lạc
………
Ghi chú:
[*] “Nhan đề gốc của “Truyện Kiều” của Đinh Văn Tuấn

http://tapchisonghuong.com.vn/tap-chi/c319/n18166/Nhan-de-goc-cua-Truyen-Kieu.html

[**] Xin nói rõ kẻo hiểu lầm: Tôi chỉ đồng ý với cụ Ngô Đức Kế về việc chê nhan đề “Kim Vân Kiều” đặt cho truyện Kiều /Đoạn Trường Tân Thanh của thi hào Nguyễn Du, còn những phê phán khác của cụ thì tôi không nói đến.

THU CHÍ CỦA NGUYỄN DU

Thư viện của bài

This gallery contains 1 photo.

Nguyên Lạc  
BÀI THƠ THU CHÍ CỦA NGUYỄN DU
 DẪN NHẬP

 Sáng sớm hôm nay trời hanh lạnh Ngẩng nhìn trời, một mảnh trăng treo trong khoảng trời xanh thật nhạt. Buồn ! Trở vào nhà, đến phòng mở You Tube nghe bài “Mùa thu chết” lời của Guillaume Apollinaire, với lời dịch tuyệt vời của Bùi Giáng, phổ nhạc bởi người nhạc sĩ tài hoa Phạm Duy và lời hát ngọt ngào của Lệ Thu.

Ta ngắt đi một cùm hoa Thạch thảo [*]

Em nhớ cho mùa thu đã chết rồi

Đôi chúng ta sẽ chẳng còn nhìn nhau nữa

Trên cõi đời này

Từ nay mãi mãi không thấy nhau ! …

[Mùa Thu Chết ( Lệ Thu – Phạm Duy -thơ dịch Bùi Giáng )] +

Mùa thu là một cụm từ ước lệ. Mùa thu là mùa thương nhớ, hồi tưởng của người ly hương vọng về cố quốc. Người xưa thường dùng mùa thu để tự vấn, tự soi rọi lại cuộc đời mình: Ta đã làm được gì và sẽ về đâu?

Lòng xao xuyến, tìm đọc lại thơ của người xưa, những bài về thu, để hồi tưởng quê hương thân yêu với nỗi niềm của người tha phương.

BÀI THƠ THU CHÍ CỦA NGUYỄN DU Tiếp tục đọc

KIM VÂN KIỀU 

Thư viện của bài

This gallery contains 1 photo.

Nguyên Lạc Biên khảo
TRẬN CHIẾN CHƯA NGƯNG – ĐOẠN TRƯỜNG TÂN THANH VÀ KIM VÂN KIỀU TRUYỆN 

                                         Phần dẫn nhập
Trong phần Lời Kết của bài Về Nguồn Gốc Của Thơ Lục Bát [1] – tôi có viết: “Giống như một số người cố tình cho Đoạn Trường Tân Thanh là truyện thơ diễn dịch từ Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm Tài Nhân bên China mà ra, sao không nghĩ ngược lại?”. Rẩt nhiều người, kể cả các trường đại học, trung học Việt Nam đã cho rằng thi hào Nguyễn Du dựa theo cốt truyện một tiểu thuyết chương hồi, bằng văn xuôi của Thanh Tâm Tài Nhân bên China để viểt ra Đoạn Trường Tân Thanh. Thí dụ:

[ … Nguyễn Du viết dựa theo cốt truyện một tiểu thuyết chương hồi bằng văn xuôi của Trung Quốc có tên là Kim Vân Kiều truyện (truyện về Kim Trọng Thúy Vân Thúy Kiều) của một tác giả hiệu là Thanh Tâm Tài Nhân. Trong thời đại của Nguyễn Du các nhà thơ sáng tác thường dựa theo một tác phẩm của Trung Quốc như thế. Nói chung Nguyễn Du dựa khá sát vào tác phẩm của Thanh Tâm Tài Nhân khi viết lại Truyện Kiều: Cụ thể là những nhân vật trong Truyện Kiều của ông đều là những nhân vật lấy từ Kim Vân Kiều truyện; những tình tiết biến cố cốt truyện trong Truyện Kiều hầu hết đều có trong KIm Vân Kiều truyện…] – [Trường THCS Nguyễn Viết Xuân- Thị xã An Khê- Tỉnh Gia Lai]

Xin ghi thêm vài lời của ông GS “bạn vàng phương Bắc” Đổng Văn Thành:

“So sánh truyện Kim Vân Kiều Trung Quốc và Việt Nam” trên “Minh Thanh tiểu thuyết luận tùng” GS. Đổng Văn Thành – China cho rằng: “Nguyễn Du chẳng những chỉ mượn đề tài của tiểu thuyết Trung Quốc mà dường như bê nguyên xi […] Nguyễn Du không có bất kỳ một sáng tạo mới nào, chỉ chuyển thuật khá trung thực nội dung tiểu thuyết của Thanh Tâm Tài Nhân…” [ Theo Phạm Tú Châu “So sánh Truyện Kim Vân Kiều Trung Quốc và Việt Nam”]

Thêm nữa, mời các bạn đọc những lời này:

” Thế nhưng chẳng những bài viểt trên mạng, sách giáo khoa của các vị TS, PTS Giáo sư Việt Nam ta đọc  đều thấy viết đại để: Nguyễn Du đã vay mượn cốt truyện Kim Vân Kiều của Thanh Tâm Tài Nhân bên China, diễn dịch ra quốc âm dưới dạng thơ lục bát, sáng tạo ra truyện Kiều. Nguyễn Du là thiên tài của nước Việt đã biến một tiểu thuyết “tầm thường” trở thành một tác phẩm thi bất hủ. Tiếp tục đọc

VỀ VẤN ĐỀ NGUỒN GỐC THƠ LỤC BÁT

Thư viện của bài

This gallery contains 1 photo.

Nguyên Lạc

Trong Facebook của nhóm Diartlogue – Văn đàm có đăng bài viết “Lục Bát: Của Ta Hay Của Tàu”, của tác giả Đỗ Quý Dân, nhà văn có tầm ảnh hưởng rộng đến giới trẻ, cùng với lời mời tranh biện. Thấy tầm quan trọng của vấn đề nguồn gốc này, tôi xin ghi ra đây nguyên văn bài viết của ông Đỗ Quý Dân cùng lời phản biện của tôi.

Sau đây là nguyên văn bài viết của ông Đỗ:

LỤC BÁT: CỦA TA HAY CỦA TÀU?

Từ trước đến nay nhiều người cho rằng thể thơ lục bát là do người Việt chúng ta đặt ra. Tuy nhiên, thể lục bát đã được sử dụng trong kinh, truyện, và sử của Trung Quốc (Kinh Dịch, sách Trung Dung và Tống Sử). Vậy phải chăng chúng ta đã mượn lục bát từ người Tàu?

Phần diễn giảng hào lục tam của quẻ Khôn trong Kinh Dịch có hai câu như sau:

“Lục tam, hàm chương khả trinh

Hoặc tòng vương sự, vô thành, hữu chung.”

Đúng là lục bát. Từ số chữ đến cách gieo vần.

Trong sách truyện (Trung Dung) có hai câu:

“Phù thủy, nhất thước chi đa

Cập kỳ bất trắc, ngoan đà giao long.”

Rõ ràng là lục bát. Có khác chăng là lời thơ bằng Hán tự.

Còn sách Tống Sử có hai câu:

”Đế sĩ Sái Xác hữu công,

Sử chi tòng tự Triết tông miếu đình…”

Cũng lại lục bát. Trước khi nên thơ văn của Việt Nam được phát triển.

Khi nhắc đến vấn đề này, cụ Ngô Tất Tố mượn nhân vật “ Cụ bảng”, thầy dạy học của Đào Vân Hạc trong “Lều chõng”, để bàn như sau:

“ Cũng vì có mấy câu đó cho nên từ xưa đến nay đã có nhiều người cho rằng: lối văn trên sáu dưới tám của ta gốc ở kinh, truyện và sử mà ra. Nhưng theo ý ta, thì nói như vậy có lẽ cũng quá khiên cưỡng. Trời đã sinh ra mỗi nước có một thứ tiếng, thì tất nhiên mỗi nước cũng phải có một điệu hát. Nếu bảo điệu hát lục bát gốc ở kinh, truyện và sử, thì sao ở Tầu lại không có cái thể văn ấy? Tuy vậy, các cụ đời trước nói thế, bây giờ mình cũng hãy hay rằng thế, để rồi kê cứu dần dần, không nên vội vàng bài bác.” – trích “Lều Chõng” của Ngô Tất Tô Tiếp tục đọc

CHONG ĐÈN 
ĐỌC VĂN TẾ THẬP LOẠI CHÚNG SINH

que huong song

Nguyên Lạc
.
(Bài thơ viết cho  ngày rằm tháng bảy để tưởng niệm)
.

Đêm quánh đặc tiếng thời gian tích tắc
Chong đèn khuya đọc lại truyện tử sinh
 (Nguyên Lạc)

*
Còn chi ai quí ai hèn
Còn chi mà nói ai hiền ai ngu
Một phen thay đổi sơn hà
Mảnh thân chiếc lá biết là về đâu” *
.
Chong đèn. đọc truyện Nguyễn Du
Câu thơ trêu khổ. thiên thu lệ người!
Lệ xưa. tháng bảy sụt sùi
Người nay. mùa đến. có vui được nào?
.
Tháng tư ngày ấy. năm nao
Quê hương tan vỡ. biển dâu kiếp đời!
.
Tiền nhân. thảm thiết khóc người
Ta. nay đêm muộn. mượn lời thơ xưa
Chiêu hồn tháng bảy. mưa thưa
Thở dài. tiếng gió lạnh thừa đêm nay!
.
Khêu đèn. cho nỗi sầu dài
Đọc trang thơ cổ. khóc ai mùa về!
“Chúng sinh thập loại” buồn thê!
Thời gian tích tắc. tái tê điếng lòng!
.
Lưng tròng số kiếp trầm luân
Khép trang thơ cổ
Nến hồng lụn tim!
………….
[*] Lời thơ “Văn tế thập loại chúng sinh” – Nguyễn Du 
.
Nguyên Lạc

PHƯỢNG

Nguyên Lạc

ao dai phuong

Có một mùa xa lắm
Phượng nở đỏ góc trường
Ve reo mừng rộn rã
Từng bước nhỏ thân thương

Líu lo giờ tan học
Rực trắng cả con đường
Mắt liếc dao lá trúc
Chém tim ai bị thương!

*
Thương phượng rưng mắt đỏ
Người giờ tìm phương nao?!
Vẫn đường xưa lối cũ
Ve buồn tình trốn đâu?!

Dấu chân nào nho nhỏ
Nhói hồn tôi rất lâu!
Lời yêu không dám ngỏ
Nên hằn rõ trong lòng

*
Chiều nay bên trường cũ
Mười năm rồi phải không?
Mười năm …
Dài có đủ?
Phượng ơi. dù trăm năm!
.
Nguyên Lạc

 

Mời nghe nhạc: PHƯỢNG – thơ Nguyên Lạc, nhạc Mộc Thiêng
http://www.art2all.net/nhac/mocthieng/phuong_nhac_mt.htm

THUYỀN TRĂNG

Nguyên Lạc   

trang3
Vời đó phương đoài. mây trắng bay!
Sông sâu. còn ngút lụa trăng dài?
Ta ở phương này. thương nhớ lắm
Thương. những đường quê. thương lắm thay!
.
Trăng. ở phuơng nầy. sao tối nay
Nửa kia khuyết mất. nửa thuyền say?
Chở. cho ta nhé. sầu ngất ngất 
Đổ. xuống sông kia. khúc tình hoài!
.
Ta. ở nơi nầy. đêm tối nay
Tay. ly rượu đắng. nửa trăng đây
Nửa hồn khuyết mất 
Ừ khuyết mất!
Nửa hồn ở lại… 
Với ly cay!
.
Ta ngỡ. đêm dài sẽ hết thôi
Trăng kia. rồi lặn khuất bên trời
Rượu cay 
sao chẳng làm say mãi?
Đêm vẫn muôn trùng! 
“Mây vẫn bay”!
.
Nguyên Lạc 

Biển Chiều Đợi Mong

Nguyên Lạc

 
dauchantrencat.jpg
.
Nghìn năm vẫn mãi huyễn mong
Bởi em là mộng tôi đành mơ thôi!
.
Nghìn năm em vẫn xa xôi
Sóng chiều biển vắng. tôi ngồi đợì em
Dã tràng xây mộng đời riêng
Xa kia. trời lặn ưu phiền. trốn tôi!
.
Em giờ là mộng thật rồi
Dấu chân trên cát biển đời xóa mau
Trong hồn. vẫn dấu chân nào
Trinh nguyên. em vội bước vào tim tôi 
.
Những chiều biển vắng trông vời
Thấy bao tan vỡ mộng đời vụt qua!
Thấy ai. mỏng mảnh lụa là
Thấy tôi. với bóng chiều tà. biển mong!
.
Chỉ là huyễn mộng phải không?
.
Nguyên Lạc

Liên Khúc Tình Đầu

Nguyên Lạc

aodai 11
I. HỜN DỖI 1

Có chút sầu bi trong mắt em?
Chiều hanh. bên góc vắng êm đềm
Môi ngoan không tiếng. dù than trách
Chết điếng hồn tôi. yêu lắm thêm!
.
Có nỗi niềm chi trong mắt ai?
Lặng im ngồi dõi áng mây trời
Dáng gầy tóc xỏa bờ vai mỏng
Buồn hỡi người ơi buốt tim này!
.
Có giận hờn không trong mắt sâu?
Buồn giăng từng sợi nắng ngang đầu
Ve ơi thôi nhé đừng vang tiếng
Kẻo phượng hồng rơi mắt lệ nào!

*
Hè nơi xứ lạ không phượng thắm
Chỉ tiếng ve thôi đủ đời sầu !
Nhớ ơi mắt lệ chiều xưa ấy!
Có cách nào quên mối tình đầu?!

II. HỜN DỖI 2

Nói đi em. kẻo nắng phai
Chiều nghiêng bóng xế. thở dài với tôi
Khẽ nhe em. chuyện buồn vui
Để tôi vẫn thấy. nụ cười hồn nhiên
Dỗi chi em. để mưa nghiêng?
Thấm tim chút lạnh. lòng phiền muộn thôi!

*
Chiều nay. cô lữ bên trời
Dương lam màu nhớ. một thời đã xa
Nhớ làm sao. mắt lệ nhòa
Thương gì đâu. những xót xa tình đầu!
.
Dại khờ. rồi cũng qua mau
Xuân thu. để lại nỗi sầu tóc ai
Tình đầu. như sợi tóc dài
Dù màu có bạc. vẫn hoài vấn vương!
.
Sợi thương. sao vẫn âm thầm?
Ve sầu. phượng thẩm. nhức lòng tôi chi?
.
Nguyên Lạc 

CHUYỆN TÌNH VÙNG U MINH 

Thư viện của bài

This gallery contains 2 photos.

Nguyên Lạc

CHUYỆN TÌNH VÙNG U MINH 
NAM BỘ QUÊ TÔI (II)

(hình hoa Sứ)

Phần II

CHUYỆN TÌNH 

SƠ LƯỢC CHUYỆN TÌNH VÙNG U MINH

Đây là bài thơ kể lại chuyện tình vùng U Minh nam bộ quê tôi, được gợi hứng từ truyện “Hương Rừng” nổi tiếng của nhà văn Sơn Nam. Xin tóm tắt chuyện như sau:
Di dân từ ngũ Quảng vào lập nghiệp vùng rừng U Minh. Ông Hương giáo có một người con gái duy nhất,  xinh đẹp mà ông rất thương yêu tên Hoàng Mai. Khi Hoàng Mai đến tuổi trăng tròn, hỡi ơi ông phát hiện nàng bị bệnh nan y: Cùi  (bệnh hủi hay bệnh Hansen)
Tìm trong gia phả thấy có ghi: – Luyện thuốc bằng “ngọc” ong mật có thể chữa bệnh cùi. Ông bèn thuê một chàng trai trẻ, làm nghề bắt ong mật đi tìm”ngọc”  để ông luyện thuốc cho con gái yêu. Ông Hương giáo mời chàng trai ở luôn trong nhà cho có bạn. Ngày đêm, ông chong hàng chục ngọn nến bạch lạp chung quanh mớ “ngọc” để luyện, hy vọng rằng khi đúng một ngàn ngày, nó sẽ trị được bịnh nan y của Hoàng Mai. 
Một hôm tại nhà ông Hương giáo, chàng trai gặp nàng, người con gái mỏng mảnh, liêu trai đứng tựa cây sứ cùi, mặt cạnh bên những đóa hoa trẳng nhìn chàng với ánh mắt đầy ân tình. Lòng đầy yêu thương, chàng đến đứng cạnh Hoàng Mai xin được cầm tay nàng.

[ – Anh nắm cái chéo tay áo này, em cũng đủ vui rồi. 
Cảm đông làm sao!…  Tiếp tục đọc