VÀI Ý VỀ CHỮ DÙNG TRONG THƠ (8)

Nguyên Lc

nguyenlac_chandung

Tiếp nối theo loạt bài viết “Vài Ý Về Chữ Dùng  Trong Thơ” [*] đã đăng trên FB và các trang web, hôm nay tôi sẽ tiếp tục phân tích việc dùng chữ trong thơ qua việc trả lời cho nhóm tự gọi là: CÁNH ĐẠI BÀNG của THI CA ĐƯƠNG ĐẠI VN.

Dưới cuối bài là copy Email của nhóm này [**], nó đã được họ phát tán rộng khắp để tấn công cá nhân tôi, vì tôi dám “góp ý” về bài bình thơ “có cánh”, dù dưới bài bình thơ này đã có ghi: “Rất mong nhận được những ý kiến trao đổi của các bạn!” 

BÀN VỀ HAI CHỮ MIÊN TRƯỜNG

Để hiểu rõ cụm chữ “miên trường”, hãy thử xét câu thơ sau đâyy:

“Miên trường trở giấc hồn cô quạnh” – XYZ

  1. Như đã biết: Chữ Hán Việt là chữ Hán viết theo chữ Việt. Thí dụ câu: 君 在  湘  江  頭 (thuần Hán) – Quân tại Tương giang đầu (Hán Việt) – Chàng ở đầu sông Tương (thuần Việt)

Trong các bài trước tôi đã phân tích: Tiếng Hán Việt cũng giống tiếng Anh: Tính từ đứng trước danh từ, khác với tiếng Việt

Thí dụ: Bạch mã (H) White horse (A) Ngựa trắng (V)

  1. Theo nghĩa: Trường là dài, Miên là miên viễn = rất dài. Vậy tập hợp “Miên trường” nghĩa là dài dài, dài rất dài, dài dằng dặc.

– Câu thơ trên muốn nói gì?

– Nếu muốn nói đang ngủ rồi trở giấc, ta phải nói “Trường miên”, vì  Trường là dài, Miên là ngủ; Trường miên là giấc ngủ/ giấc mộng dài. Do đó câu thơ trên phải được viết: “Trường miên trở giấc hồn cô quạnh”.

  1. Ta biết rõ tác giả câu thơ trên đã “mượn” 2 chữ Miên trường trong bài thơ “Chào Nguyên Xuân” của cụ Bùi Giáng.

– Trong bài thơ Chào Nguyên Xuân, theo tôi hiểu cụ Bùi Giáng ̣đùa với 2 chữ Miên trường trong câu thơ “Mùa xuân phía trước miên trường phía sau“. Miên trường như giải thích trên là dài dài. Ghép vào câu thơ nó có nghĩa tếu: “Mùa xuân phía trước dài dài phía sau”: Phía trước mùa xuân vui thì phía sau cũng dài dài … mùa xuân vui. Phải cụ đùa không?

– Vâng, cụ đùa nhưng cười ra nước mắt. Đó là cái tuyệt vời của Bùi Giáng:  Câu thơ vui, nhưng thường ẩn trong đó là sự não lòng. Phía sau “dài dài” cũng có thể mùa thu hay mùa đông , mùa sầu mùa nhớ…

Đây là câu thơ có sự đối tỷ, sự so sánh trước và sau: Trước là mùa xuân thì sau phải mùa xuân hay mùa nào đó. Trước là cảm xúc- mùa xuân vui – thì sau phải cũng là cảm xúc – mùa vui hay buồn nào đó – chứ không thể là giấc ngủ/ giấc mộng – nếu hiểu miên trường là giấc ngủ/ giấc mộng dài (?).

Người “hậu bối” làm thơ sao không suy nghĩ cho thông nghĩa, lại vội vàng hít hà rồi “cố tình nhét đại” vào các câu thơ “nghiêm chỉnh” của mình, vô tình “hại” cụ Bùi, phải không?

BÀN VỀ TÀ HUY VÀ ĐOÀI

Sau đây là lời trong Email của nhà bình luận Nguyễn Xuân Dương mà “nhà thơ” Đỗ Anh Tuyến đã phát tán rộng khắp trong nhóm “Elites” của các ông để chê tôi “không biết gì”.

“Theo ông Nguyễn Khôi thì trong bốn bài gọi là thơ đăng trong THƠ BẠN THƠ 9 thì có ba bài ông sử dụng cụm từ BÓNG TÀ HUY, TÀ HUY, TÀ HUY BAY cụm từ này độc nhất chỉ có thi sỹ Bùi Giáng sử dụng trước đây. Tôi tin một cách chắc chắn rằng ông Nguyễn Lạc không biết nghĩa của cụm từ BÓNG TÀ HUY BAY, ông thấy lạ thì ông ăn cắp thôi ạ. Còn vào trang ông ấy đọc những cái gọi là thơ của ông ấy thì càng chứng minh ông rất ngô nghê và thơ thuộc loại thiểu năng trí tuệ khi ông đưa ra từ PHƯƠNG ĐOÀI rồi ông chú thích “Phương đoài là phương tây, nhìn từ nước Mỹ”. Nghe cứ cười đến vỡ bụng mất thôi”. – Lời ca Nguyễn Xuân Dương

Tôi sẽ vận dụng cái đầu “thuộc loại thiểu năng trí tu” để xét cụm chữ Tà huy và chữ Đoài mà ông Nguyễn Xuân Dương đã chê tôi “không biết nghĩa” xem sao.

  1. Tà huy

Tà huy: The setting sun, sun set, sun đown – Tiếng Anh

Xin ghi lại lời “vàng ngọc” của ông Nguyễn Xuân Dương :

“Tôi tin một cách chắc chắn rằng ông Nguyễn Lạc không biết nghĩa của cụm từ BÓNG TÀ HUY BAY, ông thấy lạ thì ông ăn cắp thôi ạ” – Lời NXD

Tôi sẽ phân tích cụm chữ “Tà Huy” để trả lời đến các “nhà thông thái” Nguyễn Xuân Dương và Đỗ Anh Tuyến:

  1. Kết hợp Tà huy có thể hiểu trên cơ sở lắp ghép nghĩa của các thành tố tạo nên nó:

Tà huy do ghép 2 chữ: Tà và Huy

-Tà 斜 : lệch, vẹo, nghiêng, xiên, chéo, dốc

– Huy 暉 :Ánh sáng (mặt trời), nắng, ánh nắng

Nghĩa của  cả kết hợp Tà huy giống như Tà dương

– Ánh mặt trời chiều ngả về tây -Từ điển trích dẫn

– Ánh nắng nghiêng của buổi chiều.- Từ điển Nguyễn Quốc Hùng

  1. Tà dương

Dương 昜 :

– mặt trời

– dương: Trong âm dương – Lưỡng nghi (NL)

Tà dương là mặt trời xế về tây – Từ điển Nguyễn Quốc Hùng

  1. Về “Bóng tà huy bay”

– Tà huy, ánh sáng mặt trời chiều rọi vào cây cối, nhà cửa, núi đồi vân vân… tạo ra những bóng nghiêng. Do mặt trời chiều từ từ lặn, các bóng từ từ nghiêng thêm, nếu có thế nói là chạy dần trên mặt đất; làm sao gọi là bay được mà viết là “bóng tà huy bay”? Viết “Bóng tà huy nghiêng” thì có thể chấp thuận được.

Hai ông nói:”chắc chắn rằng ông Nguyễn Lạc không biết nghĩa” vậy nhờ giải thích giùm làm sao “bóng tà huy” BAY? Tôi đang “đứng dựa cột” cờ nghe “lời vàng ngọc” đây.

– Xin được thưa thêm, nếu câu thơ được viết như thế này thì “đắc địa”:  “Áo tà huy bay”:

Áo em màu nắng chiều đang bay không đẹp sao?

  1. Tà huy, tà dương cũng gợi ý đến tuổi cuối đời, tuổi xế chiều …
  2. Đoài

Xin ghi lại “lời vàng ngọc” của ông Dương:

“Còn vào trang ông ấy đọc những cái gọi là thơ của ông ấy thì càng chứng minh ông rất ngô nghê và thơ thuộc loại thiểu năng trí tuệ khi ông đưa ra từ PHƯƠNG ĐOÀI rồi ông chú thích “Phương đoài là phương tây, nhìn từ nước Mỹ”. Nghe cứ cười đến vỡ bụng mất thôi”. Nguyễn Xuân Dương

Tôi đã hỏi hai ông tại sao “cười đến vỡ bụng”? Sai chổ nào xin giải thích? Tôi xin “rửa tai chờ “lời vàng tiếng ngọc” của các ông, nhưng không thấy các ông trả lời. Thôi thằng tôi ” thiểu năng trí tuệ” này phải tự giải thích xem sao:

– Tại sao phương Tây gọi là phương ĐOÀI? Vì trong Hậu Thiên Bát Quái của Dịch: Quẻ Đoài nằm ở hướng Tây, ngược với nó là quẻ Chấn nằm ớ hướng Đông. Chính vì điều này người ta mới gọi phương/ hướng Tây là phương/ hướng Đoài.

– Khi tôi chú thích 2 chữ PHƯƠNG ĐOÀI trong bài thơ, trên tay tôi có quả cầu vẽ hình thế giới: Mỹ tôi đang sống cách VN qua biển Thái Bình Dương- Pacific Ocean, VN gọi là Biển Đông; VN ở phuơng tây, phương mặt trời lặn nếu nhìn từ Mỹ.

– Do những điều nhận xét trên, tôi mới chú thích:

“Phương đoài (Phương tây): Danh từ địa lý và ước lệ: nói lên sự thương nhớ, hoài niệm nhớ về. VN ở phuơng tây nhìn từ Mỹ” (Bài thơ Góc quê hương sau nhà)

Sao? lời giải thích của kẻ “thô thiển trí tuệ” này ra sao? Xin lãnh giáo.

— Xin ghi thêm:

-Trong các câu thơ của tôi, Đoài ngoài nghì̃a địa lý là phương hướng tây; nó còn hàm ý là phương thương nhớ, vùng ký ức… và còn là cõi về của người : “về cõi Tây phương” = chết.

– Đoài cũng có nghĩa đoài đoạn – “thương nhớ đoài đoạn”:

Tôi nhớ xứ Đoài mây trắng lắm

(Đôi mắt người Sơn Tây – Quang Dũng)

Nên nhớ người xưa có câu “… dựa cột mà nghe”, chắc tôi không cần viết trọn câu?

LỜI KẾT

– Thơ phải tự nhiên như hơi thở. Đừng cố tìm những từ thật kêu, những cấu trúc thật lạ nhưng không chút cảm xúc, trống rỗng, vô hồn. Thơ bật ra từ cảm xúc, từ tâm thức chứ không phải từ cái đầu, từ lý trí.

– Đừng nên “mượn” người trước, người khác những chữ mà mình không hiểu rõ nghĩa , không biết cách sử dụng; cố tình gán ghép càn vào thơ mình để “tạo dáng”, mà không biết rằng câu thơ có khi trở thành sáo rỗng, vô nghĩa.

Nguyên Lạc

………………

[*] Vài Ý Về Chữ Dùng  Trong Thơ- Nguyên Lạc

http://phudoanlagi.blogspot.com/2019/11/vai-y-ve-chu-dung-trong-tho-1-nguyen-lac.html

[**]. Đây là lời trong Email của nhóm “Đại Bàng”:

[ … Chú Bùi Mạnh Hiệp còm dưới bài “Nguyên Lạc và những chày cối”:

“Mình nghĩ thế này Xuyến ạ: Thắng thua làm gì… Nếu là đại bàng thì dù giông bão đại bàng vẫn cất cánh bay- nhưng nếu là con sâu con kiến… có châm nọc đốt người…. mãi mãi vẫn chỉ là loài sâu loài kiến. Để thời gian quý báu mà chăm con, sáng tác thơ văn chia sẻ với bạn bè, chấp gì loại sâu kiến làm mình cũng nhỏ đi.”

Anh thấy chí lí đấy Tuyến ạ.

Việt Kháng

From:thanh tuan<datinh_1974@yahoo.com>

Date: Wed, Nov 20, 2019 at 9:24 AM… ]

CÀ-PHÊ ĐÊM

vango
CÀ-PHÊ ĐÊM
.
Sâu góc quán đêm ly cà phê đắng
Từng giọt trầm rơi buồn đọng trên môi
Nhạc khúc Tình sầu* người rồi xa vắng
Giọt đắng tiếng đời cô lữ đêm trôi!
.
Nguyên Lạc
…………….
* Tình sầu (The sorrow of love) – nhạc Trịnh Công Sơn

MƯỜI NĂM ĐẾM TRÁI ĐỜI

Nguyên Lạc

1minh

Ta ngồi đếm trái mù u
Đếm luôn thương nhớ xuân thu rụng buồn
Người rồi đã bỏ quê hương
10 năm hơi hướm còn vương đến giờ
.
10 năm ta vẫn đợi chờ
10 năm chắc đủ phôi pha tình người?
10 năm ta vẫn mồ côi
Ta ngồi ta đếm trái đời mù u
.
Đếm luôn tóc điểm sương mù
Tình ta người có đền bù đặng không?
Rạch buồn ngày vẫn ngóng trông
Lặng lờ lên xuống tím bông lục bình
.
10 năm người vẫn bặt tin
10 năm vò võ một mình ta mong
Mù u rụng trái bên sông
10 năm ta đếm đếm luôn tuổi sầu
.
10 năm chắc cũng đủ lâu
Để người quên mất tình nhau một thời?
10 năm đủ héo một đời
10 năm ta dõi bóng người chim bay
.
10 năm vẵn mối tình hoài
Trăn năm chắc vẫn … Dù ai bạc tình!
.
Nguyên Lạc

NHỮNG BÀI TỨ TUYỆT

Nguyên Lạc  

tranh thieu nu

1. TRẦM TƯ ĐÊM BÊN SÔNG
.
Tóc rồi sương điểm theo năm tháng
Sắc cùng tàn phai theo tuổi đời
Ai xui trăng rụng trên dòng lắng
Một kiếp người thôi thế nhân ơi!2. NGÀY CŨ

Biết tìm đâu quê hương ngày cũ
Thời đã qua con nước xa nguồn
Khóc sương điểm tóc đời cô lữ
Nỗi tàn phai lạnh buốt hư không!

3. HƯ KHÔNG
.
Trăm năm dâu bể điêu tàn
Ngàn năm mây trắng trên ngàn vẫn bay
Chuông chiều tám sải gọi ai?
Giật mình lữ thứ thở dài hư không!


4. ĐÊM ĐỢI CHỜ
Chong đêm đầy mắt đợi người
Đôi tay ta dụi kẻo rồi mờ sương
Thấy chi? Tích tắc đêm trường
Quỳnh hương nở đóa còn vương đến giờ!

.
Nguyên Lạc  

CẮN ĐI NỖI NHỚ

Nguyên Lạc

ao dai dai

Em ơi cắn hộ anh buồn
Cắn luôn anh trái tim mòn tả tơi
” *

Cắn hồn phố lạ mưa rơi
Cắn anh nỗi nhớ một thời đã xa
.
Cắn anh tha thướt lụa là
Cắn anh gác trọ thật thà hiến dâng
Cắn bàn tay cắn gót chân
Cắn luôn vuông cổ xuống lần ngực thơm
.
Cắn anh  hồn điếng trăm năm
Làm sao quên được thân trầm mê hương?
Mai về tìm lại cố nhân
Nơi đâu? Có chắc còn “hiền ma soeur“? **

Mưa chiều cắn nỗi hoài mơ
Cắn anh Đà Lạt sương mờ thông reo
Cắn anh ly biệt ngày nào
Dã quỳ không nở đúng mùa em ơi!
.
Nỗi buồn còn cắn nữa thôi?
Cắn đi Đà Lạt một thời yêu ai!
……….
Thơ Trần Vấn Lệ
** Thơ Nguyền Tất Nhiên/ nhạc Phạm Duy
.

Nguyên Lạc

PHẬT CHÚA CŨNG KHÓC

Nguyên Lạc

Tưởng niệm 39 “thùng nhân” chết cóng tại London
.
39 người đông cứng trong container
Trái tim nhân loại phải sững sờ
Xứ sở “thiên đường” sao chối bỏ?
Ngôn từ ngụy trá đã rõ chưa?
.
Phật và Chúa ngày nay lệ đổ
Nỗi trầm luân nghiệp chướng dân mình
Bao oan khiên đành phải lặng thinh
Câu cứu khổ xin dành đời khác
.
Ôi Việt Nam sao quá nhiều điều ác
Những nhân danh “hạnh phúc con người”
Họ ngụy trang lừa gạt dân tôi
Đưa con đỏ đến tận cùng nỗi khổ.
.
Phật và Chúa ngày nay lệ đổ
Chùa nhà thờ nhiều kẻ giật giành
Bọn buôn thần bán thánh cạnh tranh
Kinh cứu khổ tìm đâu người hỡi?!
.
Nguyên Lạc

CHỈ TẠI CHIỀU THU

Nguyên Lạc

chieu thu
.
Chỉ là một chiếc lá
Sao nỗi niềm trong ta?
Chỉ hanh làn gió thoảng
Sao mắt ta lại nhòa?
.
Chỉ là một chiếc lá
Dĩ nhiên … vì mùa qua
Chỉ là một nỗi nhớ
Cô lữ sao xót xa?
.
Chiếc lá nào héo úa?
Chiếc lá nào lìa xa?
Tiếng thu nào se sắt?
Mùa thu nào thiết tha?
.
Tình thu nào vệt khói?
Tan mờ xa mờ xa
Đời quay cuồng lốc xoáy
Quê hương rồi chỉ là!
.
Chỉ là một chiếc lá
Sao thấy cả mùa thu?
Chỉ sợi chiều rất mảnh
Sao thấy thiên thu sầu?
.

GIỚI THIỆU TẬP THƠ: BẠCH VÂN VÔ SỞ TRÚ

Thư viện của bài

This gallery contains 1 photo.

Nguyên Lạc
.

(Ảnh bìa tập thơ)

VÀI HÀNG TIỂU SỬ

Cảm ơn nữ sĩ Hạt Cát đã gởi tặng thi phẩm Bạch Vân Vô Sở Trú (Mây Trắng Thong Dong) như món quà quý.  Tập thơ in rất trang trọng và rất đẹp.
Xin được ghi ra đây vài hàng về tiểu sử của nữ sĩ:
Hạt Cát tên thật Trần Thị Bạch Vân, bút hiệu thường dùng: Hạt Cát, Lăng Già Nguyệt, Sa Sa, Lạp Sa … Cựu học sinh trường Trịnh Hoài Đức tỉnh Bình Dương, quê Lái Thiêu Việt Nam. Hiện đang sống ở Mỹ.
Tập thơ Bạch Vân Vô Sở Trú gồm 125 bài thơ chữ Hán đủ các thể loại, sau mỗi bài thơ chữ Hán, tác giả còn phiên âm ra Hán Việt và dịch ra thơ thuần Việt rất mượt mà. Về thơ chữ Hán, tác giả làm theo lối chữ phồn thể – Lối chữ hiện được dùng tại Đài Loan, Hồng Kông, Singapore và trong các tác phẩm cổ của văn học Việt Nam. Thi sĩ Hạt Cát cho biết là chị đã học chữ Hán từ gia đình, từ bạn bè. Chị học và yêu thích chữ Hán, rồi làm thơ dễ dàng như làm bằng tiếng mẹ đẻ – tiếng Việt

NHAN ĐỀ BẠCH VÂN  VÔ SỞ TRÚ

Trước khi giới thiệu vài bài thơ tiêu biểu của nữ sĩ Hạt Cát, tôi có vài ý  về nhan đề của thi tập

1. Được biết người cha là nhà Nho, thầy giáo; cụ dặt tên cho các người con gái đều bẳt đầu bằng chữ Mây (Vân). Gia đình có 4 người con gái: Bạch Vân, Thanh Vân, Hồng Vân và Huỳnh Vân.
Tên đặt ảnh hưởng đến cuộc đời riêng chăng? Mây thì phải lơ lửng, lang thang lưng trời:
Phiêu vân bạch mộ không / Quá kiều hốt tâm vong (Chiều hôm mây trắng lênh đênh/ Qua cầu lơ đãng bỏ quên tim này – Hạt Cát) Tiếp tục đọc

TÔI VẪN KIẾM

Nguyên Lạc

mat nhin2

Tôi vẫn kiếm
Một tình yêu chân thật
Phiến môi người. nụ hoa nắng chiều thu
Ánh mắt người. không xanh trắng. vẫn ngây thơ
Và như thế tôi một đời vẫn kiếm!
Và như thế tôi một đời biếc tím
Thấy nhói tim đôi môi chuốt bén ngời!
Thôi tôi ơi. Thôi nhé tôi ơi!
Vẫn hoài kiếm những ngôn lời chân thật
.
Và như thế
Tôi vẫn hoài cô độc!
Những vần thơ những ký tự tan nhòa
Lòng giấy nào ai dệt bằng phù phiếm?
Giọt mực nào?
Rồi. cũng chỉ phôi pha!
.
Và như thế
Tôi một đời vẫn kiếm
Tôi sầu tôi chiếc lá rụng tàn thu!
Tôi hận tôi sao vẫn mãi sương mù?
Sao?
Tôi vẫn kiếm

một tình yêu chân thật!

Nguyên Lạc

KHÚC TÌNH HOÀI

Nguyên Lạc

dtle

(Tưởng niệm thi sĩ Du Tử Lê)
.
Riêng đời “cọc nhọn trăm năm”
Ta “chim bói cá” trên ngàn viễn bay
“Thụy du” một khúc tình hoài
Ta không còn nữa lệ ai khóc người?
.
“Sẽ mang theo được những gì?”
“Bên kia thế giới” Thụy ơi nghìn trùng!
……….
“…” Lời thơ Du Tử Lê
.
Nguyên Lạc

CHIỀU THU LÁ ĐỎ

Nguyên Lạc

thuthuthu
.
Giọt tim nào rơi lòng em nức nở
Đâu phải cỏ cây anh cũng có tim sầu
Phiến gió chiều nay lay động nụ trúc đào
Rơi về phương ấy khúc ca dao buồn
.
Đâu phải cỏ cây anh cũng có tim buồn
Lệ đỏ lá chiều thu phong mắt thẫm
Nghe trong hồn vỡ bờ sóng động
Lạnh một dòng xót nỗi tàn phai!
.
Đúng là em chẳng phải là ai!
Tà huy đổ bóng dài tóc xõa
Điệp khúc chiều tiếng ai nức nở
Đâu phải cỏ cây anh cũng là người!
.
Nguyên Lạc
.
Mời nghe nhạc:
Chiều thu lá đỏ – thơ Nguyên Lạc, nhạc Mộc Thiêng
http://www.art2all.net/nhac/mocthieng/chieuthulado.mp3

VỀ NHAN ĐỀ GỐC CỦA TRUYỆN KIỀU

Phê bình Nguyên Lạc

 

Truyện Kiều chữ Nôm 2

Trong quá trình sưu tầm tài liệu để viết tiếp phần 2 và phần 3 bài TRẬN CHIẾN CHƯA NGƯNG: Đoạn Trường Tân Thanh và Kim Vân Kiều Truyện, tình cờ tôi gặp bài viết: “Nhan đề gốc của “Truyện Kiều” của Đinh Văn Tuấn đăng trên trang Tạp chí Sông Hương SỐ 310 (T.12-14) và trên nhiều trang khác, trong cũng như ngoài nước. Ông Đinh Văn Tuấn Đưa ra kết luận như “đinh đóng cột” thế này:
“Nay, chúng tôi là hậu học, sau khi đã tìm hiểu lại ngọn nguồn, xin đề nghị trả lại nhan đề gốc do thi hào Nguyễn Du đặt cho một tuyệt tác thi ca nổi tiếng trong và ngoài nước từ gần 2 thế kỷ qua, đó là KIM VÂN KIỀU TRUYỆN 金 雲 翹 傳 “
“… Truyện Kiều cũng thế, nguyên truyện Trung Quốc là tiểu thuyết Kim Vân Kiều truyện 金 雲 翹 傳 của Thanh Tâm Tài Nhân và tự nhiên cụ Nguyễn Du cũng sẽ đặt nhan đề là Kim Vân Kiều truyện”[“Nhan đề gốc của “Truyện Kiều”- Đinh Văn Tuấn ][*]
Và trong bài: “145 Năm Tầm Nguyên Truyện Kiều” – Hợp Lưu 01/11/2015 ông Tuấn lại tái khẳng định:
Văn bản Truyện Kiều phục cổ do chúng tôi tái lập sẽ lấy nhan đề khởi thủy do Nguyễn Du đặt là Kim Vân Kiều truyện 金 雲 翹 傳 chứ không lấy nhan đề Đoạn Trường tân thanh hay Truyện Kiều như chúng tôi đã khảo chứng qua bài viết “Nhan đề gốc của truyện Kiều”-Tạp chí Nghiên cứu và Phát triển, S. 6(113) (2014)

Đây là những lý do ông Đinh Văn Tuấn nêu ra để đưa đến kết luận cả quyết trên.

Trước khi xét và phản hồi từng điểm của ông Tuấn, tôi có những ý này:
— Cám ơn ông đã không “bất kính” với cổ nhân (chữ ông Đinh Văn Tuấn), đã tìm hiểu lại một cách khoa học để phục hồi lại “nhan đề gốc của ‘Truyện Kiều’ ” Nguyễn Du.
— Ông: “đề nghị trả lại nhan đề gốc do thi hào Nguyễn Du đặt cho một tuyệt tác thi ca nổi tiếng trong và ngoài nước từ gần 2 thế kỷ qua đó là KIM VÂN KIỀU TRUYỆN”. Xin hỏi: – Sau KIM VÂN KIỀU TRUYỆN còn có thêm hàng chữ nào không ông? Thí dụ như Thanh Tâm Tài Nhân? Kim Thánh Thán bình…?
Mời ông đọc những lời này của ông “bạn vàng phương Bắc” Đổng Văn Thành:
[ … Phải chăng tác giả Trung Quốc Thanh Tâm tài nhân – con người “tầm thường”, “không thể cứu chữa” – đã làm hỏng đề tài Vương Thúy Kiều đến nỗi không một chỗ nào coi được, phải hoàn toàn nhờ sự gia công “thiên tài” của tác giả Việt Nam Nguyễn Du mới biến miếng sắt bỏ đi thành vàng ròng lấp lánh?...”] (Phạm Tú Châu “So sánh Truyện Kim Vân Kiều Trung Quốc và Việt Nam”; 200 năm nghiên cứu bàn luận “Truyện Kiều”, Nxb. Giáo dục, Hà Nội 2005)
[ … “Nhìn tổng thể, tôi thấy Truyện Kiều của Nguyễn Du bất luận về nội dung hay về nghệ thuật đều không vượt được bản gốc mà nó mô phỏng, tức – Truyện Kiều của Trung Quốc –
Ông Đổng còn nói: “Nguyễn Du còn thêm chân cho rắn khiến chúng mâu thuẫn với hoàn cảnh và tình tiết trong toàn bộ nguyên tác”] [Nguồn: Nguyễn Huệ Chi -Trở lại câu chuyện so sánh Kim Vân Kiều truyện với Truyện Kiều của ông Đổng Văn Thành]
– Và cũng mời ông đọc lại những hàng chữ chính ông chú thích sau đây:
Kim Vân Kiều” là sách gì? Chưa nói đến sự tích thiệt không, chưa kể văn chương hay dở, chỉ nhắc đến cái tên sách thì nghe đã không thể nào ngửi được; vì sao thế? Phàm bộ truyện nào, dầu trong có bao nhiêu nhân vật mặc lòng, chỉ là một người làm chủ nhân: sự tích là sự tích một người chủ nhân ấy, thì tên sách cũng theo đó mà gọi….ông Nguyễn Du chắc không đặt tên dốt như thế? Dù cái tên ấy là nguyên bản của Tàu, là nguyên bản của Tàu thì càng đủ biết rằng truyện ấy đặt ra bởi một anh Tàu dốt nào đó mà thôi.” [Ngô Đức Kế (1878-1929) , Luận về chánh học cùng tà thuyết, Tạp chí Nam Phong số 86. 1924][**]
Chắc ông Đinh Văn Tuấn cho rằng cái tên sách “Kim Vân Kiều” hay ho lắm nên muốn gán cho cụ Tiên Điền, thi hào ông không “bất kính”?

Giờ xin lần lượt vào từng điểm, cùng những nhận xét và phản hồi của tôi:
I.
[ Dựa vào bản khắc Liễu Văn Đường 1866, là bản cổ nhất hiện còn lại ta thấy ở dòng cuối cùng của bản LVĐ 1866 đã khắc là Kim Vân Kiều truyện quyển hoàn 金 雲 翹 傳 卷 完 (bản Liễu Văn Đường 1871, bản Thịnh Mỹ Đường 1879… cũng khắc như vậy), ngay cả bản Đoạn trường tân thanh, Kiều Oánh Mậu 1902 ở trang cuối cũng vẫn ghi “Kim Vân Kiều truyện chung”金 雲 翹 傳 終 (xem hình). Vậy nhan đề gốc là Kim Vân Kiều Truyện 金 雲 翹 傳 ] – Đinh Văn Tuấn.

Bản khắc LVĐ và KOM

(Hình 1 – ảnh 2 bản khắc LVĐ và KOM)

.
@. Trả lời:
Tôi xin lần lượt trả lời từng bản khắc:
1. Bản khắc Liễu Văn Đường : Kim Vân Kiều truyện quyển hoàn 金 雲 翹 傳 卷 完
– Theo tôi, ông Đinh Văn Tuấn nghĩ là: Sách (quyển) Kim Vân Kiều truyện hoàn tất, xong.
Vì chữ Hán nhiều nghĩa, ai cũng có thể hiểu, suy diễn theo ý riêng nên câu này cũng có thể có nghĩa: Sách kể chuyện 3 người: Kim, Vân, Kiều đã hoàn tất, xong.
– Theo tôi, nghĩa thứ 2 đúng hơn. Tại sao? Vì:
Năm 1820, tháng 9 cụ Nguyễn Du mất. Mộng Liên Đường Nguyễn Đăng Tuyển đề từ cho truyện thơ cụ lại có đến Đoạn Trường Tân Thanh . Ông đã giải thích tên Đoạn Trường Tân Thanh như sau:
“Truyện Thuý Kiều chép ở trong lục Phong tình, ta không bàn làm gì. Lục Phong tình cũng đã cũ rồi. Tố Như tử xem truyện, thấy việc lạ, lại thương tiếc đến những nỗi trắc trở của kẻ có tài, bèn đem dịch ra quốc âm, đề là Đoạn trường tân thanh, thành ra cái lục Phong tình vẫn là cái lục cũ, mà cái tiếng Đoạn trường lại là cái tiếng mới vậy”.[Đề Từ Đoạn Trường Tân Thanh – Tiên phong Mộng Liên Đường Nguyễn Đăng Tuyển]
Phạm Quý Thích lại có bài : “Thính Đoạn Trường Tân Thanh hữu cảm”. Cả hai bài, theo tục truyền Phạm Quý Thích đã in cùng Đoạn Trường Tân Thanh trước 1821 và giảng cho học trò, nên mới có tập cho Minh Mạng xem ( bản Liễu Văn Đường) Phù hợp với tục truyền của học trò ông: Bản phường – Hàng Gai Hà Nội. Năm 1830 Tổng thuyết vua Minh Mạng đổi tên Đoạn Trường Tân Thanh thành Kim Vân Kiều truyện, rồi đến 1871, Tổng thuyết lần 2, của vua Tự Đức sửa tên thành Kim Vân Kiều tân truyện (Giải thích rõ thêm ở dưới)
Bên cạnh nội dung truyện Kiều của Đại thi hào Nguyễn Du, bản Liễu Văn Đường còn có Bài tựa (bằng thơ Đường thất ngôn bát cú) của Lãng Đường Phạm Tiên sinh – Phạm Qúy Thích, bằng chữ Hán: “Đoạn trường tân thanh đề từ”(hoặc “Thính Đoạn trường tân thanh hữu cảm”).

Giai nhân bất thị náo Tiền Đường
Bán thế yên hoa trái vị thường
Ngọc diện khởi ưng mai Thủy quốc
Băng tâm tự khả đối Kim lang
Đoạn trường mộng lý căn duyên liễu
Bạc mệnh cầm chung oán hận trường
Nhất phiến tài tình thiên cổ lụy
Tân Thanh đáo để vị thùy thương

Dịch nghĩa
Nếu người đẹp Thuý Kiều mà không đi đến sông Tiền Đường,
Thì nửa đời lầu xanh vẫn chưa trả xong nợ.
Mặt ngọc của nàng đâu cần phải chìm xuống thuỷ cung,
Lòng băng tuyết của nàng thì xứng đáng gặp chàng Kim lắm.
Giấc mộng đoạn trường nay đã biết rõ nguồn cơn,
Khúc đàn Bạc mệnh dứt rồi nỗi hận còn vương.
Vì một mảnh tài tình mà ngàn năm còn luỵ,
Tác phẩm Tân Thanh này vì ai mà thương cảm đau lòng.
(Nguồn: Dương Quảng Hàm, Việt Nam văn học sử yếu, Trung tâm học liệu xuất bản, 1968)

Câu 5 có 2 chữ “đoạn trường“, câu cuối của bài thơ này là:
Tân Thanh đáo để vị thùy thương” Dương Quảng Hàm dic̣h: “Tác phẩm Tân Thanh này vì ai mà thương cảm đau lòng”.
Phần đầu sách đã xác điṇh tên tập thơ là Đoạn Trường Tân Thanh, không lẻ Phạm Qúy Thích “tự chặt tay mình” mà cuối sách viết khác?
Trường hợp này cũng tương tự như câu trong bản khắc Kiều Oánh Mậu ở dưới.

ĐTTT Kiều Oánh Mậu 1902

(Hình 2 – ảnh bản in Kiều Oánh Mậu 1902 )

.
2.  Bản khắc Kiều Oánh Mậu“Kim Vân Kiều truyện chung”金 雲 翹 傳 終

.
— Đinh Văn Tuấn nghĩ là: Kim Vân Kiều truyện kết cuộc, hết. Như trên đã nói, câu này cũng có thể nghĩ: Truyện kể 3 người Kim, Vân, Kiều kết cuộc, hết.
Cũng giống như trên, nghĩa thứ 2 đúng hơn. Vì:
Đến năm 1883 Tự Đức qua đời. Triều đình Huế lúc này thực chất chỉ là bù nhìn, toàn bộ chính trường đều do người Pháp đã đạo diễn . 9 năm sau, năm 1902 cựu quan nhà Nguyễn, chủ bút tờ báo Đồng Văn là Kiều Oánh Mậu mới cho tái bản phục hồi tên cũ là Đoạn Trường Tân Thanh, có sự phụng mệnh vua đọc và kiểm duyệt của 3 cộng tác và Hàn Lâm kiểm thảo Ngô Thúc Dụ Thư. Có sự kiểm duyệt của quan Hàn Lâm kiểm thảo Ngô Thúc Dụ Thư thì không phải là chuyện đùa. Phải coi bản Đoạn Trường Tân Thanh do Kiều Oánh Mậu chủ trì biên soạn là cãi chính cuối cùng của đại diện triều Nguyễn chứa đựng nội dung trung thực nhất: Ghi đúng tên, nguồn gốc của Truyện Kiều.
Và cũng giống như trên, đã phục hồi tên tập thơ là Đoạn Trường Tân Thanh không lẻ Kiều Oánh Mậu “tự chặt tay mình” mà cuối sách viết khác?
— Câu bản khắc Kiều Oánh Mậu này còn có thể thêm một nghĩa: Chấm dứt cái tên “Kim Vân Kiều Truyện” từ đây, (Kim Vân Kiều Truyện cáo chung): – Để kết thúc một câu truyện, sách in đề tựa Đoạn Trường Tân Thanh (ở trang bìa), ta chỉ cần một chữ chung (hết) ở trang cuối, như bao cuốn sách khác là xong, sao lại tự dưng ghi “Kim Vân Kiều truyện chung”? Ở đây cần hiểu là: Truyện này tên Đoạn Trường Tân Thanh, cái tên Kim Vân Kiều truyện đã chấm dứt từ cãi chính này.
Suy luận nào cũng là suy luận, nhưng suy luận nào hợp với bằng chứng nhất do người đọc lựa chọn.
— Xin nói rõ thêm vài hàng: Trong lời dẫn thứ 3 của ấn bản Kiều Oánh Mậu, có nói rằng “Minh Mạng đặt tên nay theo đó mà giữ”, cũng chẳng qua là cách bào chữa giữ danh dự cho tiên vương thôi. Từ xưa đến nay, chả có ông nào làm vua, làm chủ tịch… mà tự nhận lỗi cả, nếu muốn thì đổ thừa cấp dưới hiểu sai ý thôi. Kiều Oánh Mậu là cựu quan nhà Nguyễn, nhượng bộ quan Hàn Lâm một chút, giữ uy tín cho tiên vương cũng dễ hiểu thôi, miễn mục đích đạt được. Tên đã phục hồi, đề từ của Phạm Quý Thích và Mộng Liên Đường cũng còn đó, đời sau tự hiểu.

II.
Ngoài ra, còn một tục truyền khác lại cho vua Minh Mạng đã cho đổi tên Kim Vân Kiều truyện thành Đoạn trường tân thanh nữa, theo bản Nôm Kim Vân Kiều truyện 金 雲 翹 傳, ký hiệu V.N.B.60, không rõ niên đại, có đoạn chép tay (bút lông) như sau:
“…Tiên Điền Nguyễn Du diễn xuất quốc âm danh Kim Vân Kiều truyện, phụng Minh Mạng ngự lãm (tứ) (cãi) (vi) Đoạn Trường Tân Thanh (tòng kinh bản dã)… 仙田阮攸演出國音名金雲翹傳,奉明命御覽(賜)(改)(為)斷腸新聲(從京本也)” (… Nguyễn Du ở Tiên Điền diễn ra quốc âm, đặt tên là Kim Vân Kiều truyện, được vua Minh Mạng đọc và (cho) (đổi) (tên) (làm) Đoạn Trường Tân Thanh (đó là theo bản kinh)…] – Đinh Văn Tuấn

@. Trả lời:

.
Xin ông Đinh Văn Tuấn ghi lại cho đầy đủ cả lời của vua Minh Mạng, tôi thấy có điều gì “nhập nhằng” ở đây:
— Lập luận ông khiên cưỡng và “trở ngược đầu”: Vua Minh Mạng đổi tên Đoạn Trường Tân Thanh thành Kim Vân Kiều truyện, sao ông suy diễn ngược lại? Có ý gì?
Nếu Minh Mạng đổi tên Kim Vân Kiều thành Đoạn Trường Tân Thanh thì sao tất cả các bản in đều in là Kim Vân Kiều hoặc Kim Vân Kiều Tân Truyện, mà không là Đoạn Trường Tân Thanh? Cãi lệnh vua được sao? Muốn tru di hả? Phải đợi mãi đến Tự Đức chết, 1883 thì 9 năm sau tên Đoạn Trường Tân Thanh mới được phục hồi bởi Kiều Oánh Mậu 1902.
— Mời đọc đoạn này:
Tàng bản ký hiệu VN B60: Bên trong là các trang thơ Truyện Kiều chữ Nôm. Bìa sách ghi bằng bút sắt:
明命御覽(賜)(名)斷腸新聲. 金雲翹傳 (mấy chữ này viết bằng bút sắt).
Phiên âm là:
Minh Mạng ngự lãm (tứ) (danh) Đoạn Trường Tân Thanh Kim Vân Kiều truyện.
Thông thường ta hiểu là: Minh mạng đã đọc ban ân (tứ) tên( danh) Đoạn Trường Tân Thanh: Kim Vân Kiều truyện.
Như vậy đây là bản Đoạn Trường Tân Thanh trình Minh Mạng duyệt và Minh Mạng đổi tên thành Kim Vân Kiều truyện, có thể có chỉnh sửa, là bản gốc của bản Kinh về sau.
Nhưng mặt bìa sau ai đó viết chú thích bằng bút lông:
雲翹傳,本北國青心才人錄, 仙田阮攸演出國音名金雲翹傳, 奉明命御覽(賜)(改)(為)斷腸新聲(從京本也), 華 堂進士笵貴適題辭… (viết bằng bút lông)
Phiên âm là:
Kim Vân Kiều truyện, bản Bắc quốc Thanh Tâm tài nhân lục, Tiên Điền Nguyễn Du diễn xuất quốc âm danh Kim Vân Kiều truyện, phụng Minh Mạng ngự lãm (tứ) (cãi) (vi) Đoạn Trường Tân Thanh (tòng kinh bản dã) Hoa Đường Tiến sĩ Phạm Quý Thích đề từ…
[Sách Kim Vân Kiều truyện vốn là sách Thanh Tâm tài nhân lục của Bắc quốc, Nguyễn Du ở Tiên Điền diễn ra quốc âm, đặt tên là Kim Vân Kiều truyện, được vua Minh Mạng đọc và (cho) (đổi) (tên) (làm) Đoạn Trường Tân Thanh (đó là theo bản kinh). Phạm Quý Thích, người Hoa Đường, đậu Tiến sĩ đề từ…] (Theo Trần Văn Giáp)

.
@ Nhận xét:.

— Bút tích viết bằng bút sắt ở trên có thể cho là của Minh Mạng:

  • Một là, giọng văn đó của vua trực tiếp phê. Giống như ngày nay văn bản cấp dưới trình cấp trên, cấp trên phê: đã đọc Đoạn Trường Tân thanh, tên đổi Kim Vân Kiều truyện.
  • Hai là bút tích Minh Mạng viết : “ Thanh Tâm Tài Tử cổ kim minh lương đề tập biên” cũng bằng viết sắt ( có ảnh kèm theo)

Thanh Tâm Tài Tử ( Tổng thuyểt 1830- Minh Mạng)

(Hình 3 – ảnh Tổng thuyết Minh Mạng)

— Bút tích sau viết bằng bút lông là giọng văn thuật lại” phụng Minh Mạng ngự lãm”(thể theo Minh Mạng đã đọc), tức là của người khác, viết bút lông không phải của Minh Mạng. Ta không biết rõ ai viết, viết vào thời nào; và vì sao trong một câu ngắn gọn của Minh Mạng lại suy diễn chi tiết như thế? Do đó không thể tin cậy được. Theo tôi, “ai đó” ghi thêm và chắc “có ý” gì đó?
Tuy nhiên, cả hai bút tích viết đều có nhắc tới Đoạn Trường Tân Thanh. Tháng 9 năm 1820 Nguyễn Du quy tiên. Trong khi đó Mộng Liên Đường Nguyễn Đăng Tuyển ( có nhiều người nhầm Mộng Liên Đường là Phạm Quý Thích) đề từ lại nói đến Đoạn Trường Tân Thanh . Ông đã giải thích Đoạn Trường Tân Thanh là “tiếng kêu mới xé ruột”. Phạm Quý Thích lại có bài : Thính Đoạn Trường Tân Thanh hữu cảm. Cả hai bài, theo tục truyền Phạm Quý Thích đã in cùng Đoạn Trường Tân Thanh trước 1821, giảng cho học trò, nên mới có tập cho Minh Mạng xem. Phù hợp với tục truyền của học trò ông: bản phường – Hàng Gai Hà Nội. Cần thấy rằng học trò Phạm Quý Thích là những tiến sĩ, cử nhân, thám hoa…Nhiều vị đã kế thừa ông làm thầy, và học trò của các vị này lại làm thầy cho đến 1919 bỏ Nho học. Cho nên tục truyền mà lại có giá trị vì thời gian liên tục và không lâu.
Minh Mạng tuyên triệu Phạm Quý Thích vào Kinh, năm 1821 nhưng ông cáo bệnh (theo tiểu sử Phạm Quý Thích), học trò ông lại nhiều người làm quan của triều đình bảo vệ ông. Cho phép ta suy luận việc này có liên quan đến ấn bản Phường. Không có mặt Phạm Quý Thích và Mộng Liên Đường, Minh Mạng đành đổi tên Đoạn Trường Tân Thanh ra Kim Vân Kiều truyện như bản VN B60 ghi bút tích và đã chỉ đạo Hàn Lâm Viện viết bình giảng truyện Kiều theo hướng làm ngơ việc phản ánh xã hội, phê phán vương triều… nếu ai quan tâm thì xem đó chỉ là chuyện bên Tàu (như Nguyễn Du đã cố tránh né vì “họa văn tư”̣). Tập trung hướng vào than tiếc và an ủi sự gian nan giữa tài và mệnh như hình thức câu truyện. Cuốn này ắt có lưu ở Hàn Lâm Viện nên năm 1902, Kiều Mậu Oánh mới chú giải, lấy lại tên Đoạn Trường Tân Thanh, có sự kiểm duyệt của Hàn lâm kiểm thảo Ngô Thúc Dụ Thư. [theo Lê Nghị]

@. Nhận xét của tôi:
– Bút sắt thời trước chí các vị vương giả dùng. Vua Minh Mạng chắc được các sứ thần Pháp tặng bút sắt Paker, nên suy ra các hàng chữ viểt bằng bút sẳt là thật sự của ông.
– Do Minh Mạng đổi tên nên các bản in sau này đều lấy tên Kim Vân Kiều Truyện, hoặc Kim Vân Kiều Tân Truyện. Cuốn thơ cổ nhất được in tìm được hiện nay mang tên Kim Vân Kiều là bản in 1866 thời Tự Đức. Năm 1875 khi Trương Vĩnh Ký chuyển ra quốc ngữ ở Saigon, lấy tên Kim Vân Kiều, không nhắc gì đến Đoạn Trường Tân Thanh.
– Đã là nhà “nghiên cứu khoa học” thì phải minh bạch và khách quan, vậy sao ông Đinh Văn Tuấn ớ trên lại không ghi rõ đầy đủ lời phê bằng bút sắt của vua Minh Mạng ra? Ông có ý gì mà giấu nó?

III.
Nếu thật có nhan đề Đoạn trường tân thanh do chính tác giả đặt thì theo ý chúng tôi, không một ai dám tự tiện đặt lại tên (dù đó là người bạn tri kỷ), đáng ngờ hơn nữa là sửa lại bằng một cái tên rất bình thường là “Kim Vân Kiều”. Ngược lại, từ “Kim Vân Kiều” gốc Hán rất dễ bị sửa thành một nhan đề hay và ý nghĩa sâu sắc là “Đoạn trường tân thanh”, nhất là khi tin và dựa vào mấy chữ “đoạn trường tân thanh” từ bài thơ của cụ Phạm Quý Thích.
Có thể một nhà Nho nổi tiếng nào đó lúc ấy đã tự ý đổi nhan đề là Đoạn trường tân thanh hoặc cũng có thể là Tiên Phong Mộng Liên Đường chủ nhân khi xác nhận cụ Nguyễn Du đặt nhan đề là Đoạn trường tân thanh nên người sau mới tin theo như Nguyễn Hữu Lập, Kiều Oánh Mậu... ] – Đinh Văn Tuấn

.

@. Trả lời:
— Trước ông Đinh Văn Tuấn cho rằng: nếu Đoạn Trường Tân Thanh là tên có thật thì ai dám đổi, dù là bạn tri kỷ. Sau ông lại cho rằng một nhà nho nổi tiếng nào đó đổi. Xin hỏi nhà nho nào nổi tiếng thi tài hơn Nguyễn Du được nhắc tới? Người ta chỉ thấy Phạm Quý Thích là thầy của bao nhiêu tiến sĩ, cử nhân cũng chỉ vịnh Đoạn Trường Tân Thanh và Mộng Liên Đường một ông quan nổi tiếng tài hoa cũng chỉ sáng tác: Tục Đoạn Trường Tân Thanh.
Vậy thì ai đổi?
— Vua Minh Mạng đổi được không?
Xin nhắc lại ở trên:
“Minh Mạng ngự lãm (tứ) (danh) Đoạn Trường Tân Thanh Kim Vân Kiều truyện”
(Minh Mạng đã đọc ban ân (tứ) tên( danh) Đoạn Trường Tân Thanh : Kim Vân Kiều truyện)
— Ông Đinh Văn Tuấn có biết tại sao Minh Mạng đổi tên không?
Vì cái tên đó nhạy cảm chính trị. Nội dung của Đoạn Trường Tân Thanh “có độc” cho vương triều, mặc dù đã mượn tên chính sử Tàu và địa danh Tàu, nhưng cái tên nghe không ổn: Đoạn Trường Tân Thanh là “tiếng kêu mới đứt ruột”.
Tục truyền vua Minh Mạng ngồi uống trà và đã phê bình câu “Dọc ngang nào biết trên đầu có ai” khi vua vừa mới lên ngôi năm 1820.
Có ông vua nào muốn nghe thiên hạ ngâm nga “Tiếng kêu xé ruột” giữa thời ” thịnh thái” không? Có ông vua nào thích nghe “Dọc ngang nào biết trên đầu có ai”không? Có ông vua nào thích nghe những lời phê phán xã hội, suy rộng ra là chỉ trích vương triều của mình không?
— Vì sao gọi là ban ân?: Đúng ra là phải tịch thu, cấm lưu hành; nhưng vì tác phẩm lỡ lưu hành và vì nó quá hay, nên cho tiếp tục lưu hành nhưng phải đổi tên
Đó là lý do mới đổi tên. Dù gì vua Minh Mạng cũng biết trọng người tài, nếu không cụ Nguyễn Du dễ gì thoát khỏi “họa văn tự”

IV.
Cụ Phạm không dùng chữ “độc” (đọc) mà dùng chữ “thính” (nghe) cũng đủ để cho thấy nhà thơ không phải “đọc” một truyện thơ có nhan đề là Đoạn trường tân thanh. Không có gì bảo đảm là Phạm Quý Thích đã viết chính xác nhan đề Đoạn trường tân thanh] – Đinh Văn Tuấn

.
@. Trả lời:
— “thính” (nghe) bạn tri kỷ, tri âm Nguyễn Du đọc truyện thơ của bạn có nhan đề là Đoạn trường tân thanh không được sao?
Chỉ có chú em Nguyễn Du đọc cho ông anh thân thiết Phạm Quý Thích nghe, chứ ai? Chú nó sống không dám công bố, chết rồi mình công bố vậy. Phạm Quý Thích, bạn tri kỷ tri âm của Nguyễn Du, lớn hơn Nguyễn Du 6 tuổi và mất sau 5 năm.
*
Còn nhiều điểm nữa cần bàn, nhưng thôi tới đây tôi nghĩ cũng tạm đủ để độc giả hiểu rõ lòng ông Đinh Văn Tuấn . Tôi chỉ muốn nhắc lại những lời sau đây tự ông viết trong bài viết ông:
Đào Duy Anh đã từng tin như vậy: “Sách mà ta thường gọi là Truyện Kiều hay là Truyện Thúy Kiều, Nguyễn Du đặt nguyên đề là Đoạn Trường tân thanh. Lập Trai Phạm Quý Thích là bạn thân của Nguyễn Du, khi đem khắc bản để in mới nhân nguyên truyện của người Trung Quốc tên là Kim Vân Kiều truyện mà đổi tên là Kim Vân Kiều truyện”, hay học giả Hoàng Xuân Hãn cũng đã từng nói: “Có nhẽ cụ Nguyễn Du đặt tên truyện là Đoạn Trường Tân Thanh thực đấy, chứ không phải là Kim Vân Kiều đâu. Kim Vân Kiều là tên của sách Tầu. Rồi sau những người khắc khác, trở lại cái tên cũ của người Tầu và để là Kim Vân Kiều Truyện”– Đinh Văn Tuấn
Xin nói rõ, tôi chỉ chú trọng đển tên thật của Nguyễn Du đặt cho truyện thơ mình, còn về nguồn gốc truyện thơ thì có những bài viết khác.
Tôi thật lấy làm lạ:
– Ông Đinh Văn Tuấn đã nói là kính trọng (không “bất kính”- chữ của ông) cụ Nguyễn Du, thế mà tại sao lại muốn gán “cái tên sách thì nghe đã không thể nào ngửi được”(lời cụ Ngô Đức Kế) cho truyện thơ của đại thi hào? [**]

.
Ôi, thương thay cho cụ Nguyễn Du!
.
Nguyên Lạc
………
Ghi chú:
[*] “Nhan đề gốc của “Truyện Kiều” của Đinh Văn Tuấn

http://tapchisonghuong.com.vn/tap-chi/c319/n18166/Nhan-de-goc-cua-Truyen-Kieu.html

[**] Xin nói rõ kẻo hiểu lầm: Tôi chỉ đồng ý với cụ Ngô Đức Kế về việc chê nhan đề “Kim Vân Kiều” đặt cho truyện Kiều /Đoạn Trường Tân Thanh của thi hào Nguyễn Du, còn những phê phán khác của cụ thì tôi không nói đến.

THU CHÍ CỦA NGUYỄN DU

Thư viện của bài

This gallery contains 1 photo.

Nguyên Lạc  
BÀI THƠ THU CHÍ CỦA NGUYỄN DU
 DẪN NHẬP

 Sáng sớm hôm nay trời hanh lạnh Ngẩng nhìn trời, một mảnh trăng treo trong khoảng trời xanh thật nhạt. Buồn ! Trở vào nhà, đến phòng mở You Tube nghe bài “Mùa thu chết” lời của Guillaume Apollinaire, với lời dịch tuyệt vời của Bùi Giáng, phổ nhạc bởi người nhạc sĩ tài hoa Phạm Duy và lời hát ngọt ngào của Lệ Thu.

Ta ngắt đi một cùm hoa Thạch thảo [*]

Em nhớ cho mùa thu đã chết rồi

Đôi chúng ta sẽ chẳng còn nhìn nhau nữa

Trên cõi đời này

Từ nay mãi mãi không thấy nhau ! …

[Mùa Thu Chết ( Lệ Thu – Phạm Duy -thơ dịch Bùi Giáng )] +

Mùa thu là một cụm từ ước lệ. Mùa thu là mùa thương nhớ, hồi tưởng của người ly hương vọng về cố quốc. Người xưa thường dùng mùa thu để tự vấn, tự soi rọi lại cuộc đời mình: Ta đã làm được gì và sẽ về đâu?

Lòng xao xuyến, tìm đọc lại thơ của người xưa, những bài về thu, để hồi tưởng quê hương thân yêu với nỗi niềm của người tha phương.

BÀI THƠ THU CHÍ CỦA NGUYỄN DU Tiếp tục đọc

KIM VÂN KIỀU 

Thư viện của bài

This gallery contains 1 photo.

Nguyên Lạc Biên khảo
TRẬN CHIẾN CHƯA NGƯNG – ĐOẠN TRƯỜNG TÂN THANH VÀ KIM VÂN KIỀU TRUYỆN 

                                         Phần dẫn nhập
Trong phần Lời Kết của bài Về Nguồn Gốc Của Thơ Lục Bát [1] – tôi có viết: “Giống như một số người cố tình cho Đoạn Trường Tân Thanh là truyện thơ diễn dịch từ Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm Tài Nhân bên China mà ra, sao không nghĩ ngược lại?”. Rẩt nhiều người, kể cả các trường đại học, trung học Việt Nam đã cho rằng thi hào Nguyễn Du dựa theo cốt truyện một tiểu thuyết chương hồi, bằng văn xuôi của Thanh Tâm Tài Nhân bên China để viểt ra Đoạn Trường Tân Thanh. Thí dụ:

[ … Nguyễn Du viết dựa theo cốt truyện một tiểu thuyết chương hồi bằng văn xuôi của Trung Quốc có tên là Kim Vân Kiều truyện (truyện về Kim Trọng Thúy Vân Thúy Kiều) của một tác giả hiệu là Thanh Tâm Tài Nhân. Trong thời đại của Nguyễn Du các nhà thơ sáng tác thường dựa theo một tác phẩm của Trung Quốc như thế. Nói chung Nguyễn Du dựa khá sát vào tác phẩm của Thanh Tâm Tài Nhân khi viết lại Truyện Kiều: Cụ thể là những nhân vật trong Truyện Kiều của ông đều là những nhân vật lấy từ Kim Vân Kiều truyện; những tình tiết biến cố cốt truyện trong Truyện Kiều hầu hết đều có trong KIm Vân Kiều truyện…] – [Trường THCS Nguyễn Viết Xuân- Thị xã An Khê- Tỉnh Gia Lai]

Xin ghi thêm vài lời của ông GS “bạn vàng phương Bắc” Đổng Văn Thành:

“So sánh truyện Kim Vân Kiều Trung Quốc và Việt Nam” trên “Minh Thanh tiểu thuyết luận tùng” GS. Đổng Văn Thành – China cho rằng: “Nguyễn Du chẳng những chỉ mượn đề tài của tiểu thuyết Trung Quốc mà dường như bê nguyên xi […] Nguyễn Du không có bất kỳ một sáng tạo mới nào, chỉ chuyển thuật khá trung thực nội dung tiểu thuyết của Thanh Tâm Tài Nhân…” [ Theo Phạm Tú Châu “So sánh Truyện Kim Vân Kiều Trung Quốc và Việt Nam”]

Thêm nữa, mời các bạn đọc những lời này:

” Thế nhưng chẳng những bài viểt trên mạng, sách giáo khoa của các vị TS, PTS Giáo sư Việt Nam ta đọc  đều thấy viết đại để: Nguyễn Du đã vay mượn cốt truyện Kim Vân Kiều của Thanh Tâm Tài Nhân bên China, diễn dịch ra quốc âm dưới dạng thơ lục bát, sáng tạo ra truyện Kiều. Nguyễn Du là thiên tài của nước Việt đã biến một tiểu thuyết “tầm thường” trở thành một tác phẩm thi bất hủ. Tiếp tục đọc

VỀ VẤN ĐỀ NGUỒN GỐC THƠ LỤC BÁT

Thư viện của bài

This gallery contains 1 photo.

Nguyên Lạc

Trong Facebook của nhóm Diartlogue – Văn đàm có đăng bài viết “Lục Bát: Của Ta Hay Của Tàu”, của tác giả Đỗ Quý Dân, nhà văn có tầm ảnh hưởng rộng đến giới trẻ, cùng với lời mời tranh biện. Thấy tầm quan trọng của vấn đề nguồn gốc này, tôi xin ghi ra đây nguyên văn bài viết của ông Đỗ Quý Dân cùng lời phản biện của tôi.

Sau đây là nguyên văn bài viết của ông Đỗ:

LỤC BÁT: CỦA TA HAY CỦA TÀU?

Từ trước đến nay nhiều người cho rằng thể thơ lục bát là do người Việt chúng ta đặt ra. Tuy nhiên, thể lục bát đã được sử dụng trong kinh, truyện, và sử của Trung Quốc (Kinh Dịch, sách Trung Dung và Tống Sử). Vậy phải chăng chúng ta đã mượn lục bát từ người Tàu?

Phần diễn giảng hào lục tam của quẻ Khôn trong Kinh Dịch có hai câu như sau:

“Lục tam, hàm chương khả trinh

Hoặc tòng vương sự, vô thành, hữu chung.”

Đúng là lục bát. Từ số chữ đến cách gieo vần.

Trong sách truyện (Trung Dung) có hai câu:

“Phù thủy, nhất thước chi đa

Cập kỳ bất trắc, ngoan đà giao long.”

Rõ ràng là lục bát. Có khác chăng là lời thơ bằng Hán tự.

Còn sách Tống Sử có hai câu:

”Đế sĩ Sái Xác hữu công,

Sử chi tòng tự Triết tông miếu đình…”

Cũng lại lục bát. Trước khi nên thơ văn của Việt Nam được phát triển.

Khi nhắc đến vấn đề này, cụ Ngô Tất Tố mượn nhân vật “ Cụ bảng”, thầy dạy học của Đào Vân Hạc trong “Lều chõng”, để bàn như sau:

“ Cũng vì có mấy câu đó cho nên từ xưa đến nay đã có nhiều người cho rằng: lối văn trên sáu dưới tám của ta gốc ở kinh, truyện và sử mà ra. Nhưng theo ý ta, thì nói như vậy có lẽ cũng quá khiên cưỡng. Trời đã sinh ra mỗi nước có một thứ tiếng, thì tất nhiên mỗi nước cũng phải có một điệu hát. Nếu bảo điệu hát lục bát gốc ở kinh, truyện và sử, thì sao ở Tầu lại không có cái thể văn ấy? Tuy vậy, các cụ đời trước nói thế, bây giờ mình cũng hãy hay rằng thế, để rồi kê cứu dần dần, không nên vội vàng bài bác.” – trích “Lều Chõng” của Ngô Tất Tô Tiếp tục đọc

CHONG ĐÈN 
ĐỌC VĂN TẾ THẬP LOẠI CHÚNG SINH

que huong song

Nguyên Lạc
.
(Bài thơ viết cho  ngày rằm tháng bảy để tưởng niệm)
.

Đêm quánh đặc tiếng thời gian tích tắc
Chong đèn khuya đọc lại truyện tử sinh
 (Nguyên Lạc)

*
Còn chi ai quí ai hèn
Còn chi mà nói ai hiền ai ngu
Một phen thay đổi sơn hà
Mảnh thân chiếc lá biết là về đâu” *
.
Chong đèn. đọc truyện Nguyễn Du
Câu thơ trêu khổ. thiên thu lệ người!
Lệ xưa. tháng bảy sụt sùi
Người nay. mùa đến. có vui được nào?
.
Tháng tư ngày ấy. năm nao
Quê hương tan vỡ. biển dâu kiếp đời!
.
Tiền nhân. thảm thiết khóc người
Ta. nay đêm muộn. mượn lời thơ xưa
Chiêu hồn tháng bảy. mưa thưa
Thở dài. tiếng gió lạnh thừa đêm nay!
.
Khêu đèn. cho nỗi sầu dài
Đọc trang thơ cổ. khóc ai mùa về!
“Chúng sinh thập loại” buồn thê!
Thời gian tích tắc. tái tê điếng lòng!
.
Lưng tròng số kiếp trầm luân
Khép trang thơ cổ
Nến hồng lụn tim!
………….
[*] Lời thơ “Văn tế thập loại chúng sinh” – Nguyễn Du 
.
Nguyên Lạc

PHƯỢNG

Nguyên Lạc

ao dai phuong

Có một mùa xa lắm
Phượng nở đỏ góc trường
Ve reo mừng rộn rã
Từng bước nhỏ thân thương

Líu lo giờ tan học
Rực trắng cả con đường
Mắt liếc dao lá trúc
Chém tim ai bị thương!

*
Thương phượng rưng mắt đỏ
Người giờ tìm phương nao?!
Vẫn đường xưa lối cũ
Ve buồn tình trốn đâu?!

Dấu chân nào nho nhỏ
Nhói hồn tôi rất lâu!
Lời yêu không dám ngỏ
Nên hằn rõ trong lòng

*
Chiều nay bên trường cũ
Mười năm rồi phải không?
Mười năm …
Dài có đủ?
Phượng ơi. dù trăm năm!
.
Nguyên Lạc

 

Mời nghe nhạc: PHƯỢNG – thơ Nguyên Lạc, nhạc Mộc Thiêng
http://www.art2all.net/nhac/mocthieng/phuong_nhac_mt.htm

THUYỀN TRĂNG

Nguyên Lạc   

trang3
Vời đó phương đoài. mây trắng bay!
Sông sâu. còn ngút lụa trăng dài?
Ta ở phương này. thương nhớ lắm
Thương. những đường quê. thương lắm thay!
.
Trăng. ở phuơng nầy. sao tối nay
Nửa kia khuyết mất. nửa thuyền say?
Chở. cho ta nhé. sầu ngất ngất 
Đổ. xuống sông kia. khúc tình hoài!
.
Ta. ở nơi nầy. đêm tối nay
Tay. ly rượu đắng. nửa trăng đây
Nửa hồn khuyết mất 
Ừ khuyết mất!
Nửa hồn ở lại… 
Với ly cay!
.
Ta ngỡ. đêm dài sẽ hết thôi
Trăng kia. rồi lặn khuất bên trời
Rượu cay 
sao chẳng làm say mãi?
Đêm vẫn muôn trùng! 
“Mây vẫn bay”!
.
Nguyên Lạc 

Biển Chiều Đợi Mong

Nguyên Lạc

 
dauchantrencat.jpg
.
Nghìn năm vẫn mãi huyễn mong
Bởi em là mộng tôi đành mơ thôi!
.
Nghìn năm em vẫn xa xôi
Sóng chiều biển vắng. tôi ngồi đợì em
Dã tràng xây mộng đời riêng
Xa kia. trời lặn ưu phiền. trốn tôi!
.
Em giờ là mộng thật rồi
Dấu chân trên cát biển đời xóa mau
Trong hồn. vẫn dấu chân nào
Trinh nguyên. em vội bước vào tim tôi 
.
Những chiều biển vắng trông vời
Thấy bao tan vỡ mộng đời vụt qua!
Thấy ai. mỏng mảnh lụa là
Thấy tôi. với bóng chiều tà. biển mong!
.
Chỉ là huyễn mộng phải không?
.
Nguyên Lạc

Liên Khúc Tình Đầu

Nguyên Lạc

aodai 11
I. HỜN DỖI 1

Có chút sầu bi trong mắt em?
Chiều hanh. bên góc vắng êm đềm
Môi ngoan không tiếng. dù than trách
Chết điếng hồn tôi. yêu lắm thêm!
.
Có nỗi niềm chi trong mắt ai?
Lặng im ngồi dõi áng mây trời
Dáng gầy tóc xỏa bờ vai mỏng
Buồn hỡi người ơi buốt tim này!
.
Có giận hờn không trong mắt sâu?
Buồn giăng từng sợi nắng ngang đầu
Ve ơi thôi nhé đừng vang tiếng
Kẻo phượng hồng rơi mắt lệ nào!

*
Hè nơi xứ lạ không phượng thắm
Chỉ tiếng ve thôi đủ đời sầu !
Nhớ ơi mắt lệ chiều xưa ấy!
Có cách nào quên mối tình đầu?!

II. HỜN DỖI 2

Nói đi em. kẻo nắng phai
Chiều nghiêng bóng xế. thở dài với tôi
Khẽ nhe em. chuyện buồn vui
Để tôi vẫn thấy. nụ cười hồn nhiên
Dỗi chi em. để mưa nghiêng?
Thấm tim chút lạnh. lòng phiền muộn thôi!

*
Chiều nay. cô lữ bên trời
Dương lam màu nhớ. một thời đã xa
Nhớ làm sao. mắt lệ nhòa
Thương gì đâu. những xót xa tình đầu!
.
Dại khờ. rồi cũng qua mau
Xuân thu. để lại nỗi sầu tóc ai
Tình đầu. như sợi tóc dài
Dù màu có bạc. vẫn hoài vấn vương!
.
Sợi thương. sao vẫn âm thầm?
Ve sầu. phượng thẩm. nhức lòng tôi chi?
.
Nguyên Lạc 

CHUYỆN TÌNH VÙNG U MINH 

Thư viện của bài

This gallery contains 2 photos.

Nguyên Lạc

CHUYỆN TÌNH VÙNG U MINH 
NAM BỘ QUÊ TÔI (II)

(hình hoa Sứ)

Phần II

CHUYỆN TÌNH 

SƠ LƯỢC CHUYỆN TÌNH VÙNG U MINH

Đây là bài thơ kể lại chuyện tình vùng U Minh nam bộ quê tôi, được gợi hứng từ truyện “Hương Rừng” nổi tiếng của nhà văn Sơn Nam. Xin tóm tắt chuyện như sau:
Di dân từ ngũ Quảng vào lập nghiệp vùng rừng U Minh. Ông Hương giáo có một người con gái duy nhất,  xinh đẹp mà ông rất thương yêu tên Hoàng Mai. Khi Hoàng Mai đến tuổi trăng tròn, hỡi ơi ông phát hiện nàng bị bệnh nan y: Cùi  (bệnh hủi hay bệnh Hansen)
Tìm trong gia phả thấy có ghi: – Luyện thuốc bằng “ngọc” ong mật có thể chữa bệnh cùi. Ông bèn thuê một chàng trai trẻ, làm nghề bắt ong mật đi tìm”ngọc”  để ông luyện thuốc cho con gái yêu. Ông Hương giáo mời chàng trai ở luôn trong nhà cho có bạn. Ngày đêm, ông chong hàng chục ngọn nến bạch lạp chung quanh mớ “ngọc” để luyện, hy vọng rằng khi đúng một ngàn ngày, nó sẽ trị được bịnh nan y của Hoàng Mai. 
Một hôm tại nhà ông Hương giáo, chàng trai gặp nàng, người con gái mỏng mảnh, liêu trai đứng tựa cây sứ cùi, mặt cạnh bên những đóa hoa trẳng nhìn chàng với ánh mắt đầy ân tình. Lòng đầy yêu thương, chàng đến đứng cạnh Hoàng Mai xin được cầm tay nàng.

[ – Anh nắm cái chéo tay áo này, em cũng đủ vui rồi. 
Cảm đông làm sao!…  Tiếp tục đọc

CHUYỆN TÌNH VÙNG U MINH

Thư viện của bài

This gallery contains 12 photos.

CHUYỆN TÌNH VÙNG U MINH
NAM BỘ QUÊ TÔI (I)

Phần I:

VÙNG U MINH 

BÀI THƠ, NHẠC VỀ RỪNG U MINH

Trước khi vào bài, mời các bạn đọc bài thơ và nghe bài nhạc phổ bài thơ này. Bài thơ liên quan đến vùng U Minh. Bài nhạc phổ thơ này theo cảm xúc riêng tôi rất hay, nhưng không biết sao nó không được phổ biến bằng các bài nhạc phổ thơ cùng thời, cùng nhạc sĩ Phạm Duy như bài: “Thà Như Giọt Mưa”, “Kỷ Vật Cho Em” “Chuyện Tình Buồn”… Chắc vì nó không đề cập đến thành phố, trường đại học, quán nhạc đèn vàng… mà chỉ nói về nơi chốn chân chất, quê mùa?
Rừng U Minh Ta Không Thấy Em 
[Thơ Nguyễn Tiến Cung]

Ta không thấy em từ bấy lâu nay
Mùa mưa làm rừng đước dâng đầy
Trên cao gió hát mây như tóc
Tràm đứng như em một dáng gầy

Ta không thấy em một lần đi
Nước phèn vàng nhuộm quần trây-di *
Đạn nổ lùng bùng trong nòng ướt
Tình đã xa rồi thôi nhớ chi

Mỗi con lạch là mỗi xót xa
Mỗi giòng sông là mỗi tuổi già
Thành phố đâu đây hình mất dạng
Cuộc chiến già nua theo tiếng ca…
……..
* Treillis: loại quần bằng vải khaki của quân đội, thường có hoa văn màu xanh thẫm để ngụy trang

Mời nghe nhạc:
Rừng U Minh Ta Không Thấy Em – nhạc Phạm Duy – Khánh Ly
https://youtu.be/Cd7H_ieM85k

RỪNG U MINH
Rừng U Minh nằm sát Vịnh Thái Lan, thuộc hai tỉnh Kiên Giang và tỉnh Cà Mau. Rừng U Minh là kiểu rừng rất đặc thù, được xếp hạng độc đáo và quý hiếm trên thế giới, gồm phần trên là U Minh Thượng, phần dưới là U Minh Hạ. Giữa U Minh Thượng và U Minh Hạ là sông Trẹm và sông Cái Tàu, nơi đây thiên nhiên rất hùng vĩ và hoang sơ.
Rừng U Minh được coi là nơi có giá trị sinh khối cao nhất so với các kiểu rừng khác với khoảng 250 loài thực vật, chủ yếu là cây tràm mọc ở khắp nơi, hơn 180 loài chim, hơn 20 loài bò sát… (Wikipedia) Tiếp tục đọc

ÁO TÍM

Nguyên Lạc

 

DDT1.jpg
tranh Đỗ Duy Tuấn

Vẫn thương nhớ mùa thu áo tím
Tím hoàng hôn. tím ngất hồn tôi
Mỗi thu đến. bao năm hoài kiếm
Chỉ thấy màu gian dối mà thôi!
.
Thôi đã hết mùa thu áo tím 
Hết tự ngày phố đổi màu đau
Thu khóc ngất. lạc bờ tóc bím
Người xa rồi.  màu tím thu nao!
.
Sao nhớ chi mùa thu áo tím?
Sao tìm chi màu tím sân trường?
.
Dù rất biết thời qua khôn kiếm
Dặn lòng. thôi! 
Sao vẫn cứ thương?!
.

 
 

Đại Nghĩa, Quê Hương Tôi

Thư viện của bài

This gallery contains 1 photo.

Biên khảo  Nguyên Lạc

1. Quê hương (danh từ): Đất Nước, nói về một Đất nước mà trong đó có quê (làng, cái nhà) mà mình đã được sinh ra.(Wiktionary)
“Trời sinh ra bác Tản Đà/ Quê hương thời có cửa nhà thì không” (Thú ăn chơi – Tản Đà). “Lòng quê dờn dợn vời con nước/ Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà” (Huy Cận)

2. Trong tùy bút “Lòng yêu nước” của nhà văn Nga Ilya Grigoryevich Ehrenburg (1891- 1967) có viết: “Lòng yêu nước ban đầu là lòng yêu những vật tầm thường nhất: yêu cái cây trồng ở trước nhà, yêu cái phố nhỏ đổ ra bờ sông, yêu vị thơm chua chát của trái lê mùa thu hay mùa có thảo nguyên có hơi rượu mạnh…
Dòng suối đổ vào sông, sông đổ vào dải trường giang Volga, con sông Volga đi ra bể. Lòng yêu nhà, yêu hàng xóm, yêu miền quê trở nên lòng yêu Tổ quốc”. [1]

3. Quê hương qua trích đoạn thơ:

Quê hương. chiếc đò nho nhỏ
Qua sông. kham khổ từng ngày
Thân me vai gầy. gánh khổ
Thương con. chịu nỗi đắng cay
.
Quê hương đong đầy thương nhớ
Ngoại nhai tóm tém trầu cay
Mẹ mày. thằng cháu mất dạy
Rong chơi lêu lỏng suốt ngày
.
Quê hương làm sao không nhớ?
Cầu tre lắt lẻo sớm mai
Đường vui. trống trường réo gọi
Cây cao. chim hót từng bầy
Chia nhau từng viên đạn nhỏ
Bịt mắt. kiếm tìm. Ai đây?
Chia nhau nỗi lo thầy gọi
Nhói đau. thước khẽ bàn tay
Chia nhau trái me keo ngọt
Chia nhau từng tiếng cười đầy Tiếp tục đọc

“DẠ CỔ HOÀI LANG”

Nguyên Lạc  
dan-thieu nu
SÔNG KHUYA 
VẲNG KHÚC “DẠ CỔ HOÀI LANG”
.
Gây chi bao cảnh chia li?
Thanh xuân vĩnh biệt. tan đi mộng đời!
Người từ cuộc lữ xa xôi
Ưu phiền trên tóc. rã rời đôi chân!
Về tìm. hình bóng trăm năm
Chỉ sương khói lạnh!
Khuyết rằm trăng côi!
.
Sầu xuôi. thuyền độc mộc trôi
Dòng đời cô độc.
Biết rồi về đâu?
Về đâu?
Trời nước một màu
Một màu thảm biếc. tím câu tương phùng!
.
Tìm đâu người?
Giấc tình chung!
Sông khuya vẳng khúc não nùng
Hoài lang! (*)
.
Nguyên Lạc
…………….

(*) Trích đoạn bản “Dạ Cổ Hoài Lang” – Cao Văn Lầu
Đường dầu sa ong bướm
Xin đó đừng phụ nghĩa tào khang
Còn đêm luôn trông tin bạn
Ngày mỏi mòn như đá Vọng phu…

@. Mời nghe Hương Lan ca Dạ Cổ Hoài Lang

NỖI NHỚ

Nguyên Lạc

Bien Ho 2

Hồ Miramar ta nhớ quê nao
Có con sông bồi lở bờ nào
Chèo nhặt khoan câu hò da diết
Nhớ lời tình tha thiết đổi trao
.
Hồ dương lam ta nhớ phố nao
Chuyến xe lam chở em ngày nào
Đến thăm anh chiều hanh mắt đợi
Đêm mồ côi điếng ngất tình nhau
.
Hồ riêng ta oán hận năm nao
Nỡ gây chi dâu bể ba đào?
Phố thân quen vẫn chao lòng nhớ?
Hồ Miramar lệ bỗng lưng trào!
……
Miramar Lake ở California 

ĐÊM LY BIỆT

 Nguyên Lạc

1minhnu

Còn đây. một chút muộn màng
Em đem dâng hết. kẻo. tang thương về
Đốt tình. cháy trọn đam mê
Rồi quên đi nhé. lời thề bền lâu!
.
Chắc gì có kiếp đời sau?
Thì thôi. ta hãy. cho nhau kiếp này!
Đôi môi. đẫm ướt. em đây
Thân cong dâng hiến. hãy. say mê tình!
Mai này. đời đó phiêu linh
Giữ riêng. anh nhé. hương tình của em!
.
Tiếng chim sớm. hót bên thềm
Báo người. ngày đến. tiếng buồn từ ly
Biệt ly! người sẽ ra đi
Anh ơi vĩnh biệt!
Chắc chi tương phùng?! 

.
 Nguyên Lạc

CHỮ BẬU TRONG HÒ, CA DAO VÀ LỤC BÁT 

Thư viện của bài

This gallery contains 1 photo.

Nguyên Lạc

Bài viết này là bài thứ 2 trong loạt bài giới thiệu quê hương nam bộ bình dị và thân thương của chúng tôi. Đây là bài 1: Nguyên Lạc: VỀ CHỮ “BẬU”

https://wordpress.com/post/trangvhntnguoncoi.wordpress.com/38576

Trong cuộc Nam tiến, nhiều dòng người từ các nơi đã đến vùng đất mới này sinh cơ lập nghiệp, nhất là những đợt di dân từ đất ngũ Quảng (Quảng Bình, Quảng Trị, Quảng Tín, Quảng Nam và Quảng Ngãi) vào cuối thế kỷ 16 và đầu thế kỷ 17.  Trên bước đường chinh phục hoang vu, từ những chiếc ghe bầu, ghe chài, tam bản, xuồng ba lá… hành trang mang theo của những di  dân này có cả những câu ca dao để làm chỗ dựa tinh thần trên bước đường xa xứ. Lênh đênh sông nước, những hành trang tinh thần này được họ- các tiền nhân –  cách tân, sáng tác thêm cho phù hợp với hoàn cảnh mới của mình, rồi phổ biến rộng rãi. Chữ “bậu” đặc biệt của nam bộ xuẩt hiện trong ca dao. Những câu hò, điệu lý… từ những ca dao này được hình thành. Tôi xin được tiếp tục giới thiệu đến các bạn sơ lược về hò và một số bài lục bát ca dao có chữ “bậu” thân thương này.

.
SƠ LƯỢC VỀ HÒ
.
Hò là một trong những thể loại âm nhạc dân gian miền nam Việt Nam, được du nhập bởi những đợt di dân từ đất ngũ Quảng, từ vùng ngoài đưa vô vùng đất mới phía cực nam của đất nước ta.
Hò rất được ưa chuộng ở miền nam vì có sức hấp dẫn lạ thường. Chúng tôi xin tạm phân làm ba loại hò: Hò trên cạn, hò trên sông nước và hò giao duyên hay đối đáp. Tiếp tục đọc

VỀ CHỮ “BẬU”

Thư viện của bài

This gallery contains 1 photo.

Nguyên Lạc 

“Bậu” là tiếng dân dã, tiếng thân yêu của vùng tây nam bộ chúng tôi. Mỗi lần nghe ai nói, hoặc gặp trong thơ văn là lòng tôi cảm thấy bồi hồi. Tiếng”Bậu” nầy hinh như bây giờ trong nước ít ai dùng, ít ai nhắc đến! Tại sao? Vì quê mùa? Tôi xin được tìm hiểu và giới thiệu đến các bạn vài bài thơ có liên quan đến chữ “Bậu” thân yêu nầy.
.
ĐỊNH NGHĨA CHỮ BẬU
.
1. Chữ BẬU trong sách vở

Trong các sách vở khi định nghĩa “Bậu”: 
– Bậu: Chữ nôm, nghĩa:  Em, mầy như chữ em bậu, bậu bạn (bạn hữu chung cùng; đi theo nhau, hôm sớm có nhau), qua bậu (Tao mầy (tiếng nói thân thiết) như lớn nói với nhỏ, chồng nói với vợ)(1)
– Bậu chỉ người nói chuyện với mình khác phái, có ý thương mến, thân mật(2) 
– Bậu chữ được dùng như tiếng “em”, tiếng gọi vợ, hoặc nhân tình, hay em bạn”(3)
–  Bậu (danh từ) (xưa): tiếng thân kêu vợ mình.(4)
(Theo Hai Trầu – Lương Thư Trung)
.
2. Chữ BẬU theo cảm xúc của thi nhân

Xin được trích đoạn ra đầy ý nghĩ, cảm xúc về chữ BẬU của thi sĩ Lê Văn Trung:
.
[… Không biết các nhà ngôn ngữ học giải nghĩa “bậu” như thế nào, tôi vẵn đinh ninh rằng : dù giải nghĩa thế nào đi nữa cũng không thể lột tả hết ý nghĩa tình cảm sâu đậm thiết tha mà đầy thương cảm của đại danh từ ngôi hai nầy. Tiếp tục đọc

Đêm Đông lạnh nhớ mưa Thu

Nguyên Lạc

thu la vang

“Vũ vô kiềm tỏa năng lưu khách
Sắc bất ba đào dị nịch nhân” (*)

.
Lột thơ
lộ ngực nguyệt rằm
Hôn em
nhan sắc hương trầm nhung tơ
Tay xuôi
hé nụ quỳnh mơ
Điếng đôi mắt nhắm
ngọt bờ môi son
.
Ơn em
điếng ngất thân cong!
Đôi tay cuống quýt
ghì ôm ân tình!
Thương yêu chẳng chút ngại ngần
Nguyên trinh thơ dại ân cần trao nhau!
.
Đêm thu. mưa trói chân nào
Thương ai ngấn lệ. nỗi sầu hiến dâng
Đời rồi dù có phù vân
Xuân thu sương điểm. vẫn ngần trầm hương !
.
Có người tuyết lạnh tứ phương
Nhớ ai nhan sắc nguyệt rằm đêm xưa!
Phuơng người đời có đẩy đưa?
Nguyệt rằm vẫn rạng?
nắng mưa lưng còng?
.
Đêm nay băng tuyết trổ bông!
Người đời cô lữ chạnh lòng mưa thu!
.
Nguyên Lạc
……………
[*] [Gió mưa không có then khóa mà giữ được khách/ Nhan sắc không phải sóng lớn mà dìm chết người](Đàm Thuận Huy, Nguyễn Giản Thanh)

LOẠN BÚT VỀ TỬU SẮC (2)

Thư viện của bài

This gallery contains 1 photo.

Nguyên Lạc

Thả tiếu:

Nhân sinh hàm khổ lụy
 Y phạn tích bại thành
Phóng thủ vạn sự tuyệt
Đắc tiếu, tiếu nhất thanh.

Hãy Cười:

Kiếp người nhiều khổ nhọc,
Cơm áo lắm được thua,
Buông tay muôn việc hết,
Ðùa được, thì cứ đùa!
(Nguyên tác và dịch Hạt Cát)

Đời như giấc chiêm bao : “Xử thế nhược đại mộng” – Lý Bạch. Hãy vui lên đi, hãy nâng ly lên cùng nhau hát:  ” Một chăm em ơi, chiều nay một chăm  phần chăm…”, rồi cùng Nguyên Lạc tui cười giỡn chút chơi.

CÙNG UỐNG RƯỢU

Thưa các bạn, trong bài trước Nguyên Lạc tôi dùng nhiều điển tích của “nước lạ” nên có nhiều bạn phản hồi rằng: – Sao khi bàn tới Tửu Sắc/Rượu Tình, ông hay dùng văn chương Tiếp tục đọc

Lời Vĩnh Biệt / Tiễn Người

Nguyên Lạc

ToThuyYen-01

Tranh Đinh Cường

(Thương tiếc thi sĩ Tô Thùy Yên)

Riêng người đây một nén hương!
Tiếc chàng thi sĩ vô thường tan mau
Biếc chiều nghiêng nắ́ng ngang đầu
Chiêu hồn chuông gọi lời đau đến người!
Mắt đầy sương khói chiều rơi
Tiếng chiều đồng vọng người ơi nghìn trùng!
.
“Tam Giang” rày đã cạn cùng!
“Trường Sa chếnh choáng” “Anh Hùng Tận” ôi! [*]
.
Xin người an ngủ đi thôi!
” Ta Về” “nghe nặng đất trời từ tâm” [**’
,,,,,,,,,,
[*] Tên một số bài thơ của thi sĩ Tô Thùy Yên: Chiều trên Phá Tam Giang/ Trường Sa Hành/ Anh Hùng Tận…
[**] Nghe nặng từ tâm lượng đất trời.- Ta Về

TIỄN NGƯỜI
.
(Tiễn biệt Tô Thùy Yên)
.
Đất trời gầy cuộc ly tan
Tôi mang áo trắng khăn tang tiễn người
Nắng chiều nhuộm tím bờ vai
Lay hồn tám sải chuông hoài vọng âm
.
Người đi vào cõi hư không
Để vần thơ lại muôn năm cho đời
“Ta về”. về với đất trời
“Từ tâm vô lượng” những lời “nở hoa”
.
“Cảm ơn hoa nở vì ta”
“Mười năm ta vẫn cứ là ta” thôi!
“Một lần kể lại rồi thôi”
“Ðành không trải hết lòng” tôi với người!
.
“Vầng trăng tiếc cuộc rong chơi”
“Tiếc đời hữu hạn”. lẻ loi. “Ta về”!
…….
(” “) Một số lời thơ trong bài “Ta Về” của Tô Thùy Yên

Nguyên Lạc

QUẺ DỊCH: CÁCH BẤM ĐỘN – (Bài 5)

Thư viện của bài

This gallery contains 3 photos.

 Nguyên Lạc

Bấm độn không có gì huyền bí, đặc biệt giành riêng cho các ông “cõi trên” tài giỏi như trong truyện giả tưởng Phong Thần của Trung Quốc viết, hoặc lời lẽ của các ông thầy bói (giả) tuyên truyền;  các bạn tự mình có thể bấm độn được sau khi xem kỹ bài này!

Đây là ghi chú thêm cho bài Quẻ Dịch về Bấm Độn, tôi tham khảo từ: THS.BS Kiều Xuân Dũng cùng với sự tìm tòi thêm của mình, xin ghi ra đây.

CÁC ĐIỀU CẦN NHỚ

Trước hết, xin các bạn chú ý kỹ Hậu Thiên Bát Quái, thuộc lòng vị trí của các Quẻ (đơn) và nhớ kỹ số của Bát quái (được ghi ra ở dưới) Tiếp tục đọc

QUẺ DỊCH- Bài 4

Thư viện của bài

This gallery contains 1 photo.

 Nguyên Lạc 
QUẺ DỊCH: CÁCH LẬP VÀ GIẢI ĐOÁN (tt)                                             
GIẢI ĐOÁN QUẺ
“Quẻ vạch đã lập, liền có lành dữ vì là Âm Dương đi lại giao thác ở trong. Thời của nó thì có tiêu đi, lớn lên khác nhau: cái lớn lên là chủ, cái tiêu đi là khách; việc của nó hoặc có nên chăng khác nhau, cái nên là thiện, cái chăng là ác. Theo chỗ chủ khách thiện ác mà phân biệt thì sự lành, dữ sẽ rõ. Vì vậy nói rằng: Tám Quẻ định sự lành dữ. Sự lành dữ đã quyết định không sai, thì dùng nó để dựng các việc, nghiệp lớn sẽ từ đó sinh ra. Đó là thánh nhân làm ra Kinh Dịch, dạy dân xem bói, để mở cái ngu của thiên hạ, để định cái chí của thiên hạ, để làm nên các việc của thiên hạ, là thế. Có điều từ Phục Hy về trước chỉ có sáu vạch, chưa có văn tự truyền được; rồi đến Văn vương Chu công mới đèo thêm lời, cho nên nói rằng: “Thánh nhân đặt quái xem Tượng, đèo Lời vào để tỏ lành dữ”. Khi Quẻ chưa vạch, nhân xem pháp tượng tự nhiên của trời đất mà vạch ra; đến lúc Quẻ đã vạch rồi, thì quẻ nào riêng có Tượng của quẻ ấy. Tượng nghĩa là có chỗ giống giống, cho nên thánh nhân mới theo tượng đó mà đặt ra tên. Văn vương coi hình tượng của quái thể mà làm Thoán từ. Chu công coi sự biến đổi của quái hào, mà làm Hào từ, cái Tượng của sự lành dữ lại càng rõ rệt.” (Ngô Tất Tố)

Như đã biết ở trên, Thoán từ và Hào từ  quá đơn giản, ít ai hiểu, nên người đời sau phải chú thích thêm,  tổng hợp thành bản Thập dực. . Thập  dực còn được gọi là Thập  truyện (truyện là giải thích). Đại truyện giải thích Thoán từ,  Tiểu truyện giải thích Hào từ. Tiếp tục đọc

Vẫn màu tím xưa

Thư viện của bài

This gallery contains 1 photo.

Nguyên Lac

Tím chi. tím đến nôn nao!
Tím ai. trọn giấc chiêm bao. đêm nằm!
Tím em mắt biếc. môi hồng
Tím em. điếng mộng. xô hồn tôi xiêu!
Tím thêm em nhé. tím nhiều!
Tim tôi mở cửa. đón chào tím ai
.
Bằng lăng hoa tím bay bay
Gió ơi. sao thổi tình ai bay vèo!
Tiếp tục đọc

Phượng hồng trường cũ

Nguyên Lac
Phuon
Nhớ chi. chiều nắng tan trường?
Để lòng thờ thẫn. phượng hồng rơi rơi!
Khi. em nở nụ son môi
Thấy. tôi run rẩy. một đời cuồng si!
Yêu chi. dáng mỏng xuân thì?
Tóc mây hờn dỗi?
Trói ghì đời riêng!
.
Khi em. tình khúc muộn phiền
Hồn tôi. ngày tháng tầm ruồng. ngu ngơ!
Mắt môi. trọn những trang thơ
Đầy đêm chong mắ́t. hoài mơ tình đầu!
.
Tình giờ sương khói. tan mau!
Để tôi ở lại. tiếc màu thời gian
.
Phượng hồng. hoa rụng đỏ sân!
Có người. trường cũ. thấy hồn mưa rơi!
Hè. sao nỗi lạnh người ơi?!
Đường xưa
Phố cũ…
Tình tôi đâu rồi?!
.
Nguyên Lac

Rượu chiêu hồn

Nguyên Lạc

 

trang3
Tháng Ba Gãy Súng” một thời [*]
Một cơn cuồng nộ. một trời can qua
Mấy mươi năm vẫn xót xa
Bạn bè chiến hữu lệ nhòa. máu rơi
Tháng Tư!
Yên ngủ đi thôi!
Này đây!
 Nghiêng chén ly bôi. ta mời!
Sao. như còn đó tiếng cười?
Mộng đời tuổi trẻ. vá trời lấp sông
Động chiều. tám sải hồng chung
Nhắc người 
Sinh. Tử. Có. Không. Vô thường
Chiêu hồn chiến hữu. mười phương
Vĩnh hằng. miên viễn… 
Bình thường. An nhiên!
Nguyên Lạc  
……………….
[*]. Tên sách “Tháng Ba Gãy Súng” – hồi ký Cao Xuân Huy: Ghi lại cuộc tàn sát các người lính Thủy Quân Lục Chiến (VNCH) tháng 3, 1975 tại cửa biển Thuận An – Quảng Tri (bởi chiến binh CS – VN) Đa số các TQLC còn lại bị bắt làm tù binh.
Có thể đọc truyện tại đây:

Để Trả Lời Một Câu Nói

Thư viện của bài

This gallery contains 1 photo.

Nguyên Lạc

ĐỂ TRẢ LỜI MỘT CÂU NÓI

VỀ MỘT CÂU NÓI
Trong bài thơ CHUYỆN THÁNG TƯ QUÊ TÔI : MỘT THỜI EM TÔI, liên hệ đến “thân phận” các gia đình bị xếp vào thành phần “ngụy quân”, tôi có dùng các câu ca dao như quotes (lời trích dẫn) – “câu dẫn” – để giới thiệu; và khổ 1 – “phục bút”- dùng để “dẫn dụ” đưa vào nội dung rồi khổ cuối; một bạn thơ XYZ (xin được dấu tên) đã nói với tôi, đại ý : “Cải lương”, “sến” đưa vào làm chi?”.
Đây là bài viết tôi trả lời bạn.
Xin được dẫn ra đây bài thơ liên hệ:

CHUYỆN THÁNG TƯ QUÊ TÔI

MỘT THỜI EM TÔI
.
“Bìm bịp kêu nước lớn anh ơi
Buôn bán không lời, chèo chống mỏi mê” (ca dao)
.
Nhánh lục bình trổ chùm bông tím biếc
Vướng bãi bùn khóc dòng xiết trôi xa!
Con thòi lòi trố mắt nhìn thương tiếc
Bỗng giật mình trái bần rụng chiều tà

***
Người về đâu lệ lưng tròng rưng rức
Bỏ lại sau bờ bến khói sương và…
Xuôi về đâu chiều bóng ngả bờ xa?
Buồn con nước bìm bịp kêu đôi tiếng!
.
Người năm cũ đâu còn áo lụa!
Trên dòng kinh bờ lở bờ bồi
Đôi mái chèo cùng đứa con côi
Vạt tóc khét lưng còng đời cô phụ!
Tiếp tục đọc

Starbucks Coffe Đêm Tuyết

Nguyên Lạc

van gogh

” Rã rời tôi dọc theo đường khổ
Đại lộ buồn những giấc mơ tan 
Cười đêm nay mai sẽ lệ tràn
Khi thấy mộng thanh xuân vụn vỡ ” [*]
*
Quán đêm
Góc vắng
Đèn vàng
Ly càphê đắng
Bàng hoàng mắt trông!
Kính ngoài
Tuyết trắng trổ bông
Tôi trong
Thinh lặng
Thấy hồn vỡ theo!
.
Quán 
Người
thủ thỉ tình trao
Góc 
Tôi cô độc!
Đắng theo giọt sầu!
.
Có gì đâu? 
Biệt ly nhau!
Tiếng buồn nức nở
khúc đau mộng tàn
Con đường vỡ mộng thanh xuân” [*]
.
Yêu thương thời đó…
đã từng thiết tha
Ơn ai 
dâng hiến đêm mưa!
Oán đời dâu bể 
đuổi xua ta. người!
.
Đêm đông
Quán vắng 
Góc ngồi
Ngoài kia tuyết trắng 
Trong tôi một thời!
Vẫn tôi. một thuở yêu người
Dù màu tóc khổ. đổi dời xuân thu
.
Trách ai gây cảnh ngục tù!
Phân chia giai cấp hận thù giết nhau!
Tháng Tư
Vùi xác ba đào!
Sinh ly
Tử biệt! 
Kiếp nào tình chung?!
.
Tuyết rơi  
đêm trắng muôn trùng!
Người ơi! 
Nhan sắc! 
Trùng phùng kiếp sau?!
.
Nguyên Lạc
……………….
[*] Thơ kết hợp theo lời nhạc: Boulevard of Broken Dreams – Diana Krall
I walk along the street of sorrow 
The boulevard of broken dream
You laugh to night and cry tomorrow
When you behold your shattered dream 

CHUYỆN THÁNG TƯ QUÊ TÔI 2

Thư viện của bài

This gallery contains 1 photo.

Nguyên Lạc
RA ĐI. VỀ TÌM
.
Tang thương một thuở ba đào
Trùng khơi sóng dữ xác nào vùi sâu!
(Nguyên Lạc)

1.
Đêm nay chợt nhớ con kính
Hai bờ dừa nước. dòng tình xuôi êm
Hậu Thạnh đồng lúa êm đềm
Anh ra Đại Ngãi tìm em má hồng
Trường xưa. còn nhớ hay không?
Phượng hồng. mắt biếc. tình nồng. duyên quê
.
Tháng Tư. dâu bể não nề!
Chồng đi “cải tạo”. em về quê xưa
Lưng còng. sáng nắng. chiều mưa
Trên dòng kinh cũ. sớm khuya tảo tần
Nuôi con. ngấn lệ. đợi chồng
Đợi bao năm nữa? Tiếp tục đọc

Một Thời Em Tôi

CHUYỆN THÁNG TƯ QUÊ TÔI
.
(Gởi Trần Phù Thế)
*
“Ai muốn chép công ta chép oán,
Công riêng ai đó oán ta chung” (Vô danh thị)
.
I. MỘT THỜI EM TÔI 
.
“Bìm bịp kêu nước lớn anh ơi
Buôn bán không lời, chèo chống mỏi mê” (ca dao)
.
*
Nhánh lục bình trổ chùm bông tím biếc
Vướng bãi bùn khóc dòng xiết trôi xa!
Con thòi lòi trố mắt nhìn thương tiếc
Bỗng giật mình trái bần rụng chiều tà
.
*
Người về đâu lệ lưng tròng rưng rức
Bỏ lại sau bờ bến khói sương và…
Xuôi về đâu chiều bóng ngả bờ xa?
Buồn con nước bìm bịp kêu đôi tiếng!
.
Người năm cũ đâu còn áo lụa!
Trên dòng kinh bờ lở bờ bồi
Đôi mái chèo cùng đứa con côi
Vạt tóc khét lưng còng đời cô phụ!
.
Người năm cũ đâu còn cười nụ
Bên dòng đời khóc nỗi tàn phai!
Người “chinh phu” trên ngàn đẵn gỗ [*]
Ngày khổ sai lệ đổ đêm dài!
.
Ai gây chi đớn đau dâu bể?
Để em tôi cơ khổ phận người!
Để héo hon tuổi mộng đôi mươi
Trang đài cũ tả tơi theo năm tháng!
.
*
Tháng Tư chi?
Nhân sinh đầy khổ nạn
Ký ức ơi! 
Chứng tích đến khi nào?
Làm cách gì? 
Biết làm sao?
Ai níu được mây trắng bay… bay… 
Mãi…!
.
Nguyên Lạc  
………
[*] Trại “cải tạo”:Chém tre, đẵn gỗ trên ngàn/ Hữu thân, hữu khổ phàn nàn cùng ai?!
(Ba năm trấn thủ lưu đồn – Khuyết danh)
………
(Còn tiếp bài 2: “Ra đi, Về tìm”)

Làm Sao Quên Được

Nguyên Lạc

codon

Sâu trong tiềm thức… 
vẫn còn
Bao nhiêu năm nữa? 
ta quên một thời!
Tháng Tư…
một thuở xa người!
Đêm nay 
nến lệ khóc đời…
oan khiên!
.
Vô thường. Không. Sắc
Tâm kinh
Cố quên. ta tụng…
Nhưng hình như không!
.
Làm sao quên được… 
mà mong?
Tháng Tư về lại. xát lòng. nỗi đau!
.
Xót xa 
dâu bể thuở nào
Người ơi chứng tích…
ngàn sau vẫn còn!
.
Nguyên Lạc

Sao Nỡ Phụ Em

Nguyên Lạc

ao dai dai
(viết cho mối tình vô vọng của Khê Kinh Kha)
.
Anh quên em rồi có phải thế không?
Thành phố không anh đường vắng âm thầm
Một bóng quạnh hiu đèn vàng rưng mắt
Quán vắng nhạc buồn xa cách tình nhân!
.
Anh quên em rồi có phải không anh?
Quên mất đôi môi dâng hiến nồng nàn
Giờ chỉ khô cằn màu son phai nhạt
Quay quắt đêm buồn chăn chiếu lạnh căm!
.
Anh phụ em rồi trả lời đi anh?
Sao nỡ lạnh lùng bóp nát tim em?
Thiếu vắng anh rồi ngày dài hoang vắng
Rưng rức đêm buồn hiu hắt vầng trăng
.
Anh phụ thật rồi chắc thế phải không?
Quên mất thật rồi lời hứa trăm năm!
Tan vỡ thật rồi cuộc tình tuổi mộng!
Đời vắng anh rồi còn lại mùa đông!
.
Nguyên Lạc  
…………….
@. Mời nghe:
Anh đã phụ em – nhạc và thơ Khê Kinh Kha

Nguyên Lạc: Những Giòng Thơ Tháng Tư

Thư viện của bài

Nguyên Lạc 

MỜI NHAU CẠN CHÉN THÁNG TƯ

Rượu sầu
ly rót mời ai?
Giọt cay  
giọt đắng
giọt hoài nhớ thương! 
giọt mong 
men chín toả hương
giọt ly 
giọt biệt…

Cố nhân phương nào?
Bạn bè miên viễn 
nơi nao?

Mời nhau cạn chén 
trút sầu… tháng Tư!
Tiếp tục đọc

Tháng Tư Oan Nghiệt

Nguyên Lạc

chuachua-5
(Tưởng niệm cha: Nguyễn Văn Hỷ – chết trong ngục tù CS sau 1975 – vì tôn giáo)
 
Tay nâng chén rượu chiều này
Mời ai chẳng biết…
thôi
mời bóng ta!
Buồn ai mây vội bay xa?
Để người đầy mắt. bóng tà huy phai!
.
Sương đời thấm lạnh hai vai
Tiếng chiều đồng vọng 
chuông dài gọi khuya
Quên đi
dâu bể não nề!     
Đoạn trường
sao vẫn tìm về đêm nay?!
.
Góc đêm một bóng đổ dài
Muôn trùng điệp khúc 
tình hoài thảm thê!
Chiêu hồn. văn tế người cha!
Tháng Tư oan nghiệt 
Xót xa ngục tù!
Ngụy ngôn. tôn giáo hận thù
Người rồi miên viễn. thiên thu kiếp đời!
.
Rót tôi thêm. chén đầy 
vơi…
Rượu say sao chẳng?!  
Để thôi 
một thời…
.
Nghiệt oan!
Oan nghiệt cha ơi!
Nơi miền miên viễn… 
Xin người cố an!
.
Nguyên Lạc

  

MỜI RƯỢU THÁNG TƯ

Thư viện của bài

This gallery contains 1 photo.

1. Mời rượu 

(Tưởng niệm anh Tr/úy Nguyễn Văn Yên – vượt trại”cải tạo” Chi Lăng, 1976, mất tích!)

*
Nâng mày. đây chén rượu cay
Hận trời. sao nỡ. giàn bày cuộc đau
Tháng Tư. người vội lệ trào
Một cơn bão loạn. nát nhầu tình ai?!

Chiến hào xưa. vẫn mãi hoài
Bạn xưa nay đếm. một vài. lệ rơi!
Thôi người ơi. thôi tôi ơi!
Xa miền miên viễn. xin người cố vui!

Này đây. một chén ly bôi!
Hồn xưa người hỡi. rượu đây ta mời!

Hình như. có tiếng lá rơi!
Một cơn cuồng nộ. thổi đời ai bay?!
Tiếp tục đọc

Vành tang tháng Tư

Nguyên Lạc  

30thang4
“Vành tang cho Tháng Tư Đen
Xin cho người cõi Vĩnh Hằng ngủ yên
Quên đi thù hận oan khiên
Để hồn thanh thản về miền hư vô” [*]
*
Quên đi! 
Có nghĩa chưa quên
Xin cho yên ngủ 
Oan khiên vẫn đầy!
Vành tang. ta khóc ai đây?
Bạn bè chiến hữu. từ ngày tang thương!
.
Tâm kinh 
tụng khúc vô thường
Tế Văn Thập Loại [*]
giải oan cho hồn 
Tháng Tư dâu bể đoạn trường
Cầu mong hồn 
cõi vĩnh hằng 
an nhiên!
.
Nguyên Lạc  
…………..
 [*] Thơ Dư Mỹ
[**] Văn Tế Thập Loại Chúng Sinh – Nguyễn Du

QUẺ DỊCH: CÁCH LẬP VÀ GIẢI ĐOÁN (bài 3)

Thư viện của bài

This gallery contains 5 photos.

Trước khi vào bài, tặng bạn câu này:

Tôi tin rằng trong tất cả mọi trình độ của xã hội – gia đình, quốc gia, và quốc tế – chìa khóa cho một thế giới tốt đẹp hơn, hạnh phúc hơn là lòng đại bi. Không nhất thiết để đi theo một tôn giáo, hay tin tưởng trong một hệ tư tưởng nào. Điều quan trọng là phát triển những phẩm chất nhân bản tối đa như có thể. Từ bi, là điều đôi khi tôi cũng gọi là tình cảm con người, là nhân tố quyết định của đời sống chúng ta!   (Đạt Lai Lạt Ma)

                                                   ***

Bạn hiền! thế là chúng ta đã dạo vòng qua đại cương về Dịch! Đó là những điểm cần cho chúng ta đi vào phần rất lý thú: Bói quẻ và Giải đoán. Nếu các bạn chưa thông, xin các bạn trở ngược lại nghiên cứu thêm lần nữa.

 Phần II. BÓI QUẺ DỊCH

NGHI THỨC BÓI và LUẬT CẢMỨNG
Việc bói muốn thành công phải có lễ nghi và thành khẩn. Trong bói ( bốc, phệ…) có luật cảm ứng. Người xin quẻ(the inquirer) để bói phải cảm (tức là thành khẩn) thì thần minh (Dịch) mới ứng (đáp ứng, trả lời). Sự thành khẩn phải thể hiện cụ thể, từ thái độ trân trọng vật để bói cho đến nghi thức tiến hành phép bói:

Khi không dùng, Kinh Dịch nên được bọc lại sạch sẽbằng vải hay lụa (lụa điều – rose silk- tốt nhất) và để ởchỗcao thích hợp, không được thấp hơn vai người lớn đứng thẳng. Các thẻbói (nếu bói bằng cỏ thi) hoặc ba đồng tiền (nếu bói bằng đồng tiền) được đặt trong hộp có nắp đậy và không được dùng cho mục đích khác. Tiếp tục đọc