Ăn Tết Muộn

MANG VIÊN LONG

 

y nghia tet3

 

Trung và Ái My vẫn chọn thị xã vùng biển Ninh Hòa làm nơi ăn Tết như hai năm trước, tuy biết rằng, qua cơn bão số 12 và nhiều cơn lũ tiếp theo, đã làm nhiều xã vùng ven đã nghèo, càng thêm xơ xác, tiêu điều; thị xã cũng bị nhiều ảnh hưởng nặng nề. Cơn bão số 12 đổ bộ vào thị xã Ninh Hòa với sức gió trên 100 km/h, đã khiến hàng nghìn nhà bị tốc mái, hư hỏng nặng. Các phường Phước Hải, Ninh Diêm, Ninh Thủy nằm ven biển, là nơi hứng chịu thiệt hại nặng nhất của thị xã Ninh Hòa. Nhiều nhà bị sập hoàn toàn không có nơi tạm trú, Nhiều gia đình kiếm sống bằng nghề nhặt ve chai, làm thuê, các nghề phục vụ không ổn định, qua bão tài sản không còn gì, đang đứng trước cảnh nghèo đói mà không thể xoay sở được! Theo thống kê của tỉnh Khánh Hòa,với sức gió cao nhất đạt cấp 12, giật cấp 15 kèm theo mưa lớn khiến 27 người chết, 5 người mất tích, 89 người bị thương; trên 10.000 căn nhà bị sập và hư hỏng; 3.826 ha diện tích lúa bị ngập và 6.258 ha diện tích hoa màu các loại bị ngập, hư hại; 44.320 lồng và 3.270 bè nuôi tôm cá bị trôi hoàn toàn.
Ái My nói:
– Mấy ngày ăn Tết ở đây, em muốn anh đưa em đến thăm…
– Những nơi nào?
– Ngôi trường mà em đã dạy…
– Còn nơi nào nữa không?
– Thăm gia đình anh Thành…
– Có muốn thăm gia đình “nhà chồng cũ” không?
Nhận ra trên gương mặt tươi sáng hồn nhiên của Ái My bỗng như có những đám mây đen lướt qua, Trung biết mình đã lỡ lời. Anh nắm tay nàng: “Bảy ngày ăn Tết ở đây, chúng ta chỉ cần sự yên tĩnh, còn chuyện đi thăm nơi này, nơi nọ, tùy duyên thôi em ạ!” – “Dạ” – Ái My khẽ cười.
***
Năm 81, Trung gặp Ái My lần đầu ở nhà Thành – cách nay đã hơn ba mươi năm. Ngày ấy, Ái My vừa mới ra trường, đến nhận việc nơi ngôi trường Thành đang làm hiệu trưởng. Trung ghé thăm Thành vì đang có dịp công tác ở Nha Trang. Thành hiền, học chăm, không có gì đặc biệt; nhưng Trung lại rất quý sự chơn chất có chút quê mùa ở Thành từ thời trung học. Sau bao năm, ngoài “nghề” dạy học, Thành còn có thêm “nghề” xem quẻ kinh Dịch, rất kinh nghiệm, và uy tín. Hỏi thăm nhà thầy giáo Thành ở Ninh Đông, bà con đều hỏi “Có phải ông thầy coi quẻ kinh Dịch không?”. Xem ra, nghề “xem quẻ” lại nổi tiếng hơn, có ăn hơn nghề thầy giáo. Trung đã có dịp “thử tài” Thành khi nhờ Thành xem giúp đường “tình duyên” của mình, còn danh vọng, tài lộc thì xin miễn, bởi Trung có “ăn gì” đâu, ngoài những tờ giấy? Sau một lúc hý hoáy vẽ sơ đồ, Thành ngước nhìn thẳng lên mặt Trung: “Tuổi thân rất khổ về đường tình duyên, cậu ạ. Phải hai, hay ba lần dang dở, mới yên được!”. Nghe Thành nói, Trung nhận ra Thành đã nói đúng! Cái khổ thân xác chẳng có gì phải bận tâm, nhưng nỗi ưu tư phiền não, đã khiến anh mang phải chứng bệnh mất ngủ mãn tính, không có thuốc nào chữa dứt!
Ái My gọi Thành là “thầy” và cũng gọi Trung là “thầy” luôn. Nàng hồn nhiên, vui tươi, như không nhớ mình đang là một cô giáo cấp ba. Gặp Ái My lần ấy, Trung không có cảm giác gì đặc biệt, ngoài nhận ra ở nàng sự trong sáng, chân tình. Nhưng sau đó không lâu, lúc nhận được Thiệp hồng báo tin ngày Vu quy của nàng, rồi cũng tiếp theo khoảng ba năm, nhận được từ Thành tin nàng đã ly hôn – Trung mới cảm thấy rất thương quý nàng. Một con người hiền thục, hồn nhiên, có tâm từ như Ái My sao lại phải gặp cảnh bất hạnh vậy? Theo lời kể của Thành, nàng được chàng trai của một gia đình giàu có người gốc Hoa ở đây săn đón, theo đuổi. Thành cười, nhắc lại câu ca dao: “Gái khôn, trai dỗ, lâu buồn cũng xiêu!”, nên Ái My đã chấp thuận, bởi nếu sống quanh quẩn trong cái thị trấn bé nhỏ nầy, thì khó tìm ai hơn vậy!
Thời gian sau, gia đình chàng trai được đi ra nước ngoài theo diện người Việt gốc Hoa, nhưng Ái My chưa có tên trong hộ khẩu, nên không thể theo chồng được. Nàng vui lòng chờ đợi ngày bảo lãnh như bao người khác, nhưng không hiểu sao, bà mẹ chồng lại yêu cầu nàng ưng thuận ký vào giấy xin ly hôn với con trai bà, trước ngày rời nước. Ái My cầm tờ đơn hỏi ý chồng, được trả lời ngắn ngủi: “Em làm theo lời mẹ đi!”. Chuyện đến và đi đơn giản vậy, nhưng với Ái My là một lần vấp ngã khủng khiếp. Nàng hụt hẫng, suy nhược, và ưu phiền suốt năm, rồi ngã bệnh. Trong một lần gọi thăm Trung bất ngờ, Thành đã hé lộ cho Trung biết tin từ những thân còn lại của gia đình chồng nàng, rằng Ái My được chẩn đoán trước đó là nàng không thể sanh con được. Tin nầy, có lẽ, Ái My cũng vẫn chưa biết được chăng?
Trung đã gởi cho nàng một thư điện tử, khá dài, chia sẻ nỗi đau, cảm thông và khích lệ nàng hãy vui sống. “Ông trời còn cho em một cơ hội tốt đẹp hơn, là ngày mai, em ạ!” Ái My không trả lời bằng email, mà gọi qua Viber, trò chuyện với anh tưởng như không dứt ra được. Nàng như người đang trôi dạt trên dòng sông chảy xiết, bám được bè gỗ. Trung biểt nàng đang bị suy tim, nghẽn động mạch chủ, đang nằm điều trị ở bệnh viện đa khoa Phan Thiết, chờ chuyển vào Chợ Rẫy; cuộc sống đang rất mong manh. càng khiến anh thương quý nàng, không thể rời xa, như một định số.
Một hôm, nghe nàng nói trong hơi thở nặng nhọc: “Em muốn được nói chuyện với anh, cho dầu sau khi nói, em có thể chết bất cứ lúc nào anh ạ! Xin anh hãy nghe em…” – Trung đã quyết định đến thăm nàng ngay sau đó.
Hai năm qua, họ đã trải lòng yêu thương qua email, những cuộc gọi, tin nhắn, và một năm một lần được “ăn Tết” ở nơi tùy thích; từ ngày Ái My được xuất viện, và bệnh tim của nàng dần dần ổn định, khỏe mạnh, dầu không hề can thiệp bằng phẩu thuật như đề nghị của bệnh viện. Nàng đã luôn nhắc với Trung, trong những lần trò chuyện, tâm sự: “Nhờ tình yêu thương mầu nhiệm của anh, mà em đã khỏe hẳn lên, yêu cuộc sống nầy gấp bội anh ạ!”. Còn Trung, luôn nói: ”Anh cũng rất cảm ơn em – viên thuốc an thần kỳ diệu, vô giá của anh!”.

***

Căn phòng B-07 của khách sạn Viễn Đông dường như luôn dành sẵn cho họ, mỗi lần ghé lại. Có lần, vào phòng Lễ Tân hỏi lấy phòng, nhìn thấy khách đang ở đông, Trung nghĩ đã hết, nhưng cô tiếp tân mỉm cười, chìa ra trước mặt anh xâu chìa khóa của phòng B-07. Ái My cũng ngạc nhiên, tròn xoe mắt nhìn Trung: “Đúng là duyên số đã định rồi, anh!”.
Vào phòng B-07 – cả hai đều có cảm giác an vui như được trở về “nhà xưa” của mình. Họ ôm chầm lấy nhau, như hai mảnh nam châm.
Tình yêu và tương lai của họ là đời sống hiện tại, trong căn phòng B-07 nầy để vui xuân, đón Tết – thời khắc ngắn hay dài, với họ, không còn ý nghĩa nữa! Trung nằm bên nàng, cầm bàn tay nàng đặt lên ngực mình: “Chúng ta lạc lõng như những mùa xuân muộn em ạ!”. Anh đọc:
“Vụng sắm cành đào không kịp Tết,
Ra giêng chợt hé một vài bông…
Xuân nhà người khác bay đi hết,
Ngoảnh lại xuân ta mới chớm hồng!” (*)

MANG VIÊN LONG
(*) Thơ Yến Lan

Bóng mây cuối chiều

Thư viện của bài

This gallery contains 1 photo.

MANG VIÊN LONG.

Bóng mây cuối chiều

Kính tặng những bà mẹ bất hạnh.

Thạc đẩy cửa, bước vào – liếc nhìn vào giường bà Sửu đang nằm, giọng lạnh lùng:

-Mẹ sao mà nằm hoài vậy?
-Tao hơi mệt, nằm chút rồi dậy.
-Lúc nào cũng nghe bà kêu mệt!
-Tuổi trên sáu mươi rồi, muốn mệt lúc nào thì mệt – tao đâu có muốn vậy.

Thạc đi thẳng lên gác.

Bà Sửu lồm cồm ngồi dậy, định bước xuống giường, nhưng bỗng thấy còn hơi choáng. Bà ngồi im. Mắt hướng nhìn lên cầu thang.

Cách nay mấy hôm, trời chuyển tiết lập thu, bà nghe mỏi và đau nhức khắp cơ thể. Tuổi già là chiếc máy đo thời tiết nhanh nhạy nhất, bởi sau nhiều bận bị mệt và đau nhức, bỏ ăn – bà thấy ngày hôm sau, trời bỗng âm u, mưa và gió bất chợt; nên bà Sửu luôn lo lắng mỗi lúc trời đất thay mùa, chuyển tiết.
Tiếp tục đọc

*** Quanh ngày sinh nhật

Thư viện của bài

This gallery contains 1 photo.

MANG VIÊN LONG

Từ rất lâu, tôi không có “thói quen” gì về ngày sinh của mình. Có lúc tôi quên bẵng. Có lúc tôi chợt nhớ. Quên thì chẳng sao, mà “chợt nhớ” thì rất ngậm ngùi!
Cho mãi đến vài năm gần đây, các cô cậu học trò cũ thường gặp nhau vui chơi nhân ngày Sinh nhật của nhau; thế là họ “rủ” tôi tham gia. Hay nói đúng hơn, họ đã “nhắc” tôi nhớ lại ngày sinh của mình! Nhờ vây, tôi cũng đã “vui ké” (chữ của nhà thơ HL) với họ; cảm thấy có chút gì vừa hạnh phúc, vừa bâng khuâng!
Tôi không nhớ ngày sinh bởi dễ hiểu, cuộc sống riêng của tôi quá lao đao, bất hạnh – ngay từ thuở lên tám! Tôi không nhớ ngày tôi có mặt trên cõi nhân sinh nầy, bởi hiện tại của tôi là những chuỗi tháng ngày phải miệt mài làm việc, và phấn đấu không ngừng để kiếm tìm niềm vui và an ủi…
Từ chiều hôm trước – tôi đã nhận được nhiều tin nhắn “nhắc nhở” cũng như chúc mừng từ vài thân hữu và học trò; cho nên dù “muốn quên” cũng phải nhớ! (Tôi có ý nghĩ: lạ thật, ngày sinh của tôi, tôi không nhớ, mà họ lại nhớ, vui nhỉ?). Có người hỏi tôi, nhân ngày này có tổ chức gì cho vui không? Tôi trả lời: “Chỉ nhớ thôi, không có gì nữa cả!”.
Đúng một giờ sáng ngày 4 tháng 6, người bạn văn phương xa lại gởi cho bài thơ “bấm nút” như sau:
“ngày như mọi ngày
nhưng ngày không như mọi ngày
anh nhớ ra bờ giậu
Tiếp tục đọc

*** Ngõ hoa

MANG VIÊN LONG

hoa-anh-dao-vong-quanh-the-gioi

Cô bạn giới thiệu cho Thuận căn phòng có chiều dài 5 mét, chiều rộng 4,5 mét – tổng cọng hơn 22 mét vuông, như ở tầng trên. Đến xem, Thuận đề nghị lấy phòng dưới đất, bởi còn chút khoảng sân có bóng cây, có thể đi lui đi tới được. Bà chủ nói đã nhận lời một cô giáo mới vừa chuyển đến dạy ở thị xã niên khóa nầy rồi, đành chịu.

Lúc đứng ở khoảng hành lang hẹp tầng trên, Thuận nhìn sang dãy phố đối diện, thấy ngôi nhà kiểu vila thời Pháp có trồng nhiều hoa, nghĩ có thể thư giãn đôi chút mỗi sáng khi vừa thức dậy. Căn phòng nầy là phòng trọ thứ ba Thuận đi tìm thưê trong gần tuần lễ nay tương đối tốt, nên đã đặt cọc tiền trước ba tháng cho bà chủ nhà.

Quanh thị xã, nhất là ở các ngõ hẻm, đường nhỏ – nhiều gia đình thừa đất vườn, xây thêm nhiều nhà cấp bốn, chia dãy dài nhiều phòng, từ 20 – 30 mét vuông, để cho thuê khi không biết (hay không thể) kinh doanh mua bán gì thêm. Nhà tôn, phòng hẹp, không có cửa sổ, ít bóng cây, giống những chiếc hộp. Cả dãy phòng dài nhưng sinh hoạt vệ sinh chung một phòng cuối dãy, rất bất tiện, tuy giá có thấp hơn căn phòng Thuận đang xem. Thuận nghĩ, những căn phòng nầy chỉ thích hợp với học sinh, sinh viên ở trọ, hay người thường có công việc làm ngoài đường hơn ở nhà mà thôi. Còn Thuận, ngoài giờ có mặt ở văn phòng đại diện một buổi, anh được ở nhà nhiều hơn nên trong 22 mét vuông, có đủ phòng vệ sinh nhà tắm, khu nấu ăn nhỏ bên cạnh, và khoảng rộng phía trước, có thể kê chiếc bàn thấp, vài chiếc ghế, và đặt một tấm nệm, xem ra tiện hơn nhiều. Hơn nữa, căn phòng Thuận thuê nằm chung trong khu đất còn thừa phía sau căn nhà mặt tiền của  chủ nhà, chỉ có hai căn cho thuê, nên biệt lập và ít ồn. Chiếc cầu thang đúc nhỏ dẫn lên phòng Thuận nằm trong khoảng đất trống bên cạnh, được rào chắn chung quanh trông ngăn nắp.

Hai ngày sau khi Thuận dọn đến ở, một buổi sáng sớm anh đã nhìn thấy dọc con đường trồng hoa từ cổng nhà bên kia đường, có dáng một thiếu nữ trong bộ áo quần ngủ rộng mầu trắng, đi thơ thẩn ra vào bên cạnh người đàn bà thường ngày vẫn cầm vòi nước, tưới hoa miệt mài quanh những bụi hoa, chậu hoa rải rác từ cổng vào sân nhà. Cô gái chỉ xuất hiện khoảng hơn mười lăm phút, là mất hút sau khu tiền sảnh.

Từ trên hành lang hẹp, Thuận theo dõi cô gái, nhưng cô ta chỉ thấp thoáng quanh những chậu hoa buổi sáng sớm mà thôi. Thuận biết thêm, trong căn nhà ấy, có lẽ chỉ có ba người đang sống – mẹ và người cha của cô gái. Khu nhà tương đối yên vắng, khép kín bên con đường phố hai chiều nhộn nhịp  người xe qua lại nhất thị xã.

Gần một tháng sau, Thuận trong bộ áo quần đi bộ thể dục bước nhanh qua đường, khi vừa trông thấy cô gái bước dần ra cổng.

-Chào em…

-Dạ, chào anh! Anh hỏi ai?

-Anh hỏi em!

-Hỏi em? – giọng cô gái ngạc nhiên.

-Đúng rồi!

-Mà có việc gì vậy?

-Anh muốn hỏi xin một nhánh gốc cây hoa hoàng lan, hay bông giấy tím.

-À! Xin lỗi cô gái quay lại định bước đi – anh hỏi xin dì Tư nhé!

-Anh nhờ em nói giúp.

-Được, được – giọng cô gái ngập ngừng, lát nữa em sẽ nói.

Cô gái đã đi vào trong khu tiền sảnh, nhưng Thuận vẫn đứng yên, nhìn theo. Thuận cảm  thấy vui vui với ý nghĩ, dầu chưa xin được hoàng lan, nhưng đã thấy rõ được gương mặt thanh tú, duyên dáng, một vẻ đẹp nhân hậu, đằm thắm của cô gái thay cho hoa rồi. Thuận đoán nàng chỉ trên hai mươi một chút.

* * *

Sáng sớm hôm sau, Thuận lại có mặt ở cổng, chờ – nhưng không thấy bóng cô gái ra vườn, Dì Tư bước lại mở cổng, tiếp Thuận.

-Cậu xin hoa hoàng lan hôm qua phải không?

-Dạ, đúng!

-Tôi đã có sẵn một gốc nhỏ, về nhà trồng sẽ sống ngay.

-Cảm ơm dì!

-Cậu cảm ơn cô Trinh ấy, tôi làm theo lời dặn thôi mà!

-Cô Trinh dặn thế nào, dì?

-Cô ấy nói, nếu có ai đến hỏi nhận hoa hoàng lan, thì dì tìm một gốc, để gởi cho họ. Mình chia hoa, cũng như chia niềm vui với mọi người dì à!

-Hôm nay cô Trinh đâu rồi không thấy ra vườn?

-Chi vậy?

-Cháu muốn cảm ơn.

-Tôi sẽ chuyển lời cho, cậu yên tâm. Cô ấy không muốn nhận ơn ai bao giờ! Cô ấy không được khỏe.

Ba ngày sau, Thuận phải về Sài Gòn dự họp, để báo cáo lại tình trạng hoạt động của văn phòng sau hơn một tháng khai trương; anh mang chậu hoa xuống nhờ cô giáo ở trọ phòng dưới tưới nước giúp mỗi sáng. Cô giáo khẽ cười; “Anh Thuận yêu hoa quá nhỉ!”

-Đã trồng rồi, phải chăm sóc chứ em!

-Không siêng chăm sóc, hoa sẽ héo.

-Cô giáo nói hay lắm! Tình yêu cũng vậy.

-Anh Thuận có vẻ sành sỏi nhỉ!

-Cũng nghe người ta nói vậy thôi, chứ trong tình yêu, ai dám nói mình đã sành sỏi, em?

-Có ông bạn dạy ở trường em “tuyên bố” ông ta rất “lão luyện” trong tình trường, không ai có thể qua mặt được.

-Một là ông ấy nói dóc – Thuận cười, hai là ông ấy chẳng biết gì về tình yêu cả!

* * *

Khoảng mười hôm sau ngày trở lại nhà trọ, Thuận luôn nhìn sang ngõ hoa Hoàng lan của ngôi biệt thự đối diện, nhưng không hề thấy bóng cô gái. Trinh đã đi đâu?

-Dì Tư ơi!

-Cậu Thuận đó hả?

-Dạ, cháu!

-Có chuyện gì không? Dì Tư đặt ống nước trên thềm nhà, bước dần ra cổng.

-Dạ, có.

-Ông bà chủ căn dặn – dì nhỏ giọng, ở nhà không được mở cổng cho ai, nhưng biết cậu là người hàng xóm hiền từ, tôi…

-Cảm ơn dì – Thuận hỏi ngay, Cô Trinh có ở nhà không, dì?

-Trời ơi! Tội con nhỏ – Gương mặt dì Tư chợt tái nhợt, hai hôm rồi mà chưa tỉnh được.

Thuận theo chân dì vào ngồi ở bậc thềm nhà.

Dì kể đã đến giúp việc cho gia dình ông Phú hơn ba năm 8 tháng, từ ngày Trinh vừa lên lớp 10, đến nay đang học năm thứ nhất Đại học Ngân hàng. Ông Phú làm chủ nhiệm HTX Tín dụng duy nhất trong thị xã, bà Phú còn gần một năm nữa mới được nghỉ hưu. Anh trai của Trinh đang làm giám đốc cho Ngân hàng Argribank ở một quận trong thành phố. Thi xong học kỳ I, chuẩn bị về thăm nhà, Trinh bị đột quỵ ngay trong phòng riêng nhà người anh; cậu ấy phải đưa đi nhập viện cấp cứu. Ngỡ là Trinh chỉ bị đột quỵ nhẹ, nhưng sau đó, bệnh viện đã phát hiện Trinh đang bị ảnh hưởng của K phổi.

Cả ông bà Phú đều bay vào Sài Gòn. Nghe nhiều người bạn mách bảo, ông bà quyết định đưa Trinh sang Singapore điều trị, để họ phẩu thuật cắt bỏ phần lá phổi bị nhiễm virus, ngăn chận các tế bào K phát triển thêm, đồng thời tiêm thuốc tiêu diệt dần các tế bào cũ; nhưng Trinh cương quyết không đi. Cả nhà năn nỉ mấy lần cô bé cũng không chịu nghe, đến lúc cậu anh phải nói thật hết lời của bác sĩ đã nói riêng với gia đình cho cô ấy nghe, rằng “ cháu chỉ còn sống không quá 6 tháng nữa thôi”, cô ấy đã trả lời: “Con chỉ muốn được về sống ở nhà trong 6 tháng ấy thôi, không đi đâu hết!”. Dì Tư sụt sùi: ” Đến nay, cũng gần 6 tháng rồi, cậu ơi!”.

 

* * *

Đầu giờ buổi chiều, Thuận tìm đến phòng cấp cứu bệnh viện để thăm Trinh. Phòng cấp cứu cho biết bệnh nhân đã được chuyển sang phòng hồi sức sáng nay. Thuận đẩy cửa phòng hồi sức, đến ngay bên giường Trinh đang nằm chuyền nước. Anh gọi: “Em!”.

Trinh hé mở đôi mắt, mở to dần – gương mặt bỗng tươi sáng hẳn lên trước sự ngạc nhiên của bà Phú. Thuận đến bên cạnh bà Phú, khẽ nói: “Cháu xin lỗi bác!”.

-Không – bà nhìn đăm đăm lên nét mặt vẫn điềm nhiên của Thuận, cháu không có lỗi gì.

-Cháu muốn được thăm Trinh và săn sóc cô ấy.

-Bác cảm ơn cháu – giọng bà ướt sũng, cháu làm được gì cho Trinh vui, là bác biết ơn cháu rồi!

Theo chỉ định của bác sĩ, sau một tuần hồi phục, bệnh nhân có thể xuất viện, nhưng Trinh đã nhờ Thuận nói với mẹ, làm giấy tờ để nàng xuất viện về nhà sớm hơn 2 ngày. “Em muốn được sống ở nhà, anh ạ” – nàng đã trìu mến thì thầm với Thuận trong buổi sáng ngày thứ 5 ở phòng hồi sức, khi anh vào thăm như mọi hôm.

Từ sau buổi sáng hôm ấy Trinh được về nhà, Thuận đều có mặt đúng 6 giờ sáng, để đưa nàng đến một quán café ngoại ô mà Trinh rất thích, vì “như được ngồi ở nhà mình”. Một hôm, nhìn Thuận giây lâu với ánh mắt xa xăm, khác lạ – nàng  nhìn lơ đễnh ra ngoài vườn hoa, thì thầm: “Em rất tiếc, anh ạ!”.

-Em lại tiếc điều gì?

-Em không thể đem hạnh phúc đến cho anh lâu dài.

-Đừng nghĩ vậy, em! Thuận hơi bối rối – có phải là chúng mình đang vui, đang hạnh phúc không?

-Dạ – Trinh mỉm cười, nói như với chính mình – cuộc sống của em ngắn quá!

-Cuộc đời của tất cả đều ngắn, thậm chí chỉ dài trong một hơi thở – Thuận nhìn lên gương mặt đăm chiêu của Trinh, nhưng hai mươi bốn giờ trôi qua phải sống như thế nào mới là quan trọng em à!

-Cảm ơn anh – nàng thở nhẹ, đôi lúc được bên anh, em cũng nghĩ như vậy.

-Anh muốn em phải luôn nghĩ như vậy, em yêu!

-Dạ!

Được hơn một giờ ba mươi phút buổi sáng ngồi bên nhau ở quán café, và hai giờ buổi chiều trong sân vườn sau chiếc cổng hoa hoàng lan với bộ bình trà dì Tư pha sẵn nơi chiếc bàn đá dưới gốc bông giấy tím – Trinh luôn được dì săn sóc trang điểm với những chiếc váy mới, xinh xắn, hay bộ áo quần thể thao gọn gàng, trẻ trung của bà Phú vừa mua cho nàng.

-Em rất sợ buổi chiều mau hết, bóng đêm đến -Trinh cầm lấy bàn tay Thuận ve vuốt.

-Lúc khó ngủ, em hãy gọi cho anh.

-Em đã làm vậy – nàng ngước lên, nhìn Thuận, giọng ngập ngừng, nhưng em sợ anh khó ngủ.

-Được nói chuyện với em, anh ngủ ngon mà – im lặng giây lâu, Thuận cười, em biết là anh chờ tin em hằng đêm còn hơn ngày xưa chờ mẹ đi chợ về!

Gương mặt Trinh chợt sáng hồng niềm vui khiến Thuận bàng hoàng. Anh không muốn nhớ lại cảm giác buổi chiều lúc Trinh tiễn anh ra khỏi cổng hoa, về lại nhà trọ. Mấy câu thơ anh nhẩm thầm trong đầu bỗng trở về: “Cổng hoa hương sắc vẫn tươi – Mà em nay đã là người xa xăm!”.

         Đã hơn một năm trôi qua, chiều nay Trinh vẫn dịu dàng ngồi bên anh nơi gốc Bông giấy tím, khẽ khàng rót mời anh từng tách trà.

Chia sẻ cùng Em!

Quê nhà, những ngày cuối tháng 6.2018

MANG VIÊN LONG.

*** ƯỚC NGUYỆN CỦA NGƯỜI TỬ TÙ

MANG VIÊN LONG

chua hk

Sáng nay Công được chuyển sang phòng biệt giam khác nhưng cùng khu nhà của trại. Nhìn thoáng, anh biết phòng nầy chật hơn phòng giam cũ mỗi chiều khoảng gần một mét. Công ngồi xuống trên chiếc giường-bệ-xi-măng sát bên phải vách phòng, đưa mắt nhìn một vòng căn phòng lờ mờ ánh sáng. Bên kia cũng có một bệ-xi-măng” tương tự, có lẽ sẽ dành cho một người nào đó nữa. Đây là phòng giam cho những tử tù vừa qua vòng sơ thẩm của mọi tội phạm, từ hình sự đến chính trị. Qua chiếc cửa sổ duy nhất bằng vài thanh sắt ấp chiến lược ghép lại, mỗi cây cách nhau gần một gang tay, Công có thể nhìn thấy một khoảng sân nhỏ, hay một mảnh bầu trời xa trên cao. Không gian và thời gian của những con người ở đây đang thu hẹp lại. Cuộc đời vốn ngắn ngủi nhưng với họ thì không hề có ngày mai nữa.

Vài ngày sau, người quản trại mở cửa, đẩy vào phòng Công một người đàn ông trạc năm, sáu mươi, chỉ cho ông ta chiếc giường-xi-măng đối diện Công đang nằm. Công thầm nghĩ, lại có thêm bạn, đỡ buồn. Anh ngồi dậy – chào người đàn ông: “Anh phạm tội gì mà “chui” vào đến tận phòng nầy vậy?”

– Vượt biên. Còn chú mầy?

Giọng nói lơ lớ, không rõ của gã, làm Công nhận ra ngay gã là một “Ba Tàu”. Trông gã hơi ngớ ngẩn, hiền từ. Công nhếch môi, cười: “Chống nhà nước. Tử hình!”

Sống chung được gần tuần lễ, một buổi sáng – khoảng 3 giờ, gã thức dậy sớm như mọi ngày, nhưng lại bước sang giường của Công ngồi, nói tỉnh bơ: “Tôi thấy Đức Quan Âm ngồi trên đầu giường anh, đưa tay vuốt trán anh. Anh không chết đâu!”

Công khẽ cười: “Tội chống nhà nước, phản động của tôi như vậy, đã thành án sơ thẩm tử hình, sao lại không chết được? Ông nói nghe lạ quá!”

Gã chỉ nói thêm một câu: “Không chết, không chết đâu!’ rồi sang giường của mình, nằm im lặng, chờ mở cửa để đi làm công việc vệ sinh hằng ngày. Hai cái bô to đã đầy phân và nước tiểu cả ngày hôm trước còn để ở góc phòng, đang bốc mùi.

Lời nói đơn giản, thoáng qua của người bạn tù “Ba Tàu’ như có một mãnh lực vô hình, rất bất ngờ và tự nhiên, cứ ám ảnh Công mãi từ buổi sáng sớm hôm ấy. Suốt ngày đêm, ngoài lúc ngồi nhẩm học thêm các trang của quyển tự điển Anh văn “The Vest Pocket Dictionary” của vợ gởi vào cho, theo đề nghị của anh – Công thường nằm yên, thầm nguyện cùng Mẹ Quan Âm nếu cứu cho anh sống, cho anh làm được chút gì cho gia đình, cho người thân và mọi người chung quanh, thì anh vô cùng tạ ơn; nếu không, xin Mẹ Quan Âm cho anh được chết sớm.

Khoảng một tuần sau nữa, người bạn tù “Ba Tàu” chung phòng được tha – Công chia vui với anh: “Tôi tặng anh chiếc áo mới này do chính tay vợ tôi may, để làm kỷ niệm. Tôi không mặc nó lâu được đâu”. Người bạn tù đỡ lấy chiếc áo đã được Công xếp ngay ngắn – “Này, cảm ơn cậu, cảm ơn…” Công cười: “Nhưng anh nhớ cho tôi gởi một lá thư về cho vợ con tôi nhé?” – “Được rồi!”. Công viết vội cho vợ vài dòng thăm hỏi, báo tin sức khỏe, nhưng cốt yếu là viết cho hai con đang ở nước ngoài với người dì nuôi dưỡng, từ sau ngày anh bị bắt giam. Anh dặn dò hai con chăm lo học hành, khuyên đừng chơi bời lêu lõng theo đua đòi ở xứ người mà hư hỏng. Gắng tự học thêm được bao nhiêu, tốt bấy nhiêu, vì sự học bao giờ cũng cần, không bao giờ hết. Xếp vội thư lại, trao cho người bạn tù – Công dặn thêm: “Khi anh đến chợ gặp vợ tôi, anh nên mặc chiếc áo nầy, cô ấy sẽ biết chính là thư của tôi, nhé!” – “Được rồi, được rồi!” – “Chúc anh về với gia đình bình an, hạnh phúc!”

* * *

Công đã nằm chờ ở “khung” tử hình của vòng sơ thẩm gần một năm, đến vòng chung thẩm, Công vẫn bị xử y án. Nghĩa là chết! Khi có phán quyết của tòa, Công và số anh em chung trại, cùng án tử hình, được di chuyển sang khám Chí Hòa, chờ ngày thi hành án lệnh. Biết mình đã nhận cái chết trong tay, nhưng Công vẫn ngày đêm âm thầm khấn nguyện cùng “Mẹ Quan Âm” như đã từng tha thiết tin tưởng bấy lâu. Mỗi ngày qua, là một ngày sống với sự cầu nguyện. Công cảm thấy, sau mỗi lần lắng lòng, khẩn thiết thành tâm nguyện cầu, anh được an ổn hơn, Niềm tin ngày càng sáng hơn. Dường như sau mỗi lần cầu nguyện, Công như thấy được chút tia sáng le lói chiếu rọi vào trái tim khô héo, lạnh lẽo của mình. Lời nguyện cầu như một vị thuốc mầu nhiệm, đã khiến anh vượt qua bao ám ảnh của cái chết, nỗi đau buồn, và thất vọng, dằn vặt thúc giục anh từng giờ. Đồng thời, Công nhận ra rằng, anh còn sống, còn hít thở, còn nhìn thấy đời sống chung quanh, chính là nhờ vào sự cầu nguyện. Một lần, trong lúc thầm khấn, Công đã ước nguyện cùng Mẹ Quan Âm, khi được trở về anh sẽ xây dựng một ngôi chùa, để được gần gũi, ngưỡng vọng, và cúng dường chư Phật. Anh nguyện sẽ trao lại ngôi chùa cho một vị Thầy có đạo hạnh, có nhân duyên với chùa trông coi, để vị ấy trợ duyên lâu dài cho những người muốn tu học, muốn đi vào con đường lành, an vui sau nầy.

Một buổi sáng chủ nhật, Công được người quản trại đến mở cửa, gọi tên: “Anh được phép ra gặp người nhà!”. Công mặc vội áo quần, theo ngưởi quản trại ra khu tiếp tân. Vợ anh, đứa con trai út lên tám tuổi, và người anh cả trên sáu mươi của Công vẫn thường được đến thăm anh, bất thường như vậy, đôi lần trong năm, khi anh còn ở khu trại biệt giam sơ thẩm trước đây.

Đứng cách xa vợ con, và người anh khoảng một mét, Công đăm đăm nhìn con, cố ý không nhìn vợ. Anh không muốn để nàng thấy rõ nỗi đau buồn, gầy xanh hiện rõ trong mắt anh. Anh khẽ cười, trả lời to, rõ ràng những lời hỏi thăm của vợ và con về tình trạng sức khỏe; rồi dặn dò vợ lo chăm sóc con và bản thân, yên tâm chờ anh. Khác với vài lần trước, người anh chỉ nghe, nhìn, và cúi đầu – như cố che dấu những giọt nước mắt chực rơi xuống.

Hết giờ thăm, Công đứng yên, nhìn theo, đưa tay vẫy chào tiễn vợ con và anh đang lững thững từng bước trên con đường hẹp dẫn ra cổng trại. Công đứng đó, nhìn dáng người anh đi xiêu vẹo, như chực ngã, mà nghe lòng quặn thắt. Đứa con trai tám tuổi, không cầm tay mẹ như mọi lần, mà đi thụt lùi, mặt hướng nhìn anh, như cố thu hút hình ảnh của anh lần cuối, với gương mặt đẫm nước mắt tiếc nhớ.

Công quay vội trở về phòng, thoáng nghĩ rằng, đây có lẽ là lần thăm cuối cùng của gia đình dành cho anh. Giọng nói gắng gượng, ngập ngừng của vợ, sự im lặng của người anh, và nhất là đứa con trai quay nhìn khi chia tay như một lần vĩnh biệt. Anh nói với người quản trại đang đi theo sau: “Anh cho tôi mượn cây bút và tờ giấy…”

– Anh định làm gì?

– Tôi làm gì, anh đọc sẽ biết rõ thôi.

Một lát sau người quản trại mang đến phòng giam cho anh cây bút nguyên tử và tờ giấy manh. Công cảm ơn và kê giấy trên giường – bắt đầu viết: “Đơn tình nguyện xin đi bắn”.

* * *

Gần ba tuần nay, khu trại biệt giam phạm nhân nhận án tử hình quen dần với “thời khóa biểu” dành cho họ: Sau 4 giờ sáng thứ 5 nếu không bị mở cửa gọi tên ra đi, thì sẽ sống tiếp được đến sáng thứ 7. Sau 4 giờ sáng thứ 7, không bị gọi tên, sẽ được sống cho đến thứ 5 tuần sau. Phòng của Công đã hai lần được mở cửa gọi tên vào 4 giờ sáng thứ 5 và thứ 7. Lúc bắt tay tiễn người bạn ra cửa – Công đã có lần nói: “Anh vui vẻ đi trước nhé, anh em sẽ theo sau!” Có người đùa: “Nhớ đăng ký cho tôi một hộ khẩu ở dưới đó nhé!” Có người vừa nghe gọi tên qua cửa sổ, đã ngã quỵ, hay đái đầy quần.

Một lần, đúng 4 giờ sáng thứ 7, người quản trại trẻ đi ngang qua cửa sổ, nói lớn: “Anh Công chuẩn bị!” Công quay nhờ người bạn nằm phía trong lấy giúp thau nước, khăn lông, để anh rửa mặt trước khi ra đi. Công làm công việc chuần bị cho mình nhanh chóng, như đã sắp đặt trước từ lâu.

Vài phút sau, người quản trại trẻ lách cách mở cửa, nhưng đến gọi tên người đang nằm phía bên kia, không nhắc đến tên Công. Hôm sau, gặp lại người quản trại trẻ ấy – Công quát lên: “Anh là con gì? Có phải là con người không? Anh đùa giỡn được trên nỗi đau đớn, trên cái chết của người khác như vậy sao?” – Người quản trại vội vàng cầm tay Công – giọng run run: “Xin anh tha lỗi! Tôi biết lỗi rồi! Anh bỏ qua cho…”

Khoảng một tuần lễ sau khi Công nhờ chuyển “Đơn tình nguyện xin đi bắn”, một nhân viên của viện Kiểm sát thành phố, đã đến tận phòng gặp Công. Nhìn anh từ đầu đến chân, ông hỏi: “Nhân viên trại đã đối xử với anh thế nào, mà anh xin tình nguyện đi chết sớm vậy?”

– Thưa, họ vẫn cư xử bình thường với anh em.

– Vậy sao anh không thích sống, muốn chết sớm?

– Tôi không muốn được sống một ngày, mà để vợ con, người thân phải đau buồn lo lắng thêm một ngày. Tôi thà chết sớm để cho người thân chỉ đau khổ một lần, được yên.

– Anh đừng nên nghĩ vậy – ông an ủi, ai cũng cần sự sống, anh nên sống.

Sau buổi sáng bị gọi tên “hụt” – nhất là sau buổi găp người của viện Kiểm sát, hằng ngày Công thầm đọc bài nguyện cầu cho riêng mình:

“Cầu xin Đức mẹ Quan Âm

Dìu con tránh khỏi lỗi lầm thế nhân

Cho con đi trọn đường trần

Tai qua nạn khỏi, thân tâm an toàn

Con cầu xin Mẹ cho con

Chung lo việc nghĩa, vuông tròn trả xong

Quê nhà vui bước thong dong

Ơn sâu ghi tạc một lòng chẳng quên.

Con dâng lên Mẹ báo đền

Trọn niềm tôn kính – tạ ơn Mẹ hiền!”

* * *

Công nhận được lệnh ân xá án tử hình, chuyển về trại cải tạo lao động. Mười lăm năm sau, qua nhiều đợt được xét ân xá, miễn giảm mức án chung thân, anh được trả về lại với gia đình. Ước nguyện xây một ngôi chùa vẫn còn là một ước vọng mà Công ngày đêm đang nỗ lực thực hiện.

Tháng 6.2018

MANG VIÊN LONG

 

*** TRUYỆN NGẮN TRẦN HỮU HỘI

MANG VIÊN LONG

TRUYỆN NGẮN TRẦN HỮU HỘI –

Những Trang Viết Hiện Thực Đời Sống Tâm Huyết.

           Trần Hữu Hội người làng An Lưu, huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị, nhưng vừa lớn lên đã phải trôi dạt nhiều nơi vì chiến tranh; từ Biên Hòa, Đà Nẵng, Ninh Thuận rồi Sài Gòn. Bút danh Trạch An của anh được ghép hai tên làng của cha và mẹ (Thượng Trạch – An lưu).

Giống như một số người cầm bút khác, anh đã có đam mê văn học từ thuở còn học lớp 12, nên dạo ấy đã lập bút nhóm Hội Hữu, cùng các bạn học sinh, sinh viên tại Ninh Thuận cùng sinh hoạt văn nghệ; với sự giúp đỡ của họa sĩ – điêu khắc gia Phạm Văn Hạng. Bút nhóm đã xuất bản tuyển tập thơ văn, do nhà văn Trần Hữu Ngũ trình bày bìa và in roneo. Tuy vậy, anh thật sự dành thời gian cho việc sáng tác chỉ từ năm 2010, khi bị bệnh tắc động mạch chị, phải cắt bỏ chân phải. Anh tham gia đăng bài ở các trang website.. trong và ngoài nước và sinh hoạt văn nghệ với nhóm Quán Văn, từ dạo đó…:

Năm 2014, anh cho giới thiệu tập truyện đầu tay “Hạt Mầm Trót Vay” Sang năm 2015, xuất bản tập “Số Mạng”. Những truyện ngắn của anh hầu hết là ghi lại, phản ảnh đời sống hiện thực chung quanh; từ gia đình, quê nhà, tình yêu, đến những đổi thay, chuyển biến xã hội, của thời cuộc ngày càng phức tạp, đau buồn! Ngoài truyện ngắn, Trần Hữu Hội thường viết bút ký, tạp bút, về nhiều lãnh vực quan thiết của đời sống. Trần Hữu Hội còn sáng tác thơ – những bài thơ trữ tình, hồn nhiên, trong sáng của anh, được nhiều bạn đọc yêu thích.

Trong giới hạn một bài ghi nhận ngắn, tôi chỉ xin chia sẻ đôi điều về tính chất các truyện ngắn của Trần Hữu Hội – đó là “những trang viết hiện thực đời sống tâm huyế”  mà chỉ có người cầm bút chân chính, vô tư có trách nhiệm, mới trang trải hết lòng mình.

Thãm trạng gia đình, được tác giả quan tâm nhiều hơn, với nhiều chi tiết hiện thực chân xác. Có thể nói đây là một vấn nạn xã hội đau buồn, mà tất cả người đọc đang quan tâm: “Chỉ sau khi sinh đứa con hai năm, cô ấy bắt đầu ngoại tình với một cán bộ tài chính huyện, họ có chung một đường dây huê hụi lớn trong vùng, trên danh nghĩa làm ăn, họ gần gũi nhau cho đến khi tôi bắt gặp, ngay trong phòng ngủ ngôi nhà mình! Ngôi nhà đứng tên cô ấy nên tòa tịch biên sau khi họ bỏ trốn, tôi về ở với Mẹ!”..( Người Khách Cuối Năm)

Nền tảng đạo đức xã hội chao đảo, những giá trị luân lý bị lãng quên, thì sẽ ảnh hưởng đến hạnh phúc gia đình là điêu không thể tránh khỏi: “…Ba năm trước, tôi mới biết cô ấy đang ở Buôn Ma Thuột, đứa con trai của tôi và cô ấy phải vào tù vì dính vào một vụ cướp! Tôi tìm lên thăm con…Biết sự tình là trong đám thanh thiếu niên của vụ án, con tôi chưa đủ tuổi thành niên, nhưng muốn lo lót trước khi tòa xử, phải chạy một khoản tiền mà cô ấy không có hay không muốn bỏ ra, tôi phải trở về bán lô đất và căn nhà này…Nhưng rồi cũng không lo được cho đứa con thoát vòng tù tội! Tiền mất tật mang, nó ra tòa lãnh án bốn năm tù giam! Cô ấy lại cùng chồng mới trốn đi lần nữa! Họ đã có với nhau hai đứa con… Không đành bỏ con tù tội không ai thăm nuôi, tôi mua một đám đất nhỏ, dựng một cái chòi…rồi hàng ngày đi làm thuê, vừa nuôi bản thân vừa dành dụm hàng tháng đi thăm con trong tù!”. ( Người Khách Cuối Năm)

Hạnh phúc tìm lại được trong đời sống cũng quá gian truân, ngắn ngủi, bất hạnh: “Chúng tôi nâng niu từng ngày niềm hạnh phúc muộn màng. Hai chúng tôi cùng mong mỏi một đứa con cho trọn vẹn hạnh phúc chồng vợ…Nàng mang thai sau một năm chung sống. Đứa con lớn dần, là con trai và đã được năm tháng! Tôi không để cô ấy làm một việc gì, cực chẳng đã phải đi xe máy như đi chợ thì tôi chở đi…Khi tôi lo lắng ngăn ngừa tai họa từ hướng này thì bằng ngã khác, tai ương ập đến với chúng tôi!”.

Với giọng văn giản dị, chân thành – tác giả từ tốn kẻ tiếp về nỗi khổ đau, mất mát thưởng bất ngờ ập đến cho đời sống mọi người: ”Năm đó cũng vào những ngày cuối năm, trước lễ giáng sinh vài hôm, trong một lần tắm, cô ấy bị ngã trong phòng tắm, bụng cô ấy dập vào bồn cầu…Tôi kinh hãi nhìn cô ấy đớn đau trong máu và nước! Khi đến bệnh viện thị xã, thì cả cô ấy lẫn thai đều quá yếu. Buộc phải mổ đưa thai ra để chăm cho mẹ… :
– Không thể cứu được cháu, chị vẫn còn hôn mê nhưng đã qua cơn nguy kịch. Anh đem cháu về rồi sáng mai trở lại!
” ( Người Khách Cuối Năm)

Kết thúc câu chuyện, Trần Hữu Hội cho Thuyết – nhân vật trong truyện, nghĩ hộ mình một cách vô vọng về cuộc đời, mà lẽ ra, tác giả nên có một hướng đi tích cực hơn: “Anh ngẫm nghĩ: hạnh phúc của kiếp con người, bao giờ cũng mong manh ngắn ngủi, nhưng nỗi bất hạnh thì xem chừng như trùng trùng, vô tận!!!”.

Bên cạnh các vấn nạn lớn, Trần Hữu Hội, cũng đã dành cho tình bạn, tình quê những trang viết đầy cảm xúc. Truyện ngắn “Bạn Già” tuy được viết với ít chi tiết hơn, đơn giản hơn, có thể nghĩ là “khô và đơn điệu” – nhưng là một truyện ngắn hay của anh. Truyện kể về hai người bạn đồng hương Quảng Trị – Phúc và Tấn, cùng học chung thời Tiểu học, Trung học, rồi cùng tha phương vì chién tranh lan rộng, đe dọa cuộc sống an bình: “Cả hai cùng sinh ra từ Quảng Trị, một tỉnh miền Trung giáp ranh với vĩ tuyến 17, nơi con sông ngăn chia hai miền Nam Bắc. Sự kiện lịch sử này xảy ra hai năm trước khi cả hai chào đời, không phải sinh ra cùng một nơi. Tấn ở huyện Triệu Phong, một vùng lúa gần biển, còn Phúc ở Cam Lộ, một huyện vùng cao.

Chiến tranh liên miên và rồi năm 1972, khi phe bên kia tấn công vào tỉnh lỵ này, họ chạy vào Huế, rồi Đà Nẵng, ở trong những trại tạm cư. Chuyện về lại chốn chôn nhau cắt rốn ngày càng xa vời, vả lại rồi cũng đạn bom tang tóc bởi chiến tranh chưa thôi, nhiều gia đình cùng nhau di dân, vào khai hoang lập cư trong vùng rừng núi này, dưới sự chăm lo của một Linh Mục.

Ba năm được sống gần nhau ở khu trại tạm cư, được ngồi chung lớp. Rồi “Phúc vào Đại học sư phạm Sài Gòn, ngành Khoa Học. Tấn lên Viện Đại Học Đà Lạt, cũng khoa sư phạm, ban Việt- Hán”.

Biến cố 1975 đã làm thay đổi cuộc đời họ, như bao cuộc đời khác “ –“Chưa tròn niên khóa thì biến cố 75 ập đến. Tấn không thể tiếp tục việc học hành, anh trở về với gia đình. Cha đi học tập cải tạo, là lao động chính trong nhà, anh vừa đi nghĩa vụ khai hoang, thủy lợi… vừa giúp mẹ làm rẫy. Phúc ở lại Sài gòn tham gia các phong trào Thanh Niên, nghe đâu là một trong những phần tử tiến bộ của đoàn Thanh Niên Thành phố, có lần được tuyên dương trên báo Sài Gòn!”.

Một lần Tấn đi buôn, vào Sài Gòn tìm thăm Phúc. Lẽ ra đó là cuộc hội ngộ hạnh phúc nhất của đôi bạn đồng hương, nhưng lại là một lần hội ngội buồn bã, bởi vì Phúc nay là một cán bộ nhà văn hóa, còn Tấn là “một con buôn”. Phúc đã “lên giọng” với Tấn: “đi buôn như thế là tiếp tay với gian thương làm lũng đoạn thị trường”. Trong lúc Tấn “bất lực không cãi lại được trước những từ ngữ, lập luận xa lạ mà Phúc đưa ra. Anh chỉ đơn giản muốn cho Phúc hiểu rằng là không đi buôn thì không có cái gì ăn, kể cả nước mắm!”.

Tấn đã phải trải qua một đêm thao thức, chua xót nơi xứ lạ:“Tấn ra ga Bình Triệu, nằm gối đầu lên ba cái bao tải đựng mỳ lát cuộn lại mà hận thằng bạn, những lý luận về kinh tế nghe thật chặt chẽ nhưng không có điều nào phù hợp với thực tế của cuộc sống nơi Tấn ở. Phúc không chịu nhận ra là cái đói khổ hầu như đã tràn khắp nông thôn”.

Làm cán bộ được vài năm, Phúc lại vào ngồi tù mấy năm vì “giải quyết công việc theo cảm tính và sai nguyên tắc” – rồi từ trại tù về quê. Rồi lại ra đi. Một đêm “Phúc khoanh hai tay co gối, một cơn gió nhẹ làm sương đêm thêm lạnh, bình trà bằng thiếc của cái quán vỉa hè không đủ giữ hơi nóng, đã lạnh ngắt từ lúc nào! Anh ao ước có một góc nhỏ nào đó, đẩy chiếc xích lô vào rồi ngã lưng kéo một giấc qua đêm. Lâu nay anh khá yên ấm dưới cầu thang của chung cư Thanh Đa. Đêm nay lại có đợt truy quét những người không hộ khẩu, làm nhốn nháo những kẻ vô gia cư trú ngụ nơi đây, thường thì vài hôm có khi cả tuần rồi đâu lại vào đó, nhưng lần này xem ra quyết liệt hơn, cả chục chiếc xe chở đám vô gia cư về quận ngay trong đêm”. Phúc may mắn gặp được bà cụ tốt bụng bán quán nước nhỏ bên góc phố, thương tình che chở, cho ăn cho ngủ – Phúc đã nhận nơi nầy làm nhà, và gắn bó với bà cụ, cùng cô cháu gái của bà đang gặp bất trắc, đau lòng trong tình yêu, khi đã mang thai sắp sinh con, mà người yêu vắng bặt. “Bà cụ đã quá quen với những chuyện muộn phiền trong cuộc đời khốn khổ, cam phận chấp nhận thêm chuyện dại dột của đứa cháu, nhưng bà lo lắm, cái bụng quá to so với vóc người ốm yếu xanh xao của nó!” (…)

Một ngày, Phúc đã tìm về thăm Tấn ngày xưa ở quê – đây là một đêm hạnh phúc mà hơn 30 năm trải qua biết bao thăng trầm, khổ đau, đôi “Bạn Già” mới được hưởng trọn vẹn. Hãy nghe tác giả kể lại – thật xúc động:

“- Ở lại, ở lại với tao, tụi mình nằm chung như cái hồi trai trẻ. Qua tết là tụi mình sáu chục rồi, có chết cũng được ghi là “hưởng thọ” thay vì “hưởng dương” trên tờ cáo phó, mau thiệt!
-Ừ mau thiệt, đi ngủ, mày còn gác như hồi xưa không?
-Bỏ lâu rồi nhưng đêm nay tau kẹp cổ mày cho nó sướng.
-Ừ, cho mày kẹp.
Hai cái thân già xiêu vẹo dìu nhau đi trong bóng đêm mờ mờ hơi sương, lành lạnh buổi cuối đông
.”.

Đưa vào tác phẩm nhiều chi tiết, nhiều tình huống phức tạp, theo tôi không phải là điều cần thiết cho một truyện ngắn hay – mà trái lại, cần cô đọng, với ít chi tiết nhưng mới lạ, cùng tư tưởng sâu sắc quan yếu cho đời sống muốn giải bày, mới là một truyện ngắn tốt. Trần Hữu Hội đã phần nào làm được điều đó ở một số truyện ngắn của anh hôm nay……

Tháng 4.2018.
MANG VIÊN LONG

Mang Viên Long – Một thế hệ buồn

Ban Mai

Bìa C ng ch  là gi c m  HC - 12-3-2015

Lần đầu tiên tôi nghe tên ông, là lúc nhà văn Nguyễn Mộng Giác về thăm quê nhà, ông hỏi tôi có biết địa chỉ nhà văn Mang Viên Long, nghe nói bây giờ đang sống ở An Nhơn, Bình Định. Tôi là kẻ hậu sinh, ngày ông thành danh tôi chỉ là một đứa bé, khi tôi lớn lên ông đang sống trong im lặng, làm sao tôi biết được. Cái duyên gặp tình cờ khi tôi và ông cùng viết cho tạp chí Quán Văn Sài Gòn. Và thân tình từ đó.

Mang Viên Long là một người viết sớm, từ những năm còn đi học đã có bài đăng trên tạp chí Văn, Bách Khoa, Khởi hành, Ý thức… Chỉ trong vòng 4 năm từ 1969 đến 1972 ông xuất bản 5 đầu sách gồm 4 tập truyện ngắn, 1 tập tùy bút. Cuốn truyện đầu tiên “Trên đỉnh sa mù” ra mắt năm 1969. Là một cây bút đang lên, ông đột ngột ngưng viết khi thời cuộc thay đổi, và hơn 20 năm sau mới viết lại với độ sung sức đáng kinh ngạc. Bắt đầu năm 2003 ông xuất hiện với tập truyện “Biển của hai người”, và trong vòng 10 năm, ông cho ra đời 16 tập truyện ngắn, phê bình, tạp bút. Những năm gần đây, trung bình hàng năm ông xuất bản 2 đến 3 đầu sách. Có lẽ 20 năm im lặng, chiêm nghiệm cuộc đời, những ẩn ức dấu kín được dịp tuôn trào, ông viết không ngưng nghỉ.

Mang Viên Long là nhà văn trung thành với lối viết cổ điển, thiên về hiện thực. Thời gian trong truyện của ông thường là thời gian tuyến tính, không gian là những miền quê nghèo khó trên dải đất miền Trung. Với giọng văn mộc mạc bình dị nhà văn kể về những cuộc đời bé mọn của kiếp người. Đặc biệt hệ lụy của chiến tranh bàng bạc trong từng phận người, chúng ta có thể tìm thấy trong “Nỗi khổ không rời, Hai trường hợp một cuộc tình, Trên đỉnh tháp chuông, Mấy ngày trước giáng sinh…” hoặc những chuyện tình luôn có kết thúc tan vỡ trong “Bóng mây ngày cũ, Quán café Tulip”, hay tìm lại một thời đã qua trong “Ngôi nhà mùa hè”.

Đọc truyện của Mang Viên Long, điều đọng lại trong tôi là một chữ tình, mặc dù nhân vật chính của ông lúc nào cũng là kẻ thất thế, người thua cuộc, mang nặng nỗi buồn, với một cuộc đời cô độc, nghèo khó, không gia đình, mồ côi cha mẹ…tuy nhiên, không phải vì vậy mà ông nhìn đời với lòng thù hận, trái lại là một tấm lòng “thàng hậu” của người dân xứ Nẫu.

Trong “Hai trường hợp, một cuộc tình” Ngạn là sinh viên năm 3 tại Trường Kỹ thuật Phú Thọ Sài Gòn, đang học thì phải nhập ngũ bởi lệnh tổng động viên năm 1972. Năm 1973 huấn luyện xong ra trường, Ngạn làm lính với cấp bậc chuẩn úy, hai năm sau chiến tranh kết thúc anh bị bắt làm tù binh và đi học tập cải tạo. Ra tù, không gia đình, không biết nương tựa vào đâu, Ngạn xin đi học làm thợ sửa máy may kiếm sống. Cuộc sống tưởng chừng êm ấm khi Ngạn lấy Kiều và có con, chồng sửa máy may, vợ may vá cũng đắp đổi qua ngày. Nhưng rồi nghề sửa máy may ế khách, cô vợ có điều kiện bằng cấp và lý lịch hơn, được ông chú làm ở phòng giáo dục gợi ý theo học lớp sư phạm, chỉ cần ly hôn với anh chồng (lính ngụy) thì cô vợ sẽ đổi đời…chuyện gì đến rồi phải đến và cả hai ra tòa ly hôn.

Hay trong truyện ngắn “Quán bên sông” nhân vật Đệ có người cha bị bắt đi lính rồi mất tích, mẹ và đứa em gái chết vì bom nổ, Đệ được dì nuôi ăn học, người dì cũng ở giá vì người tình đi lính chết trận. Sau năm 1975, Đệ lớn lên học giỏi, thi đỗ vào Đại học Y khoa nhưng không được đi học vì lý lịch gia đình lính ngụy. Không nản chí, Đệ kiếm việc đi làm rồi vừa làm vừa học, cuối cùng ra trường cưới vợ ở thành phố. Những tưởng cuộc đời sẽ hạnh phúc về sau không ngờ cô vợ đòi ly dị. “Người con trai chán nản, về lại quê nhà, hàng ngày ngồi bên quán ven song thấy cuộc đời trống rỗng. Gần ba năm – hơn một ngàn ngày đêm nhìn thời gian lờ lững trôi qua đời mình. Đệ càng nhận ra nỗi cô đơn vô vị tẻ lạnh của cuộc sống phù du ngắn ngủi. Những khổ đau đã quấn vào đời anh ngay từ ngày anh vừa mới bước đi chập chững… Đệ trở về nơi đây – quanh quẩn trong ngôi nhà dì Cát như một sự cùng đường – một bến bờ phải neo lại cho đám rong bèo bồng bềnh truân chuyên”

Với lời kể bình thản của tác giả, bạn đọc cũng thấy lòng mình trống trải như nhân vật trong truyện. Chiến tranh kết thúc nhưng những phận người của phía bên kia, vẫn không thoát khỏi vòng kim cô “lý lịch”, hệ lụy của chiến tranh vẫn là nỗi đau, nỗi ám ảnh đè nặng trên từng con người, không những là nỗi khổ cho người tham chiến, mà kể cả những đứa trẻ không hề liên quan cũng bị “lý lịch” đè nặng. Chính cách hành xử khô cứng và máy móc này đã đẻ nhiều nổi đau khó quên.

Phải chăng vì mồ côi cha mẹ từ nhỏ, cuộc sống riêng cũng nhiều đổ vỡ nên nhà văn Mang Viên Long luôn khao khát tình yêu gia đình. Tình nghĩa vợ chồng được ông chăm chút trong truyện ngắn “Sáu Bẹo”. “Sáu Bẹo” kể chuyện một người đàn ông đi lính, có vợ ở nhà sinh 6 đứa con. Mặc dù biết những đứa con sau chưa chắc là con mình khi ông đi lính xa nhà, và rồi đi học tập cải tạo, nhưng ông vẫn một mực yêu thương, bỏ qua những lời đàm tiếu của lối xóm. “Điều làm cho cả xóm Thượng Tây thường xầm xì bàn tán là nét mặt mỗi đứa, đều rất giống những người đàn ông trong xóm Thượng Tây này! Giống đến nỗi như khuôn đúc vậy. Từ khuôn mặt, chân tay, dáng vóc như ” cắt để vào”, không lẫn vào đâu được. Có lẽ Sáu Bẹo cũng nhận ra điều lạ thường ấy trước tiên, nhưng ông không hề mở miệng. Vẫn yêu thương, chăm sóc – lo lắng từng miếng ăn, tấm áo, ốm đau – cho đến chuyện học hành của các con, như nhau. Ra khỏi nhà, đi làm – Sáu Bẹo thường nghe bạn bè chặn hỏi, chọc quê: “ Tao thấy mấy đứa nhỏ sau này đâu phải là con của mầy? Mầy không có con mắt hay sao vậy? “. Sáu Bẹo phớt lờ – chỉ cười: “ Nghé ai vào chuồng nhà mình là của mình thôi!”. Nhờ vậy vợ Sáu Bẹo cũng vững tâm chung lưng gánh vác công việc cùng chồng. Ông hy sinh, giữ mọi khốn khó về phần mình, nuôi con ăn học, lần lượt dựng vợ gả chồng cho sáu người con tới nơi tới chốn. Đại gia đình của ông tuy không dư giả, nhưng sống với nhau trong yêu thương đùm bọc. Chính vì vậy các con ông đều yêu quý và bênh vực cha mình, khi có người tò mò:” “ Đó là chuyện của người lớn, anh không biết! Anh chỉ biết anh được sinh ra ở nhà này, cha đã lo lắng, chăm sóc, thương yêu anh hết lòng. Anh không cần biết “ cha” nào khác!”.

Truyện ngắn “Sáu Bẹo” chưa phải là một truyện hay nhưng là mẫu nhân vật mà tôi thích, dám nghĩ dám làm, cao thượng, vị tha, mẫu đàn ông xưa – nay đều hiếm. Một người lính bại trận, trở về quê nhà, vợ con bị dèm pha. Nhưng vượt qua số phận, mạnh mẽ gây dựng lại cuộc sống gia đình từ con số không, nuôi dạy con cái nên người, gây dựng một nếp nhà hòa thuận, trách nhiệm chu toàn. Phải là người bản lĩnh, dám sống theo suy nghĩ của riêng mình mới vượt qua sự ích kỷ thường tình của người đàn ông, phải có một tình yêu cao cả mới bỏ qua những lời đàm tiếu của xã hội để bảo vệ người đàn bà mà ông thương yêu. Trong một xã hội, khi đồng tiền lên ngôi mọi luân thường đạo lý dường như đảo lộn: “Công cha thua chiếc Honda/ nghĩa mẹ khó sánh vợ ta bây giờ/ Có tiền – có của, chúng thờ/ Nghèo khô – cháy túi, chúng lơ thôi mà!”(*) thì nhân vật Sáu Bẹo của nhà văn Mang Viên Long trở thành một nét son. Thông qua “Sáu Bẹo”, tác giả muốn nói lên quan  niệm của mình về cuộc sống mà tình yêu thương đối với ông là cứu cánh. Nhà văn cũng gởi vào đó triết lý sống biết chấp nhận cuộc đời, biết hài lòng với chính mình, đấu tranh vượt lên mọi nghịch cảnh để tìm đến hạnh phúc

Mang Viên Long lớn lên ở miền Nam, nên ông thấu hiểu nỗi khổ của người thanh niên giống ông thời kỳ đó. Người thanh niên không có sự lựa chọn cho riêng mình, họ không có quyền yêu, không có quyền sống theo ý mình, họ như một con tốt trên bàn cờ chiến tranh, sống mà không biết ngày mai. Vào những năm 70, trong truyện ngắn “Dì Lucia”, nhân vật người lính Miền Nam đã bao lần trăn trở, họ đã hy vọng sẽ có hòa bình sau hiệp định Pari, hai miền Nam – Bắc ngưng chiến: “Tôi chợt nghĩ là từ khi vào lính, mặc vào người bộ áo quần dầy cộm nầy, tôi chưa có được một dịp nào, để nhìn một chút nắng êm đềm như vậy, mà mơ tưởng tới một ước mơ nhỏ nhắn tầm thường cho đời sống mình. Tôi bận rộn, tôi ngơ ngác. Tôi bồn chồn. Bấy nhiêu tình cảm đó cũng đủ khiến tôi mệt đừ trong hai mươi bốn giờ của một ngày.

       Tôi không ngờ tôi đã gặp một người nữ tu trẻ, và đẹp như dì Lucia. Chắc là tôi khó có thể tả lại được một vẻ đẹp như vẻ đẹp của dì Lucia, nhưng tôi có thể nói chắc một điều, xưa nay tôi chưa hề được gặp một người nữ nào có một vẻ đẹp, vừa quyến rũ, vừa thánh thiện như thế.Có lẽ nét hồn hậu, điềm tĩnh của dì, khiến tôi về sau này, thấy nhớ dì hơn.

       Tôi cũng đã cầu nguyện hòa bình, yên ổn như họ. Tôi chỉ biết cùng họ ước mong rằng thù hận, và máu lửa, thôi không còn kéo dài, tiếp diễn trên quê hương này nữa mà thôi. Hình ảnh kham khổ của họ đã cho tôi nhìn thấy rõ chiến tranh, thù hận, là một điều đáng ghê tởm, và đáng nguyền rủa nhất. Có bao giờ, những người chủ chiến nhìn thấy được những nét mặt, những đời sống cùng khổ này không?

       Tôi không thích chiến tranh. Tôi không là cán bộ tuyên truyền. Nhưng là một người trẻ biết trách nhiệm với quê hương, còn tin tưởng và hy vọng để xây dựng. Chính chúng ta phải xây dựng xứ sở của chúng ta chớ không ai khác, sau ngày ngưng bắn và hòa bình”.

Nhưng ước mơ của người lính phía bên kia được sống yên lành, góp phần xây dựng đất nước sau chiến tranh của họ chưa được như ý muốn sau ngày hòa bình.

Theo tôi, “Dì Lucia” là một truyện ngắn hay, viết về chiến tranh nhưng không có những cảnh chết chóc bạo liệt, ngôn ngữ nhẹ nhàng, đầy cảm xúc, không gian thi vị, gấp sách lại tôi vẫn mường tượng hình ảnh u buồn của người lính và vị nữ tu dịu dàng vẫn còn bảng lảng dưới vạt nắng chiều. Truyện kể về mối tình thoáng qua của người lính, trong một lần dừng chân đóng quân gần cô nhi viện, gặp vị nữ tu thánh thiện. Nói về chuyện tình nhưng không một lời yêu, không một nụ hôn, không dám cả một cái nắm tay…giống như tác giả sợ chạm vào, chuyện tình sẽ tan như sương, như khói. Tâm thức đầy bất ổn của người lính bàng bạc trong câu chuyện, nỗi khát khao hòa bình, thân phận tình yêu trong thời chiến để lại dư âm buồn trong lòng người đọc

Mang Viên Long, sinh ra và lớn lên ở An Nhơn, Bình Định thuộc miền Nam trung bộ, cũng như bao người con trai khác trong thời loạn ly, khi đang đứng trên bục giảng, ông cũng bị xung vào lính chiến trong thời kỳ tổng động viên. Sau năm 1975, những giáo viên “biệt phái” dạy Văn và Anh văn như ông đi học tập cải tạo, rồi không được lưu dụng, thất nghiệp ông về quê làm đủ mọi nghề, cuối cùng ông làm thợ sửa ống khóa, chìa khóa. Dù cơ cực Mang Viên Long luôn giữ phẩm cách của một nhà giáo, trong sạch, hiền lương. Nhà văn Nguyễn Mộng Giác cũng đã từng chua xót khi nói đến tình cảnh những trí thức Miền nam như Mang Viên Long sau thời hậu chiến: “Những anh trí thức càng hiền lành, tự trọng, thì càng dang dở: “…Giống như phần lớn bạn bè, tôi chẳng còn biết phải làm gì nữa. Vốn liếng không! Mưu chước bán buôn không! Những gì tôi có như lòng thành thực, tính yêu mến trẻ con, khát vọng được sống lương thiện… trở nên lẩm cẩm cồng kềnh vào buổi giao thời. Những kẽ hở của thứ luật pháp mù mờ trong lúc tranh tối tranh sáng, không phải ai cũng chui qua được. Ông biết đấy, phải khinh bỉ con người đến cùng cực (con người nói chung trong đó có cả mình) người ta mới dám mở miệng đề nghị hối lộ để khoan thai lọt qua các ngõ ngách. Thật vậy, phải biết đích xác không lầm lẫn kẻ ngồi đó là cái túi tham mới dám bắn tiếng. Tôi thì có thói quen xem mọi người đều đáng trọng. Thành thử đi đâu tôi cũng gặp những bộ mặt nghiêm nghị, xin làm gì cũng va đầu vào các bức tường nguyên tắc. Tôi thành thật nhận rằng mình không hợp với thời loạn, nên mỗi ngày mỗi thêm lúng túng. Vài người bạn có hảo tâm chỉ vẽ cho tôi một số nghề hái ra tiền. Tôi thử một vài lần, lần nào cũng thất bại. Những nghề quái ác ấy đòi hỏi cái lưng thật mềm, cái lưỡi lém lỉnh lật lọng và đôi chân dẻo chạy không biết mệt. Nghề gì bây giờ? Tôi có những điều thừa thãi và thiếu điều cần thiết, nên tìm mãi không ra được nghề gì sống lương thiện được! Chỉ còn có nghề bán bong bóng cho trẻ con” (“Lẽ sống” – Thuyền viễn xứ)

Trong bài tạp bút “Nhớ lại một câu hỏi” Mang Viên Long từng viết: “Bạn bè thấy tôi hành nghề sửa khóa làm chìa ở góc phốchợ lấy làm ái ngại cho tôi. Họ không thể ngờ một nhà giáo, nhà văn như tôi lại rơi vào một hoàn cảnh như vậy. Thật ra, tôi chưa bao giờ nghĩ rằng mình “khổ” như lời chia sẻ của các bạn, mà vẫn nghĩ điều gì rồi cũng có thể xảy đến cho chúng ta. Cứ an vui và kiên nhẫn đón nhận mọi biến đổi của cõi tạm để có niềm hy vọng mà sống tiếp”.

Thế hệ của Mang Viên Long là một thế hệ buồn, đi qua mọi thăng trầm của lịch sử, ông thấm thía nỗi đau nhân tình:

“Thế hệ tôi, cơm áo gạo tiền níu thân sát đất
Cuộc sống bon chen
Tay trần níu chặt
Bàn chân trần không dám bước hiên ngang.
Thế hệ tôi, nhận quá nhiều những di sản hoang mang

(…)
(“Thế hệ tôi – thế hệ buồn” Gia Hiền)

Sống một cuộc đời nhiều đau khổ, gian truân nhưng nhà văn Mang Viên Long không hận đời, hận người. Trái lại, ông là một người luôn yêu đời, yêu người. Ông hiểu rõ cuộc đời là một “bào ảnh/ huyễn mộng” và để chế ngự được sự “vô thường” bất hạnh kia, ông luôn vui sống chấp nhận, với tình yêu thương. Gặp ông là thấy nụ cười hiền hậu nở trên môi, với một thái độ khiêm cung của một người hiểu đời, hiểu mình. Nhà văn luôn sống với tâm thức:
“ Cám ơn đời mỗi sớm mai thức dậy.

Cho ta thêm ngày nữa để Yêu Thương”(**)

dù thế hệ ông là một thế hệ buồn

Quy Nhơn, ngày 12.3.2015

BAN MAI

 

(theo SauDong)

MANG VIÊN LONG ** Giáng sinh đang đến…

Thư viện của bài

This gallery contains 1 photo.

Giáng sinh đang đến,nhớ Dì Lucia một thời MANG VIÊN LONG                 Sau mấy tháng bị “giam” trong khu lán trại chật hẹp, tù túng, thường trực bị căng thẳng bởi tiếng kiểng và tu huýt, chúng tôi được “xả trại” … Tiếp tục đọc

Truyện Ngắn MANG VIÊN LONG

Thư viện của bài

This gallery contains 1 photo.

MANG VIÊN LONG

Theo đề nghị của bác sĩ, Nguyên phải nằm lại bệnh viện ba ngày để làm các xét nghiệm cần thiết. Nguyên không nghĩ là trái tim mình có vấn đề gì nghiêm trọng vì đây chỉ là lần thứ hai anh cảm thấy choáng, mệt –phải xin nhà trường nghỉ dạy một hai hôm là trở lại bình thường mà thôi. Trái tim của một chàng trai vừa trên ba mươi, có lẽ là không đến nỗi nào? Những lần đau tức ngực thoáng qua – nhất là về đêm, giữa giấc ngủ, cũng chỉ làm Nguyên khó thở không lâu quá một phút từ hai năm nay cũng không gây cản trở nhiều cho các sinh hoạt bình thường của anh. Nguyên nghĩ, có lẽ anh thức khuya, làm việc trên máy tính lâu, và hút thuốc hơi nhiều – nên trái tim “trục trặc” chút đỉnh vậy thôi!

Sau khi khám theo dõi liên tiếp ba ngày, siêu âm vài lần – với ba bác sĩ, rồi đo điện tâm đồ, thử máu, vị bác sí trưởng khoa tim mạch đã hội chẩn, quyết định cho Nguyên chụp hình động mạch chủ. Riêng khoản chụp hình nầy, được thông báo là mười hai triệu
Tiếp tục đọc

Truyện Ngắn Mang Viên Long * Người Thợ Sửa Khóa, Làm Chìa

Thư viện của bài

This gallery contains 1 photo.

Người Thợ Sửa Khóa, Làm Chìa Truyện Ngắn Mang Viên Long Tính đến ngày hôm nay, Nguyễn làm nghề “sửa khóa, làm chìa” đã hơn hai mươi năm. Nhiều lúc ngồi mà nghĩ lại, Nguyễn đều cảm thấy có cái … Tiếp tục đọc

Mang Viên Long * Chuyện Ở Một Ngôi Trường

Thư viện của bài

This gallery contains 1 photo.

CHUYỆN Ở MỘT NGÔI TRƯỜNG Truyện Ngắn Mang Viên Long           Lão Mịch cầm chai rượu chuệnh choạng vói tay xô cánh cổng trường lảo đảo đi vào gần dãy phòng học đầu tiên-cất giọng hét to: “ Cô giáo … Tiếp tục đọc