sắp lại ngày xưa

 đặng lệ khánh

1tocthe

 

Đã đến lúc em phải ngồi xếp lại
Kỷ niệm nằm đầy trong trí nhớ nhỏ nhoi

Mỗi một câu thơ, một câu nói cũng bồi hồi
Mỗi một giọt mưa cũng làm em gợi nhớ
Em phải loại ra ánh mắt xưa từng làm em bỡ ngỡ
Phải quên đi nụ cười thật bao dung
Kỷ niệm quá đầy tràn như bọt rượu ngon
Em lỡ nhấp nên càng say luý tuý

Hãy giúp em sắp lại từng ngăn yêu quý
Viết lại từng tên đường ta đã đi qua
Giúp em ngồi ôn lại phút giây xưa
Chép giùm tâm hồn em đang ngân nga tiếng nhạc
Sắp lại cho em những cơn mơ đầy ắp
Hạnh phúc giăng đầy như nắng mùa xuân
Vươn lấy dùm em sợi nhớ bâng khuâng
Ép lại giữa những tờ thư đã cũ

Quét sạch giùm em bụi mờ quá khứ
Tuy xa xưa vẫn phủ lấy hồn thơ
Em đang bước vào đoạn đường cuối cuộc cờ
Đời và em vẫn thường tranh nhau từng nước
Đã đến lúc em cần đặt tay lên tờ sách ước
Cầu cho em một tâm trí rỗng không
Mở giùm em cánh cửa lãng quên
Em sẽ giam vào đấy những gì em yêu nhất
Để khi em đi, chân dường không có thật
Để khi em về, mặt đất rất bao la

Giữ giùm em, tất cả những ngày qua

Đặng Lệ Khánh

Tháng Ba . Buồn .

Thư viện của bài

This gallery contains 1 photo.

Đặng Lệ Khánh
( Nhớ P. )

Tháng ba rồi đó em
Không dưng mà nằm nhớ
Những ngày xưa đã qua
Lúc mình còn nơi đó

Đọc “Tháng Ba Gãy Súng” *
Xem hình sóng người đi
Những khuôn mặt ngơ ngác
Nước mắt tràn trên mi

Hè phố đầy áo trận
Súng lăn lóc bụi đường
Giày chơ vơ từng chiếc
Nón sắt úp mặt buồn Tiếp tục đọc

*** Quê Nhà, Còn Đó Hay Không?

Đặng Lệ Khánh

Gởi Người Tình Tuvalu

Nơi ta sinh ra nước xanh như ngọc
Có những khóm dừa nghiêng bóng thầm thì
Cát trắng thi nhau mời Em đến học
Viết mãi tên Anh trên mỗi bước đi

Có cánh hải âu soãi dài trên đá
Có nắng rất vàng trên tóc buông lơi
Có Em ngồi đây ngắm mây đón gió
Lồng lộng hồn Anh thơm muối biển khơi

Tình yêu nồng nàn đâu cần tiếng nói
Sóng vỗ xô bờ lời nguyện muôn niên
Dã tràng ngàn năm sẽ hoài xe cát
Và Anh và Em sẽ tát biển êm

Sẽ có một ngày cát thôi chờ đón
Nước biển dâng dầy khuất lấp quê hương
Nơi Em đang ngồi sóng hờ hững gợn
Hải âu bay dài cất tiếng thê lương

Đặng Lệ Khánh

          tuvaluBạn đang hỏi Tuvalu là cái quái gì vậy mà K bày đặt làm thơ ư? Bạn muốn biết thì cứ mở computer và vào site này để xem nhé:

http://www.thesinkingoftuvalu.com/

Bạn đã đọc chưa? Cái quốc gia bé tí mười dặm vuông với khoảng mười ngàn người dân ấy có thể sẽ biến mất tăm trên bản đồ thế giới trong vòng năm mươi năm nữa thôi. Nơi cao nhất của nó bây giờ là 15 feet trên mực biển và nơi thấp là bốn feet. K không biết người ta đo theo kiểu nào chứ với mười lăm feet cao thì một cơn sóng lớn cũng đủ ngập rồi. Nhưng dân ở đấy văn minh lắm đấy, không thiếu truyền hình và vi tính. Có người đã xin tị nạn nước biển ở Úc và Tân Tây Lan, những nước lân cận lớn rộng, không sợ bị nước biển xâm lăng như ở quê nhà.

Năm mươi năm nữa, con số người ra biển vọng cố hương sẽ tăng thêm khoảng mười ngàn, hợp với hàng triệu người tha phương trên khắp thế giới, đứng nơi này mà vòi vọi trông nơi kia, tâm hồn vượt núi, vượt sông, vượt biển mà vọng cố hương. Người Cuban đứng trên đất Florida Bay nhìn qua eo biển mà thương người ở lại, người Việt đứng ở Cali mà vọng qua Thái Bình Dương, nhớ cuộc vượt biên. Người Nga, người Đông Âu chắc chỉ chờ mùa đông tuyết rơi rơi mà nhớ đậm nhớ đà những hội hè gia đình đầm ấm.

Các nhà văn lưu vong có người sau khi đi khắp vùng trời thế giới xin quay về sống nơi quê nhà dù phải đành gác bút, có người nhất định chôn nắm xương tàn nơi đất khách như một quê hương thứ hai, thà nhìn đất đai mây nước người từ lòng đất hơn là được chôn tại quê nhà mà vẫn thấy cô đơn.

Mất nước vì nước biển như Tuvalu mới thật là mất nước. Có ai hô hào được người dân đứng lên cùng nắm tay nhau mà tấn công hà bá long vương được. Có ai lưu vong, đi góp công, góp của, góp nhân lực để về giúp dân chống lại mực nước đang dâng được. Sự chống chỏi lại một tương lai tối mù thê thảm là sự chống chỏi tuyệt vọng ngay từ lúc sơ khai, nguyên thuỷ. Sống bây giờ là sống trên một đất nước đang đi vào cõi chết. Vài chục năm sau nữa, khi con cái khai lý lịch chánh quán của mình, tìm trên bản đồ chỉ thấy một vùng nước xanh lơ, loáng thoáng dưới đáy đầy rong, một lớp đá vẫn còn ngữa mặt nhìn trời xanh tìm bóng dáng những chú hải âu một thời nhởn nhơ bay lượn , lòng sẽ tự hỏi : Tuvalu, tên hay nhỉ, nhưng nó là gì, nằm ở nơi nào.

K lại lan man tự hỏi, con cái đời nay ở Huế, có thể có người nào tình cờ một hôm đào xới sau vườn hương hoả để đặt xuống một cây ngọc lan chẳng hạn, bỗng đào lên một di vật của Chiêm quốc. Người ấy có bâng khuâng, xót xa mà nhìn vào quá khứ để đau hận mà tìm xem Chiêm Quốc nằm ở nơi nào. Những người Chiêm mới thật là kẻ vong quốc ngay trên đất nước mình. Mỗi khi đứng giữa những hoang tàn của thành quách một thời hưng thịnh, họ chắc đau lòng vô cùng tận.

Năm kia khi K về Việt Nam, K đi Tháp Chàm ở Nha Trang, Phan Rang, Mỹ Sơn. Đứng trên Tháp ở Nha Trang và Phan Rang, K buồn buồn thôi mà không thấy thê thảm như khi đi Mỹ Sơn. Có lẽ nhờ những nơi ấy nằm trên cao nhìn xuống thành phố, còn giữ nét uy nghi ngạo nghễ của một dân tộc dù đã khuất nhưng vẫn có những trang sử oai hùng. Còn Mỹ Sơn thì khác hẳn. Nằm khuất lấp giữa rừng núi hoang vu, tiêu điều u ẩn, suối nước chảy lặng lẽ vờn quanh, cỏ hoang bơ phờ theo gió hiu hiu lành lạnh giữa trời chiều trở qua sắc tím. Những ngọn tháp rêu phong, đổ nát, tường loang lỗ, cột xiêu nằm la liệt. Trên mỗi cột to cả hai người ôm, chữ nghĩa một thời vẫn còn in dấu như những lá bùa vĩ đại bảo vệ chứng tích người xưa. Đã biết bao nhiêu nhà khảo cổ tìm về đây, mong đọc được những hàng chữ khắc đều tắp, bí mật ấy mà bó tay.

Ngồi trên cột đá, tay mân mê những hàng chữ thảo, tưởng như oan hồn một thời còn quanh quẩn đâu đây, hàng đêm khóc đòi nước cũ. Dưới chân mình là đám cỏ mắc cỡ, chạm chân nhè nhẹ cho chúng khép mắt, nằm yên ngủ bình an. Huyền Trân có vô tình góp một bàn tay diệt một giống nòi không nhỉ. Với ta, Công Chúa là một anh thư. Với người, Công Chúa chắc là kẻ phản bội. Mọi khen chê đều tuỳ theo người phán xét đang đứng ở biên giới nào. Và vì thế, lúc nào cũng chỉ là tương đối.

Người Chiêm sống trên đất nước tuy đã mất tên nhưng nắm đất rất hiện thực vẫn còn nằm đó. Từ xưa, đất vẫn là đất, họ tên do người đặt ra, đất nào cần biết tới. Đất chỉ cần biết đất đang ở cùng ai, đang ôm ấp nắm xương nào, đang nuôi sống rễ cây nào, đang góp mầu cho đám hoa nào, đang nghe trong lòng dòng suối nào len lỏi buồn buồn mà ấm áp. Tên tuổi có thay đổi, nhưng cảm giác thân quen khi vọc tay xuống đám đất xốp man mát, hay chao chân xuống con nước trong vắt, con người nơi ấy có lẽ vẫn thấy lòng gắn bó nơi mình đã sinh ra.

Người Việt lưu vong thì tâm hồn không đơn sơ đến thế. Họ làm sao biết nên đứng bên nào để nhìn về hướng quê nhà. Quê hương có mất đâu mà than mất nước. Mảnh đất hình chữ S vẫn còn nguyên, tên vẫn còn nguyên, đất đai vẫn còn đấy, chỉ có chủ thuyết là khác thôi. Chủ thuyết chắc chắn không phải là quê nhà, chủ thuyết chắc chắn không phải là quê hương. Vậy mà chúng ta vẫn buồn đau vì sự thay đổi ấy.

Chúng ta cảm thấy mất quê hương chỉ vì những kẻ theo chủ thuyết ấy đã đối xử những kẻ đối đầu với họ một cách tàn nhẫn, để lại những vết thương không bao giờ khép lại trong tim và trong trí nhớ của những anh hùng đã sa cơ. K cũng chắc rằng không phải vì bị đối xử tàn ác mà chúng ta không chấp nhận họ và chủ thuyết của họ. Chúng ta có tư duy để thấy lý thuyết ấy không sao nâng con người lên đến chỗ thăng hoa của tâm hồn.

Con người không phải chỉ thuần sinh lý. Con người còn có nhân phẩm, có tâm hồn, có tư tưởng. Con người không chỉ kiếm tìm thực phẩm cho cơ thể cần sinh tồn, nó còn cần tìm thức ăn cho tâm trí muốn được khai sáng và tự do. Những thức ăn tinh thần ấy, ở quê nhà không bán, ai muốn mua phải mua chợ đen, mua lặng lẽ và ăn trong lặng lẽ.

Quê nhà còn đó mà như mất. Bước chân về mà như đi vào một nước xa lạ, lòng lại có cảm giác như mình đang phản bội lại những người bạn một thời đã sát cánh tranh đấu cho một lý tưởng chung. Đi hay ở, người Việt có lương tâm ở hải ngoại vẫn không nguôi thổn thức trong lòng cố tìm cho mình một câu trả lời thật nghiêm trang và đầy nhân bản. Hoặc ít ra, đó là câu hỏi K riêng nhìn thấy được trong những ánh mắt của bè bạn thân quen.

Quê nhà, còn đó hay không?

Đặng Lệ Khánh

 

*** Em từ lục bát bước ra

đặng lệ khánh

Em từ lục bát bước ra
Tóc mềm quấn vội, áo là chưa tươm
Gót chân vương ngọn cỏ thơm
Tay ôm mấy khúc đoạn trường dở dang

Em cười, trăng thở đầu non
Em đi, hương bưởi khẽ luồn vào thơ
Từ Em, sáu tám đong đưa
Từ Em, mấy nốt nhạc đùa à ơi

“Đêm đêm ra đứng nhìn trời
Sao mờ, cá lặn, nhện khơi nỗi nhà …”

Em từ lục bát bước ra
Ca dao thấm đẫm mượt mà thời qua

Lời ru từ thuở ấu thơ
Trên vai cháu tựa, chị đưa ạ ời
Vỗ lưng bé bỏng tuyệt vời
Giữa khuya tĩnh lặng ấm hơi ngủ vùi

Em từ lục bát mỉm cười
Thả tay rải những ý lời đơn sơ
Bồng bềnh kẽo kẹt nôi xưa
Theo câu sáu tám đêm là đà vơi…

Đặng Lệ Khánh

*** ÔI CHAO GIỌNG HUẾ !

đặng lệ khánh

1aodaibuon

      

Mình người Huế mà đi nơi lạ, nghe được giọng Huế mô đó là rán ngước mắt, quay đầu tìm cho kỳ được chủ nhân của giọng nớ đang đứng ở mô, có quen chút mô không. Người Huế qua Mỹ hà rầm, mô phải ít. Cứ mỗi lần nghe giọng Huế thì quay đầu tìm, chẳng mấy lúc mà chóng mặt, nếu không gãy cổ. Nhưng mà lạ quá, hễ nghe được thì tự nhiên trong lòng như có một chút dậy sóng, a, bên cạnh mình đang có một ai đó đang tha hương lạc bước từ xứ mình đây.

Hôm kia đi ăn cưới, hai bên dâu rể đều là người Huế. Ông MC người Huế, ông ca sĩ chính cũng người Huế. Khi ông ca sĩ nói, một cô trong bàn phê bình : ” Ông ni nói tiếng Huế chi lạ rứa, ông nói tiếng chi a! “, còn ông xã thì nói: ” Nói tiếng Huế gì nghe nặng wá, hổng hiểu gì cả .”  K thì nghe hiểu tất.

Vậy thì giọng Huế ra răng mới đúng tiêu chuẩn ? Cô bé phê bình giọng Huế của chàng ca sĩ thì vừa rời Huế năm năm, ông xã K là Huế lai căng, sinh ở cao nguyên và lớn lên ở miền Nam, họ có đôi tai khác hẳn K chăng ? K không phân biệt được âm sắc trong giọng nói chăng ? Hay là K vì lòng thương Huế, cái xứ mình bỏ mà đi từ xưa nên rộng rãi hơn với cái giọng thân thương nớ, nghe bằng trái tim hơn là bằng đôi tai?

Giọng Huế khác với giọng Hà Nội, giọng Sài Gòn ra răng mà ông Hà Huyền Chi đi giữa chợ Mỹ, chắc chắn là nghe rất nhiều người nói tiếng Việt, mà chỉ khi nghe giọng Huế mới chiêng trống dậy hồn quê, mới khơi nỗi sầu xa xứ chất ngất trong lòng, dù ông là dân Bắc chính cống ? Có phải chăng khi đã nghe một giọng Huế thỏ thẻ bên tai, không chỉ là lời đi vào hồn người, mà cái giọng đã đậu trong tim, đâm cành trẫy lá ?

…Giọng Huế bỗng nghe từ chợ Mỹ
Mà chiêng mà trống dậy hồn quê
Hương cau màu trúc xanh thôn Vỹ
Áo mới xênh xang giữa hội hè

Tôi bước bên nàng không dám thở
Không gian đầy Huế núi cùng sông
Tóc ai thả gió hồn tôi mở
Dấu kín trong tim những nụ hồng

Hà Huyền Chi ( Huế đầy)

Giọng Huế quý giá vô cùng làm cho Mạ đã lưu lạc bao nhiêu năm, mất mát đủ thứ mà khư khư ôm lấy giọng Huế ướt rượt, nhất định không đánh đổi, không pha trộn, dù đời sống Mạ như cuồng lưu tràn bờ biết bao lần. Lúc lắng xuống, giọng Mạ như giòng Hương sau những cơn cuồng nộ, lại lặng lờ xanh trong chảy xuôi ra biển, êm ái nghe giọng hò thoang thoảng xa đưa.

…Tuổi con gái Mạ từng uống nước sông
Đến bây giờ giọng Huế nghe còn ướt
Giọng Huế nghe còn một chút gì trong
Bao đắng cay pha vào chưa đục được …

Đoàn Vị Thượng ( Giọng Huế của Mạ)

Giọng Huế ăn sâu trong tâm người con Huế, đi đến bờ bến nào cũng thương nhớ không nguôi. Chỉ cần nghe tiếng thỏ thẻ của một người bạn Huế là gợi nhớ đến một thời thơ ấu có tiếng Mạ ru hời bên tai, và cảm thấy gần gũi ngay, như gần gũi với thời gian đã qua, đã mất.

…Nếu lại được em ru bằng giọng Huế
Được vỗ về như mạ hát ngày xưa
Câu mái đẩy chứa chan lời dịu ngọt
Chết cũng đành không hối tiếc chi mô

Tô Kiều Ngân ( Giọng Huế)

Giọng Huế của gái Huế dịu dàng, nhiều người công nhận. Nhưng giọng Huế con trai Huế thì đang còn được bàn cãi. Nhiều người cho rằng giọng trai Huế không hùng hồn, không kêu gọi được người khi làm chuyện lớn. Điều ấy thực chăng ? Không phải đâu. Chỉ tại người Nam và người Bắc không muốn sửa đổi đôi tai của họ để nghe một âm sắc trầm trầm bằng bằng. Không sửa được, họ không hiểu thì họ không nghe. Nên để được người nghe, người Huế đổi giọng. Người Nam, người Bắc không ai đổi giọng của họ, mà người Huế thì đi đến đâu pha giọng đến đó. Chính vì vậy mà người khác địa phương không cần phải lắng nghe, sửa tai mà nghe. Hai người Huế tha phương gặp nhau, phải một thời gian lâu mới biết là họ cùng người Huế cả vì họ nói giọng Bắc, giọng Nam. Khi biết ra, cả hai cùng hân hoan, tự hào nói : Rứa hả, em cũng Huế đây nì.

Ngày K mới theo chồng từ Huế vào Sài Gòn, K ở chung với chị chồng. Bà đi làm suốt ngày. Bà có một người giúp việc, bà Tư, người Kiên Giang. Trong những ngày đầu sống trong căn gác xép xa lạ, chồng theo tàu lênh đênh, chung quanh không người thân quen, K chỉ có mỗi bà giúp việc ấy để chuyện trò cho đỡ nhớ nhà. Mà nói chuyện với Bà như nói chuyện với người điếc. Bà nói K còn nghe được chứ K nói thì bà hoàn toàn mù tịt, không hiểu K nói gì. Nhờ bà làm gì rồi thì cũng tự mình đi làm lấy vì bà ư hử mà không làm, chỉ vì bà không biết K muốn gì. Bà than : ” Cô nói tiếng ngoại guấc, hông nói tiếng Yiệt “.

Đối với người Nam, ai không nói giọng Nam là không nói tiếng Việt.

Như vậy, giữa tiếng và giọng, có một sự sai biệt khá lớn. Chúng ta hay dùng lẫn lộn. Khi nói ” nói tiếng Huế ” hay ” nói giọng Huế ” , thì ai cũng hiểu ngay là người ấy đang dùng âm thanh trọ trẹ để phát ngôn. Nhưng khi nói theo ông Võ Hương An ” Tiếng Huế, một ngoại ngữ “, thì rõ ràng tiếng không còn là giọng Huế nữa. Bạn có thể nói giọng Huế, nhưng giọng Huế nớ sẽ không là giọng Huế rặt nếu bạn không dùng mô tê răng rứa. Nghe một giọng Huế thỏ thẻ mà trong câu toàn là thế là thế nào, thưa vâng, không sao đâu ạ thì nghe nó … kỳ kỳ như ăn cơm hến với dưa muối, cà pháo. Huế không thưa vâng ạ. Huế chỉ dạ nhẹ nhàng. Cái tiếng dạ của mấy cô gái Huế làm chết biết bao chàng trai Huế cũng như không Huế. Huế không nói thế là thế nào, Huế nói : Dạ, rứa là răng ? Mấy chữ mô tê răng rứa ni phải đi với giọng Huế, chứ còn đi với giọng Sài Gòn, với giọng Hà Nội thì dĩ nhiên chỉ là nói đùa cho vui, hoặc đang lấy lòng một người Huế nào đấy thôi, hoặc là một dấu vết cho thấy người nói đã một thời lăn lóc trên đất người, đã lậm tiếng người, đã mất gốc không nhiều thì ít. Như K đây. Đau lòng mà nhận ra như rứa.

Người Huế không kêu ” cô “, người Huế kêu ” O “.
Người Huế không kêu ” Bà “, người Huế thưa ” Mệ “
Người Huế không “nói “, người Huế “noái “
Người Huế không “mắc cỡ “, người Huế “dị òm”,
Người Huế không hỏi: “Sao vậy? “, người Huế hỏi “Răng rứa? “
Người Huế không nói ” Đẹp ghê “, người Huế nói ” Đẹp dễ sợ. “

Người Huế cái chi cũng kêu lên “Dễ sợ !! “, dữ dễ sợ, hiền dễ sợ, buồn dễ sợ, vui dễ sợ, xấu dễ sợ, thương dễ sợ, ghét dễ sợ.

K đang trở lại với Huế, đang nói lại cái giọng mà thuở xưa đã từng thỏ thẻ bên tai ai, đang tìm học lại tiếng Huế, một ngôn ngữ tuy đang dần dần bị mai một vì những đợt sóng người từ các nơi trôi dạt đến. Những người mới này mang theo họ cái giọng, cái tiếng từ quê cha đất tổ, hoà lẫn với tiếng và giọng Huế, tìm cách đồng hoá nó, như xưa kia người Việt đồng hoá người Chiêm.

Những người ở các vùng khác có tha thiết nhớ và gìn giữ tiếng và giọng của họ không hè ?

Hồi còn đôi tám, đi nghỉ hè trọ ở nhà một người bạn gái tại Sài Gòn. Nhà bạn có hai ông anh lớn hơn chừng ba bốn tuổi. Cả bọn họp thành một nhóm đi chơi với nhau vui vẻ. Một buổi trưa, sau khi đi chơi đâu đó về, cả 4 nằm ngang trên chiếc giường lớn nói chuyện bâng quơ. Một trong hai anh nằm kề K, lấy mái tóc dài của K đắp ngang mặt mình, hỏi :

” Tại sao người Huế khi nói gì cũng nói ” dễ sợ ” vậy K ? “
” K không biết. “
” Vậy thì nếu nói ‘ Dễ thương dễ sợ ‘ có đúng không ? “
” Không biết. “

Đặng Lệ Khánh