HAI CÁI KHÙNG ĐẸP GẶP NHAU!

Thư viện của bài

This gallery contains 2 photos.

Châu Thạch Tản Mạn Thơ là gì nhỉ? Có rất nhiều định nghĩa về thơ nhưng chưa có ai định nghĩa thật đúng về thơ. Châu Thạch cũng học đòi dịnh nghĩa thơ theo ý riêng của mình. Thơ đối … Tiếp tục đọc

NÓI CÙNG CAO NHẬT THANH.

Châu Thạch

chauthach-caonhat thanh (3)

 

Có một ngày em ở tuổi mười lăm
Tiếng ca em làm động trăng rằm
Tiếng ca bay trên cổ thành Quảng Tri
Anh gát trên thành lắng nghe xa xăm

Từng phiến đá cũng nằm nghe em hát
Màu rêu xanh tích tụ của thời gian
Tiếng em ca làm thấp ánh trăng vàng
Ướt phiến đá và vai anh sương lệ

Rồi cuộc chiến biến đời thành dâu bể
Anh bỏ đi lòng cứ muốn quay về
Năm mươi năm mù mịt cả sơn khê
Quên tiếng hát và quên người em nhỏ

Bỗng một hôm tiếng ca ngày xưa đó
Vọng âm thanh qua ngàn dặm quan san
Máy cầm tay nghe em hát vang vang
Nhìn khung ảnh thấy em còn trẻ đẹp

Vui biết mấy cửa thời gian không khép
Vẫn là em và tiếng hát ngày xưa
Anh bây giờ đời qua hết gió mưa
Nghe em hát nhớ một thời áo trận

Em cũng thế biết bao cơn lận đận
Cũng như anh qua đại lộ kinh hoàng
Qua cầu dài, cầu ngắn máu hồng loang
Đi một cuộc xé lòng đau xứ mẹ

Vui em nhé bây giờ vui em nhé
Anh chúc em cứ trẻ mãi không già
Níu thời gian để được sống hoan ca
Em thì hát, anh làm thơ để tặng.

Châu Thạch.

ĐỌC TRƯỜNG CA:“SÓNG THỊ THÀNH VÀ EM” CỦA NGÃ DU TỬ

Thư viện của bài

This gallery contains 1 photo.

Châu Thạch “Trường ca là thuật ngữ văn học chỉ các tác phẩm thơ có dung lượng lớn, thường có cốt truyện tự sự hoặc sườn truyện trữ tình. Có nhiều thể loại trường ca: trường ca anh hùng, trường … Tiếp tục đọc

ĐỌC “VỀ LẠI CHỢ GIỒNG” THƠ TRẦN NGỌC HƯỞNG  

Thư viện của bài

This gallery contains 1 photo.

 Châu Thạch  cảm nhận Về lại Chợ Giồng Nhiều năm đi biệt không tăm tích Về chẳng còn ai nhận được ta Đường cũ thay tên nhà đổi chủ Lối vào kỷ niệm… biết đâu là Chợ Giồng đó buổi … Tiếp tục đọc

GIỚI THIỆU TẬP TRUYỆN THƠ “DIỆU TÂM CA” CỦA NHÀ THƠ TÂM NHIÊN

Thư viện của bài

This gallery contains 1 photo.

– CHÂU THẠCH       “DIỆU TÂM CA”, một tác phẩm của nhà thơ Tâm Nhiên mà với trí tuệ thô thiển của mình tôi tạm hiểu là một “khúc ca về Chân Tâm Vi Diệu” . Tôi thường tự nhận … Tiếp tục đọc

TÂM TRẠNG CỦA TRỜI

Thư viện của bài

This gallery contains 1 photo.

ĐỌC ‘TÂM TRẠNG CỦA TRỜI” THƠ PHẠM ĐỨC MẠNH       (TÂM TRẠNG CỦA TRỜI  HAY CỦA NGƯỜI?)     TÂM TRẠNG CỦA TRỜI ! 1  Hình như tâm trạng của Trời   Còn vương vướng chuyện nợ lời nguyền xưa   Sáng thơm nắng, chiều … Tiếp tục đọc

THỬ SUY NGHIỆM VỀ “CUNG THỤY DU” TRONG BÀI THƠ “KHÚC THỤY DU” CỦA TRẦN MAI NGÂN.

Thư viện của bài

This gallery contains 1 photo.

CHÂU THẠCH cảm nhận KHÚC THỤY DU ***Em biếtTrăng Thu huyền ảo lắmCàng chạy tìm – càng xaBóng trắng cứ sáng loàCung Thuỵ Du ảo mộng… Em biếtTrong khúc quanh đồng vọngDư âm của dấu yêuDù rất rõ một điềuLà … Tiếp tục đọc

NỖI XÓT XA KHẮC KHOẢI TRONG BÀI THƠ “CHO MỘT NGƯỜI ĐÀN BÀ ĐÃ ĐI XA” CỦA NHƯ KHÔNG

Thư viện của bài

This gallery contains 1 photo.

Châu Thạch Cảm Nhận NhuKhong CHO MỘT NGƯỜI ĐÀN BÀ ĐÃ ĐI XA Mấy mươi năm trôi qua Chưa kịp gặp lại nhau lần nào Em đã ra đi Một lần mãi mãi Bến sông cũ đã bao dòng nước … Tiếp tục đọc

CHIỀU 30 TẾT NGHE TRẦN TRUNG ĐẠO HÁT.

Châu Thạch

xuan112

Chiều ba mươi Tết
Nghe Trần Trung Đạo hát
Tôi đã sầu như người đã ra đi
Tiếng ca buồn chấp chới cánh thiên di
Đau lòng những rặng thuỳ dương xơ xác

Chiều ba mươi Tết
Nghe tiếng buồn của nhạc
Ở bên kia trái đất vọng trôi về
Tiếng ca sầu như tất cả tái tê
Tôi ở lại cũng tưởng mình vong quốc

Chiều ba mươi Tết
Sầu ngàn tơ trau chuốt
Trách ai người đã hoá lệ âm thanh
Để trong tôi mùa đông bước không đành
Xuân đang đến ngoài kia như muốn khóc

Chiều ba mươi Tết
Nhớ tháng ngày khó nhọc
Chiều ba mươi
Chất chứa những niềm riêng
Gió bên kia nơi hoa lệ mơ huyền
Người viễn xứ thổi hồn về rất lạnh!

Châu Thạch

ĐỌC “MẤY DÒNG XUÂN GỞI BẠN” THƠ NGUYỄN NGUYÊN PHƯỢNG

Thư viện của bài

This gallery contains 1 photo.

Châu Thạch   MẤY DÒNG XUÂN GỞI BẠN Tùng cúc lưỡng khai tha nhật lệ- Đỗ Phủ Nửa phía biển dạt trôi…miền vọng nhớ Tan tác chiều chia biệt bởi vì đâu Nắng Cali chập chờn tầng ngất phố Những … Tiếp tục đọc

ĐỌC TẬP THƠ “VẪN LÀ EM” CỦA HƯƠNG LAN 

Thư viện của bài

This gallery contains 1 photo.

Châu Thạch      Nhà thơ Hương Lan, quản nhiệm CLB thơ facebook Quảng Trị vừa xuất bản tập thơ “Vẫn Là Em”. Đây là một tập thơ tình dành riêng để trăn trở cho một cuộc tình rất đẹp, rất đẹp … Tiếp tục đọc

NHÀ THƠ MẠC UYÊN LINH VỚI “THƠ TÌNH KHÔNG TUỔI”  

Thư viện của bài

This gallery contains 1 photo.

Châu Thạch        Cầm tập “Thơ Tình Không Tuổi” của nhà thơ Mạc Uyên Linh gởi tặng, nhìn tấm ảnh của nhà thơ được đăng trên trang bìa, tôi cảm thấy tấm ảnh như thể hiện thứ thơ tình không … Tiếp tục đọc

Thơ Tháng 12

Châu Thạch

aodai54-r

Hạt Thanh Châu Em Hát

Trong dãy ghế tôi bình an tỉnh lặng
Trên bục thờ em hát bản Thánh ca
Bóng hồng âm bay vút lên cao xa
Và rơi xuống hạt thanh châu vọng tiếng

Tôi cảm thấy cõi bờ xa thánh thiện
Thấy dòng sông có cây trái chửa lành
Thấy thành vàng mây trắng dợn vòng quanh
Mỗi cánh cửa là ngọc châu nguyên tảng

Em, có phải tâm hồn tôi lảng mạn
Không, em ơi đó là chốn ta về
Hai chúng mình nơi đó chính là quê
Em sẽ hát ở nơi miền vinh hiển

Nghe tiếng hát trong hồn tôi hiển hiện
Cõi vĩnh hằng không có mặt trời đâu
Sự vinh quang sẽ sáng mãi trên đầu
Ta ở đó với tình yêu tinh tuý

Tôi bỗng thấy em như hoa tuyệt mỹ
Tưởng thiên binh rải xuống một làn hương
Thơm rất thơm thứ nhuỵ ở Thiên Đường
Linh đầy dẫy và em đầy ân tứ!

ÔI ĐÊM THÁNH!

Ai đứng đó giữa màu xanh rừng tuyết
Chờ nôn nao giờ Thiên Chúa giáng trần
Cả hồn thơ nghe nhẹ đến lâng lâng
Ôi Đêm Thánh Vô Cùng, êm ái quá!

Khuya đã đến muôn rừng tia lấp lánh
Vạn ngàn sao đồng vọng giữa càn khôn
Bài Thần Ca linh đến mỗi tâm hồn
Vinh danh Chúa và bình an dưới đất!

Ai đứng đó nghe đất trời đồng nhất
Tiếng kinh cầu bay theo tiếng chuông ngân
Lời trên ngôi đã giáng xuống dương trần
Để từ ấy Tin Lành theo cánh gió.

Ai đứng đó, chính là tôi đứng đó
Hồn nhân gian nên Thánh bởi ơn cao
Thấy trong tâm bông trái quá ngọt ngào
Tôi đã chết và tôi vừa sống lại!

THƠ KHUYA

Đêm ta ngồi thức trắng
Tại ly cà phê đắng tối nay
Chàng Lang Trương không mời uống ban ngày
Đêm mới gọi giữa khi trời rất rét

Ngồi với bạn vong niên thật dễ ghét
Mở miệng ra nó nạt nộ ào ào
Nạt kệ mầy tớ vẫn chẳng có sao
Miễn có bạn bên nhau thì hạnh phúc

Đêm thì trắng nhưng hồn ta thì đục
Càng về khuya càng thấy đời về khuya
Trần gian ơi rồi cũng đến chia lìa
Trời sẽ sáng và đêm dài sẽ hết

Ta sẽ đến Thiên Đàng không sự chết
Sẽ nhớ thương mòn mõi cõi trần gian
Ở trên cao không có lệ hai hàng
Thì đâu có dòng bi thơ trác tuyệt

Thì đâu có tình yêu em da diết
Đâu chia ly đâu hờn dỗi thất tình
Đâu có ngày để ngắm ánh binh minh
Đêm chẳng có để thơ thành dế gáy

Lạy Thượng Đế lòng con chưa muốn thấy
Linh hồn con về nơi chốn Cha ban
Xin vẫn còn nấn ná ở trần gian
Để đước nếm vị sầu khuya nay có./.

Châu Thạch

 

ĐỌC TẬP TRUYỆN NGẮN “XÓM CÔ HỒN” KHA TIỆM LY


 
Châu Thạch    

Phi lộ: Nhân dịp nhà văn Kha Tiệm Ly vừa tái bản tập truyện ngắn “Xóm Cô Hồn” lần thứ ba, tôi xin đăng bài cảm nhận của mình về tập truyện ngắn nầy. Đây là một tập truyện có giá trị cao, không thể không có trên tủ sách gia đình. Quý vị nào cần mua xin liên hê với nhà văn trên trang facebook khatiemly Hao han. Kính mời.  

Bài Bình: Châu Thạch   

    Đến tuổi thất thập cổ lai hy; nhà văn, nhà thơ Kha Tiệm ly mới xuất bản được tác phẩm của mình, khi mà tên tuổi ông trong và ngoài nước không mấy ai không biết và không yêu mến. Điều đó chứng tỏ Kha Tiệm Ly đã cày trên thửa ruộng văn chương của mình, thu hoạch hoa màu thật tốt tươi nhưng thời nay, thứ sản phẩm trí tuệ tốt tươi ấy đem tặng không cho đời thì dễ nhưng bán cho đời thật khó.  

     Cũng may tập truyện ngắn Xóm Cô Hồn in 1000 quyển đã được mua sạch khi mới đem về, chứng tỏ uy tín Kha Tiệm Ly khiến cho nhiều người háo hức đón chào. Đến nay ông đã xuất bản lần thứ ba nhưng sách vẫn bán chay. Thành thật chúc mừng ông.  

     Xóm Cô Hồn gồm có 19 truyện ngắn, trong đó có 9 truyện truyền kỳ, còn lại dành cho nhiều thể loại khác.    

     Trước hết người viết xin đề cập đến truyện truyền kỳ của Kha Tiệm Ly vì ở tập sách nầy truyện truyền kỳ chiếm một số trang rất lớn.    

     Truyền kỳ là gì? Tìm câu trả lời hay nhất trên Google như sau: “Truyền Kỳ Mạn Lục (nghĩa là Sao chép tản mạn những truyện lạ) là một tập truyện của nhà văn Nguyễn Dữ, được in trong khoảng năm 1768. Dù là sao chép tản mạn những truyện lạ nhưng Truyền Kỳ Mạn Lục không phải là một công trình sưu tập như Lĩnh Nam Chích Quái, Thiên Nam Vân Lục… mà là một sáng tác văn học. Lấy bối cảnh chủ yếu là một phần hiện thực thế kỷ XVI, các truyện hầu hết ở thời Lý, Trần, Hồ, Lê sơ và đều có yếu tố hoang đường, nhưng đằng sau những yếu tố hoang đường đó chính là hiện thực xã hội phong kiến đương thời với đầy rẫy những tệ trạng mà tác giả muốn vạch trần, phê phán.  

      Truyền Kỳ Mạn Lục phản ánh số phận bi thảm của những con người nhỏ bé trong xã hội, những bi kịch tình yêu mà bất hạnh thường rơi vào người phụ nữ (như người thiếu phụ Nam Xương), thể hiện tinh thần dân tộc, bộc lộ niềm tự hào về nhân tài, văn hoá nước Việt (như chuyện chức phán sự đền Tản Viên), đề cao đạo đức nhân hậu, thuỷ chung, đồng thời khẳng định quan niệm sống “lánh đục về trong” của tầng lớp trí thức ẩn dật đương thời.     

     Truyền Kỳ Mạn Lục là đỉnh cao đánh dấu bước trưởng thành của thể loại truyền kỳ Việt Nam thời trung đại, từng được Vũ Khâm Lân (thế kỷ 17) khen tặng là “thiên cổ kỳ bút”. Tác phẩm đã được dịch ra nhiều thứ tiếng nước ngoài và được đánh giá cao trong số các tác phẩm truyền kỳ ở các nước đồng văn.”    

     Vậy thể loại truyện kỳ có ở nước ta từ 400 năm trước. Nay giữa thế kỷ 21 nầy nhà văn Kha Tiệm Ly lại quay về với nhưng câu chuyện cổ xưa, với lối hành văn cổ xưa, chắc là ông muốn tải cái đạo lý của thời xưa cho người đời nay suy nghiệm.  

      Truyện truyền kỳ của Kha Tiệm Ly đọc hấp dẫn không thua gì Liêu Trai Chí Dị. Trước hết nó đưa ta đến những cảnh vật nên thơ có con người và những mối tình thú vị, với mỹ nhân và thánh thần bí hiểm . Sau nữa truyện truyền kỳ như con thuyền tải đạo lý, đánh động lòng ta suy nghĩ về lẽ phải, công bằng xã hội, nhân cách con người và quyền sống tự do, hạnh phúc.    

      Ta không thể không thoả lòng với con “Chồn Cái Có Nghĩa” tuy ân ái với chàng thư sinh nhưng giúp cho tình chồng vợ của chàng không lỗi đạo.    

      Ta không thể không mông lung suy nghĩ cái cao siêu trong “Chuyện Hai Con Rồng” nói về một bậc nhân tài vẽ muôn chim, muôn thú, muôn hoa y như là thật, nhưng khi vẽ cặp phi long treo tại ngai vàng thì chỉ quệt hai đường mực xạ khiến phải bị rơi đầu! Sau đó chỉ một tên lính hầu tầm thường nói nhỏ vào tai đã khiến nhà vua tỉnh ngộ nhận ra cái thâm thuý của cặp tranh kia để trở thành một đấng minh quân.    

      Ta thật cảm phục câu chuyện “Liệt Nữ anh Hùng” người vợ thủ tiết chết theo chồng.  

       Câu chuyện linh hồn một cân quắc anh thư “ Liên Hà Tiểu Thư” chết vì cả nhà bị lũ gian thần hảm hại, đã hiện thân vầy duyên cùng một ẩn sĩ có ngọn bút như thần viết “Biên Cương Nộ khí Phú”, một bài phú hào hùng, tràn lòng yêu nước, yêu quê hương.     

       Ta thú vị với “Truyền Thuyết Hoa Đà”, một danh y cương trực khẳng khái, đã chữa lành cho hoàng hậu phát bệnh do “thiếu nặng đức nhân, thich nghe lời xu nịnh, chẳng phân biệt phải trái, hay dùng lời cao ngạo” và đã đánh lừa được ước muốn của một hôn quân sinh hoang tưởng mơ chuyện cỡi rồng.     

     Ta cảm kích câu chuyện “Thuỷ Chung Với Vợ” kể chuyện người chồng không đành giết vợ mình khi biết nàng là loài hồ ly bước ra từ chính bức tranh chàng hoạ.     

     Rồi câu chuyện “Khí Phách Giang Hồ” xảy ra trong thời chống Pháp thuộc vùng Gia Định Nam Kỳ, giữa môn phái võ thuật yêu nước đấu tranh cùng môn phái theo gót ngoại bang. Câu chuyện đề cao tinh thần yêu nước, nghĩa khí giang hồ, tình yêu cao thương của anh hùng hảo hán thời bấy giờ.     

     “Ăn Tết Với Ma”, “ Ngọc Lựu Mỹ Nhân” là nhưng câu chuyện xảy ra ở thời mạt Minh bên Tàu hay thời Lê Trung Hưng đất Việt, đều là những câu chuyện huyễn hoặc trong thời suy thoái quốc gia, trên thì tranh giành quyền lực, thu gom của cải, dưới thì sách nhiễu dân chúng, tuỳ tiện cướp của cướp nhà, bá tánh phải chịu muôn vàn lầm than khốn khổ, nước mắt chảy thành sông, thành suối, từ đó những hồn ma bóng quế nữ nhi chịu oan ức không siêu thoát mà trở lại với đời, kết nghĩa với hiền tài bất đắc chí ở trần gian.     

      Truyện truyền kỳ của Kha Tiệm Ly lấy tấm gương xưa mà soi vào hiện thực, khéo léo mà sâu xa, nhẹ nhàng mà thâm thuý, cuốn hút người đọc thích thú theo sự việc ly kỳ để rồi khi bình tâm lại, nghe tiếng lẽ phải cáo trách, nghe lương tâm thời đại nhói đau trong lòng.    

     Mười truyện ngắn còn lại, Kha Tiệm Ly viết về kỷ niệm đời mình, về những mẫu người đặc biệt, về nếp sống của tầng lớp cùng đinh xã hội. Nói chung mỗi câu chuyện đều làm cho ta suy nghiệm về một triêt lý sống ở đời.  

      Với truyện ngắn “Gánh Hát Về Làng” ta quay lại thời tuổi thơ của tác giả ở một miền quê Nam Bộ. Thời đó gánh hát bội về làng và gánh hát bội ra đi để lại trong lòng trẻ thơ biết bao nhiêu là kỷ niệm êm đềm.  

      Với truyện ngắn “ Nhật Ký Của Ba” làm ta rơi nước mắt vì người cha bán một phần thân thể cho con ăn học. Truyện ngắn “Xóm Cùi” viết về một người đàn bà xấu xí tật nguyền bị hất hủi cho đến phút cuối cuộc đời. Truyện ngắn “Người Bạn Lạ Đời” kể chuyện một người đi tu có tính toán nhưng đem đến cho ta nhiều phân vân về cái thật cái giả ở đời. Truyện ngắn “Đạo Đời Hai Ngã” là nỗi đau của mối tình phân rẽ, gặp nhau lại thì đạo, đời hai ngã lại làm cho phân cách nhau hơn.  

      Những truyện ngắn như “Đậu Cô Lang”, “Muộn Màng”, “Thế Võ cuối cùng”, “Xông Đất”… đều cuốn hút người đọc vào tinh tiết lý thú trong hư cấu nhân vật nổi bật và bố cục mạch lạc ngắn gọn làm cho ta say sưa câu chuyện . Đặc biệt “Xóm Cô Hồn” có lẽ là câu chuyện tâm đắc của tác giả nhất nên ông đã lấy nó làm đầu đề cho cả tập truyện ngắn của mình. “Xóm Cô Hồn” nhưng lại có hồn vì nơi đó chứa những mảnh đời bất hạnh, những thành phần lao động từ tứ xứ kéo về. Đời sống họ phi pháp, nếp sống họ xô bồ vì xã hội đẩy họ vào chỗ cùng đinh nhưng tình bạn của họ, sự chơn chất của tâm hồn, sự đùm bọc che chở nhau phát xuất từ vẻ đẹp, từ sự cao thượng một cách rất tự nhiên có trong lòng họ.  

     Đọc truyện ngắn “Xóm Cô Hồn” ta tìm thấy ở đó tính nhân văn trong lớp người bần cùng của xã hội, ta tìm thấy ở đó tính Người viết hoa, nhân phẩm của họ được đề cao trong tính cách, trong cách xử sự theo lối bình dân của họ, một lớp người khốn khổ. Lời văn trong những câu chuyện nầy vô cùng xúc tích, giống như một hiền nhân điềm đạm kể chuyện đời, rót vào tai người nghe những điều ý vị trong những nghịch lý của nhân quần xã hội.    

     Nói chung, tập truyện “Xóm Cô Hồn” của Kha Tiệm Ly là một tác phẩm đáng trân trọng, phù hợp với mọi người, mọi tuổi đời dầu già hay trẻ, vì trong đó chứa đựng huyền thoại để con người được tưởng tượng khi xem, vì nó chứa đựng nhiều câu chuyện hấp dẫn về người, về thần , về ma một thuở xa xưa, vì nó dựng lại cuộc sống của con người hiện thực trong con mắt sâu sắc của văn nhân. Tất cả những thứ ấy như những bó hoa chở trên con thuyền đạo lý, để người đọc nhìn thấy cốt truyện như vẻ đẹp của hoa và ẩn dụ của truyện như hương thơm ngào ngạt toả ra, đọng lại lâu dài trong thiện tâm của ta./.     

                                                          Châu Thạch   

Bàn Về “ĐỌC LẠI NGƯỜI XƯA” Bài 1- Thơ Vũ Hoàng Chương

I – Sơ lược về nhà thơ Vũ Hoàng Chương:  

     Vũ Hoàng Chương(1916-1978) ở Nam Ðịnh, nguyên quán ông là làng Phù Ủng, huyện Đường Hào nay là huyện Mỹ Hào tỉnh Hưng Yên.  

Thi phẩm của Vũ Hoàng Chương được nổi tiếng nhất là tập Thơ Say (xuất-bản năm 1940). Sau tháng Tám 1945, nhà thơ họ Vũ đã cho ra đời thêm mấy tập thơ nữa là: Mây (1943), Rừng Phong (1954); một tập kịch thơ Vân Muội, Trương Chi, Hồng Diệp (1944).  

      Sau năm 1954, nhà thơ di cư vào Nam, ông tiếp tục sáng tác không ngừng cho đến khi ông mất. Các tác phẩm giai đoạn này là các tập thơ Tâm Sự Kẻ Sang Tần (1961), Lửa Từ Bi (1963), Ta Đợi Em Từ 30 Năm (1970), Chúng Ta Mất Hết Chỉ Còn Nhau (1973)… Ông từng được vinh danh là “Thi bá” Việt Nam.  

     Sau 1975 bị bắt giam ở Chí Hòa, do bệnh nặng Ông mất ngày 6 tháng 9 năm 1976 tại Sài Gòn.  

II – Sự Kiện của thơ:  

     Sự kiện của thơ do nhà thơi La Thuy, Quản nhiệm trang blogspot Phú Đoàn và La Thụy đăng trên báo của mình như sau:  

“Di cảo của Vũ Hoàng Chương (1975 – 1976), do Vũ Hoàng Chương trao cho Hoàng Hương Trang giữ trước khi qua đời, đây là công bố đầu tiên di cảo này, gồm 14 bài, trong đó có 1 bài thơ Tết vịnh Tranh Gà Lợn, 12 bài cùng 1 nhan đề “Đọc lại người xưa”, còn 1 bài ông làm trong tù gồm 12 câu, phải làm 6 lần, mỗi lần bà Đinh Thục Oanh vợ ông vào thăm nuôi, ông chỉ viết 2 câu trên mảnh giấy gói đồ, 6 lần vào thăm nuôi ghép lại mới hoàn chỉnh bài thơ, tuy nhiên bài ấy do bà Đinh Thục Oanh giữ và nay đã thất lạc, Hoàng Hương Trang chỉ nhớ vỏn vẹn 1 câu: “Tối về Khánh Hội sáng vô Chí Hòa” để chỉ những cuộc thăm nuôi của bà Đinh Thục Oanh vào thăm ở Chí Hòa, lặn lội cuốc bộ về tới Khánh Hội ở đậu nhà bà Đinh Hùng thì trời đã chiều tối. Nhưng bài thơ này cũng là ngoài 12 bài liền mạch “Đọc lại người xưa”.  

Hoàng Hương Trang nay cũng ở gần cái tuổi 80 rồi, sợ không giữ được, nên xin công bố, in vào tuyển tập sau này để lưu giữ được lâu dài, làm tài liệu cho văn học sau này.  

     Năm 2012, La Thụy được chị Hoàng Hương Trang tặng TUYỂN TẬP THƠ VĂN XUÔI HOÀNG HƯƠNG TRANG, trong đó có in những bài thơ cuối cùng, là “di cảo do thi sĩ Vũ Hoàng Chương trao cho chị Hoàng Hương Trang giữ trước khi qua đời”. Những bài thơ này được in từ trang 398 đến trang 407 trong tuyển tập nêu trên. Xin giới thiệu cùng quý bạn đọc.”  

III- Nghiên cứu bài thơ “Đọc Lại Người Xưa” Bài 1  

 

1.  Bài thơ “ĐỌC LẠI NGƯỜI XƯA (1)  

 

“Minh nhật dục từ nam phố đạo  

Hà nhân cách xướng bắc cung thanh”  

                       Cao Bá Quát  

Đường Thanh Nghệ Tĩnh chon von  

Nhịp ba cung bắc ai còn hát đây  

Cánh chim lượn gió đong đầy  

Khói hoàng đô thoắt liền mây Đế Thành  

Rồng Lê phượng Nguyễn tung hoành  

Chẳng e lưu xú chẳng đành lưu phương  

Ba hồi trống giục pháp trường  

Máu tuôn phách dựng phố phường còn mưa  

Cơn buồn lọt gió mành thưa  

Mấy mươi giông bão cho vừa nhịp ba  

Nào ai đáng mặt danh ca  

Mời ai danh sĩ Bắc hà về nghe.  

                Vũ Hoàng Chương  

 

      Bài thơ nầy Vũ Hoàng Chương viết về Cao bá Quát:  

       Cao Bá Quát ( 1809 – 1855), biểu tự Chu Thần, hiệu Mẫn Hiên, lại có hiệu Cúc Đường, là quân sư trong cuộc nổi dậy Mỹ Lương chống lại triều Nguyễn, và là một nhà thơ nổi danh ở giữa thế kỷ 19 trong lịch sử văn học Việt Nam.  

Ông là người làng Phú Thị, huyện Gia Lâm, tỉnh Bắc Ninh; nay thuộc xã Phú Thị, huyện Gia Lâm, Hà Nội. Cuối đời Cao Bá Quát làm thủ lĩnh của cuộc khởi nghĩa lớn chống triều Nguyễn. Khởi nghĩa thất bại, cái chết của ông có nhiều giả thuyết, giả thuyết Cao Bá Quát bị chém được kể lại thành giai thoại văn chương.  

      Trước khi nhập đề “Đọc Lại Người Xưa” (1), nhà thơ Vũ Hoàng Chương đã dùng hai câu thơ của Cao Bá Quát để dẩn nhập cho bài thơ của mình. Nguồn gốc của hai câu thơ nầy được nhà thơ La Thụy giản giãi như sau:  

 “Minh nhật dục từ nam phố đạo,  

Hà nhân cánh xướng bắc cung thanh.  

(Cao Bá Quát)  

     Hai câu thơ đó có nghĩa là:  

Ngày mai muốn xa cách đường Nam phố,  

Ai lại còn đàn hát giọng Bắc hôm nay.”  

     “Bài thơ này nằm trong quyển “Cao Chu Thần thi tập’ của Trung Tâm Học Liệu xuất bản năm 1971  

ĐỀ ĐÀO NƯƠNG XÁ  

Cổ nhân bất thức kim nhân hận,  

Tài đáo thương ly thuyết tận tình.  

Minh nhật dục từ nam phố đạo,  

Hà nhân cánh xướng bắc cung thanh.  

Hàn y cô quán băng xương thiểu,  

Vụ hiệp thâm thôn trúc thụ bình.  

Túy sát Tầm Dương tiếu Tư Mã,  

Thanh sam hà sự lệ tung hoành  

                    Cao Bá Quát  

     Dịch nghĩa:  

     Người xưa không biết thấu nỗi lòng hận của người đời nay,  

Nên mới gặp một sự đau lòng biệt ly hơi hơi, cũng đã nói hết sầu tình.  

Ngày mai muốn xa cách đường Nam phố,  

Ai lại còn đàn hát giọng Bắc hôm nay.  

Sương giá không bao, quán trọ vẫn quạnh hiu lạnh lẽo,  

Cây cối đều bằng phẳng, vì mù trùm làng mạc thâm u.  

Nực cười cho bến Tầm Dương, chàng Tư Mã kia say,  

Việc gì mà đến nỗi lai láng dòng lệ, thấm tràn áo xanh.  

*  

      Dịch thơ:  

     ĐỀ THƠ QUÁN ĐÀO NƯƠNG  

Người xưa không biết người nay hận,  

Vừa mới xa nhau đã hết tình.  

Mai sẽ từ biệt đường Nam phố,  

Mà ai lại ca giọng Bắc thanh?  

Lạnh lùng quán quạnh dầu sương ít,  

Bằng phẳng cây nhiều với vụ sanh.  

Cười ngất rượu say Tư Mã khách,  

Can gì lệ đẫm khắp bào xanh!  

     “Sa Minh Tạ Thúc Khải”  

    Đọc hai câu dẩn nhập vào bài thơ “Đọc Lại Người Xưa”(1) của Vũ Hoàng Chương, ta cũng có thể hiểu nhà thơ Vũ Hoàng Chương muốn dùng hai câu thơ của Cao Bá Quát để nói lên tâm sự u uẩn của người xưa mà cũng gởi vào đó tâm sự u uẩn của chính mình ngày nay.  

     Hai câu thơ dẩn nhập cho “Đọc Lại Người Xưa” là “Minh nhật dục từ nam phố đạo/Hà nhân cánh xướng bắc cung thành” dịch là “Mai sẽ từ biệt đường Nam phố/Mà ai lại ca giọng Bắc thanh?” cho ta đoán định được tâm sự lưu luyến khi phải từ bỏ một quá khứ, một quê hương để bước vào một cuộc sống mới, xa lìa nguồn vui thanh nhã đàn ca hát xướng, cũng như nỗi buồn khi phút cuối còn nghe giọng ca quen thuộc như một lời tiển đưa ai oán.  

     Thế rồi Vũ Hoàng Chương vào đề bài thơ bằng câu thơ: “Đường Thanh Nghệ tỉnh cho von”. Đọc câu thơ nầy ta nhớ đến bài thơ “Qua đèo Ngang” của bà Huyện Thanh Quan. Bà Huyện Thanh Quan cũng đi trên con đường Thanh Nghê tỉnh để vào kinh đô Huế, đên đèo Ngang, bà cảm tác bài “Qua Đèo Ngang” bày tỏ tấm lòng thương nhớ triều Lê.  

     Ở bài thơ nầy, Vũ Hoàng Chương cũng nhắc đến “Đường Thanh Nghệ tỉnh cho von”, nhưng trong một câu thơ sau nhà thơ lại nhắc đến cái chết bị chém đầu trên pháp trường cúa Cao Bá Quát:”Ba hồi trống giục pháp trường/Máu tuôn phách dựng phố phường còn mưa”. Điều đó chứng tỏ câu thơ “Đường Thanh Nghệ tỉnh chon von” Vũ Hoàng Chương muốn nói đên việc Cao Bá Quát qua Thanh Nghệ tỉnh hay qua đèo Ngang, trên con đường bị đưa vào kinh đô Huế để chém đầu,  

      Câu thơ thứ hai của “Đọc Lại Người Xưa”( 1), Vũ Hoàng Chương nhắc đến ca trù hay hát nói: “Nhịp ba cung bắc ai còn hát đây”  

 

     Hát nói vừa là một thể thơ, vừa là một trong 46 điệu thức của loại hình nghệ thuật dân gian ca trù. Nửa đầu hay tiền bán thế kỷ 19, hai nhà thơ cùng nổi danh với những bài Hát nói trong giáo phường cũng như trong lòng kẻ thưởng ngoạn, và thường được xếp bên nhau trong chương trình giáo khoa văn học VN là Nguyễn Công Trứ và Cao Bá Quát.  

Qua những bài hát nói, Cao Bá Quát tỏ ra là một tài tử đa cùng, một nghệ sĩ tài hoa, một khách phong lưu ưa thú cầm kỳ thi tửu và thích hưởng nhàn và hưởng lạc.  

      “Nhịp ba chung bắc” là gì? Đó là một cách  hát trong nghệ thuật hát nói.  

     “Hát Cung bắc trước chậm sau mau, có ba chỗ thay đổi điệu. Thoạt đầu ngâm nga rồi vào phách, giọng hát chen cung nam lẫn cung bắc, sau chuyển sang cung pha nên gọi là nhịp ba cung bắc.”  

     Câu thơ “Nhịp ba cung bắc ai còn hát đây” Vũ Hoàng Chương muốn nói đến Cao Bá Quát, một “Tài tử đa cùng phú” đã bị dưa đi chém đầu rồi thì từ đây, điệu ca hay “nhịp ba cung bắc” không ai còn hát nữa, vì hát cho ai nghe, bởi khách tài hoa phong lưu bậc nhất không còn ở trên đời.  

     Tiếp tục bài thơ, câu thứ 3 và câu thứ 4 như sau:  

Cánh chim lượn gió đong đầy  

Khói hoàng đô thoắt liền mây Đế Thành  

     “Khói hoàng đô” thì dễ hiểu. Đó là khói ở kinh đô. Còn mây Đế Thành là gì?  

     Đế Thành là thành Hoàng Đế. Thành Hoàng Đế là kinh đô của triều Tây Sơn trong lịch sử Việt Nam từ năm 1776 tới năm 1793 . Năm 1778, sau khi đánh bại chúa Nguyễn, Nguyễn Nhạc lên ngôi hoàng đế nhà Tây Sơn và cho xây dựng kinh đô tại vị trí cũ của thành Đồ Bàn vương quốc Chăm Pa, đây là nơi của Hoàng đế Thái Đức Nguyễn Nhạc ở nên gọi là thành Hoàng Đế.  

     Hai câu trên nói đến sự suy tàn của triều đại Tây Sơn. “Khói hoàng đô” nói sự thịnh vượng của đế đô hoàng đế Nguyễn Nhạc. Đế đô đó tên là Thành Hoàng Đế. Sau khi Tây Sơn tbua cuộc, Thành Hoàng Đế bị san bằng, phút chốc đã hóa thành thành mây, gọi là “mây Đế Thành”.  

     Câu thứ 5 và thứ 6 của “Đọc Lại Người Xưa”(1) như sau:  

Rồng Lê phượng Nguyễn tung hoành  

Chẳng e lưu xú chẳng đành lưu phương  

    “Lưu xú” là lưu tiếng xấu (Lưu danh thiên cổ. lưu xú vạn niên). “Lưu phương” là lưu tiếng thơm cho đời sau . Hát nói của Nguyễn Công Trứ có câu “Làm cho bách tuế lưu phương, trước là sĩ sau là khanh tướng”.  

     Hai câu thơ 5 và 6 đề cập đến sĩ phu thời Cao Bá Quát. “Rồng Lê” là những sĩ phu thời vua Lê, “phượng Nguyễn” là sĩ phu thời các vua Nguyễn. Đấy là những người “Phú quý bất năng dâm/ Bần tiện bất năng di/ Uy vũ bất năng khuất” – hiểu đơn giản là miễn nhiễm trước những nguy cơ tấn công của tiền bạc, của đói nghèo và bạo lực. Thứ duy nhất mà họ theo đuổi, và tôn thờ đến khi nhắm mắt xuôi tay là lý tưởng phụng sự tổ quốc, phụng sự dân tộc mình. Cao Bá Quát là một trong những ngôi sao sáng của tầng lớp nầy nhưng sinh ra dưới ngôi sao xấu nên đường khoa cử, đường hoạn lộ đều gặp trắc trở, để cuối cùng bị họa diệt thân, họa tru di tam tộc.  

     Bốn câu thơ 7 và 8, 9 và 10, Vũ Hoàng Chương nhắc đến cái chết bị chém đầu của Cao bá Quát:  

Ba hồi trống giục pháp trường  

Máu tuôn phách dựng phố phường còn mưa  

Cơn buồn lọt gió mành thưa  

Mấy mươi giông bão cho vừa nhịp ba  

Về cái chết của Cao Bá Quát có nhiều thuyết khác nhau. Sử nhà Nguyễn ghi chép về cái chết của Cao Bá Quát, lãnh tụ cuộc khởi nghĩa nông dân Mỹ Lương nổ ra bắt đầu ở Quốc Oai (Sơn Tây), rằng ông bị bắn chết ở trận tiền (1855). Truyền thuyết cho rằng Cao Bá Quát bị bắt, giải về Hà Nội rồi đưa vào giam ở Huế trước khi đem ra chém đầu, Trong thời gian bị giam trong ngục ông làm hai đôi câu đối nổi tiếng:  

Một chiếc cùm lim chân có đế,  

Ba vòng dây xích bước cỏn vương.  

và:  

Ba hồi trống giục, đù cha kiếp,  

Một nhát gươm đưa, đéo mẹ đời!  

     Trong bốn câu thơ trên, Vũ Hoàng Chương đã hư cấu cho trời đất cũng hát tiếng hát ca trù thảm thiết bằng nhưng cơn gió lọt vào mành thưa khi nhà thơ Cao Bá Quát bị chém trong một ngày mưa. Để rồi tiếp hai câu thơ chót, Vũ Hoàng Chương đã cho tiếng ca của trời đất đó thê thảm đến nỗi không một danh ca Bắc Hà nào có thể diễn đạt được hết nỗi bi thương kia:  

Nào ai đáng mặt danh ca  

Mời ai danh sĩ Bắc hà về nghe.  

     Quê hương của Cao Bá Quát là tỉnh Bắc Ninh, do đó ông chính là kẻ sĩ miền Bắc. Câu thơ “Mời ai danh sĩ Bắc hà về nghe” như một lời kêu than, một lời phân bua, một lời oán trách đến người kẻ sĩ Bắc Hà, mời họ nghe tiếng khóc của mưa gió cho cái chết của họ Cao còn ai oán, bi thương nhiều hơn tiếng ca trù của một danh ca Bắc Hà than vản.  

     Nhà thơ La Thụy cho biết, “ĐọcLại Người Xưa” bài 1 là một trong 12 bài thơ di cảo của Vũ Hoàng Chương sáng tác năm 1975-1976,  là thời kỳ nhà thơ lâm vòng lao lý, tù tôi. Mười hai bài thơ “Đọc Lại Người Xưa” nầy tác giả phải đưa vợ cất dấu rồi chuyền tay cho nhà thơ Hoàng Hương Trang giử hộ. Điều này cho ta có thể suy đoán, 12 bài thơ là nỗi lòng mà thi nhân ấp ủ vào đó. Vũ Hoàng Chương đã đọc lại 12 thi nhân xưa để sáng tác về họ, lấy cùng nhan đề “Đọc Lại Người Xưa” để lồng gởi vào đó niềm riêng mà nhà thơ không thể nói công khai ra được.  

    Châu Thạch tôi vì ái mộ Vũ Hoàng Chương, nên tra cứu để tìm hiểu nhà thơ trên mạng, biết được điều gì xin chép lại điều đó, nghĩ rằng nên truyền thông ra để thân hữu, bạn đọc có thể biết thêm về cuộc đời, sự nghiệp văn chương của một thi nhân nỗi danh một thời. Bài viết có nhiều tư liệu đã thành phổ biến tôi không đưa vào ngoắc kép, còn những tư liệu mới tôi đều đưa vào ngoặc kép hoặc nói xuất xứ rõ ràng. Mong được tha lỗi những sai trật hoặc nhận định khác ý của tôi, vì đây chỉ là bài viết của một người tay ngang múa rìu qua mắt thợ mà thôi ./.  

                                                                   Châu Thạch  

 

THƠ CHO THỦY TIÊN

Châu Thạch



(Nữ nghệ sĩ dấn thân cứu trợ nạn nhân lũ lụt)
Châu Thạch

VỊNH ẢNH THỦY TIÊN

Người cóng, tay run bưng bát mì
Bỏ ăn quên uống bởi vì chi
Thương dân nước lớn càng xông tới
Cứu đói mưa dầm vẫn cứ đi
Dung mạo thua đâu trang quốc sắc
Anh hùng chẳng khác đấng nam nhi
Cả và thiên hạ đều yêu mến
Chỉ chó tranh công sủa ngại gì .
Châu Thạch – 21.10.2020

THUỶ TIÊN TIÊN THUỶ!
(Tặng nghệ sĩ Thuỷ Tiên)
Thơ Châu Thạch

Em là cô tiên nước
Đi cứu nạn thuỷ tai
Trên đời không có hai .
Chỉ em là tiên nước!

Em xông về phía trước
Đi vỗ về ưu phiền
Tên em hoa Thủy Tiên
Nên em là tiên nước

Em chở nguồn ơn phước
Đến xoá bớt nỗi đau
Khi lũ lụt đến mau
Cuốn an lành ra biển

Em con người của thiện
Em chỉ là nữ nhân
Em không phải là thần
Nhưng em làm việc thánh

Nhìn em trong mưa lạnh
Nhìn em trên sóng hồng
Em xinh khi lội nước
Đẹp ngồi thuyền qua sông

Nhìn thấy em lồng lộng
Rất lớn và rất cao
Như nguồn sáng thanh tao
Như nguồn ân ngọt ngào

Em linh hồn của đạo
Em tâm hồn chính nhân
Em nghệ sĩ thời tân
Em Thuỷ Tiên, tiên thuỷ!!!


TÔI THẤY

Tôi thấy một bà già
Ngồi ngay trước cửa nhà
Đói lạnh run liên miên

Tôi thấy một cô Tiên
Lội nước ôm túi tiền
Cô cho bà mười triệu

Bà già như muốn xỉu
Vì vui mừng quá chừng
Một đời làm còng lưng
Có đâu được thế nhé

Tôi thấy một bà mẹ
Nhận mười triệu sửa nhà
Thấy nữ sinh lệ nhoà
Có tiền học đại học

Trong lòng tôi muốn khóc
Thấy bao cảnh đáng thương
Niềm vui đến bất thường
Vỡ oà trong tim họ

Còn vạn ngàn cảnh khó
Cô tiên chắc gian nan
Lội nước và băng ngàn
Đến tận nơi cứu trợ

Có mấy tên man rợ
Lòng ô uế nghi ngờ
Buông lời thật nhuốt nhơ
Tưởng ai cũng như nó

Đời lọc lừa muôn ngỏ
Vẫn có một nàng Tiền
Trong sáng và dịu hiền
Để niềm tin chẳng mất.
Châu Thạch

THƠ CAO TRẠNG PHÁ RỪNG SỐ MỘT

CHẤU THẠCH


TỜ CÁO TRẠNG

Tôi đi trên ghềnh cao
Nhìn những con suối chết
Dòng nước đọng thành máu rừng đỏ quệt
Như đại ngàn ai đâm thủng con tim.

Tôi đi trên ghềnh cao
Nhìn những dòng suối chết
Rừng bên suối hoang tàn thoi thóp mệt
Lá phổi rừng đông đặc một mùi tro.

Và tôi nghĩ đến những thành phố khói
Những đồng bằng sa mạc hóa khô màu
Đến những mùa nước lũ cuốn về mau
Đến khí hậu đổi thay lượng oxy không điều
hòa chu chuyển.

Rừng yêu tôi khi đời tôi bạo biến
Đeo ba lô lên núi sống cùng rừng
Khi tôi buồn rừng có đóa hoa tươi
Khi tôi nhớ con chim rừng hót tặng.

Và tôi khóc thì rừng yên lặng
Để hồn tôi định lại những niềm vui
Để hồn tôi quên hết những ngậm ngùi
Khi ngắm cảnh, nghe tiếng rừng tịnh quá.

Nay trở lại nhìn rừng không còn lá
Suối ở đâu, con chim hót ở đâu?
Rừng tôi yêu đã thay sắc đổi màu
Cô gái đẹp nay trở thành bà lão.

Núi ngồi xỏm tấm thân tàn ảo não
Rừng thành than lổn ngổn những xương cây
Tôi đau thương mà viết bài thơ nầy.
Tờ cáo trạng tội con người trên đất ./.
Châu Thạch

NGHĨA ĐỊA XANH

Nghĩa địa xanh chôn những mồ xác lá
Trên nấm mồ cây chết đứng chơ vơ
Những cành khô chới với nhánh tay hờ
Như níu kéo phao mây trời cứu hộ.

Mây ngạo nghễ cứ trôi qua bán bổ
Con sói già không có chốn nương thân
Con chim non chết trong tổ mộ phần
Vì mẹ nó không bao giờ quay lại.

Nhớ thuở ấy núi xanh dường thảm trải
Rừng nối rừng qua những đỉnh cheo leo
Cây tiếp cây xuống dốc lại lên đèo
Cảnh xen cảnh vườn địa đàng muôn thú.

Những sinh vật chọn ngôi nhà xanh trú
Sống phong lưu tự tại giữa rừng hoang
Đêm bên sông uống từng ngụm trăng vàng
Ngày ăn trái ngàn thơm trời chẳng cấm.

Thời hoàng kim của hoa rừng sắc thắm
Những rừng hương cứ thả gió thơm bay
Bướm và ong nhộn nhịp đến từng bầy
Chúng vận chuyển đem cho đời lắm mật.

Nay núi chỉ còn trơ da mặt đất
Hồn ma thiêng núp bóng ở trong mưa
Biến thành bao cơn lũ quét không chừa
Từng gốc rạ, cọng rơm, mái nhà ra biển ./.
Chấu Thạch

TẢN MẠN VỚI “SAY CỐ NHÂN” THƠ TRẦN MAI NGÂN

Châu Thạch

SAY CỐ NHÂN

Rót một ly gọi nhau cố nhân
Một ly xin lỗi hết ân cần
Con đường thẳng tắp xa nhau mãi
Mùa hạ cháy nồng hay xuân phai

Rót một ly ta say, ta say
Bóng em trong đáy cốc hay ai
Chiều nay giăng tím chiều hôm ấy
Em đến bên trời ta mơ hoa

Rót một ly xin lỗi nhạt nhoà
Ký ức bây giờ như vệt tro
Rải trên sông lạnh làm tang chế
Khóc một thời yêu “dáng hoa” xưa…

Rót một ly uống hết không chừa
Nỗi đau, nỗi nghẹn bình rượu đắng
Khứa nát linh hồn ta như dao
Nhớ em ta uống cạn nghìn sau…

Cứ thế ta uống cùng gió sương
Tình em… xin nợ một vết thuơng
Rót thêm ly nữa sầu cô quạnh
Em biết gì không… sao xa nhau !

Em biết vì sao ta xa nhau
Em biết gì không sao xa nhau !

Trần Mai Ngân
9-3-2019

Tản mạn; Châu Thạch

Không ngờ một phụ nữ lại làm thơ như một hảo hán. Đọc bài thơ tôi lại nhớ đến những nhà thơ mà tôi có diểm phúc được ngồi uống rượu với họ như Kha Tiệm Ly, Lê Giao Văn, Lê Đình Hạnh, Lê Thiên Minh khoa, Nguyên Bình, Ngã Du Tử, Hải Thụy, Du Phong, Lang Trương…vv.

Ngồi với những nhà thơ say nầy, tôi thấy mình nhỏ bé lại, nhưng cũng ngập tràn trong lòng sự thích thú. Nhìn họ cụng ly say sưa, đọc thơ nghiêng ngã, mình cảm tưởng như được nhìn những cơn phong ba bão táp đang dậy lên, vừa cuồng nhiệt vừa ướt át làm mê say con mắt ái mộ của mình. Nhìn họ, như đang nhìn những sự kiện ghi lại trong lòng dấu ấn hạnh phúc. Nhìn họ, như được ngắm những hình tượng nghệ thuật hóa thân thành người trước mắt. Nói như thế có quá không?, nhưng thật thì trong lòng tôi như vậy.

Thật tình, tôi thích ngồi với những nhà thơ hơn là đọc thơ của họ. Đọc thơ thì chỉ là nhìn cái bóng của tác giả. Ngồi với nhà thơ, tức là tiếp xúc trực tiếp đến tận nguồn thơ, vì người thơ chính là nguồn thơ vậy.

Tôi có may mắn gặp nhà thơ Trần Mai Ngân một lần, nhưng chỉ được đưa đi thăm sông nước Vĩnh Long, ăn trưa cùng các bạn tại nhà hàng trong khu vườn sinh thái, nhưng chưa có cơ hội được ngồi uống rượu cùng bạn ấy. Hôm nay đọc bài thơ “Say Cố Nhân” của Trần Mai Ngân viết cho một chàng trai nào đó, nhưng biết đâu có thể viết cho chính mình vì nhà thơ thường dấu tâm tư dưới những điều hư cấu hay gởi nỗi niềm mình vào những ẩn dụ chứa trong thơ.

Bây giờ thử đi vào khổ thơ đầu tiên:

Rót một ly gọi nhau cố nhân
Một ly xin lỗi hết ân cần
Con đường thẳng tắp xa nhau mãi
Mùa hạ cháy nồng hay xuân phai

Đây là ly rượu quyết định số phận của cuộc tình. Ly rượu đầu tiên như một lưỡi đao oan nghiệt cắt đức ngàn sợi chỉ hồng bện thành sợi dây quyến luyến, sợi dây cột chặc hai tâm hồn đam mê lại với nhau.

Rồi thì mắt ta nhìn thấy một con đường vắng tanh ngun ngút, không mưa sa, không giá lạnh nhưng sầu đến não nuột: “Con đường thẳng tắp xa nhau mãi/ Mùa hạ cháy nồng hay xuân phai”

Ít khi tôi đọc được một bài thơ thất tình mà ý thơ lạ lùng như vậy. Con đường thất tình thì phải hiu hắt gió sương, mưa rơi và lá rụng, chớ sao con dường đẹp quá, mà lại nồng nàn nắng hạ và hương hoa còn phản phất buổi xuân phai. Thế nhưng đọc bốn câu thơ, lòng tôi lại cảm nhận thấy mối tình đẹp quá, nó sưởi ấm cả cuộcđời, dầu cho cuộc đời ấy cô dơn và vắng lặng như con đường dài kía kéo đến cuối chân trời.

Thế rồi nhà thơ chỉ rót thêm một ly thứ hai đã nói “ta say, ta say”:

Rót một ly ta say, ta say
Bóng em trong đáy cốc hay ai
Chiều nay giăng tím chiều hôm ấy
Em đến bên trời ta mơ hoa

Đúng rồi, vậy cho nên cái đầu đề bài thơ là “Say Cố Nhân” nghĩa là tác giả say hình bóng người xưa chớ không phải say rượu. Chỉ mới ly thứ hai mà bóng em đã hiện trong đáy cốc, nghĩa là tác giả đã nhớ em mà đi uống rượu chớ chẳng phải rượu vào làm cho nhớ em. Nhà thơ đi uống rượu vì “Chiều nay giăng tím chiều hôm ấy” tức là chiều nay tâm trạng nhà thơ đang tím, tím cả cõi lòng vì nhớ đến chiều tím nào đó đã tiễn em đi “đến bên trời”. “Bên trời” có thể là bên kia đại dương, cũng có thể là bên kia thé giới.

Khổ thơ cho ta nhìn thấy nhà thơ chưa say, nhưng khổ thơ cũng cho ta nhìn thấy nhà thơ buồn đến cực độ. Tôi dùng chữ “buồn”chớ không dùng chữ “sầu” vì với tôi, buồn thì còn cảm giác, nhận biết được chung quanh, còn sầu là tê cứng mọi cảm giác của mình.

Thê rồi qua khổ thơ sau, Trần Mai Ngân hỏa thiêu tình yêu của mình, rải tro tình yêu trên dòng sông định mệnh:

Rót một ly xin lỗi nhạt nhoà
Ký ức bây giờ như vệt tro
Rải trên sông lạnh làm tang chế
Khóc một thời yêu “dáng hoa” xưa…

Hai câu thơ “Ký ức bây giờ như vệt tro/Rải trên sông lạnh làm tang chế” phát họa một hình ảnh sống động, ảm đạm và kéo dài nỗi buồn thâm nhập vào tâm hồn ta miên man. Đọc thơ, không ai không nghĩ đến con thuyền trên dòng sông và những vệt tro cốt nổi bồng bềnh trôi dài trên sóng nước. Vệt tro rải trên sông lạnh có thể chỉ là biểu tượng của mối tình ly biết, cũng có thể là tro cốt của nàng đã vĩnh viễn ra đi.

Nhà thơ uống đến ly thứ tư thì bây giờ nỗi đau ùa đến ngập tràn tâm khảm. Từ đây nhà thơ uống liên tiếp và uống đến ngàn ly:

Rót một ly uống hết không chừa
Nỗi đau, nỗi nghẹn bình rượu đắng
Khứa nát linh hồn ta như dao
Nhớ em ta uống cạn nghìn sau…

Đọc cái say của Trần Mai Ngân đến đây, tôi lại nhớ đến cái say của Kha Tiệm Ly. Hai cái say dồng điệu nhau ở lúc nầy. Hãy đọc Kha Tiệm Ly:

“Ta bước chân đi vương sợi tóc
Đủ làm choáng váng giấc mê say
Tàn đêm rượu cạn bao nhiêu cốc
Mà ảnh người, như khói thuốc bay!

Réo rắt đàn xưa cung lỗi nhịp
Bâng khuâng hồ rượu biết vơi đầy?
Ta thèm một chút hương thừa cũ
Sao cứ mơ màng như bóng mây?

Phật thệ khói sương mờ bốn nẻo
Huyền Trân nào lạc bước nơi đây!
Bồng bềnh tóc rối bời năm cũ
Mãi quyện hồn ta bao ngất ngây!

Rượu đắng lung linh mờ dáng ngọc
Cho ngàn đêm nhớ, với đêm nay.
(Tình Say Kha Tiệm Ly)

Nhà thơ Kha Tiệm Ly thì “Cho ngàn đêm nhớ với đêm nay”, còn Trần Mai Ngân thì “Nhớ em ta uống cạn nghìn sau…”. Hai câu thơ đều nhớ tất cả nhưng Trần Mai Ngân đến bây giờ mới thật sự uống, Ta cứ thử tưởng tượng họ ngồi đối ẩm với nhau đi, mới thấy “uống cạn nghìn sau” và uống “cho ngàn đêm nhớ” nó túy lúy làm sao và nó thi vị biết bao!

Cuối cùng rồi Trần Mai Ngân cũng phải khóc, cuối cùng rồi cũng thổn thức, cuối cùng rồi cũng bật lên thành lời cay đắng. Đó là lúc hỏi. Hỏi nhưng mà không cần câu trả lời, vì đã say quá đổi, đã đem cơn nhớ đi vào giấc ngủ miên man:

Cứ thế ta uống cùng gió sương
Tình em… xin nợ một vết thuơng
Rót thêm ly nữa sầu cô quạnh
Em biết gì không… sao xa nhau !

Em biết vì sao ta xa nhau
Em biết gì không sao xa nhau !

“Em biết gì không ta xa nhau” lặp đi lặp lại nhiều lần là lúc chìm vào trong hôn mê, rượu đã nói thay lời!

Chiều nay Châu Thạch tôi trốn dịch Covid, đi tìm thơ giãi khuây trên trang facebook. Gặp lại bài thơ của cô em bạn thơ kết nghĩa, cảm động thì viết tản mạn, vì bài thơ cho tôi và những ai đọc thơ, chắc cũng thích có một cơn “Say Cố Nhân” như th!
Châu Thạch

ĐỌC SÁU BÀI THƠ THƠM HƯƠNG THIỀN THỜI TRAI TRẺ CỦA THI SĨ TRẦN THOẠI NGUYÊN

Thư viện của bài

This gallery contains 1 photo.

Châu Thạch Trước khi bàn đến những bài thơ thơm hương thiền của Thi sĩ Trần Thoại Nguyên, xin hãy nghe tác giả tâm sự:     “Tiểu luận về tổ sư thiền tông Bồ Đề Đạt Ma”, một cuốn … Tiếp tục đọc

BÀI THƠ VUI TẶNG CUỘC ĐỜI TÔI

Châu Thạch

  •  
  • ĐỌC TẬP THƠ “BÀI THƠ VUI TẶNG CUỘC ĐỜI TÔI”  CỦA TẦN HOÀI DẠ VŨ.             

  •  
  • Tần Hoài Dạ Vũ, thi nhân mà tôi yêu mến thơ ông từ khi còn rất trẻ. Cho đến nay, sau bao nhiêu đổi thay của lịch sử – xã hội, tôi lại càng cảm thấy yêu thơ ông nhiều hơn trước nữa .

    Tần Hòa Dạ Vũ, là một trong những người có tác phẩm văn chương mang dấu ấn thời đại, để lại cho thế hệ sau dấu vết của một thời nhiễu nhương và một thời yên tịnh, vào cuối thế kỷ 20 và đầu thế kỷ 21.

    Tập thơ “Bài thơ Vui Tặng Cuộc Đời Tôi” vừa phát hành, in 100 bài thơ của Tần Hoài Dạ Vũ; sách in rất đẹp, trang nhã, sang trọng.
    Tôi hoàn toàn đồng ý với TS. Huỳnh Văn Hoa, người viết “Lời giới thiệu” tập thơ, rằng: “Nhà thơ muốn đem tiếng thơ vui tặng cho chính lòng mình, lại có tiếng thơ buồn, tiếng gọi nhân sinh, tặng cho cuộc đời này”. Vì thế, tôi sẽ chỉ gọi tên tập thơ này là “Bài thơ vui Tặng Cuộc Đời”.
    Và tôi hân hạnh được thưởng thức tập thơ nầy trong những ngày cơn dịch Covid-19 vây hãm xã hội.
    Tiếng thơ Tần Hoài Dạ Vũ đưa tâm hồn tôi đi đến xứ sở của Cái Đẹp. Tôi thấy vẻ đẹp trong thơ Tàn Hoài Dạ Vũ không khác chi chiếc cầu vồng bảy sắc hiển hiện ở chân trời trong một bình minh hay một hoàng hôn nào đó.

    Cảm nhận đầu tiên của tôi khi đọc tập thơ này là:

    1. Thơ Tần Hoàn Dạ Vũ, tiếng thơ của lương tri:

    Lương tri là khả năng hiểu biết, nhận thức đúng đắn điều phải trái, đúng sai hình thành ở con người, qua thực tiễn cuộc sống. Như Vương Dương Minh, người xướng thuyết lương tri, thì lương tri chính là “tính linh của tạo hóa phú bẩm cho con người, kết tinh lại trong tâm ta”. Vậy, khi nói tiếng thơ của Tần Hài Dạ Vũ là tiếng thơ của lương tri, nghĩa là chính tiếng thơ ấy thể hiện lương tâm con người.

    Hãy đọc những vần thơ trong bài thơ đầu tiên in trong tập sách:

    “Anh sẽ đi xuyên qua nỗi buồn và số phận cô dơn bắng trái tim tĩnh tại.
    Anh sẽ gọi nắng về trong đêm tối tâm hồn và sẽ đọc lời chúc phúc cho mọi nỗi thống khổ nhân gian”
    … “Hãy cho anh được dành hết cuộc phiêu lưu diệu kỳ của một kiếp người khốn cùng trong niềm tin vĩnh cửu.”
    … “Hãy cho tôi được ở bên cạnh bạn, những người khốn cùng, và hãy cho tôi hôn cuộc dời nầy, như hôn chính trái tim tôi!”
    (Hãy Cho Tôi Hôn Cuộc Đời Này!”

    Vậy đó, thơ Tần Hoài Dạ Vũ không phải là thơ của một tu sĩ, thơ Tần Hoài Dạ Vũ cũng không phải là thơ của người đấu tranh cho công lý, nhưng thơ Tần Hoài Dạ Vũ mang bản sắc cúa hai nhân vật nầy

    Trong toàn bộ tập thơ, Tần Hoài Dạ Vũ cũng yêu như mọi người, mà còn hơn thế nữa; cũng đau như mọi người, mà còn hơn thế nữa; nhưng nhà thơ mang tình yêu đó, mang nỗi đau đó, như hình ảnh của người tự nguyện đi qua trủng bóng chết vì ước nguyện tìm một thiên đàng thanh bình cho em, cho bạn, cho mọi người và trước hết là cho chính mình.

    Cảm nhận thứ hai của tôi khi đọc tập thơ nầy là:

    2. Thơ Tần Hoài Dạ Vũ, là tiếng thơ cúa trải nghiệm cuộc sống:

    Nhà thơ nào cũng phải trải nghiệm cuộc sống thì thơ mới hay, nhưng thường họ làm thơ như rơi vào hố sâu, như đi vào ngõ cụt, như tiếng rên cho thân phận, trên linh hồn khô héo cúa mình. Tần Hoài Dạ Vũ thì khác, nhà thơ chấp nhận nỗi đau, bước qua mọi nghich cảnh và trải nghiệm mọi nỗi đời như chính nó là cứu cánh, để cuộc sống được thăng hoa trong cõi con người.:

    Anh bơi qua đời cạn
    Bằng trái tim chân thành
    …Chưa bao giờ ân hận
    Dẫu đời cho đắng cay
    …Cũng chưa hề hờn tủi
    Trong ngõ cụt phận mình
    …Rồi một ngày hy vọng
    Gõ cửa lòng bất ngờ
    Anh đón nhận câu thơ
    Tặng hồn mình nắng mới…
    (Hồn Như Nắng Mới)

    Thơ đối với Tàn Hoài Dạ Vũ là phần thưởng nhận được sau trải nghiệm cuộc đời. Phần thưởng đó là niềm vui bắt được điều mà nhà thơ hằng ngưỡng vọng:

    Cơn gió về rồi mùa mới xuân sang
    Số phận nào neo bến bờ thao thức
    Mặt trời em soi lòng anh náo nức
    Đời sẽ vui hơn, nhịp sống mới hương tràn?
    (Ngưỡng Vọng)

    Và khi “Đời sẽ Vui hơn, nhịp sống mới hương tràn” là khi nhà thơ thấy được chân hạnh phúc của cuộc đời:

    Đến một lúc nào đó
    anh chợt nhận ra
    chính sức mạnh tình yêu giữa con người với con người
    đã dắt anh đi qua những nỗi đời thống khổ
    để biến đổi tâm hồn anh
    và đưa anh đến gần hơn nữa
    với hạnh phúc của sự an bình.
    (Hạnh Phúc Của Sự An Bình)

    Cảm nhận thứ ba của tôi khi đọc tập thơ nầy là:

    3. Thơ Tần Hoài Dạ Vũ, tiếng thơ của Cái Đẹp hài hòa:

    Tình yêu nam nữ là động lực tạo cảm tác nhiều cho mọi nhà thơ. Người đẹp trong thơ Tần Hoài Dạ Vũ không phải là người đẹp nguyệt thẹn hoa nhường, nhưng là người đẹp nhân cách; người đẹp có dung nhan và nhan sắc tâm hồn hài hòa nhau, như “Trang sách thơm giữa đời”, như “dòng sông xanh vẫn trôi chảy an lành” và như “Bầu trời đêm ánh sao sáng thanh bình”:

    Em là trang sách thơm giữa đời mà anh chưa đọc
    Em môi hoa ngắm mãi chiếc gương đời
    Nỗi buồn âm thầm như ánh lửa xa khơi
    Trong đêm tối lòng anh về ám ảnh
    (Tiếng Chim Hót Bên Hồ)

    Em là cánh chim báo một mùa hy vọng
    Là ánh dương quang chiếu lại cuộc đời anh
    Là dòng sông xanh vẫn trôi chảy an lành
    Trong tâm thức của một mùa khổ nạn
    Em là giọt mưa lành trên lòng anh hạn hán
    Là bầu trời đêm ánh sao sáng thanh bình
    Khi em về lòng đã gọi bình minh
    Và anh đón tiếng đời vui câu hát.
    (Giấc Đời Ân Sủng)

    Ai đó là người đẹp của Tần Hoài Dạ Vũ trong đời, chắc hẳn sẽ nghe “Tiếng chim hót bên hồ” trong lòng mình mãi mãi; người đó sẽ cảm nhận được “Giấc đời ân sủng” mà mình nhận được từ chính những dòng thơ này.

    Đọc thơ về “Em” của Tần Hoài Dạ Vũ, lòng ta dậy lên một thứ men tình yêu làm cho ấm áp tâm hồn, nhận lãnh sự ban cho của người nữ trong trái tim mình. Nhận lãnh một thứ hương tình yêu tinh khiết của bầu trời, của ánh dương quang chiếu rọi, để “đón tiếng đời vui ca hát” cả khi trong tâm thức ta đang là “một mùa khổ nạn”.

    Cảm nhận thứ tư cúa tôi khi đọc tập thơ nầy:

    4. Thơ Tần Hoai Dạ Vũ là, tiếng thơ của tình yêu đắm say cao thượng:

    Trong 100 bài thơ in trong tập “Bài Thơ Vui Tặng Đời” thì hầu như thơ tình yêu chiếm gần trọn. Thơ tình yêu của Tần Hoài Dạ Vũ không có bài nào không cho ta thứ hương rất thanh và vị rất lành, cả vẻ đẹp trang nhã. Nhà thơ yêu với tất cả linh hồn, tôn vinh người yêu đến tận cùng cái đẹp, nhưng nhà thơ không yêu cuồng loạn, không si mê đến dại khờ, không sa đà trong men rượu hay khóc lóc trong tình trường:

    Em sáng danh cánh chim trời cao quý
    Em tài hoa thần nữ của niềm vui
    Trong cuộc đời anh là kẻ quay lui
    Em ánh sáng soi đường anh đi tới.
    (Hoa Trái Thơm Đời)

    Em, trong thơ Tần Hoài Dạ Vũ là “Hoa Trái Thơm Đời”, không phải ma túy cho anh khát khao đắm duối, không phải là men rượu làm anh say túy lúy, mà “Em” là đôi cánh thiên thần bay trong bầu trời thơ trong trẻo vô biên của anh.

    Còn Tình Yêu trong thơ Tần Hoài Dạ Vũ là thứ tình yêu cao thương, vị tha. Chắc hẳn nhà thơ cũng “Yêu là chết trong lòng một ít”, “Cho rất nhiều song nhận chẳng bao nhiêu”, giống như thơ Xuân Diệu. Thế nhưng, Tần Hoài Dạ Vũ không một lời trách móc người yêu “Em đài các, lòng cũng thoa son phấn/ Đôi bàn chân kiêu ngạo dẫm lên thơ” như Đinh Hùng, hay như bao nhiêu nhà thơ khác đã bi lụy, hư cấu nỗi sầu làm cho trời đât ngã nghiêng, mà Tần Hoài Dạ Vũ luôn:

    Anh yêu em trăng đợi phía chân trời
    Và đêm lạnh rất dài trong nỗi nhơ
    Môi hôn cũ còn lửa nồng trong gió
    Yêu một ngày mà nhớ ở muôn nơi
    (Lặng Lẽ Đời Chia)

    Anh viết cho em câu thơ dài bối rối
    Chuyến xe đi chiều nắng lạnh trong lòng
    Vẫn yêu người chuông đổ phía chờ mong
    Câu son sắt chưa một ngày quên lãng.
    (Chưa Một Ngày Quên Lãng)

    Trong tập thơ, Tần Hoài Dạ Vũ viết nhiều đề tài. Nếu phải nhận định hết và đủ ý những đề tài ấy, có lẽ phải viết 100 trang chưa đủ. Vậy nên, cuối cùng tôi xin trình bày cảm nhận khái quát cúa tôi về tập thơ nầy:

    5. Thơ Tần Hoài Dạ Vũ, bài thơ vui tặng đời:

    Nhan đề của tập thơ, như tôi cảm nhận, là “Bài Thơ Vui Tặng Đời”. Tôi nghĩ toàn bộ sự nghiệp văn chương của Tần Hoài Dạ Vũ cũng gói gọn trong cụm từ nầy. Vì tâm huyết đó mà Tần Hoài Dạ Vũ đã lặn lội 30 năm nơi đèo heo hút gió, nơi thâm sơn cùng cốc để sưu tầm, biên soạn lại vốn văn học dân gian xứ Quảng và sáng tác những vần thơ trữ tình tặng đời, như những vần thơ hay sau đây:

    Em là hoa hay là hương của đất
    Hương của đời và hương của trời thơ
    Đêm sẽ tan ngày mở của đợi chờ
    Bàn tay lạnh trong tay đời nồng ấm

    Ngày em tới trời xuân mây xuống chậm
    Áo không bay hồn phất phới bay về
    Em mở lòng hoa cỏ mở sơn khê
    Và anh mở cơn mơ vào nhan sắc
    (Bài Thơ Vui Tặng Cuộc Đời tôi)

    Thế đó, em của Tàn Hoài Dạ Vũ không chỉ là một mỹ nhân, một đóa hoa hay một vầng trăng. Em của nhà thơ này là hương nồng của đất, hương sắc của đời và của hoa cỏ sơn khê; nghĩa là, em mang linh hồn của thơ, hay đúng ra, em của tác giả chính là linh hồn của tác giả, của con người yêu thiên nhiên, yêu đời và yêu những cơn mơ nhan sắc.

    Hãy tiếp tục đọc bài thơ:

    Trời buổi ấy như mắt người khuê các
    Như hướng dương không cần thấy mặt trời
    Như thuyền yêu đậu lại bến tình tôi
    Và sóng gió đêm dịu dàng trăng mật

    Em say rồi lệ ngời nơi cuối mắt
    Và mùa xuân nép bên ngực ân tình
    Anh bồi hồi lòng mới chạm bình minh
    Đời mới chạm ánh sáng ngày ân sủng
    (Bài Thơ Vui Tặng Cuộc Đời tôi)

    Em của Tần Hoài Dạ Vũ không như Thúy Vân “Mây thua nước tóc tuyết nhường màu da”, cũng không như Thúy Kiều “Hoa ghen thua thắm liễu hờn kém xanh”, mà em của Tần Hoài Dạ Vũ chính là mây, là tuyết, là hoa, là liễu, là một bài thơ chất chứa vẻ đẹp của thiên nhiên và của cả con người. Em của nhà thơ là sự hài hòa êm đềm, vô vi trong ân sủng của Con Tạo mà nhà thơ hằng nhận lãnh.

    Rồi cuối cùng, Em của Tần Hoài Dạ Vũ là con thuyền đưa nhà thơ vào sâu trong dòng chảy của thạch động, đậu vào bến an lành, để nhà thơ thực chứng, chiêm ngưỡng và chiêm nghiệm sự lung linh huyền diệu của hạnh phúc ngày xanh, trong cơn mưa ân sủng của đời:

    Em là mộng mở cửa đời thực chứng
    Gọi hồn anh về bên bến an lành
    Hương của đời hay hạnh phúc ngày xanh
    Mở hết dạ đón cơn mưa trần thế!
    (Bài Thơ Vui Tặng Cuỗc Đời tôi)

    Tần Hoài Dạ Vũ sáng tác bài thơ nầy thật tuyệt vời. Bài thơ không chỉ để tặng em mà còn làm “Bài Thơ Vui Tặng Cuộc Đời”. Qua em, nhà thơ cảm tạ ân sủng của cuộc đời đã ban cho mình. Lầy nhan đề bài thơ làm tựa đề cho cả tập thơ của mình, tôi nghĩ Tần Hoài Dạ Vũ muốn bày tỏ tấm lòng mình với đời: chan chứa yêu thương, mở rộng vòng tay đón những cơn mưa trần thế và mơ ước sự nghiệp của mình, tuy nhỏ nhoi, nhưng cũng làm được như một “Bài Thơ Vui Tặng Đời” vậy.

    Hãy bước vào vườn thơ của Tần Hoài Dạ Vũ, để thấy đời đẹp như vạn luống hoa, để thấy niềm đau cũng có nhan sắc của Cái Đẹp, của hương vị thanh bình, của Uóc mơ hướng thượng, và để tâm hồn ta mở rộng như tấm lòng ta, cánh tay ta âu yếm nhận và trao, trao và nhận muôn vàn tinh túy ẩn, hiện trong thơ giữa cuộc đời nầy!
    Châu Thạch

NGÀY GIÃN CÁCH

Châu Thạch 

aodai54-r

ĐỐI THOẠI VỚI THIÊN THẦN ÁO TRẮNG

– Có phải em là thiên thần áo trắng?
– Không phải đâu, em chỉ là con người

– Sao áo em tinh sạch trắng màu tươi
Và em làm những điều thánh thiện?

– Vâng, bởi em, chính là em tình nguyện
Nguyện trong lòng làm từ mẫu cho đời
Những thiêng liêng em nhận ý trên Trời
Và nhân ái di truyền từ cha mẹ

– À như vậy hiểu ra rồi mọi nhẽ
Không người Trời em vẫn cứ thiên thần
Em là người có một tấm lòng nhân
Và có cả một tâm hồn bác ái!

– Em hiệp sĩ của loài người hiện đại
Chận con đường bách hại bệnh nan y
Con vi trùng, con vi rút lui đi
Em áo trắng! Em thiên thần áo trắng!

– Dịch Covid đem bao điều cay đắng
Cả thế gian khuất phục địch vô hình
Chỉ có em, em mặc áo trắng tinh
Đứng án ngữ, chận quân thù xông tới

– Chúng là dịch, loại quân thù rất mới
Chúng giết người hơn cả quỷ Sa Tan
Không có em, nhân loại sẽ quy hàng
Không có em, thế gian không lối thoát

– Không có em, tiếng sầu thay tiếng hát
Không có em, sự chết đến muôn nhà
Em thiên thần! Người đặt vạn bài ca
Vạn thi phú tôn vinh em chẳng đủ

– Bàn tay em chận nguồn cơn đại lũ
Áo trắng em cháy đại dịch Cô-Vi
Cả thế gian có lẽ không chân quỳ
Nhưng đã nhận em thiên thần áo trắng!!!
Châu Thạch

CÀ PHÊ MỘT MÌNH

Covid, cà phê ngồi một mình
Nhìn hoa ngắm cảnh đời vẫn xinh
Không gian là của riêng ta vậy
Chỉ có mình ta chỉ một mình!

Nghe tiếng thời gian lướt nhẹ nhàng
Thiên đường có thật ở trần gian
Ung dung ta đứng nhìn dương thế
Đâu có cần chi phải vội vàng

Bỗng nhiên kiến tánh đạo trong thơ
Bỏ chấp thì ngay đến bến bờ
Một cõi Niết Bàn trong đáy cốc
Thiên Đàng tiềm ẩn đóa hoa mơ.
Châu Thạch

BẠN TÔI HÁT ĐÓ.
(Tặng bạn Lê Văn San)

Trốn Covid, nằm nhà, buồn, lên mạng
Nghe bạn tôi hát đó, phía trời xinh
Hát cho tôi nghe lại tiếng ca tình
Đêm Thạch Hãn ngày xưa ngồi dưới nguyệt

Rồi chinh chiến đưa xa nhau mãi miết
Tôi tiền phương, bạn mũ đỏ kiêu hùng
Đêm Cổ Thành tôi lặng ngắm không trung
Mơ một bận được ngồi nghe bạn hát

Năm mươi năm trãi bao mùa tan tác
Bạn nhớ tôi, tôi nhớ bạn khôn cùng
Quả đất tròn nhưng trời đất mông lung
Tôi và bạn đường đời chia vạn ngã

Nay nghe tiếng người xưa lòng khôn tả
Nhớ ngày xưa những kỷ niệm quay về
Khuôn mặt người qua muôn dặm sơn khê
Vẫn thấy đậm trong hồn, tình thuở trước

Nghe tiếng hát tưởng như mình bắt được
Cả trời xưa trong ký ức hiện ra
Trường Nguyễn Hoàng, phố Quảng Trị, làng xa
Cầu Bến Đá, Trường Sanh quê của bạn

Đời hai đứa trầm luân vì nhiễu loạn
Nghĩa thân yêu xa cách vẫn không nhoà
Ước một ngày đoàn tụ giữa quê ta
Đêm dưới nguyệt tôi ngồi nghe bạn hát!!!
Châu Thạch

NẮNG MƯA VÀ NỖI NHỚ ÊM ĐỀM!

Cảm nhận của Châu Thạch

TÔI CHO TÔI

vt nguyenTrời cho nắng, trời cho mưa
Tôi cho tôi nhớ ngày xưa của mình.
Ngày xưa tóc mây hoe vàng
Trắng đôi tà áo, chân ngoan đến trường.
Có ai níu giữ mùi hương
Sầu đông tim tím ngát đường tuổi hoa.
Có ai đếm bước chân thơ,
Cột từng sợi gió cho mưa thưa về.
Hạt mưa bụi, vạt tóc thề,
Nhẹ nâng guốc gỗ bên lề phố xưa.
Ngày xưa, Quảng Trị ngày xưa
Mộng đời yên ả trong mùa chiến chinh.
Đường phượng hồng, dòng sông xanh,
Hàng dương gọi gió ru tình hồn nhiên.
Bến xưa bờ cỏ non hiền,
Bước cao bước thấp…một miền tuổi thơ.
Trời cho nắng, trời cho mưa,
Tôi cho tôi nhớ ..ngày xưa của mình.
Võ Thị Nguyên.

Lời Bình: Châu Thạch
Võ Thị Nguyên là đồng môn, là bạn facebook của tôi. Tôi chưa gặp Võ Thị Nguyên lần nào, nhưng có lẽ chúng tôi đã xem nhau là anh em thân tình.
Hồi còn nhỏ, cứ mỗi lần thấy một trái bông gòn nổ bộp trên cao và hàng ngàn cánh trắng tỏa xuống, bay phấp phới trong gió, lòng tôi lại nao nao một niềm vui, như thấy an lành trong tâm hồn. Bây giờ mỗi khi đọc thơ Võ Thị Nguyên, cảm tưởng ấy lại trở về trong tôi. Tôi gọi thơ Võ thi Nguyên là “những cánh hoa trắng, đẹp như những cánh bông màu trắng, nhẹ nhàng bay lửng lờ trong gió “
Đọc bài thơ “Tôi Cho Tôi” của Võ Thi Nguyên có lẽ ít người tâm đắc nếu chưa từng sống trong một thị xã mà chúng tôi đã sống, thị xã Quảng Tri trước ngày bão lửa năm 1972. Chiến tranh đã tàn phá thị xã thành ra bình địa. Chúng tôi thương nhớ ngôi trường đã học, thương nhớ ngôi nhà đã ở, thương nhớ con phố đã đi và thương nhớ những kỷ niệm còn trong ký ức. Thế nhưng sự thương nhớ trong thơ Võ Thị Nguyên không làm rơi nước mắt. không co thắt con tim, mà nó như một cơn gió thoảng, mang hương thơm từ qua khứ bay về, tỏa ra ngào ngạt trong không gian cao rộng. Mùi hương kỷ niệm khiến ta ngây ngất, cho tâm hồn êm đềm bay về quá khứ, như đi trong một giấc thụy du!
“Trời cho nắng trời cho mưa/Tôi cho tôi nhớ ngày xưa của mình” nghĩa là Võ Thị Nguyên nhớ về quá khứ luôn luôn, trong tất cả thời tiết và trong cả bốn mùa.
Chỉ đọc hai câu thơ nầy ta đã cảm nhận nỗi nhớ trong lòng tác giả luôn luôn có, tràn ra không gian, tỏa trong thời gian và thời tiết dầu nắng mưa hay gió bão đều trở nên đẹp tất cả vì nó đều mang hình bóng ngày xưa, phản ảnh tháng ngày qua trong quá khứ. Thế rồi:
Ngày xưa tóc mây hoe vàng
Trắng đôi tà áo, chân ngoan đến trường
“Tóc hoe vàng” vì được biết cả nhà tác giả đều có màu tóc hoe vàng. Cô nữ sinh có mái tóc hoe vàng đó học trường Nguyễn Hoàng, mặc áo trắng, đi về ngày hai buổi dưới chân bóng cổ thành. Câu thơ làm tôi nhớ đến bài thơ “Quê Hương Điều Tàn” của Nguyễn Đức Quang có mấy câu sau đây:
“ Quê Hương anh là Quảng Trị
Nhà của anh bên dòng sông Thạch Hãn
Và xưa đó anh học trường Nguyễn Hoàng
Ngày hai buổi đi về đường Quang Trung
Và chiều chiều trên con phố buồn hiu
Cùng người yêu anh buông lời hẹn hò”
Bây giờ nếu ta đổi nhân vật, anh thành em, thì cuốn phim ngày xưa với mái tóc hoe vàng, với áo trắng, với guốc mộc mà tác giả dựng lại trong những câu thơ sau đây thật vô cùng diễm xưa và vô cùng thắm thiết:
Có ai níu giữ mùi hương
Sầu đông tim tím ngát đường tuổi hoa.
Có ai đếm bước chân thơ,
Cột từng sợi gió cho mưa thưa về.
Hạt mưa bụi, vạt tóc thề,
Nhẹ nâng guốc gỗ bên lề phố xưa.
Tác giả hỏi “Có ai níu giữ mùi hương” nghĩa là không có ai cả, vì mùi hương là vô hình không ai giữ được. Thế nhưng khi tác giả hỏi “Có ai níu giữ thời gian” thì ta hiểu chính tác giả đã níu giữ được cả mùi hương, cả thời gian tâm lý trong tâm hồn mình nhiều năm tháng đã qua. Bởi thế tác giả tiếp tục nhắc lại những kỷ niệm của một thời đi học: Con đường có hoa sầu đông màu tím, mưa bụi, tóc thề và guốc gỗ.
Hai câu thơ “Có ai đếm bước chân thơ/Cột từng sợi gió cho mưa thưa về” cho ta hình ảnh ảnh những chàng trai lẻo đẻo theo gót chân nàng trong những buổi chiều mưa bụi trên tóc thề em. Chắc chắn chàng sẽ vái trời đừng mưa lớn để có thể theo em cho đến tận nhà. Vậy là chàng “cột gió” bằng sự van vái trong lòng mình. Chàng đi theo sau, nhìn từng sợi tóc nàng bay lất phất trên đôi bờ vai thon, trên cổ trên gáy nỏn nà, lòng mong ước gió đẩy mưa đi, để từng sợi tóc kia đừng ướt. Biết đâu trời sẽ thương chàng không mưa lớn, và chàng đã “cột được” “từng sợi gió” bằng tình yêu của mình.
Bằng sáu câu thơ xúc tích ở trên, Võ Thị Nguyên đã hiển thị trong mắt ta quá khứ bằng phim đen trắng, mơ hồ mà lung linh, khiến ta cảm nhận được tất cả chính mình trong đó.
Bây giờ, qua khổ thơ tiếp, tác giả mới nói rõ địa danh, không gian, thời gian nơi mình đã sống, nơi tuổi thơ êm ái và nơi để lại cho mình nỗi nhớ êm đềm:
Ngày xưa, Quảng Trị ngày xưa
Mộng đời yên ả trong mùa chiến chinh.
Đường phượng hồng, dòng sông xanh,
Hàng dương gọi gió ru tình hồn nhiên.
Bến xưa bờ cỏ non hiền,
Bước cao bước thấp…một miền tuổi thơ.
Hai câu thơ mà tôi thích nhất trong khổ thơ nầy là hai câu “Đường phượng hồng, dòng sông xanh/ Hàng dương gọi gió ru tình hồn nhiên” cho tôi nhớ lại trọn ven con đường Gia Long ngày xưa chạy dọc theo bờ sông Thạch Hãn.
Tứ thơ hay nhất trong khổ thơ nầy là tứ thơ “Mộng đời yên ả trong mùa chiến chinh”, một tứ thơ nghịch lý nhưng là sự thật mà ai cũng cảm nhận được nhưng không ai đưa vào thơ cả.
Cuối cùng nhà thơ nhấn mạnh lại bằng hai câu thơ vào bài để người đọc cảm nhận hoàn toàn nỗi nhớ thương triền miên nhưng êm ái trong lòng tác giả. Nỗi nhớ đó phát xuất từ tình yêu một quá khứ vàng son, hằng hữu trong tâm hồn, vĩnh viễn không quên:
Trời cho nắng, trời cho mưa,
Tôi cho tôi nhớ ..ngày xưa của mình
Mỗi lần nhìn ảnh Võ thị Nguyên ngồi trên chiếc xe lăn, chung quanh là hoa, chung quanh là bạn bè, người thân, đồng môn, đồng nghiệp, văn thi sĩ từ phương xa về thăm, lòng tôi lại nao nao như thấy một phụ nữ ngồi giữa “Vườn trong trẻo vô biên và quyến luyến” như Hàn Mạc Tử đã nói về người thơ vậy. Mà thật thế, thơ của Võ Thị Nguyên là tiếng thơ trong trẻo vô biên và quyến xuyến vì nó phát từ con tim quyến luyến, từ tâm hồn trong trẻo và từ sự vô biên của đất trời mà thành thơ. Thơ ấy chỉ có hương của hoa thiên nhiên, chỉ có vị của mật từ loài ong tinh khiết, và cho ta thụ hưởng thanh âm êm đềm qua tiếng thơ êm ái!!!
Châu Thạch

CƠN MƠ VÀO ĐÔNG – ĐÔI MẮT SAU GỌNG KÍNH

Châu Thạch

hn2

CƠN MƠ VÀO ĐÔNG
Tuổi vào đông mộng xuân vẫn còn thắm
Trong chiêm bao ta thấy dáng em đi
Quả tim ta tha thiết khối tình si
Yêu như thể cả tinh cầu trăng gió!

Rôi em tan trong vườn sương hoa cỏ
Ta lang thang qua năm tháng hao gầy
Nhớ như thu, vàng lá úa trên cây
Đau như thể cả vành trăng khuyết tật

Em mang cả linh hồn ta biến mất
Xác thân ta rơi xuống cõi dại khờ
Ta đi hoài đi mãi giữa vu vơ
Tìm và gọi đến thơ thành thổ huyết

Đêm bỗng động như ai bung nắp huyệt
Ta tỉnh người, nghe thoảng ngát hương em
Em nguyên hình gần lắm, cạnh một bên
Ta vẫn thấy còn trong lòng hờn giận!
Châu Thạch

ĐÔI MẮT SAU GỌNG KÍNH
Đôi mắt ấy nhìn đời hai thế kỷ
Thấy tình yêu và thấy cả hận thù
Thấy mặt trời và thấy cả âm u
Thấy rằm sáng và thấy đêm trừ tịch

Đôi mắt ấy như trang ghi cổ tích
Vết thời gian hai bờ giấy xôn xao
Thuyền linh hồn trôi giữa giấc chiêm bao
Dòng ký ức có vô vàn biến động

Sau gọng kính màu đen ta mơ mộng
Mắt vẫn ngời trong buổi tuổi vào đông
Ta vẫn thấy em từ thuở xuân hồng
Ta vẫn trẻ như một thời si dại

Lột gọng kính cầm tay ta sợ hãi
Đời vắng tênh, hiu hắt giữa thời gian
Gió ban trưa thổi nóng xuống đại ngàn
Các em tắm, cười vang hồ tĩnh lặng

Ta rơi xuống một khung đời trống vắng
Thấy hư vô tay trắng, ngắm hồ trong
Có cái gì như băng tuyết trong lòng
Ta chán ngán bờ bên nầy sự sống

Ta ao ước bờ bên kia sống động
Đèn Ngôi Lời chiếu sự sáng thiên thu
Đời văn chương không gợn chút mây mù
Ta bỗng gọi, Chúa ơi con đã hiểu!!!
Châu Thạch

MỘT MÌNH / KHI NÀO TA BỎ THẾ GIAN

 Châu Thạch

bienvang
MỘT MÌNH!
Một mình
Ngồi giữa đêm khuya
Không trăng
Chỉ có sao lìa trời xanh
Sầu sao
Chùm tối trên cành
Con chim không hót
Đêm đành lặng yên
Thương mình
Bao nỗi truân chuyên
Thương cây
Không gió đứng yên giữa trời
Đêm như
Thầm lặng bao lời
Ta như
Ghế đá
Một đời công viên
Thuyền hồn
Trôi giấc cô miên
Một mình
Ta với ưu phiền trần gian
Nhớ ơi
Là nhớ địa đàng
Còn đâu trái cấm sông vàng
Chúa ơi !!!

KHI NÀO TA BỎ THẾ GIAN

Khi nào
Ta bỏ thế gian
Em ơi
Đừng để hai hàng lệ rơi
Ta đi
Đi thẳng về trời
Bỏ trăng
Bỏ gió
Bỏ đời khổ đau
Ta còn
Để lại phía sau
Câu thơ nhuộm ướt
Một màu lệ trong
Bia ta
Em vẻ một vòng
Một vòng như bóng
Đêm rằm tròn trăng
Thơ ta
Em gởi lên hằng
Lửa hồng thiêu giấy
Tro tàn gió bay
Trên trời
Ta ở cùng mây
Mây đi
Đi đó đi đây phiêu bồng
Em ơi
Sắc sắc không không
Em ơi
Đừng sá chi lòng ta đau!!!
Châu Thạch

ĐỌC “CHÂN DUNG TỰ HOA 34” CỦA LÊ THIÊN MINH KHOA.

Châu Thach

flowers
Thơ Lê Thiên Minh Khoa tự họa 34:
VÀ EM…
Và em.
Và tôi.
Và thơ.
Và lung linh rượu.
Và chờ đêm qua
Và Không.
Và Phật.
Và Ma.
Hội nhau trong cõi ta – bà
Rong chơi
Và em.
Và tôi.
Và ai.
Và trăm năm
Vẫn nhớ hoài ngàn năm
Và ngàn năm
Nhớ xa xăm
Và xa xăm nhớ lầm
Than kiếp người!…
Nhà sáng tác Đà Lạt – 8.2006
LÊ THIÊN MINH KHOA

Lời Bình: Châu Thạch

Có lần tôi đã viết một bài cảm nhận về “Thơ Ngắn Lạ Đời Lê Thiên Minh Khoa”. Ngoài những bài thơ ngắn lạ đời đó, nhà thơ Lê Thiên Minh khoa còn có nhiều bài thơ “Chân Dung Tự Họa” cũng rất lạ đời. Hôm nay tôi xin bàn đến một trong những bài thơ ấy. Đó là bài “Và Em..”

“Và Em…” là một bài thơ mà Lê Thiên Minh khoa không tự họa chân dung của khuôn mặt mình. Nhà thơ tự họa chân dung của tâm hồn mình. Đọc “Và Em…”, ai mến Khoa thì gọi nó là thơ, ai ghét khoa thì gọi nó không là thơ cũng được. Bởi vì “Và Em …” như lời vu vơ của một tên khùng. Ngược lại “Và Em…” cũng như lời cao vời của một thi nhân:

Và em.
Và tôi.
Và thơ.
Và lung linh rượu.
Và chờ đêm qua

Em, tôi, thơ và rượu được hòa điệu trong nhau là những thời khắc hạnh phúc tuyệt vời. Chữ “Và” cho ta cảm nhận sự hội ngộ của 4 nhân vật đem đến niềm vui trác tuyệt. Em là một nhân vật, tôi là một nhân vật, thơ và rượu ở đây cũng được nhân cách hóa thành hai nhân vật để đáng ra, cuộc vui tồn tại thâu đêm.
Thế nhưng lạ thay, nhà thơ xuống một câu thơ nghịch lý vô cùng: “Và chờ qua đêm”.

Chờ ai qua đêm và vì sao phải chờ qua đêm?

Đọc câu thơ nầy tôi bỏ bài thơ xuỗng. Không hiểu! Ngày hôm sau đọc lại câu thơ nầy, tôi lại bỏ bài thơ xuống. Không hiểu! Rồi bỗng một lúc nào đó, sáng tỏ bừng lên trong đầu tôi khi đọc tiếp khổ thơ thứ hai của Lê Thiên Minh Khoa:

Và Không.
Và Phật.
Và Ma.
Hội nhau trong cõi ta – bà
Rong chơi

Hóa ra “Và em, và tôi, và thơ” chỉ là chữ “Sắc” trong đạo Phật. “Sắc tức thị không, không tức thị sắc”, chữ “Sắc” nầy biến thành chữ “Không” ngay trong tâm hồn vô thường của nhà thơ: “Và không”

Hình như trong khổ thơ thứ nhất chỉ có rượu là thật, còn tất cả chỉ là ảo ảnh, ảo ảnh ấy diển biến trong tâm trí nhà thơ mà thôi. Nhà thơ đang cô đơn giữa cuộc đời, đang bơ vơ lạc lõng trong hố thẳm trí tuệ, đang mất định hướng về đời, về thơ, về tình và về chính bản thân mình.

Đi với linh hồn Lê Thiên Minh Khoa lúc ấy, ở trong đầu Lê Thiên Minh Khoa lúc ấy, không những chỉ có bóng em, bóng thơ mà còn có bóng ma và bóng Phật. Tất cả các bóng đó chập chọa, ẩn rồi hiện, có mà không, không mà có. Những hình bóng đó cùng Lê Thiên Minh Khoa “Hội nhau trong cõi ta-bà/ Rong chơi”. Đúng ra, tất cả những bóng ấy ám ảnh trong tâm hồn nhà thơ, đích thị là chân dung của “tâm hồn Lê Thiên Minh Khoa” đã tự họa cho mình. Một tâm hồn đang khắc khỏi với những nan đề của tình yêu và của tâm linh khó giải trong cuộc sống.

Đọc hai khổ thơ trên ta thấy nhà thơ Lê Thiên Minh Khoa không rong chơi bình an bao giờ. Tác giả mang nặng trong tâm tư mình sự dằn vặt, thắc mắc, chạy đi tìm kiếm nhiều sự thật còn mập mở. Nhà thơ đang đuổi theo những bóng chân lý về đời, về tình, về thơ, về đạo và về cái “tôi” của chính nhà thơ. Có lẽ nhà thơ chỉ có thể rong chơi được trong rượu để “chờ qua đêm”. Chờ qua đêm để trông mong hội ngộ cái chân lý mình tìm kiếm. Chân lý ấy như bóng ma, chỉ chập chờn trong tư duy mà chẳng bao giờ lộ diện nguyên hình để nhà thơ bắt được nó trong trí óc của mình. Bởi thế nhà thơ “Chờ qua đêm” và sẽ còn “Chờ qua đêm” mãi mãi…

Và khi hoài nghi trong đầu lên đến độ cao, thật và ảo làm mờ đôi mắt tuệ, nhà Lê Thiên Minh Khoa không đi tìm cứu cánh trong đạo, trong thiền để định được tâm linh mình. Nhà thơ đi tìm cứu cánh trong thơ và rượu thì dễ lắm tinh thần tẩu hỏa, cái nhìn trở nên bấn loạn:

Và em.
Và tôi.
Và ai.
Và trăm năm
Vẫn nhớ hoài ngàn năm

Bây giờ Lê Thiên Mình Khoa không biết em, không biết tôi, không biết cả thời gian dài hay ngắn. Khổ thơ cho ta thấy sự nghi ngờ, sự lẩn lộn xảy ra trong tâm hồn tác giả. Mọi sự nhà thơ dồn vào trong một chữ “Và”. Chữ “Và” đó chứa em, chứa tôi, chứa ai nữa không biết, chứa nỗi nhớ gì không biết, chỉ biết là nhớ 100 năm cho đến 1000 năm còn nhớ.

Sau phút loạn thị đôi mắt của tuệ, những tưởng nhà thơ tẩu hỏa vi căn thẳng tư duy trong rượu. Nhưng không, Lê Thiên Minh Khoa còn tỉnh táo để cho ta biết nỗi nhớ trăm năm, ngàn năm, hay chính ra, là nỗi nhớ trải qua bao kiếp người. Bao kiếp người ấy nhà thơ đã nhận chịu những nỗi đau vật chất và tinh thần phi lý:

Và ngàn năm
Nhớ xa xăm
Và xa xăm nhớ lầm
Than kiếp người!…

Hóa ra cũng chỉ là nhớ nỗi đau của “Khổ Đế”, một chân lý trong bốn chân lý mà Đức phật tìm ra dưới gốc cây bồ đề. Đức Phật tìm ra nguyên nhân của sự khổ, Ngài ngộ được nhưng Lê Thiên Minh Khoa không ngộ được. Nhà thơ có thấy chăng cái nguyên nhân đó, thì cũng như sự thấy của triệu triệu sinh linh trong cõi ta bà nầy, nghĩa là thấy mập mờ hình bóng mà thôi, thấy như thấy vầng trăng Đức Phật chỉ, nhưng nó ở ngàn vạn xa không bao giờ đến được.

Là một thi nhân còn trong cõi tục lụy, mang nỗi đau của kiếp nhân sinh, con tim nhạy cảm, rung động trước hoan lạc và trước nỗi buồn, tìềm tàng trong linh hồn mập mờ hình ảnh những nhánh sông đời trong tiền kiếp, nhà thơ Lê Thiên Minh Khoa bật lên trong thơ tiếng kêu của mình, như tiếng con nai vàng lạc trong rừng rậm. Nhà thơ tự họa bằng thơ chân dung của linh hồn mình, như một con thuyền bơ vơ trôi giữa hư và thực, kể cả ngọn hải đăng của đời, của Thiên Đường hay của địa ngục cũng không có. Em và tôi và ma và Phật, và trăm năm đều nằm trong ly rượu. đó là thứ đạo chân lý mà Lê Thiên Minh Khoa làm giáo chủ, để vơi đi nỗi nhớ xa xăm, để quên đi những bài toán khó của cuộc đời không giải được như thần linh, như ma quỷ ám ảnh nhà thơ mãi mãi ./.
Châu Thach

Châu Thạch

tinh ca thieu khanh

CẢM TÁC “TÌNH CA”
(TẬP THƠ CỦA THIẾU KHANH)


Ta biết danh từ thuở hai mươi
Lúc trăng còn mộng xuân còn tươi
Bây giờ tuổi hạc thu qua trọn
Đông đến đời khuya nhận sách người

Một tập vần thơm trỉu ngón tay
Hương từ xuân trước vẫn còn bay
Ta tìm ta lạl trong thơ ấy
Để thấy trăm năm mộng vẫn đầy

Ta cảm ơn người thơ Thiếu Khanh
Cho hoa lá nở giữa khô cành
“Tình Ca” đem gió năm xưa lại
Tắm mát hồn ta một suối xanh

Ta thấy ta nghe tiếng yến oanh
Tiếng sông, tiếng biển sóng vờn quanh
Tiếng ai vang vọng đôi bờ giấy
Như tiếng hồn ta mộng rất lành!

Ta thấy mùi thơm của chiến bào
Thấy trời xưa vọng tiếng binh đao
Thấy ta lãng mạn yêu em gái
Và nhớ tình xưa đã vẩy chào

Ta gối sách thơ như gối sao
Ru đêm ta thức với ly tao
Rồi ta gối mộng lên trang sách
Để nhớ thương ta tuổi ngọt ngào ./.
Châu Thạch

 

MÙA THƯƠNG KHÓ – PHỤC SINH 2020

Châu Thạch

thanh gia crucifix
Đồi Gô-Gô-Tha

Hai ngàn hai mươi năm qua
Uy linh tích Chúa vẫn không nhòa
Sừng sững đồi cao cây Thánh Giá
Lẫy lừng Thiên Chúa chết nguy nga.
Đồi Gô-Gô-Tha
Chúa chết vì ta
Giòng máu hồng tươi tuôn xối xả
Nguồn sông rửa tội đến muôn nhà.
Tiền công người Chúa trả
Gánh tội lỗi thế gian
Rời nơi chí thánh Thiên Đàng
Yêu người Chúa chịu chết oan vì người.
Đồi Gô-Gô-Tha
Bóng tối đã đi qua
Ánh sáng tràn muôn ngã
Ngọn đuốc trường sinh treo Thánh GIá
Tình thương vô đối trổ thiên hoa.
Thơm ngát lời ca
Bức màng nhung xé toạt thấy Thiên Tòa
Đến thẳng cùng Cha
Lũ lượt linh hồn đổi sắc
Máu tội lỗi đỏ hồng điều ngăn ngắt
Bỗng nhiên trắng tựa thiên nga
Đường trần gian u ám băng qua
Cửa Christ bước vào sáng tỏa!
Đồi Gô-Gô-Tha
Huyền nhiệm bài Thánh Ca
Trải ngàn năm đồng vọng dải Ngân Hà
Cao ngất tầng trời quỳ lạy tạ
Cả và thế giới ngước tôn Cha
Ha – Lê – Lu – Gia!
Chúa Jesus cao cả

SẼ HIỂU NƯỚC MẮT.

Đức Chúa Trời làm việc gì cũng tốt
Bạn hãy tin tôi đi
Ngài tể tri cả những điều đau khổ
Sóng thần, dịch lệ và chiến tranh…
Biển vẫn màu xanh
Mặt trời vẫn màu đỏ
Trăng lung linh và gió
Tình yêu của Người vẫn luôn luôn chở che
Đức Chúa Trời đựng nước mẳt trong ve
Giữ gìn tiếng khóc trong bình bằng ngọc
Dầu thế gian ở trong vùng tang tóc
Chẳng sợ gì
Vì Chúa ở cùng ta
Sa Tan đi qua
Rồi Sa Tan sẽ biến
Vinh quang Ngài hiển hiện
Trong trái tim loài người gian khổ
Ba ngày nằm trong mộ
Chúa sống dậy vinh quang
Cả một nước Thiên Đàng
Sắm sẵn ở trên cao
Trên cả mặt trời
Trên cả trăng sao
Nhưng dư dật cả trong lòng ta hiện hữu
Đức Chúa Trời có quyền năng để cứu
Tin hay không tùy bạn mà thôi
Bạn lắng lòng ắt sẽ thấy Chúa thôi
Và sẽ hiểu những điều của nước mắt.

NGHỊCH LÝ!

Khi bà Ê-Va hái trái cấm
Đưa cho chồng mình A-Đam ăn
Mắt họ sáng ra thấy mình lỏa lồ
Bằng lấy lá che thân
Thiên Chúa đuổi họ ra khỏi địa đàng
Chịu bao nỗi gian nan
Họ không trách Ngài
Không đổ tội cho ai
Mấy ngàn năm trường trải
Họ sinh đẻ ra mau
Sống tràn lan khắp cả địa cầu
Con cháu họ quay đầu
Ta thán nỗi thương đau
Quy tội về cho Chúa
Họ có biết đâu
Mình làm mình chịu
Chúa ở trên cao
Cũng đau lòng hơn thế
Quyền tự do Chúa ban cho cả thể
Luật công bình chúa để cho con người
Chúa yêu thương ban sự sống xanh tươi
Nhưng Chúa cũng là cán cân công lý
Vì yêu thế gian
Chúa làm điều thật quý
Xuống làm người chịu chết giữa trần gian
Mở con đường về lại thênh thang
Gánh tội lỗi nhân trần trên vai Chúa
Người thế gian như rừng cây héo úa
Trong cuồng phong cứ rụng cứ rơi
Vẫn quay lưng oán trách ông Trời
Không quay lại nhận nhựa nguyên từ gốc!
Họ hăm hở đi về sông chất độc
Họ xua tay từ chối thuốc trường sinh
Họ sa vào hang ổ thấy mà kinh
Cứ trách Chúa nhưng chẳng cầm tay Chúa!
Châu Thạch

 NỖI NHỚ QUÊ HƯƠNG

Thư viện của bài

This gallery contains 1 photo.

Châu Thạch
 NỖI NHỚ QUÊ HƯƠNG TRONG
     THƠ THÁI QUỐC MƯU

                           

Hiếm có ai xa quê hương mà không nhớ đến quê hương. “Quê hương nếu ai không nhớ/ Sẽ không lớn nổi thành người” thơ của Đỗ Trung Quân hầu như đã trở thành câu thành ngữ ăn sâu vào lòng người dân Việt. Tuy thế, nỗi nhớ quê hương đó không phải ai cũng giống ai. Bởi mỗi người có sự gắn bó với quê hương khác nhau, có hoàn cảnh xa quê hương khác nhau và sự rung động của tâm hồn cũng khác nhau nữa, nên nỗi niềm thương nhớ quê hương cũng có sự khác biệt trong nội tâm mỗi người. Thơ diễn tả nỗi nhớ quê hương cũng thế, có bài da diết, có bài dằn vặt, có bài êm đềm sâu lắng, nhưng chung quy tác giả nào thật sự yêu quê hương thì tiếng lòng của họ làm cho ngôn ngữ của họ hồn nhiên đi vào tâm tư người đọc, mặc dầu thơ họ có thể tự nhiên như là lời nói mà thôi. Ba nhà thơ mà tôi có cơ hội biết đến bút pháp của họ như có hồn quê hương núp ở trong thơ, đó là Nguyệt Lãng, Trần Ngọc Hưởng và Thái Quốc Mưu, trong đó nhà thơ Thái Quốc Mưu là người thật sự xa quê hương biền biệt vì ông định cư ở xứ người bên kia bờ biển Thái Bình Dương.

 Cũng như bao người ly hương khác, mỗi độ xuân về thì nhà thơ Thái Quốc Mưu lại nhớ đến quê hương, nhất là khi mùa xuân đến ở xứ ta thì nơi xứ người vẫn còn tiết đông, khiến cho cõi lòng như cũng thành băng tuyết với không gian. Nỗi buồn của Thái Quốc Mưu không giống với cái buồn của nhưng người hoà nhập với vùng đất mới định cư, mà nỗi buồn của ông trĩu nặng bởi mặc cảm tấm thân mình bèo dạt mây trôi:

 Xuân đến xứ người đang tiết đông

Hỏi, đời ly xứ có buồn không?

Mả mồ tiên tổ nhờ chăm sóc

Đền miếu ông bà cậy ngó trông

Tất bật xứ người quên tết đến

Mệt lừ thân xác hết Xuân mong

Tấm thân lạc xứ con bèo dạt

Mỗi độ xuân sang tím ngắt lòng.

                         (Chạnh Lòng) Tiếp tục đọc

ĐỌC “TRẢ LẠI TA” THƠ MẠNH TRƯƠNG

Thư viện của bài

This gallery contains 4 photos.

Châu Thạch TRẢ LẠI TA -/- Trả lại ta chuỗi thời gian Tuỗi thơ êm đẹp mơ màng bướm hoa Không gian ơi,trả lại ta Núi sông rừng trãng bao la một vùng Trả ta một khoảng không trung Trời … Tiếp tục đọc

ĐỌC “TIỀN KIẾP”

Thư viện của bài

This gallery contains 2 photos.

ĐỌC “TIỀN KIẾP” CỦA  NGUYÊN BÌNH
-TẬP THƠ NGÀN NĂM BÂNG KHUÂNG

                              Châu Thạch

 “Tiền Kiếp” là tập thơ của nhà thơ Nguyên Bình vừa xuất bản. Nguyên Bình  còn là một nhà bình thơ, một nhà giáo, cư trú tại Bà Rịa- Vũng  Tàu.

 Vì sao tôi gọi “Tiền Kiếp” cúa nhà thơ Nguyên Bình  là tập thơ ngàn năm bâng khuâng? Thật vậy, ta hãy đọc khổ thơ đầu cúa bài thơ “Tiền Kiếp” đươc đăng ở trang 51 thì sẽ có khái niệm về tập thơ nầy:

                      Nợ em cái nhìn từ tiền kiếp
                     Tôi đã vay về một sáng xuân
                     Nghìn năm thương nhớ chưa trả hết
                     Nay còn vương lại chút bâng khuâng

 Bâng khuâng là gì? Là sự buồn nhớ lâng lâng, là những cảm xúc luyến tiếc, nhớ thương xen lẫn nhau, gây nên trạng thái tâm hồn ngơ ngẩn, ngẩn ngơ.

 Đúng vậy, tập thơ “Tiền Kiếp” của nhà thơ Nguyên Bình là một tập thơ tình, ông sáng tác bởi những cuộc tình mà ông đã tương tư, ngẩn ngơ từ bao kiếp trước, những cuộc tình ông đã vay nhưng định mệnh còn chưa cho ông trả.

Có lẽ, vì Nguyên Bình  không uống chén canh Mạnh Bà khi qua cầu Nại Hà từ muôn kiếp trước, nên nhà thơ vẫn nhớ cả những cuộc tình trong tiền kiếp của nhà thơ.

 Thế nhưng vì thơi gian lâu quá, ký ức phai mờ, cái nhớ chỉ còn vương lại chút bâng khuâng khi tưởng đến hình ảnh những ai trong quá khứ còn biền biệt xa nhau, hay những ai có duyên lành gặp nhau ở  hiện tại nhưng trong mơ hồ chỉ biết đã từng có nhau từ tiền kiếp  mà thôi. Tiếp tục đọc

Tình Muôn Thuở

Thư viện của bài

This gallery contains 2 photos.

Lời Bình: Châu Thạch

ĐỌC HAI BÀI  THƠ HAY  VỀ “CANH MẠNH BÀ”
CỦA LANG TRƯƠNG VÀ VUA ĂN MÀY
   “Mạnh Bà là một nhân vật của nhiều truyền thuyết Á Đông gồm Trung Quốc, Nhật Bản, Việt Nam… Mạnh Bà là người chế tạo Chén Canh Mạnh Bà ở dưới Địa Phủ giúp các vong hồn quên hết mọi chuyện kiếp trước, trước khi đầu thai kiếp sau.

 Người ta nói rằng, sau khi con người chết đi, linh hồn sẽ phải đi qua một con đường gọi là Hoàng Tuyền lộ. Cuối đường có dòng sông Vong Xuyên, nước chảy không ngừng. Bắc ngang qua sông là cầu Nại Hà, đi hết cây cầu này sẽ đến Vọng Hương Đài. Những linh hồn được đầu thai làm người đều phải qua Vọng Hương Đài này, rồi uống bát canh quên lãng của một bà lão tên là Mạnh Bà.

 Bất cứ ai uống bát canh Mạnh Bà ấy thì mọi chuyện trong quá khứ đều trôi theo dòng nước Vong Xuyên mà chìm vào quên lãng. Những hỷ nộ ai lạc, những ân oán tình thù, hết thảy đều tan đi như làn khói, chỉ còn lại ký ức trống rỗng cùng một gương mặt yên bình.

 Tuy nhiên, trên thế giới có rất nhiều trường hợp, có lẽ vì không uống bát canh Mạnh Bà này, nên đã nhớ được hết thảy những chuyện của đời trước, và những câu chuyện được kể lại hết sức chân thực, khiến người ta không thể không hoài nghi rằng, luân hồi chuyển thế phải chăng là chuyện chân thực.” Tiếp tục đọc

TÌNH TỰ

Thư viện của bài

This gallery contains 1 photo.

Châu Thạch cảm nhận
ĐỌC “TÌNH TỰ’” THƠ CỦA TIM TÍM:
  TÂM HỒN NHẬP VÀO CÕI THU VÔ BIÊN
TÌNH TỰ

Thơ Tim Tím

Mùa thu ướp hương hoa nồng lên tóc
Tóc thơm tho vừa đắm giấc say mê
Dòng tóc chảy như dòng thơ tình tự
Vừa cho ai vùi cơn mộng , quên về

 Mùa thu đọng trên môi trầm ngực biếc
Giọt tương tư ngan ngát đóa hoa yêu
Ta chìm xuống trên sương trời áo lụa
Màu trăng trong và ta cũng tan theo

 Tan , tan mãi , tan về nơi vô tận
Bao đam mê trôi trên mắt môi đầy
Ôi như thể ta không còn nhịp thở
Trăng vàng thu đang lóng lánh tan bay

 Ta nghe thấy trên da mùi hương cỏ
Mùi tường vi ngây ngất cánh nghiêng rơi
Ta trôi mãi cuốn sâu vào thăm thẳm
Bùa tình thiêng huyền hoặc giữa tay người

 Ta sẽ trãi trên da mềm óng ả
Màu sương trăng thành áo lụa thênh thang
Muôn tinh tú reo trên bờ môi ngọt
Mi mềm run hồn níu gọi thiên đàng

 Trăng trong trẻo , trăng nghe lời tình tự
Đất run run đất xao xuyến chuyển mình
Từ tiền kiếp xa xăm quay về lại
Giấc tình mơ thương cảm đến rưng rưng

31/8/2019

Bình ngắn; Châu Thạch

 Một hôm ngồi uống cà phê với nhà văn Nguyễn Khắc Phước, Phước nói với tôi: Thơ của Tim Tím, một nữ tác giả trên facebook thật hay. Tôi liền mở facebook đọc thử vài bài, thấy hay tôi xin kết bạn. Về nhà đọc lại nhiều lần thơ của tác giả nầy, bài thơ “Tình Tự” của Tím Tím đã đã gây cho “con ma” trong lòng tôi cảm xúc, và nó bắt tôi phải viết.

 
Trước hết ta hãy đọc khổ thơ đầu của bài thơ ‘Tình Tự”

 Mùa thu ướp hương hoa nồng lên tóc
Tóc thơm tho vừa đắm giấc say mê
Dòng tóc chảy như dòng thơ tình tự
Vừa cho ai vùi cơn mộng , quên về

 Một cách tả mùa thu rất mới, không có gió heo may, không có trời se lạnh, không có lá vàng rơi mà có những thứ xưa nay ít nhà thơ nói đến, chưa dám viết là không có nhà thơ nào đề cập đến.

 Chỉ đọc bốn câu thơ đầu ta đã thấy mùa thu tràn hương trên người thiếu nữ và người thiếu nữ chính như là bức tranh mang chủ đề “muà thu và em”.  Một bức tranh như thế chỉ có thể thi nhân mới vẽ được bằng lời, họa sĩ cũng khó mà vẽ được. Tiếp tục đọc

người đàn bà nhặt chữ nuôi thơ

Thư viện của bài

This gallery contains 1 photo.

Châu Thạch
ĐỌC “NGƯỜI ĐÀN BÀ NHẶT CHỮ NUÔI THƠ”-
TÁC GIẢ ĐINH LAN
(Một bài thơ xứng đáng đoạt giải)
“Người đàn bà nhặt chữ nuôi thơ” là ai? Rõ ràng là một nữ thi nhân.
Tác giả đem hình ảnh người đàn bà làm ruộng để gởi hình ảnh người làm thơ vào đó. Người làm ruộng thì chất phát, chân lấm tay bùn. Người làm thơ thì nho nhã, thanh tao. Hai mẫu người đối nghịch nhau. Vậy mà nó hóa một, không phải chỉ trong một bức tranh, mà cả trong hoạt cảnh một đời người:

“Có người đàn bà nhặt chữ nuôi thơ.
Nhặt đến mòn hơi, góc đời riêng một niềm mơ cháy bỏng.
Tháng bảy mưa giông đồng trần gian ướt sũng.
Vẫn oằn mình lận đận cấy rủi may.
Mỏng manh sợi rơm nhà ai rớt rơi chìm nổi.
Níu lấy mỉm cười ôm hy vọng lắt lay.”

Nhặt chữ mà say, say đến nỗi cánh cửa đời “rệu rã lung lay” mà vẫn cho là “có sao đâu? Nào có sao đâu?”. Vậy là người nầy yêu thơ đến độ quên hết thân mình:

“Có người đàn bà nhặt chữ… say say say.
Cần mẩn đêm ngày như cái kiến nhỏ côi chầm chậm lê chân trên những ngã đường xa ngái.
Giật mình nhìn lại.
Cánh cửa đời rệu rã lung lay.
Có sao đâu? Nào có sao đâu?” Tiếp tục đọc