ÁNH TUYẾT, HỒN THU TRONG TIÊNG HÁT

anh tuyet

Ngoài Thái Thanh và Khánh Ly ra, tôi rất mến mộ nữ ca sĩ Ánh Tuyết, cũng như Thái Thanh và Khánh Ly, Ánh Tuyết lúc nào cũng dịu dàng va kín đáo trong chiếc áo dài thướt tha của một hình dáng đoan trang phụ nữ Việt Nam, và tôi yêu cái giọng hát vút cao như gió thoảng qua cành lá vàng của rừng thu, đã làm đắm say bao khán giả.

Mùa thu vàng úa giữa trời gió lạnh, hay trong cơn mưa về, mang cho ta nhiều nỗi niềm cô quạnh, nhiều tiếc nuối của một cuộc tình xa vắng như bóng sương mờ, có lẽ mùa thu cũng có nhiều dấu vết tình sầu trong Ánh Tuyết cho nên nữ ca sĩ này hay thường hát những ca khúc mùa thu, với chất giọng chứa chan đầy cung điệu buồn mang mác của hồn thu lá rụng, Ánh Tuyết đã làm cho những ca khúc mùa thu đã buồn lại thêm sầu tủi hơn, đã lãng mạn lại càng thêm trữ tình và đã đầy xót xa lại càng thêm lệ ướt.

Với lòng đam mê trong âm nhạc mùa Thu, Ánh Tuyết đà không ngừng đi tìm cho mình những tình ca chứa chan bao lá vàng, sương lạnh và nắng hanh vàng, của mùa Thu ảm đạm, của tình yêu, của rã rời mục nát như lá vàng khô trên thảm cỏ hay trong tim người va` của gió lạnh qua hồn cô quanh. Có lần Ánh Tuyết tâm sự: “Đời người như Xuân, Hạ, Thu Đông …khi còn trẻ thì đời như mùa Xuân xanh tươi đầy hoa lá, khi trưởng thành thì đời như mùa Hạ nóng bỏng . Nóng trong tình yêu, nóng trong bon chen, nóng trong sư.nghiệp, nóng trong gia đình … để rồi dần bước vào tuổi mùa Thu lành lạnh và vàng úa, đế nhìn lại một khoảng đường đã qua đầy sóng gió, đầy rạo rực đam mê cùng như đầy tiếng cười dòn tan hay nước mắt âm thần trong đêm hiu quạnh …. và thật lòng Ánh Tuyết rất yêu mến mùa Thu …”. Đúng vậy, tuổi mùa Thu là tuổi mà nhịp bưóc chân đời dần chậm lại, tuổi mà hồn người đã chững, điềm đạm hơn; và cũng là tuổi đẹp như muôn mầu sắc của lá mùa Thu

Ánh Tuyết đã lựa chọn cho mình những ca khúc mùa Thu trữ tình để trải nỗi lòng “Thu Vàng” của mình qua những tình ca này, như một tự sự cho đời và tình yêu thầm kín nào đó trong mảnh hồn mong mảnh của người ca sĩ có chút lãng mang. Ít người biết Ánh Tuyết cũng là môt nhà thơ lãng mạng mặc dù Ánh Tuyết chưa bao giờ cho phát hành hay đăng trên tạp chí nào . Có lẽ, thơ là một chút gì riêng mà Ánh Tuyết muốn ôm ấp riêng cho hồn mình . Để sau những xốn xáo của âm nhạc và sân khấu, Ánh Tuyết cùng giòng thơ tâm sự và chia sẻ nỗi niềm . Nhưng có lần Ánh Tuyết chia sẻ với một người bạn bài thơ “Bến Xưa” của mình, thì bài thơ đã được phổ thành ca khúc “Bến Xưa Tình Sầu” rất trữ tình .và lãng mạng. Khi hỏi người bạn này “đặc biệt” như thế nào thì Ánh Tuyết chỉ mĩm cười.

Hãy đi vào thế giới của trời Thu sầu tủi qua tiếng hát nỉ non của nữ danh ca Ánh Tuyết, để thấy Buồn Tàn Thu của Văn Cao sầu lắng như thế nào.

Buồn Tàn Thu – Văn Cao

Rồi lặng hồn mình để nghe từng giọt mưa rơi nhẹ như ai đang khóc nức nỡ trong Giọt Mưa Thu hay Con Thuyền Không Bến của Đặng Thế Phong

Giọt Mưa Thu – Đặng Thế Phong

Khi tình yêu vụn vỡ, người đã  bỏ đi và mang theo cả trời Thu lá vàng thì mùa Thu không bao giờ trở lại nơi đây nữa . Ánh Tuyết thánh thót cuộc tình dang dỡ này trong Mùa Thu Không Trở Lại của Phạm Trọng Cầu.

Mùa Thu Không Trở Lại – Phạm Trọng Cầu

 

Và Ánh Tuyết đã không dừng lại ở những ca khúc mùa Thu thời tiền chiến hay của những năm lãng mạng trước 75, mà còn đi sâu vào trong những năm tháng gần đây để tìm cho riêng mình giòng nhạc tình Thu làm cho con tim mình xao động, để ấp ủ tiếng hát mình và rồi chia sẻ đến với những ai yêu mến giọng hát mình . Và Ánh Tuyết đã dừng lại trong giòng nhạc của một nhạc sĩ không mấy tiếng tăm nhưng theo Ánh Tuyết “giòng nhạc sầu lắng” này đã chinh phục mình .

mặc dù Ánh Tuyết rất khó tính trong việc lựa chọn nhạc cho mình trình diện Có lẽ,ĐỊNH MỆNH đã buộc hai tâm hồn nghệ sĩ với nhau trong âm nhạc

Hày thử lắng nghe Ánh Tuyết với Giọt Lệ Thu của người nhạc sĩ khê Kinh Kha này .

Giọt Lệ Thu – Khê Kinh Kha

Ánh Tuyết hồi niệm về Trịnh Công Sơn

TP – Ánh Tuyết gặp Trịnh Công Sơn khi chị đã sang tuổi 30. Nhạc sĩ là đại diện nhà trai trong đám cưới Ánh Tuyết với chú rể người Pháp. Tuy nhiên, Ánh Tuyết nhất quyết không làm album nhạc Trịnh ngay cả khi nhạc sĩ yêu cầu. 10 năm sau khi ông qua đời, Ánh Tuyết lần đầu hé lộ vùng kỷ niệm, và cũng là lần đầu chị thực hiện yêu cầu của nhạc sĩ: Ra một lúc 2 đĩa nhạc Trịnh, chưa kể chương trình nhạc Trịnh xuyên Việt.

Ánh Tuyết và Trịnh Công Sơn đầu năm 1996 	Ảnh: TL
Ánh Tuyết và Trịnh Công Sơn đầu năm 1996 Ảnh:

Nhiều lần gặp ông ở quán Nhạc sĩ, tôi cũng muốn chào, nhưng bao sao siệc vây quanh. Ông chào thì tôi mới chào, không thôi. Tại mình nghĩ là mình nhỏ bé thôi. Họ là người lớn, nhạc sĩ lớn, mình chào hóa ra thấy sang bắt quàng làm họ. Ông nói mấy lần: “Giọng hát đặc biệt hầy! Cao dễ sợ!”. Tôi dạ rồi đi. Hồi đó tôi quá nghèo. Lôi thôi lếch thếch, chả ai ngó tới.

Bài đầu tiên của Trịnh Công Sơn tôi hát là Giọt nước cành sen. Chưa ai hát bài đó đến lúc này. Bài nằm trong một băng cassette của nhiều tác giả phổ thơ Thân Thị Ngọc Quế, gần đây vô tình tìm được trên mạng, tôi mới nhớ ra. Sinh nhật bà Quế, ông Trịnh Công Sơn qua chơi. Tôi hát trong buổi đó.

Hồi đó, ông yêu một người mẫu, cô đó đi mất, ông mới viết Em đi bỏ lại con đường, Sóng về đâu với bài gì tôi quên rồi. Hôm đó, ông hát Em đi bỏ lại con đường cho tôi nghe. Ông nói: “Anh chắc Tuyết hát bài ni hay này. Có nội tâm”. Tôi cũng để ý bài đó, nhưng không hát bao giờ.

Quán Nhạc sĩ làm Đêm Trịnh Công Sơn, mọi người phân tôi hát Cuối cùng cho một tình yêu, Lặng lẽ nơi này. Đó là lần đầu tiên tôi hát (nhạc Trịnh) trên sân khấu, khoảng đầu năm 1993. Tiếp theo là Đường xa vạn dặm, mỗi lần tôi hát xong, ông khóc, kêu: “Tuyết hát chết bài ni luôn rồi!”.

Tôi nhớ năm mở cửa cuối cùng của quán Nhạc sĩ, Hội Âm nhạc Hà Nội vô giao lưu. Tôi mặc áo dài trắng hát xong, xuống sân khấu, te te đi, ông ngoắc lại: “Tuyết, lại anh vẽ ni!”. Tức là, Tuyết lại anh bảo này. Ông cầm mấy cái khăn giấy thấm ướt, kêu: “Anh ướt hết bốn cái khăn rồi ni”. Nghĩa là ông dùng khăn thấm nước mắt. Bài đó tôi hát ở đâu là đa số người ta khóc. Trong những ngày lễ Vu Lan, tôi làm chương trình về mẹ, ối chao ơi thôi, còn khóc dữ nữa.

Lần vào bệnh viện thăm ông bịnh, tôi ôm bó hoa tặng. Ông nhắc cái ghế cho tôi ngồi cạnh đầu giường. Ổng nắm tay tôi, bóp bóp, bảo: “Tội hè! Tuyết giỏi hè!”. Tội giống như là không giúp được, thấy tội nghiệp quá. Giỏi hè có nghĩa là không ai giúp mà đi lên được. Câu đó tôi nghe nhiều lắm, nhưng ngày ông bịnh, ông mới cầm tay tôi. Với tính cách ổng, trong lòng có cuồng nộ thì ông cũng ngồi im.

Khi tôi mới sinh con, ông ẵm miết, kêu: “Ôi chao, đẻ đứa con chi mà dễ thương hi!”. Ông cứ khen chồng tôi với mọi người: “Moa chưa thấy thằng Tây mô dễ thương, hiền như thằng ni hết”. Ông bắt tôi làm album. Tôi dạ dạ, nhưng cứ lơ. Tôi quá thiếu tự tin. Dưới cái bóng của Khánh Ly là một chuyện. Nhưng quá nhiều người hát. Mình chui vô chi cho bị giẫm.

Hai anh em ngồi với nhau buồn buồn, ông kêu: “Tuyết kể chuyện tiếu lâm vui hè. Kể cho anh nghe với!”. Mỗi lần nghe tôi kể chuyện tiếu lâm là ông cười sung sướng. Cười khấc khấc như con nít. Nhìn dễ thương lắm! 

Đến 1995, tôi vừa cưới xong, ông nói với ông xã tôi: “Moa muốn toa nói với Ánh Tuyết làm album của moa. Nhưng làm mộc, sẽ hát với ghi-ta, piano, saxo và với moa”. Ông xã nói lại với tôi: “Em không tốt với Trịnh Công Sơn hả! Em không tốt! Trịnh Công Sơn muốn em làm CD mà em dạ dạ và quên. Một bà lười!”. Ông xã vẫn nghĩ tôi hát hay, chứ không nghĩ tôi thiếu tự tin với nhạc Trịnh.

Năm 1997, ông bắt anh Bùi Thế Dũng, giáo viên dạy ghi-ta Nhạc viện, qua nhà tôi, lên cho được danh mục bài hát để làm album. Anh Dũng có soạn hình như bài Mưa hồng hay Còn tuổi nào cho em rất hay, Trịnh Công Sơn rất thích. Chọn được 4-5 bài, tôi bảo để bữa khác làm tiếp. Rồi im luôn. Tại tôi cứ tự ti. Nhưng một phần vì có vài nhà báo hỏi: “Bao nhiêu ca sĩ nổi lên nhờ nhạc Trịnh, qua nhạc Trịnh đánh bóng tên tuổi. Ánh Tuyết cũng không ngoại lệ?”.

Họ hỏi rất thật nhưng tôi bị sốc. Tôi nghĩ: “Mình nổi thì cũng nổi rồi, đâu cần nữa. Nghệ thuật hợp thì mình hát, hoặc yêu quý ai thì mình làm…”. Tôi thôi luôn. Nhưng 10 năm làm phòng trà, tuần nào tôi cũng có một đêm hát nhạc Trịnh. Ngay trong những đêm đó, tôi cũng vẫn sợ, không dám hát nhiều. Nhưng khán giả đã công nhận, khiến tôi mạnh dạn dần.

Ở quán Nhạc sĩ, nhiều khi ông tới sớm, tôi cũng vậy. Hai anh em ngồi với nhau buồn buồn, ông kêu: “Tuyết kể chuyện tiếu lâm vui hè. Kể cho anh nghe với!”. Mỗi lần nghe tôi kể chuyện tiếu lâm là ông cười sung sướng. Cười khấc khấc như con nít. Nhìn dễ thương lắm! Ông ít khi cười to.

Nghe chuyện tiếu lâm, trời ơi, ông cười. Mà có mình tôi với ông là lúc ông cười sung sướng nhất. Đông người, ông không cười nhiều đâu. Một tâm hồn rất lớn. Một con người lớn về nhiều mặt. Chính những giây phút hồn nhiên đó làm tôi càng thêm nhớ ông.

Bây giờ, tôi nghĩ, nếu còn sống, ông nghe cách tôi thể hiện bài hát của ông, ở một góc nào đó chắc cũng để lại trong ông một ấn tượng tốt.

N.M.Hà (ghi).

Ca sĩ Ánh Tuyết

 Ngọn đèn lồng bền gan đỏ lửa

AT

Người con của phố cổ cứ quay quắt đi đi về về hàng tuần giữa Sài Gòn và Hội An. Nữ ca sĩ nền nã trong tà áo dài trắng cất tiếng hát “Thiên thai” như suối reo gió vút làm đắm say hàng thế hệ khán thính giả… Đẹp, kín đáo và duyên dáng một cách rất riêng. Để những ai là bằng hữu, những ai mến mộ giọng hát ấy, đã hiểu nghị lực tuyệt vời của người phụ nữ qua biết mấy chông gai trong đời sống, sẽ nhận ngay ra chị – ca sĩ Ánh Tuyết duy nhất giữa Sài Gòn, như ngọn đèn lồng cháy mãi ngọn lửa ấm giữa đời.

Một tính cách quyết liệt bên trong một vóc dáng mảnh mai, “treo cái tôi lên mà thách thức với chính mình và cuộc đời” – như lời chị. Chính nhiệt huyết “ngày trẻ xông pha, bây giờ xông xáo”, chính chất men đã ngấm cho chị bước đi như người say – say trong đời sống và say trong nghệ thuật, nuôi dưỡng giọng hát vượt thời gian.

Ngay từ nhỏ, chị đã là đứa con gái mạnh mẽ và tháo vát trong gia đình gồm toàn anh em trai. Một cô gái nhỏ có óc thẫm mỹ, ham học hỏi, thích độc lập trong mọi việc. Cô thiếu nữ ấy không được học một ngày nào trên máy may mà vẫn có thể tự cắt may cho mình những bộ quần áo ưng ý nhất. Đến thời bước lên sân khấu, chị có thể khoác những bộ trang phục quyến rũ và độc đáo đến làm ngỡ ngàng đồng nghiệp và khán giả, do chính mình thiết kế. Còn nhớ những năm đầu thập kỷ 80, chị là nữ ca sĩ đầu tiên trong nước diện jupe ngắn và quần ống rộng 1 met trên sân khấu.

Cho nên, chị cũng là người lắng nghe mọi người nhưng luôn kiên định lập trường theo cách của mình. Chị dám làm dám chịu bởi lòng yêu mến cái đẹp hoàn thiện hoàn mỹ. Chỉ có khác, bây giờ chị trầm tĩnh hơn xưa, dủ bản chất vẫn như lửa cháy, miệng nói tay làm. Mà lại thích làm ngược lại với số đông, chỉ vì biết chắc những cái ngược ấy đem lại gia vị độc đáo cho cuộc sống, như cái đẹp vượt trội chị muốn phấn đấu cho mình và chia sẻ với mọi người. Phòng trà ATB với thiết kế và trang trí như Hội An thu nhỏ, bằng ngói cũ lô xô trên mái quán, gốm cổ gạch cổ, đèn lồng đỏ giăng giăng… tồn tại tiếng tăm gữa Sài Gòn là một trong những bước đi ngược thông minh và thành công của chị. Là một cõi đi về của chị và những tri âm. Tất cả đến quán để được sống trong cái lòng và cái tình.

Chị có một niềm mê đắm đặc biệt dành cho chiếc áo dài truyền thống mà theo chị là “trang phục khêu gợi, kín đáo và lãng mạn nhất trên thế giới”. Chị say sưa bày tỏ cái nhìn thẩm mỹ về chiếc áo dài, cổ phải cao, tà phải dài, vải phải rũ mềm ra sao, hoạ tiết phải tỉ mỉ thế nào. Chị kể về niềm tự hào khi khoác lên mình chiếc áo dài trong mỗi chuyến ra nước ngoài. Do vậy, chị bảo mình tự tin nhất khi đứng trên sân khấu trong tà áo dài. Đây cũng là hình ảnh rất riêng, đầy yêu mến về người nữ ca sĩ đọng lại trong khán giả gần ba mươi năm qua.

Người phụ nữ độc lập trong suy nghĩ, sống trung thực với cảm xúc bản thân, làm việc quên mình, trân trọng thẩm mỹ và trí tuệ con người hơn bất cứ giá trị vật chất nào. Người phụ nữ từng gánh cơm bình dân đi bán ở bến đò có một ngày trở thành người thể hiện tuyệt vời nhất dòng nhạc lãng mạn và uyên thâm bậc nhất Văn Cao. Hỏi phong cách riêng của chị trong đời thường và trong âm nhạc, chị bối rối. Bỏi chị chỉ biết sống bằng tất cả sự hồn nhiên và say mê, trong mỗi việc làm, với từng nhạc phẩm. Đốt mình cháy hết nhiệt năng cho đời. Thì phong cách đã có tên: Ánh Tuyết.