Toàn Láo Cả!

BS Đỗ Hồng Ngọc
Không biết lịch sử ghi lại các triều đại phong kiến đúng sai như thế nào, cũng chẳng có cách nào để kiểm chứng. Thế nhưng, thời đại ta đang sống hoá ra toàn láo cả. Rồi lịch sử thời hiện đại sẽ viết sao đây?
Thằng doanh nhân bán đồ giả làm giàu, cứ tưởng nó giỏi, hoá ra chẳng phải thế. Nó chỉ là kẻ “Treo dê bán chó”, mua 30.000 bán 600.000 không giàu sao được, thế rồi lúc giàu lên, hàng ngày lên mạng truyền thông dạy đạo đức, dạy bí quyết, dạy cách cư xử.
Kẻ thì đem hoá chất trộn vào thức uống, khiến người ta nghiện chất độc, tạo thành thói quen nguy hiểm cho người dùng. Thế rồi khi có nhiều tiền, anh ta in sách dạy người ta tư duy, dạy cho tuổi trẻ cách sống. Nuôi đội ngũ nhà văn nhà báo tung hô mình như thánh sống, tuyên bố như đấng khải đạo.
Một ông chuyên làm thép, nghĩ toàn chuyện xây dựng những công trình có hại cho dân, nhưng lúc nào cũng mặc áo lam, đeo tràng hạt, nói toàn chuyện Phật pháp.
Một tập đoàn làm nước mắm giả, toàn hoá chất, bỏ biết bao tiền để quảng cáo lừa dân, bỏ tiền đầy túi. Một tập đoàn khác mua hoá chất quá hạn để sản xuất nước uống, lừa những kẻ phát hiện sai sót của sản phẩm mình để đưa họ vào tù, lại chuyên nói lời có cánh….. Kẻ buôn gian bán lận lại dạy cho xã hội đạo đức làm người.
Thời đại đảo lộn tất! Hài thế, mà vẫn không thiếu kẻ tôn sùng, xem các ông ấy như tấm gương sáng để noi theo. Khi vỡ lở ra, chúng toàn là kẻ nói láo.. Tất cả đều chỉ tìm cách lừa đảo nhau.
Toàn xã hội rặt kẻ nói láo, ca sĩ nói láo theo kiểu ca sĩ, đạo diễn nói láo theo kiểu đạo diễn, diễn viên nói láo theo kiểu diễn viên. Ừ thì họ làm nghề diễn, chuyên diễn nên láo quen thành nếp, lúc nào cũng láo. Thế nhưng có những kẻ chẳng làm nghề diễn vẫn luôn mồm nói láo.
Thi gì cũng láo, từ chuyện thi hát đến thi hoa hậu, chỉ là một sắp đặt láo cả… Ngay chuyện từ thiện cũng rặt chi tiết láo để mua nước mắt mọi người. Cứ có chuyện là loanh quanh láo khoét. Kẻ buôn lớn láo, kẻ bán hàng rong ở bên đường cũng lừa đảo, láo liên tục. Mỗi ngày mở truyền hình toàn nghe nói láo từ tin tức cho đến quảng cáo, rặt láo. Nhưng cả nước đều hàng ngày nghe láo mà chẳng phản ứng gì lại cứ dán mắt mà xem.
Thằng đi buôn nói láo đã đành, vì họ lừa lọc để kiếm lời. Thế mà cô hiệu trưởng nhà trẻ, anh hiệu trưởng trường cấp ba, ông hiệu trưởng trường đại học cũng chuyên nói láo. Thực phẩm cho các cháu có giòi, cô hiệu trưởng chối quanh… Các cháu học sinh đánh nhau như du côn, làm tình với nhau trong nhà trường, anh hiệu trưởng bảo là không phải, tảng bê tông rớt chết sinh viên, ông hiệu trưởng bảo là tự tử. Thế rồi tất cả đều chìm, đều im im ỉm. Người ta đồn tiền hàng đống đã lót tay bộ phận chức năng để rồi để lâu cứt trâu hoá bùn.
Mấy ngài lãnh đạo lại càng nói láo tợn Chỉ kể vài chuyện gần đây thôi, chứ kể mấy sếp nhà ta phát biểu láo thì thành truyện dài nhiều tập. Từ chuyện quốc gia đại sự cho đến chuyện hưng vong của tổ quốc, toàn chuyện quan trọng đến vận mệnh quốc gia thế nhưng dân toàn nghe láo. Kẻ thù mang tham vọng, âm mưu để biến nước ta thành chư hầu, chuyện này rõ như ban ngày, ai cũng thấy, ai cũng hiểu, thế mà các quan toàn nói tào lao, láo lếu.
· Đến chuyện Formosa, khi biển nhiễm độc, cá chết, các quan bày lắm trò láo để mị dân, lấp liếm tội ác của thủ phạm, tuyên bố, họp báo, trình diễn ăn hải sản, ở trần tắm biển…tất cả đều rặt láo.
· Đến chuyện BOT với các trạm đặt không đúng chỗ cho đến mở rộng phi trường Tân Sơn Nhất, các quan ở Bộ Giao thông lại được dịp nói láo, tuyên bố rùm beng để bênh vực những tập đoàn và cá nhân vi phạm.
· Khi vụ thuốc giả của VN Pharma nổ ra, cả một hệ thống truyền thông của Bộ Y tế kể cả các quan chức cấp bộ đều tuyên bố láo, tìm mọi cách che dấu tội ác của những tên buôn thuốc giả.
· Rừng Sơn Trà quý hiếm, các ông vì tư lợi cá nhân, ra lệnh xây cất, chấp nhận nhiều dự án khai thác, các nhà chuyên môn, nhân dân phản ứng dữ quá,các ông bắt đầu chiến dịch nói láo, chạy quanh tìm kế hoãn binh.
Đến chuyện cá nhân của các quan thì lại càng nói láo tợn… Ông bí thư xây biệt phủ như cung điện của vua chúa ở xứ nghèo phải sống nhờ trợ cấp của chính phủ cho đến ông giám đốc môi trường xây biệt phủ mênh mông ở xứ lắm rừng, rồi đến ông lãnh đạo ngành ngân hàng với những dãy nhà hoành tráng trên miếng đất hàng ngàn thước vuông. Tất cả đều cho rằng do sức lao động cật lực mà có. Kẻ thì do nuôi gà, trồng cây, anh thì bảo chạy xe ôm đến khốc cả người, người thì nhờ bán chổi, trồng rau, kẻ khác thì bảo nhờ tiền của con dù con chẳng làm gì ra tiền và có đứa thì mới mười chín tuổi.
Lương thì chẳng bao nhiêu mà quan nào cũng vi la trong và ngoài nước, nhà nghỉ trên núi, nhà mát dưới biển, lâu đài, nhà to ở nước ngoài. Con cái ăn chơi như các công tử, tiểu thư quý tộc. Các bà vợ thì như các mệnh phụ, chỉ xài đồ dùng ở nước ngoài, đi shopping các mall lớn ở nước ngoài như đi chợ… Thế nhưng các ngài luôn phát biểu yêu dân, thương nước, yêu tổ quốc, đồng bào, và luôn nhắc nhở đất nước còn nghèo phải học tập ông này, cụ nọ để có đạo đức sáng ngời.
Các lãnh đạo xem rừng như sân nhà mình, phá nát không còn gì.. Một cây có đường kính 1m phải mất trăm năm mới hình thành, lâm tặc chỉ cần 15 phút để đốn hạ. Hàng trăm chiếc xe chạy từ rừng chở hàng mét khối gỗ chỉ cần đóng cho kiểm lâm 400.000 đồng một chiếc là qua trạm. Rừng không nát mới lạ. Khi rừng không còn, lệnh đóng rừng ban ra, các lãnh đạo địa phương toàn báo cáo láo với chính phủ và có nơi tìm cách tiếp tục vét cú chót bằng cách làm trắng những cánh rừng còn lại..
Rừng bị tận diệt vì nạn phá rừng, rừng còn bị huỷ diệt bởi những dự án thuỷ điện. Tất cả đều có sự tiếp tay của các quan và ban ngành chức năng của địa phương. Rừng không còn, lũ về gây tang thương chết chóc, đê vỡ khiến nhà cửa tài sản trôi theo dòng nước, các quan cho là xả lũ đúng quy trình.
Bão chưa tới, lũ chưa về, các quan tỉnh đã ngồi với nhau viết báo cáo thiệt hại để xin trợ cấp. Một anh từng là tổng biên tập tờ báo lớn, sau khi thu vén được hàng triệu đô la bèn đưa hết vợ con qua Mỹ, sắm nhà to, xe đẹp còn anh thì qua lại hai nước, lâu lâu viết bài biểu diễn lòng yêu nước thương dân, trăn trở với tiền đồtổ quốc, khóc than cho dân nghèo, kinh tế chậm lớn, đảng lao đao…
Còn biết bao chuyện láo không kể xiết: Ngay cả thầy tu, các bậc tu hành cũng làm trò láo để quảng cáo chùa của mình, để thêm nhiều khách cúng bái, để thùng phước sương thêm đầy, để nhà thờ của mình thêm tín hữu. Chúa, Phật đành bỏ ngôi cao mà đi khi thấy những kẻ đại diện mình đến với mọi người bằng những điều xảo trá..
Chúng ta đang ở một thời đại láo toàn tập, láo từ trung ương đến địa phương, láo từ tập đoàn cho đến công ty, láo từ một tổ chức cho đến cá nhân. Láo mọi ngành nghề, láo toàn xã hội. Tất cả đều bị đồng tiền sai khiến, bị danh lợi bám G. Hơn nữa vì sự thật bi đát quá, đành láo để khoả lấp, hi vọng sẽ an dân. Nhưng thời đại bùng nổ thông tin, dân biết hết nên chuyện láo trở thành trơ trẽn.
Nghe láo quen, chúng ta lại tự láo với nhau và chuyện láo trở thành bình thường, láo để tồn tại, để phấn đấu, để thêm lợi thêm danh, và rồi láo đã trở thành một nếp sống.
Trẻ con học người lớn nói láo rồi tiếp tục những thế hệ nói láo. Ở nhà trường nghe cô thày nói láo, ra đời nghe thiên hạ nói láo, về nhà lại được nghe nói láo từ cha mẹ, mở máy nghe, nhìn cũng rặt điều láo.
Một nền văn hoá láo đã nẩy sinh và phát triển.
Hỏi sao trẻ con không láo và tương lai lại tiếp tục láo. Nghĩ cũng buồn!
Bs Đỗ H  Ngọc  tp/hcm 

Chữ “Nhẫn” Đứng Đầu Trăm Nết

khong tu

Ông Tử Trương muốn đi xa, đến chào Đức Khổng Tử và xin Ngài một lời khuyên.
Đức KhổngTử nói: “Chữ “nhẫn” đứng đầu trăm nết.
Nhưng “làm sao phải nhẫn?” Trương Tử hỏi lại.
Đức Khổng Tử trả lời:

– Thiên Tử mà nhẫn thì nước không sinh hại.
– Chư hầu mà nhẫn thì nước sẽ mạnh lớn thêm.
– Quan lại mà nhẫn thì chức vị sẽ thăng tiến.
– Anh em mà nhẫn thì cửa nhà giầu sang.
– Vợ chồng mà nhẫn thì ở được với nhau trọn đời.
– Bạn bè mà nhẫn thì thanh danh không mất.
– Hễ nhẫn thì không lo tai hoạ.

Ông Trương Tử hỏi lại: “Nếu bất nhẫn sẽ ra sao?
Đức khổng Tử nói:

– Thiên Tử mà bất nhẫn thì nước sẽ trống không.
– Chư hầu mà bất nhẫn thì mất mạng.
– Quan lại mà bất nhẫn thì sẽ bị hình phạt.
– Anh em mà bất nhẫn thì sẽ chia rẽ.
– Vợ chồng mà bất nhẫn thì phải xa nhau (ly thân, ly dị).
– Tự mình mà bất nhẫn thì không thể tránh được lo lắng.

Trương Tử nói: “Phải lắm ! Phải lắm !

Sưu Tầm

CÁCH BỐ TRÍ TƯỢNG THỜ

Thư viện của bài

This gallery contains 14 photos.

Đặng Xuân Xuyến
CÁCH BỐ TRÍ TƯỢNG THỜ
TRONG CHÙA MIỀN BẮC
*

(trích từ VÀO CHÙA LỄ PHẬT NHỮNG ĐIỀU CẦN BIẾT
Đặng Xuân Xuyến; Văn Hóa Thông Tin ; 2006)

Các chùa miền Bắc thường theo Thiền phái Bắc tông nên cách bài trí tượng Phật đơn giản và khác với chùa miền Nam.

Một ngôi chùa Phật giáo ở miền Bắc phổ biến có 4 khu vực: Chính điện, Tiền đường, Nhà hành lang, Nhà tổ và nhà trai.

 

* CHÍNH ĐIỆN:

1. Tượng Tam Thế:

Là ba pho tượng ngồi ngang nhau ở nơi cao nhất trên bàn thờ, đại diện cho chủ Phật trong ba thời gian quá khứ, hiện tại thế, vị lai thế.

2. Tượng A-di-đà Tam Tôn:

Tượng còn được gọi là “Tây phương tam thánh” đặt ở hàng thứ hai từ trên xuống gồm: Phật A-di-đà (ngồi giữa) Đại Thế Chí (bên trái) và Quan Thế Âm (bên phải) Đây là 2 vị hộ pháp giúp việc cứu độ cho Phật A-di-đà.

Tượng Phật A Di Đà thường có những nét đặc trưng: Dù ngồi hoặc đứng trên toà sen thì đầu đều có các cụm tóc xoắn ốc, mắt nhìn xuống, miệng thoáng nụ cười cảm thông cứu độ, mình mặc áo cà sa, ngực có chữ vạn ở khoảng trống của áo cà sa.

Phật A-di-đà được tạc trong tư thế toạ thiền, ngồi xếp bằng, hai tay đặt giữa lòng đùi, khuôn mặt đôn hậu, mắt nhìn xuống suy tư, miệng hơi mỉm cười.

Một số nơi, tạc tượng A-di-đà ở tư thế đứng thuyết pháp trên toà sen.

3. Tượng Thích Ca Mâu Ni: Tiếp tục đọc

Nỗi buồn lớn nhất của tuổi già

Thùy Linh

old people2Nỗi buồn lớn nhất của tuổi già là phải thận trọng với con mình

Con lớn lên, nhiều kiến thức hơn, dần thiếu kiên nhẫn và xem thường cha mẹ, khiến họ trở thành một “con nhím” thận trọng.

Một độc giả gửi đến mục tâm sự của Sina câu chuyện của mình: “Tôi mua cho mẹ một chiếc điện thoại thông minh. Mẹ nhờ tôi dạy cách sử dụng. Tôi đã chỉ cho bà cách tải các ứng dụng, sau đó bật máy tính lên để chuẩn bị làm việc. Thế rồi mẹ vào, bà lại hỏi về một phần mềm mới. Lát sau, khi tôi đang xoay sở với đống việc, bà ở bếp than thở vọng ra rằng bà không thể dùng được chiếc máy mới. Dòng ý tưởng công việc bị cắt ngang khiến tôi bực dọc, tôi chạy vào bếp và gắt lên với mẹ. Bà ngước lên nhìn tôi khổ sở: “Hay là thôi, mẹ vẫn dùng điện thoại cũ”. “Tùy mẹ, mẹ muốn thế nào cũng được”, tôi sốt ruột bước ra ngoài, để mẹ một mình với cái điện thoại đời mới.

Đêm khuya hôm ấy, khi chuẩn bị đi ngủ, tôi nhận được tin nhắn của mẹ: “Con à, mẹ đã già. Mẹ quên nhanh điều người khác nói. Mẹ cũng không nhớ cả điều mẹ đã nói. Lúc nấu cơm, có khi mẹ quên cả cắm phích. Con có thể kiên nhẫn hơn với mẹ không?”.

Những dòng mẹ viết làm mắt tôi ướt nhòe. Tôi biết, mẹ không dám nói chuyện trực tiếp với tôi nên đã nhắn tin. Tôi dằn vặt mình: Giá có thể kiên nhẫn hơn một chút nữa.

Những ngày sau đó, mẹ không hỏi tôi về điện thoại nữa. Tự bà đã mày mò, tìm hiểu cách tải ứng dụng”.

Độc giả bày tỏ, anh biết mẹ anh đã tổn thương. Anh chia sẻ: “Điều đáng buồn nhất không phải là thái độ của tôi, mà là thông điệp tôi đã truyền tải qua thái độ ấy, nó nhắn nhủ với mẹ lại rằng: Mẹ đã già rồi, và đang dần trở nên vô dụng”. Giờ đây, khi bình tĩnh nhìn lại, anh cảm thấy day dứt, vì đã để lại những vết sẹo trong lòng đấng sinh thành.

Nỗi buồn lớn nhất của cha mẹ khi họ già đi, chính là buộc phải trở nên thận trọng hơn với con mình.


Thủa ấu thơ, trong mắt trẻ, mẹ cha là người biết mọi thứ, mạnh hơn tất cả. Cha mẹ là hai ngọn núi, che chở, mang lại bình yên cho đứa con.

Nhưng có một ngày, những “ngọn núi” ấy không còn sừng sững nữa. Đó là khi bố mẹ về già. Họ có nhiều điều không dám hỏi, không dám đề cập với con. Lý do đơn giản, tuổi tác khiến họ dễ tổn thương hơn. Đó còn là vì con cái dần thay đổi, trở nên thiếu kiên nhẫn, nhiều kiến thức hơn và dần xem thường người cha, mẹ. Điều đó biến cha mẹ thành một “con nhím” thận trọng.

Bộ phim truyền hình nổi tiếng của Trung Quốc Gia đình hạnh phúc từng lấy đi nước mắt của nhiều người, vì những thông điệp mà nó mang lại. Nội dung phim xoay quanh một thanh niên giỏi giang, là bác sĩ của một viện lớn, tuy nhiên anh không thăng tiến được vì nhiều đồng nghiệp khác có gia đình bề thế, địa vị hơn. Một ngày, trong nỗi thất vọng vì mất đi vị trí tiềm năng, anh về nhà trách cứ bố mình: “Bố mỗi ngày cứ hỏi con có đói không? Bố chỉ lo được cho con chuyện đói, no, không thể nào lo cho con được sự nghiệp”. Lời phàn nàn của đứa con làm người bố trống rỗng, đau khổ. Ông nói: “Là bố sai rồi, là bố không có khả năng đem lại cho con những điều tốt đẹp hơn”.

Sự đồng hành của cha mẹ trong mọi giai đoạn cuộc đời của con giống như một bức tường ngăn giữa con và “Thần Chết”. Bất kể là lên 3, lên 5, hay 40, 60, bạn luôn cảm thấy cái chết ở rất xa chúng ta, khi cha mẹ còn ở bên. Tuy nhiên, khi đấng sinh thành về với cát bụi, những cảm xúc sẽ hoàn toàn thay đổi. Người con cảm thấy mình đã bước sang một giai đoạn mới của cuộc đời, thấu hiểu rõ nỗi đau mất mát bởi sự mong manh của đời sống, họ trở nên già dặn hơn, cô độc hơn, và yếu đuối hơn, khi thiếu đi chỗ dựa quan trọng. Đó là lúc, con cái hiểu được giá trị trọn vẹn của cha mẹ mình.

Để tránh làm bố mẹ tổn thương, con đừng:

– Đổ lỗi cho sự “bất tài” của cha mẹ

Bạn có thể trách bố mẹ không có khả năng đem lại điều bạn muốn, nhưng đừng quên rằng họ đã trao cho bạn khả năng. Việc bạn đạt được điều bạn muốn hay không, một phần lớn phụ thuộc vào năng lực của chính mình.

– Phàn nàn về những phàn nàn của cha mẹ

Lời phàn nàn có thể khiến bạn bực dọc, nhưng họ làm vậy vì thực lòng yêu thương và mong muốn bạn tốt đẹp hơn.

– Cau có về sự chậm trễ của cha mẹ

Khi còn nhỏ, chúng ta dựa vào cha mẹ để bước đi. Giờ bố mẹ đã già, phải dựa vào con cái để di chuyển. Mỗi khi họ chậm chạp, lề mề, hãy nhớ về thủa ban sơ của mình, bạn cũng không khác gì như vậy.

– Ghét bỏ khi bố mẹ ốm

Sinh lão bệnh tử, con người không ai thoát khỏi quy luật tự nhiên ấy. Khi cha mẹ còn trẻ, họ chăm sóc bạn từng tí, bên bạn khi bạn ốm đau. Lúc họ về già, đây là lúc quay lại vòng tuần hoàn ấy.

Thùy Linh

Sống khiêm tốn

Sống khiêm tốn mới là đỉnh cao của sự hiểu biết

(Lichngaytot.com) Sống khiêm tốn không hề dễ dàng vì chúng ta luôn thích được thể hiện cái tôi, bản ngã của mình để người đời biết rằng bản thân cũng là một người đáng được quan tâm, chú ý của xã hội.

Câu chuyện “Tiều phu và trí giả”

Câu chuyện kể rằng:
Tiều phu cùng học giả đi chung một chiếc thuyền ở giữa sông. Học giả tự nhận mình hiểu biết sâu rộng nên đề nghị chơi trò đoán chữ cho đỡ nhàm chán, đồng thời giao kèo, nếu mình thua sẽ mất cho tiều phu mười đồng. Ngược lại, tiều phu thua sẽ chỉ mất năm đồng thôi. Học giả coi như mình nhường tiều phu để thể hiện trí tuệ hơn người.
Người tiều phu thấy vậy, chỉ mỉm cười đồng ý. Ông vốn không muốn phân tài cao thấp hay kiếm tiền từ việc cá cược nhưng ông muốn cho vị học giả hiểu ra giá trị sâu sắc hơn của trí tuệ nên đã đồng ý.
Đầu tiên, tiều phu ra câu đố:
“Vật gì ở dưới sông nặng một ngàn cân, nhưng khi lên bờ chỉ còn có mười cân?”.
Học giả vắt óc suy nghĩ vẫn tìm không ra câu trả lời, đành đưa cho tiều phu mười đồng. Sau đó, ông hỏi tiều phu câu trả lời là gì. “Tôi cũng không biết!”, tiều phu đưa lại cho học giả năm đồng và nói thêm: “Thật ngại quá, tôi kiếm được năm đồng rồi”.
 
Học giả vô cùng sửng sốt, không nói được lời nào, còn vị tiều phu chỉ mỉm cười từ bi”. 

Trí tuệ không có nghĩa là khoe ra cho người ta biết mới thể hiện được sự khôn ngoan, sống khiêm tốn mới thực sự là thể hiện tri thức hơn người.

Những điều tốt vẫn luôn có những điều tốt hơn thay thế, cuộc sống biến đổi không ngừng đòi hỏi chúng ta luôn phải học hỏi. Nhưng cũng có những người, cho rằng mình đã “trên thông thiên văn, dưới tường địa lý” mà không chịu tiếp nhận, họ cứ muốn ôm giữ mãi những thứ cũ rích mà họ có được rồi tự ảo tưởng rằng mình trí tuệ hơn người.
Kinh nghiêm của người xưa khi qua sông thường lấy một hòn đá ném nó xuống nước để phỏng đoán độ sâu của con sông. Bọt nước bắn lên càng cao thì chứng tỏ nước sông càng cạn, càng nông. Trái lại, nơi nào không có bọt nước bắn lên, không nghe thấy âm thanh lớn thì chứng tỏ chỗ ấy nước càng sâu, thậm chí sâu không thể đo được… Nước càng sâu, chảy càng không có tiếng động. Làm người cũng nên như vậy!
Mình biết hơn người ta vấn đề này nhưng vấn đề khác thì không có kiến thức gì. Vậy nên con người cần có một tâm thái rộng mở để đón nhận những cái mới và khiêm tốn học hỏi. Cổ nhân có câu: “Nước sâu chảy chậm, người tôn quý ăn nói từ tốn”. Mỗi người thông thường chỉ mất 2 năm để học nói nhưng phải mất hàng chục năm, thậm chí cả đời để học cách im lặng. Cho nên, nói là một loại năng lực, nói đúng chỗ đúng lúc lại là một loại trí tuệ.

Sống khiêm tốn là gì

Là biết sống một cách nhún nhường, luôn luôn hướng thiện, tự khép mình vào những khuôn thước của cuộc đời, bao giờ cũng mong muốn học hỏi, hoài bão trọng đại của cá nhân là tiến mãi không ngừng, chủ đích là không khoe khoang, không tự đề cao cá nhân mình với người khác.
Người vốn có tính khiêm tốn thường hay tự cho rằng kiến thức của mình vẫn còn nhỏ bé, còn phải tiến thêm nữa và cần phải trau dồi, học hỏi nhiều hơn nữa. Người có sẵn tính khiêm tốn không bao giờ chịu chấp nhận sự thành công của cá nhân mình trong hoàn cảnh hiện tại, lúc nào cũng cho sự thành công của mình là tầm thường không đáng kể, luôn luôn tìm đủ mọi phương diện để học hỏi thêm lên.

Làm cách nào để sống khiêm tốn
 

1. Thừa nhận giới hạn của bản thân
Bạn phải chấp nhận là mình không giỏi tất cả hay bất kì việc gì. Cho dù bạn tài năng đến đâu thì sẽ luôn có người giỏi hơn bạn ở một khía cạnh nào đó. Nhìn vào những người giỏi hơn và xem xét tiềm năng phát triển bản thân. Không có ai là giỏi nhất, bất kể xét ở mặt nào.
 
Mình không phải là hoàn hảo, mình vẫn còn nhiều thiếu sót, sự yếu kém về cả thể chất, tinh thần, nhận thức…. Hãy thừa nhận sự thật đó và hãy khiêm tốn đón nhận sự trợ giúp của tha nhân với lòng “Thành Kính” và lời “Cảm ơn” chân thành nhất!

Tham khảo: Chỉ cần làm người tốt là đủ, mong cầu chi việc ai đó trả ơn

Lam the nao de khiem ton
2. Ý tứ khi nói chuyện

Người khiêm tốn không nhất thiết phải quá ngại ngùng hay không có tí lòng tự trọng nào. Tuy nhiên, người khiêm tốn nên lưu tâm đến những người đang nói chuyện với họ và không nói lấn lướt hay cắt ngang lời bất kì ai.

Muốn làm người khiêm tốn bạn nên thừa nhận rằng mọi người, kể cả bạn, có mục tiêu và ước mơ riêng và họ cũng muốn nói về thành tựu và quan điểm của mình đối với các sự việc.
 

3. Không giành hết công lao về mình

Chúng ta là con người và những gì chúng ta có hiện nay chịu sự ảnh hưởng và dẫn dắt rất lớn từ người khác. Vô số người đã hỗ trợ và giúp đỡ để chúng ta được như hôm nay và để chúng ta đạt được giấc mơ. Tự hào về thành tựu của bản thân là hoàn toàn bình thường, nhưng nên nhớ không ai có thể hoàn toàn tự mình làm được việc gì, và rằng đã là con người thì chúng ta phải hỗ trợ nhau đạt được mục tiêu.
 

Chia sẻ tình yêu. Thừa nhận những người đã giúp đỡ mình trên con đường thành công. 
4. Nhận ra khuyết điểm của bản thân. 
 
Chúng ta thường phán xét người khác vì điều đó dễ hơn nhiều so với nhận xét chính mình. Tiếc là việc này hoàn toàn không tốt và còn có hại trong nhiều trường hợp. Phán xét người khác gây ra bất hòa trong mối quan hệ, ngăn cản sự phát triển của các mối quan hệ mới. Tệ hơn nữa là chúng ta không thể tiến bộ nếu có thói quen này. Mọi người đều có sai sót.
 
Chúng ta thường xuyên phán xét người khác mà không nhận ra. Bạn có thể tập thói quen này: cố gắng phát hiện những lúc mình có suy nghĩ phán xét người khác, khi đó thay vì phán xét họ, bạn hãy phán xét chính mình. Xem xét cách để cải thiện bản thân, thay vì suy nghĩ đến cách người khác nên hành động. Sau cùng, bạn không thể kiểm soát hành vi và lựa chọn của người khác, nhưng của bạn thì được.
 
Làm việc với khuyết điểm của mình. Nhớ rằng sự phát triển và tiến bộ là một quá trình kéo dài suốt đời và không bao giờ ngừng, cho dù bạn đã rất giỏi việc gì đó.
  
5. Thừa nhận những sai sót

Hãy lắng nghe những dấu hiệu, sự góp ý, lời khuyên, phản ứng… từ những người khác, từ môi trường, từ những biểu hiện,… Từ đó, bạn sẽ tìm ra khuyết điểm của mình, nhận thấy rằng mình không hoàn hảo, để cố gắng hơn nữa. 
 6. Tránh khoác lác
Có lòng tự trọng lành mạnh hoặc cảm thấy tự hào về thành tựu của mình là chuyện bình thường, nhưng không ai thích người thường xuyên kéo sự chú ý về họ và thành công của họ. Nếu bạn cảm thấy mình đã làm được một việc thật tuyệt vời, nhiều khả năng người khác đã nhận ra điều đó và họ sẽ tôn trọng bạn nhiều hơn vì sự khiêm tốn
.
 7. Biết ơn những gì bạn có
 Biết ơn những gì ta đang có, luôn tự nhủ rằng “Những cái căn bản nhất ta có đều không do ta mà có”: Ta có bộ óc tốt, có khuôn mặt xinh, thân hình đẹp, giọng hát hay… không phải do ta mà có mà ta được “may mắn” ban cho, nên thay vì kiêu ngạo thì thãy biết ơn với lòng thành kính.
 8. Không sợ phạm lỗi
Một phần của sự khiêm tốn đó là hiểu rằng bạn sẽ phạm lỗi. Hiểu được điều này và hiểu rằng mọi người đều phạm lỗi, bạn sẽ gạt được gánh nặng khỏi đôi vai mình. Tuy nhiên, điều này không có nghĩa bạn nên làm việc cẩu thả – cố gắng tránh những sai sót quá đơn giản nhưng không sợ thử các phương pháp hay cách thức mới để đạt được mục tiêu.
 
Mỗi người chỉ có thể trải nghiệm một phần nhỏ của cuộc sống vào một thời gian nào đó. Luôn luôn có những người lớn tuổi hơn và khôn ngoan hơn bạn. Ý kiến của người lớn tuổi hơn đáng để bạn tham khảo, nhưng bạn phải quyết định dựa trên sự hiểu biết của mình đối với họ.

MiMo

từ một cuộc chiến

Chuyện cổ tích từ một cuộc chiến

(Nguồn: Báo Tiếng Dân)

Tác giả: Daniel Hautzinger

Dịch giả: Đông Kha

Câu chuyện cảm động về lời hứa 40 năm của người lính Mỹ với một em bé Hội An

Phil Seymour là trung sĩ của Đại đội C, Tiểu đoàn 1, Trung đoàn TQLC, Sư đoàn TQLC 1 của Hoa Kỳ, ông đến Việt Nam vào tháng 12 năm 1966 và đã bị thương chỉ 1 tháng sau đó.

Tháng 6 năm 1967, Phil đóng quân ở một đảo nhỏ gần Hội An – Đà Nẵng, nhưng thường xuyên vào đất liền và tham quan ở Hội An. Trong những chuyến đi như vậy, Phil thường mang theo một chú chó nhỏ đằng sau balo của mình. Chú chó này tên là Boot, được ông cứu trong một lần hành quân ở trong rừng. Lúc đó Boot còn chưa dứt sữa.

Mỗi khi Phil và đồng đội chèo thuyền ghé vào đất liền, những đứa trẻ trong làng chạy ùa tới để hỏi xin các loại “đồ Mỹ” như kẹo, đồ hộp và cả thuốc lá. Thường thì toán lính Mỹ này sẽ chia cho bọn trẻ những thứ này trong khẩu phần của họ.

Trong số những đứa trẻ đó có một người tên Cam (có thể là Cẩm, Cầm…), luôn mặc đồ ngủ màu xanh và đi chân không. Cam không nhao nhao lên như những đứa trẻ khác mà đứng lùi về sau một chút. Ban đầu toán lính Mỹ tưởng Cam nhút nhát, tuy nhiên sau đó họ mới nhận ra là Cam rất khôn ngoan: Cậu không đến xin bằng tay không, mà mang đến những thực phẩm địa phương như dừa, chuối, chanh… để trao đổi. Vì vậy Cam rất được lính Mỹ yêu mến.

Một ngày của tháng 6 năm 1967, cậu bé Cam – 9 tuổi – tặng một quả chuối cho Phil. Trung sĩ Phil Seymour lúc này chuẩn bị rời vùng đất miền Trung này để đi nghỉ 1 tuần ở Thái Lan. Phil hỏi Cam rằng cậu muốn ông tặng quà gì. Thật ra một cậu bé nghèo ở làng quê heo hút này không thể biết là Thái Lan là ở đâu, có món gì để mà đòi hỏi. Cậu cũng không nói tiếng Anh được tốt lắm, suy nghĩ 1 chút rồi cậu chỉ vào cái đồng hồ mà Phil đang đeo. Trung sĩ Phil đồng ý.

Khi ở Thái Lan, Phil quên bén mất lời hứa về cái đồng hồ. Thật ra một anh lính đi du lịch nghỉ phép thì chỉ nghĩ đến việc ăn chơi, không có nhu cầu đi mua sắm. Hết kỳ nghỉ phép, trở lại Hội An, rồi gặp lại Cam, ông mới chợt nhớ tới vụ cái đồng hồ. Khi thấy Phil về, Cam chạy ùa tới, hớn hở.

Nhưng không có cái đồng hồ nào cả.

Ngay sau đó, đơn vị của Phil rời vùng đất này để về vùng phi quân sự, rồi đến tháng 1 năm 1968 thì ông rời Việt Nam.

Phil cho biết rằng cuộc sống của ông rất bình lặng, không có nhiều thứ làm ông hối tiếc, ngoại trừ lời hứa không thực hiện được với một cậu bé ở vùng quê nghèo miền Trung Việt Nam này. Đó thực sự là niềm hối hận lớn nhất trong đời của ông. Ông cũng đã từng nghĩ rằng sẽ phải mang niềm ân hận này theo cho đến khi lìa đời.

Phil Seymour là một người gốc Brookline, Massachusetts, ở trong quân ngũ thêm 27 năm, sau đó lấy bằng Master về luật và trở thành luật sư ở Lầu Năm Góc, sau đó là trưởng công tố viên trước khi nghỉ hưu năm 1995. Ông đã nghĩ rằng mình không thể trở lại Việt Nam một lần nào nữa.

Tuy nhiên vào năm 2007, vợ của Phil là Lynne cho ông biết là nhóm du lịch chung mà ông bà thường tham gia sẽ có một chuyến đến vùng Đông Nam Á và có dừng chân ở Hội An. Bà Lynne nói ông cân nhắc việc tham gia chuyến đi này, cũng là cơ hội để tìm lại Cam và thực hiện lời hứa 40 năm trước đó.

Đến khi ông Phil quay trở lại thì Hội An đã trở thành một thành phố du lịch nổi tiếng, được UNESCO công nhận là Di sản thế giới vì kiến trúc của nó hầu như không thay đổi so với thời điểm thành lập hồi thế kỷ 15, là nơi giao thương nhộn nhịp của người Việt với người Hoa, Nhật và Châu Âu sau này.

Phil nghĩ rằng cơ hội để tìm lại được Cam gần như là số 0. Không thể biết được rằng Cam có thể sống sót qua được chiến tranh hay không, vì vùng đất này xưa kia rất ác liệt. Tuy nhiên Phil vẫn mang theo một cái đồng hồ trong chuyến du lịch này.

Hướng dẫn viên đoàn du lịch của Phil là một người Hà Nội, nói rằng anh biết rất nhiều người ở Hội An nên sẽ giúp tìm Cam. Thật bất ngờ là sau ngần ấy năm, ông Phil vẫn còn giữ một số tấm hình gia đình của Cam để có thể mang đi hỏi thăm.

Sau khi đến Hội An, nhận phòng khách sạn xong thì cũng là lúc anh hướng dẫn viên người Việt gọi Phil xuống và qua bên kia đường. Không biết bằng cách nào, người hướng dẫn viên này đã tìm được một người đàn ông đội nón màu xanh, người này nhìn tấm ảnh của Phil và nói trong hình là cha của anh chụp chung với 3 người con, người con trai út trong hình chính là người đội nón xanh này, và Cam chính là anh trai của anh. Ngay lúc đó, anh điện thoại để gọi Cam tới.

Phil lật đật chạy lên phòng khách sạn để lấy máy ảnh và đồng hồ, rồi chạy ngay xuống. Ngay khi băng lại qua đường, Phil cũng vừa thấy Cam tới, lúc này Cam đã là một người đàn ông 49 tuổi, làm nghề thợ mộc.

Hướng dẫn viên giải thích cho Cam hiểu câu chuyện. Anh ngơ ngác, không thể hiểu được rằng có người vừa đi nửa vòng trái đất chỉ để gặp anh và đưa chiếc đồng hồ.

Hướng dẫn viên chỉ ông Phil rồi hỏi Cam là có nhớ người đàn ông này không, Cam trả lời: “Có, ổng thường cõng con chó nhỏ trên lưng”. Hướng dẫn viên hỏi về lời hứa chiếc đồng hồ 40 năm trước, Cam trả lời: “Có, lúc đó tui mới 9 tuổi, nói tiếng Mỹ bập bẹ, nên nghĩ rằng đã có sự hiểu lầm nào đó”.

Theo chiều kim đồng hồ từ trái: Cam và anh trai; Cam và Phil Seymour trong cuộc hội ngộ 40 năm sau; Phil Seymour ở Việt Nam khi là lính Thủy quân Lục chiến; Cam và Phil Seymour năm 1967. Nguồn: Phil Seymour

Ông Phil và hướng dẫn viên đã giải thích cho Cam hiểu là không có sự hiểu lầm nào cả, chỉ là do Phil đã thất hứa.

Phil đưa cho Cam chiếc đồng hồ. Anh Cam rơi nước mắt. Họ cùng ôm nhau khóc.

Hôm sau anh Cam mời ông Phil đến nhà ăn tối. Vợ anh tên là Nở, cùng cô con gái tên Vy chuẩn bị cho bữa ăn, còn vợ chồng Phil – Lynne và anh hướng dẫn viên ngồi ăn. Phong tục của Việt Nam là khách đến nhà chỉ có việc ăn, và ăn, sau đó là đi về.

Vy – con gái đầu của anh Cam – lúc đó 28 tuổi, vừa mới kết hôn, nói rằng cô muốn được học đại học như 4 người em trai của mình, nhưng ở vùng quê này thì phụ nữ thường thiệt thòi, ít được học lên đại học.

Trên đường về khách sạn, Lynne – vợ của Phil – suy nghĩ và ngỏ ý muốn cố giúp Vy được học đại học. Với sự liên lạc, giúp đỡ của anh hướng dẫn viên, Vy đã được đi học ở Sài Gòn cùng với 4 người em trai đã đi học hồi trước đó. Vy nhận bằng liên thông năm 2010 và bằng cử nhân năm 2012.

Phil trở lại Việt Nam – có lẽ là lần cuối cùng – vào năm 2012 để dự lễ tốt nghiệp của Vy. Họ cũng mua vé máy bay cho vợ chồng Cam – Nở vào Sài Gòn. Đó cũng là lần đầu tiên Cam được đi máy bay, anh mang theo vô số quà quê để mở một bữa tiệc mừng tại nhà trọ của Vy. Lynne và Phil còn tặng cho Nở một lò vi sóng để giúp cô nấu ăn thuận tiện.

Hiện tại Vy đang làm việc ở Sài Gòn, vẫn thường xuyên gọi điện cho vợ chồng Seymours.

Một lời hứa tưởng như rất nhỏ, vô thưởng vô phạt, nhưng đã ám ảnh anh lính tên Phil trong 40 năm, khơi gợi lại cho ông những ký ức buồn về một vùng quê đau khổ, tan tác. Ông quyết chí tìm lại cậu bé năm xưa để xua đi nỗi đau đáu trong lòng. Phil cho biết:

“Nếu tôi thất hứa với một người lớn nào đó thì tôi sẽ không bị mang một nỗi ân hận dai dẳng đến như vậy. Đằng này tôi đã hứa với một đứa trẻ tốt bụng, ngây thơ. Nó không thề thốt hay cầu xin gì cả, trên khuôn mặt lúc nào cũng có một nụ cười”.

Chiến tranh mang lại những tổn thương khó lành trong tâm khảm những người lính tham chiến. Chính sự ngây thơ của Cam và những đứa trẻ xin kẹo khác đã làm dịu bớt những trăn trở không yên trong lòng người lính viễn chinh, giúp họ bình thản hơn để vượt qua được những hoàn cảnh khắc nghiệt của cuộc chiến.

Thêm một số hình ảnh trong bài. Nguồn: Phil Seymour

Căn cứ Thủy quân Lục chiến ở trên đảo. Nguồn: Phil Seymour
Phil và chú chó Boot trên ba lô. Nguồn: Phil Seymour
Cam và Phil Seymour năm 1967. Nguồn: Phil Seymour
Lynne Seymour và Vy, con gái của Cam. Nguồn: Phil Seymour

Đông Kha dịch từ: A Timely Reunion Across Four Decades and the Globe

KIM VÂN KIỀU 

Thư viện của bài

This gallery contains 1 photo.

Nguyên Lạc Biên khảo
TRẬN CHIẾN CHƯA NGƯNG – ĐOẠN TRƯỜNG TÂN THANH VÀ KIM VÂN KIỀU TRUYỆN 

                                         Phần dẫn nhập
Trong phần Lời Kết của bài Về Nguồn Gốc Của Thơ Lục Bát [1] – tôi có viết: “Giống như một số người cố tình cho Đoạn Trường Tân Thanh là truyện thơ diễn dịch từ Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm Tài Nhân bên China mà ra, sao không nghĩ ngược lại?”. Rẩt nhiều người, kể cả các trường đại học, trung học Việt Nam đã cho rằng thi hào Nguyễn Du dựa theo cốt truyện một tiểu thuyết chương hồi, bằng văn xuôi của Thanh Tâm Tài Nhân bên China để viểt ra Đoạn Trường Tân Thanh. Thí dụ:

[ … Nguyễn Du viết dựa theo cốt truyện một tiểu thuyết chương hồi bằng văn xuôi của Trung Quốc có tên là Kim Vân Kiều truyện (truyện về Kim Trọng Thúy Vân Thúy Kiều) của một tác giả hiệu là Thanh Tâm Tài Nhân. Trong thời đại của Nguyễn Du các nhà thơ sáng tác thường dựa theo một tác phẩm của Trung Quốc như thế. Nói chung Nguyễn Du dựa khá sát vào tác phẩm của Thanh Tâm Tài Nhân khi viết lại Truyện Kiều: Cụ thể là những nhân vật trong Truyện Kiều của ông đều là những nhân vật lấy từ Kim Vân Kiều truyện; những tình tiết biến cố cốt truyện trong Truyện Kiều hầu hết đều có trong KIm Vân Kiều truyện…] – [Trường THCS Nguyễn Viết Xuân- Thị xã An Khê- Tỉnh Gia Lai]

Xin ghi thêm vài lời của ông GS “bạn vàng phương Bắc” Đổng Văn Thành:

“So sánh truyện Kim Vân Kiều Trung Quốc và Việt Nam” trên “Minh Thanh tiểu thuyết luận tùng” GS. Đổng Văn Thành – China cho rằng: “Nguyễn Du chẳng những chỉ mượn đề tài của tiểu thuyết Trung Quốc mà dường như bê nguyên xi […] Nguyễn Du không có bất kỳ một sáng tạo mới nào, chỉ chuyển thuật khá trung thực nội dung tiểu thuyết của Thanh Tâm Tài Nhân…” [ Theo Phạm Tú Châu “So sánh Truyện Kim Vân Kiều Trung Quốc và Việt Nam”]

Thêm nữa, mời các bạn đọc những lời này:

” Thế nhưng chẳng những bài viểt trên mạng, sách giáo khoa của các vị TS, PTS Giáo sư Việt Nam ta đọc  đều thấy viết đại để: Nguyễn Du đã vay mượn cốt truyện Kim Vân Kiều của Thanh Tâm Tài Nhân bên China, diễn dịch ra quốc âm dưới dạng thơ lục bát, sáng tạo ra truyện Kiều. Nguyễn Du là thiên tài của nước Việt đã biến một tiểu thuyết “tầm thường” trở thành một tác phẩm thi bất hủ. Tiếp tục đọc

Đời Sống Người Già Ở Mỹ

Hoành Nguyễn

old people
Năm mới đến Mỹ (1996), tôi có viết bài “Những Nhận Định Khác Nhau Về Cuộc Sống” đăng trên báo Việt ngữ Sacramento; Nguyên do từ câu nói của một bạn học tại trường Sacramento City College: “Nước Mỹ là Thiên Đường của tuổi thơ; Là Chiến Trường của thanh niên, và là Địa Ngục của người già”.
Lúc bấy giờ tôi cũng như người bạn tị nạn chính trị, do chưa hội nhập với cuộc sống mới lạ ở xứ người nên có nhận định không chính xác lắm.
Mười năm sau, tôi đủ tuổi 65 nên xin được nhà dành cho chung cư người già: Eskaton President Thomas Jefferson Manor, nằm ở phía Nam Sacramento, gần khu thương mại Florin Mall, Trung tâm Medical và Thư viện.
Khu nầy tổng cộng có 104 căn, gồm 52 ở từng dưới và 52 từng lầu 2. Đa số là Mỹ trắng, cũng có vài ba người Mỹ đen, khoảng chục vợ chồng người Hoa và chừng 8 người Việt. Nhiều người lãnh trợ cấp già, nhưng cũng có người là Dược sĩ, Worker lãnh tiền hưu trí; Có vị là Tướng Tá ngày xưa, người khác có con cháu là dược sĩ, thương gia, công chức giàu có. Chung quanh khu nhà là vườn hoa dạo chơi, có hàng rào trắng bao bọc, có nhà để xe và có nhân viên an ninh túc trực ngày đêm. Cứ vào khoảng gần 12 giờ trưa mỗi ngày, thì nhân viên an ninh sẽ đi một vòng kiểm soát xem các người cao niên nầy có được khoẻ không, qua cái nút dấu hiệu trước cửa: Nếu đã được kéo qua màu trắng là khỏe, còn vẫn để nguyên màu đỏ mà an ninh tự động làm dấu lúc nửa đêm, thì họ sẽ gõ cửa kiểm soát, nếu không có người trả lời thì ngay lập tức, nhân viên an ninh sẽ mở cửa để xem coi có người bịnh thì gọi xe cứu thương đến chở vào bịnh viện điều trị khẩn cấp.
Nhà người độc thân như tôi thì có một phòng khách rộng rãi để TV và Computer, có gắn loa để liên hệ với văn phòng. Phòng nầy liền với nhà bếp đủ tiện nghi, có cửa lớn mở ra hành lang và cửa sổ ngắm cảnh trời mây hay xe và người qua lại. Một phòng ngủ cũng rộng không kém, có cửa ra hành lang và cửa khác thông với phòng khách, phòng vệ sinh tắm rửa. Còn có một nút đỏ để khi tắm lỡ có trợt té hoặc bị bịnh đột xuất thì giựt sợi dây báo động nầy, sẽ có an ninh đến tiếp cứu ngay tức khắc.
Hàng ngày, chúng tôi có thể đến phòng sinh hoạt để uống cà phê free, xem TV đọc báo, đánh bài bingo giải trí, gặp nhau chào hỏi trò chuyện thân mật; Hoặc đến phòng đọc sách có dụng cụ thể dục, có bàn billard và computer. Còn có cô giáo dạy ESL và dạy Sitersite thể dục ngồi cho người già yếu. Có phòng cắt tóc nam nữ. Tất cả đều sát bên văn phòng Manager. Trên lầu hoặc dưới đất đều có phòng giặt đồ và nơi đổ rác ra bồn chứa bên ngoài, rất tiện nghi vệ sinh.
Mỗi tuần có 2 ngày xe chở đi chợ hoặc mua sắm đồ, thường là ở Wal-Mart, Alberson, Raley’s, Mall và Dollars tree. Những ngày lễ và Tết, có đãi tiệc và xổ số rất vui. Có một buổi khám bịnh theo hẹn. Khách đến thăm đậu xe trước văn phòng, nhắc phôn trước cửa gọi mở, phải ghi vào sổ trực giờ vào và giờ ra.
Quan sát và suy ngẫm cuộc sống ở Mỹ, ta sẽ hiểu được tại sao người già chọn vào ở chung cư mà không ở nhà ngoài với con cháu”
– Trước hết là được chăm sóc chu đáo hơn, đầy đủ mà ít tốn kém; Lại có nhiều bạn cao niên để tâm tình thích hợp, nhất là được yên tĩnh.
– Nếu ở ngoài, con cái bận đi làm; Cho dù có mướn người giúp việc săn sóc cũng không bằng. Nếu trông coi cháu chắt thì ồn ào bận bịu.
– Người ở chung cư, vẫn được con cháu đến thăm và rước về nhà hoặc đi chơi trong những ngày cuối tuần hoặc nghỉ lễ.
Tôi đã sống hơn 3 năm ở chung cư người già, ban đầu thì cũng cảm thấy lẻ loi buồn tủi và hơi lo sợ vẩn vơ về bịnh cao huyết áp; Sau quen dần thì lại rất thích thú và chẳng muốn di chuyển ra bên ngoài ồn ào kém an ninh.
Cái thoải mái nhứt là tự do mà khi đến nhà khác, dù là bà con hoặc thân hữu cũng khó có được. Chẳng hạn như, bất cứ lúc nào, dù ngày hay đêm, nếu thích thì tôi đều có thể mở TV, Computer để sưu tầm tin tức giải trí hoặc viết bài mà không ngại làm phiền ai. Đồ đạc dụng cụ thì trang trí bày biện thế nào tùy ý thích của mình, nhất là đang dùng mà mõi mệt buồn ngủ hoặc có việc cần đi gấp thì cứ bỏ bừa ra đó, không sợ mích lòng ai hoặc có người thấy được cười chê.
Tuy nhiên, cũng phải công tâm nhìn nhận, nhạc sĩ Trịnh Hưng cũng có lý khi diễn tả cảnh sống của một người độc thân qua những vần thơ mà tôi nhớ lõm bõm:
… “Một mình nấu, một mình. Một mình mình nói, một mình mình nghe.
Một mình nhiều lúc cười khì
Hai mình có phải diệu kỳ hơn không” “
Phước duyên thay cho những ai có bạn tri âm, nếu không thì đừng mang gông vào cổ mà chắc lưỡi hối tiếc. Nước Mỹ không chỉ là “Địa ngục” của tuổi già như có nhiều người tự ti măc cảm và hoang tưởng một cách quá đáng.
Chuyện kể trên Diễn đàn internet mới đây: Có một cụ già 92 tuổi động lòng cố quốc, tuyên bố về Việt Nam CS ở luôn. Được vài năm sau lại phải trở qua Mỹ để có đủ phương tiện điều trị bịnh; Xong rồi lại vào sống trong Nursing Home để có bác sĩ và y tá chuyên môn chăm sóc mỗi ngày, mà khỏi tốn kém tiền của thân nhân; Sống đến trăm tuổi thọ. Cũng đành ngậm ngùi qua 2 câu thơ:
“Muôn dặm hồn thiêng về cố quốc,
Trăm năm xương trắng gởi quê người!”
Tiền trợ cấp xã hội cho người già hoặc bịnh tại Hợp Chủng Quốc Hoa Kỳ cũng được chiết tính vừa đủ, nếu lỡ vướng mắc nợ như làm mất hoặc hư  đồ vật có giá của người khác, hoặc chuyển housing quên không báo nên bị cúp trợ cấp tiền nhà, thì theo luật pháp, mỗi tháng chỉ phải trả dần $50 theo mức thu nhập lương hàng tháng của tiểu bang Ca-li cao nhứt là 836 Mỹ kim. Bởi chiết tính chi tiêu bình dân thì gồm có: Tiền nhà $200 + tiền xăng và bảo hiểm xe cũ 200. + tiền điện thoại và internet 100. + tiền ăn 200. + mua sắm và giao tế 100 cũng vừa đủ lương. Khi xe hư nhiều cần tu sửa hoặc mua xe cũ khác vài ba ngàn đô là một vấn đề suy tính đau đầu. Những ai không cần xe và cell phone hoặc ở nhà free của con cháu, thì có dư để đi du lịch hoặc giúp đỡ người thân ở quê nhà, nhưng đó cũng là du di ngoài luật. Vấn đề hậu sự cũng là một nỗi nặng lo, nếu muốn giữ được tro cốt và làm tục lễ cho phần hồn thì phí tổn trên dưới 5 ngàn đô. Còn những ai chết mà không có thân nhân thừa nhận, thì  Sở xã hội sẽ thiêu hủy luôn hài cốt.
Những người già hẩm hiu ở nước ngoài, nếu như thân nhân từ Việt Nam không thông hiểu mà thường than thở thúc bách tiền bạc, thì thật là tội nghiệp cho cuộc đời xa xứ cô độc bơ vơ khi bịnh hoặc tuổi đã về chiều.
 
Hoành Nguyễn

Cửa hàng 0 đồng ‘thơm thảo’ của người Sài Gòn

Cửa hàng 0 đồng ‘thơm thảo’ của người Sài Gòn: Ai thiếu đến lấy, ai dư đến cho (không có ở miền Bắc)

Sài Gòn có nhiều người cần sự giúp đỡ thì cũng luôn có người luôn sẵn lòng chia sớt, sẻ san, cửa hàng 0 đồng này như một nhịp cầu trung gian nối kết hai điều ấy.Thành phố đắt đỏ, xô bồ, trăm ngàn dịch vụ, dù là những thứ tủn mủn nhất cũng phải bỏ tiền ra mua. Nhưng ngược lại với mặt trái ấy, có những nơi sẵn sàng cho đi rất nhiều mà không cần người nhận trả bất kì khoản phí nào.

Mới đây, một cửa hàng đã thu hút sự chú ý của nhiều người khi ‘kinh doanh’ theo kiểu lạ lùng như vậy: 0 đồng, ai thiếu đến lấy, ai dư đến cho.


Nằm trên đường Lê Văn Sỹ, quận Phú Nhuận, cửa hàng này mở từ 6h đến 11h mỗi sáng từ thứ 2 đến thứ 7, buổi chiều vẫn đón khách nhưng không mở rộng rãi như lúc sáng

Mô hình cửa hàng 0 đồng được ông Nguyễn Viết Hợp (66 tuổi), Chủ tịch Hội giáo xứ Tân Sa Châu khởi tạo từ năm 2016, nhưng chỉ thật sự được ‘ăn nên làm ra’ từ tháng 5 đến nay.

Ít ai biết, tại nhà thờ này, còn có một mô hình 0 đồng khác còn lâu đời hơn cả cửa hàng trên, đó là bữa trưa 0 đồng cho người nghèo, đã duy trì được hơn 11 năm nay.

Khách đến dùng cơm đa phần người lao động nghèo, người vô gia cư, người già, người bệnh tật…



Mỗi người sẽ được nhận một phần ăn gồm canh, rau, thịt, trái cây mà không phải trả tiền. Nhiều trường hợp đau ốm còn được chuyển phần ăn đến tận nhà

Trong lúc quản lý bếp ăn này, quan sát thấy nhiều người ăn mặc rách rưới đến đây, ông Hợp nảy sinh mong muốn sẽ lo cho họ cái mặc tươm tất hơn, vậy là mô hình cửa hàng 0 đồng ra đời.

Cửa hàng 0 đồng sẽ kêu gọi, tiếp nhận các loại trang phục như áo, quần, giày dép, mũ, túi xách, ba lô… đã qua sử dụng từ mọi người, sau đó lựa chọn, phân loại và mở ra phát cho những ai thiếu thốn. 



Theo chia sẻ, mỗi ngày, nơi này nhận được 400-500 bộ quần áo, và ước tính có khoảng 100 người đến lấy



Số lượng đồ nhiều quá sẽ được đóng gói và chuyển về các tỉnh huyện vùng sâu, vùng xa


Nhiều người đến đây thường không tránh khỏi việc mắc cỡ, ngại ngùng nhưng thái độ tử tế, ân cần của những tình nguyện viên sau đó có thể giúp họ thấy thoải mái hơn


Tại đây, món đồ ‘đắt hàng’ nhất là áo khoác. Cửa hàng quy định, với những món đồ có số lượng ít như giày, gấu bông, mỗi người chỉ được lấy một cái. Còn với quần áo thông thường, có thể lấy tự do, không giới hạn số lượng và hoàn toàn không mất một đồng nào.

Khi được hỏi có sợ sẽ tồn tại lòng tham, không thiếu vẫn cứ lấy hoặc thiếu ít nhưng lấy nhiều không, ông Hiệp trả lời: ‘Lúc mới mở tôi cũng có nghĩ đến trường hợp này. Lòng tham thì chắc chắn là sẽ có nhưng tôi tin nó sẽ không nhiều. Miễn ai đến lấy, mình đều sẵn sàng cho đi. Bởi vì bên cạnh việc có thể giúp đỡ trực tiếp được nhu cầu ăn mặc của một số người khó khăn, quan trọng là mô hình này còn có thể lan rộng ra tinh thần bác ái nữa’.

Câu hỏi này cũng từng được đặt ra khi mới lập nên căn bếp nấu ra những bữa cơm 0 đồng 11 năm về trước. Tuy vậy, ông đã bỏ qua nỗi ‘lăn tăn’ kia khi ngẫm ra rằng: ‘Người ta chịu tới đây, tức người ta chịu mang cái mác nghèo rồi. Ai cũng có lòng tự ái, ai cũng có lòng tự trọng mà. Nên chỉ cần người ta tới, mình đều đón tiếp chu đáo hết’.


Cửa hàng 0 đồng này đóng vai trò như một cầu nối trung gian, giữa những người có thứ cần và những người có thứ muốn cho

Nhiều người lượm ve chai sẵn đường qua ngang thì ghé vào, xin chiếc mũ cũ đội lên đầu, để lại lời cảm ơn và rời đi về phía những ngã đường oi ả nắng trưa. Có nhiều bà mẹ bán vé số chạy xe đạp vào, mừng tủi vì lựa cho con mình một chiếc quần tây đẹp để dành cho ngày khai giảng sắp tới.

Cũng có ông chú xe ôm lạc quan hơn, lựa được chiếc quần jean xanh đậm thì khoe ‘cái này mặc đi đám cưới được lắm nè’. Hay cũng có những đứa trẻ đi bán hàng rong cùng mẹ, ngập ngừng nhìn một chú gấu bông trên bàn, lễ phép hỏi người lớn ‘cho con xin con này đem về chơi được không?’.




Những thứ đã ít nhiều cũ với người này, nhưng với người khác, vẫn là những cái mới, cái cần, cái giá trị. Thế mới thấy, không có gì là hoàn toàn vô dụng, là phải vứt đi, chỉ là nó chưa được để ở đúng nơi cần nó mà thôi.

Bên cạnh việc là ‘cửa hàng quần áo’ cho người nghèo, nơi này còn là địa chỉ thiện nguyện uy tín của nhiều nhà hảo tâm.



Họ có một nơi an tâm để gửi gắm những món đồ mình có, có thể trực tiếp chứng kiến những thứ mình đã bỏ ra mang đến niềm vui cho người khác thế nào.

Thảm họa diệt chủng cho dân tộc Việt Nam

co tau


Bài viết này rất sắc bén, rõ ràng và xác thực về sự thật đen tôi đang bổ sập xuống quê hương và cái thảm họa khốc liệt đang thành hình cho dân tộc VN và tai họa này sẽ tiếp tục diễn tiến một cách tàn khốc như đã được thấy tại Mãn châu và Nội Mông và đang diễn tiến tại Tây tạng và Tân cương.. Cửa sổ cho VN đẻ thoát khỏi cái thảm họa nô lệ diệt vong càng ngày càng thu nhỏ lại trừ phi người VN phải chấp nhận dấn thân, đớn đau và hy sinh ,vưọt trên nỗi sợ hãi và sự thờ ơ hèn nhát để cố phá bỏ cái cùm xích của Đảng cs Hà nội đang kẹp chói cả một dân tộc để dâng đưa vào cái cũi và lò sát sinh của Trung cộng Bài viết này ký tên bởi một người ở Hưng Yên ,dù tên thật hay tên giả, hiện sống tại VN hay ở ngoại quốc,thắc mác nếu có  không thành vấn đề.

 
Vấn đề chính là những dòng trong bài viết này là tiếng báo động và lời kêu gọi xuất phát từ một tấm lòng yêu thương đất nước và sót đau cho dân tộc Bài kêu gọi này thật thiết tha và chân thành sót đau cho quê hưong và đồng bào trước cái viễn tượng bi đát đất bị nước bị xóa bỏ và dân tộc bị tiêu diệt.


Vietnam  SOS !
Từ lâu, Trung Quốc đã thực hiện cuộc diệt chủng đối với các dân tộc nhỏ để giành đất cho người Hán.  Từ tháng 04.1975 tới cuối năm 1978, trên ba triệu người Campuchia đã bị hành quyết bằng cách đập vỡ sọ thông qua bàn tay Khmer đỏ.  Từ đấy loài người đã biết đến chính sách diệt chủng của Trung Quốc ở Campuchia, nhưng ít người biết rằng Trung Quốc đã thực hiên chính sách này đối với tất cả các dân tộc không phải người Hán..

I. Ở Việt Nam cuộc diệt chủng đang bước vào giai đoạn khốc liệt…

Lá cờ Trung Quốc có 5 ngôi sao, ngôi lớn nhất thuộc về người Hán, 4 ngôi sao nhỏ giành cho các dân tộc Mãn, Hồi, Mông, Tạng, là 4 sắc tộc lớn nhất trong số hơn 100 sắc tộc không phải người Hán sống ở Trung Quốc.  Chúng ta cùng nhau điểm lại, sau 67 năm dưới chế độ Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa, trong tổng số 1,400 triệu người, Trung Quốc còn lại bao nhiêu người Mãn, Hồi, Mông, Tạng?

1. Người Mãn đã từng lập ra triều Mãn Thanh, cai trị nước Trung Hoa gần 3 thế kỷ (từ 1644 – 1912).  Theo công bố của nhà nước Trung Quốc hiện nay còn 10.68 triệu người Mãn, nhưng thực tế con số thấp hơn nhiều, hầu như không còn ai nói tiếng Mãn hay có biểu hiện gì của sắc tộc này nữa.

2. Người “Hồi” bao gồm 18 dân tộc ở Tân Cương, khu tự trị lớn nhất của Trung Quốc với diện tích 1.6 triệu km², dân số 21.8 triệu người, trong đó một nửa là người Hán.  Người Duy Ngô Nhĩ là sắc dân chính tại đây chỉ còn lại 8.3 triệu người. (xem Tân Cương – Wikipedia).

3. Nội Mông là khu tự trị dành cho người gốc Mông cổ, từng lập ra triều đại Nguyên Mông cai trị nước Trung Hoa hai thế kỷ 13 và 14, có diện tích 1.183 triệu km² và dân số 24.7 triệu người.  Tuy nhiên người
gốc Mông Cổ chỉ còn lại 3.6 triệu, chiếm 14.7% dân số toàn Khu tự trị (xem Nội Mông – Wikipedia).

4. Người Tạng với nền văn hóa rực rỡ, sống ở Khu tự trị Tây Tạng có diện tích 1.25 triệu km², nhưng dân số chỉ còn 3.18 triệu người, trong đó một phần đáng kể đã là người Hán (xem Tây Tạng – Wikipedia). Tại các khu tự trị, thành phần dân tộc chính lại là người Hán… Hàng trăm triệu người Mãn, Hồi, Mông, Tạng đã bị hủy diệt bằng mọi cách.

II. Ở Việt Nam thảm họa diệt chủng đang đến nhưng rất ít người nhận ra điều này. Các thủ đoạn hủy diêt của Trung Quốc đã và đang diễn ra trên toàn cõi Việt Nam:

1. TQ hủy diệt châu thổ sông Cửu Long, nguồn lương thực và thực phẩm chính của cả nước.  Việc này chúng thực hiên bằng cách xây nhiều đập thủy điện ngăn sông Mê Kông, gây hạn hán và ngập mặn trầm trọng tại Đồng Bằng sông Cửu Long, đồng thời dùng rất nhiều thủ đoạn thâm độc như dựng nhiều nhà máy, thải hóa chất độc, thả ốc bươu vàng… nhằm phá hoại lúa, hoa màu và thủy sản trên toàn vùng đồng bằng sông Cửu Long (xem Google: Hạn hán và ngập mặn tại Đồng bằng Sông Cửu long).

2. TQ ngăn cấm ngư dân Việt Nam đánh bắt xa bờ, phá hủy hàng ngàn tàu đánh cá của ngư dân Việt.  Đổ khối lượng rất lớn chất độc dọc bờ Biển Đông để hủy diệt các hải sản ở biển và các vùng nuôi hải sản ven biển, đầu độc toàn bộ nguồn muối ăn của người Việt.  Các chất độc đã hủy diệt sự sống trên vùng biển hàng ngàn km2.  Với hàm lượng độc tố thấp hơn sẽ gây các bệnh rất nguy hiểm cho hệ thần kinh và thiểu năng trí tuệ cho nhiều thế hệ về sau (xem Bệnh Minamata – Wikipedia và xem
Google: Cá chết hàng loạt ở Việt Nam).

3. TQ hủy diệt các sông ngòi trên toàn bộ miền Trung thông qua hàng trăm đập thủy điện, khai thác bauxite, thương lái TQ bày trò mua chanh leo giá cao để nông dân Việt Nam phá hàng ngàn hecta cà phê, điều, hồ tiêu; Cung cấp máy xung điện và hóa chất để bắt giun đất và mua giun với giá cao để phá hủy đất trông trọt; Mua vét rong biển để triệt hạ vùng sinh thái của cá… nhằm phá hoại kinh tế người Việt (xem Google: thương lái Trung Quốc phá hoại kinh tế Việt Nam).

4. TQ xây nhiều đập phía thượng nguồn sông Hồng và sông Đà, làm suy kiệt sông Hồng từ nhiều năm.  Chuẩn bị đại dự án sông Hồng với 6 đập thủy điện mới, hủy diệt hoàn toàn hệ sinh thái Châu thổ sông Hồng (xem Google: Đại dự án Sông Hồng).

5. TQ xây dựng hàng ngàn nhà máy, hãng, xưởng trấn gĩữ các vị trí quân sự quan trọng, đồng thời thải hàng trăm ngàn tấn chất độc, hủy diệt khí quyển và các nguồn nước.  Trong khí thải các nhà máy ở Việt Nam với thiết bị Trung Quốc, hàm lượng các khí thải độc hại như CO, SO2, H2S, Hg… đều cao hơn từ 19 lần tới 125 lần hàm lượng cho phép.  Chất thải đổ xuống nước đã làm chết rất nhiều sông ngòi như Thị Nại, La Ngà, Bưởi, Nhiêu Lộc… và hàng ngàn km bờ biển (xem Google “Ô nhiễm môi trường ở Việt Nam“ (xem Google “Ô nhiễm môi trường tại Việt Nam”).

6. TQ tung thực phẩm, dược phẩm và hàng hóa độc hại cùng các hóa chất chế biến thực phẩm độc hại tràn ngập thị trường Việt Nam, đồng thời thương lái Trung Quốc mua vét các loại thực phẩm sạch để người Việt chỉ có thể sống bằng thực phẩm độc hại, suy yếu, ngu đần và chết dần vì bệnh tật.
Hiện nay số người Việt bị ung thư, nhũn não, đột quỵ và nhiều bệnh hiểm nghèo khác đã ở mức cao nhất thế giới (xem Google: Thực phẩm độc hại tràn lan tại Việt Nam). Từ năm 2017, nếu không kịp thời ngăn chặn, nạn đói, bệnh tật và nạn trôm cướp sẽ lan tràn khắp Việt Nam, xã hội sẽ trở nên hoàn toàn hỗn loạn.  Với danh nghĩa “cứu trợ” và “vãn hồi trật tự” hàng triệu “chí quân nguyện Trung Quốc” sẽ tràn ngập Việt Nam.

III. Sau khi chính thức bị sát nhập vào Trung Quốc năm 2020 (xem Google “Hội nghị Thành Đô”), dân tộc Việt Nam như cá nằm trên thớt, mức độ hủy diệt sẽ tàn bạo hơn nhiều.  Sau khi sát nhập, bộ đội và
công an VN cùng hàng chục triệu đàn ông ở tuổi lao động và con trai sẽ bị cưỡng bức tới những vùng biên cương xa xôi phía Bắc Trung Quốc, để vợ và con gái ở lại.  Điều này đã từng xẩy ra ở Tây Tạng từ năm 1959. Hàng chục triệu đàn ông TQ sẽ sang thế chỗ, lấy vợ và định cư ở VN. Sau 20 năm nữa con số 90 triệu người Việt liệu có còn tới 10 triệu như người Mãn hay tới 3 triệu như người Tây Tạng không? Trong số người sống sót có bao nhiêu triệu thanh thiếu niên bị thiểu năng trí tuệ do
cha mẹ ăn phải chất độc của Trung Quốc?

Thảm họa diệt chủng đã hiện ra trước mắt, không ai có thể cứu được dân tộc Việt Nam khỏi thảm họa này, nếu 90 triệu người Việt không tự cứu mình trước.

Mỗi người cần nhìn thấy cái chết đang đến với chính mình và con cháu mình, hãy chuyển tải thông tin này tới mọi người, mọi tờ báo, mọi phương tiện thông tin để mọi người cùng biết, cùng nhau đứng lên ngăn chặn thảm họa diệt chủng đã đến ngay trước mắt, để cả thế giới cùng biết và lên tiếng hỗ trợ chúng ta.

HÃY XIẾT CHẶT VÒNG TAY LỚN – VIỆT NAM MUÔN NĂM! TUYÊN TRUYỀN RỘNG RÃI VỀ THẢM HỌA DIỆT CHỦNG LÀ VIỆC TRỌNG YẾU VÀ HẾT SỨC CẤP BÁCH!

Trong số 90 triệu người Việt, mới chỉ rất ít người nhìn thấy thảm họa diệt chủng.

HÃY CÙNG NHAU LOAN TRUYỀN THẬT RỘNG RÃI ĐỂ MỌI NGƯỜI CÙNG BIẾT và LÀM THÀNH SỨC MẠNH CẢ DÂN TỘC, người lãnh đạo hiền tài sẽ xuất hiện và chúng ta sẽ thành công. Với những người chưa biết, đặc biệt trong công an, quân đội và đảng viên cộng sản, cần loan truyền cho họ biết.  Với những người đã biết nhưng chưa tin, nhiều người kiên trì giải thích họ sẽ tin. Có những người vì quá sợ hãi, đành chấp nhận MẤT NƯỚC, khi nhận ra THẢM HỌA DIỆT CHỦNG sẽ phải thức tỉnh.  Những kẻ cố ý bán rẻ đất nước và quyền lợi dân tộc chỉ là số ít, sẽ bị dẫm nát dưới sức mạnh cả dân
tộc.

Mong mỗi Quý Vị hãy chuyển tiếp bài này tới nhiều người khác. Nếu mỗi người chuyển thông tin tới 10 người, từ 10 người tới 100 người, tiếp tục 5 bước như vậy sẽ có hàng chục triệu người nhận ra sự thật và thảm họa diệt chủng sẽ bị ngăn chặn.  Dân tộc Việt Nam sẽ đời đời nhớ ơn tất cả các bạn đã góp phần truyền bá thông tin về thảm họa khủng khiếp này, góp phần cho tổ quốc và dân tộc mãi mãi trường tồn.

Không thể hy vọng Nhà nước VN bảo vệ đất nước và chống TQ. Tại Hội nghị Thành Đô 1990, chính lãnh đạo CSVN đã ký kết dâng Việt Nam cho Trung Quốc để bảo vệ cho Đảng CSVN(xem Google “Hội nghị Thành Đô”), sau khi nhân dân các nước cộng sản Đông Âu đồng loạt nổi dậy lật đổ chế độ CS cuối năm 1989 (xem “Sự sụp đổ Liên xô và Đông Âu – Wikipedia”).

Hiện nay công an và quân đội chỉ còn là công cụ đàn áp nhân dân và dọn đường cho quân xâm lược.  Thời Bắc thuộc tuy mất nước nhưng còn dân tộc nên nhân dân ta đã giành lại đất nước năm 905.  Hiện nay TQ vừa chiếm đất vừa diệt chủng, nếu không giữ được đất nước, dân tộc Việt Nam sẽ bị diệt vong.  Nạn nhân tiếp theo sẽ là các dân tộc Lào, Campuchia, Thái Lan cùng toàn vùng Đông Nam Á.
THỜI GIAN KHÔNG CÒN NHIỀU NỮA.  Theo hiệp định bán nước Thành Đô 1990, Việt Nam sẽ bị sát nhập vào Trung Quốc năm 2020…

Khi nạn đói, bệnh tật hoành hành và quân Trung Quốc tràn ngập lãnh thổ, mọi việc sẽ trở nên vô cùng khó khăn.

CẦN HÀNH ĐÔNG NGAY TRƯỚC KHI QUÁ MUỘN.  TUYÊN TRUYỀN SỰ THẬT để NGĂN CHĂN NẠN DIÊT CHỦNG LÀ NGHĨA VỤ CỦA MỖI NGƯỜI ĐỐI VỚI ĐẤT NƯỚC và DÂN TIC!

Để góp phần ngăn chặn thảm họa diệt chủng cho dân tộc Việt Nam, các bạn hãy chia sẻ tin này cho các bạn bè để mọi người cùng đọc.

 
Sưu tầm…..

Sức Mạnh Của Sự Im Lặng (Power Of Silence)

Thư viện của bài

Có những trường hợp sử dụng lý luận, vũ khí, trí tuệ cũng không bằng sử dụng sự im lặng.

Trong một hoàn cảnh ngặt nghèo nào đó, quí vị bị người ta hăm dọa thì cứ làm thinh, không phản ứng gì hết mà gương mặt rất bình thản, thản nhiên. Người ta thấy quí vị làm thinh, không nghe quí vị nói, hay bình luận, hay có ý kiến gì mà lại rất thản nhiên, họ sẽ hoang mang ngay.

Thậm chí, trong trường hợp một số người đang chạy tới để tấn công mình, quí vị cứ đứng đó, cứ làm thinh, họ sẽ thay đổi thái độ. Nhưng nếu quí vị chống cự, hay tỏ ra mình có vẻ đối phó thì họ tấn công thật.

Trong phim nói về tình sử Đại Đường có một câu chuyện tương tự. Có một ông đại đức ở xứ nọ phải lòng và yêu cô công chúa thứ 17 của vua Đường. Trong hoàn cảnh nào đó không rõ, ông đại đức giống như bị phạt phải ngồi trong một khu rừng có nhiều chó sói.

Ông ngồi nhắm mắt trong rừng cho đến qua đêm. Đêm đó, chó sói đến gần bao vây ông, dồn ông, ngửi ông, nhưng ông vẫn ngồi làm thinh, không cục cựa, không mở mắt, coi như mình không thấy chó sói, không cảm thấy trời thấy đất, không cảm thấy chính mình, không cảm thấy gì hết. Cuối cùng, bầy chó sói đó bỏ đi.

Thật vậy, nếu làm thinh trong trạng thái không thấy luôn cả mình thì tạo ra lực rất mạnh. Tiếp tục đọc

CHUYỆN TÌNH VÙNG U MINH 

Thư viện của bài

This gallery contains 2 photos.

Nguyên Lạc

CHUYỆN TÌNH VÙNG U MINH 
NAM BỘ QUÊ TÔI (II)

(hình hoa Sứ)

Phần II

CHUYỆN TÌNH 

SƠ LƯỢC CHUYỆN TÌNH VÙNG U MINH

Đây là bài thơ kể lại chuyện tình vùng U Minh nam bộ quê tôi, được gợi hứng từ truyện “Hương Rừng” nổi tiếng của nhà văn Sơn Nam. Xin tóm tắt chuyện như sau:
Di dân từ ngũ Quảng vào lập nghiệp vùng rừng U Minh. Ông Hương giáo có một người con gái duy nhất,  xinh đẹp mà ông rất thương yêu tên Hoàng Mai. Khi Hoàng Mai đến tuổi trăng tròn, hỡi ơi ông phát hiện nàng bị bệnh nan y: Cùi  (bệnh hủi hay bệnh Hansen)
Tìm trong gia phả thấy có ghi: – Luyện thuốc bằng “ngọc” ong mật có thể chữa bệnh cùi. Ông bèn thuê một chàng trai trẻ, làm nghề bắt ong mật đi tìm”ngọc”  để ông luyện thuốc cho con gái yêu. Ông Hương giáo mời chàng trai ở luôn trong nhà cho có bạn. Ngày đêm, ông chong hàng chục ngọn nến bạch lạp chung quanh mớ “ngọc” để luyện, hy vọng rằng khi đúng một ngàn ngày, nó sẽ trị được bịnh nan y của Hoàng Mai. 
Một hôm tại nhà ông Hương giáo, chàng trai gặp nàng, người con gái mỏng mảnh, liêu trai đứng tựa cây sứ cùi, mặt cạnh bên những đóa hoa trẳng nhìn chàng với ánh mắt đầy ân tình. Lòng đầy yêu thương, chàng đến đứng cạnh Hoàng Mai xin được cầm tay nàng.

[ – Anh nắm cái chéo tay áo này, em cũng đủ vui rồi. 
Cảm đông làm sao!…  Tiếp tục đọc

CHUYỆN TÌNH VÙNG U MINH

Thư viện của bài

This gallery contains 12 photos.

CHUYỆN TÌNH VÙNG U MINH
NAM BỘ QUÊ TÔI (I)

Phần I:

VÙNG U MINH 

BÀI THƠ, NHẠC VỀ RỪNG U MINH

Trước khi vào bài, mời các bạn đọc bài thơ và nghe bài nhạc phổ bài thơ này. Bài thơ liên quan đến vùng U Minh. Bài nhạc phổ thơ này theo cảm xúc riêng tôi rất hay, nhưng không biết sao nó không được phổ biến bằng các bài nhạc phổ thơ cùng thời, cùng nhạc sĩ Phạm Duy như bài: “Thà Như Giọt Mưa”, “Kỷ Vật Cho Em” “Chuyện Tình Buồn”… Chắc vì nó không đề cập đến thành phố, trường đại học, quán nhạc đèn vàng… mà chỉ nói về nơi chốn chân chất, quê mùa?
Rừng U Minh Ta Không Thấy Em 
[Thơ Nguyễn Tiến Cung]

Ta không thấy em từ bấy lâu nay
Mùa mưa làm rừng đước dâng đầy
Trên cao gió hát mây như tóc
Tràm đứng như em một dáng gầy

Ta không thấy em một lần đi
Nước phèn vàng nhuộm quần trây-di *
Đạn nổ lùng bùng trong nòng ướt
Tình đã xa rồi thôi nhớ chi

Mỗi con lạch là mỗi xót xa
Mỗi giòng sông là mỗi tuổi già
Thành phố đâu đây hình mất dạng
Cuộc chiến già nua theo tiếng ca…
……..
* Treillis: loại quần bằng vải khaki của quân đội, thường có hoa văn màu xanh thẫm để ngụy trang

Mời nghe nhạc:
Rừng U Minh Ta Không Thấy Em – nhạc Phạm Duy – Khánh Ly
https://youtu.be/Cd7H_ieM85k

RỪNG U MINH
Rừng U Minh nằm sát Vịnh Thái Lan, thuộc hai tỉnh Kiên Giang và tỉnh Cà Mau. Rừng U Minh là kiểu rừng rất đặc thù, được xếp hạng độc đáo và quý hiếm trên thế giới, gồm phần trên là U Minh Thượng, phần dưới là U Minh Hạ. Giữa U Minh Thượng và U Minh Hạ là sông Trẹm và sông Cái Tàu, nơi đây thiên nhiên rất hùng vĩ và hoang sơ.
Rừng U Minh được coi là nơi có giá trị sinh khối cao nhất so với các kiểu rừng khác với khoảng 250 loài thực vật, chủ yếu là cây tràm mọc ở khắp nơi, hơn 180 loài chim, hơn 20 loài bò sát… (Wikipedia) Tiếp tục đọc

LIFE

Khê Kinh Kha chuyển ngữ

bien va chim

“Tôi đã đạt đến đỉnh cao của sự thành công trong thế giới kinh doanh. Trong mắt một số người khác, cuộc sống của tôi là mẫu mực của sự thành công. Tuy nhiên, ngoài công việc, tôi chỉ có chút niềm vui. Cuối cùng, sự giàu có của tôi chỉ là một thực tế của cuộc sống mà tôi đã quen. Tại thời điểm này, nằm trên giường và nhớ lại cuộc sống của mình, tôi nhận ra rằng tất cả sự công nhận và sự giàu có mà tôi rất tự hào đã trở nên phai mờ và vô nghĩa khi đối mặt với cái chết của tôi.

 Bạn có thể thuê một người nào đó lái xe cho bạn, kiếm tiền cho bạn nhưng bạn không thể thuê ai đó mang bệnh thế cho bạn. Những thứ vật chất bị mất có thể tìm lại được hoặc thay thế được. Nhưng có một thứ không bao giờ có thể tìm thấy hay thay thế được khi nó mất – (đó là) Cuộc sống. Bất cứ giai đoạn nào trong cuộc sống bạn đang ở ngay bây giờ, với thời gian, bạn sẽ phải đối mặt với một ngày khi tấm màn (cuộc đới) buông xuống.

 Trân quý tình yêu quý giá cho gia đình bạn, tình yêu dành cho người bạn đời của bạn, tình yêu dành cho bạn bè của bạn. Hãy đối xử tốt với bản thân và trân trọng người khác. Khi chúng ta già đi, và hy vọng khôn ngoan hơn, chúng ta nhận ra rằng một chiếc đồng hồ trị giá 3000 đô la hoặc 30 đô la đều chỉ cùng một giờ. Bạn sẽ nhận ra rằng hạnh phúc bên trong thực sự của bạn không đến từ những thứ vật chất của thế giới này. Cho dù bạn bay hạng nhất hoặc hạng thường, nếu máy bay rớt – bạn cũng rớt theo nó.

Vì vậy, tôi hy vọng bạn nhận ra, khi bạn có người tình, bạn thân thiết và bạn bè cũ, anh chị em, người bạn trò chuyện, cười đùa, nói chuyện vớI nhau, hát những bài hát, nói chuyện lung tung đông-tây nam-bắc hoặc trên trời dưới đất , đó là hạnh phúc thật sự! Đừng giáo dục con bạn trở nên giàu có. Giáo dục họ để được hạnh phúc. Vì vậy, khi chúng lớn lên, chúng sẽ biết giá trị của mọi thứ chứ không phải giá cả. Ăn thức ăn của bạn như những liều thuốc bổ cho bạn, nếu không, bạn phải nuốt những viên thuốc làm thức ăn của bạn.

 Người yêu bạn sẽ không bao giờ bỏ rơi bạn vì người khác bởi vì, ngay cả khi có 100 lý do để từ bỏ, người đó sẽ tìm ra lý do để giữ lấy và trân quý bạn. Có một sự khác biệt lớn giữa một con người và làm một con người. Chỉ một số ít thực sự hiểu nó. Bạn được yêu khi bạn được sinh ra. Bạn sẽ được yêu khi bạn chết. Ở thời gian chính giữa, bạn phải tự quản lý lấy!

Sáu vị bác sĩ giỏi nhất thế giới là ánh sáng mặt trời, nghỉ ngơi, tập thể dục, ăn kiêng, tự tin và bạn bè.

Hãy duy trì chúng trong tất cả mọi giai đoạn và hảy tận hưởng một cuộc sống khỏe mạnh”

Khê Kinh Kha chuyển ngữ

(from Unknown Author)

4th of July: Freedom is never free

flag america

Have you ever wondered what happened to the 56 men who signed the Declaration of Independence?

 

Five signers were captured by the British as traitors, and tortured before they died.

Twelve had their homes ransacked and burned.

Two lost their sons serving in the Revolutionary Army; another had two sons captured.

 Nine of the 56 fought and died from wounds or hardships of the Revolutionary War.

 They signed and they pledged their lives, their fortunes, and their sacred honor.

What kind of men were they?

 

Twenty-four were lawyers and jurists. Eleven were merchants,

Nine were farmers and large plantation owners; men of means, well educated,

but they signed the Declaration of Independence knowing full well that the penalty would be death if they were captured.

   Carter Braxton of Virginia, a wealthy planter and trader, saw his ships swept from the seas by the British Navy. He sold his home and properties to pay his debts, and died in rags.

   Thomas McKeam was so hounded by the British that he was forced to move his family almost constantly. He served in the Congress without pay, and his family was kept in hiding. His possessions were taken from him, and poverty was his reward.

  Vandals or soldiers looted the properties of Dillery, Hall, Clymer, Walton, Gwinnett, Heyward, Ruttledge, and Middleton.

   At the battle of Yorktown, Thomas Nelson, Jr., noted that the British General Cornwallis had taken over the Nelson home for his headquarters. He quietly urged General George Washington to open fire. The home was destroyed, and Nelson died bankrupt.

  Francis Lewis had his home and properties destroyed. The enemy jailed his wife, and she died within a few months.

   John Hart was driven from his wife’s bedside as she was dying. Their 13 children fled for their lives. His fields and his gristmill were laid to waste. For more than a year he lived in forests and caves, returning home to find his wife dead and his children vanished.

   So, take a few minutes while enjoying your 4th of July holiday and silently thank these patriots. It’s not much to ask for the price they paid.

 Remember: freedom is never free!

I hope you will show your support by sending this to as many people as you can, please. It’s time we get the word out that patriotism is NOT a sin, and the Fourth of July has more to it than beer, picnics, and baseball games.

HỌC LÀM NGƯỜI

                                                              Đức Đạt Lai Lạt Ma
dalai lama
 
Tín ngưỡng của tôi rất đơn giản. Không cần có các chùa chiền, không cần các triết lý cao siêu. Tim và óc của tôi là các chùa chiền; triết lý của tôi là lòng tốt.
Học làm người là việc học suốt đời chẳng thể nào tốt nghiệp được!
1. Thứ nhất, học nhận lỗi”. Con người thường không chịu nhận lỗi lầm về mình, tất cả mọi lỗi lầm đều đổ cho người khác, cho rằng bản thân mình mới đúng. Thật ra không biết nhận lỗi chính là một lỗi lầm lớn.
2. Thứ hai,“học nhu hòa”. Răng người ta rất cứng, lưỡi người ta rất mềm, đi hết cuộc đời răng người ta lại rụng hết, nhưng lưỡi thì vẫn còn nguyên. Cho nên cần phải học mềm mỏng, nhu hòa thì đời con người ta mới có thể tồn tại lâu dài được.
3. Thứ ba, ”học nhẫn nhục” . Thế gian này nếu nhẫn được một chút thì sóng yên bể lặng, lùi một bước biển rộng trời cao. Nhẫn, vạn sự được tiêu trừ. Nhẫn chính là biết xử sự, biết hóa giải, dùng trí tuệ và năng lực làm cho chuyện lớn hóa thành nhỏ, chuyện nhỏ hóa thành không.
4. Thứ tư,“học thấu hiểu”. Thiếu thấu hiểu nhau sẽ nảy sinh những thị phi, tranh chấp, hiểu lầm.Mọi người nên thấu hiểu thông cảm lẫn nhau, để giúp đỡ lẫn nhau. Không thông cảm lẫn nhau làm sao có thể hòa bình được?
5. Thứ năm,“học buông bỏ” . Cuộc đời như một chiếc vali, lúc cần thì xách lên, không cần dùng nữa thì đặt nó xuống, lúc cần đặt xuống thì lại không đặt xuống, giống như kéo một túi hành lý nặng nề không tự tại chút nào cả. Năm tháng cuộc đời có hạn, biết buông bỏ thì mới tự tại được!
6. Thứ sáu,“học cảm động”. Cảm động là tâm thương yêu, tâm Bồ tát, tâm Bồ đề; trong cuộc đời mấy mươi năm của tôi,có rất nhiều câu chuyện, nhiều lời nói làm tôi cảm động, cho nên tôi cũng rất nỗ lực tìm cách làm cho người khác cảm động.
Nguon:DPNguyen gui

Hanh Phúc Nhờ Buông Xả

Thư viện của bài

This gallery contains 1 photo.

Có người nọ nghe nói về một đạo sư nổi tiếng nên tìm đến hỏi đạo. Đến nơi, anh thấy trong nhà của vị đạo sư trống trơn, chỉ có một cái giường, một cái bàn, một cái ghế và một cuốn sách.

Anh ngạc nhiên hỏi: “Sao nhà đạo sư trống trơn, không có đồ đạc gì cả?”

Đạo sư hỏi lại: “Thế anh có hành lý gì không?”

Anh đáp: “Dạ có một va li”.

Đạo sư hỏi: “Sao anh có ít đồ vậy?”

Anh đáp: “Vì đi du lịch nên đem ít đồ”.

Đạo sư nói: “Tôi cũng là một người du lịch qua cuộc đời này nên không mang theo đồ đạc gì nhiều”.

Chúng ta thường quên mất mình chỉ là khách du lịch qua cuộc đời này, lầm tưởng mình sẽ ở mãi nơi đây, nên tham lam, ôm đồm, tích trữ quá nhiều đồ vật, tài sản. Đàn bà thì chất chứa quần áo, vòng vàng, nữ trang. Đàn ông thì máy móc, xe hơi, ti vi, máy điện tử.

Tranh Chấp

Mỗi khi có sự tranh chấp, buồn phiền, chúng ta thường có khuynh hướng đổ lỗi cho người khác. Sau đây là ba trường hợp:

Người chưa biết đạo thì luôn cho mình đúng và người kia lỗi 100%.
Người bắt đầu học đạo, biết tu thì thấy cả hai bên đều có lỗi 50%.
Người hiểu đạo thì thấy mình lỗi 100%.
1/ Người chưa biết đạo thì luôn cho mình đúng 100%. Do vô minh và chấp ngã quá lớn, Tiếp tục đọc

CHỮ BẬU TRONG HÒ, CA DAO VÀ LỤC BÁT 

Thư viện của bài

This gallery contains 1 photo.

Nguyên Lạc

Bài viết này là bài thứ 2 trong loạt bài giới thiệu quê hương nam bộ bình dị và thân thương của chúng tôi. Đây là bài 1: Nguyên Lạc: VỀ CHỮ “BẬU”

https://wordpress.com/post/trangvhntnguoncoi.wordpress.com/38576

Trong cuộc Nam tiến, nhiều dòng người từ các nơi đã đến vùng đất mới này sinh cơ lập nghiệp, nhất là những đợt di dân từ đất ngũ Quảng (Quảng Bình, Quảng Trị, Quảng Tín, Quảng Nam và Quảng Ngãi) vào cuối thế kỷ 16 và đầu thế kỷ 17.  Trên bước đường chinh phục hoang vu, từ những chiếc ghe bầu, ghe chài, tam bản, xuồng ba lá… hành trang mang theo của những di  dân này có cả những câu ca dao để làm chỗ dựa tinh thần trên bước đường xa xứ. Lênh đênh sông nước, những hành trang tinh thần này được họ- các tiền nhân –  cách tân, sáng tác thêm cho phù hợp với hoàn cảnh mới của mình, rồi phổ biến rộng rãi. Chữ “bậu” đặc biệt của nam bộ xuẩt hiện trong ca dao. Những câu hò, điệu lý… từ những ca dao này được hình thành. Tôi xin được tiếp tục giới thiệu đến các bạn sơ lược về hò và một số bài lục bát ca dao có chữ “bậu” thân thương này.

.
SƠ LƯỢC VỀ HÒ
.
Hò là một trong những thể loại âm nhạc dân gian miền nam Việt Nam, được du nhập bởi những đợt di dân từ đất ngũ Quảng, từ vùng ngoài đưa vô vùng đất mới phía cực nam của đất nước ta.
Hò rất được ưa chuộng ở miền nam vì có sức hấp dẫn lạ thường. Chúng tôi xin tạm phân làm ba loại hò: Hò trên cạn, hò trên sông nước và hò giao duyên hay đối đáp. Tiếp tục đọc

Giàu Sang Hay Giàu Có

Thư viện của bài

This gallery contains 1 photo.

Có nhiều định nghĩa về cái “giàu”. Định nghĩa nào cũng đúng, tùy theo tâm tư / suy nghĩ / ước mơ / hoài bảo của mọi người.

10 năm trước đây, tôi định nghĩa “giàu” không phải là có nhiều tiền – mà là có… rất nhiều tiền. Nhiều tiền có nghĩa là có nhà cao cửa rộng, có xe hơi, có máy bay, có du thuyền, có… bla bla bla… Nói chung là có mọi thứ. Tôi nhìn thần tượng Bill Gate – và ước ao một ngày nào đó tôi cũng như ông ta, dù không trở thành người giàu nhất hành tinh – thì cũng là một người giàu sang quyền quý. Tôi sẽ cố gắng trở thành một nhân viên giỏi nhất, ưu tú nhất, xuất sắc nhất, có được mức lương cao nhất…

Cái “giàu” đó, bây giờ tôi gọi là “Giàu sang”.

5 năm sau, khi đọc cuốn sách “Cha giàu – Cha nghèo” (Rich dad – poor dad), trong tôi hình thành một khái niệm mới về việc đi làm công cho người hoặc làm công cho bản thân mình. Lúc đó hoài bảo về việc lập một business riêng để tự làm giàu cho chính mình cao như đỉnh Thái Sơn vòi vọi. Tôi sẽ là một người thành đạt bằng chính đôi tay, trí óc của mình. Sau ngần ấy năm đi làm, tôi sẽ xây dựng được một cái gì đó để lại sau này, chứ không phải chỉ là một thằng đi làm thuê quần quật suốt ngày.
Tiếp tục đọc

VỀ CHỮ “BẬU”

Thư viện của bài

This gallery contains 1 photo.

Nguyên Lạc 

“Bậu” là tiếng dân dã, tiếng thân yêu của vùng tây nam bộ chúng tôi. Mỗi lần nghe ai nói, hoặc gặp trong thơ văn là lòng tôi cảm thấy bồi hồi. Tiếng”Bậu” nầy hinh như bây giờ trong nước ít ai dùng, ít ai nhắc đến! Tại sao? Vì quê mùa? Tôi xin được tìm hiểu và giới thiệu đến các bạn vài bài thơ có liên quan đến chữ “Bậu” thân yêu nầy.
.
ĐỊNH NGHĨA CHỮ BẬU
.
1. Chữ BẬU trong sách vở

Trong các sách vở khi định nghĩa “Bậu”: 
– Bậu: Chữ nôm, nghĩa:  Em, mầy như chữ em bậu, bậu bạn (bạn hữu chung cùng; đi theo nhau, hôm sớm có nhau), qua bậu (Tao mầy (tiếng nói thân thiết) như lớn nói với nhỏ, chồng nói với vợ)(1)
– Bậu chỉ người nói chuyện với mình khác phái, có ý thương mến, thân mật(2) 
– Bậu chữ được dùng như tiếng “em”, tiếng gọi vợ, hoặc nhân tình, hay em bạn”(3)
–  Bậu (danh từ) (xưa): tiếng thân kêu vợ mình.(4)
(Theo Hai Trầu – Lương Thư Trung)
.
2. Chữ BẬU theo cảm xúc của thi nhân

Xin được trích đoạn ra đầy ý nghĩ, cảm xúc về chữ BẬU của thi sĩ Lê Văn Trung:
.
[… Không biết các nhà ngôn ngữ học giải nghĩa “bậu” như thế nào, tôi vẵn đinh ninh rằng : dù giải nghĩa thế nào đi nữa cũng không thể lột tả hết ý nghĩa tình cảm sâu đậm thiết tha mà đầy thương cảm của đại danh từ ngôi hai nầy. Tiếp tục đọc

Từ Saigon: Những chuyện đau lòng

Thư viện của bài

San Hà

Chuyện gây phẫn nộ ở Việt Nam hầu như ngày nào dân Việt Nam cũng phải nghe, phải chứng kiến và trong đó có cả những chuyện khiến người ta phải day dứt, xót xa…

Hơn 300 thai nhi tại bãi rác

Công ty Công Lý chủ Nhà máy rác ở Cà Mau có tờ trình cho biết vấn đề nhức nhối mà công ty gặp phải bấy lâu nay là hàng ngày, tình trạng thai nhi bị bỏ lẫn vào rác từ các nơi trong tỉnh rồichở về nhà máy.
Anh Lê Minh Cảnh – tổ trưởng tổ công nhân cho biết, khi rác gomhết về nhà máy sẽ được máy cuốc đưa lên máy nghiền xé các bao rác rồi chuyển đến băng tải để công nhân phân loại.

Các thai nhi thường được gói bằng giấy báo, đựng trong bọc ni lông đen. Cứ nhìn loại gói quen thuộc đó là biết ngay trong có thai nhi. Đa số trong tình trạng không còn nguyên vẹn. Khi đó công nhân sẽ lập tức thông báo ngưng dây chuyền để bới rác lên tìm đủ các bộ phận. Tuy nhiên vì rác nhiều và lộn xộn nên rất khó tìm đầy đủ.
Sau đó thai nhi được đưa đến khu vực bờ liếp cặp hàng rào để chôn cất. Địa điểm này khá yên tĩnh, ít có ai đến phá quấy hay đào xới. Do số lượng lớn nên công nhân phải tiết kiệm diện tích, chỉ đào một lỗ vừa đủ để bỏ hũ đựng thai nhi và lấp lại rồi đắp mộ. Qua thời gian, mưa gió khiến các mộ này cũng phẳng đi, không còn thấy rõ nữa. Hiệnđất trống của nhà máy đã hết, không còn chỗ chôn tiếp tục nhưng thiêu thì công ty không có kinh phí. Tiếp tục đọc

 Đọc Lại Biên cương hành

Cao Vị Khanh

1minhTháng 4, đọc lại Biên cương hành

của Phạm Ngọc Lư

 

Biên cương hành

Biên cương biên cương chào biên cương
Chào núi cao rừng thẳm nhiễu nhương
Máu đã nuôi rừng xanh xanh ngắt
Núi chập chùng như dãy mồ chôn
Gớm, gió Lào tanh mùi đất chết
Thổi lấp rừng già bạt núi non
Mùa khô tới theo chân thù địch
Ta về theo cho rậm chiến trường
Chiến trường ném binh như vãi đậu
Đoàn quân ma bay khắp bốn phương
Lớp lớp chồm lên đè bẹp núi
Núi mang cao điểm ngút oan hờn
Đá mang dáng dấp hình chinh phụ
Trơ vơ chóp núi đứng bồng con
Khu chiến ngày tràn lan lửa dậy
Đá Vọng Phu mọc khắp biên cương
Biên cương biên cương đi biền biệt
Chưa hết thanh xuân đã cùng đường
Trông núi có khi lầm bóng vợ
Ôm đá mà mơ chuyện yêu đương
Thôi em, sá chi ta mà đợi
Sá chi hạt cát giữa sa trường
Sa trường anh hùng còn vùi dập
Há rằng ta biết hẹn gì hơn?

Đây biên cương, ghê thay biên cương!
Núi tiếp rừng, rừng tiếp khe truông
Hãi hùng chưa trời hoang mây rậm
Mùa mưa về báo hiệu tai ương
Quân len lỏi dưới tàn lá dữ
Lá xôn xao xanh mặt hoảng hồn
Sát khi đằng đằng rừng dựng tóc
Ma thiêng còn ngán lũ cô hồn
Cô hồn một lũ nơi quan tái
Có khi đã hoá thành thú muông
Cô hồn một lũ nơi đất trích
Vỗ đá mà ca ngông hát cuồng
Chém cây cho đỡ thèm giết chóc
Đỡ thèm môi mắt gái buôn hương

Đây biên cương, ghê thay biên cương!
Tử khí bốc lên dày như sương
Đá chảy mồ hôi rừng ứa máu
Rừng núi ơi ta đến chia buồn
Buồn quá giả làm con vượn hú
Nào ngờ ta con thú bị thương
Chiều hôm bắc tay làm loa gọi
Gọi ai nơi viễn xứ tha phương?
Gọi ai giữa sơn cùng thuỷ tận?
Ai người thiên cổ tiếc máu xương?
Em đâu, quê nhà chong mắt đợi
Hồn theo mây trắng ra biên cương
Thôi em, yêu chi ta thêm tội
Vô duyên xui rơi lược vỡ gương
Ngày về không hẹn ngày hôn lễ
Hoặc ngày ta nhắm mắt tay buông
Thôi em, chớ liều thân cô phụ
Chiến trường nay lắm nỗi đoạn trường
Nơi nơi lạnh trăm dòng sông Dịch
Kinh Kha đời nay cả vạn muôn
Há một mình ta xuôi biên tái
“Nhất khứ bất phục phản” là thường!

Thôi em, còn chi ta mà đợi
Ngày về: thân cạn máu khô xương
Ngày về: hôn lễ hay tang lễ
Hề chi! buổi chinh chiến tang thương
Hề chi! kiếp cây rừng đá núi
Nghìn năm hồn quanh quẩn biên cương.

5-1972
**************

Biên cương biên cương chào biên cương
Chào núi cao rừng thẳm nhiễu nhương

Bài hành bắt đầu bằng một tiếng chào. Tiếng chào câu hỏi từ muôn đời vẫn được coi là biểu tượng của sự quen biết, thân ái, mời mọc … Có ai mà chào người dưng nước lả. Hay có ai mà gật đầu chào một kẻ thù, một đối tượng sẵn sàng nuốt sống, ăn gan, uống mật mình đâu. Vậy mà Phạm Ngọc Lư lại gật đầu, lại vẩy tay chào… mối hiểm họa đang chờn vờn ngay… trước mắt mình.

Biên cương biên cương chào biên cương
Chào núi cao rừng thẳm nhiễu nhương

Dù vậy, nguyên câu thứ nhất  bảy chữ toàn vần bằng, mà hết sáu chữ là loại phù bình thanh. Giọng ngang ngang, không cao không thấp, nghe ra cái điệu khinh khỉnh… như chào mà không chào. Chào mà không lấy gì làm thân thiết, lại như có chút gì thách đố.

Biên cương biên cương chào biên cương

 Thật ra, đã có thời, trên cái xứ sở khốn khổ của chúng ta, biên cương hay rừng núi hay thành phố hay đồng bằng, kể cả chợ búa hay trường học… đã có gì khác nhau đâu. Tất cả đã được người ta biến thành mọi bãi chiến trường. Ở đâu, bất cứ lúc nào cũng có thể là trận địa, một khi lòng người đã bị nhuộm đỏ bằng sự cuồng tín và ngụy trá. Nghĩ vậy rồi, đọc lại câu mở đầu bài Biên cương hành mới nhận ra được hết sự cay đắng, niềm xót xa của một kẻ sĩ trót sanh nhằm-thế-kỷ.

 Ông tới đó, Củng sơn, một thị trấn hẻo lánh nằm dạt về phía biên giới Lào, nơi mà máu-đã-nuôi-rừng-xanh-xanh-ngắt-núi-chập-chùng-như-dãy-mồ-chôn.

Hình dung một thế đất, bốn phía rừng núi vây quanh, chướng khí mù mịt, gió Lào thốc tháo, mà mỗi thân cây đã được vun phân bén gốc bằng máu me xương thịt của bao nhiêu trai trẻ được xua tới đó để giết người hoặc bị người giết. Điệp tự xanh-xanh ( ngắt )sẽ tính ra bằng bao nhiêu cân lượng của bao nhiêu nấm mồ ( kể cả không có được một nấm mồ ) để dựng lên một phong cảnh núi rừng toàn bích !

Thử nghĩ coi, bài thơ được ghi làm vào tháng 5 năm 1972, lúc ông vừa 26 tuổi. Năm 72, mà trong bất cứ trí nhớ dù đã quá sức mòn mỏi của những người Việt miền nam vẫn chưa bao giờ quên được. Cái gọi là chiến dịch xuân hè, người miền bắc xua đại quân vượt sông Bến Hải, xé bỏ hiệp định Genève, công khai đánh phá khắp nơi. Bình Trị Thiên. Kontum. Peiku. Bình Long. An Lộc… trọn phần đất ở phía nam vĩ tuyến 17 chìm trong đạn pháo mịt mù. Lính tráng hai bên, dân lành vạ lây chết oan như rạ. Năm đó Phạm Ngọc Lư hai mươi sáu tuồi. Và ông cảm khái làm hành Biên cương.

Tuổi hai mươi, lứa tuổi vừa hết non nhưng chưa đủ dạn dày, lứa tuổi sắp sửa cho một lên đường hướng tới những phương trời cao rộng. Vậy mà người thanh niên đó đã bị chặn hết mọi ngỏ ngách, mọ̣i hy vọng đã bị dìm chết, mọi dự phóng đã bị bóp nghẹt … bằng đủ thứ dã tâm ác ý nhằm dồn đẩy cho được tuổi trẻ bước lọt vào con đường một chiều … con đường sinh tử.

Người thi sĩ đó, lớp tuổi trẻ đó đối diện tương lai mình với tâm trạng cay đắng cùng cực. Vậy còn lạ không khi ông viết

Biên cương biên cương chào biên cương
Chào núi cao rừng thẳm nhiễu nhương
Máu đã nuôi rừng xanh xanh ngắt
Núi chập chùng như dãy mồ chôn

 Lời chào như một tiếng cười mỉa, hay bi tráng hơn, một tiếng cười gằn, phẩn uất… của một kẻ giác đấu bị đưa ra đấu trường mà mọi vòng thành đã bít kín. Nghĩa là không có mảy may một chọn lựa nào khác. Hoặc chết. Hoặc sống. Chết ! Hết chuyện. Sống ? Đã hẵn là may mắn chưa sau khi mặt mày đã nám khói đạn bom, sau khi ngón tay trỏ đã tê điếng vì siết cò súng tới rướm máu ? Câu hỏi trở nên vấn nạn bậc nhất cho cuộc chiến tranh tương tàn đó.  Người thanh niên miền nam nước Việt sinh ra và lớn lên được nuôi dạy trong tinh thần khai phóng, nhân bản và dân tộc. Họ được dạy dỗ yêu nước thương nòi, quí trọng đồng chủng cùng giòng máu đỏ da vàng, họ được uốn nắn theo tinh thần nhân nghĩa ngay từ thưở còn ê a đánh vần từng chữ cái. Huyền thoại cái-bọc-trăm-con đã được giảng dạy hết sức ân cần để in sâu vào ý thức họ ngay từ buổi khai tâm. Lớn lên, hít thở không khí tự do – dù có còn hạn chế, họ vẫn có cơ hội tiếp xúc với mọi trào lưu tiến bộ của nhân loại về mọi mặt. Từ đó, tâm hồn họ trở nên giàu có, phóng khoáng, nhân bản … biết bao nhiêu. Do vậy, khi phải đối đầu với kẻ thù cùng màu da rõ ràng là một thách đố quá bất công và bất nhân của định mạng. Nghĩ lại coi, có phải. Bắn một viên đạn vào kẻ bên kia chiến tuyến là một việc làm chẳng đặng đừng trong khi lòng họ băn khoăn hết sức. Phía bên kia, ngược lại trăm phần. Lịch sữ đã chứng minh triệu triệu điều như vậy.

Bởi vậy khi đối diện với thực tại của cuộc chiến tranh tương tàn đó người thanh niên miền nam, người thi sĩ đó còn thái độ nào khác ngoài sự chấp nhận nó một cách… chua chát đến ngậm ngùi.

Biên cương biên cương đi biền biệt.
Chưa hết thanh xuân đã cùng đường.

Trọn bài hành là một cực tả về tính chất vô lý đến bi đát của cuộc tranh giành xương máu đồng loại vừa qua, trải ra từ trái tim của một kẻ có lòng. Cái tuyệt vời là trong suốt 66 câu 7 chữ không có một chỗ nào để lộ ra sự phẩn nộ. Dù là người trong cuộc, chịu chung kiếp hẩm hiu, ông làm thơ với giọng điệu bi tráng, khẩn thiết mà trầm tỉnh, đau đớn mà không bi lụy. Cho nên dù âm điệu của bài thơ rất trung tính, người ta vẫn nghe ra từ đó tiếng kêu trầm thống của cả một dân tộc bị đọa đày, bị cấu xé, bị giành giựt đến tang thương bởi chính những kẻ cùng chung một nguồn gốc tổ tiên !!! Chữ chở nghĩa trọn tình, từ tốn mà thâm trầm hết mực. Ông không tả cảnh núi rừng mà thấy núi rừng phủ chụp như thiên la địa võng. Ông không tả cảnh sát phạt mà nghe ra như súng nổ đạn bay. Đọc thơ mà tai như nghe ù ù gió thổi, tưởng đâu hồn tử sĩ bay vật vờ trên bãi chiến còn úng khói.

Đây biên cương, ghê thay biên cương
Tử khí bốc lên dày như sương
Đá chảy mồ hôi rừng ứa máu

Trong bất cứ một cuộc chiến tranh nào rồi cũng sanh ra kẻ hèn nhát, người anh hùng. Nhưng cuộc chiến đó, qua hồn của kẻ sĩ làm thơ, không có mảy may vinh quang, mà chì rặt có điêu tàn. Không có người thắng kẻ bại mà chỉ rặt có nạn nhân. Những nạn nhân bị ném ra đất chết như vãi-đậu. Cái chữ nôm na mà ôi sao ai oán ! Vãi đậu. Còn chữ nào tượng hình hơn cho cái chiến-thuật-biển-người đem nướng con đen trong lửa đỏ. Lính tráng được xô ra bãi chết như một lũ hình nhân được cắt bằng giấy không biết vui buồn, không có yêu thương hờn giận. Chỉ là một lũ hình nhân vô tri vô giác trong tay đám phù thủy núp kín dưới tầng tầng công sự, bị ném ra như vãi đậu để giành giựt cho được thứ tham vọng ngông cuồng. Nỗi cay đắng cùng cực của kẻ sĩ Phạm Ngọc Lư thể hiện rõ ràng trong hai chữ cho-rậm, ta về theo cho rậm chiến trường. Cho rậm, rậm đám … người ta hay nói vậy. Nhưng thường nói trong những cuộc vui. Ở đây, giữa cuộc chiến, lấy gì vui mà về-cho-rậm-đám. Nếu không phải  một nỗi bi phẩn cùng cực của một tâm hồn hết sức nhạy cảm trước nỗi bất lực của mình khi thấy chuyện bất nhân bày ra hằng giây hằng phút trước mắt mình. Ôi người thi sĩ tội nghiệp giữa một thời vô đạo. Người thi sĩ đó, kẻ đã được nuôi dạy trong không khí hoa lệ của văn học cỗ điển, với những hồn thơ nhân bản tuyệt vời của một thuở Đường thi lộng lẫy đã đem cái phong cách trang trọng của thơ xưa vào thơ mình. Chữ nghĩa của ông cỗ kính mà nhẹ nhàng, kinh điển mà phóng túng khiến cho bài hành vừa có vẻ xa xôi trang trọng mà lại gần gũi với người trong cuộc biết mấy. Bằng phong độ của một bậc thức giả và nghệ sĩ, ông đã phóng tầm mắt xuyên suốt cõi địa chấn để nhìn thấu qua rừng núi, cỏ cây, đất đá, đạn bom… cái bị che át bởi tiếng nổ, bị chôn vùi bởi đất đá cày xới, bởi đường mật tuyên truyền, bởi rù quến chủ nghĩa… cái thực ở đằng sau mọi giả trá, cái còn lại sau những nát tan… Ông đã thấy đằng sau những núi non trùng điệp bị nổ tung vì đạn mìn, đằng sau những thét gào say máu giữa khói súng và ánh thép loang loáng của dao găm, ông đã thấy ra cái không gian lặng ngắt sót lại, đã nhìn ra cái hình ảnh lạnh lẽo sau cùng, đã nghe ra tiếng kêu gào vô thanh của những… cô hồn, thêm nữa tiếng khóc lặng lẽ nuốt ngược vào lòng của những… cô phụ.

Đá mang dáng dấp hình chinh phụ
Trơ vơ chớp núi đứng bồng con
Khu chiến ngày tràn lan lửa dậy
Đá vọng phu mọc khắp biên cương

Ông ta thấy rõ ràng như một với một là hai, mà có phải ai cũng thấy ra những hồn oan vất vưởng, hay nghe ra tiếng đời vô vọng đó.

26 tuổi. Đã đủ già chưa để cằn cỗi. Đã hết mơ mộng chưa để chai đá. 26 tuổi. Cái tuổi như hoa mới hết thời hàm tiếu mà chưa tới lúc mãn khai. Vậy sao nhìn ra chỉ thấy cái điêu tàn. Cái tuổi lẻ ra đang trên bệ phóng để nhắm tới tương lai. Cái tuổi đã được chuẩn bị để dành cho những hẹn ước. Vậy mà sao gần như con đường trước mặt đã bị phong tỏa kín bưng đến nỗi không dám nghĩ tới cả một lời hẹn ước.

Thôi em, sá chi ta mà đợi
Sá chi hạt cát giữa sa trường
Sa trường anh hùng còn vùi dập
Há rằng ta biết hẹn gì hơn ?

Thương cảm và trân quí biết bao nhiêu tâm hồn thi sĩ đó. Ông làm thơ không phải cốt để tả cái chon von của núi cao, cái thăm thẳm của rừng già, cái hiểm hóc của hang động, cái ngặt nghèo của đèo cả, ông làm hành để nói lên cái oan nghiệt của chiến tranh, cái chờ đợi vô vọng của những người cha người mẹ có con cái bị xua vào chỗ chết, của những người con gái có tình nhân thất hẹn, của những người vợ có chồng bị ném như vãi đậu vào cuộc bắn giết hung tàn. Bài hành như một dấn thân vào phía mặt thật của chiến tranh bị che giấu, bị tô vẻ bằng những ngôn từ hoa mỹ. Ở phía đó, hoàn toàn không có gì hết, không tiếng gầm của bom đạn, không có tiếng thét của trái tim búng máu, không có tiếng la của da thịt rách nát… Ở đó là một sự im lặng tuyệt cùng, im lặng tuyệt đối. Ở đó là tiếng kêu không vuột ra được khỏi hai bờ môi. Ở đó là cặp tròng ráo hoảnh không còn đủ một giọt nước mắt chảy xuôi. Ở đó là cái lỗ trống khủng khiếp của người mẹ mất con, của người vợ mất chồng, của đứa con mới lọt lòng đã mất cha… Cái thấy của ông khác với cái thấy của những bản tin chiến sự, khác với cái thấy của xảo ngôn ra rả trong những tuyên ngôn tuyên cáo. Cái thấy của ông là cái thấy của con-mắt-trông-thấu-cả-sáu-cõi*. Thơ của ông được làm ra từ những-giọt-máu-chảy-ở-đầu-ngọn-bút *. Cho nên, mỗi năm đến tháng tư, lục ra đọc lại Biên Cương Hành lại nghe như có giọt nước-mắt-thấm-trên-tờ-giấy* khi người thi sĩ ấy vẩy bút làm thơ…

Quả vậy, nói được gi thêm nữa. Hành được làm bằng hết tài hoa bút mực và tấm lòng mẫn cảm đến muôn đời. Hồn thi sĩ rướm những giọt máu còn rây rớt trên từng ngọn cỏ lá cây, trây trét trên đất đá vô tri, từ mươi năm trước, từ hôm qua, mà hôm nay, mà ngày mai… vẫn tiếp tục thấm máu của bao nhiêu trai trẻ bị xô đẩy tới đó để tiếp tục giết nhau, giết nhau tận tình như những kẻ cuồng sát dù trong lòng họ không thiếu nỗi bi thương.

Cho nên, ở đó giữa núi rừng cô tịch, ông thấy từng đoàn cô hồn kéo đi lũ lượt. Những cô hồn giận dữ !

Cô hồn một lũ nơi đất trích
Vỗ đá mà ca ngông hát cuồng
Chém cây cho đỡ thèm giết chóc
Đỡ thèm môi mắt gái buôn hương

Rừng núi cô tịch có gì vui sao kéo nhau vào đó mà tan thây nát thịt. Có nghe chăng tiếng hát ngông cuồng bi thiết của lũ người bị lừa gạt bị dụ dỗ bị mê hoặc mà ném thân vào hiểm địa làm mồi cho súng đạn vô tình. Ai nghe được tiếng kêu uất hận đó ngoài người thi sĩ đang độ tuổi đôi mươi. Và ai ngoài ông để cảm thông được nỗi ai oán của những người trẻ chết trận mà chưa một lần được nếm chút hạnh phúc trần gian. Chữ nghĩa được chọn lọc tinh tế mà không lộ chút kỷ xảo. Phạm Ngọc Lư đã sống tận tình kiếp sống của người trong cuộc. Hẵn, ông đã không ngại dấn mình vào chỗ thâm sơn cùng cốc đó để nghe cây rừng rùng mình, đề nghe đất đá run rẩy… sau mỗi bận súng đạn gầm thét. Mà chắc phải vậy, phải tận mắt cảnh núi lở đèo nghiêng, đất đá nát ngấu, rừng cháy tan hoang bỏ trơ cây cối cụt đầu, hầm hố chằng chịt … mới cảm ra được sức tàn phá đó nổ banh trên thịt xương người ra sao, mới nhận ra được lửa nướng cháy da người khét lẹt thế nào, mới nghe được tiếng kêu thất thanh xé ruột làm sao khi lưỡi dao bén ngót đâm lút vào thân xác. Phải ở đó, mới nghe ra được tiếng gọi từ thăm thẳm của cả một lớp trẻ đương tuổi yêu đời yêu người mà bị bức tử đoạn đành.

Chiều hôm bắt tay làm loa gọi
Gọi ai nơi viễn xứ tha phương ?
Gọi ai giữa sơn cùng thủy tận ?
Ai người thiên cổ tiếc máu xương ?

Tiếng gọi u uất nghe đến nát lòng. Mà rồi tiếng gọi cũng chỉ rơi vào cõi vô vọng. Như triệu triệu tiếng kêu đòi khác, vẫn rền rĩ, từ tiếng súng đầu tiên phát nổ …

Chẳng vậy, mà hơn 40 năm qua, vẫn còn nguyên tiếng gọi giải oan cho bao nhiêu người đã chết, chết mà không biết vì sao mình chết, chết mà lịch sử bị đẩy cho quay ngược lại vòng quay, mà đất nước đi ngược lại chiều tiến bộ, mà năm này sang năm khác, đất nước trở lại y nguyên cái tình trạng từ thời người ta xua con trẻ đi làm chuyện … giải phóng.

Hãy đọc lên thành tiếng thêm một lần, 6 câu cuối của bài thơ để nghe lại hết nỗi oan khiên của nguyên mấy thế hệ bị hy sinh cho một chủ nghĩa bất cận nhân tình. Đọc lên thành tiếng để nghe dội lại tim ta tiếng kêu thương của từng lời kinh khổ

Thôi em, còn chi ta mà đợi
Ngày về: thân cạn máu khô xương
Ngày về: hôn lễ hay tang lễ
Hề chi ! buổi chinh chiến tang thương
Hề chi ! kiếp cây rừng đá núi
Nghìn năm hồn quanh quẩn biên cương.

Hai mươi mấy tuổi đời của những năm 60, 70 … hay xa hơn nữa từ những năm 30, 40, 50 … thử nghĩ lại, đã có khi nào, trên mảnh đất gầy còm hình chữ S, mà tuổi trẻ Việt Nam được sống yên lành đề dự phóng tương lai cho chính mình và đồng loại mình. 6 câu thơ cuối, Phạm Ngọc Lư làm cho ông, cho thế hệ ông và cho cả bao nhiêu người tuổi trẻ trước ông, kể từ khi có một lũ người đi vay mượn thứ chủ nghĩa ngoại lai và không tưởng đem về bày trò giết chóc đề̉ áp đặt lên quê hương. Từ đó, súng nổ, dao đâm, dìm nước thả trôi sông… từ đó, tang thương… từ đó, đoạn trường… từ đó…

Thôi em, còn chi ta mà đợi
Ngày về: thân cạn máu khô xương

Từ đó một hẹn thề là trăm lỗi hẹn, có một hạt giống gieo là đã cả vườn cây cháy rụi, một đứa bé ra đời là đã bao nhiêu trai trẻ bỏ xác góc núi bìa rừng. Bởi vậy, đến một lúc, ngay cả đương tuổi thanh xuân, người ta cũng bỏ mặc buông xuôi, như thể mọi vẫy vùng đều vô ích, mọi phản kháng đều bất khả.

Hề chi ! buổi chinh chiến tang thương
Hề chi ! kiếp cây rừng đá núi

Hề chi ! Sá chi ! Mặc kệ ! Những tán thán từ người ta chỉ dùng đến khi bị dồn vào đường cùng. Ờ , mà tuổi trẻ Việt Nam thời đó, thời của những biên cương rào kín lòng người, thời của súng đạn ngoại bang được nhét vào tay, thời của mắt bị bịt kín… rồi bị xô bị đẩy bị lùa từng đoàn từng lũ vào eo chết thì… nếu không … hề chi, sá chi… thì cũng có làm gì hơn được !

Hề chi ! kiếp cây rừng đá núi
Nghìn năm hồn quanh quẩn biên cương

Hề chi ! Hề chi ! Tán thán tự được lập lại hai lần phải chăng để hình dung hai cánh tay buông xuôi, bỏ mặc, khi người ta đã ở chỗ cùng đường, tuyệt lộ.

Biên cương hành. Đọc lại mà sống lại cùng ai nỗi đoạn trường !

Chính vì vậy, mươi năm trước đọc qua đã ngậm ngùi, bây giờ đọc lại còn nguyên cơn đau thắt ruột với vẫn nguyên nỗi cảm phục nét tài hoa tót chúng. Rõ ràng, đọc lại Biên Cương Hành, thấy nguyên vẹn nỗi oan ức của hàng đoàn hàng lũ cô hồn cô phụ đi vất vơ cạnh bên phía lề oan trái của lịch sử.

Hành. Loại thơ sủng ái của những bậc tài tình thiên cổ lụy. Chữ cuồn cuộn như nước đổ trường giang. Ý tiềm ẩn như rồng thiêng thấy đầu mà không thấy đuôi. Chính vì loại thơ vừa lề luật vừa phá thể khiến cho người làm thơ mặc tình phóng bút.

Trong tay bậc tài hoa, hành làm … thốn tâm thiên cổ.

Cho nên, đọc hành làm sao mà không thấy dạ mang mang. Nay-đời-xa-người-khuất, đọc hành Phạm Ngọc Lư như thấy lại lòng mình, làm sao không cảm khái đến trăm nỗi xót xa. Xót xa cho đời. Xót xa cho người.

Xót xa cho vận nước.

Hành. Đổ Phủ. Bạch Cư Dị. Lý Bạch … Rồi Thâm Tâm. Nguyễn Bính. Thanh Nam. Tô Thùy Yên. Viên Linh… Và Phạm Ngọc Lư.

Vâng. Và Phạm Ngọc Lư.

 
Cao vi khanh
*như một lời đã hứa
tháng 4-2018

* chữ của Mộng Liên Đường chủ nhân

Passersby of the Resurrection

Deacon Steve Haut

Two weeks ago, I was invited to speak at the weekly gathering of WINGS (Women in God’s Friendship) on the Lenten topic of the Journey to Calvary.  I chose to introduce the topic with the story from the fifth station of the cross, the story of Simon of Cyrene.

Simon was possibly on a once in a lifetime Passover pilgrimage to Jerusalem from his hometown in Libya.  Most likely, he was also minding his own business making only passing notice of the sad procession of three criminals being led to the hill of Calvary to be crucified.

Suddenly, one of the soldiers grabbed him and forced him to carry the heavy cross for the most abused and feeble of the condemned.  The political impact of this horrific execution would be lost if the criminal died before the terrible ordeal was accomplished.  So, Simon, a passerby, is reluctantly impressed to get this man to the hilltop where he will die.

Now let’s jump ahead to Easter.  In fact, let’s reflect on the afternoon reading of Easter Sunday, the famous afternoon encounter of Jesus with travelers, disciples, returning to Emmaus from Jerusalem.  Emmaus was a small town probably located about six miles outside Jerusalem so it was a short two hour walk.

This was probably a group of disciples, disheartened and distressed.  Only Cleopas is named but surely his wife (one of the women who remained at the cross was also there).

As they walked and tried to sort out the wrenching events of the past couple of days, they encountered another passerby on the road.  He joined them and readily entered the conversation.

To their amazement, he explained why the Messiah had to endure this ordeal but they were restrained from actually recognizing this passerby as Jesus Himself.  Jesus was invited to stay with them since it was evening.  Later, as they sat at the dinner meal, Jesus broke bread and distributed it and as the Gospel says, “their eyes were opened,”

In our busy hustle bustle world where we often have our eyes fixed on an iPhone screen, we may not notice others as we pass by each other.  Or we just prefer to watch, not participate.  Both Simon and Cleopas’ group failed to recognize the significance of what was going on around them because they were simply passersby.  We are not isolated individuals; we are social community-oriented creatures whose hearts burn for companionship, affirmation, and love.  Jesus came to offer that.

Christians are not called to be passersby.  This week, consider how we can break the habit of just being passersby.

(FYI:  Simon of Cyrene is the patron Saint of Passersby)

Deacon Steve Haut

Cũng Vẫn Là Một Chuyện Tình

NGUOI-GIA

Ngày đẹp trời, một cặp vợ chồng khoảng trên 60 tuổi đến văn phòng luật sư. Họ muốn làm thủ tục ly hôn.

Lúc đầu vị luật sư vô cùng ngạc nhiên, nhưng sau khi nói chuyện với đôi vợ chồng, ông đã hiểu đầu đuôi câu chuyện. Trong 40 năm chung sống, cặp vợ chồng này luôn cãi nhau và dường như chẳng bao giờ quyết định gì cho đúng đắn. Họ chịu đựng nhau đến bây giờ là vì các con. Bây giờ con cái của họ đã lớn, đã có gia đình riêng, nên hai vợ chồng già không còn điều gì lo lắng nữa. Họ muốn được tự do sau những năm tháng dài không hạnh phúc. Cả hai vợ chồng đều đồng ý ly hôn. Hoàn tất thủ tục ly hôn cho cặp vợ chồng này là điều không dễ vì tình sâu nghiã nặng.

Vừa ký xong giấy tờ, người vợ già vừa nói với chồng: “Tôi thực sự yêu ông, nhưng tôi không thể chịu đựng hơn được nữa. Tôi thành thật xin lỗi”.
“Không sao, tôi hiểu.”, ông chồng già đáp lại.
Nhìn cảnh này, ông luật sư đề nghị mời hai vợ chồng một bữa cơm tối. Người vợ trả lời: “Sao lại không? Dù ly hôn, ta vẫn sẽ là bạn cơ mà”.
Bên bàn ăn, bầu không khí im lặng, nặng nề đến khó thở.
Món ăn đầu tiên được mang ra là món gà quay. Người chồng lập tức gắp một miếng đùi gà cho vợ: “Bà ăn đi, đây là món bà ưa thích.” Nhìn cảnh này, vị luật sư nghĩ “vẫn còn cơ hội cho họ hàn gắn lại”. Không ngờ người vợ cau mày, đáp lại: “Đây là vấn đề. Ông luôn chủ quan quá nên không bao giờ hiểu được tư tưởng của tôi. Ông không biết tôi ghét đùi gà chừng nào à?”

Điều người vợ không nhìn thấy được là trong bao nhiêu chung sống, người chồng luôn luôn cố gắng làm vui lòng bà, dù là người thiếu nhận xét hay khéo léo. Bà không biết là đùi gà là món yêu thích nhất của ông, cũng như ông không biết bà ghét đùi gà. Dù ông chỉ muốn dành những miếng ngon nhất theo khẩu vị của ông, nhường những thứ tốt nhất cho bà, bà chưa bao giờ cảm nhận được là ông hiểu bà.

Đêm hôm đó, cả hai ông bà đều không ngủ được. Sau nhiều giờ trằn trọc, người chồng không thể chịu đựng nỗi nhớ nhung nữa. Ông hiểu rằng ông yêu bà và không thể sống thiếu bà. Ông muốn van bà quay trở lại làm vợ chồng. Ông muốn xin lỗi, muốn nói “Anh yêu em” thật nhiều. Ông nhấc điện thoại lên và bấm số của bà. Tiếng chuông reo không ngừng, nhưng bà không nhấc. Ông lại cố gắng bấm máy, suốt tối.

Đầu bên kia, bà vợ cũng rất buồn. Bà không hiểu điều gì đã xẩy ra trong những năm tháng sống cùng nhau. Sau 40 năm, ông ấy vẫn chẳng hiểu bà. Bà vẫn yêu ông nhưng bà không thể chịu đựng cuộc sống tẻ nhạt như thế nữa.

Mặc cho chuông điện thoại reo liên hồi, bà không thèm trả lời, dẫu biết rằng người gọi là ông. Bà tự nghĩ: “Nói làm gì nữa khi mọi chuyện đã xong xuôi hết rồi. Mình quyết định ly hôn mà. Bây giờ đâm lao thì phải theo lao, nếu không mất mặt lắm”. Chuông điện thoại vẫn cứ reo rồi bà quyết định tháo dây điện thoại ra. Trong khi đầu bận suy nghĩ rối bời , bà quên bẵng đi là ông bị đau tim…

Sáng hôm sau, bà nhận được tin ông qua đời. Như một người mất trí, bà lao thẳng đến căn nhà của ông, để nhìn thấy thân thể ông trên chiếc divan, tay vẫn giữ chặt máy điện thoại. Ông buồn bã, thất vọng suốt đêm khi bà không cho cơ hội tỏ nỗi lòng và tim ông đã buông suôi. Bà đau đớn vì hối hận. Một cảm giác mất mát quá lớn bao trùm lấy tâm khảm bà.

Khi thanh toán tài sản của ông, bà tìm thấy trong ngăn kéo một hợp đồng bảo hiểm ông ta đã mua cho bà, từ ngày họ cưới nhau. Kèm vào đó, là một lá thư: “Gửi người vợ thân yêu của anh. Lúc em đọc lá thư này, chắc hẳn anh không còn trên cõi đời này nữa. Anh đã mua bảo hiểm này cho em, anh hy vọng nó có thể giúp anh thực hiện lời hứa của mình khi chúng ta lấy nhau. Đến khi anh không còn ở bên cạnh để chăm sóc cho em nữa thì mong số tiền này có thể giúp anh tiếp tục đùm bọc cho em. Đó là điều anh ước nguyện sẽ được làm suốt cuộc đời anh. Anh sẽ mãi mãi bên em và yêu em thật nhiều”.

Nước mắt bà tuôn chảy hai hàng. Bà cảm thấy yêu ông hơn bao giờ hết. Bà muốn nói vạn lời xin lỗi, muốn nói ngàn lời yêu thương nhưng ông không còn nghe được nữa.

Sưu tầm

Việt Nam, Thiên Đường Của “Tự Do”

Thư viện của bài

This gallery contains 1 photo.

 Mạnh Kim

Việt Nam đang trở thành thiên đường của tự do. Đây là nơi mà một người có thể tự do đâm chết bạn gái trước sự chứng kiến của cảnh sát. Đây là nơi học sinh không chỉ được tự do đánh nhau mà có thể đánh thầy. Đây là nơi người ta có thể tự do cưỡng hiếp trẻ em mà không bị vào tù…
Khi đi chợ, bạn tùy ý mua bất cứ gì bạn thích và người bán thì tự do bơm bất kỳ gì vào thực phẩm mà không bao giờ sợ bị “quản lý thị trường” phạt. Khi vào bệnh viện, bạn được tự do nằm ở bất cứ nơi nào có thể, từ gầm giường đến hành lang. Con của bạn cũng được tự do biến thành “vật thí nghiệm” cho các loại vắcxin gây chết người mà chẳng ai chịu trách nhiệm. Trong thế giới tự do này, ý thức trách nhiệm được thả bay bổng tự do hoàn toàn. Ở Việt Nam, trẻ đến tuổi đến trường vẫn có thể được tự do nghỉ học đi bán vé số. Khi đi học, con của bạn được tự do chửi thề, tự do đánh nhau; thầy cô cũng được quyền tự do tra tấn hành hung con bạn. Nếu không thích những điều đó, bạn có toàn quyền tự do chuyển sang trường khác, miễn bạn có đủ tiền để “chạy”. Không chỉ chạy trường, bạn cũng có thể chạy điểm mà không bao giờ lo danh tánh bạn hoặc con bạn bị tiết lộ. Chạy chức còn tự do làm được thì chạy trường hoặc chạy điểm chẳng phải là chuyện lớn. Tiếp tục đọc

Về Thu Xếp Lại (5, tiếp theo và hết)

Thư viện của bài

This gallery contains 1 photo.

Đỗ Hồng Ngọc

9. Trời cao đất rộng một mình tôi đi…

“Đời như vô tận, một mình tôi về,
Một mình tôi về với tôi…”

(TCS)

Ở một nơi không có thời gian, không có không gian, không còn ngã, nhân, chúng sanh, thọ giả gì nữa cả, thì nơi đó chính là Chánh định (Samadhi). Thiền là “kỹ thuật” để đạt tới chánh định.

Bí quyết thực hành căn bản nằm ở Tứ niệm xứ (Satipatthana), bốn lãnh vực quán niệm. Có rất nhiều phương pháp hướng dẫn cụ thể trong Tứ niệm xứ. Nhưng tôi chỉ chọn một phương pháp đơn giản nhất nhưng cũng sâu sắc nhất, khoa học, sinh lý học đúng đắn nhất, không sợ “tẩu hỏa nhập ma” lúc thực hành. Đó là Anapanasati: Quán niệm hơi thở (Nhập tức xuất tức niệm/ An-ban thủ ý). Chỉ cần niệm (nhớ, nghĩ) hơi thở vào hơi thở ra… đủ “thấy biết” kiếp người chỉ nằm trong từng hơi thở đó. Người ta cứ sống chết mỗi phút giây như vậy mà chẳng biết. Khi niệm, tức nhớ nghĩ đến cái thở, cái sống cái chết thì thấy… thì ra ai cũng như mình, cũng hít thở như mình, rồi cũng… chết ngủm như mình. Tất cả các sinh vật đều vậy. Từ đó mà có Từ, có Bi. Từ Khí đã chuyển thành Trí. Anapanasati là đã đủ để thực hành (Ana: thở vào; Apana: thở ra; Sati: niệm), nhưng theo tôi cần để ý đến một điểm quan trọng khác nữa. Đó là khoảng trống – một quãng lặng – ở giữa lúc thở ra mà chưa thở vào. Nó thực sự là một quãng “chết” (không thở). Để cho dễ nhớ trong thực hành, tôi đặt tên nó là “Pranasati” (Pra=trước; Ana=thở vào; Sati=niệm). Trước thời thở vào có nghĩa là sau thời thở ra. Thở ra vĩnh viễn mà không thở vào nữa chính là cái chết. Đặt niệm vào quãng lặng đó để “thấy biết” (cảm nhận) một cái chết ngắn. Như là một sự “tập chết”. Trở về thời bào thai trong bụng mẹ. Ở đây là mẹ Như Lai, “bào thai Như Lai”. Loài người có trí thông minh vượt trội là nhờ vỏ não phát triển, với hàng trăm tỷ tế bào thần kinh, hàng trăm nghìn tỷ tỷ các mối nối… dày đặc nhưng sự điều hành hô hấp của ta lại không nằm ở vỏ não. Nó nằm ở hành tủy, dưới vỏ não. Các trung khu hô hấp nằm ở đó, điều hành sự thở. Vì thế mà dù vỏ não không hoạt động (ngủ, hôn mê…) thì sự thở (hô hấp) vẫn được duy trì. Khi tập trung (sati) vào hơi thở là ta đã giải phóng cho vỏ não được nghỉ ngơi! “Tâm an” nhờ đó. Tiếp tục đọc

Mỉm cười để đón nhận tất cả

baby cuoi

Khi tất cả mọi chuyện đau buồn đổ lên đầu bạn, hãy mỉm cười để đón nhận nó, vì chỉ có như thế, bạn mới có thêm dũng khí để bước tiếp con đường đời mà mình đã chọn… Khi có một chuyện thật vui đến với bạn, hãy mỉm cười để đón nhận nó, để niềm vui, niềm hạnh phúc được nhân đôi, để mọi người có thể vui cùng niềm vui của bạn…

Khi có một ai đó rời xa cuộc đời của bạn, hãy mỉm cười để chia tay họ, vì dù cho đó là một cái kết thúc vui hay buồn, thì nó cũng là một cái kết thúc, và ngay sau nó là một khởi đầu mới cho cả hai người, mỉm cười để chúc cho cái khởi đầu ấy sẽ thật tươi sáng và vui vẻ…

Khi có một ai đó đến với cuộc đời bạn, hãy mỉm cười để chào đón họ, để chúc cho tình cảm giữa hai người sẽ thật tốt đẹp, để họ sẽ không bao giờ phải nói lời chia tay với bạn như bao người trước đo’…

Khi bạn đánh mất niềm tin vào một người nào đó, hãy mỉm cười để chấp nhận điều ấy. Ai cũng là con người, cũng có lúc sai lầm, có lúc vấp ngã, và hãy mỉm cười để biết rằng mình   đã hiểu họ thêm một phần

Khi bạn cảm thấy quá mệt mỏi vì cuộc sống, hãy mỉm cười để cảm nhận tình yêu mới sẽ lại đến với mình. Bạn sẽ không thể đón nhận tình yêu cuộc sống khi trong lòng bạn ngập tràn trong thù hận hay đớn đau. Và một nụ cười sẽ xoá đi tất cả…

Khi bạn chợt nghĩ về tương lai mù mịt phía trước, và bạn không biết cuộc đời bạn sẽ đi về đâu, hãy mỉm cười để cho mình một phút hy vọng. Mỉm cười để nhận ra rằng chúng ta có cả một ngày hôm nay để chuẩn bị thật tốt cho ngày mai, hãy sống thật tốt, thật hạnh phúc, vì chẳng ai dám chắc mình còn có ngày mai…

  Khi việc bài vở làm bạn chán ngán, hãy mỉm cười để giúp mình thư giãn một chút. Vì chẳng phải ai cũng là thiên tài cả. Và một nụ cười sẽ không phải là quá xa xỉ để thư giãn…

hoano

 Khi tình yêu không đến với bạn, hãy mỉm cười để chào tạm biệt nó. Vì đơn giản là tình yêu đó chưa chọn bạn để ở lại mà thôi. Và dù cho người bạn yêu không đáp lại tình cảm của bạn, thì bạn cũng hãy mỉm cười vì biết rằng trong trái tim bạn đã có nó rồi…

  Khi trái tim bạn tràn đầy nước mắt, khi mỗi bước chân của bạn rỉ máu vì những mũi gai, hãy mỉm cười để cho mình thêm một chút dũng khí, để vững tin bước đi trên con đường đời phía trước. Và ít nhất thì mỉm cười để làm chỗ dựa cho người khác khi họ lâm vào hoàn cảnh như bạn, mỉm cười để không ai phải buồn khổ như ta nữa…

Khi mỗi ngày mới đến với cuộc đời bạn, hãy mỉm cười để cảm ơn cuộc đời đã cho bạn thêm một ngày để được yêu thương, để có thêm thời gian nói với những người bạn yêu quý rằng bạn dành cho họ nhiều tình cảm đến mức nào…

Khi bạn gặp một vấn đề thật khó khăn để giải quyết, hãy mỉm cười để giữ cho tinh thần mình được bình tĩnh. Và như thế vấn đề sẽ dễ hơn trước nhiều…

Khi một người nào đó đang buồn và muốn tâm sự với bạn, hãy mỉm cười với họ để cho họ thêm một chút niềm tin vào cuộc sống. Những người không thể cười là những người cần nụ cười hơn bao giờ hết.

Sưu tầm

FRANÇOISE SAGAN VÀ NỖI BUỒN

Thư viện của bài

This gallery contains 1 photo.

Bích Hoài

            Năm 1954, một cô gái 18 tuổi, Françoise Sagan, xuất hiện trên văn đàn Pháp quốc với tác phẩm đầu tay Bon-jour Tristesse, gây sóng gió. Tựa đề của cuốn sách bắt nguồn từ bài thơ của Paul Éluard “À peine défigurée” (Vừa mới biến dạng), với dòng chữ đầu tiên “Adieu tristesse/Bonjour tristesse (Buồn ơi, chào mi).” Một cuốn phim tiếng Anh, phỏng theo cuốn sách, được phát hành năm 1958 với đạo diễn Otto Preminger.

Câu chuyện như sau: Cô bé Cécile, 17 tuổi, nghỉ hè tại một biệt thự bên bờ sông Riviera của Pháp cùng với cha là Raymond, một người hấp dẫn, trần tục, vô luân, tự bào chữa cho mình về tài tán gái với lời trích dẫn của Oscar Wilde, theo đó thì tội lỗi chỉ là một sắc màu sặc sỡ, dai dẳng trong thế giới hiện đại. Cécile nói cô tin rằng cô có thể lấy việc đó làm căn bản trong đời sống của cô và chấp nhận cái phong cách sống đó làm mẫu mực. Một trong những lợi thế đối với cô là cha cô không chút quan tâm đến khả năng hiểu biết nên chẳng cần để ý cô có học hành hay không. Một lợi thế khác là ông bỏ mặc cho cô rảnh tay lôi cuốn đàn ông. Ban đầu cô tìm đến những người đàn ông cùng tuổi với cha, nhưng ở biệt thự kế bên có một chàng trai tuổi đôi mươi, Cyril, mà cô bắt đầu cuộc tình lãng mạn Tiếp tục đọc

QUẺ DỊCH, CÁCH LẬP VÀ GIẢI ĐOÁN (2)

Thư viện của bài

This gallery contains 4 photos.

Nguyên Lạc

                                                                                          

THUẬT NGỮ CẦN NHỚ

Tám quẻ nguyên thủy (bát quái ) gọi là đơn quái (quẻ đơn).

Sáu mươi bốn quẻ mới được tạo ra từ việc chồng bát quái gọi là trùng quái (quẻ trùng) để phân biệt với tám quẻ nguyên thủy, đơn quái (quẻ đơn).

Nội Quái và Ngọai Quái:

Mỗi quẻ trùng gồm hai quẻ đơn: Quẻ đơn ở dưới gọi là nội quái, quẻ đơn ở trên gọi là ngọai quái.

Ví dụ: Quẻ Thiên Phong Cấu:

Quẻ trên Thiên, tức Càn là ngọai quái,

Quẻ dưới Phong tức tốn là nội quái.

Ví dụ: Quẻ Địa Thiên Thái:

Quẻ trên là Khôn: Địa (Ngọai quái)

Quẻ dưới là Càn: Thiên (Nội quái)

Gọi là nội quái, ngọai quái vì sắp theo vòng tròn thì quẻ Càn ở trong (nội) gần trung tâm, còn quẻ Khôn chồng lên nó, ở ngoài (ngọai), xa trung tâm Tiếp tục đọc

Bài Học Về Sự Dối Trá

Thư viện của bài

This gallery contains 1 photo.

Đạo đức có thể bù đắp cho sự thiếu hụt về trí tuệ, nhưng trí tuệ mãi mãi không thể bù đắp cho sự thiếu hụt về đạo đức.

Một cô gái sau khi tốt nghiệp liền sang Pháp, bắt đầu một cuộc sống vừa đi học vừa đi làm. Dần dần, cô phát hiện hệ thống thu vé các phương tiện công cộng ở đây hoàn toàn theo tính tự giác, có nghĩa là bạn muốn đi đến nơi nào, có thể mua vé theo lịch trình đã định, các bến xe theo phương thức mở cửa, không có cửa soát vé, cũng không có nhân viên soát vé, đến khả năng kiểm tra vé đột xuất cũng rất thấp.

Cô đã phát hiện được lỗ hổng quản lý này, hoặc giả chính suy nghĩ của cô có lỗ hổng. Dựa vào trí thông minh của mình, cô ước tính tỉ lệ để bị bắt trốn vé chỉ khoảng ba phần trăm.

Cô vô cùng tự mãn với phát hiện này của bản thân, từ đó cô thường xuyên trốn vé. Cô còn tự tìm một lí do để bản thân thấy nhẹ nhõm: mình là sinh viên nghèo mà, giảm được chút nào hay chút nấy.

Sau bốn năm, cô đạt được tấm bằng tốt nghiệp loại giỏi của một trường danh giá, cô tràn đầy tự tin đến những công ty lớn xin việc. Tiếp tục đọc

VĨNH BIỆT – SAYONARA

Thư viện của bài

This gallery contains 1 photo.

n Lạc
cherry blossoms
SAYONARA

Tình cờ đọc bài viết Sayonara của Trà Biển đăng trên Khoa Học Net [1], trong đó ông đưa ra nhận định riêng về chữ Sayonara rất lý thú. Tuy nhiên theo chủ quan tôi, tác giả Trà Biển xét chữ này theo quan điểm về ĐẠO, theo lời Chúa như trong đoạn ông trích dịch; tôi xin ghi thêm ra đây những nhận định riêng về chữ Sayonara nầy xét theo quan niệm về ĐỜI, về nhân sinh nói chung. Mà như ta đã biết, ĐỜI thì bao gồm nhiều ĐẠO, bao gồm nhiều tôn giáo.

SAYONARA: さようなら (J): Goodbye, Farewell(E) – Au revoir, Adieu (F)…
Việt ngữ có nhiều nghĩa: Tạm biệt, ly biệt, vĩnh biệt…
1. Nghĩa tạm biệt, ly biệt: Goodbye, Au revoir…1. Cái nghĩa ly biệt, tạm biệt được tác giả Trà Biển đưa ra thông qua trích đoạn chương 22 “Sayonara” trong tiểu thuyết “North to the Orient” – Anne Morrow Lindbergh như sau:
[ Thật thú vị khi được hiểu ý nghĩa của Sayonara và hiểu thêm ý nghĩa của các lời chào tạm biệt khác. Mình xin tạm dịch trích đoạn này dưới đây:

“Sayonara” hiểu theo nghĩa đen, “vì phải như vậy”, là lời chào tạm biệt hay nhất tôi từng được nghe. Không giống như Auf Wiedershens hay Au Revoirs, nó không vờ làm ra vẻ can đảm để “hẹn gặp lại”, cũng không vờ làm dịu bớt nỗi đau chia cách. Nó khác với Farewell, lời cha tạm biệt con. Farewell là lời động viên, là hi vọng và tin cậy của cha trao gởi cho con, “hãy đi ra cùng thế giới và sống tốt nghe con”, nó che giấu tình cảm và không nhắc gì đến phút giây ly biệt. Nó bày tỏ quá ít. Trong khi đó, “Good-by” (God be with you) và Adios lại nói quá nhiều, chúng hầu như không chấp nhận chia cách. Good-by là một lời cầu nguyện, đó là lời tạm biệt của mẹ. “Con không được đi. Ta không chịu nổi việc để con ra đi. Nhưng con sẽ không đơn độc đâu, Chúa sẽ ở bên con và che chở cho con. Ta cũng luôn bên con và luôn dõi theo con”. Sayonara nói không nhiều cũng không ít. Đơn giản đó là một chấp nhận sự thật, một thấu hiểu cái giới hạn của cuộc sống. Những tình cảm được ấp ủ, gói ghém lại và Sayonara thật sự là một câu chào tạm biệt không thốt nên lời, mà chỉ là một cái siết tay thật chặt! (Anne Morrow Lindbergh, North to the Orient – Chương 22: “Sayonara”- Trà Biển dịch) ]
Tiếp tục đọc

Như Loài Hoa

Thư viện của bài

This gallery contains 1 photo.

Lm. Giuse Hoàng Kim Toan

Như loài hoa, trong ngàn triệu tên đoá hoa, người ta ai cũng có một đoá hoa lòng nở trong tim. Đoá hoa lòng ấy, dù ít dù nhiều, ai cũng có. Những đoá hoa lòng trao nhau, những hoa lòng nối bờ yêu thương, những đoá hoa lòng khoe sắc trên khuôn mặt, nở trên những bàn tay. Hoa lòng ấy là hoa nhân đức được ươm qua lòng thanh, tưới trong nhẫn nại, chăm sóc trong hy sinh.

Như loài hoa chẳng bao giờ biết ghen ghét, tị hiềm, hờn giận. Hoa mọc trên cây cao, hoa nở ở dưới thấp, hoa tỏ sặc sỡ, hoa e lệ kín đáo… Mỗi loài một nét riêng, làm đẹp cho đời, anh đoá hoa lớn, tôi đoá hoa nhỏ, chị đoá hoa kiêu sa, tôi đoá hoa tầm thường, trong giỏ hoa, các loại hoa đứng cạnh nhau, đôi khi lại thêm vài bông cỏ, tự nhiên và hoang dại, chẳng bao giờ ghét nhau bởi vì chung một mục đích làm đẹp cho đời và dâng hương cho cuộc sống. Hoa lòng của con người sẽ tươi đẹp biết bao trong vườn hoa muôn cõi lòng, không ghen ghét, không tị hiềm, cùng nhau góp sức dâng hiến cho người và cho đời.
Tiếp tục đọc

NƯỚC MỸ ĐANG BỊ QUỶ ÁM

Thư viện của bài

This gallery contains 1 photo.

BẰNG PHONG ĐẶNG VĂN ÂU

ĐEM TÂM TÌNH VIẾT LỊCH SỬ
NƯỚC MỸ ĐANG BỊ QUỶ ÁM
Thành phố Westminster, Quận Cam, Hoa Kỳ.
Ngày 18 tháng 3 năm 2019.

Anh David Nguyễn thân mến,

Vừa rồi, tôi đem mẩu chuyện của giáo sư Lê Tuyên kể nước Việt Nam mình đã mất về tay người Chàm để viết một bức thư cho anh có chủ đề “CUỘC CHIẾN CHỐNG MA VƯƠNG, QUỶ SỨ”. Lần này bài viết của tôi gửi anh có chủ đề“NƯỚC MỸ ĐANG BỊ QUỶ ÁM” để nói rõ hơn nguyên nhân nước Việt Nam ta mất vì sự báo oán của dân tộc Chàm, thì nước Mỹ cũng sẽ mất vào tay Quỷ Sứ vì các con cháu Chúa lại phản Chúa. Chúng ta là người Mỹ gốc Việt, bị mất nước vào tay Quỷ Sứ thì ta phải có nghĩa vụ và bổn phận cảnh báo cho người bản xứ biết nếu để cho Quỷ Ám thì mất nước.
Luật NHÂN QUẢ rất khoa học, hễ gieo hạt, quả gì thì mọc lên cây ấy. Luật này áp dụng chung cho mọi người có tín ngưỡng, không trừ một tôn giáo nào. Do đó, ông bà mình thường nói “ở hiền gặp lành” hay “đời cha ăn mặn, đời con khát nước”là thế!
Giáo sư Trần văn Giàu tâm sự với Giáo sư Tạ Quang Bửu: “Anh với tôi chỉ là giáo sư dạy môn triết học, Giáo sư Trần Đức Thảo mới đích thực là triết gia”.
Tư bản không phải là chủ nghĩa, bởi vì nó không đề ra vũ trụ quan, nhân sinh quan. Tư bản chỉ là chủ thuyết kinh tế thị trường tự do (free market economic theory) do Adam Smith chủ trương, tôn trọng quyền tư hữu và đặc biệt dành quyền tự do tín ngưỡng, tự do ngôn luận cho mọi người. Do đó Tư Bản chấp nhận đa nguyên, có thể hữu thần hoặc vô thần!
Tiếp tục đọc

Về Thu Xếp Lại (3)

Thư viện của bài

This gallery contains 1 photo.

Đỗ Hồng Ngọc

Gate, gate, pāragare, pārasaṃgate! Bodhi-Svāhā!

5. Người đã đến và người sẽ về bên kia núi

“Từng câu nói là từng cánh buồm giong cuối trời. 
Còn lại tiếng cười khóc giữa đời…”

(TCS). 

Người ta đã đúc kết: “Năm năm / Sáu tháng / Bảy ngày”, nghĩa là ở tuổi 50, nên có kế hoạch  năm; đến tuổi 60 thì chỉ nên làm kế hoạch tháng; còn đến 70 thì tốt nhất nên có kế hoạch… ngày! Cho nên “Mỗi ngày tôi chọn một niềm vui! Chọn những bông hoa và những nụ cười!” (TCS) là phải quá! Vấn đề là ở chỗ chọn lựa. Thiên đàng Địa ngục hai bên… Một cụ già trên trăm tuổi được nhà báo hỏi bí quyết sống lâu, sống khỏe, ông nói có gì đâu, mỗi sáng, thức dậy, tôi tự hỏi hôm nay mình nên ở thiên đàng hay địa ngục đây… rồi tôi chọn thiên đàng.

Có những vùng khí hậu lạ. Một ngày mà có đủ cả bốn mùa: xuân hạ thu đông! Còn muốn gì hơn? Ở cái tuổi này, không phải chỉ cần có kế hoạch ngày mà nhiều khi còn phải có kế hoạch giờ! Sáng khác, trưa khác, chiều khác, tối khác rồi. Làm được gì thì làm ngay. Lát sau mọi thứ sẽ khác. Cần có phương án hai, phương án ba. Cẩm nang để sẵn trong các túi gấm, đến đâu giở ra đến đó!

Từ trứng và tinh trùng, ta hình thành một cái phôi phải nhìn dưới kính hiển vi mới thấy. Rồi rất nhanh, trở thành một thai nhi loi ngoi trong vũng nước ối, trong bụng mẹ. Không thở. Không ăn. Không ngủ. Dĩ nhiên có đái và ỉa khi các bộ phận thải chất bã này hình thành và hoạt động. Thế rồi chín tháng mười ngày ta bung ra ngoài cứ y như cánh hoa phải xòe nở đúng thời đúng tiết vậy. Việc đầu tiên là… thở. Thở mà không xong thì tiêu đời! Bác sĩ sẽ xịt alcool hoặc đét vào đít cho ta khóc thét lên. Khóc càng to càng tốt. Khóc to có nghĩa là thở mạnh. Mệt mỏi rồi nhé! Từ đó đã phải lệ thuộc vào cái gì đó bên ngoài. Tiếp tục đọc

Quẻ Dịch Cách Lập Và Giải Đoán

Thư viện của bài

This gallery contains 2 photos.

Nguyên Lạc

(Bài 1)

 Cẩn báo:  Cụ Nguyễn Hiến Lê có nói:  “Muốn học điều gì thì hãy viết về điều đó”. Theo tinh thần đó, chúng tôi đang học về Kinh Dịch, nên xin viết ra đây những gì mình đã học được từ người xưa, từ các bậc tiền bối… Xin hiểu cho, đây chỉ là những ghi chép vụn vặt trong quá trình học hỏi, nên chắc nó sẽ có rất nhiều thiếu sót, mong các bậc cao minh bỏ quá cho! Nếu các bạn tìm thấy có ít nhiều điều hữu ích thì tốt, còn nếu không, coi như ” Mua vui cũng được một vài trống can

Ở đời muôn sự của chung
Hơn nhau ở chỗ biết dùng hay không! 

Dẫn nhập: Bói Dịch không phải là mê tín, nó là khoa học. Có thể gọi là khoa học huyền bí. Vì vậy,  Tiến sĩ Phân tâm học C.G. Jung  ( ông cùng với S. Freud là một trong những thủy tổ của khoa Phân Tâm Học, nghiên cứu về tiềm thức của loài người) năm 1949 đã dùng bói Dịch để biết việc quảng bá và giới thiệu Dịch (I Ching) từ tiếng Đức sang tiếng Anh có đuoc thuận lợi hay không?. Bói được rất tốt, ông tiến hành và Dịch đã trở thành kinh điển cho các học giả và các trường đại học Tây Phương học hỏi!

Có 2 lý do để tôi viết bài này:

1/ Chúng ta chỉ sợ những gì mình không hiểu. Thí dụ như sợ Ma, vì chúng ta không biết rõ Ma là gì?. Nếu  biết thì sẽ không sợ. Cũng vậy, chúng ta sợ chết, vì không biết chết ra sao, sau khi chết như thế nào?. Nếu chúng ta biết rõ thì chắc chúng ta cũng sẽ không sợ. Đó  là lý do Phật giáo khuyên chúng ta nên tìm hiểu về sự chết (Tử) Tiếp tục đọc

VÀI KHÁI NIỆM VỀ VIỆC DÙNG CHỮ TRONG THƠ

Thư viện của bài

This gallery contains 1 photo.

Nguyên Lạc

VÀI KHÁI NIỆM VỀ VIỆC DÙNG CHỮ TRONG THƠ

CÁC KHÁI NIỆM

 Vài khái niệm cần thiết cho việc dùng “chữ” trong thơ: [1]

Theo Nguyễn Anh Khiêm (Ký Ức Sơ Sài) thì tiến trình ngôn ngữ như sau: Đủ chữ/ đủ ý: Thoại –> đủ chữ/ nhiều ý: Văn –> ít chữ/ nhiều ý: Thơ.
Do vậy trong thơ càng ít chữ mà càng nhiều nghĩa thì thơ càng hay; không cần phải ầu ơ ví dầu ,”hoa lá cành” cho dài ra, làm bài thơ loãng, dễ chán.

Theo tôi: Trong văn chương, dùng chữ bình thường, bình dị mà đủ nghĩa tốt hơn dùng chữ hoa mỹ mà vô nghĩa, sáo rỗng. Tuyệt nhất là dùng chữ bình thường mà tạo được nghĩa bất thường.
Đây là ý kiến của Nguyễn Thị Thảo An

[…Dùng những chữ đời thường đôi khi nghe ngô nghê, tưởng chừng như không thể là ngôn ngữ thơ, nó là ngôn ngữ trẻ con, của vỉa hè,… nhưng nếu biết đặt đúng vị trí nó sẽ trở thành những “viên ngọc” sáng lóng lánh, làm nổi bật ý nghĩa của câu thơ.

Ví dụ: “Đem thân làm gã tù lưu xứ/ Xí xóa đời ta với đất trời”.  Chữ “xí xóa” là chữ của trẻ con, thế mà đặt ở câu thơ này thật tuyệt]  

Trong văn, văn phạm phải rõ ràng và chữ thường có một nghĩa chính xác. Ngược lại trong thơ, sự chính xác văn pham đôi khi không cần thiết lắm; chữ càng nhiều nghĩa càng tốt, để người đọc suy đoán theo trãi nghiệm riêng mình. Thơ phải mở ra để độc giả dự phần vào – thơ mở – thì mới hay. Tiếp tục đọc

Về Thu Xếp Lại (2)

Thư viện của bài

This gallery contains 1 photo.

Đỗ Hồng Ngọc

3. Về thu xếp lại… ngày trong nếp ngày

“Về đây đứng ngồi 
đường xa quá ngại 
để lòng theo chút nắng bên ngoài…”
(TCS) 

Bây giờ muốn ngủ lúc nào ngủ. Muốn dậy lúc nào dậy. Chỉ khi nào có đi đâu xa mới phải để đồng hồ báo thức mà luôn dậy trước giờ, vói tay tắt đồng hồ reo rồi… ngủ tiếp. Thức dậy nhìn đồng hồ coi thử mấy giờ rồi, nhớ hôm nay sẽ có những việc gì phải làm. Có khi phải ghi trên giấy từ đêm trước. Bây giờ “mỗi ngày tôi chọn một niềm vui… đường đến anh em, đường đến bạn bè” là đủ. Nếu có đi dạy học, đi nói chuyện ở đâu đó thì phải đúng giờ giấc còn thì cứ theo cái đồng hồ sinh học của mình. Xưa thức khuya dậy sớm theo dõi trận đá banh hay. Nay thôi. Ban tổ chức dành cho tôi một sân riêng, có mái che, máy lạnh. Coi được bao lâu thì coi. Muốn thì cho ngưng trận đấu, sớm mai đấu tiếp. Đọc tin tức các đài báo phần lớn cũng chỉ đọc cái tựa là biết đủ rồi. Thì giờ đâu mà dài dòng văn tự. Nếu là một đề tài hay, cần thêm chi tiết thì đọc nhanh, kiểu câu đầu câu cuối, dòng dọc dòng ngang là xong. Bài nào thấm thía lắm mới đọc từng chữ. Dừng lại, nhâm nhi, ngẫm ngợi, rồi đọc tiếp. Cười khà một mình. Thích những bài bình luận sâu sắc, châm biếm nhẹ nhàng. Mấy chục năm nay quen giờ giấc chính xác, thấy ai trễ giờ thì bực mình do làm ở khoa cấp cứu bệnh viện nhiều năm, chậm trễ một phút có thể chết người. Bây giờ phấn đấu đi trễ cho quen vì đi đúng giờ, đến sớm làm cho người ta ngượng. Thăm hỏi một vài bạn đau ốm. Thư từ cho người này người kia. Nay vắng người này mai vắng người khác. Đến một lúc, thấy vắng cũng như có mặt. Không khác. Vài ba thư mời dự chỗ này chỗ khác. Thử chọn xem nên đi đâu không? Đa số đành từ chối. Ăn uống khó khăn. Mặt mày khó ưa. Ăn nói dễ ghét. Từ chối viết bài cho báo, xuất hiện trên truyền hình, trả lời phỏng vấn này nọ vì biết mình đến lúc nên lánh mặt, nên đi chỗ khác chơi. “Biết đủ dầu không chi cũng đủ/ Nên lui đã có dịp thời lui” (Ưng Bình). Thỉnh thoảng có bài này bài kia viết sai, trích sai… cũng thôi kệ. Nhiều bài không phải của mình, không phải mình viết, người ta cũng gắn tên mình là tác giả, thậm chí kèm cái hình chân dung cho… chắc ăn. Lúc đầu bực mình, đính chánh nọ kia. Sau, thôi, tùy hỷ. Tự dưng rồi người ta cũng biết. Kẻ cố tình làm sai chắc cũng thấy không vui. Tiếp tục đọc

VÕ TÒNG ĐẢ CẨU

Thư viện của bài

This gallery contains 1 photo.

Nguyên Lạc    

VÕ TÒNG ĐẢ CẨU
 

Cẩn báo:

– Truyện cấm thiếu niên dưới 18 tuổi

– Bài này với chủ đích giải mã những khuất lấp, khuyến khích THOÁT TRUNG, (không có vấn đề kỳ thị: BÀI TRUNG). Xin các bạn thẩm định cho kỹ. Nguyên Lạc tôi xin phủ nhận những gì ngoài chủ ý của mình.  Những chi tiết trong Thủy Hư có hư cấu một vài điều để dẫn dụ đến chủ ý, nên xin miễn cho tính chính xác. Còn về Hai Bà Trưng và Mã Viện là sử liệu.Trân trọng.

***

Lời nói đầu: Do thiếu sự hướng dẫn, sự khan hiếm sách đọc, sự thao túng thị trường sách vở của các Hoa thương (thời Pháp thuộc),  sách truyện đến tay người nông dân, người lao động… ở các làng xa xôi lúc xưa thường là những loại giả dối, nhằm phục vụ cho giấc mộng Đại Hán. Buồn thay, người dân Việt không thuộc sử Việt, mà lại nằm lòng sử Tàu. Nào là Thuyết Đường, Tiết Nhơn Quý Chinh Đông, Tiết Đinh San Chính Tây .v.v… , trong khi Hai Bà Trưng  Nguyễn Trãi, Lý Thuờng Kiệt, Trần Hưng Đạo, Đặng Dung v.v…, những anh hùng dân tộc có công dựng nước và giữ nước thì họ không biết là ai! Tiếp tục đọc

Coi Chừng Không Còn Đường Nào Để Chạy

Thư viện của bài

This gallery contains 2 photos.

Huỳnh Quốc Bình

Coi Chừng Không Còn Đường Nào Để Chạy –

“Nếu có ai muốn từ bỏ quốc tịch Hoa Kỳ một cách chính thức để có thể gia nhập quốc tịch các nước độc tài cộng sản hay những nơi quá khích về tôn giáo… Thì tôi sẵn sàng giúp điền đơn hay giúp đóng tiền lệ phí nộp đơn, một cách hợp pháp…”

Người viết thường tự nhắc nhở chính mình và dạy con cái trong nhà phải ý thức rằng, chúng ta không thể xem đất nước Hoa Kỳ như chỗ để mình lợi dụng sống qua ngày, để chỉ ăn bám mà không đóng góp, hoặc chỉ để hưởng thụ vật chất mà lại không góp phần bảo vệ, vun bồi cho tốt hơn, giống như căn nhà của riêng mình.

Để làm sáng tỏ ý niệm đó, tôi xin phép thu gọn đất nước Hoa Kỳ nhỏ lại như căn nhà của một gia đình, để mạo muội nêu ra một câu hỏi rằng: Nếu chúng ta từng hoan nghênh ai đó vào tá túc trong nhà của mình lâu dài, nhưng họ chẳng bao giờ quan tâm đến nhà cửa của chúng ta. Trái lại họ chỉ lợi dụng để lén lút bòn rút tài sản của chúng ta hầu chuyển đi hay gởi về một nơi nào khác. Khi họ cần giúp đỡ thì nhờ cậy chúng ta, nhưng cứ xem chúng ta như người xa lạ hay kẻ thù của họ… Đối với loại người như thế thì chúng ta sẽ nghĩ về họ như thế nào? Người Việt Nam gọi đó là những kẻ“ăn cháo đái bát”, người Mỹ gọi đó là “cắn luôn bàn tay người đút thức ăn cho mình” (bite the hand that feeds you). Tiếp tục đọc

HAI BÀ TRƯNG

Thư viện của bài

This gallery contains 1 photo.

Nguyên Lạc    

NHỮNG KHUẤT LẤP 

GIỮA MÃ VIỆN VÀ HAI BÀ TRƯNG

***

VÕ TÒNG ĐẢ CẨU (Bài 2)

Cẩn báo: Bài này với chủ đích giải mã những khuất lấp, khuyến khích THOÁT TRUNG, (không có vấn đề kỳ thị: BÀI TRUNG). Xin các bạn thẩm định cho kỹ. Nguyên Lạc tôi xin phủ nhận những gì ngoài chủ ý của mình.  Những chi tiết trong Thủy Hư có hư cấu một vài điều để dẫn dụ đến chủ ý, nên xin miễn cho tính chính xác. Còn về Hai Bà Trưng và Mã Viện là sử liệu. Trân trọng!

Lời nói đầu: Do thiếu sự hướng dẫn, sự khan hiếm sách đọc, sự thao túng thị trường sách vở của các Hoa thương (thời Pháp thuộc),  sách truyện đến tay người nông dân, người lao động… ở các làng xa xôi lúc xưa thường là những loại giả dối, nhằm phục vụ cho giấc mộng Đại Hán. Buồn thay, người dân Việt không thuộc sử Việt, mà lại nằm lòng sử Tàu. Nào là Thuyết Đường, Tiết Nhơn Quý Chinh Đông, Tiết Đinh San Chính Tây .v.v… , trong khi Hai Bà Trưng  Nguyễn Trãi, Lý Thuờng Kiệt, Trần Hưng Đạo, Đặng Dung v.v…, những anh hùng dân tộc có công dựng nước và giữ nước thì họ không biết là ai!

Ví dụ như trong truyện Tiết Nhơn Quý Chinh Đông: Đây thật ra chỉ là cuộc xâm lăng Cao Ly (Hàn Quốc), trong đó họ đề cao tên xâm lược Tiết Nhơn Quý , mạt sát anh hùng dân tộc Cao Ly –  Cáp Tô Văn.  Họ cũng đã mạt sát nhiều người anh hùng Việt Nam chúng ta (Ví dụ bộ sử Minh Thực Lục). Những nhận thức bị khuất lấp đó truyền lại cho con cháu chúng ta sau nầy. Làm sao Thoát Trung được nếu không giải mã  những điều khuất lấp đó?! Bài này viết ra với mục đích giải mã những khuất lấp.(1) Tiếp tục đọc

Quẻ Dịch: Cách Lập Và Giải Đoán (Bài cuối)

Thư viện của bài

This gallery contains 5 photos.

Nguyên Lạc          
 

LẬP VÀ GIẢI QUẺ CHO VIỆT VƯƠNG CÂU TIỄN
 
Lời giới thiệu của tác giả:

Tiểu luận QUẺ DỊCH gồm có tác cả 6 bài, đây là bài cuối (bài 6). Bài này vì có liên quan đến sự hành xử giữa trên và dưới, giữa vua với thần dân, giữa chính quyền với dân chúng; có nói đến nguy cơ của sự tồn vong nước Việt Câu Tiễn, hợp với tính thời sự nên tôi giới thiệu trước, sau đó sẽ đăng lần lượt những bài còn lại. (Nguyên Lạc)       

 ***

 Lời dẫn:

“Kinh Dịch là thứ sách vì hạng quân tử mà làm ra, không phải là của hạng tiểu nhân. Trương Hoành Cừ nói: “Kinh Dịch chỉ mưu tính cho quân tử, không mưu tính cho tiểu nhân”.

Kinh Dịch là thứ sách do sự hư không làm ra. Trước khi chưa có hào vạch, Dịch thì là một lẽ hồn nhiên, ở người ta là tấm lòng im lặng.  Đến khi đã có hào vạch, mới thấy hào ấy là thế nào, hào kia là thế nào. nhưng mà vẫn  theo những cái  rỗng,  tĩnh ấy  làm ra Tượng Số.  Vì vậy nó mới linh thiêng!.

Trong Kinh Dịch, đại khái Dương thì lành (tốt) mà Âm thì dữ (xấu). Đôi khi cũng có Dương dữ mà Âm lành! Tuy nhiên, vì có việc nên làm, cũng có việc không nên làm.  Nên làm mà không làm, không nên làm mà cứ làm, thì dù Dương cũng xấu. Trong Kinh Dịch, hào Dương phần nhiều lành, hào Âm phần nhiều dữ!  Tuy nhiên, cũng cần phải xem ngôi vị của chúng ra sao!
Trong Kinh Dịch, chỉ có “trinh cát”, chưa có chỗ nào không “trinh” mà “cát”; chỉ nói “lợi trinh”, chứ chưa từng nói “lợi bất trinh”. Như quẻ Kiền (Càn) tốt lắm, nhưng mà ở dưới lại nói “lợi trinh”. Nghĩa là ngay thẳng, trung chính  thì lợi, không ngay thẳng, trung  chính thì không lợi. Tiếp tục đọc

*** Hãy Sống Trong Hạnh Phúc

Thư viện của bài

This gallery contains 1 photo.

Hãy Sống Trong Hạnh Phúc Dù Cuộc Đời Không Như Mơ
hoa-buom

Nữ nhà văn Mỹ Hellen Keller đã từng nói: “Tôi đã khóc vì không có giày để đi cho đến khi tôi nhìn thấy một người không có chân để đeo giày.”

Nếu bạn hỏng xe dọc đường, phải cuốc bộ vài dặm mới tìm ra được người giúp đỡ – Hãy nghĩ tới những ai liệt cả đôi chân, luôn khao khát được bước đi như bạn.

Đó là lúc khó khăn của bạn, đôi chân của bạn có thể đưa bạn đến bất cứ nơi đâu, đó là hạnh phúc và may mắn khi bạn sinh ra trên đời được có quyền đứng trên đôi chân của mình để đi. Khi không may đôi chân phải nặng nề hơn trên con đường đang bước thì hãy chớ vội nản lòng, khó chịu bởi đằng kia có rất rất nhiều người đang khao khát được bước và được đi như bạn dù chỉ một bước chân….

Nếu bạn cảm thấy đời mình bị mất mát và băn khoăn về ý nghĩa kiếp người – Xin bạn hãy biết ơn cuộc sống vì có nhiều người đã không được sống hết tuổi trẻ của mình để có những trải nghiệm như bạn.

Đừng bao giờ nghĩ rằng mình kém may mắn trong cuộc đời này, hãy biết trân trọng từng phút giây khi được sinh ra trên cuộc đời này. Tiếp tục đọc

*** 7 Bát Nước Cứu Khổ

Thư viện của bài

This gallery contains 1 photo.

Quán Như

7 Bát Nước Cứu Khổ

Ngày xửa ngày xưa, tại một ngôi làng nọ có một gia đình bá hộ nối tiếng giàu có nhất vùng. Người người nể phục, nhà cao cửa rộng, đồng ruộng thì mênh mông bát ngát, thẳng cánh có bay, gia súc thì từng đàn, lúa chất đầy bồ, trong nhà không thiếu thứ gì, kẻ ăn người ở có tới chừng mấy mươi người. Cao lương mỹ vị ăn mãi không hết.

Gia đình bá hộ có hai người con, một trai một gái. Ai cũng khôi ngô tuấn tú, xinh đẹp và nết na. Nhưng rồi tai họa đã giáng suống gia đình họ, khi người con gái vì uất ức với mối tình cùng chàng thi sĩ mà quyên sinh, còn cậu con trai trong một lần đi săn trong rừng sâu, bất cẩn bị sập bẫy mà trở thành kẻ tàn phế.

Người mẹ vô cùng đau khổ và tuyệt vọng. Bà sống trong nỗi ám ảnh và oán hờn. Ngày ngày bà ăn chay niệm Phật cầu xin được bình an và không còn phiền muộn. Rồi một ngày kia, bà cho gọi tất cả những người dân mang nợ với gia đình bà đến và phán rằng:

      – Từ xưa tới nay, gia đình ta ăn ở có trên có dưới, ai khó khăn ta đều cứu giúp, cho vay bạc và lúa gạo, sau mỗi lần thu hoạch thì gia đình các ngươi đều có trả nhưng vẫn không Tiếp tục đọc

Công, Dung, Ngôn, Hạnh Thời Nay

Thư viện của bài

This gallery contains 1 photo.

Tu sĩ Lôrensô Vũ Văn Trình MF

Tứ Đức Trong Thời Đại Hiện Nay

Trong cuộc sống, chúng ta không thể thiếu cái đẹp, cái đẹp bất biến trường tồn, cái đẹp tiềm ẩn trong con người được biểu hiện qua văn hóa ứng xử, qua nét cao quý của tâm hồn, qua cái đạo đức trí tuệ. Cái đẹp giúp con người xây dựng nhân cách ngày càng hoàn thiện hơn. Cái đẹp được nói đến ở đây chính là cái đẹp tâm hồn của người phụ nữ. Đặc biệt là cái đẹp trong lễ giáo xưa, đó là Tứ Đức: Công, Dung Ngôn, Hạnh. Trải qua dòng lịch sử, liệu Tứ Đức có lạc hậu trong thời đại ngày nay không?

Đòi hỏi của Tứ Đứctrong thời đại hiện nay
         Công đối với người phụ nữ ngày nay, là vừa khéo quán xuyến công việc nhà vừa lo công tác ngoài xã hội, biết sắp xếp công việc sao cho hợp lý, cẩn thận và chu đáo, biết nuôi con khỏe, dạy con ngoan: “Đảm việc nhà, giỏi việc xã hội”. Ngoài ra, phải có nghề nghiệp ổn định và làm tốt nghề của mình. Làm tốt công việc của mình sẽ giúp người phụ nữ tự tin, khẳng định được khả năng của mình, góp phần vào kinh tế cho gia đình và đóng góp tài năng, trí tuệ cho xã hội.

           Dung của người phụ nữ thời nay, không còn là nét đẹp “yểu điệu thục nữ, liễu yếu đào tơ” mà là khỏe và đẹp. Khỏe để làm việc tốt, để giữ gìn hạnh phúc gia đình và để sinh Tiếp tục đọc

*** Ba Chúc Con Đủ

Thư viện của bài

This gallery contains 1 photo.

Ba Chúc Con Đủ

Ba chúc con đủ ánh mặt trời để giữ cho tâm hồn con trong sáng.
Ba chúc con đủ những cơn mưa để biết yêu quý ánh nắng ban mai.

Mint (Dịch từ Bobperks)

Tôi chưa bao giờ nghĩ rằng mình phải mất nhiều thời gian của cuộc đời ở các sân bay đến thế. Tôi vừa thích, vừa ghét việc đó.

Tôi thích được ngắm nhiều người nhưng đó cũng là lý do tôi ghét khi phải nhìn mọi người “chào” và “tạm biệt”. Nó làm tôi xúc động đến phát mệt.

Cho nên mỗi khi gặp một thử thách trong cuộc sống, tôi thường ra sân bay thành phố nhìn mọi người nói lời “tạm biệt”. Để thấy rằng mình vẫn hạnh phúc khi không phải nói lời chia tay với những người thân yêu. Nhìn mọi người cố gắng níu kéo nhau, khóc… tôi cảm thấy mình còn có rất nhiều thứ quý giá.

Gia đình, những người yêu nhau cuối cùng phải xa cách, nhìn họ sải rộng cánh tay để đón nhận tình cảm của nhau, cho đến khi chỉ còn những ánh mắt tiếc nuối… đó là những hình ảnh còn mãi trong tâm trí tôi. Và tôi cũng học được nhiều điều từ những giây phút “tạm biệt”. Tiếp tục đọc

*** CHÉN TRÀ NGUYÊN XUÂN

Thư viện của bài

This gallery contains 1 photo.

Nguyên Lạc

Hơn 25 năm xứ người, không có được một mùa xuân (Tết) đúng nghĩa quê hương: Ngày Tết phải đi làm, đêm giao thừa có khi tuyết đổ, đường phố đóng băng, xe cộ tê liệt. Không một tiếng pháo ngày xuân.

Xuân về, Tết đến lòng bùi ngùi, đầy tâm trạng quê hương khiến nhớ đến các câu thơ của: Thiền sư Mãn Giác, Nguyễn Du và Lý Ích.

Lý Ích (748-829)*
KHÔNG XUÂN

.Phong yên tịnh tại tư quy xứ,

Viễn mục phi xuân diệc tự thương

(Đăng Quán Tước lâu – Lý Ích)

.

 Dịch thơ:

Gió khói đều vương niềm tưởng nhớ

Xuân nào có phải, lại buồn thương.

(Trần Trọng San) Tiếp tục đọc

*** Không Có Cái Gì Tuyệt Đối Cả

Thư viện của bài

This gallery contains 1 photo.

Không Có Cái Gì Tuyệt Đối Cả

Sống ở trong đời nầy, bạn đừng đòi hỏi tuyệt đối ở nơi hành xử của những người khác đối với bạn. Bạn nên chấp nhận sự tương đối từ những người khác để sống, thì những hạnh phúc trong đời sống của bạn sẽ có được ngay trong tầm tay và có ngay trong đời sống nầy.

Hướng tới cái tuyệt đối để sống, bạn sẽ nhận lấy sự thất vọng ngay trong cuộc sống nầy. Nếu bạn biết chấp nhận cái tương đối để sống, bạn sẽ có niềm tin tưởng cũng như hạnh phúc ngay trong đời sống nầy.

Bạn biết không! Sống là hỗ tương. Hỗ tương giữa cái nầy và cái kia; giữa người nầy và người kia; giữa thế giới nầy và thế giới kia; và ngay giữa đời nầy và đời kia. Tiếp tục đọc

*** HẠNH PHÚC VÀ ĐAU KHỔ

Thư viện của bài

This gallery contains 1 photo.

Lê Khắc Thanh Hoài

 Chư Thiên và loài người
Suy nghĩ về hạnh phúc
Ước mong được hạnh phúc
Chân hạnh phúc là gì ? (1)

          Bốn câu thi kệ này được trích trong bài « Kinh Hạnh Phúc » mà đức Phật Thích Ca Mâu Ni đã nói cách đây đã hơn hai ngàn năm trăm năm, khi ngài đang trú ngụ tại khu rừng có tên là Jeta và một thiên nhân, người của cõi trời, đã hiện đến một bên và đặt câu hỏi về hạnh phúc như trên.
 
Bài viết này chỉ mượn và dựa vào câu hỏi trên để thử tìm một định nghĩa cho hạnh phúc, làm thế nào để có hạnh phúc trên cõi thế này ? Trước tiên là một định nghĩa mang tính thế gian, của con người đời thường, không phân tích sâu, rộng về bài Kinh Hạnh Phúc của đức Phật. Tiếp đến là suy nghĩ về câu trả lời phải làm gì, sống như thế nào, đó là những phương pháp mà con người đời thường áp dụng để đạt hạnh phúc. Và song song với việc tìm hiểu hạnh phúc, thì không thể nào mà không có bóng dáng của khổ đau. Như phải có màu trắng để biết được màu đen như thế nào, có bên phải thì có cái gọi là bên trái, có trên cao thì mới thấy cái dưới thấp, có bóng tối mới nhận ra ánh sáng, có nụ cười thì cũng có nước mắt… Tiếp tục đọc

*** GIỠN CHƠI CÙNG CHỮ NGHĨA

Thư viện của bài

This gallery contains 1 photo.

Nguyên Lạc

BÀN VỀ NÓI LÁI

Nhân dịp Xuân về, Nguyên Lạc tui gởi đến các bạn bài vui này cùng với lời chúc an khang và thịnh vượng. Mong các bạn có được vài nụ cười trong các ngày Tết.

Laughter is the sun that drives winter from the human face. — Victor Hugo

Dẫn nhập: Miền nam lúc trước, các cô gái quê thường ngồi chàng hãng, chê hê (giạng háng) để các củ, trái trước mặt, bên vệ đường bán buôn. Một ông chỉ vào các củ, hơi lệch hướng chút để hỏi mua. Nào mời các bạn.

CỦ CHI?

1.
Củ chi. cô bán củ chi?
— Củ sao không chỉ, ông nì chỉ cu?

2.
Củ chi. cô bán củ chi?
Tiếp tục đọc

*** Như Loài Hoa

Thư viện của bài

This gallery contains 1 photo.

Lm. Giuse Hoàng Kim Toan

Như loài hoa, trong ngàn triệu tên đoá hoa, người ta ai cũng có một đoá hoa lòng nở trong tim. Đoá hoa lòng ấy, dù ít dù nhiều, ai cũng có. Những đoá hoa lòng trao nhau, những hoa lòng nối bờ yêu thương, những đoá hoa lòng khoe sắc trên khuôn mặt, nở trên những bàn tay. Hoa lòng ấy là hoa nhân đức được ươm qua lòng thanh, tưới trong nhẫn nại, chăm sóc trong hy sinh.

Như loài hoa chẳng bao giờ biết ghen ghét, tị hiềm, hờn giận. Hoa mọc trên cây cao, hoa nở ở dưới thấp, hoa tỏ sặc sỡ, hoa e lệ kín đáo… Mỗi loài một nét riêng, làm đẹp cho đời, anh đoá hoa lớn, tôi đoá hoa nhỏ, chị đoá hoa kiêu sa, tôi đoá hoa tầm thường, trong giỏ hoa, các loại hoa đứng cạnh nhau, đôi khi lại thêm vài bông cỏ, tự nhiên và hoang dại, chẳng bao giờ ghét nhau bởi vì chung một mục đích làm đẹp cho đời và dâng hương cho cuộc sống. Hoa lòng của con người sẽ tươi đẹp biết bao trong vườn hoa muôn cõi lòng, không ghen ghét, không tị hiềm, cùng nhau góp sức dâng hiến cho người và cho đời.
Tiếp tục đọc