CAO BÁ QUÁT: NGẠO VÌ THẤT CHÍ Hay NGẠO VÌ PHẨN NỘ

Võ Công Liêm Soạn Thảo

Cao_Ba_Quat

    Rất nhiều người nói đến Cao Bá Quát từ vua quan, sĩ tứ cho đến bần dân thiên hạ. Từ trong cuộc đời đang sống của thi nhân cho tới cái chết của người gần hai thế kỷ qua. Ngay cả câu nói ’bồ chữ’ là phản ảnh lòng tự hào vốn đã có trong con người ngạo mạn. Phải chăng đó là âm vang của thiên tài sinh ra để ngạo? Ngạo để biếm đời, ngạo để khinh thường hay ngạo để nói lên lòng kiêu hãnh; vì nỗi tuyệt vọng mà sinh ra miệt thị đời; chẳng qua ức mà sinh ra ngạo -to be contemptuos/méprisant/non-comparution- Chân tình mà nhận ra rằng: ngạo mạn là hào phóng của con người bất cần, bất-khả-tư-nghị để giải thoát một chân như hiện hữu –éclaircie de l’être/to be enlightened. Đó là cái gì khác biệt cho một cái nhìn khác biệt về Cao Bá Quát; chính sự cớ đó đã đưa tới cách ly, có thể không còn hiển hiện mà đành chấp nhận sự căng phồng, bôi bác, chà đạp, hủy bỏ -La différence va si loin que de son fait la possibilité de connaitre ce qu’elle sépare est éteinte, abolie (Andre Préau).

Từ đó Cao tiên sinh trở nên hiện tượng, một hiện tượng siêu lý mà ít ai có giữa cõi đời này. Trong từng tiếng nói hay trong từng lời thơ phản phất một chất liệu phản kháng; giữa hai bề mặt xã hội và con người:

Trời nắng chang chang người trói người

Nước trong veo vẻo cá đớp cá.

Lời thơ không có gì là bác học, không có gì là hàm chứa mà cả một tập trung của sự thật, sự thật đau đớn phải gánh chịu của thân phận, cảnh tỉnh qua một phản kháng khác. Đó là triết lý nhân bản, một lý thuyết nói lên giá trị của con người, một giá trị gắn liền giữa ý niệm và tư tưởng: tình cảm nầy hay tình cảm kia, hành động này hay hành động nọ. Vì; cái nhìn của thi nhân là phán đoán, thẩm định giá trị của chân lý làm người giữa sai lầm và chính nghĩa, giữa thiện và ác, giữa hành vi nhân ái và sát nhân đó là chuỗi liên trình giữa người và vật; vẫn đau xót vẫn triền miên. Con vật khác con người ở chỗ con người biết đo lường, biết thẩm định và biết đánh giá. Đó là phạm trù của ngôn ngữ ‘bản chất và hiện tượng’ cả hai là biểu hiện của dung-thân; lý sự nầy cốt thỏa mãn dục vọng, tàn tích của con người trong cái bản chất ‘egoist’ cho nên chi con người không thể xác nhận được bản chất tự tại như thế nào, để rồi đi tới hành động điên rồ, ngu xuẩn. Như chúng ta biết: con người là hữu thể có lý trí, hữu thể xã hội, hữu thể kinh tế(quyền lợi) và hữu thể tự do. Con đường đó chính là con đường tồn lưu –monde et chose n’ont leur être que l’un par l’autre (M. Heidegger). Vì vậy ; Cao Chu Thần nhìn đời bằng đôi mắt miệt thị của ‘hữu-vô’ của ‘thiện-ác’ của ‘quân-tử/tiểu-nhân’ đó là một lý giải thông đạt và liễu quán.

Đấy là tâm thức ‘hoài vọng của tồn lưu’ –la espoir de l’être. Cái đó đã làm cho người ta trở nên khinh khi để còn lại hoài vọng của mơ-về, của cuộc đời là lẽ sống, nói lên biểu hiện tự do vì chứng cớ ‘trói người’ và ‘đớp’ là hai động từ bi đát của ‘tragedy’ là thảm kịch, bởi ý nghĩa chung hay riêng của cuộc đời đều nằm trong tư thế của ‘hư-vô’ cho mỗi cá thể. Với chừng đó câu thơ 7 chữ thi nhân đã nói lên trọn gói của bi thảm ; đời là chấp nhận sinh tử, dù là thương đau, dù là thất bại nhưng để lại tiếng đời. K. Jasper có lần nói : ‘Thất bại chỉ có với tồn lưu / Il n’y a d’échec que pour l’existence’.

Lời thơ của Cao Bá Quát không còn tính cách châm biếm, ngạo đời hay mai mỉa mà chứa đựng một phản kháng nội tại : vô cùng, mãnh liệt, bi thương. Bởi ; phản kháng của Chu tiên sinh có nghĩa là không chấp nhận cái thứ quyền lực phi lý, kết án không bản án, cáo trạng của vô tội giữa một tình huống ngổn ngang, gò đống. Tinh thần phản kháng đã biến mình qua gào thét, đơn điệu, ngạo mạn ung dung, mỉm cười trong đau xót của thế thái nhân tình mà mấy ai hiểu lòng dạ của thi nhân.  Không chừng nhìn Cao Chu Thần là kẻ cuồng si thời đại, chưởi đời qua ngạo nghễ tư duy ! A. Camus cũng có lần thốt lên như vậy :’Tôi thốt lên rằng mọi thứ là vô lý nhưng tôi không thể nào nghi ngại lời than, lời thét(ngạo)của mình mà ít ra tôi phải tin vào sự quyết của tôi / Je crier que je ne crois à rien et que tout est absurde, mais je ne puis douter de mon cri et il me faut au moins croire ma protestation’. Vậy thì tinh thần phản kháng của Cao tiên sinh là tìm thấy ở chính mình với những lý do đưa ra như tự mình kiểm xét tự mình để mở một lối thoát ; cái dồn ép nội tại nầy là lý do đẩy Cao Bá Quát theo phong trào cựu Lê để dấy binh ở Mỹ Lương (1854). Có phải đó là con đường ‘la nostalgie de l’être’ một hiện hữu của tình quê ? một phản kháng cuối đường được tìm thấy qua những gì kêu ngạo đời vì đời nuôi dưỡng bất công, hủ hóa ngay cả triều thần đang rơi vào cõi u minh (luật trường thi). Cái phản kháng nói không mà có, nói có mà không ; một lối chơi chữ tài tình của con người vốn hay chữ như Mẫn Hiên Cao Chu Thần. Hiếm có người làm thơ theo dạng đó.

Từ thất bại nầy đến thất bại khác Cao tiên sinh rơi vào vực thẳm, nỗi thống khổ chồng chất khi nhận tước vị Quốc sư cho dòng hậu Lê mà không đạt được mộng ‘xây thành’, ngọn cờ không thuận gió như mộng ban sơ :

             ‘ Bình dương, Bồ bản vô Nghiêu Thuấn/Mục dã Minh điền hữu Vũ Thang’

(Bình dương, Bồ bản không có vua Nghiêu Thuấn thì Mục dã Minh điền phải có Vũ Thang nổi dậy). Ngần ấy thôi cũng là tội mất đầu đối với triều Nguyễn, còn biết bao nghịch phản lệnh triều đình, bao lần sửa bài, phạm húy luật trường thi. Cao Bá Quát đang đối diện với thực trạng, đối diện một xã hội thoái trào, thủ cựu, bao che, đì ải của quyền lực : một cho quyền lực  thiết lập trên nghi thức của dòng tộc, hai cho quyền lực thu đoạt, khống chế. Đó là nguyên cớ phát động bùng dậy để trừ gian diệt bạo của phường nhà ma, ngạ qủi. Quyền lực của đám ruồi muỗi nhỏ nhen khơi nguồn như một quyền lực vô biên.  Cao Chu Thần không nghi ngờ điều nầy, và ; cũng chẳng ai nghi ngờ sự thế, cho dù một giây phút nào đó, cái đặc ân ghê gớm đó đều đem lại bè phái tức khắc và rồi chúng ta trở nên nạn nhân của thoái trào –this powerfull little group of innitiates knows that it has all the rights. Anyone who doubts, even for a second, these formidable privileges is immediately driven from the flock, and once mere becomes a victims (The Rebel. A. Camus). Nhưng  Cao tiên  sinh phá chấp để đạt tới một tinh thần cách mệnh chủ nghĩa. Nhìn xa hơn ta thấy được cái tâm như của Mẫn Hiên là tâm bình đẳng; một hoài vọng của kẻ sĩ đứng trước thảm cảnh, muốn biến mộng thành thực, đó là hướng vọng cuộc đời, là lẽ sống là hướng trực là ý nghĩa làm nền cho mọi hoạt động của mình, sửa bài là một thái độ phá chấp để nuôi dưỡng hoài bão, mưu cầu trọng dụng nhân tài, chớ phải mục đích mua quan bán tước mà đó là tinh thần của người thức giả, một yêu cầu tự thân của hiện thể.

Với 46 năm cuộc đời là đón nhận thảm cảnh bi thương, khi thăng khi trầm, khi đày, khi dương hành hiệu lực, khi sơn lâm cùng cốc hay đến miền cao heo hút. 1840 (32 tuổi) đánh dấu một đời tham quan trước cửa Khổng sân Trình để rồi nhận lãnh chức Hành Tẩu Bộ Lễ ở Sơn Tây. Cao Chu Thần bình tâm trước vận nước đảo điên, xót thương tình người, tình bầu bạn, tình yêu vợ con, tình trăng trong núi biếc với chén thù chén tạc. Lời thơ như tự thán, như trách phận mình làm mà không thành để vạ lây:

      ‘Cầu điều nhân chưa đạt thành gây họa / Cùng bệnh thương nhau mà lụy đến người’.

Ba năm ngồi tù vì tội ngạo, tội nghịch nhưng khí tiết ‘nhà nho’ không vì thế mà khiếm nhược, vẫn ngạo nghễ để chưởi vào mặt đám quan liêu, xua nịnh, hoạt đầu để nhũng lạm, bênh vực kẻ yếm thế và tình người cao cả; đọc bài ‘Tài tử đa cùng phú’ tưởng là lời lẽ bông đùa nhưng trong đó chứa một nội thức phản kháng. Một thứ phản kháng siêu hình là cơn dấy động của con người, đứng lên để đối đầu với thân phận. Tại sao cho Cao Bá Quát là phản kháng siêu hình? – trong con người nô lệ có cái sự đặt định buộc phải, giá trị con người ngang hàng con vật; cho nên dấy động là đi từ kẻ nô lệ và kẻ phản kháng trở thành đồng tính. Nguyễn văn Siêu và Cao Bá Quát là bạn tâm giao (dù mức độ và tuổi tác cách biệt) nhưng đồng cảm; cả hai đã chối bỏ, chối bỏ thân phận bị vùi dập –pour l’un et l’autre, il ne s’agit pas seulement d’une negation pure et simple. Vì vậy Cao Bá Quát, Nguyễn Văn Siêu phản kháng để thấy họ hiện hữu, tư duy nầy gần với Descartes, đó là lối suy tư phản kháng ‘cogito’ của hai vị thức giả nhà nho ở vào thời đó.

                                           Trái chân kỳ ký cho vào rọ

                                           Rút ruột tang bồng trả nợ cơ

Kỳ ký là bậc tài hoa mà không biết dụng võ, lãng quên như đồ bỏ. Chí tang bồng hồ thỉ thì lại dùng vào chuyện áo cơm. Cao Chu Thần manh nha từ đó để ngạo mạn. Cái đối đãi ơn sủng, mưa móc của nhà vua là nặng nhẹ trong hình phạt. Cao Chu Thần hiểu rõ điều đó hơn ai. Thiệu Trị,Tự Đức sủng ái, bổ nhiệm, khoan hồng, ân huệ vì; Cao Bá Quát có tài về văn, chữ lại giỏi, thông tuệ chính trị; như đã một lần quân sư thì đó không phải người thường. Song le; chất ngạo ở con người Cao là một khinh mạn có lý, có tình, một cung cách phản kháng thâm hậu mỗi khi đáp lễ vua quan; tàng ẩn một sự so sánh giữa vua tôi:

‘Thiên tải nhất ngộ, hữu thị quân hữu thị thần’

(Nghìn năm gặp được một lần, có vua đó có tôi đây)

Cái lối cưỡng kháng mà vua quan đành lòng thừa nhận bản chất cố hữu của con người ngạo mạn, một biểu thị ngang ngửa, khát vọng là đòi hỏi chung. Suy ra lời lẽ đối thoại không phải là lời nói tao nhã của kẻ sĩ mà đó là ý chí quyết thắng, đánh đổ để dồn đối tượng vào ngõ cụt mới thấy được người được ta. Thế mạnh của Cao Bá Quát là ở chỗ ‘văn chương nết đất thông minh tính trời’(ND) điều đó hẳn nhiên đã rõ. Cho nên đứng trước vua quan  Mẫn Hiên không nhìn là đối tượng tôn kính mà bằng một bản thể tự tại mới xuất thần thành thơ, một lối thơ ‘mới’ đối đáp có văn tự. Qua tư duy triết học giữa vua tôi là hiện thể của hai là một ‘un être-à-deux’ thì không còn phẩm trật hay đẳng cấp mà cả hai cùng chung một tế bào nhạy cảm, vướng vít vào nhau đưa đến một đối thoại rộng rãi; như gặp nhau, như đang sống cùng một tương thức lồ lộ –révélation de ‘toi’ pour ‘moi’ như Merleau- Ponty đã nói. Trở lại bài thơ đọc trước vua quan của Cao tiên sinh như sau:

‘Bảo mã tây phương huếch hoắc lai

Huênh hoang nhân tự thác đề hồi

Viên trung oanh chuyển khề khà ngữ

Dã ngoại đào hoa lấm tấm khai

Xuân nhật bất văn sương lộp bộp

Thu thiên chỉ kiến vũ bài nhài

Khù khờ thi tứ đa nhân thức

Khệnh khạng tương lai vấn tú tài’.

(Ngựa qúy từ phương tây huếch-hoắc lại/Người huênh-hoang nhờ cậy dìu về/Trong vườn chim oanh khề-khà hót/Ngoài đồng hoa đà lấm-tấm nở/Ngày xuân chẳng nghe tiếng sương lộp-bộp/Trời thu chỉ thấy mưa bài-nhài/Thi tứ khù-khờ mà nhiều người biết/Khệnh-khạng mang đến hỏi ông tú tài.) Những chữ, những câu có tính súc tích hàm chứa nghe như biền ngẫu nhưng đầy phong thái chân như của người thơ yêu nước. Ngẫm mới thấy cái tài dụng văn, cái nghịch lý của thơ là đưa Nôm vào Hán của Cao tiên sinh, diễn tả trọn vẹn cõi thời gian là yếu tố, cơ sở, sinh, diệt và chính con người dự cuộc với trần gian như giấc mơ, nhưng nhìn lại thì một thoắt. Vua Tự Đức người uyên bác ít nhiều hiểu được: thời gian là cuộc đời. Cao Bá Quát hiểu được: thời gian là qui trình; vì thế thời gian in dấu trong thơ, bởi; cuộc đời trôi chảy không thể vượt được thời gian, cho nên chi vạn vật song hành với thời gian để rồi đưa tới biến dịch, đổi thay và dần dà đi vào hư vô dưới ánh mặt trời:

‘Dưới thiều-quang thấp thoáng bóng Nam-San

Ngoảnh mặt lại cửu-hoàn coi cũng nhỏ’ (Uống Rượu Tiêu Sầu.CBQ)

Thời kỳ đi làm giáo thụ Quốc Oai, Sơn Tây. Ông tự thấy mình thừa giữa cuộc đời, một lưu đày tại thế. Biến Cao Chu Thần ở trạng thái lỡ thời. Cao Bá Quát tuyệt vọng, con đường hoạn lộ coi như vùi dập ; cái lối ‘đãi ngộ’ của đám vua quan là trị tội; vì cho rằng Cao Chu Thần vạch mặt chỉ tên những kẻ phì gia, hả hê trong đau khổ. Đau đớn thay phận làm người. Ông từ quan cáo bệnh để xa cái cảnh trói người, đày người rồi buộc tội :

Nhà nát ba gian, một thầy một cô một chó cái

Học trò dăm đứa, nửa người nửa ngợm nửa đười ươi

Cái đau nhói của thi nhân là bị ‘nhốt’ và đã ở hoàn cảnh đó thì thực trạng con người trước nhất có lẽ là thời gian, vì ; thời gian là bao hàm quản thúc sự sống ; nỗi tuyệt vọng đó đã giết chết nguồn thơ biếm đời ngay cả nguồn thơ tức cảnh để sinh tình của Cao thi nhân. Hiện tượng đó nói lên cái siêu lý của Cao Chu Thần ; đó là cảnh u hoài, bi đát đưa đến một nội quan phản kháng. Do đó cái ngạo của Cao Bá Quát không còn tính cách biếm đời mà ngạo để lật đổ tàn tích cố cựu, để làm mới xã hội : mục nát giữa người và ngợm !

Chưa thỏa mộng lại triệu về cung làm những điều không phải mộng mà đứng lại để nhận cái bi thương xã hội ; bởi những ký sinh trùng thời đại biến minh quân trở nên u quân. Vì thế đời ra sức dzìm kẻ có tài đó là luật thường tình. Cao tiên sinh học giỏi lại hay chữ, cốt cách uyên thâm của giòng dõi để lại, một trí tuệ vượt bực khi ở tuổi thiếu thời thì đủ thấy được cái chất hào khí ngang tàng, ngỗ nghịch của một con người thấy được cuộc đời giữa hư và thực, giữa mộng và ảo thì làm sao kẻ sĩ nguôi ngoai với tình huống. Ngạo mạn là lý do uẩn khúc trước thời cuộc. Chí thì lớn mà đôi tay thì yếu… Cũng nhờ về đất Thuận Hóa làm kinh sử bên cạnh vua mới thấy được mộng là mộng, chân là thực :

‘Đem mộng sự đọ với chân thân thì cũng hệt’

Vị chi trạng thái tâm thần của Cao Bá Quát trở nên bị động trước hoàn cảnh đến bây giờ ngoảnh đầu thì xa vời với thực tại. Phải hiểu hoàn cảnh ở đây cho Cao tiên sinh ; dù đối đầu qua nhiều trạng huống khác nhau nhưng hoài vọng nhà Chu vẫn một mực dấy động, làm bầy tôi nhà Nguyễn, hào khí bất khuất đó không thể dập tắc được. Dù rằng ; về mặt tinh thần lễ giáo, đạo đức, gia phong có kiềm tỏa, quân với tôi là nghĩa cử nhưng yếu tố đó khiến cho con người ray rứt trước hoàn cảnh, trước bản chất, trước thời gian tất đưa tới khổ lụy. Đó là sự cớ đẩy Cao Bá Quát vào một tư duy phóng ngoại như để xoa dịu nỗi đau trước hoàn cảnh xã hội, trước hoàn cảnh cố hữu của thần và quân như trói buộc. Tình thế đó ; dẫu là gì con người một đôi khi phải trở-về cho chính mình, một cái gì xao xuyến tương thức giữa đời và người, một nhân sinh quan tương hợp hóa ‘rationlisation’. Nói một cách lý thuyết thì đó là hiện hữu cho mình –être-pour-soi mà vẫn chứa một cơ cấu hiện hữu cho người khác –être-pour-autrui. Thì đó là một liên trình của Cao Bá Quát :

‘Thế sự thăng trầm quân mạc vấn

Yên ba thâm xứ hữu ngư châu’

(Việc đời thăng trầm chất vấn làm chi/Trong khói sóng mịt mờ có chiếc thuyền câu)

Phải biết rằng ; Cao Bá Quát là đấng tài hoa quán thế, tài không dụng, chí không phát mà gặp phận số long đong. Sinh lòng mà lui về một góc trời riêng, mượn chén men say :

‘Ba vạn sáu ngàn ngày là mấy

Cảnh phù du trông thấy cũng nực cười

Thôi công đâu mà chuốc lấy sự đời

Tiêu khiển một vài chung lếu láo’

(Uống Rượu Tiêu Sầu. CBQ)

Gia nhập vào Mạc Vân Thi Xã là duyên trùng phùng với cái nghiệp thi ca. Ở đây Cao tiên sinh thả thơ, bình thơ với những tay thi bá tiếng tăm cố đô văn vật, một tao ngộ kỳ phùng bởi chỉ có ngôn ngữ thơ mới nói lên sách lược của mình. Cao thủ như Mẫn Hiên mới thách đố được những bậc công hầu khanh tướng như thủ lãnh thi đàn Miên Thẩm.

Càng thâm sâu càng thấy cái dở, càng đào sâu mới thấy đất nhiều hơn vàng hơn bạc. Ngao ngán phải thốt nên lời miệt thị, khinh khi  đám sĩ tử.Mặc dù Tự Đức đãi cho mấy chữ ngợi ca :

‘Văn như Siêu Quát vô tiền Hán

Thi đáo Tùng Tuy thất thịnh Đường’

Nhưng Cao Chu Thần không lấy đó làm tự mãn. Bởi Cao là một nhà thơ. Một nhà thơ chân chính và biệt tài. Thì dẫu có sánh hơn cả Hán hay Đường chỉ là lời ngợi ca khí tiết, trấn an một nội tại phản kháng.  Phản kháng ngay trong lòng địch :

‘Ngán thay cái mũi vô duyên

Câu thơ thi xã con thuyền Nghệ An’

Có cần lý giải cái thảm cảnh sầu bi này không ? Giải làm chi một vùng đất mắm tôm dưa muối suốt đời thì hay ho gì mà phân bua bày biện. Thói đời là thế. Cứ thấy mình là hay !

Trong buổi tiệc rượu của đám văn nhân Mạc Vân Thi Xã ; đó là lần cuối Cao Bá Quát lên đường ra Bắc. Trước khi đi có trao bài thơ xuân cho bạn chí thân Nguyễn Văn Siêu :

‘Khách nay chẳng thấy xuân xưa nữa

Thổn thức xuân nay gặp khách xưa

Nay hóa thành xưa nào mấy chốc

Hư nhìn ra thực khỏi lầm chưa ?

Bao phường danh lợi cơn mưa sáng

Mấy bậc anh hùng đám bụi mờ

Tục lụy cười mình chưa dứt được

Gần đây sách vở quá say sưa’

(Xuân Dạ Độc Thư/Đêm Xuân Đọc Sách. CBQ/Nguyễn Văn Tú dịch nôm)

Đấy là bài thơ tả cảnh xuân. Miên Thẩm cho đây là tặng phẩm mùa xuân của Cao Chu Thần, xuống lịnh mở yến tiệc, tiễn đưa hiền hữu và cho lấy đàn Nam-Cầm dạo khúc tiêu tương. Dạo lên nghe như muôn sắc ngàn tiá của mùa xuân tươi sáng ; nhưng chính ở lòng Mẫn Hiên là ước đời đổi thay sau những cơn mưa gió bão bùng.Ý thơ là vậy !

Tháng chạp năm 1854 Cao Bá Quát(*) bị bắt. Tự Đức ra lệnh chém đầu và tru di tam tộc. Người anh Cao Bá Đạt tự tử trên đường giải về Kinh. Cao Bá Nhạ con Đạt phanh phui nơi ẩn trốn bị bắt và đày lên sơn cước. Sau chết ở đó.

Thời gian Cao Bá Quát ở ngục thất chờ hành quyết có làm thơ và đối mang khẩu khí ngạo mạn của một tử tù nhưng lại là vua, được truyền tụng :

‘Một chiếc cùm lim chân có ĐẾ

Ba vòng xích sắt đứng (bước) thì VƯƠNG’

Nghe đồn rằng khi thi sĩ Cao Chu Thần bước lên đoạn đầu đài, áo vải thô, cổ bị gông, trói tay ; dõng dạc, ung dung gục đầu cho người ta chém, miệng lẩm bẩm chưởi đời đôi câu như sau :

‘Ba hồi trống giục mồ cha kiếp

Một nhát gươm đưa bỏ mẹ đời’

Đó là thời gian ngoại tại và chuyển vần. Cao Bá Quát chết để thỏa lòng vị kỷ của đám vua quan. Chết ở đâu cũng là cái chết qua thời gian. Thế nhưng con người cứ tưởng khổ đau và những gì bi thảm có thể hết nhưng quên rằng thời gian là chứng tích, lịch sử là văn bản, con người là hiện thể, ba thứ nêu trên là sắc lệnh để đời. Nhưng ; chắc chắn điều nầy không thể vượt qua được. Tại sao ? Vì ; sống có nghĩa là xoay vần, chuyển dịch có nghĩa là nghiệp chướng (theo nhà Phật) biến thiên của vũ trụ mà thời gian là cái gì vây quanh đời người ‘thương hải biến vi tang điền, tan điền biến vi thương hải’. Mẫn Hiên Cao Bá Quát chết theo thời gian . Thời gian của Người đứng lại nơi đây. Bởi ; thời gian chuyển vần vì thời gian là yếu tố sống còn và miên viễn như bao số phận khác…

Quan Án sát Nguyễn Văn Siêu những ngày sau đó không ngủ được, nằm nghe đêm âm thầm trôi với hồi trống canh năm ở cổng thành xa đưa tới. Nguyễn tiên sinh rùng mình, khơi ngọn đèn dầu lạc trong sương sớm, động lòng trắc ẩn làm một bài thơ nhớ bạn tài hoa dũng khí ./.

VÕ CÔNG LIÊM (ca.ab.yyc cuối 6/2013)

SÁCH ĐỌC : Thơ Văn Cao Bá Quát. NXB Văn Học Hà Nội. 1984.

(*)  Ngày sanh tháng đẻ CBQ chưa minh định chính xác, người ta dựa vào đời nhà Nguyễn (Minh Mệnh (1820-1840) Thiệu Trị (1841-1847) Tự Đức (1848-1883) là những thời đại cực thịnh về Nho/Hán và khoa cử. Do đó căn cứ thời điểm nầy mà hầu hết sách báo có khi ghi :(1800/1803/1804/1808). Cao Bá Quát song sanh cùng anh Cao Bá Đạt. CBQ 5 tuổi thông minh lỗi lạc. Ông mất năm 1855.

Có thể do lòng hận thù vì lời ngạo mạn điểm mặt chỉ tên ;để bịt miệng dư luận. Phản trắc chống triều đình vua Tự Đức hạ lệnh xử trảm và tru di tam tộc. Hoặc chết sau khi dấy động khởi nghĩa ở Mỹ Lương.Chặt đầu, bêu rêu sau đó bằm nát quẳng xuống sông về tội chống vua.(Rút từ Đại Nam Liệt truyện mục Nghịch thần).

 

HAI MƯƠI HAI MƯƠI

 

nguoi chet

TRANH VẼ: ‘Người chết /A dead-man’ by Võ Công Liêm

    Tính ra cái cảnh ‘lià xa’ ngon ngót bốn mươi lăm năm (1975/2020) gần nửa thế kỷ cho thân phận lưu đày, hờn vong quốc. Đó là con số thời gian mà kẻ ở người đi phải nhận lấy nó như một thử thách với cuộc đời giữa hai bến bờ, cái đó gọi là mơ, nhưng; thực tế đó chỉ là mơ-về /rêver của ‘dream come true’ cho một mong đợi, bởi; nó mang nặng sắc thái chủ nghĩa hơn là tình người. Sự đó gọi là hiện tượng vũ trụ là một tiếp cận gần kề đối với chúng ta, một vũ trụ khát vọng là cái nhìn dự cuộc để tạo nên một liên hệ tương giao; nghĩa là xây dựng vào đó một hình ảnh lý tưởng của cuộc đời đi vào trong cuộc đời và đặt con người vào cuộc đời như một cái nhìn nội giới, nhưng; đến khi chúng ta phóng tầm nhìn vào hiện tượng là để đi tìm bản thể của ta đang đứng trước một môi giới thời gian và vũ trụ; sự gặp gỡ đó chính là nơi chúng ta làm nên hay không làm nên, cái đó gọi là ý thức thức tỉnh, là những gì mà con người kêu lên hay thốt thành lời trong một không gian qui trình và văn phạm; con người kêu hay thốt là âm vang đắng cay tuyệt vọng để có một cái gì mà con người đang dự cuộc, dù là dự cuộc dưới hình thức nào đều nằm trong qui trình của mong đợi cho một thái độ nhận biết của con người đang đứng trước một thế giới khoa học hiện đại hơn là buông thả, a-dzua, a-tòng để từ đó mất luôn tính sáng tạo, ngay cả sáng tạo trong văn chương hay trong cuộc đời. Đó là lý luận theo dạng văn chương triết học; nhưng đứng trên lập trường tâm lý học thì trạng thái đó là tâm lý mơ-về / rêverà không phải là trạng thái thức tỉnh / awakening / réveil mà là một đánh đổi tuyệt vọng giữa thời gian và cuộc đời (con người) cho một sự an-bài, không còn thấy ánh sáng cuối đường hầm, mù mờ bế tắc vô tận số, tức là nhập vào thời gian của ‘sát-na’ là đi vào cõi vô cùng . Cái sự đó tâm lý học cho rằng : En suivant ‘la pente de la rêverie’ là theo đuổi cho bằng được trên con đường nghiêng ngã của sự mơ về, thực ra nó không phải là điều tuyệt vọng cho một tâm lý theo đuổi giữa một trạng huống đối lập của tỉnh mà đó là một quyết định nhận thức: đã làm được gì và chưa làm được gì trong một thời gian dài đằng đẵng mà chưa đạt tới. Dù có đạt hay không đạt chúng ta coi đó như đối tượng hiện hữu giữa chủ thể và tha thể, mà nhìn vào nó như một dữ kiện, nhưng; nhớ cho rằng dữ kiện chưa hẳn phải là xác quyết để thừa nhận, những gì đã đưa ra hay đề xuất chỉ là hành động mơ hồ, giả tưởng, nó không phản ảnh vào đó một thứ chính nghĩa mà biến mình vào trong cái dự tưởng không có đối tác, là phong cách của kẻ theo đuổi trên cái dốc đứng của mơ về; tất thảy những thứ đó là giả hợp để rồi nảy sanh ra nhiều biện chứng khác nhau, bởi; đó là hình ảnh của ảo giác, một thứ hy vọng vô tưởng tức không thuận lòng người để làm nên, thời tất giòng thời gian đó sẽ đi vào quên lãng, một quên lãng đau đớn như bao lần đã xẫy ra.Vì vậy mà trượt/pente/slope ra khỏi vòng tay là ở chỗ đó, nó có một cái gì hụt hẳng không bao giờ bắt chụp một cách trọn vẹn, thế nhưng; con người vẫn theo đuổi, dù là vô vọng trong cái mơ ước của mình; một sự chạm trán giữa người và vật, chạm trán giữa vật lý và tâm lý; nó vòng vo trong cái tàng tích cổ lỗ sĩ không vượt thoát để tìm thấy sáng tạo, dù có lập lại hay thiết kế hoa lá cành, tất cả nằm trong tuồng tích, vô ra thằng cha khi nãy, một phường giá áo túi cơm chẳng làm nên lịch sử. Mặc khác; trên ‘thị trường’ chữ nghĩa có lắm thứ bung ra như bày tỏ nguyện vọng, như khẩn trương tình thế, những thứ đó chỉ nhất thời chớ không thức thời, đều trở nên a-tòng, dự phần trong cái thế chẳng đặng đừng, tức cờ phất theo gió, không có lý tưởng chủ nghĩa như yêu cầu đã đề ra; trầm trọng khác là không đổi mới tư duy để có một hướng đi cụ thể cho việc mơ-về, làm mất luôn tính sáng tạo ngay cả sáng tạo trong văn học nghệ thuật từ xưa đến nay.

Hai mươi hai mươi (2020) là cái năm tròn của thế kỷ hai mươi mốt, một đánh dấu lớn giữa người và việc, trong cùng một hoàn cảnh, trong cùng một khuynh hướng xã hội và nhân văn; vừa có tính người, vừa có tính lịch sử bao gồm giữa cõi đời đang sống. Vị trí mật thiết của hai mươi hai mươi là làm sáng tỏ tư duy, một tư duy cải cách và đổi mới. Cái gọi là ‘hoàn toàn theo mới’ khởi từ 1930/1937 đã phát động từ những nhóm nhân văn, đứng lên phá hủy bức tường thuộc điạ cũ (Bắc thuộc, Pháp thuộc) và thuộc điạ mới (Việtnam hóa /Vietnamezation Mỹ) để rồi từ đó dựng lên những thể chế mới hơn. Biên giới điạ dư hay biên giới không gian không còn là rào cản mà là một sự ‘vượt thoát’ để nhìn thấy mình và tìm thấy mình trong một môi trường thích hợp hơn, bởi; nhìn thấy mình của những gì thoái trào do từ tàn tích để lại, nghĩa là không giải phóng con người và vật thể như thời kỳ của Lý Trần ở tk. mười, mười hai và tìm thấy mình đang dự cuộc trên chính trường Quốc tế hiện nay. Thì ra thời gian của chúng ta là thời gian của bi thảm đã rì kéo, đẩy vào con đường chiến tranh, một thứ chiến tranh bẩn thỉu, tanh hôi để rồi văn hóa cũng bị vạ lây tiêu tán và hủy diệt. Từ chỗ đó mới nhận ra rằng văn hóa là nồng cốt để xây dựng một nền tảng đúng phong cách của chúng ta. Cái đó gọi là thời gian hiện sinh, bởi; thời gian là cuộc đời, đưa bao nhiêu điều mới lạ vào đời với những gì đáng có và không đáng có. Cho nên chi; trong cuộc đời con người dự cuộc chính là thời gian. Sở dĩ đặc vấn đề thời gian vào cuộc đời là vì sống là một sự chuyển vần, nó đổi thay và biến dạng dưới mọi tình huống, thời gian là bản chất của đời người, thân phận làm người, thân phận lưu đày hay quê nhà là một tâm lý thuần nhất của vũ trụ như-nhiên. Thời gian chuyển vần qua những đổi thay giữa hiện hữu và tha nhân; điều này cho ta một liên tưởng đến đề tài 20/20 của thập niên trước đây trên hệ thống truyền hình ABC của Mỹ. Qua một vài xướng ngôn viên nhưng đặc biệt xướng ngôn viên Barbara Walter dẫn chương trình đã thu hút nhiều khách xem, bà là một người hiếm có, biết vận dụng miệng lưỡi để đối đáp và đã tạo nên hiện tượng; với chủ đề 20/20 là tạp chí tin tức truyền hình Mỹ (American Television Newsmagazine) là ‘show’ nóng có tính chất nhạy bén được định lượng và đánh giá cao, hầu hết là vấn đáp (orally) với những yếu nhân Mỹ hay một vài nhân sự khác khắp toàn cầu. Căn cứ vào sự kiện để thấy mình đang hiện diện giữa đời, là một nỗ lực chung để Việt nam đang đứng trên 20/20 như một chứng minh hùng hồn sau những năm chịu đựng của máu lửa, sau những năm bị đè bẹp vô căn cứ bởi chủ nghĩa, bởi quyền lực và sức ép. Ghi nhận nó tức thừa nhận nó là một hiện hữu tại thế. Những hành động của con người không còn là vấn đề quan trọng để trực diện –Les actions humaines n’ont pas d’importance directe. Mà nó nằm trong lương tâm. Tất cả chẳng để lại gì ngoài một nhân tính trung thực giữa người với người. 20/20 chỉ là sự kiện thời sự. Nó không phải là bước ngoặt để đánh dấu về con người mà là nhân tính con người trước thời cuộc. Lịch sử nước ta bao phen tử sinh giữa tà đạo và chánh đạo là một hỗn hợp để cấu thành. Dẫu thời gian có chuyển vần, chẳng qua chỉ là biến dịch vũ trụ, bởi con người dự cuộc với thời gian hiện sinh là cái mốc lớn:

Khởi từ 1930/1937 đổi mới tư duy trong thi văn, cách mạng tư tưởng trong văn học sử và xã hội. 1945/ 1955 chống mọi xích hóa, chủ nghĩa, chủ quyền, cọng sản, quốc gia, luật điều im lặng: ‘cải cách ruộng đất’, ‘người cày có ruộng’ là những đề tài phi thực không hiện thực của đòi hỏi mà là giáo điều của chủ nghĩa. 1954/1965 hòa bình trở lại (miền Nam) rồi đấu tranh, hoan nghinh, truất phế rồi chiến tranh. 1965/1975 đánh nhau ‘nội chiến từng ngày’ đạp nhau mà đi với bao cảnh tang thương, tắm máu…cho tới bây giờ: 1975/2020 vẫn chưa phải là đề mục sốt sắng giữa kỷ nguyên này; liệu có đem lại một nền hòa bình thực sự như hoài bão mong đợi? Còn gì nữa đây giữa hai bờ giới tuyến?–Anh có thể làm những gì anh muốn, nhưng; đừng phụ lòng người và xin đừng cầm tù, bắt bớ, vu khống, bôi bác, mị dân, chụp mũ văn hóa, dù là văn chương bình dân hay văn chương bác học. Tất cả là chứng tích của lịch sử ./.

VÕ CÔNG LIÊM (ca.ab.yyc . 31/12/2019)

TRANH VẼ: ‘Người chết /A dead-man’ Khổ 15” X  22”. Trên giấy cứng. Acrylics+ mixed + oil-stick. vcl# 2052010.

   

KIM VÂN KIỀU 

Thư viện của bài

This gallery contains 1 photo.

Nguyên Lạc Biên khảo
TRẬN CHIẾN CHƯA NGƯNG – ĐOẠN TRƯỜNG TÂN THANH VÀ KIM VÂN KIỀU TRUYỆN 

                                         Phần dẫn nhập
Trong phần Lời Kết của bài Về Nguồn Gốc Của Thơ Lục Bát [1] – tôi có viết: “Giống như một số người cố tình cho Đoạn Trường Tân Thanh là truyện thơ diễn dịch từ Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm Tài Nhân bên China mà ra, sao không nghĩ ngược lại?”. Rẩt nhiều người, kể cả các trường đại học, trung học Việt Nam đã cho rằng thi hào Nguyễn Du dựa theo cốt truyện một tiểu thuyết chương hồi, bằng văn xuôi của Thanh Tâm Tài Nhân bên China để viểt ra Đoạn Trường Tân Thanh. Thí dụ:

[ … Nguyễn Du viết dựa theo cốt truyện một tiểu thuyết chương hồi bằng văn xuôi của Trung Quốc có tên là Kim Vân Kiều truyện (truyện về Kim Trọng Thúy Vân Thúy Kiều) của một tác giả hiệu là Thanh Tâm Tài Nhân. Trong thời đại của Nguyễn Du các nhà thơ sáng tác thường dựa theo một tác phẩm của Trung Quốc như thế. Nói chung Nguyễn Du dựa khá sát vào tác phẩm của Thanh Tâm Tài Nhân khi viết lại Truyện Kiều: Cụ thể là những nhân vật trong Truyện Kiều của ông đều là những nhân vật lấy từ Kim Vân Kiều truyện; những tình tiết biến cố cốt truyện trong Truyện Kiều hầu hết đều có trong KIm Vân Kiều truyện…] – [Trường THCS Nguyễn Viết Xuân- Thị xã An Khê- Tỉnh Gia Lai]

Xin ghi thêm vài lời của ông GS “bạn vàng phương Bắc” Đổng Văn Thành:

“So sánh truyện Kim Vân Kiều Trung Quốc và Việt Nam” trên “Minh Thanh tiểu thuyết luận tùng” GS. Đổng Văn Thành – China cho rằng: “Nguyễn Du chẳng những chỉ mượn đề tài của tiểu thuyết Trung Quốc mà dường như bê nguyên xi […] Nguyễn Du không có bất kỳ một sáng tạo mới nào, chỉ chuyển thuật khá trung thực nội dung tiểu thuyết của Thanh Tâm Tài Nhân…” [ Theo Phạm Tú Châu “So sánh Truyện Kim Vân Kiều Trung Quốc và Việt Nam”]

Thêm nữa, mời các bạn đọc những lời này:

” Thế nhưng chẳng những bài viểt trên mạng, sách giáo khoa của các vị TS, PTS Giáo sư Việt Nam ta đọc  đều thấy viết đại để: Nguyễn Du đã vay mượn cốt truyện Kim Vân Kiều của Thanh Tâm Tài Nhân bên China, diễn dịch ra quốc âm dưới dạng thơ lục bát, sáng tạo ra truyện Kiều. Nguyễn Du là thiên tài của nước Việt đã biến một tiểu thuyết “tầm thường” trở thành một tác phẩm thi bất hủ. Tiếp tục đọc

QUẺ DỊCH, CÁCH LẬP VÀ GIẢI ĐOÁN (2)

Thư viện của bài

This gallery contains 4 photos.

Nguyên Lạc

                                                                                          

THUẬT NGỮ CẦN NHỚ

Tám quẻ nguyên thủy (bát quái ) gọi là đơn quái (quẻ đơn).

Sáu mươi bốn quẻ mới được tạo ra từ việc chồng bát quái gọi là trùng quái (quẻ trùng) để phân biệt với tám quẻ nguyên thủy, đơn quái (quẻ đơn).

Nội Quái và Ngọai Quái:

Mỗi quẻ trùng gồm hai quẻ đơn: Quẻ đơn ở dưới gọi là nội quái, quẻ đơn ở trên gọi là ngọai quái.

Ví dụ: Quẻ Thiên Phong Cấu:

Quẻ trên Thiên, tức Càn là ngọai quái,

Quẻ dưới Phong tức tốn là nội quái.

Ví dụ: Quẻ Địa Thiên Thái:

Quẻ trên là Khôn: Địa (Ngọai quái)

Quẻ dưới là Càn: Thiên (Nội quái)

Gọi là nội quái, ngọai quái vì sắp theo vòng tròn thì quẻ Càn ở trong (nội) gần trung tâm, còn quẻ Khôn chồng lên nó, ở ngoài (ngọai), xa trung tâm Tiếp tục đọc

Quẻ Dịch Cách Lập Và Giải Đoán

Thư viện của bài

This gallery contains 2 photos.

Nguyên Lạc

(Bài 1)

 Cẩn báo:  Cụ Nguyễn Hiến Lê có nói:  “Muốn học điều gì thì hãy viết về điều đó”. Theo tinh thần đó, chúng tôi đang học về Kinh Dịch, nên xin viết ra đây những gì mình đã học được từ người xưa, từ các bậc tiền bối… Xin hiểu cho, đây chỉ là những ghi chép vụn vặt trong quá trình học hỏi, nên chắc nó sẽ có rất nhiều thiếu sót, mong các bậc cao minh bỏ quá cho! Nếu các bạn tìm thấy có ít nhiều điều hữu ích thì tốt, còn nếu không, coi như ” Mua vui cũng được một vài trống can

Ở đời muôn sự của chung
Hơn nhau ở chỗ biết dùng hay không! 

Dẫn nhập: Bói Dịch không phải là mê tín, nó là khoa học. Có thể gọi là khoa học huyền bí. Vì vậy,  Tiến sĩ Phân tâm học C.G. Jung  ( ông cùng với S. Freud là một trong những thủy tổ của khoa Phân Tâm Học, nghiên cứu về tiềm thức của loài người) năm 1949 đã dùng bói Dịch để biết việc quảng bá và giới thiệu Dịch (I Ching) từ tiếng Đức sang tiếng Anh có đuoc thuận lợi hay không?. Bói được rất tốt, ông tiến hành và Dịch đã trở thành kinh điển cho các học giả và các trường đại học Tây Phương học hỏi!

Có 2 lý do để tôi viết bài này:

1/ Chúng ta chỉ sợ những gì mình không hiểu. Thí dụ như sợ Ma, vì chúng ta không biết rõ Ma là gì?. Nếu  biết thì sẽ không sợ. Cũng vậy, chúng ta sợ chết, vì không biết chết ra sao, sau khi chết như thế nào?. Nếu chúng ta biết rõ thì chắc chúng ta cũng sẽ không sợ. Đó  là lý do Phật giáo khuyên chúng ta nên tìm hiểu về sự chết (Tử) Tiếp tục đọc

VÀI KHÁI NIỆM VỀ VIỆC DÙNG CHỮ TRONG THƠ

Thư viện của bài

This gallery contains 1 photo.

Nguyên Lạc

VÀI KHÁI NIỆM VỀ VIỆC DÙNG CHỮ TRONG THƠ

CÁC KHÁI NIỆM

 Vài khái niệm cần thiết cho việc dùng “chữ” trong thơ: [1]

Theo Nguyễn Anh Khiêm (Ký Ức Sơ Sài) thì tiến trình ngôn ngữ như sau: Đủ chữ/ đủ ý: Thoại –> đủ chữ/ nhiều ý: Văn –> ít chữ/ nhiều ý: Thơ.
Do vậy trong thơ càng ít chữ mà càng nhiều nghĩa thì thơ càng hay; không cần phải ầu ơ ví dầu ,”hoa lá cành” cho dài ra, làm bài thơ loãng, dễ chán.

Theo tôi: Trong văn chương, dùng chữ bình thường, bình dị mà đủ nghĩa tốt hơn dùng chữ hoa mỹ mà vô nghĩa, sáo rỗng. Tuyệt nhất là dùng chữ bình thường mà tạo được nghĩa bất thường.
Đây là ý kiến của Nguyễn Thị Thảo An

[…Dùng những chữ đời thường đôi khi nghe ngô nghê, tưởng chừng như không thể là ngôn ngữ thơ, nó là ngôn ngữ trẻ con, của vỉa hè,… nhưng nếu biết đặt đúng vị trí nó sẽ trở thành những “viên ngọc” sáng lóng lánh, làm nổi bật ý nghĩa của câu thơ.

Ví dụ: “Đem thân làm gã tù lưu xứ/ Xí xóa đời ta với đất trời”.  Chữ “xí xóa” là chữ của trẻ con, thế mà đặt ở câu thơ này thật tuyệt]  

Trong văn, văn phạm phải rõ ràng và chữ thường có một nghĩa chính xác. Ngược lại trong thơ, sự chính xác văn pham đôi khi không cần thiết lắm; chữ càng nhiều nghĩa càng tốt, để người đọc suy đoán theo trãi nghiệm riêng mình. Thơ phải mở ra để độc giả dự phần vào – thơ mở – thì mới hay. Tiếp tục đọc

Về Thu Xếp Lại (2)

Thư viện của bài

This gallery contains 1 photo.

Đỗ Hồng Ngọc

3. Về thu xếp lại… ngày trong nếp ngày

“Về đây đứng ngồi 
đường xa quá ngại 
để lòng theo chút nắng bên ngoài…”
(TCS) 

Bây giờ muốn ngủ lúc nào ngủ. Muốn dậy lúc nào dậy. Chỉ khi nào có đi đâu xa mới phải để đồng hồ báo thức mà luôn dậy trước giờ, vói tay tắt đồng hồ reo rồi… ngủ tiếp. Thức dậy nhìn đồng hồ coi thử mấy giờ rồi, nhớ hôm nay sẽ có những việc gì phải làm. Có khi phải ghi trên giấy từ đêm trước. Bây giờ “mỗi ngày tôi chọn một niềm vui… đường đến anh em, đường đến bạn bè” là đủ. Nếu có đi dạy học, đi nói chuyện ở đâu đó thì phải đúng giờ giấc còn thì cứ theo cái đồng hồ sinh học của mình. Xưa thức khuya dậy sớm theo dõi trận đá banh hay. Nay thôi. Ban tổ chức dành cho tôi một sân riêng, có mái che, máy lạnh. Coi được bao lâu thì coi. Muốn thì cho ngưng trận đấu, sớm mai đấu tiếp. Đọc tin tức các đài báo phần lớn cũng chỉ đọc cái tựa là biết đủ rồi. Thì giờ đâu mà dài dòng văn tự. Nếu là một đề tài hay, cần thêm chi tiết thì đọc nhanh, kiểu câu đầu câu cuối, dòng dọc dòng ngang là xong. Bài nào thấm thía lắm mới đọc từng chữ. Dừng lại, nhâm nhi, ngẫm ngợi, rồi đọc tiếp. Cười khà một mình. Thích những bài bình luận sâu sắc, châm biếm nhẹ nhàng. Mấy chục năm nay quen giờ giấc chính xác, thấy ai trễ giờ thì bực mình do làm ở khoa cấp cứu bệnh viện nhiều năm, chậm trễ một phút có thể chết người. Bây giờ phấn đấu đi trễ cho quen vì đi đúng giờ, đến sớm làm cho người ta ngượng. Thăm hỏi một vài bạn đau ốm. Thư từ cho người này người kia. Nay vắng người này mai vắng người khác. Đến một lúc, thấy vắng cũng như có mặt. Không khác. Vài ba thư mời dự chỗ này chỗ khác. Thử chọn xem nên đi đâu không? Đa số đành từ chối. Ăn uống khó khăn. Mặt mày khó ưa. Ăn nói dễ ghét. Từ chối viết bài cho báo, xuất hiện trên truyền hình, trả lời phỏng vấn này nọ vì biết mình đến lúc nên lánh mặt, nên đi chỗ khác chơi. “Biết đủ dầu không chi cũng đủ/ Nên lui đã có dịp thời lui” (Ưng Bình). Thỉnh thoảng có bài này bài kia viết sai, trích sai… cũng thôi kệ. Nhiều bài không phải của mình, không phải mình viết, người ta cũng gắn tên mình là tác giả, thậm chí kèm cái hình chân dung cho… chắc ăn. Lúc đầu bực mình, đính chánh nọ kia. Sau, thôi, tùy hỷ. Tự dưng rồi người ta cũng biết. Kẻ cố tình làm sai chắc cũng thấy không vui. Tiếp tục đọc

Quẻ Dịch: Cách Lập Và Giải Đoán (Bài cuối)

Thư viện của bài

This gallery contains 5 photos.

Nguyên Lạc          
 

LẬP VÀ GIẢI QUẺ CHO VIỆT VƯƠNG CÂU TIỄN
 
Lời giới thiệu của tác giả:

Tiểu luận QUẺ DỊCH gồm có tác cả 6 bài, đây là bài cuối (bài 6). Bài này vì có liên quan đến sự hành xử giữa trên và dưới, giữa vua với thần dân, giữa chính quyền với dân chúng; có nói đến nguy cơ của sự tồn vong nước Việt Câu Tiễn, hợp với tính thời sự nên tôi giới thiệu trước, sau đó sẽ đăng lần lượt những bài còn lại. (Nguyên Lạc)       

 ***

 Lời dẫn:

“Kinh Dịch là thứ sách vì hạng quân tử mà làm ra, không phải là của hạng tiểu nhân. Trương Hoành Cừ nói: “Kinh Dịch chỉ mưu tính cho quân tử, không mưu tính cho tiểu nhân”.

Kinh Dịch là thứ sách do sự hư không làm ra. Trước khi chưa có hào vạch, Dịch thì là một lẽ hồn nhiên, ở người ta là tấm lòng im lặng.  Đến khi đã có hào vạch, mới thấy hào ấy là thế nào, hào kia là thế nào. nhưng mà vẫn  theo những cái  rỗng,  tĩnh ấy  làm ra Tượng Số.  Vì vậy nó mới linh thiêng!.

Trong Kinh Dịch, đại khái Dương thì lành (tốt) mà Âm thì dữ (xấu). Đôi khi cũng có Dương dữ mà Âm lành! Tuy nhiên, vì có việc nên làm, cũng có việc không nên làm.  Nên làm mà không làm, không nên làm mà cứ làm, thì dù Dương cũng xấu. Trong Kinh Dịch, hào Dương phần nhiều lành, hào Âm phần nhiều dữ!  Tuy nhiên, cũng cần phải xem ngôi vị của chúng ra sao!
Trong Kinh Dịch, chỉ có “trinh cát”, chưa có chỗ nào không “trinh” mà “cát”; chỉ nói “lợi trinh”, chứ chưa từng nói “lợi bất trinh”. Như quẻ Kiền (Càn) tốt lắm, nhưng mà ở dưới lại nói “lợi trinh”. Nghĩa là ngay thẳng, trung chính  thì lợi, không ngay thẳng, trung  chính thì không lợi. Tiếp tục đọc

*** Lương Tâm MẸ NẤM

Đỗ Hiếu/ĐHT

Phim Tài Liệu Về Gia Đình Tù Nhân Lương Tâm MẸ NẤM – NGUYỄN NGỌC NHƯ QUỲNH

Buổi trình chiếu phim “Mẹ Vắng Nhà”, được VOICE tổ chức vào chiều thứ sáu 31 tháng 8, 2018 tại hội trường Providence Recreation Center, thành phố Falls Church, Virginia.

Sau nghi thức khai mạc do ông Bùi Mạnh Hùng phụ trách, luật sư Trịnh Hội, Giám Đốc Điều Hành Tổ Chức VOICE cho biết đây là phim tài liệu đầu tiên về một nhà dân chủ, một phụ nữ đấu tranh cho nhân quyền, blogger Mẹ Nấm, đang ngồi tù, do đạo diễn Clay Phạm thực hiện tại Nha Trang. Cốt truyện diễn tả cuộc sống kham khổ, gian nan, gia đình của Mẹ Nấm, bà ngoại tật nguyền, mẹ già chật vật nuôi  hai con nhỏ của tù nhân lương tâm này mà còn thường xuyên bị công an bám sát, theo dõi, gây khó khăn đủ điều.

Cuốn phim dài 40 phút, được bí mật thu hình trong hoàn cảnh rất gay go, nguy hiểm, đã được chiếu tại các quốc gia trên thế giới tạo nhiều cảm xúc và thương xót trong công luận, khiến cộng sản Hà Nội phản ứng gay gắt.

Mẹ Nấm bị tòa án cộng sản xử 10 năm tù cộng với 5 năm quản chế, ghép vào tội “tuyên truyền chống phá nhà nước” vì đã tham gia biểu tình chống Trung Cộng chiếm Hoàng Sa, Trường Sa. Cô cũng thường xuyên lên tiếng bảo vệ dân oan bị cộng sản chiếm đoạt đất đai, tài sản, bênh vực gia đình các nạn nhân bị đột tử trong đồn công an, chống đối tập đoàn Formosa gây thảm họa môi trường, khiến cá chết đồng loạt tại bốn tỉnh Miền Trung.

Hiện nay cô bị giam trong một hỏa ngục ở Thanh Hóa, ngoài Miền Bắc, cách xa gia đình trên 1200 cây số và  thường bị nữ tù hình sự “đầu gấu” hành hung, tính mạng luôn bị đe dọa.  Cô đã nhiều lần tuyệt thực để phản đối hành động khủng bố tinh thần và vật chất dã man của các cai tù.

Mẹ Nấm Nguyễn Ngọc Như Quỳnh dù vắng mặt, đã được trao tặng nhiều giải thưởng như: Tự Do Báo Chí, Bảo Vệ Nhân Quyền,  Những Người Phụ Nữ Quốc Tế Can Đảm. 

Với sự can thiệp nhiều lần của chánh phủ Hoa Kỳ và Liên Hiệp Âu Châu đòi Hà Nội trả tự do vô điều kiện cho Mẹ Nấm nhưng vẫn chưa được đáp ứng!

Sau phần hỏi đáp qua điện thoại với đạo diễn Clay Phạm, hiện đang lẩn tránh an ninh Việt Nam và bà Nguyễn Thị Tuyết Lan, mẹ chị Nguyễn Ngọc Như Quỳnh, ở Nha Trang, buổi trình chiếu kết thúc vào lúc 8 giờ tối. Có những vị ân nhân ở Mỹ đề nghị với bà Tuyết Lan xin nhận hai bé Nấm và Gấu làm con nuôi. Bà nói, sẽ hỏi ý kiến của Mẹ Nấm, khi bà đến trại giam thăm con gái và phúc đáp sau.

Lên tiếng với VIETV, luật Sư Trịnh Hội, Giám Đốc Điều Hành của VOICE (Vietnamese Overseas Initiative For Conscience Empowerment/ Sáng Kiến Thể Hiện Lương Tâm Người Việt Hải Ngoại) cho biết về cảm tưởng chung, nói đúng hơn đó là sự phẩn nộ, cú “sốc” của khán giả tại Đài Loan, Philippines, Úc, Canada và Hoa Kỳ khi xem tận mắt những hình ảnh đàn áp, sách nhiễu thô bạo của công an đối với gia đình Mẹ Nấm cũng như những tiếng nói dân chủ khác lên tiếng phản đối bản án nặng nề dành cho Mẹ Nấm.

Tại Việt Nam, phim chỉ được chiếu kín đáo trong các giáo xứ và nhà thờ với số người xem hạn chế. Trên Xứ Thái, phim được chiếu lần đầu tiên vào ngày 27 tháng 6 vừa qua, trong Câu Lạc Bộ Báo Chí Quốc Tế (FCCT) tại Bangkok, Thái Lan. Khi biết được, Hà Nội triệt để ngăn cấm đồng thời áp lực chánh phủ Thái phải hủy bỏ các buổi trình chiếu phim “Mẹ Vắng Nhà”.

Bà Phùng Thị Hạnh, cựu Chủ Nhiệm báo Tin Sống ở Saigon [trước 1975] và cựu phóng viên tạp chí Newsweek, bày tỏ sự đồng cảm với hoàn cảnh gia đình đơn chiếc, chật vật của chị Nguyễn Ngọc Như Quỳnh và mong muốn công luận quốc tế, cùng tập thể người Việt Hải Ngoại mạnh mẽ vận động đòi hỏi Hà Nội sớm trả tự do cho hàng trăm tù nhân lương tâm còn bị cộng sản Việt Nam giam cầm trong hỏa ngục, trong đó có Mẹ Nấm, nhân vật chính không thể có mặt trong cuốn phim cảm động này.

Đỗ Hiếu/ĐHT

*** Những Tác Phẩm Cuối Cùng Của Khái Hưng

Trọng Đạt

Tưởng Niệm 70  Năm Nhà Văn Khái Hưng Bị Việt Minh Thủ Tiêu Tại Bến Đò Cựa Gà, Làng Ngọc Cục, Nam Định Vào Đêm Giao Thừa Năm Mới Đinh Hợi (21-1-1947).  

Khái Hưng tên thật là Trần Khánh Giư, sinh năm 1896 tại Cổ Am, Vĩnh Bảo Hải Dương , thuộc thành phần gia đình quan lại, con cụ Tuần phủ Phú Thọ, bố vợ là Tổng đốc Bắc Ninh, anh  ruột nhà văn Trần Tiêu. Khái Hưng theo học trường Lycée Albert Sarraut, HàNội, đậu tú tài ban cổ điển, ông cũng uyên thâm Hán học.

Ông tham gia hoạt động cách mạng giành độc lập 1940. Năm sau 1941, các đảng viên Đại Việt Dân Chính như Khái Hưng, Hoàng Đạo  bị Pháp bắt giam tại nhà lao Vụ Bản thuộc tỉnh Hòa Bình, đó là một vùng nước độc. Năm 1943 ông được tha, bị quản thúc tại Hà Nội. Nhật đầu hàng đồng minh tháng 8 năm 1945. Các nhà cách mạng lưu vong bên Tầu kéo về nước, Khái Hưng và Nguyễn Tường Bách giữ nhiệm vụ tuyên truyền cho Việt Nam Quốc Dân Đảng. Việt Minh cướp chính quyền ngày 19 tháng 8 năm1945, sau khi thành lập chính phủ liên hiệp, họ bất ngờ tấn công các trụ sở Quốc Dân Đảng, tiêu diệt các thành phần Quốc Gia.

Pháp tấn công Hà Nội, Khái Hưng tản cư về làng Lịch Diệp quê vợ,  bị Việt Minh bắt đưa đi thủ tiêu nửa đêm 21-1-1947, tức giao thừa Tết Nguyên đán Đinh Hợi.  Trong hai năm 1945, 1946 ông sáng tác một số truyện ngắn và kịch đăng trên tuần báo Chính Nghĩa. Năm 1966 ông Nguyễn Thạch Kiên đã cho xuất bản các tác phẩm ấy tại Sài Gòn và năm 1997 tại California, Hoa Kỳ nhân dịp kỷ niệm năm mươi năm Khái Hưng bị Việt Minh thủ tiêu,  Nguyễn Thạch Kiên đã cho in lại trong một bộ sách hai tập lấy tên Kỷ Vật Đầu Tay Và Cuối Cùng, nhà xuất bản Phượng Hoàng.

Đây là những truyện ngắn và những vở kịch cuối cùng của Khái Hưng, của Tự Lực Văn Đoàn . Bốn cây viết chính của văn đoàn gồm Khái Hưng, Nhất linh, Thạch Lam, Hoàng đạo. Nhưng lúc này chỉ còn một mình Khái Hưng, Thạch Lam chết bệnh năm 1943, Nhất Linh, Hoàng Đạo lưu vong sang Tầu, Khái Hưng sáng tác một mình.

Những tác phẩm cuối cùng của ông cũng là những áng văn tuyệt tác của một cây bút già dặn, những tâm tư của một nhà cách mạng chân chính trước cảnh cốt nhục tương tàn của cuộc chiến  Quốc -Cộng đang diễn ra. Các truyện ngắn gồm: Bóng Giai Nhân, Lời Nguyền, Hổ, Tây Xông Nhà, Quan Công Xứ, Nhung, Khói Hương, Người Anh Hùng, Tiếng Người Xưa và ba vở kịch: Câu Chuyện Văn Chương, Khúc Tiêu Ai Oán, Dưới Ánh Trăng. Vì phạm vi giới hạn chúng tôi xin được đề cập một số truyện chọn lọc.

BÓNG GIAI NHÂN 

Xin sơ lược 

“Trên một chiếc ô tô chở chính trị phạm lên Vụ Bản, Khanh một tù nhân nhớ lại những chuyện cũ tại trại giam sở Liêm Phóng: Phòng giam hôi hám, tối tăm, chàng đi bộ cùng các bạn tù tới nhà ga, những lời kêu khóc của thân nhân đi tiễn. Nhưng một kỷ niệm mà hắn khó quên lóe lên trong ký ức: Bóng giai nhân, một bạn gái bị giam ở xà lim bên cạnh trong thời gian hai mươi bốn tiếng đồng hồ “Sà lim 18’’, tên của giai nhân, cả trại đều ghi nhớ nàng bị giải đi đâu không biết.

Thế rồi một buổi sáng người ta dẫn vào một lô tù mới, trong đó có một thiếu nữ ăn mặc quê mùa rách rưới. Khanh và mọi người hỏi lính gác được biết cô gái bị giam ở đây nay là lần thứ ba. Lần thứ nhất cô là nữ học sinh tân thời, lần thứ hai cô giả trai, và lần này cô giả nhà quê. Tội của cô là “ làm cách mạng”’, từ lúc ấy thiếu nữ chiếm hết lòng sùng kính của trại giam.

“Sà lim 18’’là một cô bé nhỏ nhắn xinh xắn, cặp mắt sáng, môi tươi, mặt trái soan, nước da nhỏ mịn. Anh em tới tấp chạy lại để ngó qua lỗ cửa hỏi thăm tin tức, thiếu nữ tươi cười yên lặng. Lần trước nàng đã trốn trại sau bị bắt lại, các anh em cách mệnh cho quà bánh, nàng đã ôn tồn nói chuyện với mọi người. Khanh hay đến thăm nàng, chàng tưởng mình được nàng lưu ý nhất. Bóng giai nhân chỉ chỉ thoáng hiện nơi trại giam như tia nắng hé ra giữa khoảng trời mây đen. Khanh thở dài nghĩ thầm ước gì ta gặp nàng lần nữa rồi bị tù chung thân cũng cam! .

Đó chỉ là chuyện hồi tưởng, xe đã tới Vụ Bản, tại đây chiều chiều nhìn dẫy Hoành Sơn chàng ta mơ mộng tới hình ảnh bất diệt của giai nhân không bao giờ trở lại. Trại giam cho phép một cô gái gánh hàng tạp hóa vào sân trại bán, Khanh nhìn cô bán hàng mơ tưởng tới bóng giai nhân. “ 

Bằng lối hành văn bay bướm, điêu luyện, Khái Hưng đã tạo lên một bầu không khí thật lãng mạn trong một đề tài chính trị, cách mệnh. Một giai nhân xinh đẹp, người nhỏ bé, đôi mắt sáng, cặp môi tươi, mặt trái soan mà các anh em tù thường gọi là ‘Sà Lim 18’, nhưng nàng còn đẹp tuyệt vời hơn nữa vì nàng làm cách mạng cứu quốc vào tù ra khám ba lần, đã được sự sùng kính của toàn thể trại giam.

Khái Hưng tạo nên một chàng cách mạng dạt dào tình cảm, ông cũng tạo nên một không khí lãng mạn tuyệt vời. Chàng cách mạng chăm chỉ đến thăm giai nhân, tặng quà bánh và tưởng là được nàng lưu ý nhất! giữa cảnh núi đồi trùng điệp chàng cứ ngồi thẩn thơ mỗi chiều để gửi lòng yêu tới tận phương xa, mơ màng nghĩ tới người gặp gỡ trong những ngày ngắn ngủi và không bao giờ quên được nàng, đó là hình ảnh bất diệt của giai nhân không bao giờ trở lại, Khái Hưng kết luận. 

“Rồi đây, những lúc cách mệnh tha thiết gắt gao lên tiếng gọi, y  sẽ cảm thấy lòng tự tin, lên đường xông pha trong gian khổ với bóng giai nhân huyền ảo gặp gỡ giữa cảnh lao tù”. 

 

LỜI NGUYỀN 

Xin sơ lược 

“Đồn Vụ Bản chót vót trên ngọn đồi cao. Khanh , tù nhân chính  trị, một hôm ra suối lấy nước, gặp người lính kèn, hắn ta bảo ‘Phải , một lời nguyền! !

Trong đám dân kinh bên phố, lính bên đồn, anh em tù chính trị trong trại thỉnh thoảng lại có người giã từ cõi nhân gian về miền cực lạc. Khanh cảm thấy sự việc như có liên quan đến lời nguyền ghê gớm của người xưa. Một hôm người lính kể lại cho chàng chuyện ấy.

Đồn Vụ Bản là một trong những đồn binh kiên cố theo chương trình thống trị, nó án ngữ đường Nho Quan – Ninh Bình, nó cũng có thể kiểm soát hành động của những ông quan lang có oai quyền. Vì vậy viên quản mà người Pháp cho về coi đồn là người thật hách. Trước đây có một ông quản tên Tăng, được giữ chức trưởng đồn, ông hách dịch bệ vệ, nằm giường Hồng Kông, ăn cơm tây. Mỗi lần sang phố ông đeo huy chương đầy ngực. Tay cầm roi da, dắt chó tây to kếch sù. Tụi trẻ thường bảo:  -Quan Quản!

Quan là chúa tể vùng này: Nào thu thuế chợ, thuế đò, thuế thân. Dần dần thành ‘quan đồn’ và thành ‘cụ lớn’. Bao nhiêu người lễ lạc quà cáp cho cụ. Nhậm chức mới hai tháng, Cụ Lớn lấy cô nàng hầu người Kinh, con thương gia và hai nàng hầu người Mường nữa.

Quan thường ‘nổ’ với mọi người là Quan và và Bà Lớn đều là con nhà thế gia đại tộc, cụ thân sinh ra Quan và Bà Lớn toàn là Tổng đốc, Tuần Phủ  cả! . Có lần ông Quản bịa ra một lô truyện tả cái gia thế nhà mình: Cụ Cố, quan lớn về hưu thích chè tầu, tổ tôm, còn Bà Lớn trông coi mấy trăm mẫu ruộng!

Thế rồi một buổi sáng, một ông già tóc hoa râm và người đàn bà trạc ngoài ba mươi. Cả hai đều quê mùa cục mịch: ông lão quần nâu sắn đến đầu gối, người đàn bà mặc áo tứ thân mầu nâu, váy chồi đen. Họ hỏi đường sang đồn, qua phà, sang sông, leo dốc, lên đồi. Khi tới nơi cuối dốc, người lính canh quát:

-Hai người nhà quê hỏi ai?

-Chúng tôi vào thăm ông Quản!

-Vào hầu quan có việc gì?

-Bẩm chúng tôi là người nhà! 

Người lính cho người vào trình quan rồi hỏi. 

-Có họ hàng thế nào với quan?

-Ông cụ sinh ra quan và vợ quan!

Lúc ấy ông Quản đứng trong sân bảo:

-Đuổi cổ chúng nó ra! 

Nhân lúc cổng đồn mở, ông cụ và người đàn bà xông vào sân kêu:

-Tăng, Anh Tăng! 

Ông Quản quát mắng:

-Đồ nhà quê! bay đâu tống cổ chúng nó ra! 

Bọn lính tống cổ hai người ra. Ông lão và con dâu lẳng lặng ra về, đến bờ sông bên giòng nước chảy ào ào, ông lão thốt lời thề nguyền độc địa:

“Từ nay đứa nào còn lên đây thăm chồng con thì chết như thế này”. 

Rồi ông nhảy xuống sông tự tử. Từ đó lời nguyền vẫn thiêng lắm, những ai lên đây thăm chồng, thăm con về ốm đau nặng rồi chết.”

Một ông quản lỡ lời ‘nổ zăng miểng’ với mọi người về gia thế nhà mình, cháy nhà ra mặt chuột, khi ông cụ và mẹ đĩ lên thăm thì xấu hổ sai lính đuổi không nhận là bà con.

Theo ông Trần Ngọc, trong cuốn Kỷ Vật Đầu Tay Và Cuối Cùng, Khái Hưng viết truyện này để diễn tả cái chủ trương ‘vô gia đình’ của những người độc quyền yêu nước, từ chối bà con ruột thịt, và như vậy tác giả đã nguyền không bao giờ còn liên hệ với các ‘đồng chóe’ vô gia đình vô tổ quốc ấy.

Một truyện ngắn gọn đơn sơ mang mầu sắc huyền bí ghê rợn, ý nghĩa thật là sâu sắc, nó thể hiện cái phi nhân bản của những người tự cho là vị tha yêu nước. Độc giả như thấy hiện ra một vùng rừng thiêng nước độc với một lời nguyền ghê gớm. 

HỔ 

Xin sơ lược

“Bảy Hai, người lính gác trên chòi cao một trại tù. Hắn đã hai lần đánh mõ tre đáp lại tiếng khánh sắt cầm canh bên  đồn. Hắn buồn ngủ muốn ríu mắt mà không dám ngủ vì sợ đội Giới phạt. Đội Giới thù ghét Bảy hai vì một truyện nhỏ tại sòng bài tối qua. 

Tối nay, dưới ánh trăng mờ, Bảy Hai ngắm cảnh để quên đi giấc ngủ, hắn chợp mắt được vài phút rồi choàng tỉnh, linh tính báo cho biết có chuyện gì ghê gớm. Hắn trông thấy một vật gì như con bò đang tiến về phía mình , tới lưng chừng đồi nó dừng lại rẽ sang phía nam, một lúc sau nó tiến về phía Bảy Hai, hắn nhận rõ đó là con hổ lực lưỡng, to béo đang  từ từ tiến lại. Bẩy Hai hồn vía lên mây xanh không dám động tịnh. Con hổ lực lưỡng tới chân thang chòi dừng lại rồi nằm xuống, Bảy Hai không dám cựa quậy, hắn chỉ sợ nó vùng dậy chồm lên đạp đổ cột chân chòi gác  làm thịt mình, hắn định bắn mà không dám, chỉ sợ trật hay bắn bị thương nó thì vô cùng nguy hiểm, hắn biết rằng nó chỉ chống lại người, tấn công người khi có ý định giết nó. 

Tiếng khánh bên đồn và tiếng mõ tre các chòi canh vang lên, Bảy không dám đánh, hắn nghĩ nếu mai có bị phạt cũng ráng chịu vì nếu gây tiếng động bây giờ là toi mạng. Không nghe thấy tiếng mõ của Bẩy, Đội Giới bèn lại chòi canh của hắn để rình bắt quả tang Bẩy ngủ gục trong canh gác để phạt trả thù. Bẩy Hai bắt đầu lo cho tính mạng của Đội Giới, hắn vụt quên mối thù để nghĩ tới tai họa do một loài khác tàn ác gây ra. Lòng nhân đạo tự nhiên sống dậy, hắn nghĩ tới cách cứu mạng một người, tiếng chân người nghe lạo xạo, con hổ vẫn nằm im lìm. Bẩy Hai hoảng hốt thét lớn.

-Đứng lại, có hổ đấy! có hổ! con hổ chạy biến mất, người cũng chạy biến đi.” 

Khái Hưng lấy truyện người gác tù (lính Tây) có tình thương đồng bào để ám chỉ tình thương của người quốc gia đối với kẻ thù khi tai họa sảy ra. Dù là người mình thù ghét, ta vẫn có thể quên đi mối hận để cứu họ vì tình đồng loại, cái mà ông gọi là lòng trắc ẩn, tình nhân đạo.

“Mối thù y vụt quên để chỉ nghĩ tới tai nạn xảy đến cho kẻ đồng loại do một loài khác, một loài tàn ác gây lên. Lòng trắc ẩn, tình nhân đạo đến với y một cách tự nhiên, một cách ngẫu nhiên .Y không lý luận nữa, không cân nhắc nữa , chỉ tìm cách cứu sống một con người thoát khỏi nanh vuốt một con vật”. 

Thánh Ghandi đã nói chúng ta có thể chiến thắng bằng tình thương.

NHUNG

Xin sơ lược. 

Sinh là con trai của bà Đồ, một thanh niên hư hỏng, rượu chè, cờ bạc. Là con một ông Cử, chị em bà đều lấy chồng con nhà nho, nhưng chị bà lấy ông Thượng Nguyễn đỗ đạt làm quan, còn chồng bà chỉ là ông đồ nghèo kiết. Chị bà có giúp bà nhiều phen, nhận nuôi Sinh cho cùng đi học với con mình, rồi chồng bà chết, chị bà chết, ông Thượng Nguyễn (anh rể) lấy vợ khác, bà vợ này có con gái tên Nhung. Ông Thượng bạc đãi Sinh nên anh bỏ về với mẹ, đã hai mươi tuổi, anh học không hay, nghề không có, cờ bạc phá của, khiến gia đình ngày càng thiếu hụt. 

Sinh oán thù ông Thượng và gia đình ông. Hồi chị của mẹ hắn ( bà Cả Thượng) còn sống, bà coi hắn như con, mua sắm đủ thứ, và nay bị đối xử bạc bẽo, hắn cho là hai mẹ con Nhung gây lên rồi oán ghét gia đình ông Thượng, hắn oán ghét tất cả xã hội quan lại, hào phú, trưởng giả, hắn tìm ra đủ tội lỗi đê tiện, xấu xa. Sinh có quan niệm về xã hội loài người: Loài người chia làm hai giai cấp: Giai cấp nhiều quyền lợi và giai cấp không có quyền lợi. Hắn nghĩ tới cách giải quyết vấn đề cho những người ở giai cấp thua thiệt; hắn lười biếng, hư hỏng nhưng chỉ muốn cải tạo xã hội, hắn cương quyết phá hoại phe địch, hắn đi nói xấu bọn nhà giầu như ông Thượng, người đã nuôi hắn, cho hắn nếm mùi phú quí rồi ném hắn xuống đất đen cho thấm thía chênh lệch bất công, hắn tuyên truyền bôi nhọ bọn phú hào rằng chúng đã xây đắp hạnh phúc trên xương máu quần chúng. 

Khi ấy xẩy ra vụ cướp nhà ông Thượng Nguyễn, người ta đoán chắc Sinh có dính líu vụ này vì dinh cơ kiên cố rộng rãi ấy nếu không có người thuộc đường như Sinh chỉ lối thì cướp không thể vào được. Sinh bị bắt, người làng vui cười, họ cho là hắn đáng tội vì hắn căm thù gia đình ông Thượng ghê gớm. Hôm cướp vào nhà, ông bà Thượng đi vắng, người nhà chạy trốn thoát, duy chỉ có Nhung bị bắt. Về sau bọn cướp bị quan nha bắt, người ta kêu Nhung đến nhận diện chúng. Nàng nhận diện hết mọi tên trừ Sinh , có người nghĩ Sinh vô tội, có người cho là Nhung thương hại hắn vì chính bọn cướp cũng khai Sinh là đồng lõa.

Vụ cướp bẵng đi một thời gian, người ta lại bàn tán đến chuyện mới sảy ra: Sinh tự tử trong buồng để lại bức thư tuyệt mệnh gửi Nhung.

B… ngày 1940  

Em Nhung. 

Đây là một bức thư dài dòng văn tự, Sinh cho biết mẹ hắn là em bà Thượng cả (mẹ Nhung là bà hai) không phải là gì Nhung, hắn và nàng không có họ hàng với nhau, ví thử có lấy Nhung làm vợ cũng không sao. Từ ngày được thả về, trí óc hắn rối ren, nay quyết định chết nên rất bình tĩnh, khi Nhung nhận thư này Sinh đã là cái xác không hồn. 

Lúc thì hắn xưng anh, lúc thì hắn xưng em, .  . hắn gửi lời vĩnh biệt, lời tạ lỗi vì đã xúc phạm Nhung trong cái đêm lịch sử ấy, Sinh thú tội với Nhung ví như một tín đồ Thiên Chúa xưng tội để trút gánh nặng trong lòng, hắn nói tội dắt cướp vào nhà bác và làm nhục một thiếu nữ chưa đáng kể. Hắn thú một tội tầy trời: thuở nhỏ được hai bác dậy dỗ nuôi nấng, sống trong cảnh giầu sang không bao giờ Sinh  thương người nghèo, có một điều mà Nhung không ngờ là hắn yêu Nhung thầm lén bao lâu nay. Nhung thì lãnh đạm, mẹ Nhung khinh rẻ hắn (bà này là bà hai, không bà con với Sinh) bởi thế hắn bỏ về ở với bà cụ, từ chỗ tư thù cá nhân biến thành thù chung của cả xã hội bị bóc lột, Sinh chỉ ao ước được trả thù cho giai cấp bị hất hủi như hắn. 

Chủ ý của Sinh là giết hai bác, làm ô nhục Nhung, tình yêu trong lòng hắn vẫn còn, khi bị bắt giam Sinh đã hối hận trước khi Nhung nhận diện, hắn nghĩ tại sao Nhung không để cho hắn chịu hình phạt lại cứu vớt hắn ra khỏi ngục thất làm chi, đối với Nhung hắn đời đời là tên khốn nạn và tự khép mình vào án tử hình.”

Bằng một truyện tình bi thảm, lãng mạn tuyệt vời, Khái Hưng đã diễn tả cái thô bạo bất nhân của đấu tranh giai cấp và hận thù giai cấp. Đấu tranh giai cấp không phải là một lối thoát để giải quyết bất công xã hội mà chỉ là biểu hiện của thú tính con người để trả thù đời bằng bạo lực đê hèn. Sinh một tên vô lại, cặn bã của xã hội, từ hận thù cá nhân đưa tới hận thù xã hội, hắn đã dùng thủ đoạn tàn bạo để giải quyết hận thù xã hội. Đó chỉ là phá hoại xã hội chứ không phải xây dựng cho xã hội tốt đẹp hơn lên, nhưng Sinh còn biết xấu hổ về cái hành động đê hèn của mình.

Đề tài của Khái Hưng trong các tác phẩm cuối cùng của ông thường xoay quanh trại tù Vụ Bản, đó là những áng văn tuyệt tác cuối cùng của một nhà cách mạng đáng kính, một chiến sĩ quốc gia yêu nước, những áng văn đã đóng góp rất nhiều cho nền văn học mới nước nhà.

Trọng Đạt

Lạm Bàn về một cuốn tiểu thuyết

Thư viện của bài

This gallery contains 1 photo.

LẠM BÀN VỀ MỘT CUỐN TIỂU THUYẾT LỊCH SỬ Khải Nguyên Biên Soạn  Tôi cố tìm đọc “Hội thề” của tác giả Nguyễn Quang Thân, không vì cuốn tiểu thuyết đó được giải của hội nhà văn Việt Nam mà … Tiếp tục đọc

Trần Trọng Kim và Truyện Thúy Kiều

Thư viện của bài

This gallery contains 1 photo.

Trần Trọng Kim và Truyện Thúy Kiều   Trong số những nhà văn tiền phong tiền bán thế kỷ XX, ngoài Nguyễn văn Vĩnh (1882-1936) và Phạm Quỳnh (1892-1945) ra, phải kể Trần Trọng Kim (1883-1953) là cây bút quan … Tiếp tục đọc

Tại sao Cộng Sản giết Phạm Quỳnh?

Thư viện của bài

This gallery contains 1 photo.

Tại sao Cộng Sản giết Phạm Quỳnh? Trần Gia Phụng Việt Minh cộng sản đã giết Phạm Quỳnh (1892-1945) hai lần: Lần thứ nhất hạ sát, che giấu và phi tang thân xác ông tại Huế năm 1945. Lần thứ hai, … Tiếp tục đọc

>Phản đối lá cờ đỏ trong trường học

Thư viện của bài

This gallery contains 1 photo.

Phản đối lá cờ đỏ trong trường học Hôm nay trường tiểu học Langley có tổ chức một đêm du lịch mừng ngày Quốc Tế (International Day) tại trường với nhiều sự ủng hộ của các hội đại diện cho … Tiếp tục đọc

Thi văn của Nguyễn Ứng Long, thân sinh Nguyễn Trãi

Thư viện của bài

This gallery contains 1 photo.

Thân thế, thi văn và thơ xuân của Nguyễn Ứng Long, thân sinh Nguyễn Trãi Lý Anh Biên Khảo Tưởng nhớ đến Nguyễn Trãi, nhà văn nổi tiếng, nhà chính trị, nhà tư tưởng kiệt xuất, anh hùng dân tộc… … Tiếp tục đọc