*** Viết Cho Cha

 tranh DC4

Hoàng Lan Chi

Gia đình tôi hơi khó chịu! Cha tôi là giáo sư, cộng thêm tánh cũng khó sẵn (chớ không phải cái nghiệp giáo làm cho khó) nên khó dàn trời.

Thuở nhỏ, khi di cư vô nam, để có nghề ngay, ông đành xuống Sóc Trăng dạy. Mọi việc ở nhà phó cho vợ. Mẹ tôi không phải giáo sư gì ráo nhưng cũng khó từ máu khó ra nên tụi tui coi như bị kềm kẹp. Và cha tôi hoàn toàn yên tâm khi đi xa, khỏi sợ “con hư tại mẹ”.

Hồi đó tôi ví von: lũ chúng tôi bị ba  tầng áp bức: gia đình, học đuờng, xã hội. Tầng nào cũng kinh như nhau. Gia Long thì kỷ luật nghiêm quá trời. Chắc có lẽ nhìn thấy Gia Long đã có cơ ngơi sẵn, kỷ luật gắt nên hồi đó cha tôi biểu tôi thi vô GL, chứ lẽ ra, con gái bắc kỳ 9 nút như chúng tôi, phải học Trưng Vương mới đúng.

Sau này cha tôi  đổi dần về gần Saigon. Ban đầu là giáo sư Cần Giuộc. Sau đó Hiệu truởng Bến Lức, rồi Cần Đước. Cuối cùng về dạy Anh văn ở Petrus Ký cho đến 75.

Cha tôi giỏi văn. Cụ làm nhiều thơ. Gia nhập văn đàn gì đó. Tất nhiên thời đó, thơ các cụ đa số đường luật. Tôi thấy để “chỉ trích”  hay “tự trào” chi đó thì làm kiểu thơ đuờng là phù hợp, còn thơ tình, tôi thích bảy hay tám chữ.

Ở nhà, có lẽ chỉ có tôi là thừa hưởng cái gien văn chương “vớ vẩn”  đó của cha. Nhưng vì cha  gắt nên tôi dấu nhẹm. Người ta– tuổi học trò- viết bài đăng báo là hãnh diện khoe gia đình. Còn tôi, không dám. Dấu kín bưng. Cha tôi không hay gì hết ráo. Nhưng tôi vẽ vời lung tung trong tập thì cha  biết. Cha la “ Lo học cho có nghề đàng hoàng. Văn sĩ hay hoạ sĩ, đa số gian truân, lao đao. Có khi nổi tiếng thì đã chết rồi. Còn sống thì nghèo khổ. . ”

Tôi nghe lời ngay tắp lự. Chả là “bổn cô nuơng” cũng sợ nghèo mà nên chỉ lâu lâu vẽ tí chơi. Cũng uổng, coi như cha tôi đã giết từ trứng nuớc một hoạ sĩ lừng danh của VN !

  Nhưng viết , còn khuya đi  bố  của con ơi. Tôi lén cha, lai rai. Với tôi ngày đó, viết chỉ để giải trí và  kiếm tiền đãi bạn bè ăn bò viên. Báo Chính Luân trả nhuận bút khá nhất. Một bài chừng hai trang A 4 là tám trăm ngàn. Tiền dạy lớp 10 ở trường tư là 500. 000/1giờ. Tôi ngoáy bút đâu đến một  giờ . Chỉ khoảng nửa giờ là xong một bài cho Chính Luận

Tôi cũng viết lai rai chuyện tình cho báo khác. Chuyện tình thì toàn là “cô bé” bịa. Cứ một câu nói, một tình huống có thực nào đó là tôi thêu dệt thành một chuyện tình lâm ly bi đát ngay tút suỵt! Còn bản thân mình thực sự ngoài đời thì em hiền còn hơn ma soeu ! Mà hồi sinh viên, tôi thuộc loại xí xọn nên cũng nhiều đuôi. Do vậy mỗi đuôi đều đuợc  tôi cho vô truyện của mình  hết ráo.

 Cha tôi hoàn toàn không ngờ con gái lén mình viết báo. Nhưng cha biết tôi khá văn. Nên thỉnh thoảng ông đem thơ ra và hỏi “Có hay không”.  Trời đất, hỏi nguời ta thơ mình có hay không! Mà chỉ hỏi tôi thôi chớ mấy mạng kia trong nhà coi như dùi đục chấm mắm cáy!  Vì cha biết họ thực tế, không văn chương thơ thẩn như tôi. Tôi xem và phán tỉnh bơ “Thơ bố thì cũng khá (!!) nhưng bài nào cũng có một câu bị gãy”  “Bố cô!” Tôi chạy “ Sao bố hỏi , con nói thiệt lại chửi. Lần sau con không nói nữa đâu”.   Đó là sự thật. Cha tôi làm thơ cũng hay. Nhưng trong  tám câu thế nào cũng có một  câu gượng ơi là gượng, ép ơi là é !

 Cha tôi còn “thần sầu” ở chỗ –  ông phán xanh dờn :

Trung học: cấam không có bạn trai. Cái khoản này được bốn đứa con gái chấp hành nghiêm chỉnh.

Đại học:  đuợc  quyền có bạn trai nhưng cấm không cho đến nhà. Trời đất, “gian ác” kinh khủng chưa? Không cho đến nhà thì làm sao tiếp xúc nhiều để biết tên đó có thuộc anh em với Sở Khanh không? Cái khoản này đuợc  bà chị tôi nghiêm chỉnh thi hành. Tôi cũng thi nghiêm chỉnh không  kém chị một ly ông cụ nào cả. Nhưng năm thứ hai,  tên T “mắc toi”, cái tên ngang tàng bướng bỉnh, không sợ ai, đã lợi dụng lúc tôi đang ở truờng, hăn đến nhà tỉnh bơ. Sau đó hắn về truờng “Tôi mới đến nhà LC đấy. Gặp ba LC ” Tôi sợ xanh mặt. Về nhà, rón rén đi vào, chờ cơn thịnh nộ của ông bố “hắc ám”. Nhưng lạ, ông chỉ đơn giản “Hồi nãy có thằng T đến đấy”. Cho đến giờ phút này, tôi cũng không hiểu vì sao cha tôi không la? Vì sao cha tôi xé bỏ luật của người ? Đương nhiên từ đó về sau, mấy tên con trai khác, nghe tin T đến được là cũngtheo gót. Vậy l : trong gia đình, chị tôi bị siết. Và tôi đỡ hơn bà chị được một khoản !

Đậu trung học: trả ¼ tự do. Tú tài một: trả tiếp ¼. Tú tài 2: trả tiếp ¼. Đại học: trả nốt ¼ còn lại. Lúc đó mới đuợc  quyền tìm hiểu để lập gia đình.

 Thế đó, có ông bố nào “dễ sợ”  như cha tôi không? Vậy mà chúng tôi tuân răm rắp. Cũng ngộ thật, ngộ hơn nữa là  sau này tôi phán y chang với hai nhóc của tôi! Năm 96, tôi đang hùng hồn thuyết “Lên đại học mới đuợc phép cho bạn trai hay gái đến nhà. Chúng mày nghe rõ chưa? Còn bây giờ là cấm!”  Hai nhóc cuời. Thêm thằng em- đệ tử- cũng cuời. Tôi quát “Chúng mày cuời cái gì” Thằng con tôi kính cẩn “ Bẩm bà Tổng, con đang là sinh viên ạ” Mải thuyết  moral, tôi quên mất tiêu thằng nhóc mới lên đại học. Tôi cứ tưởng nó còn trung học. Nhưng có lẽ con trai tôi cũng ớn bà mẹ hắc ám (giống tôi ớn cha mẹ mình ngày xưa!) nên không bao giờ đưa bạn gái về nhà. Năm 98, từ Úc về VN chơi, cũng chỉ báo cho mẹ đi đón, không dám cho bồ ra.  Có lẽ  tôi bị lây cái hắc của cha tôi!

 Nhưng tôi còn nhớ, cha tôi đã đưa tôi đi thi tú tài hai. Nói nào ngay, ông chở tôi đi rồi ông đến hội đồng kia vì ông là Chánh Chủ Khảo ở đó. Mẹ tôi không chú ý tôi đi thi ra sao, đi bằng cách gì. Nhớ lại ngày đó cha đưa đi thi, thấy lòng cũng cảm động. Sau đó ông nhờ bạn bè xem điểm trước cho tôi. Tôi thì ngày xưa mê học nên cũng hồi hộp muốn biết truớc điểm.

 Cha tôi định cư Canada năm 93. Năm 2000, tôi đang ở Mỹ, ông gọi từ Canada “ Này, tôi cho cô 500 US, cô sang Canada đi”. Thế đó, ông tưởng tôi không có tiền mua vé bay. Hôm sau tôi phải đi từ San Jose  đến Los Angeles làm thủ tục sang Canada nhưng tụi Ca- na- điên phát ghét, đòi thêm nhiều giấy tờ mà tôi đang để ở VN nên tôi phải huỷ bỏ.  

 Giờ này đây, tôi cũng không biết mình có cám ơn cha đã cấm gắt gao cái khoản “bạn trai” để mình lo học hay không nữa? Chắc chỉ một phần. Vì những mối tình thuở sinh viên thì mới đẹp.  Mà hồi đó bị siết quá, tôi không có mảnh nào vắt vai. Anh nào theo cũng tránh né.  Khi ra truờng thì  dường như đầu óc chai sạn hơn, tính toán hơn.

Mà thôi, những gì cha mẹ muốn, đều xuất phát từ lòng thương mà ra. Có ai muốn vì điều A mà con mình khổ đâu?

Tất cả, chẳng qua là cái số.

Hoàng Lan Chi

** Chồng tôi

Dương Ngọc Ánh

untitled  
 

Thực sự càng vào tuổi già chàng càng “ ngớ ngẫn” và hay quên. Ngày xưa khi chàng còn trai trẻ thì có lẽ có “hạnh kiểm” hơn trong những ngày tháng muộn màng. Thưở ấy (dưới mắt chàng) tôi có một dáng dấp không đến nỗi tệ. Bây giờ chàng đã quên mất cô vợ ngày ấy; thay vào đó là những cái nhìn ngẩn, nhìn ngơ cho những cô gái chân dài bất tận, không liên hệ chi với chàng, mà còn khen rối rít,“con nhỏ đó có cặp giò ngon dễ sợ!” Đi ngoài đường thấy gái đẹp thì chàng quên bẳng là đang đi với vợ mà tưởng rằng tôi là thằng bạn nối khố của chàng, “ Trời! Trời! Ngó cái mông thiệt đã!” Có khi tôi đã thấy chàng nhìn chăm chăm mấy cô gái phô bày cặp ngực, khêu gợi, căng đầy nhựa sống; rồi chàng nhìn theo trong kính chiếu hậu tiếc ngẩn tiếc ngơ; tôi cũng đoán được chàng đang suy nghĩ gì!
 
     Có phải ông cha ta đã nói: “Gìa thì phải nên nết”. Hình như đây chỉ là một giả thuyết? “Cụ” nhà tôi bây giờ còn “tinh nghịch” hơn xưa. Cụ đã cùng với những cụ khác dấu diếm gởi cho nhau những tấm hình táo bạo, những khúc phim “đặc sắc” để chiêm ngưỡng, rồi cười đùa khoái trá như những cậu học sinh trung học ngỗ ngáo. Nếu bị phát giác thì cụ lại chối leo lẻo “No, I’m a good guy!” Mỗi lần có hình khỏa thân hấp dẫn hay phim “nghèo” là trong làng bằng hữu của chồng tôi thật nhộn nhịp, rộn ràng:
 
     “Mày cho tao xin phim này đi. Mày upload lên megaupload thì rất thuận tiện vì tao có premium account với thằng này.”  Ngay cả những anh thường hơi thẹn thùng trong chuyện đóng góp và tán dóc cũng trồi lên, “Thằng … trồi lên chỉ khi nào nó ngửi thấy mùi : dâm , vú … Tôi còn nhớ khi cụ nhà tôi gởi tựa đề của cuốn sách 365 sex positions lên mail group của cụ thì gần như suốt một tuần các cụ đã tranh cãi và thảo luận sôi nổi về đề tài nầy còn hơn những bài luận văn chính trị cuối mùa văn hóa hồi các cụ còn mài đũng quần ở Đà lạt! Chưa đủ, có cụ còn chôm nguyên cuốn sách trình làng với đầy đủ hình ảnh chi tiết. Có cụ còn muốn vớt vát cho cái lém lĩnh của mình bằng sự trấn an của khoa học:- Nói có sách, mách có chứng. Mỗi ngày chỉ cần 10 phút coi hình thiếu vải thì hạ huyết áp, tránh được bệnh tim. Bí quyết sống lâu đây rồi, mỗi ngày chỉ 10 phút thôi, không phải tin đồn bậy bạ mà có nghiên cứu đàng hoàng. Đã có gan coi hình tươi mát mà còn sợ “thượng mã phong!”
 
     Đàn ông, theo y học chứng minh-đầu óc của họ lúc nào cũng đầy dẫy chuyện gió trăng và hơi hám đàn bà lúc nào cũng vương vấn trong những cuộc đối thoại. Không sai tí nào! Khi chồng tôi dự định mua máy hình, anh hỏi loại máy hình gì tốt, đẹp và bền, thì ngay lập tức các đồng môn của anh xúm lại khuyên bảo : “Nhu cầu của mỗi người khác nhau, vấn đề là mình phải biết nhu cầu của mình là gì thì mới chọn lựa được sản phẩm thích hợp. Có người thích em trắng, kẻ thích em đen, người chuộng da rám nắng, kẻ thích vú bự, người mê ăn quýt. Tùy theo khẩu vị mà chọn hàng. Nhưng nói gì thì nói họ vẫn thuộc làu câu ca dao tục ngữ gối đầu giường “Ta về ta tắm ao ta…” Rồi lại phụ đề thêm Việt Ngữ:  “Cái này là nói mấy em chân dài, nói phở thôi. Cơm nhà dù sao vẫn chắc bụng, no lâu. Phở dĩ nhiên, nấu vừa mất thời gian lại còn tốn kém nhưng anh nào cũng khoái “ăn vụng”. Điều nầy không phải không đáng sợ.
 
     “ Trên bảo dưới không nghe.” Đây là điều đáng quan tâm nhất của các đấng mày râu khi họ đến tuổi về già. Tôi thấy đức lang quân của tôi thường nhận được những lời chia xẻ của bạn bè để làm thế nào mà “ trẻ mãi không già” Chưa đủ, họ còn truyền cho nhau những loại rượu, có khi luôn cả những thang thuốc truyền kỳ để cùng tìm hiểu bí quyết về huyền sử ái ân. Khi có dịp gặp nhau thì lại thì thầm, mách nước xem thử kết quả có ly kỳ như họ nghĩ hay không. Lạ lùng thay tôi chưa nghe anh nào thật sự thố lộ là những chung rượu thần kỳ và các liều thuốc nổi danh lịch sử đã làm cho họ cải lão hoàn đồng! Đức lang quân của tôi cũng đã dại khờ, liều mạng tu gần nữa chai rượu của một người bạn quý cho anh để đi tìm kết quả. Nhưng chàng đã quên mất rằng hai anh em, thằng lớn, thằng nhỏ, cùng một tuổi thì thuốc tiên, phép lạ cũng phải bó tay.
 
     Chồng tôi có một đặc điểm là biết “vâng lời” vợ. Một phần là nhờ anh ở phương tây khá lâu nên không ít thì nhiều anh cũng có tiêm nhiễm về nếp sống văn minh nơi xứ người. Kỷ niệm ngày cưới, sinh nhật hoặc ngày của tình yêu mà quên là anh “lãnh nợ”. Để tránh khỏi mua quà tầm bậy anh thường cẩn thận hỏi trước (thà mất lòng trước được lòng sau!) , “ Em thích qùa gì cho sinh nhật của em?”. Tiền đâu anh mua hột xoàn, kim cương; tiền đâu anh mua xe hơi, nhà lầu hay những món quà đắt giá! Nhưng dại gì mà nói, anh phải tự suy nghĩ để đem lại sự ngạc nhiên vui thích cho mình- “Không cần đâu anh! Em đâu thiếu gì!”  Ông chồng tôi thở phào nhẹ nhõm, cứ thế mà làm theo, chẳng quà cáp gì ráo. Tưởng vâng lời như thế thì được điểm tốt, nhưng chiến tranh lạnh đã xảy ra. Anh lại ngây thơ thăm hỏi, “ Sao em lạnh lùng như băng giá?” Khi chiến tranh bùng nổ thì anh trả lời “ Em nói em không cần gì hết mà tại sao bây giờ không vui! Em nói sao thì anh nghe vậy có gì mà hờn giận, trách móc………?.
 
     Nếu cho rằng anh là một ông chồng “lý tưởng”- nghĩa là: đẹp trai, vạm vỡ, hào hoa, phong nhã, đa tình, lãng mạng thì có lẽ anh sẽ được chấm hạng dưới trung bình; cũng có thể gọi là hạng chót! Nhưng anh là một người thật thà. Ngày xưa anh yêu tôi vì tôi có mái tóc thật dài, xõa ngang lưng, thơm mùi quyến rũ. Ngày hôm nay tôi càng cố gìn giữ bao nhiêu, thì hàng chục sợi tóc đáng thương cứ cuốn theo chiều gió mà bay mãi. Chải tóc cho tóc mượt thì chỉ thấy nền nhà phủ đầy những sợi tóc khô khan của tuổi đời. Anh bây giờ không còn vuốt tóc tôi như ngày xưa mà còn bảo: “ tóc em sao rụng quá cỡ vậy? Vài năm nữa không đội tóc giả thì cũng thành ni cô! Nghe mà nóng gà, muốn nổi tam bành lục tặc.
 
     Một điểm đặc biệt và “đáng yêu” của chồng tôi là anh rất thẳng thắng phải nói rằng- “toạc móng heo”. Tôi có một cái tính là thích ăn mặt hơi hở hang, có lẽ cũng muốn níu kéo một tí gì trước khi xã hội xếp mình vào dĩ vãng. Nhưng khi mặc áo đầm , váy ngắn hoặc áo cổ rộng tròn phơi bày thì sẽ được anh thẳng thắn khuyên nhủ:- “ Em mặc như vậy có ngày trúng gió bất tử.” Anh làm tôi cụt hứng – tưởng rằng ăn mặc mát mẻ sẽ làm anh gợi cảm và nhìn tôi như những đàn bà trẻ đẹp khác. Thiệt chán còn hơn ăn cơm nếp nát.
 
     Về nghệ thuật, chồng tôi có một cái nhìn rất khác người. Khi đi mua sắm, tôi thường “mời” anh đi theo, trước thì để xách đồ, sau là làm “cố vấn thời trang”. Có lẽ là vì được nhờ nên anh đóng góp ý kiến rất nhiệt tình. Áo quần hơi có bông ba màu sắc thì anh bảo “sao không mua thêm vài cái lư hương lập miếu lên đồng cho đủ bộ”. Khi mua nịt da bảng bự cho hợp thời trang thì anh đến bên tôi nói nhỏ “anh thấy tiệm kia bán nịt còn cho thêm cái khiên, cây kiếm và đôi sandal. Em mua để đóng phim Gladiators coi được lắm”. Còn mua quần nhiều túi thì anh chêm vào: “ Được đó! Mua cái quần này thì đi chợ khỏi cần trolley”. Tức muốn chết người.
 
     Đủ thói hư tật xấu, mất nết thiếu hạnh kiểm nhưng tôi biết rằng anh chỉ vui rôm rả với bạn bè. Có lẽ nhờ vậy mà lúc nào tôi thấy anh và các bạn vẫn luôn luôn trẻ mãi. Dù sáu hay bảy bó, không là chuyện lớn. Ngày nào anh và các bạn còn nhìn được hình tươi mát; ngày nào mắt còn rõ để phân biệt được bầu, mướp cam, bưởi thì không thể gọi là già; ngày nào còn xách đồ được cho vợ, còn hơi để làm “cố vấn thời trang” là ngày đó còn hạnh phúc. Ra đường nhìn gái còn khen là đầu óc còn sáng suốt (khi nào nhìn đàn ông thành đàn bà thì tôi mới run). Sự sống trên trái đất này sẽ không tồn tại nếu không có những người như chồng tôi và bạn bè của anh.

Dương Ngọc Ánh

*** CHUYỆN MỘT GIẤC MƠ

1thieu_nu_va_bienCHUYỆN MỘT GIẤC MƠ

Trương Thị Thanh Tâm
                ***
Tôi đi thêm vài bước cho đôi chân ngập nước, khom mình đưa tay khoác nước lên mặt cái cảm giác âm ấm và mằn mặn mặn của nước biển. Thật sảng khoái!
Ngạc nhiên khi nghe lòng mình thanh thản lạ, khi đứng trước bãi biển nầy, mọi thứ ưu phiền bỗng tan biến, vươn vai hít thở làn không khí trong lành của đêm, trăng đêm nay thật tròn, bầu trời đầy sao, biển cũng lặng yên không gợn sóng, có lẽ cũng đang tận hưởng những gì trước mắt như tôi, chị Hằng đẹp lồng lộng, trăng mười sáu cơ mà, tôi chợt nhớ có ai đó đã từng ví mình như biển và nàng là trăng, tôi chợt ước ao và ganh tỵ…
Đêm càng về khuya rất yên tịnh chỉ còn rất ít người lai vãng

Tôi nằm ngả dài trên bãi cát, nghe hàng phi lau thì thầm trong gió, lời tự tình của biển, trăng sao cũng thật gần, gần như chỉ cần một cái vói tay đã chạm vào, thỉnh thoảng đâu đây cũng có tiếng chúc mừng của sóng như tiếng vỗ tay khi đập vào những ghềnh đá, xa xa trắng xóa một làn khi đợt sóng tràn bờ.

Lòng thanh thản trước đại dương, và đâu đây thoảng trong hơi gió còn nghe văng vẳng tiếng của mình vọng lại – “mình chia tay đi anh”
Một sự yên lặng đến nghẹt thở, tôi nghe môi mình mặn đắng, không gian chìm lắng, thời gian như ngừng lại, rồi như có một âm thanh, có một giọng nói vang lên âm trầm nhưng xé lòng tôi, ” thật sao, em muốn vậy à.”
Tôi lặng yên nghe trái tim mình đau
” không muốn, nhưng cũng đành, vì chúng mình không thể…hai ta giờ là hai thế giới lạ xa, anh một bóng, em một hình, tất cả đã trở thành vô vọng, nói gì cho tương lai, cửa tình yêu đã khép lại rồi “.

Tôi chặc lưỡi nghẹn lời, người đó cũng không muốn nói, lặng yên.
Tôi cảm nhận có một bàn tay đang ve vuốt tóc tôi và thì thầm,
” anh yêu em, và anh biết em cũng yêu anh, chúng ta không gần nhau qua thân xác, nhưng sẽ gần nhau qua tâm hồn, trái tim chúng ta thuộc về nhau, chúng ta không nên dối lòng, tình yêu nầy anh sẽ mang theo xuống mồ, em cũng không cần chung thủy với anh, và nếu có thể thì hãy chung tình với trái tim của mình, chúng ta đã từng gắn bó bao tháng năm dài, nhưng nước đẩy thuyền trôi, cuộc đời là vậy đó em, có những điều mình không muốn nhưng vẫn phải làm, vì đó là đời “

Tiếng anh xa dần, rời rạc, lạc lõng chơi vơi, văng vẳng vọng xa, xa thật xa, tôi hoảng hốt, níu kéo giọng vang lên “anh, anh…em yêu anh, yêu anh…xin đừng…đừng bỏ em”  hình như có ai đó đập vào tôi, tôi giật mình ngơ ngác, lắc lắc đầu cho tỉnh, thì ra đó là mơ, một giấc mơ đau lòng người và thấm đẫm nước mắt, tiếng đồng hồ gõ nhịp ba giờ sáng…
                   Trương Thị Thanh Tâm
                                  Mytho
                         15/2 mậu tuất 2018

Trương Thị Thanh Tâm: Chữ tình dù đắng vẫn say

aotrang2-kkkĐÊM BUỒN

Trương Thị Thanh Tâm

       Ngồi một mình giữa không gian tỉnh lặng, tôi thấy lòng mình hiu quạnh, lẻ loi…giờ đã quá nửa đêm, căn phố nghèo cũng ngủ sớm sau một ngày dài mệt mỏi mưu sinh, chỉ còn văng vẳng ngoài xa tiếng động cơ của một chiếc xe gắn máy thỉnh thoảng chạy qua rồi mất hút, khu phố  lại trở về trong im vắng…

Đàn muổi cứ vo ve vang lên bên tai nghe thật mỏi mệt, ai oán, tôi chợt nhớ đến sự tích về con muổi…

Đêm nay bầu trời đầy sao mà trăng thì bơi lội đi đâu chỉ còn một nửa treo lơ lửng giữa vùng trời bao la, nàng trăng nầy đâu có thể nào bạc tình như nàng muổi, hay nàng cua nào đó trong cổ tích, nàng bỏ đi mỗi tháng với nhân tình nào đó chăng! Tôi thầm nghĩ như thế với sự vẽ vời hoang đường để khỏa lấp nỗi buồn đang hiện hữu, gió xào xạc ở hàng chuối phía bên nhà, như thầm thì chia sẻ nỗi buồn thầm kín trong tôi …

Phải rồi, mệt mỏi hòa lẩn những ngán ngao trong cuộc đời tôi bon chen vì cuộc sống, lẻ loi đơn độc trong tâm hồn mà tới giờ đây tôi cũng chưa từng có một tri âm tri kỷ nào để chia sẻ tâm sự của mình. Tuổi xuân đi qua vội vã, nhường cho tuổi già lừng lững đến, da mồi, răng long, tóc bạc, tôi chợt giật mình…xoè tay đếm đốt, đã sáu sáu năm hiện diện dưới ánh mặt trời nầy, cuộc vui chưa đến được bao lâu, thời đăng quang con gái, cái thời có kẻ đón người đưa chưa được dài, đã lội bơi dòng nước ngược, nỗi khó khăn của gia đình, đã làm tôi hụt hẩng, những giây phút mộng mơ của thời thiếu nữ, cởi bỏ lớp nữ sinh, xếp lại tà áo dài trắng trinh nguyên, để nghiêng vai chia sẻ gánh nặng trong cuộc sống gia đình.

1975 tôi chỉ vừa tròn 18, chưa kịp biết soi gương chải chuốc, tóc còn chưa biết tếch để cài hoa, đã vội vã  đi vào đời sống thực tiển thời đó, thì mộng gì đây, mơ gì đây trong lúc giao thời thuở đó, có, có một cuộc tình, à không có một cuộc tình vừa chớm nở đã vội tan, chỉ lãng đãng trong những giấc mơ, những đêm giật mình tỉnh giấc hình ảnh không trọn vẹn, để nghe con tim đau nhói, một thứ tình cảm đơn phương mà hoài hoài thương nhớ, trong một bối cảnh nào đó không hiểu người ấy có còn nhớ đến tôi không!

Tôi thường tự hỏi mình như thế, câu trả lời chỉ là những dòng nước mắt, đơn phương thì có mối tình nào trọn vẹn…

Chiều càng xuống, đêm càng sâu, thì nỗi nhớ càng quay quắt, nó xoay tròn và ngắt nhéo từng tế bào trong cơ thể tôi, tình yêu có thể mang lại những ngọt ngào, nhưng cũng có thể xót xa đau, nhưng vẫn là cái cảm giác thật tuyệt vời…

Tại sao lại phát sinh cái tình yêu nam nữ đó nhỉ, ông trời rãnh rỗi quá khiến cho người dương gian chúng ta dở khóc , dở cười, một sân khấu cuộc đời giữa bi và lạc, sự thu hút giữa điểm nhấn nào để ta chú ý và thương nhớ luyến lưu, một ánh mắt, nụ cười, một ngoại hình, một bàn tay, một vuốt ve nào đó đã làm ta không thể quên, ôi thượng đế…và ai đó đã se sợi chỉ hồng để buộc, và nợ hay duyên để nhận được những ngọt ngào hay cay đắng, tình yêu cũng chẳng phải là bậc thềm để ta phân cao, thấp, sang nghèo, thế mà ta cứ có những bước chân vấp ngả trong cuộc đời, để giờ đây tôi như ốc mượn hồn, thỉnh thoảng thoát ra và trốn vào cái thế giới mà tự mình bao lại…

 CHẤT TÌNH YÊU

Tình yêu đâu có tuổi tên
Chỉ cần liếc mắt, nghe tim bồi hồi
Chỉ cần một nụ cười thôi
Chỉ là câu nói trên môi dịu dàng

Tình yêu cũng chẳng phân vân
Con tim hòa nhịp lâng lâng đủ rồi
Đâu cần môi sát bờ môi
Chỉ cần chạm, đã bồi hồi trong tim

Chữ tình dù đắng vẫn say
Vẫn ngây ngất nhớ, quên ngày quên đêm
Chữ tình đâu phải bậc thềm
Phân cao với thấp, phân hèn với sang

Dẫu cho tình biết lỡ làng
Con tim vẫn cứ rộn ràng đắm say
Chữ tình men rượu đắng cay
Vui trong chốc lát, lại buồn năm canh.

Nhưng nói như vậy chứ trên cõi đời nầy không có gì là tuyệt đối, vạn vật đều có thay đổi, trời còn có lúc nắng mưa, rồi thời gian sẽ trôi qua, ta không thể ngược dòng mãi mãi, cũng có lúc ta phải quên một mối tình nào đó, sẽ bạc màu thương nhớ, sẽ phôi phai để đón nhận cái mới, bởi vì nếu cũ còn tồn tại thì cái mới sẽ không đến, như tôi bây giờ đã và đang đón nhận một vầng thái dương đã và đang đến trong tôi, dù hoàn cảnh có thể không tốt, dù tình yêu không trọn vẹn, bởi tôi biết hoàng hôn đã làm phai màu tóc, và đã quay chậm một vòng thì không thể đòi hỏi sự tròn vẹn tuyệt đối được, đời còn được bao nhiêu mà hững hờ không đón nhận…

 Trương Thị Thanh Tâm

Mytho

Trương Thị Thanh Tâm: Góc Khuất Tâm Hồn

Góc Khuất Tâm Hồn 

aoxanhNgày Tháng Bây Giờ
Anh yêu thương,
Đêm nầy ngồi viết những dòng chữ nầy, cùng với nỗi buồn ngất ngưởng, rèm mi vẫn thôi chưa khô lệ, thực tại chưa cho môi rạng rỡ nụ cười, mộng gì đâu? Mơ gì đây! Khi mình cách chia hai nẽo, anh à!!
Nỗi bất lực vẫn nằm im đó ư, sao anh chẳng nói điều gì, cho em những ấm áp vừa lòng, em cô đơn nơi nầy, mà tình yêu không thắp sáng, anh đâu? Sao không chia sẽ cùng em nỗi trống trải nầy, em đã hoang phí cả một thời xuân tuổi ngọc, mà ngày gặp lại…ôi! Mịt mù xa thẳm…
Anh là cánh chim trời, em là vùng mây trắng, gío thổi tạt mây xa, cánh chim tung bay vời vợi, mây khóc sầu cô đơn!!!
Biết bao giờ anh mới hiểu được lòng em đây hở anh? Anh được gì với bài thơ đăng báo, những lời comment, với những kẽ gợi tình, em rất ghét vì chính nó sẽ đưa tình yêu chúng mình rời xa nhau hơn nữa trong một ngày rất gần đây, dù bây giờ chúng ta cũng có gần nhau đâu!
Em chỉ là một phụ nữ bình thường, không có gì để cho anh ngoài trái tim bé nhỏ nầy, một tình yêu đã dành cho anh bao năm trời thương nhớ, không ai có thể thay thế anh dù trong phút giây ngắn ngủi, trong trái tim anh chính là Thiên Chúa, mãi mãi ngự trị trong lòng em.
Tình yêu, ai cũng muốn chiếm hữu không riêng gì em đâu, anh cứ hờn trách em nữa đi để thấy mình trong sạch hơn.
Còn em được gì đây hở anh, bao nhiêu mùa xuân đi qua, bao nhiêu ngày thương nhớ,
đại lộ dài hun hút, hàng me lộng gío, từng nụ hôn nồng nàn mỗi lần bên nhau, những đam mê không thể kềm hãm được đã kéo chúng ta xích lại gần nhau hơn…
Từng kỹ niệm lưu đày, đôi khi em muốn quên, muốn Xóa nhòa tất cả, nhưng anh ơi em không thể quên vì nó đã là máu, đang từng ngày, từng ngày đang luân lưu trong từng tế bào trong em, thì làm sao em quên được hở anh! Làm sao trong một lúc, một thời mà có thể bôi xóa được, khi bên em anh đã nói gì với em anh còn nhớ không? Anh đã hứa hẹn gì mà anh có làm được chưa hả anh!
Ngày tháng bây giờ dài lê thê, đời một người phụ nữ tuổi xuân có được bao lâu hở anh? Duyên phận đã làm em chậm một bước, lỡ một đời, em oán trách ai bây giờ, nên đành cam chịu…
Lá rụng về cội, tương lai em sẽ được gì ngoài kỹ niệm đã xanh rêu, anh đã đem tình yêu của em mà đánh đổi những bài thơ đăng báo, để em phải thắt thỏm lo âu từng giây, trái tim em cực kỳ đau khổ… Thượng Đế ơi con van xin người ban cho con một tình yêu chân thật ,chung thủy không dối lừa được không hở người.
Em không biết rằng anh có đọc được những dòng tâm sự nầy không? Tình yêu của em có làm cho anh hiểu em hơn không? Và biết bao điều trong trái tim anh, có hay không hình bóng của em ?!
Đêm đã dài, tâm tư đã cạn, em mong rằng anh sẽ mãi yêu em như em đã yêu anh.
Ơi, tình yêu của em….

Trương Thị Thanh Tâm
Mytho

CON CHÓ VỆN VÀ NGƯỜI TÙ CẢI TẠO

Nguyễn Vĩnh Long Hồ

      Trên bước đường lưu đày của những người tù chính trị Miền Nam đầy máu và mồ hôi trên chính quê hương của mình, đã có bao nhiêu người “sinh Nam  tử Bắc” và trong số nầy có anh Lê Xuân Đèo là cánh chim lìa đàn rất sớm.

      Giữa tháng 10 năm 1976. Một nhóm tù chính trị Miền Nam khoảng 100 người, từ nhà tù Sơn La lâu đời, nằm trên vùng núi cao đèo heo hút gió của tỉnh Sơn La, phía bắc giáp Yên Bái – Lào Cai, phía tây giáp Lai Châu, phía đông giáp Phú Thọ – Hòa Bình, phía Nam giáp Lào, chúng tôi được di chuyển về Hoàng Liên Sơn (Nghĩa Lộ) và tôi gặp anh bạn tù Lê Xuân Đèo tại Trại 6, Liên trại 2, một vùng núi non hiểm trở có cái tên thật mộng mơ: “Khe Thắm” thuộc huyện Văn Chấn.

      Khe Thắm là một thung lũng nhỏ hẹp, nằm giữa hai dãy núi trùng điệp. Trại 6 gồm có bốn lán, dựa lưng vào dãy núi bên nầy, bên kia thung lũng là một bản Thái Trắng gồm mươi căn nhà sàn, dưới gầm nhà sàn là chuồng nhốt trâu bò. Chỉ có một con đường độc đạo vào Trại 6. Về sau, khi chúng tôi chuyển sang trại khác, trại nầy được sát nhập vào nông trường Bản Hẻo. Dạo chúng tôi vừa chuyển đến, dân làng đã cấy xong vụ lúa Đông – Xuân. Trong thung lũng Khe Thắm, mạ non lên xanh phơi phới. Ngay khi vừa mới đến trại, chúng tôi được phát ngay mỗi người hai bộ đồ rằn ri của binh chủng Biệt Động Quân, thế nầy là hết hy vọng trốn trại! Riêng tôi vớ phải cái quần rộng thùng thình. Công tác đầu tiên là đào thủy lợi để dẫn nước từ một con suối gần đó vào ruộng lúa. Tôi và Lê Xuân Đèo ở chung lán 3, còn Trương Đăng Sĩ ở lán 4.      Mùa đông năm 1976 là một mùa đông với cái lạnh khắc nghiệt, lạnh thê thảm chưa từng xảy ra ở miền Bắc Việt Nam. Có nhiều đêm, hàn thử biểu rơi xuống chỉ còn một độ bách phân, mặt nước ao hồ đóng váng, cá chết hằng loạt vì lạnh. Tuy củi rừng nhiều vô số kể, nhưng bọn cán bộ cấm tù cải tạo đốt lò sưởi vì sợ cháy lán trại? Nửa đêm về sáng, chúng tôi phải thức dậy ngồi đâu lưng hoặc nằm sát vào nhau cho ấm. Bản Thái bên kia thung lũng, dân làng phải đốt rơm hoặc củi để sưởi ấm gia súc. Làm thân trâu bò còn sướng hơn tù cải tạo là cái chắc! Có bao nhiêu quần áo, chúng tôi cũng lôi hết  ra mặc, nhưng không sao đủ ấm vì cái lạnh cắt ruột từ trong xương lạnh ra.

Đi tắm vào mùa đông đối với tù cải tạo là một hình thức tra tấn. Mỗi tuần, tôi chỉ ra bờ suối tắm giặt một lần vào xế trưa chúa nhật, sau khi ngồi trước sân phơi nắng hàng giờ cho ấm. Ngồi bên cạnh tôi là Nguyễn Minh Thanh vừa phơi nắng vừa ngâm thơ “Tao Đàn” đói thấy mẹ mà hắn còn làm thơ được thế mới tài. Nếu như chiều chúa nhật nào rơi vào ngày mưa là xin hẹn lại tuần sau…mới đi tắm. Như vậy là đạt tiêu chuẩn nếp sống “văn minh, văn hóa mới” lắm rồi!

Hầu như lề lối sinh hoạt của tất cả trại tù cải tạo thuộc đoàn 776 do bộ đội csbv quản lý đều giống như nhau. Sau một ngày ăn đói, thực phẩm chính là khoai, sắn, bo bo, bắp hột mà mỗi khẩu phần của người tù đếm được khoảng 700 hột và lao động khổ sai 10 tiếng một ngày kể cả lúc trời mưa bão. Và mỗi tuần chỉ được nghỉ nửa ngày chúa nhật để tắm giặt. Tối đến là giờ sinh hoạt chính trị, “ngồi đồng” hằng giờ ngay trên chỗ ngủ để nghe đọc báo “Nhân Dân” hoặc “Quân Đội Nhân Dân”, những loại tin tức dùng để tuyên truyền chủ nghĩa cộng sản và  chế độ ưu việt xã hội chủ nghĩa.

Sau khi nghe đọc báo là phần bắt thăm nhận công tác lên rừng đốn đủ loại gỗ: gỗ làm cột nhà, gỗ làm đòn tay, gỗ làm kèo nhà…và một toán chặt nứa dùng để lợp mái nhà. Gỗ và nứa từ trên rừng kéo về tập trung trên một bãi đất trống bên cạnh con suối dưới chân núi, cán bộ quản giáo của đội đến kiểm nhận vào mỗi buổi chiều. Sáng hôm sau, toán thợ mộc vác về xưởng mộc cưa, đục, đẽo… để dựng nhà. Lê Xuân Đèo thường đổi công tác với những anh em khác để cùng đi rừng với tôi, vì cải thiện linh tinh để mưu sinh là nghề của chàng. Hắn rất chịu những phi vụ táo bạo của tôi. Hắn là dân Nha Trang, lúc bình thường thì giọng nói dễ nghe, nhưng lúc khẩn trương, nghe lời hắn là một tai họa khó lường…

Bên kia thung lũng, đối diện với trại 6 là dãy nhà sàn của dân tộc thiểu số Thái Trắng. Tụi cán bộ quản giáo hoặc quản chế thường hù dọa là đồng chí “Bí thư xã” có vũ trang súng trường AK47. Phía sau dãy nhà là ruộng mía và hằng ngày nó trở thành mục tiêu đầy sức hấp dẫn và cám dỗ nhưng cũng rất nguy hiểm. Những lần chúng tôi qua dãy núi bên kia đốn nứa, chỉ tiêu một ngày là 100 cây với tiêu chuẩn: phải là nứa già, thẳng đốt, chiều dài từ 3 thước trở lên, sau khi vạt bỏ ngọn. Thường thì buổi sáng đốn xong, bó lại từng bó 20 cây, giấu đâu đó ở trên rừng. Giờ lao động buổi chiều, chỉ lo việc chuyển về trại.. Những cây nứa được mấy anh bạn tù cao niên, chặt khúc và đập giập ra để lợp mái nhà.

Một ngày trên đường vác mấy bó nứa chuyển về trại.. Chúng tôi ngồi nghỉ mệt bên dòng suối vắng. Đèo nhìn qua đám ruộng mía, sau dãy nhà sàn bên kia dòng suối, hắn thèm đến nhỏ dãi, trông thật tội nghiệp. Hắn nói:

– “Ê, mầy! Không biết lúc nầy, bỗng dưng tao thèm ngọt quá trời! Từ ngày di chuyển ra miền Bắc đến giờ, gần cả năm trời tao chưa hề thấy cục đường tán nó tròn, nó méo ra làm sao! Tao chịu hết nổi rồi nghe mậy,” Đèo tiếp. “Thôi, mầy ngồi ở đây chờ tao!”Tôi hỏi:

– “Vậy chớ, mầy định đi đâu?”Hắn vừa trả lời, vừa nuốt nước bọt ừng ực:

– “Qua bên kia ruộng mía, chặt vài cây, chia nhau ăn đở thèm! Mầy còn phải hỏi lôi thôi!”Nghe hắn nói, tôi cười ngất, nói:

– “Thôi đi cha nội ơi! Coi bộ tướng của mầy kìa! Ốm nhom, ốm nhách như con còng gió, rủi ro bị họ bắt gặp, mầy làm sao chạy cho thoát? Nếu họ có súng hoặc nỏ là mầy chết chắc!”Đèo quả quyết nói:

– “Tao đã nghiên cứu kỹ lưỡng tình hình rồi! Trong nhà không có đàn ông mà chỉ có một người đàn bà. Tao còn biết chắc, giờ nầy bà ta trên đường đến trường, đón con đi học về nhà.”Tôi nghi ngờ, hỏi:

– “Sao mầy biết chắc chắn như vậy chớ?”      – “Mầy nhớ không? Xế trưa hôm qua, lúc tụi mình trở qua đây, vác mấy bó nứa về trại.. Tao thấy bà ta dẫn con đi học vừa về tới nhà!”

– “Phi vụ nầy mầy lo hay để tao?” tôi hỏi.Đèo nói, giọng quả quyết:

– “Mầy nhát bỏ mẹ! Phi vụ nầy mầy để tao lo! Mầy ngồi đó chờ tao!”Tôi cười, nói:

– “Thôi được rồi, cha nội! Vụ chôm chỉa nầy mầy để tao lo! Cứ ngồi đó canh chừng. Hễ nghe động tỉnh gì thì la báo động cho tao biết để tao chuồn!”

Nói xong, tôi đứng lên, đi một mạch ra bờ suối, xăn ống quần lên khỏi gối, tay cầm con dao dùng để chặt nứa, lội băng qua dòng suối. Tôi hành quân theo đúng bài bản, lính bộ binh mà. Trước hết, tôi bám lấy bờ suối, ngẩng đầu lên quan sát trận địa, thấy bên trong ruộng mía hoàn toàn yên tỉnh, tôi trườn sâu vào trong, giữa hai giồng mía. Tôi chọn một thật thẳng, tròn mập, vỏ màu vàng hực thật hấp dẫn, lia một nhát, cây mía đổ xuống. Tôi đứng lom khom, vừa vạt ngọn mía xong. Bỗng tôi nghe hắn la bài hãi bên kia dòng suối:

– “Chờ tớ! Chờ tớ! Chờ tớ…”      Tưởng hắn đòi lội qua suối, tôi bèn đứng thẳng người lên, lấy cây mía vẹt lá rồi nhìn qua bên kia bờ suối. Tôi thấy hắn nhảy dựng lên như khỉ mắc phong, tay chỉ chỏ về phía tôi thật khẩn trương. Hắn tiếp tục gào lên:

– “Chờ tớ! Chờ tớ…”Tôi thiệt bực mình, cầm cây mía đưa lên khỏi đầu, nói lớn:

      – “Xong rồi! Qua làm gì chớ! Thôi, ngồi đó chờ tao!”Nhưng, hắn vẫn tiếp tục gào to hơn nữa. Và lần nầy, tôi nghe cái giọng Nha Trang của nó thật rõ ràng:

      – “Chó tới! Chó tới…”Thôi bỏ mẹ rồi! Bây giờ tôi mới hiểu ra là“Chó tới!” chớ không phải “Chờ tớ!” thì đã muộn.. Một con chó vện to lớn dùng để đi săn, xồng xộc lao tới và chỉ còn cách tôi vài mươi thước. Tôi thật sự hồn vía lên mây, quăng dao, quăng luôn cây mía, bỏ của chạy lấy thân, phóng như bay về phía bờ suối…Nhưng, con chó vện nhanh hơn tôi một bước, nó nhảy chồm lên, phập trúng cái đáy quần, ghì lại làm tôi té nằm xấp xuống đất. Hai cái răng nanh bén nhọn của nó đã xuyên thủng đáy quần. Con vện gầm gừ, mõm của nó ghì chặt lại, giằng xé như muốn lôi tuột cái quần của tôi ra thế mới khiếp! Cũng may, nhờ trời thương mấy thằng tù cải tạo ốm đói. Chúng tôi phải chôm chỉa để mưu sinh. Nếu hai cái răng nanh của con vện nhích lên vài phân định mệnh nữa thì bây giờ tôi đã trở thành quan “thái giám” là cái chắc!!!!

Tôi thét lên, cầu cứu:      – “Tao bị con chó vện táp trúng rồi Đèo ơi! Cứu  tao với…”

Đến giờ phút nầy mà hắn còn hỏi đùa được:      – “Trúng chỗ nào vậy cha?”

Tôi bực quá thét:      – “Nó táp lủng đáy quần rồi, tao bị nó ghì lại, không chạy được!”

– “Chỉ táp trúng đáy quần thôi hả?” hắn mách nước. “Tụt quần ra, vọt cho lẹ, thằng mắc dịch!”       Thôi thì cùng tất biến, biến tất thông! Tôi lòn tay xuống hàng nút quần, cởi thật nhanh hàng nút. Nhờ cái quần rộng thung thình, con vện tụt cái quần thật dễ dàng, một chân nó chận cái ống quần, đầu giằng mấy cái thật mạnh để cái quần vuột ra khỏi  cái răng nanh. Tôi chỉ chờ có thế, vừa rút chân ra khỏi cái quần rằn ri là tôi phóng như bay về phía hàng cây bên bờ suối, chỉ cách đó mươi thước. Tôi trèo lên cây nhanh như con sóc, chưa bao giờ tôi leo trèo nhanh như vậy.. Thế là thoát nạn!       Con vện phóng mình lên cây mấy lần, nhưng lần nào nó cũng bị té đau. Vì thế nó tức tối, ngồi bệt xuống đất, nghểnh mõm nhìn lên một cách hậm hực; thỉnh thoảng, nó le cái lưỡi dài thượt liếm mép. Tôi phải lấy vạt áo che lại phần khẩu súng nước phía dưới , sợ nó nhìn thấy “thịt tươi” thèm nhỏ dãi tội nghiệp !!

Đứng trên cây nhìn xuống mới thấy rõ hình thù con vện, màu lông hơi vàng và có vằn như da cọp, trên lưng có xoáy như giống chó hoang dã ở Phú Quốc. Hèn chi nó dữ dằn quá là phải! Thú thật, trong suốt 13 năm quân ngũ, vui buồn đời lính bộ binh, đôi giày saut của tôi đã từng chà nát lên các mật khu lừng danh của Việt Cộng ở Miền Tây từ Thất Sơn, Mỹ An, Sầm Giang, Năm Căn, Cái Nước…nhưng chưa có lần nào tôi phải bỏ chạy “té khói” như lần nầy. Kể ra thì cũng nhục thật đó!       Tôi đứng trên cây, trợn mắt nhìn nó, rủa thầm trong bụng: “May cho mầy, nghe đồ chó vện! Nếu mầy gặp tao ba năm về trước là tao vặn họng mầy, làm thịt chó bảy món nhậu chơi!” Thế mới biết, chỉ sau một thời gian ngắn, cái gọi là “lao động cải tạo”, con chó vện đối với tôi bây giờ nó đã trở thành “con cọp”. Nhưng mà thôi, tránh cọp chẳng xấu mặt nào!

Nhìn thấy con chó vện đang nhe nanh vuốt, hầm hừ dưới gốc cây, Đèo đứng bên kia bờ suối, nói lớn:      – “Mầy cứ đứng ở trên cây chờ tao qua! Đừng có tuột xuống!”

Vừa nói, hắn vừa xăn quần lên khỏi gối. Thấy hai ống quyển khẳng khiu của hắn, tôi nản lòng hết sức. Hắn có vẽ muốn lội qua suối cứu bồ thật, tôi lật đật can:      – “Thôi đi cha nội! Cứ ở yên bên đó đi! Tao nhảy xuống suối, lội qua bển được rồi mà!”

Hắn đáp có vẻ rất tự tin:      – “Mầy yên trí đi! Tao có cách trị con vện nầy cho mầy coi!”

Tôi miễn cưỡng nói:      – “Thôi được, mầy có tài gì thi thố cho tao coi!”

Con vện thấy hắn đang lội bì bõm, băng ngang qua dòng suối. Nó rời gốc cây, đứng chực trên bờ suối, sẵn sàng vồ hắn. Đèo đứng dưới suối, hai tay chống nạnh, vẻ mặt tỉnh bơ. Còn con vện nhìn hắn lườm lườm, chân sau quào dưới đất cát rào rào trong tư thế chuẩn bị vồ mồi. Tôi thấy còn phát ớn xương sống. Nhưng, Đèo chẳng nao núng chút nào cả thế mới là lạ. Bất ngờ, hắn huýt sáo miệng bản nhạc “bác cùng chúng cháu hành quân” một cách ung dung. Con chó vện vừa nghe âm điệu phần mở đầu của bài hát: Đêm nay trên đường hành quân ra mặt trận… nó lầm tưởng hắn là phe ta nên bỏ hẳn thái độ thù nghịch, ngoe nguẩy cái đuôi, chờ welcome “đồng chí Đèo”!!!!  Mẹ kiếp! Sống ở miền Bắc XHCN nầy, đến con chó còn bị tuyên truyền mê hoặc đừng nói chi là con người.      Đèo leo lên bờ, hắn vỗ đầu con vện, vuốt đầu nó mấy cái. Đồng chí vện chồm lên, vật ngã hắn xuống rồi liếm cùng mặt. Thế rồi, người tù cải tạo và “đồng chí vện” ù kết thành đôi bạn sống chết có nhau từ dạo đó! Hắn ôm chặt con vện cho tôi leo xuống. Tôi vội vã lủi vô ruộng mía, lấy quần mặc vào rồi đi kiếm con dao và cây mía. Hai đứa tôi lội trở qua bên kia bờ suối, con chó vện cũng lội suối qua theo. Ngồi dưới bóng cây chia nhau từng lóng mía. Tôi chỉ ăn 2 lóng, phần còn lại của hắn vì Đèo thèm ngọt. Còn tôi, tôi thèm thứ khác hấp dẫn hơn nhiều: “Thịt! Thịt! Thịt!”… Tôi nhìn con vện, tưởng tượng đến dĩa “rựa mận” đang bốc khói, làm tôi thèm đến nhểu nước miếng. Bất chợt, con vện ngước lên nhìn tôi. Bốn mắt lườm nhìn nhau….tóe khói; hình như, cái giác quan thứ sáu của nó, nhìn thấy ý đồ bất chánh của tôi và báo cho nó biết rằng: “Coi chừng thằng cha tù ốm đói nầy, hắn sẽ thịt mình đấy!” Vì vậy, con chó vện chỉ quấn quít bên cạnh anh Đèo và lúc nào cũng đề cao cảnh giác với tôi. Cứ mỗi lần tôi xáp lại gần, định làm quen là nó đứng dậy đi chỗ khác chơi và nhìn tôi với tư thế sẵn sàng chiến đấu.

Cách đây ba hoặc bốn tháng gì đó. Tên thiếu tá Khoát – trại trưởng – có tuyên bố một câu làm cả trại hồ hởi, phấn khởi: “Trại ta có kế hoạch nuôi lợn, cung cấp thịt tươi, cải tổ bữa ăn để các anh có đủ sức thâm canh, tăng năng suất, chuẩn bị trồng sắn đại trà.” Thế là cả trại thi đua vào rừng đốn gỗ dựng trại chăn nuôi. Và chỉ trong vòng hai tuần lễ, ba cái chuồng nuôi lợn được cất xong bên cạnh bờ suối, đối diện với nhà bếp của ban chỉ huy trại. Nhưng, tên Quang chỉ mang về một cặp heo mọi, bụng ỏng, đít teo, mỗi con cân nặng khoảng 5 kí là cùng. Thế là, một anh bạn tù cao niên ở lán 2 được giao cho nhiệm vụ “chăn lợn”. Mỗi ngày, anh có nhiệm vụ mang một cái sô vào nhà bếp cán bộ trại, gặp tên trung sĩ Kây để nhận cơm thừa, canh cặn mang về chuồng nuôi lợn. Không biết nuôi heo bằng cách nào mà cặp heo mọi càng ngày càng gầy nhom. Ngược lại, trông anh càng ngày tròn trịa ra !!      Đêm hôm kia, chuồng nuôi lợn xảy ra chuyện rùng rợn, khó tin nhưng có thật là hai con heo mọi bị bầy chuột rừng moi ruột cho đến chết. Nhờ vậy, trưa hôm sau, cả trại được ăn cơm trắng với thịt heo kho với nước muối. Gần 2 tháng nay, chúng tôi mới được ăn một chén cơm trắng và một miếng thịt heo to bằng hai lóng tay út, cho đến bây giờ miệng tôi vẫn còn thòm thèm thịt tươi. Và tôi đang nghĩ kế hoạch thịt con vện…

Chúng tôi lần lượt chuyển hết mớ nứa về trại, con vện đưa hai đứa tôi đến tận cổng trại. Và từ đó, nó trở nên người bạn trung thành với anh Đèo. Sáng nào nó cũng nằm chờ trong buị cây gần cổng, rồi lẽo đẽo theo chúng tôi vào tận rừng sâu đốn gỗ. Có mấy lần tôi định thịt nó, nhưng Đèo cương quyết ngăn cản. Hắn nói:

– “Mầy muốn thịt con vện nầy thì phải bước qua xác chết của tao!”

Nửa năm sau đó, những dãy nhà khang trang bằng gỗ được dựng lên chung quanh ban chỉ huy trại 6 đều do công sức của những người tù cải tạo. Nhưng, gỗ và nứa càng ngày càng khan hiếm, chúng tôi càng phải đi xa hơn, có khi phải đi băng qua thung lũng phía sau trại, lội vào khu rừng già dưới chân núi bên kia, gần nông trường Bản Hẻo để kiếm gỗ.

Thế rồi một hôm. Lần đầu tiên chúng tôi đi theo con đường mòn băng qua thung lũng vào lúc hừng đông sáng để kiếm gỗ làm đòn tay. Khi những tia nắng ban mai mỏng manh, màu vàng nhạt, như cố xuyên thủng làn sương mai trắng đục bao phủ cả  khu rừng, nắng tạo thành những chùm ánh sáng lung linh, huyền ảo. Hai đứa tôi lặng lẽ tiến khá sâu trong khu rừng rậm rạp, cây cối hoang vu, còn con vện biến đi đàng nào không biết. Tiếng suối chảy róc rách khi len lỏi qua những gềnh đá rong rêu, hòa cùng  muôn ngàn tiếng hót líu lo của bầy chim rừng, trổi lên bản hợp tấu đầy sức quyến rũ của núi rừng Tây Bắc, thoang thoảng đâu đây mùi hương nhẹ nhàng tỏa ra từ những đóa phong lan, nép kín sau những thân cây cổ thụ, pha lẫn mùi hăng hắc của lá rừng ẩm mốc.       Tiếng gió lướt trên những tán cây rừng xào xạc, mang theo cái lạnh tái tê từ dãy núi đá chập chùng của rặng Hoàng Liên Sơn thổi về. Gió lay những giọt sương mai đọng trên lá cây rừng, sương rơi nhẹ nhàng trên mái tóc, trên vai áo làm tôi thấm lạnh.  Đang mơ màng trong cái không gian liêu trai và cái tĩnh lặng mong lung ấy….Bỗng một tiếng thét chói tai của Đèo đang đi phía trước, làm bầy chim rừng cũng phải giựt mình, bay tán loạn: “Con mẹ nó! Coi chừng vắt nái! Chạy khỏi khu rừng nầy ngay!”

Vắt nái là một loại vắt màu xanh lá cây, nhỏ hơn đầu đũa một chút và chiều dài chỉ hơn một phân rưởi, khiếp nhất là khi nó có chửa nên đặt cho nó cái tên là “vắt nái”.  Khi đánh được hơi người là nó giương lên như cây “anten”, rồi bún mình lên như cái lò xo, bám vào đầu vào cổ người, thú vật hút máu một cách êm thắm, chén no rồi tự động rớt ra, máu từ vết cắn đó chảy ra không ngừng, chỉ có nhai cỏ mực đấp vào vết cắn là tạm cầm máu được. Có nhiều anh bạn bị nhiểm trùng, vết cắn bị ngứa ngái, lở lói tròn bằng đồng tiền, nhức nhối tàn bạo. Hai đứa tôi vội vàng lội băng qua con suối cạn, tìm khoảng đất trống trải để kiểm soát lại đầu cổ, lôi ra cũng được bốn, năm con vắt xanh..      Bỗng có tiếng khèn réo rắt, trầm bổng, văng vẳng từ đâu đưa tới, âm thanh ai oán, não nùng như khóc như than. Tiếng khèn trôi bồng bềnh trong làn sương mai trắng đục. Tôi tò mò rũ Đèo đi ngược lên thượng nguồn con suối để tìm người thổi khèn. Đó là cụ già thuộc bộ tộc Thái đen với mái tóc trắng phau, chòm râu bạc thả lỏng phất phơ trong gió. Ông vận bộ quần áo cộc màu chàm đang ngồi dưới một gốc đại thụ, chừng đã mọc rễ cả trăm năm, cành lá sum sê, vỏ cây sần sùi phủ rêu xanh, những rễ phụ và dây leo bện nhau bám chằng chịt vào thân cây. Cách đó mươi thước là hai thanh niên để lưng trần đang cuốc một hố đất.. Thấy có người đến, ông lão ngưng thổi khèn, ngước mắt nhìn chúng tôi, hỏi:

– “Mấy ông đi đốn gỗ cho trại cải tạo đấy à?” ông cảnh báo. “Khu rừng nầy có rất nhiều rắn độc, mấy ông phải cẩn thận! Cách đây mấy hôm, một người trong bản bị một con cạp nia mổ chết rồi đấy!”Tôi nói:

– “Cám ơn cụ  đã chỉ bảo! Chúng tôi sẽ hết sức đề phòng!”Đèo phì cười khi nghe cụ gọi mình bằng ông, hắn nói:

– “Tôi là Lê Xuân Đèo, gọi tôi là Đèo được rồi! Thế còn cụ?”      – “Tôi tên Phạm công Trừng,” ông lão buồn rầu, than thở. “Nhà tôi bị ốm nặng sắp chết đến nơi rồi, các anh ạ!” ông chỉ hai thanh niên, tiếp. “Chúng nó đang đào huyệt, chuẩn bị chôn mẹ chúng đấy!”

– “Thưa cụ, bà cụ bị mắc chứng bệnh gì vậy?” Đèo hỏi.Ông cụ thở dài, nói:

– “Nhà tôi bị bệnh kiết lỵ đã hơn hai tuần nay! Uống đủ loại cây cỏ, nhưng không thuyên giảm, đang nằm thoi thóp trên giường chờ chết đấy, các anh ạ!”       Đèo nghe ông cụ nói xong. Hắn suy nghĩ trong giây lát rồi nắm tay tôi, kéo ra bờ suối, hỏi:

– “Tao muốn cứu bà cụ! Mầy nghĩ sao?”Tôi trợn mắt nhìn hắn, hỏi:

– “Mấy lấy cái gì cứu bà cụ chớ?”      – “Nói cho mầy biết, tao còn cất giấu được 10 viên “Reostop”, chôn dưới sạp nứa chỗ tao ngủ,” Đèo lấy ý kiến tôi lần chót. “Mầy thấy tao có nên giúp họ không?”

– “Việc nầy có liên quan đến sinh mạng của mầy! Tự quyết định đi, đừng hỏi tao lôi thôi!” Tôi nói.       – “Tao quyết định cứu họ!” Đèo trả lời một cách dứt khoát. “Thấy người sắp chết mà không cứu là đắc tội với Trời Phật rồi! Hơn nữa, tao muốn làm sáng tỏ cái bản chất và truyền thống tốt đẹp của người lính Việt Nam Cộng Hòa cho đồng bào miền Bắc thấy rõ điều nầy!”

Nghĩ sao làm vậy, Đèo trở lại chỗ ông cụ, nói:       – “Ngày mai cũng vào giờ nầy, cụ đón chúng tôi tại đây để nhận 10 viên thuốc “con nhộng” chuyên trị kiết lỵ, đem về cho bà cụ uống!”

Ông cụ nghe đến thuốc “con nhộng”, mắt cụ ngời sáng tia hy vọng và cảm động đến rớt nước mắt. Cụ bảo hai người con trai vào rừng đốn gỗ đòn tay cho chúng tôi, rồi mời chúng tôi về bản làng gần đó uống nước trà xanh. Căn nhà sàn của gia đình cụ gồm ba gian, nằm trong bản Thái, cách cây bờ suối đó khoảng 200 thước. Căn nhà sàn khá cao để tránh thú dữ nhất là đàn chó sói thường hay kéo vào bản, bắt gia súc. Đặc điểm những căn nhà sàn của dân tộc thiểu số như Thái, Mường, Mông…cùng có một lối kiến trúc như nhau là không dùng đinh, tất cả đều được liên kết với nhau bằng những con sò gỗ và lạt buộc, sàn nhà được nối kết với nhau bằng những cây nứa già được đập giập ra để lót sàn. Leo lên mấy bậc thang gỗ ọp ẹp, thấy ngay bà cụ đang nằm trên cái chõng tre đặt ở một gốc nhà, trùm chăn đến cổ. Bà cụ gầy lắm, tôi chỉ thấy cái mềm bông màu đỏ phập phồng theo nhịp thở thoi thóp, mỏng manh như sợi chỉ mành treo chuông.       Sau khi uống xong chung trà xanh, thì hai người con cũng về tới nơi. Thấy mặt trời lên thấp thoáng ngọn cây, chúng tôi xin từ giả ra về.. Cụ đi trước dẫn đường, dùng dao vạt vào thân cây rừng để đánh dấu, cho chúng tôi biết đường trở lại. Tới bìa rừng, họ chuyển 6 cây gỗ làm kèo lên vai hai đứa tôi và chúng tôi từ giã nhau ở đấy. Con vện đi sục sạo ở đâu đó trong khu rừng cũng vừa chạy trờ tới, mõm ngoạm một con chuột lông màu xam xám khá to, làm quà tặng anh bạn Đèo. Trước khi trở về trại, Đèo ra bờ suối làm thịt chuột một cách thành thạo, rồi dùng lá chuối rừng gói lại cẩn thận, bỏ vào trong túi quần mang về trại. Buổi trưa, Đèo lén ra khu nhà bếp nướng một cách vội vã, khi nào có chiến lợi phẩm, hắn cũng chia phần cho tôi một nửa.

Đêm hôm đó, đợi mọi người ngủ say sau một ngày lao động cật lực. Đèo đào một lớp đất mỏng dưới ngay chỗ nằm lấy, ra một chai thuốc “Reostop” còn đủ 10 viên rồi giấu dưới gối.       Sáng hôm sau, chúng tôi trở lại vùng nầy, tiếp tục đốn gỗ làm kèo nhà. Lần theo vết dao đánh dấu trên thân cây, hai đứa tôi trở lại chỗ cũ rất dễ dàng. Đến chỗ hẹn, chúng tôi thấy cụ đang ngồi dưới bóng cây đại thụ, chờ chúng tôi tự bao giờ. Đèo thân mật đặt cái lọ thuốc “Reostop” vào tay ông cu, rồi chỉ cách dùng. Ông cụ vừa mừng, vừa cảm động đến độ nói không nên lời. Trước khi chia tay nhau, ông cụ dặn dò:

– “Tụi bộ đội của đoàn 776, thằng nào cũng ác ôn hết! Các anh phải cảnh giác chúng nó đấy!”       Khoảng một tuần sau đó. Chúng tôi trở lại vùng nầy kiếm gỗ, nhìn thấy cái huyệt đã được lấp đất lại bằng phẳng, cỏ dại đã bắt đầu bén rễ và chúng tôi biết chắc là bà cụ đã được cứu thoát khỏi bệnh kiết lỵ. Người tù cải tạo Lê Xuân Đèo đã hoàn thành công tác “dân vận” một cách xuất sắc bằng chính mạng sống của chính mình. Vì ba tháng sau đó, anh từ giã cuộc đời vì bịnh kiết lỵ vì không thuốc chữa cho chính bản thân mình.

Bịnh kiết lỵ, tiêu chảy và sốt rét rừng là ba căn bệnh rất phổ biến trong các trại tù cải tạo ở Miền Bắc XHCN. Một người bạn cùng đơn vị là cựu thiếu tá Trần Sĩ cũng gởi nắm xương tàn tại một trại tù khác vào năm 1978 vì bệnh kiết lỵ và rồi còn biết bao nhiêu người khác nữa? Trước khi chuyển trại từ trong Nam ra ngoài Bắc, chúng tôi dự trữ khá nhiều thuốc chuyên trị về các chứng bệnh nguy hiểm nầy và nhất là trụ sinh để phòng thân. Nhưng, sau khi chuyển đến trại 6 Khe Thắm, một người tù cải tạo tên Phạm Thành K. đã đâm sau lưng chiến hữu, anh ta bàn kế hoạch “chuyển trại giả” với tên thiếu tá Khoát để lấy  điểm.        Vào một buổi sáng tinh sương. Trong lúc mọi người chuẩn bị xuất trại lên rừng đốn gỗ, bỗng có tiếng kẻng dồn dập khác thường, đích thân cán bộ quản giáo đến từng lán, đôn đốc mọi người khẩn trương đến tập trung trước sân cờ ban chỉ huy trại để nghe  thiếu tá Khoát – trưởng trại – ban hành lệnh hành quân (chuyển trại) và mọi người được thông báo, chỉ còn có một tiếng đồng để chuẩn bị hành lý cần thiết mang theo người. Vì quá vội vã, nên Đèo không kịp đào lấy 10 viên thuốc “reostop” chôn dưới sạp nứa, ngay chỗ anh nằm.

Tại sân đá bóng của xã, trong khi ngồi chờ đợi xe vận tải đến chở đi một trại tù cải tạo khác, bọn cán bộ quản giáo và quản chế yêu cầu tất cả tù cải tạo “bày hành lý bán chợ trời” – tiếng lóng – một hình thức kiểm soát hành trang của tù cải tạo để hôi của. Sau đó, chúng phân tán chúng tôi đứng riêng rẽ từng nhóm nhỏ vài ba người, tù cải tạo còn phải trải qua một màn “thoát y vũ” bất đắc dĩ để chúng lục soát quần áo tù. Thế là, sau khi tịch thu toàn bộ số dược phẩm của anh em mang từ trong Nam ra, chỉ còn sót lại 10 viên “Reostop” của Lê xuân Đèo. Sau đó, bọn tù cải tạo chúng tôi mặt mày tiu nghỉu trở về lán trại, tiếp tục lên rừng đốn gỗ. Tên thiếu tá Khoát và tên tù phản bội P. T. K. mặt mày hớn hở vì chuyến nầy thắng lớn…        Bọn cán bộ trại đem số thuốc tây nầy ra Hà Nội và tỉnh Hoàng Liên Sơn bán lại cho các con buôn, rồi thay vào đấy một loại thuốc dõm trị bá chứng tên “Xuyên Tâm Liên” để trị bịnh cho bọn tù. Đến năm 1982, nhà nước cộng sản khám phá loại thuốc nầy có độc tố phá vở các tế bào não, tim và thận và ngưng sản xuất thì đã muộn. Không biết có bao nhiêu tù cải tạo sống dở, chết dở vì uống phải loại thuốc nầy?

Vào mùa thu năm 1977. Bạn Lê Xuân Đèo không may vướng phải căn bệnh kiết lỵ hiểm nghèo. Sang đến tuần lễ thứ hai, người anh cứ khô héo dần như cây khô thiếu nước, gầy đến nổi chỉ còn da bọc xương, rồi nằm liệt giường, tiểu và đại tiện một chỗ.. Mỗi ngày tên y công tên Lương phát cho vài viên “Xuyên Tâm Liên” và một bát cháo loãng như nước cơm chắt, tiêu chuẩn trừng phạt những người tù cải tạo bị ghép vào tội “chây lười lao động”. Qua đến đầu tuần lễ thứ ba, người anh tóp xọp như bộ xương cách trí, được bọc lại bằng một lớp da nhăn nheo màu xám xịt, đôi chân gầy guộc như hai thanh nứa, sờ vào lạnh ngắt như đồng. Anh chỉ còn thở thoi thóp, máu hình như bắt đầu đông lại trong các động mạch, đôi mắt thất thần, mở trao tráo trong hai cái hốc mắt lõm sâu. Đến buổi chiều, anh lên cơn mê sảng gọi tên vợ, tên con, rồi khóc rưng rức bằng những hạt lệ khô.Tối hôm đó, tôi ngồi bên cạnh anh cho tới giờ kẻng đổ, tôi bỏ mùng xuống cho anh, trước khi trở lại chỗ nằm.

Kỳ lạ quá! Nửa đêm về sáng, tiếng cú rúc liên hồi trong một lùm cây nào đó, ngay phía sau lán 3 như tiếng gọi của thần chết lởn vởn đâu đây, làm tôi rùng mình. Gió từ dãy Hoàng Liên Sơn thổi về ào ào làm rung chuyển cây rừng, làm  tốc mái tranh nứa, gió thổi bật cánh mấy cái phên cửa…        Trong cái không gian lạnh lẽo ấy, vang lên những tiếng ngáy khò khò khi trầm, khi bổng, có tiếng ngáy cao vút như giọng nam “tenor”, những tiếng nghiến răng trèo trẹo, tiếng trở mình của bạn nào đó trên cái sạp tre ọp ẹp vang lên kẽo kẹt, tiếng mớ ngủ lẫn tiếng thở dài não nuột. Đôi khi, có anh đang nằm mơ thấy mình đang đánh nhau với Việt cộng, tiếng hét của anh đánh thức cả lán dậy: “Diều hâu! Diều hâu! Đại Bàng ghe rõ không trả lời! Việt cộng tràn ngập căn cứ hỏa lực rồi! Rót pháo xã láng! Nổ chụp trên đầu chúng tôi! Lẹ lên đi mấy cha…” và tất cả âm thanh đó quyện vào nhau hợp thành một “bi trường khúc” đầy ấn tượng sâu sắc trong lòng người tù cải tạo.

Bỗng tôi nghe tiếng con vện tru từng chập bên bờ suối, tiếng tru buồn thê thảm, kéo dài lê thê trong đêm trường tĩnh mịch. Tôi mệt mõi, ngủ thiếp đi từ lúc nào cũng không hay, cho tới khi tiếng kẻng báo thức vang lên, đánh thức mọi người dậy để chuẩn bị một ngày lao động khổ sai.. Tôi nghe cả lán hoảng hốt, thét lên: “Đèo chết rồi! Đèo chết rồi!…”..        Tôi ngồi bật dậy như cái lò xo, nhìn sang chỗ Đèo nằm, hai cái chân như hai thanh nứa già cỗi, khô khốc, buông thòng xuống đất, bị gió thổi luồn dưới sạp nứa đánh đong đưa, còn thân người của anh nằm vất vưởng trong mùng. Tôi vội vàng chạy đến, vén cái mùng lên. Tôi thấy đôi mắt đôi mắt của anh mở trợn trừng, hai giọt lệ khổ đau chắt chiu từ một kiếp người bị đày đọa trong tận cùng đáy địa ngục, ứa ra từ trong hai hốc mắt sâu hoắm, còn đọng lại chưa khô; hình như, anh mới từ giã cuộc đời cách đây không lâu. Tôi lấy tay vuốt mắt người bạn tù…

Một cái chòi lá đơn sơ được vội vã dựng lên, chỉ có mỗi mái nứa gần khu rừng sắn, bên cạnh con suối cạn, phía sau ban chỉ huy trại. Bốn cái cộc gỗ đóng xuống đất chính giữa căn chòi, hai khúc gỗ gác song song với nhau bên trên, vừa đủ kê một tấm ván mỏng. Thi hài của Đèo trong bộ quân phục Biệt Động Quân đã bạc màu, rách tơi tả, loang lỗ những vết máu khô vì tai nạn lao động. Tôi phủ kín hình hài của anh bằng cái mềm màu đỏ. Toán mộc lo đóng quan tài, tôi trong bộ phận đào huyệt còn có  Trương Đăng Sĩ và Nguyễn Minh Thanh… Chỗ anh nằm an nghỉ dưới bóng cây cổ thụ dưới chân đồi bên cạnh dòng suối, cách trại khoảng 2 cây số… Đến xế  chiều, mọi việc đã hoàn tất. Sau khi tẩn liệm cho bạn Đèo xong, chúng tôi trở về trại, không ai được ở lại qua đêm để canh giữ xác của anh.

Đêm đó, có lẽ là đêm dài nhất trong 8 năm tù cải tạo của tôi. Vừa chợp mắt là tôi thấy đôi mắt của anh còn mở trợn trừng…Quá nửa đêm về sáng. Bỗng nghe có tiếng chó sủa, tiếng gầm gừ cấu xé lẫn nhau thật dữ dội, tiếng tru tréo từ phía bìa rừng văng vẳng đưa về; hình như, chúng đang tranh ăn thì phải. Điều nầy đã khiến tôi phập phòng lo sợ, không biết chuyện gì bất hạnh sẽ xảy ra cho anh Đèo. Tôi thầm cầu nguyện với ơn trên, đừng để bầy chó rừng tha xác của anh đi!      Trời vừa tờ mờ sáng. Sau tiếng kẻng báo thức vào lúc 6:45, tôi đã thức dậy, cuốn mùng mền, rồi vội vã đi về phía cổng trại. Tên lính canh cho phép tôi xuất trại, ra bìa rừng thăm xác bạn. Tôi lật đật bước vào cái chòi lá, cái quan tài của Đèo được ghép vội vã bằng sáu tấm ván mỏng manh bị đẩy xô lệch trên hai cái thanh ngang, suýt chút nữa thì đổ xuống đất, cái nấp áo quan sẽ bung ra ngay. Sau khi đẩy cái áo quan lại cho ngay ngắn, tôi bước ra bên ngoài quan sát hiện trường. Cả một vùng cỏ dại chung quanh cái chòi bị ngã rạp xuống, loang lổ vết máu và lông thú. Tôi đoán không sai, tại ngay chỗ nầy, đêm qua đã xảy ra trận ác đấu thật quyết liệt giữa bầy chó rừng, tranh xác anh Đèo để tha vào rừng.

Có lẽ đánh được hơi người quen thuộc, con chó vện đang nằm bất động gần đó, nó ngước đầu lên nhìn tôi, cố gắng chống hai cái chân trước xuống đất, gượng lết về phía tôi, nhưng được vài bước rồi ngã quỵ xuống, mồm rên ư …ử vì đau đớn. Tôi vội vàng chạy đến ôm chấm lấy nó vào lòng. Con vệt liếm vào mặt tôi một cách trìu mến, rồi mệt lả, nghẻo đầu lên vai tôi. Đặt nó nằm xuống đất để quan sát: con mắt bên phải bị lột một mảnh da, còn bê bết máu, cái chân trước bị táp gẫy xương và cái đùi sau bị ngoạm mất một mãng thịt to, vết thương còn rỉ máu âm ỉ. Tôi vô cùng xúc động nhìn nó một cách cảm phục và thương mến.        Thật vậy, không một ai có thể ngờ rằng, con chó vện đã liều mạng sống của nó, tả xung, hữu đột, quyết đấu một mất một còn với cả một bầy chó rừng hoang dại để bảo vệ cái xác thân của Lê Xuân Đèo, người bạn của nó, đang nằm trơ trọi giữa bầy dã thú. Đối với tôi, con chó vện là hiện thân của một dũng sĩ, tuy mang hình hài của loài thú bốn chân, nhưng có một trái tim rất “người” dám vì nghĩa quên mình, chiến đấu đơn độc, không lùi bước trước kẻ thù. Tinh thần quyết đấu của con chó vện, như một lời nhắn nhủ đầy khí phách với đồng loại của nó: “Tụi bây muốn làm thịt Lê Xuân Đèo, phải bước qua xác chết của tao!”.

Tôi bế con vện ra bờ suối, khuất sau đám sắn non, rửa vết thương còn đẫm máu của nó mà ứa nước mắt. Con vện liếm bàn tay tôi một cách thân ái. Tôi thì thầm bên tai nó: “Nằm đây chờ tao; lát nữa, tao trở lại tìm cách đưa mầy về nhà chủ của mầy!” Tôi đứng dậy lui gót, nhìn trong ánh mắt lưu luyến của nó và khi nó đưa cái chân trước quào quào một cách yếu ớt trong không khí như những cái vẫy tay chào vĩnh biệt, khiến tôi có cảm tưởng; hình như, nó muốn trối trăn điều gì đó với tôi chăng?      Tôi từ giã nó, trở vào trại để cùng với anh em lo việc mai táng Lê Xuân Đèo. Toán chung sự có bốn người: Minh Thanh, tôi và hai bạn tù nữa.  Đúng 8 giờ sáng, chúng tôi đẩy cái xe cải tiến cũ kỹ đi ngang qua ban chỉ huy trại, gặp tên trung úy Quang lùn tịt, ngoắc chúng tôi dừng lại, nói: “Này, nhớ đấy nhé! Giữ cái áo quan lại, dành cho những người kế tiếp! Các anh phải biết bảo vệ tài sản xã hội chủ nghĩa đấy!! Sẽ không có cái áo quan thứ hai đâu” !!!!

Sau khi đặt quan tài của Lê Xuân Đèo lên xe cải tiến. Hai anh cầm càng, tôi và Minh Thanh phụ đẩy. Chiếc xe từ từ lăn bánh trên con đường đất gồ ghề còn đẵm hơi sương. Hai cái bánh xe khô nhớt, một cái nghiêng bên nầy, một cái ngã bên kia, phát ra những tiếng kót két rên rỉ một cách mệt nhọc, đau khổ. Hai anh bạn phía trước gồng mình, ấn cái càng xe xuống, còn tôi và Minh Thanh vừa đẩy, vừa nâng phần sau xe lên, vì sợ hai cái bánh xe bung vành, văng ra khỏi ra cái xe cải tiến bất cứ lúc nào. Chúng tôi phải đẩy cái xe tang lăn qua ba cái dốc cao mới đến bờ suối.      Sau vài phút nghỉ giải lao, chúng tôi cùng nhau kê vai, khiêng quan tài lên lưng chừng  đồi, chỗ an giấc ngàn thu của anh, rồi chia nhau vô rừng kiếm dây rừng bện lại như hai sợi dây thừng. Đặt quan tài lên trên hai sợi dây đó, rồi mỗi người nắm một đầu dây, thả từ từ xuống đáy huyệt. Xong rồi, chúng tôi lấp đất lại, vun thành một nấm mộ đơn sơ. Bốn anh em đứng trước mộ, cúi đầu mặc niệm mà trong thổn thức, bồi hồi. Tôi hái một ít hoa rừng đặt lên nấm mồ của bạn.

Bạn Nguyễn Minh Thanh cảm khái làm một bài thơ với tựa đề “NẤM MỒ HOANG” để tưởng nhớ bạn Lê Xuân Đèo, người bỏ cuộc giữa đường.

Một nấm mồ hoang cảnh lạnh lùng

Lơ thơ cỏ úa lá chiều rung

Quạnh hiu vằng vặt vây quanh mộ

Rên rỉ bầy ve tiếng não nùngGởi xác ốm nhom tận chốn nầy

Bao la rừng núi, suối trời mây

Người đi vĩnh viễn đã yên phận

Ngàn dặm người thương đâu có hay!

Sương khói hoàng hôn dọc mỗi đời

Công danh phú quí lá vàng rơi

Than ôi! Thành bại đều chung cuộc

Tuần tự rồi ai cũng thế thôi!

Trên đường trở về trại, khi đi đến gần ban chỉ huy, tôi tách rời anh em, lẻn vào khu rừng sắn, ra bờ suối kiếm con vện. Tôi vô cùng sững sờ nhìn thấy con vện bị ai đó treo ngược đầu xuống đất, bốn chân bị căng ra, buộc chặt vào hai cái cộc gỗ, cổ bị cắt tiết, máu đỏ nhỏ từng giọt xuống cái cái chậu bằng thau đặt dưới đất. Tôi quỳ xuống nâng đầu của nó lên, cả thân mình con vện khẻ run lên lần cuối cùng, rồi duỗi thẳng ra bất động. Cái chết đau đớn của nó làm tôi rớt nước mắt. Tên trung sĩ Kây đứng sau lưng tôi từ lúc nào cũng không hay. Hắn lên tiếng làm tôi giật mình:      – “Trong giờ lao động, anh ra đứng đây làm gì thế?”

Tôi nhanh trí, đáp:      – “Vừa mới mai táng anh Lê Xuân Đèo xong, ra suối rửa tay chân.”

Hắn nói:      – “Tôi nhờ anh giúp hộ một tay.”

– “Được, việc gì thế?” tôi hỏi.Hắn nói như ra lệnh:

– “Anh tháo dây, mang con cầy vào nhà bếp cho tôi!”

Nói xong, hắn mang cái thau tiết đi trước. Tôi tháo sợi dây rừng, ôm con vện vào lòng như ôm thi thể một chiến hữu vừa nằm xuống sau một trận đấu…tôi thất thểu ôm xác con vện vào khu nhà bếp mà lòng quặn đau.      Hôm sau, được phân công làm vệ sinh khu nhà bếp, tôi nhặt những mảnh xương vụn của con vện, đặt lên vào những tấm lá chuối, gói lại cẩn thận. Nhân lúc đi rừng đốn gỗ, tôi ghé thăm mộ bạn Đèo, rồi dùng dao đào một cái hố nhỏ, chôn bộ hài cốt của con chó vện, nằm bên cạnh bạn Lê Xuân Đèo cho có bạn.

Bắt đầu từ cuối tháng chạp kéo dài đến tháng giêng năm sau. Núi rừng Hoàng Liên Sơn, bầu trời ảm đạm và rét mướt, mưa bụi giăng giăng khắp nơi gần như bất tận. Mỗi buổi chiều, người tù trùm chăn kín mít, ngồi co ro trong lán, nhìn những cơn mưa bụi bay bay trong hoàng hôn, ai nấy đều chạnh lòng nhớ quê hương, nhớ cha, nhớ mẹ, nhớ con, nhớ vợ da diết. Gọi là mưa bụi vì lượng nước mưa quá yếu không thể rơi thẳng xuống mặt đất, bị gió thổi bay đi, tỏa ra thành những cơn mưa bụi.

Bước sang tháng giêng. Hạt nước mưa kết tinh lớn hơn một chút có thể rơi thẳng xuống mặt đất, nhưng bị gió tạt nghiêng nghiêng, tạo thành những cơn mưa phùn báo hiệu đất trời sắp giao mùa. Sợi mưa phùn mong manh như sợi tóc rối, đan nhau thành những màn nước trắng đục, giăng kín núi rừng, đồng ruộng, thung lũng, sông hồ … Trời đất nhạt nhòa trong những cơn mua phùn dai dẳng, kéo dài lê thê trên vùng đất khó. Trong bầu khí hậu ẩm thấp ấy, cây cỏ đang âm thầm nẩy lộc, đâm chồi, chờ trỗi dậy tưng bừng khi mùa xuân đến. Chỉ tội cho bọn tù cải tạo phải lao động khổ sai trong rừng sâu, tay chân tê cóng vì đói và lạnh đến rét run.          Thượng tuần tháng 2 năm 1978. Trại chuẩn bị ăn mừng Tết Nguyên Đán Mậu Ngọ vài ngày sau đó. Tôi được phân công vào đội cắt lá dong dùng để gói bánh chưng. Lá dong thường mọc hoang ở những vùng đất ẩm ướt. Tôi đi vào rừng, lang thang trong thung lũng một mình để tìm lá dong. Tôi nhớ quá anh bạn Đèo và con chó vện thân thương.

Mới hừng đông sáng mà tôi đã nghe tiếng chiêng, tiếng trống vang lên rộn rã từ bản làng của dân tộc Thái Đen. Động tính hiếu kỳ, tôi lần theo con đường mòn dọc theo con suối chảy róc rách để đi vào bản Thái. Ô hay! Trước mắt tôi là cả một rừng hoa màu trắng tinh khiết như hoa bưởi mà tôi chưa từng thấy bao giờ. Từ những thân cây khẳng khiu, uốn khúc dù bám vào vách núi đá cheo leo vẫn trổ những chùm hoa trắng muốt, hoa nở rộ khắp núi rừng, dọc theo suối, hoa có năm cánh, nhụy màu hồng, gân màu tim tím. Mỗi cơn gió nhẹ nhàng lướt thoảng qua khu rừng là những cánh hoa rung lên như hàng vạn cánh bướm đang vỗ cánh chấp chới trong không khí.        Tôi đi lần theo con đường mòn tìm gia đình cụ Trừng không mấy khó khăn. Tôi đoán, hôm nay là ngày hội làng thì phải. Trước sân nhà của cụ các bếp đỏ lửa, rực than hồng, họ có mươi người, chia ra làm hai phái: phái nữ đang lo nấu thức ăn, còn phía nam đang chơi nhạc cụ dân tộc như thổi khèn, khua chiêng, trống…rất vui nhộn.  Thấy tôi đường đột bước vào sân, tất cả đều dừng tay, nhìn tôi trân trối. Chỉ cần nhìn thấy bộ đồ rằn ri của tôi đang mặc, họ đã biết tôi là ai rồi. Một thiếu phụ vội vã chạy đến cầu thang, lên tiếng gọi:

– “Bố ơi! Có thằng lính ngụy nó xông vào nhà mình nầy! Con tống cổ nó đi nhá!”Có tiếng quát vọng xuống:

– “Khách quý nhà mình đấy! Đừng hỗn láo, con ạ!”Đứng trên cầu thang, nhìn thấy tôi, cụ Trừng có vẻ mừng lắm. Cụ quay vào trong căn nhà sàn, gọi bà cụ ơi ới:

– “Bà nầy, theo tôi xuống đây nhanh lên!”Cụ vội vã chạy xuống cầu thang trước, cụ bà nối gót theo sau. Cụ ôm chầm lấy tôi, trước con mắt ngơ ngác của mọi người. Cụ Trừng nói với vợ:

– “Bà còn sống đến ngày hôm nay là nhờ người tù cải tạo nầy đấy!”Tôi vội vàng đính chính ngay:

– “Không phải tôi cứu bà cụ đâu! Anh Lê Xuân Đèo đấy cụ à!”Cụ Trừng vỗ trán một cái thật mạnh, nói:

– “À, tôi nhớ ra rồi! Anh Lê Xuân Đèo đâu?”Tôi buông thỏng một câu:

– “Đèo chết rồi!”Cụ Trừng bàng hoàng trong giây lát, rồi hỏi gằn:

– “Bọn quản giáo đánh chết anh Đèo,, phải thế không?”      – “Không phải vậy, anh Đèo chết vì bệnh kiết lỵ!”

Bà cụ nói:      – “Tôi thoát khỏi bệnh kiết lỵ là nhờ 10 viên thuốc “con nhộng” của anh ấy biếu! Sao anh Đèo không dùng thuốc ấy để chửa bệnh cho mình nhỉ?”

Tôi buộc lòng phải thú thật, nói:      – “Đó là 10 viên thuốc cuối cùng mà anh Đèo đã biếu cho cụ!”

Bà cụ nghe tôi nói, vô cùng xúc động, giọng run run:      – “Anh Đèo đã hy sinh cái mạng của mình để cho tôi được sống! Thế mới rõ trắng đen, đồng bào dân tộc chúng tôi ở ngoài nầy đều bị lũ chúng nó bưng bít, tuyên truyền lừa bịp cả! Chúng nó còn bảo “lính ngụy” các anh tàn ác lắm! Mổ bụng, moi gan người ăn sống, uống cả máu tươi! Bọn chúng nó ngậm máu phun người, giỏi thật đấy!

Đám thanh niên nghe bà cụ nói, xem chừng đã hiểu biết mọi chuyện, họ bỏ hẳn thái độ thù nghịch khi vừa mới gặp tôi. Một anh bạn trẻ đến nắm tay tôi mời mọc rất chân tình:      – “Anh ở lại dùng cỗ với chúng em nhá! Hôm nay, mới bắt đầu mùa lễ hội “Kin Chiêng Bók May” của dân tộc Thái chúng em!”

Tôi hỏi:       – “Mùa lễ hội “Kin Chiêng Bók May” là lễ hội gì vậy?”

Cụ Trừng giải thích:       – “Đó là ngày “Hội Hoa Ban” trên vùng cao Hoàng Liên Sơn để đón mùa xuân đến. Hoa ban chỉ nở rộ vào tiết lập xuân, phủ trắng cả núi rừng trên các bản Thái. Đặc điểm của loài hoa nầy là màu trắng, tượng trưng cho sự trong trắng, tinh khiết của tình yêu và hạnh phúc lứa đôi! Một chút nữa đây, sau khi ăn uống no say, bọn họ sẽ chạy vào hái những hoa ban thật đẹp tặng cho nhau làm quà. Mấy cô gái sẽ thay đổi xiêm y, đầu chít khăn “piêu”, có đôi hàng cúc hình bướm trên chiếc áo cóm, thêu tua ở vai, cái quần “sin” (giống như xà-rông) vải xanh thắt ngang lưng để múa xòe,” cụ Trừng cố mời. “Anh ở nán lại đây chơi với chúng tôi.”

Mặt trời đã lên khá cao. Rất tiếc là tôi phải từ giã họ để còn kịp đi cắt lá dong. Bỗng có ai khều nhẹ vào vai, tôi quay đầu lại nhìn, đó là một cô bé Thái còn rất trẻ, độ chừng đôi tám, mắt có mí lót, mũi hơi cao, nước da bánh mật, trong giống người Ấn hơn là người Kinh. Cô ta trao cho bó hoa ban nới nở, vừa mới hái vội ở trong rừng về tặng tôi, làm món quà trong ngày “Hội Hoa Ban”. Bây giờ tôi mới biết loại hoa màu trắng nõn nà đó chính là hoa ban. Cô bé thỏ thẻ, nói đùa:       – “Bao giờ anh về Sài Gòn, cho em đi theo với nhá!”

Tôi vô cùng ngạc nhiên khi một cô bé Thái miền sơn cước, còn biết chối bỏ cái tên Thành phố Hồ Chí Minh do tập đoàn lãnh đạo cộng sản áp đặt sau khi cưỡng chiếm Miền Nam, mà vẫn gọi cái tên cũ “Sài Gòn”, thủ đô thân yêu của người Miền Nam .         Sau khi cắt xong một mớ lá dong, trên đường đi về trại, tôi ghé viếng thăm mộ bạn Lê Xuân Đèo. Tôi đặt bó hoa ban trên nấm mồ, rồi thì thầm báo cáo với hắn: “Vinh quang nầy thuộc về mầy! Chớ không phải của tao!” Nghĩ cho cùng, cái chết tức tưởi của bạn Lê Xuân Đèo không đến nỗi vô ích. Tôi phải gọi đó là một sự hy sinh. Những người lính QLVNCH thuộc mọi Quân, Binh chủng đã anh dũng hy sinh ngoài mặt trận trong thời chiến. Và những người lính âm thầm nằm xuống trong lao tù cộng sản, đều có giá trị cao quý như nhau! Thật vậy, anh nằm xuống để thắp lên một ánh đuốc lẻ loi, soi thủng màn đêm tăm tối đầy hận thù bên kia “bức màn sắt”, do bọn CSBV dựng lên tại miền Bắc XHCN, bằng những thủ đoạn tuyên truyền cực kỳ dối trá và bẩn thỉu. Cái chết của Lê Xuân Đèo đã làm sáng tỏ chân giá trị đích thực của người lính thuộc QLVNCH. Họ cầm súng để nối nghiệp tiền nhân, tận tụy ngày đêm đi gìn giữ quê hương, đem xương trắng máu đào để bảo vệ sự toàn vẹn lãnh thổ của Tổ Quốc.

        Sau Tết Mậu Ngọ 1978. Tất cả anh em chúng tôi khăn gói lên đường, di chuyển đến một trại tù cải tạo khác, lần nầy thì di chuyển thật. Và chúng tôi tiếp tục làm nhiệm vụ khai quang, dựng nhà, trồng hoa màu ở những vùng rừng núi hiểm trở khác để đồng bào miền xuôi về đó, xây dựng nông trường. Lúc vượt qua đỉnh đèo Lủng Lô, Trương Đăng Sĩ, Nguyễn Minh Thanh và tôi dừng lại giây phút ngắn ngủi, chúng tôi cùng hướng về rặng núi Phu Luông còn phảng phất sương mù, vẫy tay chào vĩnh biệt người bạn tù thân mến, anh Lê Xuân Đèo: NGƯỜI Ở LẠI HOÀNG LIÊN SƠN!

      Nguyễn Vĩnh Long