*** Ấm Lạnh Của Cuộc Đời

Thư viện của bài

This gallery contains 1 photo.

Nguyễn thị Hải Hà

Cơn bão Sandy đến vào đêm thứ Hai. Hai cây anh đào bên cạnh nhà của Quê bị trốc gốc nằm chắn ngang đường dẫn vào nhà để xe. Cây sồi gần trăm tuổi trước nhà ông Jack cũng bị đột quị, tàng lá rậm rề của nó khi trườn ngang đường đã lôi theo máy biến điện, làm trụ điện toác làm hai. Tất cả mọi thứ, dây điện trụ điện máy biến điện đều nằm kềnh trên mặt đất. Thế thì phải còn lâu lắm mới trở lại bình thường. Nhà của Quê cũng như tất cả mọi người chung quanh đều bị mất điện, không sưởi, không có nước nóng lẫn nước lạnh.

Sau cơn bão trời rất đẹp, ban ngày có nắng, khá ấm so với khí hậu mùa thu của New Jersey . Nhiệt độ trong nhà từ giảm từ từ. Đến ngày thứ Năm, trong nhà chỉ còn 45 độ F, bằng với nhiệt độ ngoài trời. Ban ngày Quê ra sân dọn dẹp cành cây, vận động và phơi nắng cho người ấm lên. Buổi tối Quê mặc hai lớp vớ, hai lớp quần, hai lớp áo mỏng cùng với áo len thật dày, bên ngoài mặc thêm cái áo khoác nhung lót nỉ. Áo này Quê thường mặc để xúc tuyết hay làm việc ngoài trời. Cũng may là hồi mùa hè Quê thấy áo mỏng dài tay bán hạ giá ở Old Navy nên mua luôn mấy cái. Chống lạnh cần mặc nhiều lớp nếu áo nào cũng dày quá sẽ không xoay trở được. Tiếp tục đọc

*** Lời Gió Mang Xuân Về

Thư viện của bài

This gallery contains 1 photo.

Cam Li Nguyễn Thị Mỹ Thanh

1
Ông pha cho mình một ly trà. Nói là “pha” cũng hơi quá, vì chỉ cần bỏ túi trà vào ly, đổ nước sôi vào, chờ màu nước vừa đủ đậm là có thể uống được. Tự lúc nào, những thói quen hàng ngày đã được đơn giản hóa tối đa. Ông mỉm cười, mở máy. Bài viết dang dở đang chờ ông tiếp tục. Ông nhắp một ngụm nước trà, cúi xuống bàn phím.
“Năm ấy, chàng mãn khóa, chờ ra đơn vị. Những gì cần phải làm là thu xếp mớ “hành trang” còn bề bộn trong trí, là tận hưởng những giây phút “còn được tự do” để thăm hỏi bạn bè, để dạo phố cùng người yêu, và nhất là để về thăm Mẹ nơi quán nhỏ trên đồi…”
Chà, nghe thơ mộng, trẻ trung dữ! Ông cười một mình. Khi viết về chàng trai trẻ, mình dùng chữ “chàng”, nhưng nếu để viết về mình bây giờ, chắc phải gọi là “ông.” Thì cũng như trong các truyện ngắn, truyện dài thế thôi! Hễ có tuổi thì được gọi là “ông.” Ông nhớ bài luận đầu tiên của mình được cô giáo khen và cho tám điểm là bài nói về “ông tôi.” “Ông tôi” trong bài luận đó… còn trẻ hơn mình bây giờ!
Nhắc đến ông, lại nghĩ đến thằng cháu. Ông nhớ nó quá! Đã hơn một tháng nay chưa gặp nó. Ba má nó hứa Tết sẽ cho cháu về thăm. Ừ thì Tết sẽ gặp. Còn tới hơn hai tháng nữa. Ông lắc đầu, cười. Thôi, mình có công việc của mình, thì giờ đâu mà buồn!
Ông lắng tai nghe. Tiếng gió! Phải, tiếng gió. Ông cúi xuống, gõ tiếp. Tiếp tục đọc

*** MÙA ĐÔNG LƯU VONG

Thư viện của bài

This gallery contains 1 photo.

Ngô Quốc Sĩ

MÙA ĐÔNG LƯU VONG
NỖI NHỚ QUÊ HƯƠNG RAY RỨT

Nỗi nhớ quê hương của người Việt lưu vong thật da diết. Xa quê hương, dân Việt vẫn luôn luôn canh cánh bên lòng hình ảnh đất mẹ dấu yêu đang trải qua bao tang tóc dưới bàn tay lũ con hoang đã bị tha hóa, đánh mất bản chất con người nói chung và con người Việt Nam nhói riêng. Thi ca yêu nước đã chuyên chở đầy đủ tâm trạng nhớ thương ray rứt đó, tiêu biểu là những vần thơ truyền cảm của Văn Nguyên Dưỡng qua bài Chiếc Áo Kinh Cừu Trong Giá Đông.

snow
Thực ra bài thơ Chiếc Áo Khinh Cừu chỉ là một chấm nhỏ trong gia tài văn chương thắm đượm tình tự quê hương của nhà thơ nhà văn Vĩnh Định- Văn Nguyên Dưỡng, cũng là sĩ quan quân đội Việt Nam Cộng Hòa, đã từng cầm súng chiến đấu bảo vệ tự do miền Nam trước cuộc xâm lăng của cộng sản Bắc Việt. Ông đã đóng góp cho nền văn học lưu vong nhiều tác phẩm giá trị bằng tiếng Việt cũng như tiếng Anh, tiêu biểu như Vùng Đêm Sương Mù , Trường Ca Trên Bãi Chiến , Lessons from the Vietnam War, Inside An Lộc: The Battle to Save Saigon …
Trở lại bài thơ Chiếc Áo khinh Cừu trong Giá Đông, nhà thơ đã thể hiện tâm trạng “nhớ về” và “nhớ thương” những gì đã bỏ lại sau lưng khi rũ áo chiến binh, rời bỏ quê hương trong ngậm ngùi và tủi nhục.
Nhớ về thì trước hết là nhớ chiếc áo trận đã từng lấm bụi gió sương, lấm bùn chinh chiến và lấm máu quân thù, nay đã bạc màu theo năm tháng, chỉ còn lại như một kỷ niệm giữa mùa tuyết trắng xứ người:
Tiếp tục đọc

*** ĐÊM CỦA LÃO

Thư viện của bài

This gallery contains 1 photo.

Lê Thu Hương

Đêm yên tĩnh, đêm nồng nàn, đêm huyền ảo, một đêm trăng trước cửa nhà lão. Màu vàng ngọt ngào của trăng nhuộm vàng phòng khách. Tối nay là tối của lão, chỉ một mình lão với trăng, lão không muốn ai quấy rầy lão. Lão để trăng một mình, lụi hụi mở chai rượu vang ủ lâu ngày.

Lão tắt ngúm đèn ngồi nhìn trăng qua khung cửa kính lớn, lão sờ tay vào túi áo trước ngực tìm kiếng đeo mắt. Vài đóa quỳnh mãn khai, mùi thơm phảng phất trong phòng, đêm hình như yên ắng hơn. Các cánh quỳnh cong cong đi vào giấc ngủ coi bộ êm đềm lạ. Quỳnh vào cõi chết yên ắng, nhàn tản như một đạo sĩ biết giờ linh hồn người đi vào nơi miên viễn.
Tiếp tục đọc

*** NHẠC ĐIỆU CỦA BẦY ONG

Thư viện của bài

This gallery contains 1 photo.

Cung Tích Biền

I
Ngoài tên họ ghi trên giấy khai sinh, trẻ con thường có một tên gọi thân thương trong gia đình. Cháu bé gái bốn tháng tuổi, con một gia đình quyền thế, được gọi là Ong Con. Ong Con lúc chào đời hai bàn tay đầy đủ mười ngón xinh đẹp.
**
Tổ [quốc] ong, cũng như tổ [hợp] kiến, là những tập thể có tính tổ chức, tính kỷ luật bầy đàn rất cao. Muốn sống an toàn, cùng chia xẻ một cái lỗ nhỏ hình lục giác trong tổ [quốc], trước tiên mỗi “công dân ong” phải biết sống phải điều, phục vụ trong phân phận con ong thợ, vui vẻ khi được sai khiến, một chiều thuận trong hệ thống chỉ huy.

Tính bảo trọng này, qua nhiều thế hệ, biến ra một căn bệnh mãn tính, là luôn phải thích ứng với hoàn cảnh bầy đàn.
Tiếp tục đọc

*** Như Nguyệt…bài viết ngắn

Thư viện của bài

This gallery contains 1 photo.

Như Nguyệt

Chritmas Eve, 2009

Sáng nay, N. nằm mơ thấy Thục, cô bạn thuở còn bé tí. Thấy lòng hơi bâng khuâng, nhớ đến Thục, nhớ đến ngôi trường tiểu học thuở xa xưa nên N viết 1 đoản văn về trường Phúc Âm và cô bạn hồi còn học Tiểu học của mình.

Chia sẻ với các bạn, đọc chơi nha.

Ngôi trường đầu tiên trong đời mà tôi đi học ở trong một cái miễu. Trong đó có 1 phòng lớn kê bàn ghế dài cho học trò ngồi, bên trái của lớp học là 1 phòng có bàn thờ, được chắn bởi những song sắt, nhìn vào tối tối, âm u, thấy sợ sợ, ghê ghê!!! Thầy tôi để dành, hể có đứa nào hư là bắt phải vô trong đó, đứng úp mặt vào tường. Hồi còn nhỏ, tôi rất sợ phải bị phạt vào căn phòng tối om đó nên tôi không dám làm điều gì hư đốn, chả bao giờ dám nghịch ngợm, phá phách gì cả, rất là ngoan!

Tôi còn nhớ hoài cái ngày đầu bị bắt buộc phải đi học. Không biết tại sao tôi lại sợ, hổng muốn đi? Tôi vừa khóc, vừa gào, vừa kháng cự, giẫy dụa! Lúc đó không biết Tiếp tục đọc

*** CÔ ĐƠN

Thư viện của bài

This gallery contains 1 photo.

Lê Khắc Thanh Hoài

Không một ai trên cõi đời mà không một lần trải nghiệm một thứ tình cảm buồn bã, hụt hẩng vì không có ai để chia sẻ, thốt lên điều gì đó tự đáy lòng sâu thẳm, hoặc có chia sẻ được cùng ai điều gì đi nữa, những mong được cảm thông, thì lại không được cảm thông, mong được hiểu thì lại không được hiểu, không hiểu đúng, lại còn bị hiểu sai, hiểu lệch lạc, hiểu méo mó, hiểu ngược ngạo, nói một đằng hiểu một nẻo, mong được chấp nhận thì lại không được chấp nhận, không được đáp lại như ý muốn, những điều đã bày tỏ, đã thuyết minh, đã thuyết phục, thậm chí phải van lơn, cầu khẩn, đã dùng mọi cách để chứng minh, phân trần, biện bạch, biện hộ, để cho trắng thì ra trắng, đen thì ra đen, nhưng rồi mọi cố gắng đều thất bại. Không nhận được một cái gật đầu, không một lời nói đồng ý, không một cử chỉ thỏa thuận, không một dấu hiệu được ai đó tỏ cho biết là họ theo phe mình, ủng hộ mình, vì mình, vì hành động hay tư tưởng của mình. Rốt cuộc chỉ thấy một mình mình trơ trọi với những gì mình ôm ấp trong lòng, chỉ thấy một mình mình chống chọi với tình thế đang diễn ra trưóc mắt, mọi người đều quay lưng, có khi im lặng lạnh lùng, có khi mạt sát thị phi. Tất cả đều như những mủi tên nhọn ghim vào tim mình. Mình bị tổn thương trầm trọng như con chim bị bắn trúng đạn nằm rơi xuống mặt đất, mình quằn quại, đau đớn và mình gào lên « Ôi ! tôi cô đơn !»

Ý nghĩa của hai chữ cô đơn thật ra quá giản dị, chỉ là một mình, cô là một mình, lẻ loi, đơn cũng là một mình, đơn chiếc. Một mình, nhưng cái một mình này, ngoài cái thân thì còn có cái tâm, ngoài cái phần vật chất thì còn có cả phần tinh thần, tâm linh. Chỉ một mình, biểu hiện qua thể xác và cũng chỉ một mình, biểu hiện qua phần tinh thần. Khi nói cô độc, là nói nói đến cái thân xác, chỉ có một mình nó. Khi nói cô đơn là nói cái phần tinh thần, cũng chỉ một mình nó. Mình với Mình. Ta với Ta. Cái Mình, cái Ta ở ẩn phía bên trong cái thân thật quá phức tạp và…lăng
Tiếp tục đọc

*** ÁNH TRĂNG VÀ NHÀ TÙ

Thư viện của bài

This gallery contains 1 photo.

trần mộng tú

Người bạn nói với Rơm:bien-nuoc

“Thằng Năm nhà em nó lại bị bắt rồi, chị có đi thăm nó thì đi, em không muốn nhìn nó nữa.”

Thế là Rơm thay bạn đi thăm Năm, Rơm biết chị bạn đã khổ vì cậu con này lắm rồi, nên bây giờ nói hờn, nói dỗi nhưng trong lòng, Rơm biết chị thương Năm nhất trong ba đứa con của chị. Vì hai cô con gái đầu thì ngoan ngoãn học hành chăm chỉ, riêng Năm thì khác hẳn hai chị. Năm thông minh, có nhiều tài như vẽ đẹp, đánh đàn hay, và thuộc nhiều thơ nhưng cá tính rất mạnh. Hồi mới mười hai tuổi có một lần giận Bố, Năm vác cần câu ra hồ ngồi suốt một đêm, làm cả nhà toán loạn đi tìm, đi báo cảnh sát. Lớn lên một chút nữa Năm bắt đầu không thích cắp sách đến trường, lúc nào cũng chỉ thích thơ thẩn ở mấy cái công viên, mấy khu hồ hay trốn nguyên ngày dưới nhà hầm hý hoáy vẽ hoặc đóng, cưa một cái gì đó mà Bố Mẹ Năm không thể nào biết được. Cả hai vợ chồng đều đi làm từ sáng đến chiều, có khi làm cả ngày cuối tuần, ít khi có dịp gặp mặt một đứa con lúc nào cũng muốn lẫn tránh cả nhà. Năm bỏ học lúc mười bảy tuổi, năm nay đã hăm hai vẫn chưa xong Trung Học. Hai năm về sau này thỉnh thoảng Năm lại dính líu vào một vụ bắt bớ như lái xe quá tốc độ, cảnh sát gọi không dừng lại hoặc cảnh sát tìm thấy vài lá cần sa trong xe, một lần nữa bị bắt vì có ý hành hung chống lại cảnh sát. Lần này thì Năm bị bắt vì tội dám bạt tai cô bạn gái khi cô này gọi Năm là: Một người đánh mất linh hồn (A lost soul).

Rơm có lẽ là người duy nhất thỉnh thoảng Năm còn truyện trò một đôi câu. Có lẽ tại khi có dịp nói chuyện với Năm, Rơm không khuyên răn, giảng dậy gì cả, mà chỉ nghe Năm nói, hoặc nói về một đề tài gì mà Năm thích như vẽ vời, câu cá, hoặc một bài hát mới ra
Tiếp tục đọc

*** Ngõ hoa

MANG VIÊN LONG

hoa-anh-dao-vong-quanh-the-gioi

Cô bạn giới thiệu cho Thuận căn phòng có chiều dài 5 mét, chiều rộng 4,5 mét – tổng cọng hơn 22 mét vuông, như ở tầng trên. Đến xem, Thuận đề nghị lấy phòng dưới đất, bởi còn chút khoảng sân có bóng cây, có thể đi lui đi tới được. Bà chủ nói đã nhận lời một cô giáo mới vừa chuyển đến dạy ở thị xã niên khóa nầy rồi, đành chịu.

Lúc đứng ở khoảng hành lang hẹp tầng trên, Thuận nhìn sang dãy phố đối diện, thấy ngôi nhà kiểu vila thời Pháp có trồng nhiều hoa, nghĩ có thể thư giãn đôi chút mỗi sáng khi vừa thức dậy. Căn phòng nầy là phòng trọ thứ ba Thuận đi tìm thưê trong gần tuần lễ nay tương đối tốt, nên đã đặt cọc tiền trước ba tháng cho bà chủ nhà.

Quanh thị xã, nhất là ở các ngõ hẻm, đường nhỏ – nhiều gia đình thừa đất vườn, xây thêm nhiều nhà cấp bốn, chia dãy dài nhiều phòng, từ 20 – 30 mét vuông, để cho thuê khi không biết (hay không thể) kinh doanh mua bán gì thêm. Nhà tôn, phòng hẹp, không có cửa sổ, ít bóng cây, giống những chiếc hộp. Cả dãy phòng dài nhưng sinh hoạt vệ sinh chung một phòng cuối dãy, rất bất tiện, tuy giá có thấp hơn căn phòng Thuận đang xem. Thuận nghĩ, những căn phòng nầy chỉ thích hợp với học sinh, sinh viên ở trọ, hay người thường có công việc làm ngoài đường hơn ở nhà mà thôi. Còn Thuận, ngoài giờ có mặt ở văn phòng đại diện một buổi, anh được ở nhà nhiều hơn nên trong 22 mét vuông, có đủ phòng vệ sinh nhà tắm, khu nấu ăn nhỏ bên cạnh, và khoảng rộng phía trước, có thể kê chiếc bàn thấp, vài chiếc ghế, và đặt một tấm nệm, xem ra tiện hơn nhiều. Hơn nữa, căn phòng Thuận thuê nằm chung trong khu đất còn thừa phía sau căn nhà mặt tiền của  chủ nhà, chỉ có hai căn cho thuê, nên biệt lập và ít ồn. Chiếc cầu thang đúc nhỏ dẫn lên phòng Thuận nằm trong khoảng đất trống bên cạnh, được rào chắn chung quanh trông ngăn nắp.

Hai ngày sau khi Thuận dọn đến ở, một buổi sáng sớm anh đã nhìn thấy dọc con đường trồng hoa từ cổng nhà bên kia đường, có dáng một thiếu nữ trong bộ áo quần ngủ rộng mầu trắng, đi thơ thẩn ra vào bên cạnh người đàn bà thường ngày vẫn cầm vòi nước, tưới hoa miệt mài quanh những bụi hoa, chậu hoa rải rác từ cổng vào sân nhà. Cô gái chỉ xuất hiện khoảng hơn mười lăm phút, là mất hút sau khu tiền sảnh.

Từ trên hành lang hẹp, Thuận theo dõi cô gái, nhưng cô ta chỉ thấp thoáng quanh những chậu hoa buổi sáng sớm mà thôi. Thuận biết thêm, trong căn nhà ấy, có lẽ chỉ có ba người đang sống – mẹ và người cha của cô gái. Khu nhà tương đối yên vắng, khép kín bên con đường phố hai chiều nhộn nhịp  người xe qua lại nhất thị xã.

Gần một tháng sau, Thuận trong bộ áo quần đi bộ thể dục bước nhanh qua đường, khi vừa trông thấy cô gái bước dần ra cổng.

-Chào em…

-Dạ, chào anh! Anh hỏi ai?

-Anh hỏi em!

-Hỏi em? – giọng cô gái ngạc nhiên.

-Đúng rồi!

-Mà có việc gì vậy?

-Anh muốn hỏi xin một nhánh gốc cây hoa hoàng lan, hay bông giấy tím.

-À! Xin lỗi cô gái quay lại định bước đi – anh hỏi xin dì Tư nhé!

-Anh nhờ em nói giúp.

-Được, được – giọng cô gái ngập ngừng, lát nữa em sẽ nói.

Cô gái đã đi vào trong khu tiền sảnh, nhưng Thuận vẫn đứng yên, nhìn theo. Thuận cảm  thấy vui vui với ý nghĩ, dầu chưa xin được hoàng lan, nhưng đã thấy rõ được gương mặt thanh tú, duyên dáng, một vẻ đẹp nhân hậu, đằm thắm của cô gái thay cho hoa rồi. Thuận đoán nàng chỉ trên hai mươi một chút.

* * *

Sáng sớm hôm sau, Thuận lại có mặt ở cổng, chờ – nhưng không thấy bóng cô gái ra vườn, Dì Tư bước lại mở cổng, tiếp Thuận.

-Cậu xin hoa hoàng lan hôm qua phải không?

-Dạ, đúng!

-Tôi đã có sẵn một gốc nhỏ, về nhà trồng sẽ sống ngay.

-Cảm ơm dì!

-Cậu cảm ơn cô Trinh ấy, tôi làm theo lời dặn thôi mà!

-Cô Trinh dặn thế nào, dì?

-Cô ấy nói, nếu có ai đến hỏi nhận hoa hoàng lan, thì dì tìm một gốc, để gởi cho họ. Mình chia hoa, cũng như chia niềm vui với mọi người dì à!

-Hôm nay cô Trinh đâu rồi không thấy ra vườn?

-Chi vậy?

-Cháu muốn cảm ơn.

-Tôi sẽ chuyển lời cho, cậu yên tâm. Cô ấy không muốn nhận ơn ai bao giờ! Cô ấy không được khỏe.

Ba ngày sau, Thuận phải về Sài Gòn dự họp, để báo cáo lại tình trạng hoạt động của văn phòng sau hơn một tháng khai trương; anh mang chậu hoa xuống nhờ cô giáo ở trọ phòng dưới tưới nước giúp mỗi sáng. Cô giáo khẽ cười; “Anh Thuận yêu hoa quá nhỉ!”

-Đã trồng rồi, phải chăm sóc chứ em!

-Không siêng chăm sóc, hoa sẽ héo.

-Cô giáo nói hay lắm! Tình yêu cũng vậy.

-Anh Thuận có vẻ sành sỏi nhỉ!

-Cũng nghe người ta nói vậy thôi, chứ trong tình yêu, ai dám nói mình đã sành sỏi, em?

-Có ông bạn dạy ở trường em “tuyên bố” ông ta rất “lão luyện” trong tình trường, không ai có thể qua mặt được.

-Một là ông ấy nói dóc – Thuận cười, hai là ông ấy chẳng biết gì về tình yêu cả!

* * *

Khoảng mười hôm sau ngày trở lại nhà trọ, Thuận luôn nhìn sang ngõ hoa Hoàng lan của ngôi biệt thự đối diện, nhưng không hề thấy bóng cô gái. Trinh đã đi đâu?

-Dì Tư ơi!

-Cậu Thuận đó hả?

-Dạ, cháu!

-Có chuyện gì không? Dì Tư đặt ống nước trên thềm nhà, bước dần ra cổng.

-Dạ, có.

-Ông bà chủ căn dặn – dì nhỏ giọng, ở nhà không được mở cổng cho ai, nhưng biết cậu là người hàng xóm hiền từ, tôi…

-Cảm ơn dì – Thuận hỏi ngay, Cô Trinh có ở nhà không, dì?

-Trời ơi! Tội con nhỏ – Gương mặt dì Tư chợt tái nhợt, hai hôm rồi mà chưa tỉnh được.

Thuận theo chân dì vào ngồi ở bậc thềm nhà.

Dì kể đã đến giúp việc cho gia dình ông Phú hơn ba năm 8 tháng, từ ngày Trinh vừa lên lớp 10, đến nay đang học năm thứ nhất Đại học Ngân hàng. Ông Phú làm chủ nhiệm HTX Tín dụng duy nhất trong thị xã, bà Phú còn gần một năm nữa mới được nghỉ hưu. Anh trai của Trinh đang làm giám đốc cho Ngân hàng Argribank ở một quận trong thành phố. Thi xong học kỳ I, chuẩn bị về thăm nhà, Trinh bị đột quỵ ngay trong phòng riêng nhà người anh; cậu ấy phải đưa đi nhập viện cấp cứu. Ngỡ là Trinh chỉ bị đột quỵ nhẹ, nhưng sau đó, bệnh viện đã phát hiện Trinh đang bị ảnh hưởng của K phổi.

Cả ông bà Phú đều bay vào Sài Gòn. Nghe nhiều người bạn mách bảo, ông bà quyết định đưa Trinh sang Singapore điều trị, để họ phẩu thuật cắt bỏ phần lá phổi bị nhiễm virus, ngăn chận các tế bào K phát triển thêm, đồng thời tiêm thuốc tiêu diệt dần các tế bào cũ; nhưng Trinh cương quyết không đi. Cả nhà năn nỉ mấy lần cô bé cũng không chịu nghe, đến lúc cậu anh phải nói thật hết lời của bác sĩ đã nói riêng với gia đình cho cô ấy nghe, rằng “ cháu chỉ còn sống không quá 6 tháng nữa thôi”, cô ấy đã trả lời: “Con chỉ muốn được về sống ở nhà trong 6 tháng ấy thôi, không đi đâu hết!”. Dì Tư sụt sùi: ” Đến nay, cũng gần 6 tháng rồi, cậu ơi!”.

 

* * *

Đầu giờ buổi chiều, Thuận tìm đến phòng cấp cứu bệnh viện để thăm Trinh. Phòng cấp cứu cho biết bệnh nhân đã được chuyển sang phòng hồi sức sáng nay. Thuận đẩy cửa phòng hồi sức, đến ngay bên giường Trinh đang nằm chuyền nước. Anh gọi: “Em!”.

Trinh hé mở đôi mắt, mở to dần – gương mặt bỗng tươi sáng hẳn lên trước sự ngạc nhiên của bà Phú. Thuận đến bên cạnh bà Phú, khẽ nói: “Cháu xin lỗi bác!”.

-Không – bà nhìn đăm đăm lên nét mặt vẫn điềm nhiên của Thuận, cháu không có lỗi gì.

-Cháu muốn được thăm Trinh và săn sóc cô ấy.

-Bác cảm ơn cháu – giọng bà ướt sũng, cháu làm được gì cho Trinh vui, là bác biết ơn cháu rồi!

Theo chỉ định của bác sĩ, sau một tuần hồi phục, bệnh nhân có thể xuất viện, nhưng Trinh đã nhờ Thuận nói với mẹ, làm giấy tờ để nàng xuất viện về nhà sớm hơn 2 ngày. “Em muốn được sống ở nhà, anh ạ” – nàng đã trìu mến thì thầm với Thuận trong buổi sáng ngày thứ 5 ở phòng hồi sức, khi anh vào thăm như mọi hôm.

Từ sau buổi sáng hôm ấy Trinh được về nhà, Thuận đều có mặt đúng 6 giờ sáng, để đưa nàng đến một quán café ngoại ô mà Trinh rất thích, vì “như được ngồi ở nhà mình”. Một hôm, nhìn Thuận giây lâu với ánh mắt xa xăm, khác lạ – nàng  nhìn lơ đễnh ra ngoài vườn hoa, thì thầm: “Em rất tiếc, anh ạ!”.

-Em lại tiếc điều gì?

-Em không thể đem hạnh phúc đến cho anh lâu dài.

-Đừng nghĩ vậy, em! Thuận hơi bối rối – có phải là chúng mình đang vui, đang hạnh phúc không?

-Dạ – Trinh mỉm cười, nói như với chính mình – cuộc sống của em ngắn quá!

-Cuộc đời của tất cả đều ngắn, thậm chí chỉ dài trong một hơi thở – Thuận nhìn lên gương mặt đăm chiêu của Trinh, nhưng hai mươi bốn giờ trôi qua phải sống như thế nào mới là quan trọng em à!

-Cảm ơn anh – nàng thở nhẹ, đôi lúc được bên anh, em cũng nghĩ như vậy.

-Anh muốn em phải luôn nghĩ như vậy, em yêu!

-Dạ!

Được hơn một giờ ba mươi phút buổi sáng ngồi bên nhau ở quán café, và hai giờ buổi chiều trong sân vườn sau chiếc cổng hoa hoàng lan với bộ bình trà dì Tư pha sẵn nơi chiếc bàn đá dưới gốc bông giấy tím – Trinh luôn được dì săn sóc trang điểm với những chiếc váy mới, xinh xắn, hay bộ áo quần thể thao gọn gàng, trẻ trung của bà Phú vừa mua cho nàng.

-Em rất sợ buổi chiều mau hết, bóng đêm đến -Trinh cầm lấy bàn tay Thuận ve vuốt.

-Lúc khó ngủ, em hãy gọi cho anh.

-Em đã làm vậy – nàng ngước lên, nhìn Thuận, giọng ngập ngừng, nhưng em sợ anh khó ngủ.

-Được nói chuyện với em, anh ngủ ngon mà – im lặng giây lâu, Thuận cười, em biết là anh chờ tin em hằng đêm còn hơn ngày xưa chờ mẹ đi chợ về!

Gương mặt Trinh chợt sáng hồng niềm vui khiến Thuận bàng hoàng. Anh không muốn nhớ lại cảm giác buổi chiều lúc Trinh tiễn anh ra khỏi cổng hoa, về lại nhà trọ. Mấy câu thơ anh nhẩm thầm trong đầu bỗng trở về: “Cổng hoa hương sắc vẫn tươi – Mà em nay đã là người xa xăm!”.

         Đã hơn một năm trôi qua, chiều nay Trinh vẫn dịu dàng ngồi bên anh nơi gốc Bông giấy tím, khẽ khàng rót mời anh từng tách trà.

Chia sẻ cùng Em!

Quê nhà, những ngày cuối tháng 6.2018

MANG VIÊN LONG.

*** Quê Nhà, Còn Đó Hay Không?

Đặng Lệ Khánh

Gởi Người Tình Tuvalu

Nơi ta sinh ra nước xanh như ngọc
Có những khóm dừa nghiêng bóng thầm thì
Cát trắng thi nhau mời Em đến học
Viết mãi tên Anh trên mỗi bước đi

Có cánh hải âu soãi dài trên đá
Có nắng rất vàng trên tóc buông lơi
Có Em ngồi đây ngắm mây đón gió
Lồng lộng hồn Anh thơm muối biển khơi

Tình yêu nồng nàn đâu cần tiếng nói
Sóng vỗ xô bờ lời nguyện muôn niên
Dã tràng ngàn năm sẽ hoài xe cát
Và Anh và Em sẽ tát biển êm

Sẽ có một ngày cát thôi chờ đón
Nước biển dâng dầy khuất lấp quê hương
Nơi Em đang ngồi sóng hờ hững gợn
Hải âu bay dài cất tiếng thê lương

Đặng Lệ Khánh

          tuvaluBạn đang hỏi Tuvalu là cái quái gì vậy mà K bày đặt làm thơ ư? Bạn muốn biết thì cứ mở computer và vào site này để xem nhé:

http://www.thesinkingoftuvalu.com/

Bạn đã đọc chưa? Cái quốc gia bé tí mười dặm vuông với khoảng mười ngàn người dân ấy có thể sẽ biến mất tăm trên bản đồ thế giới trong vòng năm mươi năm nữa thôi. Nơi cao nhất của nó bây giờ là 15 feet trên mực biển và nơi thấp là bốn feet. K không biết người ta đo theo kiểu nào chứ với mười lăm feet cao thì một cơn sóng lớn cũng đủ ngập rồi. Nhưng dân ở đấy văn minh lắm đấy, không thiếu truyền hình và vi tính. Có người đã xin tị nạn nước biển ở Úc và Tân Tây Lan, những nước lân cận lớn rộng, không sợ bị nước biển xâm lăng như ở quê nhà.

Năm mươi năm nữa, con số người ra biển vọng cố hương sẽ tăng thêm khoảng mười ngàn, hợp với hàng triệu người tha phương trên khắp thế giới, đứng nơi này mà vòi vọi trông nơi kia, tâm hồn vượt núi, vượt sông, vượt biển mà vọng cố hương. Người Cuban đứng trên đất Florida Bay nhìn qua eo biển mà thương người ở lại, người Việt đứng ở Cali mà vọng qua Thái Bình Dương, nhớ cuộc vượt biên. Người Nga, người Đông Âu chắc chỉ chờ mùa đông tuyết rơi rơi mà nhớ đậm nhớ đà những hội hè gia đình đầm ấm.

Các nhà văn lưu vong có người sau khi đi khắp vùng trời thế giới xin quay về sống nơi quê nhà dù phải đành gác bút, có người nhất định chôn nắm xương tàn nơi đất khách như một quê hương thứ hai, thà nhìn đất đai mây nước người từ lòng đất hơn là được chôn tại quê nhà mà vẫn thấy cô đơn.

Mất nước vì nước biển như Tuvalu mới thật là mất nước. Có ai hô hào được người dân đứng lên cùng nắm tay nhau mà tấn công hà bá long vương được. Có ai lưu vong, đi góp công, góp của, góp nhân lực để về giúp dân chống lại mực nước đang dâng được. Sự chống chỏi lại một tương lai tối mù thê thảm là sự chống chỏi tuyệt vọng ngay từ lúc sơ khai, nguyên thuỷ. Sống bây giờ là sống trên một đất nước đang đi vào cõi chết. Vài chục năm sau nữa, khi con cái khai lý lịch chánh quán của mình, tìm trên bản đồ chỉ thấy một vùng nước xanh lơ, loáng thoáng dưới đáy đầy rong, một lớp đá vẫn còn ngữa mặt nhìn trời xanh tìm bóng dáng những chú hải âu một thời nhởn nhơ bay lượn , lòng sẽ tự hỏi : Tuvalu, tên hay nhỉ, nhưng nó là gì, nằm ở nơi nào.

K lại lan man tự hỏi, con cái đời nay ở Huế, có thể có người nào tình cờ một hôm đào xới sau vườn hương hoả để đặt xuống một cây ngọc lan chẳng hạn, bỗng đào lên một di vật của Chiêm quốc. Người ấy có bâng khuâng, xót xa mà nhìn vào quá khứ để đau hận mà tìm xem Chiêm Quốc nằm ở nơi nào. Những người Chiêm mới thật là kẻ vong quốc ngay trên đất nước mình. Mỗi khi đứng giữa những hoang tàn của thành quách một thời hưng thịnh, họ chắc đau lòng vô cùng tận.

Năm kia khi K về Việt Nam, K đi Tháp Chàm ở Nha Trang, Phan Rang, Mỹ Sơn. Đứng trên Tháp ở Nha Trang và Phan Rang, K buồn buồn thôi mà không thấy thê thảm như khi đi Mỹ Sơn. Có lẽ nhờ những nơi ấy nằm trên cao nhìn xuống thành phố, còn giữ nét uy nghi ngạo nghễ của một dân tộc dù đã khuất nhưng vẫn có những trang sử oai hùng. Còn Mỹ Sơn thì khác hẳn. Nằm khuất lấp giữa rừng núi hoang vu, tiêu điều u ẩn, suối nước chảy lặng lẽ vờn quanh, cỏ hoang bơ phờ theo gió hiu hiu lành lạnh giữa trời chiều trở qua sắc tím. Những ngọn tháp rêu phong, đổ nát, tường loang lỗ, cột xiêu nằm la liệt. Trên mỗi cột to cả hai người ôm, chữ nghĩa một thời vẫn còn in dấu như những lá bùa vĩ đại bảo vệ chứng tích người xưa. Đã biết bao nhiêu nhà khảo cổ tìm về đây, mong đọc được những hàng chữ khắc đều tắp, bí mật ấy mà bó tay.

Ngồi trên cột đá, tay mân mê những hàng chữ thảo, tưởng như oan hồn một thời còn quanh quẩn đâu đây, hàng đêm khóc đòi nước cũ. Dưới chân mình là đám cỏ mắc cỡ, chạm chân nhè nhẹ cho chúng khép mắt, nằm yên ngủ bình an. Huyền Trân có vô tình góp một bàn tay diệt một giống nòi không nhỉ. Với ta, Công Chúa là một anh thư. Với người, Công Chúa chắc là kẻ phản bội. Mọi khen chê đều tuỳ theo người phán xét đang đứng ở biên giới nào. Và vì thế, lúc nào cũng chỉ là tương đối.

Người Chiêm sống trên đất nước tuy đã mất tên nhưng nắm đất rất hiện thực vẫn còn nằm đó. Từ xưa, đất vẫn là đất, họ tên do người đặt ra, đất nào cần biết tới. Đất chỉ cần biết đất đang ở cùng ai, đang ôm ấp nắm xương nào, đang nuôi sống rễ cây nào, đang góp mầu cho đám hoa nào, đang nghe trong lòng dòng suối nào len lỏi buồn buồn mà ấm áp. Tên tuổi có thay đổi, nhưng cảm giác thân quen khi vọc tay xuống đám đất xốp man mát, hay chao chân xuống con nước trong vắt, con người nơi ấy có lẽ vẫn thấy lòng gắn bó nơi mình đã sinh ra.

Người Việt lưu vong thì tâm hồn không đơn sơ đến thế. Họ làm sao biết nên đứng bên nào để nhìn về hướng quê nhà. Quê hương có mất đâu mà than mất nước. Mảnh đất hình chữ S vẫn còn nguyên, tên vẫn còn nguyên, đất đai vẫn còn đấy, chỉ có chủ thuyết là khác thôi. Chủ thuyết chắc chắn không phải là quê nhà, chủ thuyết chắc chắn không phải là quê hương. Vậy mà chúng ta vẫn buồn đau vì sự thay đổi ấy.

Chúng ta cảm thấy mất quê hương chỉ vì những kẻ theo chủ thuyết ấy đã đối xử những kẻ đối đầu với họ một cách tàn nhẫn, để lại những vết thương không bao giờ khép lại trong tim và trong trí nhớ của những anh hùng đã sa cơ. K cũng chắc rằng không phải vì bị đối xử tàn ác mà chúng ta không chấp nhận họ và chủ thuyết của họ. Chúng ta có tư duy để thấy lý thuyết ấy không sao nâng con người lên đến chỗ thăng hoa của tâm hồn.

Con người không phải chỉ thuần sinh lý. Con người còn có nhân phẩm, có tâm hồn, có tư tưởng. Con người không chỉ kiếm tìm thực phẩm cho cơ thể cần sinh tồn, nó còn cần tìm thức ăn cho tâm trí muốn được khai sáng và tự do. Những thức ăn tinh thần ấy, ở quê nhà không bán, ai muốn mua phải mua chợ đen, mua lặng lẽ và ăn trong lặng lẽ.

Quê nhà còn đó mà như mất. Bước chân về mà như đi vào một nước xa lạ, lòng lại có cảm giác như mình đang phản bội lại những người bạn một thời đã sát cánh tranh đấu cho một lý tưởng chung. Đi hay ở, người Việt có lương tâm ở hải ngoại vẫn không nguôi thổn thức trong lòng cố tìm cho mình một câu trả lời thật nghiêm trang và đầy nhân bản. Hoặc ít ra, đó là câu hỏi K riêng nhìn thấy được trong những ánh mắt của bè bạn thân quen.

Quê nhà, còn đó hay không?

Đặng Lệ Khánh

 

*** Những Tác Phẩm Cuối Cùng Của Khái Hưng

Trọng Đạt

Tưởng Niệm 70  Năm Nhà Văn Khái Hưng Bị Việt Minh Thủ Tiêu Tại Bến Đò Cựa Gà, Làng Ngọc Cục, Nam Định Vào Đêm Giao Thừa Năm Mới Đinh Hợi (21-1-1947).  

Khái Hưng tên thật là Trần Khánh Giư, sinh năm 1896 tại Cổ Am, Vĩnh Bảo Hải Dương , thuộc thành phần gia đình quan lại, con cụ Tuần phủ Phú Thọ, bố vợ là Tổng đốc Bắc Ninh, anh  ruột nhà văn Trần Tiêu. Khái Hưng theo học trường Lycée Albert Sarraut, HàNội, đậu tú tài ban cổ điển, ông cũng uyên thâm Hán học.

Ông tham gia hoạt động cách mạng giành độc lập 1940. Năm sau 1941, các đảng viên Đại Việt Dân Chính như Khái Hưng, Hoàng Đạo  bị Pháp bắt giam tại nhà lao Vụ Bản thuộc tỉnh Hòa Bình, đó là một vùng nước độc. Năm 1943 ông được tha, bị quản thúc tại Hà Nội. Nhật đầu hàng đồng minh tháng 8 năm 1945. Các nhà cách mạng lưu vong bên Tầu kéo về nước, Khái Hưng và Nguyễn Tường Bách giữ nhiệm vụ tuyên truyền cho Việt Nam Quốc Dân Đảng. Việt Minh cướp chính quyền ngày 19 tháng 8 năm1945, sau khi thành lập chính phủ liên hiệp, họ bất ngờ tấn công các trụ sở Quốc Dân Đảng, tiêu diệt các thành phần Quốc Gia.

Pháp tấn công Hà Nội, Khái Hưng tản cư về làng Lịch Diệp quê vợ,  bị Việt Minh bắt đưa đi thủ tiêu nửa đêm 21-1-1947, tức giao thừa Tết Nguyên đán Đinh Hợi.  Trong hai năm 1945, 1946 ông sáng tác một số truyện ngắn và kịch đăng trên tuần báo Chính Nghĩa. Năm 1966 ông Nguyễn Thạch Kiên đã cho xuất bản các tác phẩm ấy tại Sài Gòn và năm 1997 tại California, Hoa Kỳ nhân dịp kỷ niệm năm mươi năm Khái Hưng bị Việt Minh thủ tiêu,  Nguyễn Thạch Kiên đã cho in lại trong một bộ sách hai tập lấy tên Kỷ Vật Đầu Tay Và Cuối Cùng, nhà xuất bản Phượng Hoàng.

Đây là những truyện ngắn và những vở kịch cuối cùng của Khái Hưng, của Tự Lực Văn Đoàn . Bốn cây viết chính của văn đoàn gồm Khái Hưng, Nhất linh, Thạch Lam, Hoàng đạo. Nhưng lúc này chỉ còn một mình Khái Hưng, Thạch Lam chết bệnh năm 1943, Nhất Linh, Hoàng Đạo lưu vong sang Tầu, Khái Hưng sáng tác một mình.

Những tác phẩm cuối cùng của ông cũng là những áng văn tuyệt tác của một cây bút già dặn, những tâm tư của một nhà cách mạng chân chính trước cảnh cốt nhục tương tàn của cuộc chiến  Quốc -Cộng đang diễn ra. Các truyện ngắn gồm: Bóng Giai Nhân, Lời Nguyền, Hổ, Tây Xông Nhà, Quan Công Xứ, Nhung, Khói Hương, Người Anh Hùng, Tiếng Người Xưa và ba vở kịch: Câu Chuyện Văn Chương, Khúc Tiêu Ai Oán, Dưới Ánh Trăng. Vì phạm vi giới hạn chúng tôi xin được đề cập một số truyện chọn lọc.

BÓNG GIAI NHÂN 

Xin sơ lược 

“Trên một chiếc ô tô chở chính trị phạm lên Vụ Bản, Khanh một tù nhân nhớ lại những chuyện cũ tại trại giam sở Liêm Phóng: Phòng giam hôi hám, tối tăm, chàng đi bộ cùng các bạn tù tới nhà ga, những lời kêu khóc của thân nhân đi tiễn. Nhưng một kỷ niệm mà hắn khó quên lóe lên trong ký ức: Bóng giai nhân, một bạn gái bị giam ở xà lim bên cạnh trong thời gian hai mươi bốn tiếng đồng hồ “Sà lim 18’’, tên của giai nhân, cả trại đều ghi nhớ nàng bị giải đi đâu không biết.

Thế rồi một buổi sáng người ta dẫn vào một lô tù mới, trong đó có một thiếu nữ ăn mặc quê mùa rách rưới. Khanh và mọi người hỏi lính gác được biết cô gái bị giam ở đây nay là lần thứ ba. Lần thứ nhất cô là nữ học sinh tân thời, lần thứ hai cô giả trai, và lần này cô giả nhà quê. Tội của cô là “ làm cách mạng”’, từ lúc ấy thiếu nữ chiếm hết lòng sùng kính của trại giam.

“Sà lim 18’’là một cô bé nhỏ nhắn xinh xắn, cặp mắt sáng, môi tươi, mặt trái soan, nước da nhỏ mịn. Anh em tới tấp chạy lại để ngó qua lỗ cửa hỏi thăm tin tức, thiếu nữ tươi cười yên lặng. Lần trước nàng đã trốn trại sau bị bắt lại, các anh em cách mệnh cho quà bánh, nàng đã ôn tồn nói chuyện với mọi người. Khanh hay đến thăm nàng, chàng tưởng mình được nàng lưu ý nhất. Bóng giai nhân chỉ chỉ thoáng hiện nơi trại giam như tia nắng hé ra giữa khoảng trời mây đen. Khanh thở dài nghĩ thầm ước gì ta gặp nàng lần nữa rồi bị tù chung thân cũng cam! .

Đó chỉ là chuyện hồi tưởng, xe đã tới Vụ Bản, tại đây chiều chiều nhìn dẫy Hoành Sơn chàng ta mơ mộng tới hình ảnh bất diệt của giai nhân không bao giờ trở lại. Trại giam cho phép một cô gái gánh hàng tạp hóa vào sân trại bán, Khanh nhìn cô bán hàng mơ tưởng tới bóng giai nhân. “ 

Bằng lối hành văn bay bướm, điêu luyện, Khái Hưng đã tạo lên một bầu không khí thật lãng mạn trong một đề tài chính trị, cách mệnh. Một giai nhân xinh đẹp, người nhỏ bé, đôi mắt sáng, cặp môi tươi, mặt trái soan mà các anh em tù thường gọi là ‘Sà Lim 18’, nhưng nàng còn đẹp tuyệt vời hơn nữa vì nàng làm cách mạng cứu quốc vào tù ra khám ba lần, đã được sự sùng kính của toàn thể trại giam.

Khái Hưng tạo nên một chàng cách mạng dạt dào tình cảm, ông cũng tạo nên một không khí lãng mạn tuyệt vời. Chàng cách mạng chăm chỉ đến thăm giai nhân, tặng quà bánh và tưởng là được nàng lưu ý nhất! giữa cảnh núi đồi trùng điệp chàng cứ ngồi thẩn thơ mỗi chiều để gửi lòng yêu tới tận phương xa, mơ màng nghĩ tới người gặp gỡ trong những ngày ngắn ngủi và không bao giờ quên được nàng, đó là hình ảnh bất diệt của giai nhân không bao giờ trở lại, Khái Hưng kết luận. 

“Rồi đây, những lúc cách mệnh tha thiết gắt gao lên tiếng gọi, y  sẽ cảm thấy lòng tự tin, lên đường xông pha trong gian khổ với bóng giai nhân huyền ảo gặp gỡ giữa cảnh lao tù”. 

 

LỜI NGUYỀN 

Xin sơ lược 

“Đồn Vụ Bản chót vót trên ngọn đồi cao. Khanh , tù nhân chính  trị, một hôm ra suối lấy nước, gặp người lính kèn, hắn ta bảo ‘Phải , một lời nguyền! !

Trong đám dân kinh bên phố, lính bên đồn, anh em tù chính trị trong trại thỉnh thoảng lại có người giã từ cõi nhân gian về miền cực lạc. Khanh cảm thấy sự việc như có liên quan đến lời nguyền ghê gớm của người xưa. Một hôm người lính kể lại cho chàng chuyện ấy.

Đồn Vụ Bản là một trong những đồn binh kiên cố theo chương trình thống trị, nó án ngữ đường Nho Quan – Ninh Bình, nó cũng có thể kiểm soát hành động của những ông quan lang có oai quyền. Vì vậy viên quản mà người Pháp cho về coi đồn là người thật hách. Trước đây có một ông quản tên Tăng, được giữ chức trưởng đồn, ông hách dịch bệ vệ, nằm giường Hồng Kông, ăn cơm tây. Mỗi lần sang phố ông đeo huy chương đầy ngực. Tay cầm roi da, dắt chó tây to kếch sù. Tụi trẻ thường bảo:  -Quan Quản!

Quan là chúa tể vùng này: Nào thu thuế chợ, thuế đò, thuế thân. Dần dần thành ‘quan đồn’ và thành ‘cụ lớn’. Bao nhiêu người lễ lạc quà cáp cho cụ. Nhậm chức mới hai tháng, Cụ Lớn lấy cô nàng hầu người Kinh, con thương gia và hai nàng hầu người Mường nữa.

Quan thường ‘nổ’ với mọi người là Quan và và Bà Lớn đều là con nhà thế gia đại tộc, cụ thân sinh ra Quan và Bà Lớn toàn là Tổng đốc, Tuần Phủ  cả! . Có lần ông Quản bịa ra một lô truyện tả cái gia thế nhà mình: Cụ Cố, quan lớn về hưu thích chè tầu, tổ tôm, còn Bà Lớn trông coi mấy trăm mẫu ruộng!

Thế rồi một buổi sáng, một ông già tóc hoa râm và người đàn bà trạc ngoài ba mươi. Cả hai đều quê mùa cục mịch: ông lão quần nâu sắn đến đầu gối, người đàn bà mặc áo tứ thân mầu nâu, váy chồi đen. Họ hỏi đường sang đồn, qua phà, sang sông, leo dốc, lên đồi. Khi tới nơi cuối dốc, người lính canh quát:

-Hai người nhà quê hỏi ai?

-Chúng tôi vào thăm ông Quản!

-Vào hầu quan có việc gì?

-Bẩm chúng tôi là người nhà! 

Người lính cho người vào trình quan rồi hỏi. 

-Có họ hàng thế nào với quan?

-Ông cụ sinh ra quan và vợ quan!

Lúc ấy ông Quản đứng trong sân bảo:

-Đuổi cổ chúng nó ra! 

Nhân lúc cổng đồn mở, ông cụ và người đàn bà xông vào sân kêu:

-Tăng, Anh Tăng! 

Ông Quản quát mắng:

-Đồ nhà quê! bay đâu tống cổ chúng nó ra! 

Bọn lính tống cổ hai người ra. Ông lão và con dâu lẳng lặng ra về, đến bờ sông bên giòng nước chảy ào ào, ông lão thốt lời thề nguyền độc địa:

“Từ nay đứa nào còn lên đây thăm chồng con thì chết như thế này”. 

Rồi ông nhảy xuống sông tự tử. Từ đó lời nguyền vẫn thiêng lắm, những ai lên đây thăm chồng, thăm con về ốm đau nặng rồi chết.”

Một ông quản lỡ lời ‘nổ zăng miểng’ với mọi người về gia thế nhà mình, cháy nhà ra mặt chuột, khi ông cụ và mẹ đĩ lên thăm thì xấu hổ sai lính đuổi không nhận là bà con.

Theo ông Trần Ngọc, trong cuốn Kỷ Vật Đầu Tay Và Cuối Cùng, Khái Hưng viết truyện này để diễn tả cái chủ trương ‘vô gia đình’ của những người độc quyền yêu nước, từ chối bà con ruột thịt, và như vậy tác giả đã nguyền không bao giờ còn liên hệ với các ‘đồng chóe’ vô gia đình vô tổ quốc ấy.

Một truyện ngắn gọn đơn sơ mang mầu sắc huyền bí ghê rợn, ý nghĩa thật là sâu sắc, nó thể hiện cái phi nhân bản của những người tự cho là vị tha yêu nước. Độc giả như thấy hiện ra một vùng rừng thiêng nước độc với một lời nguyền ghê gớm. 

HỔ 

Xin sơ lược

“Bảy Hai, người lính gác trên chòi cao một trại tù. Hắn đã hai lần đánh mõ tre đáp lại tiếng khánh sắt cầm canh bên  đồn. Hắn buồn ngủ muốn ríu mắt mà không dám ngủ vì sợ đội Giới phạt. Đội Giới thù ghét Bảy hai vì một truyện nhỏ tại sòng bài tối qua. 

Tối nay, dưới ánh trăng mờ, Bảy Hai ngắm cảnh để quên đi giấc ngủ, hắn chợp mắt được vài phút rồi choàng tỉnh, linh tính báo cho biết có chuyện gì ghê gớm. Hắn trông thấy một vật gì như con bò đang tiến về phía mình , tới lưng chừng đồi nó dừng lại rẽ sang phía nam, một lúc sau nó tiến về phía Bảy Hai, hắn nhận rõ đó là con hổ lực lưỡng, to béo đang  từ từ tiến lại. Bẩy Hai hồn vía lên mây xanh không dám động tịnh. Con hổ lực lưỡng tới chân thang chòi dừng lại rồi nằm xuống, Bảy Hai không dám cựa quậy, hắn chỉ sợ nó vùng dậy chồm lên đạp đổ cột chân chòi gác  làm thịt mình, hắn định bắn mà không dám, chỉ sợ trật hay bắn bị thương nó thì vô cùng nguy hiểm, hắn biết rằng nó chỉ chống lại người, tấn công người khi có ý định giết nó. 

Tiếng khánh bên đồn và tiếng mõ tre các chòi canh vang lên, Bảy không dám đánh, hắn nghĩ nếu mai có bị phạt cũng ráng chịu vì nếu gây tiếng động bây giờ là toi mạng. Không nghe thấy tiếng mõ của Bẩy, Đội Giới bèn lại chòi canh của hắn để rình bắt quả tang Bẩy ngủ gục trong canh gác để phạt trả thù. Bẩy Hai bắt đầu lo cho tính mạng của Đội Giới, hắn vụt quên mối thù để nghĩ tới tai họa do một loài khác tàn ác gây ra. Lòng nhân đạo tự nhiên sống dậy, hắn nghĩ tới cách cứu mạng một người, tiếng chân người nghe lạo xạo, con hổ vẫn nằm im lìm. Bẩy Hai hoảng hốt thét lớn.

-Đứng lại, có hổ đấy! có hổ! con hổ chạy biến mất, người cũng chạy biến đi.” 

Khái Hưng lấy truyện người gác tù (lính Tây) có tình thương đồng bào để ám chỉ tình thương của người quốc gia đối với kẻ thù khi tai họa sảy ra. Dù là người mình thù ghét, ta vẫn có thể quên đi mối hận để cứu họ vì tình đồng loại, cái mà ông gọi là lòng trắc ẩn, tình nhân đạo.

“Mối thù y vụt quên để chỉ nghĩ tới tai nạn xảy đến cho kẻ đồng loại do một loài khác, một loài tàn ác gây lên. Lòng trắc ẩn, tình nhân đạo đến với y một cách tự nhiên, một cách ngẫu nhiên .Y không lý luận nữa, không cân nhắc nữa , chỉ tìm cách cứu sống một con người thoát khỏi nanh vuốt một con vật”. 

Thánh Ghandi đã nói chúng ta có thể chiến thắng bằng tình thương.

NHUNG

Xin sơ lược. 

Sinh là con trai của bà Đồ, một thanh niên hư hỏng, rượu chè, cờ bạc. Là con một ông Cử, chị em bà đều lấy chồng con nhà nho, nhưng chị bà lấy ông Thượng Nguyễn đỗ đạt làm quan, còn chồng bà chỉ là ông đồ nghèo kiết. Chị bà có giúp bà nhiều phen, nhận nuôi Sinh cho cùng đi học với con mình, rồi chồng bà chết, chị bà chết, ông Thượng Nguyễn (anh rể) lấy vợ khác, bà vợ này có con gái tên Nhung. Ông Thượng bạc đãi Sinh nên anh bỏ về với mẹ, đã hai mươi tuổi, anh học không hay, nghề không có, cờ bạc phá của, khiến gia đình ngày càng thiếu hụt. 

Sinh oán thù ông Thượng và gia đình ông. Hồi chị của mẹ hắn ( bà Cả Thượng) còn sống, bà coi hắn như con, mua sắm đủ thứ, và nay bị đối xử bạc bẽo, hắn cho là hai mẹ con Nhung gây lên rồi oán ghét gia đình ông Thượng, hắn oán ghét tất cả xã hội quan lại, hào phú, trưởng giả, hắn tìm ra đủ tội lỗi đê tiện, xấu xa. Sinh có quan niệm về xã hội loài người: Loài người chia làm hai giai cấp: Giai cấp nhiều quyền lợi và giai cấp không có quyền lợi. Hắn nghĩ tới cách giải quyết vấn đề cho những người ở giai cấp thua thiệt; hắn lười biếng, hư hỏng nhưng chỉ muốn cải tạo xã hội, hắn cương quyết phá hoại phe địch, hắn đi nói xấu bọn nhà giầu như ông Thượng, người đã nuôi hắn, cho hắn nếm mùi phú quí rồi ném hắn xuống đất đen cho thấm thía chênh lệch bất công, hắn tuyên truyền bôi nhọ bọn phú hào rằng chúng đã xây đắp hạnh phúc trên xương máu quần chúng. 

Khi ấy xẩy ra vụ cướp nhà ông Thượng Nguyễn, người ta đoán chắc Sinh có dính líu vụ này vì dinh cơ kiên cố rộng rãi ấy nếu không có người thuộc đường như Sinh chỉ lối thì cướp không thể vào được. Sinh bị bắt, người làng vui cười, họ cho là hắn đáng tội vì hắn căm thù gia đình ông Thượng ghê gớm. Hôm cướp vào nhà, ông bà Thượng đi vắng, người nhà chạy trốn thoát, duy chỉ có Nhung bị bắt. Về sau bọn cướp bị quan nha bắt, người ta kêu Nhung đến nhận diện chúng. Nàng nhận diện hết mọi tên trừ Sinh , có người nghĩ Sinh vô tội, có người cho là Nhung thương hại hắn vì chính bọn cướp cũng khai Sinh là đồng lõa.

Vụ cướp bẵng đi một thời gian, người ta lại bàn tán đến chuyện mới sảy ra: Sinh tự tử trong buồng để lại bức thư tuyệt mệnh gửi Nhung.

B… ngày 1940  

Em Nhung. 

Đây là một bức thư dài dòng văn tự, Sinh cho biết mẹ hắn là em bà Thượng cả (mẹ Nhung là bà hai) không phải là gì Nhung, hắn và nàng không có họ hàng với nhau, ví thử có lấy Nhung làm vợ cũng không sao. Từ ngày được thả về, trí óc hắn rối ren, nay quyết định chết nên rất bình tĩnh, khi Nhung nhận thư này Sinh đã là cái xác không hồn. 

Lúc thì hắn xưng anh, lúc thì hắn xưng em, .  . hắn gửi lời vĩnh biệt, lời tạ lỗi vì đã xúc phạm Nhung trong cái đêm lịch sử ấy, Sinh thú tội với Nhung ví như một tín đồ Thiên Chúa xưng tội để trút gánh nặng trong lòng, hắn nói tội dắt cướp vào nhà bác và làm nhục một thiếu nữ chưa đáng kể. Hắn thú một tội tầy trời: thuở nhỏ được hai bác dậy dỗ nuôi nấng, sống trong cảnh giầu sang không bao giờ Sinh  thương người nghèo, có một điều mà Nhung không ngờ là hắn yêu Nhung thầm lén bao lâu nay. Nhung thì lãnh đạm, mẹ Nhung khinh rẻ hắn (bà này là bà hai, không bà con với Sinh) bởi thế hắn bỏ về ở với bà cụ, từ chỗ tư thù cá nhân biến thành thù chung của cả xã hội bị bóc lột, Sinh chỉ ao ước được trả thù cho giai cấp bị hất hủi như hắn. 

Chủ ý của Sinh là giết hai bác, làm ô nhục Nhung, tình yêu trong lòng hắn vẫn còn, khi bị bắt giam Sinh đã hối hận trước khi Nhung nhận diện, hắn nghĩ tại sao Nhung không để cho hắn chịu hình phạt lại cứu vớt hắn ra khỏi ngục thất làm chi, đối với Nhung hắn đời đời là tên khốn nạn và tự khép mình vào án tử hình.”

Bằng một truyện tình bi thảm, lãng mạn tuyệt vời, Khái Hưng đã diễn tả cái thô bạo bất nhân của đấu tranh giai cấp và hận thù giai cấp. Đấu tranh giai cấp không phải là một lối thoát để giải quyết bất công xã hội mà chỉ là biểu hiện của thú tính con người để trả thù đời bằng bạo lực đê hèn. Sinh một tên vô lại, cặn bã của xã hội, từ hận thù cá nhân đưa tới hận thù xã hội, hắn đã dùng thủ đoạn tàn bạo để giải quyết hận thù xã hội. Đó chỉ là phá hoại xã hội chứ không phải xây dựng cho xã hội tốt đẹp hơn lên, nhưng Sinh còn biết xấu hổ về cái hành động đê hèn của mình.

Đề tài của Khái Hưng trong các tác phẩm cuối cùng của ông thường xoay quanh trại tù Vụ Bản, đó là những áng văn tuyệt tác cuối cùng của một nhà cách mạng đáng kính, một chiến sĩ quốc gia yêu nước, những áng văn đã đóng góp rất nhiều cho nền văn học mới nước nhà.

Trọng Đạt

*** ÔI CHAO GIỌNG HUẾ !

đặng lệ khánh

1aodaibuon

      

Mình người Huế mà đi nơi lạ, nghe được giọng Huế mô đó là rán ngước mắt, quay đầu tìm cho kỳ được chủ nhân của giọng nớ đang đứng ở mô, có quen chút mô không. Người Huế qua Mỹ hà rầm, mô phải ít. Cứ mỗi lần nghe giọng Huế thì quay đầu tìm, chẳng mấy lúc mà chóng mặt, nếu không gãy cổ. Nhưng mà lạ quá, hễ nghe được thì tự nhiên trong lòng như có một chút dậy sóng, a, bên cạnh mình đang có một ai đó đang tha hương lạc bước từ xứ mình đây.

Hôm kia đi ăn cưới, hai bên dâu rể đều là người Huế. Ông MC người Huế, ông ca sĩ chính cũng người Huế. Khi ông ca sĩ nói, một cô trong bàn phê bình : ” Ông ni nói tiếng Huế chi lạ rứa, ông nói tiếng chi a! “, còn ông xã thì nói: ” Nói tiếng Huế gì nghe nặng wá, hổng hiểu gì cả .”  K thì nghe hiểu tất.

Vậy thì giọng Huế ra răng mới đúng tiêu chuẩn ? Cô bé phê bình giọng Huế của chàng ca sĩ thì vừa rời Huế năm năm, ông xã K là Huế lai căng, sinh ở cao nguyên và lớn lên ở miền Nam, họ có đôi tai khác hẳn K chăng ? K không phân biệt được âm sắc trong giọng nói chăng ? Hay là K vì lòng thương Huế, cái xứ mình bỏ mà đi từ xưa nên rộng rãi hơn với cái giọng thân thương nớ, nghe bằng trái tim hơn là bằng đôi tai?

Giọng Huế khác với giọng Hà Nội, giọng Sài Gòn ra răng mà ông Hà Huyền Chi đi giữa chợ Mỹ, chắc chắn là nghe rất nhiều người nói tiếng Việt, mà chỉ khi nghe giọng Huế mới chiêng trống dậy hồn quê, mới khơi nỗi sầu xa xứ chất ngất trong lòng, dù ông là dân Bắc chính cống ? Có phải chăng khi đã nghe một giọng Huế thỏ thẻ bên tai, không chỉ là lời đi vào hồn người, mà cái giọng đã đậu trong tim, đâm cành trẫy lá ?

…Giọng Huế bỗng nghe từ chợ Mỹ
Mà chiêng mà trống dậy hồn quê
Hương cau màu trúc xanh thôn Vỹ
Áo mới xênh xang giữa hội hè

Tôi bước bên nàng không dám thở
Không gian đầy Huế núi cùng sông
Tóc ai thả gió hồn tôi mở
Dấu kín trong tim những nụ hồng

Hà Huyền Chi ( Huế đầy)

Giọng Huế quý giá vô cùng làm cho Mạ đã lưu lạc bao nhiêu năm, mất mát đủ thứ mà khư khư ôm lấy giọng Huế ướt rượt, nhất định không đánh đổi, không pha trộn, dù đời sống Mạ như cuồng lưu tràn bờ biết bao lần. Lúc lắng xuống, giọng Mạ như giòng Hương sau những cơn cuồng nộ, lại lặng lờ xanh trong chảy xuôi ra biển, êm ái nghe giọng hò thoang thoảng xa đưa.

…Tuổi con gái Mạ từng uống nước sông
Đến bây giờ giọng Huế nghe còn ướt
Giọng Huế nghe còn một chút gì trong
Bao đắng cay pha vào chưa đục được …

Đoàn Vị Thượng ( Giọng Huế của Mạ)

Giọng Huế ăn sâu trong tâm người con Huế, đi đến bờ bến nào cũng thương nhớ không nguôi. Chỉ cần nghe tiếng thỏ thẻ của một người bạn Huế là gợi nhớ đến một thời thơ ấu có tiếng Mạ ru hời bên tai, và cảm thấy gần gũi ngay, như gần gũi với thời gian đã qua, đã mất.

…Nếu lại được em ru bằng giọng Huế
Được vỗ về như mạ hát ngày xưa
Câu mái đẩy chứa chan lời dịu ngọt
Chết cũng đành không hối tiếc chi mô

Tô Kiều Ngân ( Giọng Huế)

Giọng Huế của gái Huế dịu dàng, nhiều người công nhận. Nhưng giọng Huế con trai Huế thì đang còn được bàn cãi. Nhiều người cho rằng giọng trai Huế không hùng hồn, không kêu gọi được người khi làm chuyện lớn. Điều ấy thực chăng ? Không phải đâu. Chỉ tại người Nam và người Bắc không muốn sửa đổi đôi tai của họ để nghe một âm sắc trầm trầm bằng bằng. Không sửa được, họ không hiểu thì họ không nghe. Nên để được người nghe, người Huế đổi giọng. Người Nam, người Bắc không ai đổi giọng của họ, mà người Huế thì đi đến đâu pha giọng đến đó. Chính vì vậy mà người khác địa phương không cần phải lắng nghe, sửa tai mà nghe. Hai người Huế tha phương gặp nhau, phải một thời gian lâu mới biết là họ cùng người Huế cả vì họ nói giọng Bắc, giọng Nam. Khi biết ra, cả hai cùng hân hoan, tự hào nói : Rứa hả, em cũng Huế đây nì.

Ngày K mới theo chồng từ Huế vào Sài Gòn, K ở chung với chị chồng. Bà đi làm suốt ngày. Bà có một người giúp việc, bà Tư, người Kiên Giang. Trong những ngày đầu sống trong căn gác xép xa lạ, chồng theo tàu lênh đênh, chung quanh không người thân quen, K chỉ có mỗi bà giúp việc ấy để chuyện trò cho đỡ nhớ nhà. Mà nói chuyện với Bà như nói chuyện với người điếc. Bà nói K còn nghe được chứ K nói thì bà hoàn toàn mù tịt, không hiểu K nói gì. Nhờ bà làm gì rồi thì cũng tự mình đi làm lấy vì bà ư hử mà không làm, chỉ vì bà không biết K muốn gì. Bà than : ” Cô nói tiếng ngoại guấc, hông nói tiếng Yiệt “.

Đối với người Nam, ai không nói giọng Nam là không nói tiếng Việt.

Như vậy, giữa tiếng và giọng, có một sự sai biệt khá lớn. Chúng ta hay dùng lẫn lộn. Khi nói ” nói tiếng Huế ” hay ” nói giọng Huế ” , thì ai cũng hiểu ngay là người ấy đang dùng âm thanh trọ trẹ để phát ngôn. Nhưng khi nói theo ông Võ Hương An ” Tiếng Huế, một ngoại ngữ “, thì rõ ràng tiếng không còn là giọng Huế nữa. Bạn có thể nói giọng Huế, nhưng giọng Huế nớ sẽ không là giọng Huế rặt nếu bạn không dùng mô tê răng rứa. Nghe một giọng Huế thỏ thẻ mà trong câu toàn là thế là thế nào, thưa vâng, không sao đâu ạ thì nghe nó … kỳ kỳ như ăn cơm hến với dưa muối, cà pháo. Huế không thưa vâng ạ. Huế chỉ dạ nhẹ nhàng. Cái tiếng dạ của mấy cô gái Huế làm chết biết bao chàng trai Huế cũng như không Huế. Huế không nói thế là thế nào, Huế nói : Dạ, rứa là răng ? Mấy chữ mô tê răng rứa ni phải đi với giọng Huế, chứ còn đi với giọng Sài Gòn, với giọng Hà Nội thì dĩ nhiên chỉ là nói đùa cho vui, hoặc đang lấy lòng một người Huế nào đấy thôi, hoặc là một dấu vết cho thấy người nói đã một thời lăn lóc trên đất người, đã lậm tiếng người, đã mất gốc không nhiều thì ít. Như K đây. Đau lòng mà nhận ra như rứa.

Người Huế không kêu ” cô “, người Huế kêu ” O “.
Người Huế không kêu ” Bà “, người Huế thưa ” Mệ “
Người Huế không “nói “, người Huế “noái “
Người Huế không “mắc cỡ “, người Huế “dị òm”,
Người Huế không hỏi: “Sao vậy? “, người Huế hỏi “Răng rứa? “
Người Huế không nói ” Đẹp ghê “, người Huế nói ” Đẹp dễ sợ. “

Người Huế cái chi cũng kêu lên “Dễ sợ !! “, dữ dễ sợ, hiền dễ sợ, buồn dễ sợ, vui dễ sợ, xấu dễ sợ, thương dễ sợ, ghét dễ sợ.

K đang trở lại với Huế, đang nói lại cái giọng mà thuở xưa đã từng thỏ thẻ bên tai ai, đang tìm học lại tiếng Huế, một ngôn ngữ tuy đang dần dần bị mai một vì những đợt sóng người từ các nơi trôi dạt đến. Những người mới này mang theo họ cái giọng, cái tiếng từ quê cha đất tổ, hoà lẫn với tiếng và giọng Huế, tìm cách đồng hoá nó, như xưa kia người Việt đồng hoá người Chiêm.

Những người ở các vùng khác có tha thiết nhớ và gìn giữ tiếng và giọng của họ không hè ?

Hồi còn đôi tám, đi nghỉ hè trọ ở nhà một người bạn gái tại Sài Gòn. Nhà bạn có hai ông anh lớn hơn chừng ba bốn tuổi. Cả bọn họp thành một nhóm đi chơi với nhau vui vẻ. Một buổi trưa, sau khi đi chơi đâu đó về, cả 4 nằm ngang trên chiếc giường lớn nói chuyện bâng quơ. Một trong hai anh nằm kề K, lấy mái tóc dài của K đắp ngang mặt mình, hỏi :

” Tại sao người Huế khi nói gì cũng nói ” dễ sợ ” vậy K ? “
” K không biết. “
” Vậy thì nếu nói ‘ Dễ thương dễ sợ ‘ có đúng không ? “
” Không biết. “

Đặng Lệ Khánh

*** SỐ MỆNH

Lê Khắc Thanh Hoài

 untitled

          Trước khi bàn đến Số Mệnh thì có lẽ chúng ta nên tìm hiểu rõ riêng từng chữ, Số là gì và Mệnh là gì ?

Chữ Số, đứng riêng một mình, nó có thể hiểu hai nghĩa. Nghĩa thứ nhất giản dị là con số, hay chữ số, dấu hiệu được đặt ra để biểu thị cho cái lượng, cái gì có thể tính, đếm, đo, cân. Các con số này có thể cộng trừ nhân chia với nhau. Nghĩa là con số có thể thêm, bớt, tăng, giảm. Con số còn có thể là chẳn lẻ, dư thừa, số dương, số âm, con số nguyên hay phân số, nghịch hay đảo, số thực hay phóng đại, số trung bình hay số vô tỉ…


Mới nhìn thoáng qua thì chúng ta không thấy mối liên hệ gì giữa chữ Số, theo nghĩa thứ nhất này, với chữ Mệnh, đứng bên cạnh nó. Dường như vậy. Chúng ta thử rộng bàn hơn về con số này nhé.

Con người vừa mới mở mắt chào đời với tiếng khóc oe oe, chỉ vừa ló đầu ra khỏi lòng mẹ, cuốn rún vừa được cắt là có người chực sẳn bên bà mụ, mắt dán vào chiếc đồng hồ, hô to những con số : « Đúng năm giờ mười lăm phút sáng !» một người khác vội ghi ngay trên giấy, cộng thêm tên họ, dĩ nhiên là không quên ghi những con số quan trọng khác : ngày, tháng, năm, năm ta lẫn năm tây, nhưng năm ta mới là quan trọng hơn chứ, không thể nhầm lẫn, là Ất dậu, Quí dậu hay Bính dậu, mọi chi tiết đều được ghi chú một cách cẩn trọng, nghiêm túc. Bởi vì những con số này sẽ là bằng chứng của sự có mặt của con người trên mặt đất, sẽ được hiện rõ ràng minh bạch trên tờ Khai Sanh cũng như trên tấm Lá Số Tử Vi, vén mở trước cho thấy hành trình mà con người sẽ bước qua.

Giờ phút linh thiêng đã điểm. Đúng, một con người vừa mới ra đời. Một động vật hai chân nhưng là loài thông minh và đáng nể trọng nhất trên quả đất này. Đúng, hai chân và đứng thẳng, có thể ngẩng đầu lên cao giữa đất trời thì chỉ có loài người. Đầu đội trời, chân đạp đất thì chỉ có loài người. Các loài khác, tuy nhiều chân hơn nhưng lại luôn cúi rạp đầu xuống đất, ở nơi chỗ dơ dáy và không thể có khối óc như con người. Con người xứng đáng tự xưng mình là chúa tể của mọi loài trên trái đất, dù tự cho mình là con trời hay chỉ ỷ vào sức mạnh của bạo lực, của quyền uy, của tài sản vật chất, của gươm đao, súng ống, với phương tiện nào cũng được, cậy quyền, cậy thế hay cậy sức, con người có thể vỗ ngực tự xưng và đương nhiên được coi là hơn hết, trên hết mọi loài khác. Không những thế, cùng đồng loại, đồng chủng, con người cũng có thể xưng hùng xưng bá, cho mình là bậc nhất để đàn áp, diệt chủng, cướp đoạt lãnh thổ, thâu nạp nô lệ…Và con người đã làm như thế. Có thể còn mãi mãi sẽ làm như thế.

Con người dù có mạnh như Hercule, chỉ cần dùng sức mạnh của hai tay để hạ đối thủ, giết chết quái vật, nhưng may thay, con người cũng biết giới hạn của mình. Đứng trước thiên nhiên, mưa dầm, bão tố, sóng cao, gió lớn, hạn hán, núi lửa, lụt lội, động đất… thì con người bó tay. Cũng như bó tay trước cái chết của chính bản thân mình.


Con người thôi kiêu căng và cúi đầu tuân thủ bậc Trời, hay Thượng đế, nếu tin có Thượng đế, là cha sinh ra loài người. Điều này có những ưu điểm, đem lại trật tự, kỷ cương cho xã hội, con người biết sợ hãi khi làm điều ác, vì sẽ bị trừng phạt gắt gao, địa ngục luôn mở cửa để lùa kẻ ác vào, và con người sẽ siêng năng làm thiện vì Thiên đường cũng luôn mở cửa để đón tiếp kẻ thiện tâm.

Nhưng rồi con người cũng đi quá trớn và lạm dụng danh nghĩa để làm những điều sai trái, không hợp đạo lý, không thuận theo ý Trời hay Thượng đế nữa. Đó là lỗi của con người, không phải lỗi của Trời hay Thượng đế.

Trở lại với con Số. Như vậy là vừa mới mở mắt chào đời, con người đã mang vào mình một hàng số. Hàng số này mà về sau, con người nhớ mãi để mỗi năm thì ăn mừng. Mừng Sinh Nhật. Mừng cái ngày mình, một con người, có mặt trên cõi đất này. Vui cái đã ! Suy nghĩ mông lung xa vời thì chẳng cần biết tới. Đơn giản quá ! Sự thật là như vậy. Đùng một cái, con người bỗng thấy mình có mặt trên trái đất và phải đi cho hết cuộc đời còn lại mà cũng chưa chắc tìm ra câu trả lời vì sao, vì đâu tôi lại có mặt trên cõi đời này ! Trách gì, tấm bé thì đâu biết gì mà suy với nghĩ, chỉ biết vui chơi, ngày Sinh Nhật thì được quà cáp, đồ chơi ai mà không thích. Nhưng lớn rồi thì cũng có khác đâu, tiệc tùng ăn uống thỏa thích cho cái ngày Sinh Nhật, chuyện gì mà bận rộn trí óc cho mệt cái thân. Chỉ có mấy ông triết gia lẩm cẩm dư thì giờ ngồi vuốt râu, bứt tóc bứt tai suy nghĩ chuyện không đâu!

Mỗi năm, con số của cái ngày trọng đại này, ngày Sinh Nhật, không thay đổi nhưng cái số tuổi thì « leo thang » vùn vụt với năm tháng trôi qua, với thời gian. Từ một đứa bé lưa thưa vài sợi tóc, cho đến một ông già bà lão tóc bạc phủ trắng đầu. Và rồi con số cuối cùng sẽ đến nằm gọn gàng bên cạnh cái con số của ngày Sinh Nhật. Con Số của cái ngày Tạ Thế. Cái ngày mà con người từ biệt cõi thế, lìa đời, mạng chung. Dù muốn dù không cũng phải giã biệt. Đó là định luật ngàn thu.


Dù thông minh cách mấy con người vẫn chưa lật ngược được định luật này. Chỉ còn biết chấp nhận.


Như vậy là con số đầu và số đuôi đã nối nhau. Những con số của tờ Khai Sanh sẽ được bổ túc thêm với những con số của tờ Khai Tử.


Nhưng chặng giữa của đời người thì không thiếu nhưng con số.


Thử tìm những con số này qua miệng của dân gian, trong các sinh hoạt thông thường, qua những câu ca dao còn mãi với thời gian hay qua thi ca của nước Việt chúng ta.

Gần gũi nhất là những con số mà chúng ta thân quen, là anh, là chị, là em trong gia đình : anh Hai, chị Ba, anh Tư, em Sáu, em Bảy và rồi đương nhiên là có dì Năm, dượng Sáu, cô Tám…người miền Nam nước ta thì hay dùng các con số thứ tự trước sau để gọi con cái. Cái con số nó gắn liền với con người đơn sơ, giản dị và dễ thương như vậy.

Trong văn học, con số một trăm dưòng như quá rõ ràng để chỉ độ dài của đời người, thường được tìm thấy nơi các vần thơ của cụ Nguyễn Du :


Trăm năm trong cõi người ta (1)

Kiếp phong trần trăm năm thân thế
Khắp bờ sông bãi bể lang thang.
(2)

Hoa đẹp không trăm ngày
Người sống không trăm tuổi.
(3)

Và khi dân gian muốn ám chỉ những ai hay những gì mà miệng người đời rêu rao, bêu xấu, cảnh giác con người nên thận trọng :

Trăm năm bia đá thì mòn
Nghìn năm bia miệng hãy còn trơ trơ
(4)

Với cảnh vật thiên nhiên mà con người rất hiểu, rất am tường :

Trăm hoa đua nở tháng giêng
Có bông hoa cải nở riêng tháng mười
. (5)

Mạ chiêm ba tháng chưa già
Mạ mùa tháng rưỡi ắt là chẳng non
(6)

Đêm tháng năm chưa nằm đã sáng
Ngày tháng mười chưa cười đã tối.
(7)

Những ngày tháng không thể quên, và con người cùng nhắc nhở nhau :

Nhớ ngày mồng bảy tháng ba
Trở về hội Láng, trở ra hội Thầy.
(8)

Ai về Phú Thọ cùng ta
Vui ngày giỗ Tổ tháng ba mùng mười.
(9)

Ấy ngày mồng sáu tháng ba
Ăn cơm với cà đi hội chùa Tây.
(10)

Nhắc đến Hà Nội với Ba Mươi Sáu phố phường :

Cố đô rồi lại Tân đô
Nghìn năm văn vật bây giờ vẫn đây
Rủ nhau chơi khắp Long Thành
Ba mươi sáu phố chẳng rành chẳng sai.
(11)

Nhà nông chất phát mà biết lo toan :

Mồng chín tháng chín có mưa
Thì con sắm sửa cày bừa làm ăn
Mồng chín tháng chín không mưa
Thì con bán cả cày bừa đi buôn.
(12)

Một con số khác, để nói đến phận gái long đong :

Lênh đênh một chiếc thuyền tình
Mười hai bến nước, biết gửi mình vào đâu ?
(13)

Hay nói đến tình yêu bạc bẽo :

Yêu nhau cau sáu bổ ba
Ghét nhau cau sáu bổ ra làm mười.
(14)

Và cầu mong bạn đời chung thủy với mình :

Muối mặn ba năm muối hãy còn mặn
Gừng cay chín tháng gừng hãy còn cay
Đạo nghĩa cang thường chớ đổi đừng thay.
(15)

Nhưng trước khi thành đạo phu thê thì thử thách cũng khó lắm cho chàng trai :

Em là con gái nhà giàu
Mẹ cha thách cưới ra màu xinh sao.
Cưới em trăm tấm lụa đào
Một trăm hòn ngọc, hai mươi tám ông sao trên trời.
Tráp tròn dẫn đủ trăm đôi
Ống thuốc bằng bạc, ống vôi bằng vàng.
Sắm xe tứ mã đem sang
Để quan viên họ nhà nàng đưa dâu.
Ba trăm nón Nghệ đội đầu
Mỗi người một cái quạt Tàu thật xinh.
Anh về sắm nhiễu Nghi Đình
May chăn cho rộng ta mình đắp chung.
Cưới em chín chĩnh mật ong
Mười cót xôi trắng, mười nong xôi vò.
Cưới em tám vạn trâu bò
Bảy vạn dê lợn, chín vò rượu tăm.
Lá đa mặt nguyệt hôm rằm
Răng nanh thằng cuội, râu cằm thiên lôi.
Gan ruồi mỡ muỗi cho tươi
Xin chàng chín chục con dơi góa chồng.
Thách thế mới thỏa tấm lòng
Chàng mà lo được thiếp thời theo chân.
(16)

Cưới cô gái nhà nghèo mà xem ra tình tứ, dễ thương hơn một bực :

Cưới em có cánh con gà
Có dăm sợi bún, có vài hạt xôi
Cưới em còn nữa anh ơi
Có một dĩa đậu, hai môi rau cần
Có xa dịch lại cho gần
Nhà em thách cưới có ngần ấy thôi
Hay là nặng lắm anh ơi !
Để em bớt lại một môi rau cần.
(17)

Cũng qua dân gian mà chúng ta biết được vai trò của người con trai trưởng, cũng liên hệ với các con số :


Bốn con ngồi bốn chân giường
Mẹ ơi, mẹ hỡi, mẹ thương con nào ?
Mẹ thương con bé mẹ thay,
Thương thì thương vậy, chẳng tầy trưởng nam
Trưởng nam nào có gì đâu
Một trăm cái giỗ đổ đầu trưởng nam.
(18)

Và học thêm được tập tục của việc để tang :

Chồng cô, vợ cậu, chồng dì
Trong ba người ấy chết thì không tang.
(19)

Láng giềng còn để ba ngày
Chồng cô vợ cậu, nửa ngày cũng không.
(20)

Tự thuở nào, nàng dâu thì sợ mụ o :
Một trăm ông chú không lo
Lo về một nỗi mụ o nỏ mồm.
(21)

Và nỗi lòng nàng dâu được tỏ bày cũng không thiếu những con số :

Thân em mười sáu tuổi đầu
Cha mẹ ép gả làm dâu nhà người
Nói ra sợ chị em cười
Năm ba chuyện thảm, chín mười chuyện cay.
(22)

Đó là việc nhà, nhưng việc nước, thời Nam Bắc phân tranh, cũng được nói lên qua con số :

Một nhà hai chủ không hòa
Hai vua một nước ắt là không yên.
(23)

Đó là trong quá khứ, chúng ta thấy những con số luôn đi theo đời người, qua mọi sinh hoạt dù riêng dù chung.


Ở thời hiện đại, các con số lại càng gia tăng và gắn liền hơn nữa với đời sống. Số nhà, số điện thoại, điện thoại bàn, điện thoại cầm tay, số mật mã phải nhớ nằm lòng để mở cửa vào nhà, bước vào thang máy, mở máy vi tính, tủ két đựng tiền, bất cứ dụng cụ máy móc tối tân nào, hoặc dùng thẻ tín dụng ngân hàng, mà bất cứ ở đâu cũng phải đem theo, từ mua sắm nhỏ nhặt cho đến thanh toán chi tiêu lớn…Đi tới đâu cũng thấy bấm nút, bấm số. Giấy tờ chỗ nào cũng ghi chú nhan nhản điều một, điều hai, điều ba…Số ghi trên vé đi xem hát, xem kịch. Số ghi trên sổ thông hành, chiếu khán, hộ tịch, căn cước, sổ lương, sổ trợ cấp, sổ bảo hiểm, số xe, số giày, số quần áo…Số tiền ghi trên tấm giấy bạc hay tờ ngân phiếu thì không thể sai được, đôi khi phải đọc lui đọc tới vài chục lần vì không thể có nhầm lẫn trong chuyện này được !


Những con số, chao ơi, toàn là những con số !


Chưa kể những con số để chơi loto, đánh cá ngựa, đánh số đề…


Chưa kể những ngày tháng kỵ giỗ người thân.


Chưa kể những cuộc hẹn từ vài tháng trước phải ghi phải nhớ, lỡ quên là lại mất vài ba tháng nữa mới có được một cuộc hẹn mới.


Chưa kể những con số trên chiếc đồng hồ rượt con người chạy…ứ hơi !


Chưa kể những con số phải thuộc nằm lòng, những con số khẩn, cấp cứu, bệnh viện, cứu hỏa, cảnh sát…


Như vậy chúng ta đã thấy là con Số không hề rời xa con người chút nào, mà theo sát chữ Mệnh đứng sau nó rồi phải không ?


Đó chỉ là mới nói đến nghĩa thứ nhất của chữ Số.

Nghĩa thứ hai của chữ Số thì lại hoàn toàn đồng nghĩa với chữ Mệnh đứng bên cạnh nó. Chữ Số này chỉ làm rõ nghĩa thêm chữ Mệnh mà thôi. Bởi nó chính là Phần Số, Số phận, cuộc đời con người. Mọi người vẫn thường nghe “ số tôi là vậy, tới số rồi, số như vậy, mỗi người đều có số…” Chính lả chữ Số này trong Số Mệnh.


Số với Mệnh, tuy hai mà một.


Vậy bây giờ chúng ta bàn qua chữ Mệnh này nhé. Nó khá phức tạp rắc rối bởi vì qua nhiều thời đại, con người không ai cùng đồng ý với ai nữa cả khi bàn đến nó.

Mệnh hay Mạng được đặt ra từ khi có cụ Khổng với cái thuyết Thiên mệnh luận hay Thiên đạo. Ông Trời qui định cho mỗi cá nhân một số mệnh, một cuộc đời và chỉ có tuân theo. Sống theo Thiên mệnh hay Thiên đạo cũng là sống đúng với qui tắc thiên nhiên, hợp với thời thế, đạo lý mà Trời đã đặt ra, đó là ý Trời. Thiên tử lại là con trời, mà phản
lại ý vua cũng là phản lại ý trời. Vua bảo chết mà không chết là quan bất trung. Cha mẹ bảo chết mà con không chịu chết là con bất hiếu. Quá ư khắt khe cụ Khổng !

Ngoài Nho giáo ra, còn có các triết thuyết như Túc mệnh luận, Định mệnh luận, quan niệm mỗi con người đều có một số mệnh do quá khứ an bài, xếp đặt, định trước, định sẳn rồi. Mọi cố gắng nổ lực ở hiện tại hầu như vô ích. Gọi đó là Định Mệnh. Không thể thay đổi.


Các triết thuyết này, và cả Nho giáo, tin vào sự chỉ định của Trời, đều mang tính tiêu cực và thụ động. Con người thường xuôi tay, phó mặc cho số mệnh.


Đạo Phật không tin vào số mệnh do một đấng siêu nhiên chỉ định, an bài. Số mệnh này, theo Phật giáo là kết quả tạo từ các đời trước của Nghiệp, hành động có tác ý, chủ ý, chủ động của con người. Và cứ thế, luân hồi triền miên bất tận, con người tự tạo ra cái số mệnh của mình, tự tạo và tự hứng chịu hậu quả của nó. Như vậy thì số mệnh này không bất di bất dịch mà có thể thay đổi tùy theo hành động, theo chiều hướng thiện hay ác của hành động, của sự tạo tác mà cái mệnh theo đó chuyển đổi, vận hành.

Ảnh hưởng từ phương Tây, Thiên chúa giáo là một thần giáo, tin vào Thượng Đế, đấng tạo ra con người, nhưng con người không hoàn toàn mất tự do và lệ thuộc vào Thượng Đế bởi vì con người có quyền lựa chọn hành động của mình. Và hai con đường, thiện hay ác đều có kết quả phù hợp. Thượng Đế không bắt buộc ai phải vào địa ngục hay lên thiên đường, chính hành động của con người lôi kéo con người vào hai đường này. Thượng Đế chỉ sinh ra con người nhưng không hành động thay thế con người. Đó là sự lựa chọn của con người.


Ở đây, nơi sự tự do lựa chọn và hành động thì Phật Giáo và Thiên chúa giáo gặp nhau.

Chúng ta lại thử tìm qua ca dao, những suy nghĩ về số phận, thân phận con người.


Dù biết cuộc đời có giới hạn, nhưng không vì thế mà sống không xứng đáng, để phải hổ thẹn :


Người đời hữu tử hữu sanh
Sống lo xứng phận, thác dành tiếng thơm.
(24)

Cho dù nghèo khó :


Đói cho sạch, rách cho thơm (25)

Tốt danh hơn lành áo ( 26)

Chết trong còn hơn sống đục (27)


Sống vẫn có đạo lý :

Một câu nhịn, chín câu lành (28)

Người trồng cây hạnh người chơi
Ta trồng cây đức để đời về sau
. (29)

Ở hiền thì lại gặp lành
Những người nhân đức trời dành phúc cho.
( 30 )

Tốt gỗ hơn tốt nước sơn
Xấu người đẹp nết, còn hơn đẹp người
(31)

Ăn quả nhớ kẻ trồng cây
Uống nuớc sông, nhớ mạch suối
(32)

Ai ơi chớ vội cười nhau
Cười người hôm trước, hôm sau người cười
(33)

Nói chín thì làm nên mười
Nói mười làm chín, kẻ cười người chê.
(34)

Nhiều không thể kể hết những câu ca dao nói lên cái đạo lý sống hướng thiện của con người. Và chúng ta cũng thấy cái số mệnh đã được an bài, được chấp nhận qua các câu :


Số lao đao phải sao chịu vậy
Tới số ăn mày, bị gậy phải mang
. (35)

Số giàu tay trắng cũng giàu
Số nghèo chín đụn mười trâu cũng nghèo.
(36)

Cây khô xuống nước cũng khô
Phận nghèo đi tới chỗ mô cho giàu.
(37)

Số giàu đem đến dửng dưng
Lọ là con mắt tráo trưng mới giàu.
(38)

Con vua rồi lại làm vua
Con sãi ở chùa lại quét lá đa
.(39)

Mọi người đều đồng ý là ai cũng có một phần số, một số mệnh riêng biệt, không đồng đều, nhưng nó từ đâu đến, sự sai biệt này từ đâu mà có thì chưa ai đồng ý với ai. Người bảo là do Trời, do Thượng đế, người bảo là do Nghiệp. Chuyện này không bao giờ có kết luận và cũng không phải là mục đích của bài viết.


Người viết chỉ muốn nói đến muôn vàn số mệnh khác biệt trên cõi thế. Đôi lúc chỉ vì một quyết định bốc đồng, thiếu chín chắn, một lời nói thiếu suy nghĩ, một hành động vô ý thức hay một cuộc gặp gỡ bất ngờ nào đó mà số mệnh của con người lại thành tựu, vận hành, chuyển hướng, rẽ sang một ngả khác.


Trong đời, không ai không từng thốt lên : “ Giá mà tôi được…Chẳng qua vì…Nếu hôm đó không xảy ra…Nếu chuyện ấy không như thế…”

Hằng hà sa số cảnh đời, số phận cũng chỉ vòng quanh các tính từ vui, buồn, sướng, khổ, giàu, nghèo, hoặc các động từ CÓ và KHÔNG CÓ :


Có vợ đẹp, có con ngoan, không có vợ đẹp, không có con ngoan, có tiền, không có tiền, có chức vị, không có chức vị, có nhà, không có nhà, có tình, không có tình, có sức khoẻ, không có sức khoẻ, có sắc đẹp, không có sắc đẹp, có tài, không có tài…


Và cũng tưong tự, các số phận xoay quanh động từ ĐƯỢC và KHÔNG ĐƯỢC :


Được yêu, không được yêu, được thăng chức, không được thăng chức, được ưu đãi, không được ưu đãi, được nhàn hạ, không được nhàn hạ, được sống lâu, không được sống lâu, được nổi tiếng, không được nổi tiếng…


Xoay quanh động từ LÀ và KHÔNG LÀ, các số phận này hoặc bằng lòng, thỏa mãn hoặc bất như ý, bất toại nguyện : tôi là luật sư, tôi không là luật sư, tôi là bác sĩ, tôi không là bác sĩ, tôi là doanh nhân, tôi không là doanh nhân, tôi là giáo sư, tôi không là giáo sư, tôi là dân Mỹ, tôi không là dân Mỹ, tôi là người da đen, tôi không là người da đen…


Cũng thế, các số phận xoay quanh động từ BỊ thì càng không ít : Bị chê, bị trách, bị mắng, bị nhiếc, bị bạc đãi, bị hà hiếp, bị bóc lột, bị lạm dụng, bị thù, bị oán, bị giết, bị tù, bị tội, bị bắt cóc, bị cưỡng ép, bị chịu đựng, bị khống chế, bị tàn tật, bị thương tích, bị ruồng bỏ, bị lãng quên…


Thống kê ra thì sẽ dài bất tận.


Tóm lại, con người vui buồn, khổ đau hay hạnh phúc là nhờ CÓ hay KHÔNG CÓ, ĐƯỢC hay KHÔNG ĐƯỢC, LÀ hay KHÔNG LÀ và BỊ hay KHÔNG BỊ.


Cũng thế, nếu thống kê hết những hạng người, theo loại, theo nghề nghiệp, theo hoàn cảnh sống, theo địa lý, theo phong tục…thì cũng rất dài dòng, thử tạm liệt kê một vài hạng người theo số mệnh mà CÓ, mà ĐƯỢC hay LÀ :


Người là vua, là hoàng tử, là công chúa, là tổng thống, là ông này bà nọ, có chức vị quan trọng trong xã hội thì cũng có hạng thường dân, không tên tuổi, không ai biết, có anh hùng, có tướng tá, sĩ quan, quân nhân thì cũng có thi nhân tao nhã, nhạc sĩ, tài tử chỉ cống hiến cho đời những giây phút thoải mái vô ưu, có tu sĩ, bác sĩ, võ sĩ, có người nhân đạo thì cũng có người vô nhân đạo, có trộm cướp, có sát nhân giết mướn giết thuê, có thương nhân đàng hoàng làm ăn thì cũng có dân buôn lậu, buôn thuốc nghiện, thuốc hút, buôn người, buôn cả trẻ con, đàn bà, con gái, ngoài những mỹ nữ buôn phấn bán hương, thời hiện đại như chúng ta thì còn có cả “ mỹ nam” cạnh tranh với mỹ nữ, bên cạnh đó vẫn còn những người cần cù, tay lấm chân bùn, đầu tắt mặt tối, như nông dân, ngư dân, thợ thuyền, người giúp việc, người buôn thúng bán bưng, gánh gồng, dầm mưa dãi nắng, thì cũng có người làm việc bằng trí óc, quanh quẩn trong bốn bức tường, đôi lúc thật khô khan nhàm chán…đối lại thì có “ siêu mẫu chân dài ” khoe khoang hàng hiệu, phô trương hình ảnh xa hoa, xa xỉ, lúc nào cũng tươi cười, xinh đẹp, lộng lẫy nơi các nhà hàng thượng thặng, đôi khi cùng với các tài tử xi nê lên xuống “siêu xe ”, với những cuộc chạy đua tốc độ xoay xẩm mặt mày…

Số mệnh con người dường như cũng đi theo hai chiều trái ngược, hoặc sướng hoặc khổ, hoặc lên, hoặc xuống, hoặc thiện hoặc ác, hoặc tốt hoặc xấu, hoặc hay hoặc dở, hoặc hên hoặc xui, như nói có số đỏ, có số đen. Tuy nhiên cũng có thể là không đỏ, không đen, không thiện không ác, không tốt, không xấu, không khổ, không sướng, ở giữa lưng chừng, trung bình mọi mặt.


Hiểu rõ số mệnh, phải chăng vì con người luôn bị thời gian thôi thúc đằng sau lưng. Con người chẳng thể nào đứng yên, tất cả đều tan biến vào hư vô vậy thì con người có thể níu kéo được gì ? Hạnh phúc nằm ở đâu ? Ở cái điều mà tôi có, tôi không có, tôi được, tôi không được, tôi là, tôi không là, tôi bị, tôi không bị ?


Con người chỉ nên nghĩ đến con đường đang đi, thực tại đang có và phải đi, phải sống như thế nào hơn là nghĩ con đường này, cuộc sống này dẫn tới đâu ? Trước khi có mặt trên trái đất, con người hoàn toàn không biết gì, sau khi rời khỏi mặt đất con người cũng hoàn toàn không biết gì. Mọi người đến và ra đi đều không hề nói năng, không hề tỏ rõ cho ai biết rằng chỗ trước khi tôi đến trái đất là như thế và chỗ sau khi tôi rời trái đất là như vậy. Đằng sau là quá khứ, thì tối tăm mù mịt mà đằng trước là tương lai thì cũng tối tăm mù mịt. Con người chỉ có và thấy một luồng ánh sáng độc nhất là hiện tại. Nơi mà con người có thể nói năng, thấy, nghe, cảm, nhận và cùng nhau chia sẻ buồn vui sướng khổ. Trong vùng ánh sáng này, hiện hữu một số mệnh mà con người không thể làm gì khác hơn là chấp nhận, và làm tất cả những gì có thể để thích ứng với những gì bất ngờ xảy đến. Những điều có thể có, có thể không, có thể được, có thể không được, có thể là như vậy, cũng có thể không là như vậy, có thể bị mà cũng có thể là không bị gì hết. Trước cái bấp bênh của số mệnh, con người không thể buông xuôi mà nắm chặt trong tay hơn những gì có thể chuyển đổi số mệnh, chuyển hóa số mệnh, vượt lên trên số mệnh, trở thành vận mệnh bởi vì số mệnh không hề bất di bất dịch, có thể vận chuyển, vận hành, đổi thay theo hành động, theo ý tưởng, theo cảm xúc. Cái hiện tại luôn luôn chuyển động, không đứng một chỗ và con người luôn bị thôi thúc phải tác ý và hành động để thực hiện những gì có thể thực hiện được trước khi luồng ánh sáng nhận thấy được nơi cái hiện tại này cũng vụt tắt. Cái vòng tròn của bánh xe Số Mệnh đã bắt đầu quay và sẽ mãi mãi quay theo cái gọi là luân hồi !


Chận lại vòng quay của bánh xe luân hồi là vượt lên trên số mệnh.

LêKhắcThanhHoài
Paris, Tháng Bảy, 2014

_________

Chú thích :
1. Kiều. Nguyễn Du
2. Mạn Hứng . Nguyễn Du
3. Hành Lạc Từ . Nguyễn Du
4. 5. 6.….cho đến 39 : Tục Ngữ Ca Dao Dân Ca Việt Nam. Vũ Ngọc Phan

*** Đặng Lệ Khánh dịch William and Mary của Roald Dahl

Thư viện của bài

This gallery contains 1 photo.

WILLIAM VÀ MARY ( dịch William and Mary của Roald Dahl )     Đặng Lệ Khánh           Khi ông William Pearl qua đời, ông chẳng để lại được nhiều tiền bạc gì, và chúc thư của ông cũng giản dị. Ngoại … Tiếp tục đọc

*** Viết từ chuyện có thật

Phạm Trung Thu

00cogai hinh ve

( Viết từ một chuyện có thật)Từ ngày đơn vị về đóng quân ở vùng này,Quân như suy tư hẳn lên.
Các bạn trong đơn vị thường hay chế nhạo chàng đã bị một bóng hồng nào đó chế ngự.
Thật ra Quân đang theo dõi một người,một Dì Phước thì đúng hơn.Nàng thường ra tập hát cho đám học trò nhỏ của ngôi trường sau Nhà Thờ.Dáng dấp tha thướt trong áo dòng trắng và gương mặt dịu hiền đã làm rung động con tim của chàng lính trẻ.
…Quân là một Trung Úy BĐQ,cuộc đời quân ngũ đã đưa anh đi đến không biết bao nhiêu miền của đất nước và cũng đã gặp nhiều cô gái trẻ đẹp nhưng chưa bao giờ chàng cảm thấy bâng khuâng để nghỉ đến tình yêu.
Bây giờ trớ trêu thay,sự rung cảm lại đến thật bất ngờ bởi hình bóng người nữ tu kiều diễm,Quân thấy ước vọng của mình không bao giờ đạt được.Tuy nhiên chàng không thể quên nàng dù biết đó là một mối tình vô vọng.
Những lúc không hành quân,buổi chiều Quân thường thả bộ ra vòng rào Nhà Thờ nhìn những đứa trẻ con tập hát.Mỗi lần đám học học trò trở vào lớp chàng lại rẽ vào Nhà Thờ đọc một kinh Lạy Cha rồi trở ra.
Tôi dể ý đến cử chỉ của Quân vì tôi và hắn thân nhau nhất đơn vị.Một hôm tôi hỏi:
_Tao thấy hình như mày đang buồn?
Quân nhìn tôi:
_Sao mày biết?
_Biết chứ ! mày đã chẳng nói với tao bao giờ buồn mày siêng đến với Chúa sao?
Quân bật cười:
_Có lẽ.
Rồi không đợi tôi hỏi,hắn nói thầm thì:
_Phong ! mày có tin là tao đã bị tiếng sét ái tình không?chính tao cũng không ngờ,mà cái tao không ngờ nhất là người tao yêu lại là một Dì Phước.
Quân lôi tôi vô phòng rút dưới đầu giường ra một quyển tập bìa nâu,Quân lật trang đầu,tôi hoa mắt bởi giòng chữ:
* NHẬT KÝ CỦA MADALEINE THỤC CHI *
Như sợ tôi không hiểu,Quân nói:
_ Tao đã làm quen được đứa học trò thân tín nhất của nàng và nhờ nó…mà tao có được,đây mày đọc đi rồi biết.
Tự dưng tôi cũng thấy hồi hộp,tay tôi hơi run khi lật trang đầu,những dòng chữ màu mực tím rất đẹp…
***1h trưa…
Lạ quá,giấc trưa sao mình không chợp mắt được,có cái gì buồn buồn,nghèn nghẹn chận ở cổ họng mình thì phải?có lẽ vì mình vẫn còn tức chuyện hồi sáng…ai đời mình đã 18 tuổi rồi mà anh Hào cứ gọi mình là bé con:<<Thế nào,bé Chi năm nay làm cô Tú rồi,giỏi quá…bé có khao anh không nào?…>>Mình muốn gân cổ lên cãi lại thấy Mẹ đứng gần đó tủm tỉm cười nên thôi,tức ghê người gì mà thấy ghét quá chừng.
***3h chiều…
Mình vừa tắm xong thật thoải mái,số là trưa nay mìng được nghe một mẫu chuyện <kỳ cục> giữa Ba và Mẹ,mình nghe Mẹ nói:
_Cậu Hào đã thưa gì với ông chưa?
Ba gật đầu:
_Có rồi,trước đó thằng Lâm con trai mình cũng đã có nói với tôi rằng nó muốn mình gã con Thục Chi cho cậu ấy.Tôi đồng ý nhưng không biết ý con gái mình ra sao?bà là Mẹ nó,gần gũi,dò ý nó thử xem…
***2h sáng…
Thế là xong,thoát nạn…
Mình cứ hồi hộp đến phút <coi mắt> của đàng trai thôi,run gần chết…có lẽ mặt mình trông quê lắm,cả Hào cũng thế,anh chàng cũng ngẫn tò te ra trông đến tội.Hôm nay mình mặc áo dài xanh màu mạ non Mẹ bảo mình trắng và đẹp lắm,lại có tí son phấn trang điễm nữa.Mình chào hai họ xong liền chạy vào phòng quỳ dưới chân dung Đức Mẹ mĩm cười.Chưa bao giờ mình sung sướng như vậy.
***4h chiều…
Trời ơi ! Sự thật có thể như thế sao ? Hào chết,anh Lâm chết vì trận đánh hôm kia thật ư? Mình không tin vạn ngàn lần không tin như thế.Nhưng sự thật vẫn là sự thật,Mẹ đang khóc kia!Mình bỏ học chiều nay để chờ tin Ba đi đưa quan tài về…Chúa ơi,Đức Mẹ ơi ! sao lại có thể như thế được…
Hào ơi,anh mới giã từ em tuần trước đây mà,tháng sau là đám cưới chúng mình rồi,sao anh bỏ em mà ra đi , anh Lâm ơi,anh em sống cạnh nhau bao nhiêu năm trời anh xa em không lời từ giã…
***6h chiều…
Mình lại nghe thêm tin gi thế kia? Ba mất,xe bị cán mìn…
Ôi ! lạy thượng đế con nghẹn rồi biết nói gì bây giờ…
Mình chạy vô phòng ôm tượng Mẹ khóc tức tưởi , dường như Mẹ đang dỗ dành mình…Mẹ đang dỗ con hở Mẹ…con khổ quá Mẹ ơi…nước mắt con cạn mất rồi.
***9h sáng…
Thế là Ba,Hào và anh Lâm đã vĩnh viễn dưới lòng đất lạnh.Mẹ mình bệnh li bì suốt cả tuần nay,bà không ngớt gọi Ba và anh Lâm trong cơn mê sảng.Mình lo quá,bây giờ chỉ còn hai Mẹ con thôi…
***3h khuya…
Mình đã quyết định rồi ! Mình sẽ đi tu !Sẽ từ bỏ vùng kỷ niệm êm ấm này để vào ẩn mình trong tu viện . Mẹ đã theo Ba,mình còn gì nữa để bám víu làm lẽ sống?Mình không biết trên đời còn có người thứ hai chịu những khổ đau như mình không?
Lạy Mẹ Hằng Cứu Giúp,xin người giúp con,con yếu đuối,con không còn thiết sống và chỉ muốn hủy hoại thân xác này.Nhưng Chúa đã tạo nên con,con không có quyền hủy hoại nó.Xin Đức Mẹ nhân từ giúp con quên đi những hình ảnh đau buồn,để tươi cười dâng mình trong tay Mẹ.

Những dòng chữ nhảy múa trước mặt tôi,tôi như vẫn còn trôi trong những cãm nghĩ chua xót đến tê tái,bàn tay Quân đặt nhẹ lên vai tôi và giọng hắn đầy xúc động:
_Thê thảm Phong nhỉ ! Tao không ngờ người tao yêu lại trãi qua quá nhiều đau đớn đến như vậy.
Tôi gật đầu đồng ý với Quân,mắt buồn buồn hắn nói:
_Tao nuôi mối tuyệt tình mày biết rồi , tao có lỗi với Chúa với Đúc Mẹ là đã thầm thương đứa con yêu của người,tao chỉ ước mong mày giúp tao một điều.
Tôi chưa kịp hỏi Quân đã nói:
_Sáng mai tao đi hành quân,mày làm ơn đích thân mang quyển nhật ký này trả lại cho nàng dùm tao và nói với nàng rằng trong đời tao chỉ một lần yêu và yêu chỉ một người : Đó là nàng.
Thấy tôi ngần ngại Quân khẩn thiết:
_Giúp tao đi Phong,tao van mày…chỉ có mày mới đủ thân tình để hiểu và giúp tao.
Quân dúi quyển nhật ký vào tay tôi rồi bước vội ra khỏi phòng như sợ tôi từ chối .
Chuyến hành quân sáng hôm sau,Quân bi vướng đạn và tử thương trên đường về quân y viện.Tôi nhận hung tin ,nước mắt rướm ra trên bờ mi chai cằn của người lính trận.
**********************
Tôi y lời Quân tìm cách gặp soeur Madaleine để trao trả cuốn nhật ký và nói lại lời cuối của thằng bạn thân ký thác.Nghe tôi nói,đôi mắt của người nữ tu như long lanh ướt,giọng nàng nghẹn ngào xúc động:
_Cám ơn ông đã cho tôi lại quyển nhật ký này,tuy tôi đã hiến dâng trọn vẹn linh hồn lẫn thể xác cho Chúa và Đức Mẹ , tôi vẫn cãm xúc trước tình cãm của người bạn ông đã dành cho tôi nhất là người ấy đã chết.
Gương mặt kiều diễm của Dì Phước Madaleine thuần lại . Tôi không còn ngạc nhiên vì sao Quân lại yêu mê gương mặt đó.Trước khi ra khỏi sân Nhà Thờ tôi nói với người nữ tu:
_Cuốn nhật ký của soeur đã ghi quá nhiều hình ảnh đau thương,nhưng tôi xin soeur hãy ghi thêm tên một người nữa,đó là Trung Úy Nguyễn Hữu Quân người bạn bất hạnh của tôi.
Tôi quay đi nhưng bên tay tôi còn văng vẳng tiếng của người nữ tu dịu dàng đuổi theo tôi trong gió chiều cuối đông:
_Có lẽ…thêm một ray rức trong sổ đời…Lạy Mẹ Hẳng Cứu Giúp xin thêm nghị lực cho con…

*** ƯỚC NGUYỆN CỦA NGƯỜI TỬ TÙ

MANG VIÊN LONG

chua hk

Sáng nay Công được chuyển sang phòng biệt giam khác nhưng cùng khu nhà của trại. Nhìn thoáng, anh biết phòng nầy chật hơn phòng giam cũ mỗi chiều khoảng gần một mét. Công ngồi xuống trên chiếc giường-bệ-xi-măng sát bên phải vách phòng, đưa mắt nhìn một vòng căn phòng lờ mờ ánh sáng. Bên kia cũng có một bệ-xi-măng” tương tự, có lẽ sẽ dành cho một người nào đó nữa. Đây là phòng giam cho những tử tù vừa qua vòng sơ thẩm của mọi tội phạm, từ hình sự đến chính trị. Qua chiếc cửa sổ duy nhất bằng vài thanh sắt ấp chiến lược ghép lại, mỗi cây cách nhau gần một gang tay, Công có thể nhìn thấy một khoảng sân nhỏ, hay một mảnh bầu trời xa trên cao. Không gian và thời gian của những con người ở đây đang thu hẹp lại. Cuộc đời vốn ngắn ngủi nhưng với họ thì không hề có ngày mai nữa.

Vài ngày sau, người quản trại mở cửa, đẩy vào phòng Công một người đàn ông trạc năm, sáu mươi, chỉ cho ông ta chiếc giường-xi-măng đối diện Công đang nằm. Công thầm nghĩ, lại có thêm bạn, đỡ buồn. Anh ngồi dậy – chào người đàn ông: “Anh phạm tội gì mà “chui” vào đến tận phòng nầy vậy?”

– Vượt biên. Còn chú mầy?

Giọng nói lơ lớ, không rõ của gã, làm Công nhận ra ngay gã là một “Ba Tàu”. Trông gã hơi ngớ ngẩn, hiền từ. Công nhếch môi, cười: “Chống nhà nước. Tử hình!”

Sống chung được gần tuần lễ, một buổi sáng – khoảng 3 giờ, gã thức dậy sớm như mọi ngày, nhưng lại bước sang giường của Công ngồi, nói tỉnh bơ: “Tôi thấy Đức Quan Âm ngồi trên đầu giường anh, đưa tay vuốt trán anh. Anh không chết đâu!”

Công khẽ cười: “Tội chống nhà nước, phản động của tôi như vậy, đã thành án sơ thẩm tử hình, sao lại không chết được? Ông nói nghe lạ quá!”

Gã chỉ nói thêm một câu: “Không chết, không chết đâu!’ rồi sang giường của mình, nằm im lặng, chờ mở cửa để đi làm công việc vệ sinh hằng ngày. Hai cái bô to đã đầy phân và nước tiểu cả ngày hôm trước còn để ở góc phòng, đang bốc mùi.

Lời nói đơn giản, thoáng qua của người bạn tù “Ba Tàu’ như có một mãnh lực vô hình, rất bất ngờ và tự nhiên, cứ ám ảnh Công mãi từ buổi sáng sớm hôm ấy. Suốt ngày đêm, ngoài lúc ngồi nhẩm học thêm các trang của quyển tự điển Anh văn “The Vest Pocket Dictionary” của vợ gởi vào cho, theo đề nghị của anh – Công thường nằm yên, thầm nguyện cùng Mẹ Quan Âm nếu cứu cho anh sống, cho anh làm được chút gì cho gia đình, cho người thân và mọi người chung quanh, thì anh vô cùng tạ ơn; nếu không, xin Mẹ Quan Âm cho anh được chết sớm.

Khoảng một tuần sau nữa, người bạn tù “Ba Tàu” chung phòng được tha – Công chia vui với anh: “Tôi tặng anh chiếc áo mới này do chính tay vợ tôi may, để làm kỷ niệm. Tôi không mặc nó lâu được đâu”. Người bạn tù đỡ lấy chiếc áo đã được Công xếp ngay ngắn – “Này, cảm ơn cậu, cảm ơn…” Công cười: “Nhưng anh nhớ cho tôi gởi một lá thư về cho vợ con tôi nhé?” – “Được rồi!”. Công viết vội cho vợ vài dòng thăm hỏi, báo tin sức khỏe, nhưng cốt yếu là viết cho hai con đang ở nước ngoài với người dì nuôi dưỡng, từ sau ngày anh bị bắt giam. Anh dặn dò hai con chăm lo học hành, khuyên đừng chơi bời lêu lõng theo đua đòi ở xứ người mà hư hỏng. Gắng tự học thêm được bao nhiêu, tốt bấy nhiêu, vì sự học bao giờ cũng cần, không bao giờ hết. Xếp vội thư lại, trao cho người bạn tù – Công dặn thêm: “Khi anh đến chợ gặp vợ tôi, anh nên mặc chiếc áo nầy, cô ấy sẽ biết chính là thư của tôi, nhé!” – “Được rồi, được rồi!” – “Chúc anh về với gia đình bình an, hạnh phúc!”

* * *

Công đã nằm chờ ở “khung” tử hình của vòng sơ thẩm gần một năm, đến vòng chung thẩm, Công vẫn bị xử y án. Nghĩa là chết! Khi có phán quyết của tòa, Công và số anh em chung trại, cùng án tử hình, được di chuyển sang khám Chí Hòa, chờ ngày thi hành án lệnh. Biết mình đã nhận cái chết trong tay, nhưng Công vẫn ngày đêm âm thầm khấn nguyện cùng “Mẹ Quan Âm” như đã từng tha thiết tin tưởng bấy lâu. Mỗi ngày qua, là một ngày sống với sự cầu nguyện. Công cảm thấy, sau mỗi lần lắng lòng, khẩn thiết thành tâm nguyện cầu, anh được an ổn hơn, Niềm tin ngày càng sáng hơn. Dường như sau mỗi lần cầu nguyện, Công như thấy được chút tia sáng le lói chiếu rọi vào trái tim khô héo, lạnh lẽo của mình. Lời nguyện cầu như một vị thuốc mầu nhiệm, đã khiến anh vượt qua bao ám ảnh của cái chết, nỗi đau buồn, và thất vọng, dằn vặt thúc giục anh từng giờ. Đồng thời, Công nhận ra rằng, anh còn sống, còn hít thở, còn nhìn thấy đời sống chung quanh, chính là nhờ vào sự cầu nguyện. Một lần, trong lúc thầm khấn, Công đã ước nguyện cùng Mẹ Quan Âm, khi được trở về anh sẽ xây dựng một ngôi chùa, để được gần gũi, ngưỡng vọng, và cúng dường chư Phật. Anh nguyện sẽ trao lại ngôi chùa cho một vị Thầy có đạo hạnh, có nhân duyên với chùa trông coi, để vị ấy trợ duyên lâu dài cho những người muốn tu học, muốn đi vào con đường lành, an vui sau nầy.

Một buổi sáng chủ nhật, Công được người quản trại đến mở cửa, gọi tên: “Anh được phép ra gặp người nhà!”. Công mặc vội áo quần, theo ngưởi quản trại ra khu tiếp tân. Vợ anh, đứa con trai út lên tám tuổi, và người anh cả trên sáu mươi của Công vẫn thường được đến thăm anh, bất thường như vậy, đôi lần trong năm, khi anh còn ở khu trại biệt giam sơ thẩm trước đây.

Đứng cách xa vợ con, và người anh khoảng một mét, Công đăm đăm nhìn con, cố ý không nhìn vợ. Anh không muốn để nàng thấy rõ nỗi đau buồn, gầy xanh hiện rõ trong mắt anh. Anh khẽ cười, trả lời to, rõ ràng những lời hỏi thăm của vợ và con về tình trạng sức khỏe; rồi dặn dò vợ lo chăm sóc con và bản thân, yên tâm chờ anh. Khác với vài lần trước, người anh chỉ nghe, nhìn, và cúi đầu – như cố che dấu những giọt nước mắt chực rơi xuống.

Hết giờ thăm, Công đứng yên, nhìn theo, đưa tay vẫy chào tiễn vợ con và anh đang lững thững từng bước trên con đường hẹp dẫn ra cổng trại. Công đứng đó, nhìn dáng người anh đi xiêu vẹo, như chực ngã, mà nghe lòng quặn thắt. Đứa con trai tám tuổi, không cầm tay mẹ như mọi lần, mà đi thụt lùi, mặt hướng nhìn anh, như cố thu hút hình ảnh của anh lần cuối, với gương mặt đẫm nước mắt tiếc nhớ.

Công quay vội trở về phòng, thoáng nghĩ rằng, đây có lẽ là lần thăm cuối cùng của gia đình dành cho anh. Giọng nói gắng gượng, ngập ngừng của vợ, sự im lặng của người anh, và nhất là đứa con trai quay nhìn khi chia tay như một lần vĩnh biệt. Anh nói với người quản trại đang đi theo sau: “Anh cho tôi mượn cây bút và tờ giấy…”

– Anh định làm gì?

– Tôi làm gì, anh đọc sẽ biết rõ thôi.

Một lát sau người quản trại mang đến phòng giam cho anh cây bút nguyên tử và tờ giấy manh. Công cảm ơn và kê giấy trên giường – bắt đầu viết: “Đơn tình nguyện xin đi bắn”.

* * *

Gần ba tuần nay, khu trại biệt giam phạm nhân nhận án tử hình quen dần với “thời khóa biểu” dành cho họ: Sau 4 giờ sáng thứ 5 nếu không bị mở cửa gọi tên ra đi, thì sẽ sống tiếp được đến sáng thứ 7. Sau 4 giờ sáng thứ 7, không bị gọi tên, sẽ được sống cho đến thứ 5 tuần sau. Phòng của Công đã hai lần được mở cửa gọi tên vào 4 giờ sáng thứ 5 và thứ 7. Lúc bắt tay tiễn người bạn ra cửa – Công đã có lần nói: “Anh vui vẻ đi trước nhé, anh em sẽ theo sau!” Có người đùa: “Nhớ đăng ký cho tôi một hộ khẩu ở dưới đó nhé!” Có người vừa nghe gọi tên qua cửa sổ, đã ngã quỵ, hay đái đầy quần.

Một lần, đúng 4 giờ sáng thứ 7, người quản trại trẻ đi ngang qua cửa sổ, nói lớn: “Anh Công chuẩn bị!” Công quay nhờ người bạn nằm phía trong lấy giúp thau nước, khăn lông, để anh rửa mặt trước khi ra đi. Công làm công việc chuần bị cho mình nhanh chóng, như đã sắp đặt trước từ lâu.

Vài phút sau, người quản trại trẻ lách cách mở cửa, nhưng đến gọi tên người đang nằm phía bên kia, không nhắc đến tên Công. Hôm sau, gặp lại người quản trại trẻ ấy – Công quát lên: “Anh là con gì? Có phải là con người không? Anh đùa giỡn được trên nỗi đau đớn, trên cái chết của người khác như vậy sao?” – Người quản trại vội vàng cầm tay Công – giọng run run: “Xin anh tha lỗi! Tôi biết lỗi rồi! Anh bỏ qua cho…”

Khoảng một tuần lễ sau khi Công nhờ chuyển “Đơn tình nguyện xin đi bắn”, một nhân viên của viện Kiểm sát thành phố, đã đến tận phòng gặp Công. Nhìn anh từ đầu đến chân, ông hỏi: “Nhân viên trại đã đối xử với anh thế nào, mà anh xin tình nguyện đi chết sớm vậy?”

– Thưa, họ vẫn cư xử bình thường với anh em.

– Vậy sao anh không thích sống, muốn chết sớm?

– Tôi không muốn được sống một ngày, mà để vợ con, người thân phải đau buồn lo lắng thêm một ngày. Tôi thà chết sớm để cho người thân chỉ đau khổ một lần, được yên.

– Anh đừng nên nghĩ vậy – ông an ủi, ai cũng cần sự sống, anh nên sống.

Sau buổi sáng bị gọi tên “hụt” – nhất là sau buổi găp người của viện Kiểm sát, hằng ngày Công thầm đọc bài nguyện cầu cho riêng mình:

“Cầu xin Đức mẹ Quan Âm

Dìu con tránh khỏi lỗi lầm thế nhân

Cho con đi trọn đường trần

Tai qua nạn khỏi, thân tâm an toàn

Con cầu xin Mẹ cho con

Chung lo việc nghĩa, vuông tròn trả xong

Quê nhà vui bước thong dong

Ơn sâu ghi tạc một lòng chẳng quên.

Con dâng lên Mẹ báo đền

Trọn niềm tôn kính – tạ ơn Mẹ hiền!”

* * *

Công nhận được lệnh ân xá án tử hình, chuyển về trại cải tạo lao động. Mười lăm năm sau, qua nhiều đợt được xét ân xá, miễn giảm mức án chung thân, anh được trả về lại với gia đình. Ước nguyện xây một ngôi chùa vẫn còn là một ước vọng mà Công ngày đêm đang nỗ lực thực hiện.

Tháng 6.2018

MANG VIÊN LONG

 

*** Chỉ Còn Lại Nét U Buồn

Thủy Điền

 HoNhu-HVL-1

   Ngày về, qua mấy ngõ, định ghé thăm Mây sau những ngày xa cách. Đứng lặng, nhìn căn gác cửa đóng, hoang tàn, hiu hắt tôi đoán được nàng có lẽ đã ra đi từ dạo ấy.

       Thời gian tuy lâu, nhưng cũng mau thật mới đó mà đã mười tám năm rồi. Nhớ ngày ấy hai đứa còn học chung, thỉnh thoảng một vài hôm tôi hay đạp chiếc xe đạp đến thăm nàng. Trước sân nhà dưới bóng cây Trứng cá có cái bàn nhỏ cũ kỷ và hai chiếc ghế, nàng hay cùng tôi nhâm nhi tách nước và kể nhau nghe những câu chuyện vui, buồn cũng như những sinh hoạt hàng ngày trông cuộc sống thật là lý thú.

       Ngày qua ngày- tháng qua tháng tình bè bạn bỗng dưng trở thành tình yêu mà cả hai không hề hay biết. Nàng ngoài việc học thường hay quan tâm đến tôi bằng mọi thứ và tôi cũng thế. Cảnh chiếc xe đạp của tôi dựng phía trong cổng rào nhà nàng dần dần như quen thuộc. Hỡi thiếu vắng nó một giây, một phút là hình như nàng khó chịu trong lòng. Tôi thương nàng nhất là khi nàng với gương mặt giận dỗi tôi và thốt lên câu “Sao anh đến trễ thề “ Rồi quây mặt nhìn về nơi khác.

       Sau ngày đất nước thống nhất, gia đình tôi chuyển về quê nội, tôi theo cùng và từ đó xem như tôi tạm xa nàng. Đêm ấy giữa tháng tư trời không mưa, oi bức mà bên cạnh tôi dường như thác đỗ. Những giọt lệ tình, những giọt lệ chia xa cứ tuôn tràn trên đôi má của nàng, tôi không cầm được những xúc động và cứ mãi ôm choàng nàng thật chặt như không muốn đánh mất một tình yêu mà nàng đã dành cho tôi từ bấy lâu nay. Trong khoảnh khắc tôi luôn tự hỏi? mình có nên đi hay là không. Thương nàng thì nghĩ thế, nhưng hoàn cảnh không cho phép tôi làm điều ấy và cuối cùng tôi phải chia xa.

       Những năm tháng xa xôi nơi phương trời khác tôi thương nhớ mây nhiều lắm. Lòng hứa hẹn một ngày nào đó sẽ trở lại thăm Mây. Nhưng định mệnh trớ trêu, cuộc sống vô tình đã làm cho tôi quên dần những kỷ niệm đẹp và lời hứa ấy, để người tôi yêu phải chờ đợi bao ngày.

       Nơi quê cũ, tôi biết nàng cũng như tôi, cũng mang một nỗi khổ nhớ nhung, những nỗi buồn chan chứa. Nhưng người ta cứ lặng yên quên lãng thì mình phải biết làm gì bây giờ hơn nữa mình là phận gái đành cúi đầu nuốt lệ dưới màn đêm.

       Cảnh cô đơn, lẻ loi tháng nầy qua năm khác, một bông hoa rực nở giữa trời, Bướm , Ong thao lượn. Mây đi lấy chồng và về tận mút trời xa. Cha mẹ qua đời, căn nhà được khép lại, héo mòn theo thời gian, cây Trứng cá trước sân càng già- càng già đi, che khuất chiếc bàn cũ kỷ, chôn lấp những kỷ niệm ngày nào bằng những nét rêu phong.

       Riêng tôi vẫn chờ đợi em, dù vô tình, quên lãng. Mười tám năm trời trở lại, không ai hiểu hơn tôi Mây dù muốn, dù không nàng cũng sẽ lấy chồng để tạo hạnh phúc riêng cho đời mình. Dẫu biết thế, tuy đã gần nữa cuộc đời tôi quây lại thì thật đúng như những gì mình dự đoán căn gác xưa chỉ còn lại nét u buồn.

 16-06-2018

*** ĐỨA CON LAI….HẢI TẶC

Nguyễn Cát Thịnh

30-4tobucket.jpg

Xong tú tài, tôi vào Saigon cư ngụ trong đại học xá Minh Mạng Chợ Lớn để tiếp tục việc học. Sau này có một anh sinh viên dự bị y khoa được xếp chung phòng.
Khi ra trường phải động viên vào quân đội, tôi nhường anh chân gia sư dạy kèm 2 học sinh trung học, một trai một gái. Họ là con của một ông Trung Tá bộ tổng tham mưu và bà chủ một công ty nhập cảng vải lụa.

Cuộc biển dâu xảy ra. Tôi và ông Tr/T đều bị nhập trại “tập trung học tập cải tạo”. Tôi “học tập” một thời gian không dài lắm, có lẽ vì cấp bậc nhỏ ít nợ máu. Ông Tr/T bị chuyển ra trại tù miền Bắc.

Được trả tự do nhưng không việc làm, lê lết ở các quán cà phê vỉa hè, một ngày nọ tình cờ gặp lại bạn. Bấy giờ anh đã là bác sĩ tại một bệnh viện thuộc quận nhất của thành phố.
Và câu chuyện bắt đầu từ đây.
Chuyện kể, khi cô học trò nhỏ không còn nhỏ nữa thì quan hệ giữa cậu cựu gia sư và tiểu thư tân sinh viên văn khoa đã bước vào giai đoạn anh anh-em em (âu cũng là điều dễ hiểu). Gia đình cả hai bên đều hoan hỉ, trông đợi ngày đại đăng khoa và tiểu đăng khoa.
Thế nhưng thời cuộc đã đảo lộn tất cả. Ông bố Trung Tá đi không biết ngày về. Bà mẹ mất cơ sở kinh doanh. Cậu con trai lớn tìm lãng quên trong những con hẻm nhầy nhụa. Tiểu thư tuy vẫn còn đậm nét tiểu thư nhưng chớm trầm cảm vì cuộc sống đã nhuộm đỏ giấc mơ hồng. Cậu bác sĩ chung tình đeo thêm gánh nặng phiền muộn.
Rồi phong trào vượt biển rầm rộ khắp nơi.
Trong lần đi thăm nuôi cuối cùng, bà Trung Tá đưa tiểu thư và cậu bác sĩ ra tận trại tù Hoàng Liên Sơn dò hỏi ý chồng. Ông Trung Tá bỗng trở nên lạc quan sau những năm tháng tuyệt vọng. Ông biết sức khỏe và bệnh trạng của ông, biết ngày tàn không còn xa. Ông không những đồng ý với vợ mà còn mong vợ phải thực hiện chuyến đi cho các con bằng mọi giá.
Bà đã được cha mẹ cậu bác sĩ thuận kết sui gia. Nhân tiện gặp ông, bà và ông tác thành luôn cho đôi trẻ. Đối với cả hai gia đình, họ đã nên duyên vợ chồng.
Ông xin các con hứa, trong bất kỳ hoàn cảnh nào, lúc vui buồn hay lúc cùng cực cũng phải gắn bó, không được chối bỏ nhau. Đôi trẻ kín đáo cúi đầu quỳ lạy thay lời thề chung thủy.
Bạn tôi cùng vợ và người anh vợ đăng ký chuyến đi bán chính thức của người Hoa. Khi ra đến bến bãi một sự việc diễn ra ngoài dự tính của nhóm tổ chức. Chỉ những người Hoa chính gốc mới được nhận. Người Hoa giả mạo bị loại ra.
Chủ tàu là một đại gia có mẹ già mang bệnh kinh niên nên cần thầy thuốc. Hắn hối lộ để xin đặc ân cho hai vợ chồng bạn tôi nhưng họ chỉ chấp nhận một người. Dùng dằng mãi, cuối cùng một mình bạn tôi lên tàu.
Chuyến hải hành tương đối êm ả đưa người chồng đến đảo Bidong Mã Lai. Người anh vợ và người vợ trở về buồn hiu hắt.
Anh may mắn được gia đình một luật sư làm việc trong chính quyền tiểu bang Michigan bảo lãnh qua Mỹ.

Sau hơn 2 năm ôn luyện bài vở, anh được nhận vào nội trú để hoàn tất bằng hành nghề.
Người vợ đi thêm 2 chuyến nữa không thành công.

Chuyến sau cùng chủ tàu gọi đi khẩn cấp. Người anh trai còn mải vui chốn giang hồ không kịp nhận tin, đành đi chuyến sau. Tôi đến chơi đúng thời điểm. Bà Tr/T cho tôi trám chỗ, đồng hành với vợ người bạn.
Đâu có ai ngờ một chuyến đi định mệnh đang chờ đợi!!!
Con tàu chạy vòng vo 2 ngày 3 đêm vẫn chưa nhìn thấy đất đảo như hoạch định. Tàu trôi, trôi như vô tận. Tài công thú nhận không có kinh nghiệm lái đường biển..
Buổi trưa, vừa nhai xong một nhúm cơm và uống một nắp nước do tàu cấp phát thì mọi người dưới hầm nghe nhiều tiếng chạy thình thịch náo động trên boong tàu. Qua kẽ hở, biết tàu đã bị hải tặc xâm chiếm không biết từ lúc nào. Họ hoàn toàn làm chủ tình hình. Trong vòng một tiếng đồng hồ không gặp kháng cự, những tên hải tặc đã đủ thì giờ lục lọi tìm kiếm vàng bạc và giở trò khả ố với những đàn bà con gái nằm la liệt trên sàn tàu mà trước đó đã được ưu tiên dời lên vì kiệt sức.
Sau khi đã chiến thắng được sự sợ hãi tột cùng ban đầu, một số thanh niên còn khỏe mạnh họp lại tính chuyện phản công. Đám hải tặc vẫn còn e dè, chặn cửa hầm chưa dám xuống.
Để chiến đấu, mỗi người tự trang bị vũ khí cho mình. Với kìm búa gậy sắt gậy gỗ, họ phá bật nắp cửa hầm, reo hò vùng lên quyết sinh tử khiến đám hải tặc rúng động. Biết không địch nổi số đông áp đảo, không đợi lệnh, các tên hải tặc chen nhau nhảy xuống biển bơi về tàu của chúng, xả máy rút lui.
Tôi cố tìm nguời vợ của bạn.

Một tên hải tặc mang vết sẹo dài trên vai trái bước ra từ phòng lái đầu hàng. Cô gái trong phòng nằm trên tấm nệm cao su vẫn còn loã thể chính là người tôi tìm.

Một tên nữa cũng chậm chân nên bị bắt giữ vì còn mải nhập thiên thai. Tên có sẹo có lẽ là đầu đảng, xá lạy xin đái công chuộc tội bằng cách hướng dẫn tài công lái đúng đường, cặp vào đảo Tarempa Nam Dương.
Ngoại trừ những người bị nhốt dưới hầm, tất cả đàn ông đều bị trói gô chân tay. Một phụ lái bị giết chết vì kháng cự. Chủ tàu bị ném xuống biển vì cố che chở cho con gái nhỏ sắp bị hãm hiếp. Hai phụ nữ hoảng hốt nhảy xuống biển tự vận để bảo toàn trinh tiết.. Mười một phụ nữ trẻ bị liên tục thay phiên hãm hiếp, riêng người vợ của bạn tôi được tên đầu đảng giành độc quyền. Một nam thanh niên trượt chân rơi xuống biển và năm thanh niên khác bị thương khi chiến đấu. Hai hải tặc bị bắt giữ nhưng trốn thoát khi tàu vừa cặp bến vào đảo Tarempa.
Chính quyền địa phương đưa tàu qua đảo Kuku tạm trú. Một tháng sau được chuyển sang đảo Galang.
Chút vốn liếng tiếng Anh sót lại từ thời trung học giúp tôi tìm được một việc làm trong văn phòng Cao Ủy Tỵ Nạn LHQ. Có cơ hội thuận tiện, tôi tường trình trung thực những gì đã xảy ra.
Tôi thuyết phục các phụ nữ bị làm nhục ra trước ủy ban điều tra quốc tế đối chứng với lời khai của tôi nhưng chỉ có người vợ của bạn và một người vợ của anh thợ máy đồng ý. Tiếng kêu tuy yếu ớt được ghi nhận.
Người vợ của bạn tôi suy sụp khủng hoảng tinh thần cực độ khi biết đã mang thai. Cô nài nỉ tôi tìm mọi cách giúp phá nếu không sẽ tự vận. Tôi thật sự khổ sở giữa nên hay không nên. Nếu nên thì cũng không biết làm sao. Phương tiện y tế hạn chế, dễ gây hậu quả xấu cho người mẹ.
Sau một đêm dài trằn trọc tôi quyết định viết một lá thư kể toàn bộ sự việc diễn tiến trên tàu, nhờ gửi khẩn cho người chồng. Năm tuần lễ sau nhận được hồi âm. Anh cho biết vị luật sư bảo lãnh anh đã tích cực vận động với các dân biểu và nghị sĩ tiểu bang cũng như liên bang lên tiếng với bộ ngoại giao Hoa Kỳ, thỉnh cầu can thiệp trực tiếp trường hợp của vợ anh để xin được đi định cư trong thời gian sớm nhất trước khi tiên liệu xấu xảy ra. Anh tha thiết xin vợ đừng phá thai, sẵn sàng nhận vai trò làm cha.
Tôi đã được phái đoàn Canada chấp nhận và thông báo ngày đi định cư nhưng phải xin đình hoãn.

Sáu tháng vận động đã có kết quả. Anh bạn tôi đi cùng với nhân viên lãnh sự quán HK tại Singapore đến Galang. Qua thủ tục đặc biệt, mang được người vợ đến Mỹ.

Đứa bé được sinh ra trên đất Mỹ với khai sinh mang họ của bạn tôi.
Trong buổi hội ngộ tiệc thôi nôi, vợ chồng anh bạn và người anh vợ cùng tôi đồng thuận tuyệt đối giữ bí mật mọi chuyện để sự phát triển tâm sinh lý của đứa trẻ không bị ảnh hưởng và sẽ lớn lên như một người Việt Nam trong một gia đình Việt tỵ nạn.
Thỉnh thoảng có dịp thăm viếng tôi tưởng như nhìn thấy hạnh phúc thật sự trong gia đình họ. Cậu bé lớn lên trong tình yêu tràn đầy của cha lẫn mẹ.
Sinh kế đã làm giảm tần xuất liên lạc giữa chúng tôi một thời gian. Mỗi năm chỉ còn nhớ đến nhau qua những tấm thiệp xuân. Cho đến một lần, thay vì nhận được thiệp thì là một lá thư dài kể lại tai nạn thảm thương cướp mất người vợ.
Thường ngày người chồng nhắc nhở vợ dùng thuốc đều đặn vì hậu chấn thương trên biển cả khiến người vợ cần được săn sóc tâm thần và tâm lý trị liệu lâu dài.  Lần đó người chồng đi dự hội thảo chuyên môn ở tiểu bang xa nhà.. Người vợ đã bỏ thuốc nhiều ngày, giữa đêm mưa gió đi lang thang ngoài bờ sông không tự kiểm soát được, ngã xuống nước trôi mất tích..
Vợ chết. Bệnh trầm cảm truyền qua anh. Mặc cảm có tội luôn luôn ám ảnh. Anh dồn hết tình thương cho đứa bé, nay đã trở thành một thiếu niên.
Đến lúc đứa con phải xa nhà vì học vấn anh không thể đương đầu với nỗi buồn gặm nhấm, trầm cảm nặng hơn.
Nhiều năm nữa trôi qua. Tin buồn khác lại đến. Bạn tôi qua đời sau một thời gian ngắn nhuốm bệnh. Anh biết bệnh mình trầm kha, nhưng buông xuôi không quan tâm chữa trị, có lẽ muốn gặp vợ để giữ trọn lời thề năm xưa. 

***

Đứa con từ chuyến vượt biển của người vợ bạn tôi  năm xưa nay đã là người lớn. Cha mẹ đều mất. Bác ruột di cư sang Úc theo vợ. Tôi trở thành người thân duy nhất để chàng thanh niên, tức đứa bé ngày xưa, xả tâm tình. Chúng tôi xem nhau như chú cháu.

Những lá thư qua lại làm tôi lây những ưu tư của một người trẻ nghĩ về thân phận mình. Sau đây là một số trích đoạn từ những lá thư của cháu từ nước Mỹ với ông chú, thư viết bằng Anh ngữ, và do tôi trích dịch:
.. . .

Chú ơi! Từ lúc bắt đầu hiểu biết cháu đã linh cảm có điều gì rất nghịch lý trong gia đình cháu. Hạnh phúc như con bướm lượn lờ trên những bông hoa mời chào, ngập ngừng muốn đậu rồi lại bay đi.

Cha cháu chiều chuộng cháu hơn những đứa trẻ cùng trang lứa. Mẹ cháu hay vuốt tóc, hôn cháu trong không gian tĩnh lặng, nói nhỏ, con của mẹ, mẹ yêu con, lặp đi lặp lại.
Nhưng cũng có đôi lúc cháu bắt gặp cặp mắt thất thần của mẹ nhìn ra cõi xa xăm.

Mẹ rất sợ sông, biển. Những kỳ đi nghỉ hè cha luôn luôn tránh vùng biển.
Cha săn sóc mẹ từ miếng ăn giấc ngủ. Mẹ biếng ăn, cha bỏ bữa. Mẹ mất ngủ, cha “hầu quạt”. Mẹ buồn, cha làm hề, dí ngón tay lên trán gọi mẹ là cô bé bướng bỉnh, mẹ mỉm cười gọi cha là cậu giáo khó tính, thế là buồn tiêu tan. Cha biết làm cho mẹ vui vẻ hoạt bát qua những viên thuốc mà cha gọi là thuốc tiên, bắt mẹ uống mỗi ngày (sau này cháu mới biết là những thuốc trị tâm thần).

Mấy đứa bạn của cháu thắc mắc tại sao cha mẹ cháu đều có nước da sáng, cao lớn, mũi thẳng mà cháu thì sậm da, người tròn thấp, cánh mũi to.
Cháu muốn quên mà không quên được cái hình hài không giống ai của cháu. Có phải cháu là con ngoại hôn của mẹ không chú? Hay cháu là con nuôi? Hay là cháu đến từ một hành tinh khác?

.. . .
– Chú không hiểu tại sao cháu lại có những suy nghĩ lẩm cẩm như thế. Chuyện giống hay không giống là quyền của… ông trời. Cố học thành tài nối nghiệp cha.
.. . .
Chú ạ. Cháu báo cho chú tin động…. ông trời. Cháu đã xin thử DNA. Ông trời đã sụp đổ trước mắt cháu! Kết quả đúng như cháu hoang mang lo sợ. Cháu không có liên quan phụ hệ với cha cháu!
.. . .
– Chú hiểu tâm trạng của cháu. Nếu chia sẻ được xin cho chú chia sẻ. Chú nhớ có đọc ở đâu đó:

Cha không được định nghĩa như người đã tạo ra đứa trẻ, mà khác hơn thế, là người dang rộng vòng tay và dành thì giờ nuôi nấng đứa trẻ bằng cả tâm trí và tình yêu. Huyết thống không luôn luôn làm nên người cha. Chữ cha phải thoát ra từ tấm lòng. Ai cũng có thể tạo ra một đứa trẻ nhưng cha đúng nghĩa nhất chính là người đã nuôi nấng đứa trẻ.
Không liên hệ máu mủ không làm cho người cha kém tình phụ tử. Xác nhận một người cha đích thực, không phải ở DNA, mà ở trong trái tim người ấy.

.. . .
Cháu cám ơn chú đã mở mắt cho cháu. Nghĩ lại, cháu không còn vướng mắc chuyện… ông trời nữa. Nhưng chú ơi! Giòng máu đang chảy trong người cháu là của ai? Cháu muốn biết và cháu biết chắc chắn chú biết.
.. . .
Lá thư của chàng trai khiến tôi phải trăn trở thao thức. Không thể chối cãi là tôi và cha mẹ cháu đã giấu diếm nguồn gốc của cháu.

Tôi sẽ tiếp tục giữ hay phá lời thề khi phải trả lời cháu?
Tôi đặt lên bàn cân, một bên là sự đòi hỏi chính đáng của cháu, một bên là lời cam kết với vợ chồng bạn. Cháu đã trưởng thành, có suy nghĩ chín chắn.. Sẽ mang tội với cháu nếu vẫn giữ điều bí mật. Vì thế tôi khấn vái vong linh hai người bạn, xin đựợc giải lời thề giúp tôi thanh thản tiết lộ sự thật, từ tình sử thơ mộng của hai người cho đến thảm kịch trong chuyến đi định mệnh.
.. . .
Cháu xin lỗi đã ngưng liên lạc với chú khá lâu. Cả năm nay cháu đi đi về về giữa Mỹ và Thái Lan.
Cháu thuê thám tử tư quyết tìm ra tên hải tặc đã mang tai họa cho gia đình cháu.
Bà ngoại cháu trước khi qua đời vẫn tin tưởng cha mẹ cháu sống hạnh phúc và rất hãnh diện về đứa cháu ngoại. Ông ngoại cháu đã chết trong trại tù không lâu sau lần thăm nuôi, chắc không yên tâm nhắm mắt.
Ông bà nội từng kỳ vọng ở đứa cháu đích tôn một ngày về vinh quy bái tổ, làm rạng danh dòng họ. Ở bên kia thế giới hai cụ có phẫn nộ vì chi nhánh con cháu chính thống đã thay máu từ đây?

Mọi người đều bị lừa dối.
Cháu có nhờ cô thông dịch viên, đang theo học khoa ngôn ngữ đại học Chulalongkorn, trợ giúp. Cô này có hoàn cảnh hơi giống cháu. Cha là hải tặc hoàn lương. Mẹ là thuyền nhân suýt bị nạn trên biển như mẹ cháu.
Nhờ thám tử và cô bạn, cháu đã tìm thấy và trực diện với người gieo giọt máu oan nghiệt cho mẹ cháu. Bây giờ ông ta đã trở thành một nhà sư, trụ trì ngôi chùa nhỏ trong một làng đánh cá.
Cháu tham khảo các luật sư của Mỹ và Thái với ý định đưa ông ra toà án để đòi lại công lý cho các nạn nhân, trong đó có mẹ cháu.

.. . . 
Chú ơi giúp cháu.
Tiến thối lưỡng nan!

Nếu bị kết án, ông sư già có thể phải vào tù, trả giá cho tội lỗi trong quá khứ. Nhưng điều đó có đổi lại bình an cho cháu không? Nên hay không nên tiến hành thủ tục pháp lý?
Cháu lâm vào tình trạng y hệt như chú khi xưa (phân vân giữa việc nên hay không nên giúp mẹ cháu phá thai).
Chú ơi, có bao giờ chú hối hận vì đã không giúp mẹ trục thai nhi cháu không? Nếu không có cháu trên đời thì sao chú nhỉ? Cha mẹ cháu sẽ sống trong thiên đàng hạnh phúc với những đứa con kết tinh từ tình yêu.

Chú có nghĩ rằng cháu đang nuôi đau khổ vì nan giải?

Chú ơi, cháu là ai?
Việt Nam hay ngoại tộc Việt Nam?

Thái Lan ư? Ô nhục!
Mỹ ư? Chỉ trên giấy tờ!

Những đứa con lai Mỹ dù có bị kỳ thị nhưng vẫn không bị khước từ giòng máu Việt. Còn cháu, cháu có đựợc cái hãnh diện giới thiệu với mọi người “tôi là người Mỹ gốc Việt”?
Cháu muốn ra biển hét thi với sóng, gào lên, hỏi ông trời! Tôi là ai? Tôi là ai? Tôi là ai?

.. . .
– Chú rất thán phục sự quyết tâm và ý chí của cháu. Có lương tâm dẫn dắt, cháu hãy đi theo, làm những gì cháu thấy nên làm. Nếu cháu muốn được tư vấn thì đừng chê quan niệm lỗi thời của chú nhé.

Thời của cha mẹ cháu cũng như chú, không thiếu những chứng tích của tội ác man rợ.  Cũng không thiếu những chứng tích đau thương bi thảm. Trong số này, có số phận của những đứa con lai hải tặc.
Người ta thường tìm cách che dấu thứ mà người ta muốn quên. Nhưng cháu, một trong những đứa con đó, đã dũng cảm nói lên tiếng nói của con người, bình đẳng như mọi người của thế gian này.
Giáo lý Phật Đà dạy ta dùng từ bi và tha thứ để đối phó với nghịch cảnh. Lòng từ bi không chấp nhận hành động sai nhưng có thể tha thứ cho người làm sai.
Chính cháu là người đau khổ nhất, không được gì, đúng không? Mong cho ông sư hải tặc rục xương trong tù? Tất cả chỉ làm tinh thần cháu kiệt quệ.
Cháu ạ, Kinh Pháp Cú 5 có câu:
Hận thù diệt hận thù,

Đời này không có được,
Từ bi diệt hận thù
Là định luật ngàn thu.

Có phải cháu muốn tìm sự bình an? Nếu cháu chưa sẵn sàng mở lòng bao dung thì cũng đừng để tâm bị xáo trộn. Tâm là cốt lõi của cuộc sống. Với tâm thanh tịnh thì hạnh phúc sẽ tìm đến. Với tâm bất ổn thì đau khổ sẽ bám không rời.

Vị sư già cũng đi tìm bình an như cháu. Câu kinh tiếng kệ là những tiếng than khóc tạo thành một vòng kín vô hình nhốt ông. Ông ta đang thi hành hình phạt nặng nề nhất của lương tâm. Cứ để ông ta thụ án. Cháu đâu cần phải cố sức bắt tội nguời có tội. Vào tù hay thoát khỏi tù là quyền của…ông trời!
.. . .
Thưa chú,
Chú đã giải tỏa đám mây u ám vần vũ trên đầu cháu. Cho cháu thấy ở phía trước một con đường sáng sủa hơn. Hành trang đeo trên vai cũng nhẹ hơn.
Cháu hối tiếc những ngày còn cha mẹ, cháu đã không mang đến cho các người tiếng cười hạnh phúc. Không có dịp thầm thì bên tai các người, cha mẹ ơi con yêu cha mẹ.
.. . .
Cha cháu đã đón nhận cháu như một quà tặng quí giá của tạo hoá. Mẹ cháu cũng mang nặng đẻ đau như các bà mẹ khác. Chú tin rằng ơn này còn nặng hơn ơn nghĩa sinh thành.

Phải vinh danh những người cha vĩ đại có trái tim thánh. Phải cúi đầu ngưỡng mộ và cảm thông cho những người mẹ bất hạnh. Người mẹ can đảm, mạnh mẽ đứng dậy sau khi bị vùi dập, cùng với người cha cưu mang, nuôi nấng sinh linh “lạ”, thay giòng máu ô nhiễm trong hài nhi bằng giòng máu vô nhiễm của tâm hồn.

.. . .
Chú đọc cho cháu thống kê của LHQ, tìm thấy trong thư viện, để cháu có cái nhìn tổng thể.

Khoảng 839,000 người Việt Nam đã vượt biển trên những chiếc thuyền mong manh từ 1975 đến 1997. 
Phỏng chừng 300,000 đến 400,000 người không đến được bến bờ tự do.
Chỉ riêng năm 1981 Cao Ủy Tỵ Nạn LHQ báo cáo: 15,479 thuyền nhân đến Thái Lan đi trên 452 con tàu. 
Trong đó 349 tàu đã bị hải tặc tấn công, trung bình mỗi tàu 3 lần. 578 phụ nữ bị hãm hiếp. 228 phụ nữ bị bắt cóc. 881 chết hoặc biệt tích.
Con số thai nhi do hải tặc không được báo cáo chính xác vì bản chất phụ nữ Việt hiền lành, chịu đựng. Đa phần do xấu hổ nhục nhã nên không khai báo.

.. . .
Cháu đoán, những bào thai ấy nếu sống sót bây giờ đã trở thành những thanh niên, trung niên bằng hoặc hơn tuổi cháu. Họ có thể đã lập gia đình và có con cái.

Chú ơi, có ai mang cùng tâm trạng như cháu? Hỏi mãi một câu hỏi “Tôi là ai”?

.. . .
Thảm trạng lịch sử đã sang trang chưa? Có nên hâm lại chuyện cũ không? Chú không biết.

Tội ác, theo thời gian, có thể dần dần bị quên lãng nhưng chứng tích tội ác là những đứa con lai… hải tặc hiện hữu khắp nơi.
Chú nêu vấn đề với cộng đồng, mong câu hỏi “Tôi là ai?” của cháu sẽ được trả lời.
Bằng lòng với số phận? Sống để bụng chết mang theo?

Nghĩ sao?

30/04/ 2018

Nguyễn Cát Thịnh

*** Trở Cờ

Thủy Điền

 

00cogai hinh ve   Hôm nay, người hắn rất lạ hơn mọi khi, trong rất sạch sẽ, ăn mặc chĩnh tề, đầu chải tém, miệng nhe cái hàm răng nửa giả, nửa thật, hát vu vơ cười lia lịa như mới vừa trúng số. Thường thường sáng sớm bước chân vào hãng hắn ít chào hỏi ai, ngược lại hôm nay gặp ai hắn cũng bắt tay vui vẻ, làm mọi người rất ngạc nhiên và sững sốt. Rồi tự hỏi? Cái thằng nầy hôm nay chắc ăn trúng một quả gì đấy.

      Hắn là người có gia đình, có vợ, có con đàng hoàng, nhưng bấy lâu nay vì vui tính, đa tình hắn lẹo tẹo với cô hàng xóm của hắn. Hồi đầu hắn chỉ nghĩ vui qua loa rồi đường ai nấy đi, chuyện ai nấy làm, nhà ai nấy ở. Nhưng vì ham vui nên chuyện tình cảm càng ngày càng lúng sâu mà không thể nào thoát ra được.

      Nàng cũng thế là người phụ nữ không chồng mà lại có con, nàng quen hắn qua tình hàng xóm, gặp nhau như ăn cơm bữa. Trong những lúc giao du, vui, cộng nét hài hước, quả tim hắn đã vô tình để lọt vào mắt nàng và từ đó hai người đã có những chuyến qua, lại vượt đèn đỏ bất thường. Với những lần ấy nàng cũng nghĩ cạn cợt như hắn. Ai dè ………………………!

      Câu chuyện xảy ra khá lâm ly trong nhiều năm, cũng may là vợ hắn chưa một lần hay biết. Một hôm ngồi uống bia một mình bên Bankon, gương mặt hắn trầm xuống, suy nghĩ và thầm bảo: Đàn ông như hắn là hạng người không tốt, đáng được khinh bỉ, hổ thẹn với vợ, con. Hắn quyết định phải xa lánh người đàn bà ấy và trở về với cuộc sống bình thường được. Nhưng phải làm sao?

      Thường thì vài ba ngày họ gặp nhau một lần hay điện thoại. Nhưng cả mấy tháng nay hắn cố tình lẫn tránh nàng và nàng cũng chẳng ngó ngàng gì với hắn. Hắn ngỡ dần dần mọi chuyện có thể đi qua, nhưng cũng cần thời gian. Cơn vui chưa dứt thì tai nạn tình ái đã đến.

      Bỗng dưng đang làm việc, hắn nhận một cú phon thật choáng váng:

– Hôm qua anh đi phố với vợ anh phải không ?

– Đâu có, anh ở nhà mà.

– Đừng chối, em thấy tất cả, mua cái gì và làm cái gì, tình quá chứ.

– Em nói oan cho anh rồi, chắc em thấy ai rồi hoán gà lên.

– 100% đừng chối nữa, anh hãy mau sắp xếp mà dẫn em đi phố ngay đi, em đang cần một ít hàng.

– Thú thật, anh không quen đi phố, hơn nữa anh không có thời giờ, mong em hiểu, khi khác đi nhé.

– Bao giờ ?

– Anh sẽ gọi cho em sau, còn bây giờ anh phải làm việc. 

– Nói phải nhớ nhé.

– Chào em.

      Một tuần sau, hắn gọi cho nàng, rồi nói vòng vo tam quốc nội dung là tránh né việc đi phố. Nàng tức giận :

– Thôi, thì anh đừng bao giờ gặp mặt hay điện thoại cho tôi nữa, tôi sẽ không bao giờ tin anh. Hắn giả vờ:

– Có gì đâu mà nóng giận thế em.

Tiếng điện thoại bỗng dưng cúp ngang chỉ còn nghe Tít….tít… tít. Hắn nửa vui, và nửa sợ. Vui là gì mọi chuyện sẽ được giảm dần đi, sợ là không biết nàng sẽ quậy vào lúc nào mà còn tránh đỡ.

      Buổi chiều cuối tuần, đang vui trong bàn rượu với bạn bè, nàng gọi đến. Hắn xin phép và ra phía ngoài để nói chuyện với nàng.

– Em muốn ngày mai anh đi phố mua sắm cùng em có được không?

– Tuần rồi anh đã nói là anh sẽ sắp xếp để đi, em cúp điện thoại ngang hông và không cần anh nữa. Nếu không cần nữa thì gọi lại làm gì. Hay nhất là ta nên chia tay ngay, chuyện đi phố, đi phường bây giờ không còn trong đầu anh nữa, em đừng chờ đợi cho tốn công.

– Khốn nạn. Rồi cúp điện thoại.

      Khi gọi điện thoại xong, hắn trở vào bàn nhậu, nhậu tiếp và mừng thầm, thế là mình đã Trở cờ. Hy vọng những điều tốt đẹp sẽ đến bên tay.

Thủy Điền

06-05-2018

 

*** CHÀNG LÙN NỂ VỢ

Thư viện của bài

This gallery contains 1 photo.

Về làm hàng xóm với nhau từ năm 1998, cũng ngót ngét 20 năm. Gặp nhau vẫn tươi cười chào hỏi, đẩy đưa mấy câu thân tình chẳng động chạm tới ai, kiểu con gà nhà em sáng nay bị cúm, con lợn nhà anh tối qua biếng ăn… Đôi khi hứng chí còn đấm lưng nhau thùm thụp, rồi nắc nẻ cười, có lúc bá vai nhau, mời nhau chén trà, điếu thuốc, chú chú anh anh ầm ĩ cả góc phố. Ấy vậy mà anh tên gì, bao nhiêu tuổi, nhà số bao nhiêu lão cũng chịu. Không phải lão ra vành ra vẻ, vì lão chả có gì để lên mặt ta đây. Lão không biết tên tuổi của anh, số nhà của anh chỉ vì bản tính của lão vốn ngại giao tiếp, lại thêm trí nhớ có vấn đề, cứ nhớ nhớ quên quên nên càng ngại quan tâm lý lịch của người hàng xóm. Lão sợ chuyện ông A “muốn yêu vợ” nhưng bị vợ “cấm vận”, lâu ngày, quá bí bách nên đêm đến lẩn ra đường Giải Phóng tìm mấy em có thói quen “tạo dáng bên gốc cây” để “tâm sự” cho “thoáng trên thông dưới” nhầm thành chuyện ông A “cấm vận” vợ khiến bà vợ bứt rứt phải nhảy sang nhà hàng xóm, thách ông hàng xóm “có giỏi thì đọ vòng eo” xem eo ai nhỏ hơn… Nếu thế thì thành to chuyện. Loạn phố Nguyễn Văn Trỗi. Lão chỉ có mỗi một cái đầu, chả dại. Tiếp tục đọc

*** CHUYỆN NGỦ

ĐẶNG XUÂN XUYẾN
AO TRANG MOON*
Vâng. Chuyện cũng lâu rồi. Ngày tôi còn bé lắm. Có lẽ bé hơn cu con nhà tôi bây giờ chừng ba, bốn tuổi. Ngày ấy, lứa chúng tôi tồ lắm, đâu khôn ranh như lũ trẻ bây giờ. Tôi là thằng được coi là ma ranh nhất nhóm nhưng vẫn nhiều ngù ngờ, vẫn tin con trai con gái nếu có tình cảm với nhau thì chỉ cần nắm tay nhau thôi là sẽ có em bé. Chả thế mà tối ấy, khi cái Kim trượt chân ngã xuống mương, tôi giơ tay kéo nó lên mà về nhà, cả đêm tôi mất ngủ. Tôi cứ lo ngay ngáy nhỡ cái Kim sinh em bé thì sao? Liệu tôi có bị bố đánh đòn vì tội tí tuổi đầu đã hư hỏng? Con Kim còn tệ hơn, cả đêm nó khóc vì sợ phải làm mẹ khi còn đang tuổi đến trường. Sáng sớm, nó đã chạy sang nhà tôi, thút thít bắt đền nếu nó sinh em bé thì tôi phải cưới nó làm vợ. Nó sợ mang tiếng chửa hoang lắm. Tôi cũng lo nhưng vẫn liều an ủi: – “Chắc không có em bé đâu vì tớ cầm tay cậu hờ lắm. Tớ thấy bảo phải nắm tay thật chặt thì mới sinh được em bé.”. Con Kim nghe vậy khóc rống lên: – “Chết rồi. Cậu nắm hờ nhưng tớ nắm chặt lắm. Không nắm chặt thì cậu kéo tớ lên thế nào được? Năm nay tớ mới mười hai tuổi rưỡi, làm mẹ thì xấu hổ lắm.”. Tôi thần người ra vì sợ. Rồi mắng nó: – “Tất cả là tại cậu. Tự dưng lại trượt chân ngã xuống mương làm tớ phải kéo lên. Tớ không biết đâu. Cậu sinh em bé thì kệ cậu. Tớ không biết.”. Con Kim càng rống lên khóc. Tôi càng bối rối. Thằng Chủ từ đâu xuất hiện, câu được câu chăng, nó hỏi: – “Ai sinh em bé? Thằng Thi hay cái Kim.”. Con Kim bảo: -“ Bắt đền Thi đấy. Tớ không biết đâu.”. Thằng Chủ hét toáng lên: – “Ối làng nước ơi thằng Thi làm cái Kim có em bé.”. Tôi vội bịt mồm Chủ lại, hét to: – “Thằng Chủ làm con Kim có em bé.”. Chủ trố mắt nhìn tôi, lắp bắp: – “Tớ á?”. Tôi bảo: – “.”. Chủ gặng: – “Thật không?”. Tôi bảo: – “Thật.”. Chủ đuỗn mặt ra: – “Bao giờ?”. Tôi nhìn Kim, cầu khẩn: – “Hôm nọ, Kim nhỉ?”. Kim gật đầu, mếu máo: – “Ừ. Hôm nọ.”. Chủ ngồi bệt xuống, thờ thẫn: – “Chết tớ rồi. Sao giờ tớ mới biết.”. Rồi đứng dậy, thất thểu vừa đi vừa lẩm bẩm: – “Kim làm Chủ có em bé rồi, làng nước ơi...”
*          *
*
Vâng. Ngày ấy chúng tôi ngây ngô lắm. Thế nên, cả Chủ, cả tôi, cả cái Kim đều tin là cái Kim sẽ có em bé. Chủ thì nghĩ do Chủ. Tôi thì nghĩ do tôi. Còn Kim thì lúc nghĩ do tôi, lúc lại cho là do Chủ. Chúng tôi họp bàn, tìm cách làm cho Kim không sinh được em bé. Thằng Chủ, tưởng cù lần mà thông minh. Không biết nghe ai, nó đưa ra ý kiến: – “Tớ nghe bảo có chửa thì tránh đi lại, vận động nhiều để giữ thai, không bị long thai nên Kim vận động thật nhiều vào để long thai. Sẽ không sinh được em bé.”. Kim hớn hở nhưng vội ngắn tũn mặt lại, vì Kim là con một, bố mẹ thoát ly, làm gì có việc để Kim làm. Bóp trán nghĩ mãi, Chủ vẫn là người thông minh nhất khi đưa ra ý tưởng: – “Nhảy dây. Đúng rồi. Kim chịu khó chơi nhảy dây, cũng là vận động nhiều đấy.”. Thế là Kim sáng nhảy dây, trưa nhảy dây, chiều nhảy dây, tối nhảy dây. Tóm lại, cả ngày Kim nhảy dây. Được mấy ngày, nhảy hăng quá, Kim phải vào viện cấp cứu.
Kim nằm viện. Tôi và Chủ lo lắm. Thỉnh thoảng, Chủ lại thắc mắc: – “Này. Tớ với cậu giờ mà làm bố trẻ con thì thế nào nhỉ? Hôm qua, tớ vẫn còn tè dầm… Chẳng lẽ, sau này vừa làm bố vừa cai tè dầm?.”. Tôi lêu lêu Chủ, mười ba tuổi rồi còn tè dầm, nhưng bụng bảo dạ: – “Mình khác đếch gì nó, mấy hôm trước, cũng tè dầm…”
*          *
*
Không biết nghe ai, Thuận biết chuyện của chúng tôi, nhắn tôi đến nhà, Thuận bày cho cách. Tôi hăm hở rủ Chủ cùng đến.
Về vai vế thì tôi phải gọi Thuận là cậu xưng cháu nhưng Thuận khôn lắm, toàn gọi tôi là anh xưng em, rất ngoan, lại khen tôi đẹp trai, tôi sống tình cảm, tôi luôn luôn là số một, nghe sướng tai lắm, thích lắm… Thế là xay thóc, quét nhà, nấu cơm… những việc của Thuận, hàng ngày, tôi trốn mẹ vào nhà thay Thuận làm hết.
Thuận giỏi ăn vạ, khóc nhè, mà khóc dai lắm, mất mỗi viên bi thôi mà Thuận có thể ê a khóc từ sáng tới trưa, ăn cơm xong lại mè nheo ăn vạ đến tối. Thế nhưng Thuận giỏi chuyện yêu đương lắm. Nghe đồn, Thuận biết cách nắm tay con gái mà không sợ sinh em bé. Mấy lần, Thuận gạ, dạy cách cầm tay con gái thoải mái mà không sinh em bé, tôi mắng: – “Vớ vẩn. Tào lao.”… nên không học, giờ thấy tiếc. Gặp, Thuận bĩu môi nhìn tôi, kiêu lắm: -“Chết chưa. Đĩ sớm vào. Người ta gạ, bảo cho cách cầm tay con gái thế nào mà không có chửa thì lại mắng là tào lao, vớ vẩn. Giờ ân hận rồi chứ gì? Đây đếch còn hứng để dạy nữa. Mai, vào xay hết mấy bao thóc kia, hứng thì đây dạy cho. Thế. Nhé.”. Thuận nguây nguẩy cái mông, đi vào, đóng sập cửa lại, nhìn rõ ức.
Chủ tức, chửi đổng: – “Mẹ. Ông kễnh. Về.”. Tôi bảo: – “Chịu khó chiều ông kễnh này để lấy cách làm con Kim hết chửa rồi tính sau. Chứ … Nó không bày cách thì tớ với cậu phải thay nhau làm chồng cái Kim à?”. Chủ làu bàu: – “Ừ… Nhưng nhìn cái đít bọ ngựa của nó ngoay ngoáy như thế, tức. Mẹ. Ông kễnh.”.
*          *
*
Kim nằm viện ba ngày thì về.
Tôi kéo Chủ đến thăm dò, nghe ngóng. Chú Hải, bố Kim khen chúng tôi nhiều lắm, rằng “các cháu bé vậy mà sống tình cảm”, rằng “các cháu là bạn tốt của cái Kim”, rằng “chú cảm động lắm”, rồi khen tôi đẹp trai kiểu thư sinh, lãng tử, sau này ối gái theo. Chú lại khen thằng Chủ đẹp trai kiểu lực điền, vạm vỡ, sau này, con gái nhà nào làm vợ thằng Chủ chắc sướng lắm, hạnh phúc lắm. Rồi chú nói, vài năm nữa, thằng nào thích làm con rể chú, nói với chú, chú sẽ gả cái Kim cho. Chủ sốt ruột, cấu cấu tôi, ra hiệu nhanh nhanh chuồn. Đau quá, tôi nhăn mặt. Chú thấy vậy, hỏi: – “Thi sao thế?”. Luống cuống, tôi bật ra câu ngớ ngẩn: – “Chú ơi! Kim sắp có em bé à?”. Chú nhìn tôi, cười: – “Cô chú già rồi, không sinh em bé nữa.”. Vừa lúc đấy, chú Kỷ Chủ tịch, từ ngõ vào, cất giọng nghiêm nghị: – “Ai vừa nói chuyện sinh đẻ thế? Chú Hải định sinh thêm em bé nữa à? Chết! Chết! Sao lại nói chuyện đẻ đái trước mặt mấy thằng trẻ con thế này? Rồi làm hỏng hết cả thế hệ tương lai của đất nước. Các cháu biết không. Con trai con gái, chỉ cần nắm chặt tay nhau lâu lâu là có chửa, sẽ sinh em bé. Như thế là mất tư cách đạo đức, như thế thì loạn xã hội, sẽ không ổn định được xã hội nên các cháu phải quán triệt tư tưởng...”.
Tôi vội “vâng ạ” rồi kéo Chủ chạy. Loáng thoáng nghe tiếng chú Hải: – “Dạ, đẻ đái gì đâu. Em mời bác vào nhà uống nước.”. Rồi tiếng chú Kỷ oang oang: – “Này. Hai thằng kia. Con trai với nhau cũng không được nắm tay nhau như thế. Lâu, rồi biến thái, thành đồng cô cả lũ đấy.”. Tôi vội buông tay. Chủ nhăn mặt, lo lắng: – “Này. Hôm nọ thằng Thuận cứ nắm tay tớ, tay cậu lâu như thế, không biết bọn mình có bị biến thái không nhỉ?”.
*          *
*
Thuận gửi thư, nhắn: “Thi ơi vào nhà Thuận. Có việc quan trọng lắm. Chuyện của Kim đấy.”. Tôi hộc tốc vào nhà Thuận. Sốt ruột. Thuận bắt tôi xay hết 3 bao thóc, quét dọn nhà ngang xong mới ê a: -“Chuyện của cái Kim, anh Thi đừng lo, em đảm bảo không có em bé đâu.”. Tôi hỏi: -“Sao biết?”. Thuận cười: – “Anh có ngủ với Kim đâu mà có em bé.”. Tôi gật đầu: -“Ừ. Tớ chỉ kéo Kim đứng dậy thôi chứ chưa bao giờ ngủ với Kim.”. Thuận cười cười: -“Anh biết ngủ với Kim là ngủ thế nào không? Như anh thỉnh thoảng ngủ với Thuận á? Không phải đâu. Như thế không phải là ngủ. Phải thế này này…”. Thuận ghé tai tôi, thầm thì, thầm thì. Tôi toát mồ hôi: – “Thật à? Sao Thuận biết nhiều thế? giỏi thế?”. Thuận vênh mặt: – “Chuyện! Thuận là hạt giống đỏ mà. Anh đừng bép xép với ai nhé. Hôm nào, em bảo thằng Dậu, con chú Kỷ Chủ tịch dạy anh vài chiêu ngủ với gái mà không dính bầu. Thằng ấy giỏi khoản đấy lắm.”. Tôi ngắc ngứ: -“Chắc gì thằng Dậu sẽ chịu bày cho tớ.”. Thuận bĩu môi: -“Bố bảo nó dám không bày cho Thi. Bố nó lên chức Chủ tịch là do một tay bố em cơ cấu đấy. Dám cãi em á!.”
Tôi tủm tỉm, gật gật đầu, mơ màng…
Thuận bê thêm mấy bao thóc nữa, đặt cạnh cối xay, nheo nheo mắt nhìn tôi, cười…
*          *
*
Sáng sau. Tôi hẹn Chủ ra đầu làng nói chuyện.
Tôi kể lại lời Thuận khẳng định Kim sẽ không sinh em bé, nên Chủ đừng lo. Chủ đay đảy: – “Chắc không? Hay cậu bị thằng Thuận lừa. Rõ ràng, chú Kỷ Chủ tịch bảo con trai nắm tay con gái lâu lâu là có chửa? Mà cậu cũng nghe thấy còn gì? Chẳng lẽ chú Chủ tịch nói tào lao? nói láo?”. Tôi bảo: -“Thật đấy. Tớ tin Thuận không lừa đâu.”. Rồi tôi kể chi tiết những chuyện Thuận nói, Thuận mô tả, Thuận ví dụ. Chủ đỏ mặt, lấy tay che mặt, kêu lên: – “Eo ơi. Kinh. Cậu đừng kể nữa! Mất đạo đức lắm.”. Rồi Chủ bực tức, đứng dậy, bỏ tôi ở lại, về.
Tối đấy, Chủ vào nhà Thuận, năn nỉ Thuận đưa sang nhà Dậu “bái sư học ngủ.”.
Tôi nghe kể lại, tối đó, Chủ phải xay hết 15 bao thóc, Thuận mới gật đầu.
*.
Hà Nội, 25 tháng 05.2017