GIÁ CỦA SỰ THÁI QUÁ

ĐẶNG XUÂN XUYẾN

ao-do-bong

Chị vỗ đét cái vào mông anh rồi trề môi, cong cớn: – Eo ơi, già rồi mà còn trẻ con lắm! Gần năm chục tuổi đầu rồi mà nhí nhảnh con cá cảnh lắm cơ…. Đời thủa nhà ai, tóc đã bạc trắng mái đầu rồi mà bày đặt níc nêm là em còn bé lắm… Ơ, mà chồng xưng em với ai thế… Chẳng lẽ chồng xưng em với vợ?

Anh đỏ mặt, ấp úng:

– Thì đặt thế cho nó lạ,… chứ em với ai đâu?

Chị sầm mặt:

– Thế là không được! Thế là chồng không trung thực, chồng gian dối với vợ! Chẳng ai đặt níc nêm lại không có nghĩa cả? Thôi chết! Hay chồng phải lòng mụ bán xôi đầu ngõ mới xưng em ngọt ngào như thế? Chả trách, chồng toàn khen xôi nhà mụ ý vừa ngon vừa rẻ. Tháng trước, vợ đánh dấu 5 lần chồng ăn xôi nhà mụ ý đấy.

Anh gãi gãi đầu, giọng có chiều “nể vợ”:

– Thì xôi nhà bác ấy ngon và rẻ thật nên chồng mới ăn. Mà… năm ngoái vợ chả khen xôi nhà bác ấy nấu ngon, sạch lại bán rẻ còn gì? Vợ chả nhắc đi nhắc lại chồng phải thường xuyên ăn xôi ủng hộ nhà bác ấy đấy thôi…

Chị tròn mắt nhìn anh rất lâu, rồi thẽ thọt:

– Thật không? Có đúng là vợ nhắc chồng như thế không? Mà… Vợ chả tin đâu! Vợ chả dại xúi chồng như thế đâu! Nhìn mụ ý cứ hơn hớn hơn hớn như thế, nỡ mụ ý có ý gì với chồng thì chết à? Chồng có nhớ cái vụ năm kia không? Nhớ không?… Ối dào… Chắc chồng lại cãi đấy là tai nạn chứ gì? Vợ biết tỏng chồng mà… Thế nào chồng cũng nói là tai nạn… Thôi, chồng đừng có định cãi vợ nữa… Như thế là không trung thực, là gian dối. Mà chồng biết đấy, vợ rất ghét ai có tính không trung thực, rất ghét ai có tính gian dối. Chồng nhìn chồng bác Nga mà học, cả đời chẳng biết cãi vợ câu nào… Ngoan ơi là ngoan. Đâu giống chồng, vợ chưa nói xong câu mà chồng đã cãi năm cãi bảy. Vợ nói rồi, vốn kiệm lời nên vợ đâu thích nói nhiều… Mà… vợ đang nhắc chồng chuyện gì nhỉ?

Anh lụng bụng:

– Chuyện xôi nhà bác đầu ngõ.

Chị quệt tay vào mép rồi lấy khăn lau tay, lau đi lau lại, kỹ càng lắm. Chán chê, chị lại dài môi, thẽ thọt:

– Có đúng là vợ nói chuyện xôi nhà bác đầu ngõ không? Ồ đúng rồi, xôi nhà bác ấy ngon, sạch sẽ mà rẻ lắm cơ… nhưng mà vợ không ưng cái thái độ nhà mụ ấy, vợ chúa ghét cái thái độ của mụ ấy… Đàn bà có chồng có con rồi, lại cứ đon đon đả đả với đàn ông là làm sao! Vợ thấy như thế là vô duyên, là lố bịch…. Vợ thấy chướng mắt! Vợ không ưng!

– Nhưng bác ấy bán hàng, phải thế.

Chị dài giọng, trề môi:

– Bác ấy bán hàng, phải thế… Biết ngay mà. Vợ biết tỏng chồng sẽ bênh mụ ấy như thế mà…. Sao không để chồng mụ ấy ra đon đả với chồng mà lại là mụ ấy. Eo ơi. Rõ là có tình ý với nhau nên bênh nhau cứ chằm chặp, chằm chặp ý… Đàn ông ra đon đả với đàn ông, sao lại để đàn bà?

Anh ái ngại nhìn mọi người, rồi khẽ khàng với chị: – Bác ấy vừa ngồi bán hàng vừa mời chào khách chứ có đon đả kiểu như vợ nghĩ đâu…

Chi lại trề môi, chừng muốn dỗi:

– Đấy! Lại cãi! Sao chồng toàn bênh mụ ấy thế? Chồng sợ miệng mọc da non sao mà cứ nhem nhẻm nhem nhẻm cãi vợ? Như thế là không trung thực! Như thế là giả dối! Mà chồng biết rồi đấy, vợ rất ghét ai không trung thực, vợ rất ghét ai sống giả dối… Mà… Mà có chuyện gì không trung thực ở đây nhỉ? (Chị vỗ vỗ đầu một lát rồi hí hửng)… Đúng rồi! Là chuyện tình cảm giữa chồng với mụ bán xôi đầu ngõ… Như thế là chồng không trung thực. Như thế là chồng giả dối. Mà chồng biết rồi đấy…

Anh gắt: – Là đủ rồi! Người ta bán hàng phải tươi cười mời chào khách lại bảo người ta lố bịch? Hàng xóm láng giềng, một tháng mua ủng hộ có 5 bữa sáng mà kêu nhiều là sao? Lại nữa! Người ta là người đàng hoàng sao cứ một điều mụ ấy, hai điều mụ ấy là thế nào? Hở?

Chị co chân lên ghế, nghiêng người, lấy khủy tay che che mặt, ấm ức: – Eo ơi… Sao chồng lại quát tháo vợ như thế? Chồng không nhớ là vợ bị yếu tim à? Hay chồng không coi vợ ra thể thống gì nên mới thế? Vợ biết tỏng chồng mà… Giờ vợ già rồi, vợ xấu rồi nên chồng không chiều chuộng, không nâng niu vợ nữa… Thế này thì vợ chết quách đi cho rồi! Vợ chán sống rồi! Vợ… Vợ… Vợ sẽ đi chết đây!

Chị nhìn anh. Nhìn mọi người. Rồi lại nhìn anh.

Thấy mọi người ngoảnh mặt đi, không nhìn chị, còn anh vẫn “đằng đằng sát khí”, chị sụt sùi:

– Vợ biết mà. Chồng không còn yêu vợ nữa nên chồng kiếm cớ để chê vợ, bỏ vợ. Số vợ khổ, khổ lắm nên mới lấy phải chồng… Chồng quên rồi à? Ngày chồng còn đang cưa cẩm vợ ấy, chồng hứa những gì? Chồng thề thốt những gì mà bây giờ chồng phũ phàng với vợ như thế… Ối giời cao đất dày ơi… Ới hàng xóm láng giềng ơi… Ới bạn ới bè ơi… Mà này, chồng đi đâu đấy?

Anh không trả lời, khoác áo, bước nhanh ra cửa. Chị chạy theo, níu áo, gặng: – Chồng đi đâu đấy?

Anh hất hàm: – Muốn biết thật à? Đi ra quán xôi làm chầu “tình cảm”. Ở nhà với vợ mệt đầu lắm.

Chị luống cuống: – Chồng ra đấy thật à? Thế chồng định đi ra đấy một mình à? Không! Vợ sẽ đi cùng chồng. Vợ cũng đang muốn chầu “tình cảm” với xôi đây…

Mồm nói, chân bước, chị khoác tay anh rất chặt.

Bước chân vào quán, chị cố khoác tay anh thật tình tứ. Rồi vênh mặt lên như để cho mọi người biết anh và chị yêu nhau lắm, lắm.

Ái ngại với mọi người, anh khẽ nhắc chị:

– Vợ đừng khoác tay chồng nữa, mọi người nhìn vào, ngại chết.

Chị phá lên cười, rồi bẹo má anh, nũng nịu:

– Eo ơi… Chồng lại bày đặt làm bộ e thẹn, ngượng ngùng nữa chứ? Yêu chồng lắm cơ!

Chị kéo ghế ngồi xuống. Một tay vuốt tóc, một tay gắp miếng xôi, nghiêng nghiêng đầu nhìn anh, rồi chậc chậc lưỡi, giống kiểu ở nhà chị vẫn nựng cu tí ăn bột: – Nào… Chồng há mồm ra,… há to tí nữa nào… Ừm… Ừm… Thế… Thế… Eo ơi nhìn chồng ừm yêu lắm cơ… Gớm, sao nước miếng của chồng tứa ra nhiều thế? Há to tí nữa nào… Thế… Thế… Chồng ừm cái nữa để vợ xem nào! Hoan hô chồng! Chồng ừm giỏi lắm!…

Anh gạt tay chị, vẻ khó chịu, làu bàu:

– Vợ đừng làm thế. Mọi người cười cho đấy.

Chị trề môi rõ dài, rồi nguýt: – Gớm! Mọi người cười cho đấy… Mọi người nào ở đây? Chồng ngại chị chủ quán chứ gì? Vợ biết tỏng trong đầu chồng nghĩ gì rồi… Hôm nay, nhất định … Vợ… Vợ… vợ phải làm cho ra ngô ra khoai mới được…

Chị giậm chân. Chị chắp tay vào hông. Chị tiến lại chỗ chị chủ quán, chưa kịp la lối thế này thế kia thì anh giang tay tát bốp một cái, rõ đau, rồi lôi chị xềnh xệch về nhà. Vừa đi anh vừa gằn giọng:

– Bà làm tôi xấu hổ với mọi người. Tôi sẽ khâu mồm bà lại để bà hết thói lắm điều! Tôi… Tôi xấu hổ vì bà.

Chị tái mặt.

Chị lắp bắp mãi không thành câu.

Hình như chị chưa lường được tình huống này thì phải!

*.

Hà Nội, ngày 01 tháng 12 năm 2015

ĐẶNG XUÂN XUYẾN

.

ANH RA ĐI MÙA THU

VÕ CÔNG LIÊM

thularoi

Hãy quẳng mình đi như một cái bị rách.
(đại sư Tuệ Giác)

Hắn ngồi thừ người; đếm những mùa thu đi qua trong đời. Gió từ xa vụt tới quất vào người hắn, tóc dựng ngược, mắt nhìn lơ láo vào khoảng trống trước mặt. Hắn hình dung lại những chặn đường trước đây, khi còn sống ở đô thị đầy ấp những mộng mị những lừa đảo tất cả là phồn vinh giả tạo không đem lại một đời sống thiết thực cho bản thân hắn. Hắn thấm thấu được lẽ sống.Từ đó; hắn muốn đi thật xa. Bây giờ ngồi một mình trong mái nhà tranh vách đất nầy, nơi hắn tá túc một thời gian lâu khi mới về nhận nhiệm sở ở đây.

 Lần về thăm hôm nay; hắn gặp lại những người thân quen ngày nào, tuy già đi nhiều nhưng vẫn giữ được phong thái của mình, cảnh vật không còn như xưa. Ra khỏi nhà; ngọn nắng chiều trải lên mấy hàng cây xanh dọc bên đường dưới một màu thăm thẳm của nắng vàng làm tăng thêm cái nét dịu dàng của làng Phổ Hạ. Hắn thong thả đi về hướng đồi cỏ, trời đã rủ xuống. Rẽ sang phải để vào xóm Rột ở đó có nhà của Liễu; người mà hắn thầm yêu trộm nhớ.Tình yêu đối với hắn như báu vật chôn chết trong hang động. Không bao giờ khai quật.Trên đường đi hắn nghe tiếng ai gọi đằng sau: – Cậu Tân về hồi nào đó? Về thăm rồi lại bao giờ đi? Ngày mai ghé qua tui chơi. Hắn gật đầu, mỉm cười rồi lầm lủi đi.- Ai thế? Sao mình không nhận ra. Chỉ một vài năm mà hắn quên hẳn. Đầu óc hắn chỉ nghĩ tới Liễu.Vừa đi lòng mang máng buồn.Thấy cảnh vật đổi thay, người cũng đổi thay qua bao cuộc thăng trầm, đời đã dằn xéo dân làng nầy, cuộc chiến đã đè nát và chồng lên đây nỗi đau uất nghẹn. Chiến tranh thật tàn nhẩn, kinh khiếp! hắn ám ảnh cho tới bây giờ.Trong hắn chỉ còn cái đẹp thân thương giữa tình người, điều mà hắn tha thiết gặp lại đây và hy vọng tái ngộ người hắn yêu.

Hắn nhớ lại đêm giả từ Liễu để vô “bưng” vào một chiều cuối thu năm 196…Ngày ấy; chính là ngày Liễu hận lắm, hận sự chọn lựa của chàng; không biết rồi đây gặp lại, nàng có nhận ra cái bản mặt của hắn và liệu Liễu còn đối đãi như xưa ?

Căn nhà Liễu nằm lõm trong xóm, quạnh hiu. Bóng tối ập tới, những ngọn đèn dầu hỏa ám khói, leo lét chiếu qua khung cửa ô. Nhà Liễu tối om, hắn đến gần và nhận ra ông Nghị ngồi trên chiếc ghế độc ngoài sân,lửa thuốc trên môi ông rực lên, thứ ánh sáng lờ mờ, hắn nhận ra ông; già hẳn qua chùm râu thưa. Con Mực ngồi dưới chân ông gầm gừ muốn nhào tới nhưng kiệt sức vì đói, không buồn sủa mặc hắn với ông già. Họ vào trong, nhen ngọn đèn, ánh sáng chiếu vào hai gương mặt hốc hác bởi thời gian đấu tranh với cuộc sống. Họ mừng gặp nhau. Nhưng tuyệt nhiên không nghe thấy một dấu hiệu hay tiếng động nào có Liễu ở đó. Hắn làm sao quên được tiếng nói của nàng. Lần đầu đến đây với ông Nghị, hắn ngồi hầu trà cùng ông, thỉnh thoảng ngừng lại nghe rõ tiếng cười từ dưới vọng lên, âm thanh đó đã cho hắn một hình ảnh người đẹp, tiếng nói của Liễu có một hấp lực khác, ấn tượng trong đầu người nghe. Hắn nghĩ tâm hồn của tiếng nói tiếng cười đó phải trong sáng lắm mới có được thanh âm ấy. Một thanh âm trong suốt và vút cao tạo cho khuôn mặt trở nên hiền thục. Hắn ghi nhận điều đó đúng; qua một lần gặp Liễu. Giọng cười, tiếng nói ấy suốt đời chôn chặt trong tim hắn. Chàng không hỏi Liễu qua ông Nghị. Đột nhiên: -Con Liễu về dưới, sớm mơi về; cậu lại chơi. Ông Nghị nói. Hắn ấm ớ giả vờ. Ông già chỉ nói độc một câu ngoài ra không báo thêm một tin nào khác hơn về Liễu.Hắn lo ngại.

Hắn ghi đậm kỷ niệm đầu đời, lần gặp Liễu trên đường ra chợ Sạn. Nàng e lệ đi không nói, hắn cũng không nói cả hai cúi đầu song hành. Càng không nói Liễu càng đẹp, tóc nàng phủ kín bờ vai suông, gió dưới dòng sông thổi lên, tóc vướng vào mặt, nụ cười dấu trong đó. Hắn thấy vẻ đẹp của Liễu mà không dám mở đầu câu chuyện. Cứ đi như thế cho đến gần nhà ông Nghị hắn ngúc đầu chào từ giả Liễu ra về. Nàng liếc mắt với nụ cười thầm kín đoạn đi vội vào nhà. Hắn cho cuộc gặp gỡ nầy là dấu yêu mối tình đầu của hắn với Liễu.

Cái buổi ban đầu ấy cho Liễu ấn tượng về hắn. Một thể tính khó mường tượng, nhưng nàng cảm nhận được cái len lén trong hồn mình.Nàng rơi tình; nhưng nàng sợ phải tỏ,chẳng qua cũng do lề thói cố hữu ăn sâu vào trong máu, trong hồn người phụ nữ, dẫu chữ yêu có nói nên lời cũng cảm thấy ngờ ngợ. Giữa hai đứa đều có dấu ngoặc đó.Thế rồi ngày lại ngày mầm sống lên men. Hắn gặp Liễu trong một buổi sinh hoạt đoàn. Hắn đến gần và hỏi Liễu một vài câu xét không cần thiết, chủ tâm là đào đục,theo dõi tình ý của nàng. Mắt hắn cười:- Được rồi; tôi sẽ đưa đơn  lên cấp lãnh đạo xét và tôi trả lời cho cô hay. Liễu tần ngần giây lát quay gót ra khỏi phòng họp.Trường học cũ xưa, đổ nát bởi bom đạn mới sửa chửa laị sau ngày hắn về nhận công tác trường lớp ở đây. Dân làng mến mộ hắn xem hắn như người hay chữ. Liễu thầm phục hắn lần gặp ở đây.

Dark Skin

Tranh Vẽ của Võ Công Liêm Thiếu nữ da nâu / Girl with dark skin.

Ít hôm sau hắn đến nhà Liễu cho biết kết quả việc xét đơn. Nàng cảm thấy sung sướng sự có mặt của hắn hôm nay. Nàng ngẩn đầu nhìn hắn, đôi mắt lá răm của Liễu nhấp nháy và nàng bắt gặp cái nhìn không dấu được xúc động của hắn. Nàng khẽ nói: – Anh Tân; mời anh ngồi. Em lấy nước anh uống. Hắn ngồi lặng yên không nói một câu chỉ nhìn theo Liễu.Tiếng nói chỉ còn là hơi thở trong họng. Liễu đứng cạnh bên gợi chuyện, chuyện nhỏ, chuyện lớn, hắn chỉ lắng nghe mỉm cười thay nói. Nhiều lúc thấy hắn ngần ngừ muốn bộc lộ điều gì với Liễu rồi lại thôi. Đoạn đứng dậy cáo về. Liễu đưa hắn ra cổng, nắng bên ngoài rực rỡ chiếu sáng, mây thênh thang bay, gió đùa với cỏ cây Liễu cảm thấy tâm hồn mình lãng mạn .

Về đến nhà hắn vật xuống giường suy nghĩ về Liễu. Nhiều lúc hắn cũng không hiểu chính hắn. Chỉ qua mấy tuần ăn ở làng Phổ Hạ, vô ra xóm Rột, lên xuống chợ Sạn những chứng tích, địa danh đó đã lôi cuốn hắn gieo vào hắn một thứ tình yêu “thôi miên”. Ngày đêm là hình ảnh vấn vương, bóng Liễu chập chờn trong giấc ngủ, réo gọi tình yêu, hắn ôm, chụp Liễu trong mơ. Gặp nàng hắn như thằng câm nhìn mà không nói. Khổ cho một thằng người như hắn.Yêu mà không chịu bộc phát, thiếu năng động thì làm sao chinh phục được phụ nữ. Hắn thắc mắc chính hắn. Nhưng ngược lại thụ động của hắn là niềm tin yêu của Liễu.

Buổi văn nghệ ngoài trời là cơ hội cho họ gặp nhau. Liễu ngồi không xa tầm mắt hắn, thỉnh thoảng nàng nhìn đưa tình, tim hắn rung động. Hắn quyết tâm hành động nhưng bản chất rụt rè, cả nể lôi hắn xuống không cho hắn ngóc đầu lên đối diện. Mãn hát. Hắn đứng cạnh Liễu và hai người cùng đi về hướng sông. Đi dưới trăng lòng thổn thức, vai hắn chạm vào vai nàng, không thấy dấu hiệu khó chịu của Liễu, ngược lại Liễu cố tình đụng chạm nhiều hơn. Hắn vững dạ.-Tháng sau anh phải xa làng Phổ Hạ, xa Liễu và những người thân ở đây. Hắn nói trong nghẹn ngào.-Anh tính đi đâu hởi anh? Ai thay anh dạy ở đây? Liễu hỏi. Hắn ấm ớ trả lời và cúi đầu đi cho tới cuối xóm. Cảnh đêm thanh vắng, tiếng côn trùng rì rào ru ngủ. Trăng lấp ló như mời gọi, ngoại giới quyến rũ .Bóng đêm dụ dỗ họ mà họ không biết.-Anh vào nhà chơi một lát rồi về. Nàng mời. Hắn ngập ngừng như trẻ ăn vụng. Ông Nghị đã ngủ từ lâu với con Mực.Căn nhà nhỏ, bếp lửa đang thù tạc cùng họ.Ngọn đèn dầu soi sáng vào mặt hai người đang trò chuyện yêu đương. Thỉnh thoảng nghe tiếng cười êm dịu của Liễu.Tiếng cười đã ám ảnh hắn. Hắn chịu không nỗi. Nàng cười nói làm con tim hắn nhói lên. Một thoáng mà trời đã vào khuya. Khung cảnh ấm cúng cho hắn thêm can đảm, mạnh dạn hơn bình thường hay nhờ nội lực của Liễu? -Anh xa em anh nhớ lắm. Hắn nói. – Rồi anh cũng trở về thăm chứ ? Nàng nhấn mạnh.- Cha em cũng nhớ anh. Bà con ở đây cũng nhớ anh. Liễu nói trong nước mắt.-Anh không biết bao lâu thì anh trở về. Hắn kể hết lý do tại sao hắn phải đi cho Liễu biết. Nàng xót thương cho hắn, xót thương cho người mẹ của hắn phải sống cô độc, lầm lủi qua ngày với đôi gióng trên vai. Hắn là người con duy nhất của bà mẹ già, hắn mất cha ở tuổi còn nhỏ. Khi biết sự tình như thế nàng yêu hắn nhiều hơn. Liễu phân bua và không muốn hắn ra đi.- Em có chịu chờ anh không  ? Hắn sợ phải nói hết, sợ nàng đau khổ. – Mười năm hoặc sớm hơn anh không trở về em hãy quyết định đời em. Hắn nuốt nghẹn trong họng. Liễu ứa nước mắt; tình yêu mới chớm nở mà đã nhận đau thương.

Cảm thông được tình yêu thì sự hiến dâng là nghiã cử cao đẹp; Liễu không ngần ngại, ngấn lệ ôm hắn vào lòng, nhấc lên từng lời nức nở. Hắn rung động trước mảnh lực ái tình. Đêm xuống sâu, lặng gió, ngọn trăng lấp ló ngoài khung cửa tre, mùi rạ khói xông lên hương ấm xoa dịu niềm đau mà cả hai chôn kín từ lâu.Tình yêu đã mở khoá; dẫu có thụ động cách mấy, như hắn; cũng phải bung lên, lặng câm của hắn là sự chờ đợi bộc phát của hỏa sơn. Tâm lý nầy đã ủ trong người hắn. Tóc Liễu chảy dài lên mặt hắn, mùi nắng hạ hong khô, hắn nuốt từng nhịp thở, mồ hôi trán rịn ra, mắt hắn lờ đờ như ngáp cá chờ chết. Chìm dần theo bóng đêm. Không gian tĩnh lặng họ cảm thấy tự do bơi lội giữa biển tình. Hắn ôm nàng vào lòng, mắt Liễu nhắm lại trên ngực hắn. Liễu đẹp! nét đẹp của hiền thê thục nữ. Hắn cúi đầu  hôn lên tóc, lên mắt, nàng rùng mình, mỗi cái ngất lên hắn không chận nổi cơn khát từ lâu đi mãi trong sa mạc hoang vu. Không chế ngự được sức nóng dữ của cát bỏng, hắn đưa tay vào vườn địa đàng hái hai quả hồng đào nơi vườn cấm. Đôi mắt hắn tự động khép lại như kẻ ngoan đạo.Liễu đưa môi lên trong bóng tối. Làn sóng vô tình bắt tín hiệu, môi hắn tiếp nhận. Say sóng; hắn cúi gầm người và len lén đi xa hơn vào vùng trời lửa đạn. Hắn xáp chiến ! Liễu nằm ngoan. Hai kẻ ăn vụng êm trong bóng đêm. Ông Nghị nhả ra tiếng ngáy ngủ sồn sột. -Em hứa với anh. Gắng chờ anh nhé!.Liễu nuốt những lời mật ngọt vào tim. Môi kề môi, men tình thấm vô máu và rồi họ làm tình. Nàng riết hắn trong vòng tay. Hắn nghe tiếng nghiến của giường tre. Lúc ấy trời đã về sáng. Hắn lẽn ra về giữa màn sương trắng .

Mùa thu năm ấy hắn ra đi; bỏ lại sau lưng biết bao nỗi niềm lưu luyến, từng bước đi là từng giọt nước mắt rớt xuống, hắn đi trong đoàn người đấu tranh vào bưng biền. Đồi núi trùng điệp; đêm là ngày, đi mãi giữa bao la nghìn trùng, rừng thiên nước độc phủ quanh đời hắn mà hắn đã dấn thân cho một lý tưởng mà hắn mơ. Hắn đánh đổi đời hắn, đánh đổi người mẹ già, người tình cho một chuyến ra đi. Hắn đâm ra ngờ vực chính hắn. Tại sao có sự chọn lựa nầy ? Hắn tự chất vấn. Hắn bi quan với hoàn cảnh. Giữa tình yêu và tình đời hắn phải chọn. Hắn không thể ở lại. Đằng nào hắn cũng chết. Cho nên ra đi là giải pháp cuối cùng và chứng tỏ rằng hắn có chính nghiã. -Biết đâu được;ngày về lại vinh quang. Hắn an ủi cho thân phận. Nhưng hắn tin một điều tình yêu của hắn không chết. Tuy hắn nhầm!

Năm 197…hắn về lại quê nhà. Hắn đau khổ nhìn lại quê hương mình điêu tàn ,trầm thống, đời sống lam lũ còn lam lũ hơn thời chiến. Hắn đau đớn nhìn thấy mẹ già qụy xuống với tay gậy, mái tóc bạc trắng của sự mỏi mòn trông đợi. Mẹ hắn chẳng nhận được một đặc ân nào ngoài sự thảm sầu. Đời bạc đãi hắn. Giờ đây hắn hiểu thì đã muộn rồi. Bởi cuộc đời không mãi mãi như mình tưởng, nó chứa đựng vô vàng mọi thứ. Hắn gục đầu chuốt đau thương. Gần năm năm xa quê, xa người yêu đổi thay như thế, liệu người yêu mình có đổi thay không ? Hắn sợ; nhắm nghiền mắt lại dưới một thể xác yếu đuối, già nua, hắn trở về trong cô độc chẳng mấy vinh quang như hắn nghĩ, uổng công sách đèn, giờ đây ông chẳng ra ông thằng chẳng ra thằng; tiếc cho cái sở học của hắn. Hắn nhận ra sự lạc đường.

Tháng sau; hắn trở lại làng Phổ Hạ tìm cho bằng được Liễu. Hắn đứng trước mái nhà xưa, nơi tàn trử tình yêu, trước khi quyết định bước vào gian nguy. Thú điền dã đâu còn nữa, điêu tàn, mái tranh lên màu mốc xám, vách nhà lóc đất, bờ cây, bụi chuối rũ cánh buồn, cảnh quang mang màu tang chế. Hắn không nghe một tiếng động .- Đi đâu? Hay chết cả rồi! Hắn cảm thấy lạnh, ngồi rút chân trên thềm đất.-Không có Liễu là nỗi chết đến với hắn. Bổng nghe tiếng chân ai, nhỏm dậy coi phải Liễu về. Bà già đến gần hắn báo cho biết Liễu đưa xác cha nàng về quê mai táng.-Nghe đâu sáng mai cô Liễu trở lại. Nói xong bà quay gót. Hắn đứng cứng như cây trồng. Nghĩ đến Liễu mà thương xót cho nàng phải gánh chịu những khổ đau trong đời, chẳng qua cũng vì tình thương cao cả của nàng. Lúc ấy trời đã vào chiều hàng cây sầu đông ở cuối bờ ao đã ngả màu vàng sậm. Hắn nhớ ra mình đến giữa mùa thu và cũng mùa thu năm nào hắn giã từ Liễu để ra đi.

Ngày hôm sau; gặp Liễu hắn mừng như chết đi sống lại. Khựng người! Nước mắt lưng tròng khi nhận ra Liễu tiến về phía hắn. Nàng quấn vành khăn sô, gương mặt nàng mang mát một nỗi buồn khó tả. Liễu gầy,dung nhan nàng thấm mệt trông tội nghiệp.-Anh Tân,anh về hồi nào? Mời anh vào nhà. Liễu mừng thầm nhưng không tỏ rõ vì  nỗi đau cha mình. Hắn không ngờ gặp Liễu trong một tư thế thân thương như thuở nào. Hắn muốn kể cho nàng những uẩn khúc, những nỗi khổ của hắn trong thời chiến mà hắn phải đương đầu. Hắn khóc mà Liễu đâu có hay, những đêm kê đầu với tiếng súng giữa rừng hoang .Nhưng thôi; hắn biết Liễu đau khổ gấp bội so với hắn, trong lúc nàng đang thọ tang cha. Hắn cầm tay Liễu với nỗi niềm thương xót cho nàng, sự hy sinh chờ đợi của Liễu; năm năm ròng rả với tuổi thanh xuân, đời hắn bấp bênh sống nay chết mai sao mà nàng can đảm thế! Liễu cúi đầu. -Hiện nay anh ở đâu và làm gì? Nàng hỏi trong lo âu. Hắn khựng lại; ngay bản thân hắn cũng chưa tìm ra câu trả lời cho chính hắn. Hắn muốn cưới nàng làm vợ nhưng không dám đặc vấn đề. Bởi sau ngày trở về với hai bàn tay trắng, cơ quan chưa bố trí công tác thì lấy chi mà cưới hỏi. Hắn nghẹn họng nói không ra lời.

-Anh ở lại đêm nay với em ? Em nấu cơm anh ăn nghe! Hắn đứng dậy thắp mấy nén hương cho ông Nghị. Miệng lâm râm như tạ tội; mà trước đây ông đã đôi lần phân bua cùng hắn. Đêm xuống nhanh hơn mọi khi, gió rít lên từng chặp, đập vào mái tranh yếu đuối. Lửa bếp soi mặt cả hai đứa. Nàng ngồi lặng câm trong suy tư.- Chắc em còn giận anh ? Bác còn giận anh ? Anh ân hận lắm Liễu. Xin em tha thứ cho anh. Nàng không chấp những lời tha thiết ấy. Hắn trở về là niềm hạnh phúc cho Liễu; nàng kiên nhẩn chờ đợi thì sá gì phải ưu tư những điều đó. -Cha con em không bao giờ giận anh. Anh trở về là hạnh phúc chung. Liễu cúi đầu nói trong hơi thở. Hắn gục đầu, nhỏ từng giọt xuống đất đen; hắn thả xuống những hạt ngắn hạt dài cho đau thương, cho hối tiếc .

Quan hệ bình thường với Liễu;một năm sau mẹ hắn bịnh nặng, nằm viện chờ chết. Hắn biết đây là mối nguy lớn cho cá nhân hắn, dẫu mẹ hắn có chi nữa sự hiện diện của mẹ là cần thiết cho hắn, mất mẹ giữa lúc nầy là điều bất hạnh. Hắn muốn tiến nhanh cuộc tình với Liễu để đi đến hôn nhân, như thế; đáp được chữ hiếu với mẹ hắn.

Đời hắn; toan tính không bao giờ trở nên thực. Định mệnh đã đánh lừa hắn hay hắn chống lại định mệnh ? Cuối cùng rồi hắn cũng phải tin vào cái phận của con người.

Hắn và Liễu vội vàng làm lễ cưới chớp nhoáng, đám cưới “chạy tang” trước khi mẹ hắn nhắm mắt, đồng thời cho bà dướng mắt nhìn con dâu thảo của mình lần cuối. Nhưng tiếc thay mẹ hắn không nói ra lời, nằm ướp xác trên chiếc giường tre, thở cá, mắt nhắm cứng chờ ngọn đèn phụp tắt.Thế là xong !

Liễu thu dọn về nhà chồng; thừa kế cái cơ ngơi của ông nội hắn để lại, quê hương hắn làng Cốc Vũ, một làng chuyên nghành sản xuất ruốt mắm ở vùng ven biển. Hắn và Liễu ra tay buông trải làm ăn, thay đổi cuôc sống. Hắn nhìn sự nổ lực của vợ mà nhận ra giá trị làm người, một giá trị lấy từ nhân tâm mà ra. Hắn khâm phục và hảnh diện người vợ yêu quý của mình, yêu quý lòng can đảm vị tha, chịu đựng, khắc phục mọi khó khăn, sống chết có nhau, một đời trung trinh. Hắn hổ thẹn. Hắn nhìn hắn trong gương như một phế nhân, lầm lạc, mê muội, mất tư duy, mất lập trường chính đáng. Hắn đánh mất hết kể cả chữ nghiã.Tất cả là số không. Bởi tự nó đã bị đào thải mà hắn không hay.May thay;Liễu vừa là vợ vừa là ân nhân cứu rỗi đời hắn; kéo hắn ra giữa dòng nước xoáy…

Một năm sau Liễu và Tân sanh đứa con đầu lòng, họ cảm thấy hạnh phúc chưa bao giờ có.Vợ chồng ngồi đùa với con dưới nắng xuân, trong ước mơ tươi sáng hơn. Đâu đây vãng lên tiếng ai hát  não nùng, ai oán :

…em ơi đời đổi thay
lệ buồn nát tim tôi…*

VÕ CÔNG LIÊM  (ca.ab. chestermere . thu phân 2006)

*nhạc và lời :Khê Kinh Kha

THẦY ƠI…THẦY ĐÂU RỒI. ?

Nguyễn Thị Thanh Dương

thay oi

Tôi trở về Việt Nam thăm thân nhân vào một mùa hè.

Tôi thuê xe đến ngôi trường cũ, một mình tìm lại kỷ niệm xưa, không chỉ là mái trưòng trung học thân yêu mà còn có bóng dáng một tình yêu.Thày Chuẩn, giáo sư môn toán của tôi suốt 3 năm liền từ lớp 10 đến lớp 12.

Kể từ ngày tôi đi vượt biên được đến Mỹ định cư. Đây là lần đầu tiên tôi trở về Việt Nam và ngôi trường cũ là một kỷ niệm tôi luôn mong muốn được gặp lại.

Đứng trước ngôi trường xưa lòng tôi bồi hồi thổn thức….

Ngôi trường đã hoàn toàn thay đổi, trường được xây mới và rộng thêm, cây phượng vỹ gìa nơi sát hàng rào trường không còn nữa. Bao mùa hoa Phượng của tôi chín đỏ sân trường nay về đâu, hoa Phượng ơi, thày cô ơi, bạn bè ơi..…

Tên trường không thay đổi, vị trí trường vẫn là đây, nơi tôi từng đi về suốt mấy năm trung học.

Trường lớp đóng cổng đóng cửa im vắng trong một buổi trưa hè. Mùa khai trường sắp đến rồi, mai mốt sân trường im vắng này lại rộn rã thày trò đông vui.

Nhìn dãy hành lang trường hun hút tôi nhớ bóng dáng thày Chuẩn thường đi qua. Nhìn phòng lớp im tiếng tôi nhớ những lúc thầy đứng giảng bài và tôi thì mơ mộng nhìn ra ngoài khung cửa, bài toán thày giảng giải xong mà tôi giấc mộng chưa tròn.

Nước mắt rưng rưng tôi bâng khuâng tự hỏi:

–         Thày ơi…thầy đâu rồi?

Không biết thày Chuẩn còn dạy ở trường này không? Mai này đến ngày khai trường tôi sẽ đến đây, không là cô học trò nhỏ năm xưa, chỉ là người khách lạ, tôi sẽ đứng ngoài cổng như thế này để tìm trong đám đông thày trò một bóng dáng thày. Nhất định tôi sẽ nhận ra thày, con người ấy, nét mặt ấy tôi vẫn chưa quên dù 20 năm đã xa, 20 năm chưa gặp lại thậm chí chưa nghe tin tức gì về thày.

Suốt bao năm tôi mải lo cuộc sống hiện tại nơi quê người và mối tình học trò mong manh nơi quê nhà luôn là kỷ niệm đẹp.

Năm tôi lên lớp 10 thày Chuẩn mới đổi về trường dạy môn toán, ngày đầu tiên thày vào lớp lũ học trò con gái chúng tôi xôn xao vì thày giáo trẻ tuổi đẹp trai lại vui tính ăn nói ngọt ngào.

Chúng tôi đã nhanh chóng điều tra ra “lý lịch” của thày, độc thân đẹp trai học giỏi chỉ mỗi tội con nhà nghèo.

Tôi còn nhớ bạn Kim Sa nói:

– Thày chỉ đáng tuổi anh chúng mình thôi, tao chẳng muốn gọi bằng “thày”.

Tôi cũng nghĩ thế và tôi chỉ muốn gọi thày bằng “Anh”.

Tôi thầm yêu thày ngay năm học đầu tiên, chờ mong từng giờ học với thày, mừng vui khi thấy bóng dáng cao cao của thày xuất hiện, hồi hộp khi thấy đôi mắt hiền sau cặp kính cận của thày nhìn tôi dù chỉ là cái nhìn bình thường hay thoáng qua.

Có lần trong hành lang trường, từ xa thấy thày đang đi đến gần tôi đâm ra luống cuống vụng về làm rơi cả mấy quyển vở đang cầm trên tay. Thày đã cúi xuống nhặt lên đưa cho tôi. Giây phút đối diện và chạm tay ấy tôi không bao giờ quên.

Thời kỳ bao cấp cuộc sống ai cũng ít nhiều khó khăn, tôi đã chứng kiến cảnh các giáo viên chia nhau nhu yếu phẩm gạo thịt tiêu chuẩn tại văn phòng. Tôi thương thày giáo độc thân của tôi cũng không thoát khỏi cảnh đời thực tế này, nhưng dường như tôi ít khi thấy thày Chuẩn mang những thứ nhu yếu phẩm ấy về nhà.

Một học trò lớp tôi nghỉ bệnh mấy ngày ở nhà, gia cảnh nó khó khăn, thày Chuẩn là thày giáo chủ nhiệm sẽ tổ chức một buổi đến thăm để “động viên” học trò. Tôi là trưởng lớp được đi cùng thày.

Tôi bất ngờ khi thấy thày mang theo miếng thịt heo nửa ký và bịch gạo 12 ký là tiêu chuẩn của thày vừa lãnh. Thấy tôi có vẻ ngạc nhiên, thày nói:

– Nghe nói gia cảnh trò Hoa nghèo, lại ốm đau nghỉ học thày chẳng biết mang qùa gì, sẵn hôm nay có tiêu chuẩn gạo thịt này…

Tôi ngại ngùng và thương cảm…cho thày, chứ không phải cho bạn:

–  Thế…tháng này thày không có gạo thịt ăn hả? thày báo tin thăm Hoa đột xuất qúa em chẳng kịp góp phần mua qùa…

Thày Chuẩn mỉm cười:

–         Lo cho người bệnh chứ việc gì lo cho thày. Tháng này thày sẽ…ăn chực bố mẹ.

Sau này tôi biết thêm thày Chuẩn vẫn thỉnh thoảng nhường phần gạo thịt tiêu chuẩn của thày cho một vài bạn đồng nghiệp đông con hay gia cảnh khó khăn dù thày cũng chẳng khá gỉa .

Một nhà giáo chăm chỉ yêu nghề hết lòng chỉ dạy học trò, một nhà giáo luôn giúp đỡ bạn bè cả vật chất lẫn tinh thần, khi thì nhường tiêu chuẩn nhu yếu phẩm, khi thì thay bạn đứng lớp lúc họ bận việc hay ốm đau.

Lũ học trò chúng tôi đã “phát giác” ra những điều ấy không khó gì.

Thày là một chàng trai trẻ phóng khoáng và bao dung trong bộn bề cuộc sống.

Càng ngưỡng mộ thày tôi càng yêu mến thày.

Mùa hè năm lớp 12, mùa hè cuối cùng rồi mỗi người vào đời một hướng rẽ. Tôi sẽ đi xa hơn, cuộc chia tay này không thể nói cùng ai, gia đình tôi chuẩn bị cho hai chị em tôi đi vượt biên.

Ngày cuối cùng trước khi nghỉ hè tôi cố tình đợi để đối diện thày nơi hành lang lớp, lần này tôi không vụng về làm rơi cuốn vở mà vụng về nói chia tay với thày:

–         Em …chúc thày…ở lại… một mùa hè vui vẻ.

Thày ân cần :

–         Thày chúc em thi đậu đại học và tương lai mở ra phía trước. Còn thày dĩ nhiên vẫn ở lại làm “ông lái đò chở người qua sông”

“Anh lái đò” ơi, ước gì anh không chở em qua sông mà chở em trên suốt con sông dài cuôc đời nhỉ…

Tôi lãng mạn nghĩ thế. Thấy tôi không nói gì thêm thày định bước đi, tôi chợt tỉnh cơn mơ vội nói với theo:

–         Thày ơi…thày nhớ lo cho chính bản thân mình, giữ gìn sức khỏe…

Thày hiểu ý tôi và mỉm cười:

–         Em muốn nhắc lại chuyện thày đi thăm em Hoa với phần tiêu chuẩn lương thực của thày chứ gì. Xem này, thày có gày ốm đi tí nào đâu.

Khi bóng thày rẽ khuất vào một lớp học, tôi đứng ngẩn ngơ gọi thầm hai tiếng thân thương : “Thầy ơi…”.

Xa lớp xa trường đã buồn, xa thày tôi càng buồn hơn. Tôi ra đi mang theo một mối tình câm tuyệt vọng.

Để rồi hơn 20 năm sau trở về kỷ niệm năm nào bỗng thức dậy. Trong tôi vẫn còn hình bóng thày Chuẩn cao cao đẹp trai và rất đàn ông tính rộng rãi bao dung.

Bây giờ chắc thày đã có gia đình vợ con và vẫn là thày như thuở độc thân vui tính.

Tôi muốn biết thày còn dạy ở trường cũ không, để ngày khai trường sắp đến đây tôi nhất định sẽ đến trường, chỉ để nhìn thày bây giờ ra sao.

Tôi tự trách mình bấy lâu đã không tìm liên lạc với bạn bè đồng môn cũ để biết tin về thày.

Tôi cố moi óc nhớ lại những bạn bè cùng lớp cũ và nhớ ra nhà Kim Sa ở gần nhà tôi nhất nên đến thăm hỏi, Kim Sa đã dọn đi kể từ khi lập gia đình. Tôi xin được số điện thoại của Kim Sa..

Khi tôi gọi phone cho Kim Sa, nó mừng rỡ, chúng tôi cùng nhắc lại ngôi trường cũ bạn bè xưa. Tôi hỏi :

–         Kim Sa ơi, thày giáo Chuẩn đẹp trai, thần tượng ngày xưa của chúng mình đâu rồi ? thày còn dạy ở trường mình không?

–         Kim Sa định kể đây, thày Chuẩn đặc biệt nhất nên để dành kể sau cùng.

Tôi mừng rỡ, không kịp kìm nén lòng mình reo lên:

–         Thày Chuẩn đặc biệt là phải rồi. Một người tốt tính như thày chắc luôn gặp nhiều may mắn trong cuộc sống.

–         Chỉ đúng một nửa, thày gặp…may mắn trong cuộc sống nhưng không còn đi dạy học nữa.

Kim Sa kể thày Chuẩn bây giờ giàu sang vào hàng đại gia. Thày lập gia đình với con gái một cán bộ cao cấp, gia đình vợ đã lo cho thày một chức vụ trong ngành giáo dục. Bao nhiêu năm qua thày làm giàu nhờ chạy điểm cho học sinh, muốn con em vào trường tốt, muốn con em vào đại học đều qua tay thày.

Nghe đến đâu tôi bàng hoàng đến đấy. Chàng tuổi trẻ thuở vào đời với tấm lòng hồn nhiên cởi mở, với nhiệt huyết yêu nghề yêu chữ đâu rồi?

– Lẽ nào thày Chuẩn lại thế??

Tôi cố tình chưa tin dù biết bạn đang nói thật, nói đúng. Kim Sa thản nhiên:

–         Bạn sống ở Mỹ nên không quen với những trò tiêu cực trong xã hội như thế này, chúng tôi ở Việt Nam thì là chuyện bình thường. Thời buổi này xã hội này ai có quyền lực trong tay mà không giàu mới là lạ.

Kim Sa nửa đùa nửa thật:

–         Thế bạn có muốn đến thăm thày xưa không?

Và Kim Sa tự nhanh nhẩu trả lời:

–         Đừng nhé, không ai tiếp bạn đâu. Vào cửa nhà thày phải có người giới thiệu, thày chẳng có thì giờ tiếp chuyện vớ vẩn những đứa học trò xưa. Với lại mùa hè này vợ chồng con cái thày đang đi du lịch Châu Âu chưa về.

Tôi chán nản nhưng vẫn mong là nãy giờ bạn…nói đùa:

–         Kim Sa đùa thế đủ chưa? Làm sao mà Kim Sa biết rõ về thày như thế ?

–         Ai dám nói đùa nói xấu một con người, lại là thày giáo cũ mà mình từng ngưỡng mộ. Từ một người bà con bên vợ của thày kể ra cho bạn bè anh ta và truyền đến bọn mình. Không tin thì cứ nhìn căn biệt thự lộng lẫy của gia đình thày cũng là một câu giải đáp. Thời buổi này nhà giáo chân chính có dạy trường điểm, dạy thêm ngoài giờ đến hao mòn sức khỏe, ho lao khạc ra máu cũng chỉ đủ sống chứ ai làm giàu cho nổi…

Tôi buông phone, những lời nói của Kim Sa đang bủa vây xung quanh tôi. Thày giáo trẻ tuổi đẹp trai con nhà nghèo nhưng tâm hồn không vướng bận vật chất lợi danh của ngày xưa đã thay thế bằng một ông cán bộ ngành giáo dục tham hư danh quyền lợi, bán rẻ lương tâm nhà giáo chỉ vì tiền.

Tôi đã mất thày rồi, tôi trách hoàn cảnh xã hội, trách người phụ nữ làm vợ thày đã lấy đi trong tôi hình ảnh đẹp của thày, lấy đi mối tình đầu đời tuổi học trò mới lớn của tôi, những thứ mà tôi từng trân trọng cất dấu trong đời..

Tôi thốt kêu lên trong thất vọng:

– Thày ơi…thày đâu rồi ??

  Nguyễn Thị Thanh Dương.

    ( August, 18, 2018)

từ một cuộc chiến

Chuyện cổ tích từ một cuộc chiến

(Nguồn: Báo Tiếng Dân)

Tác giả: Daniel Hautzinger

Dịch giả: Đông Kha

Câu chuyện cảm động về lời hứa 40 năm của người lính Mỹ với một em bé Hội An

Phil Seymour là trung sĩ của Đại đội C, Tiểu đoàn 1, Trung đoàn TQLC, Sư đoàn TQLC 1 của Hoa Kỳ, ông đến Việt Nam vào tháng 12 năm 1966 và đã bị thương chỉ 1 tháng sau đó.

Tháng 6 năm 1967, Phil đóng quân ở một đảo nhỏ gần Hội An – Đà Nẵng, nhưng thường xuyên vào đất liền và tham quan ở Hội An. Trong những chuyến đi như vậy, Phil thường mang theo một chú chó nhỏ đằng sau balo của mình. Chú chó này tên là Boot, được ông cứu trong một lần hành quân ở trong rừng. Lúc đó Boot còn chưa dứt sữa.

Mỗi khi Phil và đồng đội chèo thuyền ghé vào đất liền, những đứa trẻ trong làng chạy ùa tới để hỏi xin các loại “đồ Mỹ” như kẹo, đồ hộp và cả thuốc lá. Thường thì toán lính Mỹ này sẽ chia cho bọn trẻ những thứ này trong khẩu phần của họ.

Trong số những đứa trẻ đó có một người tên Cam (có thể là Cẩm, Cầm…), luôn mặc đồ ngủ màu xanh và đi chân không. Cam không nhao nhao lên như những đứa trẻ khác mà đứng lùi về sau một chút. Ban đầu toán lính Mỹ tưởng Cam nhút nhát, tuy nhiên sau đó họ mới nhận ra là Cam rất khôn ngoan: Cậu không đến xin bằng tay không, mà mang đến những thực phẩm địa phương như dừa, chuối, chanh… để trao đổi. Vì vậy Cam rất được lính Mỹ yêu mến.

Một ngày của tháng 6 năm 1967, cậu bé Cam – 9 tuổi – tặng một quả chuối cho Phil. Trung sĩ Phil Seymour lúc này chuẩn bị rời vùng đất miền Trung này để đi nghỉ 1 tuần ở Thái Lan. Phil hỏi Cam rằng cậu muốn ông tặng quà gì. Thật ra một cậu bé nghèo ở làng quê heo hút này không thể biết là Thái Lan là ở đâu, có món gì để mà đòi hỏi. Cậu cũng không nói tiếng Anh được tốt lắm, suy nghĩ 1 chút rồi cậu chỉ vào cái đồng hồ mà Phil đang đeo. Trung sĩ Phil đồng ý.

Khi ở Thái Lan, Phil quên bén mất lời hứa về cái đồng hồ. Thật ra một anh lính đi du lịch nghỉ phép thì chỉ nghĩ đến việc ăn chơi, không có nhu cầu đi mua sắm. Hết kỳ nghỉ phép, trở lại Hội An, rồi gặp lại Cam, ông mới chợt nhớ tới vụ cái đồng hồ. Khi thấy Phil về, Cam chạy ùa tới, hớn hở.

Nhưng không có cái đồng hồ nào cả.

Ngay sau đó, đơn vị của Phil rời vùng đất này để về vùng phi quân sự, rồi đến tháng 1 năm 1968 thì ông rời Việt Nam.

Phil cho biết rằng cuộc sống của ông rất bình lặng, không có nhiều thứ làm ông hối tiếc, ngoại trừ lời hứa không thực hiện được với một cậu bé ở vùng quê nghèo miền Trung Việt Nam này. Đó thực sự là niềm hối hận lớn nhất trong đời của ông. Ông cũng đã từng nghĩ rằng sẽ phải mang niềm ân hận này theo cho đến khi lìa đời.

Phil Seymour là một người gốc Brookline, Massachusetts, ở trong quân ngũ thêm 27 năm, sau đó lấy bằng Master về luật và trở thành luật sư ở Lầu Năm Góc, sau đó là trưởng công tố viên trước khi nghỉ hưu năm 1995. Ông đã nghĩ rằng mình không thể trở lại Việt Nam một lần nào nữa.

Tuy nhiên vào năm 2007, vợ của Phil là Lynne cho ông biết là nhóm du lịch chung mà ông bà thường tham gia sẽ có một chuyến đến vùng Đông Nam Á và có dừng chân ở Hội An. Bà Lynne nói ông cân nhắc việc tham gia chuyến đi này, cũng là cơ hội để tìm lại Cam và thực hiện lời hứa 40 năm trước đó.

Đến khi ông Phil quay trở lại thì Hội An đã trở thành một thành phố du lịch nổi tiếng, được UNESCO công nhận là Di sản thế giới vì kiến trúc của nó hầu như không thay đổi so với thời điểm thành lập hồi thế kỷ 15, là nơi giao thương nhộn nhịp của người Việt với người Hoa, Nhật và Châu Âu sau này.

Phil nghĩ rằng cơ hội để tìm lại được Cam gần như là số 0. Không thể biết được rằng Cam có thể sống sót qua được chiến tranh hay không, vì vùng đất này xưa kia rất ác liệt. Tuy nhiên Phil vẫn mang theo một cái đồng hồ trong chuyến du lịch này.

Hướng dẫn viên đoàn du lịch của Phil là một người Hà Nội, nói rằng anh biết rất nhiều người ở Hội An nên sẽ giúp tìm Cam. Thật bất ngờ là sau ngần ấy năm, ông Phil vẫn còn giữ một số tấm hình gia đình của Cam để có thể mang đi hỏi thăm.

Sau khi đến Hội An, nhận phòng khách sạn xong thì cũng là lúc anh hướng dẫn viên người Việt gọi Phil xuống và qua bên kia đường. Không biết bằng cách nào, người hướng dẫn viên này đã tìm được một người đàn ông đội nón màu xanh, người này nhìn tấm ảnh của Phil và nói trong hình là cha của anh chụp chung với 3 người con, người con trai út trong hình chính là người đội nón xanh này, và Cam chính là anh trai của anh. Ngay lúc đó, anh điện thoại để gọi Cam tới.

Phil lật đật chạy lên phòng khách sạn để lấy máy ảnh và đồng hồ, rồi chạy ngay xuống. Ngay khi băng lại qua đường, Phil cũng vừa thấy Cam tới, lúc này Cam đã là một người đàn ông 49 tuổi, làm nghề thợ mộc.

Hướng dẫn viên giải thích cho Cam hiểu câu chuyện. Anh ngơ ngác, không thể hiểu được rằng có người vừa đi nửa vòng trái đất chỉ để gặp anh và đưa chiếc đồng hồ.

Hướng dẫn viên chỉ ông Phil rồi hỏi Cam là có nhớ người đàn ông này không, Cam trả lời: “Có, ổng thường cõng con chó nhỏ trên lưng”. Hướng dẫn viên hỏi về lời hứa chiếc đồng hồ 40 năm trước, Cam trả lời: “Có, lúc đó tui mới 9 tuổi, nói tiếng Mỹ bập bẹ, nên nghĩ rằng đã có sự hiểu lầm nào đó”.

Theo chiều kim đồng hồ từ trái: Cam và anh trai; Cam và Phil Seymour trong cuộc hội ngộ 40 năm sau; Phil Seymour ở Việt Nam khi là lính Thủy quân Lục chiến; Cam và Phil Seymour năm 1967. Nguồn: Phil Seymour

Ông Phil và hướng dẫn viên đã giải thích cho Cam hiểu là không có sự hiểu lầm nào cả, chỉ là do Phil đã thất hứa.

Phil đưa cho Cam chiếc đồng hồ. Anh Cam rơi nước mắt. Họ cùng ôm nhau khóc.

Hôm sau anh Cam mời ông Phil đến nhà ăn tối. Vợ anh tên là Nở, cùng cô con gái tên Vy chuẩn bị cho bữa ăn, còn vợ chồng Phil – Lynne và anh hướng dẫn viên ngồi ăn. Phong tục của Việt Nam là khách đến nhà chỉ có việc ăn, và ăn, sau đó là đi về.

Vy – con gái đầu của anh Cam – lúc đó 28 tuổi, vừa mới kết hôn, nói rằng cô muốn được học đại học như 4 người em trai của mình, nhưng ở vùng quê này thì phụ nữ thường thiệt thòi, ít được học lên đại học.

Trên đường về khách sạn, Lynne – vợ của Phil – suy nghĩ và ngỏ ý muốn cố giúp Vy được học đại học. Với sự liên lạc, giúp đỡ của anh hướng dẫn viên, Vy đã được đi học ở Sài Gòn cùng với 4 người em trai đã đi học hồi trước đó. Vy nhận bằng liên thông năm 2010 và bằng cử nhân năm 2012.

Phil trở lại Việt Nam – có lẽ là lần cuối cùng – vào năm 2012 để dự lễ tốt nghiệp của Vy. Họ cũng mua vé máy bay cho vợ chồng Cam – Nở vào Sài Gòn. Đó cũng là lần đầu tiên Cam được đi máy bay, anh mang theo vô số quà quê để mở một bữa tiệc mừng tại nhà trọ của Vy. Lynne và Phil còn tặng cho Nở một lò vi sóng để giúp cô nấu ăn thuận tiện.

Hiện tại Vy đang làm việc ở Sài Gòn, vẫn thường xuyên gọi điện cho vợ chồng Seymours.

Một lời hứa tưởng như rất nhỏ, vô thưởng vô phạt, nhưng đã ám ảnh anh lính tên Phil trong 40 năm, khơi gợi lại cho ông những ký ức buồn về một vùng quê đau khổ, tan tác. Ông quyết chí tìm lại cậu bé năm xưa để xua đi nỗi đau đáu trong lòng. Phil cho biết:

“Nếu tôi thất hứa với một người lớn nào đó thì tôi sẽ không bị mang một nỗi ân hận dai dẳng đến như vậy. Đằng này tôi đã hứa với một đứa trẻ tốt bụng, ngây thơ. Nó không thề thốt hay cầu xin gì cả, trên khuôn mặt lúc nào cũng có một nụ cười”.

Chiến tranh mang lại những tổn thương khó lành trong tâm khảm những người lính tham chiến. Chính sự ngây thơ của Cam và những đứa trẻ xin kẹo khác đã làm dịu bớt những trăn trở không yên trong lòng người lính viễn chinh, giúp họ bình thản hơn để vượt qua được những hoàn cảnh khắc nghiệt của cuộc chiến.

Thêm một số hình ảnh trong bài. Nguồn: Phil Seymour

Căn cứ Thủy quân Lục chiến ở trên đảo. Nguồn: Phil Seymour
Phil và chú chó Boot trên ba lô. Nguồn: Phil Seymour
Cam và Phil Seymour năm 1967. Nguồn: Phil Seymour
Lynne Seymour và Vy, con gái của Cam. Nguồn: Phil Seymour

Đông Kha dịch từ: A Timely Reunion Across Four Decades and the Globe

Từ Một Góc Khuất Trong Công Viên

Thư viện của bài

This gallery contains 1 photo.

 Phạm Nga

Trong Công Viên Người Ta Mới Nghe Rõ Được Thứ Âm Thanh Khá Hiếm Hoi Giữa Phố Xá, Đó Là Tiếng Hót Líu Lo Của Chim Chóc, Có Khi Là Tiếng Kêu The Thé Của Loài Chim Lạ Nào Đó Trên Đỉnh Những Cây Sọ Khỉ Cao Ngất. Vào Mùa Hè, Lạ Lùng Là Tiếng Ve Sầu, Nghe Cứ Âm Âm, Mơ Hồ Ở Cùng Khắp Những Tán Lá Cây…>

   Sau ngày công viên Gia Định 2 mở cửa phía bên kia đường Hoàng Minh Giám, rộng rãi hơn và cảnh trí cũng đẹp công viên cũ bên này đường, tôi vẫn tiếp tục đến chỗ cũ mà từ dạo ấy, tên nó dài hơn một chút cho phân biệt: công viên Gia Định 1. 

 Có thể là do sức ì tâm lý của tuổi già mà người ta cứ trung thành với một quán cà phê, một sạp báo, một tiệm hớt tóc quen thuộc nào đó của mình, như riêng tôi cứ tiếp tục chọn “sân gôn” cũ – như dân địa phương quen gọi. Đúng ra, còn vì tôi ngại đi bộ băng qua đường. Thật ngán khi công viên của tôi mở cửa lúc mờ sáng, không khí đã nặng ô nhiễm mùi xăng dầu, bụi bậm và tiếng động vì sát bên là một cái ngã năm náo nhiệt – được mở rộng ra từ ngã ba Chú Ía Gò Vấp, một xóm mại dâm nổi tiếng thời chiến tranh –  đã rất đông xe cộ các loại rồi.

1.

Trời sáng dần, trên con đường chính lát gạch con sâu, dài khoảng 800 mét, chạy viền theo chu vi công viên, đã có lũ lượt người đi bộ, chạy bộ, mà đi bộ, nếu bước nhanh thì mất khoảng 10 phút. Sau khi đi bộ chừng 3 – 4 vòng vô chừng, tôi thường rẽ vào một nhánh đường nhỏ, chọn một góc khuất thường vắng người, lơ đãng tập vài động tác và Tiếp tục đọc

Câu Chuyện Thầy Trò

Thư viện của bài

This gallery contains 1 photo.

Trần Huiền Ân

Ông thầy không ở trong hàng lớn tuổi, không phải là giới trẻ mới tốt nghiệp sư phạm, cũng chưa tới khoảng trung niên, chỉ ở khoảng giữa hai thế hệ này, nhưng hội đủ đức tính của cả ba, chẳng những hội đủ mà còn vượt trội. Nghiêm nghị đạo mạo hơn các thầy lớn tuổi, vui vẻ hoạt bát hơn các thầy trẻ và chững chạc mực thước hơn các thầy trung niên. Mỗi khi bước vào lớp, có vẻ như ông thầy đem sự sợ hãi gieo rắc khắp bọn học trò. Không đứa nào đi trễ mà dám xin phép vô lớp. Ông thầy thấy đó nhưng cứ tảng lờ như không, và đứa đi trễ chịu khó ra sân sau hoặc xuống nhà ông Cai chờ đợi. Giờ học lúc ấy luôn luôn là giờ đôi, hai tiếng đồng hồ không phải là ngắn ngủi. Tôi đã có lần bị như vậy, mà tôi chỉ chậm hơn ông thầy không đầy mươi bước chân chứ lâu lắc gì cho cam. Muốn khóc mà khóc không được, rủa thì cũng chỉ dám rủa thầm !

          Lớp chúng tôi đâu phải lớp tầm thường. Chính thầy Hiệu trưởng cũng bảo rằng đây là nơi tập trung tài hoa, trí tuệ, đây là nơi bất cứ bộ môn nào từ học tập đến sinh hoạt đều có phần thưởng, và thầy cũng cảnh cáo về sự ngỗ nghịch không phải chỉ đứng thứ ba mà e còn hơn cả ma cả quỷ. Chúng tôi dám giỡn mặt với thầy Tổng Giám thị nữa, nhưng đối với ông thầy thì khác.

Ngồi nhìn lên ông thầy, chúng tôi có cảm tưởng như con hươu, con nai bị con cọp, con beo thôi miên, im lặng khép nép gần như không dám thở mạnh, nhìn nhau lo lắng, không biết đứa nào sẽ mang thân phận con mồi bị săn ! Thế nhưng, thời gian hỏi bài vừa hết, thường là năm sáu phút, có khi hai ba phút, có khi ông thầy ngồi xuống mở sổ, đảo Tiếp tục đọc

Cô Sướng Cưới Vợ

Thư viện của bài

This gallery contains 1 photo.

Đặng Xuân Xuyến

(Tặng tình yêu 2 em Ngân – Sướng)

Vâng! Thì hẳn là “cô” Sướng lấy vợ chứ làm sao có chuyện “cô” Sướng lấy chồng! Tuổi “cô” tuy chưa nhiều, nhưng ở cái làng quê này, cỡ tuổi hăm mấy như “cô” mà chưa có nơi có chốn sẽ là nhiều lời đàm tiếu lắm. Vì thế, cụ Bống lo dựng vợ gả chồng cho “cô” năm nay cũng phải.

Tuy “cô” không được cao ráo, mạnh mẽ như mấy cậu em nhưng bù lại “cô” rất khéo tay, chịu khó lam làm và đặc biệt “cô” là người rất tốt nết. Nếu không dấp phải tính khí đanh đá chua ngoa thì hẳn “cô” là người hiền thục nhất nhì làng xã. Kể cũng lạ, “cô” chẳng có gen di truyền về khoản “mồm năm miệng mười”, “cô” cũng chẳng tầm sư học đạo thế mà khiếu chửi nhau của “cô” lại hay đáo để, lại lừng danh thôn xóm. Làng trên xóm dưới, mọi người bảo nhau, trêu ai thì trêu, chọc ai thì chọc, nhưng chớ có động vào “cô” Sướng mà khổ. “Cô” sẽ vén quần, nhảy tanh tách tanh tách rồi bắc ghế vênh mặt lên mà chửi. “Cô” chửi từ sáng đến trưa, từ trưa đến tối, từ tối đên đêm, chửi cho đến khi nào kẻ bị chửi phải tâm phục khẩu phục, phải mò đến tận nhà năn nỉ xin cô đừng chửi nữa thì cô mới thôi. “Cô” chửi có bài có bản, có lớp có lang, có vần có điệu chứ không vớ câu nào chửi câu đấy như mấy bà buôn gà bán vịt. Ca dao tục ngữ nhiều người đọc có khi còn sai, còn lẫn lộn, còn “râu ông nọ cắm cằm bà kia” chứ các bài chửi của “cô” Sướng thì tuyệt không có một sai sót, tuyệt không lẫn lộn về câu từ, ý tứ. Thế mới tài! Thế mới xứng danh đệ nhất thiên hạ chửi của làng Đỗ Hạ! Tiếp tục đọc

Hà Nội, trong mắt một người mù

Thư viện của bài

This gallery contains 1 photo.

nam dao Cuốn phim ‘’Hà Nội trong mắt ai’’ (HNTMA) của đạo diễn Trần Văn Thủy bắt đầu bằng tiếng ghi-ta một nhạc sĩ mù. Kính đen sụp xuống mũi, nhạc sĩ gảy đàn như thể cố nhìn cho ra … Tiếp tục đọc

Tô Canh Thơm Của Mạ

Thư viện của bài

This gallery contains 1 photo.

ThaiNC

Chỉ mới đôi năm trước đây thôi, mạ tôi vẫn còn khỏe và năng động lắm. Tuy đã lớn tuổi, nhưng bà vẫn tự nấu lấy thức ăn cho mình. Anh em tôi e ngại sợ mạ tay yếu đổ nước phỏng tay, hay sợ bà quên tắt bếp, lửa củi nguy hiểm… nhưng mà nói mấy cũng vô ích. Mạ viện lý do thức ăn tụi tôi nấu không hợp khẩu vị, và nhất là bà cần làm việc để qua thì giờ và cũng để vận động chân tay luôn thể. Thấy bà nói có lý nên tụi tôi cũng đành chiều ý. Thôi kệ, tới đâu hay tới đó. Vậy đó mà mạ tôi đã nấu ăn một cách ngon lành. Chẳng những bà nấu cho bà, mà cả lũ con cháu nội ngoại còn được hưởng lây nữa.
Hình như ít có lần nào sau khi đã gởi cháu cho Bà trông, đến đón về mà tôi không được mạ bới cho một chút đồ ăn mang theo. Và món mà bà thường làm cho tôi nhiều nhứt là món canh thơm. Bà biết đây là món mà tôi rất thích.
Kể cũng lạ. Những lần mang tô canh thơm về là tôi hầu như một mình làm trọn. Hai đứa con không ăn đã đành, mà cả H vợ tôi cũng chỉ sơ sơ vài muỗng góp vui vậy thôi, còn lại là tôi quét sạch không chừa một cọng hành. Tôi xì-xà xì-xụp ăn tô canh như ngày mai sẽ tận thế không bằng.
Thấy tôi thích món này như vậy, nên khoảng hai ba tuần mà không thấy tôi mang từ bà nội về là vợ tôi lục đục nấu. Tưởng cũng nói thêm bà xã tôi có biệt tài học nấu ăn. Nàng vô nhà hàng hoặc đi ăn ở đâu mà gặp món đắc ý, chỉ cần khươi đĩa đồ ăn coi sơ sơ là có thể về nhà nấu giống y chang. Cho nên với tô canh thơm đơn giản này là quá dễ dàng. Hôm tôi thấy tô canh thơm dọn lên bàn, ngạc nhiên quá tưởng là mạ tôi nấu nhờ người khác mang qua. Nhưng Hương nói nàng mới nấu theo kiểu của Bà nội. Tôi thích vô cùng, ngồi xuống chén thả giàn. Ăn xong vợ hỏi “ ngon không”” “Ngon chứ”. Vợ hỏi tiếp “ Có ngon như bà nội nấu không” Tôi thành thực trả lời “Ngon, nhưng mà hình như hơi khác với cách Bà nội nấu” Vợ tôi nói mới nấu lần đầu nên chưa chỉnh. Lần sau chắc chắn sẽ Tiếp tục đọc

Ông Thầy Bói Mù

Thư viện của bài

This gallery contains 1 photo.

Trần Thanh Tùng

Năm nay Xuân lại đến
Nhớ ông Thầy Bói mù
Chợ Cà Mau năm cũ
Cùng chiếc ghe màu xanh…

Thấm thoát đã gần ba mươi năm phiêu bạt bồng bềnh nơi đất khách, cứ mỗi độ Xuân về là tôi lại nhớ tới câu chuyện đã đi qua đời tôi với một người. Tuy chỉ gặp một lần ngắn ngủi, mà tôi cứ nhớ mãi cho đến bây giờ. Tôi xin được quay lại đoạn phim của hai mươi chín năm về trước để tưởng nhớ ông Thầy Bói Mù, nay đã trở thành “người muôn năm cũ”, và bác Chín Cụt, người thương binh “cách mạng giác ngộ”, đã nằm lại dưới lòng đại dương trên đường vượt biển tìm tự do.

Sau bốn lần tham gia tổ chức vượt biên thất bại qua nhiều cửa biển, từ Vàm Lẻo Cổ Cò Sóc Trăng tới Gành Hào Bạc Liêu xuống tận Sông Đốc Cà Mau. Người ta thì “nhất quá tam” còn riêng tôi thì “nhì quá tứ”, rồi tứ hóa… tù luôn. May nhờ người chiến hữu anh em chí cốt thương tình, cầm nhà bán cửa để chuộc “bùa” thỉnh “phép”, chạy chọt theo hệ thống “tam cấp”, từ cấp xã lên cấp huyện tới cấp tỉnh, nên tôi được ra khỏi trại giam với tờ giấy chứng nhận là… “gia đình có công với cách mạng”? Tiếp tục đọc

Câu chuyện thầy trò

Thư viện của bài

This gallery contains 1 photo.

Trần Huiền Ân

Ông thầy không ở trong hàng lớn tuổi, không phải là giới trẻ mới tốt nghiệp sư phạm, cũng chưa tới khoảng trung niên, chỉ ở khoảng giữa hai thế hệ này, nhưng hội đủ đức tính của cả ba, chẳng những hội đủ mà còn vượt trội. Nghiêm nghị đạo mạo hơn các thầy lớn tuổi, vui vẻ hoạt bát hơn các thầy trẻ và chững chạc mực thước hơn các thầy trung niên. Mỗi khi bước vào lớp, có vẻ như ông thầy đem sự sợ hãi gieo rắc khắp bọn học trò. Không đứa nào đi trễ mà dám xin phép vô lớp. Ông thầy thấy đó nhưng cứ tảng lờ như không, và đứa đi trễ chịu khó ra sân sau hoặc xuống nhà ông Cai chờ đợi. Giờ học lúc ấy luôn luôn là giờ đôi, hai tiếng đồng hồ không phải là ngắn ngủi. Tôi đã có lần bị như vậy, mà tôi chỉ chậm hơn ông thầy không đầy mươi bước chân chứ lâu lắc gì cho cam. Muốn khóc mà khóc không được, rủa thì cũng chỉ dám rủa thầm !

Lớp chúng tôi đâu phải lớp tầm thường. Chính thầy Hiệu trưởng cũng bảo rằng đây là nơi tập trung tài hoa, trí tuệ, đây là nơi bất cứ bộ môn nào từ học tập đến sinh hoạt
Tiếp tục đọc

Bảy Ngày Ngà Ngọc

Thư viện của bài

This gallery contains 1 photo.

Hoàng Lan Chi

Tháng Chạp ngày N

Sài Gòn bắt đầu có những ngày mang hơi hướng mùa đông. Với một chút lạnh giá vào sáng mai hay khi hoàng hôn buông rủ. Những cô gái Sài Gòn với áo len hồng, khăn voan trắng làm phố phường như mềm mại hơn, tha thuớt hơn.. Tháng chạp của Sài Gòn không giống tháng chạp của bất cứ nơi nào..

Nàng đứng đợi ở sân bay quốc tế Tân Sơn Nhất. Một bó hoa thạch thảo tím trên tay. Đó là dấu hiệu của nhau.

Em

Anh biết là em yêu hoa hồng nhất. Nên nếu đón em sẽ là những bông hồng BB mà em hằng yêu thích. Nhưng anh xin được nhìn thấy em -đón anh -với thạch thảo tím. Những bông hoa bé nhỏ và màu tím thuỷ chung. Là những gì, em dành cho anh và ngược lại. Phải thế không?

Ừ, thì có gì đâu, chút chiều nhau cho tháng chạp ngát huơng mùi thạch thảo.
Tiếp tục đọc

Ngày nầy, năm 1975…

Thư viện của bài

This gallery contains 1 photo.

Tiểu Tử

Năm nay tôi 80 tuổi . Vợ tôi thường nói với mấy con :« Ông bà mình nói người già hay sanh tật, đúng quá ! Bây coi : ba bây bây giờ sáng nào uống cà phê xong cũng lại đứng trước tấm lịch tháng treo ở phòng khách, nhìn trầm ngâm một chút rồi lấy bút gạch tréo ô vuông đề ngày hôm qua ! Chi vậy hổng biết ? Hỏi ổng thì ổng nói gạch để nhớ rằng đến ngày nầy tháng nầy mình vẫn còn trôi sông lạc chợ ! Trời đất ! Định cư ở Pháp từ hơn ba mươi năm chớ phải mới đây đâu mà đi gạch lịch từng ngày ! Ổng còn nói gạch để coi chừng nào mình mới thôi gạch để về lại Việt Nam… »

Câu nói của tôi là sự thật nhưng vì vợ tôi không hiểu nên cho là tôi già sanh tật ! Làm sao giải thích được mỗi lần tôi gạch tréo một ngày như vậy tôi có cảm tưởng như là tôi vừa nhích lại gần quê hương một chút – một chút thôi – đủ để nuôi hy vọng thấy một ngày nào đó mình vẫn còn sống mà trở về…

Sáng nay, cũng giống như mọi ngày, tôi cầm bút gạch tréo ô vuông ngày hôm qua. Ô vuông ngày hôm nay đập vào mắt tôi làm tôi giật mình : ngày nầy, năm 1975 ! Tôi bỗng nhớ ra, nhớ rõ, những gì đã xảy ra ngày đó, nhớ như in. Rồi sợ « cái ngày đó » nó vuột khỏi ký ức vốn đã quá hao mòn của tuổi già , tôi vội vã lấy giấy bút ghi lại… Tiếp tục đọc

Chỗ Treo Linh Hồn

Thư viện của bài

This gallery contains 1 photo.

Cung Tích Biền

Nhà cô Thiền Pha nằm trên một con đường phố trung tâm Hồ Chí Mính City. Tôi nhấn mạnh HCM city. Mới lắm chuyện huyền ảo.

Ngồi ở ban công trước hiên nhà, cô Thiền Pha có thể thấy trăng khuya cuối đường phố, khoảng giữa hai tầng nhà cao. Có thể mơ mộng. Rất hiếm sương mù, nhưng gặp đêm mù sương, cảnh trí như trong tranh thủy mặc.

Chợ Lớn ở cuối đầu kia. Đôi khi nghe tiếng trống múa lân thùng thùng.

Bốn năm trước, nhà cầm quyền thành phố có lệnh mở rộng con đường. Mỗi bên đường nhà nhà phải đập bỏ phần trước, lui vào ba mét. Đào xới, mở rộng, tráng nhựa, lát gạch vỉa hè, hơn ba năm trời, chỉ hơn một cây số đường, rồi cũng xong.

Có một điều lạ. Con đường rộng hơn ra làm cho Thiền Pha cảm tưởng như nó thấp hơn xưa. Mưa như trước, mà con đường bị ngập hơn trước. Trên đại lộ, sóng vỗ dập dìu vào trước cửa nhà mỗi đợt xe buýt chạy qua. Một hàng những cây trụ điện trên con đường hồi chưa mở rộng vẫn còn đứng lẻ loi như bọn cụt tay đang lội nước.

Cây trụ điện thì không có vui buồn như con người. Nhưng bọn chúng, tức là bọn trụ điện, quả là nó lẻ loi.
Tiếp tục đọc

Người trong gương

Thư viện của bài

This gallery contains 1 photo.

Hoàng Ngọc Thư

Nàng trở mình thức giấc. Tấm chăn bông trượt xuống một bên giường, để lộ cánh tay và một bên ngực nàng lạnh buốt. Nàng với tay kéo chăn đắp lại, co ro cố tìm chút hơi ấm. Bên cạnh nàng, đứa con gái nhỏ ngủ ngon lành, đôi má ửng hồng bầu bĩnh trông thật đáng yêu. Nàng choàng tay ôm con, áp mặt vào cái thân thể bé xíu ấm áp và thấy thương yêu con vô hạn. Nàng thường cảm thấy hạnh phúc pha lẫn chút ăn năn mỗi khi được gần gũi, trìu mến với con, vì ít khi nào nàng có được nhiều thì giờ để vui chơi và âu yếm con như thế. Nàng luôn bận bịu với công việc, học hành, và nhất là lúc này, khi chồng đi công tác xa, một mình nàng phải đảm đương mọi việc lẫn chăm sóc con thật chu toàn, chừng ấy đã chiếm hết thì giờ của nàng.

Nàng cố dỗ giấc ngủ nhưng bao nhiêu ý nghĩ trong đầu vẫn tiếp tục xoay tròn. Nàng nhớ đến những việc phải làm ngày mai, những việc gấp lẫn thư thả mà ngày thường chồng nàng đảm trách. Nàng nhớ chồng và ước sao thời gian qua mau. Một tháng công tác! Khi vừa biết tin anh phải đi xa, nàng cho rằng điều này chẳng có gì đáng ngại. Thế nhưng từ hôm anh đi, nàng thật sự cảm thấy bận rộn, mệt mỏi và cô đơn. Cô đơn ư? Thật ra nàng có phút nào được nghỉ ngơi để mà cô đơn đâu, ngoại trừ lúc lên giường sau một ngày mệt nhoài, hoặc lúc thức giấc nửa đêm như bây giờ nàng mới thật sự nhớ đến chồng. Nàng nhớ tha thiết và thèm hơi ấm của anh, thèm vòng tay vững vàng, ấm áp của chồng và những cái hôn thật âu yếm, dịu dàng. Nàng thấy thiếu vắng nhất là cảm giác an tâm khi có chồng bên cạnh và biết rằng mọi việc đều được lo lắng đầy đủ.
Tiếp tục đọc

 MỌI NGƯỜI ĐỀU QUEN BIẾT NHAU

Thư viện của bài

This gallery contains 1 photo.

Lea MacDonald

Hôm đó là một ngày đặc biệt, một ngày dành để lấy lại niềm tin. Và cùng với niềm tin đó, tôi đã rút ra được một bài học nhờ vào Brandon, đứa con trai sáu tuổi của tôi.

Suốt buổi sáng, tôi nhìn nó cẩn thận gói bữa ăn trưa nơi bàn ăn. Tôi sắp đi làm và phải dẫn nó theo. Trong lúc bỏ đồ vào giỏ, nó nói:

– Lớn lên con sẽ là một công nhân.

Nó cẩn thận sắp xếp mọi thứ cần thiết dùng cho cả ngày – một cuốn sách tô màu nhỏ, hộp viết chì màu, một hộp đồ chơi, một cái bánh mì nướng nhân trái việt quất, một bánh săng-uých trứng và ba quả trứng Phục Sinh nhỏ.

Tôi đang trễ giờ nên hối Brandon thu xếp nhanh lên.

Thế là nó nhanh chân nhanh tay lên thật. Và nó bỏ quên bữa ăn trưa đã được gói ghém kỹ lưỡng – một lỗi lầm mà tôi chỉ biết được sau khi lái xe đã được bốn mươi lăm phút. Nó trách móc tôi nhiều lần:

– Ba cứ bắt con làm nhanh lên, bây giờ con chẳng có bữa ăn trưa. Tiếp tục đọc

FRANÇOISE SAGAN VÀ NỖI BUỒN

Thư viện của bài

This gallery contains 1 photo.

Bích Hoài

            Năm 1954, một cô gái 18 tuổi, Françoise Sagan, xuất hiện trên văn đàn Pháp quốc với tác phẩm đầu tay Bon-jour Tristesse, gây sóng gió. Tựa đề của cuốn sách bắt nguồn từ bài thơ của Paul Éluard “À peine défigurée” (Vừa mới biến dạng), với dòng chữ đầu tiên “Adieu tristesse/Bonjour tristesse (Buồn ơi, chào mi).” Một cuốn phim tiếng Anh, phỏng theo cuốn sách, được phát hành năm 1958 với đạo diễn Otto Preminger.

Câu chuyện như sau: Cô bé Cécile, 17 tuổi, nghỉ hè tại một biệt thự bên bờ sông Riviera của Pháp cùng với cha là Raymond, một người hấp dẫn, trần tục, vô luân, tự bào chữa cho mình về tài tán gái với lời trích dẫn của Oscar Wilde, theo đó thì tội lỗi chỉ là một sắc màu sặc sỡ, dai dẳng trong thế giới hiện đại. Cécile nói cô tin rằng cô có thể lấy việc đó làm căn bản trong đời sống của cô và chấp nhận cái phong cách sống đó làm mẫu mực. Một trong những lợi thế đối với cô là cha cô không chút quan tâm đến khả năng hiểu biết nên chẳng cần để ý cô có học hành hay không. Một lợi thế khác là ông bỏ mặc cho cô rảnh tay lôi cuốn đàn ông. Ban đầu cô tìm đến những người đàn ông cùng tuổi với cha, nhưng ở biệt thự kế bên có một chàng trai tuổi đôi mươi, Cyril, mà cô bắt đầu cuộc tình lãng mạn Tiếp tục đọc

Ngày Vượt Biên Nhìn Lại

Thư viện của bài

This gallery contains 1 photo.

 Người Phương Nam

Mỗi năm, cứ tới ngày ba mươi mốt tháng mười là thầy Thanh nhắc vợ mua dĩa trái cây về thắp nhang cúng Bà Áo Trắng để tạ ơn  Bà đã  phù hộ độ trì cho gia đình thầy nói riêng  và  cả nhóm người chung tàu nói chung được bình yên tới bến bờ trong chuyến vượt biên ba mươi năm về trước. Một ơn phước thiêng liêng tưởng như là bịa đặt nhưng kiểm chứng lại thì quả thật không thể nào phủ nhận .  

Đây ngày kỷ niệm vượt biên

Tháng mười, ba (mươi) mốt vượt biên đường tàu

Xế chiều qua chợ Bãi Xàu

Rồi qua Bãi Giá núp vào chờ đêm…

Năm bảy mươi lăm, trong những ngày hấp hối dãy chết của miền nam, Thầy Thanh đã tận sức tìm cách đưa gia đình chạy cộng sản nhưng cuối cùng cuộc di tản bất thành, số mệnh đã cột chân thầy lại cho đến bốn năm sau. Khi về lại tỉnh nhà, trong một buổi họp nhân dân, thầy đã chứng kiến tận mắt  một màn thị oai dằn mặt nhân dân rất ư là ghê rợn bạo tàn của chế độ mới. Trong buổi họp, bọn sắt máu đã tố tội hai sĩ quan “ngụy” và sau đó đã thẳng  tay hành quyết vặn cổ nạn nhân ngay tại hiện trường không mảy may xúc động. Luật lệ nào mà xử người không có đối chứng, không quyền biện hộ phân bua Tiếp tục đọc

Anh phải sống/You Must Live

Thư viện của bài

This gallery contains 1 photo.

Khái Hưng

Trên đê Yên Phụ một buổi chiều mùa hạ.
Nước sông Nhị Hà mới bắt đầu lên to, cuồn cuộn chảy, tưởng muốn lôi phăng cái cù lao ở giữa sông đi.

Theo dòng nước đỏ lờ lờ, những thân cây, những cành khô trôi từ rừng về, nổi lềnh bềnh, như một dẫy thuyền nhỏ liên tiếp chạy thực nhanh tới một nơi không bờ không bến.

Đứng trên đê, bác phó nề Thức đưa mắt trông theo những khúc gỗ ấy tỏ ra ý thèm muốn, rồi quay lại, đăm đăm nhìn vợ, hỏi thầm ý kiến. Người vợ, ngắm sông, ngắm trời, lắc đầu thở dài, nói:

– Gió to quá, mà đám mây đen kia ở chân giời đùn lên mau lắm. Mưa đến nơi mất, mình ạ!

Người chồng cũng thở dài, đi lững thững. Rồi bỗng đứng dừng lại, hỏi vợ:

– Mình đã thổi cơm chưa?

Vợ buồn rầu đáp:

– Đã. Nhưng chỉ đủ cơm cho hai con ăn bữa chiều hôm nay.

Hai vợ chồng lại im lặng nhìn nhau… Rồi hình như cùng bị một vật, một định kiến nó thôi miên, nó kiềm áp, hai người đều quay lại phía sông: Những thân cây vẫn phăng phăng trôi giữa dòng nước đỏ. Tiếp tục đọc

KHÓI VÀ MẢNH TRĂNG KHUYẾT

Thư viện của bài

This gallery contains 1 photo.

Nguyễn Lệ Uyên

(Tặng bạn bè tôi, một thời tan nát, chia lìa).
Từ nơi nào ấy rất xa xôi, như tiếng vọng khẽ:

– Định, mày mạnh giỏi chứ? Bây giờ mày thế nào rồi? Lâu lắm tao không gặp, nhớ lắm!

– Xin lỗi, giọng nói nghe rất quen.

– Ha, ha… đã quên thằng bạn này rồi sao? Đầu óc mày bắt đầu còm cõi từ hồi nào vậy? Tao cứ ngỡ tụi mình vẫn tiếp tục làm thơ dưới khung cửa sổ phòng Thủy đó mà.

– Hả. Nói sao? Thủy ngày xưa. Ngô, mày ở đâu? Tao tưởng.

– Chết từ ba mươi năm nay rồi chứ gì? Người đời nghĩ rằng tao chết rồi, chết thật rồi. Nhưng mà, hỡi ơi, làm sao tao chết được. Tao vẫn gần tụi mày, vẫn biết Thủy bây giờ cơ cực, vẫn biết thỉnh thoảng mày mơ màng làm một cuộc viễn du, đến bên em bằng những giấc mơ tuyệt đẹp, đầy ắp hương hoa và rỗng không sương khói.

– Mày gặp Thủy?

– Tao gặp thường xuyên, không ngày nào, tháng nào, năm nào là tao không ở bên cạnh nàng.

– Mày với Thủy…

– Lại ngộ nhận. Tất cả đều trễ tràng. Tất cả là những sợi khói mong manh, níu theo mảnh trăng khuyết dằn xé nỗi khát khao.

– Tao không hiểu gì cả. Tiếp tục đọc

Con Tàu Chỉ Có Một Người

Thư viện của bài

This gallery contains 1 photo.

Phan Xuân Sinh

Anh cũng như bao nhiêu người sĩ quan khác ở Miền Nam. Sau 75, đều bị tập trung cải tạo. Những tháng đầu anh được vợ gửi cho một hai lần đồ ăn, sau đó thì biệt tăm. Anh được phép viết thư về cho gia đình nhiều lần. Nhưng không thấy vợ trả lời. Như thế kể như anh bị vợ bỏ. Sống trong trại cải tạo mà không có người thăm nuôi, không được tiếp tế đồ ăn, người đó kể như chết. Anh biết mình nằm trong số người bất hạnh đó. Nên anh phải tự lực cánh sinh. Nói chơi cho vui vậy chứ tự lực gì nổi.. Có được thăm nuôi hay không, người tù nào cũng co cúm lại. Thức ăn dành dụm từng chút. Ra ngoài lao động, con mắt của họ dáo dác tìm bất cứ thứ gì có thể bỏ vào bụng cho đở đói. Cho nên người có quà thăm nuôi cũng như dân mồ côi, khi ra ngoài lao động cũng xục xạo tìm kiếm đào bới như nhau. Ai tìm được nấy ăn.

Chuyển ra ngoài Bắc anh lại càng tơi tả hơn. Không quen với cái lạnh thấu xương, bụng thì đói meo. Trông anh như một ông cụ già hom hem. Công việc nặng nhọc làm cho anh còm lưng. Ngày trở về thì không thấy hy vọng. Anh cứ nghĩ mình kéo dài tình trạng đói khát, nặng nhọc nầy mãi, thì thế nào cũng bỏ xương tại cái xứ đèo heo hút gió nầy. Trốn trại thì không can đảm. Mà cũng chẳng biết trốn đi đâu, giữa núi rừng trùng trùng điệp điệp. Đành phải bó tay chịu trận.

Bỗng nhiên một hôm anh nhận được gói đồ ăn gửi bằng đường bưu điện. Anh nghĩ chắc vợ anh gửi cho. Nhưng khi cầm gói quà trên tay nhìn tên người gửi lạ hoắc, anh phân vân, đắn đo. Chắc chắn đây là một sự nhầm lẫn. Tuy nhiên vì đói quá anh không có can đảm hoàn trả lại cho cán bộ, khi mà sự thèm khát đã lên tới tột đỉnh. Mà chắc gì gói quà được trả về cho khổ chủ của nó! Cán bộ trại đời sống cũng chẳng hơn tù bao nhiêu, thế nào họ cũng chia nhau. Trong lúc mình đang cần, anh an ủi mình như vậy. Anh về trại. Bạn bè tới chúc mừng anh. Như vậy, kể từ nay anh thuộc thành phần có thăm nuôi. Không còn mồ côi như trước. Gói quà đã được mở ra kiểm soát, cột lại sơ sài trước khi giao cho anh nhận lãnh. Tiếp tục đọc

CHÉN NƯỚC MẮM VÀ BAO VẢI BỘT MÌ

Thư viện của bài

This gallery contains 1 photo.

Trần Mộng Tú 

            Sang Mỹ cả gần bốn mươi năm rồi, thế mà mỗi lần dọn cơm lên bàn cho chồng con tôi vẫn lúng túng với chén nước mắm. Hôm nay có cần không? Bao giờ nhìn bữa ăn dọn ra, cũng chần chừ giữa có và không một phút. Cuối cùng thế nào cũng phải rót một chút nước mắm vào cái chén nhỏ, đặt giữa bàn. Có khi suốt bữa ăn không ai chấm vào, nhưng không có nó, hình như bữa ăn chưa gọi được là hoàn tất. Dù sau này các con đã ra riêng, chỉ có hai vợ chồng, đã bỏ thói quen ăn mặn, thế mà chén nước mắm vẫn luôn luôn hiện diện trong bữa ăn.

Thập niên đầu, khi các con còn nhỏ chưa dùng nước mắm chấm trong bữa ăn thì tôi còn cha mẹ. Cha mẹ ăn cơm bao giờ cũng có chén nước mắm, chanh, ớt để bên cạnh như một thói quen, một điều ắt có như cái bát, đôi đũa vậy. Dù bất cứ hôm đó ăn món gì, có cần đến nước mắm chấm hay không?

Rót chút nước mắm ra cái chén nhỏ, mùi thơm mằn mặn bốc lên, như ngửi thấy cả quê nhà, sao mà nó gợi tình, gợi cảnh thế, nó Việt Nam quá đỗi. Không có chén nước mắm, bữa ăn không gọi là đầy đủ được và lại càng không phải bữa ăn của một gia đình Việt Nam. Đĩa thịt, đĩa cá, bát canh, đĩa xào, bầy đầy bàn. Nhìn đi, nhìn lại, vẫn như thiêu thiếu một cái gì? À, thì ra thiếu chén nước mắm. Thế là chưa ngồi xuống ghế được.
Tiếp tục đọc

CON YÊU BÁNH NẬM

Thư viện của bài

This gallery contains 1 photo.

Con yêu bánh nậm
 

Lần đầu tiên tôi gặp Con Yêu Bánh Nậm ấy bằng xương bằng thịt sờ sờ vào một sáng trời mưa lâm thâm trên bến đò Thừa Phủ.

Đò đầy, cô lái sắp đẩy ra khỏi bến thì có tiếng gọi từ phía lái:

– O ơi! Chờ chút! Cho Con Yêu Bánh Nậm lên với cả hắn trễ tội!

Con Yêu Bánh Nậm lẫm lũi kẹp cặp sách trước ngực, chạy thục mạng xuống bến và nhảy lên đò. Tôi còn đứng lớ ngớ chưa tìm ra chỗ ngồi, bị con Yêu đạp nguyên đôi guốc mộc lên bàn chân trần đau điếng. Tôi la lên nho nhỏ: “Ái, đau!” và cúi gập người ôm bàn chân tội nghiệp của mình vừa khi con Yêu nhận ra là đang làm đau đồng loại. Con Yêu ngỡ ngàng ngó quanh trong lúc đò từ từ ra khỏi bến. Tôi hơi ngờ ngợ vì dáng quen quen. Sau lần áo mưa trong vắt, tôi có thể đọc được cả bảng tên thêu màu “xanh-lơ-ma-rin” nổi bật trên nền áo trắng: H. T. Đông Ba, C2, trường Đồng Khánh. Ngày đó, dân Quốc Học nhìn những cô em Đồng Khánh mang bảng tên màu xanh là ngây thơ, màu tím là đợi chờ, màu hồng là đã chín. Học trò lớp đệ tam (lớp 10) mang màu xanh là đàn chim non mới bước vào ngưởng cửa trung học đệ nhị cấp, nhí nha nhí nhảnh, hầu hết còn “phất phơ giữa chợ, biết vào tay ai…” Lên đệ nhị (lớp 11) mang màu tím là sắp sửa làm “bà tú”, trong cặp sách thường có bụi “ô mai” vương vãi lên thư tình. Và lên tới đệ nhất (lớp 12) mang màu hồng, suy tư và cuộc đời lốm đốm màu triết học, nên có nàng đã che nắng bằng sách Jean Paul Sartre, Albert Camus… thay cho chiếc nón bài thơ! Còn con trai Quốc Học mà mang bảng tên “Ba sọc” như tôi là đã có quyền khỏi bận áo len giữa sương thu và gió lạnh, ưỡn ngực cho nhân gian thấy ta đây là học trò Đệ nhất. Dù có lỡ sa cơ thi rớt tú tài toàn phần thì cũng còn đường rút vào quân trường Thủ Đức làm “quan một nhà binh”, mai vàng le lói như thường.

Tiếp tục đọc

BẾN XUÂN

Thư viện của bài

This gallery contains 1 photo.

Đặng Tiến

BẾN XUÂN

 Xuân đã đem mong nhớ trở về
Lòng cô gái ở bến sông kia
Cô hồi tưởng lại ba xuân trước
Trên bến cùng ai đã nặng thề…
Nguyễn Bính

Từ một ý thơ xuân, hôm nay chúng ta cướp cả ánh thiều quang để nói chuyện Thơ, bàn về thi tính, hay chất thơ trong từ ngữ, lấy từ bến làm ví dụ. Dĩ nhiên là còn nhiều ví dụ khác.

*

Trong ngôn ngữ, dân tộc nào cũng vậy, có một số từ ngữ được trọng dụng trong thi ca nhờ vào nội hàm, có khi nhờ vào cái vỏ âm vang, giới ngữ học gọi là cái được-biểu-hiện và cái-biểu-hiện. Nhưng chúng chỉ được trọng dụng trong một thời gian, dài hay ngắn tùy nền văn hóa mà chúng phản ánh. Trong thời gian văn hóa này, chúng được tiếp nhận, cảm thụ trên những tần số khác nhau, tùy từng thành phần văn hóa và xã hội, và tùy cảm nhận cá nhân, lúc này hay lúc khác. Tiếp tục đọc

Bóng mây cuối chiều

Thư viện của bài

This gallery contains 1 photo.

MANG VIÊN LONG.

Bóng mây cuối chiều

Kính tặng những bà mẹ bất hạnh.

Thạc đẩy cửa, bước vào – liếc nhìn vào giường bà Sửu đang nằm, giọng lạnh lùng:

-Mẹ sao mà nằm hoài vậy?
-Tao hơi mệt, nằm chút rồi dậy.
-Lúc nào cũng nghe bà kêu mệt!
-Tuổi trên sáu mươi rồi, muốn mệt lúc nào thì mệt – tao đâu có muốn vậy.

Thạc đi thẳng lên gác.

Bà Sửu lồm cồm ngồi dậy, định bước xuống giường, nhưng bỗng thấy còn hơi choáng. Bà ngồi im. Mắt hướng nhìn lên cầu thang.

Cách nay mấy hôm, trời chuyển tiết lập thu, bà nghe mỏi và đau nhức khắp cơ thể. Tuổi già là chiếc máy đo thời tiết nhanh nhạy nhất, bởi sau nhiều bận bị mệt và đau nhức, bỏ ăn – bà thấy ngày hôm sau, trời bỗng âm u, mưa và gió bất chợt; nên bà Sửu luôn lo lắng mỗi lúc trời đất thay mùa, chuyển tiết.
Tiếp tục đọc

*** CHUYỆN CỦA ANH T…   

Thư viện của bài

This gallery contains 1 photo.

ĐẶNG XUÂN XUYẾN

CHUYỆN CỦA ANH T…   

*

Anh đã ngoài 50 tuổi nhưng nhìn vẫn còn trẻ trung và phong độ lắm. Da anh trắng, lại mịn, tính thích bông đùa, tếu táo nên chẳng ai nghĩ anh đã đến 45 tuổi. Đi cùng con gái lớn, tuổi đã ngấp nghé 30, nếu giới thiệu là bố con cũng chẳng ai chịu tin.

Anh lấy vợ đầu, được vài năm thì đưa nhau ra tòa. Chị để lại đứa con còn đỏ hỏn cho anh nuôi rồi xách va ly theo một chàng trai trẻ. Nghe đâu, chàng trai đó kém chị đến cả chục tuổi. Nuôi con cứng cáp, anh gặp chị thứ 2 kém vợ đầu chừng mười tuổi, bén duyên, rồi cưới. Về làm vợ anh, chị cũng chăm chỉ, chịu thương chịu khó, rõ là người nết na hiền thục. Hàng xóm, ai cũng quý đường ăn nết ở của chị. Đã xinh gái, lại nết na hiền thục, cư xử có trên có dưới, được lòng cả phố nên anh yêu và chiều chị như báu vật. Thế rồi chị sinh cho anh một bé trai, đẹp như thiên thần, giống anh thật nhiều. Anh càng yêu và chiều chị hơn. Chả hiểu vì sao, khi cậu ấm đã biết chạy, chị lại đâm ra đổ đốn, ánh mắt cứ khoái mơn man, vuốt ve những chàng đô con, đẹp mã. Anh đã nhiều lần khó chịu, bóng gió, xa xôi để chị “chừa cái tính khí tiểu tư sản làm mất mặt chồng con” đó đi. Chị cũng xấu hổ lắm với “tính khí đua đòi kiểu tiểu tư sản” đó và cũng nhiều lần quyết tâm “không làm xấu mặt chồng con” nữa nhưng lý trí đều thất bại khi mỗi lần chạm trán đàn ông, Tiếp tục đọc

*** VƯỜN MĂNG CỤT

Thư viện của bài

This gallery contains 1 photo.

trần mộng tú

VƯỜN MĂNG CỤT

Người con gái ra đón ông Thành ở ngay khu đậu xe của chung cư. Cô hồn nhiên nắm tay ông, cái nắm tay không phải dắt ông cho khỏi vấp ngã, nhưng tỏ sự thân tình. Cô vừa đi vừa nói:

– Lâu quá rồi bác cháu mình không gặp nhau. Con xem đồng hồ áng chừng giờ bác đến, thế mà đúng. Con vừa ra chưa được năm phút đã nhìn thấy xe bác rẽ vào. Bác trông còn khỏe quá!

Rồi cô thấp giọng. “Mẹ con đang chờ bác.”

Ông Thành nhìn cô con gái của bạn, nhớ lại ngày cô còn bé tí, nay đã gần bốn mươi rồi, không trách mình già. Ông xiết chặt tay cô, nhớ đến người đã đi biền biệt.

Ông Thành là bạn thân từ thời còn rất trẻ của cha mẹ cô, ông là bạn học của ông Lâm từ thời trung học. Họ cùng trưởng thành, ra đời làm việc, lập gia đình, gần như lúc nào cũng có nhau. Họ cùng di tản, tham dự ngày con cái nhau ra trường và cưới hỏi. Cách đây năm năm, ông Lâm qua đời, rồi bà Thành cũng chỉ còn là một nắm tro than. Ông Thành sức khỏe bắt đầu hơi kém đi theo tuổi tác. Sắp tám mươi rồi, còn trẻ trung gì nữa, ông làm biếng đi ra ngoài, sự liên lạc cũng thưa thớt dần giữa hai nhà. Tiếp tục đọc

*** QUA SÔNG

Thư viện của bài

This gallery contains 1 photo.

Cung Tích Biền

1

Dòng họ Trần Liêu vào định cư ở bờ Bắc sông Thu một thời gian lại gặp chuyện chẳng lành. Mấy năm liền, mùa hè như trong lò thiêu, mùa đông như băng giá, khí hậu khắc nghiệt, khắp nơi bị lụt lội, hạn hán, mưa đá, bão tố; lúa đang đòng đòng sâu bọ ăn hết, kiến vàng làm tổ trong măng tre măng trúc; giếng nước có rắn, dọc bờ sông cá sấu phơi mình trên cát; giữa trưa khô khốc từng bầy voi lang thang đi tìm nước dọc bờ sông trắng. Gió rao truyền những tai ương, và biển bủa sóng báo hiệu của hoang phá điêu tàn.

Về mặt nhân văn, con người không tin vào những điều thực tế; nhưng những cảm ứng tâm linh không còn chân chính; nó bị tác động, xua đi theo dấu chân tà thuật. Đó đây mọc lên lời kinh cầu, sấm truyền. Những phù thủy dạy cho con người những u muội, xuyên tạc, đẩy đạo lý đến cửa ngõ của dị đoan mê tín. Người ta thờ những con rắn hai đầu, gà bốn chân, cua mặt người, cọp biết nói. Tin đồn loan truyền, những đồng dao, những mẫu chuyện châm biếm cứ mọc cánh bay đi, tụ hội với trăm nghìn hoang tưởng, làm cho xã hội hôm ám càng nhuốm màu hoang đường. Bọn đồng bóng có nơi ăn chốn ở, Tiếp tục đọc

*** Nhớ Một Chuyện Tình

Thư viện của bài

This gallery contains 1 photo.

 Kim Phan
Nhớ Một Chuyện Tình

Bạn tôi, tên Tâm, vừa đi du lịch từ Pháp về, tôi hỏi bạn đi chơi có gì vui. Bạn bảo không vui, không buồn, nhưng có chuyện nầy:

Ông xã bạn tôi sau một trận đau thập tử nhất sanh, tưởng là nằm liệt ngờ đâu nền y khoa nhất thế giới của Hoa Kỳ giúp ông tỉnh táo và đi lại bình thường. Hai vợ chồng mới có ý định đi du lịch.

Sẵn có đứa cháu chồng bên Pháp, họ quyết định mua vé sang Pháp. Cô cháu này đi du học vào khoảng năm 1970, sang học vài năm thì lấy chồng để có quốc tịch. Cuộc sống chung giữa hai người không cùng xứ sở, chuyện tình kết thúc năm 1975, sau khi có với nhau 2 con. Vài năm sau cô đi bước nữa với người từ Việt Nam mới sang vào khoảng năm 1979, đi theo diện lai Pháp. Nghe nói họ cũng hạnh phúc lắm.

Khi bạn tôi và chồng xuống phi trường, hai vợ chồng cô cháu ra đón. Tâm nhìn ông chồng cô cháu với hàm râu quai nón, thấy ngờ ngợ, quen quen, giọng Bắc chuẩn, nếu không nhìn mặt 95% là tây, chỉ nghe giọng nói thì rặt là Việt Nam. Tiếp tục đọc

*** CHUYỆN ANH CHÀNG ĐÀO HOA NỞ MUỘN

Thư viện của bài

This gallery contains 1 photo.

ĐẶNG XUÂN XUYẾN

CHUYỆN ANH CHÀNG
ĐÀO HOA NỞ MUỘN

*

Anh sinh năm 1953, ở Hà Nội, giàu lắm, có mấy cái nhà mặt phố cho thuê, toàn cỡ vài chục triệu/tháng nhưng đường vợ con của anh thì lận đận lắm. Đến tận năm anh rất luống tuổi mới biết yêu, nên vội cưới. Nghe em rể anh kể, thì “chị” sinh năm 1984, hình thức cũng thuộc diện xinh gái, khéo ăn khéo nói, người Hà Nội, gia đình cũng khá giả, kém anh “chỉ có” 31 tuổi, mà anh là con trưởng, lại ở thế độc đinh, xưa tới đó chưa từng biết chuyện gái gú là gì nên cả gia đình gật đầu tắp lự khi anh đưa “chị” về ra mắt, tuyên bố sẽ cưới “chị” làm vợ. Cưới được hơn năm, “chị” sinh cho anh cậu ấm, giống anh như tạc nhưng chả hiểu sao từ ngày sinh được cậu ấm, “chị” đâm ra đổ đốn: Cãi bạt mạng khi anh nhắc nhở chuyện a, chuyện b trong văn hóa ứng xử; chị còn tự mình đặt ra quy định thế này thế kia với họ hàng ruột thịt của anh trong khi anh là người làm ra tiền, là người đang “cầm chịch” lễ nghi của dòng họ. Cãi nhau vài bận, chị đâm đơn ra tòa. Anh gật đầu cái rụp. Cũng chẳng cần ý kiến của tòa, anh hâm hâm đề xuất: Phụ cấp 10 triệu/tháng cho cậu ấm, đưa luôn cả 17 năm 3 tháng (thời điểm cậu ấm tròn 18 tuổi) cho gọn. “Chị” đề xuất anh chi thêm mấy trăm triệu để “chị” mua tạm ngôi nhà nho nhỏ làm nơi tá túc. Anh gật đầu rụp cái trước tòa, nhất trí chi thêm cho “chị”, tổng cộng tròn 3 tỷ. Mọi người trách anh hâm. Anh cười: Đằng nào cũng chi cho con nên đưa luôn cả thể cho gọn. Mọi người nhắc anh cẩn thận kẻo “người đàn bà” đó lợi dụng cậu ấm để rút ruột, “trả thù”. Anh hô hố cười, rồi mắng mọi người lo xa, khẳng định như đinh đóng cột sẽ không có chuyện đó. Tiếp tục đọc

*** Chồng Cũ Của Mẹ

Thư viện của bài

This gallery contains 1 photo.

Hoàng Nguyên Vũ

Chồng Cũ Của Mẹ 

Hai người đàn ông trong cuộc đời mẹ tôi đã đi về với đất. Món quà họ để lại cho tôi là câu chuyện đời về cách sống, cách yêu thương, cách cho, và cả cách quên…

Mẹ và bố tôi đến với nhau khi cả hai cùng có một “tập” riêng, chỉ khác là vợ cũ của ông mất sớm, còn chồng cũ của bà thì còn. Có lần mẹ tâm sự, thực ra giữa mẹ và người chồng trước vẫn thương nhau lắm nhưng phía đằng chồng quá quắt đến mức khiến họ không thể sống cùng nhau, mẹ bê hai đứa con nhỏ về với bà ngoại và mấy năm sau mẹ gặp bố tôi để nên vợ nên chồng.

Chia tay rồi nhưng các cụ văn minh lắm, ông với bố mẹ tôi đã trở thành những người bạn thân hữu. Chồng cũ của mẹ sống rất tự do, có một nghề cầm tay rất chắc – làm thủ công mỹ nghệ. Nên cuộc đời của ông là những chuyến đi, được làm nghề mình thích và sống với cuộc sống tự do xê dịch của chính mình.

Ông là một người thợ rất tài hoa, vui tính, nên ông đến vùng nào người ta cũng đều quý và đặt hàng. Ông đi hết vùng này sang vùng khác, khắp cả dải đất miền Trung nắng lắm, mưa nhiều. Tiếp tục đọc

*** Ấm Lạnh Của Cuộc Đời

Thư viện của bài

This gallery contains 1 photo.

Nguyễn thị Hải Hà

Cơn bão Sandy đến vào đêm thứ Hai. Hai cây anh đào bên cạnh nhà của Quê bị trốc gốc nằm chắn ngang đường dẫn vào nhà để xe. Cây sồi gần trăm tuổi trước nhà ông Jack cũng bị đột quị, tàng lá rậm rề của nó khi trườn ngang đường đã lôi theo máy biến điện, làm trụ điện toác làm hai. Tất cả mọi thứ, dây điện trụ điện máy biến điện đều nằm kềnh trên mặt đất. Thế thì phải còn lâu lắm mới trở lại bình thường. Nhà của Quê cũng như tất cả mọi người chung quanh đều bị mất điện, không sưởi, không có nước nóng lẫn nước lạnh.

Sau cơn bão trời rất đẹp, ban ngày có nắng, khá ấm so với khí hậu mùa thu của New Jersey . Nhiệt độ trong nhà từ giảm từ từ. Đến ngày thứ Năm, trong nhà chỉ còn 45 độ F, bằng với nhiệt độ ngoài trời. Ban ngày Quê ra sân dọn dẹp cành cây, vận động và phơi nắng cho người ấm lên. Buổi tối Quê mặc hai lớp vớ, hai lớp quần, hai lớp áo mỏng cùng với áo len thật dày, bên ngoài mặc thêm cái áo khoác nhung lót nỉ. Áo này Quê thường mặc để xúc tuyết hay làm việc ngoài trời. Cũng may là hồi mùa hè Quê thấy áo mỏng dài tay bán hạ giá ở Old Navy nên mua luôn mấy cái. Chống lạnh cần mặc nhiều lớp nếu áo nào cũng dày quá sẽ không xoay trở được. Tiếp tục đọc

*** Lời Gió Mang Xuân Về

Thư viện của bài

This gallery contains 1 photo.

Cam Li Nguyễn Thị Mỹ Thanh

1
Ông pha cho mình một ly trà. Nói là “pha” cũng hơi quá, vì chỉ cần bỏ túi trà vào ly, đổ nước sôi vào, chờ màu nước vừa đủ đậm là có thể uống được. Tự lúc nào, những thói quen hàng ngày đã được đơn giản hóa tối đa. Ông mỉm cười, mở máy. Bài viết dang dở đang chờ ông tiếp tục. Ông nhắp một ngụm nước trà, cúi xuống bàn phím.
“Năm ấy, chàng mãn khóa, chờ ra đơn vị. Những gì cần phải làm là thu xếp mớ “hành trang” còn bề bộn trong trí, là tận hưởng những giây phút “còn được tự do” để thăm hỏi bạn bè, để dạo phố cùng người yêu, và nhất là để về thăm Mẹ nơi quán nhỏ trên đồi…”
Chà, nghe thơ mộng, trẻ trung dữ! Ông cười một mình. Khi viết về chàng trai trẻ, mình dùng chữ “chàng”, nhưng nếu để viết về mình bây giờ, chắc phải gọi là “ông.” Thì cũng như trong các truyện ngắn, truyện dài thế thôi! Hễ có tuổi thì được gọi là “ông.” Ông nhớ bài luận đầu tiên của mình được cô giáo khen và cho tám điểm là bài nói về “ông tôi.” “Ông tôi” trong bài luận đó… còn trẻ hơn mình bây giờ!
Nhắc đến ông, lại nghĩ đến thằng cháu. Ông nhớ nó quá! Đã hơn một tháng nay chưa gặp nó. Ba má nó hứa Tết sẽ cho cháu về thăm. Ừ thì Tết sẽ gặp. Còn tới hơn hai tháng nữa. Ông lắc đầu, cười. Thôi, mình có công việc của mình, thì giờ đâu mà buồn!
Ông lắng tai nghe. Tiếng gió! Phải, tiếng gió. Ông cúi xuống, gõ tiếp. Tiếp tục đọc

*** MÙA ĐÔNG LƯU VONG

Thư viện của bài

This gallery contains 1 photo.

Ngô Quốc Sĩ

MÙA ĐÔNG LƯU VONG
NỖI NHỚ QUÊ HƯƠNG RAY RỨT

Nỗi nhớ quê hương của người Việt lưu vong thật da diết. Xa quê hương, dân Việt vẫn luôn luôn canh cánh bên lòng hình ảnh đất mẹ dấu yêu đang trải qua bao tang tóc dưới bàn tay lũ con hoang đã bị tha hóa, đánh mất bản chất con người nói chung và con người Việt Nam nhói riêng. Thi ca yêu nước đã chuyên chở đầy đủ tâm trạng nhớ thương ray rứt đó, tiêu biểu là những vần thơ truyền cảm của Văn Nguyên Dưỡng qua bài Chiếc Áo Kinh Cừu Trong Giá Đông.

snow
Thực ra bài thơ Chiếc Áo Khinh Cừu chỉ là một chấm nhỏ trong gia tài văn chương thắm đượm tình tự quê hương của nhà thơ nhà văn Vĩnh Định- Văn Nguyên Dưỡng, cũng là sĩ quan quân đội Việt Nam Cộng Hòa, đã từng cầm súng chiến đấu bảo vệ tự do miền Nam trước cuộc xâm lăng của cộng sản Bắc Việt. Ông đã đóng góp cho nền văn học lưu vong nhiều tác phẩm giá trị bằng tiếng Việt cũng như tiếng Anh, tiêu biểu như Vùng Đêm Sương Mù , Trường Ca Trên Bãi Chiến , Lessons from the Vietnam War, Inside An Lộc: The Battle to Save Saigon …
Trở lại bài thơ Chiếc Áo khinh Cừu trong Giá Đông, nhà thơ đã thể hiện tâm trạng “nhớ về” và “nhớ thương” những gì đã bỏ lại sau lưng khi rũ áo chiến binh, rời bỏ quê hương trong ngậm ngùi và tủi nhục.
Nhớ về thì trước hết là nhớ chiếc áo trận đã từng lấm bụi gió sương, lấm bùn chinh chiến và lấm máu quân thù, nay đã bạc màu theo năm tháng, chỉ còn lại như một kỷ niệm giữa mùa tuyết trắng xứ người:
Tiếp tục đọc

*** ĐÊM CỦA LÃO

Thư viện của bài

This gallery contains 1 photo.

Lê Thu Hương

Đêm yên tĩnh, đêm nồng nàn, đêm huyền ảo, một đêm trăng trước cửa nhà lão. Màu vàng ngọt ngào của trăng nhuộm vàng phòng khách. Tối nay là tối của lão, chỉ một mình lão với trăng, lão không muốn ai quấy rầy lão. Lão để trăng một mình, lụi hụi mở chai rượu vang ủ lâu ngày.

Lão tắt ngúm đèn ngồi nhìn trăng qua khung cửa kính lớn, lão sờ tay vào túi áo trước ngực tìm kiếng đeo mắt. Vài đóa quỳnh mãn khai, mùi thơm phảng phất trong phòng, đêm hình như yên ắng hơn. Các cánh quỳnh cong cong đi vào giấc ngủ coi bộ êm đềm lạ. Quỳnh vào cõi chết yên ắng, nhàn tản như một đạo sĩ biết giờ linh hồn người đi vào nơi miên viễn.
Tiếp tục đọc

*** NHẠC ĐIỆU CỦA BẦY ONG

Thư viện của bài

This gallery contains 1 photo.

Cung Tích Biền

I
Ngoài tên họ ghi trên giấy khai sinh, trẻ con thường có một tên gọi thân thương trong gia đình. Cháu bé gái bốn tháng tuổi, con một gia đình quyền thế, được gọi là Ong Con. Ong Con lúc chào đời hai bàn tay đầy đủ mười ngón xinh đẹp.
**
Tổ [quốc] ong, cũng như tổ [hợp] kiến, là những tập thể có tính tổ chức, tính kỷ luật bầy đàn rất cao. Muốn sống an toàn, cùng chia xẻ một cái lỗ nhỏ hình lục giác trong tổ [quốc], trước tiên mỗi “công dân ong” phải biết sống phải điều, phục vụ trong phân phận con ong thợ, vui vẻ khi được sai khiến, một chiều thuận trong hệ thống chỉ huy.

Tính bảo trọng này, qua nhiều thế hệ, biến ra một căn bệnh mãn tính, là luôn phải thích ứng với hoàn cảnh bầy đàn.
Tiếp tục đọc

*** Như Nguyệt…bài viết ngắn

Thư viện của bài

This gallery contains 1 photo.

Như Nguyệt

Chritmas Eve, 2009

Sáng nay, N. nằm mơ thấy Thục, cô bạn thuở còn bé tí. Thấy lòng hơi bâng khuâng, nhớ đến Thục, nhớ đến ngôi trường tiểu học thuở xa xưa nên N viết 1 đoản văn về trường Phúc Âm và cô bạn hồi còn học Tiểu học của mình.

Chia sẻ với các bạn, đọc chơi nha.

Ngôi trường đầu tiên trong đời mà tôi đi học ở trong một cái miễu. Trong đó có 1 phòng lớn kê bàn ghế dài cho học trò ngồi, bên trái của lớp học là 1 phòng có bàn thờ, được chắn bởi những song sắt, nhìn vào tối tối, âm u, thấy sợ sợ, ghê ghê!!! Thầy tôi để dành, hể có đứa nào hư là bắt phải vô trong đó, đứng úp mặt vào tường. Hồi còn nhỏ, tôi rất sợ phải bị phạt vào căn phòng tối om đó nên tôi không dám làm điều gì hư đốn, chả bao giờ dám nghịch ngợm, phá phách gì cả, rất là ngoan!

Tôi còn nhớ hoài cái ngày đầu bị bắt buộc phải đi học. Không biết tại sao tôi lại sợ, hổng muốn đi? Tôi vừa khóc, vừa gào, vừa kháng cự, giẫy dụa! Lúc đó không biết Tiếp tục đọc

*** CÔ ĐƠN

Thư viện của bài

This gallery contains 1 photo.

Lê Khắc Thanh Hoài

Không một ai trên cõi đời mà không một lần trải nghiệm một thứ tình cảm buồn bã, hụt hẩng vì không có ai để chia sẻ, thốt lên điều gì đó tự đáy lòng sâu thẳm, hoặc có chia sẻ được cùng ai điều gì đi nữa, những mong được cảm thông, thì lại không được cảm thông, mong được hiểu thì lại không được hiểu, không hiểu đúng, lại còn bị hiểu sai, hiểu lệch lạc, hiểu méo mó, hiểu ngược ngạo, nói một đằng hiểu một nẻo, mong được chấp nhận thì lại không được chấp nhận, không được đáp lại như ý muốn, những điều đã bày tỏ, đã thuyết minh, đã thuyết phục, thậm chí phải van lơn, cầu khẩn, đã dùng mọi cách để chứng minh, phân trần, biện bạch, biện hộ, để cho trắng thì ra trắng, đen thì ra đen, nhưng rồi mọi cố gắng đều thất bại. Không nhận được một cái gật đầu, không một lời nói đồng ý, không một cử chỉ thỏa thuận, không một dấu hiệu được ai đó tỏ cho biết là họ theo phe mình, ủng hộ mình, vì mình, vì hành động hay tư tưởng của mình. Rốt cuộc chỉ thấy một mình mình trơ trọi với những gì mình ôm ấp trong lòng, chỉ thấy một mình mình chống chọi với tình thế đang diễn ra trưóc mắt, mọi người đều quay lưng, có khi im lặng lạnh lùng, có khi mạt sát thị phi. Tất cả đều như những mủi tên nhọn ghim vào tim mình. Mình bị tổn thương trầm trọng như con chim bị bắn trúng đạn nằm rơi xuống mặt đất, mình quằn quại, đau đớn và mình gào lên « Ôi ! tôi cô đơn !»

Ý nghĩa của hai chữ cô đơn thật ra quá giản dị, chỉ là một mình, cô là một mình, lẻ loi, đơn cũng là một mình, đơn chiếc. Một mình, nhưng cái một mình này, ngoài cái thân thì còn có cái tâm, ngoài cái phần vật chất thì còn có cả phần tinh thần, tâm linh. Chỉ một mình, biểu hiện qua thể xác và cũng chỉ một mình, biểu hiện qua phần tinh thần. Khi nói cô độc, là nói nói đến cái thân xác, chỉ có một mình nó. Khi nói cô đơn là nói cái phần tinh thần, cũng chỉ một mình nó. Mình với Mình. Ta với Ta. Cái Mình, cái Ta ở ẩn phía bên trong cái thân thật quá phức tạp và…lăng
Tiếp tục đọc

*** ÁNH TRĂNG VÀ NHÀ TÙ

Thư viện của bài

This gallery contains 1 photo.

trần mộng tú

Người bạn nói với Rơm:bien-nuoc

“Thằng Năm nhà em nó lại bị bắt rồi, chị có đi thăm nó thì đi, em không muốn nhìn nó nữa.”

Thế là Rơm thay bạn đi thăm Năm, Rơm biết chị bạn đã khổ vì cậu con này lắm rồi, nên bây giờ nói hờn, nói dỗi nhưng trong lòng, Rơm biết chị thương Năm nhất trong ba đứa con của chị. Vì hai cô con gái đầu thì ngoan ngoãn học hành chăm chỉ, riêng Năm thì khác hẳn hai chị. Năm thông minh, có nhiều tài như vẽ đẹp, đánh đàn hay, và thuộc nhiều thơ nhưng cá tính rất mạnh. Hồi mới mười hai tuổi có một lần giận Bố, Năm vác cần câu ra hồ ngồi suốt một đêm, làm cả nhà toán loạn đi tìm, đi báo cảnh sát. Lớn lên một chút nữa Năm bắt đầu không thích cắp sách đến trường, lúc nào cũng chỉ thích thơ thẩn ở mấy cái công viên, mấy khu hồ hay trốn nguyên ngày dưới nhà hầm hý hoáy vẽ hoặc đóng, cưa một cái gì đó mà Bố Mẹ Năm không thể nào biết được. Cả hai vợ chồng đều đi làm từ sáng đến chiều, có khi làm cả ngày cuối tuần, ít khi có dịp gặp mặt một đứa con lúc nào cũng muốn lẫn tránh cả nhà. Năm bỏ học lúc mười bảy tuổi, năm nay đã hăm hai vẫn chưa xong Trung Học. Hai năm về sau này thỉnh thoảng Năm lại dính líu vào một vụ bắt bớ như lái xe quá tốc độ, cảnh sát gọi không dừng lại hoặc cảnh sát tìm thấy vài lá cần sa trong xe, một lần nữa bị bắt vì có ý hành hung chống lại cảnh sát. Lần này thì Năm bị bắt vì tội dám bạt tai cô bạn gái khi cô này gọi Năm là: Một người đánh mất linh hồn (A lost soul).

Rơm có lẽ là người duy nhất thỉnh thoảng Năm còn truyện trò một đôi câu. Có lẽ tại khi có dịp nói chuyện với Năm, Rơm không khuyên răn, giảng dậy gì cả, mà chỉ nghe Năm nói, hoặc nói về một đề tài gì mà Năm thích như vẽ vời, câu cá, hoặc một bài hát mới ra
Tiếp tục đọc

*** Ngõ hoa

MANG VIÊN LONG

hoa-anh-dao-vong-quanh-the-gioi

Cô bạn giới thiệu cho Thuận căn phòng có chiều dài 5 mét, chiều rộng 4,5 mét – tổng cọng hơn 22 mét vuông, như ở tầng trên. Đến xem, Thuận đề nghị lấy phòng dưới đất, bởi còn chút khoảng sân có bóng cây, có thể đi lui đi tới được. Bà chủ nói đã nhận lời một cô giáo mới vừa chuyển đến dạy ở thị xã niên khóa nầy rồi, đành chịu.

Lúc đứng ở khoảng hành lang hẹp tầng trên, Thuận nhìn sang dãy phố đối diện, thấy ngôi nhà kiểu vila thời Pháp có trồng nhiều hoa, nghĩ có thể thư giãn đôi chút mỗi sáng khi vừa thức dậy. Căn phòng nầy là phòng trọ thứ ba Thuận đi tìm thưê trong gần tuần lễ nay tương đối tốt, nên đã đặt cọc tiền trước ba tháng cho bà chủ nhà.

Quanh thị xã, nhất là ở các ngõ hẻm, đường nhỏ – nhiều gia đình thừa đất vườn, xây thêm nhiều nhà cấp bốn, chia dãy dài nhiều phòng, từ 20 – 30 mét vuông, để cho thuê khi không biết (hay không thể) kinh doanh mua bán gì thêm. Nhà tôn, phòng hẹp, không có cửa sổ, ít bóng cây, giống những chiếc hộp. Cả dãy phòng dài nhưng sinh hoạt vệ sinh chung một phòng cuối dãy, rất bất tiện, tuy giá có thấp hơn căn phòng Thuận đang xem. Thuận nghĩ, những căn phòng nầy chỉ thích hợp với học sinh, sinh viên ở trọ, hay người thường có công việc làm ngoài đường hơn ở nhà mà thôi. Còn Thuận, ngoài giờ có mặt ở văn phòng đại diện một buổi, anh được ở nhà nhiều hơn nên trong 22 mét vuông, có đủ phòng vệ sinh nhà tắm, khu nấu ăn nhỏ bên cạnh, và khoảng rộng phía trước, có thể kê chiếc bàn thấp, vài chiếc ghế, và đặt một tấm nệm, xem ra tiện hơn nhiều. Hơn nữa, căn phòng Thuận thuê nằm chung trong khu đất còn thừa phía sau căn nhà mặt tiền của  chủ nhà, chỉ có hai căn cho thuê, nên biệt lập và ít ồn. Chiếc cầu thang đúc nhỏ dẫn lên phòng Thuận nằm trong khoảng đất trống bên cạnh, được rào chắn chung quanh trông ngăn nắp.

Hai ngày sau khi Thuận dọn đến ở, một buổi sáng sớm anh đã nhìn thấy dọc con đường trồng hoa từ cổng nhà bên kia đường, có dáng một thiếu nữ trong bộ áo quần ngủ rộng mầu trắng, đi thơ thẩn ra vào bên cạnh người đàn bà thường ngày vẫn cầm vòi nước, tưới hoa miệt mài quanh những bụi hoa, chậu hoa rải rác từ cổng vào sân nhà. Cô gái chỉ xuất hiện khoảng hơn mười lăm phút, là mất hút sau khu tiền sảnh.

Từ trên hành lang hẹp, Thuận theo dõi cô gái, nhưng cô ta chỉ thấp thoáng quanh những chậu hoa buổi sáng sớm mà thôi. Thuận biết thêm, trong căn nhà ấy, có lẽ chỉ có ba người đang sống – mẹ và người cha của cô gái. Khu nhà tương đối yên vắng, khép kín bên con đường phố hai chiều nhộn nhịp  người xe qua lại nhất thị xã.

Gần một tháng sau, Thuận trong bộ áo quần đi bộ thể dục bước nhanh qua đường, khi vừa trông thấy cô gái bước dần ra cổng.

-Chào em…

-Dạ, chào anh! Anh hỏi ai?

-Anh hỏi em!

-Hỏi em? – giọng cô gái ngạc nhiên.

-Đúng rồi!

-Mà có việc gì vậy?

-Anh muốn hỏi xin một nhánh gốc cây hoa hoàng lan, hay bông giấy tím.

-À! Xin lỗi cô gái quay lại định bước đi – anh hỏi xin dì Tư nhé!

-Anh nhờ em nói giúp.

-Được, được – giọng cô gái ngập ngừng, lát nữa em sẽ nói.

Cô gái đã đi vào trong khu tiền sảnh, nhưng Thuận vẫn đứng yên, nhìn theo. Thuận cảm  thấy vui vui với ý nghĩ, dầu chưa xin được hoàng lan, nhưng đã thấy rõ được gương mặt thanh tú, duyên dáng, một vẻ đẹp nhân hậu, đằm thắm của cô gái thay cho hoa rồi. Thuận đoán nàng chỉ trên hai mươi một chút.

* * *

Sáng sớm hôm sau, Thuận lại có mặt ở cổng, chờ – nhưng không thấy bóng cô gái ra vườn, Dì Tư bước lại mở cổng, tiếp Thuận.

-Cậu xin hoa hoàng lan hôm qua phải không?

-Dạ, đúng!

-Tôi đã có sẵn một gốc nhỏ, về nhà trồng sẽ sống ngay.

-Cảm ơm dì!

-Cậu cảm ơn cô Trinh ấy, tôi làm theo lời dặn thôi mà!

-Cô Trinh dặn thế nào, dì?

-Cô ấy nói, nếu có ai đến hỏi nhận hoa hoàng lan, thì dì tìm một gốc, để gởi cho họ. Mình chia hoa, cũng như chia niềm vui với mọi người dì à!

-Hôm nay cô Trinh đâu rồi không thấy ra vườn?

-Chi vậy?

-Cháu muốn cảm ơn.

-Tôi sẽ chuyển lời cho, cậu yên tâm. Cô ấy không muốn nhận ơn ai bao giờ! Cô ấy không được khỏe.

Ba ngày sau, Thuận phải về Sài Gòn dự họp, để báo cáo lại tình trạng hoạt động của văn phòng sau hơn một tháng khai trương; anh mang chậu hoa xuống nhờ cô giáo ở trọ phòng dưới tưới nước giúp mỗi sáng. Cô giáo khẽ cười; “Anh Thuận yêu hoa quá nhỉ!”

-Đã trồng rồi, phải chăm sóc chứ em!

-Không siêng chăm sóc, hoa sẽ héo.

-Cô giáo nói hay lắm! Tình yêu cũng vậy.

-Anh Thuận có vẻ sành sỏi nhỉ!

-Cũng nghe người ta nói vậy thôi, chứ trong tình yêu, ai dám nói mình đã sành sỏi, em?

-Có ông bạn dạy ở trường em “tuyên bố” ông ta rất “lão luyện” trong tình trường, không ai có thể qua mặt được.

-Một là ông ấy nói dóc – Thuận cười, hai là ông ấy chẳng biết gì về tình yêu cả!

* * *

Khoảng mười hôm sau ngày trở lại nhà trọ, Thuận luôn nhìn sang ngõ hoa Hoàng lan của ngôi biệt thự đối diện, nhưng không hề thấy bóng cô gái. Trinh đã đi đâu?

-Dì Tư ơi!

-Cậu Thuận đó hả?

-Dạ, cháu!

-Có chuyện gì không? Dì Tư đặt ống nước trên thềm nhà, bước dần ra cổng.

-Dạ, có.

-Ông bà chủ căn dặn – dì nhỏ giọng, ở nhà không được mở cổng cho ai, nhưng biết cậu là người hàng xóm hiền từ, tôi…

-Cảm ơn dì – Thuận hỏi ngay, Cô Trinh có ở nhà không, dì?

-Trời ơi! Tội con nhỏ – Gương mặt dì Tư chợt tái nhợt, hai hôm rồi mà chưa tỉnh được.

Thuận theo chân dì vào ngồi ở bậc thềm nhà.

Dì kể đã đến giúp việc cho gia dình ông Phú hơn ba năm 8 tháng, từ ngày Trinh vừa lên lớp 10, đến nay đang học năm thứ nhất Đại học Ngân hàng. Ông Phú làm chủ nhiệm HTX Tín dụng duy nhất trong thị xã, bà Phú còn gần một năm nữa mới được nghỉ hưu. Anh trai của Trinh đang làm giám đốc cho Ngân hàng Argribank ở một quận trong thành phố. Thi xong học kỳ I, chuẩn bị về thăm nhà, Trinh bị đột quỵ ngay trong phòng riêng nhà người anh; cậu ấy phải đưa đi nhập viện cấp cứu. Ngỡ là Trinh chỉ bị đột quỵ nhẹ, nhưng sau đó, bệnh viện đã phát hiện Trinh đang bị ảnh hưởng của K phổi.

Cả ông bà Phú đều bay vào Sài Gòn. Nghe nhiều người bạn mách bảo, ông bà quyết định đưa Trinh sang Singapore điều trị, để họ phẩu thuật cắt bỏ phần lá phổi bị nhiễm virus, ngăn chận các tế bào K phát triển thêm, đồng thời tiêm thuốc tiêu diệt dần các tế bào cũ; nhưng Trinh cương quyết không đi. Cả nhà năn nỉ mấy lần cô bé cũng không chịu nghe, đến lúc cậu anh phải nói thật hết lời của bác sĩ đã nói riêng với gia đình cho cô ấy nghe, rằng “ cháu chỉ còn sống không quá 6 tháng nữa thôi”, cô ấy đã trả lời: “Con chỉ muốn được về sống ở nhà trong 6 tháng ấy thôi, không đi đâu hết!”. Dì Tư sụt sùi: ” Đến nay, cũng gần 6 tháng rồi, cậu ơi!”.

 

* * *

Đầu giờ buổi chiều, Thuận tìm đến phòng cấp cứu bệnh viện để thăm Trinh. Phòng cấp cứu cho biết bệnh nhân đã được chuyển sang phòng hồi sức sáng nay. Thuận đẩy cửa phòng hồi sức, đến ngay bên giường Trinh đang nằm chuyền nước. Anh gọi: “Em!”.

Trinh hé mở đôi mắt, mở to dần – gương mặt bỗng tươi sáng hẳn lên trước sự ngạc nhiên của bà Phú. Thuận đến bên cạnh bà Phú, khẽ nói: “Cháu xin lỗi bác!”.

-Không – bà nhìn đăm đăm lên nét mặt vẫn điềm nhiên của Thuận, cháu không có lỗi gì.

-Cháu muốn được thăm Trinh và săn sóc cô ấy.

-Bác cảm ơn cháu – giọng bà ướt sũng, cháu làm được gì cho Trinh vui, là bác biết ơn cháu rồi!

Theo chỉ định của bác sĩ, sau một tuần hồi phục, bệnh nhân có thể xuất viện, nhưng Trinh đã nhờ Thuận nói với mẹ, làm giấy tờ để nàng xuất viện về nhà sớm hơn 2 ngày. “Em muốn được sống ở nhà, anh ạ” – nàng đã trìu mến thì thầm với Thuận trong buổi sáng ngày thứ 5 ở phòng hồi sức, khi anh vào thăm như mọi hôm.

Từ sau buổi sáng hôm ấy Trinh được về nhà, Thuận đều có mặt đúng 6 giờ sáng, để đưa nàng đến một quán café ngoại ô mà Trinh rất thích, vì “như được ngồi ở nhà mình”. Một hôm, nhìn Thuận giây lâu với ánh mắt xa xăm, khác lạ – nàng  nhìn lơ đễnh ra ngoài vườn hoa, thì thầm: “Em rất tiếc, anh ạ!”.

-Em lại tiếc điều gì?

-Em không thể đem hạnh phúc đến cho anh lâu dài.

-Đừng nghĩ vậy, em! Thuận hơi bối rối – có phải là chúng mình đang vui, đang hạnh phúc không?

-Dạ – Trinh mỉm cười, nói như với chính mình – cuộc sống của em ngắn quá!

-Cuộc đời của tất cả đều ngắn, thậm chí chỉ dài trong một hơi thở – Thuận nhìn lên gương mặt đăm chiêu của Trinh, nhưng hai mươi bốn giờ trôi qua phải sống như thế nào mới là quan trọng em à!

-Cảm ơn anh – nàng thở nhẹ, đôi lúc được bên anh, em cũng nghĩ như vậy.

-Anh muốn em phải luôn nghĩ như vậy, em yêu!

-Dạ!

Được hơn một giờ ba mươi phút buổi sáng ngồi bên nhau ở quán café, và hai giờ buổi chiều trong sân vườn sau chiếc cổng hoa hoàng lan với bộ bình trà dì Tư pha sẵn nơi chiếc bàn đá dưới gốc bông giấy tím – Trinh luôn được dì săn sóc trang điểm với những chiếc váy mới, xinh xắn, hay bộ áo quần thể thao gọn gàng, trẻ trung của bà Phú vừa mua cho nàng.

-Em rất sợ buổi chiều mau hết, bóng đêm đến -Trinh cầm lấy bàn tay Thuận ve vuốt.

-Lúc khó ngủ, em hãy gọi cho anh.

-Em đã làm vậy – nàng ngước lên, nhìn Thuận, giọng ngập ngừng, nhưng em sợ anh khó ngủ.

-Được nói chuyện với em, anh ngủ ngon mà – im lặng giây lâu, Thuận cười, em biết là anh chờ tin em hằng đêm còn hơn ngày xưa chờ mẹ đi chợ về!

Gương mặt Trinh chợt sáng hồng niềm vui khiến Thuận bàng hoàng. Anh không muốn nhớ lại cảm giác buổi chiều lúc Trinh tiễn anh ra khỏi cổng hoa, về lại nhà trọ. Mấy câu thơ anh nhẩm thầm trong đầu bỗng trở về: “Cổng hoa hương sắc vẫn tươi – Mà em nay đã là người xa xăm!”.

         Đã hơn một năm trôi qua, chiều nay Trinh vẫn dịu dàng ngồi bên anh nơi gốc Bông giấy tím, khẽ khàng rót mời anh từng tách trà.

Chia sẻ cùng Em!

Quê nhà, những ngày cuối tháng 6.2018

MANG VIÊN LONG.

*** Quê Nhà, Còn Đó Hay Không?

Đặng Lệ Khánh

Gởi Người Tình Tuvalu

Nơi ta sinh ra nước xanh như ngọc
Có những khóm dừa nghiêng bóng thầm thì
Cát trắng thi nhau mời Em đến học
Viết mãi tên Anh trên mỗi bước đi

Có cánh hải âu soãi dài trên đá
Có nắng rất vàng trên tóc buông lơi
Có Em ngồi đây ngắm mây đón gió
Lồng lộng hồn Anh thơm muối biển khơi

Tình yêu nồng nàn đâu cần tiếng nói
Sóng vỗ xô bờ lời nguyện muôn niên
Dã tràng ngàn năm sẽ hoài xe cát
Và Anh và Em sẽ tát biển êm

Sẽ có một ngày cát thôi chờ đón
Nước biển dâng dầy khuất lấp quê hương
Nơi Em đang ngồi sóng hờ hững gợn
Hải âu bay dài cất tiếng thê lương

Đặng Lệ Khánh

          tuvaluBạn đang hỏi Tuvalu là cái quái gì vậy mà K bày đặt làm thơ ư? Bạn muốn biết thì cứ mở computer và vào site này để xem nhé:

http://www.thesinkingoftuvalu.com/

Bạn đã đọc chưa? Cái quốc gia bé tí mười dặm vuông với khoảng mười ngàn người dân ấy có thể sẽ biến mất tăm trên bản đồ thế giới trong vòng năm mươi năm nữa thôi. Nơi cao nhất của nó bây giờ là 15 feet trên mực biển và nơi thấp là bốn feet. K không biết người ta đo theo kiểu nào chứ với mười lăm feet cao thì một cơn sóng lớn cũng đủ ngập rồi. Nhưng dân ở đấy văn minh lắm đấy, không thiếu truyền hình và vi tính. Có người đã xin tị nạn nước biển ở Úc và Tân Tây Lan, những nước lân cận lớn rộng, không sợ bị nước biển xâm lăng như ở quê nhà.

Năm mươi năm nữa, con số người ra biển vọng cố hương sẽ tăng thêm khoảng mười ngàn, hợp với hàng triệu người tha phương trên khắp thế giới, đứng nơi này mà vòi vọi trông nơi kia, tâm hồn vượt núi, vượt sông, vượt biển mà vọng cố hương. Người Cuban đứng trên đất Florida Bay nhìn qua eo biển mà thương người ở lại, người Việt đứng ở Cali mà vọng qua Thái Bình Dương, nhớ cuộc vượt biên. Người Nga, người Đông Âu chắc chỉ chờ mùa đông tuyết rơi rơi mà nhớ đậm nhớ đà những hội hè gia đình đầm ấm.

Các nhà văn lưu vong có người sau khi đi khắp vùng trời thế giới xin quay về sống nơi quê nhà dù phải đành gác bút, có người nhất định chôn nắm xương tàn nơi đất khách như một quê hương thứ hai, thà nhìn đất đai mây nước người từ lòng đất hơn là được chôn tại quê nhà mà vẫn thấy cô đơn.

Mất nước vì nước biển như Tuvalu mới thật là mất nước. Có ai hô hào được người dân đứng lên cùng nắm tay nhau mà tấn công hà bá long vương được. Có ai lưu vong, đi góp công, góp của, góp nhân lực để về giúp dân chống lại mực nước đang dâng được. Sự chống chỏi lại một tương lai tối mù thê thảm là sự chống chỏi tuyệt vọng ngay từ lúc sơ khai, nguyên thuỷ. Sống bây giờ là sống trên một đất nước đang đi vào cõi chết. Vài chục năm sau nữa, khi con cái khai lý lịch chánh quán của mình, tìm trên bản đồ chỉ thấy một vùng nước xanh lơ, loáng thoáng dưới đáy đầy rong, một lớp đá vẫn còn ngữa mặt nhìn trời xanh tìm bóng dáng những chú hải âu một thời nhởn nhơ bay lượn , lòng sẽ tự hỏi : Tuvalu, tên hay nhỉ, nhưng nó là gì, nằm ở nơi nào.

K lại lan man tự hỏi, con cái đời nay ở Huế, có thể có người nào tình cờ một hôm đào xới sau vườn hương hoả để đặt xuống một cây ngọc lan chẳng hạn, bỗng đào lên một di vật của Chiêm quốc. Người ấy có bâng khuâng, xót xa mà nhìn vào quá khứ để đau hận mà tìm xem Chiêm Quốc nằm ở nơi nào. Những người Chiêm mới thật là kẻ vong quốc ngay trên đất nước mình. Mỗi khi đứng giữa những hoang tàn của thành quách một thời hưng thịnh, họ chắc đau lòng vô cùng tận.

Năm kia khi K về Việt Nam, K đi Tháp Chàm ở Nha Trang, Phan Rang, Mỹ Sơn. Đứng trên Tháp ở Nha Trang và Phan Rang, K buồn buồn thôi mà không thấy thê thảm như khi đi Mỹ Sơn. Có lẽ nhờ những nơi ấy nằm trên cao nhìn xuống thành phố, còn giữ nét uy nghi ngạo nghễ của một dân tộc dù đã khuất nhưng vẫn có những trang sử oai hùng. Còn Mỹ Sơn thì khác hẳn. Nằm khuất lấp giữa rừng núi hoang vu, tiêu điều u ẩn, suối nước chảy lặng lẽ vờn quanh, cỏ hoang bơ phờ theo gió hiu hiu lành lạnh giữa trời chiều trở qua sắc tím. Những ngọn tháp rêu phong, đổ nát, tường loang lỗ, cột xiêu nằm la liệt. Trên mỗi cột to cả hai người ôm, chữ nghĩa một thời vẫn còn in dấu như những lá bùa vĩ đại bảo vệ chứng tích người xưa. Đã biết bao nhiêu nhà khảo cổ tìm về đây, mong đọc được những hàng chữ khắc đều tắp, bí mật ấy mà bó tay.

Ngồi trên cột đá, tay mân mê những hàng chữ thảo, tưởng như oan hồn một thời còn quanh quẩn đâu đây, hàng đêm khóc đòi nước cũ. Dưới chân mình là đám cỏ mắc cỡ, chạm chân nhè nhẹ cho chúng khép mắt, nằm yên ngủ bình an. Huyền Trân có vô tình góp một bàn tay diệt một giống nòi không nhỉ. Với ta, Công Chúa là một anh thư. Với người, Công Chúa chắc là kẻ phản bội. Mọi khen chê đều tuỳ theo người phán xét đang đứng ở biên giới nào. Và vì thế, lúc nào cũng chỉ là tương đối.

Người Chiêm sống trên đất nước tuy đã mất tên nhưng nắm đất rất hiện thực vẫn còn nằm đó. Từ xưa, đất vẫn là đất, họ tên do người đặt ra, đất nào cần biết tới. Đất chỉ cần biết đất đang ở cùng ai, đang ôm ấp nắm xương nào, đang nuôi sống rễ cây nào, đang góp mầu cho đám hoa nào, đang nghe trong lòng dòng suối nào len lỏi buồn buồn mà ấm áp. Tên tuổi có thay đổi, nhưng cảm giác thân quen khi vọc tay xuống đám đất xốp man mát, hay chao chân xuống con nước trong vắt, con người nơi ấy có lẽ vẫn thấy lòng gắn bó nơi mình đã sinh ra.

Người Việt lưu vong thì tâm hồn không đơn sơ đến thế. Họ làm sao biết nên đứng bên nào để nhìn về hướng quê nhà. Quê hương có mất đâu mà than mất nước. Mảnh đất hình chữ S vẫn còn nguyên, tên vẫn còn nguyên, đất đai vẫn còn đấy, chỉ có chủ thuyết là khác thôi. Chủ thuyết chắc chắn không phải là quê nhà, chủ thuyết chắc chắn không phải là quê hương. Vậy mà chúng ta vẫn buồn đau vì sự thay đổi ấy.

Chúng ta cảm thấy mất quê hương chỉ vì những kẻ theo chủ thuyết ấy đã đối xử những kẻ đối đầu với họ một cách tàn nhẫn, để lại những vết thương không bao giờ khép lại trong tim và trong trí nhớ của những anh hùng đã sa cơ. K cũng chắc rằng không phải vì bị đối xử tàn ác mà chúng ta không chấp nhận họ và chủ thuyết của họ. Chúng ta có tư duy để thấy lý thuyết ấy không sao nâng con người lên đến chỗ thăng hoa của tâm hồn.

Con người không phải chỉ thuần sinh lý. Con người còn có nhân phẩm, có tâm hồn, có tư tưởng. Con người không chỉ kiếm tìm thực phẩm cho cơ thể cần sinh tồn, nó còn cần tìm thức ăn cho tâm trí muốn được khai sáng và tự do. Những thức ăn tinh thần ấy, ở quê nhà không bán, ai muốn mua phải mua chợ đen, mua lặng lẽ và ăn trong lặng lẽ.

Quê nhà còn đó mà như mất. Bước chân về mà như đi vào một nước xa lạ, lòng lại có cảm giác như mình đang phản bội lại những người bạn một thời đã sát cánh tranh đấu cho một lý tưởng chung. Đi hay ở, người Việt có lương tâm ở hải ngoại vẫn không nguôi thổn thức trong lòng cố tìm cho mình một câu trả lời thật nghiêm trang và đầy nhân bản. Hoặc ít ra, đó là câu hỏi K riêng nhìn thấy được trong những ánh mắt của bè bạn thân quen.

Quê nhà, còn đó hay không?

Đặng Lệ Khánh