Câu Chuyện Thầy Trò

Thư viện của bài

This gallery contains 1 photo.

Trần Huiền Ân

Ông thầy không ở trong hàng lớn tuổi, không phải là giới trẻ mới tốt nghiệp sư phạm, cũng chưa tới khoảng trung niên, chỉ ở khoảng giữa hai thế hệ này, nhưng hội đủ đức tính của cả ba, chẳng những hội đủ mà còn vượt trội. Nghiêm nghị đạo mạo hơn các thầy lớn tuổi, vui vẻ hoạt bát hơn các thầy trẻ và chững chạc mực thước hơn các thầy trung niên. Mỗi khi bước vào lớp, có vẻ như ông thầy đem sự sợ hãi gieo rắc khắp bọn học trò. Không đứa nào đi trễ mà dám xin phép vô lớp. Ông thầy thấy đó nhưng cứ tảng lờ như không, và đứa đi trễ chịu khó ra sân sau hoặc xuống nhà ông Cai chờ đợi. Giờ học lúc ấy luôn luôn là giờ đôi, hai tiếng đồng hồ không phải là ngắn ngủi. Tôi đã có lần bị như vậy, mà tôi chỉ chậm hơn ông thầy không đầy mươi bước chân chứ lâu lắc gì cho cam. Muốn khóc mà khóc không được, rủa thì cũng chỉ dám rủa thầm !

          Lớp chúng tôi đâu phải lớp tầm thường. Chính thầy Hiệu trưởng cũng bảo rằng đây là nơi tập trung tài hoa, trí tuệ, đây là nơi bất cứ bộ môn nào từ học tập đến sinh hoạt đều có phần thưởng, và thầy cũng cảnh cáo về sự ngỗ nghịch không phải chỉ đứng thứ ba mà e còn hơn cả ma cả quỷ. Chúng tôi dám giỡn mặt với thầy Tổng Giám thị nữa, nhưng đối với ông thầy thì khác.

Ngồi nhìn lên ông thầy, chúng tôi có cảm tưởng như con hươu, con nai bị con cọp, con beo thôi miên, im lặng khép nép gần như không dám thở mạnh, nhìn nhau lo lắng, không biết đứa nào sẽ mang thân phận con mồi bị săn ! Thế nhưng, thời gian hỏi bài vừa hết, thường là năm sáu phút, có khi hai ba phút, có khi ông thầy ngồi xuống mở sổ, đảo Tiếp tục đọc

Cô Sướng Cưới Vợ

Thư viện của bài

This gallery contains 1 photo.

Đặng Xuân Xuyến

(Tặng tình yêu 2 em Ngân – Sướng)

Vâng! Thì hẳn là “cô” Sướng lấy vợ chứ làm sao có chuyện “cô” Sướng lấy chồng! Tuổi “cô” tuy chưa nhiều, nhưng ở cái làng quê này, cỡ tuổi hăm mấy như “cô” mà chưa có nơi có chốn sẽ là nhiều lời đàm tiếu lắm. Vì thế, cụ Bống lo dựng vợ gả chồng cho “cô” năm nay cũng phải.

Tuy “cô” không được cao ráo, mạnh mẽ như mấy cậu em nhưng bù lại “cô” rất khéo tay, chịu khó lam làm và đặc biệt “cô” là người rất tốt nết. Nếu không dấp phải tính khí đanh đá chua ngoa thì hẳn “cô” là người hiền thục nhất nhì làng xã. Kể cũng lạ, “cô” chẳng có gen di truyền về khoản “mồm năm miệng mười”, “cô” cũng chẳng tầm sư học đạo thế mà khiếu chửi nhau của “cô” lại hay đáo để, lại lừng danh thôn xóm. Làng trên xóm dưới, mọi người bảo nhau, trêu ai thì trêu, chọc ai thì chọc, nhưng chớ có động vào “cô” Sướng mà khổ. “Cô” sẽ vén quần, nhảy tanh tách tanh tách rồi bắc ghế vênh mặt lên mà chửi. “Cô” chửi từ sáng đến trưa, từ trưa đến tối, từ tối đên đêm, chửi cho đến khi nào kẻ bị chửi phải tâm phục khẩu phục, phải mò đến tận nhà năn nỉ xin cô đừng chửi nữa thì cô mới thôi. “Cô” chửi có bài có bản, có lớp có lang, có vần có điệu chứ không vớ câu nào chửi câu đấy như mấy bà buôn gà bán vịt. Ca dao tục ngữ nhiều người đọc có khi còn sai, còn lẫn lộn, còn “râu ông nọ cắm cằm bà kia” chứ các bài chửi của “cô” Sướng thì tuyệt không có một sai sót, tuyệt không lẫn lộn về câu từ, ý tứ. Thế mới tài! Thế mới xứng danh đệ nhất thiên hạ chửi của làng Đỗ Hạ! Tiếp tục đọc

Hà Nội, trong mắt một người mù

Thư viện của bài

This gallery contains 1 photo.

nam dao Cuốn phim ‘’Hà Nội trong mắt ai’’ (HNTMA) của đạo diễn Trần Văn Thủy bắt đầu bằng tiếng ghi-ta một nhạc sĩ mù. Kính đen sụp xuống mũi, nhạc sĩ gảy đàn như thể cố nhìn cho ra … Tiếp tục đọc

Tô Canh Thơm Của Mạ

Thư viện của bài

This gallery contains 1 photo.

ThaiNC

Chỉ mới đôi năm trước đây thôi, mạ tôi vẫn còn khỏe và năng động lắm. Tuy đã lớn tuổi, nhưng bà vẫn tự nấu lấy thức ăn cho mình. Anh em tôi e ngại sợ mạ tay yếu đổ nước phỏng tay, hay sợ bà quên tắt bếp, lửa củi nguy hiểm… nhưng mà nói mấy cũng vô ích. Mạ viện lý do thức ăn tụi tôi nấu không hợp khẩu vị, và nhất là bà cần làm việc để qua thì giờ và cũng để vận động chân tay luôn thể. Thấy bà nói có lý nên tụi tôi cũng đành chiều ý. Thôi kệ, tới đâu hay tới đó. Vậy đó mà mạ tôi đã nấu ăn một cách ngon lành. Chẳng những bà nấu cho bà, mà cả lũ con cháu nội ngoại còn được hưởng lây nữa.
Hình như ít có lần nào sau khi đã gởi cháu cho Bà trông, đến đón về mà tôi không được mạ bới cho một chút đồ ăn mang theo. Và món mà bà thường làm cho tôi nhiều nhứt là món canh thơm. Bà biết đây là món mà tôi rất thích.
Kể cũng lạ. Những lần mang tô canh thơm về là tôi hầu như một mình làm trọn. Hai đứa con không ăn đã đành, mà cả H vợ tôi cũng chỉ sơ sơ vài muỗng góp vui vậy thôi, còn lại là tôi quét sạch không chừa một cọng hành. Tôi xì-xà xì-xụp ăn tô canh như ngày mai sẽ tận thế không bằng.
Thấy tôi thích món này như vậy, nên khoảng hai ba tuần mà không thấy tôi mang từ bà nội về là vợ tôi lục đục nấu. Tưởng cũng nói thêm bà xã tôi có biệt tài học nấu ăn. Nàng vô nhà hàng hoặc đi ăn ở đâu mà gặp món đắc ý, chỉ cần khươi đĩa đồ ăn coi sơ sơ là có thể về nhà nấu giống y chang. Cho nên với tô canh thơm đơn giản này là quá dễ dàng. Hôm tôi thấy tô canh thơm dọn lên bàn, ngạc nhiên quá tưởng là mạ tôi nấu nhờ người khác mang qua. Nhưng Hương nói nàng mới nấu theo kiểu của Bà nội. Tôi thích vô cùng, ngồi xuống chén thả giàn. Ăn xong vợ hỏi “ ngon không”” “Ngon chứ”. Vợ hỏi tiếp “ Có ngon như bà nội nấu không” Tôi thành thực trả lời “Ngon, nhưng mà hình như hơi khác với cách Bà nội nấu” Vợ tôi nói mới nấu lần đầu nên chưa chỉnh. Lần sau chắc chắn sẽ Tiếp tục đọc

Ông Thầy Bói Mù

Thư viện của bài

This gallery contains 1 photo.

Trần Thanh Tùng

Năm nay Xuân lại đến
Nhớ ông Thầy Bói mù
Chợ Cà Mau năm cũ
Cùng chiếc ghe màu xanh…

Thấm thoát đã gần ba mươi năm phiêu bạt bồng bềnh nơi đất khách, cứ mỗi độ Xuân về là tôi lại nhớ tới câu chuyện đã đi qua đời tôi với một người. Tuy chỉ gặp một lần ngắn ngủi, mà tôi cứ nhớ mãi cho đến bây giờ. Tôi xin được quay lại đoạn phim của hai mươi chín năm về trước để tưởng nhớ ông Thầy Bói Mù, nay đã trở thành “người muôn năm cũ”, và bác Chín Cụt, người thương binh “cách mạng giác ngộ”, đã nằm lại dưới lòng đại dương trên đường vượt biển tìm tự do.

Sau bốn lần tham gia tổ chức vượt biên thất bại qua nhiều cửa biển, từ Vàm Lẻo Cổ Cò Sóc Trăng tới Gành Hào Bạc Liêu xuống tận Sông Đốc Cà Mau. Người ta thì “nhất quá tam” còn riêng tôi thì “nhì quá tứ”, rồi tứ hóa… tù luôn. May nhờ người chiến hữu anh em chí cốt thương tình, cầm nhà bán cửa để chuộc “bùa” thỉnh “phép”, chạy chọt theo hệ thống “tam cấp”, từ cấp xã lên cấp huyện tới cấp tỉnh, nên tôi được ra khỏi trại giam với tờ giấy chứng nhận là… “gia đình có công với cách mạng”? Tiếp tục đọc

Câu chuyện thầy trò

Thư viện của bài

This gallery contains 1 photo.

Trần Huiền Ân

Ông thầy không ở trong hàng lớn tuổi, không phải là giới trẻ mới tốt nghiệp sư phạm, cũng chưa tới khoảng trung niên, chỉ ở khoảng giữa hai thế hệ này, nhưng hội đủ đức tính của cả ba, chẳng những hội đủ mà còn vượt trội. Nghiêm nghị đạo mạo hơn các thầy lớn tuổi, vui vẻ hoạt bát hơn các thầy trẻ và chững chạc mực thước hơn các thầy trung niên. Mỗi khi bước vào lớp, có vẻ như ông thầy đem sự sợ hãi gieo rắc khắp bọn học trò. Không đứa nào đi trễ mà dám xin phép vô lớp. Ông thầy thấy đó nhưng cứ tảng lờ như không, và đứa đi trễ chịu khó ra sân sau hoặc xuống nhà ông Cai chờ đợi. Giờ học lúc ấy luôn luôn là giờ đôi, hai tiếng đồng hồ không phải là ngắn ngủi. Tôi đã có lần bị như vậy, mà tôi chỉ chậm hơn ông thầy không đầy mươi bước chân chứ lâu lắc gì cho cam. Muốn khóc mà khóc không được, rủa thì cũng chỉ dám rủa thầm !

Lớp chúng tôi đâu phải lớp tầm thường. Chính thầy Hiệu trưởng cũng bảo rằng đây là nơi tập trung tài hoa, trí tuệ, đây là nơi bất cứ bộ môn nào từ học tập đến sinh hoạt
Tiếp tục đọc

Bảy Ngày Ngà Ngọc

Thư viện của bài

This gallery contains 1 photo.

Hoàng Lan Chi

Tháng Chạp ngày N

Sài Gòn bắt đầu có những ngày mang hơi hướng mùa đông. Với một chút lạnh giá vào sáng mai hay khi hoàng hôn buông rủ. Những cô gái Sài Gòn với áo len hồng, khăn voan trắng làm phố phường như mềm mại hơn, tha thuớt hơn.. Tháng chạp của Sài Gòn không giống tháng chạp của bất cứ nơi nào..

Nàng đứng đợi ở sân bay quốc tế Tân Sơn Nhất. Một bó hoa thạch thảo tím trên tay. Đó là dấu hiệu của nhau.

Em

Anh biết là em yêu hoa hồng nhất. Nên nếu đón em sẽ là những bông hồng BB mà em hằng yêu thích. Nhưng anh xin được nhìn thấy em -đón anh -với thạch thảo tím. Những bông hoa bé nhỏ và màu tím thuỷ chung. Là những gì, em dành cho anh và ngược lại. Phải thế không?

Ừ, thì có gì đâu, chút chiều nhau cho tháng chạp ngát huơng mùi thạch thảo.
Tiếp tục đọc

Ngày nầy, năm 1975…

Thư viện của bài

This gallery contains 1 photo.

Tiểu Tử

Năm nay tôi 80 tuổi . Vợ tôi thường nói với mấy con :« Ông bà mình nói người già hay sanh tật, đúng quá ! Bây coi : ba bây bây giờ sáng nào uống cà phê xong cũng lại đứng trước tấm lịch tháng treo ở phòng khách, nhìn trầm ngâm một chút rồi lấy bút gạch tréo ô vuông đề ngày hôm qua ! Chi vậy hổng biết ? Hỏi ổng thì ổng nói gạch để nhớ rằng đến ngày nầy tháng nầy mình vẫn còn trôi sông lạc chợ ! Trời đất ! Định cư ở Pháp từ hơn ba mươi năm chớ phải mới đây đâu mà đi gạch lịch từng ngày ! Ổng còn nói gạch để coi chừng nào mình mới thôi gạch để về lại Việt Nam… »

Câu nói của tôi là sự thật nhưng vì vợ tôi không hiểu nên cho là tôi già sanh tật ! Làm sao giải thích được mỗi lần tôi gạch tréo một ngày như vậy tôi có cảm tưởng như là tôi vừa nhích lại gần quê hương một chút – một chút thôi – đủ để nuôi hy vọng thấy một ngày nào đó mình vẫn còn sống mà trở về…

Sáng nay, cũng giống như mọi ngày, tôi cầm bút gạch tréo ô vuông ngày hôm qua. Ô vuông ngày hôm nay đập vào mắt tôi làm tôi giật mình : ngày nầy, năm 1975 ! Tôi bỗng nhớ ra, nhớ rõ, những gì đã xảy ra ngày đó, nhớ như in. Rồi sợ « cái ngày đó » nó vuột khỏi ký ức vốn đã quá hao mòn của tuổi già , tôi vội vã lấy giấy bút ghi lại… Tiếp tục đọc

Chỗ Treo Linh Hồn

Thư viện của bài

This gallery contains 1 photo.

Cung Tích Biền

Nhà cô Thiền Pha nằm trên một con đường phố trung tâm Hồ Chí Mính City. Tôi nhấn mạnh HCM city. Mới lắm chuyện huyền ảo.

Ngồi ở ban công trước hiên nhà, cô Thiền Pha có thể thấy trăng khuya cuối đường phố, khoảng giữa hai tầng nhà cao. Có thể mơ mộng. Rất hiếm sương mù, nhưng gặp đêm mù sương, cảnh trí như trong tranh thủy mặc.

Chợ Lớn ở cuối đầu kia. Đôi khi nghe tiếng trống múa lân thùng thùng.

Bốn năm trước, nhà cầm quyền thành phố có lệnh mở rộng con đường. Mỗi bên đường nhà nhà phải đập bỏ phần trước, lui vào ba mét. Đào xới, mở rộng, tráng nhựa, lát gạch vỉa hè, hơn ba năm trời, chỉ hơn một cây số đường, rồi cũng xong.

Có một điều lạ. Con đường rộng hơn ra làm cho Thiền Pha cảm tưởng như nó thấp hơn xưa. Mưa như trước, mà con đường bị ngập hơn trước. Trên đại lộ, sóng vỗ dập dìu vào trước cửa nhà mỗi đợt xe buýt chạy qua. Một hàng những cây trụ điện trên con đường hồi chưa mở rộng vẫn còn đứng lẻ loi như bọn cụt tay đang lội nước.

Cây trụ điện thì không có vui buồn như con người. Nhưng bọn chúng, tức là bọn trụ điện, quả là nó lẻ loi.
Tiếp tục đọc

Người trong gương

Thư viện của bài

This gallery contains 1 photo.

Hoàng Ngọc Thư

Nàng trở mình thức giấc. Tấm chăn bông trượt xuống một bên giường, để lộ cánh tay và một bên ngực nàng lạnh buốt. Nàng với tay kéo chăn đắp lại, co ro cố tìm chút hơi ấm. Bên cạnh nàng, đứa con gái nhỏ ngủ ngon lành, đôi má ửng hồng bầu bĩnh trông thật đáng yêu. Nàng choàng tay ôm con, áp mặt vào cái thân thể bé xíu ấm áp và thấy thương yêu con vô hạn. Nàng thường cảm thấy hạnh phúc pha lẫn chút ăn năn mỗi khi được gần gũi, trìu mến với con, vì ít khi nào nàng có được nhiều thì giờ để vui chơi và âu yếm con như thế. Nàng luôn bận bịu với công việc, học hành, và nhất là lúc này, khi chồng đi công tác xa, một mình nàng phải đảm đương mọi việc lẫn chăm sóc con thật chu toàn, chừng ấy đã chiếm hết thì giờ của nàng.

Nàng cố dỗ giấc ngủ nhưng bao nhiêu ý nghĩ trong đầu vẫn tiếp tục xoay tròn. Nàng nhớ đến những việc phải làm ngày mai, những việc gấp lẫn thư thả mà ngày thường chồng nàng đảm trách. Nàng nhớ chồng và ước sao thời gian qua mau. Một tháng công tác! Khi vừa biết tin anh phải đi xa, nàng cho rằng điều này chẳng có gì đáng ngại. Thế nhưng từ hôm anh đi, nàng thật sự cảm thấy bận rộn, mệt mỏi và cô đơn. Cô đơn ư? Thật ra nàng có phút nào được nghỉ ngơi để mà cô đơn đâu, ngoại trừ lúc lên giường sau một ngày mệt nhoài, hoặc lúc thức giấc nửa đêm như bây giờ nàng mới thật sự nhớ đến chồng. Nàng nhớ tha thiết và thèm hơi ấm của anh, thèm vòng tay vững vàng, ấm áp của chồng và những cái hôn thật âu yếm, dịu dàng. Nàng thấy thiếu vắng nhất là cảm giác an tâm khi có chồng bên cạnh và biết rằng mọi việc đều được lo lắng đầy đủ.
Tiếp tục đọc

 MỌI NGƯỜI ĐỀU QUEN BIẾT NHAU

Thư viện của bài

This gallery contains 1 photo.

Lea MacDonald

Hôm đó là một ngày đặc biệt, một ngày dành để lấy lại niềm tin. Và cùng với niềm tin đó, tôi đã rút ra được một bài học nhờ vào Brandon, đứa con trai sáu tuổi của tôi.

Suốt buổi sáng, tôi nhìn nó cẩn thận gói bữa ăn trưa nơi bàn ăn. Tôi sắp đi làm và phải dẫn nó theo. Trong lúc bỏ đồ vào giỏ, nó nói:

– Lớn lên con sẽ là một công nhân.

Nó cẩn thận sắp xếp mọi thứ cần thiết dùng cho cả ngày – một cuốn sách tô màu nhỏ, hộp viết chì màu, một hộp đồ chơi, một cái bánh mì nướng nhân trái việt quất, một bánh săng-uých trứng và ba quả trứng Phục Sinh nhỏ.

Tôi đang trễ giờ nên hối Brandon thu xếp nhanh lên.

Thế là nó nhanh chân nhanh tay lên thật. Và nó bỏ quên bữa ăn trưa đã được gói ghém kỹ lưỡng – một lỗi lầm mà tôi chỉ biết được sau khi lái xe đã được bốn mươi lăm phút. Nó trách móc tôi nhiều lần:

– Ba cứ bắt con làm nhanh lên, bây giờ con chẳng có bữa ăn trưa. Tiếp tục đọc

FRANÇOISE SAGAN VÀ NỖI BUỒN

Thư viện của bài

This gallery contains 1 photo.

Bích Hoài

            Năm 1954, một cô gái 18 tuổi, Françoise Sagan, xuất hiện trên văn đàn Pháp quốc với tác phẩm đầu tay Bon-jour Tristesse, gây sóng gió. Tựa đề của cuốn sách bắt nguồn từ bài thơ của Paul Éluard “À peine défigurée” (Vừa mới biến dạng), với dòng chữ đầu tiên “Adieu tristesse/Bonjour tristesse (Buồn ơi, chào mi).” Một cuốn phim tiếng Anh, phỏng theo cuốn sách, được phát hành năm 1958 với đạo diễn Otto Preminger.

Câu chuyện như sau: Cô bé Cécile, 17 tuổi, nghỉ hè tại một biệt thự bên bờ sông Riviera của Pháp cùng với cha là Raymond, một người hấp dẫn, trần tục, vô luân, tự bào chữa cho mình về tài tán gái với lời trích dẫn của Oscar Wilde, theo đó thì tội lỗi chỉ là một sắc màu sặc sỡ, dai dẳng trong thế giới hiện đại. Cécile nói cô tin rằng cô có thể lấy việc đó làm căn bản trong đời sống của cô và chấp nhận cái phong cách sống đó làm mẫu mực. Một trong những lợi thế đối với cô là cha cô không chút quan tâm đến khả năng hiểu biết nên chẳng cần để ý cô có học hành hay không. Một lợi thế khác là ông bỏ mặc cho cô rảnh tay lôi cuốn đàn ông. Ban đầu cô tìm đến những người đàn ông cùng tuổi với cha, nhưng ở biệt thự kế bên có một chàng trai tuổi đôi mươi, Cyril, mà cô bắt đầu cuộc tình lãng mạn Tiếp tục đọc

Ngày Vượt Biên Nhìn Lại

Thư viện của bài

This gallery contains 1 photo.

 Người Phương Nam

Mỗi năm, cứ tới ngày ba mươi mốt tháng mười là thầy Thanh nhắc vợ mua dĩa trái cây về thắp nhang cúng Bà Áo Trắng để tạ ơn  Bà đã  phù hộ độ trì cho gia đình thầy nói riêng  và  cả nhóm người chung tàu nói chung được bình yên tới bến bờ trong chuyến vượt biên ba mươi năm về trước. Một ơn phước thiêng liêng tưởng như là bịa đặt nhưng kiểm chứng lại thì quả thật không thể nào phủ nhận .  

Đây ngày kỷ niệm vượt biên

Tháng mười, ba (mươi) mốt vượt biên đường tàu

Xế chiều qua chợ Bãi Xàu

Rồi qua Bãi Giá núp vào chờ đêm…

Năm bảy mươi lăm, trong những ngày hấp hối dãy chết của miền nam, Thầy Thanh đã tận sức tìm cách đưa gia đình chạy cộng sản nhưng cuối cùng cuộc di tản bất thành, số mệnh đã cột chân thầy lại cho đến bốn năm sau. Khi về lại tỉnh nhà, trong một buổi họp nhân dân, thầy đã chứng kiến tận mắt  một màn thị oai dằn mặt nhân dân rất ư là ghê rợn bạo tàn của chế độ mới. Trong buổi họp, bọn sắt máu đã tố tội hai sĩ quan “ngụy” và sau đó đã thẳng  tay hành quyết vặn cổ nạn nhân ngay tại hiện trường không mảy may xúc động. Luật lệ nào mà xử người không có đối chứng, không quyền biện hộ phân bua Tiếp tục đọc

Anh phải sống/You Must Live

Thư viện của bài

This gallery contains 1 photo.

Khái Hưng

Trên đê Yên Phụ một buổi chiều mùa hạ.
Nước sông Nhị Hà mới bắt đầu lên to, cuồn cuộn chảy, tưởng muốn lôi phăng cái cù lao ở giữa sông đi.

Theo dòng nước đỏ lờ lờ, những thân cây, những cành khô trôi từ rừng về, nổi lềnh bềnh, như một dẫy thuyền nhỏ liên tiếp chạy thực nhanh tới một nơi không bờ không bến.

Đứng trên đê, bác phó nề Thức đưa mắt trông theo những khúc gỗ ấy tỏ ra ý thèm muốn, rồi quay lại, đăm đăm nhìn vợ, hỏi thầm ý kiến. Người vợ, ngắm sông, ngắm trời, lắc đầu thở dài, nói:

– Gió to quá, mà đám mây đen kia ở chân giời đùn lên mau lắm. Mưa đến nơi mất, mình ạ!

Người chồng cũng thở dài, đi lững thững. Rồi bỗng đứng dừng lại, hỏi vợ:

– Mình đã thổi cơm chưa?

Vợ buồn rầu đáp:

– Đã. Nhưng chỉ đủ cơm cho hai con ăn bữa chiều hôm nay.

Hai vợ chồng lại im lặng nhìn nhau… Rồi hình như cùng bị một vật, một định kiến nó thôi miên, nó kiềm áp, hai người đều quay lại phía sông: Những thân cây vẫn phăng phăng trôi giữa dòng nước đỏ. Tiếp tục đọc

KHÓI VÀ MẢNH TRĂNG KHUYẾT

Thư viện của bài

This gallery contains 1 photo.

Nguyễn Lệ Uyên

(Tặng bạn bè tôi, một thời tan nát, chia lìa).
Từ nơi nào ấy rất xa xôi, như tiếng vọng khẽ:

– Định, mày mạnh giỏi chứ? Bây giờ mày thế nào rồi? Lâu lắm tao không gặp, nhớ lắm!

– Xin lỗi, giọng nói nghe rất quen.

– Ha, ha… đã quên thằng bạn này rồi sao? Đầu óc mày bắt đầu còm cõi từ hồi nào vậy? Tao cứ ngỡ tụi mình vẫn tiếp tục làm thơ dưới khung cửa sổ phòng Thủy đó mà.

– Hả. Nói sao? Thủy ngày xưa. Ngô, mày ở đâu? Tao tưởng.

– Chết từ ba mươi năm nay rồi chứ gì? Người đời nghĩ rằng tao chết rồi, chết thật rồi. Nhưng mà, hỡi ơi, làm sao tao chết được. Tao vẫn gần tụi mày, vẫn biết Thủy bây giờ cơ cực, vẫn biết thỉnh thoảng mày mơ màng làm một cuộc viễn du, đến bên em bằng những giấc mơ tuyệt đẹp, đầy ắp hương hoa và rỗng không sương khói.

– Mày gặp Thủy?

– Tao gặp thường xuyên, không ngày nào, tháng nào, năm nào là tao không ở bên cạnh nàng.

– Mày với Thủy…

– Lại ngộ nhận. Tất cả đều trễ tràng. Tất cả là những sợi khói mong manh, níu theo mảnh trăng khuyết dằn xé nỗi khát khao.

– Tao không hiểu gì cả. Tiếp tục đọc

Con Tàu Chỉ Có Một Người

Thư viện của bài

This gallery contains 1 photo.

Phan Xuân Sinh

Anh cũng như bao nhiêu người sĩ quan khác ở Miền Nam. Sau 75, đều bị tập trung cải tạo. Những tháng đầu anh được vợ gửi cho một hai lần đồ ăn, sau đó thì biệt tăm. Anh được phép viết thư về cho gia đình nhiều lần. Nhưng không thấy vợ trả lời. Như thế kể như anh bị vợ bỏ. Sống trong trại cải tạo mà không có người thăm nuôi, không được tiếp tế đồ ăn, người đó kể như chết. Anh biết mình nằm trong số người bất hạnh đó. Nên anh phải tự lực cánh sinh. Nói chơi cho vui vậy chứ tự lực gì nổi.. Có được thăm nuôi hay không, người tù nào cũng co cúm lại. Thức ăn dành dụm từng chút. Ra ngoài lao động, con mắt của họ dáo dác tìm bất cứ thứ gì có thể bỏ vào bụng cho đở đói. Cho nên người có quà thăm nuôi cũng như dân mồ côi, khi ra ngoài lao động cũng xục xạo tìm kiếm đào bới như nhau. Ai tìm được nấy ăn.

Chuyển ra ngoài Bắc anh lại càng tơi tả hơn. Không quen với cái lạnh thấu xương, bụng thì đói meo. Trông anh như một ông cụ già hom hem. Công việc nặng nhọc làm cho anh còm lưng. Ngày trở về thì không thấy hy vọng. Anh cứ nghĩ mình kéo dài tình trạng đói khát, nặng nhọc nầy mãi, thì thế nào cũng bỏ xương tại cái xứ đèo heo hút gió nầy. Trốn trại thì không can đảm. Mà cũng chẳng biết trốn đi đâu, giữa núi rừng trùng trùng điệp điệp. Đành phải bó tay chịu trận.

Bỗng nhiên một hôm anh nhận được gói đồ ăn gửi bằng đường bưu điện. Anh nghĩ chắc vợ anh gửi cho. Nhưng khi cầm gói quà trên tay nhìn tên người gửi lạ hoắc, anh phân vân, đắn đo. Chắc chắn đây là một sự nhầm lẫn. Tuy nhiên vì đói quá anh không có can đảm hoàn trả lại cho cán bộ, khi mà sự thèm khát đã lên tới tột đỉnh. Mà chắc gì gói quà được trả về cho khổ chủ của nó! Cán bộ trại đời sống cũng chẳng hơn tù bao nhiêu, thế nào họ cũng chia nhau. Trong lúc mình đang cần, anh an ủi mình như vậy. Anh về trại. Bạn bè tới chúc mừng anh. Như vậy, kể từ nay anh thuộc thành phần có thăm nuôi. Không còn mồ côi như trước. Gói quà đã được mở ra kiểm soát, cột lại sơ sài trước khi giao cho anh nhận lãnh. Tiếp tục đọc

CHÉN NƯỚC MẮM VÀ BAO VẢI BỘT MÌ

Thư viện của bài

This gallery contains 1 photo.

Trần Mộng Tú 

            Sang Mỹ cả gần bốn mươi năm rồi, thế mà mỗi lần dọn cơm lên bàn cho chồng con tôi vẫn lúng túng với chén nước mắm. Hôm nay có cần không? Bao giờ nhìn bữa ăn dọn ra, cũng chần chừ giữa có và không một phút. Cuối cùng thế nào cũng phải rót một chút nước mắm vào cái chén nhỏ, đặt giữa bàn. Có khi suốt bữa ăn không ai chấm vào, nhưng không có nó, hình như bữa ăn chưa gọi được là hoàn tất. Dù sau này các con đã ra riêng, chỉ có hai vợ chồng, đã bỏ thói quen ăn mặn, thế mà chén nước mắm vẫn luôn luôn hiện diện trong bữa ăn.

Thập niên đầu, khi các con còn nhỏ chưa dùng nước mắm chấm trong bữa ăn thì tôi còn cha mẹ. Cha mẹ ăn cơm bao giờ cũng có chén nước mắm, chanh, ớt để bên cạnh như một thói quen, một điều ắt có như cái bát, đôi đũa vậy. Dù bất cứ hôm đó ăn món gì, có cần đến nước mắm chấm hay không?

Rót chút nước mắm ra cái chén nhỏ, mùi thơm mằn mặn bốc lên, như ngửi thấy cả quê nhà, sao mà nó gợi tình, gợi cảnh thế, nó Việt Nam quá đỗi. Không có chén nước mắm, bữa ăn không gọi là đầy đủ được và lại càng không phải bữa ăn của một gia đình Việt Nam. Đĩa thịt, đĩa cá, bát canh, đĩa xào, bầy đầy bàn. Nhìn đi, nhìn lại, vẫn như thiêu thiếu một cái gì? À, thì ra thiếu chén nước mắm. Thế là chưa ngồi xuống ghế được.
Tiếp tục đọc

CON YÊU BÁNH NẬM

Thư viện của bài

This gallery contains 1 photo.

Con yêu bánh nậm
 

Lần đầu tiên tôi gặp Con Yêu Bánh Nậm ấy bằng xương bằng thịt sờ sờ vào một sáng trời mưa lâm thâm trên bến đò Thừa Phủ.

Đò đầy, cô lái sắp đẩy ra khỏi bến thì có tiếng gọi từ phía lái:

– O ơi! Chờ chút! Cho Con Yêu Bánh Nậm lên với cả hắn trễ tội!

Con Yêu Bánh Nậm lẫm lũi kẹp cặp sách trước ngực, chạy thục mạng xuống bến và nhảy lên đò. Tôi còn đứng lớ ngớ chưa tìm ra chỗ ngồi, bị con Yêu đạp nguyên đôi guốc mộc lên bàn chân trần đau điếng. Tôi la lên nho nhỏ: “Ái, đau!” và cúi gập người ôm bàn chân tội nghiệp của mình vừa khi con Yêu nhận ra là đang làm đau đồng loại. Con Yêu ngỡ ngàng ngó quanh trong lúc đò từ từ ra khỏi bến. Tôi hơi ngờ ngợ vì dáng quen quen. Sau lần áo mưa trong vắt, tôi có thể đọc được cả bảng tên thêu màu “xanh-lơ-ma-rin” nổi bật trên nền áo trắng: H. T. Đông Ba, C2, trường Đồng Khánh. Ngày đó, dân Quốc Học nhìn những cô em Đồng Khánh mang bảng tên màu xanh là ngây thơ, màu tím là đợi chờ, màu hồng là đã chín. Học trò lớp đệ tam (lớp 10) mang màu xanh là đàn chim non mới bước vào ngưởng cửa trung học đệ nhị cấp, nhí nha nhí nhảnh, hầu hết còn “phất phơ giữa chợ, biết vào tay ai…” Lên đệ nhị (lớp 11) mang màu tím là sắp sửa làm “bà tú”, trong cặp sách thường có bụi “ô mai” vương vãi lên thư tình. Và lên tới đệ nhất (lớp 12) mang màu hồng, suy tư và cuộc đời lốm đốm màu triết học, nên có nàng đã che nắng bằng sách Jean Paul Sartre, Albert Camus… thay cho chiếc nón bài thơ! Còn con trai Quốc Học mà mang bảng tên “Ba sọc” như tôi là đã có quyền khỏi bận áo len giữa sương thu và gió lạnh, ưỡn ngực cho nhân gian thấy ta đây là học trò Đệ nhất. Dù có lỡ sa cơ thi rớt tú tài toàn phần thì cũng còn đường rút vào quân trường Thủ Đức làm “quan một nhà binh”, mai vàng le lói như thường.

Tiếp tục đọc

BẾN XUÂN

Thư viện của bài

This gallery contains 1 photo.

Đặng Tiến

BẾN XUÂN

 Xuân đã đem mong nhớ trở về
Lòng cô gái ở bến sông kia
Cô hồi tưởng lại ba xuân trước
Trên bến cùng ai đã nặng thề…
Nguyễn Bính

Từ một ý thơ xuân, hôm nay chúng ta cướp cả ánh thiều quang để nói chuyện Thơ, bàn về thi tính, hay chất thơ trong từ ngữ, lấy từ bến làm ví dụ. Dĩ nhiên là còn nhiều ví dụ khác.

*

Trong ngôn ngữ, dân tộc nào cũng vậy, có một số từ ngữ được trọng dụng trong thi ca nhờ vào nội hàm, có khi nhờ vào cái vỏ âm vang, giới ngữ học gọi là cái được-biểu-hiện và cái-biểu-hiện. Nhưng chúng chỉ được trọng dụng trong một thời gian, dài hay ngắn tùy nền văn hóa mà chúng phản ánh. Trong thời gian văn hóa này, chúng được tiếp nhận, cảm thụ trên những tần số khác nhau, tùy từng thành phần văn hóa và xã hội, và tùy cảm nhận cá nhân, lúc này hay lúc khác. Tiếp tục đọc

Bóng mây cuối chiều

Thư viện của bài

This gallery contains 1 photo.

MANG VIÊN LONG.

Bóng mây cuối chiều

Kính tặng những bà mẹ bất hạnh.

Thạc đẩy cửa, bước vào – liếc nhìn vào giường bà Sửu đang nằm, giọng lạnh lùng:

-Mẹ sao mà nằm hoài vậy?
-Tao hơi mệt, nằm chút rồi dậy.
-Lúc nào cũng nghe bà kêu mệt!
-Tuổi trên sáu mươi rồi, muốn mệt lúc nào thì mệt – tao đâu có muốn vậy.

Thạc đi thẳng lên gác.

Bà Sửu lồm cồm ngồi dậy, định bước xuống giường, nhưng bỗng thấy còn hơi choáng. Bà ngồi im. Mắt hướng nhìn lên cầu thang.

Cách nay mấy hôm, trời chuyển tiết lập thu, bà nghe mỏi và đau nhức khắp cơ thể. Tuổi già là chiếc máy đo thời tiết nhanh nhạy nhất, bởi sau nhiều bận bị mệt và đau nhức, bỏ ăn – bà thấy ngày hôm sau, trời bỗng âm u, mưa và gió bất chợt; nên bà Sửu luôn lo lắng mỗi lúc trời đất thay mùa, chuyển tiết.
Tiếp tục đọc

*** CHUYỆN CỦA ANH T…   

Thư viện của bài

This gallery contains 1 photo.

ĐẶNG XUÂN XUYẾN

CHUYỆN CỦA ANH T…   

*

Anh đã ngoài 50 tuổi nhưng nhìn vẫn còn trẻ trung và phong độ lắm. Da anh trắng, lại mịn, tính thích bông đùa, tếu táo nên chẳng ai nghĩ anh đã đến 45 tuổi. Đi cùng con gái lớn, tuổi đã ngấp nghé 30, nếu giới thiệu là bố con cũng chẳng ai chịu tin.

Anh lấy vợ đầu, được vài năm thì đưa nhau ra tòa. Chị để lại đứa con còn đỏ hỏn cho anh nuôi rồi xách va ly theo một chàng trai trẻ. Nghe đâu, chàng trai đó kém chị đến cả chục tuổi. Nuôi con cứng cáp, anh gặp chị thứ 2 kém vợ đầu chừng mười tuổi, bén duyên, rồi cưới. Về làm vợ anh, chị cũng chăm chỉ, chịu thương chịu khó, rõ là người nết na hiền thục. Hàng xóm, ai cũng quý đường ăn nết ở của chị. Đã xinh gái, lại nết na hiền thục, cư xử có trên có dưới, được lòng cả phố nên anh yêu và chiều chị như báu vật. Thế rồi chị sinh cho anh một bé trai, đẹp như thiên thần, giống anh thật nhiều. Anh càng yêu và chiều chị hơn. Chả hiểu vì sao, khi cậu ấm đã biết chạy, chị lại đâm ra đổ đốn, ánh mắt cứ khoái mơn man, vuốt ve những chàng đô con, đẹp mã. Anh đã nhiều lần khó chịu, bóng gió, xa xôi để chị “chừa cái tính khí tiểu tư sản làm mất mặt chồng con” đó đi. Chị cũng xấu hổ lắm với “tính khí đua đòi kiểu tiểu tư sản” đó và cũng nhiều lần quyết tâm “không làm xấu mặt chồng con” nữa nhưng lý trí đều thất bại khi mỗi lần chạm trán đàn ông, Tiếp tục đọc

*** VƯỜN MĂNG CỤT

Thư viện của bài

This gallery contains 1 photo.

trần mộng tú

VƯỜN MĂNG CỤT

Người con gái ra đón ông Thành ở ngay khu đậu xe của chung cư. Cô hồn nhiên nắm tay ông, cái nắm tay không phải dắt ông cho khỏi vấp ngã, nhưng tỏ sự thân tình. Cô vừa đi vừa nói:

– Lâu quá rồi bác cháu mình không gặp nhau. Con xem đồng hồ áng chừng giờ bác đến, thế mà đúng. Con vừa ra chưa được năm phút đã nhìn thấy xe bác rẽ vào. Bác trông còn khỏe quá!

Rồi cô thấp giọng. “Mẹ con đang chờ bác.”

Ông Thành nhìn cô con gái của bạn, nhớ lại ngày cô còn bé tí, nay đã gần bốn mươi rồi, không trách mình già. Ông xiết chặt tay cô, nhớ đến người đã đi biền biệt.

Ông Thành là bạn thân từ thời còn rất trẻ của cha mẹ cô, ông là bạn học của ông Lâm từ thời trung học. Họ cùng trưởng thành, ra đời làm việc, lập gia đình, gần như lúc nào cũng có nhau. Họ cùng di tản, tham dự ngày con cái nhau ra trường và cưới hỏi. Cách đây năm năm, ông Lâm qua đời, rồi bà Thành cũng chỉ còn là một nắm tro than. Ông Thành sức khỏe bắt đầu hơi kém đi theo tuổi tác. Sắp tám mươi rồi, còn trẻ trung gì nữa, ông làm biếng đi ra ngoài, sự liên lạc cũng thưa thớt dần giữa hai nhà. Tiếp tục đọc

*** QUA SÔNG

Thư viện của bài

This gallery contains 1 photo.

Cung Tích Biền

1

Dòng họ Trần Liêu vào định cư ở bờ Bắc sông Thu một thời gian lại gặp chuyện chẳng lành. Mấy năm liền, mùa hè như trong lò thiêu, mùa đông như băng giá, khí hậu khắc nghiệt, khắp nơi bị lụt lội, hạn hán, mưa đá, bão tố; lúa đang đòng đòng sâu bọ ăn hết, kiến vàng làm tổ trong măng tre măng trúc; giếng nước có rắn, dọc bờ sông cá sấu phơi mình trên cát; giữa trưa khô khốc từng bầy voi lang thang đi tìm nước dọc bờ sông trắng. Gió rao truyền những tai ương, và biển bủa sóng báo hiệu của hoang phá điêu tàn.

Về mặt nhân văn, con người không tin vào những điều thực tế; nhưng những cảm ứng tâm linh không còn chân chính; nó bị tác động, xua đi theo dấu chân tà thuật. Đó đây mọc lên lời kinh cầu, sấm truyền. Những phù thủy dạy cho con người những u muội, xuyên tạc, đẩy đạo lý đến cửa ngõ của dị đoan mê tín. Người ta thờ những con rắn hai đầu, gà bốn chân, cua mặt người, cọp biết nói. Tin đồn loan truyền, những đồng dao, những mẫu chuyện châm biếm cứ mọc cánh bay đi, tụ hội với trăm nghìn hoang tưởng, làm cho xã hội hôm ám càng nhuốm màu hoang đường. Bọn đồng bóng có nơi ăn chốn ở, Tiếp tục đọc

*** Nhớ Một Chuyện Tình

Thư viện của bài

This gallery contains 1 photo.

 Kim Phan
Nhớ Một Chuyện Tình

Bạn tôi, tên Tâm, vừa đi du lịch từ Pháp về, tôi hỏi bạn đi chơi có gì vui. Bạn bảo không vui, không buồn, nhưng có chuyện nầy:

Ông xã bạn tôi sau một trận đau thập tử nhất sanh, tưởng là nằm liệt ngờ đâu nền y khoa nhất thế giới của Hoa Kỳ giúp ông tỉnh táo và đi lại bình thường. Hai vợ chồng mới có ý định đi du lịch.

Sẵn có đứa cháu chồng bên Pháp, họ quyết định mua vé sang Pháp. Cô cháu này đi du học vào khoảng năm 1970, sang học vài năm thì lấy chồng để có quốc tịch. Cuộc sống chung giữa hai người không cùng xứ sở, chuyện tình kết thúc năm 1975, sau khi có với nhau 2 con. Vài năm sau cô đi bước nữa với người từ Việt Nam mới sang vào khoảng năm 1979, đi theo diện lai Pháp. Nghe nói họ cũng hạnh phúc lắm.

Khi bạn tôi và chồng xuống phi trường, hai vợ chồng cô cháu ra đón. Tâm nhìn ông chồng cô cháu với hàm râu quai nón, thấy ngờ ngợ, quen quen, giọng Bắc chuẩn, nếu không nhìn mặt 95% là tây, chỉ nghe giọng nói thì rặt là Việt Nam. Tiếp tục đọc

*** CHUYỆN ANH CHÀNG ĐÀO HOA NỞ MUỘN

Thư viện của bài

This gallery contains 1 photo.

ĐẶNG XUÂN XUYẾN

CHUYỆN ANH CHÀNG
ĐÀO HOA NỞ MUỘN

*

Anh sinh năm 1953, ở Hà Nội, giàu lắm, có mấy cái nhà mặt phố cho thuê, toàn cỡ vài chục triệu/tháng nhưng đường vợ con của anh thì lận đận lắm. Đến tận năm anh rất luống tuổi mới biết yêu, nên vội cưới. Nghe em rể anh kể, thì “chị” sinh năm 1984, hình thức cũng thuộc diện xinh gái, khéo ăn khéo nói, người Hà Nội, gia đình cũng khá giả, kém anh “chỉ có” 31 tuổi, mà anh là con trưởng, lại ở thế độc đinh, xưa tới đó chưa từng biết chuyện gái gú là gì nên cả gia đình gật đầu tắp lự khi anh đưa “chị” về ra mắt, tuyên bố sẽ cưới “chị” làm vợ. Cưới được hơn năm, “chị” sinh cho anh cậu ấm, giống anh như tạc nhưng chả hiểu sao từ ngày sinh được cậu ấm, “chị” đâm ra đổ đốn: Cãi bạt mạng khi anh nhắc nhở chuyện a, chuyện b trong văn hóa ứng xử; chị còn tự mình đặt ra quy định thế này thế kia với họ hàng ruột thịt của anh trong khi anh là người làm ra tiền, là người đang “cầm chịch” lễ nghi của dòng họ. Cãi nhau vài bận, chị đâm đơn ra tòa. Anh gật đầu cái rụp. Cũng chẳng cần ý kiến của tòa, anh hâm hâm đề xuất: Phụ cấp 10 triệu/tháng cho cậu ấm, đưa luôn cả 17 năm 3 tháng (thời điểm cậu ấm tròn 18 tuổi) cho gọn. “Chị” đề xuất anh chi thêm mấy trăm triệu để “chị” mua tạm ngôi nhà nho nhỏ làm nơi tá túc. Anh gật đầu rụp cái trước tòa, nhất trí chi thêm cho “chị”, tổng cộng tròn 3 tỷ. Mọi người trách anh hâm. Anh cười: Đằng nào cũng chi cho con nên đưa luôn cả thể cho gọn. Mọi người nhắc anh cẩn thận kẻo “người đàn bà” đó lợi dụng cậu ấm để rút ruột, “trả thù”. Anh hô hố cười, rồi mắng mọi người lo xa, khẳng định như đinh đóng cột sẽ không có chuyện đó. Tiếp tục đọc

*** Chồng Cũ Của Mẹ

Thư viện của bài

This gallery contains 1 photo.

Hoàng Nguyên Vũ

Chồng Cũ Của Mẹ 

Hai người đàn ông trong cuộc đời mẹ tôi đã đi về với đất. Món quà họ để lại cho tôi là câu chuyện đời về cách sống, cách yêu thương, cách cho, và cả cách quên…

Mẹ và bố tôi đến với nhau khi cả hai cùng có một “tập” riêng, chỉ khác là vợ cũ của ông mất sớm, còn chồng cũ của bà thì còn. Có lần mẹ tâm sự, thực ra giữa mẹ và người chồng trước vẫn thương nhau lắm nhưng phía đằng chồng quá quắt đến mức khiến họ không thể sống cùng nhau, mẹ bê hai đứa con nhỏ về với bà ngoại và mấy năm sau mẹ gặp bố tôi để nên vợ nên chồng.

Chia tay rồi nhưng các cụ văn minh lắm, ông với bố mẹ tôi đã trở thành những người bạn thân hữu. Chồng cũ của mẹ sống rất tự do, có một nghề cầm tay rất chắc – làm thủ công mỹ nghệ. Nên cuộc đời của ông là những chuyến đi, được làm nghề mình thích và sống với cuộc sống tự do xê dịch của chính mình.

Ông là một người thợ rất tài hoa, vui tính, nên ông đến vùng nào người ta cũng đều quý và đặt hàng. Ông đi hết vùng này sang vùng khác, khắp cả dải đất miền Trung nắng lắm, mưa nhiều. Tiếp tục đọc

*** Ấm Lạnh Của Cuộc Đời

Thư viện của bài

This gallery contains 1 photo.

Nguyễn thị Hải Hà

Cơn bão Sandy đến vào đêm thứ Hai. Hai cây anh đào bên cạnh nhà của Quê bị trốc gốc nằm chắn ngang đường dẫn vào nhà để xe. Cây sồi gần trăm tuổi trước nhà ông Jack cũng bị đột quị, tàng lá rậm rề của nó khi trườn ngang đường đã lôi theo máy biến điện, làm trụ điện toác làm hai. Tất cả mọi thứ, dây điện trụ điện máy biến điện đều nằm kềnh trên mặt đất. Thế thì phải còn lâu lắm mới trở lại bình thường. Nhà của Quê cũng như tất cả mọi người chung quanh đều bị mất điện, không sưởi, không có nước nóng lẫn nước lạnh.

Sau cơn bão trời rất đẹp, ban ngày có nắng, khá ấm so với khí hậu mùa thu của New Jersey . Nhiệt độ trong nhà từ giảm từ từ. Đến ngày thứ Năm, trong nhà chỉ còn 45 độ F, bằng với nhiệt độ ngoài trời. Ban ngày Quê ra sân dọn dẹp cành cây, vận động và phơi nắng cho người ấm lên. Buổi tối Quê mặc hai lớp vớ, hai lớp quần, hai lớp áo mỏng cùng với áo len thật dày, bên ngoài mặc thêm cái áo khoác nhung lót nỉ. Áo này Quê thường mặc để xúc tuyết hay làm việc ngoài trời. Cũng may là hồi mùa hè Quê thấy áo mỏng dài tay bán hạ giá ở Old Navy nên mua luôn mấy cái. Chống lạnh cần mặc nhiều lớp nếu áo nào cũng dày quá sẽ không xoay trở được. Tiếp tục đọc

*** Lời Gió Mang Xuân Về

Thư viện của bài

This gallery contains 1 photo.

Cam Li Nguyễn Thị Mỹ Thanh

1
Ông pha cho mình một ly trà. Nói là “pha” cũng hơi quá, vì chỉ cần bỏ túi trà vào ly, đổ nước sôi vào, chờ màu nước vừa đủ đậm là có thể uống được. Tự lúc nào, những thói quen hàng ngày đã được đơn giản hóa tối đa. Ông mỉm cười, mở máy. Bài viết dang dở đang chờ ông tiếp tục. Ông nhắp một ngụm nước trà, cúi xuống bàn phím.
“Năm ấy, chàng mãn khóa, chờ ra đơn vị. Những gì cần phải làm là thu xếp mớ “hành trang” còn bề bộn trong trí, là tận hưởng những giây phút “còn được tự do” để thăm hỏi bạn bè, để dạo phố cùng người yêu, và nhất là để về thăm Mẹ nơi quán nhỏ trên đồi…”
Chà, nghe thơ mộng, trẻ trung dữ! Ông cười một mình. Khi viết về chàng trai trẻ, mình dùng chữ “chàng”, nhưng nếu để viết về mình bây giờ, chắc phải gọi là “ông.” Thì cũng như trong các truyện ngắn, truyện dài thế thôi! Hễ có tuổi thì được gọi là “ông.” Ông nhớ bài luận đầu tiên của mình được cô giáo khen và cho tám điểm là bài nói về “ông tôi.” “Ông tôi” trong bài luận đó… còn trẻ hơn mình bây giờ!
Nhắc đến ông, lại nghĩ đến thằng cháu. Ông nhớ nó quá! Đã hơn một tháng nay chưa gặp nó. Ba má nó hứa Tết sẽ cho cháu về thăm. Ừ thì Tết sẽ gặp. Còn tới hơn hai tháng nữa. Ông lắc đầu, cười. Thôi, mình có công việc của mình, thì giờ đâu mà buồn!
Ông lắng tai nghe. Tiếng gió! Phải, tiếng gió. Ông cúi xuống, gõ tiếp. Tiếp tục đọc

*** MÙA ĐÔNG LƯU VONG

Thư viện của bài

This gallery contains 1 photo.

Ngô Quốc Sĩ

MÙA ĐÔNG LƯU VONG
NỖI NHỚ QUÊ HƯƠNG RAY RỨT

Nỗi nhớ quê hương của người Việt lưu vong thật da diết. Xa quê hương, dân Việt vẫn luôn luôn canh cánh bên lòng hình ảnh đất mẹ dấu yêu đang trải qua bao tang tóc dưới bàn tay lũ con hoang đã bị tha hóa, đánh mất bản chất con người nói chung và con người Việt Nam nhói riêng. Thi ca yêu nước đã chuyên chở đầy đủ tâm trạng nhớ thương ray rứt đó, tiêu biểu là những vần thơ truyền cảm của Văn Nguyên Dưỡng qua bài Chiếc Áo Kinh Cừu Trong Giá Đông.

snow
Thực ra bài thơ Chiếc Áo Khinh Cừu chỉ là một chấm nhỏ trong gia tài văn chương thắm đượm tình tự quê hương của nhà thơ nhà văn Vĩnh Định- Văn Nguyên Dưỡng, cũng là sĩ quan quân đội Việt Nam Cộng Hòa, đã từng cầm súng chiến đấu bảo vệ tự do miền Nam trước cuộc xâm lăng của cộng sản Bắc Việt. Ông đã đóng góp cho nền văn học lưu vong nhiều tác phẩm giá trị bằng tiếng Việt cũng như tiếng Anh, tiêu biểu như Vùng Đêm Sương Mù , Trường Ca Trên Bãi Chiến , Lessons from the Vietnam War, Inside An Lộc: The Battle to Save Saigon …
Trở lại bài thơ Chiếc Áo khinh Cừu trong Giá Đông, nhà thơ đã thể hiện tâm trạng “nhớ về” và “nhớ thương” những gì đã bỏ lại sau lưng khi rũ áo chiến binh, rời bỏ quê hương trong ngậm ngùi và tủi nhục.
Nhớ về thì trước hết là nhớ chiếc áo trận đã từng lấm bụi gió sương, lấm bùn chinh chiến và lấm máu quân thù, nay đã bạc màu theo năm tháng, chỉ còn lại như một kỷ niệm giữa mùa tuyết trắng xứ người:
Tiếp tục đọc

*** ĐÊM CỦA LÃO

Thư viện của bài

This gallery contains 1 photo.

Lê Thu Hương

Đêm yên tĩnh, đêm nồng nàn, đêm huyền ảo, một đêm trăng trước cửa nhà lão. Màu vàng ngọt ngào của trăng nhuộm vàng phòng khách. Tối nay là tối của lão, chỉ một mình lão với trăng, lão không muốn ai quấy rầy lão. Lão để trăng một mình, lụi hụi mở chai rượu vang ủ lâu ngày.

Lão tắt ngúm đèn ngồi nhìn trăng qua khung cửa kính lớn, lão sờ tay vào túi áo trước ngực tìm kiếng đeo mắt. Vài đóa quỳnh mãn khai, mùi thơm phảng phất trong phòng, đêm hình như yên ắng hơn. Các cánh quỳnh cong cong đi vào giấc ngủ coi bộ êm đềm lạ. Quỳnh vào cõi chết yên ắng, nhàn tản như một đạo sĩ biết giờ linh hồn người đi vào nơi miên viễn.
Tiếp tục đọc

*** NHẠC ĐIỆU CỦA BẦY ONG

Thư viện của bài

This gallery contains 1 photo.

Cung Tích Biền

I
Ngoài tên họ ghi trên giấy khai sinh, trẻ con thường có một tên gọi thân thương trong gia đình. Cháu bé gái bốn tháng tuổi, con một gia đình quyền thế, được gọi là Ong Con. Ong Con lúc chào đời hai bàn tay đầy đủ mười ngón xinh đẹp.
**
Tổ [quốc] ong, cũng như tổ [hợp] kiến, là những tập thể có tính tổ chức, tính kỷ luật bầy đàn rất cao. Muốn sống an toàn, cùng chia xẻ một cái lỗ nhỏ hình lục giác trong tổ [quốc], trước tiên mỗi “công dân ong” phải biết sống phải điều, phục vụ trong phân phận con ong thợ, vui vẻ khi được sai khiến, một chiều thuận trong hệ thống chỉ huy.

Tính bảo trọng này, qua nhiều thế hệ, biến ra một căn bệnh mãn tính, là luôn phải thích ứng với hoàn cảnh bầy đàn.
Tiếp tục đọc

*** Như Nguyệt…bài viết ngắn

Thư viện của bài

This gallery contains 1 photo.

Như Nguyệt

Chritmas Eve, 2009

Sáng nay, N. nằm mơ thấy Thục, cô bạn thuở còn bé tí. Thấy lòng hơi bâng khuâng, nhớ đến Thục, nhớ đến ngôi trường tiểu học thuở xa xưa nên N viết 1 đoản văn về trường Phúc Âm và cô bạn hồi còn học Tiểu học của mình.

Chia sẻ với các bạn, đọc chơi nha.

Ngôi trường đầu tiên trong đời mà tôi đi học ở trong một cái miễu. Trong đó có 1 phòng lớn kê bàn ghế dài cho học trò ngồi, bên trái của lớp học là 1 phòng có bàn thờ, được chắn bởi những song sắt, nhìn vào tối tối, âm u, thấy sợ sợ, ghê ghê!!! Thầy tôi để dành, hể có đứa nào hư là bắt phải vô trong đó, đứng úp mặt vào tường. Hồi còn nhỏ, tôi rất sợ phải bị phạt vào căn phòng tối om đó nên tôi không dám làm điều gì hư đốn, chả bao giờ dám nghịch ngợm, phá phách gì cả, rất là ngoan!

Tôi còn nhớ hoài cái ngày đầu bị bắt buộc phải đi học. Không biết tại sao tôi lại sợ, hổng muốn đi? Tôi vừa khóc, vừa gào, vừa kháng cự, giẫy dụa! Lúc đó không biết Tiếp tục đọc

*** CÔ ĐƠN

Thư viện của bài

This gallery contains 1 photo.

Lê Khắc Thanh Hoài

Không một ai trên cõi đời mà không một lần trải nghiệm một thứ tình cảm buồn bã, hụt hẩng vì không có ai để chia sẻ, thốt lên điều gì đó tự đáy lòng sâu thẳm, hoặc có chia sẻ được cùng ai điều gì đi nữa, những mong được cảm thông, thì lại không được cảm thông, mong được hiểu thì lại không được hiểu, không hiểu đúng, lại còn bị hiểu sai, hiểu lệch lạc, hiểu méo mó, hiểu ngược ngạo, nói một đằng hiểu một nẻo, mong được chấp nhận thì lại không được chấp nhận, không được đáp lại như ý muốn, những điều đã bày tỏ, đã thuyết minh, đã thuyết phục, thậm chí phải van lơn, cầu khẩn, đã dùng mọi cách để chứng minh, phân trần, biện bạch, biện hộ, để cho trắng thì ra trắng, đen thì ra đen, nhưng rồi mọi cố gắng đều thất bại. Không nhận được một cái gật đầu, không một lời nói đồng ý, không một cử chỉ thỏa thuận, không một dấu hiệu được ai đó tỏ cho biết là họ theo phe mình, ủng hộ mình, vì mình, vì hành động hay tư tưởng của mình. Rốt cuộc chỉ thấy một mình mình trơ trọi với những gì mình ôm ấp trong lòng, chỉ thấy một mình mình chống chọi với tình thế đang diễn ra trưóc mắt, mọi người đều quay lưng, có khi im lặng lạnh lùng, có khi mạt sát thị phi. Tất cả đều như những mủi tên nhọn ghim vào tim mình. Mình bị tổn thương trầm trọng như con chim bị bắn trúng đạn nằm rơi xuống mặt đất, mình quằn quại, đau đớn và mình gào lên « Ôi ! tôi cô đơn !»

Ý nghĩa của hai chữ cô đơn thật ra quá giản dị, chỉ là một mình, cô là một mình, lẻ loi, đơn cũng là một mình, đơn chiếc. Một mình, nhưng cái một mình này, ngoài cái thân thì còn có cái tâm, ngoài cái phần vật chất thì còn có cả phần tinh thần, tâm linh. Chỉ một mình, biểu hiện qua thể xác và cũng chỉ một mình, biểu hiện qua phần tinh thần. Khi nói cô độc, là nói nói đến cái thân xác, chỉ có một mình nó. Khi nói cô đơn là nói cái phần tinh thần, cũng chỉ một mình nó. Mình với Mình. Ta với Ta. Cái Mình, cái Ta ở ẩn phía bên trong cái thân thật quá phức tạp và…lăng
Tiếp tục đọc

*** ÁNH TRĂNG VÀ NHÀ TÙ

Thư viện của bài

This gallery contains 1 photo.

trần mộng tú

Người bạn nói với Rơm:bien-nuoc

“Thằng Năm nhà em nó lại bị bắt rồi, chị có đi thăm nó thì đi, em không muốn nhìn nó nữa.”

Thế là Rơm thay bạn đi thăm Năm, Rơm biết chị bạn đã khổ vì cậu con này lắm rồi, nên bây giờ nói hờn, nói dỗi nhưng trong lòng, Rơm biết chị thương Năm nhất trong ba đứa con của chị. Vì hai cô con gái đầu thì ngoan ngoãn học hành chăm chỉ, riêng Năm thì khác hẳn hai chị. Năm thông minh, có nhiều tài như vẽ đẹp, đánh đàn hay, và thuộc nhiều thơ nhưng cá tính rất mạnh. Hồi mới mười hai tuổi có một lần giận Bố, Năm vác cần câu ra hồ ngồi suốt một đêm, làm cả nhà toán loạn đi tìm, đi báo cảnh sát. Lớn lên một chút nữa Năm bắt đầu không thích cắp sách đến trường, lúc nào cũng chỉ thích thơ thẩn ở mấy cái công viên, mấy khu hồ hay trốn nguyên ngày dưới nhà hầm hý hoáy vẽ hoặc đóng, cưa một cái gì đó mà Bố Mẹ Năm không thể nào biết được. Cả hai vợ chồng đều đi làm từ sáng đến chiều, có khi làm cả ngày cuối tuần, ít khi có dịp gặp mặt một đứa con lúc nào cũng muốn lẫn tránh cả nhà. Năm bỏ học lúc mười bảy tuổi, năm nay đã hăm hai vẫn chưa xong Trung Học. Hai năm về sau này thỉnh thoảng Năm lại dính líu vào một vụ bắt bớ như lái xe quá tốc độ, cảnh sát gọi không dừng lại hoặc cảnh sát tìm thấy vài lá cần sa trong xe, một lần nữa bị bắt vì có ý hành hung chống lại cảnh sát. Lần này thì Năm bị bắt vì tội dám bạt tai cô bạn gái khi cô này gọi Năm là: Một người đánh mất linh hồn (A lost soul).

Rơm có lẽ là người duy nhất thỉnh thoảng Năm còn truyện trò một đôi câu. Có lẽ tại khi có dịp nói chuyện với Năm, Rơm không khuyên răn, giảng dậy gì cả, mà chỉ nghe Năm nói, hoặc nói về một đề tài gì mà Năm thích như vẽ vời, câu cá, hoặc một bài hát mới ra
Tiếp tục đọc

*** Ngõ hoa

MANG VIÊN LONG

hoa-anh-dao-vong-quanh-the-gioi

Cô bạn giới thiệu cho Thuận căn phòng có chiều dài 5 mét, chiều rộng 4,5 mét – tổng cọng hơn 22 mét vuông, như ở tầng trên. Đến xem, Thuận đề nghị lấy phòng dưới đất, bởi còn chút khoảng sân có bóng cây, có thể đi lui đi tới được. Bà chủ nói đã nhận lời một cô giáo mới vừa chuyển đến dạy ở thị xã niên khóa nầy rồi, đành chịu.

Lúc đứng ở khoảng hành lang hẹp tầng trên, Thuận nhìn sang dãy phố đối diện, thấy ngôi nhà kiểu vila thời Pháp có trồng nhiều hoa, nghĩ có thể thư giãn đôi chút mỗi sáng khi vừa thức dậy. Căn phòng nầy là phòng trọ thứ ba Thuận đi tìm thưê trong gần tuần lễ nay tương đối tốt, nên đã đặt cọc tiền trước ba tháng cho bà chủ nhà.

Quanh thị xã, nhất là ở các ngõ hẻm, đường nhỏ – nhiều gia đình thừa đất vườn, xây thêm nhiều nhà cấp bốn, chia dãy dài nhiều phòng, từ 20 – 30 mét vuông, để cho thuê khi không biết (hay không thể) kinh doanh mua bán gì thêm. Nhà tôn, phòng hẹp, không có cửa sổ, ít bóng cây, giống những chiếc hộp. Cả dãy phòng dài nhưng sinh hoạt vệ sinh chung một phòng cuối dãy, rất bất tiện, tuy giá có thấp hơn căn phòng Thuận đang xem. Thuận nghĩ, những căn phòng nầy chỉ thích hợp với học sinh, sinh viên ở trọ, hay người thường có công việc làm ngoài đường hơn ở nhà mà thôi. Còn Thuận, ngoài giờ có mặt ở văn phòng đại diện một buổi, anh được ở nhà nhiều hơn nên trong 22 mét vuông, có đủ phòng vệ sinh nhà tắm, khu nấu ăn nhỏ bên cạnh, và khoảng rộng phía trước, có thể kê chiếc bàn thấp, vài chiếc ghế, và đặt một tấm nệm, xem ra tiện hơn nhiều. Hơn nữa, căn phòng Thuận thuê nằm chung trong khu đất còn thừa phía sau căn nhà mặt tiền của  chủ nhà, chỉ có hai căn cho thuê, nên biệt lập và ít ồn. Chiếc cầu thang đúc nhỏ dẫn lên phòng Thuận nằm trong khoảng đất trống bên cạnh, được rào chắn chung quanh trông ngăn nắp.

Hai ngày sau khi Thuận dọn đến ở, một buổi sáng sớm anh đã nhìn thấy dọc con đường trồng hoa từ cổng nhà bên kia đường, có dáng một thiếu nữ trong bộ áo quần ngủ rộng mầu trắng, đi thơ thẩn ra vào bên cạnh người đàn bà thường ngày vẫn cầm vòi nước, tưới hoa miệt mài quanh những bụi hoa, chậu hoa rải rác từ cổng vào sân nhà. Cô gái chỉ xuất hiện khoảng hơn mười lăm phút, là mất hút sau khu tiền sảnh.

Từ trên hành lang hẹp, Thuận theo dõi cô gái, nhưng cô ta chỉ thấp thoáng quanh những chậu hoa buổi sáng sớm mà thôi. Thuận biết thêm, trong căn nhà ấy, có lẽ chỉ có ba người đang sống – mẹ và người cha của cô gái. Khu nhà tương đối yên vắng, khép kín bên con đường phố hai chiều nhộn nhịp  người xe qua lại nhất thị xã.

Gần một tháng sau, Thuận trong bộ áo quần đi bộ thể dục bước nhanh qua đường, khi vừa trông thấy cô gái bước dần ra cổng.

-Chào em…

-Dạ, chào anh! Anh hỏi ai?

-Anh hỏi em!

-Hỏi em? – giọng cô gái ngạc nhiên.

-Đúng rồi!

-Mà có việc gì vậy?

-Anh muốn hỏi xin một nhánh gốc cây hoa hoàng lan, hay bông giấy tím.

-À! Xin lỗi cô gái quay lại định bước đi – anh hỏi xin dì Tư nhé!

-Anh nhờ em nói giúp.

-Được, được – giọng cô gái ngập ngừng, lát nữa em sẽ nói.

Cô gái đã đi vào trong khu tiền sảnh, nhưng Thuận vẫn đứng yên, nhìn theo. Thuận cảm  thấy vui vui với ý nghĩ, dầu chưa xin được hoàng lan, nhưng đã thấy rõ được gương mặt thanh tú, duyên dáng, một vẻ đẹp nhân hậu, đằm thắm của cô gái thay cho hoa rồi. Thuận đoán nàng chỉ trên hai mươi một chút.

* * *

Sáng sớm hôm sau, Thuận lại có mặt ở cổng, chờ – nhưng không thấy bóng cô gái ra vườn, Dì Tư bước lại mở cổng, tiếp Thuận.

-Cậu xin hoa hoàng lan hôm qua phải không?

-Dạ, đúng!

-Tôi đã có sẵn một gốc nhỏ, về nhà trồng sẽ sống ngay.

-Cảm ơm dì!

-Cậu cảm ơn cô Trinh ấy, tôi làm theo lời dặn thôi mà!

-Cô Trinh dặn thế nào, dì?

-Cô ấy nói, nếu có ai đến hỏi nhận hoa hoàng lan, thì dì tìm một gốc, để gởi cho họ. Mình chia hoa, cũng như chia niềm vui với mọi người dì à!

-Hôm nay cô Trinh đâu rồi không thấy ra vườn?

-Chi vậy?

-Cháu muốn cảm ơn.

-Tôi sẽ chuyển lời cho, cậu yên tâm. Cô ấy không muốn nhận ơn ai bao giờ! Cô ấy không được khỏe.

Ba ngày sau, Thuận phải về Sài Gòn dự họp, để báo cáo lại tình trạng hoạt động của văn phòng sau hơn một tháng khai trương; anh mang chậu hoa xuống nhờ cô giáo ở trọ phòng dưới tưới nước giúp mỗi sáng. Cô giáo khẽ cười; “Anh Thuận yêu hoa quá nhỉ!”

-Đã trồng rồi, phải chăm sóc chứ em!

-Không siêng chăm sóc, hoa sẽ héo.

-Cô giáo nói hay lắm! Tình yêu cũng vậy.

-Anh Thuận có vẻ sành sỏi nhỉ!

-Cũng nghe người ta nói vậy thôi, chứ trong tình yêu, ai dám nói mình đã sành sỏi, em?

-Có ông bạn dạy ở trường em “tuyên bố” ông ta rất “lão luyện” trong tình trường, không ai có thể qua mặt được.

-Một là ông ấy nói dóc – Thuận cười, hai là ông ấy chẳng biết gì về tình yêu cả!

* * *

Khoảng mười hôm sau ngày trở lại nhà trọ, Thuận luôn nhìn sang ngõ hoa Hoàng lan của ngôi biệt thự đối diện, nhưng không hề thấy bóng cô gái. Trinh đã đi đâu?

-Dì Tư ơi!

-Cậu Thuận đó hả?

-Dạ, cháu!

-Có chuyện gì không? Dì Tư đặt ống nước trên thềm nhà, bước dần ra cổng.

-Dạ, có.

-Ông bà chủ căn dặn – dì nhỏ giọng, ở nhà không được mở cổng cho ai, nhưng biết cậu là người hàng xóm hiền từ, tôi…

-Cảm ơn dì – Thuận hỏi ngay, Cô Trinh có ở nhà không, dì?

-Trời ơi! Tội con nhỏ – Gương mặt dì Tư chợt tái nhợt, hai hôm rồi mà chưa tỉnh được.

Thuận theo chân dì vào ngồi ở bậc thềm nhà.

Dì kể đã đến giúp việc cho gia dình ông Phú hơn ba năm 8 tháng, từ ngày Trinh vừa lên lớp 10, đến nay đang học năm thứ nhất Đại học Ngân hàng. Ông Phú làm chủ nhiệm HTX Tín dụng duy nhất trong thị xã, bà Phú còn gần một năm nữa mới được nghỉ hưu. Anh trai của Trinh đang làm giám đốc cho Ngân hàng Argribank ở một quận trong thành phố. Thi xong học kỳ I, chuẩn bị về thăm nhà, Trinh bị đột quỵ ngay trong phòng riêng nhà người anh; cậu ấy phải đưa đi nhập viện cấp cứu. Ngỡ là Trinh chỉ bị đột quỵ nhẹ, nhưng sau đó, bệnh viện đã phát hiện Trinh đang bị ảnh hưởng của K phổi.

Cả ông bà Phú đều bay vào Sài Gòn. Nghe nhiều người bạn mách bảo, ông bà quyết định đưa Trinh sang Singapore điều trị, để họ phẩu thuật cắt bỏ phần lá phổi bị nhiễm virus, ngăn chận các tế bào K phát triển thêm, đồng thời tiêm thuốc tiêu diệt dần các tế bào cũ; nhưng Trinh cương quyết không đi. Cả nhà năn nỉ mấy lần cô bé cũng không chịu nghe, đến lúc cậu anh phải nói thật hết lời của bác sĩ đã nói riêng với gia đình cho cô ấy nghe, rằng “ cháu chỉ còn sống không quá 6 tháng nữa thôi”, cô ấy đã trả lời: “Con chỉ muốn được về sống ở nhà trong 6 tháng ấy thôi, không đi đâu hết!”. Dì Tư sụt sùi: ” Đến nay, cũng gần 6 tháng rồi, cậu ơi!”.

 

* * *

Đầu giờ buổi chiều, Thuận tìm đến phòng cấp cứu bệnh viện để thăm Trinh. Phòng cấp cứu cho biết bệnh nhân đã được chuyển sang phòng hồi sức sáng nay. Thuận đẩy cửa phòng hồi sức, đến ngay bên giường Trinh đang nằm chuyền nước. Anh gọi: “Em!”.

Trinh hé mở đôi mắt, mở to dần – gương mặt bỗng tươi sáng hẳn lên trước sự ngạc nhiên của bà Phú. Thuận đến bên cạnh bà Phú, khẽ nói: “Cháu xin lỗi bác!”.

-Không – bà nhìn đăm đăm lên nét mặt vẫn điềm nhiên của Thuận, cháu không có lỗi gì.

-Cháu muốn được thăm Trinh và săn sóc cô ấy.

-Bác cảm ơn cháu – giọng bà ướt sũng, cháu làm được gì cho Trinh vui, là bác biết ơn cháu rồi!

Theo chỉ định của bác sĩ, sau một tuần hồi phục, bệnh nhân có thể xuất viện, nhưng Trinh đã nhờ Thuận nói với mẹ, làm giấy tờ để nàng xuất viện về nhà sớm hơn 2 ngày. “Em muốn được sống ở nhà, anh ạ” – nàng đã trìu mến thì thầm với Thuận trong buổi sáng ngày thứ 5 ở phòng hồi sức, khi anh vào thăm như mọi hôm.

Từ sau buổi sáng hôm ấy Trinh được về nhà, Thuận đều có mặt đúng 6 giờ sáng, để đưa nàng đến một quán café ngoại ô mà Trinh rất thích, vì “như được ngồi ở nhà mình”. Một hôm, nhìn Thuận giây lâu với ánh mắt xa xăm, khác lạ – nàng  nhìn lơ đễnh ra ngoài vườn hoa, thì thầm: “Em rất tiếc, anh ạ!”.

-Em lại tiếc điều gì?

-Em không thể đem hạnh phúc đến cho anh lâu dài.

-Đừng nghĩ vậy, em! Thuận hơi bối rối – có phải là chúng mình đang vui, đang hạnh phúc không?

-Dạ – Trinh mỉm cười, nói như với chính mình – cuộc sống của em ngắn quá!

-Cuộc đời của tất cả đều ngắn, thậm chí chỉ dài trong một hơi thở – Thuận nhìn lên gương mặt đăm chiêu của Trinh, nhưng hai mươi bốn giờ trôi qua phải sống như thế nào mới là quan trọng em à!

-Cảm ơn anh – nàng thở nhẹ, đôi lúc được bên anh, em cũng nghĩ như vậy.

-Anh muốn em phải luôn nghĩ như vậy, em yêu!

-Dạ!

Được hơn một giờ ba mươi phút buổi sáng ngồi bên nhau ở quán café, và hai giờ buổi chiều trong sân vườn sau chiếc cổng hoa hoàng lan với bộ bình trà dì Tư pha sẵn nơi chiếc bàn đá dưới gốc bông giấy tím – Trinh luôn được dì săn sóc trang điểm với những chiếc váy mới, xinh xắn, hay bộ áo quần thể thao gọn gàng, trẻ trung của bà Phú vừa mua cho nàng.

-Em rất sợ buổi chiều mau hết, bóng đêm đến -Trinh cầm lấy bàn tay Thuận ve vuốt.

-Lúc khó ngủ, em hãy gọi cho anh.

-Em đã làm vậy – nàng ngước lên, nhìn Thuận, giọng ngập ngừng, nhưng em sợ anh khó ngủ.

-Được nói chuyện với em, anh ngủ ngon mà – im lặng giây lâu, Thuận cười, em biết là anh chờ tin em hằng đêm còn hơn ngày xưa chờ mẹ đi chợ về!

Gương mặt Trinh chợt sáng hồng niềm vui khiến Thuận bàng hoàng. Anh không muốn nhớ lại cảm giác buổi chiều lúc Trinh tiễn anh ra khỏi cổng hoa, về lại nhà trọ. Mấy câu thơ anh nhẩm thầm trong đầu bỗng trở về: “Cổng hoa hương sắc vẫn tươi – Mà em nay đã là người xa xăm!”.

         Đã hơn một năm trôi qua, chiều nay Trinh vẫn dịu dàng ngồi bên anh nơi gốc Bông giấy tím, khẽ khàng rót mời anh từng tách trà.

Chia sẻ cùng Em!

Quê nhà, những ngày cuối tháng 6.2018

MANG VIÊN LONG.

*** Quê Nhà, Còn Đó Hay Không?

Đặng Lệ Khánh

Gởi Người Tình Tuvalu

Nơi ta sinh ra nước xanh như ngọc
Có những khóm dừa nghiêng bóng thầm thì
Cát trắng thi nhau mời Em đến học
Viết mãi tên Anh trên mỗi bước đi

Có cánh hải âu soãi dài trên đá
Có nắng rất vàng trên tóc buông lơi
Có Em ngồi đây ngắm mây đón gió
Lồng lộng hồn Anh thơm muối biển khơi

Tình yêu nồng nàn đâu cần tiếng nói
Sóng vỗ xô bờ lời nguyện muôn niên
Dã tràng ngàn năm sẽ hoài xe cát
Và Anh và Em sẽ tát biển êm

Sẽ có một ngày cát thôi chờ đón
Nước biển dâng dầy khuất lấp quê hương
Nơi Em đang ngồi sóng hờ hững gợn
Hải âu bay dài cất tiếng thê lương

Đặng Lệ Khánh

          tuvaluBạn đang hỏi Tuvalu là cái quái gì vậy mà K bày đặt làm thơ ư? Bạn muốn biết thì cứ mở computer và vào site này để xem nhé:

http://www.thesinkingoftuvalu.com/

Bạn đã đọc chưa? Cái quốc gia bé tí mười dặm vuông với khoảng mười ngàn người dân ấy có thể sẽ biến mất tăm trên bản đồ thế giới trong vòng năm mươi năm nữa thôi. Nơi cao nhất của nó bây giờ là 15 feet trên mực biển và nơi thấp là bốn feet. K không biết người ta đo theo kiểu nào chứ với mười lăm feet cao thì một cơn sóng lớn cũng đủ ngập rồi. Nhưng dân ở đấy văn minh lắm đấy, không thiếu truyền hình và vi tính. Có người đã xin tị nạn nước biển ở Úc và Tân Tây Lan, những nước lân cận lớn rộng, không sợ bị nước biển xâm lăng như ở quê nhà.

Năm mươi năm nữa, con số người ra biển vọng cố hương sẽ tăng thêm khoảng mười ngàn, hợp với hàng triệu người tha phương trên khắp thế giới, đứng nơi này mà vòi vọi trông nơi kia, tâm hồn vượt núi, vượt sông, vượt biển mà vọng cố hương. Người Cuban đứng trên đất Florida Bay nhìn qua eo biển mà thương người ở lại, người Việt đứng ở Cali mà vọng qua Thái Bình Dương, nhớ cuộc vượt biên. Người Nga, người Đông Âu chắc chỉ chờ mùa đông tuyết rơi rơi mà nhớ đậm nhớ đà những hội hè gia đình đầm ấm.

Các nhà văn lưu vong có người sau khi đi khắp vùng trời thế giới xin quay về sống nơi quê nhà dù phải đành gác bút, có người nhất định chôn nắm xương tàn nơi đất khách như một quê hương thứ hai, thà nhìn đất đai mây nước người từ lòng đất hơn là được chôn tại quê nhà mà vẫn thấy cô đơn.

Mất nước vì nước biển như Tuvalu mới thật là mất nước. Có ai hô hào được người dân đứng lên cùng nắm tay nhau mà tấn công hà bá long vương được. Có ai lưu vong, đi góp công, góp của, góp nhân lực để về giúp dân chống lại mực nước đang dâng được. Sự chống chỏi lại một tương lai tối mù thê thảm là sự chống chỏi tuyệt vọng ngay từ lúc sơ khai, nguyên thuỷ. Sống bây giờ là sống trên một đất nước đang đi vào cõi chết. Vài chục năm sau nữa, khi con cái khai lý lịch chánh quán của mình, tìm trên bản đồ chỉ thấy một vùng nước xanh lơ, loáng thoáng dưới đáy đầy rong, một lớp đá vẫn còn ngữa mặt nhìn trời xanh tìm bóng dáng những chú hải âu một thời nhởn nhơ bay lượn , lòng sẽ tự hỏi : Tuvalu, tên hay nhỉ, nhưng nó là gì, nằm ở nơi nào.

K lại lan man tự hỏi, con cái đời nay ở Huế, có thể có người nào tình cờ một hôm đào xới sau vườn hương hoả để đặt xuống một cây ngọc lan chẳng hạn, bỗng đào lên một di vật của Chiêm quốc. Người ấy có bâng khuâng, xót xa mà nhìn vào quá khứ để đau hận mà tìm xem Chiêm Quốc nằm ở nơi nào. Những người Chiêm mới thật là kẻ vong quốc ngay trên đất nước mình. Mỗi khi đứng giữa những hoang tàn của thành quách một thời hưng thịnh, họ chắc đau lòng vô cùng tận.

Năm kia khi K về Việt Nam, K đi Tháp Chàm ở Nha Trang, Phan Rang, Mỹ Sơn. Đứng trên Tháp ở Nha Trang và Phan Rang, K buồn buồn thôi mà không thấy thê thảm như khi đi Mỹ Sơn. Có lẽ nhờ những nơi ấy nằm trên cao nhìn xuống thành phố, còn giữ nét uy nghi ngạo nghễ của một dân tộc dù đã khuất nhưng vẫn có những trang sử oai hùng. Còn Mỹ Sơn thì khác hẳn. Nằm khuất lấp giữa rừng núi hoang vu, tiêu điều u ẩn, suối nước chảy lặng lẽ vờn quanh, cỏ hoang bơ phờ theo gió hiu hiu lành lạnh giữa trời chiều trở qua sắc tím. Những ngọn tháp rêu phong, đổ nát, tường loang lỗ, cột xiêu nằm la liệt. Trên mỗi cột to cả hai người ôm, chữ nghĩa một thời vẫn còn in dấu như những lá bùa vĩ đại bảo vệ chứng tích người xưa. Đã biết bao nhiêu nhà khảo cổ tìm về đây, mong đọc được những hàng chữ khắc đều tắp, bí mật ấy mà bó tay.

Ngồi trên cột đá, tay mân mê những hàng chữ thảo, tưởng như oan hồn một thời còn quanh quẩn đâu đây, hàng đêm khóc đòi nước cũ. Dưới chân mình là đám cỏ mắc cỡ, chạm chân nhè nhẹ cho chúng khép mắt, nằm yên ngủ bình an. Huyền Trân có vô tình góp một bàn tay diệt một giống nòi không nhỉ. Với ta, Công Chúa là một anh thư. Với người, Công Chúa chắc là kẻ phản bội. Mọi khen chê đều tuỳ theo người phán xét đang đứng ở biên giới nào. Và vì thế, lúc nào cũng chỉ là tương đối.

Người Chiêm sống trên đất nước tuy đã mất tên nhưng nắm đất rất hiện thực vẫn còn nằm đó. Từ xưa, đất vẫn là đất, họ tên do người đặt ra, đất nào cần biết tới. Đất chỉ cần biết đất đang ở cùng ai, đang ôm ấp nắm xương nào, đang nuôi sống rễ cây nào, đang góp mầu cho đám hoa nào, đang nghe trong lòng dòng suối nào len lỏi buồn buồn mà ấm áp. Tên tuổi có thay đổi, nhưng cảm giác thân quen khi vọc tay xuống đám đất xốp man mát, hay chao chân xuống con nước trong vắt, con người nơi ấy có lẽ vẫn thấy lòng gắn bó nơi mình đã sinh ra.

Người Việt lưu vong thì tâm hồn không đơn sơ đến thế. Họ làm sao biết nên đứng bên nào để nhìn về hướng quê nhà. Quê hương có mất đâu mà than mất nước. Mảnh đất hình chữ S vẫn còn nguyên, tên vẫn còn nguyên, đất đai vẫn còn đấy, chỉ có chủ thuyết là khác thôi. Chủ thuyết chắc chắn không phải là quê nhà, chủ thuyết chắc chắn không phải là quê hương. Vậy mà chúng ta vẫn buồn đau vì sự thay đổi ấy.

Chúng ta cảm thấy mất quê hương chỉ vì những kẻ theo chủ thuyết ấy đã đối xử những kẻ đối đầu với họ một cách tàn nhẫn, để lại những vết thương không bao giờ khép lại trong tim và trong trí nhớ của những anh hùng đã sa cơ. K cũng chắc rằng không phải vì bị đối xử tàn ác mà chúng ta không chấp nhận họ và chủ thuyết của họ. Chúng ta có tư duy để thấy lý thuyết ấy không sao nâng con người lên đến chỗ thăng hoa của tâm hồn.

Con người không phải chỉ thuần sinh lý. Con người còn có nhân phẩm, có tâm hồn, có tư tưởng. Con người không chỉ kiếm tìm thực phẩm cho cơ thể cần sinh tồn, nó còn cần tìm thức ăn cho tâm trí muốn được khai sáng và tự do. Những thức ăn tinh thần ấy, ở quê nhà không bán, ai muốn mua phải mua chợ đen, mua lặng lẽ và ăn trong lặng lẽ.

Quê nhà còn đó mà như mất. Bước chân về mà như đi vào một nước xa lạ, lòng lại có cảm giác như mình đang phản bội lại những người bạn một thời đã sát cánh tranh đấu cho một lý tưởng chung. Đi hay ở, người Việt có lương tâm ở hải ngoại vẫn không nguôi thổn thức trong lòng cố tìm cho mình một câu trả lời thật nghiêm trang và đầy nhân bản. Hoặc ít ra, đó là câu hỏi K riêng nhìn thấy được trong những ánh mắt của bè bạn thân quen.

Quê nhà, còn đó hay không?

Đặng Lệ Khánh

 

*** Những Tác Phẩm Cuối Cùng Của Khái Hưng

Trọng Đạt

Tưởng Niệm 70  Năm Nhà Văn Khái Hưng Bị Việt Minh Thủ Tiêu Tại Bến Đò Cựa Gà, Làng Ngọc Cục, Nam Định Vào Đêm Giao Thừa Năm Mới Đinh Hợi (21-1-1947).  

Khái Hưng tên thật là Trần Khánh Giư, sinh năm 1896 tại Cổ Am, Vĩnh Bảo Hải Dương , thuộc thành phần gia đình quan lại, con cụ Tuần phủ Phú Thọ, bố vợ là Tổng đốc Bắc Ninh, anh  ruột nhà văn Trần Tiêu. Khái Hưng theo học trường Lycée Albert Sarraut, HàNội, đậu tú tài ban cổ điển, ông cũng uyên thâm Hán học.

Ông tham gia hoạt động cách mạng giành độc lập 1940. Năm sau 1941, các đảng viên Đại Việt Dân Chính như Khái Hưng, Hoàng Đạo  bị Pháp bắt giam tại nhà lao Vụ Bản thuộc tỉnh Hòa Bình, đó là một vùng nước độc. Năm 1943 ông được tha, bị quản thúc tại Hà Nội. Nhật đầu hàng đồng minh tháng 8 năm 1945. Các nhà cách mạng lưu vong bên Tầu kéo về nước, Khái Hưng và Nguyễn Tường Bách giữ nhiệm vụ tuyên truyền cho Việt Nam Quốc Dân Đảng. Việt Minh cướp chính quyền ngày 19 tháng 8 năm1945, sau khi thành lập chính phủ liên hiệp, họ bất ngờ tấn công các trụ sở Quốc Dân Đảng, tiêu diệt các thành phần Quốc Gia.

Pháp tấn công Hà Nội, Khái Hưng tản cư về làng Lịch Diệp quê vợ,  bị Việt Minh bắt đưa đi thủ tiêu nửa đêm 21-1-1947, tức giao thừa Tết Nguyên đán Đinh Hợi.  Trong hai năm 1945, 1946 ông sáng tác một số truyện ngắn và kịch đăng trên tuần báo Chính Nghĩa. Năm 1966 ông Nguyễn Thạch Kiên đã cho xuất bản các tác phẩm ấy tại Sài Gòn và năm 1997 tại California, Hoa Kỳ nhân dịp kỷ niệm năm mươi năm Khái Hưng bị Việt Minh thủ tiêu,  Nguyễn Thạch Kiên đã cho in lại trong một bộ sách hai tập lấy tên Kỷ Vật Đầu Tay Và Cuối Cùng, nhà xuất bản Phượng Hoàng.

Đây là những truyện ngắn và những vở kịch cuối cùng của Khái Hưng, của Tự Lực Văn Đoàn . Bốn cây viết chính của văn đoàn gồm Khái Hưng, Nhất linh, Thạch Lam, Hoàng đạo. Nhưng lúc này chỉ còn một mình Khái Hưng, Thạch Lam chết bệnh năm 1943, Nhất Linh, Hoàng Đạo lưu vong sang Tầu, Khái Hưng sáng tác một mình.

Những tác phẩm cuối cùng của ông cũng là những áng văn tuyệt tác của một cây bút già dặn, những tâm tư của một nhà cách mạng chân chính trước cảnh cốt nhục tương tàn của cuộc chiến  Quốc -Cộng đang diễn ra. Các truyện ngắn gồm: Bóng Giai Nhân, Lời Nguyền, Hổ, Tây Xông Nhà, Quan Công Xứ, Nhung, Khói Hương, Người Anh Hùng, Tiếng Người Xưa và ba vở kịch: Câu Chuyện Văn Chương, Khúc Tiêu Ai Oán, Dưới Ánh Trăng. Vì phạm vi giới hạn chúng tôi xin được đề cập một số truyện chọn lọc.

BÓNG GIAI NHÂN 

Xin sơ lược 

“Trên một chiếc ô tô chở chính trị phạm lên Vụ Bản, Khanh một tù nhân nhớ lại những chuyện cũ tại trại giam sở Liêm Phóng: Phòng giam hôi hám, tối tăm, chàng đi bộ cùng các bạn tù tới nhà ga, những lời kêu khóc của thân nhân đi tiễn. Nhưng một kỷ niệm mà hắn khó quên lóe lên trong ký ức: Bóng giai nhân, một bạn gái bị giam ở xà lim bên cạnh trong thời gian hai mươi bốn tiếng đồng hồ “Sà lim 18’’, tên của giai nhân, cả trại đều ghi nhớ nàng bị giải đi đâu không biết.

Thế rồi một buổi sáng người ta dẫn vào một lô tù mới, trong đó có một thiếu nữ ăn mặc quê mùa rách rưới. Khanh và mọi người hỏi lính gác được biết cô gái bị giam ở đây nay là lần thứ ba. Lần thứ nhất cô là nữ học sinh tân thời, lần thứ hai cô giả trai, và lần này cô giả nhà quê. Tội của cô là “ làm cách mạng”’, từ lúc ấy thiếu nữ chiếm hết lòng sùng kính của trại giam.

“Sà lim 18’’là một cô bé nhỏ nhắn xinh xắn, cặp mắt sáng, môi tươi, mặt trái soan, nước da nhỏ mịn. Anh em tới tấp chạy lại để ngó qua lỗ cửa hỏi thăm tin tức, thiếu nữ tươi cười yên lặng. Lần trước nàng đã trốn trại sau bị bắt lại, các anh em cách mệnh cho quà bánh, nàng đã ôn tồn nói chuyện với mọi người. Khanh hay đến thăm nàng, chàng tưởng mình được nàng lưu ý nhất. Bóng giai nhân chỉ chỉ thoáng hiện nơi trại giam như tia nắng hé ra giữa khoảng trời mây đen. Khanh thở dài nghĩ thầm ước gì ta gặp nàng lần nữa rồi bị tù chung thân cũng cam! .

Đó chỉ là chuyện hồi tưởng, xe đã tới Vụ Bản, tại đây chiều chiều nhìn dẫy Hoành Sơn chàng ta mơ mộng tới hình ảnh bất diệt của giai nhân không bao giờ trở lại. Trại giam cho phép một cô gái gánh hàng tạp hóa vào sân trại bán, Khanh nhìn cô bán hàng mơ tưởng tới bóng giai nhân. “ 

Bằng lối hành văn bay bướm, điêu luyện, Khái Hưng đã tạo lên một bầu không khí thật lãng mạn trong một đề tài chính trị, cách mệnh. Một giai nhân xinh đẹp, người nhỏ bé, đôi mắt sáng, cặp môi tươi, mặt trái soan mà các anh em tù thường gọi là ‘Sà Lim 18’, nhưng nàng còn đẹp tuyệt vời hơn nữa vì nàng làm cách mạng cứu quốc vào tù ra khám ba lần, đã được sự sùng kính của toàn thể trại giam.

Khái Hưng tạo nên một chàng cách mạng dạt dào tình cảm, ông cũng tạo nên một không khí lãng mạn tuyệt vời. Chàng cách mạng chăm chỉ đến thăm giai nhân, tặng quà bánh và tưởng là được nàng lưu ý nhất! giữa cảnh núi đồi trùng điệp chàng cứ ngồi thẩn thơ mỗi chiều để gửi lòng yêu tới tận phương xa, mơ màng nghĩ tới người gặp gỡ trong những ngày ngắn ngủi và không bao giờ quên được nàng, đó là hình ảnh bất diệt của giai nhân không bao giờ trở lại, Khái Hưng kết luận. 

“Rồi đây, những lúc cách mệnh tha thiết gắt gao lên tiếng gọi, y  sẽ cảm thấy lòng tự tin, lên đường xông pha trong gian khổ với bóng giai nhân huyền ảo gặp gỡ giữa cảnh lao tù”. 

 

LỜI NGUYỀN 

Xin sơ lược 

“Đồn Vụ Bản chót vót trên ngọn đồi cao. Khanh , tù nhân chính  trị, một hôm ra suối lấy nước, gặp người lính kèn, hắn ta bảo ‘Phải , một lời nguyền! !

Trong đám dân kinh bên phố, lính bên đồn, anh em tù chính trị trong trại thỉnh thoảng lại có người giã từ cõi nhân gian về miền cực lạc. Khanh cảm thấy sự việc như có liên quan đến lời nguyền ghê gớm của người xưa. Một hôm người lính kể lại cho chàng chuyện ấy.

Đồn Vụ Bản là một trong những đồn binh kiên cố theo chương trình thống trị, nó án ngữ đường Nho Quan – Ninh Bình, nó cũng có thể kiểm soát hành động của những ông quan lang có oai quyền. Vì vậy viên quản mà người Pháp cho về coi đồn là người thật hách. Trước đây có một ông quản tên Tăng, được giữ chức trưởng đồn, ông hách dịch bệ vệ, nằm giường Hồng Kông, ăn cơm tây. Mỗi lần sang phố ông đeo huy chương đầy ngực. Tay cầm roi da, dắt chó tây to kếch sù. Tụi trẻ thường bảo:  -Quan Quản!

Quan là chúa tể vùng này: Nào thu thuế chợ, thuế đò, thuế thân. Dần dần thành ‘quan đồn’ và thành ‘cụ lớn’. Bao nhiêu người lễ lạc quà cáp cho cụ. Nhậm chức mới hai tháng, Cụ Lớn lấy cô nàng hầu người Kinh, con thương gia và hai nàng hầu người Mường nữa.

Quan thường ‘nổ’ với mọi người là Quan và và Bà Lớn đều là con nhà thế gia đại tộc, cụ thân sinh ra Quan và Bà Lớn toàn là Tổng đốc, Tuần Phủ  cả! . Có lần ông Quản bịa ra một lô truyện tả cái gia thế nhà mình: Cụ Cố, quan lớn về hưu thích chè tầu, tổ tôm, còn Bà Lớn trông coi mấy trăm mẫu ruộng!

Thế rồi một buổi sáng, một ông già tóc hoa râm và người đàn bà trạc ngoài ba mươi. Cả hai đều quê mùa cục mịch: ông lão quần nâu sắn đến đầu gối, người đàn bà mặc áo tứ thân mầu nâu, váy chồi đen. Họ hỏi đường sang đồn, qua phà, sang sông, leo dốc, lên đồi. Khi tới nơi cuối dốc, người lính canh quát:

-Hai người nhà quê hỏi ai?

-Chúng tôi vào thăm ông Quản!

-Vào hầu quan có việc gì?

-Bẩm chúng tôi là người nhà! 

Người lính cho người vào trình quan rồi hỏi. 

-Có họ hàng thế nào với quan?

-Ông cụ sinh ra quan và vợ quan!

Lúc ấy ông Quản đứng trong sân bảo:

-Đuổi cổ chúng nó ra! 

Nhân lúc cổng đồn mở, ông cụ và người đàn bà xông vào sân kêu:

-Tăng, Anh Tăng! 

Ông Quản quát mắng:

-Đồ nhà quê! bay đâu tống cổ chúng nó ra! 

Bọn lính tống cổ hai người ra. Ông lão và con dâu lẳng lặng ra về, đến bờ sông bên giòng nước chảy ào ào, ông lão thốt lời thề nguyền độc địa:

“Từ nay đứa nào còn lên đây thăm chồng con thì chết như thế này”. 

Rồi ông nhảy xuống sông tự tử. Từ đó lời nguyền vẫn thiêng lắm, những ai lên đây thăm chồng, thăm con về ốm đau nặng rồi chết.”

Một ông quản lỡ lời ‘nổ zăng miểng’ với mọi người về gia thế nhà mình, cháy nhà ra mặt chuột, khi ông cụ và mẹ đĩ lên thăm thì xấu hổ sai lính đuổi không nhận là bà con.

Theo ông Trần Ngọc, trong cuốn Kỷ Vật Đầu Tay Và Cuối Cùng, Khái Hưng viết truyện này để diễn tả cái chủ trương ‘vô gia đình’ của những người độc quyền yêu nước, từ chối bà con ruột thịt, và như vậy tác giả đã nguyền không bao giờ còn liên hệ với các ‘đồng chóe’ vô gia đình vô tổ quốc ấy.

Một truyện ngắn gọn đơn sơ mang mầu sắc huyền bí ghê rợn, ý nghĩa thật là sâu sắc, nó thể hiện cái phi nhân bản của những người tự cho là vị tha yêu nước. Độc giả như thấy hiện ra một vùng rừng thiêng nước độc với một lời nguyền ghê gớm. 

HỔ 

Xin sơ lược

“Bảy Hai, người lính gác trên chòi cao một trại tù. Hắn đã hai lần đánh mõ tre đáp lại tiếng khánh sắt cầm canh bên  đồn. Hắn buồn ngủ muốn ríu mắt mà không dám ngủ vì sợ đội Giới phạt. Đội Giới thù ghét Bảy hai vì một truyện nhỏ tại sòng bài tối qua. 

Tối nay, dưới ánh trăng mờ, Bảy Hai ngắm cảnh để quên đi giấc ngủ, hắn chợp mắt được vài phút rồi choàng tỉnh, linh tính báo cho biết có chuyện gì ghê gớm. Hắn trông thấy một vật gì như con bò đang tiến về phía mình , tới lưng chừng đồi nó dừng lại rẽ sang phía nam, một lúc sau nó tiến về phía Bảy Hai, hắn nhận rõ đó là con hổ lực lưỡng, to béo đang  từ từ tiến lại. Bẩy Hai hồn vía lên mây xanh không dám động tịnh. Con hổ lực lưỡng tới chân thang chòi dừng lại rồi nằm xuống, Bảy Hai không dám cựa quậy, hắn chỉ sợ nó vùng dậy chồm lên đạp đổ cột chân chòi gác  làm thịt mình, hắn định bắn mà không dám, chỉ sợ trật hay bắn bị thương nó thì vô cùng nguy hiểm, hắn biết rằng nó chỉ chống lại người, tấn công người khi có ý định giết nó. 

Tiếng khánh bên đồn và tiếng mõ tre các chòi canh vang lên, Bảy không dám đánh, hắn nghĩ nếu mai có bị phạt cũng ráng chịu vì nếu gây tiếng động bây giờ là toi mạng. Không nghe thấy tiếng mõ của Bẩy, Đội Giới bèn lại chòi canh của hắn để rình bắt quả tang Bẩy ngủ gục trong canh gác để phạt trả thù. Bẩy Hai bắt đầu lo cho tính mạng của Đội Giới, hắn vụt quên mối thù để nghĩ tới tai họa do một loài khác tàn ác gây ra. Lòng nhân đạo tự nhiên sống dậy, hắn nghĩ tới cách cứu mạng một người, tiếng chân người nghe lạo xạo, con hổ vẫn nằm im lìm. Bẩy Hai hoảng hốt thét lớn.

-Đứng lại, có hổ đấy! có hổ! con hổ chạy biến mất, người cũng chạy biến đi.” 

Khái Hưng lấy truyện người gác tù (lính Tây) có tình thương đồng bào để ám chỉ tình thương của người quốc gia đối với kẻ thù khi tai họa sảy ra. Dù là người mình thù ghét, ta vẫn có thể quên đi mối hận để cứu họ vì tình đồng loại, cái mà ông gọi là lòng trắc ẩn, tình nhân đạo.

“Mối thù y vụt quên để chỉ nghĩ tới tai nạn xảy đến cho kẻ đồng loại do một loài khác, một loài tàn ác gây lên. Lòng trắc ẩn, tình nhân đạo đến với y một cách tự nhiên, một cách ngẫu nhiên .Y không lý luận nữa, không cân nhắc nữa , chỉ tìm cách cứu sống một con người thoát khỏi nanh vuốt một con vật”. 

Thánh Ghandi đã nói chúng ta có thể chiến thắng bằng tình thương.

NHUNG

Xin sơ lược. 

Sinh là con trai của bà Đồ, một thanh niên hư hỏng, rượu chè, cờ bạc. Là con một ông Cử, chị em bà đều lấy chồng con nhà nho, nhưng chị bà lấy ông Thượng Nguyễn đỗ đạt làm quan, còn chồng bà chỉ là ông đồ nghèo kiết. Chị bà có giúp bà nhiều phen, nhận nuôi Sinh cho cùng đi học với con mình, rồi chồng bà chết, chị bà chết, ông Thượng Nguyễn (anh rể) lấy vợ khác, bà vợ này có con gái tên Nhung. Ông Thượng bạc đãi Sinh nên anh bỏ về với mẹ, đã hai mươi tuổi, anh học không hay, nghề không có, cờ bạc phá của, khiến gia đình ngày càng thiếu hụt. 

Sinh oán thù ông Thượng và gia đình ông. Hồi chị của mẹ hắn ( bà Cả Thượng) còn sống, bà coi hắn như con, mua sắm đủ thứ, và nay bị đối xử bạc bẽo, hắn cho là hai mẹ con Nhung gây lên rồi oán ghét gia đình ông Thượng, hắn oán ghét tất cả xã hội quan lại, hào phú, trưởng giả, hắn tìm ra đủ tội lỗi đê tiện, xấu xa. Sinh có quan niệm về xã hội loài người: Loài người chia làm hai giai cấp: Giai cấp nhiều quyền lợi và giai cấp không có quyền lợi. Hắn nghĩ tới cách giải quyết vấn đề cho những người ở giai cấp thua thiệt; hắn lười biếng, hư hỏng nhưng chỉ muốn cải tạo xã hội, hắn cương quyết phá hoại phe địch, hắn đi nói xấu bọn nhà giầu như ông Thượng, người đã nuôi hắn, cho hắn nếm mùi phú quí rồi ném hắn xuống đất đen cho thấm thía chênh lệch bất công, hắn tuyên truyền bôi nhọ bọn phú hào rằng chúng đã xây đắp hạnh phúc trên xương máu quần chúng. 

Khi ấy xẩy ra vụ cướp nhà ông Thượng Nguyễn, người ta đoán chắc Sinh có dính líu vụ này vì dinh cơ kiên cố rộng rãi ấy nếu không có người thuộc đường như Sinh chỉ lối thì cướp không thể vào được. Sinh bị bắt, người làng vui cười, họ cho là hắn đáng tội vì hắn căm thù gia đình ông Thượng ghê gớm. Hôm cướp vào nhà, ông bà Thượng đi vắng, người nhà chạy trốn thoát, duy chỉ có Nhung bị bắt. Về sau bọn cướp bị quan nha bắt, người ta kêu Nhung đến nhận diện chúng. Nàng nhận diện hết mọi tên trừ Sinh , có người nghĩ Sinh vô tội, có người cho là Nhung thương hại hắn vì chính bọn cướp cũng khai Sinh là đồng lõa.

Vụ cướp bẵng đi một thời gian, người ta lại bàn tán đến chuyện mới sảy ra: Sinh tự tử trong buồng để lại bức thư tuyệt mệnh gửi Nhung.

B… ngày 1940  

Em Nhung. 

Đây là một bức thư dài dòng văn tự, Sinh cho biết mẹ hắn là em bà Thượng cả (mẹ Nhung là bà hai) không phải là gì Nhung, hắn và nàng không có họ hàng với nhau, ví thử có lấy Nhung làm vợ cũng không sao. Từ ngày được thả về, trí óc hắn rối ren, nay quyết định chết nên rất bình tĩnh, khi Nhung nhận thư này Sinh đã là cái xác không hồn. 

Lúc thì hắn xưng anh, lúc thì hắn xưng em, .  . hắn gửi lời vĩnh biệt, lời tạ lỗi vì đã xúc phạm Nhung trong cái đêm lịch sử ấy, Sinh thú tội với Nhung ví như một tín đồ Thiên Chúa xưng tội để trút gánh nặng trong lòng, hắn nói tội dắt cướp vào nhà bác và làm nhục một thiếu nữ chưa đáng kể. Hắn thú một tội tầy trời: thuở nhỏ được hai bác dậy dỗ nuôi nấng, sống trong cảnh giầu sang không bao giờ Sinh  thương người nghèo, có một điều mà Nhung không ngờ là hắn yêu Nhung thầm lén bao lâu nay. Nhung thì lãnh đạm, mẹ Nhung khinh rẻ hắn (bà này là bà hai, không bà con với Sinh) bởi thế hắn bỏ về ở với bà cụ, từ chỗ tư thù cá nhân biến thành thù chung của cả xã hội bị bóc lột, Sinh chỉ ao ước được trả thù cho giai cấp bị hất hủi như hắn. 

Chủ ý của Sinh là giết hai bác, làm ô nhục Nhung, tình yêu trong lòng hắn vẫn còn, khi bị bắt giam Sinh đã hối hận trước khi Nhung nhận diện, hắn nghĩ tại sao Nhung không để cho hắn chịu hình phạt lại cứu vớt hắn ra khỏi ngục thất làm chi, đối với Nhung hắn đời đời là tên khốn nạn và tự khép mình vào án tử hình.”

Bằng một truyện tình bi thảm, lãng mạn tuyệt vời, Khái Hưng đã diễn tả cái thô bạo bất nhân của đấu tranh giai cấp và hận thù giai cấp. Đấu tranh giai cấp không phải là một lối thoát để giải quyết bất công xã hội mà chỉ là biểu hiện của thú tính con người để trả thù đời bằng bạo lực đê hèn. Sinh một tên vô lại, cặn bã của xã hội, từ hận thù cá nhân đưa tới hận thù xã hội, hắn đã dùng thủ đoạn tàn bạo để giải quyết hận thù xã hội. Đó chỉ là phá hoại xã hội chứ không phải xây dựng cho xã hội tốt đẹp hơn lên, nhưng Sinh còn biết xấu hổ về cái hành động đê hèn của mình.

Đề tài của Khái Hưng trong các tác phẩm cuối cùng của ông thường xoay quanh trại tù Vụ Bản, đó là những áng văn tuyệt tác cuối cùng của một nhà cách mạng đáng kính, một chiến sĩ quốc gia yêu nước, những áng văn đã đóng góp rất nhiều cho nền văn học mới nước nhà.

Trọng Đạt

*** ÔI CHAO GIỌNG HUẾ !

đặng lệ khánh

1aodaibuon

      

Mình người Huế mà đi nơi lạ, nghe được giọng Huế mô đó là rán ngước mắt, quay đầu tìm cho kỳ được chủ nhân của giọng nớ đang đứng ở mô, có quen chút mô không. Người Huế qua Mỹ hà rầm, mô phải ít. Cứ mỗi lần nghe giọng Huế thì quay đầu tìm, chẳng mấy lúc mà chóng mặt, nếu không gãy cổ. Nhưng mà lạ quá, hễ nghe được thì tự nhiên trong lòng như có một chút dậy sóng, a, bên cạnh mình đang có một ai đó đang tha hương lạc bước từ xứ mình đây.

Hôm kia đi ăn cưới, hai bên dâu rể đều là người Huế. Ông MC người Huế, ông ca sĩ chính cũng người Huế. Khi ông ca sĩ nói, một cô trong bàn phê bình : ” Ông ni nói tiếng Huế chi lạ rứa, ông nói tiếng chi a! “, còn ông xã thì nói: ” Nói tiếng Huế gì nghe nặng wá, hổng hiểu gì cả .”  K thì nghe hiểu tất.

Vậy thì giọng Huế ra răng mới đúng tiêu chuẩn ? Cô bé phê bình giọng Huế của chàng ca sĩ thì vừa rời Huế năm năm, ông xã K là Huế lai căng, sinh ở cao nguyên và lớn lên ở miền Nam, họ có đôi tai khác hẳn K chăng ? K không phân biệt được âm sắc trong giọng nói chăng ? Hay là K vì lòng thương Huế, cái xứ mình bỏ mà đi từ xưa nên rộng rãi hơn với cái giọng thân thương nớ, nghe bằng trái tim hơn là bằng đôi tai?

Giọng Huế khác với giọng Hà Nội, giọng Sài Gòn ra răng mà ông Hà Huyền Chi đi giữa chợ Mỹ, chắc chắn là nghe rất nhiều người nói tiếng Việt, mà chỉ khi nghe giọng Huế mới chiêng trống dậy hồn quê, mới khơi nỗi sầu xa xứ chất ngất trong lòng, dù ông là dân Bắc chính cống ? Có phải chăng khi đã nghe một giọng Huế thỏ thẻ bên tai, không chỉ là lời đi vào hồn người, mà cái giọng đã đậu trong tim, đâm cành trẫy lá ?

…Giọng Huế bỗng nghe từ chợ Mỹ
Mà chiêng mà trống dậy hồn quê
Hương cau màu trúc xanh thôn Vỹ
Áo mới xênh xang giữa hội hè

Tôi bước bên nàng không dám thở
Không gian đầy Huế núi cùng sông
Tóc ai thả gió hồn tôi mở
Dấu kín trong tim những nụ hồng

Hà Huyền Chi ( Huế đầy)

Giọng Huế quý giá vô cùng làm cho Mạ đã lưu lạc bao nhiêu năm, mất mát đủ thứ mà khư khư ôm lấy giọng Huế ướt rượt, nhất định không đánh đổi, không pha trộn, dù đời sống Mạ như cuồng lưu tràn bờ biết bao lần. Lúc lắng xuống, giọng Mạ như giòng Hương sau những cơn cuồng nộ, lại lặng lờ xanh trong chảy xuôi ra biển, êm ái nghe giọng hò thoang thoảng xa đưa.

…Tuổi con gái Mạ từng uống nước sông
Đến bây giờ giọng Huế nghe còn ướt
Giọng Huế nghe còn một chút gì trong
Bao đắng cay pha vào chưa đục được …

Đoàn Vị Thượng ( Giọng Huế của Mạ)

Giọng Huế ăn sâu trong tâm người con Huế, đi đến bờ bến nào cũng thương nhớ không nguôi. Chỉ cần nghe tiếng thỏ thẻ của một người bạn Huế là gợi nhớ đến một thời thơ ấu có tiếng Mạ ru hời bên tai, và cảm thấy gần gũi ngay, như gần gũi với thời gian đã qua, đã mất.

…Nếu lại được em ru bằng giọng Huế
Được vỗ về như mạ hát ngày xưa
Câu mái đẩy chứa chan lời dịu ngọt
Chết cũng đành không hối tiếc chi mô

Tô Kiều Ngân ( Giọng Huế)

Giọng Huế của gái Huế dịu dàng, nhiều người công nhận. Nhưng giọng Huế con trai Huế thì đang còn được bàn cãi. Nhiều người cho rằng giọng trai Huế không hùng hồn, không kêu gọi được người khi làm chuyện lớn. Điều ấy thực chăng ? Không phải đâu. Chỉ tại người Nam và người Bắc không muốn sửa đổi đôi tai của họ để nghe một âm sắc trầm trầm bằng bằng. Không sửa được, họ không hiểu thì họ không nghe. Nên để được người nghe, người Huế đổi giọng. Người Nam, người Bắc không ai đổi giọng của họ, mà người Huế thì đi đến đâu pha giọng đến đó. Chính vì vậy mà người khác địa phương không cần phải lắng nghe, sửa tai mà nghe. Hai người Huế tha phương gặp nhau, phải một thời gian lâu mới biết là họ cùng người Huế cả vì họ nói giọng Bắc, giọng Nam. Khi biết ra, cả hai cùng hân hoan, tự hào nói : Rứa hả, em cũng Huế đây nì.

Ngày K mới theo chồng từ Huế vào Sài Gòn, K ở chung với chị chồng. Bà đi làm suốt ngày. Bà có một người giúp việc, bà Tư, người Kiên Giang. Trong những ngày đầu sống trong căn gác xép xa lạ, chồng theo tàu lênh đênh, chung quanh không người thân quen, K chỉ có mỗi bà giúp việc ấy để chuyện trò cho đỡ nhớ nhà. Mà nói chuyện với Bà như nói chuyện với người điếc. Bà nói K còn nghe được chứ K nói thì bà hoàn toàn mù tịt, không hiểu K nói gì. Nhờ bà làm gì rồi thì cũng tự mình đi làm lấy vì bà ư hử mà không làm, chỉ vì bà không biết K muốn gì. Bà than : ” Cô nói tiếng ngoại guấc, hông nói tiếng Yiệt “.

Đối với người Nam, ai không nói giọng Nam là không nói tiếng Việt.

Như vậy, giữa tiếng và giọng, có một sự sai biệt khá lớn. Chúng ta hay dùng lẫn lộn. Khi nói ” nói tiếng Huế ” hay ” nói giọng Huế ” , thì ai cũng hiểu ngay là người ấy đang dùng âm thanh trọ trẹ để phát ngôn. Nhưng khi nói theo ông Võ Hương An ” Tiếng Huế, một ngoại ngữ “, thì rõ ràng tiếng không còn là giọng Huế nữa. Bạn có thể nói giọng Huế, nhưng giọng Huế nớ sẽ không là giọng Huế rặt nếu bạn không dùng mô tê răng rứa. Nghe một giọng Huế thỏ thẻ mà trong câu toàn là thế là thế nào, thưa vâng, không sao đâu ạ thì nghe nó … kỳ kỳ như ăn cơm hến với dưa muối, cà pháo. Huế không thưa vâng ạ. Huế chỉ dạ nhẹ nhàng. Cái tiếng dạ của mấy cô gái Huế làm chết biết bao chàng trai Huế cũng như không Huế. Huế không nói thế là thế nào, Huế nói : Dạ, rứa là răng ? Mấy chữ mô tê răng rứa ni phải đi với giọng Huế, chứ còn đi với giọng Sài Gòn, với giọng Hà Nội thì dĩ nhiên chỉ là nói đùa cho vui, hoặc đang lấy lòng một người Huế nào đấy thôi, hoặc là một dấu vết cho thấy người nói đã một thời lăn lóc trên đất người, đã lậm tiếng người, đã mất gốc không nhiều thì ít. Như K đây. Đau lòng mà nhận ra như rứa.

Người Huế không kêu ” cô “, người Huế kêu ” O “.
Người Huế không kêu ” Bà “, người Huế thưa ” Mệ “
Người Huế không “nói “, người Huế “noái “
Người Huế không “mắc cỡ “, người Huế “dị òm”,
Người Huế không hỏi: “Sao vậy? “, người Huế hỏi “Răng rứa? “
Người Huế không nói ” Đẹp ghê “, người Huế nói ” Đẹp dễ sợ. “

Người Huế cái chi cũng kêu lên “Dễ sợ !! “, dữ dễ sợ, hiền dễ sợ, buồn dễ sợ, vui dễ sợ, xấu dễ sợ, thương dễ sợ, ghét dễ sợ.

K đang trở lại với Huế, đang nói lại cái giọng mà thuở xưa đã từng thỏ thẻ bên tai ai, đang tìm học lại tiếng Huế, một ngôn ngữ tuy đang dần dần bị mai một vì những đợt sóng người từ các nơi trôi dạt đến. Những người mới này mang theo họ cái giọng, cái tiếng từ quê cha đất tổ, hoà lẫn với tiếng và giọng Huế, tìm cách đồng hoá nó, như xưa kia người Việt đồng hoá người Chiêm.

Những người ở các vùng khác có tha thiết nhớ và gìn giữ tiếng và giọng của họ không hè ?

Hồi còn đôi tám, đi nghỉ hè trọ ở nhà một người bạn gái tại Sài Gòn. Nhà bạn có hai ông anh lớn hơn chừng ba bốn tuổi. Cả bọn họp thành một nhóm đi chơi với nhau vui vẻ. Một buổi trưa, sau khi đi chơi đâu đó về, cả 4 nằm ngang trên chiếc giường lớn nói chuyện bâng quơ. Một trong hai anh nằm kề K, lấy mái tóc dài của K đắp ngang mặt mình, hỏi :

” Tại sao người Huế khi nói gì cũng nói ” dễ sợ ” vậy K ? “
” K không biết. “
” Vậy thì nếu nói ‘ Dễ thương dễ sợ ‘ có đúng không ? “
” Không biết. “

Đặng Lệ Khánh

*** SỐ MỆNH

Lê Khắc Thanh Hoài

 untitled

          Trước khi bàn đến Số Mệnh thì có lẽ chúng ta nên tìm hiểu rõ riêng từng chữ, Số là gì và Mệnh là gì ?

Chữ Số, đứng riêng một mình, nó có thể hiểu hai nghĩa. Nghĩa thứ nhất giản dị là con số, hay chữ số, dấu hiệu được đặt ra để biểu thị cho cái lượng, cái gì có thể tính, đếm, đo, cân. Các con số này có thể cộng trừ nhân chia với nhau. Nghĩa là con số có thể thêm, bớt, tăng, giảm. Con số còn có thể là chẳn lẻ, dư thừa, số dương, số âm, con số nguyên hay phân số, nghịch hay đảo, số thực hay phóng đại, số trung bình hay số vô tỉ…


Mới nhìn thoáng qua thì chúng ta không thấy mối liên hệ gì giữa chữ Số, theo nghĩa thứ nhất này, với chữ Mệnh, đứng bên cạnh nó. Dường như vậy. Chúng ta thử rộng bàn hơn về con số này nhé.

Con người vừa mới mở mắt chào đời với tiếng khóc oe oe, chỉ vừa ló đầu ra khỏi lòng mẹ, cuốn rún vừa được cắt là có người chực sẳn bên bà mụ, mắt dán vào chiếc đồng hồ, hô to những con số : « Đúng năm giờ mười lăm phút sáng !» một người khác vội ghi ngay trên giấy, cộng thêm tên họ, dĩ nhiên là không quên ghi những con số quan trọng khác : ngày, tháng, năm, năm ta lẫn năm tây, nhưng năm ta mới là quan trọng hơn chứ, không thể nhầm lẫn, là Ất dậu, Quí dậu hay Bính dậu, mọi chi tiết đều được ghi chú một cách cẩn trọng, nghiêm túc. Bởi vì những con số này sẽ là bằng chứng của sự có mặt của con người trên mặt đất, sẽ được hiện rõ ràng minh bạch trên tờ Khai Sanh cũng như trên tấm Lá Số Tử Vi, vén mở trước cho thấy hành trình mà con người sẽ bước qua.

Giờ phút linh thiêng đã điểm. Đúng, một con người vừa mới ra đời. Một động vật hai chân nhưng là loài thông minh và đáng nể trọng nhất trên quả đất này. Đúng, hai chân và đứng thẳng, có thể ngẩng đầu lên cao giữa đất trời thì chỉ có loài người. Đầu đội trời, chân đạp đất thì chỉ có loài người. Các loài khác, tuy nhiều chân hơn nhưng lại luôn cúi rạp đầu xuống đất, ở nơi chỗ dơ dáy và không thể có khối óc như con người. Con người xứng đáng tự xưng mình là chúa tể của mọi loài trên trái đất, dù tự cho mình là con trời hay chỉ ỷ vào sức mạnh của bạo lực, của quyền uy, của tài sản vật chất, của gươm đao, súng ống, với phương tiện nào cũng được, cậy quyền, cậy thế hay cậy sức, con người có thể vỗ ngực tự xưng và đương nhiên được coi là hơn hết, trên hết mọi loài khác. Không những thế, cùng đồng loại, đồng chủng, con người cũng có thể xưng hùng xưng bá, cho mình là bậc nhất để đàn áp, diệt chủng, cướp đoạt lãnh thổ, thâu nạp nô lệ…Và con người đã làm như thế. Có thể còn mãi mãi sẽ làm như thế.

Con người dù có mạnh như Hercule, chỉ cần dùng sức mạnh của hai tay để hạ đối thủ, giết chết quái vật, nhưng may thay, con người cũng biết giới hạn của mình. Đứng trước thiên nhiên, mưa dầm, bão tố, sóng cao, gió lớn, hạn hán, núi lửa, lụt lội, động đất… thì con người bó tay. Cũng như bó tay trước cái chết của chính bản thân mình.


Con người thôi kiêu căng và cúi đầu tuân thủ bậc Trời, hay Thượng đế, nếu tin có Thượng đế, là cha sinh ra loài người. Điều này có những ưu điểm, đem lại trật tự, kỷ cương cho xã hội, con người biết sợ hãi khi làm điều ác, vì sẽ bị trừng phạt gắt gao, địa ngục luôn mở cửa để lùa kẻ ác vào, và con người sẽ siêng năng làm thiện vì Thiên đường cũng luôn mở cửa để đón tiếp kẻ thiện tâm.

Nhưng rồi con người cũng đi quá trớn và lạm dụng danh nghĩa để làm những điều sai trái, không hợp đạo lý, không thuận theo ý Trời hay Thượng đế nữa. Đó là lỗi của con người, không phải lỗi của Trời hay Thượng đế.

Trở lại với con Số. Như vậy là vừa mới mở mắt chào đời, con người đã mang vào mình một hàng số. Hàng số này mà về sau, con người nhớ mãi để mỗi năm thì ăn mừng. Mừng Sinh Nhật. Mừng cái ngày mình, một con người, có mặt trên cõi đất này. Vui cái đã ! Suy nghĩ mông lung xa vời thì chẳng cần biết tới. Đơn giản quá ! Sự thật là như vậy. Đùng một cái, con người bỗng thấy mình có mặt trên trái đất và phải đi cho hết cuộc đời còn lại mà cũng chưa chắc tìm ra câu trả lời vì sao, vì đâu tôi lại có mặt trên cõi đời này ! Trách gì, tấm bé thì đâu biết gì mà suy với nghĩ, chỉ biết vui chơi, ngày Sinh Nhật thì được quà cáp, đồ chơi ai mà không thích. Nhưng lớn rồi thì cũng có khác đâu, tiệc tùng ăn uống thỏa thích cho cái ngày Sinh Nhật, chuyện gì mà bận rộn trí óc cho mệt cái thân. Chỉ có mấy ông triết gia lẩm cẩm dư thì giờ ngồi vuốt râu, bứt tóc bứt tai suy nghĩ chuyện không đâu!

Mỗi năm, con số của cái ngày trọng đại này, ngày Sinh Nhật, không thay đổi nhưng cái số tuổi thì « leo thang » vùn vụt với năm tháng trôi qua, với thời gian. Từ một đứa bé lưa thưa vài sợi tóc, cho đến một ông già bà lão tóc bạc phủ trắng đầu. Và rồi con số cuối cùng sẽ đến nằm gọn gàng bên cạnh cái con số của ngày Sinh Nhật. Con Số của cái ngày Tạ Thế. Cái ngày mà con người từ biệt cõi thế, lìa đời, mạng chung. Dù muốn dù không cũng phải giã biệt. Đó là định luật ngàn thu.


Dù thông minh cách mấy con người vẫn chưa lật ngược được định luật này. Chỉ còn biết chấp nhận.


Như vậy là con số đầu và số đuôi đã nối nhau. Những con số của tờ Khai Sanh sẽ được bổ túc thêm với những con số của tờ Khai Tử.


Nhưng chặng giữa của đời người thì không thiếu nhưng con số.


Thử tìm những con số này qua miệng của dân gian, trong các sinh hoạt thông thường, qua những câu ca dao còn mãi với thời gian hay qua thi ca của nước Việt chúng ta.

Gần gũi nhất là những con số mà chúng ta thân quen, là anh, là chị, là em trong gia đình : anh Hai, chị Ba, anh Tư, em Sáu, em Bảy và rồi đương nhiên là có dì Năm, dượng Sáu, cô Tám…người miền Nam nước ta thì hay dùng các con số thứ tự trước sau để gọi con cái. Cái con số nó gắn liền với con người đơn sơ, giản dị và dễ thương như vậy.

Trong văn học, con số một trăm dưòng như quá rõ ràng để chỉ độ dài của đời người, thường được tìm thấy nơi các vần thơ của cụ Nguyễn Du :


Trăm năm trong cõi người ta (1)

Kiếp phong trần trăm năm thân thế
Khắp bờ sông bãi bể lang thang.
(2)

Hoa đẹp không trăm ngày
Người sống không trăm tuổi.
(3)

Và khi dân gian muốn ám chỉ những ai hay những gì mà miệng người đời rêu rao, bêu xấu, cảnh giác con người nên thận trọng :

Trăm năm bia đá thì mòn
Nghìn năm bia miệng hãy còn trơ trơ
(4)

Với cảnh vật thiên nhiên mà con người rất hiểu, rất am tường :

Trăm hoa đua nở tháng giêng
Có bông hoa cải nở riêng tháng mười
. (5)

Mạ chiêm ba tháng chưa già
Mạ mùa tháng rưỡi ắt là chẳng non
(6)

Đêm tháng năm chưa nằm đã sáng
Ngày tháng mười chưa cười đã tối.
(7)

Những ngày tháng không thể quên, và con người cùng nhắc nhở nhau :

Nhớ ngày mồng bảy tháng ba
Trở về hội Láng, trở ra hội Thầy.
(8)

Ai về Phú Thọ cùng ta
Vui ngày giỗ Tổ tháng ba mùng mười.
(9)

Ấy ngày mồng sáu tháng ba
Ăn cơm với cà đi hội chùa Tây.
(10)

Nhắc đến Hà Nội với Ba Mươi Sáu phố phường :

Cố đô rồi lại Tân đô
Nghìn năm văn vật bây giờ vẫn đây
Rủ nhau chơi khắp Long Thành
Ba mươi sáu phố chẳng rành chẳng sai.
(11)

Nhà nông chất phát mà biết lo toan :

Mồng chín tháng chín có mưa
Thì con sắm sửa cày bừa làm ăn
Mồng chín tháng chín không mưa
Thì con bán cả cày bừa đi buôn.
(12)

Một con số khác, để nói đến phận gái long đong :

Lênh đênh một chiếc thuyền tình
Mười hai bến nước, biết gửi mình vào đâu ?
(13)

Hay nói đến tình yêu bạc bẽo :

Yêu nhau cau sáu bổ ba
Ghét nhau cau sáu bổ ra làm mười.
(14)

Và cầu mong bạn đời chung thủy với mình :

Muối mặn ba năm muối hãy còn mặn
Gừng cay chín tháng gừng hãy còn cay
Đạo nghĩa cang thường chớ đổi đừng thay.
(15)

Nhưng trước khi thành đạo phu thê thì thử thách cũng khó lắm cho chàng trai :

Em là con gái nhà giàu
Mẹ cha thách cưới ra màu xinh sao.
Cưới em trăm tấm lụa đào
Một trăm hòn ngọc, hai mươi tám ông sao trên trời.
Tráp tròn dẫn đủ trăm đôi
Ống thuốc bằng bạc, ống vôi bằng vàng.
Sắm xe tứ mã đem sang
Để quan viên họ nhà nàng đưa dâu.
Ba trăm nón Nghệ đội đầu
Mỗi người một cái quạt Tàu thật xinh.
Anh về sắm nhiễu Nghi Đình
May chăn cho rộng ta mình đắp chung.
Cưới em chín chĩnh mật ong
Mười cót xôi trắng, mười nong xôi vò.
Cưới em tám vạn trâu bò
Bảy vạn dê lợn, chín vò rượu tăm.
Lá đa mặt nguyệt hôm rằm
Răng nanh thằng cuội, râu cằm thiên lôi.
Gan ruồi mỡ muỗi cho tươi
Xin chàng chín chục con dơi góa chồng.
Thách thế mới thỏa tấm lòng
Chàng mà lo được thiếp thời theo chân.
(16)

Cưới cô gái nhà nghèo mà xem ra tình tứ, dễ thương hơn một bực :

Cưới em có cánh con gà
Có dăm sợi bún, có vài hạt xôi
Cưới em còn nữa anh ơi
Có một dĩa đậu, hai môi rau cần
Có xa dịch lại cho gần
Nhà em thách cưới có ngần ấy thôi
Hay là nặng lắm anh ơi !
Để em bớt lại một môi rau cần.
(17)

Cũng qua dân gian mà chúng ta biết được vai trò của người con trai trưởng, cũng liên hệ với các con số :


Bốn con ngồi bốn chân giường
Mẹ ơi, mẹ hỡi, mẹ thương con nào ?
Mẹ thương con bé mẹ thay,
Thương thì thương vậy, chẳng tầy trưởng nam
Trưởng nam nào có gì đâu
Một trăm cái giỗ đổ đầu trưởng nam.
(18)

Và học thêm được tập tục của việc để tang :

Chồng cô, vợ cậu, chồng dì
Trong ba người ấy chết thì không tang.
(19)

Láng giềng còn để ba ngày
Chồng cô vợ cậu, nửa ngày cũng không.
(20)

Tự thuở nào, nàng dâu thì sợ mụ o :
Một trăm ông chú không lo
Lo về một nỗi mụ o nỏ mồm.
(21)

Và nỗi lòng nàng dâu được tỏ bày cũng không thiếu những con số :

Thân em mười sáu tuổi đầu
Cha mẹ ép gả làm dâu nhà người
Nói ra sợ chị em cười
Năm ba chuyện thảm, chín mười chuyện cay.
(22)

Đó là việc nhà, nhưng việc nước, thời Nam Bắc phân tranh, cũng được nói lên qua con số :

Một nhà hai chủ không hòa
Hai vua một nước ắt là không yên.
(23)

Đó là trong quá khứ, chúng ta thấy những con số luôn đi theo đời người, qua mọi sinh hoạt dù riêng dù chung.


Ở thời hiện đại, các con số lại càng gia tăng và gắn liền hơn nữa với đời sống. Số nhà, số điện thoại, điện thoại bàn, điện thoại cầm tay, số mật mã phải nhớ nằm lòng để mở cửa vào nhà, bước vào thang máy, mở máy vi tính, tủ két đựng tiền, bất cứ dụng cụ máy móc tối tân nào, hoặc dùng thẻ tín dụng ngân hàng, mà bất cứ ở đâu cũng phải đem theo, từ mua sắm nhỏ nhặt cho đến thanh toán chi tiêu lớn…Đi tới đâu cũng thấy bấm nút, bấm số. Giấy tờ chỗ nào cũng ghi chú nhan nhản điều một, điều hai, điều ba…Số ghi trên vé đi xem hát, xem kịch. Số ghi trên sổ thông hành, chiếu khán, hộ tịch, căn cước, sổ lương, sổ trợ cấp, sổ bảo hiểm, số xe, số giày, số quần áo…Số tiền ghi trên tấm giấy bạc hay tờ ngân phiếu thì không thể sai được, đôi khi phải đọc lui đọc tới vài chục lần vì không thể có nhầm lẫn trong chuyện này được !


Những con số, chao ơi, toàn là những con số !


Chưa kể những con số để chơi loto, đánh cá ngựa, đánh số đề…


Chưa kể những ngày tháng kỵ giỗ người thân.


Chưa kể những cuộc hẹn từ vài tháng trước phải ghi phải nhớ, lỡ quên là lại mất vài ba tháng nữa mới có được một cuộc hẹn mới.


Chưa kể những con số trên chiếc đồng hồ rượt con người chạy…ứ hơi !


Chưa kể những con số phải thuộc nằm lòng, những con số khẩn, cấp cứu, bệnh viện, cứu hỏa, cảnh sát…


Như vậy chúng ta đã thấy là con Số không hề rời xa con người chút nào, mà theo sát chữ Mệnh đứng sau nó rồi phải không ?


Đó chỉ là mới nói đến nghĩa thứ nhất của chữ Số.

Nghĩa thứ hai của chữ Số thì lại hoàn toàn đồng nghĩa với chữ Mệnh đứng bên cạnh nó. Chữ Số này chỉ làm rõ nghĩa thêm chữ Mệnh mà thôi. Bởi nó chính là Phần Số, Số phận, cuộc đời con người. Mọi người vẫn thường nghe “ số tôi là vậy, tới số rồi, số như vậy, mỗi người đều có số…” Chính lả chữ Số này trong Số Mệnh.


Số với Mệnh, tuy hai mà một.


Vậy bây giờ chúng ta bàn qua chữ Mệnh này nhé. Nó khá phức tạp rắc rối bởi vì qua nhiều thời đại, con người không ai cùng đồng ý với ai nữa cả khi bàn đến nó.

Mệnh hay Mạng được đặt ra từ khi có cụ Khổng với cái thuyết Thiên mệnh luận hay Thiên đạo. Ông Trời qui định cho mỗi cá nhân một số mệnh, một cuộc đời và chỉ có tuân theo. Sống theo Thiên mệnh hay Thiên đạo cũng là sống đúng với qui tắc thiên nhiên, hợp với thời thế, đạo lý mà Trời đã đặt ra, đó là ý Trời. Thiên tử lại là con trời, mà phản
lại ý vua cũng là phản lại ý trời. Vua bảo chết mà không chết là quan bất trung. Cha mẹ bảo chết mà con không chịu chết là con bất hiếu. Quá ư khắt khe cụ Khổng !

Ngoài Nho giáo ra, còn có các triết thuyết như Túc mệnh luận, Định mệnh luận, quan niệm mỗi con người đều có một số mệnh do quá khứ an bài, xếp đặt, định trước, định sẳn rồi. Mọi cố gắng nổ lực ở hiện tại hầu như vô ích. Gọi đó là Định Mệnh. Không thể thay đổi.


Các triết thuyết này, và cả Nho giáo, tin vào sự chỉ định của Trời, đều mang tính tiêu cực và thụ động. Con người thường xuôi tay, phó mặc cho số mệnh.


Đạo Phật không tin vào số mệnh do một đấng siêu nhiên chỉ định, an bài. Số mệnh này, theo Phật giáo là kết quả tạo từ các đời trước của Nghiệp, hành động có tác ý, chủ ý, chủ động của con người. Và cứ thế, luân hồi triền miên bất tận, con người tự tạo ra cái số mệnh của mình, tự tạo và tự hứng chịu hậu quả của nó. Như vậy thì số mệnh này không bất di bất dịch mà có thể thay đổi tùy theo hành động, theo chiều hướng thiện hay ác của hành động, của sự tạo tác mà cái mệnh theo đó chuyển đổi, vận hành.

Ảnh hưởng từ phương Tây, Thiên chúa giáo là một thần giáo, tin vào Thượng Đế, đấng tạo ra con người, nhưng con người không hoàn toàn mất tự do và lệ thuộc vào Thượng Đế bởi vì con người có quyền lựa chọn hành động của mình. Và hai con đường, thiện hay ác đều có kết quả phù hợp. Thượng Đế không bắt buộc ai phải vào địa ngục hay lên thiên đường, chính hành động của con người lôi kéo con người vào hai đường này. Thượng Đế chỉ sinh ra con người nhưng không hành động thay thế con người. Đó là sự lựa chọn của con người.


Ở đây, nơi sự tự do lựa chọn và hành động thì Phật Giáo và Thiên chúa giáo gặp nhau.

Chúng ta lại thử tìm qua ca dao, những suy nghĩ về số phận, thân phận con người.


Dù biết cuộc đời có giới hạn, nhưng không vì thế mà sống không xứng đáng, để phải hổ thẹn :


Người đời hữu tử hữu sanh
Sống lo xứng phận, thác dành tiếng thơm.
(24)

Cho dù nghèo khó :


Đói cho sạch, rách cho thơm (25)

Tốt danh hơn lành áo ( 26)

Chết trong còn hơn sống đục (27)


Sống vẫn có đạo lý :

Một câu nhịn, chín câu lành (28)

Người trồng cây hạnh người chơi
Ta trồng cây đức để đời về sau
. (29)

Ở hiền thì lại gặp lành
Những người nhân đức trời dành phúc cho.
( 30 )

Tốt gỗ hơn tốt nước sơn
Xấu người đẹp nết, còn hơn đẹp người
(31)

Ăn quả nhớ kẻ trồng cây
Uống nuớc sông, nhớ mạch suối
(32)

Ai ơi chớ vội cười nhau
Cười người hôm trước, hôm sau người cười
(33)

Nói chín thì làm nên mười
Nói mười làm chín, kẻ cười người chê.
(34)

Nhiều không thể kể hết những câu ca dao nói lên cái đạo lý sống hướng thiện của con người. Và chúng ta cũng thấy cái số mệnh đã được an bài, được chấp nhận qua các câu :


Số lao đao phải sao chịu vậy
Tới số ăn mày, bị gậy phải mang
. (35)

Số giàu tay trắng cũng giàu
Số nghèo chín đụn mười trâu cũng nghèo.
(36)

Cây khô xuống nước cũng khô
Phận nghèo đi tới chỗ mô cho giàu.
(37)

Số giàu đem đến dửng dưng
Lọ là con mắt tráo trưng mới giàu.
(38)

Con vua rồi lại làm vua
Con sãi ở chùa lại quét lá đa
.(39)

Mọi người đều đồng ý là ai cũng có một phần số, một số mệnh riêng biệt, không đồng đều, nhưng nó từ đâu đến, sự sai biệt này từ đâu mà có thì chưa ai đồng ý với ai. Người bảo là do Trời, do Thượng đế, người bảo là do Nghiệp. Chuyện này không bao giờ có kết luận và cũng không phải là mục đích của bài viết.


Người viết chỉ muốn nói đến muôn vàn số mệnh khác biệt trên cõi thế. Đôi lúc chỉ vì một quyết định bốc đồng, thiếu chín chắn, một lời nói thiếu suy nghĩ, một hành động vô ý thức hay một cuộc gặp gỡ bất ngờ nào đó mà số mệnh của con người lại thành tựu, vận hành, chuyển hướng, rẽ sang một ngả khác.


Trong đời, không ai không từng thốt lên : “ Giá mà tôi được…Chẳng qua vì…Nếu hôm đó không xảy ra…Nếu chuyện ấy không như thế…”

Hằng hà sa số cảnh đời, số phận cũng chỉ vòng quanh các tính từ vui, buồn, sướng, khổ, giàu, nghèo, hoặc các động từ CÓ và KHÔNG CÓ :


Có vợ đẹp, có con ngoan, không có vợ đẹp, không có con ngoan, có tiền, không có tiền, có chức vị, không có chức vị, có nhà, không có nhà, có tình, không có tình, có sức khoẻ, không có sức khoẻ, có sắc đẹp, không có sắc đẹp, có tài, không có tài…


Và cũng tưong tự, các số phận xoay quanh động từ ĐƯỢC và KHÔNG ĐƯỢC :


Được yêu, không được yêu, được thăng chức, không được thăng chức, được ưu đãi, không được ưu đãi, được nhàn hạ, không được nhàn hạ, được sống lâu, không được sống lâu, được nổi tiếng, không được nổi tiếng…


Xoay quanh động từ LÀ và KHÔNG LÀ, các số phận này hoặc bằng lòng, thỏa mãn hoặc bất như ý, bất toại nguyện : tôi là luật sư, tôi không là luật sư, tôi là bác sĩ, tôi không là bác sĩ, tôi là doanh nhân, tôi không là doanh nhân, tôi là giáo sư, tôi không là giáo sư, tôi là dân Mỹ, tôi không là dân Mỹ, tôi là người da đen, tôi không là người da đen…


Cũng thế, các số phận xoay quanh động từ BỊ thì càng không ít : Bị chê, bị trách, bị mắng, bị nhiếc, bị bạc đãi, bị hà hiếp, bị bóc lột, bị lạm dụng, bị thù, bị oán, bị giết, bị tù, bị tội, bị bắt cóc, bị cưỡng ép, bị chịu đựng, bị khống chế, bị tàn tật, bị thương tích, bị ruồng bỏ, bị lãng quên…


Thống kê ra thì sẽ dài bất tận.


Tóm lại, con người vui buồn, khổ đau hay hạnh phúc là nhờ CÓ hay KHÔNG CÓ, ĐƯỢC hay KHÔNG ĐƯỢC, LÀ hay KHÔNG LÀ và BỊ hay KHÔNG BỊ.


Cũng thế, nếu thống kê hết những hạng người, theo loại, theo nghề nghiệp, theo hoàn cảnh sống, theo địa lý, theo phong tục…thì cũng rất dài dòng, thử tạm liệt kê một vài hạng người theo số mệnh mà CÓ, mà ĐƯỢC hay LÀ :


Người là vua, là hoàng tử, là công chúa, là tổng thống, là ông này bà nọ, có chức vị quan trọng trong xã hội thì cũng có hạng thường dân, không tên tuổi, không ai biết, có anh hùng, có tướng tá, sĩ quan, quân nhân thì cũng có thi nhân tao nhã, nhạc sĩ, tài tử chỉ cống hiến cho đời những giây phút thoải mái vô ưu, có tu sĩ, bác sĩ, võ sĩ, có người nhân đạo thì cũng có người vô nhân đạo, có trộm cướp, có sát nhân giết mướn giết thuê, có thương nhân đàng hoàng làm ăn thì cũng có dân buôn lậu, buôn thuốc nghiện, thuốc hút, buôn người, buôn cả trẻ con, đàn bà, con gái, ngoài những mỹ nữ buôn phấn bán hương, thời hiện đại như chúng ta thì còn có cả “ mỹ nam” cạnh tranh với mỹ nữ, bên cạnh đó vẫn còn những người cần cù, tay lấm chân bùn, đầu tắt mặt tối, như nông dân, ngư dân, thợ thuyền, người giúp việc, người buôn thúng bán bưng, gánh gồng, dầm mưa dãi nắng, thì cũng có người làm việc bằng trí óc, quanh quẩn trong bốn bức tường, đôi lúc thật khô khan nhàm chán…đối lại thì có “ siêu mẫu chân dài ” khoe khoang hàng hiệu, phô trương hình ảnh xa hoa, xa xỉ, lúc nào cũng tươi cười, xinh đẹp, lộng lẫy nơi các nhà hàng thượng thặng, đôi khi cùng với các tài tử xi nê lên xuống “siêu xe ”, với những cuộc chạy đua tốc độ xoay xẩm mặt mày…

Số mệnh con người dường như cũng đi theo hai chiều trái ngược, hoặc sướng hoặc khổ, hoặc lên, hoặc xuống, hoặc thiện hoặc ác, hoặc tốt hoặc xấu, hoặc hay hoặc dở, hoặc hên hoặc xui, như nói có số đỏ, có số đen. Tuy nhiên cũng có thể là không đỏ, không đen, không thiện không ác, không tốt, không xấu, không khổ, không sướng, ở giữa lưng chừng, trung bình mọi mặt.


Hiểu rõ số mệnh, phải chăng vì con người luôn bị thời gian thôi thúc đằng sau lưng. Con người chẳng thể nào đứng yên, tất cả đều tan biến vào hư vô vậy thì con người có thể níu kéo được gì ? Hạnh phúc nằm ở đâu ? Ở cái điều mà tôi có, tôi không có, tôi được, tôi không được, tôi là, tôi không là, tôi bị, tôi không bị ?


Con người chỉ nên nghĩ đến con đường đang đi, thực tại đang có và phải đi, phải sống như thế nào hơn là nghĩ con đường này, cuộc sống này dẫn tới đâu ? Trước khi có mặt trên trái đất, con người hoàn toàn không biết gì, sau khi rời khỏi mặt đất con người cũng hoàn toàn không biết gì. Mọi người đến và ra đi đều không hề nói năng, không hề tỏ rõ cho ai biết rằng chỗ trước khi tôi đến trái đất là như thế và chỗ sau khi tôi rời trái đất là như vậy. Đằng sau là quá khứ, thì tối tăm mù mịt mà đằng trước là tương lai thì cũng tối tăm mù mịt. Con người chỉ có và thấy một luồng ánh sáng độc nhất là hiện tại. Nơi mà con người có thể nói năng, thấy, nghe, cảm, nhận và cùng nhau chia sẻ buồn vui sướng khổ. Trong vùng ánh sáng này, hiện hữu một số mệnh mà con người không thể làm gì khác hơn là chấp nhận, và làm tất cả những gì có thể để thích ứng với những gì bất ngờ xảy đến. Những điều có thể có, có thể không, có thể được, có thể không được, có thể là như vậy, cũng có thể không là như vậy, có thể bị mà cũng có thể là không bị gì hết. Trước cái bấp bênh của số mệnh, con người không thể buông xuôi mà nắm chặt trong tay hơn những gì có thể chuyển đổi số mệnh, chuyển hóa số mệnh, vượt lên trên số mệnh, trở thành vận mệnh bởi vì số mệnh không hề bất di bất dịch, có thể vận chuyển, vận hành, đổi thay theo hành động, theo ý tưởng, theo cảm xúc. Cái hiện tại luôn luôn chuyển động, không đứng một chỗ và con người luôn bị thôi thúc phải tác ý và hành động để thực hiện những gì có thể thực hiện được trước khi luồng ánh sáng nhận thấy được nơi cái hiện tại này cũng vụt tắt. Cái vòng tròn của bánh xe Số Mệnh đã bắt đầu quay và sẽ mãi mãi quay theo cái gọi là luân hồi !


Chận lại vòng quay của bánh xe luân hồi là vượt lên trên số mệnh.

LêKhắcThanhHoài
Paris, Tháng Bảy, 2014

_________

Chú thích :
1. Kiều. Nguyễn Du
2. Mạn Hứng . Nguyễn Du
3. Hành Lạc Từ . Nguyễn Du
4. 5. 6.….cho đến 39 : Tục Ngữ Ca Dao Dân Ca Việt Nam. Vũ Ngọc Phan

*** Đặng Lệ Khánh dịch William and Mary của Roald Dahl

Thư viện của bài

This gallery contains 1 photo.

WILLIAM VÀ MARY ( dịch William and Mary của Roald Dahl )     Đặng Lệ Khánh           Khi ông William Pearl qua đời, ông chẳng để lại được nhiều tiền bạc gì, và chúc thư của ông cũng giản dị. Ngoại … Tiếp tục đọc