Into God’s Loving Arms

 

chim-dove

*Dedicated to my dear friend Kathie Mendez

It has come to the end of the life journey
And the sun has set, my dear Kathie,
We love you and our hearts sink low,
We miss you and we pray for the soul,
Free like wandering wind in the meadow,
Like rolling cloud on the sky, alone.
We cry but we have to let you go.

For this is the journey planned by the Almighty,
The life destination and destiny,
For we all must take to home,
Like flowers blossom,
Fruit ripens,
In the obedience,
You are home, my dear Kathie, you are home,
In the God’s loving arms.

We love you,
We miss you,
Our tears well up and our hearts gloom,
But we have to let you depart,
Into God’s eternal love and peace,
The Holy light shines upon you,
Rest in peace, my dear, you are home,
In the Kingdom of heaven
The Father, the Son and the Holy Spirit,
Amen!

Deacon Joe Hung Nguyen
(March 27, 2019)

Như Loài Hoa

Thư viện của bài

This gallery contains 1 photo.

Lm. Giuse Hoàng Kim Toan

Như loài hoa, trong ngàn triệu tên đoá hoa, người ta ai cũng có một đoá hoa lòng nở trong tim. Đoá hoa lòng ấy, dù ít dù nhiều, ai cũng có. Những đoá hoa lòng trao nhau, những hoa lòng nối bờ yêu thương, những đoá hoa lòng khoe sắc trên khuôn mặt, nở trên những bàn tay. Hoa lòng ấy là hoa nhân đức được ươm qua lòng thanh, tưới trong nhẫn nại, chăm sóc trong hy sinh.

Như loài hoa chẳng bao giờ biết ghen ghét, tị hiềm, hờn giận. Hoa mọc trên cây cao, hoa nở ở dưới thấp, hoa tỏ sặc sỡ, hoa e lệ kín đáo… Mỗi loài một nét riêng, làm đẹp cho đời, anh đoá hoa lớn, tôi đoá hoa nhỏ, chị đoá hoa kiêu sa, tôi đoá hoa tầm thường, trong giỏ hoa, các loại hoa đứng cạnh nhau, đôi khi lại thêm vài bông cỏ, tự nhiên và hoang dại, chẳng bao giờ ghét nhau bởi vì chung một mục đích làm đẹp cho đời và dâng hương cho cuộc sống. Hoa lòng của con người sẽ tươi đẹp biết bao trong vườn hoa muôn cõi lòng, không ghen ghét, không tị hiềm, cùng nhau góp sức dâng hiến cho người và cho đời.
Tiếp tục đọc

ĐẠO MẪU VÀ TÍN NGƯỠNG

Thư viện của bài

This gallery contains 1 photo.

ĐẠO MẪU VÀ TÍN NGƯỠNG 

THỜ TAM PHỦ, TỨ PHỦ

QUA TRẬT TỰ CÁC GIÁ HẦU

– Trích trong VÀO CHÙA LỄ PHẬT – NHỮNG ĐIỀU CẦN BIẾT

của Đặng Xuân Xuyến ; xuất bản năm 2006 –

*

Đạo thờ Mẫu là một tín ngưỡng dân gian có từ lâu đời và rất thuần Việt. Nói đến Đạo Mẫu người ta có thể liên tưởng ngay đến việc tôn vinh những vị nữ thần tối cao mà người ta tôn là Thánh Mẫu hay Quốc Mẫu, tuy nhiên trong đạo thờ Mẫu, người ta không chỉ thờ riêng các vị Mẫu mà còn tôn thờ cả một hệ thống các vị thánh với một trật tự chặt chẽ (thể hiện trong các giá hầu đồng khi thỉnh các vị Thánh Mẫu, Chúa Bà, Quan Lớn, Chầu Bà, Quan Hoàng, Tiên Cô, Thánh Cậu…).

 Trong các đền phủ của Đạo Mẫu, luôn có rất nhiều ban thờ các vị thần thánh, nhất là NGỌC HOÀNG (thờ cúng với hai vị quan ở hai bên là Nam Tào và Bắc Đẩu), tuy nhiên khi thỉnh đồng người ta không thỉnh NGỌC HOÀNG mà người ta chỉ thỉnh các vị thánh sau:

 

A. TAM TÒA THÁNH MẪU:

Nếu không kể đến Ngọc Hoàng thì ba vị Thánh Mẫu là ba vị Thánh tối cao nhất của đạo Mẫu. Khi hầu đồng người ta phải thỉnh ba vị Thánh Mẫu trước tiên rồi mới đến các vị khác, tuy nhiên khi thỉnh Mẫu người hầu đồng không được mở khăn phủ diện mà chỉ đảo bóng rồi xa giá, đó là quy định không ai được làm trái, và sau giá Mẫu, từ hàng Trần Tiếp tục đọc

*** Thoughts on The Ash Wednesday

chua so loce the aorld

Ash Wednesday is the first day of Lent, and with the sign of the cross smeared on our foreheads with ashes to remind us that we are dust, and to dust we shall return.

Ash Wednesday is the gateway to the season of Lent, the season of returning to God “with your whole heart, with fasting, weeping, and mourning. Rend your hearts, not your garments, and return to the Lord, your God.” (Joel 2:12-13).

 Returning to God or to the right path is:
– to respond to a God who has created us in his own image and has loved, nurtured and protected us with his eternal love, and
– to reform our lives and do our best to live our earthly lives more fully and allowing God to transform us.

Ash Wednesday reminds us of death – the returning to dust- or THE END of our earthly journey and THE BEGINNING of a life BEYOND.
Embracing this holy season of Lent is to amend and to “clean out” our hearts so that God can pour his love into us. Our hearts are like a cup. If the cup was filled, then there will be no place for something new and beautiful to sprout and grow in our hearts.

So as we receive ashes, let’s each NOT simply be asking God to keep us from sin. Rather, let’s ask God to give us courage and strength to EMPTY:

– selfish
– greed
– anger
– hatred
– egos
– revenge
– racist
– corruption
– oppression
– power

OUT of our cup of hearts, so that God can pour his mercy into us and plant the seeds of something new and magnificent in our hearts.

“A clean heart create for me, God, renew within me a steadfast spirit.” (Psalm 51:12).

Deacon Joe Nguyen

*** Lời Cầu Nguyện Tạ Ơn

Thư viện của bài

This gallery contains 1 photo.

Lời Cầu Nguyện Tạ Ơn

Lạy Chúa Giêsu, Chúa thường dâng lời tạ ơn với Đức Chúa Cha trước khi làm việc gì: khi làm phép lạ hóa bánh ra nhiều (Mt 15:36), trong bữa tiệc ly (Mt 26:27), cho La-da-rô sống lại từ cõi chết (Ga 11:41)…

Con cũng muốn bắt chước Chúa để bập bẹ những lời tạ ơn, những lời tạ ơn khó nói nhất của kiếp nhân sinh! Có những lời tạ ơn thật dễ để nói với nhau và với Chúa. Nhưng cũng có những lời tạ ơn không thể thốt thành lời nếu không có ơn Chúa. Phải đợi khi linh hồn con được nuôi dưỡng bằng bao nhiêu ân sủng từ trời cao, đợi khi con đi gần đến hoàng hôn của đời người, thì con mới đủ can đảm nói lên những lời tạ ơn muộn màng này.

Tạ ơn ai? Tạ ơn hay hờn giận? Cám ơn hay trách móc? Tạ ơn Chúa trong nghịch cảnh cuộc đời và những người một thời đã làm con đau khổ. Khó quá Chúa ơi! Đôi khi lời được thốt ra trong dòng nước mắt không biết của hờn giận hay của tha thứ. Đôi khi lời được bập bẹ ở đầu môi, những nghẹn ngào tức tưởi ngăn cho lời không tròn chữ. Đôi khi lời được bật lên qua con tim rướm máu của vết thương năm xưa chưa lành hẳn. Dù thật khó để nói, dù ê a tập tành từng chữ như trẻ nhỏ học nói, nhưng Chúa ơi, con sẽ cố gắng để nói… Tiếp tục đọc

*** ĐỨC MẸ LỘ ĐỨC

Thư viện của bài

This gallery contains 1 photo.

ĐỨC MẸ LỘ ĐỨC

Lộ Đức (Lourdes) là một tỉnh nhỏ khoảng 6000 dân nằm giữa thung lũng Pyrênê, gần suối Gave. Hôm ấy là ngày 11 tháng 2 năm 1858. Trời lạnh lẽo. Vào buổi trưa, Bernadetta, cô gái 14 tuổi vui tươi, thiếu ăn và quê mùa cùng với mấy người bạn đi lượm củi khô ở bờ suối Gave.

Bỗng một bà mặc đồ trắng hiện ra với cô, trên một tảng đá bao quát cả hang Massabielle. Vừa sợ lại vừa vui, cô lần chuỗi và không dám tới gần theo lời Bà mời.

Chẳng ai muốn tin cô. Bị rắc rối chính cha mẹ cô không muốn cho cô trở lại hang đá nữa. Nhưng có một sức hấp dẫn lạ kỳ nào đó. Cô trở lại hang đá. Các cuộc thị kiến vẫn tiếp diễn. Bà lạ nói chuyện và kêu gọi cầu nguyện, rước kiệu và xây dựng một đền thờ tại đây. Tiếp tục đọc

*** HẠNH PHÚC VÀ ĐAU KHỔ

Thư viện của bài

This gallery contains 1 photo.

Lê Khắc Thanh Hoài

 Chư Thiên và loài người
Suy nghĩ về hạnh phúc
Ước mong được hạnh phúc
Chân hạnh phúc là gì ? (1)

          Bốn câu thi kệ này được trích trong bài « Kinh Hạnh Phúc » mà đức Phật Thích Ca Mâu Ni đã nói cách đây đã hơn hai ngàn năm trăm năm, khi ngài đang trú ngụ tại khu rừng có tên là Jeta và một thiên nhân, người của cõi trời, đã hiện đến một bên và đặt câu hỏi về hạnh phúc như trên.
 
Bài viết này chỉ mượn và dựa vào câu hỏi trên để thử tìm một định nghĩa cho hạnh phúc, làm thế nào để có hạnh phúc trên cõi thế này ? Trước tiên là một định nghĩa mang tính thế gian, của con người đời thường, không phân tích sâu, rộng về bài Kinh Hạnh Phúc của đức Phật. Tiếp đến là suy nghĩ về câu trả lời phải làm gì, sống như thế nào, đó là những phương pháp mà con người đời thường áp dụng để đạt hạnh phúc. Và song song với việc tìm hiểu hạnh phúc, thì không thể nào mà không có bóng dáng của khổ đau. Như phải có màu trắng để biết được màu đen như thế nào, có bên phải thì có cái gọi là bên trái, có trên cao thì mới thấy cái dưới thấp, có bóng tối mới nhận ra ánh sáng, có nụ cười thì cũng có nước mắt… Tiếp tục đọc

*** Praying

chua- cau nguyen 2

“Cast all your worries upon Him because He cares for you”. (1 Peter 5:7)

When we face difficulties in life, we often turn to God in prayer and beseech for help. We come to God to find comfort when we are in grief, in the midst of tragedy, or to find strength during life’s trial and tribulation.

Praying is divine and is a submission to God. It requires completely all of our hearts, minds, souls, and bodies consecrated to God. Furthermore, prayer is obedience to God’s will and acting according to His commandments. Prayer is also: sharing feelings with God; confiding and expressing our innermost thoughts and wishes to God; crying and laughing with God; walking hand in hand with God; spending time and creating memories with God; crying out for joy with God; crying out for help from God; igniting and growing the flame of passion in our hearts and souls for God; planning and dreaming with Him; worshiping, serving and glorifying Him; and lets His holiness shine upon us. I learn that everyday of our lives has its own troubles and we are not immune from it. Just open your heart, be honest and simple in your prayer. Simple prayer means we do not have to find a right words or holy phrases to move God. It is fine and alright to express your anger or despair because it shows that a communication channel or relationship between us and God is open and established. And that is a key to finding strength, comfort, courage, guidance, and happiness, because God has promised: “call on me on the day of distress, I will rescue you, and you shall honor Me.” (Psalm 50:15).

Always remember: “You do not possess because you do not ask” (James 4:2) and be assured that God is always with us and He will always answer us, thus, be faithful, patient, submissive, “trust in the Lord” (Psalms 37:3) because He has been and will be carrying us through life: “Even though I walk through the valley of the shadow of death, I will fear no evil, for you are with me; your rod and your staff comfort me.” (Psalms 23:4). ,

Strengthen your relationship with God with consistent prayer.

 Yes, God is always with us. So keep on confiding and praying to Him. He will always be there to listen and will lift us up in His loving and caring arms.

Let us pray:

Dear almighty God, the God of love, mercy and compassion, we cast all our anxieties on You, for You care about the smallest things that affect our worldly lives.
Thank you for always loving us.

Amen!

Joe HX Nguyen 

*** Vacation With God – Đi Nghỉ Với Thiên Chúa

Joe Hung Nguyen

1minh

I guess most if not all of us take vacation at least once a year, right?

We rest and enjoy good relaxing time, No works, no cooking, no cleanup, no cutting grass, no project dead line, no pressure, no anxiety, no everything except you and your love ones with the sun, ocean, cruise, beach, mountain, casino, reunion, or ski resorts, etc… Somehow we all look forward to that precious time of relaxing, calm. peace and harmony.

But have you ever looked forward to taking a vacation with God, to talk or confide with Him, to walk or jogging with Him, to smile and laugh with Him, or to even complain. I guess some if not many have.

And so have I.
I took one week of Silent Retreat in early July. You might call it a Retreat but I call it a Vacation with God.

One week of no noise, no talking, no TV, no internet, no cell phone, no music, no worry, no everything.

One week with just me, peace, quietness and our Lord God. And yes, I did walk and jog with Him, talk and confide with Him, read the bible with Him, write poetry with Him, pray and thank Him for all the graces and blessings I have received, praise and glorify Him.

It is also the time to look deep into my heart, my soul, and my spirit vision; and judge myself on the things that I’ve done and failed to do, words that I’ve said and failed to say. And to focus on Him and on His love and accept Christ as my Lord and ask him take away my blindness, sinfulness and iniquities, broadens my awareness and compassion, enlarges my sense of family and community and opens my eyes, my heart for others in serving, in His love and will.

I also confessed to Him my sins, and He always smiles and forgives me.
I know for certain that He will never forsake me (or any of his dispersed children).
God inspired me to write this poem during this Vacation With God:

My New Me

Your blood that has been shed, washed away my old life,
New heart, new spirit and new vision, reborn was I,
My blindness and sinfulness were taken away,
In me, your light and wisdom shine.

My new me embraces your salvation,
I live by your statutes and commandments,
And praise You before all living being on earth,
I am, O Lord, I am a lowly servant.

You are my God, a spirit true in righteousness,
I shall always be your follower, a humble child,
In me, a spirit cross guides my direction,
Your sheep, O Lord, your sheep am I.
(JoeNguyen)

“Come away by yourselves to a deserted place and rest a while” (Mark 6:31).
“Come to me, all of you who are weary and burned, and I will give you rest” (Matthew 11:28)

God invites us to take a Vacation with God, so will you?

I already plan for next year, my wife and I, we will take this invitation to be on Vacation with God.

Đi Nghỉ Với Thiên Chúa

Tôi đoán hầu hết, nếu không phải tất cả chúng ta, ai cũng đi nghỉ ít nhất mỗi năm một lần, đúng không?
Chúng ta nghỉ ngơi và tận hưởng thời gian thư giãn . Không làm việc, không nấu ăn, không dọn dẹp, không cắt cỏ, không có dự án hết hạn, không áp lực, không lo lắng, không có gì ngoại trừ bạn và những người thân yêu của bạn với mặt trời, đại dương, du thuyền, bãi biển, núi, sòng bạc, đoàn tụ, hoặc nơi trưôt tuyết, vv … Bằng cách nào đó tất cả chúng ta đều mong đợi thời gian quý giá này để tẫn hưởng sự thư giãn, yên tĩnh. an bình và hòa hợp.

Nhưng bạn có bao giờ mong đợi được đi nghỉ với Thiên Chúa, để nói chuyện hay tâm sự với Ngài, để đi bộ hoặc chạy bộ với Ngài, để mĩm cười và cười với Ngài, hoặc thậm chí than phiền. Tôi đoán một số nếu không có nhiều đều nghĩ đến.
Và tôi cũng thế.
Tôi đã lấy một tuần để đi dự Cấm Phòng Im Lặng (Silent Retreat) vào đầu tháng Bảy. Bạn có thể gọi đó là Cấm Phòng (Retreat) nhưng tôi gọi đó là một kỳ nghỉ với Thiên Chúa.

Một tuần không có tiếng ồn, không nói chuyện, không có TV, không có internet, không có điện thoại di động, không có âm nhạc, không lo lắng, không có mọi thứ.
Một tuần với tôi cùng an bình, yên tĩnh và Chúa của chúng ta. Và vâng, tôi đã đi bộ và chạy bộ với Ngài, nói chuyện và tâm sự với Ngài, đọc kinh thánh với Ngài, làm thơ với Ngài, cầu nguyện và cảm tạ Ngài cho tất cả những ân sủng và phước lành mà tôi đã nhận, ca ngợi và tôn vinh Ngài.

Đó cũng là thời gian để nhìn sâu vào trái tim, linh hồn, và hướng vọng tinh thần của mình; và phán xét bản thân mình về những điều đã làm và không chịu làm, những lời tôi đã nói và không chịu nói. Và để tập trung vào Ngài và vào tình yêu của Ngài và chấp nhận Đấng Christ là Chúa của mình và cầu xin Ngài xóa bỏ sự mù lòa, tội lỗi và gian ác của mình, mở rộng nhận thức và lòng từ bi, mở rộng ý thức về gia đình và cộng đồng và mở mắt, trái tim mình để phục vụ cho người khác, trong tình yêu và ý chí của Thiên Chúa.

Tôi cũng thú nhận với Ngài về tội lỗi của mình, và Ngài luôn luôn mỉm cười và tha thứ cho tôi.
Tôi biết chắc chắn rằng Ngài sẽ không bao giờ từ bỏ tôi (hoặc từ bỏ bất kỳ đứa con lưu lạc nào của Ngài).

Đức Chúa Trời đã ban cảm hứng để tôi sáng tác bài thơ này trong ký Nghỉ Với Thiên Chúa:

Cái Mới của Tôi

Máu của Ngai đã đổ ra, rửa sạch cuộc đời xưa cũ của tôi,
Trái tim mới, tinh thần mới và tầm nhìn mới, đã tái sinh tôi,
Sự mù lòa và tội lỗi của tôi được lấy đi,
Trong tôi, ánh sáng và sự khôn ngoan sáng suốt của Ngài tỏa sáng.

Tôi mới ôm lấy sự cứu rỗi của Ngài,
Tôi sống theo các điều luật và điều răn của Ngài,
Và ca tụng Ngài trước mọi người sống trên trái đất,
Tôi là, Chúa ôi, tôi là một tôi tớ thấp hèn.

Ngài là Thiên Chúa của tôi, một linh hồn đích thực trong sự công chính,
Tôi sẽ luôn là người theo chân Ngài, một con chiên khiêm tốn,
Trong tôi, cây thánh giá chỉ đạo hướng dẫn tôi,
Con chiên của Ngài, Ôi Chúa ơi, con chiên của Ngài là tôi.

Hãy đi tẻ ra trong nơi vắng vẻ, nghỉ ngơi một chút
“Hãy tự mình đi đến một nơi vắng vẻ và nghỉ ngơi một chút” (Mác 6:31).
“Hãy đến với tôi, tất cả các bạn đang mệt mỏi và bị đốt cháy, và tôi sẽ cho bạn nghỉ ngơi” (Ma-thi-ơ 11:28)

Hỡi những kẻ mệt mỏi và gánh nặng, hãy đến cùng ta, ta sẽ cho các ngươi được yên nghỉ.

Đức Chúa Trời mời chúng ta đi nghỉ với Đức Chúa Trời, vậy bạn có nhận lời không?
Tôi đã dự tính cho năm tới, vợ tôi và tôi, chúng tôi sẽ nhận lời mời này để được đi nghỉ với Thiên Chúa.

Joe Hungx Nguyen

*** “Giáo Dục Giải phóng Con người”

Paulo Freire I

và chủ trương “Giáo Dục Giải phóng Con người”

 

( Paulo Freire : 1921 – 1997)

Paulo Freire sinh năm 1921 tại Brazil. Ông học Luật và Triết học, nhưng lại dấn thân vào công cuộc giáo dục đặc biệt cho giới tráng niên, nhằm gây ý thức cho đại chúng phải mạnh dạn tự giải thoát mình ra khỏi tình trạng áp bức nặng nề, tàn bạo của xã hội đương thời. Vì có tư tưởng và hành động cấp tiến như vậy, nên ông bị giới quân nhân cầm quyền bắt buộc phải sống lưu vong ở nước ngoài, từ năm 1964, mãi cho đến năm 1980, ông mới có thể trở về quê hương mình được.

trab-paulo-freire-1-638

Tại nước Chi lê, ông đã làm việc cho tổ chức văn hóa Unesco của Liên Hiệp Quốc, và Viện Cải cách Ruộng đất của chánh phủ Chi lê. Ông còn được mời tới làm việc tại Trung tâm Nghiên cứu về Phát triển và Biến đổi xã hôi thuộc đại học Harvard ở Mỹ (Center for Studies in Development and Social Change). Rồi sau này làm giám đốc chương trình giáo dục của Hội đồng Tôn giáo thế giới (World Council of Churches) tại Geneva, Thụy sĩ.

Năm 1970, ấn bản tiếng Anh “The Pedagogy of the Oppressed” (Giáo dục của Người bị Áp bức) của Paulo Freire đã gây một tiếng vang lớn trong giới giáo dục và hoạt động xã hôi khắp thế giới. Sau trên 40 năm, thì đã có hàng triệu cuốn được phổ biến rộng rãi qua nhiều lần tái bản, và hàng mấy chục bản dịch ra các thứ tiếng khác nữa. Ông là người đã cổ võ cho ý niệm “ Conscientizacao’ nguyên văn tiếng Bồ đào nha, mà bây giờ đã trở thành thông dụng khắp thế giới với tiếng Anh là “Conscientisation” (= Consciousness Raising, Critical Conciousness). Ta có thể diễn tả ý niệm này là : Sự thức tỉnh Ý thức và Suy nghĩ có tính cách phê phán.

Quả thật, chủ trương giáo dục có tính chất cách mạng triệt để của ông đã ảnh hưởng mạnh mẽ đến các phong trào giáo dục và xã hội cùng khắp thế giới. Và tư tưởng triết học của ông cũng ảnh hưởng đến nhiều ngành học thuật như thần học, xã hội học, nhân chủng học, sư phạm, ngữ học thực hành và nghiên cứu văn hóa (applied linguistics & cultural studies).

Có thể nói : Paulo Freire là một nhà tư tưởng có ảnh hưởng nhất về bộ môn giáo dục vào cuối thế kỷ XX ( the most influential thinker about education).

Bài viết này nhằm giới thiệu tư tưởng độc đáo và dứt khoát của ông. Đồng thời cũng lược qua về ảnh hưởng của tư tưởng này trong thế giới hiện đại, đặc biệt là tại các quốc gia vốn xưa kia là thuộc địa của thực dân Tây phương ở Châu Mỹ La tinh, Châu Phi và Châu Á. Để bạn đọc có thể dễ dàng theo dõi quá trình hình thành và phát triển tư tưởng của Paulo Freire, là một nhân vật tiêu biểu của trào lưu thức tỉnh và vận động xã hội tại Châu Mỹ La tinh là quê hương của ông, người viết xin được dàn trải việc trình bày trong 2 bài như sau :

Bài 1 / – Bối cảnh văn hóa xã hội của Châu Mỹ La tinh vào cuối thế kỷ XX.

Bài 2 / – Cốt lõi chủ trương “Giáo dục giải phóng” & Ảnh hưởng trong thế giới hiện đại.

I – Bối cảnh văn hóa xã hội của Châu Mỹ La tinh.

Châu Mỹ La tinh (Latin America) là khu vực nằm ở phía nam của nước Mỹ, mà xưa kia hầu hết đều là các lãnh thổ nằm dưới sự cai trị của hai nước Tây ban nha và Bồ đào nha. Hiện nay khu vực này có chừng 30 nước với tổng số dân là trên 560 triệu. Chỉ có Brazil với dân số trên 190 triệu là nói tiếng Bồ đào nha. Còn lại, thì tất cả đều nói tiếng Tây ban nha. Trừ một số rất nhỏ xưa kia là thuộc địa của Pháp, Anh, Hòa lan, thì vẫn còn nói tiếng như tại “mẫu quốc” cũ của họ.

Có tới 70% dân chúng trong khu vực theo đạo Thiên chúa giáo La mã (Roman Catholic). Và chừng 15% theo đạo Tin lành.

A – Tình trạng bất ổn trong thời kỳ chiến tranh lạnh.

Kể từ thập niên 1960 trở đi, khu vực này đã trải qua nhiều biến động về chính trị kinh tế, cũng như về mặt văn hóa xã hội thật sôi động, nhiều khi đưa đến những tranh chấp tàn bạo đẫm máu, do các chế độ độc tài thiên hữu, quân phiệt hay thiên tả gây ra. Nhiều cuộc đảo chính đã liên tục xảy ra, khiến cho xã hội luôn bất ổn định, và chế độ độc tài quân phiệt dễ có cơ hội được củng cố, và người dân bị dồn vào thế bị động, không thể hợp nhau góp phần vào công cuộc xây dựng và phát triển quốc gia được.

Lại nữa, vào giữa thời chiến tranh lạnh, nên phía Liên Xô đã tìm nhiều cách để gây ảnh hưởng của chủ thuyết cộng sản tại đây; điển hình là tại Cuba từ khi Fidel lên nắm chánh quyền năm 1959 và đã ngả hẳn về phía Liên Xô. Chúng ta hẳn đều còn nhớ việc Liên Xô cho đem thiết trí lọai hỏa tiễn tại Cuba nhằm hướng vào nước Mỹ, khiến xúyt gây nên cảnh chiến tranh giữa hai siêu cường Nga-Mỹ vào năm 1962, trước sự đối đầu nẩy lửa của hai lãnh tụ Kruschev và Kennedy.

Mà phía Mỹ, thì cũng tìm mọi cách can thiệp nhiều khi rất nặng tay tàn bạo, để bảo vệ toàn thể khu vực được gọi là“cái sân sau” (backyard) của riêng nước Mỹ; điển hình như có bàn tay của CIA trong việc lật đổ chế độ thiên tả của Tổng thống Salvador Allende tại Chi lê năm 1973. Rồi sau này vào thập niên 1980, thì phe Sandinista khuynh tả đã lên nắm được chánh quyền ở Nicaragua, với sự trợ giúp đắc lực của Cuba cộng sản cũng như của Liên Xô. Và chánh quyền Mỹ dười thời Tổng thống Reagan đã ra tay can thiệp mạnh bạo, để giúp phe đối lập Contras lập lại thế cờ tại đây. Đại khái đó là vài nét đại cương về ảnh hưởng của chiến tranh lạnh tại khu vực Châu Mỹ La tinh, từ hồi thập niên 1960 cho đến khi khối Liên Xô bị tan rã kể từ 1990.

B – Sự nhập cuộc của Giáo hội công giáo La mã.

Về phía Thiên chúa giáo, thì do ảnh hưởng của tinh thần đổi mới của Công đồng Vatican 2, trong giới tu sĩ và giáo dân tại khu vực đã có sự chuyển biến rất mạnh mẽ trong sự nhận thức, cũng như trong hành động của Giáo hội công giáo. Điển hình như trường hợp của Tổng giám mục Helder Camara của Brazil; ông là người rát năng động trong việc phục vụ và tranh đấu cho khối đa số nghèo túng, đến nỗi bị chụp mủ là “vị giám mục đỏ” (the red bishop). Ông nói chua chát như sau : “Khi tôi cho người nghèo ăn, thì người ta gọi tôi là một ông thánh. Khi tôi hỏi tại sao người nghèo lại không có thực phẩm, thì người ta gọi tôi là một người cộng sản!” Giám mục Camara và cầu thủ Pele’ là hai người xứ Brazil mà được biết đến nhiều nhất trên thế giới.

Lại có trường hợp vị Giám mục cấp tiến Oscar Romero ở nước El Salvador, ông còn bị chánh quyền cho dùng tay chân ám sát, ngay giữa lúc ông đang cử hành thánh lễ an táng cho bà mẹ của một người bạn vào năm 1980. Và đã có đến 250,000 người đến tham dự lễ an táng của vị mục tử kiên cường này, mà họ coi như là một vị thánh tử đạo (Martyr).

Cũng tại El Salvador, vào cuối năm 1980 đã xảy ra việc sát hại 4 nữ tu người Mỹ, do bàn tay của nhân viên công lực nhà nước. Sự kiện này đã gây sự phẫn nộ tột cùng của báo chí và công luận nước Mỹ, đến độ tạo thành áp lực buộc chánh phủ Mỹ phải có biện pháp răn đe mạnh mẽ đối với chánh quyền tàn bạo của El Salvador.

Cũng phải kể thêm về trường hợp của vị linh mục Camilo Torres ở nước Colombia, ông là một tu sĩ cấp tiến, được đào tạo tại đại học công giáo nổi tiếng Louvain bên nước Belgium ở Âu châu. Vì áp lực nặng nề từ phía chánh quyền Colombia, ông phải thóat ly theo hẳn phe du kích chống chánh phủ, và đã bị hạ sát vào năm 1966 trong một cuộc đụng độ với quân đội. Tên tuổi của Camilo Torres, cũng như của Che Guerava bị hạ sát năm 1967 tại Bolivia, thì đã trở thành một huyền thoại lôi cuốn giới trẻ trong toàn thể khu vực Châu Mỹ La tinh từ trên 40 năm nay.

Nhân tiện, cũng cần phải ghi lại cái thủ đọan cực kỳ độc ác là “làm mất tích” (disappearance), bằng cách thủ tiêu những người chống đối, mà cơ quan an ninh tại nhiều nước trong khu vực sử dụng, để đàn áp phong trào tranh đấu cho dân chủ tự do tại các nước này. Điển hình là tổ chức Các Bà Mẹ có con bị mất tích ở Argentina, đã liên tục trong nhiều năm tháng đến tụ hợp với nhau tại một quảng trường Plaza de Mayo trong thành phố thủ đô, để đòi hỏi chánh quyền phải cho công bố về các vụ mất tích này. Các tổ chức tranh đấu bảo vệ nhân quyền quốc tế như Hội Ân xá Quốc tế (Amnesty International) cũng đã thâu thập được khá nhiều chứng từ về các trường hợp “ người bị mất tích” (disappeared persons) tại nhiều quốc gia trong vùng, mà có nơi con số này lên tới nhiều ngàn người. Rõ ràng chế độ độc tài nào dù theo phe tả như cộng sản, hay theo phe hữu như chế độ quân phiệt, thì cũng đều tàn bạo độc ác như thế cả.

C – Nền Thần học Giải phóng.

Châu Mỹ La tinh này lại còn là nơi phát sinh một trào lưu tư tưởng đặc biệt sôi nổi sinh động, đó là nền “Thần học giải phóng” ( Liberation Theology). Đó là cả một phong trào của các giáo sĩ và giáo dân phản ứng không khoan nhượng trước thực trạng xã hội đày rẫy bất công áp bức, bóc lột trong xã hội các quốc gia trong khu vực. Họ lục tìm trong Kinh thánh và trong Giáo huấn chân truyền của Giáo hội công giáo từ xưa nay, để xây dựng được một nhận thức đứng đắn, trung thực về vai trò dấn thân nhập cuộc của Giáo hội trong công trình giải thoát con người và xã hội khỏi các định chế chính trị xã hội hủ lậu, phản động và vô luân trong xã hội đương thời. Trừ một số nhỏ thiên về phía marxit cộng sản quá khích, còn đa số giáo sĩ và giáo dân đều giữ vững lập trường tranh đấu ôn hòa, bất bạo động của tôn giáo. Hệ thống tư tưởng tiến bộ này luôn được sự hưởng ứng của quần chúng giáo dân và giới chức sắc của giáo hội, mà tiêu biểu sáng ngời nhất là “Hội Đồng Giám mục Châu Mỹ La tinh (CELAM = the Latin American Episcopal Conference). Dưới sự thôi thúc của những vị lãnh đạo năng nổ, nhiệt tình như Helder Camara, Hội Đồng này đã biểu quyết thông qua chủ trương rất tiến bộ là : “ Giáo hội phải dứt khoát chọn lựa đứng về phía người nghèo” ( Church’s Option for the Poor).

D – Vai trò của giới trí thức và văn nghệ sĩ.

Trong khi đó, thì giới hàn lâm đại học (Academia), cũng như giới văn nghệ sĩ, đều sôi nổi góp phần vào công cuộc dấn thân phục vụ xã hội, mà điển hình là sự đóng góp thật là vĩ đại của Paulo Freire với chủ trương “Giáo dục Giải phóng Con người” như đã được trình bày rất khúc chiết trong cuốn “Pedagogy of the Oppressed”. Ta sẽ đề cập chi tiết vế tư tưởng này trong một bài sau.

Cũng cần phải ghi thêm về ảnh hưởng của phong trào trí thức tả phái phát xuất từ Âu châu, đặc biệt là từ thập niên 1950, đối với tư tưởng và hành động của học giới và văn nghệ sĩ tại Châu Mỹ La tinh. Khuynh hướng “Bài Mỹ” (Anti-Americanism) từ Âu châu đã làm tăng thêm sự hậm hực, ân óan vốn có sẵn từ lâu đời đối với sự thống trị và khuynh lóat của chánh sách bá quyền (hegemony) của nước Mỹ đối với tòan thể các quốc gia và lãnh thổ yếu thế, mà lại bị chia rẽ, phân tán ở phía Nam bán cầu (hemisphere). Lâu lâu, người ta vẫn nghe thấy dân chúng tại đây hô thật to cái khẩu hiệu “Yankees, Go Home” (Người Mỹ, Hãy Cút Đi!) mỗi khi có phái đòan cao cấp của Mỹ đi qua một số thành phố lớn. Điển hình là vụ phản đối rầm rộ, đến độ xô xát bạo hành đối với Phó Tổng thống Nixon của Mỹ trong chuyến viếng thăm Nam Mỹ vào năm 1958.

Lại nữa, chánh phủ Mỹ vì luôn bênh vực che chở cho giới tài phiệt Mỹ làm ăn buôn bán khai thác tại các nước trong khu vực, nên đã cho thiết lập và ủng hộ các chánh quyền cực hữu, độc tài mà được đặt tên một cách mỉa mai là “Banana Republics”, vì chuyên làm tay sai cho các đại gia chuyên môn khai thác trồng chuối để xuất cảng về Mỹ, hoặc khai thác các nguồn lợi thiên nhiên khác, để thu về được một số lợi nhuận khổng lồ cho các tập đòan kinh tế có độc quyền khai thác, mà điển hình là United Fruit.

Trước tình trạng bất ổn căng thẳng như thế, ta không lạ gì với sự chống đối quyết liệt như của những lãnh tụ mới đây như Tổng thống Hugo Chavez của Venezuela đối với nước Mỹ. Và qua đó, chúng ta có thể hiểu rõ thêm về phản ứng dứt khóat và triệt để của giới trí thức như Paulo Freire trong bối cảnh chung của khu vực Châu Mỹ La tinh vậy.

 

TQH/

NI SƯ ĐẠI ÁI ĐẠO NHẬP NIẾT BÀN

HOA SEN dtmToàn Không

     Ni sư Đại Ái Đạo là người nuôi dưỡng Phật từ lúc mới sinh ra sau khi Phật Mẫu qua đời, sau này bà được Tôn giả A Nan xin Phật cho phép bà được thành lập Ni đoàn với điều kiện phải tuân thủ những điều lệ do Phật đưa ra; từ đó, bà điều hành Ni đoàn tu hành một cách tinh tấn nghiêm trang, và đã có tới 500 vị Ni là bậc A La Hán (bậc Thánh).

      Khi Bà và Ni đoàn đang ở chùa Cao Đài trong thành Tỳ Xá Ly, bà nghe một vị Tỳ kheo (Tăng) nói: “Không đầy 3 tháng nữa, đức Thế Tôn sẽ Niết Bàn tại rừng Sa La nước Câu Thi Na Kiệt”. Bà liền nghĩ: “Ta không kham nhìn thấy Như Lai diệt độ, nay ta nên diệt độ trước”. Bà liền đi đến chỗ Phật tại giảng đường Phổ Hội xứ Tỳ Xá Ly, cúi lạy rồi nói:

– Con nghe Thế Tôn (Phật) sẽ diệt độ tại rừng Sa La xứ Câu Thi Na Kiệt. Nay con không kham thấy Thế Tôn diệt độ. Cúi xin Thế Tôn cho con diệt độ trước.

      Khi ấy Đức Phật im lặng chấp thuận, bà Đại Ái Đạo nói:

– Từ nay, con không còn thấy tôn nhan Thế Tôn, cũng không còn thấy chư Phật tương lai nữa. Con không còn tái sinh, vĩnh viễn ở chỗ an vui..

      Bà Đại Ái Đạo làm lễ dưới chân Phật xong đi quanh Phật bảy vòng, đi quanh đại chúng Tỳ kheo ba vòng rồi lui; bà trở về bảo các Tỳ kheo Ni:

– Ta muốn vào Niết Bàn vô vi, vì Thế Tôn chẳng bao lâu sẽ diệt độ, các vị nên tùy nghi.

      Khi đó Tỳ kheo Ni Sai Ma hướng dẫn 500 Tỳ kheo Ni đến chỗ Phật, tất cả làm lễ Phật, rồi Ni sư Sai Ma thưa:

– Chúng con nghe nói Thế Tôn không bao lâu nữa sẽ diệt độ, chúng con không kham nhẫn thấy Thế Tôn diệt độ. Cúi xin Thế Tôn cho phép chúng con diệt độ trước. Nay chúng con vào Niết Bàn chính là phải lúc. 

      Đức Phật im lặng chấp thuận, các Tỳ kheo Ni thấy Phật hứa khả, liền làm lễ Phật, đi nhiễu quanh ba vòng rồi trở về. Trong khi ấy, Ni sư Đại Ái Đạo trải tọa cụ tại nơi đất trống, bay lên hư không; ở trong hư không, bà ngồi, nằm, đi, đứng, nửa thân dưới phát ra khói, nửa thân trên phát ra lửa, hoặc nửa thân dưới phát ra lửa, nửa thân trên phát ra khói, hoặc nửa thân dưới phát ra khói, nửa thân trên phát ra nước. Hoặc hông bên phải tuôn ra lửa, hông bên trái tuôn ra khói, hoặc hông bên phải tuôn ra nước, hông bên trái tuôn ra lửa, hoặc hông bên phải tuôn ra khói, hông bên trái tuôn ra nước; hoặc phiá trước phun khói, phiá sau phun nước, hoặc phiá trước phun lửa, phiá sau phun khói, hoặc phiá trước phun nước, phiá sau phun lửa; hoặc toàn thân phóng lửa, hoặc toàn thân phóng khói, hoặc toàn thân phóng nước.

      Sau khi làm đủ thứ biến hóa, bà Đại Ái Đạo trở xuống tòa ngồi kiết già, vào chính định nhập từ Sơ thiền cho tới Tưởng tri diệt (10 bậc thiền). Lại từ Tưởng tri diệt trở lại tới Sơ thiền. Rồi lại từ Sơ thiền lên tới Tứ thiền, liền diệt độ; khi ấy trời đất chấn động, nhạc trời nổi lên, muôn hoa trời rải xuống chỗ đạo tràng, bấy giờ Ni sư Đại Ái Đạo đã 100 tuổi thọ.

      Tỳ kheo Ni sư Sai Ma và 500 Ni, đều là bậc thượng thủ về đến nơi thì Ni sư Đại Ái Đạo đã diệt độ xong. Mỗi vị đều trải tọa cụ nơi đất trống theo thứ lớp, rồi cùng bay lên hư không, trên hư không ngồi, nằm, đứng, đi, làm 18 phép thần biến (như trên đã diễn tả). Rồi tất cả đều trở về tòa ngồi kiết già nhập Sơ thiền cho tới Tưởng tri diệt, và cho tới diệt độ; lúc ấy, trời đất chấn động, nhạc Trời nổi lên, muôn hoa Trời rải xuống chỗ đạo tràng. 

      Trong khi ấy trong thành Tỳ Xá Ly có Đại tướng Du Da Đề và năm trăm thanh niên (quân nhân) đang tụ họp. Từ xa, họ trông thấy cảnh Tỳ kheo Ni làm 18 phép thần biến trên không trung như thế, thì họ ngạc nhiên, vui mừng, chắp tay vái về phiá ấy.

      Lúc ấy Thế Tôn bảo Tôn giả A Nan:

– Thầy đến chỗ Đại tướng Da Du Đề bảo hoan hỷ sắm cho: “Giường nằm, bình tô lạc, bình dầu, xe hoa, xe hương, xe gỗ củi cho đủ để thiêu 500 người, vì bà Đại Ái Đạo và 500 Tỳ kheo Ni đã diệt độ”.

     Tôn giả A Nan nghe thì buồn khóc than “Bà Đại Ái Đạo và chúng Tỳ kheo Ni sao diệt độ nhanh chóng thế!”, Tôn giả liền đến chỗ Đại tướng, Đại tướng thấy Tôn giả đến, liền chào hỏi:

– Chào Tôn giả A Nan, Tôn giả đến đây thật rất qúy, Tôn giả muốn dạy điều gì mà đến bất ngờ thế này?

      Tôn giả A Nan nói:

– Chào Đại tướng, tôi do Phật sai đến.

      Rồi Tôn giả nói cho Đại tướng nghe tất cả những điều Phật đã bảo, Đại tướng nghe nói xong thì buồn khóc mà nói:

“Ni sư Đại Ái Đạo, Ni sư Sai Ma, và năm trăm Tỳ kheo Ni diệt độ nhanh chóng qúa, từ nay ai sẽ giáo hóa và chỉ dạy chúng tôi bố thí?”

      Sau khi Tôn giả A Nan ra về, Đại tướng cho sắm sửa chuẩn bị đầy đủ các thứ cần thiết xong đi đến chỗ Phật, cúi lạy rồi thưa:

– Thế Tôn chỉ dạy con chuẩn bị các thứ, nay đã xong.

      Phật bảo:

– Ông hãy đến chùa Cao Đài để đưa thân bà Đại Ái Đạo và năm trăm Tỳ kheo Ni ra khỏi thành đến chỗ đất trống, Ta muốn cúng dường Xá Lợi ở đó.

      Đại tướng Da Du Đề đáp:

– Xin vâng, thưa Thế Tôn.

      Đại tướng liền đến chỗ đạo tràng của bà Đại Ái Đạo, thấy các vị Tỳ kheo Ni vẫn ngồi kiết già mà tịch, Đại tướng bảo năm trăm thanh niên cùng nhau đưa các vị lên giường.

      Cùng lúc ấy Phật dẫn chúng Tỳ kheo đến, Thế Tôn bảo Tôn giả A Nan và La Vân:

– Các thầy khiêng thân của bà Đại Ái Đạo lên giường, ta sẽ đích thân cúng dường.

      Khi ấy Phạm Thiên Vương, Đế Thích, biết ý Thế Tôn, liền đem theo Thiên chúng đến cúi lạy rồi mỗi vị đứng một bên Phật. Tỳ sa Môn Thiên vương đem theo Qủy Thần Dạ Xoa. Đề địa lại Tra Thiên vương đem theo Càn thát Bà. Tỳ lâu Lặc Thiên Vương đem theo Cưu bàn Trà. Tỳ lâu ba Xoa Thiên vương đem theo Long Thần. Và các chư Thiên các tầng Trời đều đến chỗ Thế Tôn cúi lạy (Chỉ có người nào đã đắc lậu tận mới nhìn thấy các thành phần vừa nêu ra).

      Thích đề hoàn Nhân và Tỳ Sa Môn Thiên vương trước Phật vái rồi nói:

– Cúi xin Thế Tôn, chớ nhọc thân, chúng con sẽ cúng dường Xá Lợi.

      Phật bảo:

– Thôi, thôi, Thiên vương, Như Lai tự biết; đây là việc Ta phải làm, chẳng phải hàng Trời, Qủy Thần, Rồng mà làm được, vì sao? Cha mẹ sinh con nhiều lợi ích cho con, ân trọng dưỡng nuôi, bú mớm ẵm bồng, cần phải báo ân; như thế, Như Lai nên tự cúng dường, chẳng ai làm thay được.

      Tỳ Sa Môn Thiên vương bảo năm trăm Qủy đi lấy củi thơm chiên đàn, các Qủy liền mau chóng đi lấy mang tới chỗ hỏa thiêu.

      Khi ấy, Thế Tôn khiêng một chân giường, Nan Đà, A Nan, La Vân mỗi người một chân, bay lên hư không đến chỗ hỏa thiêu (Đây là do thần lực của Phật, vì Tôn giả A Nan chưa có thần thông). Bốn chúng có Chư Thiên Thần hỗ trợ khiêng 500 Thánh Ni đến chỗ hỏa thiêu; tất cả Trời người, Thần, Qủy, Long và nhân dân đến chỗ trà tỳ có vô số kể, không thể tính hết được.

      Khi tới nơi Qủy đã mang một số củi chiên đàn tới trước rồi, Thế Tôn lấy củi chiên đàn chất trên thân bà Đại Ái Đạo và mọi người cũng làm cũng lấy gỗ củi chất lên thân năm trăm Tỳ kheo Ni. Sau khi hết thảy năm trăm thân Xá Lợi Thánh Ni hỏa thiêu xong, Thế Tôn nói kệ: 

Tất cả hành vô thường,

Có sinh ắt có diệt,

Không sinh thời không diệt,

Diệt này là vui tột.

     Đức Phật bảo Đại tướng:

– Nay ông đem Xá Lợi của năm trăm Tỳ kheo Ni xây tháp để mọi người tưởng nhớ, sẽ được phúc vô lượng.

      Rồi Thế Tôn nói pháp vi diệu, khuyến khích cho chư Thiên và nhân dân được hoan hỷ; có vô số Trời, Người được dứt trần cấu, đắc pháp nhãn thanh tịnh, tất cả đều vui vẻ cúi lạy Phật rồi ra về; Đại tướng Da Du Đề sau đó cho nhặt Xá Lợi đem về xây tháp để mọi người tưởng nhớ.

 

Ghi chú: Trước đó, hai Tôn giả Thượng thủ của Phật là Đại Trí Xá Lợi Phất và Đại Mục Kiên Liên cũng đã nhập diệt không lâu.,.

“Ý TRỜI”

Trần Xuân Thời

hoanghon bien

Luận Về “Ý TRỜI”

Chúng ta thường đinh ninh rằng mọi việc ở đời đều do Đấng Thiêng liêng quan phòng. Nhưng quan phòng không có nghĩa là định đoạt. Quan phòng hiểu theo nghĩa quan sát, nhận định, hướng dẫn, chứ không hiểu theo nghĩa quyết định, vì Tạo hóa đã cho chúng ta lý trí để suy xét và tự do để hành động. Chỉ khi nào con người có tự do hành động mới chịu trách nhiệm về hành động cuả mình. “God, in the beginning, created man, he made him subject to his own free choice” (Sir14:15.)

Con người hữu lý khi tin rằng “Hoàng thiên bất phụ hão tâm nhân” (Trời không phụ người hiền đức) hay phúc họa ở đời do phản dưởng có điều kiện (conditioned feed back) tuỳ thái độ của con người. Khổng Tử viết “Vi thiện giả, Thiên báo chi dĩ phúc, vi bất thiện giả, Thiên baó chi dĩ hoạ” (Ai làm lành thì Trời báo phúc cho, ai làm điều chẳng lành thì Trời lấy họa mà báo cho) và Luận Ngữ ghi “ Bất tri Thiên mệnh vô dĩ vi quân tử giã” ( Không biết mệnh Trời thì không phải là người quân tử).

Ý niệm về “Ý Trời” là ý niệm chung của dân gian được hiểu qua nhiều ý nghĩa khác nhau tùy theo tín ngưởng. Chúng ta thử xét qua các ý nghĩa thông thường bàn bạc trong triết lý nhân gian.

Người ta thường nói:

“Sinh tử hữu mệnh, phú qúy tại Thỉên”

hay

“Sống chết bởi tại trời, giầu nghèo là cáỉ số. Dẫu ai ruộng sâu, trâu nái, đụn luá, kho tiền, cũng bất quá thủ tài chi lỗ”. Của cải thế gian là những vật hư nát nên những kẻ vi phú thường bất nhân không lo phần linh hồn thì cũng như những tên mọi giữ của!

Nếu tin hoàn toàn vào số mạng thì chúng ta đã tin vào thuyết định mệnh (determinism). Một khi tin vào số mệnh thì con người có thể có thái độ tiêu cực buông thả, không cố gắng, nhưng không tự trách mình mà phó thác cho số mệnh:

“Cũng liều nhắm mất đưa chân,

Thử xem con tạo xoay vẫn đến đâu.”

Tại sao con người tin vào số mệnh? Có lẻ khi con người được tạo dựng nên ở thế trần cảm thấy mình quá yếu đuối trước những mãnh lực thiên nhiên, tai ương khốn khó như bão tố, động đất, hạn hán, lụt lội, bệnh tật, thú dữ… đối với con người cổ sơ đó là những thiên tai trời định.

Từ những sự bất lực đó, con người đã tìm giải đáp và cũng là nguồn an ủi là tin vào thần linh. Thần linh có rất nhiều loại như thần hiền, thần dữ, thủy thần, hà bá, sơn thần, thổ thần…. và con người thờ nhiều vị thần khác nhau tạo nên tình trạng đa thần (polytheism) trong đạo giáo dân gian.

Người Trung Hoa có tục ném thiếu nữ xuống sông tế thần Hà Bá, để thần hà bá vui lòng, bớt giận, khỏi gây thủy tai, lụt lội mỗi khi sông Hoàng Hà hay sông Dương Tử ngập lụt. “Hà bá lấy vợ”. Biết bao thiếu nữ chết oan vì sự sùng bái mê tín dị đoan này. Người Việt có truyện Sơn Tinh, Thủy Tinh để giải thích nạn lụt lội hàng năm ở sông Nhị Hà.

Ngoài tín niệm chung của nhân gian, có những tín niệm có hệ thống như các hệ thống tín lý của Khổng Học, Phật Học, Lão Học. Trừ các tăng sĩ, nho sĩ, trí thức; đa số người bình dân Việt pha trộn cả ba học thuyết vào với nhau, hữu sự vái tứ phương, trong cuộc sống hàng ngày như: “Lạy Trời, lạy Phật, lạy Thiên Tiên Thánh Giáo, lạy Ông Bà, Cha Mẹ…. ban cho con được tai qua nạn khỏi.” Nhất là những lúc gặp khốn khó thập tử nhất sinh.

Khổng học là một triết thuyết về cách xử thế dựa trên nhân, lễ, nghĩa, trí, tín… Khổng học tin vào Mệnh Trời (God’s Mandate). Trời trong tâm trí người bình dân là Ngọc Hoàng, là Thượng Đế. “Thuận Thiên giả tồn, nghịch Thiên giả vong”. Thuận Thiên thì sống chống Thiên thì chết.

Sống theo mệnh trời là sống có trung, hiếu, tiết, nghĩa nhằm hướng đến cái chí thiện ở đời. Từ triết thuyết và luân lý làm người tốt và hữu dụng, triết lý giáo dục theo quan niệm của Nho học cốt đào tạo con người trở nên chí thiện “Đại học chi dạo, tại minh minh đức, tại thân dân. tại chi ư chí thiện.”, chứ không chỉ học lục nghệ để mưu sinh.

Khổng học còn là một triết thuyết về phương pháp trị quốc an dân. Chương trình giáo dục của Trung Hoa và Việt Nam suốt mấy ngàn năm văn hiến đều lấy Khổng học làm căn bản như dùng Tứ Thư, Ngũ Kinh làm sách giáo khoa cho sĩ tử. Văn võ bá quan trong các triều đại đều là những người xuất thân tu cửa Khổng, sân Trình, lấy Khổng học làm phương châm hướng dẫn hành động.

Ngưòi bình dân không cần đào sâu ý nghĩa của Thượng Đế trong Khổng học, thường chỉ tin vào Thượng Đế là đấng thiêng liêng, tạo nên vũ trụ, trên tất cả mọi loài thể hiện qua lời cầu khẩn: “Lạy Trời mưa xuống, lấy nước tôi uống, lấy ruộng tôi cầy, lấy bát cơm đầy, lẩy khúc cá to”.

Phật học, không giải thích số mệnh là do Trời, mà nhấn mạnh vào ý niệm “Nghiệp Chướng” (Karma). Karma, hay nghiệp chướng, là một ý niệm đã có từ hàng ngàn năm trong giáo thuyết của Ấn Độ Giáo (Hinduism) trước khi Đức Phật ra đời.

Ấn Độ giáo tin vào thuyết, luân hồi, nghiệp chướng và nhiều vị thần thánh khác nhau mà thần Siva là vị thần có nhiều quyền lực nhất.

Sau Đại Hội Phật Học kỳ thứ II ở Ấn Độ thì Phật học chia làm hai môn phái Tiểu Thừa (Hynayana) và Đại Thừa (Mahayana).

Môn phái Tiểu Thừa khai triển mạnh ở Ấn Độ, Tích Lan, Thái Lan, Miến điện….Môn phái Đại Thừa (Mahayana) của Phật học không phát triển mạnh ở Ấn Độ mà phát triển qua Trung Hoa, Việt Nam…..

Theo thuyết “Nghiệp chướng” thì mọi việc xảy ra ở đời này đều do kiếp trước truyền lại, nói khác đi là do tiền định. Con người vốn sinh ra và lẩn quẩn trong vòng tử sinh, sinh tử. Chết đi rồi lại đầu thai vào người khác hoặc sinh vật khác gọi là luân hồi (rebirth hay reincarnation). Nếu kiếp này sống ác đức, tội lỗi, thì khi chết có thề hoá thân ra con ruồi, con muỗi, con trâu, con bò…. để làm thân trâu ngựa, cho đến khi được giải nghiệp, mới chấm dứt kiếp luân hồi. Có lẽ vì hoá kiếp như vậy cho nên chúng ta không biết loài thú là hiện thân của những linh hồn tội lỗi nào đó. Như vậy trong sinh vật có linh hồn vì thế không được sát sinh.

Nói khác đi, những gì mình chịu đựng hôm nay là do hậu qủa của tiền kiếp (pre life), nghiệp báo. Ví dụ có người tin, sở dĩ chúng ta tha hương là vì nghiệp báo, ông bà chúng ta đã chiếm đất Chàm, đất Chân Lạp, giết hại biết bao dân lành nay bị nghiệp báo… Ca dao cũng có câu “Trời làm một chuyện lăng nhăng, ông hoá ra thằng, thằng hoá ra ông.” Câu ca dao nầy ứng nghiệm cho Nam Việt Nam sau 1975.

Nghiệp báo cũng là một loại định mệnh do kiếp trước ăn ở thất đức để lại. Do đó nhân sinh phải tím cách giải nhiệp.

Phần tích cực của thuyết Nghiệp báo là dù “Đã mang lấy nghiệp vào thân, cũng đừng trách lẫn trời gần trời xa” nhưng mà nếu có “thiện tâm”, tu tâm, tích đức, ăn hiền ở lành để tạo lập công đức có thể đạt đến trạng thái giải nghiệp (mosha). Nghĩa là thoát ra khỏi vòng luân hồi nghiệp chướng vào cõi vô vi, niết bàn… hay cõi Tây Phương cực lạc… Khi đó “Buổi sáng, sau khi thức giấc, có thể chu du qua ba ngàn đại thiên thế giới mà còn đủ thì giờ trở về ăn sáng.”

Phương pháp hay nhất là tu tiên, đến chốn cùng cốc thâm sơn để tu luyện, như Đức Phật đã bỏ gia đình, vợ con, cha mẹ đế nghiệp của tiểu quốc Ca Tì La Vệ để lên núi tu luyện theo như sấm truyền “Đức Phật sinh ra có 32 tướng tốt. Nểu làm vua thì được vị, nếu xuất gia tu hành thì sẻ thành Phật.”

Phật có nghĩa là người đắc đạo, thoát khỏi tục lụy xích xiềng của thế trần và nhất là thoát vòng nghiệp chướng (mosha) và hiện nay đã có hàng hà sa số chư vị Phật ngao du trên ba ngàn đại thiên thế giới.

Giải thích về sự hiện hữu của vũ trụ và con người, Phật học cho rằng vũ trụ và con người tự không mà có (The universe is from nothing). Bàn về thánh thần, Thượng Đế, Đức Phật bảo đồ đệ chuyện đời chưa hiểu được, làm sao có thể hiểu được chuyện thần thánh. Triết học ngày nay gọi những người có đồng tư tưởng là những người thuộc môn phái “Bất khả tri luận” (Agnosticism) khác với chủ trương vô thần (Atheism) của Epicure. Môn phái vô thần không tin có thần linh, duy vật, con người không có linh hồn, như bao nhiêu sinh vật khác, chết là hết !

Phật học chủ trương có thoát được nghiệp chướng hay không là do sức con người tự tạo lấy, “tự lực cánh sinh” (self help approach), không nhờ vaò thánh thần nào giúp sức vì không biết được có thần thánh hay không… Cũng do quan niệm thiếu tính cách thần linh mà Phật học không phát triển mạnh được ở Ấn Độ, vì Ấn Độ là thế giới của thần linh, mà phát triển qua các quốc gia khác.

Phật học thiên về tu thân, tích đức để thoát vòng nghiệp chướng, lo tu luyện cá nhân để mưu cầu phần rỗi mà không bận rộn về đời sống vật chất, xa lấn thất tình lục dục. Sỡ dĩ cuộc đời khổ cực là vì ham muốn và không thỏa mãn đ ược sự ham muốn, cho nên phương pháp hay nhứt là giệt sự ham muốn thì bớt khổ.

Đời là bể khổ vì luân hồi nghiệp chướng, muốn thoát bể khổ phải tu trì để được đắc đạo, thoát cảnh tái sinh. Người bình dân thường nói “Người hiền chết sớm, kẻ dữ sống lâu”, có lẽ hàm dưõng ý nghĩa chết sớm để thoát trần ai khổ lụy là có phước, kẻ dữ sống lâu để bị đọa đày, để đền tội. Vì nghiệp chướng quá nặng nề?

Phật học không đề cập đến Trời, Thượng Đế, nên ý niệm “Ý Trời” có phần thể hiện hậu quả của nghiệp chướng do tiền kiếp để lại. Có nghĩa là người bình dân, nếu gặp trở ngại, đời sống khó khăn, gặp nhiều cảnh tai ương có thể an ủi bằng câu “Tại vì nghiệp chướng của tôi như vậy”. Hoặc tại vì luật nhân quả, nghiệp báo, kiếp trước làm ác, báo hại khiến kiếp sau lãnh đủ.

Người theo Khổng học có thể giải thích “Ý Trời” là ý của Thượng Đế. Thượng Đế đã an bài mọi sự. “Chung cục thì chỉ cũng tại Trời.” (Nguyễn Du). Kinh Thi ghi “Thượng đế rất lớn soi xuống dưới rất rõ ràng, xem xét bốn phương, tìm sự khốn khó của dân mà cưú giúp- Hoàng Hỹ Thượng Đế, lâm hạ hữu hách, giám quan tứ phương, cầu dân chi mạc.” Điều gì dân chúng ước ao thì Trời cũng chiều theo. “Dân chi sở dục, Thiên tất tòng chi“. Cầu thì được, xin thì cho, gõ thì mở. Đã là người, ai cũng đều là con của Trời. “Phàm nhân giai, vân Thiên chi tử “. Người là tiểu vũ trụ trong đại vũ trụ của Trời Đất và cả hai là Một.“

Quan niệm của Nho Sĩ thường có tính cách tích cực hơn là tiêu cực. Con người phải cố gắng hết sức mình làm việc, nếu không đạt được thành công thì không còn tự trách mình mà an ủi bằng mệnh số, đó là do “Ý Trời” như Nguyễn Công Trứ trong lúc hàn vi thường tự an ủi: “Hữu kỳ đức, ắt Trời kia chẳng phụ.”

Người Công Giáo khi nói đến “Ý Trời” tức nói đến “Ý Chúa”. Nhiều người nhớ câu “Sợi tóc trên đầu rơi xuống cũng là do ý của Chúa”. Người Công Giáo tin rằng Thượng Đế là đấng tạo nên trời đất, muôn vật.

Ý Trời trong quan niệm của người Công giáo là kết quả công việc làm theo thánh ý Thượng Đế. Vi phạm luật lệ không phải là do ý trời. Tại sao? Tại vì Thượng đế sinh ra con người đã cho con người có lý trí để suy xét, và có tự do để hành động.

Vì vậy, tiêu diệt tự do cá nhân là trái với Thiên lý.

Không có có công mà được thưởng, không có tội mà bị tù đăy, cấm cố, là vô nhân đạo cho nên người Công giaó chống độc tài đảng trị là làm theo Thiên ý.

Giáo hội quan niệm những kẻ theo chủ thuyết độc tài CS thì không còn là giáo hữu chân chính. Khi bản Tuyên Ngôn Quốc Tế Cộng Sản ra đời năm 1848, Đức Giáo Hoàng Piô thứ IX, ( 1846-1878) đã tuyên bố ” That infamous doctrine of so called Communism which is absolutely contrary to the natural law itself, and if once accepted would utterly destroy the rights, property and possessions of all men and even society itself.” Cái học thuyết xấu xa gọi là chủ nghĩa Công sản hoàn toàn trái với luật tự nhiên, và môt khi được chấp nhận, nó sẽ tiêu giệt hết dân quyền, tài sản, quyền sở hữu của nhân loại và chính xã hội loài người.

Thế thì với lý trí để suy xét, tự do hành động, con người phải chịu trách nhiệm về hành vị của mình. Giả thử Chúa sinh ra mọi người bình thường có thân thể và trí tuệ giống nhau nhưng đời sống mỗi người lại khác nhau có phải đó là tại ý trời hay không?

Yes and No. Có và không. Có vì Ý Trời là ý mà Chúa an bài cho mỗi người, bất kể lương hay giáo một vị thể khác nhau trong xã hội để mỗi người một việc thi hành nhiệm vụ mà Trời đã giao phó vì tất cả nhân loại đều là con Trời.

Tuy nhiên, phải lưu ý là khi Trời giao phó sự việc cho mỗi cá nhân, dựa vào khả năng riêng biệt của mỗi người do sự cố gắng, tự tạo và cho con người tự do hành động. Hành động thành công hay thất bại là do cá nhân. Những cá nhân có thành tâm thiện chí thường là những người sáng suốt vì tâm hồn được bình an, tâm trí được thông minh rất dễ thành công.

Không phải là ý Trời, nếu ngược lại những cá nhân thích sống ích kỷ, hay ganh tị, không hiểu vai trò đã được giao phó, có thái độ thù hận ganh ghét thì tâm hồn bối rối, mất sự bình an, từ đó kém sáng suốt, vụng về và cá nhân phải chịu trách nhiệm về thái độ của mình.

Nếu chúng ta biếng nhác, không chịụ học hỏi, không chịu làm việc để lâm vào tình trạng đói khổ, thua sút mọi người, say sưa, phạm tội, trí tuệ lụn bại, thiếu sáng suốt, làm việc ngoài vòng cương tỏa, không làm việc hết mình, không theo thánh ý Thượng Đế, thì kết quả chúng ta phải gánh lấy, không phải là ý Trời.

Như thế, những gì con người thực hiện với thành tâm thiện ý tức là làm việc thiện theo thánh ý Chúa, kết qủa đạt được hoàn hảo hay không, không phải là quan trọng, điều quan trọng là chúng ta có cố gắng hay không? Có được ơn Chúa soi sáng, được sự bình an trong tâm hồn, có cảm được sự hữu dụng của đời sống?

Thánh Phao Lồ trước khi trở thành Kitô hữu đã tự ý giết hại Kitô hữu. Khi trở thành tông đồ của Chúa vẫn cảm thấy ân hận về những việc ông đã làm (1Tim 1: 2-15).

Thiên Chúa đã chọn Phao Lổ để nhắn nhủ nhân loại là kẻ có tội lỗi như Phao Lô cũng còn thánh hóa được. Trong thư gởi tín hữu Thành Corinto, Thánh Phao Lổ đã viết: “Tôi không xứng đáng được gọi là Tông Đồ của Chúa, nhưng nhờ ơn Phúc Ngài ban, tôi mới được như ngày hôm nay”. “I am… not worthy to be called an apostle… but by the grace of God, I am what I am (1Corinthians 15: 19-10).

Như vậy, tội lỗi của quá khứ không nhất thiết làm cản trở cuộc sống trong tương lai, miễn là có thành tâm hối cải sẽ được trở thành người hữu dụng. Ý niệm nầy đã được hội nhập vào môn triết pháp. Luật pháp Tây phương dựa trên nhân bản vừa ngăn ngừa tội phạm (determent) vừa gúp phạm nhân tái tạo (restoration) lại cuộc sống, cho phạm nhân “a second chance” dựa trên sự cố gắng cá nhân của mỗi người.

Luật pháp nhân bản không chủ trương ”thà giết lầm hơn bỏ sót hay trí, phú , địa hào, đào tận gốc, trốc tận rễ ”mà ngược lại chủ trương “ thà bỏ sót hơn giết lầm”, cho phạm nhân hưởng lợi nếu bằng chứng buộc tội chưa minh bạch (benefit of doubt).

Trời tạo nên con người và rất chính xác khi điều khiển vũ trụ, cũng như biết rõ người nào thích hợp để được giao phó trách nhiệm, sự xứng đáng đó dựa trên công việc, sức cố gắng của mỗi cá nhân.

Trời phán xét dựa trên công việc của mỗi người, chứ không phải dựa vào lời đàm tiếu của người khác. “God judges us by what we do, not by what others say”.

Về phương diện vũ trụ, sự chính xác của Thượng Đế thật mầu nhiệm, sự vận hành cua các tinh tú, mặt trời, mặt trăng, quả đất đều được sắp xếp vận hành trong qũy đạo một cách chính xác. Các nhân vật thông thái, các khoa học gia về vũ trụ là những người khâm phục sự mầu nhiệm của Hoá Công và nhờ vào sự chính xác của Hoá công mà họ đoán trúng những hiện tượng sắp xảy ra.

Họ là những người chịu tìm tòi học hỏi, cố gắng tìm hiểu sự vận hành của vũ trụ để đem kiến thức truyền lại cho hậu thế.

Thượng đế đã tạo nên mọi sự, mọi sự đã có sẵn, phần còn lại là bổn phận của con người phải tìm tòi học hỏi để hiểu biết ý định của Thiên Chúa. “Không biết mệnh Trời thì không phải là người quân tử – Bất tri Thiên mệnh, vô dĩ vi quân tử giã” (Luận Ngữ)

Ví dụ, trong năm 1993, các nhà thiên văn học đã biết được rằng ngày 3 tháng 11 năm 1994 sẽ có Nhật thực kéo dài 4 phút, 51 giây. Nhật thực (eclipse) sẽ được thấy toàn điện ở các qụốc gia Bolivia, Brazil, và biển Nam Đại Tây Dương.

Đó là hiện tượng về thiên văn, về sự vận hành của vũ trụ do Thiên Chúa tạo dựng. Sở dĩ các nhà Thiên-văn-học tiên liệu một cách đích xác mà không sợ sai là vì sự vận hành của vũ trụ do Thiên Chúa tạo dựng một cách chính xác. Đến giờ phút nào thì hiện tượng gì xảy ra, đó là “Ý Trời” trong sự vận hành trật tự chung của vũ trụ. (moral order of the universe).

Con người có nhiệm vụ tìm hiểu và đoán được Ý Trời, nếu không thì xem như chưa tu luyện đủ để đạt đến giai đoạn “Nhi tri Thiên Mệnh”.

Thịnh, suy thay đổi như bốn muà Xuân, Hạ Thu, Đông theo luật tuần hoàn của Tạo hóa. Chớ nản lòng, hết cơn bỉ cực sẽ tới hồi thái lai.

Sau khi nghe Thúy Kiều tâm sự “Giác Duyên nghe nói rụng rời” và cùng Tam Hợp Đạo Cô khuyên nhủ Kiều:

“Sư rằng “Phúc họa đạo Trời

Cỗi nguồn cũng ở lòng người mà ra

Có Trời mà cũng có ta

Tu là cõi phúc, tình là giây oan” (Nguyễn Du)

Ai dày công tu thân, tích đức, cố gắng học hỏi, làm việc sẽ hiểu được Thiên Ý, hiểu được sự vận hành của vũ trụ, hiểu đươc thế thái nhân tình, hiểu được phương cách làm việc, hiểu được đường hướng phải làm, được chương trình, kế hoạch phải thực hiện. Lòng Trời ở trong lòng mỗi người. “Nhất nhân chi tâm, tức Thiên địa chi tâm”

Thiên Chúa bảo chúng ta đừng bao giờ nãn lòng, (not lose your heart: Luke 18:1), phải cố gắng làm việc, học hỏi (obligation to study) và cầu nguyện (pray) để được ơn Thiên Chúa, được sự bình an trong tâm hồn, để được soi sáng, thì dù kết quả có thế nào chăng nữa vẫn thể hiện thiện ý, vì:

“Thiện căn ở tại lòng ta

Chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài

Có tài mà cậy chi tài

Chữ tài nằm với chữ tai một vần.”

Có tài chế ra nguyên tử để làm điều thiện như làm máy phát điện, dụng cụ chữa bệnh…. là hợp “Ý’Tròi”. Nhưng dùng tài để chế vũ khí sát thương, bom nguyên tử sát hại nhân loại tức là phản “Ý Trời” là gây tai họa thì Thiên bất dung gian.

Có khoa học mà vô lương tâm sẽ gây bại hoại cho tâm hồn “Science sans conscience n’est que ruine de l’âme”.

Sau mùa Đông giá rét, nhân dịp Xuân về, muôn hoa đua sắc thắm thể hiện Ý Trời. Chúng ta hãy làm việc hữu ích cho nhân quần xã hội, với thiện tâm, trong tình yêu nhân hậu, giữ tình đồng hương, nghĩa đồng bào.

Các học thuyết của Nho, Thích, Lão và Thần học không đối nghịch mà dung hợp thể hiện sự viên mãn ( fulfilment) về nhân sinh quan và vũ trụ quan của nhân loại từ Đông sang Tây, từ Nam chí Bắc trong tiến trình “Tri Thiên Mệnh”.

Đức Giáo Hoàng Gioan Phao Lồ II, vào đầu tháng 11 năm 1999, đã công bố Tông Thư: Giáo Hội tại Á Châu:

“Giáo hội Công giáo tỏ lòng cung kính và ngưởng mộ tất cả truyền thống tinh thần của các Tôn Giáo Á Châu “thể hiện tinh thần tôn trọng liên tôn, hoà nhi bất đồng.

Luôn giữ tâm thường an lạc, dù vật đổi sao dời, chúng ta vẫn yên tâm sống đức hạnh “phú qúy bất năng dâm, bần tiện bất năng di, uy vũ bất năng khuất” có chí thì nên, măc dù:

“Cõi trần thế cuộc chiêm bao

Công hầu khanh tướng xôn xao trong vòng

Tranh nhau chỉ vì hơi đồng

Giết nhau vì miếng đỉnh chung ở đời”

Lạc quan, tin tưởng, quyết chí tu thân và hành động chính trực là nhiệm vụ chung của chúng ta thì thân sẽ không tật bệnh, tâm sẽ không phiền não, kết quả thế nào chăng nữa thì cũng có thể yên tâm vì chúng ta đã làm việc hết mình, phần còn lại là do “Ý Trời” vậy.

“Gẫm thay muôn sự tại Trời.

Trời kia đã bắt làm người có thân.

Bắt phong trần phải phong trần

Cho thanh cao mới được phần thanh cao” (Nguyễn Du)

Luôn luôn lấy hy vọng làm nguồn sống

“Trời đâu riêng khó cho ta mãi

Vinh nhục dù ai cũng một lần.”

Trần Xuân Thời .

(theo TQH)

HOLY WEEK

chua so loce the aorld

It’s a HOLY WEEK

Let’s give GOD a few minutes of our busy time to THANK HIM for all the LOVE, BLESSINGS, GRACES and PROTECTIONs He has given us ev’ryday in our tempestuous lives.

May He walk with each one of us on our life journey.
May He cleanse our troubled and broken hearts.
And restore in our souls true peace, true hope and true joy.

Kiếp người ngắn ngủi chìm trong bể khổ trầm luân,    Hãy giác ngộ !

”Vạn sự vô thường, hưng vượng suy vi, hợp tan ly biệt, kiếp người mơ hồ vẫn trầm luân bể khổ, chỉ có giác ngộ trong tu luyện, mới vĩnh viễn thoát khổ trần gian.”
tu luyện, kiếp người, bể khổ,Vị Bà La Môn nghe xong lời dạy của Đức Phật đã vô cùng cảm tạ, gạt bỏ tư tâm chuyên tâm 
tu luyện, về sau đắc quả vị La Hán. 
Kiếp người ngắn ngủi chìm trong bể khổ trầm luân, hãy giác ngộ !
Đức Phật Thích Ca Mâu Ni sống ở một thôn nọ gần gia đình một vị Bà La Môn. Người này sinh được cô con gái không chỉ xinh đẹp mà còn thông minh hoạt bát, ít người sánh kịp. Tuy nhiên khi đến độ 14, 15 tuổi, con gái vị này bỗng dưng bị trọng bệnh, không thể chữa trị khỏi và cuối cùng đã qua đời.
Cha mẹ vốn hết mực yêu thương cô con gái độc nhất này, bởi vậy mà họ vô cùng đau khổ. Ngày nào họ cũng khóc than thương con gái, đau đớn quá đến nỗi tưởng chừng phát điên.alt
Một hôm tình cờ đôi vợ chồng đau khổ này đến chỗ Phật Đà đang ở, vừa nhìn thấy Đức Phật, tinh thần họ bỗng chốc tỉnh táo hẳn, vội hướng Phật hành lễ.
Tiếp đó người cha buồn rầu tâm sự: 
“Tôi không có con trai, chỉ sinh được mụn con gái, thương yêu nó như châu, như ngọc. Con gái là niềm vui vô tận của cha mẹ. Vậy mà bỗng lâm trọng bệnh, chết trước mặt tôi, kêu không tỉnh, gọi không đáp. Tôi gào Trời chẳng ứng, kêu Đất chẳng linh, trong tim buồn khổ không sao tả nổi, mong Phật Đà giúp tôi thoát khỏi nỗi khổ này”.
Giọng vị Bà La Môn nghẹn ngào, vừa nói vừa khóc nấc lên, khiến ai ai xung quanh cũng đều mủi lòng thương xót.
Phật Đà bèn nói với người cha đang đau khổ này rằng:
Thế gian có 4 thứ không thể tồn tại vĩnh viễn:
Thứ nhất: Vạn sự đều vô thườngalt
Tức là, tất cả sự vật đều không thể tồn tại vĩnh hằng, bất biến, nguyên vẹn hình dạng ban đầu. Vạn sự vạn vật từng giờ, từng khắc đều đang biến đổi, bản chất cũng từ từ thay đổi, cuối cùng sẽ tiêu tan. Ví dụ như thân thể của chúng ta, từng giờ từng khắc đang thay đổi, trải qua sinh, lão, bệnh, tử, cuối cùng cũng tiêu tan trong thế gian này. Đất đai, sông, núi, địa cầu, vũ trụ, từng giờ, từng khắc đang trải qua quá trình thành, trụ, hoại, không; sinh, trụ, dị, diệt.
Thứ hai: Phú quý mấy cũng không thể trường tồn
Có nghĩa là một người giàu sang phú quý thế nào, rốt cục rồi cũng suy kiệt. Tục ngữ có câu: ‘Không ai giàu ba họ’ là vậy. Hi hữu lắm là khi đời đời hành thiện, tích đức mới có thể duy trì được vinh hoa, phú quý của tử, tôn. Nhưng những kẻ phàm phu nơi trần thế là con người đều không buông tâm tham lam, keo kiệt, không chịu bố thí, phú quý sẽ không thể trường tồn.
Thứ ba: Có hợp tất có tan
Lục thân, gia quyến ở cùng nhau, hoặc bạn bè thân thích thường qua lại, nhưng chắc chắn đến một ngày sẽ phải li tán. Cái đó gọi là ‘không có nhà không tan, chẳng có nước bất bạ’”. Vào thời đại càng về sau, con cái trưởng thành thường bỏ quê hương đi mưu sinh xứ người, bỏ song thân tại điền viên cố hương. Cho dù có được sống cùng nhau, cuối cùng cũng sinh ly, tử biệt.
Thứ tư: Người khỏe mạnh rồi cũng chết
Cho dù có trẻ thế nào, thân thể cường tráng, cuối cùng cũng đến lúc phải chết, dù có thọ đến mấy, chung quy cũng phải chết. Bất cứ là ai, khi được sinh ra đều bị phán án tử hình vô thời hạn! Cái chết luôn rình rập ở mỗi người. Cho nên người đang sống phải sớm giải quyết xong đại sự sau khi chết, để sống cũng an mà chết cũng an, đó gọi là ‘Sớm nghe đạo, chiều chết cũng cam vậy!’”.
tu luyện, kiếp người, bể khổ,
Chỉ có gạt bỏ tư tâm hướng Phật mới mong thoát khỏi bể khổ trầm luân này!
Rồi Phật Đà ngâm nga 4 câu sau:
Vạn sự đều sẽ kết thúc
Cao mấy rồi cũng phải hạ
Có hợp tất có li
Có sinh tất có tử
Vị Bà la môn đó sau nghi nghe xong lời Phật dạy xong, tâm lập tức được giác ngộ, cung kính vái lạy cảm tạ. Về sau người này gạt bỏ mọi tư tâm, nỗ lực tuy luyện khi trở thành Tỳ Kheo, cuối cùng đắc quả vị La Hán.
Câu chuyện trên đây rất ý nghĩa đối với những gì mà con người như chúng ta coi là “khổ”.
Con người khổ vì không ngộ được rằng,trên thế gian không có gì là tồn tại vĩnh viễn
không có gì bất biến .Vạn vật đều đổi thay , sinh-ly-tử-biệt  là lẽ thường tình,có đau khổ đến mấy cũng chẳng thay đổi được gì mà còn làm hại bản thân. 
Làm người muốn thoát bể khổ trầm luân đó, con đường duy nhất chỉ là hướng Phật mà tu luyện, đắc quả vị, đạt đến tầng khai công khai ngộ và từ bi.

LỊCH SỬ BÀI THÁNH CA “SILENT NIGHT – ĐÊM THÁNH VÔ CÙNG”

Thư viện của bài

This gallery contains 8 photos.

BẠN CÓ BIẾT LỊCH SỬ BÀI THÁNH CA BẤT HỦ CỦA NHẠN LOẠI “SILENT NIGHT – ĐÊM THÁNH VÔ CÙNG”? VietPress USA (23-12-2016): Mỗi lần đến Lễ Giáng Sinh, khắp thế giới đều say mê thưởng thức ca khúc bất hũ của … Tiếp tục đọc

Lau khô những giọt lệ

Thư viện của bài

This gallery contains 1 photo.

Bài giảng của Đức Thánh Cha Phanxicô trong buổi Canh Thức ”  Lau khô những giọt lệ  ” J.B.  Đặng Minh An  dịch  5/5/2016                                            Lau khô những giọt lệ   Lúc 19:30 chiều thứ Năm 5 tháng Năm, … Tiếp tục đọc