NỢ NHAU KIẾP NÀO

Featured

Ca Khúc
NỢ NHAU KIẾP NÀO
Nhạc & Lời Khê Kinh Kha
Ca Sỹ Bảo Châu Trình Bày

 

Nợ Nhau Kiếp Nào

DPDP12Sao chưa gặp nhau mà lòng đã nhớ nhau
Sao chưa gặp nhau mà thao thức đêm thâu
Mà thương nhớ từ lâu
Hay ta nợ nhau từ kiếp nào
Sao chưa gần nhau, mà mơ ước dài lâu
Sao chưa gần nhau mà hơi ấm quyện vào nhau
Mà mộng đã ngọt ngào
Người ơi,
Tình ta như đã từ ngàn xưa kiếp nào
Sao chưa kề vai mà đời đã bên nhau
Sao chưa kề vai mà nồng ấm con tim
Mà dịu mến tình duyên
Hay ta đã nợ nhau tiền kiếp nào
Sao chưa kề môi mà tình đã nồng say
Sao chưa kề môi mà tình đã quen hơi
Mà tình đã ngàn khơi
Người ơi,
Tình như đã thề non hẹn nước
Sao người còn xa tôi
Sao tình còn đơn côi
Sao lòng đầy mưa rơi
Sao chưa chung lối nào đời đã chung đôi
Sao chưa chung gối nào tình đã bện hơi
Mà hương nồng đầy trong mộng
Người ơi
Xin hãy ở lại giữa tình tôi
Giữa đời tôi
Trọn kiếp này
Mình có đôi

khê kinh kha

một ngày nhớ em

khê Kinh Kha

1000

sáng thức dậy
nhìn quanh
không em
lòng buồn thiu
ly café nguội tanh
trống trơn bao nỗi niềm
tôi nhớ em
nhớ em

trưa ngủ gật trên ghế
ngoài trời mưa bay nhẹ
bước chân ai khe khẽ
giật mình, giấc mơ qua
tôi nhớ em
nhớ em

chiều về căn nhà, vắng
nhìn chén bát đầy bàn
bửa cơm tối vô duyên
tàn thuốc lá đầy sàn
tôi nhớ em
nhớ em

đêm lủi thủi, lạnh
những giọt sương trên vai
chai hennessy trống trơn
thèm hơi em nồng ấm
tôi nhớ em
nhớ em

khuya úp mặt, khóc
nhớ bàn tay em ngoan
thèm bờ môi cong, mềm
gió thở dài qua cửa
lạnh buốt hồn cô liêu
gọi thầm tên em, cho đỡ nhớ
dáng ngọc – iễu gầy
tôi nhớ em
nhớ em

khê Kinh Kha

ĐÊM CUỒNG SAY…

324

Em nhé, một lần quậy cùng ta
Một đêm giả khướt lướt Ngân Hà
Một đêm vịn cớ vì ta đã
Mà hứng đêm cuồng say với ta?

Ừ, giả lần thôi, đâu chết a
Người ta thiên hạ vẫn thế mà
Thì bởi ả Hằng lả lơi quá
Mà dáng ai kia cứ nõn nà…

Thôi, ngả vào ta, cuộn vào ta
Để đêm thánh thót rót trăng ngà
Để làn gió thoảng loang hương lạ
Để trộn vào ta, nghiến nát ta.
*.
Hà Nội, 2G45 ngày 01-07-2020
ĐẶNG XUÂN XUYẾN

TỰ TÌNH

Nhật Quang

aodai54-r

Nón em che dáng lụa
Gió rối vạt tóc mây
Ta bâng khuâng từ thuở
Hương nắng thơm vai gầy

Em hong mùa ân ái
Phơi hồng dấu môi ngoan
Mắt xanh thời con gái
Gợi dấu yêu nồng nàn…

Ta gởi hồn lãng đãng
Phím loan buồn mênh mang
Giọt Guitar trầm lắng
Nhỏ nỗi đau muộn màng

Thu gieo lời thổn thức
Heo may chạm giấc mơ…
Em như đời hư, thực
Ta phiêu lãng dại khờ

Hồn rong rêu đá mục
Đếm vời tháng năm trôi
Đời rớt ngang đáy vực
Nghe hồn chợt chơi vơi.

CÁO TRẠNG

VÕ CÔNG LIÊM

image001

TRANH VẼ VÕ CÔNG LIÊM : ‘Biến dạng / Metamorphosis’

tôi qui tội tôi
giết người không gươm dao
bằng chữ nghĩa âm hồn vọng
tôi gông cùm tôi
trên răng dưới dế một thời
ăn chay nằm đất suốt đời đi hoang
tôi phỉ báng tôi
đầu trâu mặt ngựa giả dạng làm người
hiếp dâm con kiến con trùn con tôm con cua
tôi kêu trời tôi
sanh phải nhằm thời :
vô ra thằng cha khi nãy mặt dày mày dạng
toàn phường giá áo túi cơm cửa khổng sân trình
học hành dăm ba chữ dạy đời lố nhố lăng nhăng
có khi làm thi sĩ có khi làm văn sĩ có khi làm con khỉ
múa gươm trong bị cô gái đồ long chữ nghĩa mênh mông
đứng đường gáy vu vơ đại học quân trường không kể xiết
tôi gọi tên tôi cho đở nhớ sàigòn đêm rít tiếng kèn đồng
mắm ruốt quê hương là người đó sáng dưa trưa muối túi cà
xin làm người khất thực niệm chữ nam mô sanh quán bát nhã
ba la mật a di đà bỏ xứ ra đì chết vô gia cư vô điạ táng trên cõi đời
toàn là thứ mặt trắng như vôi một thời phất cờ theo gió trốn lính
trốn dịch bỏ giáo vô chùa mặc áo cà sa hùm bà lằn bầu cua cá cọp
ôi ! miệng lưỡi thế gian không xương nhiều đường lắc léo
ca bài con cá khâu vá tứ tung cổ lỗ sĩ một đời sợ lãng quên
lịch sử không có chứng từ thế vì khai sanh đổi tên đổi họ chưởi bới
toe tua chết dọc bờ dọc bụi hoá thân cô hồn các đảng ăn trộm chữ
khoe tài khoe tướng múa gậy tầm vông in sách từng đống để thờ
xấu hay làm tốt dốt hay nói chữ ông chả ra ông thằng chả ra thằng
vượt biển vượt biên đường dài vạn dậm kê khai lý lịch thường trú
làm người hát rong trong thành phố một thời chịu đắng nuốt cay
xin nhận nơi đây làm quê hương với người tình không chân dung
thế rồi một buổi chiều vàng ngồi buồn gải háng dái lăn tăn
ngẫm sự đời mà thương con mụ kiếm* cái cò lặn lội bờ sông
học văn học võ bỏ hoang . ba sinh hương lửa một đời oái ăm
sáng tạo các anh hãy còn sáng tạo** phê bình phê phán rập khuôn
nồi nào úp vung nấy chẳng gì là mới với tư duy . thưa mông xừ !
kệ . mua vui cũng được một vài trống canh*** cho xong sự đời ?

tôi . trễ tràng một chuyến tốc hành đi về phương đông
giữa mùa giá tuyết buổi hoàng hôn trên ga vắng người ./.

VÕ CÔNG LIÊM (ca.ab.yyc. cuối 6/2020)

* ‘mụ kiếm’ chữ thơ của Tú Xương.
** ‘sáng tạo các anh hãy còn sáng tạo’ thơ Quách Thoại.
*** ‘mua vui cũng được một vài trống canh’ thơ Nguyễn Du.

ĐỘC ẨM / SẦU QUÊ / CÔ ĐƠN

Nguyên Lạc

 

ruou va em

Trang Nguyen Trong Khoi

ĐỘC ẨM
.
Dallas tìm đâu người tri kỷ?
Để ngất cùng ta khúc Hồ Trường
Nhìn quanh nhìn quất cao ốc Mỹ
Rượu uống mình ên có đau không?
.

SẦU QUÊ
.
“Nhật mộ hương quan hà xứ thị
Yên ba giang thượng sử nhân sầu” [*]
.
Chiều xuống vời quê nơi nao hở?
Đèn Cali xanh đỏ phát rầu
Trên sông khói sóng nơi đâu tỏa?
Ở đây cao ốc dựng bóng sầu
.
Tri kỷ nhìn quanh … một tiếng thở!
Rượu uống mình ên có sao đâu?
………………
[*] Trời về chiều muộn, tự hỏi quê nhà nơi đâu?/ Trên sông khói toả, sóng gợn, khiến người sinh buồn! – Hoàng Hạc Lâu – Thôi Hiệu
CÔ ĐƠN

mua rungLất phất chiều mưa bay phố núi
Mắt vời xa. Ly cà-phê đắng… Ta chờ!
Chờ ai? Em? Người từ tiền kiếp?
Đến rồi đi! Tan rồi hợp? Huyễn mơ
.
Người đến nhé. ta vẫn chờ em đó!
Phố chiều nay mưa sợi nhỏ … rất buồn
Khói thuốc mờ. mắt đợi. mong manh
Người sẽ đến! Có. không? Mộng. thực?
.
Đừng vội vã nếu là có thật
Ta vẫn chờ
chờ mãi… đến lai sinh
Sẽ hạnh ngộ?
Nào ai biết được
Chỉ một điều… ta. vẫn mãi chờ em!
.
Lất phất chiều nay mưa phố núi
Khói thuốc cay. Ly cà-phê đắng… Ta chờ!
Chờ ai? Đợi chờ ai đây hở?
Chỉ một điều rất rõ … cô đơn!
.
Nguyên Lạc

 

Nếu một mai khi Tự Do đến

Khê Kinh Kha

peace-symbol

nếu một mai khi Tự Do đến trên quê hương
em nhớ về thăm giòng sông cũ
soi dùm anh bóng trăng sáng quê nhà
nhặt dùm anh cánh bèo non trôi dạt
hát cho anh khúc hát ngày được mùa

nếu một mai khi Tự Do đến với non sông mình
em nhớ về thăm quê làng của ngoại
em nhớ trồng lại cây bưởi nhe em
vì nơi đó anh đã bao lần trèo hái
hái cho em bông bưởi trắng như tình mình

và em nhớ về tìm lại tuổi thơ
chắc em sẽ khóc vì tuổi thơ đã qúa héo khô
ngôi mộ mẹ cha giờ chắc cũng tìm không ra
em đừng tủi đừng hờn em nhé
vì sự thật quê hương đã có qúa nhiều tan nát
qúa nhiều bạo tàn và tù ngục em ơi
và em hỡi đã bao người đã rơi lệ vì giặc Tàu xâm chiếm
và anh vẫn từng đêm nuốt lệ
lệ cho quê hương, lệ cho dân tộc
lệ cho người đã khuất và người còn lại
lệ cho trẻ mồ côi, cho mẹ gìa đơn lẻ
lệ cho non sông, cho tổ quốc Việt Nam

nếu một mai khi Tự Do về lại trên non sông
em nhớ về thăm quê nghèo em nhé
em hãy đốt cho anh vài nén nhang
bên ngôi mộ những người chiến sĩ VNCH xưa
bên ngôi mộ những người trẻ yêu nước hôm nay
và biết đâu trong trăm ngàn ngôi mộ đó
em sẽ thấy một ngôi mộ với cây bưởi vừa mọc
đó là mộ của anh em ạ
và đó là quà anh dành tặng riêng em
vì xác thân anh đã kiêu hùng tặng cho non nước
và máu anh đã tặng cho giòng sông

nếu một mai khi TỰ DO thật sự đến trên đất nước VIỆT NAM mình
hát cho anh bài tình ca non nước thanh bình
và bài tình ca lãng mạn anh đã soạn cho em
trong những ngày tháng mình yêu nhau
yêu nhau như sỏi đá trăm năm
và dạy cho con mình lịch sử oai hùng của dân ta
một Trưng Vương, một Triệu Ẩu
một Quang Trung, một Đinh Bộ Lĩnh
một Trần Hưng Đạo
và một Hồ Xuân Hương
một Bà Huyện Thanh Quan
một Nguyễn Du

nếu một mai khi Tự Do đến trên non sông Việt Nam mình
em hãy hít thật mạnh dùm anh những luồng không khí thanh bình
những luồng không khí tự do và đầy nhân quyền bình đẳng
và em nhớ mỉm cười bắt đầu làm duyên trở lại em nhé
để trong gió thoảng anh hân hoan hôn mái tóc đã bạc của em
anh sẽ mãi mãi bên em
trên quê hương VIỆT NAM mình
em ơi

Khê Kinh Kha
(Michigan 1969)

LỤC BÁT RU

ao dai hoa

Anh ru sợi tóc em dài
Làm duyên con gái miệng hoài dạ thưa

Anh ru giọt nắng đong đưa
Về giăng cánh mộng như xưa chốn này

Anh ru nỗi nhớ trong tay
Thả lên trời hóa mây bay trắng lòng

Anh ru đời với ước mong
Sẽ yêu thương mãi ở trong kiếp người

Anh ru, ru mãi, ru hời…
Tình yêu thêm đẹp những lời cho nhau.

Tịnh Đàm
(Sài Gòn)

CHIỀU LẠ NGÂU VỀ ĐÊM VỠ…

Đặng Xuân Xuyến

biển chiều VTV
CHIỀU LẠ
– Tặng L L –

Sợ đêm về quẩn gió xáo xác khuya
Cố vét vớt nắng chiều rơi trên lá
Chênh chao thể nụ cười nhòe áo lạ
Te tẻ chiều nhớn nhác nhón chân qua.
*.
Hà Nội, chiều 02 tháng 10.2016

NGÂU VỀ

Chiều nay thấy se se lạnh
Hình như gió lại chuyển mùa
Ngâu về loãng chiều nên lạnh
Người tình tối có ghé qua…
*.
Hà Nội, chiều 30.08.2017\

ĐÊM VỠ
– Tặng V yêu –

Đêm vấp em
Rỏn rẻn cười
Em cắn đêm vỡ
Mi huyền ngân ngấn hạt ngọc vương.
.*
Hà Nội, đêm 01 tháng 07.2018

ĐUỐI

Em khẽ cúi. Giọt buồn vương khóe mắt
Đốt lòng anh heo hút ánh em nhìn
Nghèn nghẹn đắng niềm đau anh chôn chặt
Nửa đời tàn. Đuối sức một niềm tin.
*
Hà Nội, 10 tháng 04.2018

CHIỀU
– Thân tặng nhà văn Lê Mai –

Bóng nắng xiên xiên
Đổ chiều vời vợi
Gió hiu hắt gió
Buồn lay lắt buồn.
*.
Hà Nội, 12 tháng 05.2017

MỘT TÔI
– Tặng cháu Đặng Hải –

Một chai. Một chén. Một tôi thôi
Một đêm gió quẩn chỗ tôi ngồi
Một bàn tay lạnh quờ vai lạnh
Một tiếng thở dài tôi với tôi!
*
Hà Nội, ngày 22 tháng 11-2017

ĐÒ CHIỀU

Chiều ghé qua bến cũ
Kìa, lầm lũi dáng ai
Tiếng gọi dồn, khắc khoải
Ơi đò … Ơi… Ơi đò…!
*
Hà Nội, 30 tháng 01.2018

CHƠI ĐÊM

Tự dưng lại muốn đi chơi phố
Nhặt tiếng ai cười khua vỡ đêm
Ờ nhỉ… lâu rồi quên chơi phố
Ai người năm đó có chơi đêm?
*.
Hà Nội, đêm 21 tháng 07.2019

BUÔNG
– Với N T N –

Chai rượu mừng tôi rót
Chén rượu buồn em bưng
Nào thì ta cùng cụng
Chuyện đời, thôi nhé, buông.
*.
Hà Nội, chiều 03 tháng 08.2018

CHÚT YÊU …

Có chút Thu về trong nắng say
Có mùi Sen dịu thoảng nhẹ bay
Có người trai ấy chiều hôm đấy
Vun một miền yêu nhẹ dâng đầy.
*.
Hà Nội, ngày 20.08.2018
ĐẶNG XUÂN XUYẾN

CƠN MƠ VÀO ĐÔNG – ĐÔI MẮT SAU GỌNG KÍNH

Châu Thạch

hn2

CƠN MƠ VÀO ĐÔNG
Tuổi vào đông mộng xuân vẫn còn thắm
Trong chiêm bao ta thấy dáng em đi
Quả tim ta tha thiết khối tình si
Yêu như thể cả tinh cầu trăng gió!

Rôi em tan trong vườn sương hoa cỏ
Ta lang thang qua năm tháng hao gầy
Nhớ như thu, vàng lá úa trên cây
Đau như thể cả vành trăng khuyết tật

Em mang cả linh hồn ta biến mất
Xác thân ta rơi xuống cõi dại khờ
Ta đi hoài đi mãi giữa vu vơ
Tìm và gọi đến thơ thành thổ huyết

Đêm bỗng động như ai bung nắp huyệt
Ta tỉnh người, nghe thoảng ngát hương em
Em nguyên hình gần lắm, cạnh một bên
Ta vẫn thấy còn trong lòng hờn giận!
Châu Thạch

ĐÔI MẮT SAU GỌNG KÍNH
Đôi mắt ấy nhìn đời hai thế kỷ
Thấy tình yêu và thấy cả hận thù
Thấy mặt trời và thấy cả âm u
Thấy rằm sáng và thấy đêm trừ tịch

Đôi mắt ấy như trang ghi cổ tích
Vết thời gian hai bờ giấy xôn xao
Thuyền linh hồn trôi giữa giấc chiêm bao
Dòng ký ức có vô vàn biến động

Sau gọng kính màu đen ta mơ mộng
Mắt vẫn ngời trong buổi tuổi vào đông
Ta vẫn thấy em từ thuở xuân hồng
Ta vẫn trẻ như một thời si dại

Lột gọng kính cầm tay ta sợ hãi
Đời vắng tênh, hiu hắt giữa thời gian
Gió ban trưa thổi nóng xuống đại ngàn
Các em tắm, cười vang hồ tĩnh lặng

Ta rơi xuống một khung đời trống vắng
Thấy hư vô tay trắng, ngắm hồ trong
Có cái gì như băng tuyết trong lòng
Ta chán ngán bờ bên nầy sự sống

Ta ao ước bờ bên kia sống động
Đèn Ngôi Lời chiếu sự sáng thiên thu
Đời văn chương không gợn chút mây mù
Ta bỗng gọi, Chúa ơi con đã hiểu!!!
Châu Thạch

SÂN GA ĐỢI NGƯỜI

chim sunset

.
Mình tôi chiều giữa sân ga
Đợi người. tôi đợi
Nhưng mà đợi ai?
Tàu qua vụt. tiếng thở dài
Cô đơn ghế lạnh. chiều phai. nắng tàn
.
Nghe hồn buốt lạnh sương tan
Mắt tìm nỗi nhớ…
Chỉ bàng hoàng đêm
Mắt đêm đèn khóc ga thềm
Về thôi! Chờ đợi chi thêm? Bóng sầu
.
Con tàu xưa ấy về đâu?
Bóng hình ngày cũ “trắng màu mây bay”
.
Ga đêm một bóng đổ dài
Đợi. Tôi vẫn đợi
Nhưng rồi đợi ai?
.
Nguyên Lạc\

CỤM HOA TRƯỚC GIÓ

VÕ CÔNG LIÊM

caysung4

NGỦ ĐÒ

sáng mồng một thả trôi con nước một mình
bóng hình em dài tay như chó ốm buồn
trăng chao động hồn ai khua thức dậy
em lột trần em cho gió bỏ hoang sơ

ĐOẠN CUỐI

tình yêu tắt thở hồi chiến sự
một nhánh đào non phơi trước ngõ
ngoảnh đầu về xưa ta cùng nhớ
hai đứa mình rất đổi ngạc nhiên

HƯƠNG THÀNH NỘI

em . nằm úp mặt khóc chiều giông tới
tôi . đút cô đơn vô bốn cửa thành

NGUYỆT

quỳnh nở hoang đêm tóc rối ngủ
bỏ lại đường xưa bóng ngã chiều

HOA PHÙ DUNG

thả cụm khói thỏa mãn
vào hư vô
ngắt cành hoa thù tạc
một mình tôi
nằm đơn chiếc ru buồn ngủ
một thoáng mơ hồ lạc ngả đường mưa

THƯ GỞI NGƯỜI TÌNH CŨ
tặng chị mộng nhiên

năm mười lăm trưởng thành trước tuổi để
tặng em chùm hoa dại trong nắng ban trưa
những gì xẫy ra sau đó em tròn hai mươi tuổi
cách năm tuổi đời bỗng nhớ buổi tròn trăng . em
ngả nghiêng cười đột ngột tắm nắng tháng hè sang
tôi . ăn trái cấm nguyên thủy đầu đời giọng nói u ơ
bỗng nhớ một cái gì chưa đạt yêu cầu để gọi tên em
hương-nguyệt-quế lần gặp gỡ cho đở khát giữa lúc
em gọi tên tôi con thú hoang suốt đời lang thang vô
thừa nhận giờ thứ hai lăm giới nghiêm cấm ngặt
tôi vẫn không tìm thấy em trong đó trước gương
soi đôi lưỡng quyền cao vời vợi nơi mặt trời ngã
xuống dòng sông trải dài tiếng chuông chiều gọi đò
qua bên kia mà tôi đang ngóng đợi một nụ cười
giao tình như lần gặp gở . lúc đó tôi muốn nhào tới
ôm vào ngực em để nghe thở từng khúc thêm kỉ niệm
và đọc lại những bức thư tình đến người thi sĩ trẻ của
rainer maria rilker như tôi gởi cho em bao nhiêu lần
gặp trên đường về từ sở thông tin thừa thiên huế
tôi đuổi mắt nhìn sau lưng em với đôi mông tròn no
hình như trong gió có tiếng nói thì thầm trên chiếc cầu gãy
làm cho đôi bờ sông nghẽn đục tiếng hò lơ mời gọi
tôi và em làm tình mưởng tượng trên sóng nước và hôn
lên má thắm giai nhân tợ như còn sót lại bên cầu vĩ tuyến
chúng mình là kẻ vong nô tình yêu không thể đổi thay mà
chấp nhận thương đau để đi vào đời thênh thang lộng gió
thổi ngang đầu và tóc em vuốt mặt tôi lần cuối cho tới
bây giờ chúng mình là cây san hô muôn màu dưới đáy biển
bây giờ chúng mình là rong rêu đu đưa những khúc tình
bây giờ chúng mình là tiếng sóng dương cầm theo sau đó
mãi mãi là tình yêu trăng sao như đã hứa ngày đầu mới gặp
em trên đường về . tôi chống nạnh bên chiếc xe đạp sơn màu
vàng thổ là quê hương mình đó có sắn ngô khoai thay gạo
đỏ nấu cháo với cá kho khô . nhớ không em . khi đã yêu
khó tìm thấy một mộng nhiên của thuở ban đầu trên đường
vào xóm ô lâu như chuyện thần thoại để nghe từng bước chân
âm thầm trên thềm gạch bát tràng in dấu hoang sơ một dạo
tôi hóa thân con thú dữ cắn xé mắt môi em
cho lệch đường ngôi . cuối cùng xin chiếc lá bàng làm
bằng chứng yêu em* (nhà em có nhiều cây bàng lá đỏ !)

trước khi treo mình trên ngọn cao
gió tạt mưa xan một kiếp giang hồ tận ./.

VÕ CÔNG LIÊM (ca.ab.yyc đầu tháng 6/2020)

*nhại ý thơ Nguyễn Đình Toàn.

 

ĐẤT NƯỚC TÔI YÊU

PHẠM NGỌC THÁI

vn map

Ta nằm xuống thảm cỏ quê hương
Hát một bài ca về Đất Mẹ
Sông, núi, bầu trời qua bao thế hệ
Vẫn ngọt ngào như câu ca dao

Mẹ đã nuôi ta trong mưa nắng dãi dầu
Ta lớn lên thành người con đất nước
Dân tộc tôi gặp nạn nhiều và cũng nhiều tủi cực
Nhưng rất giàu yêu thương bao la

Việt Nam ơi!
Ta gọi tên hai tiếng của ông cha
Qua 4.000 năm dân vẫn còn nghèo đói
Hết giặc ngoại xâm. Lại lũ quan tham giày xới…
Đánh thắng bao quân thù mà mãi chửa “tròn Nhân”.

Ôi, đất nước ta yêu quí vô ngần
Thế kỉ XXI rồi, người ơi!
Chẳng lẽ cứ câu ca dao “ngày tám tháng ba” hát mãi
Hãy mở thật rộng cửa trời Mỹ, trời Âu
Vừa lấy thế chống giặc phương bắc tràn vào
Vừa mở mang kinh tế…
Cụ Phan Châu Trinh đã dậy rồi:
“dân trị tức pháp trị”
Không có gì bằng “khai dân trí”!

Ôi, đất nước tôi yêu!
Ta sống làm người của non sông. Chết làm ma đất nước.
Dẫu chưa theo được bước chân cường quốc
Hãy thương lấy ngọn cỏ quê hương
Đói khát, khổ nghèo lòng nguyện thủy chung
Không theo gót Tàu Bang hại giống nòi, dân tộc
Để con cháu muôn đời không ô nhục.

 

CHIỀU QUÊ TÍM ĐỢI CHUYỂN MÙA…

Đặng Xuân Xuyến

rain summer

CHIỀU QUÊ …

Nắng đẩy mây dồn phía đằng tây
Mưa bụi lạnh thêm những gót giày
Ngõ nhỏ gió về luồn run rẩy
Nhao nhác lưng chiều cánh vạc bay.
*.
Làng Đá, chiều 19.08.2018

TÍM

Mưa bụi giăng đầy trong mắt em
Hoa Xoan rơi kín tím góc thềm
Lời yêu bỏ lửng từ đêm ấy
Xao xác đến giờ hương tím say.
*.
Định Công, trưa 13.05.2019

ĐỢI…

Đợi xuân xuân chửa chịu về
Đợi tình tình lại mải mê xứ người
Nâng lên ly rượu tự mời
Uống đi cho cạn nụ cười nhếch môi?!
*.
Hà Nội, 24 tháng 04.2020

CHUYỂN MÙA

Len lén heo may trườn khe cửa
Vồi vội nắng chiều cuộn trốn mưa
Ngơ ngác lá vàng bung vào gió
Lật đật mây dồn hong hóng mưa.
*.
Làng Đá, chiều 13.10.2018

HOA ĐÊM

Áo trễ vai trần rảo bước nhanh
Nhũ hồng e ấp áo mỏng manh
Gió khuya cong cớn từng cơn lạnh
Nhợt nhạt môi hường lúc tàn canh.
*.
Giáp Bát, đêm 04 .10.2018

VẨN VƠ

Ta nếm em bằng lưỡi
Em nêm ta nụ cười.
Ta đã chiều rời bến
Em ngồi chờ hoàng hôn.
*.
Hà Nội, ngày 09-06-2020

BẾN CŨ CHIỀU MƯA

Bến cũ, chiều về, con nước động
Líu ríu mưa bay phủ kín dòng
Nước rộng chòng chành con đò nhỏ
Se sắt gió chiều nhuộm sóng xô.
*.
Chiều mưa, 01.08.2019

ĐỢI NGÂU
– Tặng út Hiền –

Nghiêng vành nón giấu buồn theo sóng gợn
Đã Ngâu đâu mà rưng rức chân cầu
Ngoái đầu lại bụi bạc màu hoa cải
Trăng rủ buồn vàng võ ngón tay thon.
*.
Hà Nội, 08 tháng 08.2017

LẮNG

Người về sũng nắng tháng Tư
Tôi hong gió lạnh suốt từ đêm qua
Ngậm ngùi mưa bụi trườn qua
Hoa Xoan nát cả tháng Ba đến giờ.
*.
Hà Nội, đêm 12.05.2019

CHỊ NGỒI VỚI NHỮNG XỬA XƯA
– Tặng nhà thơ Trần Mai Ngân –

Chị ngồi nhặt bóng nhặt hình
Nhẩn nha những chuyện của mình xửa xưa
Cuối trời tháng Sáu vần mưa
Chị se ngọt tiếng đò trưa ạ ời…
*.
Hà Nội, chiều 28.06.2019
ĐẶNG XUÂN XUYẾN

 

CÒN THƯƠNG ÁO TRẮNG MỘNG MƠ

ao trang xe dap

Nhớ thời áo trắng mộng mơ…
Nghiêng che vành nón bài thơ dịu dàng
Bâng khuâng kỷ niệm…Hè sang
Còn vương ký ức rộn ràng đầy vơi

Thương sao xe đạp một thời
Con đường đến lớp phương rơi thắm hồng
Tóc mây gió nhẹ bềnh bồng
Theo sau bao gã trong lòng thầm yêu…

Nắng thơm vai lụa mỹ miều
Tuổi hoa đèn sách những chiều trường tan
Đùa vui bắt bướm, hoa ngàn
Giờ nghe nuối tiếc thời gian qua rồi

Luyến lưu lắm xe đạp ơi!
Còn trong giấc mộng bồi hồi…vấn vương
Nhớ thời áo trắng mà thương
Giỏ xe đạp chở ngát hương phượng buồn.

Nhật Quang

HÃY KHÓC LÊN ĐI PHƯỢNG

Nguyên Lạc

hoa phuong vi

(Cảm tác khi được tin những cây phượng bị đốn hạ hàng loạt trong các ngôi trường ở Việt Nam) [*]

1.
Màu huyết phượng. màu máu tim tôi đó
Màu yêu thương tuổi thơ dại học đường
Ôi! màu hoa phượng đỏ … rơi tóc em thương
Màu mực tím. màu giấy hồng. ngại ngùng thư ngỏ
.
Màu huyết phượng của một thời son trẻ
Đã theo tôi suốt cả kiếp đời
Đường đón đưa cánh phượng rơi rơi
Màu tim đỏ thắm tình tôi một thuở
.
Màu mực tím. màu hoa phượng đỏ
Tàn lá xanh che mát sân trường
Che mát ngại ngần thơ dại tay run
Trao lưu bút ép cánh hoa. kèm thư. hè nhung nhớ
.
Mãi trong tôi vẫn màu hoa đó
Vẫn phượng thẫm màu máu đỏ tim tôi
Vẫn tiếng ve reo. cánh phượng rơi nhung tóc mây người
Dù rất biết phôi pha tháng năm. tuyết sương màu điểm
.

2.
Sẽ còn không đỏ màu phượng vỹ
Sẽ còn không mượt mà hoa rơi tóc ai nhung
Vì mất lương tri nhỏ nhen ích kỷ
Vì những mưu toan tư dục. đoạn đành đốn gốc yêu thương
.
Thôi chắc sẽ rồi mù dấu thiên đường
Thiên đường tuổi thơ thư hồng mực tím
Khóc lên đi ngôi trường. phượng sẽ rồi mất biến
Bởi ai đó vô tâm muốn xóa bỏ tình người
.

3.
Rồi sẽ tìm đâu phượng đỏ ngôi trường?
Rồi sẽ tìm đâu điêp khúc ve thương?
Tàn lá xanh che những chờ đợi ngại ngần
Mực tím. thư hồng. tương tư tình ngỏ
.
Hãy khóc lên đi những người tuổi trẻ
Hãy khóc lên đi bụi phấn bạc đầu
Đường về tuổi thơ sẽ rồi cấm cửa
Phượng thắm sân trường … cổ tích đời sau!
.
Không phượng. ngôi trường còn có gì đâu?
Mực tím. thư hồng. lưu bút? Tim đau!
.
Nguyên Lạc
………
[*] Mời đọc những đoạn văn này:

1. Người ta chặt Phượng không thương tiếc, biến nó thành phong trào. Coi việc chặt Phượng như là phong trào ba không đã từng rầm rộ diễn ra cách đây chưa lâu.
Thưa ông bộ trưởng Phùng Xuân Nhạ, đồng kính thưa chính phủ cao quý. Nếu không ra tay ngăn chặn “phong trào” chặt Phượng, nếu vẫn hăng máu “đào tận gốc, đốc tận rễ” với Phượng, thì dòng tộc Phương chúng tôi sẽ bị tuyệt chủng. Dòng tộc Phượng chúng tôi, có đời sống như mọi loài vật, ngoài ra còn có tâm tính, có linh hồn của nó. Nếu nhẫn tâm hủy diệt dòng tộc Phượng, các ngươi phải trả giá, con cháu các ngươi cũng bị vạ lây. Trời không tránh được luật nhân – quả, chứ đừng nói kẻ phàm tục như các ngươi.
(Nguồn: Bá Tân – Báo Tiếng Dân)

2. Với việc các trường VN chặt cây phượng vỹ, xã hội hiện nay nói chung và nền tảng giáo dục nói riêng, cái tính vô trách nhiệm nó quá lớn, nó làm mất lương tri của những người đang đứng trên bục giảng và kể cả các cán bộ quản lý trong Bộ GD&ĐT.
Cây phượng nó là thơ, là nhạc, là tâm hồn học trò bao nhiêu thế hệ VN.
Tại nhiều trường học, cây phượng đang bị ‘thảm sát’ oan uổng vì bị coi là mối đe dọa đối với tính mạng học trò, chẳng lẽ một cây gãy đổ thì cả giống loài bị kết tội?
Tuy nhiên thay vì cắt tỉa, tìm phương pháp ngăn chận những cây nguy hiểm, nhiều trường học lại đốn hạ toàn bộ những cây phượng đang có. Nếu trường nào cũng áp dụng cách này, loài cây được mệnh danh là hoa học trò sẽ hoàn toàn bị trục xuất khỏi môi trường của học trò. Và khái niệm sân trường sẽ không còn gợi nhắc đến một nơi rợp bóng mát của cây xanh mà trở thành khoảng không gian trụi lủi chỉ có sàn bê tông và nắng gắt.(Chặt nhầm còn hơn bỏ sót – Báo Mới)

CÓ NGƯỜI HỎI TÔI?

Phạm Phú Nam

flag america

Mấy ngày nay, bắt đầu bước vào thế giới facebook tôi mới có cơ hội đọc được nhiều suy nghĩ, mối quan tâm, và quan điểm của nhiều bạn hữu. Có người trong sự tín nhiệm hỏi, ý kiến của tôi ra sao?
Thật sự, tôi rùng mình khi nhìn thấy hình ảnh một viên cảnh sát da trắng có 3 đồng đội vũ khí đầy mình đứng cạnh mà vẫn cứ thản nhiên dùng đầu gối dí cổ một nghi can da đen không bạo động, mặt mũi bị dí sát mặt đường nhựa đầy đá vụn sắt nhọn, và dí sát cạnh một chiếc bánh xe hơi như sắp bị cán ngang, trong một thời gian khá dài gần 9 phút khi anh phải thì thào để nói một lời như van xin “I can’t breath”.
Dù là đứng trên góc độ nào chăng nữa, hình ảnh kể trên thật là một hình ảnh ghê rợn rất đáng lên án.
Da trắng và da đen ở Hoa Kỳ từ 300 năm qua đã luôn luôn là một vấn đề nóng hổi và hết sức nhạy cảm. Hình ảnh kể trên đã làm sống lại cả một lịch sử dài của đất nước này, nơi có người da trắng đày đọa nô lệ da đen hết sức tàn nhẫn nhưng cũng là nơi có người da trắng chấp nhận để 360,000 thanh niên con cháu họ phải chết trên các chiến trường đẫm máu trong cuộc nội chiến 1861-1865 để giải phóng người da đen.
Cũng ở đất nước này, là nước duy nhất trên thế giới mà mọi mầu da, mọi sắc tộc, mọi con người đều được bình đẳng, đều được tự do mưu cầu hạnh phúc cho riêng mình, và không hề bị đòi hỏi phải hy sinh ngược lại cho đất nước này. Vì thế, mới có Tổng Thống da đen Obama, có Đại Tướng da đen Tổng Tham Mưu Trưởng Quân Lực Hoa Kỳ Colin Powell, có Ngoại Trưởng da đen Condolezza Rice, hay có thần tượng bóng rổ da đen Michael Jordan, có đại biểu “black live matter” Colin Kaeparnick, có thần tượng ca nhạc Michael Jackson, hay có khuôn mặt truyền hình nữ tỷ phú da đen cả nước biết mặt biết tên Oprah Winfrey.
Những nhân vật da đen lừng danh hoàn vũ đó cần phải đứng lên làm nhân chứng sống thực cho một nước Mỹ bao dung đã hết sự kỳ thị từ rất lâu rồi.
Chúng ta cần phải liệt kê một danh sách còn rất dài những người da đen làm nên danh nghiệp vĩ đại như thế mới hiểu được đất nước chúng ta đang sống. Đúng, làm sao hết được tư tưởng kỳ thị trong mỗi con người, da trắng, da đen, da vàng, ..v..v.., và chúng ta nên tự hỏi một cách thành thật với chính mình rằng bản thân mình có chút máu kỳ thị không? Nhưng, nếu có, cũng chỉ là một cá nhân kỳ thị, và nếu có nhiều hơn, cũng chỉ là một nhóm như tổ chức KKK kỳ thị trắng đen. Còn cả nước Mỹ hiện nay, từ ngôn ngữ, văn hóa đến luật pháp, hoàn toàn không có sự kỳ thị trong đó.
Khi chúng ta vẫn kêu gào rằng nước Mỹ có da trắng kỳ thị da đen là chúng ta chưa học hết lịch sử Hoa Kỳ. Người da trắng là nhân tố chính trong mọi cuộc tranh đấu chống kỳ thị.
Khi chúng ta nói rằng nước Mỹ không công bằng, đối xử không tốt với người thiểu số, chúng ta đã phớt lờ đi biết bao phúc lợi mà chúng ta đang được hưởng- ngay từ ngày mới đến Mỹ đã có cash assistance, food stamps, medical cho cả toàn gia đình con cháu, đi học được miễn học phí còn mang được tiền về ăn tiêu như ý muốn, sau 5 năm được vào công dân quyền lợi chính trị như mọi người Mỹ trắng khác, được bảo lãnh cả đại gia đình sang Mỹ, tự do ăn, học, vui chơi theo ý thích, và được quyền chửi bới tổng thống hay ngay cả đốt cờ Mỹ công khai cũng chẳng ai bắt bớ. Khi vui chơi, chúng ta có phất cờ Việt, cờ Mễ, hay ngay cả cờ Iran, nước Mỹ cũng có làm gì chúng ta đâu.
Lên án nước Mỹ kỳ thị là chúng ta quên lời thề nguyền trong tâm khảm khi còn đang lang thang làm con người vô tổ quốc trong các trại tị nạn, từng chỉ có một lời cầu xin duy nhất được nước Mỹ đón nhận mà thôi.
Nước Mỹ với những chính sách xã hội welfare, chính sách giáo dục ưu đãi người nghèo và thiểu số, chính sách nhân quyền nhân phẩm, không nước nào sánh bằng. Có người tị nạn Việt Nam chăm chỉ làm việc nào mà nay không giàu có? Có người tị nạn Việt Nam cần mẫn học hành nào mà nay không là bác sĩ, kỹ sư, hay doanh gia tài giỏi? Vậy nếu chúng ta có nghèo khó thì cũng phải xin một lần nhìn lại tại sao chứ? Tại chính mình hay tại chính sách của nước Mỹ.
Nước Mỹ thật không toàn hảo nhưng chắc chắn nước Mỹ không phải địa ngục trần gian, nếu không nói rằng, nước Mỹ là thiên đàng trên thế giới hiện nay.
Khi nước Mỹ chọn ông Obama làm tổng thống, cũng có gần một nửa nước Mỹ không thích, nhưng vẫn phải tôn trọng. Nay nước Mỹ chọn ông Trump làm tổng thống, một nửa nước Mỹ rõ là không thích, nhưng cũng cần phải để cho ông ta làm việc.
Tổng thống Trump là một tổng thống tệ hại chăng? Có thể chứ. Tổng Thống Obama có phải là một tổng thống giỏi chăng, chưa chắc. Có nhiều sự kiện nhìn từ hai góc, đều khác nhau, có khi khác hoàn toàn. Và, hay hay dở, nước Mỹ cũng chỉ cho ông tổng thống 8 năm tối đa, và nước Mỹ vẫn vững tiến như thường.
Nếu một viên cảnh sát da trắng có máu kỳ thị làm sai, anh ta đã làm sai, nước Mỹ không tạo cơ hội cho anh ta kỳ thị người da đen bao giờ. Khi viên cảnh sát da trắng làm một chuyện sai trái dù cả thế giới thấy rõ như thế, nước Mỹ không thể lôi anh ta ra bắn, hay lôi ra đánh một trận nhừ từ được, bất kể cả nước 300 triệu người muốn anh ta phải chết, phải bị hành tội, nước Mỹ không thể làm chuyện như vậy.
Nước Mỹ có luật pháp và luật của nước Mỹ đang được thực thi qua từng thủ tục- tạm giam, tại ngoại, khởi tố, biện hộ, rồi mới nghị tội kết án bởi người dân qua định chế bồi thẩm đoàn. Luật của nước Mỹ phức tạp với một mục đích rõ rệt, bảo vệ nghi can để tránh kết tội lầm một người. Thà tha lầm hơn kết tội lầm.
Anh cảnh sát da trắng đó cũng như những người da đen phạm tội khác, đều nhờ vào luật của nước Mỹ mà không bị đem ra ném đá, chém đầu, treo cổ, đánh đập, hay bị nhục mạ khi dân chúng nổi giận.
Nhìn lại đoạn video hay hình ảnh anh cảnh sát da trắng đè cổ một người da đen, thật là một hình ảnh hãi hùng. Nhưng nếu quý vị hay các bạn hỏi, Ý kiến của tôi là xin quý vị cùng các bạn bình tĩnh, chỉ có vậy thôi. Bình tĩnh chờ công lý được thực thi.
Hãy tin tưởng vào đất nước của chúng ta, một quốc gia vĩ đại không vì dân số cao, không vì đất nước to rộng, cũng không vì thị trường chứng khoán, lại chẳng vì ông Bill Gate hay anh facebook Mark Zuckerberg, và chắc chắn không vì ngài Obama hay ngài Trump, mà vì tiền nhân, những người dựng nước, đã lập ra một hợp chủng quốc, da trắng, đen, vàng, đỏ, hay nâu, đều có thể sống chung trong hòa bình và thịnh vượng trên căn bản tôn trọng luật pháp.
Việt Nam ta hay nói, chén dĩa trong rổ còn va chạm kêu loảng xoảng, huống chi một đất nước có hơn 150 sắc dân chung đụng.
Cảm ơn quý vị và các bạn xa gần chịu đọc ý kiến này.
Phạm Phú Nam
(dansinhtelevision@yahoo.com)

MỘT MÌNH / KHI NÀO TA BỎ THẾ GIAN

 Châu Thạch

bienvang
MỘT MÌNH!
Một mình
Ngồi giữa đêm khuya
Không trăng
Chỉ có sao lìa trời xanh
Sầu sao
Chùm tối trên cành
Con chim không hót
Đêm đành lặng yên
Thương mình
Bao nỗi truân chuyên
Thương cây
Không gió đứng yên giữa trời
Đêm như
Thầm lặng bao lời
Ta như
Ghế đá
Một đời công viên
Thuyền hồn
Trôi giấc cô miên
Một mình
Ta với ưu phiền trần gian
Nhớ ơi
Là nhớ địa đàng
Còn đâu trái cấm sông vàng
Chúa ơi !!!

KHI NÀO TA BỎ THẾ GIAN

Khi nào
Ta bỏ thế gian
Em ơi
Đừng để hai hàng lệ rơi
Ta đi
Đi thẳng về trời
Bỏ trăng
Bỏ gió
Bỏ đời khổ đau
Ta còn
Để lại phía sau
Câu thơ nhuộm ướt
Một màu lệ trong
Bia ta
Em vẻ một vòng
Một vòng như bóng
Đêm rằm tròn trăng
Thơ ta
Em gởi lên hằng
Lửa hồng thiêu giấy
Tro tàn gió bay
Trên trời
Ta ở cùng mây
Mây đi
Đi đó đi đây phiêu bồng
Em ơi
Sắc sắc không không
Em ơi
Đừng sá chi lòng ta đau!!!
Châu Thạch

NHỮNG NĂM THÁNG ẤY

aodai xe dap

Hong mùa lên cỏ xanh rêu
Buồn giăng nghiêng vạt nắng chiều Hạ phai
Gió buông hương tóc mây dài
Cánh hồng phượng vỹ em cài bâng khuâng

Nghe sầu phiến lá ve ngân
Giọt buồn man mác bao lần biệt ly
Trăng vơi nuối mộng xuân thì
Còn xanh lưu bút mực ghi tuổi hồng

Mưa mùa Hạ tím mênh mông
Ướt mềm ký ức…hoài mong một thời
Gió đùa cánh phượng lả lơi
Những năm tháng ấy…còn chơi vơi lòng.

Nhật Quang

SÀI GÒN TRONG NỖI NHỚ

khê kinh kha

saigon mua
phố Sài Gòn chiều nay mây ảm đạm
mưa giăng đầy thành phố lạnh co ro
vai cóng lạnh hay lòng mình đang lạnh
xa cách hoài nỗi nhớ thêm xác xơ

xa cách hoài, tháng ngày buồn cúi mặt
nhớ nhung nhiều chen giữa giọt mưa bay
ôi mưa bay cho phố thêm vắng lạnh
lạnh ướt cả trời – lạnh ướt tim ai

ai ngậm ngùi và ai đang hờn tủi?
ngày quạnh hiu và nắng có âu sầu?
đêm hiu hắt vầng trăng chắc đơn lẽ?
giọt sương mềm chắc thao thức canh thâu?

mình xa nhau phố có buồn, phố khóc?
khóc cho tình non nước giữa tim ai
ôi cuộc tình mong manh như bọt nước
vỡ tan tành theo vận nước nổi trôi

Sài Gòn hỡi từ nay tình đôi ngã
xa cách này mòn rữa bao ước mơ
trời đổ mưa hay lòng tôi mưa đồ
cuối đời rối đăng cay vẫn bao la

khê kinh kha

MƯA CẦN THƠ

Nguyên Lạc

muamua 1
Phố người thảng thốt mưa rơi
Sầu luồn ngất ngất một thời xa xưa
.
Mưa tình góc khuất ru mơ
Nhung thơm tóc xỏa nghiêng bờ vai tôi
Nồng nàn một nụ hôn môi
Ngọt ngào câu nói “anh ơi thương hoài”
.
Mưa ướt má mưa ướt môi
Cần Thơ một thuở có tôi yêu người
Con đường lất phất mưa rơi
Tung tăng chân sáo em cười giòn tươi
.
Mưa trong mắt. sầu trong tôi
Đón đưa trễ hẹn lệ đầy ngây thơ
Ly chè tạ lỗi ngày xưa
Trường Đoàn Thị Điểm như vừa hôm qua
.
Em lên đại học Văn khoa
Cái Răng một thuở cúc hoa áo dài [*]
Đường về vàng cả chiều phai
Trong tôi rạng rỡ hình hài dấu yêu
.
Mưa thương nhớ biết bao nhiêu
Rộn ràng bến chợ Ninh Kiều lang thang
Tay trong tay. quán đèn vàng
Mắt trong mắt. nhạc “Em tan trường về”
.
“Em tan trường về đường mưa nho nhỏ
Em đi dịu dàng, bờ vai em nhỏ
Chim non lề đường, nằm im dấu mỏ
Ôm nghiêng tập vở, tóc dài tà áo vờn bay”
.
“Em tan trường về, mưa bay mờ mờ
Em tan trường về, anh theo ngọ về
Anh trao vội vàng, chùm hoa mới nở
Ép vào cuối vở muôn thuở còn thương” [**]
.
Mưa. lữ khách. nỗi nhớ quên
Làm sao quên được mà quên đây người?
Những cơn mưa của một thời
Cần Thơ yêu dấu có người tôi yêu!
.
Phố người một bóng hắt hiu
Mưa đêm lất phất nghiêng xiêu ngăn đời
Ngoài trời. mưa mãi không thôi!
Trong tôi. mưa nhớ một thời có em
.
Nguyên Lạc
………………
[*]. Trường đại học Văn Khoa trên đường về Cái Răng, Cần Thơ
[**] Lời nhạc Ngày Xưa Hoàng Thị – Phạm Duy
Attachments

GIỚI NGHIÊM

VÕ CÔNG LIÊM

corona virus

ôn dịch
đại họa phủ sóng khắp nơi
bế môn tỏa cảng ăn chơi cọ mình
ngồi buồn . gải háng dái lăn tăn
nhớ xưa truyền hịch chống xâm lăng
ngày nay truyền dịch tràn lan mọi người
em . trốn dịch cho đời không thấy mặt
tôi . trốn dịch như trốn lính đầu quân ngày nào
có đánh nhau đâu mà thua thiệt
kẻ thù bất cộng đái thiên
tại trời hay tại nhân gian
hay là có kẻ chơi trong giấu ngoài ?
giới nghiêm
cuộc chiến đã tàn chưa
cho tôi đi lại thênh thang giữa đời
hát vu vơ hát điên cuồng
cho em dắt chó giữa đường cái quan
sống chỉ một lần chết mãi nghìn sau
giới nghiêm
sáng dưa
trưa muối
túi cà
ăn chay niệm phật một thời hư ăn
làm thân tế độ kiếp này được tha
để cho mai mốt không còn có chi
ôn dịch
đại họa
toàn cầu
sống chết bất thường chả sợ ma trơi
cá chết không thúi sông
cọp chết để da
người ta chết để tiếng
mộ chí ghi tên
chết cho ôn dịch thần sầu
một đời
khó quên
giới nghiêm
với chuyện ta bà
thuở xưa có dịch
mà đâu cấm đường
chết vô tư
chết bình thường
không sợ dịch
chả sợ ma
hề ! giới nghiêm

thằng bé
buồn cười
hơn
buồn khóc ./.

VÕ CÔNG LIÊM (ca.ab.yyc. mùa dịch covid-19 / cuối tháng 5/2020)

ĐỌC “CHÂN DUNG TỰ HOA 34” CỦA LÊ THIÊN MINH KHOA.

Châu Thach

flowers
Thơ Lê Thiên Minh Khoa tự họa 34:
VÀ EM…
Và em.
Và tôi.
Và thơ.
Và lung linh rượu.
Và chờ đêm qua
Và Không.
Và Phật.
Và Ma.
Hội nhau trong cõi ta – bà
Rong chơi
Và em.
Và tôi.
Và ai.
Và trăm năm
Vẫn nhớ hoài ngàn năm
Và ngàn năm
Nhớ xa xăm
Và xa xăm nhớ lầm
Than kiếp người!…
Nhà sáng tác Đà Lạt – 8.2006
LÊ THIÊN MINH KHOA

Lời Bình: Châu Thạch

Có lần tôi đã viết một bài cảm nhận về “Thơ Ngắn Lạ Đời Lê Thiên Minh Khoa”. Ngoài những bài thơ ngắn lạ đời đó, nhà thơ Lê Thiên Minh khoa còn có nhiều bài thơ “Chân Dung Tự Họa” cũng rất lạ đời. Hôm nay tôi xin bàn đến một trong những bài thơ ấy. Đó là bài “Và Em..”

“Và Em…” là một bài thơ mà Lê Thiên Minh khoa không tự họa chân dung của khuôn mặt mình. Nhà thơ tự họa chân dung của tâm hồn mình. Đọc “Và Em…”, ai mến Khoa thì gọi nó là thơ, ai ghét khoa thì gọi nó không là thơ cũng được. Bởi vì “Và Em …” như lời vu vơ của một tên khùng. Ngược lại “Và Em…” cũng như lời cao vời của một thi nhân:

Và em.
Và tôi.
Và thơ.
Và lung linh rượu.
Và chờ đêm qua

Em, tôi, thơ và rượu được hòa điệu trong nhau là những thời khắc hạnh phúc tuyệt vời. Chữ “Và” cho ta cảm nhận sự hội ngộ của 4 nhân vật đem đến niềm vui trác tuyệt. Em là một nhân vật, tôi là một nhân vật, thơ và rượu ở đây cũng được nhân cách hóa thành hai nhân vật để đáng ra, cuộc vui tồn tại thâu đêm.
Thế nhưng lạ thay, nhà thơ xuống một câu thơ nghịch lý vô cùng: “Và chờ qua đêm”.

Chờ ai qua đêm và vì sao phải chờ qua đêm?

Đọc câu thơ nầy tôi bỏ bài thơ xuỗng. Không hiểu! Ngày hôm sau đọc lại câu thơ nầy, tôi lại bỏ bài thơ xuống. Không hiểu! Rồi bỗng một lúc nào đó, sáng tỏ bừng lên trong đầu tôi khi đọc tiếp khổ thơ thứ hai của Lê Thiên Minh Khoa:

Và Không.
Và Phật.
Và Ma.
Hội nhau trong cõi ta – bà
Rong chơi

Hóa ra “Và em, và tôi, và thơ” chỉ là chữ “Sắc” trong đạo Phật. “Sắc tức thị không, không tức thị sắc”, chữ “Sắc” nầy biến thành chữ “Không” ngay trong tâm hồn vô thường của nhà thơ: “Và không”

Hình như trong khổ thơ thứ nhất chỉ có rượu là thật, còn tất cả chỉ là ảo ảnh, ảo ảnh ấy diển biến trong tâm trí nhà thơ mà thôi. Nhà thơ đang cô đơn giữa cuộc đời, đang bơ vơ lạc lõng trong hố thẳm trí tuệ, đang mất định hướng về đời, về thơ, về tình và về chính bản thân mình.

Đi với linh hồn Lê Thiên Minh Khoa lúc ấy, ở trong đầu Lê Thiên Minh Khoa lúc ấy, không những chỉ có bóng em, bóng thơ mà còn có bóng ma và bóng Phật. Tất cả các bóng đó chập chọa, ẩn rồi hiện, có mà không, không mà có. Những hình bóng đó cùng Lê Thiên Minh Khoa “Hội nhau trong cõi ta-bà/ Rong chơi”. Đúng ra, tất cả những bóng ấy ám ảnh trong tâm hồn nhà thơ, đích thị là chân dung của “tâm hồn Lê Thiên Minh Khoa” đã tự họa cho mình. Một tâm hồn đang khắc khỏi với những nan đề của tình yêu và của tâm linh khó giải trong cuộc sống.

Đọc hai khổ thơ trên ta thấy nhà thơ Lê Thiên Minh Khoa không rong chơi bình an bao giờ. Tác giả mang nặng trong tâm tư mình sự dằn vặt, thắc mắc, chạy đi tìm kiếm nhiều sự thật còn mập mở. Nhà thơ đang đuổi theo những bóng chân lý về đời, về tình, về thơ, về đạo và về cái “tôi” của chính nhà thơ. Có lẽ nhà thơ chỉ có thể rong chơi được trong rượu để “chờ qua đêm”. Chờ qua đêm để trông mong hội ngộ cái chân lý mình tìm kiếm. Chân lý ấy như bóng ma, chỉ chập chờn trong tư duy mà chẳng bao giờ lộ diện nguyên hình để nhà thơ bắt được nó trong trí óc của mình. Bởi thế nhà thơ “Chờ qua đêm” và sẽ còn “Chờ qua đêm” mãi mãi…

Và khi hoài nghi trong đầu lên đến độ cao, thật và ảo làm mờ đôi mắt tuệ, nhà Lê Thiên Minh Khoa không đi tìm cứu cánh trong đạo, trong thiền để định được tâm linh mình. Nhà thơ đi tìm cứu cánh trong thơ và rượu thì dễ lắm tinh thần tẩu hỏa, cái nhìn trở nên bấn loạn:

Và em.
Và tôi.
Và ai.
Và trăm năm
Vẫn nhớ hoài ngàn năm

Bây giờ Lê Thiên Mình Khoa không biết em, không biết tôi, không biết cả thời gian dài hay ngắn. Khổ thơ cho ta thấy sự nghi ngờ, sự lẩn lộn xảy ra trong tâm hồn tác giả. Mọi sự nhà thơ dồn vào trong một chữ “Và”. Chữ “Và” đó chứa em, chứa tôi, chứa ai nữa không biết, chứa nỗi nhớ gì không biết, chỉ biết là nhớ 100 năm cho đến 1000 năm còn nhớ.

Sau phút loạn thị đôi mắt của tuệ, những tưởng nhà thơ tẩu hỏa vi căn thẳng tư duy trong rượu. Nhưng không, Lê Thiên Minh Khoa còn tỉnh táo để cho ta biết nỗi nhớ trăm năm, ngàn năm, hay chính ra, là nỗi nhớ trải qua bao kiếp người. Bao kiếp người ấy nhà thơ đã nhận chịu những nỗi đau vật chất và tinh thần phi lý:

Và ngàn năm
Nhớ xa xăm
Và xa xăm nhớ lầm
Than kiếp người!…

Hóa ra cũng chỉ là nhớ nỗi đau của “Khổ Đế”, một chân lý trong bốn chân lý mà Đức phật tìm ra dưới gốc cây bồ đề. Đức Phật tìm ra nguyên nhân của sự khổ, Ngài ngộ được nhưng Lê Thiên Minh Khoa không ngộ được. Nhà thơ có thấy chăng cái nguyên nhân đó, thì cũng như sự thấy của triệu triệu sinh linh trong cõi ta bà nầy, nghĩa là thấy mập mờ hình bóng mà thôi, thấy như thấy vầng trăng Đức Phật chỉ, nhưng nó ở ngàn vạn xa không bao giờ đến được.

Là một thi nhân còn trong cõi tục lụy, mang nỗi đau của kiếp nhân sinh, con tim nhạy cảm, rung động trước hoan lạc và trước nỗi buồn, tìềm tàng trong linh hồn mập mờ hình ảnh những nhánh sông đời trong tiền kiếp, nhà thơ Lê Thiên Minh Khoa bật lên trong thơ tiếng kêu của mình, như tiếng con nai vàng lạc trong rừng rậm. Nhà thơ tự họa bằng thơ chân dung của linh hồn mình, như một con thuyền bơ vơ trôi giữa hư và thực, kể cả ngọn hải đăng của đời, của Thiên Đường hay của địa ngục cũng không có. Em và tôi và ma và Phật, và trăm năm đều nằm trong ly rượu. đó là thứ đạo chân lý mà Lê Thiên Minh Khoa làm giáo chủ, để vơi đi nỗi nhớ xa xăm, để quên đi những bài toán khó của cuộc đời không giải được như thần linh, như ma quỷ ám ảnh nhà thơ mãi mãi ./.
Châu Thach

KHI CHỢT GẶP NGÔI TRƯỜNG

Nguyên Lạc

ao-dai-6
Tưởng rằng quên được một thời
Khóa trong tiềm thức lâu rồi … xưa xa
Ô kìa! Cuối phố phải là …?
Không đâu tôi nhé!
Chỉ là nhớ thương
.
Ve reo. huyết phượng con đường
Dáng em trắng cả ngôi trường tuổi mơ
Có tôi run ngất tờ thơ
Mắt ai lá trúc nhung tơ tóc thề
.
Môi hồng vẫn thắm đam mê?
Khổ đau có đã …?
Đi về chung. riêng?
.
Vẫn tôi. vẫn nỗi muộn phiền
Trường xưa. lối cũ. hiện tiền đó sao?
Không đâu! Chỉ xót xa nào
Ngôi trường lạ lẫm. cớ sao lại buồn?
.
Thời gian bóng vụt qua song
Làm sao níu được xuôi dòng nước trôi?
Thôi đành thôi nhé. đành thôi!
Phượng hồng tình đó một đời riêng mang!
.
Bể dâu cùng với điêu tàn
Bao giờ hạnh ngộ?
Ly tan đang là
Vô thường lời Phật dạy ta
Lục Như kệ tụng chắc là tâm an? [*]
.
Tịnh không điệp khúc muôn trùng
Lắng khuya. tích tắc. nhịp buồn thời gian
Tiếng chim cô lẻ vọng âm
Chong đêm nến lệ
buốt căm nỗi hoài!
.
Cố nhân? Một tiếng thở dài
Mù sương cố lý đoạn đoài …
Biết chăng?
.
Nguyên Lạc
……………..
[*] Kệ Lục Như – Kinh Kim Cang: Như mộng, huyễn, bào, ảnh/ Như lộ diệc như điện (Như mộng, huyễn, bọt, bóng/Như sương, như chớp loé)

TÌNH CHUNG/THÔI…

ĐẶNG XUÂN XUYẾN

tinhvat

TRANH VẼ Võ Công Liêm: ‘Tĩnh vật Hoa trái’

TÌNH CHUNG

Mới hẹn mới thề nhất nhất tôi
Kiếp này, kiếp nữa chỉ yêu tôi
Thế mà tấp tểnh theo họ vội
Vất tuột hẹn thề bỏ sông trôi

Thì chữ chung tình rớt đầu môi
Biết rồi nên chỉ tự trách tôi
3 xu kiếm được duyên vài tối
Hà tất thở than đứng với ngồi.

Thế nhé, chữ tình chỉ vậy thôi
Đừng ví sông kia lúc lở bồi
Đừng than gió lạnh run chiều tối
Đừng mượn sao trời biện với tôi.
*.
Hà Nội, sáng 23-05-2020

THÔI..

(với G)

Mình chia tay lâu rồi
Sao còn tìm nhau trong mơ
Níu dài cuộc tình đã vỡ

Giờ mình không cùng hướng
Giờ mình cũng lạc giường
Thì thôi
Giường ai nấy lo ủ ấm
Đừng nữa đêm tìm trong mơ
Mỏi mòn ngày nỗi nhớ
Giận hờn mãi chi
Nào ai biết khôn biết dại

Thôi
Em cứ nằm giường lạ
Cứ ủ ấm người ta
Đêm nay… Và đêm nay nữa
Buồn nào rồi cũng sẽ qua.
*.
Hà Nội, 04 tháng 02.2020

Ngày Chiến Sĩ

Nam Lộc

Ngày Chiến Sĩ Trận Vong và
“Những Người Lính Bị Bỏ Rơi”!

linh1
Vietnam Veterans Memorial Wall in Wash. DC

Hôm nay là ngày “Memorial Day” hay còn gọi là “Ngày Chiến Sĩ Trận Vong” ở Mỹ. Cả đất nước Hoa Kỳ hầu như đều chìm trong tiếng kèn thống thiết tưởng nhớ đến những chiến binh đã hy sinh trong cuộc chiến để bảo vệ quê hương của họ cùng thế giới tự do từ bao năm qua.

lunh2

Vietnam War Memorial in Westminster, California

Hình ảnh người dân Hoa Kỳ, kể cả tổng thống, các vị dân cử, thống đốc tiểu bang, cho đến các cựu quân nhân hay dân chúng Mỹ cặm cụi cắm những lá cờ nhỏ trên ngôi mộ của các tử sĩ của họ, chắc chắn ai trong chúng ta, những người Việt lưu vong, mà không khỏi chạnh lòng nghĩ đến sự hy sinh cao cả của các chiến sĩ QLVNCH, những người đã anh dũng chiến đấu bên cạnh “người bạn đồng minh”, để không những bảo vệ nền tự do dân chủ của miền Nam Việt Nam, mà còn giữ vững thành trì chống chủ nghĩa Cộng Sản mạnh mẽ nhất của thế giới tự do trong vùng Đông Nam Á, cho đến ngày họ bị…bỏ rơi!

linh3

Trong nỗi ngậm ngùi đó, tôi chợt nhớ đến bộ DVD “Những Người Lính Bị Bỏ Rơi” mà một số anh chị em nghệ sĩ chúng tôi vừa chung tay cùng đài SBTN thực hiện để tưởng nhớ và vinh danh QLVNCH, để chia sẻ niềm uất hận của những người lính bị bỏ rơi, và nhất là để tưởng niệm các tử sĩ VNCH đã hy sinh trong cuộc chiến.

linhban
Tường An và các bạn ở Pháp (May 25, 2020)

Đọc những bức điện thư từ khắp nơi trên thế giới gởi về cho chúng tôi và nhất là nhìn tấm hình mà chị Tường An và quý vị đồng hương ở Pháp phổ biến sáng nay, hay của anh Thắng Cảnh cùng cộng đồng người Việt ở Đan Mạnh, của BS Mỹ Lâm, chủ tịch Liên Hội Người Việt Tỵ Nạn tại Đức cùng nhóm thân hữu của chị Bích Thủy. Hội Cựu Quân Nhân VNCH Ontario cùng đồng hương ở Toronto, các thành viên của Phong Trào Giới Trẻ Thế Giới Vì Nhân Quyền, cộng đồng cùng đồng hương người Việt ở Úc Châu, ở Ý, Anh, Bỉ, Pháp, Na Uy, Thụy Điển, Đan Mạch, Hòa Lan, Canada, ngay cả tại Việt Nam. Hội Người Việt Calgary…, anh chị Dương Phục, đài Sài Gòn Radio Houston giúp phổ biến một cách vô vụ lợi và hăng say tại TB Texas v..v… Tất cả, tất cả, đối với tôi đều tiêu biểu cho hình ảnh của những lá cờ Vàng Ba Sọc Đỏ đang được những người Việt tỵ nạn âm thầm cắm trên mộ phần của những tử sĩ VNCH trong ngày Chiến Sĩ Trận Vong năm Quốc Hận thứ 45.

linh bo quen

Chiến Sĩ Trận Vong và “Những Người Lính Bị Bỏ Rơi”

Và cũng trong ngày “Memorial Day” hôm nay, tôi đã đem một bộ DVD “Những Người Lính Bị Bỏ Rơi” đến Tượng Đài Chiến Sĩ Việt Mỹ ở thành phố Westminster, California, xin đặt ở đó như một nén hương lòng, thay mặt cho tất cả các thân hữu cùng những người đã bỏ công thực hiện, đã tham dự, cũng như góp phần phổ biến hoặc trân trọng đón nhận, như một biểu tượng tri ân công lao cùng sự hy sinh của những người Lính VNCH qua hình ảnh và dòng nhạc của một tác phẩm nghệ thuật mang nhiều ý nghĩa nói trên.

linh tuong niem
Tưởng niệm ngày Chiến Sĩ Trận Vong, nhưng chúng ta đã không quên những người Lính bị bỏ rơi.

Nam Lộc
Westminster, California
May 25, 2020

Tiếc Thương

thơ Willam Wordsworth
IanBui chuyển ngữ

flag america

Ngơi nghỉ đi anh, chiến hữu
Trên đồng võ khí đã câm;
Sẽ không còn ai quấy nhiễu—
Đối phương, giọng súng giữa đêm…

Anh từng nằm quen trên đất
Nửa khuya chợt tỉnh bất nhân:
Rập rền rung rinh đại bác,
Bập bung trống trận xuất quân!

Sẽ không còn ai đánh thức
Trong trại binh của Tử thần;
Sẽ không còn đau với nhức,
Không còn sốt bởi vết thương.

Tất cả nằm im, bình thản,
Cỏ không ai giẫm đạp lên.
Tiếng hò reo giờ đình bản—
Cuộc hưu chiến của Bề trên!

Ngủ đi các anh, yên giấc
Trong tâm thức của mọi người;
Dựng chòi canh tôi sẽ gác
Không cho ai xỉa xói bươi.

Bao chiếc lều xanh nín lặng
Sẽ được trang trí bằng hoa:
Các anh giành cơn đau nặng,
Tiếc thương là việc của ta.

-ianbui
Memorial Day (2020.05.25)

oOo

Decoration Day

Sleep, comrades, sleep and rest
On this Field of the Grounded Arms,
Where foes no more molest,
Nor sentry’s shot alarms!

Ye have slept on the ground before,
And started to your feet
At the cannon’s sudden roar,
Or the drum’s redoubling beat.

But in this camp of Death
No sound your slumber breaks;
Here is no fevered breath,
No wound that bleeds and aches.

All is repose and peace,
Untrampled lies the sod;
The shouts of battle cease,
It is the truce of God!

Rest, comrades, rest and sleep!
The thoughts of men shall be
As sentinels to keep
Your rest from danger free.

Your silent tents of green
We deck with fragrant flowers;
Yours has the suffering been,
The memory shall be ours.

-William Wordsworth (1807-1882)

Yêu Nhau Kiếp Này

* Nhạc Khê Kinh Kha

* HNMinh Hát

\

Chắc gì có kiếp sau mà em hẹn
Hãy yêu anh kiếp này nhé em yêu
vì đời này còn trăm nghin gian khó
không có em đời sẽ mãi quạnh hiu

Chắc gì có kiếp sau mà em hẹn
kiếp này đây anh mơ ước dài lâu
cùng bên em quá tháng ngày yêu dấu
Tình nồng say mình thề ước bên nhau

Chắc gì có kiếp sau mà hẹn mãi
hẹn trăm năm trong kiếp nầy nhé em
trọn đời này anh nguyện yêu em mãi
đời không em hoảng vắng như bóng đêm
tình không em giá lạnh cả đời anh

Chắc gì có kiếp sau mà em hẹn
hẹn thề đi kiếp nầy mình có nhau
dù tình ta có nghìn trùng cách trở
mình yêu nhau cho đến mãi nghìn sau

Chắc gì có kiếp sau mà hẹn ước
dù kiếp này em có là thế nào
anh cũng nguyện không thay lòng bội ước
kiếp nầy đây em nhé mình yêu nhau

kiếp này đây…em hỡi…mình yêu nhau

Khê Kinh Kha

CHIỀU NGỒI BÊN CỬA SỔ

VÕ CÔNG LIÊM

beach-and-sunset

thu về chưa nhỉ ?
mà nắng đợi trên cành
tóc bay từng sợi nhớ
nghe nhẹ tâm hồn đau
một sáng buồn dâng hương
và . hoa gãy trên tay
những đóa hồng lẻ loi
để nắng thu về trong mắt trong
những bước chân xưa níu kéo trời dĩ vãng
chiều khoanh tay bên cửa đợi gió bay về
sáng rực rỡ hồn đi vào tịch mịch
cho lang thang ngày qua mau trên bước đường tùng lộ
đôm đốm sáng trời đêm mở hội dọc bờ hương lau lách
tháng năm còn lại rủ bóng theo nhau sóng cuốn xa bờ
đêm trầm mình trôi theo sông trôi ngày lệ ứa trong tim
tình tôi đầu ngọn gió
một trời biền biệt xa
đợi trăng về giữa chốn tịch liêu
mưa dội bùn cong khung nhớ
mà nắng vẫn phả vào mắt môi em long lanh
cho tôi về một mình trong nỗi nhớ
tháng tư . tháng năm . đầu hạ chợp chờn mưa rụng
thêm bao la trên từng ngón thon dài thuở măng non
tôi . lêu bêu như gã điên khùng
vườn khua thức để hoang mang đụng phải thân gầy
mấy độ thu về cho mưa thở dài đau nhói tình tan
và . trong bất chợt thấy mình du đãng
giữa cõi đời tay trắng trắng tay
lửa tắt rồi cho tâm tư chợt nhớ
ngày ốm bệnh căng con chữ trên tàn lá
vàng xưa ngồi chẻ tóc trắng bay
cho đá nghe kinh ngậm sầu nhân thế
âm u vọt nhảy từng giọt sương mù
tiễn đưa người cho trọn kiếp đời sau

chiều ngồi bên cửa sổ
nghe ngóng tin vui . tôi
khẽ chạm vào hồn . em ./.

VÕ CÔNG LIÊM (ca.ab.yyc. mùa dịch 5/2020)

NHỮNG BÀI THƠ VỀ MƯA

Nguyên Lạc

muamua 1

I. Mưa
.
1.
Tôi hứng giọt mưa rơi
Nếm thử … mùi đăng đắng!
Lòng hình như … nằng nặng?
Quê hương hạn mưa chưa?
.
Trời bên đó đã mưa?
Anh nhớ em nhiều lắm
Nhớ mưa lăn má thắm
Môi em ướt anh hôn
.
Xuân nơi này mưa luôn
Mưa … mưa … như trút nước
Không mưa êm … lất phất
Ngày anh biết yêu em
.
Những cơn mưa thân quen
Thuở nao giờ đã mất
Nụ hôn mưa có thật?
Mưa ướt tóc em tôi
.
2.
Ngoài trời mưa … mưa rơi
Mưa như ai trút nước
Dội hồn tôi lạnh buốt
Biết nơi nào trốn đây?
.
Mưa ơi! Thôi ngưng rơi
Tôi nhớ môi xưa lắm
Mưa êm … ướt má thắm
Không dị hợm mưa đây
.
Mưa. mưa … suốt cả ngày
Mưa ngập đường xe chạy
Mưa mù mịt … tương lai!
Mưa ngăn đường ngăn lối
.
Chỉ chừa lại một lối
Lối hướng về em tôi
Lất phất nhẹ mưa rơi
Ướt tóc … hôn bối rối
.
Mưa ơi! Ngừng đi thôi
Mưa buốt lạnh lắm rồi
Tôi ơi! Ngừng đi thôi
Nhớ thêm chi? Đủ rồi!

II. Câu Nói Trong Mưa

Nhớ câu em nói trong mưa
“Em nào có biểu thương vừa thôi nha!”
.
Nhớ em quá xá quà xa
Mưa đang trút nước … em và câu xưa
Bao năm cứ ngỡ hôm qua
Tình yêu anh giấu bây giờ còn thơm
.
Tận sâu ngăn kín tâm hồn
Lâu lâu mở khóa … tay ôm tim mình
Nhớ mưa ướt tóc em xinh
Lăn tròn má thắm … uống tình môi ngoan
.
Bây giờ vẫn nhớ mùi hương
Cơn mưa câu nói có còn không em?
“Em nào có biểu anh thương?”
Thương chi cho lắm? Để vương một đời!
.
Mưa chi? Mưa mãi không thôi!
Mưa rơi có biết động tôi một trời?
Ngưng đi!
Tôi lạy mưa ơi!
Để tôi đừng nhớ …
câu người trong mưa

III. Lời Em Mưa Đó
.
Mưa ngoài đó vẫn còn mưa mãi
Mưa vẫn hoài có xóa được tình ai
Có xóa được dấu chân gót nhỏ
Mắt môi người hương vẫn khôn nguôi
.
Mưa ngoài đó vẫn mưa … mưa mãi
Ta một mình lần nữa sầu ai
“Thương lắm chi? Hôn vừa thôi nhé”
Lời tình vui mưa lất phất bay
.
Có chút buồn tiếng mưa ngoài đó
Có chút giận hờn người đã xa ta
Nhưng thương rất nhiều lời em mưa đó
Làm sao bây giờ? Nhớ có phôi pha?
.
Gió cứ thổi và mưa cứ mãi
Từng hạt sầu dòng chảy xót xa
Giận. buồn. thương trong ta quyện mãi
Biết khi nào…?
Gió táp mưa sa!

Nguyên Lạc

 

quàng vai thơ đi giữa đời

khê kinh kha

bienvang

đã hơn 30 năm rồi
ba mươi năm lòng ta ơi
nhìn quanh
             vẫn thấy đất trời lạ ghê

đã bao lần
          chân mỏi quì
bao quị ngã
           lòng mệt, mê
bao nhiêu tâm sự
             tình quê muộn phiền

cầm tay thơ – chỗi dậy nhìn
tựa lưng thơ – đứng vững, yên
tựa lưng thơ, an ủi mình, lòng ơi

chút tình quê –chút tình người
tháng năm trôi – lệ xót, rơi
quàng vai thơ đi giữa đời
                                        cô liêu

 

NHỮNG BÀI TỨ TUYỆT

Nguyên Lạc

khoang cach

1. Tím Cả Đoạn Trường
.
Sương rơi trắng cả con đường
Em rơi tím cả đoạn trường trong anh!
Tinh đầu sương khói mong manh
Nhân sinh dâu bể nỗi lòng trăm năm

2. Nụ Cười
.
chợ đời gom nhặt sân si
lên chùa vấn Phật có gì đổi cho
mĩm cười hai chữ âu lo
về nhà mẹ hỏi … Cười to thế à
.

3. Căn Bệnh Tình Yêu
.
Tình yêu căn bệnh lạ lùng
Ai mà nhiễm phải không khùng cũng điên
Điên thì ta hãy cứ điên!
Yêu thì ta cứ! Không tình sống chi?
.

4. Tội Cho Qua
.
Gió lay rụng trái mù u
Giận ai bậu nói đi tu cho rồi?
Tội cho qua lắm bậu ơi!
Bậu đi tu chắc sự đời qua xong!
.

5. Cuộc Tang Thương
.
Chim quyên khản cổ khóc trùn
Anh hùng mạt vận lên rừng đốt than
Khói than che mất trăng vàng
Nhân sinh thống hận cuộc tang thương nào
.
.
6. Đêm Độc Ẩm Bên Hồ
.
Huơ tay khuấy bóng trăng vàng
Sao nghe tâm buốt vô vàn nỗi ai
Ngâm câu “đoạn thuỷ ” vẫn hoài [*]
Nghiêng bầu uống cạn thở dài hư không!
………..
[*] Trừu đao đoạn thủy thủy cánh lưu/ Rút dao chém nước, nước càng chảy mạnh (Lý Bạch)
.

7. Tiếng Vọng Chiều
.
Hắt hiu trĩu nặng tà huân
Ngút xa não vọng lũng ngàn câu thơ
“Nghìn năm mây trắng hững hờ”
Có không tâm động bến bờ tử sinh
.

8. Hoa Tím Bằng Lăng
.
Bằng Lăng hoa tím tôi về
Tìm em chỉ thấy lời thề đã phai
Đâu xưa áo trắng tóc dài …?
Mùa hè sao lạnh tím ai nỗi lòng!
.

9. Quỳnh Mơ
.
Đêm em về với tôi
Đóa quỳnh mãn khai đợi
Hương quỳnh ngọt đẫm môi
Để ngày đừng mong đợi
.

10. Quên Chưa?
.
Níu tay người hỏi thu phai?
Thưa em thu đó vẫn hoài thu xưa!
Níu mây trời hỏi quên chưa?
Xuân thu hương sắc đủ vừa trăm năm!
.
Nguyên Lạc

HẠ VÀNG

Nhật Quang

aovang

Giọt Hạ vàng rớt mênh mang
Vương bờ vai lụa mượt làn tóc mây

Sân trường trống giục chia tay
Phượng rơi lác đác, gió bay hương nồng

Bằng lăng tím lối mênh mông
Bồi hồi…lưu luyến tuổi hồng sách thơm

Nhặt vần thơ mộng ủ ươm…
Ép trang lưu bút nhẹ vương vấn lòng.

 

MÂY XUỐNG

VÕ CÔNG LIÊM

may

tặng: nguyễn mai ninh
con nắng tàn rơi
buồn thế kỷ
trong vạt gió từ khơi
tháng năm . theo nhau về nơi viễn xứ
thời gian trôi giạt
lần mò đi vào ngõ cụt ngẫu hứng bất ngờ
những con đường đóng băng không người lái
hát vu vơ những tình khúc lỡ dỡ bỏ quên sầu
phố thị buồn say nâu
trầm mình trong nỗi nhớ
chưa lần gặp gỡ mà nhớ thương ngày tháng cũ
đêm đóng cửa rượu nồng đã chén . lần qua tay nhớ đêm về
vĩa hè nghiêng xiêu đèn vàng phố lạ
đứng một mình trong quanh hiu . tôi
và em . cửa mở tự bao giờ ngày đơm thơm trái chín
đậu trên cành mà ngỡ như hôm qua đã một lần yêu
cuối sân ga mờ ảo bóng chân mây . phố đóng then cài
khúc Mozart buồn lai láng cho tim đập chậm tháng năm chờ
mòn xoáy vào mùa đông . cong queo nỗi nhớ mắt môi em rực rỡ
yêu thương trên từng nhánh sông trôi vào biển nhớ
để mưa gió rủ nhau về ôm mái nắng lang thang
mùa dị biệt không gian khép kín vào khung nhớ
tôi . buộc chặc linh hồn cho ngàn cõi chiêm bao vượt thoát

của điệu buồn hụt hẫng
đêm gục đầu sám hối
trong ngăn cách chia xa
bóng hoàng hôn tím dần
nghe mưa ngủ trên tay
chiều rơi vào cố quận
cho tới khi mây xuống
tôi . con chim cô độc ./.

VÕ CÔNG LIÊM (ca.ab.yyc 10/5/2020)

CÔNG LÝ

ĐẶNG XUÂN XUYẾN

uminh 2-rungtram

Ở Việt Nam có chàng Công Lý (*)
Giỏi diễn hề, tráo đổi trắng đen
Cũng mũ hài lái giọng người ngay
Nhưng rặt diễn mấy trò ti tiện

Tôi muốn lắm hề vào vai chính diện
Một lần thôi để Công Lý sáng lòa
Tôi cũng biết chỉ là vai hề diễn
Nhưng lẽ nào CÔNG LÝ mãi là tên?!
————————-
(*) Công Lý: Nghệ sĩ Công Lý thành danh với những vai hài.
*.
Hà Nội, trưa 08-05-2020

Niềm Tin Của Me

Khê Kinh Kha

me oi me

Mẹ gìa tát nước bên đồng
mong con chiến đấu oai hùng ngày đêm
vượt rừng băng suối qua sông
say mê theo tiếng quê hương gọi mời
dù gian lao – mẹ vẫn cười
vì con chiến đấu cho đời tự do

vì con tranh đấu diệt thù
mẹ vui khi có con đi dựng cờ
một mai trong tiếng quân về
mẹ vui khi thấy ánh hòa bình lên

mẹ gìa sớm tối vun trồng
cho con vui bước theo đoàn hùng binh
từng chiều nghe súng âm vang
mong cho con mãi hiên ngang với đời
dù hôm nay – me héo gầy
lòng yêu non nước thương người lầm than

lòng yêu non nước vô vàn
mẹ vui khi có con đang diệt thù
một mai khi gío sang mùa
tình xưa chắp nối ước thề ngày sau

mẹ gìa đôi mắt đã mờ
đêm đêm ra đứng bên bờ nguyệt soi
nguyện cầu cho đứa con trai
xa xôi đâu đó không phai lời nguyền
vì quê hương – lòng vững bền
nguyện đem xương máu đắp nền tự do

con, con ơi
non nước còn lầm than
sông núi còn đau thương
ruộng đồng còn bỏ hoang, tàn úa

con, con ơi
nuôi ước mộng toàn dân
đi thắp tình yêu thương
một ngày Việt Nam sẽ có thanh bình
KhêKinhKha
(1980)

HOA HỒNG XANH VÀ LÁ DIÊU BÔNG

Nguyên Lạc

.
BÀI THƠ BLUE ROSES – HOA HỒNG XANH

hoa hong xanh
Hoa Hồng Xanh – Blue Roses là bài thơ của Rudyard Kipling, một văn thi sĩ người Anh.

I. Vài Hàng Tiểu Sử Rudyard Kipling
Joseph Rudyard Kipling (sinh tại Mumbai, Ấn Độ 30 tháng 12, 1865 – qua đời 18 tháng 1, 1936) là một trong những tác giả nổi tiếng nhất ở Vương quốc Anh, cả về văn xuôi và thơ, vào cuối thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 20. Rudyard Kipling đoạt giải Nobel Văn học năm 1907 – ông được trao giải Nobel khi mới 42 tuổi – là người trẻ tuổi nhất trong lịch sử giải Nobel Văn học.

 

 

Các tác phẩm tiêu biểu:
– Plain Tales from the Hills (Truyện kể núi đồi, 1887)
– The Jungle Book (Sách Rừng xanh, 1894), tập truyện – dựng thành phim
– The Five Nations (Năm dân tộc, 1903), thơ
– If (Nếu, 1910), thơ – Cuối thế kỷ XX, đài BBC đã đề nghị thính giả chọn những bài thơ hay nhất của các nhà thơ Anh, bài thơ này được chọn nhiều nhất.
– Đặc biệt bài thơ Blue Roses được rất nhiều người biết đến và thích. Có người cho nó thuộc về thơ “Siêu thực”. […”Chủ nghĩa/Trường phái Siêu thực (Surrealism) là khuynh hướng nghệ thuật bắt nguồn từ chủ nghĩa Tượng trưng và Phân tâm học, đặt phi lý tính lên trên lý tính. Chủ trương, khuynh hướng trường phái nầy nhằm giúp con người thoát ra khỏi mọi xiềng xích xã hội. Chủ nghĩa siêu thực cố gắng diễn tả tiềm thức bằng cách trình bày các vật thể và sự việc như được thấy trong những giấc mơ”…] (Nguồn Wikipedia)
.

II. Bài thơ Blue Roses

Xin giới thiệu đến các bạn bài thơ Blue Roses, theo tôi đầy cảm xúc, đánh động lòng người.
.
Nguyên tác:
Blue Roses
By Rudyard Kipling
.
Roses red and roses white
Plucked I for my love’s delight.
She would none of all my posies–
Bade me gather her blue roses.
.
Half the world I wandered through,
Seeking where such flowers grew.
Half the world unto my quest
Answered me with laugh and jest.
.
Home I came at wintertide,
But my silly love had died,
Seeking with her latest breath
Roses from the arms of Death.
.
It may be beyond the grave
She shall find what she would have.
Mine was but an idle quest–
Roses white and red are best
.

III. Ý nghĩa của hoa hồng xanh

Hoa hồng xanh tượng trưng cho những điều không thể thành hiện thực, hoặc không thể đạt được. Bởi hoa hồng xanh rất hiếm trong tự nhiên, nên nó đại diện cho điều gì đó hầu như không nằm trong tầm tay của con người, một giấc mơ không thể thực hiện.
.
IV. Dịch Thơ Blue Roses

Có nhiều người dịch bài thơ Blue Roses, sau đây là các bài dịch tiêu biểu:

1. Nguyễn Viết Thắng dịch:
.
Hoa hồng xanh
.
Tôi mang đến tặng em
Hoa hồng đỏ và trắng.
Không hiểu sao em bỗng
Nói em thích hồng xanh.
.
Tôi đi khắp thế gian
Tìm thứ hoa như vậy.
Nhưng người ta cười nói:
“Chẳng có ở trên trần”.
.
Tôi trở về mùa đông
Em của tôi đã chết
Em có còn nhận biết
Hoa từ tay Tử thần.
.
Biết đâu nơi suối vàng
Có loài hoa ao ước.
Chẳng có hoa nào đẹp
Bằng hoa cõi trần gian.
.
2. Trần Đức Phổ dịch:
.
Bông Hồng Xanh
.
Hoa hồng đỏ, hoa hồng trắng
Tôi hái trao tặng người thương
Vô tình nàng chê chẳng nhận
Đòi màu xanh biếc hoa hường!
.
Lang thang nửa vòng trái đất
Chẳng đâu mọc thứ hoa này
Hỏi tìm nửa vòng trái đất
Chỉ toàn cười mỉa, chua cay
.
Trở về trong mùa đông lạnh
Người yêu thơ dại qua đời
Nhìn nàng trút hơi thở cuối,
Tử thần cướp đóa hồng tôi!
.
Có lẽ bên kia thế giới
Nàng tìm thấy được niềm vui
Riêng tôi chân tình chẳng đổi
Hồng đỏ. hồng trắng tuyệt vời!
.
3. Nguyên Lạc phóng dịch
.
a. Vài ý riêng về dịch thơ nước ngoài:

Trước khi phóng dịch bài thơ, tôi xin ghi ra đây vài ý chủ quan:
– Dịch thơ từ tiếng nước ngoài, nhất là tiếng đa âm – các nước phương Tây, ra tiếng đơn âm – tiếng Việt; hoặc ngược lại, là một điều rất khó. Coi chừng “dịch là diệt”. Dịch chính xác từng mặt chữ – giống như các dịch giả chuyên nghiệp, thì bài thơ sẽ không mượt mà. Theo tôi, thi nhân chỉ cần nắm bắt được “hồn thơ”, dịch theo ngôn ngữ riêng của mình – với điều kiện đừng quá xa rời nguyên bản – thì bài thơ dịch sẽ mượt mà hơn.
– Tiêu biểu viêc nắm vững “hồn thơ” rồi dịch rẩt tài hoa là trường hợp Phan Huy Vịnh, dịch câu thơ chữ Hán của Bạch Cư Dị ra tiếng thuần Việt mà nhiều người cho là còn hay hơn câu nguyên tác:
Đồng thị thiên nhai luân lạc nhân => Cùng một lứa bên trời lận đận
– Với những điều nói trên, tôi sẽ không dịch chính xác theo mặt chữ một vài từ/ chữ, chỉ dịch thoát chúng theo ý/tứ câu/bài thơ.
Thí dụ: “The grave” không dịch là “mộ phần”, “nghĩa địa”, “chết” … mà dịch là “cõi khác”. Tương tợ, “Half the world” tôi không dịch là “nửa vòng trái đất”, mà dịch là “khắp cùng trái đất”, “khắp cùng thiên hạ” cho mạnh nghĩa, vân vân…
.
b. Phóng dịch bài thơ:
Tôi sẽ cố gắng nắm “hồn thơ”, theo sát nguyên tác để dịch bài thơ Blue Roses . Chủ quan, trong công việc dịch thuật văn thơ nước ngoài, ai cũng tham khảo các người dịch trước, tôi cũng không ngoại lệ.
Đúng ra bài thơ này có nhiều người dịch rồi, tôi không nên dịch; nhưng vì đồng ý với nhiều người cho rằng nó thuộc về thơ “Siêu thực”, và giống như bài thơ Việt Nam nhiều người yêu thích- đã được các nhạc sĩ tài hoa phổ nhạc : Lá Diêu Bông của thi sĩ Hoàng Cầm – nên tôi dịch lại.
Bài thơ hầu như là loại thơ 6 chữ, do đó theo chủ quan tôi, dịch thơ theo loại 5 chữ thì thiếu chữ, không diễn tả hết ý nguyên bản; còn dịch bằng 6/8, 7 hoặc 8 chữ … thì dư chữ và khó khăn. Tôi sẽ phóng dịch bằng thơ 6 chữ như thi sĩ Trần Đức Phổ.
Đây là bài phóng dịch thơ của tôi:
.
HOA HỒNG XANH
.
Hoa hồng trắng hoa hồng đỏ
Hái tặng làm vui tình nhân
Không phải màu hoa mong muốn
Nàng đòi xanh biển hoa hồng!
.
Lang thang khắp cùng trái đất
Tìm đâu được thứ hoa này
Hỏi tìm khắp cùng thiên hạ
Nhận toàn giễu cợt mỉa mai
.
Về đúng ngay lúc mùa đông
Ngây thơ yêu đang hấp hối
Tìm nàng thở hơi thở cuối
Hoa hồng trong tay Tử thần!
.
Có lẽ bên kia cõi khác
Nàng sẽ tìm được hồng xanh
Riêng tôi tấm lòng không khác
Trắng đỏ tuyệt nhất luôn dành
.

BÀI THƠ LÁ DIÊU BÔNG
.
Lá Diêu Bông là bài thơ của Hoàng Cầm, thi sĩ người Việt. Bài thơ Blue Roses – Hoa Hồng Xanh khiến ta liên tưởng đến bài thơ Lá Diêu Bông của thi sĩ Hoàng Cầm, vì cả hai đều nói đến sự truy tìm những điều không thể thành hiện thực.
Bài thơ Lá Diêu Bông viết về một câu chuyện có thật, câu chuyện về mối tình đầu tiên trong đời Hoàng Cầm với người con gái lớn tuối, đáng chị mình.
.
1. Tiểu sử Hoàng Cầm
Hoàng Cầm tên thật là Bùi Tằng Việt, sinh năm 1921 (một bài báo ở Saigon gần đây cho biết ông sinh vào năm 1922) tại Làng Lạc Thổ, Huyện Lang Tài, Phủ Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh trong một gia đình Nho Giáo. Hoàng Cầm học Tiểu Học tại Bắc Giang rồi lên Hà Nội học Trung Học và đậu Tú Tài II Pháp. Khi còn đang học lớp Ðệ Tứ, Hoàng Cầm phóng tác cuốn Graziella của Lamartine thành chuyện Việt Nam với tên Hận Ngày Xanh. Tiểu thuyết đầu tay của Hoàng Cầm là Thoi Mộng, viết vào năm 1943. Trở về Bắc Giang, dạy học tại trường La Clarté, Hoàng Cầm vẫn viết văn, làm thơ để gửi đăng trên các báo Tiểu Thuyết Thứ Năm, Tiểu Thuyết Thứ Bẩy. Anh là người dịch truyện Ba Tư Một Ngàn Ðêm Lẻ ra Việt ngữ… [Hoàng Cầm Trong Tôi – Phạm Duy]
.
2. Nguyên văn bài thơ
.
Lá Diêu Bông
.
Đứa nào/ tìm được lá diêu bông
Từ nay ta gọi là chồng.
Mùa Đông sau em tìm thấy lá
Chị lắc đầu/Trông nắng vãn bên sông
Ngày cưới chị/ Em tìm thấy lá
Chị cười xe chỉ ấm trôn kim
Chị ba con/ Em tìm thấy lá
Xoè tay phủ mặt chị không nhìn.
Từ thuở ấy/ Em cầm chiếc lá
Đi đầu non cuối bể/ Gió quê vi vút gọị
Diêu bông hời … ới Diêu bông!”.
(Hoàng Cầm)
.
3. Phổ nhạc bài thơ Lá Diêu Bông
– Năm 1984 bài thơ Lá Diêu Bông của Hoàng Cầm đã được nhạc sĩ Phạm Duy phổ nhac, cùng tên. Nội dung bài thơ được giữ nguyên, Phạm Duy chỉ thêm vào hai câu lục bát ở cuối bài:

Em đi trăm núi nghìn sông
Nào tìm thấy lá diêu bông bao giờ?

– Ngoài ra, khoảng năm 1990, nhạc sĩ Trần Tiến phổ lại nhạc với lời mới cho bài thơ này, bài hát mang âm hưởng dân ca Bắc bộ, lấy tên là “Sao em nỡ vội lấy chồng”.

Trích lời bài hát “Sao em nỡ vội lấy chồng” – Trần Tiến :
.
Bướm vàng đã đậu trái mù u rồi
Lấy chồng sớm làm gì, để lời ru thêm buồn
Ru em thời thiếu nữ xa xôi
Còn đâu bao đêm trăng thanh
Tát gàu sòng, vui bên anh
Ru em thời con gái kiêu sa
Em đố ai tìm được lá diêu bông
Em xin lấy làm chồng
. . .
Thương em tôi tìm được lá diêu bông
Sao em nỡ vội lấy chồng
Diêu bông hỡi diêu bông
Sao em nỡ vội lấy chồng!
.
4. Về lá diêu bông:
Lá diêu bông là lá gì ?
– Lá diêu bông (lá bông diêu thì đúng hơn) là thứ lá đặc biệt ở làng Ðình Bảng, Bắc Ninh, phụ nữ thời xưa thường vắt ra nước rồi bôi lên mặt cho da dẻ được hồng hào tươi đẹp – theo Phạm Duy
– Lá diêu bông được nhà thơ Hoàng Cầm giải thích rằng đó là lá của hoa phiêu diêu, hoa trong mộng tưởng. Tình yêu luôn đẹp và phiêu diêu như vậy.

***
Theo chủ quan của tác giả bài viết thì cả hai bài thơ đều hay, đầy cảm xúc. Vấn đề được nêu ra ở đây là:
– Những điều bản thân mình mong muốn mà “không thể trở thành hiện thực”, khi người mình thương yêu “vẫn hiện hữu” và người mình thương yêu đã bị “Thần Chết cướp đi”, cái nào thảm hơn cái nào?
.
Nguyên Lạc
……………….
Mời nghe:
– Lá Diêu Bông (Thơ Hoàng Cầm, nhạc Phạm Duy – Ý Lan hát)
https://www.youtube.com/watch?v=2mazKAw_vZQ
– Sao Em Nỡ Vội Lấy Chồng (Nhạc Trần Tiến – ca sĩ Tố My)
https://www.youtube.com/watch?v=QAyrm8jA_a8

PHỐ NGỦ

Võ Công Liêm

thai thanh
nhớ: thái thanh (1934-2020)
nắng chẻ trên vai buồn đứng bóng
hoàng hôn xa lạ giữa lưng đèo
con đường mồ côi
mấy ngã đường tình
phố ngủ
then cài
phố nắng
buồn thiu
em . đầu hạ giờ đây thôi nhịp bước
tôi . hôn mê uống cạn những khúc tình
ngày
buồn
tênh
đêm
nhầy
nhụa
ta đứng bên này vĩ tuyến thuở mộng mơ
cách xa mấy dặm nụ hôn nồng
bẻ tay nắm ngón nghe thương nhớ
nghìn trùng xa cách có trùng khơi ?
con đường một chiều
của sài gòn nhỏ
lặng lẽ âm thầm
nhạc tiễn người đi
lời ca thắp nhặt vuốt tiếng thời gian
ngậm đá nghe kinh một tiếng chày kình
giới nghiêm giờ ngọ người đóng chặt cửa
có hẹn nhau rồi bóng xế cũng tàn dư
xin khất lại một ngày rất gần gũi
để nghe tiếng hát tợ nhung mềm
đêm màu hồng buồn man nỗi nhớ
sài gòn rít tiếng kèn đồng thêm đau đớn
nhả ngọn khói tròn cuộn lên môi thơm
tình yêu tình cờ đợi đến hôm nay
mắt môi em là biển trời xanh bát ngát
những chuyến xe không người lái đợi cuối chân trời
mắt cười tráng lệ cho lá ngủ trên tay
ôm vào lòng linh hồn nhược tiểu
những nhát dao vào đời theo mây về bên mái rạ
nghe mưa . giữa trời hoang vắng cho mặc sức ngây thơ
thành phố đau nỗi nhớ . đêm giả từ hà nội buồn lăn bánh
biển khóc một đời hoang vu mi ướt chạm vành môi đẫm lệ
đâu phải đêm nay phố ngủ mà nhớ ngọc hồi năm tháng phôi pha
cho xe cát lênh đênh tràn mi mắt . cho ngực thở từng lời yêu dấu
bước chân lên lầu thanh thế hôm qua mà nhớ đến ngày sau đó
em . là cầu thê húc là năm cửa ô là bồng lai tiên cảnh tự do ơi
tôi . nhặt từng con chữ làm sâu bọ tình nhân trong vĩnh cửu

một lần rồi thôi
như giọt mưa rơi
vào lòng sa mạc
của tình ca hụt hẫng dưới hiên trăng ./.

VÕ CÔNG LIÊM (ca.ab.yyc . cuối 4/ 2020)

VỀ MỘT DÒNG SÔNG

Nguyên Lạc

uminh4-tram

Cần Thơ gạo trắng nước trong
Ai đi đến đó lòng không muốn về
(ca dao)

BÀI THƠ NHỚ BẾN NINH KIỀU

Tình cờ gặp bài thơ và hình chụp của ông bạn thi sĩ Quảng Nam thăm bến Ninh Kiều, TP Cần Thơ, khiến tôi nhớ nó quá, vội họa những lời thơ nầy:

TỚI BẾN NINH KIỀU
(Nguyễn Hàn Chung)

Anh hăm hở tới Ninh Kiều
xung quanh vắng ngắt mĩ miều cù cưa
cái thời nắng khổ tìm mưa
nói chung chấm hết nên chừa vậy thôi

Thơ họa:

NHỚ BẾN NINH KIỀU
.
Bao năm quên bến Ninh Kiều
Chợt nay thấy ảnh buồn nhiều oán sâu!
Cái thời mắt liếc môi trao
Cái thời mưa đượm tình nhau… Xóm Chài!
.
Vẫn còn hoài mãi một đời
Dù bao thống hận lũ người ác nhân
Gây chi bao chuyện tang thương?
Để cho oan nghiệt sâm thương đôi bờ!
.
Còn đâu đại học Cần Thơ!
Còn đâu đường phượng thắm hoa đỏ trời!
Tiếc thương chi? Cũng rồi thôi!
Nhớ thương chi? Để lệ rơi kiếp người?
(Nguyên Lạc)
.
Bài thơ trên cũng khiến tôi chạnh long nhớ đến hai câu ca dao nhân dân của “một thời tôi cố quên”, thời 75 như sau:
Chiều chiều trên bến Ninh Kiều
Dưới chân tượng Bác, đĩ nhiều hơn dân!
(Ca Dao Nhân Gian Thời XHCN Việt Nam)
.
Trong bài thơ họa có hai cụm từ: XÓM CHÀI và ĐẠI HỌC CẦN THƠ các bạn miền ngoài không rõ, nên đã hỏi. Tôi xin được giải thích rõ về hai cụm từ này, cùng những gì liên quan đến nó để các bạn tường.
.
VỀ ĐỊA DANH XÓM CHÀI

1. Xóm Chài
Xóm Chài là một xã đối diện với bến Ninh Kiều nhìn qua sông nhỏ Cần Thơ. Xã này nằm trên doi đất nhô ra, kẹp giữa bởi sông Hậu và sông nhánh Cần Thơ .
Bến Ninh Kiều tọa lạc tại ngã ba sông Hậu và sông nhánh Cần Thơ, trước 1975 là Căn Cứ Hải Quân vùng 4 VNCH. Về phải, con sông nhỏ Cần Thơ nầy chạy qua Công viên Ninh Kiều, chợ Cần Thơ rồi đến huyện Cái Răng – có chợ nổi nổi tiếng và cầu lớn bằng xi măng bắt ngang qua, nối liền quốc lộ 4, chạy xuống Sóc Trăng và Cà Mau. Cầu này, năm 1968 bị mìn CS nổ xập, ban ngày, làm một số xe đò chở đầy người và một số bộ hành (dân đi bộ buôn bán) rơi xuống sông chết. Sau đó cầu được xây lại.
Từ Cái Răng, dòng sông chạy đến Phong Điền, Cầu Nhiếm vang tiếng về những vườn cam bạt ngàn. Cam xanh (Cam sành) rất ngọt, được thương lái chuyện vận lên tận Sài gòn. Đây là quê của “nàng” hiện tại.
Nửa đoạn đường Cái Răng đến Phong Điền, khoảng xà Nhơn Ái nếu rẽ trái là kênh/ kinh đào thẳng tấp: Kênh/ Kinh Xáng Xà-No rồi đến huyện Phụng Hiệp – Ngã Bảy , nơi 7 con sông nhỏ gặp nhau.
.
“Hò ơ …. Cái Răng, Ba Láng, Vàm Xáng, Xà No.
Anh có thương em thì mua một con đò
Để em qua lại. Hò ơ… để em qua lại thăm dò ý anh.”
.
Cá trê trắng nấu với rau cần
Muốn về Kinh Xáng cho gần với em
(ca dao)
.
a. Kênh Xáng Xà-No

Kênh Xáng Xà No – Gọi tắt là kinh (kênh) Xáng, một dòng kênh do thực dân Pháp đào – Năm 1901 kênh Xà No được khởi công, đến tháng 7/1903 hoàn thành – nhằm khai thác vùng đất hoang miền Hậu Giang. Bề ngang trên mặt kênh rộng 60 mét, đáy 40 mét, độ sâu từ 2,5-9 m, dài 39 km nối liền sông Cần Thơ (ngã ba Vàm Xáng, làng Nhơn Ái, Phong Điền, Cần Thơ) đến sông Cái Lớn (ngọn rạch Cái Tư, nay thuộc thị xã Vị Thanh, tỉnh Hậu Giang). Sông Cái Lớn chảy ra biển, vùng vịnh Thái Lan.
Có người cho rằng, gọi tên kênh là Xà No vì được đọc trại từ Saint-Tanoir, tên của người Pháp chỉ huy xáng đào con kênh này. Theo nhà văn Sơn Nam thì cái tên Xà No bắt nguồn từ tiếng Khmer: “Srok Snor – xóm có cây điên điển”.

b. Huyện Phung Hiệp – Ngã Bảy

Được gọi là Ngã Bảy vì sông chia 7 ngả sông toả đi các hướng khác nhau.
.
Dòng sông chia nhánh làm bảy ngả
Biết ngả nào tôi dõi em đây?
Xuôi dòng con nước ngày xưa ấy
Bỏ lại mình tôi khóc ròng đầy
Bỏ lại mình tôi bên bãi vắng
Cây bần buồn rụng trái nào hay!
Bìm bịp kêu giọng khàn đôi tiếng
Nước lớn đầy bảy ngả mù mây!
(Dò Tìm Trên Sông Ngã Bảy – Nguyên Lạc)
.
Huyện Phung Hiệp thuộc tỉnh vừa thành lập (khoảng 1961 – 1962 thời ông TT Ngô Đình Diệm): Tỉnh Chương Thiện. Khoảng năm 1972 (?) TT Nguyễn văn Thiệu bổ nhiệm một vị đại tá rất trẻ, tốt nghiệp từ trường Thiếu Sinh Quân làm Tỉnh trưởng : Đại tá HỒ NGỌC CẨN, tính tới 1975 (năm ông chết) mới vừa 33 tuổi. Vị đại tá Tỉnh trưởng này không chịu đầu hàng ngày 30/4 nên bị Uỷ Ban Quân Quản CS kết án tử hình và định ngày xử bắn tại sân vận động (sân bóng đá) Cần Thơ khoảng cuối tháng 5/1975 (?). Chính quyền CS bắt tất cả mọi gia đình ở thành phố Cần Thơ phải có người đến xem xử, trong đó có gia đình tôi, nếu không sẽ bị kết án chống “Cách Mạng”!
Mặc bộ bà ba đen, mắt bị bịt kín, bị trói thút vào cột bắn, ông được CS “ân huệ” cho nói lời cuối, với ý mớm ăn năn hối lỗi đã chống lại Cách Mạng.
Đây là câu nói cuối cùng của ông Cẩn: “Việt Nam Cộng Hòa muôn n…ă..m…!”
Tên lính CS vội vã bụm miệng ông và nhét giẻ vào.
Sau đó một loạt súng nổ, một phát súng ân huệ, ông Cẩn qua đời, xác được vùi trong bãi tha ma bên đường, ngang Trại Nhập Ngũ vùng 4 thời VNCH.

2. Trở lại bến Ninh Kiều.
Từ bến Ninh Kiều nhìn về sông Hậu rộng lớn, hướng sang trái là bến bắc/ bến phà Cần Thơ chảy đến Long Xuyên. Hướng sang phải chảy ra biển Đông, ngang qua Đại Ngãi (Vàm Tấn) quê tôi, cách cửa biển khoảng 20 km (khoảng 17 miles).
.
– Hò ơ ớ ơ ơ …
Đất Sóc Trăng khô cằn nước mặn
Anh ra Vàm Tấn chở nước về xài
Về nhà sau trước không ai (ơ ờ)
Hò ơ ớ ơ ơ …
Hỏi ra em đã … theo trai mất rồi (ơ ơ)
(Hò ca dao)

— bậu về Đại Ngãi mình ên
bỏ quên kẹp tóc bắt đền tội ta
bậu quên là tại bậu mà
tại sao bậu bắt đền ta một đời
tội này không chịu bậu ơi !
(Bậu về – Trần Phù Thế)

— Tha phương cơm áo tháng ngày
Hồn quê xưa cũ vẫn hoài trong tôi
Cái tên Vàm Tấn tôi ơi!
Trăm năm vẫn nhớ những lời ca dao
“Ra sông, đổi nước ngọt nào
Về nhà, trông trước trông sau vắng nàng
Hỏi ra đã bỏ mất đàng
Theo trai bậu nỡ phụ phàng tình tôi”
Cái tên. Đại Ngãi tôi ơi!
Làm sao quên được. một thời thiết tha?
(Nhớ Về Vàm Tấn/ Đại Ngãi – Nguyên Lạc)

Trước khi đến xã Đại Ngãi khoảng 3 km (2 miles) là xã Nhơn Mỹ, thuộc huyện Kệ Sách, quê hương của vợ sau Đại tướng Cao Văn Viên (Tổng Tham Mưu Trưởng quân lực VNCH)
Chợ xã Nhơn Mỹ tọa lạc trên bờ đất tại ngã ba bờ phải sông Hậu (hướng chạy ra biển) và rạch Nhơn Mỹ. Phía đối diện chợ Nhơn Mỹ, giữa sông Hậu là cồn Quốc Gia (quê của cô bạn gái đầu đời). Đây là nơi ông TT Nguyễn Văn Thiệu có lần ghé thăm, vì nó nổi tiếng trù phú với vườn sầu riêng và chôm chôm.
Ngày 1/5/1975, chú của người bạn gái, xã trưởng Nhơn Mỹ đã bị xử tử tại chợ. Cổ bị xiết bởi một khăn rằn choàng (chàng) tắm, hai đầu khăn kéo bởi 2 tên du kích. Vì ông ta to con, khỏe mạnh giãy giụa, không ngộp thở, nên hai tên du kích, mỗi đầu khăn một tên, lôi ông ta xuống mé bãi rạch Nhơn Mỹ để trấn nước. Ông vùng vẫy nên chúng không đè đầu ông xuống nước được. Một tên khác bèn lấy dao đâm vào bụng ông để làm yếu sức. Ông bị xiết cổ và dìm chết ngộp. (Kể đúng theo lời của cô bạn gái, cháu ông xã trưởng)

3. Gia đình tôi.
Riêng về phần gia đình tôi ở Đại Ngãi:
– Anh Nguyễn Văn Yên tr/uy HQ (VNCH) vượt trại”cải tạo” Chi Lăng (Châu Đốc) chạy vào rừng (1976). Giữa đêm vang dội tiếng súng săn đuổi, mất tích: “40 năm con thơ vẫn đợi” đến nay!
– Cha Nguyễn Văn Hỷ bị bắt, hành hạ trong ngục tú CS và chết trong vụ đàn áp tôn giáo.
.
Đêm tháng tư tha hương. thấy dòng lệ khổ
Tiễn người anh cơ khổ ngục tù
Khóc người anh đêm vượt trại hận thù
Tan biến vào rừng thẳm
40 năm con thơ vẫn đợi!
Đêm tháng tư tha hương. thấy gì tôi hỡi?
Thấy con đường khập khiễng cha đi
Mắt lệ nhòa trên đôi nạng sầu bi
Vào tử ngục. rồi mạng vong. vì hận thù tôn giáo!
(Đêm Tháng Tư Tha Hương Thấy Gi? – Nguyên Lạc)
.
– Gia đình tôi liều chết vượt thoát năm 1986 sau hơn 10 năm sống trong “thiên đường CS” trên một ghe con đi sông dài 10 mét, không hầm trú. Sau 7 ngày te tua mới tới đuợc đảo Bi- Đong (Malaysia), may mắn không ăn thịt người (vừa chết).
.
Đêm tháng tư tha hương. thấy gì tôi hỡi?
Thấy sự thét gầm khủng khiếp của trùng dương
Thấy sự nhỏ bé của con người trước sóng nộ cuồng
cùng nỗi vô vọng. hãi hùng … trước vô cùng biển cả
Thấy đói khát, chết chóc, đau thương …
Thấy những dòng lệ ứa
Mẹ ngất con. chồng khóc vợ…
Thấy uất hận lũ hải tặc hung tàn
(Đêm Tháng Tư Tha Hương Thấy Gi? – Nguyên Lạc)
.
4. Trở lại dòng sông Hậu.
Vừa qua Đại Ngãi, trên đường ra biển, giữa sông nổi lên một dãi đất lớn gọi là Cù lao Dung (Gọi là Cồn nếu dãi đất nổi lên nhỏ). Cù lao Dung nổi lên giửa sông Hậu, khoảng vàm Đại Ngãi chạy dài độ 20 km (khoảng 17 miles) ra đến gần cửa biển. Trên Cù lao này CS có thiết lập Trại “cải tạo” Cồn Cát, để giam giữ các sĩ quan “Ngụy” và các người vượt biển đi tìm tự do bị bắt. Đây cũng là nơi gia đình tôi “chém vè”, chờ đến giữa đêm tối không trăng, lên ghe con thả theo nước ròng trôi ra cửa biển để không gây tiếng động, kẻo Công An biên phòng phát hiện và bắn chẳng nương.
Bãi bùn của cù lao này cũng là nơi vùi bao nhiêu xác người, bị đập đầu chặt cổ giữa đêm, trong cuộc tổ chức vượt biển giả để cướp vàng, có liên hệ đến”Công An kiến cường” huyện Long Phú.
.
Bao năm đời này vẫn nhớ
Đêm thâu xuôi mái theo dòng
Người đi không lời từ biệt
Buồn ơi. tím biếc dòng sông!
.
Quê hương ta ơi. thôi nhé!
Buồn ơi. nước mắt lưng tròng!
Rặng cây quê hương mờ bóng
Có còn gặp lại được không?
(Trích đoạn bài thơ Quê Hương – Nguyên Lạc )

***

Tất cả các câu chuyện đều liên quan đến dòng sông Hậu (sông lớn hoặc sông con). Dòng sông đã in đậm trong tâm khảm!
Mọi người đều có một dòng sông riêng mình. Hãy trân trọng nó!
Từ dòng sông Hậu thân yêu và buồn thảm này tôi mới có những bài viết: CÂU CHUYỆN HAI DÒNG SÔNG (1), CHUYỆN DÒNG SÔNG QUÊ TÔI (2) và CHUYỂN TÌNH VÙNG U MINH (3) vân vân …

Ta sẽ không về thăm lại dòng sông
Của thời hung bạo cũ
.
Xác em nhỏ trôi theo dòng bão lũ
Được tin người
tim nhé … cố yên!
Và đêm dài
đêm nhé … hãy ngoan!
Ai rồi cũng
đến miền miên viễn!
.
Ta sẽ không về thăm lại dòng sông
Của thời quá vãng
Quên đi nhé … quên đi … quên đi nhé!
Đã xa rồi … quên nhé … xa lắm xa!
(Nguyên Lạc)
.
Quên được không?!
.
VỀ ĐẠI HỌC CẦN THƠ

1. Đại học Cần Thơ
Đại học Cần Thơ nằm phía trái, gần Phòng Phát thanh (phát sóng) Cần Thơ trên đường từ Cần Thơ về Cái Răng, Vị Thanh, Sóc Trăng rồi Cà Mau.
Năm 1968 sau trận Mậu Thân, tôi bước vào ngưỡng cũa đại học này với niềm háo hức cùng với giấc mộng “lấp bể vá trời” của tuổi trẻ. Thời trẻ này, sách Phạm Công Thiện luôn giữ trên tay và là sách “gối đầu giường”. Phạm Công Thiện là “thần tượng” của những người trẻ như tôi giai đoạn này. Mỗi lời của ông đều là “chân lý”. Tôi hít hà , uống những lời văn, thơ của ông. Cho những điều ông “ngôn” đều đúng, không chút nghi ngờ. Bắt chước ông, chê Sách Học Làm Người của Nguyễn Hiến Lê (Thời gian là câu trả lời đúng đắn nhất!)
Phạm Công Thiện đã mở ra cho chúng tôi một “Khung Trời Cao Rộng” và cũng đưa đến chúng tôi một niềm nghi ngờ (HỐ THẲM). Hệ lụy: “…đã ít nhiều làm cho thanh niên tỏ vẻ hoài nghi về những hoài bão, lựa chọn của mình. Tâm trạng não nề, chán ngán của tầng lớp thanh niên, trí thức thời kỳ ấy như một đám mây u ám, cứ vần vũ mãi trên bầu trời, che lấp khoảng không gian không xanh, không hồng. Ngày xưa một mình chàng Kinh Kha qua sông Dịch với con chủy thủ trên tay và vĩnh viễn không quay lại điểm xuất phát! Ngày nay, hàng ngàn Kinh Kha qua hàng trăm sông Dịch như thế với nỗi băn khoăn ồn ào, hy vọng và thất vọng trộn lẫn.(Đọc lại “Kỷ Vật Cho Em” của Lính Phuơng – Nguyễn Lệ Uyên)
Qua sông Dịch là gia nhập vào quân đội, thành người chiến sĩ quân lực VNCH, thành người chỉ uy mà tâm trạng như vậy thì than ôi!
Lịch sử ngàn năm cho thấy: Chống kẻ HUNG BẠO (kẻ dồn ép, đốc thúc hết mọi xương máu của người dân, dùng bất kể mọi thủ đoạn để nhất quyết thắng cuộc chiến một mất một còn) mà lòng hoang mang như thế thì cầm chắc sự thất bại! Kết quả thì các bạn đã biết rồi đó!
Nhắc ra đây để rút ra một bài học mà tự hối tiếc và tự trách mình, chứ không có ý chê trách hay kết tội. Các người trẻ hãy lấy làm kinh nghiệm để tránh những vết đổ sau này. Và cũng xin đừng lấy nó – những việc tiêu cực đã kể – mà tự hãnh diện hoặc ngược lại, tự mình hành hạ mình, tự liếm vết thương lòng mà thất chí. Còn lại chút hơi sức hãy đóng góp vào việc đấu tranh cho sự tồn vong của dân tộc.
.
2. Tổng Hội Sinh Viên Đaị Học Cần Thơ
Trở lại trường Đaị Học Cần Thơ, tôi có chân trong Ban Chấp Hành Tổng Hội Sinh Viên. Tôi đã ngây thơ, bầy đàn, không suy nghĩ, cổ động và dẫn đầu những cuộc xuống đường gây hỗn loạn trật tự xã hội. Trong BCH nầy, Phạm Văn Sinh (sư phạm khoa học), sau 1975 lộ rõ là một đảng viên CS. Tên thứ hai là Ngô Phúc Hiện (luật khoa), anh cô bạn gái tôi, là Đoàn viên Thanh niên CS. Tên này, sau 30/4//1975 là phó phòng Thương Mại thành phố Cần Thơ . Trong lúc mọi người dân đói, phải ăn độn bo bo, ăn cơm với muối, thì hắn cùng tên trưởng phòng (cán bộ từ bưng biền ra) nhân viên phòng và công an (Bắc chi viện) rượu bia tràn ly, thuốc cán (đầu lọc) khói mờ mắt mỗi ngày. Cách Mạng đấy!
.
Quê tôi buồn lắm ai ơi !
Từ ngày bão nổi đổi dời bể dâu
Một thời cùng ước mộng đầu
“Vá trời lấp bể” hẹn câu tình người
.
Những “đêm không ngủ” lửa ngời *
Câu ca lời hát dựng đời mai sau
Khung trời đại học thuở nào
Tay ôm. mắt ngỏ. môi trao nụ cười
.
Oan khiên đâu phải do trời
Quê hương tan rã bởi lời dối gian
Điêu tàn cùng với ly tan
Mộng mơ tuổi trẻ lụi tàn từ đây
.
Từ ngày ngụy ngữ lên ngôi
Từ ngày giai cấp phân đôi ta thù
……….
[*] Sinh viên trước 1975 thường tổ chức những đêm không ngủ để hát tình ca và nhạc “đấu tranh”
(Trích đoạn: Một Thời – thơ Nguyên Lạc)
,
LỜI KẾT
Qua trên là những chuyện lên quan đến dòng sông trong tâm thức cùng “Một Thời Ta Cố Quên” của tôi. Quên được không?!
Tất cả điều trên là sử liệu từ nhân dân. Chắc nó sẽ không có trong Lịch Sử Việt Nam Hiện Đại vì theo CS: Lịch sử phải phục vụ cho chế độ!
Đấy, các văn thi nhạc sĩ! Nỗi trầm luân nhân thế. Đừng “cỡi ngựa xem hoa” nỗi đau của người dân thấp bé mà mãi chỉ biết lo phục vụ cho một thiếu số đặc quyền. Hãy viết bằng cảm xúc, bằng con tim của mình. Đừng cố tạo ra cái ly, cái chai hào nhoáng, màu rượu đẹp đẽ, nhưng không có một chút mùi vị nào để lại trên đầu lưỡi của người thưởng thức. Hãy tạo ra cái hương vị ngọt ngào của viên muối nhỏ trên đầu lưỡi của các “chàng Kiều” hiện đại (người sĩ quan trẻ VNCH đi cải tạo) đang đói meo trong các “Thanh Lâu” (trại cải tạo) [Từ Nguyên Lạc dùng trong bài viết về thi sĩ Phạm Hồng Ân)(3)

Xin được kết thúc bài bằng hai câu thơ Khuyết Danh:
Ai muốn chép công ta chép oán
Công riêng ai đó oán ta chung!
(Mã Viện – Khuyết Danh)
.
Nguyên Lạc
…………………
Ghi chú:
(1) http://t-van.net/?p=31929
(2) http://t-van.net/?p=32146
(3) http://t-van.net/?p=31461

BẠN VĂN VÀ TÔI

Võ Công Liêm

tinhvat

TRANH VẼ Võ Công Liêm: ‘Tĩnh vật Hoa trái’

Nhà văn Bình Nguyên Lộc có nói: ‘về quê là lên nguồn đời mình’ tôi xét lời nói ấy quả không ngoa cho những khách tha phương mỗi khi nhớ quê. Cái lòng hăm hở đó như lời cảnh báo, vì lẽ; quê hương là nắm nhau, cuống rốn tuy có xa mặt cách lòng nhưng không phải vì thế mà chối bỏ hay đoạn tuyệt. Nó có cái hồn thiêng trong chúng ta.Từ chỗ đó; nó ray rứt, nó quấn quýt, nó ôm đầm như thân phận kẻ lưu đày.
Một số người trước đây hối hả ra đi cho bằng được như thử bị quê hương ruồng rẫy hay ‘khai trừ’. Nghe ra tợ như có điều gì phũ phàng, tàn nhẫn. Thoạt kỳ thủy; mới nhận ra rằng ‘home sweet home’ là nơi về của mái nhà xưa mà cả đôi bờ coi như lời hẹn ước. Dẫu là nghìn trùng xa cách nhưng lòng hoài hương vẫn hiện hữu không dứt. Người đi hay người ở đều nhìn nhận tình quê chan chứa. Bạn tôi tha phương cầu thực một thời như tôi. Nói rằng: -thương đọt bí, đọt bầu chi lạ! Tưởng bạn tôi lãng mạn hóa cuộc đời. Suy rộng thấy bạn tôi thật lòng. Không phải giải thích và chẳng phải nói nhiều. Thì ra; chúng ta cùng cảnh ngộ. Mà khi đã ngộ ra được thì không còn chi để trách cứ mà cho rằng quá đả khuynh?. Tôi hối hả ra đi và lâm vào hoàn cảnh tương tợ như vậy. Nói cho ngay; chuyện ra đi có nhiều nghĩa khác nhau, nhưng riêng tôi đi là ‘tu nghiệp’ để thấy mình thấy ta, trăm trận trăm thắng là ở chỗ đó. Cho nên chi học mấy cũng thấy mình ngu mà không thấy trận nào thắng cả; từ đó chỉ học ở tình bạn là cao qúy. Bởi; trong cái tình người nó chứa cái tình đất nước muôn năm. Xưa hối hả đi thì nay hối hả về là thế.
Về quê lần này tôi được cái hân hạnh đón tiếp một số văn nhân cũ, mới. Kỳ thực thì không có ai mới cả mà tuồng như đã biết nhau từ lâu; tuy không bằng xương bằng thịt nhưng đã gặp nhau trong văn thơ và đã nói với nhau nhiều điều như đã thân quen, bởi; dễ hiểu điều này qua cụm từ ‘style c’est l’homme’ cho nên chi không còn là người xa lạ hay qua một trung gian nào mà chúng tôi đến với cái tình chân. Tình người cao qúi đọng trong một tâm hồn tha thiết, không vin vào nhau để giới thiệu cái ‘le moi’ qủi quái và đáng ghét đó. Hầu hết bạn văn tôi không có thái độ ấy; dù một mảy may nhỏ nhen đều không có mà dâng một tấm lòng cao thượng. Qúi mến nhau mới gọi là thân nhau; bất luận ở nơi nào.

Yoshiro Soseki: Thi sĩ đương đại; con chim sẻ mùa xuân.
Đến Nhật Bản vào đầu tháng hai, tháng xuân hoa anh đào nở, khí trời heo heo như bên nhà. Ở chơi một tuần mà gắn bó vô cùng; cái tình Nhật là cái tình ‘hiệp sĩ đạo’ trọng danh dự hơn trọng tiền bạc.Tôi thân quen người bạn Nhật trong thoáng chốc mà trở nên cái tình dài lâu, bởi; chúng tôi ăn ngay nói thực, chả phải giấu điều gì, chẳng phải là biên giới ‘khách nước ngoài’ cho nên mạnh miệng. Chúng tôi bày tỏ bằng ‘nội công’ tâm truyền tâm và giữa chúng tôi bình đẳng không ‘face talk’ không ‘money talk’. Yoshiro đưa chúng tôi tham quan nhiều nơi.Chúng tôi không còn xa lạ qua sự trọng khách của chủ nhà. Một cái thưa hai cái trình…Gặp nhau tình cờ như đã hẹn ở cửa hàng sushi; món ăn truyền thống Nhật, một lối ẩm thực có lồng chất Thiền vào trong cách sống. Chúng tôi ngỡ ngàng trước cảnh quang, bối rối trong kiểu cách ăn sushi và uống sakê, thực khách hầu hết là dân Nhật, phần đông ngồi ở bàn ghế thấp hoặc phòng riêng có gối ngồi. Chúng tôi ngồi ở quầy để trực tiếp nhìn những tay đầu bếp ‘múa võ’, cạnh tôi một thiếu nữ khác, tuổi ngoài ba mươi đưa mắt mỉm cười thân thiện, và; từ đó chúng tôi trao đổi nhiều chuyện khác nhau, dần dà mới hay nàng là thi nhân, tuy nàng kín đáo về chuyện làm thơ nhưng cuối cùng nàng cho biết nàng yêu thơ. Hóa ra chúng tôi là những người trong làng văn nghệ mà gặp nhau tình cờ.Tôi chẳng nói với nàng tôi làm thơ và nàng cũng chẳng nói nàng là thi sĩ. Nhưng gặp nhau trên cái đất văn vật này cũng đã ngộ ra được cái chất thơ trong con người thơ…Nhớ những khi ngồi ăn mì gói, uống sake trong con hẻm nhỏ mà nhớ con hẻm quê nhà. Đất nước mình có nhiều đặc ưu hơn nơi khác nhưng không biết ‘dụng võ’ cho nên mai một mà chỉ hướng đến cái của người khác làm chuẩn. Nhìn cung cách Yoshiro mà nghĩ đến dáng kiều của ta; cũng có thể do từ phong thổ, tập quán tạo nên?
Hôm nàng tiễn chúng tôi ra phi cảng trao tặng tập thơ mới xuất bản (dĩ nhiên là Nhật ngữ) để giao duyên văn hóa.Tôi không hiểu một chữ hay một nghĩa nào nhưng hình thức qua lối dựng thơ tôi cũng nhận biết được hồn thơ của thi sĩ bộc bạch một cái gì chân tình trong thơ, bởi; nhìn con người của Yoshiro không thể có một nghi ngờ nào hơn. Duyên kỳ ngộ! Yoshiro cho biết thêm: nàng là con cháu nhà văn lừng lẫy Nhật Natsume Soseki (1867-1916) với tác phẩm tiểu thuyết nổi tiếng Kokoro và đã được dịch qua nhiều ngoại ngữ. Gia tộc nàng gốc Đông Kinh. Thì ra; hạnh phúc đến bất ngờ là hạnh phúc có thực ở đời.

Kiệt Tấn: Dân miệt vườn . Uống cạn tào ráo ván.
Sau tết ở Sàigòn trời âm u, bởi; có những trận mưa lai rai làm cho đường sá còn rịn mùi ẩm thấp. Chúng tôi gặp nhau ở ‘Thềm Xưa’ nơi Thân Trọng Minh thường ‘tọa thiền’ một mình hoặc một vài bạn thân quen xưa cũ. Cái sự đến của Thân Trọng Minh thường thấy trầm ngâm, kín đáo là đặc chất của người lương y. Tôi gặp Kiệt Tấn ở đây. Chúng tôi nhìn nhau như đã quen nhau lâu lắm nay mới hội ngộ. Kiệt Tấn có nụ cười nửa mép như nhân vật trong truyện của anh viết. Tôi biết Kiệt Tấn thuở thập niên sáu mươi (60). Mỗi lần đọc truyện anh, tôi thường phán chữ Đan Mạch (đ.m.) vào văn anh. Hôm nay gặp lại nhau tôi kể cho anh biết về cái sự vụ phải dùng ngôn ngữ Denmark với anh vì tôi phục cái ngông nghênh văn chương của anh. -Được thôi! Kiệt Tấn nói. Ngày hôm sau tôi uống rượu với nhà văn tả thực này mới thấy lòng phấn khởi. Phong cách về già của Kiệt Tấn là đà như E. Hemingway mỗi khi uống rượu. Cả hai nhà văn này có cái sâu lắng thâm hậu, nghĩa là ‘rịm rím một vịm troi’ ở cái chỗ đó mới thành văn hay. Nhà văn chân tình là nói toạt những gì như thật trong sự nghiệp cũng như trong cuộc đời, những gì mà đời ít ai thực hiện được. Nếu đem tinh thần Kiệt Tấn ra so sánh với H. Miller thì không khác nhau mấy. Một đằng hụỵch toẹt và một đằng kín đáo thâm trầm. Huỵch toẹt của Miller là thẳng thừng, huỵch toẹt của Kiệt Tấn là huỵch toẹt hơn cả huỵch toẹt đó là nhà văn có một mớ kinh nghiệm đầy đầu trong cách dụng văn: khôn ngoan và trí tuệ. Bởi cả hai nhà văn này đa tình và lãng mạn trong đời và trong văn chương; cả hai đều có chất ‘đế’ trong hồn nên dựng truyện có đế. Điều này không ngạc nhiên chi mấy. Nhưng ngạc nhiên phong thái Kiệt Tấn không thay đổi, dẫu lúc này anh không bỏ hồn vào viết lách một cách dữ dội như xưa. Anh cho tái lại*là vại nước đái.Tư duy của nhà văn là biết dừng đúng lúc để cho sự nghiệp của mình không dừng lại. Đấy là chân chính. Kiệt Tấn chỉ cúi nhìn và cười nụ cười ‘tre trúc’.
Chúng tôi gặp nhau rất tình cờ; tôi ở phương này, anh ở phương kia trên cùng một hành tinh này nhưng sự gặp gỡ tợ như đã có hẹn. Cái nhìn trực diện của Kiệt Tấn là nhìn để nhận diện giữa ta và người, giữa chủ thể và tha thể có cùng hợp chất để dung thông. Đó là cảm quan của tôi khi nhìn ‘bộ dáng/ body /corps’ của anh là một con người ‘dày dạn phong sương’. Nhưng không! cảm giác đó hoàn toàn nghịch lý trong tôi, bởi; trong anh đã phản phất một sự thật có thực qua cử chỉ và lời nói. Quả vậy; anh đã hoà tan vào đó một hóa chất kích thích tố để sống dậy một lần trong tôi và anh. Tôi đón nhận sự chân tình nơi anh cũng như trong văn chương anh là cả một bung phá tiềm tàng, một tiềm thức trú ngụ trong dạng thức của trí tuệ để phát sinh thành ngữ ngôn trong văn chương cũng như trong đời thường…Rất nhiều văn nhân nhận định, bình giải hay phê bình con người Kiệt Tấn trong vai trò khách thể, dựa qua tác phẩm của anh đã viết ra; lối mổ xẻ đó không có một tác động nào nơi nhà văn mà chỉ là người đứng nhìn sự kiện; gần như rập khuôn, nhai lại, khách sáo trí thức, nó không nói toát cái hóa trị (chemistry) là bản chất cố hữu nơi anh một cách độc đáo để thành hình ngữ ngôn trong tác phẩm. Lối bình giải cổ điển là tác hại cho tác giả đã gởi gắm toàn diện tình người, tình nước tình non vào trong đó và đại diện cho chính mình. Trên kệ sách của tôi có một số tác phẩm của Kiệt Tấn. Từ tập ‘Nụ Cười Tre Trúc’, ‘Nghe Mưa’ ‘Em Điên Xõa Tóc’; chừng đó đủ để cho tôi thấy được hồn tác giả ký gởi những gì là bi thương thống thiết. Anh hơn tôi có đôi ba tuổi nhưng anh lớn hẳn hơn tôi về mọi thể kể cả sự nghiệp văn chương của anh mà tôi đọc như một hoài niệm ký ức. Thế nhưng; giữa chúng tôi phá chấp, không còn có tâm phân biệt. Hai chúng tôi sống thực như chưa bao giờ sống. Đấy cũng là cơ duyên hay là ‘hữu xạ tự nhiên hương’ không biết ráp cái câu ngạn ngữ này có phù hợp nhân thế văn nghệ? Nhưng; có thể do từ một tâm thức phản kháng, một thứ phản kháng trí tuệ xâm nhập vào tri giác tôi. Hôm ngồi uống rượu với Kiệt Tấn mới nhận ra đặc chất nơi con người anh: không văn hoa bóng bẩy, không từ ngữ văn chương, không khách sáo đường bệ. Một bản chất tự tại hiếm có ở những nhà văn. Bọn chúng tôi uống đầy. Rượu vơi cạn. Tôi tính chào từ giả anh để ngày mai bay về đất tạm dung nhưng không nói, bởi; nói ra cái từ đó không đẹp lòng nhau. Tôi xô cửa, gật đầu nói: -Về! về đây là trở về ‘revêrs/back’ cái gì thuộc ‘daydream’ có nghĩa gặp như mơ-về giữa ban ngày. Gặp gỡ ở phương này, phương nọ là vũ trụ gặp gỡ của ‘dans les rêveriers cosmiques’ trong tôi và Kiệt Tấn. Cho nên chi; giữa chúng tôi là một hiện hữu, hiện hữu sống thực của: ‘je pense; donc je suis /cogito (Descartes).Tôi nghĩ Kiệt Tấn hiểu ý tôi.
* Tái lại: tái bản tác phẩm.

Đỗ Hồng Ngọc: Bác sĩ của văn chương hay còn gọi là bác sĩ chịu chơi.
Đỗ Hồng Ngọc đa dạng trên lãnh vực văn nghệ như tôi đã biết hơn là trên sự nghiệp chuyên môn. Anh có con mắt cười khi nói chuyện cho nên chi dễ cảm thông với người đọc.Thơ anh làm chân tình như hồn anh. Văn anh viết phản vào đó cái bản lai diện mục thực với chức năng y sĩ; thành ra giọng điệu không có chi là tàng ẩn hay ngụ ý, anh vẽ ký họa tài tình, anh không buông tha còn đứng ra dẫn chương trình cho bè bạn mỗi khi cần đến lời giới thiệu. Anh sốt sắng, không từ nan. Mấy đặc chất đó làm cho tôi nghĩ đến anh. Gặp Đỗ Hồng Ngọc và nhận ra anh qua nụ cười, nụ cười không ‘pha chế’ như đời thường cười. Tôi ký tặng tập truyện cho người bạn hiền lành mà tôi tha thiết được gặp. Tuy sơ ngộ nhưng đã để lại cho nhau cái tình văn nghệ thật sự. Chúng tôi trao đổi chuyện xưa, chuyện nay như cái tình anh em, như cái tình đồng điệu đã có trước đây. Ở tuổi hoàng hôn nhưng với Đỗ Hồng Ngọc không thấy chi hoàng hôn nơi anh. Anh viết khoẻ như hồn thanh niên từ xưa đến giờ. Cái hồn nhiên trong văn chương anh đã đạt tới đỉnh cao và anh đã ký tặng nhiều đầu sách cho độc giả bốn phương. Với một trí tuệ như vậy, thời tất trong đám người cầm ống nghe ít có như anh có. Thơ văn của anh chứa chất một tâm hồn lãng mạn và trữ tình…Anh nắm tay tôi giã từ mà lòng đầy hứa hẹn như tình nhân thuở anh còn ở đại học y khoa. Nhưng; riêng tôi cái nắm tay của anh như một hụt hẫng vừa bắt chụp thì lại bay xa. Anh cười vỗ về tôi như một cảm thông dài lâu.Tấm lòng của anh là tấm lòng của biển.Tâm hồn Đỗ Hồng Ngọc rộng mở từ nụ cười cho tới cử chỉ không thể nào mà không tin ở con người thật thà như thế. Gặp Đỗ Hồng Ngọc là một hạnh ngộ dài lâu. Bước đi thong thả của anh mang theo một tư duy sống động nơi tôi.

Elena Pucillo Trương: Một con người hai cuộc đời.
Tôi gặp chị trong một buổi cơm thân mật ở toà soạn Quán Văn của anh Nguyên Minh và một số đồng sự. Xuất hiện ở cửa phòng tôi nhận ra Elena, chị ném đến chúng tôi nụ cười khoan nhã và ưu ái. Trong đôi mắt của chị tôi đã đọc được những gì chị muốn nói. Mà thật! Trên dưới mười năm về với Việtnam, dạy ở đại học Việt, giao du thân mật với người Việt; từ chỗ đó không còn thấy chi là ‘khách nước ngoài’ mà hóa ra là con dâu xứ Nẫu. Ngặc thay! màu da, màu tóc không thể Việt hóa 100% cho ra Quảng, nhưng; để hoà nhập giữa hai cuộc đời chị tự lột bỏ cái áo khoát của thành quách La Mã, những hào quang ánh sáng minh tinh điện ảnh lừng danh để về sống chết với đất Chiêm (Bình Định); âu đó cũng là một gắn bó với định mệnh. Elena hiểu điều này hơn ai hết và rồi đi tới một quyết định dứt khoát là về làm con dân nước Việt. Chỉ trong vòng 10 năm chị nói tiếng Việt gần như thông thạo kể cả những lời nói thô tục chị hiểu rành rọt. Đó là một chứng minh của vợ chàng Trương; không những trong anh mà ngay cả cộng đồng lớn lao chị đã phủ dụ cái sai biệt đó, không ai nhìn chị là bà đầm Ý Đại Lợi. Dần dà người ta quen phong cách của chị: với nước mắm, hột vịt lộn hay ba cái thứ đồ nhậu chị nhúng đũa bình thường. Không phải chị nhắm thử cho biết cuộc đời mà chị ăn như thử chị là người Việt. Hoà nhập của Elena là cả một triết lý nhân sinh: dấn thân để thấy nghĩa lý cuộc đời. Do đó văn chương của chị mang màu sắc Đông phương hơn Tây phương. Chị viết sung mãn qua nhiều thể loại. Chị kềm kẹp đức lang quân để chuyển hóa ngữ ngôn gốc trở nên ngữ ngôn Việt tộc. Đọc những tác phẩm chị viết là cả một cảm thông sâu đậm. Nhờ vào yếu tố đó mà chị gần gũi với quần chúng. Tôi ví chị như nữ tiểu thuyết gia Mỹ Pearl S. Buck từng sống ở Trung Hoa, học ăn học nói để trở nên Tàu; nhưng so ra Elena khác với những người ly hương, nghĩa là họ không đánh đổi như Elena đánh đổi với cuộc đời chị. Tôi thầm phục lòng quả cảm của một người đàn bà xa xứ.Trong sâu thẳm của chị là con người tiên phong giữa mảng trời đầy màu sắc lạ lùng và dị biệt mà là kẻ khám phá mới cho tâm hồn dự cuộc. Chấp nhận mọi hoàn cảnh dù nắng mưa bất thường ở đất phương Nam; nhưng chị đã chinh phục để không còn thấy mình đơn độc giữa xứ lạ quê người. Tôi đọc một số tác phẩm chị viết cho tôi một lòng tự hào vô hạn. Một người bạn mà tôi mong được kết thân. Trong một bài viết ngắn: ‘Chung Một Đam Mê’ tôi thấy chị là một tài tử đa xuân tứ. Chúng tôi ngưỡng mộ qua tài năng và cái tình đối xử của chị. Elena Trương đã được một số văn nhân thừa nhận là ‘kẻ đưa đường’ mở lối trên chặn đường văn chương hiện nay. Chị là nhà văn nước ngoài hiếm ở đời này và được ngợi ca như một nhà văn chân thật. Nhận định về chị không một khác biệt nào hơn. Elena Pucillo Trương đã hóa Việt, bởi; chị sống thực giữa cuộc đời đang sống.

Từ Sâm: Một tinh thần tự khởi.
Trên không gian của chuyến bay Air Canada đọc thư email của bạn bè gởi thăm; trong đó có thư của Từ Sâm. Tôi ‘click’ ngay như vồ chụp một cái gì vừa tuột khỏi tầm tay. Tôi biết Từ Sâm mấy năm qua nhưng cứ để dành trong trí như ‘kỷ vật’ chờ có cơ hội giao duyên. Nay anh đến trong cái tình cờ nhưng hữu duyên vô cùng. Anh gõ xuống: ‘biết anh ở nhà Nguyên Minh mà không được dịp gặp nhau’ ngần ấy thôi cũng thấy được cái chân tình của con người văn nghệ. Trong cuộc đời sự gặp gỡ là cái trùng trùng duyên khởi bất ngờ và cũng khó mà định lượng nó đến từ đâu hay nó đến như cái nghiệp dĩ; nói theo ngữ ngôn ngày nay là ‘tình văn nghệ không hẹn mà gặp’. Quả là qúy ở đời này! Từ Sâm có gương mặt của tu sĩ hơn là kẻ phàm phu, anh hiền lành và thiện tâm trong đôi mắt nhân ái đó.Tôi chưa một lần ‘xáp lá cà’ vơi Từ Sâm thì lấy đâu mà có nhận xét như thế? -Tôi đọc nhiều thơ anh làm, những bài nhận định nghệ thuật anh viết, phê bình tác phẩm, tác giả anh soạn là chứng cớ để thấy được nhau. Giọng văn thủy chung, không có một gián tiếp nặng nhẹ mà hầu như anh ngợi ca cuộc đời và ngợi ca tình yêu; đấy là yếu tố cấy lên tế bào da mặt của anh và trong huyết lệ của anh để từ đó anh có một tinh thần tự khởi, một tinh thần của tư duy chớ không phải tinh thần của sự cố. Đứng trên vai trò khách quan nhận định về thi ca đương đại; có thể thấy Từ Sâm thuộc trường phái siêu thực qua bài thơ ‘Trăng Viên Mãn’ mà anh cho ra đời đã lâu. Không những một bài tượng trưng mà nhiều bài thơ khác đều một thể như thế. Sắp xếp lại từ A tới Z đều nhận ra đó là giòng thi ca đương đại. Về văn anh phân tích, lý giải, dẫn chứng rất cụ thể từng đường nét như vẽ tranh sơn dầu, nghĩa là thận trọng trong ‘gam’ màu cũng như ‘con chữ’ nó đan kết vào nhau hoà hợp (composition) như một bố cục chặt chẽ; thật không quá lời về điều này. Cho nên chi; hôm nay ‘kỷ vật’ đó được ‘khui’ ra như đập đồng binh nuôi con heo nái mà bản thân tôi ao ước từ lâu. Nói thêm về thơ của Từ Sâm tuồng như anh dốc sức vào đó qua một ngữ ngôn thống thiết trong đó có chứa một ít của bi thương, một cái gì tàng ẩn ngoài cái gương mặt tu sĩ của anh; không biết mỗi bài thơ anh nói những gì về nó, nhưng; chắc chắn ở đó là một sự kết tinh trong cách biểu đạt tư tưởng bằng ngôn từ. Từ chỗ thơ tự do, tân hình thức Từ Sâm biến dạng vào vô thể thơ có duyên lạ. Cơ may hạnh phúc chỉ tìm thấy để đạt tới sự chiếm cứ ‘le bonheur est dans a la quête la conquête’ qua mạch thơ, văn mà anh đã thực hiện xưa nay. Kết thân với người bạn văn nghệ như Từ Sâm là dấu ấn trong tôi.

Huế: Quê nhà.
Và tôi; mỗi lần về quê là phải đi Huế. Bởi; Huế là trầm tích trong tôi, là hoài niệm nơi đã cất giữ những kỷ niệm khó quên của thời mới lớn (ở 9 tuổi) và cái thời vào đời. Huế trở nên chứng nhân cho tình yêu và lịch sử. Những nhân tố đó đưa tôi tìm về Huế như một ‘awakening’ để được sống lại giữa thực và hư. Huế phải có đặc chất đó như nắng mưa mà ai cũng ‘kêu trời’. Không có cái thứ đó không ai gọi là Huế. Huế có cái tàng tích cố cựu xâm chiếm vào con người Huế. Do đó tôi hiện hữu; một hiện hữu dấn thân và thấm thấu vào cái hồn Thần Kinh trong máu lệ tôi. Dân Huế hầu như ai cũng ưa lý sự, cứng đầu, chướng kì và một tự ái lớn lao hay giận. Những ai chưa biết Huế cho Huế khó tính. Đúng! cái này chịu ảnh hưởng ít nhiều nơi mấy ‘mệ’, bởi mấy mệ có cái tự ti mặc cảm trong con người mấy mệ. Nói nôm na là ‘thủ’; đó là ngón nghề thâm hậu mà ít ai tìm thấy. Tôi chơi thân với mấy mệ trong làng, trong xóm cũng như trong trường; đi sâu vào lòng đất địch mới thấy mấy mệ thủ vô hậu. Cái thủ khinh mạng. Tợ như những người kỳ thị chủng tộc; ngoài ngó rứa mà trong không phải rứa. Huế đặc thù là đó: ăn, uống, nói, cười đều có cách riêng của nó. Huế không giống ai và không ai giống Huế. Đó là lý do về để tìm thấy cái đã mất giữa thời đại hỗ mang, thuồng luồng. Có chăng là có trong trí tưởng mà thôi. Nó hoang tàn, bảng lảng bóng chiều mây. Dù là thành quách có tu sửa để thu hút khách ngoại chớ khách nội không mấy hồ hởi với cái gọi là ‘đổi mới tư duy’ theo khuynh hướng kinh tế thị trường; lạc hướng đi.
Tôi sinh ra và lớn lên ở Huế. Học và hành ở Huế; có vô số bạn bè, nhưng; tìm cho ra một ‘thằng bạn’ chân tình là điều khó. May mắn thay trong số bạn học cũ, chỉ còn một hai thằng tại thế, còn một số khác tằng tiu tỉ tiện thì hầu như để gió cuốn đi hoặc để trôi theo với giòng đời. Bởi; không tìm thấy cái chân tâm của nó. Vì vậy; phải nhận thức cái thực, cái giả của Huế. Người ta định nghĩa Huế thâm trầm là phải, vì; trong Huế chứa cái thâm trầm ‘đểu cáng’ khó tìm thấy. Răng rứa? Nó núp sau lưng Thành Nội Huế mà ít ai bắt gặp và nhận ra. Nó lắc léo như câu hò mái đẩy hay nam ai, nam bằng; là rứa đó!.
Thành ra; về Huế chỉ có thi sĩ Cung Thiêm Phan Như Chạy là chân tình trước sau như một.Thuở học cùng lớp; thi sĩ thường dùng tiếng Đan Mạch dành cho tôi. Nhưng nghĩ lại tiếng đ.m. của nhà thơ nó kết cấu trong một từ ngữ thân tương và chân thật. Lần này vợ chồng thi sĩ mời chúng tôi ăn cơm tối tại nhà riêng (kiểu cách này ít có ở nhà thơ họ Phan).Thừa nhận mụ vợ thi sĩ khéo tay dọn bàn, nhưng họ không quên rượu dành cho tôi. Nhớ đời! Trong lúc hào hứng thi sĩ hứa sẽ đưa chúng tôi đến thăm một người bạn cũng biết nhâm nhi rượu. Tôi sướng quá và chờ đợi để gặp người đối ẩm đồng điệu, đồng sàn. Chúng tôi cởi xe đến chùa Liên Trì trên dốc núi Ngự. Tưởng bạn tôi đưa đi bái Phật đầu năm. Không! ngôi biệt thự nằm cạnh chùa. Tôi cho đây là sự sắp xếp kỳ diệu (nhà gần chùa mau thành Phật, nhà gần chợ mau thành kẻ chợ). Thiệt ra; đây là câu nói văn chương bình dân nói theo kiểu nhân gian chơi thôi. Nhưng; chủ nhân ngôi biệt thự đó đã thoát tục từ lâu để đi vào chân-không. Dẫu tiếng chuông sáng trưa chiều tối có gióng lên chăng cũng không phải để thức tĩnh; nó không còn tác động giữa chốn này đối với một nhà nữ mô phạm. Tiếng chuông là một thúc bách sự dấn thân của kẻ tìm đạo lý nhân tâm để được về sống với đời thường. Một đời thường ở cõi Sát-na (Ksanikam) là cõi thời gian vô tận số, nghĩa là ra khỏi cái hạn hữu bất biến để đi vào hư không. Tôi cho sự chọn lựa cuộc sống như thế là chân tình để xa trần tục, xa lớp bụi thế gian chớ không phải xa trần tục để đi vào cõi tịnh; mà là phép tu chứng để đạt chánh quả. Đó là biện minh cho lý giải Phật tính giữa Tu và Tục khác nhau vô bờ bến. Biết đâu cái lẽ thường đó lại là ‘đáo bỉ ngạn’… Mở cửa đón chúng tôi với nụ cười thanh tao hòa nhã. Tôi ôm lấy chủ nhân theo phép tây, bởi chủ nhân vốn có máu tây. -Bọn mình thân nhau gọi bà, gọi cô thấy không chân tình. Chị Thanh Ngọc nói. Không ngờ buổi sơ ngộ mà vui đến thế; chị thiết đãi một bửa ăn đậm chất quê hương pha một chút kiểu cách Tây phương: vịt hầm rượu vang, món ngầu pín dầm chua ngọt, dưa món, tét, chưng còn lại hôm tết. Ôi chao! ngon đáo để. Giữa lúc đó tôi khui chai Lamb/Rum đen có vị hương. Chị Thanh Ngọc đón ly rượu tôi mời một cách trân qúy. Bữa nay mới gặp tay đối ẩm thứ thiệt. Rượu thấm vào người nghe thơm (phải đái ra rượu mới hết buồn / dĩ bĩnh đồng tiêu vạn cổ sầu). Đó là phương thức tiêu sầu và quên, một đặc hiệu và phổ biến nhất trên trần gian này. Chị Ngọc và tôi uống hết chai. Trong cơn mơ màng tôi nhớ Tuyết Thu em chị Ngọc, người mà tôi thầm yêu chớ không dám dòm. Chuyện ăn uống đầu năm ở nhà người bạn văn là một hạnh phúc tôi. Chị Thanh Ngọc lớn tuổi nhưng rất hào phóng khó tìm thấy nơi nhà giáo có một nếp sống nhân sinh như thế. Chị Ngọc là dân Huế thứ gộc cho nên con người chị đã nói hết về Huế. Đón nhận một người bạn văn cao qúy giữa lúc này như một hòa âm điền dã đối với chúng tôi. Chị đưa chúng tôi ra ngõ về mà lòng còn lưu luyến bên nhau. Chưa bao giờ gặp mà tợ như đã thân quen tự bao giờ. Mượn câu thơ của Nguyễn Du để gởi tâm sự vào đây: ‘Sinh tiền bất tận tôn trung tửu / Tử hậu thùy kiêu mộ thượng bôi’.
(Lúc sống không uống cạn rượu trong chén để sau khi chết thì ai là người đem rượu tưới lên mộ mình).
Rượu là tiếng nói của con người đã từng chứng kiến bao nhiêu đổ vỡ ở cõi đời và ở cõi lòng là nỗi đau trong người tôi cũng như trong người khác.Nhưng giờ đây; bạn văn và tôi là cơ duyên được sống lại trong một hiện hữu tồn lưu nhân thế giữa đời này.Tôi chỉ nói lời biết ơn nồng nhiệt của kẻ tha phương ./.

VÕ CÔNG LIÊM (ca.ab.yyc. Cuối Mar 2017)

Châu Thạch

tinh ca thieu khanh

CẢM TÁC “TÌNH CA”
(TẬP THƠ CỦA THIẾU KHANH)


Ta biết danh từ thuở hai mươi
Lúc trăng còn mộng xuân còn tươi
Bây giờ tuổi hạc thu qua trọn
Đông đến đời khuya nhận sách người

Một tập vần thơm trỉu ngón tay
Hương từ xuân trước vẫn còn bay
Ta tìm ta lạl trong thơ ấy
Để thấy trăm năm mộng vẫn đầy

Ta cảm ơn người thơ Thiếu Khanh
Cho hoa lá nở giữa khô cành
“Tình Ca” đem gió năm xưa lại
Tắm mát hồn ta một suối xanh

Ta thấy ta nghe tiếng yến oanh
Tiếng sông, tiếng biển sóng vờn quanh
Tiếng ai vang vọng đôi bờ giấy
Như tiếng hồn ta mộng rất lành!

Ta thấy mùi thơm của chiến bào
Thấy trời xưa vọng tiếng binh đao
Thấy ta lãng mạn yêu em gái
Và nhớ tình xưa đã vẩy chào

Ta gối sách thơ như gối sao
Ru đêm ta thức với ly tao
Rồi ta gối mộng lên trang sách
Để nhớ thương ta tuổi ngọt ngào ./.
Châu Thạch

 

Một tháng Tư buồn thảm của 45 năm viễn xứ! (Nam Lộc)

nguoi linh bo roi

Kính dâng những Ngưởi Lính VNCH
Chúng ta lại đang bước vào tháng Tư, những tháng Tư u buồn của trang sử tỵ nạn mà bất cứ người Việt lưu vong nào trên đất khách đều không khỏi ngậm ngùi nhớ về nơi mình đã phải bỏ đi và nhiều người vẫn không thể trở về thăm chốn cũ!
Tưởng niệm Quốc Hận 30 tháng Tư năm nay có lẽ còn sầu thảm hơn 45 lần đã qua. Không khí của đại dịch Vũ Hán bao phủ một mầu tang trên toàn thế giới, con số tử vong mỗi lúc một cao. Tuần qua, tổng thống Hoa Kỳ đã chính thức ban hành lệnh “cách ly” cho tất cả công dân trên toàn nước Mỹ cho đến hết ngày 30 tháng Tư, 2020. Và hình như nhiều quốc gia khác trên thế giới cũng đang lần lượt áp dụng biện pháp này, khiến cho năm nay dù có muốn, chúng ta cũng không thể tổ chức tụ họp đông đảo để làm lễ tưởng niệm ngày quốc hận như những năm trước đây. Buồn hơn nữa là sẽ không có bất cứ một trung tâm ca nhạc nào thực hiện các bộ Video, CD hay DVD để tưởng niệm những tháng năm viễn xứ như ngày trước, vì hiện trạng sang băng, đĩa lậu và internet đã giết chết thị trường văn hóa nghệ thuật này.
Trong nỗi niềm và hoàn cảnh đó, một số anh chị em nghệ sĩ tự do đã hợp cùng đài truyền hình SBTN với phương tiện và chuyên viên điện ảnh sẵn có, cùng nắm tay nhau một cách vô vụ lợi, chung lưng thực hiện một bộ DVD lịch sử để tưởng nhớ năm thứ 45, ngày quê hương VN rơi vào tay Cộng Sản. Cá nhân tôi, được mặc lại bộ quân phục của đơn vị mình phục vụ sau 45 năm xa cách lòng không khỏi ngậm ngùi. Kỷ niệm chợt bùng về, nhớ lại ngày tôi xuống Lai Khê trình diện đại úy Nguyễn Văn Quý, trưởng phòng báo chí của Sư Đoàn 5 Bộ Binh vào đúng Mùa Hè Đỏ Lửa 1972, tiếp theo đó là những đêm dài nơi chiến tuyến. Tôi lại thích viết về cuộc đời của những người lính thách đố với cái chết, luôn luôn tình nguyện đi tuyến đầu, vì thế nên đêm đêm thường ngồi với các toán Biệt Kích của Sư Đoàn, say sưa nghe họ kể những trận đụng độ nẩy lửa, vừa hãnh diện với bao chiến công, vừa xót xa với những mất mát!
Nhìn ca sĩ Diễm Liên mặc chiếc áo dài đen trình bầy nhạc phẩm Người Tình Không Chân Dung, thì cả một trời kỷ niệm hiện về với hình ảnh nữ tài tử Kiều Chinh trong bộ phim này của gần 50 năm về trước. Nghe Thế Sơn hát Người Ở Lại Charlie trong bộ quân phục Dù, để nhớ về cố Đại Tá Nguyễn Đình Bảo, thân phụ của người bạn học cùng lớp với Thế Sơn, ai ai cũng nhận ra nỗi xúc động, đôi lúc nghẹn ngào trong tiếng hát của anh. Nhìn Thanh Trúc với Nếu Vắng Anh của nhạc sĩ Anh Bằng, thì không ai không khỏi nhớ đến khuôn mặt cùng giọng hát khả ái của nữ ca sĩ Lệ Thanh một thuở hoàng kim với tình khúc kỷ niệm đầu đời của những chàng trai trong thời gian đầu cuộc chiến, 1960… Và còn nhiều nhiều nữa, Hồ Hoàng Yến, Quốc Khanh, Nguyên Khang, Hoàng Thục Linh, Vũ Anh Thư, Huỳnh Phi Tiễn, Ca Đoàn Ngàn Khơi… còn Trả Lại Em Yêu, Cho Một Người Nằm Xuống, Thương Vùng Hỏa Tuyến, Một Chuyến Bay Đêm, Tôi Nhớ Tên Anh, dĩ nhiên không thể quên Chiến Sĩ Vô Danh… và đặc biệt là Thề Không Phản Bội Quê Hương! Gần 30 tiết mục với hơn 50 ca sĩ góp mặt. Đối với tôi, đây quả là một công trình phi thường mà anh chị em nghệ sĩ, các chuyên viên, và các tình nguyện viên có thể thực hiện được trong giai đoạn cùng hoàn cảnh hiện nay

ho hoang yen.

Hồ Hoàng Yến với “Trả Lại Em Yêu”

Tôi chắc chắn là nếu không vì lòng yêu quê hương, đất nước, không vì tình cảm dành cho những người lính QLVNCH, những người đã bị bỏ rơi, và nhất là nếu không có sự phù hộ của những anh linh tử sĩ, thì có lẽ khó ai có thể thực hiện được một tác phẩm nghệ thuật có tính cách lịch sử để lại cho hậu thế những hình ảnh trung thực của cuộc chiến đấu đầy chính nghĩa để bảo vệ tự do, dân chủ cho VN. Và cũng khó có một tác phẩm âm nhạc nào thể hiện được lòng biết ơn chân thành cùng sự ngưỡng mộ đối với những tấm gương hy sinh quả cảm của người lính VNCH để bảo vệ miền Nam VN, tiền đồn của thế giới tự do bằng DVD “Những Người Lính Bị Bỏ Rơi”!

the son

Thế Sơn và “Người Ở Lại Charlie”

Ước muốn duy nhất của anh chị em nghệ sĩ cùng nhóm thực hiện của chúng tôi là mong mỏi mỗi gia đình người Việt tỵ nan nên có một bộ DVD này, vừa để thưởng thức âm nhạc, vừa dùng làm tài liệu dành cho con cháu mỗi khi chúng muốn tìm hiểu về cuộc chiến VN, và quan trọng hơn cả là để tưởng niệm quốc hận lần thứ 45 trong không khí tang tóc của toàn thế giới hiện nay.
Muốn biết thêm chi tiết và đặt mua DVD hoặc Blu-ray, xin quý vị vào trang nhà: https://www.sbtn.tv/
Hãy ủng hộ và tiếp tay chúng tôi,
Nam Lộc
Tháng Tư, 2020
(hãy thắp cho nhau một ngọn đèn:
https://www.youtube.com/watch?v=H7nmtptLQvw)