ĐÊM LẠNH

Đặng Xuân Xuyến

trang-31

Gác nhỏ co ro
Phì phò ngoài hiên tiếng gió
Nặng mưa lạnh từng giọt rỏ
Lật mình khoảng trống chơ vơ.

Đêm mờ bờ môi hé mở
Phập phồng ngực hồng dụ dỗ
Bàn tay, bàn tay…. nín thở
Giật mình. Gác nhỏ co ro.
*.
3giờ, sáng 24 tháng 12.2018

Thơ Nguyên Lạc

ao-dai-6

NGƯỜI VỀ MÙA DÃ QUỲ NỞ
.
Dã quỳ vàng cả chiều hoang
Tìm em chỉ thấy lụi tàn trong tôi
Giọt sầu uống cạn đi thôi
Lệ tình hãy nuốt để rồi phân ưu
.
Mùa thu lâu lắm mùa thu
Mùa thu năm đó xuân thu chia lìa
Người rồi từ giả ra đi
Dã quỳ vàng cuộc từ ly đã từng
.
Người về lạnh một mùa đông
Dã quỳ đang nở nhưng không thắm vàng
Tà huy đổ bóng chiều tan
Màu quỳ úa thẫm như than người về
.
Về chi? Không mãi ra đi
Về chi? Đắ́ng cuộc từ ly ngày nào
Dã quỳ cánh rũ hư hao
Người về hụt hẫng thấy đau lời thề!
.
Nguyên Lạc 

 NGƯỜI VỀ TÌM LẠI MÀU HOA

.
Tường vy mùa nở tôi về
Thấy tôi đứng giữa bốn bề tàn phai
Giáo đường “chuông gọi hồn ai”?
Về chi? Chỉ thấy nỗi hoài cố nhân
.
Đường xưa lạ lẫm bước chân
Phố xưa hiu hắt bâng khuâng góc sầu
Quán xưa đâu? Cố nhân đâu?
Cà-phê giọt đắng rơi câu nhạc buồn
.
Mười năm không gặp tưởng quên” *
Bao năm cách biệt dặn lòng hãy thôi …
Về chi? Hụt hẫng tình tôi
Người giờ mắt lạ biết rồi có quen?!
.
Tường vy sắc tím buồn tênh
Người về tìm lại cuộc tình đã qua
Đã qua có nghĩa mù xa
Làm sao giữ được ánh tà huy phai?
.
Nguyên Lạc
………………
Mười Năm Không Gặp (Mười Năm Tình Cũ ) – tên bài nhạc Trần Quảng Nam

LỤC VÂN TIÊN CÕNG MẸ VIỆT NAM

Nguyên Lạc

1.

Trước đèn xem truyện Tây Minh [*]
Giận loài ngạ quỷ vong tình tiền nhân
Nước non rồi sẽ còn không ?
Chúng đem dâng trọn mưu toan Hán hồ
Quên câu Nam quốc Sơn hà [**]
Đoạn đành đốt cháy cơ đồ Việt Nam
Rồi xong dòng dõi rồng tiên
Hận phường bội nghĩa bạc tình ông cha!

2.

Vân Tiên giải cứu Mẹ già
Tránh phường bạo ngược cõng ra sân ngoài
Vân Tiên cõng Mẹ chạy dài
Đụng phường thảo khấu vội quày vào trong
Vân Tiên cõng Mẹ chạy rong
Đụng phường phù Hán vội vòng quay lui
Vân Tiên cõng Mẹ trở lùi
Gặp phải một lũ dùi cui vong tình
Vân Tiên uất hận bất bình
Ghét thay cho lũ âm binh côn đồ
.
Vân Tiên vội cõng Mẹ vô
Gặp phải một lũ xí xô xí xào
Giật mình chẳng biết tại sao?
Corona chúng truyền vào nước ta
Vân Tiên hoảng vía chạy xa
Biên cương mở ngõ Corona tung hoành
Vân Tiên cõng Mẹ loanh quanh
Khẩu trang đã hết thôi đành Mẹ ơi
Phương nao bỏ chạy đây trời?
Tội thay dân Việt sẽ rồi bình an?
.
Dối người lẽo lự ngụy ngôn
Giang sơn xã tắc đem dâng Hán triều
Thế là gấm vóc sẽ tiêu
Thế là nước Việt mến yêu tan tành!
Ngẩng đầu than với trời xanh
Hận cho một lũ lưu manh bạc tình
Biết bao xương máu dân mình
Công ơn tiên tổ chúng đành lãng quên!
.

“Chạy miết rồi đụng vô mình
Vân Tiên cõng mẹ thình lình ngộ ra”
Ngàn năm xây dựng sơn hà
Thiên thu vẫn mãi … mãi là Việt Nam
.
Nguyên Lạc
……………….
[*] Tây Minh là những bài Trương Tái tóm lược và diễn giảng những điều ông tâm đắc về triết lý nhân sinh của đạo Nho, những nguyên lý đạo đức của thánh hiền mà ông học được và đem truyền thụ theo cách hiểu của mình cho học trò.
Nguyễn Đình Chiểu đọc và tâm đắc bài Tây Minh, ông dùng nó làm nền tảng tư tưởng triết học cho nhân vật Lục Vân Tiên.
Kêu rằng bớ đảng hung đồ
Chớ quen làm thói hồ đồ hại dân
[**] Nam quốc sơn hà Nam đế cư/ Tiệt nhiên định phận tại thiên thư/ Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm/ Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư.- Lý Thường Kiệt

….

+ Nhân vụ dịch viêm phổi Vũ Hán do vi khuẩn Corona truyền vào Việt Nam, tôi đăng lại bài thơ này. Bài thơ này trích từ bài viết cùng tên đã đăng 

LỤC VÂN TIÊN CÕNG MẸ VIỆT NAM – Nguyên Lạc

CẦN THƠ DẤU YÊU

Nhật Quang

cho noi

Mơn man gió khẽ ru chiều
Hoàng hôn trên bến Ninh Kiều nhẹ rơi
Cái Răng chợ nổi đón mời
Tây Đô nét đẹp rạng ngời thiết tha
Lưng ong, dáng liễu bà ba
Môi cười em gái nở hoa chân tình
Mênh mông sóng nước dập dềnh
Mái chèo lướt nhẹ dáng hình thân thương
Bồi hồi… dạ chợt vấn vương
Ngẩn ngơ quên lối, quên đường phố quen
Loanh quanh phố đã lên đèn
Sánh vai chung bước bên em ngỡ ngàng
Cần Thơ đêm xuống mơ màng
Bên dòng sông Hậu âm vang câu hò…
Trăng soi bến nước con đò
Gái, trai khúc khích hẹn hò…đắm say
Trăng tàn lưu luyến vòng tay
Tình trao ánh măt, ngất ngây tiếng lòng
“ Cần Thơ gạo trắng nước trong
Ai đi đến đó lòng không muốn về “.

( Sài Gòn )

XEM BÓI

Đặng Xuân Xuyến
tuvi01-302x300
Tặng nhà thơ Ái Nhân 
.
Cưới vợ rồi lại bỏ
Đủ 3 lần mới thôi
Đời lấm lem, vẹo vọ
Rút ruột mà nhả tơ.
.
Đi xem thầy bảo thế
Về nhà cứ lo lo
Đường tình duyên đến tệ
Nửa đời đằm bến mê.
.
Mẹ bảo, xưa ông ngoại
Khen cháu mình tài trai
Duyên tình tuy lận đận
Công danh ắt phát tài.
.
Giờ mới tuổi bốn hai
Chưa một lần yêu ai
Nghề hai năm chín việc
Biết năm nao phát tài.
*.
Hà Nội, 10 tháng 05.20

HỒN NGƯỜI LÍNH CŨ

Nguyên Lạc
LINH VO DANH2

Đã rồi một trận máu tanh
Hồn xưa lính cũ tan thành quách xưa
Lạc ơi! Gió lạnh mưa thưa
Bao năm hồn cũ bây giờ còn đâu?

 (Trần Phù Thế)
.
*

Mùa xuân hoa nở khoe màu
Hồn người lính cũ nỗi sầu thời qua
Còn đâu? Tình đó thiết tha
Ngày xuân đất khách chỉ là … người ơi!
.
Bạn bè dăm đứa một thời
Khói cay đôi mắt. giọt rơi đáy sầu
Lính ơi! đâu có gì đâu?
Mà lòng trầm thống. mà rầu xuân thu
.
Buồn chi? Chỉ khói sương mù
Hợp. tan. hạt bụi bay vù thời không
Lời kinh. vạn pháp vô thường
“Thịnh suy. mộng huyễn bọt sương chớp lòe.” [*]
.
Nguyên Lạc
……………….
[*] “Nhất thiết hữu vi pháp/ Như mộng, huyễn, bào, ảnh/ Như lộ diệc như điện/ Ưng tác như thị quán.”- kinh Kim Cang
Dịch nghĩa: Tất cả pháp hữu vi/ Như mộng, huyễn, bọt, bóng/ Như sương, như chớp loé/ Hãy quán chiếu như thế.

TRĂNG NGUYÊN TIÊU

Nguyên Lạc

trang-31

Hiên đời lữ khách mồ côi
Nguyên tiêu trăng lạnh trêu tôi bóng hình
Quỳnh hương trầm ngát thân trinh
Vẳng khuya điệp khúc muôn trùng vọng âm
.
Cố nhân sương khói mù không
Đã rồi yêu dấu mông lung nghìn trùng
.
Nguyên tiêu huyễn mộng trăng chung
Đào hoa nhân diện … ánh hồng nơi nao“? *
Nhớ câu thơ cổ buồn sao
Khứ niên kim nhật “… Kiếp nào gặp đây?
.
Tôi và tôi chén rượu cay
Nguyệt và tôi mối tình hoài thiên thu!
……….
Ý thơ: “Khứ niên kim nhật thử môn trung/ Nhân diện đào hoa tương ánh hồng/ Nhân diện bất tri hà xứ khứ/ Đào hoa y cựu tiếu đông phong” – Đề Đô Thành Nam Trang của Thôi Hiệu
.
Nguyên Lạc

NGUYÊN TIÊU
CỐ NHÂN LỘNG NGUYỆT

.
“Nguyên tiêu chi dạ hoa lộng nguyệt” (thơ Đường) (*)
“Từ khi em là nguyệt/ trong tôi có những mặt trời” (Trịnh Công Sơn) (**)

.
*
Trăng trong hắt đổ bóng dài
Cố nhân lộng nguyệt?
Trang đài quỳnh xưa
Nguyên tiêu. hoa mãn khai chưa?
Để tôi huyễn mộng hương xưa khơi tình!
.
Nguyên tiêu. rực ký ức mình
Trong tôi trọn vẹn bóng hình nguyệt xưa
Mưa đêm níu giữ chân về
Tay ôm tình ngất đê mê quỳnh người
.
Từng vuông da thịt ngọt môi
Cho nhau quên cả đất trời ngoài song
Tiếng mưa cùng tiếng nhạc lòng
Hòa tan từng nốt …
Đêm mong vô cùng
.
*
Người rồi mất dấu tình chung
Nguyên tiêu thinh vắng tôi cùng bóng tôi!
Tưởng như trăng chỉ trăng thôi
Lộng tôi. nguyệt sáng
Trêu tôi. bóng người!
.
Từ khi em nguyệt trong tôi…“(**)
Từ em thôi nguyệt … Mồ côi trăng tàn!
.
Nguyên tiêu trăng sáng khôn cùng
Cố nhân lộng nguyệt hãi hùng thi nhân
Một trăng. Một bóng. Mông lung
Thiên thu tình nguyệt vô ngần em ơi!
………
(*) Đêm Nguyên tiêu hoa đùa giỡn trăng
(**) Từ khi trăng là nguyệt/ đèn thắp sáng trong tôi
Từ khi em là nguyệt/ trong tôi có những mặt trời (Trịnh Công Sơn)

.
Nguyên Lạc

 VỀ HUẾ

Võ Công Liêm

hue
gởi : như mai. nguyễn bửu tường vi và lộc tường vi.

thì mắt nâu đã ngủ
bóng chiều rũ xuống đường cây
con thuyền bỏ mặt thế gian
đi vào quên lãng
về huế
quên luôn những con đường mù u thành nội
chỉ còn lại ở đó một màu tương tư nhớ
bên tách cà phê sống sượng
chiều huế lần vào ngõ cụt
sau cơn mê đột xuất bất ngờ
buồn lây lên thớ thịt
hoàng hôn đọng lại mắt môi
một cuộc tình chớm nở
cửa đóng chiều ba mươi
đong nắng
màu nắng ngự viên
khuất lấp thời gian cổ xứ
đôi tay trần nhân thế
uống những khúc tình muộn
trên con đường lên men tuổi nhỏ
ngọn núi kia hình như thiếu nữ nằm nghiêng dáng
hở hang lâu đài cổ tích rêu phong mọc kín bốn mùa
với dòng sông mang nặng dấu tích vết sẹo chìm sáu tám
sông trăng đã khép tự bao giờ
ngơ ngáo một mình trên đường phố cũ
cho nước thắp nguồn một buổi về xuôi

tìm nắng trên môi
và . ướt mi tràn
bước lần vào đêm
huế . đi ngủ chưa ?
để thấy mình là hồn ma bóng quế
em . biết rồi đó . tôi . con chó gầy lây lất ./.

VÕ CÔNG LIÊM (ca.ab.y yc . ngày tình yêu / valentine’s day 14/2/2020)

THƠ, CA DAO CHO NGÀY LỄ TÌNH YÊU

Nguyên Lc

luvtim

SƠ LƯỢC VỀ NGÀY VALENTINE

  1. Ý nghĩa của ngày Valentine

Ngày Valentine (tên tiếng Anh là Valentine’s Day, Saint Valentine’s Day) còn được gọi là ngày lễ tình yêu, ngày lễ tình nhân, diễn ra vào ngày 14/2 hàng năm. Đây là một trong những ngày lễ lớn tại châu Âu và Bắc Mỹ. Nó được đặt tên theo Thánh Valentine – một trong những vị Thánh tử vì đạo Kitô giáo đầu tiên.

 Valentine chính là dịp để cả thế giới tôn vinh tình yêu đôi lứa, tình cảm giữa các đôi tình nhân và rộng hơn là tình cảm bạn bè khác phái. Mỗi khi đến Valentine, người ta lại bày tỏ tình cảm cho nhau thông qua những lời chúc ngọt ngào hay những món quà ý nghĩa như thiệp, hoa hồng, socola, tấm thiệp tình yêu xinh xắn …

.

  1. Nguồn gốc của ngày Valentine

Có rất nhiều giả thuyết về nguồn gốc của ngày lễ tình nhân Valentine, nhưng giả thuyết được nhiều người chấp nhận nhất là câu chuyện của vị linh mục có tên Valentine dưới thời Hoàng đế La Mã Claudius II ở thành La Mã (Rome).

Vào khoảng thế kỷ thứ III, Đế quốc La Mã phải tham gia nhiều cuộc chiến tranh. Do gặp khó khăn trong việc kêu gọi các chàng trai trẻ tham gia nhập ngũ – họ không muốn xa gia đình hay người yêu. Claudius II cho rằng hôn nhân chỉ làm đàn ông yếu mềm, nên ông đã ban lệnh cấm người dân tổ chức lễ đính hôn hoặc đám cưới để toàn lực tập trung vào chiến tranh.

Sắc lệnh của nhà vua vấp phải sự phản đối của nhiều người, trong đó có linh mục Valentine ở thành La Mã và Thánh Marius. Họ tiếp tục cử hành lễ cưới cho các đôi vợ chồng trẻ trong bí mật. Không lâu sau đó, việc này bị phát hiện, linh mục Valentine bị bắt và kết án tử hình bằng thức kéo lê và bị ném đá cho đến chết vào ngày 14/2/273. Tuy nhiên vào buổi chiều trước khi ra pháp trường, ông đã gửi tấm “thiệp Valentine” đầu tiên cho con gái của người cai tù, ông này tên Asterius – một người thiếu nữ mù lòa bẩm sinh đã được ông chữa lành bằng phép màu lạ. Trên tấm thiệp, mà linh mục Valentine gửi có ký tên “dal vostro Valentino” (From your Valentine – từ Valentine của em/con). Dần dần, ngày 14 tháng 2 hằng năm đã trở thành ngày mà các cặp tình nhân trao đổi các bức thông điệp của tình yêu. Thánh Valentine cũng từ đó trở thành vị Thánh bổn mạng của những lứa đôi.

– Những cánh chim tình của Chaucer

Năm 1382, nhà thơ Geoffrey Chaucer viết một bài thơ “Nghị hội của đám đông” (Parlement of Foules) trong đó có những câu nói về ngày Thánh Valentine:

.

For this was on saint Valentine’s day

When every birds came there to choose his make…

Vì vào ngày Thánh Valentine này,

Những cánh chim bay về đó để chọn bạn tình…

.

Bài thơ này được viết để tôn vinh kỷ niệm một năm lễ đính hôn của Vua Richard II của Anh với Anne của Bohemia, một hiệp ước hôn nhân đã được ký kết vào ngày 02 tháng 5 năm 1381, và hôn lễ được cử hành 8 tháng sau đó

( Theo Wikipedia)

.

Valentine ban đầu chỉ là ngày lễ riêng ở Bắc Mỹ và châu Âu, nhưng sau này nó được phổ biến tại hầu hết các quốc gia trên thế giới, trong đó có cả Việt Nam

.

  1. Các ngày Valentine

Theo truyền thống thì Valentine chỉ có 1 ngày duy nhất vào 14/2 hằng năm. Tuy nhiên 1 ngày lễ tình nhân dường như chưa đủ để người ta thể hiện hết tình cảm với nhau, nên ngoài ngày Valentine 14/2 chánh ra, người ta đã tổ chức thêm 2 ngày Valentine nữa:  Vào ngày 14/3 và ngày 14/4. Vậy có 3 ngày Valentine:

– Valentine đỏ

Valentine đỏ là ngày lễ tình nhân truyền thống, được tổ chức vào ngày 14/2 theo “truyền thuyết” về Thánh Valentine. Đây là dịp để người ta bày tỏ tình cảm của mình với người thương/yêu thông qua những món quà, những lời chúc thật ngọt ngào.

– Valentine trắng

Valentine trắng (White Day, White Valentine) được tổ chức vào ngày 14/3 hằng năm, đúng một tháng sau ngày Valentine đỏ. Valentine trắng bắt nguồn từ câu chuyện của một chàng trai Nhật Bản, 1965. Anh muốn đáp lại tình cảm của cô gái đã tặng quà cho mình vào Valentine đỏ nên đã làm một hộp kẹo trắng như tuyết rất to để gửi đến cô gái. Từ đó, Ngày Trắng ra đời.  White Day lần đầu tiên được tổ chức vào năm 1978 ở Nhật Bản rồi dần được biến thể trở thành Valentine trắng phổ biến rộng rãi ở nhiều nước trên thế giới.

Valentine trắng là “ngày trả lời” đối với ngày Valentine đỏ. Vào ngày này, các chàng trai sẽ đáp lại tình cảm của người con gái yêu mến mình trong suốt thời gian qua bằng một món quà ý nghĩa hoặc lời nói thật cảm động.

Valentine đen

Valentine đen có nguồn gốc từ Hàn Quốc, diễn ra vào ngày 14/4. Khác với Valentine đỏ và Valentine trắng, Valentine Đen là ngày dành riêng cho những thành viên của hội độc thân (FA).

.

HAI BÀI THƠ VỀ TƯƠNG TƯ

Nhân ngày lễ tình yêu, tôi xin dịch và giới thiệu đến bạn 2 bài thơ chữ Hán ngắn nói về tình yêu, về tương tư cùa 2 thi sĩ: Một người hiện tại và một người “ngàn năm trước”:

.

1 . Thơ về tương tư cùa Hạt Cát

– Nữ sĩ Hạt Cát tên thật Trần Thị Bạch Vân, bút hiệu thường dùng: Hạt Cát, Lăng Già Nguyệt, Sa Sa, Lạp Sa … Cựu học sinh trường Trịnh Hoài Đức tỉnh Bình Dương, quê Lái Thiêu Việt Nam. Hiện đang sống ở Mỹ.

Nữ sĩ là tác giả thi tập Bạch Vân Vô Sở Trú mà tôi đã giới thiệu năm 2019 [*]

.

– 4 câu thơ

.

Tương Tư Nguyệt

.

Mang mang canh trường hàn nguyệt,

Tình hoài nhất thốn đa đoan,

Nguyệt chiếu sơn vân dã thảo

Tương tư hà xứ chung ngân?

.

Dịch nghĩa:

Đêm dài, ánh trăng lạnh, mênh mông

Một tấc tình thương nhớ ngổn ngang

Trăng soi chiếu mây núi, cỏ hoang dại

Nhớ nhung biết bờ bến tận cùng nơi đâu?

( Hạt Cát)

.

Nguyên Lạc chuyển ngữ

.

Trăng Tương Tư

.

Mênh mang đêm dài trăng lạnh

Chút tình thương nhớ đa đoan

Trăng soi mây ngàn cỏ nội

Tương tư bờ bến đâu tìm?

.

  1. 2. Thơ về tương tư cùa Yến Thù

–  Yến Thù hay Án Thù 晏殊 (991-1055 – thời Bắc Tống) tự Đồng Thúc, người huyện Lâm Xuyên (nay thuộc tỉnh Giang Tây), 7 tuổi đã làm văn, về sau làm quan tới Tể tướng. ông nổi tiếng trên văn học sử với tập Chân ngọc từ [Thi viện]

.

– 4 câu thơ trong Xuân Hận

.

Vô tình bất tự đa tình khổ

Nhất thốn hoàn thành thiên vạn lũ

Thiên nhai địa giác hữu cùng thời

Chỉ hữu tương tư vô tận xứ

(Xuân hận – Yến Thù)

.

Dịch nghĩa: 

Kẻ vô tình đâu thấu hiểu nỗi khổ của người đa tình,

Một tấc tương tư cũng biến thành ngàn vạn sợi sầu khổ.

Chân trời góc bể có cũng có điểm cuối cùng

Chỉ có tương tư là mãi vô tận.

.

Phóng dịch:

Chân trời gốc bể đâu xa

“Trường tương tư”* mãi bao la không bờ

Đa tình khác kẻ thờ ơ

Tấc thôi thương nhớ vạn tơ kết sầu

(Hận xuân)

………..

* Mượn tên tựa đề bài thơ “Trường tương tư” của  Lương Ý Nương. Trong bài thơ này có 4 câu nổi tiếng hầu như ai cũng biết: Ngã tại Tương giang đầu/Quân tại Tương giang vĩ/Tương tư bất tương kiến/Đồng ẩm Tương giang thuỷ.

 

.

CA DAO VỀ TÌNH YÊU

Xin ghi ra đây 4 câu ca dao về tình yêu đôi lứa nổi tiếng

.

Lá này gọi lá xoan đào

Tương tư gọi nó thế nào hở em?

Lá khoai anh ngỡ lá sen

Bóng trăng anh ngỡ bóng đèn em khêu

(Ca dao)

.

LỜI KẾT

Xin được dùng bài thơ sau đây xem  như là lời kểt cho bài viết về ngày lễ tình yêu:

.

Tặng người yêu dấu

.

Mời nhau cạn chén rượu đầy

Ngoài song xuân đến trong nầy tình ta

Tặng người yêu dấu ngày xưa

Chút tình cùng nỗi xót xa ngậm ngùi

Buốt lòng đã để em tôi

Cháy màu tóc mượt một đời còng lưng

Trao em một gã lừng khừng

Tưởng như thông thái. nửa khùng nửa ngu

Tặng luôn “ảo vọng mùa thu”

Đại ngôn tuổi trẻ cùng bao dại khờ!

.

Cảm ơn chẳng phải tình vờ!

Dìu nhau đi đến bến bờ tử sinh

Ơn em trọn kiếp ân tình

Nếu không… một kiếp điêu linh khổ nàn!

.

Nguyên Lạc

……………

[*] Giới thiệu tập thơ Bạch Vân Vô Sở Trú – Nguyên Lạc

http://t-van.net/?p=40987

http://www.art2all.net/tho/nguyenlac/nguyenlac_gioithieu-bachvanvosotru.htm

Những đoản khúc yêu cưng

Khê kinh kha

00ao dai trang

1.
đới sẽ vì cưng mà hân hoan
đại dương vì cưng mà đầy sóng
núi rưng vi cưng mà xanh lá
tình sẽ vì cưng mà mặn nồng

2.
cưng quá xa nhưng tình gần lắm
chút lạnh buồn như mưa rơi rơi
chút úa tàn mọc trong hồn vắng
tình cưng xa thương nhớ dâng đầy.

3.
em xa  rồi nhưng tình còn ở lại
ôi hương nồng còn đọng trên thịt da
rồi mai đây trên nẻo đường xa vắng
có bao giở người nhớ cuộc tình ta

4.
thu sắp tàn, người vẩn xa xôi
ôi lòng tôi lạnh quá người ơi
bao đêm dài hồn còn nức nở
đến bao giờ tình mới có đôi

5.
tôi nhớ em hỡi em yêu
nhớ đêm thanh vắng nhớ chiều thiết tha
nhớ lay từng sợi trăng tà
nhớ trong sương lạnh nhớ qua gió lùa
nhớ em khô héo mộng mơ
nhớ trăm năm nữa cho vừa thương đau

6.
anh xa em hay em xa anh
trăng xa ai, mà trăng úa vàng
đêm xa ai mà đêm lạnh, vắng
mình xa nhau nên tình mong manh

7.
nỗi nhớ lên đầy cưng ngoan ơi
vì cưng đang ngự giữa tim tôi
xin gói nổi lòng trong cánh gió
đến tựa bên cưng tình có đôi

Khê kinh kha

 TÌNH YÊU MÙA CO-VY

Nhật Quang

Concern In Japan As Mystery Virus Spreads

Ra đường ai cũng khẩu trang
Chỉ hai con mắt ngỡ ngàng nhìn nhau
Từ khi nạn dịch thảm sầu
Từ nơi Vũ Hán bên Tàu lây ra
Dịch Virus Corona
Bao nhiêu người phải lìa xa gia đình
Ôi thương đau, ôi tội tình!
Bệnh đâu giáng xuống thình lình khắp nơi
Lòng anh cũng thấy rối bời
Phải xa em cả tháng trời nhớ nhung!
Muốn gặp em cứ bảo “đừng”
Vì con Virus bay lung tung rồi
Găp em anh phải hôn môi
Cho nên sợ lắm…buồn thôi cũng đành
Anh ơi!  Tình vẫn mãi xanh
Mai kia hết dịch, ta dành cho nhau
Từ nay anh nhớ một câu
Chỉ hôn…qua máy*, đỡ buồn tí nhe!
Lời em dặn, anh phải nghe
Qua mùa Virus mới khoe mọi người
Tình yêu mùa dịch ai ơi!
Valentine đến, đắng lời…yêu em
Cầu xin thế giới bình yên
Thoát con Virus, khắp miền an vui
Tim anh cũng nở hoa tươi
Nụ hôn ngan ngát hương ngời trao em.

Nhật Quang
“máy” *  Điện thoại

ĐẦU NĂM,

Hoa Nguyên

cropped-hoa-mai-3.png
Mở nụ cười đầu năm
Một hoa mai nở sớm
Một bầu trời thăm thăm
Lời đầu tiên chim hót

Có loài ong tích mật
Thất tình nhụy phấn hoa
Qua màn sương trời đất
Rớt chút tình giao ca

Nụ cười như tiếng khóc
giữa lòng nghe tê tái
Quê hương ngày đầu tiên
Từ bông mai rạng sớm

Lời đầu năm muốn nói
Như thể đã ngại ngùng
Mùa xuân đâu chờ đợi
Hiển linh từ mông lung

Bên trời là vô biên
Những âm u buông mỏi
Những mất mát hoa niên
Thời gian đâu ai đợi

Lời đầu năm em hát
Như từ thời lưu vong
Bầu trời xanh bát ngát
Giữ hững hờ thôn lân

Tiếng hát nào tự do
Trong áo mới thơm tho
Có trong làn hơi thở
Thuở áo ấm cơm no

Lời hát mãi thiết tha
Tự tình vào bao la
Không khí ta ná thở
Cớ sao đành hỡi hoa !

Mùa xuân như tình phụ
Thăm thẳm cánh chim buồn
Từ lâu loài hoang thú
Biết tự do trong chuồng..

Đã hết thời vượt truông ..!
hn.

Tiếng hú ngoài bìa rừng

hoàng xuân sơn

MAT TROI SHINNING THRU

Không tim không óc
nút kín tai
tiền ngậm miệng
chúng đang bận ăn
không nghe đâu
đừng kiến nghị
[chả bổ béo djì]
khẩn.  với trương
ối dào
đạo
chi chi đạt
không có quỡn
đồng với chả đồng
tâm đâu ra
thơ thẩn toi công

hãy phát cho chúng
cái bàn chông gãi đít
và đuổi thẳng vô rừng

hoàng xuân sơn
5 tháng hai năm 2020

NGƯỜI LÍNH CŨ

Nguyên Lạc

bienvang
“Khách uống cà phê toàn lính lão
thản nhiên như chẳng thấy thời gian
khui bao thuốc lá ra ngồi đốt
rồi búng lung tung những cái tàn…
Lính lão dễ thương hơn lính trẻ” – (Trần Vấn Lệ)

.
“Khách uống cà phê toàn lính lão”
Làm bộ như chẳng thấy tóc sương
Điếu thuốc trên tay mờ dĩ vảng
Buồn búng lung tung những mảnh hồn
.
“Lính lão dễ thương hơn lính trẻ”
Vì biết thương ai? Chỉ bóng hình …
Tuổi trẻ còn bao điều vui vẻ
Quá khứ buồn không lính lão mình?
.
Sáng nay có một người lính cũ
Đáy cốc cà phê đắng bóng tình
Khói thuốc ngày xưa vương cay mắt
Quá khứ buồn không lính lão mình?
.
Nguyên Lạc

HAI CHỮ QUÊ HƯƠNG

 Nguyên Lc

nguyenlac-1

HỌA THƠ ĐƯỜNG

Thơ Đường hay Đường thi được xem là thơ hay nhất của các thi nhân đời Đường, trong đó một số được làm theo thể thơ Đường Luật, số còn lại làm theo những thể thơ khác mà đa số là thơ Cổ phong: Cổ phong hay Cổ thể là loại thơ có trước đời nhà Đường, phóng khoáng và tự do về niêm luật – không theo niêm luật nhất định.

Bài “Dịch Thủy Tống Biệt” tiễn Kinh Kha qua sông Dịch, đi hành thích Tần Thủy Hoàng của Lạc Tân Vương là thơ Cổ phong ̣́

Từ bài “Dịch Thủy Tống Biệt”, nhiều bạn thơ, trong đó có thi sĩ kiêm nhà bình thơ DHD họa, Nguyên Lạc xin họa theo ghóp vui.

  1. HỌA THƠ CỔ PHONG

Xin được ghi lại nguyên tác:

Dịch Thủy Tống Biệt

(Lạc Tân Vương)

Thử địa biệt Yên Đan

Tráng sĩ phát xung quan

Tích thời nhân dĩ một

Kim nhật thủy do hàn.

Nguyễn Hiến Lê dịch:

Tiễn Biệt Trên Bờ Sông Dịch

Đây chỗ biệt Yên Đan

Tóc dựng khí căm gan

Anh hùng xưa đã khuất

Nước lạnh hận chưa tan.

 

DHD họa thơ:

 

Khứ niên tráng sĩ biệt

Dịch Thủy hàn căm căm

Kim nhật vọng cố quốc

Bạch đầu tâm bất trầm.

 

Nguyên Lạc lược dịch:

 

Anh hùng xưa ra đi

Nước sông Dich lạnh căm

Hôm nay nhớ cố quốc

Bạc đầu lòng không an

 

Nguyên Lạc họa thơ:

 

Khứ niên mạt sĩ biệt

Đông hải hàn “căm căm”

Kim nhật vọng cố quốc

Cố nhân hề vô âm!

.

Và thêm hai câu:

Kim nhật vọng cố quốc

Cố nhân … bất khả tầm!

 

Nguyên Lạc tự lược dịch

 

Cùng sĩ xưa ra đi

Nước biển Đông lạnh căm (*)

Nay nhớ về cố quốc

Người xưa giờ biệt tăm

Nay nhớ về cố quốc

Người xưa … ơi nơi nào?! (không thể tìm!)

………….

(*) “Căm căm” là tiếng Nôm, hai chữ nữ sĩ DHD định dùng là “băng băng” nhưng đưa vào thơ thấy không hay nên nữ thi sĩ đọc luôn “căm căm” cho nghe se sắt hơn – Vì xét về âm thanh cũng gần nhau. Tôi đùa với nữ sĩ nên dùng “căm căm” để họa, đúng ra là “lẫm lẫm” [凛凛: Lẫm lẫm là lạnh lắm lắm, rét căm căm]

– Ý 2 câu “Cùng sĩ xưa ra đi/ Nước biển Đông lạnh căm”  tác giả muốn nói là ra đi “vượt thoát” sau 1975.

  1. HỌA CÂU PHÚ TÔ ĐÔNG PHA

.Vọng mỹ nhân hề THIÊN nhất phương

(Tiền Xích Bích phú – Tô Đông Pha)

(Ngóng người đẹp trời chỉ một phương)

Nguyên Lạc họa

 

Mộng cố nhân hề ĐỊA đa phương

Thêm 1 câu tâm trạng:

ởng cố hương hề NHÂN đon trường

Nguyên Lạc lược dịch:

Mơ người xưa đất nhiều hướng

ởng cố hương lòng đứt ruột

  1. THIÊN, ĐỊA, NHÂN

Về 3 chữ THIÊN, ĐỊA và NHÂN trong các câu thơ trên:

Trong Dịch học:  Vạch dương ( __ vạch liền) là ; vạch âm (- – vạch dứt) là không.

Trời trên, đất dưới và người ở giữa: Quẻ CÀN: 3 vạch dương ☰ . Quẻ CÀN là quẻ tốt, hạnh thông.

Người (NHÂN) mà:  Trên  THIÊN – trời không có (- – vạch dứt) ; dưới ĐỊA – đất  cũng không có (- – vạch dứt). Trời và đất = QUÊ HƯƠNG không có thì NHÂN – người làm sao vui vẻ, hạnh thông được? Vì lúc đó quẻ CÀN biến thành quẻ KHẢM (Thủy): – Vạch dương ở giữa , hai vạch âm: một trên một dưới. NHÂN- người trên không trời, dưới không đất – nghĩa là không có QUÊ HƯƠNG.

          ☰  Càn (Kiền)

          ☵  Khảm (thủy)

     KHẢM là nước: Nước chảy lang thang không nói cố định. Không quê hương ai mà không lang thang?

Hãy cố gắng bảo vệ quê hương mình để còn nó. Mong thay!

LỜI KẾT

Qua trên, Nguyên Lạc tôi họa thơ Đường cho vui cùng với bạn thơ. Tuy nhiên, những dòng thơ này cũng là tâm sự của kẻ tha hương:

Kim nhật vọng cố quốc

Cố nhân hề vô âm!

Kim nhật vọng cố quốc

Cố nhân … bất khả tầm!

Xin tặng các lữ khách vẫn hoài vọng quê nhà bài thơ nhớ quê hương của tôi, xem như lời kết.

QUÊ HƯƠNG VẪN MÃI THIÊN THU

Quê hương bứt gốc ra đi

Quê hương là nỗi phân ly não lòng

Quê hương là những dòng sông

Quê hương là khói đốt đồng chiều lam

.

Quê hương lời đó linh thiêng

Máu xương giữ nước lời nguyền khắc ghi

Quê hương dù có biệt ly

Vẫn hoài cố lý vẫn lời nước non

.

Quê hương một tấm lòng son

Tổ tiên ơn nghĩa mãi còn thiên thu

“Sơn hà Nam quốc đế cư

Tiệt nhiên phận định thiên thư rành rành”

.

Quê hương người hỡi sao đành?

Quên câu ” kiến nghĩa” lợi danh riêng mình! **

.

Nguyên Lạc

……………..

* Nam quốc sơn hà Nam đế cư

Tiệt nhiên phận định tại thiên thư

Lý Thường Kiệt

** Kiến nghĩa bất vi vô dõng giả/ Lâm nguy bất cứu mạt anh hùng.

Thấy việc nghĩa trước mắt mà không làm không phải là người anh dũng/ Thấy chuyện nguy nan không cứu không đáng mặt anh hùng.

Nguyên Lạc

 

THỜI GIAN

Võ Công Liêm

nguoi va chim- vcl

Tranh Võ Công Liêm: Người và Chim

là siêu vi
không một ai hay
nó đến rồi đi
tàn nhẫn vô cùng
quẳng nó lên xe
vào nhà đá
xi măng cốt sắt
cửa đóng then gài
xiềng chân còng tay
không lời trăn trối
bên ngoài nắng đợi mưa chờ
tôi . tự do đi vào mộng ảo
sự thật phơi trắng dọc đường
chủ nghĩa là gai nhọn
nhan sắc là ngòi nỗ
em . lược là son phấn
thả hồn theo mây đưa
không màu không sắc không biên giới
lặng lẽ âm thầm trên những bước đi
bốn mùa là thú dữ
ngày đêm là dối trá
tháng năm là kẻ thù
bất cộng đái thiên
hạnh phúc tôi đi qua từng nhịp thở
không sợ vỡ toang linh hồn
du mục thể
tình yêu không ngăn kéo
không huếch hoác không toe tua
rượu hư vô
nhắp tới cùng
cho phồn vinh tá hỏa bốn ngàn năm
ngựa không còn duỗi theo mặt trời
chim không sợ tối trời bay đêm
tôi về như tuổi thơ ngây
gặp em nón lá như thời xa đưa
ngỡ mình trong mộng chiêm bao
trùng dương mở cửa đi tìm tuổi xuân
hôm nay là hôm qua
hôm qua là hôm nay
ôi ! thời gian mi ơi
mùa xuân đã rụng mất rồi
con tàu không bến biết về nơi mô
biển xanh
xanh mãi
nguyễn du
tại thế
muôn đời
nhân gian chờ đợi
bao lần xót xa
‘mẹ là trời, con là hạt sương rung’*

thu . đông . mưa . nắng bốc đồng
nằm trong khe hở một đời có nhau ./.

VÕ CÔNG LIÊM (ca.ab.yyc. cuối tháng 1/2020)
*ý thơ Xuân Diệu.

Nguyễn Nhược Pháp, Chàng Hoàng Tử Ngủ Trong Rừng

Huyền Chiêu

nguyen nhuot phap
(Tưởng nhớ Nguyễn Nhược Pháp, 80 năm ngày mất 1938- 2018)

Nhà thơ Nguyễn Nhược Pháp
Năm 1916, tại Hà Nội có một người đàn bà dùng súng lục bắn vào đầu tự sát bỏ lại đứa con trai mới lên hai.
Đứa bé đó tên Nguyễn Nhược Pháp.
Lớn lên, đứa bé trở thành nhà thơ với những bài thơ hồn nhiên, tươi tắn không nhuốm chút bi lụy của cuộc đòi .
Nhà phê bình Hoài Thanh viết về thơ Nguyễn Nhược Pháp: “… lúc nào hình như cũng thoáng thấy bóng một người đương khúc khích cười.”
Tuổi thơ tôi không có truyện trẻ em, không truyện tranh, không phim hoạt hình.Thuở ấy, không có một nền văn học dành cho trẻ em và với tôi Thơ Nguyễn Nhược Pháp lộng lẫy, sinh động không thua phim hoạt hình của Walt Disney.
Hình ảnh của Mỵ Nương có gì đó rất giống với công chúa Bạch Tuyết:
Ngày xưa, khi rừng mây u ám
Sông núi còn vang um tiếng thần,
Con vua Hùng Vương thứ mười tám,
Mỵ Nương xinh như tiên trên trần…
Tóc xanh viền má hây hây đỏ,
Miệng nàng bé thắm như san hô,
Tay ngà trắng nõn, hai chân nhỏ:
Mê nàng, bao nhiêu người làm thơ
Làm sao các bé gái không mơ mộng và ước gì mình được xinh đẹp như … một công chúa theo cách mà Nguyễn Nhược Pháp vẽ ra.
Nguyễn Nhược Pháp chịu ảnh hưởng Tây học từ người cha lừng danh Nguyễn Văn Vĩnh.
Chàng học ở Albert Sarraut, sinh viên trường Luật, viết kịch, viết văn, làm báo hoạt động như một hướng đạo sinh trên mọi lĩnh vực.
Lạ thay thơ chàng luôn có hình bóng của người con trai dịu dàng nho nhã rất Việt Nam của “Ngày Xưa”:
“Hôm đó buổi chiều xuân
Trông mây hồng bay vân
Liền gập pho kinh sử
Lững thững khỏi lầu văn”
(Một Chiều Xuân)
“Khi qua chùa Giải Oan
Trông thấy bức tường ngang
Chàng đưa tay lẹ bút
Thảo bài thơ liên hoàn”
(Chùa Hương)
Tập Ngày Xưa của Nguyễn Nhược Pháp làm ta tưởng chừng cuộc đời này đối với chàng là những ngày hội vui.
Vậy có khi nào chàng đau vì cái chết oan nghiệt của mẹ mình?
Bà Phan Thị Lựu, mẹ chàng, một giai nhân con nhà giàu xứ Lạng, lịch lãm và nói giỏi tiếng Pháp nhưng số phận đưa đẩy bà yêu một người đàn ông đã có vợ con.
Chịu thân phận làm vợ lẽ đã là cay đắng vậy mà người đàn ông ấy vẫn nhẫn tâm chà đạp lên trái tim chân thành, say đắm của bà.
Có người bảo tận đáy lòng chắc Nguyễn Nhược Pháp oán hận người mẹ đã bỏ mình ra đi khi chàng chưa kịp nhận rõ mặt mẹ.
Tôi thì nghĩ ngược lại. Nếu có đau khổ, Nguyễn Nhược Pháp chỉ quay quắt thương mình quá nhỏ, không cứu được mẹ. Nếu biết nói, Nguyễn Nhược Pháp sẽ ôm mẹ thổn thức:
“Mẹ ơi còn con đây mà!”
Những người đang đứng bên bờ vực thẳm, trong tích tắc, luôn cần một bàn tay níu giữ.
Nguyễn Nhược Pháp là một người con hiếu thảo.
Chàng sống vui tươi để nói với người mẹ nông nỗi nơi chín suối rằng: “Mẹ yên tâm, con vẫn ổn”
Chàng cũng muốn nói với người mẹ Cả bao dung đã mang chàng về nuôi nấng rằng: “Cám ơn Mẹ, nhờ Mẹ mà con đã lớn lên bình yên”
Không giống người cha đa tình và bạc tình, Nguyễn Nhược Pháp chưa từng làm đau một trái tim thiếu nữ. Thơ của chàng luôn là những lời tụng ca dành cho người nữ.
Trời hỡi! Sao một con người sống đẹp như thế mà bà phù thủy số phận lại bắt chàng phải nằm ngủ giấc nghìn thu trong khu rừng định mệnh ở tuổi hai mươi tư.
Hay chàng sợ mẹ mình cô đơn nơi chín suối?
Trong bài thơ “Mây”, Nguyễn Nhược Pháp có những câu thơ buồn hiếm hoi:
Khi thấy hồn người thân
— Nhìn mây lệ khôn cầm! —
Trên bầy xe tứ mã,
Tiếng bánh lăn âm thầm;
Để tưởng nhớ Nguyễn Nhược Pháp, chàng hoàng tử trong sáng nhất trong thi ca Việt, xin được ghi lại bài thơ khóc bạn của Nguyễn Bính:
“Buồn xao xuyến quá sương mù
Buồn xao xuyến quá, mùa thu vừa tàn
Ai đem bứt hết lá vàng
Dệt làm khăn liệm đám tang muôn đời
Thương anh, nói chẳng hết lời
Giờ đây, anh đã ra người ngàn xưa!
Ví dù còn một đường tơ
Cũng xin rút nốt thành thơ khóc người
Ngài xanh cái kén bay rồi
Nhả tơ xây tổ trên đời bao năm
Kéo dài kiếp số trăm năm
Cũng mang tiếng một con tằm mà thôi
Thương anh nói chẳng hết lời
Giờ đây anh đã ra người ngàn xưa!
(Khóc anh Nguyễn Nhược Pháp)

Huyền Chiêu
Tháng 6-2018

{nguon: TinhThan Blog}

 

BUỒN KHÔNG NGƯỜI LÍNH CŨ

Nguyên Lạc

.LINH VO DANH2
Chiều vội vã tà huy nhòa bóng
Đông phong về lăn chiếc lá tàn thu
Có bóng người cao thấp lối sương mù
Đời lữ khách mòn theo từng năm tháng
.
Sâu góc vắng khói thuốc cay vương mắt
Dĩ vảng buồn theo từng giọt cà-phê
Khúc tình xa quá khứ lại về
Thời đã cũ. nhớ chi. người lính cũ?
.
“Lứa lận đận chúng ta cùng một lũ” [*]
Mất còn ai ngày tháng hao mòn?
Đã rồi tình sương khói hư không
Đầu tuyết điểm. buồn không. người lính cũ?

.
*
Chiều cuối năm buồn chi người lính cũ?
Bận lòng chi. đáy cốc bóng hình?
Lặng nhìn chi. khói thuốc lung linh?
Để quay quắt. để thống trầm lòng lính cũ?
.
Người lính cũ búng bay tàn thuốc vỡ
Búng bay không. từng mảnh vỡ hồn sầu?
Búng bay không. hằn những vết sẹo đau?
Tha phương. quán lạ. vọng cố nhân…
Buồn không người lính cũ?
.
Mắt phố đầy. một bóng người khập khiễng
Đêm cuối năm. từng bước quá khứ buồn
Đêm đón đưa bè bạn đã từng …
Tan sương khói!
Buồn không người lính cũ?
.
Nguyên Lạc
………..
[*] Đồng thị thiên nhai luân lạc nhân/ Tương phùng hà tất tằng tương thức – (Tỳ Bà Hành- Bạch Cư Dị)
Cùng một lứa bên trời lận đận/ Gặp gỡ nhau lọ sẵn quen nhau – (Phan Huy Vịnh dịch)

BẾN ĐỢI

Đặng Xuân Xuyến

tran din cuon

Trang Đinh Cường

(tặng G)

Chẳng rình em tắm như người ta
Anh sỗ sàng dụ em buông thả
Vội vã thành đàn bà
Ngẩn ngơ làm “vợ người ta”
Em mặc miệng đời bủa vây mai mỉa
Lời yêu nuốt sâu cuống họng
Em thị phi khác thường…

Anh cưới vợ rồi
Em lấy chồng thôi
Chỉ là thêm cuộc chơi
Thêm nữa vắng đứng ngồi chờ đợi
Thói đời
Miệng đời
Bạc bẽo lắm mây trôi bèo dạt…

Gửi gắm gì câu hát
Í a xang xề xề xang
“Ai mang con sáo sang sông
Để sáo sổ lồng…”
Em theo chồng
Bến nào có rộng
Sao thăm thẳm lời hát
Sao gió gằn ràn rạt
Anh ơi
Mỏi mòn câu chờ câu đợi
Buông mái chèo
Em neo đậu bến mô…
*.
Hà Nội, sáng 31 tháng 01.2019
ĐẶNG XUÂN XUYẾN

ĐỜI TRẢ LỜI CHO TA

Nguyên Lạc

1minh

1.

Bấy nhiêu năm có đủ
Quên cuộc tình cũ xưa?
Bấy nhiêu năm có đủ
Quên nỗi buồn tiễn đưa?
.
Chiều bên sông khói phủ
Bóng hình ai hắt hiu
Thuyền trôi xuôi ra biển
Đời chắc rồi cô liêu!
.
Bấy nhiêu năm có đủ?
Quên mối tình dấu yêu!
Đêm mắt đầy mong đợi
Người xa mãi phương nào
.
Bấy nhiêu năm mãi đợi
Tóc điểm màu xuân thu
Thời gian đâu chờ đợi
“Bạch vân … không du du” [*]
.
2.

Chẳng thà không gặp nhau
Thì đâu buồn tiễn biệt!
Chẳng thà đừng hứa nhau
Thì trăm năm đâu là …
.
Bấy nhiêu năm có đủ?
Đời trả lời cho ta!
Cho nỗi lòng đưa tiễn
Chiều khói phủ sông xưa
.
Chẳng thà đừng gặp lại
Mãi một nỗi đợi chờ
Gặp lại chi mắt lạ?
Nhạt màu tình xưa xa!
.
Ai bây giờ lạ lẫm
Phải người muôn năm xưa?
Đâu thật thà môi thắm?
Ta từng quen biết chưa?!
.
Bấy nhiêu năm dài đủ?
Để riêng đời nhớ mong!
Gặp chi rồi chia ngả
Người còn nhớ chi không?
.
Bấy nhiêu năm chắc đủ
Quên hứa nào phải không?
Phải chi đừng gặp lại
Giữ hình bóng riêng lòng!
.
3.

Bấy nhiêu năm hoài phí
Cả một đời thanh xuân!
Lạnh lùng người bước vội
Kẻ chờ đợi lưng tròng!
.
Người. lại rồi viễn xứ
Kẻ. một trời hư không!
.
Nguyên Lạc

……………
[*] thơ Thôi Hiệu  

CHÈ TRONG NỖI NHỚ

Nguyên Lạc và Lê Văn Quới

don_ganh
.
Mỗi tên chè – một nỗi thương
Mỗi tên chè – gợi mùi hương nhớ đời
.
Cần Thơ thành phố thân yêu của tôi, thành phố của một thời, một thời mộng mơ. Thành phố của những con đường, những ngõ ngách thân quen, những quán cà – phê với những bài ca muôn thuở. Đặc biệt là những quán chè bên lề đường của thời áo trắng môi hồng phượng đỏ. Những chén chè ngọt lịm môi người, ngào ngạt hương yêu.
Ai mà ở bến Ninh Kiều không nghe tiếng rao chè tha thiết, ngọt ngào, ngân nga kéo dài trầm bổng nửa khuya: “Ai ăn chè bột khoai, đậu xanh, nước dừa, đường cát hô.ô.ô…hôn? lời rao gợi nhớ đến bài ca vọng cổ “Gánh chè khuya” của soạn giả Viễn Châu, qua giọng ca ngọt ngào, trầm ấm của “Đệ nhứt danh ca” Út Trà Ôn và “sầu nữ” Út Bạch Lan. Chỉ đoạn ca mở đầu, người nghe cảm thấy tâm hồn bâng khuâng, xao xuyến:
“Nghe tiếng rao/ Trong đêm dài u buồn/ Đêm từng đêm thầm vang bên phố vắng/ Nghe tiếng rao/ Như một lời kêu than cho số kiếp phụ phàng…”
Về chè của Cần Thơ, tôi xin giới thiệu đến các bạn bài viết rất lý thú của thầy Lê Văn Quới, đồng nghiệp và cũng là đàn anh cùng dạy ở Cần Thơ trước 1975.
Trước khi vào bài viết của thầy Quới, tôi xin bàn sơ về hai chữ CHÈ và TRÀ:
.
CHÈ, TRÀ
.
1. Chè – Sweet Soup/ Sweet gruel – là món tráng miệng trong ẩm thực Việt Nam và nhiều nước khác. Còn trà – tea – là thức uống nổi tiếng như cà-phê -coffee .
Có lẽ không ở đâu như ở xứ mình, chè rất thông dụng và có sức sống mãnh liệt. Tiếng “chè” đã được nhắc bên tai đứa bé từ lúc nó vừa tròn tháng tuổi. Đó là món “chè ỉ ” không thể thiếu trong lễ cúng mừng đầy tháng và thôi nôi cho bé.
Trong ngôn ngữ phía Bắc nước ta, hai từ “chè” và “trà” thường dùng lẫn lộn và trong thực đơn các món chè miền Bắc có một số loại chè rất lạ với miền Nam, chẳng hạn như chè bà cốt, chè con ong, chè hạt lựu, chè hoa cau, chè kho… Ngược lại, một số loại chè có thể xem là món đặc sản, là sự sáng tạo của đồng bào Nam bộ mà miền Bắc xa lạ như chè thưng, chè củ năng trứng cút, chè chuối, chè bà ba, chè táo xọn …
.
2. Riêng tại miền Trung, như Quảng Nam thì dân chúng còn phân biệt rõ ràng: Thường nói uống nước chè, gồm chè chín (chè đã sơ chế ), chè tươi , chè xanh (hái trên cây vào chưa sơ chế, sấy ). Còn uống trà là mua những gói trà hoặc hộp trà về nấu nước sôi để pha trà uống . Chè thì phải nấu chứ không thể chế nước sôi để pha. Còn chè, món tráng miệng trong ẩm thực nấu với đậu, hoặc những loại ngũ cốc khác với đường thì được gọi là chè ngọt.
.
3. Trích đoạn bài viết về CHÈ của thầy Lê Văn Quới bên dưới rất hay, nhưng có lẽ thầy quá nghiêm chỉnh chăng? Trong phần bàn về chữ CHÈ, theo tôi còn hơi thiêu thiếu, tôi xin ghi ra thêm cho đầy đủ “bộ tam sên”.
Nam bộ quê tôi có vài phương ngữ liên quan đến “chè” ” rất vui.
Thí dụ như “đi ăn chè” và “cho chó ăn chè”
– Đi ăn chè: Đi tìm “ngọt ngào” ngoài luồng.
– Cho chó ăn chè: Nói tình trạng “mút mùa lệ thủy” hay “mút chỉ cà- tha” rồi bị ói mữa của các “ông thần men”. (“…” là phương ngữ “giang hồ” nam bộ, ghi ra cho vui nhe các bạn)
.
Thơ rằng:
Khoan khoan ngồi đó chớ đi
Bạn bè tri kỷ mấy khi sum vầy
Bà đâu ta bảo bà này
Hãy ra bờ ruộng lùa bầy vịt non
Ca-ri vịt, tiết canh ngon
Vài chai rượu rắn cho tròn đệ huynh
.
Uống cho trọn nghĩa trọn tình
“Mút mùa lệ thủy” rồi mình … đứt dây!
(Nguyên Lạc)

Đùa chút cho vui nhe các bạn, có gì bỏ qua.
.
4. Trong ca dao, có vài bài vui liên hệ đến chè/ trà.
Để tặng các bạn vài nụ cười, tôi xinh trích đoạn ra đây bài ca dao, tân cũng như cổ liên hệ đến vụ hái chè/ trà:
.
Cô Gái Hái Chè – Chính Bản
.
Hôm qua em đi hái chè
Gặp thằng phải gió nó đè em ra
Em lạy mà nó chẳng tha
Nó đem đút cái mả cha nó vào
.
Cô Gái Hái Chè – Phó Bản
.
Hôm qua lên núi hái chè
Có thằng mất dạy nó đè em ra
Nó đè em chẳng dám la
Em đè lại nó… nó la quá trời
.

TƯƠNG TƯ TIẾNG RAO CHÈ
.
Phần trích đoạn sau đây là của GS Lê Văn Quới.
.
[ … 1. Cái “hồn chè” sống mãi trong tôi chính là tiếng rao chè. Những năm sống ở Chợ Lớn (khoảng 1958 – 1963), tôi quen tai với tiếng rao chè của người Hoa: “Chí mà phủ… ủ; lục tào xá… á” mà mỗi lần nghe lại không nhịn được cười. Cười vì cái âm cuối cụt lủn, chỉ ủ ủ, á á rồi ngưng, rồi chìm lẫn giữa phố vắng, đường khuya.
Tháng 9/1964, tôi đến Cần Thơ dạy học. Đêm nghỉ ở khách sạn Thế Giới (đường Thủ Khoa Huân) gần bến Ninh Kiều. Nửa đêm, bỗng nghe tiếng rao chè; “Ai ăn chè bột khoai, bún tàu, đậu xanh, nước dừa, đường cát hôôôônnn…? Tiếng “hôn” kéo dài ngân nga, như bay như lượn, trôi nổi chơi vơi suốt một cung đường. Tiếng rao tha thiết, ngọt ngào của một cô gái miền Tây. Lần đầu tôi được nghe, sao mà xao xuyến quá! Tiếng rao khiến tôi nghĩ đến bao cảnh đời tần tảo, bao số phận chìm nổi giữa chiến tranh… rồi tôi thao thức cả đêm.
Như thế, đêm đầu hội ngộ Cần Thơ, tôi đã tương tư một tiếng rao chè! “Nhất thanh, nhì sắc…” Tôi hình dung những cô gái miền Tây sông nước, những cô gái Cần Thơ đều có chất giọng ngọt ngào như giọng cô gái rao chè. Và trong sâu thẳm lòng tôi như vút lên câu hát cũ: “Đến đây thì ở lại đây – Bao giờ bén rễ xanh cây hãy về”. Và tôi đã gắn bó với quê hương tình yêu này từ ấy đến nay.
.
2. Những năm 1960, ở Cần Thơ có nhiều quán chè, chốn gặp gỡ lãng mạn của giới học sinh sinh viên và cũng là của tất cả mọi người. Hai nơi bán chè nổi tiếng nhất là những quán đá đậu nhỏ trên đường Ngô Quyền – nơi có hai trường trung học: trường nam Phan Thanh Giản và trường nữ Đoàn Thị Điểm – và quán chè bưởi La San ở đường 30/4 hiện nay. Tôi trở thành khách hàng thường xuyên hai nơi này. Chè ngon là từ cái không khí của quán chè, từ những bâng khuâng ngọt ngào mà sâu thẳm gợi lên từ tiềm thức, từ giọng nói tiếng cười tươi tắn trữ tình của những người trẻ, và như từ lâu lắm trong ký ức bởi một tiếng rào chè…
Một điều thật bất ngờ là từ tờ báo tường của lớp tôi phụ trách, lại xuất hiện mấy câu thơ liên quan đến chè:
.
Buồn mang mang – ôi nỗi buồn mang mang
Anh hỏi em – cô gái trường Đoàn
Lòng có buồn như kẻ ở trường Phan
Khi tiếng rao chè vừa mới qua ngang?
.
Những câu thơ không đề tác giả. Và tôi – người thấy giáo trẻ, chợt ngỡ ngàng vì cảm thấy mình hình như chưa hiểu hết học sinh mình. Cái tâm trạng “nghe tiếng rao chè” mà lòng “mang mang” cũng chính là tâm trạng của tôi – của một thời trong quá khứ. Người học trò tôi không biết tên đó rõ ràng là khách đồng điệu của tôi! Từ đó, tôi nảy sinh ý tưởng là tìm tòi bằng mọi cách tất cả những bài thơ của người Cần Thơ viết về chè. Tôi đã tập hợp được hơn 30 bài. Những bài thơ tôi gìn giữ có giá trị như một loại văn học dân gian.
Tôi chia những bài thơ này làm hai loại: 1. Những câu viết riêng cho những cô gái bán chè, tác giả có thể là những khách tình si thuộc nhiều lứa tuổi; 2. Những câu “đặc sản” của giới học sinh, viết chỉ để gởi cho nhau.
.
Ở loại thứ nhất, xin dẫn mấy đoạn thơ sau:
.
Người là thi sĩ – làm thơ
Anh là “chè sĩ” – vẩn vơ phố phường
Mỗi tên chè – một tên thương
Mỗi tên chè – gợi mùi hương nhớ đời
Đậu đen, đậu đỏ… thơm môi
Chè thưng, bột bán, phổ tai ngọt mềm.
.
Nhìn viên xôi nước phát thèm
Ba chìm bảy nổi thân em vẫn tình
Mát lòng một chén đậu xanh
Thắm duyên chè bưởi ai đành quên ai!
Dù đi khắp biển sông dài
Tiếng rao chè! vẫn đêm ngày tương tư!
.
Ở loại thứ hai, có những câu tiêu biểu:
.
Cần Thơ có lắm quán chè
Quán ở vỉa hè – quán thật khang trang
Chè bưởi nổi tiếng La San
Con đường đá đậu – trường Đoàn lừng danh
Xôn xao nữ tú nam thanh
Gần xa nô nức, yến oanh hẹn hò!
Đẹp thay cái tuổi học trò
Chén chè mát ngọt để cho tinh nồng.
.
Cuộc sống ngày một đổi thay. Nếp sinh hoạt đô thị không còn giống ngày xưa. Tiếng rao chè hàng đêm ngày càng thưa vắng! Mai này có thể ở thành phố sẽ không còn bóng dáng những gánh hàng rong. Tôi bồi hồi nghĩ đến tiếng rao chè và ngậm ngùi cho “những người muôn năm cũ”…] [Lê Văn Quới]
.
LỜI KẾT
.
Ôi Cần Thơ thương nhớ. Cần Thơ của những chén chè ngọt lịm thân thương. Cần Thơ của “Một thời ta cố quên”.
Xin mượn câu nói sau đây và vài câu thơ để kết thúc bài viết này – chắc nó pha trộn giữa vui và buồn?
– “Không ai tắm hai lần trên một dòng sông” – Heraclitus (triết gia Hy Lạp cổ đại)
– Thời gian – nước chảy qua cầu/ Tiếng rao chè cũ đã vào hư vô

Và:
.
Cái thời mắt liếc dao cau
Cái thời đưa đón tình nhau Ninh Kiều[*]
Ly chè ngào ngạt hương yêu
Hoài trong tâm tưởng dù chia nghìn trùng
(Nhớ bến Ninh Kiều – Nguyên Lạc)
.
Tất cả chỉ còn là kỷ niệm, chỉ còn là dĩ vãng khôn nguôi!
.
Nguyên Lạc
……………
[*] Thời Đệ nhất Cộng Hoà, chính quyền Việt Nam Cộng hòa nâm 1957 đã cho lập nơi bến sông Cần Thơ một công viên cây kiểng và bến dạo mát: Ninh Kiều. Kế tiếp là chợ Cần Thơ.

SÂN GA

Đặng Xuân Xuyến

train
– Tặng nhà thơ Như Ý Gialai
Chủ nhiệm web Phố Núi Và Bạn Bè –

Ông lão ngồi sân ga
Lầm lũi đàn rồi hát
Trời đang mưa nặng hạt
Gió quẩn ngoài phố thưa.

Bà lão ngồi nhìn mưa
Tay lần lần tràng hạt
Tiếng đàn như muối xát
Ai oán từng nốt rung.

Bà lão người miền Trung
Ông lão người xứ Bắc
Hai phận đời cơ cực
Vịn đau mà nương nhau.

Trời bắt đầu mưa mau
Gió quẩn từng câu hát
Nụ cười trên môi nhạt
Thắt lòng mùi gió sương.

Hình như ông mất nương
Hình như bà mất ruộng
Đời gặp cơn ác mộng
Đói nghèo mà tha hương.
*.
Hà Nội, trưa 28.01.2019
ĐẶNG XUÂN XUYẾN

GIỜ NGỌ

Võ Công Liêm

nguoi va chim- vcl

Tranh Võ Công Liêm: Người và Chim

*nhớ đêm ngủ với Chuột ở trong bếp (Pleiku/1967).

ngày của đời tôi
trôi đầy tháng
năm ngã nón chào
du miên tôi đi vào nỗi nhớ
một lần nào
lá nhuộm màu quan san
trên bước đường tùng lộ
đá xanh rêu ngày đó
lên thân xác điêu tàn
ngủ say cùng với khói
nhớ xưa người tình cũ
cà phê sửa đặc quánh
lệ đã trào rồi đó
không thấy sao em
chạy thanh bình trên biển trắng xanh um
đã chìm trong quên lãng màu trăng thuở nọ
giờ ngọ
nuốt chửng tiếng khóc khô
cho thế gian tồn lại
em . muốn chảy vào trong đó cho bóng đè
thân thể anh nhàu nát như trận cuồng phong
những đóa hồng tan theo nhịp thở
nằm lịm bên đời giữa trời tháng chạp
tôi . bỏ hoang phế vào quá khứ thôi miên
mang hạnh phúc làm tiếng sóng ru trăng dỗ dành
đầu ngọ . con chuồn chuồn ngô gục đầu bên bờ liễu gió
đêm tắt ngúm thổi vô tình giọt yêu thương nguội lạnh
cuối ngọ . lê thê buồn nôn lạ ngày tháng đứng nghiêng ô
em . dang tay giữa trời vô tận hứng những sợi mưa khóc
vào mắt nhớ
sao lại đến đây ?
sao phải thế nầy ?
hoa vạn thọ nở chậm vào giờ ngọ
đến sáng mai mới sang mồng một
đôi tay siết em cực nóng
những buổi chiều
mây lang thang lạc hướng phương trời
nổ tung quá khứ một lần yêu
trên chiếu hoa ướt mềm nhung nhớ
giờ ngọ
ta thức trắng một ngày mai để
không còn thấy bóng đêm phủ dụ hoàng hôn
tím cuối trời thắp hồng ngọn lửa ngoan hiền
tháng năm ơi có người lỗi hẹn . tưởng như quên
nỗi nhớ rì rào cuộn vào suối ra sông quằn qua
cửa biển hứng chịu đau thương cho xuân nở
những đám lục bình làm tình bán thời gian
bềnh bồng theo bóng chiều mưa giông tới
tượng đá ngoài kia
hình như khóc
trên vòm trời xấu xí
lũ kên kên ngóng đợi
giữa giờ ngọ hoảng
hốt cơn mê chiều
nay không có em
để nghe gió hú
có phải đây là ‘le vent se lève et fait voler les oiseaux’*
không ! tiếng kêu rừng rú đâu phải tiếng chim kêu mà
ngẩng đầu tư cố hương

tôi . bậc khóc một mình giữa trời tháng ngập
em . ngồi đong gió với thời gian thâu qua
ngọ đã đi rồi ./.

VÕ CÔNG LIÊM (ca.ab.yyc. ba mươi tết canhtý 2020)

* ‘gió nổi lên làm bầy chim vỗ cánh bay…’ (Marcel Proust (1971-1922)

TRANH VẼ: ‘Khỏa thân trắng / White nude’. Khổ 15” X 20”. Trên bià thùng mì gói hiệu con tôm. Acrylics. Vcl#1522015.

KHỎA THÂN TRẮNG / WHITE NUDE

Thơ Võ Công Liêm

vcl tranh-nguo dan ba dan

Tranh Võ Công Liêm “Người đàn bà chơi đàn độc huyền cầm”

BÊN TRỜI PHƯƠNG ẤY

từ trong tinh thể mà ra
cưỡng bức triệt để hồn sa đắm chìm
nhớ
người
tình

từ khơi mộng ủ trong miền phù du
nhân
gian
chờ
đợi
bao lần xuân đến xuân đi
bên trời phương ấy
một mình tuyết phơi

XUÂN ĐÁO

bước đi chập chửng
trên
thềm
cổ
xưa
xuân đầu ngọn gió
một mình
một bóng
giữa triền hạn khô

HOA VÀ GIÓ

ngáp gió
hoa cười
đón xuân
trận phong tình
đứng xa buồn dặm
xuân về hay chưa ?

CỜ BẠC XỈU

mùng một
xả xui
mùng hai
lộn đầu

sòng
bạc xỉu

RƯỢU

thiếu
thịt
chuột
không
phải
tết ./.
VÕ CÔNG LIÊM (ca.ab. yyc. đầu năm Canh Tý 2020)

THI CA ĐƯƠNG ĐẠI

Võ Công Liêm

NGUYỄN THỊ KHÁNH MINH
THI CA ĐƯƠNG ĐẠI

Khanhminh2=ngon ngu xanh

‘Elle est venue par cette ligne blanche’* (M. Heidegger)

Là một định nghĩa quả quyết khi nhận được tập thơ của thi sĩ Nguyễn thị Khánh Minh gởi tặng vào đầu năm 2020. Tác giả tập thơ Ngôn Ngữ Xanh cho tôi một ấn tượng hào sảng khi đọc trọn tập thơ với những phụ lục khác nhau, mục đích nêu lên tính đặc thù trong thi ca của Nguyễn thi sĩ. Thừa nhận nó cho một thứ ngôn ngữ lạ của thơ và hiếm có cho một lối kiến trúc thơ giữa đời này. Ngôn Ngữ Xanh qua nhiều thể thức khác nhau, nhưng; lại bao trùm trong một tư tưởng phảng kháng; một thứ phản kháng nội tại qua một tâm thức tự nhận, tự thú hơn là lý giải hay biện minh. Nó hoàn toàn thoát tục từ bản thể đến bản chất nơi con người thi nhân. Với Nguyễn thị Khánh Minh ta phải hiểu thêm rằng: -thi ca là từ ngữ khác biệt vô cùng / poetry works differently; là vì thi sĩ biết vận dụng chữ thơ để thoát ra khỏi phạm trù lý luận văn chương mà đặt ở đó một thứ văn chương thơ riêng biệt; bởi vậy gọi là ngôn ngữ xanh, nó hiện nguyên hình một tác phẩm hội họa thi ca /art of poetry là một nhân tố đơn thuần trong mỗi bài thơ đã được chú ý tới, thơ coi như tình cảnh kịch tính –the poem as a drmatic situation, là tiếng nói của người xướng ngôn (speaker) vì thơ là một thứ âm vang đồng vọng, hầu như là tiếng nói trung thực bởi người làm thơ. Thơ của Nguyễn thị thuộc trường phái siêu thực là hình ảnh phá thể trong một không gian duy nhất như chính thi sĩ đã xác định qua ngôn ngữ trong thi ca, giữa những băng hoại của đời sống văn minh vật chất là lý do chính đáng hay ngấm ngầm trong một tâm thức phản kháng tự tại; đó là cái bóng, cái bóng đe dọa cho một bi kịch đời; chẳng còn thấy gì khách quan chủ nghĩa và chủ quan chủ nghĩa mà cả hai là đối tượng giữa đời đang sống của Nguyễn thi sĩ, và; cho đây là một phạm trù phiến diện ẩn trong thơ để tách ra khỏi dòng sống như-nhiên (an nhiên tự tại) mà bừng lên như phương tiện thoát tục, thoát tục để thấy mình trong thế giới tự do thơ, tức thoát ly thế giới ước lệ, ràng buộc của luật tắc để trở về một lần nữa trong như-nhiên của tâm hồn. Đấy là nhiệm vụ của kẻ làm thơ: -không hóa toàn triệt trong đời để đi tới một vận dụng bất khả thi là thực hiện trên mọi khả năng trí thức vốn có, là cơ hội đưa mình vào tác phẩm như chứng nhân làm người; đó là phong cách vượt thoát ra khỏi cõi đời. Sự dày vò, bức xúc ít nhiều đã thấm thấu vào tế bào ngũ tạng, tế bào da mặt của nữ sĩ, phản ảnh vào một hiện thể như đã sinh ra. Thơ và người hài hòa vào nhau trong tư thế độc sáng, bên cạnh đó với một tâm thức đơn thuần để chuyển hóa thành thơ là cái lý đương nhiên của thơ, nó nói lên thân phận làm người phải đối đầu trước mọi tình huống. Dựa theo tác phẩm ‘Con người phản kháng / L’homme Révolté’ của A. Camus. Thời mới nhận ra thi nhân là kẻ vong thân, một kẻ lưu đày và quê nhà; tất cả đã bộc bạch qua thơ xuôi, thơ mới, thơ không vần là một trong những thể điệu thông thường ngày nay. Nguyễn thi nhân đã chắc lọc trước sau để đúc thành bản trong cùng một tư duy hiện thực nghĩa là không thay đổi phương hướng mà cùng một ý thức để dựng thành thơ. Đấy là ý thức thức tỉnh để sáng tạo sự mơ về /dreaming-day, một thức tỉnh mãnh liệt của sáng tạo nghệ thuật, một thứ nghệ thuật dành cho thơ. G. Bachelara nói: ‘tâm thức và trí tưởng của ta đủ khả năng để giúp ta sáng tạo những gì mà ta nhận thức được’. Dựa vào đó ta thấy được phần nào hồn và xác của Nguyễn thị Khánh Minh là một hiện thực cụ thể, nghĩa là không bị lôi cuốn trước trào lưu, không ngại ngùng trước mọi tình thế biến đổi chất thơ, hoàn toàn lạc quan của người làm thơ là đứng trong tư thế vững chắc /concreted để thành lập thơ bằng một thứ ngữ ngôn khác lạ đầy màu sắc của hy vọng và bí truyền. Gọi nó là Ngôn ngữ Xanh chính là cái đẹp cuộc đời, xoa đi những chạm trán giữa đời, là một liên hệ tương thức để tạo nên cái nhìn khát vọng. Một vũ trụ dự cuộc, vũ trụ khát vọng của con người. Đọc thơ của Nguyễn thị Khánh Minh bằng tất cả giác quan và ý thức, khêu lên một ký ức chua xót: -một cõi kia đã mất (HNI) để đón nhận một nơi khác làm quê hương thứ hai (NTR) cuối đời lại dung thân vào ‘đất hứa’ nhưng trên đất hứa lại chứa huyễn và mộng nhiều hơn là những gì trong mơ để được trở về nguyên quán của con người. Nhờ vào đó mà Nguyễn thi sĩ tìm thấy được cái bản ngã tự tại để nhận diện một trào lưu thi ca mới hơn của thời kỳ chủ nghiã hậu hiện đại thi ca (Post-modernisme poetry). Tức nói lên cái mới hơn cái mới, nói lên thể thơ (poetic form) mới hơn hình thức thi ca mới (new formalism poetry) kể cả siêu thực, trừu tượng và quá thực; tất thảy nằm trong Ngôn ngữ Xanh của Nguyễn thị Khánh Minh là bằng chứng hùng hồn của những gì mới mà tác giả muốn nói tới. Thành ra trong ngôn ngữ xanh là một thứ ngữ ngôn của thời đại mới. Bao trùm ở đó một thứ phản kháng nghệ thuật và một thứ phản kháng siêu hình. Lấy từ đó thấy được Nguyễn thi sĩ xưng cái ‘tôi/moi/self’ có lúc, có thì, bởi; xưng cái tôi là nói lên một hiện hữu sống thực (cogito) nhờ vậy mà lôi đầu cơn độc cô nội tại ra khỏi vũng mê chìm đắm trong tiềm thức từ bấy lâu nay. Cho nên chi dòng tư tưởng thi ca của Nguyễn thị Khánh Minh phất phơ một sự nuối tiếc nào đó để đi tới phản kháng trước những biến thiên nhân thế; để rồi hòa mình vào trong cái gọi là ‘tôi phản kháng vậy thì chúng ta hiện hữu’.Đó là thứ phản kháng tự nhận, tự biết để thoát tục làm người và coi đó như cơn dấy động đã qua đi để trở về với bản thể hiện hữu, một hiện hữu sống thực giữa đời đang sống của thi nhân và tìm thấy một thứ tự do đúng nghĩa như mong đợi. Nguyễn thi sĩ thực hiện sứ mạng này là cả một trường kỳ đấu tranh tư tưởng mới sanh ra đứa con như ý mình: hợp với tánh khí và hợp với đời.
Trong tập thơ chan chứa một tình người nồng thắm, chất đầy cái huyền nhiệm của thi ca mà Nguyễn thi sĩ muốn nói tới nhiều lần như nhắc nhở; đó là tiếng nói của linh hồn xanh, ký ức xanh và nhiều màu xanh khác nhau (Tr 87).Xanh ở đây là xanh của trạng thái tâm linh, một tâm thức siêu hình không còn vọng động; dù đang ở trong sự vọng động đó, thế nhưng; Nguyễn thi sĩ trở về trong cái nhất thể của nó nghĩa là không có hai mà một, cho nên chi đưa hồn vào thơ là ý tứ nhất quán của con người biết phận mình. Nhớ lời Nguyễn Du: -một người đã từng chứng kiến và sống bao nhiêu lần đổ vỡ ở ngoài đời và trong lòng. Ông viết: ‘sinh tiền bất tận tôn trung tửu / Tử hậu thùy kiêu mộ thượng bôi’. Nguyễn thị Khánh Minh không uống rượu quên đời. Nữ sĩ uống rượu thơ để say với đời. Tâm lý này là tương như giữa hồn và xác của Nguyễn thi sĩ khi vào ra với con bệnh: ‘Trường đồ nhật mộ tân du thiểu / Nhất thất xuân hàn cựu bệnh đa’ (Nguyễn Du). Tất cả nằm trong ‘Hạt Thời Gian’ là sát-na vô tận số của thời gian để không còn thấy mình giữa nhân gian chờ đợi mà rơi lệ khiến ta khóc (Tr.80 ) Bạn bè cũ mới xa dần, không còn nữa…
Với những bài thơ khác nhau nhưng cùng một cảm thức trước hoàn cảnh nhân sinh như tiếng gọi lòng : ‘Anh ơi. Đó là gió.Và nắng,Và em / Của phố biển Huntington Beach. Hôm nay’(Tr.69).Tôi cảm hóa câu thơ này! Đi cùng một bài thơ xuôi khác, như thể hòa điệu cùng tôi: ‘Tôi biết.Tôi sẽ được cất tiếng. Trong mùa thơ quyến dụ ấy với ngôn ngữ tình nhân. Ngôn ngữ tôi nghe một lần trong xứ sở chiêm bao. Khoảnh khắc giấc mơ tôi thực sống…(Tr.118) Đọc rồi mới thấy cái đáo để trong thơ của Nguyễn thị Khánh Minh. Quả không ngoa! Mà thừa nhận nó như một chứng thực cuộc đời đang sống; có trong đó của chúng ta.

Sở dĩ gọi là Thi ca Đương đại (Contemporary poetry), là vì thi nhân là kẻ đang sống và chứng kiến của đổi thay từ nội giới tới ngoại giới trong cùng một thời kỳ, cùng một thời đại và trong cùng một cảm xúc. Xưa gọi là Thi ca Hiện Đại (Modern poetry) tưởng là mới lạ nhưng quan niệm đó chưa đạt yêu cầu để rồi phải có một Hậu Hiện Đại với một tư duy đổi mới hơn. Là ghi chú vào một phân định và tính cách thi ca hiện đại –A Note on Chronology and the Modern temper. Cho nên chi gọi Nguyễn thị Khánh Minh là thi sĩ đương đại, bởi; nó được định vị của tất cả những gì mới / modern nằm trong một cảm thức đồng tình như một điều gì đã có trước và sau này. Nguyễn thi sĩ đứng trên cương vị chủ thể của đổi mới tư duy, dù rằng nó đã đổi mới thi ca vào những thập niên 1930 và lớn dần về sau này, những thể thơ như thế tiếp cận nhanh và lôi cuốn như một trào lưu thi ca thời thượng là khác biệt giữa ước lệ, qui cách hoàn toàn nghịch lý giữa đời này. Nhưng; hậu hiện đại của tk. hai mươi mốt là cái mốc lớn, nó đổi thay toàn diện từ ngữ ngôn cho tới văn phong, một sự vượt thoát để đuổi kịp trào lưu. Nguyễn thị Khánh Minh du nhập vào đó để làm sáng tỏ bằng một thi văn kinh dị và lạ lẫm. Càng dị thường chính là lúc Nguyễn thi sĩ chinh phục được cuộc đời, tức là chinh phục ở chính mình bằng mọi phương tiện khác nhau để đi tới cái mới lạ trong thi ca. Nói theo thuật ngữ triết học thời cái sự đó là vấn đề trầm tĩnh tư duy (philosophycal problem). Thơ của Nguyễn thi sĩ là có ý để đả thông (esoteric) bởi ít nhiều chọn lựa con chữ để đi vào cái ngoài (beyond) của hiểu biết và nhận thức và cũng là là một tiềm ẩn khác có tính cách mơ hồ (obscure) trong mỗi bài thơ của Nguyễn thi sĩ đã dựng nên. Cái mơ hồ trừu tượng trong ngôn ngữ xanh của Nguyễn thi sĩ là cả suy tư và tìm thấy để định nghĩa cho rõ thực hư của thế nào là thi ca đương đại(?) -Nó ẩn tàng, ẩn dụ, trừu tượng, siêu hình là vị trí của hiện sinh chủ nghĩa. Nói đúng ra nó là thứ thi ca thuộc siêu hình (The metaphysical poetry). Nó nhập vào thơ một cách vô hình (ngay một số thi nhân khi thành thơ vẫn không tìm thấy cái siêu hình trong đó). Thi ngữ đó rất ư độc cô /solely. Bởi nó là âm vang đồng vọng mỗi khi cất tiếng, giòng luân lưu đó là tiếng nói ‘tự do’ và ‘hạnh phúc’ trong cái chặn chót / next-to-last của bài thơ mà nó chỉ nhập vào một cách tự nhiên và bất ngờ; là cõi phi trong thi ca. Là thứ thơ thời thượng của nữ sĩ Nguyễn.
Cái gì gọi là siêu hình ? -chính là cái ‘vượt thời gian’.Vượt ở đây là ra khỏi cõi ngoài space/beyond, nó không thuộc về thời gian tính mà nó là cảm thức chưa được trọn vẹn như yêu cầu ở tự nó, cảm nhận về những gì không cầm giữ được cho một hiện hữu tồn lưu. –The sense of incompleteness itself, the feeling of irrecoverable loss of existence… mà trở nên hình dung từ của trí tưởng để thành thơ là thế đấy!.
Ở đây chúng ta không cần lý giải, phê bình, phân tích từng loại thơ khác nhau, cũng chẳ cần bình giải mà nặng ưu tư. Nhớ cho rằng: những nhà thơ là vận động viên của ngôn ngữ -Poets are the athletes of language- là khả năng vận chuyển trí tuệ để thành lập ở đó một chủ đề đầy chất xanh. Đấy cũng là một ẩn dụ của thơ, bởi; thi ca là nguồn phát tiết trước tiên và hàng đầu của nghệ thuật trình diễn –Poetry is first and foremost a performer’s art. Đời thơ nằm trong ngôn ngữ; là con đường rộng mở, có thể cảm thức nó dưới nhiều chiều kích khác nhau, không còn thấy gì là trừu tượng hay siêu hình mà là thứ ảo giác của nhà thơ mô tả có chiết tính giữa hiện hữu và tha nhân (người đọc) một cách rõ nét để đả thông tư tưởng.
Cho nên chi nói hiện hữu và tha nhân là cái sự bất khả tư nghị, là vì; hiện hữu chỉ là đối tượng thời gian và tha nhân chỉ là biến cố, sự kiện. Nhưng đặc nó vào hiện hữu và tha nhân để nhận diện mặt thực của đời trong thi ca mà thôi. Vì; thơ là thể tính của nhân sinh. Nguyễn thi sĩ hiểu một cách thấu đáo vai trò làm người qua một thứ ngôn ngữ mới của ‘Xanh’ là tiếc thương và hoài niệm hay cố thoát ra khỏi thân phận bằng những hình tượng hướng tới tương lai như được trở về trong cõi mơ. Thành ra dưới nhản hiệu ‘Ngôn ngữ Xanh’ là một liên trình biện chứng giữa quá khứ và hiện tại , tương lai được gieo vào cánh đồng ‘xanh’ bất tận đó để làm nền cho mầm sống. Ngôn ngữ Xanh để lại cho ta một bố cục như sau:
1-Thời gian ngoại tại và sự chuyển vần.
2- Thời gian nội tâm và giòng tâm lý.
3- Dòng đời tương giao giữa người và vũ trụ.
Cả ba thứ đó là trục quay trong thi ca của Nguyễn thị Khánh Minh.Thực ra; thơ của nữ sĩ Khánh Minh là loại thơ trình diễn (poetry performance) không xa với Thanh Tâm Tuyền hay Phạm Hầu. Mà mỗi người mỗi vẻ mười phân vẹn mười là thế, đó là đặc thù riêng cho thơ. Nguyễn thi sĩ thực hiện ‘trọn gói’ về nó.
Để tìm thấy một sự rốt ráo trong thơ của Nguyễn thị Khánh Minh, bởi Nguyễn thi sĩ không duy trì một thể thơ cố hữu mà dựng vào đó đa dạng thơ là biểu tượng cho một thứ thi ca sống thực, dù cho ngữ ngôn xa la của thơ vô nghĩa (nonsense poetry) ngay cả thơ nhảy, vọt là thể thơ lắp đặc (the poetry installation); biết rằng ngắt nhịp hay vắt dòng trong mỗi bài thơ nhất là thơ một, hai hoặc ba, bốn chữ, không phải vì thế mà gián đọan (Tr. 41,42, 47,48) . Rất nhuần nhuyễn và tiết tấu. Ngắt câu có chuẩn độ của nó thành thử không lạc phách, bởi; qua kinh nghiệm làm thơ của nữ sĩ Khánh Minh đã tìm thấy sự hợp lý đó trong thơ. Tuy nhiên; thơ tự do hay thơ không vần của Nguyễn thi sĩ là thái độ xử lý để dựng thành thơ: bằng ngữ điệu, cú pháp, văn phạm và sự lập lại của con chữ mà vẫn tinh thông không phạm trường qui và không bi lụy hay ảnh hưởng gì đến qui luật của thi văn. Đó là chân tướng của người làm thơ dưới mọi thể thức khác nhau.

Ngưng ở đây. Tôi đã thân quen với thi sĩ Nguyễn thị Khánh Minh cách đây chín, mười năm với những bài thơ mà tôi đã bắt gặp, coi nó như chứng tích hình thành loại thơ xuôi một cách hào khí và tuyệt cú. Tôi dùng nó làm phương tiện phát huy. Chắc chắn tập thơ Ngôn Ngữ Xanh của Nguyễn thị Khánh Minh với nhiều bài thơ khác nhau đều cùng một tâm lý như nhau. Đọc nó để thấy mình nằm trong ý thơ đó một cách hồn nhiên với một thân tâm độ lượng. Trích một khúc trong bài: ‘Mùa Xuân Mưa’ của nữ sĩ Khánh Minh:

‘Dường như nắng chưa biết mùa xuân về
Trời xám cùng những dự báo về một cơn bão lớn, về một
trận động đất, về một ngày tận thế, có thể.
Tôi thảng thốt.
Như một tiếng chim vừa hoảng hốt trong mưa.
Không thể bắt đầu mùa xuân như thế.

Có tiếng khóc của ai đó vừa cất lên chào ngày thứ nhất.
Nắng một ngày nõn xuân, tiên đoán cuộc đời sẽ mãi là
những ngày nắng đẹp, nên người yêu màu xanh, yêu thanh
bình, yêu những đơn sơ. Người đến em từ giấc mơ. Mùa xuân phương Nam rực rỡ nắng.

Tại sao bắt đầu mùa xuân bằng những trận mưa và gió.
Gió Santa Ana. Gió có gai làm tôi buốt nhói.
Phiá bên kia đại dương trời đất chập chùng tin dữ.
Bình minh yên ngủ, gần đây thôi, mà như đã thành cổ tích.
Nỗi sợ đồng hóa hết mọi thứ. Thiên tai mong manh hóa hết
mọi điều.
Tại gió, tại mưa không nhớ hạn kỳ? Tại đất tại trời xô lệch



Mưa bắt đầu xuân ở đây.
Mưa mặn nước mắt.
Nhòa trời Santa Ana’.



Nguyễn Thị Khánh Minh (Santa Ana, mùa xuân 2011))
Hợp Lưu #116/2012
.
Tập thơ Ngôn Ngữ Xanh của Nguyễn thị Khánh Minh là thơ tuyển của một hành trình dài chất chứa những khuynh hướng khác nhau; nhưng tựu chung nói lên một thứ chủ nghĩa tự nhiên (naturelyricism) và hình tượng (Imagism); là điều dễ cho ta tiếp thu, bởi; trong mỗi bài thơ không phải là tự ý muốn nói cái gì mà là một thể hiện cụ thể về tình người và cuộc đời / A poem should not mean; but be. Sách in ấn tao nhã, trình bày mỹ thuật và gần gũi giữa người viết và người đọc. Sách thơ hiện đang lưu hành hoặc muốn biết thêm chi tiết qua điạ chỉ email : khanhnguyenm@yahoo.com sẽ đem lại niềm vui trọn vẹn. (vcl)

VÕ CÔNG LIÊM (ca.ab.yyc . áp tết Canh Tý 2020)

* ‘Nàng đã đến bởi cái đường vạch trắng đó’ (Martin Heidegger)

Chúc Cưng

hpdan.jpeg

Cưng ơi Xuân đến thật rồi
mà sao hoang vắng giăng đầy trong anh
thì thôi anh cũng chúc em
mọi sự như ý – tình thêm mặn mà

Chúc em năm mới ngoan nha
Ngoan như mai nở – ngoan như hương trầm
Ngoan như bánh tét, bánh chưng
Ngoan như củ kiệu dưa hành, mứt sen

Chúc em Canh Tý mộng thêm
chúc em tìm được tình nồng nơi ai
chúc ai tìm đươc tim ai
và ai ngồi giữ tình ai suốt đời

khê kinh kha

NỖI LÒNG CỐ HƯƠNG

Nguyên Lạc

Ailan Congtang -Vọng nguyệt (1)

1.
Theo chân ra chợ xứ người
Xôn xao. đỏ. tím… vui cười hân hoan!
Thấy con cua. tưởng con còng!
Thấy cây sồi. nhớ cây còng quê. nao! [1]
.
Chiều nay bên phố lạ nào
Nhớ con rạch nhỏ. cây cầu đòn tre
Nhớ con còng gió xanh lè
Chiếc càng “tổ chảng” kẹp ta đau tình! [2]
Nhớ ai “dáng trúc bờ xinh” [3]
Lá răm mắt liếc. điếng tình tới nay!
Nhớ sao! cau thẳng hàng dài
Con diều sáo trúc tình ngoài nghĩa trong
Lam không. lúa trổ đòng đòng [4]
Thả con mồi kiến. động lòng cá rô
.
Nhớ ơi. tuổi dại ngây thơ
Còn đâu? chỉ bóng chiều tà xứ xa!
Xứ xa có nghĩa người xa
Người xa đoài ấy. biết ta nhớ về?
Nhớ về vời ấy chân quê
Đốt đồng khói trắng lặng lờ bay xa!
.
2.
Xuân thu cùng nỗi phôi pha
Nhuộm ta màu tóc khiến ta bạc đầu!
Bạc đầu. đâu bạc tình đâu
Cố nhân vẫn mãi mộng nào đêm say
.
Tha phương cùng mối tình hoài
Quê hương. mắt liếc chết người lá răm!
Chắc là … chắc mãi trăm năm
Cô miên đất khách . nỗi lòng cố hương!
.
Cố hương đầy mắt đêm trường
Chong đêm đoài đoạn. vô thường bể dâu!
Cố nhân nay biết về đâu?
Về đâu. rồi cũng trắng màu mây bay! [*]
……
[*] Bạch vân thiên tải không du du – thơ Thôi Hiệu.
.
Nguyên Lạc
.
…………….
@. Xin giải thích cho các bạn thành phố rõ:
[1] Cây còng hay còn gọi là muồng tím, muồng ngủ, me tây…Tên khoa học Samanea saman họ Fabaceae, bộ Đậu (Fabales). Cây có nguồn gốc ở châu Mỹ nhiệt đới, du nhập vào Việt Nam từ thời Pháp.
[2] “Tổ chảng”: “bự chà bá”, “to tổ chảng”(Phương ngữ, Khẩu ngữ) to quá mức thường thấy.
Gọi còng gió, vì đây là loại còng chạy rất nhanh, tưởng có thể bằng cả tốc độ của gió. Mặc dù có bộ dạng nhỏ thó, nhưng đôi càng của còng gió đực (một lớn, một nhỏ) lại là vũ khí hết sức đáng sợ, càng nó rất khỏe, mép càng sắc như dao, kẹp có thể đứt thịt. Ở quê tôi, Đại Ngãi, Hậu Giang nơi các sông rạch, còng gió lớn cỡ ngón tay màu xanh blue rất đẹp
[3] Trúc xinh trúc mọc bờ ao/Em xinh em đứng nơi nào cũng xinh/Trúc xinh trúc mọc đầu đình/Em xinh em đứng một mình cũng xinh (ca dao)
[4] Lúa trổ “đòng đòng” là lúa đang bắt đầu trổ bông, tức bông lúa non.
.

MÙA XUÂN NHÌN LÁ KHÔ

hoa nguyên

tran din cuon

Trang Đinh Cường

Rồi mai nép lá rừng xanh
Về trong tiếng ngủ trên cành trăng phai
Như lặng lẽ vẫn đêm nay
Để nghe âm vỡ những ngày cuối năm

Đã chọn rồi mình ơi tình ngỡ
Chọn nhau đi cho hết đường trần
Nửa chừng cây, cành lìa gãy đổ
Nợ vương tình vốn chưa nương thân ..

Cho ta nhớ tình ơi tình ngỡ
Chọn nhau đi cho hết đường này
Những con đường chừng cây bóng ngả
Ta tận tình cho hết đổi thay

Xót tình nào thơ nghe ta say
Tiếng chim gầy bỡ ngỡ sớm mai
Những loài chim đông đàn đứng sẻ
Hót nhau về đậu hết tương lai !

Có bướm hoa nào trong sáng nay
Hứng mặt sương mình trong đôi tay
Có ngàn lớp ngăn trong chỉ kẽ
Một đường sinh tử xẻ chia hai

Mùa xuân đi mùa xuân lại về
Người đi rồi biết không còn nữa
Mùa xuân đầy đêm nghe lê thê
Tiếng cúc cù đê mê hiên cửa

Từ đó rừng bóng nghiêng bóng ngả
Cánh chim bằng bạt gió sơn khê
Đêm thắp lên cho nhen nhúm lửa
Bạch đầu lòng hết cuộc đam mê

Cây sẽ chết từ khi mất nước
Hoa đến tàn từ héo đến khô
Đi mỗi bước là lui mỗi bước
Đường mấp mô như những nấm mồ

Ta về mùa xuân nhìn lá khô..

DÁNG XUÂN

Nhật Quang

uminh11- su vang

Xuân đã về
long lanh trên cánh lá
Giọt sương tan trong nắng ấm bình minh
Ta lắng nghe tiếng Yến, oanh lảnh lót
Muôn sắc hoa hương thoảng khúc tự tình

Dáng Xuân xanh
điệu đà khoe áo mới
Gió thẹn thùng ve vuốt nhẹ bờ vai
Tóc nhung huyền chạm lòng ai mơ đắm
Dáng liễu mềm như dải lụa nghiêng bay

Dáng Xuân cười
bên thềm hoa rực rỡ
Đôi má hồng lúng liếng ngát làn hương
Làn mi biếc, ta trộm nhìn bối rối…
Giấu khát khao, vụng dại thuở yêu đương

Dáng xuân hồng
bên trời thơm nắng mới
Ta ươm đầy bao ước mộng lên ngôi
Đêm mộng mị…nụ hôn tình êm ái
Đắm nồng nàn vương đọng dấu bờ môi.

Nhật Quang

.

Tết là gì?

Trần Tấn Luân

6 ý nghĩa ngày tết mà không phải người Việt nào cũng biết

Y-nghia-ngay-tet

Tết là dịp lễ truyền thống vô cùng ý nghĩa và quan trọng với mỗi con người Việt Nam chúng ta. Thời điểm giao thừa cũng là lúc đánh dấu sự chuyển giao giữa năm cũ và năm mới. Cây cối đâm chồi nảy lộc, trăm hoa đua nở. Thời điểm này cũng là lúc mà những đứa con xa quê trở về, gia đình đoàn tụ, không khí vui vẻ nhộn nhịp, vậy bạn có hiểu được ý nghĩa ngày tết hay không. Nếu không hãy để chúng tôi giải đáp cho các bạn nhé.

1. Ý nghĩa ngày tết Nguyên Đán sum họp, đoàn viên

Sum họp không phải là ý nghĩa chính của tết nhưng dường như nó lại tự trở thành ý nghĩa quan trọng nhất mà ngày tết mang đến. Vào những ngày này, mọi người tạm ngừng công việc lại, con cái sắp xếp về nhà, người lớn trong nhà tảo mộ thăm những người đã khuất bóng.
Tết sum họp đoàn viên bên gia đình là điều mà gia đình nào cũng mong đợi
Những ngày gần tết cùng nhau quây quần bên nồi bánh chưng bánh tét cùng ôn lại những chuyện xưa kia. Gợi nhớ lại một thời con sum họp, vậy nên với những đứa con xa quê, gia đình có người đi xa làm ăn thì tết là thời điểm được mong đợi nhất trong năm.
>>> Xem Thêm: 7 món quà tết ý nghĩa nên biếu ông bà cha mẹ

2. Ý nghĩa giao hòa giữa trời đất, con người với thần linh

y nghia tet5
Là thời điểm chuyển giao giữa đất trời, con người, thần linh, người Việt tin rằng thời điểm này là lúc chuyển giao giữa 2 năm với nhau, thần linh cũng từ hạ giới mà về trời báo lại chuyện trong năm. Cũng vì thế mà những nghi lễ, cúng kính thờ phụng cũng được tổ chức thường xuyên trong dịp này.
Những loại bánh được làm ra cúng ngày tết đa phần được làm để dân lên thần linh
Con người và thời điểm này thường rất dễ mở lòng với nhau, tính tình thoải mái, nhẹ nhàng vui vẻ hòa đồng. Từ đó khiến con người với con người cũng yêu thường nhau và quan tâm nhau nhiều hơn.
3. Ý nghia tết Nguyên Đán hướng về cội nguồn
Những ngày tết đến xuân về cũng là lúc gia đình tập hợp với nhau cùng đi tảo mộ, thăm ông bà cha mẹ, thắp nén hương hướng về tổ tiên, những người đã khuất bóng. Bàn thờ ông bà, tổ tiên luôn luôn trưng đầy đủ mâm ngũ quả, bánh mứt, đồ cúng, thịt lợn, gà. Nhìn về người xưa mà cố gắng cho một năm mới đầy sinh khí.
>>> Xem Thêm: Top 10 câu chúc hay và ý nghĩa năm 2019
4. Tết Nguyên Đán ý nghĩa rước tài lộc
Ngày tết thần tài gõ cửa cho một năm mới tràn đầy an khang thịnh vượng, sung túc quanh năm. Mọi gia đình luôn mở rộng của rước thần tài vào nhà, mang theo may mắn, giàu đẹp và những điều tốt lành. Đó cũng là lý do vì sao mà ngày tết gia chủ thường mở cửa thâu đêm suốt sáng, và bày biện những vật mang đến may mắn.
Tết đến xuân về mang theo may mắn và tài lộc cho mọi nhà
5. Ngày khởi nghiệp cho một năm mới vẹn toàn
Ngày tết được xem là thời điểm mọi thứ bắt đầu lại từ đầu, một năm mới với những chuyến đi mới, những công việc mới. Vậy nên mỗi đợi tết đến hãy bỏ qua hết mọi phiền muộn của năm cũ, bắt đầu lại một năm mới với những khởi đầu mới. Chắc hẳn sự may mắn, tài lộc sẽ giúp bạn đạt nhiều thành công hơn trên đường đời.
Là một khởi đầu mới, mang đến những niềm vui mới, bỏ hết điều xui xẻo ở lại năm cũ. Tâm trạng của con người cũng từ đó mà vui vẻ khác thường, sức khỏe cường tráng, sự sạch sẽ và mới mẻ của năm mới chắc chắn sẽ giúp bạn đạt được thành công ngoài sự mong đợi.
>>> Xem Thêm: 3 vấn đề xoay quanh câu chuyện “cây nêu ngày tết có ý nghĩa gì”
6. Tết Nguyên Đán hòa thuận yêu thương
Ngày tết là cơ hội để mọi người dành cho nhau những lời chúc tết chân thành tốt đẹp nhất. Gần thì đến thăm nhau, trao cho nhau những lời hay ý đẹp, xa thì gọi điện thăm hỏi dặn dò nhau. Người lớn những ngày này cũng kiêng cử hạn chế la rầy con cái, cãi vã nhau trong những ngày tết.
Ý nghĩa ngày tết cốt lõi vẫn là tình yêu thương con người với nhau
Tất cả mọi mâu thuẫn tạm gác qua một bên, trao cho nhau những tình cảm chan hòa. Bất hòa được hóa giải tạo nên thiện cảm cho mọi người.
Những ngày này luôn mang đến ý nghĩa ngày tết vô cùng sâu sắc, nhân văn mà mỗi người Việt mãi giữ trong con người mình. Ngày tết luôn mang đến cho khắp mọi gia đình sự háo hức, mong chờ từ người lớn đến trẻ nhỏ.
Tuy nói “tết nay buồn hơn tết xưa” nhưng tết là do con người chúng ta tạo ra, và có “đậm” hay không đều là do chính mỗi chúng ta quyết định. Tết thì vẫn mãi là tết, vẫn mang trong mình cái sự hy vọng, niềm vui và ý nghĩa ngày tết vẫn không bao giờ phai nhòa.

Trần Tấn Luân

Thương Về Kỷ Niệm

ĐT Minh Giang

tran din cuon

Trang Đinh Cường

Giở sách ra hai hàng lụy nhỏ
Quên chữ học bài vì bởi nhớ thương ai.
Ca Dao
 
Tôi mơ thấy hai hàng cây phượng vĩ
Nơi sân trường hoa nở đỏ mái hiên
Các cô gái áo trắng nụ cười duyên
Làm ngơ ngẩn anh học trò mới lớn.
 
Tôi tập làm thơ lòng vương sóng gợn
Đôi chín tâm hồn chớm mộng vẩn vơ
Có quá sớm khi chợt biết ươm mơ
Rồi ao ước ngày mai thành thi sĩ.
 
Tôi đi tìm một chân tình tuyệt mỹ
Tiếng nói con tim vượt cả thời gian
Có đêm thao thức ôm giấc mộng vàng
Từng trang vở bài thơ tình viết mãi.
 
Tôi vẫn nhớ tiếng giảng bài sót lại
Nắng buổi chiều vàng ấm cả không gian
Mỗi độ hè về là bóng của ly tan
Mình xa cách chỉ còn thương tuổi ngọc.
 
Tia nắng lung linh bên thềm lớp học
Nhớ nhung chồng chất hồn đọng ưu sầu
Trường xưa lớp cũ bằng hữu về đâu
Trống vắng hồn tôi nghẹn ngào nuối tiếc.

BẾN XUÂN

Đặng Tiến

uminh3-rungthuong

 Xuân đã đem mong nhớ trở về
Lòng cô gái ở bến sông kia
Cô hồi tưởng lại ba xuân trước
Trên bến cùng ai đã nặng thề…

Nguyễn Bính

Từ một ý thơ xuân, hôm nay chúng ta cướp cả ánh thiều quang để nói chuyện Thơ, bàn về thi tính, hay chất thơ trong từ ngữ, lấy từ bến làm ví dụ. Dĩ nhiên là còn nhiều ví dụ khác. 

Trong ngôn ngữ, dân tộc nào cũng vậy, có một số từ ngữ được trọng dụng trong thi ca nhờ vào nội hàm, có khi nhờ vào cái vỏ âm vang, giới ngữ học gọi là cái được-biểu-hiện và cái-biểu-hiện. Nhưng chúng chỉ được trọng dụng trong một thời gian, dài hay ngắn tùy nền văn hóa mà chúng phản ánh. Trong thời gian văn hóa này, chúng được tiếp nhận, cảm thụ trên những tần số khác nhau, tùy từng thành phần văn hóa và xã hội, và tùy cảm nhận cá nhân, lúc này hay lúc khác.

Cảm thụ cá nhân, thường tình là chủ quan, nhưng việc khảo sát ngôn ngữ, có thể khách quan. Thậm chí Yves Bonnefoy, nhà thơ, nhà nghiên cứu hàng đầu về thi ca Pháp, có lần đã đưa ra khái niệm coefficient poétique (1), hệ số thi lượng (hay thi tính, chất thơ) của một số từ ngữ đắc dụng trong thi ca, có khi do bản thân nó, đôi khi do văn cảnh, thì ta gọi là « đắc ».

Yves Bonnefoy, Giáo sư Học viện Pháp quốc (Collège de France) chức danh cao cấp nhất trong ngành nghiên cứu Pháp, về môn Nghiên cứu đối chiếu về chức năng thi pháp từ 1982, nối nghiệp truyền thống Paul Valéry, là chuyên gia dịch thuật Shakespeare ra tiếng Pháp, đã đối chiếu hai ngôn ngữ Anh và Pháp để lảy ra khái niệm hiệu số thi lượng nói trên.

Khảo sát giá trị văn học của danh từ bến, chúng ta thử so sánh khái niệm này trong thơ chữ Hán và chữ Việt, hai ngôn ngữ gần nhau. Bắt đầu bằng thơ chữ Hán của Nguyễn Khuyến do tác giả tự dịch ra quốc âm. Bài Ức vọng Đội Sơn II, được dịch ra thành Nhớ cảnh chùa Đọi (2). Hai câu luận, 5 – 6 như sau :

Kỷ tằng trúc ảnh nghi vô lộ
Hữu khách tang gian lập đãi thuyền

Dịch nghĩa:
Mấy tầng bóng tre, tưởng như không có lối đi
Có khách giữa (bãi) dâu đứng đợi thuyền

Nguyễn Khuyến tự dịch:
Dặm thế ngõ đâu tầng trúc ấy
Thuyền ai khách đợi bến dâu đây

Tác giả dùng từ “bến” không có trong nguyên tác ; cũng hợp lý, vì “đợi thuyền” thì thường ở bến. Nhưng về mặt chữ nghĩa, trong nguyên tác không có khái niệm bến: tang gian nghĩa là giữa (cây) dâu; vì gần sông nên có thể dùng chữ bãi, đúng nghĩa và hợp luật bằng trắc.

Thuyền ai khách đợi bãi dâu đây

Tiếng Việt có thành ngữ “trên Bộc trong dâu” mà Nguyễn Du đã dùng trong Kiều để dịch câu chữ Hán “Bộc thượng tang gian” chỉ những cuộc hẹn hò tình ái bất chính. Nhưng Nguyễn Khuyến lại đưa lên từ bến, thay vì “trong dâu”, mà không ai dám nói là cụ dịch sai thơ mình, hay túng vần ép chữ, hay không sành chữ nôm.

Không khí cổ kính câu thơ chữ Hán chuyển sang khí hậu thơ Việt, nhẹ nhàng, bàng bạc, sầu mộng. Về mặt quy luật Đường thi, thì câu thơ nôm của Nguyễn Khuyến đối ngẫu không hoàn chỉnh, mà lỏng lẻo. Chữ Hán và Việt tuy cấu trúc gần nhau, nhưng thi pháp khác nhau: thơ Việt xuất sắc ở những hư từ: ngõ đâu… trúc ấy… thuyền ai… dâu đây…, những âm hao luyến láy: dâu đây, ấy, ai mơ hồ mà quyến luyến. Nhịp thơ Đường luật 4/3 là cổ điển, nhưng cách cài đặt những âm hao vào tiết điệu câu thơ, là tuyệt vời. Câu thơ chữ Hán: nghi vô lộ khẳng định, câu thơ nôm ngõ đâu…mơ màng giữa nghi vấn và phiếm định. Tôi chạnh nhớ sang câu thơ Huy Cận trong Tràng giang:

Đâu tiếng làng xa vãn chợ chiều

Xuân Diệu dứt khoát cho rằng từ đâu là phủ định, đi với câu sau Không cầu gợi chút niềm thân mật, nhưng hỏi sang chính tác giả, thì Huy Cận… không chắc!

Nới rộng nguồn thơ như thế, là để cùng nhau thưởng thức một câu thơ hay và qua giá trị thi pháp của từ ngữ, cùng thấy rằng từ bến ở đây, Nguyễn Khuyến, rất ý thức, đã đặt đúng nơi và đúng lúc.

Chúng ta sẽ còn thấy thêm nhiều ví dụ khác, qua thơ dịch Hán Việt, với ba bài nổi tiếng nhất: Phong Kiều dạ bạc, Hoàng Hạc Lâu và Tỳ Bà Hành.

Nguyệt lạc ô đề sương mãn thiên
Giang phong ngư hỏa đối sầu miên
Cô Tô thành ngoại Hàn San Tự
Dạ bán chung thanh đáo khách thuyền

(Trương Kế, Phong Kiều dạ bạc)

Bản dịch quen thuộc nhất, gốc của Nguyễn Hàm Ninh (1808-1867) thường bị gán nhầm sang Tản Đà, hai lần dùng chữ bến không có trong nguyên văn:

Trăng tà chiếc quạ kêu sương
Lửa chài cây bến sầu vương giấc hồ
Thuyền ai đậu bến Cô Tô
Nửa đêm nghe tiếng chuông chùa Hàn San
 (3)

Riêng với tên Cô Tô nhiều dịch giả nổi tiếng như Tản Đà, Ngô Tất Tố, Trần Trọng Kim đều thêm vào chữ bến, là không sát, vì Cô Tô, nay gọi là Tô Châu, thuộc tỉnh Giang Tô, là một thành phố trên cao, ngày xưa tương truyền vua Ngô đã dựng đài cho Tây Thi. Nhưng vì nguyên tác có chữ “bạc” (ghé thuyền) và chữ “thuyền”, nên dùng danh từ bến là hợp lý, tuy vẫn là thêm vào nguyên tác. Câu này sẽ phái sinh:

Thuyền ai đậu bến sông trăng đó…

của Hàn Mạc Tử; hay ca từ trong Phạm Duy :

Thuyền tôi đậu bến sông Lô
Nửa đêm nghe tiếng…

Điển cố còn gợi ý cho Quách Tấn:

Trời bến Phong Kiều sương thấp thoáng

Nhà thơ dùng chữ bến cho một địa danh có nghĩa là cầu (kiều) có trồng cây phong; học giả người Pháp, Demiéville dịch ra là “Pont de l’érable”.

Ví dụ phổ biến tiếp theo là bài Hoàng Hạc Lâu của Thôi Hiệu, với hai câu 5-6:

Tình xuyên lịch lịch Hán Dương thụ
Phương thảo thê thê Anh Vũ châu

Trong nguyên tác, không có chữ nào có nghĩa là bến, nhưng trong bản dịch của Ngô Tất Tố, bậc thầy trong nghề dịch:

Vàng gieo bến Hán ngàn cây hửng
Xanh ngụt châu Anh lớp cỏ dày.

Nhà thơ Vũ Hoàng Chương, một bậc thầy của thi ca, trước khi lìa đời, đã “chuyển ngữ” bài thơ để gửi gắm tâm tư, cuối năm 1975:

Cây bến Hán Dương còn nắng chiếu
Cỏ bờ Anh Vũ chẳng ai chơi.

Chữ bến dựa theo phong cảnh và ý nghĩa trong nguyên tác, nhưng vẫn là một sáng tạo. Nó tạo thêm âm hưởng cho câu thơ, như con thuyền cập bến vừa khi.

Bài thơ dịch Hán Việt nổi tiếng thứ ba là Tỳ Bà Hành của Bạch Cự Dị, bản dịch được truyền tụng nhất do Phan Huy Thực, xưa kia ghi là do Phan Huy Vịnh, tuyệt trần ngay từ câu đầu:

Bến Tầm dương canh khuya đưa khách

Nguyên tác:

Tầm dương giang đầu dạ tống khách

Dịch sát ta sẽ có: “Đầu sông Tầm dương đêm tiễn khách”, sát và êm tai nhưng không hay. Có người nêu lên tính cách tượng hình của âm thanh: bến và khách là hai âm trắc, dấu sắc, đầu và cuối câu, đóng khung cho năm âm bằng liên tiếp, là hình ảnh hai bên bờ sông cao hơn mặt nước, tượng hình cái bến. Giải thích như thế, dù có khiên cưỡng, cũng được nhiều người thích thú. Trong bản dịch còn có câu hay:

Thuyền không đỗ bến mặc ai
Quanh thuyền trăng dãi nước trôi lạnh lùng

Chữ bến dịch từ “giang khẩu” trong nguyên tác, nghĩa na ná, nhưng âm vang có khác, do duyên nợ ba sinh vốn có trong tiếng Việt, giữa bến và thuyền.

Dẫn chứng những bản dịch Việt Hán, mà chỉ nói đến thơ Đường, không nhắc đến ví dụ trong văn ta, như Chinh Phụ Ngâm, là thiếu sót. Nguyên tác chữ Hán của Đặng Trần Côn, nhiều bản dịch ra quốc âm, phổ biến nhất là bản Phan Huy Ích, thường được gán cho Đoàn thị Điểm. Câu nhiều người thuộc:

Chốn Hàm Dương chàng còn ngoảnh lại
Bến Tiêu Tương thiếp hãy trông sang

Nguyên văn:

Lang cố thiếp hề, Hàm Dương
Thiếp cố lang hề, Tiêu Tương

Rõ ràng là không có ý “bến“, và hai câu tiếp theo nói đến khói Tiêu Tương, sông Tiêu Tương

Tiêu Tương yên trở Hàm Dương thụ
Hàm Dương thụ cách Tiêu Tương giang

Bản dịch, lần này chính của Đoàn thị Điểm, theo khảo sát văn bản của Hoàng Xuân Hãn:

Bến Tiêu Tương mấy hàng khói tỏa
Cây Hàm Dương bóng lá ngất đầu
 (4)

Nghiệm cho cùng dịch sát, dò theo từng chữ một, cũng không phải là khó, chỉ cần đổi hay dời một đôi chữ trong các ví dụ trên đây; bạn đọc có thể làm thử. Nhưng các dịch giả toàn là bậc tài danh, họ dùng từ bến, có khi tự nó đến, đến chỗ ấy, khi ấy; có khi vì trong tiếng Việt từ bến có ngân vang mà chữ Hán, những giang đầu, giang tân, giang khẩu, độ đầu, cổ độ…không gợi lên, nghĩa là từ bến bản thân nó có một “hệ số thi lượng” cao như Bonnefoy đã nói. Do đó bản nôm Chinh Phụ Ngâm có rải rác nhiều từ bến, có thể là một công cụ dịch thuật thuận lợi cho thi pháp.

Chất thơ có khi nhờ vào vỏ ngôn ngữ, cái biểu hiện, âm chấn mà nhà bác học Gaston Bachelard gọi là “giá trị phát âm” (valeur vocale) “một đức tính xướng ngôn hoạt động trên bậc thềm những mãnh lực của giọng nói” mà Edgar Poe gọi là mãnh lực của lời nói (5).

Ông viết điều này trong sách kinh điển La poétique de l’espace (Thi tính của không gian), khi nhận xét về tính từ vaste (rộng, bao la, bát ngát) trong thơ Baudelaire: từ này được sử dụng nhiều lần, nhưng ít khi trong nghĩa khách quan của nó, mà thường do âm hưởng nội tâm. Thậm chí, trong từ vaste, nguyên âm a đã là “nguyên âm của bao la” (6). Chúng ta chợt nhớ cảnh lầu Ngưng Bích: bốn bề bát ngát xa trông… Và lưu ý đến nguyên âm ê trong ca dao:

Thuyền về thuyền nhớ bến chăng
Bến thì một dạ khăng khăng nhớ thuyền

Từ bến, sau nghĩa khách quan, có thể để lại một âm hao ngân vọng trong tâm tưởng, trong thơ, như ta đã thấy, và còn thấy rõ hơn nữa qua ca từ của tân nhạc: Con thuyền xa bến…, con thuyền không bến…, bến ấy ngày xưa. Và đặc biệt là trong bài Chuyển Bến của Đoàn Chuẩn.

Bến là nơi tiếp xúc giữa đất liền và nước, nước sông, hồ hay biển; bến là một thiên nhiên được chỉnh trang để giặt giũ, tắm rửa hay lấy nước. Nghĩa đến sau, ngày nay thông dụng hơn là: nơi thuyền bè ghé vào, dần dà ẩn dụ thêm ý nghĩa đưa tiễn, mong chờ, đón đợi. Những ra đi mong có ngày về. Hay không hẹn ngày về

Sen xa hồ sen khô hồ cạn
Lựu xa đào lựu ngả đào nghiêng
Em xa anh như bến xa thuyền
Như Thúy Kiều xa Kim Trọng biết mấy niên cho tái hồi

(Ca dao Bình Trị Thiên)

Đất và nước, thủy thổ, là hai yếu tố cơ bản cho đời sống, vật chất và tâm linh. Nhưng nếu chỉ có giao tiếp giữa đất và nước, thì mới nên bờ chứ chưa thành bến: bến là thêm sự hiện diện của con người. Có thể nói: bến là cuộc hôn phối giữa đất và nước do con người môi giới. Sông biển làm xa cách, bến là thành tựu của con người vượt thiên nhiên để đến gần nhau, từ làng này sang làng khác, rồi từ nước nọ sang nước kia. Làm cho “ những đất đai, những chân trời gần lại” theo lời thơ Văn Cao, 1956.

Làng quê Việt Nam bình dị, ít danh lam thắng cảnh; nông dân Việt Nam gắn bó với bờ ruộng, lũy tre, ít xê dịch, ngao du, trong những phương tiện giao thông giới hạn. Do đó, bến đò đã là biên cảnh, rồi phong cảnh, dần dà trở thành tâm cảnh. Bến là cánh cửa mở ra thế giới, cho những ước mơ, nhưng đồng thời cũng khép lại những phương trời viễn mộng.

Nguyễn Minh Châu có tập truyện tên Bến quê lấy tiêu đề từ một truyện ngắn, chắc là ông tâm đắc. Nhân vật tên Lũy, là một “người cha sắp từ giã cõi đời, đang dấu một tâm sự bí mật gì đó trong cái vẻ lúng túng”. Anh nằm liệt giường, phải có người đỡ dậy để nhích “từ mép tấm nệm nằm ra mép tấm phản” bậu vào cửa sổ để nhìn xuống sông Hồng. Cao hứng anh bảo đứa con trai xuống đò sang bên kia sông “chẳng để làm gì cả. Đi chơi loanh quanh, ngồi xuống nghỉ ngơi ở đâu đó một lát rồi về”. Kỳ thật, Lũy chỉ muốn nhìn theo đứa con, hình ảnh của chính mình, ra bến đò, xuống đò, sang sông. Và để nhìn ngắm bến đò “một giải đất đứng bên này, một đám đông khách đợi đò. Người đi bộ, người dắt xe đạp. Một vài tốp đàn bà đi chợ về đang ngồi kháo chuyện hoặc xổ tóc ra bắt chấy !!”. Cảnh tượng như thế thì lấy gì làm hấp dẫn ? “Họa chăng chỉ có anh đã từng trải, đã từng in gót chân khắp mọi chân trời xa lạ mới nhìn thấy hết sự giàu có và mọi vẻ đẹp của một cái bãi bồi sông Hồng ngay bờ bên kia, cả trong những nét tiêu sơ, và cái điều riêng anh khám phá, thấy giống như một niềm mê say pha lẫn với nỗi ân hận, đau đớn, lời lẽ không bao giờ giải thích hết”. (7)

Phải gắn bó với nông thôn xưa, với những bến đò, với quê hương khốn khó, mới thẩm thấu điều riêng, niềm mê say lẫn với nỗi ân hận trước một bờ sông, một bến đò của nhân vật Lũy, hình ảnh của tác giả Bến quê.

Trong tiểu thuyết Đôi Bạn, 1939, Nhất Linh cũng đã cho nhân vật Dũng, trước bến đò Gió, thốt lên: cảnh bến đò bao giờ cũng buồn, nhưng không phải vì cảnh biệt ly,  “nỗi buồn ấy có một duyên cớ sâu xa hơn (…), Dũng thấy là hình ảnh của cuộc đời…, những khách bộ hành, một buổi chiều đông, qua bến đò, in bóng trong chốc lát trên dòng nước trắng của cuộc đời chảy mãi không ngừng (…). Buồn nhất là những cái quán xơ xác của các bến đò. Mình là những cái quán ấy, đứng yên trong gió lạnh nhìn cuộc đời trôi qua trước mắt.”
(Đôi Bạn, tr 68 bản Hương Anh, Paris, 1951, tr 57 bản Văn Mới, Califorrnia, 2010)

Nhất Linh có thể đồng cảm với nỗi ân hận đau đớn nửa thế kỷ sau của Nguyễn Minh Châu: họ cùng là những tác gia lớn lao vì tài năng và vì tác phẩm đậm đà tình người. Tình người không nhất thiết phải gồm cả tình quê. Nhưng tình quê thì ắt phải có tình người.

Bến quê, nghe theo cách nào đó, là hai từ trùng lặp ý: mỗi Quê là một Bến. Ra đi và trở về. Ra đi từ bến sông Thương của Anh Thơ, để Trở về bến mơ, bài hát của Ngọc Bích. Hạnh phúc của Ulysse không phải là cuộc phiêu lưu dài, đầy chiến công và thành tích, mà là buổi trở về, bến xưa thềm cũ, nơi có con chó già nhận diện được cố nhân.

Nhà thơ Đặng Đình Hưng, muốn cách tân thơ đã sáng tác một thi phẩm tân kỳ đến bí hiểm, nhưng chọn một tiêu đề đơn giản: Bến lạ (1991), hình ảnh được lặp lại nhiều lần như một điệp khúc trong ngôn từ hiện đại:

Tôi ghé Bến lạ cắn một quả vả và những kỳ lạ
Màu xanh chưa chín…

Và kết thúc bài thơ:

Đời jì
Sao cứ đi đi những cái vali cứ về
Bến lạ !

Như vậy thơ dù cách tân đến đâu vẫn cần buông neo vào một hình ảnh thân thuộc, tạo tính cách đồng thuận, ở đây là cái bến.

Lê Đạt, một nhà thơ hiện đại khác, cảm hứng từ bài thơ Nguyễn Khuyến, đã gieo đôi vần điệu u hoài:

Mộng đầu sông
mưa ngâu
thuyền bến cũ…

(Thu điếu)

Hay tân kỳ hơn:

Em đời bến nước tên em mát
Đội mắt em qua mấy nắng rồ…

(Vào hè).

Tập Bên kia sông Đuống của Hoàng Cầm, ấn bản 1993, mở ra với bài Cỏ Bồng Thi bắt đầu bằng:

Chị đưa Em đến bến này
Cheo leo mỏm đá
Trước vực
Sau khe
Thòng lọng tơ gì quấn gót

Cũng là một bến…lạ. Vì bến thì phải nơi bằng phẳng cho người xuống thuyền. Có lẽ từ bến tự đến với Hoàng Cầm, trên hài âm lãng đãng của nó.

Nếu Lưu Trọng Lư có lần ví mắt em là một dòng sông, thì Hoàng Cầm ví hàng mi với cái bến, cũng không có gì là trái lý:

Ngày em ngủ bến mi ánh nắng đọng
Chiều em đi không quá một vòng tay.

(Ngẩn ngơ)

Hoàng Cầm đã đi xa lắm, rời xa những bến khói sương… bến sông xa… Nếu anh còn trẻ… (1943). Có người còn nhắc câu này của ông:

Anh nhớ em đôi mắt trong như ngọc
Đã mờ phai sương khói bến thu xa

Hỏi lại thì Hoàng Cầm… không nhớ !!!.

Cùng một chuyến đò, còn có Phùng Cung. Đi vắng nhà đằng đẵng mười hai năm, khi trở về, 1972, ông không còn tìm thấy “ bến cũ” như Lê Đạt, nhưng vẫn nhận ra quê xưa từ những sợi lạt bó rau:

Bạc tóc trở về quê
Bỡ ngỡ tìm đò bến mới
Nhìn dáng lạt bó rau
Nhận được người làng

(Người làng)

Nhận ra thôn làng, dễ hơn nhận ra người làng. Con người khó nhận ra nhau hơn phong cảnh.
Sợi lạt bó rau càng khó nhận ra.

Vậy cái bến có thể nằm im lìm như bến My Lăng, bến Cộ, những bến đợi dưới cây già đâu đó, nhưng từ bến thì lại lênh đênh theo thời gian, nổi trôi theo thời cuộc. Chỉ trong tác phẩm Văn Cao thôi, thì cái Bến Xuân, bến Bính bên Sông Cấm mộng mơ năm 1942 đã khác với cảnh ai qua bến nắng hồng với những bóng người sầm uất bến Then bên bờ sông Lô, 1947. Từ bến cảng Hải Phòng những ngày tranh đấu 1945, Mỗi ngày mồng một tháng năm… Tàu đứng chết trên bến, cho đến ngày giải phóng 1954, khách nước ngoài đầu tiên vào bến… chúng tôi hôn nhau… những đất đai, những chân trời gần lại… (Những người trên cửa biển, 1956).

Muốn đạt tới niềm vui huynh đệ ấy, con người phải đi qua một cái bến vùng cao, như Nguyễn Đình Thi đã đi qua, 1950 khi tìm viếng mộ bạn là nhà văn Trần Đăng đã hy sinh trên chiến trường biên giới Lạng Sơn, trước đó chưa lâu:

Qua bến sông quen tôi về đây
Tìm mộ anh nơi ven núi cũ
Tôi ngắt những hoa rừng tím đỏ,
Ngắt nhiều hoa nữa nhiều trên tay

(Hoa rừng)

Nhưng rồi cũng có cái bến nằm ngoài thời gian, im lìm mà vẫn linh động, trong một bài tứ tuyệt Phạm Tiến Duật làm 1969, thời cao điểm của chiến tranh, mô tả tâm trạng một người lính lái xe :

Cái vết thương xoàng mà đưa viện
Hàng còn chờ đó tiếng xe reo
Nằm ngửa nhớ trăng, nằm nghiêng nhớ bến
Nôn nao ngồi dậy nhớ lưng đèo.

(Nhớ, trích từ Vầng trăng và những quầng lửa, 1983, tr 27)

Trong bài này, chữ “bến” chỉ bãi đậu xe vận tải. Nhưng trong tâm tưởng người đọc, bến đây là bến thuyền, ngang mặt sông khi nhìn nghiêng từ khoang thuyền, đối lập với mặt trăng trên cao, như trong cảnh:

Cắm thuyền sông lạ một đêm thơ
Trăng thượng tuần cao sáng ngập bờ
Đâu đó Tầm Dương sầu lắng đợi
Nghe hồn ly phụ khóc trên tơ…

(Vũ Hoàng Chương)

và cách luyến láy, vừa tiếp nối vừa đối lập: nằm ngửa nhớ… nằm nghiêng nhớ… của Phạm Tiến Duật thật tài hoa, trong một bài thơ ngắn thuộc loại hay nhất thời chiến tranh, không khỏi nhắc đến nguồn thơ cổ trong Lý Bạch:

Cử đầu vọng minh nguyệt
Đê đầu tư cố hương.

Ngẩng đầu nhìn trăng sáng
Cúi đầu nhớ cố hương.

Một từ ngữ có thể có giá trị trong giai đoạn, và giá trị đó thay đổi theo thời gian văn hóa, nhưng cái vốn văn hóa thì tồn tại dài lâu trong tâm thức con người, cho nên, ngày nay, độc giả vẫn còn thích thú tìm lại trong thơ Hoài Khanh cái bến xa xôi trong hoài niệm:

Em thì vẫn nụ cười xanh mắt biếc
Màu cô đơn trên suối tóc la đà
Còn gì nữa với mây trời đang trắng
Đã vô tình trôi mãi bến xông xa

Hay cái bến diệu vợi, vời vợi ước vọng, trong cùng một bài thơ:

Quá khứ đó dòng sông em sẽ ngủ
Giấc chiêm bao nguyên vẹn có bao giờ
Ta sẽ gặp trong ý tình vũ bão
Con thuyền hồn trở lại bến hoang sơ

(Ngồi lại bên cầu, trong tập Thân Phận, 1962)

Bến là ngoại cảnh, mà cũng là tâm cảnh. Bến là thực tại mà cũng là hoang tưởng. Là không gian cùng với thời gian trong hiện tượng luận. Bến là thời gian ngoài thời gian, như trong bài thơ Đăng Trình của Vũ Hoàng Chương:

Bao nhiêu hạt cát bến sông này,
Đã bấy nhiêu ngàn thế kỷ nay,
Ta vượt ngàn năm đường ánh sáng,
Đi từ vô tận đến nơi đây.

Bến đây có thể là một Cõi Về, vào một kiếp khác, và đâu đó, cũng là một Bến Quê:

Đêm đêm ta dõi mấy tầng cao,
Tìm một không gian mới lạ nào,
Lấp lánh Quê Trời thơ hẹn bến,
Giam mình Quê Đất mãi hay sao ?

Bài thơ này Vũ Hoàng Chương cảm hứng từ những thành tựu khoa học không gian, những phi thuyền đầu tiên mà loài người phóng lên thám hiểm vũ trụ, 1957, có đoạn lồng lộng thi tứ:

Này lúc vèo qua hệ thái dương
Ném sau ngàn lửa đóm kim cương,
Mạn phi thuyền cháy lên hừng hực
Ta gõ mà ca: thiên nhất phương…

Phi thuyền hực cháy, nhà thơ ngồi trong đó, mà vẫn an nhiên “gõ mà ca” thơ Tô Đông Pha: vọng mỹ nhân hề…thì quả là ngang tàng, hào sảng, siêu thoát. Bài thơ tuyệt diệu, đưa khoa học vào chân trời mơ mộng, làm giao điểm giữa kỹ thuật và thi ca.

Bến là một tâm cảnh đã nằm sâu trong tiềm thức cộng đồng, có khi không ai nhắc đến mà ta vẫn nhớ, như trong câu thơ nổi tiếng của Xuân Diệu:

Đã nghe rét mướt luồn trong gió,
Đã vắng người sang những chuyến đò.

Trong câu thơ, nào có chữ bến nào đâu, sao mà ta vẫn thấy ? Thế thì cái bến nằm ở đâu ? Xin thưa nó nằm ở chỗ ngắt câu 4/3, khi giọng người chậm lại, chùng xuống

Đã vắng người sang
– những chuyến đò..

Trở về lý thuyết cơ bản của thi pháp: mọi kỹ thuật hình thức đều tiềm ẩn nội dung của nó. Điều cơ bản, nhưng không phải lúc nào, và ai ai cũng nhận ra.
 

*
 

Bến quê… Mỗi quê hương là cái bến trong trí nhớ. Nhớ một bến quê ngày xuân trong thơ Nguyễn Trãi: Trại đầu xuân độ (Bến xuân đầu trại):

Độ đầu xuân thảo lục như yên
Xuân vũ thiêm lai thủy phách thiên
Dã kính hoang lương hành khách thiểu
Cô châu trấn nhật các sa miên.

Xuân Diệu dịch tài tình, vừa sát ý vừa thoát lời, dịp Tết 1977:

Cỏ xuân đầu bến xanh như khói
Thêm hạt mưa xuân nước vỗ trời
Đường nội vắng xa, hành khách ít
Thuyền côi gác bãi suốt ngày ngơi.

Trong Quốc Âm thi tập, Nguyễn Trãi một đôi lần đã có dùng từ bến:

Bến trúc đường thông cảnh cực thanh…
Bến liễu mới dời thuyền chở nguyệt…

Sau đó là trong Hồng Đức quốc âm thi tập:

Bãi tạnh thuyền ai bến liễu dời.

Có lẽ đây là những « bến » nôm đầu tiên trong thơ quốc âm. Cần lưu ý đến cụm từ « thuyền ai » thường trở đi trở lại trong thơ ta, nhờ nội hàm và âm giai, như trên đã nói.

Hình tượng bến, thịnh hành trong phong trào Thơ Mới. Nguyễn Bính, 1938, đã có nhịp thơ lạ:

Hôm nay, dưới bến xuôi đò
Thương nhau qua cửa tò vò nhìn nhau
Anh đi đấy, anh về đâu
Cánh buồm nâu, cánh buồm nâu, cánh buồm.

Một hơi thơ buồn bã mở đầu tập Rau Tần của Trần Huyền Trân :

Mưa bay trắng lá rau tần,
Thuyền ai bốc khói xa dần bến mưa,
Có người về khép song thưa
Để rêu ngõ trúc tương tư lá vàng.

(Thu, 1939)

Tâm trạng u uất một thời, qua đoạn thơ Vũ Hoàng Chương mà nhiều người biết:

Lũ chúng ta đầu thai nhầm thế kỷ,
Một đôi người u uất nỗi chơ vơ,
Đời kiêu bạc không dung hồn giản dị,
Thuyền ơi thuyền xin ghé bến hoang sơ.

(Phương xa, 1940)

Hay Lưu Trọng Lư ngất ngưởng, trên báo Hà Nội Tân Văn, số 13 ngày 9-4-1940:

Ước gì ta có ngựa say
Con sông bên ấy bên này của ta.
Trời cao, bến lặng, bờ xa
Lao đao gió sậy, la đà dặm trăng…

Bài này khi in lại trong Tuyển Tập Lưu Trọng Lư, 1987, thì văn bản vừa thiếu sót vừa…vớ vẩn, tr.64:

Ta say ngựa cũng la đà ( ???)
 *
 Quê tôi cũng lắm bến, nhiều đò. Đò dọc, đò ngang, những bến đò hiu hắt chiều sông, nay chỉ thấp thoáng trong hoài niệm của một người bạn trẻ, – cũng là xấp xỉ cổ lai hy – đồng hương, nhà thơ Uyên Hà, mới gửi đến tôi:

Chị ơi chiều đến em say khướt
Như những chàng trai lỡ hẹn về
Chị ơi, trong bóng chiều thổn thức
Vẫn sáng vô cùng một bến quê.

Không cứ gì một Uyên Hà, trong chúng ta đã có bao nhiêu khách tình xuân, cùng với Nguyễn Bính, đã

Đi biệt không về với bến sông

Riêng với tôi, sau cuộc sum vầy, họp bạn trên báo hôm nay, trong mùa xuân này, trên Bến Xuân này, sẽ còn ngân dài một giọng hò mái nhì, mái đẩy, đâu đó, đâu đây, sâu lắng, vắng xa:

Tình về Đại Lược,
Duyên ngược Kim Long
Đến đây là chỗ rẽ của lòng
Gặp nhau còn biết trên sông bến nào.

Đặng Tiến
Xuân Ất Mùi
31-1-2015

_____________

1. Yves Bonnefoy (sinh 1923), trong Un Rêve fait à Mantoue, 1967, nxb Mercure de France. Gallimard in lại trong loại sách bỏ túi : L’Improbable et autres essais, tr. 256-257, 1992, Paris.
2. Thơ văn Nguyễn Khuyến, tr. 102 và 385, nxb Văn Học, 1971, Hà Nội, Thi hào Nguyễn Khuyến đời và thơ, tr. 457-462, nxb Giáo dục, 1994, Hà nội. Núi Long Đội, tức núi Đọi thuộc tỉnh Nam Hà.
3. Thơ Đường, Tập I, tr.172, nxb Văn Học, 1962, in lại 1987, Hà Nội. Ghi dịch giả khuyết danh
4. Hoàng Xuân Hãn, Chinh phụ ngâm bị khảo, tr.143, nxb Minh Tân, 1953, Paris.
5. Gaston Bachelard, La poétique de l’espace (Thi tính của không gian) tr.179, nxb P.U.F.1957
6. Nt, tr.174 và 180.
7. Nguyễn Minh Châu, Bến quê, tr.61-64, nxb Tác Phẩm mới, 1985, Hà Nội. Truyện ngắn 8 trang, viết tháng 7-1983. Đọc thêm bình luận về bài này của Tôn Phương Lan, Phong cách nghệ thuật NMC, tr.125, nxb Khoa học Xã hội, 1999, Hà Nội.

 

ÁO LỤA SÓC TRĂNG

Nguyên Lạc

aodaiquehuong

Ai về đất Sóc quê tôi *
Nhớ thăm Hoàng Diệu một thời đã xa
Một thời yểu điệu thướt tha
Trắng dài áo lụa đón đưa con đường
.
Nhớ thăm cây điệp sân trường
Hoa vàng rơi nhẹ lời thương tóc người
Nhớ thăm … nhiều lắm người ơi
Trong tôi trọn cả đất trời Sóc Trăng
.
2.
Phương này giờ tuyết trổ bông
Muôn trùng trắng phủ. Nỗi lòng quê tôi
Nhớ thương … thôi cũng chỉ rồi
Đêm ba mươi lạnh ngoài trời tuyết bay
.
Có người lữ khách mồ côi
Đón xuân xứ lạ thấy đời hư không
Sóc Trăng thời đó còn không?
Dáng ai ngày đó … còng lưng nắng đời?
.
Sóc Trăng vẫn mãi trong tôi
Trắng dài áo lụa trọn đời … Thiên thu!
..
Nguyên Lạc

NHỚ

Võ Công Liêm

bienvang

tặng: ngô thị hạnh . chiêu anh nguyễn.
nắng rủ hàng cây
lả lơi theo gió
bên dốc đời trôi
theo thành phố buồn
tôi . nghe từng nhịp bước
trên vĩa hè vắng bóng tình nhân
sài gòn nằm đợi đêm về sáng
thả xuống hoàng hôn một hôn hoàng
em . ngoái cổ nhìn đời trên bao lần sụp đổ
một sáng mưa về đếm từng hơi thở muộn
ỏ quán chùa hay hân đa kao đặc quánh cà phê
những chuyến xe xuôi miền lục tỉnh
em gót sen vàng chờ đợi giữa mùa trăng
anh con trâu ngái ngày xưa mơ mộng dữ
đến bây giờ mới thấy một sài ghềng thơm
nhớ . những khi chênh vênh đầu núi nọ
với nụ cười khấp lõa bước chân đi
tôi trở về trong lòng thành phố cũ
mùi nắng cháy . trắng da dài tóc một thuở nào
con đường rợp bóng cười nghiêng ngã
thỏa mộng giang hồ một kiếp đời dư .

tặng; phan như mai . nguyễn bửu tường vi.

xin đừng mưa
lên thành phố cổ
xin đừng gió
lộng thổi quần em
mỗi khi qua cầu
giữa trưa đứng bóng
trên sông tiếng quốc kêu ai oán
một thời phế đế vẫn còn vương
thành nội xưa câu hò mái đẩy
cho mưa thúi đất cho nắng cực hình
em . ngự viên ghé qua chùa diệu đế
tôi . lên từ đàm nhìn đá nghe kinh
‘núi ngự bình trước tròn sau méo
sông an cựu nắng đục mưa trong’*
thấy em phơi gió giựt mình thêm
lửng lơ lơ lửng nằm ôm bóng chiếu
nghiêng qua ngửa lại một chầu trống canh
huế chiều mưa về vội
trên con đường ướt áo em qua
những chiều rất huế em còn nhớ
trăng trải đầy sông mênh mông xanh
trong mắt em cả trời thành nội
tôi . đưa em vào hạ
em . đưa tôi ngất ngư
vĩnh biệt tình em cho thêm huyền thoại nhớ
huế của tôi ơi màu tím áo quan san không còn nữa
xin khất lại ngày xưa hoàng thị để nhớ huế của tôi
bún bò mụ rớt bên gia hội
bánh bèo đò cạn vẫn còn đây
nhớ . tô cơm hến thơm mùi ruốc
bên bến đò cồn lút mặt thằng tôi
một huế xưa em theo pháo nổ về nhà nọ
tôi vẫn chờ em ngày nắng trắng trong .

* Phương ngữ nhân gian (tục ngữ xứ Huế)
tặng: võ thị xuân hà . nguyễn thị hồng ngát

em . theo ai về bên nớ rứa
tôi . ở bên ni tắm nắng mùa đông
mà nghe hơi thở tợ nhung mềm
những chiều tháp rùa nghiêng bóng đợi
ngọc hồi chùa cổ sơn màu đỏ
làm ngập ngừng chân bước qua cầu
ngày thăng long tôi ru em ngủ
cho vẹn câu thề với núi sông
hà nội . ba mươi sáu phố phường còn đó không ?
đồng xuân thịt chó treo đầy chợ
để một đầu năm rượu với chè
nhớ . văn cao chiều ba mươi tết
bên chiếc dương cầm thuộc điạ xưa
hình như trong đó hồn tử sĩ
một thời đua nở trăm hoa chen
cho tới bi chừ mộng dưới trắng sao
những tình ca ngày đó
sống lại như bao lần
kiếp hoa . bóng hạnh phúc . dư âm ngày cũ
năm cửa ô em đi vào thời chiến
giữa muôn trùng rừng núi ngập hồn anh
hà nội phố . cửa cao nhà lớn tưng bừng sáng
em mặc áo hồng hay áo hoa ?
tôi . tặng em toàn bài ca tình ái
để thấy đời như một nhánh sông trôi
tình . vẹn hay mất
người . còn hay chết
đời . lộ thảo đầu phô
‘em còn nhớ hay em đã quên’*
một ngày lộng gió trời phương ấy
em có về nghe gió reo ?
giữa triều hạn khô khóc đất đục
cả vùng thuốc súng qụy đôi chân
giành giựt làm chi với đồng khô hồ cạn
buồn ơi chào mi . thời phong nhụy đã qua rồi
lấy vinh quang mà tát biển đông này . ạ

tôi . chờ em bao tháng năm
trong lòng đất địch không biên giới
để nghe quan họ hát . nhịp phách cười .

* Lời nhạc: của trịnh công sơn.

VÕ CÔNG LIÊM (ca,ab.yyc . áp tết Canh Tý 2020)

Võ Công Liêm Khảo Cứu

CA DAO Và THI CA II
LÀ TRIẾT LÝ CUỘC ĐỜI

tranh vcl 1

Tranh Vẽ Võ Công Liêm: ‘Ban nhạc Dân gian / The Folk Band’

Kính dâng giáo sư: Lê Tuyên.

Nói đến ca dao và thi ca cho ta một liên tưởng đến vũ trụ ngoại giới của con người, một cái nhìn khám phá mới giúp cho chúng ta bắt gặp vũ trụ nội giới; một dàn trải tâm lý giữa chủ thể và ý thức liên kết với nhau để trở thành một phạm trù văn chương, bởi trong sâu thẳm của tâm hồn phát sinh ra ngữ điệu để soi sáng nhận thức, thiết lập và chứng kiến sự lớn dần ’Au fond de chaque mot/J’assiste à ma naissance’ (A. Bosquet) Đó là những gì xuất thần để sáng tạo ra ngữ ngôn; đó là tri giác ngoại giới đã làm rung động nội giới, một thể hiện thường hay xẩy ra của con người trong mọi tình huống, trong mọi đẳng cấp khác nhau cùng khởi từ một tâm hồn trong sáng, một thức tỉnh sống dậy từ tiềm thức đi qua từ vũ trụ ngoại giới đến vũ trụ nội giới kết hợp thành ca dao hay thi ca.
Ca dao là nguồn cội của dân gian, thi ca là tầng lớp của văn học kết duyên để hòa hợp vào một ngữ điệu thông thường mà chúng ta bắt gặp một cách dễ dàng không còn là giới tuyến của văn chương. Nếu trong mỗi lối diễn đạt ’cao siêu’ của thi ca thì người ta không cần sự vật ngoại giới làm đối tượng mà chất liệu lấy từ nội giới để xây dựng hình tượng, ngược lại ca dao phải đi qua từ hình ảnh ngoại giới, dung hòa giữa nội giới đúc thành văn bằng biểu hiện qua ngữ ngôn nói lên tâm trạng và hoàn cảnh thích nghi một cách tự nhiên, một cách trong sáng hơn ’J’ai mes allumettes: les mots’(Henri Bosco). Đó là những chuyển biến để chúng ta thấy rằng, một vị trí nội tại bởi con người đặt mình trước cuộc đời như một nhập thể, một lối đi vừa tự nhiên vừa đương nhiên là một gắn bó con người với vũ trụ giới, một tâm trạng mà trong suốt Đoạn Trường Thân Thanh Nguyễn tiên sinh không cho đó là hiện tượng mà là vai trò chủ thể đối diện với vũ trụ như định mệnh, một thứ ngữ ngôn được dung thông và cách mạng hóa vào mọi tầng lớp con người, xã hội và bất cứ hoàn cảnh nào, thời đại nào:
’Nói chi kết tóc xe tơ
Đã buồn cả ruột lại dơ cả đời’ (Kiều)
Thì đó; một lời ta thán, não nuột vốn đã có, hình ảnh đó không còn xa lạ mà đó là một tâm lý nội tại, gắn bó cho đối tượng một ý nghĩa vào đời là một thảm trạng ngao ngán, một thảm họa bi thương nẩy nở như ’The Birth of Tragedy’ (Nietzsche) liên hệ của ngữ ngôn mà thi ca đã xử dụng là một ý thức, một thứ ngôn từ biểu dương đối tượng, biểu dương hình ảnh và cũng là biểu dương tâm trạng, coi những câu thơ đương đại không còn trong phạm vi thơ mà nó vượt xa đến quần chúng như ca dao, dù là thảm họa bi thương nhưng đó là tâm thức , một tâm thức trách nhiệm con người:
’Quanh năm buôn bán ở ven sông
Nuôi đủ năm con với một chồng
Lặng lội thân cò nơi quãng vắng
Eo xèo mặt nước buổi đò Đông’ (Tú Xương).
Con người thi ca nhìn hiện tại nhiều hơn thấy vũ trụ ngoại tại, nó gây ra từ động lực ý thức nội tại ’innermost being’, đó là một thức tỉnh trực tiếp và hiện tại, từ ’hình ảnh’ đó biến thể ra ngôn từ, biến chất liệu để thành thơ, có đôi khi vượt thoát để xúc tác thành một ngữ điệu siêu lý thành thi-tứ một cách thông thường không còn xa lạ; không có lối đi, lối về, đẩy đưa như ca dao. Sở dĩ có trường hợp như vậy vì ca dao ’sống’ với ngoại giới vũ trụ, chiếm cứ một cách quan trọng trong sự khám phá của tâm hồn; cho nên người nghệ sĩ bình dân sáng tạo ra ca dao là nuôi dưỡng một ý thức ngoại giới sau đó du nhập vào nội giới để biến thành vần điệu. Thí dụ: mơ trong ca dao là cái nhìn hiện vật nhưng biến hóa sự vật vào hiện tượng dung thông với tâm hồn. Hợp cảnh, hợp tình của ca dao đi vào người không còn là hình tượng mà hiện thực:
’Mẹ già như chuối bà hương
Như xôi nếp một như đường miá lau’ (ca dao phổ thông)
Hay:
’Cá không ăn muối cá ương
Con cải cha mẹ trăm đường con hư’… (ca dao phổ thông)
Đó là tiếng khua động nội tại nhưng ca dao không có hình tượng gần gũi thì ca dao không còn thi vị hóa. Vì vậy vũ trụ ca dao là một hòa nhập nhất thể tuy có hình tượng, nhưng hình tượng chỉ là mệnh đề phụ cho bản ngã tức chủ thể nội tại. Francis James có lần nói: ’tôi không thể nào có được một tình cảm, nếu không có trái ngọt hay sự vật ngon miệng…’ vị chi cái nhìn như thế là cái nhìn của ca dao, không phải cái nhìn tưởng tượng hay đòi hỏi mà cái nhìn sâu xa, chung thủy giữa con người(nghệ sĩ sáng tạo)với mối tương giao thiên nhiên để biến mình thành hiện hữu,một hiện hữu hiện sinh trong ca dao:
’Con cua anh không sợ, anh sợ con còng
Kẻ tiểu nhân anh không sợ, anh sợ gái hai lòng hại anh’(ca dao Nam bộ).
Rõ ràng ngôn từ như thế là một biểu thị để thăm dò tình yêu chân thật, lối diễn tả của ca dao mang nhiều tính chất nhân thế mà con người là một tiếp cận hiện hữu với thiên nhiên, xử thế như một tiến trình của vũ trụ; chính nhờ vũ trụ mà con người thấy được hình ảnh của tâm trạng, hay nói cụ thể hơn vạn vật của vũ trụ là đối tượng thích ứng trong ca dao và thấy được tâm trạng trên vũ trụ. Linh hồn của ca dao nó biến hóa một cách linh diệu, ca dao là trực diện, một ẩn dụ sâu xa, một diễn tả thẩm mỹ của ca dao Việt Nam, nhìn ra ca dao là tác động tự khởi ’motility’. Không!ca dao là cảm thức trực tiếp với hoàn cảnh, đầy đủ chất liệu thơ để chứng tỏ sự ngay thẳng, thật thà, phản ảnh cả tâm hồn ’ăn ngay nói thật’ không mộng mị, không đạo đức giả. Tưởng như rào trước đón sau. Mà đó là một xác quyết có mục đích ’for decidedly different purposes’. Giữa thi ca và ca dao trở thành gia-huấn-ca:
’Đời phồn hoa cũng là đời bỏ đi’ (Kiều)

’Hải đường mơn mởn cành tơ
Ngày xuân càng gió càng mưa càng nồng’
Nguyệt hoa hoa nguyệt não nùng
Đêm xuân ai dễ cầm lòng được chăng? (Kiều)
Đó là mối giao kết giữa người với đời, giữa người với thiên nhiên là hai hình tượng quấn quýt bên nhau được đưa vào vũ trụ của thi ca , mà chính hai sự thể đó là chuỗi liên trình nằm trong mơ, cái mơ tuyệt diệu, thẩm mỹ, tránh cái viễn tượng cuộc đời lố nhố, lăng nhăng, khó mà có cái nhìn tương giao hội ngộ, dù có ’hoa chào ngõ hạnh’ rồi đi tới cái cảnh ’hoa cười gió đông’ tất thảy đều nằm trong vũ trụ nhân sinh, một thế giới phủ phàng mà Tố Như tiên sinh hầu như trải dài đến 3254 câu thơ là cả một gắn bó đời mình vào đó, như một thổn thức chất chứa triết lý nhân sinh . Bởi thi ca cũng như ca dao đều có ý thức từ sự vật, khám phá tự chính mình mà trở thành đối tượng chủ thể, nghĩa là chủ thể nghi ngờ đời không thật lòng, cho nên chi gắn bó ở đây là tế nhị, sâu xa để trở nên siêu hình. Siêu hình chủ-thể-đối-tượng và siêu hình chủ-thể-tìm-thấy mình trong lòng đối tượng. Nguyễn Du đưa thi ca vào hai lãnh vực chủ thể và tha thể. Một thứ thi ca vượt thời gian. Một thái độ hiện sinh trong vai trò độc lập của con người, đó là lòng khao khát tự do.Tự do trong một tình nghĩa cao đẹp. Nguyễn Du khao khát tự do!
’Khuyên chàng đọc sách ngâm thơ
Dầu hao thiếp rót đèn mờ thiếp khêu’ (ca dao phổ thông)

Con người luôn có một dự phóng về tương lai, tức là dựa vào vũ trụ mơ ước, nhìn thực thể của đối tượng là thấy được hoài vọng, một tâm thức trở về của cõi mộng là bình diện của hiện hữu, đó là một giao liên ngấm ngầm của con người, một ý thức tri giác là hy sinh để có hoài vọng; tư duy đó cho ta một nhận thức khác của ’Cartian’ là ’cogito/ego/self’ nằm trong định đề của Descartes :’Je pense, donc je suis’ cái tư duy riêng mình là hiện hữu, một hiện hữu của sự mơ về, không phải mơ về trong chiêm bao mà mơ về với hy sinh, chịu khổ, chịu cực cái mơ của hiện thực. Ca dao đứng trên bình diện diễn đạt của ngôn từ là một lối về của mơ, một ước ao tiềm ẩn nhưng mang nặng hình thái nghệ thuật, không vượt quá cái nhìn tâm thức mà muốn sự vật trở nên vô ngã mà ở đây là cái nhìn đồng hóa được tìm thấy trong vật thể:
’Ước gì em hóa ra dưa
Để anh đem rửa nước mưa chậu đồng
Ước gì em hóa ra hồng
Để cho anh bế anh bồng trên tay’ (ca dao phổ thông)
Một lối đối đáp bình dân đơn điệu, nhịp nhàng cân đối, có thể, có cách; tuy nhiên trong dáng vẻ đó đã thoát ra vẻ đẹp nội giới, đó là trạng thái tâm hồn. Vậy thì ca dao ngoài sự bộc bạch của vũ trụ ngoại giới còn có nhiệm vụ tiêu diệt ’ngã’ để đi tới vô-ngã-vũ-trụ. Do đó cái vô ngã của sự vật ngoại giới không còn một vô ngã thuần lý của triết học mà chính cái vô ngã của đòi hỏi yêu cầu, ao ước, cả hai đặc trưng nầy dành cho chủ thể, một thứ vô ngã tình cảm xóa mờ cái bản ngã tự tại sự vật. Nhưng với con mắt triết học thì có cái nhìn thâm hậu hơn, nhìn bằng ý thức, bằng tri giác hiện hữu; đó là cái nhìn hiện sinh: vừa thực thể vừa hiện hữu ’existenz/da-sein/being’. Ở đây không có khoảng cách không gian và thời gian mà chỉ có một thể của hiện hữu là cốt tủy; thi ca và ca dao sống động là nhờ đó.Ngoài ra tạo được một sự tương hợp thiết tha để tìm thấy được triết lý nhân sinh nằm trong ngữ ngôn. Vì vậy cái nhìn của thi-nhân hay cái nhìn của nghệ-sĩ-ca-dao đều mang nặng tính chất mơ về ’dreaming-day’ Tại sao? Cái nhìn của họ thực nhưng phi-thực nghĩa là từ bản ngã hóa ra vô ngã vì tất cả hình tượng, vật thể bị đồng hóa để nhập vào nội cung của tâm hồn ’innermost’. Thử lấy ra một câu ca dao bình dân để thấy được hiện hữu nhân sinh, bao gồm không gian hình tượng, không gian hiện thực và một không gian hiện sinh đích thực gói trọn trong ca dao lục bát; một bày tỏ xót xa, một thân gái dãi dầu, chịu nắng chịu mưa, rõ ràng từ ’ngã’ bước sang ’vô ngã’ để đi tới KHÔNG. Do đấy; thế giới của người nghệ sĩ ca dao không nói lên hiện hữu của mình mà ở đây là một liên đới hiện hữu giữa người và vật:
’Thân em như hạt mưa rào
Hạt rơi xuống giếng hạt vào vườn hoa’ (ca dao phổ thông).
Đi sâu vào lòng đất của Nguyễn Tiên Điền ta tìm thấy được những gì là bi thương của thân phận, người đã triết lý hóa thân phận làm người như chứng minh một hiện hữu có thực, một chấp nhận thương mong của người phụ nữ, phản lên một tiết điệu hiện sinh:
’Vội chi liễu ép hoa nài
Còn thân ắt lại đền bồi có khi’ (Kiều)
Một lý lẽ khác; chuẩn mực hơn là trong các nhận định văn hóa ta thấy ít nhắc đến: là người nghệ sĩ tuyệt đối không chiếm cứ vũ trụ, nghĩa là không chiếm cứ sự vật ngoại giới để nằm lòng như vai trò ngoại nhân ’outsider/L’Étranger’ mà chiếm cứ vũ trụ như một phản kháng nội tại. Cảm nhận nầy nó trở thành ’truyền thống’ cố hữu của những thi nhân, không những riêng ở ta mà khắp mọi nơi. Nhẹ nhàng một câu để thấy siêu thực:
’Mai chẳng bẻ thương cành ngọc
Trúc nhặt vun, tiếc chiếu rồng’ (Nguyễn Trãi)
Vô biên! siêu đẳng ’transcendence ’ cốt tủy của thi ca nằm gọn trong ngần ấy, có cần so sánh những Homère, Nietzsche, Heidegger, Hoelderlin, Sartre hay Camus…(?) Thi ca như vậy là trọn gói. Ấy là điều cho ta thấy rằng giữa người, vật và không gian chỉ là điều tương hợp. Thi ca và ca dao không nặng tính chất chiếm cứ như tư tưởng văn học Tây phương, ngược lại ở đây thi nhân và nghệ sĩ dung thông cùng vũ trụ ngoại giới như hoà nhập vào một cảm thức nội tại. Nói chung thi ca hay ca dao là khát vọng. Cụ Tiên Điền cũng khát vọng! Để được thổn thức, để được khóc sau hơn ba thế kỷ đợi chờ(!) Và; chính nhờ vào thi ca, ca dao hai ’nhân cách’ nầy cùng khám phá một khát vọng vũ trụ. Bởi cái đẹp của cuộc đời cũng như cái đau khổ của con người là một liên hệ tương giao, hợp thông để nói lên khát vọng; đó là khát vọng dự ước, khát vọng tồn lưu. Một định đề mà con người ở bất cứ thời nào, hoàn cảnh nào cũng phải nhận một sự hòa hợp đương nhiên như thế :
’Trăm năm trong cõi người ta
Chữ tài chữ mệnh khéo là ghét nhau
Trải qua một cuộc bể dâu
Những điều trông thấy mà đau đớn lòng’ (Nguyễn Du/ĐTTT)
Đó chính là khát vọng mơ về, mơ về vũ trụ sơ khai như định mệnh an bài là phải nhận một bi kịch đời ’tragety of the birth’ là cái nhìn nhân thế: ’dans les rêveries cosmiques primitives, le monde est corps humain, regard humain, souffle humain, voix humaine’.
(G. Bachelard). Vũ trụ của sự vật là biểu hiện của nhắn gởi, vì xót xa cùng thân phận:
’Bầu ơi thương lấy bí cùng
Tuy rằng khác giống nhưng chung một giàn’ (ca dao phổ thông)
Nghệ sĩ ca dao đưa câu văn bình dân để trở thành thơ, bởi ngữ ngôn trong thơ là cái nhìn khát vọng hiện hữu, nói lên tâm trạng con người, ca dao nhân cách hóa thiên nhiên, sự vật là tiếng nói trung thực và là sự thật hiển nhiên c’est la vérité. Đó là lối về của ngữ ngôn, để nói lên sự thật của hiện hữu và cũng là biểu dương hiện hữu lịch sử. Một hiện hữu soi sáng ’éclaircie de l’Être’. Một thức tỉnh đáng nể của Martin Heidegger : ‘la vérité de l’être et sur l’histoire de l’être. Ce qui compte, c’est uniquement que la vérité de l’être vienne au langage et que la pensée atteigne à ce langage’(L’Hummananisme). Đấy không phải là những gì trừu tượng mà con người chưa bắt gặp ; đó chính là những thực hữu mà con người đang sống. Thành thử vũ trụ khát vọng của ca dao là một vũ trụ bắt nguồn từ cuộc đời thực hữu để đi tới khát vọng ; do đó ca dao là tiếng kêu chân thành của con người yêu đời, yêu người là nhịp đời có thực . Ca dao không cầu kỳ,viễn vông còn thi ca là chứa đựng hình ảnh để biến hóa qua ngôn từ để nhập vào tư duy nội thể, nó không có chi là ảo tưởng mà cõi thực trong hình ảnh. Tựu chung ca dao hay thi ca đều nói lên cái chân lý hữu thực. Miêu tả dưới dạng thức chủ thể nhận thức. Vì vậy thi ca và ca dao có những cái mơ mộng, lãng mạng của cõi đi về ;ca dao không mộng ảo, không viễn vông, thi ca thì mộng nghe qua thì ảo nhưng thực. ‘trăng thanh gió mát là tương thức / Nước biếc non xanh ấy cố tri’(Nguyễn Bỉnh Khiêm). Cả hai đều có chân lý của nó.
‘Sáng trăng trải chiếu hai hàng
Bên anh đọc sách bên nàng quay tơ
Quay tơ phải giữ mối tơ
Dù năm bảy mối vẫn chờ mối anh’(ca dao phổ thông)
Cho nên phải hiểu rằng ca dao chứa tính cách biểu dương hơn là miêu tả, nó phản chiếu một hiện hữu trong sáng của hạnh phúc, sự cớ như thế cho ta nhận ra được khát vọng của con người. Có một lối biện chứng triết học : khát vọng đó là tâm trạng trong mỗi tình cảm, nhưng cái nhìn triết học là cái nhìn bao hàm trước một thái độ, trước một biến dịch đổi thay để có khát vọng. Đấy là tất cả cái đau xót của con người đứng trước sự kiện, đứng trước thảm họa, cho nên chi cái nhìn của thi ca và ca dao là một tương quan giữa đời và người : ‘Những điều trông thấy mà đau đớn lòng’ hay ‘Đau đớn thay phận đàn bà’, hoặc ‘Đồng bao nhiêu lúa thương chồng bấy nhiêu’ từ cái đau phải nhận và khát khao thương mong phải chấp, cả hai đều đồng nghĩa của thân phận. Vì thế ; có lẽ chúng ta nên nhìn cuộc đời khác cái nhìn tâm lý học. Triết học đứng lại trong hình thái của đối tượng tha nhân. Mặc khác cái nhìn của thi ca và ca dao nhìn vật thể trong vũ trụ ngoại giới mang sắc thái TỊNH và từ trong cõi tịnh thi ca, ca dao mới thấy được hiện hữu của vật thế để du mình vào chủ thể. Vì cõi tịnh của thi ca, ca dao là cõi phi của ngữ ngôn ; tức thơ.
Qua sự phân tách ca dao và thi ca tưởng như là hai thái cực, mỗi người mỗi phương , chạy mãi trên một tuyến đường không bao giờ gặp nhau ; nhưng không ! tụ điểm vô cực bắt chúng ta phải gặp nhau của hai hành trình : ca dao và thi ca ; cả hai hòa nhập vào một vũ trụ ngoại giới, một kích động đưa tới vũ trụ nội giới. Dù đứng ở giới tuyến nào vũ trụ thiên nhiên của thi ca và ca dao là nhân chứng của hiện thực và thể hiện được tâm trạng khát vọng. Vị chi giữa hai giòng siêu thực của ca dao và thi ca là một chiếm cứ của mơ về để đi tới ‘tuyệt đối như nhiên’. Những chiếm cứ ấy không phải là khuôn phép, rập khuôn nó chỉ đến một lần trong đời mỗi khi ý thức và hội nhập, đồng lõa với bản thể (hiện thể) và hiện tượng dung thông là một tập kết cho hai luồng tư tưởng nêu trên. Xuất thần đầy sáng tạo một cách tuyệt đối để thành thơ, không thể tái tục hai lần trên một dòng sông –Aimez ce que jamais on ne verra deux fois. Phải chăng đó là chặng đường của ca dao và thi ca, mà bản thân chúng ta cũng đang trên đoạn đường đó…
Để kết thúc bài nhận định về ca dao và thi ca thời chúng ta xếp cả hai vào một thể loại chung là thơ : thơ bình dân và thơ văn chương mà mỗi vị trí đều có cách riêng của nó.
Nói cho ngay ca dao hay thi ca nó có đất đứng (ground/concrete) vững chắc từ xưa đến nay là điều bất khả tư nghị.Tất nhiên là tuyệt đối dù cho là tương đối chăng nữa ./.

***
VÕ CÔNG LIÊM (ca. ab. yyc. tiết đạihàn 1/2013)

BÀI ĐỌC THÊM :
– ‘Cái Tình Trong Ca Dao I’ 10/2009 vcl.
– ‘Thiền Thơ Trong Thi Ca’ 9/2008 vcl.
Bài đã có trên một số báo mạng, báo giấy hoặc email theo điạ chỉ đã ghi.

TRANH VẼ : ‘Ban nhạc Dân gian / The Folk Band’ Khổ 16’X12’ trên giấy cứng Acrylics+Mixed media. Vcl 2015

RU EM TÌNH ĐẮM XUÂN MƠ

Nhật Quang

IMG_9378
Thầm thì ru đắm xuân mơ…
Rót vào sương đẫm mềm tơ nắng vàng
Trời nghiêng mây trắng lang thang
Em nghiêng vạt tóc mượt màng hong xuân
Dáng hoa thanh thoát giai nhân
Môi ngoan lúng liếng, thơm ngần nét duyên
Gió hôn má lúm trinh nguyên
Mây thương nét thắm dịu hiền dấu yêu
Bướm hoa lơi lả dập dìu
Ngẩn ngơ mắt ướt, liêu xiêu lối về
Xanh ngời nụ biếc đam mê
Hồng vương xao xuyến, lịm tê ngõ hồn
Nắng phai, gió khẽ dỗi hờn
Lơ thơ tím rụng hoàng hôn bên lòng
Lâng lâng tình cõi phiêu bồng
Ngọt môi hôn đã say nồng giấc xuân.

ĐÊM BA MƯƠI

Nguyên Lạc

em1

1.
Xin mời giai nhân
Bồ đào đêm xuân
Rượu tình hãy uống
Say điếng đôi mình
.
Đêm ngoài ba mươi
Trời đất lặng thinh
Chờ nghe tiếng ngất?
Hấp hối đôi tình?
.

2.
Xin mời tôi ơi!
Ly đắng mồ côi
Bồ đào đêm ấy
Nồng nàn chờ xuân
Giờ rồi đâu thấy?
Đêm ngoài tuyết băng!
.
Đón xuân xứ lạ
Trắng tuyết muôn trùng
Lạnh hồn cô lữ
Mối tình không chung
.

3.
Đêm ngoài ba mươi
Tuyết trắng rơi rơi
Một người lữ khách
Say khướt rượu đời
.
Bồ đào đêm ấy?
Đâu rồi ngực xuân?
.
Đón xuân xứ lạ
Đêm trắng muôn trùng
Mồ côi nến lệ
Khóc tình hư không
.

4.
“Em đến đêm ba mươi” [*]
Nụ quỳnh mãn khai môi
Dung nham tràn máu nóng
Địa chấn tiêu một đời
.
Nhan sắc đêm ba mươi
Trói tim này thiên thu!
.
Nguyên Lạc
…………..
– Rượu Bồ đào là rượu Champagne
[*] Em đến thăm anh đêm ba mươi
Còn đêm nào vui bằng đêm ba mươi.

Tay em lạnh để cho tình mình ấm
Môi em mềm cho giấc ngủ em thơm
(Nhạc Vũ Thành An, thơ Nguyễn Đình Toàn)

Quê Hương Vẫn Mãi Thiên Thu

Nguyên Lạc

rong-vnQuê hương bức gốc ra đi
Quê hương là nỗi phân ly não lòng
Quê hương là những dòng sông
Quê hương là khói đốt đồng chiều lam
.
Quê hương lời đó linh thiêng
Máu xương giữ nước lời nguyền khắc ghi
Quê hương dù có biệt ly
Vẫn hoài cố lý vẫn lời nước non
.
Quê hương một tấm lòng son
Tổ tiên ơn nghĩa mãi còn thiên thu
“Sơn hà Nam quốc đế cư
Tiệt nhiên phận định thiên thư rành rành”
.
Quê hương người hỡi sao đành?
Quên “câu kiến nghĩa” lợi danh riêng mình! **
.
Nguyên Lạc
…………………
Nam quốc sơn hà Nam đế cư
Tiệt nhiên phận định tại thiên thư
Lý Thường Kiệt

** Kiến nghĩa bất vi vô dõng giả/ Lâm nguy bất cứu mạt anh hùng.
Thấy việc nghĩa trước mắt mà không làm không phải là người anh dũng/ Thấy chuyện nguy nan không cứu không đáng mặt anh hùng.

CHÙM THƠ VỀ RƯỢU

Thư viện của bài

This gallery contains 1 photo.

Người ta thường nói những gì, nghĩ ra trong lúc say, nói trong lúc say là những gì chân thật nhất. Đó cũng là lúc mà những bài thơ mà chính tác giả khi say viết hoặc khi tức cảnh sinh tình viết ra nói lên biết bao tâm trạng của kẻ say rượu hay nói đúng hơn là say tình. Đã bao giờ bạn ở tâm trạng nhờ men say nói hộ tình yêu. Đã bao giờ bạn nhờ men say mà chiêm nghiệm về một cuộc đời đầy những chới với. Mời bạn cùng sntv.vn thưởng thức những áng thơ về rượu để cùng hòa mình vào cơn say tình này nhé.

Thơ về rượu, nỗi buồn riêng mình và nỗi buồn nhân thế

Khi nói về thơ về rượu với những cảm xúc buồn của chính tác giả, chiêm nghiệm về nỗi buồn nhân thế thì đều thấm đẫm nhân tình thế thái. Người ta thường nói thưởng trà không nên quá 3 người vì sẽ không cảm nhận được cái ngon của trà, cái hay của câu chuyện người nói. Còn thưởng rượu thì cần phải từ 4 người trở lên thì cuộc vui mới dài mới lâu. Thế nhưng, có những cuộc rượu “độc ẩm” một mình của nhà thơ. Ấy thế mà say, mà đau mà buồn mà tràn đầy cảm xúc xuyến xang khó có thể “tỉnh”ngay được. Tiếp tục đọc

HÃY VỀ ĐI

Nguyên Lạc

cropped-hoa-mai-3.png

HÃY VỀ ĐI

1.
.Đầu xuân hoa rộ màu tươi thắm
Em hãy về đi hái lộc đầu
Biệt xứ lưng tròng xa thăm thẳm
Để lại nơi đây một nỗi sầu
.
Để lại riêng tôi hoài huyễn mộng
Chong đêm mơ chỉ bóng nguyêt rầu
Xuân đến phương người hoa có thắm?
Có nhớ không em ước hẹn nào?
.
2.
Đầu xuân hoa nở màu tươi thắm
Sao mãi hồn tôi rêu phủ màu
Em hãy về đi xuân rồi đó
Mang theo chút nắng ấm tình nhau
.
Đầu xuân chim líu lo ngoài ngõ
Hoan ca mừng đón nắng xuân hồng
Ta mãi vẫn chờ … chờ em đó
Từ lúc phân ly lệ lưng tròng
.
Hãy về em nhé. về em nhé?
Mang theo nắng ấm sưởi ta đông

XUÂN VỀ

.Một nhành mai khoe sắc
Xuân về rồi phải không?
Chim líu lo ca hát
Sao sầu động trong lòng?
.
Mây trắng trời lam bay
Về phuơng nào ai biết?
Tóc xanh giờ có hay?
Màu thời gian da diết!
.
Năm cũ rồi giã biệt
“Vó câu vèo qua song”
Lột vỏ từng tờ lịch  
Còn chữ sầu bên trong
.
Một nhành mai nở sớm
Xuân về người biết không?
Ngày mới hương xuân đượm
Sao lệ ứa lưng tròng?!
.
Một khối tình rất cũ
Sao hoài mới trong tâm ?!

Nguyên Lạc

Lục bát thuở mới yêu em

theo em


theo em, nhất định theo em
dù cho em có không thèm nhìn tôi

theo em giữa buổi chiều rơi
giữa ngày nắng cháy, giữa trời mưa bay

dù cho em chẳng một lời
chỉ mong ánh mắt liếc tôi một lần

theo em từng buổi tan trường
áo bay mà rối cả hồn tôi đây

từng đêm thơ thẩn nhìn trời
bao giờ em mới mỉm cười với tôi

chỉ vì

chỉ vì em bỉm môi duyên
chỉ vì môi bỉm có thêm nụ cười
chỉ vì em liếc nhìn tôi
mà trong cái liếc
gói lời yêu thương
để bao đêm vắng
canh trường
mình tôi thổn thức
tơ lòng rối ben


trong tim


mắt ai như cánh lá răm
nguýt tôi một cái đứt ngang tim này
mở tim ra ngắm
mới hay
trong tim đã có dáng ai.bao giờ ?

Tại sao

tại sao liếc mắt đưa tình
tại sao cái liếc chứa nghìn thiết tha
tại sao chẳng chịu nói ra
những lời âu yếm mặn mà tình nhân

tại sao cứ phải ngại ngùng
tại sao cứ phải thẹn thùng tránh xa
tại sao giả bộ làm ngơ
để tôi thờ thẩn, bơ vơ đêm ngày

tại sao chỉ để nắm tay
tại sao không để quành vai một lần
tai sao em cứ ngập ngừng
để tôi như kẻ mất hồn em ơi

xa nhau

xa em
xa mắt
xa môi

xa hương
xa mộng
xa ngày
xa đêm

xa em
xa mộng
xa tình

xa vai
xa tóc
xa lòng
xa tôi

xa em
xa đất
xa trời

xa năm
xa tháng
xa đời
xa nhau

khê kinh kha

 NỖI NHỚ QUÊ HƯƠNG

Thư viện của bài

This gallery contains 1 photo.

Châu Thạch
 NỖI NHỚ QUÊ HƯƠNG TRONG
     THƠ THÁI QUỐC MƯU

                           

Hiếm có ai xa quê hương mà không nhớ đến quê hương. “Quê hương nếu ai không nhớ/ Sẽ không lớn nổi thành người” thơ của Đỗ Trung Quân hầu như đã trở thành câu thành ngữ ăn sâu vào lòng người dân Việt. Tuy thế, nỗi nhớ quê hương đó không phải ai cũng giống ai. Bởi mỗi người có sự gắn bó với quê hương khác nhau, có hoàn cảnh xa quê hương khác nhau và sự rung động của tâm hồn cũng khác nhau nữa, nên nỗi niềm thương nhớ quê hương cũng có sự khác biệt trong nội tâm mỗi người. Thơ diễn tả nỗi nhớ quê hương cũng thế, có bài da diết, có bài dằn vặt, có bài êm đềm sâu lắng, nhưng chung quy tác giả nào thật sự yêu quê hương thì tiếng lòng của họ làm cho ngôn ngữ của họ hồn nhiên đi vào tâm tư người đọc, mặc dầu thơ họ có thể tự nhiên như là lời nói mà thôi. Ba nhà thơ mà tôi có cơ hội biết đến bút pháp của họ như có hồn quê hương núp ở trong thơ, đó là Nguyệt Lãng, Trần Ngọc Hưởng và Thái Quốc Mưu, trong đó nhà thơ Thái Quốc Mưu là người thật sự xa quê hương biền biệt vì ông định cư ở xứ người bên kia bờ biển Thái Bình Dương.

 Cũng như bao người ly hương khác, mỗi độ xuân về thì nhà thơ Thái Quốc Mưu lại nhớ đến quê hương, nhất là khi mùa xuân đến ở xứ ta thì nơi xứ người vẫn còn tiết đông, khiến cho cõi lòng như cũng thành băng tuyết với không gian. Nỗi buồn của Thái Quốc Mưu không giống với cái buồn của nhưng người hoà nhập với vùng đất mới định cư, mà nỗi buồn của ông trĩu nặng bởi mặc cảm tấm thân mình bèo dạt mây trôi:

 Xuân đến xứ người đang tiết đông

Hỏi, đời ly xứ có buồn không?

Mả mồ tiên tổ nhờ chăm sóc

Đền miếu ông bà cậy ngó trông

Tất bật xứ người quên tết đến

Mệt lừ thân xác hết Xuân mong

Tấm thân lạc xứ con bèo dạt

Mỗi độ xuân sang tím ngắt lòng.

                         (Chạnh Lòng) Tiếp tục đọc

VỤ ĐÔNG XUÂN

Võ Công Liêm

cropped-hoa-mai-3.png

năm nay thời tiết có thay đổi
điạ cầu không nóng mà gió bấc căm căm
lạnh mưa phùn . tiền khí hậu không chịu tăng
củi khô chụm hết
đèn dầu cạn tim
thực phẩm từ từ
tăng giá bất ngờ
kể cả thuế má
xăng nhớt lên xuống
khi nhiều khi ít
tháng tận năm cùng
tôi . đánh xe đi tìm mùa đông giữa trời
giá tuyết . đó là mùa đông xứ lạnh đầy
trời vắng thấy những bầy chim nhỏ bay
thơm thơm mùi hương hoa nguyệt quế
những cụm hoa đến từ bên kia vĩ tuyến
nghe như có tết ở trong lòng
tách cà phê đen không đường
tôi uống từng cụm khói
mà nhớ
năm nào trên cánh đồng khô
con cò lặn lội bờ ao
nhớ con rạm gạch to càng
kho tiêu
vụ đông xuân
gặt hái qua loa
về nhà chăn gối
ngủ giấc nam kha
cho mộng bay xa
tôi và em đi chơi tuyết vùng cao
những cọng khô phơi gió
hây hây mùa hạ quê nhà
hôm nay tháng mấy rồi nhỉ ?
mà đôi chân lạnh tím
để em không còn nhìn thấy
tôi thị giác mờ hư ảo
và . đêm đã tới gần
trong căn gác đìu hiu
cửa sổ mờ mịt trắng
trời ơi mênh mông . mênh mông buồn
điã hát chạy quay vòng
torna a surriento*
mà nhớ mưa phùn bay

em . ở đâu ? tôi ơi

‘bỗng chạnh lòng cơn lạnh bủa vây
đầu bạc cười qua gom góp vụng’**

VÕ CÔNG LIÊM (ca.ab.yyc. Jan 1/2020)

* ‘Về mái nhà xưa’ Nhạc Ý Đại Lợi. Phạm Duy phổ nhạc..
** ‘Thu nhật Ký hứng’ của Nguyễn Du . Lại Quảng Nam chuyển dịch Việt  ngữ.