Yêu Em

KhêKinhKha

00ao-dai-trang

yêu em, lúc vừa đôi tám
yêu em, tình như giấy trắng
yêu em, lòng như đổ nắng sân trường

yêu em, mái tóc sợi mềm
yêu em, lời nói dịu hiền
yêu em, ánh mắt trao tình lánh đen

yêu em, gót nhỏ, môi thơm
yêu em, tà áo eo thon
yêu em, hương phấn thơm nồng giấc mơ

yêu em, vành nón nghiêng che
yêu em, chiều nắng vàng hoe
yêu em, yêu cả đường về dưới mưa

yêu em, hờn dổi bâng quơ
yêu em, nắn nót vần thơ
yêu em, thổn thức đợi chờ đêm sâu

yêu em, giờ đã xa nhau
yêu em, tình đã mòn hao
trăm năm
        nào có là bao hởi đời ?

xa nhau, ai đã phụ ai ?
xa nhau, nát cả tim tôi
xa em
       chết cả một đời em ơi !

KhêKinhKha

mộng tàn

khê kinh kha

ao-dai-trang-4

1.
thu lại về – lá vàng bay
lá bay vào giữa hồn ai
lá bay vào giữa hồn này người ơi

hương tình còn đọng trong tôi
hương người còn đọng quanh đây
người đi tình cũng đi rồi tình ơi

từ nay đời vắng môi cười
người đi mang hết hồn tôi
nghìn trùng xa cách núi đồi bơ vơ

tìm đâu một thoáng hương xưa
tìm đâu một chút hương thừa
vầng trăng đơn chiếc tình vừa đơn côi

2.
thu lại về – lá vàng khô
lá khô hay lòng tôi khô
gío lay hay bước ai về trong mơ

tình ơi sao mãi mộng mơ
lòng ơi sao mãi đợi chờ
mộng xưa tàn úa bên bờ tương tư

đời nay vắng bóng ai về
mộng tôi tàn úa cho vừa lá khô

khê kinh kha

SỰ THẬT TRẦN TRUỒNG

Võ Công Liêm Biên Soạn

gởi: huỳnh hữu ủy

     Theo ngữ ngôn văn chương thường gọi là phơi mở hay bày tỏ huỵch toẹt những gì ẩn chứa bên trong và bên ngoài sự thật của nghệ thuật. Một sự thật trần truồng (naked truth) thể hiện đậm nét qua hội họa và thi ca. Nó là đặc chất dung thông vào nhau; hội họa mô tả qua chất liệu (matter/matière) của màu sắc để thành hình, thi ca mô tả qua con-chữ (the word) để thành thơ là đường nét sống thực để diễn tả toàn bộ trong một ý thức siêu thực; nó cuộn vào tế bào não bộ để phát sinh ra trí tuệ mà có; điều này như một xác quyết của mọi trường phái khác nhau; cái đó là tạng thể không thể phớt lờ trong cái nhìn say đắm của người nghệ sĩ –visceral and unflinching was in them gaze; ngay cả hình ảnh thiên nhiên đều hình tượng hóa để mô tả sự thật. Gần như tạo nên thích thú và thỏa mãn cho tác phẩm được đề ra.   

Quả thực; đấy là điều chúng ta tìm thấy tài năng của họa nhân Lucian Freud (1922-2011). Ông đã thực hiện những gì người ta đã thực hiện, nhưng; với Freud khác biệt rõ rệt từ hình thức tới nội dung, phản ảnh một cách trung hòa qua đường cọ của ông. Một lối diễn tả hòa hợp giữa màu sắc và hình dáng của con người cho thêm phần sống động; đó là sự cố không thể che giấu vẻ đẹp thiên nhiên nơi con người.

L.Freud đã thực hiện đường nét độc đáo đó từ lâu như một vóc dáng trước tác siêu đẳng một thời của người họa sĩ. Họa nhân là cháu nội của nhà phân tâm học Sigmund Freud (1856-1939). Ông sinh ra và lớn lên ở Bá Linh, Đức quốc vào năm 1922 và định cư cùng gia đình ở Luân Đôn, Anh quốc 1933. Freud chọn truyền thống ‘sống để làm’ cho sự nghiệp của cuộc đời. Nhưng lạ thay; Freud không thuộc một trường phái hay bài bản của trường lớp. Freud đứng ngoài mọi thị hiếu để đưa đam mê vào hội họa như một sáng tạo mới và khai sáng một hướng đi khác. Một trường phái thuộc xác thịt cách riêng. Freud có lần nói: ‘Tôi muốn thể hiện toàn bộ thể xác. Đầu tiên phải là tứ chi khác / I wanted the expression to be in the body. The head must be just another limb’; là cành nhánh trong cơ thể con người, nó bộc ra một sắc màu khá đặc biệt, những mảng dầu (oil) đông cứng và dày trên gương mặt là một chứng tỏ của khát vọng. Tế bào da mặt là một kết tụ đặc biệt của con người, là ‘tiếng nói / face talk’ của hỉ nộ ái ố, là những gì không thông thường như ta nhìn mà là một sáng tỏ qua chân dung mà họa sĩ muốn vẽ. Freud thừa hiểu điều đó và cho rằng đấy là lực thu hút vào trong hình hài, dáng điệu để bước vào con đường của hiện thực; từ đầu tới chân tay. Đối với Freud chủ đề lõa thể đã đập mạnh vào bộ phận hữu cơ (organic) của con người là hữu thể: nó ngủ hay dậy là tác động tự nhiên chớ không phải là tự động hóa; nó gây mê trong trạng thái ‘chìm’ và thức tĩnh trong trạng thái ‘bị động’; nghĩa là nó dung thông để hòa nhập vào cõi tục như nguồn năng lực của dục cảm (erotic). Người họa sĩ phải vượt qua hàng rào kẽm gai của nhân thế mới đạt tới chân tướng của hội họa. Một vài họa sĩ đời nay nhại theo lõa thể nhưng thứ lõa thể đó không phải là ‘hàng hiệu’ mà là thứ hàng nội hóa chỉ vẽ cho thành hình mà thôi. Xem tranh khỏa thân của Freud mới nhận ra hội họa tả thực còn hơn những thứ tả thực khác. Bởi; Freud không thể giả dối ở chính mình khi nhận diện sự thật. Một sự thật đúng nghĩa của nghệ thuật nói riêng và văn học nghệ thuật nói chung. Cái khó của hội họa phải có con mắt để nhìn. Thi ca phải có cái tâm-như-nhất; cả hai điều hợp trong cùng một tri thức nhận biết tức hiểu được ý nghĩa của nghệ thuật hội họa và nghệ thuật văn chương. Đó là đỉnh cao trí tuệ. Bằng không chỉ là thứ mua vui không có gì giá trị nghệ thuật.

Thấm thấu nghệ thuật nhất là nghệ thuật hội họa xưa nay trở nên thứ nghệ thuật chân truyền, nghĩa là lưu lại với đời những tác phẩm vô giá mà thế giới loài người thừa nhận nó như di sản đáng qúi không thể đem ra so sánh hay lý giải mà phải nhận nó như một giá trị tuyệt đối về mặt giá trị sáng tạo và kỹ thuật điêu luyện mà nghệ nhân đã dựng nên. Cho nên chi nghệ thuật hội họa là người có con mắt tinh tường để nhận thấy cái thâm sâu cùng cốc mà họa sĩ muốn nói đến; nó không thể dửng dưng để tác hợp vào trong tranh một cách ngẫu nhiên, tùy hứng mà cả suy tư trước vật thể và hình ảnh là đòi hỏi ở nơi ngón tay của họa nhân bắt chụp được cái của trời cho; cái đó là năng khiếu thiên bẩm như trường hợp của Freud. Bởi như thế này: trong khỏa thân của Freud đã xác định vị trí trong không gian duy nhất như chính họa sĩ mô tả cái trăn trở, cái quằn quại, cái bi thảm của những gì bị ức chế, kềm kẹp trong một xã hội băng hoại của nền văn minh từ Đông sang Tây đã không thừa nhận một cách ưu ái mà cho đó là ‘ô nhiễm’. Freud vẽ là Không-Hóa toàn triệt trong như nhiên, tận dụng mọi khả năng trí thức thuộc về cơ thể (onatomy) kể cả phần xác của con người (organism); tất cả dữ kiện đó là một tổng hợp của vũ trụ con người được hình thành dưới mắt Freud, một diễn tả rất chi li từ đường tơ kẽ tóc để người xem không còn nghi ngờ giữa thực và giả. Vượt thoát của Freud chính là ý thức thức tỉnh trước tình thế, một thứ ý thức đối lập giữa bản thể và nghệ thuật là ý thức mơ về để có một đường nét sáng tạo khác với những gì đã xẩy ra trước đây, chính là lúc Lucian Freud đối diện vào một liên hệ tương giao giữa họa nhân và người hôn phối, là điển hình cho sự thật để vẽ thành tranh (khỏa thân). Đứng trên lý luận phân tâm thì đó là tâm lý thuần trực giác đang thưởng thức vẻ đẹp của vợ mình bằng trực giác hình tướng. Hình tướng của hiện thể hoàn toàn chiếm hết tâm hồn khiến cho Freud quên hết ngoại giới xung quanh mà nhìn vào đối tượng tha thể như ‘vật ngã đồng nhất’ trong trạng thái xuất thần . Có thể Freud chịu ảnh hưởng của nghệ thuật nguyên sơ, khơi dậy từ những hình ảnh khoái cảm tiền kiếp hướng về cõi đã mất?

Như đã nói ở trên Freud dựa vào châm ngôn tục truyền ‘sống để làm/life’s work’ là một kết hợp tư tưởng giữa con người và cuộc đời. Cuộc đời có ý nghĩa là theo đuổi để được giải phóng ra khỏi những gì bức xúc tồn tại, là theo đuổi cho nghệ thuật –The pursuit of liberty and the pursuit of art. Cái nhìn của Freud là cái nhìn tương quan với Jackson Pollock (1912-1956) tương quan ở chỗ là thấy được họa (painting) như một sự bộc phát đầy năng tính, bởi; họ đứng trước bóng tối của màu sắc để vén lên đó một sự thật nguyên thủy mà bấy lâu nay con người định kiến và vị nể; tránh nó như thuốc độc. Freud phủ nhận mọi hình tướng không thực của cuộc đời mà tìm thấy trong sáng tạo là một sự hóa thân của nghệ thuật –Art is a metaphor of the creation. Đúng! sự thật là cần thiết, thật sự có lợi ích ấy là đạo /way là con đường hiện hữu tối thượng; đấy là thái độ của người cầm cọ, nghĩa là thấy người thấy ta trăm trận trăm thắng. Không phải đây là quan niệm chủ quan của người họa sĩ mà là một kích động thực thể giữa ngoại giới và nội giới; tức kiểm soát một cách trung hòa (media) của màu sắc và cả chính mình. Cái bắt mắt nơi tranh của Freud không phải ở vóc dáng cũng chẳng phải trần truồng hay cái tên gọi mà chính cái đẹp của Freud nằm trong đường cọ, tợ như bút pháp nó uyển chuyển và bay bướm lạ thường. Đó là sự thực hội họa. Một sự thật phơi mở của nghệ thuật dù là huỵch toẹt cái xấu xí dị hợm, nhưng; trong đó vẫn trọn ý thẩm mỹ về con người một cách đầy đủ. Lucian Freud không phải là thứ đạo đức giả.

  (Đứng bên cạnh đống nhàu nát / Standing by the rags.1988. Oil  66 1/5” X 54 1/5” by Lucian Freud)

hinh1

Freud dựng tranh trong một cấu trúc hợp nhứt (unifying structure) đã nhồi nắn một chất liệu để vẽ lên tranh ở chính nó là một thực hiện tự nhiên không gò bó, chải chuốt mà vẫn sống động hơn thực, cái sự chấm phá, bôi bết rất thô thiểm khó coi nhưng đầy nhuệ tính. Lối vẽ đó gọi là biểu tượng hiện thực (expressionistic realist) và đã đạt tới niềm tin chung một cách chính xác của trường phái Lãng mạn (Romanticism). Vai trò chính yếu của Freud là tái phục hồi để chống lại chủ nghĩa cổ điển mới (neoclassicism) mà nhấn mạnh vào hình ảnh và xúc cảm. Đấy là bước ngoặt tạo hình để vẽ lên một bề mặt trong sáng và gợi cảm một cách vững chắc, điều này Freud thường nâng cao sắc diện đặc biệt vào đó, trong một tinh thần bao hàm những gì thương tổn và khắc khoải. Vậy thì sự gì đi vào trong tác phẩm của Freud suốt một hành trình dài dâng hiến cho nghệ thuật hội họa? Ông chẳng dâng hiến gì ngoài dâng hiến cho nghệ thuật; mặc dù thời điểm đó ông đã hứng chịu những lời lẽ thị phi kể cả đám văn nghệ sĩ. Người ta chưa hiểu hết tâm thức của người nghệ sĩ khi sáng tác: là họ bỏ vào đó những gì bi thương và khắc khoải trong cuộc đời, để rồi ông phải sống trong trạng thái căng thẳng. Dữ kiện của cuộc đời là một đấu tranh dai dẳng đưa tới một tâm thức rối loạn, tàn phá một bản năng tự tại, Freud muốn thoát khỏi cuộc đời để tìm cho mình một con đường tự do hội hoạ, nghĩa là không còn khuấy động từ bên ngoài (xã hội) và bên trong (gia đình). Đó là nhược điểm mà ông phải đương đầu để hoàn thành trọn vẹn về thân thể con người. Freud biết hoài bão đó khó để đạt tới, bởi; chung quanh ông là những yêu cầu, đòi hỏi là những gì mà con người mong muốn: mọi con người cần những thứ hài lòng, đó là một hiện hữu đã được chú ý tới –a very human need was fulfilled, that; of being noticed. Vậy thì tại sao Freud tọa vào chỗ đó để nghe những lời tha oán luôn cả vị hôn thê của mình? Freud tọa vào để tìm thấy chất lượng của con người từ ngoài vào trong, là phản ảnh đích thực từ nội quan của con người. Điều này như một thức tỉnh đánh động vào những năm trước khi chết Freud đã chiếm thời gian qúa dài (2400 giờ) để hoàn tất họa phẩm lõa thể vào năm 2007. Là chứng cớ đích thực để thực hiện hoài bão về thân thể trong đó cả xác lẫn hồn. Biết cho rằng; đây là điều hết sức chuyên tâm để đi tới tầm xa của hình tượng mà Freud nỗ lực thực hiện cho bằng được, một nỗ lực chứng minh những gì gọi là thực chất tương đương (equally substantial) dù đó là bóng tối đen đặc, là cảm thức tinh nguyên mỗi khi đụng tới.Tuy nhiên; qua giảo nghiệm sinh học để nhận ra trong Freud một sự hiểu biết rộng lớn về cơ thể học mà ông đã trau dồi kỹ lưỡng trước khi dựng thành tranh (painting) đặc biệt là tranh chân dung. Tranh của Freud thường cho ta một sự choáng ngợp, một sự khó chịu là thứ kinh nghiệm đối đầu khi đứng trước tranh của Freud, nhưng; nhìn lâu ở đó có một cái gì gần gũi thân thiện. Chính trong vóc dáng trầm lắng của Freud mỗi khi ngồi thường cúi xuống như muốn che giấu điều gì; cảm thức đó chính là sự sợ hãi của con người đang đứng trước đổi thay từ mọi phiá, biến Freud trở nên thụ động trước hoàn cảnh cũng có thể từ phía gia đình ông (?). Chân tướng thực sự của con người đối với Freud vẫn còn trong vòng khám phá…

Freud là người giàu trí tưởng và phân tích (có lẽ chịu ảnh hưởng của ông nội Sigmund Freud). Vốn dĩ đã in sâu trong tiềm thức của Lucian Freud là không thu giấu, không bao che (nakedness), muốn lột trần  để không còn thấy thực và ảo. Đấy là lý do tuyệt đối để phơi mở toàn thân của con người. Chủ đề về hai hệ phái nam/nữ đã đem lại những khi không mấy cảm tình hoặc coi đây là thúc đẩy từ ức chế, kiềm hãm. Freud nhìn vào tranh lõa thể là sản phẩm tương đương thuộc điêu khắc của họa phái; tự nó đã trở nên quan trọng đối với Freud. Tác phẩm của ông được đánh giá cao đối với mỹ thuật hiện đại và đã được phân tích, so sánh như những danh họa trước đây với một thành quả to lớn; Freud lột tả toàn phần về cơ thể con người để đi tới một sự thật chân chính giữa hồn và xác, giữa ảo và thực; đấy là triết lý nhân sinh trong hội họa. Freud quan niệm hội họa là tiếng nói không lời nhưng lại có âm vang trong màu sắc. Bởi; nó được xác định vị trí cố hữu nằm trong không gian duy nhất để nhận thức thế nào là hữu thức và vô thức trong thế giới của con người. Khi đứng trước họa phẩm của Freud chúng ta không còn thấy ở đó cái gì là ảo tưởng, là suy đồi, là tục lụy; nó tách ra khỏi một chủ thể hiện hữu và ngay cả khách thể cũng không có trong tranh của Freud. Vì rằng; nó đã tách ra khỏi dòng sống như nhiên, đó là phương tiện thoát ly cuộc đời đang sống để về với cái thực chân như của hội họa, không còn qui ước, khuôn phép, phiến diện hay bó buộc mà tạo vào đó một môi trường sống thực của ‘tòa thiên nhiên’… Đó là tiềm tàng trong tâm hồn người nghệ sĩ, là động lực thúc đẩy từ ý thức, từ nhận biết để sáng tạo nghệ thuật. Một thứ nghệ thuất bất biến, bất di, bất dịch mà thứ nghệ thuật để đời, cái mà người ta không làm nên được. Từ đó về sau Freud được xem là một trong những họa nhân đương đại ở tk. thứ hai mốt. Hiếm mà tìm thấy một chất liệu độc đáo như thế. Tranh của Freud đôi khi thấy trên bề mặt của nó một sự ngỡ ngàng của một thứ chất lỏng nhầy nhậy. Một chuyển dịch biến thể của hình thể không có trong vóc dáng, tợ như rèm thưa không có đường may. Đó là kết quả khác thường trong hình ảnh trầm lắng đọng nơi tranh.

(‘Và đó . Vị hôn phu / And the Bridegroom’ Oil. 91” ¼ X 77” ¼   1993. by Lucian Freud)

hinh2.jpg

Trong tranh của Freud đã để lại cái không ‘đẹp mắt’, ông phết lên đó một sắc màu bạc nhợt, những góc cạnh đổ gãy là lối vẽ đặc thù mà ông muốn dựng vào đó một thể cách nhất quán, nghĩa là trước sao sau vậy là phản ảnh vào cái bên trong (inner) của từng nhân vật; nhất là bày tỏ cho một tình yêu sau cơn mê.                  Nhìn chung Freud đã vẽ những gì là vẽ ở chính mình, ở vợ mình như một tự thú cuộc đời tốt hay xấu, thực hay giả; điều ấy có thể làm cho người xem thêm dị nghị ở chính họ, bởi; sự thật của thể xác mà chúng ta đã che đậy, là vì; nó xấu xí, dị hợm nhưng đó là cái đẹp tự nhiên, ‘đẹp trọn vẹn’, bởi; nó là qui ước, là khoái cảm, là tình yêu mà con người không thể chối bỏ. Freud đã có lần nói: ‘lột nó ra rồi mới thấy /open up it and see it’. Đó là điều mà Freud muốn nói đến, một tâm sinh lý đích thực về vấn đề của con người. Freud có đào tạo, có trường lớp hẳn hoi, có học hỏi, nghiêng cứu, nhưng; Freud tách ra khỏi mỹ thuật, mà tìm thấy mỹ thuật cách riêng; đó là con đường tự do dành cho hội họa. Dĩ nhiên Freud con người -khuấy động để đau khổ nhưng thành công rực rỡ / troubling and brilliant- là ở chính ông ta ./.

VÕ CÔNG LIÊM (ca.ab.yyc. cuối 11/2019)

*Hình trong bài rút từ sưu tập của vcl.

SÁCH ĐỌC: Art of the 20th Century by Taschen (London UK. Munich Germany) 2000.

*Freud Lucian (1922-2011)

-1938-1939:Tùng học ở Central Schơol of Art and Crafts in London.

-1939-1942: Studied at the East Anglian School of Painting and Drawing in Dedham.

-1942-1943: Part-time studies at Goldsmith’s College in London.

From 1946 to 1993: Triển lãm  lần đầu ở Luân Đôn, Pháp, Hy Lạp, Venice Ý, New York và nhiều nước khác trong ‘touring exhibitions’.

Tranh cuối cùng (chưa hoàn tất còn trên giá gỗ) 2011.Oil. 63” ¼ X 54”1.4. ‘Chân dung của Chó săn /Portrait of the Hound.

ĐỌC THÊM: ‘Xem Tranh’ July.2019. của võcôngliêm hiện có trên một số báo mạng /giấy trong và ngoài nước hoặc email theo đ/c đã ghi.

TRANH VẼ: ‘Người và Chim / Man and Bird’ Khổ: 15” X 22”. Trên giấy cứng. Acrylics+House-paint. Vcl# 1552015.

NGƯỜI Và CHIM / MAN And BIRD

nguoi va chim- vcl

Tranh Võ Công Liêm: Người và Chim

CÀ PHÊ ĐEN

sáng bung mắt
dậy là đi
bên kia đường
quán cà phê
nóng cháy mặt bằng
rít điếu thuốc tàn
kể nốt câu chuyện hôm qua như bao lần
từ đầu tới đuôi người ngồi đối diện bực cười
nham nhở như truyện tình lan và điệp
trên sân khấu cuộc đời chất đầy vị mặn
đám ruồi muỗi quen thuộc hát vu vơ tiếng bổng
tiếng trầm trên cánh đồng đầy chơm ba khiá
chiều hôm đi chợ về bó rau muống cong queo
thì hôm nay đứng lại ngắm nhìn bông lý bông lài
nhợt nhạt linh hồn trên manh chiếu nồi vung
hình như muốn nói điều gì mà hôm qua bỏ quên
bên đường lũ dơi chúi đầu ru ngủ trên cánh khô
tưởng chừng như treo án tử hình mà thực tình
cơm đong gạo bữa khoanh tay chờ đợi chén thù chén tạc
đầu tháng năm
lúa trổ bông
qua tháng chín
rạ vàng hoe
con mắt xốc xếch của kẻ điên khùng hăm hở hái
những vì sao trên trời lạc hướng thời tuổi trẻ
để yêu em bằng trí nhớ mông lung cháy rực trời
vẫn không thấy em sau tết mậu thân năm sáu tám
tôi . như con ve sầu lá úa
không biết sống chết về đâu
người ngồi đối diện bực cười hôm đó là tình nhân
tôi . ngụm hết tách cà phê
thả khói xuống lòng đường
em . lên xe về miền cổ xứ
để nhớ người tình cũ
ngày xưa chưa ăn tết
đêm nghe quạ khóc dài
trên con lộ không đèn

hứng từng giọt sao giữa mùa trăng tháng chạp
cả đời uống cà phê đen đắng chát không đường ./.

VÕ CÔNG LIÊM (ca.ab.yyc . mưa tuyết 12/2019).

ĐỌC “TRẢ LẠI TA” THƠ MẠNH TRƯƠNG

Thư viện của bài

This gallery contains 4 photos.

Châu Thạch TRẢ LẠI TA -/- Trả lại ta chuỗi thời gian Tuỗi thơ êm đẹp mơ màng bướm hoa Không gian ơi,trả lại ta Núi sông rừng trãng bao la một vùng Trả ta một khoảng không trung Trời … Tiếp tục đọc

giấc mộng bên nhau

Trần Hoa Phượng

anhlaai

 

em bàng hoàng trong cơn mộng
anh về – anh đến bên em

yêu đương rộn ràng
tình say đắm
anh yêu em – yêu trong hơi thở
trong ngón tay mềm
trong giấc mộng đêm nay

đêm nay, xin đêm đừng qua nhé
chỉ một lần thôi
một vòng tay anh…
vòng tay chờ đợi bên nhau

đừng đi, xin anh đừng đi nữa
mình yêu thương – mình yêu thương
dù là giấc mộng đêm nay

đêm dài xin đừng sáng
yêu đương xin vẫn lâu dài
mặt trời xin đừng đến vội
anh đi rồi
mộng tình vỡ đôi

Trần Hoa Phượng

Thôi em đừng Khóc nữa

Khê kinh Kha

Nhạc & Lời Khê Kinh Kha
Trình Bày: Hoàng Quân
Video: Diễm Music

1.
thôi em đừng khóc nữa
vì con tim đã chết đam mê
vì trong ta đêm vắng muôn bề
vì môi xưa đã tắt lời thề

thôi em đừng khóc nữa
vi hoa kia hương phấn tàn rơi
vì da non ghi dấu hương tình
vì bao năm ta sống ưu phiền
vi trong ta nước mắt lênh đênh

thôi em đừng khóc nữa
tình đôi ta như lá thu phai
một mai đây kho héo bên đời
đờI cho ta chua xót phận người
tình cho ta cỏ xót ngậm ngùi

thôi em đừng khóc nữa
lệ em rơi thêm tan nát lòng tôi
lệ em rơi, rơi ướt quanh đời
giọt bao la thấm ướt môi cười
giọt đau thương năm tháng xa trôi

nín đi em
ta xin em ngừng mắt lệ
nín đi em
sông núi còn đây
nín đi em cho nắng thôi gầy
và trăm năm thân thế phận cỏ cây

nín đi em
môi thơm còn hơi ấm
nín đi em
con tim còn muốn sống
nín đi em
cho đêm dài nhung nhơ
nín đi em – nín đi
giọt lê – trăm năm

nín đi em
cho sông dài ước vọng
nín đi em
năm tháng dần trôi
nín đi em
cho ngón tay dài
rồi mai đây em hỡi
tình ngũ say

nín đi em
cho mây về trong mắt
nín đi em
môi thơm còn trái đắng
nín đi em
lang thang vầng trăng sáng
nín đi em – nín đi
tình mình – lênh đênh

Khê kinh Kha

THƠ TÌNH LÃNG MẠN

PHẠM NGỌC THÁI

Nhờ đâu 3 cô gái Thái được mệnh danh nữ thần tắm suối?-7
               EM TẮM
                 Kỷ niệm với người nhi nữ xa
 
                                    *
Anh ngắm nhìn em tắm
Tấm thân trần mênh mông
Biển tình tràn say đắm
Em của anh biết không !?
 
Tấm thân em bảo vật
Của tạo hóa sinh ra
Dành cho anh yêu đó !
Mãi còn ở tít xa…
 
Tấm thân em trắng ngần
Từng đừng viền anh ngắm
Hai bầu sữa thơm lành
Chờ ngày anh uống cạn
 
Ngã ba em suối ngọt
Chảy róc rách bên trong
Có rừng xanh bao bọc
Chờ ngày anh vô thăm
 
” Em đêm nhớ, ngày mong
Tan nát cả cõi lòng “…
Em bảo anh như vậy
Anh lại càng thương em.
 
Giữa đất trời bão giông
Tình ta còn cách trở
Nhưng trong trái tim anh
Cưng mãi nằm ở đó !
 
Anh nhìn em yêu tắm
Qua màn hình zalo
Hãy chờ ngày anh đến
Tặng em cả trời mơ…
 
    Hà Nội, phố

 
 
                   ĐỘNG THIÊN THAI CỦA EM

                   Rõ màu trong ngọc trắng ngà,
                Dầy dầy sẵn đúc một tòa thiên nhiên
                            ( Kiều Nguyễn Du )
                                      *
Em đưa anh vào trong “Động thiên thai”
Đôi sườn núi bên, như hai vầng trăng khuyết
Ríu rít bướm đàn. Thì thào em hát…
Bản tình ca muôn thuở giống nòi.
 
Em ngước nhìn anh, ánh mắt sáng ngời
Con chim hót vang trời… Cánh rừng xanh tốt…
Không rậm rạp um tùm, động em thoáng mát
Hòn núi nhỏ chon von ? Mặt trời đỏ mọc bên trong…
 
Em là Nàng công chúa của lòng anh
Một lãng tử độc hành, trên đường thiên lý
Đi qua thôn hương, gặp người ái nữ
Bên bờ biển xanh, hát khúc tình chiều
 
Đời người sống được bao nhiêu ?
Yêu anh ! Em trao không tưởng tiếc
Cả tòa động thiêng liêng ! em dâng hết…
Để cùng anh sớm tối vẹn lời nguyền
 
Ngẫm đất trời cũng khéo vén chữ “duyên”
Tuy mới gặp mà nồng nàn, tha thiết
Anh cứ ngỡ câu chuyện tình cổ tích
Chàng dong buồm… vượt biển đón gái xinh…
 
Em mang hồn Thánh Nữ cõi nhân gian
Người đàn bà có trái tim bất diệt !
Tất cả tụ trong một “Hang cẩm thạch”
Khai sinh giống nòi, nuôi nhân loại lớn khôn.
 
Ôi, “Tình yêu và cuộc sống” muôn năm !
 
             18.4.2019
     PHẠM NGỌC THÁI
.

NHỚ XƯA (II)

Võ Công Liêm

1sg222
ngày em theo học
trường đại học văn khoa
sàigòn trời tháng chín
em . mặc áo vàng màu lụa trắng
dưới hàng cây cao bên kia đường
bóng dáng em là tranh lập thể
tóc rối bời xanh xao
đi trong passage eden
tôi . ghé quán chùa
đưa em vào động hoa vàng gặp gỡ
đám văn nhân tán gẫu chính chị
chính em pha mùi thuốc súng
của mai thảo của thanh tâm tuyền
của tô thùy yên bạc trắng lửa hồng
của du tử lê cười nhiều hơn nói
ngoài kia phu xích lô đắp mặt báo
ngủ ngon . em theo từng nhịp bước
giờ thứ hai lăm của chúng mình
đi vào thanh thế ngụm ly trà xanh
đá từ đêm màu hồng dội xuống
đường một chiều tự do đức bà
scandal ngoại ô đèn vàng
tiếng vọng từ thành phố
điệu trumpet rít trong tôi
bằng những lời ai oán
đêm tháp ngà những tên lính GI
màu xanh lá chuối dẫn em vào ngõ cụt
hái những bông hoa chưa kịp nở
mà nhớ khe sanh lựu đạn hầm chông
chở khói qua thành phố một chiều mưa
em . thơ ngây
trên
tầng
tháp
cổ
tôi . ngơ ngáo
vàng tay thuốc lá
ngụm chén lưu linh
uítkycốc linh hồn tượng đá
hình như là tình yêu
một cái chết bất ngờ
bỏ lại bên đường phạm ngũ lão
để nghe tiếng máy nhà in sầm sập chạy
đối diện nguyễn xuân hoàng xin ít chữ
làm du mục hóa thân điên khùng một sáng mai
với bùi giáng thi sĩ trung niên ăn chay nằm đất
của một thời chó ăn đá gà ăn muối . niệm nam mô
con tàu thống nhất cà gật chạy xuyên đêm đưa ta
về cổ xứ của trăng tàn bến ngự nắng đục mưa trong
một ngày lửa cháy hồn sông núi nào có ai hay
là lúc chúng mình trở nên tant qu’il y aura des homes
quá khứ vùi chôn như nấm mộ
ngự bình chở gió qua sông
que sera sera
không biết rồi ra sao
tháng ngày là nỗi nhớ
bài thơ quách thoại xưa
hãy chết như sao rơi vào bất tận
mà nhớ vĩnh biệt tình em đốc tờ zivagô
xa một trời vàng khua tuổi nhỏ bỏ xứ mà đi
làm dân thường trú không hộ chiếu
nhớ xưa . đêm tàng hình như bóng ma
dưới trời điạ ngục trắng không một vì sao
tôi
em
ướp xác
kim tự tháp ./.
VÕ CÔNG LIÊM (ca.ab.yyc. cuối 11/2019

VÀI Ý VỀ CHỮ DÙNG TRONG THƠ (8)

Nguyên Lc

nguyenlac_chandung

Tiếp nối theo loạt bài viết “Vài Ý Về Chữ Dùng  Trong Thơ” [*] đã đăng trên FB và các trang web, hôm nay tôi sẽ tiếp tục phân tích việc dùng chữ trong thơ qua việc trả lời cho nhóm tự gọi là: CÁNH ĐẠI BÀNG của THI CA ĐƯƠNG ĐẠI VN.

Dưới cuối bài là copy Email của nhóm này [**], nó đã được họ phát tán rộng khắp để tấn công cá nhân tôi, vì tôi dám “góp ý” về bài bình thơ “có cánh”, dù dưới bài bình thơ này đã có ghi: “Rất mong nhận được những ý kiến trao đổi của các bạn!” 

BÀN VỀ HAI CHỮ MIÊN TRƯỜNG

Để hiểu rõ cụm chữ “miên trường”, hãy thử xét câu thơ sau đâyy:

“Miên trường trở giấc hồn cô quạnh” – XYZ

  1. Như đã biết: Chữ Hán Việt là chữ Hán viết theo chữ Việt. Thí dụ câu: 君 在  湘  江  頭 (thuần Hán) – Quân tại Tương giang đầu (Hán Việt) – Chàng ở đầu sông Tương (thuần Việt)

Trong các bài trước tôi đã phân tích: Tiếng Hán Việt cũng giống tiếng Anh: Tính từ đứng trước danh từ, khác với tiếng Việt

Thí dụ: Bạch mã (H) White horse (A) Ngựa trắng (V)

  1. Theo nghĩa: Trường là dài, Miên là miên viễn = rất dài. Vậy tập hợp “Miên trường” nghĩa là dài dài, dài rất dài, dài dằng dặc.

– Câu thơ trên muốn nói gì?

– Nếu muốn nói đang ngủ rồi trở giấc, ta phải nói “Trường miên”, vì  Trường là dài, Miên là ngủ; Trường miên là giấc ngủ/ giấc mộng dài. Do đó câu thơ trên phải được viết: “Trường miên trở giấc hồn cô quạnh”.

  1. Ta biết rõ tác giả câu thơ trên đã “mượn” 2 chữ Miên trường trong bài thơ “Chào Nguyên Xuân” của cụ Bùi Giáng.

– Trong bài thơ Chào Nguyên Xuân, theo tôi hiểu cụ Bùi Giáng ̣đùa với 2 chữ Miên trường trong câu thơ “Mùa xuân phía trước miên trường phía sau“. Miên trường như giải thích trên là dài dài. Ghép vào câu thơ nó có nghĩa tếu: “Mùa xuân phía trước dài dài phía sau”: Phía trước mùa xuân vui thì phía sau cũng dài dài … mùa xuân vui. Phải cụ đùa không?

– Vâng, cụ đùa nhưng cười ra nước mắt. Đó là cái tuyệt vời của Bùi Giáng:  Câu thơ vui, nhưng thường ẩn trong đó là sự não lòng. Phía sau “dài dài” cũng có thể mùa thu hay mùa đông , mùa sầu mùa nhớ…

Đây là câu thơ có sự đối tỷ, sự so sánh trước và sau: Trước là mùa xuân thì sau phải mùa xuân hay mùa nào đó. Trước là cảm xúc- mùa xuân vui – thì sau phải cũng là cảm xúc – mùa vui hay buồn nào đó – chứ không thể là giấc ngủ/ giấc mộng – nếu hiểu miên trường là giấc ngủ/ giấc mộng dài (?).

Người “hậu bối” làm thơ sao không suy nghĩ cho thông nghĩa, lại vội vàng hít hà rồi “cố tình nhét đại” vào các câu thơ “nghiêm chỉnh” của mình, vô tình “hại” cụ Bùi, phải không?

BÀN VỀ TÀ HUY VÀ ĐOÀI

Sau đây là lời trong Email của nhà bình luận Nguyễn Xuân Dương mà “nhà thơ” Đỗ Anh Tuyến đã phát tán rộng khắp trong nhóm “Elites” của các ông để chê tôi “không biết gì”.

“Theo ông Nguyễn Khôi thì trong bốn bài gọi là thơ đăng trong THƠ BẠN THƠ 9 thì có ba bài ông sử dụng cụm từ BÓNG TÀ HUY, TÀ HUY, TÀ HUY BAY cụm từ này độc nhất chỉ có thi sỹ Bùi Giáng sử dụng trước đây. Tôi tin một cách chắc chắn rằng ông Nguyễn Lạc không biết nghĩa của cụm từ BÓNG TÀ HUY BAY, ông thấy lạ thì ông ăn cắp thôi ạ. Còn vào trang ông ấy đọc những cái gọi là thơ của ông ấy thì càng chứng minh ông rất ngô nghê và thơ thuộc loại thiểu năng trí tuệ khi ông đưa ra từ PHƯƠNG ĐOÀI rồi ông chú thích “Phương đoài là phương tây, nhìn từ nước Mỹ”. Nghe cứ cười đến vỡ bụng mất thôi”. – Lời ca Nguyễn Xuân Dương

Tôi sẽ vận dụng cái đầu “thuộc loại thiểu năng trí tu” để xét cụm chữ Tà huy và chữ Đoài mà ông Nguyễn Xuân Dương đã chê tôi “không biết nghĩa” xem sao.

  1. Tà huy

Tà huy: The setting sun, sun set, sun đown – Tiếng Anh

Xin ghi lại lời “vàng ngọc” của ông Nguyễn Xuân Dương :

“Tôi tin một cách chắc chắn rằng ông Nguyễn Lạc không biết nghĩa của cụm từ BÓNG TÀ HUY BAY, ông thấy lạ thì ông ăn cắp thôi ạ” – Lời NXD

Tôi sẽ phân tích cụm chữ “Tà Huy” để trả lời đến các “nhà thông thái” Nguyễn Xuân Dương và Đỗ Anh Tuyến:

  1. Kết hợp Tà huy có thể hiểu trên cơ sở lắp ghép nghĩa của các thành tố tạo nên nó:

Tà huy do ghép 2 chữ: Tà và Huy

-Tà 斜 : lệch, vẹo, nghiêng, xiên, chéo, dốc

– Huy 暉 :Ánh sáng (mặt trời), nắng, ánh nắng

Nghĩa của  cả kết hợp Tà huy giống như Tà dương

– Ánh mặt trời chiều ngả về tây -Từ điển trích dẫn

– Ánh nắng nghiêng của buổi chiều.- Từ điển Nguyễn Quốc Hùng

  1. Tà dương

Dương 昜 :

– mặt trời

– dương: Trong âm dương – Lưỡng nghi (NL)

Tà dương là mặt trời xế về tây – Từ điển Nguyễn Quốc Hùng

  1. Về “Bóng tà huy bay”

– Tà huy, ánh sáng mặt trời chiều rọi vào cây cối, nhà cửa, núi đồi vân vân… tạo ra những bóng nghiêng. Do mặt trời chiều từ từ lặn, các bóng từ từ nghiêng thêm, nếu có thế nói là chạy dần trên mặt đất; làm sao gọi là bay được mà viết là “bóng tà huy bay”? Viết “Bóng tà huy nghiêng” thì có thể chấp thuận được.

Hai ông nói:”chắc chắn rằng ông Nguyễn Lạc không biết nghĩa” vậy nhờ giải thích giùm làm sao “bóng tà huy” BAY? Tôi đang “đứng dựa cột” cờ nghe “lời vàng ngọc” đây.

– Xin được thưa thêm, nếu câu thơ được viết như thế này thì “đắc địa”:  “Áo tà huy bay”:

Áo em màu nắng chiều đang bay không đẹp sao?

  1. Tà huy, tà dương cũng gợi ý đến tuổi cuối đời, tuổi xế chiều …
  2. Đoài

Xin ghi lại “lời vàng ngọc” của ông Dương:

“Còn vào trang ông ấy đọc những cái gọi là thơ của ông ấy thì càng chứng minh ông rất ngô nghê và thơ thuộc loại thiểu năng trí tuệ khi ông đưa ra từ PHƯƠNG ĐOÀI rồi ông chú thích “Phương đoài là phương tây, nhìn từ nước Mỹ”. Nghe cứ cười đến vỡ bụng mất thôi”. Nguyễn Xuân Dương

Tôi đã hỏi hai ông tại sao “cười đến vỡ bụng”? Sai chổ nào xin giải thích? Tôi xin “rửa tai chờ “lời vàng tiếng ngọc” của các ông, nhưng không thấy các ông trả lời. Thôi thằng tôi ” thiểu năng trí tuệ” này phải tự giải thích xem sao:

– Tại sao phương Tây gọi là phương ĐOÀI? Vì trong Hậu Thiên Bát Quái của Dịch: Quẻ Đoài nằm ở hướng Tây, ngược với nó là quẻ Chấn nằm ớ hướng Đông. Chính vì điều này người ta mới gọi phương/ hướng Tây là phương/ hướng Đoài.

– Khi tôi chú thích 2 chữ PHƯƠNG ĐOÀI trong bài thơ, trên tay tôi có quả cầu vẽ hình thế giới: Mỹ tôi đang sống cách VN qua biển Thái Bình Dương- Pacific Ocean, VN gọi là Biển Đông; VN ở phuơng tây, phương mặt trời lặn nếu nhìn từ Mỹ.

– Do những điều nhận xét trên, tôi mới chú thích:

“Phương đoài (Phương tây): Danh từ địa lý và ước lệ: nói lên sự thương nhớ, hoài niệm nhớ về. VN ở phuơng tây nhìn từ Mỹ” (Bài thơ Góc quê hương sau nhà)

Sao? lời giải thích của kẻ “thô thiển trí tuệ” này ra sao? Xin lãnh giáo.

— Xin ghi thêm:

-Trong các câu thơ của tôi, Đoài ngoài nghì̃a địa lý là phương hướng tây; nó còn hàm ý là phương thương nhớ, vùng ký ức… và còn là cõi về của người : “về cõi Tây phương” = chết.

– Đoài cũng có nghĩa đoài đoạn – “thương nhớ đoài đoạn”:

Tôi nhớ xứ Đoài mây trắng lắm

(Đôi mắt người Sơn Tây – Quang Dũng)

Nên nhớ người xưa có câu “… dựa cột mà nghe”, chắc tôi không cần viết trọn câu?

LỜI KẾT

– Thơ phải tự nhiên như hơi thở. Đừng cố tìm những từ thật kêu, những cấu trúc thật lạ nhưng không chút cảm xúc, trống rỗng, vô hồn. Thơ bật ra từ cảm xúc, từ tâm thức chứ không phải từ cái đầu, từ lý trí.

– Đừng nên “mượn” người trước, người khác những chữ mà mình không hiểu rõ nghĩa , không biết cách sử dụng; cố tình gán ghép càn vào thơ mình để “tạo dáng”, mà không biết rằng câu thơ có khi trở thành sáo rỗng, vô nghĩa.

Nguyên Lạc

………………

[*] Vài Ý Về Chữ Dùng  Trong Thơ- Nguyên Lạc

http://phudoanlagi.blogspot.com/2019/11/vai-y-ve-chu-dung-trong-tho-1-nguyen-lac.html

[**]. Đây là lời trong Email của nhóm “Đại Bàng”:

[ … Chú Bùi Mạnh Hiệp còm dưới bài “Nguyên Lạc và những chày cối”:

“Mình nghĩ thế này Xuyến ạ: Thắng thua làm gì… Nếu là đại bàng thì dù giông bão đại bàng vẫn cất cánh bay- nhưng nếu là con sâu con kiến… có châm nọc đốt người…. mãi mãi vẫn chỉ là loài sâu loài kiến. Để thời gian quý báu mà chăm con, sáng tác thơ văn chia sẻ với bạn bè, chấp gì loại sâu kiến làm mình cũng nhỏ đi.”

Anh thấy chí lí đấy Tuyến ạ.

Việt Kháng

From:thanh tuan<datinh_1974@yahoo.com>

Date: Wed, Nov 20, 2019 at 9:24 AM… ]

Thơ hoàng xuân sơn

strawberry

mùi

a ha ha lụa lềnh
khởi nguyên bằng thứ tự
dán mũi xuống chăn mền
đời vân vi nồng ấm
con chuột chù qua sông
liễu đung đưa bàn hạ
khói dộc dộc đen tuyền
phởn phơ trên đầu sóng
tô hô nước rỉ nguồn
chân dung nhà máy lọc
vẽ than chì xuyên không
bàn chân đi khập khiễng
qua xóm dợm cỏ hồng
nghi trang nằm búi tóc
buổi chiều môi thậm thượt
ngón tay nhón mũi về
cái cười rung khêu khỏa
tùm hụp một con đê
nắng lăn ra nằm vạ
hương nhưng nhức hội tề
10 juin 2019

dâu. và màu tóc khác

những rễ cây ngoằn ngoèo trên đất
bám lấy một thỏi son hồng
đôi môi đánh rớt từ thế kỷ trước
màu tóc hung
biến đổi khí hậu xanh đỏ tím vàng
quyển trời nặng thêm sắc xám
không phải tư duy người
chất thải của một bãi thần quyền formosa nào đó
huyền hồ mửa kim loại xuống biển
lũ người hung tợn chẻ đôi con cầu gai
nhét quả dâu đỏ vào giữa
và bảo mùa này rong tảo trúng thực
tôi không tin lời em nói
khi chiếc bluejean cấu nhiều lỗ thủng
bệnh phô trương bần cùng
và những hình xăm biết đi
quả dâu và màu tóc
lần hồi trộn lẫn
dưới đáy cặn hồ bơi

24 juillet 2019

CÀ-PHÊ ĐÊM

vango
CÀ-PHÊ ĐÊM
.
Sâu góc quán đêm ly cà phê đắng
Từng giọt trầm rơi buồn đọng trên môi
Nhạc khúc Tình sầu* người rồi xa vắng
Giọt đắng tiếng đời cô lữ đêm trôi!
.
Nguyên Lạc
…………….
* Tình sầu (The sorrow of love) – nhạc Trịnh Công Sơn

em Hội An

khê kinh kha

 

anh đến đây khách lạ phố buồn
chiều xuống chậm biển lắm mù sương
phố vào thu lá thay aó mới
không có em phố vắng tình nhân

thành phố lạ nên anh buồn qua’
không có em phố chẳng hẹn hò
mưa ướt lạnh anh co ro nhớ
nhớ tóc em rủ một vần thơ

không có em phố bước một mình
trong quán nhỏ anh gọi tên em
rượu không say mà hồn chới với
không có em buồn hết Hội An

phố Hội An mái tóc còn dài
phố âm thầm em Hội An ơi
chiều thênh thang anh buồn muốn khóc
nhớ môi hồng chưa dám hôn tôi

mai anh về quê anh xa lắm
phố có buồn, nhìn cánh mây trôi
em cuối đầu, tóc buông thương nhớ
không có em phố khóc thật rồi

khê kinh kha
 HoiAn-2009

ĐỌC “TIỀN KIẾP”

Thư viện của bài

This gallery contains 2 photos.

ĐỌC “TIỀN KIẾP” CỦA  NGUYÊN BÌNH
-TẬP THƠ NGÀN NĂM BÂNG KHUÂNG

                              Châu Thạch

 “Tiền Kiếp” là tập thơ của nhà thơ Nguyên Bình vừa xuất bản. Nguyên Bình  còn là một nhà bình thơ, một nhà giáo, cư trú tại Bà Rịa- Vũng  Tàu.

 Vì sao tôi gọi “Tiền Kiếp” cúa nhà thơ Nguyên Bình  là tập thơ ngàn năm bâng khuâng? Thật vậy, ta hãy đọc khổ thơ đầu cúa bài thơ “Tiền Kiếp” đươc đăng ở trang 51 thì sẽ có khái niệm về tập thơ nầy:

                      Nợ em cái nhìn từ tiền kiếp
                     Tôi đã vay về một sáng xuân
                     Nghìn năm thương nhớ chưa trả hết
                     Nay còn vương lại chút bâng khuâng

 Bâng khuâng là gì? Là sự buồn nhớ lâng lâng, là những cảm xúc luyến tiếc, nhớ thương xen lẫn nhau, gây nên trạng thái tâm hồn ngơ ngẩn, ngẩn ngơ.

 Đúng vậy, tập thơ “Tiền Kiếp” của nhà thơ Nguyên Bình là một tập thơ tình, ông sáng tác bởi những cuộc tình mà ông đã tương tư, ngẩn ngơ từ bao kiếp trước, những cuộc tình ông đã vay nhưng định mệnh còn chưa cho ông trả.

Có lẽ, vì Nguyên Bình  không uống chén canh Mạnh Bà khi qua cầu Nại Hà từ muôn kiếp trước, nên nhà thơ vẫn nhớ cả những cuộc tình trong tiền kiếp của nhà thơ.

 Thế nhưng vì thơi gian lâu quá, ký ức phai mờ, cái nhớ chỉ còn vương lại chút bâng khuâng khi tưởng đến hình ảnh những ai trong quá khứ còn biền biệt xa nhau, hay những ai có duyên lành gặp nhau ở  hiện tại nhưng trong mơ hồ chỉ biết đã từng có nhau từ tiền kiếp  mà thôi. Tiếp tục đọc

MƯỜI NĂM ĐẾM TRÁI ĐỜI

Nguyên Lạc

1minh

Ta ngồi đếm trái mù u
Đếm luôn thương nhớ xuân thu rụng buồn
Người rồi đã bỏ quê hương
10 năm hơi hướm còn vương đến giờ
.
10 năm ta vẫn đợi chờ
10 năm chắc đủ phôi pha tình người?
10 năm ta vẫn mồ côi
Ta ngồi ta đếm trái đời mù u
.
Đếm luôn tóc điểm sương mù
Tình ta người có đền bù đặng không?
Rạch buồn ngày vẫn ngóng trông
Lặng lờ lên xuống tím bông lục bình
.
10 năm người vẫn bặt tin
10 năm vò võ một mình ta mong
Mù u rụng trái bên sông
10 năm ta đếm đếm luôn tuổi sầu
.
10 năm chắc cũng đủ lâu
Để người quên mất tình nhau một thời?
10 năm đủ héo một đời
10 năm ta dõi bóng người chim bay
.
10 năm vẵn mối tình hoài
Trăn năm chắc vẫn … Dù ai bạc tình!
.
Nguyên Lạc

G I Â Y    P H Ú T

Hoàng Xuân Sơn

hong kong
Em bình thản đưa tay cho chúng trói
Khác gì đâu bọn khuyển ưng
Nơi nào cũng thế
Cũng đầu lâu ngạ quỷ
Mặt nạ đen
Vòi rồng xối máu
Đêm nay chúng có thể trói em
Bẻ quặt tay em
Chúng có thể hành hung các bạn em
Bằng hơi cay gậy gộc
Chúng có thể cào nát hiện trường
Nhưng không thể nào dập tắt được ngọn lửa đấu tranh
Không thể nào chúng trói hết
Tự hào tuổi trẻ
Và niềm khát bỏng tự do
Hoàng Xuân Sơn
Tối 17 tháng mười một, 2019

GỌI ĐÊM TRỞ GIÓ

Thư viện của bài

This gallery contains 1 photo.

Đặng Xuân Xuyến
Vài cảm nhận khi đọc:
GỌI ĐÊM TRỞ GIÓ
của BÙI CỬU TRƯỜNG
*

GỌI ĐÊM TRỞ GIÓ 

 Gió sao không lùa mé Tây
– cái phía nhà em không cửa.
mà cứ lọn dai, lọn dài buốt giá
len qua kính mà run! 

Ở đâu, ơi ngàn thương? 
Đi đâu, ơi vạn nhớ?

Nẻo về tàn lá cỏ
Lối sang mờ màn mưa…
 
Gió bấc căm căm rét cóng cơn mơ
thốc ngược gối gường trống vắng.

 Đông mình em / cây đường lập cập.
Đông mình em / sương muối buốt khuya

Trở gió. Rét về
Sao Người không về lại? 

 Gầm gào gió cơn man dại
hù doạ đêm mồ côi.

Trở gió 24/11/2016
BÙI CỬU TRƯỜNG
(Bút danh khác: Hạt Cát Diệu Sinh)

LỜI BÌNH:

Tôi thích “Gọi đêm trở gió” của nhà thơ, bác sĩ Bùi Cửu Trường vì bài thơ được viết như trải lòng, rất thật mà câu chữ lại sáng, đẹp, thanh thoát. Đọc đi đọc lại, tôi càng thích bài thơ hơn. Và dù đã rất buồn ngủ, tôi cũng cố ngồi viết vài cảm nhận về bài thơ hay, nhưng buồn mà đẹp này.

Ấn tượng níu giữ tôi đầu tiên là câu:

Nẻo về tàn lá cỏ

Lối sang mờ màn mưa…

Câu thơ thật hay, đẹp. Và cả lạ nữa.

Tôi chưa được gặp cách diễn tả nỗi đau xa cách nào bằng hình ảnh: “Nẻo về tàn lá cỏ / Lối sang mờ màn mưa…”, hay và lạ vì bảng lảng nét liêu trai như thế. Có thể là vì tôi ít đọc Tiếp tục đọc

ANH TỪNG YÊU

 ANH TỪNG YÊU NGƯỜI ĐÀN BÀ VÙNG SÔNG NƯỚC

hinh-anh-tinh-yeu-4

Mối tình cũ vết thương chưa kín miệng

Tình mới vụt về, hàn lại trái tim anh
Ôi ! Người đàn bà, anh sớm yêu thương
Em hiền lành, mộng mơ như trang cổ tích.
 
Em nói quê em cũng ở vùng sông nước
Lại là quê người tình cũ ! Anh đau…
Hai người đàn bà, một trái tim yêu
Tỏa xuống anh, hai vầng trăng lung linh, tha thiết
 
Lòng những muốn mang theo em hạnh phúc
Sống vĩnh hằng trong thế giới thơ anh
Mai ngày như các ánh sao băng
Tình yêu em sáng ngời cùng non nước.
 
Cưng ơi ! Đường Hà Nội về quê em, xa nửa trời tổ quốc
Nhưng trái tim này luôn ở bên em
Bao buổi em lên lớp cho học sinh, anh vẫn ngóng nhìn
Cái giọng nhỏ êm êm ? Sao nghe mà thương lạ !
 
Đi giữa phố phường, người đông ồn ã
Hồn buông trôi theo áng mây bay
Về tít tận chân trời, nơi có bóng em tôi
Mình trở lại thời xuân xanh ? Em nhỉ !
 
Em từng nói: ” Tình yêu, thế giới đầy huyền bí “…
Như anh và em, bình dị đến yêu nhau
Chẳng thể nào định nghĩa được đâu ?
Chỉ biết anh đã yêu ! Và em là tất cả…
 
Hỡi con Sông Tiền ! Ngày ngày em qua đò ở đó
Có chở cả khối tình, anh đã trao không !?
 
          1.6.2019
   PHẠM NGỌC THÁI

NHỮNG BÀI TỨ TUYỆT

Nguyên Lạc  

tranh thieu nu

1. TRẦM TƯ ĐÊM BÊN SÔNG
.
Tóc rồi sương điểm theo năm tháng
Sắc cùng tàn phai theo tuổi đời
Ai xui trăng rụng trên dòng lắng
Một kiếp người thôi thế nhân ơi!2. NGÀY CŨ

Biết tìm đâu quê hương ngày cũ
Thời đã qua con nước xa nguồn
Khóc sương điểm tóc đời cô lữ
Nỗi tàn phai lạnh buốt hư không!

3. HƯ KHÔNG
.
Trăm năm dâu bể điêu tàn
Ngàn năm mây trắng trên ngàn vẫn bay
Chuông chiều tám sải gọi ai?
Giật mình lữ thứ thở dài hư không!


4. ĐÊM ĐỢI CHỜ
Chong đêm đầy mắt đợi người
Đôi tay ta dụi kẻo rồi mờ sương
Thấy chi? Tích tắc đêm trường
Quỳnh hương nở đóa còn vương đến giờ!

.
Nguyên Lạc  

VỀ NGÔN NGỮ TRONG THI CA

Thư viện của bài

TRAO ĐỔI VỚI NHÀ THƠ NGUYỄN VƯỢNG
VỀ NGÔN NGỮ TRONG THI CA
*

Mỗi nhà thơ thường có một trường ngôn ngữ cho thế giới thi ca của mình. Nếu ta cứ muốn đi đến tận cùng của nó thì quả là một điều không tưởng vì ngôn ngữ trong thi ca thường rất phi lí vì thế ta cứ phải gắng tìm cách tiếp cận để thấu hiểu và đôi khi phải mặc nhiên công nhận nó.

Tôi xin lấy ví dụ trong bài VỘI VÀNG nhà thơ Xuân Diệu đã viết:

“Tôi muốn tắt nắng đi
Cho màu đừng nhạt mất
Tôi muốn buộc gió lại
Cho hương đừng bay đi”

Nếu cứ chất vấn đến tận cùng thì xin hỏi nhà thơ Nguyễn Vượng có ai tắt được nắng và có ai buộc được gió không. Đó là điều không thể vì đó chỉ là khát vọng của thi nhân không muốn vạn vật trôi đi bởi vì thời gian của đời người là hữu hạn.

Nhà thơ Nguyễn Vượng có thắc mắc hai từ THẦM THĨ tôi đã dùng trong bài bình luận cho bài thơ HƯƠNG QUÊ của nhà thơ Đặng Xuân Xuyến.

HƯƠNG QUÊ
 
Hương cốm nhà bên duyềnh sang nhà hàng xóm
Cô bé thậm thò vắt ngang dải yếm
Níu bờ sông
Ơi ời “ra ngõ mà trông”
Vi vút gió đồng… Tiếp tục đọc

cỏ rối

Khê Kinh Kha

Đã biết bao lần ngồi đây để nhớ thương. Nhớ một con đường, nhớ một dòng sông, nhớ một dĩ vãng, hay nhớ đời mình, đời quanh co trong trí nhớ hoang vu. Ai đã đến như mây trời nhẹ theo gió thoảng, như mái tóc bồng xõa ngang vai, rủ áo tình giữa vũng hồn tôi, một vũng hồn bao la, đợi từng giọt tình nồng người mang đến, hương người ngất ngây vây phủ quanh đời, ngón tay dài thoa dịu nỗi thương đau. Da thịt nào một lần cháy bừng trong vụng dại. Em cuối xuống tóc dài nghiêng nhánh liễu, cho đời thêm nỗi nhớ bay xa. Làm sao níu kéo được tháng ngày qua.

Ta còn lại đây vài dấu vết hằn trên thảm cỏ vàng ký ức, mộng đời lướt thướt đi những bước chân ngại ngùng, qua thảm cỏ rối của trí nhớ xa xôi hoang vắng.

Những dấu vết giờ đã héo khô như những héo khô tàn úa của vùng hạnh phúc thuở nào, mộng mơ và ướt át. Em tuổi mộng cho nhau từng giọt  mật, xoáy động con tim. Mắt em là ngưỡng cửa đời, tôi đã bước vào, lạc lối, đi tìm bình mình rực nỗi sống. Bờ môi đã nhiều lần ướt dầm dưới cơn mưa, đã nhiều lần tôi nâng niu trìu mến trong vòng ôm không dứt, những nụ hôn dài hơn hơi thở, đã trôi đi những khát vọng âm
thầm. Bình minh rạn vỡ, sáng lòa trong đáy rượu men đời. Em đã chôn tôi vào vực đam mê tình ái với bao tiếng thở dài.

Tôi lặn hụp trong hơi thở cuộc đời. Đã muộn màng trên bước chân số kiếp. Hôn nồng nàn những ơn sủng em trao. Mai cũng như cỏ rối, phất phơ trong gió, nhàu nát dưới bước chân năm tháng, đời người.

Tương Tư Ở Lại

Tương Tư Ở Lại

Nhạc và Lời Khê Kinh Kha
Casi Quỳnh Lan Trình Bày
Video: 1NgayBinhAn

ai đi
để lại vầng trăng
để tôi ngơ ngác bên giòng sông xưa
như mùa thu
lá vàng khô
như lòng người mãi
hoang vu giữa đời


ai đi
để lại nụ cười
hư vô ở lại
gió trời cuốn bay


như sương
lạnh giữa đôi tay
như hoàng hôn xuống
tháng ngày nhạt phai
như đêm
ở lại trong ai
em đi
để lại ngậm ngùi
trong tôi


ai đi
để lại đời tôi
một con đường vắng
núi đồi cô liêu
bao nhiêu
lòng phố buồn thiu
hoang vu ở lại
hắt hiu nỗi lòng

ai đi
để lại cuộc tình
tương tư ở lại
muộn phiền ở riêng
trăm năm
về giữa lênh đênh
em đi
để lại con tim
tội tình

Và tôi như ngọn cỏ bên đường
em bước sang
không vương vấn
không chờ mong
không nhớ thương….


khê kinh kha

CẮN ĐI NỖI NHỚ

Nguyên Lạc

ao dai dai

Em ơi cắn hộ anh buồn
Cắn luôn anh trái tim mòn tả tơi
” *

Cắn hồn phố lạ mưa rơi
Cắn anh nỗi nhớ một thời đã xa
.
Cắn anh tha thướt lụa là
Cắn anh gác trọ thật thà hiến dâng
Cắn bàn tay cắn gót chân
Cắn luôn vuông cổ xuống lần ngực thơm
.
Cắn anh  hồn điếng trăm năm
Làm sao quên được thân trầm mê hương?
Mai về tìm lại cố nhân
Nơi đâu? Có chắc còn “hiền ma soeur“? **

Mưa chiều cắn nỗi hoài mơ
Cắn anh Đà Lạt sương mờ thông reo
Cắn anh ly biệt ngày nào
Dã quỳ không nở đúng mùa em ơi!
.
Nỗi buồn còn cắn nữa thôi?
Cắn đi Đà Lạt một thời yêu ai!
……….
Thơ Trần Vấn Lệ
** Thơ Nguyền Tất Nhiên/ nhạc Phạm Duy
.

Nguyên Lạc

­­­SAO ĐÊM

Nhật Quang

stars

 

Dỗ dành giấc mộng…
đêm xanh
Sương rơi đọng lá long lanh giọt trầm
Không gian lắng tĩnh thanh âm
Sao đêm mơ ảo…
lặng thầm mênh mông

Hồn chơi vơi
giữa thinh không
Cà phê giọt ấm, giọt nồng dấu môi
Bâng khuâng
ký ức bồi hồi…
Chạm hương làn tóc gió rời rã buông

Xanh xao năm ngón tay suông
Vuốt ve cảm xúc…
thoáng buồn xa xăm
Chơ vơ hiên lạnh giọt trăng
Khép đêm
mắt trắng hút thăm thẳm sầu

Đèn vàng phố vắng canh thâu
Sao đêm rơi chạm một màu hư vô.

Nhật Quang

Hồn Xưa Năm Cũ

hoa nguyên

1sg222
Trở lại SG hồn chưa nguôi
Đường phố đi qua tắt nụ cười
Trên tờ khai sinh còn nguyên bản
Mình mất nhau từ độ đôi mươi

Con phố xưa vàng trong héo hắt
Hàng cây xanh ruột thắt phù hoa
Từ những bình minh thời son sắt
Còn ai trang điểm buổi ngọc ngà

Có ai biết ai đừng hỏi trẻ
Những góc đường đùa vui thuở nhỏ
Bất chợt mưa chợt nắng ai ngờ
Thành giông tố chuỗi ngày lầm lỡ

Nắng SG đi đi tìm mát..!
Bởi mơ hồ áo lụa Hà Đông
Lụa Nguyên Sa áo màu vuột mất
Tìm tháng ngày đã cũ như không

SG hôm qua không còn nữa
Lạ mặt người thất tán bạn xưa
Ngôi nhà cũ con đường ở đó
Ta lạc loài như kẻ tha phương

Trở lại lỡ làng Thủ Đô ơi !
Nghe ta hoang phế kiếp lưu đài
Đã thấy điêu linh từng chỗ.. cũ
Đã đời dã thú tập cuồng quay

Thôi giã biệt nhau thời thịnh đế
Công Lý Trương Minh Giảng Yên Đổ..
Ta về nơi ta ở tha phương
Mồ hôi đất cày lên thực..đạo..

Ta hoang vu từ độ
Trái tim đời trổ những thương đau
Về đâu đây cương thổ
Những hồn xưa cũ đã..về đâu !

hoa nguyên.

Tình Muôn Thuở

Thư viện của bài

This gallery contains 2 photos.

Lời Bình: Châu Thạch

ĐỌC HAI BÀI  THƠ HAY  VỀ “CANH MẠNH BÀ”
CỦA LANG TRƯƠNG VÀ VUA ĂN MÀY
   “Mạnh Bà là một nhân vật của nhiều truyền thuyết Á Đông gồm Trung Quốc, Nhật Bản, Việt Nam… Mạnh Bà là người chế tạo Chén Canh Mạnh Bà ở dưới Địa Phủ giúp các vong hồn quên hết mọi chuyện kiếp trước, trước khi đầu thai kiếp sau.

 Người ta nói rằng, sau khi con người chết đi, linh hồn sẽ phải đi qua một con đường gọi là Hoàng Tuyền lộ. Cuối đường có dòng sông Vong Xuyên, nước chảy không ngừng. Bắc ngang qua sông là cầu Nại Hà, đi hết cây cầu này sẽ đến Vọng Hương Đài. Những linh hồn được đầu thai làm người đều phải qua Vọng Hương Đài này, rồi uống bát canh quên lãng của một bà lão tên là Mạnh Bà.

 Bất cứ ai uống bát canh Mạnh Bà ấy thì mọi chuyện trong quá khứ đều trôi theo dòng nước Vong Xuyên mà chìm vào quên lãng. Những hỷ nộ ai lạc, những ân oán tình thù, hết thảy đều tan đi như làn khói, chỉ còn lại ký ức trống rỗng cùng một gương mặt yên bình.

 Tuy nhiên, trên thế giới có rất nhiều trường hợp, có lẽ vì không uống bát canh Mạnh Bà này, nên đã nhớ được hết thảy những chuyện của đời trước, và những câu chuyện được kể lại hết sức chân thực, khiến người ta không thể không hoài nghi rằng, luân hồi chuyển thế phải chăng là chuyện chân thực.” Tiếp tục đọc

PHẬT CHÚA CŨNG KHÓC

Nguyên Lạc

Tưởng niệm 39 “thùng nhân” chết cóng tại London
.
39 người đông cứng trong container
Trái tim nhân loại phải sững sờ
Xứ sở “thiên đường” sao chối bỏ?
Ngôn từ ngụy trá đã rõ chưa?
.
Phật và Chúa ngày nay lệ đổ
Nỗi trầm luân nghiệp chướng dân mình
Bao oan khiên đành phải lặng thinh
Câu cứu khổ xin dành đời khác
.
Ôi Việt Nam sao quá nhiều điều ác
Những nhân danh “hạnh phúc con người”
Họ ngụy trang lừa gạt dân tôi
Đưa con đỏ đến tận cùng nỗi khổ.
.
Phật và Chúa ngày nay lệ đổ
Chùa nhà thờ nhiều kẻ giật giành
Bọn buôn thần bán thánh cạnh tranh
Kinh cứu khổ tìm đâu người hỡi?!
.
Nguyên Lạc

Tiếng Rên Của Một Người Rơm

ianbui

  • tưởng niệm 39 nạn nhân trên chiếc xe công tử thần tại Anh Quốc

 

Mẹ ơi có nghe
Nghe tiếng con đang kêu cầu
Xin hãy tha thứ cho đời con
Những lỗi lầm—
Những lỗi lầm khiến mẹ buồn đau.

Mẹ ơi thấu cho
Con chết bởi không thở được
Ôi, tấm thân trắng trong ngày nao
Đã chết mòn—
Đã hết còn vết thương rỉ máu.

Quên cho con đi.
Quên cho con đi—
Đứa con của tình yêu mẹ với bố,
Đừng nhớ đến số phận
Người con gái
Chết trong chiếc công quan tài.

Quên cho con đi.
Quên cho con đi—
Đứa con của ngày xưa mẹ với bố,
Đừng nhớ đến số phận
Người vừa thoát thai
Trong chiếc công quan tài.

ianbui
01.11-2019

dựa theo “Dido’s Lament” của Henry Purcell (1659-1695) và “text messenger” của Phạm thị Trà My (1993-2019)

When I am Laid in Earth

  • from “Dido and Aeneas”

When I am laid in earth
May my wrongs create
No trouble in thy breast
Remember me, but
Ah… forget my fate!

Henry Purcell

TẮM NẮNG MÙA ĐÔNG

Võ Công Liêm

00tim2
tình yêu rất tình cờ
của mưa nắng hai mùa
em . thả tóc
tôi . say mèm
giữa mùa tuyết trắng bên hàng dậu
trong cùng một khoang xe về xứ nọ
những đốm lửa nhá nhem cháy hoài như hấp hối
thành phố bỏ lại hoang đường dị nghị ở tầng cao
trong mắt biếc tóc là mây và môi hồng trái chín
tình yêu rất tình cờ
trên luống cày bỏ hoang đầy dấu vết lạ mùa đông
nằm nghe trăn trối thở trong khoảnh khắc hoang vu
hoàng hôn xuống dần sau lần cửa khép . bóng đã xế tà
nghe như hơi thở tợ nhung mềm . đêm siết chặt vòng tay
biển gọi thầm tên cho đở nhớ . mùa hạ trắng sang ngang
em . một thời nhốt gió theo mây
tôi . hoang đường giữa trời sa mạc
trên mảng đời lố nhố lăng nhăng
chuộc em về làm tôi mọi với trăng sao
cho thấy đời ngút ngàn mưa gió đợi
tôi đưa em vào bốn cửa thành . đóng kín
trên tầng tháp cổ vọng tiếng khua đêm . thoát y
cho gió ngột thở cho nắng đã đời cho mây phủ dụ
tôi và em chăn gối dưới thời ma trơi qủy ám
tắm nắng mùa đông
phơi trần nhân thế
một kiếp vong quốc
giữa chốn non đoài ./.
VÕ CÔNG LIÊM (ca.ab.yyc 31/10/2019)

TÌNH TỰ

Thư viện của bài

This gallery contains 1 photo.

Châu Thạch cảm nhận
ĐỌC “TÌNH TỰ’” THƠ CỦA TIM TÍM:
  TÂM HỒN NHẬP VÀO CÕI THU VÔ BIÊN
TÌNH TỰ

Thơ Tim Tím

Mùa thu ướp hương hoa nồng lên tóc
Tóc thơm tho vừa đắm giấc say mê
Dòng tóc chảy như dòng thơ tình tự
Vừa cho ai vùi cơn mộng , quên về

 Mùa thu đọng trên môi trầm ngực biếc
Giọt tương tư ngan ngát đóa hoa yêu
Ta chìm xuống trên sương trời áo lụa
Màu trăng trong và ta cũng tan theo

 Tan , tan mãi , tan về nơi vô tận
Bao đam mê trôi trên mắt môi đầy
Ôi như thể ta không còn nhịp thở
Trăng vàng thu đang lóng lánh tan bay

 Ta nghe thấy trên da mùi hương cỏ
Mùi tường vi ngây ngất cánh nghiêng rơi
Ta trôi mãi cuốn sâu vào thăm thẳm
Bùa tình thiêng huyền hoặc giữa tay người

 Ta sẽ trãi trên da mềm óng ả
Màu sương trăng thành áo lụa thênh thang
Muôn tinh tú reo trên bờ môi ngọt
Mi mềm run hồn níu gọi thiên đàng

 Trăng trong trẻo , trăng nghe lời tình tự
Đất run run đất xao xuyến chuyển mình
Từ tiền kiếp xa xăm quay về lại
Giấc tình mơ thương cảm đến rưng rưng

31/8/2019

Bình ngắn; Châu Thạch

 Một hôm ngồi uống cà phê với nhà văn Nguyễn Khắc Phước, Phước nói với tôi: Thơ của Tim Tím, một nữ tác giả trên facebook thật hay. Tôi liền mở facebook đọc thử vài bài, thấy hay tôi xin kết bạn. Về nhà đọc lại nhiều lần thơ của tác giả nầy, bài thơ “Tình Tự” của Tím Tím đã đã gây cho “con ma” trong lòng tôi cảm xúc, và nó bắt tôi phải viết.

 
Trước hết ta hãy đọc khổ thơ đầu của bài thơ ‘Tình Tự”

 Mùa thu ướp hương hoa nồng lên tóc
Tóc thơm tho vừa đắm giấc say mê
Dòng tóc chảy như dòng thơ tình tự
Vừa cho ai vùi cơn mộng , quên về

 Một cách tả mùa thu rất mới, không có gió heo may, không có trời se lạnh, không có lá vàng rơi mà có những thứ xưa nay ít nhà thơ nói đến, chưa dám viết là không có nhà thơ nào đề cập đến.

 Chỉ đọc bốn câu thơ đầu ta đã thấy mùa thu tràn hương trên người thiếu nữ và người thiếu nữ chính như là bức tranh mang chủ đề “muà thu và em”.  Một bức tranh như thế chỉ có thể thi nhân mới vẽ được bằng lời, họa sĩ cũng khó mà vẽ được. Tiếp tục đọc

tình xa

khê kinh kha

  • cho DP

AO DAI TRANG 4

đường em về chiều nay mưa có lạnh
mái tóc dài có đẫm ướt không em
gió lạnh lùng có quàng đôi vai nhỏ
em có thầm nuốt lệ vì nhớ anh?

lá mùa thu có rơi đầy trên lối
cỏ có còn quấn quýt gót chân em?
bàn tay thon ai cầm cho đỡ lạnh
bờ môi ngoan ai ủ nụ hôn mềm?

tà áo bay hay mây trời lãng đãng
phố mưa  buồn hay nước mắt em tuôn?
bước chân nhỏ em về trong chiều vắng
hồn cô đơn chắc cóng lạnh vô cùng ?

tóc em bay hay mây trời xuống thấp
cho nỗi buồn từng sợi rối trên vai
ôi tình mình sao muôn ngàn cách trở
nụ hôn nào em dành riêng cho tôi

trời nơi em nắng có đầy trong mắt
trời nơi anh hiu quạnh bóng trăng gầy
tình nơi em chắc mõi mòn thương nhớ ?
tình nơi anh chua xót giữa môi cười

hãy cố nhé, em yêu hãy cố nhé
vì nơi anh mộng ước vẫn đầy hồn
xa cách này có làm em sầu khổ
có làm em khóc, có làm em hờn ?

em hỡi, anh yêu em trong từng giấc mộng
anh yêu em, yêu em đên ngàn năm
em hỡi, anh yêu em trong từng  hơi thở
anh yêu em, yêu em đến ngàn năm

khê kinh kha

CHỈ TẠI CHIỀU THU

Nguyên Lạc

chieu thu
.
Chỉ là một chiếc lá
Sao nỗi niềm trong ta?
Chỉ hanh làn gió thoảng
Sao mắt ta lại nhòa?
.
Chỉ là một chiếc lá
Dĩ nhiên … vì mùa qua
Chỉ là một nỗi nhớ
Cô lữ sao xót xa?
.
Chiếc lá nào héo úa?
Chiếc lá nào lìa xa?
Tiếng thu nào se sắt?
Mùa thu nào thiết tha?
.
Tình thu nào vệt khói?
Tan mờ xa mờ xa
Đời quay cuồng lốc xoáy
Quê hương rồi chỉ là!
.
Chỉ là một chiếc lá
Sao thấy cả mùa thu?
Chỉ sợi chiều rất mảnh
Sao thấy thiên thu sầu?
.

TIỄN NGƯỜI VIỄN XỨ

 VÕ CÔNG LIÊM

dtl2

‘Namo tassa bhagavato arahato sammà-sambuddhassa’ (Karma-suttra) *
gởi: phan hạnh tuyền

trăng bẻ ngang cành liễu
nằm úp mặt khóc thầm
lũ chim di tật nguyền
soi mặt đời xanh xao
chiều
tắt thở
trong vũng mê thoi thóp
nằm
mê sảng
trong tiếc nuối muộn màng
đêm
mò mẫm
trong cụm khói lang thang

như thật
một lần đã phôi pha
ngày
bỏ lại
khoảnh khắc bất ngờ đó
liệm
linh hồn
tha phương một kiếp người
quan tài đi qua vùng lá úa trải đường sương gió với hoàng hôn
những ngày tháng đợi hình như đã . trao tay bao lần bước ra đi
xin chuộc lại cuộc tình xưa cũ để mãi về trong bóng nguyệt dư
em . có nghe bông mười giờ trưa nắng chang chang đứng đợi
dưới cửa thành ngày ấy vẫn còn xuân . từ trong nội mới ban ra
tôi . thất thểu như con chó ốm nằm ru đời vọng tiếng bi ai
sầu nhân thế nghe qua từng nhịp thở . như đoái hoài . như than thở
cùng ai một kiếp tha hương nay gặp lại với đỉnh non cao ngày đó
để ngợi ca những lời thơ âu yếm của núi sông đoài vọng cổ cao
khất lại một ngày không xa lắm cho ta về thênh thang trời lộng gió
quan tài đi qua nghe từng bước âm thầm cho mưa gió rụng
qua thềm đêm trăng khép môi cười dưới vành trán vô ưu
cất trong tim bao nỗi nhớ quê nhà một lần gặp gỡ rồi chia xa
trong tiết điệu nghẹn ngào mưa mấy độ cho một hành trình
quê hương là người đó . cho em là tình nhân . suốt đời được gọi tên
cho đở nhớ một hà nội bỏ lại sau lưng . lê bước theo nhịp thở
với mộng trăng sao để thấy mình một bóng hư vô giữa cõi đời
quan tài đi qua dưới hàng cây khô của mùa thu tháng mười
không chiêng trống không vọng nguyệt không kinh cầu . thủy ơi

tôi . mơ tôi chết một ngày trên biển sóng
giữa tuyến đường trở lại với quê hương
những ngày xưa cũ nắng khép lên môi
cho bình minh dậy trong lòng phố thị
như thật . như mơ . với lời thơ đó ./.

VÕ CÔNG LIÊM (ca.ab.yyc. 8/10/2019)
*’Nam mô  đại thế chí  Bồ tát phật  ma-ha-tát ‘ (Phạn ngữ ‘Nghiệp-kinh’)

hoàng xuân sơn

chieu

đi tìm

những cái chóa đèn giống như chum đựng rượu
cánh đồng ngửa cổ
anh đi lên núi tìm mây bay
mưa về trảng thấp
thung lũng cong theo đường cong chiếc phễu chiết hồn
chắt lọc cơn mơ
bây giờ chẳng biết nơi nao gom lùa cái bóng
về một xó tường an vị thu phương

đường vòng xe cộ phản chiếu luân hồi
khi xưa mình đi tìm bộ lạc
bây giờ lạc lối tìm nhau
gia đình níu kéo khẩn cấp sợi dây chằng thân ái
còn một miếng nhau bỏ sót
từ tháng cắt da

con dấu

tôi léng phéng với giấc mơ
không hề có được một hậu cảnh đì đùng
đành làm tờ báo cũ
lăn lóc ở một góc xó nhà cầu
lâu lâu có người giở đọc
chữ nghĩa làm một cuộc thanh trừng
khi những chất thải ăn nằm khí hậu
đẩy lùi cơn chướng khí
mùa rậm rịt kinh niên

nội dung phiên bản chào mừng 300 năm trước
người thi sĩ gục đầu lên cảo thơm
ánh đèn lũ lượt rọi soi bệ trán thờ
phá tan cơn buồn ngủ
em nằm trong bó nôi
bên ngoài tập đoàn phô trương thơ lại
bộ cánh.  bút lông
và những con dấu cồm cộm nổi
hãy cho tôi chiếu khán
bỏ đi thật xa
miền nước lợ

 hoàng xuân sơn
Lễ Mẹ 12 tháng 5/ 2019

GIỚI THIỆU TẬP THƠ: BẠCH VÂN VÔ SỞ TRÚ

Thư viện của bài

This gallery contains 1 photo.

Nguyên Lạc
.

(Ảnh bìa tập thơ)

VÀI HÀNG TIỂU SỬ

Cảm ơn nữ sĩ Hạt Cát đã gởi tặng thi phẩm Bạch Vân Vô Sở Trú (Mây Trắng Thong Dong) như món quà quý.  Tập thơ in rất trang trọng và rất đẹp.
Xin được ghi ra đây vài hàng về tiểu sử của nữ sĩ:
Hạt Cát tên thật Trần Thị Bạch Vân, bút hiệu thường dùng: Hạt Cát, Lăng Già Nguyệt, Sa Sa, Lạp Sa … Cựu học sinh trường Trịnh Hoài Đức tỉnh Bình Dương, quê Lái Thiêu Việt Nam. Hiện đang sống ở Mỹ.
Tập thơ Bạch Vân Vô Sở Trú gồm 125 bài thơ chữ Hán đủ các thể loại, sau mỗi bài thơ chữ Hán, tác giả còn phiên âm ra Hán Việt và dịch ra thơ thuần Việt rất mượt mà. Về thơ chữ Hán, tác giả làm theo lối chữ phồn thể – Lối chữ hiện được dùng tại Đài Loan, Hồng Kông, Singapore và trong các tác phẩm cổ của văn học Việt Nam. Thi sĩ Hạt Cát cho biết là chị đã học chữ Hán từ gia đình, từ bạn bè. Chị học và yêu thích chữ Hán, rồi làm thơ dễ dàng như làm bằng tiếng mẹ đẻ – tiếng Việt

NHAN ĐỀ BẠCH VÂN  VÔ SỞ TRÚ

Trước khi giới thiệu vài bài thơ tiêu biểu của nữ sĩ Hạt Cát, tôi có vài ý  về nhan đề của thi tập

1. Được biết người cha là nhà Nho, thầy giáo; cụ dặt tên cho các người con gái đều bẳt đầu bằng chữ Mây (Vân). Gia đình có 4 người con gái: Bạch Vân, Thanh Vân, Hồng Vân và Huỳnh Vân.
Tên đặt ảnh hưởng đến cuộc đời riêng chăng? Mây thì phải lơ lửng, lang thang lưng trời:
Phiêu vân bạch mộ không / Quá kiều hốt tâm vong (Chiều hôm mây trắng lênh đênh/ Qua cầu lơ đãng bỏ quên tim này – Hạt Cát) Tiếp tục đọc

Hương Quê

Đặng Xuân Xuyến

aodaiquehuong

 

Hương cốm nhà bên duyềnh sang nhà hàng xóm
Cô bé thậm thò vắt ngang dải yếm
Níu bờ sông
Ơi ời “ra ngõ mà trông”
Vi vút gió đồng…
.
Ngẩn ngơ
giấc mơ
Níu đôi bờ bằng dải yếm
Chuốt tóc mềm làm gối chăn êm
Áo tứ thân trải lá lót nằm
Gom gió lại để chiều bớt rộng…
.
Thẩn thơ
Tiếng mơ thầm thĩ
“Người ơi…
Người ơi…”
Dan díu lời thề
Ngõ quê líu quíu.
Hà Nội, chiều 31.08.2017

THƠ TÌNH THÔN NỮ DƯỚI TRĂNG

PHẠM NGỌC THÁI
Chùm thơ tình Trăng trong đêm khuya buồn hay nhất
         NHÌN TRĂNG NHỚ EM
 
Nhìn mảnh trăng trời lại nhớ em
Trăng trôi miên man khi mờ, khi tỏ
Chúng mình đến với nhau, không còn thơ bé
Nhưng lòng tha thiết yêu thương.
 
Trăng giữa tháng khuyết dần, tình cứ tràn dâng
Cả tới khi không còn trăng nữa
Thì em vẫn bên… vành vạnh tỏ…
Đưa anh vào giấc mộng ru đêm.
 
Để cùng nhau say cảnh thần tiên
Cho quên hết biển đời ngang trái
Cuộc sống mưu sinh với bao mệt mỏi
Chân trời sẽ lụi tàn, nếu chẳng có tình em.
 
Ôi, mảnh trăng nhỏ bé giữa mênh mang
Vẫn soi ngập cõi không gian vô tận
Sâu tận cùng trái tim anh hưng phấn
Đêm nằm thao thức vấn vương.
 
Trăng không còn… Em vẫn hiện lên…
Dìu anh qua phong ba, bão táp
Trong giấc ngủ chập chờn đêm vĩnh tuyệt !
Anh đã bay về ôm lấy trăng em.
 
Áp môi hôn lên vầng nguyệt của Cưng
Nghe trái đất dưới thân mình rung chuyển
Lại thấy ảnh ông Tổng thống Hoa Kỳ đang cầu nguyện
Dân chủ – Cộng hòa ? chả Đảng nào sánh được hơn.
 
Cả nhân thế này chỉ một “mảnh trăng con”…
Sống mãi muôn đời, dù thay bao chủ nghĩa
Thức nhớ em hoài, trăng khuất không biết nữa
Nhìn khắp thiên hà… Càng da diết yêu thêm…
 
            12.7.2019
 

EM VÀ CHIẾC VÁY MÀU CỎ ÚA
 
Mưa bay chiều nay trên Hồ Tây
Bóng em vẫn xa như áng mây
Hỡi cô mặc áo màu cỏ úa
Lòng anh cô đơn. Anh ngồi đây !
 
Nhớ buổi hẹn hò giữa thiên thai
Chỉ có vòm xanh và cỏ cây
Đặt em nằm xuống trong trăng sáng
Cùng nhau yêu hết cả trời này
 
Ôi, đáng yêu chưa mắt em cười
Chiếc váy ngắn với đùi thơm trắng nõn
Như gái đôi mươi, em đẹp lắm !
Anh say mà… ngắm mãi không thôi…
 
Thương tự ngày nào thì chẳng nhớ
Thân vàng ngọc em dâng anh tất cả
Anh đợi tin vui sau buổi ấy đến giờ ?
“cô bé” của em đẹp hơn thơ
 
Em bảo rồi sinh cho anh hai đứa con
Anh xa tâm trí cứ ngổn ngang
Em đi dậy học đường dài lắm
Nhất là những lúc phải sang sông
 
Nhớ nhé, em yêu ! Hãy giữ mình
Qua phà mưa gió chớ coi khinh
Tấm thân nhi nữ thường đau yếu
Đợi anh ít nữa sẽ về bên
 
Chiều nay anh lại ngắm ảnh em
Có cô thôn nữ thật là xinh
Với chiếc váy quê màu cỏ úa
Lòng dạ nôn nao tạc bóng hình
 
Anh dẫn em vào cõi thương yêu
Mưa bay, em ạ ! Suốt buổi chiều
Chỉ lo Cưng ở miền xa ấy
Lại nhớ nhau hoài… bến cô liêu.VÁY
 
                21.6.2019
         PHẠM NGỌC THÁI

Men Tình

 Khê Kinh Kha

*Cho DP

vươn tay
ngắt ánh trăng vàng
bỏ vào chum rượu
để dành mai sau
mai sau dù có bạc đầu
vầng trăng vẫn sáng
trong bầu rượu thơ
nhỡ mai
em nhớ lời thề
rượu nồng chia xẻ
cùng ta một đời

giăng tay
hốt hết sao trời
ép vào trang sách
tặng người trăm nămAO TRANG MOONtrăm năm
dù có đoạn trường
ngàn sao vẫn sáng với lòng tơ vương
biét đâu
em vẫn nhớ thương
đem ngàn sao sáng
kết thành tơ duyên

giăng tay
ôm cánh gió mền
trộn thêm ước mộng, cho tình lên hương
nếu mai
em thiếu tình thương
đem gió ân tình
hòa chung men lòng

kiếp này
không trọn duyên em
xin làm cánh bướm
lênh đênh một mình
tình tang
con bướm đa tình
bỏ quên đôi cánh
trên cành yêu thương

một mai
sông núi giao tình
em cũng ngoan hiền
cùng chung men tình

Khê Kinh Kha

8 huyệt vị sinh tử có thể cứu mạng

Thư viện của bài

This gallery contains 1 photo.

Nhớ chắc 8 huyệt vị sinh tử có thể cứu mạng trong lúc nguy nan

Nếu biết bấm vào những quan trọng, bạn có thể nhanh chóng cứu vãn nhiều tình thế éo le bất chợt xảy ra. Đây là phương thức trị liệu và dưỡng sinh hiệu quả, tuy nhiên bạn cần hiểu rõ về hệ thống huyệt đạo trên cơ thể, cũng như cách thức bấm huyệt trị bệnh.

Sơ đồ 108 huyệt nguy hiểm trên cơ thể người Trung y cho rằng trên cơ thể chúng ta có tất cả 365 huyệt đạo khác nhau. Trong đó có 108 đại huyệt và 257 tiểu huyệt.Trong số 108 đại huyệt có 8 huyệt vị là chìa khóa cứu mạng của cơ thể. Để tránh những rủi ro không đáng có và tự cứu mạng mình trong những trường hợp khẩn cấp hãy cùng tìm hiểu về 8 huyệt vị này.

Chìa khóa thứ 1: Huyệt Nhân trung – hỗ trợ chữa ngất choáng

Huyệt vị nằm tại điểm nối 1/3 trên và 2/3 dưới của rãnh Nhân trung, giữa đáy rãnh, đây là một huyệt vị cấp cứu quan trọng của cơ thể. Kích thích huyệt Nhân trung có tác dụng giúp huyết áp tăng cao, khai khiếu, thanh nhiệt, tiêu nội nhiệt, lợi vùng lưng và cột sống, điều hòa nghịch khí của âm dương. Tiếp tục đọc

TÔI VẪN KIẾM

Nguyên Lạc

mat nhin2

Tôi vẫn kiếm
Một tình yêu chân thật
Phiến môi người. nụ hoa nắng chiều thu
Ánh mắt người. không xanh trắng. vẫn ngây thơ
Và như thế tôi một đời vẫn kiếm!
Và như thế tôi một đời biếc tím
Thấy nhói tim đôi môi chuốt bén ngời!
Thôi tôi ơi. Thôi nhé tôi ơi!
Vẫn hoài kiếm những ngôn lời chân thật
.
Và như thế
Tôi vẫn hoài cô độc!
Những vần thơ những ký tự tan nhòa
Lòng giấy nào ai dệt bằng phù phiếm?
Giọt mực nào?
Rồi. cũng chỉ phôi pha!
.
Và như thế
Tôi một đời vẫn kiếm
Tôi sầu tôi chiếc lá rụng tàn thu!
Tôi hận tôi sao vẫn mãi sương mù?
Sao?
Tôi vẫn kiếm

một tình yêu chân thật!

Nguyên Lạc

VỀ ĐI EM 

Đặng Xuân Xuyến

ao dai xanh
– Thương tặng TTQT –
Về đi em! Về ngắm trăng buông
Câu mái đẩy lèn sâu ký ức
Dựa vai anh ngắm đời rất thực
Cổ tích trầu cau đã hết nhựa rồi.
Em cứ về! Ừ! Một lần thôi
Dẫu nắng bên sông không còn chấp chới
Câu lý ngày xưa dẫu thôi diệu vợi
Ta tựa vai nhau nối lại câu hò.
Em cứ về! Đừng mải đắn đo
Về một lần thôi nằm nghe sông hát
Về một lần thôi rộn đêm gió mát
Nghe tiếng lòng khủa nước đêm trăng
Em cứ về! Ừ! Một đêm trăng…
*.
Hà Nội, đêm 30.07.2016
ĐẶNG XUÂN XUYẾN

Tình yêu diệu kỳ

Lanney Trần Cảm Nhận

Lá thư mong manh #6

hpdanYêu Em Đến nghìn Năm
Ca khúc Khê Kinh Kha

Cali, ngày … tháng …

Tình yêu đã đến vào một ngày, một sức mạnh vô hình nào đó đã mở tung cánh cửa tâm hồn em khoá chặt từ lâu. Em nhỏ bé, lao đao và trốn chạy. Em sợ, em sợ những bước chân lạ lẫm làm lao xao một mặt hồ đang phẳng lặng; sợ vòng tay ấm áp một đời trói buộc trái tim em. Tình yêu ư, là cái gì rất bí ẩn trong cuộc đời. Anh biết kg, em đã cảm nhận được điều ấy từ khi em bắt gặp nỗi nhớ nhung da diết quằn quại đến trong lòng, nỗi buồn cũng đã đến vào những ngày chúng ta xa vắng nhau. Bằng bước chân cuồng nhiệt run rẩy, em tìm đến bên anh, mặc cho sương mù giăng lối đi và mặc cho mưa rơi làm cho chân em bước ngại ngần. Em đã đến. Anh đã cho em niềm hạnh phúc thật đầy và tình yêu em biết, em đang có trong tầm tay.

Con đường tình yêu của mình thật đẹp phải kg anh, hòa lẫn giữa những nhộn nhịp, rộn ràng, tất bật của cuộc sống là nhịp thở yêu đương nhẹ nhàng, bình dị, tự nhiên trong tình cờ. Anh đã đến bên em, trầm tĩnh, kiên nghị, uy nghi, kiên nhẫn cảm thông lắng nghe tiếng thổn thức của thất vọng; vỗ về xoa dịu những cơn đau buốt hành hạ thân xác. Để rồi cái vỏ bọc cứng cỏi, bướng bỉnh, chai sạn nhũn mình yếu đuối trước anh. Giọng nói ấm áp, ru em giấc ngủ bình yên với nụ cười hạnh phúc. Nụ hôn ân tình lên mái tóc, “anh chỉ muốn nhìn thấy em ngủ thật bình yên mỗi đêm.” Như một thói quen kg thể vắng trong đời, anh vẫn ru em dù cho mình có cách nhau nửa vòng trái đất với bao áp lực bận bịu của công việc, dù cho thời gian vẫn luôn đi ngược giữa hai phương trời. Trùng dương rộng lớn kg ngăn nổi tình anh để cho em có thể buông mình thả hồn thanh thản vào chốn thần tiên thơ mộng, nơi có những bụi hoa calla lilies trắng và cánh đồng lavender ngát hương – chỉ có anh và em. Cùng em chia sẻ những lo âu phiền muộn, vun đắp chăm bón ước mơ của ngày mai …

Cuồng nhiệt, đắm đuối với bao khát khao hoài vọng được dưỡng mình trong một dòng sông yên ả, hiền hòa, mát dịu và thanh khiết. Nhạc sĩ Khê Kinh Kha đã viết lên bài tình ca, có lần anh đã chia sẻ với em rằng, có lẽ là duyên, bài ca anh đã viết cho K & L … với câu “tôi có một tình yêu, nồng nàn cành Lan yếu…” Thật là ngọt ngào và lãng mạn như mối tình của hai ta … đúng kg anh?

Tình yêu anh dành cho em là ước mơ của nhiều thiếu nữ. Em Tạ Ơn Chúa cho tình thương và sự ưu ái Ngài dành cho em, cho hai ta, bao la hơn cả biển trời. Điều em có được hơn cả những lời nguyện xin.

Đêm nay trăng lại về giữa đêm thâu, bên kia bờ đại dương anh đang lạc loài và cô quạnh. Em nơi này cũng bơ vơ dõi mắt xót xa ngóng trông. Đêm đợi anh và đợi em – sau cơn mưa xuân nặng hạt, trọn kiếp người cập bến một trời vui, trọn cuộc đời ngón tay xen kẽ đi đến cuối chân trời. Trong tiềm thức sâu thẳm, em vẫn mong muốn tình yêu thiêng liêng trong thầm lặng. Còn gì kỳ diệu hơn bằng tình yêu của hai ta, và em muốn sống. Em muốn sống cho trọn vẹn, cho tận cùng những giây phút quý giá vô ngần ấy. Cám ơn Thượng Đế đã ban cho tình yêu, cám ơn định mệnh đã đẩy đưa cho chúng mình gặp gỡ giữa biển đời. Dù có muộn hay ngắn ngủi, nhưng vẫn ở lại tồn tại, mãi mãi chẳng tàn phai.
Ngủ ngon nhé anh yêu, gởi anh nụ hôn nồng nàn yêu thương.

Baby của Anh
Đêm mưa Xuân, Cali ’13

Tôi có một tình yêu
Rộn ràng như sóng vỗ
Miên man như gió chiều
Bềnh bồng như tóc xõa

Tôi có bờ môi thơm
Dịu mềm vầng trăng sáng
Bao nhiêu ngày mưa lạnh
Ngọt ngào từng nụ hôn

Tôi có bờ vai thon
Nghìn trùng vạt áo trắng
Em đi trong phố chiều
Ngàn cánh mây đi theo

Tôi có một con tim
Nồng cháy tình yêu em
Như yêu tình sông núi
Hương thơm tình lúa mới

Tôi có một con tim
Vừa mới biết yêu em
Yêu em tình nắng ấm
Yêu em tình sắc son
Yêu em đến…ngàn năm

Tôi có một đời tôi
Một đời mây phiêu lãng
Từ nay rất yên bình
Vì đời tôi có em

Tôi có một tình yêu
Nồng nàn cành Lan yếu
Hương thơm nghĩa vợ chồng
Ngàn năm mãi … mặn nồng
Ngàn năm mãi … yêu em…

Khê Kinh Kha

quạnh hiu

Khê Kinh Kha

1minh

có nhiều khi ta buồn vì nhớ em
như dòng sông âm thầm chảy trong đêm
như mùa thu tiển đưa từng chiếc lá
như môi nào buồn nhớ nụ hôn thơm

có nhiều khi ta buồn vì vắng em
như bao lần em xa lánh cuộc tình
như giọt nắng vàng khô trên cỏ úa
và cuộc tình thiếu vắng vòng tay ôm

có nhiều khi tủi hờn ta oà khóc
như một lần lỡ đánh mất tuổi thơ
như một lần tình yêu vừa tan vỡ
chút lệ buồn làm di tích tình ta

có nhiều khi thấy ta là cát bụi
ngũ lặng câm trong bóng tối cuộc đời
bao buồn vui ta uống hoài chưa hết
và mộng đời như gió thoảng mây trôi

có nhiều khi ngồi ngắm lại đời mình
một khoảng đời như ngõ hẹp buồn tênh
tuổi nắng hồng phai mờ vùng kỷ niệm
như khói trời tan loãng giữa thinh không

có nhiều khi thấy ta là tuổi mộng
tình bơ vơ như mây lạc nẻo về
có nhiều khi ước mơ làm sóng vỗ
để ngàn đời ru mãi hồn quạnh hiu

Khê Kinh Kha

TRẢ EM 

Đặng Xuân Xuyến
ao dai xanh
Đứng trước em anh thành người rất lạ
Thả rông hồn đắm đuối mắt em
Em rất gần 
Nhưng cũng thật xa xăm
Em hời hợt để anh thèm vị biển
Em hoang sơ để anh khát đại ngàn.
Anh ngợp mình trong ảo vọng ái ân
Mải lặn ngụp xây lâu đài trên cát
Giấu niềm riêng em thản nhiên bỡn cợt
Kéo mùa đông giá lạnh nhích gần
Anh đốt mình cháy bỏng si mê
Thổn thức mãi miền yêu không thể.
Anh biết thế 
Và anh không thế
Sánh vai em dạo bước song hành
Gió đại ngàn khắc khoải rừng xanh
Sao phải lén mơ nơi xa lắm
Trả lại em niềm đau đằm thắm
Trả đêm hoang vật vã rã rời
Câu thơ tình viết vội gãy đôi
Nhịp yêu ấy anh đành lỡ dở
Chân nhẹ bước. Tim yêu bỏ ngỏ
Khép nụ cười héo hắt nửa đời trai.
*
Hà Nội, ngày 23.10.2013
ĐẶNG XUÂN XUYẾN

KHÚC TÌNH HOÀI

Nguyên Lạc

dtle

(Tưởng niệm thi sĩ Du Tử Lê)
.
Riêng đời “cọc nhọn trăm năm”
Ta “chim bói cá” trên ngàn viễn bay
“Thụy du” một khúc tình hoài
Ta không còn nữa lệ ai khóc người?
.
“Sẽ mang theo được những gì?”
“Bên kia thế giới” Thụy ơi nghìn trùng!
……….
“…” Lời thơ Du Tử Lê
.
Nguyên Lạc

Vĩnh biệt nhà thơ Du Tử Lê

Vĩnh biệt nhà thơ “Khúc thụy du” – Du Tử Lê

Gia đình nhà thơ Du Tử Lê cho hay, nhà thơ vừa đột ngột qua đời ở Mỹ, thọ 77 tuổi.

Du Tử Lê (Lê Cự Phách) sinh năm 1942 tại Kim Bảng, Hà Nam. Ông là tác giả của 70 tập thơ, văn xuôi. Ông học Đại học Văn khoa Sài Gòn, tu nghiệp báo chí tại Indianapolis, Indiana (1969). Giải thưởng Văn chương toàn quốc tại Sài Gòn năm 1973 (tập Thơ tình Du Tử Lê 1967-1972).

Thập niên 1980-1990, thơ ông xuất hiện trên Los Angeles Times và New York Times. Thơ ông được dịch trong tuyển tập Understanding Vietnam (liên Đại học Berkeley, UCLA, London ấn hành; là sách giáo khoa về văn học Việt Nam cho nhiều đại học tại châu Âu).

Ông là một trong sáu nhà thơ Việt Nam thế kỷ 20 có thơ dịch trong tuyển tập World Poetry – An Anthology of Verse from Antiquity to Our Time (W.W. Norton New York, 1998). Du Tử Lê cư ngụ tại Garden Grove, Nam California (Mỹ).

Vĩnh biệt nhà thơ 'Khúc thụy du' - Du Tử Lê - Ảnh 1
Nhà thơ Du Tử Lê thăm Hữu Loan lúc sinh thời.

Một số tác phẩm của Du Tử Lê được xuất bản ở Việt Nam thời gian gần đây: Tuyển thơ Giỏ hoa thời mới lớn; tiểu thuyết Với nhau, một ngày nào; tập tùy bút Trên ngọn tình sầu; tùy bút Chỉ nhớ người thôi đủ hết đời; tuyển thơ Khúc Thụy Du; tùy bút Giữ đời cho nhau; tập thơ Chúng ta, những con đường…

Thơ Du Tử Lê có sức sống bền bỉ, có thể “sống sót” qua những thay đổi thế cuộc và vượt trên những áp đặt trong lẫn ngoài văn chương.

Nhiều nhạc sĩ phổ nhạc của ông, như: Anh Bằng, Phạm Duy, Phạm Đình Chương, Trần Duy Đức, Ngô Thụy Miên… 

Đặc biệt, những bài thơ tình được phổ nhạc và nổi tiếng của ông vừa được  in lại trong tập Khúc Thụy Du, như: Khúc Thụy Du (Anh Bằng phổ nhạc), Giữ đời cho nhau (Từ Công Phụng), Khi tôi chết hãy đem tôi ra biển (Phạm Đình Chương)… đã ghi dấu ấn trong lòng khán giả.

Bài thơ “Khi tôi chết hãy đem tôi ra biển” là bài thơ điển hình của ông nói về tình cảm của người xa xứ:  “Khi tôi chết hãy đem tôi ra biển/đời lưu vong không cả một ngôi mồ/vùi đất lạ thịt xương e khó rã/hồn không đi sao trở lại quê nhà/khi tôi chết hãy đem tôi ra biển/nước ngược dòng sẽ đẩy xác trôi đi/bên kia biển là quê hương tôi đó/rặng tre xanh muôn tuổi vẫn xanh rì”.

Vĩnh biệt nhà thơ 'Khúc thụy du' - Du Tử Lê - Ảnh 2
Nhà thơ Du Tử Lê.

Nghe tin nhà thơ Du Tử Lê qua đời, nhà thơ Thanh Thảo vô cùng thảng thốt, dù biết ông bị bệnh ung thư đã lâu. Ông kể một kỷ niệm về  Du Tử Lê: “Còn nhớ có lần, nhà thơ Du Tử Lê về Quảng Ngãi làm đám cưới cho con trai, đã đến thăm tôi. Dù chưa gặp nhau lần nào, trong chiến tranh lại từng ở hai chiến tuyến đối địch, nhưng chúng tôi đã hồ hởi chuyện trò với nhau như những người bạn.

Nhà thơ Du Tử Lê cũng vui mừng báo tôi biết là NXB Văn nghệ TP.HCM đã đồng ý in lại tập Thơ tình Du Tử Lê gồm những bài thơ tình yêu thời chiến tranh của anh. Tôi nói với Du Tử Lê là nếu anh in lại tại Việt Nam trường ca Mẹ về biển Đông của anh, tôi tin tác phẩm này sẽ có tiếng vang. Theo tôi, đó là một trong những trường ca hiện đại viết bằng Việt ngữ hay nhất trong 30 năm qua. Năm 2003, khi có dịp ghé Paris, tôi đã được đọc trường ca này ở nhà một người bạn và tôi đã khóc”.

“Thơ Du Tử Lê rất nặng tình. Mẹ về biển Đông là điển hình cho phong cách thơ nặng tình ấy. Dù nhân vật “tôi” trong trường ca luôn cố ra tỉnh táo khi ngồi một mình trong nhà tang lễ và suy nghĩ, nhớ lại biết bao điều cùng mẹ mình… Yêu mẹ mình cũng là yêu nước. Hãy viết những câu thơ thật lòng nhất về mẹ mình, và tự nhiên, anh sẽ tìm ra một thi pháp của riêng mình…

Du Tử Lê là một nhà thơ giàu cảm xúc, một nhà thơ đa cảm. Nhưng vượt lên, anh còn là nhà thơ Việt hiếm hoi viết cả một trường ca về mẹ mình. Chúng ta đọc, và nhớ nghĩ về mẹ chúng ta. Chỉ như thế, chúng ta đã có cơ hội trở thành những người con có hiếu. Tôi mong một ngày không xa, trường ca Mẹ về biển Đông sẽ có ấn bản in tại Việt Nam, như một ước nguyện thầm lặng của mẹ nhà thơ khi qua đời tại xứ người. Và khi đó, linh hồn người mẹ nhiều vất vả của Du Tử Lê mới thực sự về yên nghỉ giữa quê hương mình”, nhà thơ Thanh Thảo chia sẻ.

Thơ Du Tử Lê sống trong lòng nhiều độc giả chính là vì cái tình ấy, cùng những rung cảm cháy bỏng, và tính dự báo về thời cuộc.

Vài cảm nhận

ĐẶNG XUÂN XUYẾN

Vài cảm nhận về thơ

VĂN THÙY “dị nhân”

*

Nghèo mà tài không được bằng ai nên tôi chọn sách (viết và kinh doanh sách) làm nghề kiếm kế sinh nhai. Ngót nghét hai mươi năm với nghề, khi thấy nghề sách có dấu hiệu “suy thoái”, tôi quyết định bỏ nghề, “về hưu” và tìm thú tiêu khiển với facebook… Lên mạng, tôi chăm chú đọc những bài về văn hóa tín ngưỡng, về đối nhân xử thế… chứ không mặn mà với thơ, truyện vì… ngại đọc, sợ phải “động não” nhiều nên khi thi sĩ Nguyễn Đăng Hành rủ Văn Thùy “dị nhân” đến thăm nhà – ở làng Đá, Ân Thi, Hưng Yên – tôi mới biết ông là thi sĩ cùng quê, là kẻ bấy lâu được giới văn chương “phong tặng” là “dị nhân”, là “lục bát giang hồ”… Cầm mấy tập thơ ông đề tặng, tôi cám ơn cho phải phép rồi cất vào tủ sách. Đêm. Ám ảnh bởi cuộc nói chuyện của ông, tôi vùng dậy “lôi thơ” của ông ra đọc.

Tôi thật sự bị thơ ông cuốn hút!

Ông tung hứng, nhảy múa với từng câu chữ. Ông bắt người đọc phải trầm trồ, ngả mũ vì cách chơi chữ táo bạo mà đắc địa: Phải tay này gặp Thị Màu / Chẳng sưng đầu mõ, cũng nhàu vú chuông… hay: Ngón tay ngọng mấy đốt rồi / Kể là chín vía chột mười cũng xong.

Câu chữ, qua sự nhào nặn của ông – của “dị nhân” Văn Thùy – trở nên sinh động, nhuần nhuyễn và tài hoa: Nửa đời bám gió leo mây / Hôm nay ngồi phệt mặt đầy rong rêu... hay: Con xuôi ngược nửa kiếp người / Vẫn quanh lọn tóc rã rời mái gianh. 

Viết về tình yêu với vợ (cũ), người phụ nữ từng nhiều năm đầu gối má kề, ông dành cho bà những lời dịu dàng, đằm thắm: Bao nhiêu chữ nghĩa hương hoa / Cũng bay về phía thật thà ngày xưa; bằng trải lòng rất thật: Quay về tầm mắt em thôi / Tắm trong giọt lệ thương người phù sinh. Ông dằn vặt, tự trách, ông nhận hết phần sai về mình: Nửa đời bám gió leo mây / Hôm nay ngồi phệt mặt đầy rong rêu / Mải mê thơ phú cánh diều / Bỏ trâu gặm cụt nắng chiều mồ côiTình yêu ông dành cho người vợ nhiều lắm nên bất chấp tính sĩ diện cố hữu của thằng đàn ông, ông thấp giọng “xin” bà cho ông cơ hội: Xin em hết sức lượng tình / Cho tôi tìm lại chính mình hôm qua. Và rồi, cả mãi sau đấy, khi bà rời xa ông, đã trở thành người phụ nữ “của người ta”, thì tình yêu ông dành cho bà vẫn âm ỉ. Sau nhữngTrong nhà luýnh quýnh một người chạy mưa”, ông ngồi thần người nghĩ về người vợ cũ. Hình ảnh người đàn ông cô đơn, tuổi xế chiều, cố nén tiếng thở dài để chặn tiếng khóc chực bật ra trong Nhà Dột như cứa vào tâm trí người đọc: Giá như đôi đũa chẳng cong / Thì đâu lẻ bóng long đong chống trời / Giá như… ừ… giá như thôi / Mình không dại dột chia đôi nếp nhà.

Có lẽ là người thất bại trong hôn nhân nên mặc dù khao khát một tình yêu mãnh liệt, luôn sẵn lòng đắm đuối với ái tình nhưng những khao khát, đắm đuối ấy luôn gặp phải sự cản trở từ chính con người ông. Những câu tếu táo, bông đùa: “Vừa ban thông điệp yêu đương / Bỗng dưng cả bộ dát giường động kinh”, hay “Có gì mạnh đến lạ thường / Yêu suông đã bốn chân giường còn hai” tưởng gia vị cho tình yêu thêm thi vị, máu lửa thì thực ra đó là lời chống chế ngầm của kẻ sợ sẽ bại trận trong tình yêu. Như con chim sợ đậu phải cành cong, ông đắm đuối, bỏng cháy với tình yêu nhưng lại dè dặt, e ngại mở lòng với cuộc tình “sắp” đến. Rất nhiều tính từ (có lúc lại là động từ) như “yêu chay”, “yêu khan”, “yêu suông”… được ông sử dụng để diễn tả tâm trạng e ngại, kìm nén những xúc cảm yêu đương: “Yêu chay nên chỉ dám sờ áo thôi”, “Yêu chay loang lổ mảng tường phong rêu”, “Đã âm thầm nỗi yêu khan”, “Đã thành hội chứng yêu khan”…

Ông viết nhiều về tình yêu trai gái, nhưng thường là thứ tình yêu trớ trêu, thuộc lứa nạ dòng gặp phải trai lơ, bằng thứ ngôn ngữ bình dị của người thôn quê pha chút ngông ngông, “bất cần” của gã trai “bụi” phóng đãng: Cổng chùa xin tiểu lỏng then / Kẻ trần tục dễ lẻn lên thăm chùa... hay: Em nguyền khổ hạnh ăn chay / Tôi thề uống cạn đắng cay cõi trần.

Nhưng khi viết về mẹ thì thơ ông lại trầm lắng mà da diết, từng lời, từng lời như bào xát tâm can, khiến người đọc day dứt, rưng rưng: Vinh hoa con ướm trên người / Phất phơ tóc mẹ dệt thời yêu thương / Đã đi nhẵn một con đường / Còn nghe tóc mẹ bốn phương rối bời / Con đi dọc nửa kiếp người / Vẫn quanh lọn tóc rối thời mái gianh – (Tóc Rối Của Mẹ Năm Xưa). Hay những câu thơ thật hay, thật sinh động, được viết bởi tấm lòng của người con hiếu thảo trong Hoài Cảm Tích Cũ khắc sâu trong tâm trí người đọc: Chân trần mài vẹt đường quê / Lưng về như đặt đoạn đê giữa nhà / Lá trầu dứt cuống đi xa / Nồng cay hương quế thơm qua xứ người.

Viết về mảng nào, dù là tình yêu trai gái hay nhân tình thế thái, thơ ông cũng có sự mượt mà, đằm thắm của ca dao, pha chút tếu táo, bỡn cợt của dân dã, cộng thêm chút khệnh khạng của Văn Thùy, đã tạo nên thương hiệu thơ rất riêng, rất “dị nhân” Văn Thùy, dễ say đắm lòng người.

Trong gia tài thơ ca của ông, có nhiều câu thơ đặc sắc, thể hiện nét tài hoa đặc biệt của ông, nhưng thật tiếc, sự lặp lại về tứ, về ý đến gần như sao y bản chính của không ít câu thơ: “Ngón tay ngọng mấy đốt rồi / Kể là chín vía chột mười cũng xong.” – “Ngón tay ngọng mấy đốt rồi / Kể là chín ngón hỏng mười cũng xong.”, hay: “Con xuôi ngược nửa kiếp người / Vẫn quanh lọn tóc rã rời mái gianh.” – “Con đi dọc nửa kiếp người / Vẫn quanh lọn tóc rối thời mái gianh”…, thậm chí sự tương đối giống nhau của cả những bài thơ (Xin Em – Xin Em Đừng Mặc Áo Dàyđã làm thơ ông xuất hiện sự nhàm chán, nhạt đi và bớt duyên, khiến những người yêu thơ, yêu sự sáng tạo, chỉn chu sẽ khó chịu, cho rằng ông lười sáng tạo nên mới xào sáo, làm giảm sức hấp dẫn với chính thơ của mình.

*.

Hà Nội, 26 tháng 12 năm 2016

ĐẶNG XUÂN XUYẾN

              DU TỬ LÊ Và TÔI

 

      ‘viết không khác người ta thì đừng viết’   (Dương Tường)

dutule01

      Ra khỏi cổng trường Quốc Học 1963 thì tôi biết đến Du Tử Lê. Nhà thơ đến với tôi như một thỏa hiệp, một chất liệu sáng tạo đã đánh động trái tim tôi. Một cái mốc thời đại mới, một cái gì vững tin, mạnh dạn đã tìm thấy giữa muôn ngàn lẫn lộn vàng thau của những trào lưu, trường phái hay hiến chương từ Tây sang Đông; có thể đó là một sự bình tâm cho một tâm hồn vượt thoát, có thể đó là một phản kháng nội tại do từ những nguyên nhân khác mà ra, đất phương Nam cho họ gieo hạt, nẩy mầm, phát tiết, nói theo kiểu của F. Nietzsche: ’bi thảm của sinh tồn/the birth of tragedy’ giữa một xã hội ngổn ngang, gò đống của hai miền đất nước. Trăm hoa đua nở vào thời đó, họ gặp nhau như hội trùng dương ‘trên ngọn tình sầu’. Du Tử Lê đứng giữa một khung trời khác biệt, để đi vào một ngôn ngữ thẩm mỹ thơ, chất chứa một cái gì sâu lắng, trầm tư (zen), đượm một triết lý nhân sinh vốn đã nằm nôi trong tay mẹ, để rồi ra đi như kẻ du tử giữa phong ba; du tử là một đánh đổi và rồi chấp nhận bằng một sự bi thương của cuộc đời… nhà thơ trở nên độc lập và tư duy ở một cõi riêng như định vị vai trò và chức năng của một thi nhân đối diện với thực tại. Con đường Du Tử Lê đi không vin vào sự thế mà vin vào thơ để nói lên sự thế. Tôi rung động trước một dòng thơ như thế. Cái ’hoang/wild’ của tôi trong đó, thời của Thanh Tâm Tuyền và Du Tử Lê: -một trường phái lãng mạn thơ mới của văn chương Việt Nam- một cái gì mới như một cuộc cách mạng tư tưởng và có một ít chất của, A. Robbe-Grillet đã dựng nên. Du Tử Lê thắp lên ngọn đuốc để đi vào ’rừng đen/dark forrest’ như soi rọi, như canh tân trường phái, một kiểu thức của ’tân hình thức’; có lẽ Du Tử Lê là kẻ tiên phong avant-garde của new-formalism-poetry mà chưa một lần nói đến, đến bây giờ thì nó trở thành hậu-tân-hình-thức (post-newformalism). Nhận định nầy có thể làm hư hại khuôn phép thẩm mỹ của văn chương; nhưng ở đây chỉ định lượng một giá trị của ngôn ngữ thơ, lời thơ tức linh hồn thơ là những khoảnh khắc thức tỉnh đời sống, cho nên chi đối với Du Tử Lê xử dụng ngôn ngữ để làm phương tiện cho thơ chớ thơ không phải là phương tiện của ngôn ngữ. Đó là lý do nhà thơ ’chơi chữ’ mà một thời cho là ’mode’ hay lập dị để tạo cái khác biệt riêng mình; nếu đứng góc cạnh đó để nhìn thì hoàn toàn khác ý của thơ. Những chấm(…) hoặc một chấm (.) hoặc phẩy(,) hoặc chấm phết(;) giữa câu thơ, những nhát chém (slash) thoạt nhìn hay đọc đưa tri giác vào một cảm thức xa lạ, nhưng đó là một biệt lập tự chủ giữa khách thể và tha thể, đưa trạng thái thơ vào trạng thái bí truyền của thể loại thơ không vần nhưng vẫn giữ được vần điệu (rhythm và tone), không những mang nặng tính nghệ thuật trình diễn (performance art) mà còn trở thành nghệ thuật sắp đặt (installation art) đó là một thứ nghệ thuật của người làm thơ. Du Tử Lê nằm ở vị trí ấy. Du Tử Lê cho những ’chữ thơ’ nhảy sang hàng là dụng ý mô tả, chớ không phải ’chơi chữ’ như một số người trước đây đã nghĩ (trường hợp của Nguyễn Vỹ chẳng hạn). Theo tư duy tôi: Du thi sĩ  mở ra một con đường ngược chiều với thơ tiền chiến, phá vỡ những vần điệu ’ểnh ương’ cổ điển, một thông lệ truyền thống làm cho thơ bị đình trệ mà không khai phá cái mới. Thâm tâm nhà thơ Du Tử Lê mong muốn điều nầy; tôi nghĩ vậy. Thi sĩ xuất thần trong tiết điệu tự do để rồi trở thành ’nhạc thơ’ chớ đừng hiểu là phổ thơ thành nhạc như nhiều bài thơ đã đi vào hoạt cảnh nầy. Thậm chí có những nhạc sĩ cắt xén nguyên bản những câu thơ hay của nhà thơ để làm vừa lòng ý nhạc. Trong tâm trạng thúc đẩy tự chính mình để tìm cho mình một sự vượt thoát sáng tạo. Một: ’sáng tạo trong tinh thần đừng để mất mình, cái tôi hôm nay phải hơn cái tôi hôm qua và kém cái tôi ngày mai’(Nietzsche) bởi trong thơ Du Tử Lê đã cho ta tìm thấy được 2 yếu tố quan trọng ’CHỮ’ và ’ÂM’. Chữ và âm là trọng tâm chính cho thơ. Du Tử Lê xử dụng tài tình chất liệu nầy. Du Tử Lê lấy thơ để nói một cái gì trong đó – a poem should not mean but be, nhưng là hiện hữu. có những câu thơ đưa ta về ‘vô dư’ nhà Phật. Rốt ráo trong chiều sâu thơ Du Tử Lê không có Thăng và Trầm, bởi tâm thức nhà thơ, lúc ấy; là ’tâm bình đẳng’. Cho nên thơ của Du thi sĩ trở nên thanh thoát, diệu vợi (enlightenment). Rải rác khắp nơi từ khi khởi làm thơ cho tới những tháng ngày cuối đời, Du Tử Lê chủ trương thơ chỉ cần ngữ thuật (jeu du langage) hơn là ý nghĩa, có những câu thơ đứt ngang làm cho câu thơ trở nên ’nonsence’ nhưng cái vô nghĩa có duyên kỳ lạ.Thơ Du Tử Lê vững chắc, đông cứng, đậm đặc, cụ thể (concrete poetry) là thế. Một cách riêng của Du Tử Lê không thể ’thuộc điạ’ dễ dàng. Hay ở chỗ đó! đến nổi sau khi thâm nhập và ngộ được một câu thơ hay, bài thơ hay của Du Tử Lê, tôi phải ’thốt’ bằng lời lẽ của E. Kant: ’pourquoi vert l’éternité’ cũng chẳng khác gì lời phẩn nộ J. Pollock khi nhìn tranh của P. Picasso kinh hoàng mà thốt lên cái chữ phàm tục nầy: ’fuck!’. Một cái ’Đi-Em’ thỏa chí tang bồng hồ thỉ. Cảm nhận được nghệ thuật là ở chỗ đó! Và đó cũng một đòi hỏi cho người đọc thơ hay ca ngâm thơ Du Tử Lê. Đều chung một cảm thức siêu thoát; đừng đi xa quá mà lạc đường thơ, nhất là thơ Du Tử Lê.

Nói đến con người và thơ Du Tử Lê chúng ta không cần dẫn chứng hay bình giải hoặc so sánh Du Tử Lê với những nhà thơ lừng danh xưa nay, trong và ngoài nước, ví Du Tử Lê nầy nọ, trích dẫn những hoạt đầu như thế là một thẩm định không nói lên cái siêu lý của thơ, ngược lại làm hư hại một thiên tài chữ nghĩa thơ văn vốn đã nảy sinh giữa kỷ nguyên nầy(epic) và càng làm thế vô hình dung hạ thấp giá trị cho một thi nhân. Tại sao? bởi quá nhiều lý lẽ để bào chửa, quá nhiều cuốc xẻng để đào đục (dù đào bới, ’bắt’ những cái hay trong thơ) mà trong lúc khắp nơi trong và ngoài nước, trước và sau chiến tranh đều đồng tình và thừa nhận với Du Tử Lê. Du Tử Lê không buồn không vui trước những lời thị phi, Du thi sĩ mỉm cười không nói hay đó là bản chất tự tại của nhà thơ (DTL). Đánh giá phải hợp lý mới thấu suốt hồn thơ Du Tử Lê. Bởi cái chất thơ Du Tử Lê không thể nói suông (như mắm) không thể ngọt bùi (như vắt chanh) và cũng không thể ngợi ca (ẩu) như chứng nhân mà cần có con mắt thẩm mỹ quan (aesthetics) mà thấy được ý và hồn thơ Du Tử Lê. Theo quan điểm của tôi: -nó tiềm tàng một chất triết lý trong đó ; vậy có cần dẫn chứng ở đây? Không! bởi thơ có một cá tính siêu lý, siêu nhiên vì thơ là cõi phi, tự tìm thấy trong thơ để rồi cảm nhận, dẫn chứng là biện minh, buộc thơ đi vào ngả rẽ, cái triết lý nhân sinh quan trong thơ Du Tử Lê là ý thức (consciousness) hơn là dẫn chứng, tất cả đã dàn trải hơn nữa thế kỷ qua, không cần một đòi hỏi nào khác, không cần phê bình (dưới dạng phê bình văn học nghệ thuật) khi mà mình chưa đạt tới; vậy ’criticize’ như định mức cho một phủ nhận, điều ấy làm thương tổn cho dòng thơ đi vào đời. Tư duy của Du Tử Lê là bản anh hùng ca, thấm nhuần tình người và tình quê, tự nó đã xuyên thủng những giáo điều giả tạo, cố công tuyên truyền nhưng vẫn không hấp dẫn người nghe kể cả giới bình dân, một thứ văn chương cho mọi giới; nếu cảm nhận một cách sâu sắc. Du Tử Lê không cho mình đã thành danh, dù ở tuổi thất thập, Du Tử Lê thành danh ở quần chúng chớ không ở nơi mình; và đến nay Du Tử Lê vẫn giữ hồn thơ cho tới khi nhịp tim không còn cảm hóa. Khí tiết của một người làm thơ là ’thép đã tôi thế đấy’. Du Tử Lê vẫn còn hít thở nguồn thơ đó cho nhân gian dù hôm nay hay mai sau.

Du Tử Lê và Tôi : tôi ở đây là một bản ngã tự tại, một cái ’self’ trong tôi, một cái ngã-mạn chưa đạt tới để phải thốt: của Zarathustra, của Kant, của Pollock, của Freud, của Sartre, của Warhol và Basquiat…vì rằng ’tôi’chưa bao giờ ’tới’, chứ ’tôi’ không phải nói lên cái thân tình; tôi là cảm phục khí phách. Cho nên chi Du Tử Lê và Tôi gặp nhau bằng cảm thức vô hình của người đồng cảnh, giữa hai chúng tôi có một cái đau chung, đau thể xác và linh hồn, một quằng quại của bi thương. Giữa chọn lựa; chúng tôi chọn ’điều hai’. Xin nhớ ’hai’ không phải ở cái phép nhị-nguyên(!), trong cái chọn lựa nó đã có thuyết nhị-nguyên mà Du Tử Lê đã trút vào dòng thơ bất tận đó…từ bấy lâu nay.

Tôi gần gũi Du Tử Lê từ khi đọc cái bút danh: ’Du Tử Lê’, cái danh xưng nầy đến trước khi thơ Du Tử Lê nhập vào hồn tôi. Từ đó tôi tìm thấy tôi một chất điên đẹp (crazy-pretiness) như Van-Gogh và làm cho tôi say đắm cho tới bây giờ một Du Tử Lê.

Trở về hồn khí nhà thơ sau bao nhiêu năm tầm-thơ, tri-thơ, thức-thơ. Tôi nhận ra Du Tử Lê một kẻ ngoại đạo có trí tuệ (wisdom) ông đã đưa vào thơ đủ màu sắc của các tôn giáo với một cốt tủy: NHƯ-NHIÊN; đấng tuyệt đối vô cùng, một cái gì tinh túy của nhà thơ (poet on pith) là nhập thể vào một khí thiên như thế mới thấy được một Du Tử Lê.

Và những lần về quê, tôi đi vào cõi lặng để tìm lại cái hương xưa ngày nào, tôi không tìm thấy những gì còn lại mà chỉ nghe trong tôi: ’hạnh phúc tôi / hạnh phúc tôi từ những ngày con nước về’ và những nhạc khúc đâu đó còn vang vọng bên tai như lời ăn năn, an ủi tôi có một may mắn giữa thế kỷ nầy bằng xương bằng thịt, có một nhà thơ lớn của trước và sau chiến tranh Việt Nam mà tôi đã chạm tới. Quê hương là người đó!

VÕ CÔNG LIÊM (ca.ab. vàothu 2012)

TRANH VẼ: ’Người Đàn Ông Chống Gậy / The Man with Baton’ Khổ: 8’X10’ Trên giấy bià. Acylics+Oilstick

+Pigment. 2012. vcl

                  *Ghi chú:’Người Đàn Ông Chống Gậy’Lấy từ cảm hứng trong tập:’Du Tử Lê 50 năm’với bạn bè.VHKHVN 07.