Hà Nội, trong mắt một người mù

Thư viện của bài

This gallery contains 1 photo.

nam dao Cuốn phim ‘’Hà Nội trong mắt ai’’ (HNTMA) của đạo diễn Trần Văn Thủy bắt đầu bằng tiếng ghi-ta một nhạc sĩ mù. Kính đen sụp xuống mũi, nhạc sĩ gảy đàn như thể cố nhìn cho ra … Tiếp tục đọc

Bàn về chữ LIKE trên FACEBOOK

Thư viện của bài

This gallery contains 1 photo.

Nguyên Lạc      

Dẫn nhập:

“Nghề chơi cũng lắm công phu” (Truyện Kiều – câu 1201) nhất là VĂN CHƯƠNG, nghề chơi thanh cao nhất. Các cụ xưa nói vậy.

Chơi cho lịch mới là chơi

Chơi cho đài các, cho người biết tay! (Nguyễn Công Trứ)

– Bây giờ sao? Còn thanh lịch, còn đài các không?

Tôi e rằng nghề chơi thanh cao này không còn được như vậy nữa. Người ta đã lợi dụng nó để “mưu đồ” cho lợi ích riêng tư, cho cái DỤC không lấy gì tốt đẹp của riêng mình. Bằng chứng rõ ràng nhất về điều này là việc sử dụng chữ LIKE trong Facebook. Chữ LIKE này vẫn tiếp tục bị “hiếp dâm” (từ của triết gia Phạm Công Thiện)

Trước khi vào phần chánh, xin tặng các bạn bài thơ “hết ý” của cụ Nguyễn Khuyến:

Đầu đường ngang có một chỗ lội

Có miếu ông Cuội cao vòi vọi

Đàn bà đến đó vén quần lên

Chỗ tời đến háng, chỗ đến gối

Ông Cuội ngồi trông mỉm miệng cười

“Cái gì trông trắng giống con cúi?”

Vội vàng khép nép đứng liền thưa:

“Trót dại hở hang xin xá tội!”

Ông rằng: “mầy cũng chẳng tội gì!… ”

Chỉ tội làm ông cứng con buội Tiếp tục đọc

Ông Thầy Bói Mù

Thư viện của bài

This gallery contains 1 photo.

Trần Thanh Tùng

Năm nay Xuân lại đến
Nhớ ông Thầy Bói mù
Chợ Cà Mau năm cũ
Cùng chiếc ghe màu xanh…

Thấm thoát đã gần ba mươi năm phiêu bạt bồng bềnh nơi đất khách, cứ mỗi độ Xuân về là tôi lại nhớ tới câu chuyện đã đi qua đời tôi với một người. Tuy chỉ gặp một lần ngắn ngủi, mà tôi cứ nhớ mãi cho đến bây giờ. Tôi xin được quay lại đoạn phim của hai mươi chín năm về trước để tưởng nhớ ông Thầy Bói Mù, nay đã trở thành “người muôn năm cũ”, và bác Chín Cụt, người thương binh “cách mạng giác ngộ”, đã nằm lại dưới lòng đại dương trên đường vượt biển tìm tự do.

Sau bốn lần tham gia tổ chức vượt biên thất bại qua nhiều cửa biển, từ Vàm Lẻo Cổ Cò Sóc Trăng tới Gành Hào Bạc Liêu xuống tận Sông Đốc Cà Mau. Người ta thì “nhất quá tam” còn riêng tôi thì “nhì quá tứ”, rồi tứ hóa… tù luôn. May nhờ người chiến hữu anh em chí cốt thương tình, cầm nhà bán cửa để chuộc “bùa” thỉnh “phép”, chạy chọt theo hệ thống “tam cấp”, từ cấp xã lên cấp huyện tới cấp tỉnh, nên tôi được ra khỏi trại giam với tờ giấy chứng nhận là… “gia đình có công với cách mạng”? Tiếp tục đọc

LOẠN BÚT VỀ TỬU SẮC (2)

Thư viện của bài

This gallery contains 1 photo.

Nguyên Lạc

Thả tiếu:

Nhân sinh hàm khổ lụy
 Y phạn tích bại thành
Phóng thủ vạn sự tuyệt
Đắc tiếu, tiếu nhất thanh.

Hãy Cười:

Kiếp người nhiều khổ nhọc,
Cơm áo lắm được thua,
Buông tay muôn việc hết,
Ðùa được, thì cứ đùa!
(Nguyên tác và dịch Hạt Cát)

Đời như giấc chiêm bao : “Xử thế nhược đại mộng” – Lý Bạch. Hãy vui lên đi, hãy nâng ly lên cùng nhau hát:  ” Một chăm em ơi, chiều nay một chăm  phần chăm…”, rồi cùng Nguyên Lạc tui cười giỡn chút chơi.

CÙNG UỐNG RƯỢU

Thưa các bạn, trong bài trước Nguyên Lạc tôi dùng nhiều điển tích của “nước lạ” nên có nhiều bạn phản hồi rằng: – Sao khi bàn tới Tửu Sắc/Rượu Tình, ông hay dùng văn chương Tiếp tục đọc

Quê hương ngày trở lại (kỳ 2)

Thư viện của bài

This gallery contains 1 photo.

Thụy Khuê

(tiếp theo kỳ trước: https://trangvhntnguoncoi.wordpress.com/2019/05/16/que-huong-ngay-tro-lai-ky-1/

Côn Đảo

Từ Sài Gòn, chúng tôi lấy máy bay ra Côn Đảo.

Chiếc máy bay nhỏ chở đầy hành khách, không một chỗ hở. Mọi người cười nói ồn ào, dường như quen nhau cả. Tôi để ý: hầu như không có người Nam, máy bay chở toàn người Bắc. Có lẽ đây là một đoàn du lịch có tổ chức, mà chúng tôi là hai người lạ duy nhất lạc vào, lại ăn mặc lôi thôi, không giống ai. Tôi đã chú ý đến đám này ngay từ lúc đứng xếp hàng ở Tân Sơn Nhất, vì ông già nhà tôi (kẻ hay than phiền nhất thế giới) lầu bầu rằng mình đến trước mà bị người đến sau lấn chỗ, lời qua tiếng lại với một người đàn ông cao lớn như Tây, áng chừng là trưởng đoàn; thế là ông Tây ta tay dứ nắm đấm định đánh: “Thằng già điên, liệu hồn, muốn chết hử?”. Tôi vội vàng líu ríu xin lỗi, vì sợ ông lỡ tay đánh thật thì ông già nhà tôi ra ma ngay.

Từ lúc ấy tôi mới quan sát phái đoàn kỹ hơn: Các ông bà đều mặc quần áo đắt tiền, cười nói oang oang như chỗ không người (y hệt bọn Tây đi du lịch các nước nhược tiểu cách đây mấy năm về trước) giọng en-nờ, e-lờ lẫn lộn. Các bà vận áo đầm đúng mốt, phấn son sặc sỡ, ví vuy-ton loại mới, tôi chắc ví thật. Thứ ví đầm này chúng tôi ở bên Pháp đã ba đời, không đời nào dám mua, vì giá nó đắt bằng một tháng lương người trung lưu, nhưng hai con cháu ngoại tôi lại chê xấu, chúng bảo chỉ tuyền một mầu nâu xỉn và in toàn chữ LV viết móc vào nhau, không có gì sáng tạo. Bây giờ nhà vuy-ton cũng thấy nhược điểm ấy rồi, họ tân trang mầu sắc rực rỡ chẳng kém gì các mác khác. Tiếp tục đọc

Quê hương ngày trở lại (kỳ 1)

Thư viện của bài

This gallery contains 1 photo.

Thụy Khuê

Về Sài Gòn tôi bị lạc. Tình trạng lạc hướng kéo dài trên taxi, xe ôm, đi một mình hay cùng gia đình, bè bạn, tôi thường lẩm nhẩm trong đầu: đường này Gia Long, Tự Do đây, chắc là Lê Văn Duyệt… Nhưng khi ra đến Hà Nội, lại tịnh không có sự lẩm nhẩm nào. Hôm tới Lê Văn Hưu ăn phở, dù phố này nay đã hoàn toàn khác với trí nhớ, tôi vẫn nhận ra: đây là Lê Văn Hưu, đi tới chút nữa rẽ ngang là phố Huế. Đèn phố Huế bẩy mươi năm qua chưa bao giờ tắt trong tôi.

Những tối gần Noël, một đứa nhỏ năm, sáu tuổi dí sát mũi vào cửa kính hàng bán đồ chơi, thèm thuồng nhìn mấy con búp bê Pháp, tóc vàng, mắt xanh mà mơ đến ngày nó sẽ được ôm một con búp bê như thế, nó sẽ chải tóc, thắt nơ cho nó như thế nào, nó chưa từng dám mơ đến một ngày sang Pháp. Hôm nay, từ phố Huế, đứa nhỏ bẩy mươi ba, bước trở lại Lê Văn Hưu, đi thêm chút nữa sẽ tới phố nhà nó: Thi Sách, số bẩy. Chợ Hôm mặc dù chỉ nuôi nó có 5 năm, từ 5 đến 10 tuổi, đã trở thành người vú chưa từng rời nó bao giờ. Tiếp tục đọc

Ngày dành cho Mẹ

Thư viện của bài

This gallery contains 1 photo.

Nguyên Lạc

HAI CÂU CA DAO VỀ MẸ

Ngày dành cho Mẹ – Mother’s Day – tình cờ tôi gặp hai câu ca dao trên web

Mẹ già như chuối chín cây
Gió lay mẹ rụng, con rày mồ côi

Thật ra thì hai câu này được rút gọn từ bài ca dao dân gian về mẹ sau đây:

Mẹ già như chuối ba hương
Như xôi nếp mật, như đường mía lau
Đường mía lau càng lâu càng ngát
Cơm nếp mật ngào ngạt hương say
Ba hương lây lất tháng ngày
Gió đưa mẹ rụng, con rày mồ côi
Mẹ già như áng mây trôi
Như sương trên cỏ, như lời hát ru
Lời hát ru vi vu trong gió
Sương trên cỏ khó vỡ dễ tan
Mây trôi lãng đãng trên ngàn
Gió đưa tan, hợp, hợp, tan, nao lòng.
(Ca dao dân gian) Tiếp tục đọc

Happy Mother’s Day

Roses for Mom

hoa_hong_cau_vong_4_epwl

 

John stopped by the flower shop to place an order for some roses for his mom who lives about 300 miles from him. As he stepped out of his car, he saw a little girl crying in front of the shop. He came over and asked her why she was crying.

– I want to buy a rose to give to my mother – she sobs – but I only have 75 cents, a rose costs 2 dollars.

He smiled and gently said to her:
– Come into the shop and see what we can do, ok?

John told her to pick out some roses that she likes, he paid for her
and then placed an order of dozen roses shipped to his mother. He felt happy that he found some beautiful roses he knows his mom would love. He pictures her smiling when she receives them.

As they walked out the flower shop, John asked her if she needs a drive home. She smiles happily and said:

– Yes sir, please drive me my mom’s house, I will give her these beautiful roses.

She showed John the way and to his surprise they ended up in a cemetery, where there was a newly buried grave. She said:

– This is my mom’s house.

 She gently placed the roses on the grave and murmured: :
– Mom, I love you and I miss you a lot.

Then she hugged and kissed the grave stone.

——-.
John hurried back to the flower shop, cancelled the delivery. He took the dozen roses with him and decided that he will surprise his mom.

That afternoon he drove all the way to deliver her his love. He would hug her, kiss her and tell her that he loves and misses her a lot, just like that little girl said to her mom’s grave.

 “Whoever believes in me, will do the works that I do.” (John 14:12)

Love is not only what one says, nor cites, nor recites,
But also what one’s done that shows: I truly love you.

Have you hug and kiss your Mom today?

Happy Mother’s Day to all the Wonderful Mothers.

Deacon Joe Nguyen

Ngày nầy, năm 1975…

Thư viện của bài

This gallery contains 1 photo.

Tiểu Tử

Năm nay tôi 80 tuổi . Vợ tôi thường nói với mấy con :« Ông bà mình nói người già hay sanh tật, đúng quá ! Bây coi : ba bây bây giờ sáng nào uống cà phê xong cũng lại đứng trước tấm lịch tháng treo ở phòng khách, nhìn trầm ngâm một chút rồi lấy bút gạch tréo ô vuông đề ngày hôm qua ! Chi vậy hổng biết ? Hỏi ổng thì ổng nói gạch để nhớ rằng đến ngày nầy tháng nầy mình vẫn còn trôi sông lạc chợ ! Trời đất ! Định cư ở Pháp từ hơn ba mươi năm chớ phải mới đây đâu mà đi gạch lịch từng ngày ! Ổng còn nói gạch để coi chừng nào mình mới thôi gạch để về lại Việt Nam… »

Câu nói của tôi là sự thật nhưng vì vợ tôi không hiểu nên cho là tôi già sanh tật ! Làm sao giải thích được mỗi lần tôi gạch tréo một ngày như vậy tôi có cảm tưởng như là tôi vừa nhích lại gần quê hương một chút – một chút thôi – đủ để nuôi hy vọng thấy một ngày nào đó mình vẫn còn sống mà trở về…

Sáng nay, cũng giống như mọi ngày, tôi cầm bút gạch tréo ô vuông ngày hôm qua. Ô vuông ngày hôm nay đập vào mắt tôi làm tôi giật mình : ngày nầy, năm 1975 ! Tôi bỗng nhớ ra, nhớ rõ, những gì đã xảy ra ngày đó, nhớ như in. Rồi sợ « cái ngày đó » nó vuột khỏi ký ức vốn đã quá hao mòn của tuổi già , tôi vội vã lấy giấy bút ghi lại… Tiếp tục đọc

Để Trả Lời Một Câu Nói

Thư viện của bài

This gallery contains 1 photo.

Nguyên Lạc

ĐỂ TRẢ LỜI MỘT CÂU NÓI

VỀ MỘT CÂU NÓI
Trong bài thơ CHUYỆN THÁNG TƯ QUÊ TÔI : MỘT THỜI EM TÔI, liên hệ đến “thân phận” các gia đình bị xếp vào thành phần “ngụy quân”, tôi có dùng các câu ca dao như quotes (lời trích dẫn) – “câu dẫn” – để giới thiệu; và khổ 1 – “phục bút”- dùng để “dẫn dụ” đưa vào nội dung rồi khổ cuối; một bạn thơ XYZ (xin được dấu tên) đã nói với tôi, đại ý : “Cải lương”, “sến” đưa vào làm chi?”.
Đây là bài viết tôi trả lời bạn.
Xin được dẫn ra đây bài thơ liên hệ:

CHUYỆN THÁNG TƯ QUÊ TÔI

MỘT THỜI EM TÔI
.
“Bìm bịp kêu nước lớn anh ơi
Buôn bán không lời, chèo chống mỏi mê” (ca dao)
.
Nhánh lục bình trổ chùm bông tím biếc
Vướng bãi bùn khóc dòng xiết trôi xa!
Con thòi lòi trố mắt nhìn thương tiếc
Bỗng giật mình trái bần rụng chiều tà

***
Người về đâu lệ lưng tròng rưng rức
Bỏ lại sau bờ bến khói sương và…
Xuôi về đâu chiều bóng ngả bờ xa?
Buồn con nước bìm bịp kêu đôi tiếng!
.
Người năm cũ đâu còn áo lụa!
Trên dòng kinh bờ lở bờ bồi
Đôi mái chèo cùng đứa con côi
Vạt tóc khét lưng còng đời cô phụ!
Tiếp tục đọc

HIỂU

Ý Nga

cobaycobay
*
Trích tuyển tập THUYỀN NHÂN
*
Gn c năm mi gp li em Thiếu Sinh Hướng Đo ngoan. Sau khi chào hi, con bé bt đu câu tâm stht là l:
-Do này em trc lóc luôn đó Trưởng.
Nhìn con bé có v xanh xao làm tôi git c mình, nhưng cũng cố gng hi vi ging không bi quan:
-Sao vy nè? Em b rng tóc nhiu quá phi không? Chng l em đang đi tóc gi?
-D hng phi tóc mà lóc. Trc lóc luôn!
Đến đây thì ging nói ca tôi đã bt đu run run xót xa:
-Sao mà đến nông ni trc lóc? Em bnh chi phi điu tr bng thuc mnh lm à?
-D hng phi luôn! Ti em “lân” qua, “lân li quài” mà hng ngủ được.
Tôi đnh thn mt chút mi v l:
-Chao ơi! Em làm trưởng mun ung thuc tr tim luôn. Lăn hoài không ngủ được là TRN TRC chkhông phi TRC LÓC đâu.
Con bé ngn ngon:
-D là TRN TRC đó, ch nào cũng có TRC nên em nói sai “quài”. Dzy sao hôm “hm” ông Ni chi: “My thng DiCng” là sai, VIT CNG mới đúng mà trưởng hng sa ông Ni?
-Trưởng không sa vì không phi ông sai đâu, ông biết là VIT chứ, nhưng đó là cách phát âm của người min Nam: tt c các ch V đu phát âm thành D. Không nên sa cách phát âm vì đó là thói quen khó bỏlm! Nếu nói ông sai thì em cũng va mi nói sai nè: VY, HOÀI, HÔM ĐÓ ch đâu phi DZY, QUÀI, HM. Với người Vit thì dù ông có nói sai, trưởng cũng không dám sa, vì sa thế là vô phép.
-D em biết rồi! Nhưng tại sao ông Ni nói:
-“Chi dzy Vit Cng nó cũng không hiu đâu cháu”? Sao Vit Cộng ngu quá? Người ta chi mà không biết?
Tôi tr li em vi c ni bun trong tim:
-Chúng mà… khôn thì chúng ta đâu có  đây, dân Vit mình ở trong nước đâu kh vy!
-D chuyn đó em hiu.
Tôi thoáng ngc nhiên: -Em còn nhỏ mà đã… hiu sao?
            -D hiu chứ, năm nào nhà em cũng có bạn lính ca ông Ni đến họp hành đông đ đ t chc lễ Tưởng Nim Quc Hn 30.4. Ai cũng chi Vit Cng ác quá “chi chi” luôn
Thế ri con bé k huyên thiên bao nhiêu tội ác do VC gây ra mà nó đã thấm được vào đầu, qua ông bà, qua bn bè nhà binh ca ông, qua cha m và h hàng thân thuc trong nhà… Tôi tha hồ được ngi nghe mãn nh mt ngôn ng “Vit lai M”, nghe mà nhiều lúc cười chy cả nước mt. Nim vui thy tr còn nói tiếng Vit có l là nim vui duy nht ca một tháng Tư đầy bi ly trong lòng mt thuyn nhân xa x.
*
Chao ơi! Đứa tr mà còn nghe và hiu nhiu v ti ác ca VC, không hiu sao bao nhiêu Vit gian li không nghe bao gi nh? Hay là chúng nghe nhiu mà không hiu như con bé?
Ý Nga

Khái Hưng Trong Tù

Thư viện của bài

This gallery contains 1 photo.

 MAI CHI
 

Để bạn đọc hiểu qua đời sống trong tù của Khái Hưng, chúng tôi trích đang dưới đây một phần bài Đợi Tết trong tù của Mai Chi, đăng trên nhật báo Dân Chủ số 925 ra ngày 9-2-1964, thuật lại những ngày Khái Hưng bị giam tại trại giam Lạc-quần (huyện Xuân-trường, Nam-định).

Theo chỗ hiểu biết của chúng tôi, ông Mai Chi là một chiến hữu cách mạng của Khái Hưng. Bài báo của ông, thuật theo trí nhớ của những bạn đồng ngục của Khái Hưng, có thể coi là đáng tin.

(Văn, số 22, ngày 15-11-1964)

Hồi ấy Lạc-quần là một chiến khu quan trọng của miền nam Trung-châu Bắc Việt (thuộc Liên-khu 3). Trại lính khố xanh cũ lúc đó đã biến thành Bộ Tư-lệnh của đại tá Việt-minh Hà Kế Tấn. Công-an tỉnh Nam-định đặt trại giam gần sát đó để có thể nhờ bộ đội can thiệp tức khắc nếu xẩy ra những trường hợp bất ngờ (các chính trị phạm nổi loạn hoặc các nhóm quốc gia đánh úp để giải phóng đảng viên). Anh em chúng tôi thuộc nhiều đoàn thể khác nhau: Việt-quốc, Việt-cách, Duy-dân, Dân-tộc, Công-giáo v.v… không thiếu một đảng phái chống Cộng nào. Đến trung tuần tháng chạp âm lịch tổng số lên tời gần 50 người.

Đời sống tại đây tương đối dễ chịu vì lúc đó Việt-minh còn bận tổ chức kháng chiến chống Pháp, chưa nghĩ tới việc hành hạ chúng tôi. Ngoài điểm ăn ngủ kham khổ, chúng tôi không hề bị gông cùm xiềng xích, và cũng không phải làm việc gì cực nhọc, chỉ một lần chúng tôi được đi vác gạch cho bộ đội xây đồn, nhưng vì anh Khái Hưng yếu đuối nên bị chúng loại ra, không cho hưởng cái ân huệ đó. Tuy nhiên không phải không có những cuộc tra tấn. Đêm nào chúng cũng gọi vài ba người lên phòng đồn trưởng để hỏi cung đúng vào lúc ba tiếng cồng “ngủ” dóng lên. Đánh đập, kìm kẹp, quay điện, tra tấn đủ kiểu cho tới khuya mới thả cho về. Và mỗi buổi sáng chúng tôi lại thay phiên đấm bóp và săn sóc những nạn nhân đêm trước. Tiếp tục đọc

Mùa Xuân Chim Hót

Thư viện của bài

This gallery contains 1 photo.

Hoàng Xuân Sơn

Lâu lắm trong đời, tôi đã từng nghe Yellow Bird ( soạn bởi Michel Mauleart Monton/Oswald Durand/Jessica Mauboy ) được trình bày với các giọng chính và phụ  của tứ ca The Brothers Four rất ăn ý, nghệ thuật hòa âm cao qua tiếng đàn thùng rộn ràng, mơ màng gợi tưởng.  Rồi từ phong trào nhạc trẻ Việt Nam trăm hoa đua nở khoảng thập niên 60 với những ca khúc ngoại quốc lời Việt ra đời rầm rộ, ăn khách( trong đó phải kể đến tên tuổi sáng chói của những người đã chuyển tải nhạc ngoại sang tiếng nước mình như Phạm Duy,Trường Kỳ, Nam Lộc, Lê Hựu Hà , Lê Xuân Trườngv.v); tôi đã được thưởng thức bản phóng tác Yellow Bird với tựa đề Chỉ Là Giấc Mơ Qua ( cũng có người gọi là bài Như Làn Mây) của Nam Lộc (cũng có nơi ghi Nam Lộc và Trường Kỳ?) được trình diễn qua nhiều thập niên với nhiều nghệ sĩ khác nhau.

Như làn mây, tình yêu thôi giờ đây lững lờ 
Như làn gió, tình yêu thôi giờ đây hững hờ. 
Rồi một lần xa cách là một đời than trách 
Rồi cuộc tình bay mất và một người đi khuất 
Tình chỉ còn cay đắng để chỉ còn xa vắng 
Để chỉ còn nắng vương cuối đường. 

. . . Tiếp tục đọc

‘VỀ THU XẾP LẠI…’ KỲ IV

Thư viện của bài

This gallery contains 1 photo.

Đỗ Hồng Ngọc

7. Chìm dưới sương thu là một đóa thơm tho…

“Chìm khuất trong ta

Một lời nói vu vơ

Chìm dưới sương thu

Là một đóa thơm tho…”

(TCS)

Tôi ngờ rằng có một phần thưởng quý giá nào đó cho kiếp nhân sinh, mà thiên nhiên đã mất công tạo ra, không thể nào có một mục đích duy nhất là làm cho nó phải khổ đau từ lúc sanh đến lúc bệnh, lão và tử. Điều này hoàn toàn vô lý. Bởi nếu vậy thì thiên nhiên đã không tạo ra vạn vật, nhất là sinh vật. Thử nhìn xem, vạn vật luôn đẹp đẽ, sinh vật luôn đẹp đẽ muôn màu muôn sắc, Hai con bọ ngựa yêu nhau, ve vãn nhau, giao hợp, xong con đực chết ngay và trở thành thức ăn cho con cái. Con cái mang cái trứng đã thụ tinh, nuôi nấng và sinh sản, xong cũng chết. Nếu chỉ làm cái việc giao hợp rồi chết như con bọ ngựa hay những con ong đực, thì nhiệm vụ duy nhất của nó chỉ là làm vật trung gian, truyền giống, khi hoàn thành nhiệm vụ thì không có lý do gì để tiếp tục tồn tại. Vậy thì ít ra phải có chút tưởng thưởng gì cho cái vất vả của nó chứ? Có lẽ vì thế mà thiên nhiên đã tặng cho nó chút khoái lạc trong lúc giao hợp. Nhưng sự giao hợp là sự truyền trao chủng tử, còn chuyện “bố thí thân mạng” kia có ý nghĩa gì không? Có được tưởng thưởng gì không?

Chẳng hạn, ăn là một hiện tựơng để tạo năng lượng duy trì sự tồn sinh và phát triển cho đến lúc có thể “hoàn thành nhiệm vụ”, vậy mà thiên nhiện còn phải tưởng thưởng một chút khoái cảm cho cái sự ăn. Nếu không, đâu có sinh vật nào ăn làm chi cho mệt. Nó phải đổ mồ hôi sôi nước mắt để kiếm lấy cái ăn, phải tranh giành vất vả để có cái ăn và phải trăm mưu ngàn kế để tìm cách ăn… cho nhiều. Từ một con mối mù lòa, rào rào ăn
Tiếp tục đọc

Một quãng đời của Trịnh Công Sơn (Kỳ 2)

Thư viện của bài

This gallery contains 2 photos.

Chuyện bên nhà: Một quãng đời của Trịnh Công Sơn (Kỳ 2)

Đoàn Dự ghi chép

Chúng tôi hy vọng lời kể của Nguyễn Thanh Ty, một người bạn rất thân cùng học tại trường Sư Phạm Quy Nhơn và dạy cùng một nơi, trọ cùng một nhà với Trịnh và mấy anh em khác ở Bảo Lộc (Blao), về một quãng đời của Trịnh Công Sơn sẽ đem đến cho quý bạn nhiều chi tiết rất thú vị có lẽ còn ít người biết, nếu chúng ta không đặt câu hỏi Trịnh Công Sơn là CS hay không CS, bởi vì ngay chính những người bạn rất thân ở cùng nhà với Trịnh Công Sơn cũng không biết.
Trong kỳ I là chuyện Trịnh Công Sơn lúc học tại trường Sư phạm Quy Nhơn và khi đi dạy tại trường Sơ cấp người Thượng tại Bảo Lộc, có thể thấy Trịnh Công Sơn sinh năm 1939 tại Huế, gia cảnh khó khăn, cha mất sớm, bà mẹ phải tần tảo nuôi 8 người con – 3 trai, 5 gái – ăn học, Sơn là anh cả. Học tại Sài Gòn, thi rớt Tú tài II, Sơn trở về Huế rồi thi đậu vào trường Sư Phạm Quy Nhơn khoá đầu tiên, 2 năm, từ 1962đến 1964, tốt nghiệp, đi dạy lớp sơ cấp tại Bảo Lộc tức Blao, học sinh ở đó đa số là người Thượng.
Trong phần này,nhà giáo Nguyễn Thanh Ty kể chi tiết về những người đã một thời đi qua đời Trịnh Công Sơn như Tôn Nữ Bích Khê, Ngô Vũ Bích Diễm…, xin mời quý bạn xem xét.

Sau khoảng vài tháng đầu niên khóa 64-65, ông Trưởng ty Giáo dục Trương Cảnh Ngôn về hưu, ông Lê Cao Lợi, thanh tra kỳ cựu, có tu nghiệp ở Mỹ một thời gian, được Bộ cử giữ chức vụ đó thay ông Ngôn. Đây là thời gian vàng son của Trịnh Công Sơn. Ông trưởng ty Lợi, trung niên, có tâm hồn văn nghệ, thích nhạc, thơ, nên đối với một người như Sơn ông dành cho nhiều ưu đãi. Đôi lúc ông nhắm mắt làm ngơ cho Sơn dùng thì giờ dạy học làm việc riêng của mình như về Sài Gòn liên lạc xuất bản nhạc chẳng hạn. Chuyện này khiến một số giáo viên già, lâu năm trong nghề so bì. Tiếp tục đọc

Ngày Vượt Biên Nhìn Lại

Thư viện của bài

This gallery contains 1 photo.

 Người Phương Nam

Mỗi năm, cứ tới ngày ba mươi mốt tháng mười là thầy Thanh nhắc vợ mua dĩa trái cây về thắp nhang cúng Bà Áo Trắng để tạ ơn  Bà đã  phù hộ độ trì cho gia đình thầy nói riêng  và  cả nhóm người chung tàu nói chung được bình yên tới bến bờ trong chuyến vượt biên ba mươi năm về trước. Một ơn phước thiêng liêng tưởng như là bịa đặt nhưng kiểm chứng lại thì quả thật không thể nào phủ nhận .  

Đây ngày kỷ niệm vượt biên

Tháng mười, ba (mươi) mốt vượt biên đường tàu

Xế chiều qua chợ Bãi Xàu

Rồi qua Bãi Giá núp vào chờ đêm…

Năm bảy mươi lăm, trong những ngày hấp hối dãy chết của miền nam, Thầy Thanh đã tận sức tìm cách đưa gia đình chạy cộng sản nhưng cuối cùng cuộc di tản bất thành, số mệnh đã cột chân thầy lại cho đến bốn năm sau. Khi về lại tỉnh nhà, trong một buổi họp nhân dân, thầy đã chứng kiến tận mắt  một màn thị oai dằn mặt nhân dân rất ư là ghê rợn bạo tàn của chế độ mới. Trong buổi họp, bọn sắt máu đã tố tội hai sĩ quan “ngụy” và sau đó đã thẳng  tay hành quyết vặn cổ nạn nhân ngay tại hiện trường không mảy may xúc động. Luật lệ nào mà xử người không có đối chứng, không quyền biện hộ phân bua Tiếp tục đọc

Về Thu Xếp Lại (3)

Thư viện của bài

This gallery contains 1 photo.

Đỗ Hồng Ngọc

Gate, gate, pāragare, pārasaṃgate! Bodhi-Svāhā!

5. Người đã đến và người sẽ về bên kia núi

“Từng câu nói là từng cánh buồm giong cuối trời. 
Còn lại tiếng cười khóc giữa đời…”

(TCS). 

Người ta đã đúc kết: “Năm năm / Sáu tháng / Bảy ngày”, nghĩa là ở tuổi 50, nên có kế hoạch  năm; đến tuổi 60 thì chỉ nên làm kế hoạch tháng; còn đến 70 thì tốt nhất nên có kế hoạch… ngày! Cho nên “Mỗi ngày tôi chọn một niềm vui! Chọn những bông hoa và những nụ cười!” (TCS) là phải quá! Vấn đề là ở chỗ chọn lựa. Thiên đàng Địa ngục hai bên… Một cụ già trên trăm tuổi được nhà báo hỏi bí quyết sống lâu, sống khỏe, ông nói có gì đâu, mỗi sáng, thức dậy, tôi tự hỏi hôm nay mình nên ở thiên đàng hay địa ngục đây… rồi tôi chọn thiên đàng.

Có những vùng khí hậu lạ. Một ngày mà có đủ cả bốn mùa: xuân hạ thu đông! Còn muốn gì hơn? Ở cái tuổi này, không phải chỉ cần có kế hoạch ngày mà nhiều khi còn phải có kế hoạch giờ! Sáng khác, trưa khác, chiều khác, tối khác rồi. Làm được gì thì làm ngay. Lát sau mọi thứ sẽ khác. Cần có phương án hai, phương án ba. Cẩm nang để sẵn trong các túi gấm, đến đâu giở ra đến đó!

Từ trứng và tinh trùng, ta hình thành một cái phôi phải nhìn dưới kính hiển vi mới thấy. Rồi rất nhanh, trở thành một thai nhi loi ngoi trong vũng nước ối, trong bụng mẹ. Không thở. Không ăn. Không ngủ. Dĩ nhiên có đái và ỉa khi các bộ phận thải chất bã này hình thành và hoạt động. Thế rồi chín tháng mười ngày ta bung ra ngoài cứ y như cánh hoa phải xòe nở đúng thời đúng tiết vậy. Việc đầu tiên là… thở. Thở mà không xong thì tiêu đời! Bác sĩ sẽ xịt alcool hoặc đét vào đít cho ta khóc thét lên. Khóc càng to càng tốt. Khóc to có nghĩa là thở mạnh. Mệt mỏi rồi nhé! Từ đó đã phải lệ thuộc vào cái gì đó bên ngoài. Tiếp tục đọc

BẾN XUÂN

Thư viện của bài

This gallery contains 1 photo.

Đặng Tiến

BẾN XUÂN

 Xuân đã đem mong nhớ trở về
Lòng cô gái ở bến sông kia
Cô hồi tưởng lại ba xuân trước
Trên bến cùng ai đã nặng thề…
Nguyễn Bính

Từ một ý thơ xuân, hôm nay chúng ta cướp cả ánh thiều quang để nói chuyện Thơ, bàn về thi tính, hay chất thơ trong từ ngữ, lấy từ bến làm ví dụ. Dĩ nhiên là còn nhiều ví dụ khác.

*

Trong ngôn ngữ, dân tộc nào cũng vậy, có một số từ ngữ được trọng dụng trong thi ca nhờ vào nội hàm, có khi nhờ vào cái vỏ âm vang, giới ngữ học gọi là cái được-biểu-hiện và cái-biểu-hiện. Nhưng chúng chỉ được trọng dụng trong một thời gian, dài hay ngắn tùy nền văn hóa mà chúng phản ánh. Trong thời gian văn hóa này, chúng được tiếp nhận, cảm thụ trên những tần số khác nhau, tùy từng thành phần văn hóa và xã hội, và tùy cảm nhận cá nhân, lúc này hay lúc khác. Tiếp tục đọc

‘VỀ THU XẾP LẠI…’ KỲ I

Thư viện của bài

This gallery contains 1 photo.

Đỗ Hồng Ngọc

‘VỀ THU XẾP LẠI…’ KỲ I

Gate, gate, pāragare, pārasaṃgate! Bodhi-Svāhā!

LỜI NGỎ

Người ta nói đúng. Mình đang ở tuổi nào thì đó là cái tuổi đẹp nhất, không thể có tuổi nào đẹp hơn! Một người 40 mà cứ tiếc mãi tuổi 20 của mình, một người 60 mà tiếc mãi tuổi 40 thì đến 75 họ sẽ tiếc mãi tuổi 60… thật là đáng thương!

Tôi nay ở tuổi 80. Thực lòng… đang tiếc mãi tuổi 75! Thấy những bạn trẻ… trên dưới bảy mươi mà “gato”! Mới vài năm thôi mà mọi thứ đảo ngược cả rồi. Bây giờ có vẻ như tôi đang lùi dần về lại tuổi ấu thơ, tuổi chập chững, tuổi nằm nôi…

Vòng đời rất công bằng. Chỉ còn cách tủm tỉm cười một mình mà thôi!

Cái tuổi đẹp nhất của đời người theo tôi có lẽ ở vào lứa 65-75. Đó là lứa tuổi tuyệt vời nhất, sôi nổi nhất, hào hứng nhất… Tuổi vừa đủ chín tới, có thể rửa tay gác kiếm, tuyệt tích giang hồ, “nợ tang bồng trang trắng vỗ tay reo” (NCT), nhưng cũng là tuổi có thể lại vướng víu, đa đoan nhiều nỗi, để một hôm ngậm ngùi ta là ai mà còn khi giấu lệ/ ta là ai mà còn trần gian thế? (TCS) 

Nhớ hồi ở tuổi 55, mới hườm hườm, tôi ngẫm ngợi, ngắm nghía mình rồi lẩn thẩn viết Gió heo may đã về. Đến 60 thì viết Già ơi… chào bạn! như một reo vui, đến 75 còn… ráng viết Già sao cho sướng?… để sẻ chia cùng bè bạn đồng bệnh tương lân. Nhưng 80 thì thôi vậy. Tiếp tục đọc

*** Ạch đụi tra lão

Thư viện của bài

This gallery contains 2 photos.

Hồ Đình Nghiêm

Ạch đụi tra lão

Montréal, thành phố tôi định cư, đã có ai đó thày lay phiên dịch, phụ đề Việt ngữ thành Mộng Lệ An. Thoạt nghe xướng tên, cứ ngỡ như đó là nhan truyện dài kỳ tình diễm lệ chan đầy nước mắt của nhà văn nữ Quỳnh Dao ở tận xứ lạ Taiwan. Nhiều đọc giả “khó tính” bảo: Quỳnh Dao là chưởng môn nhân môn phái Sến. Tôi chưa đọc văn bả nên chỉ biết mần thinh. Tôi nhớ có vị nào đó ở trong nước từng có thơ “mưa rơi không cần thông dịch” hoặc một thứ na ná tựa thế. Tôi lại nhớ một câu thoại “Cái gì của César thì nên trả lại cho César”.

Tôi yêu Montréal, nhỏ bé, hiền hoà, dân tình cởi mở, Anh-Pháp đề huề chẳng yes thì oui. Có khu cổ xuý việc trau dồi Pháp ngữ, lại thày lay mần thông ngôn, như sau: Tình xê la mua, tiền xê lạc răng, đời xê la vi. Ui, trẻ lên ba cũng tường những món gay cấn nọ.

Ở khu chăm nói tiếng mẹ đẻ, tôi thân thiết với hai nhà thơ: Luân Hoán, Hoàng Xuân Sơn. Hai nhà văn: Võ Kỳ Điền, Song Thao. Tôi gọi bốn vị bằng anh, vì tôi tri thiên mệnh trong khi họ thuộc dạng cổ lai hy. Họ chẳng thích nuôi râu, chứ nếu thả giàn để râu ria ra rậm rạp thì e “bác Hồ” phải nể mặt tủi hờn đọ không lại kính nhi viễn chi. Quá khứ, Luân Hoán gốc Đà Nẵng (Trung). Hoàng Xuân Sơn gốc Huế (Trung). Võ Kỳ Điền gốc Phú Quốc (Nam). Song Thao gốc Hà Nội (Bắc). Ba phương lưu lạc dặm ngàn đã tìm về chốn đất lành Tiếp tục đọc

*** HẠNH PHÚC VÀ ĐAU KHỔ

Thư viện của bài

This gallery contains 1 photo.

Lê Khắc Thanh Hoài

 Chư Thiên và loài người
Suy nghĩ về hạnh phúc
Ước mong được hạnh phúc
Chân hạnh phúc là gì ? (1)

          Bốn câu thi kệ này được trích trong bài « Kinh Hạnh Phúc » mà đức Phật Thích Ca Mâu Ni đã nói cách đây đã hơn hai ngàn năm trăm năm, khi ngài đang trú ngụ tại khu rừng có tên là Jeta và một thiên nhân, người của cõi trời, đã hiện đến một bên và đặt câu hỏi về hạnh phúc như trên.
 
Bài viết này chỉ mượn và dựa vào câu hỏi trên để thử tìm một định nghĩa cho hạnh phúc, làm thế nào để có hạnh phúc trên cõi thế này ? Trước tiên là một định nghĩa mang tính thế gian, của con người đời thường, không phân tích sâu, rộng về bài Kinh Hạnh Phúc của đức Phật. Tiếp đến là suy nghĩ về câu trả lời phải làm gì, sống như thế nào, đó là những phương pháp mà con người đời thường áp dụng để đạt hạnh phúc. Và song song với việc tìm hiểu hạnh phúc, thì không thể nào mà không có bóng dáng của khổ đau. Như phải có màu trắng để biết được màu đen như thế nào, có bên phải thì có cái gọi là bên trái, có trên cao thì mới thấy cái dưới thấp, có bóng tối mới nhận ra ánh sáng, có nụ cười thì cũng có nước mắt… Tiếp tục đọc

*** GIỠN CHƠI CÙNG CHỮ NGHĨA

Thư viện của bài

This gallery contains 1 photo.

Nguyên Lạc

BÀN VỀ NÓI LÁI

Nhân dịp Xuân về, Nguyên Lạc tui gởi đến các bạn bài vui này cùng với lời chúc an khang và thịnh vượng. Mong các bạn có được vài nụ cười trong các ngày Tết.

Laughter is the sun that drives winter from the human face. — Victor Hugo

Dẫn nhập: Miền nam lúc trước, các cô gái quê thường ngồi chàng hãng, chê hê (giạng háng) để các củ, trái trước mặt, bên vệ đường bán buôn. Một ông chỉ vào các củ, hơi lệch hướng chút để hỏi mua. Nào mời các bạn.

CỦ CHI?

1.
Củ chi. cô bán củ chi?
— Củ sao không chỉ, ông nì chỉ cu?

2.
Củ chi. cô bán củ chi?
Tiếp tục đọc

*** Quanh ngày sinh nhật

Thư viện của bài

This gallery contains 1 photo.

MANG VIÊN LONG

Từ rất lâu, tôi không có “thói quen” gì về ngày sinh của mình. Có lúc tôi quên bẵng. Có lúc tôi chợt nhớ. Quên thì chẳng sao, mà “chợt nhớ” thì rất ngậm ngùi!
Cho mãi đến vài năm gần đây, các cô cậu học trò cũ thường gặp nhau vui chơi nhân ngày Sinh nhật của nhau; thế là họ “rủ” tôi tham gia. Hay nói đúng hơn, họ đã “nhắc” tôi nhớ lại ngày sinh của mình! Nhờ vây, tôi cũng đã “vui ké” (chữ của nhà thơ HL) với họ; cảm thấy có chút gì vừa hạnh phúc, vừa bâng khuâng!
Tôi không nhớ ngày sinh bởi dễ hiểu, cuộc sống riêng của tôi quá lao đao, bất hạnh – ngay từ thuở lên tám! Tôi không nhớ ngày tôi có mặt trên cõi nhân sinh nầy, bởi hiện tại của tôi là những chuỗi tháng ngày phải miệt mài làm việc, và phấn đấu không ngừng để kiếm tìm niềm vui và an ủi…
Từ chiều hôm trước – tôi đã nhận được nhiều tin nhắn “nhắc nhở” cũng như chúc mừng từ vài thân hữu và học trò; cho nên dù “muốn quên” cũng phải nhớ! (Tôi có ý nghĩ: lạ thật, ngày sinh của tôi, tôi không nhớ, mà họ lại nhớ, vui nhỉ?). Có người hỏi tôi, nhân ngày này có tổ chức gì cho vui không? Tôi trả lời: “Chỉ nhớ thôi, không có gì nữa cả!”.
Đúng một giờ sáng ngày 4 tháng 6, người bạn văn phương xa lại gởi cho bài thơ “bấm nút” như sau:
“ngày như mọi ngày
nhưng ngày không như mọi ngày
anh nhớ ra bờ giậu
Tiếp tục đọc

*** MÙA ĐÔNG LƯU VONG

Thư viện của bài

This gallery contains 1 photo.

Ngô Quốc Sĩ

MÙA ĐÔNG LƯU VONG
NỖI NHỚ QUÊ HƯƠNG RAY RỨT

Nỗi nhớ quê hương của người Việt lưu vong thật da diết. Xa quê hương, dân Việt vẫn luôn luôn canh cánh bên lòng hình ảnh đất mẹ dấu yêu đang trải qua bao tang tóc dưới bàn tay lũ con hoang đã bị tha hóa, đánh mất bản chất con người nói chung và con người Việt Nam nhói riêng. Thi ca yêu nước đã chuyên chở đầy đủ tâm trạng nhớ thương ray rứt đó, tiêu biểu là những vần thơ truyền cảm của Văn Nguyên Dưỡng qua bài Chiếc Áo Kinh Cừu Trong Giá Đông.

snow
Thực ra bài thơ Chiếc Áo Khinh Cừu chỉ là một chấm nhỏ trong gia tài văn chương thắm đượm tình tự quê hương của nhà thơ nhà văn Vĩnh Định- Văn Nguyên Dưỡng, cũng là sĩ quan quân đội Việt Nam Cộng Hòa, đã từng cầm súng chiến đấu bảo vệ tự do miền Nam trước cuộc xâm lăng của cộng sản Bắc Việt. Ông đã đóng góp cho nền văn học lưu vong nhiều tác phẩm giá trị bằng tiếng Việt cũng như tiếng Anh, tiêu biểu như Vùng Đêm Sương Mù , Trường Ca Trên Bãi Chiến , Lessons from the Vietnam War, Inside An Lộc: The Battle to Save Saigon …
Trở lại bài thơ Chiếc Áo khinh Cừu trong Giá Đông, nhà thơ đã thể hiện tâm trạng “nhớ về” và “nhớ thương” những gì đã bỏ lại sau lưng khi rũ áo chiến binh, rời bỏ quê hương trong ngậm ngùi và tủi nhục.
Nhớ về thì trước hết là nhớ chiếc áo trận đã từng lấm bụi gió sương, lấm bùn chinh chiến và lấm máu quân thù, nay đã bạc màu theo năm tháng, chỉ còn lại như một kỷ niệm giữa mùa tuyết trắng xứ người:
Tiếp tục đọc

*** ÔI CHAO GIỌNG HUẾ !

đặng lệ khánh

1aodaibuon

      

Mình người Huế mà đi nơi lạ, nghe được giọng Huế mô đó là rán ngước mắt, quay đầu tìm cho kỳ được chủ nhân của giọng nớ đang đứng ở mô, có quen chút mô không. Người Huế qua Mỹ hà rầm, mô phải ít. Cứ mỗi lần nghe giọng Huế thì quay đầu tìm, chẳng mấy lúc mà chóng mặt, nếu không gãy cổ. Nhưng mà lạ quá, hễ nghe được thì tự nhiên trong lòng như có một chút dậy sóng, a, bên cạnh mình đang có một ai đó đang tha hương lạc bước từ xứ mình đây.

Hôm kia đi ăn cưới, hai bên dâu rể đều là người Huế. Ông MC người Huế, ông ca sĩ chính cũng người Huế. Khi ông ca sĩ nói, một cô trong bàn phê bình : ” Ông ni nói tiếng Huế chi lạ rứa, ông nói tiếng chi a! “, còn ông xã thì nói: ” Nói tiếng Huế gì nghe nặng wá, hổng hiểu gì cả .”  K thì nghe hiểu tất.

Vậy thì giọng Huế ra răng mới đúng tiêu chuẩn ? Cô bé phê bình giọng Huế của chàng ca sĩ thì vừa rời Huế năm năm, ông xã K là Huế lai căng, sinh ở cao nguyên và lớn lên ở miền Nam, họ có đôi tai khác hẳn K chăng ? K không phân biệt được âm sắc trong giọng nói chăng ? Hay là K vì lòng thương Huế, cái xứ mình bỏ mà đi từ xưa nên rộng rãi hơn với cái giọng thân thương nớ, nghe bằng trái tim hơn là bằng đôi tai?

Giọng Huế khác với giọng Hà Nội, giọng Sài Gòn ra răng mà ông Hà Huyền Chi đi giữa chợ Mỹ, chắc chắn là nghe rất nhiều người nói tiếng Việt, mà chỉ khi nghe giọng Huế mới chiêng trống dậy hồn quê, mới khơi nỗi sầu xa xứ chất ngất trong lòng, dù ông là dân Bắc chính cống ? Có phải chăng khi đã nghe một giọng Huế thỏ thẻ bên tai, không chỉ là lời đi vào hồn người, mà cái giọng đã đậu trong tim, đâm cành trẫy lá ?

…Giọng Huế bỗng nghe từ chợ Mỹ
Mà chiêng mà trống dậy hồn quê
Hương cau màu trúc xanh thôn Vỹ
Áo mới xênh xang giữa hội hè

Tôi bước bên nàng không dám thở
Không gian đầy Huế núi cùng sông
Tóc ai thả gió hồn tôi mở
Dấu kín trong tim những nụ hồng

Hà Huyền Chi ( Huế đầy)

Giọng Huế quý giá vô cùng làm cho Mạ đã lưu lạc bao nhiêu năm, mất mát đủ thứ mà khư khư ôm lấy giọng Huế ướt rượt, nhất định không đánh đổi, không pha trộn, dù đời sống Mạ như cuồng lưu tràn bờ biết bao lần. Lúc lắng xuống, giọng Mạ như giòng Hương sau những cơn cuồng nộ, lại lặng lờ xanh trong chảy xuôi ra biển, êm ái nghe giọng hò thoang thoảng xa đưa.

…Tuổi con gái Mạ từng uống nước sông
Đến bây giờ giọng Huế nghe còn ướt
Giọng Huế nghe còn một chút gì trong
Bao đắng cay pha vào chưa đục được …

Đoàn Vị Thượng ( Giọng Huế của Mạ)

Giọng Huế ăn sâu trong tâm người con Huế, đi đến bờ bến nào cũng thương nhớ không nguôi. Chỉ cần nghe tiếng thỏ thẻ của một người bạn Huế là gợi nhớ đến một thời thơ ấu có tiếng Mạ ru hời bên tai, và cảm thấy gần gũi ngay, như gần gũi với thời gian đã qua, đã mất.

…Nếu lại được em ru bằng giọng Huế
Được vỗ về như mạ hát ngày xưa
Câu mái đẩy chứa chan lời dịu ngọt
Chết cũng đành không hối tiếc chi mô

Tô Kiều Ngân ( Giọng Huế)

Giọng Huế của gái Huế dịu dàng, nhiều người công nhận. Nhưng giọng Huế con trai Huế thì đang còn được bàn cãi. Nhiều người cho rằng giọng trai Huế không hùng hồn, không kêu gọi được người khi làm chuyện lớn. Điều ấy thực chăng ? Không phải đâu. Chỉ tại người Nam và người Bắc không muốn sửa đổi đôi tai của họ để nghe một âm sắc trầm trầm bằng bằng. Không sửa được, họ không hiểu thì họ không nghe. Nên để được người nghe, người Huế đổi giọng. Người Nam, người Bắc không ai đổi giọng của họ, mà người Huế thì đi đến đâu pha giọng đến đó. Chính vì vậy mà người khác địa phương không cần phải lắng nghe, sửa tai mà nghe. Hai người Huế tha phương gặp nhau, phải một thời gian lâu mới biết là họ cùng người Huế cả vì họ nói giọng Bắc, giọng Nam. Khi biết ra, cả hai cùng hân hoan, tự hào nói : Rứa hả, em cũng Huế đây nì.

Ngày K mới theo chồng từ Huế vào Sài Gòn, K ở chung với chị chồng. Bà đi làm suốt ngày. Bà có một người giúp việc, bà Tư, người Kiên Giang. Trong những ngày đầu sống trong căn gác xép xa lạ, chồng theo tàu lênh đênh, chung quanh không người thân quen, K chỉ có mỗi bà giúp việc ấy để chuyện trò cho đỡ nhớ nhà. Mà nói chuyện với Bà như nói chuyện với người điếc. Bà nói K còn nghe được chứ K nói thì bà hoàn toàn mù tịt, không hiểu K nói gì. Nhờ bà làm gì rồi thì cũng tự mình đi làm lấy vì bà ư hử mà không làm, chỉ vì bà không biết K muốn gì. Bà than : ” Cô nói tiếng ngoại guấc, hông nói tiếng Yiệt “.

Đối với người Nam, ai không nói giọng Nam là không nói tiếng Việt.

Như vậy, giữa tiếng và giọng, có một sự sai biệt khá lớn. Chúng ta hay dùng lẫn lộn. Khi nói ” nói tiếng Huế ” hay ” nói giọng Huế ” , thì ai cũng hiểu ngay là người ấy đang dùng âm thanh trọ trẹ để phát ngôn. Nhưng khi nói theo ông Võ Hương An ” Tiếng Huế, một ngoại ngữ “, thì rõ ràng tiếng không còn là giọng Huế nữa. Bạn có thể nói giọng Huế, nhưng giọng Huế nớ sẽ không là giọng Huế rặt nếu bạn không dùng mô tê răng rứa. Nghe một giọng Huế thỏ thẻ mà trong câu toàn là thế là thế nào, thưa vâng, không sao đâu ạ thì nghe nó … kỳ kỳ như ăn cơm hến với dưa muối, cà pháo. Huế không thưa vâng ạ. Huế chỉ dạ nhẹ nhàng. Cái tiếng dạ của mấy cô gái Huế làm chết biết bao chàng trai Huế cũng như không Huế. Huế không nói thế là thế nào, Huế nói : Dạ, rứa là răng ? Mấy chữ mô tê răng rứa ni phải đi với giọng Huế, chứ còn đi với giọng Sài Gòn, với giọng Hà Nội thì dĩ nhiên chỉ là nói đùa cho vui, hoặc đang lấy lòng một người Huế nào đấy thôi, hoặc là một dấu vết cho thấy người nói đã một thời lăn lóc trên đất người, đã lậm tiếng người, đã mất gốc không nhiều thì ít. Như K đây. Đau lòng mà nhận ra như rứa.

Người Huế không kêu ” cô “, người Huế kêu ” O “.
Người Huế không kêu ” Bà “, người Huế thưa ” Mệ “
Người Huế không “nói “, người Huế “noái “
Người Huế không “mắc cỡ “, người Huế “dị òm”,
Người Huế không hỏi: “Sao vậy? “, người Huế hỏi “Răng rứa? “
Người Huế không nói ” Đẹp ghê “, người Huế nói ” Đẹp dễ sợ. “

Người Huế cái chi cũng kêu lên “Dễ sợ !! “, dữ dễ sợ, hiền dễ sợ, buồn dễ sợ, vui dễ sợ, xấu dễ sợ, thương dễ sợ, ghét dễ sợ.

K đang trở lại với Huế, đang nói lại cái giọng mà thuở xưa đã từng thỏ thẻ bên tai ai, đang tìm học lại tiếng Huế, một ngôn ngữ tuy đang dần dần bị mai một vì những đợt sóng người từ các nơi trôi dạt đến. Những người mới này mang theo họ cái giọng, cái tiếng từ quê cha đất tổ, hoà lẫn với tiếng và giọng Huế, tìm cách đồng hoá nó, như xưa kia người Việt đồng hoá người Chiêm.

Những người ở các vùng khác có tha thiết nhớ và gìn giữ tiếng và giọng của họ không hè ?

Hồi còn đôi tám, đi nghỉ hè trọ ở nhà một người bạn gái tại Sài Gòn. Nhà bạn có hai ông anh lớn hơn chừng ba bốn tuổi. Cả bọn họp thành một nhóm đi chơi với nhau vui vẻ. Một buổi trưa, sau khi đi chơi đâu đó về, cả 4 nằm ngang trên chiếc giường lớn nói chuyện bâng quơ. Một trong hai anh nằm kề K, lấy mái tóc dài của K đắp ngang mặt mình, hỏi :

” Tại sao người Huế khi nói gì cũng nói ” dễ sợ ” vậy K ? “
” K không biết. “
” Vậy thì nếu nói ‘ Dễ thương dễ sợ ‘ có đúng không ? “
” Không biết. “

Đặng Lệ Khánh

*** Nợ nhau kiếp nào ….

Thư viện của bài

This gallery contains 1 photo.

Lanney Trần

Cali, ngày … tháng …

Những dòng chữ viết dang dở xen kẽ lẫn nhau giữa lúc tỉnh giấc với nước mắt và khi ngất đi chẳng biết bao lâu. Một tí gì đó để lại cho những người bạn của tôi có thể hiểu thêm về người con gái thầm kín năm xưa. Bố tôi nói đây là chặng đường Thập Giá mà Chúa muốn tôi phải vượt qua …, tôi chỉ ước ao đến những bụi calla lilies trắng ở cuối con đường …

Tôi kg biết mình đã ngủ bao lâu, chỉ nghe tiếng mẹ gõ cửa phòng, “Vy ơi, có bạn con đến thăm con nè…”. Một dòng sóng điện từ đâu chạy khắp người tôi, tôi mừng rỡ hớn hở, vui sướng gồng mình ngồi dậy, “anh đã đến thật sao…” Nụ cười của niềm hạnh phúc hiện sẵn trên môi chờ đợi cánh cửa phòng hé mở, tiếng của mẹ lại vang lên, “nó ngủ trong phòng đó, con cứ vào đi.” Cánh cửa phòng hé mở, niềm vui trong thoáng chốc đã vụt tắt, kg phải là người tôi đang mong mỏi chờ đợi…
Tiếp tục đọc

*** MÙA ĐÔNG LƯU VONG NỖI NHỚ QUÊ HƯƠNG RAY RỨT

Ngô Quốc Sĩ

00snow

Nỗi nhớ quê hương của người Việt lưu vong thật da diết. Xa quê hương, dân Việt vẫn luôn luôn canh cánh bên lòng hình ảnh đất mẹ dấu yêu đang trải qua bao tang tóc dưới bàn tay lũ con hoang đã bị tha hóa, đánh mất bản chất con người nói chung và con người Việt Nam nhói riêng. Thi ca yêu nước đã chuyên chở đầy đủ tâm trạng nhớ thương ray rứt đó, tiêu biểu là những vần thơ truyền cảm của Văn Nguyên Dưỡng qua bài Chiếc Áo Kinh Cừu Trong Giá Đông.

Thực ra bài thơ Chiếc Áo Khinh Cừu chỉ là một chấm nhỏ trong gia tài văn chương thắm đượm tình tự quê hương của nhà thơ nhà văn Vĩnh Định- Văn Nguyên Dưỡng, cũng là sĩ quan quân đội Việt Nam Cộng Hòa, đã từng cầm súng chiến đấu bảo vệ tự do miền Nam trước cuộc xâm lăng của cộng sản Bắc Việt. Ông đã đóng góp cho nền văn học lưu vong nhiều tác phẩm giá trị bằng tiếng Việt cũng như tiếng Anh, tiêu biểu như Vùng Đêm Sương Mù , Trường Ca Trên Bãi Chiến , Lessons from the Vietnam War, Inside An Lộc: The Battle to Save Saigon …
Trở lại bài thơ Chiếc Áo khinh Cừu trong Giá Đông, nhà thơ đã thể hiện tâm trạng “nhớ về” và “nhớ thương” những gì đã bỏ lại sau lưng khi rũ áo chiến binh, rời bỏ quê hương trong ngậm ngùi và tủi nhục.
Nhớ về thì trước hết là nhớ chiếc áo trận đã từng lấm bụi gió sương, lấm bùn chinh chiến và lấm máu quân thù, nay đã bạc màu theo năm tháng, chỉ còn lại như một kỷ niệm giữa mùa tuyết trắng xứ người:
Một mùa Đông nữa mỗi hoàng hôn
Bông tuyết rơi rơi lấp bụi hồng
Chiếc áo khinh cừu nay đã bạc
Nghìn trùng thiên lý trắng mênh mông
Chiến bào mang theo làm kỷ niệm, không biết là áo thực hay áo ảo như mộng mơ, làm nhớ thêm chiến bào bỏ lại nơi quê hương đọa đày. Bỏ lại chiến bào là bỏ lại tất cả. Thế nên nhớ về chiến bào là nỗi nhớ mông lung, như thể bao quát cả qúa khứ. Nào là mộng hải hồ của người trai thời loạn. Nào là đất nước thống khổ điêu linh. Nào là người thân và người yêu trong xóm nhỏ:
Phấn tuyết chập chùng gợi nhớ nhung
Nhớ mông lung mà nhớ vô cùng
Nhớ bỏ chiến bào trong phố nhỏ
Bỏ lại em yêu mắt não nùng
Còn nhớ thương thì hẳn đó là hình bóng người em yêu đã phải nhỏ lệ vì xa anh, đã từng khô môi vì ngăn cách, đến nỗi nhan sắc tàn tạ theo gió sương:
Nhớ giọt lệ nào trên má xanh
Môi nhạt vành khô cắn nửa vành
Mái tóc buông dài che nửa mặt
Một đêm sao… biến sắc khuynh thành
Da diết nhất là nỗi nhớ thương quê hương chìm lửa khói, điêu tàn trong hoang vắng đến nỗi trăng sao cũng phải rưng rưng ngấn lệ:
Trong hụt hẫng sa trường chợt biến
Lửa bập bùng còn sáng trấn biên
Cớ sao dinh lũy thành hoang vắng
Trăng não nùng lênh láng mái hiên
Thương quê hương, thương phố cũ, và thương cho chiếc áo khinh cừu em gửi tặng anh, như để sưởi ấm thân xác và tâm hồn anh nơi sa trường, nhưng tiếc thay, anh không dám mặc, sợ hoen lấm màu tuyết trắng tinh anh, trắng như hồn em thơ ngây:
Nhớ trăng xưa ta trấn cổ thành
Đêm đêm gió lạnh trống tàn canh
Khinh cừu em gởi không hề mặc
Vì trắng màu tuyết trắng tinh anh
Nhớ về đất mẹ, nhớ thương em gái thiên thần tuyết trắng, nhà thơ đã chợt quay trở về với thân phận lưu vong, thương cho chính mình bơ vơ nơi cõi lạ, lòng tan nát vì thương em thương nước thương nhà, nhưng chỉ một mình ôm mối sầu riêng:
Rồi một sớm ta vào cõi lạ
Đông lạnh lùng se siết thịt da
Đói cơm vẫn giữ lòng chung thủy
Nước mất nhà tan ta biết ta
Đau đớn nhất là mối sầu mãi là sầu riêng, không biết chia sẻ với ai, bởi lẽ cuộc sống lưu vong nơi đất lạ không có người tri kỷ! Thôi đành đêm đêm ôm chiếc áo trận đã bạc màu để tìm hơi ấm, như thể ôm người yêu, chờ ngày về gặp lại em nơi quê mẹ ngàn thương:

Thấm thoát phong sương đã bấy mùa
Đói lạnh cơ hàn trải nắng mưa
Tấm áo hằng đêm ôm sưởi ấm
Chờ ngày trở lại với người xưa
Nhưng oái oăm thay! “Thời gian có hứa mấy khi”, lúc về nơi ấy thì tất cả đã đổi thay! Em đã rời bến cũ, sang thuyền khác, vui duyên mới, để lại cho anh giòng sông tang thương và giòng đời đớn đau:
Trở về bến cũ thuyền đã sang
Sông dậy tang thương sóng xếp hàng
Lớp lớp trùng trùng đau thế sự
Em hỡi làm sao nỡ phũ phàng
Tìm về quê hương, mong gặp lai hình bóng cũ thì ôi thôi! Người yêu đã sang ngang! Có trách ai phũ phàng thì cũng vô ích! Văn Nguyên Dưỡng, nhà thơ, nhà binh, đành quay trở về chốn tạm dung để tiếp tục sống, tiếp tục phần đời còn lại với chiếc áo khinh cừu đã bạc màu, qua những mùa đông lạnh giá, mà nhớ về thương về quê hương đang rên xiết dưới gót thù trong giặc ngoài:
Đông đến đông này đã mấy đông
Tuyết trắng mênh mông đến chạnh lòng
Mảnh áo khinh cừu vai đã nặng
Hồn quê còn lãng đãng mang mang
Hồn quê còn lãng đãng mang mang. Đó là tâm trạng của Văn Nguyên Dưỡng nói riêng và của người Việt xa xứ nói chung, kể cả trên 90 triệu đồng bào đang bị lưu đày trên chính quê hương tại quê nhà. Nhưng điều đáng nói là một khi hồn Việt còn, thì nước Việt cũng vẫn còn. Dù hôm nay, đất nước đang lọt vào tay bọn con hoang phản bội công ơn tổ tiên, đánh mất bản chất Việt Nam, nhưng hồn Việt vẫn còn mất nước chỉ là tạm thời, và công cuộc đấu tranh dành lại đất tổ sẽ thành tựu một ngày không xa..