Một Viên Đá

classic-stone-bagged-hd-com-ss-5-64_1000

Một ông nhà giàu đang ngồi trong chiếc xe hơi đắt tiền chạy khá nhanh trên đường phố. Từ phía trước, ông nhìn thấy một đứa trẻ đang chạy ra từ giữa mấy chiếc xe đang đậu bên lề.
 

Ông giảm tốc độ nhưng khi xe chạy ngang chỗ ông đã nhìn thấy đứa trẻ thì chẳng có ai cả. Đột nhiên, ông nghe có tiếng đá ném vào cửa xe mình. Ông đạp ngay thắng, cho xe vòng trở lại chỗ viên đá được ném ra. Quả là có một đứa trẻ đang đứng giữa những chiếc xe đậu. Nhảy bổ ra khỏi xe, không kịp quan sát xung quanh, ông tóm lấy đứa trẻ, đè gí nó vào một chiếc xe gần đó và hét lên: “Mày làm cái quỷ gì thế hả?”. Cơn nóng giận bốc ngược lên đỉnh đầu, ông tiếp: “Chiếc xe này mới toanh, mày sẽ phải trả cả đống tiền vì cái viên đá của mày đấy”.

“Làm ơn, thưa ông. Con xin lỗi. Con không biết làm cách gì khác hơn” – cậu bé van nài – “Con ném viên đá là vì con đã từng vẫy ra hiệu nhưng không có một người nào dừng xe lại…”. Nước mắt lăn dài trên má cậu bé khi nó chỉ tay về phía vỉa hè. Nó là em con”  cậu bé nói – “Chiếc xe lăn từ trên lề đường xuống, nó bị ngã ra khỏi xe lăn, nhưng con không thể nâng nó dậy nổi”. Vừa thổn thức, cậu bé vừa năn nỉ: Ông làm ơn giúp con đặt nó vào xe lăn. Nó đang bị đau, và nó quá nặng đối với con”.

Tiến lại chỗ đứa bé bị ngã, người đàn ông cố gắng nuốt trôi cái gì đó đang chẹn ngang cổ họng mình. Ông ta nâng đứa bé lên đặt vào chiếc xe lăn rồi rút khăn ra cố lau sạch các vết bẩn và kiểm tra mọi thứ cẩn thận một cách ngượng nghịu.

“Cám ơn rất nhiều, ông thật tốt bụng”. Đứa trẻ nói với ông cùng ánh nhìn biết ơn rồi đẩy em nó đi. Người đàn ông đứng nhìn mãi, sau cùng cũng chậm bước đi về phía xe của mình. Đoạn đường dường như quá dài.

Về sau, dù đã nhiều lần đưa xe đi sơn, sửa lại, nhưng ông vẫn giữ lại vết lõm ngày nào như một lời nhắc nhở bản thân suốt cả cuộc đời.

Đôi khi, bạn không có thời gian để lắng nghe cho đến khi có một “viên đá” ném vào mình. Bạn sẽ chọn điều gì: Lắng nghe hay là chờ một viên đá?!

Sưu tầm

Coi Chừng Không Còn Đường Nào Để Chạy

Thư viện của bài

This gallery contains 2 photos.

Huỳnh Quốc Bình

Coi Chừng Không Còn Đường Nào Để Chạy –

“Nếu có ai muốn từ bỏ quốc tịch Hoa Kỳ một cách chính thức để có thể gia nhập quốc tịch các nước độc tài cộng sản hay những nơi quá khích về tôn giáo… Thì tôi sẵn sàng giúp điền đơn hay giúp đóng tiền lệ phí nộp đơn, một cách hợp pháp…”

Người viết thường tự nhắc nhở chính mình và dạy con cái trong nhà phải ý thức rằng, chúng ta không thể xem đất nước Hoa Kỳ như chỗ để mình lợi dụng sống qua ngày, để chỉ ăn bám mà không đóng góp, hoặc chỉ để hưởng thụ vật chất mà lại không góp phần bảo vệ, vun bồi cho tốt hơn, giống như căn nhà của riêng mình.

Để làm sáng tỏ ý niệm đó, tôi xin phép thu gọn đất nước Hoa Kỳ nhỏ lại như căn nhà của một gia đình, để mạo muội nêu ra một câu hỏi rằng: Nếu chúng ta từng hoan nghênh ai đó vào tá túc trong nhà của mình lâu dài, nhưng họ chẳng bao giờ quan tâm đến nhà cửa của chúng ta. Trái lại họ chỉ lợi dụng để lén lút bòn rút tài sản của chúng ta hầu chuyển đi hay gởi về một nơi nào khác. Khi họ cần giúp đỡ thì nhờ cậy chúng ta, nhưng cứ xem chúng ta như người xa lạ hay kẻ thù của họ… Đối với loại người như thế thì chúng ta sẽ nghĩ về họ như thế nào? Người Việt Nam gọi đó là những kẻ“ăn cháo đái bát”, người Mỹ gọi đó là “cắn luôn bàn tay người đút thức ăn cho mình” (bite the hand that feeds you). Tiếp tục đọc

*** Delay your judgment/trì hoãn phán đoán

Thư viện của bài

This gallery contains 1 photo.

Một cô bé đáng yêu đang cầm hai quả táo bằng cả hai tay.

Mẹ cô bước vào và nhẹ nhàng hỏi cô con gái nhỏ với một nụ cười:

Con yêu, con có thể tặng mẹ một trong hai quả táo không?

Cô gái ngước nhìn mẹ mình vài giây, rồi đột nhiên cắn một miếng táo, rồi nhanh chóng cắn vào quả kia.
Người mẹ cảm thấy nụ cười trên khuôn mặt cô bi băng lanh.

Người mẹ gắng không để lộ sự thất vọng của mình.
Sau đó, cô bé đưa một quả táo cắn cho mẹ mình và nói: Tiếp tục đọc

*** Tiếng Đàn Cho Mẹ

Thư viện của bài

This gallery contains 1 photo.

Lính Thủy sưu tầm

Câu chuyện có thực – True story.

Qua nhiều năm dạy Piano, tôi nhận ra rằng trẻ em có nhiều cấp độ về năng lực về âm nhạc. Tôi chưa bao giờ hân hạnh có được một học trò thần đồng nào cả, dù cũng có một vài học sinh thật sự tài năng.

Tôi có được cái mà tôi gọi là những học viên “ được thử thách về âm nhạc”. Robby là một ví dụ. Robby được 11 tuổi khi mẹ cậu bé, một người mẹ độc thân, đưa cậu đến học bài Piano đầu tiên. Tôi thích học viên của mình ( đặc biệt là những bé trai) bắt đầu học ở lứa tuổi sớm hơn và điều đó tôi cũng có giải thích với Robby. Nhưng Robby nói rằng mẹ em hằng ao ước được nghe em chơi Piano. Vì vậy tôi nhận cậu bé vào lớp.

Qua nhiều tháng, cậu bé thì cần mẫn học bài và cố gắng luyện tập, tôi thì cố gắng nghe và động viên cậu. Cứ cuối mỗi bài học hàng tuần, em lại nói: “Một ngày nào đó mẹ sẽ nghe em đàn”. Nhưng dường như vô vọng. Đơn giản là cậu bé không có năng khiếu bẩm sinh. Tôi chỉ nhìn thấy mẹ cậu bé từ xa khi bà đưa con đến hoặc ngồi chờ con trong chiếc xe hơi cũ kỹ. Bà luôn vẫy tay và mỉm cười nhưng không bao giờ vào nói chuyện với tôi. Tiếp tục đọc

*** Hãy Sống Trong Hạnh Phúc

Thư viện của bài

This gallery contains 1 photo.

Hãy Sống Trong Hạnh Phúc Dù Cuộc Đời Không Như Mơ
hoa-buom

Nữ nhà văn Mỹ Hellen Keller đã từng nói: “Tôi đã khóc vì không có giày để đi cho đến khi tôi nhìn thấy một người không có chân để đeo giày.”

Nếu bạn hỏng xe dọc đường, phải cuốc bộ vài dặm mới tìm ra được người giúp đỡ – Hãy nghĩ tới những ai liệt cả đôi chân, luôn khao khát được bước đi như bạn.

Đó là lúc khó khăn của bạn, đôi chân của bạn có thể đưa bạn đến bất cứ nơi đâu, đó là hạnh phúc và may mắn khi bạn sinh ra trên đời được có quyền đứng trên đôi chân của mình để đi. Khi không may đôi chân phải nặng nề hơn trên con đường đang bước thì hãy chớ vội nản lòng, khó chịu bởi đằng kia có rất rất nhiều người đang khao khát được bước và được đi như bạn dù chỉ một bước chân….

Nếu bạn cảm thấy đời mình bị mất mát và băn khoăn về ý nghĩa kiếp người – Xin bạn hãy biết ơn cuộc sống vì có nhiều người đã không được sống hết tuổi trẻ của mình để có những trải nghiệm như bạn.

Đừng bao giờ nghĩ rằng mình kém may mắn trong cuộc đời này, hãy biết trân trọng từng phút giây khi được sinh ra trên cuộc đời này. Tiếp tục đọc

*** 7 Bát Nước Cứu Khổ

Thư viện của bài

This gallery contains 1 photo.

Quán Như

7 Bát Nước Cứu Khổ

Ngày xửa ngày xưa, tại một ngôi làng nọ có một gia đình bá hộ nối tiếng giàu có nhất vùng. Người người nể phục, nhà cao cửa rộng, đồng ruộng thì mênh mông bát ngát, thẳng cánh có bay, gia súc thì từng đàn, lúa chất đầy bồ, trong nhà không thiếu thứ gì, kẻ ăn người ở có tới chừng mấy mươi người. Cao lương mỹ vị ăn mãi không hết.

Gia đình bá hộ có hai người con, một trai một gái. Ai cũng khôi ngô tuấn tú, xinh đẹp và nết na. Nhưng rồi tai họa đã giáng suống gia đình họ, khi người con gái vì uất ức với mối tình cùng chàng thi sĩ mà quyên sinh, còn cậu con trai trong một lần đi săn trong rừng sâu, bất cẩn bị sập bẫy mà trở thành kẻ tàn phế.

Người mẹ vô cùng đau khổ và tuyệt vọng. Bà sống trong nỗi ám ảnh và oán hờn. Ngày ngày bà ăn chay niệm Phật cầu xin được bình an và không còn phiền muộn. Rồi một ngày kia, bà cho gọi tất cả những người dân mang nợ với gia đình bà đến và phán rằng:

      – Từ xưa tới nay, gia đình ta ăn ở có trên có dưới, ai khó khăn ta đều cứu giúp, cho vay bạc và lúa gạo, sau mỗi lần thu hoạch thì gia đình các ngươi đều có trả nhưng vẫn không Tiếp tục đọc

Công, Dung, Ngôn, Hạnh Thời Nay

Thư viện của bài

This gallery contains 1 photo.

Tu sĩ Lôrensô Vũ Văn Trình MF

Tứ Đức Trong Thời Đại Hiện Nay

Trong cuộc sống, chúng ta không thể thiếu cái đẹp, cái đẹp bất biến trường tồn, cái đẹp tiềm ẩn trong con người được biểu hiện qua văn hóa ứng xử, qua nét cao quý của tâm hồn, qua cái đạo đức trí tuệ. Cái đẹp giúp con người xây dựng nhân cách ngày càng hoàn thiện hơn. Cái đẹp được nói đến ở đây chính là cái đẹp tâm hồn của người phụ nữ. Đặc biệt là cái đẹp trong lễ giáo xưa, đó là Tứ Đức: Công, Dung Ngôn, Hạnh. Trải qua dòng lịch sử, liệu Tứ Đức có lạc hậu trong thời đại ngày nay không?

Đòi hỏi của Tứ Đứctrong thời đại hiện nay
         Công đối với người phụ nữ ngày nay, là vừa khéo quán xuyến công việc nhà vừa lo công tác ngoài xã hội, biết sắp xếp công việc sao cho hợp lý, cẩn thận và chu đáo, biết nuôi con khỏe, dạy con ngoan: “Đảm việc nhà, giỏi việc xã hội”. Ngoài ra, phải có nghề nghiệp ổn định và làm tốt nghề của mình. Làm tốt công việc của mình sẽ giúp người phụ nữ tự tin, khẳng định được khả năng của mình, góp phần vào kinh tế cho gia đình và đóng góp tài năng, trí tuệ cho xã hội.

           Dung của người phụ nữ thời nay, không còn là nét đẹp “yểu điệu thục nữ, liễu yếu đào tơ” mà là khỏe và đẹp. Khỏe để làm việc tốt, để giữ gìn hạnh phúc gia đình và để sinh Tiếp tục đọc

*** Lời Cầu Nguyện Tạ Ơn

Thư viện của bài

This gallery contains 1 photo.

Lời Cầu Nguyện Tạ Ơn

Lạy Chúa Giêsu, Chúa thường dâng lời tạ ơn với Đức Chúa Cha trước khi làm việc gì: khi làm phép lạ hóa bánh ra nhiều (Mt 15:36), trong bữa tiệc ly (Mt 26:27), cho La-da-rô sống lại từ cõi chết (Ga 11:41)…

Con cũng muốn bắt chước Chúa để bập bẹ những lời tạ ơn, những lời tạ ơn khó nói nhất của kiếp nhân sinh! Có những lời tạ ơn thật dễ để nói với nhau và với Chúa. Nhưng cũng có những lời tạ ơn không thể thốt thành lời nếu không có ơn Chúa. Phải đợi khi linh hồn con được nuôi dưỡng bằng bao nhiêu ân sủng từ trời cao, đợi khi con đi gần đến hoàng hôn của đời người, thì con mới đủ can đảm nói lên những lời tạ ơn muộn màng này.

Tạ ơn ai? Tạ ơn hay hờn giận? Cám ơn hay trách móc? Tạ ơn Chúa trong nghịch cảnh cuộc đời và những người một thời đã làm con đau khổ. Khó quá Chúa ơi! Đôi khi lời được thốt ra trong dòng nước mắt không biết của hờn giận hay của tha thứ. Đôi khi lời được bập bẹ ở đầu môi, những nghẹn ngào tức tưởi ngăn cho lời không tròn chữ. Đôi khi lời được bật lên qua con tim rướm máu của vết thương năm xưa chưa lành hẳn. Dù thật khó để nói, dù ê a tập tành từng chữ như trẻ nhỏ học nói, nhưng Chúa ơi, con sẽ cố gắng để nói… Tiếp tục đọc

*** Ba Chúc Con Đủ

Thư viện của bài

This gallery contains 1 photo.

Ba Chúc Con Đủ

Ba chúc con đủ ánh mặt trời để giữ cho tâm hồn con trong sáng.
Ba chúc con đủ những cơn mưa để biết yêu quý ánh nắng ban mai.

Mint (Dịch từ Bobperks)

Tôi chưa bao giờ nghĩ rằng mình phải mất nhiều thời gian của cuộc đời ở các sân bay đến thế. Tôi vừa thích, vừa ghét việc đó.

Tôi thích được ngắm nhiều người nhưng đó cũng là lý do tôi ghét khi phải nhìn mọi người “chào” và “tạm biệt”. Nó làm tôi xúc động đến phát mệt.

Cho nên mỗi khi gặp một thử thách trong cuộc sống, tôi thường ra sân bay thành phố nhìn mọi người nói lời “tạm biệt”. Để thấy rằng mình vẫn hạnh phúc khi không phải nói lời chia tay với những người thân yêu. Nhìn mọi người cố gắng níu kéo nhau, khóc… tôi cảm thấy mình còn có rất nhiều thứ quý giá.

Gia đình, những người yêu nhau cuối cùng phải xa cách, nhìn họ sải rộng cánh tay để đón nhận tình cảm của nhau, cho đến khi chỉ còn những ánh mắt tiếc nuối… đó là những hình ảnh còn mãi trong tâm trí tôi. Và tôi cũng học được nhiều điều từ những giây phút “tạm biệt”. Tiếp tục đọc

*** ĐỨC MẸ LỘ ĐỨC

Thư viện của bài

This gallery contains 1 photo.

ĐỨC MẸ LỘ ĐỨC

Lộ Đức (Lourdes) là một tỉnh nhỏ khoảng 6000 dân nằm giữa thung lũng Pyrênê, gần suối Gave. Hôm ấy là ngày 11 tháng 2 năm 1858. Trời lạnh lẽo. Vào buổi trưa, Bernadetta, cô gái 14 tuổi vui tươi, thiếu ăn và quê mùa cùng với mấy người bạn đi lượm củi khô ở bờ suối Gave.

Bỗng một bà mặc đồ trắng hiện ra với cô, trên một tảng đá bao quát cả hang Massabielle. Vừa sợ lại vừa vui, cô lần chuỗi và không dám tới gần theo lời Bà mời.

Chẳng ai muốn tin cô. Bị rắc rối chính cha mẹ cô không muốn cho cô trở lại hang đá nữa. Nhưng có một sức hấp dẫn lạ kỳ nào đó. Cô trở lại hang đá. Các cuộc thị kiến vẫn tiếp diễn. Bà lạ nói chuyện và kêu gọi cầu nguyện, rước kiệu và xây dựng một đền thờ tại đây. Tiếp tục đọc

*** Không Có Cái Gì Tuyệt Đối Cả

Thư viện của bài

This gallery contains 1 photo.

Không Có Cái Gì Tuyệt Đối Cả

Sống ở trong đời nầy, bạn đừng đòi hỏi tuyệt đối ở nơi hành xử của những người khác đối với bạn. Bạn nên chấp nhận sự tương đối từ những người khác để sống, thì những hạnh phúc trong đời sống của bạn sẽ có được ngay trong tầm tay và có ngay trong đời sống nầy.

Hướng tới cái tuyệt đối để sống, bạn sẽ nhận lấy sự thất vọng ngay trong cuộc sống nầy. Nếu bạn biết chấp nhận cái tương đối để sống, bạn sẽ có niềm tin tưởng cũng như hạnh phúc ngay trong đời sống nầy.

Bạn biết không! Sống là hỗ tương. Hỗ tương giữa cái nầy và cái kia; giữa người nầy và người kia; giữa thế giới nầy và thế giới kia; và ngay giữa đời nầy và đời kia. Tiếp tục đọc

*** Như Loài Hoa

Thư viện của bài

This gallery contains 1 photo.

Lm. Giuse Hoàng Kim Toan

Như loài hoa, trong ngàn triệu tên đoá hoa, người ta ai cũng có một đoá hoa lòng nở trong tim. Đoá hoa lòng ấy, dù ít dù nhiều, ai cũng có. Những đoá hoa lòng trao nhau, những hoa lòng nối bờ yêu thương, những đoá hoa lòng khoe sắc trên khuôn mặt, nở trên những bàn tay. Hoa lòng ấy là hoa nhân đức được ươm qua lòng thanh, tưới trong nhẫn nại, chăm sóc trong hy sinh.

Như loài hoa chẳng bao giờ biết ghen ghét, tị hiềm, hờn giận. Hoa mọc trên cây cao, hoa nở ở dưới thấp, hoa tỏ sặc sỡ, hoa e lệ kín đáo… Mỗi loài một nét riêng, làm đẹp cho đời, anh đoá hoa lớn, tôi đoá hoa nhỏ, chị đoá hoa kiêu sa, tôi đoá hoa tầm thường, trong giỏ hoa, các loại hoa đứng cạnh nhau, đôi khi lại thêm vài bông cỏ, tự nhiên và hoang dại, chẳng bao giờ ghét nhau bởi vì chung một mục đích làm đẹp cho đời và dâng hương cho cuộc sống. Hoa lòng của con người sẽ tươi đẹp biết bao trong vườn hoa muôn cõi lòng, không ghen ghét, không tị hiềm, cùng nhau góp sức dâng hiến cho người và cho đời.
Tiếp tục đọc

*** Trạm Vũ Trụ Quốc Tế

Thư viện của bài

This gallery contains 3 photos.

Trạm vũ trụ Quốc tế được coi là dự án khoa học phức tạp nhất trên thế giới. 

Nó có kích thước tương đương một sân bóng đá của Mỹ.

Trạm vũ trụ Quốc tế (viết tắt: ISS) là một tổ hợp công trình nhằm nghiên cứu không gian, là sự hợp tác của năm cơ quan không gian: NASA (Hoa Kỳ), RKA (Nga), JAXA (Nhật Bản), CSA (Canada) và 10 trong 17 nước thành viên của ESA (châu Âu). ISS di chuyển trong không gian với vận tốc trung bình là 27.743,8 km/giờ, ứng với 15,79 lần bay quanh Trái đất mỗi ngày.

Trạm vũ trụ ISS hoạt động như một phòng thí nghiệm bay cho nhiều thí nghiệm như nghiên cứu sinh học và vật lý, khoa học trái đất, thăm dò không gian, công nghệ hàng không vũ trụ. Trong hình là bức ảnh chụp từ năm 2008, cho thấy phi hành gia Karen Nyberg nhìn ra cửa sổ của phòng thí nghiệm Kibo trên tàu ISS. Tiếp tục đọc

*** Cho đi là hạnh phúc hơn nhận

00tim

Anh sinh viên quay sang nói với vị giáo sư: “Chúng ta hãy thử trêu chọc người nông dân xem sao. Em sẽ giấu giày của ông ta rồi thầy và em cùng trốn vào sau những bụi cây kia để xem thái độ ông ta ra sao khi không tìm thấy đôi giày.”

Vị giáo sư ngăn lại: “Này, anh bạn trẻ, chúng ta đừng bao giờ đem những người nghèo ra để trêu chọc mua vui cho bản thân. Nhưng em là một sinh viên khá giả, em có thể tìm cho mình một niềm vui lớn hơn nhiều nhờ vào người nông dân này đấy. Em hãv đặt một đồng tiền vào mỗi chiếc giày của ông ta và chờ xem phản ứng ông ta ra sao.”

Người sinh viên làm như lời vị giáo sư chỉ dẫn, sau đó cả hai cùng trốn vào sau bụi cây gần đó.

Chẳng mấy chốc người nông dân đã xong việc và băng qua cánh đồng đến nơi đặt giày và áo khoác của mình. Người nông dân vừa mặc áo khoác vừa xỏ chân vào một chiếc giày thì cảm thấy có vật gì cứng cứng bên trong, ông ta cúi xuống xem đó là vật gì và tìm thấy một đồng tiền. Sự kinh ngạc bàng hoàng hiện rõ trên gương mặt ông. Ông ta chăm chú nhìn đồng tiền, lật hai mặt đồng tiền qua lại và ngắm nhìn thật kỹ. Rồi ông nhìn khắp xung quanh nhưng chẳng thấy ai. Lúc bấy giờ ông bỏ đồng tiền vào túi, và tiếp tục xỏ chân vào chiếc giày còn lại. Sự ngạc nhiên của ông dường như được nhân lên gấp bội, khi ông tìm thấy đồng tiền thứ hai bên trong chiếc giày. Với cảm xúc tràn ngập trong lòng, người nông dân quì xuống, ngước mặt lên trời và đọc to lời cảm tạ chân thành của mình. Ông bày tỏ sự cảm tạ đối với bàn tay vô hình nhưng hào phóng đã đem lại một mòn quà đúng lúc cứu giúp gia đình ông khỏi cảnh túng quẫn người vợ bệnh tật không ai chăm sóc và đàn con đang thiếu ăn.

Anh sinh viên lặng người đi vì xúc động, nước mắt giàn giụa. Vị giáo sư lên tiếng: “Bây giờ em có cảm thấy vui hơn lúc trước nếu như em đem ông ta ra làm trò đùa không?” Người thanh niên trả lời: “Giáo sư đã dạy cho em một bài học mà em sẽ không bao giờ quên. Đến bây giờ em mới hiểu được ý nghĩa thật sự của câu nói mà trước đây em không hiểu: “Cho đi là hạnh phúc hơn nhận

*** khát vọng cháy bỏng

khát vọng cháy bỏng là điểm khởi đầu cho mọi thành tựu

BIEN CHIEU1
Socrates là một triết gia nổi tiếng người Hy Lạp cổ đại. Ông sinh năm 469TCN ở Athens. Một ngày nọ có thanh niên trẻ hỏi ông rằng bí mật của sự thành công là gì. Ông đã hẹn gặp anh ta vào buổi sáng hôm sau ở ngoài bờ sông, khi đó ông sẽ trả lời.

 Buổi sáng hôm sau, Socrates bảo người thanh niên nọ cùng đi xuống dòng nước. Khi nước đã lên đến cổ, ông bất ngờ dìm anh ta xuống. Người thanh niên hốt hoảng tìm mọi cách vùng vẫy để ngoi lên, nhưng rõ ràng sức mạnh của Socrates quá lớn, anh ta không thể làm gì được cho tới khi cảm thấy gần như ngạt thở.

Nhưng bằng hết sự cố gắng cuối cùng, sau một thời gian vật lộn khó khăn thì anh ta đã có thể ngoi lên khỏi mặt nước. Anh ta thở hổn hển và hít thật sâu.

Khi đó, Socrates hỏi: “Cậu đã muốn điều gì nhất khi bị dìm dưới nước?”

“Lúc đó tôi không nghĩ tới bất cứ điều gì ngoài việc tìm mọi cách để thoát ra và hít thở không khí” – người thanh niên trả lời.

“Đó chính là bí mật để thành công. Lúc mà cậu ao ước mình có thể được thở bằng không khí cũng như cậu khao khát có được thành công vậy. Cậu sẽ nỗ lực tìm mọi cách để đạt được nó”.

Một khát vọng cháy bỏng là điểm khởi đầu cho mọi thành tựu. Nếu không có ước mơ, bạn sẽ chẳng bao giờ có được thành công. Cũng giống như một ngọn lửa nhỏ không thể tỏa ra nhiều nhiệt, một mong muốn yếu ớt không thể tạo nên những kết quả tuyệt vời.

*** Câu chuyện việc thiện

Thư viện của bài

This gallery contains 1 photo.

TRIẾT LÝ SỐNG

Người xưa có câu: “Hành thiện tối nhạc” (ý nói làm việc thiện là vui sướng nhất).

Lòng người quả thật vô cùng kỳ lạ, khi chúng ta làm bất kể việc gì không tốt thì trong lòng sẽ thấy bất an, không vui vẻ nổi, nội tâm cũng không thoải mái. Còn nếu như một người làm việc thiện tuyệt đối không vì điều kiện gì thì trong lòng người ấy chắc chắn sẽ vô cùng hạnh phúc.

Một số người cho rằng, phải có điều kiện, có tiền bạc mới có thể giúp đỡ người khác, mới có thể cho đi. Nhưng kỳ thực, ngay cả khi chúng ta không có những thứ vật chất ấy, chúng ta vẫn có thể cho đi một cách rất ý nghĩa và hữu ích.

Đôi khi chỉ một lời nói động viên khích lệ, một cái nhìn hay một nụ cười ấm áp là chúng ta đã có thể chuyển một người buồn thành một người vui vẻ. Thậm chí chỉ bằng những cử chỉ nhỏ ấy, chúng ta đã có thể cảm hóa được một người ác thành người lương thiện hơn.

Tại một số nơi trên thế giới, người ta không chỉ cho đi một cách tự nguyện mà nó còn được xem là một “nguyên tắc ngầm” để quy định mọi người.

Tiếp tục đọc

*** Ngày Xuân chơi đổ Xăm Hường

Thư viện của bài

This gallery contains 1 photo.

Trường Nghị

Trong những thú chơi Tết ngày xưa thì có lẽ chơi đổ Xăm Hường là trò chơi hấp dẫn cả người lớn lẫn bọn trẻ, nhưng vào thời buổi nầy thấy không bao nhiêu gia đình tổ chức được cuộc chơi. Ngày xưa nhiều khi người lớn còn năn nỉ bọn trẻ chơi đổ Xăm Hường ngày Tết để … bói hên xui đầu năm. Chơi đổ Xăm Hường không mang tính cao thấp, hoàn toàn dựa trên may rủi của 6 hột xúc xắc bung vào tô mà ngẫu nhiên nó đem chiến thắng đến cho người chơi. Chơi trò chơi hên xui nầy cũng không kém phần hồi hộp, căng thẳng, nhưng chưa bao giờ thấy đổ Xăm Hường mà sinh ra chuyện cãi vã, gian lận cay cú ăn thua như những trò sát phạt khác. Cũng vì vậy mà người lớn muốn bọn trẻ đầu năm đổ Xăm Hường, vừa chơi vừa giải trí, mà cũng vừa như xin cái xăm xem thử chuyện học hành, thi cử của bọn trẻ trong năm như thế nào.

Chơi trò đổ Xăm Hường, còn gọi là bói Xăm Hường chỉ cần có bộ hột xúc xắc (còn gọi là hột xí ngầu, tào cáo) và bộ thẻ, có được một tô sứ to, sâu lòng để bung hột xúc sắc nữa thì Tiếp tục đọc

*** Tạo Dựng Con Người

Thư viện của bài

This gallery contains 1 photo.

“Chúa cho người đàn ông sống 20 năm làm kiếp con người. Kế đó, anh ta lấy vợ và sống 20 năm kiếp con lừa, làm việc quần quật với những gánh nặng trên lưng. Tiếp theo, khi có con, anh phải sống 15 năm kiếp con chó, trông coi nhà cửa và xơi những đồ ăn thừa mà lũ con để lại. 10 năm cuối đời, anh ta sống kiếp con khỉ, hành động như một gã ngốc để mua vui cho lũ cháu”.

Khi Chúa tạo ra con lừa, Người phán: “Ngươi sẽ làm một con lừa có trí tuệ khiêm tốn, làm việc quần quật từ sáng sớm tới tối mịt, thồ những gánh nặng oằn lưng mà chỉ được ăn cỏ. Bù lại những vất vả đó, ngươi sẽ được sống tới 50 năm”.
Tiếp tục đọc

*** Hạnh Phúc Là Gì ?

Thư viện của bài

This gallery contains 1 photo.

Hạnh phúc là gì? Mà ai cũng đi tìm kiếm, tìm trong khoảnh khắc, tìm trong cuộc sống, trong cuộc chơi, trong công việc, trong học tập, trong mỗi thú vui, trong mỗi lần khóc, trong mỗi lần buồn… ta lại tìm kiếm hạnh phúc. Hạnh phúc là gì mà ta không thể cho nó một định nghĩa cụ thể, phải chăng hạnh phúc là một khái niệm khá trừu tượng và thật khó giải thích…

Hạnh phúc là gì nhỉ?

Hạnh phúc có khi không phải tìm kiếm đâu xa xôi, mà đôi khi hạnh phúc ngay ở cạnh bạn mà bạn không biết đó nhé! Trong gia đình đôi khi hạnh phúc khi ta có cha có mẹ, có nụ cười trong những bữa cơm, trong những lúc gia đình cùng làm chung một công việc gì đó vui vẻ là bạn cảm thấy hạnh phúc. Trong công việc, bạn bè, cũng có niềm hạnh phúc nếu ta biết tìm kiếm và tận hưởng…

Có khi hạnh phúc đơn giản là khi có niềm vui, khi có yêu thương, hạnh phúc khi cha mẹ quan tâm, được bạn bè yêu mến… hay đơn giản chỉ là cái nắm tay của bàn tay rám nắng của mẹ… cũng khiến ta cảm thấy hạnh phúc.
Tiếp tục đọc

*** Lương Tâm MẸ NẤM

Đỗ Hiếu/ĐHT

Phim Tài Liệu Về Gia Đình Tù Nhân Lương Tâm MẸ NẤM – NGUYỄN NGỌC NHƯ QUỲNH

Buổi trình chiếu phim “Mẹ Vắng Nhà”, được VOICE tổ chức vào chiều thứ sáu 31 tháng 8, 2018 tại hội trường Providence Recreation Center, thành phố Falls Church, Virginia.

Sau nghi thức khai mạc do ông Bùi Mạnh Hùng phụ trách, luật sư Trịnh Hội, Giám Đốc Điều Hành Tổ Chức VOICE cho biết đây là phim tài liệu đầu tiên về một nhà dân chủ, một phụ nữ đấu tranh cho nhân quyền, blogger Mẹ Nấm, đang ngồi tù, do đạo diễn Clay Phạm thực hiện tại Nha Trang. Cốt truyện diễn tả cuộc sống kham khổ, gian nan, gia đình của Mẹ Nấm, bà ngoại tật nguyền, mẹ già chật vật nuôi  hai con nhỏ của tù nhân lương tâm này mà còn thường xuyên bị công an bám sát, theo dõi, gây khó khăn đủ điều.

Cuốn phim dài 40 phút, được bí mật thu hình trong hoàn cảnh rất gay go, nguy hiểm, đã được chiếu tại các quốc gia trên thế giới tạo nhiều cảm xúc và thương xót trong công luận, khiến cộng sản Hà Nội phản ứng gay gắt.

Mẹ Nấm bị tòa án cộng sản xử 10 năm tù cộng với 5 năm quản chế, ghép vào tội “tuyên truyền chống phá nhà nước” vì đã tham gia biểu tình chống Trung Cộng chiếm Hoàng Sa, Trường Sa. Cô cũng thường xuyên lên tiếng bảo vệ dân oan bị cộng sản chiếm đoạt đất đai, tài sản, bênh vực gia đình các nạn nhân bị đột tử trong đồn công an, chống đối tập đoàn Formosa gây thảm họa môi trường, khiến cá chết đồng loạt tại bốn tỉnh Miền Trung.

Hiện nay cô bị giam trong một hỏa ngục ở Thanh Hóa, ngoài Miền Bắc, cách xa gia đình trên 1200 cây số và  thường bị nữ tù hình sự “đầu gấu” hành hung, tính mạng luôn bị đe dọa.  Cô đã nhiều lần tuyệt thực để phản đối hành động khủng bố tinh thần và vật chất dã man của các cai tù.

Mẹ Nấm Nguyễn Ngọc Như Quỳnh dù vắng mặt, đã được trao tặng nhiều giải thưởng như: Tự Do Báo Chí, Bảo Vệ Nhân Quyền,  Những Người Phụ Nữ Quốc Tế Can Đảm. 

Với sự can thiệp nhiều lần của chánh phủ Hoa Kỳ và Liên Hiệp Âu Châu đòi Hà Nội trả tự do vô điều kiện cho Mẹ Nấm nhưng vẫn chưa được đáp ứng!

Sau phần hỏi đáp qua điện thoại với đạo diễn Clay Phạm, hiện đang lẩn tránh an ninh Việt Nam và bà Nguyễn Thị Tuyết Lan, mẹ chị Nguyễn Ngọc Như Quỳnh, ở Nha Trang, buổi trình chiếu kết thúc vào lúc 8 giờ tối. Có những vị ân nhân ở Mỹ đề nghị với bà Tuyết Lan xin nhận hai bé Nấm và Gấu làm con nuôi. Bà nói, sẽ hỏi ý kiến của Mẹ Nấm, khi bà đến trại giam thăm con gái và phúc đáp sau.

Lên tiếng với VIETV, luật Sư Trịnh Hội, Giám Đốc Điều Hành của VOICE (Vietnamese Overseas Initiative For Conscience Empowerment/ Sáng Kiến Thể Hiện Lương Tâm Người Việt Hải Ngoại) cho biết về cảm tưởng chung, nói đúng hơn đó là sự phẩn nộ, cú “sốc” của khán giả tại Đài Loan, Philippines, Úc, Canada và Hoa Kỳ khi xem tận mắt những hình ảnh đàn áp, sách nhiễu thô bạo của công an đối với gia đình Mẹ Nấm cũng như những tiếng nói dân chủ khác lên tiếng phản đối bản án nặng nề dành cho Mẹ Nấm.

Tại Việt Nam, phim chỉ được chiếu kín đáo trong các giáo xứ và nhà thờ với số người xem hạn chế. Trên Xứ Thái, phim được chiếu lần đầu tiên vào ngày 27 tháng 6 vừa qua, trong Câu Lạc Bộ Báo Chí Quốc Tế (FCCT) tại Bangkok, Thái Lan. Khi biết được, Hà Nội triệt để ngăn cấm đồng thời áp lực chánh phủ Thái phải hủy bỏ các buổi trình chiếu phim “Mẹ Vắng Nhà”.

Bà Phùng Thị Hạnh, cựu Chủ Nhiệm báo Tin Sống ở Saigon [trước 1975] và cựu phóng viên tạp chí Newsweek, bày tỏ sự đồng cảm với hoàn cảnh gia đình đơn chiếc, chật vật của chị Nguyễn Ngọc Như Quỳnh và mong muốn công luận quốc tế, cùng tập thể người Việt Hải Ngoại mạnh mẽ vận động đòi hỏi Hà Nội sớm trả tự do cho hàng trăm tù nhân lương tâm còn bị cộng sản Việt Nam giam cầm trong hỏa ngục, trong đó có Mẹ Nấm, nhân vật chính không thể có mặt trong cuốn phim cảm động này.

Đỗ Hiếu/ĐHT

*** AI ĐÃ DỊCH CHINH PHỤ NGÂM RA CHỮ NÔM ?

NGUYỄN CẨM XUYÊN

chinh phu nganĐOÀN THỊ ĐIỂM và NGUYỄN THỊ ĐIỂM;

AI ĐÃ DỊCH

CHINH PHỤ NGÂM RA CHỮ NÔM ?

     Sách Đăng Khoa Lục sưu giảng của Trần Tiến đời Lê có chép chuyện bà Nguyễn Thị Điểm. Sách Tang Thương ngẫu lục của Phạm Đình Hổ và Nguyễn Án đời Nguyễn lại chép chuyện bà Đoàn Thị Điểm.

Hai nữ sĩ trong hai truyện trùng tên, khác họ… và ai là người đã dịch Chinh Phụ ngâm khúc ra chữ Nôm?
ĐOÀN THỊ ĐIỂM VÀ NGUYỄN THỊ ĐIỂM CÓ PHẢI CHỈ LÀ MỘT ?
Ra đời sau Tang Thương ngẫu lục 100 năm, Nam Hải dị nhân liệt truyện của Phan Kế Bính đã viết “Nguyễn Thị Điểm tức Đoàn Thị Điểm”.

Thật ra đây là hai người khác nhau. Chẳng qua lúc biên soạn Nam Hải dị nhân liệt truyện, có thể do không đủ điều kiện khảo sát mà lúc này lại cần phải hóa giải liền một mâu thuẫn giữa hai sách xưa để không phải bỏ qua một truyện hay về nữ sĩ nước Nam nên Phan Kế Bính đã cho rằng hai người là một.

Đầu thập niên 70 vừa qua, các nhà nghiên cứu đã về Hải Dương đọc gia phả họ Đoàn và tìm gặp gia tộc họ Nguyễn Trác thì mới rõ là có hai bà Đoàn Thị Điểm và Nguyễn Thị Điểm. Hai bà có những chi tiết trùng hợp đến kì lạ. Trước hết cả hai cùng sống vào thời Lê Trung hưng, đời Trịnh Giang, cùng quê ở Hải Dương: bà Nguyễn Thị Điểm ở Bình Lao trang, trấn Hải Dương còn bà Đoàn Thị Điểm thì quê ở Giai Phạm, huyện Đường Hào cũng thuộc trấn Hải Dương (nay là xã Giai Phạm thuộc huyện Yên Mỹ, tỉnh Hưng Yên), cả hai đều giỏi văn thơ và điều lạ kì là cả hai bà đều có anh tên là Luân, một người là Đoàn Doãn Luân và một người là Nguyễn Trác Luân… vậy nhưng gốc gác, gia thế cũng như cuộc đời của hai bà thì khác nhau nhiều.

Bà Nguyễn Thị Điểm thuộc gia đình quyền quí; anh là Nguyễn Trác Luân đỗ Tiến Sĩ năm 1721, làm quan đến chức Phó Đô Ngự Sử và là tay chân thân tín của chúa Trịnh Giang. Chính Nguyễn Trác Luân là người đã giúp Trịnh Giang phế truất rồi giết vua Lê Duy Phường rồi theo lệnh Trịnh Giang làm giả tờ sắc tấn phong cùng ấn tín của vua nhà Thanh sang phong cho Trịnh Giang làm An Nam Thượng Vương… Em gái là Nguyễn Thị Điểm về sau còn dạy học ở kinh đô, thọ đến 78 tuổi. Sách Đăng Khoa Lục sưu giảng có chép: Bà Nguyễn Thị Điểm có viết cuốn “Truyền Kì tân lục” (Truyền kì tân phả).

TRUYỀN KÌ TÂN PHẢ – VĂN GIANG HỒNG HÀ ĐOÀN PHU NHÂN TRƯỚC

(Truyền kì tân phả do Văn Giang Hồng Hà Đoàn phu nhân soạn – Thư viện Quốc gia. Bản chụp của nomfoundation)

Cuộc đời bà Đoàn Thị Điểm khác hẳn. Xuất thân trong một gia đình nghèo; bà là con ông Đoàn Doãn Nghi. Tổ tiên vốn họ Lê, quê quán ở Hải Dương; về sau đổi ra họ Đoàn. Đoàn Doãn Nghi đỗ Hương cống và nhận một chức quan nhỏ hàm bát phẩm rồi từ quan, về nhà bốc thuốc. Sau khi hỏng kì thi Hội, ông ở lại kinh đô dạy học rồi cưới thêm thứ thất ở phường Hà Khẩu, gần Hồ Hoàn Kiếm và sinh được hai con: con cả là Đoàn Doãn Luân, con thứ là Đoàn Thị Điểm. Đoàn Doãn Luân chỉ là giám sinh đã qua kỳ sát hạch để chuẩn bị thi Hương, chưa đỗ đạt gì. Riêng bà Đoàn Thị Điểm: sau khi cha mất, cùng mẹ về ở với anh trai, ngụ cư tại làng Vô Ngại, huyện Ðường Hào, tỉnh Hải Dương (nay là Mỹ Hào, tỉnh Hưng Yên) nhưng chỉ được mấy năm thì Doãn Luân lại qua đời; một mình bà phải nuôi cả nhà (gồm mẹ, chị dâu và các cháu) và phải tự mưu sinh bằng nghề bốc thuốc, dạy học…

Bà có nhan sắc nhưng kén chồng; sau làm vợ kế ông Nguyễn Kiều (1696- 1752) tức là ông Nghè Sù người làng Phú Xá (làng Sù) huyện Từ Liêm, Hà Nội đỗ tiến sĩ đời Lê Dụ Tông, làm quan đến chức Đô ngự sử. Nguyễn Kiều vốn đã có 2 đời vợ trước: vợ đầu là con gái quan Tham tụng Lê Anh Tuấn; bà này mất sớm, ông tục huyền với con gái Thượng thư Nguyễn Quý Đức nhưng bà này lại cũng qua đời… Nguyễn Kiều nhờ mai mối đến hỏi bà Đoàn Thị Điểm; sau mấy lần chối từ, cuối cùng bà Đoàn Thị Điểm thuận về làm vợ kế. Năm 1734, Nguyễn Kiều nhậm chức Tham thị thành Triều Khẩu (Nghệ An), bà Đoàn Thị Điểm đi thuyền theo chồng, đến ngang đền Sòng (Thanh Hoá) thì bị cảm và sáu ngày sau đến Triều Khẩu thì mất, lúc này bà mới 44 tuổi.

Mới đây, ngày 24/7/2011, tại cánh đồng thôn Phú Xá (Phú Thượng, Tây Hồ, Hà Nội), Hội Khảo cổ học cùng Ban Quản lý di tích-danh thắng Hà Nội đã cải táng mộ của ông Nghè Nguyễn Kiều về cạnh mộ bà Đoàn Thị Điểm ở cách đó 2km.

NGUYỄN THỊ ĐIỂM ĐÃ DỊCH CHINH PHỤ NGÂM RA CHỮ NÔM

CHỨ KHÔNG PHẢI LÀ ĐOÀN THỊ ĐIỂM ?
Trước câu hỏi ai là tác giả Chinh Phụ ngâm diễn âm, các nhà nghiên cứu đã tìm kiếm bằng chứng và tranh luận sôi nổi suốt gần 100 năm qua.

Nhiều sách nay vẫn ghi tác giả là Đoàn Thị Điểm theo như lời “tương truyền” vốn có từ xa xưa…nhưng nay lại đang có nghi vấn được nêu: Phải chăng tác giả Chinh Phụ ngâm diễn âm hiện hành là Nguyễn Thị Điểm?

Điều có thể dùng làm chứng cớ là ở 2 người anh là Nguyễn Trác Luân và Đoàn Doãn Luân. Bà Nguyễn Thị Điểm là em ông Nguyễn Trác Luân và tên tuổi Nguyễn Trác Luân thì không thể sai bởi đã ghi trong sử đời Lê mạt… Đầu thập niên 70 thế kỉ XX, GS. Bùi Văn Nguyên, lúc này đang là Giảng viên Khoa Ngữ Văn trường Đại Học Sư phạm Hà Nội cùng GS. Phan Huy Lê, Chủ tịch Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam về Hải Dương, gặp bố và chú của ông Nguyễn Trác Cách là Nguyễn Trác Thức và Nguyễn Trác Ngữ để hỏi cụ thể về việc dịch thuật của bà Nguyễn Thị Điểm. Các nhà nghiên cứu tìm đến gia tộc Nguyễn Trác thì điều không may là gia phả, sắc phong và cả ngôi nhà thờ họ năm gian mang tên Duy Ái Từ đã cháy trong kháng chiến chống Pháp. Tại đây, ông Nguyễn Trác Cách sinh năm 1936, trưởng tộc họ Nguyễn Trác đã kể lại các giai thoại văn chương giữa Nguyễn Trác Luân với em gái là Nguyễn Thị Điểm, vốn ham học ngay từ khi còn nhỏ và thường cùng anh xướng họa thơ văn. Các giai thoại này dòng họ ông vẫn lưu truyền và ông khẳng định chính bà Nguyễn Thị Điểm mới là tác giả của Tục truyền kỳ và bản dịch Chinh phụ ngâm được phổ biến rộng rãi hiện nay(2).

Sau đợt nghiên cứu, trên Tạp chí Văn học, số 6 năm 1977, GS. Bùi Văn Nguyên viết bài “Bà Điểm nào trong hai bà Điểm, tương truyền có tham gia dịch một bản Chinh phụ ngâm của Đặng Trần Côn”. GS Bùi Văn Nguyên cho rằng: “Sự thật, có hai bà Điểm khác nhau, một bà họ Nguyễn, một bà họ Đoàn, hai bà sống có phần đồng thời, ở cùng một vùng, nay là tỉnh Hải Hưng, đều có người anh trùng tên là Luân và đều giỏi văn thơ, pha nghề dạy học”(3).

Điều GS. Bùi Văn Nguyên phát hiện làm rõ mối ngờ 20 năm trước của GS. Hoàng Xuân Hãn về độ chính xác của Vũ Hoạt khi cho rằng bà Đoàn thị Điểm là tác giả của bản Nôm Chinh Phụ Ngâm: “Có thể Vũ Hoạt nghe loáng thoáng có một bà Điểm nào đó hay chữ, liền nghĩ ngay đến bà Điểm vợ ông Kiều ở huyện Từ Liêm, cùng quê với ông Đặng Trần Côn là tác giả khúc ngâm, rồi ghi luôn vào bản khắc mà mình giới thiệu cho thêm phần giá trị và Vũ Hoạt trong lời bạt viết năm 1904 đời Thành Thái đã khéo bảo vệ bằng luận điểm tương truyền. Đã gọi là tương truyền thì chả có bằng cớ nào, về sau nếu không đúng cũng thôi…”

Năm 1953, trong cuốn Chinh phụ ngâm bị khảo, GS, Hoàng Xuân Hãn có nêu ra 7 bản Chinh Phụ Ngâm diễn âm trong đó ông tập trung chú ý 4 bản A,B,C,D. Bản A là bản thịnh hành thì ông cho là của Phan Huy Ích. Riêng bản B (ít phổ biến) ở đầu có chữ “nữ lưu”, ông cho rằng đây là bản của bà Đoàn Thị Điểm. Phải chăng bản này là của bà Nguyễn Thị Điểm còn bà Đoàn Thị Điểm tuy hay chữ nhưng chỉ viết Truyền Kì tân phả (Tục Truyền Kỳ) như lời kể của Nguyễn Án và Phạm Đình Hổ.

Một chứng cớ nữa là nay ở thư viện trường Đại học Yale Hoa Kỳ còn một bản chép tay Chinh Phụ ngâm bị lục đời Thành Thái bằng chữ Nôm có chua quốc ngữ. Bản này ghi tên dịch giả là Nguyễn Thị Điểm. Tác phẩm gồm 412 câu, câu chữ gần như phù hợp với bản Chinh Phụ ngâm phiên ra quốc ngữ hiện được dùng phổ biến trong các sách văn học, kể cả sách giáo khoa Trung học và giáo trình Đại học hiện nay.

GHI CHÚ:

Ảnh sachxua.net

Theo tài liệu ông Nguyễn Trác Cách gửi viện trưởng Viện Văn học ngày 10 tháng 3 năm 2009; Đoàn Thị Điểm và Truyền kỳ tân phả; Bùi Thị Thiên Thai, Văn hóa Nghệ An 26.9.2010.

GS Bùi Văn Nguyên, “Bà Điểm nào trong hai bà Điểm, tương truyền có tham gia dịch một bản Chinh phụ ngâm của Đặng Trần Côn” – Tạp chí Văn học, số 6 năm 1977,

Alexandre de Rhodes

Alexandre de Rhodes

quoc-ngu-2

Alexandre de Rhodes (phiên âm tiếng Việt là A-Lịch-Sơn Đắc-Lộ hay Cha Đắc Lộ,

A-lếc-xăng Đơ-rốt; 15 tháng 3 năm 1591 – 5 tháng 11 năm 1660)

là một nhà truyền giáo dòng Tên người Avignon và một nhà ngôn ngữ học.

Ông đã góp phần quan trọng vào việc hình thành chữ quốc ngữ Việt Nam hiện đại

bằng công trình Tự điển Việt-Bồ-La, hệ thống hóa cách ghi âm tiếng Việt bằng mẫu tự La tinh.

GiaoSiDacLo2 (1)

Xem tiếp tiểu sử tại Wikipedia https://vi.wikipedia.org/wiki/Alexandre_de_Rhodes

Kỷ niệm 354 năm qua đời của linh mục Alexandre de Rhodes (hay còn gọi là cha Đắc Lộ),

người đã khai sinh ra chữ Việt cho chúng ta đang sử dụng .

Xin cám ơn Người đã cho chúng ta biết được những mặt chữ tiếng Việt và

từ đó chúng ta không còn lệ thuộc vào chữ viết của giặc Tàu nữa .

Cha Đắc Lộ, một nhà truyền giáo vĩ đại của Giáo hội Công giáo Hoàn vũ nói chung và của Giáo hội Công giáo Việt Nam nói riêng,

„Khi cho Việt Nam các mẫu tự La Tinh, Alexandre de Rhodes đã đưa Việt Nam đi trước đến 3 thế kỷ“.

Năm 1651 khi chính thức xác định mẫu tự, bằng cách cho ra đời tại Roma nơi nhà in Vatican,

quyển tự điển đầu tiên và các sách đầu tiên bằng chữ Quốc ngữ,

cha Đắc Lộ đã „giải phóng “ nước Việt Nam khỏi nô lệ giặc Tàu .

Thật vậy, giống như Nhật Bản và Triều Tiên, người Việt Nam luôn luôn sử dụng chữ viết của người Tàu và bị nô lệ vì chữ viết này. Chỉ mới cách đây không lâu, người Triều Tiên mới chế biến ra một chữ viết riêng của họ. Còn người Nhật thì, sau nhiều lần thử nghiệm, đã phải bó tay và đành trở về với lối viết tượng hình biểu ý của người Tàu.

Trong khi đó, người Tàu của Mao Trạch Đông đang tìm cách dùng các mẫu tự La Tinh để chế biến ra chữ viết của mình, nhưng cho đến nay vẫn chưa thành công. Vậy mà dân tộc Việt Nam, nhờ công ơn của cha Đắc Lộ, đã tiến bộ trước người Tàu đến 3 thế kỷ.

Với hy vọng có thể tìm được nơi linh mục trở về với cát bụi, chúng tôi, đoàn Việt Nam đang công tác tại Iran đã đến Isfahan – thành phố cổ cách Teheran 350 km về phía Nam. Đó là một ngày đầu năm 2011, một tuần sau lễ Giáng sinh.

Quảng trường Naghsh-i Jahan của Isfahan là một trong những quảng trường lớn nhất địa cầu với kiến trúc tiêu biểu Hồi giáo đã được UNESCO công nhận là Di sản văn hóa nhân loại. Tại thành phố này, Alexandre de Rhodes đã sống những năm cuối đời. Mặc dù trước đó, phần đời chính của ông là ở Việt Nam.

Chúng tôi đến Isfahan vào một ngày mùa đông se lạnh nhưng tràn ánh nắng. Hỏi đường đến một nhà thờ Công giáo nào đó, chúng tôi được người dân chỉ dẫn tận tình. Điểm chúng tôi đến là nhà thờ Vank, nhà thờ thiên chúa lớn nhất Isfahan.

Qua giây phút ngạc nhiên trước đoàn khách Việt Nam, cha xứ nhà thờ nồng nhiệt đón tiếp chúng tôi “ hồ hởi “ . Trước nay, hiếm có du khách Á đông nào, nhất là từ Việt Nam xa xôi tới nơi đây. Ông nhiệt tình dẫn chúng tôi đi “ tham quan “ và nói về lịch sử nhà thờ.

Nằm trong thế giới Hồi giáo, nhà thờ có kiến trúc bề ngoài đặc trưng Hồi giáo, nhưng vào bên trong, với các tranh và tượng Thánh đầy ắp khắp các bức tường, cứ ngỡ như đang ở một nhà thờ nào đó ở Roma hay Paris.

Cha xứ càng ngạc nhiên hơn khi chúng tôi hỏi về giáo sĩ Alexandre de Rhodes – người đã mất cách đây hơn 350 năm. Nhà thờ Vank có một thư viện lớn, lưu trữ nhiều tư liệu quý giá. Cha xứ nói người vào thư viện tìm kiếm. Lát sau, một thanh niên to khỏe khệ nệ mang ra một cuốn sổ dày cộp, to chừng nửa cái bàn, bìa bọc da nâu ghi chép về các giáo sĩ đã làm việc và mất tại đây. Ngạc nhiên và vui mừng tột độ, cha và chúng tôi tìm thấy dòng chữ ghi Alexandre de Rhodes mất năm 1660.

Như vậy, không nghi ngờ gì nữa, chính tại nhà thờ Vank này, cha Đắc Lộ đã sống và làm việc những năm cuối đời.

Chúng tôi hỏi: “Thưa cha, liệu có thể tìm thấy mộ của Alexandre de Rhodes ở đâu không?”.

Cha xứ tận tình chỉ đường cho đoàn khách đặc biệt tới Nghĩa trang Công giáo ở ngoại ô thành phố.

Nghĩa trang nằm dưới chân đồi.

Các ngôi mộ nằm êm mát dưới tán rừng thông, tùng, bách mênh mông, vắng lặng.

Lạ một điều, nghĩa trang Công giáo nhưng không thấy một cây thánh giá nào.

Chia nhau đi các ngả tìm kiếm, lần mò hồi lâu, chúng tôi reo lên khi thấy ngôi mộ có ghi rõ tên Alexandre de Rhodes.

Mộ ông nằm bên cạnh hai ngôi mộ khác thành một cụm ba ngôi. Gọi là mộ, nhưng không đắp nổi như ở Việt Nam.

Đó chỉ là tảng đá lớn nằm nghiêng nửa chìm, nửa nổi trên mặt đất. Dù đã trải qua mưa nắng, biến động cuộc đời hơn ba thế kỷ, chữ khắc trên tảng đá còn khá rõ nét.

Trong ánh nắng ban trưa, chúng tôi kính cẩn nghiêng mình trước ngôi mộ,

ai cũng thấy dâng lên trong lòng mình những cảm xúc bâng khuâng khó tả.

Tem_Alexandre_de_Rhodes

2- CHỮ QUỐC NGỮ VÀ CHA ĐẮC LỘ

Trong cuốn Giáo sử 1, Linh Mục Phan Phát Hườn đã từng dày công nghiên cứu công trình truyền bá Phúc Âm qua ngôn ngữ mà các Vị Thừa Sai bắt gặp khi chuyển đạt tư tưởng hầu giúp dân bản xứ lĩnh hội lời Chúa được dễ dàng. Chính các Ngài đã mò mẫm học tiếng bản xứ để rồi phát minh ra một loại mẫu tự mới dể viết hơn. Đó là tài năng phi thường nhờ vào sức Thiêng nên các Ngài mới làm được…

Mời xem bài nguồn gốc Chữ Quốc Ngữ bên dưới do Cố Linh Mục Phêrô Phan Phát Hườn

chuyển đạt qua Cuốn Giáo Sử 1 do Ngài thực hiện…

***

Chử Quốc ngữ không phải được phát sinh do Giáo sĩ Alexandre De Rhôdes, nhưng Ngài đã khảo cứu từ 2 quyển tự điển chỉ viết bằng tay; cuốn thứ nhất là tự điển Bồ-Việt (Portuguese-Vietnamese) do nhà truyền giáo Antonio Barbosa soạn và quyển thứ hai là tự điển Việt-Bồ (Vietnamese-Portuguese) do Giáo sĩ Gaspar d‘ Amiral thực hiện, nhưng cả hai đều chỉ viết bằng tay;

Vị Thừa sai Alexandre De Rhôdes đã hoàn thiện hệ thống chuyển tả (transcription).

Ngài nói : „Đây không phải là công việc dễ dàng“. Quyển nầy được in tại Roma .

Quyển thứ hai là cuốn Văn phạm Việt Nam và cuốn thứ ba là sách Giáo lý (Catechism) gồm 324 trang

bằng song ngử Việt-Latin cũng đều in tại Roma vào khoảng năm 1651, 1652.

Các Ngài đã dùng 23 mẫu tự Latin để làm thành chử Quốc Ngữ

gồm A B C D E F G H I J K L M N O P Q R S T U V X Y,

không có chử J W Z.

Sau nầy các nhà ngôn ngữ học điều chỉnh đã loại bỏ thêm chử F.

Ngoài ra còn thêm các mẫu tự Ă Â Đ Ê Ô Ơ Ư và 5 dấu: sắc, huyền, hỏi, ngã, nặng; như vậy trong chử Quốc Ngử có 29 mẫu tự: A Ă Â B C D Đ E Ê G H I K L M N O Ô Ơ P Q R S T U Ư V X Y.

Xin trích một đoạn trong quyển sách Giáo Lý (Catechism) do Giáo Sĩ Đắc Lộ biên soạn được ấn loát tại Rome dày 324 trang. Đây là cuốn sách văn xuôi đầu tiên của nền văn hoá Việt Nam và là nền móng cho sự điều chỉnh để trở nên hoàn hảo hơn sau nầy:

“ Dies Primus (Tiếng Latin) Ngày Thứ Nhít.

Ta cầu cù đức Chúa blời giúp ức cho ta biết tỏ tuàng đạo Chúa là nhưàng nào, vì bậy ta phải…ở thế nầy chẳng có ai foú lâu, vì chưng kẻ đến bảy tám mươi tuổi chẳng có nhèo, vì bậy ta nên tìm đàng nào cho ta được foú lâu, là kiếm … foú bậy, thật là viẹ người cuến tử, khác phép thế gian nầy, dù mà làm cho người được phú qúi… chẳng làm được cho tangày fau.“

Phần có 3 dấu chấm… là chử qúa mờ, không thể đọc được.

Qua đoạn văn trên, chúng ta thấy có sự khác biệt khi Giáo Sĩ bắt đầu viết chử Quốc Ngử và bây giờ.

Thứ Nhít Thứ Nhứt

Cù Cùng

Ức Sức

Blời Trời

Tỏ Tuầng Tỏ Tường

Bậy Vậy

Việ Việc

Cuên Tử Quân Tử

Foú Sống

Ngày Fau Ngày Sau

Về sau, Giám Mục Taberd, Linh Mục Ravier, Grenibrel, Cordier, Ông Huỳnh Tịnh Của và Pétrus Trương Vĩnh Ký đã điều chỉnh lại cho hoàn hảo.

Năm 1838, Giám Mục Taberd đã soạn quyễn tự điển Việt -La và La-Việt gồm 732 trang.

Năm 1888, ông Pétrus Trương Vĩnh Ký, người rành tiếng Latinh, Hy Lạp, Pháp, Anh, Tàu, Nhật Bản đã cổ vũ cho việc dùng chử Quốc Ngử thay tiếng Nôm vì rất khó viết, khó học, chỉ có 5% người dân biết viết, biết đọc !

Năm 1898, Linh Mục Genibrel soạn quyễn tự điển Pháp-Việt.

Ông Huỳnh Tịnh Của (1834-1907) đã soạn quyển tự điển Việt đầu tiên, đây là nền móng cho những loại tự điển nầy về sau

Vào năm 1931, nhà sách Khai Trí đã cho phát hành cuốn tự điển La-Việt gồm 1272 trang, đây là cuốn đầy đủ nhất từ trước đến nay.

Năm 1934, Giáo Sĩ Cordier cũng đã ấn hành cuốn tự điển Pháp-Việt.

Chử Quốc Ngữ có những ưu điểm mà tiếng Anh không có; mổi chử, dù dài, vẫn phát 1 âm, ví dụ chử „nghiêng“ có tới 7 mẩu tự, nhưng chỉ phát 1 âm và người nghe hiểu và viết lại được liền, không như tiếng Anh, mỗi lần xưng tên, phải đánh vần, người đối diện mới biết, rất bất tiện, nhất là khi nói trên điện thoại.

Về cách phát âm 5 dấu sắc huyền hỏi ngã nặng thì với người ngoại quốc rất khó, khó như người Việt đã trên 18 tuổi sang Hoa Kỳ, lưởi đã cứng, dù nói tiếng Pháp lưu loát, khi nói chuyện với Mỹ, đôi khi phải dùng động từ quơ, quơ cả hai tay !

Cô Ỷ Lan làm việc tại Phòng Thông Tin Phật Giáo thuộc PGVNTN Văn Phòng II Viện Hoá Đạo Hải Ngoại tại Paris đã đưa ra nhận xét trong tiếng Việt có những cái thật vô lý:

Anh Không Quân bay giữa bầu trời thì lại không có quần (Không Quần),

rủi có chuyện gì xảy ra phải búng dù, người bên dưới nhìn lên, coi kỳ lắm!

Trái lại anh Hải Quân ở ngoài biển khơi phải ăn mặc cho thoáng hơn để bơi khi hữu sự, thì lại mặc hai quần (Hải Quân).

Điều nầy chứng tỏ cách phát âm 5 dấu của tiếng Việt rất khó đối với người ngoại quốc và các cháu người Việt ở thế hệ hai tại Hoa Kỳ khi nói tiếng Việt, đôi khi người nghe không thể hiểu được vì bị trở ngại lúc phát âm 5 dấu nầy không chỉnh!

Trong tiếng Anh và Tiếng Việt có sự trùng hợp lý thú, đó là động từ cắt,cut; đồng nghĩa, đồng âm và chử dài nhất trong tiếng Anh cũng chỉ phát ra 1 hoặc 2 âm, chử smiles, những nụ cười, dài hơn 1 mile !

Năm 1618 từ Macao hai vị Thừa sai Pedro Marquez và Christoforo Borri đến Trung phần Việt Nam, sau đó các Ngài đến Quảng Nam và nói với Thống đốc sở tại rằng lúc 11 giờ khuya ngày 19-12-1620 sẽ có nguyệt thực nhưng Thống đốc không tin vì nhà Thiên văn đã không trình cho Chúa Nguyễn Phúc Nguyên biết. Thời bấy giờ người Việt Nam tin rằng nguyệt thực là do rồng nuốt mặt trăng, bởi thế Vua truyền lệnh cho dân bắn súng, đánh chiêng, trống, phèng la để đuổi rồng. Trước 11 giờ khuya, dân chúng tụ tập tại điểm hẹn và qủa là nguyệt thực đã xảy ra, Thống đốc bèn ra lệnh bắn súng , đánh chiêng trống phèng la đuổi rồng. Từ đó Cha Borri rất có uy tín.

Vào ngày 21-5-1621 Nhà Thiên văn của Chúa Nguyễn Phúc Nguyên thông báo sẽ có nhật thực, Cha Borri cũng xác nhận điều nầy nhưng Ngài qủa quyết với Thống đốc rằng ở Việt Nam sẽ không thấy hiện tượng nầy, do vậy ông tin tưởng vào Cha Borri mà không thông báo lệnh đuổi rồng của Chúa Nguyễn cho dân Quảng Nam. Đúng 3 giờ chiều ngày 21-5-1621, Vua và Quan Triều đình ra sân xem nhật thực, đợi hoài mà không thấy rồng xuất hiện nuốt mặt trời, Nhà Thiên văn phải xin lỗi và hứa ngày mai cùng giờ rồng sẽ đến. Cũng đúng 3 giờ chiều ngày hôm sau Vua Quan lại ra sân lần thứ hai nhưng rồi rồng lại lỗi hẹn. Chúa Nguyễn Phúc Nguyên nỗi giận lấy lại đất đã cấp phát trước đây và phạt qùy gối để đầu trần ngoài sân …

Năm 1627 Giáo sĩ Đắc Lộ là người đã tặng đồng hồ qủa quýt và cuốn hình học cho Chúa Trinh Tráng ở Đàng Ngoài.

Vào năm 1642, Chúa Nguyễn Phúc Lan ở Đàng Trong (lúc đó bản đồ Việt Nam mới đến Phú Yên) mời Giáo Sĩ vào cung điện dạy môn đại số, sau khi Giáo Sĩ tặng Chúa vài đồng hồ qủa quýt, nhưng ban đêm lại giảng đạo, bị Chúa đuổi ra khỏi thành phố Huế, phải chạy vào Đà Nẳng.

Giáo Sỉ là con người thông minh, đẹp trai mà chẳng được Công Chúa nào tỏ tình như Công Chúa Mai Hoa dưới thời Hậu Lê đã ngỏ ý muốn cầu hôn với Linh Mục Ordonez de Cevallos và Chúa Trịnh Tráng cũng đã mời Giáo Sĩ Baldinotti thuộc Dòng Tên định cư luôn !

Có người hỏi thời Vua Tự Đức, Giám Mục nào đã xây dựng trại cùi để cứu giúp kẻ cùng khổ bị xã hội ruồng bỏ ?

Xin thưa đó là Giám Mục Retord cai quản giáo phận Hànội, Ngài đã xây cất 20 căn nhà tại Vĩnh Trì vào năm 1851,

bốn năm sau khi Vua Tự Đức lên ngôi (1847-1883) để làm bệnh viện cho người cùi xấu số !

Đến năm 1930, Cha Jean Cassaigne đã thành lập trại cùi tại Di Linh, Lâm Đồng.

Ngài bị lây bệnh và mất tại đó sau khi làm Giám Mục Địa Phận Sàigòn.

Trong năm 1971 đã có tới 6189 Nữ Tu phục vụ tại 41 bệnh viện với 7000 bệnh nhân,

239 trạm phát thuốc miển phí, 36 nhà bảo sanh, 9 trại cùi với 2500 bệnh nhân, 82 cô nhi viện với 11.000 em và 29 nhà dưởng lảo.

Các Nữ Tu dòng Thánh Phao Lô đã lăn xả vào phục vụ tại các Viện Bào Lao.

Các Sư Huynh dòng Lasan đã giáo dục, đào tạo nhiều thanh niên ưu tú, nhiều nhân tài,

các vị lãnh đạo nhiệt tâm phục vụ cho quê hương, dân tộc.

Tất cả đều nằm trong chính sách cứu nhân, độ thế của Vatican

*** Quốc gia ‘nổi trên mặt nước’

Quốc gia ‘nổi trên mặt nước’ đầu tiên của thế giới sẽ xuất hiện ở Thái Bình Dương.

Dự án quốc gia nổi trên mặt nước đầu tiên của thế giới sẽ nằm tại Thái Bình Dương, ngoài khơi của đảo Tahiti, dự kiến xuất hiện vào năm 2020, và sử dụng loại tiền điện tử có tên Vayron.

alt

Theo  bản dự án, quốc gia nổi sẽ bao gồm thành phố biển với khoảng 300  nhà ở, một số khách sạn, nhà hàng, và văn phòng làm việc. Dự án này cũng tạo ra một quốc gia độc lập với chính phủ có luật pháp riêng.

 

alt

Xem có vẻ khó khả thi, nhưng dự án quốc gia nổi được thiết kế mái xanh bao phủ với các vật liệu địa phương thân thiện môi trường như: tre, gỗ, kim loại, hay nhựa tái chế…

Các kỹ thuật và vật liệu xây dựng của địa phương sẽ pha trộn cùng công nghệ hiện đại nhằm đáp ứng nhu cầu thực tế, đồng thời bảo tồn tính truyền thống.

 

alt

Mặt sàn của công trình làm từ loại bê tông cốt thép đủ độ kiên cố cho những tòa nhà 3 tầng chịu được khoảng thời gian lên tới 100 năm. Theo đại diện từ đơn vị thiết kế dự án, mỗi mặt sàn có chi phí chưa tới 15 triệu USD. Đây là con số tương đương với giá đất ở New York (Mỹ), hay London (Anh).

 

alt

Theo Seasteading Institute, tổ chức phi lợi nhuận có trụ sở tại San Francisco, họ đã phát triển ý tưởng này khi thành lập vào năm 2008. Trong một bài phát biểu diễn ra vào tháng 11/2017, ông Joe Quirk, Chủ tịch Viện Seasteading cho biết: Ông muốn được nhìn thấy hàng ngàn thành phố nổi vào năm 2050, trong đó mỗi nơi có chính quyền quản lý riêng biệt và độc lập.

 

Sau đó, đơn vị này cũng đạt được những thỏa thuận với chính quyền Polynesia thuộc Pháp để xây dựng dự án. Quốc gia nhỏ bé với 118 hòn đảo ở miền nam Thái Bình Dương, dân số chỉ hơn 200.000 người, đã cung cấp cho Viện Seasteading 100 mẫu đất của bãi biển để lên kế hoạch cho dự án.

Ngoài ra, các đảo nổi còn được thiết kế trang trại nuôi trồng thủy sản, cơ sở chăm sóc sức khỏe, trung tâm nghiên cứu Y học, và nhà máy điện cung cấp nguồn năng lượng bền vững. Dự kiến, công trình tiêu tốn khoảng 167 triệu USD.

Hoàng Hà.

Theo DM.   ./

*** Bán Nước Dưới Tên Mỹ Miều: Đặc Khu Kinh Tế

 


 

Cuối thế kỷ 19, Nhà Thanh bạc nhược và suy tàn. Trong khi đó các nước Tây Phương đang trỗi dậy với sự phát triển kỹ thuật giúp gia tăng sản xuất, đồng thời với việc gia tăng sức mạnh quân sự.

 

Nền kỹ thuật mới cần nhiều nhân công và đồng thời cũng cần thị trường tiêu thu. Chính vì những nhu cầu này, thế giới Tây Phương lúc đó đã nhìn Nước Tàu bạc nhược như một miếng mồi ngon và cùng nhau chia để trị.

 Trước đó các nước đế quốc xâu xé Nước Tàu bắt đầu từ cuộc Chiến tranh nha phiến của thực dân Anh năm 1840-1842. Với hiệp ước Nam Kinh tháng 8/1842, Nước Tàu phải cắt Hong Kong cho Anh.

xuong duong 1

Sau Chiến tranh nha phiến, các nước đế quốc từng bước nhảy vào xâu xé Nước Tàu. Cho đến cuối thế kỷ XIX, Đức xâm chiếm tỉnh Sơn Đông; Anh xâm chiếm  vùng châu thổ sông Dương Tử, Pháp thôn tính vùng Vân Nam, Nga và Nhật chiếm đóng vùng Đông Bắc…

Ngày nay, Nước CHXHCNVN luôn tự hào là một nước Độc Lập có đầy đủ chủ quyền, hà cớ gì phải Cắt Đất Nhượng Biển như một kẻ chiến bại đối với bọn Tàu Khựa.

Bày đặt dùng chữ cho kêu “Luật Đặc Khu” để lừa bịp quần chúng. Đây chính là những hành động nhộn nhịp bán nước khi những tháng ngày áp chót hoàn tất tiến trình bán nước theo Hội Nghi Bán Nước mà các chóp bu VC ký tại Thành Đô tnh Tứ Xuyên bên Tàu năm 1991 và hoàn tất sát nhập Tàu vào năm 2020

Người Dân hãy tỉnh táo và chuẩn bị cho Ngày Hội Lớn Của Dân Tộc. Đảng và Nhà Nước VC có thể đã suy tàn và trở nên hèn hạ như Nhà Thanh trước đây. Nhưng với kinh nghiệm trong Ngàn Năm Bắc Thuộc, với kinh nghiệm 13 cuộc chiến chống ngoại xâm của Tiền Nhân luôn luôn toàn thắng bọn Tàu xâm lược, lẽ nào Dân Tộc VN lại ươn hèn đến độ kẻ thù chưa đánh mà đã Dâng Đất Nhượng Biển cho kẻ thù truyền kiếp là Tàu Khựa.  

Mong Tiền Nhân Anh Hùng chứng giám cho những tấm lòng thành và những trái tim quả cảm đang miệt mài tận hiến chuẩn bị cho Ngày Hội Lớn Của Dân Tộc.

*** Thương nhớ Hà-Tiên

 “miền duyên hải mến yêu tận cùng
trên nẻo đường quê hương đất nước”

An-Tiêm MAI-LÝ-CANG
(Paris)


Hòn Phụ-Tử khi xưa

LTG – Đất phương Nam xưa nay vốn thường được người ta nói đến nhiều nhất là vùng kinh tế lúa gạo cốt lõi ở miền đồng bằng châu thổ sông Cửu-Long chín nhánh chảy ra bể cả. Và người ta cũng thường hay ví bản đồ nước Việt bây giờ như là hình hài của một con tằm xinh đẹp đang bám mình vào lục địa Á-Châu chính do nhờ lượng đất phù sa tô bồi hằng bao thế kỷ trôi qua, và nay mảnh đất Hà-Tiên mới đã được thành hình.

An-Tiêm MAI-LÝ-CANG
(Paris)

 

Và bây giờ, thử nhìn vào vị trí bản đồ hình cong chữ “S” thì mọi người đều thấy rằng con đường biển cả bao la trên quê hương yêu dấu của nước ta kéo dài từ bãi Tục-Lãm xuống tận miền duyên hải cuối cùng trên nẻo đường đất nước, là phải dừng chân lại ở tại dải đất Hà-Tiên. Một vùng đất phương Nam thổ ngơi trù phú, vườn ruộng cây trái xinh tươi, lại còn nổi tiếng có sắc màu phong thủy hài hòa và những thắng cảnh nên thơ trữ tình, quyện lấy cùng với những kỳ quan thiên nhiên tuyệt vời, huyền ảo.Ngược dòng thời gian, ngày xưa vào năm (1832) thì Hà-Tiên vốn là một tỉnh trong Nam-Kỳ Lục-Tỉnh dưới triều đại của vua Minh-Mạng. Tuy nhiên, sau đó trải qua nhiều thời đại cải cách về địa lý hành chánh, thì giờ đây Hà-Tiên đã bị khép mình trở thành một huyện biên thùy ở miền duyên hải cuối cùng của miền Tây-Nam tổ quốc. So với phố cổ Hội-An ở duyên hải miền Trung (nằm cạnh quần thể lâu đài hình tháp của cố vương quốc Chămpa) vốn là một tụ điểm du lịch nổi tiếng có tầm vóc quốc tế từ lâu, thì Hà-Tiên ở đất phương Nam bây giờ chỉ là một thành phố nhỏ hẹp. Và hẻo lánh, nép mình bên bể cả nhưng lúc nào cũng sẵn sàng túc trực đón chào du khách trong nước tìm đến tham quan. Lợi thế may mắn của Hà-Tiên bây giờ, đó là nhờ dải đất miền duyên hải nầy nằm cạnh Phú-Quốc hoang sơ trù mật, một hòn đảo ngọc hiện đang còn tích trữ tiềm tàng rất nhiều tài nguyên thiên nhiên quý báu của quốc gia. Và có đầy tiềm năng để khai thác về kinh tế, mở mang đáp ứng nhu cầu du lịch trong tương lai ra thế giới bên ngoài. Tuy nhiên, nói riêng về mặt khác thì Hà-Tiên cũng đã có một thời từng là một cái nôi hội tụ được rất nhiều thành phần mặc khách tao nhân từ khắp mọi miền tìm đến giao lưu dưới mái nhà hội ngộ Tao-Đàn Chiêu-Anh-Các*.Và cùng nhau đã để lại cho đời sau nhiều thi phẩm rất là lý thú, tuyệt vời.

Đi thực tế, người nào muốn tìm hiểu về Hà-Tiên mau lẹ thì hãy lướt nhanh qua xem một đoạn văn miêu tả sau đây của Đông-Hồ đã viết: – “Ở đó (Hà-Tiên), kỳ thú thay, như gồm hầu đủ hết. Có một ít hang sâu động hiểm của Lạng-Sơn. Có một ít ngọn đá chơi vơi giữa biển của Hạ-Long. Có một ít núi vôi ở Ninh-Bình, một ít thạch thất sơn môn của Hương-Tích.Có một ít Tây-Hồ, một ít Hương-Giang. Có một ít chùa chiền của Bắc-Ninh, lăng tẩm của Thuận-Hóa. Có một ít Đồ-Sơn, cửa Tùng, có một ít Nha-Trang, Long-Hải. Ở đây không có một cảnh nào to lớn đầy đủ, ở đây chỉ nhỏ nhắn, xinh xinh, mà cảnh nào cũng có.” Do vậy, người ta có thể nói rằng non nước Hà-Tiên quả là một nơi biểu tượng cho nhiều danh lam thắng cảnh VN hội tụ lại trên dải đất nhỏ bé nầy.


Hà-Tiên một góc nhìn

Thị xã Hà-Tiên ngày nay trực thuộc tỉnh Kiên-Giang nằm cách trung tâm thành phố Rạch-Giá 93km, tiếp giáp biên thùy Campuchia với đường ven biên về phía Tây. Hà-Tiên có đường ven biển phía Nam chạy dài 22km giáp vịnh Thái-Lan, có sông Giang-Thành dài 23km. Lại còn có vũng Đông-Hồ, núi Tô-Châu, Bình-San, Thạch Động, bãi biển Mũi Nai, và cạnh đó còn có hòn Phụ-Tử v.v. Và kinh Vỉnh-Tế (nối liền Châu-Đốc với Hà-Tiên) dài hơn 90km là một công trình thủy lợi lớn lao nhất của triều đình nhà Nguyễn bắt đầu khởi sự từ thuở thời vua Gia-Long trị vì. Còn dải đất Hà-Tiên khi xưa, thì được người Chân-Lạp gọi tên là Mang-Khảm với đầy những huyền thoại ly kỳ về không gian cảnh sắc.


Mũi Nai

Ngày nay, có rất nhiều khách đi phượt lúc ban đầu khi vừa mới đặt gót chân lên thành phố Hà-Tiên, thì đã tỏ ra ngay sự thất vọng khi nhìn thấy quang cảnh phố thị không có dáng vẻ gì đặc biệt ngoài số ít ngôi nhà cổ xưa, lác đác các vách tường mái ngói ngả màu phủ rêu phong xám xịt. Bên cạnh đó là cảnh quan sinh hoạt nơi chợ búa êm đềm, đường sá không có lưu lượng giao thông ồn ào như nhiều nơi phố thị có nhiều nhà cao tầng khang trang khác. Tuy nhiên, không phải vì thế mà người ta không thể nhìn thấy có những nét quyến rũ nên thơ của nó chính là sự lặng lẽ, yên lành, chậm chạp, êm đềm bên cạnh bể khơi bao la chuyển hóa được lòng người làm cho họ tìm lại được một cảm giác nhẹ nhàng, thư thái.

Quả vậy, sau khi rời khỏi trung tâm thị xã Hà-Tiên cách đó không xa, thì người ta mới có dịp mục kích được đâu là cảnh trí màu sắc ở nơi đây tuyệt đẹp y như là hình ảnh của một bức tranh họa đồ.

Cách đây vài thập niên, khi nước nhà chưa thực sự hoàn toàn thống nhất thì Hà-Tiên là một vùng đất buôn lậu xuyên quốc gia lý tưỏng cho những thành phần tránh né pháp luật ở nơi chợ trời biên giới. Dạo ấy, đường sá hư hỏng xuống cấp nặng nề vì chiến tranh tàn phá chớ không được trùng tu mở rộng như thời buổi bây giờ. Do vậy, vào thời kỳ đó thì cái tên Hà-Tiên chỉ được nhiều người nghe qua vậy thôi, chứ cũng ít có người muốn phiêu lưu đến đó để tìm hiểu đâu là nước non cảnh đẹp ở nơi nầy. Còn bây giờ, với phương tiện giao thông thuận tiện hơn thì người ta thường dùng tỉnh lộ 955 nếu đi từ Châu-Đốc, hoặc quốc lộ 80 nếu đi từ Long-Xuyên hay Rạch-Giá xuống Hà tiên rồi dùng tàu cao tốc để thực hiện mau lẹ cuộc hành trình đi ra đảo Phú-Quốc. Và như hầu hết tất cả du khách đã từng đến Phú-Quốc rồi, thì sẽ không bao giờ quên được Bãi Sao là một thắng cảnh tuyệt vời có dải cát mịn màng trắng tinh chạy dài theo ven biển màu xanh nhấp nhô sóng nhẹ nhàng. Bờ biển thì có vực nước sâu từ từ khi lội ra xa, thật là lý tưởng cho người tắm biển có dịp nhìn thấy rõ từng đàn sứa, đàn và cá lội tung tăng dưới làn nước trong veo tận đáy biển. Và cũng như lời đồn không sai, là ai đã đến Phú-Quốc mà chưa biết được Bãi Sao thì phải kể như là cần phải trở lại thêm một lần nữa.


Bãi Sao

Trở lại bối cảnh không gian về lịch sử, xã hội, chính trị, văn hóa và nhân văn được thành hình trên dải đất Hà-Tiên ngày trước (ngày nay là gồm toàn bộ diện tích của tỉnh Kiên-Giang) là cả một giai thoại vô cùng kỳ thú, vì nó đã góp phần rất nhiều vào kho tàng tinh hoa phong phú của miền đất phương Nam. Giờ đây, nếu lấy cái mốc thời gian vào năm 1708 khi mà Mạc-Cửu ( 1655-1735) hoàn toàn thần phục chúa Nguyễn và xin dâng đất cầu thân thì được chúa Nguyễn-Phúc-Chu ban cho chức Tổng binh, và từ đó tính cho đến nay đã được là 300 năm.

Đối với tinh thần truyền thống cao đẹp của người VN ta từ thuở xa xưa, là luôn luôn lúc nào cũng trọng nghĩa mến tài, chiêu hiền đãi sĩ, đãi ngộ công lao. Vì thế cho nên, vào ngày 7-9-2008 thì nhhân dân cùng chính quyền sở tại cũng đã có tổ chức một buổi lễ khai mạc tượng đài Mạc-Cửu ở Hà-Tiên để vinh danh, và cũng để nhằm dành cho họ Mạc một chỗ ngồi xứng đáng trong lịch sử mở mang miền đất phương Nam.


Tượng đài Mạc-Cửu

Mạc-Cửu nguyên là một viên bại tướng của nhà Minh khi xưa ở bên Tàu, sau đó đã vượt biên tìm đường đi xin tị nạn chính trị nhà Thanh chạy ra ở nước ngoài. Và trong những thập niên dài, họ Mạc từng bôn ba ở Cao-Miên làm nghề bán buôn gặp thời cơ phát đạt trở thành một vị đại gia có rất nhiều thế lực ở tại phủ Nam-Vang vào thời buổi bấy giờ. Rồi ông còn qua lại Xiêm-La do thám tình hình, để mong tìm hậu thuẫn hầu mưu cầu nghiệp cả. Tuy nhiên, cuối cùng Mạc-Cửu quyết định trở về mảnh đất Hà-Tiên hoang vu để dung thân cùng với nhiều lý do, là dùng để chiêu tập những lưu dân tứ xứ hầu để biến thành những tụ điểm dinh điền, khẩn hoang lập ấp, tạo dựng khu trù mật và phát triển thương mại. Tuy nhiên, chủ đích của Mạc-Cửu còn đi xa hơn là muốn lợi dụng địa thế Hà-Tiên, để dùng làm căn cứ chiến lược về quân sự để chờ ngày trở về với giấc mơ phục quốc (phản Thanh phục Minh). Cho dù thế nào đi nữa, thì tiết tháo của một kẻ sĩ Hán tộc chắc chắn cũng sẽ không bao giờ có thể làm cho ông quên được hận thù quân xâm lăng đất nước của ông vào lúc bấy giờ.

Hơn thế nữa, Mạc-Cửu là một con người có tâm hồn hoài cố quốc, vốn từng có đầu óc thông minh hiểu biết nhìn xa trông rộng, biết dựa vào sức mạnh về quân sự của triều đình chúa Nguyễn lúc bấy giờ để sinh tồn. Vì thế cho nên lịch sử cần nên cân nhắc, để đặt lại vấn đề dâng đất của Mạc-Cửu có phải là dụng ý câu móc thời gian trong hoàn cảnh lực bất tòng tâm mà đành phải chọn lấy mảnh đất Hà-Tiên để dung thân trên quê hương thứ nhì của cuộc đời mình. Vì trong lúc bấy giờ, thì nước Xiêm-La luôn luôn lúc nào cũng dóm ngó, chờ thời cơ làm áp lực dụng binh để tranh giành hòng muốn chiếm đoạt cho kỳ được dải đất miến duyên hải Hà-Tiên xinh tươi màu mở.


Núi Tô-Châu

Do vậy, người ta có thể nói rằng trường hợp dâng đất cầu thân của Mạc-Cửu vào năm 1708 phải được coi như là một ngoại lệ chưa từng có xảy ra trong lịch sử nước ta, vì lúc bấy giờ, Hà-Tiên vốn là một vùng đất còn hoang sơ vô chủ. Trường hợp đó có khác rất nhiều với trường hợp trước đó của vua Chế-Mân dâng đất Ô, Lý của Chiêm-Thành để cầu hòa, tuy rằng cũng đã cưới được Huyền-Trân công chúa (1306). Có khác với trường hợp của vua Chey Chetta II nước Chân-Lạp muốn cầu hòa và xin cưới được công chúa Ngọc-Vạn (1620). Để rồi sau đó chấp thuận cho chúa Sãi được lập ra một đồn thuế ở vùng Prei-Kor thuộc Gia-Định bây giờ, và một địa điểm dinh điền ở Mô-Xoài thuộc Bà-Rịa ngày nay. Về sau, lại còn cho phép người dân ỏ xứ Đàng Trong dễ dàng di dân lần xuống đất phương Nam vùng Biên-Hòa bây giờ, để phá rừng định cư lập nghiệp lâu dài. Do vậy, xét cho cùng thì người ta có thể suy luận rằng Mạc-Cửu chính là một nhà chính trị tài ba có tầm nhìn khôn khéo, biết đo lường thời cuộc tương lai trong khi đang bị lâm vào cái thế chẳng đặng đừng.

Tuy nhiên, điều không ai có thể phủ nhận là dưới thời dòng họ Mạc được triều đình chúa Nguyễn tin cậy trao trọn cho mọi toàn quyền hành để cai quản giang sơn một cõi trên dải đất Hà-Tiên, thì vùng đất nầy đã trở nên một thương cảng sầm uất, nhộn nhịp. Hơn khoảng ba thập niên sau khi Mạc-Cửu qua đời, thì các thương thuyền ở xa xôi cũng như giáo sĩ phương Tây, lúc bấy giờ, như Bá-Đa-Lộc (Béhaine de Pigneau) cũng đã thường xuyên tới lui Hà-Tiên. Và có thành lập ra một chủng viện đơn sơ ngay tại Hòn Đất quy tụ được chừng vài chục giáo dân người Việt, Hoa, Xiêm-La vào năm 1765. Và hai năm sau (1767), ông cũng đã có dung dưỡng cho cho vị hoàng tử Xiêm-La đến đây để tị nạn chính trị. Sang đến năm 1774, ông lại được Mạc-Thiên-Tứ cho phép mở ra một họ đạo cũng ở tại Hòn Đất và tự do đi lại truyền giáo khắp nơi.

Trở lại dưới thời kỳ Mạc-Thiên-Tứ (hay Tích) kế nghiệp, thì lại mở rộng bến cảng thêm ra để cho các thương thuyền từ Khmer, Mã-Lai, Nam-Dương, Xiêm-La, Miến-Điện, Ấn-Độ, Nam Trung-Hoa lui tới dễ dàng, và ngày càng thường xuyên đến cập bến nhiều hơn. Các tiệm tùng tạp hóa của người Việt lẫn cùng các lưu dân Hoa-Ấn mọc dài ra theo ven biển, các gian hàng bán quà thủ công lưu niệm, các quán xá sáng chiều nhậu nhẹt rất đông người. Cộng thêm vào lúc đó, là những tiếng đồn từ nơi nhả ngọc phun châu của Tao-Đàn Chiêu-Anh-Các đã bay xa làm cho có nhiều kẻ sĩ ở khắp bốn phương nghe tin kéo nhau tìm đến giao lưu hội ngộ ở Hà-Tiên, và tạo dịp cho phố thị nầy trở nên thành tụ điểm của một chốn thi đàn tao nhã.


Mộ Mạc-Thiên-Tứ trên núi Bình-San

Tao-Đàn Chiêu-Anh-Cácdo Trần-Trí-Khải tự Hoài-Thủy là người sáng lập ra vào năm 1736, và đề cử Mạc-Thiên-Tứ tự là Sĩ-Lân làm Tao-Đàn chủ soái (còn riêng về nghiệp võ, thì người ta thường gọi là Mạc-Thiên-Tích). Mạc-Thiên-Tứ là một nhân vật có bản lĩnh văn võ song toàn, và cũng là tác giả nổi tiếng của tập thơ “Hà-Tiên thập cảnh khúc vịnh”** được diễn tả bằng thơ nôm và theo thể thơ tiếng Việt. Và riêng về bài thơ “Hà-Tiên thập cảnh tổng vịnh” cũng của danh sĩ họ Mạc sau đây, có thể được coi như là đã giới thiệu lên được trọn vẹn về non nước ở nơi nầy:

Mười cảnh Hà-Tiên rất hữu tình
Non non nước nước gẫm nên xinh
Đông-Hồ, Lộc-Trĩ luôn dòng chảy
Nam-Phố, Lư-Khê một mạch xanh
Tiêu-Tự, Giang-Thành, chuông trống ỏi
Châu-Nham, Kim-Dữ cá chim quanh
Bình-San, Thạch-Động là rường cột
Sừng sựng muôn năm cũng để dành

Thạch-Động

Mạc-Thiên-Tích (1718-1780) lên thay cha kế nghiệp năm 1735, vào lúc mới được 29 tuổi. Và đã được chúa Nguyễn-Phúc-Trú phong chức Tổng binh Đại đô đốc để tiếp tục khai khẩn đất đai, mở mang văn hiến vùng đất Hà-Tiên, song song với mục đích án ngữ quân sự, bảo vệ quốc phòng làm tiền đồn cho đạo quân chúa Nguyễn ở phương xa. Vào lúc bấy giờ, thì địa lý Hà-Tiên tuy đã trực thuộc hẳn về giang san chúa Nguyễn nhưng cũng vẫn hãy còn có những dải đất hoang vu chưa được khai thác mở mang.Do vậy, cho nên vẫn còn được coi như là một vùng tranh chấp của tứ chiến giang hồ ở khắp bốn phương anh hùng hão hán. Trong số đó có đạo quân của Xiêm-La, thậm chí có cả Khmer đã nhiều lần đưa quân sang giao chiến chiếm đoạt Hà-Tiên. Tuy nhiên, cuối cùng thì nhờ có sự yểm trợ mạnh mẽ của đạo quân triều đình chúa Nguyễn đánh bại đạo quân Xiêm-La mà Hà-Tiên mới được tái chiếm lại, để cho Mạc-Thiên-Tích còn có thêm một thời để tiếp tục cai quản mở mang tiểu quốc nầy trở thành một nơi trù phú về sau. Và mãi cho đến năm 1776, khi đạo quân Tây-Sơn của Vua Quang-Trung (1753-1792) tổng tiến công truy kích tàn quân của chúa Nguyễn vào đến đất phương Nam, thì Mạc-Thiên-Tích mới bỏ Hà-Tiên, để chạy sang Xiêm-La tị nạn chính trị nhưng sau đó vì bị bạc đãi cho nên ông phải cam đành chọn lấy con đường tự sát. Chính vì vậy, mà ngày nay ngôi mộ không có thi hài của ông ở Bình-San chỉ còn có mang một tính cách tượng trưng mà thôi.

Tuy nhiên, ngày nay trong danh sách danh nhân từng góp phần làm sáng giá cho mảnh đất Hà-Tiên, thì người ta không bao giờ có thể không nhắc đến một trong những kẻ sĩ đặc biệt tài hoa khác. Đó là nhà văn, nhà thơ Đông-Hồ Lâm-Tấn-Phát (1906-1969).


Nhà lưu niệm Đông Hồ

Sự nghiệp văn chương của Đông-Hồ sớm được người ta biết đến từ năm 1920 với những thể loại như thơ, ký, tiểu thuyết. Và lần lượt tiếp theo sau đó, là trong thời kỳ nhiều năm làm báo cũng như lúc giảng dạy ở tại trường Đại-Học Văn-Khoa Sài-Gòn. Văn phong trong bút tích của Đông-Hồ trong tình tự về lịch sử hình thành của quê hương trên dải đất Hà-Tiên, thì phải nói là có sức hút gợi cảm lạ kỳ dành cho người đọc. Lúc nào cũng bình dị rõ ràng mà phong phú, đậm đà miêu tả tính chất nhân văn rặc của miền đất phương Nam. Đặc biệt, là những tài liệu sưu khảo về tổ chức của phong trào Tao-Đàn Chiêu-Anh-Các được tung ra trên các báo chí, vào lúc bấy giờ, như là một quả châu soi sáng lại cả một góc trời văn hiến của tiểu quốc Hà-Tiên từng đã nằm yên trong một giấc ngủ lâu dài gần 150 qua, nay đã được chính ông là một đứa con bản địa làm sống lại. Do vậy, người ta có thể nói rằng các công trình sưu khảo của ông còn để lại bây giờ chính là những tài liệu vô cùng phong phú, có nhiều giá trị cơ sở xuất xứ và tính thuyết phục.


Nhà văn
Đông-Hồ Lâm-Tấn-Phát

Nữ sỉ
Mộng-Tuyết Thái-Thị-Úc

Hiện nay, bên cạnh dòng sông Đông-Hồ lặng lẽ ở Hà-Tiên thập cảnh đã có ngôi “Nhà lưu niệm Đông-Hồ” với một không gian thi phú lưu trữ, trưng bày các hình ảnh, kỷ vật, sách báo của tác giả và phu nhân là nữ sĩ Mộng-Tuyết Thái-Thị-Úc (1914-2007) – tác giả của một tác phẩm tiểu thuyết bi thương là “Nàng Ái-Cơ trong chậu úp”. Nội dung cốt truyện của tác phẩm nầy đã được tác giả dựa vào giai thoại lưu truyền trong mối tình éo le, đẫm lệ giữa danh nhân Mạc-Thiên-Tứ và nàng thứ cơ Phù-Cừ. Và sau cùng, là hình ảnh chứng tích của mái chùa Phù-Dung ngày nay là nơi giải trừ nghiệp chướng, để kết thúc cho một cuộc tình không vẹn tròn hạnh phúc giữa đôi uyên ương tài tử giai nhân.


Chùa Phù-Dung một thời huyền thoại

Về sau, tác phẩm nổi danh nầy đã được hai nhà soạn giả Kiên-Giang và Thế-Châu đưa vào kịch nghệ cổ nhạc. Và biên soạn công phu ra thành tuồng hát dưới nhan đề “Áo cưới trước cổng chùa”, và được nghệ sĩ điêu luyện Lệ-Thủy (huy chương vàng giải Thanh-Tâm 1964)*** xuất sắc trình diễn vai chính đã từng làm rơi lệ hàng triệu khán giả say mê nghệ thuật sân khấu cải lương.


Nghệ sĩ Lệ-Thủy

Và giờ đây, mới đó mà đã hơn ba thế kỷ trôi qua từ dạo cái tên Phương-Thành (tên gọi xưa của Hà-Tiên) thực sự không còn nữa, thì mảnh đất Hà-Tiên bây giờ đã bị lột xác thay da biết bao lần. Từ một dải đất thiên nhiên núi rừng và thú dữ, Hà-Tiên đành phải chịu chào thua trước sức tiến của con người lần luợt kéo đến khai phá mở mang. Thị xã Hà-Tiên (nói riêng) ngày nay, chiếu theo nghị định tái cấu trúc đơn vị hành chánh địa phương vào ngày 8-7-1998, sau khi điều chỉnh địa giới hành chánh thì chỉ còn thu hẹp lại trong vòng đai diện tích chỉ có 89.548,5 ha, với con số nhân khẩu là 62.162, và bao gồm có 6 xã và một thị trấn. Và mặc dù là một vùng đất hẹp, không có nguồn tài nguyên địa phương lợi ích gì đáng kể ngoài việc nuôi trồng thủy sản, nhưng lợi thế của Hà-Tiên bây giờ là một thành phố nằm ở đoạn cuối cùng trên đường du lịch xuyên Việt của các công ty tổ chức lữ hành thường xuyên những tuyến tham quan.

Vi thế, cho nên ngày nay có rất nhiều du khách một khi đã đến đây thì họ sẽ không bao giờ bỏ lỡ những cơ hội để tai nghe mắt thấy rõ ràng từ cảnh đồng bằng, vũng, vịnh, hang động, núi sông, hải đảo xinh đẹp nên thơ nằm trong tầm địa lý ở quanh vùng. Nhất là, cảnh quan chiêm ngưỡng Bình-San nơi có lăng mộ của dòng học Mạc nhìn xuống núi Voi Phục giữa bể khơi trời nước bao la. Hơn thế nữa, rồi đây trong tương lai lại có thêm những công trình lấn biển ngoạn mục đã và đang được thi công ra sức tiến hành. Và đây sẽ là nơi lần mọc lên một cảnh quan của khu đô thị mới có tầm vóc hiện đại, xứng đáng với hình ảnh của một thành phố du lịch phát triển được nhiều lợi thế diệu kỳ của thiên nhiên ưu đãi.

 


Thạch-Động thôn vân

Lộc-Trĩ thôn cư

Do vậy, cho nên đúng vào thời điểm nầy thì Hà-Tiên đã biết cựa mình lợi dụng thế mạnh của một vùng địa lý đặc biệt có một không hai ở phương Nam. Để ra sức kết cấu, hoàn chỉnh từ các cơ sở hạ tầng hầu mong theo kịp bước đáp ứng nhu cầu với các dịch vụ đầu tư khai thác du lịch đang phát triển trong thị xã. Vả lại, về mặt khác thì Hà-Tiên lại còn cũng phải cố gắng làm sao cho bằng được để có thể thành lập ra thêm nhiều hơn nữa những tổ chức hữu hiệu để nhằm bảo tồn. Duy trì và phát huy về bản sắc văn hóa một thời vàng son rực rỡ địa phương từ hồi hơn quá thế kỷ trôi qua, từng đã được lịch sử văn học nước nhà đương nhiên thừa nhận, là dải đất nầy khi xưa từng được mệnh danh là một tiểu quốc văn hiến****. Thêm vào đó, là Hà-Tiên bây giờ cũng đã có cửa khẩu trên quốc lộ 80 được trùng tu ăn thông qua nước bạn láng giềng Campuchia, rất khá thuận tiện cho sự giao thông giữa hai chiều hơn ngày trước. Và cũng còn có đường tàu cao tốc rút ngắn được rất nhiều thì gìờ đi tới cùng các hải đảo, nhất là Phú-Quốc.

Tuy nhiên, trên con đường phát triển mở mang, hiện đại hóa địa phương, thì Hà-Tiên cũng bị lâm vào tình trạng gặp phải có những trường hợp bất khả kháng là đã làm cho ảnh hưởng đến môi trường sinh thái, và làm mất lần vẻ mỹ quan của một vài thắng cảnh thiên nhiên. Mặt khác, bên cạnh đó thì Hà-Tiên còn vô tình gặp phải có những bài toán khó khăn, nan giải cũng như ở nhiều vùng miền khác về mặt tệ đoan ảnh hưởng đến an sinh xã hội, làm xáo trộn rất nhiều vào cuộc sống của đồng bào sở tại. Nguyên nhân chính, đó là do có sự thành hình của những ngôi nhà casino nguy nga mọc dài theo bên kia biên giới.


Casino Hà-Tiên Vegas

Theo tổ chức phân chia về địa lý hành chánh hiện nay, thì Việt-Nam đã có tới 10 tỉnh Tây-Nam ven biên giáp giới với lãnh thổ Campuchia chạy dài 1270 km, và gồm có 13 cửa khẩu quốc tế đường bộ chính nằm trải dài ra theo chiều dài giữa hai biên giới. Tuy nhiên, về phía bên kia phần đất của Campuchia song song với phần đất Việt-Nam, thì chính phủ quốc gia nầy đã có chủ trương cho phép đầu tư xây cất lên rất nhiều casino lớn nhỏ ở rải rác từ ngang độ vĩ tuyến từ ở Gia-Lai xuống tận Kiên-Giang để nhằm mục đích thu hút con bạc VN sang qua vui thú đỏ đen.

Từ lâu, người ta được biết (nói riêng) là trong kế hoạch đầu tư ấy thì ngoại mục đích họ tìm cách thu lợi nhuận, thì chính phủ Campuchia còn nhằm vào chủ yếu khác là để chứng minh rõ ràng về đường phân ranh giữa hai lãnh thổ quốc gia. Và sự kiện nầy đã từng được chính phủ nước bạn khẳng định, cho rằng mỗi casino là chứng tích của một cột mốc biên giới rất thực tế và vĩnh cữu.

Casino Hà-Tiên Vegas là một sòng bạc có tầm vóc hoành tráng được xây dựng lên tới 9 tầng lầu, nằm phía bên kia cửa khẩu Hà-Tìên chỉ độ chừng vài trăm mét, và được chính thức khai trương vào tháng 9-2009. Hệ thống bên trong gồm có 160 phòng nghỉ hiện đại, có sân khấu nhạc sống hấp dẫn với sự hiện diện của các ca sĩ Campuchia và Việt-Nam hằng ngày sang qua biểu diễn, kể cả những màn thoát y bốc lửa để phục vụ con bạc. Sòng bạc mở cửa 24 trên 24 giờ với đầy đủ trò chơi games, bàn chơi bài, chơi qua mạng như nào là Poker, Xì-Dzách, Midi v.v. Và còn có cả trường gà, để dành cho cả những người ham thích môn nầy.


Những màn ca vũ bốc lửa bên trong casino nhằm chiêu dụ con bạc

Trong những năm đầu tiên kể từ ngày ra đời của casino nầy, thì hàng ngày đã có hơn cả ngàn người Việt-Nam sang qua để tham quan, mua dâm và đánh bạc. Do vậy, mà thành phố Hà-Tiên vào lúc bấy giờ đã vô tình được tự khoác lên mình một chiếc áo tô màu sặc sỡ, phồn vinh giả tạo qua những hình ảnh sinh hoạt phố phường ồn ào, nhộn nhịp hơn bao giờ hết. Tuy nhiên, theo dòng chảy của thời gian thì ngày nay giai đoạn háo hức, hỗn độn ấy đã không còn. Các con bạc VN lần hồi đã bị tán gia phá sản rất nhiều, có kẻ thế thân mượn tiền đã bị casino giam giữ làm con tin chờ ngày gia đình đem bạc tiền sang để chuộc mạng. Người nào không có khả năng, phương tiện chi trả được thì sẽ bị hệ thống đầu gấu casino hành xác đánh đập mang thương tích nặng nề. Và thậm chí, còn có những con nợ vô cùng hối hận đến nỗi quá quẫn trí, cho nên đành phải chọn lấy con đường tự hủy diệt lấy thân mình.

Dẫu sao, những bi kịch đó cũng chỉ là cái giá phải trả theo vòng xoáy của hiện trạng sinh hoạt xã hội điạ phương lúc bây giờ. Và cũng như ngược dòng thời gian từ hơn 35 năm về trước, thì thành phố Hà-Tiên nầy cũng đã một lần từng bị cánh quân diệt chủng cận kề tràn qua xâm lấn gieo tai họa cho bao gia đình vô tội. Tuy nhiên, giờ đây đối với bản tính của người dân ở xứ Hà-Tiên lúc nào cũng hiền hòa, hiếu khách. Và có thói quen là luôn luôn thức dậy cùng lúc với ánh mặt trời mọc lên trên biển cả, thì họ đã tự nhìn thấy rõ ràng hơn ai hết, là con đường nào dễ dàng để lướt qua được mọi khó khăn, khắc phục để gặt hái thành công.

Sau cùng, hình ảnh Hà-Tiên hôm nay sẽ được kết thúc bằng một buổi họp chợ đêm ven theo bờ biển, hoặc tùy theo sự lựa chọn theo đoàn người đi câu mực, hay soi đâm cua, ghẹ về khuya. Tại khu chợ đêm, du khách thường hay đứng ngay bên bờ biển nhìn cảnh bóng trăng treo trên bể cả lăn tăn gợn sóng vàng, và họ ít khi phải đắn đo để lựa chọn cho mình một vài món quà lưu niệm đem về sau chuyến tham quan, vì đa số mặt hàng ở đây thường có giá rất bình dân. Và các món nhậu hải sản đơn giản thì cũng phục vụ bình dân ngay tại các vỉa hè với đầy đủ ngao sò ốc hến, khô cá đuối, khô cá thiều, khô mực, bánh canh chả ghẹ, bún gỏi cá trích v.v. Còn trái cây thì đặc biệt còn có xoài Miên, và đường thốt nốt.

Tuy nhiên, cuộc hành trình của bạn không thể kéo dài. Vậy bạn hãy ráng nhanh tay lẹ chân lợi dụng cơ hội, để khám phá ra thêm nhiều hơn nữa về huyền thoại xa xưa của dải đất từng có những nàng tiên xuất hiện xinh đẹp tuyệt trần. Biết đâu ở tận vùng sâu vùng xa nào đó, bây giờ cũng vẫn hãy còn có những nàng công chúa đang mơ màng trong giấc ngủ tình yêu, để trông chờ một vị hoàng tử của lòng mình từ phương xa đến đặt nụ hôn, để cùng nhau gá duyên tơ tóc hạnh phúc lâu dài. Và hẳn bạn đã từng được nghe, nếu ngày xưa người ta thường nói :

Hà-Tiên đi dễ, khó về.
Trai đi có vợ, gái về có con

thì Hà-Tiên bây giờ cũng vẫn hãy còn luôn luôn luyến lưu những ý nghĩa lời thơ tình tự dân gian, không phân chia biên giới.

An-Tiêm MAI-LÝ-CANG
(Paris)

* – Tao-Đàn Chiêu-Anh-Các quy tụ được nhiều tác giả với nhiều thi phẩm gồm có: Hà-Tiên thập vịnh, Hà-Tiên thập cảnh khúc vịnh, Thụ-Đức-Hiên tứ cảnh và Minh bột di ngư.

**- “Hà-Tiên thập cảnh khúc vịnh” là 10 bài thơ xướng của Mạc-Thiên-Tứ làm ra vào năm 1737 theo thể loại thất ngôn bát cú và được chia ra với các tựa đề: Kim-Dữ lan đào, Bình-San điệp thúy, Tiêu-Tự thần chung, Giang-Thành dạ cổ, Thạch-Động thôn vân, Châu-Nham lạc lộ, Đông-Hồ ấn nguyệt, Nam-Phố trừng ba, Lộc-Trĩ thôn cư, Lư-Khê ngư bạc. Sau đây là nguyên văn:

1. Kim-Dữ lan đào
Một dẫy non xanh nước bích liền
Giăng ngang cho mạch đẹp sông Tiên
Đông-Nam sóng biển bằng trang cả
Trên dưới trăng trời sáng rực lên
Rồng cá vẫy vùng trong cõi nước
Đá cây xan xát khắp ven miền
Nghìn thu tiếng gió quanh chân sóng
Đậm nhạt trăng treo nét lạ nhìn.

2. Bình-San điệp thúy
Cây xanh ngăn ngắt vút cao cao
Ngọn dựng bình giăng đẹp mĩ miều
Mây sáng vây quanh hình núi rõ
Mưa tàn thêm nổi bóng non theo
Đất trời bền vững nền linh tú
Mây khói vời xa nỗi ước ao
Danh thắng Hà-Tiên đâu dám bảo
Cây ngàn mơn mởn biết xanh gieo

3. Tiêu-Tự thần chung
Lác đác trời tàn nhạt ánh sao
Chuông chùa xa vắng tiếng đưa vào
Mơ màng cõi tục người tiên lẫn
Đồng vọng bờ cây bến nước xao
Hạc để tiếng vương cành gió thoản.
Quạ đưa lời gởi ngọn trăng cao
Gối nghiêng giấc tỉnh đêm mê mộng
Sớm giục canh gà tin khát khao

4. Giang-Thành dạ cổ
Gió cuốn trời cao mây lạnh tung
Sông dài vây tỏa khí anh hùng
Lâu thuyền dãi bóng trăng sương lạnh
Trống mõ cầm canh sóng nước trong
Kim giáp đã nhờ đêm chặt chẽ
Cẩm bào cho được chốn thung dung
Lược thao đem đáp tình minh chúa
Nước Việt biên thùy vững núi sông

5. Thạch-Động thôn vân
Xanh xanh ngọn đá chạm thiên hà
Động bích long lanh ngọc chói lòa
Chẳng hẹn khói mây thường lẩn quất
Không ngăn cây cỏ mặc la đà
Phong sương càng dãi màu tươi đẹp
Nhật nguyệt chi ngừng bóng lại qua
Chót vót tinh hoa đây đã hẳn
Theo chiều gió lộng vút cao xa

6. Châu-Nham lạc lộ
Bóng rợp mây dâm phủ núi non
Bay la bay lả trắng hoàng hôn
Góc trời thế trận giăng cây cỏ
Đóa ngọc hoa rơi khắp bãi cồn
Trăng dãi non treo làn thác đổ
Chiều tà cát lẫn ánh mây tuôn
Trên đường bay nhảy bao xuôi ngược
Nghĩ cảnh dừng chân bến nước còn

7. Đông-Hồ ấn nguyệt
Khói lạnh mây tan cõi diểu mang
Một vùng phong cảnh giữa hồng quang
Trời xa mặt sóng in đôi bóng
Biển bạc vành gương dọi bốn phương
Rỗng đã sánh cùng trời bát ngát
Sâu còn so với biển mênh mang
Cá rồng tỉnh giấc chi tan vỡ
Một tấm lòng băng vẫn chói chang

8. Nam-Phố trừng ba
Một vùng xanh ngát một doành khơi
Bãi nối màu thu tiếp sắc trời
Mưa khéo mây đem về kết tụ
Gió nào cho sóng động tăm hơi
Biển hâng hẩng sáng triều tuôn dẫy
Buồm nhẹ nhàng đưa khỏi thoảng trôi
Vực thẳm cá rồng còn ẩn náu
Êm đềm nước ngậm bóng trăng soi

9. Lộc-Trĩ thôn cư
Lều tre giấc tỉnh gió lay mình
Tiếng quạ ồn chi trước mái tranh
Ráng xế treo ngang khung cửa tím
Cây vườn che lợp luống rau xanh
Tánh rần mộc mạc hươu nai dại
Lòng thích thơm tho nếp tẻ thanh
Ai đó hỏi thăm nơi chốn ở
Lưng trâu tiếng sáo lặng làm thinh

10. Lư-Khê ngư bạc
Bóng chiều nắng ngả dòng sông thẳm
Rạch Vược đèn ngư khói chập chùng
Bến cũ nhấp nhô thuyền đỗ sóng
Vờ xa san sát lưới phơi trăng
Cánh tơi sáo thấm sương pha buốt
Mái trúc chèo khuya nước sáng trưng
Lồng lộng vời trông cười thử hỏi
Cá rồng vùng vẫy chốn nầy chăng

(bản dịch của Đông-Hồ Lâm-Tấn-Phát)

*** – Nữ nghệ sĩ Lệ-Thủy có tất cả là 10 danh hiệu, giải thưởng hạng nhất. Trong đó, có ba giải được coi như là vẻ vang trên con đường sự nghiệp là: giải Thanh-Tâm 1964, giải Kim-Khánh 1974 và giải A1 năm1980. Trong năm 2012, Lệ-Thủy vừa được mang thêm danh hiệu là nghệ sĩ nhân dân. Trước đó, năm 1993 Lệ Thủy cũng đã từng được mang danh hiệu là nghệ sĩ ưu tú.

****- Phủ-Biên tạp lục năm Bính-Thân 1776 của Lê-Quý-Đôn.


Tượng các nàng tiên ở Hà-Tiên
**********************************

 

Thơ Lục Bát Còn, Tiếng Việt Còn

Lê Hữu

BIEN NUOC

Hỡi cô tát nước bên đàng,
sao cô lại múc trăng vàng đổ đi?
(“Trăng quê”, Bàng Bá Lân)

“Cho tôi xem qua bài lục bát nào của anh/chị, tôi sẽ nói được ít nhiều về anh/chị.” Câu ấy tôi vẫn nói với những người làm thơ quen biết, và có lý do để mạnh miệng như vậy. Không chỉ “văn là người” mà cả đến thơ cũng là “người”. Hơn thế nữa, bài lục bát ấy cũng nói cho tôi biết ít nhiều về “tay nghề” của tác giả.

Thế nhưng, vì sao là lục bát mà không phải thể thơ nào khác? Chỉ vì, thơ lục bát “dễ làm, khó hay”, và là một thử thách cho người làm thơ. Qua một bài lục bát, dẫu tân, cổ kiểu nào, bản lãnh của người làm thơ thể hiện rõ nét hơn bất kỳ thể thơ nào khác.

I. Từ Ca Dao Đến Hồn Nhiên Lục Bát

Thơ lục bát dễ làm, khó hay, nhiều người vẫn đồng ý như vậy, nhưng không chắc đã đồng ý với nhau thế nào gọi là “hay”.

Biết thế nào là bài thơ, câu thơ hay? Khen một bài thơ hay cũng giống như khen bức tranh đẹp, dễ rơi vào chủ quan. Người này nói đẹp, người kia nói không đẹp. Đẹp xấu, hay dở thế nào là tùy thuộc cảm quan nghệ thuật, khuynh hướng thẩm mỹ của từng người. Cũng tựa như nghe nhạc vậy, người yêu bài này, kẻ thích bài kia. Người yêu “tuyệt phẩm bolero”, kẻ thích “dòng nhạc thính phòng”… Mỗi người mỗi tánh mỗi ý, câu thơ có chạm được vào trái tim người yêu thơ hay không là tùy vào cung bậc cảm xúc của từng người.

Thơ lục bát cũng có lục bát sến, lục bát sang, lục bát truyền thống, lục bát hiện đại, lục bát cổ điển, lục bát tân kỳ, lục bát dung tục, lục bát tấu hài… Mỗi người “tự chọn” lấy những bông hoa mình yêu thích trên cánh đồng thơ lục bát.

Nhiều bài, nhiều câu lục bát được lắm người tán tụng, trầm trồ, thế nhưng tôi đọc chẳng thấy chỗ nào hay ho hoặc chỉ hay vừa vừa. Ngược lại, nhiều bài, nhiều câu lục bát tôi yêu thích nhưng không chắc đã được người khác chia sẻ. Tôi nhớ, một tờ báo mạng “chuyên trị” về thơ lục bát có tuyển chọn ra “1.000 câu thơ lục bát để đời”, hoặc một tờ báo khác làm công việc bình chọn “99 bài thơ lục bát hay nhất thế kỷ”. Không rõ việc bình chọn dựa trên những tiêu chuẩn nào và kết quả thế nào, riêng tôi vẫn cho là việc này không dễ và kết quả việc “bình bầu cá nhân xuất sắc” ấy không chắc được sự đồng thuận của người yêu thơ và làm thơ, nhất là những nhà thơ không thấy… tên mình trong số tác giả được tuyển chọn.

Dường như những bài thơ hay ngày càng ít đi, nhiều lắm chỉ nhặt ra được một đôi câu trong một bài. Người đọc khó mà nhớ được trọn bài thơ nào là vậy. Bài lục bát duy nhất tôi nhớ được trọn bài là “Hoa cỏ may”của thi sĩ Nguyễn Bính, gồm một câu “lục” và một câu “bát”:

Hồn anh như hoa cỏ may
một chiều cả gió bám đầy áo em

Thơ hay, một hai câu cũng hay.

Người viết nhớ đâu ghi đó những câu lục bát dẫn ra trong bài. Người đọc, như trên đã nói, có thể thấy hay hoặc không hay, thấy thích hoặc không thích. Việc dẫn giải những câu thơ trích dẫn, nếu có, chỉ vắn tắt. Dù sao, “bắt” được một, hai câu lục bát hay, với người yêu thơ, cũng là điều thú vị. Mong được như vậy.

1. Lục Bát Dân Gian

Hỡi cô tát nước bên đàng,
sao cô múc ánh trăng vàng đổ đi?

Có tài liệu nói rằng câu thơ trên không phải là câu ca dao quen thuộc như nhiều người vẫn tưởng mà là câu lục bát trong bài thơ “Trăng quê” của thi sĩ Bàng Bá Lân in trong thi tập đầu tay Tiếng Thông Reo, xuất bản năm 1934 ở Hà Nội. (Câu thơ Bàng Bá Lân có khác hai chữ: Sao cô lại múc trăng vàng đổ đi?).

Lại có người cho rằng câu ca dao Trăng bao nhiêu tuổi trăng già / Núi bao nhiêu tuổi gọi là núi non? là câu thơ của thi sĩ Tản Đà.

Những nhầm lẫn này cho thấy nhiều câu lục bát về tình tự dân tộc rất gần với ca dao.  

Từ lúc nào, từ nơi sâu thẳm nào trong tâm hồn người Việt đã thấm đẫm nguồn thơ lục bát bàng bạc trong kho tàng ca dao, trong nhiều bài đồng dao, trong lời mẹ ru con bên vành nôi. Nguồn thơ lục bát, trong nghĩa ấy, là nguồn cội dân tộc.

Tôi nhớ đã phải lòng lục bát từ thuở được làm quen với những câu ca dao trữ tình mà nhiều người quen gọi là “lục bát dân gian”. Bên dưới là những câu lục bát thẳng cánh cò bay mà không khéo lắm người lại tưởng rằng… ca dao.

Không trầu mà cũng chẳng cau,
làm sao cho thắm môi nhau thì làm
   

(Được yêu như thể ca dao, Nguyễn Duy)

Lòng anh quanh quẩn bờ rào,
như con bươm bướm bay vào bay ra     

(Cảm ơn, Viên Linh)  Hay là:

Thôi thì em chẳng yêu tôi,

leo lên cành bưởi nhớ người rưng rưng     

(Động hoa vàng, Phạm Thiên Thư)

(“Nhớ người rưng rưng” mới thật là hay, không phải “khóc người rưng rưng” như lời của bài nhạc phổ thơ).

Trăng tròn từ thuở mười lăm

em tròn từ thuở anh nằm tương tư     

(Trăng, Bắc Phong)  Hay là:

Chỉ tại con mắt lá răm
nên tằm mới chịu ăn nằm với dâu…

Chỉ tại cái nết không chừa
thế nên trúc cứ lẳng lơ với mành
    

(Trăm dâu cứ đổ đầu tằm, Ngô Tịnh Yên)

Mùa thu mây trắng xây thành
Tình em mầu ấy có xanh da trời
    

(Thu 1954, Hoàng Hải Thủy)

Cái đẹp của thơ lục bát là vẻ đẹp tự nhiên, không cầu kỳ kiểu cọ, không chải chuốt điệu đàng.

Cái hay của thơ lục bát là cái hay của vẻ đơn sơ, bình dị, như tâm hồn chân chất mộc mạc của người dân Việt.

2. Lục Bát Qua Cầu Gió Bay

“Mỗi người Việt là một thi sĩ”, tôi ngờ rằng “thi sĩ” trong câu nói ấy nhiều phần là thi sĩ của thơ lục bát, của những lời thơ tựa những lời lẽ người ta thốt ra một cách tự nhiên mà nghe thật ngọt ngào, dịu dàng và êm tai.

Anh đã có vợ hay chưa
mà anh ăn nói gió đưa ngọt ngào?     

(Ca dao)

Theo cái nghĩa này, ai cũng có thể làm thơ được dễ dàng mà không nhất thiết phải là thi sĩ, thậm chí không nghĩ rằng mình đang làm thơ. Già trẻ lớn bé gì cũng đều làm thơ lục bát được, và trong số những bài thơ ấy ta nhặt ra được không ít những lời thơ “gió đưa ngọt ngào”.

Câu thơ lục bát hay là câu thơ đọc “vèo” một cái thấy hay hay, đến chừng ngoái lại mới hay là mình vừa bước “qua cầu gió bay” một… câu lục bát.

Cái hay trong thơ lục bát là cái hay tự nhiên, hoặc được dụng công thật khéo để mang vẻ tự nhiên. Nhiều câu lục bát đọc lên nghe khơi khơi, nghe thật hồn nhiên như… lục bát:

Còn điếu thuốc này nữa thôi,

đốt lên anh chúng ta ngồi hút chung     

(Chuyện mùa xuân muộn, Thái Phương Thư)

Tôi về đây nhớ chiều xanh,

con chim nào hót trên cành khô kia    

(Giọng sầu, Hoài Khanh)  Hay là:

Đi trong chiều cuối tháng tư,

nắng Montréal đẹp y như Sài Gòn     

(Dạo phố Sainte Catherine, Luân Hoán)  

Tháng mười gió bén như dao
Cắt rơi chiếc lá thả vào lòng tôi
    

(Nhớ nhà, Quan Dương)

Tình ơi, về lại tháng ba
ghé thăm một chút cho ta đỡ buồn
Lục trong ngăn kéo, thỏi son
tình đi ngày ấy hãy còn bỏ quên
    

(Tình ơi, Lâm Chương)  Chưa hết:  

Lòng còn thơm ngọn gió quê

thổi đâu từ thuở bờ tre mới trồng     

(Năm mới, Phan Ni Tấn)

Trầu ơi, xanh lá cho mau
cho duyên con gái thắm màu vôi yêu
    

(Chiều thơm, Như Thương)  Vẫn chưa hết:.

Mùa thu có lá ngô rơi,

có đôi người mới thành đôi vợ chồng     

(Hoa bưởi xóm Chùa Đào, Y Dịch).  

Mười năm không trở lại nhà

Bóng trưa nghiêng đổ, tiếng gà trong mơ     

(Trăng ý, Tần Hoài Dạ Vũ)

Những câu lục bát như thể “gió đưa cành trúc la đà”, như thể “cánh cò bay lả bay la” trên ruộng lúa mênh mông.

II.  Ngôn Ngữ Thơ Lục Bát

Ngôn ngữ thơ là chữ nghĩa, hình ảnh, ý tưởng … chỉ có ở trong thơ hơn là trong đời thực. Có điều, khi đọc, nghe, ta cảm thấy như là có thực, có ý nghĩa và chấp nhận được; hơn thế nữa, lại còn rung cảm vì thứ ngôn ngữ ấy. Bất kỳ cách diễn đạt nào làm cho người ta đọc ra thơ, nghe ra thơ, hiểu ra thơ muốn “nói” điều gì, đều là ngôn ngữ thơ.

1. Chữ Và Nghĩa:

Thường thì nói đến ngôn ngữ người ta dễ nghĩ đến tiếng nói và chữ viết. Chữ nghĩa ở trong thơ lắm khi không giống như ở bên ngoài đời thường.

Tôi vịn câu thơ mà đứng dậy     

Ngoài đời, chẳng ai nói như vậy cả. Câu thơ (của Phùng Quán) không phải là cây gậy, cây nạng mà “vịn” vào được.

Câu thơ hay thường có ý tứ mới, lạ, diễn đạt bằng chữ nghĩa mới, lạ, và nghe rất “thơ”.

Mành tương phất phất gió đàn

Hương gây mùi nhớ, trà khan giọng tình     

(Truyện Kiều, Nguyễn Du)

Lối đi vừa chớm tiêu điều

mùa nghiêng bóng nhỏ ngày xiêu cội dài
phố chiều gió
vọng bàn tay

ru anh về với đôi ngày lãng quên    

 (Bài ru,Trần Dạ Từ)

Những “gây”, “khan”, “nghiêng”, “xiêu”, “vọng”, “ru” ấy chỉ tìm thấy ở trong thơ.

Tóc người chảy suốt cơn mưa
Ngực thơm hoa bưởi, môi
đưa bão về     

(Chân dung, Du Tử Lê)

Em đi sông gọi tiếng thầm
Lục bình
chia nhánh đá trầm mình đau

Em đi trời xuống thật sâu

Mây chia trong tóc, gió nhầu trên vai    

 (Xóa bình minh, Trần Mộng Tú)

Những “chảy”, “đưa”, “gọi”, “chia”, “trầm”, “xuống”, “nhầu” ấy cũng chỉ tìm thấy ở trong thơ. “Mây chia”, “gió nhầu”…, ngoài đời chẳng ai nói thế bao giờ.

Tôi vào chùa, quá tam quan

Phật ngồi im lặng, liễu bàng hoàng xanh
(Thực, Không đôi bờ, Trần Mộng Tú)

Câu thơ đọc lên nghe… bàng hoàng. Đâu chỉ có Phật, đến cả Chúa cũng bàng hoàng:

Tiếng em hát giữa giáo đường,

Chúa về trong những thánh chương bàng hoàng     
(Động hoa vàng, Phạm Thiên Thư)

Dường như cô bé rất hiền,

tay ngoan cặp sách, mắt viền ngây thơ

Dường như ai đó tình cờ

theo chân guốc nhỏ bất ngờ sau lưng     

(Tiểu thư, Như Thương)

Chữ “ngoan” dùng như là động từ, nghe hay hay, ngồ ngộ (những người làm thơ khác chắc sẽ viết “tay ôm cặp sách”). Và động từ “viền” ấy nữa, nghe cũng mới, cũng lạ. Đến hai chữ “bất ngờ” thì thật là… bất ngờ, cứ như là bất ngờ quay đầu lại bỗng giật mình thấy anh chàng đứng ngay sau lưng mình tự lúc nào.

Những chữ nghĩa và cách nói lạ lùng ấy chỉ nghe, chỉ thấy ở trong thơ.

Chữ nghĩa cần có sự phát minh, sáng tạo hơn là lặp lại rập khuôn người đi trước. Những vô thường, vô vi, phù vân, phù ảo, hư ảo, hư không, tà huy, miên trường… mà người làm thơ cố đưa vào bằng được trong thơ mình thường có một vẻ gì khập khiễng, gượng gạo như một kiểu tạo dáng kém tự nhiên, đôi lúc khiến câu thơ tối tăm, khó hiểu.

Thường, thơ khó hiểu thì khó hay; thơ tạo dáng thì khó tạo được cảm xúc.

Thơ hay, “thì”, “mà”, “là”… cũng hay, nhất là với thể thơ lục bát thuần Việt. Chẳng hạn:

Con sông nào đã xa nguồn

thì con sông đó sẽ buồn với tôi     
(Dòng sông của tôi, Hoài Khanh)

Ví dù gối đã lìa chăn

thì chăn gối cũng bao lần với nhau
Ví dù trước đã lìa sau

thì sau trước trước sau sao vẫn là     
(Minh khúc, 89, Nguyễn Tất Nhiên)

Chiều nay ngang cổng nhà ai
nhủ lòng tôi chỉ nhìn cây trúc đào
Nhưng mà không hiểu vì sao
gặp người xưa lại nhìn nhau mỉm cười
    

(Trúc đào, Nguyễn Tất Nhiên).   

“Nhưng mà không hiểu vì sao”… những từ ngữ Hán-Việt, những từ ngữ sáo mòn thời thượng, vẫn cứ được nhiều người làm thơ yêu chuộng. Chữ nghĩa bình dân làm thơ kém hay chăng? Chưa hết:

Tiếng em cười tự thu nào

mà nghe rúc rích bên rào giậu thưa

Em gọi tôi ở ngoài mưa

hay cơn gió lạnh nào vừa qua sông?     
(Thu xưa, Đynh Trầm Ca)

Tôi về khép lại căn phòng

thấy trong lồng ngực như không có gì

Trái tim đã bỏ tôi đi

ai mà nhặt được gửi về dùm tôi    
(Gửi, Nguyễn Trọng Tạo)  Hay là:

Chết đi còn sợ xứ người
là ta sợ cái nổi trôi đã từng
Quê nhà em có về không
cho ta về với nằm cùng nghĩa trang?
   

(Về cùng, Hoàng Lộc)

Mai kia mốt nọ ngang nhà,
có còn liếc trộm như là hồi xưa?
E chừng sớm nắng chiều mưa,
chuyện hồi xưa đã ngày xưa mất rồi
(Phụ phàng, Trần Huy Sao).  

Vẫn chưa hết, những câu lục bát “nhưng mà”, “mà sao”, “tại vì”, “cũng vì”…

Cũng vì mắt ngó trời xanh

cho nên mắt cũng long lanh màu trời

Cũng vì mắt ngó biển khơi

cho nên mắt cũng xa vời đại dương    
(Ngón tay hoa, Trụ Vũ)

2. Ý Tưởng

Câu thơ đẹp thường có mang theo ý thơ đẹp. Ý tưởng mờ nhạt, có mới mà không hay, hoặc có hay mà không mới, thường kém sức hấp dẫn. Ý tưởng cần sáng tạo hơn là vay mượn.

Một ngày nắng đẹp bình yên

Sớm mai thấy mặt trời lên hiền lành     
(Không đề, Tế Hanh)

Câu lục bát của nhà thơ Tế Hanh, có người khen hay, có người chê “nhạt”, chê “hiền lành” quá.

Cà phê nhớ bữa hôm nay

Chén trà xin hẹn ngày rày năm sau     

(Bên quán cà phê, Bùi Giáng)

Câu lục bát của “trung niên thy sỹ” Bùi Giáng, được “cải biên” khá vô tư từ câu lục bát của Nguyễn Du (hoặc “tư tưởng lớn gặp nhau” không chừng):

Chén đưa nhớ bữa hôm nay

Chén mừng xin đợi ngày rày năm sau     

(Truyện Kiều, Nguyễn Du)

Câu thơ hay như bông hoa lạ và đẹp nở ra từ… lục bát, đôi lúc gây bất ngờ và thú vị:

Biệt ly dù ở ga nào,

cho tôi ngồi một toa tàu lãng quên     

(Hôm nay, Nguyễn Tất Nhiên)

Em đi mang theo nụ cười,

tôi ngồi nhìn thấy khoảng đời trống không     

(Cát bụi, Phổ Đức)

Dấu thu kinh tự còn mê,

em mang tà áo bốn bề là trăng     

(Thu vô lượng, Nghiêu Minh)

Áo dài bồng bềnh, chơi vơi như dải trăng thu huyền ảo. Chưa hết:

Khi buồn vẽ mặt bôi râu
nhìn xem lũ quỷ không đầu xưng vương
Khi em đảo ngược thần hồn
thấy tôi cải tạo mười năm chưa về
    

(Bài ca dao về trăng, Lâm Hảo Dũng)

Có ai ngồi quán mong chờ
lắng nghe đàn khảy tình thơ ít nhiều
Bây giờ ghế ngả bàn xiêu
dưới chân nhện hóng, tơ thiều hết ngân
    

(Tọa độ người, Hoàng Xuân Sơn).  

Chưa hết:

Em về nơi ấy có tôi
chưa tìm đã thấy buông trôi tình cờ
Mất rồi lại có trong mơ
vừng trăng tím ngát bao giờ có em
    

(Nơi có, Lưu Nguyễn Đạt)

Tình đến rồi đi, tình mất hay còn, tình thực hay mơ, như bóng trăng huyền hoặc.

Tóc mây Hà Nội năm nào

em đem từng sợi buộc vào đời anh
Bây giờ tóc bạc, tóc xanh

tình xưa anh vẫn quẩn quanh tìm hoài     

(Tóc rối, Nhất Tuấn)

Tình như “tóc rối”, biết đàng nào mà gỡ.

3. Hình Ảnh

Hình ảnh tô đậm thêm những tình ý trong thơ. Ý tưởng đẹp, minh họa bằng hình ảnh đẹp, thường đọng lại về lâu về dài trong tâm tưởng người yêu thơ.

Người lên ngựa, kẻ chia bào   

Rừng phong thu đã nhuốm màu quan san    

 (Truyện Kiều, Nguyễn Du)

Dấu chàng theo lớp mây đưa
Thiếp nhìn rặng núi ngẩn ngơ nỗi nhà
    

(Chinh phụ ngâm khúc, Đoàn Thị Điểm)

Chưa hết, những câu thơ tả tình tả cảnh, kẻ ở người đi…

Mù sương phi cảng não nề

Thôi anh ở lại buồn về em mang     

(Khúc ly đình, Cao Thị Vạn Giả)

Bellevue ơi, Bellevue ơi,

xa ngươi ta nhớ lưng trời thông reo

Đồi nghiêng, dốc đổ, chân đèo

bước đi ngoảnh lại nhìn theo bóng người     

(Bellevue 1, Chu Trầm Nguyên Minh)

Hình ảnh, có khi là bức tranh thơ tĩnh lặng.

Mở trang kinh. chỉ thấy mây
thiền tâm thanh tịnh niệm ngay di đà
tranh hoàng hôn. cảnh tuyết sa
giọt vàng giọt đỏ. nhạt nhòa giọt tôi
    

(Chép một tờ kinh, Lữ Quỳnh)

Có khi là bức tranh nhiều màu sắc, sinh động.

Môi cười vết máu chưa se,

cành hoa gạo cũ nằm nghe nắng hiền

Anh nằm nghe bước em lên,

ngoài song lá động, trên thềm áo bay     

(Khi nàng đến, Trần Dạ Từ)

Trong phút giây chờ đợi bước chân người tình khe khẽ đến bên hiên nhà, chàng tưởng chừng nghe được cả tiếng gió lay động vạt áo và tiếng lá nhẹ rơi bên thềm nhà vắng.

Có khi là “chiều rơi trên đường vắng”…

Chiều rơi từng vạt mong manh,

chân đi vừa chạm khúc quanh, chiều tàn    

(Đường hành hương, Phan Ni Tấn)   

Có khi là áo trắng xôn xao mùa tựu trường. Áo trắng như đàn bướm trắng trong nắng sân trường.

Sáng nay áo trắng tựu trường,

gót chân cuống quýt cả hương cúc vàng     

(Ánh mắt tựu trường, Đoàn Vị Thượng)

4. Âm Điệu:

Âm điệu trong thơ có thể là vần điệu, nhịp điệu hay nhạc điệu.

(a) Vần điệu

Vần điệu là yếu tố hàng đầu để nhận diện thơ lục bát và cũng tạo sắc thái riêng cho thể thơ này. Câu thơ có vần có điệu dễ quyến rũ người yêu thơ, quyến rũ những tâm hồn nhạy bén với thơ, không cứ gì là thi nhân. Tác giả “Bướm trắng”, từng cho mình là “người thừa trong làng thơ”, vẫn có những khi tức cảnh sinh tình mượn câu lục bát để gửi gấm những nỗi niềm.

Mắt mờ lệ nhớ người xưa,

mười năm thương nhớ bây giờ chưa nguôi

Trông hoa lại nhớ đến người,

hoa xưa, xuân cũ biết đời nào quên     
(Nhớ Hoàng Đạo, Nhất Linh)

Thơ hay đến từ cảm xúc chân thực. Chỉ cảm xúc thực mới truyền được cảm xúc đến người đọc. Cảm xúc giả tạo hoặc vay mượn dễ nhận biết, tựa bức tranh vô hồn.

Nhớ em là nhớ quê nhà,
bát canh rau đắng mẹ già còn không?
    

(Lúc nhớ, Hoàng Lộc)

Nhớ em dào dạt biển sông,

làm sao con sóng trong lòng bình yên?    
(Điệp khúc 68, Xuân Chung)

Quê nhà, mẹ già, biển sông, con sóng, chỉ đơn sơ là vậy nhưng khơi dậy những nỗi niềm trăn trở và nhớ nhung da diết.   

Thủ pháp gieo vần lưng (yêu vận) là nét đặc sắc trong thơ lục bát, làm biến đổi hẳn về tiết tấu, nhịp điệu câu thơ, nghe như một nốt trầm trong câu nhạc hay một “bước nhỏ ngập ngừng”.

Sao em không chọn mùa đông

mà đi lấy chồng lại đúng mùa thu?
(Thu xưa, Đynh Trầm Ca)

Tôi còn có một mùa đông

Em ở với chồng tận cuối cơn mưa     

(Tận cuối cơn mưa, Đồng Đức Bốn)

Người phu quét lá bên đường,

quét cả nắng vàng, quét cả mùa thu     

(Góp lá mùa xuân, Trịnh Công Sơn)

Câu thơ, cũng nhờ vậy, có thêm nhạc tính.

Bài này không nhằm đi sâu vào phân tích về âm luật, các thủ pháp gieo vần, ngắt nhịp trong thể thơ lục bát.

(b) Nhịp điệu:

Nhịp điệu là tiết tấu của câu thơ. Câu, chữ trong thơ lục bát thường được ngắt theo nhịp chẵn, đôi lúc nhịp lẻ tùy thuộc cách thể hiện tình ý trong thơ và cũng để tránh sự đơn điệu.

Đò qua sông / chuyến đầu ngày,

người qua sông / mặc áo dài buông eo    

(Chuyến đò Cửu Long, Nguyễn Tất Nhiên).  

Em giờ là / của người ta

Của riêng tôi / một chậu hoa cúc tần     

(Bên giậu cúc tần, Nguyễn Đại Nghĩa)

Có khi là những tiểu đối nhịp nhàng tạo khoảng cách đều đặn và tiết tấu dìu dặt cho thơ.

Khi chén rượu / khi cuộc cờ

Khi xem hoa nở / khi chờ trăng lên     
(Truyện Kiều, Nguyễn Du)

Rượu mời ta rót cho ta

Bạn gần không đến / bạn xa chưa về

Rót nghiêng năm tháng vào ly

Mắt nheo bóng xế / tay che tuổi buồn     
(Ðêm cuối năm uống rượu một mình, Thanh Nam)

Về khuya tiếng nói âm thầm
em nghiêng mái tóc cho gần vai anh
Nhạc lên men rượu si tình

ngẩn ngơ khói thuốc / bồng bềnh ý thơ     

(Bài ca M.L., Hoàng Anh Tuấn)

Có khi là nhịp cầu nối liền chữ thứ sáu và chữ thứ bảy trong câu “bát”, tạo cảm giác đong đưa, mượt mà.

Miệng người tự bữa môi cong
Mắt người tự bữa ngước
đong đưa nhìn    

 (Hiện thể, Bùi Giáng)

Ở đây mưa trắng không gian,
mưa vùi dập mộng, mưa
tan tác đời     

(Buộc áo giữa đường, Trần Mộng Tú)

Nhiều lắm, những nhịp cầu nối lênh đênh, dập dềnh.

Em đi phố cũng ngậm ngùi

rừng kêu, núi gọi, sóng vùi dập sông
(Rừng trú ngụ em, Trần Yên Hòa)

Tây Bắc chiều núi lặng thinh
Se-at-tle đó mây
lênh đênh về     

(Chào Tây Bắc, Nguyễn Nam An)

Lối đi vàng nhạt mùa thu
Nghe lau lách động niềm
u uất buồn     

(Trông theo, Hoài Khanh)

(c) Nhạc điệu:

“Thi trung hữu nhạc”, tôi ngờ rằng “thi” trong câu ấy nhiều phần là thơ lục bát. Các nhạc sĩ chuộng phổ thơ vẫn nói rằng phổ nhạc một bài lục bát không phải dụng công nhiều vì trong thơ đã sẵn có nhạc.

Thử đọc, đọc thành tiếng chứ không đọc thầm, một đôi câu lục bát, ta nghe được những nốt, những thanh âm trầm bổng, nhịp nhàng uyển chuyển đến từ vần điệu, nhịp điệu và ngữ điệu trong thơ. Những yếu tố này khiến câu lục bát giàu nhạc tính hơn bất cứ thể thơ nào.

Nhẹ bàn tay, nhẹ bàn tay
Mùi hương hàng xóm bay đầy mái đông
Nghiêng nghiêng mái tóc hương nồng
Thời gian lặng rót một dòng buồn tênh
    

(Thơ sầu rụng, Lưu Trọng Lư)

Nghe thơ, như nghe vẳng lên trong đầu lâng lâng tiếng nhạc.

Ngủ đi em, mộng bình thường

Ru em sẵn tiếng thùy dương mấy bờ     

(Ngậm ngùi, Huy Cận)

Đèo cao cho suối ngập ngừng

Nắng thoai thoải nắng, chiều lưng lửng chiều    

(Đường rừng chiều, Nguyễn Bính)

Tai nương nước giọt mái nhà,
nghe trời nằng nặng, nghe ta buồn buồn
    

(Buồn đêm mưa, Huy Cận)

Câu thơ nghe… “lưng lửng”, “buồn buồn” làm sao!

Câu thơ đậu trong điệu hò,

hồn tôi đậu giữa lòng đò trăng soi     

(Trong khi chờ thanh xuân, Phan Ni Tấn)

Tiếng thơ nghe dạt dào như con đò nhỏ dập dềnh trên sóng, như mái chèo nhẹ khua nước đêm trăng. Chưa hết:

Tôi đang mơ giấc mộng dài,

đừng lay tôi nhé cuộc đời xung quanh     

(Năn nỉ, Lệ Lan)

Mưa như từng giọt rượu hờ,
đêm trong thành phố ai chờ chờ ai
Mưa thưa tựa áo lụa trời,
ôm quanh da thịt chân người người qua
    

(Mưa mùa hạ, Trịnh Công Sơn)

Nghe tiếng thơ, tưởng nghe được tiếng mưa đêm rơi đều về ngang thành phố.

Có khi câu “lục” trong thơ toàn vần “bằng”, cho một cảm giác mênh mang, xa vắng.

Hơi đàn buồn như trời mưa

Các anh tắt nốt âm thừa đi thôi     

(Các anh, Thâm Tâm)

Ôi thông xanh, ôi hồng đào
Phong rêu mấy thuở hồn nào không đau
    

(Thu ngây, Cung Trầm Tưởng).

Bây giờ môi anh cô đơn

Nhớ em nhớ cả nụ hôn dịu dàng     

(Nhớ, Vũ Thành)   

Hay là:   

Tôi vào chùa, tâm phân vân

Tiếng chuông vỡ giữa Thực, Không đôi bờ    

(Thực, Không đôi bờ, Trần Mộng Tú)

Còn chăng là mây lang thang

trên đồi gió hú bạt ngàn rừng thông

Còn chăng là đêm mênh mông

người ngồi nhớ một dòng sông cạn rồi     

(Người thi sĩ ấy không còn làm thơ, Phạm Cao Hoàng)

Thơ, nhạc và tranh nhiều lúc vượt ra ngoài biên giới của ngôn ngữ. Cái làm cho thơ “không biên giới” là ý tưởng và hình ảnh (đôi lúc chữ nghĩa) hơn là vần điệu, nhịp điệu hay nhạc điệu. Đọc một bài thơ hay của nước ngoài ta thấy nhiều phần cái hay là hay về ý tưởng hoặc hình ảnh. Bài thơ tiếng Việt chuyển ngữ sang tiếng nước ngoài cũng chỉ chuyển tải được những tình ý, hình ảnh ở trong thơ hơn là âm điệu. Thơ trở thành tiếng nói chung thông qua ý tưởng và hình ảnh. Trên hết vẫn là ý tưởng. Khi không còn nghe ra âm điệu, “lục bát tính” cũng không còn, khiến cái đẹp, cái hay của thơ lục bát cũng hao hụt đi ít nhiều.

Thơ là sự bay bổng của ngôn ngữ. Ngôn ngữ nào bay lên được thì gọi là thơ. Bay đi đâu? Hẳn là bay ra ngoài thế giới ngôn ngữ của đời thường. Thơ bay bổng làm con người cũng muốn bay bổng theo. Đọc được, bắt được một câu thơ, một ý thơ hay thật là sảng khoái, có cảm giác lâng lâng, bềnh bồng tựa hồ… bay là là trên không.

Cái cách tạo cho người ta cảm giác ấy, là thơ, là nghệ thuật của thơ. Và người làm thơ phô diễn cái nghệ thuật ấy bằng ngôn ngữ thơ.

***

Bài này không đề cập đến những biến thể biến thái, cách tân cách điệu về cấu trúc của thể thơ lục bát. Những công trình khai phá hay thử nghiệm nào để làm thơ lục bát thêm phong phú và hấp dẫn cũng đáng được hoan nghênh. Có điều, những canh tân đổi mới này nhiều phần thiên về hình thức hơn là nội dung, thường là những kiểu sắp chữ, sắp hàng, xuống dòng, cách quãng, ngắt nhịp, đôi lúc đi quá đà như chẻ nhỏ hay chẻ vụn câu, chữ trong thơ. Những cách trình diễn lạ mắt ấy ít nhiều đánh mất lục bát tính. Câu thơ lắm lúc đọc nghe trúc trắc, gập ghềnh, tựa như chạy xe trườn lên những cái “bump” gồ ghề trên mặt đường.

Người yêu thơ, vẫn trông đợi nơi thơ cái “tân nội dung” hơn là tân hình thức. Một bài thơ, câu thơ hay không bao giờ cũ, như cái đẹp còn ở lại với ta mãi.

Thơ trích ra trong bài này là những câu thơ “mẫu”, chỉ nhằm minh họa phần nào cái đẹp, cái hay của thơ lục bát trên cánh đồng thơ bát ngát, mênh mông. Xin cám ơn tác giả những câu thơ người viết mạn phép trích dẫn. Chắc chắn là tôi đã quên sót nhiều bài, nhiều câu lục bát hay, và còn nhiều, rất nhiều bài lục bát thật hay nữa tôi chưa được biết tới.  

Thơ lục bát không bao giờ cũ, không bao giờ lỗi thời, không bao giờ cạn nguồn. Nguồn thơ lục bát là vô tận.

Thơ lục bát là thơ nội hóa. Yêu thơ lục bát là yêu “hàng nội”, là “ta về ta tắm ao ta”.

Thơ lục bát là kho tàng thi phú của riêng người Việt mình, không sợ ai đánh cắp, bắt chước hay cạnh tranh được, cũng là niềm tự hào về bản sắc và tính độc lập trong ngôn ngữ và thi ca của dân tộc Việt.

Thơ lục bát có thể được kể thêm vào những món “đặc sản” trong văn hóa truyền thống của người Việt như áo dài, như nón lá và cả những món ăn “quốc hồn quốc túy”.

“Truyện Kiều còn, tiếng Việt còn”, ta vẫn nghe vậy. “Tiếng Việt” vẫn còn đây, trong mọi sinh hoạt của cộng đồng người Việt ở hải ngoại. Truyện Kiều là danh tác, không ai phủ nhận. Có điều trường thi lục bát này, cũng như nhiều áng văn chương “cổ điển” khác, e không có sức hấp dẫn và “hợp khẩu vị” của thế hệ người Việt trẻ trung sinh trưởng hoặc trưởng thành ở nước ngoài.

Sau Truyện Kiều, nối gót cụ Nguyễn Du, các thế hệ thi nhân đã mang đến cho đời nhiều thi phẩm lục bát hay, giá trị với đề tài, nội dung gắn liền với cuộc sống quanh ta.

Nếu được phép đề nghị, các trường dạy tiếng Việt cho học sinh người Mỹ gốc Việt ở hải ngoại, ngoài các bài giảng về tục ngữ, ca dao, có thể thêm vào bài giảng về thể thơ lục bát truyền thống của người Việt mình. Các thầy cô giáo có thể dạy cho các em, các cháu, cái đẹp cái hay của thơ lục bát, gieo vào lòng các em tình yêu thơ lục bát, và qua đó, gieo vào lòng các em tình yêu tiếng Việt.  

Hơn thế nữa, ngoài các bài tập làm văn, thầy cô có thể dạy các em… tập làm thơ. Sao không? Không gì bằng dẫn dắt các em đi vào thế giới thi ca bằng cách làm quen với thể thơ lục bát. Nếu cần, phát huy thêm bằng các hình thức tổ chức thi đua làm thơ lục bát về những đề tài gần gũi, thiết thực. Các bậc phụ huynh hẳn sẽ vui lắm khi thấy con em mình… biết làm thơ lục bát (và người yêu thơ lại có thêm nhiều bài thơ hay lục bát). Thiết tưởng đấy cũng là phương cách “bảo tồn và phát huy tiếng Việt” như mục tiêu của hầu hết các trường dạy tiếng Việt ở nước ngoài hiện nay.

Khi mà con cháu chúng ta biết làm thơ lục bát, biết yêu thơ lục bát và biết tự hào về thơ lục bát như tự hào về bản sắc văn hóa của dân tộc Việt thì ta có thể yên tâm là tiếng Việt mến yêu sẽ còn mãi còn hoài, chẳng mất đi đâu được.

“Thơ lục bát còn, tiếng Việt còn”, chúng ta có lý do để tin như vậy.

Lê Hữu

*** Cò bay 13.000 km mỗi năm về thăm bạn đời

                           

Câu chuyện tình cảm động của đôi cò Klepetan và Malena tiếp tục làm tan chảy biết bao trái tim trên khắp thế giới. Năm nay, lần thứ 16, chú cò tận tụy Klepetan lại bay hàng ngàn cây số trở về quê nhà để thăm người bạn đời thương tật không thể bay.

 

stork-couple-love-klepetan-malena-croatia
(Ảnh: Domagoj Sever)

Câu chuyện bắt đầu cách đây hơn 20 năm, khi một người đàn ông góa vợ tốt bụng Stjepan Vokic sinh sống trong một ngôi làng nhỏ ở Brodski Varoš, Croatia tìm thấy một con cò cái bị thương nặng do thợ săn săn bắt. Ông Vokic quyết định trao cho nó cuộc đời thứ hai bằng cách chăm sóc và nuôi dưỡng nó. Rồi ở trên mái nhà của người đàn ông này, tình yêu giữa Malena và Klepetan đã chớm nở.

 

Doi-co-8

Lúc đầu, có vẻ như mối quan hệ của cặp đôi này sẽ không đi đến đâu bởi lẽ Malena không thể di cư cùng ‘nửa kia’ của mình vào cuối mùa hè. Tuy nhiên, tình yêu của chúng vẫn tồn tại. Mỗi năm, Klepeton rời Malena để di cư đến Nam Phi, ‘ủy thác’ việc chăm sóc bạn đời của mình cho ông Vokic, và bay trở về tổ ấm với ‘tình yêu’ của mình mỗi độ tháng Ba về.
Trong suốt 16 năm qua, mỗi năm một lần khi Xuân về, chú cò Klepetan tận tụy bay hàng ngàn cây số từ Nam Phi về tổ của mình ở Croatia để thăm Malena – nửa kia của nó

 

Doi-co-5

Hơn 23 năm trước, ông Stjepan Vokic đã chăm sóc và nuôi Malena sau khi cánh của nó bị thợ săn làm tổn thương

 

%C3%94ng-Ko-vic-v%C3%A0-c%C3%B2-Malena
(Ảnh: Jana Water)

Ông Stjepan đã mang đến cho cò Malena không chỉ một cuộc đời thứ hai, mà còn giúp nó có cơ hội gặp được bạn đời của mình. Trên mái nhà của ông, tình yêu giữa Malena và Klepetan đã đơm hoa kết trái

Doi-co-7

Doi-co
(Ảnh: Ivo Biocina)
Vì Malena không thể bay được, nên khả năng duy trì bền lâu mối quan hệ này rất mỏng manh

Tuy nhiên, tình yêu của cặp vợ chồng cò này vẫn tồn tại suốt 16 năm qua

 

Doi-co-3

(Ảnh: Alan Stankovic)

Cuối mỗi mùa hè, Klepetan để Malena lại ‘nhờ’ ông Stjepan chăm sóc để di cư đến Nam Phi xa xôi

 

Bay-co

(Ảnh: Alan Stankovic)

Nhưng suốt 16 năm qua, không năm nào Klepetan không trở về thăm bạn đời của mình mỗi độ xuân

 

Roses for Mom

Joe Hùng Nguyễn

HOA HONG 1MINH

John stopped by the flower shop to place an order for some roses for his mom who lives about 400 miles from him. As he stepped out of his car, he saw a little girl crying in front of the shop. He came over and asked her why she was crying.

– I want to buy a rose to give to my mother – she sobs – but I only have 75 cents, a rose costs 2 dollars.

He smiled and said to her:

– Come into the shop and I will buy you some.

John told her to pick out some roses that she likes, he paid for her

and then placed an order of dozen roses to send to his mother. He felt happy that he found some beautiful roses he knows his mom would love. He pictures her smiling when she receives them

As they walked out the flower shop, John asked her if she needs a drive home.

She smiles happily and said:

– Yes, please drive me my mom’s house, I will give her these beautiful rioses.

She showed John the way and to his surprise they ended up in a cemetery, where there was a newly buried grave.

She said:

– This is my mom’s house.

She gently placed the roses on the grave and murmured: :

– Mom, I love you and I miss you a lot.

Then she hugged and kissed the grave stone. ——-.

=====
John hurried back to the flower shop, cancelled the delivery. He took the dozen roses with him and decided that he will surprise his mom.

That afternoon he drove all the way to deliver her his love. He would hug her, kiss her and tell her that he loves and misses her a lot, just like that little girl said to her mom’s grave.

“Whoever believes in me, will do the works that I do.” (John 14:12)

Love is not only what one says, nor cites, nor recites,
But also what one’s done that shows: I truly love you.

Have you hug and kiss your Mom today?
 

Happy Mother’s Day to all the Wonderful Mothers.

 

*** Hoa hồng tặng Mẹ / Con Để Dành Phòng Khi Đau Ốm

hoa_hong_cau_vong_5_ejccHoa hồng tặng Mẹ

Anh dừng lại tiệm bán hoa để gửi hoa tặng mẹ qua đường bưu điện. Mẹ anh sống cách chỗ anh khoảng 300km. Khi bước ra khỏi xe, anh thấy một bé gái đang đứng khóc bên vỉa hè. Anh đến và hỏi nó sao lại khóc.

– Cháu muốn mua một hoa hồng để tặng mẹ cháu – nó nức nở – nhưng cháu chỉ có 75 xu trong khi giá một hoa hồng đến 2 đôla.

Anh mỉm cười và nói với nó:

– Đến đây, chú sẽ mua cho cháu.

Anh liền mua hoa cho cô bé và đặt một bó hồng để gửi cho mẹ anh. Xong xuôi, anh hỏi cô bé có cần đi nhờ xe về nhà không. Nó vui mừng nhìn anh và trả lời:

– Dạ, chú cho cháu đi nhờ đến nhà mẹ cháu.

Rồi nó chỉ đường cho anh đến một nghĩa trang, nơi có một phần mộ vừa mới đắp. Nó chỉ ngôi mộ và nói:

– Đây là nhà của mẹ cháu.

Nói xong, nó ân cần đặt nhánh hoa hồng lên mộ.

Tức thì, anh quay lại tiệm bán hoa, hủy bỏ dịch vụ gửi hoa vừa rồi và mua một bó hồng thật đẹp. Suốt đêm đó, anh đã lái một mạch 300km về nhà mẹ anh để trao tận tay bà bó hoa.

Con Để Dành Phòng Khi Đau Ốm

Câu chuyện về một bà mẹ già ở Miền Tây, vùng đồng bằng Sông Cửu Long. Chồng mất sớm, bà ở vậy nuôi con được 25 năm. Lúc đứa con gái lớn khôn thành danh ở Mỹ, tháng nào cũng gửi về cho bà một lá thư và 200$ tiêu xài.

Hết xuân này đến xuân kia, cô con gái luôn viện cớ này cớ nọ, không chịu về thăm người mẹ thương yêu. Khi người mẹ mất, cô về làm đáng tang rất to nhưng tuyệt nhiên cô không rơi một giọt nước mắt.

Đến khi mở chiếc rương mà bà cụ luôn để ở đầu giường, bỗng cô òa lên khóc nức nở, ôm lấy quan tài mẹ mình hét lên như điên dại: “Mẹ…Mẹ ơi…”

Mọi người vây nhau xem trong chiếc rương có gì. À, thì ra là những tờ đô-la mới toanh còn buộc dây. Và còn một mảnh giấy đã úa vàng, viết nguệch ngoạc được dán dính lại với tấm hình cô con gái lúc mới lọt lòng:

“Tiền nhiều quá, mẹ xài không hết con à. Mẹ nhớ con lắm, mỗi khi nghe tiếng xe ông-đa (honda) là mẹ chạy ra. Lần nào cũng không phải là con hết. Số tiền này mẹ để lại cho con, CON ĐỂ DÀNH PHÒNG KHI ĐAU ỐM nghe con.”

Cô con gái đã có tất cả những gì một người phụ nữ có thể có: tiền, danh vọng, địa vị, chồng thành đạt, con ngoan. Nhưng cô đã mất một điều vô cùng thiêng liêng: MẸ!

Sưu tầm

*** Mình Ơi … Mình À

ong ba gia
Trong dịp dự tiệc nhà người bạn, tôi đã nghe một đôi vợ chồng già gọi nhau cứ một tiếng “mình”, hai tiếng cũng “mình”, nghe rất cảm động , khiến tôi nhớ lại 2 câu thơ của nhà thơ Bùi Giáng:

 Mình ơi! Tôi gọi là nhà
Nhà ơi! Tôi gọi mình là nhà tôi
 
Tôi không rành tiếng Anh, không biết House và Home khác nghĩa ra sao, chỉ thấy quảng cáo cho thuê nhà tòan ghi House for rent, chưa thấy Home for rent bao giờ.
Ngôn ngữ khác nhau nhưng đôi khi ý nghĩa lại trùng hợp, nghĩ cũng đúng Cho thuê nhà , chẳng ai chịu cho thuê Nhà tôi , Home mà không có Nhà tôi thì biến thành House mất rồi.
Đi về nhà có lẽ là Let’s go house còn Về nhà thôi thì chắc mới là Let ‘s go home.
Nhà của tôi lâu rồi đã là House……, đôi khi có đôi khi sau khi lai rai chén rượu giang hồ phiêu lảng ước gì lại được nói câu Về nhà thôi- Let’s go home, …ước gì…
 
image
 
Đêm khuya nghe gọi : Mình ơi
Dậy em nhờ tí, Mình ơi , Mình à
Giật mình như thể gặp ma
Mồ hôi nó toát như là tắm mưa
Bài thì mới trả buổi trưa
Giờ mà trả nữa te tua tuổi già
Nằm im mắt nhắm cho qua
Bên tai thỏ thẻ Mình à , Mình ơi
Còn bao năm nữa trên đời
Vui xuân kẻo hết Mình ơi , Mình à
Người ta bảo lúc về già
Dẻo dai hơn trẻ Mình à Mình ơi
Con lớn chúng đã xa rời
Nhà thì vắng lạnh Mình ơi Mình à
Sao không bắt chước người ta
Cờ người quyết đấu Mình à Mình ơi
Bàn son có sẵn đang phơi
Quân ngà mau dậy Mình ơi Mình à
Ráng cho vui cửa vui nhà
Em thương Mình lắm Mình à , Mình ơi
 
image
 
Mình Ơi … Mình À
 
« Mình với ta tuy hai mà một
Ta với mình tuy một mà hai »
Nhưng mình có tật nói dai
Nên chi ta cứ cãi hoài không thôi
Ta mình « hai đứa » một đôi
Lâu lâu giận dỗi mỗi nơi một người
Làm lành « hai đứa » lại cười
Xáp vào lại hoá hai người một đôi
Ngọt ngào cất tiếng « Mình ơi ! »
Trên đời đẹp nhất là tôi với mình
Đôi khi có chuyện bất bình
Cãi nhau tôi lại với mình giận nhau
Nhưng mà giận chẳng được lâu
Giận nhau hôm trước hôm sau lại hoà
Nhìn mình tôi bật cười xoà
Nhìn tôi mình lại lăn sà vào tôi
Chúng mình như đũa có đôi
Có đôi để gọi « mình ơi, mình à ! »
Bây giờ như cặp khỉ già
Nhưng mà vẫn cứ « mình à, mình ơi ! »
Khi nào thấy vắng bóng tôi
Thì mình lại gọi : Mình ơi, mình à
Khi nào tôi thấy vắng bà
Thì tôi lại gọi : mình à, mình ơi !
Gọi nhau cho trọn cuộc đời …
Tú Lắc
 
Cách xưng hô vợ chồng của người việt:
Thời nay vợ chồng trẻ xưng hô với nhau “Anh anh em em” âu yếm thân thiết biết bao! Dẫu chồng ít hơn dăm ba tuổi vẫn là anh. Những cặp vợ chồng đã có con cái nếu không gọi nhau bằng “anh” bằng “em” thì cũng gọi nhau bằng “bố’ hoặc “mẹ”, “bố” và mẹ là gọi thay cho con, cũng như khi về già gọi là “ông” hoặc “bà” để gọi thay cho cháu.
Lùi lại bốn mươi năm trước, những gia đình ít nhiều được Âu hoá, vợ chồng gọi nhau bằng “mình” cũng thể hiện được tình cảm đậm đà, gọi nhau bằng “cậu, mợ” cũng thanh nhã, nhưng những từ đó còn xa lạ với nông thôn.
 
image
 
Một số cặp vợ chồng tân tiến muốn gọi nhưng vẫn còn ngượng ngùngvới hàng xóm, chỉ thầm kín tỏ tình với nhau trong buồng, thỏ thẻ chỉ đủ hai người nghe với nhau. Cách gọi nhau bằng tên “trống không” cũng là một bước cải tiến lớn, chứ các cụ ngày xưa, thời trẻ chỉ gọi nhau bằng “bố thằng cu”, “u nó”, “mẹ hĩm”… Người mới lấy nhau chưa có con, chồng chẳng có chức vị gì thì gọi ra làm sao? Bí quá, có cô mới về làm dâu, muốn gọi chồng đang chơi bên nhà hàng xóm về, chẳng biết xưng hô ra sao bèn ra ngõ gọi thật to “Ai ơi! Về nhà ăn cơm”. Từ “ai” ở đây không phải là đại từ nghi vấn, hay đại từ phiếm chỉ mà có nghĩa là “chồng tôi ơi”.

image

Còn khi nói chuyện với người khác thì giới thiệu vợ mình hay chồng mình là “nhà tôi”. Từ “nhà  tôi” thật là đậm đà gắn bó, “mình” và “tôi” tuy hai nhưng một. “Nhà tôi” tức là “chồng tôi” hay “vợ tôi” chứ không thể nói “vợ anh”, “chồng nó” là “nhà anh nhà nó”. 

Vợ chồng nói chuyện với nhau thường hay nói trống không “Này! Ra tôi bảo!” hoặc “nào ai bảo mình”… 

Thế đấy! Ngôn ngữ Việt có nhiều cái hay và “phức tạp” lắm!

MẬU THÂN!

KHÔNG CÓ NÉN NHANG NÀO CHO MẬU THÂN!

Một vở kịch do Sân khấu kịch Hồng Vân thực hiện; hơn “400 đầu tư liệu ’50 năm – một mùa xuân lịch sử’ ” được ra mắt; một cuộc “tọa đàm giao lưu nhân chứng lịch sử” mang tên “Thành Đoàn tham gia chiến dịch Xuân Mậu Thân 1968” được thực hiện; một chương trình cầu truyền hình về “bản hùng ca Mậu Thân” được tổ chức (có sự tham gia của Trần Hiếu, Quang Thọ, Tạ Minh Tâm, Thanh Thúy, Anh Bằng, Hạ Trâm…)… Chương trình “kỷ niệm Mậu Thân” thậm chí kéo dài đến mùng 5 Tết (với cái gọi là “Giao lưu nghệ thuật “Đường chúng ta đi”)…

Chưa bao giờ màn tụng ca tập thể “hát trên những xác người” liên quan sự kiện Mậu Thân được tổ chức quy mô như thế này, một sự kiện mà các cuộc bắn giết đồng bào được nâng lên tầm “nghệ thuật”, là sự kiện mà các gương mặt khủng bố được khoác áo “biệt động thành” tập trung đông đảo và được ca ngợi như những anh hùng.

Mậu Thân không là một mặt trận giữa hai quân đội. Mậu Thân là một chiến dịch khủng bố nhằm vào thường dân với quy mô chưa từng có trong quân sử thế giới cận đại. Mậu Thân còn hơn tất cả những gì man rợ nhất mà toàn bộ chiều dài lịch sử cuộc chiến Việt Nam mang lại. Mậu Thân là sự kiện lớn nhất, kinh khủng nhất, man trá nhất mà cuộc chiến Việt Nam hiện tồn. Những thước phim và hình ảnh, với những phụ nữ ôm xác chồng hoặc con dại khóc tức tưởi tại Huế cũng như nhiều thành phố miền Nam khác, đã lột tả được sự tàn khốc và man rợ của “chiến dịch Mậu Thân”. Xem lại tất cả những bộ phim về chiến tranh Việt Nam và những hình ảnh liên quan Mậu Thân, không thấy có một cuộc “hưởng ứng” nào của “đồng bào” cả. “Hậu Mậu Thân” là những nhát cuốc chôn người thân và những nhát xẻng đào kiếm người nhà.

Những ngày này, có vô số gia đình miền Nam lẫn miền Bắc đang làm giỗ cho người thân chết trận Mậu Thân. Thay vì “hân hoan” “hát trên những xác người”, có lẽ cần tổ chức một đại lễ cầu siêu cho những người đã bị giết hoặc bị chết thảm hại khi bị đẩy vào chiến dịch thảm sát đồng bào trong sự kiện bi thảm này. Thay vì vỗ tay và phô bày những bàn chân đạp đổ bàn thờ của những người đã chết oan ức trong sự kiện bi thảm Mậu Thân, có lẽ cần nhìn lại rằng vấn đề đâm chém vào lịch sử có giúp gì cho việc hàn gắn dân tộc hay không. Thay vì hất văng bát nhang đang cúng giỗ cho những người đã mất, có lẽ cần cúi đầu xin lỗi đồng bào, tất cả đồng bào, Bắc cũng như Nam, về những sai lầm mà Mậu Thân mang lại. Thay vì và thay vì…, họ lại chỉ chứng tỏ họ là những sinh vật mang hình hài con người.
Nguồn: Fb Mạnh Kim

Hạnh phúc trong đời

Thư viện của bài

This gallery contains 1 photo.

Hạnh Phúc Và Khổ Đau – TT Giác Đẳng (Bài giảng trong lớp Diệu Pháp, Minh Hạnh chuyển biên) TT Giác Đẳng: Hạnh phúc và khổ đau là hai đề tài lớn của Ðạo Phật và không những là hai đề tài lớn của Ðạo … Tiếp tục đọc