Tháng Ba, Coi Bóng Hát Tế Vía Bà

* Phạm Nga

via ongba
 
1.
Hằng năm, cứ trong vòng tháng Ba âm lịch như lúc này là ở khắp nội/ngoại thành Sài Gòn, các ngôi miếu thờ Ngũ Hành rộ lên cúng vía Bà – tên dân gian gọi chung cho Năm Bà tức Ngũ Hành Nương Nương. Như hôm 19 ta, lễ vía Bà ở chùa Vạn Thọ bên bờ kênh Nhiêu Lộc đã diễn ra suốt ngày đêm.
Buổi sáng đã có một nhóm tế nam, với y trang đĩnh đạc áo thụng xanh, nón cánh chuồng, chuyên diễn nghi thức học trò lễ, nhưng được bà con, cô bác mong đợi và kéo đến xem đông hơn là mấy em bóng, nhóm tế này chỉ vào đám buổi xế trưa.
Được mời tế Bà đã nhiều năm liên tục tại ngôi miếu này, chị Năm Tốt, trưởng nhóm, cho biết: “Hàng năm, cứ cỡ 18,19  tháng này, tôi đi kêu mấy chị em quá khó là khó vì ai nấy tứ tán hết, cũng tại cùng lúc quá nhiều miếu Ngũ Hành ở Sài Gòn đều cúng vía Bà. Như xong ở đây, đến năm giờ chiều là chị em tôi phải lập tức chạy xuống miếu Bà ở Thủ Đức”.
Xưa nay, hể nói tới dân bóng rỗi  – hay gọn hơn, dân bóng – người ta liên tưởng ngay đến các cậu thanh niên pê-đê, tức là nam giới nhưng vẫn được coi là nữ giới, vẫn là “mấy chị em” như chị Năm Tốt vừa đề cập.
Tuy nhiên, qua thâm niên hơn 30 năm theo nghề, chị Năm cho biết là nghề tế gắn liền với hình ảnh những cậu con trai – cả đàn ông trung niên nữa –  ưỡn a ưỡn ẹo mặc đồ phụ nữ, nhưng đúng ra, một nhóm tế thông thường bao giờ cũng gồm luôn cả các cô gái, các chị trung niên, các má lớn tuổi và các chú, các ông nữa. Điển hình như nhóm của chị đang lãnh đám ở đây, quả là rất đề huề về các mặt giới tính, tuổi tác, thế hệ…
 
2.
Đứng cạnh bàn thờ Bà là chị Bảy Thi, tuổi khoảng trên dưới 50, đang vừa gõ trống lịnh vừa hát, tụng “Chầu mời” tức phần mở đầu một buổi tế đúng bài bản. Ngồi gần đó là ông Ba Lựa, tuổi phải trên 60, vốn là nhạc sĩ cổ nhạc, đã từng theo gánh hát và chơi trên đài phát thanh. Sát bên là chú Hai Xiêm trung niên, đang thủ cây ghi-ta điện phím lõm để hòa theo tiếng đàn cò của ông Ba.
Tập kế của “Chầu mời” đáng lý là phần việc của bà Phước, nhưng bữa nay do bận việc nhà, bà không đến được. Tên tuổi của má Phước – tuổi cỡ 70 – thì nức tiếng trong nghề tế bóng hiện nay ở Sài Gòn. Các nhóm tế khác như nhóm Bạch Hồng ở quận 8, Bảy Tước ở Tân Qui, Ngọc Quyên ở quận 6, Minh Đức ở Hốc Môn .v.v, hễ gặp má thì thảy đều cung kính, cúi đầu trước vị sư mẫu dạy nghề  tế, múa, hát này.
Chị Năm Tốt đã bước ra, khoác vào chiếc áo tế do chị Bảy Thi trao lại, tiếp tục hát “Chầu mời” thay cho má Phước.  Áo tế –  hay áo lễ, được may bằng gấm đỏ, kiểu không có tay áo, giống áo đạo bào của thầy cúng, thầy pháp nhưng rực rỡ hơn vì nhiều chỗ đính hạt cườm, thêu kim nhũ rất kiểu cọ, rối rắm. Chị Bảy Thi nói đây là một chiếc áo cũ, đã bao lần xuất hiện trên sân khấu hát bội mà một bạn hát (diễn viên) nhường lại, có sửa sang chút đỉnh, nên chỉ tốn có 400,000 đồng, chứ may mới phải tốn cả triệu.
Chợt bà con bá tánh xì xào. Từ chỗ đứng, chỗ ngồi xa thì nhiều người rủ nhau đến gần bàn thờ Bà hơn. Diễn viên được khán giả mong đợi nhất nảy giờ đã khoác chiếc áo tế lên thân hình thon thả của mình. Vẫn là hát “Chầu mời” tiếp nhưng bà con không hề thấy chán, vì đó là em Ngọc Hậu xinh đẹp ra đứng trước micrô.
Lúc ngồi tại bàn uống trà, đối diện với Hậu, tôi đã không khỏi thầm khen đôi mắt, đôi mày được make-up rất kỹ càng cùng làn da khá mịn màng trên khuôn mặt của chàng trai 33 tuổi, đang mặc áo bà ba mỏng tanh, lộ rõ nịt ngực này. Không biết tên khai sinh của anh bóng này là gì nhưng về cái nghệ danh “Ngọc Hậu” nghe đầy nữ tính, rất gợi cảm kia thì anh chàng đã chọn cho mình suốt gần 20 năm theo nghề. Tôi có cảm giác như, dù có là hậu duệ thiệt thọ của bà Eva hay không đi nữa, em Hậu, với mặt-mũi-mình-mẫy như thế, trông vẫn trẻ, khá trẻ so với cái tuổi Mẹo tức 34 tuổi ta của em.
Tôi thoáng nghe được từ bàn trà bên cạnh, một ông nào đó thốt ra luôn một câu nghe rất kỳ cục, rằng: “Cái thằng…, coi bộ còn muốn đẹp hơn con gái!”.
Trước cái nhìn không việc gì phải kềm chế của phía đàn ông xung quanh, Hậu có vẻ thích thú, hả dạ –  kiểu phụ nữ tự biết là mình đẹp. Hậu còn có luôn cái kiểu rất con gái là cúi mặt lõn lẽn, chạy trốn ánh mắt chăm chăm của người đối diện, khi kiếm chuyện hỏi tôi:
 – Chú… nhà báo hả? Chú có chụp hình bàn thờ tổ của tụi này không vậy?
Đang ngắm người đẹp bóng, thật tình là tôi có giật mình, bèn giả lả hỏi lại:
 – À, à… Nghề tế cũng có tổ riêng sao Hậu? Bàn nào đâu?
Tại một chiếc bàn nhỏ kê gần các nhạc công, được xem là biểu trưng “Tổ” của nghề tế là một bức tranh lụa vẽ hai tiên nữ đứng cạnh một cái cây có 12 đóa hoa vàng nở rộ mà Hậu gọi là cây “bông Càn Thọ”. Khi không có được bức tranh hiếm quí, chỉ truyền thừa trong nghề tế này thì các nhóm tế có thể thay thế bằng bức tranh Bát Tiên, theo kiểu hình vẽ “Bát tiên quá hải” trang trí trên những cái chén, cái tô xưa của Trung Quốc, gồm một số nhân vật huyền thoại Trung Hoa cổ, như Hà Nguyệt Cô, Lã Đồng Tân, Tế Điên, Lý Thiết Quày.v.v…

3.
Kết thúc màn “Chầu mời” và tạm nghỉ vài phút, Hậu ra diễn nghi thức kế tiếp là múa tế “dưng bông”. Em vừa xỏ vô người chiếc váy lụa trắng là tiếng đàn, tiếng trống, nhịp song loan đã háo hức vang rền.
Cứ mỗi lần Hậu sãi bước, lượn người tới bàn Tổ là một trong một bộ 5 cái chén đầy ắp bông cúc vàng để trên bàn lần lượt biến thành một thứ đạo cụ ngộ nghĩnh. Hậu lấy từng cái chén, khéo léo để lên đầu, buông tay, ngồi thụp xuống, đứng lên, xoay tròn nhiều vòng, chấp tay lạy…, mỗi cử chỉ đều nhuần nhuyễn, tinh tế y như của một nữ vũ công chuyên nghiệp, dạn dày kinh nghiệm. Những chuỗi động tác nhanh, gọn, dứt khoát như thế cứ như từ thân hình mảnh mai, thướt tha của Hậu mà hòa quyện một cách mông lung, hư ảo vào những cụm khói nhang, khói trầm đang tỏa lan nghi ngút từ các bàn thờ lớn, nhỏ trong miếu. Ông chánh tế tóc bạc trắng, mặc áo thụng xanh đang đứng cạnh bàn thờ Bà, gần như giật mình, thảng thốt khi vũ công thoáng một cái đã tiến đến sát bên ông, trao chén hoa cúc để ông đặt lên bàn thờ…
Tiếng đàn, trống đã dịu đi khi các chị em nhóm tế luân phiên phục vụ cho nghi thức “Gởi” của bà con cô bác. Gởi có nghĩa là khách dự lễ đưa một ít tiền cùng mảnh giấy ghi tên, họ của mình cho người tế để người này ê a tụng những lời cầu xin Bà phò hộ cho người “gởi” được gia đạo bình an, buôn may bán đắt…
Buổi tế đã náo nhiệt trở lại với phần diễn cuối cùng: múa dân gian. Tùy theo người tế cầm vật gì trên tay mà phần múa này sẽ phân ra là múa mâm vàng/mâm bạc, múa bông huệ, múa lục bình… Đậm nét nghệ thuật múa dân gian nhất, giống trên sân khấu ca-múa-nhạc nhất là múa mâm vàng, hôm nay cũng do Ngọc Hậu biểu diễn.
Trước tiên, từ bàn thờ Tổ, Hậu trình ra một tòa lâu đài đồ mã cao khoảng 5 – 6 tấc, được phất bằng giấy nhũ vàng óng ánh và được dán dính vào giữa một cái mâm nhôm cỡ trung. Vài người bước vào, dùng cọng bún dán sơ sài vào mâm thêm mấy tờ giấy bạc 100 000 đồng, 50 000 đồng. Muốn hưởng những tờ tiền thưởng đó thì trong tất cả các động tác của cánh tay cầm, đỡ mâm, người múa phải làm sao cho những tờ bạc không rơi khỏi mâm. Hậu có làm rơi hết một tờ 50 000 đồng trong một thoáng úp ngược mâm. Bù lại, mọi người phải vỗ tay khen ngợi khi Hậu tung xoáy mâm lên khoảng không với khi Hậu ngửa mặt, dựng vành mâm vào nhân trung, rồi chu môi, giang rộng hai  tay, vừa múa vừa giữ thăng bằng cho mâm vàng trong khoảng 2 – 3 phút.
Rồi chiếc áo tế lại được Hậu cỡi ra, giao cho một “nghệ sĩ” bóng khác. Đó là em Đào, có vẻ lớn tuổi hơn Hậu, giọng tế khàn khàn và nước da ngăm đen thì khó có thể nói là xinh đẹp như Hậu. Nhưng Đào múa giỏi hơn. Sau màn múa không chút khiếm khuyết với một cành hoa huệ dựng đứng trên vai, Đào ngửa mặt, rồi từ chỗ nhân trung dưới lỗ mũi, em dựng thẳng đứng một đoạn ống nước bằng nhựa. Kế đó, Đào từ từ thụp người xuống và quì thẳng lưng, tay giữ cho ống nước đứng yên, một bạn diễn bước vào đặt trên đầu kia của cái ống hai con dao cho nằm ngang, cái dưới cái trên theo hình chữ thập. Khi mọi thứ đã thăng bằng, Đào nói nhỏ “Xong!”, cả hai người cùng buông tay, bạn diễn lui ra, Đào từ từ đứng lên…  Nhà tạp kỹ đã khiến mọi người muốn nín thở khi vừa giữ thăng bằng cho mấy món hung khí, vừa uốn éo thân mình theo tiếng đàn, trống. Xong màn múa dao, ai nấy đều vỗ tay tán thưởng, thưởng thêm tiền để Đào diễn tiếp qua màn múa mâm bạc để trên trán với kiểu quì xoạc hai chân, ưỡn lưng xuống nái sát mặt đất…
 
4.
Theo chị Năm Tốt, tháng Ba là tháng làm ăn khấm khá nhất của nghề tế bóng.  Các nhóm tế liên tục đi diễn từ các miếu Ngũ Hành ở quận Nhất, Bình Thạnh, Gò Vấp, đình thần ở Phú Nhuận, miếu Bà ở Tân Phú, cho đến Dinh Cô ở Long Hải, Bà Rịa.v.v…, vài khi đến diễn cả ở những ngôi miếu nhỏ xíu trong đất vườn tư gia nào đó. Về thù lao, không tính đến phần tiền bà con gởi khi nhờ tụng cầu gia đạo bình an, bèo nhất cho một buổi vào đám cũng vào cỡ 3 – 4 triệu đồng. Tháng Tư thì “lai rai” vì trong tháng này chỉ có vía Bà Chúa Xứ và vía Bà Thiên Hậu. Còn các tháng khác trong năm, các nhóm chỉ chờ được kêu đi cúng Bà Cữu Thiên Huyền Nữ hay Bà Mẹ Sanh ở các vùng ngoại thành, tại nhà các gia đình còn theo tập tục xưa, với thù lao một buổi chỉ  1 triệu hay 1 triệu rưởi…
Chị Năm chắt lưỡi nói nghề tế là nghề tay-trái nên khó có ai sống nổi, dù là sống tạm qua ngày tháng, nếu chỉ làm có mỗi nghề này.
Bấy lâu nay, khi theo nghề tế chuyên nghiệp, với ít nhiều kiêu hãnh, những bạn bóng như em Hậu, em Đào đã tự phân biệt mình với các em pêđê chỉ có thể đi hát đám, có nghĩa là ca, diễn tân nhạc, cổ nhạc, trích đoạn tuồng cải lương một cách nghiệp dư ở những đám ma, đám cúng thất hay giỗ chạp. Cũng mang tiếng là bán nam bán nữ như dân pê-đê và vài khi túng kẹt quá thì cũng phải chấp nhận đi hát đám lai rai cùng các nhóm pê-đê để “kiếm chút cháo”, nhưng dân bóng theo nghề tế phải trải qua cả một quá trình bái sư, thờ tổ, học nghề, khổ công tập dợt với nhóm… Muốn được theo nhóm, bạn bóng nào cũng phải biết sử dụng thuần thục, khi thì nhạc khí là cái trống lịnh, khi thì đạo cụ độc đáo là cành hoa huệ, tách trà, bình bông, cái mâm vàng, con dao yếm… Rồi các chị em cũng phải thật điêu luyện, diễn cảm khi hát “Chầu mời”, tụng lời “Gởi” của bá tánh, và đặc biệt không được phép có sai sót về các tuyệt kỹ múa tế như múa “dưng bông” hay múa dân gian là múa mâm vàng, mâm bạc.
Nói gọn lại, có tài nghề như thế thì các bạn bóng rất xứng đáng được gọi là những nghệ sĩ ca múa nhạc và tạp kỹ chuyên nghiệp. Đặc biệt khi xuất hiện trước mắt công chúng, các bạn bóng không chỉ là những nghệ sĩ ca, múa dân tộc phục vụ cho nhu cầu giải trí của bà con mà còn là những thầy tế, thầy cúng chuyên thực hiện một số nghi thức tế, lễ rất đặc trưng, phục vụ cho mảng tín ngưỡng dân gian của người Việt vùng Nam bộ.
Có điều là, rất chua chát, hẩm hiu đối với các nghệ sĩ bóng, đó là xưa nay các chị em chỉ được trình diễn toàn ở những sàn diễn thường rất chật hẹp, gò bó, như một khoảng sân, mặt thềm nào đó ở các ngôi miếu, đình, chùa, nhà tư gia…, nhiều khi chỉ là chiếc chiếu cũ trải ra trước quan tài.
 
PHAM NGA
(Tháng ba Canh Thìn)

1001 Kiêng Kỵ

Thư viện của bài

This gallery contains 1 photo.

CÁCH TÍNH TRÁNH SAO XẤU CHO TỪNG VIỆC
THEO TÍN NGƯỠNG DÂN GIAN
(Trích từ: 1001 KIÊNG KỴ TRONG TÍN NGƯỠNG DÂN GIAN
của Đặng Xuân Xuyến ; Nhà xuất bản Thanh Hóa ; 2010)

Các sao xấu là những sao đem lại sự xui xẻo, bất hạnh cho cuộc sống của con người mà con người luôn ở thế thụ động, bất khả kháng. Sự bất hạnh, xui xẻo đó không chừa bất kỳ ai trong gia đình, thậm chí còn ảnh hưởng tới cả dòng tộc. Vì thế, khi tiến hành các việc trọng đại, người ta thường tránh những ngày có các sao xấu hội tụ để cầu may, rước phúc cho con cháu sau này.

Dân gian phổ biến 3 cách tính tránh ngày xấu như sau:

 I. TÍNH SAO VẬN HÀNH THEO NGÀY CAN CHI:

Các sao xấu liệt kê dưới đây được tính vận hành theo ngày Can Chi trong các tháng cho từng công việc, cụ thể như sau:

1. Xấu cho mọi việc:

Những sao được liệt kê dưới đây là những sao xấu (hắc đạo), những hung tinh phá hoại, đem đến những rủi ro, bất trắc, trăm việc đều nên tránh.

Đó là các sao: Sát Chủ, Thụ Tử, Thiên Hình, Thiên Lao, Thiên Cương, Thiên Lại, Tiểu Hồng Sa, Đại Hao, Tiểu Hao, Hoang Vu, Nguyệt Yếm (Phá), Băng Tiêu, Ngọa Giải, Hà Khôi, Thổ Kỵ, Vãng Vong, Chu Tước, Bạch Hổ, Huyền Vũ, Câu Trần, Cô Thần, Quả Tú, Nguyệt Hư (Phá), Âm Thác, Nguyệt Hình (Phá), Sát Sư. Tiếp tục đọc

*** NHẤT SINH ĐÊ THỦ BÁI MAI HOA

Thư viện của bài

This gallery contains 1 photo.

Nguyên Lạc

Lời nói đầu:

Xuân về hoa Mai nở, thấy hoa Mai nở ta biết Xuân về. Mùa Xuân và hoa Mai liên hệ thấm thiết với nhau. Ai mà không biết hai câu này của Thiền Sư Mãn Giác trong bài kệ Cáo tật thị chúng của Ngài:

Mạc vị xuân tàn hoa lạc tận

Đình tiền tạc dạ nhất chi mai.

̣(Thiền sư Mãn Giác)

Chớ bảo xuân tàn hoa rụng hết

Đêm qua – sân trước – một cành mai.

(Thích Thanh Từ dịch thơ)

Nhân dịp xuân về, Nguyên Lạc tôi xin tặng độc giả vài nụ cười có liên quan đến MAI để vui ba ngày Tết.

Nào: “Mừng Xuân nâng chén (100% anh em ơi) ta chúc nơi nơi…” ̣(Ly rượu mừng) Tiếp tục đọc

*** Ngày Xuân chơi đổ Xăm Hường

Thư viện của bài

This gallery contains 1 photo.

Trường Nghị

Trong những thú chơi Tết ngày xưa thì có lẽ chơi đổ Xăm Hường là trò chơi hấp dẫn cả người lớn lẫn bọn trẻ, nhưng vào thời buổi nầy thấy không bao nhiêu gia đình tổ chức được cuộc chơi. Ngày xưa nhiều khi người lớn còn năn nỉ bọn trẻ chơi đổ Xăm Hường ngày Tết để … bói hên xui đầu năm. Chơi đổ Xăm Hường không mang tính cao thấp, hoàn toàn dựa trên may rủi của 6 hột xúc xắc bung vào tô mà ngẫu nhiên nó đem chiến thắng đến cho người chơi. Chơi trò chơi hên xui nầy cũng không kém phần hồi hộp, căng thẳng, nhưng chưa bao giờ thấy đổ Xăm Hường mà sinh ra chuyện cãi vã, gian lận cay cú ăn thua như những trò sát phạt khác. Cũng vì vậy mà người lớn muốn bọn trẻ đầu năm đổ Xăm Hường, vừa chơi vừa giải trí, mà cũng vừa như xin cái xăm xem thử chuyện học hành, thi cử của bọn trẻ trong năm như thế nào.

Chơi trò đổ Xăm Hường, còn gọi là bói Xăm Hường chỉ cần có bộ hột xúc xắc (còn gọi là hột xí ngầu, tào cáo) và bộ thẻ, có được một tô sứ to, sâu lòng để bung hột xúc sắc nữa thì Tiếp tục đọc

*** NĂM HỢI (2)

Thư viện của bài

This gallery contains 1 photo.

Nguyên Lạc 

NĂM HỢI BÀN VỀ HEO / LỢN (2)
(Tiếp theo phần I)

PHẦN II

HEO: TRONG ĐỜI SỐNG, VĂN CHƯƠNG

PHÂN BIỆT HEO VÀ LỢN

– Sự khác biệt:

Con lợn ăn ngô.

Con heo ăn bắp.

Con lợn đóng phim thiếu nhi: hiệp sĩ lợn.

Con heo đóng phim người lớn: phim con heo.

Miền bắc nói đàn ông háo sắc là lợn nọc.

Miền nam nói đàn bà lang chạ là heo nái.

– Giải thích hai chữ Lợn Heo:

Để giải thích hai chữ Lợn Heo, tôi xin dẫn ra bài viết của nhà văn, thi sĩ lão thành Chu Vương Miện:

[Tôi hay có thói quen là tìm tòi những danh từ thường dùng hàng ngày mà nghĩa đôi khi không được rõ ? hôm trước được nghe người em bên vợ giải thích, con Lợn là tiếng ngoài bắc, thường ăn củ sắn, ăn trái bắp còn con Heo trong miền Nam thì ăn củ mì và trái ngô, vậy ra là con Heo và con Lợn khác hẳn nhau, tự điển ngoài Bắc thì phận biệt con Lợn là con Lợn Ỉn là một thứ lợn truyền thống có nguồn gốc từ Heo Mọi (nuôi tốn cơm cũng chỉ đựơc 50 ki lô  là cùng – từ sáu tháng đến 1 năm), còn con Heo có nguồn gốc từ ngoại quốc thì nuôi từ 4 tháng đến 6 tháng cân được 1 tạ (100 kg). Chúng tôi không bàn cách nuôi Lợn Heo ở bài này mà chỉ đi tìm nguyên nhân nào, con Lợn đi từ ngoài Bắc vào Trung rồi vào Nam, mà từ tên cúng cơm là Lợn chuyển thành Heo lúc nào không biết. Thực ra nếu danh từ nào gặp khó khăn không hiểu thì mang tra Tự Điển, nếu cuộc đời chỉ giản dị “giản đơn và giản Tiếp tục đọc