VỀ NHAN ĐỀ GỐC CỦA TRUYỆN KIỀU

Phê bình Nguyên Lạc

 

Truyện Kiều chữ Nôm 2

Trong quá trình sưu tầm tài liệu để viết tiếp phần 2 và phần 3 bài TRẬN CHIẾN CHƯA NGƯNG: Đoạn Trường Tân Thanh và Kim Vân Kiều Truyện, tình cờ tôi gặp bài viết: “Nhan đề gốc của “Truyện Kiều” của Đinh Văn Tuấn đăng trên trang Tạp chí Sông Hương SỐ 310 (T.12-14) và trên nhiều trang khác, trong cũng như ngoài nước. Ông Đinh Văn Tuấn Đưa ra kết luận như “đinh đóng cột” thế này:
“Nay, chúng tôi là hậu học, sau khi đã tìm hiểu lại ngọn nguồn, xin đề nghị trả lại nhan đề gốc do thi hào Nguyễn Du đặt cho một tuyệt tác thi ca nổi tiếng trong và ngoài nước từ gần 2 thế kỷ qua, đó là KIM VÂN KIỀU TRUYỆN 金 雲 翹 傳 “
“… Truyện Kiều cũng thế, nguyên truyện Trung Quốc là tiểu thuyết Kim Vân Kiều truyện 金 雲 翹 傳 của Thanh Tâm Tài Nhân và tự nhiên cụ Nguyễn Du cũng sẽ đặt nhan đề là Kim Vân Kiều truyện”[“Nhan đề gốc của “Truyện Kiều”- Đinh Văn Tuấn ][*]
Và trong bài: “145 Năm Tầm Nguyên Truyện Kiều” – Hợp Lưu 01/11/2015 ông Tuấn lại tái khẳng định:
Văn bản Truyện Kiều phục cổ do chúng tôi tái lập sẽ lấy nhan đề khởi thủy do Nguyễn Du đặt là Kim Vân Kiều truyện 金 雲 翹 傳 chứ không lấy nhan đề Đoạn Trường tân thanh hay Truyện Kiều như chúng tôi đã khảo chứng qua bài viết “Nhan đề gốc của truyện Kiều”-Tạp chí Nghiên cứu và Phát triển, S. 6(113) (2014)

Đây là những lý do ông Đinh Văn Tuấn nêu ra để đưa đến kết luận cả quyết trên.

Trước khi xét và phản hồi từng điểm của ông Tuấn, tôi có những ý này:
— Cám ơn ông đã không “bất kính” với cổ nhân (chữ ông Đinh Văn Tuấn), đã tìm hiểu lại một cách khoa học để phục hồi lại “nhan đề gốc của ‘Truyện Kiều’ ” Nguyễn Du.
— Ông: “đề nghị trả lại nhan đề gốc do thi hào Nguyễn Du đặt cho một tuyệt tác thi ca nổi tiếng trong và ngoài nước từ gần 2 thế kỷ qua đó là KIM VÂN KIỀU TRUYỆN”. Xin hỏi: – Sau KIM VÂN KIỀU TRUYỆN còn có thêm hàng chữ nào không ông? Thí dụ như Thanh Tâm Tài Nhân? Kim Thánh Thán bình…?
Mời ông đọc những lời này của ông “bạn vàng phương Bắc” Đổng Văn Thành:
[ … Phải chăng tác giả Trung Quốc Thanh Tâm tài nhân – con người “tầm thường”, “không thể cứu chữa” – đã làm hỏng đề tài Vương Thúy Kiều đến nỗi không một chỗ nào coi được, phải hoàn toàn nhờ sự gia công “thiên tài” của tác giả Việt Nam Nguyễn Du mới biến miếng sắt bỏ đi thành vàng ròng lấp lánh?...”] (Phạm Tú Châu “So sánh Truyện Kim Vân Kiều Trung Quốc và Việt Nam”; 200 năm nghiên cứu bàn luận “Truyện Kiều”, Nxb. Giáo dục, Hà Nội 2005)
[ … “Nhìn tổng thể, tôi thấy Truyện Kiều của Nguyễn Du bất luận về nội dung hay về nghệ thuật đều không vượt được bản gốc mà nó mô phỏng, tức – Truyện Kiều của Trung Quốc –
Ông Đổng còn nói: “Nguyễn Du còn thêm chân cho rắn khiến chúng mâu thuẫn với hoàn cảnh và tình tiết trong toàn bộ nguyên tác”] [Nguồn: Nguyễn Huệ Chi -Trở lại câu chuyện so sánh Kim Vân Kiều truyện với Truyện Kiều của ông Đổng Văn Thành]
– Và cũng mời ông đọc lại những hàng chữ chính ông chú thích sau đây:
Kim Vân Kiều” là sách gì? Chưa nói đến sự tích thiệt không, chưa kể văn chương hay dở, chỉ nhắc đến cái tên sách thì nghe đã không thể nào ngửi được; vì sao thế? Phàm bộ truyện nào, dầu trong có bao nhiêu nhân vật mặc lòng, chỉ là một người làm chủ nhân: sự tích là sự tích một người chủ nhân ấy, thì tên sách cũng theo đó mà gọi….ông Nguyễn Du chắc không đặt tên dốt như thế? Dù cái tên ấy là nguyên bản của Tàu, là nguyên bản của Tàu thì càng đủ biết rằng truyện ấy đặt ra bởi một anh Tàu dốt nào đó mà thôi.” [Ngô Đức Kế (1878-1929) , Luận về chánh học cùng tà thuyết, Tạp chí Nam Phong số 86. 1924][**]
Chắc ông Đinh Văn Tuấn cho rằng cái tên sách “Kim Vân Kiều” hay ho lắm nên muốn gán cho cụ Tiên Điền, thi hào ông không “bất kính”?

Giờ xin lần lượt vào từng điểm, cùng những nhận xét và phản hồi của tôi:
I.
[ Dựa vào bản khắc Liễu Văn Đường 1866, là bản cổ nhất hiện còn lại ta thấy ở dòng cuối cùng của bản LVĐ 1866 đã khắc là Kim Vân Kiều truyện quyển hoàn 金 雲 翹 傳 卷 完 (bản Liễu Văn Đường 1871, bản Thịnh Mỹ Đường 1879… cũng khắc như vậy), ngay cả bản Đoạn trường tân thanh, Kiều Oánh Mậu 1902 ở trang cuối cũng vẫn ghi “Kim Vân Kiều truyện chung”金 雲 翹 傳 終 (xem hình). Vậy nhan đề gốc là Kim Vân Kiều Truyện 金 雲 翹 傳 ] – Đinh Văn Tuấn.

Bản khắc LVĐ và KOM

(Hình 1 – ảnh 2 bản khắc LVĐ và KOM)

.
@. Trả lời:
Tôi xin lần lượt trả lời từng bản khắc:
1. Bản khắc Liễu Văn Đường : Kim Vân Kiều truyện quyển hoàn 金 雲 翹 傳 卷 完
– Theo tôi, ông Đinh Văn Tuấn nghĩ là: Sách (quyển) Kim Vân Kiều truyện hoàn tất, xong.
Vì chữ Hán nhiều nghĩa, ai cũng có thể hiểu, suy diễn theo ý riêng nên câu này cũng có thể có nghĩa: Sách kể chuyện 3 người: Kim, Vân, Kiều đã hoàn tất, xong.
– Theo tôi, nghĩa thứ 2 đúng hơn. Tại sao? Vì:
Năm 1820, tháng 9 cụ Nguyễn Du mất. Mộng Liên Đường Nguyễn Đăng Tuyển đề từ cho truyện thơ cụ lại có đến Đoạn Trường Tân Thanh . Ông đã giải thích tên Đoạn Trường Tân Thanh như sau:
“Truyện Thuý Kiều chép ở trong lục Phong tình, ta không bàn làm gì. Lục Phong tình cũng đã cũ rồi. Tố Như tử xem truyện, thấy việc lạ, lại thương tiếc đến những nỗi trắc trở của kẻ có tài, bèn đem dịch ra quốc âm, đề là Đoạn trường tân thanh, thành ra cái lục Phong tình vẫn là cái lục cũ, mà cái tiếng Đoạn trường lại là cái tiếng mới vậy”.[Đề Từ Đoạn Trường Tân Thanh – Tiên phong Mộng Liên Đường Nguyễn Đăng Tuyển]
Phạm Quý Thích lại có bài : “Thính Đoạn Trường Tân Thanh hữu cảm”. Cả hai bài, theo tục truyền Phạm Quý Thích đã in cùng Đoạn Trường Tân Thanh trước 1821 và giảng cho học trò, nên mới có tập cho Minh Mạng xem ( bản Liễu Văn Đường) Phù hợp với tục truyền của học trò ông: Bản phường – Hàng Gai Hà Nội. Năm 1830 Tổng thuyết vua Minh Mạng đổi tên Đoạn Trường Tân Thanh thành Kim Vân Kiều truyện, rồi đến 1871, Tổng thuyết lần 2, của vua Tự Đức sửa tên thành Kim Vân Kiều tân truyện (Giải thích rõ thêm ở dưới)
Bên cạnh nội dung truyện Kiều của Đại thi hào Nguyễn Du, bản Liễu Văn Đường còn có Bài tựa (bằng thơ Đường thất ngôn bát cú) của Lãng Đường Phạm Tiên sinh – Phạm Qúy Thích, bằng chữ Hán: “Đoạn trường tân thanh đề từ”(hoặc “Thính Đoạn trường tân thanh hữu cảm”).

Giai nhân bất thị náo Tiền Đường
Bán thế yên hoa trái vị thường
Ngọc diện khởi ưng mai Thủy quốc
Băng tâm tự khả đối Kim lang
Đoạn trường mộng lý căn duyên liễu
Bạc mệnh cầm chung oán hận trường
Nhất phiến tài tình thiên cổ lụy
Tân Thanh đáo để vị thùy thương

Dịch nghĩa
Nếu người đẹp Thuý Kiều mà không đi đến sông Tiền Đường,
Thì nửa đời lầu xanh vẫn chưa trả xong nợ.
Mặt ngọc của nàng đâu cần phải chìm xuống thuỷ cung,
Lòng băng tuyết của nàng thì xứng đáng gặp chàng Kim lắm.
Giấc mộng đoạn trường nay đã biết rõ nguồn cơn,
Khúc đàn Bạc mệnh dứt rồi nỗi hận còn vương.
Vì một mảnh tài tình mà ngàn năm còn luỵ,
Tác phẩm Tân Thanh này vì ai mà thương cảm đau lòng.
(Nguồn: Dương Quảng Hàm, Việt Nam văn học sử yếu, Trung tâm học liệu xuất bản, 1968)

Câu 5 có 2 chữ “đoạn trường“, câu cuối của bài thơ này là:
Tân Thanh đáo để vị thùy thương” Dương Quảng Hàm dic̣h: “Tác phẩm Tân Thanh này vì ai mà thương cảm đau lòng”.
Phần đầu sách đã xác điṇh tên tập thơ là Đoạn Trường Tân Thanh, không lẻ Phạm Qúy Thích “tự chặt tay mình” mà cuối sách viết khác?
Trường hợp này cũng tương tự như câu trong bản khắc Kiều Oánh Mậu ở dưới.

ĐTTT Kiều Oánh Mậu 1902

(Hình 2 – ảnh bản in Kiều Oánh Mậu 1902 )

.
2.  Bản khắc Kiều Oánh Mậu“Kim Vân Kiều truyện chung”金 雲 翹 傳 終

.
— Đinh Văn Tuấn nghĩ là: Kim Vân Kiều truyện kết cuộc, hết. Như trên đã nói, câu này cũng có thể nghĩ: Truyện kể 3 người Kim, Vân, Kiều kết cuộc, hết.
Cũng giống như trên, nghĩa thứ 2 đúng hơn. Vì:
Đến năm 1883 Tự Đức qua đời. Triều đình Huế lúc này thực chất chỉ là bù nhìn, toàn bộ chính trường đều do người Pháp đã đạo diễn . 9 năm sau, năm 1902 cựu quan nhà Nguyễn, chủ bút tờ báo Đồng Văn là Kiều Oánh Mậu mới cho tái bản phục hồi tên cũ là Đoạn Trường Tân Thanh, có sự phụng mệnh vua đọc và kiểm duyệt của 3 cộng tác và Hàn Lâm kiểm thảo Ngô Thúc Dụ Thư. Có sự kiểm duyệt của quan Hàn Lâm kiểm thảo Ngô Thúc Dụ Thư thì không phải là chuyện đùa. Phải coi bản Đoạn Trường Tân Thanh do Kiều Oánh Mậu chủ trì biên soạn là cãi chính cuối cùng của đại diện triều Nguyễn chứa đựng nội dung trung thực nhất: Ghi đúng tên, nguồn gốc của Truyện Kiều.
Và cũng giống như trên, đã phục hồi tên tập thơ là Đoạn Trường Tân Thanh không lẻ Kiều Oánh Mậu “tự chặt tay mình” mà cuối sách viết khác?
— Câu bản khắc Kiều Oánh Mậu này còn có thể thêm một nghĩa: Chấm dứt cái tên “Kim Vân Kiều Truyện” từ đây, (Kim Vân Kiều Truyện cáo chung): – Để kết thúc một câu truyện, sách in đề tựa Đoạn Trường Tân Thanh (ở trang bìa), ta chỉ cần một chữ chung (hết) ở trang cuối, như bao cuốn sách khác là xong, sao lại tự dưng ghi “Kim Vân Kiều truyện chung”? Ở đây cần hiểu là: Truyện này tên Đoạn Trường Tân Thanh, cái tên Kim Vân Kiều truyện đã chấm dứt từ cãi chính này.
Suy luận nào cũng là suy luận, nhưng suy luận nào hợp với bằng chứng nhất do người đọc lựa chọn.
— Xin nói rõ thêm vài hàng: Trong lời dẫn thứ 3 của ấn bản Kiều Oánh Mậu, có nói rằng “Minh Mạng đặt tên nay theo đó mà giữ”, cũng chẳng qua là cách bào chữa giữ danh dự cho tiên vương thôi. Từ xưa đến nay, chả có ông nào làm vua, làm chủ tịch… mà tự nhận lỗi cả, nếu muốn thì đổ thừa cấp dưới hiểu sai ý thôi. Kiều Oánh Mậu là cựu quan nhà Nguyễn, nhượng bộ quan Hàn Lâm một chút, giữ uy tín cho tiên vương cũng dễ hiểu thôi, miễn mục đích đạt được. Tên đã phục hồi, đề từ của Phạm Quý Thích và Mộng Liên Đường cũng còn đó, đời sau tự hiểu.

II.
Ngoài ra, còn một tục truyền khác lại cho vua Minh Mạng đã cho đổi tên Kim Vân Kiều truyện thành Đoạn trường tân thanh nữa, theo bản Nôm Kim Vân Kiều truyện 金 雲 翹 傳, ký hiệu V.N.B.60, không rõ niên đại, có đoạn chép tay (bút lông) như sau:
“…Tiên Điền Nguyễn Du diễn xuất quốc âm danh Kim Vân Kiều truyện, phụng Minh Mạng ngự lãm (tứ) (cãi) (vi) Đoạn Trường Tân Thanh (tòng kinh bản dã)… 仙田阮攸演出國音名金雲翹傳,奉明命御覽(賜)(改)(為)斷腸新聲(從京本也)” (… Nguyễn Du ở Tiên Điền diễn ra quốc âm, đặt tên là Kim Vân Kiều truyện, được vua Minh Mạng đọc và (cho) (đổi) (tên) (làm) Đoạn Trường Tân Thanh (đó là theo bản kinh)…] – Đinh Văn Tuấn

@. Trả lời:

.
Xin ông Đinh Văn Tuấn ghi lại cho đầy đủ cả lời của vua Minh Mạng, tôi thấy có điều gì “nhập nhằng” ở đây:
— Lập luận ông khiên cưỡng và “trở ngược đầu”: Vua Minh Mạng đổi tên Đoạn Trường Tân Thanh thành Kim Vân Kiều truyện, sao ông suy diễn ngược lại? Có ý gì?
Nếu Minh Mạng đổi tên Kim Vân Kiều thành Đoạn Trường Tân Thanh thì sao tất cả các bản in đều in là Kim Vân Kiều hoặc Kim Vân Kiều Tân Truyện, mà không là Đoạn Trường Tân Thanh? Cãi lệnh vua được sao? Muốn tru di hả? Phải đợi mãi đến Tự Đức chết, 1883 thì 9 năm sau tên Đoạn Trường Tân Thanh mới được phục hồi bởi Kiều Oánh Mậu 1902.
— Mời đọc đoạn này:
Tàng bản ký hiệu VN B60: Bên trong là các trang thơ Truyện Kiều chữ Nôm. Bìa sách ghi bằng bút sắt:
明命御覽(賜)(名)斷腸新聲. 金雲翹傳 (mấy chữ này viết bằng bút sắt).
Phiên âm là:
Minh Mạng ngự lãm (tứ) (danh) Đoạn Trường Tân Thanh Kim Vân Kiều truyện.
Thông thường ta hiểu là: Minh mạng đã đọc ban ân (tứ) tên( danh) Đoạn Trường Tân Thanh: Kim Vân Kiều truyện.
Như vậy đây là bản Đoạn Trường Tân Thanh trình Minh Mạng duyệt và Minh Mạng đổi tên thành Kim Vân Kiều truyện, có thể có chỉnh sửa, là bản gốc của bản Kinh về sau.
Nhưng mặt bìa sau ai đó viết chú thích bằng bút lông:
雲翹傳,本北國青心才人錄, 仙田阮攸演出國音名金雲翹傳, 奉明命御覽(賜)(改)(為)斷腸新聲(從京本也), 華 堂進士笵貴適題辭… (viết bằng bút lông)
Phiên âm là:
Kim Vân Kiều truyện, bản Bắc quốc Thanh Tâm tài nhân lục, Tiên Điền Nguyễn Du diễn xuất quốc âm danh Kim Vân Kiều truyện, phụng Minh Mạng ngự lãm (tứ) (cãi) (vi) Đoạn Trường Tân Thanh (tòng kinh bản dã) Hoa Đường Tiến sĩ Phạm Quý Thích đề từ…
[Sách Kim Vân Kiều truyện vốn là sách Thanh Tâm tài nhân lục của Bắc quốc, Nguyễn Du ở Tiên Điền diễn ra quốc âm, đặt tên là Kim Vân Kiều truyện, được vua Minh Mạng đọc và (cho) (đổi) (tên) (làm) Đoạn Trường Tân Thanh (đó là theo bản kinh). Phạm Quý Thích, người Hoa Đường, đậu Tiến sĩ đề từ…] (Theo Trần Văn Giáp)

.
@ Nhận xét:.

— Bút tích viết bằng bút sắt ở trên có thể cho là của Minh Mạng:

  • Một là, giọng văn đó của vua trực tiếp phê. Giống như ngày nay văn bản cấp dưới trình cấp trên, cấp trên phê: đã đọc Đoạn Trường Tân thanh, tên đổi Kim Vân Kiều truyện.
  • Hai là bút tích Minh Mạng viết : “ Thanh Tâm Tài Tử cổ kim minh lương đề tập biên” cũng bằng viết sắt ( có ảnh kèm theo)

Thanh Tâm Tài Tử ( Tổng thuyểt 1830- Minh Mạng)

(Hình 3 – ảnh Tổng thuyết Minh Mạng)

— Bút tích sau viết bằng bút lông là giọng văn thuật lại” phụng Minh Mạng ngự lãm”(thể theo Minh Mạng đã đọc), tức là của người khác, viết bút lông không phải của Minh Mạng. Ta không biết rõ ai viết, viết vào thời nào; và vì sao trong một câu ngắn gọn của Minh Mạng lại suy diễn chi tiết như thế? Do đó không thể tin cậy được. Theo tôi, “ai đó” ghi thêm và chắc “có ý” gì đó?
Tuy nhiên, cả hai bút tích viết đều có nhắc tới Đoạn Trường Tân Thanh. Tháng 9 năm 1820 Nguyễn Du quy tiên. Trong khi đó Mộng Liên Đường Nguyễn Đăng Tuyển ( có nhiều người nhầm Mộng Liên Đường là Phạm Quý Thích) đề từ lại nói đến Đoạn Trường Tân Thanh . Ông đã giải thích Đoạn Trường Tân Thanh là “tiếng kêu mới xé ruột”. Phạm Quý Thích lại có bài : Thính Đoạn Trường Tân Thanh hữu cảm. Cả hai bài, theo tục truyền Phạm Quý Thích đã in cùng Đoạn Trường Tân Thanh trước 1821, giảng cho học trò, nên mới có tập cho Minh Mạng xem. Phù hợp với tục truyền của học trò ông: bản phường – Hàng Gai Hà Nội. Cần thấy rằng học trò Phạm Quý Thích là những tiến sĩ, cử nhân, thám hoa…Nhiều vị đã kế thừa ông làm thầy, và học trò của các vị này lại làm thầy cho đến 1919 bỏ Nho học. Cho nên tục truyền mà lại có giá trị vì thời gian liên tục và không lâu.
Minh Mạng tuyên triệu Phạm Quý Thích vào Kinh, năm 1821 nhưng ông cáo bệnh (theo tiểu sử Phạm Quý Thích), học trò ông lại nhiều người làm quan của triều đình bảo vệ ông. Cho phép ta suy luận việc này có liên quan đến ấn bản Phường. Không có mặt Phạm Quý Thích và Mộng Liên Đường, Minh Mạng đành đổi tên Đoạn Trường Tân Thanh ra Kim Vân Kiều truyện như bản VN B60 ghi bút tích và đã chỉ đạo Hàn Lâm Viện viết bình giảng truyện Kiều theo hướng làm ngơ việc phản ánh xã hội, phê phán vương triều… nếu ai quan tâm thì xem đó chỉ là chuyện bên Tàu (như Nguyễn Du đã cố tránh né vì “họa văn tư”̣). Tập trung hướng vào than tiếc và an ủi sự gian nan giữa tài và mệnh như hình thức câu truyện. Cuốn này ắt có lưu ở Hàn Lâm Viện nên năm 1902, Kiều Mậu Oánh mới chú giải, lấy lại tên Đoạn Trường Tân Thanh, có sự kiểm duyệt của Hàn lâm kiểm thảo Ngô Thúc Dụ Thư. [theo Lê Nghị]

@. Nhận xét của tôi:
– Bút sắt thời trước chí các vị vương giả dùng. Vua Minh Mạng chắc được các sứ thần Pháp tặng bút sắt Paker, nên suy ra các hàng chữ viểt bằng bút sẳt là thật sự của ông.
– Do Minh Mạng đổi tên nên các bản in sau này đều lấy tên Kim Vân Kiều Truyện, hoặc Kim Vân Kiều Tân Truyện. Cuốn thơ cổ nhất được in tìm được hiện nay mang tên Kim Vân Kiều là bản in 1866 thời Tự Đức. Năm 1875 khi Trương Vĩnh Ký chuyển ra quốc ngữ ở Saigon, lấy tên Kim Vân Kiều, không nhắc gì đến Đoạn Trường Tân Thanh.
– Đã là nhà “nghiên cứu khoa học” thì phải minh bạch và khách quan, vậy sao ông Đinh Văn Tuấn ớ trên lại không ghi rõ đầy đủ lời phê bằng bút sắt của vua Minh Mạng ra? Ông có ý gì mà giấu nó?

III.
Nếu thật có nhan đề Đoạn trường tân thanh do chính tác giả đặt thì theo ý chúng tôi, không một ai dám tự tiện đặt lại tên (dù đó là người bạn tri kỷ), đáng ngờ hơn nữa là sửa lại bằng một cái tên rất bình thường là “Kim Vân Kiều”. Ngược lại, từ “Kim Vân Kiều” gốc Hán rất dễ bị sửa thành một nhan đề hay và ý nghĩa sâu sắc là “Đoạn trường tân thanh”, nhất là khi tin và dựa vào mấy chữ “đoạn trường tân thanh” từ bài thơ của cụ Phạm Quý Thích.
Có thể một nhà Nho nổi tiếng nào đó lúc ấy đã tự ý đổi nhan đề là Đoạn trường tân thanh hoặc cũng có thể là Tiên Phong Mộng Liên Đường chủ nhân khi xác nhận cụ Nguyễn Du đặt nhan đề là Đoạn trường tân thanh nên người sau mới tin theo như Nguyễn Hữu Lập, Kiều Oánh Mậu... ] – Đinh Văn Tuấn

.

@. Trả lời:
— Trước ông Đinh Văn Tuấn cho rằng: nếu Đoạn Trường Tân Thanh là tên có thật thì ai dám đổi, dù là bạn tri kỷ. Sau ông lại cho rằng một nhà nho nổi tiếng nào đó đổi. Xin hỏi nhà nho nào nổi tiếng thi tài hơn Nguyễn Du được nhắc tới? Người ta chỉ thấy Phạm Quý Thích là thầy của bao nhiêu tiến sĩ, cử nhân cũng chỉ vịnh Đoạn Trường Tân Thanh và Mộng Liên Đường một ông quan nổi tiếng tài hoa cũng chỉ sáng tác: Tục Đoạn Trường Tân Thanh.
Vậy thì ai đổi?
— Vua Minh Mạng đổi được không?
Xin nhắc lại ở trên:
“Minh Mạng ngự lãm (tứ) (danh) Đoạn Trường Tân Thanh Kim Vân Kiều truyện”
(Minh Mạng đã đọc ban ân (tứ) tên( danh) Đoạn Trường Tân Thanh : Kim Vân Kiều truyện)
— Ông Đinh Văn Tuấn có biết tại sao Minh Mạng đổi tên không?
Vì cái tên đó nhạy cảm chính trị. Nội dung của Đoạn Trường Tân Thanh “có độc” cho vương triều, mặc dù đã mượn tên chính sử Tàu và địa danh Tàu, nhưng cái tên nghe không ổn: Đoạn Trường Tân Thanh là “tiếng kêu mới đứt ruột”.
Tục truyền vua Minh Mạng ngồi uống trà và đã phê bình câu “Dọc ngang nào biết trên đầu có ai” khi vua vừa mới lên ngôi năm 1820.
Có ông vua nào muốn nghe thiên hạ ngâm nga “Tiếng kêu xé ruột” giữa thời ” thịnh thái” không? Có ông vua nào thích nghe “Dọc ngang nào biết trên đầu có ai”không? Có ông vua nào thích nghe những lời phê phán xã hội, suy rộng ra là chỉ trích vương triều của mình không?
— Vì sao gọi là ban ân?: Đúng ra là phải tịch thu, cấm lưu hành; nhưng vì tác phẩm lỡ lưu hành và vì nó quá hay, nên cho tiếp tục lưu hành nhưng phải đổi tên
Đó là lý do mới đổi tên. Dù gì vua Minh Mạng cũng biết trọng người tài, nếu không cụ Nguyễn Du dễ gì thoát khỏi “họa văn tự”

IV.
Cụ Phạm không dùng chữ “độc” (đọc) mà dùng chữ “thính” (nghe) cũng đủ để cho thấy nhà thơ không phải “đọc” một truyện thơ có nhan đề là Đoạn trường tân thanh. Không có gì bảo đảm là Phạm Quý Thích đã viết chính xác nhan đề Đoạn trường tân thanh] – Đinh Văn Tuấn

.
@. Trả lời:
— “thính” (nghe) bạn tri kỷ, tri âm Nguyễn Du đọc truyện thơ của bạn có nhan đề là Đoạn trường tân thanh không được sao?
Chỉ có chú em Nguyễn Du đọc cho ông anh thân thiết Phạm Quý Thích nghe, chứ ai? Chú nó sống không dám công bố, chết rồi mình công bố vậy. Phạm Quý Thích, bạn tri kỷ tri âm của Nguyễn Du, lớn hơn Nguyễn Du 6 tuổi và mất sau 5 năm.
*
Còn nhiều điểm nữa cần bàn, nhưng thôi tới đây tôi nghĩ cũng tạm đủ để độc giả hiểu rõ lòng ông Đinh Văn Tuấn . Tôi chỉ muốn nhắc lại những lời sau đây tự ông viết trong bài viết ông:
Đào Duy Anh đã từng tin như vậy: “Sách mà ta thường gọi là Truyện Kiều hay là Truyện Thúy Kiều, Nguyễn Du đặt nguyên đề là Đoạn Trường tân thanh. Lập Trai Phạm Quý Thích là bạn thân của Nguyễn Du, khi đem khắc bản để in mới nhân nguyên truyện của người Trung Quốc tên là Kim Vân Kiều truyện mà đổi tên là Kim Vân Kiều truyện”, hay học giả Hoàng Xuân Hãn cũng đã từng nói: “Có nhẽ cụ Nguyễn Du đặt tên truyện là Đoạn Trường Tân Thanh thực đấy, chứ không phải là Kim Vân Kiều đâu. Kim Vân Kiều là tên của sách Tầu. Rồi sau những người khắc khác, trở lại cái tên cũ của người Tầu và để là Kim Vân Kiều Truyện”– Đinh Văn Tuấn
Xin nói rõ, tôi chỉ chú trọng đển tên thật của Nguyễn Du đặt cho truyện thơ mình, còn về nguồn gốc truyện thơ thì có những bài viết khác.
Tôi thật lấy làm lạ:
– Ông Đinh Văn Tuấn đã nói là kính trọng (không “bất kính”- chữ của ông) cụ Nguyễn Du, thế mà tại sao lại muốn gán “cái tên sách thì nghe đã không thể nào ngửi được”(lời cụ Ngô Đức Kế) cho truyện thơ của đại thi hào? [**]

.
Ôi, thương thay cho cụ Nguyễn Du!
.
Nguyên Lạc
………
Ghi chú:
[*] “Nhan đề gốc của “Truyện Kiều” của Đinh Văn Tuấn

http://tapchisonghuong.com.vn/tap-chi/c319/n18166/Nhan-de-goc-cua-Truyen-Kieu.html

[**] Xin nói rõ kẻo hiểu lầm: Tôi chỉ đồng ý với cụ Ngô Đức Kế về việc chê nhan đề “Kim Vân Kiều” đặt cho truyện Kiều /Đoạn Trường Tân Thanh của thi hào Nguyễn Du, còn những phê phán khác của cụ thì tôi không nói đến.

người đàn bà nhặt chữ nuôi thơ

Thư viện của bài

This gallery contains 1 photo.

Châu Thạch
ĐỌC “NGƯỜI ĐÀN BÀ NHẶT CHỮ NUÔI THƠ”-
TÁC GIẢ ĐINH LAN
(Một bài thơ xứng đáng đoạt giải)
“Người đàn bà nhặt chữ nuôi thơ” là ai? Rõ ràng là một nữ thi nhân.
Tác giả đem hình ảnh người đàn bà làm ruộng để gởi hình ảnh người làm thơ vào đó. Người làm ruộng thì chất phát, chân lấm tay bùn. Người làm thơ thì nho nhã, thanh tao. Hai mẫu người đối nghịch nhau. Vậy mà nó hóa một, không phải chỉ trong một bức tranh, mà cả trong hoạt cảnh một đời người:

“Có người đàn bà nhặt chữ nuôi thơ.
Nhặt đến mòn hơi, góc đời riêng một niềm mơ cháy bỏng.
Tháng bảy mưa giông đồng trần gian ướt sũng.
Vẫn oằn mình lận đận cấy rủi may.
Mỏng manh sợi rơm nhà ai rớt rơi chìm nổi.
Níu lấy mỉm cười ôm hy vọng lắt lay.”

Nhặt chữ mà say, say đến nỗi cánh cửa đời “rệu rã lung lay” mà vẫn cho là “có sao đâu? Nào có sao đâu?”. Vậy là người nầy yêu thơ đến độ quên hết thân mình:

“Có người đàn bà nhặt chữ… say say say.
Cần mẩn đêm ngày như cái kiến nhỏ côi chầm chậm lê chân trên những ngã đường xa ngái.
Giật mình nhìn lại.
Cánh cửa đời rệu rã lung lay.
Có sao đâu? Nào có sao đâu?” Tiếp tục đọc

KHÔNG KHÓC Ở ĐÂY…

Thư viện của bài

This gallery contains 1 photo.

Châu Thạch Biên Soạn
ĐỌC “KHÔNG KHÓC Ở ĐÂY”
THƠ TRƯƠNG ĐÌNH PHƯỢNG
KHÔNG KHÓC Ở ĐÂY…
1.
suỵt .im lặng.
không khóc ở đây
2.
ngủ quên rồi những miền não bộ
hãy để yên tôi khâm liệm hồn thơ.
sáng hôm nay
tôi đã thấy những màu hoa đột tử
trên ngọn đồi có ngôi nhà hoang phế
đan dày rêu mưa
3.
suỵt. im lặng.
không khóc ở đây
đã đến lúc một cộng một chẳng bằng hai
mà bằng ba hay bốn hoặc vô hạn
kiếp người.
người lao công già vừa đem đi những quan tài chứa đầy linh hồn rác thải
cùng xác một con chuột bị cán nát đêm qua
phố trở lạnh
những thằng bé đựng giấc mơ ấm vào tà áo mỏng tanh
cơn gió bấc thốc ngang khe sườn
gầy rược
cướp đoạt hình hài hi vọng.
suỵt
không khóc
ở đây.
4.
hãy để yên tôi xây những nấm mồ
đời chúng ta sầu hơn những phố hoang.
Trương Đình Phượng
LỜI BÌNH: Châu Thạch
Có phải đây là một bài thơ gọi là thơ hậu hiện đại hay không tôi không biết. Tuy thế nếu nó là một bài thơ thuộc loại hậu hiện đại thì tôi hoan hô nó bằng hai tay. Tất nhiên tôi không hiểu hết bài thơ nhưng tôi đã bật khóc khi đọc nó. Chỉ vào khổ thơ 1. “Suỵt. Yên lặng. Không khóc ở đây” tôi đã hình dung được những con người nhòe nước mắt và khóc nghẹn ngào trong cổ họng.
Cấm khóc ở đây là một mênh lệnh khắc nghiệt và vô nhân đạo nhất ở đời nầy.
Cười thì còn cấm được vì tiếng cười biểu lộ sự hân hoan, dầu có bị kềm chế cũng không làm cho ai đau khổ. Nhưng tiếng khóc thì khác.
Tiếng khóc biểu lộ sự đau khổ mà cấm thì nó sẽ xé lòng. Nhà tan cửa nát, cha chết, mẹ chết, vợ chết, con chết, nếu bị cấm khóc hay đuổi đi chổ khác mới khóc là một sự cưởng bức dồn nén niềm đau và buộc người ta nuốt lệ vào lòng. Ai cúng biết rằng như thế nỗi đau khổ khi bị cưởng chế sẽ tăng lên vạn lần. Tất nhiên người ra lệnh có cái lý của họ nhưng chắc chắn đây là “lý kẻ mạnh bao giờ cũng thắng”. Tiếp tục đọc

NGẪM CHIỀU

Thư viện của bài

This gallery contains 2 photos.

Đặng Xuân Xuyến bạt

NGẪM CHIỀU – BÀI THƠ
ĐỘC ĐÁO CỦA BÙI CỬU TRƯỜNG
NGẪM CHIỀU

1- tơ nhện thả mành
nà nuột
mưa rớt giọt
lộp độp hè cánh đỏ phượng rơi.
.
lòng rối bời
dạ rối bời
lắng lo nỗi bòng bong rối
liêu xiêu bước vội
bàn chân ai lối về.
.
canh hẹ cuộc đời hắt bến mê
bông lau tóc xoã vạt chiều héo úa
bàn tay thõng rớt niềm tin vụn vỡ
hạt đất buồn xa xót ngọn cỏ côi.
.
2 – Bỏ lại muộn sầu đi nhặt niềm vui
hít hà hương lá
vói rẻ quạt ráng hồng quạt gió
xoe búp trời thiên thanh
.
Bỏ lại bộn bề về tĩnh tại mình
tiếng mõ cá quyện chiều lam khói
chuông đồng vọng thinh không vòi vọi
Thơ.
.
3 – đời – mơ
trong vắt.

Hà Nội, 02.03.2018
BÙI CỬU TRƯỜNG

LỜI BÌNH:

Ngẫm Chiều là bài thơ của nhà thơ, bác sĩ Bùi Cửu Trường, được sáng tác vào ngày 02 tháng 03 năm 2018 nhưng mãi tận chiều qua, 16 tháng 06 năm 2018 tôi mới có cơ duyên được đọc Ngẫm Chiều trên trang facebook của bà. Tiếp tục đọc

ĐỌC “CHƠI GIỮA THƯỜNG HẰNG”

Thư viện của bài

This gallery contains 1 photo.

Châu Thạch

ĐỌC “CHƠI GIỮA THƯỜNG HẰNG”
TẬP THƠ LỤC BÁT- TÁC GIẢ NGÃ DU TỬ.
              

Nhận tập thơ của Ngã Du Tử tặng đã hơn ba năm, nó đi theo tâm trí tôi suốt ba năm. Viết về nó? Không đủ trình độ ! Không viết về nó? Nó như  bức tranh Giáng Tiên của chàng Tú Uyên treo  ngay trên tường nhà tôi. Nàng tiên phải bước ra thì mới thỏa lòng ao ước của tôi!

Vậy thì hôm nay tôi liều viết. như liều mời nàng tiên ra vậy. Viết xong sẽ gởi tấm lòng cho gió cuốn đi như nhạc Trịnh công Sơn, nó đến đâu thì cứ đến, hoặc nếu nàng tiên bỏ tôi đi biệt về Trời thì cũng thỏa lòng.

“Thường hằng” là gì? Theo nhà thơ Ngã Du Tử: “Mỗi hành trình một đời người trú ngụ trên trần gian đều chứng nghiệm muôn màu muôn vẻ của sinh lão bệnh tử, của thành trụ hoại diệt. Cái ấy khái niệm của Phật giáo là thường hằng”. “Vô thường là dịch biến, ngược lại là thường hằng. Vậy thường hằng là bất biến. Vô thường được giải thích nôm na như sóng, sóng là vô thường còn nước là thường hằng, mặc dầu sóng là do có nước mới sinh ra” Tiếp tục đọc

ĐỌC THƠ NGẮN CỦA LỆ THỦY

Thư viện của bài

This gallery contains 1 photo.

Châu Thạch

Lệ Thủy không phải là người chuyên làm thơ. Tôi chỉ hân hạnh gặp cô một lần khi cô chiêu đãi cà phê vợ chồng nhà thơ Mạc Uyên Linh từ Sài Gòn ra thăm Đà Nẵng. Qua chuyện trò, tôi nhận thấy Lệ Thủy là mọt người yêu thơ thật trọng trắng. Cô quý mến, tôn trọng và tìm đến những nhà thơ vừa già, vừa xấu, vứa không có tên trong các hội đoàn hiện nay như chúng tôi. Về nhà tôi mở trang facebook của lệ Thủy mà tôi vừa kết bạn. Hóa ra Lệ Thủy cũng có làm thơ. Thơ đó chỉ là nhưng dòng ngắn gọn, thành vần do cảm  hứng bất ngờ đến trong phút giây. Tuy thế, chính nhờ vậy mà tiếng thơ của Lệ Thủy cho tôi nhiều cảm xúc, thú vị như được ăn một thứ quả nhỏ, thơm, vừa hái ngay từ trên cây xuống.

Nói thì phải có sách và mách thì phải có chứng. Vậy nên hãy đọc một vài câu thơ liên quan đến thành phố Đà Nẵng mà Lệ Thủy viết gần đây nhất:

Ai nhuộm nổi buồn cho vạt nắng chiều nay.
Để khóe mắt cay.. Ngỡ chiều mưa đổ.
Thành phố lớn.. Mà lòng người thì nhỏ..
Chẳng có nơi nào. Làm điểm tựa. .dừng chân. Tiếp tục đọc

Đọc “Ngày Sinh” Thơ Hư Vô

Thư viện của bài

This gallery contains 1 photo.

 Châu Thạch

Nhà Thơ Hư Vô & Châu Thạch
NGÀY SINH

“Hãy để ngày ấy lụi tàn, 
cái ngày mà tôi mới sinh ra đời 
và cái đêm mà người ta nói rằng có một

 linh hồn được kết thành thai”

………….

Mùa qua chưa trên bãi đời dâu bể
Ai đã dài tay với mộng không thường
Ngày đếm tuổi mây sầu lên tóc rối
Mi ngỡ ngàng thấm ướt dấu mơ sương

Năm tháng ấy đã ghi vào bút mực
Dẫu mây bay tám hướng mười phương
Lời nhân thế mưa ru bằng nước mắt 
Mặn vào lòng hay rớt giữa trùng dương

Hoa và lá vẫn một lòng tận hiến
Và trăng sao còn vẽ mộng bên trời
Con thuyền bé đã lẫn vào sóng biếc
Bến bờ xưa nghe lau lách lỡ bồi.

  Hư Vô

Cảm nhận của Châu Thạch:

Nhà thơ Hư Vô, một cây bút ẩn dật sống đời đạm bạc ở miền quê Đại Lộc Quảng Nam. Thế nhưng lạ thay, thi hữu của anh rất đông, và ai cũng muốn tìm đến anh như tìm một hàn sĩ thân thương được đời mến mộ. Tiếp tục đọc

Thư viện của bài

Đặng Xuân Xuyến

VỀ TRUYỆN NGẮN
CỦA LÊ MAI
*

Biết nhà văn Lê Mai qua nhà thơ Nguyễn Khôi và blog Trang Đặng Xuân Xuyến cũng đã giới thiệu một số bài thơ và 7 truyện ngắn của ông nên khi nhà thơ Nguyễn Khôi có nhã ý muốn trang nhà đăng lại bài Nguyễn Khôi cảm nhận về thơ Lê Mai – người bạn, người em tri kỷ của ông – tôi đã đắn đo khá nhiều, bởi blog Trang Đặng Xuân Xuyến không đăng lại những bài đã đưa lên trang nhà, đang hiện diện trên trang nhà nhưng trước tấm chân tình dành cho người bạn, người em của nhà thơ lão niên làm tôi cảm động. Dù lưng rất đau, tôi cũng cố ngồi đọc để viết đôi lời giới thiệu về một số truyện ngắn của nhà văn Lê Mai đã đăng trên blog Trang Đặng Xuân Xuyến.

Quyền Được Rên là một truyện ngắn hay, tạo được nhiều chú ý trong dư luận. Lúc sinh thời, Tiến sĩ Ngữ văn Nguyễn Ngọc Kiên đã không tiếc lời ca ngợi: – “Có thể nói mà không sợ ngoa ngôn rằng “Quyền được rên” của nhà văn Lê Mai có thể xếp trên “Sống mòn” của Nam Cao;  vì “Sống mòn” viết về cuộc đời của ông giáo Thứ rất khổ cực trước cách mạng Tiếp tục đọc

Ðọc lại ‘Mẫu Hệ’ – nỗi đau còn đó

Thư viện của bài

This gallery contains 1 photo.

Nguyễn Lương Vỵ

Ðầu Thu năm nay, nhân một buổi hẹn cà phê, nhà văn Trần Yên Hòa ký tặng tôi cuốn sách của anh ấn hành cách nay trên 10 năm, truyện dài “Mẫu Hệ” (NXB Thế Kỷ, California, 2004) với câu nói rất chân tình: “Sách in đã lâu, chỉ còn ít cuốn, gửi tặng Vỵ đọc cho vui.” Vốn là người đồng hương, quen biết nhau đã lâu, nay lại gặp nhau ở xứ người, càng quí trọng hơn vì ngoài cái tình văn chương, còn là tình anh em, thông cảm và chia xẻ cho nhau về những bi kịch của cuộc đời. Với tôi, Trần Yên Hòa thuộc thế hệ đàn anh, làm thơ viết văn từ cuối thập niên 60′ thế kỷ 20, và cho đến nay, trải qua nhiều thăng trầm bể dâu, anh vẫn giữ được tình yêu bền lâu với văn chương bằng bút lực và sức sáng tạo mạnh mẽ.

Tôi đọc “Mẫu Hệ” một cách chậm rãi và liên tục bởi sự cuốn hút của cốt truyện. Ngay đầu sách, tác giả ghi mấy dòng khiêm tốn trong “Lời Mở”:
Tiếp tục đọc

Nắng hồn nhiên

Thư viện của bài

This gallery contains 1 photo.

  Châu Thạch
NẮNG HỒN NHIÊN VÀ MƯA NGẬM NGÙI
TRONG BÀI “NẮNG CỦA THUỞ NÀO” 
THƠ KAO HOÀNG.
                   

Đọc bài thơ “Nắng Của Thuở Nào” tôi như được nương theo thơ ấy, để linh hồn đi trên dòng sông ký ức, quay về quá khứ cúa một thời thanh xuân . Chắc không mấy ai không biết bài thơ “Tuổi Mười Ba” của Nguyên Sa với hai câu thơ “Áo nàng vàng tôi về yêu hoa cúc/ Áo nàng xanh tôi mến lá sân trường”. Hai câu thơ của Nguyên Sa đã được Kao Hoàng nhớ lại trong bài thơ của anh bằng hai câu thơ rất mới “Nhớ câu thơ ngày ấy áo em vàng/Ta có lẽ mai về yêu hoa cúc”. Bằng hai câu thơ nầy, Kao Hoàng đã nhắc tôi hoài cảm vê một thời vàng son, yêu đương và vụng dại.

Bài thơ có 5 khổ, Kao Hoàng đã đặt cụm từ “Chào phương vĩ” vào trong câu đầu của 4 khổ thơ. Điều đó gây ấn tượng cho ta về những niềm vui tràn đến, náo nức trong tâm hồn những ai rất lạc quan và mau cảm xúc. Tiếp tục đọc

ĐỌC “KHUNG TRỜI CŨ”

Thư viện của bài

This gallery contains 1 photo.

Châu Thạch

ĐỌC “KHUNG TRỜI CŨ” THƠ TUỆ SĨ

khung trời cũ
Tác giả: Tuệ Sỹ

Ðôi mắt ướt tuổi vàng khung trời hội cũ
Áo màu xanh không xanh mãi trên đồi hoang
Phút vội vã bỗng thấy mình du thủ
Thắp đèn khuya ngồi kể chuyện trăng tàn

Từ núi lạnh đến biển im muôn thuở
Ðỉnh đá này và hạt muối đó chưa tan
Cười với nắng một ngày sao chóng thế
Nay mùa đông mai mùa hạ buồn chăng!
Tiếp tục đọc

LẦU TRĂNG

Thư viện của bài

This gallery contains 1 photo.

Châu Thạch

LẦU ÔNG HOÀNG CỦA HÀN MẠC TỬ

VÀ LẦU ÔNG HẠNH CỦA LÊ ĐÌNH HẠNH.

Hàn mặc Tử có lầu ông Hoàng.
Anh cũng có một lầu trăng khuyết chỗ ,
Ngồi chờ ai ,
Hay đợi người thiên cổ…
Về chung bàn cùng uống ánh trăng sương .?

Hàn mặc Tử có lầu ông Hoàng,
Anh cũng có một lầu trăng nở rộ…
Chốn hoang sơ hay giữa lòng thành phố
Ở nơi nào trăng cũng lẽ loi thôi .

Hàn mặc Tử có lầu ông Hoàng
Anh cũng có một lầu trăng hiu quạnh,
Trăng muôn năm trăng đời vàng lạnh
Lầu ông Hoàng, ông Hạnh khác chi trăng !

Lê Đình Hạnh

Bình ngắn: Châu Thạch

Trong bài thơ “Phan Thiết! Phan Thiết!” nhà thơ Hàn Mạc Tử kể lại chuyện tình ngang trái như sau: Hàn Mạc Tử nhớ tiền kiếp của mình là con chim Phương Hoàng
Tiếp tục đọc

Có Lẽ Nào…

Thư viện của bài

This gallery contains 1 photo.

Châu Thạch

hoai huyen thanh

ĐỌC BÀI THƠ “CÓ LẼ NÀO” CỦA HOÀI HUYỀN THANH

CÓ LẼ NÀO…
(Thơ Hoài Huyền Thanh)

Có lẽ nào ngày mai không còn nữa
Trời thêm xa và đất lại thật gần
Có lẽ nào chốn trầm luân cõi tạm
Nẻo nào xa còn lưu luyến phân vân.
*
Có lẽ nào từ mong manh sợi khói
Từng ngày qua đau đáu trái tim nhàu
Có lẽ nào con sông quê thuở ấy
Bàng bạc trôi viễn xứ chở niềm đau.
*
Có lẽ nào hoàng hôn chênh chếch bóng
Nghiêng nghiêng đêm mộng mị đến nao lòng
Có lẽ nào lá vàng rơi thật khẽ
Mây biết buồn và sao cũng bâng khuâng
Tiếp tục đọc

đọc thơ Tô Thùy Yên

Cao Vị Khanh

ToThuyYen-01đọc thơ Tô Thùy Yên

Xin Kính Mời Quý đọc gỉa click vào link bên dưới để đọc:

đọc-thơ-Tô-Thùy-Yên-Copy

 

Hay Đọc Bên dưới:

Từng chữ một.

Tôi đọc truyện ngắn của Tô Thùy Yên khi còn đâu ở trung học, những năm sáu mươi. Lớp mấy cũng chẳng nhớ. Truyện có tựa gì cũng đã quên luôn. Cái điều chưa quên là lúc đó, cuộc chiến tranh khốn nạn do những người cộng sản phát động chỉ mới vừa manh nha dù đã âm ỉ từ lâu ở Mạc Tư Khoa, Bắc Kinh … Nay có tin một ông xã trưởng ở làng xa đêm qua vừa bị ám sát. Mai báo đăng quốc lộ số 4 bị đắp mô đâu ở khoảng Cai Lậy, Cái Bè. Mốt nghe tin một đồn dân vệ ven biên vừa bị mấy tên du kích vác oảnh-tầm-xào bắn phá lốc chốc mấy phát rồi bỏ chạy. Còn nhớ chắc thêm một điều, truyện được đăng trên tạp chí Hiện Đại của Nguyên Sa, vừa bỏ Paris với khói sóng sông Seine trở về Sài-Gòn, đem hương thơ và hơi văn mới thổi phà vào sinh hoạt văn học của miền Nam thuở đó. Mười mấy tuổi chớ gì. Cái tuổi ăn chưa no lo chưa tới. Vậy mà ngay lúc đó, truyện đã nhéo vào cái bộ não non xèo của tôi một cái nhéo đau nhói. Rồi nhớ hoài.
Đâu như là …

… trên một chuyến xe đò liên tỉnh miền đông chạy xuyên qua những cánh rừng lá im ỉm, hành khách bị nhốt kín trong lòng chiếc xe ọp ẹp hẳn không có chuyện gì làm ngoài chuyện ngủ gà ngủ gật vì tiếng máy chạy rì rì (hoặc là vì chuyến xe đi quá sớm hay về quá trễ?), có thể cộng  thêm một nỗi lo lắng vu vơ nào đó … thì bị một đám du kích nhào ra chặn lại xét hỏi để hoạnh họe tuyên truyền. Hành khách nam nữ lão ấu gái trai già trẻ lớn bé gì cũng bị lôi tuốt xuống xe, sắp thành hàng lối, để cho quý -vị-núp-trong-quần-chúng … ló mặt ra xăn quần, xắn áo, lận dao găm hay xách mã tấu hoặc dậm thêm vài khẩu súng xưa mốc thếch vốn đã được chôn giấu ngay từ khi có lệnh tập kết … điểm mặt xem tên. Rồi, y như ba đời đã là cán-bộ-chính-trị-viên-có-ba-tăng dấm dẳn lên lớp để dọ dẫm dụ dỗ giày vò … thả giàn cái đám con dân hiền lành ngu ngơ, gồng gánh đi buôn hàng bán lẻ kiếm ăn hay đi thăm bà con chòm xóm. Kiểm soát như vậy nghĩa là ai nấy phải xuất trình tấm thẻ căn cước. À, tấm thẻ căn cước! Thuở đó, người ta từ mười tám tuổi trở lên, bất kể nam nữ, ai nấy đều lận trong người một tấm thẻ căn cước, ghi rõ tên tuổi, năm sanh tháng đẻ, số nhà, nghề nghiệp … như một minh chứng cho sự có mặt hợp pháp của mình trong một đất nước mới được yên ổn mấy năm đang rục rịch … trở lại bất ổn. Chính phủ hợp pháp đòi như vậy. Mà cái đám làm loạn với súng ống và dao găm lăm lăm trong tay cũng đòi hỏi như vậy. Dĩ nhiên với hai mục đích khác nhau. Nếu đối với phía thứ nhất, tấm căn cước là một bảo đảm cho sự lương thiện và tin cậy của người cầm thẻ, thì đối với phía đối nghịch, miếng giấy cứng có bọc nhựa đó có thể sẽ là bản cáo trạng hùng hồn để họ hùng hổ lôi đương sự vào rừng, vào bưng hoặc để giam giữ hoặc để đâm, chém, bắn giết hay bỏ vô bao bố thả trôi sông, tùy ý. Ở thời buổi đó, tấm thẻ căn cước quan trọng sinh tử đến vậy.

Và cũng vì vậy, để bảo đảm an ninh cho những người làm việc dưới quyền mình, chính quyền thuở đó còn cấp thêm cho họ một loại thẻ căn cước thứ hai, thẻ căn cước dân sự. Nhất là đối với những người phục vụ đất nước trong những phạm vi liên quan đến hành chánh và quân sự. Tấm thẻ căn cước dân sự đó như một chiếc mộc che đỡ cho họ những nguy hiểm chực chờ như buổi sáng hôm đó hay buổi chiều hôm đó …

Và như vậy, truyện kể …

Đám hành khách khốn khổ đó bị lùa xuống xe, xếp hàng … để chờ khám xét. Mọi người nhốn nháo. Lo lắng. Bồn chồn. Mỗi người một bộ mặt, một con tim, một bộ quần áo, một gia đình cha mẹ vợ con anh chị em, một người tình … Mỗi người một thân phận, một hoàn cảnh, một đắn đo  … và … một tấm thẻ căn cước. Nhưng chắc chắn chỉ có duy nhất một nỗi lo. Lọt vào tay cái đám sát nhân giả dạng người yêu nước.

Truyện kể tiếp …

Vậy rồi từng người một bị xét hỏi, từng người một phải trình ra tấm thẻ căn cước, với hình ảnh, tên tuổi, ngày sinh, tháng đẻ, nghề nghiệp … dưới những mũi súng hung hăng đang chĩa vào họ và chực chờ lảy cò. Người thứ nhất, người thứ hai, người thứ ba … Mọi việc diễn ra suôn sẻ. Không có ai là ngụy quân ngụy quyền, ác ôn ba đầu sáu tay, không có ai là tay-sai-mỹ-ngụy. Từ cụ ông đến người trai trẻ. Từ con gái đến đàn bà. Ai nấy đều không có tội-tổ-tông. Mẻ lưới tung ra như lọt vào chỗ không. Lúc đó, mặt trời đang mọc hay mặt trời đang lặn, thú thật, loay hoay qua cái chằng chịt của mớ trí nhớ rối mù, tôi không chắc, nhưng hề chi, mặt trời mọc hay mặt trời lặn, bởi vì rạng đông hay tà dương, thì những tia sáng chói lòa đó vẫn bung ra từ một cõi mênh mông, vượt khỏi cõi người trần thế.

Vâng, ngay lúc đó, khi những tia sáng đầu tiên – hay cuối cùng – của mặt trời vừa hắt lên thì bỗng một tiếng hét vuột ra khỏi cửa miệng của tên trưởng toán gian hiểm. Nghiêm. Một tiếng hô “nghiêm” bỗng dội ngược vào tai đám đông đang còn đứng lố nhố như một bầy tử tội khi không rồi được ân xá.  Ngay bon lúc đó, hay một tích tắc sau đó, có tiếng đôi giày da của ai đó chập vào nhau, sắc và gọn. Như tiếng giày saut chập vào nhau khi … người lính nghe quân lệnh của thượng cấp. Cái thế đứng nghiêm, hai tay buông thõng ép sát vào thân, hai chân chập lại, mặt ngẩng lên, cằm giương thẳng … vừa như tuân thủ mà vừa như biểu lộ một sự tự chủ tuyệt đối. Cái thế “nghiêm” trong bài thao diễn cơ bản mà người lính đã học và tập bao nhiêu lần từ khi khoác vào đời trai bộ quân phục. “Nghỉ “. “Nghiêm“. Ôi cái huấn lệnh nghe đi nghe lại đến nhập tâm. Và trở thành cái phản xạ của bất cứ một người trai nào đã mang nghiệp lính vào thân.

Vâng, buổi sáng đó – hay buổi chiều đó -, bên bìa một khu rừng hiểm hóc, một người trai miền Nam, một người lính miền Nam, trên chuyến xe về phép, thăm cha thăm mẹ, hẹn hò người yêu … , người lính trẻ mặc bộ đồ dân sự, cầm tấm thẻ căn cước dân sự … đã đối mặt với định mạng, trực diện, rồi ngang nhiên chấp nhận cái số phận như một chọn lựa của ý thức, đánh đu tính mạng mình lên sợi dây sinh tử. Trong cái giây phút bất ngờ, bất chợt, bất định đó … anh đã sống đúng phóc cái bản chất của người lính với tất cả vinh quang và tủi nhục của nó, với mọi bất trắc của một người con trai đi gánh vác chuyện nước non. Và … chuyện phải đến đã đến. Toán du kích hí hửng như bắt được vàng, chĩa súng xúm lại …

Mấy chục năm đã qua, làm sao tôi còn nhớ được lời văn, câu chữ … Vậy mà tôi vẫn nhớ, cái tình huống mà tác giả đã dựng lên khi người con trai bị bắt trói bởi đám người cuồng tính. Lạnh như tiền. Vững như đồng. Khi đã biết chắc số phận mình, nhân vật chính, người con trai, người lính trẻ vẫn ngẩng cao mặt, thân thẳng, vai ngang, mắt quắc … Ngay lúc đó, chính lúc đó, mặt trời, chính mặt trời với chùm sáng ngạo nghễ hắt lên mặt anh vừng hào quang lóng lánh nhất. Tôi nhớ, ngay lúc đó, tôi đã rùng mình. Ngay lúc đó hình ảnh con chó sói của Alfred de Vigny bỗng chồm lên trong trí. (*) Người thanh niên, dáng thẳng, mặt lạnh, lời câm. Cái hình ảnh mà tác giả dựng lên khốc liệt đến làm há hốc miệng mà không kêu ra lời.

Mãi nhiều năm sau, tôi mới tìm ra được chữ để gọi cái giây phút kết thúc đó. Bi tráng. Quả tình bi tráng. Bi đát một cách hùng tráng. Có mâu thuẫn không. Không. Đó là một bi kịch với một kết thúc táo bạo đến rùng mình. Và đẹp lẫm liệt như một thần thoại Hy Lạp.

Vậy rồi, đến chừng lên đại học, lại được đọc thêm thơ của ông. Những bài thơ tự do, thơ năm chữ, bảy chữ … Chữ nghĩa vạm vỡ. Ẩn dụ mênh mông. Hình tượng lẫm liệt. Đọc xong cứ như vừa chạy băng đồng. Thở dốc. Hụt hơi … Mà rồi lại muốn bắt đầu một cuộc băng đồng mới. Đọc rồi như có điều gì muốn nói. Mà rồi lại ngậm câm. Chữ của ông như tẩm thuốc mê. Đọc xong rồi ú ớ. Có điều mãi mãi tôi vẫn muốn viết về thơ của ông. Thơ Tô Thùy Yên. Mà viết về cái gì. Chữ Nghĩa của ông? Thứ chữ nghĩa tự nó đã biện minh cho sự hiện hữu phi thường của nó. Mỗi chữ đã là một giá trị tự thân. Tự nó. Chính nó. Nói gì thêm cũng chỉ là phù phiếm. Ý tưởng của ông? Thứ ý tưởng lồng lộng như mây giông đầu hạ, giậm giựt bao nhiêu là sấm sét chỉ chờ dịp cựa mình. Như vậy thì viết làm sao cho ráo, bắt làm sao cho kịp những tia chớp, nháng lên từ những liên tưởng xảo diệu và ẩn mật đến sững sờ.  Vậy mà sao tôi lại dại dột loay hoay hoài với những bài thơ, những câu thơ, những vần những điệu, những chữ mà ý nghĩa của từng chữ từng câu cứ chực trào ra khỏi cái khuôn đang cầm giữ nó. Câu hỏi cứ lẩn quẩn trong cái đầu rối mịt của tôi. Đã lâu, lâu lắm! Rồi bây giờ, mấy mươi năm sau. Sao vẫn cứ ý nguyên cái thắc thỏm như chính mình đã để lỡ một hẹn thề.

Từ những năm 60, 70, 80, 90 … của thế kỷ trước, rồi vụt sang thế kỷ khác, những năm 2000, khi thân xác đã có chừng mệt mỏi mà trí óc thì vẫn lùng bùng y nguyên thời còn trẻ, mỗi khi đọc lại thơ ông.

Thi sĩ Bắc Nam đều chết rạp 
Ba trăm năm lịch sử làm thinh

Đủ chưa, hai câu thơ đó. Hai câu thơ đọc lúc trai trẻ đã muốn rùng mình. Bây giờ, vài mươi năm sau, đọc lại vẫn nguyên cái cảm giác choáng ngộp của Trần Tử Ngang khi leo lên chót đỉnh U Châu đài mà ngẫm nghĩ chuyện nhân sinh. Niệm thiên địa chi du du. Độc thương nhiên nhi lệ hạ. Thi sĩ có phải là bậc tiên tri thấu thị. Thơ làm từ năm 72. Vậy sao đọc lên lại thêm cái cảm giác hãi hùng khi nghĩ tới bước chân của lịch sử đã và đang giẫm lên số phận của người Việt, nhất là từ khi người cộng sản giẫm đạp bằng những bước chân thô bạo lên cái dòng sinh mệnh của dân tộc. Hai câu thơ, 14 chữ, gọn bâng mà sao nghe rổn rảng tiếng chì chiết rủa xả, lời đay nghiến, giọng kêu thương của lớp lớp biển dâu, của trùng trùng oan khuất, của núi xương vô định, của mồ mả vô danh…

Làm thinh. Chữ nôm na mà nghĩa trầm thống. Chữ tĩnh mà nghĩa động thốn tâm. Thử đọc lên hai chữ làm thinh, làm thinh là làm thinh, là ngậm miệng, là nuốt tiếng…  nhưng sao như nghe vọng lại từ đó bao nhiêu tiếng kêu gào rên siết, tắt nghẹn trong cổ họng … của đám dân đen mỗi lần thay ngôi đổi chúa, của sông Gianh cắt lìa ruột thịt, của Bến Hải nước tẻ hai dòng, của đường 13 pháo chùm pháo chụp, của đường số 1 con bú xác mẹ, của đảo Ko Kra trinh tiết dập vùi, … của từng đám tù nhân không-danh-số lê lết qua những trại giam ngụy trá. Lịch sử làm thinh hay chính lòng người ngoảnh mặt làm ngơ, bịt tai bịt mắt trước những lộng hành của cái ác. Từ khi nào thơ không còn là hoa trái của cuộc đời và người làm thơ bị coi là đồ thừa thãi, bị giam cầm hay bắn giết, mặt đất này chỉ còn là sa mạc, thứ sa mạc làm khô khốc lòng người. Rồi ra, thơ chỉ còn là tiếng dội của vô vọng, là lời của vô ngôn, là mặt thật của vô cùng để lần cuối biểu dương cùng tận cái vinh dự lầm than của kiếp người

Vinh dự lầm than của kiếp người?

Cái nghĩa nghịch lý của câu thơ đã đủ để biểu lộ cho con-mắt-trông-thấu-cả-sáu-cõi-tấm-lòng-nghĩ-suốt-cả-nghìn-đời (**) của bậc-vương-tôn miền-trí-tuệ chưa! Lời thơ như sóng cuộn ì ầm mà dội lại tiếng vô thanh, vô thanh của vô cùng vô tận, như vẽ ra rồi lại xóa đi từng bức tranh vân cẩu, như mở ra rồi đóng lại cái vòng lẩn quẩn loay hoay của cuộc lữ miên trường. Mỗi câu thơ là một vấn nạn. Nhưng… Thiên hà ngôn tai. Trời đất có nói gì đâu.

Và rồi tất cả sẽ nguôi ngoai ?!

Rồi tất cả sẽ nguôi ngoai…

Đã có lúc, làm thơ như dấn thân vào một cuộc đuổi bắt với vô vọng … Mọi thắc mắc siêu hình vốn dĩ là cách thức ngạo mạn của kẻ chơi đùa với chữ nghĩa. Nhưng khác với lối đua đòi làm dáng, Tô Thùy Yên đã xua thơ mình chạy mút tới tận cùng để giáp mặt cái Cùng Tận đó, cái Vô Hạn đó, cái Hư Không! Thơ sung mãn như cái hùng tâm truy lùng chân lý. Và vì vậy, ông đã gặp, tôi tin vậy. Bạn có nghe, này bạn có nghe. Vũ trụ miên man chuyển động đều. Chim đã bay quanh từ vạn cổ. Gió thật xưa, mây thật già nua. Nên với một đời, bao biến đổi. Mà trong vô hạn có gì đâu. Bài thơ, những bài thơ làm trong giai đoạn này không ghi ngày tháng – mà thật sự có cần ghi ngày tháng không. Cái điều rõ ràng là người làm thơ chưa già mà thơ đã cỗi, cỗi như cả cái vũ trụ vô sở vô trú, cả cái dòng thời gian vô thủy vô chung, trùng trùng, điệp điệp… Và tôi hiểu tại sao Trần Tử Ngang chảy nước mắt, tại sao Tô Thùy Yên sau khi đã mòn gót chân sương nắng tháng năm đã có lúc cũng phất phơ chéo áo đường thiên cổ, nước mắt hồng tuôn đến đá mòn.

Rồi sao nữa ? Rồi  là… đáo bỉ ngạn!

Từ đó là thái độ tri kỷ tri bỉ, biết điều như mọi kẻ biết-điều nhất trần gian. Vạn vật giai bị ư ngã, phản thân nhi thành, lạc mạc đại yên.  Hề, ta trở lại gian nhà cỏ. … Ở đây ta có dăm người bạn. Phúc tự tâm, không lý đến đời. Ở đây ta có dăm pho sách. Và một dòng sông, mấy cụm mây. Hạnh phúc ở đâu mà lặn lội dang thân. Hạnh phúc trần gian ở đâu hay ở chính lòng ta đó. Dòng sông u hiển trôi vô lượng. Dòng sông hiền triết chảy vô tâm. Mà ta ngưỡng vọng như sư phụ. Mà ta thân thiết tựa tri âm… Quên quên, nhớ nhớ tiền sinh kiếp. Thiên cổ mang mang thế sự nhòa. Trận lốc cười tròn trên quá vãng. Ta làm lại cả tâm hồn ta … Ờ vậy thì còn tiếc gì mà không về …

Tưởng tượng ta về nơi bản trạch! Còn gì vui bằng khi mọi điên đảo của thế sự quanh quanh không còn đảo điên giữa lòng ta. Đó có phải là quê-nhà của mọi gã đãng tử sau cuộc tuần du bất tận. Với khám phá diệu kỳ: rồi tất cả sẽ nguôi ngoai

Rồi tất cả sẽ nguôi ngoai!

Nhưng rồi có thật sự tất cả sẽ nguôi ngoai hay vẫn bất tận nỗi đời hung hãn đó như chính ông đã mường tượng, một ngày.

Những năm 70, chiến tranh bùng lên dữ dội. Súng đạn hung hăng, lòng người hung bạo. Qua sông. Đò nghẹn đoàn quân xa tiếp viện. Mưa lâu, trời mốc, buồn hôi xưa. Con đường đáo nhậm xa như nhớ

Xa như nhớ. Trời ơi làm sao đo được cái khoảng cách ở hai đầu một nỗi nhớ mơ hồ. Xa như nhớ. Hoán dụ đến nỗi không còn tính được bằng cây số bởi dặm trường có ở đâu xa. Dặm trường ở ngay chính lòng ta đó. Tuyệt.

Bộ mặt chiến tranh được vẽ ra bằng đường nét tự tại. Không lớn lối cũng chẳng e dè. Không thêm không bớt. Mà nghe ra như đã sầu đâu từ thiên cổ hận… Nao nao mường tượng bóng mình. Mịt mùng cõi tới, u minh tiếng rền. Xuống đò, đời đã bỏ quên. Một sông nước lớn trào lên mắt ngời.

Dĩ nhiên giấy bút làm sao tả cho hết cái bi kịch mà mỗi vai trò chỉ thoáng hiện thoáng mất như những chiếc bóng vật vờ, nhân vật chỉ còn là cái cớ. Diễn trường chính yếu là cái khoảng không còn lại, cái khoảng trống không sau khi vai diễn đã biến mất, mọi tiếng động đã bặt im. Cái còn lại là cái không-còn-gì, không-có-gì. Cái còn lại sau những cuộc tranh giành, dù thắng dù thua, cái còn lại chính là cái im ỉm của thiên địa trơ trơ, của thánh thần lánh mặt, của mất còn còn mất chỉ là hai mặt sấp ngửa của đồng tiền quay tít rồi … bật ngửa ra, bất kể. Em chạy tìm anh ngoài cõi gió. Lửa oan khốc giỡn cười ghê hồn. Tiếng kêu đá lở long thiên cổ. Cát loạn muôn trùng xóa dấu chôn.

Trên bối cảnh của một cuộc vật lộn giữa tử sinh không hồi ngưng nghỉ, thơ như một cầu cơ giáng bút. Điều gì khiến ông làm Trường Sa Hành. Trường Sa hay Hoàng Sa? Ai biết! Đọc thử hết trọn một bài của Tô Thùy Yên để thấy cái điên đảo của chữ nghĩa, cái lồng lộng của ý tưởng …

Trường Sa Hành

Toujours il y eut cette clameur,
Toujours il y eut cette fureur…

Saint-John Perse

Trường Sa! Trường Sa! Ðảo chuếnh choáng
Thăm thẳm sầu vây trắng bốn bề
Lính thú mươi người lạ sóng nước
Ðêm nằm còn tưởng đảo trôi đi

Mùa Ðông Bắc, gió miên man thổi
Khiến cả lòng ta cũng rách tưa
Ta hỏi han, hề, Hiu Quạnh Lớn
Mà Hiu Quạnh Lớn vẫn làm ngơ

Ðảo hoang, vắng cả hồn ma quỷ
Thảo mộc thời nguyên thủy lạ tên
Mỗi ngày mỗi đắp xanh rờn lạnh
Lên xác thân người mãi đứng yên

Bốn trăm hải lý nhớ không tới
Ta khóc cười như tự bạo hành
Dập giận, vác khòm lưng nhẫn nhục
Ðường thân thế lỡ, cố đi nhanh

Sóng thiên cổ khóc, biển tang chế
Hữu hạn nào không tủi nhỏ nhoi?
Tiếc ta chẳng được bao nhiêu lệ
Nên tưởng trùng dương khóc trắng trời

Mùa gió xoay chiều, gió khốc liệt
Bãi Ðông lỡ mất, bãi Tây bồi
Ðám cây bật gốc chờ tan xác,
Có hối ra đời chẳng chọn nơi?

Trong làn nước vịnh xanh lơ mộng
Những cụm rong óng ả bập bềnh
Như những tầng buồn lay động mãi
Dưới hồn ta tịch mịch long lanh

Mặt trời chiều rã rưng rưng biển
Vầng khói chim đen thảng thốt quần
Kinh động đất trời như cháy đảo
Ta nghe chừng phỏng khắp châu thân

Ta ngồi bên đống lửa man rợ
Hong tóc râu, chờ chín miếng mồi
Nghe cây dừa ngất gió trùng điệp
Suốt kiếp đau dài nỗi tả tơi

Chú em hãy hát, hát thật lớn
Những điệu vui, bất kể điệu nào
Cho ấm bữa cơm chiều viễn xứ
Cho mái đầu ta chớ cúi sâu.

Ai hét trong lòng ta mỗi lúc
Như người bị bức tử canh khuya
Xé toang từng mảng đời tê điếng
Mà gửi cùng mây, đỏ thảm thê.

Ta nói với từng tinh tú một
Hằng đêm tất cả chuyện trong lòng
Bãi lân tinh thức âm u sáng.
Ta thấy đầu ta cũng sáng trưng

Ðất liền, ta gọi, nghe ta không?
Ðập hoảng vô biên, tín hiệu trùng
Mở, mở giùm ta khoảng cách đặc
Con chim động giấc gào cô đơn

Ngày. Ngày trắng chói chang như giũa
Ánh sáng vang lừng điệu múa điên
Mái tóc sầu nung từng sợi đỏ
Kêu giòn như tiếng nứt hoa niên

Ôi lũ cây gầy ven bãi sụp
Rễ bung còn gượng cuộc tồn sinh
Gắng tươi cho đến ngày trôi ngã
Hay đến ngày bờ tái tạo xanh

San hô mọc tủa thêm cành nhánh
Những nỗi niềm kia cũng mãn khai
Thời gian kết đá mốc u tịch
Ta lấy làm bia tưởng niệm Người

Đọc lên thành tiếng. Trường Sa! Trường Sa! Đảo chuếnh choáng. Thăm thẳm sầu vây trắng bốn bề … Mùa Đông Bắc, gió miên man thổi. Khiến cả lòng ta cũng rách tưa. Ta hỏi han, hề, Hiu Quạnh lớn. Mà Hiu Quạnh lớn vẫn làm ngơ…

Tôi sẽ nói gì thêm. Đã hỏi rồi. Đã nói rồi. Hiu Quạnh Lớn có nói gì đâu. Thiên địa bất nhân dĩ vạn vật như sô cẩu. Trời đất bất nhân coi vạn vật như chó rơm. Đã vậy thì còn gì để nói thêm?

Còn. Còn rất nhiều điều để kể.

Đầu tiên ta kể về im lặng

Mà ý chừng kể để Hư Không nghe

Hư không, hư không có nghe không? Có nghe Mùa hạn rên siết. Ở đây địa ngục chín tầng sâu. Cả giống nòi câm lặng gục đầu. Cắn chết hàm răng, ứa máu mắt. Chung xiềng nhưng chẳng dám nhìn nhau. Không nhìn nhau nhưng không phải không có gì để nói với nhau. Hay lắm khi im lặng còn nói được triệu lần hơn điều được nói.

Thơ Tô Thùy Yên có triệu điều để nói. Tuy nhiên giọt nước mắt ứa ra ít mặn hơn giọt nước mắt nuốt ngược vào lòng.

Thơ Tô Thùy Yên đọc thầm hay đọc ra rả cho át tiếng sóng vỗ ngoài biển lớn đều như nhau. Cả hai cách đều dội ngược vào người đến nghe đau mềm phế phủ.

Thơ của ông như vậy là như vậy. Y như Hiu Quạnh Lớn. Còn nói nỗi gì. Còn viết thêm chi. Có làm rộn tai. Có làm xốn mắt. Mà sao vẫn cứng đầu cứng cổ mà run tay muốn nhắc muốn nói muốn viết. Mà viết cái chi. Khi mọi sự đã an bày. Hiu Quạnh Lớn có nói gì đâu. Có gì để nói đâu. Hay tại lớn đến choáng ngộp nên làm miệng ú ớ, tay cứng, chữ cùn … Hay nói đại, nói bất kể, thơ Tô Thùy Yên… Nói về chuyến Tàu đêm chở tù chạy như một cơn giông lửa ròng rã từ Nam ra Bắc, qua trùng trùng oan khuất. Tàu đi như một cơn điên đảo. Sắt thép kinh hoàng va đập nhau. Ta tưởng chừng nghe thời đại động. Xô đi ầm ĩ một cơn đau … Con tàu chạy ngược, suốt con đường sắt xuyên Việt như trở ngược giòng lịch sử, từ văn minh trở lại man rợ, từ yêu thương trở lại thù hằn, từ khoan dung trở lại hẹp hòi, từ chân thành trở lại gian trá.

Muốn nín nhưng đọc thơ lòng như lửa đốt. Có gì cháy âm ỉ giữa lòng ta. Có gì cháy hừng hực giữa đầu ta. Lửa bắt từ xác chữ dị thường, cháy lan theo đường gân sớ thịt, nung đốt ý tưởng rồi làm tro than mọi ý tưởng. Vậy mà vẫn níu chữ chạy theo trối chết, để được tới nơi, cùng lúc với ông. Bởi vậy vẫn viết cho cố xác mà rồi cũng chẳng biết sẽ tới đâu. Vẫn muốn viết về thơ ông như lúc còn tưởng tay vói tới trời. Đến lúc biết trời cao tay không vói tới mà cứ vẫn loay hoay điều bất khả. Viết thêm. Viết thêm nữa. Điều bất khả. Làm sao, làm sao nói hết được cái hạo khí hừng hực bốc lên từ chữ nghĩa ông.

Cho nên …

– Giảng! Bình! Phê! Luận! Tán!
– Nhảm!!!!

Khổ nỗi! Ý bốc lửa. Chữ cuống cuồng. Những trang giấy trắng. Trắng mênh mông. Trắng lạnh ngắt mà lại kêu đòi. Viết về thơ Tô Thùy Yên có phải là vẽ cái vòng tròn mà điểm cuối không bao giờ nối lại được điểm khởi đầu. Viết về thơ Tô Thùy Yên có phải là tả cái mênh mông không cột mốc, không điểm tới cũng chẳng có điểm đứng. Cái dập dềnh của sóng, của gió, của mây, của nước mà mọi hình thù bị phá vỡ từ mỗi sát sa. Có phải là tung tóe theo cơn nổ hồng hoang. Hay là ngộp chìm theo cơn hồng thủy. Cái chết tru rân giờ nguyệt tận. Máu bung từ mỗi lỗ chân lông… Như tên phù thủy già điên loạn. Lịch sử lên cơn dữ bất thường. Viết về thơ Tô Thùy Yên có phải là vẽ rắn thêm chân khi rắn đâu có chân mà vẫn bò vun vút, là châm nước thêm vào lòng biển lớn, là vùi thêm củi vào miệng hỏa diệm sơn.  Người mẹ trẻ buồn đôi mắt trũng. Thân gầy nhom, tóc cháy, da cằn. Địu con, một dúm thịt nhăn nhúm. Ra ruộng khê tìm mót cái ăn. Còn nói được gì thêm về tội ác ngút trời của loại hà-chính-mãnh-ư-hổ đã và đang cắn xé mảnh đất vốn đã gầy còm ở bên kia biển lớn. Thơ của ông dữ dội lắm. Thơ của ông là bản cáo trạng không lời buộc tội dù được viết bằng máu và nước mắt chảy ngược của chính bản thân, thay mặt cho cả một thành phần dân tộc bị án tử oan tình. Vì mỗi hình ảnh ông kê ra đã là một bản án tự thân cho đám sát nhân tội đồ của nhân loại. Thơ ông là một bản J’accuse của Émile Zola để đòi lại sự thật cho sự thật. Đọc thơ ông, sống lại ngày dài trong trại-lán-cải-tạo, trong hầm kiên giam, dưới chòi canh hầm hừ, giữa lon cơm mốc thếch, trên bàn tay trần bươi đất, hay quằn đôi vai kéo cày thay trâu, trong mảnh vải bố nát che thân khi rừng núi lập đông. Ta khóc lẻ loi, cười một mình. Thu hình ẩn náu dưới tâm linh. Mắt chong kinh hãi đêm hư sử. Thân lõa lồ đau cháy khổ hình. Nguyễn Du xưa viết Kiều khiến người đời cứ tưởng nhỏ máu ra năm đầu ngón tay mà viết. Nay đọc thơ Tô Thùy Yên cứ tưởng ông đã mài đá ra mà làm mực. Thứ mực không bao giờ phai vì đã và sẽ trầm tích trong não cân, trong huyết quản của người đọc, đời này và cả đời sau.

Mà còn tuyệt vời hơn nữa, điều đó còn để xác nhận thơ và người thơ đã không bao giờ và sẽ không bao giờ bị thắt cổ bởi lòi tói xiềng gông. Bởi vì, nghĩ cho cùng, cái được gọi là trại cải tạo trong dãy quần đảo ngục tù mênh mông ở Việt Nam sau năm 75 chỉ nhằm một mục đích duy nhất là triệt hạ nhân phẩm của người tù, triệt tiêu mọi ý thức phản kháng, biến họ thành súc vật. Trại tù nằm bên bờ sông Mã ở Thanh Hóa mà tù nhân không được đi thẳng người, phải bò như con thú bốn chân là một điển hình. Nhưng dù vậy, ác tâm hèn hạ đó đã và sẽ không bao giờ thành tựu được. Chẳng những vậy, con người, sinh vật thượng đẳng vẫn mãi là con người dù có bị đòn tra ép uổng tới tận tầng cuối của địa ngục. Hơn vậy nữa, người làm thơ, kẻ chịu khổ nạn nhất trong kiếp đọa đày đó vẫn mãi mãi là sinh vật tối thượng vượt hẳn lên trên lũ cầm thú giả dạng làm người. Ta về. Ta về – một bóng trên đường lớn. Thơ chẳng ai đề vạt áo phai … Ta về cúi mái đầu sương điểm. Nghe nặng từ tâm lượng đất trời. Cám ơn hoa đã vì ta nở. Thế giới vui từ nỗi lẻ loi … Ta về như lá rơi về cội. Bếp lửa nhân quần ấm tối nay. Chút rượu hồng đây, xin rưới xuống. Giải oan cho cuộc biển dâu nầy.

Ôi, tấm lòng thi sĩ, người run giùm thế nhân hơi thu run rẩy, ấm giùm thế nhân tia ấm cuối đông, người đau giùm thế nhân cơn bội bạc của thế sự mà cũng vui giùm thế nhân sự thuận thảo của đất trời. Trên dưới trong ngoài đông tây nam bắc, có chỗ nào kềm giữ được đôi cánh chim hồng hộc. Tấm lòng thi sĩ bay lượn vượt thoát khỏi trói buộc của nhân thế,  nhạy như tơ trời, nhịp cùng nhịp với nhịp mùa, đập cùng đập với nhịp tim của thiên hạ. Tấm lòng đó, bao dung đến vô lượng. Hãy nghe ông sẻ chia với người quen kẻ lạ nỗi-vui-nhục-nhằn khi trở lại từ địa ngục trần gian. Ta về như hạt sương trên cỏ. Kết tụ sầu nhân thế chuyển dời. Bé bỏng cũng thì sinh, dị, diệt. Tội tình chi lắm nữa người ơi … Ta về như sợi tơ trời trắng. Chấp chới trôi buồn với nắng hanh. Ai gọi ai đi ngoài cõi vắng? Dừng chân nghe quặn thắt tâm can. Ta về như tứ thơ xiêu tán. Trong cõi hoang đường trắng lãng quên. Nhà cũ, mừng còn nguyên mái vách. Nhện giăng, khói ám, mối xông nền… Ta về như tiếng kêu đồng vọng. Rau mác lên bờ đã trổ bông. Cho dẫu ngàn năm em vẫn đứng. Chờ anh như biển vẫn chờ sông… Ta về dẫu phải đi chân đất. Khắp thế gian này để gặp em. Đau khổ riêng gì nơi gió cát. Thềm nhà, bụi chuối thức thâu đêm… Ta về như hạc vàng thương nhớ. Một thuở trần gian bay lướt qua. Ta tiếc đời ta sao hữu hạn. Đành không trải hết được lòng ta.

Ta về như tứ thơ xiêu tán. Trong cõi hoang đường trắng lãng quên. Tù về mà thơ phiêu hốt như hạc nội mây ngàn. Nghĩ ra làm sao không khoái trá.

Đành không trải hết được lòng ta? Ờ, làm sao nói cạn được tấm lòng thi sĩ. Người đau cái đau của nạn nước, gấp bao lần cái đau của nhân gian, người buồn cái buồn của thời vận, gấp bao lần cái buồn của nhân gian. Vậy mà rồi, cuối cùng, vẫn phá chấp để tìm lại bộ mặt tích cực của đời sống, để mở lòng yêu đời yêu người dù đã quá độ đắng cay. Mặc kệ trời bày cuộc bể dâu, nhấn chìm hết mọi ước mơ, tắt lịm hết mọi dự phóng, vẫn nguyên si tấc dạ của đứa con lưu lạc trở về nhà. Thương hờn oán giận rồi ra cũng chỉ là mấy nét nhăn nhúm của bộ mặt trần gian khó ưa. Mặc kệ, vẫn còn đó, nụ hoa nở trái mùa, trái chín muộn trên cây … Cũng chẳng biết triết lý nào đạo nghĩa nào đã nuôi hồn thi sĩ. Mà cũng chẳng cần biết. Vậy chớ lẽ đời tính vậy chẳng là … phải phải lắm sao! Giáo điều chi cho mệt. Đọc xong tôi cũng hả dạ lây. Ôi tâm hồn thi sĩ ấy!

Bởi vậy mà đọc lại thơ ông khi lòng đã lạnh mọi hương nguyền, chuyện đời đã trơn tuột ngoài vòng tay mà sao vẫn thấy xao xuyến như có gì muốn cà kê, muốn lải nhải, muốn trần tình, muốn kể lể… muốn… muốn… muốn…

Vậy thì nhìn vào những khung giấy bỏ trống bên dưới, có thấy không, chữ nối chữ, lời tiếp lời, đầy ắp … những điều không nói được, vừa thảng thốt mà lại vừa thống khoái trong lòng khi đọc thơ ông. Thơ Tô Thùy Yên không có tính từ để ép uổng. Nói này nói nọ thật ra chỉ là cưỡng cầu. Hãy đọc thôi. Đọc bằng tấm lòng xích tử, khi ngôn ngữ chưa thành lời…

………………………………………………………….

…………………………………………………………..

………………………………………………………….

…………………………………………………………..

………………………………………………………….

…………………………………………………………..

………………………………………………………….

…………………………………………………………..

Những khung giấy trắng phẳng phiu này, mặt giấy mênh mông đó có phải là cách nói đúng nhất về những gì cần nói về thơ Tô Thùy Yên.

Hay là chỉ nên đọc. Đọc. Đọc. Đọc. … Đọc thầm hay ngâm nga. Đọc như đăng đàn tuyên cáo hay đọc khi bưng đầu diện bích. Rồi ngưng bặt. Và … im tiếng. Làm thinh.

Thơ ông đã nói đủ, nói hết mọi điều cần nói.

Thiên hà ngôn tai.

Cao Vị Khanh
tháng tư 2019

TTY – Tôi châm điếu thuốc nữa
Đốt tàn thêm tháng năm

(*) Gémir, pleurer, prier est également lâche.
Fais énergiquement ta longue et lourde tâche
Dans la voie où le Sort a voulu t’appeler,
Puis après, comme moi, souffre et meurs sans parler
(Alfred de Vigny, La mort du loup)

(**) Mộng Liên Đường chủ nhân

– nét chữ đậm: chữ và thơ Tô Thùy Yên.

Đọc Bài Thơ “Bạn Quan” của Đặng Xuân Xuyến

Thư viện của bài

This gallery contains 1 photo.

CHỬ VĂN LONG

BẠN QUAN

Bạn cũ lâu ngày gặp lại
Chén rượu quê đưa đẩy tẩy trần
Tao ruột ngựa hỏi câu ngớ ngẩn
Mày làm quan chắc kiếm bộn tiền
Chức ấy rẻ mà sinh lắm lãi
Mày học ngu nhưng thủ đoạn tài
Tao học giỏi nhưng mù thủ đoạn
Mãi long đong chức phó dân quèn
Mày nhăn mặt chửi tao thằng đểu
Quá nửa đời mãi chửa hết ngu…
.
Rượu tới tầm
Mày ghé tai tao
Nói thật nhỏ
Căng tai mới rõ
Làm người khó
Làm quan càng khó
Chốn quan trường chó vịt giống nhau
Mày than đời chỉ rặt những thau Tiếp tục đọc

 Đọc Lại Biên cương hành

Cao Vị Khanh

1minhTháng 4, đọc lại Biên cương hành

của Phạm Ngọc Lư

 

Biên cương hành

Biên cương biên cương chào biên cương
Chào núi cao rừng thẳm nhiễu nhương
Máu đã nuôi rừng xanh xanh ngắt
Núi chập chùng như dãy mồ chôn
Gớm, gió Lào tanh mùi đất chết
Thổi lấp rừng già bạt núi non
Mùa khô tới theo chân thù địch
Ta về theo cho rậm chiến trường
Chiến trường ném binh như vãi đậu
Đoàn quân ma bay khắp bốn phương
Lớp lớp chồm lên đè bẹp núi
Núi mang cao điểm ngút oan hờn
Đá mang dáng dấp hình chinh phụ
Trơ vơ chóp núi đứng bồng con
Khu chiến ngày tràn lan lửa dậy
Đá Vọng Phu mọc khắp biên cương
Biên cương biên cương đi biền biệt
Chưa hết thanh xuân đã cùng đường
Trông núi có khi lầm bóng vợ
Ôm đá mà mơ chuyện yêu đương
Thôi em, sá chi ta mà đợi
Sá chi hạt cát giữa sa trường
Sa trường anh hùng còn vùi dập
Há rằng ta biết hẹn gì hơn?

Đây biên cương, ghê thay biên cương!
Núi tiếp rừng, rừng tiếp khe truông
Hãi hùng chưa trời hoang mây rậm
Mùa mưa về báo hiệu tai ương
Quân len lỏi dưới tàn lá dữ
Lá xôn xao xanh mặt hoảng hồn
Sát khi đằng đằng rừng dựng tóc
Ma thiêng còn ngán lũ cô hồn
Cô hồn một lũ nơi quan tái
Có khi đã hoá thành thú muông
Cô hồn một lũ nơi đất trích
Vỗ đá mà ca ngông hát cuồng
Chém cây cho đỡ thèm giết chóc
Đỡ thèm môi mắt gái buôn hương

Đây biên cương, ghê thay biên cương!
Tử khí bốc lên dày như sương
Đá chảy mồ hôi rừng ứa máu
Rừng núi ơi ta đến chia buồn
Buồn quá giả làm con vượn hú
Nào ngờ ta con thú bị thương
Chiều hôm bắc tay làm loa gọi
Gọi ai nơi viễn xứ tha phương?
Gọi ai giữa sơn cùng thuỷ tận?
Ai người thiên cổ tiếc máu xương?
Em đâu, quê nhà chong mắt đợi
Hồn theo mây trắng ra biên cương
Thôi em, yêu chi ta thêm tội
Vô duyên xui rơi lược vỡ gương
Ngày về không hẹn ngày hôn lễ
Hoặc ngày ta nhắm mắt tay buông
Thôi em, chớ liều thân cô phụ
Chiến trường nay lắm nỗi đoạn trường
Nơi nơi lạnh trăm dòng sông Dịch
Kinh Kha đời nay cả vạn muôn
Há một mình ta xuôi biên tái
“Nhất khứ bất phục phản” là thường!

Thôi em, còn chi ta mà đợi
Ngày về: thân cạn máu khô xương
Ngày về: hôn lễ hay tang lễ
Hề chi! buổi chinh chiến tang thương
Hề chi! kiếp cây rừng đá núi
Nghìn năm hồn quanh quẩn biên cương.

5-1972
**************

Biên cương biên cương chào biên cương
Chào núi cao rừng thẳm nhiễu nhương

Bài hành bắt đầu bằng một tiếng chào. Tiếng chào câu hỏi từ muôn đời vẫn được coi là biểu tượng của sự quen biết, thân ái, mời mọc … Có ai mà chào người dưng nước lả. Hay có ai mà gật đầu chào một kẻ thù, một đối tượng sẵn sàng nuốt sống, ăn gan, uống mật mình đâu. Vậy mà Phạm Ngọc Lư lại gật đầu, lại vẩy tay chào… mối hiểm họa đang chờn vờn ngay… trước mắt mình.

Biên cương biên cương chào biên cương
Chào núi cao rừng thẳm nhiễu nhương

Dù vậy, nguyên câu thứ nhất  bảy chữ toàn vần bằng, mà hết sáu chữ là loại phù bình thanh. Giọng ngang ngang, không cao không thấp, nghe ra cái điệu khinh khỉnh… như chào mà không chào. Chào mà không lấy gì làm thân thiết, lại như có chút gì thách đố.

Biên cương biên cương chào biên cương

 Thật ra, đã có thời, trên cái xứ sở khốn khổ của chúng ta, biên cương hay rừng núi hay thành phố hay đồng bằng, kể cả chợ búa hay trường học… đã có gì khác nhau đâu. Tất cả đã được người ta biến thành mọi bãi chiến trường. Ở đâu, bất cứ lúc nào cũng có thể là trận địa, một khi lòng người đã bị nhuộm đỏ bằng sự cuồng tín và ngụy trá. Nghĩ vậy rồi, đọc lại câu mở đầu bài Biên cương hành mới nhận ra được hết sự cay đắng, niềm xót xa của một kẻ sĩ trót sanh nhằm-thế-kỷ.

 Ông tới đó, Củng sơn, một thị trấn hẻo lánh nằm dạt về phía biên giới Lào, nơi mà máu-đã-nuôi-rừng-xanh-xanh-ngắt-núi-chập-chùng-như-dãy-mồ-chôn.

Hình dung một thế đất, bốn phía rừng núi vây quanh, chướng khí mù mịt, gió Lào thốc tháo, mà mỗi thân cây đã được vun phân bén gốc bằng máu me xương thịt của bao nhiêu trai trẻ được xua tới đó để giết người hoặc bị người giết. Điệp tự xanh-xanh ( ngắt )sẽ tính ra bằng bao nhiêu cân lượng của bao nhiêu nấm mồ ( kể cả không có được một nấm mồ ) để dựng lên một phong cảnh núi rừng toàn bích !

Thử nghĩ coi, bài thơ được ghi làm vào tháng 5 năm 1972, lúc ông vừa 26 tuổi. Năm 72, mà trong bất cứ trí nhớ dù đã quá sức mòn mỏi của những người Việt miền nam vẫn chưa bao giờ quên được. Cái gọi là chiến dịch xuân hè, người miền bắc xua đại quân vượt sông Bến Hải, xé bỏ hiệp định Genève, công khai đánh phá khắp nơi. Bình Trị Thiên. Kontum. Peiku. Bình Long. An Lộc… trọn phần đất ở phía nam vĩ tuyến 17 chìm trong đạn pháo mịt mù. Lính tráng hai bên, dân lành vạ lây chết oan như rạ. Năm đó Phạm Ngọc Lư hai mươi sáu tuồi. Và ông cảm khái làm hành Biên cương.

Tuổi hai mươi, lứa tuổi vừa hết non nhưng chưa đủ dạn dày, lứa tuổi sắp sửa cho một lên đường hướng tới những phương trời cao rộng. Vậy mà người thanh niên đó đã bị chặn hết mọi ngỏ ngách, mọ̣i hy vọng đã bị dìm chết, mọi dự phóng đã bị bóp nghẹt … bằng đủ thứ dã tâm ác ý nhằm dồn đẩy cho được tuổi trẻ bước lọt vào con đường một chiều … con đường sinh tử.

Người thi sĩ đó, lớp tuổi trẻ đó đối diện tương lai mình với tâm trạng cay đắng cùng cực. Vậy còn lạ không khi ông viết

Biên cương biên cương chào biên cương
Chào núi cao rừng thẳm nhiễu nhương
Máu đã nuôi rừng xanh xanh ngắt
Núi chập chùng như dãy mồ chôn

 Lời chào như một tiếng cười mỉa, hay bi tráng hơn, một tiếng cười gằn, phẩn uất… của một kẻ giác đấu bị đưa ra đấu trường mà mọi vòng thành đã bít kín. Nghĩa là không có mảy may một chọn lựa nào khác. Hoặc chết. Hoặc sống. Chết ! Hết chuyện. Sống ? Đã hẵn là may mắn chưa sau khi mặt mày đã nám khói đạn bom, sau khi ngón tay trỏ đã tê điếng vì siết cò súng tới rướm máu ? Câu hỏi trở nên vấn nạn bậc nhất cho cuộc chiến tranh tương tàn đó.  Người thanh niên miền nam nước Việt sinh ra và lớn lên được nuôi dạy trong tinh thần khai phóng, nhân bản và dân tộc. Họ được dạy dỗ yêu nước thương nòi, quí trọng đồng chủng cùng giòng máu đỏ da vàng, họ được uốn nắn theo tinh thần nhân nghĩa ngay từ thưở còn ê a đánh vần từng chữ cái. Huyền thoại cái-bọc-trăm-con đã được giảng dạy hết sức ân cần để in sâu vào ý thức họ ngay từ buổi khai tâm. Lớn lên, hít thở không khí tự do – dù có còn hạn chế, họ vẫn có cơ hội tiếp xúc với mọi trào lưu tiến bộ của nhân loại về mọi mặt. Từ đó, tâm hồn họ trở nên giàu có, phóng khoáng, nhân bản … biết bao nhiêu. Do vậy, khi phải đối đầu với kẻ thù cùng màu da rõ ràng là một thách đố quá bất công và bất nhân của định mạng. Nghĩ lại coi, có phải. Bắn một viên đạn vào kẻ bên kia chiến tuyến là một việc làm chẳng đặng đừng trong khi lòng họ băn khoăn hết sức. Phía bên kia, ngược lại trăm phần. Lịch sữ đã chứng minh triệu triệu điều như vậy.

Bởi vậy khi đối diện với thực tại của cuộc chiến tranh tương tàn đó người thanh niên miền nam, người thi sĩ đó còn thái độ nào khác ngoài sự chấp nhận nó một cách… chua chát đến ngậm ngùi.

Biên cương biên cương đi biền biệt.
Chưa hết thanh xuân đã cùng đường.

Trọn bài hành là một cực tả về tính chất vô lý đến bi đát của cuộc tranh giành xương máu đồng loại vừa qua, trải ra từ trái tim của một kẻ có lòng. Cái tuyệt vời là trong suốt 66 câu 7 chữ không có một chỗ nào để lộ ra sự phẩn nộ. Dù là người trong cuộc, chịu chung kiếp hẩm hiu, ông làm thơ với giọng điệu bi tráng, khẩn thiết mà trầm tỉnh, đau đớn mà không bi lụy. Cho nên dù âm điệu của bài thơ rất trung tính, người ta vẫn nghe ra từ đó tiếng kêu trầm thống của cả một dân tộc bị đọa đày, bị cấu xé, bị giành giựt đến tang thương bởi chính những kẻ cùng chung một nguồn gốc tổ tiên !!! Chữ chở nghĩa trọn tình, từ tốn mà thâm trầm hết mực. Ông không tả cảnh núi rừng mà thấy núi rừng phủ chụp như thiên la địa võng. Ông không tả cảnh sát phạt mà nghe ra như súng nổ đạn bay. Đọc thơ mà tai như nghe ù ù gió thổi, tưởng đâu hồn tử sĩ bay vật vờ trên bãi chiến còn úng khói.

Đây biên cương, ghê thay biên cương
Tử khí bốc lên dày như sương
Đá chảy mồ hôi rừng ứa máu

Trong bất cứ một cuộc chiến tranh nào rồi cũng sanh ra kẻ hèn nhát, người anh hùng. Nhưng cuộc chiến đó, qua hồn của kẻ sĩ làm thơ, không có mảy may vinh quang, mà chì rặt có điêu tàn. Không có người thắng kẻ bại mà chỉ rặt có nạn nhân. Những nạn nhân bị ném ra đất chết như vãi-đậu. Cái chữ nôm na mà ôi sao ai oán ! Vãi đậu. Còn chữ nào tượng hình hơn cho cái chiến-thuật-biển-người đem nướng con đen trong lửa đỏ. Lính tráng được xô ra bãi chết như một lũ hình nhân được cắt bằng giấy không biết vui buồn, không có yêu thương hờn giận. Chỉ là một lũ hình nhân vô tri vô giác trong tay đám phù thủy núp kín dưới tầng tầng công sự, bị ném ra như vãi đậu để giành giựt cho được thứ tham vọng ngông cuồng. Nỗi cay đắng cùng cực của kẻ sĩ Phạm Ngọc Lư thể hiện rõ ràng trong hai chữ cho-rậm, ta về theo cho rậm chiến trường. Cho rậm, rậm đám … người ta hay nói vậy. Nhưng thường nói trong những cuộc vui. Ở đây, giữa cuộc chiến, lấy gì vui mà về-cho-rậm-đám. Nếu không phải  một nỗi bi phẩn cùng cực của một tâm hồn hết sức nhạy cảm trước nỗi bất lực của mình khi thấy chuyện bất nhân bày ra hằng giây hằng phút trước mắt mình. Ôi người thi sĩ tội nghiệp giữa một thời vô đạo. Người thi sĩ đó, kẻ đã được nuôi dạy trong không khí hoa lệ của văn học cỗ điển, với những hồn thơ nhân bản tuyệt vời của một thuở Đường thi lộng lẫy đã đem cái phong cách trang trọng của thơ xưa vào thơ mình. Chữ nghĩa của ông cỗ kính mà nhẹ nhàng, kinh điển mà phóng túng khiến cho bài hành vừa có vẻ xa xôi trang trọng mà lại gần gũi với người trong cuộc biết mấy. Bằng phong độ của một bậc thức giả và nghệ sĩ, ông đã phóng tầm mắt xuyên suốt cõi địa chấn để nhìn thấu qua rừng núi, cỏ cây, đất đá, đạn bom… cái bị che át bởi tiếng nổ, bị chôn vùi bởi đất đá cày xới, bởi đường mật tuyên truyền, bởi rù quến chủ nghĩa… cái thực ở đằng sau mọi giả trá, cái còn lại sau những nát tan… Ông đã thấy đằng sau những núi non trùng điệp bị nổ tung vì đạn mìn, đằng sau những thét gào say máu giữa khói súng và ánh thép loang loáng của dao găm, ông đã thấy ra cái không gian lặng ngắt sót lại, đã nhìn ra cái hình ảnh lạnh lẽo sau cùng, đã nghe ra tiếng kêu gào vô thanh của những… cô hồn, thêm nữa tiếng khóc lặng lẽ nuốt ngược vào lòng của những… cô phụ.

Đá mang dáng dấp hình chinh phụ
Trơ vơ chớp núi đứng bồng con
Khu chiến ngày tràn lan lửa dậy
Đá vọng phu mọc khắp biên cương

Ông ta thấy rõ ràng như một với một là hai, mà có phải ai cũng thấy ra những hồn oan vất vưởng, hay nghe ra tiếng đời vô vọng đó.

26 tuổi. Đã đủ già chưa để cằn cỗi. Đã hết mơ mộng chưa để chai đá. 26 tuổi. Cái tuổi như hoa mới hết thời hàm tiếu mà chưa tới lúc mãn khai. Vậy sao nhìn ra chỉ thấy cái điêu tàn. Cái tuổi lẻ ra đang trên bệ phóng để nhắm tới tương lai. Cái tuổi đã được chuẩn bị để dành cho những hẹn ước. Vậy mà sao gần như con đường trước mặt đã bị phong tỏa kín bưng đến nỗi không dám nghĩ tới cả một lời hẹn ước.

Thôi em, sá chi ta mà đợi
Sá chi hạt cát giữa sa trường
Sa trường anh hùng còn vùi dập
Há rằng ta biết hẹn gì hơn ?

Thương cảm và trân quí biết bao nhiêu tâm hồn thi sĩ đó. Ông làm thơ không phải cốt để tả cái chon von của núi cao, cái thăm thẳm của rừng già, cái hiểm hóc của hang động, cái ngặt nghèo của đèo cả, ông làm hành để nói lên cái oan nghiệt của chiến tranh, cái chờ đợi vô vọng của những người cha người mẹ có con cái bị xua vào chỗ chết, của những người con gái có tình nhân thất hẹn, của những người vợ có chồng bị ném như vãi đậu vào cuộc bắn giết hung tàn. Bài hành như một dấn thân vào phía mặt thật của chiến tranh bị che giấu, bị tô vẻ bằng những ngôn từ hoa mỹ. Ở phía đó, hoàn toàn không có gì hết, không tiếng gầm của bom đạn, không có tiếng thét của trái tim búng máu, không có tiếng la của da thịt rách nát… Ở đó là một sự im lặng tuyệt cùng, im lặng tuyệt đối. Ở đó là tiếng kêu không vuột ra được khỏi hai bờ môi. Ở đó là cặp tròng ráo hoảnh không còn đủ một giọt nước mắt chảy xuôi. Ở đó là cái lỗ trống khủng khiếp của người mẹ mất con, của người vợ mất chồng, của đứa con mới lọt lòng đã mất cha… Cái thấy của ông khác với cái thấy của những bản tin chiến sự, khác với cái thấy của xảo ngôn ra rả trong những tuyên ngôn tuyên cáo. Cái thấy của ông là cái thấy của con-mắt-trông-thấu-cả-sáu-cõi*. Thơ của ông được làm ra từ những-giọt-máu-chảy-ở-đầu-ngọn-bút *. Cho nên, mỗi năm đến tháng tư, lục ra đọc lại Biên Cương Hành lại nghe như có giọt nước-mắt-thấm-trên-tờ-giấy* khi người thi sĩ ấy vẩy bút làm thơ…

Quả vậy, nói được gi thêm nữa. Hành được làm bằng hết tài hoa bút mực và tấm lòng mẫn cảm đến muôn đời. Hồn thi sĩ rướm những giọt máu còn rây rớt trên từng ngọn cỏ lá cây, trây trét trên đất đá vô tri, từ mươi năm trước, từ hôm qua, mà hôm nay, mà ngày mai… vẫn tiếp tục thấm máu của bao nhiêu trai trẻ bị xô đẩy tới đó để tiếp tục giết nhau, giết nhau tận tình như những kẻ cuồng sát dù trong lòng họ không thiếu nỗi bi thương.

Cho nên, ở đó giữa núi rừng cô tịch, ông thấy từng đoàn cô hồn kéo đi lũ lượt. Những cô hồn giận dữ !

Cô hồn một lũ nơi đất trích
Vỗ đá mà ca ngông hát cuồng
Chém cây cho đỡ thèm giết chóc
Đỡ thèm môi mắt gái buôn hương

Rừng núi cô tịch có gì vui sao kéo nhau vào đó mà tan thây nát thịt. Có nghe chăng tiếng hát ngông cuồng bi thiết của lũ người bị lừa gạt bị dụ dỗ bị mê hoặc mà ném thân vào hiểm địa làm mồi cho súng đạn vô tình. Ai nghe được tiếng kêu uất hận đó ngoài người thi sĩ đang độ tuổi đôi mươi. Và ai ngoài ông để cảm thông được nỗi ai oán của những người trẻ chết trận mà chưa một lần được nếm chút hạnh phúc trần gian. Chữ nghĩa được chọn lọc tinh tế mà không lộ chút kỷ xảo. Phạm Ngọc Lư đã sống tận tình kiếp sống của người trong cuộc. Hẵn, ông đã không ngại dấn mình vào chỗ thâm sơn cùng cốc đó để nghe cây rừng rùng mình, đề nghe đất đá run rẩy… sau mỗi bận súng đạn gầm thét. Mà chắc phải vậy, phải tận mắt cảnh núi lở đèo nghiêng, đất đá nát ngấu, rừng cháy tan hoang bỏ trơ cây cối cụt đầu, hầm hố chằng chịt … mới cảm ra được sức tàn phá đó nổ banh trên thịt xương người ra sao, mới nhận ra được lửa nướng cháy da người khét lẹt thế nào, mới nghe được tiếng kêu thất thanh xé ruột làm sao khi lưỡi dao bén ngót đâm lút vào thân xác. Phải ở đó, mới nghe ra được tiếng gọi từ thăm thẳm của cả một lớp trẻ đương tuổi yêu đời yêu người mà bị bức tử đoạn đành.

Chiều hôm bắt tay làm loa gọi
Gọi ai nơi viễn xứ tha phương ?
Gọi ai giữa sơn cùng thủy tận ?
Ai người thiên cổ tiếc máu xương ?

Tiếng gọi u uất nghe đến nát lòng. Mà rồi tiếng gọi cũng chỉ rơi vào cõi vô vọng. Như triệu triệu tiếng kêu đòi khác, vẫn rền rĩ, từ tiếng súng đầu tiên phát nổ …

Chẳng vậy, mà hơn 40 năm qua, vẫn còn nguyên tiếng gọi giải oan cho bao nhiêu người đã chết, chết mà không biết vì sao mình chết, chết mà lịch sử bị đẩy cho quay ngược lại vòng quay, mà đất nước đi ngược lại chiều tiến bộ, mà năm này sang năm khác, đất nước trở lại y nguyên cái tình trạng từ thời người ta xua con trẻ đi làm chuyện … giải phóng.

Hãy đọc lên thành tiếng thêm một lần, 6 câu cuối của bài thơ để nghe lại hết nỗi oan khiên của nguyên mấy thế hệ bị hy sinh cho một chủ nghĩa bất cận nhân tình. Đọc lên thành tiếng để nghe dội lại tim ta tiếng kêu thương của từng lời kinh khổ

Thôi em, còn chi ta mà đợi
Ngày về: thân cạn máu khô xương
Ngày về: hôn lễ hay tang lễ
Hề chi ! buổi chinh chiến tang thương
Hề chi ! kiếp cây rừng đá núi
Nghìn năm hồn quanh quẩn biên cương.

Hai mươi mấy tuổi đời của những năm 60, 70 … hay xa hơn nữa từ những năm 30, 40, 50 … thử nghĩ lại, đã có khi nào, trên mảnh đất gầy còm hình chữ S, mà tuổi trẻ Việt Nam được sống yên lành đề dự phóng tương lai cho chính mình và đồng loại mình. 6 câu thơ cuối, Phạm Ngọc Lư làm cho ông, cho thế hệ ông và cho cả bao nhiêu người tuổi trẻ trước ông, kể từ khi có một lũ người đi vay mượn thứ chủ nghĩa ngoại lai và không tưởng đem về bày trò giết chóc đề̉ áp đặt lên quê hương. Từ đó, súng nổ, dao đâm, dìm nước thả trôi sông… từ đó, tang thương… từ đó, đoạn trường… từ đó…

Thôi em, còn chi ta mà đợi
Ngày về: thân cạn máu khô xương

Từ đó một hẹn thề là trăm lỗi hẹn, có một hạt giống gieo là đã cả vườn cây cháy rụi, một đứa bé ra đời là đã bao nhiêu trai trẻ bỏ xác góc núi bìa rừng. Bởi vậy, đến một lúc, ngay cả đương tuổi thanh xuân, người ta cũng bỏ mặc buông xuôi, như thể mọi vẫy vùng đều vô ích, mọi phản kháng đều bất khả.

Hề chi ! buổi chinh chiến tang thương
Hề chi ! kiếp cây rừng đá núi

Hề chi ! Sá chi ! Mặc kệ ! Những tán thán từ người ta chỉ dùng đến khi bị dồn vào đường cùng. Ờ , mà tuổi trẻ Việt Nam thời đó, thời của những biên cương rào kín lòng người, thời của súng đạn ngoại bang được nhét vào tay, thời của mắt bị bịt kín… rồi bị xô bị đẩy bị lùa từng đoàn từng lũ vào eo chết thì… nếu không … hề chi, sá chi… thì cũng có làm gì hơn được !

Hề chi ! kiếp cây rừng đá núi
Nghìn năm hồn quanh quẩn biên cương

Hề chi ! Hề chi ! Tán thán tự được lập lại hai lần phải chăng để hình dung hai cánh tay buông xuôi, bỏ mặc, khi người ta đã ở chỗ cùng đường, tuyệt lộ.

Biên cương hành. Đọc lại mà sống lại cùng ai nỗi đoạn trường !

Chính vì vậy, mươi năm trước đọc qua đã ngậm ngùi, bây giờ đọc lại còn nguyên cơn đau thắt ruột với vẫn nguyên nỗi cảm phục nét tài hoa tót chúng. Rõ ràng, đọc lại Biên Cương Hành, thấy nguyên vẹn nỗi oan ức của hàng đoàn hàng lũ cô hồn cô phụ đi vất vơ cạnh bên phía lề oan trái của lịch sử.

Hành. Loại thơ sủng ái của những bậc tài tình thiên cổ lụy. Chữ cuồn cuộn như nước đổ trường giang. Ý tiềm ẩn như rồng thiêng thấy đầu mà không thấy đuôi. Chính vì loại thơ vừa lề luật vừa phá thể khiến cho người làm thơ mặc tình phóng bút.

Trong tay bậc tài hoa, hành làm … thốn tâm thiên cổ.

Cho nên, đọc hành làm sao mà không thấy dạ mang mang. Nay-đời-xa-người-khuất, đọc hành Phạm Ngọc Lư như thấy lại lòng mình, làm sao không cảm khái đến trăm nỗi xót xa. Xót xa cho đời. Xót xa cho người.

Xót xa cho vận nước.

Hành. Đổ Phủ. Bạch Cư Dị. Lý Bạch … Rồi Thâm Tâm. Nguyễn Bính. Thanh Nam. Tô Thùy Yên. Viên Linh… Và Phạm Ngọc Lư.

Vâng. Và Phạm Ngọc Lư.

 
Cao vi khanh
*như một lời đã hứa
tháng 4-2018

* chữ của Mộng Liên Đường chủ nhân

Khái Hưng Trong Tù

Thư viện của bài

This gallery contains 1 photo.

 MAI CHI
 

Để bạn đọc hiểu qua đời sống trong tù của Khái Hưng, chúng tôi trích đang dưới đây một phần bài Đợi Tết trong tù của Mai Chi, đăng trên nhật báo Dân Chủ số 925 ra ngày 9-2-1964, thuật lại những ngày Khái Hưng bị giam tại trại giam Lạc-quần (huyện Xuân-trường, Nam-định).

Theo chỗ hiểu biết của chúng tôi, ông Mai Chi là một chiến hữu cách mạng của Khái Hưng. Bài báo của ông, thuật theo trí nhớ của những bạn đồng ngục của Khái Hưng, có thể coi là đáng tin.

(Văn, số 22, ngày 15-11-1964)

Hồi ấy Lạc-quần là một chiến khu quan trọng của miền nam Trung-châu Bắc Việt (thuộc Liên-khu 3). Trại lính khố xanh cũ lúc đó đã biến thành Bộ Tư-lệnh của đại tá Việt-minh Hà Kế Tấn. Công-an tỉnh Nam-định đặt trại giam gần sát đó để có thể nhờ bộ đội can thiệp tức khắc nếu xẩy ra những trường hợp bất ngờ (các chính trị phạm nổi loạn hoặc các nhóm quốc gia đánh úp để giải phóng đảng viên). Anh em chúng tôi thuộc nhiều đoàn thể khác nhau: Việt-quốc, Việt-cách, Duy-dân, Dân-tộc, Công-giáo v.v… không thiếu một đảng phái chống Cộng nào. Đến trung tuần tháng chạp âm lịch tổng số lên tời gần 50 người.

Đời sống tại đây tương đối dễ chịu vì lúc đó Việt-minh còn bận tổ chức kháng chiến chống Pháp, chưa nghĩ tới việc hành hạ chúng tôi. Ngoài điểm ăn ngủ kham khổ, chúng tôi không hề bị gông cùm xiềng xích, và cũng không phải làm việc gì cực nhọc, chỉ một lần chúng tôi được đi vác gạch cho bộ đội xây đồn, nhưng vì anh Khái Hưng yếu đuối nên bị chúng loại ra, không cho hưởng cái ân huệ đó. Tuy nhiên không phải không có những cuộc tra tấn. Đêm nào chúng cũng gọi vài ba người lên phòng đồn trưởng để hỏi cung đúng vào lúc ba tiếng cồng “ngủ” dóng lên. Đánh đập, kìm kẹp, quay điện, tra tấn đủ kiểu cho tới khuya mới thả cho về. Và mỗi buổi sáng chúng tôi lại thay phiên đấm bóp và săn sóc những nạn nhân đêm trước. Tiếp tục đọc

 BẠC TÓC VUI CÙNG CHINH CHIẾN XƯA

Thư viện của bài

This gallery contains 1 photo.

Châu Thạch

BẠC TÓC HỒN CÒN XANH
TRONG BÀI THƠ CỦA DƯ MỸ.
          
BẠC TÓC VUI CÙNG CHINH CHIẾN XƯA

(Cảm hứng từ bức ảnh hai ông bạn già bạc tóc.)

Tặng Thế Lộc, Châu Thạch .

Râu tóc đã bạc dần theo nỗi nhớ 
Mà hồn còn xanh mãi với quê hương
Mượn chén rượu sưởi ấm niềm tâm sự 
Kể lại nhau nghe chuyện cũ sa trường.

Mơ ngựa hí vang rền ” chiều quan ải “*
Hoà điệu buồn ” lời dế “* gáy đêm sương
Bao kỷ niệm của một thời áo trận
Giữ trong hồn như một thú đau thương.

Vui một thuở dọc ngang đời trai trẻ
Quên thân mình giữa khói lửa chiến chinh
Súng gối đầu đêm trăng vui chuyện gẩu
Sưởi ấm ân tình huynh đệ chi binh.

Buổi hoàng hôn tìm chút tình tri kỷ Tiếp tục đọc

*** Có Những Mùa Xuân

Thư viện của bài

This gallery contains 1 photo.

Dư Thị Diễm Buồn                                        Mặt trời đã ngã về hướng tây, cơn nắng cuối mùa đông vẫn còn chập chờn trên cỏ cây hoa lá, và ngọn gió lành lạnh làm giùn mình nổi ốc khi quét lên da … Tiếp tục đọc

*** KHÍ CỤ BÌNH AN

Thư viện của bài

This gallery contains 1 photo.

Lê Liên KHÍ CỤ BÌNH AN CỦA NHÀ BÌNH THƠ CHÂU THẠCH.                                                                           LỜI KHUYÊN KỲ DỊ Hãy trang bị cho mình chiếc gậy Như thêm chân để đi giữa cuộc đời Và chiếc túi như chiếc hồ lô … Tiếp tục đọc

*** VÀNG THU TA RỤNG …

Châu Thạch

thuvang2
ĐỌC “VÀNG THU TA RỤNG…” THƠ THỤY SƠN
                                             
VÀNG THU TA RỤNG …                  Thụy Sơn .
Quên choàng y áo chân tu
Qua sông để rớt kinh thư thuở nào
Đọa làm kiếp lá hanh hao
Vàng thu ta rụng xanh xao nỗi buồn

Áo đời hai mảnh vá suông
Sợi khâu tang hải sợi luồn bể dâu
Bàn chân giẫm nát đêm nhàu
Thái hư xẻ nửa trăng đầu khuyết hao
Hành châu nghịch thủy về đâu
Sóng tràng giang nhuộm trắng màu biệt ly
Đò chưa qua buổi xuân thì
Sông trăng dường đã già đi nhánh buồn
Ta ngồi chải tóc hoàng hôn
Sợi dài thế kỷ mót bòn yêu thương
Đò mai rẽ bến Tiêu Tương
Khóc ròng con nước nguyên sương quê nhà
Buồn vui túy ngọa giang hà
Vàng thu ta rụng cội tà huy xưa ./.
TS
Lời bình: Châu Thạch
Đọc cái đầu đề “Vàng Thu Ta Rụng…” chắc không ai hiểu gì. Đọc qua khổ một của bài thơ thì hiện lên trong mắt ta cả nỗi sầu hanh hao từ tiền kiếp. Lá cũng có linh hồn và lá trong thơ là hóa thân của một vị chân tu bị đọa từ kiếp trước bởi sơ hở trên con đường tu tập:
Quên choàng y áo chân tu
Qua sông để rớt kinh thư thuở nào
Đọa làm kiếp lá hanh hao
Vàng thu ta rụng xanh xao nỗi buồn
Cả một câu chuyện về luân hồi được kể lại trong bốn câu thơ. Một câu chuyện hoàn toàn hư cấu nhưng là một câu chuyện tưởng tượng độc đáo.
Chiếc lá vàng rơi mùa thu là quả của nhân. Cái nhân đẹp thì cái quả cũng đẹp. Nhân là vị chân tu thanh tịnh thì quả là chiếc lá vô tư trên cây. Nhân “quên choàng y áo” nên hậu quả của một sự vô tình đó là “để rớt kinh thư”. Rớt kinh thư trở thành tội để luân hồi kiếp sau thành chiếc lá.
Áo của tu sĩ màu vàng thì quả cũng nhập xác vào chiếc lá màu vàng để “vàng thu ta rụng”.
Tác giả đã hòa nhập triết thuyết Phật giáo vào thơ, dùng hình ảnh thanh thoát, câu từ thi vị để diễn đạt cái nghiệp lực mà dầu một vị chân tu cũng phải nhận lảnh.
Đọc thơ ta để ý đến chữ “ta” mà tác giả đã dùng. “Ta” chính là mình, là tác giả. Nếu không là sự cảm biết bản thân trong quá khứ thì cũng là một cảm ứng giữa kiếp trước và kiếp nầy trong hồn thơ tác giả.
Chữ “ta” làm cho tác giả nhập vào sự kiện, làm cho chuyện kể trở nên thực và làm cho người đọc cảm nhận gần gủi với câu chuyện hoàn toàn hư cấu mà tác giả nghĩ ra.
Nhà sư trong thơ “Đọa làm kiếp lá hanh hao”cũng đẹp tuyệt vời. Ngài không sa vào dục vọng trần gian, ngài chỉ lảng quên “choàng y áo” khiến sinh hệ luy mất kinh thư, từ đó sự đọa thành chiếc lá vàng của ngài cũng đẹp như chiếc lá thu bay vậy.
Qua khổ thơ thứ hai, rõ ràng tác giả hóa thân mình vào nhà sư, hóa thân mình vào chiếc lá, với những trăn trở của mình trong kiếp nhân sinh:
Áo đời hai mãnh vá suông
Sợi khâu tang hải sợi luồn bể dâu
Bàn chân giẫm nát đêm nhàu
Thái hư xẻ nửa trăng đầu khuyết hao
Hai câu thơ đầu, tác giả lấy ý từ thành ngữ “Tang điền biến vi thương hải và ngược lại” (ruộng dâu biến thành biển xanh và ngược lại) nhưng hay và lạ ở chổ, nhà thơ đã đem hai sự kiện lớn lao làm thành một chiếc áo của đời mình.
Hình ảnh trong thơ diễn đạt sống động chiếc áo “tang thương” là hai mảnh của kiếp người với tất cả nghĩa vô thường của nó.
Hai câu thơ kế tiếp diễn tả hình ảnh kiếp người trong đêm tối mông lung.
“Thái hư” là “khoảng trống không vô định”. Trong khoảng trống không vô định đó, con người dẫm nát bóng đêm để đi tìm chân lý. Thế nhưng chỉ thấy “ nửa trăng đầu khuyết hao”nghĩa là chẳng thấy vầng trăng tròn bao giờ, hay là chân lý chưa hề hiện ra trọn vẹn. Chân lý chỉ thấy từ xa như thấy nửa vầng trăng.
Khổ thơ nầy hoàn toàn là miêu tả cái “khổ đế”của Phật giáo, nhưng diễn đạt bằng ngôn ngữ của thơ, hình tượng nỗi đau bằng hai mãnh áo, hình tượng sự mê muội bằng đêm thâu và hình tượng sự trôi lăn vạn kiếp lạc bước trong vô định để nhìn thấy chân lý như nửa vầng trăng, không trọn vẹn bao giờ . Bốn câu thơ bi quan, mô tả đời người trong hố thẳm tội lỗi, muôn kiếp mịt mờ trong bóng tối hư vô.
Khổ thơ thứ ba nhà thơ diễn đạt sự đấu tranh nhọc nhằn, sự tìm kiếm trong vô vọng, cùng sự phôi pha của một kiếp nhân sinh:
Hành châu nghịch thủy về đâu
Sóng tràng giang nhuộm trắng màu biệt ly
Đò chưa qua buổi xuân thì
Sông trăng dường đã già đi nhánh buồn
“Hành châu nghich thủy” có nghĩa là đi ngược dòng nước. Người xưa có câu “Nghich thủy hành châu bất tiến bất thoái” nghĩa là đi ngược dòng nước thì tới cũng không được mà lui cũng không được. Câu thơ đầu chỉ sự nan giải của một kiếp người, mắc kẹt giữa dòng đời như chiếc thuyền đi ngược dòng sông. Câu thứ hai mô tả dòng đời đầy sự biệt ly buồn ảm đạm.
Qua hai câu thơ sau “Đò đưa qua buổi xuân thì/ Sông trăng dường đã già đi nhánh buồn”nhà thơ đã nhìn vào đời bằng con mắt tâm lý của mình. Tất nhiên tuổi con sông phải già nhưng người qua sông lại thấy nó già hơn cái già của nó, giống như người đã ngao ngán cuộc đời vì thấy cuộc đời nhiêu khê và cằn cổi khi mình đang ở tuổi xuân thì.
Rồi thì bởi cái nhìn tâm lý, thấy đời già trước tuổi thọ của mình, nhà thơ mang tâm trạng bi quan yếm thế, ngồi thở than bên dòng sông định mệnh:
Ta ngồi chải tóc hoàng hôn
Sợi dài thế kỷ mót bòn yêu thương
Đò mai rẽ bến tiêu tương
Khóc ròng con nước nguyên sương quê nhà
Bến Tiêu Tương là bến ở sông Tiêu Tương, nơi đây có chuyện tình Trương Chi-Mỵ Nương. Mỵ Nương rơi lệ xuống chén ngọc làm bằng quả tim anh lái đò có tiếng hát làm lung linh trăng vàng. Trương Chi, người đã chết xuống tuyền đài với tình yêu say đắm nàng vĩnh viễn. Trái tim chàng chỉ tan ra trong giọt nước mắt của nàng. Nhà thơ Thụy Sơn đã hư cấu mình ngồi chải tóc ở đó suốt trăm năm để nhìn con nước quê nhà khóc ròng cho mối tình bất diệt.
Thật ra tác giả chỉ mượn chuyện tình trên bến Tiêu Tương để nói về tất cả nhưng ngăn trở của cuộc đời. Sự chải tóc là hình ảnh của sự đợi chờ. Hoàng hôn chỉ thời gian đã qua, thời cơ của mình đã hết. Bốn câu thơ dùng những bức tranh tuyệt đẹp, lung linh để ta thán những nghịch cảnh mà đời đem đến. Đoạn phim trên bến Tiêu Tương, một người ngồi chải tóc, nhỏ lệ trên dòng sông sự tích đẹp làm sao, khiến cho người đọc thơ cảm nhận như mình ngồi ở chốn “nguyên sương” của thời xa xưa vậy.
Thụy Sơn dùng hai cầu thơ kết có hào khí ngất trời. Không phải hào khí của người chiến binh trong bài thơ “Khúc hát Lương Châu” của Vương Hoán có hai câu thơ “Túy ngọa sa trường quân mạc tiếu/ Cổ lai chinh chiến kỷ nhân hồi” mà khác nhiều hơn với ý thơ này:
Buồn vui túy ngọa giang hà
Vàng thu ta rụng cội tà huy xưa
Hai câu thơ của Vương Hoán được Trần Trọng San dịch là “Sa trường say ngủ ai cười/ Từ xưa chinh chiến mấy người về đâu”. Thụy sơn cũng dùng hai chữ “túy ngọa” là say nằm, nhưng không “túy ngọa sa trường” mà “Túy ngọa giang hà” là say nằm trên sông nước. Giang hà trong bài thơ “Vàng Thu Ta Rụng…” của Thụy Sơn như trên ta biết không phải là sông nước của mặt đất nầy, mà đó là dòng sông của định mệnh, là dòng quay của bánh xe luân hồi chuyển tiếp đời người kiếp nầy qua kiếp khác. Trên dòng sông đó có một người chân tu vì phạm lỗi phải đọa vào cuộc đời vàng như chiếc lá thu rơi. Vị chân tu buồn, túy ngọa trên dòng sông định mệnh ấy để rồi, cũng rụng như chiếc lá vàng rơi dưới cội cây trong một chiều nào đo, như những chiều năm xưa của kiếp trước.
Nhà thơ Lê Giao Văn đã bình luận bài thơ nầy như sau: “Bài thơ cổ điển mà hồn cốt rất tân thời”. Tôi nghĩ một nhận xét như thể đã nói đủ bài thơ nầy rồi. Cái hay của bài thơ nầy thật ra chỉ dùng chữ để gợi ý mà thôi. Người đọc, qua trình độ hiểu biết Phật pháp, qua tâm hồn nghệ sĩ và qua sự thẩm thấu văn chương nhiều hay ít mà thưởng thức bài thơ, cảm nhận được những gì chất chứa trong thơ càng sâu thì càng thú vị. Với tôi, tôi đọc thấy nó hay ngay tự ban đầu, suy nghiệm nó hơi lâu, nhưng càng lâu thì càng yêu mến nó, một bài thơ không dễ có ai làm!!!
                                                          Châu Thạch
 

*** ĐỌC THƠ Ý NGA

NGUYỄN HỮU LUYỆN

rong vn

 

(Trích LỜI TỰA tuyển tập:

TRI ƠN CHIẾN SĨ VNCH VIỆT NAM CỘNG HÒA)

Ý Nga (yngacalgary@aol.com) là tác giả của 22 tập thơ đã được xuất bản và phổ biến trên các diễn đàn điện tử từ nhiều thập niên qua, (còn 45 tác phẩm khác chưa xuất bản nhưng cũng đã được phổ biến trên các diễn đàn).  Đọc thơ Ý Nga, chúng ta dễ cảm nhận được tâm tư của tác giả gửi gấm qua những vần thơ giản dị, khúc chiết và gợi cảm của những người đã từng phải lao vào cái chết để tìm “cái sống tự do”. Đây là tâm trạng của hàng triệu người Việt Nam đã phải bỏ lại quê hương và tài sản của mình để LAO RA KHƠI.  Biết bao người đã táng thây dưới đáy đại dương khiến cho Liên Hiệp Quốc phải ban hành quy chế tỵ nạn cộng sản và thành lập nhiều trại Tỵ Nạn Cộng Sản ở các vùng ven đại dương để tiếp nhận những chuyến RA KHƠI bi hùng tráng của người Việt Nam, sau biến cố 30 tháng 4 năm 1975:                                         

“Người tỵ nạn vẫn giữ hoài trang sử

Chúng tôi đi, sinh tử lắm nghẹn ngào

Nên không quên thảm não của đồng bào

Tim rỉ máu, thương cho Người Ở Lại!

(Ý Nga, 7-4-2011.)

Thơ Ý Nga bao hàm nhiều cảm nghĩ phong phú và đôi khi mang sắc thái châm biếm, tế nhị, trong đó có cả thơ tình.  Điểm đáng chú ý hơn cả là sáng tác chống Cộng và nỗi lòng buồn nhớ cố hương vẫn là hai nguồn cảm hứng sôi động, nếu đem so sánh với những nguồn cảm hứng sáng tác khác:

“Việt Nam hỡi! Bao anh thư hào kiệt,

Hãy vùng lên! Hãy quyết liệt đập tan,

Noi gương xưa lật đổ bọn bạo tàn,

Dẹp cộng sản! Dựng thái bình đất nước”

Ý Nga, 11-2-2011 (Bao Giờ Em Về)

Hình như đối với Ý Nga thì ra đi là thoát nạn cộng sản nhưng lại phải mang nặng trong lòng mối tình hoài hương da diết:

“Đi đâu thì cũng sầu vong quốc

Muôn dặm quê nhà xa vẫn xa.”[i] 

Ngay trong thơ Xuân của Ý Nga cũng pha màu chống Cộng:

“Chốn mong về không có Tết, dẫu Xuân.

Nơi muốn đến chẳng xuân về, sao Tết?

Người yêu dân, tưởng niệm Tết Mậu Thân

Bọn bán nước ăn mừng từng “chiến thắng”?”

(Ý Nga, Xuân Mậu Tuất 2018)

Sinh trưởng trong một gia đình nền nếp nên Ý Nga đã sớm ý thức được bổn phận và trách nhiệm của tuổi trẻ. Gia nhập Phong Trào Hướng Đạo VN Hải Ngoại, ngoài việc chia sẻ trách nhiệm chung với chồng là trưởng Phan Thế Vinh, đó cũng là một cách để Ý Nga tự rèn luyện bản thân để rồi trở thành một Trưởng Hướng Đạo nhằm giúp ích cho xã hội. Hai Trưởng Vinh Nga đã và đang say sưa trong trách nhiệm dìu dắt thế hệ Hướng Đạo trẻ từ những ngày còn ở trong nước cho tới nay (Trưởng Vinh là một Hướng Đạo Sinh của đạo Lâm Viên (Đà Lạt) từ nhỏ cho đến khi phải rời Đà Lạt để vào đại học, cả 3 anh em ruột của trưởng Vinh đều là thành viên của gia đình Hướng Đạo trong nhiều năm.

Hiện nay Hướng Đạo Việt Nam tại hải ngoại đã và đang phát triển trên ý thức hệ Nguời Việt Tỵ Nạn Cộng Sản dấn thân vào Phong Trào, lấy giáo dục làm phương châm để giúp các em hướng về cội nguồn và phát triển bản năng trẻ biết yêu thích thiên nhiên và trở thành người hữu dụng cho xã hội, cho Cộng Đồng.   

Với cái TÂM của một Trưởng Hướng Đạo, thơ Ý Nga luôn luôn bộc lộ phong cách đạo đức xã hội của tuổi trẻ:

“Hy sinh vì người khác

Chính mình có niềm vui!

Sá gì chút hành xác

Mà tâm hồn thảnh thơi.”

Ý Nga, 26-6-2014.

Trong tâm trạng buồn nhớ cố hương, Ý Nga cũng đem thơ đượm nỗi sầu viễn xứ vào hoạt động Hướng Đạo:

“Tâm ý không chưa đủ

Khi bạn muốn dấn thân

Chẳng phải duy bàn chân

Mà còn cần tâm ý.

Cộng thêm nhiều ý chí

Mới cất bước lên đường

Nhất là Đường-Tha-Hương

Vương càng nhiều trở ngại.”

Ý Nga, 29.1.2007 (TÂM Ý, THÀNH Ý)

Ý Nga cũng đã và đang làm công tác thiện nguyện với các tổ chức người Việt Quốc Gia ở Ý Đại Lợi, Âu Châu, Mỹ và Canada.v.v… từ năm 1980 cho đến nay, qua những đóng góp công sức vào các hoạt động: xã hội, văn hóa, từ thiện & giáo dục (dạy học tại các Trung Tâm Việt Ngữ, Ý Ngữ ở Ý và Canada); Ý Nga cũng đã nhận lời của đoàn thể, thay chồng, đảm nhiệm công tác Trưởng Nhóm Việt Nam Thanh Niên Thiện Chí tại Ý Đại Lợi trong nhiều năm, hoạt động cùng mục-đích trên.  Phải nhìn nhận ngay rằng đây chính là gánh nặng hoặc rất nặng trước cộng đồng và đoàn thể,  vậy mà Ý Nga vẫn không sao lãng với “mối tình chung thủy yêu thơ”. 

Dường như chính “mối tình yêu thơ” đã tạo ra sức mạnh tinh thần và thể lực cho Ý Nga trong đời sống hàng ngày.  Với thân hình nhỏ nhắn, sức khoẻ mong manh, nhưng Ý Nga vẫn bền bỉ cáng đáng việc gia đình, tận tụy và chu đáo săn sóc chồng, đồng thời hoàn thành NHIỀU NGHĨA VỤ trước cộng đồng và đoàn thể, vậy mà Ý Nga vẫn bền bỉ sáng tác thơ.  Đây chính là điểm son vô cùng cao quý của một phụ nữ trong mọi thời đại.  Mặc dầu mang nặng trong lòng mối “sầu viễn xứ” và nôn nóng ngày về “cố quốc”, Ý Nga cũng không che dấu bản tính dí dỏm, vui nhộn của mình.  Điều này đã biễu lộ khi Ý Nga dùng cách “nói lái” để đổi tên của mình là Ý Nga thành bút hiệu Á Nghi: 

 “Bốn mươi mốt năm trôi qua

Nợ tình cùng vay, cùng trả

Với em: anh vẫn chưa già

Ngày nào anh kêu, còn dạ.

30-4tobucket

Mình còn lời hẹn về Nhà

Mà đường tìm chưa ra ngả

Đừng bỏ em một mình nha!

Bệnh nào cũng có thuốc chữa”

Á Nghi, 1.3.2018

Qua mấy vần thơ sáng tác nhân dịp Tết Mậu Tuất, Ý Nga đã gợi lại thảm cảnh tang tóc của người dân miền Nam sau ngày 30/4/1975, trong thơ  Tết đau thương: với một đoạn thơ ngắn ngủi, Ý Nga đã rất “tài tình” bó gọn tình yêu thương cha già đã mệnh thác, mẹ già cô quạnh, khổ ải nơi quê nhà trong khốn cùng của xã hội CS, gia cảnh yên vui nay tiêu điều hoang phế . . . người đọc khó cầm nước mắt . . .

“Xuân tàn, mai rụng bên kia

Mẹ đi không nỗi, ai kìa quét mai?

Hồn Ba đã chốn thiên thai

Gốc mai-chiếu-thủy còn ai giữ gìn?

Cánh mai-tứ-quý ai nhìn?

Sang năm xuân vẫn cho xin sắc vàng?

*

Sao mà hồn cứ mênh mang?

Tàn Xuân, con vẫn lang thang chưa về!”

Ý Nga, 26.2.2018

***

Năm 2000, khi Cộng Đồng Người Việt Tỵ Nạn Cộng Sản trên khắp thế giới phát động vụ kiện WJC[ii].  Canada là một trong những Cộng Đồng VN yểm trợ mạnh mẽ  cho vụ kiện này. Tại Canada: sau cộng đồng người Việt tại Montreal là cộng đồng người Việt tại Calgary (thành phố giá lạnh và xa xôi này đang ấp ủ mái ấm gia đình của cặp vợ chồng Vinh-Nga).  Ý Nga đã nhanh chóng và nhiệt thành đáp ứng lời kêu gọi của Ủy Ban Vận Động Vụ Kiện WJC, viết nhiều hưởng ứng gửi khắp nơi hô hào yểm trợ cho vụ kiện.  Ý Nga cũng đã trực tiếp bắc nhịp cầu thân hữu để chúng tôi sang Âu Châu làm việc với các cộng đồng và hội đoàn Người Việt tại nhiều quốc gia và thành phố bên Âu Châu. Trong thời gian này, Ý Nga cũng đã lên tiếng:

“Quý Độc Giả thử tưởng tượng nếu có một ngày, chúng ta phải đọc những tài liệu viết về người Việt Nam yêu chuộng tự do đã từng thề không đội trời chung với loài Quỷ Đỏ, nên đành phải vượt qua cõi chết để được sống trong không khí tự do nơi quê người, nhưng bi hài thay,  những tài liệu để cho thế giới và hậu thế biết rõ thêm về những người “vượt từ cõi chết ấy”, lại không do chính tay chúng ta viết mà do những cán bộ văn hoá cao cấp của đảng cộng sản viết ra(chính họ  là  những thủ phạm đã dồn dân Việt chúng ta đến cõi chết) thì quả thật không có gì đau đớn và nhục nhã cho chúng ta bằng thảm trạng đó.  Chỉ có quý Bạn Đọc, bằng sự suy nghĩ và lương tâm của Người Việt Quốc Gia mới giúp đỡ chúng ta thắng được WJC và c.s.VN trong vụ kiện này:

Lũ ngợm nằm đáy giếng

Thấy gì trong mắt dân?

Hổ dữ ăn đầy miệng

Nghe gì tiếng nạn nhân?

Bàn tay ai rướm máu,

Cho chúng yến tiệc ngon?

Bàn chân ai nát ngấu,

Cho chúng tiếng cười giòn?”

***

 Ngày 30 tháng 4 năm 1975, trong khúc ngoặc tang thương của lịch sử Việt Nam, đã có những BINH SĨ QLVNCH không chịu buông súng đầu hàng mà đã âm thầm tự sát. Trên thế gian này, không có tấm lòng TRUNG DŨNG nào, không có một khí phách nào  có thể so sánh với hình ảnh anh Binh Nhì đã chọn cái chết để chết theo QLVNCH, mặc dù vào khoảng thời gian đó, kẻ thù đã tuyên bố không trả thù anh. Trong giây phút thiêng liêng đó, có lẽ anh đã thấy mình vừa mất đi một bảo vật thiêng liêng, đó là QLVNCH với lý tưởng bảo vệ người dân. Những viên đạn trong nòng súng ấy, đáng lẽ dành cho quân thù thì anh đã dành cho chính mình vì khí phách của quân nhân QLVNCH và vì lòng trung thành với QLVNCH.  Những anh BINH NHÌ ấy tuy đã mất đi sự sống của thể xác nhưng hình ảnh uy dũng của các Anh vẫn còn sống mãi mãi trong thơ văn của hậu thế và Ý Nga đã chuyển tải UY DŨNG đó cho hậu thế, qua nhiều vần thơ rất cảm động:

“Kèn truy điệu, âm não nề tưởng niệm

Những Chiến Binh không cấp bậc linh đình

Những hương linh tuẫn tiết vì dân mình

Ngàn thu trước, ngàn thu sau nối tiếp.

*

Kèn truy điệu trong quốc kỳ thẳng nếp

Thương tiếc Người, đời binh nghiệp truân chuyên

Quyết không hèn, chọn cái chết trung kiên!

Kèn dâng hiến âm chiêu hồn Tử Sĩ.”

Ý Nga, 20-10-2013 (TRUY ĐIỆU)

“Cho dù bị giặc bủa vây

Cuộc đời binh nghiệp dựng xây vì Nhà.

Không riêng Võ Bị Quốc Gia;

Công Binh Kiến Tạo, Lính Già, Quân Y,

Bộ Binh, Quân Cảnh… cũng vì

Thương dân, bảo quốc. Oai nghi Nhảy Dù,

Cục Quân Tiếp Vụ, Quân Nhu…

Anh em Biệt Kích chống thù: Cộng nô.

Biệt Khu bảo vệ Thủ Đô,

Công Binh Chiến Đấu giúp cho Quân Đoàn,

Chỉ Huy hay Hạ Sĩ Quan,

Lục, Không, Hải, Địa Phương Quân… luyện thuần

Biết luôn “Tự thắng, dấn thân”

Quyết vì TỔ QUỐC: dân cần, có ngay!

Các Quân Binh Chủng dạn dày

Chiến trường đổ máu, cờ bay giữ vàng.

Bao nhiêu chiến tích vẻ vang

Bấy nhiêu khí thế vinh quang lưu truyền

Giữ thơm DANH DỰ, luyện rèn

Tinh thần TRÁCH NHIỆM võ biền: sử lưu.

Ý Nga*8.4.2017 (VINH DANH NGƯỜI LÍNH CỘNG HÒA)

Song song với những vần thơ tôn vinh các anh Lính Cộng Hòa đã vì đại nghĩa quyên sinh trong ngày tang tóc của lịch sử Việt Nam.  Ngoài ra, Ý Nga cũng còn sáng tác những vần thơ cổ vũ chiến thắng oanh liệt của các đơn vị QLVNCH:

Chiến Sĩ Cộng Hòa

Miền Nam giữ vững thành trì

Bao công Chiến Sĩ trường kỳ dấn thân

Noi gương tâm huyết tiền nhân

Luôn luôn giữ vững tinh thần Quốc Gia.

Một lòng gìn Nước, giữ Nhà

Dân thương, không ngớt ngợi ca rộn ràng.

Nhờ Anh, dân tộc an khang

Ấm no, hạnh phúc huy hoàng nhiều năm.

Cứu dân thoát cảnh tối tăm,

Tấm lòng quyết chống ngoại xâm rịt ràng

Tô son hùng sử bao trang

Lưu đời chiến thắng sử vàng vẻ vang

Vô vàn rực rỡ hào quang

Sáng ngời áo trận vinh quang mọi đàng!

Ý Nga*24.4.2017 (VIỆT CỘNG CỨU NƯỚC HAY CÚ NƯỚC?)

Qua thơ, Ý Nga cũng gửi gấm tình cảm nồng nhiệt và lòng ngưỡng mộ chân thành tới các anh Lính Cộng Hòa:

Thương Anh nén hận căm gan

Trui rèn ý chí: bạo tàn đạp tung!

Thương dân: vẫn góp sức cùng!

Ôi ơn Chiến Sĩ! Dũng, hùng ngàn năm!

(HÀO QUANG NGƯỜI LÍNH CỘNG HÒA. Ý Nga, 1-12-2014)

***

Vai súng đạn, từng mục tiêu chu đáo

Chiếm! Cho dân được lành áo, no cơm!

Nên chúng ta phải viết, ủ danh thơm:

Lòng can đảm bao Anh Hùng Giữ Nước!

Người Đi Trước chưa bao giờ khiếp nhược!

*

Lìa quê hương, sao quên được ơn Người?

Lòng tri ân xin ghi khắc một đời

Cờ phất phới sắc Vàng làm minh chứng!

Xin ngưỡng phục từng âm thầm chịu đựng

Những Tôi Trung của dân tộc oai hùng!

Làm gương soi, hương chiến đấu thơm lừng

(Ý Nga, 7-4-2011- NGƯỜI LÍNH DŨNG CẢM!)

Dù bị bức tử trong uất hận, QLVNCH vẫn sống với ký ức kiêu hùng qua tuyển tập thơ: “TRI ƠN CHIẾN SĨ VNCH” của Ý Nga, trong đó, những chiến công hiển hách của một thời oanh liệt đã làm rạng danh Việt Nam Cộng Hoà, một quốc gia giữ trọng trách “Tiền Đồn của Thế Giới Tự Do” đã không hổ thẹn trước lịch sử Thế Giới khi nhân loại đi vào ngõ cụt suy thoái trước làn sóng đỏ:

“Thương Người Anh Dũng, gian nan

Đầu tên, mũi đạn nguy nàn vì dân.

Bốn mươi năm, vạn mộ phần

Anh linh ngút hận: ngoại nhân lan tràn!”

           Và:

“Thật hãnh diện! Danh truyền bao Chiến Sĩ!

Tuổi hoa niên dâng hiến: giữ chủ quyền!

Vì bình yên, lính chiến đánh liên miên

Đời chinh chiến bao trận tiền đối diện.”

(QUY CỐ HƯƠNG-Ý Nga, 20-11-2014)

*

Lời kết của NGƯỜI ĐỌC THƠ Ý NGA hôm nay là xin ghi vào đây, hình ảnh một nữ TRƯỞNG HƯỚNG ĐẠO, có đầy lòng yêu thương các em Hướng Đạo Sinh, các em học trò trường Việt Ngữ; yêu thương người chồng đồng CHÍ HƯỚNG: một trưởng Hướng Đạo luôn tha thiết với quê hương, yêu thơ và yêu DÂN VIỆT.

                                                          ***

Tôi xin chân thành cảm ơn những vần thơ của Ý Nga đã gây cho tôi nguồn cảm hứng trung thực khi viết bài giới thiệu này.

San Jose ngày 5 Tết Mậu Tuất (2018)

Nguyễn Hữu Luyện

[i]   Bià sau của tác phẩm THUYỀN NHÂN (thơ Ý Nga, NGUYỄN HỮU NHẬT trình bày, ảnh tác giả do PHAN THẾ VINH chụp)

[ii]   WJC là viết tắt của WILLIAM JOINER CENTER chuyên nghiên cứu về chiến tranh và hậu quả về xã hội của chiến tranh.  WJC thuôc University of Massachusetts at Boston thường viết tắt là WJC/Umass Boston.  WJC mời các học giả và những nhà văn từ Hà Nội sang UMASS BOSTON thực hiện một chương trình nghiên cứu có tầm cỡ quan trọng, do Rockefeller Foundation cấp học bổng $250.000, để viết chương trình nghiên cứu với nhan đề: “RECONSTRUCTING IDENTITY AND PLACE IN THE VIETNAMESE DIASPORA (tạm dịch là: TÁI XÂY  DỰNG DIỆN MẠO VÀ QUÊ HƯƠNG CỦA NGƯỜI VIỆT Ở NƯỚC NGOÀI).

Vào thời điểm này, đại đa số người Việt ở nước ngoài là Người Việt Tỵ Nạn CS. Đem đảng viên cao cấp của đảng cộng sản VN từ Hà Nội sang Mỹ để viết lại căn cước của  người VN tỵ nạn CS là một nghịch lý giống như đem bọn cướp của giết người vào Đại Học để viết về nạn nhân của chúng,  Theo luật pháp Hoa Kỳ, Cộng Đồng chúng ta  không có quyền cấm ai viết về mình, nhưng chúng ta có quyền vô hiệu hoá chương trình nghiên cứu vừa vi phạm quy luật hàn lâm rất nghiêm khắc của ngành Đại Học Hoa Kỳ, vừa chứa đựng âm mưu chính trị đen tối của một Đại Học thân Cộng.

Cộng Đồng Người Việt Tỵ Nạn CS trên khắp thế giới đã đồng tâm:

1/ Về phương diện hàn lâm, chúng ta không thể để chương trình nghiên cứu này đi vào các thư viện nghiên cứu của Hoa Kỳ và các quốc gia khác. 2/  Dựa trên nguyên tắc hàn lâm là “KHI NGƯỜI VIẾT NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN VỚI ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU THÌ MẶC NHIÊN CHƯƠNG TRÌNH NGHIÊN CỨU ĐÓ COI NHƯ VÔ GÍA TRỊ VÌ THIẾU VÔ TƯ.

3/ Cộng Đồng VN đã mau chóng đưa WJC ra trước pháp luật với đủ bằng chứng. Trong vụ kiện tập thể (CLASS ACTION) này, chúng ta nhằm mục đích VÔ HIỆU HOÁ CHƯƠNG TRÌNH NGHIÊN CỨU NÀY, chúng ta thắng hay thua, thì kết qủa cuối cùng cũng như nhau: về phương diện hàn lâm, khi một chương trình nghiên cứu lại bị chính ngay chủ đề nghiên cứu đưa ra toà nhất là ra tới Toà TỐI CAO (Supreme Court) thì không còn môt học giả nào có thể dùng  nó làm tài liệu nghiên cứu nữa.

Kết qủa là WJC được Tòa Tối Cao tuyên án VÔ CAN.  Chúng ta THUA về pháp lý, nhưng chúng ta đã THẮNG về mặt HÀN LÂM, có nghĩa là chương trình nghiên cứu của WJC/UMASS BOSTON hoàn toàn vô giá trị về mặt HÀN LÂM.

(Y Nga gui)

*** “ĐÊM ĐÊM HÀN THỰC, NGÀY NGÀY NGUYÊN TIÊU”

SONY DSC     Châu Thạch

BÀN VỀ CÂU THƠ

“ĐÊM ĐÊM HÀN THỰC, NGÀY NGÀY NGUYÊN TIÊU”

                                      Gần đây học giả  Lại Quảng Nam có viết một bài đề cập đến câu thơ “Đêm đêm Hàn Thực ngày ngày Nguyên Tiêu” của Nguyễn Du. Trong bài viết nầy học giả Lại Quảng Nam có nhắc lại những điều tôi xin tóm tắt gọn lại sau:

  1. Ong Vân Hạc Lê văn Hòe (1953) với quyển Truyện Kiều Chú-Giải rất nổi tiếng trong văn giới và trong giới giáo dục. Ông dừng rất lâu lại tại câu Kiều thứ 942 này, với ưu tư là tại sao Nguyễn Du lại viết “Đêm đêm Hàn Thực, ngày ngày Nguyên Tiêu”, mà lại không viết “ngày ngày Hàn thực, đêm đêm Nguyên tiêu”. Cụ Lê Văn Hoè viết “Lý ra phải viết như thế này thì mới đúng:”Đêm đêm Nguyên tiêu, ngày ngày Hàn thực”, bởi tất cả lễ lạc đông người dành cho quần chúng do triều đình Tàu sắp đặt đều xảy ra, ban ngày cho Hàn Thực, ban đêm cho ngày Nguyên Tiêu. Cụ Lê văn Hòe nhận định thêm: “Có lẽ vì nhu cầu vần thơ”
  2. Tại Việt nam có một người Tàu tên là An Chi, khi giữ mục Chuyện Đông Chuyện Tây trên tờ KTNN* vào đầu thập niên 90 tại Việt Nam viết như sau về Nguyễn Du “Tóm lại…; trong điều kiện cụ thể của câu thơ đang xét thì Nguyễn Du không thể vùng vẫy ngọn bút của mình một cách hoàn toàn thỏa mái được. “Đêm đêm Hàn Thực, ngày ngày Nguyên Tiêu” trong đó ông tác giả đã bị gò bó về thanh điệu và vần điệu…., Chẳng qua vì… túng vận nên ông mới lấy đêm làm ngày, lấy ngày làm đêm đó mà thôi”

 

Sau đó học giả Lại Quảng Nam đã phản bác những ý kiến trên. Xin mời quý bạn đọc vào trang web vanngheqt.blogspot.com và nhiều trang web khác để đọc.

Châu Thạch tôi vốn học ít, trí hèn, không dám nhận xét gì về ý kiến của các vị học giả, vốn là những người có vai vế trên văn đàn, chỉ xin góp một chút suy luận thô thiển của mình để bạn đọc giải trí năm ba phút mà thôi. Nếu có sự sai trái xin lượng tình thứ cho.

“Đêm đêm Hàn Thực ngày ngày Nguyên Tiêu” là câu thơ của Nguyễn Du nhưng ông lấy tư cách của Tú Bà đề viết lời khấn vái. Đây là đoạn mà Nguyễn Du mô tả lần đầu tiên Thúy Kiều nằm trong tay Tú Bà, một chủ chứa. Tú Bà van vái trước tượng thần Bạch mi (vị thần bảo trợ cho nghề bán phấn buôn hương ) cho bà được buôn may bán đắt:

935. Cởi xiêm lột áo sỗ sàng,
Trước thần sẽ nguyện mảnh hương lầm rầm.
Đổi hoa lót xuống chiếu nằm,
Bướm hoa bay lại ầm ầm tứ vi!
Kiều còn ngơ ngẩn biết gì,
940. Cứ lời lạy xuống mụ thì khấn ngay:
”Cửa hàng buôn bán cho may,
Đêm đêm hàn thực, ngày ngày nguyên tiêu,
Muôn nghìn người thấy cũng yêu,
Xôn xao oanh yến rập rìu trúc mai!
945. Tin nhạn vẩn, lá thư bài,
Đưa người cửa trước, rước người cửa sau”.
Lạ tai, nghe chửa biết đâu,
Xem tình ra cũng những màu dở dang.
Lễ xong hương hỏa gia đường,
950. Tú Bà vắt nóc lên giường ngồi ngay.

 

Theo Châu Thạch tôi nghĩ câu thơ  “Đêm đêm Hàn Thực ngày ngày Nguyên Tiêu”có ý nghía sau đây:

1)Ý thứ nhất;

– Đêm đêm Hàn Thực : Có nghĩa là đêm nào cũng vui chơi như ngày có lễ Hàn Thực

– Ngày ngày Nguyên Tiêu: Có nghĩa là ngày nào cũng vui chơi như đêm có  lễ Nguyên Tiêu

–  Đêm đêm Hàn Thực ngày ngày Nguyên Tiêu: Đêm đêm vui chơi như ban ngày. Ngày ngày vui chơi như ban đêm

– Tóm lại “Đêm đêm Hàn Thực ngày ngày Nguyên Tiêu” có nghĩa là vui chơi mút mùà, không phân biệt ngày đêm.

2)Ý thư hai:

– Hàn Thực: “Hàn thực, ngày 3 tháng 3 âm lịch, kỷ niệm ngày Giới Tử Thôi bị chết cháy. Bên Tàu, ban ngày tổ chức các cuộc vui chơi, ngày này là ngày cấm lửa, ăn thức ăn  nguội .

– Nguyên Tiêu: Đêm Nguyên Tiêu là đêm rằm tháng giêng, đêm trăng tròn đầu năm âm lịch. Ngày này thời Đường, vua lệnh cho mở hội đốt pháo bông, lễ Phật.

– Qua hai định nghĩa trên ta thấy rằng các trò vui chơi trong ngày Hàn Thực và đêm Nguyên Tiêu là các trò vui chơi thanh nhã, không dung tục. Từ đó ta thấy rằng Tú Bà tuy là một chủ chứa, nhưng bà xin thần Bạch Mi phù hộ chổ động chứa của bà vui chơi theo phong cách thanh nhã. Như thế động chứa của bà là nơi ăn chơi của giới thương lưu đài các hay kẻ sĩ. Nhờ vậy sau nầy Thúy Kiều mới gặp được Thúc Sinh là một trang phong lưu hào hào. Cũng theo kiểu ăn chơi cao cấp, phong lưu nầy, ngày sau ở một thanh lâu khác Thúy Kiều gặp được Từ Hải là một anh hùng.

  Kết luận: Bởi lý giải trên ta thấy rằng Nguyễn Du viết “Đêm đêm Hàn Thực ngày ngày Nguyên Tiêu” là một sự dùng chữ cố ý của tác giả, không phải là do “bị gò bó thanh điệu” mà ông phải “hoán vị ngày ngày với đêm đêm”. Cách chơi chữ nầy khiến cho câu thơ đầy hàm xúc, vừa làm âm điệu câu thơ hay thêm, lại vừa diễn tả trọn vẹn nhừng cuộc vui chơi triền miên phong lưu và trang nhã nơi động chứa của Tú Bà. Phải nói rằng khi Nguyễn Du cho Tú Bà khấn như thế,không ai đọc mà nghĩ rằng nhà thơ muốn đảo lộn cuộc vui chơi của đếm qua ngày và ngày qua đêm. Ngược lại ai cũng tự nhiên hiểu được lời khấn có ý nghĩa trọn vẹn là xin cho thanh lâu của bà ngày đêm gì cũng có đàn ca, hát xướng, ngâm vịnh, uống rượu và các trò vui hoa bướm dập dìu khác thịnh hành thời bấy giờ. Như vậy, khi phóng bút viết câu thơ đảo lộn nầy, Nguyễn Du đã trực chỉ phát họa trong cảm nhận của người đọc cảnh ăn chơi và phong cách ăn chơi tại thanh lâu của Tú Bà. Từ đó ta có thể thấy rằng trong câu thơ nầy Nguyễn Du dùng chữ biến hóa rất “thoải mái” chớ không phải vì  muốn cho “trơn” câu thơ  mà thần thơ buộc phải viết thế./.

                           

*** Nợ nhau kiếp nào ….

Thư viện của bài

This gallery contains 1 photo.

Lanney Trần

Cali, ngày … tháng …

Những dòng chữ viết dang dở xen kẽ lẫn nhau giữa lúc tỉnh giấc với nước mắt và khi ngất đi chẳng biết bao lâu. Một tí gì đó để lại cho những người bạn của tôi có thể hiểu thêm về người con gái thầm kín năm xưa. Bố tôi nói đây là chặng đường Thập Giá mà Chúa muốn tôi phải vượt qua …, tôi chỉ ước ao đến những bụi calla lilies trắng ở cuối con đường …

Tôi kg biết mình đã ngủ bao lâu, chỉ nghe tiếng mẹ gõ cửa phòng, “Vy ơi, có bạn con đến thăm con nè…”. Một dòng sóng điện từ đâu chạy khắp người tôi, tôi mừng rỡ hớn hở, vui sướng gồng mình ngồi dậy, “anh đã đến thật sao…” Nụ cười của niềm hạnh phúc hiện sẵn trên môi chờ đợi cánh cửa phòng hé mở, tiếng của mẹ lại vang lên, “nó ngủ trong phòng đó, con cứ vào đi.” Cánh cửa phòng hé mở, niềm vui trong thoáng chốc đã vụt tắt, kg phải là người tôi đang mong mỏi chờ đợi…
Tiếp tục đọc

*** TRUYỆN NGẮN TRẦN HỮU HỘI

MANG VIÊN LONG

TRUYỆN NGẮN TRẦN HỮU HỘI –

Những Trang Viết Hiện Thực Đời Sống Tâm Huyết.

           Trần Hữu Hội người làng An Lưu, huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị, nhưng vừa lớn lên đã phải trôi dạt nhiều nơi vì chiến tranh; từ Biên Hòa, Đà Nẵng, Ninh Thuận rồi Sài Gòn. Bút danh Trạch An của anh được ghép hai tên làng của cha và mẹ (Thượng Trạch – An lưu).

Giống như một số người cầm bút khác, anh đã có đam mê văn học từ thuở còn học lớp 12, nên dạo ấy đã lập bút nhóm Hội Hữu, cùng các bạn học sinh, sinh viên tại Ninh Thuận cùng sinh hoạt văn nghệ; với sự giúp đỡ của họa sĩ – điêu khắc gia Phạm Văn Hạng. Bút nhóm đã xuất bản tuyển tập thơ văn, do nhà văn Trần Hữu Ngũ trình bày bìa và in roneo. Tuy vậy, anh thật sự dành thời gian cho việc sáng tác chỉ từ năm 2010, khi bị bệnh tắc động mạch chị, phải cắt bỏ chân phải. Anh tham gia đăng bài ở các trang website.. trong và ngoài nước và sinh hoạt văn nghệ với nhóm Quán Văn, từ dạo đó…:

Năm 2014, anh cho giới thiệu tập truyện đầu tay “Hạt Mầm Trót Vay” Sang năm 2015, xuất bản tập “Số Mạng”. Những truyện ngắn của anh hầu hết là ghi lại, phản ảnh đời sống hiện thực chung quanh; từ gia đình, quê nhà, tình yêu, đến những đổi thay, chuyển biến xã hội, của thời cuộc ngày càng phức tạp, đau buồn! Ngoài truyện ngắn, Trần Hữu Hội thường viết bút ký, tạp bút, về nhiều lãnh vực quan thiết của đời sống. Trần Hữu Hội còn sáng tác thơ – những bài thơ trữ tình, hồn nhiên, trong sáng của anh, được nhiều bạn đọc yêu thích.

Trong giới hạn một bài ghi nhận ngắn, tôi chỉ xin chia sẻ đôi điều về tính chất các truyện ngắn của Trần Hữu Hội – đó là “những trang viết hiện thực đời sống tâm huyế”  mà chỉ có người cầm bút chân chính, vô tư có trách nhiệm, mới trang trải hết lòng mình.

Thãm trạng gia đình, được tác giả quan tâm nhiều hơn, với nhiều chi tiết hiện thực chân xác. Có thể nói đây là một vấn nạn xã hội đau buồn, mà tất cả người đọc đang quan tâm: “Chỉ sau khi sinh đứa con hai năm, cô ấy bắt đầu ngoại tình với một cán bộ tài chính huyện, họ có chung một đường dây huê hụi lớn trong vùng, trên danh nghĩa làm ăn, họ gần gũi nhau cho đến khi tôi bắt gặp, ngay trong phòng ngủ ngôi nhà mình! Ngôi nhà đứng tên cô ấy nên tòa tịch biên sau khi họ bỏ trốn, tôi về ở với Mẹ!”..( Người Khách Cuối Năm)

Nền tảng đạo đức xã hội chao đảo, những giá trị luân lý bị lãng quên, thì sẽ ảnh hưởng đến hạnh phúc gia đình là điêu không thể tránh khỏi: “…Ba năm trước, tôi mới biết cô ấy đang ở Buôn Ma Thuột, đứa con trai của tôi và cô ấy phải vào tù vì dính vào một vụ cướp! Tôi tìm lên thăm con…Biết sự tình là trong đám thanh thiếu niên của vụ án, con tôi chưa đủ tuổi thành niên, nhưng muốn lo lót trước khi tòa xử, phải chạy một khoản tiền mà cô ấy không có hay không muốn bỏ ra, tôi phải trở về bán lô đất và căn nhà này…Nhưng rồi cũng không lo được cho đứa con thoát vòng tù tội! Tiền mất tật mang, nó ra tòa lãnh án bốn năm tù giam! Cô ấy lại cùng chồng mới trốn đi lần nữa! Họ đã có với nhau hai đứa con… Không đành bỏ con tù tội không ai thăm nuôi, tôi mua một đám đất nhỏ, dựng một cái chòi…rồi hàng ngày đi làm thuê, vừa nuôi bản thân vừa dành dụm hàng tháng đi thăm con trong tù!”. ( Người Khách Cuối Năm)

Hạnh phúc tìm lại được trong đời sống cũng quá gian truân, ngắn ngủi, bất hạnh: “Chúng tôi nâng niu từng ngày niềm hạnh phúc muộn màng. Hai chúng tôi cùng mong mỏi một đứa con cho trọn vẹn hạnh phúc chồng vợ…Nàng mang thai sau một năm chung sống. Đứa con lớn dần, là con trai và đã được năm tháng! Tôi không để cô ấy làm một việc gì, cực chẳng đã phải đi xe máy như đi chợ thì tôi chở đi…Khi tôi lo lắng ngăn ngừa tai họa từ hướng này thì bằng ngã khác, tai ương ập đến với chúng tôi!”.

Với giọng văn giản dị, chân thành – tác giả từ tốn kẻ tiếp về nỗi khổ đau, mất mát thưởng bất ngờ ập đến cho đời sống mọi người: ”Năm đó cũng vào những ngày cuối năm, trước lễ giáng sinh vài hôm, trong một lần tắm, cô ấy bị ngã trong phòng tắm, bụng cô ấy dập vào bồn cầu…Tôi kinh hãi nhìn cô ấy đớn đau trong máu và nước! Khi đến bệnh viện thị xã, thì cả cô ấy lẫn thai đều quá yếu. Buộc phải mổ đưa thai ra để chăm cho mẹ… :
– Không thể cứu được cháu, chị vẫn còn hôn mê nhưng đã qua cơn nguy kịch. Anh đem cháu về rồi sáng mai trở lại!
” ( Người Khách Cuối Năm)

Kết thúc câu chuyện, Trần Hữu Hội cho Thuyết – nhân vật trong truyện, nghĩ hộ mình một cách vô vọng về cuộc đời, mà lẽ ra, tác giả nên có một hướng đi tích cực hơn: “Anh ngẫm nghĩ: hạnh phúc của kiếp con người, bao giờ cũng mong manh ngắn ngủi, nhưng nỗi bất hạnh thì xem chừng như trùng trùng, vô tận!!!”.

Bên cạnh các vấn nạn lớn, Trần Hữu Hội, cũng đã dành cho tình bạn, tình quê những trang viết đầy cảm xúc. Truyện ngắn “Bạn Già” tuy được viết với ít chi tiết hơn, đơn giản hơn, có thể nghĩ là “khô và đơn điệu” – nhưng là một truyện ngắn hay của anh. Truyện kể về hai người bạn đồng hương Quảng Trị – Phúc và Tấn, cùng học chung thời Tiểu học, Trung học, rồi cùng tha phương vì chién tranh lan rộng, đe dọa cuộc sống an bình: “Cả hai cùng sinh ra từ Quảng Trị, một tỉnh miền Trung giáp ranh với vĩ tuyến 17, nơi con sông ngăn chia hai miền Nam Bắc. Sự kiện lịch sử này xảy ra hai năm trước khi cả hai chào đời, không phải sinh ra cùng một nơi. Tấn ở huyện Triệu Phong, một vùng lúa gần biển, còn Phúc ở Cam Lộ, một huyện vùng cao.

Chiến tranh liên miên và rồi năm 1972, khi phe bên kia tấn công vào tỉnh lỵ này, họ chạy vào Huế, rồi Đà Nẵng, ở trong những trại tạm cư. Chuyện về lại chốn chôn nhau cắt rốn ngày càng xa vời, vả lại rồi cũng đạn bom tang tóc bởi chiến tranh chưa thôi, nhiều gia đình cùng nhau di dân, vào khai hoang lập cư trong vùng rừng núi này, dưới sự chăm lo của một Linh Mục.

Ba năm được sống gần nhau ở khu trại tạm cư, được ngồi chung lớp. Rồi “Phúc vào Đại học sư phạm Sài Gòn, ngành Khoa Học. Tấn lên Viện Đại Học Đà Lạt, cũng khoa sư phạm, ban Việt- Hán”.

Biến cố 1975 đã làm thay đổi cuộc đời họ, như bao cuộc đời khác “ –“Chưa tròn niên khóa thì biến cố 75 ập đến. Tấn không thể tiếp tục việc học hành, anh trở về với gia đình. Cha đi học tập cải tạo, là lao động chính trong nhà, anh vừa đi nghĩa vụ khai hoang, thủy lợi… vừa giúp mẹ làm rẫy. Phúc ở lại Sài gòn tham gia các phong trào Thanh Niên, nghe đâu là một trong những phần tử tiến bộ của đoàn Thanh Niên Thành phố, có lần được tuyên dương trên báo Sài Gòn!”.

Một lần Tấn đi buôn, vào Sài Gòn tìm thăm Phúc. Lẽ ra đó là cuộc hội ngộ hạnh phúc nhất của đôi bạn đồng hương, nhưng lại là một lần hội ngội buồn bã, bởi vì Phúc nay là một cán bộ nhà văn hóa, còn Tấn là “một con buôn”. Phúc đã “lên giọng” với Tấn: “đi buôn như thế là tiếp tay với gian thương làm lũng đoạn thị trường”. Trong lúc Tấn “bất lực không cãi lại được trước những từ ngữ, lập luận xa lạ mà Phúc đưa ra. Anh chỉ đơn giản muốn cho Phúc hiểu rằng là không đi buôn thì không có cái gì ăn, kể cả nước mắm!”.

Tấn đã phải trải qua một đêm thao thức, chua xót nơi xứ lạ:“Tấn ra ga Bình Triệu, nằm gối đầu lên ba cái bao tải đựng mỳ lát cuộn lại mà hận thằng bạn, những lý luận về kinh tế nghe thật chặt chẽ nhưng không có điều nào phù hợp với thực tế của cuộc sống nơi Tấn ở. Phúc không chịu nhận ra là cái đói khổ hầu như đã tràn khắp nông thôn”.

Làm cán bộ được vài năm, Phúc lại vào ngồi tù mấy năm vì “giải quyết công việc theo cảm tính và sai nguyên tắc” – rồi từ trại tù về quê. Rồi lại ra đi. Một đêm “Phúc khoanh hai tay co gối, một cơn gió nhẹ làm sương đêm thêm lạnh, bình trà bằng thiếc của cái quán vỉa hè không đủ giữ hơi nóng, đã lạnh ngắt từ lúc nào! Anh ao ước có một góc nhỏ nào đó, đẩy chiếc xích lô vào rồi ngã lưng kéo một giấc qua đêm. Lâu nay anh khá yên ấm dưới cầu thang của chung cư Thanh Đa. Đêm nay lại có đợt truy quét những người không hộ khẩu, làm nhốn nháo những kẻ vô gia cư trú ngụ nơi đây, thường thì vài hôm có khi cả tuần rồi đâu lại vào đó, nhưng lần này xem ra quyết liệt hơn, cả chục chiếc xe chở đám vô gia cư về quận ngay trong đêm”. Phúc may mắn gặp được bà cụ tốt bụng bán quán nước nhỏ bên góc phố, thương tình che chở, cho ăn cho ngủ – Phúc đã nhận nơi nầy làm nhà, và gắn bó với bà cụ, cùng cô cháu gái của bà đang gặp bất trắc, đau lòng trong tình yêu, khi đã mang thai sắp sinh con, mà người yêu vắng bặt. “Bà cụ đã quá quen với những chuyện muộn phiền trong cuộc đời khốn khổ, cam phận chấp nhận thêm chuyện dại dột của đứa cháu, nhưng bà lo lắm, cái bụng quá to so với vóc người ốm yếu xanh xao của nó!” (…)

Một ngày, Phúc đã tìm về thăm Tấn ngày xưa ở quê – đây là một đêm hạnh phúc mà hơn 30 năm trải qua biết bao thăng trầm, khổ đau, đôi “Bạn Già” mới được hưởng trọn vẹn. Hãy nghe tác giả kể lại – thật xúc động:

“- Ở lại, ở lại với tao, tụi mình nằm chung như cái hồi trai trẻ. Qua tết là tụi mình sáu chục rồi, có chết cũng được ghi là “hưởng thọ” thay vì “hưởng dương” trên tờ cáo phó, mau thiệt!
-Ừ mau thiệt, đi ngủ, mày còn gác như hồi xưa không?
-Bỏ lâu rồi nhưng đêm nay tau kẹp cổ mày cho nó sướng.
-Ừ, cho mày kẹp.
Hai cái thân già xiêu vẹo dìu nhau đi trong bóng đêm mờ mờ hơi sương, lành lạnh buổi cuối đông
.”.

Đưa vào tác phẩm nhiều chi tiết, nhiều tình huống phức tạp, theo tôi không phải là điều cần thiết cho một truyện ngắn hay – mà trái lại, cần cô đọng, với ít chi tiết nhưng mới lạ, cùng tư tưởng sâu sắc quan yếu cho đời sống muốn giải bày, mới là một truyện ngắn tốt. Trần Hữu Hội đã phần nào làm được điều đó ở một số truyện ngắn của anh hôm nay……

Tháng 4.2018.
MANG VIÊN LONG