*** VÀNG THU TA RỤNG …

Châu Thạch

thuvang2
ĐỌC “VÀNG THU TA RỤNG…” THƠ THỤY SƠN
                                             
VÀNG THU TA RỤNG …                  Thụy Sơn .
Quên choàng y áo chân tu
Qua sông để rớt kinh thư thuở nào
Đọa làm kiếp lá hanh hao
Vàng thu ta rụng xanh xao nỗi buồn

Áo đời hai mảnh vá suông
Sợi khâu tang hải sợi luồn bể dâu
Bàn chân giẫm nát đêm nhàu
Thái hư xẻ nửa trăng đầu khuyết hao
Hành châu nghịch thủy về đâu
Sóng tràng giang nhuộm trắng màu biệt ly
Đò chưa qua buổi xuân thì
Sông trăng dường đã già đi nhánh buồn
Ta ngồi chải tóc hoàng hôn
Sợi dài thế kỷ mót bòn yêu thương
Đò mai rẽ bến Tiêu Tương
Khóc ròng con nước nguyên sương quê nhà
Buồn vui túy ngọa giang hà
Vàng thu ta rụng cội tà huy xưa ./.
TS
Lời bình: Châu Thạch
Đọc cái đầu đề “Vàng Thu Ta Rụng…” chắc không ai hiểu gì. Đọc qua khổ một của bài thơ thì hiện lên trong mắt ta cả nỗi sầu hanh hao từ tiền kiếp. Lá cũng có linh hồn và lá trong thơ là hóa thân của một vị chân tu bị đọa từ kiếp trước bởi sơ hở trên con đường tu tập:
Quên choàng y áo chân tu
Qua sông để rớt kinh thư thuở nào
Đọa làm kiếp lá hanh hao
Vàng thu ta rụng xanh xao nỗi buồn
Cả một câu chuyện về luân hồi được kể lại trong bốn câu thơ. Một câu chuyện hoàn toàn hư cấu nhưng là một câu chuyện tưởng tượng độc đáo.
Chiếc lá vàng rơi mùa thu là quả của nhân. Cái nhân đẹp thì cái quả cũng đẹp. Nhân là vị chân tu thanh tịnh thì quả là chiếc lá vô tư trên cây. Nhân “quên choàng y áo” nên hậu quả của một sự vô tình đó là “để rớt kinh thư”. Rớt kinh thư trở thành tội để luân hồi kiếp sau thành chiếc lá.
Áo của tu sĩ màu vàng thì quả cũng nhập xác vào chiếc lá màu vàng để “vàng thu ta rụng”.
Tác giả đã hòa nhập triết thuyết Phật giáo vào thơ, dùng hình ảnh thanh thoát, câu từ thi vị để diễn đạt cái nghiệp lực mà dầu một vị chân tu cũng phải nhận lảnh.
Đọc thơ ta để ý đến chữ “ta” mà tác giả đã dùng. “Ta” chính là mình, là tác giả. Nếu không là sự cảm biết bản thân trong quá khứ thì cũng là một cảm ứng giữa kiếp trước và kiếp nầy trong hồn thơ tác giả.
Chữ “ta” làm cho tác giả nhập vào sự kiện, làm cho chuyện kể trở nên thực và làm cho người đọc cảm nhận gần gủi với câu chuyện hoàn toàn hư cấu mà tác giả nghĩ ra.
Nhà sư trong thơ “Đọa làm kiếp lá hanh hao”cũng đẹp tuyệt vời. Ngài không sa vào dục vọng trần gian, ngài chỉ lảng quên “choàng y áo” khiến sinh hệ luy mất kinh thư, từ đó sự đọa thành chiếc lá vàng của ngài cũng đẹp như chiếc lá thu bay vậy.
Qua khổ thơ thứ hai, rõ ràng tác giả hóa thân mình vào nhà sư, hóa thân mình vào chiếc lá, với những trăn trở của mình trong kiếp nhân sinh:
Áo đời hai mãnh vá suông
Sợi khâu tang hải sợi luồn bể dâu
Bàn chân giẫm nát đêm nhàu
Thái hư xẻ nửa trăng đầu khuyết hao
Hai câu thơ đầu, tác giả lấy ý từ thành ngữ “Tang điền biến vi thương hải và ngược lại” (ruộng dâu biến thành biển xanh và ngược lại) nhưng hay và lạ ở chổ, nhà thơ đã đem hai sự kiện lớn lao làm thành một chiếc áo của đời mình.
Hình ảnh trong thơ diễn đạt sống động chiếc áo “tang thương” là hai mảnh của kiếp người với tất cả nghĩa vô thường của nó.
Hai câu thơ kế tiếp diễn tả hình ảnh kiếp người trong đêm tối mông lung.
“Thái hư” là “khoảng trống không vô định”. Trong khoảng trống không vô định đó, con người dẫm nát bóng đêm để đi tìm chân lý. Thế nhưng chỉ thấy “ nửa trăng đầu khuyết hao”nghĩa là chẳng thấy vầng trăng tròn bao giờ, hay là chân lý chưa hề hiện ra trọn vẹn. Chân lý chỉ thấy từ xa như thấy nửa vầng trăng.
Khổ thơ nầy hoàn toàn là miêu tả cái “khổ đế”của Phật giáo, nhưng diễn đạt bằng ngôn ngữ của thơ, hình tượng nỗi đau bằng hai mãnh áo, hình tượng sự mê muội bằng đêm thâu và hình tượng sự trôi lăn vạn kiếp lạc bước trong vô định để nhìn thấy chân lý như nửa vầng trăng, không trọn vẹn bao giờ . Bốn câu thơ bi quan, mô tả đời người trong hố thẳm tội lỗi, muôn kiếp mịt mờ trong bóng tối hư vô.
Khổ thơ thứ ba nhà thơ diễn đạt sự đấu tranh nhọc nhằn, sự tìm kiếm trong vô vọng, cùng sự phôi pha của một kiếp nhân sinh:
Hành châu nghịch thủy về đâu
Sóng tràng giang nhuộm trắng màu biệt ly
Đò chưa qua buổi xuân thì
Sông trăng dường đã già đi nhánh buồn
“Hành châu nghich thủy” có nghĩa là đi ngược dòng nước. Người xưa có câu “Nghich thủy hành châu bất tiến bất thoái” nghĩa là đi ngược dòng nước thì tới cũng không được mà lui cũng không được. Câu thơ đầu chỉ sự nan giải của một kiếp người, mắc kẹt giữa dòng đời như chiếc thuyền đi ngược dòng sông. Câu thứ hai mô tả dòng đời đầy sự biệt ly buồn ảm đạm.
Qua hai câu thơ sau “Đò đưa qua buổi xuân thì/ Sông trăng dường đã già đi nhánh buồn”nhà thơ đã nhìn vào đời bằng con mắt tâm lý của mình. Tất nhiên tuổi con sông phải già nhưng người qua sông lại thấy nó già hơn cái già của nó, giống như người đã ngao ngán cuộc đời vì thấy cuộc đời nhiêu khê và cằn cổi khi mình đang ở tuổi xuân thì.
Rồi thì bởi cái nhìn tâm lý, thấy đời già trước tuổi thọ của mình, nhà thơ mang tâm trạng bi quan yếm thế, ngồi thở than bên dòng sông định mệnh:
Ta ngồi chải tóc hoàng hôn
Sợi dài thế kỷ mót bòn yêu thương
Đò mai rẽ bến tiêu tương
Khóc ròng con nước nguyên sương quê nhà
Bến Tiêu Tương là bến ở sông Tiêu Tương, nơi đây có chuyện tình Trương Chi-Mỵ Nương. Mỵ Nương rơi lệ xuống chén ngọc làm bằng quả tim anh lái đò có tiếng hát làm lung linh trăng vàng. Trương Chi, người đã chết xuống tuyền đài với tình yêu say đắm nàng vĩnh viễn. Trái tim chàng chỉ tan ra trong giọt nước mắt của nàng. Nhà thơ Thụy Sơn đã hư cấu mình ngồi chải tóc ở đó suốt trăm năm để nhìn con nước quê nhà khóc ròng cho mối tình bất diệt.
Thật ra tác giả chỉ mượn chuyện tình trên bến Tiêu Tương để nói về tất cả nhưng ngăn trở của cuộc đời. Sự chải tóc là hình ảnh của sự đợi chờ. Hoàng hôn chỉ thời gian đã qua, thời cơ của mình đã hết. Bốn câu thơ dùng những bức tranh tuyệt đẹp, lung linh để ta thán những nghịch cảnh mà đời đem đến. Đoạn phim trên bến Tiêu Tương, một người ngồi chải tóc, nhỏ lệ trên dòng sông sự tích đẹp làm sao, khiến cho người đọc thơ cảm nhận như mình ngồi ở chốn “nguyên sương” của thời xa xưa vậy.
Thụy Sơn dùng hai cầu thơ kết có hào khí ngất trời. Không phải hào khí của người chiến binh trong bài thơ “Khúc hát Lương Châu” của Vương Hoán có hai câu thơ “Túy ngọa sa trường quân mạc tiếu/ Cổ lai chinh chiến kỷ nhân hồi” mà khác nhiều hơn với ý thơ này:
Buồn vui túy ngọa giang hà
Vàng thu ta rụng cội tà huy xưa
Hai câu thơ của Vương Hoán được Trần Trọng San dịch là “Sa trường say ngủ ai cười/ Từ xưa chinh chiến mấy người về đâu”. Thụy sơn cũng dùng hai chữ “túy ngọa” là say nằm, nhưng không “túy ngọa sa trường” mà “Túy ngọa giang hà” là say nằm trên sông nước. Giang hà trong bài thơ “Vàng Thu Ta Rụng…” của Thụy Sơn như trên ta biết không phải là sông nước của mặt đất nầy, mà đó là dòng sông của định mệnh, là dòng quay của bánh xe luân hồi chuyển tiếp đời người kiếp nầy qua kiếp khác. Trên dòng sông đó có một người chân tu vì phạm lỗi phải đọa vào cuộc đời vàng như chiếc lá thu rơi. Vị chân tu buồn, túy ngọa trên dòng sông định mệnh ấy để rồi, cũng rụng như chiếc lá vàng rơi dưới cội cây trong một chiều nào đo, như những chiều năm xưa của kiếp trước.
Nhà thơ Lê Giao Văn đã bình luận bài thơ nầy như sau: “Bài thơ cổ điển mà hồn cốt rất tân thời”. Tôi nghĩ một nhận xét như thể đã nói đủ bài thơ nầy rồi. Cái hay của bài thơ nầy thật ra chỉ dùng chữ để gợi ý mà thôi. Người đọc, qua trình độ hiểu biết Phật pháp, qua tâm hồn nghệ sĩ và qua sự thẩm thấu văn chương nhiều hay ít mà thưởng thức bài thơ, cảm nhận được những gì chất chứa trong thơ càng sâu thì càng thú vị. Với tôi, tôi đọc thấy nó hay ngay tự ban đầu, suy nghiệm nó hơi lâu, nhưng càng lâu thì càng yêu mến nó, một bài thơ không dễ có ai làm!!!
                                                          Châu Thạch
 

*** ĐỌC THƠ Ý NGA

NGUYỄN HỮU LUYỆN

rong vn

 

(Trích LỜI TỰA tuyển tập:

TRI ƠN CHIẾN SĨ VNCH VIỆT NAM CỘNG HÒA)

Ý Nga (yngacalgary@aol.com) là tác giả của 22 tập thơ đã được xuất bản và phổ biến trên các diễn đàn điện tử từ nhiều thập niên qua, (còn 45 tác phẩm khác chưa xuất bản nhưng cũng đã được phổ biến trên các diễn đàn).  Đọc thơ Ý Nga, chúng ta dễ cảm nhận được tâm tư của tác giả gửi gấm qua những vần thơ giản dị, khúc chiết và gợi cảm của những người đã từng phải lao vào cái chết để tìm “cái sống tự do”. Đây là tâm trạng của hàng triệu người Việt Nam đã phải bỏ lại quê hương và tài sản của mình để LAO RA KHƠI.  Biết bao người đã táng thây dưới đáy đại dương khiến cho Liên Hiệp Quốc phải ban hành quy chế tỵ nạn cộng sản và thành lập nhiều trại Tỵ Nạn Cộng Sản ở các vùng ven đại dương để tiếp nhận những chuyến RA KHƠI bi hùng tráng của người Việt Nam, sau biến cố 30 tháng 4 năm 1975:                                         

“Người tỵ nạn vẫn giữ hoài trang sử

Chúng tôi đi, sinh tử lắm nghẹn ngào

Nên không quên thảm não của đồng bào

Tim rỉ máu, thương cho Người Ở Lại!

(Ý Nga, 7-4-2011.)

Thơ Ý Nga bao hàm nhiều cảm nghĩ phong phú và đôi khi mang sắc thái châm biếm, tế nhị, trong đó có cả thơ tình.  Điểm đáng chú ý hơn cả là sáng tác chống Cộng và nỗi lòng buồn nhớ cố hương vẫn là hai nguồn cảm hứng sôi động, nếu đem so sánh với những nguồn cảm hứng sáng tác khác:

“Việt Nam hỡi! Bao anh thư hào kiệt,

Hãy vùng lên! Hãy quyết liệt đập tan,

Noi gương xưa lật đổ bọn bạo tàn,

Dẹp cộng sản! Dựng thái bình đất nước”

Ý Nga, 11-2-2011 (Bao Giờ Em Về)

Hình như đối với Ý Nga thì ra đi là thoát nạn cộng sản nhưng lại phải mang nặng trong lòng mối tình hoài hương da diết:

“Đi đâu thì cũng sầu vong quốc

Muôn dặm quê nhà xa vẫn xa.”[i] 

Ngay trong thơ Xuân của Ý Nga cũng pha màu chống Cộng:

“Chốn mong về không có Tết, dẫu Xuân.

Nơi muốn đến chẳng xuân về, sao Tết?

Người yêu dân, tưởng niệm Tết Mậu Thân

Bọn bán nước ăn mừng từng “chiến thắng”?”

(Ý Nga, Xuân Mậu Tuất 2018)

Sinh trưởng trong một gia đình nền nếp nên Ý Nga đã sớm ý thức được bổn phận và trách nhiệm của tuổi trẻ. Gia nhập Phong Trào Hướng Đạo VN Hải Ngoại, ngoài việc chia sẻ trách nhiệm chung với chồng là trưởng Phan Thế Vinh, đó cũng là một cách để Ý Nga tự rèn luyện bản thân để rồi trở thành một Trưởng Hướng Đạo nhằm giúp ích cho xã hội. Hai Trưởng Vinh Nga đã và đang say sưa trong trách nhiệm dìu dắt thế hệ Hướng Đạo trẻ từ những ngày còn ở trong nước cho tới nay (Trưởng Vinh là một Hướng Đạo Sinh của đạo Lâm Viên (Đà Lạt) từ nhỏ cho đến khi phải rời Đà Lạt để vào đại học, cả 3 anh em ruột của trưởng Vinh đều là thành viên của gia đình Hướng Đạo trong nhiều năm.

Hiện nay Hướng Đạo Việt Nam tại hải ngoại đã và đang phát triển trên ý thức hệ Nguời Việt Tỵ Nạn Cộng Sản dấn thân vào Phong Trào, lấy giáo dục làm phương châm để giúp các em hướng về cội nguồn và phát triển bản năng trẻ biết yêu thích thiên nhiên và trở thành người hữu dụng cho xã hội, cho Cộng Đồng.   

Với cái TÂM của một Trưởng Hướng Đạo, thơ Ý Nga luôn luôn bộc lộ phong cách đạo đức xã hội của tuổi trẻ:

“Hy sinh vì người khác

Chính mình có niềm vui!

Sá gì chút hành xác

Mà tâm hồn thảnh thơi.”

Ý Nga, 26-6-2014.

Trong tâm trạng buồn nhớ cố hương, Ý Nga cũng đem thơ đượm nỗi sầu viễn xứ vào hoạt động Hướng Đạo:

“Tâm ý không chưa đủ

Khi bạn muốn dấn thân

Chẳng phải duy bàn chân

Mà còn cần tâm ý.

Cộng thêm nhiều ý chí

Mới cất bước lên đường

Nhất là Đường-Tha-Hương

Vương càng nhiều trở ngại.”

Ý Nga, 29.1.2007 (TÂM Ý, THÀNH Ý)

Ý Nga cũng đã và đang làm công tác thiện nguyện với các tổ chức người Việt Quốc Gia ở Ý Đại Lợi, Âu Châu, Mỹ và Canada.v.v… từ năm 1980 cho đến nay, qua những đóng góp công sức vào các hoạt động: xã hội, văn hóa, từ thiện & giáo dục (dạy học tại các Trung Tâm Việt Ngữ, Ý Ngữ ở Ý và Canada); Ý Nga cũng đã nhận lời của đoàn thể, thay chồng, đảm nhiệm công tác Trưởng Nhóm Việt Nam Thanh Niên Thiện Chí tại Ý Đại Lợi trong nhiều năm, hoạt động cùng mục-đích trên.  Phải nhìn nhận ngay rằng đây chính là gánh nặng hoặc rất nặng trước cộng đồng và đoàn thể,  vậy mà Ý Nga vẫn không sao lãng với “mối tình chung thủy yêu thơ”. 

Dường như chính “mối tình yêu thơ” đã tạo ra sức mạnh tinh thần và thể lực cho Ý Nga trong đời sống hàng ngày.  Với thân hình nhỏ nhắn, sức khoẻ mong manh, nhưng Ý Nga vẫn bền bỉ cáng đáng việc gia đình, tận tụy và chu đáo săn sóc chồng, đồng thời hoàn thành NHIỀU NGHĨA VỤ trước cộng đồng và đoàn thể, vậy mà Ý Nga vẫn bền bỉ sáng tác thơ.  Đây chính là điểm son vô cùng cao quý của một phụ nữ trong mọi thời đại.  Mặc dầu mang nặng trong lòng mối “sầu viễn xứ” và nôn nóng ngày về “cố quốc”, Ý Nga cũng không che dấu bản tính dí dỏm, vui nhộn của mình.  Điều này đã biễu lộ khi Ý Nga dùng cách “nói lái” để đổi tên của mình là Ý Nga thành bút hiệu Á Nghi: 

 “Bốn mươi mốt năm trôi qua

Nợ tình cùng vay, cùng trả

Với em: anh vẫn chưa già

Ngày nào anh kêu, còn dạ.

30-4tobucket

Mình còn lời hẹn về Nhà

Mà đường tìm chưa ra ngả

Đừng bỏ em một mình nha!

Bệnh nào cũng có thuốc chữa”

Á Nghi, 1.3.2018

Qua mấy vần thơ sáng tác nhân dịp Tết Mậu Tuất, Ý Nga đã gợi lại thảm cảnh tang tóc của người dân miền Nam sau ngày 30/4/1975, trong thơ  Tết đau thương: với một đoạn thơ ngắn ngủi, Ý Nga đã rất “tài tình” bó gọn tình yêu thương cha già đã mệnh thác, mẹ già cô quạnh, khổ ải nơi quê nhà trong khốn cùng của xã hội CS, gia cảnh yên vui nay tiêu điều hoang phế . . . người đọc khó cầm nước mắt . . .

“Xuân tàn, mai rụng bên kia

Mẹ đi không nỗi, ai kìa quét mai?

Hồn Ba đã chốn thiên thai

Gốc mai-chiếu-thủy còn ai giữ gìn?

Cánh mai-tứ-quý ai nhìn?

Sang năm xuân vẫn cho xin sắc vàng?

*

Sao mà hồn cứ mênh mang?

Tàn Xuân, con vẫn lang thang chưa về!”

Ý Nga, 26.2.2018

***

Năm 2000, khi Cộng Đồng Người Việt Tỵ Nạn Cộng Sản trên khắp thế giới phát động vụ kiện WJC[ii].  Canada là một trong những Cộng Đồng VN yểm trợ mạnh mẽ  cho vụ kiện này. Tại Canada: sau cộng đồng người Việt tại Montreal là cộng đồng người Việt tại Calgary (thành phố giá lạnh và xa xôi này đang ấp ủ mái ấm gia đình của cặp vợ chồng Vinh-Nga).  Ý Nga đã nhanh chóng và nhiệt thành đáp ứng lời kêu gọi của Ủy Ban Vận Động Vụ Kiện WJC, viết nhiều hưởng ứng gửi khắp nơi hô hào yểm trợ cho vụ kiện.  Ý Nga cũng đã trực tiếp bắc nhịp cầu thân hữu để chúng tôi sang Âu Châu làm việc với các cộng đồng và hội đoàn Người Việt tại nhiều quốc gia và thành phố bên Âu Châu. Trong thời gian này, Ý Nga cũng đã lên tiếng:

“Quý Độc Giả thử tưởng tượng nếu có một ngày, chúng ta phải đọc những tài liệu viết về người Việt Nam yêu chuộng tự do đã từng thề không đội trời chung với loài Quỷ Đỏ, nên đành phải vượt qua cõi chết để được sống trong không khí tự do nơi quê người, nhưng bi hài thay,  những tài liệu để cho thế giới và hậu thế biết rõ thêm về những người “vượt từ cõi chết ấy”, lại không do chính tay chúng ta viết mà do những cán bộ văn hoá cao cấp của đảng cộng sản viết ra(chính họ  là  những thủ phạm đã dồn dân Việt chúng ta đến cõi chết) thì quả thật không có gì đau đớn và nhục nhã cho chúng ta bằng thảm trạng đó.  Chỉ có quý Bạn Đọc, bằng sự suy nghĩ và lương tâm của Người Việt Quốc Gia mới giúp đỡ chúng ta thắng được WJC và c.s.VN trong vụ kiện này:

Lũ ngợm nằm đáy giếng

Thấy gì trong mắt dân?

Hổ dữ ăn đầy miệng

Nghe gì tiếng nạn nhân?

Bàn tay ai rướm máu,

Cho chúng yến tiệc ngon?

Bàn chân ai nát ngấu,

Cho chúng tiếng cười giòn?”

***

 Ngày 30 tháng 4 năm 1975, trong khúc ngoặc tang thương của lịch sử Việt Nam, đã có những BINH SĨ QLVNCH không chịu buông súng đầu hàng mà đã âm thầm tự sát. Trên thế gian này, không có tấm lòng TRUNG DŨNG nào, không có một khí phách nào  có thể so sánh với hình ảnh anh Binh Nhì đã chọn cái chết để chết theo QLVNCH, mặc dù vào khoảng thời gian đó, kẻ thù đã tuyên bố không trả thù anh. Trong giây phút thiêng liêng đó, có lẽ anh đã thấy mình vừa mất đi một bảo vật thiêng liêng, đó là QLVNCH với lý tưởng bảo vệ người dân. Những viên đạn trong nòng súng ấy, đáng lẽ dành cho quân thù thì anh đã dành cho chính mình vì khí phách của quân nhân QLVNCH và vì lòng trung thành với QLVNCH.  Những anh BINH NHÌ ấy tuy đã mất đi sự sống của thể xác nhưng hình ảnh uy dũng của các Anh vẫn còn sống mãi mãi trong thơ văn của hậu thế và Ý Nga đã chuyển tải UY DŨNG đó cho hậu thế, qua nhiều vần thơ rất cảm động:

“Kèn truy điệu, âm não nề tưởng niệm

Những Chiến Binh không cấp bậc linh đình

Những hương linh tuẫn tiết vì dân mình

Ngàn thu trước, ngàn thu sau nối tiếp.

*

Kèn truy điệu trong quốc kỳ thẳng nếp

Thương tiếc Người, đời binh nghiệp truân chuyên

Quyết không hèn, chọn cái chết trung kiên!

Kèn dâng hiến âm chiêu hồn Tử Sĩ.”

Ý Nga, 20-10-2013 (TRUY ĐIỆU)

“Cho dù bị giặc bủa vây

Cuộc đời binh nghiệp dựng xây vì Nhà.

Không riêng Võ Bị Quốc Gia;

Công Binh Kiến Tạo, Lính Già, Quân Y,

Bộ Binh, Quân Cảnh… cũng vì

Thương dân, bảo quốc. Oai nghi Nhảy Dù,

Cục Quân Tiếp Vụ, Quân Nhu…

Anh em Biệt Kích chống thù: Cộng nô.

Biệt Khu bảo vệ Thủ Đô,

Công Binh Chiến Đấu giúp cho Quân Đoàn,

Chỉ Huy hay Hạ Sĩ Quan,

Lục, Không, Hải, Địa Phương Quân… luyện thuần

Biết luôn “Tự thắng, dấn thân”

Quyết vì TỔ QUỐC: dân cần, có ngay!

Các Quân Binh Chủng dạn dày

Chiến trường đổ máu, cờ bay giữ vàng.

Bao nhiêu chiến tích vẻ vang

Bấy nhiêu khí thế vinh quang lưu truyền

Giữ thơm DANH DỰ, luyện rèn

Tinh thần TRÁCH NHIỆM võ biền: sử lưu.

Ý Nga*8.4.2017 (VINH DANH NGƯỜI LÍNH CỘNG HÒA)

Song song với những vần thơ tôn vinh các anh Lính Cộng Hòa đã vì đại nghĩa quyên sinh trong ngày tang tóc của lịch sử Việt Nam.  Ngoài ra, Ý Nga cũng còn sáng tác những vần thơ cổ vũ chiến thắng oanh liệt của các đơn vị QLVNCH:

Chiến Sĩ Cộng Hòa

Miền Nam giữ vững thành trì

Bao công Chiến Sĩ trường kỳ dấn thân

Noi gương tâm huyết tiền nhân

Luôn luôn giữ vững tinh thần Quốc Gia.

Một lòng gìn Nước, giữ Nhà

Dân thương, không ngớt ngợi ca rộn ràng.

Nhờ Anh, dân tộc an khang

Ấm no, hạnh phúc huy hoàng nhiều năm.

Cứu dân thoát cảnh tối tăm,

Tấm lòng quyết chống ngoại xâm rịt ràng

Tô son hùng sử bao trang

Lưu đời chiến thắng sử vàng vẻ vang

Vô vàn rực rỡ hào quang

Sáng ngời áo trận vinh quang mọi đàng!

Ý Nga*24.4.2017 (VIỆT CỘNG CỨU NƯỚC HAY CÚ NƯỚC?)

Qua thơ, Ý Nga cũng gửi gấm tình cảm nồng nhiệt và lòng ngưỡng mộ chân thành tới các anh Lính Cộng Hòa:

Thương Anh nén hận căm gan

Trui rèn ý chí: bạo tàn đạp tung!

Thương dân: vẫn góp sức cùng!

Ôi ơn Chiến Sĩ! Dũng, hùng ngàn năm!

(HÀO QUANG NGƯỜI LÍNH CỘNG HÒA. Ý Nga, 1-12-2014)

***

Vai súng đạn, từng mục tiêu chu đáo

Chiếm! Cho dân được lành áo, no cơm!

Nên chúng ta phải viết, ủ danh thơm:

Lòng can đảm bao Anh Hùng Giữ Nước!

Người Đi Trước chưa bao giờ khiếp nhược!

*

Lìa quê hương, sao quên được ơn Người?

Lòng tri ân xin ghi khắc một đời

Cờ phất phới sắc Vàng làm minh chứng!

Xin ngưỡng phục từng âm thầm chịu đựng

Những Tôi Trung của dân tộc oai hùng!

Làm gương soi, hương chiến đấu thơm lừng

(Ý Nga, 7-4-2011- NGƯỜI LÍNH DŨNG CẢM!)

Dù bị bức tử trong uất hận, QLVNCH vẫn sống với ký ức kiêu hùng qua tuyển tập thơ: “TRI ƠN CHIẾN SĨ VNCH” của Ý Nga, trong đó, những chiến công hiển hách của một thời oanh liệt đã làm rạng danh Việt Nam Cộng Hoà, một quốc gia giữ trọng trách “Tiền Đồn của Thế Giới Tự Do” đã không hổ thẹn trước lịch sử Thế Giới khi nhân loại đi vào ngõ cụt suy thoái trước làn sóng đỏ:

“Thương Người Anh Dũng, gian nan

Đầu tên, mũi đạn nguy nàn vì dân.

Bốn mươi năm, vạn mộ phần

Anh linh ngút hận: ngoại nhân lan tràn!”

           Và:

“Thật hãnh diện! Danh truyền bao Chiến Sĩ!

Tuổi hoa niên dâng hiến: giữ chủ quyền!

Vì bình yên, lính chiến đánh liên miên

Đời chinh chiến bao trận tiền đối diện.”

(QUY CỐ HƯƠNG-Ý Nga, 20-11-2014)

*

Lời kết của NGƯỜI ĐỌC THƠ Ý NGA hôm nay là xin ghi vào đây, hình ảnh một nữ TRƯỞNG HƯỚNG ĐẠO, có đầy lòng yêu thương các em Hướng Đạo Sinh, các em học trò trường Việt Ngữ; yêu thương người chồng đồng CHÍ HƯỚNG: một trưởng Hướng Đạo luôn tha thiết với quê hương, yêu thơ và yêu DÂN VIỆT.

                                                          ***

Tôi xin chân thành cảm ơn những vần thơ của Ý Nga đã gây cho tôi nguồn cảm hứng trung thực khi viết bài giới thiệu này.

San Jose ngày 5 Tết Mậu Tuất (2018)

Nguyễn Hữu Luyện

[i]   Bià sau của tác phẩm THUYỀN NHÂN (thơ Ý Nga, NGUYỄN HỮU NHẬT trình bày, ảnh tác giả do PHAN THẾ VINH chụp)

[ii]   WJC là viết tắt của WILLIAM JOINER CENTER chuyên nghiên cứu về chiến tranh và hậu quả về xã hội của chiến tranh.  WJC thuôc University of Massachusetts at Boston thường viết tắt là WJC/Umass Boston.  WJC mời các học giả và những nhà văn từ Hà Nội sang UMASS BOSTON thực hiện một chương trình nghiên cứu có tầm cỡ quan trọng, do Rockefeller Foundation cấp học bổng $250.000, để viết chương trình nghiên cứu với nhan đề: “RECONSTRUCTING IDENTITY AND PLACE IN THE VIETNAMESE DIASPORA (tạm dịch là: TÁI XÂY  DỰNG DIỆN MẠO VÀ QUÊ HƯƠNG CỦA NGƯỜI VIỆT Ở NƯỚC NGOÀI).

Vào thời điểm này, đại đa số người Việt ở nước ngoài là Người Việt Tỵ Nạn CS. Đem đảng viên cao cấp của đảng cộng sản VN từ Hà Nội sang Mỹ để viết lại căn cước của  người VN tỵ nạn CS là một nghịch lý giống như đem bọn cướp của giết người vào Đại Học để viết về nạn nhân của chúng,  Theo luật pháp Hoa Kỳ, Cộng Đồng chúng ta  không có quyền cấm ai viết về mình, nhưng chúng ta có quyền vô hiệu hoá chương trình nghiên cứu vừa vi phạm quy luật hàn lâm rất nghiêm khắc của ngành Đại Học Hoa Kỳ, vừa chứa đựng âm mưu chính trị đen tối của một Đại Học thân Cộng.

Cộng Đồng Người Việt Tỵ Nạn CS trên khắp thế giới đã đồng tâm:

1/ Về phương diện hàn lâm, chúng ta không thể để chương trình nghiên cứu này đi vào các thư viện nghiên cứu của Hoa Kỳ và các quốc gia khác. 2/  Dựa trên nguyên tắc hàn lâm là “KHI NGƯỜI VIẾT NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN VỚI ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU THÌ MẶC NHIÊN CHƯƠNG TRÌNH NGHIÊN CỨU ĐÓ COI NHƯ VÔ GÍA TRỊ VÌ THIẾU VÔ TƯ.

3/ Cộng Đồng VN đã mau chóng đưa WJC ra trước pháp luật với đủ bằng chứng. Trong vụ kiện tập thể (CLASS ACTION) này, chúng ta nhằm mục đích VÔ HIỆU HOÁ CHƯƠNG TRÌNH NGHIÊN CỨU NÀY, chúng ta thắng hay thua, thì kết qủa cuối cùng cũng như nhau: về phương diện hàn lâm, khi một chương trình nghiên cứu lại bị chính ngay chủ đề nghiên cứu đưa ra toà nhất là ra tới Toà TỐI CAO (Supreme Court) thì không còn môt học giả nào có thể dùng  nó làm tài liệu nghiên cứu nữa.

Kết qủa là WJC được Tòa Tối Cao tuyên án VÔ CAN.  Chúng ta THUA về pháp lý, nhưng chúng ta đã THẮNG về mặt HÀN LÂM, có nghĩa là chương trình nghiên cứu của WJC/UMASS BOSTON hoàn toàn vô giá trị về mặt HÀN LÂM.

(Y Nga gui)

*** “ĐÊM ĐÊM HÀN THỰC, NGÀY NGÀY NGUYÊN TIÊU”

SONY DSC     Châu Thạch

BÀN VỀ CÂU THƠ

“ĐÊM ĐÊM HÀN THỰC, NGÀY NGÀY NGUYÊN TIÊU”

                                      Gần đây học giả  Lại Quảng Nam có viết một bài đề cập đến câu thơ “Đêm đêm Hàn Thực ngày ngày Nguyên Tiêu” của Nguyễn Du. Trong bài viết nầy học giả Lại Quảng Nam có nhắc lại những điều tôi xin tóm tắt gọn lại sau:

  1. Ong Vân Hạc Lê văn Hòe (1953) với quyển Truyện Kiều Chú-Giải rất nổi tiếng trong văn giới và trong giới giáo dục. Ông dừng rất lâu lại tại câu Kiều thứ 942 này, với ưu tư là tại sao Nguyễn Du lại viết “Đêm đêm Hàn Thực, ngày ngày Nguyên Tiêu”, mà lại không viết “ngày ngày Hàn thực, đêm đêm Nguyên tiêu”. Cụ Lê Văn Hoè viết “Lý ra phải viết như thế này thì mới đúng:”Đêm đêm Nguyên tiêu, ngày ngày Hàn thực”, bởi tất cả lễ lạc đông người dành cho quần chúng do triều đình Tàu sắp đặt đều xảy ra, ban ngày cho Hàn Thực, ban đêm cho ngày Nguyên Tiêu. Cụ Lê văn Hòe nhận định thêm: “Có lẽ vì nhu cầu vần thơ”
  2. Tại Việt nam có một người Tàu tên là An Chi, khi giữ mục Chuyện Đông Chuyện Tây trên tờ KTNN* vào đầu thập niên 90 tại Việt Nam viết như sau về Nguyễn Du “Tóm lại…; trong điều kiện cụ thể của câu thơ đang xét thì Nguyễn Du không thể vùng vẫy ngọn bút của mình một cách hoàn toàn thỏa mái được. “Đêm đêm Hàn Thực, ngày ngày Nguyên Tiêu” trong đó ông tác giả đã bị gò bó về thanh điệu và vần điệu…., Chẳng qua vì… túng vận nên ông mới lấy đêm làm ngày, lấy ngày làm đêm đó mà thôi”

 

Sau đó học giả Lại Quảng Nam đã phản bác những ý kiến trên. Xin mời quý bạn đọc vào trang web vanngheqt.blogspot.com và nhiều trang web khác để đọc.

Châu Thạch tôi vốn học ít, trí hèn, không dám nhận xét gì về ý kiến của các vị học giả, vốn là những người có vai vế trên văn đàn, chỉ xin góp một chút suy luận thô thiển của mình để bạn đọc giải trí năm ba phút mà thôi. Nếu có sự sai trái xin lượng tình thứ cho.

“Đêm đêm Hàn Thực ngày ngày Nguyên Tiêu” là câu thơ của Nguyễn Du nhưng ông lấy tư cách của Tú Bà đề viết lời khấn vái. Đây là đoạn mà Nguyễn Du mô tả lần đầu tiên Thúy Kiều nằm trong tay Tú Bà, một chủ chứa. Tú Bà van vái trước tượng thần Bạch mi (vị thần bảo trợ cho nghề bán phấn buôn hương ) cho bà được buôn may bán đắt:

935. Cởi xiêm lột áo sỗ sàng,
Trước thần sẽ nguyện mảnh hương lầm rầm.
Đổi hoa lót xuống chiếu nằm,
Bướm hoa bay lại ầm ầm tứ vi!
Kiều còn ngơ ngẩn biết gì,
940. Cứ lời lạy xuống mụ thì khấn ngay:
”Cửa hàng buôn bán cho may,
Đêm đêm hàn thực, ngày ngày nguyên tiêu,
Muôn nghìn người thấy cũng yêu,
Xôn xao oanh yến rập rìu trúc mai!
945. Tin nhạn vẩn, lá thư bài,
Đưa người cửa trước, rước người cửa sau”.
Lạ tai, nghe chửa biết đâu,
Xem tình ra cũng những màu dở dang.
Lễ xong hương hỏa gia đường,
950. Tú Bà vắt nóc lên giường ngồi ngay.

 

Theo Châu Thạch tôi nghĩ câu thơ  “Đêm đêm Hàn Thực ngày ngày Nguyên Tiêu”có ý nghía sau đây:

1)Ý thứ nhất;

– Đêm đêm Hàn Thực : Có nghĩa là đêm nào cũng vui chơi như ngày có lễ Hàn Thực

– Ngày ngày Nguyên Tiêu: Có nghĩa là ngày nào cũng vui chơi như đêm có  lễ Nguyên Tiêu

–  Đêm đêm Hàn Thực ngày ngày Nguyên Tiêu: Đêm đêm vui chơi như ban ngày. Ngày ngày vui chơi như ban đêm

– Tóm lại “Đêm đêm Hàn Thực ngày ngày Nguyên Tiêu” có nghĩa là vui chơi mút mùà, không phân biệt ngày đêm.

2)Ý thư hai:

– Hàn Thực: “Hàn thực, ngày 3 tháng 3 âm lịch, kỷ niệm ngày Giới Tử Thôi bị chết cháy. Bên Tàu, ban ngày tổ chức các cuộc vui chơi, ngày này là ngày cấm lửa, ăn thức ăn  nguội .

– Nguyên Tiêu: Đêm Nguyên Tiêu là đêm rằm tháng giêng, đêm trăng tròn đầu năm âm lịch. Ngày này thời Đường, vua lệnh cho mở hội đốt pháo bông, lễ Phật.

– Qua hai định nghĩa trên ta thấy rằng các trò vui chơi trong ngày Hàn Thực và đêm Nguyên Tiêu là các trò vui chơi thanh nhã, không dung tục. Từ đó ta thấy rằng Tú Bà tuy là một chủ chứa, nhưng bà xin thần Bạch Mi phù hộ chổ động chứa của bà vui chơi theo phong cách thanh nhã. Như thế động chứa của bà là nơi ăn chơi của giới thương lưu đài các hay kẻ sĩ. Nhờ vậy sau nầy Thúy Kiều mới gặp được Thúc Sinh là một trang phong lưu hào hào. Cũng theo kiểu ăn chơi cao cấp, phong lưu nầy, ngày sau ở một thanh lâu khác Thúy Kiều gặp được Từ Hải là một anh hùng.

  Kết luận: Bởi lý giải trên ta thấy rằng Nguyễn Du viết “Đêm đêm Hàn Thực ngày ngày Nguyên Tiêu” là một sự dùng chữ cố ý của tác giả, không phải là do “bị gò bó thanh điệu” mà ông phải “hoán vị ngày ngày với đêm đêm”. Cách chơi chữ nầy khiến cho câu thơ đầy hàm xúc, vừa làm âm điệu câu thơ hay thêm, lại vừa diễn tả trọn vẹn nhừng cuộc vui chơi triền miên phong lưu và trang nhã nơi động chứa của Tú Bà. Phải nói rằng khi Nguyễn Du cho Tú Bà khấn như thế,không ai đọc mà nghĩ rằng nhà thơ muốn đảo lộn cuộc vui chơi của đếm qua ngày và ngày qua đêm. Ngược lại ai cũng tự nhiên hiểu được lời khấn có ý nghĩa trọn vẹn là xin cho thanh lâu của bà ngày đêm gì cũng có đàn ca, hát xướng, ngâm vịnh, uống rượu và các trò vui hoa bướm dập dìu khác thịnh hành thời bấy giờ. Như vậy, khi phóng bút viết câu thơ đảo lộn nầy, Nguyễn Du đã trực chỉ phát họa trong cảm nhận của người đọc cảnh ăn chơi và phong cách ăn chơi tại thanh lâu của Tú Bà. Từ đó ta có thể thấy rằng trong câu thơ nầy Nguyễn Du dùng chữ biến hóa rất “thoải mái” chớ không phải vì  muốn cho “trơn” câu thơ  mà thần thơ buộc phải viết thế./.

                           

Nợ nhau kiếp nào ….

Lanney Trần

Cali, ngày … tháng …

29c80-0000000000chutmuathomNhững dòng chữ viết dang dở xen kẽ lẫn nhau giữa lúc tỉnh giấc với nước mắt và khi ngất đi chẳng biết bao lâu. Một tí gì đó để lại cho những người bạn của tôi có thể hiểu thêm về người con gái thầm kín năm xưa. Bố tôi nói đây là chặng đường Thập Giá mà Chúa muốn tôi phải vượt qua …, tôi chỉ ước ao đến những bụi calla lilies trắng ở cuối con đường …

Tôi kg biết mình đã ngủ bao lâu, chỉ nghe tiếng mẹ gõ cửa phòng, “Vy ơi, có bạn con đến thăm con nè…”. Một dòng sóng điện từ đâu chạy khắp người tôi, tôi mừng rỡ hớn hở, vui sướng gồng mình ngồi dậy, “anh đã đến thật sao…” Nụ cười của niềm hạnh phúc hiện sẵn trên môi chờ đợi cánh cửa phòng hé mở, tiếng của mẹ lại vang lên, “nó ngủ trong phòng đó, con cứ vào đi.” Cánh cửa phòng hé mở, niềm vui trong thoáng chốc đã vụt tắt, kg phải là người tôi đang mong mỏi chờ đợi…

Anh V. bước vào, tay cầm chai nước Gatorade đưa cho tôi, “Hey kiddo”. Cầm chai nước, lòng tôi thắt lại, mới hôm nào anh cũng đã gởi cho tôi chai nước này, và ân cần nói với tôi, “em biết kg, dù mình cách xa nhau 3000 miles, nhưng anh và em cùng đang uống chung một chai nước.” Nghẹn ngào xúc động với cái lãng mạn tình tứ của anh, tôi đã cười thật sung sướng. Anh V. ngồi xuống cạnh tôi, móc trong túi áo ra cái phong bì màu đỏ, “lì xì cho bé nè, anh đưa ba má đi chùa rồi sẵn ghé thăm em luôn.” Tôi gượng cười cám ơn, với tay để nó vào cái hộp cạnh đầu giường chung với những phong bì đỏ khác mà tôi đã nhận được. Giữ chặt con gấu nhỏ với đám lông còn bê bết vì nước mắt vào lòng, mắt cứ dán vào cái phone như chờ đợi một tín hiệu hiện lên từ nó. Anh cắt ngang dòng tư lự của tôi, cầm phone của tôi lên, như hiểu ra được điều gì, anh hỏi, “em hôm nay ốm lắm rồi, có ăn được gì kg?”. Tôi lắc đầu thì thào, “em mệt”. Anh nhìn tên người trong phone rồi lại nhìn tôi, tiếng thì thào như hơi thở tôi nói khẽ, “cuối tuần nghỉ lễ, chắc ảnh đi chơi cho khuây khỏa …”. Hơi thở đứt quãng, tôi nói vừa đủ cho mình nghe, “miễn là anh vui vẻ, như vậy tốt hơn”. Hai dòng nước mắt lại lăn dài xuống má, vội vã nắm tay anh V. lại khi anh vừa định gọi số phone ấy, lắc đầu. Tôi vỡ òa lên khóc như một đứa bé, anh dỗ dành đứa em gái, “đừng khóc nữa, em phải vui thì em mới khỏe được, thì bệnh của em mới hết.” Tôi kg biết mình đã khóc nức nở trên vai anh bao lâu và mệt mỏi lịm đi từ lúc nào, chỉ nhớ anh kéo chăn đắp cho tôi, tiếp theo là tiếng đóng cửa khe khẽ sợ đánh thức hay làm tôi giật mình.

Tôi chìm vào giấc ngủ, giật mình nhìn đồng hồ, 12:30 sáng, như một thói quen đã in sâu trong tâm trí, tôi bấm từng mẫu tự, “ngủ ngon ox, I love you.” Định thần, ngón tay đau đớn như ngàn mũi kim đâm, bấm “delete”. Giọt nước mắt cùng tôi hồi tưởng lại, lần đầu tiên tôi phá giấc ngủ của anh cũng bằng 1 message tương tự, anh bảo tôi, “anh hạnh phúc lắm khi nhận được nó, biết em đang nghĩ tới anh. Em đừng ngại nó phá giấc ngủ của anh, chỉ cần khi mở mắt ra, thấy phone chớp chớp với message của em, anh vui và hạnh phúc lắm.” Và kể từ đó, nó đã trở thành một điều kg thể thiếu giữa chúng tôi. Có khi chỉ vài 3 chữ, có khi thì chỉ là một “Muahzz” ngắn ngủi, nhưng tôi biết nó mang lại niềm vui cho anh. Và khi anh vui thì đó là hạnh phúc của tôi.

Tôi kg biết rõ mình đã dán mắt vào cái icon “yim” bao lâu, chờ đợi cái “hug” từ anh như mọi đêm, tôi nhớ anh. Tôi nhớ anh da diết, đứt gan đứt ruột. Tôi nhớ tiếng cười của anh mỗi khi nói chuyện với tôi, tôi hay ghẹo, “anh phải trả fees cho em đó nhe, vì em làm anh cười hoài mà kg cần phải đi coi comedy show…”, anh lại cười, tiếng cười ấm áp hòa trong hạnh phúc.

Có đôi lần anh hỏi tôi, “từ lúc nào mà em biết em muốn suốt đời đi bên cạnh anh?” Tôi chỉ cười, kg nói. Tôi muốn nhìn vào mắt anh khi tôi trả lời anh câu hỏi đó, tôi muốn anh nhận câu nói ấy và biết rằng nó phát xuất bằng cả trái tim và linh hồn tôi. Có rất nhiều điều tôi muốn nói với anh, và tôi sẽ nói khi anh đặt tay lên nơi trái tim tôi, cảm nhận được từng lời từng chữ là từng nhịp đập của trái tim ấy. Một trái tim lạnh lẽo, băng tuyết đã được anh sưởi ấm và vun tưới cho nó được hồi sinh với tràn đầy mạch sống của yêu thương.

Chúng tôi thường hỏi nhau, mình đã nợ nhau từ kiếp nào … như bài hát mà anh đã tặng cho tôi …

http://www.youtube.com/watch?feature=player_embedded&v=8zCgHQS42_k

Sao chưa gặp nhau, lòng đã nhớ nhau,
Sao chưa gặp nhau, thao thức đêm thâu,
Thương nhớ từ lâu…
Người ơi, hay ta nợ nhau từ kiếp nào?

Sao chưa gần nhau, mơ ước dài lâu,
Sao chưa gần nhau, hơi ấm quyện vào nhau,
Hơi ấm quyện vào nhau…
Người ơi! Tình như đã từ ngàn xưa kiếp nào?

Người ơi! Tình như đã nợ nhau tiền kiếp nào,
Nợ nhau tiền kiếp nào,
Tình như đã thề non hẹn nước ,
Thề non hẹn nước… sao người còn xa tôi?

Sao chưa kề vai, đời đã bên nhau,
Sao chưa kề vai… nồng ấm con tim,
Nồng ấm con tim…
Tình ơi! Ta đã nợ nhau tiền kiếp nào?

Sao chưa kề môi, tình đã cuồng say,
Sao chưa kề môi, tình đã quen hơi,
Tình đã quen hơi…

Tình ơi! Xin ở lại nơi đây, trong kiếp này… giữa tim tôi.

*** TRUYỆN NGẮN TRẦN HỮU HỘI

MANG VIÊN LONG

TRUYỆN NGẮN TRẦN HỮU HỘI –

Những Trang Viết Hiện Thực Đời Sống Tâm Huyết.

           Trần Hữu Hội người làng An Lưu, huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị, nhưng vừa lớn lên đã phải trôi dạt nhiều nơi vì chiến tranh; từ Biên Hòa, Đà Nẵng, Ninh Thuận rồi Sài Gòn. Bút danh Trạch An của anh được ghép hai tên làng của cha và mẹ (Thượng Trạch – An lưu).

Giống như một số người cầm bút khác, anh đã có đam mê văn học từ thuở còn học lớp 12, nên dạo ấy đã lập bút nhóm Hội Hữu, cùng các bạn học sinh, sinh viên tại Ninh Thuận cùng sinh hoạt văn nghệ; với sự giúp đỡ của họa sĩ – điêu khắc gia Phạm Văn Hạng. Bút nhóm đã xuất bản tuyển tập thơ văn, do nhà văn Trần Hữu Ngũ trình bày bìa và in roneo. Tuy vậy, anh thật sự dành thời gian cho việc sáng tác chỉ từ năm 2010, khi bị bệnh tắc động mạch chị, phải cắt bỏ chân phải. Anh tham gia đăng bài ở các trang website.. trong và ngoài nước và sinh hoạt văn nghệ với nhóm Quán Văn, từ dạo đó…:

Năm 2014, anh cho giới thiệu tập truyện đầu tay “Hạt Mầm Trót Vay” Sang năm 2015, xuất bản tập “Số Mạng”. Những truyện ngắn của anh hầu hết là ghi lại, phản ảnh đời sống hiện thực chung quanh; từ gia đình, quê nhà, tình yêu, đến những đổi thay, chuyển biến xã hội, của thời cuộc ngày càng phức tạp, đau buồn! Ngoài truyện ngắn, Trần Hữu Hội thường viết bút ký, tạp bút, về nhiều lãnh vực quan thiết của đời sống. Trần Hữu Hội còn sáng tác thơ – những bài thơ trữ tình, hồn nhiên, trong sáng của anh, được nhiều bạn đọc yêu thích.

Trong giới hạn một bài ghi nhận ngắn, tôi chỉ xin chia sẻ đôi điều về tính chất các truyện ngắn của Trần Hữu Hội – đó là “những trang viết hiện thực đời sống tâm huyế”  mà chỉ có người cầm bút chân chính, vô tư có trách nhiệm, mới trang trải hết lòng mình.

Thãm trạng gia đình, được tác giả quan tâm nhiều hơn, với nhiều chi tiết hiện thực chân xác. Có thể nói đây là một vấn nạn xã hội đau buồn, mà tất cả người đọc đang quan tâm: “Chỉ sau khi sinh đứa con hai năm, cô ấy bắt đầu ngoại tình với một cán bộ tài chính huyện, họ có chung một đường dây huê hụi lớn trong vùng, trên danh nghĩa làm ăn, họ gần gũi nhau cho đến khi tôi bắt gặp, ngay trong phòng ngủ ngôi nhà mình! Ngôi nhà đứng tên cô ấy nên tòa tịch biên sau khi họ bỏ trốn, tôi về ở với Mẹ!”..( Người Khách Cuối Năm)

Nền tảng đạo đức xã hội chao đảo, những giá trị luân lý bị lãng quên, thì sẽ ảnh hưởng đến hạnh phúc gia đình là điêu không thể tránh khỏi: “…Ba năm trước, tôi mới biết cô ấy đang ở Buôn Ma Thuột, đứa con trai của tôi và cô ấy phải vào tù vì dính vào một vụ cướp! Tôi tìm lên thăm con…Biết sự tình là trong đám thanh thiếu niên của vụ án, con tôi chưa đủ tuổi thành niên, nhưng muốn lo lót trước khi tòa xử, phải chạy một khoản tiền mà cô ấy không có hay không muốn bỏ ra, tôi phải trở về bán lô đất và căn nhà này…Nhưng rồi cũng không lo được cho đứa con thoát vòng tù tội! Tiền mất tật mang, nó ra tòa lãnh án bốn năm tù giam! Cô ấy lại cùng chồng mới trốn đi lần nữa! Họ đã có với nhau hai đứa con… Không đành bỏ con tù tội không ai thăm nuôi, tôi mua một đám đất nhỏ, dựng một cái chòi…rồi hàng ngày đi làm thuê, vừa nuôi bản thân vừa dành dụm hàng tháng đi thăm con trong tù!”. ( Người Khách Cuối Năm)

Hạnh phúc tìm lại được trong đời sống cũng quá gian truân, ngắn ngủi, bất hạnh: “Chúng tôi nâng niu từng ngày niềm hạnh phúc muộn màng. Hai chúng tôi cùng mong mỏi một đứa con cho trọn vẹn hạnh phúc chồng vợ…Nàng mang thai sau một năm chung sống. Đứa con lớn dần, là con trai và đã được năm tháng! Tôi không để cô ấy làm một việc gì, cực chẳng đã phải đi xe máy như đi chợ thì tôi chở đi…Khi tôi lo lắng ngăn ngừa tai họa từ hướng này thì bằng ngã khác, tai ương ập đến với chúng tôi!”.

Với giọng văn giản dị, chân thành – tác giả từ tốn kẻ tiếp về nỗi khổ đau, mất mát thưởng bất ngờ ập đến cho đời sống mọi người: ”Năm đó cũng vào những ngày cuối năm, trước lễ giáng sinh vài hôm, trong một lần tắm, cô ấy bị ngã trong phòng tắm, bụng cô ấy dập vào bồn cầu…Tôi kinh hãi nhìn cô ấy đớn đau trong máu và nước! Khi đến bệnh viện thị xã, thì cả cô ấy lẫn thai đều quá yếu. Buộc phải mổ đưa thai ra để chăm cho mẹ… :
– Không thể cứu được cháu, chị vẫn còn hôn mê nhưng đã qua cơn nguy kịch. Anh đem cháu về rồi sáng mai trở lại!
” ( Người Khách Cuối Năm)

Kết thúc câu chuyện, Trần Hữu Hội cho Thuyết – nhân vật trong truyện, nghĩ hộ mình một cách vô vọng về cuộc đời, mà lẽ ra, tác giả nên có một hướng đi tích cực hơn: “Anh ngẫm nghĩ: hạnh phúc của kiếp con người, bao giờ cũng mong manh ngắn ngủi, nhưng nỗi bất hạnh thì xem chừng như trùng trùng, vô tận!!!”.

Bên cạnh các vấn nạn lớn, Trần Hữu Hội, cũng đã dành cho tình bạn, tình quê những trang viết đầy cảm xúc. Truyện ngắn “Bạn Già” tuy được viết với ít chi tiết hơn, đơn giản hơn, có thể nghĩ là “khô và đơn điệu” – nhưng là một truyện ngắn hay của anh. Truyện kể về hai người bạn đồng hương Quảng Trị – Phúc và Tấn, cùng học chung thời Tiểu học, Trung học, rồi cùng tha phương vì chién tranh lan rộng, đe dọa cuộc sống an bình: “Cả hai cùng sinh ra từ Quảng Trị, một tỉnh miền Trung giáp ranh với vĩ tuyến 17, nơi con sông ngăn chia hai miền Nam Bắc. Sự kiện lịch sử này xảy ra hai năm trước khi cả hai chào đời, không phải sinh ra cùng một nơi. Tấn ở huyện Triệu Phong, một vùng lúa gần biển, còn Phúc ở Cam Lộ, một huyện vùng cao.

Chiến tranh liên miên và rồi năm 1972, khi phe bên kia tấn công vào tỉnh lỵ này, họ chạy vào Huế, rồi Đà Nẵng, ở trong những trại tạm cư. Chuyện về lại chốn chôn nhau cắt rốn ngày càng xa vời, vả lại rồi cũng đạn bom tang tóc bởi chiến tranh chưa thôi, nhiều gia đình cùng nhau di dân, vào khai hoang lập cư trong vùng rừng núi này, dưới sự chăm lo của một Linh Mục.

Ba năm được sống gần nhau ở khu trại tạm cư, được ngồi chung lớp. Rồi “Phúc vào Đại học sư phạm Sài Gòn, ngành Khoa Học. Tấn lên Viện Đại Học Đà Lạt, cũng khoa sư phạm, ban Việt- Hán”.

Biến cố 1975 đã làm thay đổi cuộc đời họ, như bao cuộc đời khác “ –“Chưa tròn niên khóa thì biến cố 75 ập đến. Tấn không thể tiếp tục việc học hành, anh trở về với gia đình. Cha đi học tập cải tạo, là lao động chính trong nhà, anh vừa đi nghĩa vụ khai hoang, thủy lợi… vừa giúp mẹ làm rẫy. Phúc ở lại Sài gòn tham gia các phong trào Thanh Niên, nghe đâu là một trong những phần tử tiến bộ của đoàn Thanh Niên Thành phố, có lần được tuyên dương trên báo Sài Gòn!”.

Một lần Tấn đi buôn, vào Sài Gòn tìm thăm Phúc. Lẽ ra đó là cuộc hội ngộ hạnh phúc nhất của đôi bạn đồng hương, nhưng lại là một lần hội ngội buồn bã, bởi vì Phúc nay là một cán bộ nhà văn hóa, còn Tấn là “một con buôn”. Phúc đã “lên giọng” với Tấn: “đi buôn như thế là tiếp tay với gian thương làm lũng đoạn thị trường”. Trong lúc Tấn “bất lực không cãi lại được trước những từ ngữ, lập luận xa lạ mà Phúc đưa ra. Anh chỉ đơn giản muốn cho Phúc hiểu rằng là không đi buôn thì không có cái gì ăn, kể cả nước mắm!”.

Tấn đã phải trải qua một đêm thao thức, chua xót nơi xứ lạ:“Tấn ra ga Bình Triệu, nằm gối đầu lên ba cái bao tải đựng mỳ lát cuộn lại mà hận thằng bạn, những lý luận về kinh tế nghe thật chặt chẽ nhưng không có điều nào phù hợp với thực tế của cuộc sống nơi Tấn ở. Phúc không chịu nhận ra là cái đói khổ hầu như đã tràn khắp nông thôn”.

Làm cán bộ được vài năm, Phúc lại vào ngồi tù mấy năm vì “giải quyết công việc theo cảm tính và sai nguyên tắc” – rồi từ trại tù về quê. Rồi lại ra đi. Một đêm “Phúc khoanh hai tay co gối, một cơn gió nhẹ làm sương đêm thêm lạnh, bình trà bằng thiếc của cái quán vỉa hè không đủ giữ hơi nóng, đã lạnh ngắt từ lúc nào! Anh ao ước có một góc nhỏ nào đó, đẩy chiếc xích lô vào rồi ngã lưng kéo một giấc qua đêm. Lâu nay anh khá yên ấm dưới cầu thang của chung cư Thanh Đa. Đêm nay lại có đợt truy quét những người không hộ khẩu, làm nhốn nháo những kẻ vô gia cư trú ngụ nơi đây, thường thì vài hôm có khi cả tuần rồi đâu lại vào đó, nhưng lần này xem ra quyết liệt hơn, cả chục chiếc xe chở đám vô gia cư về quận ngay trong đêm”. Phúc may mắn gặp được bà cụ tốt bụng bán quán nước nhỏ bên góc phố, thương tình che chở, cho ăn cho ngủ – Phúc đã nhận nơi nầy làm nhà, và gắn bó với bà cụ, cùng cô cháu gái của bà đang gặp bất trắc, đau lòng trong tình yêu, khi đã mang thai sắp sinh con, mà người yêu vắng bặt. “Bà cụ đã quá quen với những chuyện muộn phiền trong cuộc đời khốn khổ, cam phận chấp nhận thêm chuyện dại dột của đứa cháu, nhưng bà lo lắm, cái bụng quá to so với vóc người ốm yếu xanh xao của nó!” (…)

Một ngày, Phúc đã tìm về thăm Tấn ngày xưa ở quê – đây là một đêm hạnh phúc mà hơn 30 năm trải qua biết bao thăng trầm, khổ đau, đôi “Bạn Già” mới được hưởng trọn vẹn. Hãy nghe tác giả kể lại – thật xúc động:

“- Ở lại, ở lại với tao, tụi mình nằm chung như cái hồi trai trẻ. Qua tết là tụi mình sáu chục rồi, có chết cũng được ghi là “hưởng thọ” thay vì “hưởng dương” trên tờ cáo phó, mau thiệt!
-Ừ mau thiệt, đi ngủ, mày còn gác như hồi xưa không?
-Bỏ lâu rồi nhưng đêm nay tau kẹp cổ mày cho nó sướng.
-Ừ, cho mày kẹp.
Hai cái thân già xiêu vẹo dìu nhau đi trong bóng đêm mờ mờ hơi sương, lành lạnh buổi cuối đông
.”.

Đưa vào tác phẩm nhiều chi tiết, nhiều tình huống phức tạp, theo tôi không phải là điều cần thiết cho một truyện ngắn hay – mà trái lại, cần cô đọng, với ít chi tiết nhưng mới lạ, cùng tư tưởng sâu sắc quan yếu cho đời sống muốn giải bày, mới là một truyện ngắn tốt. Trần Hữu Hội đã phần nào làm được điều đó ở một số truyện ngắn của anh hôm nay……

Tháng 4.2018.
MANG VIÊN LONG