TT Trump Và Đức Tin

trump-melania-swearing-in

Trước thời gian bầu cử TT năm 2016, TTTT cố gắng bôi xấu hình ảnh của UCV Cộng Hoà Trump bằng cách thổi phồng những chuyện riêng tư về đàn bà của ông. Chẳng hạn như chuyện ông khoe đã b.. l… phụ nữ (grab them by pussies  – xin lỗi quý bà )-  với bạn bè trên chuyến xe bus mà không ngờ bị ghi âm lại . Chuyện bù khú của mấy thằng đàn ông riêng tư với nhau trong phòng kín  (đa số toàn là chuyện nổ cho ra vẻ mình dân chơi thứ thiệt là chuyện rất thuờng tình của mấy cha ) trở thành thời sự quốc tế cho đám phá hoại bàn ra tán vào đến bây giờ.

To tiếng nhất phải kể đến bà vợ của Obama khi đăng đàn diễn thuyết khiến không ít phái nữ từ sáu tới sáu mươi sáu tuổi vội vã chạy về phía Hillary , tránh càng xa Trump càng tốt vì …sợ bị bốc hốt!!!

Cuối cùng những chuyện bêu riếu ông TT Mỹ ngày càng rõ ra là chuyện tào lao . Nhiều người trước đây cứ mong cho Hillary làm chủ WH bây giờ thì  tỉnh mộng và hú vía , mừng ông Trump đắc cử chứ không phải bà vợ ông Bill.

(Nhiều người cũng hy vọng những xấu xa tội lỗi giới chóp bu thời Obama sớm được điều tra, lôi ra ánh sáng để tống cả bọn vào nhà kho cho xứng tội từ sau vụ benghazi tới  cái chết của Epstein và trước đó là cuộc tự tử của Bourdain)

*********************************************

Vừa đặt đít xuống ghế ông Trump đã cố gắng thực thi cho bằng được những lời hứa hẹn đối với cử tri. Thành tích của ông bây giờ không cần đăng báo nữa mà nó lan truyền nhanh chóng trên từng cửa miệng người Mỹ và cả thế giới. Mối lo lắng sợ hãi ông sẽ phóng hỏa tiễn nguyên tử gây ra chiến tranh thế giới lần thứ ba vì nổi nóng, vấn đề kinh tế sụp đổ v. .v.. nay thành tào lao thiên đế. Nếu không bị cái đám phá hoại cản trở để ông Trump rảnh tay hành động và hoàn tất thì nước Mỹ bây giờ trở thành thiên đàng trên mặt đất  !!!

Chuyện kế tiếp khiến dân Mỹ (bất kể da màu gì – trắng đen vàng đỏ nâu  – miễn là real American)  không hài lòng là chuyện phải đứng thứ hai sau bất cứ quốc gia nào khác đặc biệt  Tàu . Bây giờ người Mỹ nhận ra rằng duy chỉ có ông Trump là TT duy nhất  “bóp cổ“ Tàu phải xấc bấc xang bang chấp nhận lép vế. Những thằng  con nít láu cá nịnh  bợ  ton hót như CHXHCNVN cũng bị ông điểm mặt chỉ tên, không biết sẽ chịu trừng phạt lúc nào.

Điều này có hai cái lợi : thứ nhất Tàu bắt buộc phải gánh những áp lực của Mỹ để tham gia công bằng hơn các luật lệ về thương mại, kinh tế, tài chánh mà mỗi quốc gia trên thế giới đều đang hành xử . Thứ hai : bởi sự giám sát của Hoa Kỳ, Tàu sẽ vĩnh viễn không còn cơ hội vươn lên cầm đầu thế giới bằng vũ lực. Ai cũng biết nếu Tàu chiếm được vị trí nầy thay thế Mỹ mọi người sẽ phải chịu đau khổ gấp mấy lần hơn  chế độ  Hitler . Hãy cứ hỏi dân Duy Ngô Nhĩ hay Tây Tạng họ sẽ nói cho biết tường tận.  

Không chỉ China, quốc tế nay cũng vào khuôn phép, làm ăn với Mỹ theo kiểu “tương giao tương kính“ chứ không dám lợi dụng Mỹ như các đời TT trước.  (Tôi là người VN nhưng  rất “nực“ chuyện của anh Tây De Gaule bài Mỹ sau WW2 bất kể bao nhiêu máu của thanh niên Mỹ đổ ra để GIẢI PHÓNG Pháp khỏi Phát Xít )

**********************************************

Nhiều cử tri  -DC hoặc lừng khừng –  đã từng nghi ngờ khả năng làm việc , khả năng chính trị của ông Trump nay nhìn thấy kết quả hiện hữu về kinh tế tài chánh chính trị cùng lúc với sự tha hóa thù vặt chỉ biết quyền lợi đảng, cá nhân của các UCV DC sẽ dồn phiếu để ông Trump chắn chắn thắng cử với tỷ lệ cao vào năm 2020 . Mới giữa nhiệm kỳ một ông Trump đã nhận hổ trợ từ nhiều cựu cử tri Dân Chủ thoái đảng. Chẳng hạn như thủ lãnh phong trào # WalkAway Brandon Straka, chẳng hạn như các đảng viên Dân Chủ trước vẫn còn sợ hãi, lo lắng về tính cách ăn nói văng mạng của ông Trump nay nhận ra đằng sau các tuyên bố  – xem ra chẳng theo một nguyên tắc thể thức gì hết  – là cả một chiến thuật, chiến lược khôn ngoan. (So sánh với anh tỷ phú Tom Stayer vừa ngu vừa khùng, khùng vì cứ kêu gọi impeach Trump mà không đưa ra lý do, ngu vì ra tranh cử TT mà mở miệng xin mỗi  người một đồng vào quỹ tranh cử. CÒN TIỀN TỶ CỦA CHA NỘI ĐÂU KHÔNG LẤY RA XÀI ?  , đảng viên DC cỡ tay này mà cũng ra tranh cử chức TT thì thật là hết nước nói).

**********************************************

Do sự dạy dỗ từ gia đình gốc người Đức chuyện ông Trump mộ đạo không có gì ngạc nhiên.  Ông thường dẫn đầu những cuộc cầu nguyện ở WH,  khôi phục lại lời chào Merry Christmas ngày lễ Giáng Sinh ( biến mất trong 8 năm thời Obama),  công khai cảm ơn Thiên Chúa về những ơn lành mà nước Mỹ và người Mỹ nhận được làm cho đám thiên tả (bọn phá hoại) rất khó chịu và xốn con mắt. Tuy nhiên với đại đa số người Mỹ ông là vị TT đầu tiên bày tỏ sự thần phục Thiên Chúa trong việc điều hành guồng máy quốc gia nhiều hơn hẳn các đời TT trước . Đa số dân Mỹ vốn hữu thần rất xem trọng điều này .

Tôi tin rằng không phải bỗng dưng ông Trump trở nên một TT nhiều đức tin như thế. Bản chất và con người của ông vốn luôn luôn chiến đấu và chiến thắng tạo thành một cơ ngơi như ngày nay bời không đặt mình, hoặc chịu thua hoặc nghe lời khuyên bảo tào lao của người khác. Hãy nhớ lời bà Melania cảnh giác “ Ông ấy sẽ trả đũa gấp mười lần những ai gieo oán thù với ông ấy “. Duy  ông chỉ chịu thua một người : đó là vị Đệ Nhất Phu Nhân của Hoa Kỳ, vợ ông !!

Tôi không biết tôn giáo  vợ chồng ông nhưng đoán rằng bà là người Công Giáo dựa vào quốc gia sinh ra bà và dựa vào cách tiếp đón rất trân trọng của bà với Giáo Hoàng Francis. Ông Trump mà ngợi khen, thần phục công khai Thiên Chúa trước mặt mọi người mọi nước phần lớn chính là nhờ vào bà vợ . Mặc dù bà Melania rất ít ồn ào thậm chí hầu như ở ẩn đằng sau cánh rèm tòa WH, nhưng ảnh hưởng của bà trên chồng là điều không thể chối cãi. Mới đây nhất bà xuất hiện trên truyền hình trước cuộc nói chuyện của chồng và bà đã hướng dẫn mọi người tham gia cuộc đọc kinh Lạy Cha trước khi giới thiệu chồng mình.  

Theo tôi vợ là túi khôn, là may mắn của chồng. Có nhiều bà chẳng cần phải lộ diện nhưng rõ ràng hành động cử chỉ từ chồng đều mang hơi hướng ảnh hưởng bởi vợ. Chẳng hạn như phu nhân của TT Thiệu, chẳng hạn như phu nhân của TT Trump. Riêng bà Michelle Obama thì tôi không có ý kiến vì bà ấy xuất hiện ồn ào và phát biểu nhiều câu kỳ quá!!  ( như bà tuyên bố hãnh diện là một người Mỹ chỉ sau khi chồng đắc cử TT . Vậy,  trước và sau khi chồng về hưu Mrs . M. Obama rất mắc cỡ nếu bị người khác coi mình là người Mỹ ?  )

Bà vợ ông Trump gây cảm hứng cho nhiều người. Bà công khai tuyên xưng đức tin trước mặt thiên hạ dù biết rằng đó sẽ là đầu đề cho bọn cánh tả ( phá hoại ) châm biếm.

Chồng bà cũng nhận ra sự mạnh mẽ về đức tin của vợ,   khâm phục và theo gót bà bất kể chuyện đám TTTT sẽ dè bĩu ra sao.

****************************************************** 

Trump khác người ở chỗ ông từng nuôi dạy con cái nên tránh xa những chuyện rượu chè trai gái hút xách bài bạc và … thành công !!!. Ông nêu tấm gương của bản thân, gia đình tới những thanh thiếu niên Mỹ giàu có trong một xã hội đầy dẫy tệ đoan . Ông chắc cũng là vị TT duy nhất trên thế giới không hút thuốc uống rượu.

Mặc dù rất chủ quan tin tưởng ông Trump sẽ thắng cữ năm 2020 nhưng tôi xin mọi người hãy cố gắng cầu nguyện cho ông và gia đình theo tín ngưỡng của mình . Riêng đối với giáo dân Công Giáo xin hãy nài van cùng Thiên Chúa và Mẹ Thiên Chúa chở che và ban phước lành cho gia đình ông. . Lý do là bọn phá hoại sẽ xử dụng tất cả mọi trò bẩn thỉu nhất để destroy ông và các thành viên trong gia đình . ( giả thuyết : Tập Cận Bình hay George Soros có thể đứng đằng sau đạo diễn mọi chuyện).

Tôi chưa bao giờ coi ông Trump là Tướng Nhà Trời được sai xuống để điều hành nước Mỹ, nhưng  TT như ông Trump không phải cứ bốn hay tám năm đều xuất hiện. Cả lịch sử nước Mỹ chỉ có vài người như George Washington hay Abraham Lincoln.

Nguyện xin Chúa Mẹ ban ơn và bảo vệ ông và gia đình cũng như bào vệ nước Mỹ trước sự tấn công của thù địch. 

nguoiviettudo

4th of July: Freedom is never free

flag america

Have you ever wondered what happened to the 56 men who signed the Declaration of Independence?

 

Five signers were captured by the British as traitors, and tortured before they died.

Twelve had their homes ransacked and burned.

Two lost their sons serving in the Revolutionary Army; another had two sons captured.

 Nine of the 56 fought and died from wounds or hardships of the Revolutionary War.

 They signed and they pledged their lives, their fortunes, and their sacred honor.

What kind of men were they?

 

Twenty-four were lawyers and jurists. Eleven were merchants,

Nine were farmers and large plantation owners; men of means, well educated,

but they signed the Declaration of Independence knowing full well that the penalty would be death if they were captured.

   Carter Braxton of Virginia, a wealthy planter and trader, saw his ships swept from the seas by the British Navy. He sold his home and properties to pay his debts, and died in rags.

   Thomas McKeam was so hounded by the British that he was forced to move his family almost constantly. He served in the Congress without pay, and his family was kept in hiding. His possessions were taken from him, and poverty was his reward.

  Vandals or soldiers looted the properties of Dillery, Hall, Clymer, Walton, Gwinnett, Heyward, Ruttledge, and Middleton.

   At the battle of Yorktown, Thomas Nelson, Jr., noted that the British General Cornwallis had taken over the Nelson home for his headquarters. He quietly urged General George Washington to open fire. The home was destroyed, and Nelson died bankrupt.

  Francis Lewis had his home and properties destroyed. The enemy jailed his wife, and she died within a few months.

   John Hart was driven from his wife’s bedside as she was dying. Their 13 children fled for their lives. His fields and his gristmill were laid to waste. For more than a year he lived in forests and caves, returning home to find his wife dead and his children vanished.

   So, take a few minutes while enjoying your 4th of July holiday and silently thank these patriots. It’s not much to ask for the price they paid.

 Remember: freedom is never free!

I hope you will show your support by sending this to as many people as you can, please. It’s time we get the word out that patriotism is NOT a sin, and the Fourth of July has more to it than beer, picnics, and baseball games.

Trương Quang Ngọc thời Vua Hàm Nghi

Thư viện của bài

This gallery contains 1 photo.

Bùi Thụy Đào Nguyên, soạn.

Trương Quang Ngọc (? – 1893), quê ở khe Tá Bào (hay Khê Ta Bao), châu Tuyên Hóa; nay thuộc huyện Minh Hóa, tỉnh Quảng Bình.

Ông có tiếng là người rất cam đảm, giỏi sử dụng súng hỏa mai, cung tên, có nhiều thuộc hạ tâm phúc; nhưng phải tật nghiện rượu và thuốc phiện.

Theo sách Việt Nam cách mạng cận sử, thì: Cha ông (không rõ tên), trước kia phục vụ dưới triều vua Tự Đức, vì phạm lỗi nên bị thải hồi. Bực tức việc này, ông rút về làng Vè (hay Vé) trên thượng lưu sông Nai (thuộc sông Gianh) lập đồn và chiêu tập dân Mường quanh đó, làm loạn một thời. Đã có phen, quân triều đình đến đánh dẹp mà không được.

Hộ giá vua

Đầu tháng 7 năm 1885, vua Hàm Nghi lên chiến khu Tân Sở. Trương Quang Ngọc khi ấy đang làm thổ tù ở quê nhà, mang đội quân Mường rất tinh nhuệ ra ứng nghĩa. Tướng Tôn Tiếp tục đọc

ĐỜI TƯ CÁC VỊ HOÀNG ĐẾ

Thư viện của bài

This gallery contains 1 photo.

VÀI LỜI VỚI TẬP SÁCH:

ĐỜI TƯ CÁC VỊ HOÀNG ĐẾ

(LỜI GIỚI THIỆU cuốn ĐỜI TƯ CÁC VỊ HOÀNG ĐẾ, 

Nhà xuất bản Văn Hóa Thông Tin, xuất bản năm 1997)

 

ĐỜI TƯ CÁC VỊ HOÀNG ĐẾ là tập V của bộ sách “CHUYỆN CÁC VỊ VUA TRUNG QUỐC” do Nhà xuất bản Văn hoá Thông tin – Nhà sách Bảo Thắng liên kết xuất bản, giới thiệu các gương mặt hôn quân vô đạo trong gần một trăm quân chủ phản diện mà bộ sách đề cập. Nếu các tập trước bạn đọc đã làm quen với những vị hoàng đế hoặc ít hoặc nhiều có những cống hiến nhất định trong lịch sử Trung Quốc nhưng vì một vài lý do nào đó: Hoặc kiêu căng ưa xiểm nịnh, hoặc không thể vượt quá phạm vi mà điều kiện lịch sử cho phép nên buộc phải rời khỏi vũ đài chính trị, thì ở tập sách này bạn đọc sẽ gặp những vị hôn quân ngu muội, bạc nhược, với những việc làm xằng bậy, quái đản dẫn đến sự diệt vong của một vương triều mà trước đó tổ tiên của họ đã cống hiến nhiều cho lịch sử Trung Quốc. Tiếp tục đọc

Tháng Tư, cười hay khóc?

Thư viện của bài

This gallery contains 1 photo.

Trần Mai Trung

Tháng Tư năm 1975, người Việt Nam phía Bắc chiến thắng người Việt Nam phía Nam. Người phương Bắc vui vẻ. Người phương Nam buồn rầu, nhưng tự an ủi là từ nay có hòa bình, anh em Việt Nam không còn bắn giết nhau.

Trong chiến tranh 1954-1975, phía Bắc không nói nhiều về hòa bình, hô hào “dù phải đốt cháy cả dãy Trường Sơn” cũng tiếp tục chiến tranh ở miền Nam. Phía Nam thì nói nhiều về hòa bình, có lẽ vì chiến tranh diễn ra tại miền Nam, tàn phá chết chóc nhiều quá. Một số thanh niên “lý tưởng” ở miền Nam còn mơ mộng “nối vòng tay lớn” với người anh em phía bên kia, họ đâu biết là người CS sẽ không bắt tay với tình anh em bạn bè, đảng CS chỉ muốn lãnh đạo và ra lệnh.

Hòa bình đến khi một bên thắng và một bên thua, cuộc sum họp không có tình anh em chút nào. Hai tháng sau, hơn 200 ngàn người anh em miền Nam bị người anh em miền Bắc đưa vào các trại cải tạo tập trung, tức là tù lao động khổ sai. Nhiều người bị giam từ 5 đến 10 năm, nhiều người đã chết ở đó, có người bị giam đến 17 năm. Cuộc chiến đã chấm dứt, người CS vẫn đi theo đánh người ngã ngựa. Tiếp tục đọc

Sóng Gió Nội Cung

Thư viện của bài

This gallery contains 1 photo.

Đặng Xuân Xuyến

Vài lời về tập sách:

tu hy thai hau

SÓNG GIÓ NỘI CUNG

(Thay cho lời nói đầu cuốn SÓNG GIÓ NỘI CUNG)

Lịch sử phong kiến Trung Quốc là lịch sử thay đổi liên tục các vương triều, các “thiên tử”. Mỗi triều đại, mỗi quân vương, nhìn chung chỉ tồn tại với quãng thời gian ngắn ngủi. Sở dĩ các vương triều chết yểu do nhiều nguyên nhân nhưng cơ bản là do người kế vị sau đó, sau vị vua khai quốc một vài đời đã không xứng đáng là “con trời” để “thay trời hành đạo”, “chăn dắt muôn dân”. Họ là những kẻ hoặc ngu đần, bạc nhược hoặc bất tài, hoang dâm, hoặc kiêu căng, ưa xiểm nịnh, bụng dạ tiểu nhân… nên trong thời gian tại vị đã làm đảo điên xã hội, gây ra bao thảm cảnh mà “thần và người đều căm giận” nên đã bị “trăm họ” phế truất vai trò của họ ra khỏi chính trường.

Chế độ phong kiến là chế độ thế tập quyền uy nên quyền lực của nhà vua là tối thượng. Nền chính trị tập quyền khiến các đế vương không cần sức kiềm chế. Một đấng minh quân hết lòng chăm lo đến muôn dân, xã tắc sẽ ảnh hưởng lớn đến suy nghĩ và hành động của các cận thần dưới quyền, làm cho muôn dân no ấm, đất nước được cường thịnh, nhưng một vị hôn quân thì xuất phát từ ân oán cá nhân, tin dùng bọn xiểm nịnh làm cho muôn dân điêu đứng, đất nước bị loạn lạc, triều chính bị tan nát để rồi dẫn đến sự diệt vong vương triều
Tiếp tục đọc

Ngày Vượt Biên Nhìn Lại

Thư viện của bài

This gallery contains 1 photo.

 Người Phương Nam

Mỗi năm, cứ tới ngày ba mươi mốt tháng mười là thầy Thanh nhắc vợ mua dĩa trái cây về thắp nhang cúng Bà Áo Trắng để tạ ơn  Bà đã  phù hộ độ trì cho gia đình thầy nói riêng  và  cả nhóm người chung tàu nói chung được bình yên tới bến bờ trong chuyến vượt biên ba mươi năm về trước. Một ơn phước thiêng liêng tưởng như là bịa đặt nhưng kiểm chứng lại thì quả thật không thể nào phủ nhận .  

Đây ngày kỷ niệm vượt biên

Tháng mười, ba (mươi) mốt vượt biên đường tàu

Xế chiều qua chợ Bãi Xàu

Rồi qua Bãi Giá núp vào chờ đêm…

Năm bảy mươi lăm, trong những ngày hấp hối dãy chết của miền nam, Thầy Thanh đã tận sức tìm cách đưa gia đình chạy cộng sản nhưng cuối cùng cuộc di tản bất thành, số mệnh đã cột chân thầy lại cho đến bốn năm sau. Khi về lại tỉnh nhà, trong một buổi họp nhân dân, thầy đã chứng kiến tận mắt  một màn thị oai dằn mặt nhân dân rất ư là ghê rợn bạo tàn của chế độ mới. Trong buổi họp, bọn sắt máu đã tố tội hai sĩ quan “ngụy” và sau đó đã thẳng  tay hành quyết vặn cổ nạn nhân ngay tại hiện trường không mảy may xúc động. Luật lệ nào mà xử người không có đối chứng, không quyền biện hộ phân bua Tiếp tục đọc

NƯỚC MỸ ĐANG BỊ QUỶ ÁM

Thư viện của bài

This gallery contains 1 photo.

BẰNG PHONG ĐẶNG VĂN ÂU

ĐEM TÂM TÌNH VIẾT LỊCH SỬ
NƯỚC MỸ ĐANG BỊ QUỶ ÁM
Thành phố Westminster, Quận Cam, Hoa Kỳ.
Ngày 18 tháng 3 năm 2019.

Anh David Nguyễn thân mến,

Vừa rồi, tôi đem mẩu chuyện của giáo sư Lê Tuyên kể nước Việt Nam mình đã mất về tay người Chàm để viết một bức thư cho anh có chủ đề “CUỘC CHIẾN CHỐNG MA VƯƠNG, QUỶ SỨ”. Lần này bài viết của tôi gửi anh có chủ đề“NƯỚC MỸ ĐANG BỊ QUỶ ÁM” để nói rõ hơn nguyên nhân nước Việt Nam ta mất vì sự báo oán của dân tộc Chàm, thì nước Mỹ cũng sẽ mất vào tay Quỷ Sứ vì các con cháu Chúa lại phản Chúa. Chúng ta là người Mỹ gốc Việt, bị mất nước vào tay Quỷ Sứ thì ta phải có nghĩa vụ và bổn phận cảnh báo cho người bản xứ biết nếu để cho Quỷ Ám thì mất nước.
Luật NHÂN QUẢ rất khoa học, hễ gieo hạt, quả gì thì mọc lên cây ấy. Luật này áp dụng chung cho mọi người có tín ngưỡng, không trừ một tôn giáo nào. Do đó, ông bà mình thường nói “ở hiền gặp lành” hay “đời cha ăn mặn, đời con khát nước”là thế!
Giáo sư Trần văn Giàu tâm sự với Giáo sư Tạ Quang Bửu: “Anh với tôi chỉ là giáo sư dạy môn triết học, Giáo sư Trần Đức Thảo mới đích thực là triết gia”.
Tư bản không phải là chủ nghĩa, bởi vì nó không đề ra vũ trụ quan, nhân sinh quan. Tư bản chỉ là chủ thuyết kinh tế thị trường tự do (free market economic theory) do Adam Smith chủ trương, tôn trọng quyền tư hữu và đặc biệt dành quyền tự do tín ngưỡng, tự do ngôn luận cho mọi người. Do đó Tư Bản chấp nhận đa nguyên, có thể hữu thần hoặc vô thần!
Tiếp tục đọc

HAI BÀ TRƯNG

Thư viện của bài

This gallery contains 1 photo.

Nguyên Lạc    

NHỮNG KHUẤT LẤP 

GIỮA MÃ VIỆN VÀ HAI BÀ TRƯNG

***

VÕ TÒNG ĐẢ CẨU (Bài 2)

Cẩn báo: Bài này với chủ đích giải mã những khuất lấp, khuyến khích THOÁT TRUNG, (không có vấn đề kỳ thị: BÀI TRUNG). Xin các bạn thẩm định cho kỹ. Nguyên Lạc tôi xin phủ nhận những gì ngoài chủ ý của mình.  Những chi tiết trong Thủy Hư có hư cấu một vài điều để dẫn dụ đến chủ ý, nên xin miễn cho tính chính xác. Còn về Hai Bà Trưng và Mã Viện là sử liệu. Trân trọng!

Lời nói đầu: Do thiếu sự hướng dẫn, sự khan hiếm sách đọc, sự thao túng thị trường sách vở của các Hoa thương (thời Pháp thuộc),  sách truyện đến tay người nông dân, người lao động… ở các làng xa xôi lúc xưa thường là những loại giả dối, nhằm phục vụ cho giấc mộng Đại Hán. Buồn thay, người dân Việt không thuộc sử Việt, mà lại nằm lòng sử Tàu. Nào là Thuyết Đường, Tiết Nhơn Quý Chinh Đông, Tiết Đinh San Chính Tây .v.v… , trong khi Hai Bà Trưng  Nguyễn Trãi, Lý Thuờng Kiệt, Trần Hưng Đạo, Đặng Dung v.v…, những anh hùng dân tộc có công dựng nước và giữ nước thì họ không biết là ai!

Ví dụ như trong truyện Tiết Nhơn Quý Chinh Đông: Đây thật ra chỉ là cuộc xâm lăng Cao Ly (Hàn Quốc), trong đó họ đề cao tên xâm lược Tiết Nhơn Quý , mạt sát anh hùng dân tộc Cao Ly –  Cáp Tô Văn.  Họ cũng đã mạt sát nhiều người anh hùng Việt Nam chúng ta (Ví dụ bộ sử Minh Thực Lục). Những nhận thức bị khuất lấp đó truyền lại cho con cháu chúng ta sau nầy. Làm sao Thoát Trung được nếu không giải mã  những điều khuất lấp đó?! Bài này viết ra với mục đích giải mã những khuất lấp.(1) Tiếp tục đọc

*** Như Loài Hoa

Thư viện của bài

This gallery contains 1 photo.

Lm. Giuse Hoàng Kim Toan

Như loài hoa, trong ngàn triệu tên đoá hoa, người ta ai cũng có một đoá hoa lòng nở trong tim. Đoá hoa lòng ấy, dù ít dù nhiều, ai cũng có. Những đoá hoa lòng trao nhau, những hoa lòng nối bờ yêu thương, những đoá hoa lòng khoe sắc trên khuôn mặt, nở trên những bàn tay. Hoa lòng ấy là hoa nhân đức được ươm qua lòng thanh, tưới trong nhẫn nại, chăm sóc trong hy sinh.

Như loài hoa chẳng bao giờ biết ghen ghét, tị hiềm, hờn giận. Hoa mọc trên cây cao, hoa nở ở dưới thấp, hoa tỏ sặc sỡ, hoa e lệ kín đáo… Mỗi loài một nét riêng, làm đẹp cho đời, anh đoá hoa lớn, tôi đoá hoa nhỏ, chị đoá hoa kiêu sa, tôi đoá hoa tầm thường, trong giỏ hoa, các loại hoa đứng cạnh nhau, đôi khi lại thêm vài bông cỏ, tự nhiên và hoang dại, chẳng bao giờ ghét nhau bởi vì chung một mục đích làm đẹp cho đời và dâng hương cho cuộc sống. Hoa lòng của con người sẽ tươi đẹp biết bao trong vườn hoa muôn cõi lòng, không ghen ghét, không tị hiềm, cùng nhau góp sức dâng hiến cho người và cho đời.
Tiếp tục đọc

*** Khối Tinh Thần Ngô Đình Diệm Toàn Cầu

Thư viện của bài

This gallery contains 1 photo.

Nguyễn Anh Tuấn Tuyên Ngôn Của Khối Tinh Thần Ngô Đình Diệm Toàn Cầu Trước tình thế cực kỳ sôi bỏng hiện nay đang diễn ra trong quốc nội; trước tinh thần quật khởi truyền thống rất dũng mãnh của … Tiếp tục đọc

*** AI ĐÃ DỊCH CHINH PHỤ NGÂM RA CHỮ NÔM ?

NGUYỄN CẨM XUYÊN

chinh phu nganĐOÀN THỊ ĐIỂM và NGUYỄN THỊ ĐIỂM;

AI ĐÃ DỊCH

CHINH PHỤ NGÂM RA CHỮ NÔM ?

     Sách Đăng Khoa Lục sưu giảng của Trần Tiến đời Lê có chép chuyện bà Nguyễn Thị Điểm. Sách Tang Thương ngẫu lục của Phạm Đình Hổ và Nguyễn Án đời Nguyễn lại chép chuyện bà Đoàn Thị Điểm.

Hai nữ sĩ trong hai truyện trùng tên, khác họ… và ai là người đã dịch Chinh Phụ ngâm khúc ra chữ Nôm?
ĐOÀN THỊ ĐIỂM VÀ NGUYỄN THỊ ĐIỂM CÓ PHẢI CHỈ LÀ MỘT ?
Ra đời sau Tang Thương ngẫu lục 100 năm, Nam Hải dị nhân liệt truyện của Phan Kế Bính đã viết “Nguyễn Thị Điểm tức Đoàn Thị Điểm”.

Thật ra đây là hai người khác nhau. Chẳng qua lúc biên soạn Nam Hải dị nhân liệt truyện, có thể do không đủ điều kiện khảo sát mà lúc này lại cần phải hóa giải liền một mâu thuẫn giữa hai sách xưa để không phải bỏ qua một truyện hay về nữ sĩ nước Nam nên Phan Kế Bính đã cho rằng hai người là một.

Đầu thập niên 70 vừa qua, các nhà nghiên cứu đã về Hải Dương đọc gia phả họ Đoàn và tìm gặp gia tộc họ Nguyễn Trác thì mới rõ là có hai bà Đoàn Thị Điểm và Nguyễn Thị Điểm. Hai bà có những chi tiết trùng hợp đến kì lạ. Trước hết cả hai cùng sống vào thời Lê Trung hưng, đời Trịnh Giang, cùng quê ở Hải Dương: bà Nguyễn Thị Điểm ở Bình Lao trang, trấn Hải Dương còn bà Đoàn Thị Điểm thì quê ở Giai Phạm, huyện Đường Hào cũng thuộc trấn Hải Dương (nay là xã Giai Phạm thuộc huyện Yên Mỹ, tỉnh Hưng Yên), cả hai đều giỏi văn thơ và điều lạ kì là cả hai bà đều có anh tên là Luân, một người là Đoàn Doãn Luân và một người là Nguyễn Trác Luân… vậy nhưng gốc gác, gia thế cũng như cuộc đời của hai bà thì khác nhau nhiều.

Bà Nguyễn Thị Điểm thuộc gia đình quyền quí; anh là Nguyễn Trác Luân đỗ Tiến Sĩ năm 1721, làm quan đến chức Phó Đô Ngự Sử và là tay chân thân tín của chúa Trịnh Giang. Chính Nguyễn Trác Luân là người đã giúp Trịnh Giang phế truất rồi giết vua Lê Duy Phường rồi theo lệnh Trịnh Giang làm giả tờ sắc tấn phong cùng ấn tín của vua nhà Thanh sang phong cho Trịnh Giang làm An Nam Thượng Vương… Em gái là Nguyễn Thị Điểm về sau còn dạy học ở kinh đô, thọ đến 78 tuổi. Sách Đăng Khoa Lục sưu giảng có chép: Bà Nguyễn Thị Điểm có viết cuốn “Truyền Kì tân lục” (Truyền kì tân phả).

TRUYỀN KÌ TÂN PHẢ – VĂN GIANG HỒNG HÀ ĐOÀN PHU NHÂN TRƯỚC

(Truyền kì tân phả do Văn Giang Hồng Hà Đoàn phu nhân soạn – Thư viện Quốc gia. Bản chụp của nomfoundation)

Cuộc đời bà Đoàn Thị Điểm khác hẳn. Xuất thân trong một gia đình nghèo; bà là con ông Đoàn Doãn Nghi. Tổ tiên vốn họ Lê, quê quán ở Hải Dương; về sau đổi ra họ Đoàn. Đoàn Doãn Nghi đỗ Hương cống và nhận một chức quan nhỏ hàm bát phẩm rồi từ quan, về nhà bốc thuốc. Sau khi hỏng kì thi Hội, ông ở lại kinh đô dạy học rồi cưới thêm thứ thất ở phường Hà Khẩu, gần Hồ Hoàn Kiếm và sinh được hai con: con cả là Đoàn Doãn Luân, con thứ là Đoàn Thị Điểm. Đoàn Doãn Luân chỉ là giám sinh đã qua kỳ sát hạch để chuẩn bị thi Hương, chưa đỗ đạt gì. Riêng bà Đoàn Thị Điểm: sau khi cha mất, cùng mẹ về ở với anh trai, ngụ cư tại làng Vô Ngại, huyện Ðường Hào, tỉnh Hải Dương (nay là Mỹ Hào, tỉnh Hưng Yên) nhưng chỉ được mấy năm thì Doãn Luân lại qua đời; một mình bà phải nuôi cả nhà (gồm mẹ, chị dâu và các cháu) và phải tự mưu sinh bằng nghề bốc thuốc, dạy học…

Bà có nhan sắc nhưng kén chồng; sau làm vợ kế ông Nguyễn Kiều (1696- 1752) tức là ông Nghè Sù người làng Phú Xá (làng Sù) huyện Từ Liêm, Hà Nội đỗ tiến sĩ đời Lê Dụ Tông, làm quan đến chức Đô ngự sử. Nguyễn Kiều vốn đã có 2 đời vợ trước: vợ đầu là con gái quan Tham tụng Lê Anh Tuấn; bà này mất sớm, ông tục huyền với con gái Thượng thư Nguyễn Quý Đức nhưng bà này lại cũng qua đời… Nguyễn Kiều nhờ mai mối đến hỏi bà Đoàn Thị Điểm; sau mấy lần chối từ, cuối cùng bà Đoàn Thị Điểm thuận về làm vợ kế. Năm 1734, Nguyễn Kiều nhậm chức Tham thị thành Triều Khẩu (Nghệ An), bà Đoàn Thị Điểm đi thuyền theo chồng, đến ngang đền Sòng (Thanh Hoá) thì bị cảm và sáu ngày sau đến Triều Khẩu thì mất, lúc này bà mới 44 tuổi.

Mới đây, ngày 24/7/2011, tại cánh đồng thôn Phú Xá (Phú Thượng, Tây Hồ, Hà Nội), Hội Khảo cổ học cùng Ban Quản lý di tích-danh thắng Hà Nội đã cải táng mộ của ông Nghè Nguyễn Kiều về cạnh mộ bà Đoàn Thị Điểm ở cách đó 2km.

NGUYỄN THỊ ĐIỂM ĐÃ DỊCH CHINH PHỤ NGÂM RA CHỮ NÔM

CHỨ KHÔNG PHẢI LÀ ĐOÀN THỊ ĐIỂM ?
Trước câu hỏi ai là tác giả Chinh Phụ ngâm diễn âm, các nhà nghiên cứu đã tìm kiếm bằng chứng và tranh luận sôi nổi suốt gần 100 năm qua.

Nhiều sách nay vẫn ghi tác giả là Đoàn Thị Điểm theo như lời “tương truyền” vốn có từ xa xưa…nhưng nay lại đang có nghi vấn được nêu: Phải chăng tác giả Chinh Phụ ngâm diễn âm hiện hành là Nguyễn Thị Điểm?

Điều có thể dùng làm chứng cớ là ở 2 người anh là Nguyễn Trác Luân và Đoàn Doãn Luân. Bà Nguyễn Thị Điểm là em ông Nguyễn Trác Luân và tên tuổi Nguyễn Trác Luân thì không thể sai bởi đã ghi trong sử đời Lê mạt… Đầu thập niên 70 thế kỉ XX, GS. Bùi Văn Nguyên, lúc này đang là Giảng viên Khoa Ngữ Văn trường Đại Học Sư phạm Hà Nội cùng GS. Phan Huy Lê, Chủ tịch Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam về Hải Dương, gặp bố và chú của ông Nguyễn Trác Cách là Nguyễn Trác Thức và Nguyễn Trác Ngữ để hỏi cụ thể về việc dịch thuật của bà Nguyễn Thị Điểm. Các nhà nghiên cứu tìm đến gia tộc Nguyễn Trác thì điều không may là gia phả, sắc phong và cả ngôi nhà thờ họ năm gian mang tên Duy Ái Từ đã cháy trong kháng chiến chống Pháp. Tại đây, ông Nguyễn Trác Cách sinh năm 1936, trưởng tộc họ Nguyễn Trác đã kể lại các giai thoại văn chương giữa Nguyễn Trác Luân với em gái là Nguyễn Thị Điểm, vốn ham học ngay từ khi còn nhỏ và thường cùng anh xướng họa thơ văn. Các giai thoại này dòng họ ông vẫn lưu truyền và ông khẳng định chính bà Nguyễn Thị Điểm mới là tác giả của Tục truyền kỳ và bản dịch Chinh phụ ngâm được phổ biến rộng rãi hiện nay(2).

Sau đợt nghiên cứu, trên Tạp chí Văn học, số 6 năm 1977, GS. Bùi Văn Nguyên viết bài “Bà Điểm nào trong hai bà Điểm, tương truyền có tham gia dịch một bản Chinh phụ ngâm của Đặng Trần Côn”. GS Bùi Văn Nguyên cho rằng: “Sự thật, có hai bà Điểm khác nhau, một bà họ Nguyễn, một bà họ Đoàn, hai bà sống có phần đồng thời, ở cùng một vùng, nay là tỉnh Hải Hưng, đều có người anh trùng tên là Luân và đều giỏi văn thơ, pha nghề dạy học”(3).

Điều GS. Bùi Văn Nguyên phát hiện làm rõ mối ngờ 20 năm trước của GS. Hoàng Xuân Hãn về độ chính xác của Vũ Hoạt khi cho rằng bà Đoàn thị Điểm là tác giả của bản Nôm Chinh Phụ Ngâm: “Có thể Vũ Hoạt nghe loáng thoáng có một bà Điểm nào đó hay chữ, liền nghĩ ngay đến bà Điểm vợ ông Kiều ở huyện Từ Liêm, cùng quê với ông Đặng Trần Côn là tác giả khúc ngâm, rồi ghi luôn vào bản khắc mà mình giới thiệu cho thêm phần giá trị và Vũ Hoạt trong lời bạt viết năm 1904 đời Thành Thái đã khéo bảo vệ bằng luận điểm tương truyền. Đã gọi là tương truyền thì chả có bằng cớ nào, về sau nếu không đúng cũng thôi…”

Năm 1953, trong cuốn Chinh phụ ngâm bị khảo, GS, Hoàng Xuân Hãn có nêu ra 7 bản Chinh Phụ Ngâm diễn âm trong đó ông tập trung chú ý 4 bản A,B,C,D. Bản A là bản thịnh hành thì ông cho là của Phan Huy Ích. Riêng bản B (ít phổ biến) ở đầu có chữ “nữ lưu”, ông cho rằng đây là bản của bà Đoàn Thị Điểm. Phải chăng bản này là của bà Nguyễn Thị Điểm còn bà Đoàn Thị Điểm tuy hay chữ nhưng chỉ viết Truyền Kì tân phả (Tục Truyền Kỳ) như lời kể của Nguyễn Án và Phạm Đình Hổ.

Một chứng cớ nữa là nay ở thư viện trường Đại học Yale Hoa Kỳ còn một bản chép tay Chinh Phụ ngâm bị lục đời Thành Thái bằng chữ Nôm có chua quốc ngữ. Bản này ghi tên dịch giả là Nguyễn Thị Điểm. Tác phẩm gồm 412 câu, câu chữ gần như phù hợp với bản Chinh Phụ ngâm phiên ra quốc ngữ hiện được dùng phổ biến trong các sách văn học, kể cả sách giáo khoa Trung học và giáo trình Đại học hiện nay.

GHI CHÚ:

Ảnh sachxua.net

Theo tài liệu ông Nguyễn Trác Cách gửi viện trưởng Viện Văn học ngày 10 tháng 3 năm 2009; Đoàn Thị Điểm và Truyền kỳ tân phả; Bùi Thị Thiên Thai, Văn hóa Nghệ An 26.9.2010.

GS Bùi Văn Nguyên, “Bà Điểm nào trong hai bà Điểm, tương truyền có tham gia dịch một bản Chinh phụ ngâm của Đặng Trần Côn” – Tạp chí Văn học, số 6 năm 1977,

NGÀY XUÂN, LẠI NHỚ ÔNG ĐỒ…

Thư viện của bài

This gallery contains 1 photo.

     NGÀY XUÂN, LẠI NHỚ ÔNG ĐỒ…                                  Phong Lưu Một trong những bài thơ hay nhất của văn học Việt Nam, là bài Ông Đồ của tác giả Vũ Đình Liên. Sự nổi tiếng của bài thơ này đã đi vào … Tiếp tục đọc

Có một thời như thế đó !

9-sai-gon-3Có một thời như thế đó !

*Vũ Đông Hà

Nếu ai hỏi tôi rằng sau ngày 30 tháng 4, 1975 cái gì mà cộng sản không thể “giải phóng” được; cái gì vẫn âm thầm nhưng vũ bão giải phóng ngược lại tâm hồn khô khốc của người dân miền Bắc lẫn nhiều cán binh cộng sản; cái gì vẫn miệt mài làm nhân chứng cho sự khác biệt giữa văn minh và man rợ, giữa nhân ái và bạo tàn, giữa yêu thương và thù hận; cái gì đã kết nối tâm hồn của những nạn nhân cộng sản ở cả hai miền Nam Bắc… Câu trả lời là Âm Nhạc Miền Nam.
>  Nếu ai hỏi tôi, ảnh hưởng lớn nhất để tôi trở thành người ngày hôm nay, biết rung động trước hình ảnh của Ngoại già lầm lũi quang gánh đổ bóng gầy dưới ánh đèn vàng, biết nhung nhớ một khe gió luồn qua hai tấm ván hở của vách tường ngày xưa nhà Mẹ, biết man mác buồn mỗi khi đến hè và trống vắng với một tiếng gà khan gáy ở sau đồi, biết tiếc nuối một mặt bàn lớp họckhắc nhỏ chữ tắt tên người bạn có đôi mắt người Sơn Tây, biết ngậm ngùi trăn trở chỉ vì một tiếng rao hàng đơn độc đêm khuya… Câu trả lời là Âm Nhạc Miền Nam.
>   Âm Nhạc Miền Nam đã trở thành một chất keo gắn chặt cuộc đời tôi vào mảnh đất mang tên Việt Nam. Âm Nhạc Miền Nam đã làm tôi là người Việt Nam.
>  *Tôi lớn lên theo những con đường đất đỏ bụi mù trời và cây reo buồn muôn thuở. Niềm say mê âm nhạc đơm mầm từ các anh lớn của Thiếu và Kha đoàn Hướng Đạo Việt Nam, trổ hoa theo những khúc hát vang vang của các anh giữa vùng trời Đạt Lý đang vào mùa cà phê hoa trắng nở: *”Tôi muốn mọi người biết thương nhau. Không oán ghét không gây hận sầu. Tôi muốn đời hết nghĩa thương đau. Tôi muốn thấy tình yêu ban đầu…”* Các bậc đàn anh như nhạc sĩ Lê Hựu Hà, Nguyễn Trung Cang của Phượng Hoàng đã lót đường nhân ái cho đàn em nhỏ chúng tôi chập chững trở thành người, để biết ngước mặt nhìn đời và *”cười lên đi em ơi, dù nước mắt rớt trên vành môi, hãy ngước mặt nhìn đời, nhìn tha nhân ta buông tiếng cười…”* Những đêm tối, giữa ngọn đồi nhiều đại thụ và cỏ tranh, bên nhau trong ánh lửa cao nguyên chập chờn, chúng tôi cảm nhận được niềm hãnh diện Việt Nam với bước chân của cha ông và bước chân sẽ đi tới của chính mình: *”Ta như giống dân đi tràn trên lò lửa hồng. Mặt lạnh như đồng cùng nhìn về một xa xăm. Da chân mồ hôi nhễ nhại cuộn vòng chân tươi. Ôm vết thương rĩ máu ta cười dưới ánh mặt trời…”* Và anh Nguyễn Đức Quang, người nhạc sĩ của thị xã đèo heo hút gió đã trở thành thần tượng của chúng tôi. Có những buổi chiều buông trong Rừng Lao Xao bạt ngàn, những đứa bé chúng tôi theo anh ngậm ngùi số phận *”Xương sống ta đã oằn xuống, cuộc bon chen cứ đè lên. Người vay nợ áo cơm nào, thành nợ trăm năm còn thiếu. Một ngày một kiếp là bao. Một trăm năm mấy lúc ngọt ngào. Ôi biết đến bao giờ được nói tiếng an vui thật thà.”* Nhưng cũng từ anh đã gieo cho chúng tôi niềm lạc quan tuổi trẻ: *”Hy vọng đã vươn lên trong màn đêm bao ưu phiền. Hy vọng đã vươn lên trong lo sợ mùa chinh chiến. Hy vọng đã vươn lên trong nhục nhằn tràn nước mắt. Hy vọng đã vươn dậy như làn tên…”* Và từ anh, chúng tôi hát cho nhau *”Không phải là lúc ta ngồi mà đặt vấn đề nữa rồi. Mà phải cùng nhau ta làm cho tươi mới.”* Cô giáo Việt văn của tôi đã mắng yêu tôi – tụi em thuộc nhạc Nguyễn Đức Quang hơn thuộc thơ của Nguyễn Công Trứ! Nguyễn Công Trứ. Đó là ngôi trường tuổi nhỏ có cây cổ thụ già, bóng mát của tuổi thơ tôi bây giờ đã chết. Tôi nhớ mãi những giờ cuối lớp tại trường, Cô Trâm cho cả lớp đồng ca những bài hát Bạch Đằng Giang, Việt Nam Việt Nam,

 Về Với Mẹ Cha… Đứa vỗ tay, đứa đập bàn, đứa dậm chân, chúng tôi nở buồng phổi vang vang lên:* “Từ Nam Quan, Cà Mau. Từ non cao rừng sâu. Gặp nhau do non nước xây cầu. Người thanh niên Việt Nam. Quay về với xóm làng. Tiếng reo vui rộn trong lòng…” *Nhìn lên lớp học lúc ấy, có những biểu ngữ thủ công nghệ mà cô dạy chúng tôi viết: *Tổ quốc trên hết, Ngày nay học tập ngày sau giúp đời, Không thành công cũng thành Nhân.*.. Nhưng đọng lại trong tôi theo năm tháng vẫn là những câu hát* “Tình yêu đây là khí giới, Tình thương đem về muôn nơi, Việt Nam đây tiếng nói đi xây tình người…”* Cô giáo của tôi đã ươm mầm Lạc Hồng vào tâm hồn của chúng tôi và cứ thế chúng tôi lớn lên theo dòng suối mát, theo tiếng sóng vỗ bờ, theo tiếng gọi lịch sử của âm nhạc Việt Nam, để trở thành những công dân Việt Nam yêu nước thương nòi và hãnh diện về hành trình dựng nước, giữ nước của Tổ tiên. Trong cái nôi nhiều âm thanh êm đềm nhưng hùng tráng ấy, trừ những ngày tết Mậu Thân khi tiếng đạn pháo đì đùng từ xa dội về thành phố, cho đến lúc chui xuống gầm giường nghe tiếng AK47 và M16 bắn xối xả trước nhà vào ngày 10 tháng 3, 1975, tuổi thơ tôi được ru hời bởi dòng nhạc trữ tình của miền Nam để làm nên *Những Ngày Xưa Thân Ái*của chúng tôi

*Những ngày xưa thân ái xin buộc vào tương lai*
*Anh còn gì cho tôi tôi còn gì cho em*
*Chỉ còn tay súng nhỏ giữa rừng sâu giết thù*
*Những ngày xưa thân ái xin gởi lại cho em…*

 

 Các anh, những người anh miền Nam đã khoát áo chinh nhân lên đường đối diện với tử sinh, làm tròn lý tưởng Tổ Quốc – Danh Dự – Trách Nhiệm, đã hy sinh cuộc đời các anh và để lại sau lưng các anh những ngày xưa thân ái cho đàn em chúng tôi. Nhờ vào các anh mà chúng tôi có những năm tháng an lành giữa một đất nước chiến tranh, triền miên khói lửa.
> Lần đầu tiên, chiến tranh tưởng như đứng cạnh bên mình là khi chúng tôi xếp hàng cúi đầu đưa tiễn Thầy của chúng tôi, là chồng của cô giáo Việt Văn, một đại úy sĩ quan Dù đã vị quốc vong thân. Cô tôi, mồ côi từ nhỏ, một mình quạnh quẻ, mặc áo dài màu đen, tang trắng, đứng trước mộ huyệt của người chồng còn trẻ. Cô khóc và hát tặng Thầy lần cuối bản nhạc mà Thầy yêu thích lúc còn sống – *”Ta ngắt đi một cụm hoa thạch thảo… Đôi chúng ta sẽ chẳng còn nhìn nhau nữa! Trên cõi đời này, trên cõi đời này. Từ nay mãi mãi không thấy nhau…”* Và tôi say mê Mùa Thu Chết từ dạo đó. Trong những cụm hoa thạch thảo đầy lãng mạn ấy có đau thương đẫm nước mắt của Cô tôi. Có hình ảnh lá cờ vàng ba sọc đỏ phủ nắp quan tài của người Thầy Đại úy Sĩ quan Binh chủng Nhảy Dù
> vào mùa Hè hầm hập gió Nồm năm ấy.
> Từ những ngày xa xăm tuổi nhỏ, những người lính VNCH là thần tượng của chúng tôi Tôi mơ được làm một người lính Dù bởi *anh là loài chim quý, là cánh chim trùng khơi vạn lý, là người ra đi từ tổ ấm để không địa danh nào thiếu dấu chân anh*, và cuối cùng anh bi hùng ở lại Charlie. Giữa những đau thương chia lìa của chiến tranh, những dòng nhạc của Trần Thiện Thanh đã cho tôi biết thương yêu, kính trọng những người lính không chân dung nhưng rất gần trong lòng chúng tôi. Những *”cánh dù ôm gió, một cánh dù ôm kín đời anh”* cũng là những cánh dù ôm ấp lý tưởng đang thành hình trong tâm hồn tuổi nhỏ của chúng tôi.
> Nhìn lại quãng thời gian binh lửa ấy, tôi nhận ra mình và các bạn cùng lứa không hề biết rõ Phạm Phú Quốc là ai, chỉ biết và say mê huyền sử của một người được *”Mẹ yêu theo gương người trước chọn lời. Đặt tên cho anh, anh là Quốc. Đặt tên cho anh, anh là Nước. Đặt tên cho Người. Đặt tình yêu Nước vào nôi”*, chỉ ước ao một ngày chúng tôi cũng được như anh, cũng sẽ là những *”Thần phong hiên ngang chẳng biết sợ gì!”.*
> Chúng tôi, nhiều đứa núi đồi, rừng rú, chưa bao giờ thấy biển nhưng thèm thuồng màu áo trắng và đại dương xanh thẳm, thuộc lòng câu hát *”Tôi thức từng đêm, thơ ấu mà nghe muối pha trong lòng. Mẹ là mẹ trùng dương, gào than từ bãi trước ghềnh sau. Tuổi trời qua mau, gió biển mặn nuôi lớn khôn tôi. Nên năm hăm mốt tuổi, tôi đi vào quân đội. Mà lòng thì chưa hề yêu ai”* .
> Chúng tôi cũng không tìm đọc tiểu sử, cuộc chiến đấu bi hùng của Đại tá Nhảy Dù Nguyễn Đình Bảo, cũng không biết địa danh Charlie nằm ở đâu, nhưng Đại tá Nguyễn Đình Bảo là biểu tượng anh hùng của chúng tôi để chúng tôi thuộc lòng khúc hát *”Toumorong, Dakto, Krek, Snoul. Trưa Khe Sanh gió mùa, đêm Hạ Lào thức sâu. Anh! Cũng anh vừa ở lại một mình, vừa ở lại một mình. Charlie, tên vẫn chưa quen người dân thị thành.”*
> Chúng tôi không biết “Phá” là gì, “Tam Giang” ở đâu, nhà thơ Tô Thùy Yên là ai, nhưng “*Chiều trên phá Tam Giang anh chợt nhớ em, nhớ ôi niềm nhớ ôi niềm nhớ đến bất tận. Em ơi, em ơi…” *đã thân thiết chiếm ngự tâm hồn để chúng tôi biết thương những người anh chiến trận đang nhớ người yêu, nhớ những người chị, cô giáo của chúng tôi ngày ngày lo âu, ngóng tin từ mặt trận xa xăm.
> Trong cái nôi của những ngày xưa thân ái ấy, từ nơi khung trời đầy mộng mơ của mình chúng tôi chỉ biết đến nỗi niềm của các anh bằng những *”Rừng lá xanh xanh lối mòn chạy quanh, Đời lính quen yêu gian khổ quân hành”*. Giữa mùa xuân pháo đỏ rộn ràng con đường tuổi thơ thì chính âm nhạc nhắc cho những đứa bé chúng tôi biết đó cũng là *”ngày đầu một năm, giữa tiền đồn heo hút xa xăm, có người lính trẻ, đón mùa xuân bằng phiên gác sớm”*.
> Giữa những sum vầy bình an bên cạnh mai vàng rực rỡ, thì ở xa xăm có những người con rưng rưng nhớ đến Mẹ già và gửi lời tha thiết *”bao lứa trai cùng chào xuân chiến trường, không lẽ riêng mình êm ấm, Mẹ ơi con xuân này vắng nhà…”* Âm nhạc Việt Nam đã gieo vào tâm hồn chúng tôi hình ảnh rất bình thường, rất người, nhưng lòng ái quốc và sự hy sinh của thế hệ đàn anh chúng tôi – những người lính VNCH – thì ngời sáng. Và chúng tôi biết yêu thương, khâm phục, muốn noi gương các anh là cũng từ đó.*
>  Sau ngày Thầy hy sinh, chúng tôi gần gũi với Cô giáo Việt Văn của mình hơn. Nhiều đêm thứ bảy, tôi và các bạn ghé nhà thăm Cô. Đó là lúc chúng tôi đến với Một thời để yêu – Một thời để chết. Chúng tôi bắt đầu chạm ngõ tình yêu với những Vũng lầy của chúng ta, Con đường tình ta đi, Bây giờ tháng mấy,
> Ngày xưa Hoàng Thị, Tình đầu tình cuối, Em hiền như Ma Soeur, Trên đỉnh mùa đông, Trả lại em yêu… Đó là lúc Cô đọc thơ Chiều trên Phá Tam Giang của Tô Thùy Yên cho chúng tôi nghe, giảng cho chúng tôi về tài nghệ “thần sầu” của Trần Thiện Thanh trong lời nhạc *”anh chợt nhớ em, nhớ ôi niềm nhớ… ôi niềm nhớ…….. đến bất tận. Em ơi… em ơi!…”* khi diễn tả nỗi nhớ ngút ngàn, và sau đó chú Trần Thiện Thanh Toàn – em ruột của nhạc sĩ Nhật Trường ở Sài Gòn lên thăm Cô, vừa đàn vừa hát. Những buổi tối này, mình tôi ở lại với Cô tới khuya. Cô đọc thơ và hát nhạc phổ từ thơ của Nguyễn Tất Nhiên, chỉ cho tôi tính lãng đãng của lời nhạc Từ Công Phụng, khắc khoải của Lê Uyên Phương, mượt mà của Đoàn Chuẩn – Từ Linh, sâu lắng của Vũ Thành An… Và qua âm nhạc, Cô kể tôi nghe chuyện tình của Cô và Thầy. Hai người đến với nhau khởi đi từ bản nhạc mà Cô hát khi Cô còn là nữ sinh Đệ Nhất và Thầy là Sinh Viên Sĩ Quan Trường Võ Bị Quốc Gia Việt Nam. Bản nhạc ấy có những dòng như sau:

*”Nhưng anh bây giờ anh ở đâu*
*con ễnh ương vẫn còn gọi tên anh trong mưa dầm*
*tên anh nghe như tiếng thở dài của lòng đất mẹ*
*Dạo tháng Ba tên anh lẫn trong tiếng sấm đầu mùa mưa*
*nghe như tiếng gầm phẫn nộ đến từ cuối trời.”*

 

 Thầy và cô tôi yêu nhau từ sau khúc hát Người Tình Không Chân Dung và *”người chiến sĩ đã để lại cái nón sắt trên bờ lau sậy này” * cũng là định mệnh Thầy, của cuộc tình bi thương giữa một cô giáo trẻ và người lính VNCH. Cô tôi sống một mình và qua đời vào năm 2010. Bạn cùng lớp của tôi là Phương lùn, vào một ngày cuối năm, từ Sài Gòn trở về Ban Mê Thuột, xách đàn đến trước mộ Cô và hát lại *”Ta ngắt đi một cụm hoa Thạch Thảo”* để thay mặt những đứa học trò thơ ấu kính tặng hương hồn của Cô. Còn tôi, năm tháng trôi qua nhưng tôi biết rõ trong dòng máu luân lưu và nhịp đập của tim mình vẫn đầy tràn những thương yêu mà Cô đã gieo vào tôi bằng Âm Nhạc Miền Nam.
> Một buổi tối chúng tôi ngồi hát với nhau. Các bạn từ Hà Nội, Nam Định, Yên Bái, Đà Nẵng, Sài Gòn… nhưng chỉ có mình tôi là sinh ra và lớn lên trước 1975. Các bạn tôi, hay đúng ra là những người em đang cùng đồng hành trên con đường đã chọn, đã thức suốt đêm hát cho nhau nghe. Rất tự nhiên, rất bình thường: toàn là những ca khúc của miền Nam thân yêu.
> Đêm hôm ấy, cả một quãng đời của những ngày xưa thân ái trong tôi sống lại. Sống lại từ giọng hát của những người em sinh ra và lớn lên trong lòng chế độ độc tài. Các em hát cho tôi nghe về những người lính miền Nam mà các em chưa bao giờ gặp mặt *”Anh sẽ ra đi nặng hành trang đó, đem dấu chân soi tuổi đời ngây thơ, đem nỗi thương yêu vào niềm thương nhớ, anh sẽ ra đi chẳng mong ngày về…”.*
> Tôi hát cho các em mình về những ngày tháng mộng mơ trước “giải phóng” của những “*Con đường tuổi măng tre, nắng vàng tươi đẹp đẽ, bóng người dài trên hè, con đường tình ta đi…”* Các em tâm sự về cảm nhận đối với người lính VNCH qua những dòng nhạc êm đềm, đầy tình người giữa tàn khốc của chiến tranh: “*Tôi lại gặp anh, người trai nơi chiến tuyến, súng trên vai bước lê qua đường phố; tôi lại gặp anh, giờ đây nơi quán nhỏ, tuổi 30 mà ngỡ như trẻ thơ…”* Tôi chia sẻ với các em về nỗi ngậm ngùi quá khứ: *”Như phai nhạt mờ, đường xanh nho nhỏ, hôm nay tình cờ, đi lại đường xưa đường xưa. Cây xưa còn gầy, nằm phơi dáng đỏ, áo em ngày nọ, phai nhạt mây màu, âm vang thuở nào, bước nhỏ tìm nhau tìm nhau”…*
> Đêm ấy, khi các bạn nói lên cảm nhận về những mượt mà, êm ả, nhân ái của Âm Nhạc Miền Nam, tôi đã tâm sự với các bạn rằng: Chỉ cần lắng nghe và hát lên những dòng nhạc ấy, các em sẽ hiểu thấu được những mất mát khủng khiếp của con người miền Nam. Những mất mát không chỉ là một cái nhà, một mảnh đất, mà là sự mất mát của cả một đời sống, một thế giới tâm hồn, một đổ vỡ không bao giờ hàn gắn lại được. Khi những mượt mà, nhân ái ấy đã bị thay thế bởi những *”Bác cùng chúng cháu hành quân” *và *”Tiến về Sài Gòn” *thì các em hiểu được tuổi thanh xuân và cuộc đời của những thế hệ miền Nam đã bị đánh cắp hay ăn cướp như thế nào.
> Gần 42 năm trôi qua, Âm Nhạc Miền Nam vẫn như dòng suối mát trôi chảy trong tâm hồn của người dân Việt. Chảy từ đồng bằng Cửu Long, xuôi ngược lên Bắc, nhập dòng sông Hồng để tưới mát tâm hồn của mọi người dân Việt đang bị thiêu đốt bởi ngọn lửa bạo tàn cộng sản. Dòng suối trong mát ấy cũng cuốn phăng mọi tuyên truyền xảo trá của chế độ về xã hội, con người miền Nam trước 1975 cũng như về tư cách, phẩm giá, lý tưởng của những người lính VNCH và tình cảm trân quý, yêu thương của người dân miền Nam dành cho họ.
> Gần 42 năm trôi qua, trong tuyệt vọng của những kẻ thật sự đã thua trận trong cuộc chiến giữa chính nghĩa và gian tà, nhà cầm quyền cộng sản đã tìm mọi cách để tiêu diệt Âm Nhạc Miền Nam. Nhưng họ không biết rằng, dòng âm nhạc đó không còn là những bản in bài hát, những CD được sao chép, bán buôn… Âm Nhạc Miền Nam đã trở thành máu huyết và hơi thở của người dân Việt, bất kể Bắc – Trung hay Nam, bất kể sinh trưởng trước hay sau 1975.
> Bạo tàn và ngu dốt có thể đem Âm Nhạc Miền Nam vào những danh sách cấm đoán vô tri vô giác, nhưng không bao giờ đem được Âm Nhạc Miền Nam ra khỏi con người Việt Nam.
> Ai giải phóng ai? Hãy hỏi* Con Đường Xưa Em Đi* và đốt đuốc đi tìm xem *Bác Cùng Chúng Cháu Hành Quân* đang nằm trong cống rãnh nào trên những con đường Việt Nam!!! 

 

TT DIỆM & PHẬT GIÁO

Thư viện của bài

This gallery contains 1 photo.

 TT  DIỆM  & CÁC TU SĨ  PHẬT GIÁO  LUÔN  YÊU THƯƠNG NHAU  Hàn Giang Trần Lệ Tuyền  “Tổng Thống Ngô Đình Diệm đã xây dựng miền Nam Việt Nam trở thành một Quốc Gia dưới chính thể Cộng Hoà.    … Tiếp tục đọc

Những giọt nước mắt của dân tộc VN

Thư viện của bài

This gallery contains 1 photo.

Những giọt nước mắt đã khiến cho bao người phải khóc theo! Hàn Giang Trần Lệ Tuyền Những giọt nước mắt ngày 20/7/1954:  Trong lịch sử cận đại; nếu kể từ ngày đất nước bị chia cắt, phân ly, bởi … Tiếp tục đọc

Những người Việt tỵ-nạn rất ngây thơ

Thư viện của bài

This gallery contains 1 photo.

Những người Việt tỵ-nạn rất ngây thơ, dễ tha-thứ và chóng quên !!!                 Nhớ lại ngày nào, những loạt pháo-kích vội vàng không cần trúng mục tiêu, rơi vào thành phố, những vụ đặt chất nổ nơi chốn đông … Tiếp tục đọc

Lạm Bàn về một cuốn tiểu thuyết

Thư viện của bài

This gallery contains 1 photo.

LẠM BÀN VỀ MỘT CUỐN TIỂU THUYẾT LỊCH SỬ Khải Nguyên Biên Soạn  Tôi cố tìm đọc “Hội thề” của tác giả Nguyễn Quang Thân, không vì cuốn tiểu thuyết đó được giải của hội nhà văn Việt Nam mà … Tiếp tục đọc