Nghe từng trang lịch sử thét từng trang

Nguyệt Quỳnh

Một tấc đất của tiền nhân để lại, cũng không được để lọt vào tay kẻ khác
(Trần Nhân Tông)

Tại núi rừng Tam Điệp, vua Quang Trung truyền lệnh cho binh tướng Phú Xuân, Nghệ An hợp cùng binh tướng của Ðại Tư Mã Ngô Văn sở cùng ăn tết sớm và hẹn nhau sẽ ăn mừng Khai Hạ tại Thăng Long vào ngày mùng bảy tết. Kế hoạch của nhà vua là sử dụng sở trường của binh Tây Sơn tấn công chớp nhoáng khi quân Thanh vui chơi ngày Tết và tướng Thanh còn đang mải mê yến tiệc. Đúng vào đêm trừ tịch năm Kỷ Dậu, từ phòng tuyến Tam Điệp nhà vua ra lệnh xuất quân.

Vua Quang Trung chia quân làm 5 đạo, tấn công giặc từ ba hướng:

Hướng chính gồm đạo quân chủ lực do chính vua Quang Trung điều động. Tiên phong là tướng Ngô văn Sở và Phan văn Lân sẽ tấn công thẳng vào dãy thành phòng thủ của mặt Nam Thăng Long.

Hữu quân gồm hai đạo thủy quân vượt đường biển, tiến vào cửa sông Lục Ðầu. Ðạo thủy quân của Ðô Ðốc Tuyết sẽ tấn công đám quân tòng vong của Lê Chiêu Thống, tiến chiếm Hải Dương, rồi vượt bộ vào tiếp ứng và đánh vào mặt Đông thành Thăng Long.

Ðạo Thủy quân của Ðô Ðốc Lộc sẽ vượt bộ lên Phượng Nhỡn, Lạng Giang, Yên Thế để khóa lương, ngăn viện, và chận đường lui binh của giặc.

Ðại Ðô đốc Bảo và Ðô đốc Long đem tả quân, có tượng và kỵ binh tăng cường đi bọc đường núi đánh tạt cạnh sườn vào phòng tuyến địch. Cánh quân của Ðại Ðô đốc Bảo dùng tượng binh từ huyện Sơn Minh đánh vào các căn cứ địch ở xã Ðại Áng.

Ðô đốc Long, người được người đời phong danh hiệu là Ðặng Thiết Tý, nghĩa là cánh tay họ Ðặng cứng như sắt. Trong cánh quân của ông có viên phó tướng là Ðặng Tiến Ðông sinh trưởng ở xã Lương Xá gần thành Thăng Long nên rất am hiểu địa hình. Đô đốc Long dẫn tượng binh và kỵ binh đi đường tắt từ huyện Chương Ðức đến huyện Thanh Trì. Thực hiện chiến thuật bất ngờ đánh từ Tây Bắc xuống Nam, chận đường rút quân về đại bản doanh Thăng Long, làm địch hoang mang mất tinh thần ngay từ phút đầu.

Mục tiêu đầu tiên của quân ta là chiếm gọn căn cứ Nhân Mục và Yên Quyết, hai tiền đồn mặt Tây và Bắc Khương Thượng, không để một tên địch nào chạy thoát về báo tin. Rồi nửa đêm ngày mùng bốn tết, quân ta đã áp sát 4 mặt thành Khương Thượng. Trong đồn, giặc vẫn không hề hay biết.

Lệnh khai hoả, tức thì những bó đuốc bằng rơm quấn chặt, tẩm dầu phựt sáng thành một một vành đai lửa; trùng điệp khép kín với tiếng trống trận; tiếng hò hét vang trời, dậy đất; quân Thanh hoảng hốt, không còn sức kháng cự.

Ðề đốc Sầm Nghi Ðống chưa kịp xoay trở, thì mũi nhọn của cảm tử quân với sức mạnh như chẻ tre đã phá vỡ thành, xông vào như nước vỡ bờ. Sầm Nghi Ðống phải mở đường máu chạy về Thăng Long. Nhưng khi đến gò Ðống Ða thì bị một cánh quân của Ðô đốc Long chận đánh. Bí đường, Sầm Nghi Ðống phải thắt cổ tự vẫn. Số tàn quân ngơ ngác vì rắn mất đầu, hoảng quá chạy dội lại về phía nam. Nhưng vừa đến Ðầm Mực thì bị quân của Ðại đô đốc Bảo đón đánh, tiêu diệt hết.

Ðạo quân do chính vua Quang Trung thống lãnh chỉ huy cả ba doanh: tiền, trung và hậu. Tư Mã Sở và Nội hầu Lân mang tiền quân làm mũi nhọn tiên phong. Tân binh Nghệ An thì sung vào trung quân do nhà vua trực tiếp chỉ huy. Hậu quân có Hô Hổ Ðầu thủ vai đốc chiến và đề phòng địch tập hậu.

Ngày 30 tết, đại quân của Quang Trung vượt bến đò Gián Khuất ngược chiều tiến quân của giặc; dùng thế võ đâm so đũa, nhanh như chớp lần lượt hạ các đồn Thanh Liêm, Nhựt Tảo, Phú Xuyên.

Quân giặc ở Hà Hồi và Ngọc Hồi vẫn chưa hay biết, tiếp tục uống rượu đón xuân. Chừng nghe tiếng quân Nam reo hò vang dội ngoài thành vào nửa đêm mùng Ba Tết. Quân Thanh thủ Hà Hồi thất kinh hồn vía, mở cửa thành dâng nộp vũ khí xin hàng.

Ðêm Hà Hồi rực hồng lửa đỏ
Bóng lá lùm cây cũng gợi kinh hoàng
Tiếng loa từ trời vọng xuống vang vang
Mặt đất xông lên đoàn người dũng mãnh
Gươm giáo tuốt trần
Ðằng đằng nét mặt
Bạt vía sài lang
Ghê hồn quân giặc
Lớp lớp buông thương bó gối qui hàng
Ðồn mất rồi giấc điệp vẫn chưa tan
(Hương Giang)

Ðạo quân chủ lực hợp cùng đạo quân của Ðô đốc Bảo tiến ra Ngọc Hồi vào mờ sáng mùng năm. Đụng phải sức cố thủ mãnh liệt của giặc Thanh, đạn trong thành bắn ra như mưa. Vua Quang Trung huy động hơn 100 thớt voi dàn hàng ngang như một đoàn thiết giáp tiến về mục tiêu.

Giặc cố thủ trong đồn được ưu thế có thành lũy kiên cố, có chông sắt dầy đặc, có chỗ ẩn nấp an toàn đã bắn tên đạn ra như cát vãi.

Nhà vua bèn cho dùng phên gỗ quấn rơm nhào với đất bùn làm lá chắn để ngăn tên đạn. Cứ 10 người lưng dắt đoản đao, chung nhau vác dựng đứng một tấm phên, mặt bện rơm quay về phía địch. Theo sau họ là 20 khinh binh, võ trang đầy đủ, sẵn sàng chiến đấu theo nguyên tắc công thủ song hành.

Các tấm phên dàn hàng chữ nhất tiến vào đồn làm vô hiệu hóa hoả lực của địch quân. Khi đến sát đồn, các phên gỗ ấy được sử dụng như một tấm đệm trải lên chông để cảm tử quân tiến vào. Chính nhà vua cỡi voi đốc chiến, quân giặc tan vỡ cấp kỳ, đạp nhau mà chạy tán loạn.

Ðây là chiến thắng cam go nhất. Lộ quân tiên phuông của Ðại Tư Mã Ngô Văn Sở có đến tám ngàn người hy sinh.

Ðây muôn người lòng trải với giang san
Nghe hào khí tiền nhân ngời trong gió
Ðất Ngọc Hồi trời còn chưa tỏ
Mà tiếng quân reo ngựa hí vang rền
Ôi phút tên bay đạn réo bên mình
Ðã thấu lòng nhau lời thề tâm huyết
Máu xương này đổ vì bờ cõi Việt
Mảnh đất bao đời gìn giữ gửi trao
(Hương Giang)

Cùng lúc đó, đạo quân của Ðô đốc Long ở mặt Tây Nam đã chiếm Khương Thượng rồi tiến như vũ bão sang công phá Ðống Ða. Hai đạo thủy quân của Ðô đốc Tuyết và Ðô đốc Lộc thanh toán chớp nhoáng các vị trí chiến lược Hải Dương, Phượng Nhỡn, Lạng Giang, Yên Thế rồi hổ trợ đại quân đánh thẳng vào Thăng Long.

Sáng mồng năm Tết, tại cung Tây Long, Tôn sĩ Nghị đang sốt ruột theo dõi mặt trận phía Nam bỗng được tin cấp báo – quân Tây Sơn như trên trời giáng xuống đang tiến vào cửa Tây với khí thế ngùn ngụt. Tôn Sĩ Nghị hoảng quá, không kịp mặc áo giáp, không kịp mang theo sắc thư và ấn tín vội nhảy lên ngựa chưa kịp thắng yên cương. Tôn Sĩ Nghị cùng toán kỵ binh thoát ra thành Thăng Long, vượt cầu phao qua sông Nhị Hà.

Quân Thanh thấy chủ tướng bỏ chạy, bèn vứt cả khí giới, tranh nhau qua cầu phao. Đến nỗi bị ứ nghẹn cầu bị dồn nén, sức nặng quá tải nên đứt dây, ném cả xuống sông. Gặp lúc cuối mùa đông nước lớn chảy xiết, quân Thanh chết vô số kể.

Cánh quân viện binh Quý Châu – Vân Nam của giặc, vừa tới Sơn Tây nghe tin chủ soái bỏ chạy; các tướng Sầm Nghi Ðống, Hứa Thế Hanh, Trương Sĩ Long, Thượng Duy Thăng đều tử trận; cũng tất tả tháo chạy. Dọc đường về còn bị phục kích, chận đánh tơi bời bởi các lộ quân của Ðô đốc Lộc; qua biên giới sang Tàu rồi mà vẫn chưa hết bàng hoàng.

Khoảng 4 giờ chiều ngày mồng 5 Tết Kỷ Dậu, Ðô đốc Long mở cửa thành đón đại quân. Hoàng Ðế Quang Trung với chiến bào đen xạm khói thuốc súng, có 80 thớt voi làm lá chắn, uy nghi tiến vào Thăng Long sớm hơn kỳ hẹn 2 ngày.

Ôi người xưa Bắc Bình Vương
Ðống Ða một trận năm đường giáp công
Ðạn vèo năm cửa Thăng Long
Trắng gò xương chất đỏ sông máu màng

Chừ đây lại đã xuân sang
Giữa cố quận một mùa xuân nghịch lữ
Ai kia lòng có mang mang
Ðầy vơi sầu xứ – Hãy cùng ta
ngẩng đầu lên hướng về đây tâm sự
Nghe từng trang lịch sử thét từng trang
(Vũ Hoàng Chương)

Xin mời nghe Youtube “Chiến Thắng Đống Đa 2

Nguyệt Quỳnh (đề tựa & tổng hợp)

 

MỖI NGÀY MỘT CA KHÚC TƯỞNG NIỆM 30 THÁNG TƯ

Nam Lộc

nguoi linh bo roi

Hôm nay là ngày 25 tháng Tư, 2020. Xin mạn phép chia sẻ cùng quý vị và các bạn một chút tâm sự của ngày này 45 năm về trước. và cũng là ngày mà tôi đã bắt đầu bước vào một cuộc đổi đời đầy những cay đăng, xót xa cho thân phận của một người tỵ nạn.
Ngày hôm qua 24 tháng Tư, 1975, lệnh cấm trại 100%, ngồi viết phóng sự và trực suốt đêm tại phòng Báo Chí Quân Đoàn III ở Biên Hòa. Sáng nay về Sài Gòn đem giao một số bài viết cho nhật báo Tiền Tuyến ở Cục Tâm Lý Chiến. Tình hình đất nước đang vô cùng căng thẳng, nhất là sau khi tổng thống Nguyễn Văn Thiệu từ chức và các tỉnh miền Trung cho đến một số ở miền Nam gần Sài Gòn cũng đang lần lượt lọt vào tay CS Hà Nội và quân Giải Phóng miền Nam! Vào lúc này thì người Mỹ đang ráo riết di tản các nhân viên của họ theo kế hoạch của Hoa Thịnh Đốn, trong số đó có gia đình tôi, vì cô em gái làm việc cho DAO. Cô đã đưa cả bố mẹ cùng hầu hết anh chị em (ngoại trừ tôi) vào nơi cô làm việc để được người Mỹ âm thầm đưa đến Tân Sơn Nhất trên những chuyến xe bus mầu vàng, chạy liên tục như đàn bướm trong thành phố đầy hoang mang và hoảng loạn, hoảng loạn như chính tâm trạng của tôi và cả chắc cũng tương tự như của nhiều người lúc bấy giờ!

Sài Gòn, những ngày cuối tháng Tư, 1975
Từ tòa soạn Tiền Tuyến, tôi ghé ngang báo Diều Hâu thăm thiếu tá Phạm Huấn, và đại úy Hà Huyền Chi là những người anh thân thương đã đỡ đầu chúng tôi trong các buổi Đại Hội Nhạc Trẻ hàng năm để gây quỹ giúp Cô Nhi, Quả Phụ Tử Sĩ. Gặp đại úy Lê Cự Phách, tức nhà văn Du Tử Lê ở báo Tiền Phong, biết tôi thích đọc thơ anh, mỗi lần về anh lại cho tôi một quyển. Trước khi rời nơi đây, tôi ghé qua bên đài phát thanh quân đội thăm trung tá Nguyễn Quang Tuyến tức nhà văn Văn Quang, mà ông đang làm quản đốc. Ông Văn Quang vừa họp xong trong phòng bước ra ngoài, vui vẻ chào đón và hỏi thăm tôi về tình hình ở quân đoàn. Tôi tường trình qua loa rồi bước ngay vào mục đích riêng của mình là xin ông một lời cố vấn rằng, nếu có cơ hội ra khỏi VN thì tôi có nên đi hay không? Tôi nhớ mãi câu trả lời gọn gàng của ông: Đi được thì cứ đi, các “ông lớn” cũng chuẩn bị cả rồi! Câu nói của ông làm tôi thêm hoang mang và suy nghĩ!
Tôi nắm tay ông từ giã, dự định sẽ về nhà ngủ một giấc thật dài để bù lại đêm qua và cũng để quên đi những xao xuyến, giằng co ở trong lòng! Nhưng chợt thấy đói nên ghé ngang Đêm Mầu Hồng rủ Tùng Giang và Lệ Thanh ghé quán Bà Cả “Đọi” ăn trưa. Sau đó cả ba đi bộ đến trụ sở quốc hội gặp chị Phúc, người chị cả của gia đình, đang làm việc tại đây, cũng để thăm dò tình hình và nhân tiện nhờ chị tái gia hạn dùm tôi tấm thẻ báo chí để dự thính ở quốc hội (đến giờ này tôi vẫn còn lo những sinh hoạt bình thường)! Chị Phúc nói với chúng tôi, các dân biểu cũng chia làm hai nhóm, người lo tìm đường ra đi, kẻ thì chuẩn bị tham chánh, hoăc đảm nhận các chức vụ quan trọng trong chính quyền mới! Tôi hỏi chị về chuyện ra đi, chị cũng trả lời tương tự như anh Văn Quang: Đi được thì cứ đi, nhưng cậu Lộc coi chừng đừng để trở thành người đào ngũ! Câu nói của chị càng làm tôi thêm hoang mang và bối rối!
Bước qua bên đường, ghé Givran uống cà phê, gặp ông anh Trầm Tử Thiêng, người nhạc sĩ giáo chức mà chúng tôi rất kính nể, và anh cũng là người nghệ sĩ cuối cùng mà tôi gặp mặt trước khi xa Sài Gòn. Tôi đưa ra cùng một câu hỏi, nhưng lần này bị Tùng Giang “cự nự”: Sao mày lo quá vậy Lộc, hãy cứ để cho số phận an bài! Anh Thiêng bảo: “Nhưng số phận không phải chỉ hoàn toàn là do ở Thượng Đế, mà đôi lúc cũng tùy thuộc vào quyết định của chính mình”, và có ngờ đâu câu nói này đã theo đuổi tôi trong suốt cả cuộc đời còn lại!
Trở về nhà cô em, nơi tụ họp của gia đình, mọi người đã ra đi. Im lặng và trống vắng, tôi đặt mình xuống giường, ngủ như chết! Đến khoảng 5 giờ chiều bỗng có người vừa bấm chuông, vừa gõ cửa ầm ầm, tôi tỉnh giấc và bước ra ngoài xem ai mà hối hả thế, thì gặp ông VõVV, một giới chức cao cấp làm việc tại Bộ Kế Hoạch, anh Võ đến tìm người em trai của tôi là luật sư Nam Khang. Tôi bảo anh, Khang đã vào DAO để chuẩn bị được người Mỹ di tản cùng với gia đình. Anh gật đầu, rồi bất chợt hỏi tôi: Nam Lộc có rảnh không, đi với tôi vào Tân Sơn Nhất chơi, tiện tôi đi công tác đón một yếu nhân của bộ đi họp ở ngoại quốc về. Tôi lưỡng lự từ chối, anh Võ lại đốc thúc, ở nhà làm gì, đi thăm dò tình hình xem sao? Chợt nghĩ, ừ nhỉ, tại sao không? Tôi rửa mặt vội vàng, mặc chiếc quần jean, không kịp đi giầy, sỏ vào đôi dép da của Mẹ để sẵn ngòai cửa, rồi chui vào chiếc xe Volkswagen Beetle chật chội của anh Võ để ra phi trường. Trên đường đến TSN, xe đã bị quân cảnh, cảnh sát rồi MP Mỹ chặn lại hỏi giấy tờ năm lần, bẩy lượt. Lòng tôi cũng hơi bấn loạn, thuộc loại “không” cò tật mà vẫn giật mình, vì tôi có toan tình gì đâu! Nhưng anh Võ đã có sẵn “bùa hộ mệnh”, tấm sự vụ lệnh to tổ chảng của Bộ, với lá cờ VNCH kéo dọc và chéo ngang nên gặp giới chức công lực nào họ cũng phất tay cho đi.

Sài Gòn, cuối tháng Tư, 1975: Quân Cảnh, Cảnh Sát ở khắp mọi nẻo đường

Vào đến phi trường, còn sớm giờ đón khách, anh Võ rủ tôi đi vào khu tập trung của những người Việt đang được chính phủ Mỹ di tản, tôi hết hồn khi nhìn thấy một rừng người khoảng cả ngàn, vừa đứng, vừa ngồi chen chúc trong khuôn viên bên ngoài trụ sở cùng khu vực Gym của cơ quan DAO để chờ được gọi tên lên máy bay. Rảo vội một vòng, tôi nhận thấy có rất nhiều người quen biết, trong số đó có cả các chính khách dân sự, các sĩ quan chỉ huy cao cấp cùng nhiều quân nhân ở các Sư Đoàn hay Quân Đoàn mà tôi đã gặp. Có các bạn hữu của tôi, và có cả những người đã “hứa là sẽ đưa tôi đi” nếu tình thế khẩn trương, ấy thế mà bây giờ họ đã đứng ở đây? Nhìn cảnh tượng này, khiến tôi lại tăng thêm niềm hoang mang và hoảng loạn.
Hai anh em trở lại xe, bỗng dưng ông Võ cản tôi: Nam Lộc ở lại đây đi, chờ gia đình vào rồi nhập bọn để được di tản cùng! Tôi lắc đầu từ chối, và viện dẫn đủ mọi lý do, nào là không chuẩn bị, không mang theo quần áo, không có đủ giấy tờ, tiền bạc và sau cùng là trách nhiệm trong quân đội v..v…! Nhưng nói tới đâu, ông lại thuyết phục và đưa ra lời giải thích tới đó, để rồi rốt cục tôi nghe ông và ở lại phi trường. Ông Võ còn hẹn thêm là 9 giờ sáng mai, tức là ngày 26 tháng Tư, ông sẽ trở lại, đưa hai người em vào, đồng thời sẽ ghé nhà cô em lấy mấy bộ quần áo cho tôi (cò ngờ đâu đến 16 năm sau tôi mới gặp lại ông qua chương trình HO, sau hơn 10 năm ông đi tù cải tạo và 6 năm vất vưởng sống ở VN).
Trở lại khung cảnh náo nhiệt tại khuôn viên DAO, phi trường TSN lúc bấy giờ, tôi không biết mình sẽ phải làm gì, gặp ai và phản ứng thế nào nếu có người nhận ra mình, một quân nhân đang hiện dịch? Rồi đến khi nào thì gặp được gia đình? Nếu bị bắt và bị đưa về quân lao thì có ai biết mà lo lắng cho mình? Bên cạnh đó là tiếng cười ròn rã của những người đang chờ đợi các chuyến bay, trộn với tiếng khóc than, oán trách thật bi ai, tất cả đã đưa tôi từ tâm trạng hoang mang, lo lắng, đến khủng hoảng tinh thần. Tôi chợt nhớ lại câu nói của anh Trầm Tử Thiêng lúc ban chiều: “Số phận không phải chỉ hoàn toàn là do ở Thượng Đế, mà đôi lúc cũng tùy thuộc vào quyết định của chính mình”. Nhưng hỡi ôi, quyết định của tôi để ở lại nơi đây, vào giờ này, không phải do Thượng Đế, cũng chẳng phải của chính mình mà là của ông Võ! Rồi cuộc đời sẽ đưa tôi về đâu? Có lẽ không lời diễn tả nào thích hợp hơn bằng bài hát Kinh Khổ mà anh Thiêng đã viết, có thể diễn tả tâm trạng vào thời điểm đó của tôi hay của bao người đang dở khóc, dở cười, bên cạnh lời cầu nguyện mà Mẹ tôi và các bà Mẹ VN khác đang dâng lên Thượng Đế cho tương lai của những đứa con mình?
Xin hẹn sẽ viết tiếp tiếp vào ngày mai, nhưng bây giờ kính mời quý vị và các bạn cùng nghe Kinh Khổ của nhạc sĩ Trầm Tử Thiêng qua giọng hát Khánh Ly:

https://www.youtube.com/watch?v=CPPpkyOLS1o
(Bút ký này xin được tưởng nhớ đến những người đã khuất mà tôi xin phép nhắc tên trong bài viết: Thiếu tá Phạm Huấn, thi sĩ Du Tử Lê, anh VõVV, các nhạc sĩ Trầm Tử Thiêng, Tùng Giang, và xin kính tặng những người vẫn còn sống bình an trên cuộc đời này: Nhà văn Văn Quang, thi sĩ Hà Huyền Chi, chị Phúc, Lệ Thanh)

Tháng Tư lại về đem những ký ức u buồn đến với cộng đồng người Việt tỵ nạn của chúng ta. Năm nay là lần thứ 45 tưởng niệm ngày miền Nam VN rơi vào tay Cộng Sản, và cũng là một tháng Tư buồn thảm nhất sau tháng Tư 1975. Không khí của đại dịch Vũ Hán bao phủ một mầu tang trên toàn thế giới. Với những biện pháp giới hạn hoạt động khiến cho năm nay dù có muốn, chúng ta cũng không thể tổ chức tụ họp đông đảo để làm lễ tưởng niệm ngày quốc hận 30 tháng Tư như những năm trước đây.
Trong hoàn cảnh đó, và để giúp quý vị nguôi ngoai niềm nhớ về quê hương, đất nước và ôn lại những kỷ niệm đã trải qua, đồng thời để giới thiệu bộ DVD “Những Người Lính Bị Bỏ Rơi”, kể từ hôm nay cho đến 30 tháng Tư, 2020, chúng tôi xin mạn phép sưu tầm và chia sẻ cùng quý vị một số sáng tác của cá nhân chúng tôi cùng các nhạc sĩ khác, về biến cố lịch sử ghi dấu ngày VN rơi vào tay Cộng Sản khiến cho hàng triệu người phải lần lượt bỏ nứơc ra đi tìm tự do. Kính mời quý vị thưởng thức và giúp phổ biến đến thân hữu của mình.

https://www.sbtn.tv/mot-thang-tu-buon-tham-cua-45-nam-vien-xu-nam-loc/

 

CHIẾN TRANH BIÊN GIỚI – 1979

Đặng Xuân Xuyến

co tau

Rạng sáng ngày 17 tháng 02 năm 1979, nhà cầm quyền Bắc Kinh đã điều động một lượng lớn quân đội và vũ khí hiện đại nhất mà chúng có lúc đó, ngang nhiên tấn công xâm lược trên toàn tuyến biên giới của 6 tỉnh biên giới phía bắc Việt Nam.

Để tấn công xâm lược Việt Nam, nhà cầm quyền Trung Quốc đã huy động 60 vạn quân (chưa kể dân công hỏa tuyến phục vụ), sử dụng 9 quân đoàn chủ lực và một số sư đoàn bộ binh độc lập (tổng cộng 32 sư đoàn), 6 trung đoàn xe tăng, 4 sư đoàn và nhiều trung đoàn pháo binh, phòng không… với trọng điểm là Lạng Sơn và Cao Bằng. Ngoài ra, quân Trung Quốc còn mang theo mấy trăm máy bay, và một số tàu chiến thuộc hạm đội Nam hải sẵn sàng tham chiến khi cần thiết.

Đây là đợt huy động quân sự lớn nhất của Cộng Sản Trung Quốc kể từ Chiến tranh Triều Tiên (1950 – 1953).

Về phía quân dân Việt Nam, do phần lớn các quân đoàn chính quy (3 trong số 4 quân đoàn) đang chiến đấu ở Campuchia nên phòng thủ ở biên giới với Trung Quốc chỉ có một số sư đoàn chủ lực quân khu (chủ yếu là tân binh) của Quân khu I và II cùng các đơn vị bộ đội địa phương tỉnh, huyện, công an vũ trang (biên phòng) và dân quân tự vệ. Lực lượng tinh nhuệ nhất của phía Việt Nam đóng ở biên giới Việt – Trung là Sư đoàn 3 (đóng tại Lạng Sơn) và sư đoàn 316A (đóng tại Sa Pa), ngoài ra còn có các sư đoàn 346 ở Cao Bằng, 325B ở Quảng Ninh, 345 ở Lào Cai, 326 ở Phong Thổ, Lai Châu. Sư đoàn 346 đóng tại Cao Bằng nhiều năm chủ yếu làm nhiệm vụ kinh tế, thời gian huấn luyện sẵn sàng chiến đấu trở lại chưa nhiều…

CUỘC CHIẾN XÂM LƯỢC VIỆT NAM

CỦA BÁ QUYỀN TRUNG QUỐC

Cuộc tấn công xâm lược của quân Trung Quốc vào lãnh thổ Việt Nam bắt đầu từ ngày 17 tháng 02 năm 1979 và kết thúc ngày 16 tháng 03 năm 1979, có thể chia làm 2 giai đoạn: giai đoạn xâm lược và giai đoạn rút lui.

Giai đoạn xâm lược:

*. Thời gian 17 ngày (từ 17/2 đến 5/3/1979):

Ngày 17/2-19/2: Trung Quốc đột kích trên toàn tuyến biên giới dài trên 1.000 km chiếm một số vị trí tiền duyên của Việt Nam.

Ngày 20/2: Trung Quốc chiếm thị xã Lào Cai, thị trấn Đồng Đăng của Việt Nam.

Ngày 21/2: Trung Quốc chiếm thị xã Cao Bằng của Việt Nam.

Ngày 22/2: Trung Quốc chiếm thị trấn Bảo Lộc của Việt Nam.

Ngày 23/2: Trung Quốc chiếm thị xã Hà Giang của Việt Nam.

Ngày 24/2: Trung Quốc chiếm thị trấn Cam Đường của Việt Nam.

Những ngày này, quân dân Việt Nam kiên cường chiến đấu bảo vệ từng tấc đất của tổ quốc. Chiến sự đặc biệt dữ dội tại vùng gần Lạng Sơn, Sapa.

Ngày 5/3: Trung Quốc chiếm Sapa và một phần thị xã Lạng Sơn của Việt Nam.

Ngay trong ngày hôm đó (5/3), Cộng Sản Trung Quốc tuyên bố đã đạt mục đích, bắt đầu rút quân khỏi (cuộc chiến xâm lược) Việt Nam.

Việt Nam tuyên bố tổng động viên toàn quốc.

Giai đoạn rút lui:

* Thời gian 10 ngày (từ 6/3 đến 16/3/1979):

Kể từ lúc quân Trung Quốc rút lui, bộ đội Việt Nam không tổ chức tấn công, truy kích địch.

– Ngày 5 tháng 3, Trung Quốc bắt đầu rút khỏi một phần của thị xã Lạng Sơn, đến 12/3 rút hết khỏi Đồng Đăng.

– Ngày 7 tháng 3, Trung Quốc bắt đầu rút khỏi vùng Lào Cai, đến 13/3 thì rút hết

– Ngày 7 tháng 3, Trung Quốc bắt đầu rút khỏi vùng Cao Bằng, đến 14/3 thì rút hết.

Ngày 7 tháng 3, Việt Nam tuyên bố để thể hiện “thiện chí hòa bình”, Việt Nam sẽ cho phép Trung Quốc rút quân.

Mặc dù tuyên bố rút lui, quân Trung Quốc vẫn thảm sát dã man người dân Việt Nam, như vụ thảm sát ngày 9/3 tại thôn Đổng Chúc, xã Hưng Đạo, huyện Hòa An, tỉnh Cao Bằng. Chúng, quân Trung Quốc, đã dùng búa và dao giết 21 phụ nữ và 20 trẻ em, trong đó có 7 phụ nữ đang mang thai, rồi ném xác xuống giếng hoặc chặt ra nhiều khúc rồi vứt hai bên bờ suối.

Trong thời gian rút lui, quân Trung Quốc còn phá hủy một cách có hệ thống toàn bộ các công trình xây dựng, từ nhà dân hay cột điện, tại các thị xã, thị trấn Sapa, Đồng Đăng, Lạng Sơn…

Ngày 16/3/1979 nhà cầm quyền Trung Quốc tuyên bố hoàn thành việc rút quân, chiến tranh xâm lược Việt Nam kết thúc.

THỐNG KÊ THƯƠNG VONG:

*. Số liệu từ Nhà nghiên cứu Dương Danh Dy:

Một thống kê chính thức của Đài Loan  phản ánh, số người chết của phía Trung Quốc là 26.000; của phía Việt Nam là 30.000 người.

Số bị thương: Phía Trung Quốc là 37.000 người. Số thương vong phía Việt Nam là 32.000 người.

Về số bị bắt sống, phía Trung Quốc là 260 người. Phía Việt Nam là 1.600 người.

*. Số liệu từ các nguồn khác:

– Theo nhà sử học Gilles Férier thì có khoảng 25.000 lính Trung Quốc thiệt mạng và gần 500 xe bọc thép hoặc pháo bị phá hủy, con số này phía Việt Nam cũng là gần tương tự nhưng thấp hơn một chút. 

– Russell D. Howard cho rằng quân Trung Quốc thương vong 60.000 người, trong đó số chết là 26.000, một số nguồn khác cũng đồng ý với con số thương vong ít nhất khoảng 50.000 của phía Trung Quốc.

– Nguồn của King Chen nói rằng riêng tại các bệnh viện lớn ở Quảng Tây đã có ít nhất 30.000 thương binh Trung Quốc.

– Theo tạp chí Time thì phía Việt Nam có khoảng dưới 10.000 lính Việt Nam thiệt mạng và hàng nghìn dân thường bị lính Trung Quốc giết.

Trong cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam năm 1979, quân Trung Quốc đã phá hoại hoàn toàn 4 thị xã, hơn 20 thị trấn, 735/904 trường học, 428/430 bệnh viện, nhiều làng xóm, nhà máy, hầm mỏ, nông trường, cầu đường, nhà cửa… của nhân dân Việt Nam tại những nơi chúng đi qua.

NHỮNG TIẾNG NÓI HẬU CHIẾN:

Thiếu tướng LÊ VĂN CƯƠNG:

Tưởng niệm cuộc chiến 1979: Không có gì nhạy cảm!

Theo tôi, không có gì nhạy cảm ở đây, khi tưởng niệm một chiến công oanh liệt đến thế của dân tộc. Nó hoàn toàn khác và không liên quan gì đến kích động chủ nghĩa dân tộc cả.

Nước nào trên thế giới cũng tổ chức những ngày kỷ niệm tương tự như vậy. Nhật Bản và Mỹ hiện là đồng minh chặt chẽ. Nhưng chẳng hạn với sự kiện Trân Châu Cảng 7/12/1941, hàng năm nước Mỹ vẫn kỷ niệm và thế hệ sau vẫn hiểu rất sâu sắc thảm họa. Còn thanh niên Nhật vẫn tỏ tường tội ác của Mỹ khi ném 2 quả bom nguyên tử xuống Hiroshima và Nagasaki. Nước Nhật ghi rõ sự kiện này trong SGK và cũng tưởng niệm hàng năm.

Ở châu Âu, thanh niên Anh, Pháp… vẫn hiểu tường tận tội ác của phát-xít Đức giai đoạn 1940-1945. Tất cả hệ thống sách giáo khoa sử của Mỹ, Nhật, Anh… đều có những trang đen tối như vậy cả, trong khi hiện họ là đồng minh của nhau.

Đối với Việt Nam, việc kỷ niệm những sự kiện như chiến thắng Ngọc Hồi, Đống Đa, chiến thắng Điện Biên Phủ, thống nhất đất nước 1975, Chiến tranh Biên Giới 1979… chính là để các thế hệ hiện tại khắc cốt ghi tâm, tưởng nhớ đến những người đã chiến đấu bảo vệ đất thiêng. Và cũng là để hun đúc cho họ ý chí quật cường yêu nước.”

.Nguyên Phó Chủ tịch nước NGUYỄN THỊ BÌNH:

Sòng phẳng với lịch sử không phải kích động hận thù:

“Chiến tranh biên giới phía Bắc là một câu chuyện buồn trong lịch sử, một câu chuyện buồn trong quan hệ Việt Nam – Trung Quốc. Dẫu vậy, nó vẫn là lịch sử.

Và đã là lịch sử thì phải nhìn nhận nó với sự thật đầy đủ. Sẽ không thể không nhắc đến ngày 17.2.1979, ngày mà cuộc chiến tranh biên giới phía Bắc đã nổ ra; ngày mà hàng ngàn con em chúng ta đã hy sinh để bảo vệ biên cương của Tổ quốc.  Nhắc để dân ta nhớ, biết ơn và tôn vinh những chiến sĩ và đồng bào đã hy sinh để bảo vệ biên cương tổ quốc, như chúng ta đã và sẽ vẫn tôn vinh bao nhiêu anh hùng liệt sĩ trong cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc. Không những dân ta cần hiểu, mà nhân dân Trung Quốc cũng như nhân dân các nước cũng phải hiểu đúng: đâu là sự thật, đâu là lẽ phải và coi đó là bài học. Không thể quên lãng nó.”

Giáo sư NGUYỄN MINH THUYẾT:

Cần phải sòng phẳng với lịch sử:

“Chiến tranh biên giới 1979 với Trung Quốc là một cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc oanh liệt. Cũng như mọi cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc khác, cuộc kháng chiến này cần phải được đưa vào sách giáo khoa, trước hết là sách giáo khoa môn lịch sử, bởi đây là một phần của lịch sử, có tác dụng giáo dục cho thanh thiếu niên lòng yêu nước, tinh thần cảnh giác trong việc bảo vệ Tổ quốc.

Giáo trình “Đại cương lịch sử Việt Nam” dành cho bậc đại học đã có phần viết về cuộc chiến tranh biên giới này rồi. Nhưng sách giáo khoa phổ thông thì chưa có.

Đưa nội dung này vào sách giáo khoa không phải để khắc sâu hận thù hay kích động tâm lý bài Trung. Sách giáo khoa không chỉ viết về cuộc chiến tranh biên giới 1979 mà còn phải viết về những trận chiến tại Hoàng Sa, Trường Sa. Cần phải sòng phẳng với lịch sử. Chúng ta lên án những kẻ gây ra chiến tranh và những hành vi tàn bạo, đê hèn trong chiến tranh biên giới và các cuộc chiến ở Hoàng Sa, Trường Sa… nhưng chúng ta không chống nhân dân Trung Quốc.”

Thiếu tướng NGUYỄN XUÂN THÀNH:

Phải đưa chiến tranh biên giới vào sách giáo khoa:

“Trong khi Việt Nam kiềm chế không đưa những sự kiện chiến tranh biên giới 1979 vào sách lịch sử, giáo khoa, phim ảnh, báo chí, tuyên truyền… thì Trung Quốc đơn phương thực hiện tuyên truyền, xuyên tạc sự thật về bản chất cuộc chiến tranh này khi coi đó là cuộc chiến chính nghĩa, là phản kích tự vệ của Trung Quốc. Đó là điều không thể chấp nhận được.

Chúng ta không cắt xén, bịa đặt, cũng không tô hồng hoặc bôi đen lịch sử. Việc đưa cuộc chiến tranh biên giới 1979 với Trung Quốc vào sách lịch sử và giáo khoa phải được coi là hành động làm rõ sự thật lịch sử, nói rõ với nhân dân và các thế hệ sau sự thật về bản chất của cuộc chiến tranh này.”

Hà Nội, 16 tháng 02 năm 2017

ĐẶNG XUÂN XUYẾN (tổng hợp)

.

TT Trump Và Đức Tin

trump-melania-swearing-in

Trước thời gian bầu cử TT năm 2016, TTTT cố gắng bôi xấu hình ảnh của UCV Cộng Hoà Trump bằng cách thổi phồng những chuyện riêng tư về đàn bà của ông. Chẳng hạn như chuyện ông khoe đã b.. l… phụ nữ (grab them by pussies  – xin lỗi quý bà )-  với bạn bè trên chuyến xe bus mà không ngờ bị ghi âm lại . Chuyện bù khú của mấy thằng đàn ông riêng tư với nhau trong phòng kín  (đa số toàn là chuyện nổ cho ra vẻ mình dân chơi thứ thiệt là chuyện rất thuờng tình của mấy cha ) trở thành thời sự quốc tế cho đám phá hoại bàn ra tán vào đến bây giờ.

To tiếng nhất phải kể đến bà vợ của Obama khi đăng đàn diễn thuyết khiến không ít phái nữ từ sáu tới sáu mươi sáu tuổi vội vã chạy về phía Hillary , tránh càng xa Trump càng tốt vì …sợ bị bốc hốt!!!

Cuối cùng những chuyện bêu riếu ông TT Mỹ ngày càng rõ ra là chuyện tào lao . Nhiều người trước đây cứ mong cho Hillary làm chủ WH bây giờ thì  tỉnh mộng và hú vía , mừng ông Trump đắc cử chứ không phải bà vợ ông Bill.

(Nhiều người cũng hy vọng những xấu xa tội lỗi giới chóp bu thời Obama sớm được điều tra, lôi ra ánh sáng để tống cả bọn vào nhà kho cho xứng tội từ sau vụ benghazi tới  cái chết của Epstein và trước đó là cuộc tự tử của Bourdain)

*********************************************

Vừa đặt đít xuống ghế ông Trump đã cố gắng thực thi cho bằng được những lời hứa hẹn đối với cử tri. Thành tích của ông bây giờ không cần đăng báo nữa mà nó lan truyền nhanh chóng trên từng cửa miệng người Mỹ và cả thế giới. Mối lo lắng sợ hãi ông sẽ phóng hỏa tiễn nguyên tử gây ra chiến tranh thế giới lần thứ ba vì nổi nóng, vấn đề kinh tế sụp đổ v. .v.. nay thành tào lao thiên đế. Nếu không bị cái đám phá hoại cản trở để ông Trump rảnh tay hành động và hoàn tất thì nước Mỹ bây giờ trở thành thiên đàng trên mặt đất  !!!

Chuyện kế tiếp khiến dân Mỹ (bất kể da màu gì – trắng đen vàng đỏ nâu  – miễn là real American)  không hài lòng là chuyện phải đứng thứ hai sau bất cứ quốc gia nào khác đặc biệt  Tàu . Bây giờ người Mỹ nhận ra rằng duy chỉ có ông Trump là TT duy nhất  “bóp cổ“ Tàu phải xấc bấc xang bang chấp nhận lép vế. Những thằng  con nít láu cá nịnh  bợ  ton hót như CHXHCNVN cũng bị ông điểm mặt chỉ tên, không biết sẽ chịu trừng phạt lúc nào.

Điều này có hai cái lợi : thứ nhất Tàu bắt buộc phải gánh những áp lực của Mỹ để tham gia công bằng hơn các luật lệ về thương mại, kinh tế, tài chánh mà mỗi quốc gia trên thế giới đều đang hành xử . Thứ hai : bởi sự giám sát của Hoa Kỳ, Tàu sẽ vĩnh viễn không còn cơ hội vươn lên cầm đầu thế giới bằng vũ lực. Ai cũng biết nếu Tàu chiếm được vị trí nầy thay thế Mỹ mọi người sẽ phải chịu đau khổ gấp mấy lần hơn  chế độ  Hitler . Hãy cứ hỏi dân Duy Ngô Nhĩ hay Tây Tạng họ sẽ nói cho biết tường tận.  

Không chỉ China, quốc tế nay cũng vào khuôn phép, làm ăn với Mỹ theo kiểu “tương giao tương kính“ chứ không dám lợi dụng Mỹ như các đời TT trước.  (Tôi là người VN nhưng  rất “nực“ chuyện của anh Tây De Gaule bài Mỹ sau WW2 bất kể bao nhiêu máu của thanh niên Mỹ đổ ra để GIẢI PHÓNG Pháp khỏi Phát Xít )

**********************************************

Nhiều cử tri  -DC hoặc lừng khừng –  đã từng nghi ngờ khả năng làm việc , khả năng chính trị của ông Trump nay nhìn thấy kết quả hiện hữu về kinh tế tài chánh chính trị cùng lúc với sự tha hóa thù vặt chỉ biết quyền lợi đảng, cá nhân của các UCV DC sẽ dồn phiếu để ông Trump chắn chắn thắng cử với tỷ lệ cao vào năm 2020 . Mới giữa nhiệm kỳ một ông Trump đã nhận hổ trợ từ nhiều cựu cử tri Dân Chủ thoái đảng. Chẳng hạn như thủ lãnh phong trào # WalkAway Brandon Straka, chẳng hạn như các đảng viên Dân Chủ trước vẫn còn sợ hãi, lo lắng về tính cách ăn nói văng mạng của ông Trump nay nhận ra đằng sau các tuyên bố  – xem ra chẳng theo một nguyên tắc thể thức gì hết  – là cả một chiến thuật, chiến lược khôn ngoan. (So sánh với anh tỷ phú Tom Stayer vừa ngu vừa khùng, khùng vì cứ kêu gọi impeach Trump mà không đưa ra lý do, ngu vì ra tranh cử TT mà mở miệng xin mỗi  người một đồng vào quỹ tranh cử. CÒN TIỀN TỶ CỦA CHA NỘI ĐÂU KHÔNG LẤY RA XÀI ?  , đảng viên DC cỡ tay này mà cũng ra tranh cử chức TT thì thật là hết nước nói).

**********************************************

Do sự dạy dỗ từ gia đình gốc người Đức chuyện ông Trump mộ đạo không có gì ngạc nhiên.  Ông thường dẫn đầu những cuộc cầu nguyện ở WH,  khôi phục lại lời chào Merry Christmas ngày lễ Giáng Sinh ( biến mất trong 8 năm thời Obama),  công khai cảm ơn Thiên Chúa về những ơn lành mà nước Mỹ và người Mỹ nhận được làm cho đám thiên tả (bọn phá hoại) rất khó chịu và xốn con mắt. Tuy nhiên với đại đa số người Mỹ ông là vị TT đầu tiên bày tỏ sự thần phục Thiên Chúa trong việc điều hành guồng máy quốc gia nhiều hơn hẳn các đời TT trước . Đa số dân Mỹ vốn hữu thần rất xem trọng điều này .

Tôi tin rằng không phải bỗng dưng ông Trump trở nên một TT nhiều đức tin như thế. Bản chất và con người của ông vốn luôn luôn chiến đấu và chiến thắng tạo thành một cơ ngơi như ngày nay bời không đặt mình, hoặc chịu thua hoặc nghe lời khuyên bảo tào lao của người khác. Hãy nhớ lời bà Melania cảnh giác “ Ông ấy sẽ trả đũa gấp mười lần những ai gieo oán thù với ông ấy “. Duy  ông chỉ chịu thua một người : đó là vị Đệ Nhất Phu Nhân của Hoa Kỳ, vợ ông !!

Tôi không biết tôn giáo  vợ chồng ông nhưng đoán rằng bà là người Công Giáo dựa vào quốc gia sinh ra bà và dựa vào cách tiếp đón rất trân trọng của bà với Giáo Hoàng Francis. Ông Trump mà ngợi khen, thần phục công khai Thiên Chúa trước mặt mọi người mọi nước phần lớn chính là nhờ vào bà vợ . Mặc dù bà Melania rất ít ồn ào thậm chí hầu như ở ẩn đằng sau cánh rèm tòa WH, nhưng ảnh hưởng của bà trên chồng là điều không thể chối cãi. Mới đây nhất bà xuất hiện trên truyền hình trước cuộc nói chuyện của chồng và bà đã hướng dẫn mọi người tham gia cuộc đọc kinh Lạy Cha trước khi giới thiệu chồng mình.  

Theo tôi vợ là túi khôn, là may mắn của chồng. Có nhiều bà chẳng cần phải lộ diện nhưng rõ ràng hành động cử chỉ từ chồng đều mang hơi hướng ảnh hưởng bởi vợ. Chẳng hạn như phu nhân của TT Thiệu, chẳng hạn như phu nhân của TT Trump. Riêng bà Michelle Obama thì tôi không có ý kiến vì bà ấy xuất hiện ồn ào và phát biểu nhiều câu kỳ quá!!  ( như bà tuyên bố hãnh diện là một người Mỹ chỉ sau khi chồng đắc cử TT . Vậy,  trước và sau khi chồng về hưu Mrs . M. Obama rất mắc cỡ nếu bị người khác coi mình là người Mỹ ?  )

Bà vợ ông Trump gây cảm hứng cho nhiều người. Bà công khai tuyên xưng đức tin trước mặt thiên hạ dù biết rằng đó sẽ là đầu đề cho bọn cánh tả ( phá hoại ) châm biếm.

Chồng bà cũng nhận ra sự mạnh mẽ về đức tin của vợ,   khâm phục và theo gót bà bất kể chuyện đám TTTT sẽ dè bĩu ra sao.

****************************************************** 

Trump khác người ở chỗ ông từng nuôi dạy con cái nên tránh xa những chuyện rượu chè trai gái hút xách bài bạc và … thành công !!!. Ông nêu tấm gương của bản thân, gia đình tới những thanh thiếu niên Mỹ giàu có trong một xã hội đầy dẫy tệ đoan . Ông chắc cũng là vị TT duy nhất trên thế giới không hút thuốc uống rượu.

Mặc dù rất chủ quan tin tưởng ông Trump sẽ thắng cữ năm 2020 nhưng tôi xin mọi người hãy cố gắng cầu nguyện cho ông và gia đình theo tín ngưỡng của mình . Riêng đối với giáo dân Công Giáo xin hãy nài van cùng Thiên Chúa và Mẹ Thiên Chúa chở che và ban phước lành cho gia đình ông. . Lý do là bọn phá hoại sẽ xử dụng tất cả mọi trò bẩn thỉu nhất để destroy ông và các thành viên trong gia đình . ( giả thuyết : Tập Cận Bình hay George Soros có thể đứng đằng sau đạo diễn mọi chuyện).

Tôi chưa bao giờ coi ông Trump là Tướng Nhà Trời được sai xuống để điều hành nước Mỹ, nhưng  TT như ông Trump không phải cứ bốn hay tám năm đều xuất hiện. Cả lịch sử nước Mỹ chỉ có vài người như George Washington hay Abraham Lincoln.

Nguyện xin Chúa Mẹ ban ơn và bảo vệ ông và gia đình cũng như bào vệ nước Mỹ trước sự tấn công của thù địch. 

nguoiviettudo

4th of July: Freedom is never free

flag america

Have you ever wondered what happened to the 56 men who signed the Declaration of Independence?

 

Five signers were captured by the British as traitors, and tortured before they died.

Twelve had their homes ransacked and burned.

Two lost their sons serving in the Revolutionary Army; another had two sons captured.

 Nine of the 56 fought and died from wounds or hardships of the Revolutionary War.

 They signed and they pledged their lives, their fortunes, and their sacred honor.

What kind of men were they?

 

Twenty-four were lawyers and jurists. Eleven were merchants,

Nine were farmers and large plantation owners; men of means, well educated,

but they signed the Declaration of Independence knowing full well that the penalty would be death if they were captured.

   Carter Braxton of Virginia, a wealthy planter and trader, saw his ships swept from the seas by the British Navy. He sold his home and properties to pay his debts, and died in rags.

   Thomas McKeam was so hounded by the British that he was forced to move his family almost constantly. He served in the Congress without pay, and his family was kept in hiding. His possessions were taken from him, and poverty was his reward.

  Vandals or soldiers looted the properties of Dillery, Hall, Clymer, Walton, Gwinnett, Heyward, Ruttledge, and Middleton.

   At the battle of Yorktown, Thomas Nelson, Jr., noted that the British General Cornwallis had taken over the Nelson home for his headquarters. He quietly urged General George Washington to open fire. The home was destroyed, and Nelson died bankrupt.

  Francis Lewis had his home and properties destroyed. The enemy jailed his wife, and she died within a few months.

   John Hart was driven from his wife’s bedside as she was dying. Their 13 children fled for their lives. His fields and his gristmill were laid to waste. For more than a year he lived in forests and caves, returning home to find his wife dead and his children vanished.

   So, take a few minutes while enjoying your 4th of July holiday and silently thank these patriots. It’s not much to ask for the price they paid.

 Remember: freedom is never free!

I hope you will show your support by sending this to as many people as you can, please. It’s time we get the word out that patriotism is NOT a sin, and the Fourth of July has more to it than beer, picnics, and baseball games.

Trương Quang Ngọc thời Vua Hàm Nghi

Thư viện của bài

This gallery contains 1 photo.

Bùi Thụy Đào Nguyên, soạn.

Trương Quang Ngọc (? – 1893), quê ở khe Tá Bào (hay Khê Ta Bao), châu Tuyên Hóa; nay thuộc huyện Minh Hóa, tỉnh Quảng Bình.

Ông có tiếng là người rất cam đảm, giỏi sử dụng súng hỏa mai, cung tên, có nhiều thuộc hạ tâm phúc; nhưng phải tật nghiện rượu và thuốc phiện.

Theo sách Việt Nam cách mạng cận sử, thì: Cha ông (không rõ tên), trước kia phục vụ dưới triều vua Tự Đức, vì phạm lỗi nên bị thải hồi. Bực tức việc này, ông rút về làng Vè (hay Vé) trên thượng lưu sông Nai (thuộc sông Gianh) lập đồn và chiêu tập dân Mường quanh đó, làm loạn một thời. Đã có phen, quân triều đình đến đánh dẹp mà không được.

Hộ giá vua

Đầu tháng 7 năm 1885, vua Hàm Nghi lên chiến khu Tân Sở. Trương Quang Ngọc khi ấy đang làm thổ tù ở quê nhà, mang đội quân Mường rất tinh nhuệ ra ứng nghĩa. Tướng Tôn Tiếp tục đọc

ĐỜI TƯ CÁC VỊ HOÀNG ĐẾ

Thư viện của bài

This gallery contains 1 photo.

VÀI LỜI VỚI TẬP SÁCH:

ĐỜI TƯ CÁC VỊ HOÀNG ĐẾ

(LỜI GIỚI THIỆU cuốn ĐỜI TƯ CÁC VỊ HOÀNG ĐẾ, 

Nhà xuất bản Văn Hóa Thông Tin, xuất bản năm 1997)

 

ĐỜI TƯ CÁC VỊ HOÀNG ĐẾ là tập V của bộ sách “CHUYỆN CÁC VỊ VUA TRUNG QUỐC” do Nhà xuất bản Văn hoá Thông tin – Nhà sách Bảo Thắng liên kết xuất bản, giới thiệu các gương mặt hôn quân vô đạo trong gần một trăm quân chủ phản diện mà bộ sách đề cập. Nếu các tập trước bạn đọc đã làm quen với những vị hoàng đế hoặc ít hoặc nhiều có những cống hiến nhất định trong lịch sử Trung Quốc nhưng vì một vài lý do nào đó: Hoặc kiêu căng ưa xiểm nịnh, hoặc không thể vượt quá phạm vi mà điều kiện lịch sử cho phép nên buộc phải rời khỏi vũ đài chính trị, thì ở tập sách này bạn đọc sẽ gặp những vị hôn quân ngu muội, bạc nhược, với những việc làm xằng bậy, quái đản dẫn đến sự diệt vong của một vương triều mà trước đó tổ tiên của họ đã cống hiến nhiều cho lịch sử Trung Quốc. Tiếp tục đọc

Tháng Tư, cười hay khóc?

Thư viện của bài

This gallery contains 1 photo.

Trần Mai Trung

Tháng Tư năm 1975, người Việt Nam phía Bắc chiến thắng người Việt Nam phía Nam. Người phương Bắc vui vẻ. Người phương Nam buồn rầu, nhưng tự an ủi là từ nay có hòa bình, anh em Việt Nam không còn bắn giết nhau.

Trong chiến tranh 1954-1975, phía Bắc không nói nhiều về hòa bình, hô hào “dù phải đốt cháy cả dãy Trường Sơn” cũng tiếp tục chiến tranh ở miền Nam. Phía Nam thì nói nhiều về hòa bình, có lẽ vì chiến tranh diễn ra tại miền Nam, tàn phá chết chóc nhiều quá. Một số thanh niên “lý tưởng” ở miền Nam còn mơ mộng “nối vòng tay lớn” với người anh em phía bên kia, họ đâu biết là người CS sẽ không bắt tay với tình anh em bạn bè, đảng CS chỉ muốn lãnh đạo và ra lệnh.

Hòa bình đến khi một bên thắng và một bên thua, cuộc sum họp không có tình anh em chút nào. Hai tháng sau, hơn 200 ngàn người anh em miền Nam bị người anh em miền Bắc đưa vào các trại cải tạo tập trung, tức là tù lao động khổ sai. Nhiều người bị giam từ 5 đến 10 năm, nhiều người đã chết ở đó, có người bị giam đến 17 năm. Cuộc chiến đã chấm dứt, người CS vẫn đi theo đánh người ngã ngựa. Tiếp tục đọc

Sóng Gió Nội Cung

Thư viện của bài

This gallery contains 1 photo.

Đặng Xuân Xuyến

Vài lời về tập sách:

tu hy thai hau

SÓNG GIÓ NỘI CUNG

(Thay cho lời nói đầu cuốn SÓNG GIÓ NỘI CUNG)

Lịch sử phong kiến Trung Quốc là lịch sử thay đổi liên tục các vương triều, các “thiên tử”. Mỗi triều đại, mỗi quân vương, nhìn chung chỉ tồn tại với quãng thời gian ngắn ngủi. Sở dĩ các vương triều chết yểu do nhiều nguyên nhân nhưng cơ bản là do người kế vị sau đó, sau vị vua khai quốc một vài đời đã không xứng đáng là “con trời” để “thay trời hành đạo”, “chăn dắt muôn dân”. Họ là những kẻ hoặc ngu đần, bạc nhược hoặc bất tài, hoang dâm, hoặc kiêu căng, ưa xiểm nịnh, bụng dạ tiểu nhân… nên trong thời gian tại vị đã làm đảo điên xã hội, gây ra bao thảm cảnh mà “thần và người đều căm giận” nên đã bị “trăm họ” phế truất vai trò của họ ra khỏi chính trường.

Chế độ phong kiến là chế độ thế tập quyền uy nên quyền lực của nhà vua là tối thượng. Nền chính trị tập quyền khiến các đế vương không cần sức kiềm chế. Một đấng minh quân hết lòng chăm lo đến muôn dân, xã tắc sẽ ảnh hưởng lớn đến suy nghĩ và hành động của các cận thần dưới quyền, làm cho muôn dân no ấm, đất nước được cường thịnh, nhưng một vị hôn quân thì xuất phát từ ân oán cá nhân, tin dùng bọn xiểm nịnh làm cho muôn dân điêu đứng, đất nước bị loạn lạc, triều chính bị tan nát để rồi dẫn đến sự diệt vong vương triều
Tiếp tục đọc

Ngày Vượt Biên Nhìn Lại

Thư viện của bài

This gallery contains 1 photo.

 Người Phương Nam

Mỗi năm, cứ tới ngày ba mươi mốt tháng mười là thầy Thanh nhắc vợ mua dĩa trái cây về thắp nhang cúng Bà Áo Trắng để tạ ơn  Bà đã  phù hộ độ trì cho gia đình thầy nói riêng  và  cả nhóm người chung tàu nói chung được bình yên tới bến bờ trong chuyến vượt biên ba mươi năm về trước. Một ơn phước thiêng liêng tưởng như là bịa đặt nhưng kiểm chứng lại thì quả thật không thể nào phủ nhận .  

Đây ngày kỷ niệm vượt biên

Tháng mười, ba (mươi) mốt vượt biên đường tàu

Xế chiều qua chợ Bãi Xàu

Rồi qua Bãi Giá núp vào chờ đêm…

Năm bảy mươi lăm, trong những ngày hấp hối dãy chết của miền nam, Thầy Thanh đã tận sức tìm cách đưa gia đình chạy cộng sản nhưng cuối cùng cuộc di tản bất thành, số mệnh đã cột chân thầy lại cho đến bốn năm sau. Khi về lại tỉnh nhà, trong một buổi họp nhân dân, thầy đã chứng kiến tận mắt  một màn thị oai dằn mặt nhân dân rất ư là ghê rợn bạo tàn của chế độ mới. Trong buổi họp, bọn sắt máu đã tố tội hai sĩ quan “ngụy” và sau đó đã thẳng  tay hành quyết vặn cổ nạn nhân ngay tại hiện trường không mảy may xúc động. Luật lệ nào mà xử người không có đối chứng, không quyền biện hộ phân bua Tiếp tục đọc

NƯỚC MỸ ĐANG BỊ QUỶ ÁM

Thư viện của bài

This gallery contains 1 photo.

BẰNG PHONG ĐẶNG VĂN ÂU

ĐEM TÂM TÌNH VIẾT LỊCH SỬ
NƯỚC MỸ ĐANG BỊ QUỶ ÁM
Thành phố Westminster, Quận Cam, Hoa Kỳ.
Ngày 18 tháng 3 năm 2019.

Anh David Nguyễn thân mến,

Vừa rồi, tôi đem mẩu chuyện của giáo sư Lê Tuyên kể nước Việt Nam mình đã mất về tay người Chàm để viết một bức thư cho anh có chủ đề “CUỘC CHIẾN CHỐNG MA VƯƠNG, QUỶ SỨ”. Lần này bài viết của tôi gửi anh có chủ đề“NƯỚC MỸ ĐANG BỊ QUỶ ÁM” để nói rõ hơn nguyên nhân nước Việt Nam ta mất vì sự báo oán của dân tộc Chàm, thì nước Mỹ cũng sẽ mất vào tay Quỷ Sứ vì các con cháu Chúa lại phản Chúa. Chúng ta là người Mỹ gốc Việt, bị mất nước vào tay Quỷ Sứ thì ta phải có nghĩa vụ và bổn phận cảnh báo cho người bản xứ biết nếu để cho Quỷ Ám thì mất nước.
Luật NHÂN QUẢ rất khoa học, hễ gieo hạt, quả gì thì mọc lên cây ấy. Luật này áp dụng chung cho mọi người có tín ngưỡng, không trừ một tôn giáo nào. Do đó, ông bà mình thường nói “ở hiền gặp lành” hay “đời cha ăn mặn, đời con khát nước”là thế!
Giáo sư Trần văn Giàu tâm sự với Giáo sư Tạ Quang Bửu: “Anh với tôi chỉ là giáo sư dạy môn triết học, Giáo sư Trần Đức Thảo mới đích thực là triết gia”.
Tư bản không phải là chủ nghĩa, bởi vì nó không đề ra vũ trụ quan, nhân sinh quan. Tư bản chỉ là chủ thuyết kinh tế thị trường tự do (free market economic theory) do Adam Smith chủ trương, tôn trọng quyền tư hữu và đặc biệt dành quyền tự do tín ngưỡng, tự do ngôn luận cho mọi người. Do đó Tư Bản chấp nhận đa nguyên, có thể hữu thần hoặc vô thần!
Tiếp tục đọc

HAI BÀ TRƯNG

Thư viện của bài

This gallery contains 1 photo.

Nguyên Lạc    

NHỮNG KHUẤT LẤP 

GIỮA MÃ VIỆN VÀ HAI BÀ TRƯNG

***

VÕ TÒNG ĐẢ CẨU (Bài 2)

Cẩn báo: Bài này với chủ đích giải mã những khuất lấp, khuyến khích THOÁT TRUNG, (không có vấn đề kỳ thị: BÀI TRUNG). Xin các bạn thẩm định cho kỹ. Nguyên Lạc tôi xin phủ nhận những gì ngoài chủ ý của mình.  Những chi tiết trong Thủy Hư có hư cấu một vài điều để dẫn dụ đến chủ ý, nên xin miễn cho tính chính xác. Còn về Hai Bà Trưng và Mã Viện là sử liệu. Trân trọng!

Lời nói đầu: Do thiếu sự hướng dẫn, sự khan hiếm sách đọc, sự thao túng thị trường sách vở của các Hoa thương (thời Pháp thuộc),  sách truyện đến tay người nông dân, người lao động… ở các làng xa xôi lúc xưa thường là những loại giả dối, nhằm phục vụ cho giấc mộng Đại Hán. Buồn thay, người dân Việt không thuộc sử Việt, mà lại nằm lòng sử Tàu. Nào là Thuyết Đường, Tiết Nhơn Quý Chinh Đông, Tiết Đinh San Chính Tây .v.v… , trong khi Hai Bà Trưng  Nguyễn Trãi, Lý Thuờng Kiệt, Trần Hưng Đạo, Đặng Dung v.v…, những anh hùng dân tộc có công dựng nước và giữ nước thì họ không biết là ai!

Ví dụ như trong truyện Tiết Nhơn Quý Chinh Đông: Đây thật ra chỉ là cuộc xâm lăng Cao Ly (Hàn Quốc), trong đó họ đề cao tên xâm lược Tiết Nhơn Quý , mạt sát anh hùng dân tộc Cao Ly –  Cáp Tô Văn.  Họ cũng đã mạt sát nhiều người anh hùng Việt Nam chúng ta (Ví dụ bộ sử Minh Thực Lục). Những nhận thức bị khuất lấp đó truyền lại cho con cháu chúng ta sau nầy. Làm sao Thoát Trung được nếu không giải mã  những điều khuất lấp đó?! Bài này viết ra với mục đích giải mã những khuất lấp.(1) Tiếp tục đọc

*** Như Loài Hoa

Thư viện của bài

This gallery contains 1 photo.

Lm. Giuse Hoàng Kim Toan

Như loài hoa, trong ngàn triệu tên đoá hoa, người ta ai cũng có một đoá hoa lòng nở trong tim. Đoá hoa lòng ấy, dù ít dù nhiều, ai cũng có. Những đoá hoa lòng trao nhau, những hoa lòng nối bờ yêu thương, những đoá hoa lòng khoe sắc trên khuôn mặt, nở trên những bàn tay. Hoa lòng ấy là hoa nhân đức được ươm qua lòng thanh, tưới trong nhẫn nại, chăm sóc trong hy sinh.

Như loài hoa chẳng bao giờ biết ghen ghét, tị hiềm, hờn giận. Hoa mọc trên cây cao, hoa nở ở dưới thấp, hoa tỏ sặc sỡ, hoa e lệ kín đáo… Mỗi loài một nét riêng, làm đẹp cho đời, anh đoá hoa lớn, tôi đoá hoa nhỏ, chị đoá hoa kiêu sa, tôi đoá hoa tầm thường, trong giỏ hoa, các loại hoa đứng cạnh nhau, đôi khi lại thêm vài bông cỏ, tự nhiên và hoang dại, chẳng bao giờ ghét nhau bởi vì chung một mục đích làm đẹp cho đời và dâng hương cho cuộc sống. Hoa lòng của con người sẽ tươi đẹp biết bao trong vườn hoa muôn cõi lòng, không ghen ghét, không tị hiềm, cùng nhau góp sức dâng hiến cho người và cho đời.
Tiếp tục đọc

*** Khối Tinh Thần Ngô Đình Diệm Toàn Cầu

Thư viện của bài

This gallery contains 1 photo.

Nguyễn Anh Tuấn Tuyên Ngôn Của Khối Tinh Thần Ngô Đình Diệm Toàn Cầu Trước tình thế cực kỳ sôi bỏng hiện nay đang diễn ra trong quốc nội; trước tinh thần quật khởi truyền thống rất dũng mãnh của … Tiếp tục đọc

*** AI ĐÃ DỊCH CHINH PHỤ NGÂM RA CHỮ NÔM ?

NGUYỄN CẨM XUYÊN

chinh phu nganĐOÀN THỊ ĐIỂM và NGUYỄN THỊ ĐIỂM;

AI ĐÃ DỊCH

CHINH PHỤ NGÂM RA CHỮ NÔM ?

     Sách Đăng Khoa Lục sưu giảng của Trần Tiến đời Lê có chép chuyện bà Nguyễn Thị Điểm. Sách Tang Thương ngẫu lục của Phạm Đình Hổ và Nguyễn Án đời Nguyễn lại chép chuyện bà Đoàn Thị Điểm.

Hai nữ sĩ trong hai truyện trùng tên, khác họ… và ai là người đã dịch Chinh Phụ ngâm khúc ra chữ Nôm?
ĐOÀN THỊ ĐIỂM VÀ NGUYỄN THỊ ĐIỂM CÓ PHẢI CHỈ LÀ MỘT ?
Ra đời sau Tang Thương ngẫu lục 100 năm, Nam Hải dị nhân liệt truyện của Phan Kế Bính đã viết “Nguyễn Thị Điểm tức Đoàn Thị Điểm”.

Thật ra đây là hai người khác nhau. Chẳng qua lúc biên soạn Nam Hải dị nhân liệt truyện, có thể do không đủ điều kiện khảo sát mà lúc này lại cần phải hóa giải liền một mâu thuẫn giữa hai sách xưa để không phải bỏ qua một truyện hay về nữ sĩ nước Nam nên Phan Kế Bính đã cho rằng hai người là một.

Đầu thập niên 70 vừa qua, các nhà nghiên cứu đã về Hải Dương đọc gia phả họ Đoàn và tìm gặp gia tộc họ Nguyễn Trác thì mới rõ là có hai bà Đoàn Thị Điểm và Nguyễn Thị Điểm. Hai bà có những chi tiết trùng hợp đến kì lạ. Trước hết cả hai cùng sống vào thời Lê Trung hưng, đời Trịnh Giang, cùng quê ở Hải Dương: bà Nguyễn Thị Điểm ở Bình Lao trang, trấn Hải Dương còn bà Đoàn Thị Điểm thì quê ở Giai Phạm, huyện Đường Hào cũng thuộc trấn Hải Dương (nay là xã Giai Phạm thuộc huyện Yên Mỹ, tỉnh Hưng Yên), cả hai đều giỏi văn thơ và điều lạ kì là cả hai bà đều có anh tên là Luân, một người là Đoàn Doãn Luân và một người là Nguyễn Trác Luân… vậy nhưng gốc gác, gia thế cũng như cuộc đời của hai bà thì khác nhau nhiều.

Bà Nguyễn Thị Điểm thuộc gia đình quyền quí; anh là Nguyễn Trác Luân đỗ Tiến Sĩ năm 1721, làm quan đến chức Phó Đô Ngự Sử và là tay chân thân tín của chúa Trịnh Giang. Chính Nguyễn Trác Luân là người đã giúp Trịnh Giang phế truất rồi giết vua Lê Duy Phường rồi theo lệnh Trịnh Giang làm giả tờ sắc tấn phong cùng ấn tín của vua nhà Thanh sang phong cho Trịnh Giang làm An Nam Thượng Vương… Em gái là Nguyễn Thị Điểm về sau còn dạy học ở kinh đô, thọ đến 78 tuổi. Sách Đăng Khoa Lục sưu giảng có chép: Bà Nguyễn Thị Điểm có viết cuốn “Truyền Kì tân lục” (Truyền kì tân phả).

TRUYỀN KÌ TÂN PHẢ – VĂN GIANG HỒNG HÀ ĐOÀN PHU NHÂN TRƯỚC

(Truyền kì tân phả do Văn Giang Hồng Hà Đoàn phu nhân soạn – Thư viện Quốc gia. Bản chụp của nomfoundation)

Cuộc đời bà Đoàn Thị Điểm khác hẳn. Xuất thân trong một gia đình nghèo; bà là con ông Đoàn Doãn Nghi. Tổ tiên vốn họ Lê, quê quán ở Hải Dương; về sau đổi ra họ Đoàn. Đoàn Doãn Nghi đỗ Hương cống và nhận một chức quan nhỏ hàm bát phẩm rồi từ quan, về nhà bốc thuốc. Sau khi hỏng kì thi Hội, ông ở lại kinh đô dạy học rồi cưới thêm thứ thất ở phường Hà Khẩu, gần Hồ Hoàn Kiếm và sinh được hai con: con cả là Đoàn Doãn Luân, con thứ là Đoàn Thị Điểm. Đoàn Doãn Luân chỉ là giám sinh đã qua kỳ sát hạch để chuẩn bị thi Hương, chưa đỗ đạt gì. Riêng bà Đoàn Thị Điểm: sau khi cha mất, cùng mẹ về ở với anh trai, ngụ cư tại làng Vô Ngại, huyện Ðường Hào, tỉnh Hải Dương (nay là Mỹ Hào, tỉnh Hưng Yên) nhưng chỉ được mấy năm thì Doãn Luân lại qua đời; một mình bà phải nuôi cả nhà (gồm mẹ, chị dâu và các cháu) và phải tự mưu sinh bằng nghề bốc thuốc, dạy học…

Bà có nhan sắc nhưng kén chồng; sau làm vợ kế ông Nguyễn Kiều (1696- 1752) tức là ông Nghè Sù người làng Phú Xá (làng Sù) huyện Từ Liêm, Hà Nội đỗ tiến sĩ đời Lê Dụ Tông, làm quan đến chức Đô ngự sử. Nguyễn Kiều vốn đã có 2 đời vợ trước: vợ đầu là con gái quan Tham tụng Lê Anh Tuấn; bà này mất sớm, ông tục huyền với con gái Thượng thư Nguyễn Quý Đức nhưng bà này lại cũng qua đời… Nguyễn Kiều nhờ mai mối đến hỏi bà Đoàn Thị Điểm; sau mấy lần chối từ, cuối cùng bà Đoàn Thị Điểm thuận về làm vợ kế. Năm 1734, Nguyễn Kiều nhậm chức Tham thị thành Triều Khẩu (Nghệ An), bà Đoàn Thị Điểm đi thuyền theo chồng, đến ngang đền Sòng (Thanh Hoá) thì bị cảm và sáu ngày sau đến Triều Khẩu thì mất, lúc này bà mới 44 tuổi.

Mới đây, ngày 24/7/2011, tại cánh đồng thôn Phú Xá (Phú Thượng, Tây Hồ, Hà Nội), Hội Khảo cổ học cùng Ban Quản lý di tích-danh thắng Hà Nội đã cải táng mộ của ông Nghè Nguyễn Kiều về cạnh mộ bà Đoàn Thị Điểm ở cách đó 2km.

NGUYỄN THỊ ĐIỂM ĐÃ DỊCH CHINH PHỤ NGÂM RA CHỮ NÔM

CHỨ KHÔNG PHẢI LÀ ĐOÀN THỊ ĐIỂM ?
Trước câu hỏi ai là tác giả Chinh Phụ ngâm diễn âm, các nhà nghiên cứu đã tìm kiếm bằng chứng và tranh luận sôi nổi suốt gần 100 năm qua.

Nhiều sách nay vẫn ghi tác giả là Đoàn Thị Điểm theo như lời “tương truyền” vốn có từ xa xưa…nhưng nay lại đang có nghi vấn được nêu: Phải chăng tác giả Chinh Phụ ngâm diễn âm hiện hành là Nguyễn Thị Điểm?

Điều có thể dùng làm chứng cớ là ở 2 người anh là Nguyễn Trác Luân và Đoàn Doãn Luân. Bà Nguyễn Thị Điểm là em ông Nguyễn Trác Luân và tên tuổi Nguyễn Trác Luân thì không thể sai bởi đã ghi trong sử đời Lê mạt… Đầu thập niên 70 thế kỉ XX, GS. Bùi Văn Nguyên, lúc này đang là Giảng viên Khoa Ngữ Văn trường Đại Học Sư phạm Hà Nội cùng GS. Phan Huy Lê, Chủ tịch Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam về Hải Dương, gặp bố và chú của ông Nguyễn Trác Cách là Nguyễn Trác Thức và Nguyễn Trác Ngữ để hỏi cụ thể về việc dịch thuật của bà Nguyễn Thị Điểm. Các nhà nghiên cứu tìm đến gia tộc Nguyễn Trác thì điều không may là gia phả, sắc phong và cả ngôi nhà thờ họ năm gian mang tên Duy Ái Từ đã cháy trong kháng chiến chống Pháp. Tại đây, ông Nguyễn Trác Cách sinh năm 1936, trưởng tộc họ Nguyễn Trác đã kể lại các giai thoại văn chương giữa Nguyễn Trác Luân với em gái là Nguyễn Thị Điểm, vốn ham học ngay từ khi còn nhỏ và thường cùng anh xướng họa thơ văn. Các giai thoại này dòng họ ông vẫn lưu truyền và ông khẳng định chính bà Nguyễn Thị Điểm mới là tác giả của Tục truyền kỳ và bản dịch Chinh phụ ngâm được phổ biến rộng rãi hiện nay(2).

Sau đợt nghiên cứu, trên Tạp chí Văn học, số 6 năm 1977, GS. Bùi Văn Nguyên viết bài “Bà Điểm nào trong hai bà Điểm, tương truyền có tham gia dịch một bản Chinh phụ ngâm của Đặng Trần Côn”. GS Bùi Văn Nguyên cho rằng: “Sự thật, có hai bà Điểm khác nhau, một bà họ Nguyễn, một bà họ Đoàn, hai bà sống có phần đồng thời, ở cùng một vùng, nay là tỉnh Hải Hưng, đều có người anh trùng tên là Luân và đều giỏi văn thơ, pha nghề dạy học”(3).

Điều GS. Bùi Văn Nguyên phát hiện làm rõ mối ngờ 20 năm trước của GS. Hoàng Xuân Hãn về độ chính xác của Vũ Hoạt khi cho rằng bà Đoàn thị Điểm là tác giả của bản Nôm Chinh Phụ Ngâm: “Có thể Vũ Hoạt nghe loáng thoáng có một bà Điểm nào đó hay chữ, liền nghĩ ngay đến bà Điểm vợ ông Kiều ở huyện Từ Liêm, cùng quê với ông Đặng Trần Côn là tác giả khúc ngâm, rồi ghi luôn vào bản khắc mà mình giới thiệu cho thêm phần giá trị và Vũ Hoạt trong lời bạt viết năm 1904 đời Thành Thái đã khéo bảo vệ bằng luận điểm tương truyền. Đã gọi là tương truyền thì chả có bằng cớ nào, về sau nếu không đúng cũng thôi…”

Năm 1953, trong cuốn Chinh phụ ngâm bị khảo, GS, Hoàng Xuân Hãn có nêu ra 7 bản Chinh Phụ Ngâm diễn âm trong đó ông tập trung chú ý 4 bản A,B,C,D. Bản A là bản thịnh hành thì ông cho là của Phan Huy Ích. Riêng bản B (ít phổ biến) ở đầu có chữ “nữ lưu”, ông cho rằng đây là bản của bà Đoàn Thị Điểm. Phải chăng bản này là của bà Nguyễn Thị Điểm còn bà Đoàn Thị Điểm tuy hay chữ nhưng chỉ viết Truyền Kì tân phả (Tục Truyền Kỳ) như lời kể của Nguyễn Án và Phạm Đình Hổ.

Một chứng cớ nữa là nay ở thư viện trường Đại học Yale Hoa Kỳ còn một bản chép tay Chinh Phụ ngâm bị lục đời Thành Thái bằng chữ Nôm có chua quốc ngữ. Bản này ghi tên dịch giả là Nguyễn Thị Điểm. Tác phẩm gồm 412 câu, câu chữ gần như phù hợp với bản Chinh Phụ ngâm phiên ra quốc ngữ hiện được dùng phổ biến trong các sách văn học, kể cả sách giáo khoa Trung học và giáo trình Đại học hiện nay.

GHI CHÚ:

Ảnh sachxua.net

Theo tài liệu ông Nguyễn Trác Cách gửi viện trưởng Viện Văn học ngày 10 tháng 3 năm 2009; Đoàn Thị Điểm và Truyền kỳ tân phả; Bùi Thị Thiên Thai, Văn hóa Nghệ An 26.9.2010.

GS Bùi Văn Nguyên, “Bà Điểm nào trong hai bà Điểm, tương truyền có tham gia dịch một bản Chinh phụ ngâm của Đặng Trần Côn” – Tạp chí Văn học, số 6 năm 1977,

NGÀY XUÂN, LẠI NHỚ ÔNG ĐỒ…

Thư viện của bài

This gallery contains 1 photo.

     NGÀY XUÂN, LẠI NHỚ ÔNG ĐỒ…                                  Phong Lưu Một trong những bài thơ hay nhất của văn học Việt Nam, là bài Ông Đồ của tác giả Vũ Đình Liên. Sự nổi tiếng của bài thơ này đã đi vào … Tiếp tục đọc

Có một thời như thế đó !

9-sai-gon-3Có một thời như thế đó !

*Vũ Đông Hà

Nếu ai hỏi tôi rằng sau ngày 30 tháng 4, 1975 cái gì mà cộng sản không thể “giải phóng” được; cái gì vẫn âm thầm nhưng vũ bão giải phóng ngược lại tâm hồn khô khốc của người dân miền Bắc lẫn nhiều cán binh cộng sản; cái gì vẫn miệt mài làm nhân chứng cho sự khác biệt giữa văn minh và man rợ, giữa nhân ái và bạo tàn, giữa yêu thương và thù hận; cái gì đã kết nối tâm hồn của những nạn nhân cộng sản ở cả hai miền Nam Bắc… Câu trả lời là Âm Nhạc Miền Nam.
>  Nếu ai hỏi tôi, ảnh hưởng lớn nhất để tôi trở thành người ngày hôm nay, biết rung động trước hình ảnh của Ngoại già lầm lũi quang gánh đổ bóng gầy dưới ánh đèn vàng, biết nhung nhớ một khe gió luồn qua hai tấm ván hở của vách tường ngày xưa nhà Mẹ, biết man mác buồn mỗi khi đến hè và trống vắng với một tiếng gà khan gáy ở sau đồi, biết tiếc nuối một mặt bàn lớp họckhắc nhỏ chữ tắt tên người bạn có đôi mắt người Sơn Tây, biết ngậm ngùi trăn trở chỉ vì một tiếng rao hàng đơn độc đêm khuya… Câu trả lời là Âm Nhạc Miền Nam.
>   Âm Nhạc Miền Nam đã trở thành một chất keo gắn chặt cuộc đời tôi vào mảnh đất mang tên Việt Nam. Âm Nhạc Miền Nam đã làm tôi là người Việt Nam.
>  *Tôi lớn lên theo những con đường đất đỏ bụi mù trời và cây reo buồn muôn thuở. Niềm say mê âm nhạc đơm mầm từ các anh lớn của Thiếu và Kha đoàn Hướng Đạo Việt Nam, trổ hoa theo những khúc hát vang vang của các anh giữa vùng trời Đạt Lý đang vào mùa cà phê hoa trắng nở: *”Tôi muốn mọi người biết thương nhau. Không oán ghét không gây hận sầu. Tôi muốn đời hết nghĩa thương đau. Tôi muốn thấy tình yêu ban đầu…”* Các bậc đàn anh như nhạc sĩ Lê Hựu Hà, Nguyễn Trung Cang của Phượng Hoàng đã lót đường nhân ái cho đàn em nhỏ chúng tôi chập chững trở thành người, để biết ngước mặt nhìn đời và *”cười lên đi em ơi, dù nước mắt rớt trên vành môi, hãy ngước mặt nhìn đời, nhìn tha nhân ta buông tiếng cười…”* Những đêm tối, giữa ngọn đồi nhiều đại thụ và cỏ tranh, bên nhau trong ánh lửa cao nguyên chập chờn, chúng tôi cảm nhận được niềm hãnh diện Việt Nam với bước chân của cha ông và bước chân sẽ đi tới của chính mình: *”Ta như giống dân đi tràn trên lò lửa hồng. Mặt lạnh như đồng cùng nhìn về một xa xăm. Da chân mồ hôi nhễ nhại cuộn vòng chân tươi. Ôm vết thương rĩ máu ta cười dưới ánh mặt trời…”* Và anh Nguyễn Đức Quang, người nhạc sĩ của thị xã đèo heo hút gió đã trở thành thần tượng của chúng tôi. Có những buổi chiều buông trong Rừng Lao Xao bạt ngàn, những đứa bé chúng tôi theo anh ngậm ngùi số phận *”Xương sống ta đã oằn xuống, cuộc bon chen cứ đè lên. Người vay nợ áo cơm nào, thành nợ trăm năm còn thiếu. Một ngày một kiếp là bao. Một trăm năm mấy lúc ngọt ngào. Ôi biết đến bao giờ được nói tiếng an vui thật thà.”* Nhưng cũng từ anh đã gieo cho chúng tôi niềm lạc quan tuổi trẻ: *”Hy vọng đã vươn lên trong màn đêm bao ưu phiền. Hy vọng đã vươn lên trong lo sợ mùa chinh chiến. Hy vọng đã vươn lên trong nhục nhằn tràn nước mắt. Hy vọng đã vươn dậy như làn tên…”* Và từ anh, chúng tôi hát cho nhau *”Không phải là lúc ta ngồi mà đặt vấn đề nữa rồi. Mà phải cùng nhau ta làm cho tươi mới.”* Cô giáo Việt văn của tôi đã mắng yêu tôi – tụi em thuộc nhạc Nguyễn Đức Quang hơn thuộc thơ của Nguyễn Công Trứ! Nguyễn Công Trứ. Đó là ngôi trường tuổi nhỏ có cây cổ thụ già, bóng mát của tuổi thơ tôi bây giờ đã chết. Tôi nhớ mãi những giờ cuối lớp tại trường, Cô Trâm cho cả lớp đồng ca những bài hát Bạch Đằng Giang, Việt Nam Việt Nam,

 Về Với Mẹ Cha… Đứa vỗ tay, đứa đập bàn, đứa dậm chân, chúng tôi nở buồng phổi vang vang lên:* “Từ Nam Quan, Cà Mau. Từ non cao rừng sâu. Gặp nhau do non nước xây cầu. Người thanh niên Việt Nam. Quay về với xóm làng. Tiếng reo vui rộn trong lòng…” *Nhìn lên lớp học lúc ấy, có những biểu ngữ thủ công nghệ mà cô dạy chúng tôi viết: *Tổ quốc trên hết, Ngày nay học tập ngày sau giúp đời, Không thành công cũng thành Nhân.*.. Nhưng đọng lại trong tôi theo năm tháng vẫn là những câu hát* “Tình yêu đây là khí giới, Tình thương đem về muôn nơi, Việt Nam đây tiếng nói đi xây tình người…”* Cô giáo của tôi đã ươm mầm Lạc Hồng vào tâm hồn của chúng tôi và cứ thế chúng tôi lớn lên theo dòng suối mát, theo tiếng sóng vỗ bờ, theo tiếng gọi lịch sử của âm nhạc Việt Nam, để trở thành những công dân Việt Nam yêu nước thương nòi và hãnh diện về hành trình dựng nước, giữ nước của Tổ tiên. Trong cái nôi nhiều âm thanh êm đềm nhưng hùng tráng ấy, trừ những ngày tết Mậu Thân khi tiếng đạn pháo đì đùng từ xa dội về thành phố, cho đến lúc chui xuống gầm giường nghe tiếng AK47 và M16 bắn xối xả trước nhà vào ngày 10 tháng 3, 1975, tuổi thơ tôi được ru hời bởi dòng nhạc trữ tình của miền Nam để làm nên *Những Ngày Xưa Thân Ái*của chúng tôi

*Những ngày xưa thân ái xin buộc vào tương lai*
*Anh còn gì cho tôi tôi còn gì cho em*
*Chỉ còn tay súng nhỏ giữa rừng sâu giết thù*
*Những ngày xưa thân ái xin gởi lại cho em…*

 

 Các anh, những người anh miền Nam đã khoát áo chinh nhân lên đường đối diện với tử sinh, làm tròn lý tưởng Tổ Quốc – Danh Dự – Trách Nhiệm, đã hy sinh cuộc đời các anh và để lại sau lưng các anh những ngày xưa thân ái cho đàn em chúng tôi. Nhờ vào các anh mà chúng tôi có những năm tháng an lành giữa một đất nước chiến tranh, triền miên khói lửa.
> Lần đầu tiên, chiến tranh tưởng như đứng cạnh bên mình là khi chúng tôi xếp hàng cúi đầu đưa tiễn Thầy của chúng tôi, là chồng của cô giáo Việt Văn, một đại úy sĩ quan Dù đã vị quốc vong thân. Cô tôi, mồ côi từ nhỏ, một mình quạnh quẻ, mặc áo dài màu đen, tang trắng, đứng trước mộ huyệt của người chồng còn trẻ. Cô khóc và hát tặng Thầy lần cuối bản nhạc mà Thầy yêu thích lúc còn sống – *”Ta ngắt đi một cụm hoa thạch thảo… Đôi chúng ta sẽ chẳng còn nhìn nhau nữa! Trên cõi đời này, trên cõi đời này. Từ nay mãi mãi không thấy nhau…”* Và tôi say mê Mùa Thu Chết từ dạo đó. Trong những cụm hoa thạch thảo đầy lãng mạn ấy có đau thương đẫm nước mắt của Cô tôi. Có hình ảnh lá cờ vàng ba sọc đỏ phủ nắp quan tài của người Thầy Đại úy Sĩ quan Binh chủng Nhảy Dù
> vào mùa Hè hầm hập gió Nồm năm ấy.
> Từ những ngày xa xăm tuổi nhỏ, những người lính VNCH là thần tượng của chúng tôi Tôi mơ được làm một người lính Dù bởi *anh là loài chim quý, là cánh chim trùng khơi vạn lý, là người ra đi từ tổ ấm để không địa danh nào thiếu dấu chân anh*, và cuối cùng anh bi hùng ở lại Charlie. Giữa những đau thương chia lìa của chiến tranh, những dòng nhạc của Trần Thiện Thanh đã cho tôi biết thương yêu, kính trọng những người lính không chân dung nhưng rất gần trong lòng chúng tôi. Những *”cánh dù ôm gió, một cánh dù ôm kín đời anh”* cũng là những cánh dù ôm ấp lý tưởng đang thành hình trong tâm hồn tuổi nhỏ của chúng tôi.
> Nhìn lại quãng thời gian binh lửa ấy, tôi nhận ra mình và các bạn cùng lứa không hề biết rõ Phạm Phú Quốc là ai, chỉ biết và say mê huyền sử của một người được *”Mẹ yêu theo gương người trước chọn lời. Đặt tên cho anh, anh là Quốc. Đặt tên cho anh, anh là Nước. Đặt tên cho Người. Đặt tình yêu Nước vào nôi”*, chỉ ước ao một ngày chúng tôi cũng được như anh, cũng sẽ là những *”Thần phong hiên ngang chẳng biết sợ gì!”.*
> Chúng tôi, nhiều đứa núi đồi, rừng rú, chưa bao giờ thấy biển nhưng thèm thuồng màu áo trắng và đại dương xanh thẳm, thuộc lòng câu hát *”Tôi thức từng đêm, thơ ấu mà nghe muối pha trong lòng. Mẹ là mẹ trùng dương, gào than từ bãi trước ghềnh sau. Tuổi trời qua mau, gió biển mặn nuôi lớn khôn tôi. Nên năm hăm mốt tuổi, tôi đi vào quân đội. Mà lòng thì chưa hề yêu ai”* .
> Chúng tôi cũng không tìm đọc tiểu sử, cuộc chiến đấu bi hùng của Đại tá Nhảy Dù Nguyễn Đình Bảo, cũng không biết địa danh Charlie nằm ở đâu, nhưng Đại tá Nguyễn Đình Bảo là biểu tượng anh hùng của chúng tôi để chúng tôi thuộc lòng khúc hát *”Toumorong, Dakto, Krek, Snoul. Trưa Khe Sanh gió mùa, đêm Hạ Lào thức sâu. Anh! Cũng anh vừa ở lại một mình, vừa ở lại một mình. Charlie, tên vẫn chưa quen người dân thị thành.”*
> Chúng tôi không biết “Phá” là gì, “Tam Giang” ở đâu, nhà thơ Tô Thùy Yên là ai, nhưng “*Chiều trên phá Tam Giang anh chợt nhớ em, nhớ ôi niềm nhớ ôi niềm nhớ đến bất tận. Em ơi, em ơi…” *đã thân thiết chiếm ngự tâm hồn để chúng tôi biết thương những người anh chiến trận đang nhớ người yêu, nhớ những người chị, cô giáo của chúng tôi ngày ngày lo âu, ngóng tin từ mặt trận xa xăm.
> Trong cái nôi của những ngày xưa thân ái ấy, từ nơi khung trời đầy mộng mơ của mình chúng tôi chỉ biết đến nỗi niềm của các anh bằng những *”Rừng lá xanh xanh lối mòn chạy quanh, Đời lính quen yêu gian khổ quân hành”*. Giữa mùa xuân pháo đỏ rộn ràng con đường tuổi thơ thì chính âm nhạc nhắc cho những đứa bé chúng tôi biết đó cũng là *”ngày đầu một năm, giữa tiền đồn heo hút xa xăm, có người lính trẻ, đón mùa xuân bằng phiên gác sớm”*.
> Giữa những sum vầy bình an bên cạnh mai vàng rực rỡ, thì ở xa xăm có những người con rưng rưng nhớ đến Mẹ già và gửi lời tha thiết *”bao lứa trai cùng chào xuân chiến trường, không lẽ riêng mình êm ấm, Mẹ ơi con xuân này vắng nhà…”* Âm nhạc Việt Nam đã gieo vào tâm hồn chúng tôi hình ảnh rất bình thường, rất người, nhưng lòng ái quốc và sự hy sinh của thế hệ đàn anh chúng tôi – những người lính VNCH – thì ngời sáng. Và chúng tôi biết yêu thương, khâm phục, muốn noi gương các anh là cũng từ đó.*
>  Sau ngày Thầy hy sinh, chúng tôi gần gũi với Cô giáo Việt Văn của mình hơn. Nhiều đêm thứ bảy, tôi và các bạn ghé nhà thăm Cô. Đó là lúc chúng tôi đến với Một thời để yêu – Một thời để chết. Chúng tôi bắt đầu chạm ngõ tình yêu với những Vũng lầy của chúng ta, Con đường tình ta đi, Bây giờ tháng mấy,
> Ngày xưa Hoàng Thị, Tình đầu tình cuối, Em hiền như Ma Soeur, Trên đỉnh mùa đông, Trả lại em yêu… Đó là lúc Cô đọc thơ Chiều trên Phá Tam Giang của Tô Thùy Yên cho chúng tôi nghe, giảng cho chúng tôi về tài nghệ “thần sầu” của Trần Thiện Thanh trong lời nhạc *”anh chợt nhớ em, nhớ ôi niềm nhớ… ôi niềm nhớ…….. đến bất tận. Em ơi… em ơi!…”* khi diễn tả nỗi nhớ ngút ngàn, và sau đó chú Trần Thiện Thanh Toàn – em ruột của nhạc sĩ Nhật Trường ở Sài Gòn lên thăm Cô, vừa đàn vừa hát. Những buổi tối này, mình tôi ở lại với Cô tới khuya. Cô đọc thơ và hát nhạc phổ từ thơ của Nguyễn Tất Nhiên, chỉ cho tôi tính lãng đãng của lời nhạc Từ Công Phụng, khắc khoải của Lê Uyên Phương, mượt mà của Đoàn Chuẩn – Từ Linh, sâu lắng của Vũ Thành An… Và qua âm nhạc, Cô kể tôi nghe chuyện tình của Cô và Thầy. Hai người đến với nhau khởi đi từ bản nhạc mà Cô hát khi Cô còn là nữ sinh Đệ Nhất và Thầy là Sinh Viên Sĩ Quan Trường Võ Bị Quốc Gia Việt Nam. Bản nhạc ấy có những dòng như sau:

*”Nhưng anh bây giờ anh ở đâu*
*con ễnh ương vẫn còn gọi tên anh trong mưa dầm*
*tên anh nghe như tiếng thở dài của lòng đất mẹ*
*Dạo tháng Ba tên anh lẫn trong tiếng sấm đầu mùa mưa*
*nghe như tiếng gầm phẫn nộ đến từ cuối trời.”*

 

 Thầy và cô tôi yêu nhau từ sau khúc hát Người Tình Không Chân Dung và *”người chiến sĩ đã để lại cái nón sắt trên bờ lau sậy này” * cũng là định mệnh Thầy, của cuộc tình bi thương giữa một cô giáo trẻ và người lính VNCH. Cô tôi sống một mình và qua đời vào năm 2010. Bạn cùng lớp của tôi là Phương lùn, vào một ngày cuối năm, từ Sài Gòn trở về Ban Mê Thuột, xách đàn đến trước mộ Cô và hát lại *”Ta ngắt đi một cụm hoa Thạch Thảo”* để thay mặt những đứa học trò thơ ấu kính tặng hương hồn của Cô. Còn tôi, năm tháng trôi qua nhưng tôi biết rõ trong dòng máu luân lưu và nhịp đập của tim mình vẫn đầy tràn những thương yêu mà Cô đã gieo vào tôi bằng Âm Nhạc Miền Nam.
> Một buổi tối chúng tôi ngồi hát với nhau. Các bạn từ Hà Nội, Nam Định, Yên Bái, Đà Nẵng, Sài Gòn… nhưng chỉ có mình tôi là sinh ra và lớn lên trước 1975. Các bạn tôi, hay đúng ra là những người em đang cùng đồng hành trên con đường đã chọn, đã thức suốt đêm hát cho nhau nghe. Rất tự nhiên, rất bình thường: toàn là những ca khúc của miền Nam thân yêu.
> Đêm hôm ấy, cả một quãng đời của những ngày xưa thân ái trong tôi sống lại. Sống lại từ giọng hát của những người em sinh ra và lớn lên trong lòng chế độ độc tài. Các em hát cho tôi nghe về những người lính miền Nam mà các em chưa bao giờ gặp mặt *”Anh sẽ ra đi nặng hành trang đó, đem dấu chân soi tuổi đời ngây thơ, đem nỗi thương yêu vào niềm thương nhớ, anh sẽ ra đi chẳng mong ngày về…”.*
> Tôi hát cho các em mình về những ngày tháng mộng mơ trước “giải phóng” của những “*Con đường tuổi măng tre, nắng vàng tươi đẹp đẽ, bóng người dài trên hè, con đường tình ta đi…”* Các em tâm sự về cảm nhận đối với người lính VNCH qua những dòng nhạc êm đềm, đầy tình người giữa tàn khốc của chiến tranh: “*Tôi lại gặp anh, người trai nơi chiến tuyến, súng trên vai bước lê qua đường phố; tôi lại gặp anh, giờ đây nơi quán nhỏ, tuổi 30 mà ngỡ như trẻ thơ…”* Tôi chia sẻ với các em về nỗi ngậm ngùi quá khứ: *”Như phai nhạt mờ, đường xanh nho nhỏ, hôm nay tình cờ, đi lại đường xưa đường xưa. Cây xưa còn gầy, nằm phơi dáng đỏ, áo em ngày nọ, phai nhạt mây màu, âm vang thuở nào, bước nhỏ tìm nhau tìm nhau”…*
> Đêm ấy, khi các bạn nói lên cảm nhận về những mượt mà, êm ả, nhân ái của Âm Nhạc Miền Nam, tôi đã tâm sự với các bạn rằng: Chỉ cần lắng nghe và hát lên những dòng nhạc ấy, các em sẽ hiểu thấu được những mất mát khủng khiếp của con người miền Nam. Những mất mát không chỉ là một cái nhà, một mảnh đất, mà là sự mất mát của cả một đời sống, một thế giới tâm hồn, một đổ vỡ không bao giờ hàn gắn lại được. Khi những mượt mà, nhân ái ấy đã bị thay thế bởi những *”Bác cùng chúng cháu hành quân” *và *”Tiến về Sài Gòn” *thì các em hiểu được tuổi thanh xuân và cuộc đời của những thế hệ miền Nam đã bị đánh cắp hay ăn cướp như thế nào.
> Gần 42 năm trôi qua, Âm Nhạc Miền Nam vẫn như dòng suối mát trôi chảy trong tâm hồn của người dân Việt. Chảy từ đồng bằng Cửu Long, xuôi ngược lên Bắc, nhập dòng sông Hồng để tưới mát tâm hồn của mọi người dân Việt đang bị thiêu đốt bởi ngọn lửa bạo tàn cộng sản. Dòng suối trong mát ấy cũng cuốn phăng mọi tuyên truyền xảo trá của chế độ về xã hội, con người miền Nam trước 1975 cũng như về tư cách, phẩm giá, lý tưởng của những người lính VNCH và tình cảm trân quý, yêu thương của người dân miền Nam dành cho họ.
> Gần 42 năm trôi qua, trong tuyệt vọng của những kẻ thật sự đã thua trận trong cuộc chiến giữa chính nghĩa và gian tà, nhà cầm quyền cộng sản đã tìm mọi cách để tiêu diệt Âm Nhạc Miền Nam. Nhưng họ không biết rằng, dòng âm nhạc đó không còn là những bản in bài hát, những CD được sao chép, bán buôn… Âm Nhạc Miền Nam đã trở thành máu huyết và hơi thở của người dân Việt, bất kể Bắc – Trung hay Nam, bất kể sinh trưởng trước hay sau 1975.
> Bạo tàn và ngu dốt có thể đem Âm Nhạc Miền Nam vào những danh sách cấm đoán vô tri vô giác, nhưng không bao giờ đem được Âm Nhạc Miền Nam ra khỏi con người Việt Nam.
> Ai giải phóng ai? Hãy hỏi* Con Đường Xưa Em Đi* và đốt đuốc đi tìm xem *Bác Cùng Chúng Cháu Hành Quân* đang nằm trong cống rãnh nào trên những con đường Việt Nam!!! 

 

TT DIỆM & PHẬT GIÁO

Thư viện của bài

This gallery contains 1 photo.

 TT  DIỆM  & CÁC TU SĨ  PHẬT GIÁO  LUÔN  YÊU THƯƠNG NHAU  Hàn Giang Trần Lệ Tuyền  “Tổng Thống Ngô Đình Diệm đã xây dựng miền Nam Việt Nam trở thành một Quốc Gia dưới chính thể Cộng Hoà.    … Tiếp tục đọc

Những giọt nước mắt của dân tộc VN

Thư viện của bài

This gallery contains 1 photo.

Những giọt nước mắt đã khiến cho bao người phải khóc theo! Hàn Giang Trần Lệ Tuyền Những giọt nước mắt ngày 20/7/1954:  Trong lịch sử cận đại; nếu kể từ ngày đất nước bị chia cắt, phân ly, bởi … Tiếp tục đọc

Những người Việt tỵ-nạn rất ngây thơ

Thư viện của bài

This gallery contains 1 photo.

Những người Việt tỵ-nạn rất ngây thơ, dễ tha-thứ và chóng quên !!!                 Nhớ lại ngày nào, những loạt pháo-kích vội vàng không cần trúng mục tiêu, rơi vào thành phố, những vụ đặt chất nổ nơi chốn đông … Tiếp tục đọc

Lạm Bàn về một cuốn tiểu thuyết

Thư viện của bài

This gallery contains 1 photo.

LẠM BÀN VỀ MỘT CUỐN TIỂU THUYẾT LỊCH SỬ Khải Nguyên Biên Soạn  Tôi cố tìm đọc “Hội thề” của tác giả Nguyễn Quang Thân, không vì cuốn tiểu thuyết đó được giải của hội nhà văn Việt Nam mà … Tiếp tục đọc