MỖI NGÀY MỘT CA KHÚC TƯỞNG NIỆM 30 THÁNG TƯ

Nam Lộc

“Tự Do ơi tự do, tôi trả bằng nước mắt…!”

dicu 1

https://youtu.be/HEUHMGeJ5iE
(hình ảnh Sài Gòn “trong cơn hấp hối”, 30 tháng Tư, 1975)

dicu 2

Tôi bước đi, khi Sài Gòn trong cơn hấp hối…
Tôi bước đi, Tân Sơn Nhất lửa khói ngập trời…

Vâng, đó là những gì mà tôi đã trải qua và được ghi nhận lại trong nhạc phẩm “Xin Đời Một Nụ Cười”. Dù tôi chỉ đủ khả năng và nghị lực để viết được một cách khiêm nhường qua hai mươi dòng nhạc, nhưng phần nào đó đã diễn tả được hình ảnh của cuộc hành trình tìm tự do đầy máu và nước mắt mà dân tộc tôi, đồng bào tôi và gia đình tôi đã phải trả để đổi lấy hai chữ “Tự Do”!

Tôi bước đi, khu thương xá cửa khép cuộc đời…
…những con tầu ngơ ngác ra khơi!

Đâu ngờ rằng trên một trong những “con tầu ngơ ngác” đang chết máy đó có bố tôi, chen chúc cùng hàng ngàn người khác, đợi chờ trong tuyệt vọng để mong một phép lạ, cuối cùng điều đó đã xẩy ra. Tầu Trường Xuân đã đưa bố tôi cùng nhạc sĩ Lam Phương, bạn tôi anh Elvis Phương và hơn 5000 người khác đến được bến tự do.

di cu tau truong xuan
Tầu Trường Xuân tại cảng Sài Gòn ngày 30 tháng Tư, 1975

Ngày 30 tháng Tư năm ấy, 1975, tôi đang ngồi ở đảo Guam, nghe tin mất nước mà lòng sầu vô tận. Thuở đó không có cell phone như bây giờ nên chẳng biết gia đình sống chết ra sao? Bố Mẹ, anh chị em đang trôi dạt phương nào…? Mãi về sau mới biết ông Cụ tôi là người duy nhất trong gia đình thoát được, và phải đợi đến 2 năm sau, 1977 thì cậu em út của tôi, Nam Việt, tên sĩ quan trốn “học tập cải tạo”, mới cùng người anh là Nam Ninh, mong manh trên con thuyền nhỏ bé, phải gọi là chiếc ghe thì đúng hơn, vỏn vẹn có 7 người, không kinh nghiệm hải hành, nhưng họ đã quyết định liều chết để sống. Chẳng bao lâu, ghe hư máy lênh đênh trên biển cả, mấy ngày sau thì được tầu dầu Kuwait đến cứu và đem cả bọn vào đảo quốc nhỏ bé này tận miền Trung Đông xa xôi, nóng cháy da người. Và cũng từ những năm đó, hàng triệu người Việt đã lần lượt bỏ nước ra đi bằng đủ mọi cách, đủ mọi phương tiện, và đủ mọi hình thức. Chỉ nội gia đình tôi, tổng cộng 12 người, cùng mấy đứa cháu, đã phải mất hơn 11 lần vượt biển, vượt biên, vượt ngục và phải trải qua 9 quốc gia trên khắp 4 lục địa, ngoại trừ Úc Châu mới đến được bến bờ tự do!

Tôi bước đi, qua đường rừng chông gai, tăm tối…
Tôi bước đi, như con rết lê lết cuộc đời,
như thân bướm đôi cánh rã rời…

Đó là đoạn thứ hai của bài hát, tôi viết cho những người vượt biên bằng đường bộ, trong đó có hai cô em gái, dẫn hai đứa cháu còn nhỏ từ Sài Gòn, xuống Tây Ninh, vượt qua biên giới Cam Bốt. Hơn 10 ngày, 9 đêm đi bộ trong rừng thẳm mới đến được trại tỵ nạn Thái Lan. Sau này còn biết thêm, nhạc sĩ Trúc Hồ cũng là một trong số những “bộ nhân” vào thời điểm đó.

Tôi nép thân trên mảnh thuyền mong manh, sương gió,
Như một người tìm đường về nơi đáy mồ…

Đoạn thứ ba tôi viết cho những thuyền nhân, mà đa số anh chị em của chúng tôi cùng hàng triệu người khác đã dùng phương tiện đầy hiểm nguy này để vượt biển tìm tự do. Tôi còn nhớ, chỉ riêng năm 1979 thôi, nước Mỹ đã nhận hơn 200 ngàn người tỵ nạn VN đến định cư tại HK.

di cu he thong
Thống kê thuyền nhân tỵ nạn Việt Nam của UNHCR

Nhưng dù ra đi bằng cách nào chăng nữa, như chúng tôi, thời điểm 1975, như các thuyền nhân, đường bộ hay đường bay của những vị tù nhân cải tạo, đến HK muộn màng qua diện HO, hoặc gần đầy nhất là các tù nhân lương tâm v..v.., thì người Việt tỵ nạn đã hãnh diện gởi đến cho toàn thế giới một thông điệp mạnh mẽ về lòng quyết tâm và yêu chuộng tự do, dân chủ của chúng ta.

Tự do ơi tự do! Tôi trả bằng nước mắt,
Tự do hỡi tự do! Anh trao bằng máu xương.
Tự do ơi tự do! Em đổi bằng thân xác,
Vì hai chữ tự do, ta mang đời lưu vong.

Và đó là tất cả những tâm huyết tôi đặt vào ca khúc “Xin Đời Một Nụ Cười” cùng những bài hát khác mà tôi đã mạo muội chia sẻ cùng qúy vị và các bạn trong mấy ngày qua. Có một chiến hữu, trung úy Sơn “Lai Khê” của Sư Đoàn 5 Bộ Binh đã viết một bài liên quan đến những sáng tác về tỵ nạn của tôi và ông gọi tôi là “người nhạc sĩ của tháng Tư”. Điều đó không sai, quả thật, nếu không có biến cố 30 tháng Tư, 1975, thì có lẽ tôi sẽ chẳng bao giờ trở thành…“nhạc sĩ”. Nếu không có những khổ đau, gian truân, tủi nhục mà thân phận người tỵ nạn đã phải trải qua và chịu đựng, thi sẽ không bao giờ Sài Gòn Ơi, Vĩnh Biệt, Người Di Tản Buồn, hay Xin Đời Một Nụ Cười được thành hình. Những bài hát này tôi viết cho chính bản thân tôi, cho gia đình tôi, cho đồng bào tôi và cho dân tộc tôi. Vì thế ai cũng có thể sử dụng được mà không phải trả tiền, bản quyền là của quê hương, đất nước. Tôi đã để lại di chúc cho các con, các cháu để chúng hiểu và thực hiện những ý nguyện đó của tôi nếu mai này tôi ra đi.

di cu sinh vien
Sinh viên tỵ nạn Việt Nam tại đại học YALE

Tôi hãnh diện với thế hệ trẻ ngày nay mà quý vị và chúng tôi, lớp người đi trước đã hy sinh để cho chúng trưởng thành và hiểu biết. Các cháu đã thành nhân, thành những người hữu dụng của xã hội tại khắp các quốc gia tự do trên thế giới đã đón nhận chúng ta. Những giờ phút lao động vất vả mà chúng ta đã trải qua, giọt mồ hôi của người thợ sửa xe hay người đứng đổ săng, giọt nước mắt của người lao công hay đứng chùi cầu. Những người thợ dũa móng tay, những tài xế taxi, dọn giường trong khách sạn hay chạy bàn ở nhà hàng v..v.., họ đã dùng đồng tiền mồ hôi nước mắt đó để nuôi nấng bầy con, lũ cháu ăn học thành tài. Và bây giờ chúng sẽ là những nhân tố đóng góp tích cực vào xã hội và các quốc gia mà chúng ta đang tạm dung. Con cháu chúng ta sẽ mãi mãi và muôn đời trả những món nợ ân tình mà các chính phủ cùng những người bảo trợ tốt bụng năm xưa đã giúp đỡ và cưu mang ông bà, cha mẹ của chúng. Viết đến đây, tôi lại nhớ đến câu nói của ký giả George Will trên tuần báo Newsweek năm 2007, viết về một phụ nữ VN đã có những đóng góp tốt đẹp cho đất nước Hoa Kỳ, ông nói “Cám ơn cô đã trả món nợ mà cô nói cô nợ của nước Mỹ. Cô đã hoàn trả đầy đủ, không thiếu một xu nào, lại còn luôn cả tiền lời nữa…….”!

di cu sinhvien ra truong

Ngày các cháu tốt nghiệp đại học YALE
và căn cước tỵ nạn ở trên mình

Hôm nay là ngày 30 tháng Tư, 2020, kỷ niệm 45 năm ngày chúng ta mất quê hương dù vẫn còn tổ quốc. Kính mời quý vị và các bạn nghe lại hai phiên bản của nhạc phẩm “Xin Đời Một Nụ Cười”. Clip đầu được thu thanh đã gần 40 năm trước khi tôi vừa hoàn thành nhạc phâm này và cùng hát với nữ ca sĩ Khánh Ly. Phiên bản sau đó được trung tâm Asia thực hiện gần đây để nhắc nhở kỷ niệm xưa, nhưng cũng để gởi lời tri ân đến các xứ sở tự do đã cho chúng ta cùng thế hệ con cháu của chúng ta một tương lai và một kho tàng trí tuệ, sẵn sàng để chia sẻ cùng thế giới và đóng góp cho một Việt Nam tự do của một ngày không xa.

NAM LỘC & KHÁNH LY
https://www.youtube.com/watch?v=1gVUqtzWkm8

DIỄM LIÊN & NGUYÊN KHANG
https://www.dailymotion.com/video/x7f4q42

&
https://www.youtube.com/watch?v=RiKsJ7J5eLg

“Người Di Tản Buồn!”

NAM LỘC

 

MỖI NGÀY MỘT CA KHÚC
TƯỞNG NIỆM 30 THÁNG TƯ

“Người Di Tản Buồn!”

 

camp 75
Camp Pendleton, 1975: thành phố lều của những “người di tản buồn”!

Hôm nay là ngày 29 tháng Tư. Giã biệt Sài Gòn vào lúc 1 giờ sáng 28, sau khoảng 3 tiếng đồng hồ trên chuyến bay dài nhất ở trong đời, chúng tôi được đưa đến căn cứ Không Quân U.S. Clark Air Base nằm trên hòn đảo Luzon của Phi Luật Tân. Đối với tôi, tất cả mọi hành động, mọi suy nghĩ hay quyết định bây giờ hoàn toàn tùy thuộc vào người hướng dẫn. Họ bảo sao thì nghe vậy, bảo làm gì thì làm theo, như một người máy. Niềm thương nhớ và lo lắng cho gia đình được thay thế bằng những sinh hoạt bận rộn, bằng chi tiết cùng những cảnh tượng mới lạ chưa từng xẩy ra trong đời. Bằng những chiếc ghế bố được phủ lên tấm drap giường tươm tất, nằm trong khu lều vải dựng vội vàng để đón những kẻ vừa nước mất nhà tan! Bằng sự ân cần của các sĩ quan Mỹ, cùng sự cung kính của nhân viên người Phi Luật Tân phục vụ trong nhà ăn. Tất cả đã làm nguôi bớt đi niềm khổ đau và oán hận trong tôi. Ở đây chỉ 24 tiếng đồng hồ, thì chúng tôi được di chuyển đến đảo Guam, và chưa đầy một tuần lễ thì được phi cơ American Airlines đưa từ Guam đến California.

Máy bay đáp xuống phi trường quân sự El Toro của Thủy Quân Lục Chiến Mỹ, nằm ngay Orange County (có ngờ đâu lại chính là thành phố mà tôi đã chọn đế sống những ngày cuối đời mình)! Một toán lính Marines nghiêm chỉnh đứng chào, họ còn cầu kỳ trải thảm đỏ đón người tỵ nạn và đưa lên những chuyến xe bus quân đội (lại xe bus quân đội, dấu tích của gia đình và là niềm hy vọng đã trở thành tuyệt vọng của tôi mấy ngày qua). Xe đi vào xa lộ 5, tôi nhìn bảng tên đường thấy chữ “San Diego Freeway”, rộng thênh thang, xe cộ chạy đầy đường, ngược xuôi như mắc cửi. Hai bên lề là những vườn cam vàng ửng trái, cùng các ruộng dâu trùng trùng, điệp điệp. Chưa đầy nửa tiếng đồng hồ thì tài xế rẽ vào một con lộ nhỏ ngoằn ngoèo đưa chúng tôi đến trại Pendleton sau khi đi ngang qua nhà tổng thống Richard Nixon, tọa lạc tại thành phố San Clemente. Tôi hỏi thầm trong bụng: Có phải vì ông mà chúng tôi đang có mặt ở đây không ngài tổng thống?

1 size fit all
“One size fits all jackets”

Bước xuống xe, sắp hàng để nhận lều tạm trú và quần áo. Mỗi người được các ông lính Marines phát cho một cái áo Jacket và một đôi giầy nhà binh “one size fit all”?, già trẻ lớn bé gì cũng thế, cứ nhận đi rồi hạ hồi phân giải.

1 size fit all shoes
“One size fits all shoes”

Sau đó có thiện nguyện viên hướng dẫn đến lều và “giường” của mình (tương tự như tấm hình ông Nguyễn Cao Kỳ đang ngồi).

nc ky
Thiếu tướng Nguyễn Cao Kỳ trong khu lều trại 8…

nl trai pendleton
…và tôi, trước căn nhà đầu tiên trên đất Mỹ

Đầu tháng Năm rồi mà sao Cali. lạnh thế, không biết lạnh ngoài trời hay buốt giá ở trong lòng? Đặt mình lên chiếc ghế bố vải, tôi bắt đầu nhỏ những giọt lệ đắng cay xuống cuộc đời tỵ nạn. Hôm nay, và bây giờ tôi đã chính thức là một “người di tản buồn”! Buồn và xót xa hơn nữa khi được tin toàn bộ gia đình tôi đã bị người Mỹ bỏ rơi, thủ đô Sài Gòn hoàn toàn sụp đổ, các tướng lãnh và nhiều quân nhân, công chức tuẫn tiết. Cậu em út cùng các chiến hữu của tôi đã bị người CS đánh lừa và lùa vào những trại tù cải tạo. Mẹ và các em gái thì đang chuẩn bị đi vùng kinh tế mới…

Trong khi đó ở bên này bờ đại dương, chúng tôi cũng đang phải phấn đấu với một cuộc sống mới, dù may mắn hơn ở bên nhà, nhưng cũng không kém phần gian truân và tủi nhục. Tôi được nhận vào làm assembler cho một hãng sản xuất giường nước với tiền lương $2.10 một giờ. Anh Jo Marcel làm nghề sửa xe, Tùng Giang thì tìm được job đổ xăng, Khánh Ly làm việc lao công, sau đó được “promote” thành receptionist… Và sau những ngày dài vất vả lao động “vinh quang”, trở về căn phòng nhỏ, nằm trong khu phố u sầu, cô liêu, buồn tủi, bên cạnh toàn người xa lạ. Tất cả những nỗi khổ đau, oán hận trên cộng với niềm thương nhớ về gia đình, về quê hương, đất nước đã âm ỷ trong lòng, để rồi tôi cho ra đời nhạc phẩm “Người Di Tản Buồn”.

nl tunggiang
Nam Lộc đi thăm Tùng Giang ở “sở làm”!

Nhạc phẩm “Người Di Tản Buồn” được nữ ca sĩ Khánh Ly thu âm lần đầu tiên trong một băng nhạc cùng tên. Nhưng sau đó cũng đã rất hân hạnh được nhiều anh chị em nghệ sĩ khác thu thanh và thu hình. Kính mời quý vị cùng các bạn nghe lại sau đây:

KHÁNH LY
https://www.youtube.com/watch?v=3MGC6aebg8s

NAM LỘC
https://youtu.be/Q8gnIsTMkMg

DIỄM LIÊN
https://www.youtube.com/watch?v=5dOH2EJygvQ

THẾ SƠN
https://www.youtube.com/watch?v=yRN6vqxV4s8

NGỌC MINH
https://www.dailymotion.com/video/x7akn4n

TUẤN VŨ
https://www.youtube.com/watch?v=x-55Bj0-Fs4

TÂM ĐOAN
https://www.youtube.com/watch?v=gi6CQ_SAdQc

ELVIS PHƯƠNG
https://sangtao.org/2013/03/31/nguoi-di-tan-buon/

THANH TRÚC
https://www.youtube.com/watch?v=Fv27ih3O1Yo

MỖI NGÀY MỘT CA KHÚC TƯỞNG NIỆM 30 THÁNG TƯ

Nam Lộc

“Sài Gòn Ơi, Vĩnh Biệt!”

Từ lúc 7 giờ tối ngày hôm qua (27 tháng Tư, 1975), khi ông thiếu tá Bob Smith tiết lộ cho tôi biết tin VC sẽ pháo kích vào phi trường Tân Sơn Nhất sáng nay, 28 tháng Tư, 1975, và các phi vụ di tản gia đình nhân viên sở Mỹ sẽ chấm dứt vào lúc nửa khuya, thì lòng tôi rối như tơ vò, không còn muốn làm gì nữa. cứ đứng ở bến xe bus đổ người chờ xem bố mẹ và các em bằng một phép lạ nào đó, đến được đây vào giờ phút cuối cùng này?

Xe vẫn đến, khách vẫn xuống, rồi xe lại đi, bóng người thân vẫn biền biệt, nhưng tôi tiếp tục ngồi lì ở đó, chờ đợi chuyến bus sau, một mình suy ngẫm. Thì ra người Mỹ đã biết trước là họ sẽ bỏ Việt Nam từ cả tháng nay vì thế mới có các kế hoạch di tản bài bản, nhịp nhàng như vậy. Kẻ trước người sau, ưu tiên cho ai và sẽ bỏ mặc ai nếu cần thiết, mà một quân nhân bình thường như tôi không thể nào biết được vì luôn luôn phải bận rộn thi hành quân vụ. Đến giờ phút này, bao chiến hữu của tôi vẫn đang cầm súng chiến đấu ở nhiều mặt trận mà không biết rằng họ đang chống cự trong cơn tuyệt vọng, “người bạn đồng minh” đã phụ chúng ta! Nhìn thấy các nhân viên sở Mỹ được ưu tiên di tản, nhìn thấy các “yếu nhân” trong chính quyền âm thầm bỏ nước ra đi, bây giờ nghe họ tiết lộ “tin tình báo” là VC sẽ pháo kích phi trường TSN, lại càng cho tôi thấy rõ âm mưu bỏ miền Nam VN của chính phủ Hoa Kỳ, mà nạn nhân khổ đau nhất sẽ là các quân, dân, cán, chính VNCH bị bỏ lại, và sẽ phải đối mặt với kẻ thù!

9 giờ tối, Bob đến bãi xe bus tìm tôi, hắn vỗ vai nói: “You got to go buddy, no more bus drops, we have only two more flights”! Ôi, thật là phũ phàng và đau đớn. Tôi hỏi Bob, hoàn cảnh gia đình tôi đang chờ tại DAO office ở Sài Gòn thì sao? Bob nói, sẽ có helicopters bốc họ ra ngoài hạm đội! Nghe như chuyện thần thoại vậy, đến lúc này tôi chẳng còn biết có nên tin người Mỹ nửa hay không?

Bob kéo tôi trở lại nơi cổng departure, cho tôi mấy miếng sandwiches, một lon nước ngọt, hắn bảo ăn đi, rồi lên đường “if you don’t want to live with VC”! thật là chua chát! Họ đã bỏ quê hương tôi thật rồi, họ cũng mặc kệ gia đình tôi và hàng ngàn người đang chờ đợi được giải cứu! Hơn bao giờ hết tâm trạng giằng co giữa “đi hay ở” lại đến với tôi! Trước mặt tôi còn khoảng hơn 500 người vẫn đang chờ đợi để được gọi tên đi, họ không biết rằng chỉ còn 2 chuyến bay nữa mà thôi, đủ chỗ cho chừng 100 người là hết sức. Rồi chuyện gì sẽ đến với họ khi chuyến bay cuối cùng cất cánh? Số phận họ sẽ ra sao lúc sớm mai khi đạn pháo kích của Cộng quân dội xuống địa điềm này? Tôi không dám nghĩ tiếp… thiếp mắt trong ác mộng chờ chuyến bay cuối cùng! Tôi mơ thấy mẹ đưa mấy đưa em gái vào được bên trong, bố và 3 thằng con trai kẹt lại ở bên ngoài… Giật mình tỉnh giậy, mồ hôi toát đầy người, thì ra là mộng tưởng!

Đồng hồ điểm 12 giờ đêm, Bob đưa tôi danh sách cuối cùng gọi tên, khoảng 50 người mệt mỏi đợi chờ, lếch thếch khiêng valy, túi sách lên đường. Bob nắm tay tôi thật chặt, nhìn tôi thật lâu vỏn vẹn nói hai câu “thank you and good luck”! Tôi như kẻ mất hồn, lủi thủi theo đoàn lữ hành trong đêm khuya ngày 27 rạng sáng 28 tháng Tư, 1975 lần lượt chui vào chiếc C-130 định mệnh đưa tôi vào một cuộc đời vô định hướng.

nl dicu
Người di tản từ xe bus xuống, đang bước vào lòng phi cơ C-130

12:45 sáng, 28 tháng Tư, 1975, phi cơ cất cánh, nhìn ra ngoài cửa sổ, Sài Gòn mờ dần trong bóng đêm, leo lét những ánh đèn, nhạt nhòa trong nước mắt, tôi thốt lên “Sài Gòn ơi, vĩnh biệt”, rồi cùng khóc với mọi người. Có ngờ đâu đó chính là tựa đề nhạc phẩm đầu tiên mà tôi sẽ sáng tác tại hải ngoại! Nó cũng đã được “thai nghén” vào những ngày cô đơn, sầu tủi trong trại tỵ nạn Pendleton.

nl pendldeton
Trại Pendleton: “Sài Gòn Ơi, Vĩnh Biệt!” chào đời

Tôi còn nhớ đã hát thử cho Trung Hành nghe trong căn lều vải, nằm dưới thung lũng buồn của trại. Chỉ vừa có vài câu đầu thôi mà hắn đã khóc như một đứa trẻ, đâu biết rằng tôi mới viết chưa xong được đến một nửa bài. Cho mãi đến sau này, khi xuất trại, thật sự đối diện với cuộc sống lưu vong, đầy gian truân, mồ hôi và nước mắt với bao nhọc nhằn, tủi nhục trong thời gian đầu, cộng với nỗi thương nhớ gia đình. Vào giữa tháng 11, 1975 tôi mới hoàn tất nhạc phẩm “Sài Gòn Ơi, Vĩnh Biệt!”. Khánh Ly thu thanh lần đầu tiên vào mùa Xuân 1976, ông Lê Văn của đài VOA phỏng vấn Khánh Ly và tôi, rồi sau đó phát thanh bài này về VN vào tháng Tư, 1976 nhân dịp kỷ niệm 1 năm ngày Sài Gòn sụp đổ!

nl kl
Khánh Ly -Nam Lộc 1976,
ngày thu thanh Sài Gòn Ơi, Vĩnh Biệt

Vào tháng Tư, 1978 đài truyền hình KSCI-Channel 18 tại Los Angeles đã dành cho hội Nghệ Sĩ VN và cộng đồng Người Việt California một chương trình kỷ niệm 3 năm ngày xa xứ, có tên là Giao Chỉ, do hai tài tử Lê Quỳnh và Kiều Chinh giới thiệu, Khánh Ly đã trình bầy ca khúc “Sài Gòn Ơi, Vĩnh Biệt!” của tôi lần đầu tiên trên hệ thống truyền hình. Mời quý vị cùng nghe và xem lại sau đây, cùng âm thanh và hình ảnh, tuy rất thô sơ nhưng đầy kỷ niệm của 42 năm về trước:
https://youtu.be/3nfFo-T1Abo
Nhạc phẩm này cũng hân hạnh được nhiều ca sĩ thu thanh, thu hình. Mỗi người một giọng hát, một lối trình bầy, một cách diễn tả và được người thưởng ngoạn yêu thích khác nhau. Tôi xin mời quý vị cùng nghe lại dưới đây, kể cả phần trình bầy của tác giả ca khúc “Sài Gòn Ơi, Vĩnh Biệt!”:
NGỌC LAN:
https://www.youtube.com/watch?v=uVuWB0KRb-U&list=RDuVuWB0KRb-U&index=1

SĨ PHÚ:
https://youtu.be/wwOlWQCP6AE

KHÁNH LY:
https://www.youtube.com/watch?v=1bwd7813WKo

VŨ KHANH & GUITAR VÔ THƯỜNG:
https://www.youtube.com/watch?v=Zc3VcD9S6ro

HỒ HOÀNG YÊN:
https://www.youtube.com/watch?v=xh097M2SfGI

NAM LỘC:
https://www.youtube.com/watch?v=b14f9RKLiQU

KHÁNH HÀ:
https://www.youtube.com/watch?v=iMbHqh5MXxU

MỖI NGÀY MỘT CA KHÚC TƯỞNG NIỆM 30 THÁNG TƯ

Nam Lộc

Một đêm thật dài…!

Hôm nay là ngày 26 tháng Tư, 2020. Tôi tiếp tục câu chuyện từ đoạn ông VõVV, người có nhã ý và trong một sự tình cờ đã đưa tôi vào phi trường Tân Sơn Nhất lúc 5 giờ chiều ngày 25 tháng Tư, 1975, 45 năm về trước.

saigon cuoi thg 4
Sài Gòn những ngày cuối tháng Tư, 1975

Khi cái vẫy tay từ giã của ông Võ khuất trong màn nắng đang nhạt dần của một buổi chiều đầy những âu lo và phiền muộn. Tôi bỗng thấy mình như một kẻ lạc loài, cô đơn và yếu đuối. Giằng co giữa sự trở về nhà hay ở lại đây! Lúc thì đổ tội là vì nghe ông Võ “xúi dại”, khi thì nhận là do lỗi của mình vì đã không tự quyết. Nhưng thôi nghĩ gì thì nghĩ, thực tế là tính mạng mình đang treo leo trên biên giới phải chọn lựa, giữa tự do và tù ngục nếu Sài Gòn thất thủ, nhất là đối với vai trò của một phóng viên quân đội

Bây giờ là 7 giờ tối, đèn cũng đã bật sáng trong khuôn viên DAO, tôi bắt đầu nhận rõ được nhiều khuôn mặt thân quen đang đứng, ngồi hay nằm dài để chờ chuyến bay di tản khỏi VN. Có kẻ thì ba hoa, chích chòe, có người thì im lặng thở dài! Tôi chợt tỉnh: À thì ra họ cũng như mình thôi, đang chạy trốn họa Cộng Sản sắp chụp xuống quê hương. Có khác chăng là họ có giấy tờ chính thức để được gọi tên lên các chuyến bay, còn mình thì không, thế nhưng điều đó đâu ai biết được? Tự tin như vậy, tôi ngẩng mặt bước vào đám đông “nhận diện bà con”.

Nhóm đầu tiên là mấy tên nhạc trẻ thân quen gồm có Trung Hành của Mây Trắng, Quang Minh, tức Minh mập CBC, Minh “rè” của Keyhole và một vài người khác đã được ông Oliver một bầu show người Mỹ đưa vào DAO từ mấy ngày nay và đang chờ chuyến bay. Trung Hành cho biết, Trung Nghĩa của The Enterprise và vợ là violist Đoàn Thanh Tuyền đã đi từ ngày hôm qua. Kiềm điểm lại còn biết thêm Kim Anh, Uyên Ly của ban tam ca Ba Con Mèo cũng đã đi từ mấy hôm trước. Ông ca sĩ đầu đàn nhạc trẻ Jo Marcel thì đã rời Sài Gòn từ 19, 20 tháng Tư gì đó, cùng chuyến với tổng trưởng kinh tế Phạm Kim Ngọc, cùng gia đình bà thượng nghị sĩ “trăng sáng vườn chè” Pauline Văn Thơ, Kaxim thì ở lại vì có quốc tịch Tây, còn thì Tùng Giang, Tuấn Ngọc, Khánh Hà và gia đình Uptight nghe nói đã được George Esper (trưởng phòng hãng thông tấn AP ở VN) đưa vào và đang có mặt ở đây v..v.. và v..v… À thì ra, thảo nào cậu Tùng Giang nhìn rất là bình tĩnh lúc gặp tôi và anh Trầm Tử Thiêng ở Givral sáng nay.

Đảo sang phía bên kia, tôi thấy ông Đỗ Ngọc Yến mặt trầm ngâm, đầy âu lo đang thì thầm trao đổi với ông Đỗ Quý Toàn, cạnh đó là gia đình vợ con và túi sách, túi mang. Chợt có người vỗ vai, tôi ngoảnh lại thì ra đó là ông nhà báo kiêm thi sĩ Kiêm Thêm, ông KT tươi cười hỏi thăm rồi đưa tay chỉ về phía trước, gia đình anh Lê Quỳnh kìa, tôi nhìn qua và vẫy tay chào. Khi ở bên ngoài lúc ông Võ rủ tôi vào TSN, mình cứ nghĩ là còn quá sớm mà đi đâu? Thậm chí khi anh Văn Quang nói tôi vẫn chưa tin, đến lúc vào trong này mới biết mình là một trong những kẻ muộn màng! Ông Đỗ Ngọc Yến còn chia sẻ “tin nóng” là gia đình TT Thiệu và ĐT Khiêm cũng vừa được CIA đưa vào phi trường để đi Đài Bắc tối nay. Còn nhiều gia đình người quen khác nữa, nhưng tôi tò mò muốn đến nơi người ta đang sắp hàng để được gọi tên lên máy bay.

Từ xa nhìn vào hàng người xếp theo thứ tự, lần lượt nghe đọc tên, rồi họ xướng lên “có mặt”, sau đó sách hành lý vào cân lượng rồi bước lên xe bus để được đưa đến thang phi cơ. Thật tình cờ tôi nhận ra người đọc tên là ông nhạc sĩ Đức Huy, còn người hành khách vừa trả lời “có mặt” lại là ông bạn kiến trúc sư Nguyễn Tường Quý cùng gia đình. Thấy không khí thân tình, tôi đánh bạo bước lại gần hơn và la lớn cho anh Quý nghe: Lên đường bình an nhe anh Quý. Ông quay lại, nhận ra tôi vẫy tay từ giã vội vàng. Trong khi đó Huy cũng nhận ra tôi nheo mắt cười. Và cũng vì hành động này mà một “biến cố lớn” đã xẩy ra trong cuộc đời lưu vong, viễn xứ của tôi!

8 giờ tối ngày 25 tháng Tư, 1975. Vừa đọc xong danh sách chuyến bay và hoàn tất việc di chuyển hành khách, Đức Huy bước ra ngoài tìm tôi và đưa ngay vào bên trong nơi Huy đang làm việc, toàn là các sĩ quan US Marines Corps vừa từ Mỹ bay sang, mặt còn đỏ hoe, để điều hành cuộc di tản khẩn cấp này, chỉ có Huy là người VN duy nhất. Mặc dù tôi và Huy gặp nhau hầu như mỗi ngày, hai đứa vẫn thay phiên dùng xe đi làm vài ngày mỗi tuần. Huy đưa tôi đến Quân Đoàn III ở Biên Hòa, sau đó chàng lái xe đến Bình Dương nơi Huy phục vụ tại tiều khu này. Cả hai chúng tôi đều là các quân nhân đang tại ngũ, vậy thì Huy làm gì ở đây mà giờ này còn đứng gọi tên người lên phi cơ? Tôi ngại ngùng không dám hỏi, nhưng giả vờ thân mật nói đùa: Tao đâu có biết mày làm cho CIA? Vì chỉ có nhân viên CIA thì giờ này mới dám đứng gọi tên và quyết định cho ai đi, ai ở! Huy hì hì cười và tảng lờ hỏi tôi: mày có đói bụng không? tôi bảo: hơi hơi, nhưng mua thức ăn ở đâu? Huy không trả lơi, đứng dậy bước vào phía trong rồi đem ra cho tôi một cái Hamburger nóng hổi, thơm phức, gói trong giấy foil, cùng một lon Cola Cola lạnh buốt! Bụng đang đói, trời đang nóng, sực một miếng cái đã, chuyện đâu còn có đó!

Ăn xong tôi cám ơn Huy và hẹn lúc gia đình tôi đến nơi sẽ tái ngộ. Nhưng Huy kéo tôi lại và hỏi: Ăn gì nữa không?, tôi lắc đầu rồi bắt tay từ giã. Huy nói tiếp: Đâu có dễ thế, chàng ăn no, uống đã rồi, thì bây giờ phải làm việc chứ. Sau đó Huy dúi vào tay tôi một danh sách mới khoảng 30 gia đình và bắt tôi đọc tên để mời họ lên máy bay.

Đắn đo và lưỡng lự một hồi, Huy than mệt quá, tôi đành chiều theo ý Huy và bước ra ngoài, giọng nghiêm nghị mời mọi người có tên trong chuyến bay số…, hãy chuẩn bị xếp hàng. Mọi người nghe theo răm rắp. Tôi chợt cười thầm trong bụng: Hai tiếng đồng hồ trước còn là một tên “nhập cảnh lậu” vào DAO, hai giờ sau đã trở thành”thầy chú”! Đúng là một cuộc đổi đời! Tối hôm đó tôi làm việc suốt cả đêm, không ngủ, giúp cho Huy chợp mắt vì hắn đã thức trắng đêm hôm qua. Lúc rảnh rang hai thằng ngồi tâm sự thì mới biết là Huy đã được Bill Fraser (trưởng phái đoàn HK trong ban liên hiệp 4 bên), một fan trung thành của ban nhạc đưa cả gia đình vào TSN mấy ngày hôm nay và trong lúc chờ đợi, họ đã nhờ Huy đọc dùm tên người Việt cho đúng, có vậy thôi. Khi nào Huy đi thì họ lại nhờ người khác. và người khác đó, không ai, chính là tôi. Và biết đâu nhiều người cũng đã chụp trên đầu tôi cái nón CIA? Tuy nhiên tôi chẳng bận tâm, niềm an ủi mà tôi nhận được trong công việc này, là lời hứa của anh chàng thiếu tá Mỹ đen, mọi người gọi anh là Bob. Thấy tôi làm việc khá vất vả, Bob nói: Ráng giúp họ đi, khi nào gia đình vào đến DAO anh sẽ cho mọi người đi sớm kể cả tôi, mà khỏi cần phải sắp hàng xin manifest chuyến bay.

Đêm kéo thật dài, đủ mọi chuyện hỷ, nộ, ái, ố của những nhân vật được (hay có thể là “bị”) tôi đọc tên lên phi cơ, nhất là các sĩ quan cao cấp của Quân Đoàn III và Sư Đoàn 5 hoặc các chính khách mà chúng tôi biết mặt, quen tên. Có người e ngại, có người sợ hãi như đại úy Hùng ở Trung Đoàn 8, SĐ 5, nhìn thấy tôi ông định bỏ về, nhưng tôi gọi ông lại và trấn an: việc đi hay ở là không do tôi, ai có tên trong danh sách di tản cùng gia đình và được cấp giấy phép lên phi cơ thì họ có quyền đi. Tuy nhiên hầu hết khi bước qua mặt tôi, mọi người đều mỉm cười thân ái, mang một chút ân tình ở trong đó, đặc biệt là bà vợ và hai đứa con nhỏ của đại úy Hùng, bà gật đầu nhìn tôi và cười trong nước mắt. Những diễn biến đó đã làm cho tôi cảm thấy nhẹ người và quên đi bao nỗi căng thẳng, bàng hoàng của một ngày đầy biến động cùng một đêm dài nhất trong 30 năm cuộc đời.

Trong giây phút giằng co giữa đi và ở, giữa hạnh phúc và khổ đau đó, tôi bỗng nhớ đến Mẹ tôi ngày bồng bế lũ con thơ dại vượt biển vào Nam tìm tự do 21 năm về trước.

di cu bac vao nam 1954
Cuộc di cư từ Bắc vào Nam, 1954

Và ngày hôm nay, 45 năm sau, ngồi viết lại đoạn hồi ký trên, tôi muốn cùng với quý vị và các bạn nghe lại nhạc phẩm “1954 Cha Bỏ Quê, 1975 Con Bỏ Nước” của nhạc sĩ Phạm Duy qua giọng hát Elvis Phương sau đây:

Tháng Tư lại về đem những ký ức u buồn đến với cộng đồng người Việt tỵ nạn của chúng ta. Năm nay là lần thứ 45 tưởng niệm ngày miền Nam VN rơi vào tay Cộng Sản, và cũng là một tháng Tư buồn thảm nhất sau tháng Tư 1975. Không khí của đại dịch Vũ Hán bao phủ một mầu tang trên toàn thế giới. Với những biện pháp giới hạn hoạt động khiến cho năm nay dù có muốn, chúng ta cũng không thể tổ chức tụ họp đông đảo để làm lễ tưởng niệm ngày quốc hận 30 tháng Tư như những năm trước đây.
Trong hoàn cảnh đó, và để giúp quý vị nguôi ngoai niềm nhớ về quê hương, đất nước và ôn lại những kỷ niệm đã trải qua, đồng thời để giới thiệu bộ DVD “Những Người Lính Bị Bỏ Rơi”, kể từ hôm nay cho đến 30 tháng Tư, 2020, chúng tôi xin mạn phép sưu tầm và chia sẻ cùng quý vị một số sáng tác của cá nhân chúng tôi cùng các nhạc sĩ khác, về biến cố lịch sử ghi dấu ngày VN rơi vào tay Cộng Sản khiến cho hàng triệu người phải lần lượt bỏ nứơc ra đi tìm tự do. Kính mời quý vị thưởng thức và giúp phổ biến đến thân hữu của mình.

https://www.sbtn.tv/mot-thang-tu-buon-tham-cua-45-nam-vien-xu-nam-loc/

Một tháng Tư buồn thảm của 45 năm viễn xứ! (Nam Lộc)

nguoi linh bo roi

Kính dâng những Ngưởi Lính VNCH
Chúng ta lại đang bước vào tháng Tư, những tháng Tư u buồn của trang sử tỵ nạn mà bất cứ người Việt lưu vong nào trên đất khách đều không khỏi ngậm ngùi nhớ về nơi mình đã phải bỏ đi và nhiều người vẫn không thể trở về thăm chốn cũ!
Tưởng niệm Quốc Hận 30 tháng Tư năm nay có lẽ còn sầu thảm hơn 45 lần đã qua. Không khí của đại dịch Vũ Hán bao phủ một mầu tang trên toàn thế giới, con số tử vong mỗi lúc một cao. Tuần qua, tổng thống Hoa Kỳ đã chính thức ban hành lệnh “cách ly” cho tất cả công dân trên toàn nước Mỹ cho đến hết ngày 30 tháng Tư, 2020. Và hình như nhiều quốc gia khác trên thế giới cũng đang lần lượt áp dụng biện pháp này, khiến cho năm nay dù có muốn, chúng ta cũng không thể tổ chức tụ họp đông đảo để làm lễ tưởng niệm ngày quốc hận như những năm trước đây. Buồn hơn nữa là sẽ không có bất cứ một trung tâm ca nhạc nào thực hiện các bộ Video, CD hay DVD để tưởng niệm những tháng năm viễn xứ như ngày trước, vì hiện trạng sang băng, đĩa lậu và internet đã giết chết thị trường văn hóa nghệ thuật này.
Trong nỗi niềm và hoàn cảnh đó, một số anh chị em nghệ sĩ tự do đã hợp cùng đài truyền hình SBTN với phương tiện và chuyên viên điện ảnh sẵn có, cùng nắm tay nhau một cách vô vụ lợi, chung lưng thực hiện một bộ DVD lịch sử để tưởng nhớ năm thứ 45, ngày quê hương VN rơi vào tay Cộng Sản. Cá nhân tôi, được mặc lại bộ quân phục của đơn vị mình phục vụ sau 45 năm xa cách lòng không khỏi ngậm ngùi. Kỷ niệm chợt bùng về, nhớ lại ngày tôi xuống Lai Khê trình diện đại úy Nguyễn Văn Quý, trưởng phòng báo chí của Sư Đoàn 5 Bộ Binh vào đúng Mùa Hè Đỏ Lửa 1972, tiếp theo đó là những đêm dài nơi chiến tuyến. Tôi lại thích viết về cuộc đời của những người lính thách đố với cái chết, luôn luôn tình nguyện đi tuyến đầu, vì thế nên đêm đêm thường ngồi với các toán Biệt Kích của Sư Đoàn, say sưa nghe họ kể những trận đụng độ nẩy lửa, vừa hãnh diện với bao chiến công, vừa xót xa với những mất mát!
Nhìn ca sĩ Diễm Liên mặc chiếc áo dài đen trình bầy nhạc phẩm Người Tình Không Chân Dung, thì cả một trời kỷ niệm hiện về với hình ảnh nữ tài tử Kiều Chinh trong bộ phim này của gần 50 năm về trước. Nghe Thế Sơn hát Người Ở Lại Charlie trong bộ quân phục Dù, để nhớ về cố Đại Tá Nguyễn Đình Bảo, thân phụ của người bạn học cùng lớp với Thế Sơn, ai ai cũng nhận ra nỗi xúc động, đôi lúc nghẹn ngào trong tiếng hát của anh. Nhìn Thanh Trúc với Nếu Vắng Anh của nhạc sĩ Anh Bằng, thì không ai không khỏi nhớ đến khuôn mặt cùng giọng hát khả ái của nữ ca sĩ Lệ Thanh một thuở hoàng kim với tình khúc kỷ niệm đầu đời của những chàng trai trong thời gian đầu cuộc chiến, 1960… Và còn nhiều nhiều nữa, Hồ Hoàng Yến, Quốc Khanh, Nguyên Khang, Hoàng Thục Linh, Vũ Anh Thư, Huỳnh Phi Tiễn, Ca Đoàn Ngàn Khơi… còn Trả Lại Em Yêu, Cho Một Người Nằm Xuống, Thương Vùng Hỏa Tuyến, Một Chuyến Bay Đêm, Tôi Nhớ Tên Anh, dĩ nhiên không thể quên Chiến Sĩ Vô Danh… và đặc biệt là Thề Không Phản Bội Quê Hương! Gần 30 tiết mục với hơn 50 ca sĩ góp mặt. Đối với tôi, đây quả là một công trình phi thường mà anh chị em nghệ sĩ, các chuyên viên, và các tình nguyện viên có thể thực hiện được trong giai đoạn cùng hoàn cảnh hiện nay

ho hoang yen.

Hồ Hoàng Yến với “Trả Lại Em Yêu”

Tôi chắc chắn là nếu không vì lòng yêu quê hương, đất nước, không vì tình cảm dành cho những người lính QLVNCH, những người đã bị bỏ rơi, và nhất là nếu không có sự phù hộ của những anh linh tử sĩ, thì có lẽ khó ai có thể thực hiện được một tác phẩm nghệ thuật có tính cách lịch sử để lại cho hậu thế những hình ảnh trung thực của cuộc chiến đấu đầy chính nghĩa để bảo vệ tự do, dân chủ cho VN. Và cũng khó có một tác phẩm âm nhạc nào thể hiện được lòng biết ơn chân thành cùng sự ngưỡng mộ đối với những tấm gương hy sinh quả cảm của người lính VNCH để bảo vệ miền Nam VN, tiền đồn của thế giới tự do bằng DVD “Những Người Lính Bị Bỏ Rơi”!

the son

Thế Sơn và “Người Ở Lại Charlie”

Ước muốn duy nhất của anh chị em nghệ sĩ cùng nhóm thực hiện của chúng tôi là mong mỏi mỗi gia đình người Việt tỵ nan nên có một bộ DVD này, vừa để thưởng thức âm nhạc, vừa dùng làm tài liệu dành cho con cháu mỗi khi chúng muốn tìm hiểu về cuộc chiến VN, và quan trọng hơn cả là để tưởng niệm quốc hận lần thứ 45 trong không khí tang tóc của toàn thế giới hiện nay.
Muốn biết thêm chi tiết và đặt mua DVD hoặc Blu-ray, xin quý vị vào trang nhà: https://www.sbtn.tv/
Hãy ủng hộ và tiếp tay chúng tôi,
Nam Lộc
Tháng Tư, 2020
(hãy thắp cho nhau một ngọn đèn:
https://www.youtube.com/watch?v=H7nmtptLQvw)

MỖI NGÀY MỘT CA KHÚC TƯỞNG NIỆM 30 THÁNG TƯ

Nam Lộc

nguoi linh bo roi

Hôm nay là ngày 25 tháng Tư, 2020. Xin mạn phép chia sẻ cùng quý vị và các bạn một chút tâm sự của ngày này 45 năm về trước. và cũng là ngày mà tôi đã bắt đầu bước vào một cuộc đổi đời đầy những cay đăng, xót xa cho thân phận của một người tỵ nạn.
Ngày hôm qua 24 tháng Tư, 1975, lệnh cấm trại 100%, ngồi viết phóng sự và trực suốt đêm tại phòng Báo Chí Quân Đoàn III ở Biên Hòa. Sáng nay về Sài Gòn đem giao một số bài viết cho nhật báo Tiền Tuyến ở Cục Tâm Lý Chiến. Tình hình đất nước đang vô cùng căng thẳng, nhất là sau khi tổng thống Nguyễn Văn Thiệu từ chức và các tỉnh miền Trung cho đến một số ở miền Nam gần Sài Gòn cũng đang lần lượt lọt vào tay CS Hà Nội và quân Giải Phóng miền Nam! Vào lúc này thì người Mỹ đang ráo riết di tản các nhân viên của họ theo kế hoạch của Hoa Thịnh Đốn, trong số đó có gia đình tôi, vì cô em gái làm việc cho DAO. Cô đã đưa cả bố mẹ cùng hầu hết anh chị em (ngoại trừ tôi) vào nơi cô làm việc để được người Mỹ âm thầm đưa đến Tân Sơn Nhất trên những chuyến xe bus mầu vàng, chạy liên tục như đàn bướm trong thành phố đầy hoang mang và hoảng loạn, hoảng loạn như chính tâm trạng của tôi và cả chắc cũng tương tự như của nhiều người lúc bấy giờ!

Sài Gòn, những ngày cuối tháng Tư, 1975
Từ tòa soạn Tiền Tuyến, tôi ghé ngang báo Diều Hâu thăm thiếu tá Phạm Huấn, và đại úy Hà Huyền Chi là những người anh thân thương đã đỡ đầu chúng tôi trong các buổi Đại Hội Nhạc Trẻ hàng năm để gây quỹ giúp Cô Nhi, Quả Phụ Tử Sĩ. Gặp đại úy Lê Cự Phách, tức nhà văn Du Tử Lê ở báo Tiền Phong, biết tôi thích đọc thơ anh, mỗi lần về anh lại cho tôi một quyển. Trước khi rời nơi đây, tôi ghé qua bên đài phát thanh quân đội thăm trung tá Nguyễn Quang Tuyến tức nhà văn Văn Quang, mà ông đang làm quản đốc. Ông Văn Quang vừa họp xong trong phòng bước ra ngoài, vui vẻ chào đón và hỏi thăm tôi về tình hình ở quân đoàn. Tôi tường trình qua loa rồi bước ngay vào mục đích riêng của mình là xin ông một lời cố vấn rằng, nếu có cơ hội ra khỏi VN thì tôi có nên đi hay không? Tôi nhớ mãi câu trả lời gọn gàng của ông: Đi được thì cứ đi, các “ông lớn” cũng chuẩn bị cả rồi! Câu nói của ông làm tôi thêm hoang mang và suy nghĩ!
Tôi nắm tay ông từ giã, dự định sẽ về nhà ngủ một giấc thật dài để bù lại đêm qua và cũng để quên đi những xao xuyến, giằng co ở trong lòng! Nhưng chợt thấy đói nên ghé ngang Đêm Mầu Hồng rủ Tùng Giang và Lệ Thanh ghé quán Bà Cả “Đọi” ăn trưa. Sau đó cả ba đi bộ đến trụ sở quốc hội gặp chị Phúc, người chị cả của gia đình, đang làm việc tại đây, cũng để thăm dò tình hình và nhân tiện nhờ chị tái gia hạn dùm tôi tấm thẻ báo chí để dự thính ở quốc hội (đến giờ này tôi vẫn còn lo những sinh hoạt bình thường)! Chị Phúc nói với chúng tôi, các dân biểu cũng chia làm hai nhóm, người lo tìm đường ra đi, kẻ thì chuẩn bị tham chánh, hoăc đảm nhận các chức vụ quan trọng trong chính quyền mới! Tôi hỏi chị về chuyện ra đi, chị cũng trả lời tương tự như anh Văn Quang: Đi được thì cứ đi, nhưng cậu Lộc coi chừng đừng để trở thành người đào ngũ! Câu nói của chị càng làm tôi thêm hoang mang và bối rối!
Bước qua bên đường, ghé Givran uống cà phê, gặp ông anh Trầm Tử Thiêng, người nhạc sĩ giáo chức mà chúng tôi rất kính nể, và anh cũng là người nghệ sĩ cuối cùng mà tôi gặp mặt trước khi xa Sài Gòn. Tôi đưa ra cùng một câu hỏi, nhưng lần này bị Tùng Giang “cự nự”: Sao mày lo quá vậy Lộc, hãy cứ để cho số phận an bài! Anh Thiêng bảo: “Nhưng số phận không phải chỉ hoàn toàn là do ở Thượng Đế, mà đôi lúc cũng tùy thuộc vào quyết định của chính mình”, và có ngờ đâu câu nói này đã theo đuổi tôi trong suốt cả cuộc đời còn lại!
Trở về nhà cô em, nơi tụ họp của gia đình, mọi người đã ra đi. Im lặng và trống vắng, tôi đặt mình xuống giường, ngủ như chết! Đến khoảng 5 giờ chiều bỗng có người vừa bấm chuông, vừa gõ cửa ầm ầm, tôi tỉnh giấc và bước ra ngoài xem ai mà hối hả thế, thì gặp ông VõVV, một giới chức cao cấp làm việc tại Bộ Kế Hoạch, anh Võ đến tìm người em trai của tôi là luật sư Nam Khang. Tôi bảo anh, Khang đã vào DAO để chuẩn bị được người Mỹ di tản cùng với gia đình. Anh gật đầu, rồi bất chợt hỏi tôi: Nam Lộc có rảnh không, đi với tôi vào Tân Sơn Nhất chơi, tiện tôi đi công tác đón một yếu nhân của bộ đi họp ở ngoại quốc về. Tôi lưỡng lự từ chối, anh Võ lại đốc thúc, ở nhà làm gì, đi thăm dò tình hình xem sao? Chợt nghĩ, ừ nhỉ, tại sao không? Tôi rửa mặt vội vàng, mặc chiếc quần jean, không kịp đi giầy, sỏ vào đôi dép da của Mẹ để sẵn ngòai cửa, rồi chui vào chiếc xe Volkswagen Beetle chật chội của anh Võ để ra phi trường. Trên đường đến TSN, xe đã bị quân cảnh, cảnh sát rồi MP Mỹ chặn lại hỏi giấy tờ năm lần, bẩy lượt. Lòng tôi cũng hơi bấn loạn, thuộc loại “không” cò tật mà vẫn giật mình, vì tôi có toan tình gì đâu! Nhưng anh Võ đã có sẵn “bùa hộ mệnh”, tấm sự vụ lệnh to tổ chảng của Bộ, với lá cờ VNCH kéo dọc và chéo ngang nên gặp giới chức công lực nào họ cũng phất tay cho đi.

Sài Gòn, cuối tháng Tư, 1975: Quân Cảnh, Cảnh Sát ở khắp mọi nẻo đường

Vào đến phi trường, còn sớm giờ đón khách, anh Võ rủ tôi đi vào khu tập trung của những người Việt đang được chính phủ Mỹ di tản, tôi hết hồn khi nhìn thấy một rừng người khoảng cả ngàn, vừa đứng, vừa ngồi chen chúc trong khuôn viên bên ngoài trụ sở cùng khu vực Gym của cơ quan DAO để chờ được gọi tên lên máy bay. Rảo vội một vòng, tôi nhận thấy có rất nhiều người quen biết, trong số đó có cả các chính khách dân sự, các sĩ quan chỉ huy cao cấp cùng nhiều quân nhân ở các Sư Đoàn hay Quân Đoàn mà tôi đã gặp. Có các bạn hữu của tôi, và có cả những người đã “hứa là sẽ đưa tôi đi” nếu tình thế khẩn trương, ấy thế mà bây giờ họ đã đứng ở đây? Nhìn cảnh tượng này, khiến tôi lại tăng thêm niềm hoang mang và hoảng loạn.
Hai anh em trở lại xe, bỗng dưng ông Võ cản tôi: Nam Lộc ở lại đây đi, chờ gia đình vào rồi nhập bọn để được di tản cùng! Tôi lắc đầu từ chối, và viện dẫn đủ mọi lý do, nào là không chuẩn bị, không mang theo quần áo, không có đủ giấy tờ, tiền bạc và sau cùng là trách nhiệm trong quân đội v..v…! Nhưng nói tới đâu, ông lại thuyết phục và đưa ra lời giải thích tới đó, để rồi rốt cục tôi nghe ông và ở lại phi trường. Ông Võ còn hẹn thêm là 9 giờ sáng mai, tức là ngày 26 tháng Tư, ông sẽ trở lại, đưa hai người em vào, đồng thời sẽ ghé nhà cô em lấy mấy bộ quần áo cho tôi (cò ngờ đâu đến 16 năm sau tôi mới gặp lại ông qua chương trình HO, sau hơn 10 năm ông đi tù cải tạo và 6 năm vất vưởng sống ở VN).
Trở lại khung cảnh náo nhiệt tại khuôn viên DAO, phi trường TSN lúc bấy giờ, tôi không biết mình sẽ phải làm gì, gặp ai và phản ứng thế nào nếu có người nhận ra mình, một quân nhân đang hiện dịch? Rồi đến khi nào thì gặp được gia đình? Nếu bị bắt và bị đưa về quân lao thì có ai biết mà lo lắng cho mình? Bên cạnh đó là tiếng cười ròn rã của những người đang chờ đợi các chuyến bay, trộn với tiếng khóc than, oán trách thật bi ai, tất cả đã đưa tôi từ tâm trạng hoang mang, lo lắng, đến khủng hoảng tinh thần. Tôi chợt nhớ lại câu nói của anh Trầm Tử Thiêng lúc ban chiều: “Số phận không phải chỉ hoàn toàn là do ở Thượng Đế, mà đôi lúc cũng tùy thuộc vào quyết định của chính mình”. Nhưng hỡi ôi, quyết định của tôi để ở lại nơi đây, vào giờ này, không phải do Thượng Đế, cũng chẳng phải của chính mình mà là của ông Võ! Rồi cuộc đời sẽ đưa tôi về đâu? Có lẽ không lời diễn tả nào thích hợp hơn bằng bài hát Kinh Khổ mà anh Thiêng đã viết, có thể diễn tả tâm trạng vào thời điểm đó của tôi hay của bao người đang dở khóc, dở cười, bên cạnh lời cầu nguyện mà Mẹ tôi và các bà Mẹ VN khác đang dâng lên Thượng Đế cho tương lai của những đứa con mình?
Xin hẹn sẽ viết tiếp tiếp vào ngày mai, nhưng bây giờ kính mời quý vị và các bạn cùng nghe Kinh Khổ của nhạc sĩ Trầm Tử Thiêng qua giọng hát Khánh Ly:

https://www.youtube.com/watch?v=CPPpkyOLS1o
(Bút ký này xin được tưởng nhớ đến những người đã khuất mà tôi xin phép nhắc tên trong bài viết: Thiếu tá Phạm Huấn, thi sĩ Du Tử Lê, anh VõVV, các nhạc sĩ Trầm Tử Thiêng, Tùng Giang, và xin kính tặng những người vẫn còn sống bình an trên cuộc đời này: Nhà văn Văn Quang, thi sĩ Hà Huyền Chi, chị Phúc, Lệ Thanh)

Tháng Tư lại về đem những ký ức u buồn đến với cộng đồng người Việt tỵ nạn của chúng ta. Năm nay là lần thứ 45 tưởng niệm ngày miền Nam VN rơi vào tay Cộng Sản, và cũng là một tháng Tư buồn thảm nhất sau tháng Tư 1975. Không khí của đại dịch Vũ Hán bao phủ một mầu tang trên toàn thế giới. Với những biện pháp giới hạn hoạt động khiến cho năm nay dù có muốn, chúng ta cũng không thể tổ chức tụ họp đông đảo để làm lễ tưởng niệm ngày quốc hận 30 tháng Tư như những năm trước đây.
Trong hoàn cảnh đó, và để giúp quý vị nguôi ngoai niềm nhớ về quê hương, đất nước và ôn lại những kỷ niệm đã trải qua, đồng thời để giới thiệu bộ DVD “Những Người Lính Bị Bỏ Rơi”, kể từ hôm nay cho đến 30 tháng Tư, 2020, chúng tôi xin mạn phép sưu tầm và chia sẻ cùng quý vị một số sáng tác của cá nhân chúng tôi cùng các nhạc sĩ khác, về biến cố lịch sử ghi dấu ngày VN rơi vào tay Cộng Sản khiến cho hàng triệu người phải lần lượt bỏ nứơc ra đi tìm tự do. Kính mời quý vị thưởng thức và giúp phổ biến đến thân hữu của mình.

https://www.sbtn.tv/mot-thang-tu-buon-tham-cua-45-nam-vien-xu-nam-loc/

 

từ một cuộc chiến

Chuyện cổ tích từ một cuộc chiến

(Nguồn: Báo Tiếng Dân)

Tác giả: Daniel Hautzinger

Dịch giả: Đông Kha

Câu chuyện cảm động về lời hứa 40 năm của người lính Mỹ với một em bé Hội An

Phil Seymour là trung sĩ của Đại đội C, Tiểu đoàn 1, Trung đoàn TQLC, Sư đoàn TQLC 1 của Hoa Kỳ, ông đến Việt Nam vào tháng 12 năm 1966 và đã bị thương chỉ 1 tháng sau đó.

Tháng 6 năm 1967, Phil đóng quân ở một đảo nhỏ gần Hội An – Đà Nẵng, nhưng thường xuyên vào đất liền và tham quan ở Hội An. Trong những chuyến đi như vậy, Phil thường mang theo một chú chó nhỏ đằng sau balo của mình. Chú chó này tên là Boot, được ông cứu trong một lần hành quân ở trong rừng. Lúc đó Boot còn chưa dứt sữa.

Mỗi khi Phil và đồng đội chèo thuyền ghé vào đất liền, những đứa trẻ trong làng chạy ùa tới để hỏi xin các loại “đồ Mỹ” như kẹo, đồ hộp và cả thuốc lá. Thường thì toán lính Mỹ này sẽ chia cho bọn trẻ những thứ này trong khẩu phần của họ.

Trong số những đứa trẻ đó có một người tên Cam (có thể là Cẩm, Cầm…), luôn mặc đồ ngủ màu xanh và đi chân không. Cam không nhao nhao lên như những đứa trẻ khác mà đứng lùi về sau một chút. Ban đầu toán lính Mỹ tưởng Cam nhút nhát, tuy nhiên sau đó họ mới nhận ra là Cam rất khôn ngoan: Cậu không đến xin bằng tay không, mà mang đến những thực phẩm địa phương như dừa, chuối, chanh… để trao đổi. Vì vậy Cam rất được lính Mỹ yêu mến.

Một ngày của tháng 6 năm 1967, cậu bé Cam – 9 tuổi – tặng một quả chuối cho Phil. Trung sĩ Phil Seymour lúc này chuẩn bị rời vùng đất miền Trung này để đi nghỉ 1 tuần ở Thái Lan. Phil hỏi Cam rằng cậu muốn ông tặng quà gì. Thật ra một cậu bé nghèo ở làng quê heo hút này không thể biết là Thái Lan là ở đâu, có món gì để mà đòi hỏi. Cậu cũng không nói tiếng Anh được tốt lắm, suy nghĩ 1 chút rồi cậu chỉ vào cái đồng hồ mà Phil đang đeo. Trung sĩ Phil đồng ý.

Khi ở Thái Lan, Phil quên bén mất lời hứa về cái đồng hồ. Thật ra một anh lính đi du lịch nghỉ phép thì chỉ nghĩ đến việc ăn chơi, không có nhu cầu đi mua sắm. Hết kỳ nghỉ phép, trở lại Hội An, rồi gặp lại Cam, ông mới chợt nhớ tới vụ cái đồng hồ. Khi thấy Phil về, Cam chạy ùa tới, hớn hở.

Nhưng không có cái đồng hồ nào cả.

Ngay sau đó, đơn vị của Phil rời vùng đất này để về vùng phi quân sự, rồi đến tháng 1 năm 1968 thì ông rời Việt Nam.

Phil cho biết rằng cuộc sống của ông rất bình lặng, không có nhiều thứ làm ông hối tiếc, ngoại trừ lời hứa không thực hiện được với một cậu bé ở vùng quê nghèo miền Trung Việt Nam này. Đó thực sự là niềm hối hận lớn nhất trong đời của ông. Ông cũng đã từng nghĩ rằng sẽ phải mang niềm ân hận này theo cho đến khi lìa đời.

Phil Seymour là một người gốc Brookline, Massachusetts, ở trong quân ngũ thêm 27 năm, sau đó lấy bằng Master về luật và trở thành luật sư ở Lầu Năm Góc, sau đó là trưởng công tố viên trước khi nghỉ hưu năm 1995. Ông đã nghĩ rằng mình không thể trở lại Việt Nam một lần nào nữa.

Tuy nhiên vào năm 2007, vợ của Phil là Lynne cho ông biết là nhóm du lịch chung mà ông bà thường tham gia sẽ có một chuyến đến vùng Đông Nam Á và có dừng chân ở Hội An. Bà Lynne nói ông cân nhắc việc tham gia chuyến đi này, cũng là cơ hội để tìm lại Cam và thực hiện lời hứa 40 năm trước đó.

Đến khi ông Phil quay trở lại thì Hội An đã trở thành một thành phố du lịch nổi tiếng, được UNESCO công nhận là Di sản thế giới vì kiến trúc của nó hầu như không thay đổi so với thời điểm thành lập hồi thế kỷ 15, là nơi giao thương nhộn nhịp của người Việt với người Hoa, Nhật và Châu Âu sau này.

Phil nghĩ rằng cơ hội để tìm lại được Cam gần như là số 0. Không thể biết được rằng Cam có thể sống sót qua được chiến tranh hay không, vì vùng đất này xưa kia rất ác liệt. Tuy nhiên Phil vẫn mang theo một cái đồng hồ trong chuyến du lịch này.

Hướng dẫn viên đoàn du lịch của Phil là một người Hà Nội, nói rằng anh biết rất nhiều người ở Hội An nên sẽ giúp tìm Cam. Thật bất ngờ là sau ngần ấy năm, ông Phil vẫn còn giữ một số tấm hình gia đình của Cam để có thể mang đi hỏi thăm.

Sau khi đến Hội An, nhận phòng khách sạn xong thì cũng là lúc anh hướng dẫn viên người Việt gọi Phil xuống và qua bên kia đường. Không biết bằng cách nào, người hướng dẫn viên này đã tìm được một người đàn ông đội nón màu xanh, người này nhìn tấm ảnh của Phil và nói trong hình là cha của anh chụp chung với 3 người con, người con trai út trong hình chính là người đội nón xanh này, và Cam chính là anh trai của anh. Ngay lúc đó, anh điện thoại để gọi Cam tới.

Phil lật đật chạy lên phòng khách sạn để lấy máy ảnh và đồng hồ, rồi chạy ngay xuống. Ngay khi băng lại qua đường, Phil cũng vừa thấy Cam tới, lúc này Cam đã là một người đàn ông 49 tuổi, làm nghề thợ mộc.

Hướng dẫn viên giải thích cho Cam hiểu câu chuyện. Anh ngơ ngác, không thể hiểu được rằng có người vừa đi nửa vòng trái đất chỉ để gặp anh và đưa chiếc đồng hồ.

Hướng dẫn viên chỉ ông Phil rồi hỏi Cam là có nhớ người đàn ông này không, Cam trả lời: “Có, ổng thường cõng con chó nhỏ trên lưng”. Hướng dẫn viên hỏi về lời hứa chiếc đồng hồ 40 năm trước, Cam trả lời: “Có, lúc đó tui mới 9 tuổi, nói tiếng Mỹ bập bẹ, nên nghĩ rằng đã có sự hiểu lầm nào đó”.

Theo chiều kim đồng hồ từ trái: Cam và anh trai; Cam và Phil Seymour trong cuộc hội ngộ 40 năm sau; Phil Seymour ở Việt Nam khi là lính Thủy quân Lục chiến; Cam và Phil Seymour năm 1967. Nguồn: Phil Seymour

Ông Phil và hướng dẫn viên đã giải thích cho Cam hiểu là không có sự hiểu lầm nào cả, chỉ là do Phil đã thất hứa.

Phil đưa cho Cam chiếc đồng hồ. Anh Cam rơi nước mắt. Họ cùng ôm nhau khóc.

Hôm sau anh Cam mời ông Phil đến nhà ăn tối. Vợ anh tên là Nở, cùng cô con gái tên Vy chuẩn bị cho bữa ăn, còn vợ chồng Phil – Lynne và anh hướng dẫn viên ngồi ăn. Phong tục của Việt Nam là khách đến nhà chỉ có việc ăn, và ăn, sau đó là đi về.

Vy – con gái đầu của anh Cam – lúc đó 28 tuổi, vừa mới kết hôn, nói rằng cô muốn được học đại học như 4 người em trai của mình, nhưng ở vùng quê này thì phụ nữ thường thiệt thòi, ít được học lên đại học.

Trên đường về khách sạn, Lynne – vợ của Phil – suy nghĩ và ngỏ ý muốn cố giúp Vy được học đại học. Với sự liên lạc, giúp đỡ của anh hướng dẫn viên, Vy đã được đi học ở Sài Gòn cùng với 4 người em trai đã đi học hồi trước đó. Vy nhận bằng liên thông năm 2010 và bằng cử nhân năm 2012.

Phil trở lại Việt Nam – có lẽ là lần cuối cùng – vào năm 2012 để dự lễ tốt nghiệp của Vy. Họ cũng mua vé máy bay cho vợ chồng Cam – Nở vào Sài Gòn. Đó cũng là lần đầu tiên Cam được đi máy bay, anh mang theo vô số quà quê để mở một bữa tiệc mừng tại nhà trọ của Vy. Lynne và Phil còn tặng cho Nở một lò vi sóng để giúp cô nấu ăn thuận tiện.

Hiện tại Vy đang làm việc ở Sài Gòn, vẫn thường xuyên gọi điện cho vợ chồng Seymours.

Một lời hứa tưởng như rất nhỏ, vô thưởng vô phạt, nhưng đã ám ảnh anh lính tên Phil trong 40 năm, khơi gợi lại cho ông những ký ức buồn về một vùng quê đau khổ, tan tác. Ông quyết chí tìm lại cậu bé năm xưa để xua đi nỗi đau đáu trong lòng. Phil cho biết:

“Nếu tôi thất hứa với một người lớn nào đó thì tôi sẽ không bị mang một nỗi ân hận dai dẳng đến như vậy. Đằng này tôi đã hứa với một đứa trẻ tốt bụng, ngây thơ. Nó không thề thốt hay cầu xin gì cả, trên khuôn mặt lúc nào cũng có một nụ cười”.

Chiến tranh mang lại những tổn thương khó lành trong tâm khảm những người lính tham chiến. Chính sự ngây thơ của Cam và những đứa trẻ xin kẹo khác đã làm dịu bớt những trăn trở không yên trong lòng người lính viễn chinh, giúp họ bình thản hơn để vượt qua được những hoàn cảnh khắc nghiệt của cuộc chiến.

Thêm một số hình ảnh trong bài. Nguồn: Phil Seymour

Căn cứ Thủy quân Lục chiến ở trên đảo. Nguồn: Phil Seymour
Phil và chú chó Boot trên ba lô. Nguồn: Phil Seymour
Cam và Phil Seymour năm 1967. Nguồn: Phil Seymour
Lynne Seymour và Vy, con gái của Cam. Nguồn: Phil Seymour

Đông Kha dịch từ: A Timely Reunion Across Four Decades and the Globe

Đại Nghĩa, Quê Hương Tôi

Thư viện của bài

This gallery contains 1 photo.

Biên khảo  Nguyên Lạc

1. Quê hương (danh từ): Đất Nước, nói về một Đất nước mà trong đó có quê (làng, cái nhà) mà mình đã được sinh ra.(Wiktionary)
“Trời sinh ra bác Tản Đà/ Quê hương thời có cửa nhà thì không” (Thú ăn chơi – Tản Đà). “Lòng quê dờn dợn vời con nước/ Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà” (Huy Cận)

2. Trong tùy bút “Lòng yêu nước” của nhà văn Nga Ilya Grigoryevich Ehrenburg (1891- 1967) có viết: “Lòng yêu nước ban đầu là lòng yêu những vật tầm thường nhất: yêu cái cây trồng ở trước nhà, yêu cái phố nhỏ đổ ra bờ sông, yêu vị thơm chua chát của trái lê mùa thu hay mùa có thảo nguyên có hơi rượu mạnh…
Dòng suối đổ vào sông, sông đổ vào dải trường giang Volga, con sông Volga đi ra bể. Lòng yêu nhà, yêu hàng xóm, yêu miền quê trở nên lòng yêu Tổ quốc”. [1]

3. Quê hương qua trích đoạn thơ:

Quê hương. chiếc đò nho nhỏ
Qua sông. kham khổ từng ngày
Thân me vai gầy. gánh khổ
Thương con. chịu nỗi đắng cay
.
Quê hương đong đầy thương nhớ
Ngoại nhai tóm tém trầu cay
Mẹ mày. thằng cháu mất dạy
Rong chơi lêu lỏng suốt ngày
.
Quê hương làm sao không nhớ?
Cầu tre lắt lẻo sớm mai
Đường vui. trống trường réo gọi
Cây cao. chim hót từng bầy
Chia nhau từng viên đạn nhỏ
Bịt mắt. kiếm tìm. Ai đây?
Chia nhau nỗi lo thầy gọi
Nhói đau. thước khẽ bàn tay
Chia nhau trái me keo ngọt
Chia nhau từng tiếng cười đầy Tiếp tục đọc

Hà Nội, trong mắt một người mù

Thư viện của bài

This gallery contains 1 photo.

nam dao Cuốn phim ‘’Hà Nội trong mắt ai’’ (HNTMA) của đạo diễn Trần Văn Thủy bắt đầu bằng tiếng ghi-ta một nhạc sĩ mù. Kính đen sụp xuống mũi, nhạc sĩ gảy đàn như thể cố nhìn cho ra … Tiếp tục đọc

Ánh Tuyết hồi niệm về Trịnh Công Sơn

TP – Ánh Tuyết gặp Trịnh Công Sơn khi chị đã sang tuổi 30. Nhạc sĩ là đại diện nhà trai trong đám cưới Ánh Tuyết với chú rể người Pháp. Tuy nhiên, Ánh Tuyết nhất quyết không làm album nhạc Trịnh ngay cả khi nhạc sĩ yêu cầu. 10 năm sau khi ông qua đời, Ánh Tuyết lần đầu hé lộ vùng kỷ niệm, và cũng là lần đầu chị thực hiện yêu cầu của nhạc sĩ: Ra một lúc 2 đĩa nhạc Trịnh, chưa kể chương trình nhạc Trịnh xuyên Việt.

Ánh Tuyết và Trịnh Công Sơn đầu năm 1996 	Ảnh: TL
Ánh Tuyết và Trịnh Công Sơn đầu năm 1996 Ảnh:

Nhiều lần gặp ông ở quán Nhạc sĩ, tôi cũng muốn chào, nhưng bao sao siệc vây quanh. Ông chào thì tôi mới chào, không thôi. Tại mình nghĩ là mình nhỏ bé thôi. Họ là người lớn, nhạc sĩ lớn, mình chào hóa ra thấy sang bắt quàng làm họ. Ông nói mấy lần: “Giọng hát đặc biệt hầy! Cao dễ sợ!”. Tôi dạ rồi đi. Hồi đó tôi quá nghèo. Lôi thôi lếch thếch, chả ai ngó tới.

Bài đầu tiên của Trịnh Công Sơn tôi hát là Giọt nước cành sen. Chưa ai hát bài đó đến lúc này. Bài nằm trong một băng cassette của nhiều tác giả phổ thơ Thân Thị Ngọc Quế, gần đây vô tình tìm được trên mạng, tôi mới nhớ ra. Sinh nhật bà Quế, ông Trịnh Công Sơn qua chơi. Tôi hát trong buổi đó.

Hồi đó, ông yêu một người mẫu, cô đó đi mất, ông mới viết Em đi bỏ lại con đường, Sóng về đâu với bài gì tôi quên rồi. Hôm đó, ông hát Em đi bỏ lại con đường cho tôi nghe. Ông nói: “Anh chắc Tuyết hát bài ni hay này. Có nội tâm”. Tôi cũng để ý bài đó, nhưng không hát bao giờ.

Quán Nhạc sĩ làm Đêm Trịnh Công Sơn, mọi người phân tôi hát Cuối cùng cho một tình yêu, Lặng lẽ nơi này. Đó là lần đầu tiên tôi hát (nhạc Trịnh) trên sân khấu, khoảng đầu năm 1993. Tiếp theo là Đường xa vạn dặm, mỗi lần tôi hát xong, ông khóc, kêu: “Tuyết hát chết bài ni luôn rồi!”.

Tôi nhớ năm mở cửa cuối cùng của quán Nhạc sĩ, Hội Âm nhạc Hà Nội vô giao lưu. Tôi mặc áo dài trắng hát xong, xuống sân khấu, te te đi, ông ngoắc lại: “Tuyết, lại anh vẽ ni!”. Tức là, Tuyết lại anh bảo này. Ông cầm mấy cái khăn giấy thấm ướt, kêu: “Anh ướt hết bốn cái khăn rồi ni”. Nghĩa là ông dùng khăn thấm nước mắt. Bài đó tôi hát ở đâu là đa số người ta khóc. Trong những ngày lễ Vu Lan, tôi làm chương trình về mẹ, ối chao ơi thôi, còn khóc dữ nữa.

Lần vào bệnh viện thăm ông bịnh, tôi ôm bó hoa tặng. Ông nhắc cái ghế cho tôi ngồi cạnh đầu giường. Ổng nắm tay tôi, bóp bóp, bảo: “Tội hè! Tuyết giỏi hè!”. Tội giống như là không giúp được, thấy tội nghiệp quá. Giỏi hè có nghĩa là không ai giúp mà đi lên được. Câu đó tôi nghe nhiều lắm, nhưng ngày ông bịnh, ông mới cầm tay tôi. Với tính cách ổng, trong lòng có cuồng nộ thì ông cũng ngồi im.

Khi tôi mới sinh con, ông ẵm miết, kêu: “Ôi chao, đẻ đứa con chi mà dễ thương hi!”. Ông cứ khen chồng tôi với mọi người: “Moa chưa thấy thằng Tây mô dễ thương, hiền như thằng ni hết”. Ông bắt tôi làm album. Tôi dạ dạ, nhưng cứ lơ. Tôi quá thiếu tự tin. Dưới cái bóng của Khánh Ly là một chuyện. Nhưng quá nhiều người hát. Mình chui vô chi cho bị giẫm.

Hai anh em ngồi với nhau buồn buồn, ông kêu: “Tuyết kể chuyện tiếu lâm vui hè. Kể cho anh nghe với!”. Mỗi lần nghe tôi kể chuyện tiếu lâm là ông cười sung sướng. Cười khấc khấc như con nít. Nhìn dễ thương lắm! 

Đến 1995, tôi vừa cưới xong, ông nói với ông xã tôi: “Moa muốn toa nói với Ánh Tuyết làm album của moa. Nhưng làm mộc, sẽ hát với ghi-ta, piano, saxo và với moa”. Ông xã nói lại với tôi: “Em không tốt với Trịnh Công Sơn hả! Em không tốt! Trịnh Công Sơn muốn em làm CD mà em dạ dạ và quên. Một bà lười!”. Ông xã vẫn nghĩ tôi hát hay, chứ không nghĩ tôi thiếu tự tin với nhạc Trịnh.

Năm 1997, ông bắt anh Bùi Thế Dũng, giáo viên dạy ghi-ta Nhạc viện, qua nhà tôi, lên cho được danh mục bài hát để làm album. Anh Dũng có soạn hình như bài Mưa hồng hay Còn tuổi nào cho em rất hay, Trịnh Công Sơn rất thích. Chọn được 4-5 bài, tôi bảo để bữa khác làm tiếp. Rồi im luôn. Tại tôi cứ tự ti. Nhưng một phần vì có vài nhà báo hỏi: “Bao nhiêu ca sĩ nổi lên nhờ nhạc Trịnh, qua nhạc Trịnh đánh bóng tên tuổi. Ánh Tuyết cũng không ngoại lệ?”.

Họ hỏi rất thật nhưng tôi bị sốc. Tôi nghĩ: “Mình nổi thì cũng nổi rồi, đâu cần nữa. Nghệ thuật hợp thì mình hát, hoặc yêu quý ai thì mình làm…”. Tôi thôi luôn. Nhưng 10 năm làm phòng trà, tuần nào tôi cũng có một đêm hát nhạc Trịnh. Ngay trong những đêm đó, tôi cũng vẫn sợ, không dám hát nhiều. Nhưng khán giả đã công nhận, khiến tôi mạnh dạn dần.

Ở quán Nhạc sĩ, nhiều khi ông tới sớm, tôi cũng vậy. Hai anh em ngồi với nhau buồn buồn, ông kêu: “Tuyết kể chuyện tiếu lâm vui hè. Kể cho anh nghe với!”. Mỗi lần nghe tôi kể chuyện tiếu lâm là ông cười sung sướng. Cười khấc khấc như con nít. Nhìn dễ thương lắm! Ông ít khi cười to.

Nghe chuyện tiếu lâm, trời ơi, ông cười. Mà có mình tôi với ông là lúc ông cười sung sướng nhất. Đông người, ông không cười nhiều đâu. Một tâm hồn rất lớn. Một con người lớn về nhiều mặt. Chính những giây phút hồn nhiên đó làm tôi càng thêm nhớ ông.

Bây giờ, tôi nghĩ, nếu còn sống, ông nghe cách tôi thể hiện bài hát của ông, ở một góc nào đó chắc cũng để lại trong ông một ấn tượng tốt.

N.M.Hà (ghi).

Quê hương ngày trở lại (kỳ 2)

Thư viện của bài

This gallery contains 1 photo.

Thụy Khuê

(tiếp theo kỳ trước: https://trangvhntnguoncoi.wordpress.com/2019/05/16/que-huong-ngay-tro-lai-ky-1/

Côn Đảo

Từ Sài Gòn, chúng tôi lấy máy bay ra Côn Đảo.

Chiếc máy bay nhỏ chở đầy hành khách, không một chỗ hở. Mọi người cười nói ồn ào, dường như quen nhau cả. Tôi để ý: hầu như không có người Nam, máy bay chở toàn người Bắc. Có lẽ đây là một đoàn du lịch có tổ chức, mà chúng tôi là hai người lạ duy nhất lạc vào, lại ăn mặc lôi thôi, không giống ai. Tôi đã chú ý đến đám này ngay từ lúc đứng xếp hàng ở Tân Sơn Nhất, vì ông già nhà tôi (kẻ hay than phiền nhất thế giới) lầu bầu rằng mình đến trước mà bị người đến sau lấn chỗ, lời qua tiếng lại với một người đàn ông cao lớn như Tây, áng chừng là trưởng đoàn; thế là ông Tây ta tay dứ nắm đấm định đánh: “Thằng già điên, liệu hồn, muốn chết hử?”. Tôi vội vàng líu ríu xin lỗi, vì sợ ông lỡ tay đánh thật thì ông già nhà tôi ra ma ngay.

Từ lúc ấy tôi mới quan sát phái đoàn kỹ hơn: Các ông bà đều mặc quần áo đắt tiền, cười nói oang oang như chỗ không người (y hệt bọn Tây đi du lịch các nước nhược tiểu cách đây mấy năm về trước) giọng en-nờ, e-lờ lẫn lộn. Các bà vận áo đầm đúng mốt, phấn son sặc sỡ, ví vuy-ton loại mới, tôi chắc ví thật. Thứ ví đầm này chúng tôi ở bên Pháp đã ba đời, không đời nào dám mua, vì giá nó đắt bằng một tháng lương người trung lưu, nhưng hai con cháu ngoại tôi lại chê xấu, chúng bảo chỉ tuyền một mầu nâu xỉn và in toàn chữ LV viết móc vào nhau, không có gì sáng tạo. Bây giờ nhà vuy-ton cũng thấy nhược điểm ấy rồi, họ tân trang mầu sắc rực rỡ chẳng kém gì các mác khác. Tiếp tục đọc

Quê hương ngày trở lại (kỳ 1)

Thư viện của bài

This gallery contains 1 photo.

Thụy Khuê

Về Sài Gòn tôi bị lạc. Tình trạng lạc hướng kéo dài trên taxi, xe ôm, đi một mình hay cùng gia đình, bè bạn, tôi thường lẩm nhẩm trong đầu: đường này Gia Long, Tự Do đây, chắc là Lê Văn Duyệt… Nhưng khi ra đến Hà Nội, lại tịnh không có sự lẩm nhẩm nào. Hôm tới Lê Văn Hưu ăn phở, dù phố này nay đã hoàn toàn khác với trí nhớ, tôi vẫn nhận ra: đây là Lê Văn Hưu, đi tới chút nữa rẽ ngang là phố Huế. Đèn phố Huế bẩy mươi năm qua chưa bao giờ tắt trong tôi.

Những tối gần Noël, một đứa nhỏ năm, sáu tuổi dí sát mũi vào cửa kính hàng bán đồ chơi, thèm thuồng nhìn mấy con búp bê Pháp, tóc vàng, mắt xanh mà mơ đến ngày nó sẽ được ôm một con búp bê như thế, nó sẽ chải tóc, thắt nơ cho nó như thế nào, nó chưa từng dám mơ đến một ngày sang Pháp. Hôm nay, từ phố Huế, đứa nhỏ bẩy mươi ba, bước trở lại Lê Văn Hưu, đi thêm chút nữa sẽ tới phố nhà nó: Thi Sách, số bẩy. Chợ Hôm mặc dù chỉ nuôi nó có 5 năm, từ 5 đến 10 tuổi, đã trở thành người vú chưa từng rời nó bao giờ. Tiếp tục đọc

Tháng Tư, cười hay khóc?

Thư viện của bài

This gallery contains 1 photo.

Trần Mai Trung

Tháng Tư năm 1975, người Việt Nam phía Bắc chiến thắng người Việt Nam phía Nam. Người phương Bắc vui vẻ. Người phương Nam buồn rầu, nhưng tự an ủi là từ nay có hòa bình, anh em Việt Nam không còn bắn giết nhau.

Trong chiến tranh 1954-1975, phía Bắc không nói nhiều về hòa bình, hô hào “dù phải đốt cháy cả dãy Trường Sơn” cũng tiếp tục chiến tranh ở miền Nam. Phía Nam thì nói nhiều về hòa bình, có lẽ vì chiến tranh diễn ra tại miền Nam, tàn phá chết chóc nhiều quá. Một số thanh niên “lý tưởng” ở miền Nam còn mơ mộng “nối vòng tay lớn” với người anh em phía bên kia, họ đâu biết là người CS sẽ không bắt tay với tình anh em bạn bè, đảng CS chỉ muốn lãnh đạo và ra lệnh.

Hòa bình đến khi một bên thắng và một bên thua, cuộc sum họp không có tình anh em chút nào. Hai tháng sau, hơn 200 ngàn người anh em miền Nam bị người anh em miền Bắc đưa vào các trại cải tạo tập trung, tức là tù lao động khổ sai. Nhiều người bị giam từ 5 đến 10 năm, nhiều người đã chết ở đó, có người bị giam đến 17 năm. Cuộc chiến đã chấm dứt, người CS vẫn đi theo đánh người ngã ngựa. Tiếp tục đọc

*** Khối Tinh Thần Ngô Đình Diệm Toàn Cầu

Thư viện của bài

This gallery contains 1 photo.

Nguyễn Anh Tuấn Tuyên Ngôn Của Khối Tinh Thần Ngô Đình Diệm Toàn Cầu Trước tình thế cực kỳ sôi bỏng hiện nay đang diễn ra trong quốc nội; trước tinh thần quật khởi truyền thống rất dũng mãnh của … Tiếp tục đọc

Trương Thị Thanh Tâm: Chữ tình dù đắng vẫn say

aotrang2-kkkĐÊM BUỒN

Trương Thị Thanh Tâm

       Ngồi một mình giữa không gian tỉnh lặng, tôi thấy lòng mình hiu quạnh, lẻ loi…giờ đã quá nửa đêm, căn phố nghèo cũng ngủ sớm sau một ngày dài mệt mỏi mưu sinh, chỉ còn văng vẳng ngoài xa tiếng động cơ của một chiếc xe gắn máy thỉnh thoảng chạy qua rồi mất hút, khu phố  lại trở về trong im vắng…

Đàn muổi cứ vo ve vang lên bên tai nghe thật mỏi mệt, ai oán, tôi chợt nhớ đến sự tích về con muổi…

Đêm nay bầu trời đầy sao mà trăng thì bơi lội đi đâu chỉ còn một nửa treo lơ lửng giữa vùng trời bao la, nàng trăng nầy đâu có thể nào bạc tình như nàng muổi, hay nàng cua nào đó trong cổ tích, nàng bỏ đi mỗi tháng với nhân tình nào đó chăng! Tôi thầm nghĩ như thế với sự vẽ vời hoang đường để khỏa lấp nỗi buồn đang hiện hữu, gió xào xạc ở hàng chuối phía bên nhà, như thầm thì chia sẻ nỗi buồn thầm kín trong tôi …

Phải rồi, mệt mỏi hòa lẩn những ngán ngao trong cuộc đời tôi bon chen vì cuộc sống, lẻ loi đơn độc trong tâm hồn mà tới giờ đây tôi cũng chưa từng có một tri âm tri kỷ nào để chia sẻ tâm sự của mình. Tuổi xuân đi qua vội vã, nhường cho tuổi già lừng lững đến, da mồi, răng long, tóc bạc, tôi chợt giật mình…xoè tay đếm đốt, đã sáu sáu năm hiện diện dưới ánh mặt trời nầy, cuộc vui chưa đến được bao lâu, thời đăng quang con gái, cái thời có kẻ đón người đưa chưa được dài, đã lội bơi dòng nước ngược, nỗi khó khăn của gia đình, đã làm tôi hụt hẩng, những giây phút mộng mơ của thời thiếu nữ, cởi bỏ lớp nữ sinh, xếp lại tà áo dài trắng trinh nguyên, để nghiêng vai chia sẻ gánh nặng trong cuộc sống gia đình.

1975 tôi chỉ vừa tròn 18, chưa kịp biết soi gương chải chuốc, tóc còn chưa biết tếch để cài hoa, đã vội vã  đi vào đời sống thực tiển thời đó, thì mộng gì đây, mơ gì đây trong lúc giao thời thuở đó, có, có một cuộc tình, à không có một cuộc tình vừa chớm nở đã vội tan, chỉ lãng đãng trong những giấc mơ, những đêm giật mình tỉnh giấc hình ảnh không trọn vẹn, để nghe con tim đau nhói, một thứ tình cảm đơn phương mà hoài hoài thương nhớ, trong một bối cảnh nào đó không hiểu người ấy có còn nhớ đến tôi không!

Tôi thường tự hỏi mình như thế, câu trả lời chỉ là những dòng nước mắt, đơn phương thì có mối tình nào trọn vẹn…

Chiều càng xuống, đêm càng sâu, thì nỗi nhớ càng quay quắt, nó xoay tròn và ngắt nhéo từng tế bào trong cơ thể tôi, tình yêu có thể mang lại những ngọt ngào, nhưng cũng có thể xót xa đau, nhưng vẫn là cái cảm giác thật tuyệt vời…

Tại sao lại phát sinh cái tình yêu nam nữ đó nhỉ, ông trời rãnh rỗi quá khiến cho người dương gian chúng ta dở khóc , dở cười, một sân khấu cuộc đời giữa bi và lạc, sự thu hút giữa điểm nhấn nào để ta chú ý và thương nhớ luyến lưu, một ánh mắt, nụ cười, một ngoại hình, một bàn tay, một vuốt ve nào đó đã làm ta không thể quên, ôi thượng đế…và ai đó đã se sợi chỉ hồng để buộc, và nợ hay duyên để nhận được những ngọt ngào hay cay đắng, tình yêu cũng chẳng phải là bậc thềm để ta phân cao, thấp, sang nghèo, thế mà ta cứ có những bước chân vấp ngả trong cuộc đời, để giờ đây tôi như ốc mượn hồn, thỉnh thoảng thoát ra và trốn vào cái thế giới mà tự mình bao lại…

 CHẤT TÌNH YÊU

Tình yêu đâu có tuổi tên
Chỉ cần liếc mắt, nghe tim bồi hồi
Chỉ cần một nụ cười thôi
Chỉ là câu nói trên môi dịu dàng

Tình yêu cũng chẳng phân vân
Con tim hòa nhịp lâng lâng đủ rồi
Đâu cần môi sát bờ môi
Chỉ cần chạm, đã bồi hồi trong tim

Chữ tình dù đắng vẫn say
Vẫn ngây ngất nhớ, quên ngày quên đêm
Chữ tình đâu phải bậc thềm
Phân cao với thấp, phân hèn với sang

Dẫu cho tình biết lỡ làng
Con tim vẫn cứ rộn ràng đắm say
Chữ tình men rượu đắng cay
Vui trong chốc lát, lại buồn năm canh.

Nhưng nói như vậy chứ trên cõi đời nầy không có gì là tuyệt đối, vạn vật đều có thay đổi, trời còn có lúc nắng mưa, rồi thời gian sẽ trôi qua, ta không thể ngược dòng mãi mãi, cũng có lúc ta phải quên một mối tình nào đó, sẽ bạc màu thương nhớ, sẽ phôi phai để đón nhận cái mới, bởi vì nếu cũ còn tồn tại thì cái mới sẽ không đến, như tôi bây giờ đã và đang đón nhận một vầng thái dương đã và đang đến trong tôi, dù hoàn cảnh có thể không tốt, dù tình yêu không trọn vẹn, bởi tôi biết hoàng hôn đã làm phai màu tóc, và đã quay chậm một vòng thì không thể đòi hỏi sự tròn vẹn tuyệt đối được, đời còn được bao nhiêu mà hững hờ không đón nhận…

 Trương Thị Thanh Tâm

Mytho

Thiên Hồi Ký “Những Người Tù Cuối Cùng”

Thư viện của bài

This gallery contains 1 photo.

PHẦN VIII: Tấm Lòng Người Vợ Thiên Hồi Ký về “Những Người Tù Cuối Cùng” nhằm nói lên tinh thần bất khuất, sức chịu đựng phi thường cùng lòng dũng cảm và sự tương thân tương ái của những quân … Tiếp tục đọc