*** ‘cấm kỵ trong ăn uống’ của Khổng Tử

Nguyễn Xuân

 

Nhà nho Khổng Tử nổi tiếng với quan điểm “thực bất yếm tinh, khoái bất yếm tế”, tức gạo xay càng kỹ và thịt xắt càng mỏng càng tốt.

Không chỉ là nhà Nho học có sức ảnh hưởng lớn trong lịch sử Trung Quốc, Khổng Tử còn nổi tiếng với những lời dạy về ẩm thực và chế độ ăn uống có lợi cho sức khỏe mà ngày nay vẫn còn được lưu truyền.

Theo Sohu, thời nhà Chu trước công nguyên, Khổng Tử đã đưa ra quan điểm “thực bất yếm tinh, khoái bất yếm tế”, có nghĩa là gạo xay càng kỹ càng tốt, thịt cắt càng mỏng càng tốt. Câu nói này về sau đã trở thành tiêu chuẩn trong nghệ thuật ẩm thực Trung Hoa. 

Trong cuốn Luận Ngữ, Khổng Tử nhắc đến nguyên tắc “bát bất thực” (8 nguyên tắc cấm trong thức ăn) Cụ thể: không ăn thực phẩm ôi thiu, không ăn thực phẩm có mùi hôi, không ăn thức ăn được nấu chín quá, không ăn thịt nhiều, không uống rượu nhiều, không ăn đồ sống, không ăn thực phẩm có nhiều gia vị, nói không với đồ trái mùa.

Tranh vẽ Khổng Tử. Nguồn: Wikipedia.

Tranh vẽ Khổng Tử. Nguồn: Wikipedia.

Ngày nay, theo quy định quản lý lưu thông thực phẩm, các sản phẩm dự trữ khi xuất kho phải thông qua thủ tục kiểm tra chất lượng. Chỉ thực phẩm đạt tiêu chuẩn vệ sinh mới được đưa ra thị trường tiêu thụ còn không đạt sẽ bị tiêu hủy hoặc làm thức ăn chăn nuôi. Trên thực tế, thịt cá không tươi không chỉ mất dinh dưỡng mà còn dễ gây ra những vấn đề sức khỏe như ngộ độc.

Ngoài ra, các nhà dinh dưỡng khuyến cáo không nên cho nhiều gia vị vào trong món ăn vì sẽ làm mất một lượng dinh dưỡng nhất định trong thực phẩm. Khi đó, các cơ quan bài tiết phải làm việc nhiều, dẫn đến các bệnh về thận như suy thận, sỏi thận.

Nguyễn Xuân

*** Lương Tâm MẸ NẤM

Đỗ Hiếu/ĐHT

Phim Tài Liệu Về Gia Đình Tù Nhân Lương Tâm MẸ NẤM – NGUYỄN NGỌC NHƯ QUỲNH

Buổi trình chiếu phim “Mẹ Vắng Nhà”, được VOICE tổ chức vào chiều thứ sáu 31 tháng 8, 2018 tại hội trường Providence Recreation Center, thành phố Falls Church, Virginia.

Sau nghi thức khai mạc do ông Bùi Mạnh Hùng phụ trách, luật sư Trịnh Hội, Giám Đốc Điều Hành Tổ Chức VOICE cho biết đây là phim tài liệu đầu tiên về một nhà dân chủ, một phụ nữ đấu tranh cho nhân quyền, blogger Mẹ Nấm, đang ngồi tù, do đạo diễn Clay Phạm thực hiện tại Nha Trang. Cốt truyện diễn tả cuộc sống kham khổ, gian nan, gia đình của Mẹ Nấm, bà ngoại tật nguyền, mẹ già chật vật nuôi  hai con nhỏ của tù nhân lương tâm này mà còn thường xuyên bị công an bám sát, theo dõi, gây khó khăn đủ điều.

Cuốn phim dài 40 phút, được bí mật thu hình trong hoàn cảnh rất gay go, nguy hiểm, đã được chiếu tại các quốc gia trên thế giới tạo nhiều cảm xúc và thương xót trong công luận, khiến cộng sản Hà Nội phản ứng gay gắt.

Mẹ Nấm bị tòa án cộng sản xử 10 năm tù cộng với 5 năm quản chế, ghép vào tội “tuyên truyền chống phá nhà nước” vì đã tham gia biểu tình chống Trung Cộng chiếm Hoàng Sa, Trường Sa. Cô cũng thường xuyên lên tiếng bảo vệ dân oan bị cộng sản chiếm đoạt đất đai, tài sản, bênh vực gia đình các nạn nhân bị đột tử trong đồn công an, chống đối tập đoàn Formosa gây thảm họa môi trường, khiến cá chết đồng loạt tại bốn tỉnh Miền Trung.

Hiện nay cô bị giam trong một hỏa ngục ở Thanh Hóa, ngoài Miền Bắc, cách xa gia đình trên 1200 cây số và  thường bị nữ tù hình sự “đầu gấu” hành hung, tính mạng luôn bị đe dọa.  Cô đã nhiều lần tuyệt thực để phản đối hành động khủng bố tinh thần và vật chất dã man của các cai tù.

Mẹ Nấm Nguyễn Ngọc Như Quỳnh dù vắng mặt, đã được trao tặng nhiều giải thưởng như: Tự Do Báo Chí, Bảo Vệ Nhân Quyền,  Những Người Phụ Nữ Quốc Tế Can Đảm. 

Với sự can thiệp nhiều lần của chánh phủ Hoa Kỳ và Liên Hiệp Âu Châu đòi Hà Nội trả tự do vô điều kiện cho Mẹ Nấm nhưng vẫn chưa được đáp ứng!

Sau phần hỏi đáp qua điện thoại với đạo diễn Clay Phạm, hiện đang lẩn tránh an ninh Việt Nam và bà Nguyễn Thị Tuyết Lan, mẹ chị Nguyễn Ngọc Như Quỳnh, ở Nha Trang, buổi trình chiếu kết thúc vào lúc 8 giờ tối. Có những vị ân nhân ở Mỹ đề nghị với bà Tuyết Lan xin nhận hai bé Nấm và Gấu làm con nuôi. Bà nói, sẽ hỏi ý kiến của Mẹ Nấm, khi bà đến trại giam thăm con gái và phúc đáp sau.

Lên tiếng với VIETV, luật Sư Trịnh Hội, Giám Đốc Điều Hành của VOICE (Vietnamese Overseas Initiative For Conscience Empowerment/ Sáng Kiến Thể Hiện Lương Tâm Người Việt Hải Ngoại) cho biết về cảm tưởng chung, nói đúng hơn đó là sự phẩn nộ, cú “sốc” của khán giả tại Đài Loan, Philippines, Úc, Canada và Hoa Kỳ khi xem tận mắt những hình ảnh đàn áp, sách nhiễu thô bạo của công an đối với gia đình Mẹ Nấm cũng như những tiếng nói dân chủ khác lên tiếng phản đối bản án nặng nề dành cho Mẹ Nấm.

Tại Việt Nam, phim chỉ được chiếu kín đáo trong các giáo xứ và nhà thờ với số người xem hạn chế. Trên Xứ Thái, phim được chiếu lần đầu tiên vào ngày 27 tháng 6 vừa qua, trong Câu Lạc Bộ Báo Chí Quốc Tế (FCCT) tại Bangkok, Thái Lan. Khi biết được, Hà Nội triệt để ngăn cấm đồng thời áp lực chánh phủ Thái phải hủy bỏ các buổi trình chiếu phim “Mẹ Vắng Nhà”.

Bà Phùng Thị Hạnh, cựu Chủ Nhiệm báo Tin Sống ở Saigon [trước 1975] và cựu phóng viên tạp chí Newsweek, bày tỏ sự đồng cảm với hoàn cảnh gia đình đơn chiếc, chật vật của chị Nguyễn Ngọc Như Quỳnh và mong muốn công luận quốc tế, cùng tập thể người Việt Hải Ngoại mạnh mẽ vận động đòi hỏi Hà Nội sớm trả tự do cho hàng trăm tù nhân lương tâm còn bị cộng sản Việt Nam giam cầm trong hỏa ngục, trong đó có Mẹ Nấm, nhân vật chính không thể có mặt trong cuốn phim cảm động này.

Đỗ Hiếu/ĐHT

*** Người có tính tình khó ưa mới dễ giàu

Một nghiên cứu mới cho thấy những người tính tình dễ chịu thường có thu nhập thấp, quản lý tài chính kém.

BIEN NUOCMột nghiên cứu mới cho thấy những người tính tình dễ chịu thường có thu nhập thấp, quản lý tài chính kém.

Theo Telegraph, các chuyên gia tại Đại học London và trường kinh doanh Columbia đã phân tích dữ liệu từ hơn 3 triệu người tham gia nghiên cứu tại Anh và thấy rằng, xét về trung bình, những ai có tính tình khó ưa thì lại giàu có hơn.

Họ đã xem xét ở cả trẻ em, bằng cách theo dõi chúng tới khi trưởng thành, và trực tiếp ở người lớn. Nhóm nghiên cứu cũng tìm hiểu vì sao có mối liên quan giữa tính tình dễ mến với tình trạng khó giàu.
 

Họ kết luận rằng những người dễ tính nghèo hơn không phải vì họ dễ thỏa hiệp hơn mà đơn giản bởi họ ít nghĩ về tiền và do đó khả năng quản lý chuyện công việc, làm ăn kém.

Tiến sĩ Sandra Matz, Đại học Columbia, nói: “Kết quả này giúp chúng ta hiểu một yếu tố tiềm ẩn của các khó khăn về tài chính – điều có thể ảnh hưởng đáng kể tới sự giàu có của mỗi người. Trở thành người tốt bụng và đáng tin phải đánh đổi về tài chính, đặc biệt với những ai vốn đã không giàu có gì”.

Nghiên cứu đăng trên Journal of Personality and Social Psychology.

 

*** Praying

chua- cau nguyen 2

“Cast all your worries upon Him because He cares for you”. (1 Peter 5:7)

When we face difficulties in life, we often turn to God in prayer and beseech for help. We come to God to find comfort when we are in grief, in the midst of tragedy, or to find strength during life’s trial and tribulation.

Praying is divine and is a submission to God. It requires completely all of our hearts, minds, souls, and bodies consecrated to God. Furthermore, prayer is obedience to God’s will and acting according to His commandments. Prayer is also: sharing feelings with God; confiding and expressing our innermost thoughts and wishes to God; crying and laughing with God; walking hand in hand with God; spending time and creating memories with God; crying out for joy with God; crying out for help from God; igniting and growing the flame of passion in our hearts and souls for God; planning and dreaming with Him; worshiping, serving and glorifying Him; and lets His holiness shine upon us. I learn that everyday of our lives has its own troubles and we are not immune from it. Just open your heart, be honest and simple in your prayer. Simple prayer means we do not have to find a right words or holy phrases to move God. It is fine and alright to express your anger or despair because it shows that a communication channel or relationship between us and God is open and established. And that is a key to finding strength, comfort, courage, guidance, and happiness, because God has promised: “call on me on the day of distress, I will rescue you, and you shall honor Me.” (Psalm 50:15).

Always remember: “You do not possess because you do not ask” (James 4:2) and be assured that God is always with us and He will always answer us, thus, be faithful, patient, submissive, “trust in the Lord” (Psalms 37:3) because He has been and will be carrying us through life: “Even though I walk through the valley of the shadow of death, I will fear no evil, for you are with me; your rod and your staff comfort me.” (Psalms 23:4). ,

Strengthen your relationship with God with consistent prayer.

 Yes, God is always with us. So keep on confiding and praying to Him. He will always be there to listen and will lift us up in His loving and caring arms.

Let us pray:

Dear almighty God, the God of love, mercy and compassion, we cast all our anxieties on You, for You care about the smallest things that affect our worldly lives.
Thank you for always loving us.

Amen!

Joe HX Nguyen 

*** Văn Hóa Khoanh Tay: “Tôi là Người Việt Nam”

Thư viện của bài

This gallery contains 1 photo.

Lê Hữu Chào khách đến nhà, tranh Phạm Hoan Tôi nhớ, năm đầu đặt chân đến Hoa Kỳ, phần muốn học hỏi về ngôn ngữ và văn hóa xứ người, phần muốn tìm lại không khí “sân trường, lớp học” … Tiếp tục đọc

*** Những chất thuốc của cây xoan

Võ Quang Yến

hoa xoan

Xoan tây trước bến bao lần đỏ
Lệ nhỏ hai lần chàng có hay ?
Lưu Trọng Lư

Soạn xong bài viết, tôi chạy tìm một cây xoan để chụp hình so sánh với cây sầu đâu đã thấy ở trên bờ sông An Cựu. May mắn quá, ở Paris tôi bắt được một cây, và là cây độc nhất, ở Jardin des Plantes. Cây to lớn gần như cổ thụ nên khó so sánh với cây ở Huế non tơ mảnh khảnh. Hôm ấy lại vào xuân, chưa có hoa, chỉ còn trái trăng trắng lúc nhúc tô điểm thân cành trơ trụi đen thui, nổi bật trên nền trời xanh thẳm trông cũng ngoạn mục. Lẽ tất nhiên, tôi đợi đầu hè trở lại thì chiêm ngưỡng được những chùm hoa tím tươi thắm không khác gì những hoa sầu đâu. Thảo nào bên ta thường lẫn lộn xoan với sầu đâu, trong dân gian đã đành mà ngay cả ở trong sách vở. Theo Gs Đỗ Tất Lợi, xoan là loại cây mọc hoang bên nước ta nhưng cũng được trồng để lấy gỗ làm cột nhà, đồ dùng. Về mặt chữa bệnh, hột xoan được đem làm thuốc với tên khổ luyện tử. Người ta dùng vỏ thân và vỏ rễ gọi là khổ luyện căn bì để chữa giun sán ; lá sắc diệt được côn trùng. Người ta còn để lá xoan vào chum đựng các loại đậu để tránh mọt, hoặc lấy nước tắm súc vật (trâu, bò, ngựa) để chữa ghẻ (ĐTL).
Tên khoa học của xoan là Melia azedarach Linn., thuộc họ Xoan Meliaceae (khác với cây sầu đâu Azadirachta indica A. Juss tức Melia azadirachta Linn. hay Melia indica cùng họ) (PHH). Ngoài Việt Nam, xoan còn mọc ở các nước châu Á, tràn qua cả châu Phi, châu Úc, châu Mỹ, vì vậy nó mang nhiều tên tùy theo xứ : kulen ở Trung Quốc, sendan hay ochi ở Nhật Bản, dharek hay dhrek ở Ân Độ, bakain ở Pakistan. Âu Mỹ gọi nó là chinaberry, China tree, chinaberry tree, bead tree, Persian lilac tree hay lilas du Japon, lilas des Indes, laurier grec, faux sycomone (ĐTL). Gần đây, tôi được đọc bài của bà Nguyễn Thị Hồng Nhung (noithatkhaihong.com.vn) xếp cây xoan làm 4 nhóm : xoan ta (còn gọi xoan trắng, có khi xoan lai), xoan tía (gỗ đỏ, còn gọi sầu đâu, sầu đông), xoan đào (tức xoan rừng, màu hồng xẩm), xoan chụi hạn (tức là cây neem), không phân biệt rõ ràng sầu đâu và xoan. Tuy không được khảo cứu sâu rộng như cây sầu đâu, cây xoan cũng đã được nhiều phòng thí nghiệm đặc biệt chú š vì cây có nhiều hoạt chất hay ho mà quan trọng nhất vẫn là azadirachtin hay ấn khổ luyện tử tố như ở cây sầu đâu. Chất nầy có khả năng xua đuổi hoặc phòng ngừa sâu bọ phá hoại, tác dụng lên nền sinh lš thần kinh và cơ thể của chúng, ngăn chặn hay phá hủy quá trình biến thái của nhộng trần, cuộc sinh trưởng của sâu lớn, giảm hạ hay ức chế việc đẻ trứng của sâu cái. Trong phòng thí nghiệm, nhiều loại M. azedarach đã được khảo xét, phần lớn thuộc var. japonica Makino, nhưng cũng thấy có var. australasica, var. subtripinnata, những giống mọc ở Ai Cập, Jamaique, Okinawa bên Nhật Bản, Cucurova bên Thổ Nhĩ Kỳ hay Porec bên Nam Tư.

Độc tính của xoan

Trong dầu hột xoan, nhiều hóa chất dễ bốc hơi đã được xác định : pinen, menthen, camphen, cymen, cadinen, terpinolen cùng linalool, citronellol, cadinol, guaiacol, cresol, phenol. Một nhóm hóa chất thường gặp là steroid, phần lớn ở rễ, có khi ở trái : sitosterol, campesterol, azedarachol, campestenon, stigmastenon. Những terpenoid được tìm ra trong đủ bộ phận của cây : kulinon, kulacton, kulolacton trong vỏ, melianon, melianol, melianodiol trong trái. Những acid khác như vanillic, cinnamic acid, những alcool như lupeol, tricosanol, triacontanol, những ceton như cycloartanon, cycloeucalenon, bakalacton, cũng đã được tìm ra. Tuy những amin acid không có nhiều trong dầu hột xoan, hột chỉ chứa 10,25% protein và lượng đạm N trong protein 13,9%, người Ấn Độ dùng hột xoan làm nguồn amin acid trong thức ăn. Quan trọng là những limonoid : những azedarachin và các dẫn xuất acetyl, đã từng thấy ở sầu đâu, được phát hiện trong vỏ cành, vỏ rễ cùng những trichilin và các dẫn xuất acetyl, diacetyl, những meliacarpinin và các dẫn xuất. Một phần lớn các hóa chất có mặt đưới dạng glycosid : sitosterol glucosid trong trái, trong rễ, flavon rhamnopyranosyl glucopyranosid trong vỏ cành, quercetin rutinnosid trong lá, meliacdien xylopyranoid trong hột, apigin galactopyranosid trong rễ,

Ở nước ta, ai cũng biết sầu đâu và xoan mang chất độc (ĐTL). Nhiều cuộc thực nghiệm đã chứng minh cho cả người lẫn thú vật (12). Một phần chiết từ cây gây chết cho heo con, bò con, thỏ và nhiều loại gia cầm khi tiêm vào hay cho ăn vì gây hỗn loạn, chảy máu trong gan, thận, ruột, dạ dày (6). Con nít chơi nuốt hoa, lá, vỏ cây, hay thường là hột xoan thì buồn nôn, oẹ mửa, ỉa chảy, run giật và sau vài ngày có thể chết. Một nhóm khảo cứu viên ở Canberra bên Úc đã chiết xuất luôn đuợc bốn melatoxin từ trái cây. Những chất nầy không bền, gặp chút acid là tan hủy cũng như khi các hóa sư thử làm ròng hay phân tích qua silice. Vì vậy năng suất chiết xuất rất kém (0,5%), nhưng họ có đủ số lượng để thử lên heo và xác định các chất độc ấy đã gây ra những triệu chứng thần kinh dữ dội và giết chết heo (7) Tuy vậy, ác tính nầy, cũng như mọi chất độc khác, có thể có ích nếu biết dùng đúng liều lượng và biết hướng vào mục tiêu. Một phần chiết từ cành, vỏ rễ đã tỏ ra rất độc đối với tế bào khối u của người. Chiết từ vỏ cành, những chất hydroxy amoorastaton, hydroxy amoorastatin, acetoxy amoorastatin rất độc đối với các tế bào u tuyến ung thư thượng bì ở phổi A-549, buồng trứng SK-OV-3, ruột già HCT-15 cũng như melanoma ác tính SK-MEL-2 (15). Một phần chiết từ vỏ rễ trong ấy người ta đã tách chiết ra những dẫn xuất acetyl tigloyl melacarpinin, deacetyl và isobutyl sendanin cùng hydroxy amoorastin thì lại rất độc cho tế bào bạch cầu lympho P388 (16).

Bảo vệ lúa trồng

Đằng khác, chất meliacin gây một sức chống cản sự nhiễm trùng của virus vào tế bào động vật có vú (10), ức chế cuộc sinh sản nhiều loại virus thường tác động lên chân và miệng FMDV, poliovirus BHK-21(17) và cả những virus VPr, VSH-1, VSH-2, Junin, Tacaribe, Sindbis (13). Meliacin, chiết từ lá, là một peptid có một trọng lượng phân tử khoảng 2200-2300, chỉ gồm toàn những acid béo. Một bản báo cáo khá xưa có nói đến một phần chiết bằng nước có khả năng làm thuyên giảm một cơn hen (1). Đấy là chưa nói đến khả năng chống nhiệt, chữa hủi, eczema cùng những hỗn loạn khác trong cơ thể (7). Người ta cũng có báo cáo về chất vanillic acid tác dụng lên Ascaris suilla và Hymenolepis nana chữa được giun, sán (2). Còn genudin thì ức chế Plasmodium falciparum nên có thể dùng để chữa trị sốt rét (12). Như vậy, linonoid và cả glycosid (9)đều có tác dụng chống khuẩn. Nhưng quan trọng nhất của các hoạt chất cây xoan, cũng như cây sầu đâu, là trừ diệt sâu bọ. Các limonoid như meliacarpinin, trichlin, azedarachin cùng các dẫn xuất đều được đem thử lên nhiều loại sâu, đặc biệt Spodoptera exigua và S. eridania. Những meliacarpinin mạnh nhất vì hoạt tính đã diễn biến từ 50 ppm, tương đương với nồng độ 1micron/cm2, trong lúc những trichlin phải lên đến 200 ppm, còn những azadirachtin thì vào khoảng 200-4000 ppm. Suy ra, về mặt cấu trúc, những limonoid có công hiệu nhất là những loại apo-euphol mang vòng epoxid C14-C15 và có cầu lactol C19-C29. Sự kiện nầy đã được chú ý trong cuộc khảo cứu chữa trị ung thư (12). Ngoài ra melianoniol, chiết từ lá, phá rầy việc ăn uống của sâu bắp cải Pieris repae; salanin, ochninilid B, azadiron, melianon, cũng như một phần chiết từ lá ức chế cuộc sinh trưởng và ngăn chận sự biến thái của ấu trùng sâu đậu Epilachna varivestis ; còn azedarachol từ vỏ rễ thì lại tác động lên ấu trùng sâu Ajrotis sejetum.

Nói chung, ngoài azadirachtin, dầu hột xoan chứa đựng meliantriol (4), có lẽ là chất thuốc cần yếu nhất cho một nước trồng lúa như nước ta vì nó diệt được sâu đục lúa Tryporyza incertulas cùng các sâu Sogatella furcifera, Nilaparvata lugens. Kỹ nghệ thuốc trừ sâu đã bán các loại thuốc JAP-821, JZAP-822 có khả năng bảo vệ cây lúa (8). Riêng genudin, chiết xuất từ gỗ thân cây, tác dụng rất hiệu quả lên các sâu ăn lúa Heliothis zea và Spodoptera frugiperda (12). Bột hột xoan cũng được dùng để bảo vệ lúa mì chống sâu Trogoderma granarium (4). Dùng nước chiết, người ta đạt được một chất khử nấm, chống sâu thuốc lá Peronospora tabacina(3). Từ nấm Penicillum janthinellum mọc trong trái xoan nhiều hóa chất đã được chiết xuất : emodin, jathinon, đặc biệt citrinin ức chế Leishmania phát triển (20). Còn từ nấm Penicillium mọc trong vỏ rễ, những chất preaustinosid A, B có tính chất kìm vi khuẩn trên Escherichia coli, Staphylococcus aureus, Pseudomonas aeruginosa, Bacillus sp. (19). Phần chiết với methanol cành xoan rất hiệu nghiệm chống các trùng Helicoverpa armigera, Earias vittella, Plutella xytostella (18). Lá và vỏ cây đã được dùng trong cuộc chữa trị các bệnh phong hủi và tạng lao (14). Một văn bằng sáng chế Trung Quốc cho trộn 65-75% chất độc của xoan với nicotin và stemonin để làm thuốc bảo vệ cây bông và rau cỏ, cam đoan không độc cho người và gia súc (11). Tính chất khử nấm của xoan cũng được khai thác làm dầu đánh bóng áo và quần da bên Nhật Bản. Cũng nên biết gỗ cây xoan có thể dùng làm giấy hay tơ vải. Người ta theo dỏi tiến triển của độ dày màng tế bào cũng như kích thước ruột, sợi trong vòng gỗ cây theo mùa để sử dụng đúng lúc. Như sầu đâu, cây xoan đã cống hiến một loạt hóa chất có tính chất sinh học hay ho có thể áp dụng vào y khoa, canh nông hay kỹ nghệ.

Cây xoan Tứ Xuyên

Trong số các cây xoan, có một loại mọc ở vùng tây bắc nước ta (Sơn La, Lai Châu,..) và cả ở miền mam Trung Quốc nên đưọc gọi là xoan Tứ Xuyên. Tên khoa học của nó là Melia toosendan Sieb.et Zucc., người Trung Quốc gọi lian ye (cây) và chuan lian zi (thuốc chiết từ trái), tương đương với tên sen ren shi của Nhật Bản. Một vài hóa chất trong cây đã được thấy với xoan và sầu đâu : isochuanliansu từ vỏ, melianon, diacetyl sendanin từ trái, trichlin với hai dạng I và J từ vỏ cành. Những chất khác là toosendanin từ vỏ, toosendansterol A, B, melia ionosid A, B, toosendanosid từ lá, acetyl toosendantriol, methyl toosendapentol từ trái.

Tác dụng ngừa ăn, chống sâu bọ của toosendanin đã được khảo sát trên sâu Spodopstera litura (21). Đem so sánh với azadirachtin trên sâu đục cành Scirpophaga incertulas thì toosendanin có phần mạnh hơn, trái lại ít công hiệu bằng khi thử lên sâu đục lúa Ostrinia furnacalis. Dù sao, hột xoan có thể dùng trong canh nông để chống các sâu phá hoại lúa như Nilaparvata lugens, Orseolia oryzae và cam, chanh như Diaphorina citri, Panonychus citri (21). Một phần chiết từ vỏ chứa toosendanin đã được thử nghiệm với kết quả khả quan lên các sâu phá hoại hột dự trữ như Cryptolestes ferrugineus, Sitophilus oryzae, Tribolium castaneum (100). Cũng như cây xoan, một phần chiết từ trái đã tỏ ra rất độc hại cho tế bào ung thư vú và MCF-7 (27). Chất diacetyl sendanin chiết từ trái đã đuợc khảo sát về mặt chống ung thư. Các tế bào SF-539 và PC-3 ở CNS và tiền liệt tuyến rất nhạy cảm và so với adriamycin, deacetyl sendanin ức chế chọn lọc hơn lên cuộc phát triển tế bào ung thư ở người (25). Người ta đã có dùng thuốc chiết từ trái để chữa dạ dày khi bị đau cúm hay giun, sán hoành hành (22). Dầu chiết từ xoan cũng được đem trộn với borneol để rải vào giày, tất chống mùi hôi (26). Bột hột xoan và bột rễ bạch chỉ đã được dùng trong một công thức chữa đau chân (23). Sau cùng, một phần chiết từ hột gồm có alcaloid cũng được trộn với bột đậu nành và vài muối kim loại để làm phân bón (24). Như vậy, cây xoan Tứ Xuyên tuy ít, cũng góp phần vào canh nông, y học, kỹ nghệ như xoan và sầu đâu.

Tất cả các loại cây xoan đều là tài nguyên thiên nhiên sẵn có, đáng được khai thác sâu rộng.

Thông tin Khoa học và Công nghệ 4 1996
Tham khảo
1- B. Natl, Chemical examination of the heartwood of Melia azedarach, J. Sci. Ind. Res. (India) 13B (1954) 740-1

2- T. Tanaguchi, Anthelmintic constituents of Melia azedarach, Osaka Shiritsu Daigaku Igaku Zasshi 9 (1960) 445-6

3- D.B. Campbell, Fungicide from chinaberries, US 3 262,844 (1966) 2tr.

4- P.U. Saramma, A.N. Verma, Efficacy of some plant products and magnesium carbonate as protectants of wheat seed against attack of Trogoderma granarium, Bull. Grain Technol. (3) 9 (1971) 207-10

5- P.R. Zanno, I. Miura, K. Nakanishi, Structure of the insect phagorepellent azadirachtin. Application of PRFT/CWD Carbon-13 Nuclear Magnetic Resonance, J. Amer. Chem. Soc. (7) 97 (1975) 1975-7

6- D.S. Hothi, B. Singh, M.S. Kwatra, R.S. Chawla, A note on the comparative toxicity of Malia azedarach (Drek) berries to piglets, buffalo-calves, rabbits and fowls, J. Res. Punjabn Agric. Univ. (2) 13 (1976) 232-4

7- P.B. Oelrichs, M.W. Hill, P.J. Vallely, J.K. MacLeod, T.F. Molinski, Toxic tetranortriterpenes of the fruit of Melia azedarach, Phytochem. (2) 22 (1983) 531-4

8- J. Hu, J. Yang, L. Chen, Preliminary study on the antifeedant and toxicity properties of chinaberry (Melia azedarach L.) seed oil against major insect pests of rice, Zhongguo Nongyu Kexue (Beijing) (5) (1983) 63-9

9- S.D. Srivastava, Limonoids from the seeds of Melia azedarach, J. Nat. Prod. (1) 49 (1986) 56-61

10- G.M. Andrei, E.B. Damonte, R.A. De Torres, C. E. Coto, Induction of refractory state to viral infection in mammalian cells by a plant inhibitor isolated from leaves of Melia azedarach, Antiviral Res. (4) 9 (1988) 221-31

11- X. Cao, J. Li, M. Du, Insecticidal compositions containing Malia azedarach toxin for crops, Faming Zhuanli Shenqing Gongkai Shuomingshu CN 1,045,684 (1994) 4tr.

12- D.E. Champagne, O. Koul, M.B. Isman, G.G.E. Scudder, G .H.N. Towers, Biological activity of limonoids from the rutales, Phytochem.(2) 31 (1992) 377-94

13- G. Andrei, A.S. Couto, R.M. De Lederkremer, C.E. Coto, Purification and partial characterization of an antiviral active peptide from Melia azedarach L. , Antìviral Chem. Chemother. (2) 5 (1994) 105-10

14- H.C. Kataria, Medicinal plant Melia azedarach used in leprosy control, Otiental J. Chem. (2) 10 (1994) 178-80

15- J.W. Ahn, S.U. Choi, C.O. Lee, Cytotoxic limonoids from Melia azedarach var. japonica, Phytochem. (6) 36 (1994) 1493-6

16- H. Itokawa, Z.S. Qiao, C. Hirobe, K. Takeya, Cytotoxic limonoids and tetranortriterpenoids from Melia azedarach, Chem. Phar. Bull. (7) 43 (1995) 1171-5

17- M.B. Wachsman, C.E. Coto, Susceptibility of picornaviruses to an antiviral agent of plant origin (meliacin), Rev. Argent. Microbiol. (1) 27 (1995) 33-7

18- M. Rani, P. Suhag, R. Kumar, R. Singh, S.B. Kalidhar, Chemical coponents and biologiacl efficacy of Melia azedarach stems, J. Med. Arom. Plant Sci. (4) 21 (1999) 1043-7

19- R.M. Geris dos Santos, E. Rodrigues-Filho, Meroterpens from Penicillium sp found in association with Melia azedarach, Phytochem. (8) 61 (2002) 907-12

20- A.M. Do Rosario Marinho, E. Rodrigues-Filho, M.L.R. Moitinho, S. Lourivaldo, Biological active polyketides produced by Penicillium janthinellum isolated as an endophytic fungus from fruits of Melia azedarach, J. Brazilian Chem. Soc.(2) 16 (2005) 280-3

Melia toosendan

21- S.F. Chiu, The active principles and insecticidal properties of some Chinese plants, with special reference to Meliaceae, Schriftenz. GTZ 161 (1984) 255-61

22- T. Nakanishi, A. Inada, M. Nishi, T. Miki, R. Hino, T. Fujiwara, The structure of a new natural a apotirucallane-type triterpene and the stereochemistry of the related terpenes. X-ray and 13C NMR spectral analyses, Chem. Letters (1986) 69-72

23- S. Qiu, Thermal-insulated onsoles for foot disease control, Faming Zhuanli Shenqing Gongkai Shuomingshu CN 85,106,399 (1986) 6tr.

24- H. Zhang, Manufacture of trace element fertilizers containing amino acids, Faming Zhuanli Shenqing Gongkai Shuomingshu CN 1,069,257 (1993) 6 tr.

25- H.M. Kim, G.T. Oh, S.B. Han, D.H. Hong, B.Y. Hwang, Y.H. Kim, J.J. Lee, Comparative effects of a adriamycin and 28-deacetyl sendanin on in vitro growth inhibition on human cancer cell lines, Arch. Pharmacal. Res. (2) 17 (1994) 100-3

26- D. Jun, Sprays containing Melia toosendan extracts and borneol for foot odor, Faming Zhuanli Shenqing Gongkai Shuomingshu CN 1,089,136 (1994) 5tr.

27- Y.H. Kim, B.Y. Hwang, S.E. Kim, G.T. Oh, J.S. Ro, K.S. Lee, J.J. Lee, Isolation of two limonoids from the fruits of Melia toosendan, Yakhak Hoechi (1) 38 (1994) 6-11

28- Y.S. Xie, P.G. Fields, M.B. Isman, W.K. Chen, X. Zhang, Insecticidal activity of Melia toosendan extracts and toosendanin against three stored-product insects, J. Stored Prod. Res. (3) 31 (1995) 259-65

*** Bài Bút Ký Đầy Nước Mắt

ao dai ngoiLiên Thục Hương -Trang Hạ Dịch

 

Những hiểu lầm vô tình nối tiếp, đã làm vấp những bước chân của hạnh phúc. Khi cái thòng lọng của số mệnh bắt ta trả giá, tất cả đã trở nên muộn màng.

  1. Khi đưa mẹ chồng về đây an hưởng tuổi già, ai ngờ đó là gốc rễ sự chia ly của chúng tôi.

Sau khi kết hôn hai năm, chồng tôi bàn với tôi đón mẹ lên ở chung để chăm sóc bà những năm tuổi già. Chồng tôi mất cha từ ngày anh còn nhỏ, mẹ chồng tôi là chỗ dựa duy nhất, mẹ nuôi anh khôn lớn, cho anh học hết đại học. “Khổ đau cay đắng” bốn chữ ấy vận đúng vào số phận  mẹ chồng tôi! Tôi nhanh chóng gật đầu, liền đi thu dọn căn phòng có ban công hướng Nam, phòng có thể đón nắng, trồng chút hoa cỏ gì đó. 

Chồng tôi đứng giữa căn phòng ngập tràn nắng, không nói câu nào, chỉ đột ngột bế bổng tôi lên quay khắp phòng, khi tôi giãy giụa cào cấu đòi xuống, anh nói: 

-“Đi đón mẹ chúng ta thôi!”. 

Chồng tôi vóc dáng cao lớn, tôi thích nép đầu vào ngực anh, cảm giác anh có thể tóm lấy cả thân hình mảnh mai bé nhỏ của tôi, nhét vào trong túi áo. Mỗi khi chúng tôi cãi cọ và không chịu làm lành, anh  thường nhấc bổng tôi lên đầu quay tròn, cho đến lúc tôi sợ hãi van xin  anh thả xuống. Nỗi sợ hãi hạnh phúc ấy làm tôi mê mẩn. 

Những thói quen ở nhà quê của mẹ chồng tôi mãi không thể thay đổi. Tôi thích mua hoa tươi bày trong phòng khách, mẹ chồng tôi sau này không nhịn được bảo: 

-“Bọn trẻ các con lãng phí quá, mua hoa làm chi? Nào có thể ăn được như cơm!” 

Tôi cười: 

-“Mẹ, trong nhà có hoa nở rộ, tâm trạng mọi người cũng vui vẻ”. 

Mẹ chồng tôi cúi đầu cằn nhằn, chồng tôi vội cười: 

-“Mẹ, người thành phố quen thế rồi, dần dần mẹ sẽ quen thôi!” 

Mẹ chồng tôi không nói gì nữa, nhưng mỗi lần thấy tôi mang hoa về, bà 

vẫn không nhịn được hỏi mua hoa mất bao nhiêu tiền, tôi nói, thì bà chép miệng. Có lần thấy tôi xách túi lớn túi nhỏ đi mua sắm về, bà hỏi cái này bao nhiêu tiền cái kia giá bao nhiêu, tôi cứ kể thật, thì bà chép miệng càng to hơn. Chồng tôi véo mũi tôi nói: 

-“Đồ ngốc, em đừng nói cho mẹ biết giá thật có phải đỡ hơn không?” 

Cuộc sống hạnh phúc đã lẳng lặng trỗi những âm điệu không êm đềm. Mẹ chồng tôi ghét nhất là thấy chồng tôi dậy nấu bữa sáng, với bà, làm đàn ông mà phải vào bếp nấu nướng cho vợ, làm gì có chuyện ngược đời đó? Trên bàn ăn sáng, mặt mẹ chồng tôi thường u ám, tôi giả vờ không nhận thấy. Mẹ chồng tôi bèn khua bát đũa canh cách, đấy là cách phản đối không lời của bà. Tôi là giáo viên dạy múa ở Cung  thiếu niên, nhảy múa đã đủ mệt rồi, mỗi sáng ủ mình trong ổ chăn ấm  áp, tôi không muốn phải hy sinh nốt sự hưởng thụ duy nhất đấy, vì thế  tôi vờ câm điếc trước sự phản ứng của mẹ chồng. 

Còn mẹ chồng tôi thỉnh thoảng có giúp tôi làm việc nhà, thì chỉ làm tôi càng bận rộn thêm. Ví như, bà gom tất thảy mọi túi nilông đựng đồ và đựng rác trong nhà lại, bảo chờ gom đủ rồi bán đồng nát một thể,  vì thế trong nhà chỗ nào cũng toàn túi nilông dùng rồi; Bà tiếc rẻ không dùng nước rửa bát, để khỏi làm bà mất mặt, tôi đành phải lén lút  rửa lại lần nữa. 

Có một buổi tối, mẹ chồng tôi bắt gặp tôi đang lén rửa lại bát, bà đập cửa phòng đánh “sầm” một cái, nằm trong phòng khóc ầm ĩ. Chồng tôi khó xử, sau việc này, suốt đêm anh không nói với tôi câu nào, tôi nũng nịu, làm lành, anh cũng mặc kệ. Tôi giận dữ, hỏi anh: 

-“Thế em rốt cục đã làm sai cái gì nào?” 

Anh trừng mắt nhìn tôi nói: 

-“Em không chịu nhường mẹ đi một chút, ăn bát chưa sạch thì cũng có  chết đâu?” 

Sau đó, cả một thời gian dài, mẹ chồng tôi không nói chuyện với tôi, không khí trong gia đình gượng gạo dần. Thời gian đó, chồng tôi cũng sống rất mệt mỏi, anh không biết nên làm vui lòng ai trước. Mẹ chồng tôi không cho con trai nấu bữa sáng nữa, xung phong đảm nhận “trọng trách” nấu bữa sáng. Mẹ chồng tôi ngắm con trai ăn sáng vui vẻ, lại nhìn sang tôi, ánh mắt bà trách móc tôi làm không trọn trách nhiệm của người vợ. Để tránh bị khó xử, tôi đành ăn tạm gói sữa trên đường đi làm. Lúc đi ngủ, chồng tôi hơi buồn trách, hỏi tôi: 

-“Rodi, có phải em chê mẹ anh nấu cơm không sạch nên em không ăn ở  nhà?”. 

Lật mình, anh quay lưng về phía tôi lạnh lùng, mặc kệ tôi nước mắt tủi thân lăn tràn trề. Cuối cùng, chồng tôi thở dài: 

-“Rodi, thôi em cứ coi như là vì anh, em ở nhà ăn sáng được không?”. 

Thế là tôi đành quay về ngồi ở bàn ăn ngần ngại mỗi sáng. Sáng đó, tôi húp bát cháo do mẹ chồng nấu, đột nhiên lợm giọng, mọi thứ trong dạ dầy tống tháo hết ra ngoài, tôi cuống cuồng bịt chặt miệng không cho nó trào ra, nhưng không được, tôi vứt bát đũa (chú thích: người Trung Quốc ăn cháo bằng đũa, không dùng thìa như ở Việt Nam) nhảy  bổ vào toa-lét, nôn oẹ hết. Khi tôi hổn hển thở được, bình tâm lại, thấy mẹ chồng tôi đang khóc lóc than thân trách phận bằng tiếng pha rặt giọng nhà quê, chồng tôi đứng ở cửa toa-lét giận dữ nhìn tôi, tôi há  miệng không nói được nên lời, tôi đâu có cố ý. 

Lần đầu tiên tôi và chồng tôi bắt đầu cãi nhau kịch liệt, ban đầu mẹ chồng tôi ngồi nhìn chúng tôi, rồi bà đứng dậy, thất thểu đi ra khỏi cửa. Chồng tôi hằn học nhìn tôi một cái rồi xuống nhà đuổi theo mẹ. 

  1. Đón chào sinh mệnh mới, nhưng mất đi tính mệnh bà!

Suốt ba ngày, chồng tôi không về nhà, cũng không gọi điện. Tôi đang giận, tôi nghĩ từ ngày mẹ chồng tôi lên đây, tôi đã cực nhục đủ rồi, còn muốn gì tôi nữa? Nhưng kỳ lạ làm sao, tôi vẫn cứ buồn nôn, ăn gì cũng chẳng thấy ngon, thêm vào đó việc nhà rối ren, tâm trạng tôi cực kỳ tồi tệ. Sau đó, một đồng nghiệp bảo tôi: 

-“Rodi, trông sắc mặt cô xấu lắm, đi khám bác sĩ xem nào”. 

Kết quả khám của bác sĩ là tôi đã có thai. Tôi hiểu ra sáng hôm đó vì sao tôi nôn oẹ, trong cảm giác hạnh phúc có xen lẫn chút oán trách, chồng tôi và cả bà mẹ chồng đã từng sinh nở, vì sao họ không hề nghĩ đến lý do ấy? 

Ở cổng bệnh viện, tôi gặp chồng tôi. Mới chỉ ba hôm không gặp mặt, chồng tôi đã trở nên hốc hác. Tôi đáng lẽ định quay người đi thẳng, nhưng trông anh rất đáng thương, tôi không nén được gọi anh lại. Chồng tôi nghe tiếng thì nhìn thấy tôi, nhưng làm như không quen biết,  trong mắt anh chỉ còn sự căm thù, ánh nhìn ấy làm tôi bị thương. Tôi  tự nói với mình, không được nhìn anh ấy, không được nhìn anh ấy, tôi  đưa tay vẫy một chiếc taxi chạy qua. Lúc đó tôi mong muốn làm sao  được kêu lên với chồng tôi một tiếng: “Anh ơi, em sắp sinh cho anh một  đứa con rồi!” và được anh bế bổng lên, quay tròn hạnh phúc, những  cái tôi mơ ước nó không xảy ra, trên chiếc taxi, nước mắt tôi chầm  chậm rơi xuống. Vì sao một vụ cãi nhau đã làm tình yêu trở nên tồi tệ  như thế này? 

Sau khi về nhà, tôi nằm trên giường nhớ chồng, nhớ đến sự căm thù trong mắt anh. Tôi ôm một góc chăn nằm khóc. Đêm đó, trong nhà có tiếng mở ngăn kéo. Bật đèn lên, tôi nhìn thấy gương mặt đầy nước  mắt của chồng tôi. Anh ấy đang lấy tiền. Tôi lạnh lùng nhìn anh, không  nói gì. Anh coi như không có tôi, cầm tiền và sổ tiết kiệm rồi đi. Có lẽ anh đã quyết định rời bỏ tôi thật sự. Thật là một người đàn ông khôn ngoan, tình và tiền rạch ròi thế. Tôi cười nhạt vài cái, nước mắt lại “ồn ào” lăn xuống. 

Ngày hôm sau, tôi không đi làm. Tôi dọn lại toàn bộ suy nghĩ của mình, đi tìm chồng nói chuyện một lần cho rõ. Đến công ty của chồng, thư  ký hơi lạ lùng nhìn tôi, bảo: 

-“Mẹ của tổng giám đốc Trần bị tai nạn xe cộ, đang trong viện.” 

Tôi há hốc mồm trợn mắt, chạy bổ tới bệnh viện, khi tìm được chồng tôi, mẹ chồng tôi đã mất rồi. 

Chồng tôi không nhìn tôi, mặt anh rắn lại. Tôi nhìn gương mặt gầy gò trắng bệnh xanh tái lại của mẹ chồng, nước mắt tôi tuôn xuống ào ạt, trời ơi! Sao lại ra thế này? Cho đến tận lúc chôn cất bà, chồng tôi cũng không hề nói với tôi một câu, thậm chí mỗi ánh mắt đều mang  một nỗi thù hận sâu sắc. Về vụ tai nạn xe, tôi phải hỏi người khác mới biết đại khái là, mẹ chồng tôi bỏ nhà đi mơ hồ ra phía bến xe, bà muốn về quê, chồng tôi càng theo bà càng đi nhanh, khi qua đường, một  chiếc xe bus đã đâm thẳng vào bà… 

Cuối cùng tôi đã hiểu sự căm ghét của chồng, nếu buổi sáng hôm đó  tôi không nôn, nếu chúng tôi không cãi nhau, nếu như… trong tim anh  ấy, tôi chính là người gián tiếp gây ra cái chết của mẹ anh. 

Chồng tôi im lặng dọn đồ vào ở phòng mẹ, mỗi tối anh về nhà nồng nặc hơi rượu. Và tôi bị lòng tự trọng đáng thương lẫn sự ân hận dồn nén tới không thể thở được, muốn giải thích cho anh, muốn nói với anh rằng chúng ta sắp có con rồi, nhưng nhìn vào đôi mắt lạnh lùng của  anh, tôi lại nuốt hết đi những lời định nói. Thà anh đánh tôi một trận  hoặc chửi bới tôi một trận còn hơn, cho dù tất cả đã xảy ra không phải  do tôi cố ý. 

Ngày lại ngày cứ thế trôi đi trùng lặp, chồng tôi về nhà ngày càng muộn. Tôi cố chấp, coi anh còn hơn kẻ lạ. Tôi là cái thòng lọng thắt trong trái tim chồng tôi. Một lần, tôi đi qua một tiệm ăn châu Âu, xuyên qua lớp cửa kính trong suốt kéo dài từ trần nhà xuống sát mặt đất, tôi nhìn thấy chồng tôi ngồi đối diện trước một cô gái trẻ, anh nhè nhẹ vuốt tóc cô gái, tôi đã hiểu ra tất cả. 

Ban đầu tôi sững sờ, rồi tôi bước vào tiệm ăn, đứng trước mặt chồng, nhìn anh trân trối, mắt khô cạn. Tôi chẳng còn muốn nói gì, cũng  không thể nào nói gì. Cô gái nhìn tôi, nhìn chồng tôi, đứng lên định bỏ  đi, chồng tôi đưa tay ấn cô ngồi xuống, và, anh cũng trân trối nhìn tôi, không hề thua kém. Tôi chỉ còn nghe thấy tiếng trái tim tôi đang đập thoi thóp, đập thoi thóp từng nhịp một từng nhịp một cho tới tận ranh giới tái xanh của cái chết. Kẻ thua cuộc là tôi, nếu tôi cứ đứng thế này mãi, tôi và đứa bé trong bụng tôi sẽ cùng ngã. 

Đêm đó, chồng tôi không về nhà, anh dùng cách đó để nói cho tôi biết: Cùng với cái chết của mẹ chồng tôi, tình yêu của chúng tôi cũng đã chết rồi. Chồng tôi không quay về nữa. Có hôm, tôi đi làm về, thấy tủ quần áo bị động vào, chồng tôi quay về lấy vài thứ đồ của anh. 

Tôi không muốn gọi điện cho chồng tôi, ngay cả ý nghĩ ban đầu là giải thích mọi chuyện cho anh, giờ cũng đã biến mất hoàn toàn. Tôi một  mình sống, một mình đi bệnh viện khám thai, mỗi lần thấy những người  chồng thận trọng dìu vợ đi viện khám thai, trái tim tôi như vỡ tan ra.  Đồng nghiệp lấp lửng xui tôi nạo thai đi cho xong, nhưng tôi kiên quyết  nói không, tôi điên cuồng muốn được đẻ đứa con này ra, coi như một  cách bù đắp cho cái chết của mẹ chồng tôi.    

Khi tôi đi làm về, chồng tôi đang ngồi trong phòng khách, khói thuốc mù mịt khắp phòng, trên bàn nước đặt một tờ giấy. Không cần liếc  qua, tôi đã biết tờ giấy viết gì. Trong hai tháng chồng tôi không về  nhà, tôi đã dần dần học được cách bình tĩnh. Tôi nhìn anh, gỡ mũ  xuống, bảo: 

-“Anh chờ chút, tôi ký!”. 

Chồng tôi cứ nhìn tôi, ánh mắt anh bối rối, như tôi. Tôi vừa cởi cúc áo khoác vừa tự dặn mình: “Không khóc, không khóc…”. Mắt rất đau, nhưng tôi không cho phép nước mắt được lăn ra. Treo xong áo khoác,  cái nhìn của chồng tôi gắn chặt vào cái bụng đã nổi lên của tôi. Tôi  mỉm cười, đi tới, kéo tờ giấy lại, không hề nhìn, ký lên đó cái tên tôi, đẩy lại phía anh. 

-“Rodi, em có thai à?” 

Từ sau khi mẹ chồng gặp tai nạn, đây là câu đầu tiên anh nói với tôi. Tôi không cầm được nước mắt nữa, lệ “tới tấp” giàn xuống má. Tôi  đáp: 

-“Vâng, nhưng không sao đâu, anh có thể đi được rồi!”. 

Chồng tôi không đi, trong bóng tối, chúng tôi nhìn nhau. 

Chồng tôi nằm ôm lấy lấy người tôi, nước mắt thấm ướt chăn. Nhưng trong tim tôi, rất nhiều thứ đã mất về nơi quá xa xôi, xa tới mức dù tôi có chạy đuổi theo cũng không thể với lại. Không biết chồng tôi đã nói “Anh xin lỗi Em!” với tôi bao nhiêu lần rồi, tôi cũng đã từng tưởng rằng tôi sẽ tha thứ, nhưng tôi không tài nào làm được, trong tiệm ăn châu Âu hôm đó, trước mặt người con gái trẻ ấy, ánh mắt lạnh lẽo chồng tôi nhìn tôi, cả đời này, tôi không thể nào quên nổi.Chúng tôi đã cùng rạch lên tim nhau những vết đớn đau. Do tôi, là vô ý; Còn anh, là bởi cố tình. 

  1. Mong ước hoá giải những ân hận cũ, nhưng quá khứ không bao giờ  trở lại!

Trừ những lúc ấm áp khi nghĩ đến đứa bé trong bụng, còn với chồng, trái tim tôi lạnh giá như băng, không ăn bất cứ thứ gì anh mua, không cần ở anh bất cứ món quà gì, không nói chuyện với anh. Bắt đầu từ  lúc ký vào tờ giấy kia, hôn nhân cũng như tình yêu đã biến mất khỏi đời tôi. 

Có hôm chồng tôi thử quay về phòng ngủ, anh vào, tôi ra phòng  khách, anh chỉ còn cách quay về ngủ ở phòng mẹ. 

Trong đêm thâu, đôi khi từ phòng anh vẳng tới tiếng rên khe khẽ, tôi im lặng mặc kệ. Đây là trò anh thường bày ra, ngày xưa chỉ cần tôi giận anh, anh sẽ giả vờ đau đầu, tôi sẽ lo lắng chạy đến, ngoan ngoãn đầu hàng chồng, quan tâm xem anh bị làm sao, anh sẽ vươn một tay  ra tóm lấy tôi cười ha hả. 

Anh đã quên rồi, tôi lo lắng là bởi tôi yêu anh, còn bây giờ, giữa chúng tôi còn lại gì đâu? Chồng tôi dùng những tiếng rên ngắt quãng  để đón ngày đứa bé chào đời. Dường như ngày nào anh cũng mua gì đó  cho con, các đồ dùng của trẻ sơ sinh, đồ dùng của trẻ em, ngay cả  sách thiếu nhi, từng bọc từng bọc, sắp chất đầy gian phòng anh. Tôi  biết chồng tôi dùng cách đó để cảm động tôi, nhưng tôi không còn cảm  thấy gì nữa. Anh đành giam mình trong phòng, gõ máy tính “lạch cà  lạch cạch”, có lẽ anh đang yêu đương trên mạng, nhưng việc đó đối với  tôi không có ý nghĩa gì. 

Đêm cuối mùa xuân, cơn đau bụng dữ dội khiến tôi gào lên, chồng tôi nhảy bổ sang, như thể anh chưa hề thay quần áo đi ngủ, vì đang chờ  đón giây phút này tới. Anh cõng tôi chạy xuống nhà, bắt xe, suốt dọc  đường nắm chặt bàn tay tôi, liên tục lau mồ hôi trên trán tôi. Đến bệnh viện, anh lại cõng tôi chạy vào phòng phụ sản. 

Nằm trên cái lưng gầy guộc và ấp áp, một ý nghĩ hiện ra trong đầu tôi: 

“Cả cuộc đời này, còn ai có thể yêu tôi như anh nữa không?” 

Anh đẩy cửa phòng phụ sản, nhìn theo tôi đi vào, tôi cố nén cơn đau nhìn lại anh một cái nhìn ấm áp. Từ phòng đẻ ra, chồng tôi nhìn tôi và đứa bé, anh cười mắt rưng rưng. Tôi vuốt bàn tay anh. Chồng tôi nhìn tôi, mỉm cười, rồi, anh chậm rãi và mệt mỏi ngã dụi xuống. 

Tôi gào tên anh… Chồng tôi mỉm cười, nhưng không thể mở được đôi  mắt mệt mỏi… Tôi đã tưởng có những giọt nước mắt tôi không thể nào  chảy vì chồng nữa, nhưng sự thực lại khác, chưa bao giờ có nỗi đau  đớn mạnh mẽ thế xé nát thân thể tôi. 

Bác sĩ nói, phát hiện chồng tôi ung thư gan đã vào giai đoạn cuối cùng, anh gắng gượng cho đến giờ kể cũng đã là kỳ tích. Tôi hỏi bác  sĩ phát hiện ung thư khi nào? Bác sĩ nói năm tháng trước, rồi an ủi tôi: 

-“Phải chuẩn bị hậu sự đi!” 

Tôi mặc kệ sự can ngăn của y tá, về nhà, vào phòng chồng tôi bật  máy tính, tim tôi phút chốc bị bóp nghẹt. Bệnh ung thư gan của chồng  tôi đã phát hiện từ năm tháng trước, những tiếng rên rỉ của anh là thật, vậy mà tôi nghĩ đó là… 

Có hai trăm nghìn chữ trong máy tính, là lời dặn dò chồng tôi gửi lại cho con chúng tôi: 

-“Con ạ, vì con, bố đã kiên trì, phải chờ được đến lúc nhìn thấy con bố mới được gục ngã, đó là khao khát lớn nhất của bố… Bố biết, cả cuộc đời con sẽ có rất nhiều niềm vui hoặc gặp nhiều thử thách, giá như bố được đi cùng con suốt cả chặng đường con trưởng thành, thì  vui sướng biết bao, nhưng bố không thể. Bố viết lại trên máy tính, viết những vấn đề mà con có thể sẽ gặp phải trong đời, bao giờ con gặp phải những khó khăn đó, con có thể tham khảo ý kiến của bố… Con ơi,  viết xong hơn 200 nghìn chữ, bố cảm thấy như đã đi cùng con cả một  đoạn đời con lớn. Thật đấy, bố rất mừng. Con phải yêu mẹ con, mẹ rất  khổ, mẹ là người yêu con nhất, cũng là người bố yêu nhất…” 

Từ khi đứa trẻ đi học mẫu giáo, rồi học Tiểu học, Trung học, lên Đại học, cho đến lúc tìm việc, yêu đương, anh đều viết hết. Chồng tôi cũng viết cho tôi một bức thư: 

“Em yêu dấu, cưới em làm vợ là hạnh phúc lớn nhất đời anh, tha thứ  cho những gì anh làm tổn thương em, tha thứ cho việc anh giấu em  bệnh tình, vì anh muốn em giữ gìn sức khoẻ và tâm lý chờ đón đứa con  ra đời… Em yêu dấu, nếu em đang khóc, tức là em đã tha thứ cho anh  rồi, anh sẽ cười, cảm ơn em đã luôn yêu anh… 

Những quà tặng này, anh sợ anh không có cơ hội tự tay tặng cho con nữa, em giúp anh mỗi năm tặng con vài món quà, trên các gói quà anh đều đã ghi sẵn ngày sẽ tặng quà rồi…” 

Quay lại bệnh viện, chồng tôi vẫn đang hôn mê. Tôi bế con tới, đặt nó bên anh, tôi nói: 

-“Anh mở mắt cười một cái nào, Em muốn con mình ghi nhớ khoảnh  khắc ấm áp nằm trong lòng bố…” 

Chồng tôi khó khăn mở mắt, khẽ mỉm cười. Thằng bé vẫn nằm trong  lòng bố, ngọ nguậy đôi tay hồng hào bé tí xíu. Tôi ấn nút chụp máy  ảnh “lách tách”, để mặc nước mắt chảy dọc má… 

Liên Thục Hương

Bản dịch của Trang Hạ 

“Bài bút ký đầy nước mắt” nầy được đăng trên tạp chí “Gia đình” (Trung Quốc) năm 2002 và lên mạng vào ngày 8/12/2003

*** Little Saigon, Quận Cam

little SGLittle Saigon, Quận Cam có còn là Thủ Đô của người tỵ nạn?

 

Quang An: Cuộc sống quanh ta.

Little Sàigòn, hay còn gọi là Sàigòn Nhỏ, là một Sàigòn thu hẹp trong lòng của hầu hết người Việt bỏ chạy, di tị nạn cộng sản từ năm 1975. Khi bánh xe xích sắt của chiếc xe tăng T54 của quân đội cộng sản Bắc Việt húc sập cánh cửa hông của Dinh Độc Lập ở Sàigòn, cũng là lúc đánh dấu người Việt chạy tha hương. Chạy khỏi Sàigòn, qua đến Guam, rồi đến trại Pendleton ở Oceanside, miền Nam tiểu bang California, rồi sau đó được phân chia đi nhiều tiểu bang khác nhau ở Mỹ, người Việt vẫn mang trong lòng nỗi nhớ Sàigòn khôn nguôi. Lần lần rồi thì một phần do thời tiết ở các tiểu bang khác khá khắc nghiệt, lại thêm công ăn việc làm ở tiểu bang California dễ dàng hơn, dân Việt rủ nhau kéo về California để sinh sống. Vì không cạnh tranh nỗi với người gốc Đại Hàn, người Tàu sinh sống ở Los Angeles, nơi được xem là thành phố thiên thần, người Việt xuôi về phía Nam của Los Angeles khoảng chừng 1 giờ đồng hồ lái xe, và bắt đầu gầy dựng ở đây.

Với vùng đất rộng lớn gồm các thành phố kề sát nhau, người Việt định cư rải đều ra các thành phố Westminster, Garden Grove, Midway City, Santa Ana ở quận hạt Orange, mà dân ta hay gọi là Quận Cam. Cửa hiệu, nhà hàng, cơ sở thương mại mang tên Việt bắt đầu xuất hiện. Ban đầu chỉ là một khúc đường Bolsa, nơi có thương xá nổi tiếng mang tên Phước Lộc Thọ. Rồi dần dần cửa hiệu, nhà hàng, cơ sở thương mại của người Việt Nam mọc lên như nấm, lan ra khắp nơi, trải dài từ Bolsa, qua Westminster, Brookhurst, Euclid, Magnolia, v..v… Từ Garden Grove, đi xuống thành phố Westminster, hay Fountain Valley, Santa Ana, đều thấy bảng hiệu chữ Việt tràn đầy. Thậm chí là Midway City, hay được gọi là Thị Trấn Giữa Đàng, cũng có luôn cửa hiệu của người Việt.

Phải nói rằng với sự cần cù và siêng năng, thế hệ người Việt tỵ nạn cộng sản từ năm 1975 đã tạo nên một khu vực mà ai ai cũng có cảm giác như là một Sài Gòn thu nhỏ. Đến đây, ngoài việc là có thể tiếp xúc, gặp gỡ người Việt xa xứ, người Việt bỏ chạy cộng sản từ hồi năm 1975 còn có dịp tìm lại những hình ảnh, những tác phẩm văn hoá của miền Nam trước kia. Ghé nhà sách Tú Quỳnh, hay ghé các trung tâm sản xuất băng dĩa nhạc, là có thể tìm lại chút gì đó của thoáng hương xưa. Dĩ nhiên, nếu muốn tìm lại mùi vị của những món ăn Việt Nam, người Việt tị nạn sẽ dễ dàng tìm thấy những bát phở, những tô bún bò, những đĩa bánh cuốn, hay thậm chí là cả những chén chè xôi nước, v…v… Cái tên Little Sàigòn là đây. Người Việt yêu kiều đặt địa danh này cho một vùng đất cách xa quê hương hơn nửa quả địa cầu để hồi tưởng, để nhớ nhung về một Sàigòn xưa. Và hơn cả, Little Sàigòn còn là một trung tâm văn hoá nhằm gìn giữ bản sắc của người dân Việt trước đại hoạ cộng sản từ hồi năm 1975. Chính vì vậy, Little Sàigòn luôn luôn được xem là thủ đô của người Việt tỵ nạn cộng sản.

Rồi thời gian trôi qua,  thế hệ người Việt tị nạn cộng sản đầu tiên nay đã già. Ráng chịu khó làm ăn vất vả để nuôi gia đình, con cái của thế hệ này nay đã trưởng thành, đã học thành tài để rồi có người là bác sĩ, có người là kỹ sư, v..v… Cuộc sống khá giả hơn, ổn định hơn, cho nên rất nhiều người Việt đã dọn về phía Nam của vùng Little Sàigòn để an cư lập nghiệp. Người thì ở Irvine, người thì ở Mission Viejo, hay thậm chí là xa hơn nữa như San Juan Capistrano, v..v… Hầu hết, thế hệ sau này không muốn tiếp tục con đường làm ăn của thế hệ trước đó, cho nên rất nhiều chủ nhân nhà hàng, cửa hiệu, đến tuổi về hưu, phải tìm cách bán lại những gì mình đã gầy dựng.

https://i0.wp.com/farm3.staticflickr.com/2950/15210408559_2fa6e71019.jpg?zoom=1.5&ssl=1

Người đi, thì phải có người đến. Trong những năm vừa qua, với những chính sách thu hút người ngoại quốc đem tiền vào Mỹ đầu tư, đã có rất nhiều thành phần giàu có ở Việt Nam mà thường được gọi là “đại gia đỏ” hay “tư bản đỏ” … đổ bộ qua Mỹ. Thành phần này là những tay cựu “quan chức” hay những tay làm ăn buôn bán tham nhũng, những tay có thể có cả chục triệu đô la lận lưng để làm vốn, để có thể mua nhà, mua cơ sở, mua cửa hiệu, v..v… Ban đầu thì còn rải rác ở các tiểu bang khác, nhưng gần đây thì đổ về tiểu bang California rất nhiều.

Thế là cuộc sống ở Little Sàigòn bắt đầu thay đổi. Các cửa hiệu, nhà hàng do những người Việt tỵ nạn làm chủ, từ từ lại thấy thay tên, đổi hiệu. Có những cái tên nhà hàng, chỉ cần nghe cái tên, cũng có thể đoán được gốc gác của người chủ từ đâu đến. Chợ búa cũng thay đổi. Và phong cách người dân ở Little Sàigòn cũng thay đổi. Có những quán cà phê, thanh niên ngồi đánh bài “tiến lên”, hay còn gọi là “chặt hẻo”, một loại bài của mấy chú bộ đội miền Bắc đem vào Nam, suốt cả ngày. Khói thuốc lá bay mù mịt. Có những quán bar mà đêm nào cũng đông thanh niên đến …. “xập xình”, và là nơi giới thiệu các ca sĩ ở Việt Nam bay sang. Thử hỏi, dân bình thường thì lo đi làm ở công sở, đâu có thì giờ mà la cà quán xá như thế cả ngày lẫn đêm. Có chăng thì chỉ vào dịp cuối tuần, nhưng ở Little Sàigòn bây giờ, ngày trong tuần, hay ngày cuối tuần đều … đông như nhau.

https://i2.wp.com/l7.alamy.com/zooms/e542528150f042bda81a5b68f699a810/orange-county-city-of-westminster-southern-california-usa-february-f706rn.jpg

Little Sàigòn đã thay đổi nhiều lắm. Văn hoá, văn nghệ thì các sản phẩm từ trong nước nhan nhản đầy trong các cửa hiệu. Quán ăn thì không còn vẻ thanh lịch, và không còn trông sạch sẽ như lúc trước. Bãi đậu xe thì lại càng quá tệ, nhìn rất dơ bẩn. Các đài truyền thanh, truyền hình, thì cứ như là “cơ quan ngôn luận” của Việt Nam vì tin tức đọc nhiều khi dùng chữ “y chang” VN Express của nhà cầm quyền cộng sản Việt Nam. Quan trọng hơn nữa là tình hình an ninh trật tự không còn như xưa. Nghe thử một quảng cáo phát trên truyền thanh bảo rằng “đến ăn phở ở tiệm của chúng tôi, quý khách có thể an tâm là xe của quý vị không bị … đập kính”. Thế là đủ hiểu chuyện xe bị đập kính, mất đồ là “chuyện như cơm bữa” ở Little Sàigòn rồi.

Việc phong cách sống thay đổi, có thể một phần là do người mới định cư sau này mang những “thói hư tật xấu” đã “nhiễm” sau 40 năm sống với cộng sản sang đây. Những “đại gia đỏ” coi trời bằng vung vì ỷ có tiền đã thể hiện cách sống của mình. Ở trần, mặc xà lỏn, là hình ảnh mà dân Mỹ ở đây không bao giờ gặp ở ngoài đường. Thế nhưng, có những tên đại gia, cầm đầu cả hệ thống xuất nhập cảng hải sản, lại nghênh ngang bước ra đường với mình trần và chiếc … xà lỏn. Thành phần như thế này bây giờ không hiếm ở Little Sàigòn. Cũng chẳng có gì ngạc nhiên, vì ngay giữa đường Brookhurst, đoạn gần với tiệm bánh Vân, những bảng hiệu quảng cáo “bảo lãnh đi Mỹ” bảo đảm … 100%, “bao” … đậu, bất kể là tội phạm hình sự, v..v… đầy nhan nhản.

Thử nhìn xem, với sự nhếch nhác như thế, Little Sàigòn có còn là thủ đô của người tỵ nạn? Nét văn hoá, sự thanh lịch của người Việt tị nạn đang dần dần bị … “xâm lăng”?

Cuộc sống chung quanh ta coi thế mà thay đổi chóng mặt. Nếu không để ý, và không có thái độ tích cực để gìn giữ văn hoá của người Sàigòn xưa, thì Little Sàigòn có thể sẽ mất đi cái tên và ý nghĩa yêu kiều mà người dân tỵ nạn giữ trong lòng bao nhiêu năm nay.

Quang An

“Tủ lạnh” không cần cắm điện

“Tủ lạnh” không cần cắm điện vẫn giữ thực phẩm tươi ngon gấp 9 lần bình thường.

 
Bảo quản đồ ăn tươi ngon tới 27 ngày, hiện đại mà không “hại điện”, đó chính là những lợi ích tuyệt vời mà chiếc “tủ lạnh” đặc biệt được sáng chế bởi một giáo viên người Nigeria mang lại cho cuộc sống của người dân nghèo nơi đây.
 
Những sáng chế đơn giản nhưng mang đến hiệu quả đến khó tin, lại không tốn quá nhiều chi phí chính là những thứ mà người dân nghèo vùng nông thôn Châu Phi vẫn luôn “mơ” đến. Ngay cả trong cuộc sống hiện đại ngày nay, thiết bị điện cơ bản như chiếc tủ lạnh cũng trở thành thứ vô cùng “xa xỉ” đối với người dân nơi đây do điều kiện địa hình xa xôi hẻo lánh và chi phí cho việc sử dụng điện quá đắt đỏ.
May mắn đã đến với người dân nghèo Nigeria khi một công cụ giữ lạnh đặc biệt có tác dụng bảo quản thực phẩm không thua kém gì tủ lạnh được sáng chế bởi ông Mohammed Bah Abba, một giáo viên người Nigeria.
 
Kì lạ chiếc
Công cụ giữ lạnh đặc biệt có tác dụng bảo quản thực phẩm không thua kém gì tủ lạnh.
Chiếc tủ lạnh “có một không hai” này không cần cắm điện, không tốn nhiều chi phí, thậm chí còn có thể “cầm tay”, mà lại đặc biệt hiệu quả trong điều kiện thời tiết nóng khô dễ khiến trái cây, rau quả và các thực phẩm nhanh chóng bị hư hỏng, ôi thiu khi bảo quản được đồ ăn tới gần một tháng.
 
 
Kì lạ chiếc
Ông Mohammed Bah Abba, người sáng chế ra hệ thống làm lạnh đặc biệt thay đổi cuộc sống người dân nghèo Nigeria.
 
 
Mohammed Bah Abba sinh ra trong một gia đình có truyền thống làm đồ gốm và đất sét. Là một người con của Nigeria, hiểu rõ được hậu quả của thời tiết khắc nghiệt nắng như thiêu đốt ở châu Phi, cũng như ước mong của người dân nghèo, cuối những năm 90, ông Mohammed đã tạo ra chiếc “tủ lạnh” đặc biệt áp dụng công nghệ làm gốm truyền thống.
 
 
Kì lạ chiếc
Chiếc “tủ lạnh” này không cần cắm điện, bảo quản được đồ ăn lâu gấp 9 lần điều kiện bình thường.
 
Dựa trên ý tưởng cổ xưa của chiếc bình gốm giữ nước lạnh, ông Mohammed đã chế tạo ra chiếc “tủ lạnh” đặc biệt với cơ chế “bình trong bình”. Hai chiếc bình gốm to và nhỏ được lồng vào nhau, trong chiếc bình to hay khoảng trống giữa hai bình sẽ được đổ đầy cát ướt, còn bình gốm nhỏ sẽ dùng để lưu trữ thực phẩm và đậy lại bằng một tấm vải ướt.
 
Kì lạ chiếc
Cấu tạo của chiếc “tủ lạnh” gồm hai chiếc bình gốm to nhỏ được lồng vào nhau, khoảng trống giữa hai bình sẽ được đổ đầy cát ướt, còn bình gốm nhỏ sẽ dùng để trữ thực phẩm và đậy lại bằng một tấm vải ướt.
 
Để hai chiếc bình hoạt động hiệu quả như một chiếc tủ lạnh, cần phải đặt chúng ở nơi khô ráo, thoáng mát. Khi đó nước trong cát đã được đổ vào từ ban đầu sẽ bốc hơi, nồi trong được làm mát chỉ còn 4 độ C, ngăn không cho vi khuẩn phát triển và giữ thực phẩm tươi ngon.
 
 
Kì lạ chiếc
Nước trong cát ướt sẽ bốc hơi, nồi trong được làm mát chỉ còn 4 độ C, ngăn không cho vi khuẩn phát triển và giữ thực phẩm tươi ngon.
 
Có thể nói, chiếc “tủ lạnh” đặc biệt này của ông Mohammed là một minh chứng cho sáng chế “hiện đại nhưng không hại điện” khi có giá rẻ đến giật mình. Chỉ phải bỏ ra 20 đến 90 nghìn đồng (từ 2 đến 4 đô la) cho mỗi chiếc, không hề sử dụng đến điện và có thể bảo quản thực phẩm từ thịt cá, rau củ, cho đến trái cây tới 27 ngày, gấp 9 lần so với 3 ngày ở nhiệt độ bình thường.
 
Kì lạ chiếc
Có thể nói, chiếc “tủ lạnh” đặc biệt này của ông Mohammed giúp người dân dự trữ thực phẩm tới 27 ngày.
 
Hệ thống “bình trong bình” hiệu quả này thực sự đã thay đổi cuộc sống của người dân nghèo Nigeria, khả năng lưu giữ thực phẩm được lâu và tươi ngon lâu hơn giúp họ bán nông sản cũng được giá cao hơn. Từ khi có những chiếc bình này, người dân nơi đây sẽ không cần ngày nào cũng phải đi chợ mua thực phẩm nữa, vô cùng tiện lợi mà còn tiết kiệm được rất nhiều thời gian.
Trước khi mất vào năm 2010, ông Abba liên tục cải tiến hệ thống bình trữ lạnh, sau đó ông sử dụng tiền của chính mình thuê các nhà máy địa phương sản xuất hàng loạt 5.000 “tủ lạnh” phân phối cho 5 ngôi làng ở Jigawa và 7.000 chiếc “tủ lạnh” cho người dân địa phương Nigeria.
 
 
Kì lạ chiếc
Những chiếc tủ lạnh được tạo ra bởi người giáo viên Nigeria này đã giúp cải thiện đáng kể đời sống người dân nơi đây, giúp họ bán nông sản được giá cao hơn, tiết kiệm nhiều chi phí.
 
Cho tới nay những chiếc tủ lạnh “siêu tiết kiệm” này đã được sử dụng rộng rãi tại các vùng nông thôn ở Nigeria, Cameroon, Chad, Eritrea, và Sudan. Năm 2000, Mohammed Bah Abba được trao giải thưởng Rolex Award for Enterprise dành cho các sáng chế xuất sắc được vinh danh. Tạp chí Time đã từng gọi phát minh bình làm lạnh mang tính đột phá của Mohammed là một trong những phát minh vĩ đại của năm.
Ngọc Quỳnh (Theo NG)

Thơ Lục Bát Còn, Tiếng Việt Còn

Lê Hữu

BIEN NUOC

Hỡi cô tát nước bên đàng,
sao cô lại múc trăng vàng đổ đi?
(“Trăng quê”, Bàng Bá Lân)

“Cho tôi xem qua bài lục bát nào của anh/chị, tôi sẽ nói được ít nhiều về anh/chị.” Câu ấy tôi vẫn nói với những người làm thơ quen biết, và có lý do để mạnh miệng như vậy. Không chỉ “văn là người” mà cả đến thơ cũng là “người”. Hơn thế nữa, bài lục bát ấy cũng nói cho tôi biết ít nhiều về “tay nghề” của tác giả.

Thế nhưng, vì sao là lục bát mà không phải thể thơ nào khác? Chỉ vì, thơ lục bát “dễ làm, khó hay”, và là một thử thách cho người làm thơ. Qua một bài lục bát, dẫu tân, cổ kiểu nào, bản lãnh của người làm thơ thể hiện rõ nét hơn bất kỳ thể thơ nào khác.

I. Từ Ca Dao Đến Hồn Nhiên Lục Bát

Thơ lục bát dễ làm, khó hay, nhiều người vẫn đồng ý như vậy, nhưng không chắc đã đồng ý với nhau thế nào gọi là “hay”.

Biết thế nào là bài thơ, câu thơ hay? Khen một bài thơ hay cũng giống như khen bức tranh đẹp, dễ rơi vào chủ quan. Người này nói đẹp, người kia nói không đẹp. Đẹp xấu, hay dở thế nào là tùy thuộc cảm quan nghệ thuật, khuynh hướng thẩm mỹ của từng người. Cũng tựa như nghe nhạc vậy, người yêu bài này, kẻ thích bài kia. Người yêu “tuyệt phẩm bolero”, kẻ thích “dòng nhạc thính phòng”… Mỗi người mỗi tánh mỗi ý, câu thơ có chạm được vào trái tim người yêu thơ hay không là tùy vào cung bậc cảm xúc của từng người.

Thơ lục bát cũng có lục bát sến, lục bát sang, lục bát truyền thống, lục bát hiện đại, lục bát cổ điển, lục bát tân kỳ, lục bát dung tục, lục bát tấu hài… Mỗi người “tự chọn” lấy những bông hoa mình yêu thích trên cánh đồng thơ lục bát.

Nhiều bài, nhiều câu lục bát được lắm người tán tụng, trầm trồ, thế nhưng tôi đọc chẳng thấy chỗ nào hay ho hoặc chỉ hay vừa vừa. Ngược lại, nhiều bài, nhiều câu lục bát tôi yêu thích nhưng không chắc đã được người khác chia sẻ. Tôi nhớ, một tờ báo mạng “chuyên trị” về thơ lục bát có tuyển chọn ra “1.000 câu thơ lục bát để đời”, hoặc một tờ báo khác làm công việc bình chọn “99 bài thơ lục bát hay nhất thế kỷ”. Không rõ việc bình chọn dựa trên những tiêu chuẩn nào và kết quả thế nào, riêng tôi vẫn cho là việc này không dễ và kết quả việc “bình bầu cá nhân xuất sắc” ấy không chắc được sự đồng thuận của người yêu thơ và làm thơ, nhất là những nhà thơ không thấy… tên mình trong số tác giả được tuyển chọn.

Dường như những bài thơ hay ngày càng ít đi, nhiều lắm chỉ nhặt ra được một đôi câu trong một bài. Người đọc khó mà nhớ được trọn bài thơ nào là vậy. Bài lục bát duy nhất tôi nhớ được trọn bài là “Hoa cỏ may”của thi sĩ Nguyễn Bính, gồm một câu “lục” và một câu “bát”:

Hồn anh như hoa cỏ may
một chiều cả gió bám đầy áo em

Thơ hay, một hai câu cũng hay.

Người viết nhớ đâu ghi đó những câu lục bát dẫn ra trong bài. Người đọc, như trên đã nói, có thể thấy hay hoặc không hay, thấy thích hoặc không thích. Việc dẫn giải những câu thơ trích dẫn, nếu có, chỉ vắn tắt. Dù sao, “bắt” được một, hai câu lục bát hay, với người yêu thơ, cũng là điều thú vị. Mong được như vậy.

1. Lục Bát Dân Gian

Hỡi cô tát nước bên đàng,
sao cô múc ánh trăng vàng đổ đi?

Có tài liệu nói rằng câu thơ trên không phải là câu ca dao quen thuộc như nhiều người vẫn tưởng mà là câu lục bát trong bài thơ “Trăng quê” của thi sĩ Bàng Bá Lân in trong thi tập đầu tay Tiếng Thông Reo, xuất bản năm 1934 ở Hà Nội. (Câu thơ Bàng Bá Lân có khác hai chữ: Sao cô lại múc trăng vàng đổ đi?).

Lại có người cho rằng câu ca dao Trăng bao nhiêu tuổi trăng già / Núi bao nhiêu tuổi gọi là núi non? là câu thơ của thi sĩ Tản Đà.

Những nhầm lẫn này cho thấy nhiều câu lục bát về tình tự dân tộc rất gần với ca dao.  

Từ lúc nào, từ nơi sâu thẳm nào trong tâm hồn người Việt đã thấm đẫm nguồn thơ lục bát bàng bạc trong kho tàng ca dao, trong nhiều bài đồng dao, trong lời mẹ ru con bên vành nôi. Nguồn thơ lục bát, trong nghĩa ấy, là nguồn cội dân tộc.

Tôi nhớ đã phải lòng lục bát từ thuở được làm quen với những câu ca dao trữ tình mà nhiều người quen gọi là “lục bát dân gian”. Bên dưới là những câu lục bát thẳng cánh cò bay mà không khéo lắm người lại tưởng rằng… ca dao.

Không trầu mà cũng chẳng cau,
làm sao cho thắm môi nhau thì làm
   

(Được yêu như thể ca dao, Nguyễn Duy)

Lòng anh quanh quẩn bờ rào,
như con bươm bướm bay vào bay ra     

(Cảm ơn, Viên Linh)  Hay là:

Thôi thì em chẳng yêu tôi,

leo lên cành bưởi nhớ người rưng rưng     

(Động hoa vàng, Phạm Thiên Thư)

(“Nhớ người rưng rưng” mới thật là hay, không phải “khóc người rưng rưng” như lời của bài nhạc phổ thơ).

Trăng tròn từ thuở mười lăm

em tròn từ thuở anh nằm tương tư     

(Trăng, Bắc Phong)  Hay là:

Chỉ tại con mắt lá răm
nên tằm mới chịu ăn nằm với dâu…

Chỉ tại cái nết không chừa
thế nên trúc cứ lẳng lơ với mành
    

(Trăm dâu cứ đổ đầu tằm, Ngô Tịnh Yên)

Mùa thu mây trắng xây thành
Tình em mầu ấy có xanh da trời
    

(Thu 1954, Hoàng Hải Thủy)

Cái đẹp của thơ lục bát là vẻ đẹp tự nhiên, không cầu kỳ kiểu cọ, không chải chuốt điệu đàng.

Cái hay của thơ lục bát là cái hay của vẻ đơn sơ, bình dị, như tâm hồn chân chất mộc mạc của người dân Việt.

2. Lục Bát Qua Cầu Gió Bay

“Mỗi người Việt là một thi sĩ”, tôi ngờ rằng “thi sĩ” trong câu nói ấy nhiều phần là thi sĩ của thơ lục bát, của những lời thơ tựa những lời lẽ người ta thốt ra một cách tự nhiên mà nghe thật ngọt ngào, dịu dàng và êm tai.

Anh đã có vợ hay chưa
mà anh ăn nói gió đưa ngọt ngào?     

(Ca dao)

Theo cái nghĩa này, ai cũng có thể làm thơ được dễ dàng mà không nhất thiết phải là thi sĩ, thậm chí không nghĩ rằng mình đang làm thơ. Già trẻ lớn bé gì cũng đều làm thơ lục bát được, và trong số những bài thơ ấy ta nhặt ra được không ít những lời thơ “gió đưa ngọt ngào”.

Câu thơ lục bát hay là câu thơ đọc “vèo” một cái thấy hay hay, đến chừng ngoái lại mới hay là mình vừa bước “qua cầu gió bay” một… câu lục bát.

Cái hay trong thơ lục bát là cái hay tự nhiên, hoặc được dụng công thật khéo để mang vẻ tự nhiên. Nhiều câu lục bát đọc lên nghe khơi khơi, nghe thật hồn nhiên như… lục bát:

Còn điếu thuốc này nữa thôi,

đốt lên anh chúng ta ngồi hút chung     

(Chuyện mùa xuân muộn, Thái Phương Thư)

Tôi về đây nhớ chiều xanh,

con chim nào hót trên cành khô kia    

(Giọng sầu, Hoài Khanh)  Hay là:

Đi trong chiều cuối tháng tư,

nắng Montréal đẹp y như Sài Gòn     

(Dạo phố Sainte Catherine, Luân Hoán)  

Tháng mười gió bén như dao
Cắt rơi chiếc lá thả vào lòng tôi
    

(Nhớ nhà, Quan Dương)

Tình ơi, về lại tháng ba
ghé thăm một chút cho ta đỡ buồn
Lục trong ngăn kéo, thỏi son
tình đi ngày ấy hãy còn bỏ quên
    

(Tình ơi, Lâm Chương)  Chưa hết:  

Lòng còn thơm ngọn gió quê

thổi đâu từ thuở bờ tre mới trồng     

(Năm mới, Phan Ni Tấn)

Trầu ơi, xanh lá cho mau
cho duyên con gái thắm màu vôi yêu
    

(Chiều thơm, Như Thương)  Vẫn chưa hết:.

Mùa thu có lá ngô rơi,

có đôi người mới thành đôi vợ chồng     

(Hoa bưởi xóm Chùa Đào, Y Dịch).  

Mười năm không trở lại nhà

Bóng trưa nghiêng đổ, tiếng gà trong mơ     

(Trăng ý, Tần Hoài Dạ Vũ)

Những câu lục bát như thể “gió đưa cành trúc la đà”, như thể “cánh cò bay lả bay la” trên ruộng lúa mênh mông.

II.  Ngôn Ngữ Thơ Lục Bát

Ngôn ngữ thơ là chữ nghĩa, hình ảnh, ý tưởng … chỉ có ở trong thơ hơn là trong đời thực. Có điều, khi đọc, nghe, ta cảm thấy như là có thực, có ý nghĩa và chấp nhận được; hơn thế nữa, lại còn rung cảm vì thứ ngôn ngữ ấy. Bất kỳ cách diễn đạt nào làm cho người ta đọc ra thơ, nghe ra thơ, hiểu ra thơ muốn “nói” điều gì, đều là ngôn ngữ thơ.

1. Chữ Và Nghĩa:

Thường thì nói đến ngôn ngữ người ta dễ nghĩ đến tiếng nói và chữ viết. Chữ nghĩa ở trong thơ lắm khi không giống như ở bên ngoài đời thường.

Tôi vịn câu thơ mà đứng dậy     

Ngoài đời, chẳng ai nói như vậy cả. Câu thơ (của Phùng Quán) không phải là cây gậy, cây nạng mà “vịn” vào được.

Câu thơ hay thường có ý tứ mới, lạ, diễn đạt bằng chữ nghĩa mới, lạ, và nghe rất “thơ”.

Mành tương phất phất gió đàn

Hương gây mùi nhớ, trà khan giọng tình     

(Truyện Kiều, Nguyễn Du)

Lối đi vừa chớm tiêu điều

mùa nghiêng bóng nhỏ ngày xiêu cội dài
phố chiều gió
vọng bàn tay

ru anh về với đôi ngày lãng quên    

 (Bài ru,Trần Dạ Từ)

Những “gây”, “khan”, “nghiêng”, “xiêu”, “vọng”, “ru” ấy chỉ tìm thấy ở trong thơ.

Tóc người chảy suốt cơn mưa
Ngực thơm hoa bưởi, môi
đưa bão về     

(Chân dung, Du Tử Lê)

Em đi sông gọi tiếng thầm
Lục bình
chia nhánh đá trầm mình đau

Em đi trời xuống thật sâu

Mây chia trong tóc, gió nhầu trên vai    

 (Xóa bình minh, Trần Mộng Tú)

Những “chảy”, “đưa”, “gọi”, “chia”, “trầm”, “xuống”, “nhầu” ấy cũng chỉ tìm thấy ở trong thơ. “Mây chia”, “gió nhầu”…, ngoài đời chẳng ai nói thế bao giờ.

Tôi vào chùa, quá tam quan

Phật ngồi im lặng, liễu bàng hoàng xanh
(Thực, Không đôi bờ, Trần Mộng Tú)

Câu thơ đọc lên nghe… bàng hoàng. Đâu chỉ có Phật, đến cả Chúa cũng bàng hoàng:

Tiếng em hát giữa giáo đường,

Chúa về trong những thánh chương bàng hoàng     
(Động hoa vàng, Phạm Thiên Thư)

Dường như cô bé rất hiền,

tay ngoan cặp sách, mắt viền ngây thơ

Dường như ai đó tình cờ

theo chân guốc nhỏ bất ngờ sau lưng     

(Tiểu thư, Như Thương)

Chữ “ngoan” dùng như là động từ, nghe hay hay, ngồ ngộ (những người làm thơ khác chắc sẽ viết “tay ôm cặp sách”). Và động từ “viền” ấy nữa, nghe cũng mới, cũng lạ. Đến hai chữ “bất ngờ” thì thật là… bất ngờ, cứ như là bất ngờ quay đầu lại bỗng giật mình thấy anh chàng đứng ngay sau lưng mình tự lúc nào.

Những chữ nghĩa và cách nói lạ lùng ấy chỉ nghe, chỉ thấy ở trong thơ.

Chữ nghĩa cần có sự phát minh, sáng tạo hơn là lặp lại rập khuôn người đi trước. Những vô thường, vô vi, phù vân, phù ảo, hư ảo, hư không, tà huy, miên trường… mà người làm thơ cố đưa vào bằng được trong thơ mình thường có một vẻ gì khập khiễng, gượng gạo như một kiểu tạo dáng kém tự nhiên, đôi lúc khiến câu thơ tối tăm, khó hiểu.

Thường, thơ khó hiểu thì khó hay; thơ tạo dáng thì khó tạo được cảm xúc.

Thơ hay, “thì”, “mà”, “là”… cũng hay, nhất là với thể thơ lục bát thuần Việt. Chẳng hạn:

Con sông nào đã xa nguồn

thì con sông đó sẽ buồn với tôi     
(Dòng sông của tôi, Hoài Khanh)

Ví dù gối đã lìa chăn

thì chăn gối cũng bao lần với nhau
Ví dù trước đã lìa sau

thì sau trước trước sau sao vẫn là     
(Minh khúc, 89, Nguyễn Tất Nhiên)

Chiều nay ngang cổng nhà ai
nhủ lòng tôi chỉ nhìn cây trúc đào
Nhưng mà không hiểu vì sao
gặp người xưa lại nhìn nhau mỉm cười
    

(Trúc đào, Nguyễn Tất Nhiên).   

“Nhưng mà không hiểu vì sao”… những từ ngữ Hán-Việt, những từ ngữ sáo mòn thời thượng, vẫn cứ được nhiều người làm thơ yêu chuộng. Chữ nghĩa bình dân làm thơ kém hay chăng? Chưa hết:

Tiếng em cười tự thu nào

mà nghe rúc rích bên rào giậu thưa

Em gọi tôi ở ngoài mưa

hay cơn gió lạnh nào vừa qua sông?     
(Thu xưa, Đynh Trầm Ca)

Tôi về khép lại căn phòng

thấy trong lồng ngực như không có gì

Trái tim đã bỏ tôi đi

ai mà nhặt được gửi về dùm tôi    
(Gửi, Nguyễn Trọng Tạo)  Hay là:

Chết đi còn sợ xứ người
là ta sợ cái nổi trôi đã từng
Quê nhà em có về không
cho ta về với nằm cùng nghĩa trang?
   

(Về cùng, Hoàng Lộc)

Mai kia mốt nọ ngang nhà,
có còn liếc trộm như là hồi xưa?
E chừng sớm nắng chiều mưa,
chuyện hồi xưa đã ngày xưa mất rồi
(Phụ phàng, Trần Huy Sao).  

Vẫn chưa hết, những câu lục bát “nhưng mà”, “mà sao”, “tại vì”, “cũng vì”…

Cũng vì mắt ngó trời xanh

cho nên mắt cũng long lanh màu trời

Cũng vì mắt ngó biển khơi

cho nên mắt cũng xa vời đại dương    
(Ngón tay hoa, Trụ Vũ)

2. Ý Tưởng

Câu thơ đẹp thường có mang theo ý thơ đẹp. Ý tưởng mờ nhạt, có mới mà không hay, hoặc có hay mà không mới, thường kém sức hấp dẫn. Ý tưởng cần sáng tạo hơn là vay mượn.

Một ngày nắng đẹp bình yên

Sớm mai thấy mặt trời lên hiền lành     
(Không đề, Tế Hanh)

Câu lục bát của nhà thơ Tế Hanh, có người khen hay, có người chê “nhạt”, chê “hiền lành” quá.

Cà phê nhớ bữa hôm nay

Chén trà xin hẹn ngày rày năm sau     

(Bên quán cà phê, Bùi Giáng)

Câu lục bát của “trung niên thy sỹ” Bùi Giáng, được “cải biên” khá vô tư từ câu lục bát của Nguyễn Du (hoặc “tư tưởng lớn gặp nhau” không chừng):

Chén đưa nhớ bữa hôm nay

Chén mừng xin đợi ngày rày năm sau     

(Truyện Kiều, Nguyễn Du)

Câu thơ hay như bông hoa lạ và đẹp nở ra từ… lục bát, đôi lúc gây bất ngờ và thú vị:

Biệt ly dù ở ga nào,

cho tôi ngồi một toa tàu lãng quên     

(Hôm nay, Nguyễn Tất Nhiên)

Em đi mang theo nụ cười,

tôi ngồi nhìn thấy khoảng đời trống không     

(Cát bụi, Phổ Đức)

Dấu thu kinh tự còn mê,

em mang tà áo bốn bề là trăng     

(Thu vô lượng, Nghiêu Minh)

Áo dài bồng bềnh, chơi vơi như dải trăng thu huyền ảo. Chưa hết:

Khi buồn vẽ mặt bôi râu
nhìn xem lũ quỷ không đầu xưng vương
Khi em đảo ngược thần hồn
thấy tôi cải tạo mười năm chưa về
    

(Bài ca dao về trăng, Lâm Hảo Dũng)

Có ai ngồi quán mong chờ
lắng nghe đàn khảy tình thơ ít nhiều
Bây giờ ghế ngả bàn xiêu
dưới chân nhện hóng, tơ thiều hết ngân
    

(Tọa độ người, Hoàng Xuân Sơn).  

Chưa hết:

Em về nơi ấy có tôi
chưa tìm đã thấy buông trôi tình cờ
Mất rồi lại có trong mơ
vừng trăng tím ngát bao giờ có em
    

(Nơi có, Lưu Nguyễn Đạt)

Tình đến rồi đi, tình mất hay còn, tình thực hay mơ, như bóng trăng huyền hoặc.

Tóc mây Hà Nội năm nào

em đem từng sợi buộc vào đời anh
Bây giờ tóc bạc, tóc xanh

tình xưa anh vẫn quẩn quanh tìm hoài     

(Tóc rối, Nhất Tuấn)

Tình như “tóc rối”, biết đàng nào mà gỡ.

3. Hình Ảnh

Hình ảnh tô đậm thêm những tình ý trong thơ. Ý tưởng đẹp, minh họa bằng hình ảnh đẹp, thường đọng lại về lâu về dài trong tâm tưởng người yêu thơ.

Người lên ngựa, kẻ chia bào   

Rừng phong thu đã nhuốm màu quan san    

 (Truyện Kiều, Nguyễn Du)

Dấu chàng theo lớp mây đưa
Thiếp nhìn rặng núi ngẩn ngơ nỗi nhà
    

(Chinh phụ ngâm khúc, Đoàn Thị Điểm)

Chưa hết, những câu thơ tả tình tả cảnh, kẻ ở người đi…

Mù sương phi cảng não nề

Thôi anh ở lại buồn về em mang     

(Khúc ly đình, Cao Thị Vạn Giả)

Bellevue ơi, Bellevue ơi,

xa ngươi ta nhớ lưng trời thông reo

Đồi nghiêng, dốc đổ, chân đèo

bước đi ngoảnh lại nhìn theo bóng người     

(Bellevue 1, Chu Trầm Nguyên Minh)

Hình ảnh, có khi là bức tranh thơ tĩnh lặng.

Mở trang kinh. chỉ thấy mây
thiền tâm thanh tịnh niệm ngay di đà
tranh hoàng hôn. cảnh tuyết sa
giọt vàng giọt đỏ. nhạt nhòa giọt tôi
    

(Chép một tờ kinh, Lữ Quỳnh)

Có khi là bức tranh nhiều màu sắc, sinh động.

Môi cười vết máu chưa se,

cành hoa gạo cũ nằm nghe nắng hiền

Anh nằm nghe bước em lên,

ngoài song lá động, trên thềm áo bay     

(Khi nàng đến, Trần Dạ Từ)

Trong phút giây chờ đợi bước chân người tình khe khẽ đến bên hiên nhà, chàng tưởng chừng nghe được cả tiếng gió lay động vạt áo và tiếng lá nhẹ rơi bên thềm nhà vắng.

Có khi là “chiều rơi trên đường vắng”…

Chiều rơi từng vạt mong manh,

chân đi vừa chạm khúc quanh, chiều tàn    

(Đường hành hương, Phan Ni Tấn)   

Có khi là áo trắng xôn xao mùa tựu trường. Áo trắng như đàn bướm trắng trong nắng sân trường.

Sáng nay áo trắng tựu trường,

gót chân cuống quýt cả hương cúc vàng     

(Ánh mắt tựu trường, Đoàn Vị Thượng)

4. Âm Điệu:

Âm điệu trong thơ có thể là vần điệu, nhịp điệu hay nhạc điệu.

(a) Vần điệu

Vần điệu là yếu tố hàng đầu để nhận diện thơ lục bát và cũng tạo sắc thái riêng cho thể thơ này. Câu thơ có vần có điệu dễ quyến rũ người yêu thơ, quyến rũ những tâm hồn nhạy bén với thơ, không cứ gì là thi nhân. Tác giả “Bướm trắng”, từng cho mình là “người thừa trong làng thơ”, vẫn có những khi tức cảnh sinh tình mượn câu lục bát để gửi gấm những nỗi niềm.

Mắt mờ lệ nhớ người xưa,

mười năm thương nhớ bây giờ chưa nguôi

Trông hoa lại nhớ đến người,

hoa xưa, xuân cũ biết đời nào quên     
(Nhớ Hoàng Đạo, Nhất Linh)

Thơ hay đến từ cảm xúc chân thực. Chỉ cảm xúc thực mới truyền được cảm xúc đến người đọc. Cảm xúc giả tạo hoặc vay mượn dễ nhận biết, tựa bức tranh vô hồn.

Nhớ em là nhớ quê nhà,
bát canh rau đắng mẹ già còn không?
    

(Lúc nhớ, Hoàng Lộc)

Nhớ em dào dạt biển sông,

làm sao con sóng trong lòng bình yên?    
(Điệp khúc 68, Xuân Chung)

Quê nhà, mẹ già, biển sông, con sóng, chỉ đơn sơ là vậy nhưng khơi dậy những nỗi niềm trăn trở và nhớ nhung da diết.   

Thủ pháp gieo vần lưng (yêu vận) là nét đặc sắc trong thơ lục bát, làm biến đổi hẳn về tiết tấu, nhịp điệu câu thơ, nghe như một nốt trầm trong câu nhạc hay một “bước nhỏ ngập ngừng”.

Sao em không chọn mùa đông

mà đi lấy chồng lại đúng mùa thu?
(Thu xưa, Đynh Trầm Ca)

Tôi còn có một mùa đông

Em ở với chồng tận cuối cơn mưa     

(Tận cuối cơn mưa, Đồng Đức Bốn)

Người phu quét lá bên đường,

quét cả nắng vàng, quét cả mùa thu     

(Góp lá mùa xuân, Trịnh Công Sơn)

Câu thơ, cũng nhờ vậy, có thêm nhạc tính.

Bài này không nhằm đi sâu vào phân tích về âm luật, các thủ pháp gieo vần, ngắt nhịp trong thể thơ lục bát.

(b) Nhịp điệu:

Nhịp điệu là tiết tấu của câu thơ. Câu, chữ trong thơ lục bát thường được ngắt theo nhịp chẵn, đôi lúc nhịp lẻ tùy thuộc cách thể hiện tình ý trong thơ và cũng để tránh sự đơn điệu.

Đò qua sông / chuyến đầu ngày,

người qua sông / mặc áo dài buông eo    

(Chuyến đò Cửu Long, Nguyễn Tất Nhiên).  

Em giờ là / của người ta

Của riêng tôi / một chậu hoa cúc tần     

(Bên giậu cúc tần, Nguyễn Đại Nghĩa)

Có khi là những tiểu đối nhịp nhàng tạo khoảng cách đều đặn và tiết tấu dìu dặt cho thơ.

Khi chén rượu / khi cuộc cờ

Khi xem hoa nở / khi chờ trăng lên     
(Truyện Kiều, Nguyễn Du)

Rượu mời ta rót cho ta

Bạn gần không đến / bạn xa chưa về

Rót nghiêng năm tháng vào ly

Mắt nheo bóng xế / tay che tuổi buồn     
(Ðêm cuối năm uống rượu một mình, Thanh Nam)

Về khuya tiếng nói âm thầm
em nghiêng mái tóc cho gần vai anh
Nhạc lên men rượu si tình

ngẩn ngơ khói thuốc / bồng bềnh ý thơ     

(Bài ca M.L., Hoàng Anh Tuấn)

Có khi là nhịp cầu nối liền chữ thứ sáu và chữ thứ bảy trong câu “bát”, tạo cảm giác đong đưa, mượt mà.

Miệng người tự bữa môi cong
Mắt người tự bữa ngước
đong đưa nhìn    

 (Hiện thể, Bùi Giáng)

Ở đây mưa trắng không gian,
mưa vùi dập mộng, mưa
tan tác đời     

(Buộc áo giữa đường, Trần Mộng Tú)

Nhiều lắm, những nhịp cầu nối lênh đênh, dập dềnh.

Em đi phố cũng ngậm ngùi

rừng kêu, núi gọi, sóng vùi dập sông
(Rừng trú ngụ em, Trần Yên Hòa)

Tây Bắc chiều núi lặng thinh
Se-at-tle đó mây
lênh đênh về     

(Chào Tây Bắc, Nguyễn Nam An)

Lối đi vàng nhạt mùa thu
Nghe lau lách động niềm
u uất buồn     

(Trông theo, Hoài Khanh)

(c) Nhạc điệu:

“Thi trung hữu nhạc”, tôi ngờ rằng “thi” trong câu ấy nhiều phần là thơ lục bát. Các nhạc sĩ chuộng phổ thơ vẫn nói rằng phổ nhạc một bài lục bát không phải dụng công nhiều vì trong thơ đã sẵn có nhạc.

Thử đọc, đọc thành tiếng chứ không đọc thầm, một đôi câu lục bát, ta nghe được những nốt, những thanh âm trầm bổng, nhịp nhàng uyển chuyển đến từ vần điệu, nhịp điệu và ngữ điệu trong thơ. Những yếu tố này khiến câu lục bát giàu nhạc tính hơn bất cứ thể thơ nào.

Nhẹ bàn tay, nhẹ bàn tay
Mùi hương hàng xóm bay đầy mái đông
Nghiêng nghiêng mái tóc hương nồng
Thời gian lặng rót một dòng buồn tênh
    

(Thơ sầu rụng, Lưu Trọng Lư)

Nghe thơ, như nghe vẳng lên trong đầu lâng lâng tiếng nhạc.

Ngủ đi em, mộng bình thường

Ru em sẵn tiếng thùy dương mấy bờ     

(Ngậm ngùi, Huy Cận)

Đèo cao cho suối ngập ngừng

Nắng thoai thoải nắng, chiều lưng lửng chiều    

(Đường rừng chiều, Nguyễn Bính)

Tai nương nước giọt mái nhà,
nghe trời nằng nặng, nghe ta buồn buồn
    

(Buồn đêm mưa, Huy Cận)

Câu thơ nghe… “lưng lửng”, “buồn buồn” làm sao!

Câu thơ đậu trong điệu hò,

hồn tôi đậu giữa lòng đò trăng soi     

(Trong khi chờ thanh xuân, Phan Ni Tấn)

Tiếng thơ nghe dạt dào như con đò nhỏ dập dềnh trên sóng, như mái chèo nhẹ khua nước đêm trăng. Chưa hết:

Tôi đang mơ giấc mộng dài,

đừng lay tôi nhé cuộc đời xung quanh     

(Năn nỉ, Lệ Lan)

Mưa như từng giọt rượu hờ,
đêm trong thành phố ai chờ chờ ai
Mưa thưa tựa áo lụa trời,
ôm quanh da thịt chân người người qua
    

(Mưa mùa hạ, Trịnh Công Sơn)

Nghe tiếng thơ, tưởng nghe được tiếng mưa đêm rơi đều về ngang thành phố.

Có khi câu “lục” trong thơ toàn vần “bằng”, cho một cảm giác mênh mang, xa vắng.

Hơi đàn buồn như trời mưa

Các anh tắt nốt âm thừa đi thôi     

(Các anh, Thâm Tâm)

Ôi thông xanh, ôi hồng đào
Phong rêu mấy thuở hồn nào không đau
    

(Thu ngây, Cung Trầm Tưởng).

Bây giờ môi anh cô đơn

Nhớ em nhớ cả nụ hôn dịu dàng     

(Nhớ, Vũ Thành)   

Hay là:   

Tôi vào chùa, tâm phân vân

Tiếng chuông vỡ giữa Thực, Không đôi bờ    

(Thực, Không đôi bờ, Trần Mộng Tú)

Còn chăng là mây lang thang

trên đồi gió hú bạt ngàn rừng thông

Còn chăng là đêm mênh mông

người ngồi nhớ một dòng sông cạn rồi     

(Người thi sĩ ấy không còn làm thơ, Phạm Cao Hoàng)

Thơ, nhạc và tranh nhiều lúc vượt ra ngoài biên giới của ngôn ngữ. Cái làm cho thơ “không biên giới” là ý tưởng và hình ảnh (đôi lúc chữ nghĩa) hơn là vần điệu, nhịp điệu hay nhạc điệu. Đọc một bài thơ hay của nước ngoài ta thấy nhiều phần cái hay là hay về ý tưởng hoặc hình ảnh. Bài thơ tiếng Việt chuyển ngữ sang tiếng nước ngoài cũng chỉ chuyển tải được những tình ý, hình ảnh ở trong thơ hơn là âm điệu. Thơ trở thành tiếng nói chung thông qua ý tưởng và hình ảnh. Trên hết vẫn là ý tưởng. Khi không còn nghe ra âm điệu, “lục bát tính” cũng không còn, khiến cái đẹp, cái hay của thơ lục bát cũng hao hụt đi ít nhiều.

Thơ là sự bay bổng của ngôn ngữ. Ngôn ngữ nào bay lên được thì gọi là thơ. Bay đi đâu? Hẳn là bay ra ngoài thế giới ngôn ngữ của đời thường. Thơ bay bổng làm con người cũng muốn bay bổng theo. Đọc được, bắt được một câu thơ, một ý thơ hay thật là sảng khoái, có cảm giác lâng lâng, bềnh bồng tựa hồ… bay là là trên không.

Cái cách tạo cho người ta cảm giác ấy, là thơ, là nghệ thuật của thơ. Và người làm thơ phô diễn cái nghệ thuật ấy bằng ngôn ngữ thơ.

***

Bài này không đề cập đến những biến thể biến thái, cách tân cách điệu về cấu trúc của thể thơ lục bát. Những công trình khai phá hay thử nghiệm nào để làm thơ lục bát thêm phong phú và hấp dẫn cũng đáng được hoan nghênh. Có điều, những canh tân đổi mới này nhiều phần thiên về hình thức hơn là nội dung, thường là những kiểu sắp chữ, sắp hàng, xuống dòng, cách quãng, ngắt nhịp, đôi lúc đi quá đà như chẻ nhỏ hay chẻ vụn câu, chữ trong thơ. Những cách trình diễn lạ mắt ấy ít nhiều đánh mất lục bát tính. Câu thơ lắm lúc đọc nghe trúc trắc, gập ghềnh, tựa như chạy xe trườn lên những cái “bump” gồ ghề trên mặt đường.

Người yêu thơ, vẫn trông đợi nơi thơ cái “tân nội dung” hơn là tân hình thức. Một bài thơ, câu thơ hay không bao giờ cũ, như cái đẹp còn ở lại với ta mãi.

Thơ trích ra trong bài này là những câu thơ “mẫu”, chỉ nhằm minh họa phần nào cái đẹp, cái hay của thơ lục bát trên cánh đồng thơ bát ngát, mênh mông. Xin cám ơn tác giả những câu thơ người viết mạn phép trích dẫn. Chắc chắn là tôi đã quên sót nhiều bài, nhiều câu lục bát hay, và còn nhiều, rất nhiều bài lục bát thật hay nữa tôi chưa được biết tới.  

Thơ lục bát không bao giờ cũ, không bao giờ lỗi thời, không bao giờ cạn nguồn. Nguồn thơ lục bát là vô tận.

Thơ lục bát là thơ nội hóa. Yêu thơ lục bát là yêu “hàng nội”, là “ta về ta tắm ao ta”.

Thơ lục bát là kho tàng thi phú của riêng người Việt mình, không sợ ai đánh cắp, bắt chước hay cạnh tranh được, cũng là niềm tự hào về bản sắc và tính độc lập trong ngôn ngữ và thi ca của dân tộc Việt.

Thơ lục bát có thể được kể thêm vào những món “đặc sản” trong văn hóa truyền thống của người Việt như áo dài, như nón lá và cả những món ăn “quốc hồn quốc túy”.

“Truyện Kiều còn, tiếng Việt còn”, ta vẫn nghe vậy. “Tiếng Việt” vẫn còn đây, trong mọi sinh hoạt của cộng đồng người Việt ở hải ngoại. Truyện Kiều là danh tác, không ai phủ nhận. Có điều trường thi lục bát này, cũng như nhiều áng văn chương “cổ điển” khác, e không có sức hấp dẫn và “hợp khẩu vị” của thế hệ người Việt trẻ trung sinh trưởng hoặc trưởng thành ở nước ngoài.

Sau Truyện Kiều, nối gót cụ Nguyễn Du, các thế hệ thi nhân đã mang đến cho đời nhiều thi phẩm lục bát hay, giá trị với đề tài, nội dung gắn liền với cuộc sống quanh ta.

Nếu được phép đề nghị, các trường dạy tiếng Việt cho học sinh người Mỹ gốc Việt ở hải ngoại, ngoài các bài giảng về tục ngữ, ca dao, có thể thêm vào bài giảng về thể thơ lục bát truyền thống của người Việt mình. Các thầy cô giáo có thể dạy cho các em, các cháu, cái đẹp cái hay của thơ lục bát, gieo vào lòng các em tình yêu thơ lục bát, và qua đó, gieo vào lòng các em tình yêu tiếng Việt.  

Hơn thế nữa, ngoài các bài tập làm văn, thầy cô có thể dạy các em… tập làm thơ. Sao không? Không gì bằng dẫn dắt các em đi vào thế giới thi ca bằng cách làm quen với thể thơ lục bát. Nếu cần, phát huy thêm bằng các hình thức tổ chức thi đua làm thơ lục bát về những đề tài gần gũi, thiết thực. Các bậc phụ huynh hẳn sẽ vui lắm khi thấy con em mình… biết làm thơ lục bát (và người yêu thơ lại có thêm nhiều bài thơ hay lục bát). Thiết tưởng đấy cũng là phương cách “bảo tồn và phát huy tiếng Việt” như mục tiêu của hầu hết các trường dạy tiếng Việt ở nước ngoài hiện nay.

Khi mà con cháu chúng ta biết làm thơ lục bát, biết yêu thơ lục bát và biết tự hào về thơ lục bát như tự hào về bản sắc văn hóa của dân tộc Việt thì ta có thể yên tâm là tiếng Việt mến yêu sẽ còn mãi còn hoài, chẳng mất đi đâu được.

“Thơ lục bát còn, tiếng Việt còn”, chúng ta có lý do để tin như vậy.

Lê Hữu

Roses for Mom

Joe Hùng Nguyễn

HOA HONG 1MINH

John stopped by the flower shop to place an order for some roses for his mom who lives about 400 miles from him. As he stepped out of his car, he saw a little girl crying in front of the shop. He came over and asked her why she was crying.

– I want to buy a rose to give to my mother – she sobs – but I only have 75 cents, a rose costs 2 dollars.

He smiled and said to her:

– Come into the shop and I will buy you some.

John told her to pick out some roses that she likes, he paid for her

and then placed an order of dozen roses to send to his mother. He felt happy that he found some beautiful roses he knows his mom would love. He pictures her smiling when she receives them

As they walked out the flower shop, John asked her if she needs a drive home.

She smiles happily and said:

– Yes, please drive me my mom’s house, I will give her these beautiful rioses.

She showed John the way and to his surprise they ended up in a cemetery, where there was a newly buried grave.

She said:

– This is my mom’s house.

She gently placed the roses on the grave and murmured: :

– Mom, I love you and I miss you a lot.

Then she hugged and kissed the grave stone. ——-.

=====
John hurried back to the flower shop, cancelled the delivery. He took the dozen roses with him and decided that he will surprise his mom.

That afternoon he drove all the way to deliver her his love. He would hug her, kiss her and tell her that he loves and misses her a lot, just like that little girl said to her mom’s grave.

“Whoever believes in me, will do the works that I do.” (John 14:12)

Love is not only what one says, nor cites, nor recites,
But also what one’s done that shows: I truly love you.

Have you hug and kiss your Mom today?
 

Happy Mother’s Day to all the Wonderful Mothers.

 

*** Hoa hồng tặng Mẹ / Con Để Dành Phòng Khi Đau Ốm

hoa_hong_cau_vong_5_ejccHoa hồng tặng Mẹ

Anh dừng lại tiệm bán hoa để gửi hoa tặng mẹ qua đường bưu điện. Mẹ anh sống cách chỗ anh khoảng 300km. Khi bước ra khỏi xe, anh thấy một bé gái đang đứng khóc bên vỉa hè. Anh đến và hỏi nó sao lại khóc.

– Cháu muốn mua một hoa hồng để tặng mẹ cháu – nó nức nở – nhưng cháu chỉ có 75 xu trong khi giá một hoa hồng đến 2 đôla.

Anh mỉm cười và nói với nó:

– Đến đây, chú sẽ mua cho cháu.

Anh liền mua hoa cho cô bé và đặt một bó hồng để gửi cho mẹ anh. Xong xuôi, anh hỏi cô bé có cần đi nhờ xe về nhà không. Nó vui mừng nhìn anh và trả lời:

– Dạ, chú cho cháu đi nhờ đến nhà mẹ cháu.

Rồi nó chỉ đường cho anh đến một nghĩa trang, nơi có một phần mộ vừa mới đắp. Nó chỉ ngôi mộ và nói:

– Đây là nhà của mẹ cháu.

Nói xong, nó ân cần đặt nhánh hoa hồng lên mộ.

Tức thì, anh quay lại tiệm bán hoa, hủy bỏ dịch vụ gửi hoa vừa rồi và mua một bó hồng thật đẹp. Suốt đêm đó, anh đã lái một mạch 300km về nhà mẹ anh để trao tận tay bà bó hoa.

Con Để Dành Phòng Khi Đau Ốm

Câu chuyện về một bà mẹ già ở Miền Tây, vùng đồng bằng Sông Cửu Long. Chồng mất sớm, bà ở vậy nuôi con được 25 năm. Lúc đứa con gái lớn khôn thành danh ở Mỹ, tháng nào cũng gửi về cho bà một lá thư và 200$ tiêu xài.

Hết xuân này đến xuân kia, cô con gái luôn viện cớ này cớ nọ, không chịu về thăm người mẹ thương yêu. Khi người mẹ mất, cô về làm đáng tang rất to nhưng tuyệt nhiên cô không rơi một giọt nước mắt.

Đến khi mở chiếc rương mà bà cụ luôn để ở đầu giường, bỗng cô òa lên khóc nức nở, ôm lấy quan tài mẹ mình hét lên như điên dại: “Mẹ…Mẹ ơi…”

Mọi người vây nhau xem trong chiếc rương có gì. À, thì ra là những tờ đô-la mới toanh còn buộc dây. Và còn một mảnh giấy đã úa vàng, viết nguệch ngoạc được dán dính lại với tấm hình cô con gái lúc mới lọt lòng:

“Tiền nhiều quá, mẹ xài không hết con à. Mẹ nhớ con lắm, mỗi khi nghe tiếng xe ông-đa (honda) là mẹ chạy ra. Lần nào cũng không phải là con hết. Số tiền này mẹ để lại cho con, CON ĐỂ DÀNH PHÒNG KHI ĐAU ỐM nghe con.”

Cô con gái đã có tất cả những gì một người phụ nữ có thể có: tiền, danh vọng, địa vị, chồng thành đạt, con ngoan. Nhưng cô đã mất một điều vô cùng thiêng liêng: MẸ!

Sưu tầm

*** Phượng hoàng đậu gốc ngô đồng

Võ Quang Yến

00vyen_CNLV554_PhuongHoangDauGocNgoDong2Chiều chiều ra đứng Tây lầu Tây Tây lầu Tây
Thấy cô tang tình gánh nước tưới cây tưới cây ngô đồng
Xui ai xui trong lòng tôi thương, thương cô tưới cây ngô đồng
Lý chiều chiều – Dân ca Nam Bộ

“Thượng đại phu Du Thụy hiệu Bá Nha và người đốn củi Tử Kỳ là hai người bạn tri âm thời Xuân Thu Chiến Quốc. Năm đó, Bá Nha phụng chỉ vua Tấn đi sứ qua nước Sở. Trên đường về, khi thuyền đến cửa sông Hán Dương, nhằm đêm Trung Thu sáng trăng, phong cảnh hữu tình, Bá Nha cho lính cắm thuyền dưới chân núi Mã Yên để thưởng ngoạn. Cảm thấy hứng thú, muốn dạo chơi một vài khúc đàn, Bá Nha sai quân hầu lấy chiếc lư ra, đốt hương trầm, xông cây Dao cầm đặt trên án. Bá Nha trịnh trọng nâng đàn, so dây vặn trục. Sau đó đặt tâm hồn đàn lên một khúc réo rắt rất âm thanh, quyện vào khói trầm. Chưa dứt bài, đàn bổng đứt dây. Bá Nha giựt mình tự nghĩ, dây đàn bổng đứt thế nầy ắt có người nghe lén tiếng đàn, bèn sai quân hầu lên bờ tìm xem có ai là người nghe đàn mà không lộ mặt. Quân hầu lãnh lịnh lên bờ thì bỗng có người từ trên bờ lên tiếng : Xin đại nhân thứ lỗi cho, tiểu dân nầy đi kiếm củi về muộn, đi ngang qua đây, nghe tiếng đàn tuyệt diệu quá, nên cất bước đi không đành !… Tử Kỳ tinh thông nhạc lý, tinh tường Dao cầm, thấu rõ lòng Bá Nha qua tiếng đàn, lúc cao vòi vọi chí tự non cao, lúc thì trời nước bao la, ý tại lưu thủy. Bá Nha vô cùng báo phục và xin kết nghĩa anh em.
Thiên thu bần tiện thành tri kỷ
Nhất khúc dao cầm sơn thủ tâm
(Ngàn năm nghèo khổ thành tri kỷ,
Một khúc đàn Dao rõ nỗi lòng) (3)

 Trước khi chia tay, hai người hẹn lại gặp nhau năm sau cũng tại chốn nầy. Mùa thu năm sau, khi Bá Nha trở lại Mã Yên thì Tử Kỳ, vì bệnh, mới chết mộ còn chưa xanh cỏ. Chúng Lão, thân phụ của Tử Kỳ, đưa Bá Nha đến mộ.
Bên phần mộ Tử Kỳ, Bá Nha lạy và khóc nức nở rằng: Hiền đệ ơi, lúc sống anh tuấn tuyệt vời, nay chết, khí thiêng còn phảng phất, xin chứng giám cho ngu huynh một lạy ngàn thu vĩnh biệt. Lạy xong, Bá Nha gọi đem Dao cầm tới, đặt lên phiến đá trước mộ, ngồi xếp bằng trên mặt đất một cách nghiêm trang, so dây tấu khúc Thiên thu trương hận, tiễn người tri âm tài hoa yếu mạng. Tiếng đàn đang réo rắt bỗng trầm hẳn xuống. Gió rừng thổi mạnh, mây đen kéo lại, u ám bầu trời, hồi lâu mới tan. Bá Nha ngưng đàn. Gió ngừng rít, trời trong sáng trở lại, chim ai oán lặng tiếng. Bá Nha nhìn Chung Lão thưa: Tử Kỳ đã về đây chứng giám cho lòng thành của tiểu sinh. Cháu vừa đàn vừa ca để viếng người tri âm tài hoa mệnh yểu và xin đọc thành thơ đoản ca nầy … Lời thơ vừa dứt, Bá Nha vái cây Dao cầm một cái, tay nâng Dao cầm lên cao, đập mạnh xuống tảng đá. Dao cầm vỡ tan nát tung từng mãnh, trụ ngọc, phím vàng rơi lả tả. Chung Lão không kịp ngăn, hoàng kinh hỏi rằng: Sao đại nhân lại đập vỡ đàn quí giá nầy? Bá Nha đáp lời bằng bài thơ tứ tuyệt:
Suất toái dao cầm phượng vĩ hàn
Tử Kỳ bất tại đối thùy đàm
Đại thiên thế giới giai bằng hữu
Dục mịch tri âm nan thượng nan!
Tạm dịch thơ:
Đập nát Dao cầm đau xót phượng
Tử Kỳ không có đàn cho ai
Bốn phương trời đất bao bè bạn
Tìm được tri âm khó lắm thay!

 Dao cầm được làm từ phần gỗ tốt nhất của cây ngô đồng. Khi xưa vua Phục Hy thấy 5 vì sao rơi vào cây ngô đồng, rồi có chim phượng hoàng đến đậu. Biết là gỗ quí, hấp thu tinh hoa Trời Đất, nên vua bảo thợ khéo lấy gỗ chế làm nhạc khí gọi là Dao cầm, bắt chước nhạc khí ở Cung Dao Trì.” (2) . Giáo sư Trần Văn Khê cũng có một cây đàn tranh làm bằng gỗ cây ngô đồng, dài, nặng, tiếng đàn vang lên rất ấm.
Cây ngô đồng, còn được gọi tơ đồng, trôm đơn (**), mã đậu (1) , mang tên khoa học Sterculia platanifolia L (*) hay Firmannia simplex (L.) W.F. Wight, Hibiscus simplex L. (**), thuộc họ Trôm Sterculiaceae (*). Cây ngô đồng còn có tên Firmiana platanifolia Schott et Endl (Nhật Bản), (L.F.) Marsili (Trung Quốc). Bên nước nầy người ta còn nôm na kêu tên theo một tích xưa: cây phượng hoàng (8)! Tên ngô đồng cũng đã được đặt cho cây trẩu tức dầu sơn, mộc du thụ, thiên niên đồng Aleurites montana (Lour.) Wils., cây Jatropha podagrica Hook. thuộc họ Thầu dầu Euphorbiaceae (*) và cây Brassaiopsis ficifolia Dunn. var. ficifolia, thuộc họ Đinh lăng Araliaceae(**). Ngoài ra, bên ta thường hay lầm cây ngô đồng với cây vông nem (1) tức hải đồng bì, thích đồng bì Erythrina indica Lamk., thuộc họ Bươm bướm Papilionaceae, và với cây vông đồng (1) tức điệp tây, ba đậu tây Hura crepitans L. thuộc họ Thầu dầu Euphorbiaceae (*).
Nhiều phòng thí nghiệm trên thế giới, nhất là Nhật Bản, Trung Hoa, Hàn Quốc, từ lâu đã khảo cứu những hóa chất trong cây ngô đồng Firmannia (Firmiana) platanifolia, F. simplex, Sterculia platanifolia là những tên thông dụng trong các bản báo cáo khoa học. Lá cây non chứa đựng hentriacontan, bêta-amyrin, bêta-amyrin acetat, bêta-sitosterol, rutin. Bêta-sitosterol cũng có mặt trong hoa cùng với apigenin, oleanolic acid. Vỏ cây khô đem chiết với methanol cống hiến octacosanol với những dẫn xuất acetyl, benzoyl của nó cùng một số ít lupenon, sucrose. Từ vỏ cây cũng được chiết ra một chất nhầy chứa đựng galactan, pentosan, uronic acid, những chất đường đem thuỷ phân đem lại galactose, arabinose, glucuronic acid (4). Rễ cây cống hiến những firmianon A,B,C là những dimer của naphthoquinon. Một chất mới có tính chất an thần là simplidin tức là tetrahydroxy dimethoxy neolignan đã được chiết xuất từ cành cây cùng với sáu chất đã từng biết: scopoletin, syrigaresinol, aquillochin, nitidanin, tamarixetin rhamnosid và quercitrin. Trong mục tiêu làm giấy, những polysaccharid trong chất nhầy đã được xem xét: chúng gồm có D-galacturonic acid, D-galactose, L-arabinose, L-rhamnose đem thủy phân cống hiến những amin acid, L-glutamic acid, L-alanin, và số ít L-isoleucin, L-valin, L-lysin L-tyrosin, glycin (15). Alpha-linolic acid bromid, sterculenic acid, cyclopropenoic acid, malvalic acid thì tìm ra được trong dầu hột cây. Nhờ một enzym, oxalic acid dưới dạng muối Ca oxalate tang hòa trong cây, không hiện ra thành tinh thể. Nhiều saccharid cống hiến galactose từ monosaccharid (9), glucosamin từ polysaccharid (12). Những hoá chất quan trọng về mặt sinh lý học đã được phát hiện là những flavonoid: kaempferol và dẫn xuất rutinosid, quercetin và dẫn xuất hyperosid (7,10), những alkaloid như betain, cholin (6), xanthin, hypoxanthin (5).
Về mặt ứng dụng thấy có một số công tác khảo cứu. Đem thử trên chuột, nhờ những alcaloid xuất tiến sự dính kết và kết tụ tiểu cầu, hột ngô đồng có tác động cầm máu phát xuất từ cấu tạo những cục huyết khối (8). Lá và hột cho vào 25, 40, 70 hay 90% ethanol là một môn thuốc kích thích loại Cola vera hay C. acuminata (5). Một văn bằng sáng chế Nhật Bản cho trộn dầu ngô đồng (1 phần) với estradiol (1 phần) trong petrolatum (98 phần) để làm thuốc chống béo (11). Hỗn hợp với nhiều cây khác như ma hoàng, cây dâu (tầm tang), cây nhút tây (tỳ bà diệp),…ngô đồng làm thành thuốc chữa ho suyển (24), viêm phế quản cấp tính (26), đặc biệt cho con trẻ khi cho trộn với bách bộ, hoàng cầm, tiền hồ (23). Hỗn hợp với đảng sâm, hoàng kỳ, thủ ô, lười ươi, lộc nhung, bò cạp hay với phấn hoa, mật ong, sửa chúa, rễ cây là một thuốc bổ cho con trẻ (22). Gần đây ngô đồng được dùng nhiều trong mỹ phẩm: bảo vệ da (19) (trộn với nhân trần cao (16)), bảo vệ tóc (17,21) hay chữa chứng bạc lông poliosis (20) (trộn với hoàng tinh, đương quy, sinh địa, phục linh, móng lưng rồng), kích thích tóc mọc, phòng ngừa tóc rụng (18), làm chất tẩy, chế phẩm bồn tắm có hiệu ứng giữ da ẩm lâu ngày, phòng ngừa da khô, nhám, nứt, gầu đầu (14). Hỗn hợp với lá chè, long não, tầm tang, lá quạt, lá cây còn đưọc dùng cuốn điếu hút không hại sức khoẻ (25). Trong nhân dân, ta thường dùng hạt và vỏ cây ngô đồng để chữa rụng tóc và nhuộm đen tóc, vỏ cây ngô đồng đốt thành than, trộn với dầu bôi lên tóc bạc, hột ngô đồng giả nát còn được dùng chữa loét miệng và bệnh ngoài da. Ngô đồng là một cây to, cao. Lá xẻ thùy chân vịt, cuống lá dài hơn phiến lá. Những thùy rất sít nhau, có khi hơi chồng lên nhau. Hoa nhỏ màu vàng. Quả gồm năm đại, mỏng với hai hạt hình trứng. Cây được trồng ở nhiều tỉnh miền Bắc và miền Nam nước ta. Miền Bắc hay gặp ở Thanh Hóa, Nghệ Tĩnh, Ninh Bình. Còn thấy trồng ở Campuchia, Trung Quốc, Nhật Bản. Người ta dùng hạt thu hái ở những quả chín và vỏ cây hái gần như quanh năm, dùng tươi hay phơi hoặc sấy khô (*). Cũng cần biết thêm có một con sâu sống trên cây ngô đồng tên là Notarcha derogata; người ta đã tìm ra được hai pheromon chính, tức là hormon tính phái, do con cái tiết ra là hai chất đồng phân (E,Z)- và (E,E)- hexadienal bên cạnh hai chất có ít hơn là hexadecanal và hexadecadienol (13). Thông tin rất quan trọng nếu ngày nào muốn loại trừ sâu nầy khỏi cây.
Nhà văn Nguyễn Xuân Hoàng, nay đã mất, dựa theo tài liệu nghiên cứu của Đỗ Xuân Cầm, đã thống kê những cây ngô đồng ở Huế cùng lịch sử của chúng. Anh đã sống với những cây ngô đồng, rung động với mỗi lá vàng rơi. “Cuối đông, cội ngô đồng bách lão bên hông nhà Tả Vu Đại Nội Huế lá đã vàng don don. Sắc vàng rỗ hoa xanh chơm chớm những đường gân nhỏ li ti như mạch máu trên bàn tay người. Lá ngô đồng Huế vàng như vậy rất lâu. Có khi kéo dài đến mấy tháng trời như một nỗi buồn ít nhiều thầm lặng. Lá có khi u sầu như một người tương tư, rơi xuống thảm cỏ với gương mặt ơ thờ vàng ửng. Cây ngô đồng Huế thường rụng lá cuối đông. Từng chiếc một rơi, rơi lần lượt. Không một chút vội vàng. Cách rơi thảnh thơi, lưu luyến, dè dặt như không muốn rời thân mẹ, khiến những tâm hồn đa cảm mang mang. Nếu không có chiếc cuống dài thanh mảnh, chiếc lá ngô đồng sẽ mang hình hài của một giọt lệ vạm vỡ, những giọt lệ không tan buồn vương vương như dấu vết cổ tích của một thành phố rất nhiều chim và hoa. Cái dáng lao thẳng lên trời xanh như một thanh bảo kiếm của cây ngô đồng, là lời ngụ cương trực, tiếng nói vô ngã hồn nhiên của một nhân-cách-cây. Lạ thay, lá ngô đồng vàng vọt ủy mị bao nhiêu thì vóc cây lại dũng mãnh cương cường bấy nhiêu. Người xưa yêu và thích trồng cây ngô đồng có lẽ ở dáng cây thẳng độc nhất vô vị. Cây như thay lòng người mang khát vọng lớn của con chim hồng, chim hộc, chỉ nhận sự gửi thân của bầy chim phượng hoàng. Tích xưa con chim phượng hoàng thường chọn cây ngô đồng làm chỗ dung thân. Đó là sự lựa chọn tri kỷ của một bản năng cao cả đã được lập trình. Ở đâu có cây ngô đồng mọc, ở đó có sự khang khác, như là cuộc sống này đã nguyên sơ và trinh bạch hơn ” (1).
Tôi chưa từng được hân hånh thấy cây ngô đồng rụng lá mùa thu
Ngô đồng hất diệp lạc
Thiên hạ cộng tri thu
(Một lá ngô đồng rụng,
Khắp nơi biết thu đến) (3).

 Tôi cũng không may mắn được ngắm hoa ngô đồng nở ngang tầm cửa, được hưởng hương thơm hoa ngô đồng thoảng vào giảng đường. Nhưng một sáng mùa hè năm ngoái, nhân chạy theo mấy đóa hoa sen trong Jardin des Plantes ở Paris, tôi tình cờ chạm vào một cây tưởng như cây ngô đồng đang nở hoa. Nghi hoặc, tôi tìm cho ra bản ghi tên cây, thật đúng chua nhỏ ở dưới Firmiana simplex. Bất giác tôi ngẩng đầu lên thử tìm con chim phượng hoàng. Biết đâu!
Ngày nay thánh chúa trị đời,
Nguyền cho linh phụng gặp nơi ngô đồng
(Nguyễn Đình Chiểu)
Nhưng chim phượng hoàng không có đó và tôi cũng không phải Đỗ Phủ giang hồ dọc sông Hoàng Hà, đói lả người, lạnh rét thấu xương để có một cái nhìn tráng lệ
Hương đạo trắc dư anh vũ lạp
Bích Ngô thê lão phượng hoàng chi.
(Chim anh vũ đã ăn những hạt lúa còn sót lại
Chim phượng hoàng già thường về đậu trên cành ngô đồng xanh) (1).
Không được chiêm ngưỡng phượng hoàng, tôi tự an ủi với tấm ảnh chụp hoa lá cây, cũng là hạnh phúc lắm rồi!
Nghiên cứu và Phát triển 6(65)2007,
khoahoc.net 06.2009

Tham khảo

 (*) Đỗ Tất Lợi, Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam, nxb Khoa học và Kỹ thuật, Hà Nội (1986) 359-61, 484-5, 560-1, 782-3
(**) Phạm Hoàng Hộ, Cây cỏ Việt Nam, Mekong Ấn quán, Santa Ana (1991) I 645, II 631
1-Nguyễn Xuân Hoàng, Một trăm cây ngô đồng trong Tượng đài sông Hưong, nxb Trẻ, Tp Hồ Chí Minh (2004) 137-4; tôi xin nhân đây thắp một nén hương trên mộ anh bạn trẻ tuy gặp nhau ít mà hiểu nhau nhiều
2- Phí Minh Tâm, Bá Nha, Tử Kỳ, khoahoc.net 24.9.2006
3- Trần Đình Sơn, Những nét đan thanh, nxb Văn Nghệ, TpHôChíMinh (2007) 108-9, 192, 234 ; xin thành thật cám ơn tác giả đã gởi tặng cuÓn sách quý
• Khảo cứu
4- S. Kosuge, Sizes for Japanese paper. I. Mucilage of Firmiana platanifolia, Res. Bull. Gifu. Coll. Agr. (Japan) (1950) 68 (Commem. 25th Anniv. of Fondation) 111-6
5- Yu.G. Trakman, Sterculia platanifolia – a new medicinal raw material for stimulative preparations, Nekotorye Voprosy Lekarstvoved (1959) 81-5
6- Yu.G. Trakman, Nitrogenous bases of Sterculia platanifolia, Sbornik Nauchnykh Trudov – Tsentral’nyi Aptechnyi Nauchno – Issledovatel’skii Institut 5 (1964) 174-81
7- Y. Ogihara, M. Ogawa, T. Aoyama, The constituents of the barks of Firmiana platanifolia Scott et Endl., Nagoya-shiritsu Daigaku Yakugabuku Kenkyu Nenpo 23 (1975) 52-3
8- X. Che, J. Liu, Y. Zhang, P. Lei, Hemostatic action of alcaloids of phoenix tree (Firmiana simplex) and its effect on experimental thrombus formation, Zhongcaoyao (5) 16 (1985) 212-3
9- D.A. Murv’eva, K.O. Gasparyan, O.I. Popova, Polysaccharides of some plants having tonic effect, Biologicheskie Nauki (Moscow) (12) (1990) 117-21
10- T.R. Seetharaman, Flavonoids of Firmiana simplex and Sterculia villosa, Fitoterapia (4) 61 (1990) 373-4
11- Y. Ota, Topical reducing drug containing Firmiana essence to inhibit obesity, Jpn. Kokai Tokkyo Koho JP 11035418 (1999) 6 tr.
12- D.A. Murv’eva, O.I. Popova, K.O. Gasparyan, Glucosamine in polysaccharide fractions from European mistletoe and Firmiana simplex, Khimiya Prirodnykh Soedinenii (6) (1990) 826-7
13- K. Himeno, H. Honda, (E,Z)- and (E,E)-10,12- hexadecadienals, major components of femelle sex pheromone of the cotton leaf-roller Notarcha derogata (Fabricius) (Lepidoptera : Pyralidae), Applied Entomology and Zoology (4) 27 (1992) 507-15
14- M. Toki, M. Kondo, M. Maeda, Cosmetics, bath preparations, and detergents containing plant-derived moisturizers, Jpn. Kokai Tokkyo Koho JP 2000143488 (2000) 22 tr.
15- Y. Fukagawa, H. Kouzai, Y. Kozai, Physicochemical properties of the Firmiana platanifolia mucilages, Nippon Kagaku, Kaishi (3) (2002) 415-9
16- C.H. Cho, Skin improving composition, Repub. Korean Kongkae Taeho Kongbo KR 2002070566 (2002)
17- U.S. Park, Production of hair tonic for pirpose of promotion of hair growth, prevention of depilation and cleaning of scalp, Repub. Korean Kongkae Taeho Kongbo KR 2002084718 (2002)
18- S.I. Jeong, Topical compositions for promoting hair growth and preventing hair loss, Repub. Korean Kongkae Taeho Kongbo KR 2003070686 (2003)
19- H.G. Park, Skin care cosmetics containing Firmiana simplex, Repub. Korean Kongkae Taeho Kongbo KR 2003008479 (2003)
20- Z. Lan, A medicated wine for treatment of poliosis, Faming Zhuanli Shenqing Gongkai Shuomingshu CN 1616028 (2005)
21- Z. Lan, A medicated tea effective in treating premature gray hair, Faming Zhuanli Shenqing Gongkai Shuomingshu CN 1634549 (2005)
22- L. Chen, A nutritious liquid for children and its preparation method, Faming Zhuanli Shenqing Gongkai Shuomingshu CN 20060419 (2006)
23- Y. Zang, F. Yu, Miso medicine (syrup) for treating children bronchial asthma and bronchitis and its preparation , Faming Zhuanli Shenqing Gongkai Shuomingshu CN 1785388 (2006) 4 tr.
24- Z. Zhang, A chinese medicinal composition for relieving cough and its preparation method, Faming Zhuanli Shenqing Gongkai Shuomingshu CN 1788756 (2006)
25- J. Cheng, G. Cheng, Method for manufacturing plant leaf cigarettes containing trace elements and bee products, Faming Zhuanli Shenqing Gongkai Shuomingshu CN 1817251 (2006) 12 tr.
26- P. Zhang, Chinese medicinal composition for treating cough with asthma and acute bonchitis caused by common cold, Faming Zhuanli Shenqing Gongkai Shuomingshu CN 1823961 (2006)

 

*** Mình Ơi … Mình À

ong ba gia
Trong dịp dự tiệc nhà người bạn, tôi đã nghe một đôi vợ chồng già gọi nhau cứ một tiếng “mình”, hai tiếng cũng “mình”, nghe rất cảm động , khiến tôi nhớ lại 2 câu thơ của nhà thơ Bùi Giáng:

 Mình ơi! Tôi gọi là nhà
Nhà ơi! Tôi gọi mình là nhà tôi
 
Tôi không rành tiếng Anh, không biết House và Home khác nghĩa ra sao, chỉ thấy quảng cáo cho thuê nhà tòan ghi House for rent, chưa thấy Home for rent bao giờ.
Ngôn ngữ khác nhau nhưng đôi khi ý nghĩa lại trùng hợp, nghĩ cũng đúng Cho thuê nhà , chẳng ai chịu cho thuê Nhà tôi , Home mà không có Nhà tôi thì biến thành House mất rồi.
Đi về nhà có lẽ là Let’s go house còn Về nhà thôi thì chắc mới là Let ‘s go home.
Nhà của tôi lâu rồi đã là House……, đôi khi có đôi khi sau khi lai rai chén rượu giang hồ phiêu lảng ước gì lại được nói câu Về nhà thôi- Let’s go home, …ước gì…
 
image
 
Đêm khuya nghe gọi : Mình ơi
Dậy em nhờ tí, Mình ơi , Mình à
Giật mình như thể gặp ma
Mồ hôi nó toát như là tắm mưa
Bài thì mới trả buổi trưa
Giờ mà trả nữa te tua tuổi già
Nằm im mắt nhắm cho qua
Bên tai thỏ thẻ Mình à , Mình ơi
Còn bao năm nữa trên đời
Vui xuân kẻo hết Mình ơi , Mình à
Người ta bảo lúc về già
Dẻo dai hơn trẻ Mình à Mình ơi
Con lớn chúng đã xa rời
Nhà thì vắng lạnh Mình ơi Mình à
Sao không bắt chước người ta
Cờ người quyết đấu Mình à Mình ơi
Bàn son có sẵn đang phơi
Quân ngà mau dậy Mình ơi Mình à
Ráng cho vui cửa vui nhà
Em thương Mình lắm Mình à , Mình ơi
 
image
 
Mình Ơi … Mình À
 
« Mình với ta tuy hai mà một
Ta với mình tuy một mà hai »
Nhưng mình có tật nói dai
Nên chi ta cứ cãi hoài không thôi
Ta mình « hai đứa » một đôi
Lâu lâu giận dỗi mỗi nơi một người
Làm lành « hai đứa » lại cười
Xáp vào lại hoá hai người một đôi
Ngọt ngào cất tiếng « Mình ơi ! »
Trên đời đẹp nhất là tôi với mình
Đôi khi có chuyện bất bình
Cãi nhau tôi lại với mình giận nhau
Nhưng mà giận chẳng được lâu
Giận nhau hôm trước hôm sau lại hoà
Nhìn mình tôi bật cười xoà
Nhìn tôi mình lại lăn sà vào tôi
Chúng mình như đũa có đôi
Có đôi để gọi « mình ơi, mình à ! »
Bây giờ như cặp khỉ già
Nhưng mà vẫn cứ « mình à, mình ơi ! »
Khi nào thấy vắng bóng tôi
Thì mình lại gọi : Mình ơi, mình à
Khi nào tôi thấy vắng bà
Thì tôi lại gọi : mình à, mình ơi !
Gọi nhau cho trọn cuộc đời …
Tú Lắc
 
Cách xưng hô vợ chồng của người việt:
Thời nay vợ chồng trẻ xưng hô với nhau “Anh anh em em” âu yếm thân thiết biết bao! Dẫu chồng ít hơn dăm ba tuổi vẫn là anh. Những cặp vợ chồng đã có con cái nếu không gọi nhau bằng “anh” bằng “em” thì cũng gọi nhau bằng “bố’ hoặc “mẹ”, “bố” và mẹ là gọi thay cho con, cũng như khi về già gọi là “ông” hoặc “bà” để gọi thay cho cháu.
Lùi lại bốn mươi năm trước, những gia đình ít nhiều được Âu hoá, vợ chồng gọi nhau bằng “mình” cũng thể hiện được tình cảm đậm đà, gọi nhau bằng “cậu, mợ” cũng thanh nhã, nhưng những từ đó còn xa lạ với nông thôn.
 
image
 
Một số cặp vợ chồng tân tiến muốn gọi nhưng vẫn còn ngượng ngùngvới hàng xóm, chỉ thầm kín tỏ tình với nhau trong buồng, thỏ thẻ chỉ đủ hai người nghe với nhau. Cách gọi nhau bằng tên “trống không” cũng là một bước cải tiến lớn, chứ các cụ ngày xưa, thời trẻ chỉ gọi nhau bằng “bố thằng cu”, “u nó”, “mẹ hĩm”… Người mới lấy nhau chưa có con, chồng chẳng có chức vị gì thì gọi ra làm sao? Bí quá, có cô mới về làm dâu, muốn gọi chồng đang chơi bên nhà hàng xóm về, chẳng biết xưng hô ra sao bèn ra ngõ gọi thật to “Ai ơi! Về nhà ăn cơm”. Từ “ai” ở đây không phải là đại từ nghi vấn, hay đại từ phiếm chỉ mà có nghĩa là “chồng tôi ơi”.

image

Còn khi nói chuyện với người khác thì giới thiệu vợ mình hay chồng mình là “nhà tôi”. Từ “nhà  tôi” thật là đậm đà gắn bó, “mình” và “tôi” tuy hai nhưng một. “Nhà tôi” tức là “chồng tôi” hay “vợ tôi” chứ không thể nói “vợ anh”, “chồng nó” là “nhà anh nhà nó”. 

Vợ chồng nói chuyện với nhau thường hay nói trống không “Này! Ra tôi bảo!” hoặc “nào ai bảo mình”… 

Thế đấy! Ngôn ngữ Việt có nhiều cái hay và “phức tạp” lắm!

NGÀY XUÂN, LẠI NHỚ ÔNG ĐỒ…

Thư viện của bài

This gallery contains 1 photo.

     NGÀY XUÂN, LẠI NHỚ ÔNG ĐỒ…                                  Phong Lưu Một trong những bài thơ hay nhất của văn học Việt Nam, là bài Ông Đồ của tác giả Vũ Đình Liên. Sự nổi tiếng của bài thơ này đã đi vào … Tiếp tục đọc

mắt người già

Thư viện của bài

This gallery contains 1 photo.

Về mắt người già Bác sĩ Nguyễn Quỳnh Anh Bác sĩ Hồ Văn Hiền Mắt tôi vẫn thấy rõ, tại sao phải đi khám mắt định kỳ? Hàn Lâm Viện Nhãn Khoa khuyên bịnh nhận 40-65 tuổi nên đi khám … Tiếp tục đọc

Thọ trên 100 tuổi

Thư viện của bài

This gallery contains 1 photo.

Vì sao ngày càng nhiều người Nhật thọ trên 100 tuổi? Người Nhật làm chủ cuộc sống vui khỏe lúc về già bằng cách ăn nhiều rau và cá, chăm chỉ làm việc, thường xuyên tụ họp bạn bè, chủ … Tiếp tục đọc

Hạnh phúc trong đời

Thư viện của bài

This gallery contains 1 photo.

Hạnh Phúc Và Khổ Đau – TT Giác Đẳng (Bài giảng trong lớp Diệu Pháp, Minh Hạnh chuyển biên) TT Giác Đẳng: Hạnh phúc và khổ đau là hai đề tài lớn của Ðạo Phật và không những là hai đề tài lớn của Ðạo … Tiếp tục đọc

Có một thời như thế đó !

9-sai-gon-3Có một thời như thế đó !

*Vũ Đông Hà

Nếu ai hỏi tôi rằng sau ngày 30 tháng 4, 1975 cái gì mà cộng sản không thể “giải phóng” được; cái gì vẫn âm thầm nhưng vũ bão giải phóng ngược lại tâm hồn khô khốc của người dân miền Bắc lẫn nhiều cán binh cộng sản; cái gì vẫn miệt mài làm nhân chứng cho sự khác biệt giữa văn minh và man rợ, giữa nhân ái và bạo tàn, giữa yêu thương và thù hận; cái gì đã kết nối tâm hồn của những nạn nhân cộng sản ở cả hai miền Nam Bắc… Câu trả lời là Âm Nhạc Miền Nam.
>  Nếu ai hỏi tôi, ảnh hưởng lớn nhất để tôi trở thành người ngày hôm nay, biết rung động trước hình ảnh của Ngoại già lầm lũi quang gánh đổ bóng gầy dưới ánh đèn vàng, biết nhung nhớ một khe gió luồn qua hai tấm ván hở của vách tường ngày xưa nhà Mẹ, biết man mác buồn mỗi khi đến hè và trống vắng với một tiếng gà khan gáy ở sau đồi, biết tiếc nuối một mặt bàn lớp họckhắc nhỏ chữ tắt tên người bạn có đôi mắt người Sơn Tây, biết ngậm ngùi trăn trở chỉ vì một tiếng rao hàng đơn độc đêm khuya… Câu trả lời là Âm Nhạc Miền Nam.
>   Âm Nhạc Miền Nam đã trở thành một chất keo gắn chặt cuộc đời tôi vào mảnh đất mang tên Việt Nam. Âm Nhạc Miền Nam đã làm tôi là người Việt Nam.
>  *Tôi lớn lên theo những con đường đất đỏ bụi mù trời và cây reo buồn muôn thuở. Niềm say mê âm nhạc đơm mầm từ các anh lớn của Thiếu và Kha đoàn Hướng Đạo Việt Nam, trổ hoa theo những khúc hát vang vang của các anh giữa vùng trời Đạt Lý đang vào mùa cà phê hoa trắng nở: *”Tôi muốn mọi người biết thương nhau. Không oán ghét không gây hận sầu. Tôi muốn đời hết nghĩa thương đau. Tôi muốn thấy tình yêu ban đầu…”* Các bậc đàn anh như nhạc sĩ Lê Hựu Hà, Nguyễn Trung Cang của Phượng Hoàng đã lót đường nhân ái cho đàn em nhỏ chúng tôi chập chững trở thành người, để biết ngước mặt nhìn đời và *”cười lên đi em ơi, dù nước mắt rớt trên vành môi, hãy ngước mặt nhìn đời, nhìn tha nhân ta buông tiếng cười…”* Những đêm tối, giữa ngọn đồi nhiều đại thụ và cỏ tranh, bên nhau trong ánh lửa cao nguyên chập chờn, chúng tôi cảm nhận được niềm hãnh diện Việt Nam với bước chân của cha ông và bước chân sẽ đi tới của chính mình: *”Ta như giống dân đi tràn trên lò lửa hồng. Mặt lạnh như đồng cùng nhìn về một xa xăm. Da chân mồ hôi nhễ nhại cuộn vòng chân tươi. Ôm vết thương rĩ máu ta cười dưới ánh mặt trời…”* Và anh Nguyễn Đức Quang, người nhạc sĩ của thị xã đèo heo hút gió đã trở thành thần tượng của chúng tôi. Có những buổi chiều buông trong Rừng Lao Xao bạt ngàn, những đứa bé chúng tôi theo anh ngậm ngùi số phận *”Xương sống ta đã oằn xuống, cuộc bon chen cứ đè lên. Người vay nợ áo cơm nào, thành nợ trăm năm còn thiếu. Một ngày một kiếp là bao. Một trăm năm mấy lúc ngọt ngào. Ôi biết đến bao giờ được nói tiếng an vui thật thà.”* Nhưng cũng từ anh đã gieo cho chúng tôi niềm lạc quan tuổi trẻ: *”Hy vọng đã vươn lên trong màn đêm bao ưu phiền. Hy vọng đã vươn lên trong lo sợ mùa chinh chiến. Hy vọng đã vươn lên trong nhục nhằn tràn nước mắt. Hy vọng đã vươn dậy như làn tên…”* Và từ anh, chúng tôi hát cho nhau *”Không phải là lúc ta ngồi mà đặt vấn đề nữa rồi. Mà phải cùng nhau ta làm cho tươi mới.”* Cô giáo Việt văn của tôi đã mắng yêu tôi – tụi em thuộc nhạc Nguyễn Đức Quang hơn thuộc thơ của Nguyễn Công Trứ! Nguyễn Công Trứ. Đó là ngôi trường tuổi nhỏ có cây cổ thụ già, bóng mát của tuổi thơ tôi bây giờ đã chết. Tôi nhớ mãi những giờ cuối lớp tại trường, Cô Trâm cho cả lớp đồng ca những bài hát Bạch Đằng Giang, Việt Nam Việt Nam,

 Về Với Mẹ Cha… Đứa vỗ tay, đứa đập bàn, đứa dậm chân, chúng tôi nở buồng phổi vang vang lên:* “Từ Nam Quan, Cà Mau. Từ non cao rừng sâu. Gặp nhau do non nước xây cầu. Người thanh niên Việt Nam. Quay về với xóm làng. Tiếng reo vui rộn trong lòng…” *Nhìn lên lớp học lúc ấy, có những biểu ngữ thủ công nghệ mà cô dạy chúng tôi viết: *Tổ quốc trên hết, Ngày nay học tập ngày sau giúp đời, Không thành công cũng thành Nhân.*.. Nhưng đọng lại trong tôi theo năm tháng vẫn là những câu hát* “Tình yêu đây là khí giới, Tình thương đem về muôn nơi, Việt Nam đây tiếng nói đi xây tình người…”* Cô giáo của tôi đã ươm mầm Lạc Hồng vào tâm hồn của chúng tôi và cứ thế chúng tôi lớn lên theo dòng suối mát, theo tiếng sóng vỗ bờ, theo tiếng gọi lịch sử của âm nhạc Việt Nam, để trở thành những công dân Việt Nam yêu nước thương nòi và hãnh diện về hành trình dựng nước, giữ nước của Tổ tiên. Trong cái nôi nhiều âm thanh êm đềm nhưng hùng tráng ấy, trừ những ngày tết Mậu Thân khi tiếng đạn pháo đì đùng từ xa dội về thành phố, cho đến lúc chui xuống gầm giường nghe tiếng AK47 và M16 bắn xối xả trước nhà vào ngày 10 tháng 3, 1975, tuổi thơ tôi được ru hời bởi dòng nhạc trữ tình của miền Nam để làm nên *Những Ngày Xưa Thân Ái*của chúng tôi

*Những ngày xưa thân ái xin buộc vào tương lai*
*Anh còn gì cho tôi tôi còn gì cho em*
*Chỉ còn tay súng nhỏ giữa rừng sâu giết thù*
*Những ngày xưa thân ái xin gởi lại cho em…*

 

 Các anh, những người anh miền Nam đã khoát áo chinh nhân lên đường đối diện với tử sinh, làm tròn lý tưởng Tổ Quốc – Danh Dự – Trách Nhiệm, đã hy sinh cuộc đời các anh và để lại sau lưng các anh những ngày xưa thân ái cho đàn em chúng tôi. Nhờ vào các anh mà chúng tôi có những năm tháng an lành giữa một đất nước chiến tranh, triền miên khói lửa.
> Lần đầu tiên, chiến tranh tưởng như đứng cạnh bên mình là khi chúng tôi xếp hàng cúi đầu đưa tiễn Thầy của chúng tôi, là chồng của cô giáo Việt Văn, một đại úy sĩ quan Dù đã vị quốc vong thân. Cô tôi, mồ côi từ nhỏ, một mình quạnh quẻ, mặc áo dài màu đen, tang trắng, đứng trước mộ huyệt của người chồng còn trẻ. Cô khóc và hát tặng Thầy lần cuối bản nhạc mà Thầy yêu thích lúc còn sống – *”Ta ngắt đi một cụm hoa thạch thảo… Đôi chúng ta sẽ chẳng còn nhìn nhau nữa! Trên cõi đời này, trên cõi đời này. Từ nay mãi mãi không thấy nhau…”* Và tôi say mê Mùa Thu Chết từ dạo đó. Trong những cụm hoa thạch thảo đầy lãng mạn ấy có đau thương đẫm nước mắt của Cô tôi. Có hình ảnh lá cờ vàng ba sọc đỏ phủ nắp quan tài của người Thầy Đại úy Sĩ quan Binh chủng Nhảy Dù
> vào mùa Hè hầm hập gió Nồm năm ấy.
> Từ những ngày xa xăm tuổi nhỏ, những người lính VNCH là thần tượng của chúng tôi Tôi mơ được làm một người lính Dù bởi *anh là loài chim quý, là cánh chim trùng khơi vạn lý, là người ra đi từ tổ ấm để không địa danh nào thiếu dấu chân anh*, và cuối cùng anh bi hùng ở lại Charlie. Giữa những đau thương chia lìa của chiến tranh, những dòng nhạc của Trần Thiện Thanh đã cho tôi biết thương yêu, kính trọng những người lính không chân dung nhưng rất gần trong lòng chúng tôi. Những *”cánh dù ôm gió, một cánh dù ôm kín đời anh”* cũng là những cánh dù ôm ấp lý tưởng đang thành hình trong tâm hồn tuổi nhỏ của chúng tôi.
> Nhìn lại quãng thời gian binh lửa ấy, tôi nhận ra mình và các bạn cùng lứa không hề biết rõ Phạm Phú Quốc là ai, chỉ biết và say mê huyền sử của một người được *”Mẹ yêu theo gương người trước chọn lời. Đặt tên cho anh, anh là Quốc. Đặt tên cho anh, anh là Nước. Đặt tên cho Người. Đặt tình yêu Nước vào nôi”*, chỉ ước ao một ngày chúng tôi cũng được như anh, cũng sẽ là những *”Thần phong hiên ngang chẳng biết sợ gì!”.*
> Chúng tôi, nhiều đứa núi đồi, rừng rú, chưa bao giờ thấy biển nhưng thèm thuồng màu áo trắng và đại dương xanh thẳm, thuộc lòng câu hát *”Tôi thức từng đêm, thơ ấu mà nghe muối pha trong lòng. Mẹ là mẹ trùng dương, gào than từ bãi trước ghềnh sau. Tuổi trời qua mau, gió biển mặn nuôi lớn khôn tôi. Nên năm hăm mốt tuổi, tôi đi vào quân đội. Mà lòng thì chưa hề yêu ai”* .
> Chúng tôi cũng không tìm đọc tiểu sử, cuộc chiến đấu bi hùng của Đại tá Nhảy Dù Nguyễn Đình Bảo, cũng không biết địa danh Charlie nằm ở đâu, nhưng Đại tá Nguyễn Đình Bảo là biểu tượng anh hùng của chúng tôi để chúng tôi thuộc lòng khúc hát *”Toumorong, Dakto, Krek, Snoul. Trưa Khe Sanh gió mùa, đêm Hạ Lào thức sâu. Anh! Cũng anh vừa ở lại một mình, vừa ở lại một mình. Charlie, tên vẫn chưa quen người dân thị thành.”*
> Chúng tôi không biết “Phá” là gì, “Tam Giang” ở đâu, nhà thơ Tô Thùy Yên là ai, nhưng “*Chiều trên phá Tam Giang anh chợt nhớ em, nhớ ôi niềm nhớ ôi niềm nhớ đến bất tận. Em ơi, em ơi…” *đã thân thiết chiếm ngự tâm hồn để chúng tôi biết thương những người anh chiến trận đang nhớ người yêu, nhớ những người chị, cô giáo của chúng tôi ngày ngày lo âu, ngóng tin từ mặt trận xa xăm.
> Trong cái nôi của những ngày xưa thân ái ấy, từ nơi khung trời đầy mộng mơ của mình chúng tôi chỉ biết đến nỗi niềm của các anh bằng những *”Rừng lá xanh xanh lối mòn chạy quanh, Đời lính quen yêu gian khổ quân hành”*. Giữa mùa xuân pháo đỏ rộn ràng con đường tuổi thơ thì chính âm nhạc nhắc cho những đứa bé chúng tôi biết đó cũng là *”ngày đầu một năm, giữa tiền đồn heo hút xa xăm, có người lính trẻ, đón mùa xuân bằng phiên gác sớm”*.
> Giữa những sum vầy bình an bên cạnh mai vàng rực rỡ, thì ở xa xăm có những người con rưng rưng nhớ đến Mẹ già và gửi lời tha thiết *”bao lứa trai cùng chào xuân chiến trường, không lẽ riêng mình êm ấm, Mẹ ơi con xuân này vắng nhà…”* Âm nhạc Việt Nam đã gieo vào tâm hồn chúng tôi hình ảnh rất bình thường, rất người, nhưng lòng ái quốc và sự hy sinh của thế hệ đàn anh chúng tôi – những người lính VNCH – thì ngời sáng. Và chúng tôi biết yêu thương, khâm phục, muốn noi gương các anh là cũng từ đó.*
>  Sau ngày Thầy hy sinh, chúng tôi gần gũi với Cô giáo Việt Văn của mình hơn. Nhiều đêm thứ bảy, tôi và các bạn ghé nhà thăm Cô. Đó là lúc chúng tôi đến với Một thời để yêu – Một thời để chết. Chúng tôi bắt đầu chạm ngõ tình yêu với những Vũng lầy của chúng ta, Con đường tình ta đi, Bây giờ tháng mấy,
> Ngày xưa Hoàng Thị, Tình đầu tình cuối, Em hiền như Ma Soeur, Trên đỉnh mùa đông, Trả lại em yêu… Đó là lúc Cô đọc thơ Chiều trên Phá Tam Giang của Tô Thùy Yên cho chúng tôi nghe, giảng cho chúng tôi về tài nghệ “thần sầu” của Trần Thiện Thanh trong lời nhạc *”anh chợt nhớ em, nhớ ôi niềm nhớ… ôi niềm nhớ…….. đến bất tận. Em ơi… em ơi!…”* khi diễn tả nỗi nhớ ngút ngàn, và sau đó chú Trần Thiện Thanh Toàn – em ruột của nhạc sĩ Nhật Trường ở Sài Gòn lên thăm Cô, vừa đàn vừa hát. Những buổi tối này, mình tôi ở lại với Cô tới khuya. Cô đọc thơ và hát nhạc phổ từ thơ của Nguyễn Tất Nhiên, chỉ cho tôi tính lãng đãng của lời nhạc Từ Công Phụng, khắc khoải của Lê Uyên Phương, mượt mà của Đoàn Chuẩn – Từ Linh, sâu lắng của Vũ Thành An… Và qua âm nhạc, Cô kể tôi nghe chuyện tình của Cô và Thầy. Hai người đến với nhau khởi đi từ bản nhạc mà Cô hát khi Cô còn là nữ sinh Đệ Nhất và Thầy là Sinh Viên Sĩ Quan Trường Võ Bị Quốc Gia Việt Nam. Bản nhạc ấy có những dòng như sau:

*”Nhưng anh bây giờ anh ở đâu*
*con ễnh ương vẫn còn gọi tên anh trong mưa dầm*
*tên anh nghe như tiếng thở dài của lòng đất mẹ*
*Dạo tháng Ba tên anh lẫn trong tiếng sấm đầu mùa mưa*
*nghe như tiếng gầm phẫn nộ đến từ cuối trời.”*

 

 Thầy và cô tôi yêu nhau từ sau khúc hát Người Tình Không Chân Dung và *”người chiến sĩ đã để lại cái nón sắt trên bờ lau sậy này” * cũng là định mệnh Thầy, của cuộc tình bi thương giữa một cô giáo trẻ và người lính VNCH. Cô tôi sống một mình và qua đời vào năm 2010. Bạn cùng lớp của tôi là Phương lùn, vào một ngày cuối năm, từ Sài Gòn trở về Ban Mê Thuột, xách đàn đến trước mộ Cô và hát lại *”Ta ngắt đi một cụm hoa Thạch Thảo”* để thay mặt những đứa học trò thơ ấu kính tặng hương hồn của Cô. Còn tôi, năm tháng trôi qua nhưng tôi biết rõ trong dòng máu luân lưu và nhịp đập của tim mình vẫn đầy tràn những thương yêu mà Cô đã gieo vào tôi bằng Âm Nhạc Miền Nam.
> Một buổi tối chúng tôi ngồi hát với nhau. Các bạn từ Hà Nội, Nam Định, Yên Bái, Đà Nẵng, Sài Gòn… nhưng chỉ có mình tôi là sinh ra và lớn lên trước 1975. Các bạn tôi, hay đúng ra là những người em đang cùng đồng hành trên con đường đã chọn, đã thức suốt đêm hát cho nhau nghe. Rất tự nhiên, rất bình thường: toàn là những ca khúc của miền Nam thân yêu.
> Đêm hôm ấy, cả một quãng đời của những ngày xưa thân ái trong tôi sống lại. Sống lại từ giọng hát của những người em sinh ra và lớn lên trong lòng chế độ độc tài. Các em hát cho tôi nghe về những người lính miền Nam mà các em chưa bao giờ gặp mặt *”Anh sẽ ra đi nặng hành trang đó, đem dấu chân soi tuổi đời ngây thơ, đem nỗi thương yêu vào niềm thương nhớ, anh sẽ ra đi chẳng mong ngày về…”.*
> Tôi hát cho các em mình về những ngày tháng mộng mơ trước “giải phóng” của những “*Con đường tuổi măng tre, nắng vàng tươi đẹp đẽ, bóng người dài trên hè, con đường tình ta đi…”* Các em tâm sự về cảm nhận đối với người lính VNCH qua những dòng nhạc êm đềm, đầy tình người giữa tàn khốc của chiến tranh: “*Tôi lại gặp anh, người trai nơi chiến tuyến, súng trên vai bước lê qua đường phố; tôi lại gặp anh, giờ đây nơi quán nhỏ, tuổi 30 mà ngỡ như trẻ thơ…”* Tôi chia sẻ với các em về nỗi ngậm ngùi quá khứ: *”Như phai nhạt mờ, đường xanh nho nhỏ, hôm nay tình cờ, đi lại đường xưa đường xưa. Cây xưa còn gầy, nằm phơi dáng đỏ, áo em ngày nọ, phai nhạt mây màu, âm vang thuở nào, bước nhỏ tìm nhau tìm nhau”…*
> Đêm ấy, khi các bạn nói lên cảm nhận về những mượt mà, êm ả, nhân ái của Âm Nhạc Miền Nam, tôi đã tâm sự với các bạn rằng: Chỉ cần lắng nghe và hát lên những dòng nhạc ấy, các em sẽ hiểu thấu được những mất mát khủng khiếp của con người miền Nam. Những mất mát không chỉ là một cái nhà, một mảnh đất, mà là sự mất mát của cả một đời sống, một thế giới tâm hồn, một đổ vỡ không bao giờ hàn gắn lại được. Khi những mượt mà, nhân ái ấy đã bị thay thế bởi những *”Bác cùng chúng cháu hành quân” *và *”Tiến về Sài Gòn” *thì các em hiểu được tuổi thanh xuân và cuộc đời của những thế hệ miền Nam đã bị đánh cắp hay ăn cướp như thế nào.
> Gần 42 năm trôi qua, Âm Nhạc Miền Nam vẫn như dòng suối mát trôi chảy trong tâm hồn của người dân Việt. Chảy từ đồng bằng Cửu Long, xuôi ngược lên Bắc, nhập dòng sông Hồng để tưới mát tâm hồn của mọi người dân Việt đang bị thiêu đốt bởi ngọn lửa bạo tàn cộng sản. Dòng suối trong mát ấy cũng cuốn phăng mọi tuyên truyền xảo trá của chế độ về xã hội, con người miền Nam trước 1975 cũng như về tư cách, phẩm giá, lý tưởng của những người lính VNCH và tình cảm trân quý, yêu thương của người dân miền Nam dành cho họ.
> Gần 42 năm trôi qua, trong tuyệt vọng của những kẻ thật sự đã thua trận trong cuộc chiến giữa chính nghĩa và gian tà, nhà cầm quyền cộng sản đã tìm mọi cách để tiêu diệt Âm Nhạc Miền Nam. Nhưng họ không biết rằng, dòng âm nhạc đó không còn là những bản in bài hát, những CD được sao chép, bán buôn… Âm Nhạc Miền Nam đã trở thành máu huyết và hơi thở của người dân Việt, bất kể Bắc – Trung hay Nam, bất kể sinh trưởng trước hay sau 1975.
> Bạo tàn và ngu dốt có thể đem Âm Nhạc Miền Nam vào những danh sách cấm đoán vô tri vô giác, nhưng không bao giờ đem được Âm Nhạc Miền Nam ra khỏi con người Việt Nam.
> Ai giải phóng ai? Hãy hỏi* Con Đường Xưa Em Đi* và đốt đuốc đi tìm xem *Bác Cùng Chúng Cháu Hành Quân* đang nằm trong cống rãnh nào trên những con đường Việt Nam!!! 

 

ĐẠI LỄ PHONG THÁNH MẸ TÊRÊSA

Thư viện của bài

This gallery contains 1 photo.

HÀNG TRĂM NGÀN TÍN HỮU NĂM CHÂU DỰ ĐẠI LỄ PHONG THÁNH MẸ TÊRÊSAGS.Lê Đình Thông   (Tin Tổng hợp) : Sáng 04/09, tại quảng trường Thánh Phêrô, hàng trăm ngàn tín hữu khắp năm châu tề tựu dưới chân … Tiếp tục đọc