Chữ “Nhẫn” Đứng Đầu Trăm Nết

khong tu

Ông Tử Trương muốn đi xa, đến chào Đức Khổng Tử và xin Ngài một lời khuyên.
Đức KhổngTử nói: “Chữ “nhẫn” đứng đầu trăm nết.
Nhưng “làm sao phải nhẫn?” Trương Tử hỏi lại.
Đức Khổng Tử trả lời:

– Thiên Tử mà nhẫn thì nước không sinh hại.
– Chư hầu mà nhẫn thì nước sẽ mạnh lớn thêm.
– Quan lại mà nhẫn thì chức vị sẽ thăng tiến.
– Anh em mà nhẫn thì cửa nhà giầu sang.
– Vợ chồng mà nhẫn thì ở được với nhau trọn đời.
– Bạn bè mà nhẫn thì thanh danh không mất.
– Hễ nhẫn thì không lo tai hoạ.

Ông Trương Tử hỏi lại: “Nếu bất nhẫn sẽ ra sao?
Đức khổng Tử nói:

– Thiên Tử mà bất nhẫn thì nước sẽ trống không.
– Chư hầu mà bất nhẫn thì mất mạng.
– Quan lại mà bất nhẫn thì sẽ bị hình phạt.
– Anh em mà bất nhẫn thì sẽ chia rẽ.
– Vợ chồng mà bất nhẫn thì phải xa nhau (ly thân, ly dị).
– Tự mình mà bất nhẫn thì không thể tránh được lo lắng.

Trương Tử nói: “Phải lắm ! Phải lắm !

Sưu Tầm

Vĩnh biệt nhà thơ Du Tử Lê

Vĩnh biệt nhà thơ “Khúc thụy du” – Du Tử Lê

Gia đình nhà thơ Du Tử Lê cho hay, nhà thơ vừa đột ngột qua đời ở Mỹ, thọ 77 tuổi.

Du Tử Lê (Lê Cự Phách) sinh năm 1942 tại Kim Bảng, Hà Nam. Ông là tác giả của 70 tập thơ, văn xuôi. Ông học Đại học Văn khoa Sài Gòn, tu nghiệp báo chí tại Indianapolis, Indiana (1969). Giải thưởng Văn chương toàn quốc tại Sài Gòn năm 1973 (tập Thơ tình Du Tử Lê 1967-1972).

Thập niên 1980-1990, thơ ông xuất hiện trên Los Angeles Times và New York Times. Thơ ông được dịch trong tuyển tập Understanding Vietnam (liên Đại học Berkeley, UCLA, London ấn hành; là sách giáo khoa về văn học Việt Nam cho nhiều đại học tại châu Âu).

Ông là một trong sáu nhà thơ Việt Nam thế kỷ 20 có thơ dịch trong tuyển tập World Poetry – An Anthology of Verse from Antiquity to Our Time (W.W. Norton New York, 1998). Du Tử Lê cư ngụ tại Garden Grove, Nam California (Mỹ).

Vĩnh biệt nhà thơ 'Khúc thụy du' - Du Tử Lê - Ảnh 1
Nhà thơ Du Tử Lê thăm Hữu Loan lúc sinh thời.

Một số tác phẩm của Du Tử Lê được xuất bản ở Việt Nam thời gian gần đây: Tuyển thơ Giỏ hoa thời mới lớn; tiểu thuyết Với nhau, một ngày nào; tập tùy bút Trên ngọn tình sầu; tùy bút Chỉ nhớ người thôi đủ hết đời; tuyển thơ Khúc Thụy Du; tùy bút Giữ đời cho nhau; tập thơ Chúng ta, những con đường…

Thơ Du Tử Lê có sức sống bền bỉ, có thể “sống sót” qua những thay đổi thế cuộc và vượt trên những áp đặt trong lẫn ngoài văn chương.

Nhiều nhạc sĩ phổ nhạc của ông, như: Anh Bằng, Phạm Duy, Phạm Đình Chương, Trần Duy Đức, Ngô Thụy Miên… 

Đặc biệt, những bài thơ tình được phổ nhạc và nổi tiếng của ông vừa được  in lại trong tập Khúc Thụy Du, như: Khúc Thụy Du (Anh Bằng phổ nhạc), Giữ đời cho nhau (Từ Công Phụng), Khi tôi chết hãy đem tôi ra biển (Phạm Đình Chương)… đã ghi dấu ấn trong lòng khán giả.

Bài thơ “Khi tôi chết hãy đem tôi ra biển” là bài thơ điển hình của ông nói về tình cảm của người xa xứ:  “Khi tôi chết hãy đem tôi ra biển/đời lưu vong không cả một ngôi mồ/vùi đất lạ thịt xương e khó rã/hồn không đi sao trở lại quê nhà/khi tôi chết hãy đem tôi ra biển/nước ngược dòng sẽ đẩy xác trôi đi/bên kia biển là quê hương tôi đó/rặng tre xanh muôn tuổi vẫn xanh rì”.

Vĩnh biệt nhà thơ 'Khúc thụy du' - Du Tử Lê - Ảnh 2
Nhà thơ Du Tử Lê.

Nghe tin nhà thơ Du Tử Lê qua đời, nhà thơ Thanh Thảo vô cùng thảng thốt, dù biết ông bị bệnh ung thư đã lâu. Ông kể một kỷ niệm về  Du Tử Lê: “Còn nhớ có lần, nhà thơ Du Tử Lê về Quảng Ngãi làm đám cưới cho con trai, đã đến thăm tôi. Dù chưa gặp nhau lần nào, trong chiến tranh lại từng ở hai chiến tuyến đối địch, nhưng chúng tôi đã hồ hởi chuyện trò với nhau như những người bạn.

Nhà thơ Du Tử Lê cũng vui mừng báo tôi biết là NXB Văn nghệ TP.HCM đã đồng ý in lại tập Thơ tình Du Tử Lê gồm những bài thơ tình yêu thời chiến tranh của anh. Tôi nói với Du Tử Lê là nếu anh in lại tại Việt Nam trường ca Mẹ về biển Đông của anh, tôi tin tác phẩm này sẽ có tiếng vang. Theo tôi, đó là một trong những trường ca hiện đại viết bằng Việt ngữ hay nhất trong 30 năm qua. Năm 2003, khi có dịp ghé Paris, tôi đã được đọc trường ca này ở nhà một người bạn và tôi đã khóc”.

“Thơ Du Tử Lê rất nặng tình. Mẹ về biển Đông là điển hình cho phong cách thơ nặng tình ấy. Dù nhân vật “tôi” trong trường ca luôn cố ra tỉnh táo khi ngồi một mình trong nhà tang lễ và suy nghĩ, nhớ lại biết bao điều cùng mẹ mình… Yêu mẹ mình cũng là yêu nước. Hãy viết những câu thơ thật lòng nhất về mẹ mình, và tự nhiên, anh sẽ tìm ra một thi pháp của riêng mình…

Du Tử Lê là một nhà thơ giàu cảm xúc, một nhà thơ đa cảm. Nhưng vượt lên, anh còn là nhà thơ Việt hiếm hoi viết cả một trường ca về mẹ mình. Chúng ta đọc, và nhớ nghĩ về mẹ chúng ta. Chỉ như thế, chúng ta đã có cơ hội trở thành những người con có hiếu. Tôi mong một ngày không xa, trường ca Mẹ về biển Đông sẽ có ấn bản in tại Việt Nam, như một ước nguyện thầm lặng của mẹ nhà thơ khi qua đời tại xứ người. Và khi đó, linh hồn người mẹ nhiều vất vả của Du Tử Lê mới thực sự về yên nghỉ giữa quê hương mình”, nhà thơ Thanh Thảo chia sẻ.

Thơ Du Tử Lê sống trong lòng nhiều độc giả chính là vì cái tình ấy, cùng những rung cảm cháy bỏng, và tính dự báo về thời cuộc.

              DU TỬ LÊ Và TÔI

 

      ‘viết không khác người ta thì đừng viết’   (Dương Tường)

dutule01

      Ra khỏi cổng trường Quốc Học 1963 thì tôi biết đến Du Tử Lê. Nhà thơ đến với tôi như một thỏa hiệp, một chất liệu sáng tạo đã đánh động trái tim tôi. Một cái mốc thời đại mới, một cái gì vững tin, mạnh dạn đã tìm thấy giữa muôn ngàn lẫn lộn vàng thau của những trào lưu, trường phái hay hiến chương từ Tây sang Đông; có thể đó là một sự bình tâm cho một tâm hồn vượt thoát, có thể đó là một phản kháng nội tại do từ những nguyên nhân khác mà ra, đất phương Nam cho họ gieo hạt, nẩy mầm, phát tiết, nói theo kiểu của F. Nietzsche: ’bi thảm của sinh tồn/the birth of tragedy’ giữa một xã hội ngổn ngang, gò đống của hai miền đất nước. Trăm hoa đua nở vào thời đó, họ gặp nhau như hội trùng dương ‘trên ngọn tình sầu’. Du Tử Lê đứng giữa một khung trời khác biệt, để đi vào một ngôn ngữ thẩm mỹ thơ, chất chứa một cái gì sâu lắng, trầm tư (zen), đượm một triết lý nhân sinh vốn đã nằm nôi trong tay mẹ, để rồi ra đi như kẻ du tử giữa phong ba; du tử là một đánh đổi và rồi chấp nhận bằng một sự bi thương của cuộc đời… nhà thơ trở nên độc lập và tư duy ở một cõi riêng như định vị vai trò và chức năng của một thi nhân đối diện với thực tại. Con đường Du Tử Lê đi không vin vào sự thế mà vin vào thơ để nói lên sự thế. Tôi rung động trước một dòng thơ như thế. Cái ’hoang/wild’ của tôi trong đó, thời của Thanh Tâm Tuyền và Du Tử Lê: -một trường phái lãng mạn thơ mới của văn chương Việt Nam- một cái gì mới như một cuộc cách mạng tư tưởng và có một ít chất của, A. Robbe-Grillet đã dựng nên. Du Tử Lê thắp lên ngọn đuốc để đi vào ’rừng đen/dark forrest’ như soi rọi, như canh tân trường phái, một kiểu thức của ’tân hình thức’; có lẽ Du Tử Lê là kẻ tiên phong avant-garde của new-formalism-poetry mà chưa một lần nói đến, đến bây giờ thì nó trở thành hậu-tân-hình-thức (post-newformalism). Nhận định nầy có thể làm hư hại khuôn phép thẩm mỹ của văn chương; nhưng ở đây chỉ định lượng một giá trị của ngôn ngữ thơ, lời thơ tức linh hồn thơ là những khoảnh khắc thức tỉnh đời sống, cho nên chi đối với Du Tử Lê xử dụng ngôn ngữ để làm phương tiện cho thơ chớ thơ không phải là phương tiện của ngôn ngữ. Đó là lý do nhà thơ ’chơi chữ’ mà một thời cho là ’mode’ hay lập dị để tạo cái khác biệt riêng mình; nếu đứng góc cạnh đó để nhìn thì hoàn toàn khác ý của thơ. Những chấm(…) hoặc một chấm (.) hoặc phẩy(,) hoặc chấm phết(;) giữa câu thơ, những nhát chém (slash) thoạt nhìn hay đọc đưa tri giác vào một cảm thức xa lạ, nhưng đó là một biệt lập tự chủ giữa khách thể và tha thể, đưa trạng thái thơ vào trạng thái bí truyền của thể loại thơ không vần nhưng vẫn giữ được vần điệu (rhythm và tone), không những mang nặng tính nghệ thuật trình diễn (performance art) mà còn trở thành nghệ thuật sắp đặt (installation art) đó là một thứ nghệ thuật của người làm thơ. Du Tử Lê nằm ở vị trí ấy. Du Tử Lê cho những ’chữ thơ’ nhảy sang hàng là dụng ý mô tả, chớ không phải ’chơi chữ’ như một số người trước đây đã nghĩ (trường hợp của Nguyễn Vỹ chẳng hạn). Theo tư duy tôi: Du thi sĩ  mở ra một con đường ngược chiều với thơ tiền chiến, phá vỡ những vần điệu ’ểnh ương’ cổ điển, một thông lệ truyền thống làm cho thơ bị đình trệ mà không khai phá cái mới. Thâm tâm nhà thơ Du Tử Lê mong muốn điều nầy; tôi nghĩ vậy. Thi sĩ xuất thần trong tiết điệu tự do để rồi trở thành ’nhạc thơ’ chớ đừng hiểu là phổ thơ thành nhạc như nhiều bài thơ đã đi vào hoạt cảnh nầy. Thậm chí có những nhạc sĩ cắt xén nguyên bản những câu thơ hay của nhà thơ để làm vừa lòng ý nhạc. Trong tâm trạng thúc đẩy tự chính mình để tìm cho mình một sự vượt thoát sáng tạo. Một: ’sáng tạo trong tinh thần đừng để mất mình, cái tôi hôm nay phải hơn cái tôi hôm qua và kém cái tôi ngày mai’(Nietzsche) bởi trong thơ Du Tử Lê đã cho ta tìm thấy được 2 yếu tố quan trọng ’CHỮ’ và ’ÂM’. Chữ và âm là trọng tâm chính cho thơ. Du Tử Lê xử dụng tài tình chất liệu nầy. Du Tử Lê lấy thơ để nói một cái gì trong đó – a poem should not mean but be, nhưng là hiện hữu. có những câu thơ đưa ta về ‘vô dư’ nhà Phật. Rốt ráo trong chiều sâu thơ Du Tử Lê không có Thăng và Trầm, bởi tâm thức nhà thơ, lúc ấy; là ’tâm bình đẳng’. Cho nên thơ của Du thi sĩ trở nên thanh thoát, diệu vợi (enlightenment). Rải rác khắp nơi từ khi khởi làm thơ cho tới những tháng ngày cuối đời, Du Tử Lê chủ trương thơ chỉ cần ngữ thuật (jeu du langage) hơn là ý nghĩa, có những câu thơ đứt ngang làm cho câu thơ trở nên ’nonsence’ nhưng cái vô nghĩa có duyên kỳ lạ.Thơ Du Tử Lê vững chắc, đông cứng, đậm đặc, cụ thể (concrete poetry) là thế. Một cách riêng của Du Tử Lê không thể ’thuộc điạ’ dễ dàng. Hay ở chỗ đó! đến nổi sau khi thâm nhập và ngộ được một câu thơ hay, bài thơ hay của Du Tử Lê, tôi phải ’thốt’ bằng lời lẽ của E. Kant: ’pourquoi vert l’éternité’ cũng chẳng khác gì lời phẩn nộ J. Pollock khi nhìn tranh của P. Picasso kinh hoàng mà thốt lên cái chữ phàm tục nầy: ’fuck!’. Một cái ’Đi-Em’ thỏa chí tang bồng hồ thỉ. Cảm nhận được nghệ thuật là ở chỗ đó! Và đó cũng một đòi hỏi cho người đọc thơ hay ca ngâm thơ Du Tử Lê. Đều chung một cảm thức siêu thoát; đừng đi xa quá mà lạc đường thơ, nhất là thơ Du Tử Lê.

Nói đến con người và thơ Du Tử Lê chúng ta không cần dẫn chứng hay bình giải hoặc so sánh Du Tử Lê với những nhà thơ lừng danh xưa nay, trong và ngoài nước, ví Du Tử Lê nầy nọ, trích dẫn những hoạt đầu như thế là một thẩm định không nói lên cái siêu lý của thơ, ngược lại làm hư hại một thiên tài chữ nghĩa thơ văn vốn đã nảy sinh giữa kỷ nguyên nầy(epic) và càng làm thế vô hình dung hạ thấp giá trị cho một thi nhân. Tại sao? bởi quá nhiều lý lẽ để bào chửa, quá nhiều cuốc xẻng để đào đục (dù đào bới, ’bắt’ những cái hay trong thơ) mà trong lúc khắp nơi trong và ngoài nước, trước và sau chiến tranh đều đồng tình và thừa nhận với Du Tử Lê. Du Tử Lê không buồn không vui trước những lời thị phi, Du thi sĩ mỉm cười không nói hay đó là bản chất tự tại của nhà thơ (DTL). Đánh giá phải hợp lý mới thấu suốt hồn thơ Du Tử Lê. Bởi cái chất thơ Du Tử Lê không thể nói suông (như mắm) không thể ngọt bùi (như vắt chanh) và cũng không thể ngợi ca (ẩu) như chứng nhân mà cần có con mắt thẩm mỹ quan (aesthetics) mà thấy được ý và hồn thơ Du Tử Lê. Theo quan điểm của tôi: -nó tiềm tàng một chất triết lý trong đó ; vậy có cần dẫn chứng ở đây? Không! bởi thơ có một cá tính siêu lý, siêu nhiên vì thơ là cõi phi, tự tìm thấy trong thơ để rồi cảm nhận, dẫn chứng là biện minh, buộc thơ đi vào ngả rẽ, cái triết lý nhân sinh quan trong thơ Du Tử Lê là ý thức (consciousness) hơn là dẫn chứng, tất cả đã dàn trải hơn nữa thế kỷ qua, không cần một đòi hỏi nào khác, không cần phê bình (dưới dạng phê bình văn học nghệ thuật) khi mà mình chưa đạt tới; vậy ’criticize’ như định mức cho một phủ nhận, điều ấy làm thương tổn cho dòng thơ đi vào đời. Tư duy của Du Tử Lê là bản anh hùng ca, thấm nhuần tình người và tình quê, tự nó đã xuyên thủng những giáo điều giả tạo, cố công tuyên truyền nhưng vẫn không hấp dẫn người nghe kể cả giới bình dân, một thứ văn chương cho mọi giới; nếu cảm nhận một cách sâu sắc. Du Tử Lê không cho mình đã thành danh, dù ở tuổi thất thập, Du Tử Lê thành danh ở quần chúng chớ không ở nơi mình; và đến nay Du Tử Lê vẫn giữ hồn thơ cho tới khi nhịp tim không còn cảm hóa. Khí tiết của một người làm thơ là ’thép đã tôi thế đấy’. Du Tử Lê vẫn còn hít thở nguồn thơ đó cho nhân gian dù hôm nay hay mai sau.

Du Tử Lê và Tôi : tôi ở đây là một bản ngã tự tại, một cái ’self’ trong tôi, một cái ngã-mạn chưa đạt tới để phải thốt: của Zarathustra, của Kant, của Pollock, của Freud, của Sartre, của Warhol và Basquiat…vì rằng ’tôi’chưa bao giờ ’tới’, chứ ’tôi’ không phải nói lên cái thân tình; tôi là cảm phục khí phách. Cho nên chi Du Tử Lê và Tôi gặp nhau bằng cảm thức vô hình của người đồng cảnh, giữa hai chúng tôi có một cái đau chung, đau thể xác và linh hồn, một quằng quại của bi thương. Giữa chọn lựa; chúng tôi chọn ’điều hai’. Xin nhớ ’hai’ không phải ở cái phép nhị-nguyên(!), trong cái chọn lựa nó đã có thuyết nhị-nguyên mà Du Tử Lê đã trút vào dòng thơ bất tận đó…từ bấy lâu nay.

Tôi gần gũi Du Tử Lê từ khi đọc cái bút danh: ’Du Tử Lê’, cái danh xưng nầy đến trước khi thơ Du Tử Lê nhập vào hồn tôi. Từ đó tôi tìm thấy tôi một chất điên đẹp (crazy-pretiness) như Van-Gogh và làm cho tôi say đắm cho tới bây giờ một Du Tử Lê.

Trở về hồn khí nhà thơ sau bao nhiêu năm tầm-thơ, tri-thơ, thức-thơ. Tôi nhận ra Du Tử Lê một kẻ ngoại đạo có trí tuệ (wisdom) ông đã đưa vào thơ đủ màu sắc của các tôn giáo với một cốt tủy: NHƯ-NHIÊN; đấng tuyệt đối vô cùng, một cái gì tinh túy của nhà thơ (poet on pith) là nhập thể vào một khí thiên như thế mới thấy được một Du Tử Lê.

Và những lần về quê, tôi đi vào cõi lặng để tìm lại cái hương xưa ngày nào, tôi không tìm thấy những gì còn lại mà chỉ nghe trong tôi: ’hạnh phúc tôi / hạnh phúc tôi từ những ngày con nước về’ và những nhạc khúc đâu đó còn vang vọng bên tai như lời ăn năn, an ủi tôi có một may mắn giữa thế kỷ nầy bằng xương bằng thịt, có một nhà thơ lớn của trước và sau chiến tranh Việt Nam mà tôi đã chạm tới. Quê hương là người đó!

VÕ CÔNG LIÊM (ca.ab. vàothu 2012)

TRANH VẼ: ’Người Đàn Ông Chống Gậy / The Man with Baton’ Khổ: 8’X10’ Trên giấy bià. Acylics+Oilstick

+Pigment. 2012. vcl

                  *Ghi chú:’Người Đàn Ông Chống Gậy’Lấy từ cảm hứng trong tập:’Du Tử Lê 50 năm’với bạn bè.VHKHVN 07.

TRẬN CHIẾN CHƯA NGƯNG:

Nguyên Lạc

ĐOẠN TRƯỜNG TÂN THANH VÀ KIM VÂN KIỀU TRUYỆN # 2

 

Bìa lưu tại Paris-Kim Vân Kiều - Thanh Tâm Tài Tử- quyển 1

                                                                      Phần 2

                     ĐOẠN TRƯỜNG TÂN THANH
                     VÀ KIM VÂN KIỀU TRUYỆN

ĐOẠN TRƯỜNG TÂN THANH

Như đã bàn ở phần 1, Nguyễn Du chỉ lấy tích truyện về 3 nhân vật, trước và sau một trận đánh vài giờ xảy ra thời nhà Minh để tạo nên một tác phẩm kéo dài 15 năm, từ Bắc Kinh cho tới Phúc Kiến lừng danh thế giới: Đoạn Trường Tân Thanh. Ba nhân vật trong tích truyện này là Thúy Kiều, Từ Hải, Hồ Tôn Hiến; không có Kim Trọng, Thúy Vân, Đạm Tiên, Thúc Sinh, Hoạn Thư, Tam Hợp, Giác Duyên trong đó. Thúy Kiều chết trên sông Tiền Đường, không có chuyện Thuý Kiều sống lại. Từ câu chuyện hết sức mờ nhạt, tầm thường này, Nguyễn Du xây dựng thành các tuyến tính Kiều, Hoạn Thư, Từ Hải, và chèn vào các nhân vật đệm. Trong này, nhân vật đa tình Thúc Sinh xuất hiện để làm tăng độ phong tình cho câu chuyện đầy nước mắt của một người phụ nữ cực kỳ hiếu thảo: Vương Thúy Kiều.
Sau khi Truyện Kiều ra đời, từ vua, quan, trí thức đến giới bình dân đều say mê. Riêng giới có học, bao thế hệ đã dựa vào Truyện Kiều để sáng tác, chuyển thể, vịnh, họa, cảm tác, cả bói Kiều…
Ngày nay có thể kể đến những tác phẩm trước 1925 như sau:

– Hậu Đoạn Trường Tân Thanh, văn xuôi, chữ Hán của Tiên Phong Mộng Liên Đường Nguyễn Đăng Tuyển (Tiếc rằng chỉ còn 2 hồi, lưu ở Viện Hán Nôm)
– Kim Vân Kiều lục của một tác giả khuyết danh, Phạm Tú Châu dịch.
– 3 hồi kịch Kim Vân Kiều của Trương Minh Ký
– Hàng trăm bài thơ vịnh Kiều của các danh sĩ Bắc Hà trong cuộc thi Vịnh Kiều do Nguyễn Khuyến chánh khảo gồm chữ Hán, chữ Nôm. Người đạt giải nhất là Chu Mạnh Trinh.
– Kịch bản Phim chuyển từ thơ Kiều sang tiếng Pháp của đạo diễn Famechon và kịch bản tiếng Việt của Nguyễn Văn Vĩnh cho cuốn phim Kim Vân Kiều công chiếu tại Hà Nội năm 1924.

Về tiêu đề Đoạn Trường Tân Thanh của truyện thơ Nguyễn Du, Mộng Liên Đường Nguyễn Đăng Tuyển đã giải thích rõ ràng:
-Tiên Phong Mộng Liên Đường Nguyễn Đăng Tuyển ( 1795-1880) người Bắc Ninh, là quan văn nổi tiếng đương thời với Nguyễn Du (1766- 1820), nhỏ hơn Nguyễn Du 29 tuổi. Ông viết bài tựa đề đầu tiên cho bản in, bản Phường, Đoạn Trường Tân Thanh năm 1820, ngay trong năm Nguyễn Du mất (tháng 9 năm 1820). Sau này ông cũng là người viết Hậu Đoạn Trường Tân Thanh bằng văn xuôi, chứng tỏ ông cũng như nhiều người khác hâm mộ Đoạn Trường Tân Thanh.
Bài của Mộng Liên Đình giải thích cặn kẻ tiêu đề tác phẩm là Đoạn Trường Tân Thanh: Giải thích nghĩa của tiêu đề và vì sao chọn tiêu đề như vậy. Xuất xứ tác phẩm, nhắc lại như Nguyễn Du đã viết, câu thứ 7 và thứ 8:

.
Cảo thơm lần giở trước đèn
Phong tình cố lục còn truyền sử xanh.

Xin được nhắc lại: Có sự lầm lẫn giữa “cổ lục” và “cố lục” đã giải thích ở phần 1:
– Cụm từ ” phong tình cổ lục” làm cho câu thơ có vẻ trang trọng, nhưng có thể dẫn tới hiểu lầm như ông Dương Quảng Hàm đã hiểu: Truyện tình cảm nam nữ trong sách xưa. Một cụm từ phổ biến.
Các bản chữ nôm đều viết ” Phong tình cố lục”. (Bản của Trương Vĩnh Ký dịch lại là “có lúc”, có lẽ thợ in sắp nhằm chữ lục vì trong bản nôm viết lục).
Chữ 古 cổ khác với chữ 固 cố. Cố là có, vốn có.
– Khi viết ” phong tình cố lục ” thì nghĩa khác: Phong tình có sách. Đây mới là câu của Nguyễn Du, hiệu đính bởi Kiều Oánh Mậu 1902.
Trần Trọng Kim và Bùi Kỷ 1925 hiệu đính cuốn Kiều Oánh Mậu lại dịch cữ “cố́” thành ” cổ”, chắc có thể các ông nghĩ hợp nét trang trọng với vế sau: “còn truyền sử xanh”: Một sai lầm đáng tiếc. Vì thế Dương Quảng Hàm mới hiểu như trên.
Bản dịch Vương Thuý Kiều của học giả Phạm Quỳnh, đăng trong Nam Phong Tạp Chí số 30, tức trong năm 1919, là văn bản dịch lâu nhất ta có. Phạm Quỳnh đã chứng minh cả lời nói của Nguyễn Du : “Phong tình cố lục ” và đề từ của Mộng Liên Đường: Truyện Thuý Kiều chép ở lục Phong tình, chuyện Phong tình nay cũng đã cũ rồi..” là có thật. Dưới đây là 3 trang bản dịch Vương Thuý Kiều trong Nam Phong Tạp Chí:

Nam Phong tap chi 30- 3(hình trang bản dịch Vương Thuý Kiều trong Nam Phong)

Trong “Đề từ Đoạn Trường Tân Thanh”của Mộng Đình Liên, đoạn dưới đây nhắc đi nhắc lại lục Phong tình với nghĩa là một cuốn sách cụ thể, chứ không phải “ phong tình cổ lục” là thành ngữ phổ biến.
“Truyện Thuý Kiều chép ở trong lục Phong tình, ta không bàn làm gì. Lục Phong tình cũng đã cũ rồi. Tố Như tử xem truyện, thấy việc lạ, lại thương tiếc đến những nỗi trắc trở của kẻ có tài, bèn đem dịch ra quốc âm, đề là Đoạn trường tân thanh, thành ra cái lục Phong tình vẫn là cái lục cũ, mà cái tiếng Đoạn trường lại là cái tiếng mới vậy”.

Phong Tình lục là một mục trong tuyển tập Ngu Sơ Tân Chí của Trương Trào (1650-1707), trong đó có bài Vương Thuý Kiều của Dư Hoài (1616-1696).
Truyện ngắn khoảng 3 trang giấy, chỉ nhắc tới nhân vật chính là : Vương Thuý Kiều và 4 nhân vật liên quan là La Long Văn – Từ Hải – Hồ Tôn Hiến, Hoa lão lão. Truyện viết khá, nhưng cũng chỉ vậy thôi.

Đây là trích đoạn bài viết của Tiên Phong Mộng Liên Đường Nguyễn Đăng Tuyển:

 Đề Từ Đoạn Trường Tân Than -Tiên phong Mộng Liên Đường Nguyễn Đăng Tuyển.
Trong trời đất đã có người tài tình tuyệt thế, tất thế nào cũng có việc khảm kha bất bình. Tài mà không được gặp gỡ, tình mà không được hả hê, đó là căn nguyên của hai chữ đoạn trường vậy. Thế là lại có kẻ thương tiếc tài tình, xem thấy việc, trông thấy người, thì còn nhìn thế nào được mà không thở than rền rĩ.
Nghĩa là bậc thánh mới quên được tình, bậc ngu không hiểu tới tình. Tình chung chú vào đâu, chính là chung chú vào bọn chúng ta vậy. Cho nên phàm người đã ít tình, tất là không có tài, chỉ nửa loà nửa sáng, sống chết trong vòng áo mũ, trong cuộc no say, dù có gặp cái cảnh thanh nhã như hoa thơm buổi sáng, trăng tỏ ban đêm, cũng chỉ trơ trơ như cây cỏ, như cá chim vậy
….
Truyện Thuý Kiều chép ở trong lục Phong tình, ta không bàn làm gì. Lục Phong tình cũng đã cũ rồi. Tố Như tử xem truyện, thấy việc lạ, lại thương tiếc đến những nỗi trắc trở của kẻ có tài, bèn đem dịch ra quốc âm, đề là Đoạn trường tân thanh, thành ra cái lục Phong tình vẫn là cái lục cũ, mà cái tiếng Đoạn trường lại là cái tiếng mới vậy.

Thuý Kiều khóc Đạm Tiên, Tố Như tử làm truyện Thuý Kiều, việc tuy khác nhau mà lòng thì là một: người đời xưa thương người đời trước, người đời nay thương người đời xưa, hai chữ tài tình thực là một cái thông luỵ của bọn tài tử khắp trong gầm trời này vậy.
Ta lấy một thiên mực nhạt, xa viếng nàng Kiều, tuy lời văn quê kệch, không đủ sánh với bức giao thiên, song đủ tỏ cái nợ sầu của hai chữ đa tình, tuy khác đời mà chung một dạ. May được nối ở sau cuốn Tân thanh của Tố Như tử, cùng làm một khúc Đoạn trường để than khóc người xưa.
Tháng hai, niên hiệu Minh Mạng, viết ở Thán hoa hiên đất Hạc giang.
Tiên phong Mộng liên đường chủ nhân. ] [Đề Từ Đoạn Trường Tân Thanh – Tiên phong Mộng Liên Đường Nguyễn Đăng Tuyển] [bản dịch của Bùi Kỷ-Trần Trọng Kim]

Bài của Mộng Liên Đình mới giải thích cặn kẻ việc Nguyễn Du lấy tích cũ trong Phong Tình lục, một mục trong tuyển tập Ngu Sơ Tân Chí của Trương Trào, trong đó có bài Vương Thuý Kiều của Dư Hoài (1616- 1696). Tôi xin trích đoạn bài của Dư Hoài, mời các bạn đọc:

Vương Thúy Kiều là người Lâm Tri. Từ nhỏ đã bị bán vào phường hát xướng, mạo xưng họ Mã, giả mẫu gọi là Kiều Nhi, dung mạo thì xinh đẹp bậc nhất, lại thêm thiên tính thông minh. Nàng được dẫn tới Giang Nam, dạy hát Ngô ca thì hát Ngô ca thông thạo, dạy gảy tỳ bà Hồ thì tinh thông gảy tỳ bà Hồ. Khi thổi tiêu thành khúc thì âm thanh trong trẻo, từng nhịp phách du dương vang lên theo giọng hát làm say đắm bao nhiêu vị khách ngồi. Kiều Nhi rất có danh tiếng ở trong chốn Bình Khang. Song Kiều Nhi tính tình nhã đạm, thường tỏ ra cách biệt, không tha thiết gì với son phấn điểm trang lẫn những môn thuật chiều chuộng khách. Gặp phải những khách buôn bụng phệ hay mấy lão thấp hèn ra giá đến ngàn vàng, nàng chỉ hững hờ liếc mắt rồi cười khinh, chứ chẳng thèm đếm xỉa hay trò chuyện lấy một lời. Do vậy giả mẫu thường nổi giận và đánh mắng. May thay có một chàng thiếu niên lén cho Kiều Nhi nhiều vàng, bày kế thoát khỏi giả mẫu, rồi nàng tự dọn đến sống ở Gia Hưng, đổi tên thành Vương Thúy Kiều.
Lúc bấy giờ, có người ở huyện Thiệp tên là La Long Văn, tiền tài dư dả, là một tay hào hiệp kết giao nhiều tân khách, thường qua lại với Thúy Kiều, còn gần gũi với một kỹ nữ khác tên là Lục Châu. Từ Hải người đất Việt là một kẻ hung tợn trộm cắp, bần cùng vô lại, đang bị bọn cờ bạc bức bách đến túng quẫn nên một mình lẻn vào nhà Thúy Kiều ẩn náu, ban ngày không dám ra gặp ai. Long Văn làm quen với Từ Hải, khen Hải là một tráng sĩ nên nghiêng mình kết bạn, nắm tay nhau đi uống rượu đến say sưa thỏa thích, còn sai nàng Lục Châu thân cận bên mình ra hầu hạ. Hải cũng không từ chối. Đang lúc men rượu bừng lên nóng đến mang tai, Hải vén tay áo cầm chén rượu, ghé sát tai Long Văn nói rằng: Mảnh đất này không phải là nơi tôi thỏa chí, bậc trượng phu há có thể cam tâm chịu đứng sau người khác mãi mãi ư? Ngài nên nỗ lực, tôi cũng quyết dốc sức từ đây. Mai này phú quý, xin chớ quên nhau!. Hải khảng khái hát vang khúc bi ca, ở lại thêm mấy ngày nữa rồi từ biệt ra đi.

Không bao lâu, Hải nhập bọn với Oa Khấu (Nhật – NL), trở thành một chúa tàu, thống lĩnh hùng binh trên mặt biển, nhiều lần xâm phạm Giang Nam. Năm Gia Tĩnh thứ 35 (1556), Từ Hải bao vây quân của Tuần phủ Nguyễn Ngạc ở Đồng Hương, Thúy Kiều và Lục Châu đều bị bắt. Hải nhìn thấy thì kinh ngạc nhưng cũng rất vui mừng, sai Thúy Kiều gảy tỳ bà Hồ để góp vui cho tiệc rượu, rồi ngày càng sủng ái, gọi là phu nhân, bắt các tỳ thiếp ra vái chào. Thúy Kiều được thương yêu hết mực, dù là quân cơ đại sự hay kế hoạch bí mật, nàng đều được phép ngồi nghe. Thúy Kiều bề ngoài thì tỏ ra thân thiết, nhưng trong lòng thì hy vọng họ thua trận, vì nàng vẫn luôn mong mỏi được về nước, dòng lệ cứ rưng rưng, thường lau mặt bằng nước mắt.
… Gặp lúc Tổng đốc Hồ Tôn Hiến đang khai phủ ở Chiết Giang, người này giỏi dùng binh, nhiều kế sách, muốn thu nạp Từ Hải
La Long Văn nghe phong phanh được tin tức, tự mừng thầm vì có tình thân cố cựu với Thúy Kiều, bèn nhờ thượng khách trong mạc phủ là Từ Vị người Sơn Âm đưa tới diện kiến Tông Hiến
Tông Hiến vui mừng, làm theo kế của Long Văn, mang thêm nhiều vàng ngọc châu báu âm thầm đến biếu tặng cho Thúy Kiều. Thúy Kiều dần động lòng, đêm ngày thuyết phục Từ Hải đầu hàng. Hải nghe theo nàng

Hải vừa bước ra ngoài, thấy quan binh tụ tập đông đủ thì trong lòng đã sinh nghi. Tôn Hiến có lòng thương tiếc cho Từ Hải, không muốn giết kẻ quy hàng, nhưng bị Văn Hoa bức bách, đành hạ lệnh, sai Tổng binh Du Đại Du cho toàn quân tiến lên. Gặp lúc trời nổi gió lớn, quân triều đình thừa cơ phóng hỏa, reo hò đánh trống và xông vào chém giết, quân Từ Hải thua to, tan chạy và bị tiêu diệt sạch. Hải vội vàng nhảy xuống nước nhưng bị bắt, chém lấy đầu, còn Thúy Kiều thì cho sống mà dẫn vào quân môn.
Tôn Hiến bày tiệc lớn khao thưởng các quan Tham tá, sai Thúy Kiều hát Ngô ca và mời rượu mọi người. Bọn Tham tá hoặc là quỳ trên chiếu, hoặc nhảy múa nâng chén, cùng chúc thọ Tôn Hiến. Tôn Hiến bị rượu làm cho say mèm hoa mắt, cũng vung tay múa giáo, đùa giỡn với Kiều Nhi. Đến khi tiệc loạn lên hết thì mới thôi. Sáng hôm sau, Tôn Hiến hối hận vì đêm qua say khước, bèn đem Thúy Kiều ban thưởng cho tù trưởng Vĩnh Thuận mới về hàng. Thúy Kiều đã theo tù trưởng Vĩnh Thuận, đi tới giữa sông Tiền Đường, nàng ưu uất đập giường và than rằng: Minh Sơn hậu đãi ta như vậy, nhưng ta lại đem quốc sự đẩy chàng vào chỗ chết. Hại chết một tù trưởng rồi lại thuộc về một tù trưởng khác, vậy bảo ta còn mặt mũi nào để sống ở trên đời nữa đây?. Nói xong, nàng hướng về ngọn sóng gào lên một tràng dài đau khổ, rồi lao xuống dòng nước mà chết.] [VƯƠNG THÚY KIỀU TRUYỆN -Tác giả: Dư Hoài-người dịch: Ngô Trần Trung Nghĩa] [Vương Thúy Kiều truyện -Tác giả: Dư Hoài]

Dư Hoài dựa vào bản viết khô khan và sơ sài của Mao Khôn (1512- 1606): “Kỷ tiễu trừ Từ Hải bản mạt” để viết thêm . “Kỷ tiễu trừ Từ Hải bản mạt” nằm trong bộ sách Trù Hải Đồ Biên của Tổng đốc đời Minh là Hồ Tôn Hiến soạn, gồm 13 quyển; ở quyển 9 có bài “Kỷ tiễu Từ Hải bản mạt” (ghi chép ngọn ngành việc đánh dẹp Từ Hải) kể lại chuyện quân Minh đánh nhau với quân Oa vào năm Bính Thìn (1556) đời Gia Tĩnh. Mao Khôn, đã từng phục vụ trong quân ngũ Hồ Tôn Hiến Khi Mao Khôn chết, 10 năm sau Dư Hoài sinh ra:

“Vương Thuý Kiều là kỹ nữ Lâm Tri, đầu tiên là Kiều Nhi, giỏi hát lối mới, thạo hồ cầm. Sau tìm cách trốn khỏi nhà xướng ca, đổi tên ở bên bờ biển. Nụy khấu đánh Giang Nam, bắt Thuý Kiều mang đi rồi trở thành áp trại phu nhân của Từ Hải. Từ Hải rất yêu quý nàng, mọi kế hoạch đều nghe theo nàng. Quan quân phái người đến chiêu hàng, Kiều đem nhiều việc đến khuyên, Hải mới quyết tâm hàng. Quan quân bố trí kế hoạch, Từ Hải thua chết, Thuý Kiều cũng bị quan quân cướp. Sau khi bị Đốc phủ làm ô nhục, Kiều bị gả cho tù trưởng Vĩnh Thuận làm thiếp. Trên đường qua sông Tiền Đường, Thuý Kiều than: Minh Sơn hậu đãi ta, ta vì việc nước dụ chàng mà bị hại. Giết một người chồng rồi lại lấy một người chồng, còn mặt mũi nào sống nữa! Bèn nhảy xuống sông mà chết.” [Kỷ tiễu trừ Từ Hải bản mạt – Mao Khôn]
………
(*) Trù Hải Đồ Biên 籌海圖編 là bộ sách do Hồ Tôn Hiến soạn, gồm họa đồ vẽ các vùng biển thường bị quân hải khấu Nhật xâm phạm và các kế hoạch trù định nhằm giữ gìn an ninh vùng biển. Bài Kỷ tiễu Từ Hải bản mạt 纪剿徐海本末 chép ở quyển 9 của bộ sách này là do Phó sứ Mao Khôn, thuộc cấp theo lệnh Hồ Tôn Hiến ghi chép, đã kể lại khá tỉ mỉ cuộc đánh dẹp Từ Hải. (Hồ Tôn Hiến – Trù Hải Đồ Biên, Cảnh Ấn Văn Uyên Các, Tứ Khố Toàn Thư, sách thứ 343. Đài Bắc, Đài Loan; Thương Vụ ấn thư quán, 1983 – theo Nguyễn Cẩm Xuyên)

@. Nhận xét:
– Trong truyện Vương Thúy Kiều truyện của tác giả Dư Hoài không thấy Kim, Vân, Quan, Mã Giám Sinh, Tú Bà, Bạc Hạnh, Bạc bà, Thúc Sinh, Hoạn Thư, Tam Hợp, Giác Duyên…
– Đoạn Trường Tân Thanh dài 3254 câu, 22.788 từ. Truyện Vương Thúy Kiều này ngắn chỉ 1100 từ vì khả năng tưởng tượng chỉ từng ấy. Các nhân vật Từ Hải, Hồ Tôn Hiến, chỉ xuất hiện trong đoạn cuối truyện Kiều gồm 436 câu, 3052 từ. So với trong toàn truyện Kiều, đoạn này chiếm 13%. Truyện ngắn của Dư Hoài kể về Hồ- Từ – Kiều so với trong thơ Kiều Nguyễn Du chỉ chiếm 1/3 độ dài. Vì trong Kiều thêm nhiều tình tiết như gắn bó với Từ Hải, báo ân trả oán. So với toàn truyện Đoạn Trường Tân Thanh thì truyện của Dư Hoài độ dài chỉ chiếm 4,8%.
– Giống như William Shakespeare, đại thi hào Nguyễn Du chỉ dựa vào tích truyện cũ, ít người biết đến, đưa nỗi lòng mình vào sáng tạo ra một tác phẩm bất hủ: Đoạn Trường Tân Thanh vinh danh cho nước Việt. Do đó Tổ chức UNESCO họp ở Paris nhất trí thông qua Nghị quyết số 192 EX/32 trình Đại Hội đồng UNESCO biểu quyết vinh danh đại thi hào Nguyễn Du là Danh nhân văn hóa thế giới đầu tháng 11/2013.

.
@ Có người thắc mắc là sao trong ĐTTT các tên nhân vật, xã hội đều từ China?

Tôi có ý này:
Cụ Nguyễn Du dễ dàng đổi tên Thúy Kiều bằng Hồng, Lan, Đào , Diểm nào đó; đổi tên tướng cướp Từ Hải bằng Hai Cọp, Ba Beo…, Hồ Tôn Hiến thành Nguyễn Đêm, Trần Ngày vân vân, và mô tả xã hội VN. Nhưng cụ dám không? Cái “Họa văn tự” khủng khiếp luôn treo trên đầu thời Phong kiến:
Ví dụ như Thi Nại Am sống đời Minh, viết truyện Thủy Hử đời Tống lâu 300-400 trăm năm mà còn vướng họa
Mời đọc những đoạn sau đây:

“Thủy Hử truyện” ra đời và nhanh chóng phổ biến ra ngoài. Minh Thái Tổ Chu Nguyên Chương đọc tác phẩm và vô cùng tức giận. Thấy Thi Nại Am viết sách ca ngợi phường “thảo khấu”, Minh Thái Tổ đã sai người bắt Thi Nại Am giam vào ngục, đồng thời phê rằng: “Đây là cuốn sách xúi giục dấy loạn của người có mưu đồ tạo phản, không trừ đi tất gây họa về sau”. [Wikipedia]
– Vụ án Minh sử triều Thanh: Đây là Văn nạn (họa văn tự ) thứ hai nổi tiếng khủng khiếp ở triều đại Mãn Thanh: Do tên cẩu nhân Ngô Chi Vinh tố giác với Ngao Bá (đại thần triều Mãn Thanh) bộ Minh Thư tập lượt (do Trang Kiến Long và những văn nhân khác biên soạn), những người học giả văn sĩ tham dự vào việc biên soạn bộ Minh Thư tập lượt (Minh sử) và toàn gia họ Trang mấy chục người từ mười sáu tuổi trở lên đều bị xử trãm. Còn đàn bà con gái thì phát lảng đến Thảm Dương để cho bọn kỵ binh Mãn Châu dùng làm tôi mọi.Vì bộ Minh sử mà nhà tan cửa nát, người chết không biết bao nhiêu mà kể. Thảm hơn nữa là bọn thợ thuyền khắc chữ, thợ ấn loát, thợ đóng sách và những chủ tiệm sách, người bán cũng như người mua cùng người đọc sách hể điều tra ra được là xử trãm hết (Lộc Đỉnh Ký – Kim Dung)
Các “Thiên triều” China vì muốn bảo vệ vương triều mình nên luôn luôn nghi ngờ ̀mọi người. Họ sẵn sàng tiêu diệt những ai dám phê bình họ , tiêu diệt những mầm họa từ “trứng nước” mà họ nghi ngờ cho ăn chắc. Các trào vua nổi tiếng trong vụ này là Minh thái tổ Chu Nguyên Chương và Minh thành tổ Chu Đệ và nhà Thanh.
Triều Nguyễn VN cũng không ngoại lệ khi khi vua Gia Long triều phục nhà Thanh. Nhờ Pháp giúp, sau khi tiêu diệt Tây Sơn, vua Gia Long vội vàng tránh Pháp vì e rằng tư tưởng tự do từ Pháp sẽ ảnh hưởng đến triều đại mình, quay lại triều phục phương Bắc, hủy bỏ Luật Hồng Đức, đầy tính nhân đạo, rập khuông theo bộ luật của Thanh với điều luật Tru Di tam tộc tàn độc để răn đe dân chúng.
Chính vì thế ai mà không sợ cái “họa văn tự”. Nguyễn Du cũng không ngoại lệ, để ngừa cái họa này, ông phải dùng tích truyện triều Minh bên China để viểt ra Đoạn Trường Tân Thanh. Vì truyện xảy ra ở China nên xã hội phong tục … phải Chinese, điều đó đâu có gì là lạ?

Đoạn Trường Tân Thanh của cụ Nguyễn Du sáng tác gồm 3254 câu, thuộc thể thơ lục bát – quốc thi của Việt Nam. Trong một lần tổ chức kỷ niệm sinh nhật cụ Nguyễn Du vào đầu thế kỷ XX, cụ Phạm Quỳnh nhắc đi, nhắc lại: “Truyện Kiều còn, tiếng ta còn; tiếng ta còn, nước ta còn”

KIM VÂN KIỀU TRUYỆN VÀ THANH TÂM TÀI TỬ

1. Nhan đề Đoạn Trường Tân Than

Nguyễn Du vốn đặt tên truyện thơ là Đoạn Trường Tân Thanh, được các bạn ông khắc in, bản Phường, phổ biến và dạy các nho sinh.
– Mộng Liên Đường Nguyễn Đăng Tuyển đề từ có nói đến Đoạn Trường Tân Thanh. Ông đã giải thích Đoạn Trường Tân Thanh là “tiếng kêu mới đứt ruột”(Đã giải thích trên)
– Phạm Quý Thích lại có bài “Thính Đoạn Trường Tân Thanh hữu cảm”:Bên cạnh nội dung truyện Kiều của Đại thi hào Nguyễn Du, bản Liễu Văn Đường còn có Bài tựa (bằng thơ Đường thất ngôn bát cú) của Lãng Đường Phạm Tiên sinh – Phạm Qúy Thích, bằng chữ Hán: “Đoạn trường tân thanh đề từ”(hoặc “Thính Đoạn trường tân thanh hữu cảm”).

Giai nhân bất thị náo Tiền Đường
Bán thế yên hoa trái vị thường
Ngọc diện khởi ưng mai Thủy quốc
Băng tâm tự khả đối Kim lang
Đoạn trường mộng lý căn duyên liễu
Bạc mệnh cầm chung oán hận trường
Nhất phiến tài tình thiên cổ lụy
Tân Thanh đáo để vị thùy thương

Dịch nghĩa:
Nếu người đẹp Thuý Kiều mà không đi đến sông Tiền Đường,
Thì nửa đời lầu xanh vẫn chưa trả xong nợ.
Mặt ngọc của nàng đâu cần phải chìm xuống thuỷ cung,
Lòng băng tuyết của nàng thì xứng đáng gặp chàng Kim lắm.
Giấc mộng đoạn trường nay đã biết rõ nguồn cơn,
Khúc đàn Bạc mệnh dứt rồi nỗi hận còn vương.
Vì một mảnh tài tình mà ngàn năm còn luỵ,
Tác phẩm Tân Thanh này vì ai mà thương cảm đau lòng.
(Nguồn: Dương Quảng Hàm, Việt Nam văn học sử yếu, Trung tâm học liệu xuất bản, 1968)

Câu 5 có 2 chữ “đoạn trường“, câu cuối của bài thơ này là:
Tân Thanh đáo để vị thùy thương” Dương Quảng Hàm dic̣h: “Tác phẩm Tân Thanh này vì ai mà thương cảm đau lòng”.

Cả hai bài, theo tục truyền Phạm Quý Thích đã in cùng Đoạn Trường Tân Thanh trước 1821, giảng cho học trò, nên mới có tập cho Minh Mạng xem. Điều này phù hợp với tục truyền của học trò ông: Bản phường – Hàng Gai Hà Nội. Cần thấy rằng học trò Phạm Quý Thích là những tiến sĩ, cử nhân, thám hoa… Nhiều vị đã kế thừa ông làm thầy, và học trò của các vị này lại làm thầy cho đến 1919 bỏ Nho học. Cho nên nói là tục truyền nhưng lại có giá trị vì thời gian liên tục và không lâu.

2. Nhan đề Kim Vân Kiều

Vì cái tên Đoạn Trường Tân Thanh (Tiếng kêu mới đứt ruột”) nhạy cảm chính trị, cũng như nội dung truyên thơ phê phán xã hội, đụng chạm đến chế độ phong kiến. Sự ra đời của nó không thể tránh khỏi những con mắt tinh tường của vua quan đầu thời Nguyễn. Nội dung của Đoạn Trường Tân Thanh “có độc” cho vương triều, mặc dù đã mượn tên chính sử Tàu và địa danh Tàu, nhưng cái tên nghe không ổn.
Tục truyền vua Minh Mạng ngồi uống trà và cũng đã phê bình câu “Dọc ngang nào biết trên đầu có ai” khi vua vừa mới lên ngôi năm 1820.
Có ông vua nào muốn nghe thiên hạ ngâm nga “Tiếng kêu đứt ruột” giữa thời ” thịnh thái” của mình trị vì không? Có ông vua nào thích nghe “Dọc ngang nào biết trên đầu có ai” không? Có ông vua nào thích nghe những lời phê phán xã hội, suy rộng ra là chỉ trích vương triều của mình không?
Vua Minh Mạng tìm các biện pháp khắc phục một sự việc đã rồi, với mục đích làm nhẹ ảnh hưởng tác phẩm đã được tuyệt đại quần chúng say mê: Minh Mạng tuyên triệu Phạm Quý Thích vào kinh đô năm 1821 nhưng ông cáo bệnh (theo tiểu sử Phạm Quý Thích) không vào triều kiến. Học trò ông, có nhiều người làm quan của triều đình đã bảo vệ ông.
Không có mặt Phạm Quý Thích và Mộng Liên Đường, Minh Mạng đành đổi tên Đoạn Trường Tân Thanh ra Kim Vân Kiều ( bản VN B60 có ghi bút tích đổi tên) và đã chỉ đạo Hàn Lâm Viện viết thêm bình giảng truyện Kiều theo hướng làm ngơ việc phản ánh xã hội, khiến nếu ai quan tâm thì xem đó chỉ là chuyện bên Tàu chẳng liên quan gì tới Đại Nam. Tập trung vào than tiếc và an ủi sự gian nan giữa tài và mệnh, như hình thức câu truyện.@

Có một nhận xét này:
Trong bản Kim Vân Kiều Truyện, quyển 2 có ghi: Quán Hoa Đường bình luận- Kim Thánh Thán ngoại thư. Ở Trung quốc, Quán Hoa Đường là nhà Kim Thánh Thán và bản ngoại thư của Kim Thánh Thán không có, không ai tìm thấy cả .
Trong khi đó ở Việt Nam: Hoa Đường là hiệu của Phạm Quý Thích, Thán hoa viên là nhà của Mộng Liên Đường Nguyễn Đăng Tuyển, hai người đã giới thiệu và bình Đoạn Trường Tân Thanh của Nguyễn Du.
Sự trùng hợp lạ lùng thay!
Mới đọc trích đoạn nói về việc đổi tên liên quan đến bút tích vua Minh Mạng trong VN B60:

[…Vua Minh Mạng đổi tên Đoạn Trường Tân Thanh của Nguyễn Du ra Kim Vân Kiều, đồng thời chỉ đạo Hàn Lâm viện soạn thêm các bản văn xuôi bình giảng thơ rồi duyệt và chọn 20 hồi bình giảng ghép thành một tiểu thuyết Kim Vân Kiều Truyện lấy tên Thanh Tâm Tài Tử. Tôi xin dẫn chứng 2 tư liệu quan trọng sau:
Tàng bản ký hiệu VN B60*: Bên trong là các trang thơ Truyện Kiều chữ Nôm. Bìa sách ghi bằng bút sắt:
明命御覽(賜)(名)斷腸新聲. 金雲翹傳 (mấy chữ này viết bằng bút sắt).
Phiên âm là:
Minh Mạng ngự lãm (tứ) (danh) Đoạn Trường Tân Thanh Kim Vân Kiều truyện.
Thông thường ta hiểu là: Minh mạng đã đọc ban ân (tứ) tên( danh) Đoạn Trường Tân Thanh: Kim Vân Kiều truyện.
Như vậy đây là bản Đoạn Trường Tân Thanh trình Minh Mạng duyệt và Minh Mạng đổi tên thành Kim Vân Kiều, có thể có chỉnh sửa, là bản gốc của bản Kinh về sau.
Cuốn này ắt có lưu ở Hàn Lâm Viện nên năm 1902, Kiều Mậu Oánh mới chú giải, lấy lại tên Đoạn Trường Tân Thanh, có sự kiểm duyệt của Hàn lâm kiểm thảo Ngô Thúc Dụ Thư.
…..
* Chúng tôi chưa có ảnh chụp cuốn VN B60 này, nên dẫn theo bài viết của Huy Hoàng Hoàng Phước Quyến và Lê Quang Thái, cả hai cùng trích từ Trần Văn Giáp ][Theo Lê Nghị]
……..
@. Nhận xét của tôi:
Bút sắt thời trước chỉ các vị vương giả dùng. Vua Minh Mạng chắc được các sứ thần Pháp tặng bút sắt, nên suy ra các hàng chữ viểt bằng bút sẳt là thật sự của ông.
……….
Trong tổng thuyết 1830 Minh Mạng đã viết “ Thanh Tâm Tài Tử cổ kim minh lương đề tập biên” ( Tập Thanh Tâm tài tử xưa nay, vua sáng tôi hiền chọn lọc) tôi đã nói ở phần 1.
Sự kiện tổng thuyết này đương nhiên là chỉ có quan chức liên quan tới nội trị và văn hoá. Nó cũng giống như nghị quyết của ban tuyên giáo trung ương ngày nay. Tổng thuyết không có nghĩa là lễ hội công khai, giới sĩ phu cũng chỉ nghe tường thuật từ các quan chức dự mà thôi. Ai tiết lộ điều gì trái lệnh vua là xử tội. Tổng thuyết không nhằm kỷ niệm thiên tài Nguyễn Du, không một lời nào đề cao Nguyễn Du rõ ràng, (Tự Đức sau này tục truyền còn đòi đánh đòn Nguyễn Du, và tổng thuyết của ông là hạ thấp Nguyễn Du)
Đến đời Tự Đức, một lần nữa lại tổng thuyết 1871. Tự Đức kiểm duyệt truyện Kiều, ông cũng lọc tiếp những từ ngữ mà ông cho là phản nghịch. Cả ông và Minh Mạng lái tư tưởng truyện Kiều đi vào ca ngợi và thương tiếc một kẻ tài hoa, làm nổi bật thuyết tài mệnh tương đố. Cố tình lờ đi những chi tiết phê phán xã hội, suy rộng ra là chỉ trích vương triều nói chung và nhà Nguyễn nói riêng. Cả hai ông đều giữ lại ngôn ngữ truyền cảm đỉnh cao hài hoà giữ dân gian và bác học.
Do vua Minh Mạng đổi tên nên các bản in sau này đều lấy tên Kim Vân Kiều Truyện, và sau đó Tự Đức đổi Kim Vân Kiều Tân Truyện. Cuốn thơ cổ nhất được in tìm được hiện nay mang tên Kim Vân Kiều là bản in 1866 thời Tự Đức. Năm 1875 khi Trương Vĩnh Ký chuyển ra quốc ngữ ở Saigon, lấy tên Kim Vân Kiều, không nhắc gì đến Đoạn Trường Tân Thanh
Tuy nhiên Minh Mạng cũng là vị vua anh minh hơn vị cháu nối dòng Tự Đức. Ông tự nhận ông đổi tên. ( Bút phê trang bìa VN B60 nói trên). Đặt biệt trong bài Tổng thuyết ông cũng tỏ vẻ tôn trọng tài năng của Nguyễn Du một cách gián tiếp. Một bài thuyết dưới thể phú biền ngẫu, hạn chế nhiều so với chiếu chỉ văn xuôi. Nhưng cũng đủ để hiểu rõ ràng ý của ông: Cuộc hội thuyết này gồm nhiều người ông gọi chung là Thanh Tâm Tài Tử, trong đó có cả ông (hợp trước phủ ba chi bút, liêu phân thiều bộc chi âm) Hai câu đó thể hiện có sự phân công mỗi người làm một số đề tài nào đó, có thể là từ 1821, khi Phạm Quý Thích không vào Kinh và ông đã duyệt lại Đoạn Trường Tân Thanh và đổi tên thành Kim Vân Kiều.
Cách bình giảng thơ Đoạn Trường Tân Thanh làm nhẹ ý nghìa của nó theo tôi nghĩ như sau:
Chỗ nào Nguyễn Du nói nhân vật làm thơ thì cuốn này cho vào một bài thơ. Chỗ nào tối nghĩa như “vành ngoài bảy chữ vành trong tám nghề” thì lấy kỹ thuật làm tình của Kim Bình Mai mà giải thích. Chỗ nào rất hồi hộp mà Nguyễn Du chỉ giản lược:
Lệnh quân truyền xuống nội đao
Thề sao thì lại cứ sao gia hình.
thì văn bình giảng miêu tả chi tiết các loại gia hình độc ác vô nhân (như tôi đã trích đoạn ớ phần 1 – NL) Nghĩa là theo từng câu thơ mà thêm rồng thêm rắn cho dễ hiểu cốt truyện; cùng làm như Kim Vân Kiều giống giống Kim Bình Mai, vì vậy mới có câu: “Đàn bà chớ kể Thúy Vân, Thúy Kiều”
Cách khắc phục của Minh Mạng là khôn ngoan và hiệu quả cho vương triều, nhưng để lại rắc rối cho đời sau. Người trong nước hiểu lầm và “ai đó” tận dụng xuyên tạc.
Đến năm 1883 vua Tự Đức qua đời, triều đình Huế lúc này thực chất chỉ là bù nhìn, toàn bộ chính trường đều do người Pháp đã đạo diễn . Lúc đó một cựu quan nhà Nguyễn, chủ bút tờ báo Đồng Văn là Kiều Oánh Mậu mới cho tái bản phục hồi tên cũ truyện thơ là Đoạn Trường Tân Thanh, có sự phụng mệnh vua đọc và kiểm duyệt của 3 cộng tác và Hàn Lâm kiểm thảo Ngô Thúc Dụ Thư. Thực ra, phải coi bản Đoạn Trường Tân Thanh do Kiều Oánh Mậu chủ trì biên soạn là cãi chính cuối cùng của đại diện triều Nguyễn, chứa đựng nội dung trung thực nhất: Ghi đúng tên, nguồn gốc của Truyện Kiều. Nói rõ hơn là khẳng định Đoạn Trường Tân Thanh có dính líu tới Phong Tình Lục của Dư Hoài và Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm Tài Tử không phải là nguồn gốc truyện Đoạn Trường Tân Thanh
Thực chất cuốn mà ngày nay bạn đọc thấy ghi: Kim Vân Kiều truyện -Thanh Tâm Tài Nhân – Nguyễn Duy Ngung và Nguyễn Đỗ Mục dịch là kết hợp ba tác phẩm khác nhau: thơ vịnh của Chu Mạnh Trinh để đầu hồi + dịch văn xuôi Kim Vân Kiều của Thanh Tâm Tài Tử+ lời bình của Kim Thánh Thán ( không hề tìm ra cuốn lời bình Kim Thánh Thán ở đâu!).[Theo Lê Nghị]

Về việc ghi đúng tên gốc của Truyện Kiều tôi đã giải thích rõ trong bài viết ” Về Nhan Đề Gốc Của Truyện Kiều” [1]

Tập hợp các bài viết bình giảng văn xuôi xen thơ minh hoạ sát theo tình tiết, theo lời thơ Nguyễn Du được đặt tên là ” Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm Tài Tử” như là một tiểu thuyết chương hồi. Như vậy Thanh Tâm Tài Tử là người Việt Nam . Mục đích chính nhằm đánh lạc hướng tâm sự “ưu thời uất thế” của Nguyễn Du – chỉa mũi nhọn vào đương triều và xã hội đương thời sau bao năm trải nghiệm và so sánh với xã hội Trung Hoa ông đã tận mắt chứng kiến trong đợt đi sứ năm 1813.
Nói cách khác, không có cụ thể một một cá nhân Thanh Tâm Tài Tử nào , mà là tên đại diện cho một tập thể giảng , bình, hoạ Kiều ở Đại Nam như đã bàn rõ ớ phần 1.
Về Thanh Tâm Tài Tử: Ở đây cũng nên giải nghĩa “tài tử” là cụm từ thông dụng để chỉ những người yêu văn hoá văn nghệ không quan trọng danh tính, những người có tâm hồn phóng khoáng, thích tụ họp với nhau. Đến ngày nay còn lưu lại trong cụm tử “ đờn ca tài tử”. Còn Thanh Tâm có thể dùng chơi chữ phiên thiết kết lại là tình. Cũng có thể hiểu là tâm trong sáng, vô tư. Biết đâu chọn cái tên Thanh Tâm Tài Tử cũng do gợi ý từ câu trong đoạn kết: “ chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài”. Dầu lý giải kiểu nào cũng là cái tên đẹp. Thanh Tâm Tài Tử là tên tượng trưng của những người bình giảng Kiều, kể cả vua. Giống với ngày nay người ta hợp thành hội Kiều học. (Lê Nghị)

Tại thư viện quốc gia còn lưu một tập: “Thanh Tâm Tài Tử minh lương đề tập biên” (mã số VN 240 ) gồm cả các bài tổng thuyết của Minh Mạng, Tự Đức, và các tác giả khác như Nguyễn Khuyến, Chu Mạnh Trinh…
Do Minh Mạng đổi tên nên các bản in sau này đều lấy tên Kim Vân Kiều. Cuốn thơ cổ nhất được in tìm được hiện nay mang tên Kim Vân Kiều là bản in 1866 thời Tự Đức. Năm 1875 khi Trương Vĩnh Ký chuyển ra quốc ngữ ở Saigon, lấy tên Kim Vân Kiều, không nhắc gì đến Đoạn Trường Tân Thanh.
Tổng Từ của Minh Mạng 1830 đã có tên là “Thanh Tâm Tài Tử”. Tất cả các tác phẩm liên quan đến bình, giảng Kiều đều xếp trong tuyển tập: “Thanh Tâm Tài Tử cổ kim minh lương đề tập biên”. Thanh Tâm Tài Tử cổ kim (nghĩa là các Tác giả trước, nay và hàm ý cả sau khi tổng thuyết, bao gồm cả Minh Mạng). Minh lương đề tập biên (nghĩa là vua sáng tôi hiền tuyển chọn). Theo đó thì các cuốn A953, Kim Vân Kiều lục và mọi cuốn , mọi thể loại khuyết danh đều gọi là của Thanh Tâm Tài Tử

@. Vài nhận xét thêm:
– Hình như tên Kim Vân Kiều bắt chước cách đặt tên của truyện ba nàng dâm nữ, mỗi nàng một kiểu: Kim Bình Mai . Đó là tên một cuốn sách hư cấu nổi tiếng in năm 1610. “Vành ngoài bảy chữ vành trong tám nghề “ là kỹ thuật làm tình của 3 nàng này với Tây Môn Khánh.
– Trong khi Kiều và Từ Hải chết năm 1556 là nhân vật chính sử, và truyện Kim Vân Kiều nếu do Thanh Tâm Tài Nhân là Từ Vị (1521 -1593) viết thì lẽ nào tác giả chết năm 1593 lại bắt chước 7 chữ 8 nghề theo cuốn sách viết sau đó 17 năm? Đó là chưa nói đến nhiều lý do để bài bác luận điểm Thanh Tâm Tài Nhân là Từ Vị. Không hiểu vì lý do gì mà các ông học giả nói Thanh Tâm Tài Nhân là Từ Vị? Sẽ bàn lại rõ vụ này ở phần 3)
Nói khẳng định là Đoạn Trường Tân Thanh có dính líu tới Phong Tình Lục của Dư Hoài, còn Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm Tài Tử không phải là nguồn gốc truyện Kiều Nguyễn Du, chỉ là những bài bình giảng văn xuôi phát xuẩt từ truyện thơ Đoạn Trường Tân Thanh

Sự kiện tổng thuyết này đương nhiên là chỉ có quan chức liên quan tới nội trị và văn hoá. Nó cũng giống như nghị quyết của ban tuyên giáo trung ương ngày nay vậy. Tổng thuyết không có nghĩa là lễ hội công khai, giới sĩ phu cũng chỉ nghe tường thuật từ các quan chức dự mà thôi. Ai tiết lộ điều gì trái lệnh vua là xử tội! Tổng thuyết không nhằm kỷ niệm thiên tài Nguyễn Du, không một lời nào đề cao Nguyễn Du rõ ràng, (Tự Đức sau này tục truyền còn đòi đánh đòn Nguyễn Du, và tổng thuyết của ông là hạ thấp Nguyễn Du)

Cách khắc phục của Minh Mạng là khôn ngoan và hiệu quả cho vương triều nhưng để lại cái họa cho đời sau: Người trong nước hiểu lầm và gián điệp văn hoá tận dụng xuyên tạc.

Mời đọc trích đoạn này từ nhà nghiên cứu Lê Nghị:

.
Năm 1830 Minh Mạng tổ chức tổng thuyết Kim Vân Kiều truyện ( tức Đoạn Trường Tân Thanh) và nêu lên mục đích của cuốn bình giảng Đoạn Trường Tân Thanh viết bằng văn xuôi. Sự kiện này Minh Mạng đã viết trong “ Thanh Tâm Tài Tử cổ kim minh lương đề tập biên” ( Tập Thanh Tâm tài tử xưa nay, vua sáng tôi hiền chọn lọc. So ảnh trang đầu bên dưới)
Trong đó có nói lý do tuyển chọn tập :
Hà do trùng phát u quang, bổ khuyết nhi thành tín sử ( vì sử sách xa mù, nên bổ khuyết để căn cứ làm tin).
Đoạn giữa bài thuyết chủ yếu nói đến thân phận nàng Kiều, đồng cảm và an ủi với tài và cảnh luôn xung đột, nửa Khổng nữa Phật.
Đoạn kết lại kết lần nữa nhấn mạnh:

Nại hà:
Ngọc nhan bất tác, trúc hãn nan bằng
Tài tử tình thư, cánh lạc ư kim ngọc tượng chi ngoại
Giai nhân tâm sự, tẫn phó ư phong sương binh hỏa chi dư
Thánh Thán bất phùng, hàn yên tán mạn
Hoa Đường dĩ viễn, phá bích tiêu điều

Sở đương mịch kỳ di biên, cáo chư đồng chí
Truyền thân tả chiếu ly tảo trích hoa
Hoá công họa công, hợp trước phủ ba chi bút
Thiên thế bách thế, liêu phân thiều bộc chi âm
Thượng dĩ hoàn luân đài kiểm điểm chi sơ tâm
Hà dĩ bị nghệ uyển bình chướng chi giai thoại

Diệc cổ kim lai tài bình nhất vận sự nhĩ.
( Minh Mạng tổng thuyết)

Tạm dịch nghĩa:

Ngặt nỗi:

Người ngọc chẳng gặp, sử xanh khó làm bằng chứng
Sách tình của tài tử (thì) chỉ là phủ bên ngoài ý vàng ngọc
Tâm sự giai nhân cứ đổ cho thời gian, chiến tranh hủy hoại
Thánh Thán (1) chẳng gặp, khói sương mờ mịt
Hoa Đường (2) đã khuất , tường vách tiêu điều

(Vì vậy) cần biên soạn để lại, thống nhất ý chung
Nghĩa đen nghĩa bóng, tránh lầm xấu tốt.
Trời với người hợp sức múa bút búa rìu cho rõ
Trăm tới ngàn năm phân bàn bật tiếng thơ
Trước là để hợp tâm đầu người đã khuất
Sau góp thêm bình luận chuyện văn chương
Tự xưa tới nay bàn sao nghe cho tốt đẹp.
Mở đầu là Thanh Tâm Tài Tử cổ kim, kết thúc là Diệc cổ kim lai cho thấy không phải là một Thanh Tâm Tài Tử, không phải là một tác giả mà là tập hợp nhiều người, người Việt Nam.
………
(1) Thán hoa viên là nhà của Mộng Liên Đường Nguyễn Đăng Tuyển
(2) Hoa Đường là hiệu của Phạm Quý Thích

Thanh Tâm Tài Tử ( Tổng thuyểt 1830- Minh Mạng)

(Hình Tổng thuyết Minh Mạng -trang trong – 1830)

Từ thời vua Minh Mạng đến đầu thế kỷ 20 đã có ba thế hệ thi gia Việt Nam viết về Kiều, tổng hợp thành 3 thi tập. Mời cảc bạn đọc trích đoạn sau đây của ông Hoàng Hải Vân:
[… Tập đầu tiên soạn khi Minh Mạng mới lên ngôi (1820) gồm những bài thơ xướng và họa bằng chữ Hán dựa theo từng hồi của Kim Vân Kiều truyện, do Phụ chính đại thần Hà Tôn Quyền chủ xướng, đến năm Minh Mạng thứ 11 (1830), đích thân nhà vua viết một bài Tổng thuyết cho thi tập, cũng bằng chữ Hán. Vào năm 1871, tập tiếp theo do Tự Đức chủ xướng, đích thân nhà vua làm các bài thơ xướng cho mỗi hồi và viết lời tựa (Tổng từ)chung cho thi tập. Tập thứ ba ra đời vào cuối thế kỷ 19, có Chu Mạnh Trinh và Nguyễn Khuyến tham gia. Những bản chép tay các tập thời Minh Mạng và Tự Đức mang tên “Thanh Tâm tài tử cổ kim minh lương đề tập biên” (nghĩa là : Các bài của các tài tử vô tư xưa viết, nay nhân vua sáng tôi hiền tập hợp lại – NL) hiện cũng được lưu giữ tại Thư viện quốc gia Hà Nội, ký hiệu VNV 240. – Hoàng Hải Vân...] [Cần công bằng với Thanh Tâm Tài Nhân – Hoàng Hải Vân][2]
***
Tóm lại, Việt Nam thời Minh Mạng 1830 có một truyện thơ Kiều của Nguyễn Du bị đổi tên là Kim Vân Kiều, và một cuốn văn xuôi bình giảng thơ Kiều: Kim Vân Kiều Truyện của Thanh Tâm Tài Tử, tập hợp 20 bài bình giảng, cuả nhiều người do vua Minh Mạng tuyển chọn soạn ra.

(Còn tiếp phần 3: Kim Vân Kiều Truyện Thanh Tâm Tài Nhân )

Nguyên Lạc
………………..
Ghi Chú:
[1] Về Nhan Đề Gốc Của Truyện Kiều – Nguyên Lạc
https://nguyenlac.blog/2019/09/05/ve-nhan-de-goc-cua-truyen-kieu-nguyen-lac/
[2] Cần công bằng với Thanh Tâm Tài Nhân – Hoàng Hải Vân
http://www.hoanghaivan.com/search?updated-max=2009-05-02T18:54:00%2B07:00&max-results=2&reverse-paginate=true

VỀ NHAN ĐỀ GỐC CỦA TRUYỆN KIỀU

Phê bình Nguyên Lạc

 

Truyện Kiều chữ Nôm 2

Trong quá trình sưu tầm tài liệu để viết tiếp phần 2 và phần 3 bài TRẬN CHIẾN CHƯA NGƯNG: Đoạn Trường Tân Thanh và Kim Vân Kiều Truyện, tình cờ tôi gặp bài viết: “Nhan đề gốc của “Truyện Kiều” của Đinh Văn Tuấn đăng trên trang Tạp chí Sông Hương SỐ 310 (T.12-14) và trên nhiều trang khác, trong cũng như ngoài nước. Ông Đinh Văn Tuấn Đưa ra kết luận như “đinh đóng cột” thế này:
“Nay, chúng tôi là hậu học, sau khi đã tìm hiểu lại ngọn nguồn, xin đề nghị trả lại nhan đề gốc do thi hào Nguyễn Du đặt cho một tuyệt tác thi ca nổi tiếng trong và ngoài nước từ gần 2 thế kỷ qua, đó là KIM VÂN KIỀU TRUYỆN 金 雲 翹 傳 “
“… Truyện Kiều cũng thế, nguyên truyện Trung Quốc là tiểu thuyết Kim Vân Kiều truyện 金 雲 翹 傳 của Thanh Tâm Tài Nhân và tự nhiên cụ Nguyễn Du cũng sẽ đặt nhan đề là Kim Vân Kiều truyện”[“Nhan đề gốc của “Truyện Kiều”- Đinh Văn Tuấn ][*]
Và trong bài: “145 Năm Tầm Nguyên Truyện Kiều” – Hợp Lưu 01/11/2015 ông Tuấn lại tái khẳng định:
Văn bản Truyện Kiều phục cổ do chúng tôi tái lập sẽ lấy nhan đề khởi thủy do Nguyễn Du đặt là Kim Vân Kiều truyện 金 雲 翹 傳 chứ không lấy nhan đề Đoạn Trường tân thanh hay Truyện Kiều như chúng tôi đã khảo chứng qua bài viết “Nhan đề gốc của truyện Kiều”-Tạp chí Nghiên cứu và Phát triển, S. 6(113) (2014)

Đây là những lý do ông Đinh Văn Tuấn nêu ra để đưa đến kết luận cả quyết trên.

Trước khi xét và phản hồi từng điểm của ông Tuấn, tôi có những ý này:
— Cám ơn ông đã không “bất kính” với cổ nhân (chữ ông Đinh Văn Tuấn), đã tìm hiểu lại một cách khoa học để phục hồi lại “nhan đề gốc của ‘Truyện Kiều’ ” Nguyễn Du.
— Ông: “đề nghị trả lại nhan đề gốc do thi hào Nguyễn Du đặt cho một tuyệt tác thi ca nổi tiếng trong và ngoài nước từ gần 2 thế kỷ qua đó là KIM VÂN KIỀU TRUYỆN”. Xin hỏi: – Sau KIM VÂN KIỀU TRUYỆN còn có thêm hàng chữ nào không ông? Thí dụ như Thanh Tâm Tài Nhân? Kim Thánh Thán bình…?
Mời ông đọc những lời này của ông “bạn vàng phương Bắc” Đổng Văn Thành:
[ … Phải chăng tác giả Trung Quốc Thanh Tâm tài nhân – con người “tầm thường”, “không thể cứu chữa” – đã làm hỏng đề tài Vương Thúy Kiều đến nỗi không một chỗ nào coi được, phải hoàn toàn nhờ sự gia công “thiên tài” của tác giả Việt Nam Nguyễn Du mới biến miếng sắt bỏ đi thành vàng ròng lấp lánh?...”] (Phạm Tú Châu “So sánh Truyện Kim Vân Kiều Trung Quốc và Việt Nam”; 200 năm nghiên cứu bàn luận “Truyện Kiều”, Nxb. Giáo dục, Hà Nội 2005)
[ … “Nhìn tổng thể, tôi thấy Truyện Kiều của Nguyễn Du bất luận về nội dung hay về nghệ thuật đều không vượt được bản gốc mà nó mô phỏng, tức – Truyện Kiều của Trung Quốc –
Ông Đổng còn nói: “Nguyễn Du còn thêm chân cho rắn khiến chúng mâu thuẫn với hoàn cảnh và tình tiết trong toàn bộ nguyên tác”] [Nguồn: Nguyễn Huệ Chi -Trở lại câu chuyện so sánh Kim Vân Kiều truyện với Truyện Kiều của ông Đổng Văn Thành]
– Và cũng mời ông đọc lại những hàng chữ chính ông chú thích sau đây:
Kim Vân Kiều” là sách gì? Chưa nói đến sự tích thiệt không, chưa kể văn chương hay dở, chỉ nhắc đến cái tên sách thì nghe đã không thể nào ngửi được; vì sao thế? Phàm bộ truyện nào, dầu trong có bao nhiêu nhân vật mặc lòng, chỉ là một người làm chủ nhân: sự tích là sự tích một người chủ nhân ấy, thì tên sách cũng theo đó mà gọi….ông Nguyễn Du chắc không đặt tên dốt như thế? Dù cái tên ấy là nguyên bản của Tàu, là nguyên bản của Tàu thì càng đủ biết rằng truyện ấy đặt ra bởi một anh Tàu dốt nào đó mà thôi.” [Ngô Đức Kế (1878-1929) , Luận về chánh học cùng tà thuyết, Tạp chí Nam Phong số 86. 1924][**]
Chắc ông Đinh Văn Tuấn cho rằng cái tên sách “Kim Vân Kiều” hay ho lắm nên muốn gán cho cụ Tiên Điền, thi hào ông không “bất kính”?

Giờ xin lần lượt vào từng điểm, cùng những nhận xét và phản hồi của tôi:
I.
[ Dựa vào bản khắc Liễu Văn Đường 1866, là bản cổ nhất hiện còn lại ta thấy ở dòng cuối cùng của bản LVĐ 1866 đã khắc là Kim Vân Kiều truyện quyển hoàn 金 雲 翹 傳 卷 完 (bản Liễu Văn Đường 1871, bản Thịnh Mỹ Đường 1879… cũng khắc như vậy), ngay cả bản Đoạn trường tân thanh, Kiều Oánh Mậu 1902 ở trang cuối cũng vẫn ghi “Kim Vân Kiều truyện chung”金 雲 翹 傳 終 (xem hình). Vậy nhan đề gốc là Kim Vân Kiều Truyện 金 雲 翹 傳 ] – Đinh Văn Tuấn.

Bản khắc LVĐ và KOM

(Hình 1 – ảnh 2 bản khắc LVĐ và KOM)

.
@. Trả lời:
Tôi xin lần lượt trả lời từng bản khắc:
1. Bản khắc Liễu Văn Đường : Kim Vân Kiều truyện quyển hoàn 金 雲 翹 傳 卷 完
– Theo tôi, ông Đinh Văn Tuấn nghĩ là: Sách (quyển) Kim Vân Kiều truyện hoàn tất, xong.
Vì chữ Hán nhiều nghĩa, ai cũng có thể hiểu, suy diễn theo ý riêng nên câu này cũng có thể có nghĩa: Sách kể chuyện 3 người: Kim, Vân, Kiều đã hoàn tất, xong.
– Theo tôi, nghĩa thứ 2 đúng hơn. Tại sao? Vì:
Năm 1820, tháng 9 cụ Nguyễn Du mất. Mộng Liên Đường Nguyễn Đăng Tuyển đề từ cho truyện thơ cụ lại có đến Đoạn Trường Tân Thanh . Ông đã giải thích tên Đoạn Trường Tân Thanh như sau:
“Truyện Thuý Kiều chép ở trong lục Phong tình, ta không bàn làm gì. Lục Phong tình cũng đã cũ rồi. Tố Như tử xem truyện, thấy việc lạ, lại thương tiếc đến những nỗi trắc trở của kẻ có tài, bèn đem dịch ra quốc âm, đề là Đoạn trường tân thanh, thành ra cái lục Phong tình vẫn là cái lục cũ, mà cái tiếng Đoạn trường lại là cái tiếng mới vậy”.[Đề Từ Đoạn Trường Tân Thanh – Tiên phong Mộng Liên Đường Nguyễn Đăng Tuyển]
Phạm Quý Thích lại có bài : “Thính Đoạn Trường Tân Thanh hữu cảm”. Cả hai bài, theo tục truyền Phạm Quý Thích đã in cùng Đoạn Trường Tân Thanh trước 1821 và giảng cho học trò, nên mới có tập cho Minh Mạng xem ( bản Liễu Văn Đường) Phù hợp với tục truyền của học trò ông: Bản phường – Hàng Gai Hà Nội. Năm 1830 Tổng thuyết vua Minh Mạng đổi tên Đoạn Trường Tân Thanh thành Kim Vân Kiều truyện, rồi đến 1871, Tổng thuyết lần 2, của vua Tự Đức sửa tên thành Kim Vân Kiều tân truyện (Giải thích rõ thêm ở dưới)
Bên cạnh nội dung truyện Kiều của Đại thi hào Nguyễn Du, bản Liễu Văn Đường còn có Bài tựa (bằng thơ Đường thất ngôn bát cú) của Lãng Đường Phạm Tiên sinh – Phạm Qúy Thích, bằng chữ Hán: “Đoạn trường tân thanh đề từ”(hoặc “Thính Đoạn trường tân thanh hữu cảm”).

Giai nhân bất thị náo Tiền Đường
Bán thế yên hoa trái vị thường
Ngọc diện khởi ưng mai Thủy quốc
Băng tâm tự khả đối Kim lang
Đoạn trường mộng lý căn duyên liễu
Bạc mệnh cầm chung oán hận trường
Nhất phiến tài tình thiên cổ lụy
Tân Thanh đáo để vị thùy thương

Dịch nghĩa
Nếu người đẹp Thuý Kiều mà không đi đến sông Tiền Đường,
Thì nửa đời lầu xanh vẫn chưa trả xong nợ.
Mặt ngọc của nàng đâu cần phải chìm xuống thuỷ cung,
Lòng băng tuyết của nàng thì xứng đáng gặp chàng Kim lắm.
Giấc mộng đoạn trường nay đã biết rõ nguồn cơn,
Khúc đàn Bạc mệnh dứt rồi nỗi hận còn vương.
Vì một mảnh tài tình mà ngàn năm còn luỵ,
Tác phẩm Tân Thanh này vì ai mà thương cảm đau lòng.
(Nguồn: Dương Quảng Hàm, Việt Nam văn học sử yếu, Trung tâm học liệu xuất bản, 1968)

Câu 5 có 2 chữ “đoạn trường“, câu cuối của bài thơ này là:
Tân Thanh đáo để vị thùy thương” Dương Quảng Hàm dic̣h: “Tác phẩm Tân Thanh này vì ai mà thương cảm đau lòng”.
Phần đầu sách đã xác điṇh tên tập thơ là Đoạn Trường Tân Thanh, không lẻ Phạm Qúy Thích “tự chặt tay mình” mà cuối sách viết khác?
Trường hợp này cũng tương tự như câu trong bản khắc Kiều Oánh Mậu ở dưới.

ĐTTT Kiều Oánh Mậu 1902

(Hình 2 – ảnh bản in Kiều Oánh Mậu 1902 )

.
2.  Bản khắc Kiều Oánh Mậu“Kim Vân Kiều truyện chung”金 雲 翹 傳 終

.
— Đinh Văn Tuấn nghĩ là: Kim Vân Kiều truyện kết cuộc, hết. Như trên đã nói, câu này cũng có thể nghĩ: Truyện kể 3 người Kim, Vân, Kiều kết cuộc, hết.
Cũng giống như trên, nghĩa thứ 2 đúng hơn. Vì:
Đến năm 1883 Tự Đức qua đời. Triều đình Huế lúc này thực chất chỉ là bù nhìn, toàn bộ chính trường đều do người Pháp đã đạo diễn . 9 năm sau, năm 1902 cựu quan nhà Nguyễn, chủ bút tờ báo Đồng Văn là Kiều Oánh Mậu mới cho tái bản phục hồi tên cũ là Đoạn Trường Tân Thanh, có sự phụng mệnh vua đọc và kiểm duyệt của 3 cộng tác và Hàn Lâm kiểm thảo Ngô Thúc Dụ Thư. Có sự kiểm duyệt của quan Hàn Lâm kiểm thảo Ngô Thúc Dụ Thư thì không phải là chuyện đùa. Phải coi bản Đoạn Trường Tân Thanh do Kiều Oánh Mậu chủ trì biên soạn là cãi chính cuối cùng của đại diện triều Nguyễn chứa đựng nội dung trung thực nhất: Ghi đúng tên, nguồn gốc của Truyện Kiều.
Và cũng giống như trên, đã phục hồi tên tập thơ là Đoạn Trường Tân Thanh không lẻ Kiều Oánh Mậu “tự chặt tay mình” mà cuối sách viết khác?
— Câu bản khắc Kiều Oánh Mậu này còn có thể thêm một nghĩa: Chấm dứt cái tên “Kim Vân Kiều Truyện” từ đây, (Kim Vân Kiều Truyện cáo chung): – Để kết thúc một câu truyện, sách in đề tựa Đoạn Trường Tân Thanh (ở trang bìa), ta chỉ cần một chữ chung (hết) ở trang cuối, như bao cuốn sách khác là xong, sao lại tự dưng ghi “Kim Vân Kiều truyện chung”? Ở đây cần hiểu là: Truyện này tên Đoạn Trường Tân Thanh, cái tên Kim Vân Kiều truyện đã chấm dứt từ cãi chính này.
Suy luận nào cũng là suy luận, nhưng suy luận nào hợp với bằng chứng nhất do người đọc lựa chọn.
— Xin nói rõ thêm vài hàng: Trong lời dẫn thứ 3 của ấn bản Kiều Oánh Mậu, có nói rằng “Minh Mạng đặt tên nay theo đó mà giữ”, cũng chẳng qua là cách bào chữa giữ danh dự cho tiên vương thôi. Từ xưa đến nay, chả có ông nào làm vua, làm chủ tịch… mà tự nhận lỗi cả, nếu muốn thì đổ thừa cấp dưới hiểu sai ý thôi. Kiều Oánh Mậu là cựu quan nhà Nguyễn, nhượng bộ quan Hàn Lâm một chút, giữ uy tín cho tiên vương cũng dễ hiểu thôi, miễn mục đích đạt được. Tên đã phục hồi, đề từ của Phạm Quý Thích và Mộng Liên Đường cũng còn đó, đời sau tự hiểu.

II.
Ngoài ra, còn một tục truyền khác lại cho vua Minh Mạng đã cho đổi tên Kim Vân Kiều truyện thành Đoạn trường tân thanh nữa, theo bản Nôm Kim Vân Kiều truyện 金 雲 翹 傳, ký hiệu V.N.B.60, không rõ niên đại, có đoạn chép tay (bút lông) như sau:
“…Tiên Điền Nguyễn Du diễn xuất quốc âm danh Kim Vân Kiều truyện, phụng Minh Mạng ngự lãm (tứ) (cãi) (vi) Đoạn Trường Tân Thanh (tòng kinh bản dã)… 仙田阮攸演出國音名金雲翹傳,奉明命御覽(賜)(改)(為)斷腸新聲(從京本也)” (… Nguyễn Du ở Tiên Điền diễn ra quốc âm, đặt tên là Kim Vân Kiều truyện, được vua Minh Mạng đọc và (cho) (đổi) (tên) (làm) Đoạn Trường Tân Thanh (đó là theo bản kinh)…] – Đinh Văn Tuấn

@. Trả lời:

.
Xin ông Đinh Văn Tuấn ghi lại cho đầy đủ cả lời của vua Minh Mạng, tôi thấy có điều gì “nhập nhằng” ở đây:
— Lập luận ông khiên cưỡng và “trở ngược đầu”: Vua Minh Mạng đổi tên Đoạn Trường Tân Thanh thành Kim Vân Kiều truyện, sao ông suy diễn ngược lại? Có ý gì?
Nếu Minh Mạng đổi tên Kim Vân Kiều thành Đoạn Trường Tân Thanh thì sao tất cả các bản in đều in là Kim Vân Kiều hoặc Kim Vân Kiều Tân Truyện, mà không là Đoạn Trường Tân Thanh? Cãi lệnh vua được sao? Muốn tru di hả? Phải đợi mãi đến Tự Đức chết, 1883 thì 9 năm sau tên Đoạn Trường Tân Thanh mới được phục hồi bởi Kiều Oánh Mậu 1902.
— Mời đọc đoạn này:
Tàng bản ký hiệu VN B60: Bên trong là các trang thơ Truyện Kiều chữ Nôm. Bìa sách ghi bằng bút sắt:
明命御覽(賜)(名)斷腸新聲. 金雲翹傳 (mấy chữ này viết bằng bút sắt).
Phiên âm là:
Minh Mạng ngự lãm (tứ) (danh) Đoạn Trường Tân Thanh Kim Vân Kiều truyện.
Thông thường ta hiểu là: Minh mạng đã đọc ban ân (tứ) tên( danh) Đoạn Trường Tân Thanh: Kim Vân Kiều truyện.
Như vậy đây là bản Đoạn Trường Tân Thanh trình Minh Mạng duyệt và Minh Mạng đổi tên thành Kim Vân Kiều truyện, có thể có chỉnh sửa, là bản gốc của bản Kinh về sau.
Nhưng mặt bìa sau ai đó viết chú thích bằng bút lông:
雲翹傳,本北國青心才人錄, 仙田阮攸演出國音名金雲翹傳, 奉明命御覽(賜)(改)(為)斷腸新聲(從京本也), 華 堂進士笵貴適題辭… (viết bằng bút lông)
Phiên âm là:
Kim Vân Kiều truyện, bản Bắc quốc Thanh Tâm tài nhân lục, Tiên Điền Nguyễn Du diễn xuất quốc âm danh Kim Vân Kiều truyện, phụng Minh Mạng ngự lãm (tứ) (cãi) (vi) Đoạn Trường Tân Thanh (tòng kinh bản dã) Hoa Đường Tiến sĩ Phạm Quý Thích đề từ…
[Sách Kim Vân Kiều truyện vốn là sách Thanh Tâm tài nhân lục của Bắc quốc, Nguyễn Du ở Tiên Điền diễn ra quốc âm, đặt tên là Kim Vân Kiều truyện, được vua Minh Mạng đọc và (cho) (đổi) (tên) (làm) Đoạn Trường Tân Thanh (đó là theo bản kinh). Phạm Quý Thích, người Hoa Đường, đậu Tiến sĩ đề từ…] (Theo Trần Văn Giáp)

.
@ Nhận xét:.

— Bút tích viết bằng bút sắt ở trên có thể cho là của Minh Mạng:

  • Một là, giọng văn đó của vua trực tiếp phê. Giống như ngày nay văn bản cấp dưới trình cấp trên, cấp trên phê: đã đọc Đoạn Trường Tân thanh, tên đổi Kim Vân Kiều truyện.
  • Hai là bút tích Minh Mạng viết : “ Thanh Tâm Tài Tử cổ kim minh lương đề tập biên” cũng bằng viết sắt ( có ảnh kèm theo)

Thanh Tâm Tài Tử ( Tổng thuyểt 1830- Minh Mạng)

(Hình 3 – ảnh Tổng thuyết Minh Mạng)

— Bút tích sau viết bằng bút lông là giọng văn thuật lại” phụng Minh Mạng ngự lãm”(thể theo Minh Mạng đã đọc), tức là của người khác, viết bút lông không phải của Minh Mạng. Ta không biết rõ ai viết, viết vào thời nào; và vì sao trong một câu ngắn gọn của Minh Mạng lại suy diễn chi tiết như thế? Do đó không thể tin cậy được. Theo tôi, “ai đó” ghi thêm và chắc “có ý” gì đó?
Tuy nhiên, cả hai bút tích viết đều có nhắc tới Đoạn Trường Tân Thanh. Tháng 9 năm 1820 Nguyễn Du quy tiên. Trong khi đó Mộng Liên Đường Nguyễn Đăng Tuyển ( có nhiều người nhầm Mộng Liên Đường là Phạm Quý Thích) đề từ lại nói đến Đoạn Trường Tân Thanh . Ông đã giải thích Đoạn Trường Tân Thanh là “tiếng kêu mới xé ruột”. Phạm Quý Thích lại có bài : Thính Đoạn Trường Tân Thanh hữu cảm. Cả hai bài, theo tục truyền Phạm Quý Thích đã in cùng Đoạn Trường Tân Thanh trước 1821, giảng cho học trò, nên mới có tập cho Minh Mạng xem. Phù hợp với tục truyền của học trò ông: bản phường – Hàng Gai Hà Nội. Cần thấy rằng học trò Phạm Quý Thích là những tiến sĩ, cử nhân, thám hoa…Nhiều vị đã kế thừa ông làm thầy, và học trò của các vị này lại làm thầy cho đến 1919 bỏ Nho học. Cho nên tục truyền mà lại có giá trị vì thời gian liên tục và không lâu.
Minh Mạng tuyên triệu Phạm Quý Thích vào Kinh, năm 1821 nhưng ông cáo bệnh (theo tiểu sử Phạm Quý Thích), học trò ông lại nhiều người làm quan của triều đình bảo vệ ông. Cho phép ta suy luận việc này có liên quan đến ấn bản Phường. Không có mặt Phạm Quý Thích và Mộng Liên Đường, Minh Mạng đành đổi tên Đoạn Trường Tân Thanh ra Kim Vân Kiều truyện như bản VN B60 ghi bút tích và đã chỉ đạo Hàn Lâm Viện viết bình giảng truyện Kiều theo hướng làm ngơ việc phản ánh xã hội, phê phán vương triều… nếu ai quan tâm thì xem đó chỉ là chuyện bên Tàu (như Nguyễn Du đã cố tránh né vì “họa văn tư”̣). Tập trung hướng vào than tiếc và an ủi sự gian nan giữa tài và mệnh như hình thức câu truyện. Cuốn này ắt có lưu ở Hàn Lâm Viện nên năm 1902, Kiều Mậu Oánh mới chú giải, lấy lại tên Đoạn Trường Tân Thanh, có sự kiểm duyệt của Hàn lâm kiểm thảo Ngô Thúc Dụ Thư. [theo Lê Nghị]

@. Nhận xét của tôi:
– Bút sắt thời trước chí các vị vương giả dùng. Vua Minh Mạng chắc được các sứ thần Pháp tặng bút sắt Paker, nên suy ra các hàng chữ viểt bằng bút sẳt là thật sự của ông.
– Do Minh Mạng đổi tên nên các bản in sau này đều lấy tên Kim Vân Kiều Truyện, hoặc Kim Vân Kiều Tân Truyện. Cuốn thơ cổ nhất được in tìm được hiện nay mang tên Kim Vân Kiều là bản in 1866 thời Tự Đức. Năm 1875 khi Trương Vĩnh Ký chuyển ra quốc ngữ ở Saigon, lấy tên Kim Vân Kiều, không nhắc gì đến Đoạn Trường Tân Thanh.
– Đã là nhà “nghiên cứu khoa học” thì phải minh bạch và khách quan, vậy sao ông Đinh Văn Tuấn ớ trên lại không ghi rõ đầy đủ lời phê bằng bút sắt của vua Minh Mạng ra? Ông có ý gì mà giấu nó?

III.
Nếu thật có nhan đề Đoạn trường tân thanh do chính tác giả đặt thì theo ý chúng tôi, không một ai dám tự tiện đặt lại tên (dù đó là người bạn tri kỷ), đáng ngờ hơn nữa là sửa lại bằng một cái tên rất bình thường là “Kim Vân Kiều”. Ngược lại, từ “Kim Vân Kiều” gốc Hán rất dễ bị sửa thành một nhan đề hay và ý nghĩa sâu sắc là “Đoạn trường tân thanh”, nhất là khi tin và dựa vào mấy chữ “đoạn trường tân thanh” từ bài thơ của cụ Phạm Quý Thích.
Có thể một nhà Nho nổi tiếng nào đó lúc ấy đã tự ý đổi nhan đề là Đoạn trường tân thanh hoặc cũng có thể là Tiên Phong Mộng Liên Đường chủ nhân khi xác nhận cụ Nguyễn Du đặt nhan đề là Đoạn trường tân thanh nên người sau mới tin theo như Nguyễn Hữu Lập, Kiều Oánh Mậu... ] – Đinh Văn Tuấn

.

@. Trả lời:
— Trước ông Đinh Văn Tuấn cho rằng: nếu Đoạn Trường Tân Thanh là tên có thật thì ai dám đổi, dù là bạn tri kỷ. Sau ông lại cho rằng một nhà nho nổi tiếng nào đó đổi. Xin hỏi nhà nho nào nổi tiếng thi tài hơn Nguyễn Du được nhắc tới? Người ta chỉ thấy Phạm Quý Thích là thầy của bao nhiêu tiến sĩ, cử nhân cũng chỉ vịnh Đoạn Trường Tân Thanh và Mộng Liên Đường một ông quan nổi tiếng tài hoa cũng chỉ sáng tác: Tục Đoạn Trường Tân Thanh.
Vậy thì ai đổi?
— Vua Minh Mạng đổi được không?
Xin nhắc lại ở trên:
“Minh Mạng ngự lãm (tứ) (danh) Đoạn Trường Tân Thanh Kim Vân Kiều truyện”
(Minh Mạng đã đọc ban ân (tứ) tên( danh) Đoạn Trường Tân Thanh : Kim Vân Kiều truyện)
— Ông Đinh Văn Tuấn có biết tại sao Minh Mạng đổi tên không?
Vì cái tên đó nhạy cảm chính trị. Nội dung của Đoạn Trường Tân Thanh “có độc” cho vương triều, mặc dù đã mượn tên chính sử Tàu và địa danh Tàu, nhưng cái tên nghe không ổn: Đoạn Trường Tân Thanh là “tiếng kêu mới đứt ruột”.
Tục truyền vua Minh Mạng ngồi uống trà và đã phê bình câu “Dọc ngang nào biết trên đầu có ai” khi vua vừa mới lên ngôi năm 1820.
Có ông vua nào muốn nghe thiên hạ ngâm nga “Tiếng kêu xé ruột” giữa thời ” thịnh thái” không? Có ông vua nào thích nghe “Dọc ngang nào biết trên đầu có ai”không? Có ông vua nào thích nghe những lời phê phán xã hội, suy rộng ra là chỉ trích vương triều của mình không?
— Vì sao gọi là ban ân?: Đúng ra là phải tịch thu, cấm lưu hành; nhưng vì tác phẩm lỡ lưu hành và vì nó quá hay, nên cho tiếp tục lưu hành nhưng phải đổi tên
Đó là lý do mới đổi tên. Dù gì vua Minh Mạng cũng biết trọng người tài, nếu không cụ Nguyễn Du dễ gì thoát khỏi “họa văn tự”

IV.
Cụ Phạm không dùng chữ “độc” (đọc) mà dùng chữ “thính” (nghe) cũng đủ để cho thấy nhà thơ không phải “đọc” một truyện thơ có nhan đề là Đoạn trường tân thanh. Không có gì bảo đảm là Phạm Quý Thích đã viết chính xác nhan đề Đoạn trường tân thanh] – Đinh Văn Tuấn

.
@. Trả lời:
— “thính” (nghe) bạn tri kỷ, tri âm Nguyễn Du đọc truyện thơ của bạn có nhan đề là Đoạn trường tân thanh không được sao?
Chỉ có chú em Nguyễn Du đọc cho ông anh thân thiết Phạm Quý Thích nghe, chứ ai? Chú nó sống không dám công bố, chết rồi mình công bố vậy. Phạm Quý Thích, bạn tri kỷ tri âm của Nguyễn Du, lớn hơn Nguyễn Du 6 tuổi và mất sau 5 năm.
*
Còn nhiều điểm nữa cần bàn, nhưng thôi tới đây tôi nghĩ cũng tạm đủ để độc giả hiểu rõ lòng ông Đinh Văn Tuấn . Tôi chỉ muốn nhắc lại những lời sau đây tự ông viết trong bài viết ông:
Đào Duy Anh đã từng tin như vậy: “Sách mà ta thường gọi là Truyện Kiều hay là Truyện Thúy Kiều, Nguyễn Du đặt nguyên đề là Đoạn Trường tân thanh. Lập Trai Phạm Quý Thích là bạn thân của Nguyễn Du, khi đem khắc bản để in mới nhân nguyên truyện của người Trung Quốc tên là Kim Vân Kiều truyện mà đổi tên là Kim Vân Kiều truyện”, hay học giả Hoàng Xuân Hãn cũng đã từng nói: “Có nhẽ cụ Nguyễn Du đặt tên truyện là Đoạn Trường Tân Thanh thực đấy, chứ không phải là Kim Vân Kiều đâu. Kim Vân Kiều là tên của sách Tầu. Rồi sau những người khắc khác, trở lại cái tên cũ của người Tầu và để là Kim Vân Kiều Truyện”– Đinh Văn Tuấn
Xin nói rõ, tôi chỉ chú trọng đển tên thật của Nguyễn Du đặt cho truyện thơ mình, còn về nguồn gốc truyện thơ thì có những bài viết khác.
Tôi thật lấy làm lạ:
– Ông Đinh Văn Tuấn đã nói là kính trọng (không “bất kính”- chữ của ông) cụ Nguyễn Du, thế mà tại sao lại muốn gán “cái tên sách thì nghe đã không thể nào ngửi được”(lời cụ Ngô Đức Kế) cho truyện thơ của đại thi hào? [**]

.
Ôi, thương thay cho cụ Nguyễn Du!
.
Nguyên Lạc
………
Ghi chú:
[*] “Nhan đề gốc của “Truyện Kiều” của Đinh Văn Tuấn

http://tapchisonghuong.com.vn/tap-chi/c319/n18166/Nhan-de-goc-cua-Truyen-Kieu.html

[**] Xin nói rõ kẻo hiểu lầm: Tôi chỉ đồng ý với cụ Ngô Đức Kế về việc chê nhan đề “Kim Vân Kiều” đặt cho truyện Kiều /Đoạn Trường Tân Thanh của thi hào Nguyễn Du, còn những phê phán khác của cụ thì tôi không nói đến.

KIM VÂN KIỀU 

Thư viện của bài

This gallery contains 1 photo.

Nguyên Lạc Biên khảo
TRẬN CHIẾN CHƯA NGƯNG – ĐOẠN TRƯỜNG TÂN THANH VÀ KIM VÂN KIỀU TRUYỆN 

                                         Phần dẫn nhập
Trong phần Lời Kết của bài Về Nguồn Gốc Của Thơ Lục Bát [1] – tôi có viết: “Giống như một số người cố tình cho Đoạn Trường Tân Thanh là truyện thơ diễn dịch từ Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm Tài Nhân bên China mà ra, sao không nghĩ ngược lại?”. Rẩt nhiều người, kể cả các trường đại học, trung học Việt Nam đã cho rằng thi hào Nguyễn Du dựa theo cốt truyện một tiểu thuyết chương hồi, bằng văn xuôi của Thanh Tâm Tài Nhân bên China để viểt ra Đoạn Trường Tân Thanh. Thí dụ:

[ … Nguyễn Du viết dựa theo cốt truyện một tiểu thuyết chương hồi bằng văn xuôi của Trung Quốc có tên là Kim Vân Kiều truyện (truyện về Kim Trọng Thúy Vân Thúy Kiều) của một tác giả hiệu là Thanh Tâm Tài Nhân. Trong thời đại của Nguyễn Du các nhà thơ sáng tác thường dựa theo một tác phẩm của Trung Quốc như thế. Nói chung Nguyễn Du dựa khá sát vào tác phẩm của Thanh Tâm Tài Nhân khi viết lại Truyện Kiều: Cụ thể là những nhân vật trong Truyện Kiều của ông đều là những nhân vật lấy từ Kim Vân Kiều truyện; những tình tiết biến cố cốt truyện trong Truyện Kiều hầu hết đều có trong KIm Vân Kiều truyện…] – [Trường THCS Nguyễn Viết Xuân- Thị xã An Khê- Tỉnh Gia Lai]

Xin ghi thêm vài lời của ông GS “bạn vàng phương Bắc” Đổng Văn Thành:

“So sánh truyện Kim Vân Kiều Trung Quốc và Việt Nam” trên “Minh Thanh tiểu thuyết luận tùng” GS. Đổng Văn Thành – China cho rằng: “Nguyễn Du chẳng những chỉ mượn đề tài của tiểu thuyết Trung Quốc mà dường như bê nguyên xi […] Nguyễn Du không có bất kỳ một sáng tạo mới nào, chỉ chuyển thuật khá trung thực nội dung tiểu thuyết của Thanh Tâm Tài Nhân…” [ Theo Phạm Tú Châu “So sánh Truyện Kim Vân Kiều Trung Quốc và Việt Nam”]

Thêm nữa, mời các bạn đọc những lời này:

” Thế nhưng chẳng những bài viểt trên mạng, sách giáo khoa của các vị TS, PTS Giáo sư Việt Nam ta đọc  đều thấy viết đại để: Nguyễn Du đã vay mượn cốt truyện Kim Vân Kiều của Thanh Tâm Tài Nhân bên China, diễn dịch ra quốc âm dưới dạng thơ lục bát, sáng tạo ra truyện Kiều. Nguyễn Du là thiên tài của nước Việt đã biến một tiểu thuyết “tầm thường” trở thành một tác phẩm thi bất hủ. Tiếp tục đọc

TÔ THÙY YÊN NHÀ THƠ VIỆT NAM 1938 – 2019

Thư viện của bài

This gallery contains 1 photo.

Đặng Tiến

            Nhà thơ Tô Thùy Yên tên thật là Đinh Thành Tiên, từ trần tại Houston (Hoa Kỳ) lúc 21g15 ngày 21-5-2019, thọ 81 tuổi. Vào tuổi ấy, và sau bao nhiêu gian truân, ông ra đi vẫn gây ra nhiều tiếc nuối trong giới độc giả trong và ngoài nước. Cái tang chung cho giới văn học đặt ra một câu hỏi khẩn thiết : tác phẩm Tô Thùy Yên đứng ở đâu trong dòng văn học Việt Nam hôm nay ?

Tựa đề bài này khẳng định : Tô Thùy Yên là nhà thơ Việt Nam. Không phải là nhà thơ hải ngoại hay của Miền Nam cũ. Lý do đơn giản : ông là người Việt Nam, viết văn, làm thơ bằng tiếng Việt Nam. Huống hồ đời ông gắn bó với lịch sử đất nước trong mỗi chặng đường, thơ ông đầy ắp tình tự dân tộc, thắm thiết phong cảnh quê hương, ngôn ngữ Việt Nam phong phú, đa dạng, vừa uyên bác vừa sâu đậm lời ăn tiếng nói dân gian, tục ngữ, ca dao. Thơ ông đặc sắc, từ nội dung nhân đạo, tư tưởng cao sâu đến lời thơ tài hoa, hào sảng, giàu hình ảnh lạ trong tiết điệu thân quen. Nghệ thuật vi diệu của ông làm vinh dự cho tiếng Việt và văn hóa Việt. Tô Thùy Yên là nhà thơ Việt Nam bên cạnh Nguyễn Trãi, Nguyễn Du, Nguyễn Khuyến, Tản Đà. Tiếp tục đọc

Trương Quang Ngọc thời Vua Hàm Nghi

Thư viện của bài

This gallery contains 1 photo.

Bùi Thụy Đào Nguyên, soạn.

Trương Quang Ngọc (? – 1893), quê ở khe Tá Bào (hay Khê Ta Bao), châu Tuyên Hóa; nay thuộc huyện Minh Hóa, tỉnh Quảng Bình.

Ông có tiếng là người rất cam đảm, giỏi sử dụng súng hỏa mai, cung tên, có nhiều thuộc hạ tâm phúc; nhưng phải tật nghiện rượu và thuốc phiện.

Theo sách Việt Nam cách mạng cận sử, thì: Cha ông (không rõ tên), trước kia phục vụ dưới triều vua Tự Đức, vì phạm lỗi nên bị thải hồi. Bực tức việc này, ông rút về làng Vè (hay Vé) trên thượng lưu sông Nai (thuộc sông Gianh) lập đồn và chiêu tập dân Mường quanh đó, làm loạn một thời. Đã có phen, quân triều đình đến đánh dẹp mà không được.

Hộ giá vua

Đầu tháng 7 năm 1885, vua Hàm Nghi lên chiến khu Tân Sở. Trương Quang Ngọc khi ấy đang làm thổ tù ở quê nhà, mang đội quân Mường rất tinh nhuệ ra ứng nghĩa. Tướng Tôn Tiếp tục đọc

Ánh Tuyết hồi niệm về Trịnh Công Sơn

TP – Ánh Tuyết gặp Trịnh Công Sơn khi chị đã sang tuổi 30. Nhạc sĩ là đại diện nhà trai trong đám cưới Ánh Tuyết với chú rể người Pháp. Tuy nhiên, Ánh Tuyết nhất quyết không làm album nhạc Trịnh ngay cả khi nhạc sĩ yêu cầu. 10 năm sau khi ông qua đời, Ánh Tuyết lần đầu hé lộ vùng kỷ niệm, và cũng là lần đầu chị thực hiện yêu cầu của nhạc sĩ: Ra một lúc 2 đĩa nhạc Trịnh, chưa kể chương trình nhạc Trịnh xuyên Việt.

Ánh Tuyết và Trịnh Công Sơn đầu năm 1996 	Ảnh: TL
Ánh Tuyết và Trịnh Công Sơn đầu năm 1996 Ảnh:

Nhiều lần gặp ông ở quán Nhạc sĩ, tôi cũng muốn chào, nhưng bao sao siệc vây quanh. Ông chào thì tôi mới chào, không thôi. Tại mình nghĩ là mình nhỏ bé thôi. Họ là người lớn, nhạc sĩ lớn, mình chào hóa ra thấy sang bắt quàng làm họ. Ông nói mấy lần: “Giọng hát đặc biệt hầy! Cao dễ sợ!”. Tôi dạ rồi đi. Hồi đó tôi quá nghèo. Lôi thôi lếch thếch, chả ai ngó tới.

Bài đầu tiên của Trịnh Công Sơn tôi hát là Giọt nước cành sen. Chưa ai hát bài đó đến lúc này. Bài nằm trong một băng cassette của nhiều tác giả phổ thơ Thân Thị Ngọc Quế, gần đây vô tình tìm được trên mạng, tôi mới nhớ ra. Sinh nhật bà Quế, ông Trịnh Công Sơn qua chơi. Tôi hát trong buổi đó.

Hồi đó, ông yêu một người mẫu, cô đó đi mất, ông mới viết Em đi bỏ lại con đường, Sóng về đâu với bài gì tôi quên rồi. Hôm đó, ông hát Em đi bỏ lại con đường cho tôi nghe. Ông nói: “Anh chắc Tuyết hát bài ni hay này. Có nội tâm”. Tôi cũng để ý bài đó, nhưng không hát bao giờ.

Quán Nhạc sĩ làm Đêm Trịnh Công Sơn, mọi người phân tôi hát Cuối cùng cho một tình yêu, Lặng lẽ nơi này. Đó là lần đầu tiên tôi hát (nhạc Trịnh) trên sân khấu, khoảng đầu năm 1993. Tiếp theo là Đường xa vạn dặm, mỗi lần tôi hát xong, ông khóc, kêu: “Tuyết hát chết bài ni luôn rồi!”.

Tôi nhớ năm mở cửa cuối cùng của quán Nhạc sĩ, Hội Âm nhạc Hà Nội vô giao lưu. Tôi mặc áo dài trắng hát xong, xuống sân khấu, te te đi, ông ngoắc lại: “Tuyết, lại anh vẽ ni!”. Tức là, Tuyết lại anh bảo này. Ông cầm mấy cái khăn giấy thấm ướt, kêu: “Anh ướt hết bốn cái khăn rồi ni”. Nghĩa là ông dùng khăn thấm nước mắt. Bài đó tôi hát ở đâu là đa số người ta khóc. Trong những ngày lễ Vu Lan, tôi làm chương trình về mẹ, ối chao ơi thôi, còn khóc dữ nữa.

Lần vào bệnh viện thăm ông bịnh, tôi ôm bó hoa tặng. Ông nhắc cái ghế cho tôi ngồi cạnh đầu giường. Ổng nắm tay tôi, bóp bóp, bảo: “Tội hè! Tuyết giỏi hè!”. Tội giống như là không giúp được, thấy tội nghiệp quá. Giỏi hè có nghĩa là không ai giúp mà đi lên được. Câu đó tôi nghe nhiều lắm, nhưng ngày ông bịnh, ông mới cầm tay tôi. Với tính cách ổng, trong lòng có cuồng nộ thì ông cũng ngồi im.

Khi tôi mới sinh con, ông ẵm miết, kêu: “Ôi chao, đẻ đứa con chi mà dễ thương hi!”. Ông cứ khen chồng tôi với mọi người: “Moa chưa thấy thằng Tây mô dễ thương, hiền như thằng ni hết”. Ông bắt tôi làm album. Tôi dạ dạ, nhưng cứ lơ. Tôi quá thiếu tự tin. Dưới cái bóng của Khánh Ly là một chuyện. Nhưng quá nhiều người hát. Mình chui vô chi cho bị giẫm.

Hai anh em ngồi với nhau buồn buồn, ông kêu: “Tuyết kể chuyện tiếu lâm vui hè. Kể cho anh nghe với!”. Mỗi lần nghe tôi kể chuyện tiếu lâm là ông cười sung sướng. Cười khấc khấc như con nít. Nhìn dễ thương lắm! 

Đến 1995, tôi vừa cưới xong, ông nói với ông xã tôi: “Moa muốn toa nói với Ánh Tuyết làm album của moa. Nhưng làm mộc, sẽ hát với ghi-ta, piano, saxo và với moa”. Ông xã nói lại với tôi: “Em không tốt với Trịnh Công Sơn hả! Em không tốt! Trịnh Công Sơn muốn em làm CD mà em dạ dạ và quên. Một bà lười!”. Ông xã vẫn nghĩ tôi hát hay, chứ không nghĩ tôi thiếu tự tin với nhạc Trịnh.

Năm 1997, ông bắt anh Bùi Thế Dũng, giáo viên dạy ghi-ta Nhạc viện, qua nhà tôi, lên cho được danh mục bài hát để làm album. Anh Dũng có soạn hình như bài Mưa hồng hay Còn tuổi nào cho em rất hay, Trịnh Công Sơn rất thích. Chọn được 4-5 bài, tôi bảo để bữa khác làm tiếp. Rồi im luôn. Tại tôi cứ tự ti. Nhưng một phần vì có vài nhà báo hỏi: “Bao nhiêu ca sĩ nổi lên nhờ nhạc Trịnh, qua nhạc Trịnh đánh bóng tên tuổi. Ánh Tuyết cũng không ngoại lệ?”.

Họ hỏi rất thật nhưng tôi bị sốc. Tôi nghĩ: “Mình nổi thì cũng nổi rồi, đâu cần nữa. Nghệ thuật hợp thì mình hát, hoặc yêu quý ai thì mình làm…”. Tôi thôi luôn. Nhưng 10 năm làm phòng trà, tuần nào tôi cũng có một đêm hát nhạc Trịnh. Ngay trong những đêm đó, tôi cũng vẫn sợ, không dám hát nhiều. Nhưng khán giả đã công nhận, khiến tôi mạnh dạn dần.

Ở quán Nhạc sĩ, nhiều khi ông tới sớm, tôi cũng vậy. Hai anh em ngồi với nhau buồn buồn, ông kêu: “Tuyết kể chuyện tiếu lâm vui hè. Kể cho anh nghe với!”. Mỗi lần nghe tôi kể chuyện tiếu lâm là ông cười sung sướng. Cười khấc khấc như con nít. Nhìn dễ thương lắm! Ông ít khi cười to.

Nghe chuyện tiếu lâm, trời ơi, ông cười. Mà có mình tôi với ông là lúc ông cười sung sướng nhất. Đông người, ông không cười nhiều đâu. Một tâm hồn rất lớn. Một con người lớn về nhiều mặt. Chính những giây phút hồn nhiên đó làm tôi càng thêm nhớ ông.

Bây giờ, tôi nghĩ, nếu còn sống, ông nghe cách tôi thể hiện bài hát của ông, ở một góc nào đó chắc cũng để lại trong ông một ấn tượng tốt.

N.M.Hà (ghi).

Ca sĩ Ánh Tuyết

 Ngọn đèn lồng bền gan đỏ lửa

AT

Người con của phố cổ cứ quay quắt đi đi về về hàng tuần giữa Sài Gòn và Hội An. Nữ ca sĩ nền nã trong tà áo dài trắng cất tiếng hát “Thiên thai” như suối reo gió vút làm đắm say hàng thế hệ khán thính giả… Đẹp, kín đáo và duyên dáng một cách rất riêng. Để những ai là bằng hữu, những ai mến mộ giọng hát ấy, đã hiểu nghị lực tuyệt vời của người phụ nữ qua biết mấy chông gai trong đời sống, sẽ nhận ngay ra chị – ca sĩ Ánh Tuyết duy nhất giữa Sài Gòn, như ngọn đèn lồng cháy mãi ngọn lửa ấm giữa đời.

Một tính cách quyết liệt bên trong một vóc dáng mảnh mai, “treo cái tôi lên mà thách thức với chính mình và cuộc đời” – như lời chị. Chính nhiệt huyết “ngày trẻ xông pha, bây giờ xông xáo”, chính chất men đã ngấm cho chị bước đi như người say – say trong đời sống và say trong nghệ thuật, nuôi dưỡng giọng hát vượt thời gian.

Ngay từ nhỏ, chị đã là đứa con gái mạnh mẽ và tháo vát trong gia đình gồm toàn anh em trai. Một cô gái nhỏ có óc thẫm mỹ, ham học hỏi, thích độc lập trong mọi việc. Cô thiếu nữ ấy không được học một ngày nào trên máy may mà vẫn có thể tự cắt may cho mình những bộ quần áo ưng ý nhất. Đến thời bước lên sân khấu, chị có thể khoác những bộ trang phục quyến rũ và độc đáo đến làm ngỡ ngàng đồng nghiệp và khán giả, do chính mình thiết kế. Còn nhớ những năm đầu thập kỷ 80, chị là nữ ca sĩ đầu tiên trong nước diện jupe ngắn và quần ống rộng 1 met trên sân khấu.

Cho nên, chị cũng là người lắng nghe mọi người nhưng luôn kiên định lập trường theo cách của mình. Chị dám làm dám chịu bởi lòng yêu mến cái đẹp hoàn thiện hoàn mỹ. Chỉ có khác, bây giờ chị trầm tĩnh hơn xưa, dủ bản chất vẫn như lửa cháy, miệng nói tay làm. Mà lại thích làm ngược lại với số đông, chỉ vì biết chắc những cái ngược ấy đem lại gia vị độc đáo cho cuộc sống, như cái đẹp vượt trội chị muốn phấn đấu cho mình và chia sẻ với mọi người. Phòng trà ATB với thiết kế và trang trí như Hội An thu nhỏ, bằng ngói cũ lô xô trên mái quán, gốm cổ gạch cổ, đèn lồng đỏ giăng giăng… tồn tại tiếng tăm gữa Sài Gòn là một trong những bước đi ngược thông minh và thành công của chị. Là một cõi đi về của chị và những tri âm. Tất cả đến quán để được sống trong cái lòng và cái tình.

Chị có một niềm mê đắm đặc biệt dành cho chiếc áo dài truyền thống mà theo chị là “trang phục khêu gợi, kín đáo và lãng mạn nhất trên thế giới”. Chị say sưa bày tỏ cái nhìn thẩm mỹ về chiếc áo dài, cổ phải cao, tà phải dài, vải phải rũ mềm ra sao, hoạ tiết phải tỉ mỉ thế nào. Chị kể về niềm tự hào khi khoác lên mình chiếc áo dài trong mỗi chuyến ra nước ngoài. Do vậy, chị bảo mình tự tin nhất khi đứng trên sân khấu trong tà áo dài. Đây cũng là hình ảnh rất riêng, đầy yêu mến về người nữ ca sĩ đọng lại trong khán giả gần ba mươi năm qua.

Người phụ nữ độc lập trong suy nghĩ, sống trung thực với cảm xúc bản thân, làm việc quên mình, trân trọng thẩm mỹ và trí tuệ con người hơn bất cứ giá trị vật chất nào. Người phụ nữ từng gánh cơm bình dân đi bán ở bến đò có một ngày trở thành người thể hiện tuyệt vời nhất dòng nhạc lãng mạn và uyên thâm bậc nhất Văn Cao. Hỏi phong cách riêng của chị trong đời thường và trong âm nhạc, chị bối rối. Bỏi chị chỉ biết sống bằng tất cả sự hồn nhiên và say mê, trong mỗi việc làm, với từng nhạc phẩm. Đốt mình cháy hết nhiệt năng cho đời. Thì phong cách đã có tên: Ánh Tuyết.

 

Biệt Minh Kỳ

Thư viện của bài

This gallery contains 1 photo.

Huyền Chiêu

“Rồi đây mai này ai hỏi đến tên tôi
Bạn ơi! hãy nói…”

Nhạc sĩ Minh Kỳ có lẽ là người tù cải tạo chết sớm nhất, một cách đau đớn, khi chỉ mới bị tập trung chứ chưa được chở ra Bắc.

Ông mất ngày 31 tháng 8 năm 1975 tại trại An Dưỡng Biên Hòa cùng những sĩ quan VNCH khác vì một trái lựu đạn ai đó quăng vào trại.

Ôi! Bảo rằng hòa bình đã đến mà mạng người rẻ đến thế sao?

Nhưng sao gọi là Trại An Dưỡng?
“Trại An Dưỡng này, trước là một khu quân sự, về sau đuợc chỉnh trang lại để tiếp nhận những quân nhân tù binh của ta được miền Bắc trao trả theo hiệp định Paris. Họ được nghỉ ngơi, bồi dưỡng cả sức khỏe lẫn tinh thần ở trại An Dưỡng này trước khi trở về đơn vị cũ và gia đình.” (*)

Năm đó ông 45 tuổi.

Thật bàng hoàng thương xót cho người nhạc sĩ rất thân quen với người dân Nha Trang.

“Nha Trang là miền quê hương cát trắng
Có những đêm nghe vọng lại
Ầm ầm tiếng sóng xa đưa”

Nghe bài hát, cứ tưởng tá Tiếp tục đọc

đọc thơ Tô Thùy Yên

Cao Vị Khanh

ToThuyYen-01đọc thơ Tô Thùy Yên

Xin Kính Mời Quý đọc gỉa click vào link bên dưới để đọc:

đọc-thơ-Tô-Thùy-Yên-Copy

 

Hay Đọc Bên dưới:

Từng chữ một.

Tôi đọc truyện ngắn của Tô Thùy Yên khi còn đâu ở trung học, những năm sáu mươi. Lớp mấy cũng chẳng nhớ. Truyện có tựa gì cũng đã quên luôn. Cái điều chưa quên là lúc đó, cuộc chiến tranh khốn nạn do những người cộng sản phát động chỉ mới vừa manh nha dù đã âm ỉ từ lâu ở Mạc Tư Khoa, Bắc Kinh … Nay có tin một ông xã trưởng ở làng xa đêm qua vừa bị ám sát. Mai báo đăng quốc lộ số 4 bị đắp mô đâu ở khoảng Cai Lậy, Cái Bè. Mốt nghe tin một đồn dân vệ ven biên vừa bị mấy tên du kích vác oảnh-tầm-xào bắn phá lốc chốc mấy phát rồi bỏ chạy. Còn nhớ chắc thêm một điều, truyện được đăng trên tạp chí Hiện Đại của Nguyên Sa, vừa bỏ Paris với khói sóng sông Seine trở về Sài-Gòn, đem hương thơ và hơi văn mới thổi phà vào sinh hoạt văn học của miền Nam thuở đó. Mười mấy tuổi chớ gì. Cái tuổi ăn chưa no lo chưa tới. Vậy mà ngay lúc đó, truyện đã nhéo vào cái bộ não non xèo của tôi một cái nhéo đau nhói. Rồi nhớ hoài.
Đâu như là …

… trên một chuyến xe đò liên tỉnh miền đông chạy xuyên qua những cánh rừng lá im ỉm, hành khách bị nhốt kín trong lòng chiếc xe ọp ẹp hẳn không có chuyện gì làm ngoài chuyện ngủ gà ngủ gật vì tiếng máy chạy rì rì (hoặc là vì chuyến xe đi quá sớm hay về quá trễ?), có thể cộng  thêm một nỗi lo lắng vu vơ nào đó … thì bị một đám du kích nhào ra chặn lại xét hỏi để hoạnh họe tuyên truyền. Hành khách nam nữ lão ấu gái trai già trẻ lớn bé gì cũng bị lôi tuốt xuống xe, sắp thành hàng lối, để cho quý -vị-núp-trong-quần-chúng … ló mặt ra xăn quần, xắn áo, lận dao găm hay xách mã tấu hoặc dậm thêm vài khẩu súng xưa mốc thếch vốn đã được chôn giấu ngay từ khi có lệnh tập kết … điểm mặt xem tên. Rồi, y như ba đời đã là cán-bộ-chính-trị-viên-có-ba-tăng dấm dẳn lên lớp để dọ dẫm dụ dỗ giày vò … thả giàn cái đám con dân hiền lành ngu ngơ, gồng gánh đi buôn hàng bán lẻ kiếm ăn hay đi thăm bà con chòm xóm. Kiểm soát như vậy nghĩa là ai nấy phải xuất trình tấm thẻ căn cước. À, tấm thẻ căn cước! Thuở đó, người ta từ mười tám tuổi trở lên, bất kể nam nữ, ai nấy đều lận trong người một tấm thẻ căn cước, ghi rõ tên tuổi, năm sanh tháng đẻ, số nhà, nghề nghiệp … như một minh chứng cho sự có mặt hợp pháp của mình trong một đất nước mới được yên ổn mấy năm đang rục rịch … trở lại bất ổn. Chính phủ hợp pháp đòi như vậy. Mà cái đám làm loạn với súng ống và dao găm lăm lăm trong tay cũng đòi hỏi như vậy. Dĩ nhiên với hai mục đích khác nhau. Nếu đối với phía thứ nhất, tấm căn cước là một bảo đảm cho sự lương thiện và tin cậy của người cầm thẻ, thì đối với phía đối nghịch, miếng giấy cứng có bọc nhựa đó có thể sẽ là bản cáo trạng hùng hồn để họ hùng hổ lôi đương sự vào rừng, vào bưng hoặc để giam giữ hoặc để đâm, chém, bắn giết hay bỏ vô bao bố thả trôi sông, tùy ý. Ở thời buổi đó, tấm thẻ căn cước quan trọng sinh tử đến vậy.

Và cũng vì vậy, để bảo đảm an ninh cho những người làm việc dưới quyền mình, chính quyền thuở đó còn cấp thêm cho họ một loại thẻ căn cước thứ hai, thẻ căn cước dân sự. Nhất là đối với những người phục vụ đất nước trong những phạm vi liên quan đến hành chánh và quân sự. Tấm thẻ căn cước dân sự đó như một chiếc mộc che đỡ cho họ những nguy hiểm chực chờ như buổi sáng hôm đó hay buổi chiều hôm đó …

Và như vậy, truyện kể …

Đám hành khách khốn khổ đó bị lùa xuống xe, xếp hàng … để chờ khám xét. Mọi người nhốn nháo. Lo lắng. Bồn chồn. Mỗi người một bộ mặt, một con tim, một bộ quần áo, một gia đình cha mẹ vợ con anh chị em, một người tình … Mỗi người một thân phận, một hoàn cảnh, một đắn đo  … và … một tấm thẻ căn cước. Nhưng chắc chắn chỉ có duy nhất một nỗi lo. Lọt vào tay cái đám sát nhân giả dạng người yêu nước.

Truyện kể tiếp …

Vậy rồi từng người một bị xét hỏi, từng người một phải trình ra tấm thẻ căn cước, với hình ảnh, tên tuổi, ngày sinh, tháng đẻ, nghề nghiệp … dưới những mũi súng hung hăng đang chĩa vào họ và chực chờ lảy cò. Người thứ nhất, người thứ hai, người thứ ba … Mọi việc diễn ra suôn sẻ. Không có ai là ngụy quân ngụy quyền, ác ôn ba đầu sáu tay, không có ai là tay-sai-mỹ-ngụy. Từ cụ ông đến người trai trẻ. Từ con gái đến đàn bà. Ai nấy đều không có tội-tổ-tông. Mẻ lưới tung ra như lọt vào chỗ không. Lúc đó, mặt trời đang mọc hay mặt trời đang lặn, thú thật, loay hoay qua cái chằng chịt của mớ trí nhớ rối mù, tôi không chắc, nhưng hề chi, mặt trời mọc hay mặt trời lặn, bởi vì rạng đông hay tà dương, thì những tia sáng chói lòa đó vẫn bung ra từ một cõi mênh mông, vượt khỏi cõi người trần thế.

Vâng, ngay lúc đó, khi những tia sáng đầu tiên – hay cuối cùng – của mặt trời vừa hắt lên thì bỗng một tiếng hét vuột ra khỏi cửa miệng của tên trưởng toán gian hiểm. Nghiêm. Một tiếng hô “nghiêm” bỗng dội ngược vào tai đám đông đang còn đứng lố nhố như một bầy tử tội khi không rồi được ân xá.  Ngay bon lúc đó, hay một tích tắc sau đó, có tiếng đôi giày da của ai đó chập vào nhau, sắc và gọn. Như tiếng giày saut chập vào nhau khi … người lính nghe quân lệnh của thượng cấp. Cái thế đứng nghiêm, hai tay buông thõng ép sát vào thân, hai chân chập lại, mặt ngẩng lên, cằm giương thẳng … vừa như tuân thủ mà vừa như biểu lộ một sự tự chủ tuyệt đối. Cái thế “nghiêm” trong bài thao diễn cơ bản mà người lính đã học và tập bao nhiêu lần từ khi khoác vào đời trai bộ quân phục. “Nghỉ “. “Nghiêm“. Ôi cái huấn lệnh nghe đi nghe lại đến nhập tâm. Và trở thành cái phản xạ của bất cứ một người trai nào đã mang nghiệp lính vào thân.

Vâng, buổi sáng đó – hay buổi chiều đó -, bên bìa một khu rừng hiểm hóc, một người trai miền Nam, một người lính miền Nam, trên chuyến xe về phép, thăm cha thăm mẹ, hẹn hò người yêu … , người lính trẻ mặc bộ đồ dân sự, cầm tấm thẻ căn cước dân sự … đã đối mặt với định mạng, trực diện, rồi ngang nhiên chấp nhận cái số phận như một chọn lựa của ý thức, đánh đu tính mạng mình lên sợi dây sinh tử. Trong cái giây phút bất ngờ, bất chợt, bất định đó … anh đã sống đúng phóc cái bản chất của người lính với tất cả vinh quang và tủi nhục của nó, với mọi bất trắc của một người con trai đi gánh vác chuyện nước non. Và … chuyện phải đến đã đến. Toán du kích hí hửng như bắt được vàng, chĩa súng xúm lại …

Mấy chục năm đã qua, làm sao tôi còn nhớ được lời văn, câu chữ … Vậy mà tôi vẫn nhớ, cái tình huống mà tác giả đã dựng lên khi người con trai bị bắt trói bởi đám người cuồng tính. Lạnh như tiền. Vững như đồng. Khi đã biết chắc số phận mình, nhân vật chính, người con trai, người lính trẻ vẫn ngẩng cao mặt, thân thẳng, vai ngang, mắt quắc … Ngay lúc đó, chính lúc đó, mặt trời, chính mặt trời với chùm sáng ngạo nghễ hắt lên mặt anh vừng hào quang lóng lánh nhất. Tôi nhớ, ngay lúc đó, tôi đã rùng mình. Ngay lúc đó hình ảnh con chó sói của Alfred de Vigny bỗng chồm lên trong trí. (*) Người thanh niên, dáng thẳng, mặt lạnh, lời câm. Cái hình ảnh mà tác giả dựng lên khốc liệt đến làm há hốc miệng mà không kêu ra lời.

Mãi nhiều năm sau, tôi mới tìm ra được chữ để gọi cái giây phút kết thúc đó. Bi tráng. Quả tình bi tráng. Bi đát một cách hùng tráng. Có mâu thuẫn không. Không. Đó là một bi kịch với một kết thúc táo bạo đến rùng mình. Và đẹp lẫm liệt như một thần thoại Hy Lạp.

Vậy rồi, đến chừng lên đại học, lại được đọc thêm thơ của ông. Những bài thơ tự do, thơ năm chữ, bảy chữ … Chữ nghĩa vạm vỡ. Ẩn dụ mênh mông. Hình tượng lẫm liệt. Đọc xong cứ như vừa chạy băng đồng. Thở dốc. Hụt hơi … Mà rồi lại muốn bắt đầu một cuộc băng đồng mới. Đọc rồi như có điều gì muốn nói. Mà rồi lại ngậm câm. Chữ của ông như tẩm thuốc mê. Đọc xong rồi ú ớ. Có điều mãi mãi tôi vẫn muốn viết về thơ của ông. Thơ Tô Thùy Yên. Mà viết về cái gì. Chữ Nghĩa của ông? Thứ chữ nghĩa tự nó đã biện minh cho sự hiện hữu phi thường của nó. Mỗi chữ đã là một giá trị tự thân. Tự nó. Chính nó. Nói gì thêm cũng chỉ là phù phiếm. Ý tưởng của ông? Thứ ý tưởng lồng lộng như mây giông đầu hạ, giậm giựt bao nhiêu là sấm sét chỉ chờ dịp cựa mình. Như vậy thì viết làm sao cho ráo, bắt làm sao cho kịp những tia chớp, nháng lên từ những liên tưởng xảo diệu và ẩn mật đến sững sờ.  Vậy mà sao tôi lại dại dột loay hoay hoài với những bài thơ, những câu thơ, những vần những điệu, những chữ mà ý nghĩa của từng chữ từng câu cứ chực trào ra khỏi cái khuôn đang cầm giữ nó. Câu hỏi cứ lẩn quẩn trong cái đầu rối mịt của tôi. Đã lâu, lâu lắm! Rồi bây giờ, mấy mươi năm sau. Sao vẫn cứ ý nguyên cái thắc thỏm như chính mình đã để lỡ một hẹn thề.

Từ những năm 60, 70, 80, 90 … của thế kỷ trước, rồi vụt sang thế kỷ khác, những năm 2000, khi thân xác đã có chừng mệt mỏi mà trí óc thì vẫn lùng bùng y nguyên thời còn trẻ, mỗi khi đọc lại thơ ông.

Thi sĩ Bắc Nam đều chết rạp 
Ba trăm năm lịch sử làm thinh

Đủ chưa, hai câu thơ đó. Hai câu thơ đọc lúc trai trẻ đã muốn rùng mình. Bây giờ, vài mươi năm sau, đọc lại vẫn nguyên cái cảm giác choáng ngộp của Trần Tử Ngang khi leo lên chót đỉnh U Châu đài mà ngẫm nghĩ chuyện nhân sinh. Niệm thiên địa chi du du. Độc thương nhiên nhi lệ hạ. Thi sĩ có phải là bậc tiên tri thấu thị. Thơ làm từ năm 72. Vậy sao đọc lên lại thêm cái cảm giác hãi hùng khi nghĩ tới bước chân của lịch sử đã và đang giẫm lên số phận của người Việt, nhất là từ khi người cộng sản giẫm đạp bằng những bước chân thô bạo lên cái dòng sinh mệnh của dân tộc. Hai câu thơ, 14 chữ, gọn bâng mà sao nghe rổn rảng tiếng chì chiết rủa xả, lời đay nghiến, giọng kêu thương của lớp lớp biển dâu, của trùng trùng oan khuất, của núi xương vô định, của mồ mả vô danh…

Làm thinh. Chữ nôm na mà nghĩa trầm thống. Chữ tĩnh mà nghĩa động thốn tâm. Thử đọc lên hai chữ làm thinh, làm thinh là làm thinh, là ngậm miệng, là nuốt tiếng…  nhưng sao như nghe vọng lại từ đó bao nhiêu tiếng kêu gào rên siết, tắt nghẹn trong cổ họng … của đám dân đen mỗi lần thay ngôi đổi chúa, của sông Gianh cắt lìa ruột thịt, của Bến Hải nước tẻ hai dòng, của đường 13 pháo chùm pháo chụp, của đường số 1 con bú xác mẹ, của đảo Ko Kra trinh tiết dập vùi, … của từng đám tù nhân không-danh-số lê lết qua những trại giam ngụy trá. Lịch sử làm thinh hay chính lòng người ngoảnh mặt làm ngơ, bịt tai bịt mắt trước những lộng hành của cái ác. Từ khi nào thơ không còn là hoa trái của cuộc đời và người làm thơ bị coi là đồ thừa thãi, bị giam cầm hay bắn giết, mặt đất này chỉ còn là sa mạc, thứ sa mạc làm khô khốc lòng người. Rồi ra, thơ chỉ còn là tiếng dội của vô vọng, là lời của vô ngôn, là mặt thật của vô cùng để lần cuối biểu dương cùng tận cái vinh dự lầm than của kiếp người

Vinh dự lầm than của kiếp người?

Cái nghĩa nghịch lý của câu thơ đã đủ để biểu lộ cho con-mắt-trông-thấu-cả-sáu-cõi-tấm-lòng-nghĩ-suốt-cả-nghìn-đời (**) của bậc-vương-tôn miền-trí-tuệ chưa! Lời thơ như sóng cuộn ì ầm mà dội lại tiếng vô thanh, vô thanh của vô cùng vô tận, như vẽ ra rồi lại xóa đi từng bức tranh vân cẩu, như mở ra rồi đóng lại cái vòng lẩn quẩn loay hoay của cuộc lữ miên trường. Mỗi câu thơ là một vấn nạn. Nhưng… Thiên hà ngôn tai. Trời đất có nói gì đâu.

Và rồi tất cả sẽ nguôi ngoai ?!

Rồi tất cả sẽ nguôi ngoai…

Đã có lúc, làm thơ như dấn thân vào một cuộc đuổi bắt với vô vọng … Mọi thắc mắc siêu hình vốn dĩ là cách thức ngạo mạn của kẻ chơi đùa với chữ nghĩa. Nhưng khác với lối đua đòi làm dáng, Tô Thùy Yên đã xua thơ mình chạy mút tới tận cùng để giáp mặt cái Cùng Tận đó, cái Vô Hạn đó, cái Hư Không! Thơ sung mãn như cái hùng tâm truy lùng chân lý. Và vì vậy, ông đã gặp, tôi tin vậy. Bạn có nghe, này bạn có nghe. Vũ trụ miên man chuyển động đều. Chim đã bay quanh từ vạn cổ. Gió thật xưa, mây thật già nua. Nên với một đời, bao biến đổi. Mà trong vô hạn có gì đâu. Bài thơ, những bài thơ làm trong giai đoạn này không ghi ngày tháng – mà thật sự có cần ghi ngày tháng không. Cái điều rõ ràng là người làm thơ chưa già mà thơ đã cỗi, cỗi như cả cái vũ trụ vô sở vô trú, cả cái dòng thời gian vô thủy vô chung, trùng trùng, điệp điệp… Và tôi hiểu tại sao Trần Tử Ngang chảy nước mắt, tại sao Tô Thùy Yên sau khi đã mòn gót chân sương nắng tháng năm đã có lúc cũng phất phơ chéo áo đường thiên cổ, nước mắt hồng tuôn đến đá mòn.

Rồi sao nữa ? Rồi  là… đáo bỉ ngạn!

Từ đó là thái độ tri kỷ tri bỉ, biết điều như mọi kẻ biết-điều nhất trần gian. Vạn vật giai bị ư ngã, phản thân nhi thành, lạc mạc đại yên.  Hề, ta trở lại gian nhà cỏ. … Ở đây ta có dăm người bạn. Phúc tự tâm, không lý đến đời. Ở đây ta có dăm pho sách. Và một dòng sông, mấy cụm mây. Hạnh phúc ở đâu mà lặn lội dang thân. Hạnh phúc trần gian ở đâu hay ở chính lòng ta đó. Dòng sông u hiển trôi vô lượng. Dòng sông hiền triết chảy vô tâm. Mà ta ngưỡng vọng như sư phụ. Mà ta thân thiết tựa tri âm… Quên quên, nhớ nhớ tiền sinh kiếp. Thiên cổ mang mang thế sự nhòa. Trận lốc cười tròn trên quá vãng. Ta làm lại cả tâm hồn ta … Ờ vậy thì còn tiếc gì mà không về …

Tưởng tượng ta về nơi bản trạch! Còn gì vui bằng khi mọi điên đảo của thế sự quanh quanh không còn đảo điên giữa lòng ta. Đó có phải là quê-nhà của mọi gã đãng tử sau cuộc tuần du bất tận. Với khám phá diệu kỳ: rồi tất cả sẽ nguôi ngoai

Rồi tất cả sẽ nguôi ngoai!

Nhưng rồi có thật sự tất cả sẽ nguôi ngoai hay vẫn bất tận nỗi đời hung hãn đó như chính ông đã mường tượng, một ngày.

Những năm 70, chiến tranh bùng lên dữ dội. Súng đạn hung hăng, lòng người hung bạo. Qua sông. Đò nghẹn đoàn quân xa tiếp viện. Mưa lâu, trời mốc, buồn hôi xưa. Con đường đáo nhậm xa như nhớ

Xa như nhớ. Trời ơi làm sao đo được cái khoảng cách ở hai đầu một nỗi nhớ mơ hồ. Xa như nhớ. Hoán dụ đến nỗi không còn tính được bằng cây số bởi dặm trường có ở đâu xa. Dặm trường ở ngay chính lòng ta đó. Tuyệt.

Bộ mặt chiến tranh được vẽ ra bằng đường nét tự tại. Không lớn lối cũng chẳng e dè. Không thêm không bớt. Mà nghe ra như đã sầu đâu từ thiên cổ hận… Nao nao mường tượng bóng mình. Mịt mùng cõi tới, u minh tiếng rền. Xuống đò, đời đã bỏ quên. Một sông nước lớn trào lên mắt ngời.

Dĩ nhiên giấy bút làm sao tả cho hết cái bi kịch mà mỗi vai trò chỉ thoáng hiện thoáng mất như những chiếc bóng vật vờ, nhân vật chỉ còn là cái cớ. Diễn trường chính yếu là cái khoảng không còn lại, cái khoảng trống không sau khi vai diễn đã biến mất, mọi tiếng động đã bặt im. Cái còn lại là cái không-còn-gì, không-có-gì. Cái còn lại sau những cuộc tranh giành, dù thắng dù thua, cái còn lại chính là cái im ỉm của thiên địa trơ trơ, của thánh thần lánh mặt, của mất còn còn mất chỉ là hai mặt sấp ngửa của đồng tiền quay tít rồi … bật ngửa ra, bất kể. Em chạy tìm anh ngoài cõi gió. Lửa oan khốc giỡn cười ghê hồn. Tiếng kêu đá lở long thiên cổ. Cát loạn muôn trùng xóa dấu chôn.

Trên bối cảnh của một cuộc vật lộn giữa tử sinh không hồi ngưng nghỉ, thơ như một cầu cơ giáng bút. Điều gì khiến ông làm Trường Sa Hành. Trường Sa hay Hoàng Sa? Ai biết! Đọc thử hết trọn một bài của Tô Thùy Yên để thấy cái điên đảo của chữ nghĩa, cái lồng lộng của ý tưởng …

Trường Sa Hành

Toujours il y eut cette clameur,
Toujours il y eut cette fureur…

Saint-John Perse

Trường Sa! Trường Sa! Ðảo chuếnh choáng
Thăm thẳm sầu vây trắng bốn bề
Lính thú mươi người lạ sóng nước
Ðêm nằm còn tưởng đảo trôi đi

Mùa Ðông Bắc, gió miên man thổi
Khiến cả lòng ta cũng rách tưa
Ta hỏi han, hề, Hiu Quạnh Lớn
Mà Hiu Quạnh Lớn vẫn làm ngơ

Ðảo hoang, vắng cả hồn ma quỷ
Thảo mộc thời nguyên thủy lạ tên
Mỗi ngày mỗi đắp xanh rờn lạnh
Lên xác thân người mãi đứng yên

Bốn trăm hải lý nhớ không tới
Ta khóc cười như tự bạo hành
Dập giận, vác khòm lưng nhẫn nhục
Ðường thân thế lỡ, cố đi nhanh

Sóng thiên cổ khóc, biển tang chế
Hữu hạn nào không tủi nhỏ nhoi?
Tiếc ta chẳng được bao nhiêu lệ
Nên tưởng trùng dương khóc trắng trời

Mùa gió xoay chiều, gió khốc liệt
Bãi Ðông lỡ mất, bãi Tây bồi
Ðám cây bật gốc chờ tan xác,
Có hối ra đời chẳng chọn nơi?

Trong làn nước vịnh xanh lơ mộng
Những cụm rong óng ả bập bềnh
Như những tầng buồn lay động mãi
Dưới hồn ta tịch mịch long lanh

Mặt trời chiều rã rưng rưng biển
Vầng khói chim đen thảng thốt quần
Kinh động đất trời như cháy đảo
Ta nghe chừng phỏng khắp châu thân

Ta ngồi bên đống lửa man rợ
Hong tóc râu, chờ chín miếng mồi
Nghe cây dừa ngất gió trùng điệp
Suốt kiếp đau dài nỗi tả tơi

Chú em hãy hát, hát thật lớn
Những điệu vui, bất kể điệu nào
Cho ấm bữa cơm chiều viễn xứ
Cho mái đầu ta chớ cúi sâu.

Ai hét trong lòng ta mỗi lúc
Như người bị bức tử canh khuya
Xé toang từng mảng đời tê điếng
Mà gửi cùng mây, đỏ thảm thê.

Ta nói với từng tinh tú một
Hằng đêm tất cả chuyện trong lòng
Bãi lân tinh thức âm u sáng.
Ta thấy đầu ta cũng sáng trưng

Ðất liền, ta gọi, nghe ta không?
Ðập hoảng vô biên, tín hiệu trùng
Mở, mở giùm ta khoảng cách đặc
Con chim động giấc gào cô đơn

Ngày. Ngày trắng chói chang như giũa
Ánh sáng vang lừng điệu múa điên
Mái tóc sầu nung từng sợi đỏ
Kêu giòn như tiếng nứt hoa niên

Ôi lũ cây gầy ven bãi sụp
Rễ bung còn gượng cuộc tồn sinh
Gắng tươi cho đến ngày trôi ngã
Hay đến ngày bờ tái tạo xanh

San hô mọc tủa thêm cành nhánh
Những nỗi niềm kia cũng mãn khai
Thời gian kết đá mốc u tịch
Ta lấy làm bia tưởng niệm Người

Đọc lên thành tiếng. Trường Sa! Trường Sa! Đảo chuếnh choáng. Thăm thẳm sầu vây trắng bốn bề … Mùa Đông Bắc, gió miên man thổi. Khiến cả lòng ta cũng rách tưa. Ta hỏi han, hề, Hiu Quạnh lớn. Mà Hiu Quạnh lớn vẫn làm ngơ…

Tôi sẽ nói gì thêm. Đã hỏi rồi. Đã nói rồi. Hiu Quạnh Lớn có nói gì đâu. Thiên địa bất nhân dĩ vạn vật như sô cẩu. Trời đất bất nhân coi vạn vật như chó rơm. Đã vậy thì còn gì để nói thêm?

Còn. Còn rất nhiều điều để kể.

Đầu tiên ta kể về im lặng

Mà ý chừng kể để Hư Không nghe

Hư không, hư không có nghe không? Có nghe Mùa hạn rên siết. Ở đây địa ngục chín tầng sâu. Cả giống nòi câm lặng gục đầu. Cắn chết hàm răng, ứa máu mắt. Chung xiềng nhưng chẳng dám nhìn nhau. Không nhìn nhau nhưng không phải không có gì để nói với nhau. Hay lắm khi im lặng còn nói được triệu lần hơn điều được nói.

Thơ Tô Thùy Yên có triệu điều để nói. Tuy nhiên giọt nước mắt ứa ra ít mặn hơn giọt nước mắt nuốt ngược vào lòng.

Thơ Tô Thùy Yên đọc thầm hay đọc ra rả cho át tiếng sóng vỗ ngoài biển lớn đều như nhau. Cả hai cách đều dội ngược vào người đến nghe đau mềm phế phủ.

Thơ của ông như vậy là như vậy. Y như Hiu Quạnh Lớn. Còn nói nỗi gì. Còn viết thêm chi. Có làm rộn tai. Có làm xốn mắt. Mà sao vẫn cứng đầu cứng cổ mà run tay muốn nhắc muốn nói muốn viết. Mà viết cái chi. Khi mọi sự đã an bày. Hiu Quạnh Lớn có nói gì đâu. Có gì để nói đâu. Hay tại lớn đến choáng ngộp nên làm miệng ú ớ, tay cứng, chữ cùn … Hay nói đại, nói bất kể, thơ Tô Thùy Yên… Nói về chuyến Tàu đêm chở tù chạy như một cơn giông lửa ròng rã từ Nam ra Bắc, qua trùng trùng oan khuất. Tàu đi như một cơn điên đảo. Sắt thép kinh hoàng va đập nhau. Ta tưởng chừng nghe thời đại động. Xô đi ầm ĩ một cơn đau … Con tàu chạy ngược, suốt con đường sắt xuyên Việt như trở ngược giòng lịch sử, từ văn minh trở lại man rợ, từ yêu thương trở lại thù hằn, từ khoan dung trở lại hẹp hòi, từ chân thành trở lại gian trá.

Muốn nín nhưng đọc thơ lòng như lửa đốt. Có gì cháy âm ỉ giữa lòng ta. Có gì cháy hừng hực giữa đầu ta. Lửa bắt từ xác chữ dị thường, cháy lan theo đường gân sớ thịt, nung đốt ý tưởng rồi làm tro than mọi ý tưởng. Vậy mà vẫn níu chữ chạy theo trối chết, để được tới nơi, cùng lúc với ông. Bởi vậy vẫn viết cho cố xác mà rồi cũng chẳng biết sẽ tới đâu. Vẫn muốn viết về thơ ông như lúc còn tưởng tay vói tới trời. Đến lúc biết trời cao tay không vói tới mà cứ vẫn loay hoay điều bất khả. Viết thêm. Viết thêm nữa. Điều bất khả. Làm sao, làm sao nói hết được cái hạo khí hừng hực bốc lên từ chữ nghĩa ông.

Cho nên …

– Giảng! Bình! Phê! Luận! Tán!
– Nhảm!!!!

Khổ nỗi! Ý bốc lửa. Chữ cuống cuồng. Những trang giấy trắng. Trắng mênh mông. Trắng lạnh ngắt mà lại kêu đòi. Viết về thơ Tô Thùy Yên có phải là vẽ cái vòng tròn mà điểm cuối không bao giờ nối lại được điểm khởi đầu. Viết về thơ Tô Thùy Yên có phải là tả cái mênh mông không cột mốc, không điểm tới cũng chẳng có điểm đứng. Cái dập dềnh của sóng, của gió, của mây, của nước mà mọi hình thù bị phá vỡ từ mỗi sát sa. Có phải là tung tóe theo cơn nổ hồng hoang. Hay là ngộp chìm theo cơn hồng thủy. Cái chết tru rân giờ nguyệt tận. Máu bung từ mỗi lỗ chân lông… Như tên phù thủy già điên loạn. Lịch sử lên cơn dữ bất thường. Viết về thơ Tô Thùy Yên có phải là vẽ rắn thêm chân khi rắn đâu có chân mà vẫn bò vun vút, là châm nước thêm vào lòng biển lớn, là vùi thêm củi vào miệng hỏa diệm sơn.  Người mẹ trẻ buồn đôi mắt trũng. Thân gầy nhom, tóc cháy, da cằn. Địu con, một dúm thịt nhăn nhúm. Ra ruộng khê tìm mót cái ăn. Còn nói được gì thêm về tội ác ngút trời của loại hà-chính-mãnh-ư-hổ đã và đang cắn xé mảnh đất vốn đã gầy còm ở bên kia biển lớn. Thơ của ông dữ dội lắm. Thơ của ông là bản cáo trạng không lời buộc tội dù được viết bằng máu và nước mắt chảy ngược của chính bản thân, thay mặt cho cả một thành phần dân tộc bị án tử oan tình. Vì mỗi hình ảnh ông kê ra đã là một bản án tự thân cho đám sát nhân tội đồ của nhân loại. Thơ ông là một bản J’accuse của Émile Zola để đòi lại sự thật cho sự thật. Đọc thơ ông, sống lại ngày dài trong trại-lán-cải-tạo, trong hầm kiên giam, dưới chòi canh hầm hừ, giữa lon cơm mốc thếch, trên bàn tay trần bươi đất, hay quằn đôi vai kéo cày thay trâu, trong mảnh vải bố nát che thân khi rừng núi lập đông. Ta khóc lẻ loi, cười một mình. Thu hình ẩn náu dưới tâm linh. Mắt chong kinh hãi đêm hư sử. Thân lõa lồ đau cháy khổ hình. Nguyễn Du xưa viết Kiều khiến người đời cứ tưởng nhỏ máu ra năm đầu ngón tay mà viết. Nay đọc thơ Tô Thùy Yên cứ tưởng ông đã mài đá ra mà làm mực. Thứ mực không bao giờ phai vì đã và sẽ trầm tích trong não cân, trong huyết quản của người đọc, đời này và cả đời sau.

Mà còn tuyệt vời hơn nữa, điều đó còn để xác nhận thơ và người thơ đã không bao giờ và sẽ không bao giờ bị thắt cổ bởi lòi tói xiềng gông. Bởi vì, nghĩ cho cùng, cái được gọi là trại cải tạo trong dãy quần đảo ngục tù mênh mông ở Việt Nam sau năm 75 chỉ nhằm một mục đích duy nhất là triệt hạ nhân phẩm của người tù, triệt tiêu mọi ý thức phản kháng, biến họ thành súc vật. Trại tù nằm bên bờ sông Mã ở Thanh Hóa mà tù nhân không được đi thẳng người, phải bò như con thú bốn chân là một điển hình. Nhưng dù vậy, ác tâm hèn hạ đó đã và sẽ không bao giờ thành tựu được. Chẳng những vậy, con người, sinh vật thượng đẳng vẫn mãi là con người dù có bị đòn tra ép uổng tới tận tầng cuối của địa ngục. Hơn vậy nữa, người làm thơ, kẻ chịu khổ nạn nhất trong kiếp đọa đày đó vẫn mãi mãi là sinh vật tối thượng vượt hẳn lên trên lũ cầm thú giả dạng làm người. Ta về. Ta về – một bóng trên đường lớn. Thơ chẳng ai đề vạt áo phai … Ta về cúi mái đầu sương điểm. Nghe nặng từ tâm lượng đất trời. Cám ơn hoa đã vì ta nở. Thế giới vui từ nỗi lẻ loi … Ta về như lá rơi về cội. Bếp lửa nhân quần ấm tối nay. Chút rượu hồng đây, xin rưới xuống. Giải oan cho cuộc biển dâu nầy.

Ôi, tấm lòng thi sĩ, người run giùm thế nhân hơi thu run rẩy, ấm giùm thế nhân tia ấm cuối đông, người đau giùm thế nhân cơn bội bạc của thế sự mà cũng vui giùm thế nhân sự thuận thảo của đất trời. Trên dưới trong ngoài đông tây nam bắc, có chỗ nào kềm giữ được đôi cánh chim hồng hộc. Tấm lòng thi sĩ bay lượn vượt thoát khỏi trói buộc của nhân thế,  nhạy như tơ trời, nhịp cùng nhịp với nhịp mùa, đập cùng đập với nhịp tim của thiên hạ. Tấm lòng đó, bao dung đến vô lượng. Hãy nghe ông sẻ chia với người quen kẻ lạ nỗi-vui-nhục-nhằn khi trở lại từ địa ngục trần gian. Ta về như hạt sương trên cỏ. Kết tụ sầu nhân thế chuyển dời. Bé bỏng cũng thì sinh, dị, diệt. Tội tình chi lắm nữa người ơi … Ta về như sợi tơ trời trắng. Chấp chới trôi buồn với nắng hanh. Ai gọi ai đi ngoài cõi vắng? Dừng chân nghe quặn thắt tâm can. Ta về như tứ thơ xiêu tán. Trong cõi hoang đường trắng lãng quên. Nhà cũ, mừng còn nguyên mái vách. Nhện giăng, khói ám, mối xông nền… Ta về như tiếng kêu đồng vọng. Rau mác lên bờ đã trổ bông. Cho dẫu ngàn năm em vẫn đứng. Chờ anh như biển vẫn chờ sông… Ta về dẫu phải đi chân đất. Khắp thế gian này để gặp em. Đau khổ riêng gì nơi gió cát. Thềm nhà, bụi chuối thức thâu đêm… Ta về như hạc vàng thương nhớ. Một thuở trần gian bay lướt qua. Ta tiếc đời ta sao hữu hạn. Đành không trải hết được lòng ta.

Ta về như tứ thơ xiêu tán. Trong cõi hoang đường trắng lãng quên. Tù về mà thơ phiêu hốt như hạc nội mây ngàn. Nghĩ ra làm sao không khoái trá.

Đành không trải hết được lòng ta? Ờ, làm sao nói cạn được tấm lòng thi sĩ. Người đau cái đau của nạn nước, gấp bao lần cái đau của nhân gian, người buồn cái buồn của thời vận, gấp bao lần cái buồn của nhân gian. Vậy mà rồi, cuối cùng, vẫn phá chấp để tìm lại bộ mặt tích cực của đời sống, để mở lòng yêu đời yêu người dù đã quá độ đắng cay. Mặc kệ trời bày cuộc bể dâu, nhấn chìm hết mọi ước mơ, tắt lịm hết mọi dự phóng, vẫn nguyên si tấc dạ của đứa con lưu lạc trở về nhà. Thương hờn oán giận rồi ra cũng chỉ là mấy nét nhăn nhúm của bộ mặt trần gian khó ưa. Mặc kệ, vẫn còn đó, nụ hoa nở trái mùa, trái chín muộn trên cây … Cũng chẳng biết triết lý nào đạo nghĩa nào đã nuôi hồn thi sĩ. Mà cũng chẳng cần biết. Vậy chớ lẽ đời tính vậy chẳng là … phải phải lắm sao! Giáo điều chi cho mệt. Đọc xong tôi cũng hả dạ lây. Ôi tâm hồn thi sĩ ấy!

Bởi vậy mà đọc lại thơ ông khi lòng đã lạnh mọi hương nguyền, chuyện đời đã trơn tuột ngoài vòng tay mà sao vẫn thấy xao xuyến như có gì muốn cà kê, muốn lải nhải, muốn trần tình, muốn kể lể… muốn… muốn… muốn…

Vậy thì nhìn vào những khung giấy bỏ trống bên dưới, có thấy không, chữ nối chữ, lời tiếp lời, đầy ắp … những điều không nói được, vừa thảng thốt mà lại vừa thống khoái trong lòng khi đọc thơ ông. Thơ Tô Thùy Yên không có tính từ để ép uổng. Nói này nói nọ thật ra chỉ là cưỡng cầu. Hãy đọc thôi. Đọc bằng tấm lòng xích tử, khi ngôn ngữ chưa thành lời…

………………………………………………………….

…………………………………………………………..

………………………………………………………….

…………………………………………………………..

………………………………………………………….

…………………………………………………………..

………………………………………………………….

…………………………………………………………..

Những khung giấy trắng phẳng phiu này, mặt giấy mênh mông đó có phải là cách nói đúng nhất về những gì cần nói về thơ Tô Thùy Yên.

Hay là chỉ nên đọc. Đọc. Đọc. Đọc. … Đọc thầm hay ngâm nga. Đọc như đăng đàn tuyên cáo hay đọc khi bưng đầu diện bích. Rồi ngưng bặt. Và … im tiếng. Làm thinh.

Thơ ông đã nói đủ, nói hết mọi điều cần nói.

Thiên hà ngôn tai.

Cao Vị Khanh
tháng tư 2019

TTY – Tôi châm điếu thuốc nữa
Đốt tàn thêm tháng năm

(*) Gémir, pleurer, prier est également lâche.
Fais énergiquement ta longue et lourde tâche
Dans la voie où le Sort a voulu t’appeler,
Puis après, comme moi, souffre et meurs sans parler
(Alfred de Vigny, La mort du loup)

(**) Mộng Liên Đường chủ nhân

– nét chữ đậm: chữ và thơ Tô Thùy Yên.

MỘNG

Thư viện của bài

This gallery contains 1 photo.

Hồ Đình Nghiêm

            Tôi gặp chị lần đầu tiên vào tháng 10 năm 1987, gặp ở “Trăng Đất Khách”. Chị là tác giả bài thơ Trăng Đất Khách, được Làng Văn Magazine chọn làm nhan tuyển tập “Các Cây Bút Nữ Hải Ngoại” bao gồm 18 người với bề dày lên tới 352 trang. Trong tuyển tập ấy, riêng chị đóng góp 7 bài thơ và 1 bài được Phan Ni Tấn phổ thành ca khúc. Từ 1987 cho đến nay tôi vẫn chưa có cơ hội được gặp chị ngoài đời, chỉ nhìn bóng dáng chị ẩn hiện trên các trang giấy, lẩn trốn trong các dòng chữ; theo tôi là quá đỗi mượt mà, quá đỗi trong sáng… những yếu tố tiên khởi làm nên sức quyến rũ đọc giả được hình thành từ một ngòi bút tài hoa. Mới đây, lòng tôi lại thổn thức khi đọc phải bài bút ký của chị thuật lại chuyến đi “hành hương” về Mã Lai, quanh các trại tỵ nạn cũ từng lưu dấu vết của thuyền nhân Việt Nam để thắp hương cho các linh hồn xấu số. Không cầm được lòng, tôi đã viết lá thư ngắn gửi đến chị để bày tỏ lòng biết ơn. Nghĩa cử của chị khiến một đứa vượt biển may mắn như tôi phải xót xa, thầm tri ân.

Tôi yêu câu thơ của Hoàng Trúc Ly (?):

“đời lê thê quá tôi về muộn
em ngủ một mình đêm gió mưa”.

Cuộc sống tôi rất “lê thê”, muốn đi thăm hỏi những người mình mến chuộng thì luôn bị “gió mưa” làm khó. Chị là người tôi mến chuộng. Ở xa, tôi chỉ còn biết duy một cách là thực hiện cuộc trò chuyện này. Tiếp tục đọc

 Đọc Lại Biên cương hành

Cao Vị Khanh

1minhTháng 4, đọc lại Biên cương hành

của Phạm Ngọc Lư

 

Biên cương hành

Biên cương biên cương chào biên cương
Chào núi cao rừng thẳm nhiễu nhương
Máu đã nuôi rừng xanh xanh ngắt
Núi chập chùng như dãy mồ chôn
Gớm, gió Lào tanh mùi đất chết
Thổi lấp rừng già bạt núi non
Mùa khô tới theo chân thù địch
Ta về theo cho rậm chiến trường
Chiến trường ném binh như vãi đậu
Đoàn quân ma bay khắp bốn phương
Lớp lớp chồm lên đè bẹp núi
Núi mang cao điểm ngút oan hờn
Đá mang dáng dấp hình chinh phụ
Trơ vơ chóp núi đứng bồng con
Khu chiến ngày tràn lan lửa dậy
Đá Vọng Phu mọc khắp biên cương
Biên cương biên cương đi biền biệt
Chưa hết thanh xuân đã cùng đường
Trông núi có khi lầm bóng vợ
Ôm đá mà mơ chuyện yêu đương
Thôi em, sá chi ta mà đợi
Sá chi hạt cát giữa sa trường
Sa trường anh hùng còn vùi dập
Há rằng ta biết hẹn gì hơn?

Đây biên cương, ghê thay biên cương!
Núi tiếp rừng, rừng tiếp khe truông
Hãi hùng chưa trời hoang mây rậm
Mùa mưa về báo hiệu tai ương
Quân len lỏi dưới tàn lá dữ
Lá xôn xao xanh mặt hoảng hồn
Sát khi đằng đằng rừng dựng tóc
Ma thiêng còn ngán lũ cô hồn
Cô hồn một lũ nơi quan tái
Có khi đã hoá thành thú muông
Cô hồn một lũ nơi đất trích
Vỗ đá mà ca ngông hát cuồng
Chém cây cho đỡ thèm giết chóc
Đỡ thèm môi mắt gái buôn hương

Đây biên cương, ghê thay biên cương!
Tử khí bốc lên dày như sương
Đá chảy mồ hôi rừng ứa máu
Rừng núi ơi ta đến chia buồn
Buồn quá giả làm con vượn hú
Nào ngờ ta con thú bị thương
Chiều hôm bắc tay làm loa gọi
Gọi ai nơi viễn xứ tha phương?
Gọi ai giữa sơn cùng thuỷ tận?
Ai người thiên cổ tiếc máu xương?
Em đâu, quê nhà chong mắt đợi
Hồn theo mây trắng ra biên cương
Thôi em, yêu chi ta thêm tội
Vô duyên xui rơi lược vỡ gương
Ngày về không hẹn ngày hôn lễ
Hoặc ngày ta nhắm mắt tay buông
Thôi em, chớ liều thân cô phụ
Chiến trường nay lắm nỗi đoạn trường
Nơi nơi lạnh trăm dòng sông Dịch
Kinh Kha đời nay cả vạn muôn
Há một mình ta xuôi biên tái
“Nhất khứ bất phục phản” là thường!

Thôi em, còn chi ta mà đợi
Ngày về: thân cạn máu khô xương
Ngày về: hôn lễ hay tang lễ
Hề chi! buổi chinh chiến tang thương
Hề chi! kiếp cây rừng đá núi
Nghìn năm hồn quanh quẩn biên cương.

5-1972
**************

Biên cương biên cương chào biên cương
Chào núi cao rừng thẳm nhiễu nhương

Bài hành bắt đầu bằng một tiếng chào. Tiếng chào câu hỏi từ muôn đời vẫn được coi là biểu tượng của sự quen biết, thân ái, mời mọc … Có ai mà chào người dưng nước lả. Hay có ai mà gật đầu chào một kẻ thù, một đối tượng sẵn sàng nuốt sống, ăn gan, uống mật mình đâu. Vậy mà Phạm Ngọc Lư lại gật đầu, lại vẩy tay chào… mối hiểm họa đang chờn vờn ngay… trước mắt mình.

Biên cương biên cương chào biên cương
Chào núi cao rừng thẳm nhiễu nhương

Dù vậy, nguyên câu thứ nhất  bảy chữ toàn vần bằng, mà hết sáu chữ là loại phù bình thanh. Giọng ngang ngang, không cao không thấp, nghe ra cái điệu khinh khỉnh… như chào mà không chào. Chào mà không lấy gì làm thân thiết, lại như có chút gì thách đố.

Biên cương biên cương chào biên cương

 Thật ra, đã có thời, trên cái xứ sở khốn khổ của chúng ta, biên cương hay rừng núi hay thành phố hay đồng bằng, kể cả chợ búa hay trường học… đã có gì khác nhau đâu. Tất cả đã được người ta biến thành mọi bãi chiến trường. Ở đâu, bất cứ lúc nào cũng có thể là trận địa, một khi lòng người đã bị nhuộm đỏ bằng sự cuồng tín và ngụy trá. Nghĩ vậy rồi, đọc lại câu mở đầu bài Biên cương hành mới nhận ra được hết sự cay đắng, niềm xót xa của một kẻ sĩ trót sanh nhằm-thế-kỷ.

 Ông tới đó, Củng sơn, một thị trấn hẻo lánh nằm dạt về phía biên giới Lào, nơi mà máu-đã-nuôi-rừng-xanh-xanh-ngắt-núi-chập-chùng-như-dãy-mồ-chôn.

Hình dung một thế đất, bốn phía rừng núi vây quanh, chướng khí mù mịt, gió Lào thốc tháo, mà mỗi thân cây đã được vun phân bén gốc bằng máu me xương thịt của bao nhiêu trai trẻ được xua tới đó để giết người hoặc bị người giết. Điệp tự xanh-xanh ( ngắt )sẽ tính ra bằng bao nhiêu cân lượng của bao nhiêu nấm mồ ( kể cả không có được một nấm mồ ) để dựng lên một phong cảnh núi rừng toàn bích !

Thử nghĩ coi, bài thơ được ghi làm vào tháng 5 năm 1972, lúc ông vừa 26 tuổi. Năm 72, mà trong bất cứ trí nhớ dù đã quá sức mòn mỏi của những người Việt miền nam vẫn chưa bao giờ quên được. Cái gọi là chiến dịch xuân hè, người miền bắc xua đại quân vượt sông Bến Hải, xé bỏ hiệp định Genève, công khai đánh phá khắp nơi. Bình Trị Thiên. Kontum. Peiku. Bình Long. An Lộc… trọn phần đất ở phía nam vĩ tuyến 17 chìm trong đạn pháo mịt mù. Lính tráng hai bên, dân lành vạ lây chết oan như rạ. Năm đó Phạm Ngọc Lư hai mươi sáu tuồi. Và ông cảm khái làm hành Biên cương.

Tuổi hai mươi, lứa tuổi vừa hết non nhưng chưa đủ dạn dày, lứa tuổi sắp sửa cho một lên đường hướng tới những phương trời cao rộng. Vậy mà người thanh niên đó đã bị chặn hết mọi ngỏ ngách, mọ̣i hy vọng đã bị dìm chết, mọi dự phóng đã bị bóp nghẹt … bằng đủ thứ dã tâm ác ý nhằm dồn đẩy cho được tuổi trẻ bước lọt vào con đường một chiều … con đường sinh tử.

Người thi sĩ đó, lớp tuổi trẻ đó đối diện tương lai mình với tâm trạng cay đắng cùng cực. Vậy còn lạ không khi ông viết

Biên cương biên cương chào biên cương
Chào núi cao rừng thẳm nhiễu nhương
Máu đã nuôi rừng xanh xanh ngắt
Núi chập chùng như dãy mồ chôn

 Lời chào như một tiếng cười mỉa, hay bi tráng hơn, một tiếng cười gằn, phẩn uất… của một kẻ giác đấu bị đưa ra đấu trường mà mọi vòng thành đã bít kín. Nghĩa là không có mảy may một chọn lựa nào khác. Hoặc chết. Hoặc sống. Chết ! Hết chuyện. Sống ? Đã hẵn là may mắn chưa sau khi mặt mày đã nám khói đạn bom, sau khi ngón tay trỏ đã tê điếng vì siết cò súng tới rướm máu ? Câu hỏi trở nên vấn nạn bậc nhất cho cuộc chiến tranh tương tàn đó.  Người thanh niên miền nam nước Việt sinh ra và lớn lên được nuôi dạy trong tinh thần khai phóng, nhân bản và dân tộc. Họ được dạy dỗ yêu nước thương nòi, quí trọng đồng chủng cùng giòng máu đỏ da vàng, họ được uốn nắn theo tinh thần nhân nghĩa ngay từ thưở còn ê a đánh vần từng chữ cái. Huyền thoại cái-bọc-trăm-con đã được giảng dạy hết sức ân cần để in sâu vào ý thức họ ngay từ buổi khai tâm. Lớn lên, hít thở không khí tự do – dù có còn hạn chế, họ vẫn có cơ hội tiếp xúc với mọi trào lưu tiến bộ của nhân loại về mọi mặt. Từ đó, tâm hồn họ trở nên giàu có, phóng khoáng, nhân bản … biết bao nhiêu. Do vậy, khi phải đối đầu với kẻ thù cùng màu da rõ ràng là một thách đố quá bất công và bất nhân của định mạng. Nghĩ lại coi, có phải. Bắn một viên đạn vào kẻ bên kia chiến tuyến là một việc làm chẳng đặng đừng trong khi lòng họ băn khoăn hết sức. Phía bên kia, ngược lại trăm phần. Lịch sữ đã chứng minh triệu triệu điều như vậy.

Bởi vậy khi đối diện với thực tại của cuộc chiến tranh tương tàn đó người thanh niên miền nam, người thi sĩ đó còn thái độ nào khác ngoài sự chấp nhận nó một cách… chua chát đến ngậm ngùi.

Biên cương biên cương đi biền biệt.
Chưa hết thanh xuân đã cùng đường.

Trọn bài hành là một cực tả về tính chất vô lý đến bi đát của cuộc tranh giành xương máu đồng loại vừa qua, trải ra từ trái tim của một kẻ có lòng. Cái tuyệt vời là trong suốt 66 câu 7 chữ không có một chỗ nào để lộ ra sự phẩn nộ. Dù là người trong cuộc, chịu chung kiếp hẩm hiu, ông làm thơ với giọng điệu bi tráng, khẩn thiết mà trầm tỉnh, đau đớn mà không bi lụy. Cho nên dù âm điệu của bài thơ rất trung tính, người ta vẫn nghe ra từ đó tiếng kêu trầm thống của cả một dân tộc bị đọa đày, bị cấu xé, bị giành giựt đến tang thương bởi chính những kẻ cùng chung một nguồn gốc tổ tiên !!! Chữ chở nghĩa trọn tình, từ tốn mà thâm trầm hết mực. Ông không tả cảnh núi rừng mà thấy núi rừng phủ chụp như thiên la địa võng. Ông không tả cảnh sát phạt mà nghe ra như súng nổ đạn bay. Đọc thơ mà tai như nghe ù ù gió thổi, tưởng đâu hồn tử sĩ bay vật vờ trên bãi chiến còn úng khói.

Đây biên cương, ghê thay biên cương
Tử khí bốc lên dày như sương
Đá chảy mồ hôi rừng ứa máu

Trong bất cứ một cuộc chiến tranh nào rồi cũng sanh ra kẻ hèn nhát, người anh hùng. Nhưng cuộc chiến đó, qua hồn của kẻ sĩ làm thơ, không có mảy may vinh quang, mà chì rặt có điêu tàn. Không có người thắng kẻ bại mà chỉ rặt có nạn nhân. Những nạn nhân bị ném ra đất chết như vãi-đậu. Cái chữ nôm na mà ôi sao ai oán ! Vãi đậu. Còn chữ nào tượng hình hơn cho cái chiến-thuật-biển-người đem nướng con đen trong lửa đỏ. Lính tráng được xô ra bãi chết như một lũ hình nhân được cắt bằng giấy không biết vui buồn, không có yêu thương hờn giận. Chỉ là một lũ hình nhân vô tri vô giác trong tay đám phù thủy núp kín dưới tầng tầng công sự, bị ném ra như vãi đậu để giành giựt cho được thứ tham vọng ngông cuồng. Nỗi cay đắng cùng cực của kẻ sĩ Phạm Ngọc Lư thể hiện rõ ràng trong hai chữ cho-rậm, ta về theo cho rậm chiến trường. Cho rậm, rậm đám … người ta hay nói vậy. Nhưng thường nói trong những cuộc vui. Ở đây, giữa cuộc chiến, lấy gì vui mà về-cho-rậm-đám. Nếu không phải  một nỗi bi phẩn cùng cực của một tâm hồn hết sức nhạy cảm trước nỗi bất lực của mình khi thấy chuyện bất nhân bày ra hằng giây hằng phút trước mắt mình. Ôi người thi sĩ tội nghiệp giữa một thời vô đạo. Người thi sĩ đó, kẻ đã được nuôi dạy trong không khí hoa lệ của văn học cỗ điển, với những hồn thơ nhân bản tuyệt vời của một thuở Đường thi lộng lẫy đã đem cái phong cách trang trọng của thơ xưa vào thơ mình. Chữ nghĩa của ông cỗ kính mà nhẹ nhàng, kinh điển mà phóng túng khiến cho bài hành vừa có vẻ xa xôi trang trọng mà lại gần gũi với người trong cuộc biết mấy. Bằng phong độ của một bậc thức giả và nghệ sĩ, ông đã phóng tầm mắt xuyên suốt cõi địa chấn để nhìn thấu qua rừng núi, cỏ cây, đất đá, đạn bom… cái bị che át bởi tiếng nổ, bị chôn vùi bởi đất đá cày xới, bởi đường mật tuyên truyền, bởi rù quến chủ nghĩa… cái thực ở đằng sau mọi giả trá, cái còn lại sau những nát tan… Ông đã thấy đằng sau những núi non trùng điệp bị nổ tung vì đạn mìn, đằng sau những thét gào say máu giữa khói súng và ánh thép loang loáng của dao găm, ông đã thấy ra cái không gian lặng ngắt sót lại, đã nhìn ra cái hình ảnh lạnh lẽo sau cùng, đã nghe ra tiếng kêu gào vô thanh của những… cô hồn, thêm nữa tiếng khóc lặng lẽ nuốt ngược vào lòng của những… cô phụ.

Đá mang dáng dấp hình chinh phụ
Trơ vơ chớp núi đứng bồng con
Khu chiến ngày tràn lan lửa dậy
Đá vọng phu mọc khắp biên cương

Ông ta thấy rõ ràng như một với một là hai, mà có phải ai cũng thấy ra những hồn oan vất vưởng, hay nghe ra tiếng đời vô vọng đó.

26 tuổi. Đã đủ già chưa để cằn cỗi. Đã hết mơ mộng chưa để chai đá. 26 tuổi. Cái tuổi như hoa mới hết thời hàm tiếu mà chưa tới lúc mãn khai. Vậy sao nhìn ra chỉ thấy cái điêu tàn. Cái tuổi lẻ ra đang trên bệ phóng để nhắm tới tương lai. Cái tuổi đã được chuẩn bị để dành cho những hẹn ước. Vậy mà sao gần như con đường trước mặt đã bị phong tỏa kín bưng đến nỗi không dám nghĩ tới cả một lời hẹn ước.

Thôi em, sá chi ta mà đợi
Sá chi hạt cát giữa sa trường
Sa trường anh hùng còn vùi dập
Há rằng ta biết hẹn gì hơn ?

Thương cảm và trân quí biết bao nhiêu tâm hồn thi sĩ đó. Ông làm thơ không phải cốt để tả cái chon von của núi cao, cái thăm thẳm của rừng già, cái hiểm hóc của hang động, cái ngặt nghèo của đèo cả, ông làm hành để nói lên cái oan nghiệt của chiến tranh, cái chờ đợi vô vọng của những người cha người mẹ có con cái bị xua vào chỗ chết, của những người con gái có tình nhân thất hẹn, của những người vợ có chồng bị ném như vãi đậu vào cuộc bắn giết hung tàn. Bài hành như một dấn thân vào phía mặt thật của chiến tranh bị che giấu, bị tô vẻ bằng những ngôn từ hoa mỹ. Ở phía đó, hoàn toàn không có gì hết, không tiếng gầm của bom đạn, không có tiếng thét của trái tim búng máu, không có tiếng la của da thịt rách nát… Ở đó là một sự im lặng tuyệt cùng, im lặng tuyệt đối. Ở đó là tiếng kêu không vuột ra được khỏi hai bờ môi. Ở đó là cặp tròng ráo hoảnh không còn đủ một giọt nước mắt chảy xuôi. Ở đó là cái lỗ trống khủng khiếp của người mẹ mất con, của người vợ mất chồng, của đứa con mới lọt lòng đã mất cha… Cái thấy của ông khác với cái thấy của những bản tin chiến sự, khác với cái thấy của xảo ngôn ra rả trong những tuyên ngôn tuyên cáo. Cái thấy của ông là cái thấy của con-mắt-trông-thấu-cả-sáu-cõi*. Thơ của ông được làm ra từ những-giọt-máu-chảy-ở-đầu-ngọn-bút *. Cho nên, mỗi năm đến tháng tư, lục ra đọc lại Biên Cương Hành lại nghe như có giọt nước-mắt-thấm-trên-tờ-giấy* khi người thi sĩ ấy vẩy bút làm thơ…

Quả vậy, nói được gi thêm nữa. Hành được làm bằng hết tài hoa bút mực và tấm lòng mẫn cảm đến muôn đời. Hồn thi sĩ rướm những giọt máu còn rây rớt trên từng ngọn cỏ lá cây, trây trét trên đất đá vô tri, từ mươi năm trước, từ hôm qua, mà hôm nay, mà ngày mai… vẫn tiếp tục thấm máu của bao nhiêu trai trẻ bị xô đẩy tới đó để tiếp tục giết nhau, giết nhau tận tình như những kẻ cuồng sát dù trong lòng họ không thiếu nỗi bi thương.

Cho nên, ở đó giữa núi rừng cô tịch, ông thấy từng đoàn cô hồn kéo đi lũ lượt. Những cô hồn giận dữ !

Cô hồn một lũ nơi đất trích
Vỗ đá mà ca ngông hát cuồng
Chém cây cho đỡ thèm giết chóc
Đỡ thèm môi mắt gái buôn hương

Rừng núi cô tịch có gì vui sao kéo nhau vào đó mà tan thây nát thịt. Có nghe chăng tiếng hát ngông cuồng bi thiết của lũ người bị lừa gạt bị dụ dỗ bị mê hoặc mà ném thân vào hiểm địa làm mồi cho súng đạn vô tình. Ai nghe được tiếng kêu uất hận đó ngoài người thi sĩ đang độ tuổi đôi mươi. Và ai ngoài ông để cảm thông được nỗi ai oán của những người trẻ chết trận mà chưa một lần được nếm chút hạnh phúc trần gian. Chữ nghĩa được chọn lọc tinh tế mà không lộ chút kỷ xảo. Phạm Ngọc Lư đã sống tận tình kiếp sống của người trong cuộc. Hẵn, ông đã không ngại dấn mình vào chỗ thâm sơn cùng cốc đó để nghe cây rừng rùng mình, đề nghe đất đá run rẩy… sau mỗi bận súng đạn gầm thét. Mà chắc phải vậy, phải tận mắt cảnh núi lở đèo nghiêng, đất đá nát ngấu, rừng cháy tan hoang bỏ trơ cây cối cụt đầu, hầm hố chằng chịt … mới cảm ra được sức tàn phá đó nổ banh trên thịt xương người ra sao, mới nhận ra được lửa nướng cháy da người khét lẹt thế nào, mới nghe được tiếng kêu thất thanh xé ruột làm sao khi lưỡi dao bén ngót đâm lút vào thân xác. Phải ở đó, mới nghe ra được tiếng gọi từ thăm thẳm của cả một lớp trẻ đương tuổi yêu đời yêu người mà bị bức tử đoạn đành.

Chiều hôm bắt tay làm loa gọi
Gọi ai nơi viễn xứ tha phương ?
Gọi ai giữa sơn cùng thủy tận ?
Ai người thiên cổ tiếc máu xương ?

Tiếng gọi u uất nghe đến nát lòng. Mà rồi tiếng gọi cũng chỉ rơi vào cõi vô vọng. Như triệu triệu tiếng kêu đòi khác, vẫn rền rĩ, từ tiếng súng đầu tiên phát nổ …

Chẳng vậy, mà hơn 40 năm qua, vẫn còn nguyên tiếng gọi giải oan cho bao nhiêu người đã chết, chết mà không biết vì sao mình chết, chết mà lịch sử bị đẩy cho quay ngược lại vòng quay, mà đất nước đi ngược lại chiều tiến bộ, mà năm này sang năm khác, đất nước trở lại y nguyên cái tình trạng từ thời người ta xua con trẻ đi làm chuyện … giải phóng.

Hãy đọc lên thành tiếng thêm một lần, 6 câu cuối của bài thơ để nghe lại hết nỗi oan khiên của nguyên mấy thế hệ bị hy sinh cho một chủ nghĩa bất cận nhân tình. Đọc lên thành tiếng để nghe dội lại tim ta tiếng kêu thương của từng lời kinh khổ

Thôi em, còn chi ta mà đợi
Ngày về: thân cạn máu khô xương
Ngày về: hôn lễ hay tang lễ
Hề chi ! buổi chinh chiến tang thương
Hề chi ! kiếp cây rừng đá núi
Nghìn năm hồn quanh quẩn biên cương.

Hai mươi mấy tuổi đời của những năm 60, 70 … hay xa hơn nữa từ những năm 30, 40, 50 … thử nghĩ lại, đã có khi nào, trên mảnh đất gầy còm hình chữ S, mà tuổi trẻ Việt Nam được sống yên lành đề dự phóng tương lai cho chính mình và đồng loại mình. 6 câu thơ cuối, Phạm Ngọc Lư làm cho ông, cho thế hệ ông và cho cả bao nhiêu người tuổi trẻ trước ông, kể từ khi có một lũ người đi vay mượn thứ chủ nghĩa ngoại lai và không tưởng đem về bày trò giết chóc đề̉ áp đặt lên quê hương. Từ đó, súng nổ, dao đâm, dìm nước thả trôi sông… từ đó, tang thương… từ đó, đoạn trường… từ đó…

Thôi em, còn chi ta mà đợi
Ngày về: thân cạn máu khô xương

Từ đó một hẹn thề là trăm lỗi hẹn, có một hạt giống gieo là đã cả vườn cây cháy rụi, một đứa bé ra đời là đã bao nhiêu trai trẻ bỏ xác góc núi bìa rừng. Bởi vậy, đến một lúc, ngay cả đương tuổi thanh xuân, người ta cũng bỏ mặc buông xuôi, như thể mọi vẫy vùng đều vô ích, mọi phản kháng đều bất khả.

Hề chi ! buổi chinh chiến tang thương
Hề chi ! kiếp cây rừng đá núi

Hề chi ! Sá chi ! Mặc kệ ! Những tán thán từ người ta chỉ dùng đến khi bị dồn vào đường cùng. Ờ , mà tuổi trẻ Việt Nam thời đó, thời của những biên cương rào kín lòng người, thời của súng đạn ngoại bang được nhét vào tay, thời của mắt bị bịt kín… rồi bị xô bị đẩy bị lùa từng đoàn từng lũ vào eo chết thì… nếu không … hề chi, sá chi… thì cũng có làm gì hơn được !

Hề chi ! kiếp cây rừng đá núi
Nghìn năm hồn quanh quẩn biên cương

Hề chi ! Hề chi ! Tán thán tự được lập lại hai lần phải chăng để hình dung hai cánh tay buông xuôi, bỏ mặc, khi người ta đã ở chỗ cùng đường, tuyệt lộ.

Biên cương hành. Đọc lại mà sống lại cùng ai nỗi đoạn trường !

Chính vì vậy, mươi năm trước đọc qua đã ngậm ngùi, bây giờ đọc lại còn nguyên cơn đau thắt ruột với vẫn nguyên nỗi cảm phục nét tài hoa tót chúng. Rõ ràng, đọc lại Biên Cương Hành, thấy nguyên vẹn nỗi oan ức của hàng đoàn hàng lũ cô hồn cô phụ đi vất vơ cạnh bên phía lề oan trái của lịch sử.

Hành. Loại thơ sủng ái của những bậc tài tình thiên cổ lụy. Chữ cuồn cuộn như nước đổ trường giang. Ý tiềm ẩn như rồng thiêng thấy đầu mà không thấy đuôi. Chính vì loại thơ vừa lề luật vừa phá thể khiến cho người làm thơ mặc tình phóng bút.

Trong tay bậc tài hoa, hành làm … thốn tâm thiên cổ.

Cho nên, đọc hành làm sao mà không thấy dạ mang mang. Nay-đời-xa-người-khuất, đọc hành Phạm Ngọc Lư như thấy lại lòng mình, làm sao không cảm khái đến trăm nỗi xót xa. Xót xa cho đời. Xót xa cho người.

Xót xa cho vận nước.

Hành. Đổ Phủ. Bạch Cư Dị. Lý Bạch … Rồi Thâm Tâm. Nguyễn Bính. Thanh Nam. Tô Thùy Yên. Viên Linh… Và Phạm Ngọc Lư.

Vâng. Và Phạm Ngọc Lư.

 
Cao vi khanh
*như một lời đã hứa
tháng 4-2018

* chữ của Mộng Liên Đường chủ nhân

Sóng Gió Nội Cung

Thư viện của bài

This gallery contains 1 photo.

Đặng Xuân Xuyến

Vài lời về tập sách:

tu hy thai hau

SÓNG GIÓ NỘI CUNG

(Thay cho lời nói đầu cuốn SÓNG GIÓ NỘI CUNG)

Lịch sử phong kiến Trung Quốc là lịch sử thay đổi liên tục các vương triều, các “thiên tử”. Mỗi triều đại, mỗi quân vương, nhìn chung chỉ tồn tại với quãng thời gian ngắn ngủi. Sở dĩ các vương triều chết yểu do nhiều nguyên nhân nhưng cơ bản là do người kế vị sau đó, sau vị vua khai quốc một vài đời đã không xứng đáng là “con trời” để “thay trời hành đạo”, “chăn dắt muôn dân”. Họ là những kẻ hoặc ngu đần, bạc nhược hoặc bất tài, hoang dâm, hoặc kiêu căng, ưa xiểm nịnh, bụng dạ tiểu nhân… nên trong thời gian tại vị đã làm đảo điên xã hội, gây ra bao thảm cảnh mà “thần và người đều căm giận” nên đã bị “trăm họ” phế truất vai trò của họ ra khỏi chính trường.

Chế độ phong kiến là chế độ thế tập quyền uy nên quyền lực của nhà vua là tối thượng. Nền chính trị tập quyền khiến các đế vương không cần sức kiềm chế. Một đấng minh quân hết lòng chăm lo đến muôn dân, xã tắc sẽ ảnh hưởng lớn đến suy nghĩ và hành động của các cận thần dưới quyền, làm cho muôn dân no ấm, đất nước được cường thịnh, nhưng một vị hôn quân thì xuất phát từ ân oán cá nhân, tin dùng bọn xiểm nịnh làm cho muôn dân điêu đứng, đất nước bị loạn lạc, triều chính bị tan nát để rồi dẫn đến sự diệt vong vương triều
Tiếp tục đọc

NHÀ THƠ HỮU LOAN

Thư viện của bài

This gallery contains 1 photo.

Cung Tích Biền

NHÀ THƠ HỮU LOAN,
LẦN GẶP MẶT

 Sau tháng Tư 1975, tôi có dịp gặp gỡ các văn nghệ sĩ từ miền Bắc vào Nam. Những cuộc “gặp” lẫn “gỡ” này, cái đinh đóng vô đầu, vui ít buồn nhiều. Vui, là gặp được những người mình từ lâu mong đợi gặp. Lại khá bàng hoàng khi đụng phải những nhà văn nhà thơ từng là các tác gia được “vang bóng một thời”, nay trở thành những cán bộ tuyên truyền, “Nói mãi không thôi những điều dân miền Nam nghe muốn ói”.

Thật hạnh ngộ khi chúng tôi được gặp nhà thơ Hữu Loan, tác giả bài thơ Màu Tím Hoa Sim, cùng một số vị trong vụ án Nhân văn – Giai phẩm [1], những năm từ 1957 về sau, trên đất Bắc.

Những người bị chế độ đương thời bắt bớ, tù đày là hầu hết những trí thức, văn nghệ sĩ có chủ trương, qua tác phẩm công khai của mình trên báo chí, mục đích chống lại đường lối cai trị độc đoán, đàn áp tư tưởng, thủ tiêu quyền tự do sáng tác. Tiếp tục đọc

Khái Hưng Trong Tù

Thư viện của bài

This gallery contains 1 photo.

 MAI CHI
 

Để bạn đọc hiểu qua đời sống trong tù của Khái Hưng, chúng tôi trích đang dưới đây một phần bài Đợi Tết trong tù của Mai Chi, đăng trên nhật báo Dân Chủ số 925 ra ngày 9-2-1964, thuật lại những ngày Khái Hưng bị giam tại trại giam Lạc-quần (huyện Xuân-trường, Nam-định).

Theo chỗ hiểu biết của chúng tôi, ông Mai Chi là một chiến hữu cách mạng của Khái Hưng. Bài báo của ông, thuật theo trí nhớ của những bạn đồng ngục của Khái Hưng, có thể coi là đáng tin.

(Văn, số 22, ngày 15-11-1964)

Hồi ấy Lạc-quần là một chiến khu quan trọng của miền nam Trung-châu Bắc Việt (thuộc Liên-khu 3). Trại lính khố xanh cũ lúc đó đã biến thành Bộ Tư-lệnh của đại tá Việt-minh Hà Kế Tấn. Công-an tỉnh Nam-định đặt trại giam gần sát đó để có thể nhờ bộ đội can thiệp tức khắc nếu xẩy ra những trường hợp bất ngờ (các chính trị phạm nổi loạn hoặc các nhóm quốc gia đánh úp để giải phóng đảng viên). Anh em chúng tôi thuộc nhiều đoàn thể khác nhau: Việt-quốc, Việt-cách, Duy-dân, Dân-tộc, Công-giáo v.v… không thiếu một đảng phái chống Cộng nào. Đến trung tuần tháng chạp âm lịch tổng số lên tời gần 50 người.

Đời sống tại đây tương đối dễ chịu vì lúc đó Việt-minh còn bận tổ chức kháng chiến chống Pháp, chưa nghĩ tới việc hành hạ chúng tôi. Ngoài điểm ăn ngủ kham khổ, chúng tôi không hề bị gông cùm xiềng xích, và cũng không phải làm việc gì cực nhọc, chỉ một lần chúng tôi được đi vác gạch cho bộ đội xây đồn, nhưng vì anh Khái Hưng yếu đuối nên bị chúng loại ra, không cho hưởng cái ân huệ đó. Tuy nhiên không phải không có những cuộc tra tấn. Đêm nào chúng cũng gọi vài ba người lên phòng đồn trưởng để hỏi cung đúng vào lúc ba tiếng cồng “ngủ” dóng lên. Đánh đập, kìm kẹp, quay điện, tra tấn đủ kiểu cho tới khuya mới thả cho về. Và mỗi buổi sáng chúng tôi lại thay phiên đấm bóp và săn sóc những nạn nhân đêm trước. Tiếp tục đọc

Trịnh và Trịnh:  Hảo vọng và Ảo vọng

Thư viện của bài

This gallery contains 1 photo.

trịnh công sơn

trịnh cung

Bài báo «Trịnh Công Sơn và tham vọng chính trị» của Trịnh Cung trên mạng Damau.org ngày 01.4.2009 đã gây ra nhiều âm thanh và cuồng nộ.

Là người có dính líu ít nhiều đến nội vụ, tôi đã được bạn bè yêu cầu lên tiếng. Đáp lại những yêu cầu chính đáng ấy – nhất là từ mạng damau.org – tôi xin nói ngay, vắn tắt:

a) Tôi không đồng ý với bài viết của Trịnh Cung, về đại ý cũng như cung cách diễn đạt. Nhưng theo một châm ngôn, tương truyền của Voltaire: “tôi không tán thành những điều anh nói, nhưng nguyện phấn đấu đến tàn hơi, để anh được nói lên những điều đó”. Điều này, tôi học lóm được nơi các nhà tranh đấu cho dân chủ ở phương Tây.
b) Bài báo của Trịnh Cung nêu lên một câu hỏi chính trị; cuộc tranh luận gay gắt từ lúc đầu, kéo dài đến hôm nay – hơn ba tuần – mang bản chất chính trị, không thấy soi sáng thêm được việc gì, mà càng gây thêm thương tổn.
Có những tranh luận nâng cao, mở rộng tư cách người viết và người đọc. Có những tranh luận làm con người thấp xuống, nhỏ lại. Biết vậy, mà vẫn phải nhận.
c) Trước một án mạng, người điều tra thường đặt câu hỏi: án mạng có lợi cho ai?
Trước hằng loạt bài báo gây thương tổn, tôi thắc mắc: cuộc tranh luận không tốt đẹp này, có lợi cho ai?
Tôi không có câu trả lời. Người nào có được giải đáp, tấc lòng sẽ thanh thản hơn.
Chấm dứt phần chính yếu.
Dưới đây, chỉ là phụ chú. Tiếp tục đọc

Trịnh Công Sơn &  Tham Vọng Chính Trị

Thư viện của bài

This gallery contains 2 photos.

 trịnh cung

LTS damau: “Trịnh Công Sơn & Tham Vọng Chính Trị” của họa sĩ Trịnh Cung nhất định sẽ được đón nhận với nhiều phản ứng khác nhau từ nhiều tầng lớp độc giả. Bài viết đưa ra một số nhận xét của cá nhân Trịnh Cung về người nhạc sĩ tài hoa, sống và sáng tác trong một giai đoạn vô cùng điêu linh của đất nước, cùng với một số tư liệu đã được công bố ở một số nơi. Tác giả Trịnh Cung tất nhiên đã dự kiến được những gì bài viết này có thể mang đến cho chính ông khi ông viết: “Bài viết này chắc chắn sẽ gây ra sự mất mát tình cảm, sự đổ vỡ các mối quan hệ vốn có của tôi, vì một số những nhân vật được đề cập nay đang còn hiện diện trong cuộc đời. Sự thật bao giờ cũng gây mất lòng, tôi đã tự hỏi mình nhiều lần trong nhiều năm qua: có nên viết nó ra, giải thoát cho nó khỏi ngục tù trong tôi suốt hơn 30 năm qua? Sự quằn quại của nó trong cái nhà tù ký ức cũng làm tôi đau buồn đến không chịu nổi. Giải phóng cho nó là giải phóng cho chính tôi, dù có phải bị trả giá.”

Tạp chí Da Màu trân trọng ghi nhận tinh thần trách nhiệm của hoạ sĩ Trịnh Cung, và bài viết được đăng tải với ước muốn tạo cơ hội làm sáng tỏ những ngóc ngách trong đời sống của một nghệ sĩ tài hoa nay đã thành người thiên cổ.

*

Đã 8 năm kể từ ngày mất của Trịnh Công Sơn, 01-4-2001. Đã có rất nhiều bài và sách viết về người nhạc sĩ tài hoa xuất chúng này. Tất cả đều chỉ nói về 2 mặt: tình yêu (con người, quê hương) và nghệ thuật ngôn từ trong ca khúc Trịnh Công Sơn, tuyệt nhiên không thấy ai đề cập đến vấn đề Trịnh Công Sơn có hay không tham vọng chính trị. Phải chăng như Hoàng Tá Thích, ông em rể của người nhạc sĩ “phản chiến” huyền thoại này đã minh định trong bài tựa cuốn sách Như Những Dòng Sông của mình nói về âm nhạc và tình người của ông anh rể Trịnh Công Sơn, do nhà Xuất Bản Văn Nghệ và Công Ty Văn Hoá Phương Nam ấn hành năm 2007: “…Anh không bao giờ đề cập đến chính trị, đơn giản vì anh không quan tâm đến chính trị”? Hay như nhận định của một người bạn không chỉ rất thân mà còn là một “đồng chí” (trong ý nghĩa cùng một tâm thức về chiến tranh VN) của Trịnh Công Sơn, hoạ sĩ Bửu Chỉ (đã mất) đã viết: “Trong dòng nhạc phản chiến của mình, TCS đã chẳng có một toan tính chính trị nào cả” (Trích bài viết: “Về Trịnh Công Sơn và Những Ca Khúc Phản Chiến Của Anh”, in trong Trịnh Công Sơn, Cuộc Đời, Âm Nhạc, Thơ, Hội Hoạ & Suy Tưởng do Nhà Xuất Bản Văn Hoá Sài Gòn ấn hành năm 2005)? Tiếp tục đọc

FRANÇOISE SAGAN VÀ NỖI BUỒN

Thư viện của bài

This gallery contains 1 photo.

Bích Hoài

            Năm 1954, một cô gái 18 tuổi, Françoise Sagan, xuất hiện trên văn đàn Pháp quốc với tác phẩm đầu tay Bon-jour Tristesse, gây sóng gió. Tựa đề của cuốn sách bắt nguồn từ bài thơ của Paul Éluard “À peine défigurée” (Vừa mới biến dạng), với dòng chữ đầu tiên “Adieu tristesse/Bonjour tristesse (Buồn ơi, chào mi).” Một cuốn phim tiếng Anh, phỏng theo cuốn sách, được phát hành năm 1958 với đạo diễn Otto Preminger.

Câu chuyện như sau: Cô bé Cécile, 17 tuổi, nghỉ hè tại một biệt thự bên bờ sông Riviera của Pháp cùng với cha là Raymond, một người hấp dẫn, trần tục, vô luân, tự bào chữa cho mình về tài tán gái với lời trích dẫn của Oscar Wilde, theo đó thì tội lỗi chỉ là một sắc màu sặc sỡ, dai dẳng trong thế giới hiện đại. Cécile nói cô tin rằng cô có thể lấy việc đó làm căn bản trong đời sống của cô và chấp nhận cái phong cách sống đó làm mẫu mực. Một trong những lợi thế đối với cô là cha cô không chút quan tâm đến khả năng hiểu biết nên chẳng cần để ý cô có học hành hay không. Một lợi thế khác là ông bỏ mặc cho cô rảnh tay lôi cuốn đàn ông. Ban đầu cô tìm đến những người đàn ông cùng tuổi với cha, nhưng ở biệt thự kế bên có một chàng trai tuổi đôi mươi, Cyril, mà cô bắt đầu cuộc tình lãng mạn Tiếp tục đọc

Một quãng đời của Trịnh Công Sơn (Kỳ 2)

Thư viện của bài

This gallery contains 2 photos.

Chuyện bên nhà: Một quãng đời của Trịnh Công Sơn (Kỳ 2)

Đoàn Dự ghi chép

Chúng tôi hy vọng lời kể của Nguyễn Thanh Ty, một người bạn rất thân cùng học tại trường Sư Phạm Quy Nhơn và dạy cùng một nơi, trọ cùng một nhà với Trịnh và mấy anh em khác ở Bảo Lộc (Blao), về một quãng đời của Trịnh Công Sơn sẽ đem đến cho quý bạn nhiều chi tiết rất thú vị có lẽ còn ít người biết, nếu chúng ta không đặt câu hỏi Trịnh Công Sơn là CS hay không CS, bởi vì ngay chính những người bạn rất thân ở cùng nhà với Trịnh Công Sơn cũng không biết.
Trong kỳ I là chuyện Trịnh Công Sơn lúc học tại trường Sư phạm Quy Nhơn và khi đi dạy tại trường Sơ cấp người Thượng tại Bảo Lộc, có thể thấy Trịnh Công Sơn sinh năm 1939 tại Huế, gia cảnh khó khăn, cha mất sớm, bà mẹ phải tần tảo nuôi 8 người con – 3 trai, 5 gái – ăn học, Sơn là anh cả. Học tại Sài Gòn, thi rớt Tú tài II, Sơn trở về Huế rồi thi đậu vào trường Sư Phạm Quy Nhơn khoá đầu tiên, 2 năm, từ 1962đến 1964, tốt nghiệp, đi dạy lớp sơ cấp tại Bảo Lộc tức Blao, học sinh ở đó đa số là người Thượng.
Trong phần này,nhà giáo Nguyễn Thanh Ty kể chi tiết về những người đã một thời đi qua đời Trịnh Công Sơn như Tôn Nữ Bích Khê, Ngô Vũ Bích Diễm…, xin mời quý bạn xem xét.

Sau khoảng vài tháng đầu niên khóa 64-65, ông Trưởng ty Giáo dục Trương Cảnh Ngôn về hưu, ông Lê Cao Lợi, thanh tra kỳ cựu, có tu nghiệp ở Mỹ một thời gian, được Bộ cử giữ chức vụ đó thay ông Ngôn. Đây là thời gian vàng son của Trịnh Công Sơn. Ông trưởng ty Lợi, trung niên, có tâm hồn văn nghệ, thích nhạc, thơ, nên đối với một người như Sơn ông dành cho nhiều ưu đãi. Đôi lúc ông nhắm mắt làm ngơ cho Sơn dùng thì giờ dạy học làm việc riêng của mình như về Sài Gòn liên lạc xuất bản nhạc chẳng hạn. Chuyện này khiến một số giáo viên già, lâu năm trong nghề so bì. Tiếp tục đọc

Họa Sĩ Võ Đình và Cuộc Triển Lãm Bên Kia Bờ Tử Sinh

Thư viện của bài

This gallery contains 3 photos.

Phan Tấn Hải

Họa Sĩ Võ Đình và Cuộc Triển Lãm Bên Kia Bờ Tử Sinh

Trong tương lai gần, nhà thơ Đỗ Quý Toàn sẽ tổ chức một cuộc triển lãm tại hội trường nhật báo Người Việt dài hai ngày – trong đó, sẽ trưng bày là toàn bộ tranh của họa sĩ Võ Đình (1933-2009) để lại và đang được gìn giữ bởi người vợ cuối đời là chị Trần thị LaiHồng.

Nhà văn Lê Thị Huệ từ San Jose đã cho biết như trên; khi được tin, tôi đã xin tới thăm chị Trần thị LaiHồng tại nhà người anh của chị ở Huntington Beach, California. Chị Trần thị LaiHồng nói chuyện và đi đứng còn chậm, vì vừa mới hồi phục từ một trận đột quỵ khi còn ở Florida, và sau đó đã dọn nhà từ Florida về Quận Cam, nơi nhà người anh ruột.

Nơi phòng khách giữa căn nhà Huntington Beach của người anh của họa sĩ vẽ lụa Trần thị LaiHồng còn để nguyên kiện nhiều gói hàng gửi qua phi cơ, trong đó là những họa phẩm của họa sĩ Võ Đình, chỉ mới mở ra một vài tấm tranh. Như thế, ước lượng khoảng 30 tác phẩm hội họa của họa sĩ Võ Đình. Chị Trần thị LaiHồng cho biết, bản thân chị cũng học vẽ từ họa sĩ Võ Đình, và chị cũng ưa vẽ mặt trăng như anh… Trong dịp này, chị cũng sẽ triển lãm một số tranh chị vẽ, trong đó người xem có thể nhìn thấy ảnh hưởng của phong thái Võ Đình. Tiếp tục đọc

HAI BÀ TRƯNG

Thư viện của bài

This gallery contains 1 photo.

Nguyên Lạc    

NHỮNG KHUẤT LẤP 

GIỮA MÃ VIỆN VÀ HAI BÀ TRƯNG

***

VÕ TÒNG ĐẢ CẨU (Bài 2)

Cẩn báo: Bài này với chủ đích giải mã những khuất lấp, khuyến khích THOÁT TRUNG, (không có vấn đề kỳ thị: BÀI TRUNG). Xin các bạn thẩm định cho kỹ. Nguyên Lạc tôi xin phủ nhận những gì ngoài chủ ý của mình.  Những chi tiết trong Thủy Hư có hư cấu một vài điều để dẫn dụ đến chủ ý, nên xin miễn cho tính chính xác. Còn về Hai Bà Trưng và Mã Viện là sử liệu. Trân trọng!

Lời nói đầu: Do thiếu sự hướng dẫn, sự khan hiếm sách đọc, sự thao túng thị trường sách vở của các Hoa thương (thời Pháp thuộc),  sách truyện đến tay người nông dân, người lao động… ở các làng xa xôi lúc xưa thường là những loại giả dối, nhằm phục vụ cho giấc mộng Đại Hán. Buồn thay, người dân Việt không thuộc sử Việt, mà lại nằm lòng sử Tàu. Nào là Thuyết Đường, Tiết Nhơn Quý Chinh Đông, Tiết Đinh San Chính Tây .v.v… , trong khi Hai Bà Trưng  Nguyễn Trãi, Lý Thuờng Kiệt, Trần Hưng Đạo, Đặng Dung v.v…, những anh hùng dân tộc có công dựng nước và giữ nước thì họ không biết là ai!

Ví dụ như trong truyện Tiết Nhơn Quý Chinh Đông: Đây thật ra chỉ là cuộc xâm lăng Cao Ly (Hàn Quốc), trong đó họ đề cao tên xâm lược Tiết Nhơn Quý , mạt sát anh hùng dân tộc Cao Ly –  Cáp Tô Văn.  Họ cũng đã mạt sát nhiều người anh hùng Việt Nam chúng ta (Ví dụ bộ sử Minh Thực Lục). Những nhận thức bị khuất lấp đó truyền lại cho con cháu chúng ta sau nầy. Làm sao Thoát Trung được nếu không giải mã  những điều khuất lấp đó?! Bài này viết ra với mục đích giải mã những khuất lấp.(1) Tiếp tục đọc

*** Nhớ thương Phạm Công Thiện

Thư viện của bài

This gallery contains 1 photo.

Đặng Tiến

Nhớ thương Phạm Công Thiện

Phạm Công Thiện, mới qua đời tại Houston ngày 8.3.2011, với tôi là chỗ cố tri thân thiết, ngang trang ngang lứa, cùng tập tành bước vào nghề văn những năm đầu thập niên 1960. 

Thời đó, Thiện đã có chút ít tiếng tăm vì từ 16 tuổi đã có soạn một từ điển tiếng Anh (Anh ngữ tinh âm Từ Điển, 1957) được Nguyễn Hiến Lê viết lời giới thiệu nồng hậu. 

Trước tiên, chúng tôi là bạn chơi, tại Sài gòn, cùng thân thiết với nhà thơ Hoàng Trúc Ly, đàn anh hiền lành và hòa nhã. Cùng đi chơi đêm lúc ấy với Thiện, thường có Trịnh Cung và nhà thơ Ninh Chữ, có tiệm may trên đường Tự Do, thường là kẻ chi tiền, dường như thỉnh thoảng có cả Tuấn Huy. Là sinh viên bận học tôi không tham dự những cuộc vui chơi này, nhưng hôm sau được nghe kể lại cặn kẽ.

Tiếp theo là bạn làm báo. Khoảng 1962-1963 gì đó, anh Hoàng Minh Tuynh làm chủ báo Mai, Sài gòn, bán nguyệt san. Anh Tuynh là người công giáo tiến bộ, có uy thế lúc ấy, và ưa giao thiệp với các bạn trẻ mà anh tin cậy, chung quanh Nguyễn Hữu Thái là sinh viên Tiếp tục đọc

*** THI NHẠC KHÊ KINH KHA

Thư viện của bài

This gallery contains 1 photo.

VÕ CÔNG LIÊM 

Đọc và Nghe
THI NHẠC KHÊ KINH KHA

Thoạt kỳ thủy tôi chi biết Khê Kinh Kha là một thi sĩ tôi yêu; từ khi đọc thơ anh đăng rải rác trên các tạp chí văn học hải ngoại.Tôi nuôi trong tôi những câu thơ bóng bảy đầy đủ hai khía cạnh quê hương và tình người. Cũng từ đó tôi khám phá thêm một tài năng khác của anh; đó là âm nhạc, làm tôi sững sờ, bởi giòng nhạc của Khê Kinh Kha, một lần nữa; đã lôi cuốn người nghe hấp dẫn, đam mê và gợi nhớ. Ban đầu đọc thơ anh làm, nghe nhạc anh soạn cứ ngỡ như một tài nhân trẻ tuổi nhưng khi biết đến anh thì chúng tôi ở cái tuổi “cổ lai hy” vì thế mà thi nhạc Khê Kinh Kha, có lẽ;”lục thập ngôn bất nghịch nhĩ” nên đến với người đọc (dể ngâm) người nghe (dể hát) qủa không ngoa!

Và; dần dà chúng tôi quen nhau, trao đổi văn thơ họa nhạc đi tới cảm thông hài hòa, mặc dù chúng tôi chưa một lần gặp nhau rồi trở nên thân quen như đã thân quen âu cũng là duyên tình văn nghệ.

Thơ KKK đã làm tôi xúc động, nhạc của anh làm tôi bồi hồi, thôi thúc đưa tôi về với ba”thì” hiện tại, qúa khứ, vị lai, một âm hưởng nhạc lạ kỳ,  trộn lẫn một âm giai tuyệt vời giữa không gian và thời gian. Mà trong mỗi thì chứa đựng một quê hương và tình người. Tôi vốn yêu nhạc họ Trịnh, Ngô Thụy Miên, nhạc KKK phản phất tiết điệu đó, không phải anh chịu ảnh hưởng của họ nhưng nguồn cảm hứng dâng trào đụng phải nhau là chuyện thường tình; thế thôi.    Tiếp tục đọc

*** ĐỨC MẸ LỘ ĐỨC

Thư viện của bài

This gallery contains 1 photo.

ĐỨC MẸ LỘ ĐỨC

Lộ Đức (Lourdes) là một tỉnh nhỏ khoảng 6000 dân nằm giữa thung lũng Pyrênê, gần suối Gave. Hôm ấy là ngày 11 tháng 2 năm 1858. Trời lạnh lẽo. Vào buổi trưa, Bernadetta, cô gái 14 tuổi vui tươi, thiếu ăn và quê mùa cùng với mấy người bạn đi lượm củi khô ở bờ suối Gave.

Bỗng một bà mặc đồ trắng hiện ra với cô, trên một tảng đá bao quát cả hang Massabielle. Vừa sợ lại vừa vui, cô lần chuỗi và không dám tới gần theo lời Bà mời.

Chẳng ai muốn tin cô. Bị rắc rối chính cha mẹ cô không muốn cho cô trở lại hang đá nữa. Nhưng có một sức hấp dẫn lạ kỳ nào đó. Cô trở lại hang đá. Các cuộc thị kiến vẫn tiếp diễn. Bà lạ nói chuyện và kêu gọi cầu nguyện, rước kiệu và xây dựng một đền thờ tại đây. Tiếp tục đọc

*** Chầu Hát Ả Đào Giữa Cánh Đồng

Thư viện của bài

This gallery contains 1 photo.

NGUYỄN CAO QUYỀN

Trần Đức Thảo Và Chầu Hát Ả Đào Giữa Cánh Đồng

Tháng 5 năm 2016

Trần Đức Thảo tiến sĩ triết học, khi còn ở bên Pháp, danh tiếng đã một thời ngang ngửa với J.Paul Sartre. Vậy mà, khi về Việt Nam, đã bị Hồ Chí Minh ghen tị, loại ra bên lề xã hội. Gần 40 năm gian khổ, sống dở chết dở, ông đã phải đi chăn bò để kiếm sống và sau cùng đã phải nhường cả người vợ yêu qúy cho một người bạn vì không có khả năng nuôi dưỡng. Ông không bị chết đói nhưng đã trở thành nửa điên nửa khùng như chúng ta đều biết.

Tuy nhiên trong những năm dài khốn khổ dù sao ông cũng giữ lại được một kỷ niệm khó quên về một thú vui lén lút mà ông kể lại như sau. Xin qúy độc giả đọc tiếp.

Một chầu hát ả đào giữa cánh đồng

Ông Thảo kể : một lần ông được nhà văn Nguyễn Tuân mời đi ăn cơm Tây và sau đó dẫn ông đi hát ả đào. Dưới thời Hồ Chí Minh thì dĩ nhiên đây phải là một phiên hát chui hát lậu.
Địa điểm là một nhà chòi có cót che kín mít nằm ở giữa một cánh đồng lớn mới gặt xong. Thảo được đưa tới và ngồi chờ ở đó. Một lát sau Nguyễn Tuân trở lại với bốn năm người khác, mỗi người ôm một cái túi khá lớn.
Tiếp tục đọc

*** SINH NHẬT THI HÀO NGUYỄN DU

Thư viện của bài

This gallery contains 1 photo.

Nguyên Lạc

Hôm nay ngày 3 tháng 1 là ngày sinh của thi hào Nguyễn Du (1766).
Để tưởng niệm ngài, Nguyên Lạc tôi post lại vài bài thơ ngắn chữ Hán của ông và bản phóng dịch

SƠ LƯỢC TIỂU SỬ NGUYỄN DU
Sinh: 3 tháng 1, 1766, Bích Câu, Thăng Long.
Mất: 16 tháng 9, 1820 (54 tuổi) Huế.
Bút danh: Tố Như, Thanh Hiên, Hồng Sơn lạp hộ, Nam Hải điếu đồ.

Nguyễn Du đã để lại một di sản văn chương đồ sộ với những tác phẩm kiệt xuất, ở thể loại nào ông cũng đạt được sự hoàn thiện ở trình độ cổ điển.

Thơ chữ Hán: Nguyễn Du có 3 tập thơ: Thanh Hiên thi tập, Nam trung tạp ngâm, và Bắc hành tạp lục.
Tiếp tục đọc

*** Khối Tinh Thần Ngô Đình Diệm Toàn Cầu

Thư viện của bài

This gallery contains 1 photo.

Nguyễn Anh Tuấn Tuyên Ngôn Của Khối Tinh Thần Ngô Đình Diệm Toàn Cầu Trước tình thế cực kỳ sôi bỏng hiện nay đang diễn ra trong quốc nội; trước tinh thần quật khởi truyền thống rất dũng mãnh của … Tiếp tục đọc

*** “Hương Trinh Đã Tan Rồi!”

Lê Hữu

Hương Trinh Đã Tan Rồi!

Em không đi nữa
Em về ôm quê hương mình
(thơ Minh Đức Hoài Trinh)

“Hương trinh đã tan rồi!” câu hát ấy ở trong bài hát “Kiếp nào có yêu nhau” (1958) của nhạc sĩ Phạm Duy, phổ từ bài thơ cùng tên của Minh Đức Hoài Trinh. Câu hát nghe thật buồn. Có điều là, trong bài thơ được phổ nhạc không hề có câu ấy, không hề có “hương trinh” nào cả.

 “Hương trinh đã tan rồi!” là một trong những câu người nhạc sĩ tự ý thêm vào, một cách cố ý, khi phổ nhạc bài thơ ấy. Sao gọi là “một cách cố ý”?

Trên những tờ nhạc xưa cũ, bên dưới cái tựa bài hát ấy, người ta đọc thấy: “Thơ: Hoài Trinh, nhạc: Phạm Duy”, hoặc “Thơ: Hoài Trinh, Phạm Duy soạn thành ca khúc”.
Một bài thơ khác cùng tác giả cũng được Phạm Duy phổ nhạc, người ta nghe được:

Ðừng bỏ em một mình
một mồ trinh
chênh vênh chờ cỏ xanh 
(“Đừng bỏ em một mình”, Phạm Duy & Hoài Trinh)

Người ta cũng nghe được, trong một bài quen thuộc của Phạm Duy:

Rước em lên đồi xanh
Rước em lên đồi trinh
(“Cỏ hồng”, Phạm Duy)

Hương trinh, mồ trinh, đồi trinh… Nếu chỉ là ngẫu nhiên, hẳn sẽ là một ngẫu nhiên thú vị khi nghe thêm một bài Phạm Duy khác:

Người xây ngục tối / tình yêu lừa dối
Giọt mưa tìm tới / để chia lầm lỗi
với người hoài trinh
(“Nước mắt mùa thu”, Phạm Duy) 

Câu ấy từng được nghe, được hát nhiều lần nhưng liệu có mấy ai hiểu được những tình ý trong câu hát.
“Hương trinh đã tan rồi”, đâu chỉ câu hát ấy, những câu nào nữa cũng được người nhạc sĩ thêm vào khi phổ nhạc bài thơ “Kiếp nào có yêu nhau”:

Đôi mi đã buông xuôi / Môi răn đã quên cười  
Xa nhau đã xa rồi / Quên nhau đã quên rồi…

Những câu hát ấy, lạ một điều, nghe rất “thơ” (“Môi răn đã quên cười”, chẳng hạn), là những câu được thêm vào hoặc để đáp ứng cấu trúc của bài nhạc, hoặc do bài thơ ngắn, cô đọng, cần “nối” thêm ý. Những câu hát này, hay những “câu thơ Phạm Duy” này, chảy xuôi chiều với mạch thơ và phù hợp với tổng thể của bài thơ.

Đến cả lời thơ cũng được thay đổi câu, chữ, vừa để tạo nhạc tính vừa để tương ứng với âm vực thấp cao, trầm bổng của nốt nhạc:

“Trăng mùa thu gãy đôi”  đổi thành  Trăng thu gãy đôi bờ
“Chim nào bay về xứ”  đổi thành  Chim bay xứ xa mờ
“Hoa đời phai sắc tươi”  đổi thành  Hoa xanh đã bơ vơ
“Đêm gối sầu nức nở”  đổi thành  Đêm sâu gối ơ thờ

Những đổi thay này vừa giữ lại được ý thơ vừa nghe cũng rất “thơ” nữa (“Trăng thu gãy đôi bờ”, chẳng hạn).

Tâm hồn nhạc sĩ Phạm Duy vốn nhạy bén với thơ, dễ bắt được những tần số rung động của thơ, ông đã thực sự chắp cho bài thơ “đôi cánh nhạc”. 

“Nếu không có nét nhạc thần tình của Phạm Duy,” tác giả bài thơ được phổ nhạc nói, “‘Kiếp nào có yêu nhau’ sẽ chẳng có được sức sống mãnh liệt đến như thế.”

“Kiếp nào có yêu nhau” không dễ hát và càng không dễ hát cho hay. Thái Thanh, giọng hát vẫn được xem là gắn liền với nhạc Phạm Duy, cũng gắn liền với bài hát này. Những giọng ca sĩ khác, mỗi giọng có cách thể hiện riêng; thế nhưng, với nhiều người yêu nhạc và yêu bài hát này, Thái Thanh vẫn là giọng hát thể hiện được trọn vẹn nỗi niềm, tình ý của bài nhạc.

Nghe Thái Thanh là nghe tiếng lòng thổn thức của trái tim đầy thương tích, là nghe trộn lẫn những tình cảm tiếc thương buồn tủi, chua xót đắng cay, giằng xé giày vò của duyên kiếp lỡ làng, của tình yêu muộn màng, vô vọng.

Giọng hát rã rượi, như phả hơi thở cảm xúc vào từng lời từng chữ, từng nốt nhạc, thể hiện nỗi đau xót đến tột cùng.  Bài hát cuốn hút người nghe ở những chuyển đoạn đột ngột đầy kịch tính, từ khắc khoải, rời rạc đến gấp gáp, vội vàng, từ những nốt thật trầm vươn đến những nốt thật cao, đẩy mạch cảm xúc lên đến tột độ.

Đừng nhìn em! Đừng nhìn em nữa…, anh ơi!
Những nốt nhạc rướn lên, não nuột.
Anh đâu, anh đâu rồi? Anh đâu, anh đâu rồi?!…
Những nốt nhạc chùng xuống, rã rời.
Nước mắt đã… buông rơi
theo tiếng hát… qua đời

Nghe câu hát ấy, nghe giọng hát ấy, không ai mà không nghe tim thắt lại.
Đừng nhìn nhau nữa…, anh ơi!…

Những nốt nhạc lại rướn lên ở câu kết (coda) với chuỗi ngân thảng thốt tạo cảm giác hụt hẫng, như một nỗi tiếc nuối không nguôi, một kết thúc chưa tròn vẹn.

Cái hụt hẫng và kết thúc chưa tròn vẹn ấy cứ mãi đeo bám, đè nặng lên trái tim người nghe, như một nỗi ám ảnh, dằn vặt, tựa ngấn nước mắt vẫn còn đọng lại trên khuôn mặt nhạt nhòa.

  Ban Giám Khảo Giải Văn Chương Học Đường VNCH (Saigon, 1974)
– Từ trái: Nhân viên Nha Sinh Hoạt Học Đường, Phạm Long Điền, Nguyễn Mộng Giác, Minh Đức Hoài Trinh, Bình Nguyên Lộc, Minh Quân, Lê Tất Điều, Võ Phiến (Ảnh: nguyenmonggiac.com)

Có thể dẫn ra một đoạn trong bài phân tích về nhạc thuật của “Kiếp nào có yêu nhau”, được nhạc sĩ Phạm Duy khá “tâm đắc” lúc sinh thời:

“… Cấu trúc thơ đã được đẽo gọt lại để hợp với cấu trúc nhạc. Tôi đoán rằng nhạc sĩ đã ngân nga được cái motif ‘Đừng nhìn em nữa anh ơi’ và cái motif cân bằng thứ hai là ‘Hoa xanh đã phai rồi / Hương trinh đã tan rồi’, và chọn nó làm sườn bài chính của nhạc khúc. Cái cấu trúc này rất logic, nó khởi đầu bằng một câu tán thán với một cung nhạc rải vút lên (arpeggiated) ‘Đừng nhìn em nữa anh ơi’, rồi chứng minh ngay lời cầu khẩn đó bằng hai câu nhạc tương tự nhau là ‘Hoa xanh đã phai rồi’ và ‘Hương trinh đã tan rồi’…

Sang phần hai của phiên khúc, ta thấy nhạc sĩ đã làm tăng kịch tính của câu nhạc bằng cách khéo léo nhắc lại motif nhưng với một biến thể là thêm vào ba nốt ‘Đừng nhìn em (Là Mi Lá)’ trước khi lên đến nốt Mí rồi trả lại nốt Ré, rất phù hợp với lời nhạc có tính cách van xin, vì có ai van xin một câu rồi thôi?” (1)

Chỉ một vài nét phác ấy đủ cho thấy “tay nghề” phổ thơ của “nhà phù thủy âm nhạc” Phạm Duy, như cách người ta vẫn gọi ông.

Đến nay nhiều người vẫn còn nhớ giọng hát rưng rưng của Thái Thanh và “Kiếp nào có yêu nhau” trong vở kịch “Áo người trinh nữ” trình diễn trên Đài Truyền Hình Việt Nam (1967), đã lấy đi không ít nước mắt của khán giả.

Gần đây, cũng bài hát ấy, cũng giọng hát ấy đã mê hoặc và truyền cảm hứng cho một đạo diễn điện ảnh người Mỹ gốc Việt, Dustin Nguyễn, để thôi thúc anh thực hiện một phim tình cảm lãng mạn ở trong nước. “Bao giờ có yêu nhau”, tên phim, mượn từ một câu hát trong bài hát ấy.  “Kiếp nào có yêu nhau”, nhạc phim chính, và giọng hát đầy ma lực của Thái Thanh đã “hớp hồn” nhiều khán giả trẻ lần đầu tiên nghe được ca khúc ấy, khiến phải đi tìm cho bằng được bài hát và giọng hát này để được thưởng thức trọn vẹn. Rõ ràng là trước giờ tuổi trẻ trong nước chưa hề nghe được bài hát nào, giọng hát nào như thế.

“Tôi chọn ca khúc ‘Kiếp nào có yêu nhau’ làm nhạc phim vì nội dung bài hát quá phù hợp với chuyện phim,” người đạo diễn trẻ tâm sự. “Ca khúc bất hủ ấy không chỉ nói về kiếp người, sự luân hồi, mà còn khắc họa cả câu chuyện tình bất hạnh, tiếc nuối. Bên cạnh đó, giọng ca của nghệ sĩ Thái Thanh mang màu sắc liêu trai, ám ảnh và cực kỳ ma mị. Ca khúc này được lồng ghép vào phim chắc hẳn sẽ chạm được đến trái tim khán giả.”

Đối với nhiều người ở trong nước, đấy là bài hát “mới”, hiểu theo nghĩa mới được nghe lần đầu.
Bài hát, như thế, có đến hai đời sống, cách nhau đến hơn nửa thế kỷ.
“Kiếp nào có yêu nhau” phù hợp với giọng nữ hơn là giọng nam. (Vài nam ca sĩ tự ý đổi lời bài hát từ “em” sang “anh” nghe khá… phản cảm, khi mà những “hoa xanh” và “hương trinh” chỉ dành cho người nữ:

Đừng nhìn anh! Đừng nhìn anh nữa…, em ơi!
Hoa xanh đã phai rồi!
Hương trinh đã tan rồi!)

Thái Thanh-Hoài Trinh-Phạm Duy, “bộ ba” này đã giữ cho lời hẹn thề “Kiếp nào có yêu nhau” của những đôi tình nhân được bền vững mãi cho đến trọn… kiếp này.

Điều đáng ngạc nhiên là, bài thơ được phổ nhạc khi tác giả còn tuổi đời rất trẻ. Người đọc tìm thấy, nhiều bài thơ, câu thơ của Minh Đức Hoài Trinh như được phủ lên một màn sương âm u, một không gian u tịch của những “chiều tha ma hoang lạnh”, những “đường nghĩa trang gập ghềnh”, những “tiếng cầu kinh văng vẳng”, những “tiếng búa nện vào đinh”, những “vòng hoa tang ủ rũ”, những “cỏ dại phủ mộ trinh”, và cả đến những “thịt xương rữa nát”, những “côn trùng rúc rỉa”, những “oan hồn lạnh lẽo”, những “bóng thuyền ma lênh đênh”…

Về phía người nhạc sĩ, những bài thơ của sinh ly tử biệt ấy mang đến cho ông sự đồng cảm sâu xa, khi mà “Tình yêu–Sự khổ đau–Cái chết” vẫn là những chủ đề, như ông bộc lộ, từng theo đuổi và ám ảnh ông không dứt. “Kiếp nào có yêu nhau”, “Đừng bỏ em một mình” và những bài thơ nào nữa của Minh Đức Hoài Trinh đã truyền cảm hứng đến ông để từ đó một loạt những ca khúc về siêu hình, tâm linh, về cái chết và nỗi chia lìa ra đời, như “Đường chiều lá rụng” (1958), “Nếu một mai em sẽ qua đời (1958), “Tạ ơn đời” (1959), “Một bàn tay” (1959), “Ru người hấp hối” (1965), “Những gì sẽ mang theo về cõi chết” (1966), “Anh yêu em vào cõi chết” (thơ Nguyễn Long, 1971), “Tưởng như còn người yêu” (thơ Lê Thị Ý, 1971), “Bài hát nghìn thu” (1988), “Người tình già trên đầu non” (1988), “Trút linh hồn” (thơ Hàn Mặc Tử, 1993)…

Đến nay thì cả hai, người nhạc sĩ lẫn người thi sĩ đều đã đi về một thế giới khác. Và tiếng hát người ca sĩ, từ lâu cũng lặng tiếng, im hơi.

***

“Anh còn có dịp đi qua
thăm giùm em với, căn nhà thân yêu
Hôn giùm em những buổi chiều
Nói giùm em, nói rất nhiều xót xa” (2)

Người viết những câu lục bát ấy đã đi xa. Lời thơ thật tha thiết, thật xót xa. Tôi không rõ chị đi xa mãi đến đâu, thế nhưng tôi tin rằng linh hồn chị thế nào cũng về lại quê hương cũ, về ngồi lại trên thềm nhà cũ của “căn nhà thân yêu”, về hôn lên những buổi chiều vàng trên đồng lúa mênh mông, về thăm lại “màu đất đỏ đường dốc cao Bến Ngự”, (2) về nhìn lại “trăng sông Hương vằng vặc giọng hò khoan” (2) nơi thành phố đầy ắp những kỷ niệm mà một phần đời của nhà thơ còn gửi lại chốn ấy.

Tình yêu ấy, tình yêu chị gửi về quê nhà xa lắc xa lơ ấy, đến “kiếp nào” đi nữa cũng không hề nhạt phai. Dẫu “hương trinh đã tan rồi”, dẫu hoa đời có “phai sắc tươi” thì tình vẫn cứ xanh cho đến “tận ngàn sau”. Không phải là bài hát ấy đã nói như thế sao?

Minh Đức Hoài Trinh, chị không đi xa (như cách người ta vẫn nói), chị trở về. Một con người yêu đất nước yêu quê hương đến như chị, yêu đến nâng niu từng kỷ niệm như chị thì không thể nào không trở về. 

Trở về như cánh “chim nào bay về xứ”. (2) Trở về như những câu thơ:

“Trở về thành phố của màu rêu tuổi nhỏ
vẫn còn nghe trong gió
bầy chim sẻ trên nóc chuông nhà thờ
gọi tên rất khẽ
Hoài Trinh”
(“Quê Nhà”, thơ Minh Đức Hoài Trinh)

Và những câu thơ nào nữa, trong những bài thơ “trở về” nào nữa:

“Em về ôm lửa
Em về ôm anh
Em không đi nữa
Em về ôm quê hương mình”.
(“Em về ôm quê hương mình”, thơ Minh Đức Hoài Trinh)

Lê Hữu
9/9/2017

(1) Học Trò: Vài cảm nghĩ về “Kiếp Nào Có Yêu Nhau”, thơ Hoài Trinh, nhạc Phạm Duy
(2) Thơ Minh Đức Hoài Trinh

*** Những Tác Phẩm Cuối Cùng Của Khái Hưng

Trọng Đạt

Tưởng Niệm 70  Năm Nhà Văn Khái Hưng Bị Việt Minh Thủ Tiêu Tại Bến Đò Cựa Gà, Làng Ngọc Cục, Nam Định Vào Đêm Giao Thừa Năm Mới Đinh Hợi (21-1-1947).  

Khái Hưng tên thật là Trần Khánh Giư, sinh năm 1896 tại Cổ Am, Vĩnh Bảo Hải Dương , thuộc thành phần gia đình quan lại, con cụ Tuần phủ Phú Thọ, bố vợ là Tổng đốc Bắc Ninh, anh  ruột nhà văn Trần Tiêu. Khái Hưng theo học trường Lycée Albert Sarraut, HàNội, đậu tú tài ban cổ điển, ông cũng uyên thâm Hán học.

Ông tham gia hoạt động cách mạng giành độc lập 1940. Năm sau 1941, các đảng viên Đại Việt Dân Chính như Khái Hưng, Hoàng Đạo  bị Pháp bắt giam tại nhà lao Vụ Bản thuộc tỉnh Hòa Bình, đó là một vùng nước độc. Năm 1943 ông được tha, bị quản thúc tại Hà Nội. Nhật đầu hàng đồng minh tháng 8 năm 1945. Các nhà cách mạng lưu vong bên Tầu kéo về nước, Khái Hưng và Nguyễn Tường Bách giữ nhiệm vụ tuyên truyền cho Việt Nam Quốc Dân Đảng. Việt Minh cướp chính quyền ngày 19 tháng 8 năm1945, sau khi thành lập chính phủ liên hiệp, họ bất ngờ tấn công các trụ sở Quốc Dân Đảng, tiêu diệt các thành phần Quốc Gia.

Pháp tấn công Hà Nội, Khái Hưng tản cư về làng Lịch Diệp quê vợ,  bị Việt Minh bắt đưa đi thủ tiêu nửa đêm 21-1-1947, tức giao thừa Tết Nguyên đán Đinh Hợi.  Trong hai năm 1945, 1946 ông sáng tác một số truyện ngắn và kịch đăng trên tuần báo Chính Nghĩa. Năm 1966 ông Nguyễn Thạch Kiên đã cho xuất bản các tác phẩm ấy tại Sài Gòn và năm 1997 tại California, Hoa Kỳ nhân dịp kỷ niệm năm mươi năm Khái Hưng bị Việt Minh thủ tiêu,  Nguyễn Thạch Kiên đã cho in lại trong một bộ sách hai tập lấy tên Kỷ Vật Đầu Tay Và Cuối Cùng, nhà xuất bản Phượng Hoàng.

Đây là những truyện ngắn và những vở kịch cuối cùng của Khái Hưng, của Tự Lực Văn Đoàn . Bốn cây viết chính của văn đoàn gồm Khái Hưng, Nhất linh, Thạch Lam, Hoàng đạo. Nhưng lúc này chỉ còn một mình Khái Hưng, Thạch Lam chết bệnh năm 1943, Nhất Linh, Hoàng Đạo lưu vong sang Tầu, Khái Hưng sáng tác một mình.

Những tác phẩm cuối cùng của ông cũng là những áng văn tuyệt tác của một cây bút già dặn, những tâm tư của một nhà cách mạng chân chính trước cảnh cốt nhục tương tàn của cuộc chiến  Quốc -Cộng đang diễn ra. Các truyện ngắn gồm: Bóng Giai Nhân, Lời Nguyền, Hổ, Tây Xông Nhà, Quan Công Xứ, Nhung, Khói Hương, Người Anh Hùng, Tiếng Người Xưa và ba vở kịch: Câu Chuyện Văn Chương, Khúc Tiêu Ai Oán, Dưới Ánh Trăng. Vì phạm vi giới hạn chúng tôi xin được đề cập một số truyện chọn lọc.

BÓNG GIAI NHÂN 

Xin sơ lược 

“Trên một chiếc ô tô chở chính trị phạm lên Vụ Bản, Khanh một tù nhân nhớ lại những chuyện cũ tại trại giam sở Liêm Phóng: Phòng giam hôi hám, tối tăm, chàng đi bộ cùng các bạn tù tới nhà ga, những lời kêu khóc của thân nhân đi tiễn. Nhưng một kỷ niệm mà hắn khó quên lóe lên trong ký ức: Bóng giai nhân, một bạn gái bị giam ở xà lim bên cạnh trong thời gian hai mươi bốn tiếng đồng hồ “Sà lim 18’’, tên của giai nhân, cả trại đều ghi nhớ nàng bị giải đi đâu không biết.

Thế rồi một buổi sáng người ta dẫn vào một lô tù mới, trong đó có một thiếu nữ ăn mặc quê mùa rách rưới. Khanh và mọi người hỏi lính gác được biết cô gái bị giam ở đây nay là lần thứ ba. Lần thứ nhất cô là nữ học sinh tân thời, lần thứ hai cô giả trai, và lần này cô giả nhà quê. Tội của cô là “ làm cách mạng”’, từ lúc ấy thiếu nữ chiếm hết lòng sùng kính của trại giam.

“Sà lim 18’’là một cô bé nhỏ nhắn xinh xắn, cặp mắt sáng, môi tươi, mặt trái soan, nước da nhỏ mịn. Anh em tới tấp chạy lại để ngó qua lỗ cửa hỏi thăm tin tức, thiếu nữ tươi cười yên lặng. Lần trước nàng đã trốn trại sau bị bắt lại, các anh em cách mệnh cho quà bánh, nàng đã ôn tồn nói chuyện với mọi người. Khanh hay đến thăm nàng, chàng tưởng mình được nàng lưu ý nhất. Bóng giai nhân chỉ chỉ thoáng hiện nơi trại giam như tia nắng hé ra giữa khoảng trời mây đen. Khanh thở dài nghĩ thầm ước gì ta gặp nàng lần nữa rồi bị tù chung thân cũng cam! .

Đó chỉ là chuyện hồi tưởng, xe đã tới Vụ Bản, tại đây chiều chiều nhìn dẫy Hoành Sơn chàng ta mơ mộng tới hình ảnh bất diệt của giai nhân không bao giờ trở lại. Trại giam cho phép một cô gái gánh hàng tạp hóa vào sân trại bán, Khanh nhìn cô bán hàng mơ tưởng tới bóng giai nhân. “ 

Bằng lối hành văn bay bướm, điêu luyện, Khái Hưng đã tạo lên một bầu không khí thật lãng mạn trong một đề tài chính trị, cách mệnh. Một giai nhân xinh đẹp, người nhỏ bé, đôi mắt sáng, cặp môi tươi, mặt trái soan mà các anh em tù thường gọi là ‘Sà Lim 18’, nhưng nàng còn đẹp tuyệt vời hơn nữa vì nàng làm cách mạng cứu quốc vào tù ra khám ba lần, đã được sự sùng kính của toàn thể trại giam.

Khái Hưng tạo nên một chàng cách mạng dạt dào tình cảm, ông cũng tạo nên một không khí lãng mạn tuyệt vời. Chàng cách mạng chăm chỉ đến thăm giai nhân, tặng quà bánh và tưởng là được nàng lưu ý nhất! giữa cảnh núi đồi trùng điệp chàng cứ ngồi thẩn thơ mỗi chiều để gửi lòng yêu tới tận phương xa, mơ màng nghĩ tới người gặp gỡ trong những ngày ngắn ngủi và không bao giờ quên được nàng, đó là hình ảnh bất diệt của giai nhân không bao giờ trở lại, Khái Hưng kết luận. 

“Rồi đây, những lúc cách mệnh tha thiết gắt gao lên tiếng gọi, y  sẽ cảm thấy lòng tự tin, lên đường xông pha trong gian khổ với bóng giai nhân huyền ảo gặp gỡ giữa cảnh lao tù”. 

 

LỜI NGUYỀN 

Xin sơ lược 

“Đồn Vụ Bản chót vót trên ngọn đồi cao. Khanh , tù nhân chính  trị, một hôm ra suối lấy nước, gặp người lính kèn, hắn ta bảo ‘Phải , một lời nguyền! !

Trong đám dân kinh bên phố, lính bên đồn, anh em tù chính trị trong trại thỉnh thoảng lại có người giã từ cõi nhân gian về miền cực lạc. Khanh cảm thấy sự việc như có liên quan đến lời nguyền ghê gớm của người xưa. Một hôm người lính kể lại cho chàng chuyện ấy.

Đồn Vụ Bản là một trong những đồn binh kiên cố theo chương trình thống trị, nó án ngữ đường Nho Quan – Ninh Bình, nó cũng có thể kiểm soát hành động của những ông quan lang có oai quyền. Vì vậy viên quản mà người Pháp cho về coi đồn là người thật hách. Trước đây có một ông quản tên Tăng, được giữ chức trưởng đồn, ông hách dịch bệ vệ, nằm giường Hồng Kông, ăn cơm tây. Mỗi lần sang phố ông đeo huy chương đầy ngực. Tay cầm roi da, dắt chó tây to kếch sù. Tụi trẻ thường bảo:  -Quan Quản!

Quan là chúa tể vùng này: Nào thu thuế chợ, thuế đò, thuế thân. Dần dần thành ‘quan đồn’ và thành ‘cụ lớn’. Bao nhiêu người lễ lạc quà cáp cho cụ. Nhậm chức mới hai tháng, Cụ Lớn lấy cô nàng hầu người Kinh, con thương gia và hai nàng hầu người Mường nữa.

Quan thường ‘nổ’ với mọi người là Quan và và Bà Lớn đều là con nhà thế gia đại tộc, cụ thân sinh ra Quan và Bà Lớn toàn là Tổng đốc, Tuần Phủ  cả! . Có lần ông Quản bịa ra một lô truyện tả cái gia thế nhà mình: Cụ Cố, quan lớn về hưu thích chè tầu, tổ tôm, còn Bà Lớn trông coi mấy trăm mẫu ruộng!

Thế rồi một buổi sáng, một ông già tóc hoa râm và người đàn bà trạc ngoài ba mươi. Cả hai đều quê mùa cục mịch: ông lão quần nâu sắn đến đầu gối, người đàn bà mặc áo tứ thân mầu nâu, váy chồi đen. Họ hỏi đường sang đồn, qua phà, sang sông, leo dốc, lên đồi. Khi tới nơi cuối dốc, người lính canh quát:

-Hai người nhà quê hỏi ai?

-Chúng tôi vào thăm ông Quản!

-Vào hầu quan có việc gì?

-Bẩm chúng tôi là người nhà! 

Người lính cho người vào trình quan rồi hỏi. 

-Có họ hàng thế nào với quan?

-Ông cụ sinh ra quan và vợ quan!

Lúc ấy ông Quản đứng trong sân bảo:

-Đuổi cổ chúng nó ra! 

Nhân lúc cổng đồn mở, ông cụ và người đàn bà xông vào sân kêu:

-Tăng, Anh Tăng! 

Ông Quản quát mắng:

-Đồ nhà quê! bay đâu tống cổ chúng nó ra! 

Bọn lính tống cổ hai người ra. Ông lão và con dâu lẳng lặng ra về, đến bờ sông bên giòng nước chảy ào ào, ông lão thốt lời thề nguyền độc địa:

“Từ nay đứa nào còn lên đây thăm chồng con thì chết như thế này”. 

Rồi ông nhảy xuống sông tự tử. Từ đó lời nguyền vẫn thiêng lắm, những ai lên đây thăm chồng, thăm con về ốm đau nặng rồi chết.”

Một ông quản lỡ lời ‘nổ zăng miểng’ với mọi người về gia thế nhà mình, cháy nhà ra mặt chuột, khi ông cụ và mẹ đĩ lên thăm thì xấu hổ sai lính đuổi không nhận là bà con.

Theo ông Trần Ngọc, trong cuốn Kỷ Vật Đầu Tay Và Cuối Cùng, Khái Hưng viết truyện này để diễn tả cái chủ trương ‘vô gia đình’ của những người độc quyền yêu nước, từ chối bà con ruột thịt, và như vậy tác giả đã nguyền không bao giờ còn liên hệ với các ‘đồng chóe’ vô gia đình vô tổ quốc ấy.

Một truyện ngắn gọn đơn sơ mang mầu sắc huyền bí ghê rợn, ý nghĩa thật là sâu sắc, nó thể hiện cái phi nhân bản của những người tự cho là vị tha yêu nước. Độc giả như thấy hiện ra một vùng rừng thiêng nước độc với một lời nguyền ghê gớm. 

HỔ 

Xin sơ lược

“Bảy Hai, người lính gác trên chòi cao một trại tù. Hắn đã hai lần đánh mõ tre đáp lại tiếng khánh sắt cầm canh bên  đồn. Hắn buồn ngủ muốn ríu mắt mà không dám ngủ vì sợ đội Giới phạt. Đội Giới thù ghét Bảy hai vì một truyện nhỏ tại sòng bài tối qua. 

Tối nay, dưới ánh trăng mờ, Bảy Hai ngắm cảnh để quên đi giấc ngủ, hắn chợp mắt được vài phút rồi choàng tỉnh, linh tính báo cho biết có chuyện gì ghê gớm. Hắn trông thấy một vật gì như con bò đang tiến về phía mình , tới lưng chừng đồi nó dừng lại rẽ sang phía nam, một lúc sau nó tiến về phía Bảy Hai, hắn nhận rõ đó là con hổ lực lưỡng, to béo đang  từ từ tiến lại. Bẩy Hai hồn vía lên mây xanh không dám động tịnh. Con hổ lực lưỡng tới chân thang chòi dừng lại rồi nằm xuống, Bảy Hai không dám cựa quậy, hắn chỉ sợ nó vùng dậy chồm lên đạp đổ cột chân chòi gác  làm thịt mình, hắn định bắn mà không dám, chỉ sợ trật hay bắn bị thương nó thì vô cùng nguy hiểm, hắn biết rằng nó chỉ chống lại người, tấn công người khi có ý định giết nó. 

Tiếng khánh bên đồn và tiếng mõ tre các chòi canh vang lên, Bảy không dám đánh, hắn nghĩ nếu mai có bị phạt cũng ráng chịu vì nếu gây tiếng động bây giờ là toi mạng. Không nghe thấy tiếng mõ của Bẩy, Đội Giới bèn lại chòi canh của hắn để rình bắt quả tang Bẩy ngủ gục trong canh gác để phạt trả thù. Bẩy Hai bắt đầu lo cho tính mạng của Đội Giới, hắn vụt quên mối thù để nghĩ tới tai họa do một loài khác tàn ác gây ra. Lòng nhân đạo tự nhiên sống dậy, hắn nghĩ tới cách cứu mạng một người, tiếng chân người nghe lạo xạo, con hổ vẫn nằm im lìm. Bẩy Hai hoảng hốt thét lớn.

-Đứng lại, có hổ đấy! có hổ! con hổ chạy biến mất, người cũng chạy biến đi.” 

Khái Hưng lấy truyện người gác tù (lính Tây) có tình thương đồng bào để ám chỉ tình thương của người quốc gia đối với kẻ thù khi tai họa sảy ra. Dù là người mình thù ghét, ta vẫn có thể quên đi mối hận để cứu họ vì tình đồng loại, cái mà ông gọi là lòng trắc ẩn, tình nhân đạo.

“Mối thù y vụt quên để chỉ nghĩ tới tai nạn xảy đến cho kẻ đồng loại do một loài khác, một loài tàn ác gây lên. Lòng trắc ẩn, tình nhân đạo đến với y một cách tự nhiên, một cách ngẫu nhiên .Y không lý luận nữa, không cân nhắc nữa , chỉ tìm cách cứu sống một con người thoát khỏi nanh vuốt một con vật”. 

Thánh Ghandi đã nói chúng ta có thể chiến thắng bằng tình thương.

NHUNG

Xin sơ lược. 

Sinh là con trai của bà Đồ, một thanh niên hư hỏng, rượu chè, cờ bạc. Là con một ông Cử, chị em bà đều lấy chồng con nhà nho, nhưng chị bà lấy ông Thượng Nguyễn đỗ đạt làm quan, còn chồng bà chỉ là ông đồ nghèo kiết. Chị bà có giúp bà nhiều phen, nhận nuôi Sinh cho cùng đi học với con mình, rồi chồng bà chết, chị bà chết, ông Thượng Nguyễn (anh rể) lấy vợ khác, bà vợ này có con gái tên Nhung. Ông Thượng bạc đãi Sinh nên anh bỏ về với mẹ, đã hai mươi tuổi, anh học không hay, nghề không có, cờ bạc phá của, khiến gia đình ngày càng thiếu hụt. 

Sinh oán thù ông Thượng và gia đình ông. Hồi chị của mẹ hắn ( bà Cả Thượng) còn sống, bà coi hắn như con, mua sắm đủ thứ, và nay bị đối xử bạc bẽo, hắn cho là hai mẹ con Nhung gây lên rồi oán ghét gia đình ông Thượng, hắn oán ghét tất cả xã hội quan lại, hào phú, trưởng giả, hắn tìm ra đủ tội lỗi đê tiện, xấu xa. Sinh có quan niệm về xã hội loài người: Loài người chia làm hai giai cấp: Giai cấp nhiều quyền lợi và giai cấp không có quyền lợi. Hắn nghĩ tới cách giải quyết vấn đề cho những người ở giai cấp thua thiệt; hắn lười biếng, hư hỏng nhưng chỉ muốn cải tạo xã hội, hắn cương quyết phá hoại phe địch, hắn đi nói xấu bọn nhà giầu như ông Thượng, người đã nuôi hắn, cho hắn nếm mùi phú quí rồi ném hắn xuống đất đen cho thấm thía chênh lệch bất công, hắn tuyên truyền bôi nhọ bọn phú hào rằng chúng đã xây đắp hạnh phúc trên xương máu quần chúng. 

Khi ấy xẩy ra vụ cướp nhà ông Thượng Nguyễn, người ta đoán chắc Sinh có dính líu vụ này vì dinh cơ kiên cố rộng rãi ấy nếu không có người thuộc đường như Sinh chỉ lối thì cướp không thể vào được. Sinh bị bắt, người làng vui cười, họ cho là hắn đáng tội vì hắn căm thù gia đình ông Thượng ghê gớm. Hôm cướp vào nhà, ông bà Thượng đi vắng, người nhà chạy trốn thoát, duy chỉ có Nhung bị bắt. Về sau bọn cướp bị quan nha bắt, người ta kêu Nhung đến nhận diện chúng. Nàng nhận diện hết mọi tên trừ Sinh , có người nghĩ Sinh vô tội, có người cho là Nhung thương hại hắn vì chính bọn cướp cũng khai Sinh là đồng lõa.

Vụ cướp bẵng đi một thời gian, người ta lại bàn tán đến chuyện mới sảy ra: Sinh tự tử trong buồng để lại bức thư tuyệt mệnh gửi Nhung.

B… ngày 1940  

Em Nhung. 

Đây là một bức thư dài dòng văn tự, Sinh cho biết mẹ hắn là em bà Thượng cả (mẹ Nhung là bà hai) không phải là gì Nhung, hắn và nàng không có họ hàng với nhau, ví thử có lấy Nhung làm vợ cũng không sao. Từ ngày được thả về, trí óc hắn rối ren, nay quyết định chết nên rất bình tĩnh, khi Nhung nhận thư này Sinh đã là cái xác không hồn. 

Lúc thì hắn xưng anh, lúc thì hắn xưng em, .  . hắn gửi lời vĩnh biệt, lời tạ lỗi vì đã xúc phạm Nhung trong cái đêm lịch sử ấy, Sinh thú tội với Nhung ví như một tín đồ Thiên Chúa xưng tội để trút gánh nặng trong lòng, hắn nói tội dắt cướp vào nhà bác và làm nhục một thiếu nữ chưa đáng kể. Hắn thú một tội tầy trời: thuở nhỏ được hai bác dậy dỗ nuôi nấng, sống trong cảnh giầu sang không bao giờ Sinh  thương người nghèo, có một điều mà Nhung không ngờ là hắn yêu Nhung thầm lén bao lâu nay. Nhung thì lãnh đạm, mẹ Nhung khinh rẻ hắn (bà này là bà hai, không bà con với Sinh) bởi thế hắn bỏ về ở với bà cụ, từ chỗ tư thù cá nhân biến thành thù chung của cả xã hội bị bóc lột, Sinh chỉ ao ước được trả thù cho giai cấp bị hất hủi như hắn. 

Chủ ý của Sinh là giết hai bác, làm ô nhục Nhung, tình yêu trong lòng hắn vẫn còn, khi bị bắt giam Sinh đã hối hận trước khi Nhung nhận diện, hắn nghĩ tại sao Nhung không để cho hắn chịu hình phạt lại cứu vớt hắn ra khỏi ngục thất làm chi, đối với Nhung hắn đời đời là tên khốn nạn và tự khép mình vào án tử hình.”

Bằng một truyện tình bi thảm, lãng mạn tuyệt vời, Khái Hưng đã diễn tả cái thô bạo bất nhân của đấu tranh giai cấp và hận thù giai cấp. Đấu tranh giai cấp không phải là một lối thoát để giải quyết bất công xã hội mà chỉ là biểu hiện của thú tính con người để trả thù đời bằng bạo lực đê hèn. Sinh một tên vô lại, cặn bã của xã hội, từ hận thù cá nhân đưa tới hận thù xã hội, hắn đã dùng thủ đoạn tàn bạo để giải quyết hận thù xã hội. Đó chỉ là phá hoại xã hội chứ không phải xây dựng cho xã hội tốt đẹp hơn lên, nhưng Sinh còn biết xấu hổ về cái hành động đê hèn của mình.

Đề tài của Khái Hưng trong các tác phẩm cuối cùng của ông thường xoay quanh trại tù Vụ Bản, đó là những áng văn tuyệt tác cuối cùng của một nhà cách mạng đáng kính, một chiến sĩ quốc gia yêu nước, những áng văn đã đóng góp rất nhiều cho nền văn học mới nước nhà.

Trọng Đạt

*** “Giáo Dục Giải phóng Con người”

Paulo Freire I

và chủ trương “Giáo Dục Giải phóng Con người”

 

( Paulo Freire : 1921 – 1997)

Paulo Freire sinh năm 1921 tại Brazil. Ông học Luật và Triết học, nhưng lại dấn thân vào công cuộc giáo dục đặc biệt cho giới tráng niên, nhằm gây ý thức cho đại chúng phải mạnh dạn tự giải thoát mình ra khỏi tình trạng áp bức nặng nề, tàn bạo của xã hội đương thời. Vì có tư tưởng và hành động cấp tiến như vậy, nên ông bị giới quân nhân cầm quyền bắt buộc phải sống lưu vong ở nước ngoài, từ năm 1964, mãi cho đến năm 1980, ông mới có thể trở về quê hương mình được.

trab-paulo-freire-1-638

Tại nước Chi lê, ông đã làm việc cho tổ chức văn hóa Unesco của Liên Hiệp Quốc, và Viện Cải cách Ruộng đất của chánh phủ Chi lê. Ông còn được mời tới làm việc tại Trung tâm Nghiên cứu về Phát triển và Biến đổi xã hôi thuộc đại học Harvard ở Mỹ (Center for Studies in Development and Social Change). Rồi sau này làm giám đốc chương trình giáo dục của Hội đồng Tôn giáo thế giới (World Council of Churches) tại Geneva, Thụy sĩ.

Năm 1970, ấn bản tiếng Anh “The Pedagogy of the Oppressed” (Giáo dục của Người bị Áp bức) của Paulo Freire đã gây một tiếng vang lớn trong giới giáo dục và hoạt động xã hôi khắp thế giới. Sau trên 40 năm, thì đã có hàng triệu cuốn được phổ biến rộng rãi qua nhiều lần tái bản, và hàng mấy chục bản dịch ra các thứ tiếng khác nữa. Ông là người đã cổ võ cho ý niệm “ Conscientizacao’ nguyên văn tiếng Bồ đào nha, mà bây giờ đã trở thành thông dụng khắp thế giới với tiếng Anh là “Conscientisation” (= Consciousness Raising, Critical Conciousness). Ta có thể diễn tả ý niệm này là : Sự thức tỉnh Ý thức và Suy nghĩ có tính cách phê phán.

Quả thật, chủ trương giáo dục có tính chất cách mạng triệt để của ông đã ảnh hưởng mạnh mẽ đến các phong trào giáo dục và xã hội cùng khắp thế giới. Và tư tưởng triết học của ông cũng ảnh hưởng đến nhiều ngành học thuật như thần học, xã hội học, nhân chủng học, sư phạm, ngữ học thực hành và nghiên cứu văn hóa (applied linguistics & cultural studies).

Có thể nói : Paulo Freire là một nhà tư tưởng có ảnh hưởng nhất về bộ môn giáo dục vào cuối thế kỷ XX ( the most influential thinker about education).

Bài viết này nhằm giới thiệu tư tưởng độc đáo và dứt khoát của ông. Đồng thời cũng lược qua về ảnh hưởng của tư tưởng này trong thế giới hiện đại, đặc biệt là tại các quốc gia vốn xưa kia là thuộc địa của thực dân Tây phương ở Châu Mỹ La tinh, Châu Phi và Châu Á. Để bạn đọc có thể dễ dàng theo dõi quá trình hình thành và phát triển tư tưởng của Paulo Freire, là một nhân vật tiêu biểu của trào lưu thức tỉnh và vận động xã hội tại Châu Mỹ La tinh là quê hương của ông, người viết xin được dàn trải việc trình bày trong 2 bài như sau :

Bài 1 / – Bối cảnh văn hóa xã hội của Châu Mỹ La tinh vào cuối thế kỷ XX.

Bài 2 / – Cốt lõi chủ trương “Giáo dục giải phóng” & Ảnh hưởng trong thế giới hiện đại.

I – Bối cảnh văn hóa xã hội của Châu Mỹ La tinh.

Châu Mỹ La tinh (Latin America) là khu vực nằm ở phía nam của nước Mỹ, mà xưa kia hầu hết đều là các lãnh thổ nằm dưới sự cai trị của hai nước Tây ban nha và Bồ đào nha. Hiện nay khu vực này có chừng 30 nước với tổng số dân là trên 560 triệu. Chỉ có Brazil với dân số trên 190 triệu là nói tiếng Bồ đào nha. Còn lại, thì tất cả đều nói tiếng Tây ban nha. Trừ một số rất nhỏ xưa kia là thuộc địa của Pháp, Anh, Hòa lan, thì vẫn còn nói tiếng như tại “mẫu quốc” cũ của họ.

Có tới 70% dân chúng trong khu vực theo đạo Thiên chúa giáo La mã (Roman Catholic). Và chừng 15% theo đạo Tin lành.

A – Tình trạng bất ổn trong thời kỳ chiến tranh lạnh.

Kể từ thập niên 1960 trở đi, khu vực này đã trải qua nhiều biến động về chính trị kinh tế, cũng như về mặt văn hóa xã hội thật sôi động, nhiều khi đưa đến những tranh chấp tàn bạo đẫm máu, do các chế độ độc tài thiên hữu, quân phiệt hay thiên tả gây ra. Nhiều cuộc đảo chính đã liên tục xảy ra, khiến cho xã hội luôn bất ổn định, và chế độ độc tài quân phiệt dễ có cơ hội được củng cố, và người dân bị dồn vào thế bị động, không thể hợp nhau góp phần vào công cuộc xây dựng và phát triển quốc gia được.

Lại nữa, vào giữa thời chiến tranh lạnh, nên phía Liên Xô đã tìm nhiều cách để gây ảnh hưởng của chủ thuyết cộng sản tại đây; điển hình là tại Cuba từ khi Fidel lên nắm chánh quyền năm 1959 và đã ngả hẳn về phía Liên Xô. Chúng ta hẳn đều còn nhớ việc Liên Xô cho đem thiết trí lọai hỏa tiễn tại Cuba nhằm hướng vào nước Mỹ, khiến xúyt gây nên cảnh chiến tranh giữa hai siêu cường Nga-Mỹ vào năm 1962, trước sự đối đầu nẩy lửa của hai lãnh tụ Kruschev và Kennedy.

Mà phía Mỹ, thì cũng tìm mọi cách can thiệp nhiều khi rất nặng tay tàn bạo, để bảo vệ toàn thể khu vực được gọi là“cái sân sau” (backyard) của riêng nước Mỹ; điển hình như có bàn tay của CIA trong việc lật đổ chế độ thiên tả của Tổng thống Salvador Allende tại Chi lê năm 1973. Rồi sau này vào thập niên 1980, thì phe Sandinista khuynh tả đã lên nắm được chánh quyền ở Nicaragua, với sự trợ giúp đắc lực của Cuba cộng sản cũng như của Liên Xô. Và chánh quyền Mỹ dười thời Tổng thống Reagan đã ra tay can thiệp mạnh bạo, để giúp phe đối lập Contras lập lại thế cờ tại đây. Đại khái đó là vài nét đại cương về ảnh hưởng của chiến tranh lạnh tại khu vực Châu Mỹ La tinh, từ hồi thập niên 1960 cho đến khi khối Liên Xô bị tan rã kể từ 1990.

B – Sự nhập cuộc của Giáo hội công giáo La mã.

Về phía Thiên chúa giáo, thì do ảnh hưởng của tinh thần đổi mới của Công đồng Vatican 2, trong giới tu sĩ và giáo dân tại khu vực đã có sự chuyển biến rất mạnh mẽ trong sự nhận thức, cũng như trong hành động của Giáo hội công giáo. Điển hình như trường hợp của Tổng giám mục Helder Camara của Brazil; ông là người rát năng động trong việc phục vụ và tranh đấu cho khối đa số nghèo túng, đến nỗi bị chụp mủ là “vị giám mục đỏ” (the red bishop). Ông nói chua chát như sau : “Khi tôi cho người nghèo ăn, thì người ta gọi tôi là một ông thánh. Khi tôi hỏi tại sao người nghèo lại không có thực phẩm, thì người ta gọi tôi là một người cộng sản!” Giám mục Camara và cầu thủ Pele’ là hai người xứ Brazil mà được biết đến nhiều nhất trên thế giới.

Lại có trường hợp vị Giám mục cấp tiến Oscar Romero ở nước El Salvador, ông còn bị chánh quyền cho dùng tay chân ám sát, ngay giữa lúc ông đang cử hành thánh lễ an táng cho bà mẹ của một người bạn vào năm 1980. Và đã có đến 250,000 người đến tham dự lễ an táng của vị mục tử kiên cường này, mà họ coi như là một vị thánh tử đạo (Martyr).

Cũng tại El Salvador, vào cuối năm 1980 đã xảy ra việc sát hại 4 nữ tu người Mỹ, do bàn tay của nhân viên công lực nhà nước. Sự kiện này đã gây sự phẫn nộ tột cùng của báo chí và công luận nước Mỹ, đến độ tạo thành áp lực buộc chánh phủ Mỹ phải có biện pháp răn đe mạnh mẽ đối với chánh quyền tàn bạo của El Salvador.

Cũng phải kể thêm về trường hợp của vị linh mục Camilo Torres ở nước Colombia, ông là một tu sĩ cấp tiến, được đào tạo tại đại học công giáo nổi tiếng Louvain bên nước Belgium ở Âu châu. Vì áp lực nặng nề từ phía chánh quyền Colombia, ông phải thóat ly theo hẳn phe du kích chống chánh phủ, và đã bị hạ sát vào năm 1966 trong một cuộc đụng độ với quân đội. Tên tuổi của Camilo Torres, cũng như của Che Guerava bị hạ sát năm 1967 tại Bolivia, thì đã trở thành một huyền thoại lôi cuốn giới trẻ trong toàn thể khu vực Châu Mỹ La tinh từ trên 40 năm nay.

Nhân tiện, cũng cần phải ghi lại cái thủ đọan cực kỳ độc ác là “làm mất tích” (disappearance), bằng cách thủ tiêu những người chống đối, mà cơ quan an ninh tại nhiều nước trong khu vực sử dụng, để đàn áp phong trào tranh đấu cho dân chủ tự do tại các nước này. Điển hình là tổ chức Các Bà Mẹ có con bị mất tích ở Argentina, đã liên tục trong nhiều năm tháng đến tụ hợp với nhau tại một quảng trường Plaza de Mayo trong thành phố thủ đô, để đòi hỏi chánh quyền phải cho công bố về các vụ mất tích này. Các tổ chức tranh đấu bảo vệ nhân quyền quốc tế như Hội Ân xá Quốc tế (Amnesty International) cũng đã thâu thập được khá nhiều chứng từ về các trường hợp “ người bị mất tích” (disappeared persons) tại nhiều quốc gia trong vùng, mà có nơi con số này lên tới nhiều ngàn người. Rõ ràng chế độ độc tài nào dù theo phe tả như cộng sản, hay theo phe hữu như chế độ quân phiệt, thì cũng đều tàn bạo độc ác như thế cả.

C – Nền Thần học Giải phóng.

Châu Mỹ La tinh này lại còn là nơi phát sinh một trào lưu tư tưởng đặc biệt sôi nổi sinh động, đó là nền “Thần học giải phóng” ( Liberation Theology). Đó là cả một phong trào của các giáo sĩ và giáo dân phản ứng không khoan nhượng trước thực trạng xã hội đày rẫy bất công áp bức, bóc lột trong xã hội các quốc gia trong khu vực. Họ lục tìm trong Kinh thánh và trong Giáo huấn chân truyền của Giáo hội công giáo từ xưa nay, để xây dựng được một nhận thức đứng đắn, trung thực về vai trò dấn thân nhập cuộc của Giáo hội trong công trình giải thoát con người và xã hội khỏi các định chế chính trị xã hội hủ lậu, phản động và vô luân trong xã hội đương thời. Trừ một số nhỏ thiên về phía marxit cộng sản quá khích, còn đa số giáo sĩ và giáo dân đều giữ vững lập trường tranh đấu ôn hòa, bất bạo động của tôn giáo. Hệ thống tư tưởng tiến bộ này luôn được sự hưởng ứng của quần chúng giáo dân và giới chức sắc của giáo hội, mà tiêu biểu sáng ngời nhất là “Hội Đồng Giám mục Châu Mỹ La tinh (CELAM = the Latin American Episcopal Conference). Dưới sự thôi thúc của những vị lãnh đạo năng nổ, nhiệt tình như Helder Camara, Hội Đồng này đã biểu quyết thông qua chủ trương rất tiến bộ là : “ Giáo hội phải dứt khoát chọn lựa đứng về phía người nghèo” ( Church’s Option for the Poor).

D – Vai trò của giới trí thức và văn nghệ sĩ.

Trong khi đó, thì giới hàn lâm đại học (Academia), cũng như giới văn nghệ sĩ, đều sôi nổi góp phần vào công cuộc dấn thân phục vụ xã hội, mà điển hình là sự đóng góp thật là vĩ đại của Paulo Freire với chủ trương “Giáo dục Giải phóng Con người” như đã được trình bày rất khúc chiết trong cuốn “Pedagogy of the Oppressed”. Ta sẽ đề cập chi tiết vế tư tưởng này trong một bài sau.

Cũng cần phải ghi thêm về ảnh hưởng của phong trào trí thức tả phái phát xuất từ Âu châu, đặc biệt là từ thập niên 1950, đối với tư tưởng và hành động của học giới và văn nghệ sĩ tại Châu Mỹ La tinh. Khuynh hướng “Bài Mỹ” (Anti-Americanism) từ Âu châu đã làm tăng thêm sự hậm hực, ân óan vốn có sẵn từ lâu đời đối với sự thống trị và khuynh lóat của chánh sách bá quyền (hegemony) của nước Mỹ đối với tòan thể các quốc gia và lãnh thổ yếu thế, mà lại bị chia rẽ, phân tán ở phía Nam bán cầu (hemisphere). Lâu lâu, người ta vẫn nghe thấy dân chúng tại đây hô thật to cái khẩu hiệu “Yankees, Go Home” (Người Mỹ, Hãy Cút Đi!) mỗi khi có phái đòan cao cấp của Mỹ đi qua một số thành phố lớn. Điển hình là vụ phản đối rầm rộ, đến độ xô xát bạo hành đối với Phó Tổng thống Nixon của Mỹ trong chuyến viếng thăm Nam Mỹ vào năm 1958.

Lại nữa, chánh phủ Mỹ vì luôn bênh vực che chở cho giới tài phiệt Mỹ làm ăn buôn bán khai thác tại các nước trong khu vực, nên đã cho thiết lập và ủng hộ các chánh quyền cực hữu, độc tài mà được đặt tên một cách mỉa mai là “Banana Republics”, vì chuyên làm tay sai cho các đại gia chuyên môn khai thác trồng chuối để xuất cảng về Mỹ, hoặc khai thác các nguồn lợi thiên nhiên khác, để thu về được một số lợi nhuận khổng lồ cho các tập đòan kinh tế có độc quyền khai thác, mà điển hình là United Fruit.

Trước tình trạng bất ổn căng thẳng như thế, ta không lạ gì với sự chống đối quyết liệt như của những lãnh tụ mới đây như Tổng thống Hugo Chavez của Venezuela đối với nước Mỹ. Và qua đó, chúng ta có thể hiểu rõ thêm về phản ứng dứt khóat và triệt để của giới trí thức như Paulo Freire trong bối cảnh chung của khu vực Châu Mỹ La tinh vậy.

 

TQH/

*** AI ĐÃ DỊCH CHINH PHỤ NGÂM RA CHỮ NÔM ?

NGUYỄN CẨM XUYÊN

chinh phu nganĐOÀN THỊ ĐIỂM và NGUYỄN THỊ ĐIỂM;

AI ĐÃ DỊCH

CHINH PHỤ NGÂM RA CHỮ NÔM ?

     Sách Đăng Khoa Lục sưu giảng của Trần Tiến đời Lê có chép chuyện bà Nguyễn Thị Điểm. Sách Tang Thương ngẫu lục của Phạm Đình Hổ và Nguyễn Án đời Nguyễn lại chép chuyện bà Đoàn Thị Điểm.

Hai nữ sĩ trong hai truyện trùng tên, khác họ… và ai là người đã dịch Chinh Phụ ngâm khúc ra chữ Nôm?
ĐOÀN THỊ ĐIỂM VÀ NGUYỄN THỊ ĐIỂM CÓ PHẢI CHỈ LÀ MỘT ?
Ra đời sau Tang Thương ngẫu lục 100 năm, Nam Hải dị nhân liệt truyện của Phan Kế Bính đã viết “Nguyễn Thị Điểm tức Đoàn Thị Điểm”.

Thật ra đây là hai người khác nhau. Chẳng qua lúc biên soạn Nam Hải dị nhân liệt truyện, có thể do không đủ điều kiện khảo sát mà lúc này lại cần phải hóa giải liền một mâu thuẫn giữa hai sách xưa để không phải bỏ qua một truyện hay về nữ sĩ nước Nam nên Phan Kế Bính đã cho rằng hai người là một.

Đầu thập niên 70 vừa qua, các nhà nghiên cứu đã về Hải Dương đọc gia phả họ Đoàn và tìm gặp gia tộc họ Nguyễn Trác thì mới rõ là có hai bà Đoàn Thị Điểm và Nguyễn Thị Điểm. Hai bà có những chi tiết trùng hợp đến kì lạ. Trước hết cả hai cùng sống vào thời Lê Trung hưng, đời Trịnh Giang, cùng quê ở Hải Dương: bà Nguyễn Thị Điểm ở Bình Lao trang, trấn Hải Dương còn bà Đoàn Thị Điểm thì quê ở Giai Phạm, huyện Đường Hào cũng thuộc trấn Hải Dương (nay là xã Giai Phạm thuộc huyện Yên Mỹ, tỉnh Hưng Yên), cả hai đều giỏi văn thơ và điều lạ kì là cả hai bà đều có anh tên là Luân, một người là Đoàn Doãn Luân và một người là Nguyễn Trác Luân… vậy nhưng gốc gác, gia thế cũng như cuộc đời của hai bà thì khác nhau nhiều.

Bà Nguyễn Thị Điểm thuộc gia đình quyền quí; anh là Nguyễn Trác Luân đỗ Tiến Sĩ năm 1721, làm quan đến chức Phó Đô Ngự Sử và là tay chân thân tín của chúa Trịnh Giang. Chính Nguyễn Trác Luân là người đã giúp Trịnh Giang phế truất rồi giết vua Lê Duy Phường rồi theo lệnh Trịnh Giang làm giả tờ sắc tấn phong cùng ấn tín của vua nhà Thanh sang phong cho Trịnh Giang làm An Nam Thượng Vương… Em gái là Nguyễn Thị Điểm về sau còn dạy học ở kinh đô, thọ đến 78 tuổi. Sách Đăng Khoa Lục sưu giảng có chép: Bà Nguyễn Thị Điểm có viết cuốn “Truyền Kì tân lục” (Truyền kì tân phả).

TRUYỀN KÌ TÂN PHẢ – VĂN GIANG HỒNG HÀ ĐOÀN PHU NHÂN TRƯỚC

(Truyền kì tân phả do Văn Giang Hồng Hà Đoàn phu nhân soạn – Thư viện Quốc gia. Bản chụp của nomfoundation)

Cuộc đời bà Đoàn Thị Điểm khác hẳn. Xuất thân trong một gia đình nghèo; bà là con ông Đoàn Doãn Nghi. Tổ tiên vốn họ Lê, quê quán ở Hải Dương; về sau đổi ra họ Đoàn. Đoàn Doãn Nghi đỗ Hương cống và nhận một chức quan nhỏ hàm bát phẩm rồi từ quan, về nhà bốc thuốc. Sau khi hỏng kì thi Hội, ông ở lại kinh đô dạy học rồi cưới thêm thứ thất ở phường Hà Khẩu, gần Hồ Hoàn Kiếm và sinh được hai con: con cả là Đoàn Doãn Luân, con thứ là Đoàn Thị Điểm. Đoàn Doãn Luân chỉ là giám sinh đã qua kỳ sát hạch để chuẩn bị thi Hương, chưa đỗ đạt gì. Riêng bà Đoàn Thị Điểm: sau khi cha mất, cùng mẹ về ở với anh trai, ngụ cư tại làng Vô Ngại, huyện Ðường Hào, tỉnh Hải Dương (nay là Mỹ Hào, tỉnh Hưng Yên) nhưng chỉ được mấy năm thì Doãn Luân lại qua đời; một mình bà phải nuôi cả nhà (gồm mẹ, chị dâu và các cháu) và phải tự mưu sinh bằng nghề bốc thuốc, dạy học…

Bà có nhan sắc nhưng kén chồng; sau làm vợ kế ông Nguyễn Kiều (1696- 1752) tức là ông Nghè Sù người làng Phú Xá (làng Sù) huyện Từ Liêm, Hà Nội đỗ tiến sĩ đời Lê Dụ Tông, làm quan đến chức Đô ngự sử. Nguyễn Kiều vốn đã có 2 đời vợ trước: vợ đầu là con gái quan Tham tụng Lê Anh Tuấn; bà này mất sớm, ông tục huyền với con gái Thượng thư Nguyễn Quý Đức nhưng bà này lại cũng qua đời… Nguyễn Kiều nhờ mai mối đến hỏi bà Đoàn Thị Điểm; sau mấy lần chối từ, cuối cùng bà Đoàn Thị Điểm thuận về làm vợ kế. Năm 1734, Nguyễn Kiều nhậm chức Tham thị thành Triều Khẩu (Nghệ An), bà Đoàn Thị Điểm đi thuyền theo chồng, đến ngang đền Sòng (Thanh Hoá) thì bị cảm và sáu ngày sau đến Triều Khẩu thì mất, lúc này bà mới 44 tuổi.

Mới đây, ngày 24/7/2011, tại cánh đồng thôn Phú Xá (Phú Thượng, Tây Hồ, Hà Nội), Hội Khảo cổ học cùng Ban Quản lý di tích-danh thắng Hà Nội đã cải táng mộ của ông Nghè Nguyễn Kiều về cạnh mộ bà Đoàn Thị Điểm ở cách đó 2km.

NGUYỄN THỊ ĐIỂM ĐÃ DỊCH CHINH PHỤ NGÂM RA CHỮ NÔM

CHỨ KHÔNG PHẢI LÀ ĐOÀN THỊ ĐIỂM ?
Trước câu hỏi ai là tác giả Chinh Phụ ngâm diễn âm, các nhà nghiên cứu đã tìm kiếm bằng chứng và tranh luận sôi nổi suốt gần 100 năm qua.

Nhiều sách nay vẫn ghi tác giả là Đoàn Thị Điểm theo như lời “tương truyền” vốn có từ xa xưa…nhưng nay lại đang có nghi vấn được nêu: Phải chăng tác giả Chinh Phụ ngâm diễn âm hiện hành là Nguyễn Thị Điểm?

Điều có thể dùng làm chứng cớ là ở 2 người anh là Nguyễn Trác Luân và Đoàn Doãn Luân. Bà Nguyễn Thị Điểm là em ông Nguyễn Trác Luân và tên tuổi Nguyễn Trác Luân thì không thể sai bởi đã ghi trong sử đời Lê mạt… Đầu thập niên 70 thế kỉ XX, GS. Bùi Văn Nguyên, lúc này đang là Giảng viên Khoa Ngữ Văn trường Đại Học Sư phạm Hà Nội cùng GS. Phan Huy Lê, Chủ tịch Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam về Hải Dương, gặp bố và chú của ông Nguyễn Trác Cách là Nguyễn Trác Thức và Nguyễn Trác Ngữ để hỏi cụ thể về việc dịch thuật của bà Nguyễn Thị Điểm. Các nhà nghiên cứu tìm đến gia tộc Nguyễn Trác thì điều không may là gia phả, sắc phong và cả ngôi nhà thờ họ năm gian mang tên Duy Ái Từ đã cháy trong kháng chiến chống Pháp. Tại đây, ông Nguyễn Trác Cách sinh năm 1936, trưởng tộc họ Nguyễn Trác đã kể lại các giai thoại văn chương giữa Nguyễn Trác Luân với em gái là Nguyễn Thị Điểm, vốn ham học ngay từ khi còn nhỏ và thường cùng anh xướng họa thơ văn. Các giai thoại này dòng họ ông vẫn lưu truyền và ông khẳng định chính bà Nguyễn Thị Điểm mới là tác giả của Tục truyền kỳ và bản dịch Chinh phụ ngâm được phổ biến rộng rãi hiện nay(2).

Sau đợt nghiên cứu, trên Tạp chí Văn học, số 6 năm 1977, GS. Bùi Văn Nguyên viết bài “Bà Điểm nào trong hai bà Điểm, tương truyền có tham gia dịch một bản Chinh phụ ngâm của Đặng Trần Côn”. GS Bùi Văn Nguyên cho rằng: “Sự thật, có hai bà Điểm khác nhau, một bà họ Nguyễn, một bà họ Đoàn, hai bà sống có phần đồng thời, ở cùng một vùng, nay là tỉnh Hải Hưng, đều có người anh trùng tên là Luân và đều giỏi văn thơ, pha nghề dạy học”(3).

Điều GS. Bùi Văn Nguyên phát hiện làm rõ mối ngờ 20 năm trước của GS. Hoàng Xuân Hãn về độ chính xác của Vũ Hoạt khi cho rằng bà Đoàn thị Điểm là tác giả của bản Nôm Chinh Phụ Ngâm: “Có thể Vũ Hoạt nghe loáng thoáng có một bà Điểm nào đó hay chữ, liền nghĩ ngay đến bà Điểm vợ ông Kiều ở huyện Từ Liêm, cùng quê với ông Đặng Trần Côn là tác giả khúc ngâm, rồi ghi luôn vào bản khắc mà mình giới thiệu cho thêm phần giá trị và Vũ Hoạt trong lời bạt viết năm 1904 đời Thành Thái đã khéo bảo vệ bằng luận điểm tương truyền. Đã gọi là tương truyền thì chả có bằng cớ nào, về sau nếu không đúng cũng thôi…”

Năm 1953, trong cuốn Chinh phụ ngâm bị khảo, GS, Hoàng Xuân Hãn có nêu ra 7 bản Chinh Phụ Ngâm diễn âm trong đó ông tập trung chú ý 4 bản A,B,C,D. Bản A là bản thịnh hành thì ông cho là của Phan Huy Ích. Riêng bản B (ít phổ biến) ở đầu có chữ “nữ lưu”, ông cho rằng đây là bản của bà Đoàn Thị Điểm. Phải chăng bản này là của bà Nguyễn Thị Điểm còn bà Đoàn Thị Điểm tuy hay chữ nhưng chỉ viết Truyền Kì tân phả (Tục Truyền Kỳ) như lời kể của Nguyễn Án và Phạm Đình Hổ.

Một chứng cớ nữa là nay ở thư viện trường Đại học Yale Hoa Kỳ còn một bản chép tay Chinh Phụ ngâm bị lục đời Thành Thái bằng chữ Nôm có chua quốc ngữ. Bản này ghi tên dịch giả là Nguyễn Thị Điểm. Tác phẩm gồm 412 câu, câu chữ gần như phù hợp với bản Chinh Phụ ngâm phiên ra quốc ngữ hiện được dùng phổ biến trong các sách văn học, kể cả sách giáo khoa Trung học và giáo trình Đại học hiện nay.

GHI CHÚ:

Ảnh sachxua.net

Theo tài liệu ông Nguyễn Trác Cách gửi viện trưởng Viện Văn học ngày 10 tháng 3 năm 2009; Đoàn Thị Điểm và Truyền kỳ tân phả; Bùi Thị Thiên Thai, Văn hóa Nghệ An 26.9.2010.

GS Bùi Văn Nguyên, “Bà Điểm nào trong hai bà Điểm, tương truyền có tham gia dịch một bản Chinh phụ ngâm của Đặng Trần Côn” – Tạp chí Văn học, số 6 năm 1977,

*** “ĐÊM ĐÊM HÀN THỰC, NGÀY NGÀY NGUYÊN TIÊU”

SONY DSC     Châu Thạch

BÀN VỀ CÂU THƠ

“ĐÊM ĐÊM HÀN THỰC, NGÀY NGÀY NGUYÊN TIÊU”

                                      Gần đây học giả  Lại Quảng Nam có viết một bài đề cập đến câu thơ “Đêm đêm Hàn Thực ngày ngày Nguyên Tiêu” của Nguyễn Du. Trong bài viết nầy học giả Lại Quảng Nam có nhắc lại những điều tôi xin tóm tắt gọn lại sau:

  1. Ong Vân Hạc Lê văn Hòe (1953) với quyển Truyện Kiều Chú-Giải rất nổi tiếng trong văn giới và trong giới giáo dục. Ông dừng rất lâu lại tại câu Kiều thứ 942 này, với ưu tư là tại sao Nguyễn Du lại viết “Đêm đêm Hàn Thực, ngày ngày Nguyên Tiêu”, mà lại không viết “ngày ngày Hàn thực, đêm đêm Nguyên tiêu”. Cụ Lê Văn Hoè viết “Lý ra phải viết như thế này thì mới đúng:”Đêm đêm Nguyên tiêu, ngày ngày Hàn thực”, bởi tất cả lễ lạc đông người dành cho quần chúng do triều đình Tàu sắp đặt đều xảy ra, ban ngày cho Hàn Thực, ban đêm cho ngày Nguyên Tiêu. Cụ Lê văn Hòe nhận định thêm: “Có lẽ vì nhu cầu vần thơ”
  2. Tại Việt nam có một người Tàu tên là An Chi, khi giữ mục Chuyện Đông Chuyện Tây trên tờ KTNN* vào đầu thập niên 90 tại Việt Nam viết như sau về Nguyễn Du “Tóm lại…; trong điều kiện cụ thể của câu thơ đang xét thì Nguyễn Du không thể vùng vẫy ngọn bút của mình một cách hoàn toàn thỏa mái được. “Đêm đêm Hàn Thực, ngày ngày Nguyên Tiêu” trong đó ông tác giả đã bị gò bó về thanh điệu và vần điệu…., Chẳng qua vì… túng vận nên ông mới lấy đêm làm ngày, lấy ngày làm đêm đó mà thôi”

 

Sau đó học giả Lại Quảng Nam đã phản bác những ý kiến trên. Xin mời quý bạn đọc vào trang web vanngheqt.blogspot.com và nhiều trang web khác để đọc.

Châu Thạch tôi vốn học ít, trí hèn, không dám nhận xét gì về ý kiến của các vị học giả, vốn là những người có vai vế trên văn đàn, chỉ xin góp một chút suy luận thô thiển của mình để bạn đọc giải trí năm ba phút mà thôi. Nếu có sự sai trái xin lượng tình thứ cho.

“Đêm đêm Hàn Thực ngày ngày Nguyên Tiêu” là câu thơ của Nguyễn Du nhưng ông lấy tư cách của Tú Bà đề viết lời khấn vái. Đây là đoạn mà Nguyễn Du mô tả lần đầu tiên Thúy Kiều nằm trong tay Tú Bà, một chủ chứa. Tú Bà van vái trước tượng thần Bạch mi (vị thần bảo trợ cho nghề bán phấn buôn hương ) cho bà được buôn may bán đắt:

935. Cởi xiêm lột áo sỗ sàng,
Trước thần sẽ nguyện mảnh hương lầm rầm.
Đổi hoa lót xuống chiếu nằm,
Bướm hoa bay lại ầm ầm tứ vi!
Kiều còn ngơ ngẩn biết gì,
940. Cứ lời lạy xuống mụ thì khấn ngay:
”Cửa hàng buôn bán cho may,
Đêm đêm hàn thực, ngày ngày nguyên tiêu,
Muôn nghìn người thấy cũng yêu,
Xôn xao oanh yến rập rìu trúc mai!
945. Tin nhạn vẩn, lá thư bài,
Đưa người cửa trước, rước người cửa sau”.
Lạ tai, nghe chửa biết đâu,
Xem tình ra cũng những màu dở dang.
Lễ xong hương hỏa gia đường,
950. Tú Bà vắt nóc lên giường ngồi ngay.

 

Theo Châu Thạch tôi nghĩ câu thơ  “Đêm đêm Hàn Thực ngày ngày Nguyên Tiêu”có ý nghía sau đây:

1)Ý thứ nhất;

– Đêm đêm Hàn Thực : Có nghĩa là đêm nào cũng vui chơi như ngày có lễ Hàn Thực

– Ngày ngày Nguyên Tiêu: Có nghĩa là ngày nào cũng vui chơi như đêm có  lễ Nguyên Tiêu

–  Đêm đêm Hàn Thực ngày ngày Nguyên Tiêu: Đêm đêm vui chơi như ban ngày. Ngày ngày vui chơi như ban đêm

– Tóm lại “Đêm đêm Hàn Thực ngày ngày Nguyên Tiêu” có nghĩa là vui chơi mút mùà, không phân biệt ngày đêm.

2)Ý thư hai:

– Hàn Thực: “Hàn thực, ngày 3 tháng 3 âm lịch, kỷ niệm ngày Giới Tử Thôi bị chết cháy. Bên Tàu, ban ngày tổ chức các cuộc vui chơi, ngày này là ngày cấm lửa, ăn thức ăn  nguội .

– Nguyên Tiêu: Đêm Nguyên Tiêu là đêm rằm tháng giêng, đêm trăng tròn đầu năm âm lịch. Ngày này thời Đường, vua lệnh cho mở hội đốt pháo bông, lễ Phật.

– Qua hai định nghĩa trên ta thấy rằng các trò vui chơi trong ngày Hàn Thực và đêm Nguyên Tiêu là các trò vui chơi thanh nhã, không dung tục. Từ đó ta thấy rằng Tú Bà tuy là một chủ chứa, nhưng bà xin thần Bạch Mi phù hộ chổ động chứa của bà vui chơi theo phong cách thanh nhã. Như thế động chứa của bà là nơi ăn chơi của giới thương lưu đài các hay kẻ sĩ. Nhờ vậy sau nầy Thúy Kiều mới gặp được Thúc Sinh là một trang phong lưu hào hào. Cũng theo kiểu ăn chơi cao cấp, phong lưu nầy, ngày sau ở một thanh lâu khác Thúy Kiều gặp được Từ Hải là một anh hùng.

  Kết luận: Bởi lý giải trên ta thấy rằng Nguyễn Du viết “Đêm đêm Hàn Thực ngày ngày Nguyên Tiêu” là một sự dùng chữ cố ý của tác giả, không phải là do “bị gò bó thanh điệu” mà ông phải “hoán vị ngày ngày với đêm đêm”. Cách chơi chữ nầy khiến cho câu thơ đầy hàm xúc, vừa làm âm điệu câu thơ hay thêm, lại vừa diễn tả trọn vẹn nhừng cuộc vui chơi triền miên phong lưu và trang nhã nơi động chứa của Tú Bà. Phải nói rằng khi Nguyễn Du cho Tú Bà khấn như thế,không ai đọc mà nghĩ rằng nhà thơ muốn đảo lộn cuộc vui chơi của đếm qua ngày và ngày qua đêm. Ngược lại ai cũng tự nhiên hiểu được lời khấn có ý nghĩa trọn vẹn là xin cho thanh lâu của bà ngày đêm gì cũng có đàn ca, hát xướng, ngâm vịnh, uống rượu và các trò vui hoa bướm dập dìu khác thịnh hành thời bấy giờ. Như vậy, khi phóng bút viết câu thơ đảo lộn nầy, Nguyễn Du đã trực chỉ phát họa trong cảm nhận của người đọc cảnh ăn chơi và phong cách ăn chơi tại thanh lâu của Tú Bà. Từ đó ta có thể thấy rằng trong câu thơ nầy Nguyễn Du dùng chữ biến hóa rất “thoải mái” chớ không phải vì  muốn cho “trơn” câu thơ  mà thần thơ buộc phải viết thế./.

                           

*** Phạm Duy Và Tôi

pham duy va toiHoàng Lan Chi 

 

Thuở bé tôi đã yêu nhạc Phạm Duy. Có lẽ vì PHạM DUY có nhiều nhạc quê hương rất hay mà tôi thì yêu quê hương vô cùng. Tình ca của PHạM DUY cũng phong phú đa dạng.

Năm 2002 nếu tôi nhớ không  lầm, tôi viết bài Cảm nhận cho “Tình Ca”. Mục đích của tôi bấy giờ là muốn giới trẻ biết yêu quê hưong qua những nhạc phẩm của PHạM DUY hơn là nghe những loại nhạc vớ vẩn rên siết phận người hay đả kích chiến tranh. Vô tình PHạM DUY đọc được và chú làm quen tôi. Duyên văn nghệ từ đó. Sau này tôi viết thêm một số cảm nhận cho Quê Nghèo, Tình Hoài Hương…

Năm 2003, Phạm Duy về nước và đến quán nhạc Dòng Thời Gian của cô bạn tôi. Nơi đây cũng là nơi tôi gặp người đàn bà có giọng hát hay và rất giống Thái Thanh. Vào thời điểm 2003, chị đã chọn hát nhạc Phạm Duy trong lúc các nơi khác đang còn thịnh hành nhạc TCS. Từ tôi mà Phạm Duy  biết thêm chị, (Thuý Nga) và biết thêm Đào Minh, chủ quán Dòng Thời Gian. Phạm Duy  ở trọ một khách sạn trên đường Đồn Đất thì phải và bình dị với áo nâu, ngồi quán cà phê vỉa hè.

Chúng tôi có một số hình lưu niệm với PHạM DUY và gia đình ở đây. Có hôm  chúng tôi theo Phạm Duy đến nhà Lưu Trọng Văn chơi và gặp Nhạc Sĩ Nguyễn Văn Tý. Duyên tình của Phạm Duy với Lưu Trọng Văn là “ Nào đâu có trăm năm mà chờ với đợi”! Nghĩa là Phạm Duy đang dùng dằng thì Lưu Trọng Văn gửi bài thơ ấy và Phạm Duy đã quyết định “Về thôi, nào có trăm năm mà chờ đợi”! Phạm Duy khi về nước năm này đã đem theo bài ” Về thôi” do Phạm Duy phổ thơ Lưu Trọng Văn cho tôi nghe.

Duy Cường, Phạm Duy, Lưu Trọng Văn-Lan Chi – hàng sau Đào Minh và Thuý Nga
Duy Quang-Phạm Duy -Lan Chi- Thuý Nga
3 người đàn bà ‘vô danh” của Phạm Duy năm 2003 ( cách gọi của Phạm Duy khi chưa về VN và gặp Thuý Nga, Đào Minh, Lan Chi )
Phạm Duy vỉa hè áo nâu giản dị khi về Việt Nam

Phạm Duy giản dị áo nâu ở quán cà phê lề đường gần khách sạn

NS Nguyễn Văn Tý- Lan Chi -Phạm Duy tại nhà Lưu Trọng văn 2003
Lan Chi -Phạm Duy- Hoạ sĩ Kim Khải- Thuý Nga

Tại quán Dòng Thời Gian của Đào Minh

Phạm Duy với cô bé từ Canada về hát Người Về
Phạm Duy với một kiến trúc sư yêu nhạc Phạm Duy
Phạm Duy với ca sĩ Huy Tâm
Phạm Duy và Thuý Nga ( người hát nhạc Phạm Duy rất hay)
Hồi đó Phạm Duy đối với tôi là dễ thương dù đôi khi ông có hơi ngông. Ông gửi tôi nhiều tài liệu về cái gọi là “Gió Tanh Mưa Máu”. Tôi chỉ xem và không  ý kiến.

Rồi đẩy đưa nhiều chuyện để có khi tôi và ông tranh luận. Chỉ nho nhỏ. Nhưng có vẻ ông khá “nhường tôi”. Có gì đâu, chỉ là xoay quanh vài vấn đề đạo đức.

Khi tôi hỏi về chuyện ngày xưa, biện luận cho cái “đào hoa”, ông viết:

“Tôi đã được nhiều người (Lan Chi khuyên bé Quỳnh Chi : nghe nhạc, đừng tìm hiểu cá nhân, hiểu theo nghĩa là chỉ nên “yêu đàn” mà thôi đấy nhé… ) cho rằng tôi có một đời sống rất là “phóng túng”, hiểu theo nghĩa “bê bối”.  Lạy Chúa và Mô Phật, tôi thách đố ai dám tuyên bố tôi là kẻ nghiện rượu, nghiện thuốc lá, nghiện sì ke hay nghiện thuốc phiện (nguyên cái vụ này, tôi đã đạo đức hơn nhiều ông nghệ sĩ) … Còn nghiện đàn bà thì khỏi cần nói vì tôi đã nói rồi, nhưng tôi xin thưa rằng với những bạn muốn hiểu tôi rằng : tôi chưa hề phụ tình ai, tôi chưa hề có một bà nào hắt hủi rồi nguyền rủa tôi khi xa tôi… Everything is OK, xa nhau, rồi gặp lại nhau “bốn mắt đều có đuôi”… 
 
Tôi xin nói ngay tôi rằng trong đời tôi, có ba điều tôi tôn thờ : nghệ thuật, vợ con và người tình, đời tôi phải vững như cái kiềng ba chân. Không vì nghệ thuật mà bỏ vơ con, bỏ người tình… không vì vợ con mà bỏ người tình và nghệ thuật… không vì người tình mà bỏ nghệ thuật và vơ con.
Do đó có bao giờ vợ con tôi kết án tôi đâu? Tôi kính yêu một triệu lần vợ tôi (ngày bà còn sống và sau khi bà qua đời), khi các con kể lại rằng bà á thánh này đã có lần bảo các con : tao biết hết chuyện bố mày nhưng để cho bố mày có hứng làm nghệ thuật.-PhạmDuy” (1)

Phải nói thật là tôi đã “nghiêng ngả” khi đọc những tâm sự đó của Phạm Duy. Hay cũng có khi không  phải tôi nghiêng ngả mà chỉ vì ở tuổi ngoài 50, tôi không còn những suy nghĩ khắt khe như tuổi đôi mươi? Phải, những người khác đã đam mê rượu, chè, cờ bạc thì cái khoản “trai gái” mà Phạm Duy vướng vào, cũng chỉ là lẽ thường tình? Tất nhiên tôikhông  ủng hộ những mối tình bên lề xã hội của Phạm Duy! Tôi chỉ muốn nói, cô Thái Hằng quả là một phụ nữ tuyệt vời, xứng đáng với mỹ từ “Á thánh” mà Phạm Duy tặng cô. Viết đến đây tôi lại nhớ ký giả Bùi Bảo Trúc đã nói một câu rất hay trong đêm nhạc Vũ Đức Nghiêm “ Xin cảm ơn chị Vũ Đức Nghiêm. Vì sự bao dung của chị mà  chúng tôi có được một nhạc phẩm hay đến thế!”. Cả hội trường vỗ tay. Vâng, suy cho đến cùng, nếu không  có sự bao dung của các bóng hồng sau lưng các nhạc sĩ  thì có lẽ kho tàng âm nhạc Việt Nam sẽ thiếu vắng nhiều tác phẩm hay! Ngoài ra, sự ví von cuộc đời như kiềng ba chân ( vợ, người tình và nghệ thuật), cá nhân tôi thấy “mến” Phạm Duy vì sự thành thực của ông.

Còn khi biện luận cho “tục ca” ông đã ngậm ngùi “Có thể tôi lầm khi tự phá mình” làm tôi nao lòng. Nhưng ông cũng dí dỏm khi “chọc quê” tôi là “ Cô Quỳnh Couteau đã chửi Bộ KH mà còn sợ nghe tiếng chửi xã hội của người khác hay sao”. Vâng, tại sao nhiều người lúc đó như Chu Tử, như Thương Sinh đã chửi xã hội vì không  chịu được sự thối nát, và khi Phạm Duy dùng âm nhạc để chửi thì lại bị chửi! Tôi không  nghe Tục Ca nên không  biết nó tục thế nào nhưng có lẽ người Việt quen với hình thức dùng âm nhạc để đấu tranh, để tình tự, để vỗ về mà không  quen dùng âm nhạc để “nói tục” chăng? Dù sao, tôi không  ý kiến vì ông đã nói với tôi, ông không hề in, thu cassette. Thế là đủ.

Sách, báo, phim, ảnh ngọai quốc tràn vào sau khi cụ Diệm chết, thanh niên, trung niên, lão niên ùa chạy theo văn minh vật chất, người ta coi đạo đúc, luân lý như pha. (khôi hài nhất là những vị phi-đạo đức này phê bình nguời khác thiếu đạo đức !). Có thể tôi lầm khi tự phá mình (phá thần tượng) (1) để làm mười bài tục ca nhưng xin mọi người hiểu rõ lý do của bài hát NHÌN L… ! Cô Quỳnh Couteau đã chửi Bộ Kế Hoạch, thế mà vẫn còn sợ nghe tiếng chửi rủa xã hội của người khác. Thương Sinh, Chu Tử cũng là những văn nhân giỏi lắm, nhưng một trong những lý do chửi bới của các vị đó cũng có thể vì họ muốn bán báo chạy hơn. Tôi làm tục ca, không thu vào cassette hay tape thương mại, không in ra bản nhạc, còn không muốn phổ biến nhiều. Je les avait chantées pour mon plaisir. Thế là khóai rồi !!!”(1)
 
Về những câu nói này nọ, khi tôi hỏi về việc nghe tin đồn rằng ông phát biểu này nọ ở Úc, Phạm Duy viết cho tôi:
 
“Về chuyện kiêu ngạo khíến “Lan Chi phải van chú đừng phát biểu kiêu ngạo… thì Lan Chi có thể tin được rằng, tôi không dại gì mà phát biểu trên sân khấu (hay trước đám đông) nhất là “kỳ ở Úc vừa qua rằng nhạc PHạM DUY là nhất”.  Tôi điên mà phát biểu như vậy à ?”(1)
 
Từ mail này của Phạm Duy, tôi thực hiện bài học “Hỏi đích danh và không nghe tin đồn”. Sau này, trong chốn phong ba của hải ngoại, nhiều lần nghe đồn, tôi hỏi lại và nhờ thế “giải oan” được cho vài người!

Cuối cùng, Phạm Duy viết:

“Cuối cùng, tôi xin hỏi câu này : Lan Chi đã đọc đầy đủ cả BA cuốn HỒI KÝ của tôi, có đọan nào thấy tôi nói tới chuyện sáng tác trong WC không ? Có những đọan nào tôi tỏ vẻ tự kiêu, tự mãn không ?”(1)

Đúng thế, cuốn hồi ký của Phạm Duy là cả một công trình văn học mà tôi nghĩ hiếm có người nào ở tuổi ông, thời đại ông, có thể thực hiện được. Bài viết thứ tự, lớp lang, chữ nghĩa rõ ràng và đặc biệt nét “khoa học” tuyệt vời trong đó. Thường thì một bản nhạc dính líu đến nhiều thứ, từ tác giả đến thính giả rồi xã hội rồi hoàn cảnh. Nếu không có một óc tổ chức, rất dễ bị rối rắm. Thế nhưng hồi ký của Phạm Duy không  hề làm độc giả lạc vào mê hồn trận.

Còn về cái tự kiệu tự mãn thì đúng là tôi chưa tìm thấy ở hồi ký Phạm Duy ( vì tôi chưa đọc hết nhưng tôi tin lời Phạm Duy, trong đó chỉ là những tài liệu âm nhạc được ghi lại). Và bên ngoài thì cứ xem Phạm Duy viết cho tôi như sau:

“Nhưng tôi rất vui vì Lan Chi đã có một bài viết rất hay về một bài hát của tôi… nhất là vì Lan Chi khéo dạy Quỳnh Chi, kéo Quỳnh Chi trở về với những giá trị nghệ thuật đích thực. Hiện nay nghệ thuật ở VN (trong hay ngòai nứơc) đang lâm vào tình trạng suy thóai, ai là người thực sự yêu nước yêu dân, yêu tuổi trẻ thì cùng nhau đi tìm lối thóat ở những giá trị còn đang bị lấp liếm bởi lũ đạo đức giả, lũ chính trị gia lạc hậu.Nói với Quỳnh Chi cho tôi địa chỉ, tôi sẽ gửi tặng CD với đa số ca khúc nghe bằng MP3 qua đường Bưu Điện.” (1)
 
Nói cách khác, Phạm Duy “bày tỏ” sự cám ơn dành cho tôi, người viết cảm nhận nhạc Phạm Duy. Trên thực tế, với “tài ba, danh tiếng” chừng đó, Phạm Duy có cần cư xử với tôi như thế không? Tôi nghĩ là không! Nhưng Phạm Duy trân trọng, Phạm Duy hiểu tôi cần cho giới trẻ biết yêu quê hương qua những dòng nhạc của mình và Phạm Duy sẵn sàng gửi CD qua Úc cho “người Việt trẻ Quỳnh Chi”!

Năm 2004, tôi qua Mỹ và đến Cali trước khi bay qua Virginia. Tôi gọi cho Phạm Duy và hẹn ngày đến chơi. Buổi tối đi cùng anh chị họ đến.  Tại đây gặp Đức, người con trai út trong gia đình hoàn toàn không hoạt động gì đến âm nhạc. Đúng như ông viết, gia đình ông là một điều hiếm thấy ở Mỹ: đại gia đình quây tụ. Một điều tôi cũng nhận thấy ở gia đình ông: từ Duy Quang đến Duy Minh, Duy Cường, người nào cũng nhũn nhặn, dễ thương. Ấy là tôi nói khi tôi gặp ông cùng ba con trai ở quán cà phê Dòng Thời Gian.

Tại nhà Phạm Duy năm 2004
Duy minh-Lan Chi tại nhà Phạm Duy 2004
Duy Đức -Lan Chi tại nhà Phạm Duy 2004
GS Nguyễn Ngọc Bích- Phạm Duy- Lan Chi tại Virginia 2004

Năm 2005, báo chí hải ngoại ồn ào vụ Phạm Duy định về nước. Một người bạn nằng nặc đòi tôi xoá những gì tôi viết về Phạm Duy. Nhưng “Học Trò”, người yêu nhạc, thành viên kỳ cựu của web Đặc Trưng thì phản đối “Chị không  được xoá. Những gì chị đã viết, đã công bố, nó không  còn là của chị nữa. Đó là những rung cảm của chị trước một nhạc phẩm, chị viết ra chia sẻ và những người khác sẽ biết được cái hay của nhạc phẩm đó thông qua chị..”. (2005). Tôi nghe lời Học Trò,  không  xoá.

Sau đó, dường như trước khi Phạm Duy về Việt Nam sinh sống khoảng vài tháng, tôi có gọi  điện thoại đến.  Phạm Duy nói rằng thường thì lúc này ông không muốn gặp ai nên đã từ chối nhiều người, nhưng với tôi thì ông tiếp. Phạm Duy chỉ ngắn gọn về việc mình có thể sẽ về nước. Tôi nói mọi người đang lên án, Phạm Duy bực mình “ Cuộc đời tôi mà sao cứ phải sống theo người khác? Tôi đã xin cho tôi được vui buồn một mình tôi kia mà”.

Thật tình, Phạm Duy nghĩ gì về CS, tôi nghĩ ai cũng đoán được nhưng căn cứ vào hiện tượng bên ngoài thì nhiều người lên án vì cho đó là đã làm hoen ố chính nghĩa quốc gia.

Năm 2009, một người bạn viết cho tôi: “Về ông Phạm Duy, tôi không hề có ý phê bình ai cả, mỗi người có cách chọn lựa cho mình. Ông ấy đã chọn như thế, và hãy để cho thời gian trả lời. Người mình thương ai thương cả lối đi…
Tôi chỉ có một cái nhìn khác về Phạm Duy, ông ấy đơn thuần là ngưòi cha rất thương con và tìm lối thoát cho con mình… và ông ta đã chọn con đường chết để mong con mình được sốngNhạc sĩ Phạm Duy là người cha nhân ái, ông kiếm tiền bằng nhạc của ông và nuôi nấng các con và gia đình đầy đủ. Bà Thái Hằng đúng là một hiền mẫu và ông Phạm Duy  phong á thánh cũng không ngoa. Tôi yêu quý ông từ nhạc phẩm đến đời sống thực, ông không che đậy dấu giếm điều gì, thích là nói, nghĩ là làm.”(2)

Sau khi về Việt Nam, ông có nhiều điều này nọ. Cũng người bạn ghét ông, đả kích này nọ với tôi và tôi lặng thinh. Tuy vậy tôi đồng ý với một người bạn khác khi anh viết cho tôi  rằng: “Những gì ông tuyên bố, có thể có ít xích ra nhiều, vì ông phải nói thế thôi. Đây là một trò chơi, trò Game, nhà nước và ông cả hai đều khôn ngoan và cả hai đều tính toán.”(3)

Một người bạn khác khi nghe kể vụ tôi không xoá bài viết về Phạm Duy, anh viết cho tôi“Thưa chị, tôi biết chị yêu nhạc Phạm Duy cũng như biết bao người khác. Nhưng chị hãy giữ những gì chị đã viết về ông là những gì trung thực của tháng ngày chị cảm nhận, rung động về một tài hoa lớn của đất nước. Những người chung quanh không thể muốn chị làm theo cách của họ. Tôi nghĩ nhân cách Hoàng Lan Chi là Hoàng Lan Chi.”(4)
 
Cảm ơn anh bạn về những giòng chữ trên.

Tôi đã để “chú Phạm Duy” ngủ yên trong tôi từ khi ông về Việt Nam. Nhưng nhạc Phạm Duy  nhất là nhạc quê hương thì không bao giờ mất. Với tôi, (một người viết thơ cho quê hương năm 14t thay vì viết thư tình), thì đến giờ phút này, chưa một nhạc phẩm nào sánh được với “Tình Ca”!

Năm 2009 bàng bạc nỗi nhớ, nỗi buồn, tôi thực hiện chương trình “Phạm Thiên Thư với Ngày Xưa Hoàng Thị và Đưa Em Tìm Động Hoa Vàng”, ngoài là Phạm Thiên Thư nhưng trong thực ra là tôi nhớ người Nhạc Sĩ.

Hè 2011, đã sáu năm trôi qua.

Hoa phượng tím đã úa tàn. Cuộc đời, nhạt nhoà như mầu hoa phượng, có thể xem như bắt đầu đếm ngược được rồi chăng.

Tôi không thể khoan dung với những kẻ đang thở không  khí tự do và phản bội. Nhưng“một người cha chọn con đường chết mong con mình sống” như bạn tôi nhận xét thì hôm nay, lòng tôi không dưng chùng xuống và tôi vẫn nghĩ rằng, một mai khi không còn bóng bạo tàn, những giòng tâm sự thật sẽ được bày tỏ. Tôi tin thế.

Hè 2011

(Tôi viết cho tôi và xin miễn không tranh luận)

(1) Trích từ mail Phạm Duy gửi Lan Chi những năm 2003-2005

(2) (3) (4) : trích từ mail  ba bạn hữu.

*** Nhà văn Duyên Anh lìa cõi tạm

Thư viện của bài

This gallery contains 1 photo.

Nhà văn Duyên Anh

Vĩnh Phúc

qua cái nhìn của một người bạn thân, Vĩnh Phúc, Senior Producer của đài BBC. Dưới đây là bài viết của Vĩnh Phúc từ Luân Đôn.

Hôm nay, mở e-mail, tôi thấy một bài, tựa đề 20 năm nhà văn Duyên Anh lìa cõi tạm. Tôi ngồi lặng người, để mặc cho bao nhiêu ký ức về Duyên Anh chợt dồn dập trở về.

Tôi còn nhớ như in, chiều ngày 30 tháng chạp năm Bính Tý, từ Luân Đôn tôi bàng hoàng nhận được tin Duyên Anh qua đời ở Paris ngày hôm trước. Tính theo dương lịch thì là ngày 6/2/1997.

Tang lễ cử hành 10 giờ sáng 14/2/1997, hỏa thiêu lúc 14 giờ cùng ngày. Cuối cùng, tôi đi tới quyết định phải kể lại những điều tôi biết về Duyên Anh, để giúp những người ái mộ nhà văn hiểu rõ hơn về anh, đồng thời đính chính những hiểu lầm của người đời, do vô tình hay cố ý.

Ngay khi Duyên Anh sống trên đảo Pulau Bidong chờ được sang Pháp sum họp với vợ con, anh đã liên lạc với tôi ở Luân Đôn. Và cũng vào thời gian này, rắc rối đã xảy ra. Hồi đó, có người kể lại với tôi rằng một số người trên đảo nghe nói là Duyên Anh làm ăng ten khi đi tù cộng sản, nên họ dọa đánh.
Tiếp tục đọc

*** TẦN HOÀI DẠ VŨ, MỘT MÌNH BƯỚC ĐI, BƯỚC ĐI MỘT MÌNH

Thư viện của bài

This gallery contains 1 photo.

Châu Thạch

Tần Hoài Dạ Vũ, một nhà thơ mà tôi mến mộ gần 60 năm trước. Anh nhỏ hơn tôi ba tuổi, nhưng khi tôi còn viết báo tường trong lớp học thì tên tuổi anh đã có trên văn đàn miền Nam Việt Nam. Thời đó thơ anh thường được đăng trên những tờ báo văn học có giá trị như Văn, Bách Khoa, Văn học v…v…

Sáu mươi năm sau, ở tuổi quá thất thập, tôi mới hân hạnh gặp được Tàn Hoài Dạ Vũ; ngồi uống cà phê cùng anh và nghe anh tâm sự về cuộc đời mình.

Anh cũng như tôi, đều đồng ý rằng, đời chẳng phải lúc nào mình cũng chọn đúng và cũng chẳng phải lúc nào đời cũng hiểu đúng mình.

Tôi tôn trọng anh bởi tình yêu văn chương và tình yêu quê hương nồng cháy trong con tim nóng hổi của anh.
Tiếp tục đọc

Nữ Văn Sĩ của miền Nam Nguyễn Thị Thụy Vũ

1969 1 NVanNgThiThuyVuNCaliST
 Nhà văn Nguyễn Thị Thụy Vũ
     Cụ bà tuổi 80, tóc bạc trắng, tai đã lãng, nhưng lối nói chuyện vẫn sắc sảo với chất giọng rặt Nam Bộ, cứ ngơ ngác hỏi đi hỏi lại cho rõ tên mấy độc giả mê văn thời cũ trước khi đề vài chữ vào bộ sách làm kỷ niệm.
     Trước 1975, cụ bà đó, Nguyễn Thị Thụy Vũ, tên thật: Nguyễn Thị Băng Lĩnh, là một trong năm nhà văn nữ nổi tiếng nhất miền Nam (bốn người khác: Túy Hồng, Nguyễn Thị Hoàng, Nhã Ca, Trùng Dương).
Gái bar và những người mẹ cao quý
     Tháng 3/2017, công ty Phương Nam Book liên kết với nhà xuất bản Hội Nhà văn cho in lại 10 cuốn sách của nữ văn sĩ miền Nam một thời, gồm ba tập truyện ngắn: Mèo đêm, Lao vào lửa, Chiều mênh mông và bảy tập truyện dài: Khung rêu (giải thưởng Văn học miền Nam 1971), Thú hoang, Nhang tàn thắp khuya, Ngọn pháo bông, Như thiên đường lạnh, Cho trận gió kinh thiên, Chiều xuống êm đềm.
     Cũng lần đầu tiên sau 42 năm, toàn bộ tác phẩm của nhà văn miền Nam này được in lại đầy đủ. Khác với các tác giả miền Nam trước đây, mỗi lần xuất hiện trở lại, báo chí thường dè dặt, nhưng với Nguyễn Thị Thụy Vũ, báo chí chính thống trong nước truyền thông nhiệt tình, có cả những bài báo muốn lái tác phẩm của bà về hướng “đấu tranh giai cấp”.
     Buổi ra mắt bộ 10 tác phẩm này tại đường sách Nguyễn Văn Bình (chiều 20/3) là một sự kiện đặc biệt.
     Cụ bà Nguyễn Thị Thụy Vũ giờ đây cũng không ưa nói nhiều về chuyện viết lách. Bởi đơn giản, nhìn lại cuộc đời văn chương của mình cùng những bể dâu, bà rốt cuộc cũng chỉ coi chuyện viết là “cày chữ nuôi con”.
1969 2 NguyenThiThuyVuNCaliST
 An Nam
     Sinh năm 1937 ở Vĩnh Long, trong một gia đình khá giả. Cha bà là nhà văn Mặc Khải, cô là thi sĩ Phương Đài đều hoạt động kháng chiến.
     Khoảng 1960-1965, bà dạy tiểu học tại Vĩnh Long, rồi không chấp nhận được môi trường sư phạm bó hẹp, khăn gói lên Sài Gòn học Anh ngữ ở Hội Việt Mỹ. Tại đây, ngay từ năm đầu tiên học tiếng Anh, bà được một bạn học (về sau mới biết, anh ta thuộc giới ‘ma cô’) giới thiệu đi dạy tiếng Anh cho các cô gái làm snack bar, những phụ nữ Việt Nam cặp kè binh lính, sĩ quan Mỹ.
     “Mấy cô gái cặp kè Mỹ để nuôi thân giữa Sài Gòn lúc đó tôi dạy thường ít học. Có khi một chữ ‘Hello’ dạy một tuần không thuộc. Tui mới nhận ra, họ đi học vì cần người tâm sự là chính.
…Nếu có nữ quyền trong truyện tui thì đó là viết một cách tự nhiên.
     “Có cô kia đã có năm đứa con với người chồng Việt, chiến tranh chồng chết nên phải đi làm nghề này kiếm sống. Cổ gửi con về bên ngoại, hằng tháng gửi tiền về nuôi. Tụi nhỏ ăn học và lớn lên, có đứa học tới đại học, nhưng không hề biết mẹ nó làm nghề đó.
     “Theo con mắt của tui, đó là một người mẹ cao quý. Cũng có cô đến mùa đông mặc một cái áo len cũ rách nhàu nhĩ. Tui hỏi thăm sao có tiền không chịu chưng diện, cô ấy nói chiếc áo len rách này là kỷ vật của mối tình đầu ở quê nhà”, nhà văn Thụy Vũ kể.
     Thực tế trần trụi, khốc liệt và cũng thấm đẫm buồn đau về đời sống những cô gái làm ở các snack bar, dan díu với lính Mỹ đã đi vào những trang viết của Nguyễn Thị Thụy Vũ, gây chấn động dư luận vào khoảng cuối thập niên 1960, đầu thập niên 1970. Với các tập: Mèo đêm, Lao vào lửa, Ngọn pháo bông,… Nguyễn Thị Thụy Vũ trở thành một hiện tượng văn học gây ngạc nhiên trên văn đàn miền Nam.
‘Như gái có chồng còn đi ăn sương’
     Về sau, Võ Phiến viết trong Văn học niềm Nam tổng quan nói về sách của Thụy Vũ là dạng sách mà “các thế hệ phụ nữ nước ta trước đó không mấy kẻ dám đọc, đừng nói đến chuyện viết”.
     “Mình tưởng tượng nhưng cũng từ trên thực tế. Truyện của tui, như Khung rêu, có thiệt trên 70%. Nên viết xong tui với ông già lục đục với nhau vài năm, ổng nghĩ ổng là nhân vật địa chủ trong truyện.
     “Truyện viết về gái điếm, gái bar tui viết xong có anh lính miền Nam tìm đến nhà xô cửa đi vào ôm tui vì tưởng tui là gái bar thì mới viết được như vậy. Cũng có anh cầm lựu đạn qua nói tui viết về ảnh và kêu tui phải lên tiếng xin lỗi,” bà nhớ lại.
     Mộ tài, chung sống với nhà thơ Tô Thùy Yên (một sĩ quan tâm lý chiến của chính quyền Sài Gòn, một trong những nhà thơ quan trọng bậc nhất của văn học miền Nam trước 1975) và có đến bốn mặt con, Nguyễn Thị Thụy Vũ chấp nhận một mình viết văn nuôi con.
     Bản quyền hình ảnh An Nam Image caption Nhà văn Nguyễn Thị Thụy Vũ trong buổi ra mắt sách hôm 20/03
    Bà kể: “Hằng ngày tui phải chạy đến các tòa soạn báo viết truyện feuilleton (truyện dài kỳ). Đến báo này viết ba trang rồi lại tất tả chạy qua báo khác, cứ như vậy. Trăm hay không bằng tay quen. Đẻ con thì tự cho mình được nghỉ ba ngày để vào bệnh viện. Đẻ xong lại giao con chạy đi viết.
     “Có chủ báo trả mỗi feuilleton ra là 20.000 đồng (tiền Việt Nam Cộng hòa), nhưng có ông chủ thì kì kèo bớt một thêm hai. Đó là cái nhục. Mình đi làm thuê cho người ta mà người ta coi đồng tiền to quá.”
    Bà coi Võ Phiến là người thầy, đàn anh nâng đỡ trong nghề văn. Những truyện đầu tiên bà gửi đến tạp chí Bách Khoa và được ông khuyến khích viết tiếp.
     “Việc viết feuilleton như là gái có chồng rồi vẫn đi ăn sương. Tôi coi tờ Bách Khoa chỗ ông Phiến khác nào ông chồng già hiền lành nghiêm túc lặng lẽ luôn chờ tui về. Viết cho Bách Khoa của ông Phiến, tui có cảm giác mình được làm văn chương,” bà Thụy Vũ kể lại.
     Hỏi, các nhà văn nữ thời đó có chơi với nhau không? Nguyễn Thị Thụy Vũ: “Không, tụi tui mỗi người một thế giới; ít gặp nhau đàm đạo văn chương như mấy ông. Tụi tui chỉ thăm nhau lúc đẻ.
     “Ông Thanh Tâm Tuyền nói rằng, phụ nữ không nên léo hánh chốn văn đàn, cần phải đuổi mấy bà vô bếp nấu ăn. Tui không tán thành. Nhưng mà thiệt tình tui lúc nào cũng thấy thua kém đàn ông về mặt sâu sắc. Lúc nào tui cũng nhượng bộ đàn ông chút xíu.”
     “Vậy bà có quan tâm đến nữ quyền không, ở thời điểm đó?” một người trẻ hỏi. Đáp: “Tui ít biết về cái đó. Nhưng nếu có nữ quyền trong truyện tui thì đó là viết một cách tự nhiên.”
‘Giải phóng’
 
1969 3 NgThiThuyVuNCali ST
 An Nam
     Cũng như nhiều người, bà quen dùng từ “giải phóng” để nói đến mốc sự kiện chính trị 30/4/1975. “Tui có chừng chục truyện viết xong xuôi rồi chưa kịp công bố thì “giải phóng”. Mỗi đêm, thằng Công an Khu vực ở làng báo chí Thủ Đức đến gõ cửa nhà tui lục soát ba lần. Tui thấy phiền phức quá nên đem mớ bản thảo đi đốt. Sau lại tiếc, mình cũng ngu, phải chi mình gửi về quê cho bà già là xong.”
     Bà kể tiếp về giai đoạn bị tra xét lý lịch, quan điểm: “Các ông Nguyễn Quang Sáng, Anh Đức thương tình, dặn tui ra trước cán bộ phải nói vầy, nói vầy để được cảm thông, nhưng tui vẫn nói thẳng thắn mọi chuyện theo cách của tui. Về sau ông già tui nói, ‘tao đã mở đường cho nó nhưng nó cứ chui vào chỗ khó’ nhưng ổng tự hào về tui vì tui có lý tưởng riêng.
     “Cuộc sống sau ‘giải phóng’ vô cùng khó khăn. Tui một mình nuôi bầy con nheo nhóc, có đứa bị thiểu năng nằm một chỗ. Tui phải để nó cho mấy đứa lớn cho ăn, chăm sóc còn mình thì đi làm thuê bán vé xe bus cho một người bạn.
     “Xe chạy tuyến Thủ Đức – Sài Gòn, từ sáng đến tối mịch mới về nhà. Về đến nhà thấy con cái đứa thì nằm ngủ trên vũng nước đái, đứa lêu lổng đi chơi không cho em ăn… nhìn cái cảnh đó tui muốn chết đi cho rồi. Khó khăn quá, năm 1980 tui bồng bế tụi nhỏ về Bình Phước nương nhờ má cho đến bây giờ,” bà kể.
    Xưa tui bỏ nó ở nhà đi làm báo, nó bị té, ảnh hưởng não nên nằm một chỗ đến giờ, vậy mà giờ nó nuôi tui bằng tiền từ thiện bạn bè, các nhà hảo tâm thương tình giúp đỡ…
     Làm nhiều nghề kiếm sống nuôi con, từ chăn dê, buôn bán, trồng tiêu…, cây bút nữ dấn thân nhất của văn đàn miền Nam trước 1975 đã không còn viết gì nữa kể từ sau “giải phóng”. Bà kể: “Ổng (tức, Tô Thùy Yên) thì theo gia đình vợ con ổng đi sang Mỹ, có đời sống riêng. Tui làm đủ nghề lo cho con.
    “Ba đứa con tui cũng thành nhân, yên bề gia thất. Có một thằng làm thơ, người ta nói nó có chịu ảnh hưởng của cha nó. Nhưng mấy con tui, đứa nào cũng nghèo, chẳng giúp gì được mình. Tui sống nhờ đứa con bị tàn tật.
     “Xưa tui bỏ nó ở nhà đi làm báo, nó bị té, ảnh hưởng não nên nằm một chỗ đến giờ, vậy mà giờ nó nuôi tui bằng tiền từ thiện bạn bè, các nhà hảo tâm thương tình giúp đỡ…”
     Người mô tả về xã hội bên lề Sài Gòn khốc liệt một thuở lại cũng chính là người chịu đựng những hệ lụy mà chiến tranh để lại.
     Trở lại văn đàn trong nước sau gần nửa thế kỷ, trong bối cảnh sách vở văn chương đang ở vào một giai đoạn hỗn loạn và phân hóa mạnh mẽ, thì tác phẩm của Nguyễn Thị Thụy Vũ minh chứng rằng, những gì là chân giá trị sẽ không bị phủ lấp dưới bụi thời gian và những định kiến.
Bài viết thể hiện văn phong và quan điểm riêng của tác giả sống ở Sài Gòn.

Inauguration Day of The 45th President

Thư viện của bài

This gallery contains 1 photo.

The 20th of January, 2017       *Dedicated to the Inauguration Day of the 45th President Donald J. Trump “Blessed are those who hunger and thirst for righteousness,             for they shall be satisfied.” (Matthew 5:6) Today is the 20th of January, … Tiếp tục đọc