Tình yêu diệu kỳ

Nổi bật

Lanney Trần Cảm Nhận

Lá thư mong manh #6

hpdanYêu Em Đến nghìn Năm
Ca khúc Khê Kinh Kha

Cali, ngày … tháng …

Tình yêu đã đến vào một ngày, một sức mạnh vô hình nào đó đã mở tung cánh cửa tâm hồn em khoá chặt từ lâu. Em nhỏ bé, lao đao và trốn chạy. Em sợ, em sợ những bước chân lạ lẫm làm lao xao một mặt hồ đang phẳng lặng; sợ vòng tay ấm áp một đời trói buộc trái tim em. Tình yêu ư, là cái gì rất bí ẩn trong cuộc đời. Anh biết kg, em đã cảm nhận được điều ấy từ khi em bắt gặp nỗi nhớ nhung da diết quằn quại đến trong lòng, nỗi buồn cũng đã đến vào những ngày chúng ta xa vắng nhau. Bằng bước chân cuồng nhiệt run rẩy, em tìm đến bên anh, mặc cho sương mù giăng lối đi và mặc cho mưa rơi làm cho chân em bước ngại ngần. Em đã đến. Anh đã cho em niềm hạnh phúc thật đầy và tình yêu em biết, em đang có trong tầm tay.

Con đường tình yêu của mình thật đẹp phải kg anh, hòa lẫn giữa những nhộn nhịp, rộn ràng, tất bật của cuộc sống là nhịp thở yêu đương nhẹ nhàng, bình dị, tự nhiên trong tình cờ. Anh đã đến bên em, trầm tĩnh, kiên nghị, uy nghi, kiên nhẫn cảm thông lắng nghe tiếng thổn thức của thất vọng; vỗ về xoa dịu những cơn đau buốt hành hạ thân xác. Để rồi cái vỏ bọc cứng cỏi, bướng bỉnh, chai sạn nhũn mình yếu đuối trước anh. Giọng nói ấm áp, ru em giấc ngủ bình yên với nụ cười hạnh phúc. Nụ hôn ân tình lên mái tóc, “anh chỉ muốn nhìn thấy em ngủ thật bình yên mỗi đêm.” Như một thói quen kg thể vắng trong đời, anh vẫn ru em dù cho mình có cách nhau nửa vòng trái đất với bao áp lực bận bịu của công việc, dù cho thời gian vẫn luôn đi ngược giữa hai phương trời. Trùng dương rộng lớn kg ngăn nổi tình anh để cho em có thể buông mình thả hồn thanh thản vào chốn thần tiên thơ mộng, nơi có những bụi hoa calla lilies trắng và cánh đồng lavender ngát hương – chỉ có anh và em. Cùng em chia sẻ những lo âu phiền muộn, vun đắp chăm bón ước mơ của ngày mai …

Cuồng nhiệt, đắm đuối với bao khát khao hoài vọng được dưỡng mình trong một dòng sông yên ả, hiền hòa, mát dịu và thanh khiết. Nhạc sĩ Khê Kinh Kha đã viết lên bài tình ca, có lần anh đã chia sẻ với em rằng, có lẽ là duyên, bài ca anh đã viết cho K & L … với câu “tôi có một tình yêu, nồng nàn cành Lan yếu…” Thật là ngọt ngào và lãng mạn như mối tình của hai ta … đúng kg anh?

Tình yêu anh dành cho em là ước mơ của nhiều thiếu nữ. Em Tạ Ơn Chúa cho tình thương và sự ưu ái Ngài dành cho em, cho hai ta, bao la hơn cả biển trời. Điều em có được hơn cả những lời nguyện xin.

Đêm nay trăng lại về giữa đêm thâu, bên kia bờ đại dương anh đang lạc loài và cô quạnh. Em nơi này cũng bơ vơ dõi mắt xót xa ngóng trông. Đêm đợi anh và đợi em – sau cơn mưa xuân nặng hạt, trọn kiếp người cập bến một trời vui, trọn cuộc đời ngón tay xen kẽ đi đến cuối chân trời. Trong tiềm thức sâu thẳm, em vẫn mong muốn tình yêu thiêng liêng trong thầm lặng. Còn gì kỳ diệu hơn bằng tình yêu của hai ta, và em muốn sống. Em muốn sống cho trọn vẹn, cho tận cùng những giây phút quý giá vô ngần ấy. Cám ơn Thượng Đế đã ban cho tình yêu, cám ơn định mệnh đã đẩy đưa cho chúng mình gặp gỡ giữa biển đời. Dù có muộn hay ngắn ngủi, nhưng vẫn ở lại tồn tại, mãi mãi chẳng tàn phai.
Ngủ ngon nhé anh yêu, gởi anh nụ hôn nồng nàn yêu thương.

Baby của Anh
Đêm mưa Xuân, Cali ’13

Tôi có một tình yêu
Rộn ràng như sóng vỗ
Miên man như gió chiều
Bềnh bồng như tóc xõa

Tôi có bờ môi thơm
Dịu mềm vầng trăng sáng
Bao nhiêu ngày mưa lạnh
Ngọt ngào từng nụ hôn

Tôi có bờ vai thon
Nghìn trùng vạt áo trắng
Em đi trong phố chiều
Ngàn cánh mây đi theo

Tôi có một con tim
Nồng cháy tình yêu em
Như yêu tình sông núi
Hương thơm tình lúa mới

Tôi có một con tim
Vừa mới biết yêu em
Yêu em tình nắng ấm
Yêu em tình sắc son
Yêu em đến…ngàn năm

Tôi có một đời tôi
Một đời mây phiêu lãng
Từ nay rất yên bình
Vì đời tôi có em

Tôi có một tình yêu
Nồng nàn cành Lan yếu
Hương thơm nghĩa vợ chồng
Ngàn năm mãi … mặn nồng
Ngàn năm mãi … yêu em…

Khê Kinh Kha

Vài cảm nhận

ĐẶNG XUÂN XUYẾN

Vài cảm nhận về thơ

VĂN THÙY “dị nhân”

*

Nghèo mà tài không được bằng ai nên tôi chọn sách (viết và kinh doanh sách) làm nghề kiếm kế sinh nhai. Ngót nghét hai mươi năm với nghề, khi thấy nghề sách có dấu hiệu “suy thoái”, tôi quyết định bỏ nghề, “về hưu” và tìm thú tiêu khiển với facebook… Lên mạng, tôi chăm chú đọc những bài về văn hóa tín ngưỡng, về đối nhân xử thế… chứ không mặn mà với thơ, truyện vì… ngại đọc, sợ phải “động não” nhiều nên khi thi sĩ Nguyễn Đăng Hành rủ Văn Thùy “dị nhân” đến thăm nhà – ở làng Đá, Ân Thi, Hưng Yên – tôi mới biết ông là thi sĩ cùng quê, là kẻ bấy lâu được giới văn chương “phong tặng” là “dị nhân”, là “lục bát giang hồ”… Cầm mấy tập thơ ông đề tặng, tôi cám ơn cho phải phép rồi cất vào tủ sách. Đêm. Ám ảnh bởi cuộc nói chuyện của ông, tôi vùng dậy “lôi thơ” của ông ra đọc.

Tôi thật sự bị thơ ông cuốn hút!

Ông tung hứng, nhảy múa với từng câu chữ. Ông bắt người đọc phải trầm trồ, ngả mũ vì cách chơi chữ táo bạo mà đắc địa: Phải tay này gặp Thị Màu / Chẳng sưng đầu mõ, cũng nhàu vú chuông… hay: Ngón tay ngọng mấy đốt rồi / Kể là chín vía chột mười cũng xong.

Câu chữ, qua sự nhào nặn của ông – của “dị nhân” Văn Thùy – trở nên sinh động, nhuần nhuyễn và tài hoa: Nửa đời bám gió leo mây / Hôm nay ngồi phệt mặt đầy rong rêu... hay: Con xuôi ngược nửa kiếp người / Vẫn quanh lọn tóc rã rời mái gianh. 

Viết về tình yêu với vợ (cũ), người phụ nữ từng nhiều năm đầu gối má kề, ông dành cho bà những lời dịu dàng, đằm thắm: Bao nhiêu chữ nghĩa hương hoa / Cũng bay về phía thật thà ngày xưa; bằng trải lòng rất thật: Quay về tầm mắt em thôi / Tắm trong giọt lệ thương người phù sinh. Ông dằn vặt, tự trách, ông nhận hết phần sai về mình: Nửa đời bám gió leo mây / Hôm nay ngồi phệt mặt đầy rong rêu / Mải mê thơ phú cánh diều / Bỏ trâu gặm cụt nắng chiều mồ côiTình yêu ông dành cho người vợ nhiều lắm nên bất chấp tính sĩ diện cố hữu của thằng đàn ông, ông thấp giọng “xin” bà cho ông cơ hội: Xin em hết sức lượng tình / Cho tôi tìm lại chính mình hôm qua. Và rồi, cả mãi sau đấy, khi bà rời xa ông, đã trở thành người phụ nữ “của người ta”, thì tình yêu ông dành cho bà vẫn âm ỉ. Sau nhữngTrong nhà luýnh quýnh một người chạy mưa”, ông ngồi thần người nghĩ về người vợ cũ. Hình ảnh người đàn ông cô đơn, tuổi xế chiều, cố nén tiếng thở dài để chặn tiếng khóc chực bật ra trong Nhà Dột như cứa vào tâm trí người đọc: Giá như đôi đũa chẳng cong / Thì đâu lẻ bóng long đong chống trời / Giá như… ừ… giá như thôi / Mình không dại dột chia đôi nếp nhà.

Có lẽ là người thất bại trong hôn nhân nên mặc dù khao khát một tình yêu mãnh liệt, luôn sẵn lòng đắm đuối với ái tình nhưng những khao khát, đắm đuối ấy luôn gặp phải sự cản trở từ chính con người ông. Những câu tếu táo, bông đùa: “Vừa ban thông điệp yêu đương / Bỗng dưng cả bộ dát giường động kinh”, hay “Có gì mạnh đến lạ thường / Yêu suông đã bốn chân giường còn hai” tưởng gia vị cho tình yêu thêm thi vị, máu lửa thì thực ra đó là lời chống chế ngầm của kẻ sợ sẽ bại trận trong tình yêu. Như con chim sợ đậu phải cành cong, ông đắm đuối, bỏng cháy với tình yêu nhưng lại dè dặt, e ngại mở lòng với cuộc tình “sắp” đến. Rất nhiều tính từ (có lúc lại là động từ) như “yêu chay”, “yêu khan”, “yêu suông”… được ông sử dụng để diễn tả tâm trạng e ngại, kìm nén những xúc cảm yêu đương: “Yêu chay nên chỉ dám sờ áo thôi”, “Yêu chay loang lổ mảng tường phong rêu”, “Đã âm thầm nỗi yêu khan”, “Đã thành hội chứng yêu khan”…

Ông viết nhiều về tình yêu trai gái, nhưng thường là thứ tình yêu trớ trêu, thuộc lứa nạ dòng gặp phải trai lơ, bằng thứ ngôn ngữ bình dị của người thôn quê pha chút ngông ngông, “bất cần” của gã trai “bụi” phóng đãng: Cổng chùa xin tiểu lỏng then / Kẻ trần tục dễ lẻn lên thăm chùa... hay: Em nguyền khổ hạnh ăn chay / Tôi thề uống cạn đắng cay cõi trần.

Nhưng khi viết về mẹ thì thơ ông lại trầm lắng mà da diết, từng lời, từng lời như bào xát tâm can, khiến người đọc day dứt, rưng rưng: Vinh hoa con ướm trên người / Phất phơ tóc mẹ dệt thời yêu thương / Đã đi nhẵn một con đường / Còn nghe tóc mẹ bốn phương rối bời / Con đi dọc nửa kiếp người / Vẫn quanh lọn tóc rối thời mái gianh – (Tóc Rối Của Mẹ Năm Xưa). Hay những câu thơ thật hay, thật sinh động, được viết bởi tấm lòng của người con hiếu thảo trong Hoài Cảm Tích Cũ khắc sâu trong tâm trí người đọc: Chân trần mài vẹt đường quê / Lưng về như đặt đoạn đê giữa nhà / Lá trầu dứt cuống đi xa / Nồng cay hương quế thơm qua xứ người.

Viết về mảng nào, dù là tình yêu trai gái hay nhân tình thế thái, thơ ông cũng có sự mượt mà, đằm thắm của ca dao, pha chút tếu táo, bỡn cợt của dân dã, cộng thêm chút khệnh khạng của Văn Thùy, đã tạo nên thương hiệu thơ rất riêng, rất “dị nhân” Văn Thùy, dễ say đắm lòng người.

Trong gia tài thơ ca của ông, có nhiều câu thơ đặc sắc, thể hiện nét tài hoa đặc biệt của ông, nhưng thật tiếc, sự lặp lại về tứ, về ý đến gần như sao y bản chính của không ít câu thơ: “Ngón tay ngọng mấy đốt rồi / Kể là chín vía chột mười cũng xong.” – “Ngón tay ngọng mấy đốt rồi / Kể là chín ngón hỏng mười cũng xong.”, hay: “Con xuôi ngược nửa kiếp người / Vẫn quanh lọn tóc rã rời mái gianh.” – “Con đi dọc nửa kiếp người / Vẫn quanh lọn tóc rối thời mái gianh”…, thậm chí sự tương đối giống nhau của cả những bài thơ (Xin Em – Xin Em Đừng Mặc Áo Dàyđã làm thơ ông xuất hiện sự nhàm chán, nhạt đi và bớt duyên, khiến những người yêu thơ, yêu sự sáng tạo, chỉn chu sẽ khó chịu, cho rằng ông lười sáng tạo nên mới xào sáo, làm giảm sức hấp dẫn với chính thơ của mình.

*.

Hà Nội, 26 tháng 12 năm 2016

ĐẶNG XUÂN XUYẾN

Khúc Tình Cho Em

Lanney Trần

DP1

Lời tiễn bước chân người – Lá thư mong manh 

Khúc Tình Cho Em – Nhạc Khê Kinh Kha

Cali, ngày … tháng …

Anh yêu,

Đêm lại trở về, lất phất mưa, hắt hiu, se lạnh những chiếc lá cuối đông, bịn rịn giây phút chia ly. Mưa rơi từng dòng, đọng nơi khoé mắt cay cay, khao khát một vòng tay ôm xiết chặt, tìm kiếm một bờ môi đắm đuối ngọt ngào. Em yêu mưa, những hàng mưa đan nhau hòa cùng nhịp tim thổn thức, nghẹn ngào. Mái tóc mây xõa dài, lắng đọng trong từng phím đàn điệu nhạc, giọng hát ai kia lênh đênh trong khoảng không gian xa vắng. Anh biết kg em yêu lắm, yêu những khoảnh khắc tình cờ, thiết tha. Trong màn mưa long lanh, bóng dáng anh kiên cường ngạo nghễ, cuồng nhiệt nhưng nồng nàn. Em chợt bắt gặp những hạt mưa nức nở, giọt nước mắt trinh trong rơi xuống trên phiến lá của đóa hoa xuân vừa chớm nở, tưởng như chẳng bao giờ khô cạn. Giọt nước mắt của tình yêu trong một lần tiễn chân người, ở một góc trời của riêng em – em đã có anh, em đã có những hạt mưa cuối đông, in khắc hình hài phút giây đáng yêu đong đầy trong niềm mong nỗi nhớ.

Anh yêu, tình yêu đã đến nhẹ nhàng nhưng đầy hương sắc của cả 4 mùa thu đông xuân hạ, ta nghiêng mình chờ đợi bóng thời gian. Đôi chim ríu rít trên cành đón nàng Xuân khoe dáng, rực rỡ nắng hanh vàng của mùa Hạ, lá thu lao đao buông mình để cuốn theo dòng nước trôi, tuyết phủ trắng mùa đông hàn lạnh giá. Dưới ánh đèn mờ ảo, em khẽ hỏi, “đến mùa nào để con thuyền cập bến đỗ bình yên, cho đôi uyên ương xây tổ – vỗ về tiếng côn trùng khóc nỉ non … ?”

Bên anh, em đã nghe được vọng bên tai điệp khúc quyến rũ của tình yêu, dịu dàng. Giữa màn đêm cô quạnh, anh dìu bước em đi, đi hoài kg biết mỏi. Em kg hiểu định mệnh đã cho mình gặp gỡ, kết se cho đôi tim quấn quít đượm nồng, rồi phải tiễn bước người đi xa. Thế gian thật có quá nhiều điều em chỉ có thể cảm nhận bằng xúc cảm mà kg thể giải bày. Lồng trong nỗi lo âu, cố dìm mình quên đi tất cả những muộn phiền đang trói buộc đọa đày thân phận người. Em nhắm mắt lắng nghe tiếng mưa, tí tách bên ngoài khung cửa, trên nhánh cây khô trụi lá suốt mùa đông, cơn mưa âm ỉ, dòng suối nước mắt – hạnh phúc hiện hữu chân thật của tình yêu chúng mình.

Đêm nay em nhớ thật nhiều những đêm dài cùng anh, hoà trong những khát khao và hoài vọng. Giữa cái khoảng cách dài đăng đẳng giữa hai phương trời, cuộc đời đã cho chúng mình hạnh ngộ giữa những nỗi buồn, niềm vui. Em đan kết niềm riêng gởi gió theo mây trời, anh góp nhặt u sầu trong sỏi đá – mình đã nhận ra và gởi thác vào nhau. Lọn tóc buồn thầm kín gởi cho người thủy chung lời vô tận, thời gian trong chuyến du hành tình yêu của đôi ta nào đâu có tuổi phải kg anh …?

Anh kể rằng, “cụm hoa lavender sáng ra chỉ nở mỗi một đôi, cũng như penguine kg thể sống thiếu đi một nửa của mình.” Tiếng hát, lời ru vẫn vương vấn bên tai. Trời Cali nắng ấm long lanh chờ đợi bước chân anh bình an trở về dắt tay em đi đến bên bờ suối trong xanh cùng những bụi calla lilies trắng chen lẫn những cụm lavender – tử yên bạch huệ, một đời tay trong tay suốt con đường, đến bên bến đỗ bình yên. Đêm gần tàn, bài tình ca cùng theo hai ta vào bến mơ tương phùng …

1ao dai trang

Ôi xa cách này chắc làm em hờn

Ôi xa cách này héo mòn tuổi xuân

Em ơi tình mình vần mãi bền lâu

Xin em nuốt lệ chờ ngày bên nhau.

Bây giờ là tháng mấy hỡi em yêu ?
Mùa thu mây có diu hiu ?
Mùa hạ mưa có giăng nhiều
Và em, tóc có rối buồn vì qua’ cô liêu ?

Bây giờ thương nhớ có đầy trong tim ?
Sao phố tình nhân không bước em
Sao đêm thanh vắng em ngồi khóc
Có phải em buồn vì nhớ thương anh ?

Em ơi ! Dù tình cách trở
Yêu nhau tình như hoa nở
Trăm năm nguyện mãi đợi chờ
Em ơi tình mình gắn bó
Như mây ngàn đời vẫn bay
Như trăng ngàn đời vẫn soi

Bây giờ tình đã nồng chưa em ơi !
Lớp học chiều nay sao vắng tiếng cười
Sao tóc em rối ?
Sao môi em nhạt ?
Có phải em buồn vì em thương nhớ tôi ?

Ôi xa cách này chắc làm em hờn
Ôi xa cách này héo mòn tuổi xuân
Em ơi em ơi tình mình vần mãi bền lâu
Xin em nuốt lệ chờ ngày bên nhau.

Khe Kinh Kha

TRẬN CHIẾN CHƯA NGƯNG:

Nguyên Lạc

ĐOẠN TRƯỜNG TÂN THANH VÀ KIM VÂN KIỀU TRUYỆN # 2

 

Bìa lưu tại Paris-Kim Vân Kiều - Thanh Tâm Tài Tử- quyển 1

                                                                      Phần 2

                     ĐOẠN TRƯỜNG TÂN THANH
                     VÀ KIM VÂN KIỀU TRUYỆN

ĐOẠN TRƯỜNG TÂN THANH

Như đã bàn ở phần 1, Nguyễn Du chỉ lấy tích truyện về 3 nhân vật, trước và sau một trận đánh vài giờ xảy ra thời nhà Minh để tạo nên một tác phẩm kéo dài 15 năm, từ Bắc Kinh cho tới Phúc Kiến lừng danh thế giới: Đoạn Trường Tân Thanh. Ba nhân vật trong tích truyện này là Thúy Kiều, Từ Hải, Hồ Tôn Hiến; không có Kim Trọng, Thúy Vân, Đạm Tiên, Thúc Sinh, Hoạn Thư, Tam Hợp, Giác Duyên trong đó. Thúy Kiều chết trên sông Tiền Đường, không có chuyện Thuý Kiều sống lại. Từ câu chuyện hết sức mờ nhạt, tầm thường này, Nguyễn Du xây dựng thành các tuyến tính Kiều, Hoạn Thư, Từ Hải, và chèn vào các nhân vật đệm. Trong này, nhân vật đa tình Thúc Sinh xuất hiện để làm tăng độ phong tình cho câu chuyện đầy nước mắt của một người phụ nữ cực kỳ hiếu thảo: Vương Thúy Kiều.
Sau khi Truyện Kiều ra đời, từ vua, quan, trí thức đến giới bình dân đều say mê. Riêng giới có học, bao thế hệ đã dựa vào Truyện Kiều để sáng tác, chuyển thể, vịnh, họa, cảm tác, cả bói Kiều…
Ngày nay có thể kể đến những tác phẩm trước 1925 như sau:

– Hậu Đoạn Trường Tân Thanh, văn xuôi, chữ Hán của Tiên Phong Mộng Liên Đường Nguyễn Đăng Tuyển (Tiếc rằng chỉ còn 2 hồi, lưu ở Viện Hán Nôm)
– Kim Vân Kiều lục của một tác giả khuyết danh, Phạm Tú Châu dịch.
– 3 hồi kịch Kim Vân Kiều của Trương Minh Ký
– Hàng trăm bài thơ vịnh Kiều của các danh sĩ Bắc Hà trong cuộc thi Vịnh Kiều do Nguyễn Khuyến chánh khảo gồm chữ Hán, chữ Nôm. Người đạt giải nhất là Chu Mạnh Trinh.
– Kịch bản Phim chuyển từ thơ Kiều sang tiếng Pháp của đạo diễn Famechon và kịch bản tiếng Việt của Nguyễn Văn Vĩnh cho cuốn phim Kim Vân Kiều công chiếu tại Hà Nội năm 1924.

Về tiêu đề Đoạn Trường Tân Thanh của truyện thơ Nguyễn Du, Mộng Liên Đường Nguyễn Đăng Tuyển đã giải thích rõ ràng:
-Tiên Phong Mộng Liên Đường Nguyễn Đăng Tuyển ( 1795-1880) người Bắc Ninh, là quan văn nổi tiếng đương thời với Nguyễn Du (1766- 1820), nhỏ hơn Nguyễn Du 29 tuổi. Ông viết bài tựa đề đầu tiên cho bản in, bản Phường, Đoạn Trường Tân Thanh năm 1820, ngay trong năm Nguyễn Du mất (tháng 9 năm 1820). Sau này ông cũng là người viết Hậu Đoạn Trường Tân Thanh bằng văn xuôi, chứng tỏ ông cũng như nhiều người khác hâm mộ Đoạn Trường Tân Thanh.
Bài của Mộng Liên Đình giải thích cặn kẻ tiêu đề tác phẩm là Đoạn Trường Tân Thanh: Giải thích nghĩa của tiêu đề và vì sao chọn tiêu đề như vậy. Xuất xứ tác phẩm, nhắc lại như Nguyễn Du đã viết, câu thứ 7 và thứ 8:

.
Cảo thơm lần giở trước đèn
Phong tình cố lục còn truyền sử xanh.

Xin được nhắc lại: Có sự lầm lẫn giữa “cổ lục” và “cố lục” đã giải thích ở phần 1:
– Cụm từ ” phong tình cổ lục” làm cho câu thơ có vẻ trang trọng, nhưng có thể dẫn tới hiểu lầm như ông Dương Quảng Hàm đã hiểu: Truyện tình cảm nam nữ trong sách xưa. Một cụm từ phổ biến.
Các bản chữ nôm đều viết ” Phong tình cố lục”. (Bản của Trương Vĩnh Ký dịch lại là “có lúc”, có lẽ thợ in sắp nhằm chữ lục vì trong bản nôm viết lục).
Chữ 古 cổ khác với chữ 固 cố. Cố là có, vốn có.
– Khi viết ” phong tình cố lục ” thì nghĩa khác: Phong tình có sách. Đây mới là câu của Nguyễn Du, hiệu đính bởi Kiều Oánh Mậu 1902.
Trần Trọng Kim và Bùi Kỷ 1925 hiệu đính cuốn Kiều Oánh Mậu lại dịch cữ “cố́” thành ” cổ”, chắc có thể các ông nghĩ hợp nét trang trọng với vế sau: “còn truyền sử xanh”: Một sai lầm đáng tiếc. Vì thế Dương Quảng Hàm mới hiểu như trên.
Bản dịch Vương Thuý Kiều của học giả Phạm Quỳnh, đăng trong Nam Phong Tạp Chí số 30, tức trong năm 1919, là văn bản dịch lâu nhất ta có. Phạm Quỳnh đã chứng minh cả lời nói của Nguyễn Du : “Phong tình cố lục ” và đề từ của Mộng Liên Đường: Truyện Thuý Kiều chép ở lục Phong tình, chuyện Phong tình nay cũng đã cũ rồi..” là có thật. Dưới đây là 3 trang bản dịch Vương Thuý Kiều trong Nam Phong Tạp Chí:

Nam Phong tap chi 30- 3(hình trang bản dịch Vương Thuý Kiều trong Nam Phong)

Trong “Đề từ Đoạn Trường Tân Thanh”của Mộng Đình Liên, đoạn dưới đây nhắc đi nhắc lại lục Phong tình với nghĩa là một cuốn sách cụ thể, chứ không phải “ phong tình cổ lục” là thành ngữ phổ biến.
“Truyện Thuý Kiều chép ở trong lục Phong tình, ta không bàn làm gì. Lục Phong tình cũng đã cũ rồi. Tố Như tử xem truyện, thấy việc lạ, lại thương tiếc đến những nỗi trắc trở của kẻ có tài, bèn đem dịch ra quốc âm, đề là Đoạn trường tân thanh, thành ra cái lục Phong tình vẫn là cái lục cũ, mà cái tiếng Đoạn trường lại là cái tiếng mới vậy”.

Phong Tình lục là một mục trong tuyển tập Ngu Sơ Tân Chí của Trương Trào (1650-1707), trong đó có bài Vương Thuý Kiều của Dư Hoài (1616-1696).
Truyện ngắn khoảng 3 trang giấy, chỉ nhắc tới nhân vật chính là : Vương Thuý Kiều và 4 nhân vật liên quan là La Long Văn – Từ Hải – Hồ Tôn Hiến, Hoa lão lão. Truyện viết khá, nhưng cũng chỉ vậy thôi.

Đây là trích đoạn bài viết của Tiên Phong Mộng Liên Đường Nguyễn Đăng Tuyển:

 Đề Từ Đoạn Trường Tân Than -Tiên phong Mộng Liên Đường Nguyễn Đăng Tuyển.
Trong trời đất đã có người tài tình tuyệt thế, tất thế nào cũng có việc khảm kha bất bình. Tài mà không được gặp gỡ, tình mà không được hả hê, đó là căn nguyên của hai chữ đoạn trường vậy. Thế là lại có kẻ thương tiếc tài tình, xem thấy việc, trông thấy người, thì còn nhìn thế nào được mà không thở than rền rĩ.
Nghĩa là bậc thánh mới quên được tình, bậc ngu không hiểu tới tình. Tình chung chú vào đâu, chính là chung chú vào bọn chúng ta vậy. Cho nên phàm người đã ít tình, tất là không có tài, chỉ nửa loà nửa sáng, sống chết trong vòng áo mũ, trong cuộc no say, dù có gặp cái cảnh thanh nhã như hoa thơm buổi sáng, trăng tỏ ban đêm, cũng chỉ trơ trơ như cây cỏ, như cá chim vậy
….
Truyện Thuý Kiều chép ở trong lục Phong tình, ta không bàn làm gì. Lục Phong tình cũng đã cũ rồi. Tố Như tử xem truyện, thấy việc lạ, lại thương tiếc đến những nỗi trắc trở của kẻ có tài, bèn đem dịch ra quốc âm, đề là Đoạn trường tân thanh, thành ra cái lục Phong tình vẫn là cái lục cũ, mà cái tiếng Đoạn trường lại là cái tiếng mới vậy.

Thuý Kiều khóc Đạm Tiên, Tố Như tử làm truyện Thuý Kiều, việc tuy khác nhau mà lòng thì là một: người đời xưa thương người đời trước, người đời nay thương người đời xưa, hai chữ tài tình thực là một cái thông luỵ của bọn tài tử khắp trong gầm trời này vậy.
Ta lấy một thiên mực nhạt, xa viếng nàng Kiều, tuy lời văn quê kệch, không đủ sánh với bức giao thiên, song đủ tỏ cái nợ sầu của hai chữ đa tình, tuy khác đời mà chung một dạ. May được nối ở sau cuốn Tân thanh của Tố Như tử, cùng làm một khúc Đoạn trường để than khóc người xưa.
Tháng hai, niên hiệu Minh Mạng, viết ở Thán hoa hiên đất Hạc giang.
Tiên phong Mộng liên đường chủ nhân. ] [Đề Từ Đoạn Trường Tân Thanh – Tiên phong Mộng Liên Đường Nguyễn Đăng Tuyển] [bản dịch của Bùi Kỷ-Trần Trọng Kim]

Bài của Mộng Liên Đình mới giải thích cặn kẻ việc Nguyễn Du lấy tích cũ trong Phong Tình lục, một mục trong tuyển tập Ngu Sơ Tân Chí của Trương Trào, trong đó có bài Vương Thuý Kiều của Dư Hoài (1616- 1696). Tôi xin trích đoạn bài của Dư Hoài, mời các bạn đọc:

Vương Thúy Kiều là người Lâm Tri. Từ nhỏ đã bị bán vào phường hát xướng, mạo xưng họ Mã, giả mẫu gọi là Kiều Nhi, dung mạo thì xinh đẹp bậc nhất, lại thêm thiên tính thông minh. Nàng được dẫn tới Giang Nam, dạy hát Ngô ca thì hát Ngô ca thông thạo, dạy gảy tỳ bà Hồ thì tinh thông gảy tỳ bà Hồ. Khi thổi tiêu thành khúc thì âm thanh trong trẻo, từng nhịp phách du dương vang lên theo giọng hát làm say đắm bao nhiêu vị khách ngồi. Kiều Nhi rất có danh tiếng ở trong chốn Bình Khang. Song Kiều Nhi tính tình nhã đạm, thường tỏ ra cách biệt, không tha thiết gì với son phấn điểm trang lẫn những môn thuật chiều chuộng khách. Gặp phải những khách buôn bụng phệ hay mấy lão thấp hèn ra giá đến ngàn vàng, nàng chỉ hững hờ liếc mắt rồi cười khinh, chứ chẳng thèm đếm xỉa hay trò chuyện lấy một lời. Do vậy giả mẫu thường nổi giận và đánh mắng. May thay có một chàng thiếu niên lén cho Kiều Nhi nhiều vàng, bày kế thoát khỏi giả mẫu, rồi nàng tự dọn đến sống ở Gia Hưng, đổi tên thành Vương Thúy Kiều.
Lúc bấy giờ, có người ở huyện Thiệp tên là La Long Văn, tiền tài dư dả, là một tay hào hiệp kết giao nhiều tân khách, thường qua lại với Thúy Kiều, còn gần gũi với một kỹ nữ khác tên là Lục Châu. Từ Hải người đất Việt là một kẻ hung tợn trộm cắp, bần cùng vô lại, đang bị bọn cờ bạc bức bách đến túng quẫn nên một mình lẻn vào nhà Thúy Kiều ẩn náu, ban ngày không dám ra gặp ai. Long Văn làm quen với Từ Hải, khen Hải là một tráng sĩ nên nghiêng mình kết bạn, nắm tay nhau đi uống rượu đến say sưa thỏa thích, còn sai nàng Lục Châu thân cận bên mình ra hầu hạ. Hải cũng không từ chối. Đang lúc men rượu bừng lên nóng đến mang tai, Hải vén tay áo cầm chén rượu, ghé sát tai Long Văn nói rằng: Mảnh đất này không phải là nơi tôi thỏa chí, bậc trượng phu há có thể cam tâm chịu đứng sau người khác mãi mãi ư? Ngài nên nỗ lực, tôi cũng quyết dốc sức từ đây. Mai này phú quý, xin chớ quên nhau!. Hải khảng khái hát vang khúc bi ca, ở lại thêm mấy ngày nữa rồi từ biệt ra đi.

Không bao lâu, Hải nhập bọn với Oa Khấu (Nhật – NL), trở thành một chúa tàu, thống lĩnh hùng binh trên mặt biển, nhiều lần xâm phạm Giang Nam. Năm Gia Tĩnh thứ 35 (1556), Từ Hải bao vây quân của Tuần phủ Nguyễn Ngạc ở Đồng Hương, Thúy Kiều và Lục Châu đều bị bắt. Hải nhìn thấy thì kinh ngạc nhưng cũng rất vui mừng, sai Thúy Kiều gảy tỳ bà Hồ để góp vui cho tiệc rượu, rồi ngày càng sủng ái, gọi là phu nhân, bắt các tỳ thiếp ra vái chào. Thúy Kiều được thương yêu hết mực, dù là quân cơ đại sự hay kế hoạch bí mật, nàng đều được phép ngồi nghe. Thúy Kiều bề ngoài thì tỏ ra thân thiết, nhưng trong lòng thì hy vọng họ thua trận, vì nàng vẫn luôn mong mỏi được về nước, dòng lệ cứ rưng rưng, thường lau mặt bằng nước mắt.
… Gặp lúc Tổng đốc Hồ Tôn Hiến đang khai phủ ở Chiết Giang, người này giỏi dùng binh, nhiều kế sách, muốn thu nạp Từ Hải
La Long Văn nghe phong phanh được tin tức, tự mừng thầm vì có tình thân cố cựu với Thúy Kiều, bèn nhờ thượng khách trong mạc phủ là Từ Vị người Sơn Âm đưa tới diện kiến Tông Hiến
Tông Hiến vui mừng, làm theo kế của Long Văn, mang thêm nhiều vàng ngọc châu báu âm thầm đến biếu tặng cho Thúy Kiều. Thúy Kiều dần động lòng, đêm ngày thuyết phục Từ Hải đầu hàng. Hải nghe theo nàng

Hải vừa bước ra ngoài, thấy quan binh tụ tập đông đủ thì trong lòng đã sinh nghi. Tôn Hiến có lòng thương tiếc cho Từ Hải, không muốn giết kẻ quy hàng, nhưng bị Văn Hoa bức bách, đành hạ lệnh, sai Tổng binh Du Đại Du cho toàn quân tiến lên. Gặp lúc trời nổi gió lớn, quân triều đình thừa cơ phóng hỏa, reo hò đánh trống và xông vào chém giết, quân Từ Hải thua to, tan chạy và bị tiêu diệt sạch. Hải vội vàng nhảy xuống nước nhưng bị bắt, chém lấy đầu, còn Thúy Kiều thì cho sống mà dẫn vào quân môn.
Tôn Hiến bày tiệc lớn khao thưởng các quan Tham tá, sai Thúy Kiều hát Ngô ca và mời rượu mọi người. Bọn Tham tá hoặc là quỳ trên chiếu, hoặc nhảy múa nâng chén, cùng chúc thọ Tôn Hiến. Tôn Hiến bị rượu làm cho say mèm hoa mắt, cũng vung tay múa giáo, đùa giỡn với Kiều Nhi. Đến khi tiệc loạn lên hết thì mới thôi. Sáng hôm sau, Tôn Hiến hối hận vì đêm qua say khước, bèn đem Thúy Kiều ban thưởng cho tù trưởng Vĩnh Thuận mới về hàng. Thúy Kiều đã theo tù trưởng Vĩnh Thuận, đi tới giữa sông Tiền Đường, nàng ưu uất đập giường và than rằng: Minh Sơn hậu đãi ta như vậy, nhưng ta lại đem quốc sự đẩy chàng vào chỗ chết. Hại chết một tù trưởng rồi lại thuộc về một tù trưởng khác, vậy bảo ta còn mặt mũi nào để sống ở trên đời nữa đây?. Nói xong, nàng hướng về ngọn sóng gào lên một tràng dài đau khổ, rồi lao xuống dòng nước mà chết.] [VƯƠNG THÚY KIỀU TRUYỆN -Tác giả: Dư Hoài-người dịch: Ngô Trần Trung Nghĩa] [Vương Thúy Kiều truyện -Tác giả: Dư Hoài]

Dư Hoài dựa vào bản viết khô khan và sơ sài của Mao Khôn (1512- 1606): “Kỷ tiễu trừ Từ Hải bản mạt” để viết thêm . “Kỷ tiễu trừ Từ Hải bản mạt” nằm trong bộ sách Trù Hải Đồ Biên của Tổng đốc đời Minh là Hồ Tôn Hiến soạn, gồm 13 quyển; ở quyển 9 có bài “Kỷ tiễu Từ Hải bản mạt” (ghi chép ngọn ngành việc đánh dẹp Từ Hải) kể lại chuyện quân Minh đánh nhau với quân Oa vào năm Bính Thìn (1556) đời Gia Tĩnh. Mao Khôn, đã từng phục vụ trong quân ngũ Hồ Tôn Hiến Khi Mao Khôn chết, 10 năm sau Dư Hoài sinh ra:

“Vương Thuý Kiều là kỹ nữ Lâm Tri, đầu tiên là Kiều Nhi, giỏi hát lối mới, thạo hồ cầm. Sau tìm cách trốn khỏi nhà xướng ca, đổi tên ở bên bờ biển. Nụy khấu đánh Giang Nam, bắt Thuý Kiều mang đi rồi trở thành áp trại phu nhân của Từ Hải. Từ Hải rất yêu quý nàng, mọi kế hoạch đều nghe theo nàng. Quan quân phái người đến chiêu hàng, Kiều đem nhiều việc đến khuyên, Hải mới quyết tâm hàng. Quan quân bố trí kế hoạch, Từ Hải thua chết, Thuý Kiều cũng bị quan quân cướp. Sau khi bị Đốc phủ làm ô nhục, Kiều bị gả cho tù trưởng Vĩnh Thuận làm thiếp. Trên đường qua sông Tiền Đường, Thuý Kiều than: Minh Sơn hậu đãi ta, ta vì việc nước dụ chàng mà bị hại. Giết một người chồng rồi lại lấy một người chồng, còn mặt mũi nào sống nữa! Bèn nhảy xuống sông mà chết.” [Kỷ tiễu trừ Từ Hải bản mạt – Mao Khôn]
………
(*) Trù Hải Đồ Biên 籌海圖編 là bộ sách do Hồ Tôn Hiến soạn, gồm họa đồ vẽ các vùng biển thường bị quân hải khấu Nhật xâm phạm và các kế hoạch trù định nhằm giữ gìn an ninh vùng biển. Bài Kỷ tiễu Từ Hải bản mạt 纪剿徐海本末 chép ở quyển 9 của bộ sách này là do Phó sứ Mao Khôn, thuộc cấp theo lệnh Hồ Tôn Hiến ghi chép, đã kể lại khá tỉ mỉ cuộc đánh dẹp Từ Hải. (Hồ Tôn Hiến – Trù Hải Đồ Biên, Cảnh Ấn Văn Uyên Các, Tứ Khố Toàn Thư, sách thứ 343. Đài Bắc, Đài Loan; Thương Vụ ấn thư quán, 1983 – theo Nguyễn Cẩm Xuyên)

@. Nhận xét:
– Trong truyện Vương Thúy Kiều truyện của tác giả Dư Hoài không thấy Kim, Vân, Quan, Mã Giám Sinh, Tú Bà, Bạc Hạnh, Bạc bà, Thúc Sinh, Hoạn Thư, Tam Hợp, Giác Duyên…
– Đoạn Trường Tân Thanh dài 3254 câu, 22.788 từ. Truyện Vương Thúy Kiều này ngắn chỉ 1100 từ vì khả năng tưởng tượng chỉ từng ấy. Các nhân vật Từ Hải, Hồ Tôn Hiến, chỉ xuất hiện trong đoạn cuối truyện Kiều gồm 436 câu, 3052 từ. So với trong toàn truyện Kiều, đoạn này chiếm 13%. Truyện ngắn của Dư Hoài kể về Hồ- Từ – Kiều so với trong thơ Kiều Nguyễn Du chỉ chiếm 1/3 độ dài. Vì trong Kiều thêm nhiều tình tiết như gắn bó với Từ Hải, báo ân trả oán. So với toàn truyện Đoạn Trường Tân Thanh thì truyện của Dư Hoài độ dài chỉ chiếm 4,8%.
– Giống như William Shakespeare, đại thi hào Nguyễn Du chỉ dựa vào tích truyện cũ, ít người biết đến, đưa nỗi lòng mình vào sáng tạo ra một tác phẩm bất hủ: Đoạn Trường Tân Thanh vinh danh cho nước Việt. Do đó Tổ chức UNESCO họp ở Paris nhất trí thông qua Nghị quyết số 192 EX/32 trình Đại Hội đồng UNESCO biểu quyết vinh danh đại thi hào Nguyễn Du là Danh nhân văn hóa thế giới đầu tháng 11/2013.

.
@ Có người thắc mắc là sao trong ĐTTT các tên nhân vật, xã hội đều từ China?

Tôi có ý này:
Cụ Nguyễn Du dễ dàng đổi tên Thúy Kiều bằng Hồng, Lan, Đào , Diểm nào đó; đổi tên tướng cướp Từ Hải bằng Hai Cọp, Ba Beo…, Hồ Tôn Hiến thành Nguyễn Đêm, Trần Ngày vân vân, và mô tả xã hội VN. Nhưng cụ dám không? Cái “Họa văn tự” khủng khiếp luôn treo trên đầu thời Phong kiến:
Ví dụ như Thi Nại Am sống đời Minh, viết truyện Thủy Hử đời Tống lâu 300-400 trăm năm mà còn vướng họa
Mời đọc những đoạn sau đây:

“Thủy Hử truyện” ra đời và nhanh chóng phổ biến ra ngoài. Minh Thái Tổ Chu Nguyên Chương đọc tác phẩm và vô cùng tức giận. Thấy Thi Nại Am viết sách ca ngợi phường “thảo khấu”, Minh Thái Tổ đã sai người bắt Thi Nại Am giam vào ngục, đồng thời phê rằng: “Đây là cuốn sách xúi giục dấy loạn của người có mưu đồ tạo phản, không trừ đi tất gây họa về sau”. [Wikipedia]
– Vụ án Minh sử triều Thanh: Đây là Văn nạn (họa văn tự ) thứ hai nổi tiếng khủng khiếp ở triều đại Mãn Thanh: Do tên cẩu nhân Ngô Chi Vinh tố giác với Ngao Bá (đại thần triều Mãn Thanh) bộ Minh Thư tập lượt (do Trang Kiến Long và những văn nhân khác biên soạn), những người học giả văn sĩ tham dự vào việc biên soạn bộ Minh Thư tập lượt (Minh sử) và toàn gia họ Trang mấy chục người từ mười sáu tuổi trở lên đều bị xử trãm. Còn đàn bà con gái thì phát lảng đến Thảm Dương để cho bọn kỵ binh Mãn Châu dùng làm tôi mọi.Vì bộ Minh sử mà nhà tan cửa nát, người chết không biết bao nhiêu mà kể. Thảm hơn nữa là bọn thợ thuyền khắc chữ, thợ ấn loát, thợ đóng sách và những chủ tiệm sách, người bán cũng như người mua cùng người đọc sách hể điều tra ra được là xử trãm hết (Lộc Đỉnh Ký – Kim Dung)
Các “Thiên triều” China vì muốn bảo vệ vương triều mình nên luôn luôn nghi ngờ ̀mọi người. Họ sẵn sàng tiêu diệt những ai dám phê bình họ , tiêu diệt những mầm họa từ “trứng nước” mà họ nghi ngờ cho ăn chắc. Các trào vua nổi tiếng trong vụ này là Minh thái tổ Chu Nguyên Chương và Minh thành tổ Chu Đệ và nhà Thanh.
Triều Nguyễn VN cũng không ngoại lệ khi khi vua Gia Long triều phục nhà Thanh. Nhờ Pháp giúp, sau khi tiêu diệt Tây Sơn, vua Gia Long vội vàng tránh Pháp vì e rằng tư tưởng tự do từ Pháp sẽ ảnh hưởng đến triều đại mình, quay lại triều phục phương Bắc, hủy bỏ Luật Hồng Đức, đầy tính nhân đạo, rập khuông theo bộ luật của Thanh với điều luật Tru Di tam tộc tàn độc để răn đe dân chúng.
Chính vì thế ai mà không sợ cái “họa văn tự”. Nguyễn Du cũng không ngoại lệ, để ngừa cái họa này, ông phải dùng tích truyện triều Minh bên China để viểt ra Đoạn Trường Tân Thanh. Vì truyện xảy ra ở China nên xã hội phong tục … phải Chinese, điều đó đâu có gì là lạ?

Đoạn Trường Tân Thanh của cụ Nguyễn Du sáng tác gồm 3254 câu, thuộc thể thơ lục bát – quốc thi của Việt Nam. Trong một lần tổ chức kỷ niệm sinh nhật cụ Nguyễn Du vào đầu thế kỷ XX, cụ Phạm Quỳnh nhắc đi, nhắc lại: “Truyện Kiều còn, tiếng ta còn; tiếng ta còn, nước ta còn”

KIM VÂN KIỀU TRUYỆN VÀ THANH TÂM TÀI TỬ

1. Nhan đề Đoạn Trường Tân Than

Nguyễn Du vốn đặt tên truyện thơ là Đoạn Trường Tân Thanh, được các bạn ông khắc in, bản Phường, phổ biến và dạy các nho sinh.
– Mộng Liên Đường Nguyễn Đăng Tuyển đề từ có nói đến Đoạn Trường Tân Thanh. Ông đã giải thích Đoạn Trường Tân Thanh là “tiếng kêu mới đứt ruột”(Đã giải thích trên)
– Phạm Quý Thích lại có bài “Thính Đoạn Trường Tân Thanh hữu cảm”:Bên cạnh nội dung truyện Kiều của Đại thi hào Nguyễn Du, bản Liễu Văn Đường còn có Bài tựa (bằng thơ Đường thất ngôn bát cú) của Lãng Đường Phạm Tiên sinh – Phạm Qúy Thích, bằng chữ Hán: “Đoạn trường tân thanh đề từ”(hoặc “Thính Đoạn trường tân thanh hữu cảm”).

Giai nhân bất thị náo Tiền Đường
Bán thế yên hoa trái vị thường
Ngọc diện khởi ưng mai Thủy quốc
Băng tâm tự khả đối Kim lang
Đoạn trường mộng lý căn duyên liễu
Bạc mệnh cầm chung oán hận trường
Nhất phiến tài tình thiên cổ lụy
Tân Thanh đáo để vị thùy thương

Dịch nghĩa:
Nếu người đẹp Thuý Kiều mà không đi đến sông Tiền Đường,
Thì nửa đời lầu xanh vẫn chưa trả xong nợ.
Mặt ngọc của nàng đâu cần phải chìm xuống thuỷ cung,
Lòng băng tuyết của nàng thì xứng đáng gặp chàng Kim lắm.
Giấc mộng đoạn trường nay đã biết rõ nguồn cơn,
Khúc đàn Bạc mệnh dứt rồi nỗi hận còn vương.
Vì một mảnh tài tình mà ngàn năm còn luỵ,
Tác phẩm Tân Thanh này vì ai mà thương cảm đau lòng.
(Nguồn: Dương Quảng Hàm, Việt Nam văn học sử yếu, Trung tâm học liệu xuất bản, 1968)

Câu 5 có 2 chữ “đoạn trường“, câu cuối của bài thơ này là:
Tân Thanh đáo để vị thùy thương” Dương Quảng Hàm dic̣h: “Tác phẩm Tân Thanh này vì ai mà thương cảm đau lòng”.

Cả hai bài, theo tục truyền Phạm Quý Thích đã in cùng Đoạn Trường Tân Thanh trước 1821, giảng cho học trò, nên mới có tập cho Minh Mạng xem. Điều này phù hợp với tục truyền của học trò ông: Bản phường – Hàng Gai Hà Nội. Cần thấy rằng học trò Phạm Quý Thích là những tiến sĩ, cử nhân, thám hoa… Nhiều vị đã kế thừa ông làm thầy, và học trò của các vị này lại làm thầy cho đến 1919 bỏ Nho học. Cho nên nói là tục truyền nhưng lại có giá trị vì thời gian liên tục và không lâu.

2. Nhan đề Kim Vân Kiều

Vì cái tên Đoạn Trường Tân Thanh (Tiếng kêu mới đứt ruột”) nhạy cảm chính trị, cũng như nội dung truyên thơ phê phán xã hội, đụng chạm đến chế độ phong kiến. Sự ra đời của nó không thể tránh khỏi những con mắt tinh tường của vua quan đầu thời Nguyễn. Nội dung của Đoạn Trường Tân Thanh “có độc” cho vương triều, mặc dù đã mượn tên chính sử Tàu và địa danh Tàu, nhưng cái tên nghe không ổn.
Tục truyền vua Minh Mạng ngồi uống trà và cũng đã phê bình câu “Dọc ngang nào biết trên đầu có ai” khi vua vừa mới lên ngôi năm 1820.
Có ông vua nào muốn nghe thiên hạ ngâm nga “Tiếng kêu đứt ruột” giữa thời ” thịnh thái” của mình trị vì không? Có ông vua nào thích nghe “Dọc ngang nào biết trên đầu có ai” không? Có ông vua nào thích nghe những lời phê phán xã hội, suy rộng ra là chỉ trích vương triều của mình không?
Vua Minh Mạng tìm các biện pháp khắc phục một sự việc đã rồi, với mục đích làm nhẹ ảnh hưởng tác phẩm đã được tuyệt đại quần chúng say mê: Minh Mạng tuyên triệu Phạm Quý Thích vào kinh đô năm 1821 nhưng ông cáo bệnh (theo tiểu sử Phạm Quý Thích) không vào triều kiến. Học trò ông, có nhiều người làm quan của triều đình đã bảo vệ ông.
Không có mặt Phạm Quý Thích và Mộng Liên Đường, Minh Mạng đành đổi tên Đoạn Trường Tân Thanh ra Kim Vân Kiều ( bản VN B60 có ghi bút tích đổi tên) và đã chỉ đạo Hàn Lâm Viện viết thêm bình giảng truyện Kiều theo hướng làm ngơ việc phản ánh xã hội, khiến nếu ai quan tâm thì xem đó chỉ là chuyện bên Tàu chẳng liên quan gì tới Đại Nam. Tập trung vào than tiếc và an ủi sự gian nan giữa tài và mệnh, như hình thức câu truyện.@

Có một nhận xét này:
Trong bản Kim Vân Kiều Truyện, quyển 2 có ghi: Quán Hoa Đường bình luận- Kim Thánh Thán ngoại thư. Ở Trung quốc, Quán Hoa Đường là nhà Kim Thánh Thán và bản ngoại thư của Kim Thánh Thán không có, không ai tìm thấy cả .
Trong khi đó ở Việt Nam: Hoa Đường là hiệu của Phạm Quý Thích, Thán hoa viên là nhà của Mộng Liên Đường Nguyễn Đăng Tuyển, hai người đã giới thiệu và bình Đoạn Trường Tân Thanh của Nguyễn Du.
Sự trùng hợp lạ lùng thay!
Mới đọc trích đoạn nói về việc đổi tên liên quan đến bút tích vua Minh Mạng trong VN B60:

[…Vua Minh Mạng đổi tên Đoạn Trường Tân Thanh của Nguyễn Du ra Kim Vân Kiều, đồng thời chỉ đạo Hàn Lâm viện soạn thêm các bản văn xuôi bình giảng thơ rồi duyệt và chọn 20 hồi bình giảng ghép thành một tiểu thuyết Kim Vân Kiều Truyện lấy tên Thanh Tâm Tài Tử. Tôi xin dẫn chứng 2 tư liệu quan trọng sau:
Tàng bản ký hiệu VN B60*: Bên trong là các trang thơ Truyện Kiều chữ Nôm. Bìa sách ghi bằng bút sắt:
明命御覽(賜)(名)斷腸新聲. 金雲翹傳 (mấy chữ này viết bằng bút sắt).
Phiên âm là:
Minh Mạng ngự lãm (tứ) (danh) Đoạn Trường Tân Thanh Kim Vân Kiều truyện.
Thông thường ta hiểu là: Minh mạng đã đọc ban ân (tứ) tên( danh) Đoạn Trường Tân Thanh: Kim Vân Kiều truyện.
Như vậy đây là bản Đoạn Trường Tân Thanh trình Minh Mạng duyệt và Minh Mạng đổi tên thành Kim Vân Kiều, có thể có chỉnh sửa, là bản gốc của bản Kinh về sau.
Cuốn này ắt có lưu ở Hàn Lâm Viện nên năm 1902, Kiều Mậu Oánh mới chú giải, lấy lại tên Đoạn Trường Tân Thanh, có sự kiểm duyệt của Hàn lâm kiểm thảo Ngô Thúc Dụ Thư.
…..
* Chúng tôi chưa có ảnh chụp cuốn VN B60 này, nên dẫn theo bài viết của Huy Hoàng Hoàng Phước Quyến và Lê Quang Thái, cả hai cùng trích từ Trần Văn Giáp ][Theo Lê Nghị]
……..
@. Nhận xét của tôi:
Bút sắt thời trước chỉ các vị vương giả dùng. Vua Minh Mạng chắc được các sứ thần Pháp tặng bút sắt, nên suy ra các hàng chữ viểt bằng bút sẳt là thật sự của ông.
……….
Trong tổng thuyết 1830 Minh Mạng đã viết “ Thanh Tâm Tài Tử cổ kim minh lương đề tập biên” ( Tập Thanh Tâm tài tử xưa nay, vua sáng tôi hiền chọn lọc) tôi đã nói ở phần 1.
Sự kiện tổng thuyết này đương nhiên là chỉ có quan chức liên quan tới nội trị và văn hoá. Nó cũng giống như nghị quyết của ban tuyên giáo trung ương ngày nay. Tổng thuyết không có nghĩa là lễ hội công khai, giới sĩ phu cũng chỉ nghe tường thuật từ các quan chức dự mà thôi. Ai tiết lộ điều gì trái lệnh vua là xử tội. Tổng thuyết không nhằm kỷ niệm thiên tài Nguyễn Du, không một lời nào đề cao Nguyễn Du rõ ràng, (Tự Đức sau này tục truyền còn đòi đánh đòn Nguyễn Du, và tổng thuyết của ông là hạ thấp Nguyễn Du)
Đến đời Tự Đức, một lần nữa lại tổng thuyết 1871. Tự Đức kiểm duyệt truyện Kiều, ông cũng lọc tiếp những từ ngữ mà ông cho là phản nghịch. Cả ông và Minh Mạng lái tư tưởng truyện Kiều đi vào ca ngợi và thương tiếc một kẻ tài hoa, làm nổi bật thuyết tài mệnh tương đố. Cố tình lờ đi những chi tiết phê phán xã hội, suy rộng ra là chỉ trích vương triều nói chung và nhà Nguyễn nói riêng. Cả hai ông đều giữ lại ngôn ngữ truyền cảm đỉnh cao hài hoà giữ dân gian và bác học.
Do vua Minh Mạng đổi tên nên các bản in sau này đều lấy tên Kim Vân Kiều Truyện, và sau đó Tự Đức đổi Kim Vân Kiều Tân Truyện. Cuốn thơ cổ nhất được in tìm được hiện nay mang tên Kim Vân Kiều là bản in 1866 thời Tự Đức. Năm 1875 khi Trương Vĩnh Ký chuyển ra quốc ngữ ở Saigon, lấy tên Kim Vân Kiều, không nhắc gì đến Đoạn Trường Tân Thanh
Tuy nhiên Minh Mạng cũng là vị vua anh minh hơn vị cháu nối dòng Tự Đức. Ông tự nhận ông đổi tên. ( Bút phê trang bìa VN B60 nói trên). Đặt biệt trong bài Tổng thuyết ông cũng tỏ vẻ tôn trọng tài năng của Nguyễn Du một cách gián tiếp. Một bài thuyết dưới thể phú biền ngẫu, hạn chế nhiều so với chiếu chỉ văn xuôi. Nhưng cũng đủ để hiểu rõ ràng ý của ông: Cuộc hội thuyết này gồm nhiều người ông gọi chung là Thanh Tâm Tài Tử, trong đó có cả ông (hợp trước phủ ba chi bút, liêu phân thiều bộc chi âm) Hai câu đó thể hiện có sự phân công mỗi người làm một số đề tài nào đó, có thể là từ 1821, khi Phạm Quý Thích không vào Kinh và ông đã duyệt lại Đoạn Trường Tân Thanh và đổi tên thành Kim Vân Kiều.
Cách bình giảng thơ Đoạn Trường Tân Thanh làm nhẹ ý nghìa của nó theo tôi nghĩ như sau:
Chỗ nào Nguyễn Du nói nhân vật làm thơ thì cuốn này cho vào một bài thơ. Chỗ nào tối nghĩa như “vành ngoài bảy chữ vành trong tám nghề” thì lấy kỹ thuật làm tình của Kim Bình Mai mà giải thích. Chỗ nào rất hồi hộp mà Nguyễn Du chỉ giản lược:
Lệnh quân truyền xuống nội đao
Thề sao thì lại cứ sao gia hình.
thì văn bình giảng miêu tả chi tiết các loại gia hình độc ác vô nhân (như tôi đã trích đoạn ớ phần 1 – NL) Nghĩa là theo từng câu thơ mà thêm rồng thêm rắn cho dễ hiểu cốt truyện; cùng làm như Kim Vân Kiều giống giống Kim Bình Mai, vì vậy mới có câu: “Đàn bà chớ kể Thúy Vân, Thúy Kiều”
Cách khắc phục của Minh Mạng là khôn ngoan và hiệu quả cho vương triều, nhưng để lại rắc rối cho đời sau. Người trong nước hiểu lầm và “ai đó” tận dụng xuyên tạc.
Đến năm 1883 vua Tự Đức qua đời, triều đình Huế lúc này thực chất chỉ là bù nhìn, toàn bộ chính trường đều do người Pháp đã đạo diễn . Lúc đó một cựu quan nhà Nguyễn, chủ bút tờ báo Đồng Văn là Kiều Oánh Mậu mới cho tái bản phục hồi tên cũ truyện thơ là Đoạn Trường Tân Thanh, có sự phụng mệnh vua đọc và kiểm duyệt của 3 cộng tác và Hàn Lâm kiểm thảo Ngô Thúc Dụ Thư. Thực ra, phải coi bản Đoạn Trường Tân Thanh do Kiều Oánh Mậu chủ trì biên soạn là cãi chính cuối cùng của đại diện triều Nguyễn, chứa đựng nội dung trung thực nhất: Ghi đúng tên, nguồn gốc của Truyện Kiều. Nói rõ hơn là khẳng định Đoạn Trường Tân Thanh có dính líu tới Phong Tình Lục của Dư Hoài và Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm Tài Tử không phải là nguồn gốc truyện Đoạn Trường Tân Thanh
Thực chất cuốn mà ngày nay bạn đọc thấy ghi: Kim Vân Kiều truyện -Thanh Tâm Tài Nhân – Nguyễn Duy Ngung và Nguyễn Đỗ Mục dịch là kết hợp ba tác phẩm khác nhau: thơ vịnh của Chu Mạnh Trinh để đầu hồi + dịch văn xuôi Kim Vân Kiều của Thanh Tâm Tài Tử+ lời bình của Kim Thánh Thán ( không hề tìm ra cuốn lời bình Kim Thánh Thán ở đâu!).[Theo Lê Nghị]

Về việc ghi đúng tên gốc của Truyện Kiều tôi đã giải thích rõ trong bài viết ” Về Nhan Đề Gốc Của Truyện Kiều” [1]

Tập hợp các bài viết bình giảng văn xuôi xen thơ minh hoạ sát theo tình tiết, theo lời thơ Nguyễn Du được đặt tên là ” Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm Tài Tử” như là một tiểu thuyết chương hồi. Như vậy Thanh Tâm Tài Tử là người Việt Nam . Mục đích chính nhằm đánh lạc hướng tâm sự “ưu thời uất thế” của Nguyễn Du – chỉa mũi nhọn vào đương triều và xã hội đương thời sau bao năm trải nghiệm và so sánh với xã hội Trung Hoa ông đã tận mắt chứng kiến trong đợt đi sứ năm 1813.
Nói cách khác, không có cụ thể một một cá nhân Thanh Tâm Tài Tử nào , mà là tên đại diện cho một tập thể giảng , bình, hoạ Kiều ở Đại Nam như đã bàn rõ ớ phần 1.
Về Thanh Tâm Tài Tử: Ở đây cũng nên giải nghĩa “tài tử” là cụm từ thông dụng để chỉ những người yêu văn hoá văn nghệ không quan trọng danh tính, những người có tâm hồn phóng khoáng, thích tụ họp với nhau. Đến ngày nay còn lưu lại trong cụm tử “ đờn ca tài tử”. Còn Thanh Tâm có thể dùng chơi chữ phiên thiết kết lại là tình. Cũng có thể hiểu là tâm trong sáng, vô tư. Biết đâu chọn cái tên Thanh Tâm Tài Tử cũng do gợi ý từ câu trong đoạn kết: “ chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài”. Dầu lý giải kiểu nào cũng là cái tên đẹp. Thanh Tâm Tài Tử là tên tượng trưng của những người bình giảng Kiều, kể cả vua. Giống với ngày nay người ta hợp thành hội Kiều học. (Lê Nghị)

Tại thư viện quốc gia còn lưu một tập: “Thanh Tâm Tài Tử minh lương đề tập biên” (mã số VN 240 ) gồm cả các bài tổng thuyết của Minh Mạng, Tự Đức, và các tác giả khác như Nguyễn Khuyến, Chu Mạnh Trinh…
Do Minh Mạng đổi tên nên các bản in sau này đều lấy tên Kim Vân Kiều. Cuốn thơ cổ nhất được in tìm được hiện nay mang tên Kim Vân Kiều là bản in 1866 thời Tự Đức. Năm 1875 khi Trương Vĩnh Ký chuyển ra quốc ngữ ở Saigon, lấy tên Kim Vân Kiều, không nhắc gì đến Đoạn Trường Tân Thanh.
Tổng Từ của Minh Mạng 1830 đã có tên là “Thanh Tâm Tài Tử”. Tất cả các tác phẩm liên quan đến bình, giảng Kiều đều xếp trong tuyển tập: “Thanh Tâm Tài Tử cổ kim minh lương đề tập biên”. Thanh Tâm Tài Tử cổ kim (nghĩa là các Tác giả trước, nay và hàm ý cả sau khi tổng thuyết, bao gồm cả Minh Mạng). Minh lương đề tập biên (nghĩa là vua sáng tôi hiền tuyển chọn). Theo đó thì các cuốn A953, Kim Vân Kiều lục và mọi cuốn , mọi thể loại khuyết danh đều gọi là của Thanh Tâm Tài Tử

@. Vài nhận xét thêm:
– Hình như tên Kim Vân Kiều bắt chước cách đặt tên của truyện ba nàng dâm nữ, mỗi nàng một kiểu: Kim Bình Mai . Đó là tên một cuốn sách hư cấu nổi tiếng in năm 1610. “Vành ngoài bảy chữ vành trong tám nghề “ là kỹ thuật làm tình của 3 nàng này với Tây Môn Khánh.
– Trong khi Kiều và Từ Hải chết năm 1556 là nhân vật chính sử, và truyện Kim Vân Kiều nếu do Thanh Tâm Tài Nhân là Từ Vị (1521 -1593) viết thì lẽ nào tác giả chết năm 1593 lại bắt chước 7 chữ 8 nghề theo cuốn sách viết sau đó 17 năm? Đó là chưa nói đến nhiều lý do để bài bác luận điểm Thanh Tâm Tài Nhân là Từ Vị. Không hiểu vì lý do gì mà các ông học giả nói Thanh Tâm Tài Nhân là Từ Vị? Sẽ bàn lại rõ vụ này ở phần 3)
Nói khẳng định là Đoạn Trường Tân Thanh có dính líu tới Phong Tình Lục của Dư Hoài, còn Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm Tài Tử không phải là nguồn gốc truyện Kiều Nguyễn Du, chỉ là những bài bình giảng văn xuôi phát xuẩt từ truyện thơ Đoạn Trường Tân Thanh

Sự kiện tổng thuyết này đương nhiên là chỉ có quan chức liên quan tới nội trị và văn hoá. Nó cũng giống như nghị quyết của ban tuyên giáo trung ương ngày nay vậy. Tổng thuyết không có nghĩa là lễ hội công khai, giới sĩ phu cũng chỉ nghe tường thuật từ các quan chức dự mà thôi. Ai tiết lộ điều gì trái lệnh vua là xử tội! Tổng thuyết không nhằm kỷ niệm thiên tài Nguyễn Du, không một lời nào đề cao Nguyễn Du rõ ràng, (Tự Đức sau này tục truyền còn đòi đánh đòn Nguyễn Du, và tổng thuyết của ông là hạ thấp Nguyễn Du)

Cách khắc phục của Minh Mạng là khôn ngoan và hiệu quả cho vương triều nhưng để lại cái họa cho đời sau: Người trong nước hiểu lầm và gián điệp văn hoá tận dụng xuyên tạc.

Mời đọc trích đoạn này từ nhà nghiên cứu Lê Nghị:

.
Năm 1830 Minh Mạng tổ chức tổng thuyết Kim Vân Kiều truyện ( tức Đoạn Trường Tân Thanh) và nêu lên mục đích của cuốn bình giảng Đoạn Trường Tân Thanh viết bằng văn xuôi. Sự kiện này Minh Mạng đã viết trong “ Thanh Tâm Tài Tử cổ kim minh lương đề tập biên” ( Tập Thanh Tâm tài tử xưa nay, vua sáng tôi hiền chọn lọc. So ảnh trang đầu bên dưới)
Trong đó có nói lý do tuyển chọn tập :
Hà do trùng phát u quang, bổ khuyết nhi thành tín sử ( vì sử sách xa mù, nên bổ khuyết để căn cứ làm tin).
Đoạn giữa bài thuyết chủ yếu nói đến thân phận nàng Kiều, đồng cảm và an ủi với tài và cảnh luôn xung đột, nửa Khổng nữa Phật.
Đoạn kết lại kết lần nữa nhấn mạnh:

Nại hà:
Ngọc nhan bất tác, trúc hãn nan bằng
Tài tử tình thư, cánh lạc ư kim ngọc tượng chi ngoại
Giai nhân tâm sự, tẫn phó ư phong sương binh hỏa chi dư
Thánh Thán bất phùng, hàn yên tán mạn
Hoa Đường dĩ viễn, phá bích tiêu điều

Sở đương mịch kỳ di biên, cáo chư đồng chí
Truyền thân tả chiếu ly tảo trích hoa
Hoá công họa công, hợp trước phủ ba chi bút
Thiên thế bách thế, liêu phân thiều bộc chi âm
Thượng dĩ hoàn luân đài kiểm điểm chi sơ tâm
Hà dĩ bị nghệ uyển bình chướng chi giai thoại

Diệc cổ kim lai tài bình nhất vận sự nhĩ.
( Minh Mạng tổng thuyết)

Tạm dịch nghĩa:

Ngặt nỗi:

Người ngọc chẳng gặp, sử xanh khó làm bằng chứng
Sách tình của tài tử (thì) chỉ là phủ bên ngoài ý vàng ngọc
Tâm sự giai nhân cứ đổ cho thời gian, chiến tranh hủy hoại
Thánh Thán (1) chẳng gặp, khói sương mờ mịt
Hoa Đường (2) đã khuất , tường vách tiêu điều

(Vì vậy) cần biên soạn để lại, thống nhất ý chung
Nghĩa đen nghĩa bóng, tránh lầm xấu tốt.
Trời với người hợp sức múa bút búa rìu cho rõ
Trăm tới ngàn năm phân bàn bật tiếng thơ
Trước là để hợp tâm đầu người đã khuất
Sau góp thêm bình luận chuyện văn chương
Tự xưa tới nay bàn sao nghe cho tốt đẹp.
Mở đầu là Thanh Tâm Tài Tử cổ kim, kết thúc là Diệc cổ kim lai cho thấy không phải là một Thanh Tâm Tài Tử, không phải là một tác giả mà là tập hợp nhiều người, người Việt Nam.
………
(1) Thán hoa viên là nhà của Mộng Liên Đường Nguyễn Đăng Tuyển
(2) Hoa Đường là hiệu của Phạm Quý Thích

Thanh Tâm Tài Tử ( Tổng thuyểt 1830- Minh Mạng)

(Hình Tổng thuyết Minh Mạng -trang trong – 1830)

Từ thời vua Minh Mạng đến đầu thế kỷ 20 đã có ba thế hệ thi gia Việt Nam viết về Kiều, tổng hợp thành 3 thi tập. Mời cảc bạn đọc trích đoạn sau đây của ông Hoàng Hải Vân:
[… Tập đầu tiên soạn khi Minh Mạng mới lên ngôi (1820) gồm những bài thơ xướng và họa bằng chữ Hán dựa theo từng hồi của Kim Vân Kiều truyện, do Phụ chính đại thần Hà Tôn Quyền chủ xướng, đến năm Minh Mạng thứ 11 (1830), đích thân nhà vua viết một bài Tổng thuyết cho thi tập, cũng bằng chữ Hán. Vào năm 1871, tập tiếp theo do Tự Đức chủ xướng, đích thân nhà vua làm các bài thơ xướng cho mỗi hồi và viết lời tựa (Tổng từ)chung cho thi tập. Tập thứ ba ra đời vào cuối thế kỷ 19, có Chu Mạnh Trinh và Nguyễn Khuyến tham gia. Những bản chép tay các tập thời Minh Mạng và Tự Đức mang tên “Thanh Tâm tài tử cổ kim minh lương đề tập biên” (nghĩa là : Các bài của các tài tử vô tư xưa viết, nay nhân vua sáng tôi hiền tập hợp lại – NL) hiện cũng được lưu giữ tại Thư viện quốc gia Hà Nội, ký hiệu VNV 240. – Hoàng Hải Vân...] [Cần công bằng với Thanh Tâm Tài Nhân – Hoàng Hải Vân][2]
***
Tóm lại, Việt Nam thời Minh Mạng 1830 có một truyện thơ Kiều của Nguyễn Du bị đổi tên là Kim Vân Kiều, và một cuốn văn xuôi bình giảng thơ Kiều: Kim Vân Kiều Truyện của Thanh Tâm Tài Tử, tập hợp 20 bài bình giảng, cuả nhiều người do vua Minh Mạng tuyển chọn soạn ra.

(Còn tiếp phần 3: Kim Vân Kiều Truyện Thanh Tâm Tài Nhân )

Nguyên Lạc
………………..
Ghi Chú:
[1] Về Nhan Đề Gốc Của Truyện Kiều – Nguyên Lạc
https://nguyenlac.blog/2019/09/05/ve-nhan-de-goc-cua-truyen-kieu-nguyen-lac/
[2] Cần công bằng với Thanh Tâm Tài Nhân – Hoàng Hải Vân
http://www.hoanghaivan.com/search?updated-max=2009-05-02T18:54:00%2B07:00&max-results=2&reverse-paginate=true

ĐỌC “VỀ QUÊ …”

Thư viện của bài

Bùi Đồng
ĐỌC ‘VỀ QUÊ ĐI MÀY’
CỦA ĐẶNG XUÂN XUYẾN

*

VỀ QUÊ ĐI MÀY
– Với Nguyễn Xuân Thành –

 Mày về quê chơi đi
Tao lại dạy mày chơi trò trận giả
Mày lại dạy tao bóng chuyền bóng đá
Lông nhông đầu làng cuối ngõ
Cướp cờ
Đánh đáo
Đủ trò
Mày khờ khạo
Tao ngây ngô
Nghéo tay cưới chung một vợ
Bọn bạn bảo tao mày 2 thằng dở
To xác rồi đầu vẫn cứ ngu ngơ.

 Mày về quê chơi đi
Biền biệt thế
Bặt tin như thế
Tao nhớ mày
Rượu tao uống chẳng say
Đêm cuối cùng mày nói thật hay
Khắc trong tim bạn hiền tri kỷ
Nghéo tay tao hẹn ngày trở lại
Hai mấy năm trời
Nước chảy bèo trôi… 

Mày về quê chơi đi
Về với tao. Về với thời thơ dại
Về đi mày
Đừng lời nói gió bay.
*.
Làng Đá, Ngày 11 tháng 12 năm 2014
ĐẶNG XUÂN XUYẾN

LỜI BÌNH:

Ha…ha…một căn bệnh thời đại.

Có khác chi nhiều người đâu?! Tác giả thèm gặp lại bạn xưa, thèm sống lại kỷ niệm xưa, thèm gặp lại mình… của ngày xưa!

“Mày về quê chơi đi”, tiếng gọi luyến tiếc, năn nỉ đến mấy lần, làm toàn bài thơ cứ đau đáu, trầm buồn nhưng lạ là không bi lụy. 

Bài thơ này không thấy tác giả gọi rông nữa vì tình cảm của “Về Quê Đi Mày” là nghiêm túc thật sự, thông qua một tình bạn ngây ngô từ thời thơ dại để làm phương tiện cho vấn đề đáng nói hơn đó là tình yêu quê hương đất nước. Có như vậy người Tiếp tục đọc

Tình Thu Yếu Đuối

Lanney Trần Cảm Nhận

chieuTình Thu Yếu Đuối

Nhac Khê Kinh Kha

Tình thu dịu dàng

Cali, ngày … tháng …

Anh thương yêu,

Trời phủ hơi sương se lạnh, lưa thưa vài áng mây mỏng lang thang lơ lửng mình giữa kg trung, lượn lờ nhìn dịng người vội vã với cuộc sống.  Ngọn giĩ hiu hiu dịu mát, chợt em nhận ra – mùa thu đã về rồi anh ạ…

Mùa thu mà cả anh và em cùng chờ đợi, những chiếc lá vàng chao liệng dịu dàng đáp mình trên đường phố, trên bệ cửa sổ… và trên vai em …, chiếc lá mỏng manh như người thiếu nữ giữa làn giĩ bấc. Em rất yêu mùa thu, thống yên ả trầm tĩnh sau những ngày nĩng bỏng gắt gao vất vả lao đao của mùa hạ.  Mình đã đi qua một mùa hè của yêu thương sau những hờn mát, sau những hiểu lầm … để rồi anh và em, hai quả tim quyện vào cùng một nhịp, anh dìu bước em vào mùa thu, mùa của dịng nhạc, vần thơ lãng mạn và những cơn mưa dịu mát gội rửa cát bụi đường.

Cám ơn anh, anh yêu.  Những tháng ngày vừa qua là chuỗi ngày hạnh phúc nhất trong đời của em.  Em kg cịn ngần ngại cố chấp, bướng bỉnh đè nén, che giấu cảm xúc của mình.  Em kg cịn lạnh lùng vơ cảm mà ngược lại em cảm thấy dễ chịu khi dịng nước mắt vừa ấm vừa mặn được tự do lăn dài trên má muh kg bị một áp lực tự ái nào ngăn cản.  Em chẳng cịn ngại ngần, đơ lưỡi… em thật hạnh phúc khi cĩ thể cất lên 3 tiếng mà cả cuộc đời em đã nhiều lần lẩn né, trốn tránh – “Em yêu Anh”.

Anh biết em yêu màu trắng, màu của calla lilies tinh khiết, những đóa hồng trắng của tình yêu hai ta, kg kiêu hãnh như đóa hồng đỏ thắm, cũng chẳng đài các như nhánh phong lan mà bao người ngưỡng mộ – chỉ giản dị và thuần khiết.  Anh chính là bến bờ bình yên mà người con gái ướng bướng ao ước được kề vai tựa đầu… hôm nay, ngày mai và suốt quãng đường còn lại của mình.  Vì kg ai hiểu em như anh và cũng chẳng ai yêu anh như em …

Anh đã lặng lẽ ở bên em, âm thầm dõi bước chân em trong suốt nhiều ngày tháng mà em đã vô tình kg nhận ra … vì bận rộn của cuộc sống, vì sự bề bộn phiền toái của tình yêu và nỗi đau quá khứ mà em gồng mình trốn chạy.  Anh vẫn âm thầm bên em.  Anh khơi lại niềm tin ở trong em mà đã rất nhiều ngày nguội lạnh, ngỡ như tan biến vào sương khói. Anh đã giúp em nhận ra rằng, dù kiên cường mạnh mẽ đến mấy em vẫn có thể nương tựa vào một bờ vai để kg phải gồng mình mệt mỏi đi qua từng cơn sóng đời; em kg còn phải tự nhốt mình vào trong cái lao tù kiên cố lạnh lẽo kiêu hãnh của sự cơ độc nữa – can đảm chấp nhận tình yêu mà anh mang đến cho em.  Một con đường mới, một khởi đầu mới – “A New Beginning” – như những cành iris anh gởi đến cho em.  Em đã hiểu tình yêu của người khác được bắt đầu bằng ánh mắt, nụ cười – còn riêng với em, thì nó là dòng nước mắt, dòng  nước mắt của hạnh phúc chỉ rơi cho riêng anh mà thôi. Anh đã từng nói với em, “điều anh cần là nhìn thấy em hạnh phúc, dù em có là của ai đi nữa, anh cũng sẽ vẫn âm thầm ở bên em…”

Anh ạ, người đó chính là anh, hạnh phúc của em là anh, bến bờ bình yên của em chính là anh.  Trong những nỗi nhớ da diết, nụ cười vẫn tỏa dáng trên môi mỗi khi em nghĩ đến anh.  Anh biết kg, “you are my last thought before I fall asleep, and you are my first thought when I awake…”

Yêu anh, em nhận biết được sự kỳ diệu của tình yêu mà kg một logic nào có thể giải thích được thoả đáng. Luôn nghĩ rằng nhánh cây tình yêu nếu kg được tưới nước, chăm sóc thì sẽ mau chóng tàn lụi. Nhưng tình yêu của anh dành cho em kg có hạn định, kg có rào cản, cũng chẳng có thời gian kỳ hạn, ngạc nhiên ư … vì em biết rõ chờ đợi một người là khoảnh khắc cô đơn nhất trên thế gian này nhưng anh vẫn bền vững yêu em trong sự kiên trì và can đảm như tảng đá hùng vĩ ngồi giữa đại dương xa thẳm đối diện với sóng lớn biển gào …

Anh thường đùa rằng, “anh đã tìm em mấy mươi năm, nhưng khi tìm gặp được em thì anh lại đi đường vòng, để xem đến khi nào em mới nhận ra anh là người bạn tình sẽ đi hết quãng đường còn lại đến cuối đời cùng với em…” – Với cái tính gàn bướng của em, vẫn thường hỏi mình, “cớ sao tình yêu của anh lại có thể đâm chồi nảy lộc nhanh chóng và kéo dài trong sự chờ đợi âm thầm lặng lẽ như vậy …?”

“Đợi tình em mong manh
thương em bờ tóc ngắn
từng mùa thu không em
từng ngày từng tiếc nuối
trong tim này thu chết em ơi!

Một mùa thu chưa say
một đời chưa quen hơi
tình nồng sao phôi phai
để tình thu yếu đuối.”

Chẳng có câu trả lời nào thích ứng cả, chắp tay làm dấu Thánh, “Tạ Ơn Chúa đã mang tình yêu thật sự đến để cảm hóa trái tim chai sạn, lỳ lợm, ngoan cố của con.”  Tình yêu kg thể dùng logic để phân tích, cũng kg thể dùng trí khôn kiêu ngạo để luận giải, kg thể dùng biểu đồ phức tạp để đong đo, cân đếm – vì vốn dĩ nó rất đơn giản, một sự kết hợp giản dị, đơn thuần và tha thiết nhất – “anh là hơi thở của em, và em là nhịp đập của trái tim anh – tuy hai là một.”

Con đường phía trước còn dài, và em hiểu được anh đang gắng công từng bước xây dựng tương lai cho chúng mình.  Em cám ơn anh, dù gian nan thế nào, em vẫn sẽ bên anh, cùng anh từng bước như anh đã từng ở bên em âm thầm trong suốt nhiều ngày tháng.

Nếu em có thể phát họa lên bức tranh tình yêu của hai ta, thì  nó sẽ là một bức họa mùa thu yên ả, thanh bình với một vẻ đẹp của sự bình yên và thơ mộng nhất mà chẳng có mùa đông-xuân-hạ nào có thể sánh bằng. “Một mái ấm thật hạnh phúc đầy ắp tiếng cười của anh, của em, của chúng mình …” – Em tin tình yêu của mình sẽ đạt được điều anh mơ ước.  Em yêu anh. “Mùa thu có lá vàng rơi, bao nhiêu chiếc lá, yêu người bấy nhiêu.”

Baby của anh

LanVy~

Tình Thu Yếu Đuối
Sáng tác: Khê Kinh Kha
Ý Lan Trinh Bay

Trời vào thu em ơi
quanh đây đầy lá úa
tình buồn theo mưa rơi
lòng sầu đầy thương nhớ
trong sương mờ
anh đợi chờ.

Đợi tình em mong manh
thương em bờ tóc ngắn
từng mùa thu không em
từng ngày từng tiếc nuối
trong tim này
thu chết em ơi!

Một mùa thu chưa say
một đời chưa quen hơi
tình nồng sao phôi phai
để tình thu yếu đuối.

Từng mùa thu xa em
tim đau bao nỗi niềm
từng ngày ta yêu em
một đời đêm tối vây quanh.

Tình mùa thu không em
không em cười trong nắng
một mình anh bâng khuâng
nhặt từng giọt nắng ấm
anh ngỡ rằng
môi em nồng.

Từng mùa thu xa em
xa bao tình yêu mến
thèm bờ môi em ngoan
lòng này còn hoang vắng
ôm lá vàng
anh khóc tình em.

Khê Kinh Kha

(Michigan1970)

ÁNH TUYẾT, HỒN THU TRONG TIÊNG HÁT

anh tuyet

Ngoài Thái Thanh và Khánh Ly ra, tôi rất mến mộ nữ ca sĩ Ánh Tuyết, cũng như Thái Thanh và Khánh Ly, Ánh Tuyết lúc nào cũng dịu dàng va kín đáo trong chiếc áo dài thướt tha của một hình dáng đoan trang phụ nữ Việt Nam, và tôi yêu cái giọng hát vút cao như gió thoảng qua cành lá vàng của rừng thu, đã làm đắm say bao khán giả.

Mùa thu vàng úa giữa trời gió lạnh, hay trong cơn mưa về, mang cho ta nhiều nỗi niềm cô quạnh, nhiều tiếc nuối của một cuộc tình xa vắng như bóng sương mờ, có lẽ mùa thu cũng có nhiều dấu vết tình sầu trong Ánh Tuyết cho nên nữ ca sĩ này hay thường hát những ca khúc mùa thu, với chất giọng chứa chan đầy cung điệu buồn mang mác của hồn thu lá rụng, Ánh Tuyết đã làm cho những ca khúc mùa thu đã buồn lại thêm sầu tủi hơn, đã lãng mạn lại càng thêm trữ tình và đã đầy xót xa lại càng thêm lệ ướt.

Với lòng đam mê trong âm nhạc mùa Thu, Ánh Tuyết đà không ngừng đi tìm cho mình những tình ca chứa chan bao lá vàng, sương lạnh và nắng hanh vàng, của mùa Thu ảm đạm, của tình yêu, của rã rời mục nát như lá vàng khô trên thảm cỏ hay trong tim người va` của gió lạnh qua hồn cô quanh. Có lần Ánh Tuyết tâm sự: “Đời người như Xuân, Hạ, Thu Đông …khi còn trẻ thì đời như mùa Xuân xanh tươi đầy hoa lá, khi trưởng thành thì đời như mùa Hạ nóng bỏng . Nóng trong tình yêu, nóng trong bon chen, nóng trong sư.nghiệp, nóng trong gia đình … để rồi dần bước vào tuổi mùa Thu lành lạnh và vàng úa, đế nhìn lại một khoảng đường đã qua đầy sóng gió, đầy rạo rực đam mê cùng như đầy tiếng cười dòn tan hay nước mắt âm thần trong đêm hiu quạnh …. và thật lòng Ánh Tuyết rất yêu mến mùa Thu …”. Đúng vậy, tuổi mùa Thu là tuổi mà nhịp bưóc chân đời dần chậm lại, tuổi mà hồn người đã chững, điềm đạm hơn; và cũng là tuổi đẹp như muôn mầu sắc của lá mùa Thu

Ánh Tuyết đã lựa chọn cho mình những ca khúc mùa Thu trữ tình để trải nỗi lòng “Thu Vàng” của mình qua những tình ca này, như một tự sự cho đời và tình yêu thầm kín nào đó trong mảnh hồn mong mảnh của người ca sĩ có chút lãng mang. Ít người biết Ánh Tuyết cũng là môt nhà thơ lãng mạng mặc dù Ánh Tuyết chưa bao giờ cho phát hành hay đăng trên tạp chí nào . Có lẽ, thơ là một chút gì riêng mà Ánh Tuyết muốn ôm ấp riêng cho hồn mình . Để sau những xốn xáo của âm nhạc và sân khấu, Ánh Tuyết cùng giòng thơ tâm sự và chia sẻ nỗi niềm . Nhưng có lần Ánh Tuyết chia sẻ với một người bạn bài thơ “Bến Xưa” của mình, thì bài thơ đã được phổ thành ca khúc “Bến Xưa Tình Sầu” rất trữ tình .và lãng mạng. Khi hỏi người bạn này “đặc biệt” như thế nào thì Ánh Tuyết chỉ mĩm cười.

Hãy đi vào thế giới của trời Thu sầu tủi qua tiếng hát nỉ non của nữ danh ca Ánh Tuyết, để thấy Buồn Tàn Thu của Văn Cao sầu lắng như thế nào.

Buồn Tàn Thu – Văn Cao

Rồi lặng hồn mình để nghe từng giọt mưa rơi nhẹ như ai đang khóc nức nỡ trong Giọt Mưa Thu hay Con Thuyền Không Bến của Đặng Thế Phong

Giọt Mưa Thu – Đặng Thế Phong

Khi tình yêu vụn vỡ, người đã  bỏ đi và mang theo cả trời Thu lá vàng thì mùa Thu không bao giờ trở lại nơi đây nữa . Ánh Tuyết thánh thót cuộc tình dang dỡ này trong Mùa Thu Không Trở Lại của Phạm Trọng Cầu.

Mùa Thu Không Trở Lại – Phạm Trọng Cầu

 

Và Ánh Tuyết đã không dừng lại ở những ca khúc mùa Thu thời tiền chiến hay của những năm lãng mạng trước 75, mà còn đi sâu vào trong những năm tháng gần đây để tìm cho riêng mình giòng nhạc tình Thu làm cho con tim mình xao động, để ấp ủ tiếng hát mình và rồi chia sẻ đến với những ai yêu mến giọng hát mình . Và Ánh Tuyết đã dừng lại trong giòng nhạc của một nhạc sĩ không mấy tiếng tăm nhưng theo Ánh Tuyết “giòng nhạc sầu lắng” này đã chinh phục mình .

mặc dù Ánh Tuyết rất khó tính trong việc lựa chọn nhạc cho mình trình diện Có lẽ,ĐỊNH MỆNH đã buộc hai tâm hồn nghệ sĩ với nhau trong âm nhạc

Hày thử lắng nghe Ánh Tuyết với Giọt Lệ Thu của người nhạc sĩ khê Kinh Kha này .

Giọt Lệ Thu – Khê Kinh Kha

Xin Tạ Ơn Em

“Xin Tạ Ơn Em” của Khê Kinh Kha
Hoàng Lan Chi Cảm Nhận

Chưa phải là cuối tuần nhưng có chút gì đó để tôi tưởng như là hôm nay ngày thứ bẩy!

Có lẽ bởi trời cuối đông, lạnh giá không còn.
Có lẽ bởi giàn mai vàng hoa chi chít.
Có lẽ bởi lòng tôi dường như đang chuẩn bị cái gì đó…

Và trong cái man mác của chiều đông, tôi mở nghe “Xin tạ ơn em” của Khê Kinh Kha sau cái ‘thỉnh cầu” của tác giả!

Quen từ vài năm, hiểu tính tôi nên KKK lúc nào cũng “năn nỉ” cái gì đó. Mà tôi thì hay “bắt nạt” bạn bè. Tính “xấu” thật nhưng trong cái “bắt nạt” (đúng ra có khi là giả vờ bắt nạt) là cái “ sẵn lòng”. Và vì thế bạn hữu vẫn ở quanh tôi…

Tôi thoáng ngạc nhiên khi dòng nhạc mở đầu. Bình thường nhạc cho người tình trăm năm rất nhiều gượng ép. Tôi đã từng thực hiện một chương trình “Nhạc cho người tình trăm năm” và nhận thấy vậy. Quả kỳ lạ, nhạc cho mẹ có thể hay nhưng nhạc cho vợ sao hiếm bài sống lâu dài trong lòng người thưởng ngoạn? Tuy vậy, khi nghe hết “Xin tạ ơn em” của Khê Kinh Kha, tôi nhận thấy lời có vẻ rất “trôi” với nhạc. Tôi nghe lại lần hai rồi lần ba, bốn cho ngấm hơn.

Cảm tưởng của tôi là giai điệu nhẹ nhàng, âu yếm, thủ thỉ. Giai điệu này có vẻ dễ hát cho mọi người. Toàn thể dòng nhạc toát lên những điều ấy. Không ảo não rên siết và cũng chẳng kích động ồn ào.

Nhẹ nhàng và có chút u hoài ở phút đầu :

“Xin cám ơn đời, cuộc đời đã mang, em đến trong đời tôi.”.

Nốt nhạc chìm xuống nhẹ nhàng và sau đó hơi vút cao

“ Em gieo mơ ước, trong đời,
Emtre2em ươm cuộc tình mê say,
cho tôi xây mộng đời dài,
cho tôi một đời gắn bó trong tình lứa đôi”.

Giọng hát thật dịu dàng và thủ thỉ. Tôi thoáng ngạc nhiên vì lời nhạc. Những lời viết cho người tình trăm năm thật dễ thương

Em đã cho tôi ngày tháng mặn nồng
em đã cho tôi tình nghĩa vợ chồng
cho tôi niềm tin cùng nỗi sống

Ừ nhỉ những gì chia sẻ của vợ chồng phải chăng là mặn nồng ngày thán,  là tình nghĩa,  là niềm tin để cùng nhau tiến bước.

Em đã cùng tôi qua ngàn con sóng. Tôi rất thích câu này. Gói đủ. Đủ để nói lên sự đồng hành của đôi lứa. Sau những cám ơn em, nốt nhạc hạ xuống thật dịu dàng “Người tình của đời anh”.

Kể ra Khê Kinh Kha đã có nhiều cố gắng để đưa những hình ảnh của đời sống vợ chồng vào nhạc, những hình ảnh mà tôi thấy có thiện cảm vì không dung tục mà nói lên cái đạo vợ chồng của một đời người thăng trầm với nhiều sóng gió. Câu cảm ơn này làm tôi thích lắm vì còn gì hơn món quà “con ngoan” của người vợ tặng chồng? Bao đêm mặn nồng gối chăn mà ngôi nhà vắng lặng tiếng trẻ thơ thì hạnh phúc ấy chưa là trọn.

xin tạ ơn em
người tình muôn thuở
em đã cho tôi
từng ngày yêu đương
cho tôi vạn ngàn âu yếm
cho tôi nồng ấm gia đình
cho tôi con cái ngoan hiển
cho tôi thiên đàng ở trần gian

Tôi mỉm cười khi nghe câu hát “thiên đàng trần gian”. Sau bao sóng gió, thiên đàng ấy hẳn trước kia là “địa ngục” cũng không dưới vài lần? Nhưng có cái gì đẹp đẽ mà không có giá của nó phải thế không? Hạnh phúc chỉ có giá trị khi từng có sự hiện diện của đau khổ kia mà ! Trái ngọt không phải một sớm một chiều mà là công khó vun trồng của cả quãng đời dài..

Tưởng như là thứ bẩy đi bạn nhé để mời “người ấy” cùng nghe “Xin tạ ơn em”:

 

Hay Youtube:

 

XIN TẠ ƠN EM

Xin cam ơn đời
cuộc đời đã mang em đến trong đời tôi
em gieo mơ ước trong đời
em ươmcuộc tình mê say
cho tôi xây mộng đời dài
cho tôi một đời gắn bó trong tình lứa đôi

em,
em đã cho tôi
ngày tháng mặn nồng
em đã cho tôi
tình nghĩa vợ chồng
cho tôi
niềm tin cùng nỗi sống

em,
em đã bên tôi
qua ngàn con sóng
em đã cùng tôi
qua đêm thanh vắng
qua ngày gian nan
xin tạ ơn em
người tình của đời anh

Khê Kinh Kha