Uống nước cây sả tươi làm cho tế bào ung thư tự tiêu hủy

Tại Do Thái, ruộng rãy trồng sả tươi là thánh địa cho bệnh nhân ung thư (cancer)

Uống một lìều lượng nhỏ chừng 1g cây sả tươi, chứa đủ chất dầu làm cho tế bào cancer tự hủy trong ống nghiệm. Các nhà nghiên cứu người Do Thái đã tìm ra đường lối làm cho tế bào cancer tự hủy diệt. Tại trường đại học Ben Gurion, Đầu tiên người ta thấy một nông dân tên là Benny Zabidov, người này đã trồng một loại cỏ trong trang trại Kfar Yedidya của mình thuộc vùng Sharon, ông này không hiểu sao có rất nhiều bệnh nhân cancer, họ đến từ khắp nơi trong nước, tập trung trước cửa nhà Zabidov hỏi xin cây sả tươi. Thì ra các bác sĩ bảo họ đến. Họ được khuyên phải uống mỗi ngày 8 lần cây sả tươi chụng với nước sôi trong những ngày họ đến chữa bằng radiation và chemotherapy. Tất cả bắt nguồn từ các nhà nghiên cứu tại trường đại học Ben Gurion thuộc vùng Negev, năm ngoái họ đã khám phá ra dầu thơm trong cây sả đã diệt được tế bào cancer trong ống nghiệm, trong khi tế bào lành vẫn sống bình thường.Dẫn đầu toán nghiên cứu là bác sĩ Rivka Okir và giáo sư Yakov Weinstein, giữ chức vụ của Albert Katz Chair, trong nghiên cứu sự khác biệt của tế bào và những bệnh ác tính.từ các phân khoa vi sinh học và miễn nhiễm tại BGU. Chất dầu sả là chìa khóa cấu thành đã tạo mùi thơm chanh và mùi vị dược thảo như cây sả (Cymbopogon ctratus), melissa (melissa officinalis) and verbena (Verbena officinalis) . Theo Ofir, sự học hỏi tìm ra chất dầu sả gây cho tế bào cancer tự tử gọi là chương trình gây sự tử vong của tế bào (programmed cell death). Uống một liều lượng nhỏ 1g cây sả có đủ chất dầu thúc đẩy tế bào cancer tự hủy trong ống nghiệm! Các nhà thanh tra thuộc trường BGU thử lại sự ảnh hưởng của chất dầu sả trên tế bào cancer bằng cách cho thêm tế bào lành, đã được nuôi cấy, vào. Số lượng cho vào bằng với số lượng trà cây sả với 1g đã được ngâm nước sôi. Nhận thấy trong khi chất dầu sả diệt tế bào cancer thì tế bào lành vẫn sống bình thường. Sự khám phá được đăng trên báo khoa học Planta Medica, được nhấn mạnh về các sự thí nghiệm các phương thuốc chữa trị bằng dược thảo. Ngay sau đó, sự khám phá đã được đưa lên phổ biến bằng các phương tiện truyền thông công chúng. Tại sao dầu sả lại tác dụng như vậy? Không ai biết chắc chắn, nhưng các khoa học gia trường BGU đã đưa ra một lý thuyết: trong mỗi tế bào của cơ thể chúng ta có một chương trình di truyền, nó đã gây ra một “chương trình tế bào chết”. Khi có điều gì sai lạc, tế bào phân chia ra mà không kiểm soát được và trở thành tế bào cancer. Ở tế bào bình thường, khi tế bào khám phá ra hệ thống kiểm soát không điều hành đúng, thí dụ khi nó nhận thấy tế bào chứa đựng những di truyền sai lạc khi phân chia – nó sẽ kích hoạt cho tế bào chết đi, đó là sự giải thích của Weinstein. Sự nghiên cứu này đã cho thấy lợi ích của dược thảo trên về mặt y khoa. Sự thành công của họ đã đưa tới kết luận về cây sả, có chứa chất dầu, được coi như có khả năng chống lại tế bào cancer, như là họ đã từng nghiên cứu tại trường BGU và đã được phổ biến trên truyền thông, nhiều bác sĩ tại Do Thái đã bắt đầu tin tưởng những nghiên cứu có thể mở rộng hơn nữa, trong khi vẫn khuyến cáo những bệnh nhân, tìm đủ mọi cách để chống lại căn bệnh này, bằng cách dùng cây sả để tiêu diệt tế bào cancer. Đó là lý do tại sao.trang trại của Zabidov – nơi duy nhất trồng cây sả (lemon grass) tại Do Thái – đã trở nên một thánh địa cho những bệnh nhân này. May mắn thay họ đã tự tìm thấy đôi bàn tay thần diệu. Zabidov đón tiếp những người khách viếng thăm với những ấm trà cây sả và những đĩa bánh ngọt bằng thái độ niềm nở, ông ta nói: ‘ Cha tôi chết vì cancer, chị vợ tôi chết khi còn trẻ cũng vì cancer. Vì vậy tôi hiểu rõ những gì họ đã phải chịu, và tôi có thể không biết gì về thuốc men, nhưng tôi biết lắng nghe. Những bệnh nhân thường nói với tôi về sự điều trị đắt tiền mà họ phải trải qua. Tôi không bao giờ bảo họ ngưng chữa trị, nhưng cũng rất tốt khi họ dùng thêm trà cây sả. Zabidov biết rõ tiếng gọi của nghề nông đã đến với ông từ thời trai trẻ. Ở tuổi 14, ông đã theo học trường trung học canh nông Kfar Hayarok.Sau khi phục vụ trong quân đội, ông làm việc cùng nhóm lý tưởng chủ nghĩa hướng về phương nam, trong vùng sa mạc Arava một moshav mới (argriculture settlement) gọi là Tsofar. Ông ta mỉm cười và nói:’ chúng tôi rất thành công. Chúng tôi trồng trái cây và rau. Chúng tôi cũng nuôi nấng những đứa con xinh xắn. Trong một chuyến du lịch sang Âu châu vào giữa thập niên 80, ônng ta bắt đầu thích dược thảo. Do Thái, ở một thời, thường có khuynh hướng là không gì thích hơn các món ăn Đông phương và chỉ có một số thể loại được trồng có tính thương mại như cây cần tây (parsley), cây thì là (dill), cây ngò thơm (coriander). Đi lang thang trong khu chợ Paris, tìm kiếm một vài loại dược thảo, Zabidov đã thấy được một tiềm lực có thể xuất cảng to lớn nằm trong một góc chợ. Zabidov mang mẫu về nhà, ông ta mỉm cười, nói: đây là sự bất hợp lệ có tính kỹ thuật, để xem chúng có thể lớn lên trong nhà kính vùng sa mạc không. Không bao lâu ông ta có thể trồng các loại như rau húng quế (basil), cây kinh giới (oregano), cây ngải giấm (tarragon), một loại tỏi (chives), cây đan sâm (sage), và bạc hà. Công việc của ông ta là phát triển cơ ngơi vùng sa mạc, ông ta quyết định di chuyển về phía bắc, lập trang trại moshav tại Kfar Yedidya, môt giờ rưỡi lái xe ở phía bắc Tel Avis. Bây giờ ông ta bán hàng mấy trăm kí lô cây sả mỗi tuần và đã ký kết những hợp đồng phân phối hàng với các tiệm thực phẩm. Zabidov đã chính mình học hỏi về dầu cây sả và giúp khách hàng của ông ta hiểu biết hơn nữa, cũng như mời các chuyên gia y khoa tới trang trại của ông ta, nói chuyện về công dụng của cây sả. Ông ta cũng có trách nhiệm để nói chuyện với khách hàng của mình về cách dùng dược thảo này, Khi tôi nhận thấy có gì xảy ra, tôi cầm phone lên và gọi bác sĩ Weistein ở đại học Ben Gurion, vì những người này hỏi tôi cách tốt nhất để dùng dầu cây sả. Ông ấy nói ngâm sả trong nước sôi và uống 8 ly mỗi ngày. Zabidov là người có công tìm ra cây sả, không phải đơn giải chỉ cho công việc trong trang trại, mà còn vì ảnh hưởng đến sức khỏe của chính ông ta. Ngay cả trước khi sự lợi ích của cây sả được biết đến và xử dụng, ông ta và gia đình đã uống trà cây sả hằng năm’bởi vì hương vị thích thú của nó’

 

YẾU TÍNH Của THI CA TÂN HÌNH THỨC

  VÕ CÔNG LIÊM

TRANH VẼ VÕ CÔNG LIÊM : ‘Chân dung TTKM / TTKM’s Portrait’

 

   ‘Thượng đế đã sinh ra rất nhiều nhà thơ nhưng lại rất ít thơ’ (Charles Bukowski).

   Trong mọi trưòng phái thi ca đều có cái chất riêng của nó; nói theo phạm trù hội họa gọi đó là ‘matière’, là thực chất, chất liệu để thành thơ; một sáng tạo khéo léo (creative/skill) và đó cũng được coi là bề mặt của thơ; có khi tiềm ẩn trong dạng hoang đường (mythic metaphor) khó hiểu nhưng tăng thêm phần linh động cho thơ. Trong thơ dù bất luận mọi thể loại hay trường phái nào đều đòi hỏi một dạng thức bí truyền với một tiết tấu lạ lùng từ con chữ đến cách hành văn thời mới ‘nên thơ’. Ở đây chúng ta không đặc nặng vấn đề làm thơ mà tìm thấy nơi thơ có những sắc tố khác biệt, bởi; thơ là như-nhiên, là cõi-phi nó có từ tâm thức siêu lý phát sinh qua ngữ ngôn để thành thi tứ của thơ. Một lối thơ đặc trưng mang nhiều sắc thái khác nhau, tuôn chảy không dứt hoặc có khi dừng lạị để tiếp nối theo dòng luân chuyển như cách đọc không ngừng ở cuối dòng. Đó là yếu tính của thi ca tân hình thức –The Elements of New formalist Poetry. Bởi; như thế này: thi ca là cuộc chơi / the poetry game hay cho đó là trò chơi thi ca hay ‘thả thơ’ mà xưa nay đã có lần trải nghiệm. Nếu bạn hỏi một nhà thơ: ‘có cái gì hay trong đó? Nhân gian có gì lạ hơn không?  Đó là câu hỏi mà nhiều người yêu thơ sẽ trả lời: ‘tôi! tôi chả mấy thích’ hoặc nhà thơ Tây phương W.H. Auden nói: ‘thi ca chẳng làm nên sự thể / poetry makes nothing happen’. Cái đó nó thuộc về tâm lý nội tại, một sự chối bỏ của cái gọi là ‘bất khả thi’; yếu tính đó chính là chân lý như nhiên, nó thuộc vũ trụ của tâm hồn được khám phá nhờ cái nhìn vào cõi ngoài mà bắt gặp cái nhìn của ngoại giới, cũng từ chỗ đó mà thơ lần vào con đường siêu hình một cách tự nhiên, hài hòa giữa những lúc mưa nắng bất thường và chính trong sự bất thường đó là hạt lệ của thi ca tân hình thức. Chính vì vậy mà ngôn ngữ thi ca tân hình thức là một hiện hữu ở chính mình, bởi; trong thâm cung của mỗi con chữ tôi chứng kiến sự sinh ra tôi /Au fond de chaque mot j’assiste à ma naissance; đó là một tiếp giáp tương quan của sáng tạo, của ngôn từ. Thi ca tân hình thức không cần đến sự vật ngoại giới mà cần sự vật nội giới làm hình ảnh tiếp thu để trở thành ngữ-thơ trong ngôn từ; đó là lối chơi dũng cảm , tuồng như nửa đùa nửa thật của trò chơi chữ /game of words /jeu de mots. Nhưng; trong cuộc chơi thơ là một khám phá không ngừng mà thi ca tân hình thức là một biểu hiện:biểu dương ngữ ngôn là đối tượng giữa bản thể và tha thể. Biểu dương hình ảnh là cái nhìn trừu tượng của tâm thức. Biểu dương tâm trạng là ý thức thức tỉnh trực tiếp của bơ vơ, của bi thảm, của phân ly, của dày xéo. Cho nên chi thi ca tân hình thức không còn là  ‘hình thức’ của cái vỏ bề ngoài mà hình thức chứa đựng một nội tâm bị phủ quyết; họ bung lên để tìm thấy mặt trời ở chính mình và ở chính người là một xác quyết đầy chất sáng tạo mới.

Những thi sĩ hiện đại cũng như những nhà thơ tân hình thức là không muốn mang sang hay tỏ bày cho cái việc ‘trình diễn’ thơ. Họ làm thơ trong một khả năng không giới hạn, ăn ngay nói thiệt, họ đi từ nồi niêu để thấy trong nồi niêu là đồng thau, là vàng son rút từ cái không vần điệu của thơ không vần (blank verse) để biến mình vào một thể thức mới hơn (new formalist); nó gần giống như truyện không có câu chuyện. Đúng ra chúng ta không đứng ở vị trí khách quan mà thẩm định tấm lòng chung thủy thi ca của thi sĩ mà đụng chạm về quan điểm của họ. Thi ca là cơ bản cho một cuộc chơi, là luật thường tình của ngón nghề ăn ngay nói thiệt được bày tỏ trong hai phương diện của : người viết người đọc đó là cách chơi. Nếu người đọc chưa đả thông trọn vẹn hay cà giựt thì cuộc chơi sẻ không thực hiện được –Poetry is essentially a game, with artificial rules and it take two: a writer and reader to play it. If the reader is reluctant, the game will not work. Quả vậy! trong thơ tân hình thức có thể giúp cho ta tạo ra tiếng nói con người để cùng nhau đi tới tiếng nói trí tuệ là một phản ảnh thực tế giữa người làm thơ và người đọc thơ. Thơ tân hình thức ‘luân phiên tụng niệm’ là kiểu cách người chơi thơ. Một lối canh tân mới của thi ca tân hình thức. Họ thao tác trong việc dựng thơ là đổi mới tư duy trong trường phái của tân hình thức.

Chúng ta cũng biết rằng thơ tân hình thức là một trào lưu văn chương có từ cuối tk. thứ hai mươi và đầu tk. thứ hai mươi mốt, một trường phái mới và bốc lửa. Trong đó đáng kể thi ca Mỹ châu, đặc biệt ở Hoa kỳ đã được thăng tiến như một sự trở về âm luật của thơ (metrical) và cước vận của thơ (rhymed verse). Tranh luận giữa hai trào lưu thi ca vẫn còn tiếp tục trong thời sự của văn chương, tuy nhiên; dạng thơ tân hình thức còn duy trì và tung hoành trên mạng báo nhiều hơn ở lúc này. Nhớ cho; năm 2006 thi ca tân hình thức đã trở nên ‘phủ sóng’ một cách vững chắc trong luật tắc của văn chương đương đại Mỹ. Ngược lại; người ta coi thơ tân hình thức gần như thứ tản văn, một thứ văn xuôi tầm thường (prosaic); vì thế mà đưa tới cái nhìn nhỏ nhặt và ấn vào đó một cách sâu đậm về mặt tình cảm của con người qua thi ca tân hình thức và nhìn nó như thứ không hợp thời trang. Cuối cùng đưa tới phê phán một cách thậm tệ; một lối thơ có cung cách trưởng giả pha chất phong kiến (bourgeois)… Thế nhưng; trào lưu thi ca tân hình thức lại được bộc phát một cách mãnh liệt kể từ 1960 đến 1978 như một trào lưu thi ca đương đại.

Thơ tân hình thức không có chi là trưởng giả hay coi thường các thể thơ khác hay đặc mình trong vị trí cố hữu của người chơi thơ, trái lại; nó đã đánh thức trong ta cho một trả lời củng cố về nhịp điệu của vần thơ, dù cho ngắt dòng hay vắt dòng hay lập lại là thể thức dụng văn của thi ca tân hình thức. Nhưng; nếu nhìn một cách độ lượng thi ca tân hình thức còn có chức năng khác bằng một kết hợp đặc biệt của những gì thuộc âm nhạc, một thi ngữ có vần điệu. Thí dụ: Nhạc của Trịnh Công Sơn hầu hết xử dụng nhạc từ theo dạng tân hình thức, bỏ lửng, vắt dòng đưa tới những nhạc từ rất lạ đời; nếu như nghe kỹ thì điệu nhạc nghe mới hơn và tạo nét đặc thù cho nhạc mà ngay cả thơ là ở chỗ đó. Bình thơ và nhạc không thể dẫn chứng  hay ‘phanh phui’ để nói cái hay mà phải nhận biết yếu tính của thơ, nhất là thơ tân hình thức nó có một sự hổn hợp đặc biệt của những gì thuộc âm nhạc và phẩm lượng của ngữ ngôn –It is a special combination of musical and linguistic qualities. Chúng ta bỏ mất nhịp điệu (rhythm) trong thơ chẳng khác nào ta bỏ mất thanh điệu (nhạc) hay giọng điệu (thơ) khi bàn về thơ và âm nhạc. Người ta thường phổ thơ để thành nhạc ít khi nghe phổ thơ THT để thành nhạc, ngoại trừ nhạc sĩ Trịnh Công Sơn hay Ngô Thụy Miên, họ đã trình diễn con chữ trong nhạc có ‘điệu’ của tân hình thức. Nghe lạ tai và mới lạ trong suy tư. Thơ hay nhạc là những khoảnh khắc thức tỉnh của đời sống con người. Ngôn ngữ là phương tiện cho thơ chớ thơ không phải là phương tiện của ngữ ngôn. Nhạc thơ cũng thế và chỉ có một không hai là thi nhạc sĩ Bob Dylan (Mỹ) mà thôi. Dylan hát như đọc thơ là điều hiếm có ở cõi đời này.

Những nhà thơ tân hình thức mở rộng và chấp nhận mọi khuynh hướng từ quá khứ tới hiện đại, phá vỡ những biên giới giữa nhiều bộ môn nghệ thuật khác nhau, giữa hội họa, âm nhạc và văn chương, giữa hình thức nghệ thuật nầy với bât cứ hình thức nghệ thuật nào khác. Tân hình thức còn chấp nhận mọi khám phá của những phong trào tiên phong khác, từ thế hệ Beat, trường phái New York đến những thi pháp của Olsm, Creeley theo quan điểm ‘nothing is true everything is permitted’(Trong Tân Hình Thức của Khế Iêm –Văn Mới 2000). Nói chung thơ là một hổn hợp bởi ba nghệ thuật: âm nhạc, truyện kể và hội họa qua màu sắc của con chữ. Trong thơ tân hình thức ta bắt gặp thường xuyên ngữ điệu như thế. Thi ca Tân hình thức là một áp đặt con chữ để đi tới thích ứng của thơ, đi tới một điều kiện hiện hữu trong những gì mà chúng ta tìm thấy ở chính chúng ta, nó giúp cho chúng ta diễn đạt của đọc thơ qua trạng thái của tâm thức –it helps us articulate our states of mind. Trần Dần có một bài thơ và nhiều bài thơ khác diễn cảm bằng một thứ tình cảm éo le, chan chứa. Đọc xem để thấy thơ tiền chiến và hậu tiền chiến đã dẫm chân lên môi trường của tân hình thức:

‘Bước lặng

Tôi về cõi lặng?

một trời

tôi vẫn lạc quan đen

tôi bước lặng bên tôi

không một ai – mà vẫn bước

đều

cho đến lúc say nâu

tôi rẽ vào phố lặng

(Trong bài thơ tựa đề Nhân Sinh của Trần Dần NXB Đà Nẵng 2007)

Một bài thơ khác của Trần Dần qua cách thức vắt dòng nhưng vẫn liên kết trong ngữ điệu của thơ tân hình thức:

tôi khóc thu không – nhưng thu

không không khóc

cũng không cười?

không trống?

chỉ là lằng lặng thu không’

(Trong bài Uẩn khúc Ga cuối)

Thời kỳ hậu một chín bảy lăm là con đường ngược chiều giữa tiền chiến và thế hệ tiếp nối, phủ nhận toàn bộ lối thơ xưa cũ, ước lệ của lục bát, thơ 7, 8 chữ hoặc thơ xuôi, thơ không vần ngay cả ca dao dùng ngữ điệu thông thường, bởi; những thể thơ như thế dựa vào ngữ điệu hay vần điệu để thành lời thơ, ngược lại thơ tân hình thức dựa vào thể âm luật (metrical) với kỹ thuật vắt dòng (enjambment); vắt dòng bất cứ nơi nào trong câu thơ và đôi khi tiếp tục như thế cho tới cuối dòng… Thế nhưng có những luật tắc tương tợ lẫn nhau: ‘Tân hình thức và Tự do gần giống nhau, gần với cách nói thông thường, còn tạo được nhịp điệu…’ (Khế Iêm. Trong tập Tân Hình Thức. 2000 USA). Nói vậy Chầu văn hay Hầu văn, hò Giã gạo, Đồng bóng là nhạc cổ điển Huế cũng đã xử dụng nhịp điệu của hình thức tân hình thức mà vẫn lôi cuốn người nghe qua những câu hò vấn đáp suông sã và nhịp nhàng mà giờ đây đã phục sinh. Nếu xếp những thứ đó để trở thành văn xuôi thời nó trở nên văn kể chuyện hoặc cho đó là thơ không vần có phần nhẹ nhàng hơn cả văn xuôi một cách trung thực bởi không bận tới yếu tố thị giác.

Hậu 75 phát sinh những dòng thơ mới hơn cả thơ mới, nó mang mang chất tân hình thức; bởi nó không ngừng lại theo ước lệ của thơ; vì thế mà làm cho thơ không thoát theo trí tưởng mà làm mất ‘duyên thơ’:

‘Mưa bay lất phất gió căm căm

Đường lầy trơn nhà cửa tối tăm

Trốn đâu lũ trẻ mặt lem luốc

Co ro đứng coi tù qua thôn

vác bó cuốc bước loạng choạng

về trong xây xẩm buổi tàn đông

lạnh lẽo nhà ai không đèn lửa

ảm đạm lòng ta chiều cuối năm’

(Thanh Tâm Tuyền. Trại Vĩnh Phú Đông 1976)

Có những câu thơ xen lẫn nhau là một sự kết hợp  giữa 5 chữ (ngũ ngôn) sáu, bảy chữ (lục, thất ngôn) là luật tắc của Trung Hoa mà chúng ta thường bắt gặp trong thơ dân gian của Việt Nam như trong Ca Huế của thơ Tứ Đại Cảnh, Nam Ai, Nam Bằng…) Với âm sắc đó với chất thơ lắp đặc (poetry installation) phản phất chất thơ trình diễn (the poetry art-performance) hơn cả thơ có vần điệu. Đọc bài thơ này:

‘Đêm đã nhuốm màu lên làn da em

Lên đôi mắt vòng vòng một quầng đêm

Đêm đã nhuốm màu lên đôi bàn tay em

Để em không thể nhìn thấy anh

Bằng xúc giác

Đêm đã nhuốm màu lên lưỡi của em

Để em không thể nhìn thấy anh

Bằng vị giác

Dêm đã tràn vào từng sợi thủy tinh của chiếc đèn vàng

Và khe khẻ hát

Để em không thể nhìn thấy anh

Bằng thính giác’

(Đêm và Anh của Ly Hoàng Ly Hà Nội 2006).

Đấy là những gì mà nhà thơ khéo xử lý (tact) để cho dòng thơ trở nên nhịp nhàng cân đối, câu này liên kết câu kia dẫu có vắt dòng hay ngắt dòng vẫn duy trì đường nét phá thể của hình thức mới. Nhận thức được điều này thời đó là tính đa dạng của thi ca –acknowledges the diversity of poetry. Khéo xử con chữ cũng như vận thơ thì đạt tới cái đích của thơ, phải thấu đáo cho thơ có ‘hồn’ nhiên  thì thơ mới có trọng lượng. Đó là chỉ tiêu làm thơ. Tân hình thức đòi hỏi xử thế con chữ trong mọi cách hành văn thơ là việc cần chú ý cho thơ tân hình thức, nếu không biết vận dụng ngữ ngôn thi ca một cách trong suốt thì thơ tân hình thức bị nghẽn một cách vô lý, vô vị so ra không đúng đường lối thơ vô nghĩa (nonsense-poetry) mà tuột hậu giữa con đường cái quan của tân hình thức. Nói ra nghe dễ cho việc làm thơ, nhưng; không phải dễ như một số đông đã làm thơ. Họ chú trọng làm thơ theo khuynh hướng của thị hiếu; thấy dễ ‘chơi’ cho nên chơi thử mà thành thiệt. Làm thơ trở thành thói quen như hút thuốc lá hoặc có khi phỏng theo hay cốp-pi (imitation) để cho ra thơ rồi từ đó biến mình thành thi sĩ. Thơ tân hình thức là một vận dụng trí tuệ, vận chuyển con chữ để kết dòng là sở đắc của người làn thơ theo thể thức mới. Nói đúng ra; ai làm thơ cũng được cả, nó hao hao với nhau có gì khác mà phân tích, chẳng qua bày vẻ cho thêm chuyện và dựa vào đó để bình thơ chớ không tìm thấy yếu tính của thi ca. Cho nên chi hằng triệu bài văn bình giải thơ, từ xưa đến nay tợ như hò mái nhì, đả đớt như mem cơm. Văn và thơ song hành kiểu đó thì có khác chi ‘mùa thu lá bay’. Cứ đem ba cái chuyện đời xưa ra bình giải thì hóa ra nó trở về cái ‘nonsense’ mà không thấy mình đang rơi vào hố thẳm của văn chương. Hãy sáng tạo là yêu cầu mật thiết cho người làm thơ; sở dĩ như thế vì tương quan sáng tạo là tương quan của ngôn từ. Cái sâu thẳm của thơ tân hình thức là con chữ gần như tiếp giáp với cuộc đời, lời thơ phát ra với một tâm như nhiên, một tiếp cận giữa người và thơ. Henri Bosco nói: ‘J’ai mes allumettes: les mots’ Đó là định đề cố hữu của người làm thơ; nói chung, với thơ tân hình thức lấy ngôn từ để soi sáng nội tâm mỗi khi nhận ra vũ trụ ngoại giới là thấy mình hiện hữu với tâm trạng của mình. Cái sự đó nó nằm trong bối cảnh của tân hình thức. Thơ của tân hình thức là đi vào trong kịch tính (drama) và trong sự diễn giải (narration) là vai trò chủ thể đối diện với tha thể trong một liên trình tiếp diễn của trạng huống tâm lý hay cảnh quang vật lý. Như vậy chúng ta đã đạt tới yếu tính  trong thi ca bằng một cố gắng làm nên thơ. Sự đó là nồng cốt miêu tả của thi tứ, sự đó nó đến với chúng ta như nhận lấy sự cảm thấy và thói tính của thi nhân –It is of the essence of poetic description that it come to us charged with the poet’s feelings and attitudes. Nhưng; đôi khi trong thơ lại ẩn tàng (implicit) đôi khi lại bộc bạch (explicit) bằng lời thơ tự thuật hay tự phê về mình. Sở trường của thơ tân hình thức là vắt dòng hay chuộng vần điệu, nhưng; lại sở đoản trong trong phong cách trình diễn, bởi vấn đề của của chất giọng (tone) hay nhịp điệu (rhythm) và ẩn dụ (metaphor). Chú ý vào bốn câu thơ mở đầu trong tập Tân Hình Thức của tác giả Khế Iêm. Thái độ hoặc cảm xúc gì đã truyền đạt qua lời thơ và làm thế nào để nhận ra sự vận chuyển đó. Bài thơ được chia ra 5 đoản khúc. Dẫn ở đây 3 đoản khúc:

Khi tôi ngồi uống cà phê ngoài lề

đường và kể lại câu chuyện đã được

kể lại từ nhiều đời mà đời nào

cũng giống đời nào, mà lời nào cũng

giống lời nào, về người đàn bà và

đàn con nheo nhóc (nơi góc phố được

gọi là chỗ chết, nơi góc phố được

gọi là chỗ sống), kẻ những đường kẻ

bằng than đen, gãy góc, xấu xí như

cái bóng trong tấm hình cũ, như dĩ

nhiên hôm nay ngày mai ngày mốt, như

thế thôi thì thế thôi, biết đâu chừng

(Hai khúc  sau lập lại của hai khúc đầu)

(Tân Hình Thức Và Câu Chuyện Kể của Khế Iêm)

Sang bằng bài thơ thì đó là chuyện kể, chuyện kể bằng thơ. Thơ tân hình thức giản dị như cơm với cá như mạ với con. Chúng ta đọc để ‘nghe’ chớ chẳng phải bình luận, Vì; nó là thơ tân hình thức. Là tinh thể của tâm hồn theo thể thức mới; nó phản chiếu vào đó những nghi vấn cuộc đời để thành thơ. Nó đang cần một sự giải thoát. Nói chung nó là thứ thuộc ngữ ngôn siêu hình (metaphorical language). Gần như trong thi ca tân hình thức chứa đựng một thứ siêu hình, trừu tượng và một thứ ngữ ngôn chăm biến hay ‘chọc quê’, bởi; ngôn từ của tân hình thức có thể giúp cho chúng ta nắm được mối tương quan của người làm thơ và người đọc thơ, cái đó là mạch nối giữa những gì lạ lẫm hoặc giúp cho ta làm nên một đối xử giữa có và không của thơ. ẩn tàng và mai mỉa là cơ bản cặp đôi của ngữ ngôn thi tứ -Methaphor and irony are the twin bases of poetical language. Tuy nhiên; vẫn nhìn nhận việc xử dụng ngữ ngôn như thế là nhấn mạnh vào hình ảnh (image emphasizes) một sự bộc phát tự nhiên của tình thương yêu, thứ đến là hài hòa một cách điềm nhiên để cho thơ thoát tục. Yếu tính thi ca tân hình thức là chú trọng tới âm luật của câu thơ với tất cả vần điệu là hiệu năng trong thi ca. Trong Anh ngữ cái sự chuyển thành thơ có nghĩa rằng đó là vấn đề to tát của chất giọng (accents) và ngắt câu (pauses). Ngắt câu là chấm dứt bằng một ngữ pháp thông thường cái đó gọi là diễn đọc và viết thành thơ và như thể tạo ra ký hiệu cho ngữ ngôn. Đọc tập thơ ‘Có Những Ngày’ của nhà thơ tân hình thức Hồ Đăng Thanh Ngọc để thấy những gì thuộc nhịp điệu (rhythmical) mà tác giả xử dụng trong cùng một khuôn khổ của thơ, nó không đi ngoài những gì của tân hình thức, một điều gì rất thường nhưng chất chứa cái vô hạn trong đó đúng vị trí của thơ tân hình thức, một tỏ rõ chung tình giữa người và vật. Đọc để thấy, nghe và suy ngẫm suốt trong hơn 70 bài thơ đóng tập (NXB Thuận Hóa. Huế 2019) là một phản ảnh cụ thể của thơ tân hình thức:

Có một hoàng hôn như chiêm

Bao như ai đó đốt câu thơ cũ

thả vào cánh cò như ai

đó kêu lên có con chim gãy chân

lạc vào rừng ngón mưa như

ai đó kêu lên bắt lấy giấc mơ

bỏ vào chai rượu như ai

đó kêu lên bắt lấy hoàng hôn thả

vào bóng đêm như ai đó

kêu lên bắt lấy con chim chơi trò

trốn tìm như ai đó kêu

lên về nhà bắt khói kẻo khói bay

mất chỉ còn một dấu hỏi

như ai đó kêu lên hãy bắt lấy

khói kẻo khói bay mất sẽ

chỉ còn một dấu lạnh có một hoàng

hôn như thế có ai kêu

lên

(Một Hoàng Hôn)

Hậu 75 với một thế hệ đã qua; hai muơi lăm năm trên đất người đã sản sinh những người Mỹ gốc Việt làm thơ Việt ngữ là thời điểm bùng dậy của trào lưu thi ca tân hình thức, hình thức này đã ảnh hưởng không ít vào tâm hồn của người xa xứ. Quả vậy; dòng thơ tân hình thức đến đúng lúc hơn bao giờ, bởi; trong thâm tâm người làm thơ, thời ấy; như có một sự khước từ bởi bức tử như vết sẹo khó phai mờ; đó là một sự trải qua lắm chông gai. Người làm thơ lúc này không lấy qui ước để làm thơ là vì khó để phát huy tư tưởng, nó gò ép, gượng gạo, thập thò như đứng trong vòng thép gai. Cho nên họ phá rào để nói những gì từ lòng họ một cách thỏa thê qua con chữ, phản ảnh trực tiếp những đoái hoài mong đợi để vượt thoát, để gặp gỡ tự do và từ đó họ phóng mình vào một hình thức mới hơn như ngôn ngữ thoát tục, là một sự vượt thoát vô hạn hữu không bị chận lại (unrestrict), phủ nhận để đón nhận là hai môi trường của tâm trạng muốn bung lên bằng văn từ hay thi tứ cho một sự phản kháng, phản kháng qua tâm thức. Tâm thức ở đây là đối tượng chủ thể được qui về trong cái nhìn tương quan sự vật, một cái nhìn so sánh sự vật: cái gì của quá khứ và cái gì của hiện tại để làm sáng tỏ vũ tụ tâm hồn là hòa nhập vào cái vũ trụ mơ về bằng mọi nỗ lực khác nhau…Lấy thi ca để xoa dịu, lấy thi ca để phàn kháng đó chính là đối tượng biểu dương, nhờ đó mà thấy được tâm trạng của mình. Đó là lý luận trên cương vị giải bày tâm trạng để nhập cuộc qua lời thơ, tiếng nhạc, họ hòa nhập như một ‘hòa âm điền dã’ đúng tiêu chuẩn của trường phái thi ca đương đại. Thơ tân hình thức là ‘à la mode’ hợp thời trang thời thượng giữa lúc này.

Cuối cùng những dòng thơ là tự nó đánh dấu của một chấm câu đúng chỗ -The end of a line of verse is itself a mark of punctuation, cái chấm câu đúng chỗ ta gọi là chấm hết (end-stopped) thơ tân hình thức không chấm hết mà nó được tiếp tục trong những gì thuộc ngữ pháp mà được coi như dòng thơ tuôn chảy (line run-on) hoặc cùng lắm là không ngắt câu hay vắt dòng (enjambed) mà thêm vào đó những gì khác lạ hơn.Thi nhân thường dùng thơ không vần hay thơ tự do là vì; nó có tính chất độc lập ở cái chỗ ngắt câu (enjambment) để cho con chữ của họ thêm trọng lượng trong thi ca. Chúng ta tìm thấy những gì trong đó. Qua tập thơ ‘Ngôn Ngữ Xanh’ NXB Văn Học Press. USA 2019 của thi sĩ Nguyễn Thị Khánh Minh. Với nữ sĩ họ Nguyễn đã dựng thơ tân hình thức trước thời điểm Hoa Kỳ liệt kê tân hình thức là thi ca đương đại. Ý thức đó đã đến từ trong tâm hồn của người biệt xứ, chớ chẳng phải đến bây giờ mới là đương đại. Nói chung giữa kỷ nguyên của thập niên chín mươi đã hình thành thơ tân hình thức ở Việtnam nhưng chẳng mấy quan tâm vì ‘bộ dáng’ khác lạ của nó cho nên chi phong trào tiên khởi tân hình thức không mấy chú ý. Thế nhưng; trường phái tân hình thức ở nước ta nhập cuộc trước thời điểm bùng dậy khắp toàn cầu. Bởi; một điều rất tự hào là người Việt chuộng thi ca như mạch sống. Đọc lại những bài thơ tân hình thức trước đây như một chứng tích của hình thức thi ca mới.

1.

Tôi đã mở cửa ban mai. Bằng nụ cười

Tôi đã đóng cửa ban mai. Bằng tiếng khóc

Thì đâu là nơi. Của ánh sáng. Của bóng tối

Ngoài tôi

2.

Tôi che ánh nắng

Để tìm một bóng mát

Qua khe hở của tấm màn

Sót một đường sáng mong manh

Đường chỉ trắng. Long lanh hơn cái ánh sáng nó che

Cũng tựa như vậy. Khi tôi ngồi trong bong tối

3.

Đừng bật thêm đèn nữa

Ngày đã sáng lắm rồi

(Xin lỗi) hay vì con mắt tôi

Đã quen rồi bóng tối …

(Sáng. Tối) Thơ NTKM 2002.

Hầu hết những bài thơ tân hình thức của nữ thi sĩ Nguyễn đã thực hiện là dựng trong một khung cảnh của đổi mới tư duy, thiết kế và cấu trúc đúng đường lối chủ trương của tân hình thức, bởi; rõ nét nhất ở chỗ gieo vần là yếu tính quan trọng trong thi ca âm nhạc –Rhyme is an important element in musical poetry (như đã dẫn ở trên). Nhưng; ít đi những gì kịch tính trong thi ca. Trong thơ của Nguyễn tạo được âm thanh một thứ âm thanh ‘nguyên chất /purely’ có thẩm mỹ cách (aesthetical) coi như là phong thái của thơ tân hình thức, cái đó gọi là điệp vận và âm vọng (alliteration and assonance). Nói rộng ra cho trọn ý: Điệp vận là lập lại cái đã có cùng chữ, cùng nghĩa. Âm vọng là lập lại cái ‘âm thanh’ nguyên âm trong cùng một nghĩa hoặc phụ trợ vào dòng thơ. Đấy là yếu tính của thi ca tân hình thức.

Tóm lại bất cứ thể loại nào phải thực hiện đúng với tâm hồn thơ.Thơ đòi hỏi một sự độc lập, và sáng tạo không câu nệ cưỡng ép cung cầu. Thi ca là một cảm thức nhạy bén từ trí tuệ không vì một lý do nào mà phải ‘gò lưng’ hay ‘rặn đẻ’ để thành thơ. Thi ca phản ảnh lòng chân và hồn nhiên là việc tự nhiên cấu thành. Ai cũng là thi sĩ nhưng có ba hạng thi sĩ. Thi sĩ có ‘tầm cở’ và thi sĩ ‘ba phải’ thời nhất thiết không thể liệt kê là thi sĩ của thi ca ; ngay cả hàng hiệu chưa hẳn phải là hàng thiệt huống là thơ ./.

VÕ CÔNG LIÊM (ca.ab.yyc. cuối tháng 8/2020)

KHI TRẺ CÓ TÍNH ĂN TRỘM, ĂN CẮP

VŨ THỊ HƯƠNG MAI

Trẻ ăn cắp, ăn trộm là một hành vi không tốt, phát triển về sau có thể vi phạm pháp luật, là một trong những vấn đề các bậc cha mẹ quan tâm. Hành vi trộm cắp ở lứa tuổi nhi đồng cũng không hiếm thấy, nhưng tình tiết nặng nhẹ khác nhau: trẻ nhẹ, nói cho nghiêm túc thì không coi là trộm, trẻ nặng là đã hình thành thói xấu trộm cắp. Tình trạng trộm cắp tùy lứa tuổi hoặc nguyên nhân khác nhau, phương thức biểu hiện cũng khác nhau.

Nguyên nhân trẻ ăn cắp

+ Để thỏa mãn nhu cầu về vật chất:

Trẻ 4 – 5 tuổi cầm đồ của người khác chỉ thuần túy là do thích. Chúng chưa hiểu cái gì là của mình, cái gì là của người khác, vẫn chưa hiểu được quy tắc đồ vật người khác khi chưa cho phép thì không được tùy tiện lấy. Nhưng trẻ ở thời kì này đã có sẵn năng lực biết phân biệt. Do đó, cha mẹ phải giúp con phân biệt đồ vật của mình và của người khác và dạy cho con biết quy tắc đồ vật của người khác là không được lấy.

Khi một đứa con đã phân biệt được cái gì là của mình, cái gì là của người khác, biết rõ cầm đồ vật của người khác là không đúng, không tốt, nhưng nhìn thấy đồ vật của người khác đẹp, lại không tự khống chế được bản thân, cố ý lấy đồ vật của người khác rón rén đưa về nhà mình đó là thuộc vào hành vi trộm cắp. Đối với việc làm đó, cha mẹ không thể xem nhẹ bỏ qua, cũng không thể giải quyết thô bạo, phải đối xử nhẫn nại, tìm phương pháp sửa chữa tốt đối với trẻ.

+ Trẻ ăn cắp ảnh hưởng không tốt của gia đình:

Các nhà tư vấn tâm lý phát hiện rất nhiều hành vi ăn cắp của trẻ có liên quan đến giáo dục của cha mẹ và ảnh hưởng không tốt của gia đình.

Tuy vấn đề là ở bản thân đứa trẻ, nhưng gốc rễ lại ở gia đình, cha mẹ. Ví dụ, cha mẹ nhặt được của rơi, về nhà thích thú, con sẽ để ý và nhớ trong lòng, ngấm ngầm học theo. Đó là mong muốn nhặt được của rơi dần dần tăng lên và rồi nhuốm phải hành vi ăn cắp, ăn trộm. Khi cha mẹ phát hiện đựơc hành vi ăn cắp của con, có cha mẹ làm ngơ không qủan, có cha mẹ đánh đập tàn bạo, kết quả của những việc làm đó thường sẽ làm con đi theo đường cực đoan, trượt dốc xa hơn. Cần phải nói rằng con ăn cắp, cha mẹ có phần trách nhiệm.

+ Ăn cắp là một loại phản xạ có điều kiện:

Trong quá trình tư vấn các nhà tâm lý học đã phát hiện: trước khi trẻ ăn cắp chúng thường có những hành vi không tốt như nói dối, ghét học, hút thuốc, trốn học… Nếu những hành vi không tốt đó, không được phát hiện và giáo dục kịp thời rất dễ phát triển thành hành vi ăn cắp. Nói chung, trước hết là ăn cắp trong nhà, một khi đã thành công thì từ trong nhà dần dần chuyển sang ăn cắp ngoài xã hội. Từ ăn cắp vặt phát triển thành những thói quen xấu hễ thấy vật gì của người khác, không quản có cần hay không, đều phải ăn cắp cho được. Cũng có nghĩa là ăn cắp đã hình thành phản xạ có điều kiện.

+ Ăn cắp vì đời sống bần cùng- xã hội sa đọa:

Trong xã hội còn phân giai cấp, trẻ em nghèo khó ăn cắp để kiếm sống, trẻ em hư hỏng ăn cắp để thỏa mãn nhu cầu vui chơi, nước ta ngày nay tệ nạn xã hội đó vẫn còn nhiều và ảnh hưởng của nó không dễ xóa bỏ được. Cho nên, trẻ em ăn cắp vì nguyên nhân nói trên vẫn còn khá nhiều, tạo thành một tệ nạn mà biện pháp giáo dục bình thường không thể sửa chữa được. Chính quyền phải tổ chức những nhà trường đặc biệt để cải huấn các em. Cha mẹ nên hợp tác với chính quyền để hoàn thành tốt công việc cải huấn đó.

Ngoài những lý do trên, cũng còn có những nguyên nhân phức tạp khác làm dẫn đến những hành động trên. Trẻ giận dữ hoặc chúng muốn người khác quan tâm đến chúng. Hành động ăn cắp phản ánh những vấn đề khó khăn và căng thẳng mà chúng gặp phải ở nhà, ở trường, hoặc trong quan hệ bạn bè. Một số trẻ ăn cắp vì chúng cảm nhận hành động đó như một lời kêu gọi giúp đỡ khi bị tử thương về tình cảm hoặc bị cha mẹ đánh đập.

Bác sĩ tâm lý Mary-C.Ghentile, bang MaryLand đã từng nói: “Bọn trẻ cũng thường ăn cắp nếu chúng đang nổi giận, hoặc bất hòa giữa cha mẹ hoặc cũng có thể chúng muốn níu kéo cuộc hôn nhân của cha mẹ. Lạ hơn nữa chúng ăn cắp vì chúng muốn làm như vậy chứ không có một nguyên nhân sâu xa nào cả”.

Sửa chữa hành vi ăn cắp của trẻ như thế nào?

+ Bồi dưỡng quan niệm phải, trái:

Trẻ ăn cắp, tuyệt đại đa số đều bắt đầu từ sự thiếu hiểu biết đạo đức chính xác. Do đó, đối với việc sửa chữa loại trẻ này trước hết phải giúp chúng hình thành quan niệm phải trái đúng đắn, bắt đầu từ sự nhấn mạnh cảm giác phải trái. muốn làm được điều này cần phải xuất phát từ trình độ nhận thức thực tế của chúng dần dần nâng cao, phải làm cho trẻ hiểu được ăn cắp là một hành vi không tốt, nếu hôm nay chỉ ăn cắp vặt, thì ngày mai có thể ăn cắp lớn hơn, rồi dần dần sẽ đi vào con đường tội phạm. Như vậy, thông qua giáo dục nhiều lần, bồi dưỡng quan niệm phải trái cho trẻ sẽ làm tăng thêm quyết tâm cải tà quy chính của chúng.

+ Xác lập lòng tin, bảo vệ lòng tự tôn:

Trẻ có hành vi ăn cắp, có lòng tự tôn hay không? Rất nhiều người cho rằng, những đứa trẻ này giáo dục nhiều lần không chịu cải tạo, căn bản không có lòng tự tôn. Kì thực không như vậy bởi vì đòi hỏi được sự tôn trọng của người khác là đòi hỏi cơ bản của con người, trẻ cũng không ngoại lệ. Cha mẹ phải bảo vệ lòng tự tôn của con, phải cố gắng kéo chúng ra khỏi con đường lầm lỗi nếu không chúng sẽ không phân biệt được phải trái, chứng nào tật ấy, lấn sâu vào lỗi lầm. Cha me phải xuất phát từ nguyện vọng chân thành được tôn trọng, bảo vệ, cố gắng khai thác ưu điểm của trẻ, áp dụng nhiều biện pháp biểu dương, khen thưởng, tín nhiệm, thắp sáng lòng tự tôn của chúng, gợi dậy cảm giác vinh dự cho trẻ, loại trừ tình cảm đối kháng, xác lập lòng tin tiến thủ.

+ Tạo lập cơ hội tỉnh ngộ, thúc đẩy tâm lý biến chuỷên:

Khi đứa trẻ phạm sai lầm nhưng sau qua giáo dục, nhận thức được sai lầm và muốn sửa chữa sai lầm, thì gọi đó là sự tỉnh ngộ.  Cha mẹ nên tạo cơ hội tỉnh ngộ cho trẻ có hành vi ăn cắp. Ngòai việc động viên tinh thần cho trẻ, cha mẹ phải làm cho con hiểu rõ hành vi ăn cắp là xấu xa. Một khi thấy con sửa chữa, cha mẹ phải kịp thời nắm bắt cơ hội khẳng định cho con, làm cho con chuyển biến.

+ Tăng cường việc củng cố thói quen hành vi mới:

Trẻ có hành vi ăn cắp, sau khi tiếp thu giáo dục, có lúc có cải tạo thay đổi. Khi hành vi mới chưa được củng cố, trong thời gian ngắn hành vi cũ vẫn có thể ảnh hưởng tới trẻ. Nếu trẻ có thói quen ăn cắp, do không sửa chữa triệt để, khi chúng có cơ hội lại tiến hành ăn cắp, mà không làm chủ được. Nhất là khi có sự lôi kéo của bạn bè, lại có thể làm những điều sai trái khác. Do đó, khống chế điều kiện bên ngoài một cách thích đáng, trong một thời gian thích đáng, giúp cho trẻ tránh xa những sự lôi kéo mê hoặc nào đó là rất quan trọng và thông qua giáo dục để cho chúng quyết định lòng tin và quyết tâm đấu tranh với sai lầm. Khi trẻ đã có tiến bộ, cha mẹ phải kịp thời biểu dương, khen thưởng, cổ vũ. Nhưng khi trẻ “tái phát” cha mẹ cũng không nên sốt ruột lo lắng quá mà phải kiên trì thuyết phục, phê bình để trẻ cảm thấy hổ thẹn, động lòng tự giác sửa chữa sai lầm.

Như vậy có thể thấy nếp sống gia đình là thành trì bảo vệ trẻ chống lại mọi tật xấu, trong đó có tật ăn cắp. Nếu cha mẹ tổ chức được nếp sống tốt thì những đứa trẻ trong gia đình sẽ trở thành những đứa con ngoan. Nhưng nếu cha mẹ đã sơ hở, công việc giáo dục có phần lỏng lẻo và các con đã sinh tật ăn cắp thì các bậc làm cha làm mẹ phải bình tĩnh, giữ thái độ giáo dục, đồng thời chỉnh lại nếp sống cho con.

VŨ THỊ HƯƠNG MAI

NHẬN BIẾT CHƯ PHẬT QUA HÌNH DÁNG TƯỢNG THỜ

 

*

– Trích từ VÀO CHÙA LỄ PHẬT – NHỮNG ĐIỀU CẦN BIẾT

của Đặng Xuân Xuyến ; Nhà xuất bản Văn Hóa Thông Tin 2006 –

Vào chùa lễ Phật, cho dù ở ngoài đời mỗi người một tâm tính nhưng khi đứng trước Ban thờ Phật, mọi bon chen, toan tính của đời thường dường như không còn nữa mà thay vào đó là những khuôn mặt hướng thiện, những ánh mắt trong sáng, chan chứa niềm tin gửi nơi cửa Phật.

Cứ nhìn cử chỉ dâng hương, ánh mắt thành kính, và những cái chắp tay lạy Phật của tín đồ Phật giáo mới thấy lòng chí thành, khẩn thiết của họ, mới cảm nhận sâu sắc sự tôn nghiêm, thanh tịnh chốn Phật đường.

Tuy vậy, cũng không ít Phật tử đang thành tâm hành lễ dâng hương lại không biết mình đang đứng vái lạy, cầu xin trước chư Phật (Phật và Bồ Tát) nào? Và lời cầu xin ấy có đúng sở nguyện của chư Phật đó khi đắc đạo, để lời cầu xin ấy được toại nguyện?

Tất nhiên, chư Phật nào cũng từ bi, hỷ xả, cứu độ chúng sinh nhưng mỗi chư Phật khi đắc đạo có sở nguyện khác nhau nên thiện nam tín nữ phải phân biệt được tượng thờ các chư Phật để lời cầu xin được chư Phật chứng giám.

1. Tượng thờ Phật Thích Ca:

Tượng thờ Phật Thích Ca mặt tròn, đỉnh đầu có gò thịt nổi cao, cằm vuông vức, nơi ấn đường (chỗ đầu hai lông mày giao nhau) có nốt ruồi đỏ. Tai dày, tròn, đầy đặn, thành quách phân minh, sắc trắng hơn mặt. Hai tay dài và dày. Ngực có chữ vạn, mình vàng, sắc hoàng kim.

Cũng tùy theo bố trí thờ cúng của mỗi chùa mà tượng Phật Thích Ca có các tư thế đứng, ngồi khác nhau. Tuy nhiên, tượng Phật Thích Ca thường được tạc theo thế ngự trên đài sen, hai tay để ấn tam muội, đôi mắt khép lại ba phần tư.

Cũng có chùa ở tầng cao nhất, sát vách cửa chính điện, thờ “Tam Thế Phật”, đó là các vị Phật của ba thời gian: Quá khứ (Phật A Di Đà), hiện tại (Phật Thích Ca) và vị lai (Phật Di Lặc). Ba tượng Tam Thế có kích thước và hình dáng giống nhau, đỉnh đầu có gò thịt nổi cao như búi tóc, tai dài, tóc xoắn ốc, ngực có chữ vạn, mình có sắc hoàng kim sáng rực, ngồi trên tòa sen.

2. Tượng thờ Phật Di Lặc:

Tượng Phật Di Lặc thường được an vị ngay ở cửa ra vào, hiếm khi được thờ ở chính điện.

Khi thờ ở Tam Thế Phật thì tượng Phật Di Lặc giống tượng Phật Thích Ca nhưng khi thờ riêng, thường là ở ngay chỗ cửa ra vào thì tượng Phật Di Lặc được tạc theo tư thế ngồi ngả lưng ra đằng sau, nhành miệng ra cười ngặt nghẽo, hớn hở như khoe cái bụng phệ, béo tròn, vô lo vô nghĩ của mình, mà cũng giống như niềm hân hoan chào đón khách thập phương và hoan hỉ ban niềm tin cho du khách.

Cũng có chùa thờ Ngài Di Lặc theo tượng hình một vị hòa thượng mập mạp, mặc áo phơi ngực, bày cái bụng to tướng, xung quanh Ngài có năm, sáu đứa trẻ quấy nhiễu mà Ngài vẫn cười ngặt nghẽo…

3. Tượng thờ Phật A Di Đà:

Phật A Di Đà là hiện thân đời sống vĩnh cửu và trí tuệ hào quang nên có hai danh hiệu: Vô lượng thọ Phật (đời sống của Phật dài vô lượng, vô biên) và Vô lượng quang Phật (hào quang của Đức Phật chiếu tới các cõi thập phương).

Theo lời Phật Thích Ca trong kinh A Di Đà thì cõi Phật ở phương Tây cách xa Trái Đất hàng vạn ức dặm. Cõi Phật có tên Cực Lạc quốc (Sukhavati), là nơi có đời sống hạnh phúc, an lạc. Chúng sinh nào muốn được về cõi Cực Lạc thì phải thành tâm tu trì, tin đức Phật A Di Đà.

Tượng Phật A Di Đà thường có những nét đặc trưng: Đầu có các cụm tóc xoắn ốc, mắt nhìn xuống, miệng thoáng nụ cười cảm thông cứu độ, mình mặc áo cà sa, ngực có chữ vạn ở khoảng trống của áo cà sa, ngồi hoặc đứng trên toà sen.

Đi theo hầu Phật A Di Đà thường là hai vị Bồ Tát: Đại Thế Chí và Quan Thế Âm. Ba tượng này được gọi là bộ A Di Đà Tam Tôn. Tượng Phật A Di Đà thường được tạc thờ theo hai thế:

– Tượng ngồi kiết già trên tòa sen, tay kiết định ấn, hình dáng tương tự như Phật Thích Ca nhưng có sự khác biệt so với tượng Phật Thích Ca như: Tượng Phật Thích Ca thường đắp cà sa choàng qua cổ không có đắp y (cà sa) khoát vuông để trống, trước ngực có chữ vạn và không bao giờ duỗi một cánh tay.

Ngược lại, tượng Phật Di Đà có đôi khi người ta tạc tượng Ngài ngồi tư thế kiết già và duỗi xòe bàn tay mặt. Y (cà sa) khoát cổ vuông và trước ngực có chữ vạn.

– Tượng đứng trên hoa sen lơ lửng trong hư không, bên dưới là bể cả sóng nổi lên rất cao, mắt Ngài nhìn xuống, tay trái bắt ấn cam lồ và đưa lên ngang vai, tay mặt duỗi xuống như sẵn sàng cứu vớt những chúng sinh đang đắm chìm trong bể khổ. Tượng này gọi là tượng Di Đà phóng quang.

Về tượng đứng, bên cạnh Ngài thường có hai vị đại Bồ tát Quán Âm và Thế Chí. Bồ tát Quán Âm thì đứng bên tay trái và Bồ tát Thế Chí đứng bên tay phải của Ngài. Đây gọi là tượng Tam Thánh (như tượng thờ Phật A Di Đà ở chùa Kim Liên (Hà Nội).

4. Tượng thờ Quan Thế Âm Bồ Tát:

Đức Phật nói về thần lực của Quan Âm trong kinh Phổ Môn rằng: Nếu một ngàn chỗ có tâm thành cầu nguyện Đức Quan Âm thì đồng một lúc đó có một ngàn Bồ tát Quan Âm liền ứng hiện, Ngài sẽ hiện thân hình tương ứng với nhu cầu của con người như hiện thân Tỳ kheo, hiện thân cư sĩ, hiện thân ngoại đạo…

Tượng Phật Bà Quán Thế Âm được thờ tại các chùa đều theo các cách thể hiện: Quan Âm Chuẩn Đề (Tượng có ba mặt và 18 tay), Quan Âm nghìn tay, nghìn mắt (Thiên thủ, thiên nhãn), Quan Âm Tọa Sơn (Quan Âm ngồi trên đỉnh núi), Phật Bà (Quan Âm đội mũ, ngồi toà sen), Quan Âm Tống Tử (Quan Âm ngồi bế đứa bé, một bên có Thiện Sĩ – biểu trưng bằng hình con vẹt)…

Tượng thờ Phật Phật Bà Quán Thế Âm tại các ngôi chùa Việt Nam thường là hiện thân hình dáng của người phụ nữ quý phái, nhân hậu, dịu dàng, đứng trên đài hoa sen tay trái cầm bình thanh tịnh, tay phải cầm cành dương liễu để phổ độ chung sinh. Cũng có một số chùa lại thờ theo lối Di Đà Tam Tông: Đức Phật Di Đà ở giữa, bên tả là Quan Thế Âm Bồ Tát, bên hữu là Đại Thế Chí Bồ Tát.

5. Tượng thờ Văn Thù Bồ Tát:

Văn thù Sư Lợi là vị Bồ Tát tượng trưng cho kinh nghiệm giác ngộ, đạt được bằng phương tiện tri thức, là một trong những vị Bồ Tát quan trọng của Phật giáo.

Theo truyền thuyết Phật giáo Trung Quốc, Văn Thù Bồ Tát được Phật Thích Ca đích thân giao phó việc truyền bá Phật pháp và Ngũ Đài sơn chính là nơi Bồ Tát thuyết pháp. Vì vậy, Ngũ Đài sơn cũng được xem là trụ xứ của Văn Thù Bồ Tát.

Văn Thù Bồ Tát thường được tạc theo tượng đứng trên hoa sen trắng, an vị bên trái tượng Phật Thích Ca (theo thế đứng vái lạy của người dâng lễ) để theo hầu Phật Tổ.

Nhưng có chùa thờ riêng Văn Thù Bồ Tát ngồi trên lưng sư tử xanh, tay trái cầm cành hoa sen xanh, tay phải cầm thanh kiếm sắc. Cũng có chùa thờ tượng Ngài theo hình thức người cư sĩ đội mũ, mặc giáp, cầm kiếm….

6. Tượng thờ Phổ Hiền Bồ Tát:

Phổ Hiền là vị Bồ tát Đẳng giác có năng lực hiện thân khắp mười phương pháp giới, tùy theo mong cầu của chúng sinh mà Ngài hiện thân hóa độ. Trong Phật giáo Đại thừa thì Ngài là một trong những vị Bồ Tát quan trọng.

Theo truyền thuyết của Phật giáo thì Bồ Tát Phổ Hiền được xem là người hộ vệ của những ai tuyên giảng đạo pháp và đại diện cho “Bình đẳng tính trí” tức là trí huệ thấu hiểu cái nhất thể của sự đồng nhất và khác biệt.

Phổ Hiền Bồ Tát thường được an vị đứng trên tòa sen, bên phải Phật Thích Ca (theo thế đứng vái lạy của người dâng lễ) để theo hầu Phật Tổ.

Tại các chùa, Bồ Tát Phổ Hiền hay được thờ chung với Phật Thích Ca và Bồ Tát Văn Thù Sư Lợi. Nhưng cũng có chùa thờ riêng Phổ Hiền Bồ Tát với tượng hình người cư sĩ cưỡi voi trắng sáu ngà (voi trắng tượng trưng cho trí huệ vượt chướng ngại, sáu ngà tượng trưng cho sự chiến thắng sáu giác quan)….

7. Tượng thờ Địa Tạng Bồ Tát:

Địa Tạng Bồ Tát là vị Bồ Tát chuyên cứu độ sinh linh trong địa ngục và trẻ con yểu tử hoặc cứu giúp lữ hành phương xa. Đó là vị Bồ Tát duy nhất được diễn tả với bạch hào (lông trắng xoáy nằm giữa hai mắt) trên trán, một trong ba mươi hai tướng tốt của một vị Phật.

Tại Trung Quốc và các nước Đông nam Á, Địa Tạng Bồ Tát được xem là một trong bốn vị Đại Bồ Tát (ba vị khác là Quán Thế Âm, Văn Thù Sư Lợi và Phổ Hiền) chuyên cứu độ những người bị sa vào địa ngục. Trú xứ của Bồ Tát Địa Tạng là Cửu Hoa Sơn. Tương truyền, Địa Tạng Bồ Tát đã thật sự hiện thân tại núi Cửu Hoa vào đời Đường dưới dạng một hoàng tử xứ Triều Tiên. Sau khi chết, nhục thân của vị hoàng tử này không tan rữa và người dân bản địa đã xây một ngôi tháp để thờ và bảo tháp đó ngày nay vẫn còn trên núi Cửu Hoa.

Tượng Địa Tạng Bồ Tát thường có dáng một vị tăng đầu đội mũ thất phật (trên mũ có hình 7 vị Phật), mặc áo cà sa đỏ, tay phải cầm gậy tích trượng có 12 khoen, tay trái cầm ngọc minh châu, ngồi trên tòa sen.

Ở một số chùa, tượng Bồ Tát Địa Tạng lại được tạc ở tư thế đứng hoặc cưỡi trên lưng một con vật giống như sư tử.

8. Tượng thờ Đại Thế Chí Bồ Tát:

Đại Thế Chí Bồ tát còn gọi là Đắc đại thế Bồ tát, Đại tinh tấn Bồ tát, Vô biên quang Bồ tát… Là vị Bồ tát dùng ánh sáng trí tuệ chiếu khắp mọi loài, làm cho chúng sinh thoát khổ thành tựu quả vị Vô thượng bồ đề.

Theo kinh “Quán vô lượng thọ”, Bồ tát thân cao tám mươi muôn ức, da màu vàng tử kim, trong thiên quang của Bồ tát có 500 hoa báu, mỗi một hoa báu có 500 đài báu, trong mỗi đài đều hiện quốc độ tịnh diệu của mười phương chư Phật, nhục kế như hoa Bát đầu ma, giữa nhục kế có một hình báu, khác hình tượng Quan thế âm Bồ tát.

Theo “A lợi đa la đà la ni a lỗ lực”, thì hai Bồ tát (Đại Thế Chí và Quán Thế Âm) đều toàn thân màu vàng, phóng hào quang trắng, tay phải cầm phất trần trắng, tay trái cầm hoa sen, nhưng thân hình Bồ tát Đại thế chí nhỏ hơn thân hình Bồ Tát Quán Thế Âm.

Còn trong “Hiện đồ mạn đồ la thai tạng giới” của Mật tông, thì tượng Ngài ngồi trên hoa sen đỏ, thân màu trắng, tay trái cầm hoa sen mới nở, tay phải co ba ngón giữa đặt trước ngực. Mật hiệu là Trì luân kim cương, hình Tam muội da là hoa sen mới nở.

Tại các chùa Việt Nam, tượng Đại Thế Chí Bồ Tát thường được tạc theo hình dáng người cư sĩ, cổ đeo chuỗi anh lạc, tay cầm hoa sen xanh, đứng bên trái Đức Phật A Đi Đà (theo thế đứng vái lạy của người dâng lễ) để theo hầu Phật A Di Đà. Đây là lối thờ Di Đà Tam Tông: Đức Phật Di Đà ở giữa, bên tả là Quan Thế Âm Bồ Tát, bên hữu là Đại Thế Chí Bồ Tát.

Khi đứng riêng thì tượng Đại Thế Chí Bồ tát được tạc theo nhiều hiện thân, nhưng cơ bản là hình tượng cư sĩ ngồi hoặc đứng trên toà sen, tay cầm một cành sen.

9. Tượng Đức Thánh Hiền:

Đức Thánh hiền được thờ ở các chùa, chính là Ngài Anan tôn giả, đệ tử đệ nhất đa văn của Đức Phật. Theo Phật giáo Đại thừa ngài còn phát nguyện độ sinh do đó Ngài còn tái sinh nhiều lần để cứu vớt chúng sinh.

Tượng ngài được đặt ở bên trái của Bái Đường. Tượng có khuôn mặt thanh thoát, hiền từ, đầu đội mũ có 7 cánh sen, mỗi cánh sen có hình một Đức Phật, một tay cầm chén, một tay bắt ấn.

10. Tượng Đức Ông:

Có chùa ghi là Đức Chúa, được an vị ở bên phải Bái Đường. Tượng được tạc theo hình dáng quan văn, đầu đội mũ cánh chuồn, mặt đỏ, râu dài, vẻ mặt nghiêm nghị.

Theo điển tích Phật giáo thì khi Đức Thích Ca vừa thành đạo, Trưởng giả Cấp Cô Độc, một nhân vật thời Đức Thích Ca tại thế, đã mua một khu vườn cây xây tịnh xá, ngôi chùa rất to, thỉnh Phật Thích Ca về thuyết pháp. Sau này ông được coi là người bảo vệ tài sản của nhà chùa. Vì vậy người ta gọi là Đức ông hay Đức Chúa Già Lam Chầu Tể.

*          *

*

Trên đây là một số tượng được thờ ở các ngôi chùa Việt Nam. Nhìn chung, các vị Phật hay Bồ Tát đều ngồi hoặc đứng trên tòa sen với đôi mắt khép kín, khuôn mặt nhân hậu, thanh thản, tượng trưng cho sự đại phú, đại quý, siêu phàm và vinh quang.

————————–

Mời tham khảo để lấy hình minh họa:

https://dangxuanxuyen.blogspot.com/2015/08/nhan-biet-chu-phat-qua-hinh-dang-tuong.html

Nghe từng trang lịch sử thét từng trang

Nguyệt Quỳnh

Một tấc đất của tiền nhân để lại, cũng không được để lọt vào tay kẻ khác
(Trần Nhân Tông)

Tại núi rừng Tam Điệp, vua Quang Trung truyền lệnh cho binh tướng Phú Xuân, Nghệ An hợp cùng binh tướng của Ðại Tư Mã Ngô Văn sở cùng ăn tết sớm và hẹn nhau sẽ ăn mừng Khai Hạ tại Thăng Long vào ngày mùng bảy tết. Kế hoạch của nhà vua là sử dụng sở trường của binh Tây Sơn tấn công chớp nhoáng khi quân Thanh vui chơi ngày Tết và tướng Thanh còn đang mải mê yến tiệc. Đúng vào đêm trừ tịch năm Kỷ Dậu, từ phòng tuyến Tam Điệp nhà vua ra lệnh xuất quân.

Vua Quang Trung chia quân làm 5 đạo, tấn công giặc từ ba hướng:

Hướng chính gồm đạo quân chủ lực do chính vua Quang Trung điều động. Tiên phong là tướng Ngô văn Sở và Phan văn Lân sẽ tấn công thẳng vào dãy thành phòng thủ của mặt Nam Thăng Long.

Hữu quân gồm hai đạo thủy quân vượt đường biển, tiến vào cửa sông Lục Ðầu. Ðạo thủy quân của Ðô Ðốc Tuyết sẽ tấn công đám quân tòng vong của Lê Chiêu Thống, tiến chiếm Hải Dương, rồi vượt bộ vào tiếp ứng và đánh vào mặt Đông thành Thăng Long.

Ðạo Thủy quân của Ðô Ðốc Lộc sẽ vượt bộ lên Phượng Nhỡn, Lạng Giang, Yên Thế để khóa lương, ngăn viện, và chận đường lui binh của giặc.

Ðại Ðô đốc Bảo và Ðô đốc Long đem tả quân, có tượng và kỵ binh tăng cường đi bọc đường núi đánh tạt cạnh sườn vào phòng tuyến địch. Cánh quân của Ðại Ðô đốc Bảo dùng tượng binh từ huyện Sơn Minh đánh vào các căn cứ địch ở xã Ðại Áng.

Ðô đốc Long, người được người đời phong danh hiệu là Ðặng Thiết Tý, nghĩa là cánh tay họ Ðặng cứng như sắt. Trong cánh quân của ông có viên phó tướng là Ðặng Tiến Ðông sinh trưởng ở xã Lương Xá gần thành Thăng Long nên rất am hiểu địa hình. Đô đốc Long dẫn tượng binh và kỵ binh đi đường tắt từ huyện Chương Ðức đến huyện Thanh Trì. Thực hiện chiến thuật bất ngờ đánh từ Tây Bắc xuống Nam, chận đường rút quân về đại bản doanh Thăng Long, làm địch hoang mang mất tinh thần ngay từ phút đầu.

Mục tiêu đầu tiên của quân ta là chiếm gọn căn cứ Nhân Mục và Yên Quyết, hai tiền đồn mặt Tây và Bắc Khương Thượng, không để một tên địch nào chạy thoát về báo tin. Rồi nửa đêm ngày mùng bốn tết, quân ta đã áp sát 4 mặt thành Khương Thượng. Trong đồn, giặc vẫn không hề hay biết.

Lệnh khai hoả, tức thì những bó đuốc bằng rơm quấn chặt, tẩm dầu phựt sáng thành một một vành đai lửa; trùng điệp khép kín với tiếng trống trận; tiếng hò hét vang trời, dậy đất; quân Thanh hoảng hốt, không còn sức kháng cự.

Ðề đốc Sầm Nghi Ðống chưa kịp xoay trở, thì mũi nhọn của cảm tử quân với sức mạnh như chẻ tre đã phá vỡ thành, xông vào như nước vỡ bờ. Sầm Nghi Ðống phải mở đường máu chạy về Thăng Long. Nhưng khi đến gò Ðống Ða thì bị một cánh quân của Ðô đốc Long chận đánh. Bí đường, Sầm Nghi Ðống phải thắt cổ tự vẫn. Số tàn quân ngơ ngác vì rắn mất đầu, hoảng quá chạy dội lại về phía nam. Nhưng vừa đến Ðầm Mực thì bị quân của Ðại đô đốc Bảo đón đánh, tiêu diệt hết.

Ðạo quân do chính vua Quang Trung thống lãnh chỉ huy cả ba doanh: tiền, trung và hậu. Tư Mã Sở và Nội hầu Lân mang tiền quân làm mũi nhọn tiên phong. Tân binh Nghệ An thì sung vào trung quân do nhà vua trực tiếp chỉ huy. Hậu quân có Hô Hổ Ðầu thủ vai đốc chiến và đề phòng địch tập hậu.

Ngày 30 tết, đại quân của Quang Trung vượt bến đò Gián Khuất ngược chiều tiến quân của giặc; dùng thế võ đâm so đũa, nhanh như chớp lần lượt hạ các đồn Thanh Liêm, Nhựt Tảo, Phú Xuyên.

Quân giặc ở Hà Hồi và Ngọc Hồi vẫn chưa hay biết, tiếp tục uống rượu đón xuân. Chừng nghe tiếng quân Nam reo hò vang dội ngoài thành vào nửa đêm mùng Ba Tết. Quân Thanh thủ Hà Hồi thất kinh hồn vía, mở cửa thành dâng nộp vũ khí xin hàng.

Ðêm Hà Hồi rực hồng lửa đỏ
Bóng lá lùm cây cũng gợi kinh hoàng
Tiếng loa từ trời vọng xuống vang vang
Mặt đất xông lên đoàn người dũng mãnh
Gươm giáo tuốt trần
Ðằng đằng nét mặt
Bạt vía sài lang
Ghê hồn quân giặc
Lớp lớp buông thương bó gối qui hàng
Ðồn mất rồi giấc điệp vẫn chưa tan
(Hương Giang)

Ðạo quân chủ lực hợp cùng đạo quân của Ðô đốc Bảo tiến ra Ngọc Hồi vào mờ sáng mùng năm. Đụng phải sức cố thủ mãnh liệt của giặc Thanh, đạn trong thành bắn ra như mưa. Vua Quang Trung huy động hơn 100 thớt voi dàn hàng ngang như một đoàn thiết giáp tiến về mục tiêu.

Giặc cố thủ trong đồn được ưu thế có thành lũy kiên cố, có chông sắt dầy đặc, có chỗ ẩn nấp an toàn đã bắn tên đạn ra như cát vãi.

Nhà vua bèn cho dùng phên gỗ quấn rơm nhào với đất bùn làm lá chắn để ngăn tên đạn. Cứ 10 người lưng dắt đoản đao, chung nhau vác dựng đứng một tấm phên, mặt bện rơm quay về phía địch. Theo sau họ là 20 khinh binh, võ trang đầy đủ, sẵn sàng chiến đấu theo nguyên tắc công thủ song hành.

Các tấm phên dàn hàng chữ nhất tiến vào đồn làm vô hiệu hóa hoả lực của địch quân. Khi đến sát đồn, các phên gỗ ấy được sử dụng như một tấm đệm trải lên chông để cảm tử quân tiến vào. Chính nhà vua cỡi voi đốc chiến, quân giặc tan vỡ cấp kỳ, đạp nhau mà chạy tán loạn.

Ðây là chiến thắng cam go nhất. Lộ quân tiên phuông của Ðại Tư Mã Ngô Văn Sở có đến tám ngàn người hy sinh.

Ðây muôn người lòng trải với giang san
Nghe hào khí tiền nhân ngời trong gió
Ðất Ngọc Hồi trời còn chưa tỏ
Mà tiếng quân reo ngựa hí vang rền
Ôi phút tên bay đạn réo bên mình
Ðã thấu lòng nhau lời thề tâm huyết
Máu xương này đổ vì bờ cõi Việt
Mảnh đất bao đời gìn giữ gửi trao
(Hương Giang)

Cùng lúc đó, đạo quân của Ðô đốc Long ở mặt Tây Nam đã chiếm Khương Thượng rồi tiến như vũ bão sang công phá Ðống Ða. Hai đạo thủy quân của Ðô đốc Tuyết và Ðô đốc Lộc thanh toán chớp nhoáng các vị trí chiến lược Hải Dương, Phượng Nhỡn, Lạng Giang, Yên Thế rồi hổ trợ đại quân đánh thẳng vào Thăng Long.

Sáng mồng năm Tết, tại cung Tây Long, Tôn sĩ Nghị đang sốt ruột theo dõi mặt trận phía Nam bỗng được tin cấp báo – quân Tây Sơn như trên trời giáng xuống đang tiến vào cửa Tây với khí thế ngùn ngụt. Tôn Sĩ Nghị hoảng quá, không kịp mặc áo giáp, không kịp mang theo sắc thư và ấn tín vội nhảy lên ngựa chưa kịp thắng yên cương. Tôn Sĩ Nghị cùng toán kỵ binh thoát ra thành Thăng Long, vượt cầu phao qua sông Nhị Hà.

Quân Thanh thấy chủ tướng bỏ chạy, bèn vứt cả khí giới, tranh nhau qua cầu phao. Đến nỗi bị ứ nghẹn cầu bị dồn nén, sức nặng quá tải nên đứt dây, ném cả xuống sông. Gặp lúc cuối mùa đông nước lớn chảy xiết, quân Thanh chết vô số kể.

Cánh quân viện binh Quý Châu – Vân Nam của giặc, vừa tới Sơn Tây nghe tin chủ soái bỏ chạy; các tướng Sầm Nghi Ðống, Hứa Thế Hanh, Trương Sĩ Long, Thượng Duy Thăng đều tử trận; cũng tất tả tháo chạy. Dọc đường về còn bị phục kích, chận đánh tơi bời bởi các lộ quân của Ðô đốc Lộc; qua biên giới sang Tàu rồi mà vẫn chưa hết bàng hoàng.

Khoảng 4 giờ chiều ngày mồng 5 Tết Kỷ Dậu, Ðô đốc Long mở cửa thành đón đại quân. Hoàng Ðế Quang Trung với chiến bào đen xạm khói thuốc súng, có 80 thớt voi làm lá chắn, uy nghi tiến vào Thăng Long sớm hơn kỳ hẹn 2 ngày.

Ôi người xưa Bắc Bình Vương
Ðống Ða một trận năm đường giáp công
Ðạn vèo năm cửa Thăng Long
Trắng gò xương chất đỏ sông máu màng

Chừ đây lại đã xuân sang
Giữa cố quận một mùa xuân nghịch lữ
Ai kia lòng có mang mang
Ðầy vơi sầu xứ – Hãy cùng ta
ngẩng đầu lên hướng về đây tâm sự
Nghe từng trang lịch sử thét từng trang
(Vũ Hoàng Chương)

Xin mời nghe Youtube “Chiến Thắng Đống Đa 2

Nguyệt Quỳnh (đề tựa & tổng hợp)

 

CSVN ĐÃ LỪA NGƯỜI VIỆT HẢI NGOẠI THẾ NÀO?

CSVN ĐÃ LỪA NGƯỜI VIỆT HẢI NGOẠI THẾ NÀO?

Cộng Sản Việt Nam đã lừa người Việt hải ngoại thế nào trong vụ bắt cóc Trương Duy Nhất?

Ông Trương Duy Nhất, cựu ký giả nhật báo Đại Đoàn Kết, và cũng là một nhà báo, một blogger bất đồng chính kiến với nhà cầm quyền CSVN vừa bị Tòa Án Nhân Dân Cấp Cao tại Hà Nội bác đơn kháng cáo và y án 10 năm tù vào ngày 14 tháng Tám, 2020 vừa qua về tội “lợi dụng quyền hành trong khi thi hành công vụ”.

Biết trước nguy cơ sẽ bị cáo buộc và kết tội oan ức chỉ vì những tranh chấp quyền lợi giữa các nhóm lãnh đạo của nhà nước CSVN. Vào cuối tháng Giêng, 2019, ông Trương Duy Nhất đã tìm cách trốn sang Thái Lan để lánh nạn và tìm sự che chở từ Cao Ủy Tị Nạn LHQ cũng như từ các quốc gia tự do. Tại Bangkok, ông Nhất đã được tổ chức VOICE cùng LS Trịnh Hội, các ông Bạch Hồng Quyền và Phạm Cao Lâm (một Việt kiều sống lâu năm ở Bangkok), giúp đỡ thuê nhà và hướng dẫn về thủ tục xin tị nạn chính trị. Tuy nhiên vụ việc đào tị của ông đã bị nội gián, nên công an CSVN biết rõ đường đi, nước bước và theo dõi mọi hoạt động, đồng thời chuẩn bị kế hoạch bắt cóc đương sự để đưa về lại VN, hầu che dấu những tin tức liên quan đến tham nhũng, đang tạo ra sự tranh chấp nội bộ giữa các phe nhóm trong đảng CS ở VN. Họ sợ ông TDNhất sẽ phổ biến khi được tự do ở nước ngoài. Xin nhớ rằng nhà báo, blogger TDNhất được xem là một người thường xuyên lên tiếng chỉ trích những bất công của xã hội tại VN. Ông cũng là chủ nhân của trang blog “Một Góc Nhìn Khác” và đã từng bị nhà cầm quyền Hà Nội đàn áp và kết án tù 2 năm (2013-2015) về tội “lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân?”. Ông đã được tổ chức quốc tế “Phóng Viên Không Biên Giới” (RFS) tuyên dương và ghi tên vào danh sách “100 Anh Hùng Thông Tin” vì lòng can đảm cùng tinh thần bất khuất của ông trong ngành truyền thông.

Vụ bắt cóc Trịnh Xuân Thanh tại nước Đức vào tháng Bẩy, 2017 đã để lại biết bao tai tiếng và hệ lụy trong lãnh vực ngoại giao khiến cho CSVN cẩn thận và kỹ lưỡng hơn trong âm mưu bắt cóc nhà báo Trương Duy Nhất. Kịch bản mà họ sử dụng lần này là tố cáo và buộc tội ông TDNhất cùng những người giúp đỡ ông ta với chính quyền Thái Lan (nơi ông đang tạm trú) rằng, đây là một “tổ chức buôn người quốc tế” từ VN ra nước ngoài qua ngã Thái Lan. Cộng tác với công an CSVN lần này là Nguyễn Thanh Tú, CSVN sử dụng Tú bằng cách phát tán rộng rãi cũng như ngụy tạo ra những lời vu cáo tổ chức VOICE cùng giám đốc điều hành, LS Trịnh Hội là những “kẻ buôn người”. Tú còn được sự cộng tác ngấm ngầm của Phạm Cao Lâm cùng linh mục Joseph Thiện Nguyễn (một người sống ở Buffalo, New York, nhưng thường xuyên đến Thái Lan du lịch).

Âm Mưu và Thủ Đoạn:

Vào cuối tháng Giêng, 2019, chỉ vài ngày sau khi đến Thái Lan, công an CSVN đã bủa vây bắt cóc nhà báo TDNhất và đưa về lại VN, cùng một lúc truy lùng Bạch Hồng Quyền theo lệnh truy nã đã ban hành từ tháng Năm, 2017. Rút kinh nghiệm vụ Trịnh Xuân Thanh và để tránh phản ứng của quốc tế, CSVN một mặt giấu kín tin này (mãi cho đến cuối tháng 3, 2019, tức là gần 2 tháng sau, họ mới thông báo cho gia đình ông TDNhất biết). Cùng một lúc, bật đèn xanh cho NTTú tung ra một video ngụy tạo tin tức hết sức “giật gân” và phát tán rộng rãi ở trên mạng vào ngày 19, tháng 3, 2019 dưới tiêu đề: “VOICE/Trịnh Hội/Lộc cát xê buôn lậu Trương Duy Nhất, TDN mất tích, VOICE/VT ‘tẩu’ Thái Lan”!

Mục đích của họ là để đánh lừa cảnh sát Thái Lan cùng dư luận quốc tế và cộng đồng người Việt rằng, ông TDNhất chỉ là “di dân nhập cảnh lậu” chứ không phải một nhà đối kháng hay một cựu tù nhân lương tâm! Hầu hết các YouTubers ở hải ngoại được Tú trao cho bản tin “nóng hổi” kể trên đã nhanh chóng khai thác và phổ biến rộng rãi. Tất cả đã vô tình lọt vào cạm bẫy của Nguyễn Thanh Tú cùng CSVN. Rất may là sau khi những diễn biến này xẩy ra, VOICE đã tiếp xúc trực tiếp và kịp thời với nhà cầm quyền Thái Lan, giải thích toàn bộ kịch bản do CSVN và NTTú dựng lên để “bắt cóc hợp pháp” nhà báo TDNhất, một người bất đồng chính kiến ở VN, đồng thời nhờ vào sự can thiệp của ông Bộ Trưởng Di Trú Canada cũng như Thượng Nghị Sĩ Ngô Thanh Hải tại Ottawa, thủ đô Canada, VOICE đã làm việc với các giới chức cao cấp của chính phủ Thái Lan cùng các tổ chức bảo vệ nhân quyền, Human Right Watch (HRW), cơ quan di dân quốc tế IOM, và văn phòng Cao Ủy Tỵ Nạn LHQ (UNHCR) tại Bangkok, để can thiệp và vận động cho sự an toàn của Bạch Hồng Quyền trong tiến trình định cư khẩn cấp để gia đình anh được đến Canada qua sự bảo trợ của VOICE. Nói một cách khác, thay vì bị cảnh sát Thái Lan “truy lùng” như lời Tú bịa đặt, ngược lại họ đã che chở và bảo vệ để Bạch Hồng Quyền cùng gia đình được rời khỏi Thái Lan bình an.

Sau khi biết được âm mưu thâm độc nói trên, chính phủ Thái Lan đã lên tiếng phản đối nhà cầm quyền CSVN trong vụ bắt cóc nhà báo TDNhất, đồng thời cho mở cuộc điều tra để biết rõ sự việc. Chính phủ Hoa Kỳ cũng được thông báo tin này, họ đã lên tiếng hoàn toàn ủng hộ và hoan nghênh quyết định đứng đắn nói trên của nhà nước Thái Lan.

Thủ Đoạn Lừa Đảo và Tin Tức Trung Thực:

Các điểm chính trong video mà Nguyễn Thanh Tú hợp cùng CSVN đưa ra trong thủ đoạn lừa đảo dư luận đã từ từ bị lộ tẩy vì sự thật mỗi ngày một sáng tỏ:

1. Trắng trợn bịa đặt rằng: “Một khoản tiền lớn đã được nhà báo Trương Duy Nhất trao cho Trịnh Hội và Bạch Hồng Quyền để đưa ông TDNhất nhập cảnh lậu vào Thái Lan”.

Đây chỉ là những luận điệu xảo trá do Nguyễn Thanh Tú tạo dựng để vu cáo việc làm nhân ái, giúp đỡ người Việt tỵ nạn định cư của LS Trịnh Hội cùng tổ chức VOICE từ bấy lâu nay mà NTTú không hề chứng minh được bất cứ một bằng chứng nào về những cáo buộc nói trên.  

2. Nhờ linh mục Joseph Thiện và Cao Lâm bôi bẩn hình ảnh của nhà tranh đấu môi trường Bạch Hồng Quyền, là một tay “cờ bạc” và một người không tốt!

(Đây là những chi tiết trung thực về lai lịch của ông BHQ: https://www.bbc.com/vietnamese/vietnam-48143876)

3. Trắng trợn bịa đặt rằng: “Lực lượng cảnh sát đặc biệt, đơn vị chống buôn người của Thái Lan đang theo dõi các thành viên của VOICE là Trịnh Hội, Nam Lộc, Nguyễn Văn Khanh và luật sư Anna Nguyễn. Mọi sự di chuyển của những người trên đều đang bị theo dõi, mọi cuộc điện đàm đều đã bị thu âm lại”. Và tất cả những người này hiện đang “lẩn trốn”!

Sự thật là vào giữa tháng Ba, 2019, luật sư Anna Nguyễn (người điều hành văn phòng VOICE ở Thái Lan) đã rời Bangkok đi Âu Châu để tham dự hội nghị nhân quyền tại trụ sở quốc hội Liên Âu ở Brussels, cùng với bác sĩ Hoàng Thị Mỹ Lâm, Chủ Tịch Liên Hội Người Việt Tỵ Nạn Cộng Hòa Liên Bang Đức, và nhiều đại diện cơ quan đoàn thể thuộc cộng đồng người Việt tại châu lục này, sau đó đã trở lại Thái Lan làm việc bình thường. Riêng LS Trịnh Hội và NS Nam Lộc, sau khi hoàn tất việc định cư gia đình ông Bạch Hồng Quyền, cả hai cũng đã trở lại Thái Lan để công khai mở các cuộc họp cộng đồng với sự tham dự của đông đảo người tị nạn, cùng linh mục Peter Namwong và đại diện các tổ chức nhân quyền ở Bangkok mà không gặp bất cứ một trở ngại gì như lời cáo buộc nhảm nhí của Nguyễn Thanh Tú trong video của hắn. Cá nhân tôi đã có mặt trong cuộc tiếp xúc nói trên.

4. Phần cuối, Nguyễn Thanh Tú kết luận: Các thành viên của VOICE “đã tự nạp mạng cho cảnh sát Thái Lan”, và “50 hồ sơ của đồng bào tỵ nạn đang được tổ chức VOICE giúp đỡ (để đi định cư tại Canada)” đều xem như bị hủy bỏ, và họ sẽ “chẳng còn được đi đâu nữa cả”!

Như đã nói ở trên cảnh sát Thái Lan không hề thắc mắc gì đến những hoạt động bảo vệ nhân quyền của VOICE cùng sự đi lại của các thành viên thuộc tổ chức này. Đồng thời cuộc vận động để giúp định cư 50 đồng bào tị nạn VN tại Thái Lan, đã và đang tiến hành một cách tốt đẹp. Chính phủ Canada không có bất cứ cuộc “điều tra” nào như Nguyễn Thanh Tú và đồng bọn đã rêu rao trên một vài tờ báo và các kinh Youtube, ngược lại họ vẫn luôn luôn tin tưởng cũng như vẫn tiếp tục hợp tác chặt chẽ với tổ chức VOICE để phỏng vấn đồng bào tị nạn VN tại Indonesia và Thái Lan, đồng thời chấp thuận các đơn xin bảo trợ và định cư do VOICE đệ trình.

Là những người tị nạn sống lâu năm ở Thái Lan, chúng tôi đã theo dõi và biết rất rõ sự việc. Một điều thật đau lòng xẩy ra lúc đó khi được xem các đài TV YouTube ở hải ngoại phổ biến cũng như phỏng vấn Nguyễn Thanh Tú, ông Cha Joseph Thiện và tên Cao Lâm. Được nghe các nhân vật nói trên tác yêu, tác quái, dựng lên những câu chuyện hoàn toàn bịa đặt, đồng bào tị nạn thấp cổ bé miệng của chúng tôi ở bên này thật là đau lòng, nhưng bất lực! Không có một “nhà báo” nào hỏi thăm những người Việt tị nạn ở đây lâu năm như chúng tôi để biết rõ sự việc.

Thật là đáng tiếc, và đó cũng là lý do mà chúng tôi mạn phép được lên tiếng ngày hôm nay, khi sự việc đã ngã ngũ. Một nhà báo, một blogger, một người bất đồng chính kiến đã bị cưỡng bức, bị bắt cóc về VN để lãnh án 10 năm tù tội, mất đi cơ hội đoàn tụ với con gái của ông tại Canada. Tuy phải trải qua nỗi oan khiên cùng với cách đối xử dã man của nhà cầm quyền CSVN, nhưng trước vành móng ngựa ông Trương Duy Nhất vẫn hiên ngang tuyên bố: Đừng để cho các thế hệ cháu con sau này nhìn lại phải cúi đầu tủi hổ về những phán quyết sai lầm của cha ông chúng, của một thời nhóm lò loạn lạc, một thời đất nước tưởng có Phúc mà vô phúc, có Trọng mà không đáng trọng….”.

Nguyễn Đức Tiến

Bangkok, Thái Lan

@Tài liệu tham khảo:

1. https://www.youtube.com/watch?v=pqLoAL3MO3c

2. https://vietbao.com/a296749/to-chuc-voice-thong-bao-tien-trinh-dinh-cu-dong-bao-ty-nan-viet-nam

3. http://vanviet.info/tren-facebook/loi-ni-sau-cng-cua-truong-duy-nhat/ 

4. https://www.bbc.com/vietnamese/vietnam-47140347

5. https://sinhhoatdoisong.blogspot.com/2019/12/bo-mat-that-cua-nhung-nhan-vat-au-tranh.htmlDownload all attachments as a zip file

 

ĐCSTQ thâm nhập vào giới lãnh đạo Mỹ

ĐCSTQ thâm nhập vào giới lãnh đạo Mỹ, cựu Giám đốc truyền thông của Pelosi là đặc vụ của CCTV

Đảng Cộng sản Trung Quốc (ĐCSTQ) đã thâm nhập khắp mọi nơi, và một trong những cách thức chủ yếu của nó là tuyên truyền thông qua các phương tiện truyền thông. 
Người tiếp tay cho Đài truyền hình trung ương Trung Quốc CCTV tiến nhập vào các gia đình Mỹ lại chính là Brendan Daly, cựu Giám đốc truyền thông của Chủ tịch Hạ viện Nancy Pelosi, và là người được bổ nhiệm chính trị (political appointee) của chính quyền Obama.
Theo ấn phẩm tin tức The National Pulse của phái bảo thủ Mỹ đăng  ngày 13/8, trong nhiệm kỳ làm Phó Chủ tịch Quan hệ Công chúng  Toàn cầu của Ogilvy (Ogilvy PR) – một trong mười công ty quan  hệ công chúng chuyên nghiệp hàng đầu thế giới, ông Brendan Daly  đã vận động hành lang công ty này và họ đã ký hợp đồng với CCTV.

ĐCSTQ thâm nhập vào giới lãnh đạo Mỹ, cựu Giám đốc truyền thông của Pelosi là đặc vụ của CCTV

Người tiếp tay cho Đài truyền hình trung ương Trung Quốc CCTV tiến  nhập vào các gia đình Mỹ lại chính là Brendan Daly, cựu Giám đốc  truyền thông của Chủ tịch Hạ viện Nancy Pelosi.  Trong ảnh, ông Daly đi bên trái bà Pelosi. (Photo by Win McNamee/Getty Images)
công ty này đã “cung cấp lời khuyên chiến lược, xác định các bên  liên quan trong công nghệ truyền thông và sử dụng mối quan hệ  với giới truyền thông” để giúp CCTV tiến vào các  gia đình Mỹ.
Theo các tài liệu được đệ trình vào năm 2012, căn cứ theo Đạo  luật Đăng ký Cơ quan đại diện Nước ngoài (FARA), quy định rằng  Ogilvy PR sẽ hợp tác với “CCTV Hoa Kỳ” (CCTV America) và  hướng đến công chúng Mỹ, “CCTV Hoa Kỳ” sẽ cung cấp các  chương trình tin tức thuyết phục, toàn diện và công bằng từ góc  nhìn của người châu Á.
Tuy nhiên, theo thông tin đăng ký của CCTV tại FARA, CCTV hoàn toàn được “giám sát, sở hữu, chỉ đạo, kiểm soát, tài trợ và  trợ cấp” bởi ĐCSTQ.  Tổ chức phi chính phủ Mỹ “Freedom House” đã nhận định CCTV là “vũ khí bền bỉ trong kho vũ khí trấn áp của Bắc Kinh”, và nhiệm  vụ của tổ chức này là “tấn công kẻ thù được chỉ định của ĐCSTQ” –  chủ yếu là Hoa Kỳ.
Ông Daly nói với các đồng nghiệp của mình rằng CCTV đã thuê  Ogilvy, và chỉ ra rằng “CCTV Hoa Kỳ” do ĐCSTQ tài trợ sẽ trả cho  công ty này 15.000 USD mỗi tháng, theo định kỳ ba tháng một lần  Theo thông tin đăng ký của FARA, ông Daly nằm trong danh  sách biên chế của ĐCSTQ.
Qua email của Brendan Daly có thể thấy, ông này đang ở vị trí  dẫn đầu trong dự án và đồng thời còn có trao đổi qua lại với người  liên lạc của “CCTV Hoa Kỳ“. Ông cũng cung cấp một bản ghi nhớ  cho “CCTV Hoa Kỳ” nêu chi tiết kế hoạch chiến lược của Ogilvy,  đưa ra cách thức để cung cấp hỗ trợ toàn diện cho CCTV Hoa Kỳ,  ngoài ra còn hướng dẫn chi tiết cách tốt nhất để xóa bỏ khoảng  cách giữa các gia đình Mỹ và tuyên truyền của ĐCSTQ.

Chủ tịch Hạ viện Mỹ phản đối luận tội ông Trump

bà Pelosi

Ông Daly từng là Giám đốc truyền thông của Chủ tịch Hạ viện  Mỹ Pelosi trong gần mười năm từ 2002 đến 2011 và thậm chí đã  quyên góp 1.000 USD cho chiến dịch của bà Pelosi vào năm 2001.
 Ông Daly đã lợi dụng các mối quan hệ có được thông qua  bà Pelosi để nâng cao ảnh hưởng của “CCTV Hoa Kỳ“.
Ông Daly hiện là Giám đốc truyền thông của Hiệp hội Công nghiệp  Ghi âm Hoa Kỳ (RIAA), Hiệp hội này đại diện cho nhiều công ty  thu âm hàng đầu, chẳng hạn như Warner Music Group.  Mới đây, “công cụ” Tencent của ĐCSTQ đã mua lại 200 triệu USD  cổ phần của Warner Music Group.
Bà Pelosi khẳng định rằng mình là “người Mỹ không được yêu thích  nhất ở Trung Quốc”, nhưng mối quan hệ giữa các nhân viên của  bà và ĐCSTQ lại khác xa với thực tế. Gần đây, Michael Hacker,  cựu Cố vấn cấp cao của bà Pelosi, đã tham gia chiến dịch vận  động hành lang của TikTok để phản đối lệnh cấm của Tổng thống  Trump đối với TikTok.
Để đối phó với sự thâm nhập của ĐCSTQ, trong bài phát biểu tại  Thượng viện Cộng hòa Séc hôm 12/8, Ngoại trưởng Mỹ Mike  Pompeo đã tuyên bố rằng những gì đang diễn ra bây giờ không  phải là Chiến tranh Lạnh 2.0, việc chống lại mối đe dọa của  ĐCSTQ trên một số phương diện sẽ khó hơn nhiều.
 “Đó là bởi vì ĐCSTQ đã thâm nhập vào nền kinh tế, chính trị và  xã hội của chúng ta theo cách mà Nga Xô trước đây cũng chưa  từng nghĩ tới”. Hơn nữa, Bắc Kinh khó có thể thay đổi hướng  đi trong tương lai gần. Nhưng theo ông Pompeo, cho dù là như  vậy thì tương lai của chúng ta vẫn tràn đầy hy vọng. Đông Phương

VĂN CHƯƠNG Và NGHỆ THUẬT

 VÕ CÔNG LIÊM    

                VĂN CHƯƠNG Và NGHỆ THUẬT

     gởi: nguyễn đức tùng. đỗ quyên và lê thánh thư.

    Hình như hai thứ này luôn gần gũi nhau. Nói đến văn chương là có nghệ thuật. Nhưng mỗi thứ có một sắc tố đặc thù của nó chớ không phải là khiá cạnh riêng biệt khi nói đến mà phải hoà hợp hay dung thông vào nhau để có một tư duy độc đáo và cao độ; cái đó là phong cách phát huy cho vấn đề kiểu cách của văn chương –the matter of literary style mới làm sống thực chức năng của nó, bởi; văn tức là người, nghĩa tức là hồn –Style and Meaning. Nhưng; văn chương là lương tri, là thẩm quan của người viết và người đọc. Nếu đứng trên cương vị chủ quan mà nhận xét theo chiều hướng cố vị thì chính sự lý này đem lại những rắc rối khác mà chức năng, nhiệm vụ của người viết là để làm sao cho người đọc một cái gì đơn sơ, dễ hiểu  –but his literary conscience was troubled and his duty to his readers was plain. Đấy là nghệ thuật viết văn chớ đừng cố tạo cái thâm sâu cùng cốc mà đưa tới một sự ngu xuẩn, vớ vẩn. Còn đứng ra phản thùng hay phản phé thì cả hai đều nghiêng hẳn về lẽ phải của mình. Tác giả là người quá hăng say cho những gì viết ra hay nghĩ tới (whole-souled) cho những vấn đề muốn đặc ra và ngay trong phút chốc hay chỉ giây lát thoáng qua tất cả là một bung phá tột bực đến trong trí, dẫu là tính chất hư cấu đều cân nhắc, đắng đo suy xét (wholeness) một cách rốt ráo để thành văn; trạng huống đó thuộc hồn (soul) và hiếm khi bắt chụp được mỗi khi sáng tác trong vị trí giữa người và hồn, đấy là hai đặc chất mà chúng ta tìm thấy một cách rõ nét, nó thuộc hình dạng hay trình độ thấm thấu qua trí tuệ ở mỗi nhà văn hay nhà thơ dù cố tạo một sắc thái khác đi nữa để nói lên nhân tính của mình, đó là cơ may để phơi bày lên giấy trắng mực đen cái của mình muốn nói –the occasion was a paper of mine in which. Là; những gì nói đến; cho nên chi tư duy bộc phát chính là cái đẹp xẩy ra, là một trải rộng vấn đề về cuộc đời chúng ta đang sống; đó là những gì mà tác giả đã chín chắn và cảm nhận được, có nghĩa rằng tư duy lớn dần theo kinh nghiệm của thời gian. Giọng văn dù ‘trang điểm’ cách mấy cũng đủ nhận ra được tác giả ở góc độ nào của tuổi tác và trình độ, cảm thấy như không thêm được gì hơn và cảm thấy mù mờ trong ý chữ nghĩa. Viết văn hay làm thơ là phản ảnh trung thực cái duy tâm chủ nghĩa. Không vì một sự cớ nào mà nói lên cái không thuộc của ‘conscience’ mà cần có một tâm như trong sáng và thực mới vực được đạo. Đấy là yếu tố xây dựng văn và cảm hứng thơ; còn mượn tiếng hay tỏ vẻ, kể lể để nâng giá trị cá nhân thì hoàn toàn phản biện với lương tâm. Văn chương và nghệ thuật không phải là món hàng thương mãi cần rao bán, nó trở thành sở hữu chủ của độc giả; đó là giá trị đích thực. Đôi khi chỉ một tác phẩm mà đi vào lịch sử văn chương, ngược lại ‘sản xuất’nhiều trên mặt báo chỉ là giá trị sản lượng chớ không có giá trị thành phẩm. Văn chương ngày nay hầu như đi lạc hướng chủ đề, khác hẳn văn chương thuở xưa: -chuộng tinh túy hơn là thể cách. Sự cớ này dần dà làm xáo trộn cả trào lưu hiện đại. Văn chương lương tâm là phải thực như cuộc đời đã sống, còn đặc điều thì cái đó gọi là văn chương vô lương tâm (unconscience) mà trở nên tội phạm (criminal) như một số văn thi sĩ đã lạm dụng chữ nghĩa hay lạm dụng diễn đàn (dễ dãi) mà phóng bút bừa bãi che đậy sự thật. Thứ thi văn như thế là thứ văn chương tha hóa và dễ bị đào thải giữa trào lưu văn chương đang đòi hỏi một sự thật có thực. Sự cớ đó gọi là bi thảm của văn chương (The Literary of Tragedy). Mà thay vào đó một ‘kích thích tố’ đặc biệt hơn không đè nặng hay phải cố gắng; dẫu vận dụng cho ‘con chữ’ lạ hơn, làm cho câu văn thêm trì trệ và hồ lốn. Đấy là những gì có hiệu năng để phản bác vào bất cứ câu văn, ngữ cú đều đưa đến cái chết –these are charges sufficient to condemn any phrase to death. Văn hay Thơ là ngữ ngôn chuyển tải đặc dưới ký hiệu tự nhiên của ngữ ngôn (The Nature of Symbolic Language). Thành ra người viết thường dẫn chứng hay viện cớ qua ký hiệu của chữ nghĩa là ngữ ngôn bị đè nặng trong tâm trí; kiểu thức này còn gọi là ám thị tư tưởng, có nghĩa là làm rõ vấn đề bên trong qua một thứ khác –something that stands for something else. Chứng minh như thế tuồng như không thực mà đưa tới sự phản trắc trong lương tâm của văn chương. Nhưng; ngược lại ký hiệu ngữ ngôn là một thứ dụng ngôn bày tỏ kinh nghiệm bên trong (inner); nếu như nó có một kinh nghiệm cảm biến nhạy bén (sensory experience). Ký hiệu ngữ ngôn là một thế giới bên ngoài đồng thời là ký hiệu thế giới bên trong. Ký hiệu chữ nghĩa phơi mở tâm hồn và trí tuệ nơi chúng ta –a symbol for our souls and our minds. Văn chương và nghệ thuật là thế đấy!

Từ chỗ đó cho ta một nhận định sắc bén hơn. Bởi; văn chương và nghệ thuật là một thứ hòa âm điền dã, nghĩa là không cầu kỳ nhưng có trọng tâm cho một lý tưởng và bao hàm một ý nghĩa tổng quát từ bên ngoài đến bên trong của tác giả và tác phẩm thì nó sẽ là một ký hiệu tự nhiên qua ngữ ngôn, văn phong và hành văn; nghệ thuật của văn chương là biết vận dụng và ‘điều hòa không khí’ giữa tác giả và độc giả là một cảm thông giao lưu tư tưởng; nghệ thuật còn có một vai trò khác trong văn chương là ngữ điệu, một chất liệu chứa hợp tố vui buồn lẫn lộn, phơi mở cái thật của tâm hồn. Quan trọng của văn chương là phản ảnh nhân tính của con người, do đó văn chương đòi hỏi cái thực dù ‘phiạ’ nhưng phải thực chất thì câu văn không bị ‘lạm phát’ kể cả lạm phát tư tưởng sanh ra ‘dzỗm’ mà không hay biết, nhưng độc giả tìm thấy cái tâm trạng thực hay không thực của tác giả, ngay cả những chi tiết vụn vặt, những thứ đó làm tê liệt, bại hoại cho văn chương mất nghĩa lý (tức lý thuyết) và nghệ thuật của chữ nghĩa không màu không sắc rơi vào vũng cạn. Thành thử xử dụng dưới dạng thức nào đòi hỏi phải thực mới vực được đạo. Phiạ với đời để sống thì được nhưng phiạ với văn chương là phải tội, dù xây dựng trong hư cấu nhưng phải sống thực với đời thời tất đó là nghệ thuật viết văn. Thí dụ: Z. ngoài đời đi lính hạ sĩ quan mà viết ký sự là sĩ quan bộ binh (đâu có thành chung mà vô đại học). Khổ thay! tác giả đưa dữ kiện không thực vào ký sự thì văn bản trở nên không thực; chẳng qua cả tin ở chính mình. Đó là một nhầm lẫn lớn lao. Thí dụ khác: Y. viết văn thường pha thứ văn chương trào phúng vào truyện từ đầu ải cho tới cuối mũi đọc ra thấy tác giả đặc điều không thực mà trở nên đỏm dáng trong văn chương một cách tệ. Z và Y cùng một quan điểm, bên thơ, bên văn nhưng không ‘cải cách ruộng đất’ làm cho văn thơ biến thể (metamorphosis) rất là dị hợm. Một thứ biến thể khác biến thể của người khác.Thành ra vai trò làm văn, làm thơ là một cấu thành qua trí tuệ có tính nghệ thuật văn chương lồng vào trong đó. Mới ra hồn !    

Nói chung; lợi ích văn chương có thể cải thiện về trí tưởng tượng của tác giả và một vài vi phạm ngữ pháp, nhưng; giữa tác giả và độc giả phớt lờ mà quên đi những chi tiết đối với văn chương. Nguy hại hơn nữa của thi văn nhân cứ cho rằng không ai trách cứ về lối diễn trình của mình để rồi: văn một đường và nghĩa một nẻo, trình tự một văn phong không đầu, không đuôi mà biến thể dị ứng; cái sự đó có thể là loại quái dị (wildest-kind) của một nhà thông thái dzỗm (pedantry) mà trở nên lối hành văn chỉ thị cuộc đời. Có lẽ ở đây chúng ta thấy được lý do tại sao thi sĩ không những chỉ là người hiếm có để có thể hướng về sự thấm thấu trong phát biểu của thế giới thi ca –Perhaps here we see one reason why the poet is not only very seldom a person one would turn to for insight into the state of the world (poetry); mà tuồng như quá cả tin hoặc quá chất phác đã an vị để chúng ta tin vào. Suy ra; thi sĩ ở tầm cở đó chỉ tội cái chưa đạt tới đỉnh cao của văn chương, cho nên chi họ rơi vào hoàn cảnh ù lì, trước sau như một mất tính sáng tạo để thơ văn chìm vào thủy tử, bởi; chủ quan không nhìn thấy giá văn chương là đổi mới tư duy để đi vào thế giới văn chương và nghệ thuật hoặc có thể họ quên trong văn chương có nghệ thuật để sáng tác. Đặc thù của văn thơ là có màu sắc mới điểm tô cho tác phẩm ‘hội họa văn chương’ thành văn, thành thơ hay là chỉ việc nấu gạo ra cơm chớ không phân biệt được gạo nào ngon cơm và gạo nào không ngon cơm. Đó là tệ đoan trong văn chương lo việc sản xuất cho ra gạo chớ không lọc lừa hột gạo chữ.

Vòng vo tam quốc cho ra sự lý thường tình về cách làm ra thơ văn đúng nghĩa xưa nay thì phải thừa nhận những tác phẩm trước có một chỗ đứng riêng, chỗ đó là tính nghệ thuật của nó: ‘Tố Tâm’ Hoàng Ngọc Phách (trước 1922) lối dụng văn có phần cả nể nhưng thoát tục; dù rằng ngữ pháp chưa chuẩn mực so với ngày nay nhưng toàn tập tác phẩm chứng minh cho một cuộc cách mạng văn hóa của tiểu thuyết mới chớ đợi gì phải có A. Robbe-Grillet mới xác nhận cái nớ, cái ni mà tồn lại, tồn lui. Về sau; khi phong trào thi văn bộc phát thì khai sinh nhiều tác phẩm giá trị vừa có tính chất tân truyện vừa có tính chất triết lý nhân sinh như ‘Chí Phèo’ của Nam Cao, ‘Số Đỏ’, ‘Làm Đĩ’ của Vũ Trọng Phụng hoặc Nguyễn Tuân với Tùy bút  hay Tú Mở là cả một trào lộng, giễu đời trong văn chương, tất thảy mang tính chất nghệ thuật hội họa văn chương. Đến thời cận đại phát sinh nhiều thi, văn nhân mở ra nhiều hiện tượng mới; điển hình: Bình Nguyên Lộc, Sơn Nam, Lê Xuyên đượm sắc quê hương dân tộc vào truyện, khơi dậy như khiêu khích đánh động cho một danh xưng mến yêu của vùng quê yêu dấu – exasperation at social hypocrisies. Thi ca phát biểu qua nhiều trường phái khác nhau, không còn qui cách, ước lệ mà nó chất chứa cả trào lưu thi ca đương đại.Trước có Xuân Diệu, Huy Cận, Trần Dần, Phùng Quán và sau có Lê Đạt, Tế Hanh, Quách Thoại, Thanh Tâm Tuyền, Tô Thùy Yên là những giòng thơ như chạm đụng vào nhau, là qui ước bởi ‘conventions collide’; đấy là điều mà họ cố thực hiện khác đi những gì đã có ‘different they are’. Cho nên chi trào lưu thi văn là hoán chuyển qua kinh nghiệm thời gian để vượt thời gian đi vào giá trị nhất thể của nó, đứng riêng một cõi mới gọi là thi văn đương đại còn thứ văn chương lập lại là thói tính bắt chước, ‘copy-cat là imitate’ cái đó là phản đề của văn chương và nghệ thuật. Vị chi cuộc đời và văn chương từ chỗ đó cả hai đã là một qui ước hóa xã hội (conventionlized) là những gì mà chúng ta muốn nói tới, là những gì bao quát chớ cuộc đời không giống như hoặc giản đơn như trong văn chương mô tả. Ngược lại văn chương là một bày tỏ đối kháng trước vấn đề của con người và xã hội. Trong văn chương và nghệ thuật là nhất thể còn nghệ thuật văn chương là nhị thể, nghĩa là cái này có thời cái kia không. Nhưng; không vì thế mà ảnh hưởng vào nhau cho dù là khuynh hướng hay trường phái; nó phải độc lập trong ngữ cảnh, tiết điệu và nghĩa chữ mới nói lên được nghệ thuật: tinh túy và sáng tạo trong văn chương thời nay. Thế nhưng; cái rập khuôn từ xưa đến giờ vẫn còn tồn lại, tồn lưu không chịu tồn lui; nhất là lối bình giải thi ca hay phê bình tác phẩm văn học nghệ thuật không tìm thấy một thể thức nào mới hơn mà cứ một thể điệu nhai lại. Thường trích đoạn thơ hay văn làm dẫn chứng, lối sáo mòn đó đã không khai thác triệt để tiềm tàng của tác giả hay ẩn ý trong tác phẩm; kiểu thức đó là gián tiếp đâm sau lưng tác giả mà không tìm thấy thâm hậu của tác giả, lối bình giải đó là lối luận văn cổ điển xa xưa ở cấp tiểu học. Đó là cái họa bi thảm của văn chương và nghệ thuật. Văn chương và nghệ thuật Việt Nam là tinh hoa phát tiết qua từng thời đại, kỷ nguyên và để lại vô số tác phẩm qúy nhưng trong đó vẫn có chất Việt Nam; một thứ Việt Nam chủ nghĩa (Vietnamesenism) gần như phổ cập hóa (popularized) vào văn giới; điều đó không thể nào cải cách mà trở thành cục bộ cứng ngắc khó chuyển hoá cho một văn chương hiện đại kỷ nguyên – for the modern literary era. Thành ra Việt Nam chủ nghĩa là tế bào máu đã ăn sâu vào não thức cho nên chi phát tiết cùng một thể điệu. Đi tìm nguồn sáng tạo và hình thức mới trong hằng triệu thi sĩ quả là khó huống là tìm cho ra một nhà văn chân thật đúng nghĩa là khó hơn. Cho dẫu có một cuộc cách mạng văn hóa như kiểu Mao Trạch Đông đi chăng cũng không thể đánh bạt thứ văn hóa cục bộ vốn đã tồn lứa, tồn lần trong máu con người chúng ta. Thế nhưng; cho tới nay vẫn chưa có cuộc cách mạng văn hóa bùng dậy vượt thời gian và không gian. (chưa có Nobel).

Trí tưởng trong văn chương không đến nổi  phải thử thách hay giảo nghiệm; cái đó không liên hệ đến văn chương một cách trực tiếp trong cuộc đời hay trong hiện thực; liên quan đến văn chương trong cách thức khác là xây dựng qua một cấu trúc văn tự của trí tưởng lưu động để hoàn thành tác phẩm và tiếp tục nâng đôi cánh để bay cao, bởi; chúng ta không nhận ra sự bén nhạy tương quan của văn chương, của cuộc đời hoặc chúng ta cho đó là viễn cảnh chân trời của văn chương là thế giới mà ở đó không hiện thực ngoại trừ là hình ảnh con người hiện thực. Tuy vi diệu nhưng vẫn không hiện thực giữa đời.

Dĩ nhiên; trong những tác phẩm vĩ đại để lại chưa hẳn đã tuyệt đối là một thứ văn phong chất chứa đa hiệu mà đôi khi trong đó vẫn có cái ấm ớ, nửa úp, nửa mở trong cách diễn từ, nhưng; không phải là điều để nói ra mà thường khi như muốn được nhìn thấy sự khác biệt trong đó của một lý thuyết chính đáng. Có hai thứ chia ra trong kinh nghiệm văn chương. Trí tưởng giúp cho nhà văn có hai cái lợi tốt và đáng giá hơn là có một ít hiện thực trong đời mà đòi hỏi ở độc giả nhìn vào đó như một hiện thực vững chắc cho cả hai trong kinh nghiệm văn chương. Ở đây; văn chương không không phải là thế giới mộng mơ mà hiện thực của cuộc đời; dẫu là hư cấu. Khác với tư duy thi ca là sống trong trí tưởng để thành thơ và rất hiếm khi phản ảnh hiện thực trong thơ, ngoại trừ người ta đem ra bình giải. Văn chương và nghệ thuật là cả trí tuệ đan chiết vào nhau do từ sáng tạo mà ra, cũng có thể là một bày tỏ sâu đậm nhưng chỉ đạt tới một thỏa mãn giấc mơ mà thôi –literature would express only a wish-fulfilment dream.

Có một số người đưa ra câu hỏi tại sao thi nhân muốn nói lên bi thương hay tuyệt vọng, đau khổ trong khi thế giới thơ có bao nhiêu điều để ngợi ca, bao nhiêu gợi ý khác cho hạnh phúc, tình yêu là những thứ mà cần cho thơ, nhưng; trong thơ có một vài thứ nằm trong bệnh của não: -cảm thức bềnh bồng, buông thả, nổi trôi…thời tất những thứ đó nằm ngoài phạm trù văn chương. Chúng ta không thể lý sự cái siêu phàm đó. Một thứ biểu tượng thi ca, một ký hiệu của ngữ ngôn trong văn chương. Chính cái mơ hồ trừu tượng trong thơ là một thứ nghệ thuật siêu hình khó tìm thấy chỉ có tiềm thức tích lũy để tự khởi, tự phát cho thi văn tuyệt cú mà thôi. Dù biến thơ văn vào lãnh điạ nào, hình thức nào, kiểu dáng nào, nó vẫn giữ nguyên vị trí của nó, nghĩa là không mất chất hay chịu ảnh hưởng một cách vô lý mà hại đến văn thơ.

Nói chi thì nói; chúng ta chỉ rút ra một nửa của văn chương và nghệ thuật trong đó có những ngữ ngôn tuyệt cú, tuyệt hứng và quá đạt là những gì mà chúng ta cảm nhận ra rằng nó đứng riêng một cõi nhưng đó là sự đắm chìm thuộc dạng vô thức –The top half of literature is the world expressed by such words as sublime, inspiring, and the like; where what we feel is not detachment but absorption. Đặc thù của văn chương và nghệ thuật không nhất thiết phải kinh qua kinh nghiệm mà kinh nghiệm thời gian tu tập trong cuộc đời, có thể đó là một trong ngàn lý do khác, bởi; cuộc đời không bao giờ là tầm độ nói lên kinh nghiệm mà chỉ là ảo tưởng cuộc đời đến với chúng ta. Chỉ có nghệ thuật và khoa học có thể thực hiện rốt ráo qua kinh nghiệnm tu tập. Điều duy nhất đối với văn chương là dọn đường và xếp loại trí tưởng của con người như những gì tự có của nó. Nói ra nghe như mâu thuẩn cho một lý giải về văn chương nhưng kỳ thực trong đó cũng có cái khó của nó mà nhiều người vẫn chưa thông đạt đường lối chủ nghĩa văn chương và nghệ thuật một cách thiết thực hay quá ám thị trong ngữ ngôn hay quá cường độ về kinh nghiệm của văn chương. Cả hai thứ này gần như sinh lý trong con người khi muốn thực hiện cái đạt-tới (wish-fulfillment) cho thỏa thê đó là nguyện vọng của người cầm bút, cầm cọ. Khi nói đến văn chương và nghệ thuật thì đây không phải là thế giới mộng mơ (dream-world). Nhưng; nói như thế là võ đoán cho một xác quyết; thực tế văn chương nó có hai cái mơ: -một là mơ đạt-tới và một là mơ của ước ao; cả hai là trọng tâm hướng tới. Và; trở nên viễn cảnh của ý thức. Thứ nghệ thuật này dựa theo triết gia Plato: “mơ là thức dậy từ trí tuệ, tác phẩm của trí tưởng là loại ra từ một cuộc đời bình thường / is a dream for awakened minds, a work of imagination withdrawn from ordinary life”. Vậy thì thi sĩ và người mộng là khác biệt hoàn toàn. Mơ của Hàn Mặc Tử là mộng-thi-ca khác mơ của người bình thường là mơ ao ước (trúng số). Cái sự đó là cuộc đời bình thường cho một ao ước chung.Văn chương là bao bọc những thứ khác, một thứ nghệ thuật truyền thông và cùng ao ước như nhau. Dưới đáy vực của văn chương còn có một thể thức khác là tiềm thức. Một năng lực tiềm tàng qua trí tuệ của con người.

Vậy văn chương là gì? Nghệ thuật là gì? Hai biểu tượng này những người phê bình luôn luôn gọi là phán xét của văn chương / a judge of literature. Phán cái chi? -phán cái lý không cho rằng thi nhân, văn nhân là vị trí tuyệt đỉnh, nhưng phán xét để thấy đủ giá trị một vài thứ trong văn chương, chỉ phán xét cái đúng đắng, hợp lý trên chiếc ghế quan tòa nhận biết của luật pháp / a knowledge of law. Văn chương nói lên tất cả nhưng không phải đó là một tổng thể để phô diễn. Mèo đen hay mèo tam thể là màu sắc con mèo chớ màu đen hay trắng không phải là tổng thể phô diễn riêng cho con mèo. Văn chương cũng vậy!

Văn chương là hé mở như một khải huyền nhân loại, bộc lộ toàn diện của con người đến với con người. Với lời phê phán thẳng thừng chớ đây không phải thể thức phán xét; nhưng đây là một nhận thức siêu lý của những gì được bộc bạch trắng đen cho một phán quyết trung thực của văn chương và nghệ thuật ./. VÕ CÔNG LIÊM (ca.ab.yyc. Phục sinh 4/2017)

VÕ CÔNG LIÊM (ca.ab.yyc. Phục sinh 4/2017)

HÌNH DÁNG CƠ THỂ VÀ ĐỜI SỐNG TÌNH DỤC CỦA QUÝ ÔNG

Đặng Xuân Xuyến

quy ong
Người viết tổng hợp 4 lưu ý về HÌNH DÁNG CƠ THỂ VÀ ĐỜI SỐNG TÌNH DỤC CỦA QUÝ ÔNG dưới đây từ những kết quả thực nghiệm khoa học và các cuộc khảo cứu của các nhà khoa học tình dục, các Giáo sư, Tiến sĩ tâm lý ở các trường: Đại học New York (Hoa Kỳ), Đại học Western (Australia), Đại học Cornell (Hoa Kỳ), Đại học Dalhousie (Canada)… đã được công bố trên các phương tiện thông tin đại chúng nên 4 lưu ý tổng hợp dưới đây hoàn toàn là những kết luận mang tính khoa học.

HÌNH DÁNG CƠ THỂ VÀ ĐỜI SỐNG TÌNH DỤC CỦA QUÝ ÔNG
Bằng kết quả thực nghiệm và các cuộc khảo cứu, các nhà khoa học tình dục khẳng định một vài nhân tố bên ngoài cơ thể có thể gián tiếp cho biết cấu trúc và khả năng tình dục của người đàn ông. Chẳng hạn quý ông chân dài thường “yếu kém” hơn về độ ham muốn tình dục và khả năng hành xử “chuyện ấy” so với quý ông chân ngắn. Hay khoảng hói trên trán (ngay ở lứa tuổi trẻ) cũng được đánh giá như biểu hiện chức năng cân đối của các tuyến tình dục, và ngược lại, nếu tóc chảy thẳng xuống trán cũng chỉ rõ sự “kém cỏi” của các tuyến nội tiết, điều đó gián tiếp chỉ ra sự “yếu kém” trong khả năng “chăn gối” của người đàn ông.
Các nhà khoa học cũng cho rằng những quý ông có ý chí năng động lại thường là những người ít ham muốn và có khả năng tình dục kém hơn so với những quý ông có tính ba phải, thụ động và chậm chạp. Tuy nhiên, các nhà khoa học cũng khuyến cáo rằng: Những tiêu chí tương đối đó không thể đánh giá chính xác được sự ham muốn và khả năng tình dục của người đàn ông. Vì thế, chỉ nên coi những tiêu chí đó dùng để tham khảo, phần nào “tiên liệu” những hệ lụy từ những biểu hiện của cơ thể tới đời sống tình dục của người đàn ông.
Hay một nghiên cứu mới đây đăng trên tạp chí Journal of Personal and social Psychology – Tạp chí về Tâm lí xã hội và nhân cách con người – do Giáo sư Kerri Johnson và các cộng sự ở Đại học New York cho biết: Đối với các chuyển động cơ thể, thì quý ông đồng tính thường có xu hướng lắc mông, xoay mông nhiều hơn là những quý ông dị tính (bình thường về giới tính); còn đối với người đồng tính nữ thì phần vai có vẻ ngênh ngang hơn so với những người nữ bình thường về giới tính. Tuy nhiên, đây là một thí nghiệm có số lượng người tham gia hạn hẹp nên các nhà khoa học khuyến cáo: Không nên lấy kết quả của nghiên cứu này làm kết luận chung cho những trường hợp tương tự.

BỘ ĐÔI TRÊN CƠ THỂ CỦA QUÝ ÔNG VÀ ĐỜI SỐNG TÌNH DỤC
Các nhà khoa học (Canada) đã đo đạc những cặp bộ phận trên cơ thể nam giới và nhận thấy sự cân xứng hình thể và chất lượng tinh dịch có liên quan chặt chẽ với nhau. Càng mất cân xứng (nhất là đôi tai) thì chất lượng “đàn ông” càng kém. Bởi những bộ phận có đôi trên cơ thể phát triển cùng lúc với tuyến sinh dục, xảy ra từ khi bào thai còn nằm trong tử cung của người mẹ.
Người ta đã đặt ra giả thuyết rằng nếu có điều gì đó không ổn xảy ra vào thời điểm mang thai, thì sự phát triển của thai nhi sẽ bị ảnh hưởng. Vì thế, sự mất cân đối hình thể có thể là dấu hiệu của những vấn đề tiềm ẩn xảy ra trong quá trình phát triển chức năng sinh sản.
Các nhà khoa học tại Đại học Western (Australia) đã kiểm chứng giả thuyết trên và đưa ra kết luận: Một số lệch lạc về mặt đối xứng có thể xuất hiện trong quá trình phát triển bào thai, khi có nhân tố tác động tới khả năng phát triển cân đối một cơ quan trên 2 phía của cơ thể. Điều này tạo ra cái được gọi là sự bất cân xứng (FA).
Trong khi kiểm chứng, các nhà khoa học đã đo cân nặng, chiều cao, độ dài của tai, vòng cổ tay, khuỷu tay, mắt cá chân, chiều dài và chiều rộng bàn chân của một nhóm nam giới ở độ tuổi từ 18 đến 35. Bên trái và bên phải của mỗi người được đo riêng biệt và chính xác tới 0,1 mm. Với mỗi bộ phận, tỷ lệ FA được tính bằng cách lấy kích cỡ bên trái trừ kích cỡ bên phải. Kết hợp với 3 con số khác – chiều dài tai, chiều dài ngón thứ 4 và chiều dài bàn chân, các nhà khoa học tính ra con số FA tổng hợp. Kết quả này được đem so sánh với chất lượng tinh trùng của mỗi người đàn ông.
Các nhà khoa học đã kết luận: “Chúng tôi tìm thấy mối quan hệ giữa FA với số lượng và tính linh hoạt của tinh trùng. Kết quả cho thấy sự bất ổn trong việc phát triển cơ thể có liên hệ với chất lượng tinh dịch kém”.
Các nhà tâm lý học tại Đại học Dalhousie ở Nova Scotia (Canada) còn phát hiện thấy FA có liên quan tới tính ghen tuông. Những quý ông có cơ thể không cân đối thì thường có tính ghen tuông hơn những quý ông có cơ thể cân đối.

QUÝ ÔNG QUÁ BÉO HOẶC BỤNG QUÁ PHỆ SẼ KHÓ CÓ CON
Khi nghiên cứu về ảnh hưởng của cân nặng đến khả năng sinh sản của nam giới, Tiến sĩ Markku Sallmen (Phần Lan) và các đồng sự công bố: Đàn ông béo phì dễ mắc chứng vô sinh.
Theo Tiến sĩ Markku Sallmen, béo phì làm giảm mật độ tinh trùng, làm biến đổi cân bằng hoóc môn và làm tăng nhiệt độ ở bìu, dẫn tới hoóc môn testosterone (hoóc môn sinh dục nam) bị suy giảm mà hoóc môn này lại là biểu tượng cho sức mạnh và sự ham muốn “chuyện yêu” của người đàn ông. Hay nói nôm na là người đàn ông béo phì có ham muốn tình dục thấp hơn và cũng ít “yêu” hơn so với những người có cân nặng bình thường.
Nghiên cứu cho thấy, những người béo phì tăng 25 lần nguy cơ gặp phải trục trặc về tình dục, như thiếu ham muốn và bất lực. Nguyên do: Vòng bụng càng lớn thì lượng hoóc môn testosterone càng giảm, dẫn đến giảm hứng thú và chất lượng cuộc ân ái cũng trở nên “yếu kém”. Tuy nhiên, Markku Sallmen cũng cho biết nghiên cứu này không xác định được liệu sau khi giảm cân có thể phục hồi được khả năng sinh sản của quý ông hay không.
Một nghiên cứu khác trên gần 1.600 đàn ông Đan Mạch (độ tuổi trung bình là 19) cho thấy số lượng và mật độ tinh trùng của những người nặng cân, bụng phệ giảm 28- 36% so với những người bình thường.
Các nhà khoa học khuyến cáo các quý ông rằng: Để giúp quá trình sản xuất hóc môn testosterone được ổn định, rất cần cung cấp cho cơ thể những thực phẩm giàu chất kẽm như: thịt bò, thịt lợn nạc, cá biển.
Các nhà khoa học cũng khuyến cáo: Để đời sống tình dục được tốt đẹp, người đàn ông nên hạn chế lạm dụng bia rượu. Nếu một người uống nhiều hơn 0.5 lít bia mỗi ngày, lượng hóc môn testosterone trong cơ thể sẽ giảm. Nếu uống thường xuyên như thế, chắc chắn đời sống tình dục của người đàn ông sẽ gặp nhiều trở ngại do rối loạn cân bằng hoóc môn.

QUÝ ÔNG NGÁY TO KHI NGỦ DỄ MẮC CHỨNG BẤT LỰC, VÔ SINH
Các nhà nghiên cứu ở Đại học Cornell (Hoa Kỳ), đứng đầu là John P Mulhall, bằng thực nghiệm đã tìm thấy trong số 30 đàn ông bị rối loạn hơi thở trong giấc ngủ, thì có tới 24 người mắc triệu chứng của rối loạn sự cương dương. Những bệnh nhân này bị gián đoạn hơi thở rất nhiều lần trong đêm, đã gây ra tiếng ngáy rất to và liên tục. Nguyên nhân là do những mô mềm ở sâu trong cổ họng tạm thời bị sụp xuống làm chặn luồng hơi thở.
John P Mulhall cho biết sự cương dương mà đàn ông thường có trong giai đoạn ngủ sâu (REM) giúp bảo tồn chức năng tình dục thông thường của họ. Tuy nhiên, những anh chàng bị ngưng thở khi ngủ sẽ luôn bị rối loạn giấc ngủ và có giai đoạn REM ngắn hơn vì thế mà ảnh hưởng đến sự cương cứng của dương vật, dẫn đến khả năng giao hợp bị trục trặc.
Để tìm hiểu mối liên hệ giữa sự ngưng thở khi ngủ và tình trạng rối loạn cương dương, Mulhall và cộng sự đã kiểm tra thêm 50 đàn ông có triệu chứng dương vật khó cương cứng, thì có tới 30 người được chẩn đoán là bị chứng ngưng thở khi ngủ, và 24 người trong số 30 người đó được xác định bị rối loạn sự cương cứng của dương vật. Hơn nữa, chứng ngưng thở khi ngủ càng nặng thì tình trạng rối loạn cương dương càng tồi tệ. Ngược lại, chỉ có 4 trong số 20 người không bị chứng này là gặp trục trặc với bộ phận sinh dục.
Mulhall kết luận: “Kết quả của chúng tôi cho thấy đàn ông bị ngưng thở khi ngủ có khả năng cao bị rối loạn sự cương cứng và mối quan hệ này đi theo tỷ lệ thuận.”
……..
(Trích từ: QUÝ ÔNG VÀ NHỮNG CHUYỆN NGẠI HỎI của Đặng Xuân Xuyến ; Nhà xuất bản Thanh Hóa 2008)

GIỮ GÌN ĐÚNG MỨC QUAN HỆ NAM NỮ

VŨ THỊ HƯƠNG MAI

bantay

Sau khi giới tính của nam và nữ đã phát triển đầy đủ thì việc sinh hoạt nam nữ là một đòi hỏi tự nhiên. Sức khoẻ của con người sẽ có lợi hơn nếu việc sinh hoạt này diễn ra bình thường, còn nếu thái quá thì sẽ gây ảnh hưởng xấu đến cơ thể.
Theo ý kiến của Từ Linh Chiêu – một nhà y học cổ đại Trung Quốc thì việc sinh hoạt nam nữ vốn có từ lâu. Người ta sinh hoạt khi ham muốn, không có thì thôi, biết chủ động thì tốt, sẽ có hại nếu cưỡng bức, thái quá thì cạn kiệt sức lực. Tốt nhất là nên để tự nhiên mà không chút miễn cưỡng. Sinh hoạt nam nữ là một quá trình sinh lý phức tạp. Nhịp đập của mạch máu trong khi nam nữ giao hợp có thể lên tới hơn một trăm lần trong một phút, vì thế người ta rất mệt mỏi sau khi kết thúc việc giao hợp. Do đó, nếu sinh hoạt quá mức thì không những làm mất đi tinh dịch và tiết dịch của cả hai người mà còn làm trao đổi một lượng năng lượng lớn và gây căng thẳng thần kinh, kéo theo các chức năng sinh lý thông thường của cơ thể con người cũng sẽ bị ảnh hưởng rất nhiều. Cơ thể chắc chắn sẽ suy nhược nếu như tình trạng này kéo dài. Một người có bệnh lại càng cần phải điều độ hơn trong sinh hoạt vợ chồng. Có những trường hợp một người trung niên bị bệnh cao huyết áp sau khi sinh hoạt xong liền mắc chứng xuất huyết não và dẫn đến bệnh liệt nửa người. Vì vậy, nên ngừng việc sinh hoạt tình dục nếu thấy cơ thể không được khoẻ hay có bệnh tật hoặc say rượu, hoặc quá mệt mỏi sau khi đã lao động cật lực. Đặc biệt, những người mắc bệnh tim, bệnh lao phổi càng cần hạn chế việc sinh hoạt nam nữ.
Trong vấn đề bảo vệ sức khoẻ của y học Trung Quốc có nêu ra ba nguyên tắc lớn là:
– Giữ tinh dịch tố.
– Đảm bảo hít thở lưu thông.
– Chế độ ăn uống đầy đủ.
Trong 3 yếu tố trên thì yếu tố quan trọng nhất chính là việc sinh hoạt nam nữ phải điều độ để giữ tinh dịch tố. Theo sách “Hoàng đế nội kinh” thì quan hệ tình dục trong lúc say rượu sẽ làm tinh dịch cạn kiệt, rất dễ gây ra chết yểu. Còn cuốn “Y học nhập môn” thì coi một trong những bí quyết quan trọng giúp người ta sống lâu là việc hạn chế sinh hoạt nam nữ. Một người biết bảo vệ sức khoẻ là một người thưa vào buồng the, tự biết quý trọng sức khoẻ của mình, giữ đúng lẽ tự nhiên. Sách khuyên người ta nên chừa bỏ sắc dục để di dương tinh tố.
Nhìn chung, việc sinh hoạt nam nữ được coi là điều độ nếu diễn ra khoảng 2 lần mỗi tuần đối với thanh niên. Còn đối với trung niên và người có tuổi thì chỉ nên sinh hoạt 1 đến 2 lần một tháng là đủ nếu như không cảm thấy mệt mỏi sau lần thứ hai. Còn nếu thấy tinh thần uể oải, sức lực giảm sút hay đau lưng đau vai sau khi sinh hoạt thì nên cố gắng hạn chế.
Việc sinh hoạt nam nữ lành mạnh là một trong những yếu tố làm cho cuộc sống trở nên vui vẻ và hạnh phúc hơn. Sinh hoạt nam nữ đối với một người mạnh khoẻ không bao giờ bị coi là vật cản hay một thứ bệnh nội tâm cần giấu kín hay cần áp chế. Trái lại, nó tạo nên một nguồn cảm hứng cho cuộc sống.
Một người có tình dục lành mạnh cần có những đặc điểm sau:
– Thực sự yêu thương người bạn mình và tin tưởng sâu sắc vào tình dục. Họ không thay đổi tâm lý, cũng không có cảm giác tội lỗi trước những cử chỉ tình dục, biết xoá bỏ mọi nỗi lo lắng và xấu hổ, không nóng nảy, cũng không áp chế những khoái cảm của tình dục. Họ nhận thức một cách đúng đắn và thú vị về những cử chỉ tình dục của bản thân và cho đó là điều bình thường, tự nhiên. Họ không có những quan điểm phong kiến, bảo thủ như việc ra sức phản đối những cử chỉ và khoái cảm của tình dục.
– Không chỉ biết hưởng thụ và cảm nhận mà họ còn có khả năng tự kiểm soát, điều chỉnh bản thân khi có khoái cảm. Đối với tình dục, họ có những cử chỉ và thái độ đúng đắn.
– Biết thể hiện cử chỉ tình dục qua phương thức cộng hưởng để cùng đạt được khoái cảm một cách nhẹ nhàng êm ái.
– Có thể tự xử sự với mình và với đối tượng bằng một phương thức tích cực riêng, chứ không nhất thiết phải bắt chước hay dùng mô thức của người khác sao cho cả hai cùng chấp nhận, đồng tình.
– Không cần có cảm giác giữ ưu thế về tình dục hay tìm mọi cách để phô bày ưu thế sẵn có của mình thông qua những kinh nghiệm về sự từng trải trong quan hệ yêu đương. Đối phương sẽ cảm thấy bị hạ thấp khi anh dùng kiểu bộc lộ này. Điều này không có lợi cho mối quan hệ tình dục thậm chí còn tạo nên sự đổ vỡ vì nó chỉ có thể thoả mãn lòng ham muốn về tình dục của cá nhân một người.
– Biết dùng những hiểu biết của mình để vừa khám phá những cử chỉ tình dục của bản thân vừa không làm mất thế cân bằng. Đồng thời khống chế được những xung đột về tình dục. Biết vận dụng những quan điểm phù hợp với đạo đức để xử sự với những cử chỉ tình dục của cá nhân mình.
Thường thường mọi người hay nghĩ rằng chỉ có người trẻ mới có quan hệ tình dục và hay nghĩ tới những cử chỉ tình dục. Ở những người đã đứng tuổi mà vẫn còn những cảm giác mạnh về tình dục thì bị cho là không đứng đắn.
Thực ra quan niệm như vậy là không đúng và không khoa học. Khoa học đã chứng minh rằng, đến trước ngưỡng của người tuổi già thì tình cảm đối với tình dục gia tăng theo tuổi tác, tức là nhiều tuổi hơn thì khả năng tình dục càng mạnh và thuần thục. Ở người phụ nữ, độ tuổi sung mãn nhất về tình dục là trên dưới 40. Trong cuộc sống hàng ngày, sự ham muốn sẽ giảm bớt nên những cử chỉ tình dục ngày càng ít đi. Khi tình cảm bị ép buộc thì dẫn đến việc tự hạn chế cử chỉ tình dục của mình. Như vậy có nghĩa là sự ham muốn sẽ càng lớn nếu tiến hành càng nhiều hành vi tình dục.
Tuy nhiên, các cử chỉ tình dục được thể hiện qua cả một quá trình gồm nhiều động tác. Khi những cử chỉ thân mật này không còn nữa thì sẽ dẫn đến kết cục không hay là một bên muốn thể hiện những cử chỉ tình dục trong khi đối phương lại cự tuyệt và ngược lại. Nhiều lần như vậy sẽ khiến cho việc bộc lộ tình cảm đối với tình dục của cả hai người nam và nữ ngày càng khó khăn.
Vì vậy, các chuyên gia khuyên rằng cả hai người nên chủ động sáng tạo ra những mô thức quan hệ tình dục mới phù hợp với sở thích của đôi bên khi những cử chỉ tình dục cũ không còn tạo được những cảm giác hay kích thích thú vị như trước. Làm như thế cũng có nghĩa là biết cách duy trì cử chỉ tình dục lành mạnh. Tuy nhiên cũng nên lưu tâm rằng việc sáng tạo mô thức cử chỉ mới phải nằm trong phạm vi tiếp thu của đối phương. Nếu vượt quá giới hạn tiếp thu này thì sẽ gây ra những kết cục không tốt cho cả hai.
*.
VŨ THỊ HƯƠNG MAI

 

NHỮNG VẾT Ố TRÊN TƯỜNG QUÁN CÀ PHÊ

PHẠM NGA

pham nga trg quan

Nhớ thời trẻ trai, thập niên 60 và đầu 70 thế kỷ trước, ngày đêm giờ giấc nào tôi cùng bạn bè cũng đều có thể rủ nhau ra quán café, có khi cả 3 cữ sáng/chiều/tối. Thời xưa ấy, đô thành Sài Gòn chỉ mới có vài triệu dân nhưng đã nổi tiếng sầm uất, nhiều đường phố náo nhiệt. Tuy nhiên, đâu đó trong cái thành phố ồn ã này vẫn tồn tại vài khoảnh không gian trầm lắng, gần như đóng kín.
Những địa điểm hơi khuất lánh ấy là các quán cà phê không hề thuộc hạng hoành tráng phô trương ở các đại lộ mà chỉ khiêm tốn náu mình trong những con đường nhỏ – cứ là đường nhỏ dù có khi thuộc một quận trung tâm thành phố – và mặt bằng quán nào cũng thật nhỏ hẹp, bàn ghế chỉ đủ kê khoảng 10 bộ trở lại, tiêu biểu như cà phê Hồng ở đường Pasteur, khuTân Định, hay cà phê Chi, đường Nguyễn Phi Khanh, Đa Kao, cùng thuộc quận 1 Sài Gòn. Có điều là do cung cách lặng lẽ của chủ quán và điềm đạm của hầu hết khách quen đã chọn loại quán này, nhịp sống trong quán thường trôi chậm rãi, Chậm rãi như từng giot cà phê phin ung dung nhỏ xuống ly, mặc cho bên ngoài quán sinh hoạt cuộc sống có hối hả xe cộ, xô bồ mưa nắng…
Hòa mình đã dài lâu trong đám dân ghiền café và đã nhẵn mặt ở một vài quán quen, một lần nọ khi ngồi ở cà phê Hồng ở cuối đường Pasteur, thật thú vị là tôi đã nhận ra mình với họ – những người ngồi quán, đa số là lớp trẻ – ngoài điểm giống nhau là tâm lý vào quán thường ai cũng chọn ngay chỗ ngồi sát vách tường để tha hồ dựa lưng, còn có điểm giống nhau nữa, tượng hình hơn. Đó là:
“Nhìn những vết ố, không thể phân biệt được vết nào mới vết nào cũ, theo năm tháng,cứ lưu lại ngang ngang nhau trên các mặt tường trong quán, có lẽ từ tóc hay mồ hôi lưng của khách ngồi uống cà phê, tôi chợt nghĩ hình như ở cái thời chiến tranh, bất ổn còn kéo dài này, lớp trẻ chúng tôi có cùng một cỡ xương sống mệt mỏi, chán chường.” (*)
PHẠM NGA

(*)Trích bài ký “Cà phê quán, một sắc thái văn nghệ”. trên nhật báo Nhân Xã Thời Báo ở Sài Gòn năm 1970 (sau rút gọn tên, thành Thời Báo).

President Trump VS Joe Biden

President Trump Vs Joe Biden

President Trump                                                                         Joe Biden            

PRO LIFE                                                                   PRO CHOICE- killing Babies

1) Create 6 million Jobs in 3.5yrs                                 Create no Jobs in 40+yrs

2) Bring JOB back to USA                                               Send JOB to China, Mexico, etc

3) Lowest Unemployment for Women                        Done NOTHING for Women
In 60+ yrs

4) America FIRST                                                             China FIRST (America LAST)

5) Trade deal for American Benefit                                Has Done NOTHING & let other
                                                                                                   Countries rip off America

6) Tough on China                                                           Weak on China

7) Lowest Unemployment for Black                              Create NO JOBS for Black,
Hispanic & Asia (in history)                                             Hispanic, Asia or Women

8) Law & Order                                                                  Defund Police

9) Protect 2nd Amendment                                             Shred 2nd Amendment

10) Lower Tax for all                                                        Raise Tax on All

11) Appeal&Replace disaster Obamacare                    Impose Obamacare on All

12) Veteran Reform & Accountability                           Done NOTHING for Veterans

13) Prison Reform                                                             Done NOTHING

14) Strengthen Military                                                   Weaken Military

15) LOVE AMERICA                                                          Anti-America

16) Uphold Constitution                                                  Socialist Agenda

17) Conservative SCOTUS                                               Left-wing SCOTUS

Ai bán linh hồn cho quỷ?

The truth about Clinton sold USA to China 1996 

Nếu ai muốn biết bản chất thật sự của đảng Dân Chủ là như thế nào, nguyên nhân vì đâu mà nước Mỹ xuống dốc không phanh, nếu lười biếng không đọc hết quyển sách thì đọc phần tóm tắt này cũng sẽ hiểu được phần nào, Đừng có ngồi đó mà mơ là họ sẽ đánh sập Trung cộng. Còn ai không rành tiếng Việt thì xin mời đọc bản tiếng Anh, Chính xác và hay hơn vì là bản gốc

Dưới đây là bản dịch tóm tắt ngắn gọn những gì Clinton Đã làm với Trung cộng để tàn phá nước Mỹ, nếu bạn nào muốn tìm hiểu kỹ thì phải có sách đó , sách gồm hai cuốn:
1/ YEAR OF RAT ,
2/ RED DRAGON RISING. nói về sự trỗi dậy của quân đội Trung Cộng và kế hoạch thu tóm thế giới và nước Mỹ , có thể mua ở Amazon, EBay . Còn muốn biết quỷ đỏ này thu tóm Úc như thế thì các bạn có thể tìm thấy những điều này trong quyển SILENT INVASION của Clive Hamilton, và ngay cả bộ Ngoại Giao và bộ Tư Pháp Hoa Kỳ đã giới thiệu với công chúng khi họp báo

Xin tóm tắt quyển Year of rat .
Năm con chuột, 1996 Theo lịch Á Đông là năm con chuột, Những con chuột gián điệp và băng đảng của nó thì đầy nhóc trong toà Bạch cung, chỉ có thể tẩy uế toàn bộ từ trong ra ngoài không chừa một chỗ nào mới giết sạch được những con chuột này, lý luận này không làm bạn đọc ngạc nhiên: CLINTON Đã thực hiện một chuỗi thương lượng mặc cả mua bán có tính cách “ bán linh hồn cho Quỷ sứ Để đổi chác “ với tàu cộng và những Agents của nó ở Mỹ.
Đưa cho tàu cộng những bí mật của an ninh quốc gia để đổi lại sự đóng góp tiền bạc mạnh mẽ của họ cho ban vận động tranh cử của Clinton.

Tác giả đã nói : Bill Clinton made a series Faustian bargain with the communist Chinese , Câu này thật đúng và thâm thúy nhưng rất khó dịch (Faust có nghĩa là sẵn lòng bán linh hồn cho quỷ dữ để đổi lấy quyền lực và danh vọng, và linh hồn sẽ thuộc về quỷ dữ mãi mãi, còn người bán linh hồn sau đó sẽ đời đời xuống hỏa ngục, Faustian là tính từ, như vậy ý của tác giả muốn nói rằng Clinton đã thực hiện hàng loạt các cuộc thương lượng bán linh hồn của mình cho quỷ dữ với tàu cộng để đổi lấy quyền lực, theo truyền thuyết của Đức).
Logistics trong bài viết này không biết chuyển sang tiếng Việt từ tương đương là gì? – Logistic có nghĩa là sắp xếp vận chuyển quân trang quân dụng vũ khí, điều động quân đội , sắp xếp các ban ngành làm theo đúng thứ tự chức năng và phải nhịp nhàng ăn khớp với kế hoạch hành quân .

Sự phản bội của Clinton : Từ việc tiết lộ những top secret Cho đến Việc giúp hiện đại hóa quân đội giải phóng nhân dân Trung cộng, vấn đề là Clinton biết rõ những việc làm này của Trung Cộng nhưng ông ta vẫn cứ thản nhiên tiếp tay cho họ bán đứng đất nước Hoa Kỳ , Trung Cộng thâm nhập từng bước một Chỉ để điều khiển các chính trị gia Hoa Kỳ mà thôi.

John Huang , làm việc ở Lippo Bank , Đại diện cho tầng lớp hoa kiều giầu có, bạn của Clinton, , Được gián điệp của tàu cộng là Riady và các gián điệp tàu cộng cấp trên của ông ta ( mà Riady Cũng là gián điệp của Hoa Kỳ nhưng theo Trung cộng) Cố gắng đưa Huang Được làm việc ở bộ thương mại 1994, mục đích là để ăn cắp những tin tình báo và đầu tư của Hoa Kỳ rồi chuyển cho Trung cộng.

Khi các viên chức bộ an ninh muốn ngăn chận việc để cho Huang làm việc Ở nơi có những hồ sơ tối mật, lập tức Riady “ mua “một cuộc hẹn với Hillary liền, giá cho cuộc hẹn này là 100 ngàn, Số tiền này được trả cho Hubbell với danh nghĩa là consultant fee Người trả số tiền này là Lapseng, một trùm băng đảng mafia Á châu, và đồng đảng của ông ta là Charlie Trie, Cũng là bạn cũa Clinton, Cũng cùng ngày đó Monday June 20th, 1999 , Hubbell gặp Hillary bày tỏ sự khó khăn về tài chánh của mình, Lapseng Lặng lẽ tới Hoa Kỳ với một va li tiền mặt 175,000 , Không đầy một tháng sau Huang bắt đầu làm việc ở bộ thương mại.

CIA nói Rằng Chỉ trong một thời gian ngắn ngủi làm việc ở bộ thương mại, Huang Đã đọc khoảng từ 370 – 550 Hồ sơ tình báo của Hoa Kỳ trong đó bao gồm luôn cả hồ sơ MEM DISSEM , có nghĩa là” tuyệt đối không được phép lộ ra, vì có thể dẫn đến sự mất mạng của những người cộng sự”.CIA hoàn toàn không hề phóng đại một chút nào khi nói rằng những hồ sơ như vậy hoàn toàn là nhạy cảm cần phải được giữ kín tuyệt đối, Thế mà Clinton Để cho gián điệp tàu cộng khơi khơi tha hồ coi tha hồ mà ăn cắp , hoàn toàn không quan tâm để ý một chút nào.

Khi Dick Morris thông báo cho Clinton biết cuộc vận động tranh cử có thể sẽ thất bại nếu như không nhanh chóng dùng những phương tiện truyền thông Phủ sóng Chấp nhoáng ( expensivev media blitz) Lẽ dĩ nhiên muốn như vậy thì phải có tiền, Clinton nói với Riady , lập tức Huang trở thành người gây quỹ cho DNC, vì chỉ có như vậy, gián điệp tàu cộng Riady và những tay chân của nó mới có thể đóng góp vào quỹ tranh cử của Clinton một cách chính thức, thật là hết biết!!!!!

Vào năm 1992 trong các cuộc vận động tranh cử tổng thống , ứng cử viên Clinton/ Gore tranh cử với Bush Sr. . Clinton and His campaign cùng với những cố vấn của DNC đã lập đi lập lại hằng 1000 lần vào tai của cử tri rằng: Bush Sr. Đã nuông chiều thằng độc tài Trung cộng Ở Bắc Kinh, bởi vì đã không mạnh tay tri tôi Beijing trong vụ Thiên An Mon , ( vào thời điểm đó tụi Trung Cộng còn rất nghèo và yếu thế Việt Cộng hồi đó lúc còn thân với Nga Xô gọi nó là bánh trướng bắc kinh mà nó đâu dám ho he gì , làm sao mà nó dám đụng tới Mỹ)..

Người Mỹ thời đó và nhiều nhà lập pháp của đảng Dân Chủ tin rằng, khi Clinton thắng cử, Ông ta dùng đặc quyền và sức mạnh của Tổng thống Sẽ giúp Quốc Hội chận bớt những đặc ân về thương mại cho Trung Cộng, Ít nhất là cho tới khi Tàu Cộng cải thiện về nhân quyền, Nhưng họ không biết rằng Clinton Đã đi đêm với Trung cộng bật đèn xanh cho họ sau lưng Quốc Hội , ăn tiền đút lót của Trung Cộng và giúp cho nó đuợc quy chế tối Huệ quốc (hoàn toàn ngược lại với những gì Clinton nói và người dân Mỹ mong đợi khi vote cho Bill Clinton )

Những nỗ lực tạm thời của Bush để đối phó với Beijing về nhân quyền bằng cách ngăn chận những đặc quyền về thương mại cho Trung Cộng so với việc Clinton Đi đêm Ngấm ngầm với Red devil , cho quỷ đỏ những đặc ân đặc lợi, Điều này so ra cho thấy việc làm của Bush Sr. còn đàng hoàng đạo đức hơn nhiều gấp mấy lần thằng cha Clinton này.

Một ngày trước khi Clinton bước chân vào nhà Trắng nam 1992 , Riady and Huang Đóng góp 100 ngan vào Quỷ Clinton , Chưa đầy một tháng sau cha của Riady Viếng thăm nhà trắng, vào tháng March 1993 Riady gửi một lá thư thuộc vào loại personal confidential letter của ông ta cho Clinton hai tháng sau khi Clinton lên làm tổng thống , Ông ta đã khẩn cấp thúc giục Clinton hãy mau chóng bãi bỏ việc chống lại Đặc ân thương mại cho Trung Cộng, vì ông ta rất nóng lòng bảo vệ hàng ty đô la tiền bạc Đầu tư vào Trung Cộng Cũng như những tài sản của cải của những Tên bè phái bạn bè với Trung cộng .

Có nhiều bằng chứng cho thấy Huang Liên hệ rất chặt chẽ với gián điệp Trung cộng, lấy đi những tài liệu top secret Từ bộ thương mại Về văn phòng riêng của ông ta gần Hotel Willard do công ty Stephens , bạn thân làm ăn của Clinton va Cũng là Người cộng sự của Riadys , Huang Đến văn phòng Stephen 2, 3 lần mỗi ngày, fax rồi copy, gọi điện thoại, gửi các package ngay trong phòng làm việc Chị để tiếp khách viếng thăm từ ngoài vào !!!
Huang Liên lạc với Riadys Stephens Ins , chính quyền Trung cộng, Những tin tức mà ông ta lấy được từ bộ thương mại đưa cho ho , Đáng giá cả ty bạc, vì nhờ đó họ sẽ đoán được chính sách của Hoa Kỳ để đầu tư , Đó là một điều tối kỵ vi phạm luật insider information , Nhưng họ vẫn thoát nạn và làm giầu .

Clinton Đã bị bán đứng cho tụi tàu cộng,với chính sách mở cửa, Họ đã để cho tàu cộng tha hồ tung hoành trong việc ăn cắp kĩ thuật, biết được hết tất cả những bí mật của quốc phòng, Chương trình hạt nhân Nguyên tử, Theo báo cáo của bộ quốc phòng Clinton Đã hoàn toàn trao chìa khoá Cho Trung Cộng bước vào Mở toang tất cả những bí mật của Hoa Kỳ để đem về làm lợi cho họ

COSCO ( không phải là Costco) một công ty hàng hải do chính quyền Trung cộng làm chủ, Họ mướn căn cứ hải quân Ở Long Beach , mua bán vũ khí và ma túy ngay trong nước Mỹ, Quốc Hội và dân địa phương phản đối, Clinton vẫn làm lơ, Chẳng những thế Ông ta còn đi lại vài lần với hội đồng thành phố để vận động cho COSCO vẫn được tiếp tục hoạt động, Điều này có nghĩa là COSCO vẫn nhỡn nhỡ hoạt động gián điệp , Họ hiện diện khắp nơi trong các ngành điện tử , biết được vũ khí tối tân bí mật Được phát minh và sáng chế ở những nơi tối bí mật nào, Hệ thống vũ khí tối tân được phát triển ra sao V.v..

William Perry Bộ trưởng bộ quốc phòng cùng với Clinton Đã bán cho tàu cộng Những vũ khí tối tân nhất và quan trọng nhất, Đã giúp cho tàu cộng thay đổi toàn diện quân đội của họ, Trở thành một quân đội được trang bị hùng mạnh và những chiến lược hoàn hảo, họ đã chia sẽ tất cả không chừa một cái gì hết về quốc phòng với tụi tàu cộng thậm chí cả Vũ khí nguyên tử, Họ nói cho tụi tàu cộng biết cách hoạt động của Cơ quan Federal Express Như thế nào thì Quân đội Mỹ cũng làm y như vậy, muốn biết quân đội Mỹ vận hành như thế nào thì cứ nhìn cách sắp xếp tổ chức của Federal Express là biết ngay, Clinton Đã tiết lộ bí mật tối quan trọng về quân sự cho quỷ đỏ .

Tội lỗi sai lầm lớn nhất của Clinton chưa dừng lại ở việc tiết lộ bí mật quốc phòng cho quỷ đỏ, mà còn đã giúp hiện đại hóa hoàn hảo cho quân đội trung cộng, Chỉ rõ cho họ logistics Điểm mạnh yếu ở chỗ nào, Đó là một điều rất tối kỵ trong quân đội, Clinton Đã chào đón tên giết người hàng loạt Trong vu Thảm sát Thiên an môn la Jiang Zemin Bằng 19 khẩu súng danh dự Được dàn hàng ngang đưa ra, mà điều này các đời tổng thống chưa bao giờ làm cho kẻ thù của mình.

Sự băng hoại trong chính trị giống như ung thư, nếu không Đánh bại nó, nó sẽ tiếp tục lập lại, một vài người trong đảng Cộng Hòa nói rằng nếu mình không thắng nó, thì mình Nhập bọn với nó, cái kiểu suy nghĩ như vậy nếu mà lan rộng ra trong Đảng CH thì không sớm thì muộn Đảng Cộng Hòa cũng sẽ làm một việc giống như Clinton and Gore Đã làm: bán linh hồn của mình cho quỷ dữ để đổi lấy sự tham vọng và quyền lực.

[Sent by M.Nguyen]

VĂN CHƯƠNG LÀ GÌ (II)

VÕ CÔNG LIÊM

vcl-diem hen

TRANH VẼ Võ Công Liêm ‘Điểm Hẹn / Rendez-vous’

‘Thiên tuế trường ưu vi tử tiền’ Nguyễn Du*

Nếu đó là một thứ văn chương lý thuyết, rõ ràng, minh bạch thời tất sự đó được gọi là văn chương có lý thuyết.Từ chỗ đó chúng ta bắt đầu đặc vấn đề:văn chương là gì ? what is literature?Thế nào là văn chương.
Đã có nhiều cố gắng khác nhau để minh định cho văn chương. Người ta có thể minh định nó. Thí dụ: giàu trí tưởng tượng để viết trong một cảm thức hư cấu / writing in the sense of fiction; là những gì viết mà trong đó không đúng sự thật về văn –writing which is not literally true. Dù có viết vắn tắt đều phản ảnh tính người dưới những đề tài đều hướng tới văn chương; thiết tưởng điều này sẽ không tránh khỏi khi viết văn. Đã là hư cấu, tất dựa vào tâm lý học để hình dung quá trình khi dựng thành chuyện cho truyện.
Tk. thứ mười tám ở Việt Nam cho đến nay chỉ xuất hiện một thứ văn chương lỗi lạc, xuất chúng khác thường đó là Nguyễn Du (1765-1820) nó bao hàm cả một lý thuyết nhân sinh vừa tâm lý vừa sinh lý là nhân tố cấu thành trong văn chương, bất luận từ thời nào đều dựng vào đó cái lý chính đáng, phản ảnh trọn vẹn tính nhân bản là cốt tủy của văn chương. Đồng thời hay những thế kỷ về sau có nhiều thi văn nhân xuất hiện với lối trình diễn văn chương khác nhau nhưng tựu chung trong hình thức sáng tác đều là hư cấu; văn chương tả chân không nhất thiết là ‘chuyện có thực / true story’ mà dựng vào đó một trí tưởng sống thực, dẫu là hư cấu nhưng vẫn có một lý thuyết chung hay riêng về con người và xã hội; gọi chung là văn chương hư cấu ngay cả thi ca cũng như văn xuôi đều xuất xứ từ trí tưởng của hư cấu hóa mà ra.
Sự khác biệt giữa sự thật (fact) và hư cấu (fiction), tuồng như khác hẳn những gì chúng ta nghĩ tới, không nhiều thì ít, bởi; nó đứng cách riêng ở chính nó là sự cố thường đưa tới tranh luận; sự đó là phản lại giữa những gì thuộc lịch sử và những gì thuộc thẩm mỹ nghệ thuật (artistic). Sự thật không thích ứng ở tất cả những gì thuộc thần thoại hay tiền sử mà vẫn coi như là sự thật. Thí dụ: Sơn Tinh, Thủy Tinh, chuyện Âu Cơ, chuyện Mỵ Nương, Phù Đổng Thiên Vương đã thần thánh hóa từ hư cấu chuyện để thành truyện.
Cuối tk. thứ mười bảy và đầu tk. mười tám văn chương tiểu thuyết Việt Nam nở rộ trong một văn phong ảnh hưởng xã hội, dưới lốt ‘giáo điều’ của từ chương, tích cú, điển tích, điển cố được coi là thích ứng và hợp lý; chưa thấy ở đó dấu hiệu sáng tạo, nó ảnh hưởng một phần văn tự cổ từ Hán Nôm chuyển qua Quốc ngữ là cả vấn đề được nêu ra; tuy nhiên, thi văn thời đó nửa hư, nửa thật dường như thấy được một ít sự thật và hư cấu; hẳn nhiên cả hai không mấy là xác thực một cách trung thực. Có lẽ một trong hai thứ đó cần có một thể cách riêng để đi tới bên nhau. Có lẽ văn chương là một định nghĩa rõ ràng không tùy vào những gì thuộc hư cấu hoặc trí tưởng, nhưng nó được coi ngữ ngôn thông thường trong lề lối mới hơn. Trên phương diện lý thuyết; văn chương là thể cách viết thay lời là những gì thể hiện trong lời văn: phẩn nộ, thương yêu là vai trò làm người mà Nam Cao đã thấy trong tác phẩm Chí Phèo, qua hành động táo bạo với ngữ ngôn dung tục là đặc chất trung thực của văn chương tả chân, một lột tả phơi mở, không ấp úng mà làm lạc hướng văn chương. Chỉ tiêu của văn chương là đi đúng hướng cỏn ngược lại thì đó là tư duy mất cân đối giữa quan trọng và không quan trọng –there is a disproportion between the signifiers and signifieds. Bởi như thế này: ngữ ngôn của ta đưa tới một chú ý ở tự nó, phơi ra một chất liệu hiện thể qua câu nói ‘em chả’ có tính chất làm dáng hay đòi hỏi, tả như vậy trong văn chương gọi là tả thực. Ở đây tác giả muốn nói đến chất liệu thực tướng văn bản của văn chương là ở tự nó. Văn chương không là thứ tôn giáo ngụy tạo hoặc tâm lý hoặc khoa học xã hội nhưng nó phải là một cơ cấu hóa ngữ ngôn cách riêng –literature was not pseudo-religion or psychology or sociology, but; a particular organization of language thời mới tạo cho văn chương độc sáng và lạ lẫm.Tác phẩm văn chương đã không những là phương tiện truyền bá cho ý tưởng, phản ảnh bề mặt xã hội một cách trung thực mà thể hiện của một vài thực nghiệm. Nó còn làm cho chữ nghĩa trở nên siêu thoát, không còn là chủ thể của vấn đề hoặc do cảm quan sanh ra; đấy là một sự nhầm lẫn để thấy cách diễn đạt bên trong văn chương, vô hình chung nói cho cá nhân mình hơn là nói việc đại chúng, bởi; nhận thức chưa thấm thấu với kinh nghiệm chưa thấu đáo trong cuộc sống thường có. Thí dụ: nhà văn nữ viết về nhà thơ nam là biểu lộ một sự đam mê thái quá, biến lỏng thành đặc, biến ảo thành thực là xử dụng phương pháp hóa trị (chemotherapy) trong văn chương một cách bừa bãi qua tư thế lý giải thơ văn, biến con chữ và văn phong không thoát ly khỏi vũng lầy, bởi; cả văn thi nhân cùng một tạng thể. Dẫn cái không đáng dẫn đưa văn chương vào ngõ cụt. Cái đó gọi là văn chương tha hóa. Tình trạng này thường xẫy ra mỗi khi nhận định hay phê bình thơ văn đều có tính chất rập khuôn.
Vậy thì dựng lên đó văn chương thuộc hư cấu (fictional) hay văn chương trí tưởng (imagination)? Cả hai tình huống đó đôi khi không thực ở chính mình để trốn cái xấu bên trong hoặc có thể che lấp một sự giả dối nào đó không muốn nói ra…Cái đó gọi là văn chương ta thán. Điều này đã làm cho chữ nghĩa không còn là chủ đề muốn nói với một cảm thức sâu sắc mà là một sự nhầm lẫn trong tư duy của tác giả muốn đề ra.Tất cả ý tứ đó phát sinh từ thói tính kiểu cách hoặc hình thức hóa để chứng tỏ vai trò của mình đang hiện diện với đời. Kiểu cách đó gọi là văn chương dung tục; một hình thức dị hợm, buồn nôn không hợp cảnh đối với con người văn nghệ đang trên đường dấn thân cho một bày tỏ sống thưc giữa người và đời.
Hình thức chủ nghĩa là phần cơ bản nồng cốt thích hợp cho ngữ ngôn học nhất là học cách viết văn, bởi; ngữ ngôn học trong vấn đề của hình thức thể loại, quan tâm tới ngữ điệu và cấu trúc hành văn khác hơn những gì trong đời thường nhưng vẫn thấy ở đó một thứ rất thường. Hình thức đã vượt qua sự phân tích của văn chương như ‘đạt yêu cầu’ / Formalists passed over the analysis of literary ‘content’ là thói tính thường bắt gặp một khi viết về ký sự hay phóng sự là lối viết như ‘đặt hàng’ nó không còn là sáng tạo của văn chương. Đạt được là động cơ thúc đẩy một cách đơn thuần của thể thức, một cơ hội thuận tiện cho thực tập về hình thức viết lách. Cho nên chi lối viết đó không thay đổi giọng điệu mà trở nên cục bộ ngay cả trong văn và thơ; hai thứ này nó đòi hỏi phải sáng tạo mới hình thành văn chương độc hữu (property).
Văn chương; bởi một sự buộc phải chúng ta trong vai trò kịch tính ý thức của ngữ ngôn cho đẹp ý lẫn lời, coi đây là thể thức đáp lễ và dẫn đưa chủ đề có thêm cảm giác mới. Thế giới của ngữ ngôn chứa đựng những gì có sinh khí và hiện đại hóa; đó là tác động trong văn chương. Bởi; như thế này: đối với hình thức chủ nghĩa cho rằng văn chương là chức năng chuộng về lượng /differential liên quan giữa thể loại luận văn hay thuyết trình, nó không còn là chân lý ngàn đời cho một sự độc hữu –it was not an eternally given property mà chỉ để lại cái thói tính (formalists) không thực khi viết thành văn. Có lẽ; văn chương là phương tiện cho một vài điều nghịch lý hay phản đề của nhiều cách viết khác nhau hoặc nâng lên một giá trị cao hơn. Văn chương là một cảm thức trong sáng phát sinh từ trí tuệ; dẫu đó là một sự rỗng tuếch vẫn có phần sáng tỏ –empty sort of definition. Dù cho chúng ta yêu sách nào đi nữa sự đó không tác động vào trong ngữ ngôn của viết lách, càng đòi hỏi luật tắc thời chúng ta vẫn không đạt tới cái cốt tủy của văn chương, bởi; đôi khi ta tìm thấy ngữ ngôn của văn chương tợ như đùa, nhưng trong cái sự đùa là một thứ ẩn tàng khác của cách viết hay nói. Có thể nó tạo thêm thi vị cho người đọc hoặc mang lại một ý nghĩ khác cho một vượt thoát của tư duy. Đôi khi đọc một tiểu thuyết là tìm quên trong thích thú, khác hẳn từ chỗ đọc bảng tên đường như một chỉ dẫn cần thiết; thế thì làm thế nào đọc một đoạn văn chương triết học để lãnh hội trong trí tuệ của ta? Đó là vấn đề đòi hỏi ở nhận thức hiểu biết, một nhận thức bao quát hơn là nhận thức chuyên nghiệp. Văn chương không có giới hạn mà đòi hỏi một sự vượt thoát tư duy trong ý thức sáng tạo tư tưởng là hình thức đả thông tư tưởng. Người không học triết vẫn nhận ra rằng cuộc đời là một triết lý. Kẻ chuyên nghiệp lại có cái nhìn chủ quan trong tư duy, phát sinh từ một tư duy ‘đốn mạt’ của hờn dỗi bởi chưa đạt được một cách thỏa lòng (content). Thành ra văn chương là nhu cầu cần thiết để lãnh hội ý tứ thâm hậu trong câu văn như lời nói lý thuyết, là kim chỉ nam dành cho người viết và đọc. Văn chương là gạch nối của truyền thông, văn chương không phải là tự sự đem chuyện đời xưa ra kể chuyện đời nay; cái đó gọi là văn chương tham vọng đã tham vọng thì không còn gọi là văn chương.
Độc đáo của văn chương là thoát ly mọi tình huống của ‘ao tù nước đọng’ bung lên để tìm thấy mặt trời, bởi: ‘văn chương chỉ dung nạp được những người biết đào sâu, biết tìm tòi, khơi những nguồn chưa ai khơi và sáng tạo những gì chưa ai có’ (trong Đời Thừa của Nam Cao) Cái đó gọi là văn chương thức tỉnh giữa sự thật và hư cấu là đứng giữa tâm thức và trí tưởng đủ khả năng giúp ta sáng tạo những gì mà ta nhận thức được; đặc nhiệm của văn chương là mang tính chất sáng tạo nghệ thuật, quên tất cả để tạo nên quan hệ tương giao giữa người với văn chương, dựng vào đó một vũ trụ dự cuộc để hoàn thành sứ mệnh văn nghệ đúng phương hướng của văn chương tự thức ; đó là chỉ tiêu, là minh định cụ thể để thành văn.

Trong cảm thức này không một khả năng nào của một kết hợp bày tỏ hay phát biểu hay hành văn một cách vô bổ cả -In this sense; there is no possibility of a wholly disinterested statement- Nhưng; cũng có thể đó là vị trí của hình ảnh tạo nên cho một cảm thức khác nhau giữa hư (fiction) và thực (in fact) mà coi đó là lời bày tỏ có nhiều lợi ích cho về sau này. Có lẽ điều này cho là lạ lùng, quái gở và cũng có thể là tuyệt vời, kỳ diệu nó mang nhiều điều lạ hơn là kiểu cách đồng dạng, đồng nghĩa, là thói tính quen lề, quen thói, rập khuôn, đúc lại, dẫn chứng…Tất cả thứ đó là a-tòng trong lối bình văn thơ thường hay xãy ra. Bởi cái sự a-tòng đó mà mất tính sáng tạo trong văn chương, bởi vì; chúng ta không tìm thấy cái sự lợi ích cấu thành qua sự nhận biết / knowledge để làm sáng tỏ lời văn trong khi viết, việc này không phải là định kiến đơn thuần mà tạo vào đó một thứ phiêu lưu kỳ lạ cho văn chương. Yêu cầu đó là nhận thức hiểu biết có thể đem lại cái giá tự do (value-free) hay gọi là không thuế (tax-free) là việc không còn ngại cho việc viết lách để đưa vào đó một giá trị cho văn chương. Đây không phải vấn đề của đổ lỗi mà cũng chẳng phải vơ đũa cả nắm; thực ra là nhận định khách quan của tâm sinh lý thường có, là cốt đạt tới cái nguyên thủy /pure có trong ta cho một thứ phê bình thuộc nghệ thuật văn chương là điều hợp lý và lợi ích.
Nói về ‘văn chương và hệ tư tưởng /literature and ideology’ như thể coi đây là biểu tượng cách ly, mà cả hai gần như có một quan điểm chung giữa trí tuệ và lý trí. Văn chương đúng nghĩa tâm lý là có một cái gì để lại (inherited) về sau; hệ tư tưởng sẽ tiếp nối như một khám phá khác của văn chương, một quan hệ gần gũi giữa con người và xã hội. Có thể về sau được coi là chứng cứ tồn lưu, tồn lại của văn chương ./.

VÕ CÔNG LIÊM (ca.ab.yyc. 15/7/2020)

* ‘Trước khi chết lo mãi chuyện nghìn năm’ (Nguyễn Du)

ĐỌC THÊM: ‘Văn Chương Là Gì’ của võcôngliêm (3/2020). Hiện có trên một số báo mạng và giấy trong và ngoài nước hoẳc email theo đ/c đã ghi.

ĐỌC THƠ CỔ NHỚ NGƯỜI XƯA : NGUYỄN DU

Nguyên Lạc

THƠ TƯỞNG NIỆM NGUYỄN DU

nguyen-duNhân kỷ niệm 200 năm ngày mất của Đại thi hào Tiên Điền Nguyễn Du (1820- 2020) tôi làm bài thơ tưởng niệm này:

TƯỞNG NIỆM NGUYỄN DU
.
“Bất tri tam bách dư niên hậu
Thiên hạ hà nhân khấp Tố Như” *

*
Nến trầm đêm đọc người xưa
“Thập loài văn tế” xót xa hồn này
Tiên Điền thơ cổ kinh thay
Rợn hồn từng chữ từng lời oan khiên
.
“Còn chi ai quí ai hèn
Còn chi mà nói ai hiền ai ngu
Một phen thay đổi sơn hà
Mảnh thân chiếc lá biết là về đâu” [1]
.
“Long thành cầm giả” khúc đau
Ngậm ngùi thơ cổ bể dâu cuộc đời
Sắc hương đệ nhất một thời
Ðàn cầm thánh thoát giờ rồi tàn phai [2]
.
Trăm năm thoáng chốc thở dài
Bồi hồi chuyện cũ thương ai mà buồn
Động lòng khói sóng Tiền Đường [3]
Thương Kiều phận bạc “Đoạn trường tân thanh”
.
Hai trăm năm đấng tài danh
Bài thơ tưởng niệm con dâng tặng người
Đất nước tôi dân tộc tôi
Nguyễn Du hai chữ rạng ngời Việt Nam
……………
* Không biết hơn ba trăm năm sau/ Thiên hạ ai người khóc Tố Như?- Độc Tiểu Thanh ký- Nguyễn Du
[1] Câu thơ trong “Văn tế thập loại chúng sinh” – Nguyễn Du
[2] Quái để giai nhân nhan sắc suy/ Song nhãn trừng trừng không tưởng tượng/ Khả liên đối diện bất tương tri – “Long thành cầm giả ca” – Nguyễn Du
[3] Thúy Kiều trầm mình trên sông Tiền Đường- Đoạn Trường Tân Thanh
.
Nguyên Lạc
.
BÀI THƠ TƯỞNG NIỆM CỦA LÂM THANH SƠN

Sẵn đây, tôi xin giới thiệu đến các bạn thêm bài thơ tưởng niệm Nguyễn Du của bạn Lâm Thanh Sơn, ở Hà Nội – một trong những người thuộc nhóm Tình Tự Dân Tộc chúng tôi, nhóm quyết chí giải oan cho đại thi hào Nguyễn Du – cụ bị “ai đó” kết án “đạo văn” Kim Vân Kiều Truyện của Tàu, “bê nguyên xi” truyện này dịch ra văn vần: Đoạn Trường Tân Thanh- Truyện Kiều. [*]
Link nhóm Tình Tự Dân Tộc:
https://www.facebook.com/groups/1141641829504367/?hc_location=ufi
Đây là bài thơ tác giả Lâm Thanh Sơn gởi đến tôi:

NHỚ NGUYỄN DU
Kính Gởi Cụ Tiên Điền
( Nhân kỷ niệm 200 năm ngày mất của Đại thi hào Nguyễn Du 1820- 2020 ).
Lâm Thanh Sơn
.
Hai trăm năm đã trôi qua
Hoa tàn, trăng khuyết xót xa những chiều
Đâu Kim Trọng, đâu Thuý Kiều?
Ai làm tan những lời yêu đá vàng …

Giai nhân, tài tử bẽ bàng
Long thành nức nở tiếng đàn Cầm ca
Mấy triều đại ấy trôi qua
Ngai vàng, điện ngọc hoá ra bụi rồi

Chỉ còn lại bấy nhiêu lời
Giữa nhân gian với cuộc đời đảo điên
Nào ai vua sáng, tôi hiền
Triều sau, sóng trước triền miên cõi người

Anh hùng cũng đến thế thôi
Văn nhân, thy sỹ cũng đời bỏ đi
Bảng vàng, bia đá ra gì
Ngàn năm dầu dãi khắc ghi hận lòng

Lối người xưa phủ rêu phong
Một lời một vận vào vòng tai ương
Con nghe trong sóng Tiền Đường
Chiều nay ngào nghẹn đoạn trường tân thanh …!
.
LỜI KẾT
“Truyện Kiều còn, tiếng ta còn. Tiếng ta còn, nước ta còn” (Phạm Quỳnh)
Bài diễn thuyết về Truyện Kiều này được Phạm Quỳnh đọc nhân lễ kỷ niệm ngày giỗ Nguyễn Du vào ngày 8 tháng 12 năm 1924, tức ngày mồng 10 tháng 8 năm Giáp Tý do Hội Khai trí tiến đức của ông tổ chức.

Nhân đọc lại dòng thơ cổ làm rạng danh nước Việt, tôi đốt 3 nén hương trầm để tưởng nhớ đến người xưa, đến công ơn của tiền nhân: Đại thi hào Nguyễn Du, người đã đóng góp biết bao công sức cho nền văn học nước nhà.
.
Nguyên Lạc
……………
[*] Đổng Văn Thành – China cho rằng: “Nguyễn Du chẳng những chỉ mượn đề tài của tiểu thuyết Trung Quốc mà dường như bê nguyên xi […]. Nguyễn Du không có bất kỳ một sáng tạo mới nào, chỉ chuyển thuật khá trung thực nội dung tiểu thuyết của Thanh Tâm Tài Nhân…” [ “Minh Thanh tiểu thuyết luận tùng” GS. Đổng Văn Thành – Theo Phạm Tú Châu “So sánh Truyện Kim Vân Kiều Trung Quốc và Việt Nam”]
“So sánh Truyện Kim Vân Kiều Trung Quốc và Việt Nam”
http://www.talawas.org/talaDB/showFile.php?res=5966&rb=0102

@ Mờii đọc :
– “Long Thành Cầm Giả Ca” của Nguyễn Du
http://www.art2all.net/tho/laiquangnam/lqn_nguyendu_longthanhcamgiaca_gioithieu.htm

“DOANH NGHIỆP VỚI THỊ TRƯỜNG”

GIÁP KIỀU HƯNG

“DOANH NGHIỆP VỚI THỊ TRƯỜNG”
– MỘT CUỐN SÁCH ĐÁNG ĐỌC!

*
Để tìm một cuốn sách về kinh nghiệm làm giàu thật hay thực sự không phải là một điều dễ dàng, mặc dù trong tủ trưng bày ở các nhà sách loại sách này chất cả đống với những cái tên đầy “kích thích”. Nhưng, ở đây, chúng tôi muốn giới thiệu một cuốn sách mà theo cảm nhận của chúng tôi, mỗi một dòng, một chữ đều bật ra trong tâm huyết, từ máu thịt của người viết như những lời “tâm sự” “gan ruột”.
Cuốn sách bao gồm hai phần. Phần thứ nhất, tác giả hệ thống cho bạn đọc những kiến thức rất cơ bản của một nhà kinh doanh về thị trường. Đối với những ai đã từng qua các “cua” đào tạo về quản lý kinh tế hay đã từng đeo “mác” sinh viên các trường kinh tế thì những kiến thức như thế này không phải là điều mới mẻ. Tuy nhiên để nghĩ cho sâu, hiểu cho kỹ thì không phải ai cũng làm được vì sự phong phú của thị trường. Chính người viết cũng rất khiêm tốn khi viết: “Người viết không có tham vọng trình bầy hết những vấn đề của thị trường hoặc liên quan đến thị trường bởi tính muôn màu muôn vẻ của thị trường, bởi tính biến đổi (nhu cầu và thị hiếu) không ngừng của thị trường”. Ở đây, tác giả “xoáy” váo ba vấn đề chính:

giapkieu

GIÁP KIỀU HƯNG

– Tìm hiểu thị trường
– Chiếm lĩnh thị trường
– Các chiến thuật chiếm lĩnh thị trường
Đây là những nguyên tắc, những điều nên làm và thật cần đối với các doanh nghiệp. Cái “được” mà tác giả xây dựng được trong phần này của cuốn sách là đã “mềm hoá” được những kiến thức kinh tế vốn không mấy “dễ tiêu” đối với người đọc. Vì lẽ đó mà nhiều bạn đọc đánh giá sách của Đặng Xuân Xuyến không nặng về lý thuyết. Nhưng theo chúng tôi, có lẽ đó là cảm nhận của cả hai phần vì ở phần thứ hai của cuốn sách có rất nhiều lời khuyên hữu ích đối với các doanh nhân trẻ mà những lời khuyên này xuất phát từ những điều tâm huyết của người viết khi chiêm nghiệm cuộc sống, chiêm nghiệm quá trình kinh doanh của bản thân cũng như của những doanh nghiệp thành đạt trên thương trường. Điều đáng ghi nhận là Đặng Xuân Xuyến đã không truyền đạt những lời khuyên ấy theo lối “dội” từ trên xuống mà lời lẽ rất chân tình, giản dị nhưng không kém phần mãnh liệt, thổi vào người đọc một luồng cảm hứng cháy bỏng về khát vọng làm giàu. Hãy nghe: “Tôi thành thật mong bạn đừng bao giờ chấp nhận cuộc sống an phận thủ thường, đừng bao giờ bằng lòng với những gì đã có vì cái chất người như vậy không bao giờ giúp bạn trở thành ông chủ được đâu” (Khát vọng làm giàu). Và “hãy mạnh dạn xắn tay áo lên mà miệt mài công việc! Hãy trau dồi kiến thức và mở rộng các mối quan hệ tốt đẹp trong xã hội!” (Thời cơ). Đọc những dòng này, người đọc sẽ rất có cảm tình về khát vọng làm giàu, khát vọng xây dựng cuộc sống, sự nghiệp của chính bản thân người viết. Không trăn trở, không “đau đớn” về cái khát vọng làm giàu của mình thì Đặng Xuân Xuyến không thể bật lên khẩu hiệu đầy lôi cuốn như thế. Cứ cho rằng bạn là người bàng quan với của cải, vật chất nhưng tôi tin bạn là người trọng danh dự và bạn sẽ cảm thấy mình bị thua kém khi đứng cạnh những người bạn thành công trong kinh doanh. Và khi ấy bạn có chắc chắn rằng mình sẽ không có một chút tị hiềm nào trong lòng? Ở đây, Đặng Xuân Xuyến khuyên chúng ta rằng: “đừng nhìn vào cách tiêu tiền của họ mà hãy nhìn vào cách kiếm tiền của họ”. Nhìn để mà học, mà học thì chắc chắn để làm việc rồi. Có nghĩa, bạn phải là con người của hành động!
Với 10 đề mục trong phần hai của cuốn sách, bên cạnh việc thôi thúc, kích thích khát vọng làm giàu của bạn, Đặng Xuân Xuyến còn truyền đạt rất nhiều những kinh nghiệm trong thực tiễn kinh doanh. Điều này thể hiện chủ yếu ở ba đề mục:
– Chính sách dùng người.
– Đánh giá khách hàng.
– Giao dịch – tiền đề của thành công.
Tất nhiên, tác giả không quên nhắc đến “kẽ hổng trong quản lý vốn” – một trong những tiền đề cơ bản khiến cho doanh nghiệp… phá sản! Đọc những mục này, tất cả những chiêu thức quan trọng của các nhà lãnh đạo trong việc quản lý nhân sự, đánh giá khách hàng và giao dịch với đối tác, tác giả đã phân tích từng chi tiết nhỏ giúp cho người đọc dễ hình dung ra “chiến trường” của mình hơn. Ở đây, tác giả đã giúp đọc giả làm công việc gian khổ, khó khăn nhưng cũng thú vị nhất đó là hiểu rõ cả “địch” và “ta”. Bạn có thể hiểu mình nhưng bạn đâu biết hết được tâm lý của mọi đối tác. Không phải là quá khen nhưng công lao nghiên cứu của tác giả trong lĩnh vực tâm lý kinh doanh quả là không thể phủ nhận. Tất nhiên, khi đã khẳng định được danh tiếng của bạn thì không thể không tính chuyện khuếch trương danh tiếng ấy lên và Đặng Xuân Xuyến cũng không quên gởi đến độc giả những kiến thức trong vấn đề quảng cáo rất cần thiết cho các doanh nghiệp trong thực tiễn.
Bên cạnh phần chính của cuốn sách, hai phụ bản là “Vài lời về bốn tể tướng đại tài trong lịch sử Trung Quốc” và “Đôi điều về bốn danh tướng vang bóng một thời trong lịch sử Trung Hoa” của cùng tác giả Đặng Xuân Xuyến là một món quà khá thú vị. Đây có lẽ chính là điểm nhấn để chúng ta tin sự uyên thâm của Đặng Xuân Xuyến là… Đặng Xuân Xuyến.
Bạn có thể không tâm đắc với những điều mà cuốn sách này đặt ra, thậm chí bạn còn hiểu ngược lại vì mỗi người có một quan điểm riêng, thủ pháp riêng trong kinh doanh. Chính tác giả cuốn sách này cũng chỉ khiêm tốn mong muốn: “Cuốn sách sẽ giúp bạn có một khái niệm cụ thể về thị trường và doanh nghiệp; có thể bạn là người đang chuẩn bị bước vào công cuộc kinh doanh thì Doanh nghiệp với thị trường sẽ làm tốt khâu “chuẩn bị” nắm bắt được một số nguyên lý cơ bản để an tâm bước vào nghiệp chủ; còn nếu bạn đã là một doanh nghiệp thực thụ và tài ba thì với hai trăm trang sách này, chí ít sẽ trút bỏ được một số sai lầm đáng tiếc sẽ xảy ra trong cuộc đời kinh doanh của bạn”. Vâng! Tư tưởng đặt ra rất lớn cho tác phẩm – tư tưởng ấy là dành cho bạn đọc – nhưng mong muốn của tác giả thì lại giản đơn như vậy.
Dẫu sao, sau khi đọc xong hai trăm trang sách của Đặng Xuân Xuyến, tôi biết mình đã phần nào chịu ảnh hưởng tư tưởng của anh chàng quá nhiều tham vọng này.
Chẳng biết sự ảnh hưởng ấy có… hại không?
*.
Hà nội, ngày 15 tháng 10 năm 1999
GIÁP KIỀU HƯNG
.

NẮNG MƯA VÀ NỖI NHỚ ÊM ĐỀM!

Cảm nhận của Châu Thạch

TÔI CHO TÔI

vt nguyenTrời cho nắng, trời cho mưa
Tôi cho tôi nhớ ngày xưa của mình.
Ngày xưa tóc mây hoe vàng
Trắng đôi tà áo, chân ngoan đến trường.
Có ai níu giữ mùi hương
Sầu đông tim tím ngát đường tuổi hoa.
Có ai đếm bước chân thơ,
Cột từng sợi gió cho mưa thưa về.
Hạt mưa bụi, vạt tóc thề,
Nhẹ nâng guốc gỗ bên lề phố xưa.
Ngày xưa, Quảng Trị ngày xưa
Mộng đời yên ả trong mùa chiến chinh.
Đường phượng hồng, dòng sông xanh,
Hàng dương gọi gió ru tình hồn nhiên.
Bến xưa bờ cỏ non hiền,
Bước cao bước thấp…một miền tuổi thơ.
Trời cho nắng, trời cho mưa,
Tôi cho tôi nhớ ..ngày xưa của mình.
Võ Thị Nguyên.

Lời Bình: Châu Thạch
Võ Thị Nguyên là đồng môn, là bạn facebook của tôi. Tôi chưa gặp Võ Thị Nguyên lần nào, nhưng có lẽ chúng tôi đã xem nhau là anh em thân tình.
Hồi còn nhỏ, cứ mỗi lần thấy một trái bông gòn nổ bộp trên cao và hàng ngàn cánh trắng tỏa xuống, bay phấp phới trong gió, lòng tôi lại nao nao một niềm vui, như thấy an lành trong tâm hồn. Bây giờ mỗi khi đọc thơ Võ Thị Nguyên, cảm tưởng ấy lại trở về trong tôi. Tôi gọi thơ Võ thi Nguyên là “những cánh hoa trắng, đẹp như những cánh bông màu trắng, nhẹ nhàng bay lửng lờ trong gió “
Đọc bài thơ “Tôi Cho Tôi” của Võ Thi Nguyên có lẽ ít người tâm đắc nếu chưa từng sống trong một thị xã mà chúng tôi đã sống, thị xã Quảng Tri trước ngày bão lửa năm 1972. Chiến tranh đã tàn phá thị xã thành ra bình địa. Chúng tôi thương nhớ ngôi trường đã học, thương nhớ ngôi nhà đã ở, thương nhớ con phố đã đi và thương nhớ những kỷ niệm còn trong ký ức. Thế nhưng sự thương nhớ trong thơ Võ Thị Nguyên không làm rơi nước mắt. không co thắt con tim, mà nó như một cơn gió thoảng, mang hương thơm từ qua khứ bay về, tỏa ra ngào ngạt trong không gian cao rộng. Mùi hương kỷ niệm khiến ta ngây ngất, cho tâm hồn êm đềm bay về quá khứ, như đi trong một giấc thụy du!
“Trời cho nắng trời cho mưa/Tôi cho tôi nhớ ngày xưa của mình” nghĩa là Võ Thị Nguyên nhớ về quá khứ luôn luôn, trong tất cả thời tiết và trong cả bốn mùa.
Chỉ đọc hai câu thơ nầy ta đã cảm nhận nỗi nhớ trong lòng tác giả luôn luôn có, tràn ra không gian, tỏa trong thời gian và thời tiết dầu nắng mưa hay gió bão đều trở nên đẹp tất cả vì nó đều mang hình bóng ngày xưa, phản ảnh tháng ngày qua trong quá khứ. Thế rồi:
Ngày xưa tóc mây hoe vàng
Trắng đôi tà áo, chân ngoan đến trường
“Tóc hoe vàng” vì được biết cả nhà tác giả đều có màu tóc hoe vàng. Cô nữ sinh có mái tóc hoe vàng đó học trường Nguyễn Hoàng, mặc áo trắng, đi về ngày hai buổi dưới chân bóng cổ thành. Câu thơ làm tôi nhớ đến bài thơ “Quê Hương Điều Tàn” của Nguyễn Đức Quang có mấy câu sau đây:
“ Quê Hương anh là Quảng Trị
Nhà của anh bên dòng sông Thạch Hãn
Và xưa đó anh học trường Nguyễn Hoàng
Ngày hai buổi đi về đường Quang Trung
Và chiều chiều trên con phố buồn hiu
Cùng người yêu anh buông lời hẹn hò”
Bây giờ nếu ta đổi nhân vật, anh thành em, thì cuốn phim ngày xưa với mái tóc hoe vàng, với áo trắng, với guốc mộc mà tác giả dựng lại trong những câu thơ sau đây thật vô cùng diễm xưa và vô cùng thắm thiết:
Có ai níu giữ mùi hương
Sầu đông tim tím ngát đường tuổi hoa.
Có ai đếm bước chân thơ,
Cột từng sợi gió cho mưa thưa về.
Hạt mưa bụi, vạt tóc thề,
Nhẹ nâng guốc gỗ bên lề phố xưa.
Tác giả hỏi “Có ai níu giữ mùi hương” nghĩa là không có ai cả, vì mùi hương là vô hình không ai giữ được. Thế nhưng khi tác giả hỏi “Có ai níu giữ thời gian” thì ta hiểu chính tác giả đã níu giữ được cả mùi hương, cả thời gian tâm lý trong tâm hồn mình nhiều năm tháng đã qua. Bởi thế tác giả tiếp tục nhắc lại những kỷ niệm của một thời đi học: Con đường có hoa sầu đông màu tím, mưa bụi, tóc thề và guốc gỗ.
Hai câu thơ “Có ai đếm bước chân thơ/Cột từng sợi gió cho mưa thưa về” cho ta hình ảnh ảnh những chàng trai lẻo đẻo theo gót chân nàng trong những buổi chiều mưa bụi trên tóc thề em. Chắc chắn chàng sẽ vái trời đừng mưa lớn để có thể theo em cho đến tận nhà. Vậy là chàng “cột gió” bằng sự van vái trong lòng mình. Chàng đi theo sau, nhìn từng sợi tóc nàng bay lất phất trên đôi bờ vai thon, trên cổ trên gáy nỏn nà, lòng mong ước gió đẩy mưa đi, để từng sợi tóc kia đừng ướt. Biết đâu trời sẽ thương chàng không mưa lớn, và chàng đã “cột được” “từng sợi gió” bằng tình yêu của mình.
Bằng sáu câu thơ xúc tích ở trên, Võ Thị Nguyên đã hiển thị trong mắt ta quá khứ bằng phim đen trắng, mơ hồ mà lung linh, khiến ta cảm nhận được tất cả chính mình trong đó.
Bây giờ, qua khổ thơ tiếp, tác giả mới nói rõ địa danh, không gian, thời gian nơi mình đã sống, nơi tuổi thơ êm ái và nơi để lại cho mình nỗi nhớ êm đềm:
Ngày xưa, Quảng Trị ngày xưa
Mộng đời yên ả trong mùa chiến chinh.
Đường phượng hồng, dòng sông xanh,
Hàng dương gọi gió ru tình hồn nhiên.
Bến xưa bờ cỏ non hiền,
Bước cao bước thấp…một miền tuổi thơ.
Hai câu thơ mà tôi thích nhất trong khổ thơ nầy là hai câu “Đường phượng hồng, dòng sông xanh/ Hàng dương gọi gió ru tình hồn nhiên” cho tôi nhớ lại trọn ven con đường Gia Long ngày xưa chạy dọc theo bờ sông Thạch Hãn.
Tứ thơ hay nhất trong khổ thơ nầy là tứ thơ “Mộng đời yên ả trong mùa chiến chinh”, một tứ thơ nghịch lý nhưng là sự thật mà ai cũng cảm nhận được nhưng không ai đưa vào thơ cả.
Cuối cùng nhà thơ nhấn mạnh lại bằng hai câu thơ vào bài để người đọc cảm nhận hoàn toàn nỗi nhớ thương triền miên nhưng êm ái trong lòng tác giả. Nỗi nhớ đó phát xuất từ tình yêu một quá khứ vàng son, hằng hữu trong tâm hồn, vĩnh viễn không quên:
Trời cho nắng, trời cho mưa,
Tôi cho tôi nhớ ..ngày xưa của mình
Mỗi lần nhìn ảnh Võ thị Nguyên ngồi trên chiếc xe lăn, chung quanh là hoa, chung quanh là bạn bè, người thân, đồng môn, đồng nghiệp, văn thi sĩ từ phương xa về thăm, lòng tôi lại nao nao như thấy một phụ nữ ngồi giữa “Vườn trong trẻo vô biên và quyến luyến” như Hàn Mạc Tử đã nói về người thơ vậy. Mà thật thế, thơ của Võ Thị Nguyên là tiếng thơ trong trẻo vô biên và quyến xuyến vì nó phát từ con tim quyến luyến, từ tâm hồn trong trẻo và từ sự vô biên của đất trời mà thành thơ. Thơ ấy chỉ có hương của hoa thiên nhiên, chỉ có vị của mật từ loài ong tinh khiết, và cho ta thụ hưởng thanh âm êm đềm qua tiếng thơ êm ái!!!
Châu Thạch

ĐỌC THƠ CỔ NHỚ NGƯỜI XƯA: LÝ THUỜNG KIỆT

Nguyên Lạc

ban dap lap

ĐỌC THƠ CỔ: NAM QUỐC SƠN HÀ
.
1. Bài cảm xúc 1

“Kẻ sĩ phương Nam ai đâu hở ?
Trực chỉ theo ta phận má đào
Biển Đông ngày hội non sông mở” [*]
Cùng giữ giang sơn hỡi đồng bào
.
1.
Kẻ sĩ phương Nam ở nơi nào?
Rượu bia bóng đá luận anh hào!
Khóc la mê đắm ca sĩ lạ!
Quên mất cha ông đổ máu đào!
.
Kẻ sĩ phương Nam ở nơi nào?
Tào lao ngất ngưởng hút thuốc lào!
Biệt phủ bồ đào quên nhiễu sự
Đâu biết ngư dân khổ thế nào!
.
2.
Kẻ sĩ phương Nam vẫn thét gào
Chỉ vào giặc Bắc nước của tao
Nghịch ý trời phân, bây dám phạm
Toi đời, tiêu mạng với dân tao
.
“Nam quốc sơn hà Nam đế cư
Tiệt nhiên định phận tại thiên thư
Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm
Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư” [**]
.………….
[*] Thơ Phạm Thanh Vân
[**] Nam quốc sơn hà – Lý Thường Kiệt
.
2. Bài cảm xúc 2
.
Khóc đợi bao năm mà trời chưa sáng!
Mù bấy nhiêu năm chưa thấy bình minh!
Buồn lòng thay thảm cảnh quê mình
Ai thục nữ anh hùng? Hãy cùng dựng xây đất nước!
.
Đừng ngồi đó gục đầu sướt mướt
Hãy xăn tay bồi đắp sơn hà
Hãy nhớ ơn xương máu ông cha
Quyểt giữ vẹn cơ đồ tiên tổ?
.
LÝ THUỜNG KIỆT

1. Tiểu sử:
Lý Thường Kiệt (1019 – 1105) là một nhà quân sự, nhà chính trị rất nổi tiếng vào thời nhà Lý nước Đại Việt. Ông làm quan qua ba triều Lý Thái Tông, Lý Thánh Tông, Lý Nhân Tông và đạt được nhiều thành tựu to lớn, khiến ông trở thành một trong hai danh tướng vĩ đại nhất nhà Lý:
Ông nổi bật với việc chinh phạt Chiêm Thành (1069), đánh phá 3 châu Khâm, Ung, Liêm nước Tống (1075-1076), rồi đánh bại cuộc xâm lược Đại Việt của quân Tống do Quách Quỳ, Triệu Tiết chỉ huy (1077). Ông đã làm tể tướng hai lần dưới thời Lý Nhân Tông và là một trong 3 người phụ chính khi vua này còn nhỏ tuổi. Năm 2013, Bộ Văn hóa, Thể và Du lịch liệt ông vào trong những 14 vị anh hùng dân tộc tiêu biểu nhất trong lịch sử Việt Nam.

2. Bài hịch/ thơ Nam Quốc Sơn Hà
Năm 1076, (tức đời Tống Hy Ninh năm thứ 9). Mùa xuân, tháng 3, nhà Tống sai viên tướng sừng sỏ Quách Quỳ đem quân sang xâm lấn nước ta; hợp với quân Chiêm Thành và Chân Lạp ba mặt giáp công.
Tại sông Như Nguyệt, Lý Thường Kiệt dùng một diệu kế: Ông kỷ lưỡng chọn một ngôi miếu vốn nổi tiếng linh thiêng, “đền thờ thần sông ” nằm ở phía nam sông Như Nguyệt – đền thờ hai vị anh hùng Trương Hát & Trương Hống, vốn là hai võ tướng dưới thời Triệu Quang Phục – đọc bài Hịch/ thơ “Nam Quốc Sơn Hà” – bài thơ đã được xem là tuyên ngôn độc lập đầu tiên của đất nước. Hơn một ngàn năm trôi qua bài thơ vẫn còn và sẽ còn tồn tại mãi, không bao giờ đi vào quên lãng trong hồn người Việt.
Thật là một diệu kế của một danh tướng. Trong thế trận tưởng đã nghiêng về phía quân Tống, bổng đảo chiều khi binh sĩ nghe bài thơ phát ra từ miếu thần.
.
” Một đêm quân sĩ chợt nghe ở trong đền của Trương tướng quân là thần sông Như nguyệt, có tiếng đọc to rằng:
Nam quốc sơn hà Nam đế cư
Tiệt nhiên phân định tại thiên thư
Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm?
Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư!
.
Dịch thơ:
(Núi sông nước Nam thì vua Nam ở
Cương giới đã ghi rành rành ở trong sách trời
Cớ sao lũ giặc bạo ngược kia dám tới xâm phạm?
Chúng bay hãy chờ xem, thế nào cũng chuốc lấy bại vong
Nam quốc sơn hà – Lý Thường Kiệt)
.
Khí thế quân Nam trở nên bừng bừng như có thần nhân hổ trợ, Tống quân bị tổn thất nặng nề. Quân Tống tiến thoái lưỡng nan từ dạo ấy. Lý Thường Kiệt đề nghị giảng hòa nhằm giảm sự khổ đau cho nhân dân. Quách Quỳ thấy kéo dài là sẽ thua nên thuận lui binh. ” [Theo Laiquangnam và Wikipedia]
.
Nhân đọc lại dòng thơ cổ yêu nước, tôi đốt 3 nén hương trầm để tưởng nhớ đến người xưa, đến công ơn của tiền nhân đã đổ ra biết bao xương máu để xây dựng và bảo vệ nước nhà.
.
Nguyên Lạc

ĐỌC THƠ CỔ NHỚ NGƯỜI XƯA: ĐẶNG DUNG

Nguyên Lạc

tranh 1=dang dung

Tranh của Trần Duy Thuận

ĐỌC THƠ CỔ: CẢM HOÀI
.
1. Bài cảm xúc 1
.
Phí chi bút mực anh hùng luận?
Ai người nước Việt hãy cùng ta
Nói chi cho lắm mòn chữ nghĩa?
Xăn áo cùng nhau giữ sơn hà!
.
“Quốc thù vị báo đầu tiên bạch,
Kỷ độ Long Tuyền đới nguyệt ma” *
“Đầu bạc giang san thù chưa trả” **
Mấy độ mài gươm dưới trăng tà
.
Ngàn năm vẫn nhớ lời thơ cổ
Rạng đấng hùng anh của nước nhà
Hoài Cảm Đặng Dung lời thê thiết
Nén trầm tôi kính … mắt lệ nhòa!
………..
* Câu thơ trong bài Cảm hoài – Đặng Dung
** Tản Đà dịch
.
2. Bài cảm xúc 2
.
“Quốc thù vị báo đầu tiên bạch,
Kỷ độ Long Tuyền đới nguyệt ma”
.
Dưới trăng mài kiếm Long Tuyền
Mài luôn cho bén lời nguyền nước non
Thề rằng quyết giữ vẹn toàn
Giang sơn gấm vóc mãi còn thiên thu
“Tiệt nhiên định phận thiên thư” +
Kiếm này ta chém giặc thù xâm lăng!
………
+ Nam Quốc Sơn Hà – Lý Thường Kiệt
.
PHÂN TÍCH HAI CHỮ ANH HÙNG

“Anh” trong “anh hùng’ có nghĩa là tốt đẹp, tài hoa hơn người, kiệt xuất, xuất chúng. Nghĩa gốc của chữ “anh” là loài hoa đẹp nhất.
Còn “hùng” trong “anh hùng” có nghĩa là người dũng mãnh tài giỏi, siêu quần, kiệt xuất
Anh hùng: Nhân vật phi phàm xuất chúng, chỉ người có kiến giải, tài năng siêu quần xuất chúng.
.
ĐỊNH NGHĨA ANH HÙNG
“Anh hùng là hành động của một người vì đại cuộc không xem sự sống chết của mình là quan trọng tuyệt đối, sống vì tha nhân, hy sinh vì dân tộc, cho dù có phải chết thì vui lòng đón nhận. Khi bàn đến hai từ “anh hùng” thì ý niệm thành công không nằm trong thuộc tính định nghĩa cho từ đó. Thử tra hai từ Heros trong các bộ Encyclopedia thì biết. Đông Tây đều định nghĩa như thế” (Laiquangnam)
.
LUẬN ANH HÙNG
Ta thử luận về vài nhân vật nổi tiếng được cho là anh hùng:
.
1. Kinh Kha
– Nhân vật Kinh Kha này ai cũng biết qua việc hành thích Tần Thủy Hoàng. Nhân vật này thường được nhiều người Việt nhắc đến, ca tụng trong nhiều bài văn thơ. Suy gẫm chuyện Kinh Kha, tôi thấy ông ta đâu phải là người anh hùng.
Nguyễn Du đã chê bai: Kinh Kha đi thích khách Tần Thủy Hoàng chỉ vì có người biết đến mình và vì sự đối đãi thừa mứa. Kinh Kha chỉ là một con rối, hành động không vì tấm lòng trung dũng (diệt kẻ tàn bạo, phò người đức độ), đâu có hy sinh vì dân tộc, mà hành động chỉ vì sự mua chuộc và kích động của người khác.
Đây là trích đoạn bài thơ chữ Hán của Nguyễn Du, phần chê bai Kinh Kha.
.
Thần dũng nghị nhiên duy độc quân.
Đồ đắc Điền Quang khinh nhất vẫn.
Khả liên vô cô Phàn Ô Kỳ,
Dĩ đầu tá nhân vô hoàn thì.
Nhất triêu uổng sát tam liệt sĩ,
Hàm Dương thiên tử chung nguy nguy.
(Kinh Kha Cố Lý– Thơ chữ Hán Nguyễn Du)
.
Dịch thơ
Liều thân chỉ vì kẻ biết mình,
Huống được Điền Quang tự đâm cổ.
Khá thương Phàn Kỳ chẳng tội chi.
Đem đầu cho mượn chẳng hoàn gì.
Một sớm chết oan ba liệt sĩ.
Hàm Dương, Thiên tử vẫn uy nghi.
(Nhất Uyên dịch)
.
Kinh Kha là nhân vật Tàu, người Tàu có ca tụng hay không là chuyện của họ; tại sao ta là người Việt mà lại ca tụng, vinh danh?!
– Anh hùng là như Đặng Dung của VIỆT NAM ta đây, ta hãy thử luận bàn về nhân vật này.
.
2. Đặng Dung
Đặng Dung (1373 – 1414) con trai của Đặng Tất. Ông là tướng lĩnh của vua Trùng Quang Trần Quý Khoáng – nhà Hậu Trần trong lịch sử Việt Nam.
Theo Đại Việt sử ký toàn thư:
Các vị anh hùng -dưới sự lãnh đạo của Đặng Dung đã đánh nhau ròng rã trên dưới bảy năm (1407-1413) với 80 vạn quân dân binh Minh do Trương Phụ đẫn đạo xâm lấn Việt Nam, một binh lực hơn hẳn mình nhiều lần
.
“Chuyện khó tin trong binh sử thế giới, trường hợp hy hữu này duy chỉ có trong quân sử Đại Việt. Khi vị tướng tư lệnh lại là cầm đầu toán người nhái cảm tử rất gọn nhẹ đánh thẳng vào sào huyệt kẻ tử thù. Tháng 8/1413, được biết quân Trương Phụ vào đến Thuận Hóa, và kéo binh tập kết vào ngã ba sông này để tổ chức cuộc săn đuổi vua quan Hậu Trần đang đóng quân ở trên bờ; quan thái phó Nguyễn Súy và quan đại tư mã Đặng Dung nửa đêm chia quân đến đánh Trương Phụ. Quan thái phó Nguyễn Súy dùng thuyền nhẹ đánh nghi binh, giặc Minh trào về phía Nguyễn Suý, và thừa lúc đó Quan tư mã Đặng Dung lao mình xuống nước trước, hơn mươi chiến sĩ cảm tử quân lao theo sau. Họ bơi nhanh về phía thuyền lớn nhất, sáng nhất trên sông. Từ dấu hiệu của Đặng Dung, bọn họ leo lên được thuyền của Trương Phụ, dùng đoản đao thịt lẹ các tên lính trên sàn. Họ nhào vào tên mập mạp nhất, phương phi nhất và đã bắt sống tên này, lôi y xuống nước. Y la lên. Do vì không biết thường ngày tên Trương Phụ mặc quần áo gì, do chưa thấy mặt kẻ thù lần nào, nên họ đã bắt lầm. Thừa cơ Trương Phụ lập tức nhảy xuống sông lấy cái thuyền con mà chạy thoát.”(Laiquangnam)
Đánh nhau ròng rã trên dưới bảy năm (1407-1413) với một binh lực hơn hẳn mình, có lúc quân đội Đặng Dung cũng đã thắng nhiều trận lẫy lừng, nhưng dài hơi thì cuộc đọ sức đã không cân sức. Than ôi! ông đã bại trận! Trên đường bị bắt đưa về Yên Kinh ( Bắc Kinh ngày nay) để làm nhục, vua tôi Đặng Dung đã ca hát như không có chuyện gì xảy ra, thắng bại là lẽ thường tình đối với người tráng sĩ một khi họ đã toàn tâm toàn ý, hết lòng, hết sức vì dân tộc. Đặng Dung, trong vai trò lãnh đạo cuộc kháng chiến, đã ngâm cho vua tôi nghe bài thơ Cảm Hoài này, vừa ngâm vừa gõ nhịp xuống ván gỗ thuyền, cùng vui và sẵn sàng đón nhận mọi sự trả thù tàn bạo của kẻ thù. Trên đường bị giải về Yên Kinh, Trung Quốc ông và vua Trùng Quang đã nhảy xuống sông tự vẫn.
Qua các điều trên, rõ ràng ta thấy Đặng Dung mới xứng đáng hai chữ anh hùng
.
3. Bài thơ Cảm Hoài
Đây là bài thơ Cảm Hoài (Nỗi niềm hoài bão) của Đặng Dung.
Bài thơ này là một bản anh hùng ca mang tâm trạng về thế sự, trong ấy thể hiện rõ phong cách của người tráng sĩ, người anh hùng trong cơn quốc nạn. Lý Tử Tấn, một học giả thời Lê, tác giả Chuyết Am văn tập, khi đọc bài thơ này đã hết lời ca tụng người sáng tác ra nó là “phi hào kiệt chi sĩ bất năng” (không phải là kẻ sĩ hào kiệt thì không thể sáng tác được như vậy).
.
Cảm Hoài
.
Thế sự du du nại lão hà
Vô cùng thiên địa nhập hàm ca
Thời lai đồ điếu thành công dị
Vận khứ anh hùng ẩm hận đa
Trí chúa hữu hoài phù địa trục
Tẩy binh vô lộ vãn thiên hà
Quốc thù vị báo đầu tiên bạch
Kỷ độ Long Tuyền đái nguyệt ma.
.
Tạm dịch nghĩa:

Nối Niềm Hoài Bảo

Thế sự mang mang lại tuổi già
Thiên hạ thì vô cùng hãy nhập vào mà hát hàm ca
Thời đến bọn đồ tể, bọn câu cá cũng thành công dễ dàng
Thời qua anh hùng cũng đành nuốt hận
Hết lòng vì chúa có hoài bão xoay trục đất
Rửa giáp binh không lối kéo ngược dòng sông ngân hà
Thù nước chưa báo thì đầu bạc trước
Bao thời qua đội trăng mà mài kiếm long tuyền.
.
Vua Lê Thánh Tôn có tặng cho dòng dõi họ Đặng hai câu thơ:
Quốc sĩ vô song, song quốc sĩ
Anh hùng bất nhị, nhị anh hùng
.
Nhân đọc lại dòng thơ cổ yêu nước, tôi đốt 3 nén hương trầm để tưởng nhớ đến người xưa, đến công ơn của tiền nhân đã đổ ra biết bao xương máu để xây dựng và bảo vệ nước nhà.
.
Nguyên Lạc
…………….
@ Mờii đọc :
– Đặng Dung với Cảm Hoài, phần 1
http://www.art2all.net/tho/laiquangnam/lqn_dangdung_p1.htm
– Niệm Đặng Dung của Phạm Ngọc Lư
http://www.art2all.net/chantran/chantran_tho/phamngoclu/niemdangdung.html

BÍ TRUYỀN CỦA THIỀN

VÕ CÔNG LIÊM

vcl thieu nua toc ngan

Tranh Vẽ Võ Công Liêm: Thiếu Nữ Tóc Ngắn / Young girl with Short Hair’

 

‘Một ngày nào có kẻ như ta nhưng không phải là ta’
(Cổ Đàm Phật Thích Ca)

Nhu cầu trí tuệ không bao giờ ngưng nghỉ. Quả vậy; với một kinh nghiệm nhỏ nhoi thì chắc chắn kinh nghiệm này không thể bao quát mà nhìn thấy trí tuệ của con người và quan sát vào đó để làm thế nào phát hiện những điều mới lạ, hữu ích đối với người tu tập về Thiền. Đây là một tác động mới và khai phá một tư duy mới, tìm hiểu một cách chính xác về cái ‘đạo’ mà không đi qua một sự tôi luyện công phu mà gần như một chủ động ở chính mình và tự kiểm soát ở chính mình. Cái sự cớ này thường hay xẩy ra khi đứng trước ngưỡng cửa của Thiền và cứ thế mà giao động tâm tư như một câu hỏi rằng mình đã ‘chứng ngộ’ để đi vào Thiền hay giữa trạng huống đó đã làm mê hoặc và kinh ngạc trước đối tượng tu tập về Thiền. Rứa thì trong Thiền có gì huyền nhiệm về nó –The Mystery of Zen để đạt tới chân truyền?
Dữ kiện này đã đưa con người tới một nhận thức cho một quyết định dứt khoát trước hoàn cảnh dấn thân; cái đó là tầm nhìn vào thời gian và không gian, là thiết thực quan trọng của việc làm (hành động) với một hiệu năng đặc biệt hơn. Bí truyền về Thiền khởi động từ công án, từ kinh điển hoặc từ kệ để nhập Thiền? Không! nhập Thiền là tuệ giác, là đi tới chân như tánh không; nghĩa là vượt thoát nhập vào vũ trụ như nhiên tức đi vào cõi tịnh để nhập định không còn thấy mình giữa ngoại giới và nội giới; nhờ đó mới có một nhận thức nhất quán về Thiền.Tâm như trong bóng không còn vướng dù là hạt bụi. Cái đó là bí truyền. Cho một thí dụ khác trong cách xử thế về Thiền : một thức giả sống ở Nhật học tập về cách xử dụng cung tên, kiếm thuật thời làm thế nào để luyện trí mà trong cách hành xử có thể cho ông ta hiểu được bí truyền giáo điều của Thiền qua từng giáo phái Thiền Phật giáo –To understand the esoteric doctrines of the Zen sect of Buddhisms. Chính cái đó là thâm hậu cho một tư tưởng nhập cuộc; cho nên chi nói đến Thiền là cả công phu về trí và thân cả hai cơ cấu hữu cơ đó là vận hành cho việc nhập thiền một cách rốt ráo. Đúng như rứa; vì những gì của Thiền là những gì xa lạ đến với đời sống chúng ta và đó cũng là điều mà chúng ta muốn biết tới và nhất là ở Nhật việc tu tập Thiền không còn là cái đạo mà là nghệ thuật (Zen in the Art). Thiền Phật giáo không những chỉ tìm thấy những gì huyền nhiệm trong kinh điển, đặc biệt ở Đông phương mà còn là một giáo phái khai mở trí tuệ tới đỉnh cao, một khám phá mới và chắc chắn là một trong những phép tu tập khó khăn để đạt đến. Một lý thuyết không thể trải rộng để phân tích lý sự có dính líu tới trí tuệ, sự kiện đó thường là một tương quan bình thường giữa sư và đệ tử là việc giản đơn không có chi xa lạ đối với giáo phái, bởi; thiền sư cảm thấy vô dụng để giải thích từng giai đoạn một và biện minh về những gì có thể thông đạt được qua từng giáo lý. Cái gọi là bí truyền Thiền ngay cả người tu tập cũng đã thấy được cái huyền nhiệm bao la vi diệu của Thiền. Bí truyền của Thiền là học về những gì nghệ thuật tu tập là nói lên những gì về nó. Tức là cảm thức được Thiền. Cảm thức đó không bao giờ dừng lại trước một hiện hữu vật thể. Con cóc nhảy vào bờ ao là con cóc nghe và nhận được tiếng động của sóng nước trong tĩnh lặng. Người tu Thiền và con cóc là một cảm thức dự cuộc đồng hóa. Đứng trước hoàn cảnh này cho ta một ý niệm về cái chân như Thiền; bất kể là giáo phái nào nhập thiền là ‘Phá’ và ‘Chuyển’; cho nên chi Thiền đi vào thanh tịnh là ở chỗ đó. Thật ra Tổ sư Thiền (Zen Master) không lấy Pháp để truyền đạt mà phải thấy được Tánh trước khi nói đến Thiền, bởi; đốn được thiền không phải đi qua giáo điều mà nhìn vào thiền như thực chứng thời mới ngộ được thiền: ‘Nhất thiết tu đa la giáo như tiêu nguyệt chỉ’ tất cả giáo điều chỉ là ngón tay chỉ trăng. (Kinh Viên Giác). Nói như rứa Thiền không phải là ‘đạo’?-Thiền không có kinh điển để rao giảng, Thiền là một trong những thứ nghệ thuật vĩ đại trong cuộc sống. Có lẽ vĩ đại nhất mà không học qua một ai. Thiền không môn đăng hộ đối. Thiền đến bất cứ lúc nào, thời nào Thiền cần có. Đạo của Thiền là không có khởi đầu và không có kết thúc. Càng đi sâu vào Thiền càng thấy bí tỉ để rồi trở nên phán đoán qua giòng ý thức (the irrational functions of consciousness) nghĩa là dựa trên cảm quan (sens du reel). Rứa cho nên chi thấy được Thiền tức chấp nhận với Thiền cái nghịch lý của nó: ‘Một trong Tất Cả và Tất Cả là Một’ là trạng huống hoàn toàn mang tính xúc cảm. Cái quan trọng trong bí truyền Thiền là Tuệ-giác (Prajnã chữ của Sanskrit) ngoài ra chả tìm thấy gì trong cửa Khổng sân Trình mà chỉ thấy cửa Không của Thiền là tuệ-giác tức là Ngộ (Satori chữ của Nhật).Theo nghĩa Phạn ngữ còn có tính chất không sợ không than oán ‘sans peur et sans re-proche’. Nhưng nhớ cho phân biệt giữa cái này với cái kia, giữa tốt và xấu, giữa giữa là chấp trượt vì chấp trượt là phá luật Thiền thêm phiền não thì không thể định-thiền (meditation). Đòi hỏi của Thiền là Ngộ để thức tỉnh, khống chế cái vô thức để có hữu thức. Bí truyền của Thiền là chứa đựng những gì thuộc về phân tâm học (Freud và Jung) những vấn đề tâm thức tâm lý cấu tạo nên vô thức chuyển sang ý thức là mục tiêu thuộc tâm thức của Thiền. Tổ sư Thiền chỉ rao giảng hầu hướng tới tâm bình đẳng và ám chỉ sự việc ở tận thâm cung của giáo điều, của kinh kệ Thiền Phật giáo mà thôi, chớ không ngoài một mục đích nào khác hơn. Nhờ đó người ta hiểu được giá trị tối thượng của giáo điều không riêng về mặt luân lý đạo đức nhưng đưa con người đi vào hiện hữu. Trong bất cứ định hướng nào đều có chứa bí truyền của Thiền –Any rate had solved the mystery of Zen. Giáo điều của Thiền không thể nào phân tích từ cái-không; mà nó phải sống thực –The doctrine of Zen cannot be analyzed from without: it must be lived. Nhưng cho dù điều đó không thể phân tích được, Thiền xử dụng ám ngữ để giải thích mà thường bắt gặp ở công án hay trong đối đáp mà ra. Nói bóng gió chính là tín điều cho chúng ta nhận thức về một duy lý thích thú và thiết thực hơn là rao giảng luật tắc. Như đã nói ở trên bí truyền của Thiền là vượt thoát, là thức tỉnh để không còn luẩn quẩn, vu vơ mà làm hư hại cho một tâm thức nhận biết về những gì thanh cao diệu vợi, trong sáng giữa tâm và thân. Người tu Thiền với trọng tâm là giải thoát để đi tới toàn thiện tính năng. Tuy nhiên hướng tới Thiền thời bắt gặp những kỳ bí, những gì không nhận biết một cách đặc biệt và cũng chưa hẳn để phải quên. Gom lại với nhau; Thiền đưa dẫn chúng ta hướng tới lẽ sống của cuộc đời là nhìn đời một cách như nhiên, thế nhưng; trong Thiền vẫn có một sự mê hoặc sâu lắng và chứa đựng một vài giá trị riêng biệt mà chúng ta phải quan tâm đến nó. Nguyên nghĩa của Thiền là trầm tư. Một tư duy chính của giáo phái Phật giáo. Ngần ấy thôi; nhưng chắc chắn nó có một giá trị độc nhất và một tinh thần cao đẹp. Bởi; nó đã phát sinh ra một chất lượng nghệ thuật cao, khác biệt hơn mọi khác biệt, nhất là bộ môn hội họa; vì vẽ là trầm tư với hình tượng –To paint is to meditate upon forms trong thể chủ động thuộc trí tuệ để nhìn thấy được sự vật của ngoại giới thời mới du nhập vào nội giới (là phát tiết, là sáng tạo trong tư duy bừng sáng). Lối nhận thức của thiền và lối nhận thức của người họa sĩ là một. Răng rứa? –Là cái nhìn trực chỉ chân tâm, có thể nói đó là cái-bên-trong. Nói theo Suzuki là trạng huống vô thức, một thứ vô-thức-vũ-trụ. Một vô thức đồng hóa chân thành của người nghệ sĩ. Vô thức theo nghĩa Thiền là cái huyền nhiệm, cái ‘vô tri’ siêu lý chính vì thế có tính cách phi-khoa-học hay còn gọi là tiền-khoa-học là đòi hỏi một sự tôi luyện ý thức. Vô thức của họa sĩ là Cảm: là nền tảng dựng nên hiện thể trước mắt. Cái thấy chưa phải là đủ để nhận biết, người họa sĩ phải sống bằng tâm thật trong đời mình đang sống…Nhiều lúc cho người họa sĩ là vị-ngã. Thứ vị-ngã không nắm bắt được, cái thứ bất-khả-đắc ‘anupalabdha’(Phạn ngữ).Ngã vừa đức lý và tâm lý. Nếu chúng ta biết một vài điều về Phật giáo thời chúng ta có thể nói rằng Thiền đến gần với những giáo phái khác. Tuy nhiên; có một vài điều lệch lạc trong cuộc sống của Thiền nghĩa là có một năng lực tác động về hành xử, có một cái gì gay go hoặc mơ hồ, lộn xộn như vồ chụp mà trên thực tế cần phải tránh xa, có một vài điều giống như bỡn cợt…Trong cảm thức này; tĩnh lự / meditation không có nghĩa là những gì chúng ta thường nghĩ tới cho những nhà tư tưởng là trầm lắng để mới có những phân tích hiện thực, một cái gì bao che cho tôn giáo và đạo đức. Có nghĩa là một vài điều không thể phân chia, nhưng cho tất cả. Không có hệ thống, nhưng có tổ chức. Không dài dòng văn tự (long-drawn-out), nhưng tức thì. Có nghĩa rằng những thứ đó gần giống như từ ngữ mà ta gọi là ‘tri giác / intuition’ và ‘nhận thức / realization’. Cũng có nghĩa là con đường của cuộc đời mà trong đó không có một phân đoạn luận giữa tư duy và hành động; không còn là vực thẳm của đau khổ; như vậy cho ta hiểu biết tất cả những gì thuộc về của chúng ta, giữa trí tuệ vô thức và hữu thức và không còn phân biệt tuyệt đối giữa ngã thức và vũ trụ bên ngoài dù cho giữa những khác biệt từng phần của vũ trụ vô cùng và những gì thuộc vế tất cả. Sự quan hệ của sư và đệ tử rất quan trọng, gần như thiêng liêng; nhất là ở Viễn Đông, và; đệ tử khó lòng nghĩ đến việc rời xa sư hoặc thể hiện thái độ qua những phương thức của sư đưa ra. Tuy vậy; ở đây vẫn xem là việc phi thường mà đệ tử tuồng như nhận ra được. Những môn sinh trẻ tuổi không ở đối tượng hiện thể để có một trí tuệ bừng dậy, một ý thức khôn khéo (wisdom) để đối đáp một cách tức thời mà đưa vào hành động phục dịch để có ý niệm nhận thức giữa tâm và thức ở chính mình: bửa củi, lặt rau, gánh nước, quét sân, nấu ăn… là huấn nhục để thêm nghị lực kiên nhẫn, chịu đựng để về sau đưa lần vào khuôn phép. Đại sư thỏa thuận nhận lãnh nhưng vẫn giữ vai trò của cái-không(without) là đưa ra cái vỏ kiếm mà không có thanh kiếm. Thói tính trở lại như trước; ngoại trừ một đôi khi sư có thể đánh vào người tu sĩ trẻ bằng cây khẻ, bất luận khi nào trong lúc phục dịch, đánh khẻ là phương thức cảnh giác là thức tỉnh để trở về với hiện thực; không cần biết đệ tử đang nghĩ gì. Cái lối tu thiền từ hành động đến lời nói đều chứa một bí tích không thể giải được, hiểu được, nhận được mà đòi hỏi của Thiền là ý thức; tức quán triệt là Ngộ ở thân tâm. Linh hồn Thiền phái xưa nay đều duy trì một cái ‘ngông’ của đạo lý như giáo điều. Đó là cái khó tu tập bí truyền của Thiền. Nhớ cho: đòi hỏi của Thiền là phá chấp mọi hạnh nguyện lợi để đi tới chân-như-tánh-không.

Tĩnh lự Thiền không có nghĩa là tọa thiền và trầm tư –Zen meditation does not mean sitting and thinking. Trái lại; Thiền có nghĩa là Hành và Suy (luận). Thí dụ: Kiếm sư dạy cho môn sinh biết cách ngăn ngừa để chống trả bằng lực và trí trong khi bị tấn công bất ngờ; tức thời phải biết vận dụng trí năng với một bản năng tự vệ; kiếm khách phải có đôi mí mắt khép hờ như chận đứng đôi mắt đối phương trong cái thế đe dọa để chống trả. Đưa ra cái thí dụ như rứa nghe qua không có chi để lãnh hội hay tư duy cả. Nhưng; giữa lúc ấy thầy và trò đang truyền ‘y bát’ cho nhau bằng nội lực chớ không bằng kiếm thuật, có nghĩa là biết vận dụng hoàn cảnh để thích nghi hoàn cảnh chính cái đó là thâm hậu của Thiền. Cái bí truyền của Thiền là truyền đạt để đi tới chân-như-tánh-không. Siêu lý của Thiền Phật giáo qui tụ cái tinh anh trong đó; ‘Thiền đã tôi thế đấy’ hoặc ‘Zarathustra đã thốt thế đấy’ là cốt tủy của đạo Phật. Ngần ấy thôi mà có một sức chứa vĩ đại. Việc làm của sư là hướng tới cứu cánh với mục đích đánh đổ bức tường giữa tư tưởng và hành động: là ở cái lúc làm tan chảy một thân tâm bùng nổ, một cảm thức nhen nhúm và một trí tuệ bại hoại có như vậy mới hoàn tất một cách bén nhạy và thấu đạt chất Thiền. Bí truyền Thiền là làm cho người ta hiểu đến Thiền. Răng rứa? ‘giáo ngoại biệt truyền’ chớ có chi mô mà chất vấn, lộn xộn, hùm-bà-lằn !
Trở lại cái chất Thiền ; nơi chứa chấp tiềm ẩn qua vấn đáp, hành động. Tất cả qui tụ trong một trạng thái tỉnh ngộ nghĩa là không động để tâm tĩnh trước hoàn cảnh. Dù là ‘phiến động’ chăng nữa. Trong biên niên Thiền có nhiều câu trả lời đột xuất, tối nghĩa là để chấm hết câu hỏi đưa ra. Thí dụ: Có người học trò hỏi đại sư; ‘Phật là gì?’ Sư trả lời: ‘Tên trò là Cu Cương’ hoặc giữa sư với sư vấn đáp: ‘Ngay cả họa sĩ không thể vẽ chính nó’ Sư kia trả lời: ‘Vô nghĩa ’. Rồi lại nói: ‘Cái miệng là khẩu nghiệp’. Chuyện khác: Môn đệ hỏi đại sư: ‘Con chó có Phật tính không?’ Đại sư trả lời: ‘Gâu! Gâu!’. Thì đó là những gì chính con chó có thể nói được. Sự cố đó giờ đây coi như chỉ trích để tấn công Thiền, bởi; những gì nói ra là tín điều của sơ khai, thô thiểm hoặc là loài dã thú. Nghe không có chi là mệnh lệnh hay tín điều; mà tợ như hư-không. Bí truyền của Thiền là rứa đó; có đó mà không có đó. Bất-Nhị-Pháp (Advaya) nghĩa là không phải Có tuyệt đối mà chẳng phải Không tuyệt đối. Rứa thì răng đây? -Có chi mô! vì; tất cả là ‘dịch’ là ‘phi ngã’nghĩa là Có ta đó và Không có ta đó ‘moi et non-moi’. Hay Thiền muốn chơi chữ để bỡn cợt thế gian? Không;Thiền trung thực cho một tâm-như; thiền biết tự-tánh (le soi) thì biết được tất cả là phương tiện độc nhất để giải thoát. Thiền xử dụng ‘ngông’ và ‘bỡn cợt’ cốt để thức tỉnh. Xem câu này có dính chất Thiền không đây: ‘ngựa trắng không phải là ngựa’ (Công Tôn Long. Tư tưởng gia Trung Hoa). Rứa thì con gì?
Đích thực của Thiền có thể là một sự từ chối khéo –The adherents of Zen deny that; mà dựa vào ‘tự giác, giác tha’ hoặc có thể có nhiều điều mà họ phớt lờ cái sự lý bắt bẻ hoặc làm ra cái dấu hiệu bí ẩn mà ý nghĩa đó chỉ là cái điều vô nghĩa –Or more probably they would ignore the criticism, or make some crytic remark which meant that it was pointless. Thiền có một cõi riêng trong thâm cung bí sử của cô đơn, vắng lặng. Cứu cánh của Thiền là dạy cho chúng ta sống, như một phương cách cuối cùng, chúng ta hành động để tất cả phải có một cuộc sống; cho mình ‘ên’. Có nhiều lời chỉ trích nguy hại cho Thiền; có thể đó là hư-không hoặc có thể mục đích của nó là thủ tiêu tất cả những ý nghĩ khác cùng đến một lúc. Thật khó lòng để chứng minh thực hư một cách trọn vẹn, bởi; với tất cả chủ thuyết của Phật giáo là –Hư-Không /Nothingness. Và; nhớ cho những gì đại sư Thiền nói thật sự là như-không (nihilistic). Vũ Hán hỏi Đạt-Ma: ‘Cái gì là cơ bản tối hậu và cái gì là linh thiêng chính yếu nơi cửa Phật’ Đạt-Ma trả lời:‘Một sự trống rỗng vĩ đại và chẳng có thánh ý gì trong đó cả’.–The emperor asked: ‘what was the ultimate and hollies principle of Buddhism’ Bodhidharma replied: ‘Vast emptiness, and nothing holy in it’.Mục đích hay phương tiện thiện xảo đối với Thiền là tiêu diệt, đó là cách suy tư và thay thế; vô thức là có thể đi đến cái chết, nhưng hữu thức thì điều đó không còn phân tích, lý giải nhưng kinh nghiệm sống là ‘trực chỉ nhân tâm’. Dù là luật tắc qui định cho người cầu nguyện; ở đây: không kinh điển, không lễ nghi, không tôn thờ, không nơi đến và đi cho kiếp sau. Thiền là một tôn giáo triết học. Jung (tâm sinh lý gia) ghi nhận Thiền có mục đích, cứu cánh của nó, phát sinh một thứ tôn giáo đối đáp, một chuyển thể. Jung nói: ‘chuyển thể là tiến trình không thể so sánh để đánh giá với sự hiểu biết trí tuệ’(The transformation process is incommensurable with intellect). Dẫu là gì; Thiền luôn luôn là tác động lợi ích nhưng lại thường ‘ốm đau’ trong cô đơn. Thiền lặng trong thanh thản tâm hồn.Thiền giác ngộ để giải thoát mang lại một cảm thức tuyệt đối. Thiền là nguồn sáng bao la diệu vợi. Nhưng Thiền là trạng huống không thể giải bày một cách rõ nét.Trong Thiền Phật giáo thường vặn những lời vấn đáp hóc búa, nghịch lý. Răng rứa; với mục đích gì cho lối tu Thiền? -Thức tỉnh. Cứu cánh gì? -Đi tới chân-không. Là phương tiện thiện xảo của Thiền ./.

VÕ CÔNG LIÊM (ca.ab.yyc. 1/7/2015)

SÁCH ĐỌC:
– ‘Zen Buddhism and Psychoanalysis’ by D.T. Suzuki, Erich Fromm & R. De Martino. George Allen & Unwin.1973.
– ‘Great Works of Philosophy’ by Robert Paul Wolff. New American Library. USA and CANADA. 1969.

NHƯ MỘT BÀI TẬP LÀM VĂN

Thư viện của bài

This gallery contains 1 photo.

NHƯ MỘT BÀI TẬP LÀM VĂN
THƠ TRẦN VẤN LỆ

*

“Như một bài tập làm văn” là bài thơ sáng tác gần đây của nhà thơ Trần Vấn Lệ.

Thơ 5 chữ, cuốn hút người đọc ngay từ những câu thơ đầu:

“Gió không chừa ngọn cỏ

Mưa không chừa lá nào”

Tả thực mà tinh tế, nhiều gợi cảm. Chữ không thừa không thiếu, vừa đủ để người đọc “cảm thấy”, “nhìn thấy” trận mưa quét rát rạt đang diễn ra trước mắt.

Câu: “Mưa gió rung rinh rào” làm nặng thêm sức lạnh của gió mưa, khiến người đọc gai người rùng mình với cảm giác cô đơn trước khung cảnh hoang vắng, lạnh lẽo của chiều mưa gió.

Câu: “Hoa đào còn, rụng hết…” ngắt thành nhịp 3/2 với dấu chấm lửng ở cuối câu khiến dư âm buồn của trận mưa quét đã tàn phá cảnh vật thêm u ám, xót xa.

Không gian và thời gian càng lạnh lẽo và hoang vắng khi nhà thơ đặt “Người đưa thư, một mình” giữa “Rộng mênh mông phố xá”, nhất là cách ngắt câu ở “Người đưa thư, một mình” thành 2 vế để tăng thêm sự cô tịch và đẩy sự hoang vắng lạnh lẽo của phố xá chiều mưa nhuốm thêm u buồn sang nỗi lòng của người thơ.

Từ “làm” cố ý lặp lại ở câu: “Làm việc và làm thinh” chủ ý để nhấn mạnh hình ảnh lẻ loi nhưng cần mẫn, trách nhiệm với công việc trong suy nghĩ, hành động của người đưa thư.

“Cái bóng hình” người đưa thư “quen thuộc!” được Trần Vấn Lệ vẽ tiếp bằng những câu chữ bình dị, đời thường mà thật ấn tượng: Tiếp tục đọc

MỘT SỐ CÁCH ỨNG PHÓ VỚI TẬT XẤU CỦA CẤP DƯỚI

Thư viện của bài

This gallery contains 1 photo.

Một tổ chức (doanh nghiệp) làm ăn có hiệu quả cần phải có sự tâm đầu ý hợp từ trên xuống dưới. Nhân viên có tinh thần vững vàng, tư tưởng tập trung mọi khả năng để làm việc. Bên cạnh đó, người lãnh đạo nên có một đường lối khôn khéo điều hành, chỉ đạo có hiệu quả. Tuy nhiên, dù có khôn khéo đến mấy cũng không tránh khỏi những phần tử cố ý chống đối. Sau đây, chúng tôi xin đưa ra một số tình huống và cách đối phó để các bạn tham khảo.
1. Khi cấp dưới cố tình trì hoãn, không làm việc.
Biểu hiện rõ ràng là khi cấp trên ra chỉ thị, mệnh lệnh, cấp dưới cố tình trĩ hoãn công việc, nếu có làm việc anh ta cũng tỏ ra thờ ơ không tha thiết với tình trạng tốt xấu của công việc. Có khi, họ là người sống không có lập trường, cách sống không dứt khoát; lúc thế này, lúc thế khác nên rất hay chạy theo bè nhóm. Ngoài ra, họ còn lạm dụng quyền thế của cấp trên để có hành vi chống đối lại cấp trên.
Là một lãnh đạo, bạn phải làm gì với trường hợp như thế? Tốt nhất bạn nên tìm cách tiếp xúc, gặp gỡ họ để tìm lý do chống đối. Nếu nguyên nhân do sự lãnh đạo của mình, bạn phải thẳng thắn tự sửa sai, càng sớm càng tốt. Bạn không nên gây áp lực, bạo lực. Điều đó rất dễ gây nên sự chống đối chung, làm mất lòng cả tập thể nhân viên và sẽ bị cả tập thể nhân viên chống lại. Tiếp tục đọc

MÙA ĐÔNG SẼ DÀI: LONG SERA D’HIVER

Nguyên Lạc

snow

PAUL MAURIAT

Bản nhạc “Long sera l´hiver” được sáng tác bởi nhạc sĩ Jacques Plante và Claude Carrère 1968, được ca sĩ Sheila thâu vào dĩa lần đầu, sắp xếp và dàn dựng bởi Paul Mauriat.
Vài hàng về Paul Mauriat:
Paul Julien André Mauriat nhà soạn nhạc kiêm nhạc trưởng dàn nhạc Le Grand Orchestre de Paul Mauriat. Ông là người Pháp. Những bản hit nổi tiếng như Love is Blue, El Bimbo, Toccata, Penelope…
Paul Mauriat và một số nhạc sĩ khác cổ động cho phong trào nhạc nhẹ – the easy listening – ai nghe cũng hiểu và cảm được, khác với nhạc cổ điển – muốn thưởng thức nhạc cổ điển cần phải có “căn bản” kiến thức âm nhạc tối thiểu.
.
BẢN NHẠC LONG SERA D’HIVER

Bản nhạc “Long sera l´hiver”, rất phổ biến thập niên 60 -70, tình cờ tôi được nghe lại và rất thích nên muốn chuyển dịch lời nhạc thành thơ, chia sẻ cùng các bạn.
Đây là đường link dẫn tới bản nhạc “Long sera l´hiver”:
Không lời:
https://youtu.be/2tBIArfBcH8
Có lời:
Sheila – Long Sera L’Hiver
https://youtu.be/ampKesGS5B8
Bài hát rất hay, tôi xin ghi ra nguyên văn bài hát – tiếng Pháp, cùng lời dịch tiếng Anh và sẵn dịp tôi phóng dịch ra thơ tiếng Việt:

1. Nguyên tác – lời nhạc Pháp
.
Long sera d’hiver
.
Long sera l´hiver, my love!
Tu n´es plus près de moi
Je me sens si seule
Dans la neige et le froid
.
Long sera l´hiver, my love!
Le monde est sans pitié
Pour tous ceux qui s´aiment
Et qui sont séparés
.
Et la Terre toute entière
Ne courbe les roseaux
Que c´est triste, un ciel gris
Sans aucun chant d´oiseau
.
Oui, j’ai tant besoin de toi
Oui, car je m’ennuie sans toi
Ici, où tout est sombre et désert
.
Long sera l’hiver, my love!
Mais je me suis jurée
Qu’au premier soleil
J’irai te retrouver
.
Ni les mers, ni les terres
Ne pourront m’arrêter,
De frontière en frontière
Vers toi, je m’en irai
Et tu ouvriras les bras
Oui, et tu me garderas, là-bas
.
Long sera l’hiver, my love!
Et tu ouvriras les bras
Oui, et tu me garderas, là-bas
Long sera l’hiver mais nous aurons gagné
De rester ensemble pour l’éternité
.
Long sera l’hiver, my love!
.
2. Phóng dịch thành thơ lời Việt

Tôi tạm phóng dịch thành thơ lời Việt như sau:
.
Mùa đông sẽ dài
.
Mùa Đông sẽ dài em ơi
Em không còn ở bên tôi
Đơn côi anh đang đơn côi
Bên trời buốt lạnh tuyết rơi
.
Mùa đông sẽ dài em ơi
Tàn nhẫn, tàn nhẫn cuộc đời
Sao buộc người thương yêu nhau
Chịu cảnh ly biệt xa rời?
.
Tuyết đừng phủ cong lau lách
Buồn lắm xám thẫm bầu trời
Buồn lắm không tiếng chim hót
Khắp cùng trái đất người ơi!
.
Rất cần em cạnh bên tôi
Mọi thứ không em chán rồi
Nơi đây tối tăm vắng vẻ
Nhưng tôi tự thề tôi sẽ
Tìm em khi trời vừa lên
.
Biển cả núi đồi biên giới
Không đâu ngăn cản được tôi
Và em sẽ rộng vòng tay
Ôm tròn giữ tôi ở đó
.
Mùa Đông sẽ dài em ơi
Và em sẽ rộng vòng tay
Em trọn giữ tôi ở đó
Mùa đông sẽ dài chắc thế
Nhưng sao thắng được chúng ta
Mãi bên nhau chẳng lìa xa
.
Mùa Đông sẽ dài em ơi
.
LỜI KẾT
Long will be Winter/ Long sera l´hiver tôi dịch là “Mùa đông sẽ dài”, nếu các bạn nào thích dịch thành “Lâu quá sẽ thành mùa Đông” thì tùy. Tuy nhiên, hãy nhớ rằng: Ta đừng để như vậy, hãy “hâm nóng tình” lên nha bạn hiền!
Chúc hạnh phúc.
.
Nguyên Lạc
………………
@. Phụ lục:

1. Bản nhạc chuyến dịch lời Anh

Long will be Winter
.
Long will be winter, my love!
You’re not near me anymore.
I feel so alone
In the snow and cold
.
Long will be winter, my love!
The world is merciless
For all those who love
And that are separated
.
And the whole Earth
Do not bend the reeds
How sad, a grey sky
Without any bird song
.
Yes, I need you so much.
Yes, because I’m bored without you
Here, where everything is dark and deserted
.
Long will be winter, my love!
But I swore
That at the first sun
I will find you
.
Neither the seas nor the lands
Can’t stop me,
From border to border
To you, I will go
And you will open your arms
Yes, and you will keep me there
.
Long will be winter, my love!
And you will open your arms
Yes, and you will keep me there
Long will be winter but we will have won
To stay together for eternity
.
Long will be winter, my love!
.
2. Vài hàng về nhạc EASY LISTENING
Nhạc cổ điến hầu như “thống trị” suốt thế kỹ 17,18,19 phương Tây, muốn thưởng thức nhạc này cần phải có “căn bản” kiến thức âm nhạc tối thiểu. Hình như chúng dành cho tầng lớp ” thượng lưu trí thức”, “trưởng giả”.
Paul Mauriat, Franck Pourcel và một số nhạc sĩ khác là những người đầu tiên khởi xướng về loại nhạc nhẹ êm dịu – the easy listening, ai nghe cũng hiểu và cảm được – ở những nơi như là phòng khách, phòng đợi khách sạn v.v…
Hiện nay có thêm nhạc êm dịu New Age
Về nhạc Easy listening hiện nay các ca nhạc sĩ có tếng là Andrea Bocelli, Cesaria Evora, Julio Iglesias …
– Julio Iglesias: một ca sĩ, nhạc sĩ người Tây Ban Nha, ông là ca sĩ có dĩa bán chạy nhất trong lịch sử trong thể nhạc Latin và cũng là một trong những ca sĩ có đĩa bán nhiều nhất thế giới. Phạm Duy có chuyển lời Việt vài bài. Tôi có nhiều kỹ niệm với bài La Paloma do ông hát trước 75. Ca sĩ Lệ Thu có hát bài lời Việt: Cánh Buồm Xa Xưa
. La Paloma – Julio Iglesias
https://youtu.be/CZfN2y7tgfE
. Cánh Buồm Xa Xưa (La Paloma) – Giọng ca Lệ Thu
https://youtu.be/kgmZAtNhYKw
– Andrea Bocelli là ca nhạc sĩ người Ý- ông là người khiếm thị/ blind man từ 5 tuổi.
Bài tôi thích nghe ông hát là Bésame Mucho/ Kiss me a lot (nghĩa là “Hãy hôn em thật nhiều”)
. Andrea Bocelli – Besame Mucho
https://youtu.be/fTxcrjBGves
– Cesária Évora (1941 – 2011) là nữ ca sĩ nổi tiếng người Cabo Verde/ Cape Verde – Tây Phi, với biệt danh “barefoot diva” (“nữ danh ca chân trần”) vì khi biểu diễn bà không mang giày dép.
. Cesaria Evora – Besame Mucho
https://youtu.be/LLsg_Lk819s
– Yanni là nhạc sĩ người Hy Lạp – Greek, ông đang sống ở Mỹ với những album nhạc New Age rất hay.
. Yanni – “Until the Last Moment”
https://youtu.be/9WECMgGG8dg
. Yanni – Felitsa- Live
https://youtu.be/CN7y6FVBdR8

Nhạc các ông bà này bạn có thể search trên You Tube

VÀO VỚI THƠ

VÕ CÔNG LIÊM

hoa hong den

TRANH : VÕCÔNGLIÊM . MẶT TRỜI ĐEN / BLACK SUN

Nói về thơ có cần bàn thêm không? Thiết tưởng điều này thừa; mà chỉ phiếm đàm một cách khách quan như xem một vở kịch vậy; ‘khi vui thì đậu, khi buồn lại bay’ đó là ý tứ vô tư mỗi khi đi vào với thơ.
Vậy thơ là gì? Câu hỏi này đã có từ khi chưa lập văn tự, thơ phát sanh hồi tiền cổ, thuở hồng hoang khai thiên lập điạ đã có thơ đi theo. Thiên nhiên và tâm trạng hòa đồng trong một dạng thức vô cớ nhưng lại hữu hình, hữu tình chính điểm này đã xâm nhập vào hồn để thành thơ. Nói theo phân tâm học của Freud và Jung thì cho rằng: nếu mỗi khi tâm với não giao động hỗn loạn đưa tới bất bình thường và sinh ra ảo giác; nói thế có tính võ đoán cho người làm thơ; tâm tư lắng đọng, trí tuệ phát khởi, giòng thơ tuôn trào như tự nó. Nguồn thi hứng của thơ là nguồn vô biên, vô tận số (sát-na) nó bao trùm cả vũ trụ quan trong chuỗi hành tinh văn học. Thế giới của thơ, một nơi vô hình chung được gọi là ‘cõi thơ’. Thí dụ: đang làm một việc gì thì bỗng bắt gặp mùi hương hoa lài, mùi nước lợ, bóng dáng cũ xuất hiện trong tri giác, khứu giác nơi mà chung quanh chỉ là tiếng động xe cộ ồn ào, huyên náo. Đó là cảm thức bị đánh thức để hướng tới hoài niệm về một tiền đề xẩy ra trước đây, và; tự nhiên xuất thần thành những câu thơ, bài thơ bất hủ, xuyên thủng một tâm thức khác mà thành thơ-ca, nhạc-thơ. Từ đó ta gọi trong thơ có nhạc, trong nhạc có thơ hay trong thơ có họa trong họa có thơ -thi trung hữu họa, họa trung hữu thi- (Tô Đông Pha) là vậy. Nói cách khác; hồn thi sĩ bùng dậy dưới mọi môi trường của cảm hóa mà thành thơ, nhà thơ là một xúc cảm lớn. Vậy thơ đâu dành cho thi sĩ, thơ đã phát tiết từ lòng mẹ mà ra nhưng tư duy đó lại nằm trong thâm sâu cùng cốc (deeper) của tiềm thức; hơn thế nữa trí năng đang trong thời kỳ mở mang (development) để thành hình ngữ ngôn. Thơ khắp mọi nơi và khắp mọi người, thơ chẳng riêng ai giữa không gian và thời gian này. Cái xúc cảm lớn lao đó chính là cái mơ về, nhưng phải hiện thực để thơ đi vào tư tưởng thi ca: bài thơ hay hoặc dở là do yếu tố đó, nhưng thơ có những đòi hỏi lạ kỳ nghĩa là phải nằm ở giữa Hồn và Thức, phải đồng điệu, quyện vào nhau thì ta thấy được ‘thơ tức là người’. Đọc thơ Nguyễn Du, thơ Nguyễn Trãi cho ta nhận thấy một tri thức uyên bác ở người; bởi họ là ‘con nhà tông không giống lông cũng giống cánh’ có lớp lang, có phẩm trật lại là người học cao, hiểu rộng. Cho nên thơ đã thả vào đó những ý thơ bất diệt, những áng thơ tuyệt cú và đi vào miên viễn thanh cao. Thuở nào cũng thế; làm thơ hay làm văn nó đòi hỏi một tri thức thâm hậu thời mới thành thi văn trác tuyệt; cho nên chi người làm thơ dù trải dài cả một lịch sử làm thơ chăng nữa, giòng thơ đó vẫn ngân nga những giọng điệu xưa cũ không thoát ra được chất thơ vì rằng hồn và thức là một phản ảnh rõ nét. Thơ thật sự cần thiết cho cảm thức và có lợi cho lý trí là hai bề mặt cho đời và người; ấy là Đạo vậy và cốt tủy của thơ được trở nên hiện hữu tối thượng; ấy là Siêu Thoát vậy. Muốn tới con đường đó nhà thơ phải phá chấp hoàn cảnh ngoại giới để xâm nhập vào nội giới dưới một dạng thức dành cho thơ; tuyệt đối không vị ngã, ngay cả ngã mạn trong thơ; vì đó là ý thức Mạt-Na (tức là thức thứ 7 trong 7 thức Mạt-Na) : là bản chất so đo, hơn thua, phô diễn về cái ngã (moi/self/ego) hơn là xuất thần thơ; mấy thứ đó làm băng hoại hồn ‘thi sĩ’, dù có là gì đi nữa cũng thành tro bụi. Thơ là hồn; tức ‘hồn ai nấy giữ’ là vậy. Nhà thơ có uốn nắn con chữ, làm đẹp câu thơ cho bài thơ tràn trề thẩm mỹ quan thì cái hồn đó quẩn quanh trong cái trình độ thơ đó mà thôi. Khó để gọi là thơ siêu thoát. Như đã nói thơ là thức; dù cho thơ biểu hiện dưới hình thức nào hay ẩn tàng, ẩn dụ nét thơ vẫn chứa đựng một chất liệu thanh cao diệu vợi. Thức ở đây không phải là thức tĩnh mà thức là nhận biết (acknowledge of sence) của tri thức. Anh bửa củi đứng giữa rừng cảm tác thành thơ nhưng cảm thức đó là thức của vô-thức-thơ. Hiểu biết tới đó thì thơ tới đó; chớ không thể vượt qua tầm nhìn của tri thức. Hiếm khi mà nắm bắt được cái thức có trình độ. Dẫu có sở học chăng nữa nhưng ‘khí thế’ không phải con nhà tông thì nó cũng lộ ra trong thơ cái đặc chất đó. Suy xét như thế có tính chủ quan và phiến diện. Nhưng đi sâu vào vị thơ ít nhiều có cái chất thơ phản ảnh trong ấy: Nguyễn Bính là nhà thơ trữ tình nhưng nhìn sâu vẫn thấy được khí thế của con nhà thơ và nhiều nhà thơ khác cũng một trường hợp tương tợ cho nên thơ họ giàu là vậy. Thơ không đơn giản, Người ta chỉ liếc nhìn một đôi câu hay nhâm nhi cũng đủ thấy cái thực chất trong thơ một cách trọn vẹn. –Nothing simple. One glance, the repetition half aloud of a couple of verses sufficed (Hermann Hesse by On Poems)* .
Thượng đế cho mỗi người mỗi hồn khác nhau, mỗi mặt khác nhau nhưng phải biết phân bón, vun xới, điểm tô thì cái mầm đó mới phát tiết tinh anh; ngoại trừ thiên bẩm ngay cả hội họa cũng thế đều phải có hồn và thức. Dù có lột cho cạn cùng chất sắc đó nó vẫn còn nguyên trạng của tự nó (itself) trong thơ, trong tranh. Nói chung trên bình diện văn học nghệ thuật đều bao gồm một chất liệu của hồn và thức thời mới liên hợp vào nhau mới sáng tỏ ý và lời, nhất là nhu cầu của thơ. Văn thơ họa nhạc là tương thức.
Trở lại câu hỏi thơ là gì? Thơ là dạng tính của cõi phi. Thơ không là gì cả và chẳng có gì cả để đề xuất hay bình giải mà đi tới bí tỉ, sáo mòn, dẫn chứng lối cổ xưa không còn là hiện đại hóa (modernization) cho một nhận định hay phê bình về thơ. Thơ không đặc câu hỏi mà đã đặc câu hỏi thì không còn là thơ mà hoàn toàn phá vỡ hồn và khí thơ. Ngược lại; thơ là đặc quyền của cái gọi là bất khả tư nghị. Nói thế tất thơ đã khống chế một cái gì của riêng mình? Đành vậy; nhưng phải có tư duy thâm hậu chuyển hóa thành thơ thời mới mong có được ngữ điệu hay ngữ ngôn của thơ. Ở hoàn cảnh này không vì cõi phi mà phá ‘luật’ của giới hạn thơ. Thơ không đòi hỏi cầu kỳ mà đòi hỏi một cái gì như-nhiên trong suốt; có vướng lụy, phàm tục thơ cũng là trong suốt. Điển hình của hai nhà thơ đương đại Hàn Mạc Tử và Tố Hữu. Một chất thơ khoa học thơ và một chất thơ khoa học chánh trị thơ; thời xem cái nào là tồn lưu và cái nào là hủy diệt. Tuy nhiên; không vì quá lãng mạn mà làm cho thơ tắt nghẽn giữa dòng đời trôi chảy, thơ cần phải thông-hóa và không-hóa mới thành thơ. Đó là siêu lý của thơ có tính chất triết học, ngay cả trong thơ bình dân như ca dao, tục ngữ, hò vè đều hàm chứa một triết lý nhân sinh trong đó. Làm thơ là lấy cái tủy của thơ chớ đâu phải viết lên cái cảm thức đó là thành thơ của người thi sĩ. Ngày nay có nhiều nhà thơ đứng trên quan điểm đó; nghĩa là nhìn thấy mình nhiều hơn thấy người. Hẳn nhiên! Nhưng cần có một hòa đồng nhân thế thì thơ mới truyền lưu. Còn như thơ kể chuyện, thơ tự sự, thơ sức khoẻ, thơ ta bà, thơ thời sự vẫn cuộn vào đó cái hiện hữu chính mình, một ‘cái ta’ ẩn tàng trong đó. Thơ như thế khác chi lấy dao chém vào thơ. Kẻ bửa củi, thằng bé lên năm làm thơ là làm thơ. Lão Tử (Lao-Tzu) nói: ‘cho dù đất sét có thể nắn ra cái bình nhưng thực chất của cái bình là trống không’(though clay may be moulded into a vase; the essence of the vase is in the emptiness). Ngày nay thơ vượt bức tường âm thanh qua nhiều giới tính, phát huy qua nhiều thể loại khác nhau, phát sinh nhiều khuynh hướng: siêu thực, dã thú, đa đa, lập thể, thơ lắp, thơ sờ và thơ khối…, Chủ xướng giòng thi ca đương đại: tự do, không vần, thơ xuôi, hình thức, tân hình thức, thơ vô nghĩa và ngay cả thi ca trình diễn…Bất luận xây dựng dưới hình thức nào, thể cách nào. Mặc; ‘cái đặc quyền của cái nghề làm thơ là không cần phải chứng minh, không biện lý mà vẫn thu thập’ (J. M. Guyau) đó mới là thực chất của thơ.

Thơ thường là sự phơi mở hay bày tỏ một cái gì chất chứa trong tim; hầu như những nhà thơ trẻ muốn có một ‘thẩm quyết / verdict’ về cái gì mình muốn nói và muốn tìm đến nhà xuất bản để gởi gắm tâm hồn. Và; những thi sĩ trẻ luôn luôn muốn tạo ngạc nhiên và ‘ngộ’ được cái của mình. Có người; có kinh nghiệm do thiên phú hoặc họ thu lượm được từ bạn đồng song nếu không ấp ủ trong trứng nước của người mẹ họ -if not from their mother’s womb- nghĩa là sinh ra để làm thơ (born to poet). Miệt thị quá! có tài về thơ là một chuyện nhưng tài mà không trí (thức) thì cái đó gọi là thơ xuôi (plane); như đã nói ở trên phải song hành thì mới tuyệt xuất còn bằng không thi uổng công tạo hóa(!). Chân lý mà nói ở cái tuổi dậy thì đã chớm nảy ý thức yêu, đượm trong hồn một tinh thần lãng mạn của tự thức và từ đó xâm nhập vào tiềm thức cho tới khi kết tinh và linh hóa vào trạng huống của thơ và chính sự cớ đó đã chìm lắng vào tâm hồn ‘thi nhân’, do đó; ngàn bài thơ đều vướng tình, thể hiện dưới thể điệu khác nhau, đôi khi ngợi ca, đôi khi che giấu mà tưởng rằng khó có ai biết được nỗi lòng của mình, nhưng thơ tức là người; mà họ tưởng độc quyền trong cõi phi đó. Nếu tương phản được; thời đó là bài thơ hay, cảm hóa được, còn bằng không bài thơ đó không nhìn đó là thơ –if it resembled them; it was good , otherwise it was of no account.(Hermann Hesse / My Belief). Điều này không phải là mục đích càn dở. Nhưng ở đây chúng ta hướng đến nghệ thuật thi ca không những chỉ moi móc bài thơ dở để ‘vạch lá bắt sâu’ mà đào sâu vào cái lý của thơ; cái sự cớ này thường thấy ở những người làm thơ, ngoại trừ bài thơ đó làm ra cho chính họ mà mỗi đôi khi cái quan niệm đó hóa ra tầm thường không cần thiết phải làm, thế nhưng dòng chảy còn tồn tại và cứ nhìn mình là chính, là hay hơn người cho nên ‘posted’ được là nhu cầu của thi nhân. Và; dần dà nó trở thành thói quen (bad habit). Cho nên chuyện làm thơ không phải dễ và đơn giản, vì rằng thơ ai làm cũng được từ thượng vàng hạ cám nhưng phải nói một cách chân chính thơ có ba loại thơ: thơ có hồn, có chất thì gọi là nguồn thơ ‘lý tưởng’, loại này cực siêu để trở nên vô-ngôn-thơ còn hầu hết là loại thơ thường tình, phổ thông, đơn điệu có khi còn gọi là vô-thức-thơ. Có một vài sự cớ hiển lộ ở chính nó đưa tới mơ hồ tối nghĩa (nếu được coi là vô-nghĩa-thơ). Trường hợp như thế bài thơ trở nên tẻ, khô, héo và không có sinh khí; mà là một lỗ trống, như có cái gì bộc phá chống chế thơ.–it was at once boring, dry and lifeless; it was full of holes, something in the rebelled against it. Không chừng nhà thơ cho rằng nhận định như thế là thái độ không hợp thời trang (?). Một đôi khi sự cớ xẩy ra một cách đơn giản, ngẫu nhiên đối với người đọc cho là bài thơ dở và từ đó trở nên định kiến giữa tác phẩm và tác giả. Nhưng không lâu những gì cho là xấu (bad poems), đột nhiên tìm thấy mùi hương trong đó, một cái gì lạ lùng nhân thế, một cái gì hồn nhiên lạ, hiển lộ một cái gì dịu dàng và một cái gì lầm lở, sai sót đều được chạm tới một cách đặc biệt, bởi; tất cả là dấu hiệu thân ái, vui thích một lối bày tỏ trong thơ như một đối chiếu, so sánh của thuật ngữ thơ và làm cho bài thơ đẹp ý, đẹp tình. Gần như một lối chơi chữ có tính bông đùa mà nghe như bình thường. Sở dĩ có những dáng thơ như thế một phần chịu ảnh hưởng quá nhiều trào lưu tư tưởng mới; nhất là các khuynh hướng thơ, đó là nhu cầu đòi hỏi của thời đương đại, ngay cả những nhà thơ của những trường phái khác nhau. Những bài thơ nổi tiếng trước đây đều được coi là dòng thơ cổ điển và đứng sau trào lưu mới, gọi là tân thi ca (new-poetry) nó khống lĩnh toàn cầu để chế ra nhiều thể loại khác nhau. Thi vị hóa từ những nhà thơ trẻ, tâm hồn trẻ, sáng tạo một ngữ ngôn mới lạ, dù rằng đọc lên nghe ngủng ngẳng nhưng lại ăn hợp thời đại. Thi ca đó được gọi là thi ca đương đại, vấn đề của người làm thơ hôm nay là phá luật để tạo hiện tượng. Phỏng chừng như những gì họ sáng tác ra được là hợp tình, hợp lý. Ý thức chủ quan đã đánh đổ họ, nhưng không; đôi khi giòng thơ trẻ làm mới trong cách trình diễn mà không bắt gặp cái dở nằm trong thơ. Lý do dễ tìm thấy nguồn cơn cho một bài thơ: trải vào đó một vài cái không đều đặng như tiếng gào, tiếng dục, dáng điệu một tác động trong hồn sự sống như tìm cái thế phòng ngự cho chính nó hoặc để trở nên ý thức cho một cảm thức qua kinh nghiệm làm thơ. Có thể đó là một phát khởi từ tâm thức mà ra hoặc là chức năng quan trọng không còn là thơ mà là phán xét hay, dở của bài thơ. Có vô vàn ngẫu hứng thành thơ và có vô vàn lý do trong ngữ ngôn của thơ. Không có thi nhân nào hay hơn thi nhân nào, không có thi nhân nào là đúng hơn cả để yên vị vào đó –No one of them does better than the others, no one is more in the right than the rest (The Soul of Poems by Hermann Hesse).
Thời bây giờ; những bài thơ ‘đẹp’ tuồng như có nghi ngờ cái gì không thực trong đó và một cái gì lấn cấn trong đó, những thứ đó đã thuần hóa và thích nghi như chuyên môn và nghi thức.Và; tuồng như là thế giới riêng tư của nhà thơ, đỏm dáng tỏ ra hay chữ; cái đó hoàn toàn ngố ngáo đến người đọc và làm cho người ta nghĩ đến cái hay không còn nữa ở bài thơ đẹp (beautiful poems). Để rồi cùng nhau chấp thuận dễ dàng, tất cả thuần thục, tất cả giống như thân ruột, đăng đàn diễn tế một cách vô tư. Tư duy đó đứng lại ở người làm thơ, còn tư duy của người đọc là chạy cho tới khi đụng phải một vị thơ thực chất, trong sáng không chứa chất vị ngã. Chớ đừng nghĩ bài thơ xấu là dở; nó vẫn có cái tinh anh của nó .Từ đó người ta thấy cái đẹp trong cái xấu của thơ (beautiful ‘bad-poems’). Như thế không một bài thơ nào có thể cho là dở tệ. Cần phải chiêm nghiệm mới thấy được thơ. Ngay những bài thơ năm ba chữ là thể loại khó đúc kết, nếu chứa một bản ngã tự tại, vì; thơ hay văn mà có ‘cái đáng ghét’ trong đó thời thể loại đó coi như không phải là thơ. Loại đó chỉ là thể thơ trình diễn dưới một góc độ nào đó thôi. Bất luận là gì phải có hồn và thức mới kết duyên với thơ. Nhớ cho! Cảm hứng đưa tới thơ, chớ thơ không đưa tới cảm hứng. Thơ dễ cho mọi người nhưng thơ rất chướng khí và khó tính; được cái là giàu lòng vị tha. Ở điểm đó mà thơ mọc lên như cỏ. ‘Thượng đế đã sanh ra nhiều thi sĩ nhưng lại rất ít thơ’ (Charles Bukowski).

Giờ đây có một vài điều xẩy ra trong thơ với điều kiện giảm đi nỗi ưu tư, ràng buộc luật lệ hay cả nể mà cần buông thả để cho thơ được tự do, có thể đó là điều làm cho nhà thơ nhẹ nhõm tâm hồn cho mình và cho người khác, có thể là một linh động và một cảm thức trong thơ. Đó là một bài thơ đẹp! Dù cho đây là điều chắc chắn vô nghĩa (no means). Bài thơ ‘đẹp’ (ý và lời) làm cho nhà thơ yêu qúy, phẩm chất của thơ đã tạo được phần nào giá trị của thơ; đó là cái không cần phải chú ý đến ngọn nguồn thơ, thần thánh hóa hay vô tội của thơ; những thứ đó đi vào tâm của thi nhân bằng tất cả giác quan và ý thức, khêu gợi trong ký ức thâm sâu những gì khoái cảm tiền kiếp hay về một cõi xa mờ đã khuất. Vì thế thơ dở hay thơ hay chỉ đến trong một khoảnh khắc ngắn ngủi để rồi đánh giá một cách vội vàng. Vậy thì đọc thơ làm chi? Không một thi sĩ nào lại đi làm một hay nhiều bài thơ dở cho chính họ? Thử xem và sẽ thấy những dấu hiệu trong thơ dở. Nói cho ngay đôi khi trong cái dở nó đã làm cho mình thích thú, hơn là đọc những bài thơ hay có tính từ chương, qui luật vô hình trung tạo cảm giác lạ lùng, xa lạ không chừng lại chóng quên. Đứng trên lăng kính này không thể cho ta một định nghĩa xác quyết về thơ, trong hồn thơ nó bao hàm và chứa đựng cái ‘thánh thể’ ẩn tàng mà làm cho thi ca trở nên sinh động ngay cả bài thơ dở cũng có cái sinh động của nó. Cái sự diễn giải thơ tợ như diễn giải phim ảnh; nghĩa là có khúc cần phải giữ và có khúc cần phải cắt bỏ, cốt tạo một bố cục chặt chẽ. Tuy nhiên những bài thơ như thế vẫn liên hoàn. Cho nên chi dưới bất cứ dạng thơ nào đều có một giá trị tối thượng của nó. Phê bình thơ là một nhầm lẫn, là ‘tội ác’ đã khai chiến với thơ, nhưng cũng đừng vin vào thơ để tàn phá thơ; chỉ có những kẻ ngoại đạo đứng ngoài giáo đường thơ mới hành xử như thế, bởi; họ chưa đạt tới cái tinh anh hiển lộ trong thơ. Cũng không trách điều này vì thơ muôn vàn lý sự của nó. Nó có một cõi riêng, bởi; cái đẹp của thơ tạo nên cái nhìn khát vọng, tạo một vũ trụ thơ, vũ trụ của dự cuộc. Do đó thi ca có một quyền hạng tối hậu: bất khả thi và bất khả tư nghị. ‘thi thị khả giảng bất khả giảng chi gian’. Là thế đó!
Thi ca trong sáng và thực chất là thi ca thời thượng, qúy phái, trang trọng. Thơ siêu thoát là thơ không trói buộc, hệ lụy hay vị ngã mà trong đó phải có hồn và thức thời mới hòa hợp trọn vẹn lẫn ý và lời dù là thơ bình dân đi nữa. Thơ đời nào cũng vậy hay bất cứ trường phái, khuynh hướng nào, dưới mọi dạng thức trình diễn của thơ; việc yêu cầu tối thiểu là phải thoát tục và thực tướng của thơ thời mới thành thơ ./.

VÕ CÔNG LIÊM (ca.ab.yyc 17/8/2014)

* Hermann Hess (1877-1962) Văn thi sĩ Đức. Nobel Văn chương 1946.

TẢN MẠN VỀ KHỔ ĐAU VÀ VƯỢT THOÁT KHỔ ĐAU

tản văn PHẠM NGA

khodau 1

“Đời người là bể khổ!”, sống ở đời đã là người thì ai trong chúng ta cũng đều ít nhiều từng trải qua những kinh nghiệm hiển nhiên, rất cụ thể về khổ đau. Nguyên từ ‘khổ’ cùng từ ghép ‘khổ tâm’thường được dùng để biểu thị những tình trạng xấu, tiêu cực, thương tổn về tinh thần, cảm xúc, như khi bị mất người thân, mất tài sản, thất tình, thi rớt, bị đuổi việc, làm ăn thua lỗ, tù tội…; còn từ ‘đau’ cùng từ láy ‘đau đớn’ biểu thị nghiêng về tình trạng xấu, tiêu cực, thương tổn nơi thể xác hay cảm nhận giác quan do báo động ‘đau’ từ hệ thần kinh, như khi bị thương tích trên người, bệnh tật, đau nhức ở một bộ phận cơ thể, giải phẫu…
Tuy nhiên, như cả phương Tây cùng phương Đông đều công nhân, con người tức TÔI/CHỦ THỂ từ căn bản là một thực tại duy nhất/thống nhất, có 2 phần TÂM lý và THỂ lý hoạt động song hành nhịp nhàng, luôn hỗ tương, ảnh hưởng nhau. Ví dụ: nói “Tôi khổ vì cái khớp vai đau mãi” là chuẩn nhất theo quan điểm ‘Tâm thể lý song hành’nêu trên, cho thấy cái tôi chủ thể đã cảm nhận mình bị khổ (thương tổn tâm lý) khi khớp vai bị đau (thương tổn thể lý). Tương tự, trong ngôn ngữ văn chương một chút thì có từ ‘đau thương’ thật hay, bắt đầu bằng chữ ‘đau’nghe nghiêng về thể xác nhưng chữ ‘thương’ đi kèm đã cho thấy ngay là chủ thể ‘tôi’ đang bị thương tổn nhất định cả về tâm hồn lẫn thân xác. Còn nói: “Răng tôi đau” thì ai cùng hiểu, nhưng chính xác hơn nên nói là “Tôi đau răng”, theo nghĩa ‘Tôi đau ở răng’.
Cũng chính con người chúng ta, khi rơi vào khổ đau thì cái khổ cái đau dù nặng nề, chua xót đến mấy, ta luôn tìm cách này cách khác để vượt thoát thảm trạng một cách gần như phản xạ tự nhiên Đó cũng là biểu hiện của bản năng tự vệ/sinh tồn bẩm sinh của loài người, vốn trong cuộc sống đã không ngừng chống trả lại khổ đau mỗi khi các dạng khổ đau xảy đến như những mối nguy đe dọa hay đã trực tiếp xâm hại nhân cách tâm lý hay sức khỏe thể xác.

1.
Đời người là bể khổ mênh mông, đối lại thì con người cũng có những phương cách chủ quan rất đa dạng nhằm vượt thoát khổ đau. Thật đơn giản như chuyện một đứa bé bị ngã, người mẹ có mặt lúc đó sẽ ngay lập tức ra tay giúp con mình thoát ra khỏi cảm giác đau đớn và sợ hãi. Mỗi bà mẹ đều có cách riêng để dỗ dành con mình, người thì vừa vuốt xoa chỗ đau vừa dịu dàng trấn an: “Không sao đâu con à. Nè không đau, không đau nghe!”, người thì ôm con vào lòng, hôn lên chỗ đau, thủ thỉ: “Cục cưng của mẹ hết đau nhé!”; có người còn giả bộ đánh nhẹ lên mặt sân, cho con mình thấy là đã trừng phạt ‘thủ phạm’ vừa khiến nó ngã, rằng; “Chết mày nè, dám làm cu Tí đau hả? Chết mày nè!”.
Tương tự những bà mẹ cố gắng trấn an con mình, trong một số trường hợp gay go người viết bài này cùng đã cố gắng tự trấn tỉnh bằng niềm tin tôn giáo, điển hình như cái lần đầu tiên không-thể-nào-quên bị BS làm nội soi ruột già trong bênh viện. Lần đó, bởi không được hướng dẫn trước chu đáo nên tôi không biết yêu cầu nội soi có gây mê, cách này dù có tốn tiền hơn gấp 2.5 lần so với không gây mê đi nữa cũng rất đáng làm, bởi khi thấm thuốc mê, thiếp đi thì mình không thể cảm thấy đau đớn gì, coi như ngủ một giấc dậy mọi việc xong xuôi hết. Đằng này, tôi đã phải chịu đau đớn khủng khiếp khi BS đẩy cái ống nội soi dần dần vào sâu trong ruột già mình và đau đến toát mồ hôi, muốn xỉu khi ống quẹo ‘cua’.Tôi đã mấy lần báo “đau quá bác sĩ ơi!”nhưng ông này chỉ trấn an tôi: “Chú ráng chịu đau chút đi, sẽ xong nhanh đây!”. Tôi cũng có nghe cô y tá nói nhỏ: “Thôi BS cho tạm ngưng, chích cho ổng một mũi giảm đau đi, cho ổng đỡ đau chút”, vậy mà cái ông thầy thuốc khó thương kia không rõ vì lý do gì đã không đồng ý… Trong cơn đau tôi chợt buộc miệng niệm, niệm liên tục: “Nam mô cứu khổ cứu nạn Quan Thế Âm bồ tát” như đã từng niệm trong một số hoàn cảnh ngặt nghèo, sinh tử trong cuộc đời. Kết quả theo tôi nhớ là cảm giác đau đớn có giảm bớt đôi phẩn, giúp tôi đã có thể tiếp tục chịu đựng cái đau cho đến khi thủ thuật nội soi kết thúc.
Trong cơn khổ đau, nhiều người trong chúng ta còn tìm cách chuyển hướng tâm tưởng mình từ cơn phiền muộn tối tăm sang các ý tưởng, hồi tưởng tươi sáng hơn, như: vừa mất người thân thì ôn lại quãng thời gian cùng nhau gần gũi, cùng sinh hoạt thật hạnh phúc với người ấy trong gia đình; đang thất tình, bị cách trở thì nhớ lại các kỷ niệm vui vẻ, ngọt ngào với người ấy; đang thất thế, bị ‘đì’ ở nơi làm việc thì nhớ lại thời được cấp trên quí trọng, đồng nghiệp nể nang bởi công lao, thành tích của mình…
Có điều là trong trường hợp đau khổ vì tình, coi chừng bị phản ứng ngược khi hồi tưởng những kỷ niệm vui vầy bên người yêu. Làm như vậy có thể sẽ nguôi ngoai nhung nhớ phần nào, nhưng ngược lại, cũng có thể ‘khó sống’ hơn khi bị dội ngược vào cảm giác cô đơn, hiu quạnh không thể chịu nổi, nhất là khi còn phát sinh nghi ngờ, oán trách.
Nhân đây mới thấy vai trò ‘hai mặt’ tráo trở ghê gớm của óc tưởng tượng. Cũng chính quan năng tâm lý này có thể giúp kẻ thất tình hay bị tình yêu trắc trở tạm thoát khỏi khổ đau một khi chìm đắm trong hình ảnh tưởng tượng rằng mai mốt đây làm lành, tha hồ âu yếm vui vẻ bên nhau…; nhưng ngược lại, cùng chính óc tưởng tượng có thể vẽ vời, tô đậm, bi đát hóa thêm thảm kịch, chẳng hạn tưởng tượng người mình yêu giờ này đã bôi bạc, đang tay-trong-tay với người khác.
khodau 2Rồi trong nỗi khổ tâm vì bị thua thiệt, mất mát quyền lợi, địa vị hay bị làm nhục, khinh rẽ, xua đuổi…, người ta có thể tự an ủi, như nghĩ: “Nhìn lên không bằng ai, nhìn xuống không ai bằng mình” hay nghĩ cụ thể đến một người/những người thua kém hơn mình nhiều về mặt này/mặt khác, đáng lý họ phải khổ tâm nhưng thực tế họ vẫn cứ đang vui sống bình thường, vậy mình tiếc nuối làm gì nhừng danh vọng, địa vị vừa mất? Nhìn chung, người khổ tâm vì bị thua sút, mất mát quyền lợi, địa vị, có thể dễ tìm cách cứu vãn, dễ nghĩ ra cách giải quyết thảm trạng, khắc phục những thiệt hại mất mát hơn một khi họ chịu tự ‘phá giá đồng bạc’, bằng lòng với điều kiện, thân phận hiện có. “Cái số, cái mạng của mình như vậy mà! Đành chịu thôi!”. Lúc này, niềm tin vào tín ngưỡng, tôn giáo có dịp lên ngôi, và Trời, Phật, Chúa sẽ được con người khổ đau khẩn thiết kêu cầu như những thế lực vô hình, siêu nhiên sẽ đứng ra độ trì, giải cứu cho họ thoát ra khỏi nghịch cảnh, thảm cảnh gây khổ đau.
Đáng suy nghĩ là có người lại vượt thoát khổ đau bằng cách, dù thực tế thảm trạng vẫn diễn ra y nguyên thế nhưng họ vẫn như nhắm mắt phủ nhận (với chính mình) giá trị của nguồn cội hay tác nhân gây khổ đau cho họ – tâm lý này được gọi là ‘ngụy tín’, làm liên tưởng đến con đà điểu, giống chim có thói cứ gặp điều gì nguy hiểm đe dọa quá thì chỉ rúc đầu vào bụi rậm, không chạy trốn nữa, bởi đà điểu “nghĩ” rằng khi mình không thấy mối nguy bởi đã rúc đầu vào bụi thì mối nguy sẽ biến mất thôi! Còn trong vở kich dân gian Nghêu Sò Ốc Hến, có cảnh thầy bói Nghêu bị lính của quan huyện chận đường tra xét, đã tát tai lão thầy bói mù mà miệng lưỡi rất ranh ma, xiêng xỏ cay độc này, lão Nghêu vẫn cười gằn, bảo tên lính: “Mày đánh tao, tao không đau gì cả, mày mới đau vì khác gì mày đã đánh bố mày!”.
Đỉnh điểm của tâm lý khổ nhục còn khiến người ta không những ngụy tín ‘hạ giá’, khinh bỉ đối phương như lão Nghêu mà còn nung nấu ý định đồng thời vạch ra kế hoạch trả đũa, trả thù người gây khổ đau cho mình.Hay khi đã tuyệt vọng, họ lại mơ hồ muốn tự vẫn cho rồi, như thể tin rằng chỉ có cái chết mới giúp họ vượt thoát được mọi khổ đau.

3.
Trong cơn khổ đau, bên cạnh những phương cách vượt thoát chủ quan khởi phát từ nội tâm, con người còn có thể ngẫu nhiên được giải thoát khỏi khổ đau nhờ tác động ngoại tại. Ví dụ như cơn phiền muộn có thể dần hồi nguôi ngoai khi ngoại cảnh thiên nhiên xung quanh ta bỗng có biến đổi hay ho, tích cực, như: cơn mưa hay làn gió mát mẻ thổi qua, ánh trăng mơ màng ló dạng, tia nắng mặt trời chiếu đến thật rực rỡ… Ngay trong tâm trạng bình thường, ai ai cũng đều dễ chú ý và thích thú hình ảnh của bầu trời xanh ngát, ánh trăng mờ ảo, bãi biển cát trắng ngần… Lại càng thu hút và tăng thêm hiệu quả xoa dịu niềm đau khi trong những khung cảnh thơ mộng ấy còn vang vọng tiếng hát, tiếng đàn, tiếng chim hót, tiếng sáo diều, tiếng tụng kinh gõ mõ, tiếng mẹ ru con, tiểng suối chảy róc rách hay sóng vỗ rì rào… Có lần, trong một cơn khổ đau trầm kha, tôi tìm đến một quán cà phê thật vắng vẻ ngồi gặm nhấm nỗi niềm, chợt trong câu chuyên trao đổi của hai người lạ ngồi bàn bên cạnh có nhắc đến Nha Trang, đất quê hồn hậu mà đã mấy chục năm tôi không có dịp quay về. Tự nhiên họ nhắc đến một vài nơi chốn ở thành phố này xa xưa, vốn đã rất quen thuộc, thân thương từ thời tôi còn niên thiếu đến tuổi thành niên, như: bãi tắm ở khu ‘Thông tin’ nhìn ra, cà phê Hân gần rạp Tân Tân, vườn dừa bên Kim Bồng… Tôi mê mãi lắng nghe chuyện-của-người-ta mà như trong chốc lát chợt được thoát khỏi hiện tại đau buồn này mà quay về với một chặng quá khứ thật êm đềm, để rồi nỗi buồn đau lặng lẽ thối lui tự hồi nào không hay…

3.
Do con người chủ quan tự suy lý hay do ngoại cảnh khách quan tác động vào thảm cảnh, thân tâm con người đau khổ sẽ có những chuyển biến khác nhau, nhưng nhìn chung, tiếc rằng kết quả hồi phục tâm lý hiếm khi toàn vẹn, kể cả khi nguyên nhân, tác nhân gây khổ đau không tồn tại nữa.
Do cách này cách khác, nỗi khổ tâm hay đau đớn dần hồi có thể giảm nhẹ đi, tâm trạng từ quay cuồng trong khổ hận có thề từ từ thăng bằng, tức bình tĩnh trở lại, vết thương trên châu thân có thể lần hồi giảm đau hay gần như hết đau hẳn. Hay ngược lại, khổ tâm quá sâu nặng tất nhiên sẽ rất lâu nguôi ngoai hay vết thương trên thân thể quá trầm trọng sẽ lâu lành, cứ đau âm ỉ mãi thôi.
Hẳn là khi nỗi khổ đau đạt đến cao trào, người ta thường chuyển từ bi hận sang dửng dưng, lạnh lùng, trong lòng không còn niềm vui nỗi buồn nào. Vâng, đã cạn dòng nước mắt, như một ca khúc xưa của The Rolling Stones muốn nói rằng khi ấy người ta chỉ ngồi yên, thấm thía sự bất lực của mình – có giàu có cũng không đánh đổi được gì và chỉ còn muốn được nghe con trẻ hát hay tiếng mưa rơi…
My riches can’t buy everything
I want to hear the children sing
All I hear is the sound
Of rain falling on the ground .
(AS TEARS GO BY, The Rolling Stones 1966)
Thực tế đã cho thấy khổ đau tột độ có thể khiến con người hóa điên hóa dại, la hét gây náo động hay chạy rong phá phách; ngược lại họ cũng có thể im lìm, bất động, như tâm hồn họ chợt trống rỗng, tê dại, vắng bặt mọi cảm xúc, nghĩ suy, dù là cảm nghĩ tiêu cực (chán sống) hay tích cực (hy vọng). Không còn “sóng gió trong lòng” gì nữa nhưng lại là một kiểu bình an đáng sợ!
Nguyên khoảng hơn 20 năm trước, người viết bài này có một người bạn thân đã rơi vào tâm cảnh tối tăm khủng khiếp này. Thời ấy gia đình chị ngụ ở thành phố Vũng Tàu, chồng chị là Việt kiều Mỹ về nước mờ công ty thiết kế – xây dựng ngành cầu đường. Biến cố khủng khiếp đã xảy đến, anh bị kết án từ hình về tội tham nhũng trong công trình (liên doanh) làm tuyến đại lộ lớn nhất thời đó cho Vũng Tàu, còn tên cán bộ cao cấp vốn chính là đầu sỏ chủ mưu tham ô thì chỉ bị án chung thân. Nhận xác chồng bị bắn ở pháp trường về chôn cất xong, chị bạn đã không nói một tiếng nào suốt 2 tháng, có nghĩa khổ đau, uất hận đã khiến chị tắt nghẹn tiếng nói…

PHẠM NGA
(tháng 6-2020)

CÔNG LÝ CHO GEORGE FLOYD

Bác sĩ Nguyễn Tiến Cảnh

g floyd

Câu chuyện một người da đen như George Floyd bị chết vì cảnh sát không phải là lần đầu tiên xẩy ra trên đất Hoa Kỳ. Và việc đòi công lý cho nạn nhân bằng biểu tình rồi đi đến đập phá, đốt các cửa tiệm, cướp của, đốt xe cảnh sát, xe người thường và làm cản trở lưu thông, không cho nhân viên công lực thi hành nhiệm vụ đã và đang xẩy ra tại Minneapolis, nơi xẩy ra vụ chết người và trên hầu hết các thành phố lớn ở Hoa Kỳ cũng không phải là lần đầu tiên. Chính phủ đã phải dùng tới vệ binh quốc gia, và có thể cả quân đội để vãn hồi an ninh trật tự và bảo vệ sinh mạng cùng tài sản của người dân.

Đến hôm nay bạo động đã qua ngày thứ 7, chính gia đình nạn nhân ông G. Floyd đã phải kêu gọi biểu tình ôn hòa, không nên bạo động. Vậy thì tại sao lại có bạo động trong khi chính phía nạn nhân không muốn. Phải chăng có những kẻ muốn nhờ gió bẻ măng, lợi dụng cơ hội để đánh phá đối thủ của mình hầu đoạt phần thắng.

Chắc chắn chẳng ai dám nghĩ là chính quyền hiện tại, TT Trump lại tạo nên tình trạng rối loạn này. Vậy thì ai đây đã cố tình làm cho xã hội, đất nước Hoa Kỳ trở nên rối tung, khiến chính trị bất ổn, kinh tế sa sút, lòng người hoang mang…?

Người quan sát có lương tâm công chính và công bằng chắc có thể biết được ai là thủ phạm. Đối thủ của Trump hay ai khác? Nhưng chắc chắn những kẻ chủ mưu phá rối an ninh quốc gia, phá hoại tài sản nhà nước và của dân chúng là có tội và là kẻ thù của đất nước.

Mấy ngày gần đây, trên đường phố biểu tình / bạo động và trên truyền thông báo chí và truyền hình thấy xuất hiện danh từ ANTIFA. Vậy Antifa là gì?

Antifa là một phong trào chính trị đối kháng gồm những nhóm người tự phát có liên hệ với phe đối lập chống lại chủ nghĩa phát xít và những hình thức cực hữu cực đoan. Phong trào này ra đời vào thập niên 1940 tại Đức trong thời gian và ngay sau thế chiến 2. Antifa là chữ viết ngắn lại từ chữ Antifaschismus / anti-fascism hay antifaschistisch / anti-fascist.

‘Cuộc biểu tình hôm thứ bảy và chủ nhật đã được sự hỗ trợ bởi nhóm ANTIFA mà kẻ thù sinh tử của chúng là phe cực hữu’. Cảnh sát chìm trà trộn trong đám phá rối Antifa đã vồ được tại trận những tên biểu tình gây rối mặc đồ đen.

Nhóm Antifa này đã từng gây bạo động tại các khuôn viên trường đại học trên toàn quốc. Gần đây chúng đã chiếm các đường phố ở downtown Portland, CA và hiện đang trực tiếp gây rối giao thông. Antifa gồm nhiều nhánh rải rác khắp nơi. Chúng thường hành động theo chỉ thị trực tiếp. Ba thành viên Antifa đã bị bắt tại trận trong khi phá phách. Hôm thứ bảy, khi chúng đến hiện trường đã đến gặp đồng bọn để nhận lệnh, không ngờ đồng bọn này lại chính là nhân viên chìm giả dạng người biểu tình phe Antifa.

Trên TV chúng ta đã nhìn rõ giữa quang cảnh chiến đấu có liên hệ đến Antifa, cảnh sát bắt tại chỗ và đè ra còng tay những tên mặc đồ đen từ đầu xuống chân, lưng đeo túi.

Chính những thành viên Antifa và các tên liên hệ với chúng hiển nhiên là làm việc theo chủ đích của chúng. Lật đổ chính quyền, thay đổi nước Mỹ, hủy bỏ cả một hệ thống dân chủ tuyệt vời nhất thế giới. Người dân lương thiện chắc chắn không ai lại muốn đất nước xáo trộn.

Những người bạn da đen, nạn nhân của áp bức nên khôn ngoan, đừng để những kẻ gian lợi dụng xác chết của G. Floyd, nhân cơ hội nước đục béo cò, lợi dụng các bạn làm bàn đạp bước lên cho tư lợi phe nhóm của chúng. Chúng chẳng thương mến gì các bạn đâu, bởi lẽ ngay trước mắt, các bạn đã bị chúng bôi nhọ rồi đấy. Chúng đốt nhà cướp của, làm rối loạn xã hội rồi tai tiếng, tội lỗi các bạn lãnh. Các bạn là người thiệt thòi nhất cả về tinh thần lẫn vật chất.

VÀI LỜI KẾT

Giờ này không phải là lúc chúng ta chê trách Trump thế này thế nọ, như trốn xuống hầm trú ẩn. Nghĩ như vậy qủa là trẻ con, không phải tư cách của người lớn và có học. Vào địa vị mình gặp tình trạng rối tung như vậy thì làm sao khi mà tứ bề thọ địch. Trump đã công khai chính thức ra ngoài Tòa Bạch Ốc, đứng trên đường phố cùng với cả bộ tham mưu để nói chuyện với đồng bào và những người biểu tình. Ông yêu cầu biểu tình ôn hòa, không chấp nhận bạo động…. Ở hậu phương, đào ngũ không thể nói là ta tài giỏi, chiến đấu oai hùng! Hãy công bình mà nhận định rồi có thể thì góp ý xây dựng, bằng không biết thì nên yên lặng. Ngoài ra nên nhìn sự việc với tâm hồn ngay thẳng và công bằng công chính, không nên dựa quá nhiều vào báo chí nhất là trong những thời gian này. Buổi sáng tin tức thế này, buổi chiều lại khác. Ngay cả tin tức về khoa học / y khoa, hôm nay Dr Fauci nói thế này mai lại nói thế khác, nói chi những tin liên quan tới chính trị thời sự. Cứ nghĩ đến câu nói (quên mất tác giả): “Khi chính trị đi vào tòa án thì công lý đội nón ra đi” thì đủ biết. Tin vào báo chí thì có ngày đổ thóc giống ra ăn.

Trên đây, người viết chỉ nêu lên cái tổ chức / phong trào Antifa để làm bằng chứng và thí dụ về cuộc bạo loạn. Còn biết bao tên “ma đầu” ghét Trump nhảy vào ăn có hay nằm ngay trong đám Antifa, ai mà biết. Quí vị tự suy nghĩ.

Có ai ngờ đâu, chỉ cần lên xe bus và được chở đến một địa điểm chỉ định đốt phá hôi của rồi lảnh $200.00. Tại New York thì có một xe SUV xịn chở đến một nơi với cung cấp búa, dao kìm và chìa khóa mở cửa để thi hành công tác phá hoại….

Đòi hỏi công lý thì phải có công bằng. Không thể một chiều được.

Ít lời chia sẻ. Nếu có sai trái xin sửa chữa. Rất cám ơn

NTC

June 1, 20

CÓ NGƯỜI HỎI TÔI?

Phạm Phú Nam

flag america

Mấy ngày nay, bắt đầu bước vào thế giới facebook tôi mới có cơ hội đọc được nhiều suy nghĩ, mối quan tâm, và quan điểm của nhiều bạn hữu. Có người trong sự tín nhiệm hỏi, ý kiến của tôi ra sao?
Thật sự, tôi rùng mình khi nhìn thấy hình ảnh một viên cảnh sát da trắng có 3 đồng đội vũ khí đầy mình đứng cạnh mà vẫn cứ thản nhiên dùng đầu gối dí cổ một nghi can da đen không bạo động, mặt mũi bị dí sát mặt đường nhựa đầy đá vụn sắt nhọn, và dí sát cạnh một chiếc bánh xe hơi như sắp bị cán ngang, trong một thời gian khá dài gần 9 phút khi anh phải thì thào để nói một lời như van xin “I can’t breath”.
Dù là đứng trên góc độ nào chăng nữa, hình ảnh kể trên thật là một hình ảnh ghê rợn rất đáng lên án.
Da trắng và da đen ở Hoa Kỳ từ 300 năm qua đã luôn luôn là một vấn đề nóng hổi và hết sức nhạy cảm. Hình ảnh kể trên đã làm sống lại cả một lịch sử dài của đất nước này, nơi có người da trắng đày đọa nô lệ da đen hết sức tàn nhẫn nhưng cũng là nơi có người da trắng chấp nhận để 360,000 thanh niên con cháu họ phải chết trên các chiến trường đẫm máu trong cuộc nội chiến 1861-1865 để giải phóng người da đen.
Cũng ở đất nước này, là nước duy nhất trên thế giới mà mọi mầu da, mọi sắc tộc, mọi con người đều được bình đẳng, đều được tự do mưu cầu hạnh phúc cho riêng mình, và không hề bị đòi hỏi phải hy sinh ngược lại cho đất nước này. Vì thế, mới có Tổng Thống da đen Obama, có Đại Tướng da đen Tổng Tham Mưu Trưởng Quân Lực Hoa Kỳ Colin Powell, có Ngoại Trưởng da đen Condolezza Rice, hay có thần tượng bóng rổ da đen Michael Jordan, có đại biểu “black live matter” Colin Kaeparnick, có thần tượng ca nhạc Michael Jackson, hay có khuôn mặt truyền hình nữ tỷ phú da đen cả nước biết mặt biết tên Oprah Winfrey.
Những nhân vật da đen lừng danh hoàn vũ đó cần phải đứng lên làm nhân chứng sống thực cho một nước Mỹ bao dung đã hết sự kỳ thị từ rất lâu rồi.
Chúng ta cần phải liệt kê một danh sách còn rất dài những người da đen làm nên danh nghiệp vĩ đại như thế mới hiểu được đất nước chúng ta đang sống. Đúng, làm sao hết được tư tưởng kỳ thị trong mỗi con người, da trắng, da đen, da vàng, ..v..v.., và chúng ta nên tự hỏi một cách thành thật với chính mình rằng bản thân mình có chút máu kỳ thị không? Nhưng, nếu có, cũng chỉ là một cá nhân kỳ thị, và nếu có nhiều hơn, cũng chỉ là một nhóm như tổ chức KKK kỳ thị trắng đen. Còn cả nước Mỹ hiện nay, từ ngôn ngữ, văn hóa đến luật pháp, hoàn toàn không có sự kỳ thị trong đó.
Khi chúng ta vẫn kêu gào rằng nước Mỹ có da trắng kỳ thị da đen là chúng ta chưa học hết lịch sử Hoa Kỳ. Người da trắng là nhân tố chính trong mọi cuộc tranh đấu chống kỳ thị.
Khi chúng ta nói rằng nước Mỹ không công bằng, đối xử không tốt với người thiểu số, chúng ta đã phớt lờ đi biết bao phúc lợi mà chúng ta đang được hưởng- ngay từ ngày mới đến Mỹ đã có cash assistance, food stamps, medical cho cả toàn gia đình con cháu, đi học được miễn học phí còn mang được tiền về ăn tiêu như ý muốn, sau 5 năm được vào công dân quyền lợi chính trị như mọi người Mỹ trắng khác, được bảo lãnh cả đại gia đình sang Mỹ, tự do ăn, học, vui chơi theo ý thích, và được quyền chửi bới tổng thống hay ngay cả đốt cờ Mỹ công khai cũng chẳng ai bắt bớ. Khi vui chơi, chúng ta có phất cờ Việt, cờ Mễ, hay ngay cả cờ Iran, nước Mỹ cũng có làm gì chúng ta đâu.
Lên án nước Mỹ kỳ thị là chúng ta quên lời thề nguyền trong tâm khảm khi còn đang lang thang làm con người vô tổ quốc trong các trại tị nạn, từng chỉ có một lời cầu xin duy nhất được nước Mỹ đón nhận mà thôi.
Nước Mỹ với những chính sách xã hội welfare, chính sách giáo dục ưu đãi người nghèo và thiểu số, chính sách nhân quyền nhân phẩm, không nước nào sánh bằng. Có người tị nạn Việt Nam chăm chỉ làm việc nào mà nay không giàu có? Có người tị nạn Việt Nam cần mẫn học hành nào mà nay không là bác sĩ, kỹ sư, hay doanh gia tài giỏi? Vậy nếu chúng ta có nghèo khó thì cũng phải xin một lần nhìn lại tại sao chứ? Tại chính mình hay tại chính sách của nước Mỹ.
Nước Mỹ thật không toàn hảo nhưng chắc chắn nước Mỹ không phải địa ngục trần gian, nếu không nói rằng, nước Mỹ là thiên đàng trên thế giới hiện nay.
Khi nước Mỹ chọn ông Obama làm tổng thống, cũng có gần một nửa nước Mỹ không thích, nhưng vẫn phải tôn trọng. Nay nước Mỹ chọn ông Trump làm tổng thống, một nửa nước Mỹ rõ là không thích, nhưng cũng cần phải để cho ông ta làm việc.
Tổng thống Trump là một tổng thống tệ hại chăng? Có thể chứ. Tổng Thống Obama có phải là một tổng thống giỏi chăng, chưa chắc. Có nhiều sự kiện nhìn từ hai góc, đều khác nhau, có khi khác hoàn toàn. Và, hay hay dở, nước Mỹ cũng chỉ cho ông tổng thống 8 năm tối đa, và nước Mỹ vẫn vững tiến như thường.
Nếu một viên cảnh sát da trắng có máu kỳ thị làm sai, anh ta đã làm sai, nước Mỹ không tạo cơ hội cho anh ta kỳ thị người da đen bao giờ. Khi viên cảnh sát da trắng làm một chuyện sai trái dù cả thế giới thấy rõ như thế, nước Mỹ không thể lôi anh ta ra bắn, hay lôi ra đánh một trận nhừ từ được, bất kể cả nước 300 triệu người muốn anh ta phải chết, phải bị hành tội, nước Mỹ không thể làm chuyện như vậy.
Nước Mỹ có luật pháp và luật của nước Mỹ đang được thực thi qua từng thủ tục- tạm giam, tại ngoại, khởi tố, biện hộ, rồi mới nghị tội kết án bởi người dân qua định chế bồi thẩm đoàn. Luật của nước Mỹ phức tạp với một mục đích rõ rệt, bảo vệ nghi can để tránh kết tội lầm một người. Thà tha lầm hơn kết tội lầm.
Anh cảnh sát da trắng đó cũng như những người da đen phạm tội khác, đều nhờ vào luật của nước Mỹ mà không bị đem ra ném đá, chém đầu, treo cổ, đánh đập, hay bị nhục mạ khi dân chúng nổi giận.
Nhìn lại đoạn video hay hình ảnh anh cảnh sát da trắng đè cổ một người da đen, thật là một hình ảnh hãi hùng. Nhưng nếu quý vị hay các bạn hỏi, Ý kiến của tôi là xin quý vị cùng các bạn bình tĩnh, chỉ có vậy thôi. Bình tĩnh chờ công lý được thực thi.
Hãy tin tưởng vào đất nước của chúng ta, một quốc gia vĩ đại không vì dân số cao, không vì đất nước to rộng, cũng không vì thị trường chứng khoán, lại chẳng vì ông Bill Gate hay anh facebook Mark Zuckerberg, và chắc chắn không vì ngài Obama hay ngài Trump, mà vì tiền nhân, những người dựng nước, đã lập ra một hợp chủng quốc, da trắng, đen, vàng, đỏ, hay nâu, đều có thể sống chung trong hòa bình và thịnh vượng trên căn bản tôn trọng luật pháp.
Việt Nam ta hay nói, chén dĩa trong rổ còn va chạm kêu loảng xoảng, huống chi một đất nước có hơn 150 sắc dân chung đụng.
Cảm ơn quý vị và các bạn xa gần chịu đọc ý kiến này.
Phạm Phú Nam
(dansinhtelevision@yahoo.com)

KHOA HỌC VÀ TÔN GIÁO

VÕ CÔNG LIÊM

image002

TRANH VẼ VÕ CÔNG LIÊM : ‘Biến dạng / Metamorphosis’

Là hai lãnh vực thuộc lịch sử khoa học nhân văn (human sciences). Hầu như kinh nghiệm tuyệt vời nhất, chúng ta có thể coi là một sự bí truyền –The most beautiful experience we can have is the mysterious. Đó là điều xúc cảm trực tiếp, nó là cái mốc của thứ nghệ thuật sống thực (true art) và một thứ khoa học thực chứng (true science). Bất luận ai chưa một lần trải nghiệm về cuộc đời đang sống, có thể cho đó là chuyện thường tình chả có chi mới lạ lâu dài và cũng chẳng có chi là kinh ngạc trước một sự dũng cảm hay một hoàn cảnh đã xẩy ra : -chết tốt hay chết xấu /good dead or bad dead- sống chết trở nên bí mật cũng có thể là sáng tỏ, bởi; ngày nay sanh có ngày có tháng biết được và chết bất hạn kỳ không biết được; dẫu cho khoa học đã tìm thấy ở nó. Trong sự lẫn lộn giữa đau đớn và sợ hãi là khơi nguồn cảm tính phát sanh ra tôn giáo (that engendered religion). Khoa học và tôn giáo không còn bở ngỡ mà sự cố tự nhiên. Một đằng ra sức lùng kiếm, một đằng cho là cái họa mà con người gánh chịu. Cả hai phương diện đang đứng trước một tầm nhìn giữa cố vị và khai phá; người ta đang chứng thực những gì có tính chất nghệ thuật của trào lưu khoa học thực nghiệm. Thế nhưng giữa hai quan điểm đó nó đòi hỏi ở chúng ta một nhận biết về sự hiện hữu tồn lưu nhân thế, chúng ta không thể xuyên qua hay thâm nhập vào giữa lúc này một cách tự nhiên mà phải hội nhập để nhận ra đâu tà đâu chính, đâu phải đâu trái, cái đó chính là ý niệm cơ bản nhận thức của những gì có lý do sâu rộng với kết quả rực rỡ và tốt đẹp của hai chiều hướng mà chúng ta nhìn tới. Điểm nóng của thời đại mà chúng ta đang sống, không những chỉ dành cho công thức ngoại lệ hay hình thức toán học mà cần có từ trí tuệ của chúng ta. Với tôn giáo thì đây là một nhận thức hiểu biết và một linh cảm đặc biệt; đó là bản chất thực sự của tôn giáo: trong sự cảm nhận này và trong sự đơn phương này –it is this knowledge and this emotion that constitute true religiosity: in this sense and in this alone. Là hai nhân tố kết thành trong sinh vật học để đánh giá về mặt khoa học và tôn giáo; bày tỏ một chân lý tối hậu mà con người phải nhận nó như một chứng cứ sống động của thời đại. Tuy nhiên trong chứng cứ nào con người vẫn nghĩ rằng sự đó là cái ‘họa trời giáng’ cho những ai cả tin để tôn thờ / religiosity nhưng; đứng trên khiá cạnh chủ quan mà xét thì không thể tin rằng đó là ý Trời (Thượng đế) ban ơn hay hình phạt hoặc cho đây ý tốt để tìm thấy qua kinh nghiệm sống của con người. Với khoa học, nhất là khoa học hiện đại phủ nhận mọi sự lý xẫy ra bất cứ hoàn cảnh hay thời gian nào đều nằm trong phát triển mở mang (development) và dâng hiến (donation) là nghĩa vụ của con người đối với con người. Đó là qui trình chung để tiến hành cho hai phương diện khoa học và tôn giáo. Không những một người mà ngay cả tập thể rộng lớn đều cùng một nhận biết như nhau mà không một ai thoát khoải chu kỳ của ‘sanh lão bệnh tử’ đấy là nguyên nhân đưa tới sự sống và sự chết với nhiều lý do khác nhau: bởi; do linh hồn yếu đuối mà ra, có từ sợ hãi mà ra, hoặc có từ bản ngã ngu xuẩn (absurd egoism) mà ra, hoặc ôm ấp trong một suy tư ẩn tàn hay cố vị mà ra. Dữ kiện đó đã làm suy thoái tinh thần đến thể xác một cách nguy hại.
Từ chỗ đó cho chúng ta an tâm thỏa dạ với những gì là bí hiểm của vũ trụ vô biên, của những gì ẩn tàng của cuộc đời. Với nhận thức và với trải nghiệm củng cố của những thiết kế kỳ công đem lại một thế giới hiện hữu tồn lưu nhân thế, nghĩa là trong hợp tác xa hay gần đều đi tới nghĩa vụ chung trong việc thành lập hay xây dựng, đặc biệt khoa học thực nghiệm là yêu cầu cần thiết, bên cạnh những thiết bị khác với mục đích phục vụ để đem lại kết quả tốt nhất cho nhân loại, không còn coi là nghĩa vụ quốc gia mà là nghĩa vụ quốc tế là thái độ của con người đứng trước tình huống khẩn trương và góp phần để cùng nhau cọng hưởng với hiến dâng trọn vẹn của lý do và nguyên nhân ; một biểu lộ chính đáng ở tự nó trong lẽ tự nhiên. The Reason and Cause that manifests itself in nature. Thực hiện được chính là vai trò cần thiết của con người có ý thức trước hoàn cảnh; một con người có lương tâm chính đáng không bị tha hóa.
Vậy thì Tôn giáo và Khoa học làm gì để phù hợp hoàn cảnh giữa lúc này? Đòi hỏi của con người là thực thi hơn lý thuyết, dẫu có chứng minh như một sự kiện sống thực chăng; sự kiện này vẫn chưa hội đủ điều kiện ắt có và đủ để lãnh hội trọn vẹn trong khía cạnh tôn giáo và khoa học. Kinh điển một phần, công thức một phần, đòi hỏi chính đáng là nhập tâm để hoàn thành là thực chứng đi vào đời, bởi; như thế này: Mọi thứ mà con người đang chạy đua đã tới đích, ý nghĩ đó đưa đến một cảm giác sâu lắng tình người, làm vơi đi nỗi đau và sợ hãi. Con người phải củng cố trí năng nếu con người hiểu biết và mong muốn trong một tinh thần phát huy khả năng và phục vụ. Cảm nhận và mong muốn là động lực đứng sau tất cả nỗ lực của con người và sáng tạo của con người –Feeling and longing are the motive force behind all human endeavour and human creation; đó là những gì chúng ta cảm thấy được. Nhu cầu đó chính là chúng ta cần có người lãnh đạo: -tinh khiết và trách nhiệm- nghĩa là không vướng, không tham, không vọng tất cả yếm thế đó không phù hợp với lời yêu cầu. Chúng ta cần sự trong sáng và minh bạch trong tôn giáo và khoa học là một hợp tác song phương để dựng vào đó một thế giới đại đồng, tất chúng ta đi tới ý thức nhất thể không còn chứng tỏ hay theo luận cứ của phép nhị nguyên. Giờ đây; chỉ có một không có hai để đi tới hợp thông là đi tới nhất quán luận. Nghĩa là không lấy tôn giáo làm giáo điều và không lấy vũ trụ khoa học để chứng minh. Song phương là vai trò và nghĩa vụ của việc làm, bởi; Tôn giáo và Khoa học là ý nghĩ và niềm tin trong một cảm thức khôn ngoan của lời nói –to religious and science thought and belief in the widest sense of the words; Lời nói ấy mới sự thật chân chính để dựng nên cho lý thuyết đã được đề ra.
Như vậy chúng ta đã đi tới ý niệm liên quan của khoa học, còn đến với tôn giáo là điều rất khác biệt từ những gì thông thường về con người. Viễn cảnh đó là vấn đề có tính chất lịch sử. Khuynh hướng được nhìn tới giữa khoa học và tôn giáo là tương phản không thể hòa hợp được, đó là lý do minh bạch. Con người là người hết sức bén nhạy, uyên thâm, hiểu rõ và nhận biết những gì vận hành thuộc vũ trụ. Dĩ nhiên; cung cấp những gì lấy ra từ giả thuyết của luật nhân quả (law of causation) là điều xác thực và đúng đắng theo tư tưởng tôn giáo, nó không là lời nói đơn phương mà là trải nghiệm có từ nơi con người: giữa tốt và xấu; gần như định đề cố hữu không thể thay đổi mà là qui trình đối xử của con người. Thành ra khoa học và tôn giáo là hai mặt tâm lý xã hội, nó không còn là vai trò đơn phương; hai lãnh vực này tuy khác nhau nhưng trong cùng một mục đích ‘hòa giải’ giữa vật chất và tinh thần : -vật chất phải thực chứng đúng nhu cầu mong muốn, nhất là khoa học phải sáng tỏ: không pha, không chế, không giả tạo mà tác động là thái độ của nền khoa học văn minh.Với tôn giáo duy trì một tinh thần trong bóng: không vị, không tham và không-hóa để đi tới toàn thiện, toàn mỹ. Cả hai được nhìn nhận là tình thật (true-love) và mang tính chất thẩm mỹ (aesthetic). Đạt được nó tất chúng ta đạt tới một thẩm mỹ quan (conception) là ý niệm dành cho con người trong cùng một quan niệm của khoa học thực dụng và khoa học tôn giáo; có nghĩa rằng con người đã vượt ra khỏi ‘xích hóa’ tư tưởng, không còn phi thực, trong khi tôn giáo yêu cầu chân-thiện-mỹ để đi tới nhất thể của ‘giáo ngoại biệt truyền’ như đã nói ở trên là phát tâm. Tuy nhiên; sắc thái và ý nghĩa khác nhau ‘bất lập văn tự’ mà đòi hỏi ở đó một nhận thức hiểu biết (acknowledgment) để thực hiện những gì đã lãnh hội được một cách trung thực và hiệu quả đúng qui cách tu / tập ngày nay.
Thượng đế người đã ban ơn và trừng phạt là siêu lý không thể nghĩ tới, bởi; nó có cái vô hình nhưng hữu hình trong chức năng vô biên; đó là lý do giản đơn tác động vào tâm linh con người là điều cần thiết.Thế nhưng khoa học đã phải gánh chịu với những gì chưa định rõ ở đó là đạo đức luân lý –Science has therefore been charged with undermining morality, nhưng; sự gánh vác đó bất hợp pháp –but; the charge is unjust. Trên phương diện đạo đức luân lý của con người thứ phẩm hạnh có thể coi là cơ bản phù hợp: tôn giáo, giáo dục và xã hội là nhân tố kết hợp vào nhau. Cơ bản của tôn giáo đòi hỏi niềm tin hơn những thứ cần thiết khác. Như vậy con người thật tội nghiệp phải cam chịu nỗi sợ hãi của hình phạt và chỉ có niềm tin hy vọng được bù đắp sau cái chết. Khoa học không thực thi những điều ước ấy mà tác động vào sự thật như một hành vi đối xử của con người để đi tới cái chết ‘hạnh phúc’ hơn sống trong đau khổ. Vậy thì lấy gì để xác tín một cách sâu xa sự hợp lẽ của vũ trụ và sự gì để cảm thông –What a deep conviction of the rationality of the universe and what a yearning to understand. Nói ra như chất vấn nhưng đó là sự phản ảnh yếu ớt của trí tuệ, bộc lộ xung quanh một thế giời đa nghi và ngờ vực, bởi; chưa thực lòng tin. Với khoa học tin hay không tin là một thử thách để tìm kiếm trong một sáng tạo mới cho nhu cầu cần thiết. Tôn giáo là giáo điều, là đòi hỏi cố chấp, buộc tội hay được tha để tạo vào đó niềm tin mà xưa nay con người chấp nhận như một nhận lãnh làm người, nghĩa là luôn luôn có tội và luôn luôn được tha. Nhưng nhớ cho; Thượng đế không có luật điều đối với con người, bởi; con người là con cái của thượng- đế. Giữa Thượng đế và con người chỉ có lời răn để đi tới giác ngộ là dấu hiệu vĩnh cửu. Nói chung mọi thứ đều để tâm là yêu cầu cần thiết. Chỉ có Người hiến dâng cuộc đời trong hành động cuối cùng một cách giản đơn; một hiện thực chói lọi của cái chết là truyền đạt đầy cảm hứng và cho những gì của sức mạnh còn lại một cách trung thực; mặc dù đối đầu với vô số lỗi lầm gây ra. Chỉ có một thứ tôn giáo vũ trụ (cosmic religious) may ra chúng ta ý thức cái gì tạo ra sức mạnh (strength) vô biên. Từ đó con người mới nhận ra quyền năng của đấng vũ trụ. Đó là vấn đề đặc ra hôm nay giữa sống và chết, giữa tốt và xấu là hai mặt phân tâm có tính chất tâm thần (mental) hơn là bệnh lý (disease). Đứng trên phương diện khoa học y khoa cho đây là triệu chứng của xác và hồn trong mỗi con người của chúng ta. Đồng thời có người cho rằng lý lẽ ấy chưa hẳn phải là hợp pháp, cái đó nó nằm trong thời kỳ duy vật biện chứng của thời đại khoa học mà chúng ta đang sống và làm việc, nó chỉ nằm trong thâm sâu cùng cốc của những người mộ đạo mà thôi; chớ trên thực tế như lời Nietzsche nói: ‘Thượng đế đã chết / God is dead’ hoặc ‘không có Thượng đế / there is no God’ là lý luận phản đề đối với tôn giáo. Khoa học hiện đại không nhìn nhận sự có mặt hay không có mặt của thượng-đế và coi đó là mệnh lênh mà đó chỉ là mặc khải giữa con người và Thượng đế. Khoa học không có ‘luật điều im lặng’ mà bày tỏ thực chứng giữa khoa học xã hội và con người. Thành ra quan điểm để nhìn thấy của khoa học và tôn giáo là niềm tin chính đáng cho một tâm thức trong sáng.

Nietzsche phủ nhận thượng-đế đó là cái nhìn cảm tưởng / opinion , quan điểm đó chưa hẳn phải là một dữ kiện cả quyết và cũng không đợi Nietzsche nói tới sống còn hay đã chết của thượng-đế. Trong vũ trụ loài người đã nghĩ những gì như Nietzsche nói hôm nay. ‘sự sống còn của chủ chăn là tiêu chuẩn tối thượng / the survival of the herd is the ultimate standard’. Đó là lời rao cho một niềm tin có trách nhiệm với loài người, nhưng; trên thực tế mức độ đòi hỏi sự thật không vin vào cơ bản hợp lý của việc làm, mà đòi hỏi ở đó một nhận thức sâu đậm của nghĩa vụ: vai trò và trách nhiệm. Chẳng qua đó là lý luận căn bản phát xuất từ cảm tưởng, chớ thực tình trong lời chối bỏ vẫn còn có một niềm tin tiềm ẩn trong trí tuệ; cái đó gọi là nguồn gốc của trí tuệ hiện đại đã tìm thấy trong bước đầu ở tk. mười bảy và tk. mười tám những gì khám phá trong tư tưởng của khoa học, ngược lại thời điểm đó tôn giáo gần như đối đầu trước những biến động xã hội… Lúc này chính là bước đầu trong toán học vả khoa học tự nhiên (natural sciences) để sắp xếp lại ý chí của con người đang nhìn tới vũ trụ: là nơi sống / chết của con người. Thế hệ mới ngày nay đã tàn phá những việc đã làm (wrought-havoc) với mẫu thức tập truyền của xã hội và tư tưởng chậm tiến để lại, đều có một sự phản kháng chống trả tất cả những gì xưa cổ của khoa học và ngay cả tôn giáo với giáo điều đông cứng cục bộ; đấy là điều cho chúng ta khám phá thực hư của sự kiện trong kinh nghiệm tự do để mọi người có một cảm thức mới hơn (new sense) có mục đích. Lạc quan chắc chắn cho ta lớn dần trong những gì bi quan yếm thế. Trong lúc khoa học kỹ thuật là cuộc chạy đua hàng đầu để đi tới một kết quả không tưởng. Tôn giáo chủ nghĩa ở thế thụ động giữa thượng-đế và con người là bước đi tiệm tiến trong tiết điệu hài hòa của lòng tin, nhưng; có chắc rằng con đường đi tới la trực chỉ nhân tâm hay vẫn là thứ giáo điều chưa gặp gỡ?. Đấy là điều quan trọng để tìm thấy trong thời đại chúng ta đang sống ./.

VÕ CÔNG LIÊM (ca.ab.yyc .cuối tháng 5/2020)

ĐỌC THÊM: ‘Thượng đế đã chết Nietzsche’ của võcôngliêm hiện có trên một số báo mạng và giấy trong và ngoài nước hoặc email theo đ/c đã ghi.
TRANH VẼ: ‘Biến dạng / Metamorphosis’ Khổ 15” X 25”” Trên giấy cứng. Acrylics+house-paint+Mixed. Vcl#262017.

Hoang Tưởng Ngày Thiếu Nhi 1 – 6

Phạm Nga

1.
tre nam duongMột sáng chúa nhật, một anh bạn hẹn tôi uống cà phê gần cổng Nhà Thiếu nhi thành phố mà không phải chỗ nào khác vì trúng bữa anh phải đưa con đến đây học vẽ. Lâu rồi, từ hồi chưa xây tòa nhà mới thật hoành tráng thì cái trung tâm sinh hoạt lớn nhất thành phố  này vẫn đã dành riêng cho trẻ em đến vui chơi, học tập các môn có tính năng khiếu như hội hoạ, âm nhạc, võ thuật.v.v… Có một dạo, dù còn phải kiếm sống khá chật vật, tôi cũng ráng đưa con gái mình đến học vẽ trong dịp hè. Con bé thích học đàn dương cầm hơn nhưng học phí môn này thì cao mà phần thực tập, ngồi vào đàn thì khá ít ỏi. Đành tránh qua một bên môn chơi quí tộc này thôi!
Nắng đã lên cao, tôi dắt xe ra về thì tình cờ gặp một phụ nữ đang chờ rước con ở cổng. Chị cười, gật đầu khi cháu bé khoanh tay chào mẹ. Chợt chị ngăn con mình lại, nói nhỏ:
“Nè, con có thấy ông đứng ở gốc cây kia hôn? Mẹ con mình cũng khó nhưng ông còn đang khó hơn mình nữa con à. Ông không có con cháu nuôi dưỡng ở nhà nên già yếu như ngoại con rồi mà còn phải ra đường… Con thấy ông tội nghiệp hôn? Vậy thì con tới giúp ông đi há?”.
Chị đưa con một tờ 5000 đồng, chỉ về phía một cụ già ăn xin đang đứng, gần như ẩn núp ở một gốc cây to trên vỉa hè. Đứa bé ngoan ngoan “dạ”, đĩnh đạc bước đến trước mặt cụ già, nói lí nhí gì đó rồi hai tay kính cẩn đưa ra tờ bạc…
Tôi chợt cảm thấy xốn xang. Chị phụ nữ, với chiếc “cánh én” rách yên, bộ đồng phục công nhân chị đang mặc cũng không lành lặn gì, vậy mà không hiểu sao chị đã tránh dùng từ “nghèo”, chỉ dùng từ “khó” khi dạy con mình? Hay “nghèo” nghe có vẻ quá ức chế, như rất nhiều người nhất định cho là mình nghèo là do số mạng trói buộc, còn “khó’ thì có thể chỉ là tạm thời, còn có hy vọng vượt qua, như người ta vẫn thường vẫn an ủi nhau với cách nói “khó khăn trước mắt…”?
Nhưng dù đang thuộc phía người nghèo, chị phụ nữ khả kính vẫn dạy cho con mình – dạy cả cho tôi nữa, đã thầm lén chứng kiến nãy giờ – một bài học về lòng nhân ái, thói quen làm việc thiện, một cách tuyệt vời!
Rõ ràng điều đáng quí không phải ở số tiền cho mà ở cách cho, như em bé đã học được từ mẹ mình. Thật tình tôi không chắc là tôi, xuất thân nhà giáo – có thể cả cái bà phấn son lòe loẹt vừa dừng chiếc xe hơi bảng số xanh mới tinh hảo để rước cậu con béo phị – biết cách dạy con mình về lòng thương người bằng một phương pháp giản dị nhưng đầy tính thuyết phục như vậy.
Nhìn theo hai mẹ con người-tốt đi xa, tôi lại có một thắc mắc khác từ hình ảnh cụ già ăn xin.Trên vỉa hè vắng người đang có một thanh niên bày bán các loại báo chí trên mặt đất. Tôi mua đại một tờ rồi hỏi: “Chắc cháu đã bán ở đây lâu rồi hả? Có thấy dân ăn xin được vô trong nhà thiếu nhi không?”. Cậu ta vừa dáo dác nhìn về phía cuối đường – chắc sợ công an đến hốt – vừa đáp: “Dạ đâu có được, bảo vệ đuổi hết. Chỉ có người tàn tật bán vé số thì may ra, nhưng bữa nào đông các em quá thì cũng khó được cho vô…”. Tôi mới nhớ ra rằng trong cả tiếng đồng hồ ngồi cà phê, chuyện vãn với anh bạn vừa rồi trong căn-tin, đã không thấy bóng dáng người ăn xin nào. Hèn chi, lúc nãy cụ già cứ đứng hoài ở gốc cây bên ngoài nhà thiếu nhi, tưởng là cụ trốn nắng.
2.
Tôi chạy xe về phía dinh Thống Nhất thì bệnh “khó tiêu” nặng nề trong tâm tưởng lại tái phát. Đó là mấy em bé, không rõ là người Campuchia hay người dân tộc thiểu số nào khác, đang xin ăn quanh quẩn ở một ngã tư cách nhà thiếu nhi chừng ba, bốn trăm mét. Dưới nắng bụi, đứa nào cũng đen nhẻm, hôi hám, áo quần rách nát. Một đứa nhỏ xíu được chị nó bế trên tay thì ở truồng, mũi dãi lòng thòng. Tất cả đều thảm thương, tơi tả. Chỉ có mấy cái gáo nhựa, tô nhựa màu xanh màu đỏ mà các em đang chìa ra xin ăn là mới tinh, sáng lòa, nổi bật một cách kỳ cục, không hiểu nổi.
Dân thiểu số kéo về thành phố Sài Gòn xin ăn là một hình ảnh đã quá quen thuộc trước mắt mọi người, nhưng lòng tôi cứ bâng khuâng. Vừa rồi, tại nhà thiếu nhi, các em bé đứa nào đứa nấy trông cũng sạch sẽ, khoẻ mạnh, thậm chí béo phì – đúng là mẫu khách quí được chào đón, chăm sóc, dạy dỗ ở một tòa biệt thự đồ sộ, khang trang, thoáng mát. Hơn thế, hẳn để bảo vệ khung cảnh sang trọng của mình, nơi đây cấm cửa dân ăn xin.
Tôi tự hỏi: “Có thể suy đoán là do sợ mất trật tự, mất vệ sinh, mất cắp đồ đạc… nên Nhà thiếu nhi cấm dân ăn xin. Nhưng nếu người ăn xin là thiếu nhi thì sao? Nhà thiếu nhi là dành cho thiếu nhi cơ mà, và trong nội qui Nhà thiếu nhi đâu có điều khoản đặc biệt nào qui định việc cấm cửa thiếu-nhi-ăn-xin?”.
Rồi tôi mơ hồ cầu xin ai đó, rằng: “Thưa ban giám đốc Nhà thiếu nhi, nếu quý vị trả lời là chưa nghiên cứu về thiếu-nhi-ăn-xin thì xin quý vị cũng nên linh động, uyển chuyển mà cho phép…”. Một giọng lạnh giá bác ngay thỉnh cầu của tôi: “Không thể! Chức năng chúng tôi là đón nhận, phục vụ thiếu niên – nhi đồng vào sinh hoạt, nghĩa là vui chơi, tập luyện, nâng cao năng khiếu. Còn về phần các em ăn xin, nếu có vào đây cũng đâu có sinh hoạt gì mà chỉ có… xin ăn, nên không thuộc chức năng của Nhà thiếu nhi mà thuộc ngành thương binh – xã hội. Chỉ có một trường hợp duy nhất có thể được xem xét là, nếu các em ăn xin vào đây không phải để xin ăn mà là để sinh hoạt, tức phải giống các thiếu nhi khác khi đến đây…”.
Cắt! Tôi lập tức tự bật qua OFF.
Nãy giờ, mọi hỏi-đáp, thỉnh cầu gì đó chỉ là do tôi hoang tưởng nhưng tôi đã muốn điên lên thật sự vì cách lý giải dài dòng rất “công chức” của ai đó, cứ “sinh hoạt” rồi lại “xin ăn” rối tung cả lên. Nhưng tôi “cắt” không phải vì đã tỉnh cơn điên, mà vì… Trời hỡi! Có người bình thường nào mà tưởng tượng ra nổi chuyện một ngày nào đó, các em bé ăn xin dơ dáy, hôi hám kia quăng mấy cái gáo nhựa xin ăn để hiên ngang bước vào Nhà thiếu nhi, rồi đường bệ lựa chọn môn sinh hoạt – học tập, điền vào phiếu đăng ký, đóng tiền học, như học đàn piano, học hội họa, học múa ba-lê…? Con cái nhà lao động nghèo và cả một số gia đình trung lưu còn không dám mơ đến những môn “quý tộc” cao sang này nữa là!
Nhận trọng trách quản lý Nhà thiếu nhi, ban giám đốc khả kính của chúng ta – nhất định cũng là người bình thường, thì nhất định họ có yêu mến trẻ em, ít ra là theo chừng mực của bất cứ con-người-có-trái-tim nào khác trên đời này. Vậy làm sao quí ban giám đốc lại có thể giả định một trường hợp là “các em ăn xin vào đây không phải để xin ăn mà là để sinh hoạt”, hoàn toàn có thể khiến các em ăn xin nghe mà vô cùng tủi nhục?
Ngay điều giả định đầu tiên trong thỉnh cầu mê muội của tôi, là “Ban giám đốc linh động cho phép trẻ em ăn xin vào… xin ăn trong Nhà thiếu nhi!” thì đã là hoang tưởng rồi vì chuyện này may ra chỉ có thể có trong loại truyện cổ tích thời hiện đại dành viết về những ông tiên, bà tiên tự nhiên mà xuất hiện trong giới quan chức quản lý. 
3.
Tôi đã có phần tỉnh táo trở lại nhưng hoang tưởng trong tôi vẫn lì lợm, không-biết-tiếp-thu, vì nó nhất định “sinh hoạt” theo phạm trù cảm xúc mềm mại của riêng mình, chứ không theo cùng những phạm trù lý luận duy lý, duy hệ thống cứng ngắt, lạnh lùng của những nhà công chức chuyên nghiệp.
Hoang tưởng vừa xúi tôi trình ra một thỉnh cầu vớt vát: “Vậy thì vào ngày Quốc tế Thiếu Nhi hằng năm, như sắp tới ngày 1 tháng 6 rồi kìa, thì sao? Vâng, thưa ban giám đốc, đúng rồi, đó là ngày lễ lớn, tầm cỡ quốc tế, thuộc nguyên con vào chức năng của quí vị chứ không phải của ai khác. Ngày mà toàn thể nhân loại, đứng đầu là Liên Hợp Quốc, đồng loạt dành tất cả những gì tốt đẹp nhất trên đời này cho thiếu nhi, nhất là trẻ em thuộc các nước nghèo, đang phát triển như Việt Nam ta. Vậy ban giám đốc có hạ cố, uyển chuyển cho phép các em xin ăn vào Nhà thiếu nhi sinh hoạt, chung vui cùng với mọi thiếu niên – nhi đồng khác hay không? Xin một lần duy nhất này thôi cũng được. Hay quí vị cứ cho phép các em vô để “sinh hoạt” thôi, “xin ăn” thì vẫn cấm tiệt cũng được…”.
Cắt! Lại phải cắt.
Hoang tưởng ơi, nếu không thể làm khó dễ người khác chút nào đó thì cũng không nên làm khổ chính mình. Có điều này là dễ dàng nhất đây. Hãy tưởng tượng về đoạn đường từ cái ngã tư có các em bé ăn xin đến cổng Nhà thiếu nhi thì riêng đối với các em bé đang sống bên lề xã hội ấy, đoạn đường này không phải chỉ dài có vài trăm mét, mà phải dài tới bằng đường… lên trời! 
4.
Vừa rồi, từ chuyện chị phụ nữ nghèo dạy con làm việc thiện cho đến chuyện các em bé xin ăn, sống nhờ vào lòng từ thiện của mọi người, chuyện nào cũng khiến cho tôi xúc động sâu xa nên tôi rơi vào hoang tưởng. Buồn nhất là khi tôi “dựa hơi” ngày Quốc Tế Thiếu Nhi 1 tháng 6 để cầu xin ai đó một cách vô vọng.

Đúng ra, không cần ai phải dạy đời cho ai, cũng như không cần phải chờ đến ngày 1 tháng 6 hằng năm, chúng ta mới suy gẫm về cách dạy con trẻ về lòng nhân ái. Bao lâu trong cuộc sống vẫn còn những người lớn, những đứa trẻ vô cảm trước tình cảnh nghèo khó, khổ sở của người khác thì đó vẫn là một món nợ lớn lao, thuộc trách nhiệm của toàn xã hội và mỗi gia đình. Riêng về chuyện những em bé ăn xin thì vấn đề người lang thang, bụi đời, xin ăn.v.v…, ở mọi lứa tuổi và sắc tộc, trước hết là trách nhiệm, phần hành của ngành thương binh – xã hội. Tiếc là hiệu quả công tác của ngành này còn quá hạn chế nên trên đường phố còn quá nhiều dân ăn xin, lang thang đầu đường xó chợ.
Nhưng “Đừng tuyệt vọng, tôi ơi, đừng tuyệt vọng…” (Tôi tự biết mình còn có một cái tật khó ưa, hay bị bạn bè cười mà tha thứ cho, đó là thỉnh thoảng tôi cứ lấy nhạc Trịnh Công Sơn mà minh họa cho nỗi niềm của mình). Xung quanh ta vẫn còn nhiều điều tuyệt diệu để có thể sống và hy vọng vào cuộc đời.
Vào những dịp lễ Quốc tế Thiếu nhi, Tết Trung thu, Giáng sinh, Tết nguyên đán.v.v…, từ lâu đã có những nhà hảo tâm, những nhà hoạt động xã hội, những nhà tu hành, những chị tiểu thương ở các chợ, những thanh niên nam nữ tình nguyện trong nước hoặc đến từ những đất nước xa xôi, có cả những nhân viên – người Việt cùng người nước ngoài – của những công ty nước ngoài, liên doanh, tư nhân…, cả khách du lịch ba-lô nữa, họ chia nhau tìm đến những vĩa hè, những gầm cầu, những công viên trong thành phố. Tại những nơi tạm-trú-khỏi-đăng-ký này của dân lang thang, bụi đời, cơ nhỡ, những con người tốt bụng ấy đã tặng quà – chủ yếu là thức ăn và quần áo, giày dép – cho các trẻ em kém may mắn, không phân biệt dân thành phố, dân các tỉnh, người kinh, người Thượng gì cả. Giữa đêm tối – phải là đêm hôm khuya khoắc mới gặp đông đủ các em đi kiếm ăn trở về “nhà” – họ còn chơi trò chơi, kể chuyện, hò hát, hớt tóc, cắt móng tay, sứt ghẻ… cho các em. Và không chờ đến các dịp hè hay lễ tết, đã có những lớp học tình thương do những người tình nguyện mở ra, đôi khi ngay trên các vỉa hè thiếu ánh sáng, để dạy chữ, dạy nghề cho trẻ em bụi đời, cùng những hoạt động ngày càng mở rộng của những Nhà Mở , Làng Thiếu nhi SOS… do các tổ chức thiện nguyện nước ngoài thành lập và các cơ sở bảo trợ, nuôi dạy trẻ em nghèo, mồ côi, khuyết tật, cơ nhỡ của các vị sư, các nữ tu, nhà giáo về hưu… Đơn giản là họ chỉ biết ngày đêm hoạt động với mục tiêu “Tất cả vì thiếu nhi” mà không cần ai đó ghi cho thành tích nhì nhằng này nọ, rằng là tổ chức công hay tư, cá nhân hay tập thể, hoạt động thường xuyên hay nhất thời, do tiền túi riêng, tiền quyên góp hay tiền tài trợ.v.v…
Tất cả những việc làm của những người-tốt nói trên đều có ý nghĩa cao đẹp, ít nhiều đều góp phần cải thiện tình hình nghèo đói trong cộng đồng xã hội. Đó là cách mà những con người tốt kia đã làm, đã đến với các trẻ em nghèo khổ, lang thang.
Ngược lại, cái cách mà các em bé ăn xin có thể đến, có thể được bước vào một nơi chốn có treo bảng là dành riêng phục vụ trẻ em, thiếu niên – nhi đồng, thì vẫn chỉ là trò vẽ vời trong hoang tưởng vớ vẩn của riêng tôi…

Phạm Nga

ĐỌC “CHÂN DUNG TỰ HOA 34” CỦA LÊ THIÊN MINH KHOA.

Châu Thach

flowers
Thơ Lê Thiên Minh Khoa tự họa 34:
VÀ EM…
Và em.
Và tôi.
Và thơ.
Và lung linh rượu.
Và chờ đêm qua
Và Không.
Và Phật.
Và Ma.
Hội nhau trong cõi ta – bà
Rong chơi
Và em.
Và tôi.
Và ai.
Và trăm năm
Vẫn nhớ hoài ngàn năm
Và ngàn năm
Nhớ xa xăm
Và xa xăm nhớ lầm
Than kiếp người!…
Nhà sáng tác Đà Lạt – 8.2006
LÊ THIÊN MINH KHOA

Lời Bình: Châu Thạch

Có lần tôi đã viết một bài cảm nhận về “Thơ Ngắn Lạ Đời Lê Thiên Minh Khoa”. Ngoài những bài thơ ngắn lạ đời đó, nhà thơ Lê Thiên Minh khoa còn có nhiều bài thơ “Chân Dung Tự Họa” cũng rất lạ đời. Hôm nay tôi xin bàn đến một trong những bài thơ ấy. Đó là bài “Và Em..”

“Và Em…” là một bài thơ mà Lê Thiên Minh khoa không tự họa chân dung của khuôn mặt mình. Nhà thơ tự họa chân dung của tâm hồn mình. Đọc “Và Em…”, ai mến Khoa thì gọi nó là thơ, ai ghét khoa thì gọi nó không là thơ cũng được. Bởi vì “Và Em …” như lời vu vơ của một tên khùng. Ngược lại “Và Em…” cũng như lời cao vời của một thi nhân:

Và em.
Và tôi.
Và thơ.
Và lung linh rượu.
Và chờ đêm qua

Em, tôi, thơ và rượu được hòa điệu trong nhau là những thời khắc hạnh phúc tuyệt vời. Chữ “Và” cho ta cảm nhận sự hội ngộ của 4 nhân vật đem đến niềm vui trác tuyệt. Em là một nhân vật, tôi là một nhân vật, thơ và rượu ở đây cũng được nhân cách hóa thành hai nhân vật để đáng ra, cuộc vui tồn tại thâu đêm.
Thế nhưng lạ thay, nhà thơ xuống một câu thơ nghịch lý vô cùng: “Và chờ qua đêm”.

Chờ ai qua đêm và vì sao phải chờ qua đêm?

Đọc câu thơ nầy tôi bỏ bài thơ xuỗng. Không hiểu! Ngày hôm sau đọc lại câu thơ nầy, tôi lại bỏ bài thơ xuống. Không hiểu! Rồi bỗng một lúc nào đó, sáng tỏ bừng lên trong đầu tôi khi đọc tiếp khổ thơ thứ hai của Lê Thiên Minh Khoa:

Và Không.
Và Phật.
Và Ma.
Hội nhau trong cõi ta – bà
Rong chơi

Hóa ra “Và em, và tôi, và thơ” chỉ là chữ “Sắc” trong đạo Phật. “Sắc tức thị không, không tức thị sắc”, chữ “Sắc” nầy biến thành chữ “Không” ngay trong tâm hồn vô thường của nhà thơ: “Và không”

Hình như trong khổ thơ thứ nhất chỉ có rượu là thật, còn tất cả chỉ là ảo ảnh, ảo ảnh ấy diển biến trong tâm trí nhà thơ mà thôi. Nhà thơ đang cô đơn giữa cuộc đời, đang bơ vơ lạc lõng trong hố thẳm trí tuệ, đang mất định hướng về đời, về thơ, về tình và về chính bản thân mình.

Đi với linh hồn Lê Thiên Minh Khoa lúc ấy, ở trong đầu Lê Thiên Minh Khoa lúc ấy, không những chỉ có bóng em, bóng thơ mà còn có bóng ma và bóng Phật. Tất cả các bóng đó chập chọa, ẩn rồi hiện, có mà không, không mà có. Những hình bóng đó cùng Lê Thiên Minh Khoa “Hội nhau trong cõi ta-bà/ Rong chơi”. Đúng ra, tất cả những bóng ấy ám ảnh trong tâm hồn nhà thơ, đích thị là chân dung của “tâm hồn Lê Thiên Minh Khoa” đã tự họa cho mình. Một tâm hồn đang khắc khỏi với những nan đề của tình yêu và của tâm linh khó giải trong cuộc sống.

Đọc hai khổ thơ trên ta thấy nhà thơ Lê Thiên Minh Khoa không rong chơi bình an bao giờ. Tác giả mang nặng trong tâm tư mình sự dằn vặt, thắc mắc, chạy đi tìm kiếm nhiều sự thật còn mập mở. Nhà thơ đang đuổi theo những bóng chân lý về đời, về tình, về thơ, về đạo và về cái “tôi” của chính nhà thơ. Có lẽ nhà thơ chỉ có thể rong chơi được trong rượu để “chờ qua đêm”. Chờ qua đêm để trông mong hội ngộ cái chân lý mình tìm kiếm. Chân lý ấy như bóng ma, chỉ chập chờn trong tư duy mà chẳng bao giờ lộ diện nguyên hình để nhà thơ bắt được nó trong trí óc của mình. Bởi thế nhà thơ “Chờ qua đêm” và sẽ còn “Chờ qua đêm” mãi mãi…

Và khi hoài nghi trong đầu lên đến độ cao, thật và ảo làm mờ đôi mắt tuệ, nhà Lê Thiên Minh Khoa không đi tìm cứu cánh trong đạo, trong thiền để định được tâm linh mình. Nhà thơ đi tìm cứu cánh trong thơ và rượu thì dễ lắm tinh thần tẩu hỏa, cái nhìn trở nên bấn loạn:

Và em.
Và tôi.
Và ai.
Và trăm năm
Vẫn nhớ hoài ngàn năm

Bây giờ Lê Thiên Mình Khoa không biết em, không biết tôi, không biết cả thời gian dài hay ngắn. Khổ thơ cho ta thấy sự nghi ngờ, sự lẩn lộn xảy ra trong tâm hồn tác giả. Mọi sự nhà thơ dồn vào trong một chữ “Và”. Chữ “Và” đó chứa em, chứa tôi, chứa ai nữa không biết, chứa nỗi nhớ gì không biết, chỉ biết là nhớ 100 năm cho đến 1000 năm còn nhớ.

Sau phút loạn thị đôi mắt của tuệ, những tưởng nhà thơ tẩu hỏa vi căn thẳng tư duy trong rượu. Nhưng không, Lê Thiên Minh Khoa còn tỉnh táo để cho ta biết nỗi nhớ trăm năm, ngàn năm, hay chính ra, là nỗi nhớ trải qua bao kiếp người. Bao kiếp người ấy nhà thơ đã nhận chịu những nỗi đau vật chất và tinh thần phi lý:

Và ngàn năm
Nhớ xa xăm
Và xa xăm nhớ lầm
Than kiếp người!…

Hóa ra cũng chỉ là nhớ nỗi đau của “Khổ Đế”, một chân lý trong bốn chân lý mà Đức phật tìm ra dưới gốc cây bồ đề. Đức Phật tìm ra nguyên nhân của sự khổ, Ngài ngộ được nhưng Lê Thiên Minh Khoa không ngộ được. Nhà thơ có thấy chăng cái nguyên nhân đó, thì cũng như sự thấy của triệu triệu sinh linh trong cõi ta bà nầy, nghĩa là thấy mập mờ hình bóng mà thôi, thấy như thấy vầng trăng Đức Phật chỉ, nhưng nó ở ngàn vạn xa không bao giờ đến được.

Là một thi nhân còn trong cõi tục lụy, mang nỗi đau của kiếp nhân sinh, con tim nhạy cảm, rung động trước hoan lạc và trước nỗi buồn, tìềm tàng trong linh hồn mập mờ hình ảnh những nhánh sông đời trong tiền kiếp, nhà thơ Lê Thiên Minh Khoa bật lên trong thơ tiếng kêu của mình, như tiếng con nai vàng lạc trong rừng rậm. Nhà thơ tự họa bằng thơ chân dung của linh hồn mình, như một con thuyền bơ vơ trôi giữa hư và thực, kể cả ngọn hải đăng của đời, của Thiên Đường hay của địa ngục cũng không có. Em và tôi và ma và Phật, và trăm năm đều nằm trong ly rượu. đó là thứ đạo chân lý mà Lê Thiên Minh Khoa làm giáo chủ, để vơi đi nỗi nhớ xa xăm, để quên đi những bài toán khó của cuộc đời không giải được như thần linh, như ma quỷ ám ảnh nhà thơ mãi mãi ./.
Châu Thach

Ngày Chiến Sĩ

Nam Lộc

Ngày Chiến Sĩ Trận Vong và
“Những Người Lính Bị Bỏ Rơi”!

linh1
Vietnam Veterans Memorial Wall in Wash. DC

Hôm nay là ngày “Memorial Day” hay còn gọi là “Ngày Chiến Sĩ Trận Vong” ở Mỹ. Cả đất nước Hoa Kỳ hầu như đều chìm trong tiếng kèn thống thiết tưởng nhớ đến những chiến binh đã hy sinh trong cuộc chiến để bảo vệ quê hương của họ cùng thế giới tự do từ bao năm qua.

lunh2

Vietnam War Memorial in Westminster, California

Hình ảnh người dân Hoa Kỳ, kể cả tổng thống, các vị dân cử, thống đốc tiểu bang, cho đến các cựu quân nhân hay dân chúng Mỹ cặm cụi cắm những lá cờ nhỏ trên ngôi mộ của các tử sĩ của họ, chắc chắn ai trong chúng ta, những người Việt lưu vong, mà không khỏi chạnh lòng nghĩ đến sự hy sinh cao cả của các chiến sĩ QLVNCH, những người đã anh dũng chiến đấu bên cạnh “người bạn đồng minh”, để không những bảo vệ nền tự do dân chủ của miền Nam Việt Nam, mà còn giữ vững thành trì chống chủ nghĩa Cộng Sản mạnh mẽ nhất của thế giới tự do trong vùng Đông Nam Á, cho đến ngày họ bị…bỏ rơi!

linh3

Trong nỗi ngậm ngùi đó, tôi chợt nhớ đến bộ DVD “Những Người Lính Bị Bỏ Rơi” mà một số anh chị em nghệ sĩ chúng tôi vừa chung tay cùng đài SBTN thực hiện để tưởng nhớ và vinh danh QLVNCH, để chia sẻ niềm uất hận của những người lính bị bỏ rơi, và nhất là để tưởng niệm các tử sĩ VNCH đã hy sinh trong cuộc chiến.

linhban
Tường An và các bạn ở Pháp (May 25, 2020)

Đọc những bức điện thư từ khắp nơi trên thế giới gởi về cho chúng tôi và nhất là nhìn tấm hình mà chị Tường An và quý vị đồng hương ở Pháp phổ biến sáng nay, hay của anh Thắng Cảnh cùng cộng đồng người Việt ở Đan Mạnh, của BS Mỹ Lâm, chủ tịch Liên Hội Người Việt Tỵ Nạn tại Đức cùng nhóm thân hữu của chị Bích Thủy. Hội Cựu Quân Nhân VNCH Ontario cùng đồng hương ở Toronto, các thành viên của Phong Trào Giới Trẻ Thế Giới Vì Nhân Quyền, cộng đồng cùng đồng hương người Việt ở Úc Châu, ở Ý, Anh, Bỉ, Pháp, Na Uy, Thụy Điển, Đan Mạch, Hòa Lan, Canada, ngay cả tại Việt Nam. Hội Người Việt Calgary…, anh chị Dương Phục, đài Sài Gòn Radio Houston giúp phổ biến một cách vô vụ lợi và hăng say tại TB Texas v..v… Tất cả, tất cả, đối với tôi đều tiêu biểu cho hình ảnh của những lá cờ Vàng Ba Sọc Đỏ đang được những người Việt tỵ nạn âm thầm cắm trên mộ phần của những tử sĩ VNCH trong ngày Chiến Sĩ Trận Vong năm Quốc Hận thứ 45.

linh bo quen

Chiến Sĩ Trận Vong và “Những Người Lính Bị Bỏ Rơi”

Và cũng trong ngày “Memorial Day” hôm nay, tôi đã đem một bộ DVD “Những Người Lính Bị Bỏ Rơi” đến Tượng Đài Chiến Sĩ Việt Mỹ ở thành phố Westminster, California, xin đặt ở đó như một nén hương lòng, thay mặt cho tất cả các thân hữu cùng những người đã bỏ công thực hiện, đã tham dự, cũng như góp phần phổ biến hoặc trân trọng đón nhận, như một biểu tượng tri ân công lao cùng sự hy sinh của những người Lính VNCH qua hình ảnh và dòng nhạc của một tác phẩm nghệ thuật mang nhiều ý nghĩa nói trên.

linh tuong niem
Tưởng niệm ngày Chiến Sĩ Trận Vong, nhưng chúng ta đã không quên những người Lính bị bỏ rơi.

Nam Lộc
Westminster, California
May 25, 2020

CUỘC ĐỜI Và SỰ LỚN DẦN Của TRÍ TUỆ

VÕ CÔNG LIÊM

image001

TRANH VẼ VÕ CÔNG LIÊM : Người đội nón đen / Man with black hat..

Sự đó nghe qua như bài bản (test) cũ kỹ, chả phải mới, bởi; con người và thời gian là một trải nghiệm rộng rãi, nó phát ra từ suy tư để hình thành cho một văn bản, điều đó quả như thông thường cho một thế hệ đã qua –it was quite a generation ago giữa cuộc đời đang sống; một thiết kế dàn dựng để trở thành văn. Nói ra có tính triết lý: giả như văn bản gởi đi, thì sự đó như biết trước rằng nó sẽ biến mất và chắc chắn trong tiến trình nó sẽ không để lại những gì chứng minh cho sự việc;‘test’ trở nên lời nhắn gởi. Nhưng thực ra đó là một chuẩn bị qua kinh nghiệm thâu tóm để thành văn bản. Điều này là một thực hành thông thường và phổ biến qua những gì gây ra từ trí tuệ: của khôn ngoan hay ngu xuẩn. Thực tế nó chỉ là bài bản không cần thiết. Nhưng; đứng về mặc khác thì nó là một diễn trình của cuộc đời và sự lớn dần của trí tuệ -the Life and Growth of the Mind- trong mỗi con người khi hành động. Cho nên chi cuộc đời là một biến động dữ dội, nhưng trong tiến trình của lớn dần có khi tưởng tượng mà trở nên kỳ quái và không thực, trong khi chúng ta đang trực diện trước một hoàn cảnh thử thách, bởi; trong thử thách là đe dọa đến tính mệnh con người. Người ta thành lập hàng rào phòng thủ cho một bệnh lý tâm thần và thể xác; dựng vào đó những gì có tính cách ‘huyền thoại’. Nhưng; nó hẳn là không thực? –But is it actually so unreal? Chúng ta không nghĩ vậy. Bởi; thực chất của sự kiện vốn đã xẫy ra, những gì đã cảnh báo là quan tâm trước một hiện tượng liên đới giữa người với người. Nó đã trở thành văn bản hiện thực, nếu thực sự có mặt ở đó, thế nhưng; người ta vẫn theo đuổi và tìm hiểu nguồn cơn tự sự do đâu mà có và đến từ đâu, người ta phớt lờ về điều này mà ngấm ngầm trong phương hướng khác giữa kinh tế và chính trị; đấy là sự lớn dần có qui mô bên ngoài của sự lý. Một dữ kiện lạ lùng về trí tuệ của con người, mà sự kiện hoàn toàn khác lạ một cách đột ngột thấy rõ (sharply) có từ thân thể con người mà ra. Dấu hiệu khác cho thấy rằng những gì ở đây là định vị một cách chính xác việc tăng trưởng trong sự ngay thẳng để phát triển bén nhạy, khéo léo và thanh cao. Trên thực tế những thể xác của con người đã bắt đầu đi tới suy giảm bởi thời gian –in fact; many persons’ bodies have begun to deteriorate by that time.

Dẫu là gì trong tình thế biến đổi bất thường hoặc đứng trước một viễn cảnh suy thoái mà ảnh hưởng đến tinh thần và thể xác, nhưng không phải vì thế mà làm ‘cụt hứng’ trong tư thế phát triển; khoa học võ trang một thứ vũ khí mới để chinh phục, nhưng; nhớ cho điều này không có giới hạn để đưa tới một tổng số của sự lớn dần và phát triển; cái đó trí tuệ có thể chế ngự được –But there is no limit to the amount of growth and development; that the mind can sustain. Trí tuệ không thể ngưng phát tiết ở bất cứ tác nhân nào hay tuổi tác. –The mind does not stop growing at any particular age. Phát triển theo mức độ thời gian, chính vì thời gian đã đưa tới một tác động suy thoái / deterioration qua từng ngày tháng…
Trí tuệ có thể teo rút giống như cơ bắp; nếu nó không dùng tới hay vận động. Teo rút trí tuệ cơ bắp là hình phạt, là những gì chúng ta bỏ quên việc tôi luyện. Sự đó là chứng cứ của việc hao mòn trí tuệ là con bệnh cực kỳ ghê gớm –atrophy of the mind is a mortal disease. Cho nên chi ‘động não’ là một tác động thực hành cho cơ não (trí tuệ) được cân bằng, hấp thụ thứ ánh sáng mới đầy chất sáng tạo hơn.
Như đã giải ở trên, con người và thời gian là một trải nghiệm nó phát ra từ suy tư để thành văn bản, dữ kiện đó trở nên thông thường; bài bản không còn là sáng tạo mà nó đi qua kinh nghiệm thiết kế để thành văn, một lối hành văn thông thường không mang tính đặc thù trong khi viết về văn chương. Và; đây là hình phạt thê thảm –And; this is a terrible penalty; là một thứ bài bản, chả phải mới mà rút tiả để dàn dựng cho ra văn, một thứ văn chương gần như nhắn gởi hơn là lý giải, lấy chứng từ để chứng minh, sự đó làm hao mòn của trí tuệ -that atrophy of the mind- Bởi nó chỉ nói lên cuộc đời trong một hạn hẹp nào đó và sự lớn dần của trí tuệ gần như thói quen không thể là văn bản (text) chính thức. Thí dụ: văn nhân Trần Dụ Ân chuyên viết phóng sự hay ký sự thường mô tả những quan hệ bình thường của thi văn nhân là viết theo dạng ‘feuilleton’ của thời báo chí miền Nam giữa thập niên 1960; gần như tìm chuyện để viết thành văn qua từng loạt (serial) chớ chẳng phải là truyện /chuyện mà hóa ra ‘xe cán chó, chó cán xe’ là chuyện bình thường tợ như thông tin thời sự, nó chẳng đánh động như một dữ kiện mà là chuyện nghe qua rồi bỏ, bởi; giữa khách thể và chủ thể cùng một tâm trạng bi đát như nhau, nó không dính gì đến lịch sử của văn chương mà tuồng như chuyện đọc đêm khuya, hò ru con. Ký sự như thế mất tính nghệ thuật sáng tạo, vòng vo trong ao tù nước đọng. Tương tợ những trường hợp khác kéo dài cho tới ngày nay của những văn sĩ, thi sĩ quen tên thường xử dụng ‘bài bản’ phê bình thơ / văn trong lối diễn trình xưa cũ, rập khuôn của những tác giả thời tiền chiến và hậu tiền chiến; tất cả bài bản (test) trở thành văn nhắn gởi. Không tác động mà duy trì thứ văn, thơ cổ lỗ sĩ không đổi mới tư duy để tạo cái ‘matière’ vào đó!
Đấy là những gì đã ghi nhận được về sự sống hiện hữu của con người (human beings) và nó sẽ có thể là điều chính đáng khác biệt giữa trí năng khôn ngoan của con người (homo sapiens) và những loài động vật khác; cho dẫu đó là một thứ siêu vi (virus) đi chăng. Vậy thì những gì xẫy ra là khám phá mới của nhân loại, khám phá từ thể chất đến tinh thần, từ tập thể đến cộng đồng là ý thức tình nhân loại, là đối tác giữa khoan dung và hài hòa; dấu hiệu của sự lớn dần phát sinh từ ý thức của trí tuệ. Mỗi khi con người cần có bên nhau, không còn biên giới thời gian và không gian, không một đối tượng nào là cố hữu; sự lý này không là tâm trạng để vượt ra khỏi giai đọan trong sự phát triễn mở mang này. Nhưng đó là dấu hiệu tiên phong lớn lao hơn bao giờ, là tiến trình mang lại sự lớn dần của cuộc đời, lớn dần của trí tuệ. Cái đó gọi là hiện tượng dung thông giữa thần và xác; con người là một hiện hữu sống thực, xung quanh chúng ta trong cuộc sống hằng ngày là nguồn năng lực trợ vào nhau và coi đó là kỳ diệu, những ấn tượng đậm nét đó là trí tuệ của chúng ta làm nên hay không làm nên, nó dựa trên cơ sở nhận thức hiểu biết, dựa trên trình độ để thành thơ /văn là những gì phản ảnh trung thực. Giả như không hiểu lý thuyết về Nietzsche, quan điểm của Hermann Hesse thì không cần phải dẫn chứng một cách hàm hồ; vô hình chung lộ hẳn cái không thực của trí tuệ, đó là mấu chốt đưa tới ‘atrophy’ một cách trầm trọng và nguy hại đến sinh mệnh văn chương cho hôm nay và mai sau. Bất luận viết gì phải là thực chứng. Dẫu là ký sự đi chăng nó có một tác động đả thông hơn là tán dương một cách vu vơ. Nói cho ngay sự đó có một ít hoặc không có hiệu năng –Eventually; they have little or no effect. Từ đó suy ra cuộc đời và sự lớn dần của trí tuệ là đi theo nhịp bước của tiến trình trau dồi và thực hành để cho cơ bắp toàn thể (corpse) phát tiết một trí tuệ trong sáng và lưu lại một giá trị lâu dài giữa cách viết và đọc, nó không hao tổn tinh thần và thể xác, ngược lại tồn lưu nhân thế. Hai lãnh vực này là vai trò chính để thành hình cho một trí tuệ sáng suốt và độc lập trong tư duy hành văn.Có nghĩa rằng độc lập trong tự phát (spontaneous) có thể là hành vi đưa tới sáng tạo hơn những gì nhai lại hay rập khuôn, thời tất không cho đó là phát huy của cuộc đời đang sống và sự trưởng thành của trí tuệ, bởi; ước lệ chính là rào cản con đường đi tới phát triển, dù phát triển trong hạn hẹp cố hữu là đưa văn chương vào con đường bế tắt mà cuộc đời là biến đổi theo thời gian; văn chương song hành cùng nhịp thở là dấu vết của đổi mới tư duy. Có thể có một vài động lực của cấu tạo văn bản -Some dynamics of textuality- là điều kiện của từng con chữ trong văn bản hoàn toàn khác biệt từ khi phát thành lời (văn hay thơ). Viết thành lời là độc lập và đầy đủ ngữ cảnh của mạch văn trong những gì nói thành lời đến cùng trong một hiện hữu. Chữ nằm trong thế tự nhiên của nó, viết thành chữ là một phần của sự thật –the words in its natural, written word is a part of a real. Còn thốt (utterance) là một tỏ bày sống thực (không pha chế hay phiạ). Chữ luôn luôn bổ nghĩa cho một tổng thể tình trạng mà lại có nhiều nghĩa hơn cả lời nói (verbal). Chữ nghĩa không bao giờ xuất hiện đơn độc mà nằm trong ngữ cảnh giản đơn của những con chữ (words). Từ chỗ đó được đánh giá cao về mặt vật lý và tâm lý của dòng tư tưởng phát tiết từ trí tuệ bằng sự phân tích rút từ nhận định của não thức mà trong cơ (muscle) của não chính là cơ quan đầu não phát sinh ra trí tuệ. Thành ra cuộc đời song hành với sự lớn dần của thời gian mới cấu thành một trí tuệ độc đáo trong tư thế vững chãi.Là văn chương mới ngày nay.

-Khoảng cách -Độ chính xác -Lựa chọn cách viết -Văn phong chỉnh đốn: Là cấu trúc cách viết có ý thức –Writing restructures consciousness trong một khoảng cách (distance) mà cách viết có tính chất khai phá, mở mang một thể loại mới chính xác hơn (precision) trong lối diễn đạt hóa cách viết (grapholecy verbalization) để cho văn phong được chỉnh đốn (magnavocabularies) bằng cách di chuyển nó đi tới một nghĩa cử phong phú, nhưng; chao đảo, lộn xộn là sự thường có trong ngữ cảnh của mỗi khi thốt thành lời hoặc viết thành văn (như văn thi sĩ LTTV và nữ văn sĩ Mỹ Anais Nin) đã huỵch toẹt, phá rào , phơi mở cho thể loại văn chương dâm ô, tục tĩu không còn thấy ở đó một sự chọn lựa cách viết mà trong lối diễn đạt hóa cách viết, có thể hợp nhãn người yêu dục và không hợp nhãn người yêu đạo đức (giả) nó nằm trong ngoặc kép riêng tư; thế nhưng nó tỏ ra ở đó cái khoe khoang, bộc bạch chung của trí tuệ khôn ngoan, khéo léo, như lối kể chuyện hoặc vắn tắt như trong tục ngữ -can be impressive in their magniloquence and communal wisdom, as in formal narrative or brief, as in proverbs- của chính tác giả. Hẳn nhiên sự khôn ngoan trí tuệ phải là cái gì với một tổng số và sự tương quan dễ đổ gãy ở phạm vi xã hội –Yet wisdom has to do with a total and relatively infrangible social contex. Chuyện kể là vận dụng ngữ ngôn và tư tưởng không ghi chép cho một phân tích chính xác, gần như tự phát để thành văn, nhưng đây không phải là điều thông thường hay dễ dàng diễn đạt, nó có ‘chất xám’ đặc biệt nằm cuối của não bộ; cho nên chi cái sự bộc phát (spontaniousness) nó trở thành văn/thơ một cách tài tình và độc đáo; tục mà thanh. Dĩ nhiên; tất cả ngữ ngôn và tư duy là có mức độ phẩm trật của việc phân tích từ con chữ cho tới văn phong; cả hai nó cuộn vào nhau nên văn là ở chỗ đó. Viết hay kể nó đòi hỏi cái độ giao tiếp trong ngữ cảnh như đã dẫn. Nhưng nhớ cho viết từ con chữ để thành lời là một dẫn độ sắc bén và tế nhị của cá tính, là tạo ở chính mình một cái gì trong sáng: không yểu điệu thục nữ, không dương (facial expression), không cường điệu, không một nghe ngóng tin ai mà phải thấy trước, biết trước của ngữ thuật, tất cả có thể bao trùm cả ý nghĩa, chứng từ có thể có cho từng đối tượng trong mọi tình huống khác nhau. Cho nên chi viết ký sự không phải là phóng sự mà cô đọng một văn phong thoát tục giữa khách thể và chủ thể ký mới trở nên linh động và tích trữ ở đó một tâm hồn khách quan hơn chủ quan. Vì vậy ký-sự phải tách ra khỏi khách thể và chủ thể thì ký mới linh động và thoát tục bằng không như tự khoe mình giữa chủ thể và khách thể cùng một ‘trời lận đận’. Cốt tủy của viết là sáng tạo và độc lập là đưa văn chương tới đỉnh cao. Ký không gây chú ý lớn như truyện ngắn, truyện dài, tùy bút hay tản văn, ký chỉ giữ vai trò ‘kể chuyện’ ghi lại hoài niệm cũ mới (chronicle memory).Thoạt kỳ thủy tác nhân được kể đến trong ký dần dà chìm sâu vào quá khứ mà chỉ thấy tác giả ký-sự ở đó mà thôi. Buồn tệ!

Dĩ nhiên; mỗi lần bắt đầu đặc bút xuống viết là cảm thấy có một sự gì ngay thẳng, đúng đắng và phân giải sự lý một cách chính xác là đem lại bên trong một sự tự nhiên để cảm thông sâu đậm trong lời văn như lời phát biểu hiện thực. Dù cho tư tưởng của Plato đòi hỏi con chữ phải rõ ràng trong thể thức đối đáp; mới là đúng nghĩa đưa tới hiệu năng của viết lách trong sự tiến trình của trí năng (neotic), bởi; nói, viết hay thốt là trong ý thức để hành văn; ngay cả Socrates và Plato họ đã thừa hưởng một tổng thể hóa của chữ nghĩa: không cần lý giải, phân tích, thuyết minh qua một thể thức đối đáp mà tự nó đã giải thích để thành văn trong tác phẩm của văn chương trí tuệ -the works of a literate mind- như đã có.
Thế giới của trí năng (trí tuệ) đã mở cửa bằng một sự tái tục chính xác là một sự bày tỏ thấy được và một thông tin hết sức tương xứng đúng nghĩa của lời nói được miêu tả (verbal description), là những gì thuộc tâm lý có thực. Hiệu năng không những chỉ khoa học mà hiệu năng ngay trong văn chương đã có ./.

VÕ CÔNG LIÊM (ca.ab.yyc. 1/5/2020)

 

HOA HỒNG XANH VÀ LÁ DIÊU BÔNG

Nguyên Lạc

.
BÀI THƠ BLUE ROSES – HOA HỒNG XANH

hoa hong xanh
Hoa Hồng Xanh – Blue Roses là bài thơ của Rudyard Kipling, một văn thi sĩ người Anh.

I. Vài Hàng Tiểu Sử Rudyard Kipling
Joseph Rudyard Kipling (sinh tại Mumbai, Ấn Độ 30 tháng 12, 1865 – qua đời 18 tháng 1, 1936) là một trong những tác giả nổi tiếng nhất ở Vương quốc Anh, cả về văn xuôi và thơ, vào cuối thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 20. Rudyard Kipling đoạt giải Nobel Văn học năm 1907 – ông được trao giải Nobel khi mới 42 tuổi – là người trẻ tuổi nhất trong lịch sử giải Nobel Văn học.

 

 

Các tác phẩm tiêu biểu:
– Plain Tales from the Hills (Truyện kể núi đồi, 1887)
– The Jungle Book (Sách Rừng xanh, 1894), tập truyện – dựng thành phim
– The Five Nations (Năm dân tộc, 1903), thơ
– If (Nếu, 1910), thơ – Cuối thế kỷ XX, đài BBC đã đề nghị thính giả chọn những bài thơ hay nhất của các nhà thơ Anh, bài thơ này được chọn nhiều nhất.
– Đặc biệt bài thơ Blue Roses được rất nhiều người biết đến và thích. Có người cho nó thuộc về thơ “Siêu thực”. […”Chủ nghĩa/Trường phái Siêu thực (Surrealism) là khuynh hướng nghệ thuật bắt nguồn từ chủ nghĩa Tượng trưng và Phân tâm học, đặt phi lý tính lên trên lý tính. Chủ trương, khuynh hướng trường phái nầy nhằm giúp con người thoát ra khỏi mọi xiềng xích xã hội. Chủ nghĩa siêu thực cố gắng diễn tả tiềm thức bằng cách trình bày các vật thể và sự việc như được thấy trong những giấc mơ”…] (Nguồn Wikipedia)
.

II. Bài thơ Blue Roses

Xin giới thiệu đến các bạn bài thơ Blue Roses, theo tôi đầy cảm xúc, đánh động lòng người.
.
Nguyên tác:
Blue Roses
By Rudyard Kipling
.
Roses red and roses white
Plucked I for my love’s delight.
She would none of all my posies–
Bade me gather her blue roses.
.
Half the world I wandered through,
Seeking where such flowers grew.
Half the world unto my quest
Answered me with laugh and jest.
.
Home I came at wintertide,
But my silly love had died,
Seeking with her latest breath
Roses from the arms of Death.
.
It may be beyond the grave
She shall find what she would have.
Mine was but an idle quest–
Roses white and red are best
.

III. Ý nghĩa của hoa hồng xanh

Hoa hồng xanh tượng trưng cho những điều không thể thành hiện thực, hoặc không thể đạt được. Bởi hoa hồng xanh rất hiếm trong tự nhiên, nên nó đại diện cho điều gì đó hầu như không nằm trong tầm tay của con người, một giấc mơ không thể thực hiện.
.
IV. Dịch Thơ Blue Roses

Có nhiều người dịch bài thơ Blue Roses, sau đây là các bài dịch tiêu biểu:

1. Nguyễn Viết Thắng dịch:
.
Hoa hồng xanh
.
Tôi mang đến tặng em
Hoa hồng đỏ và trắng.
Không hiểu sao em bỗng
Nói em thích hồng xanh.
.
Tôi đi khắp thế gian
Tìm thứ hoa như vậy.
Nhưng người ta cười nói:
“Chẳng có ở trên trần”.
.
Tôi trở về mùa đông
Em của tôi đã chết
Em có còn nhận biết
Hoa từ tay Tử thần.
.
Biết đâu nơi suối vàng
Có loài hoa ao ước.
Chẳng có hoa nào đẹp
Bằng hoa cõi trần gian.
.
2. Trần Đức Phổ dịch:
.
Bông Hồng Xanh
.
Hoa hồng đỏ, hoa hồng trắng
Tôi hái trao tặng người thương
Vô tình nàng chê chẳng nhận
Đòi màu xanh biếc hoa hường!
.
Lang thang nửa vòng trái đất
Chẳng đâu mọc thứ hoa này
Hỏi tìm nửa vòng trái đất
Chỉ toàn cười mỉa, chua cay
.
Trở về trong mùa đông lạnh
Người yêu thơ dại qua đời
Nhìn nàng trút hơi thở cuối,
Tử thần cướp đóa hồng tôi!
.
Có lẽ bên kia thế giới
Nàng tìm thấy được niềm vui
Riêng tôi chân tình chẳng đổi
Hồng đỏ. hồng trắng tuyệt vời!
.
3. Nguyên Lạc phóng dịch
.
a. Vài ý riêng về dịch thơ nước ngoài:

Trước khi phóng dịch bài thơ, tôi xin ghi ra đây vài ý chủ quan:
– Dịch thơ từ tiếng nước ngoài, nhất là tiếng đa âm – các nước phương Tây, ra tiếng đơn âm – tiếng Việt; hoặc ngược lại, là một điều rất khó. Coi chừng “dịch là diệt”. Dịch chính xác từng mặt chữ – giống như các dịch giả chuyên nghiệp, thì bài thơ sẽ không mượt mà. Theo tôi, thi nhân chỉ cần nắm bắt được “hồn thơ”, dịch theo ngôn ngữ riêng của mình – với điều kiện đừng quá xa rời nguyên bản – thì bài thơ dịch sẽ mượt mà hơn.
– Tiêu biểu viêc nắm vững “hồn thơ” rồi dịch rẩt tài hoa là trường hợp Phan Huy Vịnh, dịch câu thơ chữ Hán của Bạch Cư Dị ra tiếng thuần Việt mà nhiều người cho là còn hay hơn câu nguyên tác:
Đồng thị thiên nhai luân lạc nhân => Cùng một lứa bên trời lận đận
– Với những điều nói trên, tôi sẽ không dịch chính xác theo mặt chữ một vài từ/ chữ, chỉ dịch thoát chúng theo ý/tứ câu/bài thơ.
Thí dụ: “The grave” không dịch là “mộ phần”, “nghĩa địa”, “chết” … mà dịch là “cõi khác”. Tương tợ, “Half the world” tôi không dịch là “nửa vòng trái đất”, mà dịch là “khắp cùng trái đất”, “khắp cùng thiên hạ” cho mạnh nghĩa, vân vân…
.
b. Phóng dịch bài thơ:
Tôi sẽ cố gắng nắm “hồn thơ”, theo sát nguyên tác để dịch bài thơ Blue Roses . Chủ quan, trong công việc dịch thuật văn thơ nước ngoài, ai cũng tham khảo các người dịch trước, tôi cũng không ngoại lệ.
Đúng ra bài thơ này có nhiều người dịch rồi, tôi không nên dịch; nhưng vì đồng ý với nhiều người cho rằng nó thuộc về thơ “Siêu thực”, và giống như bài thơ Việt Nam nhiều người yêu thích- đã được các nhạc sĩ tài hoa phổ nhạc : Lá Diêu Bông của thi sĩ Hoàng Cầm – nên tôi dịch lại.
Bài thơ hầu như là loại thơ 6 chữ, do đó theo chủ quan tôi, dịch thơ theo loại 5 chữ thì thiếu chữ, không diễn tả hết ý nguyên bản; còn dịch bằng 6/8, 7 hoặc 8 chữ … thì dư chữ và khó khăn. Tôi sẽ phóng dịch bằng thơ 6 chữ như thi sĩ Trần Đức Phổ.
Đây là bài phóng dịch thơ của tôi:
.
HOA HỒNG XANH
.
Hoa hồng trắng hoa hồng đỏ
Hái tặng làm vui tình nhân
Không phải màu hoa mong muốn
Nàng đòi xanh biển hoa hồng!
.
Lang thang khắp cùng trái đất
Tìm đâu được thứ hoa này
Hỏi tìm khắp cùng thiên hạ
Nhận toàn giễu cợt mỉa mai
.
Về đúng ngay lúc mùa đông
Ngây thơ yêu đang hấp hối
Tìm nàng thở hơi thở cuối
Hoa hồng trong tay Tử thần!
.
Có lẽ bên kia cõi khác
Nàng sẽ tìm được hồng xanh
Riêng tôi tấm lòng không khác
Trắng đỏ tuyệt nhất luôn dành
.

BÀI THƠ LÁ DIÊU BÔNG
.
Lá Diêu Bông là bài thơ của Hoàng Cầm, thi sĩ người Việt. Bài thơ Blue Roses – Hoa Hồng Xanh khiến ta liên tưởng đến bài thơ Lá Diêu Bông của thi sĩ Hoàng Cầm, vì cả hai đều nói đến sự truy tìm những điều không thể thành hiện thực.
Bài thơ Lá Diêu Bông viết về một câu chuyện có thật, câu chuyện về mối tình đầu tiên trong đời Hoàng Cầm với người con gái lớn tuối, đáng chị mình.
.
1. Tiểu sử Hoàng Cầm
Hoàng Cầm tên thật là Bùi Tằng Việt, sinh năm 1921 (một bài báo ở Saigon gần đây cho biết ông sinh vào năm 1922) tại Làng Lạc Thổ, Huyện Lang Tài, Phủ Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh trong một gia đình Nho Giáo. Hoàng Cầm học Tiểu Học tại Bắc Giang rồi lên Hà Nội học Trung Học và đậu Tú Tài II Pháp. Khi còn đang học lớp Ðệ Tứ, Hoàng Cầm phóng tác cuốn Graziella của Lamartine thành chuyện Việt Nam với tên Hận Ngày Xanh. Tiểu thuyết đầu tay của Hoàng Cầm là Thoi Mộng, viết vào năm 1943. Trở về Bắc Giang, dạy học tại trường La Clarté, Hoàng Cầm vẫn viết văn, làm thơ để gửi đăng trên các báo Tiểu Thuyết Thứ Năm, Tiểu Thuyết Thứ Bẩy. Anh là người dịch truyện Ba Tư Một Ngàn Ðêm Lẻ ra Việt ngữ… [Hoàng Cầm Trong Tôi – Phạm Duy]
.
2. Nguyên văn bài thơ
.
Lá Diêu Bông
.
Đứa nào/ tìm được lá diêu bông
Từ nay ta gọi là chồng.
Mùa Đông sau em tìm thấy lá
Chị lắc đầu/Trông nắng vãn bên sông
Ngày cưới chị/ Em tìm thấy lá
Chị cười xe chỉ ấm trôn kim
Chị ba con/ Em tìm thấy lá
Xoè tay phủ mặt chị không nhìn.
Từ thuở ấy/ Em cầm chiếc lá
Đi đầu non cuối bể/ Gió quê vi vút gọị
Diêu bông hời … ới Diêu bông!”.
(Hoàng Cầm)
.
3. Phổ nhạc bài thơ Lá Diêu Bông
– Năm 1984 bài thơ Lá Diêu Bông của Hoàng Cầm đã được nhạc sĩ Phạm Duy phổ nhac, cùng tên. Nội dung bài thơ được giữ nguyên, Phạm Duy chỉ thêm vào hai câu lục bát ở cuối bài:

Em đi trăm núi nghìn sông
Nào tìm thấy lá diêu bông bao giờ?

– Ngoài ra, khoảng năm 1990, nhạc sĩ Trần Tiến phổ lại nhạc với lời mới cho bài thơ này, bài hát mang âm hưởng dân ca Bắc bộ, lấy tên là “Sao em nỡ vội lấy chồng”.

Trích lời bài hát “Sao em nỡ vội lấy chồng” – Trần Tiến :
.
Bướm vàng đã đậu trái mù u rồi
Lấy chồng sớm làm gì, để lời ru thêm buồn
Ru em thời thiếu nữ xa xôi
Còn đâu bao đêm trăng thanh
Tát gàu sòng, vui bên anh
Ru em thời con gái kiêu sa
Em đố ai tìm được lá diêu bông
Em xin lấy làm chồng
. . .
Thương em tôi tìm được lá diêu bông
Sao em nỡ vội lấy chồng
Diêu bông hỡi diêu bông
Sao em nỡ vội lấy chồng!
.
4. Về lá diêu bông:
Lá diêu bông là lá gì ?
– Lá diêu bông (lá bông diêu thì đúng hơn) là thứ lá đặc biệt ở làng Ðình Bảng, Bắc Ninh, phụ nữ thời xưa thường vắt ra nước rồi bôi lên mặt cho da dẻ được hồng hào tươi đẹp – theo Phạm Duy
– Lá diêu bông được nhà thơ Hoàng Cầm giải thích rằng đó là lá của hoa phiêu diêu, hoa trong mộng tưởng. Tình yêu luôn đẹp và phiêu diêu như vậy.

***
Theo chủ quan của tác giả bài viết thì cả hai bài thơ đều hay, đầy cảm xúc. Vấn đề được nêu ra ở đây là:
– Những điều bản thân mình mong muốn mà “không thể trở thành hiện thực”, khi người mình thương yêu “vẫn hiện hữu” và người mình thương yêu đã bị “Thần Chết cướp đi”, cái nào thảm hơn cái nào?
.
Nguyên Lạc
……………….
Mời nghe:
– Lá Diêu Bông (Thơ Hoàng Cầm, nhạc Phạm Duy – Ý Lan hát)
https://www.youtube.com/watch?v=2mazKAw_vZQ
– Sao Em Nỡ Vội Lấy Chồng (Nhạc Trần Tiến – ca sĩ Tố My)
https://www.youtube.com/watch?v=QAyrm8jA_a8

“Tất cả các kỹ thuật viên phòng thí nghiệm Vũ Hán đã ᴄḣê’t

GS miễn dịch học Nhật Bản:

“Tất cả các kỹ thuật viên phòng thí nghiệm Vũ Hán đã ᴄḣê’t”

Giáo sư Tiến sĩ Tasuku Honjo:” Tôi đã làm việc 4 năm trong phòng thí nghiệm wuhan của Trung Quốc. Tôi hoàn toàn làm quen với tất cả các nhân viên của phòng thí nghiệm đó. Tôi đã gọi điện cho tất cả bọn họ, sau tai nạ.n Corona. nhưng, tất cả điện thoại của họ đã ch.ế.t trong 3 tháng qua. Bây giờ tất cả các kỹ thuật viên phòng thí nghiệm đã ch.ế.t.”
Nhật Bản, Giáo sư Tiến sĩ Tasuku Honjo, đã cảnh báo trước truyền thông ngày nay bằng cách nói rằng virus corona không phải là t.ự nhiên. “Nếu nó là tự nhiên, nó sẽ ảnh hưởng xấu đến toàn bộ thế giới như thế này. Theo bản chất, nhiệt độ là khác nhau ở các quốc gia khác nhau, nếu đó là tự nhiên, nó sẽ ảnh hưởng xấ.u đến những quốc gia có nhiệt độ tương đương với Trung Quốc. Thay vào đó, nó đang lan rộng ở một quốc gia như Thụy Sĩ, giống như cách nó lan rộng ở các khu vực sa mạc. Trong khi đó là tự nhiên, nó sẽ lan ra ở những nơi lạnh, nhưng ch.ế.t ở những nơi n.óng. Tôi đã thực hiện 40 năm nghiên cứ.u về động vật và virus. Nó không phải là t.ự nhiên. Nó được sản xuất và virus hoàn toàn nhân tạo. Tôi đã làm việc 4 năm trong phòng thí nghiệm Wuhan của Trung Quốc. Tôi hoàn toàn làm quen với tất cả các nhân viên của phòng thí nghiệm đó. Tôi đã gọi điện cho tất cả bọn họ, sau ta.i nạ.n Corona, nhưng, tất cả điện thoại của họ đã ch.ế.t trong 3 tháng qua. Bây giờ tất cả các kỹ thuật viên phòng thí nghiệm đã ch.ế.t.”

Honjo Tasuku (本庶 佑 Honjo Tasuku sinh ngày 27 tháng 1 năm 1942 tại Kyoto) là một nhà miễn dịch học người Nhật, được trao giải Nobel danh giá vì công trình khám phá của ông về protein PD-1
“Dựa trên tất cả kiến thức và nghiên cứ.u của tôi cho đến nay, tôi có thể nói điều này với sự t.ự tin 100% rằng Corona không t.ự nhiên. Nó không đến từ dơi. Trung Quốc đã sản xuất nó, nếu những gì tôi nói hôm nay được chứng minh là sai hoặc thậm chí sau khi tôi ch.ế.t, chính phủ có thể rút giải thưởng

Phòng thí nghiệm P4 tại Viện Virus học Vũ Hán ở Vũ Hán, tỉnh Hồ Bắc, Trung Quốc, vào ngày 17/4/2020. (Hector Retamal / AFP / Getty Images)
Honjo Tasuku (本庶 佑 Honjo Tasuku sinh ngày 27 tháng 1 năm 1942 tại Kyoto) là một nhà miễn dịch học người Nhật, được trao giải Nobel danh giá vì công trình khám phá của ông về protein PD-1. Ông cũng được biết đến với nhận dạng phân tử của các cytokine: IL-4 vàIL-5, cũng như phát hiện ra ACD, cần thiết cho sự tái tổ hợp chuyển đổi lớp và siêu độ.t biến.
Ông được bầu làm cộng tác viên nước ngoài của Viện Hàn lâm Khoa học Quốc gia Hoa Kỳ (2001), là thành viên của Học viện Khoa học Tự nhiên Đức Leopoldina (2003), và cũng là thành viên của Học viện Nhật Bản (2005). Năm 2018, ông và và James P. Allison được trao Giải Nobel Sinh lý học và Y khoa vì khám phá của họ trong điều trị u.n.g th.ư bằng phương thức sử dụng các tế bào miễn dịch để tấ.n công tế bào u.n.g th.ư. Ông và Allison cùng nhau đã giành được 2014 giải Tang thưởng khoa học sinh dược cho cùng một thành tích. Năm 2016, ông nhận Giải Khoa học Y khoa Keio Năm 2016, ông cũng được trao Giải khoa học Phục Đán-Zhongzhi Cũng năm 2016, ông được trao giải Thomson Reuters Citation Laureates . Năm 2017, ông nhận Giải Quỹ Warren Alpert
Honjo tốt nghiệp bác sỹ y khoa năm 1966, Đại học Kyoto, năm 1975, ông nhận bằng Tiến sĩ. trong Hóa học y tế dưới sự giám s.á.t của Yasutomi Nishizuka và Osamu Hayaishi.
Từ năm 1971 đến năm 1974, ông là giảng viên thỉnh giảng tại Khoa Phôi học, Viện Carnegie của Washington và Viện Sức khỏe Trẻ em và Phát triển Con người, Viện Y tế Quốc gia. Sau khi học tập tại Mỹ, ông là trợ lý giáo sư tại Khoa Y, Đại học Tokyo từ 1974 đến 1979, và là Giáo sư và Chủ tịch Khoa Di truyền, Trường Y, Đại học Osaka từ năm 1979 đến năm 1984.
Ông là thành viên của Hiệp hội miễn dịch học Nhật Bản và là Chủ tịch của nó từ năm 1999 đến năm 2000. Honjo cũng là một thành viên danh dự của Hiệp hội các nhà miễn dịch học Hoa Kỳ. Từ năm 1984, ông là giảng viên của Đại học Kyoto, và vào năm 2017, ông trở thành Phó Tổng giám đốc và Giáo sư xuất sắc của Học viện Cao học Kyoto (KUIAS).

MỖI NGÀY MỘT CA KHÚC TƯỞNG NIỆM 30 THÁNG TƯ

Nam Lộc

“Tự Do ơi tự do, tôi trả bằng nước mắt…!”

dicu 1

https://youtu.be/HEUHMGeJ5iE
(hình ảnh Sài Gòn “trong cơn hấp hối”, 30 tháng Tư, 1975)

dicu 2

Tôi bước đi, khi Sài Gòn trong cơn hấp hối…
Tôi bước đi, Tân Sơn Nhất lửa khói ngập trời…

Vâng, đó là những gì mà tôi đã trải qua và được ghi nhận lại trong nhạc phẩm “Xin Đời Một Nụ Cười”. Dù tôi chỉ đủ khả năng và nghị lực để viết được một cách khiêm nhường qua hai mươi dòng nhạc, nhưng phần nào đó đã diễn tả được hình ảnh của cuộc hành trình tìm tự do đầy máu và nước mắt mà dân tộc tôi, đồng bào tôi và gia đình tôi đã phải trả để đổi lấy hai chữ “Tự Do”!

Tôi bước đi, khu thương xá cửa khép cuộc đời…
…những con tầu ngơ ngác ra khơi!

Đâu ngờ rằng trên một trong những “con tầu ngơ ngác” đang chết máy đó có bố tôi, chen chúc cùng hàng ngàn người khác, đợi chờ trong tuyệt vọng để mong một phép lạ, cuối cùng điều đó đã xẩy ra. Tầu Trường Xuân đã đưa bố tôi cùng nhạc sĩ Lam Phương, bạn tôi anh Elvis Phương và hơn 5000 người khác đến được bến tự do.

di cu tau truong xuan
Tầu Trường Xuân tại cảng Sài Gòn ngày 30 tháng Tư, 1975

Ngày 30 tháng Tư năm ấy, 1975, tôi đang ngồi ở đảo Guam, nghe tin mất nước mà lòng sầu vô tận. Thuở đó không có cell phone như bây giờ nên chẳng biết gia đình sống chết ra sao? Bố Mẹ, anh chị em đang trôi dạt phương nào…? Mãi về sau mới biết ông Cụ tôi là người duy nhất trong gia đình thoát được, và phải đợi đến 2 năm sau, 1977 thì cậu em út của tôi, Nam Việt, tên sĩ quan trốn “học tập cải tạo”, mới cùng người anh là Nam Ninh, mong manh trên con thuyền nhỏ bé, phải gọi là chiếc ghe thì đúng hơn, vỏn vẹn có 7 người, không kinh nghiệm hải hành, nhưng họ đã quyết định liều chết để sống. Chẳng bao lâu, ghe hư máy lênh đênh trên biển cả, mấy ngày sau thì được tầu dầu Kuwait đến cứu và đem cả bọn vào đảo quốc nhỏ bé này tận miền Trung Đông xa xôi, nóng cháy da người. Và cũng từ những năm đó, hàng triệu người Việt đã lần lượt bỏ nước ra đi bằng đủ mọi cách, đủ mọi phương tiện, và đủ mọi hình thức. Chỉ nội gia đình tôi, tổng cộng 12 người, cùng mấy đứa cháu, đã phải mất hơn 11 lần vượt biển, vượt biên, vượt ngục và phải trải qua 9 quốc gia trên khắp 4 lục địa, ngoại trừ Úc Châu mới đến được bến bờ tự do!

Tôi bước đi, qua đường rừng chông gai, tăm tối…
Tôi bước đi, như con rết lê lết cuộc đời,
như thân bướm đôi cánh rã rời…

Đó là đoạn thứ hai của bài hát, tôi viết cho những người vượt biên bằng đường bộ, trong đó có hai cô em gái, dẫn hai đứa cháu còn nhỏ từ Sài Gòn, xuống Tây Ninh, vượt qua biên giới Cam Bốt. Hơn 10 ngày, 9 đêm đi bộ trong rừng thẳm mới đến được trại tỵ nạn Thái Lan. Sau này còn biết thêm, nhạc sĩ Trúc Hồ cũng là một trong số những “bộ nhân” vào thời điểm đó.

Tôi nép thân trên mảnh thuyền mong manh, sương gió,
Như một người tìm đường về nơi đáy mồ…

Đoạn thứ ba tôi viết cho những thuyền nhân, mà đa số anh chị em của chúng tôi cùng hàng triệu người khác đã dùng phương tiện đầy hiểm nguy này để vượt biển tìm tự do. Tôi còn nhớ, chỉ riêng năm 1979 thôi, nước Mỹ đã nhận hơn 200 ngàn người tỵ nạn VN đến định cư tại HK.

di cu he thong
Thống kê thuyền nhân tỵ nạn Việt Nam của UNHCR

Nhưng dù ra đi bằng cách nào chăng nữa, như chúng tôi, thời điểm 1975, như các thuyền nhân, đường bộ hay đường bay của những vị tù nhân cải tạo, đến HK muộn màng qua diện HO, hoặc gần đầy nhất là các tù nhân lương tâm v..v.., thì người Việt tỵ nạn đã hãnh diện gởi đến cho toàn thế giới một thông điệp mạnh mẽ về lòng quyết tâm và yêu chuộng tự do, dân chủ của chúng ta.

Tự do ơi tự do! Tôi trả bằng nước mắt,
Tự do hỡi tự do! Anh trao bằng máu xương.
Tự do ơi tự do! Em đổi bằng thân xác,
Vì hai chữ tự do, ta mang đời lưu vong.

Và đó là tất cả những tâm huyết tôi đặt vào ca khúc “Xin Đời Một Nụ Cười” cùng những bài hát khác mà tôi đã mạo muội chia sẻ cùng qúy vị và các bạn trong mấy ngày qua. Có một chiến hữu, trung úy Sơn “Lai Khê” của Sư Đoàn 5 Bộ Binh đã viết một bài liên quan đến những sáng tác về tỵ nạn của tôi và ông gọi tôi là “người nhạc sĩ của tháng Tư”. Điều đó không sai, quả thật, nếu không có biến cố 30 tháng Tư, 1975, thì có lẽ tôi sẽ chẳng bao giờ trở thành…“nhạc sĩ”. Nếu không có những khổ đau, gian truân, tủi nhục mà thân phận người tỵ nạn đã phải trải qua và chịu đựng, thi sẽ không bao giờ Sài Gòn Ơi, Vĩnh Biệt, Người Di Tản Buồn, hay Xin Đời Một Nụ Cười được thành hình. Những bài hát này tôi viết cho chính bản thân tôi, cho gia đình tôi, cho đồng bào tôi và cho dân tộc tôi. Vì thế ai cũng có thể sử dụng được mà không phải trả tiền, bản quyền là của quê hương, đất nước. Tôi đã để lại di chúc cho các con, các cháu để chúng hiểu và thực hiện những ý nguyện đó của tôi nếu mai này tôi ra đi.

di cu sinh vien
Sinh viên tỵ nạn Việt Nam tại đại học YALE

Tôi hãnh diện với thế hệ trẻ ngày nay mà quý vị và chúng tôi, lớp người đi trước đã hy sinh để cho chúng trưởng thành và hiểu biết. Các cháu đã thành nhân, thành những người hữu dụng của xã hội tại khắp các quốc gia tự do trên thế giới đã đón nhận chúng ta. Những giờ phút lao động vất vả mà chúng ta đã trải qua, giọt mồ hôi của người thợ sửa xe hay người đứng đổ săng, giọt nước mắt của người lao công hay đứng chùi cầu. Những người thợ dũa móng tay, những tài xế taxi, dọn giường trong khách sạn hay chạy bàn ở nhà hàng v..v.., họ đã dùng đồng tiền mồ hôi nước mắt đó để nuôi nấng bầy con, lũ cháu ăn học thành tài. Và bây giờ chúng sẽ là những nhân tố đóng góp tích cực vào xã hội và các quốc gia mà chúng ta đang tạm dung. Con cháu chúng ta sẽ mãi mãi và muôn đời trả những món nợ ân tình mà các chính phủ cùng những người bảo trợ tốt bụng năm xưa đã giúp đỡ và cưu mang ông bà, cha mẹ của chúng. Viết đến đây, tôi lại nhớ đến câu nói của ký giả George Will trên tuần báo Newsweek năm 2007, viết về một phụ nữ VN đã có những đóng góp tốt đẹp cho đất nước Hoa Kỳ, ông nói “Cám ơn cô đã trả món nợ mà cô nói cô nợ của nước Mỹ. Cô đã hoàn trả đầy đủ, không thiếu một xu nào, lại còn luôn cả tiền lời nữa…….”!

di cu sinhvien ra truong

Ngày các cháu tốt nghiệp đại học YALE
và căn cước tỵ nạn ở trên mình

Hôm nay là ngày 30 tháng Tư, 2020, kỷ niệm 45 năm ngày chúng ta mất quê hương dù vẫn còn tổ quốc. Kính mời quý vị và các bạn nghe lại hai phiên bản của nhạc phẩm “Xin Đời Một Nụ Cười”. Clip đầu được thu thanh đã gần 40 năm trước khi tôi vừa hoàn thành nhạc phâm này và cùng hát với nữ ca sĩ Khánh Ly. Phiên bản sau đó được trung tâm Asia thực hiện gần đây để nhắc nhở kỷ niệm xưa, nhưng cũng để gởi lời tri ân đến các xứ sở tự do đã cho chúng ta cùng thế hệ con cháu của chúng ta một tương lai và một kho tàng trí tuệ, sẵn sàng để chia sẻ cùng thế giới và đóng góp cho một Việt Nam tự do của một ngày không xa.

NAM LỘC & KHÁNH LY
https://www.youtube.com/watch?v=1gVUqtzWkm8

DIỄM LIÊN & NGUYÊN KHANG
https://www.dailymotion.com/video/x7f4q42

&
https://www.youtube.com/watch?v=RiKsJ7J5eLg

VỀ MỘT DÒNG SÔNG

Nguyên Lạc

uminh4-tram

Cần Thơ gạo trắng nước trong
Ai đi đến đó lòng không muốn về
(ca dao)

BÀI THƠ NHỚ BẾN NINH KIỀU

Tình cờ gặp bài thơ và hình chụp của ông bạn thi sĩ Quảng Nam thăm bến Ninh Kiều, TP Cần Thơ, khiến tôi nhớ nó quá, vội họa những lời thơ nầy:

TỚI BẾN NINH KIỀU
(Nguyễn Hàn Chung)

Anh hăm hở tới Ninh Kiều
xung quanh vắng ngắt mĩ miều cù cưa
cái thời nắng khổ tìm mưa
nói chung chấm hết nên chừa vậy thôi

Thơ họa:

NHỚ BẾN NINH KIỀU
.
Bao năm quên bến Ninh Kiều
Chợt nay thấy ảnh buồn nhiều oán sâu!
Cái thời mắt liếc môi trao
Cái thời mưa đượm tình nhau… Xóm Chài!
.
Vẫn còn hoài mãi một đời
Dù bao thống hận lũ người ác nhân
Gây chi bao chuyện tang thương?
Để cho oan nghiệt sâm thương đôi bờ!
.
Còn đâu đại học Cần Thơ!
Còn đâu đường phượng thắm hoa đỏ trời!
Tiếc thương chi? Cũng rồi thôi!
Nhớ thương chi? Để lệ rơi kiếp người?
(Nguyên Lạc)
.
Bài thơ trên cũng khiến tôi chạnh long nhớ đến hai câu ca dao nhân dân của “một thời tôi cố quên”, thời 75 như sau:
Chiều chiều trên bến Ninh Kiều
Dưới chân tượng Bác, đĩ nhiều hơn dân!
(Ca Dao Nhân Gian Thời XHCN Việt Nam)
.
Trong bài thơ họa có hai cụm từ: XÓM CHÀI và ĐẠI HỌC CẦN THƠ các bạn miền ngoài không rõ, nên đã hỏi. Tôi xin được giải thích rõ về hai cụm từ này, cùng những gì liên quan đến nó để các bạn tường.
.
VỀ ĐỊA DANH XÓM CHÀI

1. Xóm Chài
Xóm Chài là một xã đối diện với bến Ninh Kiều nhìn qua sông nhỏ Cần Thơ. Xã này nằm trên doi đất nhô ra, kẹp giữa bởi sông Hậu và sông nhánh Cần Thơ .
Bến Ninh Kiều tọa lạc tại ngã ba sông Hậu và sông nhánh Cần Thơ, trước 1975 là Căn Cứ Hải Quân vùng 4 VNCH. Về phải, con sông nhỏ Cần Thơ nầy chạy qua Công viên Ninh Kiều, chợ Cần Thơ rồi đến huyện Cái Răng – có chợ nổi nổi tiếng và cầu lớn bằng xi măng bắt ngang qua, nối liền quốc lộ 4, chạy xuống Sóc Trăng và Cà Mau. Cầu này, năm 1968 bị mìn CS nổ xập, ban ngày, làm một số xe đò chở đầy người và một số bộ hành (dân đi bộ buôn bán) rơi xuống sông chết. Sau đó cầu được xây lại.
Từ Cái Răng, dòng sông chạy đến Phong Điền, Cầu Nhiếm vang tiếng về những vườn cam bạt ngàn. Cam xanh (Cam sành) rất ngọt, được thương lái chuyện vận lên tận Sài gòn. Đây là quê của “nàng” hiện tại.
Nửa đoạn đường Cái Răng đến Phong Điền, khoảng xà Nhơn Ái nếu rẽ trái là kênh/ kinh đào thẳng tấp: Kênh/ Kinh Xáng Xà-No rồi đến huyện Phụng Hiệp – Ngã Bảy , nơi 7 con sông nhỏ gặp nhau.
.
“Hò ơ …. Cái Răng, Ba Láng, Vàm Xáng, Xà No.
Anh có thương em thì mua một con đò
Để em qua lại. Hò ơ… để em qua lại thăm dò ý anh.”
.
Cá trê trắng nấu với rau cần
Muốn về Kinh Xáng cho gần với em
(ca dao)
.
a. Kênh Xáng Xà-No

Kênh Xáng Xà No – Gọi tắt là kinh (kênh) Xáng, một dòng kênh do thực dân Pháp đào – Năm 1901 kênh Xà No được khởi công, đến tháng 7/1903 hoàn thành – nhằm khai thác vùng đất hoang miền Hậu Giang. Bề ngang trên mặt kênh rộng 60 mét, đáy 40 mét, độ sâu từ 2,5-9 m, dài 39 km nối liền sông Cần Thơ (ngã ba Vàm Xáng, làng Nhơn Ái, Phong Điền, Cần Thơ) đến sông Cái Lớn (ngọn rạch Cái Tư, nay thuộc thị xã Vị Thanh, tỉnh Hậu Giang). Sông Cái Lớn chảy ra biển, vùng vịnh Thái Lan.
Có người cho rằng, gọi tên kênh là Xà No vì được đọc trại từ Saint-Tanoir, tên của người Pháp chỉ huy xáng đào con kênh này. Theo nhà văn Sơn Nam thì cái tên Xà No bắt nguồn từ tiếng Khmer: “Srok Snor – xóm có cây điên điển”.

b. Huyện Phung Hiệp – Ngã Bảy

Được gọi là Ngã Bảy vì sông chia 7 ngả sông toả đi các hướng khác nhau.
.
Dòng sông chia nhánh làm bảy ngả
Biết ngả nào tôi dõi em đây?
Xuôi dòng con nước ngày xưa ấy
Bỏ lại mình tôi khóc ròng đầy
Bỏ lại mình tôi bên bãi vắng
Cây bần buồn rụng trái nào hay!
Bìm bịp kêu giọng khàn đôi tiếng
Nước lớn đầy bảy ngả mù mây!
(Dò Tìm Trên Sông Ngã Bảy – Nguyên Lạc)
.
Huyện Phung Hiệp thuộc tỉnh vừa thành lập (khoảng 1961 – 1962 thời ông TT Ngô Đình Diệm): Tỉnh Chương Thiện. Khoảng năm 1972 (?) TT Nguyễn văn Thiệu bổ nhiệm một vị đại tá rất trẻ, tốt nghiệp từ trường Thiếu Sinh Quân làm Tỉnh trưởng : Đại tá HỒ NGỌC CẨN, tính tới 1975 (năm ông chết) mới vừa 33 tuổi. Vị đại tá Tỉnh trưởng này không chịu đầu hàng ngày 30/4 nên bị Uỷ Ban Quân Quản CS kết án tử hình và định ngày xử bắn tại sân vận động (sân bóng đá) Cần Thơ khoảng cuối tháng 5/1975 (?). Chính quyền CS bắt tất cả mọi gia đình ở thành phố Cần Thơ phải có người đến xem xử, trong đó có gia đình tôi, nếu không sẽ bị kết án chống “Cách Mạng”!
Mặc bộ bà ba đen, mắt bị bịt kín, bị trói thút vào cột bắn, ông được CS “ân huệ” cho nói lời cuối, với ý mớm ăn năn hối lỗi đã chống lại Cách Mạng.
Đây là câu nói cuối cùng của ông Cẩn: “Việt Nam Cộng Hòa muôn n…ă..m…!”
Tên lính CS vội vã bụm miệng ông và nhét giẻ vào.
Sau đó một loạt súng nổ, một phát súng ân huệ, ông Cẩn qua đời, xác được vùi trong bãi tha ma bên đường, ngang Trại Nhập Ngũ vùng 4 thời VNCH.

2. Trở lại bến Ninh Kiều.
Từ bến Ninh Kiều nhìn về sông Hậu rộng lớn, hướng sang trái là bến bắc/ bến phà Cần Thơ chảy đến Long Xuyên. Hướng sang phải chảy ra biển Đông, ngang qua Đại Ngãi (Vàm Tấn) quê tôi, cách cửa biển khoảng 20 km (khoảng 17 miles).
.
– Hò ơ ớ ơ ơ …
Đất Sóc Trăng khô cằn nước mặn
Anh ra Vàm Tấn chở nước về xài
Về nhà sau trước không ai (ơ ờ)
Hò ơ ớ ơ ơ …
Hỏi ra em đã … theo trai mất rồi (ơ ơ)
(Hò ca dao)

— bậu về Đại Ngãi mình ên
bỏ quên kẹp tóc bắt đền tội ta
bậu quên là tại bậu mà
tại sao bậu bắt đền ta một đời
tội này không chịu bậu ơi !
(Bậu về – Trần Phù Thế)

— Tha phương cơm áo tháng ngày
Hồn quê xưa cũ vẫn hoài trong tôi
Cái tên Vàm Tấn tôi ơi!
Trăm năm vẫn nhớ những lời ca dao
“Ra sông, đổi nước ngọt nào
Về nhà, trông trước trông sau vắng nàng
Hỏi ra đã bỏ mất đàng
Theo trai bậu nỡ phụ phàng tình tôi”
Cái tên. Đại Ngãi tôi ơi!
Làm sao quên được. một thời thiết tha?
(Nhớ Về Vàm Tấn/ Đại Ngãi – Nguyên Lạc)

Trước khi đến xã Đại Ngãi khoảng 3 km (2 miles) là xã Nhơn Mỹ, thuộc huyện Kệ Sách, quê hương của vợ sau Đại tướng Cao Văn Viên (Tổng Tham Mưu Trưởng quân lực VNCH)
Chợ xã Nhơn Mỹ tọa lạc trên bờ đất tại ngã ba bờ phải sông Hậu (hướng chạy ra biển) và rạch Nhơn Mỹ. Phía đối diện chợ Nhơn Mỹ, giữa sông Hậu là cồn Quốc Gia (quê của cô bạn gái đầu đời). Đây là nơi ông TT Nguyễn Văn Thiệu có lần ghé thăm, vì nó nổi tiếng trù phú với vườn sầu riêng và chôm chôm.
Ngày 1/5/1975, chú của người bạn gái, xã trưởng Nhơn Mỹ đã bị xử tử tại chợ. Cổ bị xiết bởi một khăn rằn choàng (chàng) tắm, hai đầu khăn kéo bởi 2 tên du kích. Vì ông ta to con, khỏe mạnh giãy giụa, không ngộp thở, nên hai tên du kích, mỗi đầu khăn một tên, lôi ông ta xuống mé bãi rạch Nhơn Mỹ để trấn nước. Ông vùng vẫy nên chúng không đè đầu ông xuống nước được. Một tên khác bèn lấy dao đâm vào bụng ông để làm yếu sức. Ông bị xiết cổ và dìm chết ngộp. (Kể đúng theo lời của cô bạn gái, cháu ông xã trưởng)

3. Gia đình tôi.
Riêng về phần gia đình tôi ở Đại Ngãi:
– Anh Nguyễn Văn Yên tr/uy HQ (VNCH) vượt trại”cải tạo” Chi Lăng (Châu Đốc) chạy vào rừng (1976). Giữa đêm vang dội tiếng súng săn đuổi, mất tích: “40 năm con thơ vẫn đợi” đến nay!
– Cha Nguyễn Văn Hỷ bị bắt, hành hạ trong ngục tú CS và chết trong vụ đàn áp tôn giáo.
.
Đêm tháng tư tha hương. thấy dòng lệ khổ
Tiễn người anh cơ khổ ngục tù
Khóc người anh đêm vượt trại hận thù
Tan biến vào rừng thẳm
40 năm con thơ vẫn đợi!
Đêm tháng tư tha hương. thấy gì tôi hỡi?
Thấy con đường khập khiễng cha đi
Mắt lệ nhòa trên đôi nạng sầu bi
Vào tử ngục. rồi mạng vong. vì hận thù tôn giáo!
(Đêm Tháng Tư Tha Hương Thấy Gi? – Nguyên Lạc)
.
– Gia đình tôi liều chết vượt thoát năm 1986 sau hơn 10 năm sống trong “thiên đường CS” trên một ghe con đi sông dài 10 mét, không hầm trú. Sau 7 ngày te tua mới tới đuợc đảo Bi- Đong (Malaysia), may mắn không ăn thịt người (vừa chết).
.
Đêm tháng tư tha hương. thấy gì tôi hỡi?
Thấy sự thét gầm khủng khiếp của trùng dương
Thấy sự nhỏ bé của con người trước sóng nộ cuồng
cùng nỗi vô vọng. hãi hùng … trước vô cùng biển cả
Thấy đói khát, chết chóc, đau thương …
Thấy những dòng lệ ứa
Mẹ ngất con. chồng khóc vợ…
Thấy uất hận lũ hải tặc hung tàn
(Đêm Tháng Tư Tha Hương Thấy Gi? – Nguyên Lạc)
.
4. Trở lại dòng sông Hậu.
Vừa qua Đại Ngãi, trên đường ra biển, giữa sông nổi lên một dãi đất lớn gọi là Cù lao Dung (Gọi là Cồn nếu dãi đất nổi lên nhỏ). Cù lao Dung nổi lên giửa sông Hậu, khoảng vàm Đại Ngãi chạy dài độ 20 km (khoảng 17 miles) ra đến gần cửa biển. Trên Cù lao này CS có thiết lập Trại “cải tạo” Cồn Cát, để giam giữ các sĩ quan “Ngụy” và các người vượt biển đi tìm tự do bị bắt. Đây cũng là nơi gia đình tôi “chém vè”, chờ đến giữa đêm tối không trăng, lên ghe con thả theo nước ròng trôi ra cửa biển để không gây tiếng động, kẻo Công An biên phòng phát hiện và bắn chẳng nương.
Bãi bùn của cù lao này cũng là nơi vùi bao nhiêu xác người, bị đập đầu chặt cổ giữa đêm, trong cuộc tổ chức vượt biển giả để cướp vàng, có liên hệ đến”Công An kiến cường” huyện Long Phú.
.
Bao năm đời này vẫn nhớ
Đêm thâu xuôi mái theo dòng
Người đi không lời từ biệt
Buồn ơi. tím biếc dòng sông!
.
Quê hương ta ơi. thôi nhé!
Buồn ơi. nước mắt lưng tròng!
Rặng cây quê hương mờ bóng
Có còn gặp lại được không?
(Trích đoạn bài thơ Quê Hương – Nguyên Lạc )

***

Tất cả các câu chuyện đều liên quan đến dòng sông Hậu (sông lớn hoặc sông con). Dòng sông đã in đậm trong tâm khảm!
Mọi người đều có một dòng sông riêng mình. Hãy trân trọng nó!
Từ dòng sông Hậu thân yêu và buồn thảm này tôi mới có những bài viết: CÂU CHUYỆN HAI DÒNG SÔNG (1), CHUYỆN DÒNG SÔNG QUÊ TÔI (2) và CHUYỂN TÌNH VÙNG U MINH (3) vân vân …

Ta sẽ không về thăm lại dòng sông
Của thời hung bạo cũ
.
Xác em nhỏ trôi theo dòng bão lũ
Được tin người
tim nhé … cố yên!
Và đêm dài
đêm nhé … hãy ngoan!
Ai rồi cũng
đến miền miên viễn!
.
Ta sẽ không về thăm lại dòng sông
Của thời quá vãng
Quên đi nhé … quên đi … quên đi nhé!
Đã xa rồi … quên nhé … xa lắm xa!
(Nguyên Lạc)
.
Quên được không?!
.
VỀ ĐẠI HỌC CẦN THƠ

1. Đại học Cần Thơ
Đại học Cần Thơ nằm phía trái, gần Phòng Phát thanh (phát sóng) Cần Thơ trên đường từ Cần Thơ về Cái Răng, Vị Thanh, Sóc Trăng rồi Cà Mau.
Năm 1968 sau trận Mậu Thân, tôi bước vào ngưỡng cũa đại học này với niềm háo hức cùng với giấc mộng “lấp bể vá trời” của tuổi trẻ. Thời trẻ này, sách Phạm Công Thiện luôn giữ trên tay và là sách “gối đầu giường”. Phạm Công Thiện là “thần tượng” của những người trẻ như tôi giai đoạn này. Mỗi lời của ông đều là “chân lý”. Tôi hít hà , uống những lời văn, thơ của ông. Cho những điều ông “ngôn” đều đúng, không chút nghi ngờ. Bắt chước ông, chê Sách Học Làm Người của Nguyễn Hiến Lê (Thời gian là câu trả lời đúng đắn nhất!)
Phạm Công Thiện đã mở ra cho chúng tôi một “Khung Trời Cao Rộng” và cũng đưa đến chúng tôi một niềm nghi ngờ (HỐ THẲM). Hệ lụy: “…đã ít nhiều làm cho thanh niên tỏ vẻ hoài nghi về những hoài bão, lựa chọn của mình. Tâm trạng não nề, chán ngán của tầng lớp thanh niên, trí thức thời kỳ ấy như một đám mây u ám, cứ vần vũ mãi trên bầu trời, che lấp khoảng không gian không xanh, không hồng. Ngày xưa một mình chàng Kinh Kha qua sông Dịch với con chủy thủ trên tay và vĩnh viễn không quay lại điểm xuất phát! Ngày nay, hàng ngàn Kinh Kha qua hàng trăm sông Dịch như thế với nỗi băn khoăn ồn ào, hy vọng và thất vọng trộn lẫn.(Đọc lại “Kỷ Vật Cho Em” của Lính Phuơng – Nguyễn Lệ Uyên)
Qua sông Dịch là gia nhập vào quân đội, thành người chiến sĩ quân lực VNCH, thành người chỉ uy mà tâm trạng như vậy thì than ôi!
Lịch sử ngàn năm cho thấy: Chống kẻ HUNG BẠO (kẻ dồn ép, đốc thúc hết mọi xương máu của người dân, dùng bất kể mọi thủ đoạn để nhất quyết thắng cuộc chiến một mất một còn) mà lòng hoang mang như thế thì cầm chắc sự thất bại! Kết quả thì các bạn đã biết rồi đó!
Nhắc ra đây để rút ra một bài học mà tự hối tiếc và tự trách mình, chứ không có ý chê trách hay kết tội. Các người trẻ hãy lấy làm kinh nghiệm để tránh những vết đổ sau này. Và cũng xin đừng lấy nó – những việc tiêu cực đã kể – mà tự hãnh diện hoặc ngược lại, tự mình hành hạ mình, tự liếm vết thương lòng mà thất chí. Còn lại chút hơi sức hãy đóng góp vào việc đấu tranh cho sự tồn vong của dân tộc.
.
2. Tổng Hội Sinh Viên Đaị Học Cần Thơ
Trở lại trường Đaị Học Cần Thơ, tôi có chân trong Ban Chấp Hành Tổng Hội Sinh Viên. Tôi đã ngây thơ, bầy đàn, không suy nghĩ, cổ động và dẫn đầu những cuộc xuống đường gây hỗn loạn trật tự xã hội. Trong BCH nầy, Phạm Văn Sinh (sư phạm khoa học), sau 1975 lộ rõ là một đảng viên CS. Tên thứ hai là Ngô Phúc Hiện (luật khoa), anh cô bạn gái tôi, là Đoàn viên Thanh niên CS. Tên này, sau 30/4//1975 là phó phòng Thương Mại thành phố Cần Thơ . Trong lúc mọi người dân đói, phải ăn độn bo bo, ăn cơm với muối, thì hắn cùng tên trưởng phòng (cán bộ từ bưng biền ra) nhân viên phòng và công an (Bắc chi viện) rượu bia tràn ly, thuốc cán (đầu lọc) khói mờ mắt mỗi ngày. Cách Mạng đấy!
.
Quê tôi buồn lắm ai ơi !
Từ ngày bão nổi đổi dời bể dâu
Một thời cùng ước mộng đầu
“Vá trời lấp bể” hẹn câu tình người
.
Những “đêm không ngủ” lửa ngời *
Câu ca lời hát dựng đời mai sau
Khung trời đại học thuở nào
Tay ôm. mắt ngỏ. môi trao nụ cười
.
Oan khiên đâu phải do trời
Quê hương tan rã bởi lời dối gian
Điêu tàn cùng với ly tan
Mộng mơ tuổi trẻ lụi tàn từ đây
.
Từ ngày ngụy ngữ lên ngôi
Từ ngày giai cấp phân đôi ta thù
……….
[*] Sinh viên trước 1975 thường tổ chức những đêm không ngủ để hát tình ca và nhạc “đấu tranh”
(Trích đoạn: Một Thời – thơ Nguyên Lạc)
,
LỜI KẾT
Qua trên là những chuyện lên quan đến dòng sông trong tâm thức cùng “Một Thời Ta Cố Quên” của tôi. Quên được không?!
Tất cả điều trên là sử liệu từ nhân dân. Chắc nó sẽ không có trong Lịch Sử Việt Nam Hiện Đại vì theo CS: Lịch sử phải phục vụ cho chế độ!
Đấy, các văn thi nhạc sĩ! Nỗi trầm luân nhân thế. Đừng “cỡi ngựa xem hoa” nỗi đau của người dân thấp bé mà mãi chỉ biết lo phục vụ cho một thiếu số đặc quyền. Hãy viết bằng cảm xúc, bằng con tim của mình. Đừng cố tạo ra cái ly, cái chai hào nhoáng, màu rượu đẹp đẽ, nhưng không có một chút mùi vị nào để lại trên đầu lưỡi của người thưởng thức. Hãy tạo ra cái hương vị ngọt ngào của viên muối nhỏ trên đầu lưỡi của các “chàng Kiều” hiện đại (người sĩ quan trẻ VNCH đi cải tạo) đang đói meo trong các “Thanh Lâu” (trại cải tạo) [Từ Nguyên Lạc dùng trong bài viết về thi sĩ Phạm Hồng Ân)(3)

Xin được kết thúc bài bằng hai câu thơ Khuyết Danh:
Ai muốn chép công ta chép oán
Công riêng ai đó oán ta chung!
(Mã Viện – Khuyết Danh)
.
Nguyên Lạc
…………………
Ghi chú:
(1) http://t-van.net/?p=31929
(2) http://t-van.net/?p=32146
(3) http://t-van.net/?p=31461

“Người Di Tản Buồn!”

NAM LỘC

 

MỖI NGÀY MỘT CA KHÚC
TƯỞNG NIỆM 30 THÁNG TƯ

“Người Di Tản Buồn!”

 

camp 75
Camp Pendleton, 1975: thành phố lều của những “người di tản buồn”!

Hôm nay là ngày 29 tháng Tư. Giã biệt Sài Gòn vào lúc 1 giờ sáng 28, sau khoảng 3 tiếng đồng hồ trên chuyến bay dài nhất ở trong đời, chúng tôi được đưa đến căn cứ Không Quân U.S. Clark Air Base nằm trên hòn đảo Luzon của Phi Luật Tân. Đối với tôi, tất cả mọi hành động, mọi suy nghĩ hay quyết định bây giờ hoàn toàn tùy thuộc vào người hướng dẫn. Họ bảo sao thì nghe vậy, bảo làm gì thì làm theo, như một người máy. Niềm thương nhớ và lo lắng cho gia đình được thay thế bằng những sinh hoạt bận rộn, bằng chi tiết cùng những cảnh tượng mới lạ chưa từng xẩy ra trong đời. Bằng những chiếc ghế bố được phủ lên tấm drap giường tươm tất, nằm trong khu lều vải dựng vội vàng để đón những kẻ vừa nước mất nhà tan! Bằng sự ân cần của các sĩ quan Mỹ, cùng sự cung kính của nhân viên người Phi Luật Tân phục vụ trong nhà ăn. Tất cả đã làm nguôi bớt đi niềm khổ đau và oán hận trong tôi. Ở đây chỉ 24 tiếng đồng hồ, thì chúng tôi được di chuyển đến đảo Guam, và chưa đầy một tuần lễ thì được phi cơ American Airlines đưa từ Guam đến California.

Máy bay đáp xuống phi trường quân sự El Toro của Thủy Quân Lục Chiến Mỹ, nằm ngay Orange County (có ngờ đâu lại chính là thành phố mà tôi đã chọn đế sống những ngày cuối đời mình)! Một toán lính Marines nghiêm chỉnh đứng chào, họ còn cầu kỳ trải thảm đỏ đón người tỵ nạn và đưa lên những chuyến xe bus quân đội (lại xe bus quân đội, dấu tích của gia đình và là niềm hy vọng đã trở thành tuyệt vọng của tôi mấy ngày qua). Xe đi vào xa lộ 5, tôi nhìn bảng tên đường thấy chữ “San Diego Freeway”, rộng thênh thang, xe cộ chạy đầy đường, ngược xuôi như mắc cửi. Hai bên lề là những vườn cam vàng ửng trái, cùng các ruộng dâu trùng trùng, điệp điệp. Chưa đầy nửa tiếng đồng hồ thì tài xế rẽ vào một con lộ nhỏ ngoằn ngoèo đưa chúng tôi đến trại Pendleton sau khi đi ngang qua nhà tổng thống Richard Nixon, tọa lạc tại thành phố San Clemente. Tôi hỏi thầm trong bụng: Có phải vì ông mà chúng tôi đang có mặt ở đây không ngài tổng thống?

1 size fit all
“One size fits all jackets”

Bước xuống xe, sắp hàng để nhận lều tạm trú và quần áo. Mỗi người được các ông lính Marines phát cho một cái áo Jacket và một đôi giầy nhà binh “one size fit all”?, già trẻ lớn bé gì cũng thế, cứ nhận đi rồi hạ hồi phân giải.

1 size fit all shoes
“One size fits all shoes”

Sau đó có thiện nguyện viên hướng dẫn đến lều và “giường” của mình (tương tự như tấm hình ông Nguyễn Cao Kỳ đang ngồi).

nc ky
Thiếu tướng Nguyễn Cao Kỳ trong khu lều trại 8…

nl trai pendleton
…và tôi, trước căn nhà đầu tiên trên đất Mỹ

Đầu tháng Năm rồi mà sao Cali. lạnh thế, không biết lạnh ngoài trời hay buốt giá ở trong lòng? Đặt mình lên chiếc ghế bố vải, tôi bắt đầu nhỏ những giọt lệ đắng cay xuống cuộc đời tỵ nạn. Hôm nay, và bây giờ tôi đã chính thức là một “người di tản buồn”! Buồn và xót xa hơn nữa khi được tin toàn bộ gia đình tôi đã bị người Mỹ bỏ rơi, thủ đô Sài Gòn hoàn toàn sụp đổ, các tướng lãnh và nhiều quân nhân, công chức tuẫn tiết. Cậu em út cùng các chiến hữu của tôi đã bị người CS đánh lừa và lùa vào những trại tù cải tạo. Mẹ và các em gái thì đang chuẩn bị đi vùng kinh tế mới…

Trong khi đó ở bên này bờ đại dương, chúng tôi cũng đang phải phấn đấu với một cuộc sống mới, dù may mắn hơn ở bên nhà, nhưng cũng không kém phần gian truân và tủi nhục. Tôi được nhận vào làm assembler cho một hãng sản xuất giường nước với tiền lương $2.10 một giờ. Anh Jo Marcel làm nghề sửa xe, Tùng Giang thì tìm được job đổ xăng, Khánh Ly làm việc lao công, sau đó được “promote” thành receptionist… Và sau những ngày dài vất vả lao động “vinh quang”, trở về căn phòng nhỏ, nằm trong khu phố u sầu, cô liêu, buồn tủi, bên cạnh toàn người xa lạ. Tất cả những nỗi khổ đau, oán hận trên cộng với niềm thương nhớ về gia đình, về quê hương, đất nước đã âm ỷ trong lòng, để rồi tôi cho ra đời nhạc phẩm “Người Di Tản Buồn”.

nl tunggiang
Nam Lộc đi thăm Tùng Giang ở “sở làm”!

Nhạc phẩm “Người Di Tản Buồn” được nữ ca sĩ Khánh Ly thu âm lần đầu tiên trong một băng nhạc cùng tên. Nhưng sau đó cũng đã rất hân hạnh được nhiều anh chị em nghệ sĩ khác thu thanh và thu hình. Kính mời quý vị cùng các bạn nghe lại sau đây:

KHÁNH LY
https://www.youtube.com/watch?v=3MGC6aebg8s

NAM LỘC
https://youtu.be/Q8gnIsTMkMg

DIỄM LIÊN
https://www.youtube.com/watch?v=5dOH2EJygvQ

THẾ SƠN
https://www.youtube.com/watch?v=yRN6vqxV4s8

NGỌC MINH
https://www.dailymotion.com/video/x7akn4n

TUẤN VŨ
https://www.youtube.com/watch?v=x-55Bj0-Fs4

TÂM ĐOAN
https://www.youtube.com/watch?v=gi6CQ_SAdQc

ELVIS PHƯƠNG
https://sangtao.org/2013/03/31/nguoi-di-tan-buon/

THANH TRÚC
https://www.youtube.com/watch?v=Fv27ih3O1Yo

BẠN VĂN VÀ TÔI

Võ Công Liêm

tinhvat

TRANH VẼ Võ Công Liêm: ‘Tĩnh vật Hoa trái’

Nhà văn Bình Nguyên Lộc có nói: ‘về quê là lên nguồn đời mình’ tôi xét lời nói ấy quả không ngoa cho những khách tha phương mỗi khi nhớ quê. Cái lòng hăm hở đó như lời cảnh báo, vì lẽ; quê hương là nắm nhau, cuống rốn tuy có xa mặt cách lòng nhưng không phải vì thế mà chối bỏ hay đoạn tuyệt. Nó có cái hồn thiêng trong chúng ta.Từ chỗ đó; nó ray rứt, nó quấn quýt, nó ôm đầm như thân phận kẻ lưu đày.
Một số người trước đây hối hả ra đi cho bằng được như thử bị quê hương ruồng rẫy hay ‘khai trừ’. Nghe ra tợ như có điều gì phũ phàng, tàn nhẫn. Thoạt kỳ thủy; mới nhận ra rằng ‘home sweet home’ là nơi về của mái nhà xưa mà cả đôi bờ coi như lời hẹn ước. Dẫu là nghìn trùng xa cách nhưng lòng hoài hương vẫn hiện hữu không dứt. Người đi hay người ở đều nhìn nhận tình quê chan chứa. Bạn tôi tha phương cầu thực một thời như tôi. Nói rằng: -thương đọt bí, đọt bầu chi lạ! Tưởng bạn tôi lãng mạn hóa cuộc đời. Suy rộng thấy bạn tôi thật lòng. Không phải giải thích và chẳng phải nói nhiều. Thì ra; chúng ta cùng cảnh ngộ. Mà khi đã ngộ ra được thì không còn chi để trách cứ mà cho rằng quá đả khuynh?. Tôi hối hả ra đi và lâm vào hoàn cảnh tương tợ như vậy. Nói cho ngay; chuyện ra đi có nhiều nghĩa khác nhau, nhưng riêng tôi đi là ‘tu nghiệp’ để thấy mình thấy ta, trăm trận trăm thắng là ở chỗ đó. Cho nên chi học mấy cũng thấy mình ngu mà không thấy trận nào thắng cả; từ đó chỉ học ở tình bạn là cao qúy. Bởi; trong cái tình người nó chứa cái tình đất nước muôn năm. Xưa hối hả đi thì nay hối hả về là thế.
Về quê lần này tôi được cái hân hạnh đón tiếp một số văn nhân cũ, mới. Kỳ thực thì không có ai mới cả mà tuồng như đã biết nhau từ lâu; tuy không bằng xương bằng thịt nhưng đã gặp nhau trong văn thơ và đã nói với nhau nhiều điều như đã thân quen, bởi; dễ hiểu điều này qua cụm từ ‘style c’est l’homme’ cho nên chi không còn là người xa lạ hay qua một trung gian nào mà chúng tôi đến với cái tình chân. Tình người cao qúi đọng trong một tâm hồn tha thiết, không vin vào nhau để giới thiệu cái ‘le moi’ qủi quái và đáng ghét đó. Hầu hết bạn văn tôi không có thái độ ấy; dù một mảy may nhỏ nhen đều không có mà dâng một tấm lòng cao thượng. Qúi mến nhau mới gọi là thân nhau; bất luận ở nơi nào.

Yoshiro Soseki: Thi sĩ đương đại; con chim sẻ mùa xuân.
Đến Nhật Bản vào đầu tháng hai, tháng xuân hoa anh đào nở, khí trời heo heo như bên nhà. Ở chơi một tuần mà gắn bó vô cùng; cái tình Nhật là cái tình ‘hiệp sĩ đạo’ trọng danh dự hơn trọng tiền bạc.Tôi thân quen người bạn Nhật trong thoáng chốc mà trở nên cái tình dài lâu, bởi; chúng tôi ăn ngay nói thực, chả phải giấu điều gì, chẳng phải là biên giới ‘khách nước ngoài’ cho nên mạnh miệng. Chúng tôi bày tỏ bằng ‘nội công’ tâm truyền tâm và giữa chúng tôi bình đẳng không ‘face talk’ không ‘money talk’. Yoshiro đưa chúng tôi tham quan nhiều nơi.Chúng tôi không còn xa lạ qua sự trọng khách của chủ nhà. Một cái thưa hai cái trình…Gặp nhau tình cờ như đã hẹn ở cửa hàng sushi; món ăn truyền thống Nhật, một lối ẩm thực có lồng chất Thiền vào trong cách sống. Chúng tôi ngỡ ngàng trước cảnh quang, bối rối trong kiểu cách ăn sushi và uống sakê, thực khách hầu hết là dân Nhật, phần đông ngồi ở bàn ghế thấp hoặc phòng riêng có gối ngồi. Chúng tôi ngồi ở quầy để trực tiếp nhìn những tay đầu bếp ‘múa võ’, cạnh tôi một thiếu nữ khác, tuổi ngoài ba mươi đưa mắt mỉm cười thân thiện, và; từ đó chúng tôi trao đổi nhiều chuyện khác nhau, dần dà mới hay nàng là thi nhân, tuy nàng kín đáo về chuyện làm thơ nhưng cuối cùng nàng cho biết nàng yêu thơ. Hóa ra chúng tôi là những người trong làng văn nghệ mà gặp nhau tình cờ.Tôi chẳng nói với nàng tôi làm thơ và nàng cũng chẳng nói nàng là thi sĩ. Nhưng gặp nhau trên cái đất văn vật này cũng đã ngộ ra được cái chất thơ trong con người thơ…Nhớ những khi ngồi ăn mì gói, uống sake trong con hẻm nhỏ mà nhớ con hẻm quê nhà. Đất nước mình có nhiều đặc ưu hơn nơi khác nhưng không biết ‘dụng võ’ cho nên mai một mà chỉ hướng đến cái của người khác làm chuẩn. Nhìn cung cách Yoshiro mà nghĩ đến dáng kiều của ta; cũng có thể do từ phong thổ, tập quán tạo nên?
Hôm nàng tiễn chúng tôi ra phi cảng trao tặng tập thơ mới xuất bản (dĩ nhiên là Nhật ngữ) để giao duyên văn hóa.Tôi không hiểu một chữ hay một nghĩa nào nhưng hình thức qua lối dựng thơ tôi cũng nhận biết được hồn thơ của thi sĩ bộc bạch một cái gì chân tình trong thơ, bởi; nhìn con người của Yoshiro không thể có một nghi ngờ nào hơn. Duyên kỳ ngộ! Yoshiro cho biết thêm: nàng là con cháu nhà văn lừng lẫy Nhật Natsume Soseki (1867-1916) với tác phẩm tiểu thuyết nổi tiếng Kokoro và đã được dịch qua nhiều ngoại ngữ. Gia tộc nàng gốc Đông Kinh. Thì ra; hạnh phúc đến bất ngờ là hạnh phúc có thực ở đời.

Kiệt Tấn: Dân miệt vườn . Uống cạn tào ráo ván.
Sau tết ở Sàigòn trời âm u, bởi; có những trận mưa lai rai làm cho đường sá còn rịn mùi ẩm thấp. Chúng tôi gặp nhau ở ‘Thềm Xưa’ nơi Thân Trọng Minh thường ‘tọa thiền’ một mình hoặc một vài bạn thân quen xưa cũ. Cái sự đến của Thân Trọng Minh thường thấy trầm ngâm, kín đáo là đặc chất của người lương y. Tôi gặp Kiệt Tấn ở đây. Chúng tôi nhìn nhau như đã quen nhau lâu lắm nay mới hội ngộ. Kiệt Tấn có nụ cười nửa mép như nhân vật trong truyện của anh viết. Tôi biết Kiệt Tấn thuở thập niên sáu mươi (60). Mỗi lần đọc truyện anh, tôi thường phán chữ Đan Mạch (đ.m.) vào văn anh. Hôm nay gặp lại nhau tôi kể cho anh biết về cái sự vụ phải dùng ngôn ngữ Denmark với anh vì tôi phục cái ngông nghênh văn chương của anh. -Được thôi! Kiệt Tấn nói. Ngày hôm sau tôi uống rượu với nhà văn tả thực này mới thấy lòng phấn khởi. Phong cách về già của Kiệt Tấn là đà như E. Hemingway mỗi khi uống rượu. Cả hai nhà văn này có cái sâu lắng thâm hậu, nghĩa là ‘rịm rím một vịm troi’ ở cái chỗ đó mới thành văn hay. Nhà văn chân tình là nói toạt những gì như thật trong sự nghiệp cũng như trong cuộc đời, những gì mà đời ít ai thực hiện được. Nếu đem tinh thần Kiệt Tấn ra so sánh với H. Miller thì không khác nhau mấy. Một đằng hụỵch toẹt và một đằng kín đáo thâm trầm. Huỵch toẹt của Miller là thẳng thừng, huỵch toẹt của Kiệt Tấn là huỵch toẹt hơn cả huỵch toẹt đó là nhà văn có một mớ kinh nghiệm đầy đầu trong cách dụng văn: khôn ngoan và trí tuệ. Bởi cả hai nhà văn này đa tình và lãng mạn trong đời và trong văn chương; cả hai đều có chất ‘đế’ trong hồn nên dựng truyện có đế. Điều này không ngạc nhiên chi mấy. Nhưng ngạc nhiên phong thái Kiệt Tấn không thay đổi, dẫu lúc này anh không bỏ hồn vào viết lách một cách dữ dội như xưa. Anh cho tái lại*là vại nước đái.Tư duy của nhà văn là biết dừng đúng lúc để cho sự nghiệp của mình không dừng lại. Đấy là chân chính. Kiệt Tấn chỉ cúi nhìn và cười nụ cười ‘tre trúc’.
Chúng tôi gặp nhau rất tình cờ; tôi ở phương này, anh ở phương kia trên cùng một hành tinh này nhưng sự gặp gỡ tợ như đã có hẹn. Cái nhìn trực diện của Kiệt Tấn là nhìn để nhận diện giữa ta và người, giữa chủ thể và tha thể có cùng hợp chất để dung thông. Đó là cảm quan của tôi khi nhìn ‘bộ dáng/ body /corps’ của anh là một con người ‘dày dạn phong sương’. Nhưng không! cảm giác đó hoàn toàn nghịch lý trong tôi, bởi; trong anh đã phản phất một sự thật có thực qua cử chỉ và lời nói. Quả vậy; anh đã hoà tan vào đó một hóa chất kích thích tố để sống dậy một lần trong tôi và anh. Tôi đón nhận sự chân tình nơi anh cũng như trong văn chương anh là cả một bung phá tiềm tàng, một tiềm thức trú ngụ trong dạng thức của trí tuệ để phát sinh thành ngữ ngôn trong văn chương cũng như trong đời thường…Rất nhiều văn nhân nhận định, bình giải hay phê bình con người Kiệt Tấn trong vai trò khách thể, dựa qua tác phẩm của anh đã viết ra; lối mổ xẻ đó không có một tác động nào nơi nhà văn mà chỉ là người đứng nhìn sự kiện; gần như rập khuôn, nhai lại, khách sáo trí thức, nó không nói toát cái hóa trị (chemistry) là bản chất cố hữu nơi anh một cách độc đáo để thành hình ngữ ngôn trong tác phẩm. Lối bình giải cổ điển là tác hại cho tác giả đã gởi gắm toàn diện tình người, tình nước tình non vào trong đó và đại diện cho chính mình. Trên kệ sách của tôi có một số tác phẩm của Kiệt Tấn. Từ tập ‘Nụ Cười Tre Trúc’, ‘Nghe Mưa’ ‘Em Điên Xõa Tóc’; chừng đó đủ để cho tôi thấy được hồn tác giả ký gởi những gì là bi thương thống thiết. Anh hơn tôi có đôi ba tuổi nhưng anh lớn hẳn hơn tôi về mọi thể kể cả sự nghiệp văn chương của anh mà tôi đọc như một hoài niệm ký ức. Thế nhưng; giữa chúng tôi phá chấp, không còn có tâm phân biệt. Hai chúng tôi sống thực như chưa bao giờ sống. Đấy cũng là cơ duyên hay là ‘hữu xạ tự nhiên hương’ không biết ráp cái câu ngạn ngữ này có phù hợp nhân thế văn nghệ? Nhưng; có thể do từ một tâm thức phản kháng, một thứ phản kháng trí tuệ xâm nhập vào tri giác tôi. Hôm ngồi uống rượu với Kiệt Tấn mới nhận ra đặc chất nơi con người anh: không văn hoa bóng bẩy, không từ ngữ văn chương, không khách sáo đường bệ. Một bản chất tự tại hiếm có ở những nhà văn. Bọn chúng tôi uống đầy. Rượu vơi cạn. Tôi tính chào từ giả anh để ngày mai bay về đất tạm dung nhưng không nói, bởi; nói ra cái từ đó không đẹp lòng nhau. Tôi xô cửa, gật đầu nói: -Về! về đây là trở về ‘revêrs/back’ cái gì thuộc ‘daydream’ có nghĩa gặp như mơ-về giữa ban ngày. Gặp gỡ ở phương này, phương nọ là vũ trụ gặp gỡ của ‘dans les rêveriers cosmiques’ trong tôi và Kiệt Tấn. Cho nên chi; giữa chúng tôi là một hiện hữu, hiện hữu sống thực của: ‘je pense; donc je suis /cogito (Descartes).Tôi nghĩ Kiệt Tấn hiểu ý tôi.
* Tái lại: tái bản tác phẩm.

Đỗ Hồng Ngọc: Bác sĩ của văn chương hay còn gọi là bác sĩ chịu chơi.
Đỗ Hồng Ngọc đa dạng trên lãnh vực văn nghệ như tôi đã biết hơn là trên sự nghiệp chuyên môn. Anh có con mắt cười khi nói chuyện cho nên chi dễ cảm thông với người đọc.Thơ anh làm chân tình như hồn anh. Văn anh viết phản vào đó cái bản lai diện mục thực với chức năng y sĩ; thành ra giọng điệu không có chi là tàng ẩn hay ngụ ý, anh vẽ ký họa tài tình, anh không buông tha còn đứng ra dẫn chương trình cho bè bạn mỗi khi cần đến lời giới thiệu. Anh sốt sắng, không từ nan. Mấy đặc chất đó làm cho tôi nghĩ đến anh. Gặp Đỗ Hồng Ngọc và nhận ra anh qua nụ cười, nụ cười không ‘pha chế’ như đời thường cười. Tôi ký tặng tập truyện cho người bạn hiền lành mà tôi tha thiết được gặp. Tuy sơ ngộ nhưng đã để lại cho nhau cái tình văn nghệ thật sự. Chúng tôi trao đổi chuyện xưa, chuyện nay như cái tình anh em, như cái tình đồng điệu đã có trước đây. Ở tuổi hoàng hôn nhưng với Đỗ Hồng Ngọc không thấy chi hoàng hôn nơi anh. Anh viết khoẻ như hồn thanh niên từ xưa đến giờ. Cái hồn nhiên trong văn chương anh đã đạt tới đỉnh cao và anh đã ký tặng nhiều đầu sách cho độc giả bốn phương. Với một trí tuệ như vậy, thời tất trong đám người cầm ống nghe ít có như anh có. Thơ văn của anh chứa chất một tâm hồn lãng mạn và trữ tình…Anh nắm tay tôi giã từ mà lòng đầy hứa hẹn như tình nhân thuở anh còn ở đại học y khoa. Nhưng; riêng tôi cái nắm tay của anh như một hụt hẫng vừa bắt chụp thì lại bay xa. Anh cười vỗ về tôi như một cảm thông dài lâu.Tấm lòng của anh là tấm lòng của biển.Tâm hồn Đỗ Hồng Ngọc rộng mở từ nụ cười cho tới cử chỉ không thể nào mà không tin ở con người thật thà như thế. Gặp Đỗ Hồng Ngọc là một hạnh ngộ dài lâu. Bước đi thong thả của anh mang theo một tư duy sống động nơi tôi.

Elena Pucillo Trương: Một con người hai cuộc đời.
Tôi gặp chị trong một buổi cơm thân mật ở toà soạn Quán Văn của anh Nguyên Minh và một số đồng sự. Xuất hiện ở cửa phòng tôi nhận ra Elena, chị ném đến chúng tôi nụ cười khoan nhã và ưu ái. Trong đôi mắt của chị tôi đã đọc được những gì chị muốn nói. Mà thật! Trên dưới mười năm về với Việtnam, dạy ở đại học Việt, giao du thân mật với người Việt; từ chỗ đó không còn thấy chi là ‘khách nước ngoài’ mà hóa ra là con dâu xứ Nẫu. Ngặc thay! màu da, màu tóc không thể Việt hóa 100% cho ra Quảng, nhưng; để hoà nhập giữa hai cuộc đời chị tự lột bỏ cái áo khoát của thành quách La Mã, những hào quang ánh sáng minh tinh điện ảnh lừng danh để về sống chết với đất Chiêm (Bình Định); âu đó cũng là một gắn bó với định mệnh. Elena hiểu điều này hơn ai hết và rồi đi tới một quyết định dứt khoát là về làm con dân nước Việt. Chỉ trong vòng 10 năm chị nói tiếng Việt gần như thông thạo kể cả những lời nói thô tục chị hiểu rành rọt. Đó là một chứng minh của vợ chàng Trương; không những trong anh mà ngay cả cộng đồng lớn lao chị đã phủ dụ cái sai biệt đó, không ai nhìn chị là bà đầm Ý Đại Lợi. Dần dà người ta quen phong cách của chị: với nước mắm, hột vịt lộn hay ba cái thứ đồ nhậu chị nhúng đũa bình thường. Không phải chị nhắm thử cho biết cuộc đời mà chị ăn như thử chị là người Việt. Hoà nhập của Elena là cả một triết lý nhân sinh: dấn thân để thấy nghĩa lý cuộc đời. Do đó văn chương của chị mang màu sắc Đông phương hơn Tây phương. Chị viết sung mãn qua nhiều thể loại. Chị kềm kẹp đức lang quân để chuyển hóa ngữ ngôn gốc trở nên ngữ ngôn Việt tộc. Đọc những tác phẩm chị viết là cả một cảm thông sâu đậm. Nhờ vào yếu tố đó mà chị gần gũi với quần chúng. Tôi ví chị như nữ tiểu thuyết gia Mỹ Pearl S. Buck từng sống ở Trung Hoa, học ăn học nói để trở nên Tàu; nhưng so ra Elena khác với những người ly hương, nghĩa là họ không đánh đổi như Elena đánh đổi với cuộc đời chị. Tôi thầm phục lòng quả cảm của một người đàn bà xa xứ.Trong sâu thẳm của chị là con người tiên phong giữa mảng trời đầy màu sắc lạ lùng và dị biệt mà là kẻ khám phá mới cho tâm hồn dự cuộc. Chấp nhận mọi hoàn cảnh dù nắng mưa bất thường ở đất phương Nam; nhưng chị đã chinh phục để không còn thấy mình đơn độc giữa xứ lạ quê người. Tôi đọc một số tác phẩm chị viết cho tôi một lòng tự hào vô hạn. Một người bạn mà tôi mong được kết thân. Trong một bài viết ngắn: ‘Chung Một Đam Mê’ tôi thấy chị là một tài tử đa xuân tứ. Chúng tôi ngưỡng mộ qua tài năng và cái tình đối xử của chị. Elena Trương đã được một số văn nhân thừa nhận là ‘kẻ đưa đường’ mở lối trên chặn đường văn chương hiện nay. Chị là nhà văn nước ngoài hiếm ở đời này và được ngợi ca như một nhà văn chân thật. Nhận định về chị không một khác biệt nào hơn. Elena Pucillo Trương đã hóa Việt, bởi; chị sống thực giữa cuộc đời đang sống.

Từ Sâm: Một tinh thần tự khởi.
Trên không gian của chuyến bay Air Canada đọc thư email của bạn bè gởi thăm; trong đó có thư của Từ Sâm. Tôi ‘click’ ngay như vồ chụp một cái gì vừa tuột khỏi tầm tay. Tôi biết Từ Sâm mấy năm qua nhưng cứ để dành trong trí như ‘kỷ vật’ chờ có cơ hội giao duyên. Nay anh đến trong cái tình cờ nhưng hữu duyên vô cùng. Anh gõ xuống: ‘biết anh ở nhà Nguyên Minh mà không được dịp gặp nhau’ ngần ấy thôi cũng thấy được cái chân tình của con người văn nghệ. Trong cuộc đời sự gặp gỡ là cái trùng trùng duyên khởi bất ngờ và cũng khó mà định lượng nó đến từ đâu hay nó đến như cái nghiệp dĩ; nói theo ngữ ngôn ngày nay là ‘tình văn nghệ không hẹn mà gặp’. Quả là qúy ở đời này! Từ Sâm có gương mặt của tu sĩ hơn là kẻ phàm phu, anh hiền lành và thiện tâm trong đôi mắt nhân ái đó.Tôi chưa một lần ‘xáp lá cà’ vơi Từ Sâm thì lấy đâu mà có nhận xét như thế? -Tôi đọc nhiều thơ anh làm, những bài nhận định nghệ thuật anh viết, phê bình tác phẩm, tác giả anh soạn là chứng cớ để thấy được nhau. Giọng văn thủy chung, không có một gián tiếp nặng nhẹ mà hầu như anh ngợi ca cuộc đời và ngợi ca tình yêu; đấy là yếu tố cấy lên tế bào da mặt của anh và trong huyết lệ của anh để từ đó anh có một tinh thần tự khởi, một tinh thần của tư duy chớ không phải tinh thần của sự cố. Đứng trên vai trò khách quan nhận định về thi ca đương đại; có thể thấy Từ Sâm thuộc trường phái siêu thực qua bài thơ ‘Trăng Viên Mãn’ mà anh cho ra đời đã lâu. Không những một bài tượng trưng mà nhiều bài thơ khác đều một thể như thế. Sắp xếp lại từ A tới Z đều nhận ra đó là giòng thi ca đương đại. Về văn anh phân tích, lý giải, dẫn chứng rất cụ thể từng đường nét như vẽ tranh sơn dầu, nghĩa là thận trọng trong ‘gam’ màu cũng như ‘con chữ’ nó đan kết vào nhau hoà hợp (composition) như một bố cục chặt chẽ; thật không quá lời về điều này. Cho nên chi; hôm nay ‘kỷ vật’ đó được ‘khui’ ra như đập đồng binh nuôi con heo nái mà bản thân tôi ao ước từ lâu. Nói thêm về thơ của Từ Sâm tuồng như anh dốc sức vào đó qua một ngữ ngôn thống thiết trong đó có chứa một ít của bi thương, một cái gì tàng ẩn ngoài cái gương mặt tu sĩ của anh; không biết mỗi bài thơ anh nói những gì về nó, nhưng; chắc chắn ở đó là một sự kết tinh trong cách biểu đạt tư tưởng bằng ngôn từ. Từ chỗ thơ tự do, tân hình thức Từ Sâm biến dạng vào vô thể thơ có duyên lạ. Cơ may hạnh phúc chỉ tìm thấy để đạt tới sự chiếm cứ ‘le bonheur est dans a la quête la conquête’ qua mạch thơ, văn mà anh đã thực hiện xưa nay. Kết thân với người bạn văn nghệ như Từ Sâm là dấu ấn trong tôi.

Huế: Quê nhà.
Và tôi; mỗi lần về quê là phải đi Huế. Bởi; Huế là trầm tích trong tôi, là hoài niệm nơi đã cất giữ những kỷ niệm khó quên của thời mới lớn (ở 9 tuổi) và cái thời vào đời. Huế trở nên chứng nhân cho tình yêu và lịch sử. Những nhân tố đó đưa tôi tìm về Huế như một ‘awakening’ để được sống lại giữa thực và hư. Huế phải có đặc chất đó như nắng mưa mà ai cũng ‘kêu trời’. Không có cái thứ đó không ai gọi là Huế. Huế có cái tàng tích cố cựu xâm chiếm vào con người Huế. Do đó tôi hiện hữu; một hiện hữu dấn thân và thấm thấu vào cái hồn Thần Kinh trong máu lệ tôi. Dân Huế hầu như ai cũng ưa lý sự, cứng đầu, chướng kì và một tự ái lớn lao hay giận. Những ai chưa biết Huế cho Huế khó tính. Đúng! cái này chịu ảnh hưởng ít nhiều nơi mấy ‘mệ’, bởi mấy mệ có cái tự ti mặc cảm trong con người mấy mệ. Nói nôm na là ‘thủ’; đó là ngón nghề thâm hậu mà ít ai tìm thấy. Tôi chơi thân với mấy mệ trong làng, trong xóm cũng như trong trường; đi sâu vào lòng đất địch mới thấy mấy mệ thủ vô hậu. Cái thủ khinh mạng. Tợ như những người kỳ thị chủng tộc; ngoài ngó rứa mà trong không phải rứa. Huế đặc thù là đó: ăn, uống, nói, cười đều có cách riêng của nó. Huế không giống ai và không ai giống Huế. Đó là lý do về để tìm thấy cái đã mất giữa thời đại hỗ mang, thuồng luồng. Có chăng là có trong trí tưởng mà thôi. Nó hoang tàn, bảng lảng bóng chiều mây. Dù là thành quách có tu sửa để thu hút khách ngoại chớ khách nội không mấy hồ hởi với cái gọi là ‘đổi mới tư duy’ theo khuynh hướng kinh tế thị trường; lạc hướng đi.
Tôi sinh ra và lớn lên ở Huế. Học và hành ở Huế; có vô số bạn bè, nhưng; tìm cho ra một ‘thằng bạn’ chân tình là điều khó. May mắn thay trong số bạn học cũ, chỉ còn một hai thằng tại thế, còn một số khác tằng tiu tỉ tiện thì hầu như để gió cuốn đi hoặc để trôi theo với giòng đời. Bởi; không tìm thấy cái chân tâm của nó. Vì vậy; phải nhận thức cái thực, cái giả của Huế. Người ta định nghĩa Huế thâm trầm là phải, vì; trong Huế chứa cái thâm trầm ‘đểu cáng’ khó tìm thấy. Răng rứa? Nó núp sau lưng Thành Nội Huế mà ít ai bắt gặp và nhận ra. Nó lắc léo như câu hò mái đẩy hay nam ai, nam bằng; là rứa đó!.
Thành ra; về Huế chỉ có thi sĩ Cung Thiêm Phan Như Chạy là chân tình trước sau như một.Thuở học cùng lớp; thi sĩ thường dùng tiếng Đan Mạch dành cho tôi. Nhưng nghĩ lại tiếng đ.m. của nhà thơ nó kết cấu trong một từ ngữ thân tương và chân thật. Lần này vợ chồng thi sĩ mời chúng tôi ăn cơm tối tại nhà riêng (kiểu cách này ít có ở nhà thơ họ Phan).Thừa nhận mụ vợ thi sĩ khéo tay dọn bàn, nhưng họ không quên rượu dành cho tôi. Nhớ đời! Trong lúc hào hứng thi sĩ hứa sẽ đưa chúng tôi đến thăm một người bạn cũng biết nhâm nhi rượu. Tôi sướng quá và chờ đợi để gặp người đối ẩm đồng điệu, đồng sàn. Chúng tôi cởi xe đến chùa Liên Trì trên dốc núi Ngự. Tưởng bạn tôi đưa đi bái Phật đầu năm. Không! ngôi biệt thự nằm cạnh chùa. Tôi cho đây là sự sắp xếp kỳ diệu (nhà gần chùa mau thành Phật, nhà gần chợ mau thành kẻ chợ). Thiệt ra; đây là câu nói văn chương bình dân nói theo kiểu nhân gian chơi thôi. Nhưng; chủ nhân ngôi biệt thự đó đã thoát tục từ lâu để đi vào chân-không. Dẫu tiếng chuông sáng trưa chiều tối có gióng lên chăng cũng không phải để thức tĩnh; nó không còn tác động giữa chốn này đối với một nhà nữ mô phạm. Tiếng chuông là một thúc bách sự dấn thân của kẻ tìm đạo lý nhân tâm để được về sống với đời thường. Một đời thường ở cõi Sát-na (Ksanikam) là cõi thời gian vô tận số, nghĩa là ra khỏi cái hạn hữu bất biến để đi vào hư không. Tôi cho sự chọn lựa cuộc sống như thế là chân tình để xa trần tục, xa lớp bụi thế gian chớ không phải xa trần tục để đi vào cõi tịnh; mà là phép tu chứng để đạt chánh quả. Đó là biện minh cho lý giải Phật tính giữa Tu và Tục khác nhau vô bờ bến. Biết đâu cái lẽ thường đó lại là ‘đáo bỉ ngạn’… Mở cửa đón chúng tôi với nụ cười thanh tao hòa nhã. Tôi ôm lấy chủ nhân theo phép tây, bởi chủ nhân vốn có máu tây. -Bọn mình thân nhau gọi bà, gọi cô thấy không chân tình. Chị Thanh Ngọc nói. Không ngờ buổi sơ ngộ mà vui đến thế; chị thiết đãi một bửa ăn đậm chất quê hương pha một chút kiểu cách Tây phương: vịt hầm rượu vang, món ngầu pín dầm chua ngọt, dưa món, tét, chưng còn lại hôm tết. Ôi chao! ngon đáo để. Giữa lúc đó tôi khui chai Lamb/Rum đen có vị hương. Chị Thanh Ngọc đón ly rượu tôi mời một cách trân qúy. Bữa nay mới gặp tay đối ẩm thứ thiệt. Rượu thấm vào người nghe thơm (phải đái ra rượu mới hết buồn / dĩ bĩnh đồng tiêu vạn cổ sầu). Đó là phương thức tiêu sầu và quên, một đặc hiệu và phổ biến nhất trên trần gian này. Chị Ngọc và tôi uống hết chai. Trong cơn mơ màng tôi nhớ Tuyết Thu em chị Ngọc, người mà tôi thầm yêu chớ không dám dòm. Chuyện ăn uống đầu năm ở nhà người bạn văn là một hạnh phúc tôi. Chị Thanh Ngọc lớn tuổi nhưng rất hào phóng khó tìm thấy nơi nhà giáo có một nếp sống nhân sinh như thế. Chị Ngọc là dân Huế thứ gộc cho nên con người chị đã nói hết về Huế. Đón nhận một người bạn văn cao qúy giữa lúc này như một hòa âm điền dã đối với chúng tôi. Chị đưa chúng tôi ra ngõ về mà lòng còn lưu luyến bên nhau. Chưa bao giờ gặp mà tợ như đã thân quen tự bao giờ. Mượn câu thơ của Nguyễn Du để gởi tâm sự vào đây: ‘Sinh tiền bất tận tôn trung tửu / Tử hậu thùy kiêu mộ thượng bôi’.
(Lúc sống không uống cạn rượu trong chén để sau khi chết thì ai là người đem rượu tưới lên mộ mình).
Rượu là tiếng nói của con người đã từng chứng kiến bao nhiêu đổ vỡ ở cõi đời và ở cõi lòng là nỗi đau trong người tôi cũng như trong người khác.Nhưng giờ đây; bạn văn và tôi là cơ duyên được sống lại trong một hiện hữu tồn lưu nhân thế giữa đời này.Tôi chỉ nói lời biết ơn nồng nhiệt của kẻ tha phương ./.

VÕ CÔNG LIÊM (ca.ab.yyc. Cuối Mar 2017)

MỖI NGÀY MỘT CA KHÚC TƯỞNG NIỆM 30 THÁNG TƯ

Nam Lộc

Một đêm thật dài…!

Hôm nay là ngày 26 tháng Tư, 2020. Tôi tiếp tục câu chuyện từ đoạn ông VõVV, người có nhã ý và trong một sự tình cờ đã đưa tôi vào phi trường Tân Sơn Nhất lúc 5 giờ chiều ngày 25 tháng Tư, 1975, 45 năm về trước.

saigon cuoi thg 4
Sài Gòn những ngày cuối tháng Tư, 1975

Khi cái vẫy tay từ giã của ông Võ khuất trong màn nắng đang nhạt dần của một buổi chiều đầy những âu lo và phiền muộn. Tôi bỗng thấy mình như một kẻ lạc loài, cô đơn và yếu đuối. Giằng co giữa sự trở về nhà hay ở lại đây! Lúc thì đổ tội là vì nghe ông Võ “xúi dại”, khi thì nhận là do lỗi của mình vì đã không tự quyết. Nhưng thôi nghĩ gì thì nghĩ, thực tế là tính mạng mình đang treo leo trên biên giới phải chọn lựa, giữa tự do và tù ngục nếu Sài Gòn thất thủ, nhất là đối với vai trò của một phóng viên quân đội

Bây giờ là 7 giờ tối, đèn cũng đã bật sáng trong khuôn viên DAO, tôi bắt đầu nhận rõ được nhiều khuôn mặt thân quen đang đứng, ngồi hay nằm dài để chờ chuyến bay di tản khỏi VN. Có kẻ thì ba hoa, chích chòe, có người thì im lặng thở dài! Tôi chợt tỉnh: À thì ra họ cũng như mình thôi, đang chạy trốn họa Cộng Sản sắp chụp xuống quê hương. Có khác chăng là họ có giấy tờ chính thức để được gọi tên lên các chuyến bay, còn mình thì không, thế nhưng điều đó đâu ai biết được? Tự tin như vậy, tôi ngẩng mặt bước vào đám đông “nhận diện bà con”.

Nhóm đầu tiên là mấy tên nhạc trẻ thân quen gồm có Trung Hành của Mây Trắng, Quang Minh, tức Minh mập CBC, Minh “rè” của Keyhole và một vài người khác đã được ông Oliver một bầu show người Mỹ đưa vào DAO từ mấy ngày nay và đang chờ chuyến bay. Trung Hành cho biết, Trung Nghĩa của The Enterprise và vợ là violist Đoàn Thanh Tuyền đã đi từ ngày hôm qua. Kiềm điểm lại còn biết thêm Kim Anh, Uyên Ly của ban tam ca Ba Con Mèo cũng đã đi từ mấy hôm trước. Ông ca sĩ đầu đàn nhạc trẻ Jo Marcel thì đã rời Sài Gòn từ 19, 20 tháng Tư gì đó, cùng chuyến với tổng trưởng kinh tế Phạm Kim Ngọc, cùng gia đình bà thượng nghị sĩ “trăng sáng vườn chè” Pauline Văn Thơ, Kaxim thì ở lại vì có quốc tịch Tây, còn thì Tùng Giang, Tuấn Ngọc, Khánh Hà và gia đình Uptight nghe nói đã được George Esper (trưởng phòng hãng thông tấn AP ở VN) đưa vào và đang có mặt ở đây v..v.. và v..v… À thì ra, thảo nào cậu Tùng Giang nhìn rất là bình tĩnh lúc gặp tôi và anh Trầm Tử Thiêng ở Givral sáng nay.

Đảo sang phía bên kia, tôi thấy ông Đỗ Ngọc Yến mặt trầm ngâm, đầy âu lo đang thì thầm trao đổi với ông Đỗ Quý Toàn, cạnh đó là gia đình vợ con và túi sách, túi mang. Chợt có người vỗ vai, tôi ngoảnh lại thì ra đó là ông nhà báo kiêm thi sĩ Kiêm Thêm, ông KT tươi cười hỏi thăm rồi đưa tay chỉ về phía trước, gia đình anh Lê Quỳnh kìa, tôi nhìn qua và vẫy tay chào. Khi ở bên ngoài lúc ông Võ rủ tôi vào TSN, mình cứ nghĩ là còn quá sớm mà đi đâu? Thậm chí khi anh Văn Quang nói tôi vẫn chưa tin, đến lúc vào trong này mới biết mình là một trong những kẻ muộn màng! Ông Đỗ Ngọc Yến còn chia sẻ “tin nóng” là gia đình TT Thiệu và ĐT Khiêm cũng vừa được CIA đưa vào phi trường để đi Đài Bắc tối nay. Còn nhiều gia đình người quen khác nữa, nhưng tôi tò mò muốn đến nơi người ta đang sắp hàng để được gọi tên lên máy bay.

Từ xa nhìn vào hàng người xếp theo thứ tự, lần lượt nghe đọc tên, rồi họ xướng lên “có mặt”, sau đó sách hành lý vào cân lượng rồi bước lên xe bus để được đưa đến thang phi cơ. Thật tình cờ tôi nhận ra người đọc tên là ông nhạc sĩ Đức Huy, còn người hành khách vừa trả lời “có mặt” lại là ông bạn kiến trúc sư Nguyễn Tường Quý cùng gia đình. Thấy không khí thân tình, tôi đánh bạo bước lại gần hơn và la lớn cho anh Quý nghe: Lên đường bình an nhe anh Quý. Ông quay lại, nhận ra tôi vẫy tay từ giã vội vàng. Trong khi đó Huy cũng nhận ra tôi nheo mắt cười. Và cũng vì hành động này mà một “biến cố lớn” đã xẩy ra trong cuộc đời lưu vong, viễn xứ của tôi!

8 giờ tối ngày 25 tháng Tư, 1975. Vừa đọc xong danh sách chuyến bay và hoàn tất việc di chuyển hành khách, Đức Huy bước ra ngoài tìm tôi và đưa ngay vào bên trong nơi Huy đang làm việc, toàn là các sĩ quan US Marines Corps vừa từ Mỹ bay sang, mặt còn đỏ hoe, để điều hành cuộc di tản khẩn cấp này, chỉ có Huy là người VN duy nhất. Mặc dù tôi và Huy gặp nhau hầu như mỗi ngày, hai đứa vẫn thay phiên dùng xe đi làm vài ngày mỗi tuần. Huy đưa tôi đến Quân Đoàn III ở Biên Hòa, sau đó chàng lái xe đến Bình Dương nơi Huy phục vụ tại tiều khu này. Cả hai chúng tôi đều là các quân nhân đang tại ngũ, vậy thì Huy làm gì ở đây mà giờ này còn đứng gọi tên người lên phi cơ? Tôi ngại ngùng không dám hỏi, nhưng giả vờ thân mật nói đùa: Tao đâu có biết mày làm cho CIA? Vì chỉ có nhân viên CIA thì giờ này mới dám đứng gọi tên và quyết định cho ai đi, ai ở! Huy hì hì cười và tảng lờ hỏi tôi: mày có đói bụng không? tôi bảo: hơi hơi, nhưng mua thức ăn ở đâu? Huy không trả lơi, đứng dậy bước vào phía trong rồi đem ra cho tôi một cái Hamburger nóng hổi, thơm phức, gói trong giấy foil, cùng một lon Cola Cola lạnh buốt! Bụng đang đói, trời đang nóng, sực một miếng cái đã, chuyện đâu còn có đó!

Ăn xong tôi cám ơn Huy và hẹn lúc gia đình tôi đến nơi sẽ tái ngộ. Nhưng Huy kéo tôi lại và hỏi: Ăn gì nữa không?, tôi lắc đầu rồi bắt tay từ giã. Huy nói tiếp: Đâu có dễ thế, chàng ăn no, uống đã rồi, thì bây giờ phải làm việc chứ. Sau đó Huy dúi vào tay tôi một danh sách mới khoảng 30 gia đình và bắt tôi đọc tên để mời họ lên máy bay.

Đắn đo và lưỡng lự một hồi, Huy than mệt quá, tôi đành chiều theo ý Huy và bước ra ngoài, giọng nghiêm nghị mời mọi người có tên trong chuyến bay số…, hãy chuẩn bị xếp hàng. Mọi người nghe theo răm rắp. Tôi chợt cười thầm trong bụng: Hai tiếng đồng hồ trước còn là một tên “nhập cảnh lậu” vào DAO, hai giờ sau đã trở thành”thầy chú”! Đúng là một cuộc đổi đời! Tối hôm đó tôi làm việc suốt cả đêm, không ngủ, giúp cho Huy chợp mắt vì hắn đã thức trắng đêm hôm qua. Lúc rảnh rang hai thằng ngồi tâm sự thì mới biết là Huy đã được Bill Fraser (trưởng phái đoàn HK trong ban liên hiệp 4 bên), một fan trung thành của ban nhạc đưa cả gia đình vào TSN mấy ngày hôm nay và trong lúc chờ đợi, họ đã nhờ Huy đọc dùm tên người Việt cho đúng, có vậy thôi. Khi nào Huy đi thì họ lại nhờ người khác. và người khác đó, không ai, chính là tôi. Và biết đâu nhiều người cũng đã chụp trên đầu tôi cái nón CIA? Tuy nhiên tôi chẳng bận tâm, niềm an ủi mà tôi nhận được trong công việc này, là lời hứa của anh chàng thiếu tá Mỹ đen, mọi người gọi anh là Bob. Thấy tôi làm việc khá vất vả, Bob nói: Ráng giúp họ đi, khi nào gia đình vào đến DAO anh sẽ cho mọi người đi sớm kể cả tôi, mà khỏi cần phải sắp hàng xin manifest chuyến bay.

Đêm kéo thật dài, đủ mọi chuyện hỷ, nộ, ái, ố của những nhân vật được (hay có thể là “bị”) tôi đọc tên lên phi cơ, nhất là các sĩ quan cao cấp của Quân Đoàn III và Sư Đoàn 5 hoặc các chính khách mà chúng tôi biết mặt, quen tên. Có người e ngại, có người sợ hãi như đại úy Hùng ở Trung Đoàn 8, SĐ 5, nhìn thấy tôi ông định bỏ về, nhưng tôi gọi ông lại và trấn an: việc đi hay ở là không do tôi, ai có tên trong danh sách di tản cùng gia đình và được cấp giấy phép lên phi cơ thì họ có quyền đi. Tuy nhiên hầu hết khi bước qua mặt tôi, mọi người đều mỉm cười thân ái, mang một chút ân tình ở trong đó, đặc biệt là bà vợ và hai đứa con nhỏ của đại úy Hùng, bà gật đầu nhìn tôi và cười trong nước mắt. Những diễn biến đó đã làm cho tôi cảm thấy nhẹ người và quên đi bao nỗi căng thẳng, bàng hoàng của một ngày đầy biến động cùng một đêm dài nhất trong 30 năm cuộc đời.

Trong giây phút giằng co giữa đi và ở, giữa hạnh phúc và khổ đau đó, tôi bỗng nhớ đến Mẹ tôi ngày bồng bế lũ con thơ dại vượt biển vào Nam tìm tự do 21 năm về trước.

di cu bac vao nam 1954
Cuộc di cư từ Bắc vào Nam, 1954

Và ngày hôm nay, 45 năm sau, ngồi viết lại đoạn hồi ký trên, tôi muốn cùng với quý vị và các bạn nghe lại nhạc phẩm “1954 Cha Bỏ Quê, 1975 Con Bỏ Nước” của nhạc sĩ Phạm Duy qua giọng hát Elvis Phương sau đây:

Tháng Tư lại về đem những ký ức u buồn đến với cộng đồng người Việt tỵ nạn của chúng ta. Năm nay là lần thứ 45 tưởng niệm ngày miền Nam VN rơi vào tay Cộng Sản, và cũng là một tháng Tư buồn thảm nhất sau tháng Tư 1975. Không khí của đại dịch Vũ Hán bao phủ một mầu tang trên toàn thế giới. Với những biện pháp giới hạn hoạt động khiến cho năm nay dù có muốn, chúng ta cũng không thể tổ chức tụ họp đông đảo để làm lễ tưởng niệm ngày quốc hận 30 tháng Tư như những năm trước đây.
Trong hoàn cảnh đó, và để giúp quý vị nguôi ngoai niềm nhớ về quê hương, đất nước và ôn lại những kỷ niệm đã trải qua, đồng thời để giới thiệu bộ DVD “Những Người Lính Bị Bỏ Rơi”, kể từ hôm nay cho đến 30 tháng Tư, 2020, chúng tôi xin mạn phép sưu tầm và chia sẻ cùng quý vị một số sáng tác của cá nhân chúng tôi cùng các nhạc sĩ khác, về biến cố lịch sử ghi dấu ngày VN rơi vào tay Cộng Sản khiến cho hàng triệu người phải lần lượt bỏ nứơc ra đi tìm tự do. Kính mời quý vị thưởng thức và giúp phổ biến đến thân hữu của mình.

https://www.sbtn.tv/mot-thang-tu-buon-tham-cua-45-nam-vien-xu-nam-loc/