*** ‘cấm kỵ trong ăn uống’ của Khổng Tử

Nguyễn Xuân

 

Nhà nho Khổng Tử nổi tiếng với quan điểm “thực bất yếm tinh, khoái bất yếm tế”, tức gạo xay càng kỹ và thịt xắt càng mỏng càng tốt.

Không chỉ là nhà Nho học có sức ảnh hưởng lớn trong lịch sử Trung Quốc, Khổng Tử còn nổi tiếng với những lời dạy về ẩm thực và chế độ ăn uống có lợi cho sức khỏe mà ngày nay vẫn còn được lưu truyền.

Theo Sohu, thời nhà Chu trước công nguyên, Khổng Tử đã đưa ra quan điểm “thực bất yếm tinh, khoái bất yếm tế”, có nghĩa là gạo xay càng kỹ càng tốt, thịt cắt càng mỏng càng tốt. Câu nói này về sau đã trở thành tiêu chuẩn trong nghệ thuật ẩm thực Trung Hoa. 

Trong cuốn Luận Ngữ, Khổng Tử nhắc đến nguyên tắc “bát bất thực” (8 nguyên tắc cấm trong thức ăn) Cụ thể: không ăn thực phẩm ôi thiu, không ăn thực phẩm có mùi hôi, không ăn thức ăn được nấu chín quá, không ăn thịt nhiều, không uống rượu nhiều, không ăn đồ sống, không ăn thực phẩm có nhiều gia vị, nói không với đồ trái mùa.

Tranh vẽ Khổng Tử. Nguồn: Wikipedia.

Tranh vẽ Khổng Tử. Nguồn: Wikipedia.

Ngày nay, theo quy định quản lý lưu thông thực phẩm, các sản phẩm dự trữ khi xuất kho phải thông qua thủ tục kiểm tra chất lượng. Chỉ thực phẩm đạt tiêu chuẩn vệ sinh mới được đưa ra thị trường tiêu thụ còn không đạt sẽ bị tiêu hủy hoặc làm thức ăn chăn nuôi. Trên thực tế, thịt cá không tươi không chỉ mất dinh dưỡng mà còn dễ gây ra những vấn đề sức khỏe như ngộ độc.

Ngoài ra, các nhà dinh dưỡng khuyến cáo không nên cho nhiều gia vị vào trong món ăn vì sẽ làm mất một lượng dinh dưỡng nhất định trong thực phẩm. Khi đó, các cơ quan bài tiết phải làm việc nhiều, dẫn đến các bệnh về thận như suy thận, sỏi thận.

Nguyễn Xuân

*** Khối Tinh Thần Ngô Đình Diệm Toàn Cầu

Thư viện của bài

This gallery contains 1 photo.

Nguyễn Anh Tuấn Tuyên Ngôn Của Khối Tinh Thần Ngô Đình Diệm Toàn Cầu Trước tình thế cực kỳ sôi bỏng hiện nay đang diễn ra trong quốc nội; trước tinh thần quật khởi truyền thống rất dũng mãnh của … Tiếp tục đọc

*** Người Đi Lưu Mấy Dòng Không

Lê Diễm Chi Huệ

 

*** “Hương Trinh Đã Tan Rồi!”

Lê Hữu

Hương Trinh Đã Tan Rồi!

Em không đi nữa
Em về ôm quê hương mình
(thơ Minh Đức Hoài Trinh)

“Hương trinh đã tan rồi!” câu hát ấy ở trong bài hát “Kiếp nào có yêu nhau” (1958) của nhạc sĩ Phạm Duy, phổ từ bài thơ cùng tên của Minh Đức Hoài Trinh. Câu hát nghe thật buồn. Có điều là, trong bài thơ được phổ nhạc không hề có câu ấy, không hề có “hương trinh” nào cả.

 “Hương trinh đã tan rồi!” là một trong những câu người nhạc sĩ tự ý thêm vào, một cách cố ý, khi phổ nhạc bài thơ ấy. Sao gọi là “một cách cố ý”?

Trên những tờ nhạc xưa cũ, bên dưới cái tựa bài hát ấy, người ta đọc thấy: “Thơ: Hoài Trinh, nhạc: Phạm Duy”, hoặc “Thơ: Hoài Trinh, Phạm Duy soạn thành ca khúc”.
Một bài thơ khác cùng tác giả cũng được Phạm Duy phổ nhạc, người ta nghe được:

Ðừng bỏ em một mình
một mồ trinh
chênh vênh chờ cỏ xanh 
(“Đừng bỏ em một mình”, Phạm Duy & Hoài Trinh)

Người ta cũng nghe được, trong một bài quen thuộc của Phạm Duy:

Rước em lên đồi xanh
Rước em lên đồi trinh
(“Cỏ hồng”, Phạm Duy)

Hương trinh, mồ trinh, đồi trinh… Nếu chỉ là ngẫu nhiên, hẳn sẽ là một ngẫu nhiên thú vị khi nghe thêm một bài Phạm Duy khác:

Người xây ngục tối / tình yêu lừa dối
Giọt mưa tìm tới / để chia lầm lỗi
với người hoài trinh
(“Nước mắt mùa thu”, Phạm Duy) 

Câu ấy từng được nghe, được hát nhiều lần nhưng liệu có mấy ai hiểu được những tình ý trong câu hát.
“Hương trinh đã tan rồi”, đâu chỉ câu hát ấy, những câu nào nữa cũng được người nhạc sĩ thêm vào khi phổ nhạc bài thơ “Kiếp nào có yêu nhau”:

Đôi mi đã buông xuôi / Môi răn đã quên cười  
Xa nhau đã xa rồi / Quên nhau đã quên rồi…

Những câu hát ấy, lạ một điều, nghe rất “thơ” (“Môi răn đã quên cười”, chẳng hạn), là những câu được thêm vào hoặc để đáp ứng cấu trúc của bài nhạc, hoặc do bài thơ ngắn, cô đọng, cần “nối” thêm ý. Những câu hát này, hay những “câu thơ Phạm Duy” này, chảy xuôi chiều với mạch thơ và phù hợp với tổng thể của bài thơ.

Đến cả lời thơ cũng được thay đổi câu, chữ, vừa để tạo nhạc tính vừa để tương ứng với âm vực thấp cao, trầm bổng của nốt nhạc:

“Trăng mùa thu gãy đôi”  đổi thành  Trăng thu gãy đôi bờ
“Chim nào bay về xứ”  đổi thành  Chim bay xứ xa mờ
“Hoa đời phai sắc tươi”  đổi thành  Hoa xanh đã bơ vơ
“Đêm gối sầu nức nở”  đổi thành  Đêm sâu gối ơ thờ

Những đổi thay này vừa giữ lại được ý thơ vừa nghe cũng rất “thơ” nữa (“Trăng thu gãy đôi bờ”, chẳng hạn).

Tâm hồn nhạc sĩ Phạm Duy vốn nhạy bén với thơ, dễ bắt được những tần số rung động của thơ, ông đã thực sự chắp cho bài thơ “đôi cánh nhạc”. 

“Nếu không có nét nhạc thần tình của Phạm Duy,” tác giả bài thơ được phổ nhạc nói, “‘Kiếp nào có yêu nhau’ sẽ chẳng có được sức sống mãnh liệt đến như thế.”

“Kiếp nào có yêu nhau” không dễ hát và càng không dễ hát cho hay. Thái Thanh, giọng hát vẫn được xem là gắn liền với nhạc Phạm Duy, cũng gắn liền với bài hát này. Những giọng ca sĩ khác, mỗi giọng có cách thể hiện riêng; thế nhưng, với nhiều người yêu nhạc và yêu bài hát này, Thái Thanh vẫn là giọng hát thể hiện được trọn vẹn nỗi niềm, tình ý của bài nhạc.

Nghe Thái Thanh là nghe tiếng lòng thổn thức của trái tim đầy thương tích, là nghe trộn lẫn những tình cảm tiếc thương buồn tủi, chua xót đắng cay, giằng xé giày vò của duyên kiếp lỡ làng, của tình yêu muộn màng, vô vọng.

Giọng hát rã rượi, như phả hơi thở cảm xúc vào từng lời từng chữ, từng nốt nhạc, thể hiện nỗi đau xót đến tột cùng.  Bài hát cuốn hút người nghe ở những chuyển đoạn đột ngột đầy kịch tính, từ khắc khoải, rời rạc đến gấp gáp, vội vàng, từ những nốt thật trầm vươn đến những nốt thật cao, đẩy mạch cảm xúc lên đến tột độ.

Đừng nhìn em! Đừng nhìn em nữa…, anh ơi!
Những nốt nhạc rướn lên, não nuột.
Anh đâu, anh đâu rồi? Anh đâu, anh đâu rồi?!…
Những nốt nhạc chùng xuống, rã rời.
Nước mắt đã… buông rơi
theo tiếng hát… qua đời

Nghe câu hát ấy, nghe giọng hát ấy, không ai mà không nghe tim thắt lại.
Đừng nhìn nhau nữa…, anh ơi!…

Những nốt nhạc lại rướn lên ở câu kết (coda) với chuỗi ngân thảng thốt tạo cảm giác hụt hẫng, như một nỗi tiếc nuối không nguôi, một kết thúc chưa tròn vẹn.

Cái hụt hẫng và kết thúc chưa tròn vẹn ấy cứ mãi đeo bám, đè nặng lên trái tim người nghe, như một nỗi ám ảnh, dằn vặt, tựa ngấn nước mắt vẫn còn đọng lại trên khuôn mặt nhạt nhòa.

  Ban Giám Khảo Giải Văn Chương Học Đường VNCH (Saigon, 1974)
– Từ trái: Nhân viên Nha Sinh Hoạt Học Đường, Phạm Long Điền, Nguyễn Mộng Giác, Minh Đức Hoài Trinh, Bình Nguyên Lộc, Minh Quân, Lê Tất Điều, Võ Phiến (Ảnh: nguyenmonggiac.com)

Có thể dẫn ra một đoạn trong bài phân tích về nhạc thuật của “Kiếp nào có yêu nhau”, được nhạc sĩ Phạm Duy khá “tâm đắc” lúc sinh thời:

“… Cấu trúc thơ đã được đẽo gọt lại để hợp với cấu trúc nhạc. Tôi đoán rằng nhạc sĩ đã ngân nga được cái motif ‘Đừng nhìn em nữa anh ơi’ và cái motif cân bằng thứ hai là ‘Hoa xanh đã phai rồi / Hương trinh đã tan rồi’, và chọn nó làm sườn bài chính của nhạc khúc. Cái cấu trúc này rất logic, nó khởi đầu bằng một câu tán thán với một cung nhạc rải vút lên (arpeggiated) ‘Đừng nhìn em nữa anh ơi’, rồi chứng minh ngay lời cầu khẩn đó bằng hai câu nhạc tương tự nhau là ‘Hoa xanh đã phai rồi’ và ‘Hương trinh đã tan rồi’…

Sang phần hai của phiên khúc, ta thấy nhạc sĩ đã làm tăng kịch tính của câu nhạc bằng cách khéo léo nhắc lại motif nhưng với một biến thể là thêm vào ba nốt ‘Đừng nhìn em (Là Mi Lá)’ trước khi lên đến nốt Mí rồi trả lại nốt Ré, rất phù hợp với lời nhạc có tính cách van xin, vì có ai van xin một câu rồi thôi?” (1)

Chỉ một vài nét phác ấy đủ cho thấy “tay nghề” phổ thơ của “nhà phù thủy âm nhạc” Phạm Duy, như cách người ta vẫn gọi ông.

Đến nay nhiều người vẫn còn nhớ giọng hát rưng rưng của Thái Thanh và “Kiếp nào có yêu nhau” trong vở kịch “Áo người trinh nữ” trình diễn trên Đài Truyền Hình Việt Nam (1967), đã lấy đi không ít nước mắt của khán giả.

Gần đây, cũng bài hát ấy, cũng giọng hát ấy đã mê hoặc và truyền cảm hứng cho một đạo diễn điện ảnh người Mỹ gốc Việt, Dustin Nguyễn, để thôi thúc anh thực hiện một phim tình cảm lãng mạn ở trong nước. “Bao giờ có yêu nhau”, tên phim, mượn từ một câu hát trong bài hát ấy.  “Kiếp nào có yêu nhau”, nhạc phim chính, và giọng hát đầy ma lực của Thái Thanh đã “hớp hồn” nhiều khán giả trẻ lần đầu tiên nghe được ca khúc ấy, khiến phải đi tìm cho bằng được bài hát và giọng hát này để được thưởng thức trọn vẹn. Rõ ràng là trước giờ tuổi trẻ trong nước chưa hề nghe được bài hát nào, giọng hát nào như thế.

“Tôi chọn ca khúc ‘Kiếp nào có yêu nhau’ làm nhạc phim vì nội dung bài hát quá phù hợp với chuyện phim,” người đạo diễn trẻ tâm sự. “Ca khúc bất hủ ấy không chỉ nói về kiếp người, sự luân hồi, mà còn khắc họa cả câu chuyện tình bất hạnh, tiếc nuối. Bên cạnh đó, giọng ca của nghệ sĩ Thái Thanh mang màu sắc liêu trai, ám ảnh và cực kỳ ma mị. Ca khúc này được lồng ghép vào phim chắc hẳn sẽ chạm được đến trái tim khán giả.”

Đối với nhiều người ở trong nước, đấy là bài hát “mới”, hiểu theo nghĩa mới được nghe lần đầu.
Bài hát, như thế, có đến hai đời sống, cách nhau đến hơn nửa thế kỷ.
“Kiếp nào có yêu nhau” phù hợp với giọng nữ hơn là giọng nam. (Vài nam ca sĩ tự ý đổi lời bài hát từ “em” sang “anh” nghe khá… phản cảm, khi mà những “hoa xanh” và “hương trinh” chỉ dành cho người nữ:

Đừng nhìn anh! Đừng nhìn anh nữa…, em ơi!
Hoa xanh đã phai rồi!
Hương trinh đã tan rồi!)

Thái Thanh-Hoài Trinh-Phạm Duy, “bộ ba” này đã giữ cho lời hẹn thề “Kiếp nào có yêu nhau” của những đôi tình nhân được bền vững mãi cho đến trọn… kiếp này.

Điều đáng ngạc nhiên là, bài thơ được phổ nhạc khi tác giả còn tuổi đời rất trẻ. Người đọc tìm thấy, nhiều bài thơ, câu thơ của Minh Đức Hoài Trinh như được phủ lên một màn sương âm u, một không gian u tịch của những “chiều tha ma hoang lạnh”, những “đường nghĩa trang gập ghềnh”, những “tiếng cầu kinh văng vẳng”, những “tiếng búa nện vào đinh”, những “vòng hoa tang ủ rũ”, những “cỏ dại phủ mộ trinh”, và cả đến những “thịt xương rữa nát”, những “côn trùng rúc rỉa”, những “oan hồn lạnh lẽo”, những “bóng thuyền ma lênh đênh”…

Về phía người nhạc sĩ, những bài thơ của sinh ly tử biệt ấy mang đến cho ông sự đồng cảm sâu xa, khi mà “Tình yêu–Sự khổ đau–Cái chết” vẫn là những chủ đề, như ông bộc lộ, từng theo đuổi và ám ảnh ông không dứt. “Kiếp nào có yêu nhau”, “Đừng bỏ em một mình” và những bài thơ nào nữa của Minh Đức Hoài Trinh đã truyền cảm hứng đến ông để từ đó một loạt những ca khúc về siêu hình, tâm linh, về cái chết và nỗi chia lìa ra đời, như “Đường chiều lá rụng” (1958), “Nếu một mai em sẽ qua đời (1958), “Tạ ơn đời” (1959), “Một bàn tay” (1959), “Ru người hấp hối” (1965), “Những gì sẽ mang theo về cõi chết” (1966), “Anh yêu em vào cõi chết” (thơ Nguyễn Long, 1971), “Tưởng như còn người yêu” (thơ Lê Thị Ý, 1971), “Bài hát nghìn thu” (1988), “Người tình già trên đầu non” (1988), “Trút linh hồn” (thơ Hàn Mặc Tử, 1993)…

Đến nay thì cả hai, người nhạc sĩ lẫn người thi sĩ đều đã đi về một thế giới khác. Và tiếng hát người ca sĩ, từ lâu cũng lặng tiếng, im hơi.

***

“Anh còn có dịp đi qua
thăm giùm em với, căn nhà thân yêu
Hôn giùm em những buổi chiều
Nói giùm em, nói rất nhiều xót xa” (2)

Người viết những câu lục bát ấy đã đi xa. Lời thơ thật tha thiết, thật xót xa. Tôi không rõ chị đi xa mãi đến đâu, thế nhưng tôi tin rằng linh hồn chị thế nào cũng về lại quê hương cũ, về ngồi lại trên thềm nhà cũ của “căn nhà thân yêu”, về hôn lên những buổi chiều vàng trên đồng lúa mênh mông, về thăm lại “màu đất đỏ đường dốc cao Bến Ngự”, (2) về nhìn lại “trăng sông Hương vằng vặc giọng hò khoan” (2) nơi thành phố đầy ắp những kỷ niệm mà một phần đời của nhà thơ còn gửi lại chốn ấy.

Tình yêu ấy, tình yêu chị gửi về quê nhà xa lắc xa lơ ấy, đến “kiếp nào” đi nữa cũng không hề nhạt phai. Dẫu “hương trinh đã tan rồi”, dẫu hoa đời có “phai sắc tươi” thì tình vẫn cứ xanh cho đến “tận ngàn sau”. Không phải là bài hát ấy đã nói như thế sao?

Minh Đức Hoài Trinh, chị không đi xa (như cách người ta vẫn nói), chị trở về. Một con người yêu đất nước yêu quê hương đến như chị, yêu đến nâng niu từng kỷ niệm như chị thì không thể nào không trở về. 

Trở về như cánh “chim nào bay về xứ”. (2) Trở về như những câu thơ:

“Trở về thành phố của màu rêu tuổi nhỏ
vẫn còn nghe trong gió
bầy chim sẻ trên nóc chuông nhà thờ
gọi tên rất khẽ
Hoài Trinh”
(“Quê Nhà”, thơ Minh Đức Hoài Trinh)

Và những câu thơ nào nữa, trong những bài thơ “trở về” nào nữa:

“Em về ôm lửa
Em về ôm anh
Em không đi nữa
Em về ôm quê hương mình”.
(“Em về ôm quê hương mình”, thơ Minh Đức Hoài Trinh)

Lê Hữu
9/9/2017

(1) Học Trò: Vài cảm nghĩ về “Kiếp Nào Có Yêu Nhau”, thơ Hoài Trinh, nhạc Phạm Duy
(2) Thơ Minh Đức Hoài Trinh

*** Lương Tâm MẸ NẤM

Đỗ Hiếu/ĐHT

Phim Tài Liệu Về Gia Đình Tù Nhân Lương Tâm MẸ NẤM – NGUYỄN NGỌC NHƯ QUỲNH

Buổi trình chiếu phim “Mẹ Vắng Nhà”, được VOICE tổ chức vào chiều thứ sáu 31 tháng 8, 2018 tại hội trường Providence Recreation Center, thành phố Falls Church, Virginia.

Sau nghi thức khai mạc do ông Bùi Mạnh Hùng phụ trách, luật sư Trịnh Hội, Giám Đốc Điều Hành Tổ Chức VOICE cho biết đây là phim tài liệu đầu tiên về một nhà dân chủ, một phụ nữ đấu tranh cho nhân quyền, blogger Mẹ Nấm, đang ngồi tù, do đạo diễn Clay Phạm thực hiện tại Nha Trang. Cốt truyện diễn tả cuộc sống kham khổ, gian nan, gia đình của Mẹ Nấm, bà ngoại tật nguyền, mẹ già chật vật nuôi  hai con nhỏ của tù nhân lương tâm này mà còn thường xuyên bị công an bám sát, theo dõi, gây khó khăn đủ điều.

Cuốn phim dài 40 phút, được bí mật thu hình trong hoàn cảnh rất gay go, nguy hiểm, đã được chiếu tại các quốc gia trên thế giới tạo nhiều cảm xúc và thương xót trong công luận, khiến cộng sản Hà Nội phản ứng gay gắt.

Mẹ Nấm bị tòa án cộng sản xử 10 năm tù cộng với 5 năm quản chế, ghép vào tội “tuyên truyền chống phá nhà nước” vì đã tham gia biểu tình chống Trung Cộng chiếm Hoàng Sa, Trường Sa. Cô cũng thường xuyên lên tiếng bảo vệ dân oan bị cộng sản chiếm đoạt đất đai, tài sản, bênh vực gia đình các nạn nhân bị đột tử trong đồn công an, chống đối tập đoàn Formosa gây thảm họa môi trường, khiến cá chết đồng loạt tại bốn tỉnh Miền Trung.

Hiện nay cô bị giam trong một hỏa ngục ở Thanh Hóa, ngoài Miền Bắc, cách xa gia đình trên 1200 cây số và  thường bị nữ tù hình sự “đầu gấu” hành hung, tính mạng luôn bị đe dọa.  Cô đã nhiều lần tuyệt thực để phản đối hành động khủng bố tinh thần và vật chất dã man của các cai tù.

Mẹ Nấm Nguyễn Ngọc Như Quỳnh dù vắng mặt, đã được trao tặng nhiều giải thưởng như: Tự Do Báo Chí, Bảo Vệ Nhân Quyền,  Những Người Phụ Nữ Quốc Tế Can Đảm. 

Với sự can thiệp nhiều lần của chánh phủ Hoa Kỳ và Liên Hiệp Âu Châu đòi Hà Nội trả tự do vô điều kiện cho Mẹ Nấm nhưng vẫn chưa được đáp ứng!

Sau phần hỏi đáp qua điện thoại với đạo diễn Clay Phạm, hiện đang lẩn tránh an ninh Việt Nam và bà Nguyễn Thị Tuyết Lan, mẹ chị Nguyễn Ngọc Như Quỳnh, ở Nha Trang, buổi trình chiếu kết thúc vào lúc 8 giờ tối. Có những vị ân nhân ở Mỹ đề nghị với bà Tuyết Lan xin nhận hai bé Nấm và Gấu làm con nuôi. Bà nói, sẽ hỏi ý kiến của Mẹ Nấm, khi bà đến trại giam thăm con gái và phúc đáp sau.

Lên tiếng với VIETV, luật Sư Trịnh Hội, Giám Đốc Điều Hành của VOICE (Vietnamese Overseas Initiative For Conscience Empowerment/ Sáng Kiến Thể Hiện Lương Tâm Người Việt Hải Ngoại) cho biết về cảm tưởng chung, nói đúng hơn đó là sự phẩn nộ, cú “sốc” của khán giả tại Đài Loan, Philippines, Úc, Canada và Hoa Kỳ khi xem tận mắt những hình ảnh đàn áp, sách nhiễu thô bạo của công an đối với gia đình Mẹ Nấm cũng như những tiếng nói dân chủ khác lên tiếng phản đối bản án nặng nề dành cho Mẹ Nấm.

Tại Việt Nam, phim chỉ được chiếu kín đáo trong các giáo xứ và nhà thờ với số người xem hạn chế. Trên Xứ Thái, phim được chiếu lần đầu tiên vào ngày 27 tháng 6 vừa qua, trong Câu Lạc Bộ Báo Chí Quốc Tế (FCCT) tại Bangkok, Thái Lan. Khi biết được, Hà Nội triệt để ngăn cấm đồng thời áp lực chánh phủ Thái phải hủy bỏ các buổi trình chiếu phim “Mẹ Vắng Nhà”.

Bà Phùng Thị Hạnh, cựu Chủ Nhiệm báo Tin Sống ở Saigon [trước 1975] và cựu phóng viên tạp chí Newsweek, bày tỏ sự đồng cảm với hoàn cảnh gia đình đơn chiếc, chật vật của chị Nguyễn Ngọc Như Quỳnh và mong muốn công luận quốc tế, cùng tập thể người Việt Hải Ngoại mạnh mẽ vận động đòi hỏi Hà Nội sớm trả tự do cho hàng trăm tù nhân lương tâm còn bị cộng sản Việt Nam giam cầm trong hỏa ngục, trong đó có Mẹ Nấm, nhân vật chính không thể có mặt trong cuốn phim cảm động này.

Đỗ Hiếu/ĐHT

*** Người có tính tình khó ưa mới dễ giàu

Một nghiên cứu mới cho thấy những người tính tình dễ chịu thường có thu nhập thấp, quản lý tài chính kém.

BIEN NUOCMột nghiên cứu mới cho thấy những người tính tình dễ chịu thường có thu nhập thấp, quản lý tài chính kém.

Theo Telegraph, các chuyên gia tại Đại học London và trường kinh doanh Columbia đã phân tích dữ liệu từ hơn 3 triệu người tham gia nghiên cứu tại Anh và thấy rằng, xét về trung bình, những ai có tính tình khó ưa thì lại giàu có hơn.

Họ đã xem xét ở cả trẻ em, bằng cách theo dõi chúng tới khi trưởng thành, và trực tiếp ở người lớn. Nhóm nghiên cứu cũng tìm hiểu vì sao có mối liên quan giữa tính tình dễ mến với tình trạng khó giàu.
 

Họ kết luận rằng những người dễ tính nghèo hơn không phải vì họ dễ thỏa hiệp hơn mà đơn giản bởi họ ít nghĩ về tiền và do đó khả năng quản lý chuyện công việc, làm ăn kém.

Tiến sĩ Sandra Matz, Đại học Columbia, nói: “Kết quả này giúp chúng ta hiểu một yếu tố tiềm ẩn của các khó khăn về tài chính – điều có thể ảnh hưởng đáng kể tới sự giàu có của mỗi người. Trở thành người tốt bụng và đáng tin phải đánh đổi về tài chính, đặc biệt với những ai vốn đã không giàu có gì”.

Nghiên cứu đăng trên Journal of Personality and Social Psychology.

 

*** Praying

chua- cau nguyen 2

“Cast all your worries upon Him because He cares for you”. (1 Peter 5:7)

When we face difficulties in life, we often turn to God in prayer and beseech for help. We come to God to find comfort when we are in grief, in the midst of tragedy, or to find strength during life’s trial and tribulation.

Praying is divine and is a submission to God. It requires completely all of our hearts, minds, souls, and bodies consecrated to God. Furthermore, prayer is obedience to God’s will and acting according to His commandments. Prayer is also: sharing feelings with God; confiding and expressing our innermost thoughts and wishes to God; crying and laughing with God; walking hand in hand with God; spending time and creating memories with God; crying out for joy with God; crying out for help from God; igniting and growing the flame of passion in our hearts and souls for God; planning and dreaming with Him; worshiping, serving and glorifying Him; and lets His holiness shine upon us. I learn that everyday of our lives has its own troubles and we are not immune from it. Just open your heart, be honest and simple in your prayer. Simple prayer means we do not have to find a right words or holy phrases to move God. It is fine and alright to express your anger or despair because it shows that a communication channel or relationship between us and God is open and established. And that is a key to finding strength, comfort, courage, guidance, and happiness, because God has promised: “call on me on the day of distress, I will rescue you, and you shall honor Me.” (Psalm 50:15).

Always remember: “You do not possess because you do not ask” (James 4:2) and be assured that God is always with us and He will always answer us, thus, be faithful, patient, submissive, “trust in the Lord” (Psalms 37:3) because He has been and will be carrying us through life: “Even though I walk through the valley of the shadow of death, I will fear no evil, for you are with me; your rod and your staff comfort me.” (Psalms 23:4). ,

Strengthen your relationship with God with consistent prayer.

 Yes, God is always with us. So keep on confiding and praying to Him. He will always be there to listen and will lift us up in His loving and caring arms.

Let us pray:

Dear almighty God, the God of love, mercy and compassion, we cast all our anxieties on You, for You care about the smallest things that affect our worldly lives.
Thank you for always loving us.

Amen!

Joe HX Nguyen 

*** CẢM NHẬN VỀ THƠ

VÀI CẢM NHẬN VỀ THƠ

TRẦN MAI NGÂN

00cogai hinh ve

Thơ của Trần Mai Ngân là thơ của nỗi lòng. Hình như, chị mượn thơ chỉ để ghi lại Nhật Ký Nỗi Lòng nên thơ của chị gần gũi, dễ đi vào lòng người bởi đọc thơ chị. người đọc dễ “cảm”, dễ nhớ. Chị viết nhanh để ghi lại những cảm xúc thật của mình nên những câu thơ của chị rõ là của chị, không chịu ảnh hưởng cúa ai, cứ nhẹ nhàng đằm thắm, nhẹ nhàng chịu đựng, nhẹ nhàng hy sinh (có lẽ) như chính con người của chị.

Đọc những câu thơ:

– “Tôi đi nhặt lấy phù du
Trần gian một cõi mịt mù chơi vơi
Tôi tìm trong chiếc lá rơi
Phận người với cả một đời hư hao”
(Phù Du)

– Ngồi buồn xòa ngón tay hao
Đã đan trong gió đã nhòa trong mưa
Gần xa cũng đã từng chưa
Ngón tay đeo nhẫn như vừa chơi vơi.
(Ngồi Buồn Bấm Đốt Ngón Tay)
– Gió chiều, chân vội bước qua
Chỗ cười, chỗ đứng đã là ngày xưa
Mười Hai trời chẳng thôi mưa
Tiễn Thu hay tiễn tôi vừa hôm nay!”
(Tiễn Thu 2)

người đọc thấy trân quý cuộc đời hơn dù những câu thơ ấy viết về sự cô đơn, về nỗi xót xa vì những dang dở chuyện tình, bởi thơ ấy không hề bi lụy, tiêu cực mà chỉ nhẹ nhàng dâng kín nỗi buồn, rồi nhẹ nhàng buông bỏ để người thơ trở về với những gì là của mình, thuộc về mình.

Tôi thích thơ chị, có lẽ cũng từ những câu thơ hay và tinh tế như thế.

Hôm nay, đưa thơ chị lên trang blog Đặng Xuân Xuyến, không hiểu lý do gì mà 3 lần tôi lập cập làm hỏng, cứ phải dàn trang lại. Vì đặc thù riêng (một phần do thiết kế) nên thời gian dành cho việc đưa bài lên trang blog Đặng Xuân Xuyến thường tốn khá nhiều nên tôi bực, định xóa hẳn bài nhưng tiếc công sức đã bỏ ra nên nán làm lại, vì thế mà tôi đọc kỹ bài thơ GIẬN của chị. Tôi bật cười với suy nghĩ: Thảo nào tên bài thơ là Giận!

Và cặm cụi ngồi gõ đôi dòng về Giận cả về thơ của chị:

GIẬN…
.
Cứ một lần giận dỗi
Là thêm một cách xa
Mà em luôn nói dối
Không sao…em ổn mà!
.

Cứ một lần im lặng
Không nhìn nói với nhau
Làm tim em băng giá
Một mình âm thầm đau 
.

Thêm một lần… lần nữa
Có chắc còn lần sau
Ngày mỗi ngày hờ hững 
Nên tình đành xa mau…
.

Canberra trắng màu
Mây trôi xa xôi quá 
Em nhủ lòng quên đi
Chuyện đôi ta …còn gì? 
*
Canberra, 25 tháng 08.2018
TRẦN MAI NGÂN

Vâng. Thơ Trần Mai Ngân là thế. Cứ thẳng tuột với những suy nghĩ của mình, chẳng cần chọn lựa câu chữ bóng bảy, chẳng cần rào dậu chắn be. Sự thẳng tuột ấy chỉ là chị tự nói với lòng mình, tự lẩm bẩm với nỗi buồn đang xâm kín lòng mình, sự nhẹ nhàng ấy rất phụ nữ Miền Tây:

Cứ một lần giận dỗi
Là thêm một cách xa

Biết là giận dỗi là căn nguyên của sự “cách xa” nhưng chị không giãi bày, không phân tỏ mà chỉ âm thầm chịu đựng, âm thầm để níu giữ:

Mà em luôn nói dối
Không sao… em ổn mà.

Câu: “Không sao… em ổn mà!” nghe như tiếng nấc đang được chị cố ghìm lại.

Chị tiếp tục thật thà với nỗi ấm ức đầy vơi của mình, bằng những câu không thể đời thường hơn, không thể thật hơn, cứ như chị bê nguyên xi nỗi ấm ức, hờn tủi của chị bằng những câu nói thường nhật trong cuộc sống vào thơ mà chẳng cần cầu kỳ gọt rũa, chẳng cần chọn lựa kỹ câu từ. Vì thế mà chuyện của chị, thơ của chị thật lắm, đời và dễ chạm vào lòng người:

Cứ một lần im lặng
Không nhìn nói với nhau
Làm tim em băng giá
Một mình âm thầm đau

Biết là sức chịu đựng của con người có giới hạn nên khi đối diện với lòng mình, chị lắng hỏi lòng mình, và cũng là tự nhủ với lòng mình: “Thêm một lần… lần nữa/ Có chắc còn lần sau“. Biết sự nhường nhịn ấy, cam chịu ấy rồi cũng sẽ không đem lại kết quả tốt đẹp, nhưng chị lại buông xuôi, bất lực, tiếp tục cam chịu “thêm một lần”, rồi lần nữa, “lần nữa”… để chấp nhận sự đổ vỡ, chia ly: “Ngày mỗi ngày hờ hững/ Nên tình đành xa mau…”, thì thật là một bi kịch.

Nhẫn nhịn và bất lực trước cuộc tình sắp tan vỡ là tư tưởng yếm thế của một phụ nữ cam chịu xuyên suốt bài thơ.

Đọc bài thơ, không thấy hình bóng ai ngoài hình bóng chị, được mặc định bởi nhân vật “em” đang thủ thỉ kể chuyện tình buồn của mình. Cũng không biết căn nguyên những lần giận dỗi từ đâu, sự giận dỗi ở mức nào mà chỉ thấy hình ảnh nhẫn nhịn, cam chịu của chị, với những tâm sự của riêng chị, cũng rất chung chung, mơ hồ, khiến người đọc dù mến thương, cảm thông với nhân vật “em“, vẫn buông tiếng thở dài, nhẹ nhàng trách cứ: “tại anh tại ả, tại cả đôi đường.”.

Dù thế, thì “Giận” vẫn là bài thơ nhiều cảm xúc, cuốn hút người đọc bởi sự chân thành trong từng câu chữ của người viết.

Vâng! Thơ của Trần Mai Ngân là thế, là thơ của nỗi lòng, là tấm gương phản chiếu chân thực cuộc sống mà nữ sĩ Trần Mai Ngân đã trải qua, đã cảm nhận và đối diện.

Tôi thích những câu thơ buồn nhẹ nhàng nhưng lại rất sâu, rất thấm, kiểu:

Xa nhau, ừ nhỉ xa nhau vậy
Vá víu trăm năm một nụ cười
Mắt đã rời xa không trở lại
Lúc ở cạnh nhau đã vắng rồi.
(Khắc Vào Gió)

Nhưng tôi mong lắm được đón đọc những bài thơ tươi rói nụ cười, những niềm tin rạng ngời về sự vẹn tròn, đủ đầy của tình yêu chung thủy như mái ấm gia đình mà chị đang có, về những hạnh phúc lứa đôi mà tôi thấy đã có nhưng chưa nhiều trong thơ của chị. 

Hà Nội, 27 tháng 09.2018

ĐẶNG XUÂN XUYẾN

*** Những Tác Phẩm Cuối Cùng Của Khái Hưng

Trọng Đạt

Tưởng Niệm 70  Năm Nhà Văn Khái Hưng Bị Việt Minh Thủ Tiêu Tại Bến Đò Cựa Gà, Làng Ngọc Cục, Nam Định Vào Đêm Giao Thừa Năm Mới Đinh Hợi (21-1-1947).  

Khái Hưng tên thật là Trần Khánh Giư, sinh năm 1896 tại Cổ Am, Vĩnh Bảo Hải Dương , thuộc thành phần gia đình quan lại, con cụ Tuần phủ Phú Thọ, bố vợ là Tổng đốc Bắc Ninh, anh  ruột nhà văn Trần Tiêu. Khái Hưng theo học trường Lycée Albert Sarraut, HàNội, đậu tú tài ban cổ điển, ông cũng uyên thâm Hán học.

Ông tham gia hoạt động cách mạng giành độc lập 1940. Năm sau 1941, các đảng viên Đại Việt Dân Chính như Khái Hưng, Hoàng Đạo  bị Pháp bắt giam tại nhà lao Vụ Bản thuộc tỉnh Hòa Bình, đó là một vùng nước độc. Năm 1943 ông được tha, bị quản thúc tại Hà Nội. Nhật đầu hàng đồng minh tháng 8 năm 1945. Các nhà cách mạng lưu vong bên Tầu kéo về nước, Khái Hưng và Nguyễn Tường Bách giữ nhiệm vụ tuyên truyền cho Việt Nam Quốc Dân Đảng. Việt Minh cướp chính quyền ngày 19 tháng 8 năm1945, sau khi thành lập chính phủ liên hiệp, họ bất ngờ tấn công các trụ sở Quốc Dân Đảng, tiêu diệt các thành phần Quốc Gia.

Pháp tấn công Hà Nội, Khái Hưng tản cư về làng Lịch Diệp quê vợ,  bị Việt Minh bắt đưa đi thủ tiêu nửa đêm 21-1-1947, tức giao thừa Tết Nguyên đán Đinh Hợi.  Trong hai năm 1945, 1946 ông sáng tác một số truyện ngắn và kịch đăng trên tuần báo Chính Nghĩa. Năm 1966 ông Nguyễn Thạch Kiên đã cho xuất bản các tác phẩm ấy tại Sài Gòn và năm 1997 tại California, Hoa Kỳ nhân dịp kỷ niệm năm mươi năm Khái Hưng bị Việt Minh thủ tiêu,  Nguyễn Thạch Kiên đã cho in lại trong một bộ sách hai tập lấy tên Kỷ Vật Đầu Tay Và Cuối Cùng, nhà xuất bản Phượng Hoàng.

Đây là những truyện ngắn và những vở kịch cuối cùng của Khái Hưng, của Tự Lực Văn Đoàn . Bốn cây viết chính của văn đoàn gồm Khái Hưng, Nhất linh, Thạch Lam, Hoàng đạo. Nhưng lúc này chỉ còn một mình Khái Hưng, Thạch Lam chết bệnh năm 1943, Nhất Linh, Hoàng Đạo lưu vong sang Tầu, Khái Hưng sáng tác một mình.

Những tác phẩm cuối cùng của ông cũng là những áng văn tuyệt tác của một cây bút già dặn, những tâm tư của một nhà cách mạng chân chính trước cảnh cốt nhục tương tàn của cuộc chiến  Quốc -Cộng đang diễn ra. Các truyện ngắn gồm: Bóng Giai Nhân, Lời Nguyền, Hổ, Tây Xông Nhà, Quan Công Xứ, Nhung, Khói Hương, Người Anh Hùng, Tiếng Người Xưa và ba vở kịch: Câu Chuyện Văn Chương, Khúc Tiêu Ai Oán, Dưới Ánh Trăng. Vì phạm vi giới hạn chúng tôi xin được đề cập một số truyện chọn lọc.

BÓNG GIAI NHÂN 

Xin sơ lược 

“Trên một chiếc ô tô chở chính trị phạm lên Vụ Bản, Khanh một tù nhân nhớ lại những chuyện cũ tại trại giam sở Liêm Phóng: Phòng giam hôi hám, tối tăm, chàng đi bộ cùng các bạn tù tới nhà ga, những lời kêu khóc của thân nhân đi tiễn. Nhưng một kỷ niệm mà hắn khó quên lóe lên trong ký ức: Bóng giai nhân, một bạn gái bị giam ở xà lim bên cạnh trong thời gian hai mươi bốn tiếng đồng hồ “Sà lim 18’’, tên của giai nhân, cả trại đều ghi nhớ nàng bị giải đi đâu không biết.

Thế rồi một buổi sáng người ta dẫn vào một lô tù mới, trong đó có một thiếu nữ ăn mặc quê mùa rách rưới. Khanh và mọi người hỏi lính gác được biết cô gái bị giam ở đây nay là lần thứ ba. Lần thứ nhất cô là nữ học sinh tân thời, lần thứ hai cô giả trai, và lần này cô giả nhà quê. Tội của cô là “ làm cách mạng”’, từ lúc ấy thiếu nữ chiếm hết lòng sùng kính của trại giam.

“Sà lim 18’’là một cô bé nhỏ nhắn xinh xắn, cặp mắt sáng, môi tươi, mặt trái soan, nước da nhỏ mịn. Anh em tới tấp chạy lại để ngó qua lỗ cửa hỏi thăm tin tức, thiếu nữ tươi cười yên lặng. Lần trước nàng đã trốn trại sau bị bắt lại, các anh em cách mệnh cho quà bánh, nàng đã ôn tồn nói chuyện với mọi người. Khanh hay đến thăm nàng, chàng tưởng mình được nàng lưu ý nhất. Bóng giai nhân chỉ chỉ thoáng hiện nơi trại giam như tia nắng hé ra giữa khoảng trời mây đen. Khanh thở dài nghĩ thầm ước gì ta gặp nàng lần nữa rồi bị tù chung thân cũng cam! .

Đó chỉ là chuyện hồi tưởng, xe đã tới Vụ Bản, tại đây chiều chiều nhìn dẫy Hoành Sơn chàng ta mơ mộng tới hình ảnh bất diệt của giai nhân không bao giờ trở lại. Trại giam cho phép một cô gái gánh hàng tạp hóa vào sân trại bán, Khanh nhìn cô bán hàng mơ tưởng tới bóng giai nhân. “ 

Bằng lối hành văn bay bướm, điêu luyện, Khái Hưng đã tạo lên một bầu không khí thật lãng mạn trong một đề tài chính trị, cách mệnh. Một giai nhân xinh đẹp, người nhỏ bé, đôi mắt sáng, cặp môi tươi, mặt trái soan mà các anh em tù thường gọi là ‘Sà Lim 18’, nhưng nàng còn đẹp tuyệt vời hơn nữa vì nàng làm cách mạng cứu quốc vào tù ra khám ba lần, đã được sự sùng kính của toàn thể trại giam.

Khái Hưng tạo nên một chàng cách mạng dạt dào tình cảm, ông cũng tạo nên một không khí lãng mạn tuyệt vời. Chàng cách mạng chăm chỉ đến thăm giai nhân, tặng quà bánh và tưởng là được nàng lưu ý nhất! giữa cảnh núi đồi trùng điệp chàng cứ ngồi thẩn thơ mỗi chiều để gửi lòng yêu tới tận phương xa, mơ màng nghĩ tới người gặp gỡ trong những ngày ngắn ngủi và không bao giờ quên được nàng, đó là hình ảnh bất diệt của giai nhân không bao giờ trở lại, Khái Hưng kết luận. 

“Rồi đây, những lúc cách mệnh tha thiết gắt gao lên tiếng gọi, y  sẽ cảm thấy lòng tự tin, lên đường xông pha trong gian khổ với bóng giai nhân huyền ảo gặp gỡ giữa cảnh lao tù”. 

 

LỜI NGUYỀN 

Xin sơ lược 

“Đồn Vụ Bản chót vót trên ngọn đồi cao. Khanh , tù nhân chính  trị, một hôm ra suối lấy nước, gặp người lính kèn, hắn ta bảo ‘Phải , một lời nguyền! !

Trong đám dân kinh bên phố, lính bên đồn, anh em tù chính trị trong trại thỉnh thoảng lại có người giã từ cõi nhân gian về miền cực lạc. Khanh cảm thấy sự việc như có liên quan đến lời nguyền ghê gớm của người xưa. Một hôm người lính kể lại cho chàng chuyện ấy.

Đồn Vụ Bản là một trong những đồn binh kiên cố theo chương trình thống trị, nó án ngữ đường Nho Quan – Ninh Bình, nó cũng có thể kiểm soát hành động của những ông quan lang có oai quyền. Vì vậy viên quản mà người Pháp cho về coi đồn là người thật hách. Trước đây có một ông quản tên Tăng, được giữ chức trưởng đồn, ông hách dịch bệ vệ, nằm giường Hồng Kông, ăn cơm tây. Mỗi lần sang phố ông đeo huy chương đầy ngực. Tay cầm roi da, dắt chó tây to kếch sù. Tụi trẻ thường bảo:  -Quan Quản!

Quan là chúa tể vùng này: Nào thu thuế chợ, thuế đò, thuế thân. Dần dần thành ‘quan đồn’ và thành ‘cụ lớn’. Bao nhiêu người lễ lạc quà cáp cho cụ. Nhậm chức mới hai tháng, Cụ Lớn lấy cô nàng hầu người Kinh, con thương gia và hai nàng hầu người Mường nữa.

Quan thường ‘nổ’ với mọi người là Quan và và Bà Lớn đều là con nhà thế gia đại tộc, cụ thân sinh ra Quan và Bà Lớn toàn là Tổng đốc, Tuần Phủ  cả! . Có lần ông Quản bịa ra một lô truyện tả cái gia thế nhà mình: Cụ Cố, quan lớn về hưu thích chè tầu, tổ tôm, còn Bà Lớn trông coi mấy trăm mẫu ruộng!

Thế rồi một buổi sáng, một ông già tóc hoa râm và người đàn bà trạc ngoài ba mươi. Cả hai đều quê mùa cục mịch: ông lão quần nâu sắn đến đầu gối, người đàn bà mặc áo tứ thân mầu nâu, váy chồi đen. Họ hỏi đường sang đồn, qua phà, sang sông, leo dốc, lên đồi. Khi tới nơi cuối dốc, người lính canh quát:

-Hai người nhà quê hỏi ai?

-Chúng tôi vào thăm ông Quản!

-Vào hầu quan có việc gì?

-Bẩm chúng tôi là người nhà! 

Người lính cho người vào trình quan rồi hỏi. 

-Có họ hàng thế nào với quan?

-Ông cụ sinh ra quan và vợ quan!

Lúc ấy ông Quản đứng trong sân bảo:

-Đuổi cổ chúng nó ra! 

Nhân lúc cổng đồn mở, ông cụ và người đàn bà xông vào sân kêu:

-Tăng, Anh Tăng! 

Ông Quản quát mắng:

-Đồ nhà quê! bay đâu tống cổ chúng nó ra! 

Bọn lính tống cổ hai người ra. Ông lão và con dâu lẳng lặng ra về, đến bờ sông bên giòng nước chảy ào ào, ông lão thốt lời thề nguyền độc địa:

“Từ nay đứa nào còn lên đây thăm chồng con thì chết như thế này”. 

Rồi ông nhảy xuống sông tự tử. Từ đó lời nguyền vẫn thiêng lắm, những ai lên đây thăm chồng, thăm con về ốm đau nặng rồi chết.”

Một ông quản lỡ lời ‘nổ zăng miểng’ với mọi người về gia thế nhà mình, cháy nhà ra mặt chuột, khi ông cụ và mẹ đĩ lên thăm thì xấu hổ sai lính đuổi không nhận là bà con.

Theo ông Trần Ngọc, trong cuốn Kỷ Vật Đầu Tay Và Cuối Cùng, Khái Hưng viết truyện này để diễn tả cái chủ trương ‘vô gia đình’ của những người độc quyền yêu nước, từ chối bà con ruột thịt, và như vậy tác giả đã nguyền không bao giờ còn liên hệ với các ‘đồng chóe’ vô gia đình vô tổ quốc ấy.

Một truyện ngắn gọn đơn sơ mang mầu sắc huyền bí ghê rợn, ý nghĩa thật là sâu sắc, nó thể hiện cái phi nhân bản của những người tự cho là vị tha yêu nước. Độc giả như thấy hiện ra một vùng rừng thiêng nước độc với một lời nguyền ghê gớm. 

HỔ 

Xin sơ lược

“Bảy Hai, người lính gác trên chòi cao một trại tù. Hắn đã hai lần đánh mõ tre đáp lại tiếng khánh sắt cầm canh bên  đồn. Hắn buồn ngủ muốn ríu mắt mà không dám ngủ vì sợ đội Giới phạt. Đội Giới thù ghét Bảy hai vì một truyện nhỏ tại sòng bài tối qua. 

Tối nay, dưới ánh trăng mờ, Bảy Hai ngắm cảnh để quên đi giấc ngủ, hắn chợp mắt được vài phút rồi choàng tỉnh, linh tính báo cho biết có chuyện gì ghê gớm. Hắn trông thấy một vật gì như con bò đang tiến về phía mình , tới lưng chừng đồi nó dừng lại rẽ sang phía nam, một lúc sau nó tiến về phía Bảy Hai, hắn nhận rõ đó là con hổ lực lưỡng, to béo đang  từ từ tiến lại. Bẩy Hai hồn vía lên mây xanh không dám động tịnh. Con hổ lực lưỡng tới chân thang chòi dừng lại rồi nằm xuống, Bảy Hai không dám cựa quậy, hắn chỉ sợ nó vùng dậy chồm lên đạp đổ cột chân chòi gác  làm thịt mình, hắn định bắn mà không dám, chỉ sợ trật hay bắn bị thương nó thì vô cùng nguy hiểm, hắn biết rằng nó chỉ chống lại người, tấn công người khi có ý định giết nó. 

Tiếng khánh bên đồn và tiếng mõ tre các chòi canh vang lên, Bảy không dám đánh, hắn nghĩ nếu mai có bị phạt cũng ráng chịu vì nếu gây tiếng động bây giờ là toi mạng. Không nghe thấy tiếng mõ của Bẩy, Đội Giới bèn lại chòi canh của hắn để rình bắt quả tang Bẩy ngủ gục trong canh gác để phạt trả thù. Bẩy Hai bắt đầu lo cho tính mạng của Đội Giới, hắn vụt quên mối thù để nghĩ tới tai họa do một loài khác tàn ác gây ra. Lòng nhân đạo tự nhiên sống dậy, hắn nghĩ tới cách cứu mạng một người, tiếng chân người nghe lạo xạo, con hổ vẫn nằm im lìm. Bẩy Hai hoảng hốt thét lớn.

-Đứng lại, có hổ đấy! có hổ! con hổ chạy biến mất, người cũng chạy biến đi.” 

Khái Hưng lấy truyện người gác tù (lính Tây) có tình thương đồng bào để ám chỉ tình thương của người quốc gia đối với kẻ thù khi tai họa sảy ra. Dù là người mình thù ghét, ta vẫn có thể quên đi mối hận để cứu họ vì tình đồng loại, cái mà ông gọi là lòng trắc ẩn, tình nhân đạo.

“Mối thù y vụt quên để chỉ nghĩ tới tai nạn xảy đến cho kẻ đồng loại do một loài khác, một loài tàn ác gây lên. Lòng trắc ẩn, tình nhân đạo đến với y một cách tự nhiên, một cách ngẫu nhiên .Y không lý luận nữa, không cân nhắc nữa , chỉ tìm cách cứu sống một con người thoát khỏi nanh vuốt một con vật”. 

Thánh Ghandi đã nói chúng ta có thể chiến thắng bằng tình thương.

NHUNG

Xin sơ lược. 

Sinh là con trai của bà Đồ, một thanh niên hư hỏng, rượu chè, cờ bạc. Là con một ông Cử, chị em bà đều lấy chồng con nhà nho, nhưng chị bà lấy ông Thượng Nguyễn đỗ đạt làm quan, còn chồng bà chỉ là ông đồ nghèo kiết. Chị bà có giúp bà nhiều phen, nhận nuôi Sinh cho cùng đi học với con mình, rồi chồng bà chết, chị bà chết, ông Thượng Nguyễn (anh rể) lấy vợ khác, bà vợ này có con gái tên Nhung. Ông Thượng bạc đãi Sinh nên anh bỏ về với mẹ, đã hai mươi tuổi, anh học không hay, nghề không có, cờ bạc phá của, khiến gia đình ngày càng thiếu hụt. 

Sinh oán thù ông Thượng và gia đình ông. Hồi chị của mẹ hắn ( bà Cả Thượng) còn sống, bà coi hắn như con, mua sắm đủ thứ, và nay bị đối xử bạc bẽo, hắn cho là hai mẹ con Nhung gây lên rồi oán ghét gia đình ông Thượng, hắn oán ghét tất cả xã hội quan lại, hào phú, trưởng giả, hắn tìm ra đủ tội lỗi đê tiện, xấu xa. Sinh có quan niệm về xã hội loài người: Loài người chia làm hai giai cấp: Giai cấp nhiều quyền lợi và giai cấp không có quyền lợi. Hắn nghĩ tới cách giải quyết vấn đề cho những người ở giai cấp thua thiệt; hắn lười biếng, hư hỏng nhưng chỉ muốn cải tạo xã hội, hắn cương quyết phá hoại phe địch, hắn đi nói xấu bọn nhà giầu như ông Thượng, người đã nuôi hắn, cho hắn nếm mùi phú quí rồi ném hắn xuống đất đen cho thấm thía chênh lệch bất công, hắn tuyên truyền bôi nhọ bọn phú hào rằng chúng đã xây đắp hạnh phúc trên xương máu quần chúng. 

Khi ấy xẩy ra vụ cướp nhà ông Thượng Nguyễn, người ta đoán chắc Sinh có dính líu vụ này vì dinh cơ kiên cố rộng rãi ấy nếu không có người thuộc đường như Sinh chỉ lối thì cướp không thể vào được. Sinh bị bắt, người làng vui cười, họ cho là hắn đáng tội vì hắn căm thù gia đình ông Thượng ghê gớm. Hôm cướp vào nhà, ông bà Thượng đi vắng, người nhà chạy trốn thoát, duy chỉ có Nhung bị bắt. Về sau bọn cướp bị quan nha bắt, người ta kêu Nhung đến nhận diện chúng. Nàng nhận diện hết mọi tên trừ Sinh , có người nghĩ Sinh vô tội, có người cho là Nhung thương hại hắn vì chính bọn cướp cũng khai Sinh là đồng lõa.

Vụ cướp bẵng đi một thời gian, người ta lại bàn tán đến chuyện mới sảy ra: Sinh tự tử trong buồng để lại bức thư tuyệt mệnh gửi Nhung.

B… ngày 1940  

Em Nhung. 

Đây là một bức thư dài dòng văn tự, Sinh cho biết mẹ hắn là em bà Thượng cả (mẹ Nhung là bà hai) không phải là gì Nhung, hắn và nàng không có họ hàng với nhau, ví thử có lấy Nhung làm vợ cũng không sao. Từ ngày được thả về, trí óc hắn rối ren, nay quyết định chết nên rất bình tĩnh, khi Nhung nhận thư này Sinh đã là cái xác không hồn. 

Lúc thì hắn xưng anh, lúc thì hắn xưng em, .  . hắn gửi lời vĩnh biệt, lời tạ lỗi vì đã xúc phạm Nhung trong cái đêm lịch sử ấy, Sinh thú tội với Nhung ví như một tín đồ Thiên Chúa xưng tội để trút gánh nặng trong lòng, hắn nói tội dắt cướp vào nhà bác và làm nhục một thiếu nữ chưa đáng kể. Hắn thú một tội tầy trời: thuở nhỏ được hai bác dậy dỗ nuôi nấng, sống trong cảnh giầu sang không bao giờ Sinh  thương người nghèo, có một điều mà Nhung không ngờ là hắn yêu Nhung thầm lén bao lâu nay. Nhung thì lãnh đạm, mẹ Nhung khinh rẻ hắn (bà này là bà hai, không bà con với Sinh) bởi thế hắn bỏ về ở với bà cụ, từ chỗ tư thù cá nhân biến thành thù chung của cả xã hội bị bóc lột, Sinh chỉ ao ước được trả thù cho giai cấp bị hất hủi như hắn. 

Chủ ý của Sinh là giết hai bác, làm ô nhục Nhung, tình yêu trong lòng hắn vẫn còn, khi bị bắt giam Sinh đã hối hận trước khi Nhung nhận diện, hắn nghĩ tại sao Nhung không để cho hắn chịu hình phạt lại cứu vớt hắn ra khỏi ngục thất làm chi, đối với Nhung hắn đời đời là tên khốn nạn và tự khép mình vào án tử hình.”

Bằng một truyện tình bi thảm, lãng mạn tuyệt vời, Khái Hưng đã diễn tả cái thô bạo bất nhân của đấu tranh giai cấp và hận thù giai cấp. Đấu tranh giai cấp không phải là một lối thoát để giải quyết bất công xã hội mà chỉ là biểu hiện của thú tính con người để trả thù đời bằng bạo lực đê hèn. Sinh một tên vô lại, cặn bã của xã hội, từ hận thù cá nhân đưa tới hận thù xã hội, hắn đã dùng thủ đoạn tàn bạo để giải quyết hận thù xã hội. Đó chỉ là phá hoại xã hội chứ không phải xây dựng cho xã hội tốt đẹp hơn lên, nhưng Sinh còn biết xấu hổ về cái hành động đê hèn của mình.

Đề tài của Khái Hưng trong các tác phẩm cuối cùng của ông thường xoay quanh trại tù Vụ Bản, đó là những áng văn tuyệt tác cuối cùng của một nhà cách mạng đáng kính, một chiến sĩ quốc gia yêu nước, những áng văn đã đóng góp rất nhiều cho nền văn học mới nước nhà.

Trọng Đạt

*** ÔI CHAO GIỌNG HUẾ !

đặng lệ khánh

1aodaibuon

      

Mình người Huế mà đi nơi lạ, nghe được giọng Huế mô đó là rán ngước mắt, quay đầu tìm cho kỳ được chủ nhân của giọng nớ đang đứng ở mô, có quen chút mô không. Người Huế qua Mỹ hà rầm, mô phải ít. Cứ mỗi lần nghe giọng Huế thì quay đầu tìm, chẳng mấy lúc mà chóng mặt, nếu không gãy cổ. Nhưng mà lạ quá, hễ nghe được thì tự nhiên trong lòng như có một chút dậy sóng, a, bên cạnh mình đang có một ai đó đang tha hương lạc bước từ xứ mình đây.

Hôm kia đi ăn cưới, hai bên dâu rể đều là người Huế. Ông MC người Huế, ông ca sĩ chính cũng người Huế. Khi ông ca sĩ nói, một cô trong bàn phê bình : ” Ông ni nói tiếng Huế chi lạ rứa, ông nói tiếng chi a! “, còn ông xã thì nói: ” Nói tiếng Huế gì nghe nặng wá, hổng hiểu gì cả .”  K thì nghe hiểu tất.

Vậy thì giọng Huế ra răng mới đúng tiêu chuẩn ? Cô bé phê bình giọng Huế của chàng ca sĩ thì vừa rời Huế năm năm, ông xã K là Huế lai căng, sinh ở cao nguyên và lớn lên ở miền Nam, họ có đôi tai khác hẳn K chăng ? K không phân biệt được âm sắc trong giọng nói chăng ? Hay là K vì lòng thương Huế, cái xứ mình bỏ mà đi từ xưa nên rộng rãi hơn với cái giọng thân thương nớ, nghe bằng trái tim hơn là bằng đôi tai?

Giọng Huế khác với giọng Hà Nội, giọng Sài Gòn ra răng mà ông Hà Huyền Chi đi giữa chợ Mỹ, chắc chắn là nghe rất nhiều người nói tiếng Việt, mà chỉ khi nghe giọng Huế mới chiêng trống dậy hồn quê, mới khơi nỗi sầu xa xứ chất ngất trong lòng, dù ông là dân Bắc chính cống ? Có phải chăng khi đã nghe một giọng Huế thỏ thẻ bên tai, không chỉ là lời đi vào hồn người, mà cái giọng đã đậu trong tim, đâm cành trẫy lá ?

…Giọng Huế bỗng nghe từ chợ Mỹ
Mà chiêng mà trống dậy hồn quê
Hương cau màu trúc xanh thôn Vỹ
Áo mới xênh xang giữa hội hè

Tôi bước bên nàng không dám thở
Không gian đầy Huế núi cùng sông
Tóc ai thả gió hồn tôi mở
Dấu kín trong tim những nụ hồng

Hà Huyền Chi ( Huế đầy)

Giọng Huế quý giá vô cùng làm cho Mạ đã lưu lạc bao nhiêu năm, mất mát đủ thứ mà khư khư ôm lấy giọng Huế ướt rượt, nhất định không đánh đổi, không pha trộn, dù đời sống Mạ như cuồng lưu tràn bờ biết bao lần. Lúc lắng xuống, giọng Mạ như giòng Hương sau những cơn cuồng nộ, lại lặng lờ xanh trong chảy xuôi ra biển, êm ái nghe giọng hò thoang thoảng xa đưa.

…Tuổi con gái Mạ từng uống nước sông
Đến bây giờ giọng Huế nghe còn ướt
Giọng Huế nghe còn một chút gì trong
Bao đắng cay pha vào chưa đục được …

Đoàn Vị Thượng ( Giọng Huế của Mạ)

Giọng Huế ăn sâu trong tâm người con Huế, đi đến bờ bến nào cũng thương nhớ không nguôi. Chỉ cần nghe tiếng thỏ thẻ của một người bạn Huế là gợi nhớ đến một thời thơ ấu có tiếng Mạ ru hời bên tai, và cảm thấy gần gũi ngay, như gần gũi với thời gian đã qua, đã mất.

…Nếu lại được em ru bằng giọng Huế
Được vỗ về như mạ hát ngày xưa
Câu mái đẩy chứa chan lời dịu ngọt
Chết cũng đành không hối tiếc chi mô

Tô Kiều Ngân ( Giọng Huế)

Giọng Huế của gái Huế dịu dàng, nhiều người công nhận. Nhưng giọng Huế con trai Huế thì đang còn được bàn cãi. Nhiều người cho rằng giọng trai Huế không hùng hồn, không kêu gọi được người khi làm chuyện lớn. Điều ấy thực chăng ? Không phải đâu. Chỉ tại người Nam và người Bắc không muốn sửa đổi đôi tai của họ để nghe một âm sắc trầm trầm bằng bằng. Không sửa được, họ không hiểu thì họ không nghe. Nên để được người nghe, người Huế đổi giọng. Người Nam, người Bắc không ai đổi giọng của họ, mà người Huế thì đi đến đâu pha giọng đến đó. Chính vì vậy mà người khác địa phương không cần phải lắng nghe, sửa tai mà nghe. Hai người Huế tha phương gặp nhau, phải một thời gian lâu mới biết là họ cùng người Huế cả vì họ nói giọng Bắc, giọng Nam. Khi biết ra, cả hai cùng hân hoan, tự hào nói : Rứa hả, em cũng Huế đây nì.

Ngày K mới theo chồng từ Huế vào Sài Gòn, K ở chung với chị chồng. Bà đi làm suốt ngày. Bà có một người giúp việc, bà Tư, người Kiên Giang. Trong những ngày đầu sống trong căn gác xép xa lạ, chồng theo tàu lênh đênh, chung quanh không người thân quen, K chỉ có mỗi bà giúp việc ấy để chuyện trò cho đỡ nhớ nhà. Mà nói chuyện với Bà như nói chuyện với người điếc. Bà nói K còn nghe được chứ K nói thì bà hoàn toàn mù tịt, không hiểu K nói gì. Nhờ bà làm gì rồi thì cũng tự mình đi làm lấy vì bà ư hử mà không làm, chỉ vì bà không biết K muốn gì. Bà than : ” Cô nói tiếng ngoại guấc, hông nói tiếng Yiệt “.

Đối với người Nam, ai không nói giọng Nam là không nói tiếng Việt.

Như vậy, giữa tiếng và giọng, có một sự sai biệt khá lớn. Chúng ta hay dùng lẫn lộn. Khi nói ” nói tiếng Huế ” hay ” nói giọng Huế ” , thì ai cũng hiểu ngay là người ấy đang dùng âm thanh trọ trẹ để phát ngôn. Nhưng khi nói theo ông Võ Hương An ” Tiếng Huế, một ngoại ngữ “, thì rõ ràng tiếng không còn là giọng Huế nữa. Bạn có thể nói giọng Huế, nhưng giọng Huế nớ sẽ không là giọng Huế rặt nếu bạn không dùng mô tê răng rứa. Nghe một giọng Huế thỏ thẻ mà trong câu toàn là thế là thế nào, thưa vâng, không sao đâu ạ thì nghe nó … kỳ kỳ như ăn cơm hến với dưa muối, cà pháo. Huế không thưa vâng ạ. Huế chỉ dạ nhẹ nhàng. Cái tiếng dạ của mấy cô gái Huế làm chết biết bao chàng trai Huế cũng như không Huế. Huế không nói thế là thế nào, Huế nói : Dạ, rứa là răng ? Mấy chữ mô tê răng rứa ni phải đi với giọng Huế, chứ còn đi với giọng Sài Gòn, với giọng Hà Nội thì dĩ nhiên chỉ là nói đùa cho vui, hoặc đang lấy lòng một người Huế nào đấy thôi, hoặc là một dấu vết cho thấy người nói đã một thời lăn lóc trên đất người, đã lậm tiếng người, đã mất gốc không nhiều thì ít. Như K đây. Đau lòng mà nhận ra như rứa.

Người Huế không kêu ” cô “, người Huế kêu ” O “.
Người Huế không kêu ” Bà “, người Huế thưa ” Mệ “
Người Huế không “nói “, người Huế “noái “
Người Huế không “mắc cỡ “, người Huế “dị òm”,
Người Huế không hỏi: “Sao vậy? “, người Huế hỏi “Răng rứa? “
Người Huế không nói ” Đẹp ghê “, người Huế nói ” Đẹp dễ sợ. “

Người Huế cái chi cũng kêu lên “Dễ sợ !! “, dữ dễ sợ, hiền dễ sợ, buồn dễ sợ, vui dễ sợ, xấu dễ sợ, thương dễ sợ, ghét dễ sợ.

K đang trở lại với Huế, đang nói lại cái giọng mà thuở xưa đã từng thỏ thẻ bên tai ai, đang tìm học lại tiếng Huế, một ngôn ngữ tuy đang dần dần bị mai một vì những đợt sóng người từ các nơi trôi dạt đến. Những người mới này mang theo họ cái giọng, cái tiếng từ quê cha đất tổ, hoà lẫn với tiếng và giọng Huế, tìm cách đồng hoá nó, như xưa kia người Việt đồng hoá người Chiêm.

Những người ở các vùng khác có tha thiết nhớ và gìn giữ tiếng và giọng của họ không hè ?

Hồi còn đôi tám, đi nghỉ hè trọ ở nhà một người bạn gái tại Sài Gòn. Nhà bạn có hai ông anh lớn hơn chừng ba bốn tuổi. Cả bọn họp thành một nhóm đi chơi với nhau vui vẻ. Một buổi trưa, sau khi đi chơi đâu đó về, cả 4 nằm ngang trên chiếc giường lớn nói chuyện bâng quơ. Một trong hai anh nằm kề K, lấy mái tóc dài của K đắp ngang mặt mình, hỏi :

” Tại sao người Huế khi nói gì cũng nói ” dễ sợ ” vậy K ? “
” K không biết. “
” Vậy thì nếu nói ‘ Dễ thương dễ sợ ‘ có đúng không ? “
” Không biết. “

Đặng Lệ Khánh

*** NHỮNG NGƯỜI ANH EM BỊ “LÃNG QUÊN”

Thư viện của bài

This gallery contains 1 photo.

Huỳnh Thục Vy Hôm nay, tôi viết những dòng này trong bối cảnh đất nước nằm trước nguy cơ Bắc thuộc, hàng ngàn ngư dân khốn đốn vì Formosa, hàng chục nhà hoạt động nhân quyền tên tuổi đang trong … Tiếp tục đọc

*** Có thực mới vực được đạo

Thư viện của bài

This gallery contains 1 photo.

Nguyễn Thị Chân Quỳnh Tôi thích ăn ngon. Ngày Tết đương nhiên tôi bàn chuyện “ăn” vì người Việt Nam chỉ “mừng Xuân” chứ không “mừng Tết” mà “ăn Tết”.Nói chuyện ăn ngon tôi nghĩ đến Pháp trước bỏi tôi … Tiếp tục đọc

*** Nguy Cơ Lớn Cho Tập Cận Bình

no-Chinatrump-make-american

Chủ Tịch Tập cận Bình đang rơi vào một nguy cơ lớn không những tai hại về phương diện đối ngoại và mà còn về đối nội nữa, do cuộc Chiến Tranh Thương Mại với Mỹ. Đó là nguy cơ lớn nhứt thách thức ông Tập từ khi lên cầm quyền TQ tới giờ.

Một là về kinh tế. Chiến tranh thương mại với Mỹ sẽ làm kinh tế Trung Quốc suy thoái. Kinh tế là tính chính danh cầm quyền của TC sau khi chủ nghĩa Cộng sản thất bại Liên xô và một loạt chư hầu các chế độ CS ở Đông Âu. Lúc bấy giờ TC phải chuyển sang kinh tế thị trường nhưng để giữ mặt mũi CS vẫn giữ cái đuôi theo định hướng xã hội chủ nghĩa gần hai thập niên đã qua.

Suy thoái, suy sụp kinh tế muốn hay không muốn cũng ảnh hưởng tớí vị thế và quyền lực của Ông Bình. Dầu có cố gắng TC cũng không đấu lại Ô Trump một Ông Già Gân lão thành trong kinh doanh, với nước Mỹ là một thị trường lớn nhứt thế giới, trong khi TQ chỉ là một công xưởng sản xuất hàng rẻ tiền để xuất cảng. Thế cho nên khi Mỹ tăng thuế hàng TQ nhập cảng vào Mỹ liên quan đến cả 500 mặt hàng và hàng mấy trăm tỷ, hàng TQ bị Mỹ coi là xấu mà giá lại lên cao thì chắc chắn sẽ ế, rất khó bán nếu không muốn nói là không thể bán được.

Thời kỳ vàng son của Ô Bình nay còn đâu khi chiến tranh thương mại với Mỹ bắt đầu. Đã hết rồi cái thời Ông Bình đã thành công trong việc dập tắt những tiếng nói chống đối bên trong lẫn bên ngoài đảng Cộng sản Trung Quốc, được quốc hội CSTQ hủy bỏ giới hạn nhiệm kỳ chủ tịch có thể ngồi ở  bệ rồng suốt đời như hoàng đế Trung Hoa ngày xưa. Tư tưởng Tập Cận Bình của Ông cũng được đưa vào hiến pháp TQ.  Điều này khiến Ông được xem là lãnh đạo quyền lực nhất Trung Quốc, vang danh như người khai nguyên ra chế độ là Mao Trạch Đông.

Và cũng là thời mà theo báo South China Morning Post, Ông Bình coi “Tây phương rơi vào hỗn loạn, còn Trung Quốc trở nên thịnh vượng”. Và Ông Bình trên phương diện đối ngoại chuẩn bị mở rộng tầm ảnh hưởng của TC thông qua sáng kiến “Vành đai, Con đường”, một chương trình phát triển cơ sở hạ tầng ông dành nhiều tâm huyết.

Nhưng đùng một cái cuộc chiến thương mại với Mỹ đã  gây một tình thế hoàn toàn khác, tai hại cho Ô. Bình. Con đường bành trướng của TQ thời Ông Bình không còn bằng phẳng nữa. “Đây là thách thức lớn nhất (của ôngTập)”, Shi Yinhong, chuyên gia nghiên cứu các vấn đề quốc tế thuộc Đại học Nhân dân Trung Quốc ở Bắc Kinh, kiêm cố vấn Quốc vụ viện Trung Quốc, bình luận. “Nếu Trung Quốc phải đương đầu với một cuộc chiến tranh thương mại lan rộng và kéo dài, nền kinh tế, tài chính chắc chắn sẽ bị thiệt hại. Cuộc phục hưng vĩ đại của dân tộc Trung Hoa không thể tiến lên phía trước”, Yinhong nhấn mạnh. Thế là ‘Giấc mơ Trung Hoa’ là giấc mộng lớn của Ô. Binh vẫn là giấc mơ chớ không thành sự thật được.

Trên chiến trường thương mại, Ô. Bình đã phải tỏ ra nhượng bộ lớn, vì biết chơi không lại Mỹ nên cần hoà hưỡn để mong sống chung hoà bình, chớ táo bạo chiến tranh rất dễ sẽ từ chết tới bị thương. Chính Ô. Bình ra lịnh cho truyền thông của Đảng Nhà Nước bớt đánh phá Mỹ.

Ngay trận đầu sau khi Washington thực hiện lời đe dọa áp thuế nhập khẩu 25% trên 34 tỷ USD hàng hóa Trung Quốc bán sang Mỹ mỗi năm, phía TQ đã lo đòn áp thuế trên sẽ tác động tới Trung Quốc nặng nề trên phương diện chính trị lẫn tài chính. Ô. Yinhong cho rằng chiến tranh thương mại lần này có thể khiến Trung Quốc phải thay đổi cách hành xử trên trường quốc tế, thậm chí xuống nước lập trường hung hăng mà họ đã theo đuổi thời gian qua. Theo Ô. Yinhong, đối mặt với sức ép đang gia tăng từ Mỹ và các nước Tây phương khác về vấn đề thương mại, Trung Quốc sẽ phải đưa ra các nhượng bộ lớn. Ông dự đoán Trung Quốc có thể sẽ bớt mạnh tay hơn trong các dự án đầu tư ở nước ngoài vì nguồn tiền dành cho những hoạt động này đã giảm.

 Nhưng TC sẽ không thay đổi chánh trị. Nhà nghiên cứu chính trị Chen Daoyin ở Bắc Kinh nhận xét dù điều gì xảy ra trên mặt trận thương mại, mọi người cũng không nên kỳ vọng bất kỳ thay đổi lớn nào của Trung Quốc trên phương diện chính trị.

Phát biểu tại một diễn đàn thảo luận về tranh chấp thương mại Trung – Mỹ hồi tháng ba, cựu bộ trưởng tài chính Trung Quốc Lâu Kế Vĩ bác bỏ những ý kiến cho rằng cải cách thị trường sẽ dẫn đến thay đổi lớn về chính trị.

“Trong nhiều thập kỷ, tính chính danh cầm quyền của đảng Cộng sản Trung Quốc được xây dựng dựa vào thành tích kinh tế. Nếu một cuộc khủng hoảng kinh tế xảy ra vì chiến tranh thương mại, điều này chắc chắn làm tổn hại tính chính danh đó”, ông nói.

Perry Link, chuyên gia chính trị Trung Quốc ở Đại học California, Mỹ, cũng đồng ý với ý kiến trên. “Một cuộc suy thoái kinh tế… sẽ là mối đe dọa lớn hơn nhiều đối với sự ổn định chế độ của ông Tập… Tôi không nghĩ chủ nghĩa dân tộc mới sẽ giúp ích cho ông ấy, thậm chí, nó có thể chống lại ông ấy nếu mọi thứ chuyển biến xấu.”

Vì các căng thẳng thương mại Trung – Mỹ ngày càng leo thang, Bắc Kinh gần đây tìm cách xây dựng mối quan hệ gần gũi hơn với châu Âu, vốn cũng là mục tiêu mà đòn thuế của Tổng thống Mỹ Donald Trump nhắm đến.

Nhưng Christopher Balding, nhà kinh tế thuộc Trường Kinh doanh HSBC thuộc Đại học Bắc Kinh, vẫn nghi ngờ khả năng xuất hiện một liên minh Bắc Kinh – Brussels về thương mại. “Thẳng thắn mà nói, châu Âu chỉ xem Trump như một cơn cảm lạnh vì ông ấy rồi sẽ rời nhiệm sở vào một lúc nào đó. Và họ có mối liên kết lịch sử sâu sắc hơn nhiều với Mỹ cũng như có một thị trường cởi mở hơn nhiều. Họ không có bất kỳ sự bảo đảm nào như vậy từ Trung Quốc”, Balding nhận xét. Ông lưu ý Tập Cận Bình đã được thông qua là lãnh đạo trọn đời của Trung Quốc và “Trung Quốc cũng không có lịch sử về một thị trường mở cửa”.

Thêm vào đó căn bản chánh trị của TC hoàn toàn khác với chế độ tự do, dân chủ của Liên Âu và Mỹ. Lịch sử Âu, Mỹ đã gắn bó  chặt chẽ với nhau, trong hai Thế Chiến. Một bằng cớ rõ rệt gần đây nhứt. Trong cuộc họp Liên Minh Bắc Đại Tây Dương (NATO) mở ra ngày thứ Tư 11 và thứ Năm 12/07 tại Bruxelles với sự tham dự của tổng thống Mỹ. Các lãnh đạo của 29 nước của Liên minh quá nhiều lời qua tiếng lại với nhau. Nhứt là TT Trump của Mỹ lớn con, to tiếng, quen nói thẳng thừng. Ô. Trump đòi các đồng minh NATO tôn trọng cam kết đến năm 2024 tăng chi tiêu quân sự lên 2% GDP. Nhưng chỉ trong ngày đầu tiên của thượng đỉnh, 11/07/2018, đã kết thúc với việc 29 quốc gia NATO ra một tuyên bố chung, tái khẳng định cam kết chi 2% GDP cho quốc phòng, như một cử chỉ nhượng bộ, đồng thuận trước các đòi hỏi của tổng thống Mỹ. Trump nói với các phóng viên báo chí sau ngày thứ hai của thượng đỉnh NATO tại Brussels, “Tôi cho họ biết rằng tôi vô cùng không hài lòng.” Nhưng ông nói thêm rằng các cuộc đàm phán đã kết thúc với những điều khoản tốt nhất: “Cuối cùng tất cả đã đồng ý với nhau sau một chút khó khăn trong một lúc.”

Và khi Mỹ chuyển trục quân sự về Á châu Thái bình dương để bảo vệ tự do hàng hải theo Luật Biển thì Anh, Pháp đều điều chiến hạm và phi cơ qua phối hợp cùng Mỹ.

Vi Anh

*** Đấu Tranh Bất Bạo Động

TS LS Lưu Nguyễn Đạt

Bất Tuân Dân sự & Đấu Tranh Bất Bạo Động

Mohandas Karamchand Gandhi [2 October 1869 – 30 January 1948).
Tên thông dụng của Ông: Mahatma Gandhi

Phản Ứng Từ Lòng Dân   

Trong những năm trước đây tại Trung Đông và Bắc Phi, rồi tại Châu Á, và cả Việt Nam, đã dồn dập xẩy ra những phản ứng xác đáng từ lòng dân.  Đó là những cuộc đấu tranh cho công lý, tự do dân chủ và nhân quyền lâu nay bị chèn ép, tước đoạt bởi các chế độ độc tà, toàn trị; bởi các nhà cầm quyền tham nhũng, bất xứng, phản quốc, hại dân.    

Riêng tại Việt Nam, đó là những tiếng nói của lương tâm, những gào thét của dân oan mất đất mất nhà, mất nơi thờ phụng; những tiếng kêu cầu cứu, phẫn nộ của giới lao động bị bóc lột, lừa đảo; bị công khai đem bán nơi chợ người, trên thế giới.  Đó là những cuộc xuống đường liên tiếp tại Hà Nội, Sàigòn của toàn dân đòi lại quần đảo Hoàng Sa, Trường sa, đòi cắt “lưỡi bò” điên Hán tộc, dù nhà cầm quyền Cộng Sản Việt Nam — ác với dân, hèn với giặc — tiếp tục bỏ tù những ai yêu nước xuống đường chống Tầu hải tặc. 

Tất cả những cuộc biểu lộ ý chí và tư duy chính đáng đó đều tụ tập thành một trào lực chung, dưới hình thức tương đương với “bất tuân dân sự”, mà truyền thống Anh-Mỹ gọi là “civil disobedience”, thường phát hiện tại những nơi có tai ương nhân tạo, có bất công xã hội, trên khắp thế giới.    

Thế Nào Là Bất Tuân Dân Sự?   

Bất tuân dân sự hay “Civil Disobedience” là những hình thức chống đối tích cực những thể chế hại nước, hại dân, những đạo luật, chỉ thị bất công, mà thủ tục lý giải thông thường không còn hữu hiệu nữa.    

Trong bài tham luận về “Civil Disobedience”,[1] Henry David Thoreau (1817-1862) cho rằng người dân có bổn phận dân sự hành động theo lương tâm của chính mình để từ chối tuân theo luật pháp và chỉ thị của một chính quyền sai lạc, bất công, bất chính.  Và nếu không khai trừ, giải thể được chế độ của tội ác, sai quấy, ít ra cũng không sát gần, tương trợ họ, ít ra cũng không a tòng kẻ phạm pháp.         

Khi sự chống đối có tính cách ôn hoà, bất bạo động, thì sẽ gọi là “kháng cự dân sự” [civil resistance], ở vị thế phản ứng hơn là tự tại, tự phát, như trong trường hợp bất tuân dân sự.  Do đó, Mahatma Gandhi,[2] khi tìm cách giải phóng Ấn Độ khỏi chế độ thuộc địa Anh, đã đề xướng đường lối tranh đấu bất bạo động dưới hình thức “kháng cự dân sự” [Satyagraha / civil resistance],[3] như sau:   

  1. Kháng cự [satyagrahi], nhưng không bầy tỏ nộ khí.
  2. Kháng cự bạo quyền bạo lực có thể bị chế độ hiện hữu ngược đãi, trừng phạt.
  3. Dù bị hành hạ, doạ nạt, vẫn không trả thù, mà cũng không quy hàng.
  4. Khi bị bắt, không chống cự; khi bị tước đoạt quyền lợi, tài sản, vẫn không tranh chấp.
  5. Nhưng khi giám hộ trông nom của cải, quyền lợi, thanh danh của người khác, thì phải gìn giữ tới cùng, dù nguy hại tới tính mạng mình.
  6. Không trả thù cũng có nghĩa là không sỉ nhục, bêu xấu kẻ địch.
  7. Khi kháng cự, bất tuân, luôn luôn giữ cách xử thế ôn hoà và tự trọng — tôn trọng sự thật, tôn trọng phẩm giá con người.
  8. Khi kháng cự, bất tuân, phải biết rõ kháng cự trực tiếp một đạo luật bất công, một chỉ thị tai ác, dưới hình thức kháng cự chiến thuật.  Hay kháng cự, bất tuân gián tiếp một thể chế tai hại, dưới hình thức kháng cự, bất tuân chiến lược.

Bất Tuân Dân Sự đã Thành Công ở Nhiều Nơi    

Ai Cập & Ấn Độ   

Ngay đầu thế kỷ 20, Ai Cập đã dành độc lập khỏi sự đô hộ của Anh Quốc bằng một cuộc “Cách Mạng bất bạo động năm 1919,[4]  dưới hình thức bất tuân ôn hoà.  

Ta cũng đã thấy, để chống lại chế độ thuộc địa Anh, Mahatma Gandhi đòi hỏi người dân Ấn Độ phải đấu tranh ở vị trí dân sự, một cách ôn hoà, kỷ luật, sáng suốt, cẩn trọng và biết hy sinh.  Gandhi gọi hình thức đấu tranh bất bạo động đó là “kháng cự dân sự” [Satyagraha/Civil Resistance”],[5] có bề ôn hoà hơn là hình thức Bất Tuân Dân Sự/ “civil disobedience” của Thoreau.  Dù sao sự phát động “kháng cự dân sự ” này cũng đã giúp Ấn Độ giành được độc lập năm 1947.   

Bangladesh  

Từ năm 1955, Pakistan được thành lập, một phần ở phía Tây Bắc Ấn Độ [West Pakistan], một phần ở phía Đông Bắc Ấn Độ [East Pakistan], cách nhau hơn một ngàn miles.  Lãnh thổ East Pakistan tuy nhỏ cỡ một phần năm West Pakistan lại đông dân cư hơn, nên phải đóng thuế nhiều cho cả Nước.  Năm 1971, Khối Quốc gia Bengali đã phát động phong trào “bất-hợp-tác” với Chính quyền West Pakistan, rồi từ chối trả thuế và đình hoãn mọi dịch vụ kinh tế tài chính với West Pakistan.  Cho đến tháng Ba  năm 1971, sau hơn một năm trời tranh chấp dưới hình thức “bất tuân dân sự”, East Pakistan ly khai để trở thành một quốc gia mới, dưới quốc hiệu Bangladesh.[6]   

Cuba  

Chỉ sau một năm cuộc Cách Mạng 1959, Cuba đã cho hơn 20,000 thuộc dân bất đồng chính kiến nhập trại cải tạo.  Nhiều phong trào dân sự chống đối chính quyền và quân đội cộng sản đã thành hình, đem lại nhiều tiếng vang về mặt quốc tế.  Đó là các nhóm bất tuân dân sự ly khai Cuba, như Nhóm “Yo No” [Yo No Coopero Con La Dictadura]:[7] không hợp tác với Chính quyền, không trợ giúp, không khai trừ…Hoặc Tổ chức “Các Bà Áo Trắng” cũng dùng chiến thuật “bất tuân dân sự” để đòi chế độ cộng sản trả tự do cho chồng con bị quản thúc.  Nhóm này đã được cấp Giải thưởng Sakharow về Tự do Tư Tưởng.[8] 

Ngày 19 tháng tư năm 2018, Chủ tịch Raúl Castro (kế nhiệm Fidel Castro) quyết định từ chức, chấm dứt 60 năm đảng cộng sản chế ngự tại Cuba. 

Cộng Hoà Sô Viết Estonia: Cách Mạng Đồng Ca[9] 

Từ năm 1987 cho tới 1991, nhiều nhóm dân Estonia biểu tình tụ tập mỗi lúc cả 3 trăm ngàn người tại công trường Tallinn, vừa để tung hô khẩu hiệu tranh đấu đòi quyền tự quyết, vừa để hát những bài quốc ca, dân ca từng bị chế độ Nga-Sô cấm đoán.  Khi Quân đội Nga đem xe tăng đến uy hiếp, thì dân chúng biểu tình lấy thân làm hàng rào chống đỡ theo đường lối “bất tuân dân sự” để chính quyền Estonia kịp trở tay giải tán quốc hội và tuyên bố độc lập.  Nhờ có dân chúng đồng lòng tham dự cuộc Cách Mạng Đồng Ca, đất nước Estonia đã thu hồi chủ quyền độc lập mà không phải “tắm máu”.  

Đông Đức

Năm 1989, dân chúng Đông Đức đã dùng tác động “bất tuân dân sự” để phá bỏ Tường Rào Bá Linh ngăn chia Nước Đức giữa một bên tư bản và bên kia cộng sản.[10]  Ngày nay nơi đó, chế độ cộng sản đã chấm dứt, Đông Đức không còn nữa, toàn cõi nước Đức đã trở thành một lực lượng phồn thịnh, góp phần phát triển Âu Châu, mỗi lúc mỗi tân tiến.   

Nam Phi Châu

Một phong trào nhân dân, do lãnh tụ Nelson Mandela[11] và Tổng giám mục Desmond Tutu phát động, đã chủ trương “bất tuân dân sự” qua những cuộc biểu tình vĩ đại “Trong Mưa Tím” [Purple Rain Protest] và “Diễn Bước Hoà Bình” [Cape Town Peace March].  Nhờ đó đã chấm dứt chế độ kỳ thị Apartheid,[12] năm 1994.   

Ukraine

Tại Ukraine, cuối năm 2004, tại Công Trường Độc Lập, Thủ Đô Kiev, gần triệu người biểu tình mặc toàn áo màu da cam, thi hành kỹ thuật “bất tuân dân sự” [chống-đối-ngồi, đình công, bãi thị], đòi tự do dân chủ, xoá bỏ gian lận bầu cử v.v.  Họ đã thành công và sau đó còn tham dự vào nhiều cuộc cải tổ sinh hoạt chính trị trong nước theo hướng triệu tập bất bạo động của cuộc Cách mạng Da Cam này [Orange Revolution[13] (Ukrainian: Помаранчева революція, Pomarancheva revolyutsiya].   

Hoa Kỳ

Năm 1955, Rosa Parks[14] trở nên nổi tiếng khi Bà từ chối không chịu nhường chỗ ngồi trên xe buýt công cộng cho người da trắng và lập tức phát động phong trào “Bãi Truất Xe Buýt Montgomery”.  Những cuộc “bất tuân dân sự” tương tự xẩy ra khắp Hợp Chúng Quốc, và cùng với Phong trào Dân Quyền [Civil Rights Movement], đã đưa tới việc phê chuẩn các Đạo luật Dân Quyền [Civil Rights Act][15] năm 1964 và 1968.   

Dân chúng Hoa Kỳ cũng đã dùng quyền “bất tuân dân sự” để phản đối việc Hoa Kỳ tham chiến tại Việt Nam và sau đó tại Irak v.v. với thành quả là đã ảnh hưởng tới đường lối ngoại giao và chính trị của Hoa Kỳ trong suốt hậu bán thế kỷ 20.    

Kể từ thập niên 1970, phe chống phá thai tiếp tục sử dụng “bất tuân dân sự” để chống đối những đạo luật cho phép phá thai theo án lệ  Roe v. Wade, 410 U.S. 113 (1973).[16]  Bên bênh lẫn bến chống phá thai đều căn cứ vào nguyên tắc bảo vệ nhân quyền [human rights]: quyền chọn lựa [pro-choice] của người đàn bà mang thai và quyền sống [pro-life] của bào thai đã thành hình.   

Kể cả cụu Phó Tổng Thống Al Gore,[17] sau khi nhận giải thưởng Nobel,[18] với xu hướng bảo trọng môi trường, đã thôi thúc giới trẻ Hoa Kỳ sử dụng quyền “bất tuân dân sự” để chống đối việc xây cất thêm những cơ xưởng đốt tạo than khí:

If you’re a young person looking at the future of this planet and looking at what is being done right now, and not done, I believe we have reached the stage where it is time for civil disobedience to prevent the construction of new coal plants that do not have carbon capture and sequestration.”[19] 

TẠM KẾT   

Theo TS chính trị học Maria J. Stephan, khi căn cứ vào hơn 300 phong trào chính trị bạo động và bất bạo động trên toàn thế giới từ năm 1900 đến 2006, thì các phong trào bất bạo động có mức độ thành công là 53% trong khi các phong trào bạo động chỉ thành công tới 25%.

Lý do là:

1. Phong trào đấu tranh bất bạo động [a] giành được sự ủng hộ lớn hơn trong nước; [b] dễ thu hút sự ủng hộ hữu hiệu của các tổ chức dân sự và các chính thể quốc tế tôn trọng nhân quyền.

2. Nhà cần quyền dùng bạo lực tùy tiện để đàn áp các phong trào bất bạo động sẽ mất sự ủng hộ của toàn dân và mất uy tín đối với các đối tác quốc tế.

Tại Việt Nam, dân chúng tiếp tục đứng lên áp dụng mọi hình thức đấu tranh bất bạo động, trực tiếp hay gián tiếp, đơn độc hay quy mô, để đổi hướng cần thiết cho một chế độ sai lầm, bế tắc, và sau đó xây dựng lại môt sinh lực mới, công bằng, hữu hiệu hơn.  Dân chúng trong nước đứng lên chống đối thể chế hiện hành và những hành vi tai ngược liên hệ, vì CSVN chế tạo pháp quyền giả mạo, thiếu công minh, thiếu tác dụng khả thi, thiếu đạo đức căn bản, cốt để củng cố cơ sở đảng phiệt, dù phải bán nước hại dân, dù phải tác hại công lý và nhân quyền.    

Trong giai đoạn khẩn cấp hiện tại, người dân trong nước có bổn phận dân sự hành động theo lương tâm của chính mình để tiếp tục từ chối tuân theo luật pháp và chỉ thị của một chính quyền sai lạc, bất công, bất chính.  Người dân trong nước bất tuân dân sự, đứng lên đấu tranh vì chính nghĩa vậy. 

Đó là quyền tự quyết của cả dân tộc Việt, nếu họ muốn sinh tồn trong tự do nhân bản, trong công bằng đạo đức.  Cuộc đấu tranh của người dân kết sinh vì chính nghĩa ắt sẽ thành công, như những cuộc nổi dậy vì chính nghĩa trên khắp thế giới, mà chúng ta từng chứng kiến.   

Còn người Việt tại hải ngoại, nay sinh sống trong các thể chế tự do dân chủ, dù có toàn quyền về chính kiến, 

  • cần tiếp tay đồng bào trong nước khai trừ, giải thể chế độ CSVN nay trắng trợn bán đứng Việt Nam cho Trung Cộng (thà mất nước hơn mất đảng);
  • hoặc ít ra cũng không tương trợ, a tòng kẻ phạm pháp, khi biết rõ trục lợi bán nước, bán dân, bán biển, bán rừng là phản quốc, là trọng tội.   

Giờ tổng khởi nghĩa đã ở mức cao điểm.  Dân tộc Việt hãy quyết định cho chính mình trong đại cuộc tự vệ sinh tồn.

Lưu Nguyễn Đạt,  PhD, LLB/JD, LLM
Michigan State University

Cập nhật August 25, 2018

*** VÀNG THU TA RỤNG …

Châu Thạch

thuvang2
ĐỌC “VÀNG THU TA RỤNG…” THƠ THỤY SƠN
                                             
VÀNG THU TA RỤNG …                  Thụy Sơn .
Quên choàng y áo chân tu
Qua sông để rớt kinh thư thuở nào
Đọa làm kiếp lá hanh hao
Vàng thu ta rụng xanh xao nỗi buồn

Áo đời hai mảnh vá suông
Sợi khâu tang hải sợi luồn bể dâu
Bàn chân giẫm nát đêm nhàu
Thái hư xẻ nửa trăng đầu khuyết hao
Hành châu nghịch thủy về đâu
Sóng tràng giang nhuộm trắng màu biệt ly
Đò chưa qua buổi xuân thì
Sông trăng dường đã già đi nhánh buồn
Ta ngồi chải tóc hoàng hôn
Sợi dài thế kỷ mót bòn yêu thương
Đò mai rẽ bến Tiêu Tương
Khóc ròng con nước nguyên sương quê nhà
Buồn vui túy ngọa giang hà
Vàng thu ta rụng cội tà huy xưa ./.
TS
Lời bình: Châu Thạch
Đọc cái đầu đề “Vàng Thu Ta Rụng…” chắc không ai hiểu gì. Đọc qua khổ một của bài thơ thì hiện lên trong mắt ta cả nỗi sầu hanh hao từ tiền kiếp. Lá cũng có linh hồn và lá trong thơ là hóa thân của một vị chân tu bị đọa từ kiếp trước bởi sơ hở trên con đường tu tập:
Quên choàng y áo chân tu
Qua sông để rớt kinh thư thuở nào
Đọa làm kiếp lá hanh hao
Vàng thu ta rụng xanh xao nỗi buồn
Cả một câu chuyện về luân hồi được kể lại trong bốn câu thơ. Một câu chuyện hoàn toàn hư cấu nhưng là một câu chuyện tưởng tượng độc đáo.
Chiếc lá vàng rơi mùa thu là quả của nhân. Cái nhân đẹp thì cái quả cũng đẹp. Nhân là vị chân tu thanh tịnh thì quả là chiếc lá vô tư trên cây. Nhân “quên choàng y áo” nên hậu quả của một sự vô tình đó là “để rớt kinh thư”. Rớt kinh thư trở thành tội để luân hồi kiếp sau thành chiếc lá.
Áo của tu sĩ màu vàng thì quả cũng nhập xác vào chiếc lá màu vàng để “vàng thu ta rụng”.
Tác giả đã hòa nhập triết thuyết Phật giáo vào thơ, dùng hình ảnh thanh thoát, câu từ thi vị để diễn đạt cái nghiệp lực mà dầu một vị chân tu cũng phải nhận lảnh.
Đọc thơ ta để ý đến chữ “ta” mà tác giả đã dùng. “Ta” chính là mình, là tác giả. Nếu không là sự cảm biết bản thân trong quá khứ thì cũng là một cảm ứng giữa kiếp trước và kiếp nầy trong hồn thơ tác giả.
Chữ “ta” làm cho tác giả nhập vào sự kiện, làm cho chuyện kể trở nên thực và làm cho người đọc cảm nhận gần gủi với câu chuyện hoàn toàn hư cấu mà tác giả nghĩ ra.
Nhà sư trong thơ “Đọa làm kiếp lá hanh hao”cũng đẹp tuyệt vời. Ngài không sa vào dục vọng trần gian, ngài chỉ lảng quên “choàng y áo” khiến sinh hệ luy mất kinh thư, từ đó sự đọa thành chiếc lá vàng của ngài cũng đẹp như chiếc lá thu bay vậy.
Qua khổ thơ thứ hai, rõ ràng tác giả hóa thân mình vào nhà sư, hóa thân mình vào chiếc lá, với những trăn trở của mình trong kiếp nhân sinh:
Áo đời hai mãnh vá suông
Sợi khâu tang hải sợi luồn bể dâu
Bàn chân giẫm nát đêm nhàu
Thái hư xẻ nửa trăng đầu khuyết hao
Hai câu thơ đầu, tác giả lấy ý từ thành ngữ “Tang điền biến vi thương hải và ngược lại” (ruộng dâu biến thành biển xanh và ngược lại) nhưng hay và lạ ở chổ, nhà thơ đã đem hai sự kiện lớn lao làm thành một chiếc áo của đời mình.
Hình ảnh trong thơ diễn đạt sống động chiếc áo “tang thương” là hai mảnh của kiếp người với tất cả nghĩa vô thường của nó.
Hai câu thơ kế tiếp diễn tả hình ảnh kiếp người trong đêm tối mông lung.
“Thái hư” là “khoảng trống không vô định”. Trong khoảng trống không vô định đó, con người dẫm nát bóng đêm để đi tìm chân lý. Thế nhưng chỉ thấy “ nửa trăng đầu khuyết hao”nghĩa là chẳng thấy vầng trăng tròn bao giờ, hay là chân lý chưa hề hiện ra trọn vẹn. Chân lý chỉ thấy từ xa như thấy nửa vầng trăng.
Khổ thơ nầy hoàn toàn là miêu tả cái “khổ đế”của Phật giáo, nhưng diễn đạt bằng ngôn ngữ của thơ, hình tượng nỗi đau bằng hai mãnh áo, hình tượng sự mê muội bằng đêm thâu và hình tượng sự trôi lăn vạn kiếp lạc bước trong vô định để nhìn thấy chân lý như nửa vầng trăng, không trọn vẹn bao giờ . Bốn câu thơ bi quan, mô tả đời người trong hố thẳm tội lỗi, muôn kiếp mịt mờ trong bóng tối hư vô.
Khổ thơ thứ ba nhà thơ diễn đạt sự đấu tranh nhọc nhằn, sự tìm kiếm trong vô vọng, cùng sự phôi pha của một kiếp nhân sinh:
Hành châu nghịch thủy về đâu
Sóng tràng giang nhuộm trắng màu biệt ly
Đò chưa qua buổi xuân thì
Sông trăng dường đã già đi nhánh buồn
“Hành châu nghich thủy” có nghĩa là đi ngược dòng nước. Người xưa có câu “Nghich thủy hành châu bất tiến bất thoái” nghĩa là đi ngược dòng nước thì tới cũng không được mà lui cũng không được. Câu thơ đầu chỉ sự nan giải của một kiếp người, mắc kẹt giữa dòng đời như chiếc thuyền đi ngược dòng sông. Câu thứ hai mô tả dòng đời đầy sự biệt ly buồn ảm đạm.
Qua hai câu thơ sau “Đò đưa qua buổi xuân thì/ Sông trăng dường đã già đi nhánh buồn”nhà thơ đã nhìn vào đời bằng con mắt tâm lý của mình. Tất nhiên tuổi con sông phải già nhưng người qua sông lại thấy nó già hơn cái già của nó, giống như người đã ngao ngán cuộc đời vì thấy cuộc đời nhiêu khê và cằn cổi khi mình đang ở tuổi xuân thì.
Rồi thì bởi cái nhìn tâm lý, thấy đời già trước tuổi thọ của mình, nhà thơ mang tâm trạng bi quan yếm thế, ngồi thở than bên dòng sông định mệnh:
Ta ngồi chải tóc hoàng hôn
Sợi dài thế kỷ mót bòn yêu thương
Đò mai rẽ bến tiêu tương
Khóc ròng con nước nguyên sương quê nhà
Bến Tiêu Tương là bến ở sông Tiêu Tương, nơi đây có chuyện tình Trương Chi-Mỵ Nương. Mỵ Nương rơi lệ xuống chén ngọc làm bằng quả tim anh lái đò có tiếng hát làm lung linh trăng vàng. Trương Chi, người đã chết xuống tuyền đài với tình yêu say đắm nàng vĩnh viễn. Trái tim chàng chỉ tan ra trong giọt nước mắt của nàng. Nhà thơ Thụy Sơn đã hư cấu mình ngồi chải tóc ở đó suốt trăm năm để nhìn con nước quê nhà khóc ròng cho mối tình bất diệt.
Thật ra tác giả chỉ mượn chuyện tình trên bến Tiêu Tương để nói về tất cả nhưng ngăn trở của cuộc đời. Sự chải tóc là hình ảnh của sự đợi chờ. Hoàng hôn chỉ thời gian đã qua, thời cơ của mình đã hết. Bốn câu thơ dùng những bức tranh tuyệt đẹp, lung linh để ta thán những nghịch cảnh mà đời đem đến. Đoạn phim trên bến Tiêu Tương, một người ngồi chải tóc, nhỏ lệ trên dòng sông sự tích đẹp làm sao, khiến cho người đọc thơ cảm nhận như mình ngồi ở chốn “nguyên sương” của thời xa xưa vậy.
Thụy Sơn dùng hai cầu thơ kết có hào khí ngất trời. Không phải hào khí của người chiến binh trong bài thơ “Khúc hát Lương Châu” của Vương Hoán có hai câu thơ “Túy ngọa sa trường quân mạc tiếu/ Cổ lai chinh chiến kỷ nhân hồi” mà khác nhiều hơn với ý thơ này:
Buồn vui túy ngọa giang hà
Vàng thu ta rụng cội tà huy xưa
Hai câu thơ của Vương Hoán được Trần Trọng San dịch là “Sa trường say ngủ ai cười/ Từ xưa chinh chiến mấy người về đâu”. Thụy sơn cũng dùng hai chữ “túy ngọa” là say nằm, nhưng không “túy ngọa sa trường” mà “Túy ngọa giang hà” là say nằm trên sông nước. Giang hà trong bài thơ “Vàng Thu Ta Rụng…” của Thụy Sơn như trên ta biết không phải là sông nước của mặt đất nầy, mà đó là dòng sông của định mệnh, là dòng quay của bánh xe luân hồi chuyển tiếp đời người kiếp nầy qua kiếp khác. Trên dòng sông đó có một người chân tu vì phạm lỗi phải đọa vào cuộc đời vàng như chiếc lá thu rơi. Vị chân tu buồn, túy ngọa trên dòng sông định mệnh ấy để rồi, cũng rụng như chiếc lá vàng rơi dưới cội cây trong một chiều nào đo, như những chiều năm xưa của kiếp trước.
Nhà thơ Lê Giao Văn đã bình luận bài thơ nầy như sau: “Bài thơ cổ điển mà hồn cốt rất tân thời”. Tôi nghĩ một nhận xét như thể đã nói đủ bài thơ nầy rồi. Cái hay của bài thơ nầy thật ra chỉ dùng chữ để gợi ý mà thôi. Người đọc, qua trình độ hiểu biết Phật pháp, qua tâm hồn nghệ sĩ và qua sự thẩm thấu văn chương nhiều hay ít mà thưởng thức bài thơ, cảm nhận được những gì chất chứa trong thơ càng sâu thì càng thú vị. Với tôi, tôi đọc thấy nó hay ngay tự ban đầu, suy nghiệm nó hơi lâu, nhưng càng lâu thì càng yêu mến nó, một bài thơ không dễ có ai làm!!!
                                                          Châu Thạch
 

*** Văn Hóa Khoanh Tay: “Tôi là Người Việt Nam”

Thư viện của bài

This gallery contains 1 photo.

Lê Hữu Chào khách đến nhà, tranh Phạm Hoan Tôi nhớ, năm đầu đặt chân đến Hoa Kỳ, phần muốn học hỏi về ngôn ngữ và văn hóa xứ người, phần muốn tìm lại không khí “sân trường, lớp học” … Tiếp tục đọc

*** Vacation With God – Đi Nghỉ Với Thiên Chúa

Joe Hung Nguyen

1minh

I guess most if not all of us take vacation at least once a year, right?

We rest and enjoy good relaxing time, No works, no cooking, no cleanup, no cutting grass, no project dead line, no pressure, no anxiety, no everything except you and your love ones with the sun, ocean, cruise, beach, mountain, casino, reunion, or ski resorts, etc… Somehow we all look forward to that precious time of relaxing, calm. peace and harmony.

But have you ever looked forward to taking a vacation with God, to talk or confide with Him, to walk or jogging with Him, to smile and laugh with Him, or to even complain. I guess some if not many have.

And so have I.
I took one week of Silent Retreat in early July. You might call it a Retreat but I call it a Vacation with God.

One week of no noise, no talking, no TV, no internet, no cell phone, no music, no worry, no everything.

One week with just me, peace, quietness and our Lord God. And yes, I did walk and jog with Him, talk and confide with Him, read the bible with Him, write poetry with Him, pray and thank Him for all the graces and blessings I have received, praise and glorify Him.

It is also the time to look deep into my heart, my soul, and my spirit vision; and judge myself on the things that I’ve done and failed to do, words that I’ve said and failed to say. And to focus on Him and on His love and accept Christ as my Lord and ask him take away my blindness, sinfulness and iniquities, broadens my awareness and compassion, enlarges my sense of family and community and opens my eyes, my heart for others in serving, in His love and will.

I also confessed to Him my sins, and He always smiles and forgives me.
I know for certain that He will never forsake me (or any of his dispersed children).
God inspired me to write this poem during this Vacation With God:

My New Me

Your blood that has been shed, washed away my old life,
New heart, new spirit and new vision, reborn was I,
My blindness and sinfulness were taken away,
In me, your light and wisdom shine.

My new me embraces your salvation,
I live by your statutes and commandments,
And praise You before all living being on earth,
I am, O Lord, I am a lowly servant.

You are my God, a spirit true in righteousness,
I shall always be your follower, a humble child,
In me, a spirit cross guides my direction,
Your sheep, O Lord, your sheep am I.
(JoeNguyen)

“Come away by yourselves to a deserted place and rest a while” (Mark 6:31).
“Come to me, all of you who are weary and burned, and I will give you rest” (Matthew 11:28)

God invites us to take a Vacation with God, so will you?

I already plan for next year, my wife and I, we will take this invitation to be on Vacation with God.

Đi Nghỉ Với Thiên Chúa

Tôi đoán hầu hết, nếu không phải tất cả chúng ta, ai cũng đi nghỉ ít nhất mỗi năm một lần, đúng không?
Chúng ta nghỉ ngơi và tận hưởng thời gian thư giãn . Không làm việc, không nấu ăn, không dọn dẹp, không cắt cỏ, không có dự án hết hạn, không áp lực, không lo lắng, không có gì ngoại trừ bạn và những người thân yêu của bạn với mặt trời, đại dương, du thuyền, bãi biển, núi, sòng bạc, đoàn tụ, hoặc nơi trưôt tuyết, vv … Bằng cách nào đó tất cả chúng ta đều mong đợi thời gian quý giá này để tẫn hưởng sự thư giãn, yên tĩnh. an bình và hòa hợp.

Nhưng bạn có bao giờ mong đợi được đi nghỉ với Thiên Chúa, để nói chuyện hay tâm sự với Ngài, để đi bộ hoặc chạy bộ với Ngài, để mĩm cười và cười với Ngài, hoặc thậm chí than phiền. Tôi đoán một số nếu không có nhiều đều nghĩ đến.
Và tôi cũng thế.
Tôi đã lấy một tuần để đi dự Cấm Phòng Im Lặng (Silent Retreat) vào đầu tháng Bảy. Bạn có thể gọi đó là Cấm Phòng (Retreat) nhưng tôi gọi đó là một kỳ nghỉ với Thiên Chúa.

Một tuần không có tiếng ồn, không nói chuyện, không có TV, không có internet, không có điện thoại di động, không có âm nhạc, không lo lắng, không có mọi thứ.
Một tuần với tôi cùng an bình, yên tĩnh và Chúa của chúng ta. Và vâng, tôi đã đi bộ và chạy bộ với Ngài, nói chuyện và tâm sự với Ngài, đọc kinh thánh với Ngài, làm thơ với Ngài, cầu nguyện và cảm tạ Ngài cho tất cả những ân sủng và phước lành mà tôi đã nhận, ca ngợi và tôn vinh Ngài.

Đó cũng là thời gian để nhìn sâu vào trái tim, linh hồn, và hướng vọng tinh thần của mình; và phán xét bản thân mình về những điều đã làm và không chịu làm, những lời tôi đã nói và không chịu nói. Và để tập trung vào Ngài và vào tình yêu của Ngài và chấp nhận Đấng Christ là Chúa của mình và cầu xin Ngài xóa bỏ sự mù lòa, tội lỗi và gian ác của mình, mở rộng nhận thức và lòng từ bi, mở rộng ý thức về gia đình và cộng đồng và mở mắt, trái tim mình để phục vụ cho người khác, trong tình yêu và ý chí của Thiên Chúa.

Tôi cũng thú nhận với Ngài về tội lỗi của mình, và Ngài luôn luôn mỉm cười và tha thứ cho tôi.
Tôi biết chắc chắn rằng Ngài sẽ không bao giờ từ bỏ tôi (hoặc từ bỏ bất kỳ đứa con lưu lạc nào của Ngài).

Đức Chúa Trời đã ban cảm hứng để tôi sáng tác bài thơ này trong ký Nghỉ Với Thiên Chúa:

Cái Mới của Tôi

Máu của Ngai đã đổ ra, rửa sạch cuộc đời xưa cũ của tôi,
Trái tim mới, tinh thần mới và tầm nhìn mới, đã tái sinh tôi,
Sự mù lòa và tội lỗi của tôi được lấy đi,
Trong tôi, ánh sáng và sự khôn ngoan sáng suốt của Ngài tỏa sáng.

Tôi mới ôm lấy sự cứu rỗi của Ngài,
Tôi sống theo các điều luật và điều răn của Ngài,
Và ca tụng Ngài trước mọi người sống trên trái đất,
Tôi là, Chúa ôi, tôi là một tôi tớ thấp hèn.

Ngài là Thiên Chúa của tôi, một linh hồn đích thực trong sự công chính,
Tôi sẽ luôn là người theo chân Ngài, một con chiên khiêm tốn,
Trong tôi, cây thánh giá chỉ đạo hướng dẫn tôi,
Con chiên của Ngài, Ôi Chúa ơi, con chiên của Ngài là tôi.

Hãy đi tẻ ra trong nơi vắng vẻ, nghỉ ngơi một chút
“Hãy tự mình đi đến một nơi vắng vẻ và nghỉ ngơi một chút” (Mác 6:31).
“Hãy đến với tôi, tất cả các bạn đang mệt mỏi và bị đốt cháy, và tôi sẽ cho bạn nghỉ ngơi” (Ma-thi-ơ 11:28)

Hỡi những kẻ mệt mỏi và gánh nặng, hãy đến cùng ta, ta sẽ cho các ngươi được yên nghỉ.

Đức Chúa Trời mời chúng ta đi nghỉ với Đức Chúa Trời, vậy bạn có nhận lời không?
Tôi đã dự tính cho năm tới, vợ tôi và tôi, chúng tôi sẽ nhận lời mời này để được đi nghỉ với Thiên Chúa.

Joe Hungx Nguyen

*** Quảng-Bình: quê hương hang động của Việt-Nam”

Thư viện của bài

This gallery contains 1 photo.

An-Tiêm MAI-LÝ-CANG (Paris 1-9-2015) Sơn-Đoòng là một trong những hang động đẹp mê hồn trên thế giới Sau ngày thống nhất nước nhà, sau ba mươi năm đắm chìm vào trong hoàn cảnh chiến tranh tàn phá toàn cõi quê … Tiếp tục đọc

*** Con Chó, Văn Học và Dân Tộc

Đặng Tiến

00chochocho

Con mèo, con chó có lông,
Cây tre có mắt, nồi đồng có quai

Câu hát giàu chất thơ, nằm ngoài cái hay từ chương, học được ở nhà trường hoặc qua sách vở. Lời thơ đơn giản trong từ vựng cũng như bút pháp, và không mang một lượng thông tin nào đáng kể cho người nghe, vì chỉ nói lên những điều hiển nhiên, tầm thường, người người đều biết. Lời nói xem như không có nội dung, mà vẫn đứng vững được đời này sang đời khác ; như vậy, câu nói tự lấy mình làm nội dung, ngôn ngữ tự lấy mình làm cứu cánh. Đấy là một câu thơ đích thực, theo quan niệm hiện đại. Mà lại là một câu thơ hay, phần nào nhờ giàu nhạc tính, phụ âm k luyến láy ở những vị trí trọng yếu, làm nổi bật động từ có, vừa là sở hữu (avoir) vừa là hiện hữu (être). Bộ lông là hiện thân, là thành phần bản thể tự nhiên của con mèo, con chó. Câu thơ gợi lên một không gian im lìm, thân thuộc : mảnh vườn, góc sân, xó bếp, trong tâm trạng thư thái, hạnh phúc, tin cậy vào cuộc sống. Phong cảnh ở đây ngưng bóng thời gian, ngoại quan là một tâm cảnh, một tâm cảm dù không có chữ nào diễn đạt tâm tình.

2217 1 ConCho VanHoc Dantoc DangTien
Giấy cắt – Vink 2006

Dù vậy, không phải ai ai cũng thích ; Xuân Diệu đã chê gắt gao : « đó là một kiểu mẫu về câu thơ vô vị (…) trần trụi như mèo chó đã bị vặt lông ( !) và nghe đến nó thì ống tre cũng không hứng thú gì mà có mắt nữa » ( !) (1).

Tệ đến thế là hết nấc !
Về chó, ca dao ta còn có câu cực hay :

Bực mình con chó nhỏ sủa dai
Sủa nguyệt lâu đài, sủa bóng trăng lu

Nhà thơ Tô Thùy Yên, khi trích dẫn câu này, đã bình luận :

« nhóm từ ‘nguyệt lâu đài’ không rõ nghĩa, nhưng dàn dựng cho lời thơ một cảnh sắc hoang đường lạ lẫm. Thi tính, đôi khi nếu chẳng phải là thường khi, vượt ra ngoài những diễn luận thông phàm. Một trong những kỳ tích của thơ, có lẽ cũng của tình yêu nữa, là ôm cõng được cái thực tách khỏi chỗ thường nhật. Cái thực trong thơ là cái thực ròng » (2)

Tô Thùy Yên sành văn học dân gian và do đó dè dặt hơn Xuân Diệu. Câu ca dao trách con chó sủa dai, phá giấc ngủ, lúc nào cũng sủa được : trăng lu cũng sủa, trăng sáng lại sủa. ‘Nguyệt lâu đài’ là cảnh trời mây huy hoàng tráng lệ khi trăng bỗng nhiên rực rỡ, đối lập với ‘bóng trăng lu’.

Thơ Xuân Diệu :

Đêm nay rằm yến tiệc sáng trên trời…
…Trăng đĩa ngọc giữa mâm trời huyền bí

Thơ Hàn Mạc Tử :

Trăng tan tành rơi xuống một cù lao
Hóa đài điện đã rất nên tráng lệ
(Phan Thiết)

Điều lạ làm lạc hướng Tô Thùy Yên, là một người thơ dân gian, vô danh, không chuyên nghiệp, đã sáng tạo ra được hình ảnh ‘sủa nguyệt lâu đài’, tân kỳ, hư ảo và diễm ảo.

***

Trong văn học thành văn, con chó cũng đã góp mặt rất sớm qua bài thơ Vô Đề, mở đầu Quốc Âm Thi Tập của Nguyễn Trãi, tác phẩm bình minh trong nền thi ca Việt Nam:

Ao bởi hẹp hòi khôn thả cá
Nhà quen xú xứa ngại nuôi vằn

Ngày xưa nước ta con chó không có tên, được ô theo màu lông, con vằn, con vện, con mực, con khoang… Vằn, vện cùng nguồn gốc ngôn từ, là chữ văn trong Văn Lang, văn hóa, văn minh ; có khi phát âm ra vân trong quả cau nho nhỏ, cái vỏ vân vân… Câu thơ Nguyễn Trãi : xú xứa nghĩa là xuề xòa, xuềnh xoàng ; ngại nuôi vằn vì bạn mình ưa lục lọi, nên tục ngữ có lời khuyên : chó treo, mèo đậy ; nhà thơ mải lo tiếp mây khách khứa, nguyệt anh em ắt không mấy để tâm đến việc đậy điệm, treo leo.

2217 2 ConCho VanHoc DantocDangTien
Vink – En passant le pont p.17
Tác phẩm Nguyễn Trãi còn lưu truyền đến nay là nhờ vua Lê Thánh Tông giải oan và ra lệnh sưu tầm ; Thánh Tông sống sót là do Nguyễn Trãi bao che, và lên ngôi nhờ công Nguyễn Xí phù lập. Nguyễn Xí lập sự nghiệp bắt đầu từ việc… nuôi chó : ông có tài điều khiển đàn chó săn hàng trăm con của Lê Lợi, trước khi cầm quân thời khởi nghĩa Lam Sơn và trở thành danh tướng.
Bóng dáng, tiếng sủa của con chó gắn bó với phong cảnh làng mạc Việt Nam, được Nguyễn Khuyến ghi lại bằng câu thơ tài tình :

Trâu già gốc bụi phì hơi nắng
Chó nhỏ bên ao cắn tiếng người

Lời lẽ nôm na, toàn những tiếng đơn âm, gợi lên phong cảnh, khí hậu buổi trưa hè Việt Nam trong những chi tiết độc đáo và chọn lọc, hơi thở mạnh của con trâu trong khí nóng bức và im ắng , khiến một âm hao nào đó của con người cũng đủ khuấy động không gian, làm giật mình con « chó nhỏ » thơ ngây. Câu thơ nôm na như vậy dễ làm người đọc quên nguyên tác bằng chữ Hán :

Ngọa thụ bì ngưu hư thử khí
Cách trì tiểu khuyển phệ nhân thanh

Bài này Nguyễn Khuyến làm để tặng người anh họ là Đặng Tự Ý và tự dịch ra quốc âm. Có lẽ câu thơ dịch hay hơn nguyên tác, vì hợp tình hợp cảnh hơn.
Thời thế đổi thay, con chó cũng đổi thay. Có lần Tổng đốc Nam Định là Vũ văn Báo, theo lệnh chính quyền Pháp, vời Nguyễn Khuyến đến nhà, có ý mời ra làm quan. Nguyễn Khuyến cùng đi với con cả là Nguyễn Hoan, vào đến cổng dinh tổng đốc thì gặp viên công sứ Pháp đi ra, lại bị con chó tây chồm lên cắn ; Nguyễn Khuyến hoảng hốt đẩy con ra chắn chó. Sau đó, trong câu chuyện với chủ nhân, ông đã làm thơ tức cảnh :

Hốt đáo nhĩ môn phùng nhĩ cẩu
Cấp tương ngô tử thế ngô thân
Tạm dịch :
Chợt đến cửa ngươi, gặp chó ngươi
Kíp đưa con mỗ thay thân mỗ

Không rõ đây là chuyện thật, hay là giai thoại , hư cấu theo chuyện Nguyễn Khuyến từ quan nhưng đẩy con trai, phó bảng Nguyễn Hoan, ra tham chính thay mình. Dù sao hình ảnh con chó tây xuất hiện ở đây, cũng đánh dấu một giai đoạn xã hội khác, đời mới, người mới, chó mới, như trong bài văn tế Ri-vi-e (Henri Riviere), chết tại trận Ô Cầu Giấy, năm 1883 :

Nhớ ông xưa
Mắt ông xanh lè, mũi ông thò lõ
Đít ông cưỡi lừa, mồm ông huýt chó

Loại chó tây này, càng về sau, càng rõ nét hơn như trong bài thơ Thăm bạn, 1937 của Võ Liêm Sơn (1888-1949) :

Lâu ngày đi thăm bạn
Đến ngõ chó tuôn ra
Những con to và béo
Tiếng sủa như đồng loa
Thấy chó biết nhà chủ
Làm ăn rày khá mà.
Thôi thế, cũng là đủ
Bất tất phải vào nhà.

Có những con chó làm cho con người gần nhau. Hay xa nhau.

Trong quá trình phát triển của đất nước, Nam Bộ gia nhập vào văn học muộn màng ; có khi nhờ vậy mà ít vướng mắc vào những kiêng dè đề tài, và đề cập nhiều đến chó.
Huỳnh Mẫn Đạt (1807-1883) quê Gia Định, có bài thơ đề cao công trạng chó, tự ví mình với con chó già, than thân chó, trách phận mình, lời thơ ưu ái :

Con chó già
Tuy rằng muông cẩu có ân ba
Răng rụng lâu năm nó phải già
Bởi đuổi hươu Tần nên mỏi gối
Vì lo khỉ Sở mới dùng da
Không ai trấn Bắc ngăn bầy cáo
Ít kẻ ngừa Tây giữ đứa tà
Mạnh mẽ khi xưa còn hớn hở
Bây giờ yếu đuối hết xông pha
(Hươu Tần, khỉ Sở : điển tích về việc tranh bá đồ vương thời Tần Hán, và nhiệm vụ săn bắt của loài chó)

Nguyễn văn Lạc (1842-1915) thường được gọi là Học Lạc, quê Mỹ Tho, có bài thơ nhiều người biết :

Chó chết trôi
Sống thì bắt thỏ, thỏ kêu rêu
Thác thả dòng sông xác nổi phều
Vằn vện xác còn phơi lửng dửng
Thúi tha danh hãy nổi lều bều.
Tới lui bịn rịn bầy tôm tép,
Đưa đón lao xao lũ quạ diều.
Một trận gió dồn cùng sóng dập
Tan tành xương thịt biết bao nhiêu.

Thảm cảnh một xác chó, dưới một góc độ nào đó, cũng ẩn dụ thân phận con người.
Nói đến Mỹ Tho, chạnh nhớ đến nhà thơ Phạm Công Thiện, quê miệt ấy, khoảng 1970, trôi dạt sống tại Paris, đi lang bang trong chợ trời Montreuil, có bài thơ thân phận :
Thân anh như con chó
Treo bảng bán chợ chiều
Một lần em qua đó
Con chó đứng nhìn theo…

Một bạn thơ khác, Luân Hoán có một thi phẩm tên Trôi Sông, lấy ý từ thành ngữ “lạc chợ trôi sông”, nói lên cảnh chìm nổi, trôi giạt của một thế hệ thanh niên. Bạn bè nghịch ngợm lại đùa, cho rằng anh lấy ý ở ca dao : Em như cục cứt trôi sông / Anh như con chó đứng trông trên bờ.
Dĩ nhiên là chuyện đùa vui giữa bạn bè thân thiết. Chốn văn học nghiêm trang, không ai dám nói thế.

Nhưng dường như các nhà thơ phía Nam ưa tả chó: Nguyễn đình Chiểu (1822-1888), tả cảnh lụt: Lổm xổm giường cao thấy chó ngồi. Tuy là cảnh hiện thực, nhưng ý lấy từ thành ngữ chó nhảy bàn độc, ám chỉ những tiểu nhân đắc chí trong cảnh mất nhà tan, bốn mặt giang sơn ngập cả rồi.

Giữa chó và lịch sử dân tộc truyền thuyết dân gian đã thiết lập mối quan hệ lâu đờI : An Dương Vương Thục Phán chấm dứt triều đại các vua Hùng, lên ngôi năm 258 trước Tây lịch, dời đô từ miền trung du Vĩnh Phú về miệt đồng bằng Sông Hồng. Vua định đô tại làng Tó (Uy Nỗ), rồi dời về gò Cổ Loa là theo chân… đàn chó, có lẽ là chó săn vì các thủ lãnh bộ lạc là những thợ săn lỗi lạc – Lê Lợi về sau cũng vậy. Con chó được vua sủng ái nhất, có lẽ là chủ soái đàn chó săn, cũng dời về Cổ Loa để lót ổ đẻ con. Ngày nay, dân địa phương còn chọn nơi chó đẻ để làm nhà, cho là đất phát phúc (3).
Ông vua xây dựng cơ chế quốc gia độc lập lâu dài cho nước Đại Việt là Lý Công Uẩn, sinh năm Giáp Tuất, 974, cầm tinh chó. Truyền thuyết kể rằng bà mẹ họ Phạm sống trong chùa, nằm mơ thấy thần chó đá và thụ thai. Sinh con trai, bà mang đến chùa Cổ Pháp và con chó bằng đồng của chùa bỗng sủa mừng ; Sư cụ là Lý Khánh Vân cho là điềm lành, ứng vào sấm ký của chùa, rước nuôi đứa bé và đặt tên Công Uẩn, cho mang họ của mình. Cậu bé theo học thầy Vạn Hạnh, thành đạt, làm tướng giỏi, sau lên ngôi vua, 1009.
Năm sau, Canh Tuất 1010, Lý Thái Tổ dời đô từ Hoa Lư về thành Đại La, gần Cổ Loa, đặt tên Thăng Long. Lúc dời đô, có con chó cái bơi từ Cổ Pháp vượt sông Hồng, theo vua, về lót ổ đẻ bên Hồ Tây, chỗ hồ Trúc Bạch bây giờ còn dấu tích. Truyền thuyết khác, kể rằng con chó Cổ Pháp vượt sông lót ổ đẻ trên núi Nùng, nên Lý Thái Tổ dời đô về phía ấy và chọn núi Nùng làm chính diện, lập đền thờ. Đại Việt Sử Ký Toàn Thư còn kể chuyện con chó châu Cổ Pháp, đẻ con sắc trắng có đốm đen thành ra hai chữ “thiên tử”, kẻ thức giả nói đó là điềm người sinh vào năm Tuất làm thiên tử, quả là ứng nghiệm (vào Lý Công Uẩn).

2217 3 ConCho VanHoc DanTocDang Tien
Chó – Champa – thế kỷ thứ 6

Dĩ nhiên đây là huyền thoại. Nhưng huyền thoại do đâu mà ra ? Học giả Kiều Thu Hoạch, trong một bài báo nghiêm túc, cho rằng do tục thờ chó đá cổ truyền, còn vết tích tại Hà Nội, như Tô Hoài đã kể cặn kẽ trong Chuyện Cũ Hà Nội, 1998, mục Con Chó Đá . Và một vài nơi khác ở Hà Tây, và Vĩnh Phúc. Ông Kiều Thu Hoạch trích dẫn chính xác nhiều sách Hán Nôm ghi lại những truyền thuyết về chó và vua Lý Thái Tổ (4).

Chế độ thuộc địa Pháp cáo chung vào năm 1945 và dẫn đến cuộc chiến tranh Việt Pháp. Người lính da trắng đầu tiên của Việt Minh là Erwin Borchers lấy tên Việt Nam là Chiến Sĩ và có lẽ là công thần ngoại quốc số một. Ông là lính lê dương gốc Đức, thuộc quân số Trung Đoàn 5 REI lừng danh, quan hệ với phong trào Việt Minh từ 1944 vì chuyện… một con chó ! Ông kể lại là đã chứng kiến hai cảnh ngộ : một đầu bếp Việt Nam thịt con chó của ông chủ người Pháp, thì lãnh một tháng tù ; còn anh lính lê dương đâm chết một phu xe Việt Nam vì kì kèo tiền xe thì lãnh 15 ngày tù : vậy sinh mệnh con người Việt Nam chỉ đáng giá nửa con chó tây. Đây là khởi điểm một ý thức chính trị đã đưa ông đến quyết định đào ngũ và hợp tác với phong trào giải phóng, chủ yếu là viết bài cho báo Le Peuple, về sau phụ trách huấn luyện, phục kích và địch vận, quân hàm thiếu tá (5).
Những ngày đầu toàn quốc kháng chiến, Quang Dũng là một tác giả hiếm hoi ghi lại đôi mắt con chó, khi Trung Đoàn Thủ Đô rút quân :

Nhớ buổi trung đoàn ta ra đi
Dân ta gánh gồng cả cơ nghiệp
Mái nhà trăm năm thôi để lại
Lạc chủ chó gầy mắt hoang dại
(1947, Sử Một Trung Đoàn)

Khi phát động du kích, 1947, những hy sinh hằng loạt đầu tiên, là những con chó, để bảo vệ bí mật chuyển quân. Hai mươi năm sau, 1968, trong vụ Tổng công kích Mậu Thân, những ngày áp Tết, loài chó, một lần nữa lại nhất loạt hy sinh. Sau trận tập kích, những con chó lạc chủ lang thang lại mất mạng. Cứ mỗi lần đất nước có biến động lớn lao, loài chó là những nạn nhân tiền tiêu. Và món thịt cầy cũng tùy nghi thăng trầm, phát triển, chúng tôi xin miễn dẫn chứng hay lý luận chi tiết ở đây, e mất vui ngày Tết.

2217 4 ConCho VanHoc DanTocDangTienBửu Chỉ – ký họa

Lạ một điều : thơ đương đại ít khi tả chó, dù nó vẫn là bóng dáng và âm vang quen thuộc của làng quê. Trong tập « Bức tranh Quê », 1941, Anh Thơ đã tả chó sáu lần. Huy Cận thường tả cảnh nông thôn, nhắc đến nhiều súc vật, mà dường như không tả chó. Hay là nhà thơ Ngô văn Phú, chuyên viên về đời sống nông thôn, trong một tuyển tập dày cộm gồm 400 bài, chỉ một lần tả chó, mà là chó đất làm đồ chơi, con tò he (6).
Người đọc khó bề giải thích sự việc này bằng chính sách, lập trường. Tuy nhiên ta có thể nhận xét trong thơ đương đại, những tác giả bên lề đường lối, lại thường nhắc đến chó : Phùng Cung trong tập thơ Xem Đêm, 1995, có đến những mười bài nói đến chó, Hoàng Hưng có nhiều bài thơ về đề tài này :
Chó Đen và Đêm (7)

1
Con chó
Con chó đen
Con chó đen chạy vào đêm
Đêm gừ gừ, ấm ấm

2
Chó đen sủa bông sứ máu

3
Chó đen ngửa mặt nhìn trăng

4
Chó đen rin rít những điều khó hiểu
Hồn ai đang lang thang trong đêm
5
Buồn quá chó ơi
Ai cũng bỏ ta rồi
Phì phì mày ghếch mõm vào môi

6
Chó đen sùng sục suốt đêm
Nỗi ngứa ngáy tiền kiếp
Phát điên vì không nói được

Chó ở đây không phải là một súc vật có thật – nó sẽ là chó Mực – mà biểu tượng cho bóng tối, đau thương, cô đơn, u uẩn, uất ức. Trong tập thơ Hành Trình mới đây, 2005, Hoàng Hưng lại có bài Chó Rừng u uất như vậy.
Cùng cảm hứng này, Tuệ Sĩ có bài Tĩnh Thất (8) dài 32 khổ, làm năm Tân Tỵ, hai khổ 5 và 6 như sau :

Lon sữa bò nằm im bên chợ
con chó lạc
đến vỗ nhịp
trời mưa
Tôi lang thang
đi tìm cọng cỏ
Nó nhìn tôi
vô tư..
Trời cuối thu se lạnh
Chó giỡn nắng bên hè
Nắng chợt tắt
Buồn lê thê.

Trong các bộ môn văn học nghệ thuật, thơ là một thể loại nặng tính cách chủ quan, riêng tây, nhưng ngược lại, cũng giàu chất đại đồng (universalité) nhất ; những câu thơ Tuệ Sĩ, Hoàng Hưng, Phùng Cung là cách nhìn, cảm xúc cá nhân, nhưng như xé ra những mảng da thịt rớm máu từ lịch sử dân tộc. Những biểu tượng tù đày, oan khiên, tuyệt vọng không nói nên lời. Để có cái nhìn thảm thiết kia, các tác giả phải trải qua những nghịch cảnh, những oan khuất. Họ không làm thơ ngẫu hứng, tự trào, ngâm vịnh buồn vui ; họ cũng không đẽo gọt những hình ảnh văn chương trác tuyệt lưu lại cho sử sách, do đó mà đã sử dụng hình ảnh con chó, vốn được yêu thương và bị nguyền rủa và… thưởng thức. Nghiệm trong lịch sử dân tộc gần đây, không ai, và không cái gì là vô tội, con chó cùng chung số phận : chó là một gia súc bán hợp pháp, một hồ sơ chưa kịp, hay chưa cần thụ lý.

Hình ảnh con chó đa dạng, đa nghĩa, hàm súc, thâm trầm và hoa mỹ nhất là trong thơ Tô Thùy Yên, tôi đếm được 15 lần trong hơn 30 năm – nhất định là thiếu sót.
Bài Vườn Hạ tạo nên không gian an bình, hạnh phúc, như thiên đường xanh những mối tình thơ dại trong thơ Baudelaire :

Mênh mang lưu thủy trường trăng lạnh
Con chó tung tăng giỡn bóng mình
Mương nước rì rào sao sáng thở
Đài hoa sương nạm hạt lân tinh (9)
Thơ Tuyển, tr.93

Tác giả không ghi thời điểm sáng tác ; dường như là khoảng 1974. Bài thơ gồm 17 khổ thật hay, về hạnh phúc của quê hương thơ ấu miền Nam Bộ. Trong không gian thiên đường xa xôi ấy, cảnh tử biệt sinh ly vẫn êm ả, thơ mộng :

Con chim lạc bạn kêu trời rộng
Hồn chết trôi miền dạ lý hương
Thơ Tuyển, tr.94

Nhưng chiến tranh đã ập đến. Cuộc tranh chấp năm châu thế giới đã òa ập xuống đầu một dân tộc nhỏ bé, trên quê hương mong manh trăng tơ và nắng lụa :

Xa nghe đợt gió lên cơn bão
Nhân loại quay cuồng biến đổi sâu
Bầy chó năm châu cắn sủa rộ
Quỷ ma cười khóc rợn đêm thâu…
Thơ Tuyển, tr. 46

Tiếp theo là hình ảnh con chó, trong bài Mùa Hạn, 47 khổ, làm trong trại tù Nghệ Tĩnh, năm 1979 :

Làng mạc giờ đây đã trống trơn
Con dê con chó cũng không còn
Người đi bỏ xác nơi bờ bụi
Miếu sạt, thần hoàng rũ héo hon
Con chó không còn, nhưng vẫn còn tiếng tru rân :
Cái chết tru rân giờ nguyệt tận
Máu bung từ mỗi lỗ chân lông
Mọi người nghe chính mình kêu rú
Liệu sáng mai còn ai nữa không ?
Thơ Tuyển, tr.104-103

Sau 13 năm tù, tác giả sang định cư tại Hoa Kỳ từ 1993. Bài Nhà Xưa, Lửa Cất Ủ, trong Thắp Tạ, gồm 21 đoạn, làm năm 1997 :

Nghe trong xanh thẳm thời gian
Dai dẳng
Tiếng con chó nhỏ bên hè
Sủa bóng trăng lu

Bàn thờ nhện giăng
Nói chi cơm cúng
Tội cho hồn con chó nhỏ vẫn nằm chờ
Mơ màng người chủ vừa ra đi.

Đây là cảnh ngộ của nhiều người, tiêu biểu cho một giai đoạn lịch sử. Nhà thơ gửi thêm vào một hoài niệm riêng :

Em đứng lại, khóc cựu tình sơ ngộ
Nghe hồn con chó nhỏ quấn mừng em.
Thắp tạ, tr. 60,62 và 66

Nhưng rồi con chó già đi, hao mòn ký ức :

Nắng mưa thấm thoát đời ta
Mối mọt căn nhà rệu rã
Đòi phen năm tháng cũ dò về
Chó già lạ hơi sủa
Chuyện đời như thất thiệt
Vàng đá còn không giữ nổi mình
Biết nhờ đâu xác chứng ?
… Quê nhà nghe nói có
Chỉ dấu tìm không ra
2002, Thắp tạ, tr.100-102

Con chó đeo đẳng mãi với thơ Tô Thùy Yên, càng ngày càng bi thiết. Trong bài mới làm hồi tháng 5-2005, anh tự xem mình là “Khất giả” :

Chỉ mong đồng loại chớ xua đuổi
Giờ này thế giới kín khuya khoắt,
Còn cửa nào cho ta gõ đây ?
Lũ chó sủa rong theo
Quả đáng ngờ vực, mọi nhân dạng (10)

Câu cuối chua xót : con người mất xứ sở, mất tài sản tinh thần, may còn tiếng nói tùy thân, mất niềm tin, nơi mình, nơi kẻ khác. Ngờ vực cả nhân gian, nhân dạng, cả nhân tình, nhân tính. Lũ chó sủa rong theo là một biểu tượng cay nghiệt và cay đắng.

Trong tiếng Việt, chó là lời nguyền rủa. Thường thường là nặng nề và oan ức. Con chó tự nó không có gì xấu; cái ta cho là xấu là do con người sai khiến, luyện tập. Trong hoàn cảnh xã hội đảo điên, lịch sử nghiệt ngã, chó trở thành biểu tượng u uất, đa nghĩa, như trong đoạn thơ Tô Thùy Yên dưới đây :

Chuyện kể cốt qua đêm, nề chi chuyện kể lại

Chó tru, miền xa tối rợn gai
Nơi hốc đá một cành hoa đợi sáng nở
Đi. Đi qua. Đi qua nữa. Đi qua nữa nữa.
2003, Thắp tạ, tr. 116

Làm nhớ thơ Phùng Cung :

Chạng vạng chiều – rơi
Trên xóm nhỏ
Con chó hoang
Ngoạm vành khăn tang
Rượt theo lòng xóm
Tới ngã ba – nhớn nhác
Lại cắm đầu rượt tiếp
Phía trước mặt trời đang tắt
Vầng trăng đang mọc phía sau
(bài Chạng Vạng)

Những lời thơ thống thiết. Nhưng vẫn còn lóe lên một tia hy vọng, với một cành hoa đợi sáng nơi Tô Lang hay vầng trăng đang mọc phía sau của Phùng Quân

2217 5 ConCho VanHpoc DanTocDangTien

Gia đình chó – Nguyễn Tú Nghiêm

Chúng ta đã thấy con chó gắn bó thế nào với con người, văn học và lịch sử Việt Nam. Vì gắn bó, nó thành liên đới và chia sẻ số phận với con người. Mà không cứ gì là người Việt Nam.
Chó làm bạn, làm đồng minh với nhân loại từ 15.000 năm nay, khắp nơi trên mặt đất. Chó thời tiền sử giúp con người săn bắt, bồi dưỡng chất đạm cho lương thực, chó canh chừng giấc ngủ an toàn cho chủ nhân. Ăn ngon ngủ yên, con người gia tăng sức lực, và thảnh thơi hơn, để phát triển kinh nghiệm, ngôn ngữ, tín ngưỡng, chăn nuôi, nông nghiệp, tổ chức xã hội, chính trị, kinh tế. Nói khác đi, chó là kết quả, thành phần và tác nhân của các nền văn minh, văn hóa văn hiến. Dần dà, có lúc, có nơi người phụ chó, chứ ít khi chó phụ người.

Ngày Tết, nói chuyện chó, là nhắc lại chút nghĩa cũ càng e một mai có lìa tơ ý..

Đặng Tiến

*** “Giáo Dục Giải phóng Con người”

Paulo Freire I

và chủ trương “Giáo Dục Giải phóng Con người”

 

( Paulo Freire : 1921 – 1997)

Paulo Freire sinh năm 1921 tại Brazil. Ông học Luật và Triết học, nhưng lại dấn thân vào công cuộc giáo dục đặc biệt cho giới tráng niên, nhằm gây ý thức cho đại chúng phải mạnh dạn tự giải thoát mình ra khỏi tình trạng áp bức nặng nề, tàn bạo của xã hội đương thời. Vì có tư tưởng và hành động cấp tiến như vậy, nên ông bị giới quân nhân cầm quyền bắt buộc phải sống lưu vong ở nước ngoài, từ năm 1964, mãi cho đến năm 1980, ông mới có thể trở về quê hương mình được.

trab-paulo-freire-1-638

Tại nước Chi lê, ông đã làm việc cho tổ chức văn hóa Unesco của Liên Hiệp Quốc, và Viện Cải cách Ruộng đất của chánh phủ Chi lê. Ông còn được mời tới làm việc tại Trung tâm Nghiên cứu về Phát triển và Biến đổi xã hôi thuộc đại học Harvard ở Mỹ (Center for Studies in Development and Social Change). Rồi sau này làm giám đốc chương trình giáo dục của Hội đồng Tôn giáo thế giới (World Council of Churches) tại Geneva, Thụy sĩ.

Năm 1970, ấn bản tiếng Anh “The Pedagogy of the Oppressed” (Giáo dục của Người bị Áp bức) của Paulo Freire đã gây một tiếng vang lớn trong giới giáo dục và hoạt động xã hôi khắp thế giới. Sau trên 40 năm, thì đã có hàng triệu cuốn được phổ biến rộng rãi qua nhiều lần tái bản, và hàng mấy chục bản dịch ra các thứ tiếng khác nữa. Ông là người đã cổ võ cho ý niệm “ Conscientizacao’ nguyên văn tiếng Bồ đào nha, mà bây giờ đã trở thành thông dụng khắp thế giới với tiếng Anh là “Conscientisation” (= Consciousness Raising, Critical Conciousness). Ta có thể diễn tả ý niệm này là : Sự thức tỉnh Ý thức và Suy nghĩ có tính cách phê phán.

Quả thật, chủ trương giáo dục có tính chất cách mạng triệt để của ông đã ảnh hưởng mạnh mẽ đến các phong trào giáo dục và xã hội cùng khắp thế giới. Và tư tưởng triết học của ông cũng ảnh hưởng đến nhiều ngành học thuật như thần học, xã hội học, nhân chủng học, sư phạm, ngữ học thực hành và nghiên cứu văn hóa (applied linguistics & cultural studies).

Có thể nói : Paulo Freire là một nhà tư tưởng có ảnh hưởng nhất về bộ môn giáo dục vào cuối thế kỷ XX ( the most influential thinker about education).

Bài viết này nhằm giới thiệu tư tưởng độc đáo và dứt khoát của ông. Đồng thời cũng lược qua về ảnh hưởng của tư tưởng này trong thế giới hiện đại, đặc biệt là tại các quốc gia vốn xưa kia là thuộc địa của thực dân Tây phương ở Châu Mỹ La tinh, Châu Phi và Châu Á. Để bạn đọc có thể dễ dàng theo dõi quá trình hình thành và phát triển tư tưởng của Paulo Freire, là một nhân vật tiêu biểu của trào lưu thức tỉnh và vận động xã hội tại Châu Mỹ La tinh là quê hương của ông, người viết xin được dàn trải việc trình bày trong 2 bài như sau :

Bài 1 / – Bối cảnh văn hóa xã hội của Châu Mỹ La tinh vào cuối thế kỷ XX.

Bài 2 / – Cốt lõi chủ trương “Giáo dục giải phóng” & Ảnh hưởng trong thế giới hiện đại.

I – Bối cảnh văn hóa xã hội của Châu Mỹ La tinh.

Châu Mỹ La tinh (Latin America) là khu vực nằm ở phía nam của nước Mỹ, mà xưa kia hầu hết đều là các lãnh thổ nằm dưới sự cai trị của hai nước Tây ban nha và Bồ đào nha. Hiện nay khu vực này có chừng 30 nước với tổng số dân là trên 560 triệu. Chỉ có Brazil với dân số trên 190 triệu là nói tiếng Bồ đào nha. Còn lại, thì tất cả đều nói tiếng Tây ban nha. Trừ một số rất nhỏ xưa kia là thuộc địa của Pháp, Anh, Hòa lan, thì vẫn còn nói tiếng như tại “mẫu quốc” cũ của họ.

Có tới 70% dân chúng trong khu vực theo đạo Thiên chúa giáo La mã (Roman Catholic). Và chừng 15% theo đạo Tin lành.

A – Tình trạng bất ổn trong thời kỳ chiến tranh lạnh.

Kể từ thập niên 1960 trở đi, khu vực này đã trải qua nhiều biến động về chính trị kinh tế, cũng như về mặt văn hóa xã hội thật sôi động, nhiều khi đưa đến những tranh chấp tàn bạo đẫm máu, do các chế độ độc tài thiên hữu, quân phiệt hay thiên tả gây ra. Nhiều cuộc đảo chính đã liên tục xảy ra, khiến cho xã hội luôn bất ổn định, và chế độ độc tài quân phiệt dễ có cơ hội được củng cố, và người dân bị dồn vào thế bị động, không thể hợp nhau góp phần vào công cuộc xây dựng và phát triển quốc gia được.

Lại nữa, vào giữa thời chiến tranh lạnh, nên phía Liên Xô đã tìm nhiều cách để gây ảnh hưởng của chủ thuyết cộng sản tại đây; điển hình là tại Cuba từ khi Fidel lên nắm chánh quyền năm 1959 và đã ngả hẳn về phía Liên Xô. Chúng ta hẳn đều còn nhớ việc Liên Xô cho đem thiết trí lọai hỏa tiễn tại Cuba nhằm hướng vào nước Mỹ, khiến xúyt gây nên cảnh chiến tranh giữa hai siêu cường Nga-Mỹ vào năm 1962, trước sự đối đầu nẩy lửa của hai lãnh tụ Kruschev và Kennedy.

Mà phía Mỹ, thì cũng tìm mọi cách can thiệp nhiều khi rất nặng tay tàn bạo, để bảo vệ toàn thể khu vực được gọi là“cái sân sau” (backyard) của riêng nước Mỹ; điển hình như có bàn tay của CIA trong việc lật đổ chế độ thiên tả của Tổng thống Salvador Allende tại Chi lê năm 1973. Rồi sau này vào thập niên 1980, thì phe Sandinista khuynh tả đã lên nắm được chánh quyền ở Nicaragua, với sự trợ giúp đắc lực của Cuba cộng sản cũng như của Liên Xô. Và chánh quyền Mỹ dười thời Tổng thống Reagan đã ra tay can thiệp mạnh bạo, để giúp phe đối lập Contras lập lại thế cờ tại đây. Đại khái đó là vài nét đại cương về ảnh hưởng của chiến tranh lạnh tại khu vực Châu Mỹ La tinh, từ hồi thập niên 1960 cho đến khi khối Liên Xô bị tan rã kể từ 1990.

B – Sự nhập cuộc của Giáo hội công giáo La mã.

Về phía Thiên chúa giáo, thì do ảnh hưởng của tinh thần đổi mới của Công đồng Vatican 2, trong giới tu sĩ và giáo dân tại khu vực đã có sự chuyển biến rất mạnh mẽ trong sự nhận thức, cũng như trong hành động của Giáo hội công giáo. Điển hình như trường hợp của Tổng giám mục Helder Camara của Brazil; ông là người rát năng động trong việc phục vụ và tranh đấu cho khối đa số nghèo túng, đến nỗi bị chụp mủ là “vị giám mục đỏ” (the red bishop). Ông nói chua chát như sau : “Khi tôi cho người nghèo ăn, thì người ta gọi tôi là một ông thánh. Khi tôi hỏi tại sao người nghèo lại không có thực phẩm, thì người ta gọi tôi là một người cộng sản!” Giám mục Camara và cầu thủ Pele’ là hai người xứ Brazil mà được biết đến nhiều nhất trên thế giới.

Lại có trường hợp vị Giám mục cấp tiến Oscar Romero ở nước El Salvador, ông còn bị chánh quyền cho dùng tay chân ám sát, ngay giữa lúc ông đang cử hành thánh lễ an táng cho bà mẹ của một người bạn vào năm 1980. Và đã có đến 250,000 người đến tham dự lễ an táng của vị mục tử kiên cường này, mà họ coi như là một vị thánh tử đạo (Martyr).

Cũng tại El Salvador, vào cuối năm 1980 đã xảy ra việc sát hại 4 nữ tu người Mỹ, do bàn tay của nhân viên công lực nhà nước. Sự kiện này đã gây sự phẫn nộ tột cùng của báo chí và công luận nước Mỹ, đến độ tạo thành áp lực buộc chánh phủ Mỹ phải có biện pháp răn đe mạnh mẽ đối với chánh quyền tàn bạo của El Salvador.

Cũng phải kể thêm về trường hợp của vị linh mục Camilo Torres ở nước Colombia, ông là một tu sĩ cấp tiến, được đào tạo tại đại học công giáo nổi tiếng Louvain bên nước Belgium ở Âu châu. Vì áp lực nặng nề từ phía chánh quyền Colombia, ông phải thóat ly theo hẳn phe du kích chống chánh phủ, và đã bị hạ sát vào năm 1966 trong một cuộc đụng độ với quân đội. Tên tuổi của Camilo Torres, cũng như của Che Guerava bị hạ sát năm 1967 tại Bolivia, thì đã trở thành một huyền thoại lôi cuốn giới trẻ trong toàn thể khu vực Châu Mỹ La tinh từ trên 40 năm nay.

Nhân tiện, cũng cần phải ghi lại cái thủ đọan cực kỳ độc ác là “làm mất tích” (disappearance), bằng cách thủ tiêu những người chống đối, mà cơ quan an ninh tại nhiều nước trong khu vực sử dụng, để đàn áp phong trào tranh đấu cho dân chủ tự do tại các nước này. Điển hình là tổ chức Các Bà Mẹ có con bị mất tích ở Argentina, đã liên tục trong nhiều năm tháng đến tụ hợp với nhau tại một quảng trường Plaza de Mayo trong thành phố thủ đô, để đòi hỏi chánh quyền phải cho công bố về các vụ mất tích này. Các tổ chức tranh đấu bảo vệ nhân quyền quốc tế như Hội Ân xá Quốc tế (Amnesty International) cũng đã thâu thập được khá nhiều chứng từ về các trường hợp “ người bị mất tích” (disappeared persons) tại nhiều quốc gia trong vùng, mà có nơi con số này lên tới nhiều ngàn người. Rõ ràng chế độ độc tài nào dù theo phe tả như cộng sản, hay theo phe hữu như chế độ quân phiệt, thì cũng đều tàn bạo độc ác như thế cả.

C – Nền Thần học Giải phóng.

Châu Mỹ La tinh này lại còn là nơi phát sinh một trào lưu tư tưởng đặc biệt sôi nổi sinh động, đó là nền “Thần học giải phóng” ( Liberation Theology). Đó là cả một phong trào của các giáo sĩ và giáo dân phản ứng không khoan nhượng trước thực trạng xã hội đày rẫy bất công áp bức, bóc lột trong xã hội các quốc gia trong khu vực. Họ lục tìm trong Kinh thánh và trong Giáo huấn chân truyền của Giáo hội công giáo từ xưa nay, để xây dựng được một nhận thức đứng đắn, trung thực về vai trò dấn thân nhập cuộc của Giáo hội trong công trình giải thoát con người và xã hội khỏi các định chế chính trị xã hội hủ lậu, phản động và vô luân trong xã hội đương thời. Trừ một số nhỏ thiên về phía marxit cộng sản quá khích, còn đa số giáo sĩ và giáo dân đều giữ vững lập trường tranh đấu ôn hòa, bất bạo động của tôn giáo. Hệ thống tư tưởng tiến bộ này luôn được sự hưởng ứng của quần chúng giáo dân và giới chức sắc của giáo hội, mà tiêu biểu sáng ngời nhất là “Hội Đồng Giám mục Châu Mỹ La tinh (CELAM = the Latin American Episcopal Conference). Dưới sự thôi thúc của những vị lãnh đạo năng nổ, nhiệt tình như Helder Camara, Hội Đồng này đã biểu quyết thông qua chủ trương rất tiến bộ là : “ Giáo hội phải dứt khoát chọn lựa đứng về phía người nghèo” ( Church’s Option for the Poor).

D – Vai trò của giới trí thức và văn nghệ sĩ.

Trong khi đó, thì giới hàn lâm đại học (Academia), cũng như giới văn nghệ sĩ, đều sôi nổi góp phần vào công cuộc dấn thân phục vụ xã hội, mà điển hình là sự đóng góp thật là vĩ đại của Paulo Freire với chủ trương “Giáo dục Giải phóng Con người” như đã được trình bày rất khúc chiết trong cuốn “Pedagogy of the Oppressed”. Ta sẽ đề cập chi tiết vế tư tưởng này trong một bài sau.

Cũng cần phải ghi thêm về ảnh hưởng của phong trào trí thức tả phái phát xuất từ Âu châu, đặc biệt là từ thập niên 1950, đối với tư tưởng và hành động của học giới và văn nghệ sĩ tại Châu Mỹ La tinh. Khuynh hướng “Bài Mỹ” (Anti-Americanism) từ Âu châu đã làm tăng thêm sự hậm hực, ân óan vốn có sẵn từ lâu đời đối với sự thống trị và khuynh lóat của chánh sách bá quyền (hegemony) của nước Mỹ đối với tòan thể các quốc gia và lãnh thổ yếu thế, mà lại bị chia rẽ, phân tán ở phía Nam bán cầu (hemisphere). Lâu lâu, người ta vẫn nghe thấy dân chúng tại đây hô thật to cái khẩu hiệu “Yankees, Go Home” (Người Mỹ, Hãy Cút Đi!) mỗi khi có phái đòan cao cấp của Mỹ đi qua một số thành phố lớn. Điển hình là vụ phản đối rầm rộ, đến độ xô xát bạo hành đối với Phó Tổng thống Nixon của Mỹ trong chuyến viếng thăm Nam Mỹ vào năm 1958.

Lại nữa, chánh phủ Mỹ vì luôn bênh vực che chở cho giới tài phiệt Mỹ làm ăn buôn bán khai thác tại các nước trong khu vực, nên đã cho thiết lập và ủng hộ các chánh quyền cực hữu, độc tài mà được đặt tên một cách mỉa mai là “Banana Republics”, vì chuyên làm tay sai cho các đại gia chuyên môn khai thác trồng chuối để xuất cảng về Mỹ, hoặc khai thác các nguồn lợi thiên nhiên khác, để thu về được một số lợi nhuận khổng lồ cho các tập đòan kinh tế có độc quyền khai thác, mà điển hình là United Fruit.

Trước tình trạng bất ổn căng thẳng như thế, ta không lạ gì với sự chống đối quyết liệt như của những lãnh tụ mới đây như Tổng thống Hugo Chavez của Venezuela đối với nước Mỹ. Và qua đó, chúng ta có thể hiểu rõ thêm về phản ứng dứt khóat và triệt để của giới trí thức như Paulo Freire trong bối cảnh chung của khu vực Châu Mỹ La tinh vậy.

 

TQH/

*** CHUYỆN NHỚ THƠ NHẬN NGƯỜI

Châu Thạch

chuyen tho

Đây là câu chuyện có thật, hai người trong cuộc vẫn còn sống sờ sờ, họ còn làm thơ và còn có dịp say bí tỉ cùng nhau.

 Chuyện là cách đây gần 50 nắm, có hai chàng thanh niên sống ở miền Nam đất Việt. Họ có học và đến tuổi nên bị động viên đi lính, vào trường võ bị sĩ quan Thủ Đức. Trong thời gian là sinh viên sĩ quan, họ không biết nhau. Trải qua chín tháng quân trường gian khổ, hai người ra bãi tập, đi giây tử thần, chạy đoạn đường chiến binh. Nói chung họ làm cái việc theo khẩu hiệu lúc bấy giờ là “Thao trường đổ mồ hôi chiến trường bớt đổ máu”. Sau đó họ ra trường mang quân hàm Chuẩn Úy.  Cả hai tân sĩ quan được binh chủng Pháo Binh tuyển dụng. Họ được đưa qua quân trường pháo binh Dục Mỹ, Nha Trang để tiếp tục tôi luyện tay nghề bắn súng loại nặng. Tại đây, họ ở chung  cùng một trung đội. Một hôm, trong giờ nghĩ giải lao, chàng sĩ quan có máu làm thơ nầy nổi hứng, ứng khẩu đọc to một bài thơ sáng tác đột xuất cho các bạn mình nghe. Bài thơ đó, tuy chỉ nghe một lần nhưng lại nhập tâm trong lòng, nằm mãi trong ký ức của một chàng sĩ quan có máu làm thơ khác.

 Người đọc thơ tên là Lê Đình Hạnh. Người nghe thơ một lần mà nhớ mãi  tên là Thái Quốc Tế, bút hiệu là Kha Tiệm Ly. Sau cuộc chiến, hai người cùng đi tù cải tạo. Được phóng thích trở về, họ sống cuộc đời bình thường, chỗ ở cách nhau hàng ngàn cây số: Đà Nẵng và Mỹ Tho. Bây giờ Thái Quốc Tế với bút hiệu là Kha Tiệm Ly đã nổi danh trên văn đàn với những bài thơ, những bài phú hào khí ngất trời. Lê Đình Hạnh vẫn lấy bút hiệu là Lê Đình Hạnh, ít sinh hoạt trên văn đàn, nhưng thơ anh làm say mê nhiều người trong giới thầm lặng. Hai người không những quên mặt nhau là điều chắc chắn bởi bao nhiêu biến đổi do thời gian, mà họ còn quên luôn tên của nhau nữa. Nhờ có facebook, họ kết bạn ảo với nhau. Rồi một hôm, họ nhớ ra nhau và nhận ra nhau nhờ Kha Tiệm Ly một lần nhắc lại bài thơ kia.  Lê Đình Hạnh từ Đà Nẵng bay vào Mỹ Tho gặp Kha Tiệm Ly. Họ uống với nhau suốt ngày đêm.

Bài thơ của Lê Đình Hạnh như sau đây:

CHỈ CÓ THẾ !
Nơi nghĩa trang vào một trưa mùa Hạ
Con chó đực long trọng bảo con chó cái rằng :_anh yêu em,
Ừ nhỉ ! anh yêu em.
Bỗng nhiên mặt trời thấp xuống
Bỗng nhiên người chết cựa mình .
Chỉ có thế
Chỉ có thế !
Mà người đời nguyền rủa .

Nơi nghĩa trang vào một trưa mùa Hạ
Con chó cái e dè bảo con chó đực rằng:_
Em cũng yêu anh
Ừ nhỉ !em rất yêu anh
Bỗng nhiên mặt trời oi bức
Bỗng nhiên người chết đứng dậy
Chỉ có thế !
Chỉ có thế !
Mà người đời nguyền rủa .

 Nơi nghĩa trang vào một trưa mùa Hạ
Hai con chó cùng yên lặng..
Ân hận vì những giọt mồ hôi đã đỗ ?
Mặt trời tản ra
Người chết nằm xuống.
Chỉ có thế !
Chỉ có thế !
Mà người đời lãng tránh…

 L Đ H.(1970 mùa hè Dục Mỹ Nha Trang)

 Đọc bài thơ nầy có lẽ nhiều người không hiểu Lê Đình Hạnh muốn nói gì. Thế nhưng trên đời có những bài thơ như thơ điên của Bùi Giáng, không ai hiểu gì nhưng không ai dám chê vì đọc nó, ai cũng có một cảm nhận tiềm tàng, ẩn sâu và mơ hồ thấy được cái hay của nó. Tôi không dám đem so Hạnh với Bùi Giáng, nhưng tôi biết một bài thơ mà tác động vào tâm hồn của một người dày kiến thức như Kha Tiệm Ly, gây ấn tượng mạnh cho cho một nhà thơ có bài “Lý Ngạo Đời” rất nghạo nghễ như Kha Tiệm Ly, để chỉ nghe một lần mà nhớ nó 50 năm, thì nhất định bài thơ ấy phải có gì đặc biệt.

 Với tôi, tôi cảm thấy rợn người khi đọc khổ thơ đầu tiên. Tôi cảm thấy những tiếng kêu răng rắc của hàng ngàn bộ xương trong nghĩa địa  cựa mình vì bất bình khi được nghe con chó đực tỏ tình. Tình yêu là quyền tự nhiên của mọi sinh vật mà đấng tạo hóa cho phép. Thế nhưng những thây ma trong nghĩa địa cho rằng chó không được yêu.

Rồi khi con chó cái chấp nhận tình yêu ấy, thì các bộ xương người đứng dậy. Phản ứng của loài ma quỷ nặng nề đến nỗi mặt trời cũng hạ thấp xuống và trở nên oi bức.

 Việc nầy chỉ có thể xảy ra ở nghĩa địa, nơi mà ma quỷ lộng hành, nơi mà những quyền thiêng liêng đươc tạo hóa cho phép  đã không được tôn trọng mà còn bị cho là phạm pháp.

 Thế nhưng tình yêu đã thắng sự phi nghĩa. Ma quỷ cũng phải đành nằm xuống khi hai con chó đổ mồ hôi để dành được tình yêu cho mình.

 Lê Đình Hạnh kể câu chuyện về chó và những bộ xương người trong nghĩa đia. Thế nhưng lạ thay, ở cuối mỗi khổ thơ anh đều dùng hai chữ “người đời”: “Chỉ có thế mà người đời nguyền rủa, chỉ có thế mà người đời lãng tránh”. Vậy thì chuyện tình yêu cúa chó trong nghĩa địa đã được đưa vào giữa xã hội con người. Nghĩa địa là hình ảnh của một xã hội băng hoại. Trong nhĩa địa ấy, loài bần tiện như chó nhưng biết yêu thì mang linh hồn con người. Ngược lại, các bộ xương khô, tuy đã từng là người nhưng nay họ là ma quỷ. Vì mang linh hồn ma quỷ, họ đoán phạt cả những lẻ phải, như đoán phạt tình yêu tốt đẹp  đang xảy ra tại nơi chốn của họ  !

Bài thơ nầy cũng có thể hiểu rằng cặp tình nhân loài vật đã làm cho những bô xương tuy khô héo nhưng vẫn còn tiềm tàng dục vọng, họ bi xung động gây hưng phấn bởi sự âu yếm của hai con vật. Thật ra, nếu tác giả chủ ý diễn tả như thế thì sẽ đưa cuộc tỏ tình vào một khung cảnh nên thơ hơn, một buổi sáng mùa xuân hay một đêm trăng sáng chẳng hạn, chớ không thể cho cặp diễn viên kia diễn xuất trong một buổi trưa hừng hực nóng. Hơn nữa các bộ xương người trở mình rồi đứng lên biểu hiện một hành động giân dữ và phản đôi rất rõ ràng. Nễu những bộ xương người đồng cảm với cặp tình nhân thì tác giả sẽ diễn tả những linh hồn thức giấc và ngồi dậy trong cử chỉ khoái lạc khi xem một màng kích dục mê ly. Trong thơ Lê Đình Hạnh hoàn toàn không nói đến điều ấy. Bởi thế,người viết buộc phải hiểu theo chiều hướng bất bình của các bộ xương trong bài thơ nầy vậy ./.

                                     Châu Thạch 

*** ĐỌC THƠ Ý NGA

NGUYỄN HỮU LUYỆN

rong vn

 

(Trích LỜI TỰA tuyển tập:

TRI ƠN CHIẾN SĨ VNCH VIỆT NAM CỘNG HÒA)

Ý Nga (yngacalgary@aol.com) là tác giả của 22 tập thơ đã được xuất bản và phổ biến trên các diễn đàn điện tử từ nhiều thập niên qua, (còn 45 tác phẩm khác chưa xuất bản nhưng cũng đã được phổ biến trên các diễn đàn).  Đọc thơ Ý Nga, chúng ta dễ cảm nhận được tâm tư của tác giả gửi gấm qua những vần thơ giản dị, khúc chiết và gợi cảm của những người đã từng phải lao vào cái chết để tìm “cái sống tự do”. Đây là tâm trạng của hàng triệu người Việt Nam đã phải bỏ lại quê hương và tài sản của mình để LAO RA KHƠI.  Biết bao người đã táng thây dưới đáy đại dương khiến cho Liên Hiệp Quốc phải ban hành quy chế tỵ nạn cộng sản và thành lập nhiều trại Tỵ Nạn Cộng Sản ở các vùng ven đại dương để tiếp nhận những chuyến RA KHƠI bi hùng tráng của người Việt Nam, sau biến cố 30 tháng 4 năm 1975:                                         

“Người tỵ nạn vẫn giữ hoài trang sử

Chúng tôi đi, sinh tử lắm nghẹn ngào

Nên không quên thảm não của đồng bào

Tim rỉ máu, thương cho Người Ở Lại!

(Ý Nga, 7-4-2011.)

Thơ Ý Nga bao hàm nhiều cảm nghĩ phong phú và đôi khi mang sắc thái châm biếm, tế nhị, trong đó có cả thơ tình.  Điểm đáng chú ý hơn cả là sáng tác chống Cộng và nỗi lòng buồn nhớ cố hương vẫn là hai nguồn cảm hứng sôi động, nếu đem so sánh với những nguồn cảm hứng sáng tác khác:

“Việt Nam hỡi! Bao anh thư hào kiệt,

Hãy vùng lên! Hãy quyết liệt đập tan,

Noi gương xưa lật đổ bọn bạo tàn,

Dẹp cộng sản! Dựng thái bình đất nước”

Ý Nga, 11-2-2011 (Bao Giờ Em Về)

Hình như đối với Ý Nga thì ra đi là thoát nạn cộng sản nhưng lại phải mang nặng trong lòng mối tình hoài hương da diết:

“Đi đâu thì cũng sầu vong quốc

Muôn dặm quê nhà xa vẫn xa.”[i] 

Ngay trong thơ Xuân của Ý Nga cũng pha màu chống Cộng:

“Chốn mong về không có Tết, dẫu Xuân.

Nơi muốn đến chẳng xuân về, sao Tết?

Người yêu dân, tưởng niệm Tết Mậu Thân

Bọn bán nước ăn mừng từng “chiến thắng”?”

(Ý Nga, Xuân Mậu Tuất 2018)

Sinh trưởng trong một gia đình nền nếp nên Ý Nga đã sớm ý thức được bổn phận và trách nhiệm của tuổi trẻ. Gia nhập Phong Trào Hướng Đạo VN Hải Ngoại, ngoài việc chia sẻ trách nhiệm chung với chồng là trưởng Phan Thế Vinh, đó cũng là một cách để Ý Nga tự rèn luyện bản thân để rồi trở thành một Trưởng Hướng Đạo nhằm giúp ích cho xã hội. Hai Trưởng Vinh Nga đã và đang say sưa trong trách nhiệm dìu dắt thế hệ Hướng Đạo trẻ từ những ngày còn ở trong nước cho tới nay (Trưởng Vinh là một Hướng Đạo Sinh của đạo Lâm Viên (Đà Lạt) từ nhỏ cho đến khi phải rời Đà Lạt để vào đại học, cả 3 anh em ruột của trưởng Vinh đều là thành viên của gia đình Hướng Đạo trong nhiều năm.

Hiện nay Hướng Đạo Việt Nam tại hải ngoại đã và đang phát triển trên ý thức hệ Nguời Việt Tỵ Nạn Cộng Sản dấn thân vào Phong Trào, lấy giáo dục làm phương châm để giúp các em hướng về cội nguồn và phát triển bản năng trẻ biết yêu thích thiên nhiên và trở thành người hữu dụng cho xã hội, cho Cộng Đồng.   

Với cái TÂM của một Trưởng Hướng Đạo, thơ Ý Nga luôn luôn bộc lộ phong cách đạo đức xã hội của tuổi trẻ:

“Hy sinh vì người khác

Chính mình có niềm vui!

Sá gì chút hành xác

Mà tâm hồn thảnh thơi.”

Ý Nga, 26-6-2014.

Trong tâm trạng buồn nhớ cố hương, Ý Nga cũng đem thơ đượm nỗi sầu viễn xứ vào hoạt động Hướng Đạo:

“Tâm ý không chưa đủ

Khi bạn muốn dấn thân

Chẳng phải duy bàn chân

Mà còn cần tâm ý.

Cộng thêm nhiều ý chí

Mới cất bước lên đường

Nhất là Đường-Tha-Hương

Vương càng nhiều trở ngại.”

Ý Nga, 29.1.2007 (TÂM Ý, THÀNH Ý)

Ý Nga cũng đã và đang làm công tác thiện nguyện với các tổ chức người Việt Quốc Gia ở Ý Đại Lợi, Âu Châu, Mỹ và Canada.v.v… từ năm 1980 cho đến nay, qua những đóng góp công sức vào các hoạt động: xã hội, văn hóa, từ thiện & giáo dục (dạy học tại các Trung Tâm Việt Ngữ, Ý Ngữ ở Ý và Canada); Ý Nga cũng đã nhận lời của đoàn thể, thay chồng, đảm nhiệm công tác Trưởng Nhóm Việt Nam Thanh Niên Thiện Chí tại Ý Đại Lợi trong nhiều năm, hoạt động cùng mục-đích trên.  Phải nhìn nhận ngay rằng đây chính là gánh nặng hoặc rất nặng trước cộng đồng và đoàn thể,  vậy mà Ý Nga vẫn không sao lãng với “mối tình chung thủy yêu thơ”. 

Dường như chính “mối tình yêu thơ” đã tạo ra sức mạnh tinh thần và thể lực cho Ý Nga trong đời sống hàng ngày.  Với thân hình nhỏ nhắn, sức khoẻ mong manh, nhưng Ý Nga vẫn bền bỉ cáng đáng việc gia đình, tận tụy và chu đáo săn sóc chồng, đồng thời hoàn thành NHIỀU NGHĨA VỤ trước cộng đồng và đoàn thể, vậy mà Ý Nga vẫn bền bỉ sáng tác thơ.  Đây chính là điểm son vô cùng cao quý của một phụ nữ trong mọi thời đại.  Mặc dầu mang nặng trong lòng mối “sầu viễn xứ” và nôn nóng ngày về “cố quốc”, Ý Nga cũng không che dấu bản tính dí dỏm, vui nhộn của mình.  Điều này đã biễu lộ khi Ý Nga dùng cách “nói lái” để đổi tên của mình là Ý Nga thành bút hiệu Á Nghi: 

 “Bốn mươi mốt năm trôi qua

Nợ tình cùng vay, cùng trả

Với em: anh vẫn chưa già

Ngày nào anh kêu, còn dạ.

30-4tobucket

Mình còn lời hẹn về Nhà

Mà đường tìm chưa ra ngả

Đừng bỏ em một mình nha!

Bệnh nào cũng có thuốc chữa”

Á Nghi, 1.3.2018

Qua mấy vần thơ sáng tác nhân dịp Tết Mậu Tuất, Ý Nga đã gợi lại thảm cảnh tang tóc của người dân miền Nam sau ngày 30/4/1975, trong thơ  Tết đau thương: với một đoạn thơ ngắn ngủi, Ý Nga đã rất “tài tình” bó gọn tình yêu thương cha già đã mệnh thác, mẹ già cô quạnh, khổ ải nơi quê nhà trong khốn cùng của xã hội CS, gia cảnh yên vui nay tiêu điều hoang phế . . . người đọc khó cầm nước mắt . . .

“Xuân tàn, mai rụng bên kia

Mẹ đi không nỗi, ai kìa quét mai?

Hồn Ba đã chốn thiên thai

Gốc mai-chiếu-thủy còn ai giữ gìn?

Cánh mai-tứ-quý ai nhìn?

Sang năm xuân vẫn cho xin sắc vàng?

*

Sao mà hồn cứ mênh mang?

Tàn Xuân, con vẫn lang thang chưa về!”

Ý Nga, 26.2.2018

***

Năm 2000, khi Cộng Đồng Người Việt Tỵ Nạn Cộng Sản trên khắp thế giới phát động vụ kiện WJC[ii].  Canada là một trong những Cộng Đồng VN yểm trợ mạnh mẽ  cho vụ kiện này. Tại Canada: sau cộng đồng người Việt tại Montreal là cộng đồng người Việt tại Calgary (thành phố giá lạnh và xa xôi này đang ấp ủ mái ấm gia đình của cặp vợ chồng Vinh-Nga).  Ý Nga đã nhanh chóng và nhiệt thành đáp ứng lời kêu gọi của Ủy Ban Vận Động Vụ Kiện WJC, viết nhiều hưởng ứng gửi khắp nơi hô hào yểm trợ cho vụ kiện.  Ý Nga cũng đã trực tiếp bắc nhịp cầu thân hữu để chúng tôi sang Âu Châu làm việc với các cộng đồng và hội đoàn Người Việt tại nhiều quốc gia và thành phố bên Âu Châu. Trong thời gian này, Ý Nga cũng đã lên tiếng:

“Quý Độc Giả thử tưởng tượng nếu có một ngày, chúng ta phải đọc những tài liệu viết về người Việt Nam yêu chuộng tự do đã từng thề không đội trời chung với loài Quỷ Đỏ, nên đành phải vượt qua cõi chết để được sống trong không khí tự do nơi quê người, nhưng bi hài thay,  những tài liệu để cho thế giới và hậu thế biết rõ thêm về những người “vượt từ cõi chết ấy”, lại không do chính tay chúng ta viết mà do những cán bộ văn hoá cao cấp của đảng cộng sản viết ra(chính họ  là  những thủ phạm đã dồn dân Việt chúng ta đến cõi chết) thì quả thật không có gì đau đớn và nhục nhã cho chúng ta bằng thảm trạng đó.  Chỉ có quý Bạn Đọc, bằng sự suy nghĩ và lương tâm của Người Việt Quốc Gia mới giúp đỡ chúng ta thắng được WJC và c.s.VN trong vụ kiện này:

Lũ ngợm nằm đáy giếng

Thấy gì trong mắt dân?

Hổ dữ ăn đầy miệng

Nghe gì tiếng nạn nhân?

Bàn tay ai rướm máu,

Cho chúng yến tiệc ngon?

Bàn chân ai nát ngấu,

Cho chúng tiếng cười giòn?”

***

 Ngày 30 tháng 4 năm 1975, trong khúc ngoặc tang thương của lịch sử Việt Nam, đã có những BINH SĨ QLVNCH không chịu buông súng đầu hàng mà đã âm thầm tự sát. Trên thế gian này, không có tấm lòng TRUNG DŨNG nào, không có một khí phách nào  có thể so sánh với hình ảnh anh Binh Nhì đã chọn cái chết để chết theo QLVNCH, mặc dù vào khoảng thời gian đó, kẻ thù đã tuyên bố không trả thù anh. Trong giây phút thiêng liêng đó, có lẽ anh đã thấy mình vừa mất đi một bảo vật thiêng liêng, đó là QLVNCH với lý tưởng bảo vệ người dân. Những viên đạn trong nòng súng ấy, đáng lẽ dành cho quân thù thì anh đã dành cho chính mình vì khí phách của quân nhân QLVNCH và vì lòng trung thành với QLVNCH.  Những anh BINH NHÌ ấy tuy đã mất đi sự sống của thể xác nhưng hình ảnh uy dũng của các Anh vẫn còn sống mãi mãi trong thơ văn của hậu thế và Ý Nga đã chuyển tải UY DŨNG đó cho hậu thế, qua nhiều vần thơ rất cảm động:

“Kèn truy điệu, âm não nề tưởng niệm

Những Chiến Binh không cấp bậc linh đình

Những hương linh tuẫn tiết vì dân mình

Ngàn thu trước, ngàn thu sau nối tiếp.

*

Kèn truy điệu trong quốc kỳ thẳng nếp

Thương tiếc Người, đời binh nghiệp truân chuyên

Quyết không hèn, chọn cái chết trung kiên!

Kèn dâng hiến âm chiêu hồn Tử Sĩ.”

Ý Nga, 20-10-2013 (TRUY ĐIỆU)

“Cho dù bị giặc bủa vây

Cuộc đời binh nghiệp dựng xây vì Nhà.

Không riêng Võ Bị Quốc Gia;

Công Binh Kiến Tạo, Lính Già, Quân Y,

Bộ Binh, Quân Cảnh… cũng vì

Thương dân, bảo quốc. Oai nghi Nhảy Dù,

Cục Quân Tiếp Vụ, Quân Nhu…

Anh em Biệt Kích chống thù: Cộng nô.

Biệt Khu bảo vệ Thủ Đô,

Công Binh Chiến Đấu giúp cho Quân Đoàn,

Chỉ Huy hay Hạ Sĩ Quan,

Lục, Không, Hải, Địa Phương Quân… luyện thuần

Biết luôn “Tự thắng, dấn thân”

Quyết vì TỔ QUỐC: dân cần, có ngay!

Các Quân Binh Chủng dạn dày

Chiến trường đổ máu, cờ bay giữ vàng.

Bao nhiêu chiến tích vẻ vang

Bấy nhiêu khí thế vinh quang lưu truyền

Giữ thơm DANH DỰ, luyện rèn

Tinh thần TRÁCH NHIỆM võ biền: sử lưu.

Ý Nga*8.4.2017 (VINH DANH NGƯỜI LÍNH CỘNG HÒA)

Song song với những vần thơ tôn vinh các anh Lính Cộng Hòa đã vì đại nghĩa quyên sinh trong ngày tang tóc của lịch sử Việt Nam.  Ngoài ra, Ý Nga cũng còn sáng tác những vần thơ cổ vũ chiến thắng oanh liệt của các đơn vị QLVNCH:

Chiến Sĩ Cộng Hòa

Miền Nam giữ vững thành trì

Bao công Chiến Sĩ trường kỳ dấn thân

Noi gương tâm huyết tiền nhân

Luôn luôn giữ vững tinh thần Quốc Gia.

Một lòng gìn Nước, giữ Nhà

Dân thương, không ngớt ngợi ca rộn ràng.

Nhờ Anh, dân tộc an khang

Ấm no, hạnh phúc huy hoàng nhiều năm.

Cứu dân thoát cảnh tối tăm,

Tấm lòng quyết chống ngoại xâm rịt ràng

Tô son hùng sử bao trang

Lưu đời chiến thắng sử vàng vẻ vang

Vô vàn rực rỡ hào quang

Sáng ngời áo trận vinh quang mọi đàng!

Ý Nga*24.4.2017 (VIỆT CỘNG CỨU NƯỚC HAY CÚ NƯỚC?)

Qua thơ, Ý Nga cũng gửi gấm tình cảm nồng nhiệt và lòng ngưỡng mộ chân thành tới các anh Lính Cộng Hòa:

Thương Anh nén hận căm gan

Trui rèn ý chí: bạo tàn đạp tung!

Thương dân: vẫn góp sức cùng!

Ôi ơn Chiến Sĩ! Dũng, hùng ngàn năm!

(HÀO QUANG NGƯỜI LÍNH CỘNG HÒA. Ý Nga, 1-12-2014)

***

Vai súng đạn, từng mục tiêu chu đáo

Chiếm! Cho dân được lành áo, no cơm!

Nên chúng ta phải viết, ủ danh thơm:

Lòng can đảm bao Anh Hùng Giữ Nước!

Người Đi Trước chưa bao giờ khiếp nhược!

*

Lìa quê hương, sao quên được ơn Người?

Lòng tri ân xin ghi khắc một đời

Cờ phất phới sắc Vàng làm minh chứng!

Xin ngưỡng phục từng âm thầm chịu đựng

Những Tôi Trung của dân tộc oai hùng!

Làm gương soi, hương chiến đấu thơm lừng

(Ý Nga, 7-4-2011- NGƯỜI LÍNH DŨNG CẢM!)

Dù bị bức tử trong uất hận, QLVNCH vẫn sống với ký ức kiêu hùng qua tuyển tập thơ: “TRI ƠN CHIẾN SĨ VNCH” của Ý Nga, trong đó, những chiến công hiển hách của một thời oanh liệt đã làm rạng danh Việt Nam Cộng Hoà, một quốc gia giữ trọng trách “Tiền Đồn của Thế Giới Tự Do” đã không hổ thẹn trước lịch sử Thế Giới khi nhân loại đi vào ngõ cụt suy thoái trước làn sóng đỏ:

“Thương Người Anh Dũng, gian nan

Đầu tên, mũi đạn nguy nàn vì dân.

Bốn mươi năm, vạn mộ phần

Anh linh ngút hận: ngoại nhân lan tràn!”

           Và:

“Thật hãnh diện! Danh truyền bao Chiến Sĩ!

Tuổi hoa niên dâng hiến: giữ chủ quyền!

Vì bình yên, lính chiến đánh liên miên

Đời chinh chiến bao trận tiền đối diện.”

(QUY CỐ HƯƠNG-Ý Nga, 20-11-2014)

*

Lời kết của NGƯỜI ĐỌC THƠ Ý NGA hôm nay là xin ghi vào đây, hình ảnh một nữ TRƯỞNG HƯỚNG ĐẠO, có đầy lòng yêu thương các em Hướng Đạo Sinh, các em học trò trường Việt Ngữ; yêu thương người chồng đồng CHÍ HƯỚNG: một trưởng Hướng Đạo luôn tha thiết với quê hương, yêu thơ và yêu DÂN VIỆT.

                                                          ***

Tôi xin chân thành cảm ơn những vần thơ của Ý Nga đã gây cho tôi nguồn cảm hứng trung thực khi viết bài giới thiệu này.

San Jose ngày 5 Tết Mậu Tuất (2018)

Nguyễn Hữu Luyện

[i]   Bià sau của tác phẩm THUYỀN NHÂN (thơ Ý Nga, NGUYỄN HỮU NHẬT trình bày, ảnh tác giả do PHAN THẾ VINH chụp)

[ii]   WJC là viết tắt của WILLIAM JOINER CENTER chuyên nghiên cứu về chiến tranh và hậu quả về xã hội của chiến tranh.  WJC thuôc University of Massachusetts at Boston thường viết tắt là WJC/Umass Boston.  WJC mời các học giả và những nhà văn từ Hà Nội sang UMASS BOSTON thực hiện một chương trình nghiên cứu có tầm cỡ quan trọng, do Rockefeller Foundation cấp học bổng $250.000, để viết chương trình nghiên cứu với nhan đề: “RECONSTRUCTING IDENTITY AND PLACE IN THE VIETNAMESE DIASPORA (tạm dịch là: TÁI XÂY  DỰNG DIỆN MẠO VÀ QUÊ HƯƠNG CỦA NGƯỜI VIỆT Ở NƯỚC NGOÀI).

Vào thời điểm này, đại đa số người Việt ở nước ngoài là Người Việt Tỵ Nạn CS. Đem đảng viên cao cấp của đảng cộng sản VN từ Hà Nội sang Mỹ để viết lại căn cước của  người VN tỵ nạn CS là một nghịch lý giống như đem bọn cướp của giết người vào Đại Học để viết về nạn nhân của chúng,  Theo luật pháp Hoa Kỳ, Cộng Đồng chúng ta  không có quyền cấm ai viết về mình, nhưng chúng ta có quyền vô hiệu hoá chương trình nghiên cứu vừa vi phạm quy luật hàn lâm rất nghiêm khắc của ngành Đại Học Hoa Kỳ, vừa chứa đựng âm mưu chính trị đen tối của một Đại Học thân Cộng.

Cộng Đồng Người Việt Tỵ Nạn CS trên khắp thế giới đã đồng tâm:

1/ Về phương diện hàn lâm, chúng ta không thể để chương trình nghiên cứu này đi vào các thư viện nghiên cứu của Hoa Kỳ và các quốc gia khác. 2/  Dựa trên nguyên tắc hàn lâm là “KHI NGƯỜI VIẾT NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN VỚI ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU THÌ MẶC NHIÊN CHƯƠNG TRÌNH NGHIÊN CỨU ĐÓ COI NHƯ VÔ GÍA TRỊ VÌ THIẾU VÔ TƯ.

3/ Cộng Đồng VN đã mau chóng đưa WJC ra trước pháp luật với đủ bằng chứng. Trong vụ kiện tập thể (CLASS ACTION) này, chúng ta nhằm mục đích VÔ HIỆU HOÁ CHƯƠNG TRÌNH NGHIÊN CỨU NÀY, chúng ta thắng hay thua, thì kết qủa cuối cùng cũng như nhau: về phương diện hàn lâm, khi một chương trình nghiên cứu lại bị chính ngay chủ đề nghiên cứu đưa ra toà nhất là ra tới Toà TỐI CAO (Supreme Court) thì không còn môt học giả nào có thể dùng  nó làm tài liệu nghiên cứu nữa.

Kết qủa là WJC được Tòa Tối Cao tuyên án VÔ CAN.  Chúng ta THUA về pháp lý, nhưng chúng ta đã THẮNG về mặt HÀN LÂM, có nghĩa là chương trình nghiên cứu của WJC/UMASS BOSTON hoàn toàn vô giá trị về mặt HÀN LÂM.

(Y Nga gui)

*** AI ĐÃ DỊCH CHINH PHỤ NGÂM RA CHỮ NÔM ?

NGUYỄN CẨM XUYÊN

chinh phu nganĐOÀN THỊ ĐIỂM và NGUYỄN THỊ ĐIỂM;

AI ĐÃ DỊCH

CHINH PHỤ NGÂM RA CHỮ NÔM ?

     Sách Đăng Khoa Lục sưu giảng của Trần Tiến đời Lê có chép chuyện bà Nguyễn Thị Điểm. Sách Tang Thương ngẫu lục của Phạm Đình Hổ và Nguyễn Án đời Nguyễn lại chép chuyện bà Đoàn Thị Điểm.

Hai nữ sĩ trong hai truyện trùng tên, khác họ… và ai là người đã dịch Chinh Phụ ngâm khúc ra chữ Nôm?
ĐOÀN THỊ ĐIỂM VÀ NGUYỄN THỊ ĐIỂM CÓ PHẢI CHỈ LÀ MỘT ?
Ra đời sau Tang Thương ngẫu lục 100 năm, Nam Hải dị nhân liệt truyện của Phan Kế Bính đã viết “Nguyễn Thị Điểm tức Đoàn Thị Điểm”.

Thật ra đây là hai người khác nhau. Chẳng qua lúc biên soạn Nam Hải dị nhân liệt truyện, có thể do không đủ điều kiện khảo sát mà lúc này lại cần phải hóa giải liền một mâu thuẫn giữa hai sách xưa để không phải bỏ qua một truyện hay về nữ sĩ nước Nam nên Phan Kế Bính đã cho rằng hai người là một.

Đầu thập niên 70 vừa qua, các nhà nghiên cứu đã về Hải Dương đọc gia phả họ Đoàn và tìm gặp gia tộc họ Nguyễn Trác thì mới rõ là có hai bà Đoàn Thị Điểm và Nguyễn Thị Điểm. Hai bà có những chi tiết trùng hợp đến kì lạ. Trước hết cả hai cùng sống vào thời Lê Trung hưng, đời Trịnh Giang, cùng quê ở Hải Dương: bà Nguyễn Thị Điểm ở Bình Lao trang, trấn Hải Dương còn bà Đoàn Thị Điểm thì quê ở Giai Phạm, huyện Đường Hào cũng thuộc trấn Hải Dương (nay là xã Giai Phạm thuộc huyện Yên Mỹ, tỉnh Hưng Yên), cả hai đều giỏi văn thơ và điều lạ kì là cả hai bà đều có anh tên là Luân, một người là Đoàn Doãn Luân và một người là Nguyễn Trác Luân… vậy nhưng gốc gác, gia thế cũng như cuộc đời của hai bà thì khác nhau nhiều.

Bà Nguyễn Thị Điểm thuộc gia đình quyền quí; anh là Nguyễn Trác Luân đỗ Tiến Sĩ năm 1721, làm quan đến chức Phó Đô Ngự Sử và là tay chân thân tín của chúa Trịnh Giang. Chính Nguyễn Trác Luân là người đã giúp Trịnh Giang phế truất rồi giết vua Lê Duy Phường rồi theo lệnh Trịnh Giang làm giả tờ sắc tấn phong cùng ấn tín của vua nhà Thanh sang phong cho Trịnh Giang làm An Nam Thượng Vương… Em gái là Nguyễn Thị Điểm về sau còn dạy học ở kinh đô, thọ đến 78 tuổi. Sách Đăng Khoa Lục sưu giảng có chép: Bà Nguyễn Thị Điểm có viết cuốn “Truyền Kì tân lục” (Truyền kì tân phả).

TRUYỀN KÌ TÂN PHẢ – VĂN GIANG HỒNG HÀ ĐOÀN PHU NHÂN TRƯỚC

(Truyền kì tân phả do Văn Giang Hồng Hà Đoàn phu nhân soạn – Thư viện Quốc gia. Bản chụp của nomfoundation)

Cuộc đời bà Đoàn Thị Điểm khác hẳn. Xuất thân trong một gia đình nghèo; bà là con ông Đoàn Doãn Nghi. Tổ tiên vốn họ Lê, quê quán ở Hải Dương; về sau đổi ra họ Đoàn. Đoàn Doãn Nghi đỗ Hương cống và nhận một chức quan nhỏ hàm bát phẩm rồi từ quan, về nhà bốc thuốc. Sau khi hỏng kì thi Hội, ông ở lại kinh đô dạy học rồi cưới thêm thứ thất ở phường Hà Khẩu, gần Hồ Hoàn Kiếm và sinh được hai con: con cả là Đoàn Doãn Luân, con thứ là Đoàn Thị Điểm. Đoàn Doãn Luân chỉ là giám sinh đã qua kỳ sát hạch để chuẩn bị thi Hương, chưa đỗ đạt gì. Riêng bà Đoàn Thị Điểm: sau khi cha mất, cùng mẹ về ở với anh trai, ngụ cư tại làng Vô Ngại, huyện Ðường Hào, tỉnh Hải Dương (nay là Mỹ Hào, tỉnh Hưng Yên) nhưng chỉ được mấy năm thì Doãn Luân lại qua đời; một mình bà phải nuôi cả nhà (gồm mẹ, chị dâu và các cháu) và phải tự mưu sinh bằng nghề bốc thuốc, dạy học…

Bà có nhan sắc nhưng kén chồng; sau làm vợ kế ông Nguyễn Kiều (1696- 1752) tức là ông Nghè Sù người làng Phú Xá (làng Sù) huyện Từ Liêm, Hà Nội đỗ tiến sĩ đời Lê Dụ Tông, làm quan đến chức Đô ngự sử. Nguyễn Kiều vốn đã có 2 đời vợ trước: vợ đầu là con gái quan Tham tụng Lê Anh Tuấn; bà này mất sớm, ông tục huyền với con gái Thượng thư Nguyễn Quý Đức nhưng bà này lại cũng qua đời… Nguyễn Kiều nhờ mai mối đến hỏi bà Đoàn Thị Điểm; sau mấy lần chối từ, cuối cùng bà Đoàn Thị Điểm thuận về làm vợ kế. Năm 1734, Nguyễn Kiều nhậm chức Tham thị thành Triều Khẩu (Nghệ An), bà Đoàn Thị Điểm đi thuyền theo chồng, đến ngang đền Sòng (Thanh Hoá) thì bị cảm và sáu ngày sau đến Triều Khẩu thì mất, lúc này bà mới 44 tuổi.

Mới đây, ngày 24/7/2011, tại cánh đồng thôn Phú Xá (Phú Thượng, Tây Hồ, Hà Nội), Hội Khảo cổ học cùng Ban Quản lý di tích-danh thắng Hà Nội đã cải táng mộ của ông Nghè Nguyễn Kiều về cạnh mộ bà Đoàn Thị Điểm ở cách đó 2km.

NGUYỄN THỊ ĐIỂM ĐÃ DỊCH CHINH PHỤ NGÂM RA CHỮ NÔM

CHỨ KHÔNG PHẢI LÀ ĐOÀN THỊ ĐIỂM ?
Trước câu hỏi ai là tác giả Chinh Phụ ngâm diễn âm, các nhà nghiên cứu đã tìm kiếm bằng chứng và tranh luận sôi nổi suốt gần 100 năm qua.

Nhiều sách nay vẫn ghi tác giả là Đoàn Thị Điểm theo như lời “tương truyền” vốn có từ xa xưa…nhưng nay lại đang có nghi vấn được nêu: Phải chăng tác giả Chinh Phụ ngâm diễn âm hiện hành là Nguyễn Thị Điểm?

Điều có thể dùng làm chứng cớ là ở 2 người anh là Nguyễn Trác Luân và Đoàn Doãn Luân. Bà Nguyễn Thị Điểm là em ông Nguyễn Trác Luân và tên tuổi Nguyễn Trác Luân thì không thể sai bởi đã ghi trong sử đời Lê mạt… Đầu thập niên 70 thế kỉ XX, GS. Bùi Văn Nguyên, lúc này đang là Giảng viên Khoa Ngữ Văn trường Đại Học Sư phạm Hà Nội cùng GS. Phan Huy Lê, Chủ tịch Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam về Hải Dương, gặp bố và chú của ông Nguyễn Trác Cách là Nguyễn Trác Thức và Nguyễn Trác Ngữ để hỏi cụ thể về việc dịch thuật của bà Nguyễn Thị Điểm. Các nhà nghiên cứu tìm đến gia tộc Nguyễn Trác thì điều không may là gia phả, sắc phong và cả ngôi nhà thờ họ năm gian mang tên Duy Ái Từ đã cháy trong kháng chiến chống Pháp. Tại đây, ông Nguyễn Trác Cách sinh năm 1936, trưởng tộc họ Nguyễn Trác đã kể lại các giai thoại văn chương giữa Nguyễn Trác Luân với em gái là Nguyễn Thị Điểm, vốn ham học ngay từ khi còn nhỏ và thường cùng anh xướng họa thơ văn. Các giai thoại này dòng họ ông vẫn lưu truyền và ông khẳng định chính bà Nguyễn Thị Điểm mới là tác giả của Tục truyền kỳ và bản dịch Chinh phụ ngâm được phổ biến rộng rãi hiện nay(2).

Sau đợt nghiên cứu, trên Tạp chí Văn học, số 6 năm 1977, GS. Bùi Văn Nguyên viết bài “Bà Điểm nào trong hai bà Điểm, tương truyền có tham gia dịch một bản Chinh phụ ngâm của Đặng Trần Côn”. GS Bùi Văn Nguyên cho rằng: “Sự thật, có hai bà Điểm khác nhau, một bà họ Nguyễn, một bà họ Đoàn, hai bà sống có phần đồng thời, ở cùng một vùng, nay là tỉnh Hải Hưng, đều có người anh trùng tên là Luân và đều giỏi văn thơ, pha nghề dạy học”(3).

Điều GS. Bùi Văn Nguyên phát hiện làm rõ mối ngờ 20 năm trước của GS. Hoàng Xuân Hãn về độ chính xác của Vũ Hoạt khi cho rằng bà Đoàn thị Điểm là tác giả của bản Nôm Chinh Phụ Ngâm: “Có thể Vũ Hoạt nghe loáng thoáng có một bà Điểm nào đó hay chữ, liền nghĩ ngay đến bà Điểm vợ ông Kiều ở huyện Từ Liêm, cùng quê với ông Đặng Trần Côn là tác giả khúc ngâm, rồi ghi luôn vào bản khắc mà mình giới thiệu cho thêm phần giá trị và Vũ Hoạt trong lời bạt viết năm 1904 đời Thành Thái đã khéo bảo vệ bằng luận điểm tương truyền. Đã gọi là tương truyền thì chả có bằng cớ nào, về sau nếu không đúng cũng thôi…”

Năm 1953, trong cuốn Chinh phụ ngâm bị khảo, GS, Hoàng Xuân Hãn có nêu ra 7 bản Chinh Phụ Ngâm diễn âm trong đó ông tập trung chú ý 4 bản A,B,C,D. Bản A là bản thịnh hành thì ông cho là của Phan Huy Ích. Riêng bản B (ít phổ biến) ở đầu có chữ “nữ lưu”, ông cho rằng đây là bản của bà Đoàn Thị Điểm. Phải chăng bản này là của bà Nguyễn Thị Điểm còn bà Đoàn Thị Điểm tuy hay chữ nhưng chỉ viết Truyền Kì tân phả (Tục Truyền Kỳ) như lời kể của Nguyễn Án và Phạm Đình Hổ.

Một chứng cớ nữa là nay ở thư viện trường Đại học Yale Hoa Kỳ còn một bản chép tay Chinh Phụ ngâm bị lục đời Thành Thái bằng chữ Nôm có chua quốc ngữ. Bản này ghi tên dịch giả là Nguyễn Thị Điểm. Tác phẩm gồm 412 câu, câu chữ gần như phù hợp với bản Chinh Phụ ngâm phiên ra quốc ngữ hiện được dùng phổ biến trong các sách văn học, kể cả sách giáo khoa Trung học và giáo trình Đại học hiện nay.

GHI CHÚ:

Ảnh sachxua.net

Theo tài liệu ông Nguyễn Trác Cách gửi viện trưởng Viện Văn học ngày 10 tháng 3 năm 2009; Đoàn Thị Điểm và Truyền kỳ tân phả; Bùi Thị Thiên Thai, Văn hóa Nghệ An 26.9.2010.

GS Bùi Văn Nguyên, “Bà Điểm nào trong hai bà Điểm, tương truyền có tham gia dịch một bản Chinh phụ ngâm của Đặng Trần Côn” – Tạp chí Văn học, số 6 năm 1977,

*** Nhớ Mưa Huế

00hue

  Ai ở Huế lâu ngày cũng biết Huế mưa theo nhiều cách, tuỳ vào từng thời điểm trong năm. Mưa Huế thất thường như tính cách của một cô gái mới lớn, mang đến thật nhiều tâm trạng.

Vào độ từ tháng 5 đến tháng 8 âm lịch, Huế thật ít khi mưa mà thay vào đó là rưới lên Huế cái nắng hồng hộc của mùa hè. Tuy nhiên vào khoảng thời gian này, đôi khi ông trời cũng cố gắng ‘lắc rắc một vài hột’ mưa theo như cách nói của người già ở Huế. Những cơn mưa này thật ngắn và và nhiều khi không đủ lớn nên lại càng làm cho không khí càng oi nồng, ngột ngạt thêm. Cái đẹp của cơn mưa rào này, nếu mưa đủ lớn, làm dịu hẳn cả thành phố và in lên bầu trời quang đãng sau đó một cái cầu vồng thật rực rỡ. Đám con nít bọn tôi thường chỉ trỏ lên lên trời và tưởng tượng ra đủ thứ với cái cầu vồng đó. Huế tuy nhỏ nhưng những cơn mưa đỏng đảnh này nhiều khi cũng chỉ dành cho bờ Bắc hoặc bờ Nam sông Hương mà thôi.   

“Trời mưa ở Huế sao buồn thế

Cứ kéo dài ra đến mấy ngày”

(Nguyễn Bính)

Tôi chắc rằng thi sĩ này đang nói đến những cơn mưa vào khoảng 10 đến tháng Chạp âm lịch ở Huế. Mưa rả rích, mưa da diết, mưa triền miên, mưa như cố làm chậm lại hoặc làm đông cứng tất cả những gì hoạt náo, tươi vui vốn đã hiếm hoi ở cái thành phố này. Vào những ngày này, Huế đã buồn lại càng buồn hơn. Những chiếc áo mưa sùm sụp, những vũng nước đọng và những chiếc lá, cành cây rơi rụng trên đường càng làm cho khung cảnh u ám, trầm mặc hơn. Có lẽ chẳng bao giờ tôi quên được những đêm trời mưa và lạnh thấu xương, vào khoảng đầu những năm 80, mấy anh em tụi tôi cùng trùm chung một cái mền (chăn) dạ cũ còn lại từ trước giải phóng, đã thủng lỗ chỗ, vừa lắng nghe tiếng mưa rơi trên mái tôn vừa mông lung với những suy nghĩ, những ước mơ về một cuộc sống đỡ nhọc nhằn hơn cho gia đình mình. Những lúc như vậy, nếu nghe được một tiếng rao: “Mì nooong—–đê…y” thì hình như cả mấy anh em tụi tôi chợt thấy như cái mền đang đắp lành lặn hơn, dày hơn một chút và dĩ nhiên, thấy mình vẫn còn may mắn hơn một chút. Chúng tôi cố gắng theo tiếng rao mì và tiếng chân lẹp xẹp khuất dần, khuất dần sau một con hẻm nào đó và chìm dần vào giấc ngủ lúc nào không hay.

“Nỗi niềm chi rứa Huế ơi

Mà mưa xối xả, trắng trời Thừa Thiên”

(Vẫn không nhớ tên tác giả)

‘Mưa xối xả’, ‘mưa trắng trời’ có lẽ chỉ xảy ra vào giữa tháng 10 cho đến giữa tháng 11 âm lịch. Nhiều khi mưa cả tuần hoặc hai tuần không ngớt, mưa như ai nghiêng cả một cái giếng mà đổ hết lên mái nhà. Sông hồ mặp nước. Sông Hương nước dâng cao, đục ngầu và cuồn cuộn chảy như chưa bao giờ được chảy. Và rồi lụt. Ban đầu nước sông Hương lên mấp mé bờ cỏ Thương Bạc. Rồi Đập Đá ngập. Rồi nước ngập các con đường ở bờ Nam như Hùng Vương (đoạn chạy ngang qua cà phê Sứ), Đống Đa, Chợ Cống…; bờ Bắc thì Phu Văn Lâu, Thương Bạc, Bạch Đằng, Huỳnh Thúc Kháng (về phía Bao Vinh) và một số con đường nhỏ trong Thành Nội. Nếu là lụt lớn thì hầu như nơi nào cũng ngập. Và ngập đến vài ngày. Lụt đối với nhiều gia đình còn có nghĩa là gạo thua (gạo tăng giá), là đồ ăn đắt đỏ, là công ăn việc làm ế ẩm, là mất mát (người và của). Hầu như cứ mỗi cơn lụt, dù lớn hay nhỏ, là dân Huế lại nghe đến có người chết đuối: khi thì ở Ngã Ba Bãng Lãng (gần Lăng Minh Mạng, nơi con sông Hương chia làm hai nhánh), khi thì ở Đập Đá, khi thì ở các huyện lân cận như Hương Trà, Phú Vang. Điển hình là hai cái lụt khủng khiếp nhất mà hầu như ai cũng biết: đó là lụt 53 và lụt năm 1999.

Nếu không tính đến những ‘mặt trái’ của nó, thì mưa lụt Huế cũng mang lại những cái thú, những cái thi vị và đầy ắp kỷ niệm về một thời ở Huế cho những kẻ như tôi. Lụt là dịp mà dân ở thành phố được trở thành những tay câu cá, cất rớ (lưới) nghiệp dư. Bờ hào quanh Thành Nội, đặc biệt là gần các cống như Thượng Tứ, Cửa Sập (sập vào lụt năm 1953)…, và các ao hồ quanh Đại Nội là những nơi lý tưởng để những tay cất rớ chuyên nghiệp và không chuyên nghiệp thi thố tài năng. Bờ Nam thì hồi trước có cánh đồng An Cựu, đoạn từ Ngã Tư Âm Hồn (gần bến xe An Cựu ngày trước) cho đến Nhà Hát Lớn bây giờ. Cánh đồng này giờ đây đã ‘đô thị hoá’ thành nhà cửa, văn phòng, không còn một ao nước nào để thả rớ xuống cả.
Một cái thú nữa vào những ngày lụt là ‘đi lội lụt’. Nếu nhìn ra đường phố lúc này sẽ thấy rất ít bóng dáng xe cộ, mà thay vào đó là từng nhóm năm bảy người, già có, con nít có, nam có, nữ có, với chiếc quần đùi hoặc quần dài xăng đến tận đùi, tùm hụp trong chiếc áo mưa, vừa đi vừa chuyện trò rôm rả. Một vài người còn tỏ ra chuyên nghiệp hơn khi trang bị cho mình một chiếc gậy tre hay gỗ để được an toàn hơn qua những nơi nước xoáy. Hầu hết những người ‘đi lội lụt’ chỉ nhằm mục đích ham vui, tò mò muốn biết nước cao ngang đâu ở Đập Đá hay Thương Bạc. Ba tôi là một người rất thích đi lội lụt, mỗi lần như vậy đều dẫn tôi đi theo. Sau mỗi lần như vậy, tôi trở về nhà với đôi chân mỏi nhừ, lạnh cóng và bạc phếch vì ngâm nước quá lâu nhưng trong lòng vui và kiêu hãnh như vừa vượt qua được một thử thách nào đó. Những người không lội vì tò mò ham vui thì lội lụt để thăm viếng, trợ giúp bà con hoặc người thân ở những vùng bị ngập. Khi lớn lên, tôi không còn đi lội lụt với ba tôi nữa mà đi lội một mình, dĩ nhiên, mục đích ‘chuyến đi’ cũng khác trước. Nhà vợ tôi (khi đó còn là bạn gái) ở trong một vùng thấp của Thành Nội, nên tôi thường hay lội từ …An Cựu sang, tay xách theo một chai dầu ăn hay xì dầu vì bên đó không có chợ búa vào những ngày lụt. Có điểm lắm!

Nếu không có lụt thì có một cái thú khác nữa là đi uống cà phê với bạn bè hoặc người yêu (dân Huế gọi là bồ). Để ngồi với bạn bè thì tôi thường chọn các quán trên đường Trần Thúc Nhẫn (dẫn lên Chợ Bến Ngự). Con đường này ngắn nhưng lại có rất nhiều quán cà phê, tập trung ở những ngôi nhà xây theo dạng một villa nhỏ với một khoảng vườn (sân) rộng ở đằng trước. Điển hình quán Số 6. Nếu tôi không lầm thì đây là nhà của một cô giáo từng là hiệu trưởng của trường nữ Đồng Khánh ở Huế. Bên trong ngôi nhà đặt khoảng 4-5 bộ bàn ghế gỗ khá lịch sự còn ngoài vườn có thêm khoảng mươi bộ nữa đặt rãi rác dưới tán cây đào và một số cây gì mà tôi cũng không nhớ rõ nữa. Thức uống hồi đó lui tới một vài thứ đơn giản như: cà phê (đen, sữa, nóng, đá…), nước chanh (đá, nóng). Hồi đó tôi thích quán này không phải do cà phê mà do cái không khí ở quán này. Yên tĩnh và lịch sự. Cái gu nhạc của chủ quán cũng giống như của tôi: nhạc Trịnh Công Sơn và nhạc pop Pháp của những năm 50-60 (tôi đoán thế vì không rành lắm về âm nhạc ngoại quốc). Nhớ những chiều mưa rả rích cuối tuần ngồi với một vài đứa bạn thân ở quán này, vừa nhâm nhi ly cà phê vừa ‘khẩu’ đủ thứ chuyện trên trời dưới đất cho đến khi tối mịt mới chịu rời quán. Năm kia khi tôi về lại quán Số 6 thì cách bài trí, nhạc, khách…tất cả đã khác xưa, tôi thấy như mình vừa mất một cái gì đó….

Nhưng để thật sự cảm được cái đẹp-buồn của mưa Huế thì nên ngồi ở quán Sông Xanh nằm trong một con hẻm gần Đập Đá, nhìn ra Sông Hương. Tiếng hát khàn khàn, chậm rãi của Khánh Ly, những giọt cà phê đều đặn, cái lạnh ngấm ngầm xuyên qua quần áo, những hạt mưa bên ngoài khung cửa sổ rơi xiên xiên qua những tán lá cây, một dòng sông đang trãi mình trong mưa đầy vẻ cam chịu… tất cả tạo nên một cảm giác buồn buồn, nằng nặng khó tả. Tôi và vợ lại thường chọn một quán nằm bên kia đập đá, lấy tên một loài hoa. Quán này nằm lọt thỏm trong một khu vườn thật lớn ở Vỹ Dạ. Có lẽ chỉ có những kẻ đang yêu mới chọn quán này để ngồi vào ngày mưa vì chỗ ngồi hoàn toàn không có tường vách gì cả, trên đầu là một mái nhà lợp tranh. Gió thổi xuyên qua cây cối trong vườn làm lạnh thấu xương nhưng hai đứa hầu như không để ý gì cả! Sau này có những lúc nằm trong phòng cư xá ở Manchester, nhìn ra bên ngoài cửa sổ là bầu trời tháng 11 cũng xám xịt, cũng lạnh cóng và những hạt mưa cũng rơi xiên xiên, xiên xiên tôi thấy nhớ nhà nhớ Huế kinh khủng!

Càng gần tới Tháng Giêng Âm lịch thì mưa nhỏ dần nhưng vẫn còn dai dẳng lắm. Mưa làm cho cái lạnh càng da diết; ngược lại những cơn gió mùa Đông Bắc lại làm cho mưa có vẻ ẩm ướt hơn. Tôi nhớ như in những hôm gò lưng trong mưa lạnh đạp xe qua cầu Tràng Tiền đưa đón người yêu đi học. Gió thổi ngược vào người làm chiếc xe nặng trịch, chiếc áo mưa không đủ che cho hai ống quần và cổ áo nên làm mình lạnh thêm. ‘Khổ’ là thế mà vẫn cứ vui vẻ tự nguyện làm ‘công tác’ này trong suốt mấy năm cho đến khi cưới nhau về ở một nhà. Càng về cuối mùa mưa – trước và sau Tết một chút – thường có những cơn mưa phùn, mưa bụi. Đối với những kẻ lãng mạn thi một trong những cái thú là rảo xe qua những con đường nhỏ rợp bóng cây quanh Đại Nội hoặc dọc theo hai bờ sông Hương dưới cơn mưa bụi này để cảm nhận được cái tiết trời lúc giao mùa này.

Rồi một buổi sáng nào đó ta thức dậy, nhìn ra cửa sổ thấy bầu trời quang đãng hẳn. Không khí như nhẹ hẳn lên. Cây cối như cũng tỉnh ngủ hẳn ra cùng mình. Phía Đông dần dần hén lên một chút nắng. Ai đó dưới nhà nói: “A! Ngày ni nắng rồi! Tết ni mà ông (Trời) nắng cho vài ba ngày để đi thăm bà con thì sướng biết mấy!”. Cả xóm tục tục sửa soạn, lôi áo quần, mền mùng ra phơi hết cho kịp nắng. Ừ! Hình như sắp hết mùa mưa rồi thì phải.

nguồn A.T

Alexandre de Rhodes

Alexandre de Rhodes

quoc-ngu-2

Alexandre de Rhodes (phiên âm tiếng Việt là A-Lịch-Sơn Đắc-Lộ hay Cha Đắc Lộ,

A-lếc-xăng Đơ-rốt; 15 tháng 3 năm 1591 – 5 tháng 11 năm 1660)

là một nhà truyền giáo dòng Tên người Avignon và một nhà ngôn ngữ học.

Ông đã góp phần quan trọng vào việc hình thành chữ quốc ngữ Việt Nam hiện đại

bằng công trình Tự điển Việt-Bồ-La, hệ thống hóa cách ghi âm tiếng Việt bằng mẫu tự La tinh.

GiaoSiDacLo2 (1)

Xem tiếp tiểu sử tại Wikipedia https://vi.wikipedia.org/wiki/Alexandre_de_Rhodes

Kỷ niệm 354 năm qua đời của linh mục Alexandre de Rhodes (hay còn gọi là cha Đắc Lộ),

người đã khai sinh ra chữ Việt cho chúng ta đang sử dụng .

Xin cám ơn Người đã cho chúng ta biết được những mặt chữ tiếng Việt và

từ đó chúng ta không còn lệ thuộc vào chữ viết của giặc Tàu nữa .

Cha Đắc Lộ, một nhà truyền giáo vĩ đại của Giáo hội Công giáo Hoàn vũ nói chung và của Giáo hội Công giáo Việt Nam nói riêng,

„Khi cho Việt Nam các mẫu tự La Tinh, Alexandre de Rhodes đã đưa Việt Nam đi trước đến 3 thế kỷ“.

Năm 1651 khi chính thức xác định mẫu tự, bằng cách cho ra đời tại Roma nơi nhà in Vatican,

quyển tự điển đầu tiên và các sách đầu tiên bằng chữ Quốc ngữ,

cha Đắc Lộ đã „giải phóng “ nước Việt Nam khỏi nô lệ giặc Tàu .

Thật vậy, giống như Nhật Bản và Triều Tiên, người Việt Nam luôn luôn sử dụng chữ viết của người Tàu và bị nô lệ vì chữ viết này. Chỉ mới cách đây không lâu, người Triều Tiên mới chế biến ra một chữ viết riêng của họ. Còn người Nhật thì, sau nhiều lần thử nghiệm, đã phải bó tay và đành trở về với lối viết tượng hình biểu ý của người Tàu.

Trong khi đó, người Tàu của Mao Trạch Đông đang tìm cách dùng các mẫu tự La Tinh để chế biến ra chữ viết của mình, nhưng cho đến nay vẫn chưa thành công. Vậy mà dân tộc Việt Nam, nhờ công ơn của cha Đắc Lộ, đã tiến bộ trước người Tàu đến 3 thế kỷ.

Với hy vọng có thể tìm được nơi linh mục trở về với cát bụi, chúng tôi, đoàn Việt Nam đang công tác tại Iran đã đến Isfahan – thành phố cổ cách Teheran 350 km về phía Nam. Đó là một ngày đầu năm 2011, một tuần sau lễ Giáng sinh.

Quảng trường Naghsh-i Jahan của Isfahan là một trong những quảng trường lớn nhất địa cầu với kiến trúc tiêu biểu Hồi giáo đã được UNESCO công nhận là Di sản văn hóa nhân loại. Tại thành phố này, Alexandre de Rhodes đã sống những năm cuối đời. Mặc dù trước đó, phần đời chính của ông là ở Việt Nam.

Chúng tôi đến Isfahan vào một ngày mùa đông se lạnh nhưng tràn ánh nắng. Hỏi đường đến một nhà thờ Công giáo nào đó, chúng tôi được người dân chỉ dẫn tận tình. Điểm chúng tôi đến là nhà thờ Vank, nhà thờ thiên chúa lớn nhất Isfahan.

Qua giây phút ngạc nhiên trước đoàn khách Việt Nam, cha xứ nhà thờ nồng nhiệt đón tiếp chúng tôi “ hồ hởi “ . Trước nay, hiếm có du khách Á đông nào, nhất là từ Việt Nam xa xôi tới nơi đây. Ông nhiệt tình dẫn chúng tôi đi “ tham quan “ và nói về lịch sử nhà thờ.

Nằm trong thế giới Hồi giáo, nhà thờ có kiến trúc bề ngoài đặc trưng Hồi giáo, nhưng vào bên trong, với các tranh và tượng Thánh đầy ắp khắp các bức tường, cứ ngỡ như đang ở một nhà thờ nào đó ở Roma hay Paris.

Cha xứ càng ngạc nhiên hơn khi chúng tôi hỏi về giáo sĩ Alexandre de Rhodes – người đã mất cách đây hơn 350 năm. Nhà thờ Vank có một thư viện lớn, lưu trữ nhiều tư liệu quý giá. Cha xứ nói người vào thư viện tìm kiếm. Lát sau, một thanh niên to khỏe khệ nệ mang ra một cuốn sổ dày cộp, to chừng nửa cái bàn, bìa bọc da nâu ghi chép về các giáo sĩ đã làm việc và mất tại đây. Ngạc nhiên và vui mừng tột độ, cha và chúng tôi tìm thấy dòng chữ ghi Alexandre de Rhodes mất năm 1660.

Như vậy, không nghi ngờ gì nữa, chính tại nhà thờ Vank này, cha Đắc Lộ đã sống và làm việc những năm cuối đời.

Chúng tôi hỏi: “Thưa cha, liệu có thể tìm thấy mộ của Alexandre de Rhodes ở đâu không?”.

Cha xứ tận tình chỉ đường cho đoàn khách đặc biệt tới Nghĩa trang Công giáo ở ngoại ô thành phố.

Nghĩa trang nằm dưới chân đồi.

Các ngôi mộ nằm êm mát dưới tán rừng thông, tùng, bách mênh mông, vắng lặng.

Lạ một điều, nghĩa trang Công giáo nhưng không thấy một cây thánh giá nào.

Chia nhau đi các ngả tìm kiếm, lần mò hồi lâu, chúng tôi reo lên khi thấy ngôi mộ có ghi rõ tên Alexandre de Rhodes.

Mộ ông nằm bên cạnh hai ngôi mộ khác thành một cụm ba ngôi. Gọi là mộ, nhưng không đắp nổi như ở Việt Nam.

Đó chỉ là tảng đá lớn nằm nghiêng nửa chìm, nửa nổi trên mặt đất. Dù đã trải qua mưa nắng, biến động cuộc đời hơn ba thế kỷ, chữ khắc trên tảng đá còn khá rõ nét.

Trong ánh nắng ban trưa, chúng tôi kính cẩn nghiêng mình trước ngôi mộ,

ai cũng thấy dâng lên trong lòng mình những cảm xúc bâng khuâng khó tả.

Tem_Alexandre_de_Rhodes

2- CHỮ QUỐC NGỮ VÀ CHA ĐẮC LỘ

Trong cuốn Giáo sử 1, Linh Mục Phan Phát Hườn đã từng dày công nghiên cứu công trình truyền bá Phúc Âm qua ngôn ngữ mà các Vị Thừa Sai bắt gặp khi chuyển đạt tư tưởng hầu giúp dân bản xứ lĩnh hội lời Chúa được dễ dàng. Chính các Ngài đã mò mẫm học tiếng bản xứ để rồi phát minh ra một loại mẫu tự mới dể viết hơn. Đó là tài năng phi thường nhờ vào sức Thiêng nên các Ngài mới làm được…

Mời xem bài nguồn gốc Chữ Quốc Ngữ bên dưới do Cố Linh Mục Phêrô Phan Phát Hườn

chuyển đạt qua Cuốn Giáo Sử 1 do Ngài thực hiện…

***

Chử Quốc ngữ không phải được phát sinh do Giáo sĩ Alexandre De Rhôdes, nhưng Ngài đã khảo cứu từ 2 quyển tự điển chỉ viết bằng tay; cuốn thứ nhất là tự điển Bồ-Việt (Portuguese-Vietnamese) do nhà truyền giáo Antonio Barbosa soạn và quyển thứ hai là tự điển Việt-Bồ (Vietnamese-Portuguese) do Giáo sĩ Gaspar d‘ Amiral thực hiện, nhưng cả hai đều chỉ viết bằng tay;

Vị Thừa sai Alexandre De Rhôdes đã hoàn thiện hệ thống chuyển tả (transcription).

Ngài nói : „Đây không phải là công việc dễ dàng“. Quyển nầy được in tại Roma .

Quyển thứ hai là cuốn Văn phạm Việt Nam và cuốn thứ ba là sách Giáo lý (Catechism) gồm 324 trang

bằng song ngử Việt-Latin cũng đều in tại Roma vào khoảng năm 1651, 1652.

Các Ngài đã dùng 23 mẫu tự Latin để làm thành chử Quốc Ngữ

gồm A B C D E F G H I J K L M N O P Q R S T U V X Y,

không có chử J W Z.

Sau nầy các nhà ngôn ngữ học điều chỉnh đã loại bỏ thêm chử F.

Ngoài ra còn thêm các mẫu tự Ă Â Đ Ê Ô Ơ Ư và 5 dấu: sắc, huyền, hỏi, ngã, nặng; như vậy trong chử Quốc Ngử có 29 mẫu tự: A Ă Â B C D Đ E Ê G H I K L M N O Ô Ơ P Q R S T U Ư V X Y.

Xin trích một đoạn trong quyển sách Giáo Lý (Catechism) do Giáo Sĩ Đắc Lộ biên soạn được ấn loát tại Rome dày 324 trang. Đây là cuốn sách văn xuôi đầu tiên của nền văn hoá Việt Nam và là nền móng cho sự điều chỉnh để trở nên hoàn hảo hơn sau nầy:

“ Dies Primus (Tiếng Latin) Ngày Thứ Nhít.

Ta cầu cù đức Chúa blời giúp ức cho ta biết tỏ tuàng đạo Chúa là nhưàng nào, vì bậy ta phải…ở thế nầy chẳng có ai foú lâu, vì chưng kẻ đến bảy tám mươi tuổi chẳng có nhèo, vì bậy ta nên tìm đàng nào cho ta được foú lâu, là kiếm … foú bậy, thật là viẹ người cuến tử, khác phép thế gian nầy, dù mà làm cho người được phú qúi… chẳng làm được cho tangày fau.“

Phần có 3 dấu chấm… là chử qúa mờ, không thể đọc được.

Qua đoạn văn trên, chúng ta thấy có sự khác biệt khi Giáo Sĩ bắt đầu viết chử Quốc Ngử và bây giờ.

Thứ Nhít Thứ Nhứt

Cù Cùng

Ức Sức

Blời Trời

Tỏ Tuầng Tỏ Tường

Bậy Vậy

Việ Việc

Cuên Tử Quân Tử

Foú Sống

Ngày Fau Ngày Sau

Về sau, Giám Mục Taberd, Linh Mục Ravier, Grenibrel, Cordier, Ông Huỳnh Tịnh Của và Pétrus Trương Vĩnh Ký đã điều chỉnh lại cho hoàn hảo.

Năm 1838, Giám Mục Taberd đã soạn quyễn tự điển Việt -La và La-Việt gồm 732 trang.

Năm 1888, ông Pétrus Trương Vĩnh Ký, người rành tiếng Latinh, Hy Lạp, Pháp, Anh, Tàu, Nhật Bản đã cổ vũ cho việc dùng chử Quốc Ngử thay tiếng Nôm vì rất khó viết, khó học, chỉ có 5% người dân biết viết, biết đọc !

Năm 1898, Linh Mục Genibrel soạn quyễn tự điển Pháp-Việt.

Ông Huỳnh Tịnh Của (1834-1907) đã soạn quyển tự điển Việt đầu tiên, đây là nền móng cho những loại tự điển nầy về sau

Vào năm 1931, nhà sách Khai Trí đã cho phát hành cuốn tự điển La-Việt gồm 1272 trang, đây là cuốn đầy đủ nhất từ trước đến nay.

Năm 1934, Giáo Sĩ Cordier cũng đã ấn hành cuốn tự điển Pháp-Việt.

Chử Quốc Ngữ có những ưu điểm mà tiếng Anh không có; mổi chử, dù dài, vẫn phát 1 âm, ví dụ chử „nghiêng“ có tới 7 mẩu tự, nhưng chỉ phát 1 âm và người nghe hiểu và viết lại được liền, không như tiếng Anh, mỗi lần xưng tên, phải đánh vần, người đối diện mới biết, rất bất tiện, nhất là khi nói trên điện thoại.

Về cách phát âm 5 dấu sắc huyền hỏi ngã nặng thì với người ngoại quốc rất khó, khó như người Việt đã trên 18 tuổi sang Hoa Kỳ, lưởi đã cứng, dù nói tiếng Pháp lưu loát, khi nói chuyện với Mỹ, đôi khi phải dùng động từ quơ, quơ cả hai tay !

Cô Ỷ Lan làm việc tại Phòng Thông Tin Phật Giáo thuộc PGVNTN Văn Phòng II Viện Hoá Đạo Hải Ngoại tại Paris đã đưa ra nhận xét trong tiếng Việt có những cái thật vô lý:

Anh Không Quân bay giữa bầu trời thì lại không có quần (Không Quần),

rủi có chuyện gì xảy ra phải búng dù, người bên dưới nhìn lên, coi kỳ lắm!

Trái lại anh Hải Quân ở ngoài biển khơi phải ăn mặc cho thoáng hơn để bơi khi hữu sự, thì lại mặc hai quần (Hải Quân).

Điều nầy chứng tỏ cách phát âm 5 dấu của tiếng Việt rất khó đối với người ngoại quốc và các cháu người Việt ở thế hệ hai tại Hoa Kỳ khi nói tiếng Việt, đôi khi người nghe không thể hiểu được vì bị trở ngại lúc phát âm 5 dấu nầy không chỉnh!

Trong tiếng Anh và Tiếng Việt có sự trùng hợp lý thú, đó là động từ cắt,cut; đồng nghĩa, đồng âm và chử dài nhất trong tiếng Anh cũng chỉ phát ra 1 hoặc 2 âm, chử smiles, những nụ cười, dài hơn 1 mile !

Năm 1618 từ Macao hai vị Thừa sai Pedro Marquez và Christoforo Borri đến Trung phần Việt Nam, sau đó các Ngài đến Quảng Nam và nói với Thống đốc sở tại rằng lúc 11 giờ khuya ngày 19-12-1620 sẽ có nguyệt thực nhưng Thống đốc không tin vì nhà Thiên văn đã không trình cho Chúa Nguyễn Phúc Nguyên biết. Thời bấy giờ người Việt Nam tin rằng nguyệt thực là do rồng nuốt mặt trăng, bởi thế Vua truyền lệnh cho dân bắn súng, đánh chiêng, trống, phèng la để đuổi rồng. Trước 11 giờ khuya, dân chúng tụ tập tại điểm hẹn và qủa là nguyệt thực đã xảy ra, Thống đốc bèn ra lệnh bắn súng , đánh chiêng trống phèng la đuổi rồng. Từ đó Cha Borri rất có uy tín.

Vào ngày 21-5-1621 Nhà Thiên văn của Chúa Nguyễn Phúc Nguyên thông báo sẽ có nhật thực, Cha Borri cũng xác nhận điều nầy nhưng Ngài qủa quyết với Thống đốc rằng ở Việt Nam sẽ không thấy hiện tượng nầy, do vậy ông tin tưởng vào Cha Borri mà không thông báo lệnh đuổi rồng của Chúa Nguyễn cho dân Quảng Nam. Đúng 3 giờ chiều ngày 21-5-1621, Vua và Quan Triều đình ra sân xem nhật thực, đợi hoài mà không thấy rồng xuất hiện nuốt mặt trời, Nhà Thiên văn phải xin lỗi và hứa ngày mai cùng giờ rồng sẽ đến. Cũng đúng 3 giờ chiều ngày hôm sau Vua Quan lại ra sân lần thứ hai nhưng rồi rồng lại lỗi hẹn. Chúa Nguyễn Phúc Nguyên nỗi giận lấy lại đất đã cấp phát trước đây và phạt qùy gối để đầu trần ngoài sân …

Năm 1627 Giáo sĩ Đắc Lộ là người đã tặng đồng hồ qủa quýt và cuốn hình học cho Chúa Trinh Tráng ở Đàng Ngoài.

Vào năm 1642, Chúa Nguyễn Phúc Lan ở Đàng Trong (lúc đó bản đồ Việt Nam mới đến Phú Yên) mời Giáo Sĩ vào cung điện dạy môn đại số, sau khi Giáo Sĩ tặng Chúa vài đồng hồ qủa quýt, nhưng ban đêm lại giảng đạo, bị Chúa đuổi ra khỏi thành phố Huế, phải chạy vào Đà Nẳng.

Giáo Sỉ là con người thông minh, đẹp trai mà chẳng được Công Chúa nào tỏ tình như Công Chúa Mai Hoa dưới thời Hậu Lê đã ngỏ ý muốn cầu hôn với Linh Mục Ordonez de Cevallos và Chúa Trịnh Tráng cũng đã mời Giáo Sĩ Baldinotti thuộc Dòng Tên định cư luôn !

Có người hỏi thời Vua Tự Đức, Giám Mục nào đã xây dựng trại cùi để cứu giúp kẻ cùng khổ bị xã hội ruồng bỏ ?

Xin thưa đó là Giám Mục Retord cai quản giáo phận Hànội, Ngài đã xây cất 20 căn nhà tại Vĩnh Trì vào năm 1851,

bốn năm sau khi Vua Tự Đức lên ngôi (1847-1883) để làm bệnh viện cho người cùi xấu số !

Đến năm 1930, Cha Jean Cassaigne đã thành lập trại cùi tại Di Linh, Lâm Đồng.

Ngài bị lây bệnh và mất tại đó sau khi làm Giám Mục Địa Phận Sàigòn.

Trong năm 1971 đã có tới 6189 Nữ Tu phục vụ tại 41 bệnh viện với 7000 bệnh nhân,

239 trạm phát thuốc miển phí, 36 nhà bảo sanh, 9 trại cùi với 2500 bệnh nhân, 82 cô nhi viện với 11.000 em và 29 nhà dưởng lảo.

Các Nữ Tu dòng Thánh Phao Lô đã lăn xả vào phục vụ tại các Viện Bào Lao.

Các Sư Huynh dòng Lasan đã giáo dục, đào tạo nhiều thanh niên ưu tú, nhiều nhân tài,

các vị lãnh đạo nhiệt tâm phục vụ cho quê hương, dân tộc.

Tất cả đều nằm trong chính sách cứu nhân, độ thế của Vatican

*** Những chất thuốc của cây xoan

Võ Quang Yến

hoa xoan

Xoan tây trước bến bao lần đỏ
Lệ nhỏ hai lần chàng có hay ?
Lưu Trọng Lư

Soạn xong bài viết, tôi chạy tìm một cây xoan để chụp hình so sánh với cây sầu đâu đã thấy ở trên bờ sông An Cựu. May mắn quá, ở Paris tôi bắt được một cây, và là cây độc nhất, ở Jardin des Plantes. Cây to lớn gần như cổ thụ nên khó so sánh với cây ở Huế non tơ mảnh khảnh. Hôm ấy lại vào xuân, chưa có hoa, chỉ còn trái trăng trắng lúc nhúc tô điểm thân cành trơ trụi đen thui, nổi bật trên nền trời xanh thẳm trông cũng ngoạn mục. Lẽ tất nhiên, tôi đợi đầu hè trở lại thì chiêm ngưỡng được những chùm hoa tím tươi thắm không khác gì những hoa sầu đâu. Thảo nào bên ta thường lẫn lộn xoan với sầu đâu, trong dân gian đã đành mà ngay cả ở trong sách vở. Theo Gs Đỗ Tất Lợi, xoan là loại cây mọc hoang bên nước ta nhưng cũng được trồng để lấy gỗ làm cột nhà, đồ dùng. Về mặt chữa bệnh, hột xoan được đem làm thuốc với tên khổ luyện tử. Người ta dùng vỏ thân và vỏ rễ gọi là khổ luyện căn bì để chữa giun sán ; lá sắc diệt được côn trùng. Người ta còn để lá xoan vào chum đựng các loại đậu để tránh mọt, hoặc lấy nước tắm súc vật (trâu, bò, ngựa) để chữa ghẻ (ĐTL).
Tên khoa học của xoan là Melia azedarach Linn., thuộc họ Xoan Meliaceae (khác với cây sầu đâu Azadirachta indica A. Juss tức Melia azadirachta Linn. hay Melia indica cùng họ) (PHH). Ngoài Việt Nam, xoan còn mọc ở các nước châu Á, tràn qua cả châu Phi, châu Úc, châu Mỹ, vì vậy nó mang nhiều tên tùy theo xứ : kulen ở Trung Quốc, sendan hay ochi ở Nhật Bản, dharek hay dhrek ở Ân Độ, bakain ở Pakistan. Âu Mỹ gọi nó là chinaberry, China tree, chinaberry tree, bead tree, Persian lilac tree hay lilas du Japon, lilas des Indes, laurier grec, faux sycomone (ĐTL). Gần đây, tôi được đọc bài của bà Nguyễn Thị Hồng Nhung (noithatkhaihong.com.vn) xếp cây xoan làm 4 nhóm : xoan ta (còn gọi xoan trắng, có khi xoan lai), xoan tía (gỗ đỏ, còn gọi sầu đâu, sầu đông), xoan đào (tức xoan rừng, màu hồng xẩm), xoan chụi hạn (tức là cây neem), không phân biệt rõ ràng sầu đâu và xoan. Tuy không được khảo cứu sâu rộng như cây sầu đâu, cây xoan cũng đã được nhiều phòng thí nghiệm đặc biệt chú š vì cây có nhiều hoạt chất hay ho mà quan trọng nhất vẫn là azadirachtin hay ấn khổ luyện tử tố như ở cây sầu đâu. Chất nầy có khả năng xua đuổi hoặc phòng ngừa sâu bọ phá hoại, tác dụng lên nền sinh lš thần kinh và cơ thể của chúng, ngăn chặn hay phá hủy quá trình biến thái của nhộng trần, cuộc sinh trưởng của sâu lớn, giảm hạ hay ức chế việc đẻ trứng của sâu cái. Trong phòng thí nghiệm, nhiều loại M. azedarach đã được khảo xét, phần lớn thuộc var. japonica Makino, nhưng cũng thấy có var. australasica, var. subtripinnata, những giống mọc ở Ai Cập, Jamaique, Okinawa bên Nhật Bản, Cucurova bên Thổ Nhĩ Kỳ hay Porec bên Nam Tư.

Độc tính của xoan

Trong dầu hột xoan, nhiều hóa chất dễ bốc hơi đã được xác định : pinen, menthen, camphen, cymen, cadinen, terpinolen cùng linalool, citronellol, cadinol, guaiacol, cresol, phenol. Một nhóm hóa chất thường gặp là steroid, phần lớn ở rễ, có khi ở trái : sitosterol, campesterol, azedarachol, campestenon, stigmastenon. Những terpenoid được tìm ra trong đủ bộ phận của cây : kulinon, kulacton, kulolacton trong vỏ, melianon, melianol, melianodiol trong trái. Những acid khác như vanillic, cinnamic acid, những alcool như lupeol, tricosanol, triacontanol, những ceton như cycloartanon, cycloeucalenon, bakalacton, cũng đã được tìm ra. Tuy những amin acid không có nhiều trong dầu hột xoan, hột chỉ chứa 10,25% protein và lượng đạm N trong protein 13,9%, người Ấn Độ dùng hột xoan làm nguồn amin acid trong thức ăn. Quan trọng là những limonoid : những azedarachin và các dẫn xuất acetyl, đã từng thấy ở sầu đâu, được phát hiện trong vỏ cành, vỏ rễ cùng những trichilin và các dẫn xuất acetyl, diacetyl, những meliacarpinin và các dẫn xuất. Một phần lớn các hóa chất có mặt đưới dạng glycosid : sitosterol glucosid trong trái, trong rễ, flavon rhamnopyranosyl glucopyranosid trong vỏ cành, quercetin rutinnosid trong lá, meliacdien xylopyranoid trong hột, apigin galactopyranosid trong rễ,

Ở nước ta, ai cũng biết sầu đâu và xoan mang chất độc (ĐTL). Nhiều cuộc thực nghiệm đã chứng minh cho cả người lẫn thú vật (12). Một phần chiết từ cây gây chết cho heo con, bò con, thỏ và nhiều loại gia cầm khi tiêm vào hay cho ăn vì gây hỗn loạn, chảy máu trong gan, thận, ruột, dạ dày (6). Con nít chơi nuốt hoa, lá, vỏ cây, hay thường là hột xoan thì buồn nôn, oẹ mửa, ỉa chảy, run giật và sau vài ngày có thể chết. Một nhóm khảo cứu viên ở Canberra bên Úc đã chiết xuất luôn đuợc bốn melatoxin từ trái cây. Những chất nầy không bền, gặp chút acid là tan hủy cũng như khi các hóa sư thử làm ròng hay phân tích qua silice. Vì vậy năng suất chiết xuất rất kém (0,5%), nhưng họ có đủ số lượng để thử lên heo và xác định các chất độc ấy đã gây ra những triệu chứng thần kinh dữ dội và giết chết heo (7) Tuy vậy, ác tính nầy, cũng như mọi chất độc khác, có thể có ích nếu biết dùng đúng liều lượng và biết hướng vào mục tiêu. Một phần chiết từ cành, vỏ rễ đã tỏ ra rất độc đối với tế bào khối u của người. Chiết từ vỏ cành, những chất hydroxy amoorastaton, hydroxy amoorastatin, acetoxy amoorastatin rất độc đối với các tế bào u tuyến ung thư thượng bì ở phổi A-549, buồng trứng SK-OV-3, ruột già HCT-15 cũng như melanoma ác tính SK-MEL-2 (15). Một phần chiết từ vỏ rễ trong ấy người ta đã tách chiết ra những dẫn xuất acetyl tigloyl melacarpinin, deacetyl và isobutyl sendanin cùng hydroxy amoorastin thì lại rất độc cho tế bào bạch cầu lympho P388 (16).

Bảo vệ lúa trồng

Đằng khác, chất meliacin gây một sức chống cản sự nhiễm trùng của virus vào tế bào động vật có vú (10), ức chế cuộc sinh sản nhiều loại virus thường tác động lên chân và miệng FMDV, poliovirus BHK-21(17) và cả những virus VPr, VSH-1, VSH-2, Junin, Tacaribe, Sindbis (13). Meliacin, chiết từ lá, là một peptid có một trọng lượng phân tử khoảng 2200-2300, chỉ gồm toàn những acid béo. Một bản báo cáo khá xưa có nói đến một phần chiết bằng nước có khả năng làm thuyên giảm một cơn hen (1). Đấy là chưa nói đến khả năng chống nhiệt, chữa hủi, eczema cùng những hỗn loạn khác trong cơ thể (7). Người ta cũng có báo cáo về chất vanillic acid tác dụng lên Ascaris suilla và Hymenolepis nana chữa được giun, sán (2). Còn genudin thì ức chế Plasmodium falciparum nên có thể dùng để chữa trị sốt rét (12). Như vậy, linonoid và cả glycosid (9)đều có tác dụng chống khuẩn. Nhưng quan trọng nhất của các hoạt chất cây xoan, cũng như cây sầu đâu, là trừ diệt sâu bọ. Các limonoid như meliacarpinin, trichlin, azedarachin cùng các dẫn xuất đều được đem thử lên nhiều loại sâu, đặc biệt Spodoptera exigua và S. eridania. Những meliacarpinin mạnh nhất vì hoạt tính đã diễn biến từ 50 ppm, tương đương với nồng độ 1micron/cm2, trong lúc những trichlin phải lên đến 200 ppm, còn những azadirachtin thì vào khoảng 200-4000 ppm. Suy ra, về mặt cấu trúc, những limonoid có công hiệu nhất là những loại apo-euphol mang vòng epoxid C14-C15 và có cầu lactol C19-C29. Sự kiện nầy đã được chú ý trong cuộc khảo cứu chữa trị ung thư (12). Ngoài ra melianoniol, chiết từ lá, phá rầy việc ăn uống của sâu bắp cải Pieris repae; salanin, ochninilid B, azadiron, melianon, cũng như một phần chiết từ lá ức chế cuộc sinh trưởng và ngăn chận sự biến thái của ấu trùng sâu đậu Epilachna varivestis ; còn azedarachol từ vỏ rễ thì lại tác động lên ấu trùng sâu Ajrotis sejetum.

Nói chung, ngoài azadirachtin, dầu hột xoan chứa đựng meliantriol (4), có lẽ là chất thuốc cần yếu nhất cho một nước trồng lúa như nước ta vì nó diệt được sâu đục lúa Tryporyza incertulas cùng các sâu Sogatella furcifera, Nilaparvata lugens. Kỹ nghệ thuốc trừ sâu đã bán các loại thuốc JAP-821, JZAP-822 có khả năng bảo vệ cây lúa (8). Riêng genudin, chiết xuất từ gỗ thân cây, tác dụng rất hiệu quả lên các sâu ăn lúa Heliothis zea và Spodoptera frugiperda (12). Bột hột xoan cũng được dùng để bảo vệ lúa mì chống sâu Trogoderma granarium (4). Dùng nước chiết, người ta đạt được một chất khử nấm, chống sâu thuốc lá Peronospora tabacina(3). Từ nấm Penicillum janthinellum mọc trong trái xoan nhiều hóa chất đã được chiết xuất : emodin, jathinon, đặc biệt citrinin ức chế Leishmania phát triển (20). Còn từ nấm Penicillium mọc trong vỏ rễ, những chất preaustinosid A, B có tính chất kìm vi khuẩn trên Escherichia coli, Staphylococcus aureus, Pseudomonas aeruginosa, Bacillus sp. (19). Phần chiết với methanol cành xoan rất hiệu nghiệm chống các trùng Helicoverpa armigera, Earias vittella, Plutella xytostella (18). Lá và vỏ cây đã được dùng trong cuộc chữa trị các bệnh phong hủi và tạng lao (14). Một văn bằng sáng chế Trung Quốc cho trộn 65-75% chất độc của xoan với nicotin và stemonin để làm thuốc bảo vệ cây bông và rau cỏ, cam đoan không độc cho người và gia súc (11). Tính chất khử nấm của xoan cũng được khai thác làm dầu đánh bóng áo và quần da bên Nhật Bản. Cũng nên biết gỗ cây xoan có thể dùng làm giấy hay tơ vải. Người ta theo dỏi tiến triển của độ dày màng tế bào cũng như kích thước ruột, sợi trong vòng gỗ cây theo mùa để sử dụng đúng lúc. Như sầu đâu, cây xoan đã cống hiến một loạt hóa chất có tính chất sinh học hay ho có thể áp dụng vào y khoa, canh nông hay kỹ nghệ.

Cây xoan Tứ Xuyên

Trong số các cây xoan, có một loại mọc ở vùng tây bắc nước ta (Sơn La, Lai Châu,..) và cả ở miền mam Trung Quốc nên đưọc gọi là xoan Tứ Xuyên. Tên khoa học của nó là Melia toosendan Sieb.et Zucc., người Trung Quốc gọi lian ye (cây) và chuan lian zi (thuốc chiết từ trái), tương đương với tên sen ren shi của Nhật Bản. Một vài hóa chất trong cây đã được thấy với xoan và sầu đâu : isochuanliansu từ vỏ, melianon, diacetyl sendanin từ trái, trichlin với hai dạng I và J từ vỏ cành. Những chất khác là toosendanin từ vỏ, toosendansterol A, B, melia ionosid A, B, toosendanosid từ lá, acetyl toosendantriol, methyl toosendapentol từ trái.

Tác dụng ngừa ăn, chống sâu bọ của toosendanin đã được khảo sát trên sâu Spodopstera litura (21). Đem so sánh với azadirachtin trên sâu đục cành Scirpophaga incertulas thì toosendanin có phần mạnh hơn, trái lại ít công hiệu bằng khi thử lên sâu đục lúa Ostrinia furnacalis. Dù sao, hột xoan có thể dùng trong canh nông để chống các sâu phá hoại lúa như Nilaparvata lugens, Orseolia oryzae và cam, chanh như Diaphorina citri, Panonychus citri (21). Một phần chiết từ vỏ chứa toosendanin đã được thử nghiệm với kết quả khả quan lên các sâu phá hoại hột dự trữ như Cryptolestes ferrugineus, Sitophilus oryzae, Tribolium castaneum (100). Cũng như cây xoan, một phần chiết từ trái đã tỏ ra rất độc hại cho tế bào ung thư vú và MCF-7 (27). Chất diacetyl sendanin chiết từ trái đã đuợc khảo sát về mặt chống ung thư. Các tế bào SF-539 và PC-3 ở CNS và tiền liệt tuyến rất nhạy cảm và so với adriamycin, deacetyl sendanin ức chế chọn lọc hơn lên cuộc phát triển tế bào ung thư ở người (25). Người ta đã có dùng thuốc chiết từ trái để chữa dạ dày khi bị đau cúm hay giun, sán hoành hành (22). Dầu chiết từ xoan cũng được đem trộn với borneol để rải vào giày, tất chống mùi hôi (26). Bột hột xoan và bột rễ bạch chỉ đã được dùng trong một công thức chữa đau chân (23). Sau cùng, một phần chiết từ hột gồm có alcaloid cũng được trộn với bột đậu nành và vài muối kim loại để làm phân bón (24). Như vậy, cây xoan Tứ Xuyên tuy ít, cũng góp phần vào canh nông, y học, kỹ nghệ như xoan và sầu đâu.

Tất cả các loại cây xoan đều là tài nguyên thiên nhiên sẵn có, đáng được khai thác sâu rộng.

Thông tin Khoa học và Công nghệ 4 1996
Tham khảo
1- B. Natl, Chemical examination of the heartwood of Melia azedarach, J. Sci. Ind. Res. (India) 13B (1954) 740-1

2- T. Tanaguchi, Anthelmintic constituents of Melia azedarach, Osaka Shiritsu Daigaku Igaku Zasshi 9 (1960) 445-6

3- D.B. Campbell, Fungicide from chinaberries, US 3 262,844 (1966) 2tr.

4- P.U. Saramma, A.N. Verma, Efficacy of some plant products and magnesium carbonate as protectants of wheat seed against attack of Trogoderma granarium, Bull. Grain Technol. (3) 9 (1971) 207-10

5- P.R. Zanno, I. Miura, K. Nakanishi, Structure of the insect phagorepellent azadirachtin. Application of PRFT/CWD Carbon-13 Nuclear Magnetic Resonance, J. Amer. Chem. Soc. (7) 97 (1975) 1975-7

6- D.S. Hothi, B. Singh, M.S. Kwatra, R.S. Chawla, A note on the comparative toxicity of Malia azedarach (Drek) berries to piglets, buffalo-calves, rabbits and fowls, J. Res. Punjabn Agric. Univ. (2) 13 (1976) 232-4

7- P.B. Oelrichs, M.W. Hill, P.J. Vallely, J.K. MacLeod, T.F. Molinski, Toxic tetranortriterpenes of the fruit of Melia azedarach, Phytochem. (2) 22 (1983) 531-4

8- J. Hu, J. Yang, L. Chen, Preliminary study on the antifeedant and toxicity properties of chinaberry (Melia azedarach L.) seed oil against major insect pests of rice, Zhongguo Nongyu Kexue (Beijing) (5) (1983) 63-9

9- S.D. Srivastava, Limonoids from the seeds of Melia azedarach, J. Nat. Prod. (1) 49 (1986) 56-61

10- G.M. Andrei, E.B. Damonte, R.A. De Torres, C. E. Coto, Induction of refractory state to viral infection in mammalian cells by a plant inhibitor isolated from leaves of Melia azedarach, Antiviral Res. (4) 9 (1988) 221-31

11- X. Cao, J. Li, M. Du, Insecticidal compositions containing Malia azedarach toxin for crops, Faming Zhuanli Shenqing Gongkai Shuomingshu CN 1,045,684 (1994) 4tr.

12- D.E. Champagne, O. Koul, M.B. Isman, G.G.E. Scudder, G .H.N. Towers, Biological activity of limonoids from the rutales, Phytochem.(2) 31 (1992) 377-94

13- G. Andrei, A.S. Couto, R.M. De Lederkremer, C.E. Coto, Purification and partial characterization of an antiviral active peptide from Melia azedarach L. , Antìviral Chem. Chemother. (2) 5 (1994) 105-10

14- H.C. Kataria, Medicinal plant Melia azedarach used in leprosy control, Otiental J. Chem. (2) 10 (1994) 178-80

15- J.W. Ahn, S.U. Choi, C.O. Lee, Cytotoxic limonoids from Melia azedarach var. japonica, Phytochem. (6) 36 (1994) 1493-6

16- H. Itokawa, Z.S. Qiao, C. Hirobe, K. Takeya, Cytotoxic limonoids and tetranortriterpenoids from Melia azedarach, Chem. Phar. Bull. (7) 43 (1995) 1171-5

17- M.B. Wachsman, C.E. Coto, Susceptibility of picornaviruses to an antiviral agent of plant origin (meliacin), Rev. Argent. Microbiol. (1) 27 (1995) 33-7

18- M. Rani, P. Suhag, R. Kumar, R. Singh, S.B. Kalidhar, Chemical coponents and biologiacl efficacy of Melia azedarach stems, J. Med. Arom. Plant Sci. (4) 21 (1999) 1043-7

19- R.M. Geris dos Santos, E. Rodrigues-Filho, Meroterpens from Penicillium sp found in association with Melia azedarach, Phytochem. (8) 61 (2002) 907-12

20- A.M. Do Rosario Marinho, E. Rodrigues-Filho, M.L.R. Moitinho, S. Lourivaldo, Biological active polyketides produced by Penicillium janthinellum isolated as an endophytic fungus from fruits of Melia azedarach, J. Brazilian Chem. Soc.(2) 16 (2005) 280-3

Melia toosendan

21- S.F. Chiu, The active principles and insecticidal properties of some Chinese plants, with special reference to Meliaceae, Schriftenz. GTZ 161 (1984) 255-61

22- T. Nakanishi, A. Inada, M. Nishi, T. Miki, R. Hino, T. Fujiwara, The structure of a new natural a apotirucallane-type triterpene and the stereochemistry of the related terpenes. X-ray and 13C NMR spectral analyses, Chem. Letters (1986) 69-72

23- S. Qiu, Thermal-insulated onsoles for foot disease control, Faming Zhuanli Shenqing Gongkai Shuomingshu CN 85,106,399 (1986) 6tr.

24- H. Zhang, Manufacture of trace element fertilizers containing amino acids, Faming Zhuanli Shenqing Gongkai Shuomingshu CN 1,069,257 (1993) 6 tr.

25- H.M. Kim, G.T. Oh, S.B. Han, D.H. Hong, B.Y. Hwang, Y.H. Kim, J.J. Lee, Comparative effects of a adriamycin and 28-deacetyl sendanin on in vitro growth inhibition on human cancer cell lines, Arch. Pharmacal. Res. (2) 17 (1994) 100-3

26- D. Jun, Sprays containing Melia toosendan extracts and borneol for foot odor, Faming Zhuanli Shenqing Gongkai Shuomingshu CN 1,089,136 (1994) 5tr.

27- Y.H. Kim, B.Y. Hwang, S.E. Kim, G.T. Oh, J.S. Ro, K.S. Lee, J.J. Lee, Isolation of two limonoids from the fruits of Melia toosendan, Yakhak Hoechi (1) 38 (1994) 6-11

28- Y.S. Xie, P.G. Fields, M.B. Isman, W.K. Chen, X. Zhang, Insecticidal activity of Melia toosendan extracts and toosendanin against three stored-product insects, J. Stored Prod. Res. (3) 31 (1995) 259-65

*** Quốc gia ‘nổi trên mặt nước’

Quốc gia ‘nổi trên mặt nước’ đầu tiên của thế giới sẽ xuất hiện ở Thái Bình Dương.

Dự án quốc gia nổi trên mặt nước đầu tiên của thế giới sẽ nằm tại Thái Bình Dương, ngoài khơi của đảo Tahiti, dự kiến xuất hiện vào năm 2020, và sử dụng loại tiền điện tử có tên Vayron.

alt

Theo  bản dự án, quốc gia nổi sẽ bao gồm thành phố biển với khoảng 300  nhà ở, một số khách sạn, nhà hàng, và văn phòng làm việc. Dự án này cũng tạo ra một quốc gia độc lập với chính phủ có luật pháp riêng.

 

alt

Xem có vẻ khó khả thi, nhưng dự án quốc gia nổi được thiết kế mái xanh bao phủ với các vật liệu địa phương thân thiện môi trường như: tre, gỗ, kim loại, hay nhựa tái chế…

Các kỹ thuật và vật liệu xây dựng của địa phương sẽ pha trộn cùng công nghệ hiện đại nhằm đáp ứng nhu cầu thực tế, đồng thời bảo tồn tính truyền thống.

 

alt

Mặt sàn của công trình làm từ loại bê tông cốt thép đủ độ kiên cố cho những tòa nhà 3 tầng chịu được khoảng thời gian lên tới 100 năm. Theo đại diện từ đơn vị thiết kế dự án, mỗi mặt sàn có chi phí chưa tới 15 triệu USD. Đây là con số tương đương với giá đất ở New York (Mỹ), hay London (Anh).

 

alt

Theo Seasteading Institute, tổ chức phi lợi nhuận có trụ sở tại San Francisco, họ đã phát triển ý tưởng này khi thành lập vào năm 2008. Trong một bài phát biểu diễn ra vào tháng 11/2017, ông Joe Quirk, Chủ tịch Viện Seasteading cho biết: Ông muốn được nhìn thấy hàng ngàn thành phố nổi vào năm 2050, trong đó mỗi nơi có chính quyền quản lý riêng biệt và độc lập.

 

Sau đó, đơn vị này cũng đạt được những thỏa thuận với chính quyền Polynesia thuộc Pháp để xây dựng dự án. Quốc gia nhỏ bé với 118 hòn đảo ở miền nam Thái Bình Dương, dân số chỉ hơn 200.000 người, đã cung cấp cho Viện Seasteading 100 mẫu đất của bãi biển để lên kế hoạch cho dự án.

Ngoài ra, các đảo nổi còn được thiết kế trang trại nuôi trồng thủy sản, cơ sở chăm sóc sức khỏe, trung tâm nghiên cứu Y học, và nhà máy điện cung cấp nguồn năng lượng bền vững. Dự kiến, công trình tiêu tốn khoảng 167 triệu USD.

Hoàng Hà.

Theo DM.   ./

*** Bài Bút Ký Đầy Nước Mắt

ao dai ngoiLiên Thục Hương -Trang Hạ Dịch

 

Những hiểu lầm vô tình nối tiếp, đã làm vấp những bước chân của hạnh phúc. Khi cái thòng lọng của số mệnh bắt ta trả giá, tất cả đã trở nên muộn màng.

  1. Khi đưa mẹ chồng về đây an hưởng tuổi già, ai ngờ đó là gốc rễ sự chia ly của chúng tôi.

Sau khi kết hôn hai năm, chồng tôi bàn với tôi đón mẹ lên ở chung để chăm sóc bà những năm tuổi già. Chồng tôi mất cha từ ngày anh còn nhỏ, mẹ chồng tôi là chỗ dựa duy nhất, mẹ nuôi anh khôn lớn, cho anh học hết đại học. “Khổ đau cay đắng” bốn chữ ấy vận đúng vào số phận  mẹ chồng tôi! Tôi nhanh chóng gật đầu, liền đi thu dọn căn phòng có ban công hướng Nam, phòng có thể đón nắng, trồng chút hoa cỏ gì đó. 

Chồng tôi đứng giữa căn phòng ngập tràn nắng, không nói câu nào, chỉ đột ngột bế bổng tôi lên quay khắp phòng, khi tôi giãy giụa cào cấu đòi xuống, anh nói: 

-“Đi đón mẹ chúng ta thôi!”. 

Chồng tôi vóc dáng cao lớn, tôi thích nép đầu vào ngực anh, cảm giác anh có thể tóm lấy cả thân hình mảnh mai bé nhỏ của tôi, nhét vào trong túi áo. Mỗi khi chúng tôi cãi cọ và không chịu làm lành, anh  thường nhấc bổng tôi lên đầu quay tròn, cho đến lúc tôi sợ hãi van xin  anh thả xuống. Nỗi sợ hãi hạnh phúc ấy làm tôi mê mẩn. 

Những thói quen ở nhà quê của mẹ chồng tôi mãi không thể thay đổi. Tôi thích mua hoa tươi bày trong phòng khách, mẹ chồng tôi sau này không nhịn được bảo: 

-“Bọn trẻ các con lãng phí quá, mua hoa làm chi? Nào có thể ăn được như cơm!” 

Tôi cười: 

-“Mẹ, trong nhà có hoa nở rộ, tâm trạng mọi người cũng vui vẻ”. 

Mẹ chồng tôi cúi đầu cằn nhằn, chồng tôi vội cười: 

-“Mẹ, người thành phố quen thế rồi, dần dần mẹ sẽ quen thôi!” 

Mẹ chồng tôi không nói gì nữa, nhưng mỗi lần thấy tôi mang hoa về, bà 

vẫn không nhịn được hỏi mua hoa mất bao nhiêu tiền, tôi nói, thì bà chép miệng. Có lần thấy tôi xách túi lớn túi nhỏ đi mua sắm về, bà hỏi cái này bao nhiêu tiền cái kia giá bao nhiêu, tôi cứ kể thật, thì bà chép miệng càng to hơn. Chồng tôi véo mũi tôi nói: 

-“Đồ ngốc, em đừng nói cho mẹ biết giá thật có phải đỡ hơn không?” 

Cuộc sống hạnh phúc đã lẳng lặng trỗi những âm điệu không êm đềm. Mẹ chồng tôi ghét nhất là thấy chồng tôi dậy nấu bữa sáng, với bà, làm đàn ông mà phải vào bếp nấu nướng cho vợ, làm gì có chuyện ngược đời đó? Trên bàn ăn sáng, mặt mẹ chồng tôi thường u ám, tôi giả vờ không nhận thấy. Mẹ chồng tôi bèn khua bát đũa canh cách, đấy là cách phản đối không lời của bà. Tôi là giáo viên dạy múa ở Cung  thiếu niên, nhảy múa đã đủ mệt rồi, mỗi sáng ủ mình trong ổ chăn ấm  áp, tôi không muốn phải hy sinh nốt sự hưởng thụ duy nhất đấy, vì thế  tôi vờ câm điếc trước sự phản ứng của mẹ chồng. 

Còn mẹ chồng tôi thỉnh thoảng có giúp tôi làm việc nhà, thì chỉ làm tôi càng bận rộn thêm. Ví như, bà gom tất thảy mọi túi nilông đựng đồ và đựng rác trong nhà lại, bảo chờ gom đủ rồi bán đồng nát một thể,  vì thế trong nhà chỗ nào cũng toàn túi nilông dùng rồi; Bà tiếc rẻ không dùng nước rửa bát, để khỏi làm bà mất mặt, tôi đành phải lén lút  rửa lại lần nữa. 

Có một buổi tối, mẹ chồng tôi bắt gặp tôi đang lén rửa lại bát, bà đập cửa phòng đánh “sầm” một cái, nằm trong phòng khóc ầm ĩ. Chồng tôi khó xử, sau việc này, suốt đêm anh không nói với tôi câu nào, tôi nũng nịu, làm lành, anh cũng mặc kệ. Tôi giận dữ, hỏi anh: 

-“Thế em rốt cục đã làm sai cái gì nào?” 

Anh trừng mắt nhìn tôi nói: 

-“Em không chịu nhường mẹ đi một chút, ăn bát chưa sạch thì cũng có  chết đâu?” 

Sau đó, cả một thời gian dài, mẹ chồng tôi không nói chuyện với tôi, không khí trong gia đình gượng gạo dần. Thời gian đó, chồng tôi cũng sống rất mệt mỏi, anh không biết nên làm vui lòng ai trước. Mẹ chồng tôi không cho con trai nấu bữa sáng nữa, xung phong đảm nhận “trọng trách” nấu bữa sáng. Mẹ chồng tôi ngắm con trai ăn sáng vui vẻ, lại nhìn sang tôi, ánh mắt bà trách móc tôi làm không trọn trách nhiệm của người vợ. Để tránh bị khó xử, tôi đành ăn tạm gói sữa trên đường đi làm. Lúc đi ngủ, chồng tôi hơi buồn trách, hỏi tôi: 

-“Rodi, có phải em chê mẹ anh nấu cơm không sạch nên em không ăn ở  nhà?”. 

Lật mình, anh quay lưng về phía tôi lạnh lùng, mặc kệ tôi nước mắt tủi thân lăn tràn trề. Cuối cùng, chồng tôi thở dài: 

-“Rodi, thôi em cứ coi như là vì anh, em ở nhà ăn sáng được không?”. 

Thế là tôi đành quay về ngồi ở bàn ăn ngần ngại mỗi sáng. Sáng đó, tôi húp bát cháo do mẹ chồng nấu, đột nhiên lợm giọng, mọi thứ trong dạ dầy tống tháo hết ra ngoài, tôi cuống cuồng bịt chặt miệng không cho nó trào ra, nhưng không được, tôi vứt bát đũa (chú thích: người Trung Quốc ăn cháo bằng đũa, không dùng thìa như ở Việt Nam) nhảy  bổ vào toa-lét, nôn oẹ hết. Khi tôi hổn hển thở được, bình tâm lại, thấy mẹ chồng tôi đang khóc lóc than thân trách phận bằng tiếng pha rặt giọng nhà quê, chồng tôi đứng ở cửa toa-lét giận dữ nhìn tôi, tôi há  miệng không nói được nên lời, tôi đâu có cố ý. 

Lần đầu tiên tôi và chồng tôi bắt đầu cãi nhau kịch liệt, ban đầu mẹ chồng tôi ngồi nhìn chúng tôi, rồi bà đứng dậy, thất thểu đi ra khỏi cửa. Chồng tôi hằn học nhìn tôi một cái rồi xuống nhà đuổi theo mẹ. 

  1. Đón chào sinh mệnh mới, nhưng mất đi tính mệnh bà!

Suốt ba ngày, chồng tôi không về nhà, cũng không gọi điện. Tôi đang giận, tôi nghĩ từ ngày mẹ chồng tôi lên đây, tôi đã cực nhục đủ rồi, còn muốn gì tôi nữa? Nhưng kỳ lạ làm sao, tôi vẫn cứ buồn nôn, ăn gì cũng chẳng thấy ngon, thêm vào đó việc nhà rối ren, tâm trạng tôi cực kỳ tồi tệ. Sau đó, một đồng nghiệp bảo tôi: 

-“Rodi, trông sắc mặt cô xấu lắm, đi khám bác sĩ xem nào”. 

Kết quả khám của bác sĩ là tôi đã có thai. Tôi hiểu ra sáng hôm đó vì sao tôi nôn oẹ, trong cảm giác hạnh phúc có xen lẫn chút oán trách, chồng tôi và cả bà mẹ chồng đã từng sinh nở, vì sao họ không hề nghĩ đến lý do ấy? 

Ở cổng bệnh viện, tôi gặp chồng tôi. Mới chỉ ba hôm không gặp mặt, chồng tôi đã trở nên hốc hác. Tôi đáng lẽ định quay người đi thẳng, nhưng trông anh rất đáng thương, tôi không nén được gọi anh lại. Chồng tôi nghe tiếng thì nhìn thấy tôi, nhưng làm như không quen biết,  trong mắt anh chỉ còn sự căm thù, ánh nhìn ấy làm tôi bị thương. Tôi  tự nói với mình, không được nhìn anh ấy, không được nhìn anh ấy, tôi  đưa tay vẫy một chiếc taxi chạy qua. Lúc đó tôi mong muốn làm sao  được kêu lên với chồng tôi một tiếng: “Anh ơi, em sắp sinh cho anh một  đứa con rồi!” và được anh bế bổng lên, quay tròn hạnh phúc, những  cái tôi mơ ước nó không xảy ra, trên chiếc taxi, nước mắt tôi chầm  chậm rơi xuống. Vì sao một vụ cãi nhau đã làm tình yêu trở nên tồi tệ  như thế này? 

Sau khi về nhà, tôi nằm trên giường nhớ chồng, nhớ đến sự căm thù trong mắt anh. Tôi ôm một góc chăn nằm khóc. Đêm đó, trong nhà có tiếng mở ngăn kéo. Bật đèn lên, tôi nhìn thấy gương mặt đầy nước  mắt của chồng tôi. Anh ấy đang lấy tiền. Tôi lạnh lùng nhìn anh, không  nói gì. Anh coi như không có tôi, cầm tiền và sổ tiết kiệm rồi đi. Có lẽ anh đã quyết định rời bỏ tôi thật sự. Thật là một người đàn ông khôn ngoan, tình và tiền rạch ròi thế. Tôi cười nhạt vài cái, nước mắt lại “ồn ào” lăn xuống. 

Ngày hôm sau, tôi không đi làm. Tôi dọn lại toàn bộ suy nghĩ của mình, đi tìm chồng nói chuyện một lần cho rõ. Đến công ty của chồng, thư  ký hơi lạ lùng nhìn tôi, bảo: 

-“Mẹ của tổng giám đốc Trần bị tai nạn xe cộ, đang trong viện.” 

Tôi há hốc mồm trợn mắt, chạy bổ tới bệnh viện, khi tìm được chồng tôi, mẹ chồng tôi đã mất rồi. 

Chồng tôi không nhìn tôi, mặt anh rắn lại. Tôi nhìn gương mặt gầy gò trắng bệnh xanh tái lại của mẹ chồng, nước mắt tôi tuôn xuống ào ạt, trời ơi! Sao lại ra thế này? Cho đến tận lúc chôn cất bà, chồng tôi cũng không hề nói với tôi một câu, thậm chí mỗi ánh mắt đều mang  một nỗi thù hận sâu sắc. Về vụ tai nạn xe, tôi phải hỏi người khác mới biết đại khái là, mẹ chồng tôi bỏ nhà đi mơ hồ ra phía bến xe, bà muốn về quê, chồng tôi càng theo bà càng đi nhanh, khi qua đường, một  chiếc xe bus đã đâm thẳng vào bà… 

Cuối cùng tôi đã hiểu sự căm ghét của chồng, nếu buổi sáng hôm đó  tôi không nôn, nếu chúng tôi không cãi nhau, nếu như… trong tim anh  ấy, tôi chính là người gián tiếp gây ra cái chết của mẹ anh. 

Chồng tôi im lặng dọn đồ vào ở phòng mẹ, mỗi tối anh về nhà nồng nặc hơi rượu. Và tôi bị lòng tự trọng đáng thương lẫn sự ân hận dồn nén tới không thể thở được, muốn giải thích cho anh, muốn nói với anh rằng chúng ta sắp có con rồi, nhưng nhìn vào đôi mắt lạnh lùng của  anh, tôi lại nuốt hết đi những lời định nói. Thà anh đánh tôi một trận  hoặc chửi bới tôi một trận còn hơn, cho dù tất cả đã xảy ra không phải  do tôi cố ý. 

Ngày lại ngày cứ thế trôi đi trùng lặp, chồng tôi về nhà ngày càng muộn. Tôi cố chấp, coi anh còn hơn kẻ lạ. Tôi là cái thòng lọng thắt trong trái tim chồng tôi. Một lần, tôi đi qua một tiệm ăn châu Âu, xuyên qua lớp cửa kính trong suốt kéo dài từ trần nhà xuống sát mặt đất, tôi nhìn thấy chồng tôi ngồi đối diện trước một cô gái trẻ, anh nhè nhẹ vuốt tóc cô gái, tôi đã hiểu ra tất cả. 

Ban đầu tôi sững sờ, rồi tôi bước vào tiệm ăn, đứng trước mặt chồng, nhìn anh trân trối, mắt khô cạn. Tôi chẳng còn muốn nói gì, cũng  không thể nào nói gì. Cô gái nhìn tôi, nhìn chồng tôi, đứng lên định bỏ  đi, chồng tôi đưa tay ấn cô ngồi xuống, và, anh cũng trân trối nhìn tôi, không hề thua kém. Tôi chỉ còn nghe thấy tiếng trái tim tôi đang đập thoi thóp, đập thoi thóp từng nhịp một từng nhịp một cho tới tận ranh giới tái xanh của cái chết. Kẻ thua cuộc là tôi, nếu tôi cứ đứng thế này mãi, tôi và đứa bé trong bụng tôi sẽ cùng ngã. 

Đêm đó, chồng tôi không về nhà, anh dùng cách đó để nói cho tôi biết: Cùng với cái chết của mẹ chồng tôi, tình yêu của chúng tôi cũng đã chết rồi. Chồng tôi không quay về nữa. Có hôm, tôi đi làm về, thấy tủ quần áo bị động vào, chồng tôi quay về lấy vài thứ đồ của anh. 

Tôi không muốn gọi điện cho chồng tôi, ngay cả ý nghĩ ban đầu là giải thích mọi chuyện cho anh, giờ cũng đã biến mất hoàn toàn. Tôi một  mình sống, một mình đi bệnh viện khám thai, mỗi lần thấy những người  chồng thận trọng dìu vợ đi viện khám thai, trái tim tôi như vỡ tan ra.  Đồng nghiệp lấp lửng xui tôi nạo thai đi cho xong, nhưng tôi kiên quyết  nói không, tôi điên cuồng muốn được đẻ đứa con này ra, coi như một  cách bù đắp cho cái chết của mẹ chồng tôi.    

Khi tôi đi làm về, chồng tôi đang ngồi trong phòng khách, khói thuốc mù mịt khắp phòng, trên bàn nước đặt một tờ giấy. Không cần liếc  qua, tôi đã biết tờ giấy viết gì. Trong hai tháng chồng tôi không về  nhà, tôi đã dần dần học được cách bình tĩnh. Tôi nhìn anh, gỡ mũ  xuống, bảo: 

-“Anh chờ chút, tôi ký!”. 

Chồng tôi cứ nhìn tôi, ánh mắt anh bối rối, như tôi. Tôi vừa cởi cúc áo khoác vừa tự dặn mình: “Không khóc, không khóc…”. Mắt rất đau, nhưng tôi không cho phép nước mắt được lăn ra. Treo xong áo khoác,  cái nhìn của chồng tôi gắn chặt vào cái bụng đã nổi lên của tôi. Tôi  mỉm cười, đi tới, kéo tờ giấy lại, không hề nhìn, ký lên đó cái tên tôi, đẩy lại phía anh. 

-“Rodi, em có thai à?” 

Từ sau khi mẹ chồng gặp tai nạn, đây là câu đầu tiên anh nói với tôi. Tôi không cầm được nước mắt nữa, lệ “tới tấp” giàn xuống má. Tôi  đáp: 

-“Vâng, nhưng không sao đâu, anh có thể đi được rồi!”. 

Chồng tôi không đi, trong bóng tối, chúng tôi nhìn nhau. 

Chồng tôi nằm ôm lấy lấy người tôi, nước mắt thấm ướt chăn. Nhưng trong tim tôi, rất nhiều thứ đã mất về nơi quá xa xôi, xa tới mức dù tôi có chạy đuổi theo cũng không thể với lại. Không biết chồng tôi đã nói “Anh xin lỗi Em!” với tôi bao nhiêu lần rồi, tôi cũng đã từng tưởng rằng tôi sẽ tha thứ, nhưng tôi không tài nào làm được, trong tiệm ăn châu Âu hôm đó, trước mặt người con gái trẻ ấy, ánh mắt lạnh lẽo chồng tôi nhìn tôi, cả đời này, tôi không thể nào quên nổi.Chúng tôi đã cùng rạch lên tim nhau những vết đớn đau. Do tôi, là vô ý; Còn anh, là bởi cố tình. 

  1. Mong ước hoá giải những ân hận cũ, nhưng quá khứ không bao giờ  trở lại!

Trừ những lúc ấm áp khi nghĩ đến đứa bé trong bụng, còn với chồng, trái tim tôi lạnh giá như băng, không ăn bất cứ thứ gì anh mua, không cần ở anh bất cứ món quà gì, không nói chuyện với anh. Bắt đầu từ  lúc ký vào tờ giấy kia, hôn nhân cũng như tình yêu đã biến mất khỏi đời tôi. 

Có hôm chồng tôi thử quay về phòng ngủ, anh vào, tôi ra phòng  khách, anh chỉ còn cách quay về ngủ ở phòng mẹ. 

Trong đêm thâu, đôi khi từ phòng anh vẳng tới tiếng rên khe khẽ, tôi im lặng mặc kệ. Đây là trò anh thường bày ra, ngày xưa chỉ cần tôi giận anh, anh sẽ giả vờ đau đầu, tôi sẽ lo lắng chạy đến, ngoan ngoãn đầu hàng chồng, quan tâm xem anh bị làm sao, anh sẽ vươn một tay  ra tóm lấy tôi cười ha hả. 

Anh đã quên rồi, tôi lo lắng là bởi tôi yêu anh, còn bây giờ, giữa chúng tôi còn lại gì đâu? Chồng tôi dùng những tiếng rên ngắt quãng  để đón ngày đứa bé chào đời. Dường như ngày nào anh cũng mua gì đó  cho con, các đồ dùng của trẻ sơ sinh, đồ dùng của trẻ em, ngay cả  sách thiếu nhi, từng bọc từng bọc, sắp chất đầy gian phòng anh. Tôi  biết chồng tôi dùng cách đó để cảm động tôi, nhưng tôi không còn cảm  thấy gì nữa. Anh đành giam mình trong phòng, gõ máy tính “lạch cà  lạch cạch”, có lẽ anh đang yêu đương trên mạng, nhưng việc đó đối với  tôi không có ý nghĩa gì. 

Đêm cuối mùa xuân, cơn đau bụng dữ dội khiến tôi gào lên, chồng tôi nhảy bổ sang, như thể anh chưa hề thay quần áo đi ngủ, vì đang chờ  đón giây phút này tới. Anh cõng tôi chạy xuống nhà, bắt xe, suốt dọc  đường nắm chặt bàn tay tôi, liên tục lau mồ hôi trên trán tôi. Đến bệnh viện, anh lại cõng tôi chạy vào phòng phụ sản. 

Nằm trên cái lưng gầy guộc và ấp áp, một ý nghĩ hiện ra trong đầu tôi: 

“Cả cuộc đời này, còn ai có thể yêu tôi như anh nữa không?” 

Anh đẩy cửa phòng phụ sản, nhìn theo tôi đi vào, tôi cố nén cơn đau nhìn lại anh một cái nhìn ấm áp. Từ phòng đẻ ra, chồng tôi nhìn tôi và đứa bé, anh cười mắt rưng rưng. Tôi vuốt bàn tay anh. Chồng tôi nhìn tôi, mỉm cười, rồi, anh chậm rãi và mệt mỏi ngã dụi xuống. 

Tôi gào tên anh… Chồng tôi mỉm cười, nhưng không thể mở được đôi  mắt mệt mỏi… Tôi đã tưởng có những giọt nước mắt tôi không thể nào  chảy vì chồng nữa, nhưng sự thực lại khác, chưa bao giờ có nỗi đau  đớn mạnh mẽ thế xé nát thân thể tôi. 

Bác sĩ nói, phát hiện chồng tôi ung thư gan đã vào giai đoạn cuối cùng, anh gắng gượng cho đến giờ kể cũng đã là kỳ tích. Tôi hỏi bác  sĩ phát hiện ung thư khi nào? Bác sĩ nói năm tháng trước, rồi an ủi tôi: 

-“Phải chuẩn bị hậu sự đi!” 

Tôi mặc kệ sự can ngăn của y tá, về nhà, vào phòng chồng tôi bật  máy tính, tim tôi phút chốc bị bóp nghẹt. Bệnh ung thư gan của chồng  tôi đã phát hiện từ năm tháng trước, những tiếng rên rỉ của anh là thật, vậy mà tôi nghĩ đó là… 

Có hai trăm nghìn chữ trong máy tính, là lời dặn dò chồng tôi gửi lại cho con chúng tôi: 

-“Con ạ, vì con, bố đã kiên trì, phải chờ được đến lúc nhìn thấy con bố mới được gục ngã, đó là khao khát lớn nhất của bố… Bố biết, cả cuộc đời con sẽ có rất nhiều niềm vui hoặc gặp nhiều thử thách, giá như bố được đi cùng con suốt cả chặng đường con trưởng thành, thì  vui sướng biết bao, nhưng bố không thể. Bố viết lại trên máy tính, viết những vấn đề mà con có thể sẽ gặp phải trong đời, bao giờ con gặp phải những khó khăn đó, con có thể tham khảo ý kiến của bố… Con ơi,  viết xong hơn 200 nghìn chữ, bố cảm thấy như đã đi cùng con cả một  đoạn đời con lớn. Thật đấy, bố rất mừng. Con phải yêu mẹ con, mẹ rất  khổ, mẹ là người yêu con nhất, cũng là người bố yêu nhất…” 

Từ khi đứa trẻ đi học mẫu giáo, rồi học Tiểu học, Trung học, lên Đại học, cho đến lúc tìm việc, yêu đương, anh đều viết hết. Chồng tôi cũng viết cho tôi một bức thư: 

“Em yêu dấu, cưới em làm vợ là hạnh phúc lớn nhất đời anh, tha thứ  cho những gì anh làm tổn thương em, tha thứ cho việc anh giấu em  bệnh tình, vì anh muốn em giữ gìn sức khoẻ và tâm lý chờ đón đứa con  ra đời… Em yêu dấu, nếu em đang khóc, tức là em đã tha thứ cho anh  rồi, anh sẽ cười, cảm ơn em đã luôn yêu anh… 

Những quà tặng này, anh sợ anh không có cơ hội tự tay tặng cho con nữa, em giúp anh mỗi năm tặng con vài món quà, trên các gói quà anh đều đã ghi sẵn ngày sẽ tặng quà rồi…” 

Quay lại bệnh viện, chồng tôi vẫn đang hôn mê. Tôi bế con tới, đặt nó bên anh, tôi nói: 

-“Anh mở mắt cười một cái nào, Em muốn con mình ghi nhớ khoảnh  khắc ấm áp nằm trong lòng bố…” 

Chồng tôi khó khăn mở mắt, khẽ mỉm cười. Thằng bé vẫn nằm trong  lòng bố, ngọ nguậy đôi tay hồng hào bé tí xíu. Tôi ấn nút chụp máy  ảnh “lách tách”, để mặc nước mắt chảy dọc má… 

Liên Thục Hương

Bản dịch của Trang Hạ 

“Bài bút ký đầy nước mắt” nầy được đăng trên tạp chí “Gia đình” (Trung Quốc) năm 2002 và lên mạng vào ngày 8/12/2003

*** Little Saigon, Quận Cam

little SGLittle Saigon, Quận Cam có còn là Thủ Đô của người tỵ nạn?

 

Quang An: Cuộc sống quanh ta.

Little Sàigòn, hay còn gọi là Sàigòn Nhỏ, là một Sàigòn thu hẹp trong lòng của hầu hết người Việt bỏ chạy, di tị nạn cộng sản từ năm 1975. Khi bánh xe xích sắt của chiếc xe tăng T54 của quân đội cộng sản Bắc Việt húc sập cánh cửa hông của Dinh Độc Lập ở Sàigòn, cũng là lúc đánh dấu người Việt chạy tha hương. Chạy khỏi Sàigòn, qua đến Guam, rồi đến trại Pendleton ở Oceanside, miền Nam tiểu bang California, rồi sau đó được phân chia đi nhiều tiểu bang khác nhau ở Mỹ, người Việt vẫn mang trong lòng nỗi nhớ Sàigòn khôn nguôi. Lần lần rồi thì một phần do thời tiết ở các tiểu bang khác khá khắc nghiệt, lại thêm công ăn việc làm ở tiểu bang California dễ dàng hơn, dân Việt rủ nhau kéo về California để sinh sống. Vì không cạnh tranh nỗi với người gốc Đại Hàn, người Tàu sinh sống ở Los Angeles, nơi được xem là thành phố thiên thần, người Việt xuôi về phía Nam của Los Angeles khoảng chừng 1 giờ đồng hồ lái xe, và bắt đầu gầy dựng ở đây.

Với vùng đất rộng lớn gồm các thành phố kề sát nhau, người Việt định cư rải đều ra các thành phố Westminster, Garden Grove, Midway City, Santa Ana ở quận hạt Orange, mà dân ta hay gọi là Quận Cam. Cửa hiệu, nhà hàng, cơ sở thương mại mang tên Việt bắt đầu xuất hiện. Ban đầu chỉ là một khúc đường Bolsa, nơi có thương xá nổi tiếng mang tên Phước Lộc Thọ. Rồi dần dần cửa hiệu, nhà hàng, cơ sở thương mại của người Việt Nam mọc lên như nấm, lan ra khắp nơi, trải dài từ Bolsa, qua Westminster, Brookhurst, Euclid, Magnolia, v..v… Từ Garden Grove, đi xuống thành phố Westminster, hay Fountain Valley, Santa Ana, đều thấy bảng hiệu chữ Việt tràn đầy. Thậm chí là Midway City, hay được gọi là Thị Trấn Giữa Đàng, cũng có luôn cửa hiệu của người Việt.

Phải nói rằng với sự cần cù và siêng năng, thế hệ người Việt tỵ nạn cộng sản từ năm 1975 đã tạo nên một khu vực mà ai ai cũng có cảm giác như là một Sài Gòn thu nhỏ. Đến đây, ngoài việc là có thể tiếp xúc, gặp gỡ người Việt xa xứ, người Việt bỏ chạy cộng sản từ hồi năm 1975 còn có dịp tìm lại những hình ảnh, những tác phẩm văn hoá của miền Nam trước kia. Ghé nhà sách Tú Quỳnh, hay ghé các trung tâm sản xuất băng dĩa nhạc, là có thể tìm lại chút gì đó của thoáng hương xưa. Dĩ nhiên, nếu muốn tìm lại mùi vị của những món ăn Việt Nam, người Việt tị nạn sẽ dễ dàng tìm thấy những bát phở, những tô bún bò, những đĩa bánh cuốn, hay thậm chí là cả những chén chè xôi nước, v…v… Cái tên Little Sàigòn là đây. Người Việt yêu kiều đặt địa danh này cho một vùng đất cách xa quê hương hơn nửa quả địa cầu để hồi tưởng, để nhớ nhung về một Sàigòn xưa. Và hơn cả, Little Sàigòn còn là một trung tâm văn hoá nhằm gìn giữ bản sắc của người dân Việt trước đại hoạ cộng sản từ hồi năm 1975. Chính vì vậy, Little Sàigòn luôn luôn được xem là thủ đô của người Việt tỵ nạn cộng sản.

Rồi thời gian trôi qua,  thế hệ người Việt tị nạn cộng sản đầu tiên nay đã già. Ráng chịu khó làm ăn vất vả để nuôi gia đình, con cái của thế hệ này nay đã trưởng thành, đã học thành tài để rồi có người là bác sĩ, có người là kỹ sư, v..v… Cuộc sống khá giả hơn, ổn định hơn, cho nên rất nhiều người Việt đã dọn về phía Nam của vùng Little Sàigòn để an cư lập nghiệp. Người thì ở Irvine, người thì ở Mission Viejo, hay thậm chí là xa hơn nữa như San Juan Capistrano, v..v… Hầu hết, thế hệ sau này không muốn tiếp tục con đường làm ăn của thế hệ trước đó, cho nên rất nhiều chủ nhân nhà hàng, cửa hiệu, đến tuổi về hưu, phải tìm cách bán lại những gì mình đã gầy dựng.

https://i0.wp.com/farm3.staticflickr.com/2950/15210408559_2fa6e71019.jpg?zoom=1.5&ssl=1

Người đi, thì phải có người đến. Trong những năm vừa qua, với những chính sách thu hút người ngoại quốc đem tiền vào Mỹ đầu tư, đã có rất nhiều thành phần giàu có ở Việt Nam mà thường được gọi là “đại gia đỏ” hay “tư bản đỏ” … đổ bộ qua Mỹ. Thành phần này là những tay cựu “quan chức” hay những tay làm ăn buôn bán tham nhũng, những tay có thể có cả chục triệu đô la lận lưng để làm vốn, để có thể mua nhà, mua cơ sở, mua cửa hiệu, v..v… Ban đầu thì còn rải rác ở các tiểu bang khác, nhưng gần đây thì đổ về tiểu bang California rất nhiều.

Thế là cuộc sống ở Little Sàigòn bắt đầu thay đổi. Các cửa hiệu, nhà hàng do những người Việt tỵ nạn làm chủ, từ từ lại thấy thay tên, đổi hiệu. Có những cái tên nhà hàng, chỉ cần nghe cái tên, cũng có thể đoán được gốc gác của người chủ từ đâu đến. Chợ búa cũng thay đổi. Và phong cách người dân ở Little Sàigòn cũng thay đổi. Có những quán cà phê, thanh niên ngồi đánh bài “tiến lên”, hay còn gọi là “chặt hẻo”, một loại bài của mấy chú bộ đội miền Bắc đem vào Nam, suốt cả ngày. Khói thuốc lá bay mù mịt. Có những quán bar mà đêm nào cũng đông thanh niên đến …. “xập xình”, và là nơi giới thiệu các ca sĩ ở Việt Nam bay sang. Thử hỏi, dân bình thường thì lo đi làm ở công sở, đâu có thì giờ mà la cà quán xá như thế cả ngày lẫn đêm. Có chăng thì chỉ vào dịp cuối tuần, nhưng ở Little Sàigòn bây giờ, ngày trong tuần, hay ngày cuối tuần đều … đông như nhau.

https://i2.wp.com/l7.alamy.com/zooms/e542528150f042bda81a5b68f699a810/orange-county-city-of-westminster-southern-california-usa-february-f706rn.jpg

Little Sàigòn đã thay đổi nhiều lắm. Văn hoá, văn nghệ thì các sản phẩm từ trong nước nhan nhản đầy trong các cửa hiệu. Quán ăn thì không còn vẻ thanh lịch, và không còn trông sạch sẽ như lúc trước. Bãi đậu xe thì lại càng quá tệ, nhìn rất dơ bẩn. Các đài truyền thanh, truyền hình, thì cứ như là “cơ quan ngôn luận” của Việt Nam vì tin tức đọc nhiều khi dùng chữ “y chang” VN Express của nhà cầm quyền cộng sản Việt Nam. Quan trọng hơn nữa là tình hình an ninh trật tự không còn như xưa. Nghe thử một quảng cáo phát trên truyền thanh bảo rằng “đến ăn phở ở tiệm của chúng tôi, quý khách có thể an tâm là xe của quý vị không bị … đập kính”. Thế là đủ hiểu chuyện xe bị đập kính, mất đồ là “chuyện như cơm bữa” ở Little Sàigòn rồi.

Việc phong cách sống thay đổi, có thể một phần là do người mới định cư sau này mang những “thói hư tật xấu” đã “nhiễm” sau 40 năm sống với cộng sản sang đây. Những “đại gia đỏ” coi trời bằng vung vì ỷ có tiền đã thể hiện cách sống của mình. Ở trần, mặc xà lỏn, là hình ảnh mà dân Mỹ ở đây không bao giờ gặp ở ngoài đường. Thế nhưng, có những tên đại gia, cầm đầu cả hệ thống xuất nhập cảng hải sản, lại nghênh ngang bước ra đường với mình trần và chiếc … xà lỏn. Thành phần như thế này bây giờ không hiếm ở Little Sàigòn. Cũng chẳng có gì ngạc nhiên, vì ngay giữa đường Brookhurst, đoạn gần với tiệm bánh Vân, những bảng hiệu quảng cáo “bảo lãnh đi Mỹ” bảo đảm … 100%, “bao” … đậu, bất kể là tội phạm hình sự, v..v… đầy nhan nhản.

Thử nhìn xem, với sự nhếch nhác như thế, Little Sàigòn có còn là thủ đô của người tỵ nạn? Nét văn hoá, sự thanh lịch của người Việt tị nạn đang dần dần bị … “xâm lăng”?

Cuộc sống chung quanh ta coi thế mà thay đổi chóng mặt. Nếu không để ý, và không có thái độ tích cực để gìn giữ văn hoá của người Sàigòn xưa, thì Little Sàigòn có thể sẽ mất đi cái tên và ý nghĩa yêu kiều mà người dân tỵ nạn giữ trong lòng bao nhiêu năm nay.

Quang An

*** Bán Nước Dưới Tên Mỹ Miều: Đặc Khu Kinh Tế

 


 

Cuối thế kỷ 19, Nhà Thanh bạc nhược và suy tàn. Trong khi đó các nước Tây Phương đang trỗi dậy với sự phát triển kỹ thuật giúp gia tăng sản xuất, đồng thời với việc gia tăng sức mạnh quân sự.

 

Nền kỹ thuật mới cần nhiều nhân công và đồng thời cũng cần thị trường tiêu thu. Chính vì những nhu cầu này, thế giới Tây Phương lúc đó đã nhìn Nước Tàu bạc nhược như một miếng mồi ngon và cùng nhau chia để trị.

 Trước đó các nước đế quốc xâu xé Nước Tàu bắt đầu từ cuộc Chiến tranh nha phiến của thực dân Anh năm 1840-1842. Với hiệp ước Nam Kinh tháng 8/1842, Nước Tàu phải cắt Hong Kong cho Anh.

xuong duong 1

Sau Chiến tranh nha phiến, các nước đế quốc từng bước nhảy vào xâu xé Nước Tàu. Cho đến cuối thế kỷ XIX, Đức xâm chiếm tỉnh Sơn Đông; Anh xâm chiếm  vùng châu thổ sông Dương Tử, Pháp thôn tính vùng Vân Nam, Nga và Nhật chiếm đóng vùng Đông Bắc…

Ngày nay, Nước CHXHCNVN luôn tự hào là một nước Độc Lập có đầy đủ chủ quyền, hà cớ gì phải Cắt Đất Nhượng Biển như một kẻ chiến bại đối với bọn Tàu Khựa.

Bày đặt dùng chữ cho kêu “Luật Đặc Khu” để lừa bịp quần chúng. Đây chính là những hành động nhộn nhịp bán nước khi những tháng ngày áp chót hoàn tất tiến trình bán nước theo Hội Nghi Bán Nước mà các chóp bu VC ký tại Thành Đô tnh Tứ Xuyên bên Tàu năm 1991 và hoàn tất sát nhập Tàu vào năm 2020

Người Dân hãy tỉnh táo và chuẩn bị cho Ngày Hội Lớn Của Dân Tộc. Đảng và Nhà Nước VC có thể đã suy tàn và trở nên hèn hạ như Nhà Thanh trước đây. Nhưng với kinh nghiệm trong Ngàn Năm Bắc Thuộc, với kinh nghiệm 13 cuộc chiến chống ngoại xâm của Tiền Nhân luôn luôn toàn thắng bọn Tàu xâm lược, lẽ nào Dân Tộc VN lại ươn hèn đến độ kẻ thù chưa đánh mà đã Dâng Đất Nhượng Biển cho kẻ thù truyền kiếp là Tàu Khựa.  

Mong Tiền Nhân Anh Hùng chứng giám cho những tấm lòng thành và những trái tim quả cảm đang miệt mài tận hiến chuẩn bị cho Ngày Hội Lớn Của Dân Tộc.

“Tủ lạnh” không cần cắm điện

“Tủ lạnh” không cần cắm điện vẫn giữ thực phẩm tươi ngon gấp 9 lần bình thường.

 
Bảo quản đồ ăn tươi ngon tới 27 ngày, hiện đại mà không “hại điện”, đó chính là những lợi ích tuyệt vời mà chiếc “tủ lạnh” đặc biệt được sáng chế bởi một giáo viên người Nigeria mang lại cho cuộc sống của người dân nghèo nơi đây.
 
Những sáng chế đơn giản nhưng mang đến hiệu quả đến khó tin, lại không tốn quá nhiều chi phí chính là những thứ mà người dân nghèo vùng nông thôn Châu Phi vẫn luôn “mơ” đến. Ngay cả trong cuộc sống hiện đại ngày nay, thiết bị điện cơ bản như chiếc tủ lạnh cũng trở thành thứ vô cùng “xa xỉ” đối với người dân nơi đây do điều kiện địa hình xa xôi hẻo lánh và chi phí cho việc sử dụng điện quá đắt đỏ.
May mắn đã đến với người dân nghèo Nigeria khi một công cụ giữ lạnh đặc biệt có tác dụng bảo quản thực phẩm không thua kém gì tủ lạnh được sáng chế bởi ông Mohammed Bah Abba, một giáo viên người Nigeria.
 
Kì lạ chiếc
Công cụ giữ lạnh đặc biệt có tác dụng bảo quản thực phẩm không thua kém gì tủ lạnh.
Chiếc tủ lạnh “có một không hai” này không cần cắm điện, không tốn nhiều chi phí, thậm chí còn có thể “cầm tay”, mà lại đặc biệt hiệu quả trong điều kiện thời tiết nóng khô dễ khiến trái cây, rau quả và các thực phẩm nhanh chóng bị hư hỏng, ôi thiu khi bảo quản được đồ ăn tới gần một tháng.
 
 
Kì lạ chiếc
Ông Mohammed Bah Abba, người sáng chế ra hệ thống làm lạnh đặc biệt thay đổi cuộc sống người dân nghèo Nigeria.
 
 
Mohammed Bah Abba sinh ra trong một gia đình có truyền thống làm đồ gốm và đất sét. Là một người con của Nigeria, hiểu rõ được hậu quả của thời tiết khắc nghiệt nắng như thiêu đốt ở châu Phi, cũng như ước mong của người dân nghèo, cuối những năm 90, ông Mohammed đã tạo ra chiếc “tủ lạnh” đặc biệt áp dụng công nghệ làm gốm truyền thống.
 
 
Kì lạ chiếc
Chiếc “tủ lạnh” này không cần cắm điện, bảo quản được đồ ăn lâu gấp 9 lần điều kiện bình thường.
 
Dựa trên ý tưởng cổ xưa của chiếc bình gốm giữ nước lạnh, ông Mohammed đã chế tạo ra chiếc “tủ lạnh” đặc biệt với cơ chế “bình trong bình”. Hai chiếc bình gốm to và nhỏ được lồng vào nhau, trong chiếc bình to hay khoảng trống giữa hai bình sẽ được đổ đầy cát ướt, còn bình gốm nhỏ sẽ dùng để lưu trữ thực phẩm và đậy lại bằng một tấm vải ướt.
 
Kì lạ chiếc
Cấu tạo của chiếc “tủ lạnh” gồm hai chiếc bình gốm to nhỏ được lồng vào nhau, khoảng trống giữa hai bình sẽ được đổ đầy cát ướt, còn bình gốm nhỏ sẽ dùng để trữ thực phẩm và đậy lại bằng một tấm vải ướt.
 
Để hai chiếc bình hoạt động hiệu quả như một chiếc tủ lạnh, cần phải đặt chúng ở nơi khô ráo, thoáng mát. Khi đó nước trong cát đã được đổ vào từ ban đầu sẽ bốc hơi, nồi trong được làm mát chỉ còn 4 độ C, ngăn không cho vi khuẩn phát triển và giữ thực phẩm tươi ngon.
 
 
Kì lạ chiếc
Nước trong cát ướt sẽ bốc hơi, nồi trong được làm mát chỉ còn 4 độ C, ngăn không cho vi khuẩn phát triển và giữ thực phẩm tươi ngon.
 
Có thể nói, chiếc “tủ lạnh” đặc biệt này của ông Mohammed là một minh chứng cho sáng chế “hiện đại nhưng không hại điện” khi có giá rẻ đến giật mình. Chỉ phải bỏ ra 20 đến 90 nghìn đồng (từ 2 đến 4 đô la) cho mỗi chiếc, không hề sử dụng đến điện và có thể bảo quản thực phẩm từ thịt cá, rau củ, cho đến trái cây tới 27 ngày, gấp 9 lần so với 3 ngày ở nhiệt độ bình thường.
 
Kì lạ chiếc
Có thể nói, chiếc “tủ lạnh” đặc biệt này của ông Mohammed giúp người dân dự trữ thực phẩm tới 27 ngày.
 
Hệ thống “bình trong bình” hiệu quả này thực sự đã thay đổi cuộc sống của người dân nghèo Nigeria, khả năng lưu giữ thực phẩm được lâu và tươi ngon lâu hơn giúp họ bán nông sản cũng được giá cao hơn. Từ khi có những chiếc bình này, người dân nơi đây sẽ không cần ngày nào cũng phải đi chợ mua thực phẩm nữa, vô cùng tiện lợi mà còn tiết kiệm được rất nhiều thời gian.
Trước khi mất vào năm 2010, ông Abba liên tục cải tiến hệ thống bình trữ lạnh, sau đó ông sử dụng tiền của chính mình thuê các nhà máy địa phương sản xuất hàng loạt 5.000 “tủ lạnh” phân phối cho 5 ngôi làng ở Jigawa và 7.000 chiếc “tủ lạnh” cho người dân địa phương Nigeria.
 
 
Kì lạ chiếc
Những chiếc tủ lạnh được tạo ra bởi người giáo viên Nigeria này đã giúp cải thiện đáng kể đời sống người dân nơi đây, giúp họ bán nông sản được giá cao hơn, tiết kiệm nhiều chi phí.
 
Cho tới nay những chiếc tủ lạnh “siêu tiết kiệm” này đã được sử dụng rộng rãi tại các vùng nông thôn ở Nigeria, Cameroon, Chad, Eritrea, và Sudan. Năm 2000, Mohammed Bah Abba được trao giải thưởng Rolex Award for Enterprise dành cho các sáng chế xuất sắc được vinh danh. Tạp chí Time đã từng gọi phát minh bình làm lạnh mang tính đột phá của Mohammed là một trong những phát minh vĩ đại của năm.
Ngọc Quỳnh (Theo NG)

*** “ĐÊM ĐÊM HÀN THỰC, NGÀY NGÀY NGUYÊN TIÊU”

SONY DSC     Châu Thạch

BÀN VỀ CÂU THƠ

“ĐÊM ĐÊM HÀN THỰC, NGÀY NGÀY NGUYÊN TIÊU”

                                      Gần đây học giả  Lại Quảng Nam có viết một bài đề cập đến câu thơ “Đêm đêm Hàn Thực ngày ngày Nguyên Tiêu” của Nguyễn Du. Trong bài viết nầy học giả Lại Quảng Nam có nhắc lại những điều tôi xin tóm tắt gọn lại sau:

  1. Ong Vân Hạc Lê văn Hòe (1953) với quyển Truyện Kiều Chú-Giải rất nổi tiếng trong văn giới và trong giới giáo dục. Ông dừng rất lâu lại tại câu Kiều thứ 942 này, với ưu tư là tại sao Nguyễn Du lại viết “Đêm đêm Hàn Thực, ngày ngày Nguyên Tiêu”, mà lại không viết “ngày ngày Hàn thực, đêm đêm Nguyên tiêu”. Cụ Lê Văn Hoè viết “Lý ra phải viết như thế này thì mới đúng:”Đêm đêm Nguyên tiêu, ngày ngày Hàn thực”, bởi tất cả lễ lạc đông người dành cho quần chúng do triều đình Tàu sắp đặt đều xảy ra, ban ngày cho Hàn Thực, ban đêm cho ngày Nguyên Tiêu. Cụ Lê văn Hòe nhận định thêm: “Có lẽ vì nhu cầu vần thơ”
  2. Tại Việt nam có một người Tàu tên là An Chi, khi giữ mục Chuyện Đông Chuyện Tây trên tờ KTNN* vào đầu thập niên 90 tại Việt Nam viết như sau về Nguyễn Du “Tóm lại…; trong điều kiện cụ thể của câu thơ đang xét thì Nguyễn Du không thể vùng vẫy ngọn bút của mình một cách hoàn toàn thỏa mái được. “Đêm đêm Hàn Thực, ngày ngày Nguyên Tiêu” trong đó ông tác giả đã bị gò bó về thanh điệu và vần điệu…., Chẳng qua vì… túng vận nên ông mới lấy đêm làm ngày, lấy ngày làm đêm đó mà thôi”

 

Sau đó học giả Lại Quảng Nam đã phản bác những ý kiến trên. Xin mời quý bạn đọc vào trang web vanngheqt.blogspot.com và nhiều trang web khác để đọc.

Châu Thạch tôi vốn học ít, trí hèn, không dám nhận xét gì về ý kiến của các vị học giả, vốn là những người có vai vế trên văn đàn, chỉ xin góp một chút suy luận thô thiển của mình để bạn đọc giải trí năm ba phút mà thôi. Nếu có sự sai trái xin lượng tình thứ cho.

“Đêm đêm Hàn Thực ngày ngày Nguyên Tiêu” là câu thơ của Nguyễn Du nhưng ông lấy tư cách của Tú Bà đề viết lời khấn vái. Đây là đoạn mà Nguyễn Du mô tả lần đầu tiên Thúy Kiều nằm trong tay Tú Bà, một chủ chứa. Tú Bà van vái trước tượng thần Bạch mi (vị thần bảo trợ cho nghề bán phấn buôn hương ) cho bà được buôn may bán đắt:

935. Cởi xiêm lột áo sỗ sàng,
Trước thần sẽ nguyện mảnh hương lầm rầm.
Đổi hoa lót xuống chiếu nằm,
Bướm hoa bay lại ầm ầm tứ vi!
Kiều còn ngơ ngẩn biết gì,
940. Cứ lời lạy xuống mụ thì khấn ngay:
”Cửa hàng buôn bán cho may,
Đêm đêm hàn thực, ngày ngày nguyên tiêu,
Muôn nghìn người thấy cũng yêu,
Xôn xao oanh yến rập rìu trúc mai!
945. Tin nhạn vẩn, lá thư bài,
Đưa người cửa trước, rước người cửa sau”.
Lạ tai, nghe chửa biết đâu,
Xem tình ra cũng những màu dở dang.
Lễ xong hương hỏa gia đường,
950. Tú Bà vắt nóc lên giường ngồi ngay.

 

Theo Châu Thạch tôi nghĩ câu thơ  “Đêm đêm Hàn Thực ngày ngày Nguyên Tiêu”có ý nghía sau đây:

1)Ý thứ nhất;

– Đêm đêm Hàn Thực : Có nghĩa là đêm nào cũng vui chơi như ngày có lễ Hàn Thực

– Ngày ngày Nguyên Tiêu: Có nghĩa là ngày nào cũng vui chơi như đêm có  lễ Nguyên Tiêu

–  Đêm đêm Hàn Thực ngày ngày Nguyên Tiêu: Đêm đêm vui chơi như ban ngày. Ngày ngày vui chơi như ban đêm

– Tóm lại “Đêm đêm Hàn Thực ngày ngày Nguyên Tiêu” có nghĩa là vui chơi mút mùà, không phân biệt ngày đêm.

2)Ý thư hai:

– Hàn Thực: “Hàn thực, ngày 3 tháng 3 âm lịch, kỷ niệm ngày Giới Tử Thôi bị chết cháy. Bên Tàu, ban ngày tổ chức các cuộc vui chơi, ngày này là ngày cấm lửa, ăn thức ăn  nguội .

– Nguyên Tiêu: Đêm Nguyên Tiêu là đêm rằm tháng giêng, đêm trăng tròn đầu năm âm lịch. Ngày này thời Đường, vua lệnh cho mở hội đốt pháo bông, lễ Phật.

– Qua hai định nghĩa trên ta thấy rằng các trò vui chơi trong ngày Hàn Thực và đêm Nguyên Tiêu là các trò vui chơi thanh nhã, không dung tục. Từ đó ta thấy rằng Tú Bà tuy là một chủ chứa, nhưng bà xin thần Bạch Mi phù hộ chổ động chứa của bà vui chơi theo phong cách thanh nhã. Như thế động chứa của bà là nơi ăn chơi của giới thương lưu đài các hay kẻ sĩ. Nhờ vậy sau nầy Thúy Kiều mới gặp được Thúc Sinh là một trang phong lưu hào hào. Cũng theo kiểu ăn chơi cao cấp, phong lưu nầy, ngày sau ở một thanh lâu khác Thúy Kiều gặp được Từ Hải là một anh hùng.

  Kết luận: Bởi lý giải trên ta thấy rằng Nguyễn Du viết “Đêm đêm Hàn Thực ngày ngày Nguyên Tiêu” là một sự dùng chữ cố ý của tác giả, không phải là do “bị gò bó thanh điệu” mà ông phải “hoán vị ngày ngày với đêm đêm”. Cách chơi chữ nầy khiến cho câu thơ đầy hàm xúc, vừa làm âm điệu câu thơ hay thêm, lại vừa diễn tả trọn vẹn nhừng cuộc vui chơi triền miên phong lưu và trang nhã nơi động chứa của Tú Bà. Phải nói rằng khi Nguyễn Du cho Tú Bà khấn như thế,không ai đọc mà nghĩ rằng nhà thơ muốn đảo lộn cuộc vui chơi của đếm qua ngày và ngày qua đêm. Ngược lại ai cũng tự nhiên hiểu được lời khấn có ý nghĩa trọn vẹn là xin cho thanh lâu của bà ngày đêm gì cũng có đàn ca, hát xướng, ngâm vịnh, uống rượu và các trò vui hoa bướm dập dìu khác thịnh hành thời bấy giờ. Như vậy, khi phóng bút viết câu thơ đảo lộn nầy, Nguyễn Du đã trực chỉ phát họa trong cảm nhận của người đọc cảnh ăn chơi và phong cách ăn chơi tại thanh lâu của Tú Bà. Từ đó ta có thể thấy rằng trong câu thơ nầy Nguyễn Du dùng chữ biến hóa rất “thoải mái” chớ không phải vì  muốn cho “trơn” câu thơ  mà thần thơ buộc phải viết thế./.

                           

*** Thương nhớ Hà-Tiên

 “miền duyên hải mến yêu tận cùng
trên nẻo đường quê hương đất nước”

An-Tiêm MAI-LÝ-CANG
(Paris)


Hòn Phụ-Tử khi xưa

LTG – Đất phương Nam xưa nay vốn thường được người ta nói đến nhiều nhất là vùng kinh tế lúa gạo cốt lõi ở miền đồng bằng châu thổ sông Cửu-Long chín nhánh chảy ra bể cả. Và người ta cũng thường hay ví bản đồ nước Việt bây giờ như là hình hài của một con tằm xinh đẹp đang bám mình vào lục địa Á-Châu chính do nhờ lượng đất phù sa tô bồi hằng bao thế kỷ trôi qua, và nay mảnh đất Hà-Tiên mới đã được thành hình.

An-Tiêm MAI-LÝ-CANG
(Paris)

 

Và bây giờ, thử nhìn vào vị trí bản đồ hình cong chữ “S” thì mọi người đều thấy rằng con đường biển cả bao la trên quê hương yêu dấu của nước ta kéo dài từ bãi Tục-Lãm xuống tận miền duyên hải cuối cùng trên nẻo đường đất nước, là phải dừng chân lại ở tại dải đất Hà-Tiên. Một vùng đất phương Nam thổ ngơi trù phú, vườn ruộng cây trái xinh tươi, lại còn nổi tiếng có sắc màu phong thủy hài hòa và những thắng cảnh nên thơ trữ tình, quyện lấy cùng với những kỳ quan thiên nhiên tuyệt vời, huyền ảo.Ngược dòng thời gian, ngày xưa vào năm (1832) thì Hà-Tiên vốn là một tỉnh trong Nam-Kỳ Lục-Tỉnh dưới triều đại của vua Minh-Mạng. Tuy nhiên, sau đó trải qua nhiều thời đại cải cách về địa lý hành chánh, thì giờ đây Hà-Tiên đã bị khép mình trở thành một huyện biên thùy ở miền duyên hải cuối cùng của miền Tây-Nam tổ quốc. So với phố cổ Hội-An ở duyên hải miền Trung (nằm cạnh quần thể lâu đài hình tháp của cố vương quốc Chămpa) vốn là một tụ điểm du lịch nổi tiếng có tầm vóc quốc tế từ lâu, thì Hà-Tiên ở đất phương Nam bây giờ chỉ là một thành phố nhỏ hẹp. Và hẻo lánh, nép mình bên bể cả nhưng lúc nào cũng sẵn sàng túc trực đón chào du khách trong nước tìm đến tham quan. Lợi thế may mắn của Hà-Tiên bây giờ, đó là nhờ dải đất miền duyên hải nầy nằm cạnh Phú-Quốc hoang sơ trù mật, một hòn đảo ngọc hiện đang còn tích trữ tiềm tàng rất nhiều tài nguyên thiên nhiên quý báu của quốc gia. Và có đầy tiềm năng để khai thác về kinh tế, mở mang đáp ứng nhu cầu du lịch trong tương lai ra thế giới bên ngoài. Tuy nhiên, nói riêng về mặt khác thì Hà-Tiên cũng đã có một thời từng là một cái nôi hội tụ được rất nhiều thành phần mặc khách tao nhân từ khắp mọi miền tìm đến giao lưu dưới mái nhà hội ngộ Tao-Đàn Chiêu-Anh-Các*.Và cùng nhau đã để lại cho đời sau nhiều thi phẩm rất là lý thú, tuyệt vời.

Đi thực tế, người nào muốn tìm hiểu về Hà-Tiên mau lẹ thì hãy lướt nhanh qua xem một đoạn văn miêu tả sau đây của Đông-Hồ đã viết: – “Ở đó (Hà-Tiên), kỳ thú thay, như gồm hầu đủ hết. Có một ít hang sâu động hiểm của Lạng-Sơn. Có một ít ngọn đá chơi vơi giữa biển của Hạ-Long. Có một ít núi vôi ở Ninh-Bình, một ít thạch thất sơn môn của Hương-Tích.Có một ít Tây-Hồ, một ít Hương-Giang. Có một ít chùa chiền của Bắc-Ninh, lăng tẩm của Thuận-Hóa. Có một ít Đồ-Sơn, cửa Tùng, có một ít Nha-Trang, Long-Hải. Ở đây không có một cảnh nào to lớn đầy đủ, ở đây chỉ nhỏ nhắn, xinh xinh, mà cảnh nào cũng có.” Do vậy, người ta có thể nói rằng non nước Hà-Tiên quả là một nơi biểu tượng cho nhiều danh lam thắng cảnh VN hội tụ lại trên dải đất nhỏ bé nầy.


Hà-Tiên một góc nhìn

Thị xã Hà-Tiên ngày nay trực thuộc tỉnh Kiên-Giang nằm cách trung tâm thành phố Rạch-Giá 93km, tiếp giáp biên thùy Campuchia với đường ven biên về phía Tây. Hà-Tiên có đường ven biển phía Nam chạy dài 22km giáp vịnh Thái-Lan, có sông Giang-Thành dài 23km. Lại còn có vũng Đông-Hồ, núi Tô-Châu, Bình-San, Thạch Động, bãi biển Mũi Nai, và cạnh đó còn có hòn Phụ-Tử v.v. Và kinh Vỉnh-Tế (nối liền Châu-Đốc với Hà-Tiên) dài hơn 90km là một công trình thủy lợi lớn lao nhất của triều đình nhà Nguyễn bắt đầu khởi sự từ thuở thời vua Gia-Long trị vì. Còn dải đất Hà-Tiên khi xưa, thì được người Chân-Lạp gọi tên là Mang-Khảm với đầy những huyền thoại ly kỳ về không gian cảnh sắc.


Mũi Nai

Ngày nay, có rất nhiều khách đi phượt lúc ban đầu khi vừa mới đặt gót chân lên thành phố Hà-Tiên, thì đã tỏ ra ngay sự thất vọng khi nhìn thấy quang cảnh phố thị không có dáng vẻ gì đặc biệt ngoài số ít ngôi nhà cổ xưa, lác đác các vách tường mái ngói ngả màu phủ rêu phong xám xịt. Bên cạnh đó là cảnh quan sinh hoạt nơi chợ búa êm đềm, đường sá không có lưu lượng giao thông ồn ào như nhiều nơi phố thị có nhiều nhà cao tầng khang trang khác. Tuy nhiên, không phải vì thế mà người ta không thể nhìn thấy có những nét quyến rũ nên thơ của nó chính là sự lặng lẽ, yên lành, chậm chạp, êm đềm bên cạnh bể khơi bao la chuyển hóa được lòng người làm cho họ tìm lại được một cảm giác nhẹ nhàng, thư thái.

Quả vậy, sau khi rời khỏi trung tâm thị xã Hà-Tiên cách đó không xa, thì người ta mới có dịp mục kích được đâu là cảnh trí màu sắc ở nơi đây tuyệt đẹp y như là hình ảnh của một bức tranh họa đồ.

Cách đây vài thập niên, khi nước nhà chưa thực sự hoàn toàn thống nhất thì Hà-Tiên là một vùng đất buôn lậu xuyên quốc gia lý tưỏng cho những thành phần tránh né pháp luật ở nơi chợ trời biên giới. Dạo ấy, đường sá hư hỏng xuống cấp nặng nề vì chiến tranh tàn phá chớ không được trùng tu mở rộng như thời buổi bây giờ. Do vậy, vào thời kỳ đó thì cái tên Hà-Tiên chỉ được nhiều người nghe qua vậy thôi, chứ cũng ít có người muốn phiêu lưu đến đó để tìm hiểu đâu là nước non cảnh đẹp ở nơi nầy. Còn bây giờ, với phương tiện giao thông thuận tiện hơn thì người ta thường dùng tỉnh lộ 955 nếu đi từ Châu-Đốc, hoặc quốc lộ 80 nếu đi từ Long-Xuyên hay Rạch-Giá xuống Hà tiên rồi dùng tàu cao tốc để thực hiện mau lẹ cuộc hành trình đi ra đảo Phú-Quốc. Và như hầu hết tất cả du khách đã từng đến Phú-Quốc rồi, thì sẽ không bao giờ quên được Bãi Sao là một thắng cảnh tuyệt vời có dải cát mịn màng trắng tinh chạy dài theo ven biển màu xanh nhấp nhô sóng nhẹ nhàng. Bờ biển thì có vực nước sâu từ từ khi lội ra xa, thật là lý tưởng cho người tắm biển có dịp nhìn thấy rõ từng đàn sứa, đàn và cá lội tung tăng dưới làn nước trong veo tận đáy biển. Và cũng như lời đồn không sai, là ai đã đến Phú-Quốc mà chưa biết được Bãi Sao thì phải kể như là cần phải trở lại thêm một lần nữa.


Bãi Sao

Trở lại bối cảnh không gian về lịch sử, xã hội, chính trị, văn hóa và nhân văn được thành hình trên dải đất Hà-Tiên ngày trước (ngày nay là gồm toàn bộ diện tích của tỉnh Kiên-Giang) là cả một giai thoại vô cùng kỳ thú, vì nó đã góp phần rất nhiều vào kho tàng tinh hoa phong phú của miền đất phương Nam. Giờ đây, nếu lấy cái mốc thời gian vào năm 1708 khi mà Mạc-Cửu ( 1655-1735) hoàn toàn thần phục chúa Nguyễn và xin dâng đất cầu thân thì được chúa Nguyễn-Phúc-Chu ban cho chức Tổng binh, và từ đó tính cho đến nay đã được là 300 năm.

Đối với tinh thần truyền thống cao đẹp của người VN ta từ thuở xa xưa, là luôn luôn lúc nào cũng trọng nghĩa mến tài, chiêu hiền đãi sĩ, đãi ngộ công lao. Vì thế cho nên, vào ngày 7-9-2008 thì nhhân dân cùng chính quyền sở tại cũng đã có tổ chức một buổi lễ khai mạc tượng đài Mạc-Cửu ở Hà-Tiên để vinh danh, và cũng để nhằm dành cho họ Mạc một chỗ ngồi xứng đáng trong lịch sử mở mang miền đất phương Nam.


Tượng đài Mạc-Cửu

Mạc-Cửu nguyên là một viên bại tướng của nhà Minh khi xưa ở bên Tàu, sau đó đã vượt biên tìm đường đi xin tị nạn chính trị nhà Thanh chạy ra ở nước ngoài. Và trong những thập niên dài, họ Mạc từng bôn ba ở Cao-Miên làm nghề bán buôn gặp thời cơ phát đạt trở thành một vị đại gia có rất nhiều thế lực ở tại phủ Nam-Vang vào thời buổi bấy giờ. Rồi ông còn qua lại Xiêm-La do thám tình hình, để mong tìm hậu thuẫn hầu mưu cầu nghiệp cả. Tuy nhiên, cuối cùng Mạc-Cửu quyết định trở về mảnh đất Hà-Tiên hoang vu để dung thân cùng với nhiều lý do, là dùng để chiêu tập những lưu dân tứ xứ hầu để biến thành những tụ điểm dinh điền, khẩn hoang lập ấp, tạo dựng khu trù mật và phát triển thương mại. Tuy nhiên, chủ đích của Mạc-Cửu còn đi xa hơn là muốn lợi dụng địa thế Hà-Tiên, để dùng làm căn cứ chiến lược về quân sự để chờ ngày trở về với giấc mơ phục quốc (phản Thanh phục Minh). Cho dù thế nào đi nữa, thì tiết tháo của một kẻ sĩ Hán tộc chắc chắn cũng sẽ không bao giờ có thể làm cho ông quên được hận thù quân xâm lăng đất nước của ông vào lúc bấy giờ.

Hơn thế nữa, Mạc-Cửu là một con người có tâm hồn hoài cố quốc, vốn từng có đầu óc thông minh hiểu biết nhìn xa trông rộng, biết dựa vào sức mạnh về quân sự của triều đình chúa Nguyễn lúc bấy giờ để sinh tồn. Vì thế cho nên lịch sử cần nên cân nhắc, để đặt lại vấn đề dâng đất của Mạc-Cửu có phải là dụng ý câu móc thời gian trong hoàn cảnh lực bất tòng tâm mà đành phải chọn lấy mảnh đất Hà-Tiên để dung thân trên quê hương thứ nhì của cuộc đời mình. Vì trong lúc bấy giờ, thì nước Xiêm-La luôn luôn lúc nào cũng dóm ngó, chờ thời cơ làm áp lực dụng binh để tranh giành hòng muốn chiếm đoạt cho kỳ được dải đất miến duyên hải Hà-Tiên xinh tươi màu mở.


Núi Tô-Châu

Do vậy, người ta có thể nói rằng trường hợp dâng đất cầu thân của Mạc-Cửu vào năm 1708 phải được coi như là một ngoại lệ chưa từng có xảy ra trong lịch sử nước ta, vì lúc bấy giờ, Hà-Tiên vốn là một vùng đất còn hoang sơ vô chủ. Trường hợp đó có khác rất nhiều với trường hợp trước đó của vua Chế-Mân dâng đất Ô, Lý của Chiêm-Thành để cầu hòa, tuy rằng cũng đã cưới được Huyền-Trân công chúa (1306). Có khác với trường hợp của vua Chey Chetta II nước Chân-Lạp muốn cầu hòa và xin cưới được công chúa Ngọc-Vạn (1620). Để rồi sau đó chấp thuận cho chúa Sãi được lập ra một đồn thuế ở vùng Prei-Kor thuộc Gia-Định bây giờ, và một địa điểm dinh điền ở Mô-Xoài thuộc Bà-Rịa ngày nay. Về sau, lại còn cho phép người dân ỏ xứ Đàng Trong dễ dàng di dân lần xuống đất phương Nam vùng Biên-Hòa bây giờ, để phá rừng định cư lập nghiệp lâu dài. Do vậy, xét cho cùng thì người ta có thể suy luận rằng Mạc-Cửu chính là một nhà chính trị tài ba có tầm nhìn khôn khéo, biết đo lường thời cuộc tương lai trong khi đang bị lâm vào cái thế chẳng đặng đừng.

Tuy nhiên, điều không ai có thể phủ nhận là dưới thời dòng họ Mạc được triều đình chúa Nguyễn tin cậy trao trọn cho mọi toàn quyền hành để cai quản giang sơn một cõi trên dải đất Hà-Tiên, thì vùng đất nầy đã trở nên một thương cảng sầm uất, nhộn nhịp. Hơn khoảng ba thập niên sau khi Mạc-Cửu qua đời, thì các thương thuyền ở xa xôi cũng như giáo sĩ phương Tây, lúc bấy giờ, như Bá-Đa-Lộc (Béhaine de Pigneau) cũng đã thường xuyên tới lui Hà-Tiên. Và có thành lập ra một chủng viện đơn sơ ngay tại Hòn Đất quy tụ được chừng vài chục giáo dân người Việt, Hoa, Xiêm-La vào năm 1765. Và hai năm sau (1767), ông cũng đã có dung dưỡng cho cho vị hoàng tử Xiêm-La đến đây để tị nạn chính trị. Sang đến năm 1774, ông lại được Mạc-Thiên-Tứ cho phép mở ra một họ đạo cũng ở tại Hòn Đất và tự do đi lại truyền giáo khắp nơi.

Trở lại dưới thời kỳ Mạc-Thiên-Tứ (hay Tích) kế nghiệp, thì lại mở rộng bến cảng thêm ra để cho các thương thuyền từ Khmer, Mã-Lai, Nam-Dương, Xiêm-La, Miến-Điện, Ấn-Độ, Nam Trung-Hoa lui tới dễ dàng, và ngày càng thường xuyên đến cập bến nhiều hơn. Các tiệm tùng tạp hóa của người Việt lẫn cùng các lưu dân Hoa-Ấn mọc dài ra theo ven biển, các gian hàng bán quà thủ công lưu niệm, các quán xá sáng chiều nhậu nhẹt rất đông người. Cộng thêm vào lúc đó, là những tiếng đồn từ nơi nhả ngọc phun châu của Tao-Đàn Chiêu-Anh-Các đã bay xa làm cho có nhiều kẻ sĩ ở khắp bốn phương nghe tin kéo nhau tìm đến giao lưu hội ngộ ở Hà-Tiên, và tạo dịp cho phố thị nầy trở nên thành tụ điểm của một chốn thi đàn tao nhã.


Mộ Mạc-Thiên-Tứ trên núi Bình-San

Tao-Đàn Chiêu-Anh-Cácdo Trần-Trí-Khải tự Hoài-Thủy là người sáng lập ra vào năm 1736, và đề cử Mạc-Thiên-Tứ tự là Sĩ-Lân làm Tao-Đàn chủ soái (còn riêng về nghiệp võ, thì người ta thường gọi là Mạc-Thiên-Tích). Mạc-Thiên-Tứ là một nhân vật có bản lĩnh văn võ song toàn, và cũng là tác giả nổi tiếng của tập thơ “Hà-Tiên thập cảnh khúc vịnh”** được diễn tả bằng thơ nôm và theo thể thơ tiếng Việt. Và riêng về bài thơ “Hà-Tiên thập cảnh tổng vịnh” cũng của danh sĩ họ Mạc sau đây, có thể được coi như là đã giới thiệu lên được trọn vẹn về non nước ở nơi nầy:

Mười cảnh Hà-Tiên rất hữu tình
Non non nước nước gẫm nên xinh
Đông-Hồ, Lộc-Trĩ luôn dòng chảy
Nam-Phố, Lư-Khê một mạch xanh
Tiêu-Tự, Giang-Thành, chuông trống ỏi
Châu-Nham, Kim-Dữ cá chim quanh
Bình-San, Thạch-Động là rường cột
Sừng sựng muôn năm cũng để dành

Thạch-Động

Mạc-Thiên-Tích (1718-1780) lên thay cha kế nghiệp năm 1735, vào lúc mới được 29 tuổi. Và đã được chúa Nguyễn-Phúc-Trú phong chức Tổng binh Đại đô đốc để tiếp tục khai khẩn đất đai, mở mang văn hiến vùng đất Hà-Tiên, song song với mục đích án ngữ quân sự, bảo vệ quốc phòng làm tiền đồn cho đạo quân chúa Nguyễn ở phương xa. Vào lúc bấy giờ, thì địa lý Hà-Tiên tuy đã trực thuộc hẳn về giang san chúa Nguyễn nhưng cũng vẫn hãy còn có những dải đất hoang vu chưa được khai thác mở mang.Do vậy, cho nên vẫn còn được coi như là một vùng tranh chấp của tứ chiến giang hồ ở khắp bốn phương anh hùng hão hán. Trong số đó có đạo quân của Xiêm-La, thậm chí có cả Khmer đã nhiều lần đưa quân sang giao chiến chiếm đoạt Hà-Tiên. Tuy nhiên, cuối cùng thì nhờ có sự yểm trợ mạnh mẽ của đạo quân triều đình chúa Nguyễn đánh bại đạo quân Xiêm-La mà Hà-Tiên mới được tái chiếm lại, để cho Mạc-Thiên-Tích còn có thêm một thời để tiếp tục cai quản mở mang tiểu quốc nầy trở thành một nơi trù phú về sau. Và mãi cho đến năm 1776, khi đạo quân Tây-Sơn của Vua Quang-Trung (1753-1792) tổng tiến công truy kích tàn quân của chúa Nguyễn vào đến đất phương Nam, thì Mạc-Thiên-Tích mới bỏ Hà-Tiên, để chạy sang Xiêm-La tị nạn chính trị nhưng sau đó vì bị bạc đãi cho nên ông phải cam đành chọn lấy con đường tự sát. Chính vì vậy, mà ngày nay ngôi mộ không có thi hài của ông ở Bình-San chỉ còn có mang một tính cách tượng trưng mà thôi.

Tuy nhiên, ngày nay trong danh sách danh nhân từng góp phần làm sáng giá cho mảnh đất Hà-Tiên, thì người ta không bao giờ có thể không nhắc đến một trong những kẻ sĩ đặc biệt tài hoa khác. Đó là nhà văn, nhà thơ Đông-Hồ Lâm-Tấn-Phát (1906-1969).


Nhà lưu niệm Đông Hồ

Sự nghiệp văn chương của Đông-Hồ sớm được người ta biết đến từ năm 1920 với những thể loại như thơ, ký, tiểu thuyết. Và lần lượt tiếp theo sau đó, là trong thời kỳ nhiều năm làm báo cũng như lúc giảng dạy ở tại trường Đại-Học Văn-Khoa Sài-Gòn. Văn phong trong bút tích của Đông-Hồ trong tình tự về lịch sử hình thành của quê hương trên dải đất Hà-Tiên, thì phải nói là có sức hút gợi cảm lạ kỳ dành cho người đọc. Lúc nào cũng bình dị rõ ràng mà phong phú, đậm đà miêu tả tính chất nhân văn rặc của miền đất phương Nam. Đặc biệt, là những tài liệu sưu khảo về tổ chức của phong trào Tao-Đàn Chiêu-Anh-Các được tung ra trên các báo chí, vào lúc bấy giờ, như là một quả châu soi sáng lại cả một góc trời văn hiến của tiểu quốc Hà-Tiên từng đã nằm yên trong một giấc ngủ lâu dài gần 150 qua, nay đã được chính ông là một đứa con bản địa làm sống lại. Do vậy, người ta có thể nói rằng các công trình sưu khảo của ông còn để lại bây giờ chính là những tài liệu vô cùng phong phú, có nhiều giá trị cơ sở xuất xứ và tính thuyết phục.


Nhà văn
Đông-Hồ Lâm-Tấn-Phát

Nữ sỉ
Mộng-Tuyết Thái-Thị-Úc

Hiện nay, bên cạnh dòng sông Đông-Hồ lặng lẽ ở Hà-Tiên thập cảnh đã có ngôi “Nhà lưu niệm Đông-Hồ” với một không gian thi phú lưu trữ, trưng bày các hình ảnh, kỷ vật, sách báo của tác giả và phu nhân là nữ sĩ Mộng-Tuyết Thái-Thị-Úc (1914-2007) – tác giả của một tác phẩm tiểu thuyết bi thương là “Nàng Ái-Cơ trong chậu úp”. Nội dung cốt truyện của tác phẩm nầy đã được tác giả dựa vào giai thoại lưu truyền trong mối tình éo le, đẫm lệ giữa danh nhân Mạc-Thiên-Tứ và nàng thứ cơ Phù-Cừ. Và sau cùng, là hình ảnh chứng tích của mái chùa Phù-Dung ngày nay là nơi giải trừ nghiệp chướng, để kết thúc cho một cuộc tình không vẹn tròn hạnh phúc giữa đôi uyên ương tài tử giai nhân.


Chùa Phù-Dung một thời huyền thoại

Về sau, tác phẩm nổi danh nầy đã được hai nhà soạn giả Kiên-Giang và Thế-Châu đưa vào kịch nghệ cổ nhạc. Và biên soạn công phu ra thành tuồng hát dưới nhan đề “Áo cưới trước cổng chùa”, và được nghệ sĩ điêu luyện Lệ-Thủy (huy chương vàng giải Thanh-Tâm 1964)*** xuất sắc trình diễn vai chính đã từng làm rơi lệ hàng triệu khán giả say mê nghệ thuật sân khấu cải lương.


Nghệ sĩ Lệ-Thủy

Và giờ đây, mới đó mà đã hơn ba thế kỷ trôi qua từ dạo cái tên Phương-Thành (tên gọi xưa của Hà-Tiên) thực sự không còn nữa, thì mảnh đất Hà-Tiên bây giờ đã bị lột xác thay da biết bao lần. Từ một dải đất thiên nhiên núi rừng và thú dữ, Hà-Tiên đành phải chịu chào thua trước sức tiến của con người lần luợt kéo đến khai phá mở mang. Thị xã Hà-Tiên (nói riêng) ngày nay, chiếu theo nghị định tái cấu trúc đơn vị hành chánh địa phương vào ngày 8-7-1998, sau khi điều chỉnh địa giới hành chánh thì chỉ còn thu hẹp lại trong vòng đai diện tích chỉ có 89.548,5 ha, với con số nhân khẩu là 62.162, và bao gồm có 6 xã và một thị trấn. Và mặc dù là một vùng đất hẹp, không có nguồn tài nguyên địa phương lợi ích gì đáng kể ngoài việc nuôi trồng thủy sản, nhưng lợi thế của Hà-Tiên bây giờ là một thành phố nằm ở đoạn cuối cùng trên đường du lịch xuyên Việt của các công ty tổ chức lữ hành thường xuyên những tuyến tham quan.

Vi thế, cho nên ngày nay có rất nhiều du khách một khi đã đến đây thì họ sẽ không bao giờ bỏ lỡ những cơ hội để tai nghe mắt thấy rõ ràng từ cảnh đồng bằng, vũng, vịnh, hang động, núi sông, hải đảo xinh đẹp nên thơ nằm trong tầm địa lý ở quanh vùng. Nhất là, cảnh quan chiêm ngưỡng Bình-San nơi có lăng mộ của dòng học Mạc nhìn xuống núi Voi Phục giữa bể khơi trời nước bao la. Hơn thế nữa, rồi đây trong tương lai lại có thêm những công trình lấn biển ngoạn mục đã và đang được thi công ra sức tiến hành. Và đây sẽ là nơi lần mọc lên một cảnh quan của khu đô thị mới có tầm vóc hiện đại, xứng đáng với hình ảnh của một thành phố du lịch phát triển được nhiều lợi thế diệu kỳ của thiên nhiên ưu đãi.

 


Thạch-Động thôn vân

Lộc-Trĩ thôn cư

Do vậy, cho nên đúng vào thời điểm nầy thì Hà-Tiên đã biết cựa mình lợi dụng thế mạnh của một vùng địa lý đặc biệt có một không hai ở phương Nam. Để ra sức kết cấu, hoàn chỉnh từ các cơ sở hạ tầng hầu mong theo kịp bước đáp ứng nhu cầu với các dịch vụ đầu tư khai thác du lịch đang phát triển trong thị xã. Vả lại, về mặt khác thì Hà-Tiên lại còn cũng phải cố gắng làm sao cho bằng được để có thể thành lập ra thêm nhiều hơn nữa những tổ chức hữu hiệu để nhằm bảo tồn. Duy trì và phát huy về bản sắc văn hóa một thời vàng son rực rỡ địa phương từ hồi hơn quá thế kỷ trôi qua, từng đã được lịch sử văn học nước nhà đương nhiên thừa nhận, là dải đất nầy khi xưa từng được mệnh danh là một tiểu quốc văn hiến****. Thêm vào đó, là Hà-Tiên bây giờ cũng đã có cửa khẩu trên quốc lộ 80 được trùng tu ăn thông qua nước bạn láng giềng Campuchia, rất khá thuận tiện cho sự giao thông giữa hai chiều hơn ngày trước. Và cũng còn có đường tàu cao tốc rút ngắn được rất nhiều thì gìờ đi tới cùng các hải đảo, nhất là Phú-Quốc.

Tuy nhiên, trên con đường phát triển mở mang, hiện đại hóa địa phương, thì Hà-Tiên cũng bị lâm vào tình trạng gặp phải có những trường hợp bất khả kháng là đã làm cho ảnh hưởng đến môi trường sinh thái, và làm mất lần vẻ mỹ quan của một vài thắng cảnh thiên nhiên. Mặt khác, bên cạnh đó thì Hà-Tiên còn vô tình gặp phải có những bài toán khó khăn, nan giải cũng như ở nhiều vùng miền khác về mặt tệ đoan ảnh hưởng đến an sinh xã hội, làm xáo trộn rất nhiều vào cuộc sống của đồng bào sở tại. Nguyên nhân chính, đó là do có sự thành hình của những ngôi nhà casino nguy nga mọc dài theo bên kia biên giới.


Casino Hà-Tiên Vegas

Theo tổ chức phân chia về địa lý hành chánh hiện nay, thì Việt-Nam đã có tới 10 tỉnh Tây-Nam ven biên giáp giới với lãnh thổ Campuchia chạy dài 1270 km, và gồm có 13 cửa khẩu quốc tế đường bộ chính nằm trải dài ra theo chiều dài giữa hai biên giới. Tuy nhiên, về phía bên kia phần đất của Campuchia song song với phần đất Việt-Nam, thì chính phủ quốc gia nầy đã có chủ trương cho phép đầu tư xây cất lên rất nhiều casino lớn nhỏ ở rải rác từ ngang độ vĩ tuyến từ ở Gia-Lai xuống tận Kiên-Giang để nhằm mục đích thu hút con bạc VN sang qua vui thú đỏ đen.

Từ lâu, người ta được biết (nói riêng) là trong kế hoạch đầu tư ấy thì ngoại mục đích họ tìm cách thu lợi nhuận, thì chính phủ Campuchia còn nhằm vào chủ yếu khác là để chứng minh rõ ràng về đường phân ranh giữa hai lãnh thổ quốc gia. Và sự kiện nầy đã từng được chính phủ nước bạn khẳng định, cho rằng mỗi casino là chứng tích của một cột mốc biên giới rất thực tế và vĩnh cữu.

Casino Hà-Tiên Vegas là một sòng bạc có tầm vóc hoành tráng được xây dựng lên tới 9 tầng lầu, nằm phía bên kia cửa khẩu Hà-Tìên chỉ độ chừng vài trăm mét, và được chính thức khai trương vào tháng 9-2009. Hệ thống bên trong gồm có 160 phòng nghỉ hiện đại, có sân khấu nhạc sống hấp dẫn với sự hiện diện của các ca sĩ Campuchia và Việt-Nam hằng ngày sang qua biểu diễn, kể cả những màn thoát y bốc lửa để phục vụ con bạc. Sòng bạc mở cửa 24 trên 24 giờ với đầy đủ trò chơi games, bàn chơi bài, chơi qua mạng như nào là Poker, Xì-Dzách, Midi v.v. Và còn có cả trường gà, để dành cho cả những người ham thích môn nầy.


Những màn ca vũ bốc lửa bên trong casino nhằm chiêu dụ con bạc

Trong những năm đầu tiên kể từ ngày ra đời của casino nầy, thì hàng ngày đã có hơn cả ngàn người Việt-Nam sang qua để tham quan, mua dâm và đánh bạc. Do vậy, mà thành phố Hà-Tiên vào lúc bấy giờ đã vô tình được tự khoác lên mình một chiếc áo tô màu sặc sỡ, phồn vinh giả tạo qua những hình ảnh sinh hoạt phố phường ồn ào, nhộn nhịp hơn bao giờ hết. Tuy nhiên, theo dòng chảy của thời gian thì ngày nay giai đoạn háo hức, hỗn độn ấy đã không còn. Các con bạc VN lần hồi đã bị tán gia phá sản rất nhiều, có kẻ thế thân mượn tiền đã bị casino giam giữ làm con tin chờ ngày gia đình đem bạc tiền sang để chuộc mạng. Người nào không có khả năng, phương tiện chi trả được thì sẽ bị hệ thống đầu gấu casino hành xác đánh đập mang thương tích nặng nề. Và thậm chí, còn có những con nợ vô cùng hối hận đến nỗi quá quẫn trí, cho nên đành phải chọn lấy con đường tự hủy diệt lấy thân mình.

Dẫu sao, những bi kịch đó cũng chỉ là cái giá phải trả theo vòng xoáy của hiện trạng sinh hoạt xã hội điạ phương lúc bây giờ. Và cũng như ngược dòng thời gian từ hơn 35 năm về trước, thì thành phố Hà-Tiên nầy cũng đã một lần từng bị cánh quân diệt chủng cận kề tràn qua xâm lấn gieo tai họa cho bao gia đình vô tội. Tuy nhiên, giờ đây đối với bản tính của người dân ở xứ Hà-Tiên lúc nào cũng hiền hòa, hiếu khách. Và có thói quen là luôn luôn thức dậy cùng lúc với ánh mặt trời mọc lên trên biển cả, thì họ đã tự nhìn thấy rõ ràng hơn ai hết, là con đường nào dễ dàng để lướt qua được mọi khó khăn, khắc phục để gặt hái thành công.

Sau cùng, hình ảnh Hà-Tiên hôm nay sẽ được kết thúc bằng một buổi họp chợ đêm ven theo bờ biển, hoặc tùy theo sự lựa chọn theo đoàn người đi câu mực, hay soi đâm cua, ghẹ về khuya. Tại khu chợ đêm, du khách thường hay đứng ngay bên bờ biển nhìn cảnh bóng trăng treo trên bể cả lăn tăn gợn sóng vàng, và họ ít khi phải đắn đo để lựa chọn cho mình một vài món quà lưu niệm đem về sau chuyến tham quan, vì đa số mặt hàng ở đây thường có giá rất bình dân. Và các món nhậu hải sản đơn giản thì cũng phục vụ bình dân ngay tại các vỉa hè với đầy đủ ngao sò ốc hến, khô cá đuối, khô cá thiều, khô mực, bánh canh chả ghẹ, bún gỏi cá trích v.v. Còn trái cây thì đặc biệt còn có xoài Miên, và đường thốt nốt.

Tuy nhiên, cuộc hành trình của bạn không thể kéo dài. Vậy bạn hãy ráng nhanh tay lẹ chân lợi dụng cơ hội, để khám phá ra thêm nhiều hơn nữa về huyền thoại xa xưa của dải đất từng có những nàng tiên xuất hiện xinh đẹp tuyệt trần. Biết đâu ở tận vùng sâu vùng xa nào đó, bây giờ cũng vẫn hãy còn có những nàng công chúa đang mơ màng trong giấc ngủ tình yêu, để trông chờ một vị hoàng tử của lòng mình từ phương xa đến đặt nụ hôn, để cùng nhau gá duyên tơ tóc hạnh phúc lâu dài. Và hẳn bạn đã từng được nghe, nếu ngày xưa người ta thường nói :

Hà-Tiên đi dễ, khó về.
Trai đi có vợ, gái về có con

thì Hà-Tiên bây giờ cũng vẫn hãy còn luôn luôn luyến lưu những ý nghĩa lời thơ tình tự dân gian, không phân chia biên giới.

An-Tiêm MAI-LÝ-CANG
(Paris)

* – Tao-Đàn Chiêu-Anh-Các quy tụ được nhiều tác giả với nhiều thi phẩm gồm có: Hà-Tiên thập vịnh, Hà-Tiên thập cảnh khúc vịnh, Thụ-Đức-Hiên tứ cảnh và Minh bột di ngư.

**- “Hà-Tiên thập cảnh khúc vịnh” là 10 bài thơ xướng của Mạc-Thiên-Tứ làm ra vào năm 1737 theo thể loại thất ngôn bát cú và được chia ra với các tựa đề: Kim-Dữ lan đào, Bình-San điệp thúy, Tiêu-Tự thần chung, Giang-Thành dạ cổ, Thạch-Động thôn vân, Châu-Nham lạc lộ, Đông-Hồ ấn nguyệt, Nam-Phố trừng ba, Lộc-Trĩ thôn cư, Lư-Khê ngư bạc. Sau đây là nguyên văn:

1. Kim-Dữ lan đào
Một dẫy non xanh nước bích liền
Giăng ngang cho mạch đẹp sông Tiên
Đông-Nam sóng biển bằng trang cả
Trên dưới trăng trời sáng rực lên
Rồng cá vẫy vùng trong cõi nước
Đá cây xan xát khắp ven miền
Nghìn thu tiếng gió quanh chân sóng
Đậm nhạt trăng treo nét lạ nhìn.

2. Bình-San điệp thúy
Cây xanh ngăn ngắt vút cao cao
Ngọn dựng bình giăng đẹp mĩ miều
Mây sáng vây quanh hình núi rõ
Mưa tàn thêm nổi bóng non theo
Đất trời bền vững nền linh tú
Mây khói vời xa nỗi ước ao
Danh thắng Hà-Tiên đâu dám bảo
Cây ngàn mơn mởn biết xanh gieo

3. Tiêu-Tự thần chung
Lác đác trời tàn nhạt ánh sao
Chuông chùa xa vắng tiếng đưa vào
Mơ màng cõi tục người tiên lẫn
Đồng vọng bờ cây bến nước xao
Hạc để tiếng vương cành gió thoản.
Quạ đưa lời gởi ngọn trăng cao
Gối nghiêng giấc tỉnh đêm mê mộng
Sớm giục canh gà tin khát khao

4. Giang-Thành dạ cổ
Gió cuốn trời cao mây lạnh tung
Sông dài vây tỏa khí anh hùng
Lâu thuyền dãi bóng trăng sương lạnh
Trống mõ cầm canh sóng nước trong
Kim giáp đã nhờ đêm chặt chẽ
Cẩm bào cho được chốn thung dung
Lược thao đem đáp tình minh chúa
Nước Việt biên thùy vững núi sông

5. Thạch-Động thôn vân
Xanh xanh ngọn đá chạm thiên hà
Động bích long lanh ngọc chói lòa
Chẳng hẹn khói mây thường lẩn quất
Không ngăn cây cỏ mặc la đà
Phong sương càng dãi màu tươi đẹp
Nhật nguyệt chi ngừng bóng lại qua
Chót vót tinh hoa đây đã hẳn
Theo chiều gió lộng vút cao xa

6. Châu-Nham lạc lộ
Bóng rợp mây dâm phủ núi non
Bay la bay lả trắng hoàng hôn
Góc trời thế trận giăng cây cỏ
Đóa ngọc hoa rơi khắp bãi cồn
Trăng dãi non treo làn thác đổ
Chiều tà cát lẫn ánh mây tuôn
Trên đường bay nhảy bao xuôi ngược
Nghĩ cảnh dừng chân bến nước còn

7. Đông-Hồ ấn nguyệt
Khói lạnh mây tan cõi diểu mang
Một vùng phong cảnh giữa hồng quang
Trời xa mặt sóng in đôi bóng
Biển bạc vành gương dọi bốn phương
Rỗng đã sánh cùng trời bát ngát
Sâu còn so với biển mênh mang
Cá rồng tỉnh giấc chi tan vỡ
Một tấm lòng băng vẫn chói chang

8. Nam-Phố trừng ba
Một vùng xanh ngát một doành khơi
Bãi nối màu thu tiếp sắc trời
Mưa khéo mây đem về kết tụ
Gió nào cho sóng động tăm hơi
Biển hâng hẩng sáng triều tuôn dẫy
Buồm nhẹ nhàng đưa khỏi thoảng trôi
Vực thẳm cá rồng còn ẩn náu
Êm đềm nước ngậm bóng trăng soi

9. Lộc-Trĩ thôn cư
Lều tre giấc tỉnh gió lay mình
Tiếng quạ ồn chi trước mái tranh
Ráng xế treo ngang khung cửa tím
Cây vườn che lợp luống rau xanh
Tánh rần mộc mạc hươu nai dại
Lòng thích thơm tho nếp tẻ thanh
Ai đó hỏi thăm nơi chốn ở
Lưng trâu tiếng sáo lặng làm thinh

10. Lư-Khê ngư bạc
Bóng chiều nắng ngả dòng sông thẳm
Rạch Vược đèn ngư khói chập chùng
Bến cũ nhấp nhô thuyền đỗ sóng
Vờ xa san sát lưới phơi trăng
Cánh tơi sáo thấm sương pha buốt
Mái trúc chèo khuya nước sáng trưng
Lồng lộng vời trông cười thử hỏi
Cá rồng vùng vẫy chốn nầy chăng

(bản dịch của Đông-Hồ Lâm-Tấn-Phát)

*** – Nữ nghệ sĩ Lệ-Thủy có tất cả là 10 danh hiệu, giải thưởng hạng nhất. Trong đó, có ba giải được coi như là vẻ vang trên con đường sự nghiệp là: giải Thanh-Tâm 1964, giải Kim-Khánh 1974 và giải A1 năm1980. Trong năm 2012, Lệ-Thủy vừa được mang thêm danh hiệu là nghệ sĩ nhân dân. Trước đó, năm 1993 Lệ Thủy cũng đã từng được mang danh hiệu là nghệ sĩ ưu tú.

****- Phủ-Biên tạp lục năm Bính-Thân 1776 của Lê-Quý-Đôn.


Tượng các nàng tiên ở Hà-Tiên
**********************************

 

Thơ Lục Bát Còn, Tiếng Việt Còn

Lê Hữu

BIEN NUOC

Hỡi cô tát nước bên đàng,
sao cô lại múc trăng vàng đổ đi?
(“Trăng quê”, Bàng Bá Lân)

“Cho tôi xem qua bài lục bát nào của anh/chị, tôi sẽ nói được ít nhiều về anh/chị.” Câu ấy tôi vẫn nói với những người làm thơ quen biết, và có lý do để mạnh miệng như vậy. Không chỉ “văn là người” mà cả đến thơ cũng là “người”. Hơn thế nữa, bài lục bát ấy cũng nói cho tôi biết ít nhiều về “tay nghề” của tác giả.

Thế nhưng, vì sao là lục bát mà không phải thể thơ nào khác? Chỉ vì, thơ lục bát “dễ làm, khó hay”, và là một thử thách cho người làm thơ. Qua một bài lục bát, dẫu tân, cổ kiểu nào, bản lãnh của người làm thơ thể hiện rõ nét hơn bất kỳ thể thơ nào khác.

I. Từ Ca Dao Đến Hồn Nhiên Lục Bát

Thơ lục bát dễ làm, khó hay, nhiều người vẫn đồng ý như vậy, nhưng không chắc đã đồng ý với nhau thế nào gọi là “hay”.

Biết thế nào là bài thơ, câu thơ hay? Khen một bài thơ hay cũng giống như khen bức tranh đẹp, dễ rơi vào chủ quan. Người này nói đẹp, người kia nói không đẹp. Đẹp xấu, hay dở thế nào là tùy thuộc cảm quan nghệ thuật, khuynh hướng thẩm mỹ của từng người. Cũng tựa như nghe nhạc vậy, người yêu bài này, kẻ thích bài kia. Người yêu “tuyệt phẩm bolero”, kẻ thích “dòng nhạc thính phòng”… Mỗi người mỗi tánh mỗi ý, câu thơ có chạm được vào trái tim người yêu thơ hay không là tùy vào cung bậc cảm xúc của từng người.

Thơ lục bát cũng có lục bát sến, lục bát sang, lục bát truyền thống, lục bát hiện đại, lục bát cổ điển, lục bát tân kỳ, lục bát dung tục, lục bát tấu hài… Mỗi người “tự chọn” lấy những bông hoa mình yêu thích trên cánh đồng thơ lục bát.

Nhiều bài, nhiều câu lục bát được lắm người tán tụng, trầm trồ, thế nhưng tôi đọc chẳng thấy chỗ nào hay ho hoặc chỉ hay vừa vừa. Ngược lại, nhiều bài, nhiều câu lục bát tôi yêu thích nhưng không chắc đã được người khác chia sẻ. Tôi nhớ, một tờ báo mạng “chuyên trị” về thơ lục bát có tuyển chọn ra “1.000 câu thơ lục bát để đời”, hoặc một tờ báo khác làm công việc bình chọn “99 bài thơ lục bát hay nhất thế kỷ”. Không rõ việc bình chọn dựa trên những tiêu chuẩn nào và kết quả thế nào, riêng tôi vẫn cho là việc này không dễ và kết quả việc “bình bầu cá nhân xuất sắc” ấy không chắc được sự đồng thuận của người yêu thơ và làm thơ, nhất là những nhà thơ không thấy… tên mình trong số tác giả được tuyển chọn.

Dường như những bài thơ hay ngày càng ít đi, nhiều lắm chỉ nhặt ra được một đôi câu trong một bài. Người đọc khó mà nhớ được trọn bài thơ nào là vậy. Bài lục bát duy nhất tôi nhớ được trọn bài là “Hoa cỏ may”của thi sĩ Nguyễn Bính, gồm một câu “lục” và một câu “bát”:

Hồn anh như hoa cỏ may
một chiều cả gió bám đầy áo em

Thơ hay, một hai câu cũng hay.

Người viết nhớ đâu ghi đó những câu lục bát dẫn ra trong bài. Người đọc, như trên đã nói, có thể thấy hay hoặc không hay, thấy thích hoặc không thích. Việc dẫn giải những câu thơ trích dẫn, nếu có, chỉ vắn tắt. Dù sao, “bắt” được một, hai câu lục bát hay, với người yêu thơ, cũng là điều thú vị. Mong được như vậy.

1. Lục Bát Dân Gian

Hỡi cô tát nước bên đàng,
sao cô múc ánh trăng vàng đổ đi?

Có tài liệu nói rằng câu thơ trên không phải là câu ca dao quen thuộc như nhiều người vẫn tưởng mà là câu lục bát trong bài thơ “Trăng quê” của thi sĩ Bàng Bá Lân in trong thi tập đầu tay Tiếng Thông Reo, xuất bản năm 1934 ở Hà Nội. (Câu thơ Bàng Bá Lân có khác hai chữ: Sao cô lại múc trăng vàng đổ đi?).

Lại có người cho rằng câu ca dao Trăng bao nhiêu tuổi trăng già / Núi bao nhiêu tuổi gọi là núi non? là câu thơ của thi sĩ Tản Đà.

Những nhầm lẫn này cho thấy nhiều câu lục bát về tình tự dân tộc rất gần với ca dao.  

Từ lúc nào, từ nơi sâu thẳm nào trong tâm hồn người Việt đã thấm đẫm nguồn thơ lục bát bàng bạc trong kho tàng ca dao, trong nhiều bài đồng dao, trong lời mẹ ru con bên vành nôi. Nguồn thơ lục bát, trong nghĩa ấy, là nguồn cội dân tộc.

Tôi nhớ đã phải lòng lục bát từ thuở được làm quen với những câu ca dao trữ tình mà nhiều người quen gọi là “lục bát dân gian”. Bên dưới là những câu lục bát thẳng cánh cò bay mà không khéo lắm người lại tưởng rằng… ca dao.

Không trầu mà cũng chẳng cau,
làm sao cho thắm môi nhau thì làm
   

(Được yêu như thể ca dao, Nguyễn Duy)

Lòng anh quanh quẩn bờ rào,
như con bươm bướm bay vào bay ra     

(Cảm ơn, Viên Linh)  Hay là:

Thôi thì em chẳng yêu tôi,

leo lên cành bưởi nhớ người rưng rưng     

(Động hoa vàng, Phạm Thiên Thư)

(“Nhớ người rưng rưng” mới thật là hay, không phải “khóc người rưng rưng” như lời của bài nhạc phổ thơ).

Trăng tròn từ thuở mười lăm

em tròn từ thuở anh nằm tương tư     

(Trăng, Bắc Phong)  Hay là:

Chỉ tại con mắt lá răm
nên tằm mới chịu ăn nằm với dâu…

Chỉ tại cái nết không chừa
thế nên trúc cứ lẳng lơ với mành
    

(Trăm dâu cứ đổ đầu tằm, Ngô Tịnh Yên)

Mùa thu mây trắng xây thành
Tình em mầu ấy có xanh da trời
    

(Thu 1954, Hoàng Hải Thủy)

Cái đẹp của thơ lục bát là vẻ đẹp tự nhiên, không cầu kỳ kiểu cọ, không chải chuốt điệu đàng.

Cái hay của thơ lục bát là cái hay của vẻ đơn sơ, bình dị, như tâm hồn chân chất mộc mạc của người dân Việt.

2. Lục Bát Qua Cầu Gió Bay

“Mỗi người Việt là một thi sĩ”, tôi ngờ rằng “thi sĩ” trong câu nói ấy nhiều phần là thi sĩ của thơ lục bát, của những lời thơ tựa những lời lẽ người ta thốt ra một cách tự nhiên mà nghe thật ngọt ngào, dịu dàng và êm tai.

Anh đã có vợ hay chưa
mà anh ăn nói gió đưa ngọt ngào?     

(Ca dao)

Theo cái nghĩa này, ai cũng có thể làm thơ được dễ dàng mà không nhất thiết phải là thi sĩ, thậm chí không nghĩ rằng mình đang làm thơ. Già trẻ lớn bé gì cũng đều làm thơ lục bát được, và trong số những bài thơ ấy ta nhặt ra được không ít những lời thơ “gió đưa ngọt ngào”.

Câu thơ lục bát hay là câu thơ đọc “vèo” một cái thấy hay hay, đến chừng ngoái lại mới hay là mình vừa bước “qua cầu gió bay” một… câu lục bát.

Cái hay trong thơ lục bát là cái hay tự nhiên, hoặc được dụng công thật khéo để mang vẻ tự nhiên. Nhiều câu lục bát đọc lên nghe khơi khơi, nghe thật hồn nhiên như… lục bát:

Còn điếu thuốc này nữa thôi,

đốt lên anh chúng ta ngồi hút chung     

(Chuyện mùa xuân muộn, Thái Phương Thư)

Tôi về đây nhớ chiều xanh,

con chim nào hót trên cành khô kia    

(Giọng sầu, Hoài Khanh)  Hay là:

Đi trong chiều cuối tháng tư,

nắng Montréal đẹp y như Sài Gòn     

(Dạo phố Sainte Catherine, Luân Hoán)  

Tháng mười gió bén như dao
Cắt rơi chiếc lá thả vào lòng tôi
    

(Nhớ nhà, Quan Dương)

Tình ơi, về lại tháng ba
ghé thăm một chút cho ta đỡ buồn
Lục trong ngăn kéo, thỏi son
tình đi ngày ấy hãy còn bỏ quên
    

(Tình ơi, Lâm Chương)  Chưa hết:  

Lòng còn thơm ngọn gió quê

thổi đâu từ thuở bờ tre mới trồng     

(Năm mới, Phan Ni Tấn)

Trầu ơi, xanh lá cho mau
cho duyên con gái thắm màu vôi yêu
    

(Chiều thơm, Như Thương)  Vẫn chưa hết:.

Mùa thu có lá ngô rơi,

có đôi người mới thành đôi vợ chồng     

(Hoa bưởi xóm Chùa Đào, Y Dịch).  

Mười năm không trở lại nhà

Bóng trưa nghiêng đổ, tiếng gà trong mơ     

(Trăng ý, Tần Hoài Dạ Vũ)

Những câu lục bát như thể “gió đưa cành trúc la đà”, như thể “cánh cò bay lả bay la” trên ruộng lúa mênh mông.

II.  Ngôn Ngữ Thơ Lục Bát

Ngôn ngữ thơ là chữ nghĩa, hình ảnh, ý tưởng … chỉ có ở trong thơ hơn là trong đời thực. Có điều, khi đọc, nghe, ta cảm thấy như là có thực, có ý nghĩa và chấp nhận được; hơn thế nữa, lại còn rung cảm vì thứ ngôn ngữ ấy. Bất kỳ cách diễn đạt nào làm cho người ta đọc ra thơ, nghe ra thơ, hiểu ra thơ muốn “nói” điều gì, đều là ngôn ngữ thơ.

1. Chữ Và Nghĩa:

Thường thì nói đến ngôn ngữ người ta dễ nghĩ đến tiếng nói và chữ viết. Chữ nghĩa ở trong thơ lắm khi không giống như ở bên ngoài đời thường.

Tôi vịn câu thơ mà đứng dậy     

Ngoài đời, chẳng ai nói như vậy cả. Câu thơ (của Phùng Quán) không phải là cây gậy, cây nạng mà “vịn” vào được.

Câu thơ hay thường có ý tứ mới, lạ, diễn đạt bằng chữ nghĩa mới, lạ, và nghe rất “thơ”.

Mành tương phất phất gió đàn

Hương gây mùi nhớ, trà khan giọng tình     

(Truyện Kiều, Nguyễn Du)

Lối đi vừa chớm tiêu điều

mùa nghiêng bóng nhỏ ngày xiêu cội dài
phố chiều gió
vọng bàn tay

ru anh về với đôi ngày lãng quên    

 (Bài ru,Trần Dạ Từ)

Những “gây”, “khan”, “nghiêng”, “xiêu”, “vọng”, “ru” ấy chỉ tìm thấy ở trong thơ.

Tóc người chảy suốt cơn mưa
Ngực thơm hoa bưởi, môi
đưa bão về     

(Chân dung, Du Tử Lê)

Em đi sông gọi tiếng thầm
Lục bình
chia nhánh đá trầm mình đau

Em đi trời xuống thật sâu

Mây chia trong tóc, gió nhầu trên vai    

 (Xóa bình minh, Trần Mộng Tú)

Những “chảy”, “đưa”, “gọi”, “chia”, “trầm”, “xuống”, “nhầu” ấy cũng chỉ tìm thấy ở trong thơ. “Mây chia”, “gió nhầu”…, ngoài đời chẳng ai nói thế bao giờ.

Tôi vào chùa, quá tam quan

Phật ngồi im lặng, liễu bàng hoàng xanh
(Thực, Không đôi bờ, Trần Mộng Tú)

Câu thơ đọc lên nghe… bàng hoàng. Đâu chỉ có Phật, đến cả Chúa cũng bàng hoàng:

Tiếng em hát giữa giáo đường,

Chúa về trong những thánh chương bàng hoàng     
(Động hoa vàng, Phạm Thiên Thư)

Dường như cô bé rất hiền,

tay ngoan cặp sách, mắt viền ngây thơ

Dường như ai đó tình cờ

theo chân guốc nhỏ bất ngờ sau lưng     

(Tiểu thư, Như Thương)

Chữ “ngoan” dùng như là động từ, nghe hay hay, ngồ ngộ (những người làm thơ khác chắc sẽ viết “tay ôm cặp sách”). Và động từ “viền” ấy nữa, nghe cũng mới, cũng lạ. Đến hai chữ “bất ngờ” thì thật là… bất ngờ, cứ như là bất ngờ quay đầu lại bỗng giật mình thấy anh chàng đứng ngay sau lưng mình tự lúc nào.

Những chữ nghĩa và cách nói lạ lùng ấy chỉ nghe, chỉ thấy ở trong thơ.

Chữ nghĩa cần có sự phát minh, sáng tạo hơn là lặp lại rập khuôn người đi trước. Những vô thường, vô vi, phù vân, phù ảo, hư ảo, hư không, tà huy, miên trường… mà người làm thơ cố đưa vào bằng được trong thơ mình thường có một vẻ gì khập khiễng, gượng gạo như một kiểu tạo dáng kém tự nhiên, đôi lúc khiến câu thơ tối tăm, khó hiểu.

Thường, thơ khó hiểu thì khó hay; thơ tạo dáng thì khó tạo được cảm xúc.

Thơ hay, “thì”, “mà”, “là”… cũng hay, nhất là với thể thơ lục bát thuần Việt. Chẳng hạn:

Con sông nào đã xa nguồn

thì con sông đó sẽ buồn với tôi     
(Dòng sông của tôi, Hoài Khanh)

Ví dù gối đã lìa chăn

thì chăn gối cũng bao lần với nhau
Ví dù trước đã lìa sau

thì sau trước trước sau sao vẫn là     
(Minh khúc, 89, Nguyễn Tất Nhiên)

Chiều nay ngang cổng nhà ai
nhủ lòng tôi chỉ nhìn cây trúc đào
Nhưng mà không hiểu vì sao
gặp người xưa lại nhìn nhau mỉm cười
    

(Trúc đào, Nguyễn Tất Nhiên).   

“Nhưng mà không hiểu vì sao”… những từ ngữ Hán-Việt, những từ ngữ sáo mòn thời thượng, vẫn cứ được nhiều người làm thơ yêu chuộng. Chữ nghĩa bình dân làm thơ kém hay chăng? Chưa hết:

Tiếng em cười tự thu nào

mà nghe rúc rích bên rào giậu thưa

Em gọi tôi ở ngoài mưa

hay cơn gió lạnh nào vừa qua sông?     
(Thu xưa, Đynh Trầm Ca)

Tôi về khép lại căn phòng

thấy trong lồng ngực như không có gì

Trái tim đã bỏ tôi đi

ai mà nhặt được gửi về dùm tôi    
(Gửi, Nguyễn Trọng Tạo)  Hay là:

Chết đi còn sợ xứ người
là ta sợ cái nổi trôi đã từng
Quê nhà em có về không
cho ta về với nằm cùng nghĩa trang?
   

(Về cùng, Hoàng Lộc)

Mai kia mốt nọ ngang nhà,
có còn liếc trộm như là hồi xưa?
E chừng sớm nắng chiều mưa,
chuyện hồi xưa đã ngày xưa mất rồi
(Phụ phàng, Trần Huy Sao).  

Vẫn chưa hết, những câu lục bát “nhưng mà”, “mà sao”, “tại vì”, “cũng vì”…

Cũng vì mắt ngó trời xanh

cho nên mắt cũng long lanh màu trời

Cũng vì mắt ngó biển khơi

cho nên mắt cũng xa vời đại dương    
(Ngón tay hoa, Trụ Vũ)

2. Ý Tưởng

Câu thơ đẹp thường có mang theo ý thơ đẹp. Ý tưởng mờ nhạt, có mới mà không hay, hoặc có hay mà không mới, thường kém sức hấp dẫn. Ý tưởng cần sáng tạo hơn là vay mượn.

Một ngày nắng đẹp bình yên

Sớm mai thấy mặt trời lên hiền lành     
(Không đề, Tế Hanh)

Câu lục bát của nhà thơ Tế Hanh, có người khen hay, có người chê “nhạt”, chê “hiền lành” quá.

Cà phê nhớ bữa hôm nay

Chén trà xin hẹn ngày rày năm sau     

(Bên quán cà phê, Bùi Giáng)

Câu lục bát của “trung niên thy sỹ” Bùi Giáng, được “cải biên” khá vô tư từ câu lục bát của Nguyễn Du (hoặc “tư tưởng lớn gặp nhau” không chừng):

Chén đưa nhớ bữa hôm nay

Chén mừng xin đợi ngày rày năm sau     

(Truyện Kiều, Nguyễn Du)

Câu thơ hay như bông hoa lạ và đẹp nở ra từ… lục bát, đôi lúc gây bất ngờ và thú vị:

Biệt ly dù ở ga nào,

cho tôi ngồi một toa tàu lãng quên     

(Hôm nay, Nguyễn Tất Nhiên)

Em đi mang theo nụ cười,

tôi ngồi nhìn thấy khoảng đời trống không     

(Cát bụi, Phổ Đức)

Dấu thu kinh tự còn mê,

em mang tà áo bốn bề là trăng     

(Thu vô lượng, Nghiêu Minh)

Áo dài bồng bềnh, chơi vơi như dải trăng thu huyền ảo. Chưa hết:

Khi buồn vẽ mặt bôi râu
nhìn xem lũ quỷ không đầu xưng vương
Khi em đảo ngược thần hồn
thấy tôi cải tạo mười năm chưa về
    

(Bài ca dao về trăng, Lâm Hảo Dũng)

Có ai ngồi quán mong chờ
lắng nghe đàn khảy tình thơ ít nhiều
Bây giờ ghế ngả bàn xiêu
dưới chân nhện hóng, tơ thiều hết ngân
    

(Tọa độ người, Hoàng Xuân Sơn).  

Chưa hết:

Em về nơi ấy có tôi
chưa tìm đã thấy buông trôi tình cờ
Mất rồi lại có trong mơ
vừng trăng tím ngát bao giờ có em
    

(Nơi có, Lưu Nguyễn Đạt)

Tình đến rồi đi, tình mất hay còn, tình thực hay mơ, như bóng trăng huyền hoặc.

Tóc mây Hà Nội năm nào

em đem từng sợi buộc vào đời anh
Bây giờ tóc bạc, tóc xanh

tình xưa anh vẫn quẩn quanh tìm hoài     

(Tóc rối, Nhất Tuấn)

Tình như “tóc rối”, biết đàng nào mà gỡ.

3. Hình Ảnh

Hình ảnh tô đậm thêm những tình ý trong thơ. Ý tưởng đẹp, minh họa bằng hình ảnh đẹp, thường đọng lại về lâu về dài trong tâm tưởng người yêu thơ.

Người lên ngựa, kẻ chia bào   

Rừng phong thu đã nhuốm màu quan san    

 (Truyện Kiều, Nguyễn Du)

Dấu chàng theo lớp mây đưa
Thiếp nhìn rặng núi ngẩn ngơ nỗi nhà
    

(Chinh phụ ngâm khúc, Đoàn Thị Điểm)

Chưa hết, những câu thơ tả tình tả cảnh, kẻ ở người đi…

Mù sương phi cảng não nề

Thôi anh ở lại buồn về em mang     

(Khúc ly đình, Cao Thị Vạn Giả)

Bellevue ơi, Bellevue ơi,

xa ngươi ta nhớ lưng trời thông reo

Đồi nghiêng, dốc đổ, chân đèo

bước đi ngoảnh lại nhìn theo bóng người     

(Bellevue 1, Chu Trầm Nguyên Minh)

Hình ảnh, có khi là bức tranh thơ tĩnh lặng.

Mở trang kinh. chỉ thấy mây
thiền tâm thanh tịnh niệm ngay di đà
tranh hoàng hôn. cảnh tuyết sa
giọt vàng giọt đỏ. nhạt nhòa giọt tôi
    

(Chép một tờ kinh, Lữ Quỳnh)

Có khi là bức tranh nhiều màu sắc, sinh động.

Môi cười vết máu chưa se,

cành hoa gạo cũ nằm nghe nắng hiền

Anh nằm nghe bước em lên,

ngoài song lá động, trên thềm áo bay     

(Khi nàng đến, Trần Dạ Từ)

Trong phút giây chờ đợi bước chân người tình khe khẽ đến bên hiên nhà, chàng tưởng chừng nghe được cả tiếng gió lay động vạt áo và tiếng lá nhẹ rơi bên thềm nhà vắng.

Có khi là “chiều rơi trên đường vắng”…

Chiều rơi từng vạt mong manh,

chân đi vừa chạm khúc quanh, chiều tàn    

(Đường hành hương, Phan Ni Tấn)   

Có khi là áo trắng xôn xao mùa tựu trường. Áo trắng như đàn bướm trắng trong nắng sân trường.

Sáng nay áo trắng tựu trường,

gót chân cuống quýt cả hương cúc vàng     

(Ánh mắt tựu trường, Đoàn Vị Thượng)

4. Âm Điệu:

Âm điệu trong thơ có thể là vần điệu, nhịp điệu hay nhạc điệu.

(a) Vần điệu

Vần điệu là yếu tố hàng đầu để nhận diện thơ lục bát và cũng tạo sắc thái riêng cho thể thơ này. Câu thơ có vần có điệu dễ quyến rũ người yêu thơ, quyến rũ những tâm hồn nhạy bén với thơ, không cứ gì là thi nhân. Tác giả “Bướm trắng”, từng cho mình là “người thừa trong làng thơ”, vẫn có những khi tức cảnh sinh tình mượn câu lục bát để gửi gấm những nỗi niềm.

Mắt mờ lệ nhớ người xưa,

mười năm thương nhớ bây giờ chưa nguôi

Trông hoa lại nhớ đến người,

hoa xưa, xuân cũ biết đời nào quên     
(Nhớ Hoàng Đạo, Nhất Linh)

Thơ hay đến từ cảm xúc chân thực. Chỉ cảm xúc thực mới truyền được cảm xúc đến người đọc. Cảm xúc giả tạo hoặc vay mượn dễ nhận biết, tựa bức tranh vô hồn.

Nhớ em là nhớ quê nhà,
bát canh rau đắng mẹ già còn không?
    

(Lúc nhớ, Hoàng Lộc)

Nhớ em dào dạt biển sông,

làm sao con sóng trong lòng bình yên?    
(Điệp khúc 68, Xuân Chung)

Quê nhà, mẹ già, biển sông, con sóng, chỉ đơn sơ là vậy nhưng khơi dậy những nỗi niềm trăn trở và nhớ nhung da diết.   

Thủ pháp gieo vần lưng (yêu vận) là nét đặc sắc trong thơ lục bát, làm biến đổi hẳn về tiết tấu, nhịp điệu câu thơ, nghe như một nốt trầm trong câu nhạc hay một “bước nhỏ ngập ngừng”.

Sao em không chọn mùa đông

mà đi lấy chồng lại đúng mùa thu?
(Thu xưa, Đynh Trầm Ca)

Tôi còn có một mùa đông

Em ở với chồng tận cuối cơn mưa     

(Tận cuối cơn mưa, Đồng Đức Bốn)

Người phu quét lá bên đường,

quét cả nắng vàng, quét cả mùa thu     

(Góp lá mùa xuân, Trịnh Công Sơn)

Câu thơ, cũng nhờ vậy, có thêm nhạc tính.

Bài này không nhằm đi sâu vào phân tích về âm luật, các thủ pháp gieo vần, ngắt nhịp trong thể thơ lục bát.

(b) Nhịp điệu:

Nhịp điệu là tiết tấu của câu thơ. Câu, chữ trong thơ lục bát thường được ngắt theo nhịp chẵn, đôi lúc nhịp lẻ tùy thuộc cách thể hiện tình ý trong thơ và cũng để tránh sự đơn điệu.

Đò qua sông / chuyến đầu ngày,

người qua sông / mặc áo dài buông eo    

(Chuyến đò Cửu Long, Nguyễn Tất Nhiên).  

Em giờ là / của người ta

Của riêng tôi / một chậu hoa cúc tần     

(Bên giậu cúc tần, Nguyễn Đại Nghĩa)

Có khi là những tiểu đối nhịp nhàng tạo khoảng cách đều đặn và tiết tấu dìu dặt cho thơ.

Khi chén rượu / khi cuộc cờ

Khi xem hoa nở / khi chờ trăng lên     
(Truyện Kiều, Nguyễn Du)

Rượu mời ta rót cho ta

Bạn gần không đến / bạn xa chưa về

Rót nghiêng năm tháng vào ly

Mắt nheo bóng xế / tay che tuổi buồn     
(Ðêm cuối năm uống rượu một mình, Thanh Nam)

Về khuya tiếng nói âm thầm
em nghiêng mái tóc cho gần vai anh
Nhạc lên men rượu si tình

ngẩn ngơ khói thuốc / bồng bềnh ý thơ     

(Bài ca M.L., Hoàng Anh Tuấn)

Có khi là nhịp cầu nối liền chữ thứ sáu và chữ thứ bảy trong câu “bát”, tạo cảm giác đong đưa, mượt mà.

Miệng người tự bữa môi cong
Mắt người tự bữa ngước
đong đưa nhìn    

 (Hiện thể, Bùi Giáng)

Ở đây mưa trắng không gian,
mưa vùi dập mộng, mưa
tan tác đời     

(Buộc áo giữa đường, Trần Mộng Tú)

Nhiều lắm, những nhịp cầu nối lênh đênh, dập dềnh.

Em đi phố cũng ngậm ngùi

rừng kêu, núi gọi, sóng vùi dập sông
(Rừng trú ngụ em, Trần Yên Hòa)

Tây Bắc chiều núi lặng thinh
Se-at-tle đó mây
lênh đênh về     

(Chào Tây Bắc, Nguyễn Nam An)

Lối đi vàng nhạt mùa thu
Nghe lau lách động niềm
u uất buồn     

(Trông theo, Hoài Khanh)

(c) Nhạc điệu:

“Thi trung hữu nhạc”, tôi ngờ rằng “thi” trong câu ấy nhiều phần là thơ lục bát. Các nhạc sĩ chuộng phổ thơ vẫn nói rằng phổ nhạc một bài lục bát không phải dụng công nhiều vì trong thơ đã sẵn có nhạc.

Thử đọc, đọc thành tiếng chứ không đọc thầm, một đôi câu lục bát, ta nghe được những nốt, những thanh âm trầm bổng, nhịp nhàng uyển chuyển đến từ vần điệu, nhịp điệu và ngữ điệu trong thơ. Những yếu tố này khiến câu lục bát giàu nhạc tính hơn bất cứ thể thơ nào.

Nhẹ bàn tay, nhẹ bàn tay
Mùi hương hàng xóm bay đầy mái đông
Nghiêng nghiêng mái tóc hương nồng
Thời gian lặng rót một dòng buồn tênh
    

(Thơ sầu rụng, Lưu Trọng Lư)

Nghe thơ, như nghe vẳng lên trong đầu lâng lâng tiếng nhạc.

Ngủ đi em, mộng bình thường

Ru em sẵn tiếng thùy dương mấy bờ     

(Ngậm ngùi, Huy Cận)

Đèo cao cho suối ngập ngừng

Nắng thoai thoải nắng, chiều lưng lửng chiều    

(Đường rừng chiều, Nguyễn Bính)

Tai nương nước giọt mái nhà,
nghe trời nằng nặng, nghe ta buồn buồn
    

(Buồn đêm mưa, Huy Cận)

Câu thơ nghe… “lưng lửng”, “buồn buồn” làm sao!

Câu thơ đậu trong điệu hò,

hồn tôi đậu giữa lòng đò trăng soi     

(Trong khi chờ thanh xuân, Phan Ni Tấn)

Tiếng thơ nghe dạt dào như con đò nhỏ dập dềnh trên sóng, như mái chèo nhẹ khua nước đêm trăng. Chưa hết:

Tôi đang mơ giấc mộng dài,

đừng lay tôi nhé cuộc đời xung quanh     

(Năn nỉ, Lệ Lan)

Mưa như từng giọt rượu hờ,
đêm trong thành phố ai chờ chờ ai
Mưa thưa tựa áo lụa trời,
ôm quanh da thịt chân người người qua
    

(Mưa mùa hạ, Trịnh Công Sơn)

Nghe tiếng thơ, tưởng nghe được tiếng mưa đêm rơi đều về ngang thành phố.

Có khi câu “lục” trong thơ toàn vần “bằng”, cho một cảm giác mênh mang, xa vắng.

Hơi đàn buồn như trời mưa

Các anh tắt nốt âm thừa đi thôi     

(Các anh, Thâm Tâm)

Ôi thông xanh, ôi hồng đào
Phong rêu mấy thuở hồn nào không đau
    

(Thu ngây, Cung Trầm Tưởng).

Bây giờ môi anh cô đơn

Nhớ em nhớ cả nụ hôn dịu dàng     

(Nhớ, Vũ Thành)   

Hay là:   

Tôi vào chùa, tâm phân vân

Tiếng chuông vỡ giữa Thực, Không đôi bờ    

(Thực, Không đôi bờ, Trần Mộng Tú)

Còn chăng là mây lang thang

trên đồi gió hú bạt ngàn rừng thông

Còn chăng là đêm mênh mông

người ngồi nhớ một dòng sông cạn rồi     

(Người thi sĩ ấy không còn làm thơ, Phạm Cao Hoàng)

Thơ, nhạc và tranh nhiều lúc vượt ra ngoài biên giới của ngôn ngữ. Cái làm cho thơ “không biên giới” là ý tưởng và hình ảnh (đôi lúc chữ nghĩa) hơn là vần điệu, nhịp điệu hay nhạc điệu. Đọc một bài thơ hay của nước ngoài ta thấy nhiều phần cái hay là hay về ý tưởng hoặc hình ảnh. Bài thơ tiếng Việt chuyển ngữ sang tiếng nước ngoài cũng chỉ chuyển tải được những tình ý, hình ảnh ở trong thơ hơn là âm điệu. Thơ trở thành tiếng nói chung thông qua ý tưởng và hình ảnh. Trên hết vẫn là ý tưởng. Khi không còn nghe ra âm điệu, “lục bát tính” cũng không còn, khiến cái đẹp, cái hay của thơ lục bát cũng hao hụt đi ít nhiều.

Thơ là sự bay bổng của ngôn ngữ. Ngôn ngữ nào bay lên được thì gọi là thơ. Bay đi đâu? Hẳn là bay ra ngoài thế giới ngôn ngữ của đời thường. Thơ bay bổng làm con người cũng muốn bay bổng theo. Đọc được, bắt được một câu thơ, một ý thơ hay thật là sảng khoái, có cảm giác lâng lâng, bềnh bồng tựa hồ… bay là là trên không.

Cái cách tạo cho người ta cảm giác ấy, là thơ, là nghệ thuật của thơ. Và người làm thơ phô diễn cái nghệ thuật ấy bằng ngôn ngữ thơ.

***

Bài này không đề cập đến những biến thể biến thái, cách tân cách điệu về cấu trúc của thể thơ lục bát. Những công trình khai phá hay thử nghiệm nào để làm thơ lục bát thêm phong phú và hấp dẫn cũng đáng được hoan nghênh. Có điều, những canh tân đổi mới này nhiều phần thiên về hình thức hơn là nội dung, thường là những kiểu sắp chữ, sắp hàng, xuống dòng, cách quãng, ngắt nhịp, đôi lúc đi quá đà như chẻ nhỏ hay chẻ vụn câu, chữ trong thơ. Những cách trình diễn lạ mắt ấy ít nhiều đánh mất lục bát tính. Câu thơ lắm lúc đọc nghe trúc trắc, gập ghềnh, tựa như chạy xe trườn lên những cái “bump” gồ ghề trên mặt đường.

Người yêu thơ, vẫn trông đợi nơi thơ cái “tân nội dung” hơn là tân hình thức. Một bài thơ, câu thơ hay không bao giờ cũ, như cái đẹp còn ở lại với ta mãi.

Thơ trích ra trong bài này là những câu thơ “mẫu”, chỉ nhằm minh họa phần nào cái đẹp, cái hay của thơ lục bát trên cánh đồng thơ bát ngát, mênh mông. Xin cám ơn tác giả những câu thơ người viết mạn phép trích dẫn. Chắc chắn là tôi đã quên sót nhiều bài, nhiều câu lục bát hay, và còn nhiều, rất nhiều bài lục bát thật hay nữa tôi chưa được biết tới.  

Thơ lục bát không bao giờ cũ, không bao giờ lỗi thời, không bao giờ cạn nguồn. Nguồn thơ lục bát là vô tận.

Thơ lục bát là thơ nội hóa. Yêu thơ lục bát là yêu “hàng nội”, là “ta về ta tắm ao ta”.

Thơ lục bát là kho tàng thi phú của riêng người Việt mình, không sợ ai đánh cắp, bắt chước hay cạnh tranh được, cũng là niềm tự hào về bản sắc và tính độc lập trong ngôn ngữ và thi ca của dân tộc Việt.

Thơ lục bát có thể được kể thêm vào những món “đặc sản” trong văn hóa truyền thống của người Việt như áo dài, như nón lá và cả những món ăn “quốc hồn quốc túy”.

“Truyện Kiều còn, tiếng Việt còn”, ta vẫn nghe vậy. “Tiếng Việt” vẫn còn đây, trong mọi sinh hoạt của cộng đồng người Việt ở hải ngoại. Truyện Kiều là danh tác, không ai phủ nhận. Có điều trường thi lục bát này, cũng như nhiều áng văn chương “cổ điển” khác, e không có sức hấp dẫn và “hợp khẩu vị” của thế hệ người Việt trẻ trung sinh trưởng hoặc trưởng thành ở nước ngoài.

Sau Truyện Kiều, nối gót cụ Nguyễn Du, các thế hệ thi nhân đã mang đến cho đời nhiều thi phẩm lục bát hay, giá trị với đề tài, nội dung gắn liền với cuộc sống quanh ta.

Nếu được phép đề nghị, các trường dạy tiếng Việt cho học sinh người Mỹ gốc Việt ở hải ngoại, ngoài các bài giảng về tục ngữ, ca dao, có thể thêm vào bài giảng về thể thơ lục bát truyền thống của người Việt mình. Các thầy cô giáo có thể dạy cho các em, các cháu, cái đẹp cái hay của thơ lục bát, gieo vào lòng các em tình yêu thơ lục bát, và qua đó, gieo vào lòng các em tình yêu tiếng Việt.  

Hơn thế nữa, ngoài các bài tập làm văn, thầy cô có thể dạy các em… tập làm thơ. Sao không? Không gì bằng dẫn dắt các em đi vào thế giới thi ca bằng cách làm quen với thể thơ lục bát. Nếu cần, phát huy thêm bằng các hình thức tổ chức thi đua làm thơ lục bát về những đề tài gần gũi, thiết thực. Các bậc phụ huynh hẳn sẽ vui lắm khi thấy con em mình… biết làm thơ lục bát (và người yêu thơ lại có thêm nhiều bài thơ hay lục bát). Thiết tưởng đấy cũng là phương cách “bảo tồn và phát huy tiếng Việt” như mục tiêu của hầu hết các trường dạy tiếng Việt ở nước ngoài hiện nay.

Khi mà con cháu chúng ta biết làm thơ lục bát, biết yêu thơ lục bát và biết tự hào về thơ lục bát như tự hào về bản sắc văn hóa của dân tộc Việt thì ta có thể yên tâm là tiếng Việt mến yêu sẽ còn mãi còn hoài, chẳng mất đi đâu được.

“Thơ lục bát còn, tiếng Việt còn”, chúng ta có lý do để tin như vậy.

Lê Hữu

*** Ý Tưởng về Thi Ca

Chân Phương tuyển dịch

hoa 1 

** La poésie est une pratique de la vigilance dans tous les actes de la vie quotidienne devenus contemplation, un exercice spirituel, un sacerdoce. Michel JOURDAN

Thơ là thực tập canh thức trong mọi hành vi đời sống thường ngày đã trở thành chiêm nghiệm. Thơ là thể dục tâm linh, một chức vụ tôn nghiêm.

** La poésie, c’est la lutte contre l’usure, non seulement l’usure des mots, mais à l’occasion de cette usure-là, celle de toute notre vie. Lutte contre la routine, contre la répétition monotone de nos gestes quotidiens. Maxime ALEXANDRE

Thơ là chống trả sự xói mòn, không chỉ xói mòn từ ngữ mà thông qua đó là sự xói mòn của trọn một đời người. Chống lại tập quán, sự lặp đi lặp lại nhàm chán những động tác thường ngày của chúng ta.

** On est accoutumé à dire que le poète est le voyageur qui est parti pour le Pays des Chimères.Cela est faux. Le poète est parmi les rares voyageurs d’ici-bas qui sont partis pour le Pays de la Vie, quittant le Royaume des Apparences pour celui des Réalités spirituelles, – les seules éternelles. Le poète est un réaliste dans le plus haut sens spirituel du terme. Malcolm de CHAZAL

Người ta có thói quen cho rằng nhà thơ là lữ khách đi về Xứ Hoang Đường. Nói thế là sai. Trong đám lữ hành hiếm hoi của thế gian này, nhà thơ là kẻ đi tìm Vùng Đất của Sự Sống, rời xa Vương Quốc của Sắc Tướng để tìm Vương Quốc các Thực Thể tâm linh – duy nhất vĩnh hằng.Nhà thơ là kẻ tin vào thực hữu hiểu theo nghĩa tâm linh cao nhất của từ này.

** Un grand poète est intraduisible, et c’est là sa force. Parce qu’une fois que nous l’avons lu, et obligatoirement mal traduit, son pays d’origine nous reste interdit et ensorcelant…Poète est un homme qui nous donne envie d’aller vivre chez lui, mais chez lui n’est nulle part. Georges PERROS

Không thể dịch một nhà thơ lớn, và đấy là uy lực của thi nhân. Bởi vì sau khi chúng ta đọc ông xong và tất nhiên là đã dịch không đạt lắm, quê nhà nguyên quán của ông vẫn là nơi chốn cấm kỵ và rù quyến mãnh liệt chúng ta…Nhà thơ là kẻ khiến ta thèm muốn được sống dưới mái nhà của ông – nhưng mái nhà đó thì không biết đâu mà tìm.

** Notre Rimbaud, ce n’est pas lui, c’est nous-mêmes, voilà le vrai, c’est le vagabond que nous fumes en puissance, nous qui ne nous serons jamais évadé de la chambre bourgeoise où nous sommes né, où nous demeurons, où nous mourrons: c’est cela le mythe Rimbaud. … Que de fois l’avons-nous rencontré, ce Rimbaud-là, et nous sommes passé sur l’autre trottoir! Francois MAURIAC.

Rimbaud của chúng ta chính là ta chứ không phải hắn. Kẻ hoang đàng đích thực nằm trong khả tính của chúng ta – những người không bao giờ trốn khỏi gian phòng tư sản nơi chúng ta sinh ra, cư ngụ và chết đi: đấy là huyền thoại Rimbaud… Bao nhiêu lần không biết chúng ta đã gặp hắn, gã Rimbaud ấy, và chúng ta đã lánh qua vỉa hè bên kia đường!

** La poésie, c’est autre chose. La poésie, c’est la recherché passionnelle et comblée

De quelque chose que l’on sait ne jamais atteindre. GUILLEVIC

Thơ là cái khác. Thơ là sự truy tìm đắm đuối và toại nguyện một điều mà ta biết là sẽ chẳng bao giờ đạt được. GUILLEVIC

** Le language de la poésie ne dit pas, ne décrit pas, ne raconte pas, ne porte aucun

message: il rayonne. Jacques ANCET

Ngôn ngữ của thơ không lên tiếng, không mô tả, không trần thuật, không mang bất cứ một thông điệp nào: nó rực sáng.ANCET

** La poésie n’est pas de la littérature. La poésie est révélation. Elle est révélation car ce

qui n’existe pas, c’est l’inconnu. GAMONEDA

Thơ không phải là văn chương. Thơ là khải ngộ… Khải ngộ bởi vì cái không hiện hữu là điều bất khả tri. GAMONEDA

** Rien ne vaut d’être dit en poésie que l’indicible: c’est pourquoi l’on compte beaucoup

sur ce qui se passé entre les lignes. Pierre REVERDY

Trong thơ chỉ có vô ngôn là điều đáng nói lên: vì vậy ta chú trọng đến những gì nằm giữa các dòng chữ. REVERDY

** La poésie est une solitude, et nous sommes des moines qui échangeons des silences.

Jean COCTEAU

Thơ là nỗi cô độc, và chúng ta là những tu sĩ trao đổi im lặng với nhau. COCTEAU

** De même que les Sociétés commencent par la poésie et finissent par elle, l’homme est recu dans ses bras et près de la tombe lui consacre ses derniers efforts et en recoit les dernières consolations et ses emotions les plus douces. Alfred de VIGNY

Cũng như các xã hội bắt đầu và kết thúc bằng thi ca – được thơ đón vào vòng tay, con người khi gần xuống mồ cống hiến nỗ lực cuối cùng cho thi ca và nhận trở lại những an ủi chung cuộc cùng các xúc cảm êm dịu nhất.

** LE POÈTE, le véritable grand poète, c’est celui qui écrit non seulement des poèmes, mais l’évangile avec sa vie.

C’est celui qui brille, non comme un volcan dévorant de son feu lui-même et ceux qui l’entourent, mais comme un diamant qui concentre le plus de lumière divine – il est dur, mais ne fond que dans le plus pur feu électrique du sacrifice.

C’est celui qui ne méprise que la réalité corrompue, il est saint parmi les pécheurs, noble parmi les lâches, libre parmi les esclaves.

C’est celui qui après chaque orage se relève plus fort et après chaque larme, comme après la rosée, se redresse plus sain. – Tel est LE POÈTE !
Kornel UJEJSKI (nhà thơ Balan 1823-1897)

THI NHÂN, nhà thơ lớn thứ thiệt, là kẻ không chỉ viết ra những bài thơ mà còn viết thành kinh câu chuyện đời mình.

Đó là kẻ rực sáng, không như một hỏa sơn tự thiêu đốt làm cháy những người vây quanh, mà rực sáng như viên kim cương nơi ánh sáng thần linh tụ về nhiều nhất. Và cứng như kim cương, kẻ chỉ tan chảy trong ngọn lửa tinh ròng nhất của sự hy sinh.

Đó là kẻ chỉ khinh bỉ hiện thực thối nát, thánh thiện giữa bọn tội lỗi, cao cả giữa lũ hèn, tự do giữa bầy nô lệ.

Đó là kẻ sau mỗi cơn bão táp lại đứng lên cường tráng hơn trước và sau mỗi lần rơi lệ, như sau cơn mưa móc, lại bật thẳng thanh khiết hơn. – THI NHÂN là như thế đó !

(dịch để tặng các bạn thi sĩ gần xa)

*** Phạm Duy Và Tôi

pham duy va toiHoàng Lan Chi 

 

Thuở bé tôi đã yêu nhạc Phạm Duy. Có lẽ vì PHạM DUY có nhiều nhạc quê hương rất hay mà tôi thì yêu quê hương vô cùng. Tình ca của PHạM DUY cũng phong phú đa dạng.

Năm 2002 nếu tôi nhớ không  lầm, tôi viết bài Cảm nhận cho “Tình Ca”. Mục đích của tôi bấy giờ là muốn giới trẻ biết yêu quê hưong qua những nhạc phẩm của PHạM DUY hơn là nghe những loại nhạc vớ vẩn rên siết phận người hay đả kích chiến tranh. Vô tình PHạM DUY đọc được và chú làm quen tôi. Duyên văn nghệ từ đó. Sau này tôi viết thêm một số cảm nhận cho Quê Nghèo, Tình Hoài Hương…

Năm 2003, Phạm Duy về nước và đến quán nhạc Dòng Thời Gian của cô bạn tôi. Nơi đây cũng là nơi tôi gặp người đàn bà có giọng hát hay và rất giống Thái Thanh. Vào thời điểm 2003, chị đã chọn hát nhạc Phạm Duy trong lúc các nơi khác đang còn thịnh hành nhạc TCS. Từ tôi mà Phạm Duy  biết thêm chị, (Thuý Nga) và biết thêm Đào Minh, chủ quán Dòng Thời Gian. Phạm Duy  ở trọ một khách sạn trên đường Đồn Đất thì phải và bình dị với áo nâu, ngồi quán cà phê vỉa hè.

Chúng tôi có một số hình lưu niệm với PHạM DUY và gia đình ở đây. Có hôm  chúng tôi theo Phạm Duy đến nhà Lưu Trọng Văn chơi và gặp Nhạc Sĩ Nguyễn Văn Tý. Duyên tình của Phạm Duy với Lưu Trọng Văn là “ Nào đâu có trăm năm mà chờ với đợi”! Nghĩa là Phạm Duy đang dùng dằng thì Lưu Trọng Văn gửi bài thơ ấy và Phạm Duy đã quyết định “Về thôi, nào có trăm năm mà chờ đợi”! Phạm Duy khi về nước năm này đã đem theo bài ” Về thôi” do Phạm Duy phổ thơ Lưu Trọng Văn cho tôi nghe.

Duy Cường, Phạm Duy, Lưu Trọng Văn-Lan Chi – hàng sau Đào Minh và Thuý Nga
Duy Quang-Phạm Duy -Lan Chi- Thuý Nga
3 người đàn bà ‘vô danh” của Phạm Duy năm 2003 ( cách gọi của Phạm Duy khi chưa về VN và gặp Thuý Nga, Đào Minh, Lan Chi )
Phạm Duy vỉa hè áo nâu giản dị khi về Việt Nam

Phạm Duy giản dị áo nâu ở quán cà phê lề đường gần khách sạn

NS Nguyễn Văn Tý- Lan Chi -Phạm Duy tại nhà Lưu Trọng văn 2003
Lan Chi -Phạm Duy- Hoạ sĩ Kim Khải- Thuý Nga

Tại quán Dòng Thời Gian của Đào Minh

Phạm Duy với cô bé từ Canada về hát Người Về
Phạm Duy với một kiến trúc sư yêu nhạc Phạm Duy
Phạm Duy với ca sĩ Huy Tâm
Phạm Duy và Thuý Nga ( người hát nhạc Phạm Duy rất hay)
Hồi đó Phạm Duy đối với tôi là dễ thương dù đôi khi ông có hơi ngông. Ông gửi tôi nhiều tài liệu về cái gọi là “Gió Tanh Mưa Máu”. Tôi chỉ xem và không  ý kiến.

Rồi đẩy đưa nhiều chuyện để có khi tôi và ông tranh luận. Chỉ nho nhỏ. Nhưng có vẻ ông khá “nhường tôi”. Có gì đâu, chỉ là xoay quanh vài vấn đề đạo đức.

Khi tôi hỏi về chuyện ngày xưa, biện luận cho cái “đào hoa”, ông viết:

“Tôi đã được nhiều người (Lan Chi khuyên bé Quỳnh Chi : nghe nhạc, đừng tìm hiểu cá nhân, hiểu theo nghĩa là chỉ nên “yêu đàn” mà thôi đấy nhé… ) cho rằng tôi có một đời sống rất là “phóng túng”, hiểu theo nghĩa “bê bối”.  Lạy Chúa và Mô Phật, tôi thách đố ai dám tuyên bố tôi là kẻ nghiện rượu, nghiện thuốc lá, nghiện sì ke hay nghiện thuốc phiện (nguyên cái vụ này, tôi đã đạo đức hơn nhiều ông nghệ sĩ) … Còn nghiện đàn bà thì khỏi cần nói vì tôi đã nói rồi, nhưng tôi xin thưa rằng với những bạn muốn hiểu tôi rằng : tôi chưa hề phụ tình ai, tôi chưa hề có một bà nào hắt hủi rồi nguyền rủa tôi khi xa tôi… Everything is OK, xa nhau, rồi gặp lại nhau “bốn mắt đều có đuôi”… 
 
Tôi xin nói ngay tôi rằng trong đời tôi, có ba điều tôi tôn thờ : nghệ thuật, vợ con và người tình, đời tôi phải vững như cái kiềng ba chân. Không vì nghệ thuật mà bỏ vơ con, bỏ người tình… không vì vợ con mà bỏ người tình và nghệ thuật… không vì người tình mà bỏ nghệ thuật và vơ con.
Do đó có bao giờ vợ con tôi kết án tôi đâu? Tôi kính yêu một triệu lần vợ tôi (ngày bà còn sống và sau khi bà qua đời), khi các con kể lại rằng bà á thánh này đã có lần bảo các con : tao biết hết chuyện bố mày nhưng để cho bố mày có hứng làm nghệ thuật.-PhạmDuy” (1)

Phải nói thật là tôi đã “nghiêng ngả” khi đọc những tâm sự đó của Phạm Duy. Hay cũng có khi không  phải tôi nghiêng ngả mà chỉ vì ở tuổi ngoài 50, tôi không còn những suy nghĩ khắt khe như tuổi đôi mươi? Phải, những người khác đã đam mê rượu, chè, cờ bạc thì cái khoản “trai gái” mà Phạm Duy vướng vào, cũng chỉ là lẽ thường tình? Tất nhiên tôikhông  ủng hộ những mối tình bên lề xã hội của Phạm Duy! Tôi chỉ muốn nói, cô Thái Hằng quả là một phụ nữ tuyệt vời, xứng đáng với mỹ từ “Á thánh” mà Phạm Duy tặng cô. Viết đến đây tôi lại nhớ ký giả Bùi Bảo Trúc đã nói một câu rất hay trong đêm nhạc Vũ Đức Nghiêm “ Xin cảm ơn chị Vũ Đức Nghiêm. Vì sự bao dung của chị mà  chúng tôi có được một nhạc phẩm hay đến thế!”. Cả hội trường vỗ tay. Vâng, suy cho đến cùng, nếu không  có sự bao dung của các bóng hồng sau lưng các nhạc sĩ  thì có lẽ kho tàng âm nhạc Việt Nam sẽ thiếu vắng nhiều tác phẩm hay! Ngoài ra, sự ví von cuộc đời như kiềng ba chân ( vợ, người tình và nghệ thuật), cá nhân tôi thấy “mến” Phạm Duy vì sự thành thực của ông.

Còn khi biện luận cho “tục ca” ông đã ngậm ngùi “Có thể tôi lầm khi tự phá mình” làm tôi nao lòng. Nhưng ông cũng dí dỏm khi “chọc quê” tôi là “ Cô Quỳnh Couteau đã chửi Bộ KH mà còn sợ nghe tiếng chửi xã hội của người khác hay sao”. Vâng, tại sao nhiều người lúc đó như Chu Tử, như Thương Sinh đã chửi xã hội vì không  chịu được sự thối nát, và khi Phạm Duy dùng âm nhạc để chửi thì lại bị chửi! Tôi không  nghe Tục Ca nên không  biết nó tục thế nào nhưng có lẽ người Việt quen với hình thức dùng âm nhạc để đấu tranh, để tình tự, để vỗ về mà không  quen dùng âm nhạc để “nói tục” chăng? Dù sao, tôi không  ý kiến vì ông đã nói với tôi, ông không hề in, thu cassette. Thế là đủ.

Sách, báo, phim, ảnh ngọai quốc tràn vào sau khi cụ Diệm chết, thanh niên, trung niên, lão niên ùa chạy theo văn minh vật chất, người ta coi đạo đúc, luân lý như pha. (khôi hài nhất là những vị phi-đạo đức này phê bình nguời khác thiếu đạo đức !). Có thể tôi lầm khi tự phá mình (phá thần tượng) (1) để làm mười bài tục ca nhưng xin mọi người hiểu rõ lý do của bài hát NHÌN L… ! Cô Quỳnh Couteau đã chửi Bộ Kế Hoạch, thế mà vẫn còn sợ nghe tiếng chửi rủa xã hội của người khác. Thương Sinh, Chu Tử cũng là những văn nhân giỏi lắm, nhưng một trong những lý do chửi bới của các vị đó cũng có thể vì họ muốn bán báo chạy hơn. Tôi làm tục ca, không thu vào cassette hay tape thương mại, không in ra bản nhạc, còn không muốn phổ biến nhiều. Je les avait chantées pour mon plaisir. Thế là khóai rồi !!!”(1)
 
Về những câu nói này nọ, khi tôi hỏi về việc nghe tin đồn rằng ông phát biểu này nọ ở Úc, Phạm Duy viết cho tôi:
 
“Về chuyện kiêu ngạo khíến “Lan Chi phải van chú đừng phát biểu kiêu ngạo… thì Lan Chi có thể tin được rằng, tôi không dại gì mà phát biểu trên sân khấu (hay trước đám đông) nhất là “kỳ ở Úc vừa qua rằng nhạc PHạM DUY là nhất”.  Tôi điên mà phát biểu như vậy à ?”(1)
 
Từ mail này của Phạm Duy, tôi thực hiện bài học “Hỏi đích danh và không nghe tin đồn”. Sau này, trong chốn phong ba của hải ngoại, nhiều lần nghe đồn, tôi hỏi lại và nhờ thế “giải oan” được cho vài người!

Cuối cùng, Phạm Duy viết:

“Cuối cùng, tôi xin hỏi câu này : Lan Chi đã đọc đầy đủ cả BA cuốn HỒI KÝ của tôi, có đọan nào thấy tôi nói tới chuyện sáng tác trong WC không ? Có những đọan nào tôi tỏ vẻ tự kiêu, tự mãn không ?”(1)

Đúng thế, cuốn hồi ký của Phạm Duy là cả một công trình văn học mà tôi nghĩ hiếm có người nào ở tuổi ông, thời đại ông, có thể thực hiện được. Bài viết thứ tự, lớp lang, chữ nghĩa rõ ràng và đặc biệt nét “khoa học” tuyệt vời trong đó. Thường thì một bản nhạc dính líu đến nhiều thứ, từ tác giả đến thính giả rồi xã hội rồi hoàn cảnh. Nếu không có một óc tổ chức, rất dễ bị rối rắm. Thế nhưng hồi ký của Phạm Duy không  hề làm độc giả lạc vào mê hồn trận.

Còn về cái tự kiệu tự mãn thì đúng là tôi chưa tìm thấy ở hồi ký Phạm Duy ( vì tôi chưa đọc hết nhưng tôi tin lời Phạm Duy, trong đó chỉ là những tài liệu âm nhạc được ghi lại). Và bên ngoài thì cứ xem Phạm Duy viết cho tôi như sau:

“Nhưng tôi rất vui vì Lan Chi đã có một bài viết rất hay về một bài hát của tôi… nhất là vì Lan Chi khéo dạy Quỳnh Chi, kéo Quỳnh Chi trở về với những giá trị nghệ thuật đích thực. Hiện nay nghệ thuật ở VN (trong hay ngòai nứơc) đang lâm vào tình trạng suy thóai, ai là người thực sự yêu nước yêu dân, yêu tuổi trẻ thì cùng nhau đi tìm lối thóat ở những giá trị còn đang bị lấp liếm bởi lũ đạo đức giả, lũ chính trị gia lạc hậu.Nói với Quỳnh Chi cho tôi địa chỉ, tôi sẽ gửi tặng CD với đa số ca khúc nghe bằng MP3 qua đường Bưu Điện.” (1)
 
Nói cách khác, Phạm Duy “bày tỏ” sự cám ơn dành cho tôi, người viết cảm nhận nhạc Phạm Duy. Trên thực tế, với “tài ba, danh tiếng” chừng đó, Phạm Duy có cần cư xử với tôi như thế không? Tôi nghĩ là không! Nhưng Phạm Duy trân trọng, Phạm Duy hiểu tôi cần cho giới trẻ biết yêu quê hương qua những dòng nhạc của mình và Phạm Duy sẵn sàng gửi CD qua Úc cho “người Việt trẻ Quỳnh Chi”!

Năm 2004, tôi qua Mỹ và đến Cali trước khi bay qua Virginia. Tôi gọi cho Phạm Duy và hẹn ngày đến chơi. Buổi tối đi cùng anh chị họ đến.  Tại đây gặp Đức, người con trai út trong gia đình hoàn toàn không hoạt động gì đến âm nhạc. Đúng như ông viết, gia đình ông là một điều hiếm thấy ở Mỹ: đại gia đình quây tụ. Một điều tôi cũng nhận thấy ở gia đình ông: từ Duy Quang đến Duy Minh, Duy Cường, người nào cũng nhũn nhặn, dễ thương. Ấy là tôi nói khi tôi gặp ông cùng ba con trai ở quán cà phê Dòng Thời Gian.

Tại nhà Phạm Duy năm 2004
Duy minh-Lan Chi tại nhà Phạm Duy 2004
Duy Đức -Lan Chi tại nhà Phạm Duy 2004
GS Nguyễn Ngọc Bích- Phạm Duy- Lan Chi tại Virginia 2004

Năm 2005, báo chí hải ngoại ồn ào vụ Phạm Duy định về nước. Một người bạn nằng nặc đòi tôi xoá những gì tôi viết về Phạm Duy. Nhưng “Học Trò”, người yêu nhạc, thành viên kỳ cựu của web Đặc Trưng thì phản đối “Chị không  được xoá. Những gì chị đã viết, đã công bố, nó không  còn là của chị nữa. Đó là những rung cảm của chị trước một nhạc phẩm, chị viết ra chia sẻ và những người khác sẽ biết được cái hay của nhạc phẩm đó thông qua chị..”. (2005). Tôi nghe lời Học Trò,  không  xoá.

Sau đó, dường như trước khi Phạm Duy về Việt Nam sinh sống khoảng vài tháng, tôi có gọi  điện thoại đến.  Phạm Duy nói rằng thường thì lúc này ông không muốn gặp ai nên đã từ chối nhiều người, nhưng với tôi thì ông tiếp. Phạm Duy chỉ ngắn gọn về việc mình có thể sẽ về nước. Tôi nói mọi người đang lên án, Phạm Duy bực mình “ Cuộc đời tôi mà sao cứ phải sống theo người khác? Tôi đã xin cho tôi được vui buồn một mình tôi kia mà”.

Thật tình, Phạm Duy nghĩ gì về CS, tôi nghĩ ai cũng đoán được nhưng căn cứ vào hiện tượng bên ngoài thì nhiều người lên án vì cho đó là đã làm hoen ố chính nghĩa quốc gia.

Năm 2009, một người bạn viết cho tôi: “Về ông Phạm Duy, tôi không hề có ý phê bình ai cả, mỗi người có cách chọn lựa cho mình. Ông ấy đã chọn như thế, và hãy để cho thời gian trả lời. Người mình thương ai thương cả lối đi…
Tôi chỉ có một cái nhìn khác về Phạm Duy, ông ấy đơn thuần là ngưòi cha rất thương con và tìm lối thoát cho con mình… và ông ta đã chọn con đường chết để mong con mình được sốngNhạc sĩ Phạm Duy là người cha nhân ái, ông kiếm tiền bằng nhạc của ông và nuôi nấng các con và gia đình đầy đủ. Bà Thái Hằng đúng là một hiền mẫu và ông Phạm Duy  phong á thánh cũng không ngoa. Tôi yêu quý ông từ nhạc phẩm đến đời sống thực, ông không che đậy dấu giếm điều gì, thích là nói, nghĩ là làm.”(2)

Sau khi về Việt Nam, ông có nhiều điều này nọ. Cũng người bạn ghét ông, đả kích này nọ với tôi và tôi lặng thinh. Tuy vậy tôi đồng ý với một người bạn khác khi anh viết cho tôi  rằng: “Những gì ông tuyên bố, có thể có ít xích ra nhiều, vì ông phải nói thế thôi. Đây là một trò chơi, trò Game, nhà nước và ông cả hai đều khôn ngoan và cả hai đều tính toán.”(3)

Một người bạn khác khi nghe kể vụ tôi không xoá bài viết về Phạm Duy, anh viết cho tôi“Thưa chị, tôi biết chị yêu nhạc Phạm Duy cũng như biết bao người khác. Nhưng chị hãy giữ những gì chị đã viết về ông là những gì trung thực của tháng ngày chị cảm nhận, rung động về một tài hoa lớn của đất nước. Những người chung quanh không thể muốn chị làm theo cách của họ. Tôi nghĩ nhân cách Hoàng Lan Chi là Hoàng Lan Chi.”(4)
 
Cảm ơn anh bạn về những giòng chữ trên.

Tôi đã để “chú Phạm Duy” ngủ yên trong tôi từ khi ông về Việt Nam. Nhưng nhạc Phạm Duy  nhất là nhạc quê hương thì không bao giờ mất. Với tôi, (một người viết thơ cho quê hương năm 14t thay vì viết thư tình), thì đến giờ phút này, chưa một nhạc phẩm nào sánh được với “Tình Ca”!

Năm 2009 bàng bạc nỗi nhớ, nỗi buồn, tôi thực hiện chương trình “Phạm Thiên Thư với Ngày Xưa Hoàng Thị và Đưa Em Tìm Động Hoa Vàng”, ngoài là Phạm Thiên Thư nhưng trong thực ra là tôi nhớ người Nhạc Sĩ.

Hè 2011, đã sáu năm trôi qua.

Hoa phượng tím đã úa tàn. Cuộc đời, nhạt nhoà như mầu hoa phượng, có thể xem như bắt đầu đếm ngược được rồi chăng.

Tôi không thể khoan dung với những kẻ đang thở không  khí tự do và phản bội. Nhưng“một người cha chọn con đường chết mong con mình sống” như bạn tôi nhận xét thì hôm nay, lòng tôi không dưng chùng xuống và tôi vẫn nghĩ rằng, một mai khi không còn bóng bạo tàn, những giòng tâm sự thật sẽ được bày tỏ. Tôi tin thế.

Hè 2011

(Tôi viết cho tôi và xin miễn không tranh luận)

(1) Trích từ mail Phạm Duy gửi Lan Chi những năm 2003-2005

(2) (3) (4) : trích từ mail  ba bạn hữu.

*** CÁI TINH THẦN ĐẶC BIỆT CỦA TIẾNG VIỆT

  BS NGUYỄN HY VỌNG

Theo các nhà ngữ học thì tiếng Mỹ là thứ tiếng nói vay mượn rất nhiều từ ngữ của các tiếng khác trên khắp thế giới, vì vậy mà nó rất dồi dào và sống động, nó là tiếng nói số một của loài người hiện nay
    Theo tôi thì tiếng Việt cũng không thua kém chi.
Nó đang đứng thứ 12 về số đông người nói [83 triệu] và đang lan ra khắp thế giới tự do từ cái biến cố 1975.
    Nó có một nguồn gốc rất là đa dạng vì qua 2,3 ngàn năm nó đã mượn rất nhiều tiếng Tàu mà xài, rồi gần đây lại còn mượn hàng trăm tiếng một của Pháp mà nói, bây giờ đã trở thành tiếng Việt rồi, thí dụ như béret, kaki, kilo, gara, accu, v.v… Các bạn có thể kể ra vài trăm tiếng như thế
    Hiện nay tiếng Việt lại còn đang dùng rất nhiều tiếng Anh Pháp Mỹ vay mượn như computer, battery, charge, v,v,, mượn như thế sau này một thời gian sẽ Việt hoá và trở thành tiếng Việt luôn.
    Đó là một điều hay, rất hay, tiếng Việt dồi dào thêm, có thêm nhiều cách nói, nhiều ngữ vững, nhiều cách phô bày tư tưởng.
    Nhưng ta nên để ý rằng dù có nói bao nhiêu thứ tiếng khác nhau đi nữa, ta cũng chỉ có một thứ chữ abc hiện nay để viết, ta không còn viết chữ Nôm nữa, ta không còn viết chữ Tàu nữa, ta không còn biết chữ khoa đẩu là chữ gì nữa, và sẽ không bao giờ.
    Như trong câu nói sau đây : cho xe vô gara, rồi check giùm cái bình điện, nếu hết charge  thì câu điện giùm, vô nhà coi công to [compteur] tháng này tiền nước bao nhiêu.  Có đến 6 ngôn ngữ khác nhau của cả thế giới trong câu nói ngắn đó mà ta không ngờ ! [Việt, Tàu, Pháp, Anh, Mỹ]
Một chuyện lạ hơn nữa là, cách đây mấy ngàn năm, ngoài tiếng Tàu ra, ông bà ta còn dùng và xài không biết bao nhiêu là tiếng nước ngoài ở Đông nam Á châu mà ta cứ tưởng đâu là tiếng Việt của ta, không ngờ đó là tiếng nói của biết bao ngôn ngữ láng giềng, mà lại không phải là tiếng Tàu.
Thí dụ ta nói tha thiết thiết tha đó là tiếng Thái
                    vắng vẻ, đó cũng là tiếng Thái luôn
                    đủng đỉnh, vâng, cũng là tiếng Thái !
                    vơ vẩn vẩn vơ, đó là tiếng Lào đó bạn oi
                    chân tay, chân mây. nó là tiếng Khmer đó
                    một ngày, một hai ba bốn năm, đó cũng là tiếng Miên luôn !
Cụ Nguyễn gia Thiều cách đây gần 200 năm đã viết :
                   “Trẻ tạo hoá đành hanh quá ngán”
                    [đành hanh là tiếng gốc Chàm đó bạn ơi, có nghĩa là ganh ghét, ganh tị]
Cụ Nguyễn Trãi cách đây gần 600 năm nói:
                    Tuy rằng bốn bể cũng anh tam,
                    [Đó là tiếng Mã lai hiện nay đó bạn ơi, có nghia là thằng em trai]
Hay là : Hai chữ công danh tiếng vả vê 
Đó là tiếng Lào xưa đó, vả vê có nghĩa là trống vắng, mà bây giờ người Việt không còn ai nói nữa
Người Việt  nói cái  dùi cui hay đùi cui thì 250 triệu người Indonesia và Malay cũng nói là đulkul  … y hệt!
Hai tiếng Nôm na mà ai cũng cho là Nôm là Nam , vậy thì  na là gì ? mọi người đều lờ đi !
Thật ra, Nôm và na  đều có nghĩa gốc là xưa, cũ, lâu đời…đã có từ lâu.
[Các tiếng Lào Thái Khmer đều có ghi hai tiếng “nôm na” và đều giải thích như vậy]
Tiếng Nôm là tiếng nói xưa của người nước ta, đã nói như vậy từ lâu, truớc khi ông bà ta gặp người Tàu.
Còn nhiều nữa, rất nhiều nữa, cả thảy 27 ngàn 400 tiếng Việt như vậy, ta đã cùng nói cùng xài chung, dùng chung, của không biết bao nhiêu là ngôn ngữ anh em chung quanh ta, đến nỗi là không có một tiếng Việt nào mà lại không có chung đồng nguyên [gốc gác] với một vài ngôn ngữ khácở miền Đông nam Á này
Các tiếng nói Đông nam Á [Khmer, Lào, Thái, Chàm, Malay, Indonesia, Nùng, Hmong Bahnar, Rhade, v.v.. bao bọc tiếng Việt trong một vòng dây thân ái của tình anh emngôn ngữ chung giòng chung họ hàng mà chúng ta không ngờ đến đó thôi.
Nhưng tiếng Việt có một điểm rất lạ, dễ thì dễ mà khó cũng thật là khó, vì  ta tưởng là ta viết đuợc tiếng Việt là ta hiểu được tiếng Việt ,
Thật ra ta không hiểu tiếng mẹ đẻ của chúng ta nó ra làm sao cả :
– ta nói đau đớn  mà ta không hiểu đớn là gì, [đớn là tiếng Mon có nghia là đau cái đau của lòng mình]
– ta nói rộn rịp mà không hiểu rịp là gì,  [rịp là bận việc], gốc tiếng Lào Thái đó bạn ơi
– ta nói săn sóc , chăm sóc mà ta chẳng hiểu săn là gì mà sóc là gì. Săn là  theo dõi, sóc là  sức khoẻ # health [gốc Sanskrit / Pali đó]
Có cả thảy chừng 10 ngàn tiếng Việt gốc gác như thế !
Thành thử dù cho ta có biết viết chữ Nôm, hay chữ Tàu đi nữa, ta vẫn không thể nào bíết ý nghĩa của mỗi từ ngữ trong tiếng Việt của ta đâu!
Biết thêm vài ba ngàn  tiếng Pháp, tiếng Anh, chữ Tàu chữ Nôm thì cũng tốt thôi, ta sẽ trở thành một thứ học giả “bất đắc dĩ”, nhưng đừng tưởng rằng như vậy là đã hiểu thông suốt tiếng Việt.
Cái này đòi hỏi phải có một trình độ và khả năng hiểu biết ý nghĩa nguồn gốc của mỗi chữ mỗi âm, mỗi từ trong tiếng Việt  mà con số lên đến gần 10 ngàn tiếng đơn như vậy.
 Chỉ có một cách qua được cái khó khăn vuợt bực đó.
Đó là phải có một bộ từ điển nguồn gốc tiếng Việt, tham khảo khắp cả 58 thứ tiếng lớn nhỏ ở  nam Á châu, từ tiếng Thái Lào, Khmer, Miến, Malay, Indonesia cho đến những tiếng nói thiểu số với vài ba trăm ngàn người, tiếng Muờng, tiếng Nùng, tiếng Hmong, tiếng Chàm …Chúng nó đều có đóng góp âm thanh, giọng nói và ý nghĩa gốc gác,  hay làm nguồn cội ban đầu cho mọi từ, mọi ngữ trong tiếng  Việt.
Và đó là bộ Từ điển nguồn gốc tiếng Việt, sắp xuất bản mà chúng tôi xin phổ biến  truớc một ít từ ngữ nguồn gốc Việt để các bạn và quý vị xem cho vui.
              
BS Nguyễn Hy Vọng

*** Cò bay 13.000 km mỗi năm về thăm bạn đời

                           

Câu chuyện tình cảm động của đôi cò Klepetan và Malena tiếp tục làm tan chảy biết bao trái tim trên khắp thế giới. Năm nay, lần thứ 16, chú cò tận tụy Klepetan lại bay hàng ngàn cây số trở về quê nhà để thăm người bạn đời thương tật không thể bay.

 

stork-couple-love-klepetan-malena-croatia
(Ảnh: Domagoj Sever)

Câu chuyện bắt đầu cách đây hơn 20 năm, khi một người đàn ông góa vợ tốt bụng Stjepan Vokic sinh sống trong một ngôi làng nhỏ ở Brodski Varoš, Croatia tìm thấy một con cò cái bị thương nặng do thợ săn săn bắt. Ông Vokic quyết định trao cho nó cuộc đời thứ hai bằng cách chăm sóc và nuôi dưỡng nó. Rồi ở trên mái nhà của người đàn ông này, tình yêu giữa Malena và Klepetan đã chớm nở.

 

Doi-co-8

Lúc đầu, có vẻ như mối quan hệ của cặp đôi này sẽ không đi đến đâu bởi lẽ Malena không thể di cư cùng ‘nửa kia’ của mình vào cuối mùa hè. Tuy nhiên, tình yêu của chúng vẫn tồn tại. Mỗi năm, Klepeton rời Malena để di cư đến Nam Phi, ‘ủy thác’ việc chăm sóc bạn đời của mình cho ông Vokic, và bay trở về tổ ấm với ‘tình yêu’ của mình mỗi độ tháng Ba về.
Trong suốt 16 năm qua, mỗi năm một lần khi Xuân về, chú cò Klepetan tận tụy bay hàng ngàn cây số từ Nam Phi về tổ của mình ở Croatia để thăm Malena – nửa kia của nó

 

Doi-co-5

Hơn 23 năm trước, ông Stjepan Vokic đã chăm sóc và nuôi Malena sau khi cánh của nó bị thợ săn làm tổn thương

 

%C3%94ng-Ko-vic-v%C3%A0-c%C3%B2-Malena
(Ảnh: Jana Water)

Ông Stjepan đã mang đến cho cò Malena không chỉ một cuộc đời thứ hai, mà còn giúp nó có cơ hội gặp được bạn đời của mình. Trên mái nhà của ông, tình yêu giữa Malena và Klepetan đã đơm hoa kết trái

Doi-co-7

Doi-co
(Ảnh: Ivo Biocina)
Vì Malena không thể bay được, nên khả năng duy trì bền lâu mối quan hệ này rất mỏng manh

Tuy nhiên, tình yêu của cặp vợ chồng cò này vẫn tồn tại suốt 16 năm qua

 

Doi-co-3

(Ảnh: Alan Stankovic)

Cuối mỗi mùa hè, Klepetan để Malena lại ‘nhờ’ ông Stjepan chăm sóc để di cư đến Nam Phi xa xôi

 

Bay-co

(Ảnh: Alan Stankovic)

Nhưng suốt 16 năm qua, không năm nào Klepetan không trở về thăm bạn đời của mình mỗi độ xuân