TRỊNH CÔNG SƠN MỘT THỜI ĐàQUA

Thư viện của bài

This gallery contains 1 photo.

VÕ CÔNG LIÊM NGỎ: Mười năm trước sau cái chết của nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã viết với tựa đề: ‘Trịnh Công Sơn Mười Năm Quá Vãng’. Sau hai mươi năn cũng bài viết này với tựa đề: ‘TRỊNH … Tiếp tục đọc

ĐỌC “VỀ LẠI CHỢ GIỒNG” THƠ TRẦN NGỌC HƯỞNG  

Thư viện của bài

This gallery contains 1 photo.

 Châu Thạch  cảm nhận Về lại Chợ Giồng Nhiều năm đi biệt không tăm tích Về chẳng còn ai nhận được ta Đường cũ thay tên nhà đổi chủ Lối vào kỷ niệm… biết đâu là Chợ Giồng đó buổi … Tiếp tục đọc

 NUỐI TIẾC TÌNH YÊU THUỞ BAN MAI – Thơ Phạm Ngọc Thái 

Thư viện của bài

This gallery contains 1 photo.

   NGUYỄN THỊ HOÀNG      Lời bình         Nhà thơ Phạm Ngọc Thái            CON ĐƯỜNG PHƯỢNG ĐỎ Em mang màu phượng đỏ ra đi…Anh tha thẩn dọc hè phố nhỏNơi kỉ niệm của mối tình … Tiếp tục đọc

GIỚI THIỆU TẬP TRUYỆN THƠ “DIỆU TÂM CA” CỦA NHÀ THƠ TÂM NHIÊN

Thư viện của bài

This gallery contains 1 photo.

– CHÂU THẠCH       “DIỆU TÂM CA”, một tác phẩm của nhà thơ Tâm Nhiên mà với trí tuệ thô thiển của mình tôi tạm hiểu là một “khúc ca về Chân Tâm Vi Diệu” . Tôi thường tự nhận … Tiếp tục đọc

TÂM TRẠNG CỦA TRỜI

Thư viện của bài

This gallery contains 1 photo.

ĐỌC ‘TÂM TRẠNG CỦA TRỜI” THƠ PHẠM ĐỨC MẠNH       (TÂM TRẠNG CỦA TRỜI  HAY CỦA NGƯỜI?)     TÂM TRẠNG CỦA TRỜI ! 1  Hình như tâm trạng của Trời   Còn vương vướng chuyện nợ lời nguyền xưa   Sáng thơm nắng, chiều … Tiếp tục đọc

THỬ SUY NGHIỆM VỀ “CUNG THỤY DU” TRONG BÀI THƠ “KHÚC THỤY DU” CỦA TRẦN MAI NGÂN.

Thư viện của bài

This gallery contains 1 photo.

CHÂU THẠCH cảm nhận KHÚC THỤY DU ***Em biếtTrăng Thu huyền ảo lắmCàng chạy tìm – càng xaBóng trắng cứ sáng loàCung Thuỵ Du ảo mộng… Em biếtTrong khúc quanh đồng vọngDư âm của dấu yêuDù rất rõ một điềuLà … Tiếp tục đọc

T R Á N G S Ĩ H Ề, PHẠM NGỌC LƯ!

Hoàng Xuân Sơn

pn lu 1

( trích từ FB Sony Hoang (HXS)

Tôi chưa hề gặp Phạm Ngọc Lư. Nhưng quý trọng người thi sĩ ấy : con người, tài năng, nhân cách. Và khí phách. Khí phách với cuộc đời và những kẻ bội bạc vô ơn, những bằng hữu một thời đã bán linh hồn cho quỷ!
Tôi đọc Lư từ những ngày đầu của tâm thức văn nghệ trẻ dấn thân, trên Văn, và những diễn đàn khác. Mấy chục năm sau mới nối kết với thi sĩ qua tin tức của một người bạn chung. Thơ văn Phạm Ngọc Lư buốt xoáy tâm hồn. Một kẻ sĩ, tráng sĩ bất phùng thời. Hỡi ơi những tài năng khó trụ lâu với đời. Thôi thì “thác là thể phách, còn là tinh anh (Kiều).

XX

BIÊN CƯƠNG HÀNH – P h ạ m N g ọ c L ư
Biên cương biên cương chào biên cương
Chào núi cao rừng thẳm nhiễu nhương
Máu đã nuôi rừng xanh xanh ngắt
Núi chập chùng như dãy mồ chôn
Gớm, gió Lào tanh mùi đất chết
Thổi lấp rừng già bạt núi non
Mùa khô tới theo chân thù địch
Ta về theo cho rậm chiến trường
Chiến trường ném binh như vãi đậu
Đoàn quân ma bay khắp bốn phương
Lớp lớp chồm lên đè bẹp núi
Núi mang cao điểm ngút oan hờn
Đá mang dáng dấp hình chinh phụ
Trơ vơ chóp núi đứng bồng con
Khu chiến ngày tràn lan lửa dậy
Đá Vọng Phu mọc khắp biên cương
Biên cương biên cương đi biền biệt
Chưa hết thanh xuân đã cùng đường
Trông núi có khi lầm bóng vợ
Ôm đá mà mơ chuyện yêu đương
Thôi em, sá chi ta mà đợi
Sá chi hạt cát giữa sa trường
Sa trường anh hùng còn vùi dập
Há rằng ta biết hẹn gì hơn ?
Đây biên cương, ghê thay biên cương !
Núi tiếp rừng, rừng tiếp khe truông
Hãi hùng chưa trời hoang mây rậm
Mùa mưa về báo hiệu tai ương
Quân len lỏi dưới tàn lá dữ
Lá xôn xao xanh mặt hoảng hồn
Sát khí đằng đằng rừng dựng tóc
Ma thiêng còn ngán bọn cô hồn
Cô hồn một lũ nơi quan tái
Có khi đã hóa thành thú muông
Cô hồn một lũ nơi đất trích
Vỗ đá mà ca ngông hát cuồng
Chém cây cho đỡ thèm giết chóc
Đỡ thèm môi mắt gái buôn hương
Đây biên cương, ghê thay biên cương !
Tử khí bốc lên dày như sương
Đá chảy mồ hôi rừng ứa máu
Rừng núi ơi ta đến chia buồn
Buồn quá giả làm con vượn hú
Nào ngờ ta con thú bị thương
Chiều hôm bắc tay làm loa gọi
Gọi ai nơi viễn xứ tha phương ?
Gọi ai giữa sơn cùng thủy tận ?
Ai người thiên cổ tiếc máu xương ?
Em đâu quê nhà chong mắt đợi
Hồn theo mây trắng ra biên cương
Thôi em, yêu chi ta thêm tội
Vô duyên xui rơi lược vỡ gương
Ngày về không hẹn ngày hôn lễ
Hoặc ngày ta mắt nhắm tay buông
Thôi em chớ liều thân cô phụ
Chiến trường nay lắm nỗi đoạn trường
Nơi nơi lạnh trăm dòng sông Dịch
Kinh Kha đời nay cả vạn muôn
Há một mình ta xuôi biên tái
“Nhất khứ bất phục phản” là thường !
Thôi em, còn chi ta mà đợi
Ngày về thân cạn máu khô xương
Ngày về hôn lễ hay tang lễ
Hề chi ! buổi chinh chiến tang thương
Hề chi ! kiếp cây rừng đá núi
Nghìn năm hồn quanh quẩn biên cương
tháng 5 – 1972

&&&&&

MAI SAU CHẲNG CÓ GÌ NHIỀU
[tặng bạn Phạm Ngọc Lư+]

Giải trừ phiền muộn trong ta
thưa em yên ắng là nhà biệt giam
chút bình yên mặc cả. thầm
là mưa đậm tiếng trên bầm dập. nghe
cuồng si nỗi chẳng đặng về
thì xin cây đứng bên lề cổ sơ
hai bàn tay mỏng vin thơ
thịt xương 1 bó cơ đồ 1 ôm
lá thuyền con. ngực sóng chồm
trăng nghê đã chết giữa hồn ly tao
cười em còn hửng má đào
mà trong hương gió nghe sao buồn buồn
vai kề má tựa còn thương
hay chiều lạc bóng trăm đường quạ kêu
mai sau chẳng có gì nhiều
xin em cầm cố một liều đan tâm
XX
Uống đi ta mấy đỗi. nằm
bóng dương tịch mịch và trăm năm dài
con nước tuyền. đọt nắng phai
mùa chiêm ảo vọng rơi ngoài hư không
biết vẫn còn ở thương mong
cầm em như chút tấc lòng quạnh hiu
biết làm sao nhắn lại chiều
gió mù biên cảnh đã theo về đời
vết cắt này chia em. nơi
mờ mờ nhân dạng buổi người chưa đau
ta nay phố thị buồn rầu
quán xiêu hồn tạt mấy cầu thu mưa
thôi về quan ngại đò đưa
chuyến đời lưu viễn nghìn xưa đắm cùng

HOÀNG XUÂN SƠN
14/4/07

NỖI XÓT XA KHẮC KHOẢI TRONG BÀI THƠ “CHO MỘT NGƯỜI ĐÀN BÀ ĐÃ ĐI XA” CỦA NHƯ KHÔNG

Thư viện của bài

This gallery contains 1 photo.

Châu Thạch Cảm Nhận NhuKhong CHO MỘT NGƯỜI ĐÀN BÀ ĐÃ ĐI XA Mấy mươi năm trôi qua Chưa kịp gặp lại nhau lần nào Em đã ra đi Một lần mãi mãi Bến sông cũ đã bao dòng nước … Tiếp tục đọc

ĐỌC “MẤY DÒNG XUÂN GỞI BẠN” THƠ NGUYỄN NGUYÊN PHƯỢNG

Thư viện của bài

This gallery contains 1 photo.

Châu Thạch   MẤY DÒNG XUÂN GỞI BẠN Tùng cúc lưỡng khai tha nhật lệ- Đỗ Phủ Nửa phía biển dạt trôi…miền vọng nhớ Tan tác chiều chia biệt bởi vì đâu Nắng Cali chập chờn tầng ngất phố Những … Tiếp tục đọc

CHI TIẾT XẤU ĐẸP CỦA 10 NGÀY ĐẦU NĂM TÂN SỬU – 2021

Thư viện của bài

This gallery contains 1 photo.

Đặng Xuân Xuyến Trước thềm năm mới 2021, Đặng Xuân Xuyến lược soạn bài CHI TIẾT XẤU ĐẸP CỦA 10 NGÀY ĐẦU NĂM TÂN SỬU – 2021 quý tặng bạn đọc như một món quà nho nhỏ mừng Xuân Tân … Tiếp tục đọc

ĐỌC TẬP THƠ “VẪN LÀ EM” CỦA HƯƠNG LAN 

Thư viện của bài

This gallery contains 1 photo.

Châu Thạch      Nhà thơ Hương Lan, quản nhiệm CLB thơ facebook Quảng Trị vừa xuất bản tập thơ “Vẫn Là Em”. Đây là một tập thơ tình dành riêng để trăn trở cho một cuộc tình rất đẹp, rất đẹp … Tiếp tục đọc

Đêm Giao Thừa Với Nỗi Lười Biếng Ngọt Ngào

PHẠM NGA

hoa2

Cái bổn-phận-sự được xem là cuối cùng năm cũ của tôi là phụ bà xả bày chiếc bàn nhỏ ra bên cạnh cây mai già ở sân trước, xếp đặt đầy đủ phẩm vật chuẩn bị cúng đón giao thừa. Nhà nào cũng cửa đóng, then cài, ngõ xóm chợt im ắng lạ thường vào thời khắc năm cũ/năm mới sắp bàn giao. Cặp đèn ly được đốt lên, tạo một khoảnh sáng lung linh, thật ấm cúng trên chiếc bàn cúng…
Tôi lặng lẽ rút lên phòng, ê ẩm cái lưng tuổi già sau mấy ngày cập rập đón Tết nên nằm dài trên giường – nghỉ ngơi chờ giao thừa thôi! Đêm nay, tôi không mở các đài phim Mỹ AXN, HBO, StarMovies…trên ti-vi như thói quen giải trí từ cả mấy chục năm qua mà rà chọn đài SCTV3. Đài này chuyên phát các chương trình phục vụ thiếu nhi nhưng 6 giờ sáng mới bắt đầu, còn giờ này chỉ phát nhạc hòa tấu và đang đêm giao thừa nên có ‘chạy’ lời chúc Tết. Thật hay ho là tình cờ đài lại đang cho nghe album “On The Mirror” lừng danh của Yanni. Hơn thế, lại đúng các bài tôi rất ưa chuộng lâu nay, cứ nghe đi nghe lại mãi không chán – nhất là lúc viết lách là mở luôn thật nhỏ trên PC, như các bản: A Love For Life, The Morning Light, Once Upon A Time, On The Mirror… (tạm dịch mấy cái tựa là: Tình Yêu Cuộc Sống, Ánh Ban Mai, Ngày Xửa Ngày Xưa, Phản Chiếu Từ Tấm Gương Soi…).
Vài phút giây nữa là tôi coi như bước vào tuổi ta 71 và cái lão vừa chớm “thất thập cổ lai hy” đang tự cho phép mình lười biếng, khỏi làm việc gì cả, chỉ nằm dài, nằm im mà nghe nhạc. Cuộc đời lại đang rộng lượng bỏ qua cho cái trò lười biếng, phi lao động của tôi, còn ban tặng cho tôi một chuỗi âm nhạc tuyệt vời! Chỉ từ một cái ti-vi cũ mèm, chứ nào phải từ cả một giàn amply, loa HIFI… hoành tráng nào đâu, thế mà những bản hòa tấu hiện đại này (Yanni tự gọi các tác phẩm của mình như thế) đã chuyển tải đến người nghe dòng nhạc điệu hết sức tuyệt diệu. Luôn ăn ý với nhạc điệu của bản nhạc được gọi tên, những cái tựa bản nhạc, như Tình Yêu Cuộc Sống, Ngày Xửa Ngày Xưa, Ánh Ban Mai…, đã quá thích hợp để êm ả vun bồi cho cảm xúc trầm lắng của tôi cùng những ai đang nhìn lại dĩ vãng coi-như-cũng-tạm-được một năm qua, đồng thời nhen nhóm trong lòng một ít kỳ vọng vào tương lai cuộc sống…
Chưa hết.Trong lúc cái lưng già đã chịu êm ả trở lại, tôi mơ màng nghe nhạc, hưởng thụ niềm an lạc nhỏ bé của mình thì đúng 12 giờ đêm. Giao thừa rồi! Tôi hơi tiếc rẻ nhưng cũng tắt tivi, chổi dậy và định bước ra hàng hiên trên gác để hít thở nay bầu không khí ngoải trời đang tươi nhuận chánh-hiệu-năm-mới, bỗng cái điện thoại trên bànkêu lóc cóc…
A! Bạn bè tới tấp gởi message chúc Tết đúng giao thừa, đúng ngay lúc ngôi chùa cạnh nhà bập bùng gõ trống mừng Năm Mới!
Phải nói là bạn bè thiệt siêng năng, vừa chúc Tết, chúc Năm Mới cho gia đình tôi lần nữa ngay thời điểm giao thừa, mặc dù mấy ngày cận Tết chúng tôi đã rộn ràng trao đổi nhau, hết chúc riêng rổi chúc chung, không biết bao nhiêu là email, tin nhắn cùng entry chúc Tết, chúc Xuân, chúc Năm Mới trên Facebook, Messenger và Gmail với đủ thứ hình ảnh, tranh vẽ, nhạc minh họa đủ kiểu đủ màu kèm theo.
Tôi cảm thấy hạnh phúc tràn đầy khi nhận ra đã có những bạn bè thương mình, quý mình đến nỗi chỉ mấy giây sau 12 giờ đêm giao thừa đã gởi ngay lời chúc Tết đến mình, bởi để chuẩn bị chúc Tết đúng giao thừa, người ta thường ‘khóa’ sẵn vài cái tên thân thương nhất trong danh sách ưu-tiên-số-1của riêng mỗi người và các bạn tôi đã quyết định cho tôi đứng đầu danh sách. Anh chị em đã giành hết mấy giây đầu tiên rất thiêng liêng của năm mới để trước tiên là chúc Tết tôi, sau đó mới có thể chúc tới ai khác, bởi trên điện thoại không thể nào bấm song song cùng lúc các message.
Gần hai giờ sáng rồi. Tôi lãng đãng đắm mình trong nỗi lười biếng ngọt ngào, cũng là một cảm giác hạnh phúc thật tươi mới giữa đời thường nên tự hứa sáng mai mùng Một (chỉ vài giờ nữa thôi) nhất định sẽ dậy thật sớm để làm việc-cần-làm-ngay là chúc Tết hồi âm những message quý giá mà bạn bè thân thương vừa gởi cho ngay giao thừa…
PHẠM NGA

NHÀ THƠ MẠC UYÊN LINH VỚI “THƠ TÌNH KHÔNG TUỔI”  

Thư viện của bài

This gallery contains 1 photo.

Châu Thạch        Cầm tập “Thơ Tình Không Tuổi” của nhà thơ Mạc Uyên Linh gởi tặng, nhìn tấm ảnh của nhà thơ được đăng trên trang bìa, tôi cảm thấy tấm ảnh như thể hiện thứ thơ tình không … Tiếp tục đọc

TRUYỀN THUYẾT NGÔI CHÙA LÀNG ĐÁ

Thư viện của bài

This gallery contains 1 photo.

Đặng Xuân Xuyến Cách thị trấn Ân Thi (Hưng Yên) chừng 1km về phía thị trấn Kẻ Sặt (Hải Dương), thuộc thôn Đỗ Hạ, xã Quang Vinh, huyện Ân Thi, tỉnh Hưng Yên có một ngôi chùa được gọi là … Tiếp tục đọc

TẢN MẠN ĐÔI ĐIỀU VỀ TRÀ-KỲ 8

Thư viện của bài

This gallery contains 4 photos.

Nguyên Lạc ẤM NGHI HƯNG THEO THỜI GIAN Theo sách Dương Tiện Mính Hồ Lục (Sách về các ấm trà vùng Dương Tiện) của Chu Cao Khởi thì đời Chính Đức, Gia Tĩnh nhà Minh có Cung Xuân tài nghệ tuyệt vời, … Tiếp tục đọc

TẢN MẠN ĐÔI ĐIỀU VỀ TRÀ (Kỳ 7)

Thư viện của bài

This gallery contains 1 photo.

Nguyên Lạc  Biên khảo . DỤNG CỤ UỐNG TRÀ .Như đã biết ở phần trên: Đoàn trà là bánh trà được bỏ thẳng vào bình nước nóng đang sôi, rồi rót nước trà ra chén uống. Mạt trà là bột trà … Tiếp tục đọc

PHÚC ĐỨC CÓ PHẢI LÀ BIẾN THỂ CỦA THUYẾT LUÂN HỒI – NHÂN QUẢ?

Thư viện của bài

This gallery contains 1 photo.

* Du nhập vào Việt Nam từ rất sớm, từ những năm đầu công nguyên, Phật Giáo đã được tín ngưỡng truyền thống của người Việt tiếp nhận, dung hòa và uyển chuyển phát triển qua thời gian, trở thành … Tiếp tục đọc

BỎ QUA NHỮNG LẦM TƯỞNG; QUAN NIỆM SAI LẤM VỀ VẮC-XIN COVID-19

Thư viện của bài

This gallery contains 2 photos.

      Bhavesh B.     Trong vài tuần tới, hàng triệu người có thể được tiêm những liều vắc-xin COVID-19 đầu tiên ở những nơi khác nhau trên thế giới. Vương quốc Anh đã bắt đầu triển khai vắc xin … Tiếp tục đọc

TẢN MẠN ĐÔI ĐIỀU VỀ TRÀ-KỲ 5

Thư viện của bài

This gallery contains 1 photo.

Nguyên Lạc LOẠI TRÀ – DANH TRÀ (tt) III. Các loại trà khác1. Việt namTrước khi nói đến trà Việt, tôi xin nhắc lại sơ lược quan niệm về nguồn gốc trà.Theo Đỗ Ngọc Quỹ: “Từ tài liệu khảo cứu … Tiếp tục đọc

CẢM NHẬN NGHỆ THUẬT GIỮA CUỘC ĐỜI

VÕ CÔNG LIÊM

     Sự thật cuộc đời nếu người ta nhận ra được; một phụ nữ đẹp mặc chiếc áo dạ hội tuyệt hảo với đôi môi héo úa thời khuyết điểm đó không còn nghĩa là đẹp, nhưng; vì cái điểm nhỏ nhặt đọng trên môi mà có thể làm cho người ta không buồn để ý tới, ngắm nghía hay chiêm ngưỡng cái đẹp của tạo hóa.

Nhưng vẽ về một người đàn bà như thế có thể là một suy đồi, tác hại lớn, là nói lên cái thô lỗ, tục tằn một áp đảo vào cái nhìn của nam phái, bởi; cái đẹp là toàn diện trên tất cả mọi thứ.Và từ chỗ đó cho ta một kinh nghiệm rộng rãi về xấu xa, gớm guốc của bức tranh và phẩn uất đối với họa nhân (cũng có một số người cảm nhận điều đó như một chấp thuận và người ta có thể tùy thuộc vào đó như một đối đãi tinh thần của người họa sĩ)Cảm xúc được nói đến trong tranh có thể do từ một bất ngờ bộc phát (instantaneous)bén nhạy hơn cái nhìn cảm thức của người xem (viewer’s mind) cũng có thể đó là một phát hiện bao gồm tất cả lý do liên can tới vẽ. Do từ động vọng thuộc tâm lý, là những thứ đưa đến một đáp ứng vấn đề cho nguồn cơn phát sinh ra vẽ. Là cảm thức con người giữa cuộc đời –is a man’s sense of life. Cảm thức của cuộc đời là một mở đầu nhận thức ý niệm tương quan của siêu hình, một xúc cảm, tiềm thức hòa nhập, để định lượng được những gì thuộc con người và thuộc về tồn lại –A sense of life is a pre-conceptual equivalent of metaphysics, an emotional, subconsciously integrated appraisal of man and of existence.

Cảm thức cuộc đời của người nghệ sĩ là khống chế và tiết điệu được trong tác phẩm của mình, hướng tới một cái nhìn chung cục để bỏ vào trong tranh; từ chọn lựa tiêu đề đến chất liệu khéo léo là chi tiết cho một đặc chất của tranh. Chính sự cớ đó đã hòa điệu vào cảm thức của người xem, văn chương cũng thế là một đồng tình hòa hợp giữa người viết và người đọc. Họa lấy màu sắc thay tiếng nói là việc khó thực hiện, nhưng nói lên được ấy mới là tinh xảo. Đấy là câu trả lời đến một tác phẩm nghệ thuật bằng một xáo động nội tại; hẳn nhiên đó là tác động của nhận và thuận hoặc chối bỏ và phê phán.

Nói như thế không có nghĩa rằng cảm thức cuộc đời là hợp lý, là chuẩn mực của cái gọi là yêu chuộng thẩm mỹ; kể cả người họa sĩ và người xem. Cảm thức cuộc đời không thể sai lầm –A sense of life is Not infallible. Nhưng; cảm thức đó khơi nguồn từ nghệ thuật mà ra, một cơ cấu thuộc tâm lý học mà những thứ đó có thể do từ khả năng con người tạo ra được một chỗ đứng, vị trí cách riêng như là nghệ thuật. –But a sense of life is the source of art, the psychological mrchanism which enables man to create a realm such as art. Một lý lẽ nhận thức là hoà nhập và cảm thông giữa đối tượng hội họa làm cho người vẽ và người xem không còn ‘responds’ vấn đề mà đòi hỏi ý thức được hay không ý thức được.Đó là cốt tủy nghệ thuật.

Cảm xúc là một hệ lụy vướng vào trong nghệ thuật chớ không phải cảm xúc trong cái nghĩa thông thường của từ ngữ hay dùng. Qua kinh nghiệm sinh lý hay vật lý thì có nhiều thứ ‘cảm thức/sense’ hoặc là ‘cảm nhận/feel’ nhưng; có hai đặc điểm liên can đến xúc cảm/emotions: một do từ cơ năng tức khắt và một do từ cường độ thúc đẩy, một cá tính uyên bát thâm hậu (không hẳn đây là xác quyết) giá trị nghĩa lý đưa tới một kinh nghiệm riêng tư cho bộ môn hội họa mà đánh giá sự tương quan cuộc đời và nghệ thuật; lời lẽ đó gọi là cảm xúc: ‘đấy là nghĩa lý cuộc đời đối với tôi / this is what life means to me’. Đừng để ý tới cái lẽ tự nhiên hoặc nội dung về cái nhìn siêu hình, trừu tượng của người nghệ sĩ. Rứa thì lấy chi để bày tỏ cho một tác phẩm nghệ thuật; căn nguyên nào? Dạ thưa; dưới tất cả mọi khiá cạnh nhỏ nhặt nhất là: Cuộc đời ở đây như tôi nhận thấy. Là; cái thâm hậu cần thiết đáp ứng cho người thưởng lãm hoặc người đọc. Dưới mọi yếu tính tối thiểu: Đây là cuộc đời (hoặc không phải cuộc đời) như tôi đã biết. Cái đó là điều ắt có và đủ cho một nhận thức thuộc nghệ thuật; mặc khác là nhu cầu sáng tạo của người nghệ sĩ làm nên.

Khoa tâm lý thuộc nhận thức hiểu biết (the psycho-epistemological) là tiến trình của thông đạt giữa họa nhân và người thưởng lãm hoặc văn nhân và độc giả được diễn tiến như sau: họa nhân khởi sự với một tư duy trừu tượng mà phải cụ thể hóa (concretize) để mang vào đó một thực chất đúng nghĩa thích ứng một cách đặc biệt, người thưởng lãm phải nhận thấy cái sự đặc biệt, cái hợp nhất chất liệu và chiếm trọn hình ảnh trừu tượng từ những gì đã để lại trong tranh; có như vậy là đạt tới chân-không của hội họa và siêu lý của văn chương. Nói theo kiểu ẩn dụ; tạo ra được một tiến trình tương tợ về hình ảnh (của vẽ) như một tiến trình của cái sự giao giảm trong tranh; nhìn vào đó như một cảm thông gần gũi, tương xứng nhau, một diễn biến của lãnh vực hội họa. Nhớ cho; đây không có nghĩa là truyền thông cho mục đích ban đầu của người nghệ sĩ; mục đích chính của họa nhân là mang lại cái nhìn của con người và những gì thuộc về tồn lưu trong một thực thể; nhưng mỗi khi mang lại thực thể thì phải là một cái gì đã được diễn giải trong điều kiện đối tượng của nó… Nói vòng vo tam quốc ba chuyện đời cổ lỗ sĩ là không tác động giữa thời đại này mà gây rối trí, nhầm lẫn đến người đọc vì quá nhiều câu hỏi cho một vấn đề; thành ra cái lối văn,vẽ đã không thông mà vướng vào cái tư kỷ tự tại để trở thành độc ngôn, độc diễn. Thí dụ: Một văn sĩ nhà binh kể chuyện ông Táo: một ông trong đó không chịu chầu trời; tức thời bị quy tội là ‘phản thùng’ không đồng phục, không đồng hướng. Quay đầu trở lại với trần gian. Đâu có quần mà bảo đồng phục cho màu áo ông Táo, ông Điạ. Ông cầm bút quên rằng ông Táo nọ chối bỏ nhiệm vụ vì ông mất ‘chính nghĩa’ không quần; ngay bản thân tác giả cũng đã mất chính nghĩa vì không thực hiện đúng chức năng mà chỉ sống trong hoài niệm, hoài niệm của một tư duy bại hoại, không hoán cải để đổi mới tư duy mà rơi vào vòng luẩn quẩn mất nhuệ khí của kẻ thích khách; đấy là lý do ‘nghệ thuật vị nghệ thuật’ để nói tới.Thể loại nghệ thuật như rứa là nhai lại, rập khuôn, moi móc mất tính sáng tạo nghệ thuật mà trở nên ngu xuẩn nghệ thuật.Nhảm! Răng rứa -như đã đưa đường dẫn lối khi đi vào đề tài này là trọng tâm về ‘ý niệm nhận thức/ conceptual’ của sự nhận biết, vì rằng; họ (nghệ sĩ) cần năng lực để tập trung vào giòng sáng tạo như chuỗi liên hoàn và một đối kháng toàn diện của những gì ý niệm về siêu hình trong một ý thức nhận biết tức thời: họ cần một cái nhìn lãnh hội của tồn lại, tồn lưu, tồn lứa là trọn vẹn cái giá chân-như của người nghệ sĩ (thứ thiệt).Còn nghệ sĩ (giả hiệu) đánh mất ý niệm chính yếu để xây dựng tác phẩm; cho nên chi mất luôn cả sáng tác và sáng tạo mà chỉ mở một lối về của hư ảo; chỉ vì tư kỷ (egotism) mà ra. Tất thảy đều là thứ nghệ thuật vô nghĩa. Mà cần một cảm thức con người giữa cuộc đời, vì; cảm thức cuộc đời không thể nhầm lẫn.

Chọn đúng mục đích, tọa độ, một con đường hướng tới tương lai, bảo trì một hợp nhất và liên đới đến cuộc đời của họ ‘He needs a comprehensive view of existence to integrate his values, to choose his goals, to plan his future, to maintain the unity and coherence of his life’. Nhiệm vụ hợp nhất của khoa tâm lý là một mối dây liên lạc tự động làm ra, cho nên chi tác phẩm thực hiện như một qui tụ sẳn có từ ý thức không cần phải đi qua một dự phóng của tư tưởng mà gợi lên từ trong nhận thức hiểu biết. Có nhiều dữ kiện đặc biệt hiện ra hoặc vượt qua bằng trí tưởng của chuỗi trừu tượng là nằm trong ý niệm giao tiếp (of interconnected concepts) thuộc trí tuệ con người. Nhận thức được trừu tượng là dây chuyền chủ lực, mà tất cả mọi thứ khác đều tùy thuộc vào đó. Rứa cho nên chuỗi dây chuyền là cho mọi thứ như một tinh thần hợp nhất, trọn vẹn, phục vụ có mục đích, một thể thức phù hợp và chuẩn mực. Nhận thức được trừu tượng là lập nên một thiết yếu chuẩn mực có tiết độ giao thông giữa hiện thực và nghệ sĩ. Rứa thì cái gì là chính yếu? -Cái sự cần thiết đó là ý thức nhận biết để thấy rõ lớp lang của tồn sinh từ tất cả mọi phiá –epistemologically essential to distinguish one class of existents from all others. Còn nói về trừu tượng có qui tắc là thiết lập ở đó một cái gì chuẩn mực. Rứa thì cái gì tốt giữa chính yếu và qui tắc? -Trừu tượng thẩm mỹ là cơ cấu bởi tiết điệu: rứa cái gì là quan trọng? –esthetic abstraction are formed by the criterion of: what is important? Lý luận theo chiều hướng này có thể làm cho tư duy người nghệ sĩ thêm có vấn đề giữa nhận thức và trí năng; tuy hai mà một, bởi văn,vẽ dưới dạng thức nào đều có một chủ đề cụ thể nói lên cá tính con người. Văn,vẽ vẫn có triết thuyết của nó, thời mới làm nên sự việc. Vị chi; giữa khách thể và chủ thể phải hòa âm điền dã thì mới thấy được chân lý tối thượng của việc sáng tác. Chớ ‘đừng tưởng xuân tàn hoa rụng hết / đêm qua sân trước nở cành hoa’. Cứ tưởng thế cho nên chi phóng bút, phóng họa mà quên đi bản chất tự tại, tự kỷ của mình đang rơi vào một tâm tư rối loạn của hố thẳm tội lỗi… Người nghệ sĩ đứng trước cuộc đời có một cái nhìn vô tư, trong sáng và thoát tục thì tác phẩm mới có thẩm mỹ, dù là thẩm mỹ trừu tượng nó vẫn để lại một chân tướng xác thực. Nói cho ngay trong mọi chọn lựa chính yếu để đạt một giá trị, kể cả những tác phẩm nghệ thuật (văn, thơ, họa, kịch…) là đi từ thể tài đến chủ thể cho tới cây cọ hay cho một thể định từ xác thực. Đều thu nhận từ ý nghĩa thuộc về trừu tượng bởi chỉ ở một sự kiện hiện hữu đã bao gồm hoặc một hiện hữu ‘quan trọng’ là điều ắt có và đủ -From theme to subject to brushstroke or adjective-acquires metaphysical significance by the mere fact of being included, or being ‘important’ enough to include. Lý luận này đã cho thí dụ ở trên: là yêu cầu cảm thức nhận biết thì mới đạt tới nhân tâm của người nghệ sĩ, dù dưới dạng thức nào hay hoàn cảnh nào đi nữa.

Như đã dẫn nhập cho một luận đề mở đầu; nếu miêu tả về cái bờ môi héo úa của người đàn bà đẹp, thì đó là điều không thể cho là sự thật cuộc đời hay cho đó là một thứ siêu hình lạ thường đầy ý nghĩa, bởi; cái phẩm tích (virtuous character) qua dấu vết bề ngoài là cả một hiện thực trong họa phẩm. Cái đó được phơi mở rõ rệt là những gì thuộc cái đẹp và không chừng đó là nét riêng để đem lại một sức quyến rủ hay mê hoặc của người đàn bà (không phải đẹp ở chiếc áo dạ vũ lộng lẫy) nhưng có một chút gì ‘héo úa’ do từ đau khổ gây ra là một thách đố quyến rủ trước sức mạnh của nam giới. Tín hiệu đó là sự thật cuộc đời. –người đàn bà đẹp có thể là ‘mãnh lực / ‘might’ có từ bờ môi héo úa. Do thẩm mỹ không tương xứng. Nghệ thuật không quan tâm tới sự cố hiển nhiên hoặc ngay cả những gì như thế, nhưng với những gì có tính cách siêu hình của họ là ý nghĩa quan trọng đối với con người –Art is not concerned with actual occurrences or events as such, but with their metaphysical significance to man. Dưới dạng tiềm thức; thì không cần gì nhận biết tới lý thuyết thẩm mỹ, nhưng vì tính chất hình ảnh mà phải dựng bằng hiện thực; sự cớ cho ta hiểu ngầm rằng đó là cái vẻ tự nhiên của nghệ thuật (nature of art). Đây cũng là thể cách biến loại mà hầu hết tác động trong hư cấu và trong tất cả những đường nét hội họa đều xử dụng như đặc thù trong tác phẩm. Dù là minh họa hay phát thảo vẫn là khiá cạnh quan trọng khác biệt giữa cuộc đời thực của truyện thời sự (news story) và của truyện hư cấu (fiction story): truyện thời sự cũng như thơ thời cuộc, thơ kể lể là đông cứng (concrete) từ biến chứng xã hội, tin tức, thế sự là những thứ không vẽ lên được một cái gì phi phàm hoặc có thể người ta không tìm thấy những gì liên đới của trừu tượng trong cuộc đời. Còn truyện hư cấu là một trừu tượng, cái đó là một yêu sách đối với vũ trụ quan –fiction story is an abstraction that claims universality là để người ta cảm nhận được cái năng lực cá nhân là một xúc cảm mãnh liệt về những truyện thuộc hư cấu, dù cho có phiạ ra đi nữa. Cảm xúc có thể là một thực thể chắc chắn trong khi người ta tìm thấy trong ý nghĩ trừu tượng lại là thực thể của cuộc đời thực (real life). Thừa nhận; không do từ cảm thức của nhận biết để ngờ vực, nhưng trong cảm thức cho phép ta trầm tư những gì thuộc bên ngoài của trừu tượng; đó là thức (mind) trong một thể thức thuộc cục diện tồn lưu, tồn lại và tồn tụ; thì đó là hiện hữu nhận thức giữa đời này. Nghệ thuật cho đời nhiên liệu, một tư duy hài hòa, một chủ thể tương quan ở cõi vô biên trí tuệ, một sự thay mặt cho cảm nhận và cảm thức là hiện thực, là cảm thức chủ lực của cuộc đời, là cảm nhận hài hòa nhân thế, là những gì có thể tương tợ như  sống thực trong thế giới lý tưởng của con người -Art gives him that fuel; the pleasure of contemplating the objectified reality of one’own sense of life is the pleasure of feeling what it would be like to live in one’s ideal word. Nhiên liệu không phải cứu cánh có từ học hỏi (một phần) mà do từ kinh nghiệm sống làm nên và cũng chẳng phải là lý thuyết chính yếu ngay cả thông điệp từ sách vở, báo chí truyền thông, nhưng; đời-cho dữ kiện qua kinh nghiệm sống, trong một bất chợt của siêu hình hay trừu tượng mà làm vui cuộc đời . Một giây phút thôi rồi xa nhau nghìn trùng; đó là đời cho ta (life-giving) một hiện hữu với tồn lưu, tồn lại, tồn lân, tồn lui nhân thế với thời gian –A moment of love for existence. Hoặc; dưới một mức độ thấp nhất của cực số vô lý, phản ảnh tính cách cục bộ hóa vấn đề của cảm thức nông cạn hiểm độc, nhưng cuộc đời đã cung cấp cho con người với bao hình ảnh chinh phục cái ác ý, thâm hiểm, phá hoại, đã phá để chiếm cứ cái độc tôn, độc quyền và độc sáng là những gì ghen tị về cái tồn lụt nhân thế; nghĩa là tụt lùi về cái gọi là cảm thức con người giữa cuộc đời (a sense of life) mà trở nên báo ân, báo oán. Nhưng nhớ cho điều này mà lưu niệm: ’lấy ân báo oán thời oán ấy tiêu tan chớ lấy oán báo oán thời oán ấy chập chờn’ nó không dứt mà ngược lại nó ứ trong tâm can như lời phẩn nộ (rút trong kinh nhà Phật) kinh điển cho đó là dục giới, dục sắc, dục tính; sự cớ đó tác hại cho nghệ thuật hội họa và nghệ thuật văn chương, cả hai thứ làm cho nghệ thuật suy đồi, thời đâu còn gọi là đương đại, đương thời, thời đâu còn gọi là tiểu thuyết mới, tiểu thuyết hiện đại; không chừng cổ lỗ sĩ trở về cổ lỗ sĩ biết tới bao giờ mới dừng(!); còn như quyết để phục thù ‘ơn đền, oán trả’ theo kiểu nhà binh thì dấy lên một nghiệp chướng, ở đó chỉ là lời giải thích để bao che cuộc đời, là đánh bại và phá hủy tất cả giá trị của con người. Hỏng cho việc sáng tạo của người nghệ sĩ.

Thể thức của nghệ thuật là cho đời một phút giây ảo tưởng, đó là những gì nghệ thuật cho là đúng –cái sự xấu xa, sai trái là tác động thuộc những gì siêu hình.Từ ngày nghệ thuật thành hình là phát sinh ra triết học (triết học của nhân loại là trộn lẫn vào đó bi thảm cuộc đời / mankind’s philosophy is tragically mixed).

Hầu hết nghệ thuật thế giới bao gồm một vài dẫn dụ lớn lao; sa ngã cũng là một khẳng định dứt khoát. Vị chi sự thật hay sai trái đem lại một thứ triết lý riêng tư của người nghệ sĩ, nó không vin vào thẩm mỹ học để nói lên sự kiện trong hội họa cũng như trong văn chương, có thể tạo cái khác biệt để thu hút người đọc, người xem không chừng chứa cái giả tạo hơn là sáng tạo nhưng không nhất thiết vị nghệ thuật mà cố tạo cái thẩm mỹ trong họa cũng như trong văn chương. Có một vài nghĩa khác thuộc triết học,tuy nhiên; có một cái nhìn ẩn tàng của cuộc đời nằm trong tác phẩm. Đấy là yếu tố cần thiết thuộc về tác phẩm nghệ thuật. Họa phẩm xấu; chiếm hữu một phần trong sự bắt chước‘copycat’cái đó hoàn toàn không phải là sáng tạo của nghê thuật, nó chỉ sống còn ở các cửa hàng vỉa hè mà thôi. Rứa cho nên làm nghệ thuật cần có một phản ảnh trung thực, chủ đề của một tác phẩm nghệ thuật là bày tỏ cái tồn lại của con gười, trong khi ấy kiểu thức bày tỏ về cái nhìn là ý thức của con người. Lối trình bày, diễn tả siêu hình (metaphysics) là của người nghệ sĩ. Còn diễn tả theo nhận thức hiểu biết (psycho-epistemology) là của người văn chương (văn, thơ, dịch thuật). Chọn lựa một thể tài là nói rõ khiá cạnh của hiện hữu tồn lại người nghệ sĩ. Một cái gì quan trọng và một cái gì đáng giá của một hiện hữu tạo tác và trầm mặc của nghệ nhân. Trong mọi thể cách của hội họa người ta chọn một trong những thể tài tiêu biểu để nói lên vóc dáng, hình tượng anh hùng như một giải bày, phân tích cái điều tự nhiên của con người hoặc có thể chọn bản thống kê hòa hợp chất màu của cái không phân biệt được, hoặc có thể chọn cái bầy nhầy, trườn trượt, mẫu thức xấu…để tạo nét đặc thù. Về văn ta có thể nhận biết tính anh hùng lịch sử, anh hùng cá thể là sự kiện thuộc tinh thần (Victor Hugo) hoặc một cố công, rán sức để hoàn thành tác phẩm (Michelangelo) hoặc vinh quang chiến thắng (Shakespeare) hoặc có thể từ chỗ thứ dân đến quyền qúy (Tolstoy) hoặc người ta thấy được qủy ám như một chủ đề cho một luận đề tố cáo (Dostoevsky) hoặc dưới một tư duy biến dạng giữa người và vật (Kafka) hoặc hãi hùng, khiếp sợ (Goya) hoặc bấn loạn tâm can (Van Gogh). Đó là trường hợp chủ thể cho mỗi đề tài, cái đó cũng là một dự phóng cho cái nhìn vào tác phẩm nghệ thuật nơi con người dung thân trong vũ trụ quan. Kiểu cách của người nghệ sĩ là phát sinh từ nhận thức hiểu biết của họ và trong một ngụ ý ẩn tàng, một phản ảnh chiếu vào cái nhìn nhận thức của con người, của hiệu lực hoặc của suy thoái, tất cả chính xác và riêng biệt cho từng thể loại và định mức được chức năng của mỗi thứ. Kiểu cách hầu như có một cái gì phức tạp, hổn độn chính sự cớ đó là yếu tố nghệ thuật, gần như lột tả trọn vẹn, thường thì xáo trộn do từ trạng thái tâm lý. Một nội tại chất chứa đối kháng từ nỗi khổ của người nghệ sĩ, có nhiều người khác thì lại ưa làm lớn hay mù tăm trong tác phẩm của mình. Thí dụ: trường hợp của Salvador Dali; một hổn hợp làm sáng tỏ kiểu thức riêng, một thứ siêu hình lạnh lẽo của thứ chủ nghĩa tự nhiên. Từ đó phát sinh ra nhiều phong trào phản kháng ý thức trong văn chương và hội họa; chống đối bằng một ý thức lớn, biểu thị qua hiện tượng trường phái lập phương (Cubism) là khám phá để tìm kiếm cho một tri thức con người qua hội họa, bởi; chủ thể của hội họa như cái mà con người không nhận thấy được chúng –down and down to the rebellion against consciousness, expressed by a phenomenon such as Cubism which seeks specifically to disintergrate man’s consciousness by painting ojects as man does not perceive them.

Kiểu thức của văn nhân có thể là dự phóng, có thể là pha chế vào đó nhiều lý do và cảm xúc từ một rung động như trường hợp của Victor Hugo và một số văn nhân cùng một cảm thức như vậy.Văn phong, bút pháp là vận chuyển những gì có thể gọi là: ‘cảm thức nhận biết cuộc đời / psycho-epistemological sense of life’. Đấy là lý do tại sao phong cách đó quá nguyên tắc quan trọng trong nghệ thuật đối với nghệ sĩ và người đọc, người xem và tại sao sự quan trọng đó là một trau chuốt, dồi mài như là một vấn đề tích lũy thâm hậu của cá nhân? Nghĩa rằng; cảm thức có tác động. Nghĩa rằng; trân qúy tự tại (self-esteem) hoặc trân qúy cái sai lầm tự tại (pseudo-self-esteem). Thì ra sự cớ đó là che đậy cái nhầm lẫn, cái sa ngã tự tại.

Cảm thức cuộc đời là gốc ngọn của nghệ thuật, nhưng đó không phải là đặc quyền, đặc chế cho khả năng của người nghệ sĩ –A sense of life is the source of art, but it is not the sole qualification of an artist. Còn nói về thẩm mỹ quan thì đó chỉ là cành nhánh của triết học (từ triết học nghĩa là đẹp). Nhưng nhớ cho triết gia không vin vào đó mà đi tới những cành nhánh của khoa học (dù là triết học khoa học) để có một cảm thức hoặc cảm xúc như một chuẩn mực công lý; vậy cho nên chi không-thể-đạt tới lãnh vực của thẩm mỹ. Dù gì cảm thức nhận biết chưa hẳn là một chức năng trang bị đầy đủ để nói tới thẩm mỹ là cần có trong tác phẩm nghệ thuật. Nghệ thuật vị nghệ thuật nó có một lãnh điạ khác biệt cho môi trường người nghệ sĩ.

Thẩm mỹ là việc chính yếu áp dụng vào tất cả bộ môn nghệ thuật; không coi đó là tác động triết học của từng cá thể nghệ sĩ. Mà nhớ cho rằng triết học đưa đường dẫn lối vào dự phóng của đối tượng nghệ thuật. Thế nhưng; cứ để ý và xác nhận bởi khoa học thẩm mỹ / science of esthetics tạo thành nghệ thuật chớ không ngoài một cơ cấu nào khác; đấy là việc phải làm mà hầu như triết học hiện đại đã suy nhược trước hiện tình một cách thê thảm. Vô hình chung khoa thẩm mỹ học lại đứng trên bộ môn triết học nghệ thuật.

Từ chỗ nghệ thuật là một hỗn hợp triết học, thời đó không phải là việc tương phản giữa triết học và nghệ thuật (vì rằng nghệ thuật là nghệ thuật, triết học là triết học). Rứa thì tôi có quyền nói: ‘Đây là tác phẩm lớn của nghệ thuật hội họa, nhưng tôi không thích’ hoặc ‘Đây là tác phẩm văn chương vĩ đại đáng tiêm nghiệm, nhưng tôi ghét’. Là chứa đựng cụ thể một cách xác quyết trong lời nói vì nó tồn lại hai sự cớ: Thứ nhất là đề cập đến cái nguyên chất của thẩm mỹ được đánh giá cao.Thứ hai là mực độ thâm hậu thuộc triết học là bao trùm tất cả cảm thức cuộc đời nhiều hơn giá trị thẩm mỹ. Dù đó là quyền chọn lựa của từng cá tính, vì rằng nó có nhiều khía cạnh khác biệt từ mỗi con người vui thú hay yêu thích cho mỗi giá trị tác phẩm. Nhưng; có cái khác hơn là mối quan hệ hấp dẫn nhất giữa cuộc đời này –other than sense-of-life affinity, mà không ai tìm thấy; chẳng qua cũng từ đối tượng chủ đề mà ra. Răng lạ rứa? Dạ thưa, cảm thức cuộc đời là bao trùm đầy đủ nghĩa lý (nhân sinh, triết lý và nghệ thuật) chỉ có con người cảm thức được một cái gì thâm sâu, uyên bác trong đó, một xúc cảm mãnh liệt về một tác phẩm nghệ thuật. Nhưng không phải vì rứa  mà cho đó có tầm cở (levels) hoặc dựa vào cấp độ của yêu thích (degrees of liking) để rồi đi tới kết luận: ngổn ngang gò đống vây quanh, không giải quyết cho một bản chất tự tại vì suy tư cho một hiện hữu tồn tồn nhân thế…Đứng trên tư duy này là đánh mất lập trường cho một xác quyết về tác phẩm nghệ thuật; sự khác biệt là có cái tương tợ lẫn nhau giữa tình cảm, quan hệ và hữu nghị; yếu tố cô đọng đưa tới tâm thức người nghệ sĩ là chứa đựng tinh thần nghệ thuật (xem và suy đọc và nghiệm) để trước khi đánh giá cho một tác phẩm nghệ thuật và cảm thức của cuộc đời – Art and Sense of Life.

Rứa cho nên chi việc học hỏi là chuyển dịch cái ý nghĩa của nghệ thuật trong đối tượng từ ngữ, khám phá cái không có để mà tiêm nghiệm nghệ thuật trong một phơi mở cần thiết đối với vai trò của con người. Người nghệ sĩ là huỵch toẹt cái linh hồn trần trụi trong tác phẩm của mình –An artist reveals his naked soul in his work. Rứa thì may ra mềm lòng người ngắm và người đọc một cách thỏa mãn, thích thú. Chớ nằng nặc mà bảo phải sạch, phải đẹp, phải như ri, như rứa không tì vết thì mới chịu chơi; quả là nặng lòng vị kỷ. Nhưng; không chừng ‘héo úa’ của người đẹp là cái thức tỉnh nội tại giữa thẩm mỹ và cái thâm cung bí sử triết lý của tồn lại, tồn lưu, tồn lụt nằm trong cái ‘chơi chịu’ đó. Kiều tài sắc vẹn toàn nhưng biết đâu trong cái đau khổ đoạn trường nàng lại có cái hấp dẫn kín đáo mà làm cho bao người hùng điêu đứng. Có ai trong đời cùng một cảm nhận như rứa không? Sự cớ đó chính là cảm thức cuộc đời đang sống ./.

VÕ CÔNG LIÊM (ca.ab.yyc. mồng ba tết Ất Mùi 21/2/2015) SÁCH ĐỌC: ‘A Philosophy of Literature’ by Aym Rand. A Signet Book from New American Library by Bantam Book, Inc. USA 1962.

ĐỌC TẬP TRUYỆN NGẮN “XÓM CÔ HỒN” KHA TIỆM LY


 
Châu Thạch    

Phi lộ: Nhân dịp nhà văn Kha Tiệm Ly vừa tái bản tập truyện ngắn “Xóm Cô Hồn” lần thứ ba, tôi xin đăng bài cảm nhận của mình về tập truyện ngắn nầy. Đây là một tập truyện có giá trị cao, không thể không có trên tủ sách gia đình. Quý vị nào cần mua xin liên hê với nhà văn trên trang facebook khatiemly Hao han. Kính mời.  

Bài Bình: Châu Thạch   

    Đến tuổi thất thập cổ lai hy; nhà văn, nhà thơ Kha Tiệm ly mới xuất bản được tác phẩm của mình, khi mà tên tuổi ông trong và ngoài nước không mấy ai không biết và không yêu mến. Điều đó chứng tỏ Kha Tiệm Ly đã cày trên thửa ruộng văn chương của mình, thu hoạch hoa màu thật tốt tươi nhưng thời nay, thứ sản phẩm trí tuệ tốt tươi ấy đem tặng không cho đời thì dễ nhưng bán cho đời thật khó.  

     Cũng may tập truyện ngắn Xóm Cô Hồn in 1000 quyển đã được mua sạch khi mới đem về, chứng tỏ uy tín Kha Tiệm Ly khiến cho nhiều người háo hức đón chào. Đến nay ông đã xuất bản lần thứ ba nhưng sách vẫn bán chay. Thành thật chúc mừng ông.  

     Xóm Cô Hồn gồm có 19 truyện ngắn, trong đó có 9 truyện truyền kỳ, còn lại dành cho nhiều thể loại khác.    

     Trước hết người viết xin đề cập đến truyện truyền kỳ của Kha Tiệm Ly vì ở tập sách nầy truyện truyền kỳ chiếm một số trang rất lớn.    

     Truyền kỳ là gì? Tìm câu trả lời hay nhất trên Google như sau: “Truyền Kỳ Mạn Lục (nghĩa là Sao chép tản mạn những truyện lạ) là một tập truyện của nhà văn Nguyễn Dữ, được in trong khoảng năm 1768. Dù là sao chép tản mạn những truyện lạ nhưng Truyền Kỳ Mạn Lục không phải là một công trình sưu tập như Lĩnh Nam Chích Quái, Thiên Nam Vân Lục… mà là một sáng tác văn học. Lấy bối cảnh chủ yếu là một phần hiện thực thế kỷ XVI, các truyện hầu hết ở thời Lý, Trần, Hồ, Lê sơ và đều có yếu tố hoang đường, nhưng đằng sau những yếu tố hoang đường đó chính là hiện thực xã hội phong kiến đương thời với đầy rẫy những tệ trạng mà tác giả muốn vạch trần, phê phán.  

      Truyền Kỳ Mạn Lục phản ánh số phận bi thảm của những con người nhỏ bé trong xã hội, những bi kịch tình yêu mà bất hạnh thường rơi vào người phụ nữ (như người thiếu phụ Nam Xương), thể hiện tinh thần dân tộc, bộc lộ niềm tự hào về nhân tài, văn hoá nước Việt (như chuyện chức phán sự đền Tản Viên), đề cao đạo đức nhân hậu, thuỷ chung, đồng thời khẳng định quan niệm sống “lánh đục về trong” của tầng lớp trí thức ẩn dật đương thời.     

     Truyền Kỳ Mạn Lục là đỉnh cao đánh dấu bước trưởng thành của thể loại truyền kỳ Việt Nam thời trung đại, từng được Vũ Khâm Lân (thế kỷ 17) khen tặng là “thiên cổ kỳ bút”. Tác phẩm đã được dịch ra nhiều thứ tiếng nước ngoài và được đánh giá cao trong số các tác phẩm truyền kỳ ở các nước đồng văn.”    

     Vậy thể loại truyện kỳ có ở nước ta từ 400 năm trước. Nay giữa thế kỷ 21 nầy nhà văn Kha Tiệm Ly lại quay về với nhưng câu chuyện cổ xưa, với lối hành văn cổ xưa, chắc là ông muốn tải cái đạo lý của thời xưa cho người đời nay suy nghiệm.  

      Truyện truyền kỳ của Kha Tiệm Ly đọc hấp dẫn không thua gì Liêu Trai Chí Dị. Trước hết nó đưa ta đến những cảnh vật nên thơ có con người và những mối tình thú vị, với mỹ nhân và thánh thần bí hiểm . Sau nữa truyện truyền kỳ như con thuyền tải đạo lý, đánh động lòng ta suy nghĩ về lẽ phải, công bằng xã hội, nhân cách con người và quyền sống tự do, hạnh phúc.    

      Ta không thể không thoả lòng với con “Chồn Cái Có Nghĩa” tuy ân ái với chàng thư sinh nhưng giúp cho tình chồng vợ của chàng không lỗi đạo.    

      Ta không thể không mông lung suy nghĩ cái cao siêu trong “Chuyện Hai Con Rồng” nói về một bậc nhân tài vẽ muôn chim, muôn thú, muôn hoa y như là thật, nhưng khi vẽ cặp phi long treo tại ngai vàng thì chỉ quệt hai đường mực xạ khiến phải bị rơi đầu! Sau đó chỉ một tên lính hầu tầm thường nói nhỏ vào tai đã khiến nhà vua tỉnh ngộ nhận ra cái thâm thuý của cặp tranh kia để trở thành một đấng minh quân.    

      Ta thật cảm phục câu chuyện “Liệt Nữ anh Hùng” người vợ thủ tiết chết theo chồng.  

       Câu chuyện linh hồn một cân quắc anh thư “ Liên Hà Tiểu Thư” chết vì cả nhà bị lũ gian thần hảm hại, đã hiện thân vầy duyên cùng một ẩn sĩ có ngọn bút như thần viết “Biên Cương Nộ khí Phú”, một bài phú hào hùng, tràn lòng yêu nước, yêu quê hương.     

       Ta thú vị với “Truyền Thuyết Hoa Đà”, một danh y cương trực khẳng khái, đã chữa lành cho hoàng hậu phát bệnh do “thiếu nặng đức nhân, thich nghe lời xu nịnh, chẳng phân biệt phải trái, hay dùng lời cao ngạo” và đã đánh lừa được ước muốn của một hôn quân sinh hoang tưởng mơ chuyện cỡi rồng.     

     Ta cảm kích câu chuyện “Thuỷ Chung Với Vợ” kể chuyện người chồng không đành giết vợ mình khi biết nàng là loài hồ ly bước ra từ chính bức tranh chàng hoạ.     

     Rồi câu chuyện “Khí Phách Giang Hồ” xảy ra trong thời chống Pháp thuộc vùng Gia Định Nam Kỳ, giữa môn phái võ thuật yêu nước đấu tranh cùng môn phái theo gót ngoại bang. Câu chuyện đề cao tinh thần yêu nước, nghĩa khí giang hồ, tình yêu cao thương của anh hùng hảo hán thời bấy giờ.     

     “Ăn Tết Với Ma”, “ Ngọc Lựu Mỹ Nhân” là nhưng câu chuyện xảy ra ở thời mạt Minh bên Tàu hay thời Lê Trung Hưng đất Việt, đều là những câu chuyện huyễn hoặc trong thời suy thoái quốc gia, trên thì tranh giành quyền lực, thu gom của cải, dưới thì sách nhiễu dân chúng, tuỳ tiện cướp của cướp nhà, bá tánh phải chịu muôn vàn lầm than khốn khổ, nước mắt chảy thành sông, thành suối, từ đó những hồn ma bóng quế nữ nhi chịu oan ức không siêu thoát mà trở lại với đời, kết nghĩa với hiền tài bất đắc chí ở trần gian.     

      Truyện truyền kỳ của Kha Tiệm Ly lấy tấm gương xưa mà soi vào hiện thực, khéo léo mà sâu xa, nhẹ nhàng mà thâm thuý, cuốn hút người đọc thích thú theo sự việc ly kỳ để rồi khi bình tâm lại, nghe tiếng lẽ phải cáo trách, nghe lương tâm thời đại nhói đau trong lòng.    

     Mười truyện ngắn còn lại, Kha Tiệm Ly viết về kỷ niệm đời mình, về những mẫu người đặc biệt, về nếp sống của tầng lớp cùng đinh xã hội. Nói chung mỗi câu chuyện đều làm cho ta suy nghiệm về một triêt lý sống ở đời.  

      Với truyện ngắn “Gánh Hát Về Làng” ta quay lại thời tuổi thơ của tác giả ở một miền quê Nam Bộ. Thời đó gánh hát bội về làng và gánh hát bội ra đi để lại trong lòng trẻ thơ biết bao nhiêu là kỷ niệm êm đềm.  

      Với truyện ngắn “ Nhật Ký Của Ba” làm ta rơi nước mắt vì người cha bán một phần thân thể cho con ăn học. Truyện ngắn “Xóm Cùi” viết về một người đàn bà xấu xí tật nguyền bị hất hủi cho đến phút cuối cuộc đời. Truyện ngắn “Người Bạn Lạ Đời” kể chuyện một người đi tu có tính toán nhưng đem đến cho ta nhiều phân vân về cái thật cái giả ở đời. Truyện ngắn “Đạo Đời Hai Ngã” là nỗi đau của mối tình phân rẽ, gặp nhau lại thì đạo, đời hai ngã lại làm cho phân cách nhau hơn.  

      Những truyện ngắn như “Đậu Cô Lang”, “Muộn Màng”, “Thế Võ cuối cùng”, “Xông Đất”… đều cuốn hút người đọc vào tinh tiết lý thú trong hư cấu nhân vật nổi bật và bố cục mạch lạc ngắn gọn làm cho ta say sưa câu chuyện . Đặc biệt “Xóm Cô Hồn” có lẽ là câu chuyện tâm đắc của tác giả nhất nên ông đã lấy nó làm đầu đề cho cả tập truyện ngắn của mình. “Xóm Cô Hồn” nhưng lại có hồn vì nơi đó chứa những mảnh đời bất hạnh, những thành phần lao động từ tứ xứ kéo về. Đời sống họ phi pháp, nếp sống họ xô bồ vì xã hội đẩy họ vào chỗ cùng đinh nhưng tình bạn của họ, sự chơn chất của tâm hồn, sự đùm bọc che chở nhau phát xuất từ vẻ đẹp, từ sự cao thượng một cách rất tự nhiên có trong lòng họ.  

     Đọc truyện ngắn “Xóm Cô Hồn” ta tìm thấy ở đó tính nhân văn trong lớp người bần cùng của xã hội, ta tìm thấy ở đó tính Người viết hoa, nhân phẩm của họ được đề cao trong tính cách, trong cách xử sự theo lối bình dân của họ, một lớp người khốn khổ. Lời văn trong những câu chuyện nầy vô cùng xúc tích, giống như một hiền nhân điềm đạm kể chuyện đời, rót vào tai người nghe những điều ý vị trong những nghịch lý của nhân quần xã hội.    

     Nói chung, tập truyện “Xóm Cô Hồn” của Kha Tiệm Ly là một tác phẩm đáng trân trọng, phù hợp với mọi người, mọi tuổi đời dầu già hay trẻ, vì trong đó chứa đựng huyền thoại để con người được tưởng tượng khi xem, vì nó chứa đựng nhiều câu chuyện hấp dẫn về người, về thần , về ma một thuở xa xưa, vì nó dựng lại cuộc sống của con người hiện thực trong con mắt sâu sắc của văn nhân. Tất cả những thứ ấy như những bó hoa chở trên con thuyền đạo lý, để người đọc nhìn thấy cốt truyện như vẻ đẹp của hoa và ẩn dụ của truyện như hương thơm ngào ngạt toả ra, đọng lại lâu dài trong thiện tâm của ta./.     

                                                          Châu Thạch   

Bàn Về “ĐỌC LẠI NGƯỜI XƯA” Bài 1- Thơ Vũ Hoàng Chương

I – Sơ lược về nhà thơ Vũ Hoàng Chương:  

     Vũ Hoàng Chương(1916-1978) ở Nam Ðịnh, nguyên quán ông là làng Phù Ủng, huyện Đường Hào nay là huyện Mỹ Hào tỉnh Hưng Yên.  

Thi phẩm của Vũ Hoàng Chương được nổi tiếng nhất là tập Thơ Say (xuất-bản năm 1940). Sau tháng Tám 1945, nhà thơ họ Vũ đã cho ra đời thêm mấy tập thơ nữa là: Mây (1943), Rừng Phong (1954); một tập kịch thơ Vân Muội, Trương Chi, Hồng Diệp (1944).  

      Sau năm 1954, nhà thơ di cư vào Nam, ông tiếp tục sáng tác không ngừng cho đến khi ông mất. Các tác phẩm giai đoạn này là các tập thơ Tâm Sự Kẻ Sang Tần (1961), Lửa Từ Bi (1963), Ta Đợi Em Từ 30 Năm (1970), Chúng Ta Mất Hết Chỉ Còn Nhau (1973)… Ông từng được vinh danh là “Thi bá” Việt Nam.  

     Sau 1975 bị bắt giam ở Chí Hòa, do bệnh nặng Ông mất ngày 6 tháng 9 năm 1976 tại Sài Gòn.  

II – Sự Kiện của thơ:  

     Sự kiện của thơ do nhà thơi La Thuy, Quản nhiệm trang blogspot Phú Đoàn và La Thụy đăng trên báo của mình như sau:  

“Di cảo của Vũ Hoàng Chương (1975 – 1976), do Vũ Hoàng Chương trao cho Hoàng Hương Trang giữ trước khi qua đời, đây là công bố đầu tiên di cảo này, gồm 14 bài, trong đó có 1 bài thơ Tết vịnh Tranh Gà Lợn, 12 bài cùng 1 nhan đề “Đọc lại người xưa”, còn 1 bài ông làm trong tù gồm 12 câu, phải làm 6 lần, mỗi lần bà Đinh Thục Oanh vợ ông vào thăm nuôi, ông chỉ viết 2 câu trên mảnh giấy gói đồ, 6 lần vào thăm nuôi ghép lại mới hoàn chỉnh bài thơ, tuy nhiên bài ấy do bà Đinh Thục Oanh giữ và nay đã thất lạc, Hoàng Hương Trang chỉ nhớ vỏn vẹn 1 câu: “Tối về Khánh Hội sáng vô Chí Hòa” để chỉ những cuộc thăm nuôi của bà Đinh Thục Oanh vào thăm ở Chí Hòa, lặn lội cuốc bộ về tới Khánh Hội ở đậu nhà bà Đinh Hùng thì trời đã chiều tối. Nhưng bài thơ này cũng là ngoài 12 bài liền mạch “Đọc lại người xưa”.  

Hoàng Hương Trang nay cũng ở gần cái tuổi 80 rồi, sợ không giữ được, nên xin công bố, in vào tuyển tập sau này để lưu giữ được lâu dài, làm tài liệu cho văn học sau này.  

     Năm 2012, La Thụy được chị Hoàng Hương Trang tặng TUYỂN TẬP THƠ VĂN XUÔI HOÀNG HƯƠNG TRANG, trong đó có in những bài thơ cuối cùng, là “di cảo do thi sĩ Vũ Hoàng Chương trao cho chị Hoàng Hương Trang giữ trước khi qua đời”. Những bài thơ này được in từ trang 398 đến trang 407 trong tuyển tập nêu trên. Xin giới thiệu cùng quý bạn đọc.”  

III- Nghiên cứu bài thơ “Đọc Lại Người Xưa” Bài 1  

 

1.  Bài thơ “ĐỌC LẠI NGƯỜI XƯA (1)  

 

“Minh nhật dục từ nam phố đạo  

Hà nhân cách xướng bắc cung thanh”  

                       Cao Bá Quát  

Đường Thanh Nghệ Tĩnh chon von  

Nhịp ba cung bắc ai còn hát đây  

Cánh chim lượn gió đong đầy  

Khói hoàng đô thoắt liền mây Đế Thành  

Rồng Lê phượng Nguyễn tung hoành  

Chẳng e lưu xú chẳng đành lưu phương  

Ba hồi trống giục pháp trường  

Máu tuôn phách dựng phố phường còn mưa  

Cơn buồn lọt gió mành thưa  

Mấy mươi giông bão cho vừa nhịp ba  

Nào ai đáng mặt danh ca  

Mời ai danh sĩ Bắc hà về nghe.  

                Vũ Hoàng Chương  

 

      Bài thơ nầy Vũ Hoàng Chương viết về Cao bá Quát:  

       Cao Bá Quát ( 1809 – 1855), biểu tự Chu Thần, hiệu Mẫn Hiên, lại có hiệu Cúc Đường, là quân sư trong cuộc nổi dậy Mỹ Lương chống lại triều Nguyễn, và là một nhà thơ nổi danh ở giữa thế kỷ 19 trong lịch sử văn học Việt Nam.  

Ông là người làng Phú Thị, huyện Gia Lâm, tỉnh Bắc Ninh; nay thuộc xã Phú Thị, huyện Gia Lâm, Hà Nội. Cuối đời Cao Bá Quát làm thủ lĩnh của cuộc khởi nghĩa lớn chống triều Nguyễn. Khởi nghĩa thất bại, cái chết của ông có nhiều giả thuyết, giả thuyết Cao Bá Quát bị chém được kể lại thành giai thoại văn chương.  

      Trước khi nhập đề “Đọc Lại Người Xưa” (1), nhà thơ Vũ Hoàng Chương đã dùng hai câu thơ của Cao Bá Quát để dẩn nhập cho bài thơ của mình. Nguồn gốc của hai câu thơ nầy được nhà thơ La Thụy giản giãi như sau:  

 “Minh nhật dục từ nam phố đạo,  

Hà nhân cánh xướng bắc cung thanh.  

(Cao Bá Quát)  

     Hai câu thơ đó có nghĩa là:  

Ngày mai muốn xa cách đường Nam phố,  

Ai lại còn đàn hát giọng Bắc hôm nay.”  

     “Bài thơ này nằm trong quyển “Cao Chu Thần thi tập’ của Trung Tâm Học Liệu xuất bản năm 1971  

ĐỀ ĐÀO NƯƠNG XÁ  

Cổ nhân bất thức kim nhân hận,  

Tài đáo thương ly thuyết tận tình.  

Minh nhật dục từ nam phố đạo,  

Hà nhân cánh xướng bắc cung thanh.  

Hàn y cô quán băng xương thiểu,  

Vụ hiệp thâm thôn trúc thụ bình.  

Túy sát Tầm Dương tiếu Tư Mã,  

Thanh sam hà sự lệ tung hoành  

                    Cao Bá Quát  

     Dịch nghĩa:  

     Người xưa không biết thấu nỗi lòng hận của người đời nay,  

Nên mới gặp một sự đau lòng biệt ly hơi hơi, cũng đã nói hết sầu tình.  

Ngày mai muốn xa cách đường Nam phố,  

Ai lại còn đàn hát giọng Bắc hôm nay.  

Sương giá không bao, quán trọ vẫn quạnh hiu lạnh lẽo,  

Cây cối đều bằng phẳng, vì mù trùm làng mạc thâm u.  

Nực cười cho bến Tầm Dương, chàng Tư Mã kia say,  

Việc gì mà đến nỗi lai láng dòng lệ, thấm tràn áo xanh.  

*  

      Dịch thơ:  

     ĐỀ THƠ QUÁN ĐÀO NƯƠNG  

Người xưa không biết người nay hận,  

Vừa mới xa nhau đã hết tình.  

Mai sẽ từ biệt đường Nam phố,  

Mà ai lại ca giọng Bắc thanh?  

Lạnh lùng quán quạnh dầu sương ít,  

Bằng phẳng cây nhiều với vụ sanh.  

Cười ngất rượu say Tư Mã khách,  

Can gì lệ đẫm khắp bào xanh!  

     “Sa Minh Tạ Thúc Khải”  

    Đọc hai câu dẩn nhập vào bài thơ “Đọc Lại Người Xưa”(1) của Vũ Hoàng Chương, ta cũng có thể hiểu nhà thơ Vũ Hoàng Chương muốn dùng hai câu thơ của Cao Bá Quát để nói lên tâm sự u uẩn của người xưa mà cũng gởi vào đó tâm sự u uẩn của chính mình ngày nay.  

     Hai câu thơ dẩn nhập cho “Đọc Lại Người Xưa” là “Minh nhật dục từ nam phố đạo/Hà nhân cánh xướng bắc cung thành” dịch là “Mai sẽ từ biệt đường Nam phố/Mà ai lại ca giọng Bắc thanh?” cho ta đoán định được tâm sự lưu luyến khi phải từ bỏ một quá khứ, một quê hương để bước vào một cuộc sống mới, xa lìa nguồn vui thanh nhã đàn ca hát xướng, cũng như nỗi buồn khi phút cuối còn nghe giọng ca quen thuộc như một lời tiển đưa ai oán.  

     Thế rồi Vũ Hoàng Chương vào đề bài thơ bằng câu thơ: “Đường Thanh Nghệ tỉnh cho von”. Đọc câu thơ nầy ta nhớ đến bài thơ “Qua đèo Ngang” của bà Huyện Thanh Quan. Bà Huyện Thanh Quan cũng đi trên con đường Thanh Nghê tỉnh để vào kinh đô Huế, đên đèo Ngang, bà cảm tác bài “Qua Đèo Ngang” bày tỏ tấm lòng thương nhớ triều Lê.  

     Ở bài thơ nầy, Vũ Hoàng Chương cũng nhắc đến “Đường Thanh Nghệ tỉnh cho von”, nhưng trong một câu thơ sau nhà thơ lại nhắc đến cái chết bị chém đầu trên pháp trường cúa Cao Bá Quát:”Ba hồi trống giục pháp trường/Máu tuôn phách dựng phố phường còn mưa”. Điều đó chứng tỏ câu thơ “Đường Thanh Nghệ tỉnh chon von” Vũ Hoàng Chương muốn nói đên việc Cao Bá Quát qua Thanh Nghệ tỉnh hay qua đèo Ngang, trên con đường bị đưa vào kinh đô Huế để chém đầu,  

      Câu thơ thứ hai của “Đọc Lại Người Xưa”( 1), Vũ Hoàng Chương nhắc đến ca trù hay hát nói: “Nhịp ba cung bắc ai còn hát đây”  

 

     Hát nói vừa là một thể thơ, vừa là một trong 46 điệu thức của loại hình nghệ thuật dân gian ca trù. Nửa đầu hay tiền bán thế kỷ 19, hai nhà thơ cùng nổi danh với những bài Hát nói trong giáo phường cũng như trong lòng kẻ thưởng ngoạn, và thường được xếp bên nhau trong chương trình giáo khoa văn học VN là Nguyễn Công Trứ và Cao Bá Quát.  

Qua những bài hát nói, Cao Bá Quát tỏ ra là một tài tử đa cùng, một nghệ sĩ tài hoa, một khách phong lưu ưa thú cầm kỳ thi tửu và thích hưởng nhàn và hưởng lạc.  

      “Nhịp ba chung bắc” là gì? Đó là một cách  hát trong nghệ thuật hát nói.  

     “Hát Cung bắc trước chậm sau mau, có ba chỗ thay đổi điệu. Thoạt đầu ngâm nga rồi vào phách, giọng hát chen cung nam lẫn cung bắc, sau chuyển sang cung pha nên gọi là nhịp ba cung bắc.”  

     Câu thơ “Nhịp ba cung bắc ai còn hát đây” Vũ Hoàng Chương muốn nói đến Cao Bá Quát, một “Tài tử đa cùng phú” đã bị dưa đi chém đầu rồi thì từ đây, điệu ca hay “nhịp ba cung bắc” không ai còn hát nữa, vì hát cho ai nghe, bởi khách tài hoa phong lưu bậc nhất không còn ở trên đời.  

     Tiếp tục bài thơ, câu thứ 3 và câu thứ 4 như sau:  

Cánh chim lượn gió đong đầy  

Khói hoàng đô thoắt liền mây Đế Thành  

     “Khói hoàng đô” thì dễ hiểu. Đó là khói ở kinh đô. Còn mây Đế Thành là gì?  

     Đế Thành là thành Hoàng Đế. Thành Hoàng Đế là kinh đô của triều Tây Sơn trong lịch sử Việt Nam từ năm 1776 tới năm 1793 . Năm 1778, sau khi đánh bại chúa Nguyễn, Nguyễn Nhạc lên ngôi hoàng đế nhà Tây Sơn và cho xây dựng kinh đô tại vị trí cũ của thành Đồ Bàn vương quốc Chăm Pa, đây là nơi của Hoàng đế Thái Đức Nguyễn Nhạc ở nên gọi là thành Hoàng Đế.  

     Hai câu trên nói đến sự suy tàn của triều đại Tây Sơn. “Khói hoàng đô” nói sự thịnh vượng của đế đô hoàng đế Nguyễn Nhạc. Đế đô đó tên là Thành Hoàng Đế. Sau khi Tây Sơn tbua cuộc, Thành Hoàng Đế bị san bằng, phút chốc đã hóa thành thành mây, gọi là “mây Đế Thành”.  

     Câu thứ 5 và thứ 6 của “Đọc Lại Người Xưa”(1) như sau:  

Rồng Lê phượng Nguyễn tung hoành  

Chẳng e lưu xú chẳng đành lưu phương  

    “Lưu xú” là lưu tiếng xấu (Lưu danh thiên cổ. lưu xú vạn niên). “Lưu phương” là lưu tiếng thơm cho đời sau . Hát nói của Nguyễn Công Trứ có câu “Làm cho bách tuế lưu phương, trước là sĩ sau là khanh tướng”.  

     Hai câu thơ 5 và 6 đề cập đến sĩ phu thời Cao Bá Quát. “Rồng Lê” là những sĩ phu thời vua Lê, “phượng Nguyễn” là sĩ phu thời các vua Nguyễn. Đấy là những người “Phú quý bất năng dâm/ Bần tiện bất năng di/ Uy vũ bất năng khuất” – hiểu đơn giản là miễn nhiễm trước những nguy cơ tấn công của tiền bạc, của đói nghèo và bạo lực. Thứ duy nhất mà họ theo đuổi, và tôn thờ đến khi nhắm mắt xuôi tay là lý tưởng phụng sự tổ quốc, phụng sự dân tộc mình. Cao Bá Quát là một trong những ngôi sao sáng của tầng lớp nầy nhưng sinh ra dưới ngôi sao xấu nên đường khoa cử, đường hoạn lộ đều gặp trắc trở, để cuối cùng bị họa diệt thân, họa tru di tam tộc.  

     Bốn câu thơ 7 và 8, 9 và 10, Vũ Hoàng Chương nhắc đến cái chết bị chém đầu của Cao bá Quát:  

Ba hồi trống giục pháp trường  

Máu tuôn phách dựng phố phường còn mưa  

Cơn buồn lọt gió mành thưa  

Mấy mươi giông bão cho vừa nhịp ba  

Về cái chết của Cao Bá Quát có nhiều thuyết khác nhau. Sử nhà Nguyễn ghi chép về cái chết của Cao Bá Quát, lãnh tụ cuộc khởi nghĩa nông dân Mỹ Lương nổ ra bắt đầu ở Quốc Oai (Sơn Tây), rằng ông bị bắn chết ở trận tiền (1855). Truyền thuyết cho rằng Cao Bá Quát bị bắt, giải về Hà Nội rồi đưa vào giam ở Huế trước khi đem ra chém đầu, Trong thời gian bị giam trong ngục ông làm hai đôi câu đối nổi tiếng:  

Một chiếc cùm lim chân có đế,  

Ba vòng dây xích bước cỏn vương.  

và:  

Ba hồi trống giục, đù cha kiếp,  

Một nhát gươm đưa, đéo mẹ đời!  

     Trong bốn câu thơ trên, Vũ Hoàng Chương đã hư cấu cho trời đất cũng hát tiếng hát ca trù thảm thiết bằng nhưng cơn gió lọt vào mành thưa khi nhà thơ Cao Bá Quát bị chém trong một ngày mưa. Để rồi tiếp hai câu thơ chót, Vũ Hoàng Chương đã cho tiếng ca của trời đất đó thê thảm đến nỗi không một danh ca Bắc Hà nào có thể diễn đạt được hết nỗi bi thương kia:  

Nào ai đáng mặt danh ca  

Mời ai danh sĩ Bắc hà về nghe.  

     Quê hương của Cao Bá Quát là tỉnh Bắc Ninh, do đó ông chính là kẻ sĩ miền Bắc. Câu thơ “Mời ai danh sĩ Bắc hà về nghe” như một lời kêu than, một lời phân bua, một lời oán trách đến người kẻ sĩ Bắc Hà, mời họ nghe tiếng khóc của mưa gió cho cái chết của họ Cao còn ai oán, bi thương nhiều hơn tiếng ca trù của một danh ca Bắc Hà than vản.  

     Nhà thơ La Thụy cho biết, “ĐọcLại Người Xưa” bài 1 là một trong 12 bài thơ di cảo của Vũ Hoàng Chương sáng tác năm 1975-1976,  là thời kỳ nhà thơ lâm vòng lao lý, tù tôi. Mười hai bài thơ “Đọc Lại Người Xưa” nầy tác giả phải đưa vợ cất dấu rồi chuyền tay cho nhà thơ Hoàng Hương Trang giử hộ. Điều này cho ta có thể suy đoán, 12 bài thơ là nỗi lòng mà thi nhân ấp ủ vào đó. Vũ Hoàng Chương đã đọc lại 12 thi nhân xưa để sáng tác về họ, lấy cùng nhan đề “Đọc Lại Người Xưa” để lồng gởi vào đó niềm riêng mà nhà thơ không thể nói công khai ra được.  

    Châu Thạch tôi vì ái mộ Vũ Hoàng Chương, nên tra cứu để tìm hiểu nhà thơ trên mạng, biết được điều gì xin chép lại điều đó, nghĩ rằng nên truyền thông ra để thân hữu, bạn đọc có thể biết thêm về cuộc đời, sự nghiệp văn chương của một thi nhân nỗi danh một thời. Bài viết có nhiều tư liệu đã thành phổ biến tôi không đưa vào ngoắc kép, còn những tư liệu mới tôi đều đưa vào ngoặc kép hoặc nói xuất xứ rõ ràng. Mong được tha lỗi những sai trật hoặc nhận định khác ý của tôi, vì đây chỉ là bài viết của một người tay ngang múa rìu qua mắt thợ mà thôi ./.  

                                                                   Châu Thạch  

 

CẢM NHẬN KHI ĐỌC TRUYỆN NGẮN “CÔ SƯỚNG CƯỚI VỢ”


Tôi đọc truyện ngắn “Cô Sướng Cưới Vợ” trên trang facebook của tác giả Đặng Xuân Xuyến. Lối viết dí dỏm của anh đã lôi cuốn tôi ngay từ phần đầu của truyện. Khi đọc trên báo mạng, tên nhân vật và tên truyện không hiểu lý do gì mà thay đổi, dù cốt truyện giữ nguyên nhưng tôi thích đọc tên truyện cũ là “Cô Sướng Cưới Vợ”. Có lẽ vì ấn tượng tên “Cô Sướng Cưới Vợ” tạo yếu tố dân dã hơn, chân thật hơn.
Nhân vật Sướng được Đặng Xuân Xuyến ưu ái, giành nhiều sự quý mến. Tính khí khác thường của “cô” Sướng qua ngòi bút của Đặng Xuân Xuyến không hề phản cảm, gây cười mà đáo để duyên:
“Sướng thích được gọi là cô, là chị. Sướng khoái được mọi người mắng yêu câu: “Con đĩ Sướng này xinh phết!”. Thích là thế nhưng Sướng ghét cay ghét đắng kẻ nào lại thực tâm coi Sướng là phụ nữ, là phận liễu yếu đào tơ, là thân gái chân yếu tay mềm. Tóm lại, Sướng là đàn ông, là nam nhi chính hiệu, là chuẩn men đích thực nên Sướng không chấp nhận ai đó cho rằng, nghĩ rằng Sướng là phận nữ nhi! Ừ thì Sướng thích gọi là cô, là chị. Ừ thì Sướng thích nhảy dây, thích chơi ô ăn quan, thích chơi trò búp bê, thích buôn hàng, thích cãi lộn… Như thế thì đã sao? Những sở thích đó tuy có khác biệt với đặc trưng giới tính của giới nam nhưng cũng chẳng ảnh hưởng gì tới bản chất giới tính vốn có của Sướng? Thật đấy! Sướng vẫn là thằng đàn ông đích thực. Sướng vẫn chưa bao giờ phải tụt quần ngồi xổm mà tiểu tiện. Sướng cũng chưa bao giờ tùy tiện cho rằng mình không phải là thằng đàn ông nên vì thế đừng có ai vớ vẩn nghĩ Sướng là đàn bà con gái. Sướng ghét đấy. Sướng chửi cho đấy.”
Bạn đọc yêu nhân vật Sướng bởi bản chất thật thà, tốt nết của anh. Đằng sau sự đanh đá chua ngoa của Sướng là tấm lòng lương thiện, tử tế, sống nghĩa hiệp với người thân và bè bạn. Bị cụ Vân, bố đẻ của “dì Kiên”, người bạn thân bị “bê đê nặng”, “nhiếc móc” là “pha gái”, chọc vào “điều cấm kỵ” khi coi Sướng là “con đàn bà” dù rất tức cụ Vân nhưng Sướng vẫn biết dừng lại ở đúng đạo nghĩa:
“Nghe câu “Tôi lại hỏi thật chị nhé: Hai con đàn bà lấy nhau thì đẻ đái làm sao?” mặt Sướng tái lại rồi thoắt cái phừng phừng sát khí. Sướng chống hai tay vào hông. Sướng dậm chân đến huỵch một cái rồi kéo dài giọng:
– Hai con đàn bà lấy nhau thì đẻ đái làm sao? Này! Con nói thật với bố. Đừng tưởng con này trông như pha gái mà nghĩ con này là phận liễu yếu đào tơ, không phải là thằng đàn ông. Đây nói cho bố biết. Đây chưa bao giờ ngồi xổm như mấy con đàn bà! Chưa bao giờ! Bố hiểu chửa! Mà con nói thật nhé. Chắc gì bố đã là đàn ông mà bố bĩu môi, dè bỉu, coi khinh con này như thế.
Thấy sắc mặt tím tái rồi thoắt cái đỏ bừng của Sướng, cụ Vân chột dạ:
– “Mẹ nó! Chạm phải vía “con dở ông dở thằng” này rồi. Nó mà nổi cơn đồng bóng thì mình dại mặt.”. Cụ lùi người, lùi người để tránh cơn giận của Sướng, không ngờ cụ trượt chân ngã oạch một cái. Nhìn bộ dạng luống cuống của cụ, Sướng phì cười, bĩu môi:
– Gớm! Đàn ông chưa? Ối dào! Đàn ông như bố, đây cũng dí thèm!”
Bị cụ Bống, là bố đẻ, đánh chửi, dù “nhiều oan ức” nhưng “cô” Sướng không cãi mà ngồi im cam chịu vì đạo làm con. Bị cụ Bống hiểu sai là “thằng đồng cô” (bê đê) và đe sẽ huỷ hôn giữa Sướng với Ngân nhưng lo cho tương lai của “dì Kiên”, sợ nói ra sự thật chỉ Kiên ái mới là “đồng cô” thì Kiên ái sẽ khó lấy được vợ, sẽ khổ nửa đời về sau của bạn mình nên dù bị oan ức, bị cụ Bống chửi đánh… Sướng vẫn cắn răng chịu đựng. Nghĩa cử đó của Sướng thật đẹp, không phải ai cũng làm được.
Ngân là nhân vật được tác giả giành những lời ngợi ca, những khắc họa rất đẹp về nhan sắc và nhân cách:
“Ngân không mỏng mày hay hạt nhưng Ngân thùy mị, nết na. Ngân không sắc nước hương trời nhưng nét dịu dàng của Ngân đủ khiến trai làng phải thầm mơ trộm nhớ. Ngân được người. Ngân được nết. Cả làng, cả xã chưa thấy Ngân mặt nặng mày nhẹ, cãi cọ với ai. Cứ nhẹ nhàng với mọi người, cứ nhún nhường với mọi người như thể Ngân sinh ra là để chan hòa với mọi người vậy.”
Không chỉ xinh đẹp, hiền thục, đảm đang mà Ngân còn được tác giả Đặng Xuân Xuyến mô tả là người phụ nữ mạnh mẽ trong tình yêu và dám sống với tình yêu đích thực của mình. Cái đêm Sướng biến thiếu nữ Ngân thành người đàn bà được tác giả Đặng Xuân Xuyến dàn dựng như một vụ “tai nạn” hi hữu, chủ yếu để đề cao chữ “trình tiết”, đề cao phẩm hạnh của Ngân. Có thể vì quá quý mến em gái mình nên Đặng Xuân Xuyến mới dàn dựng như thế nhưng nếu là tôi, tôi sẽ để Ngân “dính bầu” như các trường hợp “ăn cơm trước kẻng” khác, thì sự mạnh mẽ trong tình yêu của Ngân mới thật.
Tóm lại, Đặng Xuân Xuyến đã giành cho nhân vật Ngân sự yêu mến và trân trọng đặc biệt. Người con gái ấy không chỉ đẹp người, đẹp nết mà còn là người phụ nữ hiện đại, mạnh mẽ với tình yêu.
Nhân vật cụ Bống xuất hiện cuối truyện và số chữ viết về cụ không nhiều nhưng Đặng Xuân Xuyến đã khắc hoạ thành công hình ảnh cụ Bống: một người ông, người cha yêu thương con, cháu hết mực; có những nghĩa cử cao đẹp, hơn hẳn người đời, biểu hiện ở hành động khi nghe tin con trai bị “đồng cô, không yêu được con gái” đã yêu cầu con trai huỷ hôn, đừng làm lỡ dở cuộc đời người con gái xinh đẹp, hiền thục của làng xã:
– “Thầy hỏi, con phải trả lời thật nhé. Con có yêu cái Ngân không? Con có làm chuyện đàn ông với đàn bà được không? Còn chuyện con với thằng Kiên “ái” nhà ông Vân thế nào? Thầy nghe thằng cháu đích tôn nói con với thằng Kiên “ái” yêu nhau, thề thốt nếu không được sống cùng nhau sẽ cắt tóc đi tu. Đã thế, còn bày đặt chuyện lấy vợ làm gì hả con?”.
Phải là người có tấm lòng của Bồ Tát thì cụ Bống mới lo lắng cho Ngân, khuyên Ngân huỷ bỏ hôn nhân với Sướng vì:
– “Ngân này. Con đẹp người đẹp nết lấy đâu chả được thằng chồng tử tế sao lại chọn thằng Sướng nhà bác làm chồng? Lấy nhau về, không có con cái thì sao được hả con? Rồi sẽ khổ cả đời, con ạ. Nghe bác, hủy đám cưới với thằng Sướng nhà bác đi. ”.
Tóm lại, tôi thích truyện ngắn “CÔ SƯỚNG CƯỚI VỢ” của Đặng Xuân Xuyến bởi, như tác giả Nguyễn Bàng đã nhận xét: “Truyện viết dí dỏm, hài hước gợi nhiều trăn trở với người đọc. Truyện chạm vào trái tim người đọc bởi trong truyện đầy ắp tính nhân văn.”
*.
VŨ THỊ HƯƠNG MAI
Địa chỉ: Khu tập thể Tổng công ty 319
Long Biên – Hà Nội.

Ý THỨC MỚI TRONG VĂN HỌC NGHỆ THUẬT

VÕ CÔNG LIÊM

TRANH VẼ VÕ CÔNG LIÊM : ‘Người Đàn bà Độc diễn Đàn bầu / Perform Solo (with one Stringed)’.

gởi: Luăn Hoán . Nguyễn Vy Khanh . Khánh Trường

   Ai là người được gọi là ý thức mới và nhận thức mới trong văn học nghệ thuật? –Who are to be the new consciousness and new intellectuals in the culture and art? -Cái đó là vấn đề nêu ra cho một chủ đề của tiểu luận, một phân tách những gì thuộc văn học nghệ thuật; thảo luận để tìm thấy sự tiến trình của nó, xác định sự biến cách của nó; giới thiệu những gì thăng hoa và những gì suy tàn trên con đường tiến lên xã hội chủ nghĩa tư tưởng cho một tư duy phục hưng nhận thức (an intellectual renaissance): Bất luận nam hay nữ là lớp người có ý thức muốn nghĩ tới những gì mà người ta đang sống giữa đời này; đấy là lý do, là giá trị mà họ đang hiện diện trong cuộc đời và cũng không vì điều đó mà ‘bó tay’ để đi đến một thứ văn hóa nghệ thuật tuyệt vọng trong một thứ văn chương ta bà, hùm-bà-lằn hiện đại bởi của những gì yếm thế, phù hư mà ở đây người ta không thể đầu hàng trước một thế giới mù tăm và kiềm chế bởi những gì ngu xuẩn không nhân tính. Cho nên chi ý thức mới là nhận thức toàn diện cả hai bề mặt của văn học nghệ thuật: chiều dài của thời gian và chiều rộng của không gian với cái nhìn trong sáng và đích thực giữa hữu thức và vô thức để xác định vấn đề của sự thật làm nên và xác quyết cho một giá trị tồn lưu nhân thế; xác quyết thế nào là ý thức cũ và ý thức mới dưới một lăng kính vừa độc đáo vừa để đời. Muốn đạt tới chân tướng đích thực tất phải xóa đi những tàn tích, cố cựu vốn dĩ mất lập trường cho những gì sâu sắc và tinh tế trong ngữ cảnh văn học và nghệ thuật giữa một kỷ nguyên mới. Đó là bước tiến hóa của nhân loại trong khoa học kỹ thuật, khoa học văn chương, khoa học nhân văn và những bộ môn khác làm nên lịch sử có tính chất sáng tạo nghệ thuật, sáng tạo văn phong, ngữ ngôn với một ý thức toàn diện để lãnh hội trọn vẹn ý nghĩa của nó. Không chứa chấp một tư duy lạm dụng hay vay mượn ‘chữ nghĩa’ để nói lên cá thể của mình, hành trang một ngữ ngôn vừa ‘mị-dân’ vừa giả dối là hoàn toàn suy đồi, lạc hậu, phù phiếm, ngụy trang như thế là biến văn chương chữ nghĩa mù tăm lạc đường trần, tác hại cho nền văn học nghệ thuật hiện đại. Do đó đòi hỏi ở đây một ý thức mới; giới thiệu những gì cần thiết có tính chất triết học, bởi triết học là cơ bản lý luận, phân tích nguồn cơn tự sự cho những gì người ta muốn đạt tới một viễn ảnh hợp nhất và trung thực của hiện hữu tồn lưu –for those who wish to acquire an integrated view of existence. Dựa trên tri thức khách quan (objective knowledge) để chống lại những thoái trào làm hư hại cho những thế hệ về sau, nghĩa là phải có một ý thức trung thực không vin vào một lý do ‘dụ dỗ’ đang thành hình trong một qui ước có tính chất giáo điều thuộc thần bí, ẩn tàng (mysticism), có chiều hướng vị tha (altruism) và một thứ chủ nghĩa tập thể cộng đồng (collectivism). Hầu như ẩn cái không thực trong đó. Đấy là thể tài cho lý luận về ý thức mới hôm nay.

Dự phóng cho một ý thức mà người ta nhận ra đây như một trách nhiệm để làm nên một nhận thức mới. Nó chứa đựng một yếu tính thuộc triết học chuyển từ những tiểu luận và giới thiệu một phát thảo của hệ thống thuộc triết học mới –It contains the main philosophical passages from its essaies and presents the outline of a new philosophical system. Chắc chắn trong cảm thức đó, bất cứ là nhà văn viết dưới dạng thức nào đều là những nhà tư tưởng, bởi; người ta không thể giới thiệu một con người hiện hữu tồn lưu nhân thế mà không có một dàn dựng khung cảnh thuộc tư duy của mình, dù dàn dựng rõ ràng minh bạch hoặc một hàm ý trong truyện của họ; dù có hay không có ý thức về nó đều có chứa ít nhiều niềm tin về sự nhận biết hoặc nhận biết dưới dạng tiềm thức, bởi; dưới cái nhìn cơ bản của con người và những gì thuộc hiện hữu tồn lưu vốn đã có một sự đối kháng mà gần như là một lý thuyết hiện sinh trong triết học. Đó là biện chứng của con người đứng trước một ý thức mới ngày nay: là định rõ mục đích, giải thích và gìới thiệu sự hiện diện với ý niệm của con người. Cho những gì mà người ta có thể thấy lợi ích trong biên niên thời gian đều phát triển qua tư duy –For those who may be interested in the chronological development of our thinking. Qua tư duy này có thể đưa tới một ngữ văn bí tỉ, khó nhận ra đâu là hữu thức và đâu là vô thức. Phải có ý thức nhạy bén trong nhận biết (conscious intelligence) thì may ra mở múi cho một ý thức mới, còn bằng không nó cứ là đà trong một tri thức cạn cợt chưa vượt thoát ra khỏi những gì là bí tỉ khó giải thích (mysterious). Tại sao? Triết học đã là một liên kết, tiếp giáp vào nội thức bởi tâm lý, nhận thức tự tạo, khoa học thần kinh, khoa học hình thành vật thể và lý thuyết tiến hóa cho tới những danh xưng chính yếu –Philosophy has been joined by psychology, artificial intelligence, neuroscience, ethology and evolutionary theory, to name the principals. Trong tám mươi năm trước, khởi điểm từ 1930 cho đến nay có nhiều cao trào trong nước cũng như nhiều khuynh hướng khác nhau (chính trị, tôn giáo, văn hóa…) đã bừng dậy qua từng bộ môn, đặc biệt thi văn họa là thành viên trong cuộc cách mạng văn hóa; triết học tự nó là tiến trình trong ngữ cảnh của trí tuệ: điểm chính là tháo gở những trạng huống bất thường của trí tuệ, nhưng; cung cấp một ý niệm sáng suốt của những gì có thể cho đó là tự nhiên, một lý thuyết chuyển thể của trí tuệ giữa những gì mà chúng ta phải biết cách chọn lựa cho một ý thức mới và nhận biết mới là một sự lý trong sáng, những thể loại biểu lộ là nhu cầu cần thiết nếu chúng ta tạo những lý do để chọn lựa giữa triết học và người triết học để có một ý thức mới trong cái gọi là tư chất triết học đương đại. Thí dụ: Một nhà giáo dạy triết ý thức được vai trò chức năng, nhiệm vụ của một nhà mô phạm thời ý thức được vai trò đạo đức là chủ lực hành động, dù là ngoại giới lôi cuốn nhưng không vì thế mà hóa ra ta bà thế giới, mai nhà chùa mốt nhà thờ, khi áo dòng, khi áo cà sa hình thức đó là hình tượng phủ dụ, đội lốt che đậy hành tung cho một tác động vô trách nhiệm và từ đó đưa dẫn trí tuệ vào trạng thái khủng khoảng mất nhân tính sanh ra bê tha, phát ngôn bừa bãi như kẻ vô thần. Đứng trước hoàn cảnh đó cho ta một ý thức mới để nhận định cho một ý thức cũ vốn nhai lại, rập khuôn không định hướng đâu tà, đâu chính hay vì những chứng tích mù mờ mà hóa ra mù mờ (?). Ý thức như thế không có chi là ‘conscious intelligence’ mà đưa tới một tập đoàn ngu xuẩn, hỗn độn, bởi thần tượng hóa cho một thiên tài chưa từng có. Cái nhìn thiển cận chính là cái nhìn sa đọa, bạc nhược cho một ý thức mới ngày nay mà cần có một suy luận để chọn lựa giữa họ và ta – we are to make are reasoned choice between them…Tâm lý học dạy cho chúng ta một vài điều thật bất ngờ về những gì nhận ra được và cậy vào những gì nhận thức từ bên trong.(Đây là vấn đề quan trọng từ khi có một vài lý thuyết về trí lực để rồi nương vào một cách nặng nề trong những gì thuộc tự thức nội giới, thiết tưởng như là một tiết lộ từ bên trong / This is an important matter, since some theories of mind rely heavily on what self-conscious introspection is supposed to reveal). Nhận thức về tâm lý và tri thức giả tạo là phát sinh một kiểu thức khiêu khích của nhận thức, là những điều mang lại một tư duy tạp nhạp không ý thức; trong lúc tiến trình của nhận thức hướng tới một ý thức toàn diện hợp thời trang là phá vỡ những thành quách ý thức cổ điển không thiết thực, cho dù ý thức đó đã được đồng hóa để hợp thức hóa. Chủ nghĩa ý thức hệ là đầu mối những gì cố cựu chuyển sang thời kỳ đổi mới tư duy để có một khái niệm đúng đắng cho ý thức mới trong mọi lãnh vực, lãnh vực được chú ý tới ở văn học nghệ thuật là chỉ tiêu để nhận biết qua một liên lạc trung gian giữa trí tuệ và ý thức mới hơn trước. Ý thức mới trong văn học nghệ thuật đòi hỏi những gì? -Không đòi chi cả mà đòi cho bằng được một ý thức trung thực trước một viễn cảnh cuộc đời, biến trình xã hội và một dự phóng vào đời với tất cả những gì trong sáng cho nhận định cũng như phê bình, một phương hướng định lượng được giá trị của nó; tuyệt nhiên không vì một lý do nào hay căn cứ vào những gì phi thực để tạo nên ‘thần tượng’ trong ý thức; nhìn như thế không phải là người thức thời mà chứng minh cho thấy một nội tạng vốn đã tàn tích suy thoái tư tưởng. Ý thức là lập trường cố định, nhận biết được những gì của hữu thức và vô thức là tác động do từ trí tuệ gây nên. Con người hiện sinh là con người có ý thức nhận biết không còn mù mờ để phán đoán trước những gì đang sống. Tác động của ý thức là tác động vào vấn đề thuộc về ngữ ngôn (The Semantical Problem) bên cạnh vấn đề bản thể tính siêu hình (The Ontological Problem) Cả hai vấn đề tựu chung trong một vấn đề thuộc về tri thức nhận biết (The Epistemological). Đó là ba nguồn cơn đưa tới ý thức mới bằng một khám phá cho từng trường hợp và phản biện cho ba lý thuyết đưa ra: Thứ nhất có nghĩa là cảm thức nhận biết về tâm lý là bắt nguồn từ tác động trong bản chất. Thứ hai là khẳng định có nghĩa là bắt nguồn từ tác động vào định nghĩa. Thứ ba là yêu sách có nghĩa là bắt nguồn từ nơi chốn trong hệ thống pháp lý. Cả ba trường hợp là một chứng tỏ trung thực; tuy chiều hướng khác nhau nhưng cùng một phục hưng nhận thức. Phục hưng nhận thức là gì? (đã dẫn ở trên). -Nó là một lý thuyết bao gồm trong mọi lý thuyết, là cung cấp nguồn phát sinh ra ý thức mới là thái độ đối xử có tính chất triết học –an alternative theory was provided by the philosophical behaviorists; những thứ đó nó nằm trong ngữ cảnh thuyết duy ngã (semantic solipsism). Ngữ cảnh duy ngã là cái chi chi? -Đặc vấn đề như thế là có tính chất ngụy biện, bởi; duy ngã là luận văn của những gì nhận thức ra được, điều có thể dự trử cho một nhận biết tức khắc tức tự nó mà ra. Và; từ đó có thể cho chúng ta tìm thấy kinh nghiệm của vấn đề và ý thức (Matter and Consciousness) trong một liên trình đưa tới ý thức, tất phân biệt được giữa hữu thể và tha thể. Cái sự đó là trạng huống cảm nhận chủ quan (subjective feelings). Nghĩa là: có tính chất bí truyền (mystics) hoặc bởi một sự chối bỏ kịch liệt là lý do chối bỏ để có một giá trị luân lý cái đó là giá trị phán quyết cho một xác định ý thức sự kiện xẩy ra hợp lý hay không hợp lý. Giữa tình thế đó ta phải nhìn qua từng góc độ của nó mới nhận ra được ý thức trong triết thuyết mang lại. Không bộ môn nào đứng đơn lẽ trong ý thức tư duy, nghĩa là đã chất chứa hoặc tiềm ẩn những gì thuộc triết học của nó. Thí dụ: Phản kháng ngấm ngầm trong vai trò thách đố của Zarathustra (trong Ecce Homo) là đồng dạng tương đố của Raskolnikov (trong Hồi Ký Viết Dưới Hầm / Notes from the Underground) một bức xúc Ivan Karamazov (trong Anh em nhà Họ Karamazov /The Brothers Karamazov) là ý thức mới của Nietzsche và của Dostoevsky; một ý thức bi thảm, một ý thức thuộc nhân bản mà họ đã sáng tạo trong những tác phẩm bắt đầu của họ. Từ đó cho ta nhận thức được ý niệm của ý thức mới là làm sống thực như cuộc đời trải qua từng nhân vật. Chúng ta có thể tìm thấy những ý thức khác qua nhân vật như Kiều (Nguyễn Du) Chí Phèo (Nam Cao) là một bộc bạch qua ý thức triết học nhân vật. Tất cả là tượng hình cho những gì gọi là ý thức mới trong văn học nghệ thuật là vậy. Cho nên chi giữa ý thức cũ và ý thức mới không còn là ngăn cách, biên giới mà là tổng thể chứa đựng một thứ triết học của văn chương (A Philosophy of Literature). Vậy thì triết học văn chương chứa cái gì trong đó? Hỏi cái này tất đụng phải một thứ nghệ thuật khác (dù cổ điển hay đương đại) cho một tâm lý tri thức nhận biết thuộc về nghệ thuật (The Psycho-Epistemology of Art). Dẫn ở trên là lý do cho một thành quả có từ ý thức mang lại; nghĩa là thanh lý những nhận thức cạn cợt, suy thoái trước đây làm hư hại cho một trào lưu, lý thuyết, trong văn học nghệ thuật; bởi do từ bí tỉ của tư duy đã không nhìn thấy giá trị thâm hậu mà tác giả muốn nói lên những gì muốn nói tới: là phơi mở, huỵch toẹt cái điều mà con người phải nhận biết (ý thức). Ý thức này không phải là ý thức kia; nghĩa là không dựa vào mà tìm thấy từ sự phát tiết để làm thế nào thấy được nội giới bên trong; là đưa dẫn từ lý trí (mind) chớ không từ tri giác (perceptual). Cho nên chi đứng trước một hoàn cảnh của văn học nghệ thuật nói chung là đòi hỏi một ý thức mới cho vấn đề; chỉ có suy luận, những gì là bi thảm, tuyệt vọng và một sự tàn phá âm thầm là những gì đã xẩy ra qua bao thế kỷ trong cái ngấm ngầm bí ẩn không thể nhận ra được sở nghiệp của nhận thức. Điều mà không bao giờ biết đến –One can never know; only surmise, what tragedies, despair and silent devastation have been going on for over a century in the invisible underground of the intellectual profession. Cái cạn cợt, không kinh nghiệm, không chuyên nghiệp đều đến trong điạ hạt của nhận biết với một cảm thức không sáng tỏ (the inarticulate sense) của trào lưu. Ở đây chúng ta tìm kiếm cái lý lẽ vấn đề để trả lời thành quả đầy đủ ý nghĩa của hiện hữu tồn lưu của con người, tìm ra được những gì thuộc triết học với một phương hướng đi tới nhận thức cho một nhận thức mới (For the New Intellectual). Đưa sự lý này vào đây không biết có bí tỉ không? -Đấy là vấn đề. Không! mà đấy là nguồn cơn của nghệ thuật đặc trong sự kiện; đó là nhận thức từ tri thức của con người là thể chất thuộc về nhận thức (conceptual). Khi đã ý thức vai trò của nhận biết thì ý thức được sự kiện một cách sáng tỏ, không ấm ớ hội tề, chi mô răng rứa mà thêm mù mờ; chớ bây giờ biết lấy chi để giải thích hơn. Nguyên nhân xưa nay cứ nói ý thức là cụm từ được mô tả từ tri giác; cái tri giác này gần như tự động hóa cho thành vấn đề chớ chưa nhận thức thấu đáo của từ ngữ ‘ý thức / consciouness’ có từ đâu và sinh ra từ đâu. Tuy có tính chất siêu hình trừu tượng nhưng khám phá ra được nó thì tự nhiên hiện hữu với đời và tồn lại với ngữ văn trong văn chương, còn nếu như (as if) chưa thấu đáo với tư duy thì chắc chắn ý thức đó đi ngược với những trào lưu đang phát tiết. Đấy là sự nguy hiểm của nhận biết. Nghệ thuật ‘nó là / it does’ có mục đích và ‘nó là’ phục vụ nhu cầu của con người, không cần phải có vật chất, chất liệu làm nên nhưng cần ý thức nơi con người làm nên. Nghệ thuật là cái điều không thể giải thích được, để buộc vào sự sống còn của con người. –Art is inextricably tired to man’s survival, but a need of man’s consciousness. Không có nghĩa là nêu lên tính chất vật lý mà là một sự bảo tồn và sống còn của ý thức. Thí dụ: Người đàn ông nọ nắm được nhận thức hiểu biết và đưa tới hành động; không có nghĩa là đơn độc, một tri giác cô lập trong hành động mà hành động trong dạng thức trừu tượng. Cho nên chi nhận thức hành động là ý thức được sự kiện để hành động. Đứng trước hoàn cảnh thuộc văn học nghệ thuật là đòi hỏi một nhận thức thấu triệt, đưa vấn đề ngữ ngôn và ngữ cảnh đến một nơi chốn toàn vẹn để có một ý thức nhận biết giá trị của nó; nhưng đó là then chốt trong chính nó mà ra –but is an end in itself. Sự lý này phục vụ không mục đích khác hơn là thưởng ngoạn. Thí dụ khác: Nhạc sĩ nọ phát tiết nhạc từ qua ngẫu hứng, gần như thể loại thi ca vô nghĩa (nonsence poetry hay còn gọi là fatrasie) chính trong vô nghĩa (của ngẫu hứng chớ không phải của mô-típ văn chương) cốt làm giàu âm thanh, nhạc điệu, có khi bất chấp cung bậc nhạc lý. Thế rồi trở nên thứ âm nhạc thuần túy. Nhạc sĩ (ngẫu hứng) thính giả (bắt chụp) cả hai tâm lý khác nhau; bắt nguồn từ vô thức chớ không phải từ hữu thức sinh ra. Vì vậy trong nghĩa cử nhận thức chiều sâu của nghệ thuật (luôn cả thi ca, hội họa, âm nhạc) phải nhận biết và có ý thức mới để nhận ra nó thời mong định được phương hướng của nghệ thuật. Tại sao? -vì ngữ ngôn là ẩn số, là ký hiệu của tai nghe mắt thấy (visiual-auditory) đó là chức năng phục vụ của tâm lý tri thức nhận biết (psycho-epistemological) là chức năng của biến đổi dạng thể trừu tượng trong dạng thức cục bộ hoặc chứng tỏ dạng thức chính xác, cụ thể đều nằm trong tâm lý tri thức nhận biết cũng là dạng thức tương đương cụ thể cho một tác động giữa ý thức trí tuệ và chức năng tự động của dạng tiềm thức. Nói tới đây đưa ta về thế giới của siêu hình –siêu hình là khoa học, là xử lý cho một cơ bản tự nhiên của thực chất; liên can đến một thứ trừu tượng rộng lớn của con người. Bao gồm mọi thứ cụ thể, cục bộ, khuôn phép mà người ta nắm lấy, cảm nhận được, bao luôn cả những gì rộng lớn của nhận biết và một chuỗi dây chuyền về nhận thức ý niệm chính những gì hiện ra; là những gì mà con người cầm giữ lấy nó với một tọa độ cho ý thức mới tức thời. Con người cần có một nhận thức nhận biết đó là năng lực đưa tới một nền văn học nghệ thuật: Nghệ thuật là một chọn lựa tái sáng tạo thiết thực hợp cho một cái gì thuộc về siêu hình xét đoán hợp lý –Art is a selective re-creation of reality according to an artist’s metaphysical value-judgments. Văn học nghệ thuật là cụ thể hóa (concretization) về những gì là siêu hình. Văn học nghệ thuật mang lại ý niệm nhận thức đến từ tri giác và từ tri giác gây nên ý thức để gói trọn tâm tư một cách trực tiếp trong tư duy; nếu những dữ kiện đó xẩy ra cùng một lúc, đồng thời là một giao thông tư tưởng có tính cách đạo đức luân lý. Nói tới đây không có nghĩa văn học nghệ thuật là thay thế cho tư duy triết học, nhưng; cũng không phải trợ vào những gì thuộc văn học nghệ thuật, cách thức đạo đức mà chỉ còn lại một vị trí của những gì thuộc lý thuyết nghệ thuật cơ chế (theoretical engineering). Nghệ thuật và văn chương là mẫu thức tạo tác –Art and literature is the model-builder. Nhưng; tất cả đã ảnh hưởng và đó là thông điệp như một kết quả: -Nghệ thuật là không có nghĩa đưa tới đích giáo dục. –Art is not the means to any didactic end, và; Nghệ thuật không có nghĩa là sao chép hay rập khuôn –Art is not the means of literal transcription. Đó là sự khác biệt giữa ý thức cũ và ý thức mới đều bao hàm trong một ý thức (awareness) hiện đại hơn.

Trong ba thập niên sau này; ý thức nhận biết về giá trị thuộc văn học nghệ thuật ở nước ta chuyển hướng rõ rệt; một thứ triết học tự nó đã làm nên một tiến trình có ý nghĩa trên phương diện tự nhiên của trí tuệ; phần chính không còn thấy hỗn mang, gò đống trong cách suy diễn hay văn phong cục bộ mà thoát ra bởi nhờ vào phương tiện kỹ thuật cho một trạng thái thông thường tự thức của trí tuệ (mind’s self-knowledge) nhưng cung cấp ở đó những ý niệm nhận thức trong sáng của những gì phát tiết tự nhiên không còn khuôn phép hay ước lệ mà chủ trương cho một phương hướng nhận thức sâu xa. Thế nào là mới trong văn học và nghệ thuật? -là những gì có thể thay thế hay chọn lựa trong những lý thuyết đã đề ra và nhận ra những gì sáng suốt trong ý thức nhận biết, những thể loại chứng tỏ là nhu cầu cần thiết mà những thứ đó tạo ra nguyên cớ cho việc chọn lựa; chọn lựa trong một ý thức mới. Đấy là vấn đề được nêu ra cho ý thức nhận biết: nhấn mạnh vào những gì có liên đới đến ngữ cảnh của văn chương, khai thác triệt để có một tư duy sáng tỏ, trung thực và phản biện mọi cá tính chủ quan; vượt ra khỏi con đường quá độ vốn ẩm thấp, độc hữu và ước lệ giữa trào lưu đổi mới tư duy, cốt để bước lên con đường xã hội chủ nghĩa tư tưởng; nghĩa là giải phóng toàn bộ vũng lầy còn ứ đọng trong tư tưởng để có một ý thức mới kiện toàn, một tư tưởng không bị khống chế bởi ngoại giới đưa tới mà cần có một thảo luận đặc biệt chống lại cái viễn ảnh cố cựu tiêu chuẩn: một thảo luận ngữ ngôn riêng tư –had a futher argument against the standard view: the private language argument. Đó chính là con đường sáng tác; đòi hỏi một tư duy độc lập, không hệ lụy ngay cả việc chịu ảnh hưởng một số tác giả làm nên, ảnh hưởng vào đó chỉ là lâm thời chớ không thể xem đó là trường phái riêng tư cho mình. Nếu duy trì nó tức là đưa mình lên giàn hỏa thiêu…Vậy thì yêu cầu gì có ý thức mới nơi người văn nghệ sĩ? -Hỏi cái này có tính chất lý tài và biện minh cho cái lý riêng tư. Vì rằng; thời gian biến chuyển con người chớ con người không chuyển biến thời gian tất giữa người và thời gian là biện chứng tư duy để vượt thoát ra khỏi một tư tưởng ‘bùn lầy nước đọng’ không còn trong vòng luẩn quẩn, vu vơ mà cần có một tư duy mới cho một ý thức mới tức cải thiện để bước đi xa là dẫn độ đến con đường văn học nghệ thuật. Nói ra đây có vẻ triết thuyết. Thực ra; nó tụ trong quan điểm của lý thuyết hóa của ngữ văn (the Semantic of theoretical terms) cho nên chi viễn cảnh của ý thức mới là bùng nỗ trong một trạng thái kích động (stated); cái mà ta thường cho là thuật ngữ của lý thuyết (theoretical terms); mà là cảm thức có từ trí tuệ (common-sense); thời tất không cho đó là ý thức trước một ý thức mới. Thí dụ: Văn sĩ Z. và thi sĩ X. họ có những phát tiết từ trí tuệ nhưng họ không khai thác tư duy mà chủ quan trong tư duy vì cho rằng họ độc hữu trong tư duy, phát sinh ra ngữ ngôn riêng để tạo hiện tượng; thật ra cả hai chưa ý thức vai trò nhân thế mà ‘dựa hơi’. Nói theo lý thuyết đó là hành động theo bản năng một cách tự động hóa vấn đề để nói lên cái kích thích hứng khởi mà không tỏ rõ bởi ý thức (philosophical behaviorism) để rồi cả văn và thơ trở nên thụt lùi không còn định lượng mặt hàng thực giả cho trào lưu mới. Vì vậy con người làm nên là vượt thời gian bằng một ý thức cải cách và đổi mới tư duy không còn vướng tục mà bước ra cõi ngoài của ngữ ngôn để đạt tới cái nguyên vẹn hình hài của con người hiện sinh với một tư duy trong sáng và bày tỏ chân lý sự thật của tâm hồn và thể xác, đồng điệu trong một tinh thần mới nghĩa là phải mới từ trong ra ngoài do từ ý thức mang lại của trí tuệ hướng đến tri thức tuyệt đối, quan điểm mọi biểu tượng xẩy ra là do tác động trực tiếp; một đôi khi ý thức đã vượt giới hạn của nhận định làm cho nhận thức tư tưởng trở nên siêu hình trừu tượng (metaphysics) mà phải biết vận hành để có một khái niệm cụ thể về ý thức là ở chỗ đó. Ý thức mới là nhận định sáng tỏ thực hư của vấn đề. Nhận thức ở đây là có một trí tuệ minh bạch để xác quyết vấn đề nghĩa là không chạy-theo để a-tòng hay rập-khuôn tất cả những hình thái như thế gọi chung là tư tưởng vô thức, bởi; trí tuệ hỏa mù thì làm cho nhận định lạc hướng trước một hiện hữu tại thế; trong lúc những gì gọi là ‘ý thức’ hoàn toàn khác với thực tế mà đó chỉ là ngữ ngôn phô diễn cho một quá trình đã tham dự. Ý thức mới phải độc lập trong tư tưởng, tức không bị khống chế bởi tri giác mà do từ trí tuệ làm nên. Tựu chung định hướng đó không thể đi tới ý thức mới. Ý thức mới là hình thái tạo nên chất lượng trong cách viết đầy sáng tạo hơn, mới hơn..

Ý thức trong sáng là ý thức mới; cũng không phải vận hành qua tất cả tri giác (The Theory-Ladenness of All Perception) mà vận hành qua trí tuệ thì cuộc đời tươi sáng và mở rộng. Trí tuệ là não thức tìm thấy ở chính nó như có một cái gì rắc rối, phức tạp và không thể nào hiểu thấu trong lúc cố quyết đi tìm thế giới vô tận ở cõi ngoài mà xưa nay đã mắc phải. Cái sự ‘mắc phải’ là căn bệnh trầm thống, một thứ tệ đoan văn hóa xẩy ra giữa thập niên 50, 60 và đầu 75 ở miền Nam là dấu tích suy thoái tư tưởng, nghĩa là chưa định rõ phương hướng thế nào là ý thức và thế nào là vô thức; lý do mắc phải bởi ngọn gió chướng của tư tưởng phương Tây. Thừa nhận nó như một thứ văn chương độc hữu và coi đó là thần tượng cố hữu. Lý thuyết của họ như giáo điều lấy đó làm cơ bản, biến nó như trào lưu đương đại mà quên ở chính mình cũng có thể làm nên thế sự. Sở dĩ yếm thế trước trào lưu đương đại phương Tây với nhiều lý do khác nhau nhất là lãnh vực văn học nghệ thuật hiện đại. Lý do tìm thấy ở sự phát tiết trí tuệ là nguồn cơn của mặc cảm bị trị, bởi; họ đã thổi vào một sắc khí độc dược và mê hoặc như món hàng thời thượng. Chính vì thế mà nguồn phát tiết tư duy đi qua từng thời kỳ đều lấy đó mà rập khuôn, một thứ ước lệ hủ hóa, nghĩa là không thoát tục và độc lập ở chính mình. Đấy là nguy cơ không biết đến nay đã giác ngộ hay chưa? Nhận ra được tư duy chiếm cứ thì không thể ý thức được sự kiện; nhưng phải xuyên thủng một tiến trình phát triển về nhận thức: thời trí tuệ sẽ bừng lên với một ý thức mới, phát tiết từ trong con người của chúng ta để làm nên một nền văn học nghệ thuật hiện đại và trong sáng hơn xưa ./.

VÕ CÔNG LIÊM (ca.ab.yyc. 5/ 8/2016 / Hiệu đính 15/9/2020).

TÌM ĐỌC : Những bài của võcôngliêm:

– Vô Thức Hữu Thức

– Ý Nghĩa Của Nghệ Thuật.

– Triết Lý Cuộc Đời.

– Triết Học Nghệ Thuật.

– Phân tích Tâm lý thuộc Triết học Tự nhiên.

– Phương pháp thuộc về Phân tích trong Văn chương.

– Ý nghĩa của Nghệ thuật.

Hiện có trên một số báo mạng và giấy trong và ngoài nước hoặc email theo điạ chỉ đã ghi.