Tình yêu diệu kỳ

Nổi bật

Lanney Trần Cảm Nhận

Lá thư mong manh #6

hpdanYêu Em Đến nghìn Năm
Ca khúc Khê Kinh Kha

Cali, ngày … tháng …

Tình yêu đã đến vào một ngày, một sức mạnh vô hình nào đó đã mở tung cánh cửa tâm hồn em khoá chặt từ lâu. Em nhỏ bé, lao đao và trốn chạy. Em sợ, em sợ những bước chân lạ lẫm làm lao xao một mặt hồ đang phẳng lặng; sợ vòng tay ấm áp một đời trói buộc trái tim em. Tình yêu ư, là cái gì rất bí ẩn trong cuộc đời. Anh biết kg, em đã cảm nhận được điều ấy từ khi em bắt gặp nỗi nhớ nhung da diết quằn quại đến trong lòng, nỗi buồn cũng đã đến vào những ngày chúng ta xa vắng nhau. Bằng bước chân cuồng nhiệt run rẩy, em tìm đến bên anh, mặc cho sương mù giăng lối đi và mặc cho mưa rơi làm cho chân em bước ngại ngần. Em đã đến. Anh đã cho em niềm hạnh phúc thật đầy và tình yêu em biết, em đang có trong tầm tay.

Con đường tình yêu của mình thật đẹp phải kg anh, hòa lẫn giữa những nhộn nhịp, rộn ràng, tất bật của cuộc sống là nhịp thở yêu đương nhẹ nhàng, bình dị, tự nhiên trong tình cờ. Anh đã đến bên em, trầm tĩnh, kiên nghị, uy nghi, kiên nhẫn cảm thông lắng nghe tiếng thổn thức của thất vọng; vỗ về xoa dịu những cơn đau buốt hành hạ thân xác. Để rồi cái vỏ bọc cứng cỏi, bướng bỉnh, chai sạn nhũn mình yếu đuối trước anh. Giọng nói ấm áp, ru em giấc ngủ bình yên với nụ cười hạnh phúc. Nụ hôn ân tình lên mái tóc, “anh chỉ muốn nhìn thấy em ngủ thật bình yên mỗi đêm.” Như một thói quen kg thể vắng trong đời, anh vẫn ru em dù cho mình có cách nhau nửa vòng trái đất với bao áp lực bận bịu của công việc, dù cho thời gian vẫn luôn đi ngược giữa hai phương trời. Trùng dương rộng lớn kg ngăn nổi tình anh để cho em có thể buông mình thả hồn thanh thản vào chốn thần tiên thơ mộng, nơi có những bụi hoa calla lilies trắng và cánh đồng lavender ngát hương – chỉ có anh và em. Cùng em chia sẻ những lo âu phiền muộn, vun đắp chăm bón ước mơ của ngày mai …

Cuồng nhiệt, đắm đuối với bao khát khao hoài vọng được dưỡng mình trong một dòng sông yên ả, hiền hòa, mát dịu và thanh khiết. Nhạc sĩ Khê Kinh Kha đã viết lên bài tình ca, có lần anh đã chia sẻ với em rằng, có lẽ là duyên, bài ca anh đã viết cho K & L … với câu “tôi có một tình yêu, nồng nàn cành Lan yếu…” Thật là ngọt ngào và lãng mạn như mối tình của hai ta … đúng kg anh?

Tình yêu anh dành cho em là ước mơ của nhiều thiếu nữ. Em Tạ Ơn Chúa cho tình thương và sự ưu ái Ngài dành cho em, cho hai ta, bao la hơn cả biển trời. Điều em có được hơn cả những lời nguyện xin.

Đêm nay trăng lại về giữa đêm thâu, bên kia bờ đại dương anh đang lạc loài và cô quạnh. Em nơi này cũng bơ vơ dõi mắt xót xa ngóng trông. Đêm đợi anh và đợi em – sau cơn mưa xuân nặng hạt, trọn kiếp người cập bến một trời vui, trọn cuộc đời ngón tay xen kẽ đi đến cuối chân trời. Trong tiềm thức sâu thẳm, em vẫn mong muốn tình yêu thiêng liêng trong thầm lặng. Còn gì kỳ diệu hơn bằng tình yêu của hai ta, và em muốn sống. Em muốn sống cho trọn vẹn, cho tận cùng những giây phút quý giá vô ngần ấy. Cám ơn Thượng Đế đã ban cho tình yêu, cám ơn định mệnh đã đẩy đưa cho chúng mình gặp gỡ giữa biển đời. Dù có muộn hay ngắn ngủi, nhưng vẫn ở lại tồn tại, mãi mãi chẳng tàn phai.
Ngủ ngon nhé anh yêu, gởi anh nụ hôn nồng nàn yêu thương.

Baby của Anh
Đêm mưa Xuân, Cali ’13

Tôi có một tình yêu
Rộn ràng như sóng vỗ
Miên man như gió chiều
Bềnh bồng như tóc xõa

Tôi có bờ môi thơm
Dịu mềm vầng trăng sáng
Bao nhiêu ngày mưa lạnh
Ngọt ngào từng nụ hôn

Tôi có bờ vai thon
Nghìn trùng vạt áo trắng
Em đi trong phố chiều
Ngàn cánh mây đi theo

Tôi có một con tim
Nồng cháy tình yêu em
Như yêu tình sông núi
Hương thơm tình lúa mới

Tôi có một con tim
Vừa mới biết yêu em
Yêu em tình nắng ấm
Yêu em tình sắc son
Yêu em đến…ngàn năm

Tôi có một đời tôi
Một đời mây phiêu lãng
Từ nay rất yên bình
Vì đời tôi có em

Tôi có một tình yêu
Nồng nàn cành Lan yếu
Hương thơm nghĩa vợ chồng
Ngàn năm mãi … mặn nồng
Ngàn năm mãi … yêu em…

Khê Kinh Kha

Vĩnh biệt nhà thơ Du Tử Lê

Vĩnh biệt nhà thơ “Khúc thụy du” – Du Tử Lê

Gia đình nhà thơ Du Tử Lê cho hay, nhà thơ vừa đột ngột qua đời ở Mỹ, thọ 77 tuổi.

Du Tử Lê (Lê Cự Phách) sinh năm 1942 tại Kim Bảng, Hà Nam. Ông là tác giả của 70 tập thơ, văn xuôi. Ông học Đại học Văn khoa Sài Gòn, tu nghiệp báo chí tại Indianapolis, Indiana (1969). Giải thưởng Văn chương toàn quốc tại Sài Gòn năm 1973 (tập Thơ tình Du Tử Lê 1967-1972).

Thập niên 1980-1990, thơ ông xuất hiện trên Los Angeles Times và New York Times. Thơ ông được dịch trong tuyển tập Understanding Vietnam (liên Đại học Berkeley, UCLA, London ấn hành; là sách giáo khoa về văn học Việt Nam cho nhiều đại học tại châu Âu).

Ông là một trong sáu nhà thơ Việt Nam thế kỷ 20 có thơ dịch trong tuyển tập World Poetry – An Anthology of Verse from Antiquity to Our Time (W.W. Norton New York, 1998). Du Tử Lê cư ngụ tại Garden Grove, Nam California (Mỹ).

Vĩnh biệt nhà thơ 'Khúc thụy du' - Du Tử Lê - Ảnh 1
Nhà thơ Du Tử Lê thăm Hữu Loan lúc sinh thời.

Một số tác phẩm của Du Tử Lê được xuất bản ở Việt Nam thời gian gần đây: Tuyển thơ Giỏ hoa thời mới lớn; tiểu thuyết Với nhau, một ngày nào; tập tùy bút Trên ngọn tình sầu; tùy bút Chỉ nhớ người thôi đủ hết đời; tuyển thơ Khúc Thụy Du; tùy bút Giữ đời cho nhau; tập thơ Chúng ta, những con đường…

Thơ Du Tử Lê có sức sống bền bỉ, có thể “sống sót” qua những thay đổi thế cuộc và vượt trên những áp đặt trong lẫn ngoài văn chương.

Nhiều nhạc sĩ phổ nhạc của ông, như: Anh Bằng, Phạm Duy, Phạm Đình Chương, Trần Duy Đức, Ngô Thụy Miên… 

Đặc biệt, những bài thơ tình được phổ nhạc và nổi tiếng của ông vừa được  in lại trong tập Khúc Thụy Du, như: Khúc Thụy Du (Anh Bằng phổ nhạc), Giữ đời cho nhau (Từ Công Phụng), Khi tôi chết hãy đem tôi ra biển (Phạm Đình Chương)… đã ghi dấu ấn trong lòng khán giả.

Bài thơ “Khi tôi chết hãy đem tôi ra biển” là bài thơ điển hình của ông nói về tình cảm của người xa xứ:  “Khi tôi chết hãy đem tôi ra biển/đời lưu vong không cả một ngôi mồ/vùi đất lạ thịt xương e khó rã/hồn không đi sao trở lại quê nhà/khi tôi chết hãy đem tôi ra biển/nước ngược dòng sẽ đẩy xác trôi đi/bên kia biển là quê hương tôi đó/rặng tre xanh muôn tuổi vẫn xanh rì”.

Vĩnh biệt nhà thơ 'Khúc thụy du' - Du Tử Lê - Ảnh 2
Nhà thơ Du Tử Lê.

Nghe tin nhà thơ Du Tử Lê qua đời, nhà thơ Thanh Thảo vô cùng thảng thốt, dù biết ông bị bệnh ung thư đã lâu. Ông kể một kỷ niệm về  Du Tử Lê: “Còn nhớ có lần, nhà thơ Du Tử Lê về Quảng Ngãi làm đám cưới cho con trai, đã đến thăm tôi. Dù chưa gặp nhau lần nào, trong chiến tranh lại từng ở hai chiến tuyến đối địch, nhưng chúng tôi đã hồ hởi chuyện trò với nhau như những người bạn.

Nhà thơ Du Tử Lê cũng vui mừng báo tôi biết là NXB Văn nghệ TP.HCM đã đồng ý in lại tập Thơ tình Du Tử Lê gồm những bài thơ tình yêu thời chiến tranh của anh. Tôi nói với Du Tử Lê là nếu anh in lại tại Việt Nam trường ca Mẹ về biển Đông của anh, tôi tin tác phẩm này sẽ có tiếng vang. Theo tôi, đó là một trong những trường ca hiện đại viết bằng Việt ngữ hay nhất trong 30 năm qua. Năm 2003, khi có dịp ghé Paris, tôi đã được đọc trường ca này ở nhà một người bạn và tôi đã khóc”.

“Thơ Du Tử Lê rất nặng tình. Mẹ về biển Đông là điển hình cho phong cách thơ nặng tình ấy. Dù nhân vật “tôi” trong trường ca luôn cố ra tỉnh táo khi ngồi một mình trong nhà tang lễ và suy nghĩ, nhớ lại biết bao điều cùng mẹ mình… Yêu mẹ mình cũng là yêu nước. Hãy viết những câu thơ thật lòng nhất về mẹ mình, và tự nhiên, anh sẽ tìm ra một thi pháp của riêng mình…

Du Tử Lê là một nhà thơ giàu cảm xúc, một nhà thơ đa cảm. Nhưng vượt lên, anh còn là nhà thơ Việt hiếm hoi viết cả một trường ca về mẹ mình. Chúng ta đọc, và nhớ nghĩ về mẹ chúng ta. Chỉ như thế, chúng ta đã có cơ hội trở thành những người con có hiếu. Tôi mong một ngày không xa, trường ca Mẹ về biển Đông sẽ có ấn bản in tại Việt Nam, như một ước nguyện thầm lặng của mẹ nhà thơ khi qua đời tại xứ người. Và khi đó, linh hồn người mẹ nhiều vất vả của Du Tử Lê mới thực sự về yên nghỉ giữa quê hương mình”, nhà thơ Thanh Thảo chia sẻ.

Thơ Du Tử Lê sống trong lòng nhiều độc giả chính là vì cái tình ấy, cùng những rung cảm cháy bỏng, và tính dự báo về thời cuộc.

Vài cảm nhận

ĐẶNG XUÂN XUYẾN

Vài cảm nhận về thơ

VĂN THÙY “dị nhân”

*

Nghèo mà tài không được bằng ai nên tôi chọn sách (viết và kinh doanh sách) làm nghề kiếm kế sinh nhai. Ngót nghét hai mươi năm với nghề, khi thấy nghề sách có dấu hiệu “suy thoái”, tôi quyết định bỏ nghề, “về hưu” và tìm thú tiêu khiển với facebook… Lên mạng, tôi chăm chú đọc những bài về văn hóa tín ngưỡng, về đối nhân xử thế… chứ không mặn mà với thơ, truyện vì… ngại đọc, sợ phải “động não” nhiều nên khi thi sĩ Nguyễn Đăng Hành rủ Văn Thùy “dị nhân” đến thăm nhà – ở làng Đá, Ân Thi, Hưng Yên – tôi mới biết ông là thi sĩ cùng quê, là kẻ bấy lâu được giới văn chương “phong tặng” là “dị nhân”, là “lục bát giang hồ”… Cầm mấy tập thơ ông đề tặng, tôi cám ơn cho phải phép rồi cất vào tủ sách. Đêm. Ám ảnh bởi cuộc nói chuyện của ông, tôi vùng dậy “lôi thơ” của ông ra đọc.

Tôi thật sự bị thơ ông cuốn hút!

Ông tung hứng, nhảy múa với từng câu chữ. Ông bắt người đọc phải trầm trồ, ngả mũ vì cách chơi chữ táo bạo mà đắc địa: Phải tay này gặp Thị Màu / Chẳng sưng đầu mõ, cũng nhàu vú chuông… hay: Ngón tay ngọng mấy đốt rồi / Kể là chín vía chột mười cũng xong.

Câu chữ, qua sự nhào nặn của ông – của “dị nhân” Văn Thùy – trở nên sinh động, nhuần nhuyễn và tài hoa: Nửa đời bám gió leo mây / Hôm nay ngồi phệt mặt đầy rong rêu... hay: Con xuôi ngược nửa kiếp người / Vẫn quanh lọn tóc rã rời mái gianh. 

Viết về tình yêu với vợ (cũ), người phụ nữ từng nhiều năm đầu gối má kề, ông dành cho bà những lời dịu dàng, đằm thắm: Bao nhiêu chữ nghĩa hương hoa / Cũng bay về phía thật thà ngày xưa; bằng trải lòng rất thật: Quay về tầm mắt em thôi / Tắm trong giọt lệ thương người phù sinh. Ông dằn vặt, tự trách, ông nhận hết phần sai về mình: Nửa đời bám gió leo mây / Hôm nay ngồi phệt mặt đầy rong rêu / Mải mê thơ phú cánh diều / Bỏ trâu gặm cụt nắng chiều mồ côiTình yêu ông dành cho người vợ nhiều lắm nên bất chấp tính sĩ diện cố hữu của thằng đàn ông, ông thấp giọng “xin” bà cho ông cơ hội: Xin em hết sức lượng tình / Cho tôi tìm lại chính mình hôm qua. Và rồi, cả mãi sau đấy, khi bà rời xa ông, đã trở thành người phụ nữ “của người ta”, thì tình yêu ông dành cho bà vẫn âm ỉ. Sau nhữngTrong nhà luýnh quýnh một người chạy mưa”, ông ngồi thần người nghĩ về người vợ cũ. Hình ảnh người đàn ông cô đơn, tuổi xế chiều, cố nén tiếng thở dài để chặn tiếng khóc chực bật ra trong Nhà Dột như cứa vào tâm trí người đọc: Giá như đôi đũa chẳng cong / Thì đâu lẻ bóng long đong chống trời / Giá như… ừ… giá như thôi / Mình không dại dột chia đôi nếp nhà.

Có lẽ là người thất bại trong hôn nhân nên mặc dù khao khát một tình yêu mãnh liệt, luôn sẵn lòng đắm đuối với ái tình nhưng những khao khát, đắm đuối ấy luôn gặp phải sự cản trở từ chính con người ông. Những câu tếu táo, bông đùa: “Vừa ban thông điệp yêu đương / Bỗng dưng cả bộ dát giường động kinh”, hay “Có gì mạnh đến lạ thường / Yêu suông đã bốn chân giường còn hai” tưởng gia vị cho tình yêu thêm thi vị, máu lửa thì thực ra đó là lời chống chế ngầm của kẻ sợ sẽ bại trận trong tình yêu. Như con chim sợ đậu phải cành cong, ông đắm đuối, bỏng cháy với tình yêu nhưng lại dè dặt, e ngại mở lòng với cuộc tình “sắp” đến. Rất nhiều tính từ (có lúc lại là động từ) như “yêu chay”, “yêu khan”, “yêu suông”… được ông sử dụng để diễn tả tâm trạng e ngại, kìm nén những xúc cảm yêu đương: “Yêu chay nên chỉ dám sờ áo thôi”, “Yêu chay loang lổ mảng tường phong rêu”, “Đã âm thầm nỗi yêu khan”, “Đã thành hội chứng yêu khan”…

Ông viết nhiều về tình yêu trai gái, nhưng thường là thứ tình yêu trớ trêu, thuộc lứa nạ dòng gặp phải trai lơ, bằng thứ ngôn ngữ bình dị của người thôn quê pha chút ngông ngông, “bất cần” của gã trai “bụi” phóng đãng: Cổng chùa xin tiểu lỏng then / Kẻ trần tục dễ lẻn lên thăm chùa... hay: Em nguyền khổ hạnh ăn chay / Tôi thề uống cạn đắng cay cõi trần.

Nhưng khi viết về mẹ thì thơ ông lại trầm lắng mà da diết, từng lời, từng lời như bào xát tâm can, khiến người đọc day dứt, rưng rưng: Vinh hoa con ướm trên người / Phất phơ tóc mẹ dệt thời yêu thương / Đã đi nhẵn một con đường / Còn nghe tóc mẹ bốn phương rối bời / Con đi dọc nửa kiếp người / Vẫn quanh lọn tóc rối thời mái gianh – (Tóc Rối Của Mẹ Năm Xưa). Hay những câu thơ thật hay, thật sinh động, được viết bởi tấm lòng của người con hiếu thảo trong Hoài Cảm Tích Cũ khắc sâu trong tâm trí người đọc: Chân trần mài vẹt đường quê / Lưng về như đặt đoạn đê giữa nhà / Lá trầu dứt cuống đi xa / Nồng cay hương quế thơm qua xứ người.

Viết về mảng nào, dù là tình yêu trai gái hay nhân tình thế thái, thơ ông cũng có sự mượt mà, đằm thắm của ca dao, pha chút tếu táo, bỡn cợt của dân dã, cộng thêm chút khệnh khạng của Văn Thùy, đã tạo nên thương hiệu thơ rất riêng, rất “dị nhân” Văn Thùy, dễ say đắm lòng người.

Trong gia tài thơ ca của ông, có nhiều câu thơ đặc sắc, thể hiện nét tài hoa đặc biệt của ông, nhưng thật tiếc, sự lặp lại về tứ, về ý đến gần như sao y bản chính của không ít câu thơ: “Ngón tay ngọng mấy đốt rồi / Kể là chín vía chột mười cũng xong.” – “Ngón tay ngọng mấy đốt rồi / Kể là chín ngón hỏng mười cũng xong.”, hay: “Con xuôi ngược nửa kiếp người / Vẫn quanh lọn tóc rã rời mái gianh.” – “Con đi dọc nửa kiếp người / Vẫn quanh lọn tóc rối thời mái gianh”…, thậm chí sự tương đối giống nhau của cả những bài thơ (Xin Em – Xin Em Đừng Mặc Áo Dàyđã làm thơ ông xuất hiện sự nhàm chán, nhạt đi và bớt duyên, khiến những người yêu thơ, yêu sự sáng tạo, chỉn chu sẽ khó chịu, cho rằng ông lười sáng tạo nên mới xào sáo, làm giảm sức hấp dẫn với chính thơ của mình.

*.

Hà Nội, 26 tháng 12 năm 2016

ĐẶNG XUÂN XUYẾN

              DU TỬ LÊ Và TÔI

 

      ‘viết không khác người ta thì đừng viết’   (Dương Tường)

dutule01

      Ra khỏi cổng trường Quốc Học 1963 thì tôi biết đến Du Tử Lê. Nhà thơ đến với tôi như một thỏa hiệp, một chất liệu sáng tạo đã đánh động trái tim tôi. Một cái mốc thời đại mới, một cái gì vững tin, mạnh dạn đã tìm thấy giữa muôn ngàn lẫn lộn vàng thau của những trào lưu, trường phái hay hiến chương từ Tây sang Đông; có thể đó là một sự bình tâm cho một tâm hồn vượt thoát, có thể đó là một phản kháng nội tại do từ những nguyên nhân khác mà ra, đất phương Nam cho họ gieo hạt, nẩy mầm, phát tiết, nói theo kiểu của F. Nietzsche: ’bi thảm của sinh tồn/the birth of tragedy’ giữa một xã hội ngổn ngang, gò đống của hai miền đất nước. Trăm hoa đua nở vào thời đó, họ gặp nhau như hội trùng dương ‘trên ngọn tình sầu’. Du Tử Lê đứng giữa một khung trời khác biệt, để đi vào một ngôn ngữ thẩm mỹ thơ, chất chứa một cái gì sâu lắng, trầm tư (zen), đượm một triết lý nhân sinh vốn đã nằm nôi trong tay mẹ, để rồi ra đi như kẻ du tử giữa phong ba; du tử là một đánh đổi và rồi chấp nhận bằng một sự bi thương của cuộc đời… nhà thơ trở nên độc lập và tư duy ở một cõi riêng như định vị vai trò và chức năng của một thi nhân đối diện với thực tại. Con đường Du Tử Lê đi không vin vào sự thế mà vin vào thơ để nói lên sự thế. Tôi rung động trước một dòng thơ như thế. Cái ’hoang/wild’ của tôi trong đó, thời của Thanh Tâm Tuyền và Du Tử Lê: -một trường phái lãng mạn thơ mới của văn chương Việt Nam- một cái gì mới như một cuộc cách mạng tư tưởng và có một ít chất của, A. Robbe-Grillet đã dựng nên. Du Tử Lê thắp lên ngọn đuốc để đi vào ’rừng đen/dark forrest’ như soi rọi, như canh tân trường phái, một kiểu thức của ’tân hình thức’; có lẽ Du Tử Lê là kẻ tiên phong avant-garde của new-formalism-poetry mà chưa một lần nói đến, đến bây giờ thì nó trở thành hậu-tân-hình-thức (post-newformalism). Nhận định nầy có thể làm hư hại khuôn phép thẩm mỹ của văn chương; nhưng ở đây chỉ định lượng một giá trị của ngôn ngữ thơ, lời thơ tức linh hồn thơ là những khoảnh khắc thức tỉnh đời sống, cho nên chi đối với Du Tử Lê xử dụng ngôn ngữ để làm phương tiện cho thơ chớ thơ không phải là phương tiện của ngôn ngữ. Đó là lý do nhà thơ ’chơi chữ’ mà một thời cho là ’mode’ hay lập dị để tạo cái khác biệt riêng mình; nếu đứng góc cạnh đó để nhìn thì hoàn toàn khác ý của thơ. Những chấm(…) hoặc một chấm (.) hoặc phẩy(,) hoặc chấm phết(;) giữa câu thơ, những nhát chém (slash) thoạt nhìn hay đọc đưa tri giác vào một cảm thức xa lạ, nhưng đó là một biệt lập tự chủ giữa khách thể và tha thể, đưa trạng thái thơ vào trạng thái bí truyền của thể loại thơ không vần nhưng vẫn giữ được vần điệu (rhythm và tone), không những mang nặng tính nghệ thuật trình diễn (performance art) mà còn trở thành nghệ thuật sắp đặt (installation art) đó là một thứ nghệ thuật của người làm thơ. Du Tử Lê nằm ở vị trí ấy. Du Tử Lê cho những ’chữ thơ’ nhảy sang hàng là dụng ý mô tả, chớ không phải ’chơi chữ’ như một số người trước đây đã nghĩ (trường hợp của Nguyễn Vỹ chẳng hạn). Theo tư duy tôi: Du thi sĩ  mở ra một con đường ngược chiều với thơ tiền chiến, phá vỡ những vần điệu ’ểnh ương’ cổ điển, một thông lệ truyền thống làm cho thơ bị đình trệ mà không khai phá cái mới. Thâm tâm nhà thơ Du Tử Lê mong muốn điều nầy; tôi nghĩ vậy. Thi sĩ xuất thần trong tiết điệu tự do để rồi trở thành ’nhạc thơ’ chớ đừng hiểu là phổ thơ thành nhạc như nhiều bài thơ đã đi vào hoạt cảnh nầy. Thậm chí có những nhạc sĩ cắt xén nguyên bản những câu thơ hay của nhà thơ để làm vừa lòng ý nhạc. Trong tâm trạng thúc đẩy tự chính mình để tìm cho mình một sự vượt thoát sáng tạo. Một: ’sáng tạo trong tinh thần đừng để mất mình, cái tôi hôm nay phải hơn cái tôi hôm qua và kém cái tôi ngày mai’(Nietzsche) bởi trong thơ Du Tử Lê đã cho ta tìm thấy được 2 yếu tố quan trọng ’CHỮ’ và ’ÂM’. Chữ và âm là trọng tâm chính cho thơ. Du Tử Lê xử dụng tài tình chất liệu nầy. Du Tử Lê lấy thơ để nói một cái gì trong đó – a poem should not mean but be, nhưng là hiện hữu. có những câu thơ đưa ta về ‘vô dư’ nhà Phật. Rốt ráo trong chiều sâu thơ Du Tử Lê không có Thăng và Trầm, bởi tâm thức nhà thơ, lúc ấy; là ’tâm bình đẳng’. Cho nên thơ của Du thi sĩ trở nên thanh thoát, diệu vợi (enlightenment). Rải rác khắp nơi từ khi khởi làm thơ cho tới những tháng ngày cuối đời, Du Tử Lê chủ trương thơ chỉ cần ngữ thuật (jeu du langage) hơn là ý nghĩa, có những câu thơ đứt ngang làm cho câu thơ trở nên ’nonsence’ nhưng cái vô nghĩa có duyên kỳ lạ.Thơ Du Tử Lê vững chắc, đông cứng, đậm đặc, cụ thể (concrete poetry) là thế. Một cách riêng của Du Tử Lê không thể ’thuộc điạ’ dễ dàng. Hay ở chỗ đó! đến nổi sau khi thâm nhập và ngộ được một câu thơ hay, bài thơ hay của Du Tử Lê, tôi phải ’thốt’ bằng lời lẽ của E. Kant: ’pourquoi vert l’éternité’ cũng chẳng khác gì lời phẩn nộ J. Pollock khi nhìn tranh của P. Picasso kinh hoàng mà thốt lên cái chữ phàm tục nầy: ’fuck!’. Một cái ’Đi-Em’ thỏa chí tang bồng hồ thỉ. Cảm nhận được nghệ thuật là ở chỗ đó! Và đó cũng một đòi hỏi cho người đọc thơ hay ca ngâm thơ Du Tử Lê. Đều chung một cảm thức siêu thoát; đừng đi xa quá mà lạc đường thơ, nhất là thơ Du Tử Lê.

Nói đến con người và thơ Du Tử Lê chúng ta không cần dẫn chứng hay bình giải hoặc so sánh Du Tử Lê với những nhà thơ lừng danh xưa nay, trong và ngoài nước, ví Du Tử Lê nầy nọ, trích dẫn những hoạt đầu như thế là một thẩm định không nói lên cái siêu lý của thơ, ngược lại làm hư hại một thiên tài chữ nghĩa thơ văn vốn đã nảy sinh giữa kỷ nguyên nầy(epic) và càng làm thế vô hình dung hạ thấp giá trị cho một thi nhân. Tại sao? bởi quá nhiều lý lẽ để bào chửa, quá nhiều cuốc xẻng để đào đục (dù đào bới, ’bắt’ những cái hay trong thơ) mà trong lúc khắp nơi trong và ngoài nước, trước và sau chiến tranh đều đồng tình và thừa nhận với Du Tử Lê. Du Tử Lê không buồn không vui trước những lời thị phi, Du thi sĩ mỉm cười không nói hay đó là bản chất tự tại của nhà thơ (DTL). Đánh giá phải hợp lý mới thấu suốt hồn thơ Du Tử Lê. Bởi cái chất thơ Du Tử Lê không thể nói suông (như mắm) không thể ngọt bùi (như vắt chanh) và cũng không thể ngợi ca (ẩu) như chứng nhân mà cần có con mắt thẩm mỹ quan (aesthetics) mà thấy được ý và hồn thơ Du Tử Lê. Theo quan điểm của tôi: -nó tiềm tàng một chất triết lý trong đó ; vậy có cần dẫn chứng ở đây? Không! bởi thơ có một cá tính siêu lý, siêu nhiên vì thơ là cõi phi, tự tìm thấy trong thơ để rồi cảm nhận, dẫn chứng là biện minh, buộc thơ đi vào ngả rẽ, cái triết lý nhân sinh quan trong thơ Du Tử Lê là ý thức (consciousness) hơn là dẫn chứng, tất cả đã dàn trải hơn nữa thế kỷ qua, không cần một đòi hỏi nào khác, không cần phê bình (dưới dạng phê bình văn học nghệ thuật) khi mà mình chưa đạt tới; vậy ’criticize’ như định mức cho một phủ nhận, điều ấy làm thương tổn cho dòng thơ đi vào đời. Tư duy của Du Tử Lê là bản anh hùng ca, thấm nhuần tình người và tình quê, tự nó đã xuyên thủng những giáo điều giả tạo, cố công tuyên truyền nhưng vẫn không hấp dẫn người nghe kể cả giới bình dân, một thứ văn chương cho mọi giới; nếu cảm nhận một cách sâu sắc. Du Tử Lê không cho mình đã thành danh, dù ở tuổi thất thập, Du Tử Lê thành danh ở quần chúng chớ không ở nơi mình; và đến nay Du Tử Lê vẫn giữ hồn thơ cho tới khi nhịp tim không còn cảm hóa. Khí tiết của một người làm thơ là ’thép đã tôi thế đấy’. Du Tử Lê vẫn còn hít thở nguồn thơ đó cho nhân gian dù hôm nay hay mai sau.

Du Tử Lê và Tôi : tôi ở đây là một bản ngã tự tại, một cái ’self’ trong tôi, một cái ngã-mạn chưa đạt tới để phải thốt: của Zarathustra, của Kant, của Pollock, của Freud, của Sartre, của Warhol và Basquiat…vì rằng ’tôi’chưa bao giờ ’tới’, chứ ’tôi’ không phải nói lên cái thân tình; tôi là cảm phục khí phách. Cho nên chi Du Tử Lê và Tôi gặp nhau bằng cảm thức vô hình của người đồng cảnh, giữa hai chúng tôi có một cái đau chung, đau thể xác và linh hồn, một quằng quại của bi thương. Giữa chọn lựa; chúng tôi chọn ’điều hai’. Xin nhớ ’hai’ không phải ở cái phép nhị-nguyên(!), trong cái chọn lựa nó đã có thuyết nhị-nguyên mà Du Tử Lê đã trút vào dòng thơ bất tận đó…từ bấy lâu nay.

Tôi gần gũi Du Tử Lê từ khi đọc cái bút danh: ’Du Tử Lê’, cái danh xưng nầy đến trước khi thơ Du Tử Lê nhập vào hồn tôi. Từ đó tôi tìm thấy tôi một chất điên đẹp (crazy-pretiness) như Van-Gogh và làm cho tôi say đắm cho tới bây giờ một Du Tử Lê.

Trở về hồn khí nhà thơ sau bao nhiêu năm tầm-thơ, tri-thơ, thức-thơ. Tôi nhận ra Du Tử Lê một kẻ ngoại đạo có trí tuệ (wisdom) ông đã đưa vào thơ đủ màu sắc của các tôn giáo với một cốt tủy: NHƯ-NHIÊN; đấng tuyệt đối vô cùng, một cái gì tinh túy của nhà thơ (poet on pith) là nhập thể vào một khí thiên như thế mới thấy được một Du Tử Lê.

Và những lần về quê, tôi đi vào cõi lặng để tìm lại cái hương xưa ngày nào, tôi không tìm thấy những gì còn lại mà chỉ nghe trong tôi: ’hạnh phúc tôi / hạnh phúc tôi từ những ngày con nước về’ và những nhạc khúc đâu đó còn vang vọng bên tai như lời ăn năn, an ủi tôi có một may mắn giữa thế kỷ nầy bằng xương bằng thịt, có một nhà thơ lớn của trước và sau chiến tranh Việt Nam mà tôi đã chạm tới. Quê hương là người đó!

VÕ CÔNG LIÊM (ca.ab. vàothu 2012)

TRANH VẼ: ’Người Đàn Ông Chống Gậy / The Man with Baton’ Khổ: 8’X10’ Trên giấy bià. Acylics+Oilstick

+Pigment. 2012. vcl

                  *Ghi chú:’Người Đàn Ông Chống Gậy’Lấy từ cảm hứng trong tập:’Du Tử Lê 50 năm’với bạn bè.VHKHVN 07.

tommy & laura. lời tạ tình

Thư viện của bài

This gallery contains 1 photo.

tommy & laura. lời tạ tình / tell laura i love her
Jeff Barry & Ben Raleigh
♦ Chuyển ngữ: Hoàng Xuân Sơn ♦ 20.09.2019

Bìa đĩa nhạc Tell Laura I Love Her
của Ray Peterson
(Hình: Amazon.com)

Lời Người Dịch: Khó có ai có thể chối cãi bản chuyển ngữ lời Việt “Trưng Vương Khung Cửa Mùa Thu” của Nam Lộc từ ca khúc “Tell Laura I Love Her” (TLILH) của Jeff Barry và Ben Raleigh là một tuyệt tác để đời, ghi đậm dấu ấn của một thời học đường thơ mộng qua thời kỳ nhạc trẻ Việt Nam.  Phiên bản này cũng có sức lôi cuốn mãnh liệt trong hành trạng trình tấu âm nhạc.  Tác giả Nam Lộc chỉ mượn cái thần thái âm nhạc của nguyên bản TLILH để khoác vào một cái áo khác, nhẹ nhàng , mềm mại, da diết như một bài thơ của tuổi học trò tươi thắm, trong khi lời Anh ngữ bản gốc chỉ là một câu chuyện kể bình thường, nhiều kịch tính.

Vậy mà, ngoài sự hấp dẫn của phiên bản “Trưng Vương Khung Cửa Mùa Thu,” người viết phóng chuyển tài tử này muốn làm một chuyện trái khoáy, lần theo lối mòn thử dọ dẫm dịch (thoát) ý từ nguyên bản tiếng Anh để làm một phiên bản lời Việt có thể ngân nga hát lên (chủ quan) theo giai điệu và gần với ca từ nguyên bản đôi chút.  Xin được tường trình dưới đây, và xin được góp ý từ thân hữu.

— Hoàng Xuân Sơn
(viết tạm xong lúc 11giờ 49
buổi tối ngày 9 tháng 3 năm 2019
Laval, Quebec – Canada) Tiếp tục đọc

TRẬN CHIẾN CHƯA NGƯNG:

Nguyên Lạc

ĐOẠN TRƯỜNG TÂN THANH VÀ KIM VÂN KIỀU TRUYỆN # 2

 

Bìa lưu tại Paris-Kim Vân Kiều - Thanh Tâm Tài Tử- quyển 1

                                                                      Phần 2

                     ĐOẠN TRƯỜNG TÂN THANH
                     VÀ KIM VÂN KIỀU TRUYỆN

ĐOẠN TRƯỜNG TÂN THANH

Như đã bàn ở phần 1, Nguyễn Du chỉ lấy tích truyện về 3 nhân vật, trước và sau một trận đánh vài giờ xảy ra thời nhà Minh để tạo nên một tác phẩm kéo dài 15 năm, từ Bắc Kinh cho tới Phúc Kiến lừng danh thế giới: Đoạn Trường Tân Thanh. Ba nhân vật trong tích truyện này là Thúy Kiều, Từ Hải, Hồ Tôn Hiến; không có Kim Trọng, Thúy Vân, Đạm Tiên, Thúc Sinh, Hoạn Thư, Tam Hợp, Giác Duyên trong đó. Thúy Kiều chết trên sông Tiền Đường, không có chuyện Thuý Kiều sống lại. Từ câu chuyện hết sức mờ nhạt, tầm thường này, Nguyễn Du xây dựng thành các tuyến tính Kiều, Hoạn Thư, Từ Hải, và chèn vào các nhân vật đệm. Trong này, nhân vật đa tình Thúc Sinh xuất hiện để làm tăng độ phong tình cho câu chuyện đầy nước mắt của một người phụ nữ cực kỳ hiếu thảo: Vương Thúy Kiều.
Sau khi Truyện Kiều ra đời, từ vua, quan, trí thức đến giới bình dân đều say mê. Riêng giới có học, bao thế hệ đã dựa vào Truyện Kiều để sáng tác, chuyển thể, vịnh, họa, cảm tác, cả bói Kiều…
Ngày nay có thể kể đến những tác phẩm trước 1925 như sau:

– Hậu Đoạn Trường Tân Thanh, văn xuôi, chữ Hán của Tiên Phong Mộng Liên Đường Nguyễn Đăng Tuyển (Tiếc rằng chỉ còn 2 hồi, lưu ở Viện Hán Nôm)
– Kim Vân Kiều lục của một tác giả khuyết danh, Phạm Tú Châu dịch.
– 3 hồi kịch Kim Vân Kiều của Trương Minh Ký
– Hàng trăm bài thơ vịnh Kiều của các danh sĩ Bắc Hà trong cuộc thi Vịnh Kiều do Nguyễn Khuyến chánh khảo gồm chữ Hán, chữ Nôm. Người đạt giải nhất là Chu Mạnh Trinh.
– Kịch bản Phim chuyển từ thơ Kiều sang tiếng Pháp của đạo diễn Famechon và kịch bản tiếng Việt của Nguyễn Văn Vĩnh cho cuốn phim Kim Vân Kiều công chiếu tại Hà Nội năm 1924.

Về tiêu đề Đoạn Trường Tân Thanh của truyện thơ Nguyễn Du, Mộng Liên Đường Nguyễn Đăng Tuyển đã giải thích rõ ràng:
-Tiên Phong Mộng Liên Đường Nguyễn Đăng Tuyển ( 1795-1880) người Bắc Ninh, là quan văn nổi tiếng đương thời với Nguyễn Du (1766- 1820), nhỏ hơn Nguyễn Du 29 tuổi. Ông viết bài tựa đề đầu tiên cho bản in, bản Phường, Đoạn Trường Tân Thanh năm 1820, ngay trong năm Nguyễn Du mất (tháng 9 năm 1820). Sau này ông cũng là người viết Hậu Đoạn Trường Tân Thanh bằng văn xuôi, chứng tỏ ông cũng như nhiều người khác hâm mộ Đoạn Trường Tân Thanh.
Bài của Mộng Liên Đình giải thích cặn kẻ tiêu đề tác phẩm là Đoạn Trường Tân Thanh: Giải thích nghĩa của tiêu đề và vì sao chọn tiêu đề như vậy. Xuất xứ tác phẩm, nhắc lại như Nguyễn Du đã viết, câu thứ 7 và thứ 8:

.
Cảo thơm lần giở trước đèn
Phong tình cố lục còn truyền sử xanh.

Xin được nhắc lại: Có sự lầm lẫn giữa “cổ lục” và “cố lục” đã giải thích ở phần 1:
– Cụm từ ” phong tình cổ lục” làm cho câu thơ có vẻ trang trọng, nhưng có thể dẫn tới hiểu lầm như ông Dương Quảng Hàm đã hiểu: Truyện tình cảm nam nữ trong sách xưa. Một cụm từ phổ biến.
Các bản chữ nôm đều viết ” Phong tình cố lục”. (Bản của Trương Vĩnh Ký dịch lại là “có lúc”, có lẽ thợ in sắp nhằm chữ lục vì trong bản nôm viết lục).
Chữ 古 cổ khác với chữ 固 cố. Cố là có, vốn có.
– Khi viết ” phong tình cố lục ” thì nghĩa khác: Phong tình có sách. Đây mới là câu của Nguyễn Du, hiệu đính bởi Kiều Oánh Mậu 1902.
Trần Trọng Kim và Bùi Kỷ 1925 hiệu đính cuốn Kiều Oánh Mậu lại dịch cữ “cố́” thành ” cổ”, chắc có thể các ông nghĩ hợp nét trang trọng với vế sau: “còn truyền sử xanh”: Một sai lầm đáng tiếc. Vì thế Dương Quảng Hàm mới hiểu như trên.
Bản dịch Vương Thuý Kiều của học giả Phạm Quỳnh, đăng trong Nam Phong Tạp Chí số 30, tức trong năm 1919, là văn bản dịch lâu nhất ta có. Phạm Quỳnh đã chứng minh cả lời nói của Nguyễn Du : “Phong tình cố lục ” và đề từ của Mộng Liên Đường: Truyện Thuý Kiều chép ở lục Phong tình, chuyện Phong tình nay cũng đã cũ rồi..” là có thật. Dưới đây là 3 trang bản dịch Vương Thuý Kiều trong Nam Phong Tạp Chí:

Nam Phong tap chi 30- 3(hình trang bản dịch Vương Thuý Kiều trong Nam Phong)

Trong “Đề từ Đoạn Trường Tân Thanh”của Mộng Đình Liên, đoạn dưới đây nhắc đi nhắc lại lục Phong tình với nghĩa là một cuốn sách cụ thể, chứ không phải “ phong tình cổ lục” là thành ngữ phổ biến.
“Truyện Thuý Kiều chép ở trong lục Phong tình, ta không bàn làm gì. Lục Phong tình cũng đã cũ rồi. Tố Như tử xem truyện, thấy việc lạ, lại thương tiếc đến những nỗi trắc trở của kẻ có tài, bèn đem dịch ra quốc âm, đề là Đoạn trường tân thanh, thành ra cái lục Phong tình vẫn là cái lục cũ, mà cái tiếng Đoạn trường lại là cái tiếng mới vậy”.

Phong Tình lục là một mục trong tuyển tập Ngu Sơ Tân Chí của Trương Trào (1650-1707), trong đó có bài Vương Thuý Kiều của Dư Hoài (1616-1696).
Truyện ngắn khoảng 3 trang giấy, chỉ nhắc tới nhân vật chính là : Vương Thuý Kiều và 4 nhân vật liên quan là La Long Văn – Từ Hải – Hồ Tôn Hiến, Hoa lão lão. Truyện viết khá, nhưng cũng chỉ vậy thôi.

Đây là trích đoạn bài viết của Tiên Phong Mộng Liên Đường Nguyễn Đăng Tuyển:

 Đề Từ Đoạn Trường Tân Than -Tiên phong Mộng Liên Đường Nguyễn Đăng Tuyển.
Trong trời đất đã có người tài tình tuyệt thế, tất thế nào cũng có việc khảm kha bất bình. Tài mà không được gặp gỡ, tình mà không được hả hê, đó là căn nguyên của hai chữ đoạn trường vậy. Thế là lại có kẻ thương tiếc tài tình, xem thấy việc, trông thấy người, thì còn nhìn thế nào được mà không thở than rền rĩ.
Nghĩa là bậc thánh mới quên được tình, bậc ngu không hiểu tới tình. Tình chung chú vào đâu, chính là chung chú vào bọn chúng ta vậy. Cho nên phàm người đã ít tình, tất là không có tài, chỉ nửa loà nửa sáng, sống chết trong vòng áo mũ, trong cuộc no say, dù có gặp cái cảnh thanh nhã như hoa thơm buổi sáng, trăng tỏ ban đêm, cũng chỉ trơ trơ như cây cỏ, như cá chim vậy
….
Truyện Thuý Kiều chép ở trong lục Phong tình, ta không bàn làm gì. Lục Phong tình cũng đã cũ rồi. Tố Như tử xem truyện, thấy việc lạ, lại thương tiếc đến những nỗi trắc trở của kẻ có tài, bèn đem dịch ra quốc âm, đề là Đoạn trường tân thanh, thành ra cái lục Phong tình vẫn là cái lục cũ, mà cái tiếng Đoạn trường lại là cái tiếng mới vậy.

Thuý Kiều khóc Đạm Tiên, Tố Như tử làm truyện Thuý Kiều, việc tuy khác nhau mà lòng thì là một: người đời xưa thương người đời trước, người đời nay thương người đời xưa, hai chữ tài tình thực là một cái thông luỵ của bọn tài tử khắp trong gầm trời này vậy.
Ta lấy một thiên mực nhạt, xa viếng nàng Kiều, tuy lời văn quê kệch, không đủ sánh với bức giao thiên, song đủ tỏ cái nợ sầu của hai chữ đa tình, tuy khác đời mà chung một dạ. May được nối ở sau cuốn Tân thanh của Tố Như tử, cùng làm một khúc Đoạn trường để than khóc người xưa.
Tháng hai, niên hiệu Minh Mạng, viết ở Thán hoa hiên đất Hạc giang.
Tiên phong Mộng liên đường chủ nhân. ] [Đề Từ Đoạn Trường Tân Thanh – Tiên phong Mộng Liên Đường Nguyễn Đăng Tuyển] [bản dịch của Bùi Kỷ-Trần Trọng Kim]

Bài của Mộng Liên Đình mới giải thích cặn kẻ việc Nguyễn Du lấy tích cũ trong Phong Tình lục, một mục trong tuyển tập Ngu Sơ Tân Chí của Trương Trào, trong đó có bài Vương Thuý Kiều của Dư Hoài (1616- 1696). Tôi xin trích đoạn bài của Dư Hoài, mời các bạn đọc:

Vương Thúy Kiều là người Lâm Tri. Từ nhỏ đã bị bán vào phường hát xướng, mạo xưng họ Mã, giả mẫu gọi là Kiều Nhi, dung mạo thì xinh đẹp bậc nhất, lại thêm thiên tính thông minh. Nàng được dẫn tới Giang Nam, dạy hát Ngô ca thì hát Ngô ca thông thạo, dạy gảy tỳ bà Hồ thì tinh thông gảy tỳ bà Hồ. Khi thổi tiêu thành khúc thì âm thanh trong trẻo, từng nhịp phách du dương vang lên theo giọng hát làm say đắm bao nhiêu vị khách ngồi. Kiều Nhi rất có danh tiếng ở trong chốn Bình Khang. Song Kiều Nhi tính tình nhã đạm, thường tỏ ra cách biệt, không tha thiết gì với son phấn điểm trang lẫn những môn thuật chiều chuộng khách. Gặp phải những khách buôn bụng phệ hay mấy lão thấp hèn ra giá đến ngàn vàng, nàng chỉ hững hờ liếc mắt rồi cười khinh, chứ chẳng thèm đếm xỉa hay trò chuyện lấy một lời. Do vậy giả mẫu thường nổi giận và đánh mắng. May thay có một chàng thiếu niên lén cho Kiều Nhi nhiều vàng, bày kế thoát khỏi giả mẫu, rồi nàng tự dọn đến sống ở Gia Hưng, đổi tên thành Vương Thúy Kiều.
Lúc bấy giờ, có người ở huyện Thiệp tên là La Long Văn, tiền tài dư dả, là một tay hào hiệp kết giao nhiều tân khách, thường qua lại với Thúy Kiều, còn gần gũi với một kỹ nữ khác tên là Lục Châu. Từ Hải người đất Việt là một kẻ hung tợn trộm cắp, bần cùng vô lại, đang bị bọn cờ bạc bức bách đến túng quẫn nên một mình lẻn vào nhà Thúy Kiều ẩn náu, ban ngày không dám ra gặp ai. Long Văn làm quen với Từ Hải, khen Hải là một tráng sĩ nên nghiêng mình kết bạn, nắm tay nhau đi uống rượu đến say sưa thỏa thích, còn sai nàng Lục Châu thân cận bên mình ra hầu hạ. Hải cũng không từ chối. Đang lúc men rượu bừng lên nóng đến mang tai, Hải vén tay áo cầm chén rượu, ghé sát tai Long Văn nói rằng: Mảnh đất này không phải là nơi tôi thỏa chí, bậc trượng phu há có thể cam tâm chịu đứng sau người khác mãi mãi ư? Ngài nên nỗ lực, tôi cũng quyết dốc sức từ đây. Mai này phú quý, xin chớ quên nhau!. Hải khảng khái hát vang khúc bi ca, ở lại thêm mấy ngày nữa rồi từ biệt ra đi.

Không bao lâu, Hải nhập bọn với Oa Khấu (Nhật – NL), trở thành một chúa tàu, thống lĩnh hùng binh trên mặt biển, nhiều lần xâm phạm Giang Nam. Năm Gia Tĩnh thứ 35 (1556), Từ Hải bao vây quân của Tuần phủ Nguyễn Ngạc ở Đồng Hương, Thúy Kiều và Lục Châu đều bị bắt. Hải nhìn thấy thì kinh ngạc nhưng cũng rất vui mừng, sai Thúy Kiều gảy tỳ bà Hồ để góp vui cho tiệc rượu, rồi ngày càng sủng ái, gọi là phu nhân, bắt các tỳ thiếp ra vái chào. Thúy Kiều được thương yêu hết mực, dù là quân cơ đại sự hay kế hoạch bí mật, nàng đều được phép ngồi nghe. Thúy Kiều bề ngoài thì tỏ ra thân thiết, nhưng trong lòng thì hy vọng họ thua trận, vì nàng vẫn luôn mong mỏi được về nước, dòng lệ cứ rưng rưng, thường lau mặt bằng nước mắt.
… Gặp lúc Tổng đốc Hồ Tôn Hiến đang khai phủ ở Chiết Giang, người này giỏi dùng binh, nhiều kế sách, muốn thu nạp Từ Hải
La Long Văn nghe phong phanh được tin tức, tự mừng thầm vì có tình thân cố cựu với Thúy Kiều, bèn nhờ thượng khách trong mạc phủ là Từ Vị người Sơn Âm đưa tới diện kiến Tông Hiến
Tông Hiến vui mừng, làm theo kế của Long Văn, mang thêm nhiều vàng ngọc châu báu âm thầm đến biếu tặng cho Thúy Kiều. Thúy Kiều dần động lòng, đêm ngày thuyết phục Từ Hải đầu hàng. Hải nghe theo nàng

Hải vừa bước ra ngoài, thấy quan binh tụ tập đông đủ thì trong lòng đã sinh nghi. Tôn Hiến có lòng thương tiếc cho Từ Hải, không muốn giết kẻ quy hàng, nhưng bị Văn Hoa bức bách, đành hạ lệnh, sai Tổng binh Du Đại Du cho toàn quân tiến lên. Gặp lúc trời nổi gió lớn, quân triều đình thừa cơ phóng hỏa, reo hò đánh trống và xông vào chém giết, quân Từ Hải thua to, tan chạy và bị tiêu diệt sạch. Hải vội vàng nhảy xuống nước nhưng bị bắt, chém lấy đầu, còn Thúy Kiều thì cho sống mà dẫn vào quân môn.
Tôn Hiến bày tiệc lớn khao thưởng các quan Tham tá, sai Thúy Kiều hát Ngô ca và mời rượu mọi người. Bọn Tham tá hoặc là quỳ trên chiếu, hoặc nhảy múa nâng chén, cùng chúc thọ Tôn Hiến. Tôn Hiến bị rượu làm cho say mèm hoa mắt, cũng vung tay múa giáo, đùa giỡn với Kiều Nhi. Đến khi tiệc loạn lên hết thì mới thôi. Sáng hôm sau, Tôn Hiến hối hận vì đêm qua say khước, bèn đem Thúy Kiều ban thưởng cho tù trưởng Vĩnh Thuận mới về hàng. Thúy Kiều đã theo tù trưởng Vĩnh Thuận, đi tới giữa sông Tiền Đường, nàng ưu uất đập giường và than rằng: Minh Sơn hậu đãi ta như vậy, nhưng ta lại đem quốc sự đẩy chàng vào chỗ chết. Hại chết một tù trưởng rồi lại thuộc về một tù trưởng khác, vậy bảo ta còn mặt mũi nào để sống ở trên đời nữa đây?. Nói xong, nàng hướng về ngọn sóng gào lên một tràng dài đau khổ, rồi lao xuống dòng nước mà chết.] [VƯƠNG THÚY KIỀU TRUYỆN -Tác giả: Dư Hoài-người dịch: Ngô Trần Trung Nghĩa] [Vương Thúy Kiều truyện -Tác giả: Dư Hoài]

Dư Hoài dựa vào bản viết khô khan và sơ sài của Mao Khôn (1512- 1606): “Kỷ tiễu trừ Từ Hải bản mạt” để viết thêm . “Kỷ tiễu trừ Từ Hải bản mạt” nằm trong bộ sách Trù Hải Đồ Biên của Tổng đốc đời Minh là Hồ Tôn Hiến soạn, gồm 13 quyển; ở quyển 9 có bài “Kỷ tiễu Từ Hải bản mạt” (ghi chép ngọn ngành việc đánh dẹp Từ Hải) kể lại chuyện quân Minh đánh nhau với quân Oa vào năm Bính Thìn (1556) đời Gia Tĩnh. Mao Khôn, đã từng phục vụ trong quân ngũ Hồ Tôn Hiến Khi Mao Khôn chết, 10 năm sau Dư Hoài sinh ra:

“Vương Thuý Kiều là kỹ nữ Lâm Tri, đầu tiên là Kiều Nhi, giỏi hát lối mới, thạo hồ cầm. Sau tìm cách trốn khỏi nhà xướng ca, đổi tên ở bên bờ biển. Nụy khấu đánh Giang Nam, bắt Thuý Kiều mang đi rồi trở thành áp trại phu nhân của Từ Hải. Từ Hải rất yêu quý nàng, mọi kế hoạch đều nghe theo nàng. Quan quân phái người đến chiêu hàng, Kiều đem nhiều việc đến khuyên, Hải mới quyết tâm hàng. Quan quân bố trí kế hoạch, Từ Hải thua chết, Thuý Kiều cũng bị quan quân cướp. Sau khi bị Đốc phủ làm ô nhục, Kiều bị gả cho tù trưởng Vĩnh Thuận làm thiếp. Trên đường qua sông Tiền Đường, Thuý Kiều than: Minh Sơn hậu đãi ta, ta vì việc nước dụ chàng mà bị hại. Giết một người chồng rồi lại lấy một người chồng, còn mặt mũi nào sống nữa! Bèn nhảy xuống sông mà chết.” [Kỷ tiễu trừ Từ Hải bản mạt – Mao Khôn]
………
(*) Trù Hải Đồ Biên 籌海圖編 là bộ sách do Hồ Tôn Hiến soạn, gồm họa đồ vẽ các vùng biển thường bị quân hải khấu Nhật xâm phạm và các kế hoạch trù định nhằm giữ gìn an ninh vùng biển. Bài Kỷ tiễu Từ Hải bản mạt 纪剿徐海本末 chép ở quyển 9 của bộ sách này là do Phó sứ Mao Khôn, thuộc cấp theo lệnh Hồ Tôn Hiến ghi chép, đã kể lại khá tỉ mỉ cuộc đánh dẹp Từ Hải. (Hồ Tôn Hiến – Trù Hải Đồ Biên, Cảnh Ấn Văn Uyên Các, Tứ Khố Toàn Thư, sách thứ 343. Đài Bắc, Đài Loan; Thương Vụ ấn thư quán, 1983 – theo Nguyễn Cẩm Xuyên)

@. Nhận xét:
– Trong truyện Vương Thúy Kiều truyện của tác giả Dư Hoài không thấy Kim, Vân, Quan, Mã Giám Sinh, Tú Bà, Bạc Hạnh, Bạc bà, Thúc Sinh, Hoạn Thư, Tam Hợp, Giác Duyên…
– Đoạn Trường Tân Thanh dài 3254 câu, 22.788 từ. Truyện Vương Thúy Kiều này ngắn chỉ 1100 từ vì khả năng tưởng tượng chỉ từng ấy. Các nhân vật Từ Hải, Hồ Tôn Hiến, chỉ xuất hiện trong đoạn cuối truyện Kiều gồm 436 câu, 3052 từ. So với trong toàn truyện Kiều, đoạn này chiếm 13%. Truyện ngắn của Dư Hoài kể về Hồ- Từ – Kiều so với trong thơ Kiều Nguyễn Du chỉ chiếm 1/3 độ dài. Vì trong Kiều thêm nhiều tình tiết như gắn bó với Từ Hải, báo ân trả oán. So với toàn truyện Đoạn Trường Tân Thanh thì truyện của Dư Hoài độ dài chỉ chiếm 4,8%.
– Giống như William Shakespeare, đại thi hào Nguyễn Du chỉ dựa vào tích truyện cũ, ít người biết đến, đưa nỗi lòng mình vào sáng tạo ra một tác phẩm bất hủ: Đoạn Trường Tân Thanh vinh danh cho nước Việt. Do đó Tổ chức UNESCO họp ở Paris nhất trí thông qua Nghị quyết số 192 EX/32 trình Đại Hội đồng UNESCO biểu quyết vinh danh đại thi hào Nguyễn Du là Danh nhân văn hóa thế giới đầu tháng 11/2013.

.
@ Có người thắc mắc là sao trong ĐTTT các tên nhân vật, xã hội đều từ China?

Tôi có ý này:
Cụ Nguyễn Du dễ dàng đổi tên Thúy Kiều bằng Hồng, Lan, Đào , Diểm nào đó; đổi tên tướng cướp Từ Hải bằng Hai Cọp, Ba Beo…, Hồ Tôn Hiến thành Nguyễn Đêm, Trần Ngày vân vân, và mô tả xã hội VN. Nhưng cụ dám không? Cái “Họa văn tự” khủng khiếp luôn treo trên đầu thời Phong kiến:
Ví dụ như Thi Nại Am sống đời Minh, viết truyện Thủy Hử đời Tống lâu 300-400 trăm năm mà còn vướng họa
Mời đọc những đoạn sau đây:

“Thủy Hử truyện” ra đời và nhanh chóng phổ biến ra ngoài. Minh Thái Tổ Chu Nguyên Chương đọc tác phẩm và vô cùng tức giận. Thấy Thi Nại Am viết sách ca ngợi phường “thảo khấu”, Minh Thái Tổ đã sai người bắt Thi Nại Am giam vào ngục, đồng thời phê rằng: “Đây là cuốn sách xúi giục dấy loạn của người có mưu đồ tạo phản, không trừ đi tất gây họa về sau”. [Wikipedia]
– Vụ án Minh sử triều Thanh: Đây là Văn nạn (họa văn tự ) thứ hai nổi tiếng khủng khiếp ở triều đại Mãn Thanh: Do tên cẩu nhân Ngô Chi Vinh tố giác với Ngao Bá (đại thần triều Mãn Thanh) bộ Minh Thư tập lượt (do Trang Kiến Long và những văn nhân khác biên soạn), những người học giả văn sĩ tham dự vào việc biên soạn bộ Minh Thư tập lượt (Minh sử) và toàn gia họ Trang mấy chục người từ mười sáu tuổi trở lên đều bị xử trãm. Còn đàn bà con gái thì phát lảng đến Thảm Dương để cho bọn kỵ binh Mãn Châu dùng làm tôi mọi.Vì bộ Minh sử mà nhà tan cửa nát, người chết không biết bao nhiêu mà kể. Thảm hơn nữa là bọn thợ thuyền khắc chữ, thợ ấn loát, thợ đóng sách và những chủ tiệm sách, người bán cũng như người mua cùng người đọc sách hể điều tra ra được là xử trãm hết (Lộc Đỉnh Ký – Kim Dung)
Các “Thiên triều” China vì muốn bảo vệ vương triều mình nên luôn luôn nghi ngờ ̀mọi người. Họ sẵn sàng tiêu diệt những ai dám phê bình họ , tiêu diệt những mầm họa từ “trứng nước” mà họ nghi ngờ cho ăn chắc. Các trào vua nổi tiếng trong vụ này là Minh thái tổ Chu Nguyên Chương và Minh thành tổ Chu Đệ và nhà Thanh.
Triều Nguyễn VN cũng không ngoại lệ khi khi vua Gia Long triều phục nhà Thanh. Nhờ Pháp giúp, sau khi tiêu diệt Tây Sơn, vua Gia Long vội vàng tránh Pháp vì e rằng tư tưởng tự do từ Pháp sẽ ảnh hưởng đến triều đại mình, quay lại triều phục phương Bắc, hủy bỏ Luật Hồng Đức, đầy tính nhân đạo, rập khuông theo bộ luật của Thanh với điều luật Tru Di tam tộc tàn độc để răn đe dân chúng.
Chính vì thế ai mà không sợ cái “họa văn tự”. Nguyễn Du cũng không ngoại lệ, để ngừa cái họa này, ông phải dùng tích truyện triều Minh bên China để viểt ra Đoạn Trường Tân Thanh. Vì truyện xảy ra ở China nên xã hội phong tục … phải Chinese, điều đó đâu có gì là lạ?

Đoạn Trường Tân Thanh của cụ Nguyễn Du sáng tác gồm 3254 câu, thuộc thể thơ lục bát – quốc thi của Việt Nam. Trong một lần tổ chức kỷ niệm sinh nhật cụ Nguyễn Du vào đầu thế kỷ XX, cụ Phạm Quỳnh nhắc đi, nhắc lại: “Truyện Kiều còn, tiếng ta còn; tiếng ta còn, nước ta còn”

KIM VÂN KIỀU TRUYỆN VÀ THANH TÂM TÀI TỬ

1. Nhan đề Đoạn Trường Tân Than

Nguyễn Du vốn đặt tên truyện thơ là Đoạn Trường Tân Thanh, được các bạn ông khắc in, bản Phường, phổ biến và dạy các nho sinh.
– Mộng Liên Đường Nguyễn Đăng Tuyển đề từ có nói đến Đoạn Trường Tân Thanh. Ông đã giải thích Đoạn Trường Tân Thanh là “tiếng kêu mới đứt ruột”(Đã giải thích trên)
– Phạm Quý Thích lại có bài “Thính Đoạn Trường Tân Thanh hữu cảm”:Bên cạnh nội dung truyện Kiều của Đại thi hào Nguyễn Du, bản Liễu Văn Đường còn có Bài tựa (bằng thơ Đường thất ngôn bát cú) của Lãng Đường Phạm Tiên sinh – Phạm Qúy Thích, bằng chữ Hán: “Đoạn trường tân thanh đề từ”(hoặc “Thính Đoạn trường tân thanh hữu cảm”).

Giai nhân bất thị náo Tiền Đường
Bán thế yên hoa trái vị thường
Ngọc diện khởi ưng mai Thủy quốc
Băng tâm tự khả đối Kim lang
Đoạn trường mộng lý căn duyên liễu
Bạc mệnh cầm chung oán hận trường
Nhất phiến tài tình thiên cổ lụy
Tân Thanh đáo để vị thùy thương

Dịch nghĩa:
Nếu người đẹp Thuý Kiều mà không đi đến sông Tiền Đường,
Thì nửa đời lầu xanh vẫn chưa trả xong nợ.
Mặt ngọc của nàng đâu cần phải chìm xuống thuỷ cung,
Lòng băng tuyết của nàng thì xứng đáng gặp chàng Kim lắm.
Giấc mộng đoạn trường nay đã biết rõ nguồn cơn,
Khúc đàn Bạc mệnh dứt rồi nỗi hận còn vương.
Vì một mảnh tài tình mà ngàn năm còn luỵ,
Tác phẩm Tân Thanh này vì ai mà thương cảm đau lòng.
(Nguồn: Dương Quảng Hàm, Việt Nam văn học sử yếu, Trung tâm học liệu xuất bản, 1968)

Câu 5 có 2 chữ “đoạn trường“, câu cuối của bài thơ này là:
Tân Thanh đáo để vị thùy thương” Dương Quảng Hàm dic̣h: “Tác phẩm Tân Thanh này vì ai mà thương cảm đau lòng”.

Cả hai bài, theo tục truyền Phạm Quý Thích đã in cùng Đoạn Trường Tân Thanh trước 1821, giảng cho học trò, nên mới có tập cho Minh Mạng xem. Điều này phù hợp với tục truyền của học trò ông: Bản phường – Hàng Gai Hà Nội. Cần thấy rằng học trò Phạm Quý Thích là những tiến sĩ, cử nhân, thám hoa… Nhiều vị đã kế thừa ông làm thầy, và học trò của các vị này lại làm thầy cho đến 1919 bỏ Nho học. Cho nên nói là tục truyền nhưng lại có giá trị vì thời gian liên tục và không lâu.

2. Nhan đề Kim Vân Kiều

Vì cái tên Đoạn Trường Tân Thanh (Tiếng kêu mới đứt ruột”) nhạy cảm chính trị, cũng như nội dung truyên thơ phê phán xã hội, đụng chạm đến chế độ phong kiến. Sự ra đời của nó không thể tránh khỏi những con mắt tinh tường của vua quan đầu thời Nguyễn. Nội dung của Đoạn Trường Tân Thanh “có độc” cho vương triều, mặc dù đã mượn tên chính sử Tàu và địa danh Tàu, nhưng cái tên nghe không ổn.
Tục truyền vua Minh Mạng ngồi uống trà và cũng đã phê bình câu “Dọc ngang nào biết trên đầu có ai” khi vua vừa mới lên ngôi năm 1820.
Có ông vua nào muốn nghe thiên hạ ngâm nga “Tiếng kêu đứt ruột” giữa thời ” thịnh thái” của mình trị vì không? Có ông vua nào thích nghe “Dọc ngang nào biết trên đầu có ai” không? Có ông vua nào thích nghe những lời phê phán xã hội, suy rộng ra là chỉ trích vương triều của mình không?
Vua Minh Mạng tìm các biện pháp khắc phục một sự việc đã rồi, với mục đích làm nhẹ ảnh hưởng tác phẩm đã được tuyệt đại quần chúng say mê: Minh Mạng tuyên triệu Phạm Quý Thích vào kinh đô năm 1821 nhưng ông cáo bệnh (theo tiểu sử Phạm Quý Thích) không vào triều kiến. Học trò ông, có nhiều người làm quan của triều đình đã bảo vệ ông.
Không có mặt Phạm Quý Thích và Mộng Liên Đường, Minh Mạng đành đổi tên Đoạn Trường Tân Thanh ra Kim Vân Kiều ( bản VN B60 có ghi bút tích đổi tên) và đã chỉ đạo Hàn Lâm Viện viết thêm bình giảng truyện Kiều theo hướng làm ngơ việc phản ánh xã hội, khiến nếu ai quan tâm thì xem đó chỉ là chuyện bên Tàu chẳng liên quan gì tới Đại Nam. Tập trung vào than tiếc và an ủi sự gian nan giữa tài và mệnh, như hình thức câu truyện.@

Có một nhận xét này:
Trong bản Kim Vân Kiều Truyện, quyển 2 có ghi: Quán Hoa Đường bình luận- Kim Thánh Thán ngoại thư. Ở Trung quốc, Quán Hoa Đường là nhà Kim Thánh Thán và bản ngoại thư của Kim Thánh Thán không có, không ai tìm thấy cả .
Trong khi đó ở Việt Nam: Hoa Đường là hiệu của Phạm Quý Thích, Thán hoa viên là nhà của Mộng Liên Đường Nguyễn Đăng Tuyển, hai người đã giới thiệu và bình Đoạn Trường Tân Thanh của Nguyễn Du.
Sự trùng hợp lạ lùng thay!
Mới đọc trích đoạn nói về việc đổi tên liên quan đến bút tích vua Minh Mạng trong VN B60:

[…Vua Minh Mạng đổi tên Đoạn Trường Tân Thanh của Nguyễn Du ra Kim Vân Kiều, đồng thời chỉ đạo Hàn Lâm viện soạn thêm các bản văn xuôi bình giảng thơ rồi duyệt và chọn 20 hồi bình giảng ghép thành một tiểu thuyết Kim Vân Kiều Truyện lấy tên Thanh Tâm Tài Tử. Tôi xin dẫn chứng 2 tư liệu quan trọng sau:
Tàng bản ký hiệu VN B60*: Bên trong là các trang thơ Truyện Kiều chữ Nôm. Bìa sách ghi bằng bút sắt:
明命御覽(賜)(名)斷腸新聲. 金雲翹傳 (mấy chữ này viết bằng bút sắt).
Phiên âm là:
Minh Mạng ngự lãm (tứ) (danh) Đoạn Trường Tân Thanh Kim Vân Kiều truyện.
Thông thường ta hiểu là: Minh mạng đã đọc ban ân (tứ) tên( danh) Đoạn Trường Tân Thanh: Kim Vân Kiều truyện.
Như vậy đây là bản Đoạn Trường Tân Thanh trình Minh Mạng duyệt và Minh Mạng đổi tên thành Kim Vân Kiều, có thể có chỉnh sửa, là bản gốc của bản Kinh về sau.
Cuốn này ắt có lưu ở Hàn Lâm Viện nên năm 1902, Kiều Mậu Oánh mới chú giải, lấy lại tên Đoạn Trường Tân Thanh, có sự kiểm duyệt của Hàn lâm kiểm thảo Ngô Thúc Dụ Thư.
…..
* Chúng tôi chưa có ảnh chụp cuốn VN B60 này, nên dẫn theo bài viết của Huy Hoàng Hoàng Phước Quyến và Lê Quang Thái, cả hai cùng trích từ Trần Văn Giáp ][Theo Lê Nghị]
……..
@. Nhận xét của tôi:
Bút sắt thời trước chỉ các vị vương giả dùng. Vua Minh Mạng chắc được các sứ thần Pháp tặng bút sắt, nên suy ra các hàng chữ viểt bằng bút sẳt là thật sự của ông.
……….
Trong tổng thuyết 1830 Minh Mạng đã viết “ Thanh Tâm Tài Tử cổ kim minh lương đề tập biên” ( Tập Thanh Tâm tài tử xưa nay, vua sáng tôi hiền chọn lọc) tôi đã nói ở phần 1.
Sự kiện tổng thuyết này đương nhiên là chỉ có quan chức liên quan tới nội trị và văn hoá. Nó cũng giống như nghị quyết của ban tuyên giáo trung ương ngày nay. Tổng thuyết không có nghĩa là lễ hội công khai, giới sĩ phu cũng chỉ nghe tường thuật từ các quan chức dự mà thôi. Ai tiết lộ điều gì trái lệnh vua là xử tội. Tổng thuyết không nhằm kỷ niệm thiên tài Nguyễn Du, không một lời nào đề cao Nguyễn Du rõ ràng, (Tự Đức sau này tục truyền còn đòi đánh đòn Nguyễn Du, và tổng thuyết của ông là hạ thấp Nguyễn Du)
Đến đời Tự Đức, một lần nữa lại tổng thuyết 1871. Tự Đức kiểm duyệt truyện Kiều, ông cũng lọc tiếp những từ ngữ mà ông cho là phản nghịch. Cả ông và Minh Mạng lái tư tưởng truyện Kiều đi vào ca ngợi và thương tiếc một kẻ tài hoa, làm nổi bật thuyết tài mệnh tương đố. Cố tình lờ đi những chi tiết phê phán xã hội, suy rộng ra là chỉ trích vương triều nói chung và nhà Nguyễn nói riêng. Cả hai ông đều giữ lại ngôn ngữ truyền cảm đỉnh cao hài hoà giữ dân gian và bác học.
Do vua Minh Mạng đổi tên nên các bản in sau này đều lấy tên Kim Vân Kiều Truyện, và sau đó Tự Đức đổi Kim Vân Kiều Tân Truyện. Cuốn thơ cổ nhất được in tìm được hiện nay mang tên Kim Vân Kiều là bản in 1866 thời Tự Đức. Năm 1875 khi Trương Vĩnh Ký chuyển ra quốc ngữ ở Saigon, lấy tên Kim Vân Kiều, không nhắc gì đến Đoạn Trường Tân Thanh
Tuy nhiên Minh Mạng cũng là vị vua anh minh hơn vị cháu nối dòng Tự Đức. Ông tự nhận ông đổi tên. ( Bút phê trang bìa VN B60 nói trên). Đặt biệt trong bài Tổng thuyết ông cũng tỏ vẻ tôn trọng tài năng của Nguyễn Du một cách gián tiếp. Một bài thuyết dưới thể phú biền ngẫu, hạn chế nhiều so với chiếu chỉ văn xuôi. Nhưng cũng đủ để hiểu rõ ràng ý của ông: Cuộc hội thuyết này gồm nhiều người ông gọi chung là Thanh Tâm Tài Tử, trong đó có cả ông (hợp trước phủ ba chi bút, liêu phân thiều bộc chi âm) Hai câu đó thể hiện có sự phân công mỗi người làm một số đề tài nào đó, có thể là từ 1821, khi Phạm Quý Thích không vào Kinh và ông đã duyệt lại Đoạn Trường Tân Thanh và đổi tên thành Kim Vân Kiều.
Cách bình giảng thơ Đoạn Trường Tân Thanh làm nhẹ ý nghìa của nó theo tôi nghĩ như sau:
Chỗ nào Nguyễn Du nói nhân vật làm thơ thì cuốn này cho vào một bài thơ. Chỗ nào tối nghĩa như “vành ngoài bảy chữ vành trong tám nghề” thì lấy kỹ thuật làm tình của Kim Bình Mai mà giải thích. Chỗ nào rất hồi hộp mà Nguyễn Du chỉ giản lược:
Lệnh quân truyền xuống nội đao
Thề sao thì lại cứ sao gia hình.
thì văn bình giảng miêu tả chi tiết các loại gia hình độc ác vô nhân (như tôi đã trích đoạn ớ phần 1 – NL) Nghĩa là theo từng câu thơ mà thêm rồng thêm rắn cho dễ hiểu cốt truyện; cùng làm như Kim Vân Kiều giống giống Kim Bình Mai, vì vậy mới có câu: “Đàn bà chớ kể Thúy Vân, Thúy Kiều”
Cách khắc phục của Minh Mạng là khôn ngoan và hiệu quả cho vương triều, nhưng để lại rắc rối cho đời sau. Người trong nước hiểu lầm và “ai đó” tận dụng xuyên tạc.
Đến năm 1883 vua Tự Đức qua đời, triều đình Huế lúc này thực chất chỉ là bù nhìn, toàn bộ chính trường đều do người Pháp đã đạo diễn . Lúc đó một cựu quan nhà Nguyễn, chủ bút tờ báo Đồng Văn là Kiều Oánh Mậu mới cho tái bản phục hồi tên cũ truyện thơ là Đoạn Trường Tân Thanh, có sự phụng mệnh vua đọc và kiểm duyệt của 3 cộng tác và Hàn Lâm kiểm thảo Ngô Thúc Dụ Thư. Thực ra, phải coi bản Đoạn Trường Tân Thanh do Kiều Oánh Mậu chủ trì biên soạn là cãi chính cuối cùng của đại diện triều Nguyễn, chứa đựng nội dung trung thực nhất: Ghi đúng tên, nguồn gốc của Truyện Kiều. Nói rõ hơn là khẳng định Đoạn Trường Tân Thanh có dính líu tới Phong Tình Lục của Dư Hoài và Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm Tài Tử không phải là nguồn gốc truyện Đoạn Trường Tân Thanh
Thực chất cuốn mà ngày nay bạn đọc thấy ghi: Kim Vân Kiều truyện -Thanh Tâm Tài Nhân – Nguyễn Duy Ngung và Nguyễn Đỗ Mục dịch là kết hợp ba tác phẩm khác nhau: thơ vịnh của Chu Mạnh Trinh để đầu hồi + dịch văn xuôi Kim Vân Kiều của Thanh Tâm Tài Tử+ lời bình của Kim Thánh Thán ( không hề tìm ra cuốn lời bình Kim Thánh Thán ở đâu!).[Theo Lê Nghị]

Về việc ghi đúng tên gốc của Truyện Kiều tôi đã giải thích rõ trong bài viết ” Về Nhan Đề Gốc Của Truyện Kiều” [1]

Tập hợp các bài viết bình giảng văn xuôi xen thơ minh hoạ sát theo tình tiết, theo lời thơ Nguyễn Du được đặt tên là ” Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm Tài Tử” như là một tiểu thuyết chương hồi. Như vậy Thanh Tâm Tài Tử là người Việt Nam . Mục đích chính nhằm đánh lạc hướng tâm sự “ưu thời uất thế” của Nguyễn Du – chỉa mũi nhọn vào đương triều và xã hội đương thời sau bao năm trải nghiệm và so sánh với xã hội Trung Hoa ông đã tận mắt chứng kiến trong đợt đi sứ năm 1813.
Nói cách khác, không có cụ thể một một cá nhân Thanh Tâm Tài Tử nào , mà là tên đại diện cho một tập thể giảng , bình, hoạ Kiều ở Đại Nam như đã bàn rõ ớ phần 1.
Về Thanh Tâm Tài Tử: Ở đây cũng nên giải nghĩa “tài tử” là cụm từ thông dụng để chỉ những người yêu văn hoá văn nghệ không quan trọng danh tính, những người có tâm hồn phóng khoáng, thích tụ họp với nhau. Đến ngày nay còn lưu lại trong cụm tử “ đờn ca tài tử”. Còn Thanh Tâm có thể dùng chơi chữ phiên thiết kết lại là tình. Cũng có thể hiểu là tâm trong sáng, vô tư. Biết đâu chọn cái tên Thanh Tâm Tài Tử cũng do gợi ý từ câu trong đoạn kết: “ chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài”. Dầu lý giải kiểu nào cũng là cái tên đẹp. Thanh Tâm Tài Tử là tên tượng trưng của những người bình giảng Kiều, kể cả vua. Giống với ngày nay người ta hợp thành hội Kiều học. (Lê Nghị)

Tại thư viện quốc gia còn lưu một tập: “Thanh Tâm Tài Tử minh lương đề tập biên” (mã số VN 240 ) gồm cả các bài tổng thuyết của Minh Mạng, Tự Đức, và các tác giả khác như Nguyễn Khuyến, Chu Mạnh Trinh…
Do Minh Mạng đổi tên nên các bản in sau này đều lấy tên Kim Vân Kiều. Cuốn thơ cổ nhất được in tìm được hiện nay mang tên Kim Vân Kiều là bản in 1866 thời Tự Đức. Năm 1875 khi Trương Vĩnh Ký chuyển ra quốc ngữ ở Saigon, lấy tên Kim Vân Kiều, không nhắc gì đến Đoạn Trường Tân Thanh.
Tổng Từ của Minh Mạng 1830 đã có tên là “Thanh Tâm Tài Tử”. Tất cả các tác phẩm liên quan đến bình, giảng Kiều đều xếp trong tuyển tập: “Thanh Tâm Tài Tử cổ kim minh lương đề tập biên”. Thanh Tâm Tài Tử cổ kim (nghĩa là các Tác giả trước, nay và hàm ý cả sau khi tổng thuyết, bao gồm cả Minh Mạng). Minh lương đề tập biên (nghĩa là vua sáng tôi hiền tuyển chọn). Theo đó thì các cuốn A953, Kim Vân Kiều lục và mọi cuốn , mọi thể loại khuyết danh đều gọi là của Thanh Tâm Tài Tử

@. Vài nhận xét thêm:
– Hình như tên Kim Vân Kiều bắt chước cách đặt tên của truyện ba nàng dâm nữ, mỗi nàng một kiểu: Kim Bình Mai . Đó là tên một cuốn sách hư cấu nổi tiếng in năm 1610. “Vành ngoài bảy chữ vành trong tám nghề “ là kỹ thuật làm tình của 3 nàng này với Tây Môn Khánh.
– Trong khi Kiều và Từ Hải chết năm 1556 là nhân vật chính sử, và truyện Kim Vân Kiều nếu do Thanh Tâm Tài Nhân là Từ Vị (1521 -1593) viết thì lẽ nào tác giả chết năm 1593 lại bắt chước 7 chữ 8 nghề theo cuốn sách viết sau đó 17 năm? Đó là chưa nói đến nhiều lý do để bài bác luận điểm Thanh Tâm Tài Nhân là Từ Vị. Không hiểu vì lý do gì mà các ông học giả nói Thanh Tâm Tài Nhân là Từ Vị? Sẽ bàn lại rõ vụ này ở phần 3)
Nói khẳng định là Đoạn Trường Tân Thanh có dính líu tới Phong Tình Lục của Dư Hoài, còn Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm Tài Tử không phải là nguồn gốc truyện Kiều Nguyễn Du, chỉ là những bài bình giảng văn xuôi phát xuẩt từ truyện thơ Đoạn Trường Tân Thanh

Sự kiện tổng thuyết này đương nhiên là chỉ có quan chức liên quan tới nội trị và văn hoá. Nó cũng giống như nghị quyết của ban tuyên giáo trung ương ngày nay vậy. Tổng thuyết không có nghĩa là lễ hội công khai, giới sĩ phu cũng chỉ nghe tường thuật từ các quan chức dự mà thôi. Ai tiết lộ điều gì trái lệnh vua là xử tội! Tổng thuyết không nhằm kỷ niệm thiên tài Nguyễn Du, không một lời nào đề cao Nguyễn Du rõ ràng, (Tự Đức sau này tục truyền còn đòi đánh đòn Nguyễn Du, và tổng thuyết của ông là hạ thấp Nguyễn Du)

Cách khắc phục của Minh Mạng là khôn ngoan và hiệu quả cho vương triều nhưng để lại cái họa cho đời sau: Người trong nước hiểu lầm và gián điệp văn hoá tận dụng xuyên tạc.

Mời đọc trích đoạn này từ nhà nghiên cứu Lê Nghị:

.
Năm 1830 Minh Mạng tổ chức tổng thuyết Kim Vân Kiều truyện ( tức Đoạn Trường Tân Thanh) và nêu lên mục đích của cuốn bình giảng Đoạn Trường Tân Thanh viết bằng văn xuôi. Sự kiện này Minh Mạng đã viết trong “ Thanh Tâm Tài Tử cổ kim minh lương đề tập biên” ( Tập Thanh Tâm tài tử xưa nay, vua sáng tôi hiền chọn lọc. So ảnh trang đầu bên dưới)
Trong đó có nói lý do tuyển chọn tập :
Hà do trùng phát u quang, bổ khuyết nhi thành tín sử ( vì sử sách xa mù, nên bổ khuyết để căn cứ làm tin).
Đoạn giữa bài thuyết chủ yếu nói đến thân phận nàng Kiều, đồng cảm và an ủi với tài và cảnh luôn xung đột, nửa Khổng nữa Phật.
Đoạn kết lại kết lần nữa nhấn mạnh:

Nại hà:
Ngọc nhan bất tác, trúc hãn nan bằng
Tài tử tình thư, cánh lạc ư kim ngọc tượng chi ngoại
Giai nhân tâm sự, tẫn phó ư phong sương binh hỏa chi dư
Thánh Thán bất phùng, hàn yên tán mạn
Hoa Đường dĩ viễn, phá bích tiêu điều

Sở đương mịch kỳ di biên, cáo chư đồng chí
Truyền thân tả chiếu ly tảo trích hoa
Hoá công họa công, hợp trước phủ ba chi bút
Thiên thế bách thế, liêu phân thiều bộc chi âm
Thượng dĩ hoàn luân đài kiểm điểm chi sơ tâm
Hà dĩ bị nghệ uyển bình chướng chi giai thoại

Diệc cổ kim lai tài bình nhất vận sự nhĩ.
( Minh Mạng tổng thuyết)

Tạm dịch nghĩa:

Ngặt nỗi:

Người ngọc chẳng gặp, sử xanh khó làm bằng chứng
Sách tình của tài tử (thì) chỉ là phủ bên ngoài ý vàng ngọc
Tâm sự giai nhân cứ đổ cho thời gian, chiến tranh hủy hoại
Thánh Thán (1) chẳng gặp, khói sương mờ mịt
Hoa Đường (2) đã khuất , tường vách tiêu điều

(Vì vậy) cần biên soạn để lại, thống nhất ý chung
Nghĩa đen nghĩa bóng, tránh lầm xấu tốt.
Trời với người hợp sức múa bút búa rìu cho rõ
Trăm tới ngàn năm phân bàn bật tiếng thơ
Trước là để hợp tâm đầu người đã khuất
Sau góp thêm bình luận chuyện văn chương
Tự xưa tới nay bàn sao nghe cho tốt đẹp.
Mở đầu là Thanh Tâm Tài Tử cổ kim, kết thúc là Diệc cổ kim lai cho thấy không phải là một Thanh Tâm Tài Tử, không phải là một tác giả mà là tập hợp nhiều người, người Việt Nam.
………
(1) Thán hoa viên là nhà của Mộng Liên Đường Nguyễn Đăng Tuyển
(2) Hoa Đường là hiệu của Phạm Quý Thích

Thanh Tâm Tài Tử ( Tổng thuyểt 1830- Minh Mạng)

(Hình Tổng thuyết Minh Mạng -trang trong – 1830)

Từ thời vua Minh Mạng đến đầu thế kỷ 20 đã có ba thế hệ thi gia Việt Nam viết về Kiều, tổng hợp thành 3 thi tập. Mời cảc bạn đọc trích đoạn sau đây của ông Hoàng Hải Vân:
[… Tập đầu tiên soạn khi Minh Mạng mới lên ngôi (1820) gồm những bài thơ xướng và họa bằng chữ Hán dựa theo từng hồi của Kim Vân Kiều truyện, do Phụ chính đại thần Hà Tôn Quyền chủ xướng, đến năm Minh Mạng thứ 11 (1830), đích thân nhà vua viết một bài Tổng thuyết cho thi tập, cũng bằng chữ Hán. Vào năm 1871, tập tiếp theo do Tự Đức chủ xướng, đích thân nhà vua làm các bài thơ xướng cho mỗi hồi và viết lời tựa (Tổng từ)chung cho thi tập. Tập thứ ba ra đời vào cuối thế kỷ 19, có Chu Mạnh Trinh và Nguyễn Khuyến tham gia. Những bản chép tay các tập thời Minh Mạng và Tự Đức mang tên “Thanh Tâm tài tử cổ kim minh lương đề tập biên” (nghĩa là : Các bài của các tài tử vô tư xưa viết, nay nhân vua sáng tôi hiền tập hợp lại – NL) hiện cũng được lưu giữ tại Thư viện quốc gia Hà Nội, ký hiệu VNV 240. – Hoàng Hải Vân...] [Cần công bằng với Thanh Tâm Tài Nhân – Hoàng Hải Vân][2]
***
Tóm lại, Việt Nam thời Minh Mạng 1830 có một truyện thơ Kiều của Nguyễn Du bị đổi tên là Kim Vân Kiều, và một cuốn văn xuôi bình giảng thơ Kiều: Kim Vân Kiều Truyện của Thanh Tâm Tài Tử, tập hợp 20 bài bình giảng, cuả nhiều người do vua Minh Mạng tuyển chọn soạn ra.

(Còn tiếp phần 3: Kim Vân Kiều Truyện Thanh Tâm Tài Nhân )

Nguyên Lạc
………………..
Ghi Chú:
[1] Về Nhan Đề Gốc Của Truyện Kiều – Nguyên Lạc
https://nguyenlac.blog/2019/09/05/ve-nhan-de-goc-cua-truyen-kieu-nguyen-lac/
[2] Cần công bằng với Thanh Tâm Tài Nhân – Hoàng Hải Vân
http://www.hoanghaivan.com/search?updated-max=2009-05-02T18:54:00%2B07:00&max-results=2&reverse-paginate=true

Nỗi buồn lớn nhất của tuổi già

Thùy Linh

old people2Nỗi buồn lớn nhất của tuổi già là phải thận trọng với con mình

Con lớn lên, nhiều kiến thức hơn, dần thiếu kiên nhẫn và xem thường cha mẹ, khiến họ trở thành một “con nhím” thận trọng.

Một độc giả gửi đến mục tâm sự của Sina câu chuyện của mình: “Tôi mua cho mẹ một chiếc điện thoại thông minh. Mẹ nhờ tôi dạy cách sử dụng. Tôi đã chỉ cho bà cách tải các ứng dụng, sau đó bật máy tính lên để chuẩn bị làm việc. Thế rồi mẹ vào, bà lại hỏi về một phần mềm mới. Lát sau, khi tôi đang xoay sở với đống việc, bà ở bếp than thở vọng ra rằng bà không thể dùng được chiếc máy mới. Dòng ý tưởng công việc bị cắt ngang khiến tôi bực dọc, tôi chạy vào bếp và gắt lên với mẹ. Bà ngước lên nhìn tôi khổ sở: “Hay là thôi, mẹ vẫn dùng điện thoại cũ”. “Tùy mẹ, mẹ muốn thế nào cũng được”, tôi sốt ruột bước ra ngoài, để mẹ một mình với cái điện thoại đời mới.

Đêm khuya hôm ấy, khi chuẩn bị đi ngủ, tôi nhận được tin nhắn của mẹ: “Con à, mẹ đã già. Mẹ quên nhanh điều người khác nói. Mẹ cũng không nhớ cả điều mẹ đã nói. Lúc nấu cơm, có khi mẹ quên cả cắm phích. Con có thể kiên nhẫn hơn với mẹ không?”.

Những dòng mẹ viết làm mắt tôi ướt nhòe. Tôi biết, mẹ không dám nói chuyện trực tiếp với tôi nên đã nhắn tin. Tôi dằn vặt mình: Giá có thể kiên nhẫn hơn một chút nữa.

Những ngày sau đó, mẹ không hỏi tôi về điện thoại nữa. Tự bà đã mày mò, tìm hiểu cách tải ứng dụng”.

Độc giả bày tỏ, anh biết mẹ anh đã tổn thương. Anh chia sẻ: “Điều đáng buồn nhất không phải là thái độ của tôi, mà là thông điệp tôi đã truyền tải qua thái độ ấy, nó nhắn nhủ với mẹ lại rằng: Mẹ đã già rồi, và đang dần trở nên vô dụng”. Giờ đây, khi bình tĩnh nhìn lại, anh cảm thấy day dứt, vì đã để lại những vết sẹo trong lòng đấng sinh thành.

Nỗi buồn lớn nhất của cha mẹ khi họ già đi, chính là buộc phải trở nên thận trọng hơn với con mình.


Thủa ấu thơ, trong mắt trẻ, mẹ cha là người biết mọi thứ, mạnh hơn tất cả. Cha mẹ là hai ngọn núi, che chở, mang lại bình yên cho đứa con.

Nhưng có một ngày, những “ngọn núi” ấy không còn sừng sững nữa. Đó là khi bố mẹ về già. Họ có nhiều điều không dám hỏi, không dám đề cập với con. Lý do đơn giản, tuổi tác khiến họ dễ tổn thương hơn. Đó còn là vì con cái dần thay đổi, trở nên thiếu kiên nhẫn, nhiều kiến thức hơn và dần xem thường người cha, mẹ. Điều đó biến cha mẹ thành một “con nhím” thận trọng.

Bộ phim truyền hình nổi tiếng của Trung Quốc Gia đình hạnh phúc từng lấy đi nước mắt của nhiều người, vì những thông điệp mà nó mang lại. Nội dung phim xoay quanh một thanh niên giỏi giang, là bác sĩ của một viện lớn, tuy nhiên anh không thăng tiến được vì nhiều đồng nghiệp khác có gia đình bề thế, địa vị hơn. Một ngày, trong nỗi thất vọng vì mất đi vị trí tiềm năng, anh về nhà trách cứ bố mình: “Bố mỗi ngày cứ hỏi con có đói không? Bố chỉ lo được cho con chuyện đói, no, không thể nào lo cho con được sự nghiệp”. Lời phàn nàn của đứa con làm người bố trống rỗng, đau khổ. Ông nói: “Là bố sai rồi, là bố không có khả năng đem lại cho con những điều tốt đẹp hơn”.

Sự đồng hành của cha mẹ trong mọi giai đoạn cuộc đời của con giống như một bức tường ngăn giữa con và “Thần Chết”. Bất kể là lên 3, lên 5, hay 40, 60, bạn luôn cảm thấy cái chết ở rất xa chúng ta, khi cha mẹ còn ở bên. Tuy nhiên, khi đấng sinh thành về với cát bụi, những cảm xúc sẽ hoàn toàn thay đổi. Người con cảm thấy mình đã bước sang một giai đoạn mới của cuộc đời, thấu hiểu rõ nỗi đau mất mát bởi sự mong manh của đời sống, họ trở nên già dặn hơn, cô độc hơn, và yếu đuối hơn, khi thiếu đi chỗ dựa quan trọng. Đó là lúc, con cái hiểu được giá trị trọn vẹn của cha mẹ mình.

Để tránh làm bố mẹ tổn thương, con đừng:

– Đổ lỗi cho sự “bất tài” của cha mẹ

Bạn có thể trách bố mẹ không có khả năng đem lại điều bạn muốn, nhưng đừng quên rằng họ đã trao cho bạn khả năng. Việc bạn đạt được điều bạn muốn hay không, một phần lớn phụ thuộc vào năng lực của chính mình.

– Phàn nàn về những phàn nàn của cha mẹ

Lời phàn nàn có thể khiến bạn bực dọc, nhưng họ làm vậy vì thực lòng yêu thương và mong muốn bạn tốt đẹp hơn.

– Cau có về sự chậm trễ của cha mẹ

Khi còn nhỏ, chúng ta dựa vào cha mẹ để bước đi. Giờ bố mẹ đã già, phải dựa vào con cái để di chuyển. Mỗi khi họ chậm chạp, lề mề, hãy nhớ về thủa ban sơ của mình, bạn cũng không khác gì như vậy.

– Ghét bỏ khi bố mẹ ốm

Sinh lão bệnh tử, con người không ai thoát khỏi quy luật tự nhiên ấy. Khi cha mẹ còn trẻ, họ chăm sóc bạn từng tí, bên bạn khi bạn ốm đau. Lúc họ về già, đây là lúc quay lại vòng tuần hoàn ấy.

Thùy Linh

VỀ NHAN ĐỀ GỐC CỦA TRUYỆN KIỀU

Phê bình Nguyên Lạc

 

Truyện Kiều chữ Nôm 2

Trong quá trình sưu tầm tài liệu để viết tiếp phần 2 và phần 3 bài TRẬN CHIẾN CHƯA NGƯNG: Đoạn Trường Tân Thanh và Kim Vân Kiều Truyện, tình cờ tôi gặp bài viết: “Nhan đề gốc của “Truyện Kiều” của Đinh Văn Tuấn đăng trên trang Tạp chí Sông Hương SỐ 310 (T.12-14) và trên nhiều trang khác, trong cũng như ngoài nước. Ông Đinh Văn Tuấn Đưa ra kết luận như “đinh đóng cột” thế này:
“Nay, chúng tôi là hậu học, sau khi đã tìm hiểu lại ngọn nguồn, xin đề nghị trả lại nhan đề gốc do thi hào Nguyễn Du đặt cho một tuyệt tác thi ca nổi tiếng trong và ngoài nước từ gần 2 thế kỷ qua, đó là KIM VÂN KIỀU TRUYỆN 金 雲 翹 傳 “
“… Truyện Kiều cũng thế, nguyên truyện Trung Quốc là tiểu thuyết Kim Vân Kiều truyện 金 雲 翹 傳 của Thanh Tâm Tài Nhân và tự nhiên cụ Nguyễn Du cũng sẽ đặt nhan đề là Kim Vân Kiều truyện”[“Nhan đề gốc của “Truyện Kiều”- Đinh Văn Tuấn ][*]
Và trong bài: “145 Năm Tầm Nguyên Truyện Kiều” – Hợp Lưu 01/11/2015 ông Tuấn lại tái khẳng định:
Văn bản Truyện Kiều phục cổ do chúng tôi tái lập sẽ lấy nhan đề khởi thủy do Nguyễn Du đặt là Kim Vân Kiều truyện 金 雲 翹 傳 chứ không lấy nhan đề Đoạn Trường tân thanh hay Truyện Kiều như chúng tôi đã khảo chứng qua bài viết “Nhan đề gốc của truyện Kiều”-Tạp chí Nghiên cứu và Phát triển, S. 6(113) (2014)

Đây là những lý do ông Đinh Văn Tuấn nêu ra để đưa đến kết luận cả quyết trên.

Trước khi xét và phản hồi từng điểm của ông Tuấn, tôi có những ý này:
— Cám ơn ông đã không “bất kính” với cổ nhân (chữ ông Đinh Văn Tuấn), đã tìm hiểu lại một cách khoa học để phục hồi lại “nhan đề gốc của ‘Truyện Kiều’ ” Nguyễn Du.
— Ông: “đề nghị trả lại nhan đề gốc do thi hào Nguyễn Du đặt cho một tuyệt tác thi ca nổi tiếng trong và ngoài nước từ gần 2 thế kỷ qua đó là KIM VÂN KIỀU TRUYỆN”. Xin hỏi: – Sau KIM VÂN KIỀU TRUYỆN còn có thêm hàng chữ nào không ông? Thí dụ như Thanh Tâm Tài Nhân? Kim Thánh Thán bình…?
Mời ông đọc những lời này của ông “bạn vàng phương Bắc” Đổng Văn Thành:
[ … Phải chăng tác giả Trung Quốc Thanh Tâm tài nhân – con người “tầm thường”, “không thể cứu chữa” – đã làm hỏng đề tài Vương Thúy Kiều đến nỗi không một chỗ nào coi được, phải hoàn toàn nhờ sự gia công “thiên tài” của tác giả Việt Nam Nguyễn Du mới biến miếng sắt bỏ đi thành vàng ròng lấp lánh?...”] (Phạm Tú Châu “So sánh Truyện Kim Vân Kiều Trung Quốc và Việt Nam”; 200 năm nghiên cứu bàn luận “Truyện Kiều”, Nxb. Giáo dục, Hà Nội 2005)
[ … “Nhìn tổng thể, tôi thấy Truyện Kiều của Nguyễn Du bất luận về nội dung hay về nghệ thuật đều không vượt được bản gốc mà nó mô phỏng, tức – Truyện Kiều của Trung Quốc –
Ông Đổng còn nói: “Nguyễn Du còn thêm chân cho rắn khiến chúng mâu thuẫn với hoàn cảnh và tình tiết trong toàn bộ nguyên tác”] [Nguồn: Nguyễn Huệ Chi -Trở lại câu chuyện so sánh Kim Vân Kiều truyện với Truyện Kiều của ông Đổng Văn Thành]
– Và cũng mời ông đọc lại những hàng chữ chính ông chú thích sau đây:
Kim Vân Kiều” là sách gì? Chưa nói đến sự tích thiệt không, chưa kể văn chương hay dở, chỉ nhắc đến cái tên sách thì nghe đã không thể nào ngửi được; vì sao thế? Phàm bộ truyện nào, dầu trong có bao nhiêu nhân vật mặc lòng, chỉ là một người làm chủ nhân: sự tích là sự tích một người chủ nhân ấy, thì tên sách cũng theo đó mà gọi….ông Nguyễn Du chắc không đặt tên dốt như thế? Dù cái tên ấy là nguyên bản của Tàu, là nguyên bản của Tàu thì càng đủ biết rằng truyện ấy đặt ra bởi một anh Tàu dốt nào đó mà thôi.” [Ngô Đức Kế (1878-1929) , Luận về chánh học cùng tà thuyết, Tạp chí Nam Phong số 86. 1924][**]
Chắc ông Đinh Văn Tuấn cho rằng cái tên sách “Kim Vân Kiều” hay ho lắm nên muốn gán cho cụ Tiên Điền, thi hào ông không “bất kính”?

Giờ xin lần lượt vào từng điểm, cùng những nhận xét và phản hồi của tôi:
I.
[ Dựa vào bản khắc Liễu Văn Đường 1866, là bản cổ nhất hiện còn lại ta thấy ở dòng cuối cùng của bản LVĐ 1866 đã khắc là Kim Vân Kiều truyện quyển hoàn 金 雲 翹 傳 卷 完 (bản Liễu Văn Đường 1871, bản Thịnh Mỹ Đường 1879… cũng khắc như vậy), ngay cả bản Đoạn trường tân thanh, Kiều Oánh Mậu 1902 ở trang cuối cũng vẫn ghi “Kim Vân Kiều truyện chung”金 雲 翹 傳 終 (xem hình). Vậy nhan đề gốc là Kim Vân Kiều Truyện 金 雲 翹 傳 ] – Đinh Văn Tuấn.

Bản khắc LVĐ và KOM

(Hình 1 – ảnh 2 bản khắc LVĐ và KOM)

.
@. Trả lời:
Tôi xin lần lượt trả lời từng bản khắc:
1. Bản khắc Liễu Văn Đường : Kim Vân Kiều truyện quyển hoàn 金 雲 翹 傳 卷 完
– Theo tôi, ông Đinh Văn Tuấn nghĩ là: Sách (quyển) Kim Vân Kiều truyện hoàn tất, xong.
Vì chữ Hán nhiều nghĩa, ai cũng có thể hiểu, suy diễn theo ý riêng nên câu này cũng có thể có nghĩa: Sách kể chuyện 3 người: Kim, Vân, Kiều đã hoàn tất, xong.
– Theo tôi, nghĩa thứ 2 đúng hơn. Tại sao? Vì:
Năm 1820, tháng 9 cụ Nguyễn Du mất. Mộng Liên Đường Nguyễn Đăng Tuyển đề từ cho truyện thơ cụ lại có đến Đoạn Trường Tân Thanh . Ông đã giải thích tên Đoạn Trường Tân Thanh như sau:
“Truyện Thuý Kiều chép ở trong lục Phong tình, ta không bàn làm gì. Lục Phong tình cũng đã cũ rồi. Tố Như tử xem truyện, thấy việc lạ, lại thương tiếc đến những nỗi trắc trở của kẻ có tài, bèn đem dịch ra quốc âm, đề là Đoạn trường tân thanh, thành ra cái lục Phong tình vẫn là cái lục cũ, mà cái tiếng Đoạn trường lại là cái tiếng mới vậy”.[Đề Từ Đoạn Trường Tân Thanh – Tiên phong Mộng Liên Đường Nguyễn Đăng Tuyển]
Phạm Quý Thích lại có bài : “Thính Đoạn Trường Tân Thanh hữu cảm”. Cả hai bài, theo tục truyền Phạm Quý Thích đã in cùng Đoạn Trường Tân Thanh trước 1821 và giảng cho học trò, nên mới có tập cho Minh Mạng xem ( bản Liễu Văn Đường) Phù hợp với tục truyền của học trò ông: Bản phường – Hàng Gai Hà Nội. Năm 1830 Tổng thuyết vua Minh Mạng đổi tên Đoạn Trường Tân Thanh thành Kim Vân Kiều truyện, rồi đến 1871, Tổng thuyết lần 2, của vua Tự Đức sửa tên thành Kim Vân Kiều tân truyện (Giải thích rõ thêm ở dưới)
Bên cạnh nội dung truyện Kiều của Đại thi hào Nguyễn Du, bản Liễu Văn Đường còn có Bài tựa (bằng thơ Đường thất ngôn bát cú) của Lãng Đường Phạm Tiên sinh – Phạm Qúy Thích, bằng chữ Hán: “Đoạn trường tân thanh đề từ”(hoặc “Thính Đoạn trường tân thanh hữu cảm”).

Giai nhân bất thị náo Tiền Đường
Bán thế yên hoa trái vị thường
Ngọc diện khởi ưng mai Thủy quốc
Băng tâm tự khả đối Kim lang
Đoạn trường mộng lý căn duyên liễu
Bạc mệnh cầm chung oán hận trường
Nhất phiến tài tình thiên cổ lụy
Tân Thanh đáo để vị thùy thương

Dịch nghĩa
Nếu người đẹp Thuý Kiều mà không đi đến sông Tiền Đường,
Thì nửa đời lầu xanh vẫn chưa trả xong nợ.
Mặt ngọc của nàng đâu cần phải chìm xuống thuỷ cung,
Lòng băng tuyết của nàng thì xứng đáng gặp chàng Kim lắm.
Giấc mộng đoạn trường nay đã biết rõ nguồn cơn,
Khúc đàn Bạc mệnh dứt rồi nỗi hận còn vương.
Vì một mảnh tài tình mà ngàn năm còn luỵ,
Tác phẩm Tân Thanh này vì ai mà thương cảm đau lòng.
(Nguồn: Dương Quảng Hàm, Việt Nam văn học sử yếu, Trung tâm học liệu xuất bản, 1968)

Câu 5 có 2 chữ “đoạn trường“, câu cuối của bài thơ này là:
Tân Thanh đáo để vị thùy thương” Dương Quảng Hàm dic̣h: “Tác phẩm Tân Thanh này vì ai mà thương cảm đau lòng”.
Phần đầu sách đã xác điṇh tên tập thơ là Đoạn Trường Tân Thanh, không lẻ Phạm Qúy Thích “tự chặt tay mình” mà cuối sách viết khác?
Trường hợp này cũng tương tự như câu trong bản khắc Kiều Oánh Mậu ở dưới.

ĐTTT Kiều Oánh Mậu 1902

(Hình 2 – ảnh bản in Kiều Oánh Mậu 1902 )

.
2.  Bản khắc Kiều Oánh Mậu“Kim Vân Kiều truyện chung”金 雲 翹 傳 終

.
— Đinh Văn Tuấn nghĩ là: Kim Vân Kiều truyện kết cuộc, hết. Như trên đã nói, câu này cũng có thể nghĩ: Truyện kể 3 người Kim, Vân, Kiều kết cuộc, hết.
Cũng giống như trên, nghĩa thứ 2 đúng hơn. Vì:
Đến năm 1883 Tự Đức qua đời. Triều đình Huế lúc này thực chất chỉ là bù nhìn, toàn bộ chính trường đều do người Pháp đã đạo diễn . 9 năm sau, năm 1902 cựu quan nhà Nguyễn, chủ bút tờ báo Đồng Văn là Kiều Oánh Mậu mới cho tái bản phục hồi tên cũ là Đoạn Trường Tân Thanh, có sự phụng mệnh vua đọc và kiểm duyệt của 3 cộng tác và Hàn Lâm kiểm thảo Ngô Thúc Dụ Thư. Có sự kiểm duyệt của quan Hàn Lâm kiểm thảo Ngô Thúc Dụ Thư thì không phải là chuyện đùa. Phải coi bản Đoạn Trường Tân Thanh do Kiều Oánh Mậu chủ trì biên soạn là cãi chính cuối cùng của đại diện triều Nguyễn chứa đựng nội dung trung thực nhất: Ghi đúng tên, nguồn gốc của Truyện Kiều.
Và cũng giống như trên, đã phục hồi tên tập thơ là Đoạn Trường Tân Thanh không lẻ Kiều Oánh Mậu “tự chặt tay mình” mà cuối sách viết khác?
— Câu bản khắc Kiều Oánh Mậu này còn có thể thêm một nghĩa: Chấm dứt cái tên “Kim Vân Kiều Truyện” từ đây, (Kim Vân Kiều Truyện cáo chung): – Để kết thúc một câu truyện, sách in đề tựa Đoạn Trường Tân Thanh (ở trang bìa), ta chỉ cần một chữ chung (hết) ở trang cuối, như bao cuốn sách khác là xong, sao lại tự dưng ghi “Kim Vân Kiều truyện chung”? Ở đây cần hiểu là: Truyện này tên Đoạn Trường Tân Thanh, cái tên Kim Vân Kiều truyện đã chấm dứt từ cãi chính này.
Suy luận nào cũng là suy luận, nhưng suy luận nào hợp với bằng chứng nhất do người đọc lựa chọn.
— Xin nói rõ thêm vài hàng: Trong lời dẫn thứ 3 của ấn bản Kiều Oánh Mậu, có nói rằng “Minh Mạng đặt tên nay theo đó mà giữ”, cũng chẳng qua là cách bào chữa giữ danh dự cho tiên vương thôi. Từ xưa đến nay, chả có ông nào làm vua, làm chủ tịch… mà tự nhận lỗi cả, nếu muốn thì đổ thừa cấp dưới hiểu sai ý thôi. Kiều Oánh Mậu là cựu quan nhà Nguyễn, nhượng bộ quan Hàn Lâm một chút, giữ uy tín cho tiên vương cũng dễ hiểu thôi, miễn mục đích đạt được. Tên đã phục hồi, đề từ của Phạm Quý Thích và Mộng Liên Đường cũng còn đó, đời sau tự hiểu.

II.
Ngoài ra, còn một tục truyền khác lại cho vua Minh Mạng đã cho đổi tên Kim Vân Kiều truyện thành Đoạn trường tân thanh nữa, theo bản Nôm Kim Vân Kiều truyện 金 雲 翹 傳, ký hiệu V.N.B.60, không rõ niên đại, có đoạn chép tay (bút lông) như sau:
“…Tiên Điền Nguyễn Du diễn xuất quốc âm danh Kim Vân Kiều truyện, phụng Minh Mạng ngự lãm (tứ) (cãi) (vi) Đoạn Trường Tân Thanh (tòng kinh bản dã)… 仙田阮攸演出國音名金雲翹傳,奉明命御覽(賜)(改)(為)斷腸新聲(從京本也)” (… Nguyễn Du ở Tiên Điền diễn ra quốc âm, đặt tên là Kim Vân Kiều truyện, được vua Minh Mạng đọc và (cho) (đổi) (tên) (làm) Đoạn Trường Tân Thanh (đó là theo bản kinh)…] – Đinh Văn Tuấn

@. Trả lời:

.
Xin ông Đinh Văn Tuấn ghi lại cho đầy đủ cả lời của vua Minh Mạng, tôi thấy có điều gì “nhập nhằng” ở đây:
— Lập luận ông khiên cưỡng và “trở ngược đầu”: Vua Minh Mạng đổi tên Đoạn Trường Tân Thanh thành Kim Vân Kiều truyện, sao ông suy diễn ngược lại? Có ý gì?
Nếu Minh Mạng đổi tên Kim Vân Kiều thành Đoạn Trường Tân Thanh thì sao tất cả các bản in đều in là Kim Vân Kiều hoặc Kim Vân Kiều Tân Truyện, mà không là Đoạn Trường Tân Thanh? Cãi lệnh vua được sao? Muốn tru di hả? Phải đợi mãi đến Tự Đức chết, 1883 thì 9 năm sau tên Đoạn Trường Tân Thanh mới được phục hồi bởi Kiều Oánh Mậu 1902.
— Mời đọc đoạn này:
Tàng bản ký hiệu VN B60: Bên trong là các trang thơ Truyện Kiều chữ Nôm. Bìa sách ghi bằng bút sắt:
明命御覽(賜)(名)斷腸新聲. 金雲翹傳 (mấy chữ này viết bằng bút sắt).
Phiên âm là:
Minh Mạng ngự lãm (tứ) (danh) Đoạn Trường Tân Thanh Kim Vân Kiều truyện.
Thông thường ta hiểu là: Minh mạng đã đọc ban ân (tứ) tên( danh) Đoạn Trường Tân Thanh: Kim Vân Kiều truyện.
Như vậy đây là bản Đoạn Trường Tân Thanh trình Minh Mạng duyệt và Minh Mạng đổi tên thành Kim Vân Kiều truyện, có thể có chỉnh sửa, là bản gốc của bản Kinh về sau.
Nhưng mặt bìa sau ai đó viết chú thích bằng bút lông:
雲翹傳,本北國青心才人錄, 仙田阮攸演出國音名金雲翹傳, 奉明命御覽(賜)(改)(為)斷腸新聲(從京本也), 華 堂進士笵貴適題辭… (viết bằng bút lông)
Phiên âm là:
Kim Vân Kiều truyện, bản Bắc quốc Thanh Tâm tài nhân lục, Tiên Điền Nguyễn Du diễn xuất quốc âm danh Kim Vân Kiều truyện, phụng Minh Mạng ngự lãm (tứ) (cãi) (vi) Đoạn Trường Tân Thanh (tòng kinh bản dã) Hoa Đường Tiến sĩ Phạm Quý Thích đề từ…
[Sách Kim Vân Kiều truyện vốn là sách Thanh Tâm tài nhân lục của Bắc quốc, Nguyễn Du ở Tiên Điền diễn ra quốc âm, đặt tên là Kim Vân Kiều truyện, được vua Minh Mạng đọc và (cho) (đổi) (tên) (làm) Đoạn Trường Tân Thanh (đó là theo bản kinh). Phạm Quý Thích, người Hoa Đường, đậu Tiến sĩ đề từ…] (Theo Trần Văn Giáp)

.
@ Nhận xét:.

— Bút tích viết bằng bút sắt ở trên có thể cho là của Minh Mạng:

  • Một là, giọng văn đó của vua trực tiếp phê. Giống như ngày nay văn bản cấp dưới trình cấp trên, cấp trên phê: đã đọc Đoạn Trường Tân thanh, tên đổi Kim Vân Kiều truyện.
  • Hai là bút tích Minh Mạng viết : “ Thanh Tâm Tài Tử cổ kim minh lương đề tập biên” cũng bằng viết sắt ( có ảnh kèm theo)

Thanh Tâm Tài Tử ( Tổng thuyểt 1830- Minh Mạng)

(Hình 3 – ảnh Tổng thuyết Minh Mạng)

— Bút tích sau viết bằng bút lông là giọng văn thuật lại” phụng Minh Mạng ngự lãm”(thể theo Minh Mạng đã đọc), tức là của người khác, viết bút lông không phải của Minh Mạng. Ta không biết rõ ai viết, viết vào thời nào; và vì sao trong một câu ngắn gọn của Minh Mạng lại suy diễn chi tiết như thế? Do đó không thể tin cậy được. Theo tôi, “ai đó” ghi thêm và chắc “có ý” gì đó?
Tuy nhiên, cả hai bút tích viết đều có nhắc tới Đoạn Trường Tân Thanh. Tháng 9 năm 1820 Nguyễn Du quy tiên. Trong khi đó Mộng Liên Đường Nguyễn Đăng Tuyển ( có nhiều người nhầm Mộng Liên Đường là Phạm Quý Thích) đề từ lại nói đến Đoạn Trường Tân Thanh . Ông đã giải thích Đoạn Trường Tân Thanh là “tiếng kêu mới xé ruột”. Phạm Quý Thích lại có bài : Thính Đoạn Trường Tân Thanh hữu cảm. Cả hai bài, theo tục truyền Phạm Quý Thích đã in cùng Đoạn Trường Tân Thanh trước 1821, giảng cho học trò, nên mới có tập cho Minh Mạng xem. Phù hợp với tục truyền của học trò ông: bản phường – Hàng Gai Hà Nội. Cần thấy rằng học trò Phạm Quý Thích là những tiến sĩ, cử nhân, thám hoa…Nhiều vị đã kế thừa ông làm thầy, và học trò của các vị này lại làm thầy cho đến 1919 bỏ Nho học. Cho nên tục truyền mà lại có giá trị vì thời gian liên tục và không lâu.
Minh Mạng tuyên triệu Phạm Quý Thích vào Kinh, năm 1821 nhưng ông cáo bệnh (theo tiểu sử Phạm Quý Thích), học trò ông lại nhiều người làm quan của triều đình bảo vệ ông. Cho phép ta suy luận việc này có liên quan đến ấn bản Phường. Không có mặt Phạm Quý Thích và Mộng Liên Đường, Minh Mạng đành đổi tên Đoạn Trường Tân Thanh ra Kim Vân Kiều truyện như bản VN B60 ghi bút tích và đã chỉ đạo Hàn Lâm Viện viết bình giảng truyện Kiều theo hướng làm ngơ việc phản ánh xã hội, phê phán vương triều… nếu ai quan tâm thì xem đó chỉ là chuyện bên Tàu (như Nguyễn Du đã cố tránh né vì “họa văn tư”̣). Tập trung hướng vào than tiếc và an ủi sự gian nan giữa tài và mệnh như hình thức câu truyện. Cuốn này ắt có lưu ở Hàn Lâm Viện nên năm 1902, Kiều Mậu Oánh mới chú giải, lấy lại tên Đoạn Trường Tân Thanh, có sự kiểm duyệt của Hàn lâm kiểm thảo Ngô Thúc Dụ Thư. [theo Lê Nghị]

@. Nhận xét của tôi:
– Bút sắt thời trước chí các vị vương giả dùng. Vua Minh Mạng chắc được các sứ thần Pháp tặng bút sắt Paker, nên suy ra các hàng chữ viểt bằng bút sẳt là thật sự của ông.
– Do Minh Mạng đổi tên nên các bản in sau này đều lấy tên Kim Vân Kiều Truyện, hoặc Kim Vân Kiều Tân Truyện. Cuốn thơ cổ nhất được in tìm được hiện nay mang tên Kim Vân Kiều là bản in 1866 thời Tự Đức. Năm 1875 khi Trương Vĩnh Ký chuyển ra quốc ngữ ở Saigon, lấy tên Kim Vân Kiều, không nhắc gì đến Đoạn Trường Tân Thanh.
– Đã là nhà “nghiên cứu khoa học” thì phải minh bạch và khách quan, vậy sao ông Đinh Văn Tuấn ớ trên lại không ghi rõ đầy đủ lời phê bằng bút sắt của vua Minh Mạng ra? Ông có ý gì mà giấu nó?

III.
Nếu thật có nhan đề Đoạn trường tân thanh do chính tác giả đặt thì theo ý chúng tôi, không một ai dám tự tiện đặt lại tên (dù đó là người bạn tri kỷ), đáng ngờ hơn nữa là sửa lại bằng một cái tên rất bình thường là “Kim Vân Kiều”. Ngược lại, từ “Kim Vân Kiều” gốc Hán rất dễ bị sửa thành một nhan đề hay và ý nghĩa sâu sắc là “Đoạn trường tân thanh”, nhất là khi tin và dựa vào mấy chữ “đoạn trường tân thanh” từ bài thơ của cụ Phạm Quý Thích.
Có thể một nhà Nho nổi tiếng nào đó lúc ấy đã tự ý đổi nhan đề là Đoạn trường tân thanh hoặc cũng có thể là Tiên Phong Mộng Liên Đường chủ nhân khi xác nhận cụ Nguyễn Du đặt nhan đề là Đoạn trường tân thanh nên người sau mới tin theo như Nguyễn Hữu Lập, Kiều Oánh Mậu... ] – Đinh Văn Tuấn

.

@. Trả lời:
— Trước ông Đinh Văn Tuấn cho rằng: nếu Đoạn Trường Tân Thanh là tên có thật thì ai dám đổi, dù là bạn tri kỷ. Sau ông lại cho rằng một nhà nho nổi tiếng nào đó đổi. Xin hỏi nhà nho nào nổi tiếng thi tài hơn Nguyễn Du được nhắc tới? Người ta chỉ thấy Phạm Quý Thích là thầy của bao nhiêu tiến sĩ, cử nhân cũng chỉ vịnh Đoạn Trường Tân Thanh và Mộng Liên Đường một ông quan nổi tiếng tài hoa cũng chỉ sáng tác: Tục Đoạn Trường Tân Thanh.
Vậy thì ai đổi?
— Vua Minh Mạng đổi được không?
Xin nhắc lại ở trên:
“Minh Mạng ngự lãm (tứ) (danh) Đoạn Trường Tân Thanh Kim Vân Kiều truyện”
(Minh Mạng đã đọc ban ân (tứ) tên( danh) Đoạn Trường Tân Thanh : Kim Vân Kiều truyện)
— Ông Đinh Văn Tuấn có biết tại sao Minh Mạng đổi tên không?
Vì cái tên đó nhạy cảm chính trị. Nội dung của Đoạn Trường Tân Thanh “có độc” cho vương triều, mặc dù đã mượn tên chính sử Tàu và địa danh Tàu, nhưng cái tên nghe không ổn: Đoạn Trường Tân Thanh là “tiếng kêu mới đứt ruột”.
Tục truyền vua Minh Mạng ngồi uống trà và đã phê bình câu “Dọc ngang nào biết trên đầu có ai” khi vua vừa mới lên ngôi năm 1820.
Có ông vua nào muốn nghe thiên hạ ngâm nga “Tiếng kêu xé ruột” giữa thời ” thịnh thái” không? Có ông vua nào thích nghe “Dọc ngang nào biết trên đầu có ai”không? Có ông vua nào thích nghe những lời phê phán xã hội, suy rộng ra là chỉ trích vương triều của mình không?
— Vì sao gọi là ban ân?: Đúng ra là phải tịch thu, cấm lưu hành; nhưng vì tác phẩm lỡ lưu hành và vì nó quá hay, nên cho tiếp tục lưu hành nhưng phải đổi tên
Đó là lý do mới đổi tên. Dù gì vua Minh Mạng cũng biết trọng người tài, nếu không cụ Nguyễn Du dễ gì thoát khỏi “họa văn tự”

IV.
Cụ Phạm không dùng chữ “độc” (đọc) mà dùng chữ “thính” (nghe) cũng đủ để cho thấy nhà thơ không phải “đọc” một truyện thơ có nhan đề là Đoạn trường tân thanh. Không có gì bảo đảm là Phạm Quý Thích đã viết chính xác nhan đề Đoạn trường tân thanh] – Đinh Văn Tuấn

.
@. Trả lời:
— “thính” (nghe) bạn tri kỷ, tri âm Nguyễn Du đọc truyện thơ của bạn có nhan đề là Đoạn trường tân thanh không được sao?
Chỉ có chú em Nguyễn Du đọc cho ông anh thân thiết Phạm Quý Thích nghe, chứ ai? Chú nó sống không dám công bố, chết rồi mình công bố vậy. Phạm Quý Thích, bạn tri kỷ tri âm của Nguyễn Du, lớn hơn Nguyễn Du 6 tuổi và mất sau 5 năm.
*
Còn nhiều điểm nữa cần bàn, nhưng thôi tới đây tôi nghĩ cũng tạm đủ để độc giả hiểu rõ lòng ông Đinh Văn Tuấn . Tôi chỉ muốn nhắc lại những lời sau đây tự ông viết trong bài viết ông:
Đào Duy Anh đã từng tin như vậy: “Sách mà ta thường gọi là Truyện Kiều hay là Truyện Thúy Kiều, Nguyễn Du đặt nguyên đề là Đoạn Trường tân thanh. Lập Trai Phạm Quý Thích là bạn thân của Nguyễn Du, khi đem khắc bản để in mới nhân nguyên truyện của người Trung Quốc tên là Kim Vân Kiều truyện mà đổi tên là Kim Vân Kiều truyện”, hay học giả Hoàng Xuân Hãn cũng đã từng nói: “Có nhẽ cụ Nguyễn Du đặt tên truyện là Đoạn Trường Tân Thanh thực đấy, chứ không phải là Kim Vân Kiều đâu. Kim Vân Kiều là tên của sách Tầu. Rồi sau những người khắc khác, trở lại cái tên cũ của người Tầu và để là Kim Vân Kiều Truyện”– Đinh Văn Tuấn
Xin nói rõ, tôi chỉ chú trọng đển tên thật của Nguyễn Du đặt cho truyện thơ mình, còn về nguồn gốc truyện thơ thì có những bài viết khác.
Tôi thật lấy làm lạ:
– Ông Đinh Văn Tuấn đã nói là kính trọng (không “bất kính”- chữ của ông) cụ Nguyễn Du, thế mà tại sao lại muốn gán “cái tên sách thì nghe đã không thể nào ngửi được”(lời cụ Ngô Đức Kế) cho truyện thơ của đại thi hào? [**]

.
Ôi, thương thay cho cụ Nguyễn Du!
.
Nguyên Lạc
………
Ghi chú:
[*] “Nhan đề gốc của “Truyện Kiều” của Đinh Văn Tuấn

http://tapchisonghuong.com.vn/tap-chi/c319/n18166/Nhan-de-goc-cua-Truyen-Kieu.html

[**] Xin nói rõ kẻo hiểu lầm: Tôi chỉ đồng ý với cụ Ngô Đức Kế về việc chê nhan đề “Kim Vân Kiều” đặt cho truyện Kiều /Đoạn Trường Tân Thanh của thi hào Nguyễn Du, còn những phê phán khác của cụ thì tôi không nói đến.

Sống khiêm tốn

Sống khiêm tốn mới là đỉnh cao của sự hiểu biết

(Lichngaytot.com) Sống khiêm tốn không hề dễ dàng vì chúng ta luôn thích được thể hiện cái tôi, bản ngã của mình để người đời biết rằng bản thân cũng là một người đáng được quan tâm, chú ý của xã hội.

Câu chuyện “Tiều phu và trí giả”

Câu chuyện kể rằng:
Tiều phu cùng học giả đi chung một chiếc thuyền ở giữa sông. Học giả tự nhận mình hiểu biết sâu rộng nên đề nghị chơi trò đoán chữ cho đỡ nhàm chán, đồng thời giao kèo, nếu mình thua sẽ mất cho tiều phu mười đồng. Ngược lại, tiều phu thua sẽ chỉ mất năm đồng thôi. Học giả coi như mình nhường tiều phu để thể hiện trí tuệ hơn người.
Người tiều phu thấy vậy, chỉ mỉm cười đồng ý. Ông vốn không muốn phân tài cao thấp hay kiếm tiền từ việc cá cược nhưng ông muốn cho vị học giả hiểu ra giá trị sâu sắc hơn của trí tuệ nên đã đồng ý.
Đầu tiên, tiều phu ra câu đố:
“Vật gì ở dưới sông nặng một ngàn cân, nhưng khi lên bờ chỉ còn có mười cân?”.
Học giả vắt óc suy nghĩ vẫn tìm không ra câu trả lời, đành đưa cho tiều phu mười đồng. Sau đó, ông hỏi tiều phu câu trả lời là gì. “Tôi cũng không biết!”, tiều phu đưa lại cho học giả năm đồng và nói thêm: “Thật ngại quá, tôi kiếm được năm đồng rồi”.
 
Học giả vô cùng sửng sốt, không nói được lời nào, còn vị tiều phu chỉ mỉm cười từ bi”. 

Trí tuệ không có nghĩa là khoe ra cho người ta biết mới thể hiện được sự khôn ngoan, sống khiêm tốn mới thực sự là thể hiện tri thức hơn người.

Những điều tốt vẫn luôn có những điều tốt hơn thay thế, cuộc sống biến đổi không ngừng đòi hỏi chúng ta luôn phải học hỏi. Nhưng cũng có những người, cho rằng mình đã “trên thông thiên văn, dưới tường địa lý” mà không chịu tiếp nhận, họ cứ muốn ôm giữ mãi những thứ cũ rích mà họ có được rồi tự ảo tưởng rằng mình trí tuệ hơn người.
Kinh nghiêm của người xưa khi qua sông thường lấy một hòn đá ném nó xuống nước để phỏng đoán độ sâu của con sông. Bọt nước bắn lên càng cao thì chứng tỏ nước sông càng cạn, càng nông. Trái lại, nơi nào không có bọt nước bắn lên, không nghe thấy âm thanh lớn thì chứng tỏ chỗ ấy nước càng sâu, thậm chí sâu không thể đo được… Nước càng sâu, chảy càng không có tiếng động. Làm người cũng nên như vậy!
Mình biết hơn người ta vấn đề này nhưng vấn đề khác thì không có kiến thức gì. Vậy nên con người cần có một tâm thái rộng mở để đón nhận những cái mới và khiêm tốn học hỏi. Cổ nhân có câu: “Nước sâu chảy chậm, người tôn quý ăn nói từ tốn”. Mỗi người thông thường chỉ mất 2 năm để học nói nhưng phải mất hàng chục năm, thậm chí cả đời để học cách im lặng. Cho nên, nói là một loại năng lực, nói đúng chỗ đúng lúc lại là một loại trí tuệ.

Sống khiêm tốn là gì

Là biết sống một cách nhún nhường, luôn luôn hướng thiện, tự khép mình vào những khuôn thước của cuộc đời, bao giờ cũng mong muốn học hỏi, hoài bão trọng đại của cá nhân là tiến mãi không ngừng, chủ đích là không khoe khoang, không tự đề cao cá nhân mình với người khác.
Người vốn có tính khiêm tốn thường hay tự cho rằng kiến thức của mình vẫn còn nhỏ bé, còn phải tiến thêm nữa và cần phải trau dồi, học hỏi nhiều hơn nữa. Người có sẵn tính khiêm tốn không bao giờ chịu chấp nhận sự thành công của cá nhân mình trong hoàn cảnh hiện tại, lúc nào cũng cho sự thành công của mình là tầm thường không đáng kể, luôn luôn tìm đủ mọi phương diện để học hỏi thêm lên.

Làm cách nào để sống khiêm tốn
 

1. Thừa nhận giới hạn của bản thân
Bạn phải chấp nhận là mình không giỏi tất cả hay bất kì việc gì. Cho dù bạn tài năng đến đâu thì sẽ luôn có người giỏi hơn bạn ở một khía cạnh nào đó. Nhìn vào những người giỏi hơn và xem xét tiềm năng phát triển bản thân. Không có ai là giỏi nhất, bất kể xét ở mặt nào.
 
Mình không phải là hoàn hảo, mình vẫn còn nhiều thiếu sót, sự yếu kém về cả thể chất, tinh thần, nhận thức…. Hãy thừa nhận sự thật đó và hãy khiêm tốn đón nhận sự trợ giúp của tha nhân với lòng “Thành Kính” và lời “Cảm ơn” chân thành nhất!

Tham khảo: Chỉ cần làm người tốt là đủ, mong cầu chi việc ai đó trả ơn

Lam the nao de khiem ton
2. Ý tứ khi nói chuyện

Người khiêm tốn không nhất thiết phải quá ngại ngùng hay không có tí lòng tự trọng nào. Tuy nhiên, người khiêm tốn nên lưu tâm đến những người đang nói chuyện với họ và không nói lấn lướt hay cắt ngang lời bất kì ai.

Muốn làm người khiêm tốn bạn nên thừa nhận rằng mọi người, kể cả bạn, có mục tiêu và ước mơ riêng và họ cũng muốn nói về thành tựu và quan điểm của mình đối với các sự việc.
 

3. Không giành hết công lao về mình

Chúng ta là con người và những gì chúng ta có hiện nay chịu sự ảnh hưởng và dẫn dắt rất lớn từ người khác. Vô số người đã hỗ trợ và giúp đỡ để chúng ta được như hôm nay và để chúng ta đạt được giấc mơ. Tự hào về thành tựu của bản thân là hoàn toàn bình thường, nhưng nên nhớ không ai có thể hoàn toàn tự mình làm được việc gì, và rằng đã là con người thì chúng ta phải hỗ trợ nhau đạt được mục tiêu.
 

Chia sẻ tình yêu. Thừa nhận những người đã giúp đỡ mình trên con đường thành công. 
4. Nhận ra khuyết điểm của bản thân. 
 
Chúng ta thường phán xét người khác vì điều đó dễ hơn nhiều so với nhận xét chính mình. Tiếc là việc này hoàn toàn không tốt và còn có hại trong nhiều trường hợp. Phán xét người khác gây ra bất hòa trong mối quan hệ, ngăn cản sự phát triển của các mối quan hệ mới. Tệ hơn nữa là chúng ta không thể tiến bộ nếu có thói quen này. Mọi người đều có sai sót.
 
Chúng ta thường xuyên phán xét người khác mà không nhận ra. Bạn có thể tập thói quen này: cố gắng phát hiện những lúc mình có suy nghĩ phán xét người khác, khi đó thay vì phán xét họ, bạn hãy phán xét chính mình. Xem xét cách để cải thiện bản thân, thay vì suy nghĩ đến cách người khác nên hành động. Sau cùng, bạn không thể kiểm soát hành vi và lựa chọn của người khác, nhưng của bạn thì được.
 
Làm việc với khuyết điểm của mình. Nhớ rằng sự phát triển và tiến bộ là một quá trình kéo dài suốt đời và không bao giờ ngừng, cho dù bạn đã rất giỏi việc gì đó.
  
5. Thừa nhận những sai sót

Hãy lắng nghe những dấu hiệu, sự góp ý, lời khuyên, phản ứng… từ những người khác, từ môi trường, từ những biểu hiện,… Từ đó, bạn sẽ tìm ra khuyết điểm của mình, nhận thấy rằng mình không hoàn hảo, để cố gắng hơn nữa. 
 6. Tránh khoác lác
Có lòng tự trọng lành mạnh hoặc cảm thấy tự hào về thành tựu của mình là chuyện bình thường, nhưng không ai thích người thường xuyên kéo sự chú ý về họ và thành công của họ. Nếu bạn cảm thấy mình đã làm được một việc thật tuyệt vời, nhiều khả năng người khác đã nhận ra điều đó và họ sẽ tôn trọng bạn nhiều hơn vì sự khiêm tốn
.
 7. Biết ơn những gì bạn có
 Biết ơn những gì ta đang có, luôn tự nhủ rằng “Những cái căn bản nhất ta có đều không do ta mà có”: Ta có bộ óc tốt, có khuôn mặt xinh, thân hình đẹp, giọng hát hay… không phải do ta mà có mà ta được “may mắn” ban cho, nên thay vì kiêu ngạo thì thãy biết ơn với lòng thành kính.
 8. Không sợ phạm lỗi
Một phần của sự khiêm tốn đó là hiểu rằng bạn sẽ phạm lỗi. Hiểu được điều này và hiểu rằng mọi người đều phạm lỗi, bạn sẽ gạt được gánh nặng khỏi đôi vai mình. Tuy nhiên, điều này không có nghĩa bạn nên làm việc cẩu thả – cố gắng tránh những sai sót quá đơn giản nhưng không sợ thử các phương pháp hay cách thức mới để đạt được mục tiêu.
 
Mỗi người chỉ có thể trải nghiệm một phần nhỏ của cuộc sống vào một thời gian nào đó. Luôn luôn có những người lớn tuổi hơn và khôn ngoan hơn bạn. Ý kiến của người lớn tuổi hơn đáng để bạn tham khảo, nhưng bạn phải quyết định dựa trên sự hiểu biết của mình đối với họ.

MiMo

THU CHÍ CỦA NGUYỄN DU

Thư viện của bài

This gallery contains 1 photo.

Nguyên Lạc  
BÀI THƠ THU CHÍ CỦA NGUYỄN DU
 DẪN NHẬP

 Sáng sớm hôm nay trời hanh lạnh Ngẩng nhìn trời, một mảnh trăng treo trong khoảng trời xanh thật nhạt. Buồn ! Trở vào nhà, đến phòng mở You Tube nghe bài “Mùa thu chết” lời của Guillaume Apollinaire, với lời dịch tuyệt vời của Bùi Giáng, phổ nhạc bởi người nhạc sĩ tài hoa Phạm Duy và lời hát ngọt ngào của Lệ Thu.

Ta ngắt đi một cùm hoa Thạch thảo [*]

Em nhớ cho mùa thu đã chết rồi

Đôi chúng ta sẽ chẳng còn nhìn nhau nữa

Trên cõi đời này

Từ nay mãi mãi không thấy nhau ! …

[Mùa Thu Chết ( Lệ Thu – Phạm Duy -thơ dịch Bùi Giáng )] +

Mùa thu là một cụm từ ước lệ. Mùa thu là mùa thương nhớ, hồi tưởng của người ly hương vọng về cố quốc. Người xưa thường dùng mùa thu để tự vấn, tự soi rọi lại cuộc đời mình: Ta đã làm được gì và sẽ về đâu?

Lòng xao xuyến, tìm đọc lại thơ của người xưa, những bài về thu, để hồi tưởng quê hương thân yêu với nỗi niềm của người tha phương.

BÀI THƠ THU CHÍ CỦA NGUYỄN DU Tiếp tục đọc

người đàn bà nhặt chữ nuôi thơ

Thư viện của bài

This gallery contains 1 photo.

Châu Thạch
ĐỌC “NGƯỜI ĐÀN BÀ NHẶT CHỮ NUÔI THƠ”-
TÁC GIẢ ĐINH LAN
(Một bài thơ xứng đáng đoạt giải)
“Người đàn bà nhặt chữ nuôi thơ” là ai? Rõ ràng là một nữ thi nhân.
Tác giả đem hình ảnh người đàn bà làm ruộng để gởi hình ảnh người làm thơ vào đó. Người làm ruộng thì chất phát, chân lấm tay bùn. Người làm thơ thì nho nhã, thanh tao. Hai mẫu người đối nghịch nhau. Vậy mà nó hóa một, không phải chỉ trong một bức tranh, mà cả trong hoạt cảnh một đời người:

“Có người đàn bà nhặt chữ nuôi thơ.
Nhặt đến mòn hơi, góc đời riêng một niềm mơ cháy bỏng.
Tháng bảy mưa giông đồng trần gian ướt sũng.
Vẫn oằn mình lận đận cấy rủi may.
Mỏng manh sợi rơm nhà ai rớt rơi chìm nổi.
Níu lấy mỉm cười ôm hy vọng lắt lay.”

Nhặt chữ mà say, say đến nỗi cánh cửa đời “rệu rã lung lay” mà vẫn cho là “có sao đâu? Nào có sao đâu?”. Vậy là người nầy yêu thơ đến độ quên hết thân mình:

“Có người đàn bà nhặt chữ… say say say.
Cần mẩn đêm ngày như cái kiến nhỏ côi chầm chậm lê chân trên những ngã đường xa ngái.
Giật mình nhìn lại.
Cánh cửa đời rệu rã lung lay.
Có sao đâu? Nào có sao đâu?” Tiếp tục đọc

sông Amazon dài nhất thế giới

Thư viện của bài

This gallery contains 1 photo.

Kỳ lạ con sông dài nhất thế giới nhưng không có một cây cầu
  

Khởi nguồn từ đỉnh Nevado Mismi cao 5.597 mét có nguồn gốc núi lửa trong dãy Andes, thuộc Arequipa của Peru, con sông Amazon có chiều dài 6.992 km với lưu vực trải rộng hơn 7 triệu km². Thế nhưng, điều kỳ lạ là con sông này không hề có một cây cầu nào bắc qua…

Được xem là con sông dài nhất thế giới, có lưu vực rộng nhất và lưu lượng nước nhiều nhất thế giới, sông Amazon ở Nam Mỹ khiến bất kì ai lần đầu nghe đến cũng phải kinh ngạc khi không có tới nổi 1 cây cầu. Chính vì vậy, dù có tới 25 triệu người sinh sống hai bên bờ sông nhưng nếu muốn băng qua bờ bên kia, họ phải chèo thuyền hoặc đi phà.

Hoàng hôn trên sông Amazon ở Leticia, Colombia. Ảnh: Wikipedia.

Con sông “trẻ”

Sông Amazon được Francisco de Orellana phát hiện năm 1542, ban đầu nó được đặt tên là Riomar. Theo kết quả nghiên cứu những mẫu trầm tích lấy từ hai lỗ khoan ở cửa sông Amazon của những nhà khoa học tại Đại học Liverpool (Anh), Đại học Amsterdam (Hà Lan) và Công ty dầu mỏ Petrobras của Brazil, nó được xác định đã 11 triệu năm tuổi và có hình dạng như hiện nay từ 2,4 triệu năm trước.

Trước nghiên cứu này, độ tuổi chính xác của sông Amazon vẫn là một bí ẩn. Các nhà nghiên cứu vốn không thể xâm nhập vào Amazon Fan – một cột trầm tích dày tới 10 km – ở con sông này. Công ty Petrobras đã quyết định khoan hai lỗ ở cửa sông Amazon – một cái sâu tới 4,5 km dưới mực nước biển – để lấy trầm tích phục vụ cho nghiên cứu. Tiếp tục đọc

KHÔNG KHÓC Ở ĐÂY…

Thư viện của bài

This gallery contains 1 photo.

Châu Thạch Biên Soạn
ĐỌC “KHÔNG KHÓC Ở ĐÂY”
THƠ TRƯƠNG ĐÌNH PHƯỢNG
KHÔNG KHÓC Ở ĐÂY…
1.
suỵt .im lặng.
không khóc ở đây
2.
ngủ quên rồi những miền não bộ
hãy để yên tôi khâm liệm hồn thơ.
sáng hôm nay
tôi đã thấy những màu hoa đột tử
trên ngọn đồi có ngôi nhà hoang phế
đan dày rêu mưa
3.
suỵt. im lặng.
không khóc ở đây
đã đến lúc một cộng một chẳng bằng hai
mà bằng ba hay bốn hoặc vô hạn
kiếp người.
người lao công già vừa đem đi những quan tài chứa đầy linh hồn rác thải
cùng xác một con chuột bị cán nát đêm qua
phố trở lạnh
những thằng bé đựng giấc mơ ấm vào tà áo mỏng tanh
cơn gió bấc thốc ngang khe sườn
gầy rược
cướp đoạt hình hài hi vọng.
suỵt
không khóc
ở đây.
4.
hãy để yên tôi xây những nấm mồ
đời chúng ta sầu hơn những phố hoang.
Trương Đình Phượng
LỜI BÌNH: Châu Thạch
Có phải đây là một bài thơ gọi là thơ hậu hiện đại hay không tôi không biết. Tuy thế nếu nó là một bài thơ thuộc loại hậu hiện đại thì tôi hoan hô nó bằng hai tay. Tất nhiên tôi không hiểu hết bài thơ nhưng tôi đã bật khóc khi đọc nó. Chỉ vào khổ thơ 1. “Suỵt. Yên lặng. Không khóc ở đây” tôi đã hình dung được những con người nhòe nước mắt và khóc nghẹn ngào trong cổ họng.
Cấm khóc ở đây là một mênh lệnh khắc nghiệt và vô nhân đạo nhất ở đời nầy.
Cười thì còn cấm được vì tiếng cười biểu lộ sự hân hoan, dầu có bị kềm chế cũng không làm cho ai đau khổ. Nhưng tiếng khóc thì khác.
Tiếng khóc biểu lộ sự đau khổ mà cấm thì nó sẽ xé lòng. Nhà tan cửa nát, cha chết, mẹ chết, vợ chết, con chết, nếu bị cấm khóc hay đuổi đi chổ khác mới khóc là một sự cưởng bức dồn nén niềm đau và buộc người ta nuốt lệ vào lòng. Ai cúng biết rằng như thế nỗi đau khổ khi bị cưởng chế sẽ tăng lên vạn lần. Tất nhiên người ra lệnh có cái lý của họ nhưng chắc chắn đây là “lý kẻ mạnh bao giờ cũng thắng”. Tiếp tục đọc

KIM VÂN KIỀU 

Thư viện của bài

This gallery contains 1 photo.

Nguyên Lạc Biên khảo
TRẬN CHIẾN CHƯA NGƯNG – ĐOẠN TRƯỜNG TÂN THANH VÀ KIM VÂN KIỀU TRUYỆN 

                                         Phần dẫn nhập
Trong phần Lời Kết của bài Về Nguồn Gốc Của Thơ Lục Bát [1] – tôi có viết: “Giống như một số người cố tình cho Đoạn Trường Tân Thanh là truyện thơ diễn dịch từ Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm Tài Nhân bên China mà ra, sao không nghĩ ngược lại?”. Rẩt nhiều người, kể cả các trường đại học, trung học Việt Nam đã cho rằng thi hào Nguyễn Du dựa theo cốt truyện một tiểu thuyết chương hồi, bằng văn xuôi của Thanh Tâm Tài Nhân bên China để viểt ra Đoạn Trường Tân Thanh. Thí dụ:

[ … Nguyễn Du viết dựa theo cốt truyện một tiểu thuyết chương hồi bằng văn xuôi của Trung Quốc có tên là Kim Vân Kiều truyện (truyện về Kim Trọng Thúy Vân Thúy Kiều) của một tác giả hiệu là Thanh Tâm Tài Nhân. Trong thời đại của Nguyễn Du các nhà thơ sáng tác thường dựa theo một tác phẩm của Trung Quốc như thế. Nói chung Nguyễn Du dựa khá sát vào tác phẩm của Thanh Tâm Tài Nhân khi viết lại Truyện Kiều: Cụ thể là những nhân vật trong Truyện Kiều của ông đều là những nhân vật lấy từ Kim Vân Kiều truyện; những tình tiết biến cố cốt truyện trong Truyện Kiều hầu hết đều có trong KIm Vân Kiều truyện…] – [Trường THCS Nguyễn Viết Xuân- Thị xã An Khê- Tỉnh Gia Lai]

Xin ghi thêm vài lời của ông GS “bạn vàng phương Bắc” Đổng Văn Thành:

“So sánh truyện Kim Vân Kiều Trung Quốc và Việt Nam” trên “Minh Thanh tiểu thuyết luận tùng” GS. Đổng Văn Thành – China cho rằng: “Nguyễn Du chẳng những chỉ mượn đề tài của tiểu thuyết Trung Quốc mà dường như bê nguyên xi […] Nguyễn Du không có bất kỳ một sáng tạo mới nào, chỉ chuyển thuật khá trung thực nội dung tiểu thuyết của Thanh Tâm Tài Nhân…” [ Theo Phạm Tú Châu “So sánh Truyện Kim Vân Kiều Trung Quốc và Việt Nam”]

Thêm nữa, mời các bạn đọc những lời này:

” Thế nhưng chẳng những bài viểt trên mạng, sách giáo khoa của các vị TS, PTS Giáo sư Việt Nam ta đọc  đều thấy viết đại để: Nguyễn Du đã vay mượn cốt truyện Kim Vân Kiều của Thanh Tâm Tài Nhân bên China, diễn dịch ra quốc âm dưới dạng thơ lục bát, sáng tạo ra truyện Kiều. Nguyễn Du là thiên tài của nước Việt đã biến một tiểu thuyết “tầm thường” trở thành một tác phẩm thi bất hủ. Tiếp tục đọc

Kẻ lai vãng cửa chùa

Thư viện của bài

This gallery contains 1 photo.

Phạm Nga

“Tánh anh nóng nảy, nổi cộc lên thì coi hung lắm, phải đi chùa
cho nó trầm tính lại”. Đã một thời, nhiều lần vợ tôi đã nhận xét
và đề nghị như vậy.
Ngày xưa, bố tôi theo Tây học, từ Bắc vào Nam làm báo, ra cả
báo Pháp và dịch sách, tánh khí nghệ sĩ, phóng dật, khiến cho
căn nhà nhỏ của gia đình ở khu Đa Kao thời đó thỉnh thoảng lại
chộn rộn cái không khí văn chương chữ nghĩa. Có lần, lấy cớ
khui một chai rượu chát rất xưa, bố tôi mời vài người bạn thân
đến nhà chơi. Cần nói thêm là trong số văn hữu của bố tôi thời
đó, tôi khoái một bác cùng dân Bắc kỳ, để chút râu kiểu Hitler
dưới mũi, thường phong nhã với bộ cánh veston, foulard với ống
píp, đó là nhà thơ/nhà văn Tchya Đái Đức Tuấn. Núp phía sau
một bức bình phong, tôi lén theo dõi người lớn nói đủ thứ
chuyện trên đời. Chợt tôi nghe bác Tchya cười, vỗ vai bố tôi, gật
gù bảo: “…Vậy là toa cũng rất libéral về vấn đề tôn giáo!”.
Phải nói là, trước khi tôi đủ lớn khôn để tìm hiểu cho thật rõ các
tính từ “libéral”, “libertin”… có nghĩa là gì thì bố tôi đã có quan
niệm rất phóng khoáng về vấn đề tín ngưỡng, nghĩa là vợ con
trong nhà ai muốn theo đạo nào cũng được. Bố tôi không hề
bày tỏ một ý kiến, nhận xét nào về chuyện mẹ tôi sùng đạo
Phật, qui y tại chùa, có pháp danh cũng như bày khuôn thờ
Phật Bà Quan Âm phía trên bàn thờ ông bà, hay chuyện em gái
tôi được mấy xơ trường Thiên Phước ở Tân Định dẫn dắt vô đạo
Thiên Chúa khi em học tiểu học rồi trung học chương trình Pháp Tiếp tục đọc

NGẪM CHIỀU

Thư viện của bài

This gallery contains 2 photos.

Đặng Xuân Xuyến bạt

NGẪM CHIỀU – BÀI THƠ
ĐỘC ĐÁO CỦA BÙI CỬU TRƯỜNG
NGẪM CHIỀU

1- tơ nhện thả mành
nà nuột
mưa rớt giọt
lộp độp hè cánh đỏ phượng rơi.
.
lòng rối bời
dạ rối bời
lắng lo nỗi bòng bong rối
liêu xiêu bước vội
bàn chân ai lối về.
.
canh hẹ cuộc đời hắt bến mê
bông lau tóc xoã vạt chiều héo úa
bàn tay thõng rớt niềm tin vụn vỡ
hạt đất buồn xa xót ngọn cỏ côi.
.
2 – Bỏ lại muộn sầu đi nhặt niềm vui
hít hà hương lá
vói rẻ quạt ráng hồng quạt gió
xoe búp trời thiên thanh
.
Bỏ lại bộn bề về tĩnh tại mình
tiếng mõ cá quyện chiều lam khói
chuông đồng vọng thinh không vòi vọi
Thơ.
.
3 – đời – mơ
trong vắt.

Hà Nội, 02.03.2018
BÙI CỬU TRƯỜNG

LỜI BÌNH:

Ngẫm Chiều là bài thơ của nhà thơ, bác sĩ Bùi Cửu Trường, được sáng tác vào ngày 02 tháng 03 năm 2018 nhưng mãi tận chiều qua, 16 tháng 06 năm 2018 tôi mới có cơ duyên được đọc Ngẫm Chiều trên trang facebook của bà. Tiếp tục đọc

H Ồ N Đ Ấ T C Ũ


Hoàng Xuân Sơn bạt

aodaiquehuong

Tôi là một kẻ làm thơ vần điệu. Mấy năm gần đây cũng không khỏi nao lòng, thao thức cùng vận hội đổi mới của nền thơ Việt hiện đại.

Đổi mới? À, cũng nên lắm chứ! Cần mang lại một luồng sinh khí mới cho sáng tác. Chẳng lẽ cứ trì trệ, bế tắc mãi hoài trong vần điệu du dương. Chẳng lẽ cứ gậm nhấm rủrỉrùrì thức ăn cũ như một loài nhai lại? Đã có nhiều tranh cãi chưa đi đến đâu giữa sự tương phản hai luồng thơ cũ mới.

Vậy mà tôi đã lăm le, lai rai hưởng ứng bận trang phục mùa màng cho thơ. Muốn phá vỡ hình thức cũ mang lại tự do diễn tả nội dung tình ý mới ư? Ừ, thì thơ bí hiểm có. Tượng trưng có. Ẩn dụ có. Và ngay cả tân hình thức, cũng vung tay phóng bút ra gì . Vậy mà rốt cuộc chẳng ra làm sao. Rồi, tình cũ không rủ cũng về. Cứ mỗi khi chiều xuống, cảm cái buồn bã cô đơn của đất trời, của mình, tôi mần thơ điệu đàng phùng xòe trở lại. Nghiệm cho cùng cũ mới chi rồi cũng rứa. Đông tây đời biết lặn về mô? Miễn là còn nuôi hi vọng sáng tác. Phải vậy không bạn ?

Trở về vần điệu du dương
là đi hết một con đường thăng ca
tự mình lĩnh xướng
ê
a
một khúc giao hưởng
cũng là cách tân

. . . (HXS)

Tôi cũng hết sức đồng ý với nhiều bạn văn: một bài thơ đọc được hoặc một bài thơ hay có thể hiện diện trong bất cứ dạng thức sáng tác nào. Tình ý diễn đạt là tình ý thật, không màu mè giả dối. Không cường điệu. Và chung nhất: thơ phải có hồn.

Một người làm thơ lúc nào cũng giữ được hồn thơ mình. Cho dù lâu năm mới cầm bút trở lại. Tôi muốn nói tới người làm thơ mang bút hiệu Khê Kinh Kha ( KKK viết tăt, bạn đừng có nghĩ tới cái nghĩa ghê gớm khác của từ này )

KKK làm thơ sớm. Thơ anh xuất hiện vào những năm đầu của thập niên 60 ở bách Khoa, Văn Học… dưới bút hiệu Lê Thị Minh Đức hoặc ký tên thật Nguyễn Xuân Hùng. Nhưng thật tình mà nói, những sáng tác mang tên Khê Kinh Kha đăng ở tờ Văn mới gây được sự chú ý đáng kể từ khi anh xa nhà du học vào năm 1967. Đấy là những lời vọng cố hương tha thiết ăm ắp nỗi lòng của kẻ xa xứ.

Đã lâu rồi hồn mình quên xao động
như cánh diều không còn gió thoảng bay
như lá vàng im lìm trong mưa lạnh
chết âm thầm trên thảm cỏ xác xơ
như mùa đông về đây không hẹn trước
tuyết vô tình phủ kín lòng quạnh hiu
. . . . .


đã lâu rồi anh như mây lạc hướng
đi giữa đêm sâu không ánh trăng vàng
không thấy được hiện tại trên đôi tay
cũng không biết về đâu một ngày mai . . . 

( Đã Lâu Rồi – KKK )

KKK là kẻ mang nặng hồn quê tình nhà trong huyết thống. Chuỗi ngày tha hương hầu hết là những buổi cơm anh cố ăn để sống – mà trong lòng nước mắt cứ như canh.

Không hiểu tại sao bút hiệu của anh lại mang tên một tráng sĩ thời chiến quốc ôm mộng vượt sông dài diệt hôn quân bạo chúa. Có lẽ nào gã thư sinh tay yếu chân mềm ấy? Có lẽ ở muôn trùng cách biệt, anh chỉ muốn làm một tiểu Kinh Kha băng qua dòng suối nhỏ tìm lại dấu quê đã mờ nhạt dần trong tâm thức phường lưu xứ ?

Một trong những bài thơ của KKK mang dấu ấn sâu đậm về nơi chốn sinh thành là Anh Sẽ Về. Nguyễn Hữu Nghĩa đã phổ nhạc khá thành công bài thơ này. Ý nhạc bắt kịp lời thơ tạo được nét hài hòa cảm xúc. Đám du ca bọn tôi vẫn thường nghêu ngao chia bè hợp xướng:

Anh sẽ về em ơi anh sẽ về
về nơi ngôi nhà vách đất với hàng hoa thơm
nơi con đê già nơi cây cầu tre
nơi con đường đất dấu chân trâu bò
 . . . .

Một giọng nam lĩnh xướng điệp khúc :

đưa em vào gió
khẽ trao cành hoa
ra sau vườn nhỏ
trồng lại cho em dây hoàng lan
hương đậm thêm

và tất cả cùng vào lại :

Anh sẽ về em ơi anh sẽ về
dù đêm không cùng hay mất hết người thân yêu
cho em theo chồng – cho chim về xa
sẽ gắng quay về chết nơi ra đời

Hát lên đi bạn ơi ! Hát lên bất cứ lúc nào, bất cứ ở đâu bạn cũng sẽ được sống lại khung trời hoa mộng của quê nhà rất đỗi thân thương. Hát lên cho quên sầu nhớ. Ở một thời nào. Tưởng chừng xa lắm. Mà thật gần gủi.

https://youtu.be/hpQpKclTLdE


Bẵng đi một dạo thật lâu ( dễ chừng trên dưới 20 năm ), KKK không còn cầm bút. Chẳng là vết thương nhức nhối tháng tư bảy lăm đã làm lặng người một kẻ xa quê đến thế ư ? Hay tại vì một hoàn cảnh nào không tiện bộc bạch ? Tôi không tin như thế. Tình cũ ôi tình cũ, ai rủ về! Chất thơ đã chảy đậm đà nên huyết quản, làm thế nào có thể ngưng dòng mực? Làm thế nào chối bỏ được linh quyền của một thi sĩ? Và điều đã được chứng nghiệm: từ hai ngàn lẻ năm, thơ KKK hồi sức nở rộ trên khắp mặt báo. Tôi vui mừng thấy anh cầm bút trở lại. Và chào mừng trang nhà Giao Cảm ra đời ( http://giaocam.saigonline.com )

Đầu năm 2005, tuyển tập thơ nhạc Tỏ Tình được Thư Ấn Quán ấn hành đã khai sinh đứa con đầu lòng của “lão Bạng” Khê Kinh Kha ( Đến đây phải mở dấu ngoặc để ca ngợi công trình của bạn Trần Hoài Thư và anh em Thư Quán Bản Thảo. Với phương tiện hàn sĩ và việc vàng lút đầu, các bạn đã không ngừng cố gắng làm sống lại “ cơ ngơi “ của những ngòi bút cũ, một thời vang bóng. Nào là Từ Thế Mộng, Phạm Ngọc Lư, Nguyễn Bắc Sơn, Vũ Hữu Định, Linh Phương, Hoài Khanh v.v ) .

KKK là người tài hoa. Anh vừa làm thơ, vừa soạn nhạc. Điều này cũng không đáng ngạc nhiên.

Những năm xa xưa ở quê nhà KKK đã từng là một tay trống có hạng của một ban nhạc trẻ. Tập Tỏ Tình gồm hai phần thơ/nhạc cân phân. Dù tuyển tập thơ nhạc có những lời tỏ tình dễ thương cho người nữ như : mây lãng đãng dưới dòng sông tư lự – em qua cầu tóc rối cả thơ tôi . Hoặc như : phải chi hoa là em – xin nở một nụ hồng – giữa đời tôi băng giá … vì em là thiếu nữ – ngón tay dài sen nở – áo bay trời thiết tha v. v . Sở trường của KKK, theo tôi là những lời tỏ tình bất tận với quê nhà . Lời to tình của gã giang hồ xa quê, đã bao năm thất lạc dấu đời mình .

Xin làm mây bay về qua chốn cũ – thăm những con đường bóng mát tuổi mộng mơ – giữa núi cao nhỏ từng giọt mưa tình – cho đất khô hân hoan tìm lại bờ lau ngọn cỏ – rừng cây xưa thêm lá rộng đam mê, và tình ai miên man như sóng vỗ . . .

Nếu một mai mưa về trên thác cũ
dưới hiên xưa xin nằm chết hân hoan
hơi thở cuối xin dành tạ ơn mẹ
trái tim nồng nở nụ hồng trao em
và thân xác làm phân bón núi sông

KKK sử dụng nhiều thể thơ trong tập tỏ tình : bốn chữ, năm chữ, thất ngôn, lục bát v.v . Nhưng cũng vẫn theo ý riêng tôi, KKK thành công nhất nơi thể điệu thơ tự do, hoặc thơ xuôi. Chính nơi này, anh đã kể lể nỗi niềm được nhiều hơn. Diễn đạt chiều sâu tâm linh được tận tình hơn .

Nếu một mai khi hòa bình đến với mớ tuổi còn lại – lúc bấy giờ dù đang chui rúc trong hầm tối – dù đang lạc loài trong ngõ ngách – dù đang ốm đau trong rừng già – cũng nhớ trở lại ngôi nhà mẹ cha xây mộng ngày xưa cũ, trồng lại vườn nhãn – làm cỏ những nấm mồ người thân yêu – tìm lại những kẻ còn trôi giạt – nhóm lại bếp lửa mùa đông . . .

Và bạn hãy đọc thêm chút nữa, ký ức của một kẻ mù đường :

Hình như có thêm một chiếc răng cời
hồn nhiên như chim sẻ trước sân
như cánh bướm lênh đênh
như vì sao nhỏ bé
trong ngưỡng hồn hiu quạnh
của tháng ngày bom đạn và hầm hố

hình như
có những buổi sáng nhìn nhau ái ngại
như góa phụ, chiến tranh và tuổi trẻ
như những giọt sương đọng trên sân cỏ
thật bình thường như hơi thở em ơi . . .

Tháng năm cuối đời, thi sĩ Thanh Tâm Tuyền đã cảm nhận hết linh khí của đất trời. Đã nghe được tiếng Vang Vang Trời Vào Xuân. Tôi muốn được sống cái cảm thức ấy. Tôi muốn đọc và mời bạn cùng đọc Khê Kinh Kha. Để nghe lại một chút rưng rưng. Hồn đất cũ.

HOÀNG XUÂN SƠN
Cuối hạ năm hai nghìn không sáu

 

VỀ VẤN ĐỀ NGUỒN GỐC THƠ LỤC BÁT

Thư viện của bài

This gallery contains 1 photo.

Nguyên Lạc

Trong Facebook của nhóm Diartlogue – Văn đàm có đăng bài viết “Lục Bát: Của Ta Hay Của Tàu”, của tác giả Đỗ Quý Dân, nhà văn có tầm ảnh hưởng rộng đến giới trẻ, cùng với lời mời tranh biện. Thấy tầm quan trọng của vấn đề nguồn gốc này, tôi xin ghi ra đây nguyên văn bài viết của ông Đỗ Quý Dân cùng lời phản biện của tôi.

Sau đây là nguyên văn bài viết của ông Đỗ:

LỤC BÁT: CỦA TA HAY CỦA TÀU?

Từ trước đến nay nhiều người cho rằng thể thơ lục bát là do người Việt chúng ta đặt ra. Tuy nhiên, thể lục bát đã được sử dụng trong kinh, truyện, và sử của Trung Quốc (Kinh Dịch, sách Trung Dung và Tống Sử). Vậy phải chăng chúng ta đã mượn lục bát từ người Tàu?

Phần diễn giảng hào lục tam của quẻ Khôn trong Kinh Dịch có hai câu như sau:

“Lục tam, hàm chương khả trinh

Hoặc tòng vương sự, vô thành, hữu chung.”

Đúng là lục bát. Từ số chữ đến cách gieo vần.

Trong sách truyện (Trung Dung) có hai câu:

“Phù thủy, nhất thước chi đa

Cập kỳ bất trắc, ngoan đà giao long.”

Rõ ràng là lục bát. Có khác chăng là lời thơ bằng Hán tự.

Còn sách Tống Sử có hai câu:

”Đế sĩ Sái Xác hữu công,

Sử chi tòng tự Triết tông miếu đình…”

Cũng lại lục bát. Trước khi nên thơ văn của Việt Nam được phát triển.

Khi nhắc đến vấn đề này, cụ Ngô Tất Tố mượn nhân vật “ Cụ bảng”, thầy dạy học của Đào Vân Hạc trong “Lều chõng”, để bàn như sau:

“ Cũng vì có mấy câu đó cho nên từ xưa đến nay đã có nhiều người cho rằng: lối văn trên sáu dưới tám của ta gốc ở kinh, truyện và sử mà ra. Nhưng theo ý ta, thì nói như vậy có lẽ cũng quá khiên cưỡng. Trời đã sinh ra mỗi nước có một thứ tiếng, thì tất nhiên mỗi nước cũng phải có một điệu hát. Nếu bảo điệu hát lục bát gốc ở kinh, truyện và sử, thì sao ở Tầu lại không có cái thể văn ấy? Tuy vậy, các cụ đời trước nói thế, bây giờ mình cũng hãy hay rằng thế, để rồi kê cứu dần dần, không nên vội vàng bài bác.” – trích “Lều Chõng” của Ngô Tất Tô Tiếp tục đọc

Tập Luyên Cơ Thể An Hưởng Tuổi Vàng

Thư viện của bài

 BS Nguyễn Ý Đức

Từ thế kỷ thứ 13, giáo sĩ kiêm khoa học gia, triết gia Anh Cát Lợi Roger Bacon, nhân dịp nghiên cứu về vấn đề tuổi thọ con người, đã có nhận xét rằng: “Không chịu vận động cơ thể là một trong nhiều nguyên nhân đưa đến sự không sống lâu”. Mà bên Việt Nam ta, Cụ Hải Thượng Lãn Ông Lê Hữu Trác cũng khuyên nhủ “Cần lao thân thể khang cường, Tinh thần vui vẻ, gân xương chuyển đều”.

Dù không được coi quan trọng như thực phẩm, không khí, nước uống, sự tập luyện cơ thể đã được chứng minh là có nhiều công dụng. Vận động đóng góp vào việc duy trì sức khỏe, cải thiện sự bền bỉ, di động của con người đồng thời cũng là một phương tiện phòng ngừa bệnh tật rất hữu hiệu. Sinh hoạt này cũng giống như việc tổ tiên ta khi xưa phải dành thì giờ mấy lần một tuần để đi mà tìm kiếm thực phẩm, nước uống. Họ thực sự đi, có khi chạy, đuổi theo để bắt con mồi. Họ vừa cử động cơ bắp vừa kiếm thức ăn. Chứ không ngồi xe tự động tới tiệm mua thực phẩm như chúng hiện nay.

Với ý thức đó, số người thực hiện sự tập luyện cơ thể mỗi ngày mỗi gia tăng nhất là quý cụ cao niên. Vì trong tiến trình lão hóa, có những thay đổi theo chiều đi xuống về chức năng cũng như cấu tạo của mọi bộ phận con người, những thay đổi mà sự vận động có thể khiến chậm lại hoặc khiến tốt hơn.

Thay đổi cơ thể với tuổi già

Với tuổi cao, nồng độ nước và calcium trong xương giảm, sụn của khớp cũng hao mòn khô. Do đó xương già dễ nứt gẫy, khớp xương già co duỗi giới hạn. Các bắp thịt cũng nhỏ dần tới 20% kể từ tuổi 65 trở đi, sợi thịt bớt đàn hồi và dễ tổn thương.

Thần kinh kém nhậy cảm, phản ứng chậm tới 10-15 % kể từ tuổi 60, do đó dễ gây ra nguy cơ té ngã. Tiếp tục đọc

TT Trump Và Đức Tin

trump-melania-swearing-in

Trước thời gian bầu cử TT năm 2016, TTTT cố gắng bôi xấu hình ảnh của UCV Cộng Hoà Trump bằng cách thổi phồng những chuyện riêng tư về đàn bà của ông. Chẳng hạn như chuyện ông khoe đã b.. l… phụ nữ (grab them by pussies  – xin lỗi quý bà )-  với bạn bè trên chuyến xe bus mà không ngờ bị ghi âm lại . Chuyện bù khú của mấy thằng đàn ông riêng tư với nhau trong phòng kín  (đa số toàn là chuyện nổ cho ra vẻ mình dân chơi thứ thiệt là chuyện rất thuờng tình của mấy cha ) trở thành thời sự quốc tế cho đám phá hoại bàn ra tán vào đến bây giờ.

To tiếng nhất phải kể đến bà vợ của Obama khi đăng đàn diễn thuyết khiến không ít phái nữ từ sáu tới sáu mươi sáu tuổi vội vã chạy về phía Hillary , tránh càng xa Trump càng tốt vì …sợ bị bốc hốt!!!

Cuối cùng những chuyện bêu riếu ông TT Mỹ ngày càng rõ ra là chuyện tào lao . Nhiều người trước đây cứ mong cho Hillary làm chủ WH bây giờ thì  tỉnh mộng và hú vía , mừng ông Trump đắc cử chứ không phải bà vợ ông Bill.

(Nhiều người cũng hy vọng những xấu xa tội lỗi giới chóp bu thời Obama sớm được điều tra, lôi ra ánh sáng để tống cả bọn vào nhà kho cho xứng tội từ sau vụ benghazi tới  cái chết của Epstein và trước đó là cuộc tự tử của Bourdain)

*********************************************

Vừa đặt đít xuống ghế ông Trump đã cố gắng thực thi cho bằng được những lời hứa hẹn đối với cử tri. Thành tích của ông bây giờ không cần đăng báo nữa mà nó lan truyền nhanh chóng trên từng cửa miệng người Mỹ và cả thế giới. Mối lo lắng sợ hãi ông sẽ phóng hỏa tiễn nguyên tử gây ra chiến tranh thế giới lần thứ ba vì nổi nóng, vấn đề kinh tế sụp đổ v. .v.. nay thành tào lao thiên đế. Nếu không bị cái đám phá hoại cản trở để ông Trump rảnh tay hành động và hoàn tất thì nước Mỹ bây giờ trở thành thiên đàng trên mặt đất  !!!

Chuyện kế tiếp khiến dân Mỹ (bất kể da màu gì – trắng đen vàng đỏ nâu  – miễn là real American)  không hài lòng là chuyện phải đứng thứ hai sau bất cứ quốc gia nào khác đặc biệt  Tàu . Bây giờ người Mỹ nhận ra rằng duy chỉ có ông Trump là TT duy nhất  “bóp cổ“ Tàu phải xấc bấc xang bang chấp nhận lép vế. Những thằng  con nít láu cá nịnh  bợ  ton hót như CHXHCNVN cũng bị ông điểm mặt chỉ tên, không biết sẽ chịu trừng phạt lúc nào.

Điều này có hai cái lợi : thứ nhất Tàu bắt buộc phải gánh những áp lực của Mỹ để tham gia công bằng hơn các luật lệ về thương mại, kinh tế, tài chánh mà mỗi quốc gia trên thế giới đều đang hành xử . Thứ hai : bởi sự giám sát của Hoa Kỳ, Tàu sẽ vĩnh viễn không còn cơ hội vươn lên cầm đầu thế giới bằng vũ lực. Ai cũng biết nếu Tàu chiếm được vị trí nầy thay thế Mỹ mọi người sẽ phải chịu đau khổ gấp mấy lần hơn  chế độ  Hitler . Hãy cứ hỏi dân Duy Ngô Nhĩ hay Tây Tạng họ sẽ nói cho biết tường tận.  

Không chỉ China, quốc tế nay cũng vào khuôn phép, làm ăn với Mỹ theo kiểu “tương giao tương kính“ chứ không dám lợi dụng Mỹ như các đời TT trước.  (Tôi là người VN nhưng  rất “nực“ chuyện của anh Tây De Gaule bài Mỹ sau WW2 bất kể bao nhiêu máu của thanh niên Mỹ đổ ra để GIẢI PHÓNG Pháp khỏi Phát Xít )

**********************************************

Nhiều cử tri  -DC hoặc lừng khừng –  đã từng nghi ngờ khả năng làm việc , khả năng chính trị của ông Trump nay nhìn thấy kết quả hiện hữu về kinh tế tài chánh chính trị cùng lúc với sự tha hóa thù vặt chỉ biết quyền lợi đảng, cá nhân của các UCV DC sẽ dồn phiếu để ông Trump chắn chắn thắng cử với tỷ lệ cao vào năm 2020 . Mới giữa nhiệm kỳ một ông Trump đã nhận hổ trợ từ nhiều cựu cử tri Dân Chủ thoái đảng. Chẳng hạn như thủ lãnh phong trào # WalkAway Brandon Straka, chẳng hạn như các đảng viên Dân Chủ trước vẫn còn sợ hãi, lo lắng về tính cách ăn nói văng mạng của ông Trump nay nhận ra đằng sau các tuyên bố  – xem ra chẳng theo một nguyên tắc thể thức gì hết  – là cả một chiến thuật, chiến lược khôn ngoan. (So sánh với anh tỷ phú Tom Stayer vừa ngu vừa khùng, khùng vì cứ kêu gọi impeach Trump mà không đưa ra lý do, ngu vì ra tranh cử TT mà mở miệng xin mỗi  người một đồng vào quỹ tranh cử. CÒN TIỀN TỶ CỦA CHA NỘI ĐÂU KHÔNG LẤY RA XÀI ?  , đảng viên DC cỡ tay này mà cũng ra tranh cử chức TT thì thật là hết nước nói).

**********************************************

Do sự dạy dỗ từ gia đình gốc người Đức chuyện ông Trump mộ đạo không có gì ngạc nhiên.  Ông thường dẫn đầu những cuộc cầu nguyện ở WH,  khôi phục lại lời chào Merry Christmas ngày lễ Giáng Sinh ( biến mất trong 8 năm thời Obama),  công khai cảm ơn Thiên Chúa về những ơn lành mà nước Mỹ và người Mỹ nhận được làm cho đám thiên tả (bọn phá hoại) rất khó chịu và xốn con mắt. Tuy nhiên với đại đa số người Mỹ ông là vị TT đầu tiên bày tỏ sự thần phục Thiên Chúa trong việc điều hành guồng máy quốc gia nhiều hơn hẳn các đời TT trước . Đa số dân Mỹ vốn hữu thần rất xem trọng điều này .

Tôi tin rằng không phải bỗng dưng ông Trump trở nên một TT nhiều đức tin như thế. Bản chất và con người của ông vốn luôn luôn chiến đấu và chiến thắng tạo thành một cơ ngơi như ngày nay bời không đặt mình, hoặc chịu thua hoặc nghe lời khuyên bảo tào lao của người khác. Hãy nhớ lời bà Melania cảnh giác “ Ông ấy sẽ trả đũa gấp mười lần những ai gieo oán thù với ông ấy “. Duy  ông chỉ chịu thua một người : đó là vị Đệ Nhất Phu Nhân của Hoa Kỳ, vợ ông !!

Tôi không biết tôn giáo  vợ chồng ông nhưng đoán rằng bà là người Công Giáo dựa vào quốc gia sinh ra bà và dựa vào cách tiếp đón rất trân trọng của bà với Giáo Hoàng Francis. Ông Trump mà ngợi khen, thần phục công khai Thiên Chúa trước mặt mọi người mọi nước phần lớn chính là nhờ vào bà vợ . Mặc dù bà Melania rất ít ồn ào thậm chí hầu như ở ẩn đằng sau cánh rèm tòa WH, nhưng ảnh hưởng của bà trên chồng là điều không thể chối cãi. Mới đây nhất bà xuất hiện trên truyền hình trước cuộc nói chuyện của chồng và bà đã hướng dẫn mọi người tham gia cuộc đọc kinh Lạy Cha trước khi giới thiệu chồng mình.  

Theo tôi vợ là túi khôn, là may mắn của chồng. Có nhiều bà chẳng cần phải lộ diện nhưng rõ ràng hành động cử chỉ từ chồng đều mang hơi hướng ảnh hưởng bởi vợ. Chẳng hạn như phu nhân của TT Thiệu, chẳng hạn như phu nhân của TT Trump. Riêng bà Michelle Obama thì tôi không có ý kiến vì bà ấy xuất hiện ồn ào và phát biểu nhiều câu kỳ quá!!  ( như bà tuyên bố hãnh diện là một người Mỹ chỉ sau khi chồng đắc cử TT . Vậy,  trước và sau khi chồng về hưu Mrs . M. Obama rất mắc cỡ nếu bị người khác coi mình là người Mỹ ?  )

Bà vợ ông Trump gây cảm hứng cho nhiều người. Bà công khai tuyên xưng đức tin trước mặt thiên hạ dù biết rằng đó sẽ là đầu đề cho bọn cánh tả ( phá hoại ) châm biếm.

Chồng bà cũng nhận ra sự mạnh mẽ về đức tin của vợ,   khâm phục và theo gót bà bất kể chuyện đám TTTT sẽ dè bĩu ra sao.

****************************************************** 

Trump khác người ở chỗ ông từng nuôi dạy con cái nên tránh xa những chuyện rượu chè trai gái hút xách bài bạc và … thành công !!!. Ông nêu tấm gương của bản thân, gia đình tới những thanh thiếu niên Mỹ giàu có trong một xã hội đầy dẫy tệ đoan . Ông chắc cũng là vị TT duy nhất trên thế giới không hút thuốc uống rượu.

Mặc dù rất chủ quan tin tưởng ông Trump sẽ thắng cữ năm 2020 nhưng tôi xin mọi người hãy cố gắng cầu nguyện cho ông và gia đình theo tín ngưỡng của mình . Riêng đối với giáo dân Công Giáo xin hãy nài van cùng Thiên Chúa và Mẹ Thiên Chúa chở che và ban phước lành cho gia đình ông. . Lý do là bọn phá hoại sẽ xử dụng tất cả mọi trò bẩn thỉu nhất để destroy ông và các thành viên trong gia đình . ( giả thuyết : Tập Cận Bình hay George Soros có thể đứng đằng sau đạo diễn mọi chuyện).

Tôi chưa bao giờ coi ông Trump là Tướng Nhà Trời được sai xuống để điều hành nước Mỹ, nhưng  TT như ông Trump không phải cứ bốn hay tám năm đều xuất hiện. Cả lịch sử nước Mỹ chỉ có vài người như George Washington hay Abraham Lincoln.

Nguyện xin Chúa Mẹ ban ơn và bảo vệ ông và gia đình cũng như bào vệ nước Mỹ trước sự tấn công của thù địch. 

nguoiviettudo

Đời Sống Người Già Ở Mỹ

Hoành Nguyễn

old people
Năm mới đến Mỹ (1996), tôi có viết bài “Những Nhận Định Khác Nhau Về Cuộc Sống” đăng trên báo Việt ngữ Sacramento; Nguyên do từ câu nói của một bạn học tại trường Sacramento City College: “Nước Mỹ là Thiên Đường của tuổi thơ; Là Chiến Trường của thanh niên, và là Địa Ngục của người già”.
Lúc bấy giờ tôi cũng như người bạn tị nạn chính trị, do chưa hội nhập với cuộc sống mới lạ ở xứ người nên có nhận định không chính xác lắm.
Mười năm sau, tôi đủ tuổi 65 nên xin được nhà dành cho chung cư người già: Eskaton President Thomas Jefferson Manor, nằm ở phía Nam Sacramento, gần khu thương mại Florin Mall, Trung tâm Medical và Thư viện.
Khu nầy tổng cộng có 104 căn, gồm 52 ở từng dưới và 52 từng lầu 2. Đa số là Mỹ trắng, cũng có vài ba người Mỹ đen, khoảng chục vợ chồng người Hoa và chừng 8 người Việt. Nhiều người lãnh trợ cấp già, nhưng cũng có người là Dược sĩ, Worker lãnh tiền hưu trí; Có vị là Tướng Tá ngày xưa, người khác có con cháu là dược sĩ, thương gia, công chức giàu có. Chung quanh khu nhà là vườn hoa dạo chơi, có hàng rào trắng bao bọc, có nhà để xe và có nhân viên an ninh túc trực ngày đêm. Cứ vào khoảng gần 12 giờ trưa mỗi ngày, thì nhân viên an ninh sẽ đi một vòng kiểm soát xem các người cao niên nầy có được khoẻ không, qua cái nút dấu hiệu trước cửa: Nếu đã được kéo qua màu trắng là khỏe, còn vẫn để nguyên màu đỏ mà an ninh tự động làm dấu lúc nửa đêm, thì họ sẽ gõ cửa kiểm soát, nếu không có người trả lời thì ngay lập tức, nhân viên an ninh sẽ mở cửa để xem coi có người bịnh thì gọi xe cứu thương đến chở vào bịnh viện điều trị khẩn cấp.
Nhà người độc thân như tôi thì có một phòng khách rộng rãi để TV và Computer, có gắn loa để liên hệ với văn phòng. Phòng nầy liền với nhà bếp đủ tiện nghi, có cửa lớn mở ra hành lang và cửa sổ ngắm cảnh trời mây hay xe và người qua lại. Một phòng ngủ cũng rộng không kém, có cửa ra hành lang và cửa khác thông với phòng khách, phòng vệ sinh tắm rửa. Còn có một nút đỏ để khi tắm lỡ có trợt té hoặc bị bịnh đột xuất thì giựt sợi dây báo động nầy, sẽ có an ninh đến tiếp cứu ngay tức khắc.
Hàng ngày, chúng tôi có thể đến phòng sinh hoạt để uống cà phê free, xem TV đọc báo, đánh bài bingo giải trí, gặp nhau chào hỏi trò chuyện thân mật; Hoặc đến phòng đọc sách có dụng cụ thể dục, có bàn billard và computer. Còn có cô giáo dạy ESL và dạy Sitersite thể dục ngồi cho người già yếu. Có phòng cắt tóc nam nữ. Tất cả đều sát bên văn phòng Manager. Trên lầu hoặc dưới đất đều có phòng giặt đồ và nơi đổ rác ra bồn chứa bên ngoài, rất tiện nghi vệ sinh.
Mỗi tuần có 2 ngày xe chở đi chợ hoặc mua sắm đồ, thường là ở Wal-Mart, Alberson, Raley’s, Mall và Dollars tree. Những ngày lễ và Tết, có đãi tiệc và xổ số rất vui. Có một buổi khám bịnh theo hẹn. Khách đến thăm đậu xe trước văn phòng, nhắc phôn trước cửa gọi mở, phải ghi vào sổ trực giờ vào và giờ ra.
Quan sát và suy ngẫm cuộc sống ở Mỹ, ta sẽ hiểu được tại sao người già chọn vào ở chung cư mà không ở nhà ngoài với con cháu”
– Trước hết là được chăm sóc chu đáo hơn, đầy đủ mà ít tốn kém; Lại có nhiều bạn cao niên để tâm tình thích hợp, nhất là được yên tĩnh.
– Nếu ở ngoài, con cái bận đi làm; Cho dù có mướn người giúp việc săn sóc cũng không bằng. Nếu trông coi cháu chắt thì ồn ào bận bịu.
– Người ở chung cư, vẫn được con cháu đến thăm và rước về nhà hoặc đi chơi trong những ngày cuối tuần hoặc nghỉ lễ.
Tôi đã sống hơn 3 năm ở chung cư người già, ban đầu thì cũng cảm thấy lẻ loi buồn tủi và hơi lo sợ vẩn vơ về bịnh cao huyết áp; Sau quen dần thì lại rất thích thú và chẳng muốn di chuyển ra bên ngoài ồn ào kém an ninh.
Cái thoải mái nhứt là tự do mà khi đến nhà khác, dù là bà con hoặc thân hữu cũng khó có được. Chẳng hạn như, bất cứ lúc nào, dù ngày hay đêm, nếu thích thì tôi đều có thể mở TV, Computer để sưu tầm tin tức giải trí hoặc viết bài mà không ngại làm phiền ai. Đồ đạc dụng cụ thì trang trí bày biện thế nào tùy ý thích của mình, nhất là đang dùng mà mõi mệt buồn ngủ hoặc có việc cần đi gấp thì cứ bỏ bừa ra đó, không sợ mích lòng ai hoặc có người thấy được cười chê.
Tuy nhiên, cũng phải công tâm nhìn nhận, nhạc sĩ Trịnh Hưng cũng có lý khi diễn tả cảnh sống của một người độc thân qua những vần thơ mà tôi nhớ lõm bõm:
… “Một mình nấu, một mình. Một mình mình nói, một mình mình nghe.
Một mình nhiều lúc cười khì
Hai mình có phải diệu kỳ hơn không” “
Phước duyên thay cho những ai có bạn tri âm, nếu không thì đừng mang gông vào cổ mà chắc lưỡi hối tiếc. Nước Mỹ không chỉ là “Địa ngục” của tuổi già như có nhiều người tự ti măc cảm và hoang tưởng một cách quá đáng.
Chuyện kể trên Diễn đàn internet mới đây: Có một cụ già 92 tuổi động lòng cố quốc, tuyên bố về Việt Nam CS ở luôn. Được vài năm sau lại phải trở qua Mỹ để có đủ phương tiện điều trị bịnh; Xong rồi lại vào sống trong Nursing Home để có bác sĩ và y tá chuyên môn chăm sóc mỗi ngày, mà khỏi tốn kém tiền của thân nhân; Sống đến trăm tuổi thọ. Cũng đành ngậm ngùi qua 2 câu thơ:
“Muôn dặm hồn thiêng về cố quốc,
Trăm năm xương trắng gởi quê người!”
Tiền trợ cấp xã hội cho người già hoặc bịnh tại Hợp Chủng Quốc Hoa Kỳ cũng được chiết tính vừa đủ, nếu lỡ vướng mắc nợ như làm mất hoặc hư  đồ vật có giá của người khác, hoặc chuyển housing quên không báo nên bị cúp trợ cấp tiền nhà, thì theo luật pháp, mỗi tháng chỉ phải trả dần $50 theo mức thu nhập lương hàng tháng của tiểu bang Ca-li cao nhứt là 836 Mỹ kim. Bởi chiết tính chi tiêu bình dân thì gồm có: Tiền nhà $200 + tiền xăng và bảo hiểm xe cũ 200. + tiền điện thoại và internet 100. + tiền ăn 200. + mua sắm và giao tế 100 cũng vừa đủ lương. Khi xe hư nhiều cần tu sửa hoặc mua xe cũ khác vài ba ngàn đô là một vấn đề suy tính đau đầu. Những ai không cần xe và cell phone hoặc ở nhà free của con cháu, thì có dư để đi du lịch hoặc giúp đỡ người thân ở quê nhà, nhưng đó cũng là du di ngoài luật. Vấn đề hậu sự cũng là một nỗi nặng lo, nếu muốn giữ được tro cốt và làm tục lễ cho phần hồn thì phí tổn trên dưới 5 ngàn đô. Còn những ai chết mà không có thân nhân thừa nhận, thì  Sở xã hội sẽ thiêu hủy luôn hài cốt.
Những người già hẩm hiu ở nước ngoài, nếu như thân nhân từ Việt Nam không thông hiểu mà thường than thở thúc bách tiền bạc, thì thật là tội nghiệp cho cuộc đời xa xứ cô độc bơ vơ khi bịnh hoặc tuổi đã về chiều.
 
Hoành Nguyễn

Cửa hàng 0 đồng ‘thơm thảo’ của người Sài Gòn

Cửa hàng 0 đồng ‘thơm thảo’ của người Sài Gòn: Ai thiếu đến lấy, ai dư đến cho (không có ở miền Bắc)

Sài Gòn có nhiều người cần sự giúp đỡ thì cũng luôn có người luôn sẵn lòng chia sớt, sẻ san, cửa hàng 0 đồng này như một nhịp cầu trung gian nối kết hai điều ấy.Thành phố đắt đỏ, xô bồ, trăm ngàn dịch vụ, dù là những thứ tủn mủn nhất cũng phải bỏ tiền ra mua. Nhưng ngược lại với mặt trái ấy, có những nơi sẵn sàng cho đi rất nhiều mà không cần người nhận trả bất kì khoản phí nào.

Mới đây, một cửa hàng đã thu hút sự chú ý của nhiều người khi ‘kinh doanh’ theo kiểu lạ lùng như vậy: 0 đồng, ai thiếu đến lấy, ai dư đến cho.


Nằm trên đường Lê Văn Sỹ, quận Phú Nhuận, cửa hàng này mở từ 6h đến 11h mỗi sáng từ thứ 2 đến thứ 7, buổi chiều vẫn đón khách nhưng không mở rộng rãi như lúc sáng

Mô hình cửa hàng 0 đồng được ông Nguyễn Viết Hợp (66 tuổi), Chủ tịch Hội giáo xứ Tân Sa Châu khởi tạo từ năm 2016, nhưng chỉ thật sự được ‘ăn nên làm ra’ từ tháng 5 đến nay.

Ít ai biết, tại nhà thờ này, còn có một mô hình 0 đồng khác còn lâu đời hơn cả cửa hàng trên, đó là bữa trưa 0 đồng cho người nghèo, đã duy trì được hơn 11 năm nay.

Khách đến dùng cơm đa phần người lao động nghèo, người vô gia cư, người già, người bệnh tật…



Mỗi người sẽ được nhận một phần ăn gồm canh, rau, thịt, trái cây mà không phải trả tiền. Nhiều trường hợp đau ốm còn được chuyển phần ăn đến tận nhà

Trong lúc quản lý bếp ăn này, quan sát thấy nhiều người ăn mặc rách rưới đến đây, ông Hợp nảy sinh mong muốn sẽ lo cho họ cái mặc tươm tất hơn, vậy là mô hình cửa hàng 0 đồng ra đời.

Cửa hàng 0 đồng sẽ kêu gọi, tiếp nhận các loại trang phục như áo, quần, giày dép, mũ, túi xách, ba lô… đã qua sử dụng từ mọi người, sau đó lựa chọn, phân loại và mở ra phát cho những ai thiếu thốn. 



Theo chia sẻ, mỗi ngày, nơi này nhận được 400-500 bộ quần áo, và ước tính có khoảng 100 người đến lấy



Số lượng đồ nhiều quá sẽ được đóng gói và chuyển về các tỉnh huyện vùng sâu, vùng xa


Nhiều người đến đây thường không tránh khỏi việc mắc cỡ, ngại ngùng nhưng thái độ tử tế, ân cần của những tình nguyện viên sau đó có thể giúp họ thấy thoải mái hơn


Tại đây, món đồ ‘đắt hàng’ nhất là áo khoác. Cửa hàng quy định, với những món đồ có số lượng ít như giày, gấu bông, mỗi người chỉ được lấy một cái. Còn với quần áo thông thường, có thể lấy tự do, không giới hạn số lượng và hoàn toàn không mất một đồng nào.

Khi được hỏi có sợ sẽ tồn tại lòng tham, không thiếu vẫn cứ lấy hoặc thiếu ít nhưng lấy nhiều không, ông Hiệp trả lời: ‘Lúc mới mở tôi cũng có nghĩ đến trường hợp này. Lòng tham thì chắc chắn là sẽ có nhưng tôi tin nó sẽ không nhiều. Miễn ai đến lấy, mình đều sẵn sàng cho đi. Bởi vì bên cạnh việc có thể giúp đỡ trực tiếp được nhu cầu ăn mặc của một số người khó khăn, quan trọng là mô hình này còn có thể lan rộng ra tinh thần bác ái nữa’.

Câu hỏi này cũng từng được đặt ra khi mới lập nên căn bếp nấu ra những bữa cơm 0 đồng 11 năm về trước. Tuy vậy, ông đã bỏ qua nỗi ‘lăn tăn’ kia khi ngẫm ra rằng: ‘Người ta chịu tới đây, tức người ta chịu mang cái mác nghèo rồi. Ai cũng có lòng tự ái, ai cũng có lòng tự trọng mà. Nên chỉ cần người ta tới, mình đều đón tiếp chu đáo hết’.


Cửa hàng 0 đồng này đóng vai trò như một cầu nối trung gian, giữa những người có thứ cần và những người có thứ muốn cho

Nhiều người lượm ve chai sẵn đường qua ngang thì ghé vào, xin chiếc mũ cũ đội lên đầu, để lại lời cảm ơn và rời đi về phía những ngã đường oi ả nắng trưa. Có nhiều bà mẹ bán vé số chạy xe đạp vào, mừng tủi vì lựa cho con mình một chiếc quần tây đẹp để dành cho ngày khai giảng sắp tới.

Cũng có ông chú xe ôm lạc quan hơn, lựa được chiếc quần jean xanh đậm thì khoe ‘cái này mặc đi đám cưới được lắm nè’. Hay cũng có những đứa trẻ đi bán hàng rong cùng mẹ, ngập ngừng nhìn một chú gấu bông trên bàn, lễ phép hỏi người lớn ‘cho con xin con này đem về chơi được không?’.




Những thứ đã ít nhiều cũ với người này, nhưng với người khác, vẫn là những cái mới, cái cần, cái giá trị. Thế mới thấy, không có gì là hoàn toàn vô dụng, là phải vứt đi, chỉ là nó chưa được để ở đúng nơi cần nó mà thôi.

Bên cạnh việc là ‘cửa hàng quần áo’ cho người nghèo, nơi này còn là địa chỉ thiện nguyện uy tín của nhiều nhà hảo tâm.



Họ có một nơi an tâm để gửi gắm những món đồ mình có, có thể trực tiếp chứng kiến những thứ mình đã bỏ ra mang đến niềm vui cho người khác thế nào.

Thảm họa diệt chủng cho dân tộc Việt Nam

co tau


Bài viết này rất sắc bén, rõ ràng và xác thực về sự thật đen tôi đang bổ sập xuống quê hương và cái thảm họa khốc liệt đang thành hình cho dân tộc VN và tai họa này sẽ tiếp tục diễn tiến một cách tàn khốc như đã được thấy tại Mãn châu và Nội Mông và đang diễn tiến tại Tây tạng và Tân cương.. Cửa sổ cho VN đẻ thoát khỏi cái thảm họa nô lệ diệt vong càng ngày càng thu nhỏ lại trừ phi người VN phải chấp nhận dấn thân, đớn đau và hy sinh ,vưọt trên nỗi sợ hãi và sự thờ ơ hèn nhát để cố phá bỏ cái cùm xích của Đảng cs Hà nội đang kẹp chói cả một dân tộc để dâng đưa vào cái cũi và lò sát sinh của Trung cộng Bài viết này ký tên bởi một người ở Hưng Yên ,dù tên thật hay tên giả, hiện sống tại VN hay ở ngoại quốc,thắc mác nếu có  không thành vấn đề.

 
Vấn đề chính là những dòng trong bài viết này là tiếng báo động và lời kêu gọi xuất phát từ một tấm lòng yêu thương đất nước và sót đau cho dân tộc Bài kêu gọi này thật thiết tha và chân thành sót đau cho quê hưong và đồng bào trước cái viễn tượng bi đát đất bị nước bị xóa bỏ và dân tộc bị tiêu diệt.


Vietnam  SOS !
Từ lâu, Trung Quốc đã thực hiện cuộc diệt chủng đối với các dân tộc nhỏ để giành đất cho người Hán.  Từ tháng 04.1975 tới cuối năm 1978, trên ba triệu người Campuchia đã bị hành quyết bằng cách đập vỡ sọ thông qua bàn tay Khmer đỏ.  Từ đấy loài người đã biết đến chính sách diệt chủng của Trung Quốc ở Campuchia, nhưng ít người biết rằng Trung Quốc đã thực hiên chính sách này đối với tất cả các dân tộc không phải người Hán..

I. Ở Việt Nam cuộc diệt chủng đang bước vào giai đoạn khốc liệt…

Lá cờ Trung Quốc có 5 ngôi sao, ngôi lớn nhất thuộc về người Hán, 4 ngôi sao nhỏ giành cho các dân tộc Mãn, Hồi, Mông, Tạng, là 4 sắc tộc lớn nhất trong số hơn 100 sắc tộc không phải người Hán sống ở Trung Quốc.  Chúng ta cùng nhau điểm lại, sau 67 năm dưới chế độ Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa, trong tổng số 1,400 triệu người, Trung Quốc còn lại bao nhiêu người Mãn, Hồi, Mông, Tạng?

1. Người Mãn đã từng lập ra triều Mãn Thanh, cai trị nước Trung Hoa gần 3 thế kỷ (từ 1644 – 1912).  Theo công bố của nhà nước Trung Quốc hiện nay còn 10.68 triệu người Mãn, nhưng thực tế con số thấp hơn nhiều, hầu như không còn ai nói tiếng Mãn hay có biểu hiện gì của sắc tộc này nữa.

2. Người “Hồi” bao gồm 18 dân tộc ở Tân Cương, khu tự trị lớn nhất của Trung Quốc với diện tích 1.6 triệu km², dân số 21.8 triệu người, trong đó một nửa là người Hán.  Người Duy Ngô Nhĩ là sắc dân chính tại đây chỉ còn lại 8.3 triệu người. (xem Tân Cương – Wikipedia).

3. Nội Mông là khu tự trị dành cho người gốc Mông cổ, từng lập ra triều đại Nguyên Mông cai trị nước Trung Hoa hai thế kỷ 13 và 14, có diện tích 1.183 triệu km² và dân số 24.7 triệu người.  Tuy nhiên người
gốc Mông Cổ chỉ còn lại 3.6 triệu, chiếm 14.7% dân số toàn Khu tự trị (xem Nội Mông – Wikipedia).

4. Người Tạng với nền văn hóa rực rỡ, sống ở Khu tự trị Tây Tạng có diện tích 1.25 triệu km², nhưng dân số chỉ còn 3.18 triệu người, trong đó một phần đáng kể đã là người Hán (xem Tây Tạng – Wikipedia). Tại các khu tự trị, thành phần dân tộc chính lại là người Hán… Hàng trăm triệu người Mãn, Hồi, Mông, Tạng đã bị hủy diệt bằng mọi cách.

II. Ở Việt Nam thảm họa diệt chủng đang đến nhưng rất ít người nhận ra điều này. Các thủ đoạn hủy diêt của Trung Quốc đã và đang diễn ra trên toàn cõi Việt Nam:

1. TQ hủy diệt châu thổ sông Cửu Long, nguồn lương thực và thực phẩm chính của cả nước.  Việc này chúng thực hiên bằng cách xây nhiều đập thủy điện ngăn sông Mê Kông, gây hạn hán và ngập mặn trầm trọng tại Đồng Bằng sông Cửu Long, đồng thời dùng rất nhiều thủ đoạn thâm độc như dựng nhiều nhà máy, thải hóa chất độc, thả ốc bươu vàng… nhằm phá hoại lúa, hoa màu và thủy sản trên toàn vùng đồng bằng sông Cửu Long (xem Google: Hạn hán và ngập mặn tại Đồng bằng Sông Cửu long).

2. TQ ngăn cấm ngư dân Việt Nam đánh bắt xa bờ, phá hủy hàng ngàn tàu đánh cá của ngư dân Việt.  Đổ khối lượng rất lớn chất độc dọc bờ Biển Đông để hủy diệt các hải sản ở biển và các vùng nuôi hải sản ven biển, đầu độc toàn bộ nguồn muối ăn của người Việt.  Các chất độc đã hủy diệt sự sống trên vùng biển hàng ngàn km2.  Với hàm lượng độc tố thấp hơn sẽ gây các bệnh rất nguy hiểm cho hệ thần kinh và thiểu năng trí tuệ cho nhiều thế hệ về sau (xem Bệnh Minamata – Wikipedia và xem
Google: Cá chết hàng loạt ở Việt Nam).

3. TQ hủy diệt các sông ngòi trên toàn bộ miền Trung thông qua hàng trăm đập thủy điện, khai thác bauxite, thương lái TQ bày trò mua chanh leo giá cao để nông dân Việt Nam phá hàng ngàn hecta cà phê, điều, hồ tiêu; Cung cấp máy xung điện và hóa chất để bắt giun đất và mua giun với giá cao để phá hủy đất trông trọt; Mua vét rong biển để triệt hạ vùng sinh thái của cá… nhằm phá hoại kinh tế người Việt (xem Google: thương lái Trung Quốc phá hoại kinh tế Việt Nam).

4. TQ xây nhiều đập phía thượng nguồn sông Hồng và sông Đà, làm suy kiệt sông Hồng từ nhiều năm.  Chuẩn bị đại dự án sông Hồng với 6 đập thủy điện mới, hủy diệt hoàn toàn hệ sinh thái Châu thổ sông Hồng (xem Google: Đại dự án Sông Hồng).

5. TQ xây dựng hàng ngàn nhà máy, hãng, xưởng trấn gĩữ các vị trí quân sự quan trọng, đồng thời thải hàng trăm ngàn tấn chất độc, hủy diệt khí quyển và các nguồn nước.  Trong khí thải các nhà máy ở Việt Nam với thiết bị Trung Quốc, hàm lượng các khí thải độc hại như CO, SO2, H2S, Hg… đều cao hơn từ 19 lần tới 125 lần hàm lượng cho phép.  Chất thải đổ xuống nước đã làm chết rất nhiều sông ngòi như Thị Nại, La Ngà, Bưởi, Nhiêu Lộc… và hàng ngàn km bờ biển (xem Google “Ô nhiễm môi trường ở Việt Nam“ (xem Google “Ô nhiễm môi trường tại Việt Nam”).

6. TQ tung thực phẩm, dược phẩm và hàng hóa độc hại cùng các hóa chất chế biến thực phẩm độc hại tràn ngập thị trường Việt Nam, đồng thời thương lái Trung Quốc mua vét các loại thực phẩm sạch để người Việt chỉ có thể sống bằng thực phẩm độc hại, suy yếu, ngu đần và chết dần vì bệnh tật.
Hiện nay số người Việt bị ung thư, nhũn não, đột quỵ và nhiều bệnh hiểm nghèo khác đã ở mức cao nhất thế giới (xem Google: Thực phẩm độc hại tràn lan tại Việt Nam). Từ năm 2017, nếu không kịp thời ngăn chặn, nạn đói, bệnh tật và nạn trôm cướp sẽ lan tràn khắp Việt Nam, xã hội sẽ trở nên hoàn toàn hỗn loạn.  Với danh nghĩa “cứu trợ” và “vãn hồi trật tự” hàng triệu “chí quân nguyện Trung Quốc” sẽ tràn ngập Việt Nam.

III. Sau khi chính thức bị sát nhập vào Trung Quốc năm 2020 (xem Google “Hội nghị Thành Đô”), dân tộc Việt Nam như cá nằm trên thớt, mức độ hủy diệt sẽ tàn bạo hơn nhiều.  Sau khi sát nhập, bộ đội và
công an VN cùng hàng chục triệu đàn ông ở tuổi lao động và con trai sẽ bị cưỡng bức tới những vùng biên cương xa xôi phía Bắc Trung Quốc, để vợ và con gái ở lại.  Điều này đã từng xẩy ra ở Tây Tạng từ năm 1959. Hàng chục triệu đàn ông TQ sẽ sang thế chỗ, lấy vợ và định cư ở VN. Sau 20 năm nữa con số 90 triệu người Việt liệu có còn tới 10 triệu như người Mãn hay tới 3 triệu như người Tây Tạng không? Trong số người sống sót có bao nhiêu triệu thanh thiếu niên bị thiểu năng trí tuệ do
cha mẹ ăn phải chất độc của Trung Quốc?

Thảm họa diệt chủng đã hiện ra trước mắt, không ai có thể cứu được dân tộc Việt Nam khỏi thảm họa này, nếu 90 triệu người Việt không tự cứu mình trước.

Mỗi người cần nhìn thấy cái chết đang đến với chính mình và con cháu mình, hãy chuyển tải thông tin này tới mọi người, mọi tờ báo, mọi phương tiện thông tin để mọi người cùng biết, cùng nhau đứng lên ngăn chặn thảm họa diệt chủng đã đến ngay trước mắt, để cả thế giới cùng biết và lên tiếng hỗ trợ chúng ta.

HÃY XIẾT CHẶT VÒNG TAY LỚN – VIỆT NAM MUÔN NĂM! TUYÊN TRUYỀN RỘNG RÃI VỀ THẢM HỌA DIỆT CHỦNG LÀ VIỆC TRỌNG YẾU VÀ HẾT SỨC CẤP BÁCH!

Trong số 90 triệu người Việt, mới chỉ rất ít người nhìn thấy thảm họa diệt chủng.

HÃY CÙNG NHAU LOAN TRUYỀN THẬT RỘNG RÃI ĐỂ MỌI NGƯỜI CÙNG BIẾT và LÀM THÀNH SỨC MẠNH CẢ DÂN TỘC, người lãnh đạo hiền tài sẽ xuất hiện và chúng ta sẽ thành công. Với những người chưa biết, đặc biệt trong công an, quân đội và đảng viên cộng sản, cần loan truyền cho họ biết.  Với những người đã biết nhưng chưa tin, nhiều người kiên trì giải thích họ sẽ tin. Có những người vì quá sợ hãi, đành chấp nhận MẤT NƯỚC, khi nhận ra THẢM HỌA DIỆT CHỦNG sẽ phải thức tỉnh.  Những kẻ cố ý bán rẻ đất nước và quyền lợi dân tộc chỉ là số ít, sẽ bị dẫm nát dưới sức mạnh cả dân
tộc.

Mong mỗi Quý Vị hãy chuyển tiếp bài này tới nhiều người khác. Nếu mỗi người chuyển thông tin tới 10 người, từ 10 người tới 100 người, tiếp tục 5 bước như vậy sẽ có hàng chục triệu người nhận ra sự thật và thảm họa diệt chủng sẽ bị ngăn chặn.  Dân tộc Việt Nam sẽ đời đời nhớ ơn tất cả các bạn đã góp phần truyền bá thông tin về thảm họa khủng khiếp này, góp phần cho tổ quốc và dân tộc mãi mãi trường tồn.

Không thể hy vọng Nhà nước VN bảo vệ đất nước và chống TQ. Tại Hội nghị Thành Đô 1990, chính lãnh đạo CSVN đã ký kết dâng Việt Nam cho Trung Quốc để bảo vệ cho Đảng CSVN(xem Google “Hội nghị Thành Đô”), sau khi nhân dân các nước cộng sản Đông Âu đồng loạt nổi dậy lật đổ chế độ CS cuối năm 1989 (xem “Sự sụp đổ Liên xô và Đông Âu – Wikipedia”).

Hiện nay công an và quân đội chỉ còn là công cụ đàn áp nhân dân và dọn đường cho quân xâm lược.  Thời Bắc thuộc tuy mất nước nhưng còn dân tộc nên nhân dân ta đã giành lại đất nước năm 905.  Hiện nay TQ vừa chiếm đất vừa diệt chủng, nếu không giữ được đất nước, dân tộc Việt Nam sẽ bị diệt vong.  Nạn nhân tiếp theo sẽ là các dân tộc Lào, Campuchia, Thái Lan cùng toàn vùng Đông Nam Á.
THỜI GIAN KHÔNG CÒN NHIỀU NỮA.  Theo hiệp định bán nước Thành Đô 1990, Việt Nam sẽ bị sát nhập vào Trung Quốc năm 2020…

Khi nạn đói, bệnh tật hoành hành và quân Trung Quốc tràn ngập lãnh thổ, mọi việc sẽ trở nên vô cùng khó khăn.

CẦN HÀNH ĐÔNG NGAY TRƯỚC KHI QUÁ MUỘN.  TUYÊN TRUYỀN SỰ THẬT để NGĂN CHĂN NẠN DIÊT CHỦNG LÀ NGHĨA VỤ CỦA MỖI NGƯỜI ĐỐI VỚI ĐẤT NƯỚC và DÂN TIC!

Để góp phần ngăn chặn thảm họa diệt chủng cho dân tộc Việt Nam, các bạn hãy chia sẻ tin này cho các bạn bè để mọi người cùng đọc.

 
Sưu tầm…..

Cái Tôi và Cái Tôi Thuộc Về Mình

    Võ Công Liêm

vode - untitle by VCL

Tranh Võ Công Liêm

   Đó là bản thể tự tại. Một bản thể thuộc duy tâm, một cá thể có tính riêng biệt. Mà phải có chất liệu đó; thời tất mới xác nhận con người ở giữa đời này. Không có cái tôi không hiện hữu được với đời: cái tôi là danh xưng, cái tôi chỉ định từ, cái tôi nói lên ngã vị, cái tôi độc quyền. Con người là một sinh vật có tri giác, có ‘cái tôi’ trong đó. Nhưng cái tôi như nhiên khác với cái tôi của tôi (vị ngã/its ego). Cái tôi và cái tôi thuộc về mình (The Ego And The Id). Nghe như không ổn! Bởi; câu hỏi đó đã nói lên cái bản ngã bào chữa, chứa đựng một nội tại chối bỏ và thừa nhận. Vì nó có cái ‘le moi /the ego’ che lấp và cái tôi tự nhận. Một triệu chứng nằm trong não thức thần kinh của sự lý che chở những gì trong ta và tùy thuộc vào ta (trong The Neuro-Psychoses of Defence của Freud). Cho nên chi ai cũng có cái tôi đáng qúy và cái tôi đáng ghét. Đó là lối xử thế của con người trước mọi hoàn cảnh, trước mọi sự kiện tùy theo từng đối tượng trong xã hội, chính trị hay văn hóa. Không ai nói rằng tôi không có cái tôi. Không có cái tôi thì gọi cái gì, con gì đây? Con vật có tên: tên chó, tên mèo, tên voi, tên cọp, chiếc xe, cái dao, cái kéo, đôi đũa…dẫu là vô tri nhưng vẫn có danh xưng cho cái tên của nó. Dễ thường thì đặc cho nó cái tên để gọi (The Id) đó là cái tôi xác nhận, còn cái tôi đáng ghét thì gọi là cái tôi tâm lý gần như một cái tôi vô thức –Super-ego is a psychoanalysis that part of the psyche which is critical of the self or ego and enforces moral standard at an unconscious…Nhìn chung cái tôi có cái chất riêng của nó trong đó. Nó thường trực với ta để xác nhận ta đang hiện hữu. Ngoại trừ nhắm mắt thì không còn cái tôi quấn quít hay giải thoát (enlightenment) được thì không còn cái tôi đeo đuổi tức là vô-ngã. Sự cớ đó là một đấu tranh triền miên giữa ngã thức (egotism) và vô ngã thức (unself-conscious) không sao dứt được. Chúng ta đã có một thể thức tạo nên ý tưởng trong mỗi cá thể, cái đó gọi là có dính dáng trong cơ cấu tổ chức thuộc tiến trình tâm thức; gọi là cái ‘của nó /ego’. Một cái tôi ý thức gắn liền nhau, một cái tôi kiểm soát để đưa tới một chuyển động –We have formed the idea that in each individual there is a coherent organization of mental processes; and we call this his ego. It is to this ego that consciousness is attached, the ego controls the approaches to motility. Không phải đơn phương cái tôi nói lên cái chính mình mà có cái gì đó thuộc về mình (kể cả cái tôi quá khứ) .Vì vậy những người nặng lòng với cái tôi thường sinh ra chứng tâm thần. Tại sao? Bởi; cái tôi lồng lộng, chiếm cứ không chịu thoát để đi tới vô ngã. Vô ngã là hành vi đứng sau của nhận thức mà mỗi khi nói tới cái tôi thì cái tôi biến dạng từ ý thức (conscious) đến vô ý thức (unconscious) không còn phân biệt giữa chủ thể và khách thể mà chỉ thấy cái tôi lồ lộ; cái tôi biến dạng, mất bóng mù tăm (to slip away) là không hiện hữu giữa trần đời. Cái tôi ít khi có một trí tuệ phán xét (mind) đâu hữu và vô hữu do trí tuệ điều động, ngược lại đó là tri thức chủ thể đưa tới những lý lẽ không hợp thời trang mà trở nên ngu xuẩn. Cũng có thể do từ sự diễn tả của mơ mà tạo thành cái mơ chủ thể (The Interpretation of Dreams) trong cái tôi (ego) này không còn trong vùng siêu ngã (super-ego) mà nó rơi vào trạng huống của tâm lý siêu hình (metapsychological). Trong tất cả những gì ở đây đều là mối tương quan gần gũi của chức năng tâm thần và chức năng thiết kế; điều mà không thể tránh được cho một tư duy trong sáng của cái tôi. Một hình ảnh về trí tuệ như thể bao gồm hai sự lý giao thoa, chia chát lẫn nhau; nghĩa là một đằng chế ngự được và một đằng bị ức chế nào khác –to a picture of the mind as including two portions, one repressed and the other repressing. Trường hợp này nó nằm trong vùng sâu lắng (hypo) của một lý thuyết giả định (hypothesis) mà thôi; chớ chưa chắc chắn để giải bày sự kiện mà chỉ cung cấp như một cơ bản để có một suy lý chứng minh. Ở vị trí này cái tôi nằm trong vô thức và ức chế một phần của hữu thức cái tôi. Thí dụ: nhà văn nọ sanh ra một tác phẩm đầu tay thì nghĩ rằng mọi người có một tư duy thuộc về mình, tất giống ý mình hoặc cho đây là lý lẽ về cái tôi của mình. Cái tôi mang nặng chủ đề (motif) dù chủ đề không ăn nhập với nội dung thì cái đó gọi là cái tôi chuộng ngợi ca còn trình bày cái vỏ là thuộc về cái tôi khoe tài năng. Thế là cái tôi chưa chịu thoát cho một nội tại chất chứa bản năng của vị ngã. Rồi vòng vo tam quốc như con cá mắt cạn. Mắt cạn vì cá có cái tôi vùng vẫy để sống còn. Bản ngã dày vò vì cái tôi khống chế đành đưa cái tôi hình thức và cái tôi tự xưng để chứng minh cái tôi thuộc về mình mà quên đi nồng cốt của tác phẩm; thậm chí phải mượn lời đề bạt (trường hợp này một số thi nhân thường hay xử dụng tương tợ) nghĩa là nêu lên cái tôi chứng tỏ. Cái tôi này là cái tôi vô thức đứng trước cái tôi hữu thức. Lý về giá trị thì cái tôi chủ quan đánh hạ cái tôi khách quan đó là những cái tôi đưa tới cái tôi ngu xuẩn. Thành ra; cái tôi làm cho người ta lâm vào hoàn cảnh thuộc bệnh tâm thần (mental-illness) mà không hay. Thí dụ khác: nhà thơ Z. sáng tác là nhắm hướng vào cái tôi chủ quan hơn là cái tôi siêu thoát ‘chất thơ’. Nhưng quên đi những khi xuất thần thành thơ là ở một tinh thần chao đảo giữa hữu thức và vô thức của trạng huống tâm thần (mental); vì vậy mà có những câu thơ, lời thơ tối nghĩa, âm u (hay dụng tâm tạo hiện tượng thơ?) nhưng cái tôi duy lý vẫn cho đó là ý thơ siêu thoát mà không thấy bản thể suy đồi của tâm lý vị ngã trong thơ /văn. Đấy là triệu chứng thường tình của con người đang sống giữa đời. Chúng ta chỉ đơn cử để tìm thấy vai trò người sáng tác luôn luôn mang nặng tâm tư của cái tôi; ngay cả cảnh vật thiên nhiên, tình yêu, phiếm đàm đều chứa đặc chất của cái tôi; dẫu có mượn ngôi thứ ba thay cho ngôi thứ nhất là ‘tôi’. Một cái tôi chủ thể trong đó hay cái tôi điều động đều có cái tôi sở hữu chủ (The Id property) thay mặt để nói cái tôi tiềm ẩn. Đứng ngoài lãnh vực này mọi thứ, mọi lối trong cuộc sống đều chất chứa cái tôi. Đôi khi phải chấp nhận cái tôi hữu lý và cái tôi phi lý. Sao lại đưa hai cái tôi siêu hình vô đây? Cái tôi hữu lý là cái tôi bảo vệ sống còn. Cái tôi phi lý; theo khoa phân tâm học cho đó là siêu ngã (super-ego) là ngoài vòng cương tỏa của lý trí. Vậy lấy cái gì xóa bỏ cái tôi trong đó? -tức là phân định được hai đường lối của cái tôi. Một cái tôi như nhiên (tự có / itself) và một cái tôi siêu ngã (super-ego). Nếu một trong hai cái tôi mà loại ra được thì đi tới chân không của cái tôi. Cái tôi biến hóa để không còn thấy cái tôi cho dù những thứ gì thuộc về mình đều trở thành vô ngã. Đạt tới vô ngã là đạt tới hư vô tánh không. Từ chỗ đó cho ta một nhận thức về diệt-ngã. Diệt ngã là tâm thức tuyệt đối, mọi chuyện coi như không, không còn thấy mình giữa vũ trụ của Ngã. Xin đừng đặc vấn đề quá nặng, càng nói nhiều càng chấp ngã, càng chấp ngã là để ý đến cái tôi (self / le moi) tức là hướng tới cái của mình (selfish) quên cái của người khác. Duy thức học (thức Mạt-Na thứ bảy) cho đó là một tâm thức có bản chất so đo, thương ghét, tính toán thiệt hơn, chấp trược vì quá ích kỷ, chấp ngã không bao giờ ý thức trước tư duy và hành động. Dù có tôi hay không có tôi đều là Không-Sắc; đòi hỏi duy nhất của cái tôi là quên mình thời cái tôi tồn lại, tồn lưu nhân thế. Chớ cứ trông ngóng người đời nhìn tới cái tôi của mình thì khác gì ‘ông ơi tôi ở bụi này’. Vì đó là cái tôi háo danh, cái tôi khoe khoan chớ chất lượng thì hoàn toàn trống. Cái tôi đi tới vô úy là cái tôi chứng thực. Lục Tổ Huệ Năng nói: “Đừng bám vào mà để lòng vào” (Ứng vô sở trụ nhi sinh kỳ tâm) Tợ như đừng đưa cái tôi vào mà để tâm vào thì cái tôi mới thanh cao diệu vợi. Thế nhưng họ vẫn đeo đuổi cái tôi ảo vọng đó hoặc đem cái tôi trù dập vì sợ cái tôi khác lấn áp cái tôi của mình; vì vậy mà cái tôi hoành hành, dày xéo, réo rắt tâm can để làm sao cái tôi của mình sống còn trước đối tượng tha nhân. Vì cái tôi mà hỏa mù tâm trí mỗi khi làm thơ văn một cách vô tội vạ, thậm chí mượn lời bình để chứng minh cái tôi hạn hữu đó.

Vậy thì làm sao tiêu diệt cái tôi? Hỏi cái này là tréo cẳng ngỗng. Làm sao mà tiêu diệt được; vì ai cũng có cái tôi hiện hữu (như đã nói ở trên) là cái tôi chỉ định, cái tôi độc quyền, cái tôi thay thế. Sáng mở mắt dậy là cái tôi dậy theo là vấn đề giữa bản thể duy lý: tôi phải đi đái, tôi phải rửa mặt, tôi phải ăn; tôi phải, tôi phải…là cái tôi sinh lý hữu cơ không thể chối bỏ, còn cái tôi trong người là cái tôi ý thức. Không thể đem cái tôi này bỏ qua cái tôi kia. Định nghĩa như thế là không nhận ra ngã vị ở chính mình mà do lý trí sai khiến biến thành nạn nhân ‘inmate’ không chừng. Nó không phải là bệnh lý để điều trị mà điều trị bằng cách tiêu diệt một bản ngã tự tại, nghĩa là có ngã nhưng không có ngã vị. Khó để thực hiện rốt ráo cho một cái tôi đúng đắng là không vị kỷ, vị ngã mà vô ngã là để đi vào thực tướng của một con người thực. Cái tôi không bao giờ sáng tỏ mà chứa một cái tôi tiềm ẩn. Phật giáo không nói cái tôi để diệt mà dùng một ngữ ngôn thâm hậu là: ‘ngã mạn / ego’ là diệt chớ không nói ‘tôi/moi/self/itself’. Bởi; cái tôi đó không thể tiêu diệt được. Ngã-mạn là nói lên cái tốt, cái thiện (good) và cái xấu xa, cái ác (evil). Hai sự cớ này là ở cõi ngoài, cõi hư vô (beyond); cõi đó là cõi của lương tri (trong tư tưởng Nietzsche), một cái gì vọng động ở nơi con người, một ý thức mới trong tư tưởng của dục vọng. Triết học Phật giáo có một chiều sâu của tâm-sinh-lý đưa con người hướng tới cõi thiện. Tâm lý là của Tâm và sinh lý là của Dục; hiểu được chân lý đó tức thực hiện được cái Ngã Mạn của Phật tính. Sao lại đưa thuyết nhà Phật vào đây? Có thế mới đi tới chân-như-nhiên. Là; quên mình, quên tất cả để đạt tới chân lý tối thượng thừa của cái tôi. Một cái tôi đa tạp và một cái tôi khoan lượng đều dựa vào hữu thức và vô thức từ con người mà ra. Mà phải dùng Tâm để điều trị cái tôi. Phật giáo gọi: ‘Ta Không Phải Ta / Itself Non Self / Le Moi Non Moi’. Rứa Ta ở nơi mô? -Ta là Ngã là chấp ngã tức cái ta mê loạn, háo danh, háo vọng còn tranh chấp thiệt hơn. Cái tôi đã ngự trị vào hồn khí rồi đó! (cho tới thất thập, bát thập cái tôi còn tồn lại là chưa diệt thời tất phải khốn khổ, không chừng đi tới nghiệp báo luân hồi. Phật chủ trương ‘vô thường’ và ‘vô ngã’ là ở chỗ đó. Bởi; cái tôi không nhận ra cái lý như nhiên vũ trụ là còn vì cái tôi. Nhận ra được lý như nhiên vũ trụ là tỉnh với cái tôi. Thí dụ: Người đàn bà nổi cơn ghen vì bảo vệ cái tôi thua thiệt, cái tôi mất mát, cái tôi tồn lại, cái tôi ức chế…những thứ tôi đó vây quanh cho nên u-mê không phân định giữa Có và Không. Rứa cho nên đưa tới quẩn trí, loạn thần. Đó là cái tôi ngu xuẩn. chớ không phải cái tôi sáng suốt. Kiều không ghen; tức Nguyễn Du diệt được ngã vị không còn cái tôi chiếm cứ. Dù rằng Nguyễn Du mượn lời thay ý tất nói cái tôi nhưng không thấy cái tôi trong đó. Chấp ngã nhưng phá chấp. Đấy là nghĩa lý cái tôi để trở thành cái tôi siêu ngã (super-ego). Thế nhưng; chúng ta phải canh chừng về cái sự ngu xuẩn lơ láo đó mà coi đây là chức năng cá tính vì đó là cái tôi sở hữu chủ của ý thức hoặc không là một trong những phương kế cuối cùng, một ngọn đuốc soi đường dẫn lối từ bóng tối đi ra của một tâm lý chìm lắng trong ta –Neverthelesss we must beware of ignoring this characteristic, for property of being conscious or not is in the last resort our one beacon-light in the darkness of depth-psychology. Cho nên trong cái tôi tồn lại là do tự tánh mà ra. Nói vòng vo; cái tôi chủ quan, cái tôi mù lòa, cái tôi hờ hửng, cái tôi chiếm cứ, cái tôi a-dzua, a tòng , cái tôi đạp đuôi, cái tôi phất cờ theo gió, cái tôi hùm-bà-lằn…là những cái tôi phí phạm, vị ngã chỉ nói cái của mình, một cái tôi sở hữu chủ chỉ biết mình mà quên đi đối tượng tha nhân. Cuối cùng rồi cái tôi vẫn chiếm cứ. Một thứ chiếm cứ bệnh hoạn tìm thấy từ thể chất đến tinh thần nó đi thẳng vào người một cách trực tiếp, hữu ích của chúng ta, cũng không màng tới gán ép nào khác. –Pathological research has directed our interest too exclusively to the repressed. Đó là những gì chúng ta thu nhận được về cái tôi thời ít nhiều cho ta biết được cái tôi có thể xuất xứ từ vô thức trong cảm thức đích thực của điều muốn nói ra (word).Giờ chúng ta nhận thức được cái tôi là cố định và bùng dậy trong ý thức. Điều mà chúng ta cho rằng ý thức về cái tôi là một thiết bị cho bề mặt của tâm thần, sự cớ đó chúng ta qui vào như một chức năng có hệ thống của cõi ngoài ý thức là những gì phát sinh ra từ đó.Trong bất cứ hoàn cảnh nào, thời nào từ ngàn xưa cho tới nay nhu cầu của cái tôi hiện diện trực tiếp khi mới chào đời và đi vào giòng đời (hiện tại, quá khứ, vị lai) đều chất chứa và tàn ẩn cái tôi. Cái tôi bao hàm, cái tôi chứng thực đều là cái tôi. Nó trở thành lý thuyết (về cái tôi) của mọi thứ (The Theory of Everything). Như đã chứng minh cụ thể vấn đề.

Đấy là vấn đề không bắt nguồn có hay không có ngã vị mà coi như hướng tới một hệ thống, một khái niệm về vô thức mà những điều lệ đó có thích nghi và hòa hợp hay không cái đã. Trong cấu trúc của trí tuệ là những gì xẩy ra trong sáng nhưng tự thức xâm lấn để đưa cái tôi vào; một cách thức khác của vô thức đã có sẳn cái tôi chiếm cứ. Và; sự cớ đó bắt đầu hiện ra những gì của cái tôi mà chính tự nó như dự phần để tỏ rõ một thứ vô thức. Vậy thì nó có đôi phần rõ ràng, gần giống như chú ý tới cái sự vô thức và như thể là quan tâm tới cái tôi –It had thus become apparent that, alike as regards ‘the unconscious’ and as regards ‘the ego’. Là; cốt xây dựng lên ở đó một thiết kế về hình ảnh của trí tuệ. Thiệt ra; sự tương quan của ngoại giới /external là một cảm nhận từ tri giác đưa tới cái tôi có chứng cớ rõ ràng, đó là những gì của bản thể nội tại /internal là một cảm nhận từ tri giác đưa tới cái tôi đòi hỏi đặc biệt. Tri giác nội tạng là thừa nhận một tiến trình cảm xúc bùng lên trong hầu hết biến đổi khác nhau chắc chắn trong đó chứa đựng một vị trí bệnh trạng tâm thần mà chửa trị được là một tu chứng.Trường hợp này có từ nguồn đầu, có từ những nhân tố cơ bản hơn những gì bừng dậy từ tri giác của một tạng thể xuất phát; cái tôi thừa cơ hội để bung ra dù cho ý thức lúc đó bị hoả mù. Đó là bản thể tự tại. Một bản thể khốn đốn, một căn bệnh trầm thống vô phương cứu chửa, nó nằm lì trong vũng tối tâm hồn, há hốc mồm cười ngạo nghễ trên tinh thần của đời người. Cái tôi chiếm cứ để thóa mạ đời là cái tôi gian ác. Cái tôi đau xót, bi thương là cái tôi nhân ái. Hai thứ đó là hai chiến tuyến, bởi; bên nào cũng nói lên cái của mình, một thứ hợp lý quả quyết, mọi thứ là lý thuyết thời làm sao ‘ta không phải ta’? Có chăng chỉ là ngụy ngôn che lấp giả dối bên trong. Một cái tôi trở nên truyền thống, nó tồn trử trong huyết lệ, nó đâm chồi nẩy lộc trong tế bào âm dương để sản sinh những đứa con bẩm sinh cái tôi hơn những cái tôi vốn có. Tỵ hiềm, hơn thua, trù dập, củi đậu nấu hạt đậu là bệnh lý tâm thần; đưa tới một ‘inmate’ trong hồn người, do đó; đứng trước cái tôi của một ‘external’ không thể hoà nhập với cái tôi ‘internal’. Cả hai vị trí đó nó có một sự cần thiết khác nhau. Mà đó là chọn lựa thuộc về trí năng, tức tiêu diệt ngã để đi tới vô ngã. Thực ra; đây chỉ là phạm trù đạo đức, luân lý, thứ giáo điều không thể ngăn chận cái bản ngã tự ti mặc cảm trong con người. Cái tôi bất khuất là cái tôi chính đáng có chính nghĩa, còn lấy bất khuất để chứng tỏ thay cho một ẩn dụ, dự mưu thì đâu còn cái tôi bất khuất. Ngay cả việc kể công kể tội để chứng tỏ cái tôi thời đó là cái tôi nguy hiểm, hủ hóa, lạc hậu, vì; chưa đạt tới một trình độ nhận thức sâu xa: đâu tà, đâu chính mà do từ cái tôi bảo thủ sai khiến. Thứ nhất: là qui cách, tập quán thuộc bản chất của ‘phép vua thua lệ làng’ cho thấy hệ thống hóa của tầng lớp xã hội nuôi dưỡng mấy trăm năm vẫn là tồn lại. Thứ hai: là ‘gia truyền’ một căn bệnh thuộc tâm thức, không thể phủ nhận ngay cả khoa học ngày nay thừa nhận trạng huống đó có thể là tâm thần, có thể là não thức gây ra. Hai thứ gia vị này là độc dược tố nuôi nấng cho một bản chất cố hữu khó lòng tiêu diệt mà phải qua một quá trình huấn luyện tâm can; thanh lọc thứ siêu-vi-tôi từ thế hệ này sang thế hệ khác thì may ra chuyển hóa được cái tôi tự tại.

Sau khi thanh lọc cái sự tương quan giữa bên ngoài và bên trong của tri giác cảm nhận và một hệ thống cạn cợt giữa tôi chủ thể và tôi khách thể thời chúng ta chiết ra được ý nghĩa của cái tôi –After this clarifying of the relations between external and internal perception and the superficial [Sub.-Obj.]; we can go on to work out our idea of the ego. Nhưng nhớ cho; như đã tiếp thu, cái tôi cũng là một thứ vô thức –But; as we have learnt, the ego is also unconsciouss. Chớ đừng nghĩ chỉ có cái tôi duy nhất để được nói đến mà quên đi những điều khác, nó chứa cùng một thể chất; một tạng thể khó thực hiện.

Cho nên chi những gì chúng ta đề cập đến cái tôi là những gì thuộc cái tôi của chúng ta cho một đối đãi xử thế hết sức cần thiết và một đôi khi trở nên bị động (passively) trong cuộc đời. Một lý do khác; cái tôi trườn mặt là vì không biết đến và không thể kiểm soát được. Bởi cái lực đó do từ ‘external’ và ‘internal’ thu hút để cho cái tôi chao đảo lộng hành chiếm cứ, đưa cái tôi lạc lối mù tăm. Chớ cái tôi đâu phải bản chỉ đường nhắm vào mà đi. Cái tôi trở thành tàng hình, ẩn dụ, một cái tôi thuộc tính chất siêu hình (metaphysical). Cái tôi lộng hành; có thể là ‘tôi đó’ nhưng không phải là tôi đó, cho nên chi trước đối tượng của cái tôi cần phải cân nhắc, đắn đo suy xét mới nhận ra thực hư của cái tôi.

Rồi thế nào chúng ta cũng tìm thấy có hay không điều mà chúng ta có thể vạch ra dù dưới dạng thức nào của cái tôi, phát hiện từ viễn ảnh cho những mục đích hoặc đã mô tả hoặc là nhận biết. Giờ đây chúng ta hướng tới một cách riêng như tinh thần cái tôi thuộc về mình (psychical-Id) là sự cớ coi như không biết không hay để nhìn vào tất cả bề mặt của cái tôi; một cái tôi có hệ thống, Thể thức bề mặt của cái tôi, ít nhiều vốn đã phôi thai trong vòng quay để nhập vào tế bào trứng –Forms its [the ego’s] surface, more or less as the germinal disc rests upon the ovum; để hình thành trong đó cái ‘chất’ tôi. Nói rộng ra là nhiễm thể tính hay tiềm thức (tốt sinh tốt, xấu sinh xấu) nghĩa là cái tôi tốt xấu tùy thuộc vào [gene] hay [subc].

Còn nói về giữa cái tôi (ego) và cái tôi thuộc về mình (Id) tưởng là cách biệt nhưng mỗi đơn vị có một vai trò cách riêng của nó. Nói thế không có nghĩa cái tôi bỗng dưng tách ra từ những gì cái tôi thuộc về mình mà nó dự phần vào một sự hòa nhập trong đó. Thí dụ: Tôi chủ nhân cái nhà (ego); cái nhà do tôi dựng ra, đứng tên chủ hộ, có sổ đỏ, có mộc và chữ ký đàng hoàng là thuộc về sở hữu của tôi (Id). Đấy là chứng tỏ sự kiện để nhận ra rằng cái tôi chủ thể, mà trong vai trò chủ thể đã là một sự thay đổi đôi phần giữa chủ thể và tha thể; là một thế lực trực tiếp của thế giới bên ngoài xuyên vào trung tuyến tính của [Sub.-Obj.] trong cảm thức đó; nó có một sự mở rộng bề mặt của phân biệt (surface-differentiation). Đối với cái tôi; tri thức trình diễn một phần cái gì thuộc về cái tôi trong khi đó chứng thực của cái thuộc về tôi (Id) rơi vào trong một bản năng trực giác. Cái tôi được giới thiệu những gì có thể gọi là lý do chính đáng và cùng một cảm thức; trong khi đó cái tôi thuộc về tôi là một đối kháng, đối kháng để bảo vệ, duy trì, chất chứa cái tôi si mê. Nhiệm vụ quan trọng của cái tôi là tỏ rõ không còn nghi ngờ dữ kiện; đó là một sự kiểm soát bình thường hướng tới một tác động để đi vào cái tôi thường trực. Cho nên chi cái tôi chủ động trong mọi lãnh vực văn hóa, chính trị. Hai bộ phận này thường biểu lộ cái tôi hùng tráng như vừa chứng tỏ như vừa thách thức. Người làm văn hóa cho tư duy là lý luận chính đáng, viết bằng cái tôi chứng thực. Người làm chính trị hay quân sự cầm chắc cái tôi chinh phục, tự hào. Do đó cái tôi thuộc về cái tôi của mình (Id) không còn thấy hiện diện ở cái tôi (ego) tự nó, một cái tôi gián tiếp nói về mình.

Cái tôi là hàng đầu và trên tất cả, một cái tôi riêng mình ta / body-ego; một cái tôi không những chỉ là bề mặt thực thể cho tồn lại, nhưng tự nó là một dự phóng vào bề mặt của nó –The ego is first and foremost a bodily ego; it is not merely a surface entity, but is itself the projection of a surface (S.Freud). Thực ra đây là mối dây liên đới giữa thân và xác kết cấu trong một ý thức (cái tôi) để chứng tỏ hơn là biểu lộ. Vì; chứng tỏ là nói cái tôi (ego), biểu lộ là nói cái thuộc về tôi (Id) là gia nhập vào trong đó để nhắc đi nhở lại ‘ta’ hiện hữu với cái tôi của ta; cũng chưa hẳn đó là vấn đề quan trọng nêu ra trong mạch nối để diễn tả mà đó là cảm thức tác động vào một đam mê thấp nhứt, vì rằng; tư duy nhỏ nhen đó chính là hành động của vô thức. Từ chỗ đó cái tôi lồng lộng, ngang tàn, phá phách, đòi hỏi cái tôi hiện diện với đời; đó là cái tôi chiếm cứ. Thế nhưng; chúng ta vẫn mong đợi ở một đỉnh cao trí tuệ trong bất cứ nhiệm vụ của tinh thần là chuỗi nối vào nhau trong một ý thức nhận biết về cái tôi; biến cái tôi hiện hữu để trở thành cái tôi như nhiên (hư không) là cái tôi quên mình mà là cái tôi phục vụ.

Đạt được yêu cầu đó tức bước đường đi vào vô-ngã-thức. Đấy là cán cân đo được giá trị của nó một cách dễ dàng và tìm thấy; cái tôi lúc đó sẽ hội nhập trong một ý thức bảo đảm và tin tưởng. Nếu ở đó cho chúng ta hồi cố những gì mà cái tôi hoạt động trong quá khứ, hiện tại hoặc tương lai là cốt để thanh lọc những cặn bã đã tác động vào cái tôi của mình ngay cả những gì thuộc về cái tôi. Nói vòng vo tam quốc, lý này lẽ nọ về cái tôi đó là mặt chủ quan nhưng dưới lăng kính khách quan chúng ta sẽ có thể nói rằng: không có cái gì cho là cái tôi thấp nhứt nhưng cũng chẳng có gì cho là cái tôi đỉnh cao; có thể đó là thứ vô-thức. Nếu sự thật cái tôi đáp ứng được nhu cầu cho một chứng thực cụ thể là những gì mà chúng ta khẳng định về ý thức cái tôi: thời tất đó là hàng đầu và trên tất cả cho một thân xác ngã vị. Tuy nhiên; ở đây không có nghĩa tổng hợp về cái tôi, nhưng; coi đây như một khám mới, ý thức mới cho dù phán xét để phê bình, bắt bẻ; tựu chung đều khơi dậy trong sự hướng tới cho một cảm thức vô thức phạm lỗi ‘unconscious sense of guilt’ mà thôi. Chớ khi thực hiện cái tôi người ta không thấy cái tôi trong đó mà cái tôi nằm dưới thể chất của hình thái khác; có thể là hợp lý và có thể là không hợp lý. Tất cả do từ một bản chất tự tại mà ra ./.

VÕ CÔNG LIÊM (ca.ab.yyc. TBV:14/3/2016 / nhuận sắc QRV: 16/7/2019)

SÁCH ĐỌC: ‘Conscious and Unconscious’ by Sigmund Freud. Tras. Joan Riviere. London The Hogarth Press and The Institue of Psycho-Analysis. 1962.

*Rút tiả qua những bài: Biên khảo,Nhận định,Tiểu luận,Phê bình của võcôngliêm khởi từ 2012 đến 2015 để thành hình bản văn này:

-Sigmund Freud (Bk) 2012 . -Freud Và Jung (Bk) 2012. -Ý thức Thức tỉnh (Tl) 2013. –Phê bình về Phân tâm học và Nghệ thuật (Nđ) 2014.

-Lý tưởng của Từng Cá tính (Bk) 2015. -Vấn đề của Tự thức (Tl) 2015 và một số tổng hợp khác của võcôngliêm đã biên soạn.

Những tác phẩm ghi trên hiện có ở một số báo mạng và giấy trong và ngoài nước hoặc email theo điạ chỉ đã ghi.

TRANH VẼ: ‘Vô đề / Untitled’ Khổ 15” X 20” Trên giấy cứng. Acrylics+House-paint+Mixed. Vcl# 772013

                             

 

 

 

 

 

1001 Kiêng Kỵ

Thư viện của bài

This gallery contains 1 photo.

CÁCH TÍNH TRÁNH SAO XẤU CHO TỪNG VIỆC
THEO TÍN NGƯỠNG DÂN GIAN
(Trích từ: 1001 KIÊNG KỴ TRONG TÍN NGƯỠNG DÂN GIAN
của Đặng Xuân Xuyến ; Nhà xuất bản Thanh Hóa ; 2010)

Các sao xấu là những sao đem lại sự xui xẻo, bất hạnh cho cuộc sống của con người mà con người luôn ở thế thụ động, bất khả kháng. Sự bất hạnh, xui xẻo đó không chừa bất kỳ ai trong gia đình, thậm chí còn ảnh hưởng tới cả dòng tộc. Vì thế, khi tiến hành các việc trọng đại, người ta thường tránh những ngày có các sao xấu hội tụ để cầu may, rước phúc cho con cháu sau này.

Dân gian phổ biến 3 cách tính tránh ngày xấu như sau:

 I. TÍNH SAO VẬN HÀNH THEO NGÀY CAN CHI:

Các sao xấu liệt kê dưới đây được tính vận hành theo ngày Can Chi trong các tháng cho từng công việc, cụ thể như sau:

1. Xấu cho mọi việc:

Những sao được liệt kê dưới đây là những sao xấu (hắc đạo), những hung tinh phá hoại, đem đến những rủi ro, bất trắc, trăm việc đều nên tránh.

Đó là các sao: Sát Chủ, Thụ Tử, Thiên Hình, Thiên Lao, Thiên Cương, Thiên Lại, Tiểu Hồng Sa, Đại Hao, Tiểu Hao, Hoang Vu, Nguyệt Yếm (Phá), Băng Tiêu, Ngọa Giải, Hà Khôi, Thổ Kỵ, Vãng Vong, Chu Tước, Bạch Hổ, Huyền Vũ, Câu Trần, Cô Thần, Quả Tú, Nguyệt Hư (Phá), Âm Thác, Nguyệt Hình (Phá), Sát Sư. Tiếp tục đọc

Vì Sao Hư Bộ Nhớ

Thư viện của bài

This gallery contains 1 photo.

BS. LƯƠNG LỄ HOÀNG

Nếu tưởng người già mới lẫn thì chưa đủ. Tình trạng sa sút trí nhớ đến độ “vừa nghe đã quên” của người trẻ từ lâu đã vượt xa mức báo động.

Ai chưa tin xin thử xem có bao nhiêu người nhớ nổi số… driver license ! Nhiều người quên tuốt luốt, quên giờ vào sở, quên luôn công việc, quên cả vợ con, đến độ sau giờ làm việc phải ngồi hàng giờ ở bàn nhậu để cố nhớ nẻo về nhà, thậm chí quên hết đến độ chỉ còn nhớ có mỗi ngày… lãnh lương!

Chuyện gì cũng có lý do. Bộ nhớ mau hư thường vì nạn nhân chính là thủ phạm do thiếu nhiều thứ cùng lúc lại thừa vài món trong cuộc sống thường ngày. Đó là:

* Thiếu ngủ: Không kể người lỡ chọn nghề trực đêm, thiếu ngủ vì thức quá khuya dường như là “mốt” của nhiều cư dân trong các thành phố. Kẹt một điểm là chất lượng của trí nhớ gắn liền với độsâu của giấc ngủ, theo kết quả nghiên cứu ở Đại học Schleiweg- Holstein. Nhưng nếu tưởng nhưthế chỉ cần dùng thuốc ngủ để ngủ cho được nhằm tăng cường trí nhớ thì lầm. Thuốc an thần tuy tạo được giấc ngủ nhưng não bộ đồng thời cũng mê một lèo khiến bộ nhớ quên luôn công việc. Tiếp tục đọc

Sức Mạnh Của Sự Im Lặng (Power Of Silence)

Thư viện của bài

Có những trường hợp sử dụng lý luận, vũ khí, trí tuệ cũng không bằng sử dụng sự im lặng.

Trong một hoàn cảnh ngặt nghèo nào đó, quí vị bị người ta hăm dọa thì cứ làm thinh, không phản ứng gì hết mà gương mặt rất bình thản, thản nhiên. Người ta thấy quí vị làm thinh, không nghe quí vị nói, hay bình luận, hay có ý kiến gì mà lại rất thản nhiên, họ sẽ hoang mang ngay.

Thậm chí, trong trường hợp một số người đang chạy tới để tấn công mình, quí vị cứ đứng đó, cứ làm thinh, họ sẽ thay đổi thái độ. Nhưng nếu quí vị chống cự, hay tỏ ra mình có vẻ đối phó thì họ tấn công thật.

Trong phim nói về tình sử Đại Đường có một câu chuyện tương tự. Có một ông đại đức ở xứ nọ phải lòng và yêu cô công chúa thứ 17 của vua Đường. Trong hoàn cảnh nào đó không rõ, ông đại đức giống như bị phạt phải ngồi trong một khu rừng có nhiều chó sói.

Ông ngồi nhắm mắt trong rừng cho đến qua đêm. Đêm đó, chó sói đến gần bao vây ông, dồn ông, ngửi ông, nhưng ông vẫn ngồi làm thinh, không cục cựa, không mở mắt, coi như mình không thấy chó sói, không cảm thấy trời thấy đất, không cảm thấy chính mình, không cảm thấy gì hết. Cuối cùng, bầy chó sói đó bỏ đi.

Thật vậy, nếu làm thinh trong trạng thái không thấy luôn cả mình thì tạo ra lực rất mạnh. Tiếp tục đọc

CHUYỆN TÌNH VÙNG U MINH 

Thư viện của bài

This gallery contains 2 photos.

Nguyên Lạc

CHUYỆN TÌNH VÙNG U MINH 
NAM BỘ QUÊ TÔI (II)

(hình hoa Sứ)

Phần II

CHUYỆN TÌNH 

SƠ LƯỢC CHUYỆN TÌNH VÙNG U MINH

Đây là bài thơ kể lại chuyện tình vùng U Minh nam bộ quê tôi, được gợi hứng từ truyện “Hương Rừng” nổi tiếng của nhà văn Sơn Nam. Xin tóm tắt chuyện như sau:
Di dân từ ngũ Quảng vào lập nghiệp vùng rừng U Minh. Ông Hương giáo có một người con gái duy nhất,  xinh đẹp mà ông rất thương yêu tên Hoàng Mai. Khi Hoàng Mai đến tuổi trăng tròn, hỡi ơi ông phát hiện nàng bị bệnh nan y: Cùi  (bệnh hủi hay bệnh Hansen)
Tìm trong gia phả thấy có ghi: – Luyện thuốc bằng “ngọc” ong mật có thể chữa bệnh cùi. Ông bèn thuê một chàng trai trẻ, làm nghề bắt ong mật đi tìm”ngọc”  để ông luyện thuốc cho con gái yêu. Ông Hương giáo mời chàng trai ở luôn trong nhà cho có bạn. Ngày đêm, ông chong hàng chục ngọn nến bạch lạp chung quanh mớ “ngọc” để luyện, hy vọng rằng khi đúng một ngàn ngày, nó sẽ trị được bịnh nan y của Hoàng Mai. 
Một hôm tại nhà ông Hương giáo, chàng trai gặp nàng, người con gái mỏng mảnh, liêu trai đứng tựa cây sứ cùi, mặt cạnh bên những đóa hoa trẳng nhìn chàng với ánh mắt đầy ân tình. Lòng đầy yêu thương, chàng đến đứng cạnh Hoàng Mai xin được cầm tay nàng.

[ – Anh nắm cái chéo tay áo này, em cũng đủ vui rồi. 
Cảm đông làm sao!…  Tiếp tục đọc

CHUYỆN TÌNH VÙNG U MINH

Thư viện của bài

This gallery contains 12 photos.

CHUYỆN TÌNH VÙNG U MINH
NAM BỘ QUÊ TÔI (I)

Phần I:

VÙNG U MINH 

BÀI THƠ, NHẠC VỀ RỪNG U MINH

Trước khi vào bài, mời các bạn đọc bài thơ và nghe bài nhạc phổ bài thơ này. Bài thơ liên quan đến vùng U Minh. Bài nhạc phổ thơ này theo cảm xúc riêng tôi rất hay, nhưng không biết sao nó không được phổ biến bằng các bài nhạc phổ thơ cùng thời, cùng nhạc sĩ Phạm Duy như bài: “Thà Như Giọt Mưa”, “Kỷ Vật Cho Em” “Chuyện Tình Buồn”… Chắc vì nó không đề cập đến thành phố, trường đại học, quán nhạc đèn vàng… mà chỉ nói về nơi chốn chân chất, quê mùa?
Rừng U Minh Ta Không Thấy Em 
[Thơ Nguyễn Tiến Cung]

Ta không thấy em từ bấy lâu nay
Mùa mưa làm rừng đước dâng đầy
Trên cao gió hát mây như tóc
Tràm đứng như em một dáng gầy

Ta không thấy em một lần đi
Nước phèn vàng nhuộm quần trây-di *
Đạn nổ lùng bùng trong nòng ướt
Tình đã xa rồi thôi nhớ chi

Mỗi con lạch là mỗi xót xa
Mỗi giòng sông là mỗi tuổi già
Thành phố đâu đây hình mất dạng
Cuộc chiến già nua theo tiếng ca…
……..
* Treillis: loại quần bằng vải khaki của quân đội, thường có hoa văn màu xanh thẫm để ngụy trang

Mời nghe nhạc:
Rừng U Minh Ta Không Thấy Em – nhạc Phạm Duy – Khánh Ly
https://youtu.be/Cd7H_ieM85k

RỪNG U MINH
Rừng U Minh nằm sát Vịnh Thái Lan, thuộc hai tỉnh Kiên Giang và tỉnh Cà Mau. Rừng U Minh là kiểu rừng rất đặc thù, được xếp hạng độc đáo và quý hiếm trên thế giới, gồm phần trên là U Minh Thượng, phần dưới là U Minh Hạ. Giữa U Minh Thượng và U Minh Hạ là sông Trẹm và sông Cái Tàu, nơi đây thiên nhiên rất hùng vĩ và hoang sơ.
Rừng U Minh được coi là nơi có giá trị sinh khối cao nhất so với các kiểu rừng khác với khoảng 250 loài thực vật, chủ yếu là cây tràm mọc ở khắp nơi, hơn 180 loài chim, hơn 20 loài bò sát… (Wikipedia) Tiếp tục đọc

Sức Khỏe

Một Toa thuốc hay cho tinh thần và thể xác

phuong-tim-37

I. Sức khỏe:

Tổ chức Y Tế Thế Giới (WHO) định nghĩa: “Sức khỏe là một tình trạng thoải mái hoàn toàn về thể chất và hoàn cảnh, chứ không phải là một tình trạng không có bệnh tật hay tàn tật”..

II. Bí quyết trường thọ:

1. Chấp nhận với những gì mình đang có
2. Thích nghi với hoàn cảnh của mình
3. Điều chỉnh để đạt được điều mong muốn.

III. Phòng ngừa bệnh tật:

1. Không vui quá hại tim
2. Không buồn quá hại phổi
3. Không tức quá hại gan
4. Không sợ quá hại thần kinh
5. Không suy nghĩ quá hại tỳ
6. Xua tan hoài niệm cay đắng bằng tha thứ và lãng quên
7. Với người cao tuổi tránh tranh luận hơn thua

IV. Thức ăn & uống trong ngày:

Một củ hành: chống ung thư
Một quả cà chua: chống tăng huyết áp
Một lát gừng: chống viêm nhiễm
Một củ khoai tây: chống sơ vữa động mạch
Một trái chuối: làm phấn chấn thần kinh, bớt lo âu, chống táo bón, giảm được béo
Một quả trứng hay ít thịt nạc: chống suy dinh dưỡng
Uống 1 đến 2 lít nước mỗi ngày: giải độc cơ thể.

V. Triết lý của người Trung Hoa hiện đại:

1. Một Trung Tâm là sức khỏe
2. Hai Tí: Một tí thoải mái – Một tí nhiệt tình
3. Ba Quên: Quên tuổi tác – Quên bệnh tật – Quên hận thù
4. Bốn Có: Có nhà ở – Có bạn đời – Có bạn tri âm – Có lòng vị tha.
5. Năm Phải: Phải vận động
Phải biết cười
Phải lịch sự hòa nhã
Phải biết nói chuyện và
Phải coi mình là người bình thường..

VI. Bảo Sinh Thái Ất Chân Nhân:

1. Ít nói năng để dưỡng Nội Khí
2. Kiêng sắc dục để dưỡng Tinh Khí
3. Bớt ăn hăng mạnh để dưỡng Huyết Khí
4. Đừng nhổ nước bọt để dưỡng Tạng Khí
5. Chớ giận hờn để dưỡng Can Khí
6. Chớ ăn quá độ để dưỡng Vị Khí
7. Ít lo lắng để dưỡng Tâm Khí
8. Tránh tà tâm để dưỡng Thần Khí.

VII. Hãy Dành Thì Giờ – Mẹ Thêrêsa Calcutta :

Hãy dành thì giờ để suy nghĩ Đó là nguồn sức mạnh.
Hãy dành thì giờ để cầu nguyện Đó là sức mạnh toàn năng.
Hãy dành thì giờ cất tiếng cười Đó là tiếng nhạc của tâm hồn.
Hãy dành thì giờ chơi đùa Đó là bí mật trẻ mãi không già.
Hãy dành thì giờ để yêu và được yêu Ưu tiên Thiên Chúa ban.
Hãy dành thì giờ để cho đi Một ngày quá ngắn để sống ích kỷ.
Hãy dành thì giờ đọc sách Đó là nguồn mạch minh triết.
Hãy dành thì giờ để thân thiện Đó là đường dẫn tới hạnh phúc.
Hãy dành thì giờ để làm việc Đó là giá của thành công.
Hãy dành thì giờ cho bác ái Đó là chìa khóa cửa thiên đàng

Sưu Tầm

XEM TRANH

  Võ Công Liêm                         

   Xem tranh cũng là nghệ thuật của thưởng lãm. Cái đó gọi là cách để xem –Ways of Seeing. Chớ xem tranh qua màu sắc, hình ảnh hay vì cái tên được đặc ra, và; nhiều lý do khác; thì đó không phải là nghệ thuật xem tranh mà đó là thị hiếu lôi cuốn để xem tranh. Trong tranh có nhạc và thơ, bất luận là hình tượng của trường phái (class) hội họa nào –tranh trở nên sống thực, bởi; trong tranh có thơ, trong thơ có họa mà mỗi khi nói đến họa và thơ thường nhắc đến thi nhân Vương Duy (701-761) đời Đường của Trung quốc. Nếu nhìn thấy (seeing) tranh là một liên kết của trở-về, là ‘back to the future’ của cái thời xa xưa đó.

Con mắt xem tranh ngày nay có thơ nhạc trong họa phẩm là con mắt đương đại; nó phải xa rời nhân thế mới dung thông với nghệ thuật, bằng không xem tranh chỉ là ‘dưỡng mục’ thì sự đó gọi là ‘chơi qua rồi bỏ’ hay xem chơi cho vui thì quả việc xem tranh không còn tính nghệ thuật giữa người vẽ và người xem. Rất nhiều nhà phê bình về hội họa cũng như âm nhạc đã nhận định về hai bộ môn này, cụ thể qua lời chứng minh hay giải thích một cách khách quan chủ nghĩa, nhưng; lại là vai trò chủ quan của việc nhận định (nói về mình nhiều hơn nói đến ‘hồn nghệ sĩ’). Nó không lý giải chiều sâu hay thâm cung bí sử của tác giả mà vòng vo như một cuộc tranh luận kiểu ‘trống đánh xuôi, kèn thổi ngược’ làm sai lệch vấn đề của nghệ thuật nói chung. Không còn tính triết lý của phê bình mà tợ hồ như lập lại lề thói cũ. Đó là bệnh lý của nghệ thuật và văn chương. Xem tranh phải có con mắt để nhìn thấy cũng như nghe nhạc phải có lỗ tai nghe. Xem dễ, nghe dễ là chuyện thông thường ngày nay, bởi; nó: ‘mua vui cũng được một vài trống canh’ (Kiều) không còn giá trị tuyệt đối cho nghệ thuật hội họa và âm nhạc. Vậy thì xem tranh bằng cách nào? -bố cục của họa phẩm: màu sắc, chất liệu đan kết vào nhau là tiếng nói của tác giả, dàn dựng vật thể qua dáng điệu (gesture) là biểu hiện hình hài và linh hồn của họa nhân. Cảm hứng là điều kiện thích nghi trong trạng huống chuyển động để lên-tranh như đã thấy một vài họa sĩ đặc tên tranh qua lời thơ.

Điều đáng nhớ giữa họa phẩm và họa sĩ nó có một dung thông đặc biệt hơn người thường; ở chỗ nhận thấy đến trước lời nói –Seeing comes before words, với trẻ con thấy để thừa nhận trước khi sự đó có thể nói được –The child looks and recognizes before it can speak. Nhưng; sự lý đó cũng là một cảm thức khác trong những gì nhận thấy đến trước hành động . Chúng ta có thể cho đó là thế giới ngữ ngôn của hội họa, nhưng; ngữ ngôn có thể không bao giờ giũ bỏ đi được; thực ra những gì trong đó đã bủa vây vào .Và; liên đới giữa những gì chúng ta nhìn thấy và những gì chúng ta nhận thức là không bao giờ an vị (settled) một cách chắc chắn. Họa nhân sống trong ‘mộng du’nhiều hơn là sống trong mộng tưởng. Cho nên chi tinh thần và thể xác của người nghệ sĩ nói chung bềnh bồng trong thế giới riêng tư của mình tìm thấy. Vì vậy; giữa chủ nhân họa phẩm và khách xem thường có một đối kháng (conflict) nhận thức lẫn nhau. Có điều người họa sĩ thích giấu hơn phơi ý nghĩa của mình tức không giải thích về chủ đề đã dựng thành hình. Hẳn nhiên; nhận biết (knowledge), giải thích (explanation) là không bao giờ hoàn toàn tương hợp và khó ăn khớp vào nhau mà đặc nó dưới một lăng kính khác biệt hơn. Thành ra phê bình hội họa không phải việc giản đơn mà phải sống vào đó mới nói lên được cái cốt tủy của hội hoạ; bằng không thì cứ việc xem tranh ‘tự do’ cho thỏa thích; còn tự do siêu thực của hội họa là thứ tự do không luật nó nằm ngoài vòng cương tỏa của trí tuệ. Họa sĩ siêu thực Magritte, René (1898-1967) ‘đã nhận định trên những gì luôn gặp gở ở đây có một khoảng hở giữa lời nói và nhận thấy trong tranh vẽ được gọi là bí quyết của mộng mơ’ –commented on this always-present gap between words and seeing in a painting called The Key of Dreams.

Chúng ta nhìn thấy sự vật là tác động mãnh liệt bởi những gì chúng ta biết hoặc là những gì chúng ta tin tưởng. Ở thời kỳ Trung Đại (Middle Ages) khi mà loài người tin trong một tâm lý hiện hữu (physical existence) về những gì của Điạ ngục là dấu hiệu để thấy lửa là có hướng (meant) cho một điều gì đó khác với đời nay là phương tiện (means). Lửa của điạ ngục là thiêu đốt, là tàn tro; lửa của hôm nay ngoài việc thắp sáng, nấu nướng là phương tiện, nhưng; nếu đụng tới lửa là đau đớn và cháy bỏng. Đó là lối nói tâm sinh lý và khoa học thực nghiệm như một nhận thức và nhận thấy (knowledge and seeing). Với hội họa lửa là nguồn sáng khơi dậy trong tâm thức để được sống lại từ tâm lý ‘năng nỗ’ hay còn gọi là đột hứng (spontaneous) hòa nhập bằng chất liệu thiết thực thì may ra nói được nhiệm vụ của lửa và phản ảnh tác động của lửa. Ngần đó cho người xem tranh có một nhận thức sâu xa để đánh giá cho một tác phẩm đạt tới đỉnh cao của nghệ thuật. Làm thơ trong họa được thời làm lửa trong tranh không phải là chuyện khó. Thí dụ: Trong ‘Guernica’của Picasso (1881-1973) sự tức giận của ngựa và nỗi đau của con người là điạ ngục trần gian; không màu không sắc mà là một quyết liệt dữ dội của họa nhân. Đó là lửa đã thiêu đốt chớ không còn là phương tiện như tâm lý nhận thấy. Hẳn nhiên đây là sự nhận thấy mà tất cả ý thức đó đến trước ngữ ngôn mỗi khi sáng tác, dĩ nhiên; có thể điều đó không bao giờ bao che một cách trọn vẹn; nó cũng chẳng phải vấn đề thuộc máy móc mà ảnh hưởng hay tác động vào sự kích thích cảm giác của họa nhân. Ngược lại chúng ta chỉ thấy những gì chúng ta thấy ở đó –We only see what we lơok at. Nhìn nó hay xem nó là một hành động chọn lựa –To look is an act of choice. Kết quả của xem tranh là kết quả của hành xử (act) thời những gì ta nhìn thấy đều mang lại cái tinh hoa bên trong mà chúng ta muốn đạt tới.

                   * Hình dưới (1): ‘Two Ovals (Composition No 218) 1919. Tranh của Wassily Kandinsky (1866-1944)

tranh vcl1.jpg

Vậy thì kết cấu hợp nhất của một bức tranh là góp vào đó nền tảng chủ lực của hình ảnh về nó; đó là lý do để tâm tới cho một bố cục của tranh. Nhưng; ở đây sự kết cấu là đã nghĩ tới, đó là cái của tự nó cho một cảm xúc để vẽ lên tranh. Hình ảnh đã hiện ra trong một tri giác nhận biết về nó là việc làm đầu tiên gợi lên ở đó một vài thứ đã vắng mặt. Bước tiến trình về nó để trở nên chứng cớ là hình ảnh có thể tồn tồn dài lâu (outlast) mà những gì về nó đã được diễn tả. Tranh hiện ra ở đó tất cả hình ảnh hoặc thể hiện qua con người; nó cô đọng trong đó một thực chất của vật thể mà họa nhân muốn bày tỏ và như vậy chủ đề của họa phẩm ít nhiều đã đến với người xem trong một lãnh hội để đi tới đả thông tư tưởng và cho vào đó một cảm nhận sâu sắc của bốn chiều trong một tác phẩm; đưa người xem thoát tục để trở về với hiện hữu sống thực. Sự cố này là kết quả gia tăng nhận thức của những gì có tính chất cá thể -This was the result of an increasing awareness of individuality, đồng thời dẫn độ một sự gia tăng ý thức về lịch sử (đặc biệt ở thời kì Phục Hưng (Ranaissance) để lại ở đó những dấu tích thời thượng). Trong cái hình ảnh trọng vọng đáng qúi này là có nhiều cái chính xác và phong phú hơn cả văn chương, thi tứ. Điều để nói ở đây là không có nghĩa từ nan hay phản đối cái sự diễn cảm dạt dào tình yêu chất chứa trong tranh, không nói nên lời nhưng phơi mở, bộc lộ một sự ẩn tàng trong từng ‘con màu’ như con chữ vậy; là những gì sản lượng của nghệ thuật. Đối xử nó một cách thiết thực như một tư liệu chứng cứ. Nhiều hình ảnh đan kết trong họa phẩm, có nhiều sự chìm lắng trong tư duy giữa người vẽ và người xem qua kinh nghiệm của họa nhân về những gì thấy được một cách tự nhiên –The more imaginative the work, the more frofoundly it allows us to share the artist’s experience of the visible. Hẳn nhiên mỗi khi hình ảnh hiện ra trong trí tức là nắm được chủ đề, bố cục và chất liệu là ‘hợp tố’ để thành hình tác phẩm. Tuy nhiên; dưới mắt người xem tranh có một thái độ và một cảm nhận đặc biệt ở nơi tranh -tranh tức là người-, bởi; họa nhân đã phản ảnh một vài cử chỉ tự hào về tác phẩm của mình làm nên một cách chủ quan. Đúng! Nhưng đừng ‘face talk’ kênh kiệu hay ngạo mạn với nghệ thuật. Nghệ thuật hội họa xưa nay có một sự im lặng lãng mạn và hào khí, nghĩa là đòi hỏi của sự im lặng tuyệt đối là vàng ngọc hơn lời nói; vì nói nhiều làm cho tranh mất giá là ở chỗ đó. Người họa sĩ cần có một tác phong đạo đức dù có ‘trần truồng’ đi chăng vẫn phải là. Nhưng phải nhìn thấy nó trong cái kênh kiệu, ngạo mạn là một thứ làm điệu (drama-queen) chứa ở đó cái bỡn cợt, thách đố vô nghĩa. Kỳ thực tùy vào từng đối tượng nhưng không thể kéo dài với trạng huống đó mà tùy thuộc vào cái vũ trụ như thể là / The world-as-it-is là hiện ra ở đây một thực chất của người nghệ sĩ đúng đắn. ‘as-it-is’ điều này rất hiếm đối với các họa nhân trên thế giới, gần như họ sống chết với nghệ thuật hơn những gì họ phô trương. Hình thể đó cọng-sản gọi là trí thức tiểu tư sản. Tư-bản gọi là trí thức sà-lồn (salon) hay ma đầu đều một nghĩa như nhau.Thí dụ: có những kẻ muốn ‘điên’ cho nghệ thuật như-nó-là chân chính thì sự đó gọi là ảo hóa, lấy vải thưa che mắt thánh không còn gọi là vị nghệ thuật. Hoàn toàn mất tính nghệ thuật mà chỉ là một sự hoàn tất trong hành động không dính tới hội họa. Vậy thì làm thế nào để nói lên ‘hồn nghệ sĩ’? Là người nghệ sĩ ‘không hóa’ như kiểu của Amedeo Modigliani (1884-1920). Không-hóa là gì? Là ‘the world-as-it-is’, là không pha chế, là không hóa chất, là nguyên trạng cái của nó là cõi riêng, nghĩa là: không có ta trong họa phẩm mà họa phẩm có ta dành cho đời…là đặc thù của hội họa. Nhưng phù hợp cách xử dụng về nó và đúng nguyên tắc cơ bản xã hội cái đó là cái cuối cùng nói lên sự nghiệp, nhưng nhớ cho, cái có đó không có nghĩa là trội hơn tất cả. Nghệ thuật là hình ảnh ảo hóa, nhìn thấy mông lung luôn luôn tồn lưu nằm trong lãnh vực riêng tư; căn nguyên ở đây duy trì, gìn giữ cái ma thuật hoặc sùng bái –The visual arts have always existed within a certain preserve; originally this preserve was magical or sacred. Nhưng cái điều đó nó cũng là khoa tâm lý gây ra từ mọi hoàn cảnh, mọi trạng huống cái sự đó đã làm nên tác phẩm. Trước là kinh nghiệm của nghệ thuật và sau là kinh nghiệm của bản chất. Định nghĩa cho rốt ráo: hình ảnh của nghệ thuật có một vài điều trở nên không dài lâu, tầm thường, siêu tưởng, dễ dàng, không có giá cho thứ tự do xa-xỉ-phẩm không điều kiện; để rồi biến hội họa vào cõi phù du.

                       Hình dưới (2): ‘Female nude and Smoker’ 1968 của P. Picasso. Dầu trên bố. Galerie Rosengart, Lucerne.

tranh vcl2

XEM TRANH KHỎA THÂN

Hội họa qua bao thế kỷ thường có khuynh hướng nhìn tới cái đẹp nhất là cái đẹp của phái nữ; đẹp từ bên ngoài tới bên trong một tâm lý phơi mở tột độ của người cầm cọ để nói lên: ‘Rõ ràng trong ngọc trắng ngà / Dày dày sẵn đúc một tòa thiên nhiên’ (Kiều) Hầu như đó là niềm ao ước để đạt tới sự nghiệp của hội họa mà trong đó lồng một triết lý nhân ái đồng thể (homogeneous) đồng thời diễn tả đường nét sắc bén qua cơ thể con người kể cả điêu khắc hay tạc tượng (anatomy). Đặc biệt ở đây chúng ta nói đến cái đẹp của đàn bà, bởi; xã hội thường nhìn vào đàn bà là một sự khác biệt trong một hiện thể của con người –a woman is different in kind from that of a man. Hiện diện của con người trên hành tinh này là tùy vào lời hứa hẹn của quyền năng mà quyền năng đó là hiện thân cho một ám thị tự tại nghĩa là trong đó có qủy ám (demons) và có tốt xấu (good and evil) trùm bọc trong con người đàn bà. Nếu không có Eve thời Adam thánh thiện.

Lý cái sự này có tính chất giáo điều làm lệch hướng của nghệ thuật. Nghệ thuật là thoát tục để đạt tới chân lý hiện thực không còn thấy tà dâm qủy ám mà nó trở thành cái lý đương nhiên mà tạo hóa dựng vào đó để làm đẹp con người. Cho nên chi Michelangelo di Lodovico (1475-1564) không còn nghi ngờ những gì là hình hài của con người mà hầu hết những nghệ sĩ của thời kỳ Sáng Phục Hưng (High-Renaissance) đã cho ông những sáng tạo về tranh cũng như điêu khắc, dựng vào đó một chân tướng tuyệt đỉnh (con người); những tác phẩm trần truồng tạo nên những tác phẩm ngoại hạng và lừng lẫy một thời được truyền lưu hơn 400 năm sau cái chết của ông. Cùng thời với Leonardo Da Vinci (1452-1519) qua bức tranh để đời ‘The Virgin of the Rocks’ (1508). Đấy là sự thật về ‘sắc đẹp’ của con người; thời tất chúng ta không thể cho đó là quá đáng hay quá ‘lõa thể’ mà phải nhìn vào nó như cái đẹp của hóa công…Người ta có thể giản đơn mà nói rằng: nam thì bộc phát (men act) và nữ thì lô liễu (women appear). Đàn ông thì nhìn vào đàn bà còn đàn bà là ngó, nhìn, ngắm (watch) ở chính thân mình và luôn luôn nhìn vào đó (being looked at). Đó là một xác định rõ ràng nhất, nó vừa tâm lý vừa sinh lý không những dành riêng cho phụ nữ để đi tới một sự quan hệ giữa đàn ông và đàn bà, nhưng; trong đó cũng có những quan hệ khác của đồng phái. Đàn ông, đàn bà đều có cái nhìn tương quan vào nhau. Hầu như mục tiêu đặc biệt về hình ảnh cho: một chợt thấy –and most particularly an object of vision: a sight (!) Chợt thấy để được gần nhau là ao ước được nhìn vào.

Như đã nói ở trên, sau Michelangelo tranh sơn dầu về đàn bà trần truồng đã là điểm chính, cho dù tái diễn trong cùng một chủ đề. Sự đó được khẳng định trần truồng (nude) là phơi trắng qua từng đường tơ kẽ tóc thời không có chi mà hổ-ngươi, thẹn thùng mà phải che, che đậy hay cả thẹn là không thực để mô tả và không thực ngay cả chính mình, vô hình chung mình tự dối mình. Nó không còn là quan điểm đơn phương để rồi xa rời nhân thế. Lõa thể là phơi mở cái sự hồn nhiên lộng lẫy trời ban cho là ở chỗ đó. Mà phải nhìn nhận họa nhân người đã dày công gầy dựng lại để trở nên đại lý sự vụ của Thượng đế -becomes the agent of God-. Nhớ cho vẽ trần truồng của những họa sĩ là chúng ta đã khám phá và tìm thấy một vài tiêu chỉ và luận bàn bởi những gì đã được nhìn thấy nơi đàn bà; đó là thị lực để ngắm nhìn của người họa sĩ và người xem tranh. Trần truồng đã có từ Adam và Eve, bởi; xui phải ăn trái cấm mới lấy đồ che thân; để rồi từ đó họ không bao giờ nhìn thấy nhau một cách ‘trong trắng’. Lõa thể đã tạo ra trong trí của người thích nhìn –Nakedness was created in the mind of the beholder. Quả thực; từ khi vấp phải đã đưa tới khát vọng nơi Adam một cách hoàn toàn tuyệt vọng. Eve cũng rơi vào trạng huống đó để đi tới ân hận bởi cám dỗ mà làm mất đi cái đẹp cả đời sau . Vì vậy; người đàn bà luôn luôn nhìn ở chính mình là thế và thừa nhận nó có một sự lôi cuốn vô hình mà người phải lụy tới nó. Và có thể làm sụp đổ cả ‘vạn lý trường thành’. Khởi từ đó người ta mới nhận ra cái đẹp thiên nhiên là cái gì qúy báu trời ban cho. Chúng ta phải giữ lấy!

                                             Hình dưới (3) ‘Nude on a blue cushion’(1917) Của Amedeo Modigliani .

tranh vcl3

Đấy là điều đáng ghi nhận khởi từ tiền Phục Hưng và hậu Phục Hưng đã có tranh, tượng khỏa thân mô tả những sống động khác nhau của người phụ nữ dưới cái nhìn khác nhau của người nghệ sĩ, không những thời kỳ rực rỡ được nói đến và kéo dài bao thế kỷ; hình ảnh đẹp của đàn bà vẫn không dừng lại mà phát huy qua những lăng kính khác nhau. Nghệ thuật tạt tượng của Ấn Độ, nghệ thuật khỏa thân ở Campuchia, nghệ thuật chạm khắc trên đá của Thổ (Persian), nghệ thuật   trần truồng trên gỗ của Phi châu và gần đây đã khám phá tượng hình lõa thể trên đá, đền đài ở Columbian Mỹ châu. Nói chung không ngoài mục đích phơi mở toàn thân của đàn bà. Trần truồng là không bao giờ chán nản, thờ ơ trong lối nhìn –nakedness is never supine in this way. Và nếu; nó là tập quán hay lề thói, thời chủ đề của tác phẩm là tình dục (sexual). Nó bày ra ở đây một hành động của dục tính tình yêu giữa hai người. Hành động đó như thu hút vào nhau.

Từ chỗ đó cho chúng ta bắt đầu nhìn thấy sự khác biệt giữa trần truồng (nakedness) và lõa thể (nude) trong những tác phẩm hội họa hay trên tượng. Tuy nhiên dưới hình thức nào đi chăng trần truồng hay lõa thể là hình thức của nghệ thuật –therfore; the nakedness or nude is a form of art. Chớ đừng cho đó là phàm phu tục tỉu, nếu cảm nhận như thế thì không còn là sự thật ở chính mình mà chính bản thân mình cũng thường hay xem xét ‘being looked at’ một cách kín đáo và âm thầm. Vậy thì nhìn vào là khát vọng. Thì hà cớ gì mà chối bỏ sự thật hiển nhiên như vậy. Cho dù dưới cách nào để nhìn-vào-khỏa-thân là không cần thiết để giới hạn bởi nghệ thuật. Ngày nay nó phơi trắng trên hình chụp, bích báo, trên sàn nhảy qua dáng dấp khêu gợi thể xác (nude gestures); thiết tưởng chuyện ‘ở lỗ’ là lề thói có từ lâu và tự nhiên, nhưng; để rồi phải che kín cho tới khi hợp thức hóa. Che là một đòi hỏi tâm lý giữa đàn bà và đàn ông (?).

Phân tích một cách tường tận theo phương hướng triết học để tìm thấy cái đích thực của trần truồng và lõa thể; cả hai cùng một nghĩa như nhau; nó không vướng đục, nó trong trắng, nó nguyên trinh, nó mới mẻ, bởi; nó là hành động chứng tỏ như một xác nhận củng cố và khơi dậy một cảm thức mãnh liệt để giải thoát một cách dịu dàng (sense of relief). Nàng là đàn bà như muôn triệu đàn bà khác, chàng là một đàn ông như tỷ thằng đàn ông khác: tất cả đã tràn ngập bởi ấn tượng kỳ diệu chung trong ‘hệ phái’, một dục tính hết sức máy móc (sexual mechanism) của cả đôi bên. Không đứt đọan giữa sự phơi mở đó. Trần truồng hay lõa thể đều là hành động của đòi hỏi. Nghệ sĩ đã bị ứ đọng và tràn ngập (overwhelmed) đành phải tháo gỡ dưới mắt trình bày chớ không nhất thiết nghệ thuật vị nghệ thuật. Ít nhiều cũng bị hấp dẫn vào đó. Nói như thế này: ý thức trông đợi thì đây là một sự phản đề giữa linh hồn và thể xác, nó cấu tạo song phương để hòa nhịp vào một trạng thái mê hoặc, bởi; vô thức đồng tính (homosexsual) là sự muốn được hoặc vô thức để đi tới cái sự chống lại sắc dục (heterosexual). Nhưng; nếu ‘giải thoát /relief’ có thể lý giải rằng nó không cần phải đi tới vô thức (unconscious), bởi; trong cái sexual đã có hai dạng thức trong cùng một lúc.

                                          * hình dưới (4) ‘ Olympia’ của E. Manet 1863(1832-1883)

tranh vcl4

Trong hội họa hiện đại khẳng định về tranh khỏa thân đã trở nên ít quan trọng hơn xưa. Họa nhân chính họ bắt đầu đặc vấn đề vào đó là vai trò bất tuân, nghĩa là không còn che giấu mà hụych toẹt như một chứng cứ về nét đẹp dưới cảm thức của người nghệ sĩ. Mẫu thức về đàn bà đã biến thể đầu tk. thứ hai mươi và vẫn còn tiếp tục cho tới nay trong đó chú ý nhất là phái ấn tượng của Đức còn hoạt động.

Nói rút lại; ngày nay thái độ, phong cách và giá trị là những gì đã gây ra, đó là tập quán bày tỏ xuyên qua nhiều góc cạnh khác nhau, nhiều bề mặt rộng lớn tràn lan đại hải -gần như dựa vào cái hấp dẫn của phụ nữ

để truyền thông hay quảng cáo… Đàn bà được miêu tả trong cách nhìn khác nhau dưới mắt của đàn ông.; không phải khác nhau là một bên gọi ‘cái/female’, một bên gọi ‘thằng/male’. Khác ở chỗ ý nghĩ của người xem tranh, nhất là phái nam luôn tỏ ra vô tư nhưng trong vô tư lại chứa khát vọng. Biến thể của người đàn bà cũng nằm trong người đàn ông. Dẫu đó là tranh vẽ nhưng để trong tiềm thức một sự đợi chờ, một sự đợi chờ thỏa đáng. Không có hình ảnh, nhưng; đã mường tượng những gì mà người xem tranh cho là giống như thật; là cái đẹp của phụ nữ mà ‘quyền năng’ dành cho phái nữ một đặc ân để làm người ./.

VÕ CÔNG LIÊM (ca.ab.yyc. 1/7/2019)

*Tranh trong bài rút từ Art of the 20 century by Taschen 2000 Benedikt Koln. Germany.

-Hình (1): ‘Hai hình bầu dục’ (Bố cục số 218) 1919 của W Kandinsky (Nga).

-Hình (2): ‘Người Đàn bà Lõa thể và Người Đàn ông ngậm vố’ 1968 của P. Picasso (Tây Ban Nha).

-Hình (3): ‘Trần truồng trên gối xanh’ 1917. của A. Modigliani (Ý Đại Lợi).

-Hình (4) ‘Nàng Olympia’ 1863 của E. Manet (Pháp).

ĐỌC THÊM: ‘Chân dung tự họa (2018)/ Triết lý của Nghệ thuật (2018)/ Nhận thức về Nghệ thuật / Hội Họa qua từng thời ký (2017)

Những bài đọc trên hiện có trên một số báo mạng và giấy trong và ngoài nước hoặc email theo đ/c đã ghi.

TRANH VẼ: ‘Cảnh Đại dương / Seascape’.Khổ !6” X 20” Trên giấy cứng. Acrylics +Mixed+House-paint .vcl#1102013.

Xem Tranh ở trang dưới.

Vocôngliêm

                                                   CẢNH ĐẠI DƯƠNG / SEASCAPE

tranh vcl5

LIFE

Khê Kinh Kha chuyển ngữ

bien va chim

“Tôi đã đạt đến đỉnh cao của sự thành công trong thế giới kinh doanh. Trong mắt một số người khác, cuộc sống của tôi là mẫu mực của sự thành công. Tuy nhiên, ngoài công việc, tôi chỉ có chút niềm vui. Cuối cùng, sự giàu có của tôi chỉ là một thực tế của cuộc sống mà tôi đã quen. Tại thời điểm này, nằm trên giường và nhớ lại cuộc sống của mình, tôi nhận ra rằng tất cả sự công nhận và sự giàu có mà tôi rất tự hào đã trở nên phai mờ và vô nghĩa khi đối mặt với cái chết của tôi.

 Bạn có thể thuê một người nào đó lái xe cho bạn, kiếm tiền cho bạn nhưng bạn không thể thuê ai đó mang bệnh thế cho bạn. Những thứ vật chất bị mất có thể tìm lại được hoặc thay thế được. Nhưng có một thứ không bao giờ có thể tìm thấy hay thay thế được khi nó mất – (đó là) Cuộc sống. Bất cứ giai đoạn nào trong cuộc sống bạn đang ở ngay bây giờ, với thời gian, bạn sẽ phải đối mặt với một ngày khi tấm màn (cuộc đới) buông xuống.

 Trân quý tình yêu quý giá cho gia đình bạn, tình yêu dành cho người bạn đời của bạn, tình yêu dành cho bạn bè của bạn. Hãy đối xử tốt với bản thân và trân trọng người khác. Khi chúng ta già đi, và hy vọng khôn ngoan hơn, chúng ta nhận ra rằng một chiếc đồng hồ trị giá 3000 đô la hoặc 30 đô la đều chỉ cùng một giờ. Bạn sẽ nhận ra rằng hạnh phúc bên trong thực sự của bạn không đến từ những thứ vật chất của thế giới này. Cho dù bạn bay hạng nhất hoặc hạng thường, nếu máy bay rớt – bạn cũng rớt theo nó.

Vì vậy, tôi hy vọng bạn nhận ra, khi bạn có người tình, bạn thân thiết và bạn bè cũ, anh chị em, người bạn trò chuyện, cười đùa, nói chuyện vớI nhau, hát những bài hát, nói chuyện lung tung đông-tây nam-bắc hoặc trên trời dưới đất , đó là hạnh phúc thật sự! Đừng giáo dục con bạn trở nên giàu có. Giáo dục họ để được hạnh phúc. Vì vậy, khi chúng lớn lên, chúng sẽ biết giá trị của mọi thứ chứ không phải giá cả. Ăn thức ăn của bạn như những liều thuốc bổ cho bạn, nếu không, bạn phải nuốt những viên thuốc làm thức ăn của bạn.

 Người yêu bạn sẽ không bao giờ bỏ rơi bạn vì người khác bởi vì, ngay cả khi có 100 lý do để từ bỏ, người đó sẽ tìm ra lý do để giữ lấy và trân quý bạn. Có một sự khác biệt lớn giữa một con người và làm một con người. Chỉ một số ít thực sự hiểu nó. Bạn được yêu khi bạn được sinh ra. Bạn sẽ được yêu khi bạn chết. Ở thời gian chính giữa, bạn phải tự quản lý lấy!

Sáu vị bác sĩ giỏi nhất thế giới là ánh sáng mặt trời, nghỉ ngơi, tập thể dục, ăn kiêng, tự tin và bạn bè.

Hãy duy trì chúng trong tất cả mọi giai đoạn và hảy tận hưởng một cuộc sống khỏe mạnh”

Khê Kinh Kha chuyển ngữ

(from Unknown Author)

Đại Nghĩa, Quê Hương Tôi

Thư viện của bài

This gallery contains 1 photo.

Biên khảo  Nguyên Lạc

1. Quê hương (danh từ): Đất Nước, nói về một Đất nước mà trong đó có quê (làng, cái nhà) mà mình đã được sinh ra.(Wiktionary)
“Trời sinh ra bác Tản Đà/ Quê hương thời có cửa nhà thì không” (Thú ăn chơi – Tản Đà). “Lòng quê dờn dợn vời con nước/ Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà” (Huy Cận)

2. Trong tùy bút “Lòng yêu nước” của nhà văn Nga Ilya Grigoryevich Ehrenburg (1891- 1967) có viết: “Lòng yêu nước ban đầu là lòng yêu những vật tầm thường nhất: yêu cái cây trồng ở trước nhà, yêu cái phố nhỏ đổ ra bờ sông, yêu vị thơm chua chát của trái lê mùa thu hay mùa có thảo nguyên có hơi rượu mạnh…
Dòng suối đổ vào sông, sông đổ vào dải trường giang Volga, con sông Volga đi ra bể. Lòng yêu nhà, yêu hàng xóm, yêu miền quê trở nên lòng yêu Tổ quốc”. [1]

3. Quê hương qua trích đoạn thơ:

Quê hương. chiếc đò nho nhỏ
Qua sông. kham khổ từng ngày
Thân me vai gầy. gánh khổ
Thương con. chịu nỗi đắng cay
.
Quê hương đong đầy thương nhớ
Ngoại nhai tóm tém trầu cay
Mẹ mày. thằng cháu mất dạy
Rong chơi lêu lỏng suốt ngày
.
Quê hương làm sao không nhớ?
Cầu tre lắt lẻo sớm mai
Đường vui. trống trường réo gọi
Cây cao. chim hót từng bầy
Chia nhau từng viên đạn nhỏ
Bịt mắt. kiếm tìm. Ai đây?
Chia nhau nỗi lo thầy gọi
Nhói đau. thước khẽ bàn tay
Chia nhau trái me keo ngọt
Chia nhau từng tiếng cười đầy Tiếp tục đọc

4th of July: Freedom is never free

flag america

Have you ever wondered what happened to the 56 men who signed the Declaration of Independence?

 

Five signers were captured by the British as traitors, and tortured before they died.

Twelve had their homes ransacked and burned.

Two lost their sons serving in the Revolutionary Army; another had two sons captured.

 Nine of the 56 fought and died from wounds or hardships of the Revolutionary War.

 They signed and they pledged their lives, their fortunes, and their sacred honor.

What kind of men were they?

 

Twenty-four were lawyers and jurists. Eleven were merchants,

Nine were farmers and large plantation owners; men of means, well educated,

but they signed the Declaration of Independence knowing full well that the penalty would be death if they were captured.

   Carter Braxton of Virginia, a wealthy planter and trader, saw his ships swept from the seas by the British Navy. He sold his home and properties to pay his debts, and died in rags.

   Thomas McKeam was so hounded by the British that he was forced to move his family almost constantly. He served in the Congress without pay, and his family was kept in hiding. His possessions were taken from him, and poverty was his reward.

  Vandals or soldiers looted the properties of Dillery, Hall, Clymer, Walton, Gwinnett, Heyward, Ruttledge, and Middleton.

   At the battle of Yorktown, Thomas Nelson, Jr., noted that the British General Cornwallis had taken over the Nelson home for his headquarters. He quietly urged General George Washington to open fire. The home was destroyed, and Nelson died bankrupt.

  Francis Lewis had his home and properties destroyed. The enemy jailed his wife, and she died within a few months.

   John Hart was driven from his wife’s bedside as she was dying. Their 13 children fled for their lives. His fields and his gristmill were laid to waste. For more than a year he lived in forests and caves, returning home to find his wife dead and his children vanished.

   So, take a few minutes while enjoying your 4th of July holiday and silently thank these patriots. It’s not much to ask for the price they paid.

 Remember: freedom is never free!

I hope you will show your support by sending this to as many people as you can, please. It’s time we get the word out that patriotism is NOT a sin, and the Fourth of July has more to it than beer, picnics, and baseball games.

ĐỌC “CHƠI GIỮA THƯỜNG HẰNG”

Thư viện của bài

This gallery contains 1 photo.

Châu Thạch

ĐỌC “CHƠI GIỮA THƯỜNG HẰNG”
TẬP THƠ LỤC BÁT- TÁC GIẢ NGÃ DU TỬ.
              

Nhận tập thơ của Ngã Du Tử tặng đã hơn ba năm, nó đi theo tâm trí tôi suốt ba năm. Viết về nó? Không đủ trình độ ! Không viết về nó? Nó như  bức tranh Giáng Tiên của chàng Tú Uyên treo  ngay trên tường nhà tôi. Nàng tiên phải bước ra thì mới thỏa lòng ao ước của tôi!

Vậy thì hôm nay tôi liều viết. như liều mời nàng tiên ra vậy. Viết xong sẽ gởi tấm lòng cho gió cuốn đi như nhạc Trịnh công Sơn, nó đến đâu thì cứ đến, hoặc nếu nàng tiên bỏ tôi đi biệt về Trời thì cũng thỏa lòng.

“Thường hằng” là gì? Theo nhà thơ Ngã Du Tử: “Mỗi hành trình một đời người trú ngụ trên trần gian đều chứng nghiệm muôn màu muôn vẻ của sinh lão bệnh tử, của thành trụ hoại diệt. Cái ấy khái niệm của Phật giáo là thường hằng”. “Vô thường là dịch biến, ngược lại là thường hằng. Vậy thường hằng là bất biến. Vô thường được giải thích nôm na như sóng, sóng là vô thường còn nước là thường hằng, mặc dầu sóng là do có nước mới sinh ra” Tiếp tục đọc

ĐỌC THƠ NGẮN CỦA LỆ THỦY

Thư viện của bài

This gallery contains 1 photo.

Châu Thạch

Lệ Thủy không phải là người chuyên làm thơ. Tôi chỉ hân hạnh gặp cô một lần khi cô chiêu đãi cà phê vợ chồng nhà thơ Mạc Uyên Linh từ Sài Gòn ra thăm Đà Nẵng. Qua chuyện trò, tôi nhận thấy Lệ Thủy là mọt người yêu thơ thật trọng trắng. Cô quý mến, tôn trọng và tìm đến những nhà thơ vừa già, vừa xấu, vứa không có tên trong các hội đoàn hiện nay như chúng tôi. Về nhà tôi mở trang facebook của lệ Thủy mà tôi vừa kết bạn. Hóa ra Lệ Thủy cũng có làm thơ. Thơ đó chỉ là nhưng dòng ngắn gọn, thành vần do cảm  hứng bất ngờ đến trong phút giây. Tuy thế, chính nhờ vậy mà tiếng thơ của Lệ Thủy cho tôi nhiều cảm xúc, thú vị như được ăn một thứ quả nhỏ, thơm, vừa hái ngay từ trên cây xuống.

Nói thì phải có sách và mách thì phải có chứng. Vậy nên hãy đọc một vài câu thơ liên quan đến thành phố Đà Nẵng mà Lệ Thủy viết gần đây nhất:

Ai nhuộm nổi buồn cho vạt nắng chiều nay.
Để khóe mắt cay.. Ngỡ chiều mưa đổ.
Thành phố lớn.. Mà lòng người thì nhỏ..
Chẳng có nơi nào. Làm điểm tựa. .dừng chân. Tiếp tục đọc

HỌC LÀM NGƯỜI

                                                              Đức Đạt Lai Lạt Ma
dalai lama
 
Tín ngưỡng của tôi rất đơn giản. Không cần có các chùa chiền, không cần các triết lý cao siêu. Tim và óc của tôi là các chùa chiền; triết lý của tôi là lòng tốt.
Học làm người là việc học suốt đời chẳng thể nào tốt nghiệp được!
1. Thứ nhất, học nhận lỗi”. Con người thường không chịu nhận lỗi lầm về mình, tất cả mọi lỗi lầm đều đổ cho người khác, cho rằng bản thân mình mới đúng. Thật ra không biết nhận lỗi chính là một lỗi lầm lớn.
2. Thứ hai,“học nhu hòa”. Răng người ta rất cứng, lưỡi người ta rất mềm, đi hết cuộc đời răng người ta lại rụng hết, nhưng lưỡi thì vẫn còn nguyên. Cho nên cần phải học mềm mỏng, nhu hòa thì đời con người ta mới có thể tồn tại lâu dài được.
3. Thứ ba, ”học nhẫn nhục” . Thế gian này nếu nhẫn được một chút thì sóng yên bể lặng, lùi một bước biển rộng trời cao. Nhẫn, vạn sự được tiêu trừ. Nhẫn chính là biết xử sự, biết hóa giải, dùng trí tuệ và năng lực làm cho chuyện lớn hóa thành nhỏ, chuyện nhỏ hóa thành không.
4. Thứ tư,“học thấu hiểu”. Thiếu thấu hiểu nhau sẽ nảy sinh những thị phi, tranh chấp, hiểu lầm.Mọi người nên thấu hiểu thông cảm lẫn nhau, để giúp đỡ lẫn nhau. Không thông cảm lẫn nhau làm sao có thể hòa bình được?
5. Thứ năm,“học buông bỏ” . Cuộc đời như một chiếc vali, lúc cần thì xách lên, không cần dùng nữa thì đặt nó xuống, lúc cần đặt xuống thì lại không đặt xuống, giống như kéo một túi hành lý nặng nề không tự tại chút nào cả. Năm tháng cuộc đời có hạn, biết buông bỏ thì mới tự tại được!
6. Thứ sáu,“học cảm động”. Cảm động là tâm thương yêu, tâm Bồ tát, tâm Bồ đề; trong cuộc đời mấy mươi năm của tôi,có rất nhiều câu chuyện, nhiều lời nói làm tôi cảm động, cho nên tôi cũng rất nỗ lực tìm cách làm cho người khác cảm động.
Nguon:DPNguyen gui

Hà Nội, trong mắt một người mù

Thư viện của bài

This gallery contains 1 photo.

nam dao Cuốn phim ‘’Hà Nội trong mắt ai’’ (HNTMA) của đạo diễn Trần Văn Thủy bắt đầu bằng tiếng ghi-ta một nhạc sĩ mù. Kính đen sụp xuống mũi, nhạc sĩ gảy đàn như thể cố nhìn cho ra … Tiếp tục đọc

Cuộc Đời và Thời Gian

Thư viện của bài

This gallery contains 1 photo.

võ công liêm

            Là hiện tượng dung thông. Là tiếng kêu thức tỉnh của con người trước cuộc đời, là cái nhìn nội giới mà khi phóng tầm nhìn vào hiện tượng thì đó là bản thể con người. Nhưng nếu mọi thứ trong đời đều khác biệt thì ngay cái nhìn vẫn có cái chung, tuy nội dung khác nhau nhưng cái nhìn vẫn là một; đó là tương quan giữa người và vũ trụ. Sự hội ngộ khơi từ ý thức dù ý thức vô niệm nhưng là ý thức hiện hữu, một ý thức thúc đẩy đi từ vực thẳm tuyệt vọng để rồi bừng dậy bằng ý niệm ta thán để vượt thoát ra khỏi những gì bức xúc vốn đã tồn lại mà mỗi khi con người có ý thức và trách nhiệm làm người; đôi khi do từ cá thể hay do từ hoàn cảnh tạo nên. Từ cái chỗ bức xúc là một dự phóng để tâm hồn giải tỏa cuộc đời và thời gian là hai thứ tích lũy và dằn vặt cô đọng trong một tư duy phát tiết qua ngữ ngôn. Phát huy bằng lời ca tiếng hát như trao trút nỗi uất nghẹn, đặc điểm đáng kể phải nói đến là ca dao. Nó đi từ đồng ruộng đến thành thị, từ bình dân đến bác học là hình ảnh chứng thực cho một hiện hữu đối với chúng ta; thoát khỏi một quá khứ đen, một tương lai mịt mờ mà đi vào với hiện tại của sáng tạo, không những thế; thức tỉnh giữa cuộc đời chính là cái mơ trở về.

Theo nhãn quan tâm lý học: mơ-về là ý thức trôi chảy của hoài vọng, một ray rứt không đạt tới ‘en suivant la pente de la rêverie’. Cho nên chi cái nhìn triết học tâm lý và cái nhìn của người nghệ sĩ hoàn toàn khác nhau, vì; ý thức thức tỉnh đối lập với ý thức thức tỉnh nghệ thuật. Thức tỉnh của người nghệ sĩ là mơ về để nhận diện cuộc đời là cả một quá trình thời gian đòi hỏi. Mà mỗi khi mơ về (rêver à / dreaming day) là buông thả để tùy thuộc cho sự quay về. Cái nhìn mơ mộng là tác động trôi chảy của tâm sinh lý, mà mơ là để biến mình vào ngôn từ trong ca dao hay thi ca: Tiếp tục đọc

Hanh Phúc Nhờ Buông Xả

Thư viện của bài

This gallery contains 1 photo.

Có người nọ nghe nói về một đạo sư nổi tiếng nên tìm đến hỏi đạo. Đến nơi, anh thấy trong nhà của vị đạo sư trống trơn, chỉ có một cái giường, một cái bàn, một cái ghế và một cuốn sách.

Anh ngạc nhiên hỏi: “Sao nhà đạo sư trống trơn, không có đồ đạc gì cả?”

Đạo sư hỏi lại: “Thế anh có hành lý gì không?”

Anh đáp: “Dạ có một va li”.

Đạo sư hỏi: “Sao anh có ít đồ vậy?”

Anh đáp: “Vì đi du lịch nên đem ít đồ”.

Đạo sư nói: “Tôi cũng là một người du lịch qua cuộc đời này nên không mang theo đồ đạc gì nhiều”.

Chúng ta thường quên mất mình chỉ là khách du lịch qua cuộc đời này, lầm tưởng mình sẽ ở mãi nơi đây, nên tham lam, ôm đồm, tích trữ quá nhiều đồ vật, tài sản. Đàn bà thì chất chứa quần áo, vòng vàng, nữ trang. Đàn ông thì máy móc, xe hơi, ti vi, máy điện tử.

Tranh Chấp

Mỗi khi có sự tranh chấp, buồn phiền, chúng ta thường có khuynh hướng đổ lỗi cho người khác. Sau đây là ba trường hợp:

Người chưa biết đạo thì luôn cho mình đúng và người kia lỗi 100%.
Người bắt đầu học đạo, biết tu thì thấy cả hai bên đều có lỗi 50%.
Người hiểu đạo thì thấy mình lỗi 100%.
1/ Người chưa biết đạo thì luôn cho mình đúng 100%. Do vô minh và chấp ngã quá lớn, Tiếp tục đọc

Đọc “Ngày Sinh” Thơ Hư Vô

Thư viện của bài

This gallery contains 1 photo.

 Châu Thạch

Nhà Thơ Hư Vô & Châu Thạch
NGÀY SINH

“Hãy để ngày ấy lụi tàn, 
cái ngày mà tôi mới sinh ra đời 
và cái đêm mà người ta nói rằng có một

 linh hồn được kết thành thai”

………….

Mùa qua chưa trên bãi đời dâu bể
Ai đã dài tay với mộng không thường
Ngày đếm tuổi mây sầu lên tóc rối
Mi ngỡ ngàng thấm ướt dấu mơ sương

Năm tháng ấy đã ghi vào bút mực
Dẫu mây bay tám hướng mười phương
Lời nhân thế mưa ru bằng nước mắt 
Mặn vào lòng hay rớt giữa trùng dương

Hoa và lá vẫn một lòng tận hiến
Và trăng sao còn vẽ mộng bên trời
Con thuyền bé đã lẫn vào sóng biếc
Bến bờ xưa nghe lau lách lỡ bồi.

  Hư Vô

Cảm nhận của Châu Thạch:

Nhà thơ Hư Vô, một cây bút ẩn dật sống đời đạm bạc ở miền quê Đại Lộc Quảng Nam. Thế nhưng lạ thay, thi hữu của anh rất đông, và ai cũng muốn tìm đến anh như tìm một hàn sĩ thân thương được đời mến mộ. Tiếp tục đọc

CHỮ BẬU TRONG HÒ, CA DAO VÀ LỤC BÁT 

Thư viện của bài

This gallery contains 1 photo.

Nguyên Lạc

Bài viết này là bài thứ 2 trong loạt bài giới thiệu quê hương nam bộ bình dị và thân thương của chúng tôi. Đây là bài 1: Nguyên Lạc: VỀ CHỮ “BẬU”

https://wordpress.com/post/trangvhntnguoncoi.wordpress.com/38576

Trong cuộc Nam tiến, nhiều dòng người từ các nơi đã đến vùng đất mới này sinh cơ lập nghiệp, nhất là những đợt di dân từ đất ngũ Quảng (Quảng Bình, Quảng Trị, Quảng Tín, Quảng Nam và Quảng Ngãi) vào cuối thế kỷ 16 và đầu thế kỷ 17.  Trên bước đường chinh phục hoang vu, từ những chiếc ghe bầu, ghe chài, tam bản, xuồng ba lá… hành trang mang theo của những di  dân này có cả những câu ca dao để làm chỗ dựa tinh thần trên bước đường xa xứ. Lênh đênh sông nước, những hành trang tinh thần này được họ- các tiền nhân –  cách tân, sáng tác thêm cho phù hợp với hoàn cảnh mới của mình, rồi phổ biến rộng rãi. Chữ “bậu” đặc biệt của nam bộ xuẩt hiện trong ca dao. Những câu hò, điệu lý… từ những ca dao này được hình thành. Tôi xin được tiếp tục giới thiệu đến các bạn sơ lược về hò và một số bài lục bát ca dao có chữ “bậu” thân thương này.

.
SƠ LƯỢC VỀ HÒ
.
Hò là một trong những thể loại âm nhạc dân gian miền nam Việt Nam, được du nhập bởi những đợt di dân từ đất ngũ Quảng, từ vùng ngoài đưa vô vùng đất mới phía cực nam của đất nước ta.
Hò rất được ưa chuộng ở miền nam vì có sức hấp dẫn lạ thường. Chúng tôi xin tạm phân làm ba loại hò: Hò trên cạn, hò trên sông nước và hò giao duyên hay đối đáp. Tiếp tục đọc

Giàu Sang Hay Giàu Có

Thư viện của bài

This gallery contains 1 photo.

Có nhiều định nghĩa về cái “giàu”. Định nghĩa nào cũng đúng, tùy theo tâm tư / suy nghĩ / ước mơ / hoài bảo của mọi người.

10 năm trước đây, tôi định nghĩa “giàu” không phải là có nhiều tiền – mà là có… rất nhiều tiền. Nhiều tiền có nghĩa là có nhà cao cửa rộng, có xe hơi, có máy bay, có du thuyền, có… bla bla bla… Nói chung là có mọi thứ. Tôi nhìn thần tượng Bill Gate – và ước ao một ngày nào đó tôi cũng như ông ta, dù không trở thành người giàu nhất hành tinh – thì cũng là một người giàu sang quyền quý. Tôi sẽ cố gắng trở thành một nhân viên giỏi nhất, ưu tú nhất, xuất sắc nhất, có được mức lương cao nhất…

Cái “giàu” đó, bây giờ tôi gọi là “Giàu sang”.

5 năm sau, khi đọc cuốn sách “Cha giàu – Cha nghèo” (Rich dad – poor dad), trong tôi hình thành một khái niệm mới về việc đi làm công cho người hoặc làm công cho bản thân mình. Lúc đó hoài bảo về việc lập một business riêng để tự làm giàu cho chính mình cao như đỉnh Thái Sơn vòi vọi. Tôi sẽ là một người thành đạt bằng chính đôi tay, trí óc của mình. Sau ngần ấy năm đi làm, tôi sẽ xây dựng được một cái gì đó để lại sau này, chứ không phải chỉ là một thằng đi làm thuê quần quật suốt ngày.
Tiếp tục đọc

Nhớ Cha Trong Ngày Lễ Của Cha

Thư viện của bài

This gallery contains 1 photo.

Sương Lam

Cứ mỗi lần Tháng Sáu đến là tôi lại nhớ đến Ngày Của Cha thường được tổ chức vào ngày Chủ Nhật của tuần lễ thứ ba trong tháng Sáu. 

Ngày Lễ Của Cha năm nay là Ngày Chủ Nhật 16 Tháng Sáu năm 2019.

Cũng như Ngày Lễ Của Mẹ vào Tháng Năm vừa qua, các người con xứ Mỹ lại có dịp mời Cha đi ăn hay tặng quà cho Cha để tỏ lòng hiếu kính với người Cha của mình. Ngon lành hơn, sang trọng hơn đối với người có tài chánh phong phú thì người con sẽ mời Cha cùng đi du ngoạn trên một chuyến cruise nào đó hay cùng đi nghỉ mát ở một nơi nào đó. Nhưng chuyện này cũng hiếm khi xảy ra vì người con sẽ lấy lý do rất bận việc, nên ông cha bà mẹ cứ việc đợi dài cổ ra nhé. Con cái thời “a còng” mà lị! Ai nấy dều bận túi bụi! Cũng đành thôi!  

Hình như càng lớn tuổi chúng ta lại càng thương cha nhớ mẹ nhiều hơn, nhất là khi cha mẹ đã qua đời vì tâm lý con người thì khi mất đi một vật nào đó, một người thân nào đó thì mới thấy những gì đã mất thật đáng quý vô cùng. Tiếp tục đọc

Bàn về chữ LIKE trên FACEBOOK

Thư viện của bài

This gallery contains 1 photo.

Nguyên Lạc      

Dẫn nhập:

“Nghề chơi cũng lắm công phu” (Truyện Kiều – câu 1201) nhất là VĂN CHƯƠNG, nghề chơi thanh cao nhất. Các cụ xưa nói vậy.

Chơi cho lịch mới là chơi

Chơi cho đài các, cho người biết tay! (Nguyễn Công Trứ)

– Bây giờ sao? Còn thanh lịch, còn đài các không?

Tôi e rằng nghề chơi thanh cao này không còn được như vậy nữa. Người ta đã lợi dụng nó để “mưu đồ” cho lợi ích riêng tư, cho cái DỤC không lấy gì tốt đẹp của riêng mình. Bằng chứng rõ ràng nhất về điều này là việc sử dụng chữ LIKE trong Facebook. Chữ LIKE này vẫn tiếp tục bị “hiếp dâm” (từ của triết gia Phạm Công Thiện)

Trước khi vào phần chánh, xin tặng các bạn bài thơ “hết ý” của cụ Nguyễn Khuyến:

Đầu đường ngang có một chỗ lội

Có miếu ông Cuội cao vòi vọi

Đàn bà đến đó vén quần lên

Chỗ tời đến háng, chỗ đến gối

Ông Cuội ngồi trông mỉm miệng cười

“Cái gì trông trắng giống con cúi?”

Vội vàng khép nép đứng liền thưa:

“Trót dại hở hang xin xá tội!”

Ông rằng: “mầy cũng chẳng tội gì!… ”

Chỉ tội làm ông cứng con buội Tiếp tục đọc