THỬ SUY NGHIỆM VỀ “CUNG THỤY DU” TRONG BÀI THƠ “KHÚC THỤY DU” CỦA TRẦN MAI NGÂN.

Thư viện của bài

This gallery contains 1 photo.

CHÂU THẠCH cảm nhận KHÚC THỤY DU ***Em biếtTrăng Thu huyền ảo lắmCàng chạy tìm – càng xaBóng trắng cứ sáng loàCung Thuỵ Du ảo mộng… Em biếtTrong khúc quanh đồng vọngDư âm của dấu yêuDù rất rõ một điềuLà … Tiếp tục đọc

T R Á N G S Ĩ H Ề, PHẠM NGỌC LƯ!

Hoàng Xuân Sơn

pn lu 1

( trích từ FB Sony Hoang (HXS)

Tôi chưa hề gặp Phạm Ngọc Lư. Nhưng quý trọng người thi sĩ ấy : con người, tài năng, nhân cách. Và khí phách. Khí phách với cuộc đời và những kẻ bội bạc vô ơn, những bằng hữu một thời đã bán linh hồn cho quỷ!
Tôi đọc Lư từ những ngày đầu của tâm thức văn nghệ trẻ dấn thân, trên Văn, và những diễn đàn khác. Mấy chục năm sau mới nối kết với thi sĩ qua tin tức của một người bạn chung. Thơ văn Phạm Ngọc Lư buốt xoáy tâm hồn. Một kẻ sĩ, tráng sĩ bất phùng thời. Hỡi ơi những tài năng khó trụ lâu với đời. Thôi thì “thác là thể phách, còn là tinh anh (Kiều).

XX

BIÊN CƯƠNG HÀNH – P h ạ m N g ọ c L ư
Biên cương biên cương chào biên cương
Chào núi cao rừng thẳm nhiễu nhương
Máu đã nuôi rừng xanh xanh ngắt
Núi chập chùng như dãy mồ chôn
Gớm, gió Lào tanh mùi đất chết
Thổi lấp rừng già bạt núi non
Mùa khô tới theo chân thù địch
Ta về theo cho rậm chiến trường
Chiến trường ném binh như vãi đậu
Đoàn quân ma bay khắp bốn phương
Lớp lớp chồm lên đè bẹp núi
Núi mang cao điểm ngút oan hờn
Đá mang dáng dấp hình chinh phụ
Trơ vơ chóp núi đứng bồng con
Khu chiến ngày tràn lan lửa dậy
Đá Vọng Phu mọc khắp biên cương
Biên cương biên cương đi biền biệt
Chưa hết thanh xuân đã cùng đường
Trông núi có khi lầm bóng vợ
Ôm đá mà mơ chuyện yêu đương
Thôi em, sá chi ta mà đợi
Sá chi hạt cát giữa sa trường
Sa trường anh hùng còn vùi dập
Há rằng ta biết hẹn gì hơn ?
Đây biên cương, ghê thay biên cương !
Núi tiếp rừng, rừng tiếp khe truông
Hãi hùng chưa trời hoang mây rậm
Mùa mưa về báo hiệu tai ương
Quân len lỏi dưới tàn lá dữ
Lá xôn xao xanh mặt hoảng hồn
Sát khí đằng đằng rừng dựng tóc
Ma thiêng còn ngán bọn cô hồn
Cô hồn một lũ nơi quan tái
Có khi đã hóa thành thú muông
Cô hồn một lũ nơi đất trích
Vỗ đá mà ca ngông hát cuồng
Chém cây cho đỡ thèm giết chóc
Đỡ thèm môi mắt gái buôn hương
Đây biên cương, ghê thay biên cương !
Tử khí bốc lên dày như sương
Đá chảy mồ hôi rừng ứa máu
Rừng núi ơi ta đến chia buồn
Buồn quá giả làm con vượn hú
Nào ngờ ta con thú bị thương
Chiều hôm bắc tay làm loa gọi
Gọi ai nơi viễn xứ tha phương ?
Gọi ai giữa sơn cùng thủy tận ?
Ai người thiên cổ tiếc máu xương ?
Em đâu quê nhà chong mắt đợi
Hồn theo mây trắng ra biên cương
Thôi em, yêu chi ta thêm tội
Vô duyên xui rơi lược vỡ gương
Ngày về không hẹn ngày hôn lễ
Hoặc ngày ta mắt nhắm tay buông
Thôi em chớ liều thân cô phụ
Chiến trường nay lắm nỗi đoạn trường
Nơi nơi lạnh trăm dòng sông Dịch
Kinh Kha đời nay cả vạn muôn
Há một mình ta xuôi biên tái
“Nhất khứ bất phục phản” là thường !
Thôi em, còn chi ta mà đợi
Ngày về thân cạn máu khô xương
Ngày về hôn lễ hay tang lễ
Hề chi ! buổi chinh chiến tang thương
Hề chi ! kiếp cây rừng đá núi
Nghìn năm hồn quanh quẩn biên cương
tháng 5 – 1972

&&&&&

MAI SAU CHẲNG CÓ GÌ NHIỀU
[tặng bạn Phạm Ngọc Lư+]

Giải trừ phiền muộn trong ta
thưa em yên ắng là nhà biệt giam
chút bình yên mặc cả. thầm
là mưa đậm tiếng trên bầm dập. nghe
cuồng si nỗi chẳng đặng về
thì xin cây đứng bên lề cổ sơ
hai bàn tay mỏng vin thơ
thịt xương 1 bó cơ đồ 1 ôm
lá thuyền con. ngực sóng chồm
trăng nghê đã chết giữa hồn ly tao
cười em còn hửng má đào
mà trong hương gió nghe sao buồn buồn
vai kề má tựa còn thương
hay chiều lạc bóng trăm đường quạ kêu
mai sau chẳng có gì nhiều
xin em cầm cố một liều đan tâm
XX
Uống đi ta mấy đỗi. nằm
bóng dương tịch mịch và trăm năm dài
con nước tuyền. đọt nắng phai
mùa chiêm ảo vọng rơi ngoài hư không
biết vẫn còn ở thương mong
cầm em như chút tấc lòng quạnh hiu
biết làm sao nhắn lại chiều
gió mù biên cảnh đã theo về đời
vết cắt này chia em. nơi
mờ mờ nhân dạng buổi người chưa đau
ta nay phố thị buồn rầu
quán xiêu hồn tạt mấy cầu thu mưa
thôi về quan ngại đò đưa
chuyến đời lưu viễn nghìn xưa đắm cùng

HOÀNG XUÂN SƠN
14/4/07

NỖI XÓT XA KHẮC KHOẢI TRONG BÀI THƠ “CHO MỘT NGƯỜI ĐÀN BÀ ĐÃ ĐI XA” CỦA NHƯ KHÔNG

Thư viện của bài

This gallery contains 1 photo.

Châu Thạch Cảm Nhận NhuKhong CHO MỘT NGƯỜI ĐÀN BÀ ĐÃ ĐI XA Mấy mươi năm trôi qua Chưa kịp gặp lại nhau lần nào Em đã ra đi Một lần mãi mãi Bến sông cũ đã bao dòng nước … Tiếp tục đọc

ĐỌC “MẤY DÒNG XUÂN GỞI BẠN” THƠ NGUYỄN NGUYÊN PHƯỢNG

Thư viện của bài

This gallery contains 1 photo.

Châu Thạch   MẤY DÒNG XUÂN GỞI BẠN Tùng cúc lưỡng khai tha nhật lệ- Đỗ Phủ Nửa phía biển dạt trôi…miền vọng nhớ Tan tác chiều chia biệt bởi vì đâu Nắng Cali chập chờn tầng ngất phố Những … Tiếp tục đọc

CHI TIẾT XẤU ĐẸP CỦA 10 NGÀY ĐẦU NĂM TÂN SỬU – 2021

Thư viện của bài

This gallery contains 1 photo.

Đặng Xuân Xuyến Trước thềm năm mới 2021, Đặng Xuân Xuyến lược soạn bài CHI TIẾT XẤU ĐẸP CỦA 10 NGÀY ĐẦU NĂM TÂN SỬU – 2021 quý tặng bạn đọc như một món quà nho nhỏ mừng Xuân Tân … Tiếp tục đọc

ĐỌC TẬP THƠ “VẪN LÀ EM” CỦA HƯƠNG LAN 

Thư viện của bài

This gallery contains 1 photo.

Châu Thạch      Nhà thơ Hương Lan, quản nhiệm CLB thơ facebook Quảng Trị vừa xuất bản tập thơ “Vẫn Là Em”. Đây là một tập thơ tình dành riêng để trăn trở cho một cuộc tình rất đẹp, rất đẹp … Tiếp tục đọc

Đêm Giao Thừa Với Nỗi Lười Biếng Ngọt Ngào

PHẠM NGA

hoa2

Cái bổn-phận-sự được xem là cuối cùng năm cũ của tôi là phụ bà xả bày chiếc bàn nhỏ ra bên cạnh cây mai già ở sân trước, xếp đặt đầy đủ phẩm vật chuẩn bị cúng đón giao thừa. Nhà nào cũng cửa đóng, then cài, ngõ xóm chợt im ắng lạ thường vào thời khắc năm cũ/năm mới sắp bàn giao. Cặp đèn ly được đốt lên, tạo một khoảnh sáng lung linh, thật ấm cúng trên chiếc bàn cúng…
Tôi lặng lẽ rút lên phòng, ê ẩm cái lưng tuổi già sau mấy ngày cập rập đón Tết nên nằm dài trên giường – nghỉ ngơi chờ giao thừa thôi! Đêm nay, tôi không mở các đài phim Mỹ AXN, HBO, StarMovies…trên ti-vi như thói quen giải trí từ cả mấy chục năm qua mà rà chọn đài SCTV3. Đài này chuyên phát các chương trình phục vụ thiếu nhi nhưng 6 giờ sáng mới bắt đầu, còn giờ này chỉ phát nhạc hòa tấu và đang đêm giao thừa nên có ‘chạy’ lời chúc Tết. Thật hay ho là tình cờ đài lại đang cho nghe album “On The Mirror” lừng danh của Yanni. Hơn thế, lại đúng các bài tôi rất ưa chuộng lâu nay, cứ nghe đi nghe lại mãi không chán – nhất là lúc viết lách là mở luôn thật nhỏ trên PC, như các bản: A Love For Life, The Morning Light, Once Upon A Time, On The Mirror… (tạm dịch mấy cái tựa là: Tình Yêu Cuộc Sống, Ánh Ban Mai, Ngày Xửa Ngày Xưa, Phản Chiếu Từ Tấm Gương Soi…).
Vài phút giây nữa là tôi coi như bước vào tuổi ta 71 và cái lão vừa chớm “thất thập cổ lai hy” đang tự cho phép mình lười biếng, khỏi làm việc gì cả, chỉ nằm dài, nằm im mà nghe nhạc. Cuộc đời lại đang rộng lượng bỏ qua cho cái trò lười biếng, phi lao động của tôi, còn ban tặng cho tôi một chuỗi âm nhạc tuyệt vời! Chỉ từ một cái ti-vi cũ mèm, chứ nào phải từ cả một giàn amply, loa HIFI… hoành tráng nào đâu, thế mà những bản hòa tấu hiện đại này (Yanni tự gọi các tác phẩm của mình như thế) đã chuyển tải đến người nghe dòng nhạc điệu hết sức tuyệt diệu. Luôn ăn ý với nhạc điệu của bản nhạc được gọi tên, những cái tựa bản nhạc, như Tình Yêu Cuộc Sống, Ngày Xửa Ngày Xưa, Ánh Ban Mai…, đã quá thích hợp để êm ả vun bồi cho cảm xúc trầm lắng của tôi cùng những ai đang nhìn lại dĩ vãng coi-như-cũng-tạm-được một năm qua, đồng thời nhen nhóm trong lòng một ít kỳ vọng vào tương lai cuộc sống…
Chưa hết.Trong lúc cái lưng già đã chịu êm ả trở lại, tôi mơ màng nghe nhạc, hưởng thụ niềm an lạc nhỏ bé của mình thì đúng 12 giờ đêm. Giao thừa rồi! Tôi hơi tiếc rẻ nhưng cũng tắt tivi, chổi dậy và định bước ra hàng hiên trên gác để hít thở nay bầu không khí ngoải trời đang tươi nhuận chánh-hiệu-năm-mới, bỗng cái điện thoại trên bànkêu lóc cóc…
A! Bạn bè tới tấp gởi message chúc Tết đúng giao thừa, đúng ngay lúc ngôi chùa cạnh nhà bập bùng gõ trống mừng Năm Mới!
Phải nói là bạn bè thiệt siêng năng, vừa chúc Tết, chúc Năm Mới cho gia đình tôi lần nữa ngay thời điểm giao thừa, mặc dù mấy ngày cận Tết chúng tôi đã rộn ràng trao đổi nhau, hết chúc riêng rổi chúc chung, không biết bao nhiêu là email, tin nhắn cùng entry chúc Tết, chúc Xuân, chúc Năm Mới trên Facebook, Messenger và Gmail với đủ thứ hình ảnh, tranh vẽ, nhạc minh họa đủ kiểu đủ màu kèm theo.
Tôi cảm thấy hạnh phúc tràn đầy khi nhận ra đã có những bạn bè thương mình, quý mình đến nỗi chỉ mấy giây sau 12 giờ đêm giao thừa đã gởi ngay lời chúc Tết đến mình, bởi để chuẩn bị chúc Tết đúng giao thừa, người ta thường ‘khóa’ sẵn vài cái tên thân thương nhất trong danh sách ưu-tiên-số-1của riêng mỗi người và các bạn tôi đã quyết định cho tôi đứng đầu danh sách. Anh chị em đã giành hết mấy giây đầu tiên rất thiêng liêng của năm mới để trước tiên là chúc Tết tôi, sau đó mới có thể chúc tới ai khác, bởi trên điện thoại không thể nào bấm song song cùng lúc các message.
Gần hai giờ sáng rồi. Tôi lãng đãng đắm mình trong nỗi lười biếng ngọt ngào, cũng là một cảm giác hạnh phúc thật tươi mới giữa đời thường nên tự hứa sáng mai mùng Một (chỉ vài giờ nữa thôi) nhất định sẽ dậy thật sớm để làm việc-cần-làm-ngay là chúc Tết hồi âm những message quý giá mà bạn bè thân thương vừa gởi cho ngay giao thừa…
PHẠM NGA

NHÀ THƠ MẠC UYÊN LINH VỚI “THƠ TÌNH KHÔNG TUỔI”  

Thư viện của bài

This gallery contains 1 photo.

Châu Thạch        Cầm tập “Thơ Tình Không Tuổi” của nhà thơ Mạc Uyên Linh gởi tặng, nhìn tấm ảnh của nhà thơ được đăng trên trang bìa, tôi cảm thấy tấm ảnh như thể hiện thứ thơ tình không … Tiếp tục đọc

TRUYỀN THUYẾT NGÔI CHÙA LÀNG ĐÁ

Thư viện của bài

This gallery contains 1 photo.

Đặng Xuân Xuyến Cách thị trấn Ân Thi (Hưng Yên) chừng 1km về phía thị trấn Kẻ Sặt (Hải Dương), thuộc thôn Đỗ Hạ, xã Quang Vinh, huyện Ân Thi, tỉnh Hưng Yên có một ngôi chùa được gọi là … Tiếp tục đọc

TẢN MẠN ĐÔI ĐIỀU VỀ TRÀ-KỲ 8

Thư viện của bài

This gallery contains 4 photos.

Nguyên Lạc ẤM NGHI HƯNG THEO THỜI GIAN Theo sách Dương Tiện Mính Hồ Lục (Sách về các ấm trà vùng Dương Tiện) của Chu Cao Khởi thì đời Chính Đức, Gia Tĩnh nhà Minh có Cung Xuân tài nghệ tuyệt vời, … Tiếp tục đọc

TẢN MẠN ĐÔI ĐIỀU VỀ TRÀ (Kỳ 7)

Thư viện của bài

This gallery contains 1 photo.

Nguyên Lạc  Biên khảo . DỤNG CỤ UỐNG TRÀ .Như đã biết ở phần trên: Đoàn trà là bánh trà được bỏ thẳng vào bình nước nóng đang sôi, rồi rót nước trà ra chén uống. Mạt trà là bột trà … Tiếp tục đọc

PHÚC ĐỨC CÓ PHẢI LÀ BIẾN THỂ CỦA THUYẾT LUÂN HỒI – NHÂN QUẢ?

Thư viện của bài

This gallery contains 1 photo.

* Du nhập vào Việt Nam từ rất sớm, từ những năm đầu công nguyên, Phật Giáo đã được tín ngưỡng truyền thống của người Việt tiếp nhận, dung hòa và uyển chuyển phát triển qua thời gian, trở thành … Tiếp tục đọc

BỎ QUA NHỮNG LẦM TƯỞNG; QUAN NIỆM SAI LẤM VỀ VẮC-XIN COVID-19

Thư viện của bài

This gallery contains 2 photos.

      Bhavesh B.     Trong vài tuần tới, hàng triệu người có thể được tiêm những liều vắc-xin COVID-19 đầu tiên ở những nơi khác nhau trên thế giới. Vương quốc Anh đã bắt đầu triển khai vắc xin … Tiếp tục đọc

TẢN MẠN ĐÔI ĐIỀU VỀ TRÀ-KỲ 5

Thư viện của bài

This gallery contains 1 photo.

Nguyên Lạc LOẠI TRÀ – DANH TRÀ (tt) III. Các loại trà khác1. Việt namTrước khi nói đến trà Việt, tôi xin nhắc lại sơ lược quan niệm về nguồn gốc trà.Theo Đỗ Ngọc Quỹ: “Từ tài liệu khảo cứu … Tiếp tục đọc

CẢM NHẬN NGHỆ THUẬT GIỮA CUỘC ĐỜI

VÕ CÔNG LIÊM

     Sự thật cuộc đời nếu người ta nhận ra được; một phụ nữ đẹp mặc chiếc áo dạ hội tuyệt hảo với đôi môi héo úa thời khuyết điểm đó không còn nghĩa là đẹp, nhưng; vì cái điểm nhỏ nhặt đọng trên môi mà có thể làm cho người ta không buồn để ý tới, ngắm nghía hay chiêm ngưỡng cái đẹp của tạo hóa.

Nhưng vẽ về một người đàn bà như thế có thể là một suy đồi, tác hại lớn, là nói lên cái thô lỗ, tục tằn một áp đảo vào cái nhìn của nam phái, bởi; cái đẹp là toàn diện trên tất cả mọi thứ.Và từ chỗ đó cho ta một kinh nghiệm rộng rãi về xấu xa, gớm guốc của bức tranh và phẩn uất đối với họa nhân (cũng có một số người cảm nhận điều đó như một chấp thuận và người ta có thể tùy thuộc vào đó như một đối đãi tinh thần của người họa sĩ)Cảm xúc được nói đến trong tranh có thể do từ một bất ngờ bộc phát (instantaneous)bén nhạy hơn cái nhìn cảm thức của người xem (viewer’s mind) cũng có thể đó là một phát hiện bao gồm tất cả lý do liên can tới vẽ. Do từ động vọng thuộc tâm lý, là những thứ đưa đến một đáp ứng vấn đề cho nguồn cơn phát sinh ra vẽ. Là cảm thức con người giữa cuộc đời –is a man’s sense of life. Cảm thức của cuộc đời là một mở đầu nhận thức ý niệm tương quan của siêu hình, một xúc cảm, tiềm thức hòa nhập, để định lượng được những gì thuộc con người và thuộc về tồn lại –A sense of life is a pre-conceptual equivalent of metaphysics, an emotional, subconsciously integrated appraisal of man and of existence.

Cảm thức cuộc đời của người nghệ sĩ là khống chế và tiết điệu được trong tác phẩm của mình, hướng tới một cái nhìn chung cục để bỏ vào trong tranh; từ chọn lựa tiêu đề đến chất liệu khéo léo là chi tiết cho một đặc chất của tranh. Chính sự cớ đó đã hòa điệu vào cảm thức của người xem, văn chương cũng thế là một đồng tình hòa hợp giữa người viết và người đọc. Họa lấy màu sắc thay tiếng nói là việc khó thực hiện, nhưng nói lên được ấy mới là tinh xảo. Đấy là câu trả lời đến một tác phẩm nghệ thuật bằng một xáo động nội tại; hẳn nhiên đó là tác động của nhận và thuận hoặc chối bỏ và phê phán.

Nói như thế không có nghĩa rằng cảm thức cuộc đời là hợp lý, là chuẩn mực của cái gọi là yêu chuộng thẩm mỹ; kể cả người họa sĩ và người xem. Cảm thức cuộc đời không thể sai lầm –A sense of life is Not infallible. Nhưng; cảm thức đó khơi nguồn từ nghệ thuật mà ra, một cơ cấu thuộc tâm lý học mà những thứ đó có thể do từ khả năng con người tạo ra được một chỗ đứng, vị trí cách riêng như là nghệ thuật. –But a sense of life is the source of art, the psychological mrchanism which enables man to create a realm such as art. Một lý lẽ nhận thức là hoà nhập và cảm thông giữa đối tượng hội họa làm cho người vẽ và người xem không còn ‘responds’ vấn đề mà đòi hỏi ý thức được hay không ý thức được.Đó là cốt tủy nghệ thuật.

Cảm xúc là một hệ lụy vướng vào trong nghệ thuật chớ không phải cảm xúc trong cái nghĩa thông thường của từ ngữ hay dùng. Qua kinh nghiệm sinh lý hay vật lý thì có nhiều thứ ‘cảm thức/sense’ hoặc là ‘cảm nhận/feel’ nhưng; có hai đặc điểm liên can đến xúc cảm/emotions: một do từ cơ năng tức khắt và một do từ cường độ thúc đẩy, một cá tính uyên bát thâm hậu (không hẳn đây là xác quyết) giá trị nghĩa lý đưa tới một kinh nghiệm riêng tư cho bộ môn hội họa mà đánh giá sự tương quan cuộc đời và nghệ thuật; lời lẽ đó gọi là cảm xúc: ‘đấy là nghĩa lý cuộc đời đối với tôi / this is what life means to me’. Đừng để ý tới cái lẽ tự nhiên hoặc nội dung về cái nhìn siêu hình, trừu tượng của người nghệ sĩ. Rứa thì lấy chi để bày tỏ cho một tác phẩm nghệ thuật; căn nguyên nào? Dạ thưa; dưới tất cả mọi khiá cạnh nhỏ nhặt nhất là: Cuộc đời ở đây như tôi nhận thấy. Là; cái thâm hậu cần thiết đáp ứng cho người thưởng lãm hoặc người đọc. Dưới mọi yếu tính tối thiểu: Đây là cuộc đời (hoặc không phải cuộc đời) như tôi đã biết. Cái đó là điều ắt có và đủ cho một nhận thức thuộc nghệ thuật; mặc khác là nhu cầu sáng tạo của người nghệ sĩ làm nên.

Khoa tâm lý thuộc nhận thức hiểu biết (the psycho-epistemological) là tiến trình của thông đạt giữa họa nhân và người thưởng lãm hoặc văn nhân và độc giả được diễn tiến như sau: họa nhân khởi sự với một tư duy trừu tượng mà phải cụ thể hóa (concretize) để mang vào đó một thực chất đúng nghĩa thích ứng một cách đặc biệt, người thưởng lãm phải nhận thấy cái sự đặc biệt, cái hợp nhất chất liệu và chiếm trọn hình ảnh trừu tượng từ những gì đã để lại trong tranh; có như vậy là đạt tới chân-không của hội họa và siêu lý của văn chương. Nói theo kiểu ẩn dụ; tạo ra được một tiến trình tương tợ về hình ảnh (của vẽ) như một tiến trình của cái sự giao giảm trong tranh; nhìn vào đó như một cảm thông gần gũi, tương xứng nhau, một diễn biến của lãnh vực hội họa. Nhớ cho; đây không có nghĩa là truyền thông cho mục đích ban đầu của người nghệ sĩ; mục đích chính của họa nhân là mang lại cái nhìn của con người và những gì thuộc về tồn lưu trong một thực thể; nhưng mỗi khi mang lại thực thể thì phải là một cái gì đã được diễn giải trong điều kiện đối tượng của nó… Nói vòng vo tam quốc ba chuyện đời cổ lỗ sĩ là không tác động giữa thời đại này mà gây rối trí, nhầm lẫn đến người đọc vì quá nhiều câu hỏi cho một vấn đề; thành ra cái lối văn,vẽ đã không thông mà vướng vào cái tư kỷ tự tại để trở thành độc ngôn, độc diễn. Thí dụ: Một văn sĩ nhà binh kể chuyện ông Táo: một ông trong đó không chịu chầu trời; tức thời bị quy tội là ‘phản thùng’ không đồng phục, không đồng hướng. Quay đầu trở lại với trần gian. Đâu có quần mà bảo đồng phục cho màu áo ông Táo, ông Điạ. Ông cầm bút quên rằng ông Táo nọ chối bỏ nhiệm vụ vì ông mất ‘chính nghĩa’ không quần; ngay bản thân tác giả cũng đã mất chính nghĩa vì không thực hiện đúng chức năng mà chỉ sống trong hoài niệm, hoài niệm của một tư duy bại hoại, không hoán cải để đổi mới tư duy mà rơi vào vòng luẩn quẩn mất nhuệ khí của kẻ thích khách; đấy là lý do ‘nghệ thuật vị nghệ thuật’ để nói tới.Thể loại nghệ thuật như rứa là nhai lại, rập khuôn, moi móc mất tính sáng tạo nghệ thuật mà trở nên ngu xuẩn nghệ thuật.Nhảm! Răng rứa -như đã đưa đường dẫn lối khi đi vào đề tài này là trọng tâm về ‘ý niệm nhận thức/ conceptual’ của sự nhận biết, vì rằng; họ (nghệ sĩ) cần năng lực để tập trung vào giòng sáng tạo như chuỗi liên hoàn và một đối kháng toàn diện của những gì ý niệm về siêu hình trong một ý thức nhận biết tức thời: họ cần một cái nhìn lãnh hội của tồn lại, tồn lưu, tồn lứa là trọn vẹn cái giá chân-như của người nghệ sĩ (thứ thiệt).Còn nghệ sĩ (giả hiệu) đánh mất ý niệm chính yếu để xây dựng tác phẩm; cho nên chi mất luôn cả sáng tác và sáng tạo mà chỉ mở một lối về của hư ảo; chỉ vì tư kỷ (egotism) mà ra. Tất thảy đều là thứ nghệ thuật vô nghĩa. Mà cần một cảm thức con người giữa cuộc đời, vì; cảm thức cuộc đời không thể nhầm lẫn.

Chọn đúng mục đích, tọa độ, một con đường hướng tới tương lai, bảo trì một hợp nhất và liên đới đến cuộc đời của họ ‘He needs a comprehensive view of existence to integrate his values, to choose his goals, to plan his future, to maintain the unity and coherence of his life’. Nhiệm vụ hợp nhất của khoa tâm lý là một mối dây liên lạc tự động làm ra, cho nên chi tác phẩm thực hiện như một qui tụ sẳn có từ ý thức không cần phải đi qua một dự phóng của tư tưởng mà gợi lên từ trong nhận thức hiểu biết. Có nhiều dữ kiện đặc biệt hiện ra hoặc vượt qua bằng trí tưởng của chuỗi trừu tượng là nằm trong ý niệm giao tiếp (of interconnected concepts) thuộc trí tuệ con người. Nhận thức được trừu tượng là dây chuyền chủ lực, mà tất cả mọi thứ khác đều tùy thuộc vào đó. Rứa cho nên chuỗi dây chuyền là cho mọi thứ như một tinh thần hợp nhất, trọn vẹn, phục vụ có mục đích, một thể thức phù hợp và chuẩn mực. Nhận thức được trừu tượng là lập nên một thiết yếu chuẩn mực có tiết độ giao thông giữa hiện thực và nghệ sĩ. Rứa thì cái gì là chính yếu? -Cái sự cần thiết đó là ý thức nhận biết để thấy rõ lớp lang của tồn sinh từ tất cả mọi phiá –epistemologically essential to distinguish one class of existents from all others. Còn nói về trừu tượng có qui tắc là thiết lập ở đó một cái gì chuẩn mực. Rứa thì cái gì tốt giữa chính yếu và qui tắc? -Trừu tượng thẩm mỹ là cơ cấu bởi tiết điệu: rứa cái gì là quan trọng? –esthetic abstraction are formed by the criterion of: what is important? Lý luận theo chiều hướng này có thể làm cho tư duy người nghệ sĩ thêm có vấn đề giữa nhận thức và trí năng; tuy hai mà một, bởi văn,vẽ dưới dạng thức nào đều có một chủ đề cụ thể nói lên cá tính con người. Văn,vẽ vẫn có triết thuyết của nó, thời mới làm nên sự việc. Vị chi; giữa khách thể và chủ thể phải hòa âm điền dã thì mới thấy được chân lý tối thượng của việc sáng tác. Chớ ‘đừng tưởng xuân tàn hoa rụng hết / đêm qua sân trước nở cành hoa’. Cứ tưởng thế cho nên chi phóng bút, phóng họa mà quên đi bản chất tự tại, tự kỷ của mình đang rơi vào một tâm tư rối loạn của hố thẳm tội lỗi… Người nghệ sĩ đứng trước cuộc đời có một cái nhìn vô tư, trong sáng và thoát tục thì tác phẩm mới có thẩm mỹ, dù là thẩm mỹ trừu tượng nó vẫn để lại một chân tướng xác thực. Nói cho ngay trong mọi chọn lựa chính yếu để đạt một giá trị, kể cả những tác phẩm nghệ thuật (văn, thơ, họa, kịch…) là đi từ thể tài đến chủ thể cho tới cây cọ hay cho một thể định từ xác thực. Đều thu nhận từ ý nghĩa thuộc về trừu tượng bởi chỉ ở một sự kiện hiện hữu đã bao gồm hoặc một hiện hữu ‘quan trọng’ là điều ắt có và đủ -From theme to subject to brushstroke or adjective-acquires metaphysical significance by the mere fact of being included, or being ‘important’ enough to include. Lý luận này đã cho thí dụ ở trên: là yêu cầu cảm thức nhận biết thì mới đạt tới nhân tâm của người nghệ sĩ, dù dưới dạng thức nào hay hoàn cảnh nào đi nữa.

Như đã dẫn nhập cho một luận đề mở đầu; nếu miêu tả về cái bờ môi héo úa của người đàn bà đẹp, thì đó là điều không thể cho là sự thật cuộc đời hay cho đó là một thứ siêu hình lạ thường đầy ý nghĩa, bởi; cái phẩm tích (virtuous character) qua dấu vết bề ngoài là cả một hiện thực trong họa phẩm. Cái đó được phơi mở rõ rệt là những gì thuộc cái đẹp và không chừng đó là nét riêng để đem lại một sức quyến rủ hay mê hoặc của người đàn bà (không phải đẹp ở chiếc áo dạ vũ lộng lẫy) nhưng có một chút gì ‘héo úa’ do từ đau khổ gây ra là một thách đố quyến rủ trước sức mạnh của nam giới. Tín hiệu đó là sự thật cuộc đời. –người đàn bà đẹp có thể là ‘mãnh lực / ‘might’ có từ bờ môi héo úa. Do thẩm mỹ không tương xứng. Nghệ thuật không quan tâm tới sự cố hiển nhiên hoặc ngay cả những gì như thế, nhưng với những gì có tính cách siêu hình của họ là ý nghĩa quan trọng đối với con người –Art is not concerned with actual occurrences or events as such, but with their metaphysical significance to man. Dưới dạng tiềm thức; thì không cần gì nhận biết tới lý thuyết thẩm mỹ, nhưng vì tính chất hình ảnh mà phải dựng bằng hiện thực; sự cớ cho ta hiểu ngầm rằng đó là cái vẻ tự nhiên của nghệ thuật (nature of art). Đây cũng là thể cách biến loại mà hầu hết tác động trong hư cấu và trong tất cả những đường nét hội họa đều xử dụng như đặc thù trong tác phẩm. Dù là minh họa hay phát thảo vẫn là khiá cạnh quan trọng khác biệt giữa cuộc đời thực của truyện thời sự (news story) và của truyện hư cấu (fiction story): truyện thời sự cũng như thơ thời cuộc, thơ kể lể là đông cứng (concrete) từ biến chứng xã hội, tin tức, thế sự là những thứ không vẽ lên được một cái gì phi phàm hoặc có thể người ta không tìm thấy những gì liên đới của trừu tượng trong cuộc đời. Còn truyện hư cấu là một trừu tượng, cái đó là một yêu sách đối với vũ trụ quan –fiction story is an abstraction that claims universality là để người ta cảm nhận được cái năng lực cá nhân là một xúc cảm mãnh liệt về những truyện thuộc hư cấu, dù cho có phiạ ra đi nữa. Cảm xúc có thể là một thực thể chắc chắn trong khi người ta tìm thấy trong ý nghĩ trừu tượng lại là thực thể của cuộc đời thực (real life). Thừa nhận; không do từ cảm thức của nhận biết để ngờ vực, nhưng trong cảm thức cho phép ta trầm tư những gì thuộc bên ngoài của trừu tượng; đó là thức (mind) trong một thể thức thuộc cục diện tồn lưu, tồn lại và tồn tụ; thì đó là hiện hữu nhận thức giữa đời này. Nghệ thuật cho đời nhiên liệu, một tư duy hài hòa, một chủ thể tương quan ở cõi vô biên trí tuệ, một sự thay mặt cho cảm nhận và cảm thức là hiện thực, là cảm thức chủ lực của cuộc đời, là cảm nhận hài hòa nhân thế, là những gì có thể tương tợ như  sống thực trong thế giới lý tưởng của con người -Art gives him that fuel; the pleasure of contemplating the objectified reality of one’own sense of life is the pleasure of feeling what it would be like to live in one’s ideal word. Nhiên liệu không phải cứu cánh có từ học hỏi (một phần) mà do từ kinh nghiệm sống làm nên và cũng chẳng phải là lý thuyết chính yếu ngay cả thông điệp từ sách vở, báo chí truyền thông, nhưng; đời-cho dữ kiện qua kinh nghiệm sống, trong một bất chợt của siêu hình hay trừu tượng mà làm vui cuộc đời . Một giây phút thôi rồi xa nhau nghìn trùng; đó là đời cho ta (life-giving) một hiện hữu với tồn lưu, tồn lại, tồn lân, tồn lui nhân thế với thời gian –A moment of love for existence. Hoặc; dưới một mức độ thấp nhất của cực số vô lý, phản ảnh tính cách cục bộ hóa vấn đề của cảm thức nông cạn hiểm độc, nhưng cuộc đời đã cung cấp cho con người với bao hình ảnh chinh phục cái ác ý, thâm hiểm, phá hoại, đã phá để chiếm cứ cái độc tôn, độc quyền và độc sáng là những gì ghen tị về cái tồn lụt nhân thế; nghĩa là tụt lùi về cái gọi là cảm thức con người giữa cuộc đời (a sense of life) mà trở nên báo ân, báo oán. Nhưng nhớ cho điều này mà lưu niệm: ’lấy ân báo oán thời oán ấy tiêu tan chớ lấy oán báo oán thời oán ấy chập chờn’ nó không dứt mà ngược lại nó ứ trong tâm can như lời phẩn nộ (rút trong kinh nhà Phật) kinh điển cho đó là dục giới, dục sắc, dục tính; sự cớ đó tác hại cho nghệ thuật hội họa và nghệ thuật văn chương, cả hai thứ làm cho nghệ thuật suy đồi, thời đâu còn gọi là đương đại, đương thời, thời đâu còn gọi là tiểu thuyết mới, tiểu thuyết hiện đại; không chừng cổ lỗ sĩ trở về cổ lỗ sĩ biết tới bao giờ mới dừng(!); còn như quyết để phục thù ‘ơn đền, oán trả’ theo kiểu nhà binh thì dấy lên một nghiệp chướng, ở đó chỉ là lời giải thích để bao che cuộc đời, là đánh bại và phá hủy tất cả giá trị của con người. Hỏng cho việc sáng tạo của người nghệ sĩ.

Thể thức của nghệ thuật là cho đời một phút giây ảo tưởng, đó là những gì nghệ thuật cho là đúng –cái sự xấu xa, sai trái là tác động thuộc những gì siêu hình.Từ ngày nghệ thuật thành hình là phát sinh ra triết học (triết học của nhân loại là trộn lẫn vào đó bi thảm cuộc đời / mankind’s philosophy is tragically mixed).

Hầu hết nghệ thuật thế giới bao gồm một vài dẫn dụ lớn lao; sa ngã cũng là một khẳng định dứt khoát. Vị chi sự thật hay sai trái đem lại một thứ triết lý riêng tư của người nghệ sĩ, nó không vin vào thẩm mỹ học để nói lên sự kiện trong hội họa cũng như trong văn chương, có thể tạo cái khác biệt để thu hút người đọc, người xem không chừng chứa cái giả tạo hơn là sáng tạo nhưng không nhất thiết vị nghệ thuật mà cố tạo cái thẩm mỹ trong họa cũng như trong văn chương. Có một vài nghĩa khác thuộc triết học,tuy nhiên; có một cái nhìn ẩn tàng của cuộc đời nằm trong tác phẩm. Đấy là yếu tố cần thiết thuộc về tác phẩm nghệ thuật. Họa phẩm xấu; chiếm hữu một phần trong sự bắt chước‘copycat’cái đó hoàn toàn không phải là sáng tạo của nghê thuật, nó chỉ sống còn ở các cửa hàng vỉa hè mà thôi. Rứa cho nên làm nghệ thuật cần có một phản ảnh trung thực, chủ đề của một tác phẩm nghệ thuật là bày tỏ cái tồn lại của con gười, trong khi ấy kiểu thức bày tỏ về cái nhìn là ý thức của con người. Lối trình bày, diễn tả siêu hình (metaphysics) là của người nghệ sĩ. Còn diễn tả theo nhận thức hiểu biết (psycho-epistemology) là của người văn chương (văn, thơ, dịch thuật). Chọn lựa một thể tài là nói rõ khiá cạnh của hiện hữu tồn lại người nghệ sĩ. Một cái gì quan trọng và một cái gì đáng giá của một hiện hữu tạo tác và trầm mặc của nghệ nhân. Trong mọi thể cách của hội họa người ta chọn một trong những thể tài tiêu biểu để nói lên vóc dáng, hình tượng anh hùng như một giải bày, phân tích cái điều tự nhiên của con người hoặc có thể chọn bản thống kê hòa hợp chất màu của cái không phân biệt được, hoặc có thể chọn cái bầy nhầy, trườn trượt, mẫu thức xấu…để tạo nét đặc thù. Về văn ta có thể nhận biết tính anh hùng lịch sử, anh hùng cá thể là sự kiện thuộc tinh thần (Victor Hugo) hoặc một cố công, rán sức để hoàn thành tác phẩm (Michelangelo) hoặc vinh quang chiến thắng (Shakespeare) hoặc có thể từ chỗ thứ dân đến quyền qúy (Tolstoy) hoặc người ta thấy được qủy ám như một chủ đề cho một luận đề tố cáo (Dostoevsky) hoặc dưới một tư duy biến dạng giữa người và vật (Kafka) hoặc hãi hùng, khiếp sợ (Goya) hoặc bấn loạn tâm can (Van Gogh). Đó là trường hợp chủ thể cho mỗi đề tài, cái đó cũng là một dự phóng cho cái nhìn vào tác phẩm nghệ thuật nơi con người dung thân trong vũ trụ quan. Kiểu cách của người nghệ sĩ là phát sinh từ nhận thức hiểu biết của họ và trong một ngụ ý ẩn tàng, một phản ảnh chiếu vào cái nhìn nhận thức của con người, của hiệu lực hoặc của suy thoái, tất cả chính xác và riêng biệt cho từng thể loại và định mức được chức năng của mỗi thứ. Kiểu cách hầu như có một cái gì phức tạp, hổn độn chính sự cớ đó là yếu tố nghệ thuật, gần như lột tả trọn vẹn, thường thì xáo trộn do từ trạng thái tâm lý. Một nội tại chất chứa đối kháng từ nỗi khổ của người nghệ sĩ, có nhiều người khác thì lại ưa làm lớn hay mù tăm trong tác phẩm của mình. Thí dụ: trường hợp của Salvador Dali; một hổn hợp làm sáng tỏ kiểu thức riêng, một thứ siêu hình lạnh lẽo của thứ chủ nghĩa tự nhiên. Từ đó phát sinh ra nhiều phong trào phản kháng ý thức trong văn chương và hội họa; chống đối bằng một ý thức lớn, biểu thị qua hiện tượng trường phái lập phương (Cubism) là khám phá để tìm kiếm cho một tri thức con người qua hội họa, bởi; chủ thể của hội họa như cái mà con người không nhận thấy được chúng –down and down to the rebellion against consciousness, expressed by a phenomenon such as Cubism which seeks specifically to disintergrate man’s consciousness by painting ojects as man does not perceive them.

Kiểu thức của văn nhân có thể là dự phóng, có thể là pha chế vào đó nhiều lý do và cảm xúc từ một rung động như trường hợp của Victor Hugo và một số văn nhân cùng một cảm thức như vậy.Văn phong, bút pháp là vận chuyển những gì có thể gọi là: ‘cảm thức nhận biết cuộc đời / psycho-epistemological sense of life’. Đấy là lý do tại sao phong cách đó quá nguyên tắc quan trọng trong nghệ thuật đối với nghệ sĩ và người đọc, người xem và tại sao sự quan trọng đó là một trau chuốt, dồi mài như là một vấn đề tích lũy thâm hậu của cá nhân? Nghĩa rằng; cảm thức có tác động. Nghĩa rằng; trân qúy tự tại (self-esteem) hoặc trân qúy cái sai lầm tự tại (pseudo-self-esteem). Thì ra sự cớ đó là che đậy cái nhầm lẫn, cái sa ngã tự tại.

Cảm thức cuộc đời là gốc ngọn của nghệ thuật, nhưng đó không phải là đặc quyền, đặc chế cho khả năng của người nghệ sĩ –A sense of life is the source of art, but it is not the sole qualification of an artist. Còn nói về thẩm mỹ quan thì đó chỉ là cành nhánh của triết học (từ triết học nghĩa là đẹp). Nhưng nhớ cho triết gia không vin vào đó mà đi tới những cành nhánh của khoa học (dù là triết học khoa học) để có một cảm thức hoặc cảm xúc như một chuẩn mực công lý; vậy cho nên chi không-thể-đạt tới lãnh vực của thẩm mỹ. Dù gì cảm thức nhận biết chưa hẳn là một chức năng trang bị đầy đủ để nói tới thẩm mỹ là cần có trong tác phẩm nghệ thuật. Nghệ thuật vị nghệ thuật nó có một lãnh điạ khác biệt cho môi trường người nghệ sĩ.

Thẩm mỹ là việc chính yếu áp dụng vào tất cả bộ môn nghệ thuật; không coi đó là tác động triết học của từng cá thể nghệ sĩ. Mà nhớ cho rằng triết học đưa đường dẫn lối vào dự phóng của đối tượng nghệ thuật. Thế nhưng; cứ để ý và xác nhận bởi khoa học thẩm mỹ / science of esthetics tạo thành nghệ thuật chớ không ngoài một cơ cấu nào khác; đấy là việc phải làm mà hầu như triết học hiện đại đã suy nhược trước hiện tình một cách thê thảm. Vô hình chung khoa thẩm mỹ học lại đứng trên bộ môn triết học nghệ thuật.

Từ chỗ nghệ thuật là một hỗn hợp triết học, thời đó không phải là việc tương phản giữa triết học và nghệ thuật (vì rằng nghệ thuật là nghệ thuật, triết học là triết học). Rứa thì tôi có quyền nói: ‘Đây là tác phẩm lớn của nghệ thuật hội họa, nhưng tôi không thích’ hoặc ‘Đây là tác phẩm văn chương vĩ đại đáng tiêm nghiệm, nhưng tôi ghét’. Là chứa đựng cụ thể một cách xác quyết trong lời nói vì nó tồn lại hai sự cớ: Thứ nhất là đề cập đến cái nguyên chất của thẩm mỹ được đánh giá cao.Thứ hai là mực độ thâm hậu thuộc triết học là bao trùm tất cả cảm thức cuộc đời nhiều hơn giá trị thẩm mỹ. Dù đó là quyền chọn lựa của từng cá tính, vì rằng nó có nhiều khía cạnh khác biệt từ mỗi con người vui thú hay yêu thích cho mỗi giá trị tác phẩm. Nhưng; có cái khác hơn là mối quan hệ hấp dẫn nhất giữa cuộc đời này –other than sense-of-life affinity, mà không ai tìm thấy; chẳng qua cũng từ đối tượng chủ đề mà ra. Răng lạ rứa? Dạ thưa, cảm thức cuộc đời là bao trùm đầy đủ nghĩa lý (nhân sinh, triết lý và nghệ thuật) chỉ có con người cảm thức được một cái gì thâm sâu, uyên bác trong đó, một xúc cảm mãnh liệt về một tác phẩm nghệ thuật. Nhưng không phải vì rứa  mà cho đó có tầm cở (levels) hoặc dựa vào cấp độ của yêu thích (degrees of liking) để rồi đi tới kết luận: ngổn ngang gò đống vây quanh, không giải quyết cho một bản chất tự tại vì suy tư cho một hiện hữu tồn tồn nhân thế…Đứng trên tư duy này là đánh mất lập trường cho một xác quyết về tác phẩm nghệ thuật; sự khác biệt là có cái tương tợ lẫn nhau giữa tình cảm, quan hệ và hữu nghị; yếu tố cô đọng đưa tới tâm thức người nghệ sĩ là chứa đựng tinh thần nghệ thuật (xem và suy đọc và nghiệm) để trước khi đánh giá cho một tác phẩm nghệ thuật và cảm thức của cuộc đời – Art and Sense of Life.

Rứa cho nên chi việc học hỏi là chuyển dịch cái ý nghĩa của nghệ thuật trong đối tượng từ ngữ, khám phá cái không có để mà tiêm nghiệm nghệ thuật trong một phơi mở cần thiết đối với vai trò của con người. Người nghệ sĩ là huỵch toẹt cái linh hồn trần trụi trong tác phẩm của mình –An artist reveals his naked soul in his work. Rứa thì may ra mềm lòng người ngắm và người đọc một cách thỏa mãn, thích thú. Chớ nằng nặc mà bảo phải sạch, phải đẹp, phải như ri, như rứa không tì vết thì mới chịu chơi; quả là nặng lòng vị kỷ. Nhưng; không chừng ‘héo úa’ của người đẹp là cái thức tỉnh nội tại giữa thẩm mỹ và cái thâm cung bí sử triết lý của tồn lại, tồn lưu, tồn lụt nằm trong cái ‘chơi chịu’ đó. Kiều tài sắc vẹn toàn nhưng biết đâu trong cái đau khổ đoạn trường nàng lại có cái hấp dẫn kín đáo mà làm cho bao người hùng điêu đứng. Có ai trong đời cùng một cảm nhận như rứa không? Sự cớ đó chính là cảm thức cuộc đời đang sống ./.

VÕ CÔNG LIÊM (ca.ab.yyc. mồng ba tết Ất Mùi 21/2/2015) SÁCH ĐỌC: ‘A Philosophy of Literature’ by Aym Rand. A Signet Book from New American Library by Bantam Book, Inc. USA 1962.

ĐỌC TẬP TRUYỆN NGẮN “XÓM CÔ HỒN” KHA TIỆM LY


 
Châu Thạch    

Phi lộ: Nhân dịp nhà văn Kha Tiệm Ly vừa tái bản tập truyện ngắn “Xóm Cô Hồn” lần thứ ba, tôi xin đăng bài cảm nhận của mình về tập truyện ngắn nầy. Đây là một tập truyện có giá trị cao, không thể không có trên tủ sách gia đình. Quý vị nào cần mua xin liên hê với nhà văn trên trang facebook khatiemly Hao han. Kính mời.  

Bài Bình: Châu Thạch   

    Đến tuổi thất thập cổ lai hy; nhà văn, nhà thơ Kha Tiệm ly mới xuất bản được tác phẩm của mình, khi mà tên tuổi ông trong và ngoài nước không mấy ai không biết và không yêu mến. Điều đó chứng tỏ Kha Tiệm Ly đã cày trên thửa ruộng văn chương của mình, thu hoạch hoa màu thật tốt tươi nhưng thời nay, thứ sản phẩm trí tuệ tốt tươi ấy đem tặng không cho đời thì dễ nhưng bán cho đời thật khó.  

     Cũng may tập truyện ngắn Xóm Cô Hồn in 1000 quyển đã được mua sạch khi mới đem về, chứng tỏ uy tín Kha Tiệm Ly khiến cho nhiều người háo hức đón chào. Đến nay ông đã xuất bản lần thứ ba nhưng sách vẫn bán chay. Thành thật chúc mừng ông.  

     Xóm Cô Hồn gồm có 19 truyện ngắn, trong đó có 9 truyện truyền kỳ, còn lại dành cho nhiều thể loại khác.    

     Trước hết người viết xin đề cập đến truyện truyền kỳ của Kha Tiệm Ly vì ở tập sách nầy truyện truyền kỳ chiếm một số trang rất lớn.    

     Truyền kỳ là gì? Tìm câu trả lời hay nhất trên Google như sau: “Truyền Kỳ Mạn Lục (nghĩa là Sao chép tản mạn những truyện lạ) là một tập truyện của nhà văn Nguyễn Dữ, được in trong khoảng năm 1768. Dù là sao chép tản mạn những truyện lạ nhưng Truyền Kỳ Mạn Lục không phải là một công trình sưu tập như Lĩnh Nam Chích Quái, Thiên Nam Vân Lục… mà là một sáng tác văn học. Lấy bối cảnh chủ yếu là một phần hiện thực thế kỷ XVI, các truyện hầu hết ở thời Lý, Trần, Hồ, Lê sơ và đều có yếu tố hoang đường, nhưng đằng sau những yếu tố hoang đường đó chính là hiện thực xã hội phong kiến đương thời với đầy rẫy những tệ trạng mà tác giả muốn vạch trần, phê phán.  

      Truyền Kỳ Mạn Lục phản ánh số phận bi thảm của những con người nhỏ bé trong xã hội, những bi kịch tình yêu mà bất hạnh thường rơi vào người phụ nữ (như người thiếu phụ Nam Xương), thể hiện tinh thần dân tộc, bộc lộ niềm tự hào về nhân tài, văn hoá nước Việt (như chuyện chức phán sự đền Tản Viên), đề cao đạo đức nhân hậu, thuỷ chung, đồng thời khẳng định quan niệm sống “lánh đục về trong” của tầng lớp trí thức ẩn dật đương thời.     

     Truyền Kỳ Mạn Lục là đỉnh cao đánh dấu bước trưởng thành của thể loại truyền kỳ Việt Nam thời trung đại, từng được Vũ Khâm Lân (thế kỷ 17) khen tặng là “thiên cổ kỳ bút”. Tác phẩm đã được dịch ra nhiều thứ tiếng nước ngoài và được đánh giá cao trong số các tác phẩm truyền kỳ ở các nước đồng văn.”    

     Vậy thể loại truyện kỳ có ở nước ta từ 400 năm trước. Nay giữa thế kỷ 21 nầy nhà văn Kha Tiệm Ly lại quay về với nhưng câu chuyện cổ xưa, với lối hành văn cổ xưa, chắc là ông muốn tải cái đạo lý của thời xưa cho người đời nay suy nghiệm.  

      Truyện truyền kỳ của Kha Tiệm Ly đọc hấp dẫn không thua gì Liêu Trai Chí Dị. Trước hết nó đưa ta đến những cảnh vật nên thơ có con người và những mối tình thú vị, với mỹ nhân và thánh thần bí hiểm . Sau nữa truyện truyền kỳ như con thuyền tải đạo lý, đánh động lòng ta suy nghĩ về lẽ phải, công bằng xã hội, nhân cách con người và quyền sống tự do, hạnh phúc.    

      Ta không thể không thoả lòng với con “Chồn Cái Có Nghĩa” tuy ân ái với chàng thư sinh nhưng giúp cho tình chồng vợ của chàng không lỗi đạo.    

      Ta không thể không mông lung suy nghĩ cái cao siêu trong “Chuyện Hai Con Rồng” nói về một bậc nhân tài vẽ muôn chim, muôn thú, muôn hoa y như là thật, nhưng khi vẽ cặp phi long treo tại ngai vàng thì chỉ quệt hai đường mực xạ khiến phải bị rơi đầu! Sau đó chỉ một tên lính hầu tầm thường nói nhỏ vào tai đã khiến nhà vua tỉnh ngộ nhận ra cái thâm thuý của cặp tranh kia để trở thành một đấng minh quân.    

      Ta thật cảm phục câu chuyện “Liệt Nữ anh Hùng” người vợ thủ tiết chết theo chồng.  

       Câu chuyện linh hồn một cân quắc anh thư “ Liên Hà Tiểu Thư” chết vì cả nhà bị lũ gian thần hảm hại, đã hiện thân vầy duyên cùng một ẩn sĩ có ngọn bút như thần viết “Biên Cương Nộ khí Phú”, một bài phú hào hùng, tràn lòng yêu nước, yêu quê hương.     

       Ta thú vị với “Truyền Thuyết Hoa Đà”, một danh y cương trực khẳng khái, đã chữa lành cho hoàng hậu phát bệnh do “thiếu nặng đức nhân, thich nghe lời xu nịnh, chẳng phân biệt phải trái, hay dùng lời cao ngạo” và đã đánh lừa được ước muốn của một hôn quân sinh hoang tưởng mơ chuyện cỡi rồng.     

     Ta cảm kích câu chuyện “Thuỷ Chung Với Vợ” kể chuyện người chồng không đành giết vợ mình khi biết nàng là loài hồ ly bước ra từ chính bức tranh chàng hoạ.     

     Rồi câu chuyện “Khí Phách Giang Hồ” xảy ra trong thời chống Pháp thuộc vùng Gia Định Nam Kỳ, giữa môn phái võ thuật yêu nước đấu tranh cùng môn phái theo gót ngoại bang. Câu chuyện đề cao tinh thần yêu nước, nghĩa khí giang hồ, tình yêu cao thương của anh hùng hảo hán thời bấy giờ.     

     “Ăn Tết Với Ma”, “ Ngọc Lựu Mỹ Nhân” là nhưng câu chuyện xảy ra ở thời mạt Minh bên Tàu hay thời Lê Trung Hưng đất Việt, đều là những câu chuyện huyễn hoặc trong thời suy thoái quốc gia, trên thì tranh giành quyền lực, thu gom của cải, dưới thì sách nhiễu dân chúng, tuỳ tiện cướp của cướp nhà, bá tánh phải chịu muôn vàn lầm than khốn khổ, nước mắt chảy thành sông, thành suối, từ đó những hồn ma bóng quế nữ nhi chịu oan ức không siêu thoát mà trở lại với đời, kết nghĩa với hiền tài bất đắc chí ở trần gian.     

      Truyện truyền kỳ của Kha Tiệm Ly lấy tấm gương xưa mà soi vào hiện thực, khéo léo mà sâu xa, nhẹ nhàng mà thâm thuý, cuốn hút người đọc thích thú theo sự việc ly kỳ để rồi khi bình tâm lại, nghe tiếng lẽ phải cáo trách, nghe lương tâm thời đại nhói đau trong lòng.    

     Mười truyện ngắn còn lại, Kha Tiệm Ly viết về kỷ niệm đời mình, về những mẫu người đặc biệt, về nếp sống của tầng lớp cùng đinh xã hội. Nói chung mỗi câu chuyện đều làm cho ta suy nghiệm về một triêt lý sống ở đời.  

      Với truyện ngắn “Gánh Hát Về Làng” ta quay lại thời tuổi thơ của tác giả ở một miền quê Nam Bộ. Thời đó gánh hát bội về làng và gánh hát bội ra đi để lại trong lòng trẻ thơ biết bao nhiêu là kỷ niệm êm đềm.  

      Với truyện ngắn “ Nhật Ký Của Ba” làm ta rơi nước mắt vì người cha bán một phần thân thể cho con ăn học. Truyện ngắn “Xóm Cùi” viết về một người đàn bà xấu xí tật nguyền bị hất hủi cho đến phút cuối cuộc đời. Truyện ngắn “Người Bạn Lạ Đời” kể chuyện một người đi tu có tính toán nhưng đem đến cho ta nhiều phân vân về cái thật cái giả ở đời. Truyện ngắn “Đạo Đời Hai Ngã” là nỗi đau của mối tình phân rẽ, gặp nhau lại thì đạo, đời hai ngã lại làm cho phân cách nhau hơn.  

      Những truyện ngắn như “Đậu Cô Lang”, “Muộn Màng”, “Thế Võ cuối cùng”, “Xông Đất”… đều cuốn hút người đọc vào tinh tiết lý thú trong hư cấu nhân vật nổi bật và bố cục mạch lạc ngắn gọn làm cho ta say sưa câu chuyện . Đặc biệt “Xóm Cô Hồn” có lẽ là câu chuyện tâm đắc của tác giả nhất nên ông đã lấy nó làm đầu đề cho cả tập truyện ngắn của mình. “Xóm Cô Hồn” nhưng lại có hồn vì nơi đó chứa những mảnh đời bất hạnh, những thành phần lao động từ tứ xứ kéo về. Đời sống họ phi pháp, nếp sống họ xô bồ vì xã hội đẩy họ vào chỗ cùng đinh nhưng tình bạn của họ, sự chơn chất của tâm hồn, sự đùm bọc che chở nhau phát xuất từ vẻ đẹp, từ sự cao thượng một cách rất tự nhiên có trong lòng họ.  

     Đọc truyện ngắn “Xóm Cô Hồn” ta tìm thấy ở đó tính nhân văn trong lớp người bần cùng của xã hội, ta tìm thấy ở đó tính Người viết hoa, nhân phẩm của họ được đề cao trong tính cách, trong cách xử sự theo lối bình dân của họ, một lớp người khốn khổ. Lời văn trong những câu chuyện nầy vô cùng xúc tích, giống như một hiền nhân điềm đạm kể chuyện đời, rót vào tai người nghe những điều ý vị trong những nghịch lý của nhân quần xã hội.    

     Nói chung, tập truyện “Xóm Cô Hồn” của Kha Tiệm Ly là một tác phẩm đáng trân trọng, phù hợp với mọi người, mọi tuổi đời dầu già hay trẻ, vì trong đó chứa đựng huyền thoại để con người được tưởng tượng khi xem, vì nó chứa đựng nhiều câu chuyện hấp dẫn về người, về thần , về ma một thuở xa xưa, vì nó dựng lại cuộc sống của con người hiện thực trong con mắt sâu sắc của văn nhân. Tất cả những thứ ấy như những bó hoa chở trên con thuyền đạo lý, để người đọc nhìn thấy cốt truyện như vẻ đẹp của hoa và ẩn dụ của truyện như hương thơm ngào ngạt toả ra, đọng lại lâu dài trong thiện tâm của ta./.     

                                                          Châu Thạch   

Bàn Về “ĐỌC LẠI NGƯỜI XƯA” Bài 1- Thơ Vũ Hoàng Chương

I – Sơ lược về nhà thơ Vũ Hoàng Chương:  

     Vũ Hoàng Chương(1916-1978) ở Nam Ðịnh, nguyên quán ông là làng Phù Ủng, huyện Đường Hào nay là huyện Mỹ Hào tỉnh Hưng Yên.  

Thi phẩm của Vũ Hoàng Chương được nổi tiếng nhất là tập Thơ Say (xuất-bản năm 1940). Sau tháng Tám 1945, nhà thơ họ Vũ đã cho ra đời thêm mấy tập thơ nữa là: Mây (1943), Rừng Phong (1954); một tập kịch thơ Vân Muội, Trương Chi, Hồng Diệp (1944).  

      Sau năm 1954, nhà thơ di cư vào Nam, ông tiếp tục sáng tác không ngừng cho đến khi ông mất. Các tác phẩm giai đoạn này là các tập thơ Tâm Sự Kẻ Sang Tần (1961), Lửa Từ Bi (1963), Ta Đợi Em Từ 30 Năm (1970), Chúng Ta Mất Hết Chỉ Còn Nhau (1973)… Ông từng được vinh danh là “Thi bá” Việt Nam.  

     Sau 1975 bị bắt giam ở Chí Hòa, do bệnh nặng Ông mất ngày 6 tháng 9 năm 1976 tại Sài Gòn.  

II – Sự Kiện của thơ:  

     Sự kiện của thơ do nhà thơi La Thuy, Quản nhiệm trang blogspot Phú Đoàn và La Thụy đăng trên báo của mình như sau:  

“Di cảo của Vũ Hoàng Chương (1975 – 1976), do Vũ Hoàng Chương trao cho Hoàng Hương Trang giữ trước khi qua đời, đây là công bố đầu tiên di cảo này, gồm 14 bài, trong đó có 1 bài thơ Tết vịnh Tranh Gà Lợn, 12 bài cùng 1 nhan đề “Đọc lại người xưa”, còn 1 bài ông làm trong tù gồm 12 câu, phải làm 6 lần, mỗi lần bà Đinh Thục Oanh vợ ông vào thăm nuôi, ông chỉ viết 2 câu trên mảnh giấy gói đồ, 6 lần vào thăm nuôi ghép lại mới hoàn chỉnh bài thơ, tuy nhiên bài ấy do bà Đinh Thục Oanh giữ và nay đã thất lạc, Hoàng Hương Trang chỉ nhớ vỏn vẹn 1 câu: “Tối về Khánh Hội sáng vô Chí Hòa” để chỉ những cuộc thăm nuôi của bà Đinh Thục Oanh vào thăm ở Chí Hòa, lặn lội cuốc bộ về tới Khánh Hội ở đậu nhà bà Đinh Hùng thì trời đã chiều tối. Nhưng bài thơ này cũng là ngoài 12 bài liền mạch “Đọc lại người xưa”.  

Hoàng Hương Trang nay cũng ở gần cái tuổi 80 rồi, sợ không giữ được, nên xin công bố, in vào tuyển tập sau này để lưu giữ được lâu dài, làm tài liệu cho văn học sau này.  

     Năm 2012, La Thụy được chị Hoàng Hương Trang tặng TUYỂN TẬP THƠ VĂN XUÔI HOÀNG HƯƠNG TRANG, trong đó có in những bài thơ cuối cùng, là “di cảo do thi sĩ Vũ Hoàng Chương trao cho chị Hoàng Hương Trang giữ trước khi qua đời”. Những bài thơ này được in từ trang 398 đến trang 407 trong tuyển tập nêu trên. Xin giới thiệu cùng quý bạn đọc.”  

III- Nghiên cứu bài thơ “Đọc Lại Người Xưa” Bài 1  

 

1.  Bài thơ “ĐỌC LẠI NGƯỜI XƯA (1)  

 

“Minh nhật dục từ nam phố đạo  

Hà nhân cách xướng bắc cung thanh”  

                       Cao Bá Quát  

Đường Thanh Nghệ Tĩnh chon von  

Nhịp ba cung bắc ai còn hát đây  

Cánh chim lượn gió đong đầy  

Khói hoàng đô thoắt liền mây Đế Thành  

Rồng Lê phượng Nguyễn tung hoành  

Chẳng e lưu xú chẳng đành lưu phương  

Ba hồi trống giục pháp trường  

Máu tuôn phách dựng phố phường còn mưa  

Cơn buồn lọt gió mành thưa  

Mấy mươi giông bão cho vừa nhịp ba  

Nào ai đáng mặt danh ca  

Mời ai danh sĩ Bắc hà về nghe.  

                Vũ Hoàng Chương  

 

      Bài thơ nầy Vũ Hoàng Chương viết về Cao bá Quát:  

       Cao Bá Quát ( 1809 – 1855), biểu tự Chu Thần, hiệu Mẫn Hiên, lại có hiệu Cúc Đường, là quân sư trong cuộc nổi dậy Mỹ Lương chống lại triều Nguyễn, và là một nhà thơ nổi danh ở giữa thế kỷ 19 trong lịch sử văn học Việt Nam.  

Ông là người làng Phú Thị, huyện Gia Lâm, tỉnh Bắc Ninh; nay thuộc xã Phú Thị, huyện Gia Lâm, Hà Nội. Cuối đời Cao Bá Quát làm thủ lĩnh của cuộc khởi nghĩa lớn chống triều Nguyễn. Khởi nghĩa thất bại, cái chết của ông có nhiều giả thuyết, giả thuyết Cao Bá Quát bị chém được kể lại thành giai thoại văn chương.  

      Trước khi nhập đề “Đọc Lại Người Xưa” (1), nhà thơ Vũ Hoàng Chương đã dùng hai câu thơ của Cao Bá Quát để dẩn nhập cho bài thơ của mình. Nguồn gốc của hai câu thơ nầy được nhà thơ La Thụy giản giãi như sau:  

 “Minh nhật dục từ nam phố đạo,  

Hà nhân cánh xướng bắc cung thanh.  

(Cao Bá Quát)  

     Hai câu thơ đó có nghĩa là:  

Ngày mai muốn xa cách đường Nam phố,  

Ai lại còn đàn hát giọng Bắc hôm nay.”  

     “Bài thơ này nằm trong quyển “Cao Chu Thần thi tập’ của Trung Tâm Học Liệu xuất bản năm 1971  

ĐỀ ĐÀO NƯƠNG XÁ  

Cổ nhân bất thức kim nhân hận,  

Tài đáo thương ly thuyết tận tình.  

Minh nhật dục từ nam phố đạo,  

Hà nhân cánh xướng bắc cung thanh.  

Hàn y cô quán băng xương thiểu,  

Vụ hiệp thâm thôn trúc thụ bình.  

Túy sát Tầm Dương tiếu Tư Mã,  

Thanh sam hà sự lệ tung hoành  

                    Cao Bá Quát  

     Dịch nghĩa:  

     Người xưa không biết thấu nỗi lòng hận của người đời nay,  

Nên mới gặp một sự đau lòng biệt ly hơi hơi, cũng đã nói hết sầu tình.  

Ngày mai muốn xa cách đường Nam phố,  

Ai lại còn đàn hát giọng Bắc hôm nay.  

Sương giá không bao, quán trọ vẫn quạnh hiu lạnh lẽo,  

Cây cối đều bằng phẳng, vì mù trùm làng mạc thâm u.  

Nực cười cho bến Tầm Dương, chàng Tư Mã kia say,  

Việc gì mà đến nỗi lai láng dòng lệ, thấm tràn áo xanh.  

*  

      Dịch thơ:  

     ĐỀ THƠ QUÁN ĐÀO NƯƠNG  

Người xưa không biết người nay hận,  

Vừa mới xa nhau đã hết tình.  

Mai sẽ từ biệt đường Nam phố,  

Mà ai lại ca giọng Bắc thanh?  

Lạnh lùng quán quạnh dầu sương ít,  

Bằng phẳng cây nhiều với vụ sanh.  

Cười ngất rượu say Tư Mã khách,  

Can gì lệ đẫm khắp bào xanh!  

     “Sa Minh Tạ Thúc Khải”  

    Đọc hai câu dẩn nhập vào bài thơ “Đọc Lại Người Xưa”(1) của Vũ Hoàng Chương, ta cũng có thể hiểu nhà thơ Vũ Hoàng Chương muốn dùng hai câu thơ của Cao Bá Quát để nói lên tâm sự u uẩn của người xưa mà cũng gởi vào đó tâm sự u uẩn của chính mình ngày nay.  

     Hai câu thơ dẩn nhập cho “Đọc Lại Người Xưa” là “Minh nhật dục từ nam phố đạo/Hà nhân cánh xướng bắc cung thành” dịch là “Mai sẽ từ biệt đường Nam phố/Mà ai lại ca giọng Bắc thanh?” cho ta đoán định được tâm sự lưu luyến khi phải từ bỏ một quá khứ, một quê hương để bước vào một cuộc sống mới, xa lìa nguồn vui thanh nhã đàn ca hát xướng, cũng như nỗi buồn khi phút cuối còn nghe giọng ca quen thuộc như một lời tiển đưa ai oán.  

     Thế rồi Vũ Hoàng Chương vào đề bài thơ bằng câu thơ: “Đường Thanh Nghệ tỉnh cho von”. Đọc câu thơ nầy ta nhớ đến bài thơ “Qua đèo Ngang” của bà Huyện Thanh Quan. Bà Huyện Thanh Quan cũng đi trên con đường Thanh Nghê tỉnh để vào kinh đô Huế, đên đèo Ngang, bà cảm tác bài “Qua Đèo Ngang” bày tỏ tấm lòng thương nhớ triều Lê.  

     Ở bài thơ nầy, Vũ Hoàng Chương cũng nhắc đến “Đường Thanh Nghệ tỉnh cho von”, nhưng trong một câu thơ sau nhà thơ lại nhắc đến cái chết bị chém đầu trên pháp trường cúa Cao Bá Quát:”Ba hồi trống giục pháp trường/Máu tuôn phách dựng phố phường còn mưa”. Điều đó chứng tỏ câu thơ “Đường Thanh Nghệ tỉnh chon von” Vũ Hoàng Chương muốn nói đên việc Cao Bá Quát qua Thanh Nghệ tỉnh hay qua đèo Ngang, trên con đường bị đưa vào kinh đô Huế để chém đầu,  

      Câu thơ thứ hai của “Đọc Lại Người Xưa”( 1), Vũ Hoàng Chương nhắc đến ca trù hay hát nói: “Nhịp ba cung bắc ai còn hát đây”  

 

     Hát nói vừa là một thể thơ, vừa là một trong 46 điệu thức của loại hình nghệ thuật dân gian ca trù. Nửa đầu hay tiền bán thế kỷ 19, hai nhà thơ cùng nổi danh với những bài Hát nói trong giáo phường cũng như trong lòng kẻ thưởng ngoạn, và thường được xếp bên nhau trong chương trình giáo khoa văn học VN là Nguyễn Công Trứ và Cao Bá Quát.  

Qua những bài hát nói, Cao Bá Quát tỏ ra là một tài tử đa cùng, một nghệ sĩ tài hoa, một khách phong lưu ưa thú cầm kỳ thi tửu và thích hưởng nhàn và hưởng lạc.  

      “Nhịp ba chung bắc” là gì? Đó là một cách  hát trong nghệ thuật hát nói.  

     “Hát Cung bắc trước chậm sau mau, có ba chỗ thay đổi điệu. Thoạt đầu ngâm nga rồi vào phách, giọng hát chen cung nam lẫn cung bắc, sau chuyển sang cung pha nên gọi là nhịp ba cung bắc.”  

     Câu thơ “Nhịp ba cung bắc ai còn hát đây” Vũ Hoàng Chương muốn nói đến Cao Bá Quát, một “Tài tử đa cùng phú” đã bị dưa đi chém đầu rồi thì từ đây, điệu ca hay “nhịp ba cung bắc” không ai còn hát nữa, vì hát cho ai nghe, bởi khách tài hoa phong lưu bậc nhất không còn ở trên đời.  

     Tiếp tục bài thơ, câu thứ 3 và câu thứ 4 như sau:  

Cánh chim lượn gió đong đầy  

Khói hoàng đô thoắt liền mây Đế Thành  

     “Khói hoàng đô” thì dễ hiểu. Đó là khói ở kinh đô. Còn mây Đế Thành là gì?  

     Đế Thành là thành Hoàng Đế. Thành Hoàng Đế là kinh đô của triều Tây Sơn trong lịch sử Việt Nam từ năm 1776 tới năm 1793 . Năm 1778, sau khi đánh bại chúa Nguyễn, Nguyễn Nhạc lên ngôi hoàng đế nhà Tây Sơn và cho xây dựng kinh đô tại vị trí cũ của thành Đồ Bàn vương quốc Chăm Pa, đây là nơi của Hoàng đế Thái Đức Nguyễn Nhạc ở nên gọi là thành Hoàng Đế.  

     Hai câu trên nói đến sự suy tàn của triều đại Tây Sơn. “Khói hoàng đô” nói sự thịnh vượng của đế đô hoàng đế Nguyễn Nhạc. Đế đô đó tên là Thành Hoàng Đế. Sau khi Tây Sơn tbua cuộc, Thành Hoàng Đế bị san bằng, phút chốc đã hóa thành thành mây, gọi là “mây Đế Thành”.  

     Câu thứ 5 và thứ 6 của “Đọc Lại Người Xưa”(1) như sau:  

Rồng Lê phượng Nguyễn tung hoành  

Chẳng e lưu xú chẳng đành lưu phương  

    “Lưu xú” là lưu tiếng xấu (Lưu danh thiên cổ. lưu xú vạn niên). “Lưu phương” là lưu tiếng thơm cho đời sau . Hát nói của Nguyễn Công Trứ có câu “Làm cho bách tuế lưu phương, trước là sĩ sau là khanh tướng”.  

     Hai câu thơ 5 và 6 đề cập đến sĩ phu thời Cao Bá Quát. “Rồng Lê” là những sĩ phu thời vua Lê, “phượng Nguyễn” là sĩ phu thời các vua Nguyễn. Đấy là những người “Phú quý bất năng dâm/ Bần tiện bất năng di/ Uy vũ bất năng khuất” – hiểu đơn giản là miễn nhiễm trước những nguy cơ tấn công của tiền bạc, của đói nghèo và bạo lực. Thứ duy nhất mà họ theo đuổi, và tôn thờ đến khi nhắm mắt xuôi tay là lý tưởng phụng sự tổ quốc, phụng sự dân tộc mình. Cao Bá Quát là một trong những ngôi sao sáng của tầng lớp nầy nhưng sinh ra dưới ngôi sao xấu nên đường khoa cử, đường hoạn lộ đều gặp trắc trở, để cuối cùng bị họa diệt thân, họa tru di tam tộc.  

     Bốn câu thơ 7 và 8, 9 và 10, Vũ Hoàng Chương nhắc đến cái chết bị chém đầu của Cao bá Quát:  

Ba hồi trống giục pháp trường  

Máu tuôn phách dựng phố phường còn mưa  

Cơn buồn lọt gió mành thưa  

Mấy mươi giông bão cho vừa nhịp ba  

Về cái chết của Cao Bá Quát có nhiều thuyết khác nhau. Sử nhà Nguyễn ghi chép về cái chết của Cao Bá Quát, lãnh tụ cuộc khởi nghĩa nông dân Mỹ Lương nổ ra bắt đầu ở Quốc Oai (Sơn Tây), rằng ông bị bắn chết ở trận tiền (1855). Truyền thuyết cho rằng Cao Bá Quát bị bắt, giải về Hà Nội rồi đưa vào giam ở Huế trước khi đem ra chém đầu, Trong thời gian bị giam trong ngục ông làm hai đôi câu đối nổi tiếng:  

Một chiếc cùm lim chân có đế,  

Ba vòng dây xích bước cỏn vương.  

và:  

Ba hồi trống giục, đù cha kiếp,  

Một nhát gươm đưa, đéo mẹ đời!  

     Trong bốn câu thơ trên, Vũ Hoàng Chương đã hư cấu cho trời đất cũng hát tiếng hát ca trù thảm thiết bằng nhưng cơn gió lọt vào mành thưa khi nhà thơ Cao Bá Quát bị chém trong một ngày mưa. Để rồi tiếp hai câu thơ chót, Vũ Hoàng Chương đã cho tiếng ca của trời đất đó thê thảm đến nỗi không một danh ca Bắc Hà nào có thể diễn đạt được hết nỗi bi thương kia:  

Nào ai đáng mặt danh ca  

Mời ai danh sĩ Bắc hà về nghe.  

     Quê hương của Cao Bá Quát là tỉnh Bắc Ninh, do đó ông chính là kẻ sĩ miền Bắc. Câu thơ “Mời ai danh sĩ Bắc hà về nghe” như một lời kêu than, một lời phân bua, một lời oán trách đến người kẻ sĩ Bắc Hà, mời họ nghe tiếng khóc của mưa gió cho cái chết của họ Cao còn ai oán, bi thương nhiều hơn tiếng ca trù của một danh ca Bắc Hà than vản.  

     Nhà thơ La Thụy cho biết, “ĐọcLại Người Xưa” bài 1 là một trong 12 bài thơ di cảo của Vũ Hoàng Chương sáng tác năm 1975-1976,  là thời kỳ nhà thơ lâm vòng lao lý, tù tôi. Mười hai bài thơ “Đọc Lại Người Xưa” nầy tác giả phải đưa vợ cất dấu rồi chuyền tay cho nhà thơ Hoàng Hương Trang giử hộ. Điều này cho ta có thể suy đoán, 12 bài thơ là nỗi lòng mà thi nhân ấp ủ vào đó. Vũ Hoàng Chương đã đọc lại 12 thi nhân xưa để sáng tác về họ, lấy cùng nhan đề “Đọc Lại Người Xưa” để lồng gởi vào đó niềm riêng mà nhà thơ không thể nói công khai ra được.  

    Châu Thạch tôi vì ái mộ Vũ Hoàng Chương, nên tra cứu để tìm hiểu nhà thơ trên mạng, biết được điều gì xin chép lại điều đó, nghĩ rằng nên truyền thông ra để thân hữu, bạn đọc có thể biết thêm về cuộc đời, sự nghiệp văn chương của một thi nhân nỗi danh một thời. Bài viết có nhiều tư liệu đã thành phổ biến tôi không đưa vào ngoắc kép, còn những tư liệu mới tôi đều đưa vào ngoặc kép hoặc nói xuất xứ rõ ràng. Mong được tha lỗi những sai trật hoặc nhận định khác ý của tôi, vì đây chỉ là bài viết của một người tay ngang múa rìu qua mắt thợ mà thôi ./.  

                                                                   Châu Thạch  

 

CẢM NHẬN KHI ĐỌC TRUYỆN NGẮN “CÔ SƯỚNG CƯỚI VỢ”


Tôi đọc truyện ngắn “Cô Sướng Cưới Vợ” trên trang facebook của tác giả Đặng Xuân Xuyến. Lối viết dí dỏm của anh đã lôi cuốn tôi ngay từ phần đầu của truyện. Khi đọc trên báo mạng, tên nhân vật và tên truyện không hiểu lý do gì mà thay đổi, dù cốt truyện giữ nguyên nhưng tôi thích đọc tên truyện cũ là “Cô Sướng Cưới Vợ”. Có lẽ vì ấn tượng tên “Cô Sướng Cưới Vợ” tạo yếu tố dân dã hơn, chân thật hơn.
Nhân vật Sướng được Đặng Xuân Xuyến ưu ái, giành nhiều sự quý mến. Tính khí khác thường của “cô” Sướng qua ngòi bút của Đặng Xuân Xuyến không hề phản cảm, gây cười mà đáo để duyên:
“Sướng thích được gọi là cô, là chị. Sướng khoái được mọi người mắng yêu câu: “Con đĩ Sướng này xinh phết!”. Thích là thế nhưng Sướng ghét cay ghét đắng kẻ nào lại thực tâm coi Sướng là phụ nữ, là phận liễu yếu đào tơ, là thân gái chân yếu tay mềm. Tóm lại, Sướng là đàn ông, là nam nhi chính hiệu, là chuẩn men đích thực nên Sướng không chấp nhận ai đó cho rằng, nghĩ rằng Sướng là phận nữ nhi! Ừ thì Sướng thích gọi là cô, là chị. Ừ thì Sướng thích nhảy dây, thích chơi ô ăn quan, thích chơi trò búp bê, thích buôn hàng, thích cãi lộn… Như thế thì đã sao? Những sở thích đó tuy có khác biệt với đặc trưng giới tính của giới nam nhưng cũng chẳng ảnh hưởng gì tới bản chất giới tính vốn có của Sướng? Thật đấy! Sướng vẫn là thằng đàn ông đích thực. Sướng vẫn chưa bao giờ phải tụt quần ngồi xổm mà tiểu tiện. Sướng cũng chưa bao giờ tùy tiện cho rằng mình không phải là thằng đàn ông nên vì thế đừng có ai vớ vẩn nghĩ Sướng là đàn bà con gái. Sướng ghét đấy. Sướng chửi cho đấy.”
Bạn đọc yêu nhân vật Sướng bởi bản chất thật thà, tốt nết của anh. Đằng sau sự đanh đá chua ngoa của Sướng là tấm lòng lương thiện, tử tế, sống nghĩa hiệp với người thân và bè bạn. Bị cụ Vân, bố đẻ của “dì Kiên”, người bạn thân bị “bê đê nặng”, “nhiếc móc” là “pha gái”, chọc vào “điều cấm kỵ” khi coi Sướng là “con đàn bà” dù rất tức cụ Vân nhưng Sướng vẫn biết dừng lại ở đúng đạo nghĩa:
“Nghe câu “Tôi lại hỏi thật chị nhé: Hai con đàn bà lấy nhau thì đẻ đái làm sao?” mặt Sướng tái lại rồi thoắt cái phừng phừng sát khí. Sướng chống hai tay vào hông. Sướng dậm chân đến huỵch một cái rồi kéo dài giọng:
– Hai con đàn bà lấy nhau thì đẻ đái làm sao? Này! Con nói thật với bố. Đừng tưởng con này trông như pha gái mà nghĩ con này là phận liễu yếu đào tơ, không phải là thằng đàn ông. Đây nói cho bố biết. Đây chưa bao giờ ngồi xổm như mấy con đàn bà! Chưa bao giờ! Bố hiểu chửa! Mà con nói thật nhé. Chắc gì bố đã là đàn ông mà bố bĩu môi, dè bỉu, coi khinh con này như thế.
Thấy sắc mặt tím tái rồi thoắt cái đỏ bừng của Sướng, cụ Vân chột dạ:
– “Mẹ nó! Chạm phải vía “con dở ông dở thằng” này rồi. Nó mà nổi cơn đồng bóng thì mình dại mặt.”. Cụ lùi người, lùi người để tránh cơn giận của Sướng, không ngờ cụ trượt chân ngã oạch một cái. Nhìn bộ dạng luống cuống của cụ, Sướng phì cười, bĩu môi:
– Gớm! Đàn ông chưa? Ối dào! Đàn ông như bố, đây cũng dí thèm!”
Bị cụ Bống, là bố đẻ, đánh chửi, dù “nhiều oan ức” nhưng “cô” Sướng không cãi mà ngồi im cam chịu vì đạo làm con. Bị cụ Bống hiểu sai là “thằng đồng cô” (bê đê) và đe sẽ huỷ hôn giữa Sướng với Ngân nhưng lo cho tương lai của “dì Kiên”, sợ nói ra sự thật chỉ Kiên ái mới là “đồng cô” thì Kiên ái sẽ khó lấy được vợ, sẽ khổ nửa đời về sau của bạn mình nên dù bị oan ức, bị cụ Bống chửi đánh… Sướng vẫn cắn răng chịu đựng. Nghĩa cử đó của Sướng thật đẹp, không phải ai cũng làm được.
Ngân là nhân vật được tác giả giành những lời ngợi ca, những khắc họa rất đẹp về nhan sắc và nhân cách:
“Ngân không mỏng mày hay hạt nhưng Ngân thùy mị, nết na. Ngân không sắc nước hương trời nhưng nét dịu dàng của Ngân đủ khiến trai làng phải thầm mơ trộm nhớ. Ngân được người. Ngân được nết. Cả làng, cả xã chưa thấy Ngân mặt nặng mày nhẹ, cãi cọ với ai. Cứ nhẹ nhàng với mọi người, cứ nhún nhường với mọi người như thể Ngân sinh ra là để chan hòa với mọi người vậy.”
Không chỉ xinh đẹp, hiền thục, đảm đang mà Ngân còn được tác giả Đặng Xuân Xuyến mô tả là người phụ nữ mạnh mẽ trong tình yêu và dám sống với tình yêu đích thực của mình. Cái đêm Sướng biến thiếu nữ Ngân thành người đàn bà được tác giả Đặng Xuân Xuyến dàn dựng như một vụ “tai nạn” hi hữu, chủ yếu để đề cao chữ “trình tiết”, đề cao phẩm hạnh của Ngân. Có thể vì quá quý mến em gái mình nên Đặng Xuân Xuyến mới dàn dựng như thế nhưng nếu là tôi, tôi sẽ để Ngân “dính bầu” như các trường hợp “ăn cơm trước kẻng” khác, thì sự mạnh mẽ trong tình yêu của Ngân mới thật.
Tóm lại, Đặng Xuân Xuyến đã giành cho nhân vật Ngân sự yêu mến và trân trọng đặc biệt. Người con gái ấy không chỉ đẹp người, đẹp nết mà còn là người phụ nữ hiện đại, mạnh mẽ với tình yêu.
Nhân vật cụ Bống xuất hiện cuối truyện và số chữ viết về cụ không nhiều nhưng Đặng Xuân Xuyến đã khắc hoạ thành công hình ảnh cụ Bống: một người ông, người cha yêu thương con, cháu hết mực; có những nghĩa cử cao đẹp, hơn hẳn người đời, biểu hiện ở hành động khi nghe tin con trai bị “đồng cô, không yêu được con gái” đã yêu cầu con trai huỷ hôn, đừng làm lỡ dở cuộc đời người con gái xinh đẹp, hiền thục của làng xã:
– “Thầy hỏi, con phải trả lời thật nhé. Con có yêu cái Ngân không? Con có làm chuyện đàn ông với đàn bà được không? Còn chuyện con với thằng Kiên “ái” nhà ông Vân thế nào? Thầy nghe thằng cháu đích tôn nói con với thằng Kiên “ái” yêu nhau, thề thốt nếu không được sống cùng nhau sẽ cắt tóc đi tu. Đã thế, còn bày đặt chuyện lấy vợ làm gì hả con?”.
Phải là người có tấm lòng của Bồ Tát thì cụ Bống mới lo lắng cho Ngân, khuyên Ngân huỷ bỏ hôn nhân với Sướng vì:
– “Ngân này. Con đẹp người đẹp nết lấy đâu chả được thằng chồng tử tế sao lại chọn thằng Sướng nhà bác làm chồng? Lấy nhau về, không có con cái thì sao được hả con? Rồi sẽ khổ cả đời, con ạ. Nghe bác, hủy đám cưới với thằng Sướng nhà bác đi. ”.
Tóm lại, tôi thích truyện ngắn “CÔ SƯỚNG CƯỚI VỢ” của Đặng Xuân Xuyến bởi, như tác giả Nguyễn Bàng đã nhận xét: “Truyện viết dí dỏm, hài hước gợi nhiều trăn trở với người đọc. Truyện chạm vào trái tim người đọc bởi trong truyện đầy ắp tính nhân văn.”
*.
VŨ THỊ HƯƠNG MAI
Địa chỉ: Khu tập thể Tổng công ty 319
Long Biên – Hà Nội.

Ý THỨC MỚI TRONG VĂN HỌC NGHỆ THUẬT

VÕ CÔNG LIÊM

TRANH VẼ VÕ CÔNG LIÊM : ‘Người Đàn bà Độc diễn Đàn bầu / Perform Solo (with one Stringed)’.

gởi: Luăn Hoán . Nguyễn Vy Khanh . Khánh Trường

   Ai là người được gọi là ý thức mới và nhận thức mới trong văn học nghệ thuật? –Who are to be the new consciousness and new intellectuals in the culture and art? -Cái đó là vấn đề nêu ra cho một chủ đề của tiểu luận, một phân tách những gì thuộc văn học nghệ thuật; thảo luận để tìm thấy sự tiến trình của nó, xác định sự biến cách của nó; giới thiệu những gì thăng hoa và những gì suy tàn trên con đường tiến lên xã hội chủ nghĩa tư tưởng cho một tư duy phục hưng nhận thức (an intellectual renaissance): Bất luận nam hay nữ là lớp người có ý thức muốn nghĩ tới những gì mà người ta đang sống giữa đời này; đấy là lý do, là giá trị mà họ đang hiện diện trong cuộc đời và cũng không vì điều đó mà ‘bó tay’ để đi đến một thứ văn hóa nghệ thuật tuyệt vọng trong một thứ văn chương ta bà, hùm-bà-lằn hiện đại bởi của những gì yếm thế, phù hư mà ở đây người ta không thể đầu hàng trước một thế giới mù tăm và kiềm chế bởi những gì ngu xuẩn không nhân tính. Cho nên chi ý thức mới là nhận thức toàn diện cả hai bề mặt của văn học nghệ thuật: chiều dài của thời gian và chiều rộng của không gian với cái nhìn trong sáng và đích thực giữa hữu thức và vô thức để xác định vấn đề của sự thật làm nên và xác quyết cho một giá trị tồn lưu nhân thế; xác quyết thế nào là ý thức cũ và ý thức mới dưới một lăng kính vừa độc đáo vừa để đời. Muốn đạt tới chân tướng đích thực tất phải xóa đi những tàn tích, cố cựu vốn dĩ mất lập trường cho những gì sâu sắc và tinh tế trong ngữ cảnh văn học và nghệ thuật giữa một kỷ nguyên mới. Đó là bước tiến hóa của nhân loại trong khoa học kỹ thuật, khoa học văn chương, khoa học nhân văn và những bộ môn khác làm nên lịch sử có tính chất sáng tạo nghệ thuật, sáng tạo văn phong, ngữ ngôn với một ý thức toàn diện để lãnh hội trọn vẹn ý nghĩa của nó. Không chứa chấp một tư duy lạm dụng hay vay mượn ‘chữ nghĩa’ để nói lên cá thể của mình, hành trang một ngữ ngôn vừa ‘mị-dân’ vừa giả dối là hoàn toàn suy đồi, lạc hậu, phù phiếm, ngụy trang như thế là biến văn chương chữ nghĩa mù tăm lạc đường trần, tác hại cho nền văn học nghệ thuật hiện đại. Do đó đòi hỏi ở đây một ý thức mới; giới thiệu những gì cần thiết có tính chất triết học, bởi triết học là cơ bản lý luận, phân tích nguồn cơn tự sự cho những gì người ta muốn đạt tới một viễn ảnh hợp nhất và trung thực của hiện hữu tồn lưu –for those who wish to acquire an integrated view of existence. Dựa trên tri thức khách quan (objective knowledge) để chống lại những thoái trào làm hư hại cho những thế hệ về sau, nghĩa là phải có một ý thức trung thực không vin vào một lý do ‘dụ dỗ’ đang thành hình trong một qui ước có tính chất giáo điều thuộc thần bí, ẩn tàng (mysticism), có chiều hướng vị tha (altruism) và một thứ chủ nghĩa tập thể cộng đồng (collectivism). Hầu như ẩn cái không thực trong đó. Đấy là thể tài cho lý luận về ý thức mới hôm nay.

Dự phóng cho một ý thức mà người ta nhận ra đây như một trách nhiệm để làm nên một nhận thức mới. Nó chứa đựng một yếu tính thuộc triết học chuyển từ những tiểu luận và giới thiệu một phát thảo của hệ thống thuộc triết học mới –It contains the main philosophical passages from its essaies and presents the outline of a new philosophical system. Chắc chắn trong cảm thức đó, bất cứ là nhà văn viết dưới dạng thức nào đều là những nhà tư tưởng, bởi; người ta không thể giới thiệu một con người hiện hữu tồn lưu nhân thế mà không có một dàn dựng khung cảnh thuộc tư duy của mình, dù dàn dựng rõ ràng minh bạch hoặc một hàm ý trong truyện của họ; dù có hay không có ý thức về nó đều có chứa ít nhiều niềm tin về sự nhận biết hoặc nhận biết dưới dạng tiềm thức, bởi; dưới cái nhìn cơ bản của con người và những gì thuộc hiện hữu tồn lưu vốn đã có một sự đối kháng mà gần như là một lý thuyết hiện sinh trong triết học. Đó là biện chứng của con người đứng trước một ý thức mới ngày nay: là định rõ mục đích, giải thích và gìới thiệu sự hiện diện với ý niệm của con người. Cho những gì mà người ta có thể thấy lợi ích trong biên niên thời gian đều phát triển qua tư duy –For those who may be interested in the chronological development of our thinking. Qua tư duy này có thể đưa tới một ngữ văn bí tỉ, khó nhận ra đâu là hữu thức và đâu là vô thức. Phải có ý thức nhạy bén trong nhận biết (conscious intelligence) thì may ra mở múi cho một ý thức mới, còn bằng không nó cứ là đà trong một tri thức cạn cợt chưa vượt thoát ra khỏi những gì là bí tỉ khó giải thích (mysterious). Tại sao? Triết học đã là một liên kết, tiếp giáp vào nội thức bởi tâm lý, nhận thức tự tạo, khoa học thần kinh, khoa học hình thành vật thể và lý thuyết tiến hóa cho tới những danh xưng chính yếu –Philosophy has been joined by psychology, artificial intelligence, neuroscience, ethology and evolutionary theory, to name the principals. Trong tám mươi năm trước, khởi điểm từ 1930 cho đến nay có nhiều cao trào trong nước cũng như nhiều khuynh hướng khác nhau (chính trị, tôn giáo, văn hóa…) đã bừng dậy qua từng bộ môn, đặc biệt thi văn họa là thành viên trong cuộc cách mạng văn hóa; triết học tự nó là tiến trình trong ngữ cảnh của trí tuệ: điểm chính là tháo gở những trạng huống bất thường của trí tuệ, nhưng; cung cấp một ý niệm sáng suốt của những gì có thể cho đó là tự nhiên, một lý thuyết chuyển thể của trí tuệ giữa những gì mà chúng ta phải biết cách chọn lựa cho một ý thức mới và nhận biết mới là một sự lý trong sáng, những thể loại biểu lộ là nhu cầu cần thiết nếu chúng ta tạo những lý do để chọn lựa giữa triết học và người triết học để có một ý thức mới trong cái gọi là tư chất triết học đương đại. Thí dụ: Một nhà giáo dạy triết ý thức được vai trò chức năng, nhiệm vụ của một nhà mô phạm thời ý thức được vai trò đạo đức là chủ lực hành động, dù là ngoại giới lôi cuốn nhưng không vì thế mà hóa ra ta bà thế giới, mai nhà chùa mốt nhà thờ, khi áo dòng, khi áo cà sa hình thức đó là hình tượng phủ dụ, đội lốt che đậy hành tung cho một tác động vô trách nhiệm và từ đó đưa dẫn trí tuệ vào trạng thái khủng khoảng mất nhân tính sanh ra bê tha, phát ngôn bừa bãi như kẻ vô thần. Đứng trước hoàn cảnh đó cho ta một ý thức mới để nhận định cho một ý thức cũ vốn nhai lại, rập khuôn không định hướng đâu tà, đâu chính hay vì những chứng tích mù mờ mà hóa ra mù mờ (?). Ý thức như thế không có chi là ‘conscious intelligence’ mà đưa tới một tập đoàn ngu xuẩn, hỗn độn, bởi thần tượng hóa cho một thiên tài chưa từng có. Cái nhìn thiển cận chính là cái nhìn sa đọa, bạc nhược cho một ý thức mới ngày nay mà cần có một suy luận để chọn lựa giữa họ và ta – we are to make are reasoned choice between them…Tâm lý học dạy cho chúng ta một vài điều thật bất ngờ về những gì nhận ra được và cậy vào những gì nhận thức từ bên trong.(Đây là vấn đề quan trọng từ khi có một vài lý thuyết về trí lực để rồi nương vào một cách nặng nề trong những gì thuộc tự thức nội giới, thiết tưởng như là một tiết lộ từ bên trong / This is an important matter, since some theories of mind rely heavily on what self-conscious introspection is supposed to reveal). Nhận thức về tâm lý và tri thức giả tạo là phát sinh một kiểu thức khiêu khích của nhận thức, là những điều mang lại một tư duy tạp nhạp không ý thức; trong lúc tiến trình của nhận thức hướng tới một ý thức toàn diện hợp thời trang là phá vỡ những thành quách ý thức cổ điển không thiết thực, cho dù ý thức đó đã được đồng hóa để hợp thức hóa. Chủ nghĩa ý thức hệ là đầu mối những gì cố cựu chuyển sang thời kỳ đổi mới tư duy để có một khái niệm đúng đắng cho ý thức mới trong mọi lãnh vực, lãnh vực được chú ý tới ở văn học nghệ thuật là chỉ tiêu để nhận biết qua một liên lạc trung gian giữa trí tuệ và ý thức mới hơn trước. Ý thức mới trong văn học nghệ thuật đòi hỏi những gì? -Không đòi chi cả mà đòi cho bằng được một ý thức trung thực trước một viễn cảnh cuộc đời, biến trình xã hội và một dự phóng vào đời với tất cả những gì trong sáng cho nhận định cũng như phê bình, một phương hướng định lượng được giá trị của nó; tuyệt nhiên không vì một lý do nào hay căn cứ vào những gì phi thực để tạo nên ‘thần tượng’ trong ý thức; nhìn như thế không phải là người thức thời mà chứng minh cho thấy một nội tạng vốn đã tàn tích suy thoái tư tưởng. Ý thức là lập trường cố định, nhận biết được những gì của hữu thức và vô thức là tác động do từ trí tuệ gây nên. Con người hiện sinh là con người có ý thức nhận biết không còn mù mờ để phán đoán trước những gì đang sống. Tác động của ý thức là tác động vào vấn đề thuộc về ngữ ngôn (The Semantical Problem) bên cạnh vấn đề bản thể tính siêu hình (The Ontological Problem) Cả hai vấn đề tựu chung trong một vấn đề thuộc về tri thức nhận biết (The Epistemological). Đó là ba nguồn cơn đưa tới ý thức mới bằng một khám phá cho từng trường hợp và phản biện cho ba lý thuyết đưa ra: Thứ nhất có nghĩa là cảm thức nhận biết về tâm lý là bắt nguồn từ tác động trong bản chất. Thứ hai là khẳng định có nghĩa là bắt nguồn từ tác động vào định nghĩa. Thứ ba là yêu sách có nghĩa là bắt nguồn từ nơi chốn trong hệ thống pháp lý. Cả ba trường hợp là một chứng tỏ trung thực; tuy chiều hướng khác nhau nhưng cùng một phục hưng nhận thức. Phục hưng nhận thức là gì? (đã dẫn ở trên). -Nó là một lý thuyết bao gồm trong mọi lý thuyết, là cung cấp nguồn phát sinh ra ý thức mới là thái độ đối xử có tính chất triết học –an alternative theory was provided by the philosophical behaviorists; những thứ đó nó nằm trong ngữ cảnh thuyết duy ngã (semantic solipsism). Ngữ cảnh duy ngã là cái chi chi? -Đặc vấn đề như thế là có tính chất ngụy biện, bởi; duy ngã là luận văn của những gì nhận thức ra được, điều có thể dự trử cho một nhận biết tức khắc tức tự nó mà ra. Và; từ đó có thể cho chúng ta tìm thấy kinh nghiệm của vấn đề và ý thức (Matter and Consciousness) trong một liên trình đưa tới ý thức, tất phân biệt được giữa hữu thể và tha thể. Cái sự đó là trạng huống cảm nhận chủ quan (subjective feelings). Nghĩa là: có tính chất bí truyền (mystics) hoặc bởi một sự chối bỏ kịch liệt là lý do chối bỏ để có một giá trị luân lý cái đó là giá trị phán quyết cho một xác định ý thức sự kiện xẩy ra hợp lý hay không hợp lý. Giữa tình thế đó ta phải nhìn qua từng góc độ của nó mới nhận ra được ý thức trong triết thuyết mang lại. Không bộ môn nào đứng đơn lẽ trong ý thức tư duy, nghĩa là đã chất chứa hoặc tiềm ẩn những gì thuộc triết học của nó. Thí dụ: Phản kháng ngấm ngầm trong vai trò thách đố của Zarathustra (trong Ecce Homo) là đồng dạng tương đố của Raskolnikov (trong Hồi Ký Viết Dưới Hầm / Notes from the Underground) một bức xúc Ivan Karamazov (trong Anh em nhà Họ Karamazov /The Brothers Karamazov) là ý thức mới của Nietzsche và của Dostoevsky; một ý thức bi thảm, một ý thức thuộc nhân bản mà họ đã sáng tạo trong những tác phẩm bắt đầu của họ. Từ đó cho ta nhận thức được ý niệm của ý thức mới là làm sống thực như cuộc đời trải qua từng nhân vật. Chúng ta có thể tìm thấy những ý thức khác qua nhân vật như Kiều (Nguyễn Du) Chí Phèo (Nam Cao) là một bộc bạch qua ý thức triết học nhân vật. Tất cả là tượng hình cho những gì gọi là ý thức mới trong văn học nghệ thuật là vậy. Cho nên chi giữa ý thức cũ và ý thức mới không còn là ngăn cách, biên giới mà là tổng thể chứa đựng một thứ triết học của văn chương (A Philosophy of Literature). Vậy thì triết học văn chương chứa cái gì trong đó? Hỏi cái này tất đụng phải một thứ nghệ thuật khác (dù cổ điển hay đương đại) cho một tâm lý tri thức nhận biết thuộc về nghệ thuật (The Psycho-Epistemology of Art). Dẫn ở trên là lý do cho một thành quả có từ ý thức mang lại; nghĩa là thanh lý những nhận thức cạn cợt, suy thoái trước đây làm hư hại cho một trào lưu, lý thuyết, trong văn học nghệ thuật; bởi do từ bí tỉ của tư duy đã không nhìn thấy giá trị thâm hậu mà tác giả muốn nói lên những gì muốn nói tới: là phơi mở, huỵch toẹt cái điều mà con người phải nhận biết (ý thức). Ý thức này không phải là ý thức kia; nghĩa là không dựa vào mà tìm thấy từ sự phát tiết để làm thế nào thấy được nội giới bên trong; là đưa dẫn từ lý trí (mind) chớ không từ tri giác (perceptual). Cho nên chi đứng trước một hoàn cảnh của văn học nghệ thuật nói chung là đòi hỏi một ý thức mới cho vấn đề; chỉ có suy luận, những gì là bi thảm, tuyệt vọng và một sự tàn phá âm thầm là những gì đã xẩy ra qua bao thế kỷ trong cái ngấm ngầm bí ẩn không thể nhận ra được sở nghiệp của nhận thức. Điều mà không bao giờ biết đến –One can never know; only surmise, what tragedies, despair and silent devastation have been going on for over a century in the invisible underground of the intellectual profession. Cái cạn cợt, không kinh nghiệm, không chuyên nghiệp đều đến trong điạ hạt của nhận biết với một cảm thức không sáng tỏ (the inarticulate sense) của trào lưu. Ở đây chúng ta tìm kiếm cái lý lẽ vấn đề để trả lời thành quả đầy đủ ý nghĩa của hiện hữu tồn lưu của con người, tìm ra được những gì thuộc triết học với một phương hướng đi tới nhận thức cho một nhận thức mới (For the New Intellectual). Đưa sự lý này vào đây không biết có bí tỉ không? -Đấy là vấn đề. Không! mà đấy là nguồn cơn của nghệ thuật đặc trong sự kiện; đó là nhận thức từ tri thức của con người là thể chất thuộc về nhận thức (conceptual). Khi đã ý thức vai trò của nhận biết thì ý thức được sự kiện một cách sáng tỏ, không ấm ớ hội tề, chi mô răng rứa mà thêm mù mờ; chớ bây giờ biết lấy chi để giải thích hơn. Nguyên nhân xưa nay cứ nói ý thức là cụm từ được mô tả từ tri giác; cái tri giác này gần như tự động hóa cho thành vấn đề chớ chưa nhận thức thấu đáo của từ ngữ ‘ý thức / consciouness’ có từ đâu và sinh ra từ đâu. Tuy có tính chất siêu hình trừu tượng nhưng khám phá ra được nó thì tự nhiên hiện hữu với đời và tồn lại với ngữ văn trong văn chương, còn nếu như (as if) chưa thấu đáo với tư duy thì chắc chắn ý thức đó đi ngược với những trào lưu đang phát tiết. Đấy là sự nguy hiểm của nhận biết. Nghệ thuật ‘nó là / it does’ có mục đích và ‘nó là’ phục vụ nhu cầu của con người, không cần phải có vật chất, chất liệu làm nên nhưng cần ý thức nơi con người làm nên. Nghệ thuật là cái điều không thể giải thích được, để buộc vào sự sống còn của con người. –Art is inextricably tired to man’s survival, but a need of man’s consciousness. Không có nghĩa là nêu lên tính chất vật lý mà là một sự bảo tồn và sống còn của ý thức. Thí dụ: Người đàn ông nọ nắm được nhận thức hiểu biết và đưa tới hành động; không có nghĩa là đơn độc, một tri giác cô lập trong hành động mà hành động trong dạng thức trừu tượng. Cho nên chi nhận thức hành động là ý thức được sự kiện để hành động. Đứng trước hoàn cảnh thuộc văn học nghệ thuật là đòi hỏi một nhận thức thấu triệt, đưa vấn đề ngữ ngôn và ngữ cảnh đến một nơi chốn toàn vẹn để có một ý thức nhận biết giá trị của nó; nhưng đó là then chốt trong chính nó mà ra –but is an end in itself. Sự lý này phục vụ không mục đích khác hơn là thưởng ngoạn. Thí dụ khác: Nhạc sĩ nọ phát tiết nhạc từ qua ngẫu hứng, gần như thể loại thi ca vô nghĩa (nonsence poetry hay còn gọi là fatrasie) chính trong vô nghĩa (của ngẫu hứng chớ không phải của mô-típ văn chương) cốt làm giàu âm thanh, nhạc điệu, có khi bất chấp cung bậc nhạc lý. Thế rồi trở nên thứ âm nhạc thuần túy. Nhạc sĩ (ngẫu hứng) thính giả (bắt chụp) cả hai tâm lý khác nhau; bắt nguồn từ vô thức chớ không phải từ hữu thức sinh ra. Vì vậy trong nghĩa cử nhận thức chiều sâu của nghệ thuật (luôn cả thi ca, hội họa, âm nhạc) phải nhận biết và có ý thức mới để nhận ra nó thời mong định được phương hướng của nghệ thuật. Tại sao? -vì ngữ ngôn là ẩn số, là ký hiệu của tai nghe mắt thấy (visiual-auditory) đó là chức năng phục vụ của tâm lý tri thức nhận biết (psycho-epistemological) là chức năng của biến đổi dạng thể trừu tượng trong dạng thức cục bộ hoặc chứng tỏ dạng thức chính xác, cụ thể đều nằm trong tâm lý tri thức nhận biết cũng là dạng thức tương đương cụ thể cho một tác động giữa ý thức trí tuệ và chức năng tự động của dạng tiềm thức. Nói tới đây đưa ta về thế giới của siêu hình –siêu hình là khoa học, là xử lý cho một cơ bản tự nhiên của thực chất; liên can đến một thứ trừu tượng rộng lớn của con người. Bao gồm mọi thứ cụ thể, cục bộ, khuôn phép mà người ta nắm lấy, cảm nhận được, bao luôn cả những gì rộng lớn của nhận biết và một chuỗi dây chuyền về nhận thức ý niệm chính những gì hiện ra; là những gì mà con người cầm giữ lấy nó với một tọa độ cho ý thức mới tức thời. Con người cần có một nhận thức nhận biết đó là năng lực đưa tới một nền văn học nghệ thuật: Nghệ thuật là một chọn lựa tái sáng tạo thiết thực hợp cho một cái gì thuộc về siêu hình xét đoán hợp lý –Art is a selective re-creation of reality according to an artist’s metaphysical value-judgments. Văn học nghệ thuật là cụ thể hóa (concretization) về những gì là siêu hình. Văn học nghệ thuật mang lại ý niệm nhận thức đến từ tri giác và từ tri giác gây nên ý thức để gói trọn tâm tư một cách trực tiếp trong tư duy; nếu những dữ kiện đó xẩy ra cùng một lúc, đồng thời là một giao thông tư tưởng có tính cách đạo đức luân lý. Nói tới đây không có nghĩa văn học nghệ thuật là thay thế cho tư duy triết học, nhưng; cũng không phải trợ vào những gì thuộc văn học nghệ thuật, cách thức đạo đức mà chỉ còn lại một vị trí của những gì thuộc lý thuyết nghệ thuật cơ chế (theoretical engineering). Nghệ thuật và văn chương là mẫu thức tạo tác –Art and literature is the model-builder. Nhưng; tất cả đã ảnh hưởng và đó là thông điệp như một kết quả: -Nghệ thuật là không có nghĩa đưa tới đích giáo dục. –Art is not the means to any didactic end, và; Nghệ thuật không có nghĩa là sao chép hay rập khuôn –Art is not the means of literal transcription. Đó là sự khác biệt giữa ý thức cũ và ý thức mới đều bao hàm trong một ý thức (awareness) hiện đại hơn.

Trong ba thập niên sau này; ý thức nhận biết về giá trị thuộc văn học nghệ thuật ở nước ta chuyển hướng rõ rệt; một thứ triết học tự nó đã làm nên một tiến trình có ý nghĩa trên phương diện tự nhiên của trí tuệ; phần chính không còn thấy hỗn mang, gò đống trong cách suy diễn hay văn phong cục bộ mà thoát ra bởi nhờ vào phương tiện kỹ thuật cho một trạng thái thông thường tự thức của trí tuệ (mind’s self-knowledge) nhưng cung cấp ở đó những ý niệm nhận thức trong sáng của những gì phát tiết tự nhiên không còn khuôn phép hay ước lệ mà chủ trương cho một phương hướng nhận thức sâu xa. Thế nào là mới trong văn học và nghệ thuật? -là những gì có thể thay thế hay chọn lựa trong những lý thuyết đã đề ra và nhận ra những gì sáng suốt trong ý thức nhận biết, những thể loại chứng tỏ là nhu cầu cần thiết mà những thứ đó tạo ra nguyên cớ cho việc chọn lựa; chọn lựa trong một ý thức mới. Đấy là vấn đề được nêu ra cho ý thức nhận biết: nhấn mạnh vào những gì có liên đới đến ngữ cảnh của văn chương, khai thác triệt để có một tư duy sáng tỏ, trung thực và phản biện mọi cá tính chủ quan; vượt ra khỏi con đường quá độ vốn ẩm thấp, độc hữu và ước lệ giữa trào lưu đổi mới tư duy, cốt để bước lên con đường xã hội chủ nghĩa tư tưởng; nghĩa là giải phóng toàn bộ vũng lầy còn ứ đọng trong tư tưởng để có một ý thức mới kiện toàn, một tư tưởng không bị khống chế bởi ngoại giới đưa tới mà cần có một thảo luận đặc biệt chống lại cái viễn ảnh cố cựu tiêu chuẩn: một thảo luận ngữ ngôn riêng tư –had a futher argument against the standard view: the private language argument. Đó chính là con đường sáng tác; đòi hỏi một tư duy độc lập, không hệ lụy ngay cả việc chịu ảnh hưởng một số tác giả làm nên, ảnh hưởng vào đó chỉ là lâm thời chớ không thể xem đó là trường phái riêng tư cho mình. Nếu duy trì nó tức là đưa mình lên giàn hỏa thiêu…Vậy thì yêu cầu gì có ý thức mới nơi người văn nghệ sĩ? -Hỏi cái này có tính chất lý tài và biện minh cho cái lý riêng tư. Vì rằng; thời gian biến chuyển con người chớ con người không chuyển biến thời gian tất giữa người và thời gian là biện chứng tư duy để vượt thoát ra khỏi một tư tưởng ‘bùn lầy nước đọng’ không còn trong vòng luẩn quẩn, vu vơ mà cần có một tư duy mới cho một ý thức mới tức cải thiện để bước đi xa là dẫn độ đến con đường văn học nghệ thuật. Nói ra đây có vẻ triết thuyết. Thực ra; nó tụ trong quan điểm của lý thuyết hóa của ngữ văn (the Semantic of theoretical terms) cho nên chi viễn cảnh của ý thức mới là bùng nỗ trong một trạng thái kích động (stated); cái mà ta thường cho là thuật ngữ của lý thuyết (theoretical terms); mà là cảm thức có từ trí tuệ (common-sense); thời tất không cho đó là ý thức trước một ý thức mới. Thí dụ: Văn sĩ Z. và thi sĩ X. họ có những phát tiết từ trí tuệ nhưng họ không khai thác tư duy mà chủ quan trong tư duy vì cho rằng họ độc hữu trong tư duy, phát sinh ra ngữ ngôn riêng để tạo hiện tượng; thật ra cả hai chưa ý thức vai trò nhân thế mà ‘dựa hơi’. Nói theo lý thuyết đó là hành động theo bản năng một cách tự động hóa vấn đề để nói lên cái kích thích hứng khởi mà không tỏ rõ bởi ý thức (philosophical behaviorism) để rồi cả văn và thơ trở nên thụt lùi không còn định lượng mặt hàng thực giả cho trào lưu mới. Vì vậy con người làm nên là vượt thời gian bằng một ý thức cải cách và đổi mới tư duy không còn vướng tục mà bước ra cõi ngoài của ngữ ngôn để đạt tới cái nguyên vẹn hình hài của con người hiện sinh với một tư duy trong sáng và bày tỏ chân lý sự thật của tâm hồn và thể xác, đồng điệu trong một tinh thần mới nghĩa là phải mới từ trong ra ngoài do từ ý thức mang lại của trí tuệ hướng đến tri thức tuyệt đối, quan điểm mọi biểu tượng xẩy ra là do tác động trực tiếp; một đôi khi ý thức đã vượt giới hạn của nhận định làm cho nhận thức tư tưởng trở nên siêu hình trừu tượng (metaphysics) mà phải biết vận hành để có một khái niệm cụ thể về ý thức là ở chỗ đó. Ý thức mới là nhận định sáng tỏ thực hư của vấn đề. Nhận thức ở đây là có một trí tuệ minh bạch để xác quyết vấn đề nghĩa là không chạy-theo để a-tòng hay rập-khuôn tất cả những hình thái như thế gọi chung là tư tưởng vô thức, bởi; trí tuệ hỏa mù thì làm cho nhận định lạc hướng trước một hiện hữu tại thế; trong lúc những gì gọi là ‘ý thức’ hoàn toàn khác với thực tế mà đó chỉ là ngữ ngôn phô diễn cho một quá trình đã tham dự. Ý thức mới phải độc lập trong tư tưởng, tức không bị khống chế bởi tri giác mà do từ trí tuệ làm nên. Tựu chung định hướng đó không thể đi tới ý thức mới. Ý thức mới là hình thái tạo nên chất lượng trong cách viết đầy sáng tạo hơn, mới hơn..

Ý thức trong sáng là ý thức mới; cũng không phải vận hành qua tất cả tri giác (The Theory-Ladenness of All Perception) mà vận hành qua trí tuệ thì cuộc đời tươi sáng và mở rộng. Trí tuệ là não thức tìm thấy ở chính nó như có một cái gì rắc rối, phức tạp và không thể nào hiểu thấu trong lúc cố quyết đi tìm thế giới vô tận ở cõi ngoài mà xưa nay đã mắc phải. Cái sự ‘mắc phải’ là căn bệnh trầm thống, một thứ tệ đoan văn hóa xẩy ra giữa thập niên 50, 60 và đầu 75 ở miền Nam là dấu tích suy thoái tư tưởng, nghĩa là chưa định rõ phương hướng thế nào là ý thức và thế nào là vô thức; lý do mắc phải bởi ngọn gió chướng của tư tưởng phương Tây. Thừa nhận nó như một thứ văn chương độc hữu và coi đó là thần tượng cố hữu. Lý thuyết của họ như giáo điều lấy đó làm cơ bản, biến nó như trào lưu đương đại mà quên ở chính mình cũng có thể làm nên thế sự. Sở dĩ yếm thế trước trào lưu đương đại phương Tây với nhiều lý do khác nhau nhất là lãnh vực văn học nghệ thuật hiện đại. Lý do tìm thấy ở sự phát tiết trí tuệ là nguồn cơn của mặc cảm bị trị, bởi; họ đã thổi vào một sắc khí độc dược và mê hoặc như món hàng thời thượng. Chính vì thế mà nguồn phát tiết tư duy đi qua từng thời kỳ đều lấy đó mà rập khuôn, một thứ ước lệ hủ hóa, nghĩa là không thoát tục và độc lập ở chính mình. Đấy là nguy cơ không biết đến nay đã giác ngộ hay chưa? Nhận ra được tư duy chiếm cứ thì không thể ý thức được sự kiện; nhưng phải xuyên thủng một tiến trình phát triển về nhận thức: thời trí tuệ sẽ bừng lên với một ý thức mới, phát tiết từ trong con người của chúng ta để làm nên một nền văn học nghệ thuật hiện đại và trong sáng hơn xưa ./.

VÕ CÔNG LIÊM (ca.ab.yyc. 5/ 8/2016 / Hiệu đính 15/9/2020).

TÌM ĐỌC : Những bài của võcôngliêm:

– Vô Thức Hữu Thức

– Ý Nghĩa Của Nghệ Thuật.

– Triết Lý Cuộc Đời.

– Triết Học Nghệ Thuật.

– Phân tích Tâm lý thuộc Triết học Tự nhiên.

– Phương pháp thuộc về Phân tích trong Văn chương.

– Ý nghĩa của Nghệ thuật.

Hiện có trên một số báo mạng và giấy trong và ngoài nước hoặc email theo điạ chỉ đã ghi.

TẢN MẠN ĐÔI ĐIỀU VỀ TRÀ (Kỳ 2) –

Nguyên Lạc

..

LỊCH SỬ, NGUỒN GỐC PHÁT TRIỂN VÀ CON ĐƯỜNG ĐI CỦA TRÀ

  1. Tên khoa học

Năm 1753, Carl Von Liaeus, nhà thực vật học Thụy Điển, đặt tên khoa học cây trà là Camellia Sinensis thuộc họ Theacae, xác định cây trà có nguồn gốc Trung Quốc. Thế nhưng một số học giả Anh lại cho rằng nguồn gốc cây trà là Ấn Độ. Cuộc tranh luận về quê hương cây trà đã kéo dài trên hai thế kỷ.

Năm 1976, Djemukhatze, Viện sĩ Thông tấn Viện Hàn lâm khoa học Liên Xô (cũ), sau khi đi khảo sát vùng trà cổ thụ trong 2 năm tại miền bắc Việt Nam, bằng phương pháp sinh hóa thực vật, lại xác định Việt Nam là quê hương cây trà trên thế giới, theo sơ đồ tiến hóa sau đây:


Camellia — trà Việt Nam — trà Vân Nam lá to — trà Trung Quốc — trà Ấn Độ

– Ta nên nhớ rằng: Khi nhà thực vật học lấy một địa danh nào đặt tên (như sinensis: Trung Hoa) không có nghĩa nơi đó là cái nôi của một loài, mà thường do nơi đó là nơi lần đầu tiên phát hiện), do vậy không thể dựa vào từ “Sinensis” để nói cây trà có nguồn gốc từ Trung Hoa.

.

2. Trà – huyền thoại và lịch sử

Hình như tất cả những gì có người Trung Hoa tham gia vào đều có bên cạnh một vài huyền thoại; trà cũng không ngoại lệ. Ít ra người Trung Hoa có hai huyền thoại về trà: một huyền thoại mang sắc thái người Hoa Bắc và một mang sắc thái người Hoa Nam.
. Huyền thoại thứ nhất của người Hoa Bắc cho rằng cho rằng người đầu tiên phát hiện ra trà chính là Thần Nông (2737- 2697 tr. Công Nguyên). Truyền thuyết này lại được giới thiệu trong cuốn Trà Kinh của Lục Vũ (vào năm 780 sau Công nguyên).
Vua Thần Nông là vị Hoàng Đế huyền thoại rất giỏi về nông nghiệp và y dược. Ngài nếm nhiều loại cây cỏ để tìm dược tính trị bệnh cho dân; “Thần Nông một ngày nếm thử một trăm loại thảo dược và gặp bẩy mươi loại độc và tự mình giải độc.”. Sự tích tìm ra cây trà của Thần Nông cũng được dệt bằng một huyền thoại thần bí. Một hôm, Vua Thần Nông cùng vợ con lên núi, giữa chừng núi vua thấy khát nước thì ngay lúc đó một chiếc lá rơi xuống cạnh chân Ngài. Thần Nông lượm lên và vò nát trong tay mình, chất nhựa dính vào ngón tay và Ngài đưa lên miệng nếm. Vị đăng đắng cho Thần Nông biết nó có dược tình và cảm thấy cơn khát mất đi. Thần Nông bèn đem chiếc lá đó sắc lên, và Ngài là người đầu tiên uống trà. Lại có truyền thuyết nói Thần Nông đun nước dưới một gốc cây, lá cây này rụng và rơi vào nồi. Nước trong nồi có màu vàng xanh và mùi vị thơm ngon, uống vào hết khát: đó là trà.
Người Trung Hoa chứng minh huyền thoại này bằng cách trưng ra cuốn ‘Thần Nông Bản Thảo” , trong đó có ghi tính dược cây trà. Nhưng thực ra tác phẩm này là một biên khảo vào thời Tần-Hán (khoảng năm 220 sau Công Nguyên) do nhiều nhà y học ghi chép và về sau Đào Hoằng Cảnh (457 – 536) chỉnh lý lại và người đời sau bổ sung và sửa đổi khá nhiều. Có điều chúng ta cần lưu ý trong Trung Y (y học Trung Hoa) không thấy cổ phương danh tiếng nào dùng trà làm vị thuốc và trong các hiệu thuốc đông dược chẳng thấy ai dùng đến trà cả.
Người Trung Hoa nói thế. Các học giả phương Tây dựa vào tài liệu Trung Hoa thuật lại thế và chúng ta nhắm mắt tin thế. Rồi người Nhật phụ họa thêm truyền thuyết trà là một cây thuốc như sau: vào đời Chiến Quốc một danh y truyền dạy y thuật cho con trai, nhưng chỉ mới truyền được bảy phần thì ông qua đời. Tưởng là phần còn lại thất truyền, nào ngờ nơi mộ ông ta mọc lên một loại cây hội đủ dược tính phần y thuật còn truyền sót; đó là cây trà. Càng về sau, các tài liệu đều ghi: “Khởi đầu trà là một vị thuốc, sau trở thành thứ nước uống giải khát.”
Củng cố thêm cho nguồn gốc cây trà và văn hóa trà xuất phát từ Trung Hoa, người Hoa Bắc còn đưa ra huyền thoại “Các vua nhà Chu đã dùng trà tế lễ từ năm 221 trước Công Nguyên”. Huyền thoại này thực sự có cơ sở chăng?! Nếu từ thời kỳ Xuân Thu Chiến Quốc người Trung Hoa đã dùng trà trong tế tự, ắt điều này phải có ghi trong các kinh lễ của các bậc thánh nhân như Chu Công và Khổng Tử. Đáng tiếc, Kinh Lễ hay Lễ Ký do Đức Khổng Tử san định cũng không hề thấy nói đến trà; sách Luận Ngữ do học trò ngài ghi lại các lời Ngài dạy hàng ngày cũng chẳng thấy nói đến trà; Kinh Thi cũng do Ngài san định là một tác phẩm ghi chép lại các bài ca dao trong dân gian không hề có một chữ trà hay chữ đồ. Trở ngược dòng lịch sử, sách Chu Lễ ghi rất chi li lễ tiết đời Chu cũng không thấy có chữ trà, Hoặc quay xuống đến đời Hán chúng ta thấy có cuốn Sử Ký của Tư Mã Thiên (khoảng những năm 90 trước Công Nguyên), có một thiên Lễ Thư, hay Hán Thư cũng không dành cho trà một chữ. Qua đó có thể nói ít nhất đến đời Hán trà chưa hề được biết đến ở Trung Hoa.
Trái lại chúng ta dễ dàng thấy chữ “tửu” trong các tác phẩm vừa nói, với câu nói nổi tiếng “Vô tửu bất thành lễ”. Điều này cho thấy việc vua nhà Chu dùng trà tế lễ là sự gán ghép đời sau. Nho gia không phải rồi, vậy trà có phải của Đạo gia chăng?! Chắc chắn là không vì biểu tượng thường đi kèm với các vị tiên gia là phất trần và bình rượu chứ không phải ấm trà, và giới đạo gia có thứ rượu Quỳnh tương trên tiên giới thần diệu như nước cam lồ bên Phật giáo. Chỉ mãi sau đến đời Chu Hy (cuối Nam Tống) mới xuất hiện một bài thơ gắn ông tiên với lò nấu trà. Như vậy có thể nói điều Lục Vũ ghi trong Trà Kinh “Thần Nông là ông tổ cây trà” có thể chỉ là lời lượm lặt trong dân gian thích thêu dệt huyền thoại của người Trung Hoa mà thôi.
. Huyền thoại thứ hai của người Hoa Nam. Huyền thoại này cho rằng chính Bồ Đề Đạt Ma (Bodhidarma), Sơ tổ Thiền Trung Hoa, là người mang cây trà từ Ấn Độ vào Trung Hoa (năm 519 sau Công Nguyên). Nhờ cây trà mà Ngài thức suốt 9 năm để ngồi nhìn vách đá quán tưởng công án. Tin vào truyền thuyết này nên về sau Thiền Nam Tông có nghi thức uống trà trước tượng Bồ Đề Đạt Ma. Xoay quanh Bồ Đề Đạt Ma lại có một huyền thoại thần bí hơn, lại do người Nhât phụ họa: Sau ba năm diện bích, tổ Đạt Ma kiệt sức và ngủ lịm đi. Khi tỉnh dậy, tổ hối hận và lo lắng, cắt hai mi mắt mình liệng xuống đất. Ít lâu sau nơi đó mọc lên một loại cây bụi, tổ Đạt Ma lấy lá của nó nấu lên uống thì tỉnh ngủ hẳn. Và Ngài tiếp tục diện bích cho hết 9 năm.

Cũng lưu ý là các tác phẩm như Hán Sở Tranh Hùng, Tam quốc Chí có nhiều lần nói đến việc uống trà, nhưng điều này không thể khẳng định trà có từ đời Hán vì các tác phẩm này viết vào đời nhà Minh, thời trà Trung Hoa đang ở giai đoạn hoàng kim. Việc các cây bút văn chương lồng một số chi tiết nho nhỏ quen thuộc đương thời vào câu chuyện không phải là điều không xảy ra nếu không muốn nói rất thường.

Còn nếu lấy huyền thoại làm chứng cứ thì e rằng người Việt biết uống trà và có một nền văn hóa trà sâu xa từ thời Hùng Vương (ngang đời nhà Chu). Ai trong chúng ta cũng đều biết câu chuyện cổ tích Trương Chi – Mỵ Nương , hai chữ Mỵ Nương đủ khẳng định bối cảnh câu chuyện xảy ra vào thời Hùng Vương rồi. Chuyện kể tóm tắt rằng: Chàng lái đò Trương Chi có giọng hát thật hay làm xiêu lòng Mỵ Nương. Nhưng khi gặp khuôn mặt xấu xí của chàng lái đò Mỵ Nương đâm thất vọng, ngược lại trước nhan sắc của Mỵ Nương Trương Chi về ốm tương tư rồi mất. Trương Chi chết hóa thành một hòn ngọc, người thợ đá tạc thành một cái chén uống trà dâng cho gia đình Mỵ Nương. Cứ mỗi lần rót nước trà vào chén Mỵ Nương thấy trong đó có hình chiếc đò bơi qua bơi lại và một tiếng hát từ cõi xa xăm nào đó vọng lại. Thương cảm, Mỵ Nương khóc, giọt nước mắt rơi vào chén trà và chén trà tan thành nước.

Bên cạnh, người Trung Hoa trưng ra một số tư liệu lịch sử để chứng minh nguồn gốc cây trà của họ. Sự viện dẫn này dựa vào thương mại để chứng minh cây trà và văn hóa trà có nguồn gốc từ Trung Hoa:
. Dẫn Con Đường Trà Cổ (Trà Mã Cổ Đạo): Đây là con đường núi ngoằn ngoèo đi xuyên qua vùng núi Vân Nam – Tứ Xuyên phía Tây Nam trung Hoa, phương tiện vận chuyển chủ yếu là lừa và ngựa. Theo tư liệu của Trung Hoa con đường này hình thành vào đời nhà Đường (618-907), và trà của Trung Hoa theo đường đó bán cho các nước phía Nam.
Điều này không mấy hữu lý vì tính theo thời gian vùng này thuộc về đất nước Nam Chiếu – Đại Lý. Thực tế cũng cho thấy đời Đường chưa cai trị được vùng đất này, nếu không muốn nói có nhiều chiến tranh qua lại giữa Trung Hoa và các bộ tộc (nhất là khi vùng này hình thành quốc gia) tại nơi đây. Cứ liệu đáng tin nhất; năm 629 khi Đường Tam Tạng có ý qua Hồ Quốc (tức Ấn Độ) thỉnh kinh, ông phải lén đi vì Đường Thái Tông cấm đi ra nước ngoài. Lý do cấm đoán đó là vì các vùng biên giới không yên ổn và nhà Đường lúc đó không đủ sức thảo phạt . Tình hình như thế cho thấy con đường này thực sự dưới quyền kiểm soát của Nam Chiếu – Đại Lý, trà từ vùng này chuyển đi các vùng lân cận và Hoa Nam để bán . Luận cứ này cho thấy con đường Trà Mã Cổ Đạo này không do nhà Đường mở ra, thực tế nó là một con đường tự phát nhằm trao đổi hàng hóa nhỏ lẻ với Hoa Nam và các nước lân cận Đại Lý. Trà quả là sản phẩm của con đường này nhưng chủ nhân là Đại Lý chứ không phải Trung Hoa. Chính vì thế ta sẽ thấy tập quán uống trà những nước quanh Đại Lý cũ không hề giống thói quen uống trà của người Trung Hoa.

(Phần huyền thoại và lịch sử này được trích từ quyển Trà Thư trong Trà Luận của nhà biên khảo Đức Chính)

.


3. Truy lại cội nguồn nền văn hóa trà


Qua những điều trên chúng ta đã biết: Trà là sản phẩm của Con Đường Trà Cổ (Trà Mã Cổ Đạo) và chủ nhân của nó là nước Đại Lý.
Lãnh thổ nước Đại Lý bao gồm 3 tỉnh: Vân Nam, Quý Châu và tỉnh Tứ Xuyên ngày nay. Nước này còn chiếm một phần vùng thượng du miền Bắc Việt Nam và một phần lãnh thổ của Myanmar hiện nay. Trước khi thành lập nước Đại Lý, vùng đất này là của người Bạch và người Di, gồm 6 bộ tộc (gọi là chiếu) Mông Huề, Việt Thác, Lãng Khung, Đằng Đạm, Thi Lãng, Mông Xá, trong số đó Mông Xá là bộ tộc mạnh nhất nằm ở phía nam nên thường gọi là Nam Chiếu. Năm 737, thủ lãnh của Mông Xá là Bì La Cáp mượn thế lực của Đường Huyền Tông thống nhất các chiếu khác thành lập ra nước Nam Chiếu. Điều này có ghi trong Đại Việt Sử Ký Toàn Thư: “Trong khoảng năm Khai Nguyên (713-742) đời vua Huyền Tông nhà Đường, Nam Chiếu là Bì La Cáp cường thịnh lên, mà 5 chiếu kia suy hèn đi. Bì La Cáp mới đút lót cho quan tiết độ sứ đạo Kiếm Nam là Vương Dục để xin hợp cả 6 chiếu lại làm một. Triều đình nhà Đường thuận cho, và đặt tên là Qui Nghĩa. Từ đó Nam Chiếu càng ngày càng thịnh lên, đem quân đi đánh Thổ Phồn (Tây Tạng)… Bấy giờ Nam Chiếu đã mạnh lắm, bèn xưng đế và đặt quốc hiệu là Đại Mông rồi lại đổi là Đại Lễ…” Triều đại này tồn tại đến năm 902, Đoàn Tư Bình nổi lên thành lập nước Đại Lý.

.

(Hình Bản đồ nước Đại Lý)

.

Vương Quốc Đại Lý tồn tại trên vùng đất này từ năm 937 cho đến năm 1253; kế tiếp nhau bởi 22 đời xưng đế, trong đó có nhân vật Đoàn Chính Thuần được Kim Dung hư cấu vào tiểu thuyết võ hiệp của mình. Sau năm 1253, Đại Lý mất vào tay Nguyên Mông nhưng dòng họ Đoàn vẫn cai trị vùng đất này với tước danh Tổng quản đến tận năm 1387 (vị tổng quản cuối cùng là Đoàn Thế) bị diệt dưới tay Minh Thái Tổ Chu Nguyên Chương. Nước Đại Lý đổi thành phủ Đại Lý, người Bạch và người Di nước lưu lạc xuống phương Nam. Một số thành các dân tộc người ở Việt Nam, Lào và Myanmar (như Thái Trắng, Thái Đen, Thái Đỏ, Lô lô, Nùng); một nhóm đông hơn di chuyển sâu về hướng Nam thành lập nước Thái Lan ngày nay.
Nếu Trung Hoa cho rằng Vân Nam – Tứ Xuyên ngày nay là của Trung Quốc nên nguồn gốc từ Trung Quốc mà ra; chúng ta cũng có thể nói vùng Thượng Du Bắc Việt Nam ngày nay của Việt Nam xưa thuộc Đại Lý, vậy Việt Nam cũng là cái nôi của thế giới. Theo tôi điều này không hay ho chút nào. Hãy như người Việt, cứ để nền văn hóa Óc Eo là tài sản của vương quốc Phù Nam, Tháp Chàm của người Chăm, … chứ không nhận bừa của người Việt. Tương tự, cội nguồn của trà là người Đại Lý, một vương quốc cổ nay không còn nữa. Và có thể các nhóm dân tộc dùng ngôn ngữ Tạng-Miến như người Thái vùng Tây-Bắc miền Bắc Việt Nam là một thành tố đại diện còn tồn tại đến ngày nay.
Nghiên cứu về văn hóa nên lấy mốc từ khi một sự kiện trở nên phổ quát và đi vào tư tưởng, chứ không nên vin vào một vài chứng cứ vật thể nhỏ để khẳng định đã có một nền văn hóa. Cũng như khi cắm ngọn cờ trên mặt trăng không thể khẳng định con người đã sống trên mặt trăng vào thời điểm đó. Chính trị và văn hóa khác biệt nhau ở chỗ này.
Vậy tại sao ngày nay khi nói đến trà người ta nghĩ ngay đến Trung Hoa và Nhật Bản. Đó là vì họ có phương thức truyền bá tư tưởng tốt: người Trung Hoa bằng các huyền thoại và cửa miệng các Hoa Kiều (chưa kể ngụy thư đời sau viết gán cho người đời trước để làm chứng cứ giả tạo); người Nhật có tác phẩm Book of the Tea của Okakura Kakuzo gây tiếng vang trên thế giới và gây tò mò người Phương Tây nơi nghi thức trà của họ vừa cầu kỳ vừa thoang thoảng kỳ bí.

(Phần truy lại cội nguồn này được trích từ quyển Trà Thư trong Trà Luận của nhà biên khảo Đức Chính)
.

  1. Các giai đoạn phát triển trà

Cây trà nguyên thổ sản của miền Hoa Nam, đã dược các nhà thực vật học và dược vật học Trung Hoa biết đến từ những thời đại rất xa xưa. Các văn gia cổ điển gọi nó bằng những tên khác nhau: Đồ (Tou), Thiết (Tach), Thuấn (Chung), Giả (Kha), và Minh (Ming), và trà được tán dương là có hiệu năng làm cho người ta hết mệt nhọc, tinh thần sảng khoái, ý chí tăng cường và thị lực hồi phục. Người ta không chỉ dùng trà làm thuốc uống bên trong, mà còn hay dùng như một thứ cao đắp ở bên ngoài để trị phong thấp nữa. Các môn đồ Đạo gia coi trà là một vị trọng yếu trong môn thuốc trường sinh bất lão; còn các tăng đồ Phật giáo thì thường dùng trà để chống lại cơn buồn ngủ trong những giờ ngồi trầm tư mặc tưởng dài đằng đẵng.

Tuy nhiên, phương pháp uống trà thời kỳ ấy hãy còn cổ lỗ hết sức. Người ta lấy lá trà đem hấp lên, bỏ vào cối giã, làm thành bánh rồi đem nấu với gạo, gừng, muối, vỏ cam, hương liệu, sữa, và một đôi khi cả hành nữa! Tập quán này cũng còn thịnh hành trong dân xứ Tây Tạng và các bộ tộc Mông Cổ, họ chế tất cả các vị kể trên thành một chất “xi rô” kỳ xảo. Lối dùng những lát chanh của người Nga tập uống trà tại những đội thương lữ quán Trung Hoa là một lối cổ còn sót lại.

Sau nhờ thiên tài của Đường triều, trà mới được “giải thoát” khỏi trạng thái thô lậu này và được lý tướng hóa một cách tuyệt diệu. Lục Vũ ở khoảng giữa thế kỷ thứ tám, là đệ nhất sứ đồ của trà. Ông sinh vào thời kỳ mà Phật giáo, Đạo giáo và Khổng giáo đang tìm đường tổng hợp với nhau. Phiến thần luận của tượng trưng chủ nghĩa lúc bấy giờ có ý muốn phản chiếu cái “Phổ biến” (Universal) ra khỏi cái “Đặc thù” (the Particular). Lục Vũ là một nhà thơ, nhận thấy trong bộ đồ trà cũng có đủ cả sự điều hòa và trật tự như trong mọi sự vật khác. Trong tác phẩm danh tiếng của ông là cuốn Trà Kinh (Kinh thư của Trà Đạo), ông đã định thức hóa Pháp điển về Trà. Từ đó ông được thờ như vị thần giám hộ của các nhà buôn trà Trung Hoa.

Nhưng trà chỉ thật sự phổ cập ở khắp Trung Hoa bắt đầu từ thời Nguyên khi Đại Lý bị diệt và dòng họ Đoàn quy thuận, trà mới có cơ sở thông thương rộng hơn. Qua đời Minh (1368-1644), việc buôn bán trà trở nên rất thịnh vượng nên triều đình lập ra “Bộ Trà Mã” để quản lý và thu thuế, kết quả tất yếu của việc sáp nhập nước Đại Lý vào Đại Minh. Trong bối cảnh đó nhiều tay bút bàn về trà sinh sôi nảy nở là điều tất yếu, và thường hay đề danh tính người đời trước để dễ thuyết phục người đọc (đời nhà Minh nổi tiếng nhiều ngụy tác). Tuy vậy để xuất khẩu trà quy mô phải đợi đến khi kỹ thuật canh tác phát triển và trà được trồng nhiều ở các vùng như Hồ Nam, Hồ Bắc, Chiết Giang, Giang Tô, Lãnh Nam, Kinh Tương, Phúc Kiến, nghĩa là khó sớm hơn thế kỷ 14.
.

5. Bước đi của trà

  • Vào cuối thế kỷ thứ mười sáu, người Hòa Lan truyền đi cái tin ở Đông phương có loại thức uống làm bằng một thứ lá cây rất ngon. Các nhà du lịch Giovanni Batista Ramusio (1559), L.Almeida (1576), Maffeno (1528), Tareira (1610), cũng nói đến trà. Trong năm cuối cùng kể trên, thương thuyền của Hòa Lan Đông Ấn Độ Công ty đem những lá trà đầu tiên về Âu châu. Trà được nước Pháp biết đến năm 1636, và lọt vào nước Nga năm 1638. Năm 1650, nước Anh hoan nghênh trà và khi nói đến trà thì ca ngợi coi là “một món đồ uống ngon tuyệt, tất cả các y sĩ đều tán thành món đồ uống Trung Hoa, mà người Trung Hoa gọi là trà, các nước khác thì gọi là tê (thé) hay ti (tea)”. Trà đã bắt đầu được coi là thức uống quốc tế
    Sự giao lưu thương mại giữa Trung Hoa và các nước phương Tây ngày một lớn mạnh bắt đầu từ triều đại nhà Thanh. Khi Hoàng đế Trung Hoa “ngự hít” điếu thuốc lá đầu tiên được mang đến từ Châu Âu, thì Nữ hoàng Anh Quốc cũng đang nhấm nháp tách trà đầu tiên. Vào khoảng năm 1615, các thương gia Anh Quốc với công ty Đông Ấn Độ nhận thức được sự có mặt của Trà. Trà đã nhanh chóng được truyền bá khắp Châu Âu và gần 100 năm sau, khối lượng trà nhập khẩu vào Anh tăng từ 100 pound/năm lên đến hơn 5 triệu pound/năm. Điều này đòi hỏi cần phải có nhiều phương tiện lớn mới mang được tải trọng trà như thế từ Trung Hoa.
  • Tại Anh: Theo sử liệu,thì chính Nữ Công Tước Bedford, tác giả quyển “Năm giờ uống trà” rất được người Anh ưa thích. Bà cũng là người đã tạo ra phong trào uống trà vào buổi chiều tại xứ sương mù. Ngày nay tới nhà bất cứ một người Anh nào, đặc biệt là giới trung và thượng lưu trí thức, ai cũng phải lóe mắt trước sự khéo tay và vô cùng thẩm mỹ của các bà nội trợ , trong việc trang trí bàn uống trà với khăn phủ bàn có bình hoa tươi và bộ bình trà làm bằng bạc và sứ men Trung Hoa. Người Anh từ lâu có tập quán đãi khách loại trà sữa hay trà chanh. Cũng theo sử liệu, thì vào thế kỷ XVIII, khi Anh chiếm Hồng Kông và nhiều thành phố lớn khác tại Trung Hoa như Thiên Tân, Thượng Hải, Quảng Châu đã du nhập tập tính uống trà của người Tàu về bản quốc.

  • Tập quán uống trà ở Anh phát triển mau lẹ không thể tưởng tượng dược, trong nửa đầu thế kỷ thứ mười tám, những quán cà phê ở London, trên thực tế, đã biến thành những phòng trà, nơi hẹn hò của những bậc anh tài như Addison và Steele, tiêu khiển bên những “món trà”. Chẳng bao lâu, trà trở thành một món cần thiết cho đời sống sinh hoạt – một món có thể đánh thuế được.
  • Tại Hoa Kỳ: Hằng năm theo thống kê, thì dân chúng Hoa Kỳ tiêu thụ cả chục triệu tấn trà, bằng mọi hình thức như uống nóng, lạnh, trà nguyên chất hay ướp các loại hoa, uống không hay uống chung với đường thêm mật ong, sữa, kem, chanh. Người Mỹ uống nhiều loại trà, từ thứ gọi là Decaffeinated Tea hoặc các loại trà lá, kể cả dược trà bằng lá ổi, lá hồng để trị bệnh va làn tan mỡ, gọi là Herbal Tea.
    Xin được nhắc qua về vụ Trà đã dự phần hết sức quan trọng trong sự kiện lịch sử hiện đại. Thuộc địa Mỹ cam chịu áp chế cuả Anh cho đến khi sức nhẫn nhục của con người không thể chịu đựng được nữa, phải nổi dậy trước những khoản thuế quá nặng đánh vào Trà. Nền độc lập của Mỹ bắt đầu từ ngày người ta quẳng những thùng trà xuống hải cảng Boston: Người Mỹ đã vùng dậy mà ném cả 342 thùng trà xuống biển, để rồi bắt đầu cuộc khởi nghĩa giành độc lập năm 1773. Cố nhiên là không lỗi ở trà, và cũng không phải chỉ vì trà, mà còn nhiều lý do khác nữa; nhưng đã nói đến trà thì cứ nên cho rằng, nhờ đó mà cái gọi là Boston Tea Party trở thành bất hủ.
  • Tại Nhật: Cuối thế kỷ 11 đầu thế kỷ 12, cùng với Thiền, trà ở Trung Hoa tràn sang Nhật. Người Nhật tiếp thu cả hai thứ văn hoá vật chất và tôn giáo này, đem nó hoà quyện với văn hoá bản địa và nâng lên thành triết lý riêng của dân tộc là Trà Đạo.
  • Trà đạo bao gồm những nghi lễ thiêng liêng thấm đượm chất tâm linh tôn giáo, khiến cuộc thưởng trà trở thành một cuộc lễ.
    Ngày nay Triết Lý Trà của người Nhật đã trở thành một nghi thức chính thống của một tôn giáo gọi là Trà Đạo, hình thành từ thời kỳ Mạc Phủ Tướng Quân ở thế kỷ thứ XV. Những trà đồ trước khi bước vào trà thất đã tự mình rũ bỏ hết cái thế giới ồn ào bon chen, nhập vào sự tĩnh lặng của tâm hồn, quên hết kể cả cái ta phiền toái đáng phiền.
  • Cho đến thế kỷ 19 mà Trung Hoa vẫn còn là nơi độc quyền sản xuất trà bán ra khắp toàn thế giới. Thuở ấy người ta chỉ mới biết mua trà về pha chế thêm, mang bỏ vào hộp, đóng thùng dán lên các thứ nhãn hiệu rồi đưa đi bán lại mà thôi. Càng ngày thấy nhu cầu càng tăng và nguồn lợi càng rõ ràng vĩ đại, người ta nghĩ đến mang giống trà đi trồng ở các miền đất đai các xứ khác mới đủ cung cấp cho cả thế giới.
    Người Anh quốc là kẻ tiên phong đã biết dùng ngay đất thuộc địa của mình, tức là xứ Ấn Độ thời ấy, làm nơi trồng trọt và sản xuất trà, thay vì phải mua từ người Trung Hoa. Họ đã lấy giống trà từ Trung Hoa, đón một số chuyên viên Trung Hoa trong ngành trồng tỉa cũng như pha chế, đưa những người nầy sang Ấn Độ để dạy cách thức trồng trọt pha chế cho dân địa phương, và họ đã thành công.
    Ngoài ra còn những vùng mà cây trà được trời ban cho cũng mọc lên tự nhiên và hợp khí hậu không kém trà của Trung Hoa đó là những vùng như Việt Nam, Miến Điện, Mã Lai, Lào, Miên.
    .
    (Còn tiếp nhiều kỳ)
    .
    Nguyên Lạc

KHỜ ĐẾN THẾ LÀ CÙNG

 CẢM NHẬN KHI ĐỌC ‘VIẾT CHO KHỜ’

CỦA ĐẶNG XUÂN XUYẾN

*

Chúng ta đang sống trong thời đại 4.0 mà người ta xem chữ TÌNH nhẹ phều.

Người ta có thể thay người yêu như thay áo, có thể đem chuyện tình cảm ra mua bán, giao dịch, đổi chác… Bữa nay quấn quýt anh anh em em, ngày mai đã quay phắt lạnh như tiền, gọi nhau thằng này con kia… Thế nên chuyện TÌNH “Dẫu lìa ngó ý còn vương tơ lòng” mà Cụ Nguyễn Du nói đến cách nay mấy trăm năm đã xưa lắm rồi, đã dần khan hiếm lắm rồi! Nếu có người vì tình còn vương, còn vấn, còn tiếc, còn nuối, sẽ bị người ta cho là ĐIÊN, là KHÙNG mà nhà thơ Đặng Xuân Xuyến lại có hẳn một bài thơ VIẾT CHO KHỜ về sự “điên”, “khùng” ấy với những vấn vương, tiếc nuối.

Thơ Đặng Xuân Xuyến tôi đọc cũng kha khá và đã yêu thơ của tác giả này… Nhưng vì biết khả năng mình không thể viết ra hết được tài điều khiển vần, điệu, chữ, nghĩa… và càng biết không thể diễn tả hết những tâm ý sâu xa làm con tim thổn thức, làm cảm xúc rung rinh thỏa độ ghiền, đủ độ say của mình trong những bài thơ của tác giả này, nên chỉ ngốn ngấu cầm lên, rồi hả hê đặt xuống…

Vậy mà không hiểu sao sau khi đọc VIẾT CHO KHỜ bài thơ cứ vấn vít không cho tôi làm gì, nghĩ gì, yêu thích gì… cứ như hồn vía bị bắt đi, bịt mắt lại… để chỉ được nhìn nó, thì thầm, thủ thỉ với nó mà thôi…

Triền sông chiều nay cạn gió

Ai dụi câu hò

Ai dúi cánh cò líu ríu qua sông

Ai lùa gió đốt lòng

Ai bủa giăng chim trời mà đợi

Khờ hỡi…

Biết rồi

Sao còn vít vương tơ rối.

Ngẩn ngơ chi thì thầm lời của gió

Thương nhớ gì lộc cộc tiếng ngõ khuya

Thì kệ nắng quái trưa

Thì mặc mưa mút mùa

Thì thả nụ yêu quá thì chìm nổi

Để rồi tong tẩy cuộc người

Để rồi xéo xắt miệng đời

Để rồi nụ cười bảy chìm ba trôi chín rối…

Khờ hỡi

Biết rồi

Sao nặng lòng vít vương tơ rối…

Về thôi!

*.

Hà Nội, chiều 10-09-2020

ĐẶNG XUÂN XUYẾN

——————-

(in tại chuyên mục: QUÁN THƠ HƯ VÔ 396 trên báo Việt Luận (Úc) – Viet’s Herald on Friday, September 18,2020)

KHỜ ĐẾN THẾ LÀ CÙNG -“Khờ” là tính từ chỉ nhân cách. Là một cách gọi ở thời đại 4.0 này cho những người có trí tuệ thông minh, nhiều hiểu biết… mà không buông bỏ được TÌNH, còn bị TÌNH làm cho long đong lận đận, luẩn quẩn loanh quanh vương vào rối rắm gỡ mãi không ra.

Nếu như “duyên trời” (gió) đã đưa thứ gì đó tới cho mỗi chúng ta: Có thể là một báu vật, có thể là một bình “rượu độc” “hương mê”… mà thế gian gọi là TÌNH để ta thương yêu, chiều chuộng, để ta đắm chìm vào đó mà mê, mà say… thì sẽ có người may mắn được cái duyên lâu bền, cái tình đằm thắm… Những người này thì khỏi nói, vì “duyên ấy”, “tình ấy” sẽ nên vợ nên chồng đến răng long tóc bạc, làm gì có ai khờ ai dại ở đây! Nhưng cũng có một số người gặp phải duyên ít, tình cạn mau để anh đi đường anh, em đi đường em… để rồi có Khờ, có thơ VIẾT CHO KHỜ

Bài thơ VIẾT CHO KHỜ là viết cho ai? hay cho chính tác giả?

Kệ! tôi không cần biết là ai! Chỉ biết khi đọc bài thơ này thì thấy, Trời ơi, khờ gì mà khờ quá mức? Khờ đau, khờ đớn, khờ hết chỗ nói, khờ hết thuốc chữa!

Phải chăng bởi tại thể loại bài thơ là thơ tự do, phong cách lại hiện đại, phóng khoáng cho tư duy bay lên, cùng với cách sử dụng những biện pháp tu từ đặc biệt như hoán dụ, lặp từ, so sánh… cùng quấn quyện với hình ảnh, âm ngữ dân gian sau lũy tre làng có con sông bến nước, có bãi mía nương dâu, như trong ca dao dân ca… đã làm tôi cứ tưởng tượng, cứ suy diễn, cứ lan man… để rồi một hình hài, một tâm hồn, một quãng đời của một con người rất là khờ hiện ra trước mắt tôi..

Cả bài thơ chả thấy tác giả dùng gì đến những chữ: chia tay, ly dị, bỏ đi… mà chỉ là “cạn gió“. Gió cạn được ư? – phải chăng chỉ là giữa người với người dưới một mái nhà duyên đã tận, tình đã hết.

Bài thơ cũng chẳng kể lể dông dài những nguyên nhân “ai” phá đi niềm vui, hạnh phúc, làm xáo trộn sự bình yên, đã thiêu rụi cuộc tình, mà ta chỉ thấy câu hò bị “dụi“, cánh cò bị “dúi“, gió bị “lùa” và chẳng thể “bủa giăng” nhau nữa… Người ta đã buông bỏ cuộc tình này rồi, đã phủi tay, xoay mặt sạch rồi, không vớt vát nổi tí gì nữa rồi… mà sao:

Khờ hỡi

Biết rồi

Sao còn vít vương tơ rối

Biết rồi – sao còn vít vương tơ rối” để rồi tự hành hạ, tự đày đọa cả thể xác lẫn tâm hồn. Để rồi biến mình, biến cuộc sống của mình ra thế này đây:

Ngẩn ngơ chi thì thầm lời của gió

Thương nhớ gì lộc cộc tiếng ngõ khuya

Thì kệ nắng quái trưa

Thì mặc mưa mút mùa

Thì thả nụ yêu quá thì chìm nổi

Để rồi tong tẩy cuộc người

Để rồi xéo xắt miệng đời

Để rồi nụ cười bảy chìm ba trôi chín rối…

Khờ hỡi

Biết rồi

Sao nặng lòng vít vương tơ rối…

Về thôi

Biết tình đã mất, biết người đã phụ bạc, biết mình đã te tua mà vẫn còn “nặng lòng vít vương tơ rối” thì gọi là KHỜ chứ còn gọi là gì?

Mà sao cái tính cách “Khờ” mà nhà thơ Đặng Xuân Xuyến vẽ bằng những biện pháp tu từ đặc biệt và những tiếng gọi “Khờ hỡi” – “Về thôi” lại làm tôi (người làm mẹ) nao lòng, lo sợ đến vậy!

Phải chăng cái thời buổi ngày nay, nhân tình thế thái đã quá tụt dốc. Giềng mối gia đình đã quá lỏng lẻo…đã đẩy những con người, dù họ có là bác sĩ, luật sư, là ông này bà nọ,… mà quá nặng lòng với TÌNH, khi mất tình thì họ sẽ thành kẻ khờ? Liệu ai biết được một mai có ai cạnh mình, hay chính con mình có trở thành kẻ khờ không cơ chứ?

Khờ hỡi – Về thôi” là tiếng gọi diết da, là sự nhắc nhở chúng ta cố sao tôn trọng tình yêu, giữ cho trọn tình, trọn nghĩa tào khang, đừng làm cho xã hội có nhiều KHỜ nữa.

Phải chăng tác giả cũng đang gọi chính mình???

Bài thơ VIẾT CHO KHỜ của nhà thơ Đặng Xuân Xuyến hay quá! Xin trân trọng giới thiệu đến bạn đọc

*.

Germary, 09 tháng 10-2020

TRẦN THỊ HỒNG CHÂU

Địa chỉ: Meissner Str 316a, 01445 Radebeul,

Garmany (Cộng hòa Liên bang Đức).

TẢN MẠN ĐÔI ĐIỀU VỀ TRÀ (Kỳ 1)

Nguyên Lạc

Li nói đu:

C Nguyn Hiến Lê,  thy tôi, có nói: “Mun hc điu gì thì hãy viết về điều đó“. Tôi đã áp dng câu này khi hc v Kinh Dch, thy rt có hiu qu. Nay tôi đang hc v thú ung trà, tìm hiu v trà,  tôi cũng s áp dng điu c Nguyn dy.

Như thông l, tôi tìm hiu sách v, bài viết ca tin nhân, ca các đàn anh thâm sâu v điu mình cn hc, ghi li có h thng cho d dàng nh. Xin hiểu cho, đây chỉ là những ghi chép vụn vặt trong quá trình học hỏi, nên chắc nó sẽ có rất nhiều thiếu sót, mong các bậc cao minh ch dn thêm. Tôi mo mui chia s nhng điu tôi đã ghi chép, gi đến các bn ri lng nghe nhng li phn hi,  góp ý chân thành đ chnh sa cho điu mình tìm hc đưc chính xác.

Tập tiểu luận này nặng về VĂN CHƯƠNG hơn NGHIÊN CỨU, chủ ý của tác giả là muốn cung cấp các bạn những điều “vui vẻ” trong lúc “trà dư tửu hậu”. Nếu các bạn muốn nghiên cứu sâu, xin hãy tìm hiểu các tác phẩm của các nhà nghiên cứu mà tôi đã sưu tầm, tham khảo. Đó là: Trà Đạo của tác giả Kakuzo Okakura, Niệm Thư của nữ sĩ Minh Đức Hoài Trinh, Trà Luận của nhà nghiên cứu Đức Chính, Trà kinh của Vũ Thế Ngọc, các bài viết của Nguyễn Duy Chính và trên FB  .v.v…

Nếu đc gi tìm thy đưc nhiu đu lý thú trong tp tiu lun này, thì đó là công ca các nhà nghiên cu mà tác gi sưu tm; còn nếu thy nó d, đy khiếm khuyết, thì đó là li ca tác gi bài viết, hiu biết còn quá nhiu hn hp, xin tha li cho. Trân trng

.

MỤC LỤC

Tiểu luận này được chia làm nhiều mục:

– Giới thiệu

– Vài bài văn thơ về trà

– Lịch sử, nguồn gốc phát triển và con đường đi của trà

– Sơ lược Trà Kinh của Lục Vũ

– Các hình thức trà

– Các loại trà, danh trà

– Cách trồng và chế biến trà

– Dụng cụ uống trà

– Các loại ấm trà danh tiếng

– Các loại chén uống trà

– Cách thức pha trà, thưởng thức trà

– Sơ lược về Trà Đạo Nhật Bản

– Phần phụ lục- Phiếm luận

*

Gii thiu:

Ông bà ta có câu “Khách đến nhà không trà thì rượu”. Với nhiều người, uống trà không chỉ đơn thuần là giải khát, mà còn là thú vui tao nhã thưởng thức hương vị thơm, ngọt, chát, nồng của ” Dịch thể ngạnh ngọc bào” – bọt của chất lỏng màu ngọc bích (Tên người xưa gọi nước trà). Trà, rượu và cà-phê là 3 thức uống hầu như hiện nay ai cũng yêu thích. Đối với cụ Trần Tế Xương thì : “Một trà, một rượu, một đàn bà/ Ba cái lăng nhăng nó quấy ta”. Về “yêu trà”, tôi xin dẫn ra đây vài lời của nữ sĩ Minh Đức Hoài Trinh, trong chương sách Nghệ Thuật Yêu Trà của bà, đại khái:

   – “Yêu là cả một nghệ thuật, mà đã là nghệ thuật thì cần phải có sự nghiên cứu kỹ càng, và sự hướng dẫn chu đáo. Muốn yêu ai thì cần phải tìm hiểu tính tình, biết cả từ tính tốt đến tính xấu, những ưu khuyết điểm, xét xem có thích hợp với mình không. Khi đã biết rõ rồi mới yêu thì tình mới bền. Trà cũng như người, cổ nhân gọi trà là Tình Nhân, và ngày xưa cũng như bây giờ có những người yêu trà, chờ đợi giờ phút được ngồi cạnh ấm trà như chờ đợi giờ phút hò hẹn với người yêu“- (Minh Đc Hoài Trinh)

Ngồi cạnh ấm trà một mình vào buổi sáng tinh sương hay với tri kỷ trong đêm khuya, thì không cần phải dùng đến lời nói; đọc cho nhau nghe một câu thơ, hay mỗi người nói một mẩu chuyện rồi thả tâm tư suy nghĩ; chẳng cần bàn cãi nhiều lời, khói trà và hương trà sẽ đưa hai tâm tư đến cùng một điểm. Hai người tri âm tri kỷ đã trở thành một.

Chúng ta hãy cùng nhau nhắp một chén trà. Ánh sáng xế trưa đương chiếu vào bụi trúc, dòng suối đương róc rách vui tai, và tiếng ngàn thông đương rì rào trong ấm trà của chúng ta. Hãy thả hồn mơ vào chỗ vô thường, tha thẩn trong cái vẻ cuồng dại mỹ miều của vn vật.

Lý Chi Lai, (Lichilai) một kẻ yêu trà,  một thi sĩ đời Tống đã cho rằng, đời có 3 mối hận nhất là : “Những thanh niên ưu tú bị hư hỏng vì một chế độ giáo dục sai lầm; những bức danh họa bị mất giá trị vì những kẻ phàm phu tục tử tán thưởng; và những cánh trà ngon bị hao phí quá nhiều vì những bàn tay bất tài vầy vò.

Trà không có cái tính chất tự tôn xằng như của rượu, tự ý thức như của cà phê, hay ngây thơ khờ khạo như của ca cao – (Bảo Sơn – Trà Đạo, dịch từ cuốn The Book of Tea của Okakura Kakuzo)

.

VÀI BÀI VĂN THƠ V TRÀ

.

Ghi theo trình tự trước sau:

 1. Thi nhân đời Đường , Lô Đồng – hay Lư Đồng ( 778 – 835 ) có bài thơ tả cảm giác khi uống trà được người đời khen xuất thần: Trà Ca  

.

Nhất oản hầu vẫn nhuận

Nhị oản phá cô muộn

Tam oản sưu khô trường

Duy hữu văn tự ngũ thiên quyển

Tứ oản phát khinh hãn

Bình sinh bất bình s

Tận hướng mao khổng tán

Ngũ oản cơ cốt thanh

Lục oản thông tiên linh

Thất oản khiết bất đắc

Duy giác lưỡng dịch tập tập thanh phong sinh

Lời dịch:

Chén thứ nhất làm trơn cổ họng

Chén thứ hai làm tan nỗi buồn phiền

Chén thứ ba thấm vào ruột đang khô héo

Chỉ còn lại năm nghìn cuốn sách

Chén thứ tư làm mồ hôi rướm ra

Những chuyện bất bình trong đời

Cũng theo lỗ chân lông mà bay đi

Chén thứ năm làm cơ thể sạch sẽ

Chén thứ sáu đưa ta tới cõi tiên

Chén thứ bảy không uống được nữa

Chỉ thấy hai bên cánh tay gió phần phật thổi

.

2. C Trần Tế Xương đã từng có bài thơ thở than:

.

Một trà, một rượu, một đàn bà

Ba cái lăng nhăng nó quấy ta

Chừa được cái nào hay cái nấy

Có chăng chừa rượu với chừa trà…”

.

3. Nhà văn Nguyn Tuân có truyện ngắn lý thú viết về trà “Những Chiếc Ấm Đất” – trong quyển Vang Bóng Một Thời. Xin trích vài đoạn:

“Ngày xưa, có một người ăn mày cổ quái. Làm cái nghề khất cái là phải cầm bằng rằng mình không dám coi ai là thường nữa; thế mà hắn còn chọn lựa từng cửa rồi mới vào ăn xin. Hắn toàn vào xin những nhà đại gia thôi và cố làm thế nào cho giáp được mặt chủ nhân rồi có xin gì thì hắn mới xin. Có một lần hắn gõ gậy vào đến lớp giữa một nhà phú hộ kia, giữa lúc chủ nhà cùng một vài quý khách đang ngồi dùng bữa trà sớm. Mọi người thấy hắn mon men lên thềm, và ngồi thu hình ở chân cột một cách ngoan ngoãn, mọi người không nói gì cả, để xem tên ăn mày định giở trò gì. Hắn chả làm gì cả, chỉ nhìn mọi người đang khoan khoái uống trà. Hắn đánh hơi mũi, và cũng tỏ vẻ khoan khoái khi hít được nhiều hương trà nóng tản bay trong phòng. Thấy mặt mũi người ăn mày đã đứng tuổi không đến nỗi bẩn thỉu quá, chủ nhân bèn hỏi xem hắn muốn xin cơm thừa hay là canh cặn, hay là hơn nữa, hắn lại muốn đòi xôi gấc, như kiểu người trong phương ngôn. Hắn gãi tai, tiến gần lại, tủm tỉm và lễ phép xin chủ nhân cho hắn “uống trà tàu với!”. Mọi người tưởng hắn dở người. Nhưng tại sao không nỡ đuổi hắn ra và còn gọi hắn lại phía bàn cho hắn nhận lấy chén trà nóng. Hắn rụt rè xin lỗi và ngý muốn được uống nguyên một ấm trà mới kia. Hắn nói xong, giở cái bị ăn mày của hắn ra, cẩn thận lấy ra một cái ấm đất độc ẩm. Thấy cũng vui vui và lạ lạ, mọi người lại đưa cho hắn mượn cả khay trà và phát than tàu cho hắn đủ quạt một ấm nước sôi, thử xem hắn định đùa định xược với bọn họ đến lúc nào mới chịu thôi. Hắn xin phép đâu đấy rồi là ngồi bắt chân chữ ngũ, tráng ấm chén, chuyên trà từ chén tống sang chén quân, trông xinh đáo để. Lúc này không ai dám bảo hắn là ăn mày, mặc dầu quần áo hắn rách như tổ đỉa. Uống một chén thứ nhất xong, uống đến chén thứ nhì, bỗng hắn nheo nheo mắt lại, chép môi đứng dậy, chắp tay vào nhau và thưa với chủ nhà: “Là thân phận một kẻ ăn mày như tôi được các ngài cao quý rủ lòng thương xuống, thực kẻ ty tiện này không có điều gì dám kêu ca lên nữa. Chỉ hiềm rằng bình trà của ngài cho nó lẫn mùi trấu ở trong. Cho nên bề dưới chưa được lấy gì làm khoái hoạt lắm”. Hắn lạy tạ, tráng ấm chén, lau khay hoàn lại nhà chủ. Lau xong cái ấm độc ẩm của hắn, hắn thổi cái vòi ấm kỹ lưỡng cất vào bị, rồi xách nón, vái lạy chủ nhân và quan khách, cắp gậy tập tễnh lên đường. Mọi người cho là một thằng điên không đý đến. Nhưng buổi chiều hôm ấy, cả nhà đều lấy làm kinh sợ người ăn mày vì, ở lọ trà đánh đổ vung vãi ở mặt bàn, chủ nhân đã lượm được ra đến mươi mảnh trấu”.

Ông cụ Sáu nghe khách kể đến đấy, thích quá, vỗ đùi mình, vỗ đùi khách, kêu to lên:

– Giá cái lão ăn mày ấy sinh vào thời này, thì tôi dám mời anh ta đến ở luôn với tôi để sớm tối có nhau mà thưởng thức trà ngon. Nhà, phần nhiều lại toàn là ấm song ấm quý.

– Cổ nhân cũng bịa ra một chuyện cổ tích thế để làm vui thêm cái việc uống một tuần nước đấy thôi. Chứ cụ tính làm gì ra những thứ người lạ ấy. Ta chỉ nên cho nó là một câu giai thoại.

– Không, có thể như thế được lắm mà. Tôi chắc cái lão ăn mày này đã tiêu cả một cái sản nghiệp vào rừng trà Vũ Di Sơn nên hắn mới sành thế và mới đến nỗi cầm bị gậy. Chắc những thứ trà Bạch Mao Hầu và trà Trảm Mã hắn cũng đã uống rồi đấy ông khách ạ. Nhưng mà, ông khách này, chúng ta phải uống một ấm trà thứ hai nữa chứ. Chẳng nhẽ nghe một câu chuyện thú như thế mà chỉ uống với nhau có một ấm thôi.

Thế rồi trong khi cụ Sáu tháo bã trà vào cái bát thải rộng miệng vẽ Liễu Mã, ông khách nâng cái ấm quần ẩm lên, ngắm nghía mãi và khen:

– Cái ấm của cụ quý lắm đấy. Thực là ấm Thế Đức màu gan gà. “Thứ nhất Thế Đức gan gà; – thứ nhì Lưu Bội; – thứ ba Mạnh Thần”. Cái Thế Đức của cụ, cao nhiều lắm rồi. Cái Mạnh Thần song ẩm của tôi ở nhà, mới dùng nên cũng chưa có cao mấy.

Cụ Sáu vội đổ hết nước sôi vào ấm chuyên, giơ cái ấm đồng cò bay vào sát mặt khách:

– Ông khách có trông rõ mấy cái mấu sùi sùi ở trong lòng ấm đồng không? Tàu, họ gọi là kim hỏa. Có kim hỏa thì nước mau sủi lắm. Đủ năm cái kim hỏa đấy.

– Thế cụ có phân biệt thế nào là nước sôi già và nước mới sủi không?

– Lại “ngư nhãn, giải nhãn” chứ gì. Cứ nhìn tăm nước to bằng cái mắt cua thì là sủi vừa, và khi mà tăm nước to bằng mắt cá thì là nước sôi già chứ gì nữa”.

(Những Chiếc Ấm Đất trong Vang Bóng Một Thời – Nguyễn Tuân)

…………

Ngày xưa người ta lắng đọng tâm hồn vào chén trà ngay trước khi nó được pha, các cụ thưởng thức trà ngay từ tiếng reo của nước đang đun nên tinh tế phân biệt ba loại nước sôi: độ thứ nhất là nước sôi “giải nhãn” trông như mắt loài cua (mới chớm sôi); độ thứ nhì là “ngư nhãn” tức bọt nước lăn tăn trông giống như mắt đàn cá đang lội gần mặt nước (sôi vừa); cuối cùng là nước sôi to. (Chú thích của Nguyên Lạc trích  từ Trà Kinh Lục Vũ)

.

4. Cái thú trong khi ch đi

Uống trà, cái thú không phải chỉ lúc uống mà cả khi trong lúc đợi chờ. Mời bạn đọc những trích đoạn này:

– “Rồi người khách khom người chui qua cánh cửa nhỏ cao không quá ba bộ để vào gian phòng. Bất cứ khách nào, quyền quý hay thấp hèn, cũng đều như vậy cả nhằm ý nói với khách về đức tính khiêm hạ. Khách theo thứ tự trước sau chờ nơi trì hợp (machiai), từng người một khe khẽ bước vào nơi ấy, nghiêng đầu chào bức họa hay bình hoa cắm đặt nơi sàng gian (tokonoma), rồi vào chỗ ngồi của mình không gây một tiếng động, Khi tất cả khách mời đều an tọa và một sự tĩnh lặng thật sư ngự trị, ngoại trừ tiếng nước reo trong ấm sắt, chủ nhân mới bước vào phòng. Những miếng sắt xếp khéo léo dưới đáy ấm reo lên nghe rõ theo một giai điệu lạ kỳ tuồng như tiếng vọng của thác nước bị mây che khuất, nghe như tiếng biển nơi xa xăm dập dồn vỗ vào vách đá, tiếng phong ba quét rít qua các bụi tre rừng, hay tiếng thông reo trên ngọn đồi xa lắc”– (Trà Đạo – Bảo Sơn dịch từ cuốn The Book of Tea của Okakura Kakuzo)

– Trong truyện ngắn “Chén trà trong sương sớm”, Nguyễn Tuân còn thi vị hóa việc đun nước pha trà, cho từng hòn than ngọn lửa một linh hồn và linh hồn đó hòa nhập vào người thưởng trà:

 “Thỉnh thoảng, từ hòn than tự tiêu diệt buột ra một tiếng khô, rất khẽ và rất gọn. Thế rồi hòn than sống hết một đời khoảng chất. Bây giờ hòn than chỉ còn là một điểm lửa ấm ấp trong một cái vỏ tro tàn dầy và trắng xốp. Cụ Ấm vuốt lại hai mái tóc trắng, cầm thanh đóm dài đảo lộn tàn than trong hỏa lò, thăm hỏi cái hấp hối của lũ vô tri vô giác. CẤm bỏ thêm một vài hòn than hoa nữa vào hỏa lò. Than hoa không nổ lép bép như than tầu; nhưng từ ruột ấm đồng bị nung nấu đã lâu, có tiếng thở dài của khối nước sắp biến thể. Nước đã lên tiếng để nhắc người ta nghĩ đến nó.”- (Chén trà trong sương sớm – Nguyễn Tuân)

.

5. Các bài thơ gn đây v trà

– Thi sĩ Trần Phù Thế có bài thơ về trà:

Nhìn cốc trà bốc khói

Buổi sáng trời âm u

Cách ly, cách ly dịch

Một mình giỡn với thơ

.

Đưa cốc trà lên môi

Uống từng ngụm nho nhỏ

Nghe mùa thu than thở

Nghe mùa thu cựa mình

Hương trà như hương gái

Thơm thơm tuổi trăng rằm

Lòng ta như trẻ lại

Rộn ràng tuổi mười lăm

Nhâm nhi cốc trà sáng

Nghe lòng chút bình an …

(Buổi sáng uống trà một mình – Trần Phù Thế)

–  Thi sĩ Võ Thạnh Văn có bài thơ về trà:

Trà Vũ Di – Ấm Nghi Hưng

Lò đun gỗ quế. Nước chưng suối dòng

Hồn Lục Vũ – Phách Lô Đồng

Má thơm hương sớm. Môi hồng nhụy khuya

(Xuân Trà Tụng – Võ Thạnh Văn)

.

–  Thi sĩ Trần Bảo Kim Thư có bài thơ về trà:

Mỗi sáng nhấp môi mấy tách trà

Hương thơm thoang thoảng quyện bay xa

Thái Nguyên, Bảo Lộc … mùi tinh khiết

Long Tỉnh, Quan Âm … chất đậm đà

Cậu trẻ yêu đời luôn xoắn xuýt

Lão ông thích chí mãi khề kha

Sớm chiều đối ẩm cùng bè bạn

Rõ thú thanh nhàn đệ nhất đa!

(Trà – Trần Bảo Kim Thư)

.

–  Cảm xúc riêng của tác giả bài viết về trà:

a.

Thức dậy pha trà sáng nguyên xuân

Mời em, hãy cạn chén thơ anh!

Vị có ngọt ngào hay cay đắng

Vẫn chúc đời nhau vạn sự lành!

(Chén Trà Nguyên Xuân – Nguyên Lạc)

b.

Thiết quan âm, Trảm mã trà?

Hầu trà, Trinh nữ hay trà Kỳ Môn?

Sang hèn, danh lợi có không

Tri âm, tri kỷ chén lòng nhớ lâu

.

Mời người ta hãy cùng nhau

Chén trà nhân ái đẹp câu Đạo trà *

(Chén Trà Nhân Sinh- Nguyên Lạc)

…………

 Trong các bài thơ trên:

– Lục Vũ , Lô Đồng là các Trà thánh, Trà thần của Trung Hoa

– Ấm Tử sa Nghi Hưng: Thế Đức, Lưu Bội, Mạnh Thần là loại ấm trà/ trà hồ nổi tiếng của Trung Hoa

– Trảm mã trà, Hầu trà, Trinh nữ trà, Thiết Quan Âm trà – một loại Ô long trà (trà Oolong), Trà Vũ Di, Kỳ Môn Hồng trà … là những loại trà tàu có tiếng. Trà Thái Nguyên , Bảo Lộc là của Việt Nam.

– * Trà Đạo, tác giả Kakuzo Okakura (1862 – 1913), một nhà nghiên cứu về trà lừng danh của Nhật Bản. Ông  đã viết: “Trà Đạo là một tôn giáo lập ra để tôn sùng cái đẹp trong những công việc tầm thường của sinh hoạt hàng ngày. Nó là nghi thức của đức tinh khiết và sự hòa hợp; nó làm cho người ta cảm thấy sự huyền bí của lòng hổ tương nhân ái và ý nghĩa lãng mạn của trật tự xã hội”. Theo ông, triết lý của Trà Đạo không phải chỉ là một chủ nghĩa thẩm mỹ đơn giản theo ý nghĩa thông thường của nó, vì triết lý này cùng với luận lý và tôn giáo biểu thị tất cả quan niệm của chúng ta về con người và tạo hóa”.

Chúng ta sẽ gặp các điều kể trên lần lượt trong các phần sau.

.(Còn tiếp nhiều kỳ)

Nguyên Lạc

NGÔI CHÙA CỔ TRÊN NÚI CHÂU THỚI

Ký PHAM NGA

Rằm tháng Tám vừa rồi, cũng là Tết Trung Thu vốn năm nào cùng rộn ràng vui vẻ, nay tiếc là cái dịch Covid 19 hiện vẫn còn đe dọa nên chùa Phổ Quang (Phú Nhuận) dù vẫn nghi ngút khói nhang nhưng rõ ràng là khá vắng khách thập phương.
Lâu nay, cứ ngày rằm hay mùng 1 là vợ chồng tôi hay đi chùa, riêng tôi còn có job riêng là chụp ảnh. Trong bộ sưu tập ảnh các chùa, đình, miếu, lăng, đền… của mình, tôi tâm đắc nhất là các ngôi chùa cổ. Từ lâu rồi, đã lặn lội săn ảnh chùa chiền khắp các vùng gần/xa Sài Gòn, trí nhớ tôi lại đặc biệt ghi đậm hình ảnh Châu Thới sơn tự ở thị xã Dĩ An, Bình Dương, mà tôi đã đến khoảng năm 2007, 2008…

Thời đó, ngay ranh giới hai tỉnh Bình Dương với Đồng Nai, đường quốc lộ 1K còn đang sửa chữa, đào xới ngổn ngang, bụi đường mù mịt. Đứng ở vệ đường nhìn lên núi Châu Thới, tôi thấy thấp thoáng một mái chùa bèn quẹo xe luôn vào một con đường nhựa gần đó. Nhưng cánh cổng đóng kín của cơ quan tên là Công ty cổ phần Bê tông 620 đã ngăn tôi lại. Đường cấm! Một người dân chỉ cho tôi đi lối khác, là phải trở ra quốc lộ, cứ thấy bên kia đường có bảng hiệu lò gốm “T&C” thì bên này là đầu một con đường khác dẫn lên Châu Thới sơn tự.
Con đường nhỏ, cũng được cán nhựa nhưng mấp mô và lở lói, dành cho khách thập phương dài khoảng 1 cây số, phình rộng trước cổng tam quan chùa rồi uốn éo thêm chừng nửa cây số nữa mới dẫn vào chùa. Nhưng như để tỏ lòng thành, thay vì dùng xe hai bánh, xe hơi nhỏ chạy thẳng lên chùa, một số khách hành hương chọn cách leo núi từ cổng tam quan. Một tư liệu cho biết núi Châu Thới chỉ cao 85 mét và con đường bậc thang chỉ bắt đầu từ lưng chừng núi nhưng dưới ánh nắng gay gắt, phải nói là vất vả, hụt hơi khi phải leo tới 220 bậc xi măng. Ân cần chia sẻ nỗi khó nhọc của khách leo núi, đám người ăn xin ngồi rải rác ở các bậc thang đã xua đuổi mấy con bò cứ vô tư gặm cỏ, đứng choáng cả mặt đường. Họ thi nhau mời bà con nghỉ chân, ghé vô mấy sạp bán đồ giải khát để nằm võng, dùng nước cho khỏe rồi chỉ xin bố thí cho “năm trăm” thôi. Thấy tấm bảng “xưng xâm lạnh, mát” tô đậm nét, treo trước một quán cóc thì tôi cảm thấy càng khát nước hơn nhưng đành thôi, vì còn phải leo tiếp lên cao để chụp ảnh mấy bà thầy bói. Cũng mời chào khách ngồi xuống chiếu của mình để coi “tình duyên, gia đạo”, nhưng một ông thầy có vẻ điềm đạm hơn, lo sửa sang lại bình hoa trong mâm thờ tượng Quan Âm bày trên chiếu, trong mâm có cả một con búp-bê gái nhồi bông…
Cổng chùa hiện ra trước sự phấn khởi của những ai đổ mồ hôi leo núi. Tôi dừng bước để …thở, cũng kịp nhận ra rằng trước mặt mình là cổng sau chùa Châu Thới. Khuôn viên chùa rộng mênh mông nhưng khi đã vượt qua cổng chùa, mấy chiếc xe hơi vẫn chầm chậm chạy tiếp dọc theo hông chùa để vào bãi đậu nằm ở khu vực mặt tiền ngôi chùa.
Theo đài điện thoại 0650.1080, chuyên giải đáp mọi thứ câu hỏi về địa phương tỉnh Bình Dương, chùa Châu Thới được xây năm 1612, tính đến nay đã được 395 năm, nhưng theo nội dung của tấm bảng cắm ở cổng tam quan, đến năm 1989 chùa này mới được công nhận là một di tích lịch sử – văn hóa, khi chùa còn thuộc địa phận huyện Thuận An, tỉnh Sông Bé, chứ không phải thuộc huyện Dĩ An, tỉnh Bình Dương như hiện giờ. Nhìn chung thì đây là một ngôi chùa cồ được xây theo lối kiến trúc chùa Trung Hoa, thuộc phái Phật giáo Bắc tông. Phù điêu hình rồng bay, phượng múa có mặt khắp trong khuôn viên chùa, từ những ngai thờ Tam vị Phật tổ, Di Lặc Bồ tát cho đến chỗ thờ Quan Công, Thái Thượng Lão quân… Cũng do ảnh hưởng của Khổng giáo và Lão giáo vốn đã đề huề, hòa hợp với Phật giáo trong tín ngưỡng văn hóa người Trung quốc tự xa xưa, cả Sơn thần – không thuộc hàng ngũ các vị Phật, Bồ tát trong Phật giáo – cũng chễm chệ ngồi trong một ngôi miếu nhỏ gần bãi đậu xe.
Vì ở mặt tiền chùa không có lối vào chánh điện, tôi theo chân một đoàn hành hương vòng ra phía sau chùa, len qua một khung cửa rất hẹp mới lọt được vào điện thờ Bồ tát Quan Âm. Khói hương nghi ngút, tượng Quan Âm được choàng bộ y áo thật lộng lẫy, lấp lánh nhũ vàng nhũ bạc, trông không khác chút nào so với những bộ áo mão rất diêm dúa, nặng nề do một số thương gia, nghệ sĩ cải lương dâng cúng Bà Chúa Xứ ở chùa Bà Châu Đốc hay bà Thiên Hậu ở chùa Bà vùng Chợ Lớn. Ngược lại, ở điện thờ Phật Di Lặc mà phía sau lưng vị Phật có diện mạo rất vui vẻ, xuề xòa này là tượng Phật Thích Ca Mâu Ni, có gì đó “nam tính” hơn, thật sự trang nghiêm hơn, khi tượng đồng của cả hai vị Phật đều được miễn phần y áo thướt tha, tua ren đủ màu đủ sắc! Gần đó là hai vị sư và một vị cư sĩ tóc dài chỉ mặc nâu sòng mộc mạc, chăm chú giải đoán các lá xăm cho khách hành hương. Tôi nhớ, khi nhận lời coi thêm về tình duyên, gia đạo, phong thái của ba vị này thật đạo mạo, khác hẳn mấy bà, ông thầy bói ngồi dưới đất, và cổng chùa đã là lằn ranh giới hạn địa bàn hoạt động của họ cùng giới hành khất.

Khi theo chân mọi người len lách tìm lên khu tầng trên của chùa bằng những đoạn thang lầu rất hẹp, tôi nhớ đã nghe mấy bà Phật tử ồ lên xôn xao “ Kìa, đằng kia kìa, Phật ngàn tay ngàn mắt!”. Cái điện thờ Phật Thiên Thủ Thiên Nhãn cùng Long Thiên Hộ pháp này chỉ rộng khoảng 4mx5m, được một nhóm cư sĩ góp công góp của xây dựng trong 2 năm và hoàn thành năm 1991. Màu sắc tưới rói như được tô vẽ mới ngày hôm qua, nhất là trên màu da “ngàn cánh tay” và đôi môi đỏ chót của tượng Phật. Và dù điện thờ này nhỏ hẹp như thế vẫn đủ chỗ cho một thùng công quả, có mặt bình thường như những thùng công quả, công đức khác được đặt trước mỗi điện thờ, bệ thờ trong nội điện cũng như ngoài sân chùa.
Lúc đó, thấy một bác lớn tuổi đang ngồi nghỉ ở một băng đá trong sân chùa, tôi bước đến ngồi bên cạnh và xin phép hỏi vài câu. Bác cho biết là sư Huỳnh Lý, trụ trì chùa, thường vắng mặt ở chùa do nhiệm vụ lớn lao của mình trong ban lãnh đạo trung ương hội Phật giáo trong nước. Dù vậy, giới Phật tử luôn nhắc đến thầy Lý qua cuộc đấu tranh không khoan nhượng đối với ông Sơn, khi đó là giám đốc Xí nghiệp khai thác đá số 3. Vài năm sau ngày 30/4/75, xí nghiệp này đã kéo máy móc, công nhân đến lưng chừng núi Châu Thới, ra sức đục đẽo, dùng chất nổ bắn phá đá núi. Cái công trường khai thác đá khốc liệt này đã làm vạt hẳn phần vách núi ở khu vực mặt tiền nhà chùa nhìn xuống. Khách thập phương vắng bóng hẳn. Sư Huỳnh Lý đã miệt mài khiếu kiện suốt từ tỉnh ra đến Hà Nội thì công trường chỉ chuyển hướng phá núi là đào sâu xuống đất, tạo thành một cái ao khồng lố ngay chân núi. Sau cùng thì trung ương ra lịnh cho Xí nghiệp số 3 phải rút quân, dời công trường đi chỗ khác tuy không rời bỏ vùng núi Châu Thới. Trong 10 năm gần đây, tình hình đã tạm yên tĩnh, sư trụ trì chùa tổ chức, kêu gọi bá tánh góp sức trùng tu, xây dựng lại ngôi cổ tự. Khách thập phương đã đến chùa đông đảo trở lại…
Chỉ vào một nhóm tượng bên hông chùa, diễn lại cảnh các vị sư và muôn thú quần tụ trước Phật Thích Ca ngồi trên tòa sen, bác lớn tuổi còn cho biết đó là một trong những công trình tạo ấn tượng nhất qua các đợt chùa trùng tu suốt từ trong chánh điện ra tới khuôn viên.
Cám ơn bác Phật tử “thạo tin”, tôi đã ra đứng tựa vào bờ thành đá xanh bao lấy khuôn viên chùa, ngó mông lung. Cảnh quan khu vực chân núi cùng con đường bậc thang khi ấy rất khô hanh, cây cỏ còi cọc, cháy vàng và phủ đầy bụi đỏ. Nghe nói ở vùng này đã có hệ thống nước máy nhưng nước quá yếu nên người dân tiếp tục dùng nước giếng nhiễm phèn, mà phải đào sâu hơn 50 mét thì phèn mới giảm. Khi quay nhìn về phía phần sau và bên hông chùa, tôi đã thấy màu nâu sậm của những loại đá cổ xưa trông mát mẻ được phần nào. Tôi mường tượng lại khu điện thờ Phật Di Lặc và Phật Thích Ca. Hình như trong toàn bộ nội thất nhà chùa, cái màu nâu đồng – trầm mặc và yên nghỉ – nơi hai pho tượng lâu đời này mới ít nhiều còn ẩn chứa những dư âm, dư ảnh của quãng thời gian gần bốn thế kỷ đăng đẳng mà ngôi cổ tự này đã trải qua. Tôi cũng đã cảm thấy trong lòng yên ả, nhẹ nhàng khi nhìn những cặp chân đèn và áng thờ bằng gỗ gụ sẫm đen, hay đôi liễng phủ nhũ vàng mà những nét chữ Hán mực đỏ đã bạc màu thời gian.
Không có gì phải nghi ngờ về công lao của vị sư trụ trì chùa Châu Thới trong cuộc đấu tranh kéo dài hằng chục năm dài để bảo vệ cảnh quan, nền móng nhà chùa và giành lại bầu không khí yên lành, tĩnh tại cho nơi thờ phượng Phật tổ, cũng như những nỗ lực lớn lao của sư nhằm tổ chức, vận động cho công trình trùng tu chùa, tôn tạo ngôi chùa duy nhất trên núi Châu Thới – ngôi cổ tự đẹp đẽ, nổi tiếng khắp các tỉnh miền Đông nam bộ trong suốt mấy thể kỷ qua… Tuy nhiên, riêng tôi đã cảm thấy nơi diện mạo đã tôn tạo cho ngôi cổ tự có chút gì đó ít nhiều gây ảnh hưởng tiêu cực đến tính chất và giá trị cổ xưa rất quí báu của di tích lịch sử văn hóa Châu Thới sơn tự. Đó là sự lạc lõng, xa lạ nơi một số chất liệu “hiện đại”có mặt đây đó trong chùa, như những bảng đèn, vòng đèn néon đem trang trí các bệ thờ hay đem làm thành vầng hào quang trên phần đầu các pho tượng cổ, cùng những mảng màu sơn đỏ, vàng, xanh, tím…tươi chói, đầy vẻ phô trương, có phần lạm dụng khi sơn phết, sửa sang lại chỗ này, chỗ kia trong ngôi chùa có số tuổi đến gần 400 năm này.

PHẠM NGA

(Biên tập lại, Trung Thu Canh Tý 2020)
.

NHỮNG CHUYỆN TÌNH

                           

 gởi: lê thị huệ (gió O).

1. BUỒNG TRỐNG

   Quyên nhấp nháy đôi mắt lá răm, đưa tay chụi vào mắt, nắng bên ngoài đã lên cao. Nàng mở to mắt nhìn qua cửa sổ; cảnh vật trong và ngoài nhà lặng chìm như bãi hoang. Nắng xối vào nhà thứ ánh sáng nhạt nhòa với một âm khí khó thở, lạnh ngắt, không một tiếng rì rào hay tiếng gió từ ngoài thổi vào.  

Quyên còn nằm trên giường, đưa mắt nhìn mọi thứ xung quanh gần như không mấy để tâm. Chiếc bàn tròn bằng gỗ thông cũ kỹ, bạc màu sơn như ván hòm, trên bàn chén, tách, nửa ly nước trong, cái đĩa con cá xanh đựng vài ba trái ổi sẻ chín rục, hai trái chuối mật ngã màu nâu như muốn xé vỏ ra chiên; tất cả đều nằm đó từ ngày hôm qua. Hai cái ghế một ở cạnh bàn ăn, một đặc ở giữa căn buồng, cà hai là ghế gỗ đời xưa. Ở góc trái kê cái bàn nhỏ có nồi cơm điện và lò nấu. Bước tới một khoảng là nơi tắm rữa. Quyên nhìn từ vật này đến vật khác, có lẽ; cái tủ áo quần bốn ngăn kéo được nàng chú ý đến. Quyên không chịu dậy, trăn trở với chăn gối. Nhìn vào bốn bức tường, Quyên nói chuyện với trần nhà, nói chuyện với tủ áo quần, nói chuyện với con thằn lằn trên vách nhà. Nàng sải đôi cánh tay trên giường, chân đạp chọi trong chăn. Nàng đưa tay xuống dưới gãi vào háng. Nàng ngừng lại và nhìn mông lung một cách say đắm. Quyên bung người kéo quần lót lên cao và đi thẳng tới chỗ tắm. Tóc ướt rớt trên vai. Phơi nắng bên cửa sổ, mình trần. Nhìn ra ngoài sân hai con chim sẻ đang đập cánh vào nhau. Quyên nhớ tới Thức. Bên kia tường bằng gạch, vôi lở; tuồng như buồng chưa có người thuê.

2. TRỞ VỀ

   Lên đệ nhị cấp là lúc Mai Trâm cảm thấy có thay đổi trong người, đổi thay từ vóc dáng đến tâm hồn. Nàng tỏ ra trầm lắng hơn xưa, nhiều suy tư về cá nhân cũng như về đời. Những bạn đồng lứa nghe đâu đứa có ‘bồ’ đứa có người yêu. -Chắc chắn đẹp lắm mới có người để mắt. Mai Trâm thầm nghĩ. Nàng cũng muốn có như người ta có để được mộng mơ, để được nâng niu.Trên đường từ trường về, ngọn gió chiều ập tới thổi ngược chiếc áo dài màu lam ngọc lên cao che cả mặt mày; nàng chới với và tỏ ra thẹn thùng. Tâm hồn nàng luôn rạo rực, rạo rực vô cớ nhưng cảm thấy yêu đời. Nàng mỉm cười.

Nghe lệnh song thân. -Cuối năm đỗ đạt hay không phải đi lấy chồng. Cha nói. Chưa bao giờ trong đời nàng có một cái ‘sốc’ lớn như vậy. ‘Tuổi đá buồn’ cần có hẹn hò trăng nước với thiên nhiên với người tình đó là niềm ao ước và tự hào so với bạn đồng niên. Từ chỗ đó Mai Trâm buồn và tuyệt vọng, bởi; đời là cả một cuộc trá hình, có dự mưu. Lễ giáo cổ truyền là luật ‘ép dầu mỡ’, buộc vào những điều vô lý và cho tình yêu là tội ác. Mai Trâm đau nhói con tim dù chưa một lần đụng tới tình yêu.  

Mai Trâm bây giờ là hai mươi lăm, một người đàn bà có nhan sắc, có chồng con. Cái sự vây quanh trong đời sống mỗi lúc tăng thêm tầm thường; sáng đi chiều về, nồi cơm trách cá không tìm thấy ‘thiêng liêng’ của tình yêu hòa vào trong đó; dù là làm tình bên nhau. Mai Trâm muốn khám phá cái mới lạ của cuộc đời hơn là sống trong bốn bức tường tù đày. Mai Trâm muốn tìm thấy giá trị nơi con người mà nàng cảm thấy hụt hẫng như đã một lần trong đời. Nàng bỏ lại tất cả và ra đi.  

Đến Đà Nẵng thì trời chập tối. Nàng đi thăm cảnh quang để hòa điệu vào đời bằng những gì lý thú, đổi thay tâm hồn mà bấy lâu nay như chim trong lồng, khát một bầu trời tự do. Trong đám người tham quan, người ta đua nhau chụp hình cảnh đẹp, vai kề vai. Mai Trâm lặng bước trong một suy tư khác của nửa vời, của vắng bóng gia đình. Cảnh vật chung quanh biến mất. Hình như nàng ân hận điều gì? Mai Trâm quyết đuổi để tìm thấy sự đổi thay của tâm hồn. Sau lưng Mai Trâm nghe như có người đang chụp hình về mình. -Nếu cô cho phép được chụp hình cô. Người thanh niên nói. Rất đổi ngạc nhiên lời yêu cầu đó. Mai Trâm cười và đồng ý để cho chàng thực hiện. Điều người ta muốn, có lẽ; như mình muốn. -Tôi thích chụp hình cô. Cô đẹp! Người đàn ông nói. Thật ngẫu nhiên và từ đó họ cảm  thấy hào hứng trong chuyến đi chơi xa. Họ trao đổi tự nhiên như đã quen nhau. -Anh còn đi học hay đã đi làm? MaiTrâm nói. -Tôi đi làm. Người đàn ông nói. Bên tách cà phê Mai Trâm không e lệ, không ngại ngùng trước kẻ lạ mặt. Khi khám phá ra đàn ông ở chính mình thì hình như họ không đáng sợ. Sự thật của đàn ông chỉ có một nửa trong đó. Nhưng; chàng thanh niên nầy có phần khác lạ và hấp dẫn hơn. -Quên hỏi anh tên gì? Mai Trâm nói. -Kha, Vũ Kha. Người đàn ông nói. -Tôi Nguyễn thị T. Mai Trâm nói. Từ chỗ đó họ gần như tình tự hơn, không ngại nghi mà cả hai đã tìm thấy sự thật của mộng mơ. Như đã tin nhau họ có những cuộc hẹn hò chớp nhoáng; cả hai đã rơi vào tình yêu.

Đêm ở tỉnh lẽ; tình yêu buộc họ phải làm tình, tác động đó cuộn vào nhau ở tuổi chín muồi; họ ôm lấy nó như khát khao, họ thỏa thê nó như giấc mơ, họ làm tình nó như chưa bao giờ làm tình. Họ nhận ra cái giá hạnh phúc của tình yêu là ở đó… Di động hiện ra. -Xin lỗi tôi có điện gọi.Vũ Kha nói. Ngồi trên giường Mai Trâm nghe rõ lời đối thoại của người tình. Tuyệt vọng. Nàng vội vã thu xếp và đón xe về lại chốn cũ. Tới quê nhà, trời đã ráng chiều, đèn đường bực sáng. Định đón Mai Trâm ở phi trường. -Anh và con nhớ em. Anh đưa em đi ăn phở nhé. Định nói. Mai Trâm ví mình như con dê tế thần chưa toát hết mồ hôi. Chuyến đi giải trí của nàng chỉ là giấc mơ không thực giữa đời này. Nàng đã vượt biên giới không gian để tìm thấy. Lần trở về Mai Trâm nhận ra ở chính mình một tình yêu lớn hơn.

3- TRỘM TÌNH

   Phúc và Yến lấy nhau ở tuổi thanh xuân. Tính ra họ sống bên nhau có ba mặt con, một trai hai gái. Cả ba trẻ mặt mày khôi ngô và tính khí không giống Yến. Bề ngoài của Phúc hiền lành, ít nói; nhìn qua như người mắc chứng lãnh cảm. Yến yêu chồng sáng đi chiều về, mọi ngày như mọi ngày ngoại trừ đi công tác xa. Yến vui vẻ, an tâm cho người chồng hiền lành giữa cảnh đời lắm thứ bon chen.

Phúc giám đốc cho một công ty sản xuất, bên cạnh có nhiều cộng sự viên; đứng về mặt tình cảm thì không mấy ai thân tình với Phúc. Ít ăn, ít nói, vô tư của Phúc được người ta tín nhiệm và làm ăn cho tới ngày nghỉ hưu. Về già người Phúc trầm lắng hơn, đưa mắt nhìn xa, không ai biết trong người Phúc nghĩ gì mà thường vác mặt nhìn trời. Vợ khuyến khích nên đi dã ngoại cho tâm hồn thư thới. Phúc nở nụ cười hài hòa. Và; từ đó thường hay đi lại lắm lần. Nhớ lại; hồi mới nhậm chức ở công ty là một chạm trán với Nhi (người đẹp của công ty). Phúc Nhi gặp nhau bất chợt ở cuối phòng vật tư. Qua câu chuyện bình thường họ thầm yêu; một bên nhan sắc, một bên làm lớn. Hợp ý đôi bên. Cơ quan chẳng ai để tâm và tin chắc Phúc không phải hạng ‘ăn chơi’ cho nên trong sạch từ tinh thần tới thể xác. Phúc giữ thói quen tợ như ngựa quen đường cũ thích đi dã ngoại hơn ở nhà. Sự im lặng tuyệt đối chỉ có mình Phúc biết; không một ai nhận ra bên trong con người ‘lãnh cảm’ đó. Nghỉ hưu đâu được hai năm Phúc chết đột ngột chưa kịp viết di chúc. Toàn quyền trong tay Yến. Trong buổi lễ động quan, khách và thân hữu đến tiễn đưa người bạn, người thân hiền lành sớm ra đi. Tang gia đang bối rối có một khách lạ, Yến nghĩ là nhân viên cũ của Phúc đến đưa đám. Đi bên cạnh với một thanh niên chừng hai lăm tuổi. Mặt rũ rượi không nói. -Thưa chị em là Nhi và đây là Lợi. Con của anh Phúc đấy!

VÕ CÔNG LIÊM (ca.ab.yyc. Cuối 9/2019)

TRANH VẼ: ‘Buồn ơi chào mi / Bonjour Tristesse’ Khổ 15” X 22” Trên giấy cứng. Acrylics+House-paint+Acrylic-pen. Vcl#1112013.

                                                                      BUỒN ƠI CHÀO MI / BONJOUR TRISTESSE

ÁNH SÁNG VÔ TẬN PHẬT

VÕ CÔNG LIÊM  

TRANH VẼ VÕ CÔNG LIÊM : ‘Bồ Đề Đạt Ma / Bodhidhama’

 

                                                                                                                                            Kính dâng: song thân.

    Theo kinh điển nhà Phật gọi là ‘Vô tận Phật / the Buddha of Infinite Light’ hay vô tận của ‘Vô lượng Pháp  / Abhidharma of Infinite’ là đỉnh cao trí tuệ, là hào quang, thứ ánh sáng vi diệu tỏa muôn phương. Phật giáo Tây Tạng (Tibetan Buddhist) cho đó là những gì trội hẳn, là những gì hiện diện nơi Phật. Amitabha: Phạn ngữ (Sanskrit) gọi là cõi sáng vô tận (Infinite Light) hay còn gọi là  ánh sáng vô biên (Boundless Light). Thân tâm ngài tinh anh và soi rọi được tôn thờ dưới ba mươi hai ký hiệu khác nhau với tám mươi dấu hiệu tỏ rõ cho một hiện hữu tồn lưu nhân thế, hiện thân giữa vũ trụ loài người. Ngọn đuốc soi đường với một thứ ánh sáng không thể tưởng được, chiếu rọi vào nơi vô cực tính của mười phương, một thứ ánh sáng vi diệu: ánh sáng của ngài là đức độ, hiện thực hóa và trí tuệ -His lights are the virtues, realization and wisdom. Một năng lực chưa từng có, một thân tâm bừng sáng cho những gì của cực đại, của khôn ngoan, của hân hoan tuyệt đối. Bởi; ở chính ngài là cuộc đời trải rộng là vô hạn lượng cho một kết tinh của ánh sáng vô tận Phật –he is also known as the Buddha of Infinite Light.

Lời dạy của Người sắc bén vững chắc là giáo pháp. Giải thoát là trí toàn năng của Phật, một cõi thanh tịnh đại hải và vi diệu –deep peace and wisdom.Trí tuệ của Phật là tình yêu và lòng từ bi cho tất cả những gì đau đớn, bi thảm. Trong lòng đất trinh nguyên của ngài là nguồn sáng vô tận, nó bao gồm của hai loại người đi tìm thứ ánh sáng cho chính họ và giải thoát (enlightenment) cho chính họ (shravaka and pratyeka-buddha) và người kia đi tìm giải thoát cho chúng sinh là Bồ tát (Bodhisattva) là hai đối tượng của Phật; nghĩa là họ nhận ra được cõi sáng là con đường giải thoát tự tại, nó không còn là cảnh giới của tục lụy; Bồ tát là sở hữu chủ, chiếm cứ gấp năm lần nhận biết phi thường : (1) cầm giữ được khả năng vi-diệu-tính-không để đưa chúng sanh đến bờ giác. (2) Bồ tát có một khả năng nhớ phi thường từ quá khứ đến hiện tại qua lời cầu nguyện. (3) một thi thể thánh thiện (celestial bodies), một đôi mắt tinh tú sáng ngời có thể nhìn xuyên qua vũ trụ mười phương trong tụ điểm hiện hữu tồn sinh mà chỉ có những đấng bồ tát thực hiện được.(4) Bồ tát là một thính thị siêu nhiên có thể nghe và hiểu những gì Phật dạy qua lời kinh tiếng kệ hay qua lời nguyện. (5) Bồ tát nhận biết về tất cả tâm trạng của chúng sinh : hạnh phúc, đau khổ là một phục vụ như tỏ bày. Trong tất cả biến dịch của bồ tát là vi diệu tánh không cung cấp niềm vui an lạc và lợi ích khác cho hằng hà sa số sinh linh trong vũ trụ loài người. Bởi; đây là những gì mà chúng sanh đã nghi ngờ về việc tái sinh trong đất-phật hoặc thiếu tin tưởng trong năng lực của Phật, của thứ ánh sáng vô tận đó và là lời nguyện của ngài–This is; because they have had doubts about taking rebirth in the pure land or lacked full faith in the power of the Buddha of Infinite Light and his wows. Chúng ta chưa đạt được; bởi chúng ta chưa gặp phải hoặc chưa nhận thấy thế nào là chân-như, thế nào là như-lai-phật, chưa bắt gặp chánh-pháp. Thực ra thuyết pháp không có thuyết nào để thuyết nên gọi là pháp (trong Kim Cang) Còn nói ‘pure land’ cái đó là ‘Chân như tuyệt đối’ hay còn gọi là Đất Phật hay Phật độ (buddha-land) là cõi không; còn nói ‘Niết Bàn’ hay ‘Cực lạc’ là dự phóng cho tương lai hay kiếp sau mà phải hiểu một cách thâm hậu của ‘Tâm-sai-biệt’ và ‘Tâm-vô-sai-biệt’ tức là ‘niện’ với ‘vô-niện’ là nằm giữa hữu thức (consciousness) và vô thức (unconsciousness). Như vậy ta nhận ra được cái gì là sai biệt và cái gì không sai biệt. Cụ thể; giáo lý nhà Phật là một tổng hợp của vô lượng tính đi từ cõi vô minh đến cảnh giới của giác ngộ (enlightenment) để nhận ra trong vũ trụ loài người là do từ Nghiệp / Karma. Nghiệp thì có thiện nghiệp ác nghiệp. Cái sự này được một số đông tu học phật cho là phương tiện để đạt tới mục đích của Phật-thừa. Nói một cách minh chính thiện hay ác đều do vô-minh mà ra cả, chả phải lấy thiện mà tu tập hay lấy ác mà phá trừ. Cả hai thứ: Ác thì nó chứa ích kỷ. Thiện cũng chỉ là hình thức khác của ‘ngã chấp’ tức nghĩ cho chính mình; nó nằm trong dạng ‘ngã mạn /subtitle de l’égotisme’ mà ra chớ chẳng phải là gì. Tu học là một việc, hành là một việc. Cái khó của Phật giáo là nhận thức; đó là yếu tố làm nên phật sự. Từ chỗ đó suy ra lời nói của Cổ Đàm sau khi thuyết pháp xong. Ngài nói: ‘Ta đã ròng rã bốn mươi chín năm thuyết pháp nhưng chưa từng nói một lời’ (trong Lăng Già) là một hàm ý tối hậu, gián tiếp nhắc nhở chúng sanh vào cái ‘nghiệp’. Ngay trong kinh Pháp Cú (Dhammapada) của Tiểu Thừa có lời day: ‘cần phải thoát khỏi sự trói buộc của thiện-nghiệp và ác-nghiệp mới đi tới giải thoát, bằng không nó nằm trong trầm luân của tội lỗi, bởi cả hai duy trì một thứ vô thức của ngã mạn’. Mà phải thoát khỏi cảnh mộng huyễn, bào ảnh của sinh tử luân hồi mới đáo bỉ ngạn. Đáo bỉ ngạn ở đây là cõi sáng, một thứ ánh sáng tuyệt đối ở nơi chốn nguyên trinh của phật-độ, bởi; chỉ có một thứ ánh sáng duy nhất ‘vô tận Phật’ mới giải trừ, cái đó còn gọi là Phật-tánh tức là đạt tới trạng thái hết mê. Nghĩa là chuyển sang ngộ, nói rộng ra mê là vô-minh, tâm não bị lu mờ trước đám mây che sáng. ‘Chi tông chỉ’ là gì? chỉ vào trăng để thấy vô tận Phật ;đó là chân lý nhà Phật ngoài ra chẳng còn gì để nói mà chỉ còn lại tâm , tâm sáng không còn thiện / ác vây quanh, có chăng đó là cái nghiệp, một qui luật tự nhiên của nhân quả hay còn gọi là luật-nhân-quả -Karma, the Natural Law of Causality- Nghiệp là ngữ cảnh của Phật giáo coi nó như qui luật, luật đó khống chế trên tất cả mọi thứ. Trong mọi hành động thuộc tâm trí và tâm sinh lý khởi đầu bằng tâm ý để rồi trở nên sự cố, cái đó là do thiếu thận trọng đưa tới hậu quả trầm trọng; là do từ hiện thực của cá thể mà ra. Với đạo Phật ngăn ngừa hay hướng dẫn tới những chi tiết lớn lao về hậu quả chính xác đã xẩy ra và sẽ theo sau những hành động hay cử chỉ một cách rõ ràng nhưng ‘mắt đời’ không nhận ra, bởi; nghiệp quả là một hội chứng siêu hình, có thể xẫy ra hôm nay hay ngày mai điều đó khó đo lường và định liệu.

Nói chung; khuôn mẫu hay cách thức có thể xác thực được minh bạch là do tư tưởng mà có. Đúng ra đó là sự thể trở lại của cuộc đời –the events of life’s cycle. Nó nằm trong qui trình của vay trả chớ chẳng đâu xa. Tất cả nguyên nhân và hậu quả do từ cảm thức hủy diệt ở nơi ta là thói quen thường có trong ý niệm tâm lý và tư tưởng của mỗi con người. Cái đó là ngọn nguồn trong những gì Phật giáo cho là bám lấy ở nơi chốn của tự tại hay tự ngã / self  là ý niệm phân biệt giữa chủ thể và khách thể. Cho nên chi trong cái nghiệp là cái tự mình tạo ra thì cũng tự mình hủy diệt; mà đời thường gọi là ‘nghiệp dĩ’ là do từ chữ ‘số mệnh’ mà có; đúng ra nghiệp hay mệnh thuộc về Tâm Pháp. Phật giáo Tây Tạng nhìn tâm-pháp thuộc về Nhân tức do tâm thức tạo ra. Thí du: Người có tính tham là có ở bản chất ham muốn, tích lũy ở tiềm thức (alaida) muốn tiêu trừ để đến gần ánh sáng trước mắt phải có tâm pháp nghĩa là phải có ‘tương vi nhân’ tức biết thương người như thương mình thời không còn thấy tham vọng là gì cả. Bởi; mỗi người của chúng ta đều có một thức a-lại-da riêng để nắm lấy sinh mệnh của mình. Nói chung nó nằm trong tâm-thức. Thức theo Phạn ngữ (Sanskrit) là hàm chứa, tất cả mọi hiện tượng đều có hạt giống (chủng tư) ẩn núp trong thức. Thức ở đây là chỗ chứa của A-lại-đa-thức (Alaya Vijnana) có khi gọi Tạng thức: nơi chứa hạt giống của tất cả các pháp. Cho nên chi; luận ra được nơi nào có ánh sáng vô tận Phật và nơi nào không có ánh sáng là do từ tâm thức của mỗi con người tạo ra trong và ngoài đó.

Với tư duy của triết gia Phật giáo Tây Tạng Nagarjuna cho rằng: ‘Tất cả vọng niệm đến từ cái sự tham lam ích kỷ ở tự tại / All beings have come from grasping at ‘self’’. Cái sự đó; là chiều hướng của trí tuệ là ôm đầm vào để trở nên dính liền nhau đưa tới đối tượng tư tưởng và nhận thức; đó là nguồn cơn của những gì đến trong ta cũng coi đó là đối ngẫu hiện hữu tồn lưu nhân thế. Tham vọng, ham muốn là ở tại ta, là lối về của ý, là nhận thức có từ lý trí là một nhập cuộc trung thực. Chủ thể trí tuệ bao gồm tất cả những gì thuộc hiện tượng luận cái sự đó mọc lên từ tâm thức của chúng ta. Đấy là ý thức ‘đáo bỉ ngạn / paramita’ một cách rõ ràng minh bạch và được coi là chân lý tối thượng của nhà Phật. Quan trọng của đạo Phật là nhận thức; tức loại bỏ mọi vọng niệm, mọi vô-trước: là không dính vào; thời mới thấy nghĩa lý cuộc đời đang sống, bằng không chỉ ‘ve vãn’ với bóng tối thời bóng tối vây quanh như ngục tù.

Trong cái nhìn của đạo Phật; tự tại / self nó bao gồm ‘cái tôi /me’ và ‘cái của tôi /mine’, nhưng; điều đó cũng là cái sự bao quanh trong tất cả mọi hiện tượng, nẫy mầm trong hữu thức của chúng ta. Tuy nhiên; để phù hợp tới nhận thức cao siêu của Phật giáo thời đừng nói cái tự tại của mình, đạt được thời coi đó là vững chắc cho một hiện hữu tồn lưu và không có gì thay đổi để đi vào thế giới của ánh sáng, một thứ ánh sáng vô cùng tận và vô biên., bởi; chúng ta thật sự bị thu hút vào trong cái nghiệp –because; we are in the grip of karma; ảo ảnh suy tư và thái độ của chúng ta là kết quả đưa tới đau đớn và khổ lụy, tất cả điều đó đến quá thực cho chúng ta –our delusory thinking and behaviour result in pain and suffering that are all too real to us. Nói chung cái vòng luẩn quẩn bi lụy đó tiếp tục lập đi, lập lại ở chính nó như tiếp tục, như mệnh lệnh, đó là luật nhân quả của cuộc đời. Cảm thức ưu phiền, khổ lụy là ngọn nguồn của buộc phải ở chính mình để cho việc luân hồi tái sinh. Trong khi đó trạng thái lạc quan của trí tuệ là phương tiện để giải thoát. Thế nhưng chúng ta cần tu luyện thân tâm để có một tâm hồn an lành và cho tới cái chết được thanh thản và mong ước kiếp sau nghiệp và mệnh được vẹn toàn như ý.

Cuối cùng; chu kỳ ảo ảnh của cuộc đời là : đi tới cái chết và sau cái chết được biết tới như một samsara trong kinh điển của Phạn ngữ (Sanskrit) giải thích: trong bánh xe luân hồi của cuộc đời (wheel of life) có ba bực thấp nhất và ba bực cao nhất: Thấp nhứt: (1) Vùng điạ ngục /hell realms. (2) Vùng đói rách, ma trơi qủy ám /hungry ghost. (3) Vùng súc sanh / animal realm. Cao nhất: (1) Vùng gần thượng đế / realm of the demigods (2) Vùng của Trời /realm of the gods. (3) Vùng người / human realm. Tất cả kinh qua thời kỳ tu tập và kinh nghiệm sống. Trong luận thuyết của giáo phái Tây Tạng có bốn thời kỳ chính miêu tả những gì quan tâm đến gọi là bardo (chữ của Phật giáo Tây Tạng): là thông điệp của cuộc đời, là thời kỳ chuyễn hóa giữa sự chết và tái sinh qua ba thời kỳ: ‘đời’, ‘chết’ và ‘lẽ tự nhiên’. Đấy là dấu hiệu cho ta nhận thức nghĩa lý cuộc đời là vòng quay mà con người phải đón nhận như luật sinh tồn và là chu kỳ của luật nhân quả. Hầu như mọi tôn giáo trên thế gìới luôn hướng đến ‘tương lai’ cho một kiếp sau với hứa hẹn tuyệt đỉnh; đó là hoài vọng để được tôn thờ, đặc biệt Phật giáo Tây Tạng coi bardo là một trải nghiệm (glimpses of the Bardo) của cuộc đời trước khi chết họ tin vào phần hồn hơn phần xác. Theo quan điểm thuộc về văn chương Phật giáo Tây tạng cho rằng những người nhập định (meditators) phải quên đi thể xác của mình cho những ngày ở thời gian nhập hồn vào thế giới vô hình, những người nhập định biết đây là sự trở về từ cõi chết (delogs (TaTg) / return from death) là sự trở về trong thi thể thánh thiện của họ và ghi nhận rằng đó là một hành trình kỳ diệu và tưởng chừng như phép lạ đã được tái sinh (reborn), hoạt cảnh đó tợ hồ như tiếng chuông rung lan trải tận đáy điạ ngục cực kỳ diệu vợi.

Đất Phật / Pure land là nơi không diễn tả hết, không một lời để nói, bởi; nơi đây là hoan lạc và một cảnh giới thanh bình, ở đó chỉ có phật, biểu lộ một sự trong sáng xuyên qua tất cả những gì gọi là từ bi hỷ xả không cần đến những gì là quyền qúy cao sang, những thứ đó không hiện diện ở nơi phật tổ / pure land và được nhận đây là nơi giải thoát toàn diện tức đạt tới cảnh trí của Niết bàn (Nirvana) là của đại ngộ. NgộKhông là nơi không còn thiện và ác nghĩa là không có Nghiệp và Mệnh, không còn hai thứ lưỡng phân quấn quýt. Ở đó chỉ còn lại năng lực danh xưng của Phật –The Power of the Buddha’s Name . Danh xưng đó là cánh cửa sổ xuyên qua những gì chúng ta có thể nhìn thấy Ánh sáng Vô tận của Phật và một chân hạnh phúc trong đất phật. Phật giáo Đại thừa (Mahayana Buddhism) dạy chúng ta thực hiện những gì trong kinh điển bao gồm: những thể, âm thanhtrí tuệ để đi tới giải thoát. Nhưng; muốn đạt được mục đích chúng ta cần đi vào, xuyên qua những gì mà ta bắt gặp ở đại môn; bất cứ là gì mà ở đó chỉ có hình ảnh phật với một âm thanh đầy phẩm lượng. Đại môn có tên là Amitabha, đứng nơi đó chỉ có phật độ giúp cho chúng ta đến gần phật với một năng lực của ngài đưa tới chúng ta. Danh xưng Amitabha là hiện diện phật, trí tuệ, lòng xót thương và trí năng. Ngài ở trong chúng ta và với chúng ta –he is in us and with us. Vậy chúng ta tập trung tư tưởng vào và nhất quán với danh xưng của phật là chính chúng ta hiến dâng những gì thành quả đã đạt được là chính chúng ta tự giải thoát cho chính chúng ta. Bất luận là gì chúng ta thấy, nghe và cảm nhận là những gì đến gần với Phật.

Rút lại; tu Phật là tu để chấm dứt dòng luân hồi nghiệp quả, tu là thoát ra khỏi mọi vọng niệm, chấp trượt, vô trước , bởi; những thứ đó là bóng tối vô hình luôn đòi hỏi trong ta và dán cứng đời ta, không soi sáng mà ‘kẽm gai’ chận đường để lại cái vô-minh không ánh sáng. Giá trị tuyệt đối để tu là hướng tới chánh-pháp tức đó là cõi sáng vô tận Phật. Một nhà tu Phật bên xứ Thiên Trúc (Ấn Độ) đã nói: ‘Ni l’homme de vertu, ni l’homme de vice ne sont plus près de la Vérité… / Người đạo đức đầy đức tốt, người xấu xa đầy tật xấu. Không ai gần với Chân lý cả…Chân lý tuyệt đối là vượt ra khỏi hai đức tính đó, đừng vin vào đạo đức để nói đạo đức, đừng che cái xấu để nói cái tốt mà đòi hỏi nguyên nhân do đâu mà có tức là nó nằm trong ngã thức. Nếu nhận thức nghĩa lý thâm hậu của nó để phá trừ và đi tới cái tinh anh duy nhất tức thị không là không còn chi mà chỉ còn ở đó một thứ ánh sáng vô tận, vô biên Phật.

Nói rộng ra đó là cõi sáng tuyệt đối mà thôi. Trong kinh Pháp Cú (Dhammapada) của Phật giáo Tiểu Thừa có thể xem đây là giáo lý chính thống về phép tu-nghiệp hay còn gọi tu-thiện-nghiệp là phải thoát khỏi mọi vọng niệm, mọi trói buộc của Thiện và Ác mà nhắm hướng giải thoát. Còn nói theo Thiền phái tu tập thì coi đó là con đường ‘tiệm-pháp’ (voie graduclle) hay lý cho cùng là ‘đốn ngộ’ để đi tới ‘vô trước’; tức là con đường đi tới ‘thiên thừa’ qua phép tu bằng cách ‘luyện khí công’ hay là phương tiện thiện xảo là con đường và phương tiện để phá trừ, ngoài ra không có con đường nào hơn để giải thoát.

Chúng ta có tất cả kinh nghiệm về tu-chứng và nghiệp-quả là lúc trí tuệ chúng ta lấp đầy niềm an lạc, thời bất luận là gì ngay cả thấy, nghe và cảm nhận đều mang lại hạnh phúc; một thứ hạnh phúc thực sự, bởi; lúc đó trí tuệ chúng ta trong sáng không vướng đục, ngược lại trí tuệ chúng ta khuấy động hay phát khùng thời mọi thứ xưng quanh tợ như bóng tối, hết lối thoát. Vậy thì; nếu chúng ta xua đuổi lòng căm ghét, hận thù thời chúng ta tái sinh một tâm hồn trong trắng và cao thượng…Trong tất cả lời cầu nguyện hay tĩnh lự là đặc ta vào một tinh thần nhất quán, lấy tâm làm chính. Nhà Phật chỉ kêu gọi ở tâm-thức chớ không kêu gọi phải cầu mà đòi hỏi ở cung ngưỡng thực sự với một tấm lòng thương yêu nồng nàn là cửa ngõ của tâm hồn. Có nhiều người tu một cách tích cực nhưng vẫn chưa đạt ý (Phật) bởi; khả năng tu chứng đòi hỏi một sự hiến dâng trọn vẹn, nhưng; điều đó chưa hẳn phải –But; it is not a must.Tu hay nguyện là mong cầu đến với Ánh sáng Vô tận Phật; đó là chỉ tiêu tu-chứng-phật-pháp, không có phương pháp nào hơn ngoài ‘tâm phật / pure land’ là giác ngộ, là giải thoát thì mọi nghiệp chướng sẽ tiêu tan ./ .

VÕ CÔNG LIÊM (ca.ab.yyc . mủa lễ Vu Lan 9/2020).

SÁCH ĐỌC: Mahàyàna Buddhism and Hinayàna Buddhism by Paul Williams. Routledge London UK / New York USA 1994.

Uống nước cây sả tươi làm cho tế bào ung thư tự tiêu hủy

Tại Do Thái, ruộng rãy trồng sả tươi là thánh địa cho bệnh nhân ung thư (cancer)

Uống một lìều lượng nhỏ chừng 1g cây sả tươi, chứa đủ chất dầu làm cho tế bào cancer tự hủy trong ống nghiệm. Các nhà nghiên cứu người Do Thái đã tìm ra đường lối làm cho tế bào cancer tự hủy diệt. Tại trường đại học Ben Gurion, Đầu tiên người ta thấy một nông dân tên là Benny Zabidov, người này đã trồng một loại cỏ trong trang trại Kfar Yedidya của mình thuộc vùng Sharon, ông này không hiểu sao có rất nhiều bệnh nhân cancer, họ đến từ khắp nơi trong nước, tập trung trước cửa nhà Zabidov hỏi xin cây sả tươi. Thì ra các bác sĩ bảo họ đến. Họ được khuyên phải uống mỗi ngày 8 lần cây sả tươi chụng với nước sôi trong những ngày họ đến chữa bằng radiation và chemotherapy. Tất cả bắt nguồn từ các nhà nghiên cứu tại trường đại học Ben Gurion thuộc vùng Negev, năm ngoái họ đã khám phá ra dầu thơm trong cây sả đã diệt được tế bào cancer trong ống nghiệm, trong khi tế bào lành vẫn sống bình thường.Dẫn đầu toán nghiên cứu là bác sĩ Rivka Okir và giáo sư Yakov Weinstein, giữ chức vụ của Albert Katz Chair, trong nghiên cứu sự khác biệt của tế bào và những bệnh ác tính.từ các phân khoa vi sinh học và miễn nhiễm tại BGU. Chất dầu sả là chìa khóa cấu thành đã tạo mùi thơm chanh và mùi vị dược thảo như cây sả (Cymbopogon ctratus), melissa (melissa officinalis) and verbena (Verbena officinalis) . Theo Ofir, sự học hỏi tìm ra chất dầu sả gây cho tế bào cancer tự tử gọi là chương trình gây sự tử vong của tế bào (programmed cell death). Uống một liều lượng nhỏ 1g cây sả có đủ chất dầu thúc đẩy tế bào cancer tự hủy trong ống nghiệm! Các nhà thanh tra thuộc trường BGU thử lại sự ảnh hưởng của chất dầu sả trên tế bào cancer bằng cách cho thêm tế bào lành, đã được nuôi cấy, vào. Số lượng cho vào bằng với số lượng trà cây sả với 1g đã được ngâm nước sôi. Nhận thấy trong khi chất dầu sả diệt tế bào cancer thì tế bào lành vẫn sống bình thường. Sự khám phá được đăng trên báo khoa học Planta Medica, được nhấn mạnh về các sự thí nghiệm các phương thuốc chữa trị bằng dược thảo. Ngay sau đó, sự khám phá đã được đưa lên phổ biến bằng các phương tiện truyền thông công chúng. Tại sao dầu sả lại tác dụng như vậy? Không ai biết chắc chắn, nhưng các khoa học gia trường BGU đã đưa ra một lý thuyết: trong mỗi tế bào của cơ thể chúng ta có một chương trình di truyền, nó đã gây ra một “chương trình tế bào chết”. Khi có điều gì sai lạc, tế bào phân chia ra mà không kiểm soát được và trở thành tế bào cancer. Ở tế bào bình thường, khi tế bào khám phá ra hệ thống kiểm soát không điều hành đúng, thí dụ khi nó nhận thấy tế bào chứa đựng những di truyền sai lạc khi phân chia – nó sẽ kích hoạt cho tế bào chết đi, đó là sự giải thích của Weinstein. Sự nghiên cứu này đã cho thấy lợi ích của dược thảo trên về mặt y khoa. Sự thành công của họ đã đưa tới kết luận về cây sả, có chứa chất dầu, được coi như có khả năng chống lại tế bào cancer, như là họ đã từng nghiên cứu tại trường BGU và đã được phổ biến trên truyền thông, nhiều bác sĩ tại Do Thái đã bắt đầu tin tưởng những nghiên cứu có thể mở rộng hơn nữa, trong khi vẫn khuyến cáo những bệnh nhân, tìm đủ mọi cách để chống lại căn bệnh này, bằng cách dùng cây sả để tiêu diệt tế bào cancer. Đó là lý do tại sao.trang trại của Zabidov – nơi duy nhất trồng cây sả (lemon grass) tại Do Thái – đã trở nên một thánh địa cho những bệnh nhân này. May mắn thay họ đã tự tìm thấy đôi bàn tay thần diệu. Zabidov đón tiếp những người khách viếng thăm với những ấm trà cây sả và những đĩa bánh ngọt bằng thái độ niềm nở, ông ta nói: ‘ Cha tôi chết vì cancer, chị vợ tôi chết khi còn trẻ cũng vì cancer. Vì vậy tôi hiểu rõ những gì họ đã phải chịu, và tôi có thể không biết gì về thuốc men, nhưng tôi biết lắng nghe. Những bệnh nhân thường nói với tôi về sự điều trị đắt tiền mà họ phải trải qua. Tôi không bao giờ bảo họ ngưng chữa trị, nhưng cũng rất tốt khi họ dùng thêm trà cây sả. Zabidov biết rõ tiếng gọi của nghề nông đã đến với ông từ thời trai trẻ. Ở tuổi 14, ông đã theo học trường trung học canh nông Kfar Hayarok.Sau khi phục vụ trong quân đội, ông làm việc cùng nhóm lý tưởng chủ nghĩa hướng về phương nam, trong vùng sa mạc Arava một moshav mới (argriculture settlement) gọi là Tsofar. Ông ta mỉm cười và nói:’ chúng tôi rất thành công. Chúng tôi trồng trái cây và rau. Chúng tôi cũng nuôi nấng những đứa con xinh xắn. Trong một chuyến du lịch sang Âu châu vào giữa thập niên 80, ônng ta bắt đầu thích dược thảo. Do Thái, ở một thời, thường có khuynh hướng là không gì thích hơn các món ăn Đông phương và chỉ có một số thể loại được trồng có tính thương mại như cây cần tây (parsley), cây thì là (dill), cây ngò thơm (coriander). Đi lang thang trong khu chợ Paris, tìm kiếm một vài loại dược thảo, Zabidov đã thấy được một tiềm lực có thể xuất cảng to lớn nằm trong một góc chợ. Zabidov mang mẫu về nhà, ông ta mỉm cười, nói: đây là sự bất hợp lệ có tính kỹ thuật, để xem chúng có thể lớn lên trong nhà kính vùng sa mạc không. Không bao lâu ông ta có thể trồng các loại như rau húng quế (basil), cây kinh giới (oregano), cây ngải giấm (tarragon), một loại tỏi (chives), cây đan sâm (sage), và bạc hà. Công việc của ông ta là phát triển cơ ngơi vùng sa mạc, ông ta quyết định di chuyển về phía bắc, lập trang trại moshav tại Kfar Yedidya, môt giờ rưỡi lái xe ở phía bắc Tel Avis. Bây giờ ông ta bán hàng mấy trăm kí lô cây sả mỗi tuần và đã ký kết những hợp đồng phân phối hàng với các tiệm thực phẩm. Zabidov đã chính mình học hỏi về dầu cây sả và giúp khách hàng của ông ta hiểu biết hơn nữa, cũng như mời các chuyên gia y khoa tới trang trại của ông ta, nói chuyện về công dụng của cây sả. Ông ta cũng có trách nhiệm để nói chuyện với khách hàng của mình về cách dùng dược thảo này, Khi tôi nhận thấy có gì xảy ra, tôi cầm phone lên và gọi bác sĩ Weistein ở đại học Ben Gurion, vì những người này hỏi tôi cách tốt nhất để dùng dầu cây sả. Ông ấy nói ngâm sả trong nước sôi và uống 8 ly mỗi ngày. Zabidov là người có công tìm ra cây sả, không phải đơn giải chỉ cho công việc trong trang trại, mà còn vì ảnh hưởng đến sức khỏe của chính ông ta. Ngay cả trước khi sự lợi ích của cây sả được biết đến và xử dụng, ông ta và gia đình đã uống trà cây sả hằng năm’bởi vì hương vị thích thú của nó’

 

YẾU TÍNH Của THI CA TÂN HÌNH THỨC

  VÕ CÔNG LIÊM

TRANH VẼ VÕ CÔNG LIÊM : ‘Chân dung TTKM / TTKM’s Portrait’

 

   ‘Thượng đế đã sinh ra rất nhiều nhà thơ nhưng lại rất ít thơ’ (Charles Bukowski).

   Trong mọi trưòng phái thi ca đều có cái chất riêng của nó; nói theo phạm trù hội họa gọi đó là ‘matière’, là thực chất, chất liệu để thành thơ; một sáng tạo khéo léo (creative/skill) và đó cũng được coi là bề mặt của thơ; có khi tiềm ẩn trong dạng hoang đường (mythic metaphor) khó hiểu nhưng tăng thêm phần linh động cho thơ. Trong thơ dù bất luận mọi thể loại hay trường phái nào đều đòi hỏi một dạng thức bí truyền với một tiết tấu lạ lùng từ con chữ đến cách hành văn thời mới ‘nên thơ’. Ở đây chúng ta không đặc nặng vấn đề làm thơ mà tìm thấy nơi thơ có những sắc tố khác biệt, bởi; thơ là như-nhiên, là cõi-phi nó có từ tâm thức siêu lý phát sinh qua ngữ ngôn để thành thi tứ của thơ. Một lối thơ đặc trưng mang nhiều sắc thái khác nhau, tuôn chảy không dứt hoặc có khi dừng lạị để tiếp nối theo dòng luân chuyển như cách đọc không ngừng ở cuối dòng. Đó là yếu tính của thi ca tân hình thức –The Elements of New formalist Poetry. Bởi; như thế này: thi ca là cuộc chơi / the poetry game hay cho đó là trò chơi thi ca hay ‘thả thơ’ mà xưa nay đã có lần trải nghiệm. Nếu bạn hỏi một nhà thơ: ‘có cái gì hay trong đó? Nhân gian có gì lạ hơn không?  Đó là câu hỏi mà nhiều người yêu thơ sẽ trả lời: ‘tôi! tôi chả mấy thích’ hoặc nhà thơ Tây phương W.H. Auden nói: ‘thi ca chẳng làm nên sự thể / poetry makes nothing happen’. Cái đó nó thuộc về tâm lý nội tại, một sự chối bỏ của cái gọi là ‘bất khả thi’; yếu tính đó chính là chân lý như nhiên, nó thuộc vũ trụ của tâm hồn được khám phá nhờ cái nhìn vào cõi ngoài mà bắt gặp cái nhìn của ngoại giới, cũng từ chỗ đó mà thơ lần vào con đường siêu hình một cách tự nhiên, hài hòa giữa những lúc mưa nắng bất thường và chính trong sự bất thường đó là hạt lệ của thi ca tân hình thức. Chính vì vậy mà ngôn ngữ thi ca tân hình thức là một hiện hữu ở chính mình, bởi; trong thâm cung của mỗi con chữ tôi chứng kiến sự sinh ra tôi /Au fond de chaque mot j’assiste à ma naissance; đó là một tiếp giáp tương quan của sáng tạo, của ngôn từ. Thi ca tân hình thức không cần đến sự vật ngoại giới mà cần sự vật nội giới làm hình ảnh tiếp thu để trở thành ngữ-thơ trong ngôn từ; đó là lối chơi dũng cảm , tuồng như nửa đùa nửa thật của trò chơi chữ /game of words /jeu de mots. Nhưng; trong cuộc chơi thơ là một khám phá không ngừng mà thi ca tân hình thức là một biểu hiện:biểu dương ngữ ngôn là đối tượng giữa bản thể và tha thể. Biểu dương hình ảnh là cái nhìn trừu tượng của tâm thức. Biểu dương tâm trạng là ý thức thức tỉnh trực tiếp của bơ vơ, của bi thảm, của phân ly, của dày xéo. Cho nên chi thi ca tân hình thức không còn là  ‘hình thức’ của cái vỏ bề ngoài mà hình thức chứa đựng một nội tâm bị phủ quyết; họ bung lên để tìm thấy mặt trời ở chính mình và ở chính người là một xác quyết đầy chất sáng tạo mới.

Những thi sĩ hiện đại cũng như những nhà thơ tân hình thức là không muốn mang sang hay tỏ bày cho cái việc ‘trình diễn’ thơ. Họ làm thơ trong một khả năng không giới hạn, ăn ngay nói thiệt, họ đi từ nồi niêu để thấy trong nồi niêu là đồng thau, là vàng son rút từ cái không vần điệu của thơ không vần (blank verse) để biến mình vào một thể thức mới hơn (new formalist); nó gần giống như truyện không có câu chuyện. Đúng ra chúng ta không đứng ở vị trí khách quan mà thẩm định tấm lòng chung thủy thi ca của thi sĩ mà đụng chạm về quan điểm của họ. Thi ca là cơ bản cho một cuộc chơi, là luật thường tình của ngón nghề ăn ngay nói thiệt được bày tỏ trong hai phương diện của : người viết người đọc đó là cách chơi. Nếu người đọc chưa đả thông trọn vẹn hay cà giựt thì cuộc chơi sẻ không thực hiện được –Poetry is essentially a game, with artificial rules and it take two: a writer and reader to play it. If the reader is reluctant, the game will not work. Quả vậy! trong thơ tân hình thức có thể giúp cho ta tạo ra tiếng nói con người để cùng nhau đi tới tiếng nói trí tuệ là một phản ảnh thực tế giữa người làm thơ và người đọc thơ. Thơ tân hình thức ‘luân phiên tụng niệm’ là kiểu cách người chơi thơ. Một lối canh tân mới của thi ca tân hình thức. Họ thao tác trong việc dựng thơ là đổi mới tư duy trong trường phái của tân hình thức.

Chúng ta cũng biết rằng thơ tân hình thức là một trào lưu văn chương có từ cuối tk. thứ hai mươi và đầu tk. thứ hai mươi mốt, một trường phái mới và bốc lửa. Trong đó đáng kể thi ca Mỹ châu, đặc biệt ở Hoa kỳ đã được thăng tiến như một sự trở về âm luật của thơ (metrical) và cước vận của thơ (rhymed verse). Tranh luận giữa hai trào lưu thi ca vẫn còn tiếp tục trong thời sự của văn chương, tuy nhiên; dạng thơ tân hình thức còn duy trì và tung hoành trên mạng báo nhiều hơn ở lúc này. Nhớ cho; năm 2006 thi ca tân hình thức đã trở nên ‘phủ sóng’ một cách vững chắc trong luật tắc của văn chương đương đại Mỹ. Ngược lại; người ta coi thơ tân hình thức gần như thứ tản văn, một thứ văn xuôi tầm thường (prosaic); vì thế mà đưa tới cái nhìn nhỏ nhặt và ấn vào đó một cách sâu đậm về mặt tình cảm của con người qua thi ca tân hình thức và nhìn nó như thứ không hợp thời trang. Cuối cùng đưa tới phê phán một cách thậm tệ; một lối thơ có cung cách trưởng giả pha chất phong kiến (bourgeois)… Thế nhưng; trào lưu thi ca tân hình thức lại được bộc phát một cách mãnh liệt kể từ 1960 đến 1978 như một trào lưu thi ca đương đại.

Thơ tân hình thức không có chi là trưởng giả hay coi thường các thể thơ khác hay đặc mình trong vị trí cố hữu của người chơi thơ, trái lại; nó đã đánh thức trong ta cho một trả lời củng cố về nhịp điệu của vần thơ, dù cho ngắt dòng hay vắt dòng hay lập lại là thể thức dụng văn của thi ca tân hình thức. Nhưng; nếu nhìn một cách độ lượng thi ca tân hình thức còn có chức năng khác bằng một kết hợp đặc biệt của những gì thuộc âm nhạc, một thi ngữ có vần điệu. Thí dụ: Nhạc của Trịnh Công Sơn hầu hết xử dụng nhạc từ theo dạng tân hình thức, bỏ lửng, vắt dòng đưa tới những nhạc từ rất lạ đời; nếu như nghe kỹ thì điệu nhạc nghe mới hơn và tạo nét đặc thù cho nhạc mà ngay cả thơ là ở chỗ đó. Bình thơ và nhạc không thể dẫn chứng  hay ‘phanh phui’ để nói cái hay mà phải nhận biết yếu tính của thơ, nhất là thơ tân hình thức nó có một sự hổn hợp đặc biệt của những gì thuộc âm nhạc và phẩm lượng của ngữ ngôn –It is a special combination of musical and linguistic qualities. Chúng ta bỏ mất nhịp điệu (rhythm) trong thơ chẳng khác nào ta bỏ mất thanh điệu (nhạc) hay giọng điệu (thơ) khi bàn về thơ và âm nhạc. Người ta thường phổ thơ để thành nhạc ít khi nghe phổ thơ THT để thành nhạc, ngoại trừ nhạc sĩ Trịnh Công Sơn hay Ngô Thụy Miên, họ đã trình diễn con chữ trong nhạc có ‘điệu’ của tân hình thức. Nghe lạ tai và mới lạ trong suy tư. Thơ hay nhạc là những khoảnh khắc thức tỉnh của đời sống con người. Ngôn ngữ là phương tiện cho thơ chớ thơ không phải là phương tiện của ngữ ngôn. Nhạc thơ cũng thế và chỉ có một không hai là thi nhạc sĩ Bob Dylan (Mỹ) mà thôi. Dylan hát như đọc thơ là điều hiếm có ở cõi đời này.

Những nhà thơ tân hình thức mở rộng và chấp nhận mọi khuynh hướng từ quá khứ tới hiện đại, phá vỡ những biên giới giữa nhiều bộ môn nghệ thuật khác nhau, giữa hội họa, âm nhạc và văn chương, giữa hình thức nghệ thuật nầy với bât cứ hình thức nghệ thuật nào khác. Tân hình thức còn chấp nhận mọi khám phá của những phong trào tiên phong khác, từ thế hệ Beat, trường phái New York đến những thi pháp của Olsm, Creeley theo quan điểm ‘nothing is true everything is permitted’(Trong Tân Hình Thức của Khế Iêm –Văn Mới 2000). Nói chung thơ là một hổn hợp bởi ba nghệ thuật: âm nhạc, truyện kể và hội họa qua màu sắc của con chữ. Trong thơ tân hình thức ta bắt gặp thường xuyên ngữ điệu như thế. Thi ca Tân hình thức là một áp đặt con chữ để đi tới thích ứng của thơ, đi tới một điều kiện hiện hữu trong những gì mà chúng ta tìm thấy ở chính chúng ta, nó giúp cho chúng ta diễn đạt của đọc thơ qua trạng thái của tâm thức –it helps us articulate our states of mind. Trần Dần có một bài thơ và nhiều bài thơ khác diễn cảm bằng một thứ tình cảm éo le, chan chứa. Đọc xem để thấy thơ tiền chiến và hậu tiền chiến đã dẫm chân lên môi trường của tân hình thức:

‘Bước lặng

Tôi về cõi lặng?

một trời

tôi vẫn lạc quan đen

tôi bước lặng bên tôi

không một ai – mà vẫn bước

đều

cho đến lúc say nâu

tôi rẽ vào phố lặng

(Trong bài thơ tựa đề Nhân Sinh của Trần Dần NXB Đà Nẵng 2007)

Một bài thơ khác của Trần Dần qua cách thức vắt dòng nhưng vẫn liên kết trong ngữ điệu của thơ tân hình thức:

tôi khóc thu không – nhưng thu

không không khóc

cũng không cười?

không trống?

chỉ là lằng lặng thu không’

(Trong bài Uẩn khúc Ga cuối)

Thời kỳ hậu một chín bảy lăm là con đường ngược chiều giữa tiền chiến và thế hệ tiếp nối, phủ nhận toàn bộ lối thơ xưa cũ, ước lệ của lục bát, thơ 7, 8 chữ hoặc thơ xuôi, thơ không vần ngay cả ca dao dùng ngữ điệu thông thường, bởi; những thể thơ như thế dựa vào ngữ điệu hay vần điệu để thành lời thơ, ngược lại thơ tân hình thức dựa vào thể âm luật (metrical) với kỹ thuật vắt dòng (enjambment); vắt dòng bất cứ nơi nào trong câu thơ và đôi khi tiếp tục như thế cho tới cuối dòng… Thế nhưng có những luật tắc tương tợ lẫn nhau: ‘Tân hình thức và Tự do gần giống nhau, gần với cách nói thông thường, còn tạo được nhịp điệu…’ (Khế Iêm. Trong tập Tân Hình Thức. 2000 USA). Nói vậy Chầu văn hay Hầu văn, hò Giã gạo, Đồng bóng là nhạc cổ điển Huế cũng đã xử dụng nhịp điệu của hình thức tân hình thức mà vẫn lôi cuốn người nghe qua những câu hò vấn đáp suông sã và nhịp nhàng mà giờ đây đã phục sinh. Nếu xếp những thứ đó để trở thành văn xuôi thời nó trở nên văn kể chuyện hoặc cho đó là thơ không vần có phần nhẹ nhàng hơn cả văn xuôi một cách trung thực bởi không bận tới yếu tố thị giác.

Hậu 75 phát sinh những dòng thơ mới hơn cả thơ mới, nó mang mang chất tân hình thức; bởi nó không ngừng lại theo ước lệ của thơ; vì thế mà làm cho thơ không thoát theo trí tưởng mà làm mất ‘duyên thơ’:

‘Mưa bay lất phất gió căm căm

Đường lầy trơn nhà cửa tối tăm

Trốn đâu lũ trẻ mặt lem luốc

Co ro đứng coi tù qua thôn

vác bó cuốc bước loạng choạng

về trong xây xẩm buổi tàn đông

lạnh lẽo nhà ai không đèn lửa

ảm đạm lòng ta chiều cuối năm’

(Thanh Tâm Tuyền. Trại Vĩnh Phú Đông 1976)

Có những câu thơ xen lẫn nhau là một sự kết hợp  giữa 5 chữ (ngũ ngôn) sáu, bảy chữ (lục, thất ngôn) là luật tắc của Trung Hoa mà chúng ta thường bắt gặp trong thơ dân gian của Việt Nam như trong Ca Huế của thơ Tứ Đại Cảnh, Nam Ai, Nam Bằng…) Với âm sắc đó với chất thơ lắp đặc (poetry installation) phản phất chất thơ trình diễn (the poetry art-performance) hơn cả thơ có vần điệu. Đọc bài thơ này:

‘Đêm đã nhuốm màu lên làn da em

Lên đôi mắt vòng vòng một quầng đêm

Đêm đã nhuốm màu lên đôi bàn tay em

Để em không thể nhìn thấy anh

Bằng xúc giác

Đêm đã nhuốm màu lên lưỡi của em

Để em không thể nhìn thấy anh

Bằng vị giác

Dêm đã tràn vào từng sợi thủy tinh của chiếc đèn vàng

Và khe khẻ hát

Để em không thể nhìn thấy anh

Bằng thính giác’

(Đêm và Anh của Ly Hoàng Ly Hà Nội 2006).

Đấy là những gì mà nhà thơ khéo xử lý (tact) để cho dòng thơ trở nên nhịp nhàng cân đối, câu này liên kết câu kia dẫu có vắt dòng hay ngắt dòng vẫn duy trì đường nét phá thể của hình thức mới. Nhận thức được điều này thời đó là tính đa dạng của thi ca –acknowledges the diversity of poetry. Khéo xử con chữ cũng như vận thơ thì đạt tới cái đích của thơ, phải thấu đáo cho thơ có ‘hồn’ nhiên  thì thơ mới có trọng lượng. Đó là chỉ tiêu làm thơ. Tân hình thức đòi hỏi xử thế con chữ trong mọi cách hành văn thơ là việc cần chú ý cho thơ tân hình thức, nếu không biết vận dụng ngữ ngôn thi ca một cách trong suốt thì thơ tân hình thức bị nghẽn một cách vô lý, vô vị so ra không đúng đường lối thơ vô nghĩa (nonsense-poetry) mà tuột hậu giữa con đường cái quan của tân hình thức. Nói ra nghe dễ cho việc làm thơ, nhưng; không phải dễ như một số đông đã làm thơ. Họ chú trọng làm thơ theo khuynh hướng của thị hiếu; thấy dễ ‘chơi’ cho nên chơi thử mà thành thiệt. Làm thơ trở thành thói quen như hút thuốc lá hoặc có khi phỏng theo hay cốp-pi (imitation) để cho ra thơ rồi từ đó biến mình thành thi sĩ. Thơ tân hình thức là một vận dụng trí tuệ, vận chuyển con chữ để kết dòng là sở đắc của người làn thơ theo thể thức mới. Nói đúng ra; ai làm thơ cũng được cả, nó hao hao với nhau có gì khác mà phân tích, chẳng qua bày vẻ cho thêm chuyện và dựa vào đó để bình thơ chớ không tìm thấy yếu tính của thi ca. Cho nên chi hằng triệu bài văn bình giải thơ, từ xưa đến nay tợ như hò mái nhì, đả đớt như mem cơm. Văn và thơ song hành kiểu đó thì có khác chi ‘mùa thu lá bay’. Cứ đem ba cái chuyện đời xưa ra bình giải thì hóa ra nó trở về cái ‘nonsense’ mà không thấy mình đang rơi vào hố thẳm của văn chương. Hãy sáng tạo là yêu cầu mật thiết cho người làm thơ; sở dĩ như thế vì tương quan sáng tạo là tương quan của ngôn từ. Cái sâu thẳm của thơ tân hình thức là con chữ gần như tiếp giáp với cuộc đời, lời thơ phát ra với một tâm như nhiên, một tiếp cận giữa người và thơ. Henri Bosco nói: ‘J’ai mes allumettes: les mots’ Đó là định đề cố hữu của người làm thơ; nói chung, với thơ tân hình thức lấy ngôn từ để soi sáng nội tâm mỗi khi nhận ra vũ trụ ngoại giới là thấy mình hiện hữu với tâm trạng của mình. Cái sự đó nó nằm trong bối cảnh của tân hình thức. Thơ của tân hình thức là đi vào trong kịch tính (drama) và trong sự diễn giải (narration) là vai trò chủ thể đối diện với tha thể trong một liên trình tiếp diễn của trạng huống tâm lý hay cảnh quang vật lý. Như vậy chúng ta đã đạt tới yếu tính  trong thi ca bằng một cố gắng làm nên thơ. Sự đó là nồng cốt miêu tả của thi tứ, sự đó nó đến với chúng ta như nhận lấy sự cảm thấy và thói tính của thi nhân –It is of the essence of poetic description that it come to us charged with the poet’s feelings and attitudes. Nhưng; đôi khi trong thơ lại ẩn tàng (implicit) đôi khi lại bộc bạch (explicit) bằng lời thơ tự thuật hay tự phê về mình. Sở trường của thơ tân hình thức là vắt dòng hay chuộng vần điệu, nhưng; lại sở đoản trong trong phong cách trình diễn, bởi vấn đề của của chất giọng (tone) hay nhịp điệu (rhythm) và ẩn dụ (metaphor). Chú ý vào bốn câu thơ mở đầu trong tập Tân Hình Thức của tác giả Khế Iêm. Thái độ hoặc cảm xúc gì đã truyền đạt qua lời thơ và làm thế nào để nhận ra sự vận chuyển đó. Bài thơ được chia ra 5 đoản khúc. Dẫn ở đây 3 đoản khúc:

Khi tôi ngồi uống cà phê ngoài lề

đường và kể lại câu chuyện đã được

kể lại từ nhiều đời mà đời nào

cũng giống đời nào, mà lời nào cũng

giống lời nào, về người đàn bà và

đàn con nheo nhóc (nơi góc phố được

gọi là chỗ chết, nơi góc phố được

gọi là chỗ sống), kẻ những đường kẻ

bằng than đen, gãy góc, xấu xí như

cái bóng trong tấm hình cũ, như dĩ

nhiên hôm nay ngày mai ngày mốt, như

thế thôi thì thế thôi, biết đâu chừng

(Hai khúc  sau lập lại của hai khúc đầu)

(Tân Hình Thức Và Câu Chuyện Kể của Khế Iêm)

Sang bằng bài thơ thì đó là chuyện kể, chuyện kể bằng thơ. Thơ tân hình thức giản dị như cơm với cá như mạ với con. Chúng ta đọc để ‘nghe’ chớ chẳng phải bình luận, Vì; nó là thơ tân hình thức. Là tinh thể của tâm hồn theo thể thức mới; nó phản chiếu vào đó những nghi vấn cuộc đời để thành thơ. Nó đang cần một sự giải thoát. Nói chung nó là thứ thuộc ngữ ngôn siêu hình (metaphorical language). Gần như trong thi ca tân hình thức chứa đựng một thứ siêu hình, trừu tượng và một thứ ngữ ngôn chăm biến hay ‘chọc quê’, bởi; ngôn từ của tân hình thức có thể giúp cho chúng ta nắm được mối tương quan của người làm thơ và người đọc thơ, cái đó là mạch nối giữa những gì lạ lẫm hoặc giúp cho ta làm nên một đối xử giữa có và không của thơ. ẩn tàng và mai mỉa là cơ bản cặp đôi của ngữ ngôn thi tứ -Methaphor and irony are the twin bases of poetical language. Tuy nhiên; vẫn nhìn nhận việc xử dụng ngữ ngôn như thế là nhấn mạnh vào hình ảnh (image emphasizes) một sự bộc phát tự nhiên của tình thương yêu, thứ đến là hài hòa một cách điềm nhiên để cho thơ thoát tục. Yếu tính thi ca tân hình thức là chú trọng tới âm luật của câu thơ với tất cả vần điệu là hiệu năng trong thi ca. Trong Anh ngữ cái sự chuyển thành thơ có nghĩa rằng đó là vấn đề to tát của chất giọng (accents) và ngắt câu (pauses). Ngắt câu là chấm dứt bằng một ngữ pháp thông thường cái đó gọi là diễn đọc và viết thành thơ và như thể tạo ra ký hiệu cho ngữ ngôn. Đọc tập thơ ‘Có Những Ngày’ của nhà thơ tân hình thức Hồ Đăng Thanh Ngọc để thấy những gì thuộc nhịp điệu (rhythmical) mà tác giả xử dụng trong cùng một khuôn khổ của thơ, nó không đi ngoài những gì của tân hình thức, một điều gì rất thường nhưng chất chứa cái vô hạn trong đó đúng vị trí của thơ tân hình thức, một tỏ rõ chung tình giữa người và vật. Đọc để thấy, nghe và suy ngẫm suốt trong hơn 70 bài thơ đóng tập (NXB Thuận Hóa. Huế 2019) là một phản ảnh cụ thể của thơ tân hình thức:

Có một hoàng hôn như chiêm

Bao như ai đó đốt câu thơ cũ

thả vào cánh cò như ai

đó kêu lên có con chim gãy chân

lạc vào rừng ngón mưa như

ai đó kêu lên bắt lấy giấc mơ

bỏ vào chai rượu như ai

đó kêu lên bắt lấy hoàng hôn thả

vào bóng đêm như ai đó

kêu lên bắt lấy con chim chơi trò

trốn tìm như ai đó kêu

lên về nhà bắt khói kẻo khói bay

mất chỉ còn một dấu hỏi

như ai đó kêu lên hãy bắt lấy

khói kẻo khói bay mất sẽ

chỉ còn một dấu lạnh có một hoàng

hôn như thế có ai kêu

lên

(Một Hoàng Hôn)

Hậu 75 với một thế hệ đã qua; hai muơi lăm năm trên đất người đã sản sinh những người Mỹ gốc Việt làm thơ Việt ngữ là thời điểm bùng dậy của trào lưu thi ca tân hình thức, hình thức này đã ảnh hưởng không ít vào tâm hồn của người xa xứ. Quả vậy; dòng thơ tân hình thức đến đúng lúc hơn bao giờ, bởi; trong thâm tâm người làm thơ, thời ấy; như có một sự khước từ bởi bức tử như vết sẹo khó phai mờ; đó là một sự trải qua lắm chông gai. Người làm thơ lúc này không lấy qui ước để làm thơ là vì khó để phát huy tư tưởng, nó gò ép, gượng gạo, thập thò như đứng trong vòng thép gai. Cho nên họ phá rào để nói những gì từ lòng họ một cách thỏa thê qua con chữ, phản ảnh trực tiếp những đoái hoài mong đợi để vượt thoát, để gặp gỡ tự do và từ đó họ phóng mình vào một hình thức mới hơn như ngôn ngữ thoát tục, là một sự vượt thoát vô hạn hữu không bị chận lại (unrestrict), phủ nhận để đón nhận là hai môi trường của tâm trạng muốn bung lên bằng văn từ hay thi tứ cho một sự phản kháng, phản kháng qua tâm thức. Tâm thức ở đây là đối tượng chủ thể được qui về trong cái nhìn tương quan sự vật, một cái nhìn so sánh sự vật: cái gì của quá khứ và cái gì của hiện tại để làm sáng tỏ vũ tụ tâm hồn là hòa nhập vào cái vũ trụ mơ về bằng mọi nỗ lực khác nhau…Lấy thi ca để xoa dịu, lấy thi ca để phàn kháng đó chính là đối tượng biểu dương, nhờ đó mà thấy được tâm trạng của mình. Đó là lý luận trên cương vị giải bày tâm trạng để nhập cuộc qua lời thơ, tiếng nhạc, họ hòa nhập như một ‘hòa âm điền dã’ đúng tiêu chuẩn của trường phái thi ca đương đại. Thơ tân hình thức là ‘à la mode’ hợp thời trang thời thượng giữa lúc này.

Cuối cùng những dòng thơ là tự nó đánh dấu của một chấm câu đúng chỗ -The end of a line of verse is itself a mark of punctuation, cái chấm câu đúng chỗ ta gọi là chấm hết (end-stopped) thơ tân hình thức không chấm hết mà nó được tiếp tục trong những gì thuộc ngữ pháp mà được coi như dòng thơ tuôn chảy (line run-on) hoặc cùng lắm là không ngắt câu hay vắt dòng (enjambed) mà thêm vào đó những gì khác lạ hơn.Thi nhân thường dùng thơ không vần hay thơ tự do là vì; nó có tính chất độc lập ở cái chỗ ngắt câu (enjambment) để cho con chữ của họ thêm trọng lượng trong thi ca. Chúng ta tìm thấy những gì trong đó. Qua tập thơ ‘Ngôn Ngữ Xanh’ NXB Văn Học Press. USA 2019 của thi sĩ Nguyễn Thị Khánh Minh. Với nữ sĩ họ Nguyễn đã dựng thơ tân hình thức trước thời điểm Hoa Kỳ liệt kê tân hình thức là thi ca đương đại. Ý thức đó đã đến từ trong tâm hồn của người biệt xứ, chớ chẳng phải đến bây giờ mới là đương đại. Nói chung giữa kỷ nguyên của thập niên chín mươi đã hình thành thơ tân hình thức ở Việtnam nhưng chẳng mấy quan tâm vì ‘bộ dáng’ khác lạ của nó cho nên chi phong trào tiên khởi tân hình thức không mấy chú ý. Thế nhưng; trường phái tân hình thức ở nước ta nhập cuộc trước thời điểm bùng dậy khắp toàn cầu. Bởi; một điều rất tự hào là người Việt chuộng thi ca như mạch sống. Đọc lại những bài thơ tân hình thức trước đây như một chứng tích của hình thức thi ca mới.

1.

Tôi đã mở cửa ban mai. Bằng nụ cười

Tôi đã đóng cửa ban mai. Bằng tiếng khóc

Thì đâu là nơi. Của ánh sáng. Của bóng tối

Ngoài tôi

2.

Tôi che ánh nắng

Để tìm một bóng mát

Qua khe hở của tấm màn

Sót một đường sáng mong manh

Đường chỉ trắng. Long lanh hơn cái ánh sáng nó che

Cũng tựa như vậy. Khi tôi ngồi trong bong tối

3.

Đừng bật thêm đèn nữa

Ngày đã sáng lắm rồi

(Xin lỗi) hay vì con mắt tôi

Đã quen rồi bóng tối …

(Sáng. Tối) Thơ NTKM 2002.

Hầu hết những bài thơ tân hình thức của nữ thi sĩ Nguyễn đã thực hiện là dựng trong một khung cảnh của đổi mới tư duy, thiết kế và cấu trúc đúng đường lối chủ trương của tân hình thức, bởi; rõ nét nhất ở chỗ gieo vần là yếu tính quan trọng trong thi ca âm nhạc –Rhyme is an important element in musical poetry (như đã dẫn ở trên). Nhưng; ít đi những gì kịch tính trong thi ca. Trong thơ của Nguyễn tạo được âm thanh một thứ âm thanh ‘nguyên chất /purely’ có thẩm mỹ cách (aesthetical) coi như là phong thái của thơ tân hình thức, cái đó gọi là điệp vận và âm vọng (alliteration and assonance). Nói rộng ra cho trọn ý: Điệp vận là lập lại cái đã có cùng chữ, cùng nghĩa. Âm vọng là lập lại cái ‘âm thanh’ nguyên âm trong cùng một nghĩa hoặc phụ trợ vào dòng thơ. Đấy là yếu tính của thi ca tân hình thức.

Tóm lại bất cứ thể loại nào phải thực hiện đúng với tâm hồn thơ.Thơ đòi hỏi một sự độc lập, và sáng tạo không câu nệ cưỡng ép cung cầu. Thi ca là một cảm thức nhạy bén từ trí tuệ không vì một lý do nào mà phải ‘gò lưng’ hay ‘rặn đẻ’ để thành thơ. Thi ca phản ảnh lòng chân và hồn nhiên là việc tự nhiên cấu thành. Ai cũng là thi sĩ nhưng có ba hạng thi sĩ. Thi sĩ có ‘tầm cở’ và thi sĩ ‘ba phải’ thời nhất thiết không thể liệt kê là thi sĩ của thi ca ; ngay cả hàng hiệu chưa hẳn phải là hàng thiệt huống là thơ ./.

VÕ CÔNG LIÊM (ca.ab.yyc. cuối tháng 8/2020)