MÙA ĐÔNG SẼ DÀI: LONG SERA D’HIVER

Nguyên Lạc

snow

PAUL MAURIAT

Bản nhạc “Long sera l´hiver” được sáng tác bởi nhạc sĩ Jacques Plante và Claude Carrère 1968, được ca sĩ Sheila thâu vào dĩa lần đầu, sắp xếp và dàn dựng bởi Paul Mauriat.
Vài hàng về Paul Mauriat:
Paul Julien André Mauriat nhà soạn nhạc kiêm nhạc trưởng dàn nhạc Le Grand Orchestre de Paul Mauriat. Ông là người Pháp. Những bản hit nổi tiếng như Love is Blue, El Bimbo, Toccata, Penelope…
Paul Mauriat và một số nhạc sĩ khác cổ động cho phong trào nhạc nhẹ – the easy listening – ai nghe cũng hiểu và cảm được, khác với nhạc cổ điển – muốn thưởng thức nhạc cổ điển cần phải có “căn bản” kiến thức âm nhạc tối thiểu.
.
BẢN NHẠC LONG SERA D’HIVER

Bản nhạc “Long sera l´hiver”, rất phổ biến thập niên 60 -70, tình cờ tôi được nghe lại và rất thích nên muốn chuyển dịch lời nhạc thành thơ, chia sẻ cùng các bạn.
Đây là đường link dẫn tới bản nhạc “Long sera l´hiver”:
Không lời:
https://youtu.be/2tBIArfBcH8
Có lời:
Sheila – Long Sera L’Hiver
https://youtu.be/ampKesGS5B8
Bài hát rất hay, tôi xin ghi ra nguyên văn bài hát – tiếng Pháp, cùng lời dịch tiếng Anh và sẵn dịp tôi phóng dịch ra thơ tiếng Việt:

1. Nguyên tác – lời nhạc Pháp
.
Long sera d’hiver
.
Long sera l´hiver, my love!
Tu n´es plus près de moi
Je me sens si seule
Dans la neige et le froid
.
Long sera l´hiver, my love!
Le monde est sans pitié
Pour tous ceux qui s´aiment
Et qui sont séparés
.
Et la Terre toute entière
Ne courbe les roseaux
Que c´est triste, un ciel gris
Sans aucun chant d´oiseau
.
Oui, j’ai tant besoin de toi
Oui, car je m’ennuie sans toi
Ici, où tout est sombre et désert
.
Long sera l’hiver, my love!
Mais je me suis jurée
Qu’au premier soleil
J’irai te retrouver
.
Ni les mers, ni les terres
Ne pourront m’arrêter,
De frontière en frontière
Vers toi, je m’en irai
Et tu ouvriras les bras
Oui, et tu me garderas, là-bas
.
Long sera l’hiver, my love!
Et tu ouvriras les bras
Oui, et tu me garderas, là-bas
Long sera l’hiver mais nous aurons gagné
De rester ensemble pour l’éternité
.
Long sera l’hiver, my love!
.
2. Phóng dịch thành thơ lời Việt

Tôi tạm phóng dịch thành thơ lời Việt như sau:
.
Mùa đông sẽ dài
.
Mùa Đông sẽ dài em ơi
Em không còn ở bên tôi
Đơn côi anh đang đơn côi
Bên trời buốt lạnh tuyết rơi
.
Mùa đông sẽ dài em ơi
Tàn nhẫn, tàn nhẫn cuộc đời
Sao buộc người thương yêu nhau
Chịu cảnh ly biệt xa rời?
.
Tuyết đừng phủ cong lau lách
Buồn lắm xám thẫm bầu trời
Buồn lắm không tiếng chim hót
Khắp cùng trái đất người ơi!
.
Rất cần em cạnh bên tôi
Mọi thứ không em chán rồi
Nơi đây tối tăm vắng vẻ
Nhưng tôi tự thề tôi sẽ
Tìm em khi trời vừa lên
.
Biển cả núi đồi biên giới
Không đâu ngăn cản được tôi
Và em sẽ rộng vòng tay
Ôm tròn giữ tôi ở đó
.
Mùa Đông sẽ dài em ơi
Và em sẽ rộng vòng tay
Em trọn giữ tôi ở đó
Mùa đông sẽ dài chắc thế
Nhưng sao thắng được chúng ta
Mãi bên nhau chẳng lìa xa
.
Mùa Đông sẽ dài em ơi
.
LỜI KẾT
Long will be Winter/ Long sera l´hiver tôi dịch là “Mùa đông sẽ dài”, nếu các bạn nào thích dịch thành “Lâu quá sẽ thành mùa Đông” thì tùy. Tuy nhiên, hãy nhớ rằng: Ta đừng để như vậy, hãy “hâm nóng tình” lên nha bạn hiền!
Chúc hạnh phúc.
.
Nguyên Lạc
………………
@. Phụ lục:

1. Bản nhạc chuyến dịch lời Anh

Long will be Winter
.
Long will be winter, my love!
You’re not near me anymore.
I feel so alone
In the snow and cold
.
Long will be winter, my love!
The world is merciless
For all those who love
And that are separated
.
And the whole Earth
Do not bend the reeds
How sad, a grey sky
Without any bird song
.
Yes, I need you so much.
Yes, because I’m bored without you
Here, where everything is dark and deserted
.
Long will be winter, my love!
But I swore
That at the first sun
I will find you
.
Neither the seas nor the lands
Can’t stop me,
From border to border
To you, I will go
And you will open your arms
Yes, and you will keep me there
.
Long will be winter, my love!
And you will open your arms
Yes, and you will keep me there
Long will be winter but we will have won
To stay together for eternity
.
Long will be winter, my love!
.
2. Vài hàng về nhạc EASY LISTENING
Nhạc cổ điến hầu như “thống trị” suốt thế kỹ 17,18,19 phương Tây, muốn thưởng thức nhạc này cần phải có “căn bản” kiến thức âm nhạc tối thiểu. Hình như chúng dành cho tầng lớp ” thượng lưu trí thức”, “trưởng giả”.
Paul Mauriat, Franck Pourcel và một số nhạc sĩ khác là những người đầu tiên khởi xướng về loại nhạc nhẹ êm dịu – the easy listening, ai nghe cũng hiểu và cảm được – ở những nơi như là phòng khách, phòng đợi khách sạn v.v…
Hiện nay có thêm nhạc êm dịu New Age
Về nhạc Easy listening hiện nay các ca nhạc sĩ có tếng là Andrea Bocelli, Cesaria Evora, Julio Iglesias …
– Julio Iglesias: một ca sĩ, nhạc sĩ người Tây Ban Nha, ông là ca sĩ có dĩa bán chạy nhất trong lịch sử trong thể nhạc Latin và cũng là một trong những ca sĩ có đĩa bán nhiều nhất thế giới. Phạm Duy có chuyển lời Việt vài bài. Tôi có nhiều kỹ niệm với bài La Paloma do ông hát trước 75. Ca sĩ Lệ Thu có hát bài lời Việt: Cánh Buồm Xa Xưa
. La Paloma – Julio Iglesias
https://youtu.be/CZfN2y7tgfE
. Cánh Buồm Xa Xưa (La Paloma) – Giọng ca Lệ Thu
https://youtu.be/kgmZAtNhYKw
– Andrea Bocelli là ca nhạc sĩ người Ý- ông là người khiếm thị/ blind man từ 5 tuổi.
Bài tôi thích nghe ông hát là Bésame Mucho/ Kiss me a lot (nghĩa là “Hãy hôn em thật nhiều”)
. Andrea Bocelli – Besame Mucho
https://youtu.be/fTxcrjBGves
– Cesária Évora (1941 – 2011) là nữ ca sĩ nổi tiếng người Cabo Verde/ Cape Verde – Tây Phi, với biệt danh “barefoot diva” (“nữ danh ca chân trần”) vì khi biểu diễn bà không mang giày dép.
. Cesaria Evora – Besame Mucho
https://youtu.be/LLsg_Lk819s
– Yanni là nhạc sĩ người Hy Lạp – Greek, ông đang sống ở Mỹ với những album nhạc New Age rất hay.
. Yanni – “Until the Last Moment”
https://youtu.be/9WECMgGG8dg
. Yanni – Felitsa- Live
https://youtu.be/CN7y6FVBdR8

Nhạc các ông bà này bạn có thể search trên You Tube

VÀO VỚI THƠ

VÕ CÔNG LIÊM

hoa hong den

TRANH : VÕCÔNGLIÊM . MẶT TRỜI ĐEN / BLACK SUN

Nói về thơ có cần bàn thêm không? Thiết tưởng điều này thừa; mà chỉ phiếm đàm một cách khách quan như xem một vở kịch vậy; ‘khi vui thì đậu, khi buồn lại bay’ đó là ý tứ vô tư mỗi khi đi vào với thơ.
Vậy thơ là gì? Câu hỏi này đã có từ khi chưa lập văn tự, thơ phát sanh hồi tiền cổ, thuở hồng hoang khai thiên lập điạ đã có thơ đi theo. Thiên nhiên và tâm trạng hòa đồng trong một dạng thức vô cớ nhưng lại hữu hình, hữu tình chính điểm này đã xâm nhập vào hồn để thành thơ. Nói theo phân tâm học của Freud và Jung thì cho rằng: nếu mỗi khi tâm với não giao động hỗn loạn đưa tới bất bình thường và sinh ra ảo giác; nói thế có tính võ đoán cho người làm thơ; tâm tư lắng đọng, trí tuệ phát khởi, giòng thơ tuôn trào như tự nó. Nguồn thi hứng của thơ là nguồn vô biên, vô tận số (sát-na) nó bao trùm cả vũ trụ quan trong chuỗi hành tinh văn học. Thế giới của thơ, một nơi vô hình chung được gọi là ‘cõi thơ’. Thí dụ: đang làm một việc gì thì bỗng bắt gặp mùi hương hoa lài, mùi nước lợ, bóng dáng cũ xuất hiện trong tri giác, khứu giác nơi mà chung quanh chỉ là tiếng động xe cộ ồn ào, huyên náo. Đó là cảm thức bị đánh thức để hướng tới hoài niệm về một tiền đề xẩy ra trước đây, và; tự nhiên xuất thần thành những câu thơ, bài thơ bất hủ, xuyên thủng một tâm thức khác mà thành thơ-ca, nhạc-thơ. Từ đó ta gọi trong thơ có nhạc, trong nhạc có thơ hay trong thơ có họa trong họa có thơ -thi trung hữu họa, họa trung hữu thi- (Tô Đông Pha) là vậy. Nói cách khác; hồn thi sĩ bùng dậy dưới mọi môi trường của cảm hóa mà thành thơ, nhà thơ là một xúc cảm lớn. Vậy thơ đâu dành cho thi sĩ, thơ đã phát tiết từ lòng mẹ mà ra nhưng tư duy đó lại nằm trong thâm sâu cùng cốc (deeper) của tiềm thức; hơn thế nữa trí năng đang trong thời kỳ mở mang (development) để thành hình ngữ ngôn. Thơ khắp mọi nơi và khắp mọi người, thơ chẳng riêng ai giữa không gian và thời gian này. Cái xúc cảm lớn lao đó chính là cái mơ về, nhưng phải hiện thực để thơ đi vào tư tưởng thi ca: bài thơ hay hoặc dở là do yếu tố đó, nhưng thơ có những đòi hỏi lạ kỳ nghĩa là phải nằm ở giữa Hồn và Thức, phải đồng điệu, quyện vào nhau thì ta thấy được ‘thơ tức là người’. Đọc thơ Nguyễn Du, thơ Nguyễn Trãi cho ta nhận thấy một tri thức uyên bác ở người; bởi họ là ‘con nhà tông không giống lông cũng giống cánh’ có lớp lang, có phẩm trật lại là người học cao, hiểu rộng. Cho nên thơ đã thả vào đó những ý thơ bất diệt, những áng thơ tuyệt cú và đi vào miên viễn thanh cao. Thuở nào cũng thế; làm thơ hay làm văn nó đòi hỏi một tri thức thâm hậu thời mới thành thi văn trác tuyệt; cho nên chi người làm thơ dù trải dài cả một lịch sử làm thơ chăng nữa, giòng thơ đó vẫn ngân nga những giọng điệu xưa cũ không thoát ra được chất thơ vì rằng hồn và thức là một phản ảnh rõ nét. Thơ thật sự cần thiết cho cảm thức và có lợi cho lý trí là hai bề mặt cho đời và người; ấy là Đạo vậy và cốt tủy của thơ được trở nên hiện hữu tối thượng; ấy là Siêu Thoát vậy. Muốn tới con đường đó nhà thơ phải phá chấp hoàn cảnh ngoại giới để xâm nhập vào nội giới dưới một dạng thức dành cho thơ; tuyệt đối không vị ngã, ngay cả ngã mạn trong thơ; vì đó là ý thức Mạt-Na (tức là thức thứ 7 trong 7 thức Mạt-Na) : là bản chất so đo, hơn thua, phô diễn về cái ngã (moi/self/ego) hơn là xuất thần thơ; mấy thứ đó làm băng hoại hồn ‘thi sĩ’, dù có là gì đi nữa cũng thành tro bụi. Thơ là hồn; tức ‘hồn ai nấy giữ’ là vậy. Nhà thơ có uốn nắn con chữ, làm đẹp câu thơ cho bài thơ tràn trề thẩm mỹ quan thì cái hồn đó quẩn quanh trong cái trình độ thơ đó mà thôi. Khó để gọi là thơ siêu thoát. Như đã nói thơ là thức; dù cho thơ biểu hiện dưới hình thức nào hay ẩn tàng, ẩn dụ nét thơ vẫn chứa đựng một chất liệu thanh cao diệu vợi. Thức ở đây không phải là thức tĩnh mà thức là nhận biết (acknowledge of sence) của tri thức. Anh bửa củi đứng giữa rừng cảm tác thành thơ nhưng cảm thức đó là thức của vô-thức-thơ. Hiểu biết tới đó thì thơ tới đó; chớ không thể vượt qua tầm nhìn của tri thức. Hiếm khi mà nắm bắt được cái thức có trình độ. Dẫu có sở học chăng nữa nhưng ‘khí thế’ không phải con nhà tông thì nó cũng lộ ra trong thơ cái đặc chất đó. Suy xét như thế có tính chủ quan và phiến diện. Nhưng đi sâu vào vị thơ ít nhiều có cái chất thơ phản ảnh trong ấy: Nguyễn Bính là nhà thơ trữ tình nhưng nhìn sâu vẫn thấy được khí thế của con nhà thơ và nhiều nhà thơ khác cũng một trường hợp tương tợ cho nên thơ họ giàu là vậy. Thơ không đơn giản, Người ta chỉ liếc nhìn một đôi câu hay nhâm nhi cũng đủ thấy cái thực chất trong thơ một cách trọn vẹn. –Nothing simple. One glance, the repetition half aloud of a couple of verses sufficed (Hermann Hesse by On Poems)* .
Thượng đế cho mỗi người mỗi hồn khác nhau, mỗi mặt khác nhau nhưng phải biết phân bón, vun xới, điểm tô thì cái mầm đó mới phát tiết tinh anh; ngoại trừ thiên bẩm ngay cả hội họa cũng thế đều phải có hồn và thức. Dù có lột cho cạn cùng chất sắc đó nó vẫn còn nguyên trạng của tự nó (itself) trong thơ, trong tranh. Nói chung trên bình diện văn học nghệ thuật đều bao gồm một chất liệu của hồn và thức thời mới liên hợp vào nhau mới sáng tỏ ý và lời, nhất là nhu cầu của thơ. Văn thơ họa nhạc là tương thức.
Trở lại câu hỏi thơ là gì? Thơ là dạng tính của cõi phi. Thơ không là gì cả và chẳng có gì cả để đề xuất hay bình giải mà đi tới bí tỉ, sáo mòn, dẫn chứng lối cổ xưa không còn là hiện đại hóa (modernization) cho một nhận định hay phê bình về thơ. Thơ không đặc câu hỏi mà đã đặc câu hỏi thì không còn là thơ mà hoàn toàn phá vỡ hồn và khí thơ. Ngược lại; thơ là đặc quyền của cái gọi là bất khả tư nghị. Nói thế tất thơ đã khống chế một cái gì của riêng mình? Đành vậy; nhưng phải có tư duy thâm hậu chuyển hóa thành thơ thời mới mong có được ngữ điệu hay ngữ ngôn của thơ. Ở hoàn cảnh này không vì cõi phi mà phá ‘luật’ của giới hạn thơ. Thơ không đòi hỏi cầu kỳ mà đòi hỏi một cái gì như-nhiên trong suốt; có vướng lụy, phàm tục thơ cũng là trong suốt. Điển hình của hai nhà thơ đương đại Hàn Mạc Tử và Tố Hữu. Một chất thơ khoa học thơ và một chất thơ khoa học chánh trị thơ; thời xem cái nào là tồn lưu và cái nào là hủy diệt. Tuy nhiên; không vì quá lãng mạn mà làm cho thơ tắt nghẽn giữa dòng đời trôi chảy, thơ cần phải thông-hóa và không-hóa mới thành thơ. Đó là siêu lý của thơ có tính chất triết học, ngay cả trong thơ bình dân như ca dao, tục ngữ, hò vè đều hàm chứa một triết lý nhân sinh trong đó. Làm thơ là lấy cái tủy của thơ chớ đâu phải viết lên cái cảm thức đó là thành thơ của người thi sĩ. Ngày nay có nhiều nhà thơ đứng trên quan điểm đó; nghĩa là nhìn thấy mình nhiều hơn thấy người. Hẳn nhiên! Nhưng cần có một hòa đồng nhân thế thì thơ mới truyền lưu. Còn như thơ kể chuyện, thơ tự sự, thơ sức khoẻ, thơ ta bà, thơ thời sự vẫn cuộn vào đó cái hiện hữu chính mình, một ‘cái ta’ ẩn tàng trong đó. Thơ như thế khác chi lấy dao chém vào thơ. Kẻ bửa củi, thằng bé lên năm làm thơ là làm thơ. Lão Tử (Lao-Tzu) nói: ‘cho dù đất sét có thể nắn ra cái bình nhưng thực chất của cái bình là trống không’(though clay may be moulded into a vase; the essence of the vase is in the emptiness). Ngày nay thơ vượt bức tường âm thanh qua nhiều giới tính, phát huy qua nhiều thể loại khác nhau, phát sinh nhiều khuynh hướng: siêu thực, dã thú, đa đa, lập thể, thơ lắp, thơ sờ và thơ khối…, Chủ xướng giòng thi ca đương đại: tự do, không vần, thơ xuôi, hình thức, tân hình thức, thơ vô nghĩa và ngay cả thi ca trình diễn…Bất luận xây dựng dưới hình thức nào, thể cách nào. Mặc; ‘cái đặc quyền của cái nghề làm thơ là không cần phải chứng minh, không biện lý mà vẫn thu thập’ (J. M. Guyau) đó mới là thực chất của thơ.

Thơ thường là sự phơi mở hay bày tỏ một cái gì chất chứa trong tim; hầu như những nhà thơ trẻ muốn có một ‘thẩm quyết / verdict’ về cái gì mình muốn nói và muốn tìm đến nhà xuất bản để gởi gắm tâm hồn. Và; những thi sĩ trẻ luôn luôn muốn tạo ngạc nhiên và ‘ngộ’ được cái của mình. Có người; có kinh nghiệm do thiên phú hoặc họ thu lượm được từ bạn đồng song nếu không ấp ủ trong trứng nước của người mẹ họ -if not from their mother’s womb- nghĩa là sinh ra để làm thơ (born to poet). Miệt thị quá! có tài về thơ là một chuyện nhưng tài mà không trí (thức) thì cái đó gọi là thơ xuôi (plane); như đã nói ở trên phải song hành thì mới tuyệt xuất còn bằng không thi uổng công tạo hóa(!). Chân lý mà nói ở cái tuổi dậy thì đã chớm nảy ý thức yêu, đượm trong hồn một tinh thần lãng mạn của tự thức và từ đó xâm nhập vào tiềm thức cho tới khi kết tinh và linh hóa vào trạng huống của thơ và chính sự cớ đó đã chìm lắng vào tâm hồn ‘thi nhân’, do đó; ngàn bài thơ đều vướng tình, thể hiện dưới thể điệu khác nhau, đôi khi ngợi ca, đôi khi che giấu mà tưởng rằng khó có ai biết được nỗi lòng của mình, nhưng thơ tức là người; mà họ tưởng độc quyền trong cõi phi đó. Nếu tương phản được; thời đó là bài thơ hay, cảm hóa được, còn bằng không bài thơ đó không nhìn đó là thơ –if it resembled them; it was good , otherwise it was of no account.(Hermann Hesse / My Belief). Điều này không phải là mục đích càn dở. Nhưng ở đây chúng ta hướng đến nghệ thuật thi ca không những chỉ moi móc bài thơ dở để ‘vạch lá bắt sâu’ mà đào sâu vào cái lý của thơ; cái sự cớ này thường thấy ở những người làm thơ, ngoại trừ bài thơ đó làm ra cho chính họ mà mỗi đôi khi cái quan niệm đó hóa ra tầm thường không cần thiết phải làm, thế nhưng dòng chảy còn tồn tại và cứ nhìn mình là chính, là hay hơn người cho nên ‘posted’ được là nhu cầu của thi nhân. Và; dần dà nó trở thành thói quen (bad habit). Cho nên chuyện làm thơ không phải dễ và đơn giản, vì rằng thơ ai làm cũng được từ thượng vàng hạ cám nhưng phải nói một cách chân chính thơ có ba loại thơ: thơ có hồn, có chất thì gọi là nguồn thơ ‘lý tưởng’, loại này cực siêu để trở nên vô-ngôn-thơ còn hầu hết là loại thơ thường tình, phổ thông, đơn điệu có khi còn gọi là vô-thức-thơ. Có một vài sự cớ hiển lộ ở chính nó đưa tới mơ hồ tối nghĩa (nếu được coi là vô-nghĩa-thơ). Trường hợp như thế bài thơ trở nên tẻ, khô, héo và không có sinh khí; mà là một lỗ trống, như có cái gì bộc phá chống chế thơ.–it was at once boring, dry and lifeless; it was full of holes, something in the rebelled against it. Không chừng nhà thơ cho rằng nhận định như thế là thái độ không hợp thời trang (?). Một đôi khi sự cớ xẩy ra một cách đơn giản, ngẫu nhiên đối với người đọc cho là bài thơ dở và từ đó trở nên định kiến giữa tác phẩm và tác giả. Nhưng không lâu những gì cho là xấu (bad poems), đột nhiên tìm thấy mùi hương trong đó, một cái gì lạ lùng nhân thế, một cái gì hồn nhiên lạ, hiển lộ một cái gì dịu dàng và một cái gì lầm lở, sai sót đều được chạm tới một cách đặc biệt, bởi; tất cả là dấu hiệu thân ái, vui thích một lối bày tỏ trong thơ như một đối chiếu, so sánh của thuật ngữ thơ và làm cho bài thơ đẹp ý, đẹp tình. Gần như một lối chơi chữ có tính bông đùa mà nghe như bình thường. Sở dĩ có những dáng thơ như thế một phần chịu ảnh hưởng quá nhiều trào lưu tư tưởng mới; nhất là các khuynh hướng thơ, đó là nhu cầu đòi hỏi của thời đương đại, ngay cả những nhà thơ của những trường phái khác nhau. Những bài thơ nổi tiếng trước đây đều được coi là dòng thơ cổ điển và đứng sau trào lưu mới, gọi là tân thi ca (new-poetry) nó khống lĩnh toàn cầu để chế ra nhiều thể loại khác nhau. Thi vị hóa từ những nhà thơ trẻ, tâm hồn trẻ, sáng tạo một ngữ ngôn mới lạ, dù rằng đọc lên nghe ngủng ngẳng nhưng lại ăn hợp thời đại. Thi ca đó được gọi là thi ca đương đại, vấn đề của người làm thơ hôm nay là phá luật để tạo hiện tượng. Phỏng chừng như những gì họ sáng tác ra được là hợp tình, hợp lý. Ý thức chủ quan đã đánh đổ họ, nhưng không; đôi khi giòng thơ trẻ làm mới trong cách trình diễn mà không bắt gặp cái dở nằm trong thơ. Lý do dễ tìm thấy nguồn cơn cho một bài thơ: trải vào đó một vài cái không đều đặng như tiếng gào, tiếng dục, dáng điệu một tác động trong hồn sự sống như tìm cái thế phòng ngự cho chính nó hoặc để trở nên ý thức cho một cảm thức qua kinh nghiệm làm thơ. Có thể đó là một phát khởi từ tâm thức mà ra hoặc là chức năng quan trọng không còn là thơ mà là phán xét hay, dở của bài thơ. Có vô vàn ngẫu hứng thành thơ và có vô vàn lý do trong ngữ ngôn của thơ. Không có thi nhân nào hay hơn thi nhân nào, không có thi nhân nào là đúng hơn cả để yên vị vào đó –No one of them does better than the others, no one is more in the right than the rest (The Soul of Poems by Hermann Hesse).
Thời bây giờ; những bài thơ ‘đẹp’ tuồng như có nghi ngờ cái gì không thực trong đó và một cái gì lấn cấn trong đó, những thứ đó đã thuần hóa và thích nghi như chuyên môn và nghi thức.Và; tuồng như là thế giới riêng tư của nhà thơ, đỏm dáng tỏ ra hay chữ; cái đó hoàn toàn ngố ngáo đến người đọc và làm cho người ta nghĩ đến cái hay không còn nữa ở bài thơ đẹp (beautiful poems). Để rồi cùng nhau chấp thuận dễ dàng, tất cả thuần thục, tất cả giống như thân ruột, đăng đàn diễn tế một cách vô tư. Tư duy đó đứng lại ở người làm thơ, còn tư duy của người đọc là chạy cho tới khi đụng phải một vị thơ thực chất, trong sáng không chứa chất vị ngã. Chớ đừng nghĩ bài thơ xấu là dở; nó vẫn có cái tinh anh của nó .Từ đó người ta thấy cái đẹp trong cái xấu của thơ (beautiful ‘bad-poems’). Như thế không một bài thơ nào có thể cho là dở tệ. Cần phải chiêm nghiệm mới thấy được thơ. Ngay những bài thơ năm ba chữ là thể loại khó đúc kết, nếu chứa một bản ngã tự tại, vì; thơ hay văn mà có ‘cái đáng ghét’ trong đó thời thể loại đó coi như không phải là thơ. Loại đó chỉ là thể thơ trình diễn dưới một góc độ nào đó thôi. Bất luận là gì phải có hồn và thức mới kết duyên với thơ. Nhớ cho! Cảm hứng đưa tới thơ, chớ thơ không đưa tới cảm hứng. Thơ dễ cho mọi người nhưng thơ rất chướng khí và khó tính; được cái là giàu lòng vị tha. Ở điểm đó mà thơ mọc lên như cỏ. ‘Thượng đế đã sanh ra nhiều thi sĩ nhưng lại rất ít thơ’ (Charles Bukowski).

Giờ đây có một vài điều xẩy ra trong thơ với điều kiện giảm đi nỗi ưu tư, ràng buộc luật lệ hay cả nể mà cần buông thả để cho thơ được tự do, có thể đó là điều làm cho nhà thơ nhẹ nhõm tâm hồn cho mình và cho người khác, có thể là một linh động và một cảm thức trong thơ. Đó là một bài thơ đẹp! Dù cho đây là điều chắc chắn vô nghĩa (no means). Bài thơ ‘đẹp’ (ý và lời) làm cho nhà thơ yêu qúy, phẩm chất của thơ đã tạo được phần nào giá trị của thơ; đó là cái không cần phải chú ý đến ngọn nguồn thơ, thần thánh hóa hay vô tội của thơ; những thứ đó đi vào tâm của thi nhân bằng tất cả giác quan và ý thức, khêu gợi trong ký ức thâm sâu những gì khoái cảm tiền kiếp hay về một cõi xa mờ đã khuất. Vì thế thơ dở hay thơ hay chỉ đến trong một khoảnh khắc ngắn ngủi để rồi đánh giá một cách vội vàng. Vậy thì đọc thơ làm chi? Không một thi sĩ nào lại đi làm một hay nhiều bài thơ dở cho chính họ? Thử xem và sẽ thấy những dấu hiệu trong thơ dở. Nói cho ngay đôi khi trong cái dở nó đã làm cho mình thích thú, hơn là đọc những bài thơ hay có tính từ chương, qui luật vô hình trung tạo cảm giác lạ lùng, xa lạ không chừng lại chóng quên. Đứng trên lăng kính này không thể cho ta một định nghĩa xác quyết về thơ, trong hồn thơ nó bao hàm và chứa đựng cái ‘thánh thể’ ẩn tàng mà làm cho thi ca trở nên sinh động ngay cả bài thơ dở cũng có cái sinh động của nó. Cái sự diễn giải thơ tợ như diễn giải phim ảnh; nghĩa là có khúc cần phải giữ và có khúc cần phải cắt bỏ, cốt tạo một bố cục chặt chẽ. Tuy nhiên những bài thơ như thế vẫn liên hoàn. Cho nên chi dưới bất cứ dạng thơ nào đều có một giá trị tối thượng của nó. Phê bình thơ là một nhầm lẫn, là ‘tội ác’ đã khai chiến với thơ, nhưng cũng đừng vin vào thơ để tàn phá thơ; chỉ có những kẻ ngoại đạo đứng ngoài giáo đường thơ mới hành xử như thế, bởi; họ chưa đạt tới cái tinh anh hiển lộ trong thơ. Cũng không trách điều này vì thơ muôn vàn lý sự của nó. Nó có một cõi riêng, bởi; cái đẹp của thơ tạo nên cái nhìn khát vọng, tạo một vũ trụ thơ, vũ trụ của dự cuộc. Do đó thi ca có một quyền hạng tối hậu: bất khả thi và bất khả tư nghị. ‘thi thị khả giảng bất khả giảng chi gian’. Là thế đó!
Thi ca trong sáng và thực chất là thi ca thời thượng, qúy phái, trang trọng. Thơ siêu thoát là thơ không trói buộc, hệ lụy hay vị ngã mà trong đó phải có hồn và thức thời mới hòa hợp trọn vẹn lẫn ý và lời dù là thơ bình dân đi nữa. Thơ đời nào cũng vậy hay bất cứ trường phái, khuynh hướng nào, dưới mọi dạng thức trình diễn của thơ; việc yêu cầu tối thiểu là phải thoát tục và thực tướng của thơ thời mới thành thơ ./.

VÕ CÔNG LIÊM (ca.ab.yyc 17/8/2014)

* Hermann Hess (1877-1962) Văn thi sĩ Đức. Nobel Văn chương 1946.

TẢN MẠN VỀ KHỔ ĐAU VÀ VƯỢT THOÁT KHỔ ĐAU

tản văn PHẠM NGA

khodau 1

“Đời người là bể khổ!”, sống ở đời đã là người thì ai trong chúng ta cũng đều ít nhiều từng trải qua những kinh nghiệm hiển nhiên, rất cụ thể về khổ đau. Nguyên từ ‘khổ’ cùng từ ghép ‘khổ tâm’thường được dùng để biểu thị những tình trạng xấu, tiêu cực, thương tổn về tinh thần, cảm xúc, như khi bị mất người thân, mất tài sản, thất tình, thi rớt, bị đuổi việc, làm ăn thua lỗ, tù tội…; còn từ ‘đau’ cùng từ láy ‘đau đớn’ biểu thị nghiêng về tình trạng xấu, tiêu cực, thương tổn nơi thể xác hay cảm nhận giác quan do báo động ‘đau’ từ hệ thần kinh, như khi bị thương tích trên người, bệnh tật, đau nhức ở một bộ phận cơ thể, giải phẫu…
Tuy nhiên, như cả phương Tây cùng phương Đông đều công nhân, con người tức TÔI/CHỦ THỂ từ căn bản là một thực tại duy nhất/thống nhất, có 2 phần TÂM lý và THỂ lý hoạt động song hành nhịp nhàng, luôn hỗ tương, ảnh hưởng nhau. Ví dụ: nói “Tôi khổ vì cái khớp vai đau mãi” là chuẩn nhất theo quan điểm ‘Tâm thể lý song hành’nêu trên, cho thấy cái tôi chủ thể đã cảm nhận mình bị khổ (thương tổn tâm lý) khi khớp vai bị đau (thương tổn thể lý). Tương tự, trong ngôn ngữ văn chương một chút thì có từ ‘đau thương’ thật hay, bắt đầu bằng chữ ‘đau’nghe nghiêng về thể xác nhưng chữ ‘thương’ đi kèm đã cho thấy ngay là chủ thể ‘tôi’ đang bị thương tổn nhất định cả về tâm hồn lẫn thân xác. Còn nói: “Răng tôi đau” thì ai cùng hiểu, nhưng chính xác hơn nên nói là “Tôi đau răng”, theo nghĩa ‘Tôi đau ở răng’.
Cũng chính con người chúng ta, khi rơi vào khổ đau thì cái khổ cái đau dù nặng nề, chua xót đến mấy, ta luôn tìm cách này cách khác để vượt thoát thảm trạng một cách gần như phản xạ tự nhiên Đó cũng là biểu hiện của bản năng tự vệ/sinh tồn bẩm sinh của loài người, vốn trong cuộc sống đã không ngừng chống trả lại khổ đau mỗi khi các dạng khổ đau xảy đến như những mối nguy đe dọa hay đã trực tiếp xâm hại nhân cách tâm lý hay sức khỏe thể xác.

1.
Đời người là bể khổ mênh mông, đối lại thì con người cũng có những phương cách chủ quan rất đa dạng nhằm vượt thoát khổ đau. Thật đơn giản như chuyện một đứa bé bị ngã, người mẹ có mặt lúc đó sẽ ngay lập tức ra tay giúp con mình thoát ra khỏi cảm giác đau đớn và sợ hãi. Mỗi bà mẹ đều có cách riêng để dỗ dành con mình, người thì vừa vuốt xoa chỗ đau vừa dịu dàng trấn an: “Không sao đâu con à. Nè không đau, không đau nghe!”, người thì ôm con vào lòng, hôn lên chỗ đau, thủ thỉ: “Cục cưng của mẹ hết đau nhé!”; có người còn giả bộ đánh nhẹ lên mặt sân, cho con mình thấy là đã trừng phạt ‘thủ phạm’ vừa khiến nó ngã, rằng; “Chết mày nè, dám làm cu Tí đau hả? Chết mày nè!”.
Tương tự những bà mẹ cố gắng trấn an con mình, trong một số trường hợp gay go người viết bài này cùng đã cố gắng tự trấn tỉnh bằng niềm tin tôn giáo, điển hình như cái lần đầu tiên không-thể-nào-quên bị BS làm nội soi ruột già trong bênh viện. Lần đó, bởi không được hướng dẫn trước chu đáo nên tôi không biết yêu cầu nội soi có gây mê, cách này dù có tốn tiền hơn gấp 2.5 lần so với không gây mê đi nữa cũng rất đáng làm, bởi khi thấm thuốc mê, thiếp đi thì mình không thể cảm thấy đau đớn gì, coi như ngủ một giấc dậy mọi việc xong xuôi hết. Đằng này, tôi đã phải chịu đau đớn khủng khiếp khi BS đẩy cái ống nội soi dần dần vào sâu trong ruột già mình và đau đến toát mồ hôi, muốn xỉu khi ống quẹo ‘cua’.Tôi đã mấy lần báo “đau quá bác sĩ ơi!”nhưng ông này chỉ trấn an tôi: “Chú ráng chịu đau chút đi, sẽ xong nhanh đây!”. Tôi cũng có nghe cô y tá nói nhỏ: “Thôi BS cho tạm ngưng, chích cho ổng một mũi giảm đau đi, cho ổng đỡ đau chút”, vậy mà cái ông thầy thuốc khó thương kia không rõ vì lý do gì đã không đồng ý… Trong cơn đau tôi chợt buộc miệng niệm, niệm liên tục: “Nam mô cứu khổ cứu nạn Quan Thế Âm bồ tát” như đã từng niệm trong một số hoàn cảnh ngặt nghèo, sinh tử trong cuộc đời. Kết quả theo tôi nhớ là cảm giác đau đớn có giảm bớt đôi phẩn, giúp tôi đã có thể tiếp tục chịu đựng cái đau cho đến khi thủ thuật nội soi kết thúc.
Trong cơn khổ đau, nhiều người trong chúng ta còn tìm cách chuyển hướng tâm tưởng mình từ cơn phiền muộn tối tăm sang các ý tưởng, hồi tưởng tươi sáng hơn, như: vừa mất người thân thì ôn lại quãng thời gian cùng nhau gần gũi, cùng sinh hoạt thật hạnh phúc với người ấy trong gia đình; đang thất tình, bị cách trở thì nhớ lại các kỷ niệm vui vẻ, ngọt ngào với người ấy; đang thất thế, bị ‘đì’ ở nơi làm việc thì nhớ lại thời được cấp trên quí trọng, đồng nghiệp nể nang bởi công lao, thành tích của mình…
Có điều là trong trường hợp đau khổ vì tình, coi chừng bị phản ứng ngược khi hồi tưởng những kỷ niệm vui vầy bên người yêu. Làm như vậy có thể sẽ nguôi ngoai nhung nhớ phần nào, nhưng ngược lại, cũng có thể ‘khó sống’ hơn khi bị dội ngược vào cảm giác cô đơn, hiu quạnh không thể chịu nổi, nhất là khi còn phát sinh nghi ngờ, oán trách.
Nhân đây mới thấy vai trò ‘hai mặt’ tráo trở ghê gớm của óc tưởng tượng. Cũng chính quan năng tâm lý này có thể giúp kẻ thất tình hay bị tình yêu trắc trở tạm thoát khỏi khổ đau một khi chìm đắm trong hình ảnh tưởng tượng rằng mai mốt đây làm lành, tha hồ âu yếm vui vẻ bên nhau…; nhưng ngược lại, cùng chính óc tưởng tượng có thể vẽ vời, tô đậm, bi đát hóa thêm thảm kịch, chẳng hạn tưởng tượng người mình yêu giờ này đã bôi bạc, đang tay-trong-tay với người khác.
khodau 2Rồi trong nỗi khổ tâm vì bị thua thiệt, mất mát quyền lợi, địa vị hay bị làm nhục, khinh rẽ, xua đuổi…, người ta có thể tự an ủi, như nghĩ: “Nhìn lên không bằng ai, nhìn xuống không ai bằng mình” hay nghĩ cụ thể đến một người/những người thua kém hơn mình nhiều về mặt này/mặt khác, đáng lý họ phải khổ tâm nhưng thực tế họ vẫn cứ đang vui sống bình thường, vậy mình tiếc nuối làm gì nhừng danh vọng, địa vị vừa mất? Nhìn chung, người khổ tâm vì bị thua sút, mất mát quyền lợi, địa vị, có thể dễ tìm cách cứu vãn, dễ nghĩ ra cách giải quyết thảm trạng, khắc phục những thiệt hại mất mát hơn một khi họ chịu tự ‘phá giá đồng bạc’, bằng lòng với điều kiện, thân phận hiện có. “Cái số, cái mạng của mình như vậy mà! Đành chịu thôi!”. Lúc này, niềm tin vào tín ngưỡng, tôn giáo có dịp lên ngôi, và Trời, Phật, Chúa sẽ được con người khổ đau khẩn thiết kêu cầu như những thế lực vô hình, siêu nhiên sẽ đứng ra độ trì, giải cứu cho họ thoát ra khỏi nghịch cảnh, thảm cảnh gây khổ đau.
Đáng suy nghĩ là có người lại vượt thoát khổ đau bằng cách, dù thực tế thảm trạng vẫn diễn ra y nguyên thế nhưng họ vẫn như nhắm mắt phủ nhận (với chính mình) giá trị của nguồn cội hay tác nhân gây khổ đau cho họ – tâm lý này được gọi là ‘ngụy tín’, làm liên tưởng đến con đà điểu, giống chim có thói cứ gặp điều gì nguy hiểm đe dọa quá thì chỉ rúc đầu vào bụi rậm, không chạy trốn nữa, bởi đà điểu “nghĩ” rằng khi mình không thấy mối nguy bởi đã rúc đầu vào bụi thì mối nguy sẽ biến mất thôi! Còn trong vở kich dân gian Nghêu Sò Ốc Hến, có cảnh thầy bói Nghêu bị lính của quan huyện chận đường tra xét, đã tát tai lão thầy bói mù mà miệng lưỡi rất ranh ma, xiêng xỏ cay độc này, lão Nghêu vẫn cười gằn, bảo tên lính: “Mày đánh tao, tao không đau gì cả, mày mới đau vì khác gì mày đã đánh bố mày!”.
Đỉnh điểm của tâm lý khổ nhục còn khiến người ta không những ngụy tín ‘hạ giá’, khinh bỉ đối phương như lão Nghêu mà còn nung nấu ý định đồng thời vạch ra kế hoạch trả đũa, trả thù người gây khổ đau cho mình.Hay khi đã tuyệt vọng, họ lại mơ hồ muốn tự vẫn cho rồi, như thể tin rằng chỉ có cái chết mới giúp họ vượt thoát được mọi khổ đau.

3.
Trong cơn khổ đau, bên cạnh những phương cách vượt thoát chủ quan khởi phát từ nội tâm, con người còn có thể ngẫu nhiên được giải thoát khỏi khổ đau nhờ tác động ngoại tại. Ví dụ như cơn phiền muộn có thể dần hồi nguôi ngoai khi ngoại cảnh thiên nhiên xung quanh ta bỗng có biến đổi hay ho, tích cực, như: cơn mưa hay làn gió mát mẻ thổi qua, ánh trăng mơ màng ló dạng, tia nắng mặt trời chiếu đến thật rực rỡ… Ngay trong tâm trạng bình thường, ai ai cũng đều dễ chú ý và thích thú hình ảnh của bầu trời xanh ngát, ánh trăng mờ ảo, bãi biển cát trắng ngần… Lại càng thu hút và tăng thêm hiệu quả xoa dịu niềm đau khi trong những khung cảnh thơ mộng ấy còn vang vọng tiếng hát, tiếng đàn, tiếng chim hót, tiếng sáo diều, tiếng tụng kinh gõ mõ, tiếng mẹ ru con, tiểng suối chảy róc rách hay sóng vỗ rì rào… Có lần, trong một cơn khổ đau trầm kha, tôi tìm đến một quán cà phê thật vắng vẻ ngồi gặm nhấm nỗi niềm, chợt trong câu chuyên trao đổi của hai người lạ ngồi bàn bên cạnh có nhắc đến Nha Trang, đất quê hồn hậu mà đã mấy chục năm tôi không có dịp quay về. Tự nhiên họ nhắc đến một vài nơi chốn ở thành phố này xa xưa, vốn đã rất quen thuộc, thân thương từ thời tôi còn niên thiếu đến tuổi thành niên, như: bãi tắm ở khu ‘Thông tin’ nhìn ra, cà phê Hân gần rạp Tân Tân, vườn dừa bên Kim Bồng… Tôi mê mãi lắng nghe chuyện-của-người-ta mà như trong chốc lát chợt được thoát khỏi hiện tại đau buồn này mà quay về với một chặng quá khứ thật êm đềm, để rồi nỗi buồn đau lặng lẽ thối lui tự hồi nào không hay…

3.
Do con người chủ quan tự suy lý hay do ngoại cảnh khách quan tác động vào thảm cảnh, thân tâm con người đau khổ sẽ có những chuyển biến khác nhau, nhưng nhìn chung, tiếc rằng kết quả hồi phục tâm lý hiếm khi toàn vẹn, kể cả khi nguyên nhân, tác nhân gây khổ đau không tồn tại nữa.
Do cách này cách khác, nỗi khổ tâm hay đau đớn dần hồi có thể giảm nhẹ đi, tâm trạng từ quay cuồng trong khổ hận có thề từ từ thăng bằng, tức bình tĩnh trở lại, vết thương trên châu thân có thể lần hồi giảm đau hay gần như hết đau hẳn. Hay ngược lại, khổ tâm quá sâu nặng tất nhiên sẽ rất lâu nguôi ngoai hay vết thương trên thân thể quá trầm trọng sẽ lâu lành, cứ đau âm ỉ mãi thôi.
Hẳn là khi nỗi khổ đau đạt đến cao trào, người ta thường chuyển từ bi hận sang dửng dưng, lạnh lùng, trong lòng không còn niềm vui nỗi buồn nào. Vâng, đã cạn dòng nước mắt, như một ca khúc xưa của The Rolling Stones muốn nói rằng khi ấy người ta chỉ ngồi yên, thấm thía sự bất lực của mình – có giàu có cũng không đánh đổi được gì và chỉ còn muốn được nghe con trẻ hát hay tiếng mưa rơi…
My riches can’t buy everything
I want to hear the children sing
All I hear is the sound
Of rain falling on the ground .
(AS TEARS GO BY, The Rolling Stones 1966)
Thực tế đã cho thấy khổ đau tột độ có thể khiến con người hóa điên hóa dại, la hét gây náo động hay chạy rong phá phách; ngược lại họ cũng có thể im lìm, bất động, như tâm hồn họ chợt trống rỗng, tê dại, vắng bặt mọi cảm xúc, nghĩ suy, dù là cảm nghĩ tiêu cực (chán sống) hay tích cực (hy vọng). Không còn “sóng gió trong lòng” gì nữa nhưng lại là một kiểu bình an đáng sợ!
Nguyên khoảng hơn 20 năm trước, người viết bài này có một người bạn thân đã rơi vào tâm cảnh tối tăm khủng khiếp này. Thời ấy gia đình chị ngụ ở thành phố Vũng Tàu, chồng chị là Việt kiều Mỹ về nước mờ công ty thiết kế – xây dựng ngành cầu đường. Biến cố khủng khiếp đã xảy đến, anh bị kết án từ hình về tội tham nhũng trong công trình (liên doanh) làm tuyến đại lộ lớn nhất thời đó cho Vũng Tàu, còn tên cán bộ cao cấp vốn chính là đầu sỏ chủ mưu tham ô thì chỉ bị án chung thân. Nhận xác chồng bị bắn ở pháp trường về chôn cất xong, chị bạn đã không nói một tiếng nào suốt 2 tháng, có nghĩa khổ đau, uất hận đã khiến chị tắt nghẹn tiếng nói…

PHẠM NGA
(tháng 6-2020)

CÔNG LÝ CHO GEORGE FLOYD

Bác sĩ Nguyễn Tiến Cảnh

g floyd

Câu chuyện một người da đen như George Floyd bị chết vì cảnh sát không phải là lần đầu tiên xẩy ra trên đất Hoa Kỳ. Và việc đòi công lý cho nạn nhân bằng biểu tình rồi đi đến đập phá, đốt các cửa tiệm, cướp của, đốt xe cảnh sát, xe người thường và làm cản trở lưu thông, không cho nhân viên công lực thi hành nhiệm vụ đã và đang xẩy ra tại Minneapolis, nơi xẩy ra vụ chết người và trên hầu hết các thành phố lớn ở Hoa Kỳ cũng không phải là lần đầu tiên. Chính phủ đã phải dùng tới vệ binh quốc gia, và có thể cả quân đội để vãn hồi an ninh trật tự và bảo vệ sinh mạng cùng tài sản của người dân.

Đến hôm nay bạo động đã qua ngày thứ 7, chính gia đình nạn nhân ông G. Floyd đã phải kêu gọi biểu tình ôn hòa, không nên bạo động. Vậy thì tại sao lại có bạo động trong khi chính phía nạn nhân không muốn. Phải chăng có những kẻ muốn nhờ gió bẻ măng, lợi dụng cơ hội để đánh phá đối thủ của mình hầu đoạt phần thắng.

Chắc chắn chẳng ai dám nghĩ là chính quyền hiện tại, TT Trump lại tạo nên tình trạng rối loạn này. Vậy thì ai đây đã cố tình làm cho xã hội, đất nước Hoa Kỳ trở nên rối tung, khiến chính trị bất ổn, kinh tế sa sút, lòng người hoang mang…?

Người quan sát có lương tâm công chính và công bằng chắc có thể biết được ai là thủ phạm. Đối thủ của Trump hay ai khác? Nhưng chắc chắn những kẻ chủ mưu phá rối an ninh quốc gia, phá hoại tài sản nhà nước và của dân chúng là có tội và là kẻ thù của đất nước.

Mấy ngày gần đây, trên đường phố biểu tình / bạo động và trên truyền thông báo chí và truyền hình thấy xuất hiện danh từ ANTIFA. Vậy Antifa là gì?

Antifa là một phong trào chính trị đối kháng gồm những nhóm người tự phát có liên hệ với phe đối lập chống lại chủ nghĩa phát xít và những hình thức cực hữu cực đoan. Phong trào này ra đời vào thập niên 1940 tại Đức trong thời gian và ngay sau thế chiến 2. Antifa là chữ viết ngắn lại từ chữ Antifaschismus / anti-fascism hay antifaschistisch / anti-fascist.

‘Cuộc biểu tình hôm thứ bảy và chủ nhật đã được sự hỗ trợ bởi nhóm ANTIFA mà kẻ thù sinh tử của chúng là phe cực hữu’. Cảnh sát chìm trà trộn trong đám phá rối Antifa đã vồ được tại trận những tên biểu tình gây rối mặc đồ đen.

Nhóm Antifa này đã từng gây bạo động tại các khuôn viên trường đại học trên toàn quốc. Gần đây chúng đã chiếm các đường phố ở downtown Portland, CA và hiện đang trực tiếp gây rối giao thông. Antifa gồm nhiều nhánh rải rác khắp nơi. Chúng thường hành động theo chỉ thị trực tiếp. Ba thành viên Antifa đã bị bắt tại trận trong khi phá phách. Hôm thứ bảy, khi chúng đến hiện trường đã đến gặp đồng bọn để nhận lệnh, không ngờ đồng bọn này lại chính là nhân viên chìm giả dạng người biểu tình phe Antifa.

Trên TV chúng ta đã nhìn rõ giữa quang cảnh chiến đấu có liên hệ đến Antifa, cảnh sát bắt tại chỗ và đè ra còng tay những tên mặc đồ đen từ đầu xuống chân, lưng đeo túi.

Chính những thành viên Antifa và các tên liên hệ với chúng hiển nhiên là làm việc theo chủ đích của chúng. Lật đổ chính quyền, thay đổi nước Mỹ, hủy bỏ cả một hệ thống dân chủ tuyệt vời nhất thế giới. Người dân lương thiện chắc chắn không ai lại muốn đất nước xáo trộn.

Những người bạn da đen, nạn nhân của áp bức nên khôn ngoan, đừng để những kẻ gian lợi dụng xác chết của G. Floyd, nhân cơ hội nước đục béo cò, lợi dụng các bạn làm bàn đạp bước lên cho tư lợi phe nhóm của chúng. Chúng chẳng thương mến gì các bạn đâu, bởi lẽ ngay trước mắt, các bạn đã bị chúng bôi nhọ rồi đấy. Chúng đốt nhà cướp của, làm rối loạn xã hội rồi tai tiếng, tội lỗi các bạn lãnh. Các bạn là người thiệt thòi nhất cả về tinh thần lẫn vật chất.

VÀI LỜI KẾT

Giờ này không phải là lúc chúng ta chê trách Trump thế này thế nọ, như trốn xuống hầm trú ẩn. Nghĩ như vậy qủa là trẻ con, không phải tư cách của người lớn và có học. Vào địa vị mình gặp tình trạng rối tung như vậy thì làm sao khi mà tứ bề thọ địch. Trump đã công khai chính thức ra ngoài Tòa Bạch Ốc, đứng trên đường phố cùng với cả bộ tham mưu để nói chuyện với đồng bào và những người biểu tình. Ông yêu cầu biểu tình ôn hòa, không chấp nhận bạo động…. Ở hậu phương, đào ngũ không thể nói là ta tài giỏi, chiến đấu oai hùng! Hãy công bình mà nhận định rồi có thể thì góp ý xây dựng, bằng không biết thì nên yên lặng. Ngoài ra nên nhìn sự việc với tâm hồn ngay thẳng và công bằng công chính, không nên dựa quá nhiều vào báo chí nhất là trong những thời gian này. Buổi sáng tin tức thế này, buổi chiều lại khác. Ngay cả tin tức về khoa học / y khoa, hôm nay Dr Fauci nói thế này mai lại nói thế khác, nói chi những tin liên quan tới chính trị thời sự. Cứ nghĩ đến câu nói (quên mất tác giả): “Khi chính trị đi vào tòa án thì công lý đội nón ra đi” thì đủ biết. Tin vào báo chí thì có ngày đổ thóc giống ra ăn.

Trên đây, người viết chỉ nêu lên cái tổ chức / phong trào Antifa để làm bằng chứng và thí dụ về cuộc bạo loạn. Còn biết bao tên “ma đầu” ghét Trump nhảy vào ăn có hay nằm ngay trong đám Antifa, ai mà biết. Quí vị tự suy nghĩ.

Có ai ngờ đâu, chỉ cần lên xe bus và được chở đến một địa điểm chỉ định đốt phá hôi của rồi lảnh $200.00. Tại New York thì có một xe SUV xịn chở đến một nơi với cung cấp búa, dao kìm và chìa khóa mở cửa để thi hành công tác phá hoại….

Đòi hỏi công lý thì phải có công bằng. Không thể một chiều được.

Ít lời chia sẻ. Nếu có sai trái xin sửa chữa. Rất cám ơn

NTC

June 1, 20

CÓ NGƯỜI HỎI TÔI?

Phạm Phú Nam

flag america

Mấy ngày nay, bắt đầu bước vào thế giới facebook tôi mới có cơ hội đọc được nhiều suy nghĩ, mối quan tâm, và quan điểm của nhiều bạn hữu. Có người trong sự tín nhiệm hỏi, ý kiến của tôi ra sao?
Thật sự, tôi rùng mình khi nhìn thấy hình ảnh một viên cảnh sát da trắng có 3 đồng đội vũ khí đầy mình đứng cạnh mà vẫn cứ thản nhiên dùng đầu gối dí cổ một nghi can da đen không bạo động, mặt mũi bị dí sát mặt đường nhựa đầy đá vụn sắt nhọn, và dí sát cạnh một chiếc bánh xe hơi như sắp bị cán ngang, trong một thời gian khá dài gần 9 phút khi anh phải thì thào để nói một lời như van xin “I can’t breath”.
Dù là đứng trên góc độ nào chăng nữa, hình ảnh kể trên thật là một hình ảnh ghê rợn rất đáng lên án.
Da trắng và da đen ở Hoa Kỳ từ 300 năm qua đã luôn luôn là một vấn đề nóng hổi và hết sức nhạy cảm. Hình ảnh kể trên đã làm sống lại cả một lịch sử dài của đất nước này, nơi có người da trắng đày đọa nô lệ da đen hết sức tàn nhẫn nhưng cũng là nơi có người da trắng chấp nhận để 360,000 thanh niên con cháu họ phải chết trên các chiến trường đẫm máu trong cuộc nội chiến 1861-1865 để giải phóng người da đen.
Cũng ở đất nước này, là nước duy nhất trên thế giới mà mọi mầu da, mọi sắc tộc, mọi con người đều được bình đẳng, đều được tự do mưu cầu hạnh phúc cho riêng mình, và không hề bị đòi hỏi phải hy sinh ngược lại cho đất nước này. Vì thế, mới có Tổng Thống da đen Obama, có Đại Tướng da đen Tổng Tham Mưu Trưởng Quân Lực Hoa Kỳ Colin Powell, có Ngoại Trưởng da đen Condolezza Rice, hay có thần tượng bóng rổ da đen Michael Jordan, có đại biểu “black live matter” Colin Kaeparnick, có thần tượng ca nhạc Michael Jackson, hay có khuôn mặt truyền hình nữ tỷ phú da đen cả nước biết mặt biết tên Oprah Winfrey.
Những nhân vật da đen lừng danh hoàn vũ đó cần phải đứng lên làm nhân chứng sống thực cho một nước Mỹ bao dung đã hết sự kỳ thị từ rất lâu rồi.
Chúng ta cần phải liệt kê một danh sách còn rất dài những người da đen làm nên danh nghiệp vĩ đại như thế mới hiểu được đất nước chúng ta đang sống. Đúng, làm sao hết được tư tưởng kỳ thị trong mỗi con người, da trắng, da đen, da vàng, ..v..v.., và chúng ta nên tự hỏi một cách thành thật với chính mình rằng bản thân mình có chút máu kỳ thị không? Nhưng, nếu có, cũng chỉ là một cá nhân kỳ thị, và nếu có nhiều hơn, cũng chỉ là một nhóm như tổ chức KKK kỳ thị trắng đen. Còn cả nước Mỹ hiện nay, từ ngôn ngữ, văn hóa đến luật pháp, hoàn toàn không có sự kỳ thị trong đó.
Khi chúng ta vẫn kêu gào rằng nước Mỹ có da trắng kỳ thị da đen là chúng ta chưa học hết lịch sử Hoa Kỳ. Người da trắng là nhân tố chính trong mọi cuộc tranh đấu chống kỳ thị.
Khi chúng ta nói rằng nước Mỹ không công bằng, đối xử không tốt với người thiểu số, chúng ta đã phớt lờ đi biết bao phúc lợi mà chúng ta đang được hưởng- ngay từ ngày mới đến Mỹ đã có cash assistance, food stamps, medical cho cả toàn gia đình con cháu, đi học được miễn học phí còn mang được tiền về ăn tiêu như ý muốn, sau 5 năm được vào công dân quyền lợi chính trị như mọi người Mỹ trắng khác, được bảo lãnh cả đại gia đình sang Mỹ, tự do ăn, học, vui chơi theo ý thích, và được quyền chửi bới tổng thống hay ngay cả đốt cờ Mỹ công khai cũng chẳng ai bắt bớ. Khi vui chơi, chúng ta có phất cờ Việt, cờ Mễ, hay ngay cả cờ Iran, nước Mỹ cũng có làm gì chúng ta đâu.
Lên án nước Mỹ kỳ thị là chúng ta quên lời thề nguyền trong tâm khảm khi còn đang lang thang làm con người vô tổ quốc trong các trại tị nạn, từng chỉ có một lời cầu xin duy nhất được nước Mỹ đón nhận mà thôi.
Nước Mỹ với những chính sách xã hội welfare, chính sách giáo dục ưu đãi người nghèo và thiểu số, chính sách nhân quyền nhân phẩm, không nước nào sánh bằng. Có người tị nạn Việt Nam chăm chỉ làm việc nào mà nay không giàu có? Có người tị nạn Việt Nam cần mẫn học hành nào mà nay không là bác sĩ, kỹ sư, hay doanh gia tài giỏi? Vậy nếu chúng ta có nghèo khó thì cũng phải xin một lần nhìn lại tại sao chứ? Tại chính mình hay tại chính sách của nước Mỹ.
Nước Mỹ thật không toàn hảo nhưng chắc chắn nước Mỹ không phải địa ngục trần gian, nếu không nói rằng, nước Mỹ là thiên đàng trên thế giới hiện nay.
Khi nước Mỹ chọn ông Obama làm tổng thống, cũng có gần một nửa nước Mỹ không thích, nhưng vẫn phải tôn trọng. Nay nước Mỹ chọn ông Trump làm tổng thống, một nửa nước Mỹ rõ là không thích, nhưng cũng cần phải để cho ông ta làm việc.
Tổng thống Trump là một tổng thống tệ hại chăng? Có thể chứ. Tổng Thống Obama có phải là một tổng thống giỏi chăng, chưa chắc. Có nhiều sự kiện nhìn từ hai góc, đều khác nhau, có khi khác hoàn toàn. Và, hay hay dở, nước Mỹ cũng chỉ cho ông tổng thống 8 năm tối đa, và nước Mỹ vẫn vững tiến như thường.
Nếu một viên cảnh sát da trắng có máu kỳ thị làm sai, anh ta đã làm sai, nước Mỹ không tạo cơ hội cho anh ta kỳ thị người da đen bao giờ. Khi viên cảnh sát da trắng làm một chuyện sai trái dù cả thế giới thấy rõ như thế, nước Mỹ không thể lôi anh ta ra bắn, hay lôi ra đánh một trận nhừ từ được, bất kể cả nước 300 triệu người muốn anh ta phải chết, phải bị hành tội, nước Mỹ không thể làm chuyện như vậy.
Nước Mỹ có luật pháp và luật của nước Mỹ đang được thực thi qua từng thủ tục- tạm giam, tại ngoại, khởi tố, biện hộ, rồi mới nghị tội kết án bởi người dân qua định chế bồi thẩm đoàn. Luật của nước Mỹ phức tạp với một mục đích rõ rệt, bảo vệ nghi can để tránh kết tội lầm một người. Thà tha lầm hơn kết tội lầm.
Anh cảnh sát da trắng đó cũng như những người da đen phạm tội khác, đều nhờ vào luật của nước Mỹ mà không bị đem ra ném đá, chém đầu, treo cổ, đánh đập, hay bị nhục mạ khi dân chúng nổi giận.
Nhìn lại đoạn video hay hình ảnh anh cảnh sát da trắng đè cổ một người da đen, thật là một hình ảnh hãi hùng. Nhưng nếu quý vị hay các bạn hỏi, Ý kiến của tôi là xin quý vị cùng các bạn bình tĩnh, chỉ có vậy thôi. Bình tĩnh chờ công lý được thực thi.
Hãy tin tưởng vào đất nước của chúng ta, một quốc gia vĩ đại không vì dân số cao, không vì đất nước to rộng, cũng không vì thị trường chứng khoán, lại chẳng vì ông Bill Gate hay anh facebook Mark Zuckerberg, và chắc chắn không vì ngài Obama hay ngài Trump, mà vì tiền nhân, những người dựng nước, đã lập ra một hợp chủng quốc, da trắng, đen, vàng, đỏ, hay nâu, đều có thể sống chung trong hòa bình và thịnh vượng trên căn bản tôn trọng luật pháp.
Việt Nam ta hay nói, chén dĩa trong rổ còn va chạm kêu loảng xoảng, huống chi một đất nước có hơn 150 sắc dân chung đụng.
Cảm ơn quý vị và các bạn xa gần chịu đọc ý kiến này.
Phạm Phú Nam
(dansinhtelevision@yahoo.com)

KHOA HỌC VÀ TÔN GIÁO

VÕ CÔNG LIÊM

image002

TRANH VẼ VÕ CÔNG LIÊM : ‘Biến dạng / Metamorphosis’

Là hai lãnh vực thuộc lịch sử khoa học nhân văn (human sciences). Hầu như kinh nghiệm tuyệt vời nhất, chúng ta có thể coi là một sự bí truyền –The most beautiful experience we can have is the mysterious. Đó là điều xúc cảm trực tiếp, nó là cái mốc của thứ nghệ thuật sống thực (true art) và một thứ khoa học thực chứng (true science). Bất luận ai chưa một lần trải nghiệm về cuộc đời đang sống, có thể cho đó là chuyện thường tình chả có chi mới lạ lâu dài và cũng chẳng có chi là kinh ngạc trước một sự dũng cảm hay một hoàn cảnh đã xẩy ra : -chết tốt hay chết xấu /good dead or bad dead- sống chết trở nên bí mật cũng có thể là sáng tỏ, bởi; ngày nay sanh có ngày có tháng biết được và chết bất hạn kỳ không biết được; dẫu cho khoa học đã tìm thấy ở nó. Trong sự lẫn lộn giữa đau đớn và sợ hãi là khơi nguồn cảm tính phát sanh ra tôn giáo (that engendered religion). Khoa học và tôn giáo không còn bở ngỡ mà sự cố tự nhiên. Một đằng ra sức lùng kiếm, một đằng cho là cái họa mà con người gánh chịu. Cả hai phương diện đang đứng trước một tầm nhìn giữa cố vị và khai phá; người ta đang chứng thực những gì có tính chất nghệ thuật của trào lưu khoa học thực nghiệm. Thế nhưng giữa hai quan điểm đó nó đòi hỏi ở chúng ta một nhận biết về sự hiện hữu tồn lưu nhân thế, chúng ta không thể xuyên qua hay thâm nhập vào giữa lúc này một cách tự nhiên mà phải hội nhập để nhận ra đâu tà đâu chính, đâu phải đâu trái, cái đó chính là ý niệm cơ bản nhận thức của những gì có lý do sâu rộng với kết quả rực rỡ và tốt đẹp của hai chiều hướng mà chúng ta nhìn tới. Điểm nóng của thời đại mà chúng ta đang sống, không những chỉ dành cho công thức ngoại lệ hay hình thức toán học mà cần có từ trí tuệ của chúng ta. Với tôn giáo thì đây là một nhận thức hiểu biết và một linh cảm đặc biệt; đó là bản chất thực sự của tôn giáo: trong sự cảm nhận này và trong sự đơn phương này –it is this knowledge and this emotion that constitute true religiosity: in this sense and in this alone. Là hai nhân tố kết thành trong sinh vật học để đánh giá về mặt khoa học và tôn giáo; bày tỏ một chân lý tối hậu mà con người phải nhận nó như một chứng cứ sống động của thời đại. Tuy nhiên trong chứng cứ nào con người vẫn nghĩ rằng sự đó là cái ‘họa trời giáng’ cho những ai cả tin để tôn thờ / religiosity nhưng; đứng trên khiá cạnh chủ quan mà xét thì không thể tin rằng đó là ý Trời (Thượng đế) ban ơn hay hình phạt hoặc cho đây ý tốt để tìm thấy qua kinh nghiệm sống của con người. Với khoa học, nhất là khoa học hiện đại phủ nhận mọi sự lý xẫy ra bất cứ hoàn cảnh hay thời gian nào đều nằm trong phát triển mở mang (development) và dâng hiến (donation) là nghĩa vụ của con người đối với con người. Đó là qui trình chung để tiến hành cho hai phương diện khoa học và tôn giáo. Không những một người mà ngay cả tập thể rộng lớn đều cùng một nhận biết như nhau mà không một ai thoát khoải chu kỳ của ‘sanh lão bệnh tử’ đấy là nguyên nhân đưa tới sự sống và sự chết với nhiều lý do khác nhau: bởi; do linh hồn yếu đuối mà ra, có từ sợ hãi mà ra, hoặc có từ bản ngã ngu xuẩn (absurd egoism) mà ra, hoặc ôm ấp trong một suy tư ẩn tàn hay cố vị mà ra. Dữ kiện đó đã làm suy thoái tinh thần đến thể xác một cách nguy hại.
Từ chỗ đó cho chúng ta an tâm thỏa dạ với những gì là bí hiểm của vũ trụ vô biên, của những gì ẩn tàng của cuộc đời. Với nhận thức và với trải nghiệm củng cố của những thiết kế kỳ công đem lại một thế giới hiện hữu tồn lưu nhân thế, nghĩa là trong hợp tác xa hay gần đều đi tới nghĩa vụ chung trong việc thành lập hay xây dựng, đặc biệt khoa học thực nghiệm là yêu cầu cần thiết, bên cạnh những thiết bị khác với mục đích phục vụ để đem lại kết quả tốt nhất cho nhân loại, không còn coi là nghĩa vụ quốc gia mà là nghĩa vụ quốc tế là thái độ của con người đứng trước tình huống khẩn trương và góp phần để cùng nhau cọng hưởng với hiến dâng trọn vẹn của lý do và nguyên nhân ; một biểu lộ chính đáng ở tự nó trong lẽ tự nhiên. The Reason and Cause that manifests itself in nature. Thực hiện được chính là vai trò cần thiết của con người có ý thức trước hoàn cảnh; một con người có lương tâm chính đáng không bị tha hóa.
Vậy thì Tôn giáo và Khoa học làm gì để phù hợp hoàn cảnh giữa lúc này? Đòi hỏi của con người là thực thi hơn lý thuyết, dẫu có chứng minh như một sự kiện sống thực chăng; sự kiện này vẫn chưa hội đủ điều kiện ắt có và đủ để lãnh hội trọn vẹn trong khía cạnh tôn giáo và khoa học. Kinh điển một phần, công thức một phần, đòi hỏi chính đáng là nhập tâm để hoàn thành là thực chứng đi vào đời, bởi; như thế này: Mọi thứ mà con người đang chạy đua đã tới đích, ý nghĩ đó đưa đến một cảm giác sâu lắng tình người, làm vơi đi nỗi đau và sợ hãi. Con người phải củng cố trí năng nếu con người hiểu biết và mong muốn trong một tinh thần phát huy khả năng và phục vụ. Cảm nhận và mong muốn là động lực đứng sau tất cả nỗ lực của con người và sáng tạo của con người –Feeling and longing are the motive force behind all human endeavour and human creation; đó là những gì chúng ta cảm thấy được. Nhu cầu đó chính là chúng ta cần có người lãnh đạo: -tinh khiết và trách nhiệm- nghĩa là không vướng, không tham, không vọng tất cả yếm thế đó không phù hợp với lời yêu cầu. Chúng ta cần sự trong sáng và minh bạch trong tôn giáo và khoa học là một hợp tác song phương để dựng vào đó một thế giới đại đồng, tất chúng ta đi tới ý thức nhất thể không còn chứng tỏ hay theo luận cứ của phép nhị nguyên. Giờ đây; chỉ có một không có hai để đi tới hợp thông là đi tới nhất quán luận. Nghĩa là không lấy tôn giáo làm giáo điều và không lấy vũ trụ khoa học để chứng minh. Song phương là vai trò và nghĩa vụ của việc làm, bởi; Tôn giáo và Khoa học là ý nghĩ và niềm tin trong một cảm thức khôn ngoan của lời nói –to religious and science thought and belief in the widest sense of the words; Lời nói ấy mới sự thật chân chính để dựng nên cho lý thuyết đã được đề ra.
Như vậy chúng ta đã đi tới ý niệm liên quan của khoa học, còn đến với tôn giáo là điều rất khác biệt từ những gì thông thường về con người. Viễn cảnh đó là vấn đề có tính chất lịch sử. Khuynh hướng được nhìn tới giữa khoa học và tôn giáo là tương phản không thể hòa hợp được, đó là lý do minh bạch. Con người là người hết sức bén nhạy, uyên thâm, hiểu rõ và nhận biết những gì vận hành thuộc vũ trụ. Dĩ nhiên; cung cấp những gì lấy ra từ giả thuyết của luật nhân quả (law of causation) là điều xác thực và đúng đắng theo tư tưởng tôn giáo, nó không là lời nói đơn phương mà là trải nghiệm có từ nơi con người: giữa tốt và xấu; gần như định đề cố hữu không thể thay đổi mà là qui trình đối xử của con người. Thành ra khoa học và tôn giáo là hai mặt tâm lý xã hội, nó không còn là vai trò đơn phương; hai lãnh vực này tuy khác nhau nhưng trong cùng một mục đích ‘hòa giải’ giữa vật chất và tinh thần : -vật chất phải thực chứng đúng nhu cầu mong muốn, nhất là khoa học phải sáng tỏ: không pha, không chế, không giả tạo mà tác động là thái độ của nền khoa học văn minh.Với tôn giáo duy trì một tinh thần trong bóng: không vị, không tham và không-hóa để đi tới toàn thiện, toàn mỹ. Cả hai được nhìn nhận là tình thật (true-love) và mang tính chất thẩm mỹ (aesthetic). Đạt được nó tất chúng ta đạt tới một thẩm mỹ quan (conception) là ý niệm dành cho con người trong cùng một quan niệm của khoa học thực dụng và khoa học tôn giáo; có nghĩa rằng con người đã vượt ra khỏi ‘xích hóa’ tư tưởng, không còn phi thực, trong khi tôn giáo yêu cầu chân-thiện-mỹ để đi tới nhất thể của ‘giáo ngoại biệt truyền’ như đã nói ở trên là phát tâm. Tuy nhiên; sắc thái và ý nghĩa khác nhau ‘bất lập văn tự’ mà đòi hỏi ở đó một nhận thức hiểu biết (acknowledgment) để thực hiện những gì đã lãnh hội được một cách trung thực và hiệu quả đúng qui cách tu / tập ngày nay.
Thượng đế người đã ban ơn và trừng phạt là siêu lý không thể nghĩ tới, bởi; nó có cái vô hình nhưng hữu hình trong chức năng vô biên; đó là lý do giản đơn tác động vào tâm linh con người là điều cần thiết.Thế nhưng khoa học đã phải gánh chịu với những gì chưa định rõ ở đó là đạo đức luân lý –Science has therefore been charged with undermining morality, nhưng; sự gánh vác đó bất hợp pháp –but; the charge is unjust. Trên phương diện đạo đức luân lý của con người thứ phẩm hạnh có thể coi là cơ bản phù hợp: tôn giáo, giáo dục và xã hội là nhân tố kết hợp vào nhau. Cơ bản của tôn giáo đòi hỏi niềm tin hơn những thứ cần thiết khác. Như vậy con người thật tội nghiệp phải cam chịu nỗi sợ hãi của hình phạt và chỉ có niềm tin hy vọng được bù đắp sau cái chết. Khoa học không thực thi những điều ước ấy mà tác động vào sự thật như một hành vi đối xử của con người để đi tới cái chết ‘hạnh phúc’ hơn sống trong đau khổ. Vậy thì lấy gì để xác tín một cách sâu xa sự hợp lẽ của vũ trụ và sự gì để cảm thông –What a deep conviction of the rationality of the universe and what a yearning to understand. Nói ra như chất vấn nhưng đó là sự phản ảnh yếu ớt của trí tuệ, bộc lộ xung quanh một thế giời đa nghi và ngờ vực, bởi; chưa thực lòng tin. Với khoa học tin hay không tin là một thử thách để tìm kiếm trong một sáng tạo mới cho nhu cầu cần thiết. Tôn giáo là giáo điều, là đòi hỏi cố chấp, buộc tội hay được tha để tạo vào đó niềm tin mà xưa nay con người chấp nhận như một nhận lãnh làm người, nghĩa là luôn luôn có tội và luôn luôn được tha. Nhưng nhớ cho; Thượng đế không có luật điều đối với con người, bởi; con người là con cái của thượng- đế. Giữa Thượng đế và con người chỉ có lời răn để đi tới giác ngộ là dấu hiệu vĩnh cửu. Nói chung mọi thứ đều để tâm là yêu cầu cần thiết. Chỉ có Người hiến dâng cuộc đời trong hành động cuối cùng một cách giản đơn; một hiện thực chói lọi của cái chết là truyền đạt đầy cảm hứng và cho những gì của sức mạnh còn lại một cách trung thực; mặc dù đối đầu với vô số lỗi lầm gây ra. Chỉ có một thứ tôn giáo vũ trụ (cosmic religious) may ra chúng ta ý thức cái gì tạo ra sức mạnh (strength) vô biên. Từ đó con người mới nhận ra quyền năng của đấng vũ trụ. Đó là vấn đề đặc ra hôm nay giữa sống và chết, giữa tốt và xấu là hai mặt phân tâm có tính chất tâm thần (mental) hơn là bệnh lý (disease). Đứng trên phương diện khoa học y khoa cho đây là triệu chứng của xác và hồn trong mỗi con người của chúng ta. Đồng thời có người cho rằng lý lẽ ấy chưa hẳn phải là hợp pháp, cái đó nó nằm trong thời kỳ duy vật biện chứng của thời đại khoa học mà chúng ta đang sống và làm việc, nó chỉ nằm trong thâm sâu cùng cốc của những người mộ đạo mà thôi; chớ trên thực tế như lời Nietzsche nói: ‘Thượng đế đã chết / God is dead’ hoặc ‘không có Thượng đế / there is no God’ là lý luận phản đề đối với tôn giáo. Khoa học hiện đại không nhìn nhận sự có mặt hay không có mặt của thượng-đế và coi đó là mệnh lênh mà đó chỉ là mặc khải giữa con người và Thượng đế. Khoa học không có ‘luật điều im lặng’ mà bày tỏ thực chứng giữa khoa học xã hội và con người. Thành ra quan điểm để nhìn thấy của khoa học và tôn giáo là niềm tin chính đáng cho một tâm thức trong sáng.

Nietzsche phủ nhận thượng-đế đó là cái nhìn cảm tưởng / opinion , quan điểm đó chưa hẳn phải là một dữ kiện cả quyết và cũng không đợi Nietzsche nói tới sống còn hay đã chết của thượng-đế. Trong vũ trụ loài người đã nghĩ những gì như Nietzsche nói hôm nay. ‘sự sống còn của chủ chăn là tiêu chuẩn tối thượng / the survival of the herd is the ultimate standard’. Đó là lời rao cho một niềm tin có trách nhiệm với loài người, nhưng; trên thực tế mức độ đòi hỏi sự thật không vin vào cơ bản hợp lý của việc làm, mà đòi hỏi ở đó một nhận thức sâu đậm của nghĩa vụ: vai trò và trách nhiệm. Chẳng qua đó là lý luận căn bản phát xuất từ cảm tưởng, chớ thực tình trong lời chối bỏ vẫn còn có một niềm tin tiềm ẩn trong trí tuệ; cái đó gọi là nguồn gốc của trí tuệ hiện đại đã tìm thấy trong bước đầu ở tk. mười bảy và tk. mười tám những gì khám phá trong tư tưởng của khoa học, ngược lại thời điểm đó tôn giáo gần như đối đầu trước những biến động xã hội… Lúc này chính là bước đầu trong toán học vả khoa học tự nhiên (natural sciences) để sắp xếp lại ý chí của con người đang nhìn tới vũ trụ: là nơi sống / chết của con người. Thế hệ mới ngày nay đã tàn phá những việc đã làm (wrought-havoc) với mẫu thức tập truyền của xã hội và tư tưởng chậm tiến để lại, đều có một sự phản kháng chống trả tất cả những gì xưa cổ của khoa học và ngay cả tôn giáo với giáo điều đông cứng cục bộ; đấy là điều cho chúng ta khám phá thực hư của sự kiện trong kinh nghiệm tự do để mọi người có một cảm thức mới hơn (new sense) có mục đích. Lạc quan chắc chắn cho ta lớn dần trong những gì bi quan yếm thế. Trong lúc khoa học kỹ thuật là cuộc chạy đua hàng đầu để đi tới một kết quả không tưởng. Tôn giáo chủ nghĩa ở thế thụ động giữa thượng-đế và con người là bước đi tiệm tiến trong tiết điệu hài hòa của lòng tin, nhưng; có chắc rằng con đường đi tới la trực chỉ nhân tâm hay vẫn là thứ giáo điều chưa gặp gỡ?. Đấy là điều quan trọng để tìm thấy trong thời đại chúng ta đang sống ./.

VÕ CÔNG LIÊM (ca.ab.yyc .cuối tháng 5/2020)

ĐỌC THÊM: ‘Thượng đế đã chết Nietzsche’ của võcôngliêm hiện có trên một số báo mạng và giấy trong và ngoài nước hoặc email theo đ/c đã ghi.
TRANH VẼ: ‘Biến dạng / Metamorphosis’ Khổ 15” X 25”” Trên giấy cứng. Acrylics+house-paint+Mixed. Vcl#262017.

Hoang Tưởng Ngày Thiếu Nhi 1 – 6

Phạm Nga

1.
tre nam duongMột sáng chúa nhật, một anh bạn hẹn tôi uống cà phê gần cổng Nhà Thiếu nhi thành phố mà không phải chỗ nào khác vì trúng bữa anh phải đưa con đến đây học vẽ. Lâu rồi, từ hồi chưa xây tòa nhà mới thật hoành tráng thì cái trung tâm sinh hoạt lớn nhất thành phố  này vẫn đã dành riêng cho trẻ em đến vui chơi, học tập các môn có tính năng khiếu như hội hoạ, âm nhạc, võ thuật.v.v… Có một dạo, dù còn phải kiếm sống khá chật vật, tôi cũng ráng đưa con gái mình đến học vẽ trong dịp hè. Con bé thích học đàn dương cầm hơn nhưng học phí môn này thì cao mà phần thực tập, ngồi vào đàn thì khá ít ỏi. Đành tránh qua một bên môn chơi quí tộc này thôi!
Nắng đã lên cao, tôi dắt xe ra về thì tình cờ gặp một phụ nữ đang chờ rước con ở cổng. Chị cười, gật đầu khi cháu bé khoanh tay chào mẹ. Chợt chị ngăn con mình lại, nói nhỏ:
“Nè, con có thấy ông đứng ở gốc cây kia hôn? Mẹ con mình cũng khó nhưng ông còn đang khó hơn mình nữa con à. Ông không có con cháu nuôi dưỡng ở nhà nên già yếu như ngoại con rồi mà còn phải ra đường… Con thấy ông tội nghiệp hôn? Vậy thì con tới giúp ông đi há?”.
Chị đưa con một tờ 5000 đồng, chỉ về phía một cụ già ăn xin đang đứng, gần như ẩn núp ở một gốc cây to trên vỉa hè. Đứa bé ngoan ngoan “dạ”, đĩnh đạc bước đến trước mặt cụ già, nói lí nhí gì đó rồi hai tay kính cẩn đưa ra tờ bạc…
Tôi chợt cảm thấy xốn xang. Chị phụ nữ, với chiếc “cánh én” rách yên, bộ đồng phục công nhân chị đang mặc cũng không lành lặn gì, vậy mà không hiểu sao chị đã tránh dùng từ “nghèo”, chỉ dùng từ “khó” khi dạy con mình? Hay “nghèo” nghe có vẻ quá ức chế, như rất nhiều người nhất định cho là mình nghèo là do số mạng trói buộc, còn “khó’ thì có thể chỉ là tạm thời, còn có hy vọng vượt qua, như người ta vẫn thường vẫn an ủi nhau với cách nói “khó khăn trước mắt…”?
Nhưng dù đang thuộc phía người nghèo, chị phụ nữ khả kính vẫn dạy cho con mình – dạy cả cho tôi nữa, đã thầm lén chứng kiến nãy giờ – một bài học về lòng nhân ái, thói quen làm việc thiện, một cách tuyệt vời!
Rõ ràng điều đáng quí không phải ở số tiền cho mà ở cách cho, như em bé đã học được từ mẹ mình. Thật tình tôi không chắc là tôi, xuất thân nhà giáo – có thể cả cái bà phấn son lòe loẹt vừa dừng chiếc xe hơi bảng số xanh mới tinh hảo để rước cậu con béo phị – biết cách dạy con mình về lòng thương người bằng một phương pháp giản dị nhưng đầy tính thuyết phục như vậy.
Nhìn theo hai mẹ con người-tốt đi xa, tôi lại có một thắc mắc khác từ hình ảnh cụ già ăn xin.Trên vỉa hè vắng người đang có một thanh niên bày bán các loại báo chí trên mặt đất. Tôi mua đại một tờ rồi hỏi: “Chắc cháu đã bán ở đây lâu rồi hả? Có thấy dân ăn xin được vô trong nhà thiếu nhi không?”. Cậu ta vừa dáo dác nhìn về phía cuối đường – chắc sợ công an đến hốt – vừa đáp: “Dạ đâu có được, bảo vệ đuổi hết. Chỉ có người tàn tật bán vé số thì may ra, nhưng bữa nào đông các em quá thì cũng khó được cho vô…”. Tôi mới nhớ ra rằng trong cả tiếng đồng hồ ngồi cà phê, chuyện vãn với anh bạn vừa rồi trong căn-tin, đã không thấy bóng dáng người ăn xin nào. Hèn chi, lúc nãy cụ già cứ đứng hoài ở gốc cây bên ngoài nhà thiếu nhi, tưởng là cụ trốn nắng.
2.
Tôi chạy xe về phía dinh Thống Nhất thì bệnh “khó tiêu” nặng nề trong tâm tưởng lại tái phát. Đó là mấy em bé, không rõ là người Campuchia hay người dân tộc thiểu số nào khác, đang xin ăn quanh quẩn ở một ngã tư cách nhà thiếu nhi chừng ba, bốn trăm mét. Dưới nắng bụi, đứa nào cũng đen nhẻm, hôi hám, áo quần rách nát. Một đứa nhỏ xíu được chị nó bế trên tay thì ở truồng, mũi dãi lòng thòng. Tất cả đều thảm thương, tơi tả. Chỉ có mấy cái gáo nhựa, tô nhựa màu xanh màu đỏ mà các em đang chìa ra xin ăn là mới tinh, sáng lòa, nổi bật một cách kỳ cục, không hiểu nổi.
Dân thiểu số kéo về thành phố Sài Gòn xin ăn là một hình ảnh đã quá quen thuộc trước mắt mọi người, nhưng lòng tôi cứ bâng khuâng. Vừa rồi, tại nhà thiếu nhi, các em bé đứa nào đứa nấy trông cũng sạch sẽ, khoẻ mạnh, thậm chí béo phì – đúng là mẫu khách quí được chào đón, chăm sóc, dạy dỗ ở một tòa biệt thự đồ sộ, khang trang, thoáng mát. Hơn thế, hẳn để bảo vệ khung cảnh sang trọng của mình, nơi đây cấm cửa dân ăn xin.
Tôi tự hỏi: “Có thể suy đoán là do sợ mất trật tự, mất vệ sinh, mất cắp đồ đạc… nên Nhà thiếu nhi cấm dân ăn xin. Nhưng nếu người ăn xin là thiếu nhi thì sao? Nhà thiếu nhi là dành cho thiếu nhi cơ mà, và trong nội qui Nhà thiếu nhi đâu có điều khoản đặc biệt nào qui định việc cấm cửa thiếu-nhi-ăn-xin?”.
Rồi tôi mơ hồ cầu xin ai đó, rằng: “Thưa ban giám đốc Nhà thiếu nhi, nếu quý vị trả lời là chưa nghiên cứu về thiếu-nhi-ăn-xin thì xin quý vị cũng nên linh động, uyển chuyển mà cho phép…”. Một giọng lạnh giá bác ngay thỉnh cầu của tôi: “Không thể! Chức năng chúng tôi là đón nhận, phục vụ thiếu niên – nhi đồng vào sinh hoạt, nghĩa là vui chơi, tập luyện, nâng cao năng khiếu. Còn về phần các em ăn xin, nếu có vào đây cũng đâu có sinh hoạt gì mà chỉ có… xin ăn, nên không thuộc chức năng của Nhà thiếu nhi mà thuộc ngành thương binh – xã hội. Chỉ có một trường hợp duy nhất có thể được xem xét là, nếu các em ăn xin vào đây không phải để xin ăn mà là để sinh hoạt, tức phải giống các thiếu nhi khác khi đến đây…”.
Cắt! Tôi lập tức tự bật qua OFF.
Nãy giờ, mọi hỏi-đáp, thỉnh cầu gì đó chỉ là do tôi hoang tưởng nhưng tôi đã muốn điên lên thật sự vì cách lý giải dài dòng rất “công chức” của ai đó, cứ “sinh hoạt” rồi lại “xin ăn” rối tung cả lên. Nhưng tôi “cắt” không phải vì đã tỉnh cơn điên, mà vì… Trời hỡi! Có người bình thường nào mà tưởng tượng ra nổi chuyện một ngày nào đó, các em bé ăn xin dơ dáy, hôi hám kia quăng mấy cái gáo nhựa xin ăn để hiên ngang bước vào Nhà thiếu nhi, rồi đường bệ lựa chọn môn sinh hoạt – học tập, điền vào phiếu đăng ký, đóng tiền học, như học đàn piano, học hội họa, học múa ba-lê…? Con cái nhà lao động nghèo và cả một số gia đình trung lưu còn không dám mơ đến những môn “quý tộc” cao sang này nữa là!
Nhận trọng trách quản lý Nhà thiếu nhi, ban giám đốc khả kính của chúng ta – nhất định cũng là người bình thường, thì nhất định họ có yêu mến trẻ em, ít ra là theo chừng mực của bất cứ con-người-có-trái-tim nào khác trên đời này. Vậy làm sao quí ban giám đốc lại có thể giả định một trường hợp là “các em ăn xin vào đây không phải để xin ăn mà là để sinh hoạt”, hoàn toàn có thể khiến các em ăn xin nghe mà vô cùng tủi nhục?
Ngay điều giả định đầu tiên trong thỉnh cầu mê muội của tôi, là “Ban giám đốc linh động cho phép trẻ em ăn xin vào… xin ăn trong Nhà thiếu nhi!” thì đã là hoang tưởng rồi vì chuyện này may ra chỉ có thể có trong loại truyện cổ tích thời hiện đại dành viết về những ông tiên, bà tiên tự nhiên mà xuất hiện trong giới quan chức quản lý. 
3.
Tôi đã có phần tỉnh táo trở lại nhưng hoang tưởng trong tôi vẫn lì lợm, không-biết-tiếp-thu, vì nó nhất định “sinh hoạt” theo phạm trù cảm xúc mềm mại của riêng mình, chứ không theo cùng những phạm trù lý luận duy lý, duy hệ thống cứng ngắt, lạnh lùng của những nhà công chức chuyên nghiệp.
Hoang tưởng vừa xúi tôi trình ra một thỉnh cầu vớt vát: “Vậy thì vào ngày Quốc tế Thiếu Nhi hằng năm, như sắp tới ngày 1 tháng 6 rồi kìa, thì sao? Vâng, thưa ban giám đốc, đúng rồi, đó là ngày lễ lớn, tầm cỡ quốc tế, thuộc nguyên con vào chức năng của quí vị chứ không phải của ai khác. Ngày mà toàn thể nhân loại, đứng đầu là Liên Hợp Quốc, đồng loạt dành tất cả những gì tốt đẹp nhất trên đời này cho thiếu nhi, nhất là trẻ em thuộc các nước nghèo, đang phát triển như Việt Nam ta. Vậy ban giám đốc có hạ cố, uyển chuyển cho phép các em xin ăn vào Nhà thiếu nhi sinh hoạt, chung vui cùng với mọi thiếu niên – nhi đồng khác hay không? Xin một lần duy nhất này thôi cũng được. Hay quí vị cứ cho phép các em vô để “sinh hoạt” thôi, “xin ăn” thì vẫn cấm tiệt cũng được…”.
Cắt! Lại phải cắt.
Hoang tưởng ơi, nếu không thể làm khó dễ người khác chút nào đó thì cũng không nên làm khổ chính mình. Có điều này là dễ dàng nhất đây. Hãy tưởng tượng về đoạn đường từ cái ngã tư có các em bé ăn xin đến cổng Nhà thiếu nhi thì riêng đối với các em bé đang sống bên lề xã hội ấy, đoạn đường này không phải chỉ dài có vài trăm mét, mà phải dài tới bằng đường… lên trời! 
4.
Vừa rồi, từ chuyện chị phụ nữ nghèo dạy con làm việc thiện cho đến chuyện các em bé xin ăn, sống nhờ vào lòng từ thiện của mọi người, chuyện nào cũng khiến cho tôi xúc động sâu xa nên tôi rơi vào hoang tưởng. Buồn nhất là khi tôi “dựa hơi” ngày Quốc Tế Thiếu Nhi 1 tháng 6 để cầu xin ai đó một cách vô vọng.

Đúng ra, không cần ai phải dạy đời cho ai, cũng như không cần phải chờ đến ngày 1 tháng 6 hằng năm, chúng ta mới suy gẫm về cách dạy con trẻ về lòng nhân ái. Bao lâu trong cuộc sống vẫn còn những người lớn, những đứa trẻ vô cảm trước tình cảnh nghèo khó, khổ sở của người khác thì đó vẫn là một món nợ lớn lao, thuộc trách nhiệm của toàn xã hội và mỗi gia đình. Riêng về chuyện những em bé ăn xin thì vấn đề người lang thang, bụi đời, xin ăn.v.v…, ở mọi lứa tuổi và sắc tộc, trước hết là trách nhiệm, phần hành của ngành thương binh – xã hội. Tiếc là hiệu quả công tác của ngành này còn quá hạn chế nên trên đường phố còn quá nhiều dân ăn xin, lang thang đầu đường xó chợ.
Nhưng “Đừng tuyệt vọng, tôi ơi, đừng tuyệt vọng…” (Tôi tự biết mình còn có một cái tật khó ưa, hay bị bạn bè cười mà tha thứ cho, đó là thỉnh thoảng tôi cứ lấy nhạc Trịnh Công Sơn mà minh họa cho nỗi niềm của mình). Xung quanh ta vẫn còn nhiều điều tuyệt diệu để có thể sống và hy vọng vào cuộc đời.
Vào những dịp lễ Quốc tế Thiếu nhi, Tết Trung thu, Giáng sinh, Tết nguyên đán.v.v…, từ lâu đã có những nhà hảo tâm, những nhà hoạt động xã hội, những nhà tu hành, những chị tiểu thương ở các chợ, những thanh niên nam nữ tình nguyện trong nước hoặc đến từ những đất nước xa xôi, có cả những nhân viên – người Việt cùng người nước ngoài – của những công ty nước ngoài, liên doanh, tư nhân…, cả khách du lịch ba-lô nữa, họ chia nhau tìm đến những vĩa hè, những gầm cầu, những công viên trong thành phố. Tại những nơi tạm-trú-khỏi-đăng-ký này của dân lang thang, bụi đời, cơ nhỡ, những con người tốt bụng ấy đã tặng quà – chủ yếu là thức ăn và quần áo, giày dép – cho các trẻ em kém may mắn, không phân biệt dân thành phố, dân các tỉnh, người kinh, người Thượng gì cả. Giữa đêm tối – phải là đêm hôm khuya khoắc mới gặp đông đủ các em đi kiếm ăn trở về “nhà” – họ còn chơi trò chơi, kể chuyện, hò hát, hớt tóc, cắt móng tay, sứt ghẻ… cho các em. Và không chờ đến các dịp hè hay lễ tết, đã có những lớp học tình thương do những người tình nguyện mở ra, đôi khi ngay trên các vỉa hè thiếu ánh sáng, để dạy chữ, dạy nghề cho trẻ em bụi đời, cùng những hoạt động ngày càng mở rộng của những Nhà Mở , Làng Thiếu nhi SOS… do các tổ chức thiện nguyện nước ngoài thành lập và các cơ sở bảo trợ, nuôi dạy trẻ em nghèo, mồ côi, khuyết tật, cơ nhỡ của các vị sư, các nữ tu, nhà giáo về hưu… Đơn giản là họ chỉ biết ngày đêm hoạt động với mục tiêu “Tất cả vì thiếu nhi” mà không cần ai đó ghi cho thành tích nhì nhằng này nọ, rằng là tổ chức công hay tư, cá nhân hay tập thể, hoạt động thường xuyên hay nhất thời, do tiền túi riêng, tiền quyên góp hay tiền tài trợ.v.v…
Tất cả những việc làm của những người-tốt nói trên đều có ý nghĩa cao đẹp, ít nhiều đều góp phần cải thiện tình hình nghèo đói trong cộng đồng xã hội. Đó là cách mà những con người tốt kia đã làm, đã đến với các trẻ em nghèo khổ, lang thang.
Ngược lại, cái cách mà các em bé ăn xin có thể đến, có thể được bước vào một nơi chốn có treo bảng là dành riêng phục vụ trẻ em, thiếu niên – nhi đồng, thì vẫn chỉ là trò vẽ vời trong hoang tưởng vớ vẩn của riêng tôi…

Phạm Nga

ĐỌC “CHÂN DUNG TỰ HOA 34” CỦA LÊ THIÊN MINH KHOA.

Châu Thach

flowers
Thơ Lê Thiên Minh Khoa tự họa 34:
VÀ EM…
Và em.
Và tôi.
Và thơ.
Và lung linh rượu.
Và chờ đêm qua
Và Không.
Và Phật.
Và Ma.
Hội nhau trong cõi ta – bà
Rong chơi
Và em.
Và tôi.
Và ai.
Và trăm năm
Vẫn nhớ hoài ngàn năm
Và ngàn năm
Nhớ xa xăm
Và xa xăm nhớ lầm
Than kiếp người!…
Nhà sáng tác Đà Lạt – 8.2006
LÊ THIÊN MINH KHOA

Lời Bình: Châu Thạch

Có lần tôi đã viết một bài cảm nhận về “Thơ Ngắn Lạ Đời Lê Thiên Minh Khoa”. Ngoài những bài thơ ngắn lạ đời đó, nhà thơ Lê Thiên Minh khoa còn có nhiều bài thơ “Chân Dung Tự Họa” cũng rất lạ đời. Hôm nay tôi xin bàn đến một trong những bài thơ ấy. Đó là bài “Và Em..”

“Và Em…” là một bài thơ mà Lê Thiên Minh khoa không tự họa chân dung của khuôn mặt mình. Nhà thơ tự họa chân dung của tâm hồn mình. Đọc “Và Em…”, ai mến Khoa thì gọi nó là thơ, ai ghét khoa thì gọi nó không là thơ cũng được. Bởi vì “Và Em …” như lời vu vơ của một tên khùng. Ngược lại “Và Em…” cũng như lời cao vời của một thi nhân:

Và em.
Và tôi.
Và thơ.
Và lung linh rượu.
Và chờ đêm qua

Em, tôi, thơ và rượu được hòa điệu trong nhau là những thời khắc hạnh phúc tuyệt vời. Chữ “Và” cho ta cảm nhận sự hội ngộ của 4 nhân vật đem đến niềm vui trác tuyệt. Em là một nhân vật, tôi là một nhân vật, thơ và rượu ở đây cũng được nhân cách hóa thành hai nhân vật để đáng ra, cuộc vui tồn tại thâu đêm.
Thế nhưng lạ thay, nhà thơ xuống một câu thơ nghịch lý vô cùng: “Và chờ qua đêm”.

Chờ ai qua đêm và vì sao phải chờ qua đêm?

Đọc câu thơ nầy tôi bỏ bài thơ xuỗng. Không hiểu! Ngày hôm sau đọc lại câu thơ nầy, tôi lại bỏ bài thơ xuống. Không hiểu! Rồi bỗng một lúc nào đó, sáng tỏ bừng lên trong đầu tôi khi đọc tiếp khổ thơ thứ hai của Lê Thiên Minh Khoa:

Và Không.
Và Phật.
Và Ma.
Hội nhau trong cõi ta – bà
Rong chơi

Hóa ra “Và em, và tôi, và thơ” chỉ là chữ “Sắc” trong đạo Phật. “Sắc tức thị không, không tức thị sắc”, chữ “Sắc” nầy biến thành chữ “Không” ngay trong tâm hồn vô thường của nhà thơ: “Và không”

Hình như trong khổ thơ thứ nhất chỉ có rượu là thật, còn tất cả chỉ là ảo ảnh, ảo ảnh ấy diển biến trong tâm trí nhà thơ mà thôi. Nhà thơ đang cô đơn giữa cuộc đời, đang bơ vơ lạc lõng trong hố thẳm trí tuệ, đang mất định hướng về đời, về thơ, về tình và về chính bản thân mình.

Đi với linh hồn Lê Thiên Minh Khoa lúc ấy, ở trong đầu Lê Thiên Minh Khoa lúc ấy, không những chỉ có bóng em, bóng thơ mà còn có bóng ma và bóng Phật. Tất cả các bóng đó chập chọa, ẩn rồi hiện, có mà không, không mà có. Những hình bóng đó cùng Lê Thiên Minh Khoa “Hội nhau trong cõi ta-bà/ Rong chơi”. Đúng ra, tất cả những bóng ấy ám ảnh trong tâm hồn nhà thơ, đích thị là chân dung của “tâm hồn Lê Thiên Minh Khoa” đã tự họa cho mình. Một tâm hồn đang khắc khỏi với những nan đề của tình yêu và của tâm linh khó giải trong cuộc sống.

Đọc hai khổ thơ trên ta thấy nhà thơ Lê Thiên Minh Khoa không rong chơi bình an bao giờ. Tác giả mang nặng trong tâm tư mình sự dằn vặt, thắc mắc, chạy đi tìm kiếm nhiều sự thật còn mập mở. Nhà thơ đang đuổi theo những bóng chân lý về đời, về tình, về thơ, về đạo và về cái “tôi” của chính nhà thơ. Có lẽ nhà thơ chỉ có thể rong chơi được trong rượu để “chờ qua đêm”. Chờ qua đêm để trông mong hội ngộ cái chân lý mình tìm kiếm. Chân lý ấy như bóng ma, chỉ chập chờn trong tư duy mà chẳng bao giờ lộ diện nguyên hình để nhà thơ bắt được nó trong trí óc của mình. Bởi thế nhà thơ “Chờ qua đêm” và sẽ còn “Chờ qua đêm” mãi mãi…

Và khi hoài nghi trong đầu lên đến độ cao, thật và ảo làm mờ đôi mắt tuệ, nhà Lê Thiên Minh Khoa không đi tìm cứu cánh trong đạo, trong thiền để định được tâm linh mình. Nhà thơ đi tìm cứu cánh trong thơ và rượu thì dễ lắm tinh thần tẩu hỏa, cái nhìn trở nên bấn loạn:

Và em.
Và tôi.
Và ai.
Và trăm năm
Vẫn nhớ hoài ngàn năm

Bây giờ Lê Thiên Mình Khoa không biết em, không biết tôi, không biết cả thời gian dài hay ngắn. Khổ thơ cho ta thấy sự nghi ngờ, sự lẩn lộn xảy ra trong tâm hồn tác giả. Mọi sự nhà thơ dồn vào trong một chữ “Và”. Chữ “Và” đó chứa em, chứa tôi, chứa ai nữa không biết, chứa nỗi nhớ gì không biết, chỉ biết là nhớ 100 năm cho đến 1000 năm còn nhớ.

Sau phút loạn thị đôi mắt của tuệ, những tưởng nhà thơ tẩu hỏa vi căn thẳng tư duy trong rượu. Nhưng không, Lê Thiên Minh Khoa còn tỉnh táo để cho ta biết nỗi nhớ trăm năm, ngàn năm, hay chính ra, là nỗi nhớ trải qua bao kiếp người. Bao kiếp người ấy nhà thơ đã nhận chịu những nỗi đau vật chất và tinh thần phi lý:

Và ngàn năm
Nhớ xa xăm
Và xa xăm nhớ lầm
Than kiếp người!…

Hóa ra cũng chỉ là nhớ nỗi đau của “Khổ Đế”, một chân lý trong bốn chân lý mà Đức phật tìm ra dưới gốc cây bồ đề. Đức Phật tìm ra nguyên nhân của sự khổ, Ngài ngộ được nhưng Lê Thiên Minh Khoa không ngộ được. Nhà thơ có thấy chăng cái nguyên nhân đó, thì cũng như sự thấy của triệu triệu sinh linh trong cõi ta bà nầy, nghĩa là thấy mập mờ hình bóng mà thôi, thấy như thấy vầng trăng Đức Phật chỉ, nhưng nó ở ngàn vạn xa không bao giờ đến được.

Là một thi nhân còn trong cõi tục lụy, mang nỗi đau của kiếp nhân sinh, con tim nhạy cảm, rung động trước hoan lạc và trước nỗi buồn, tìềm tàng trong linh hồn mập mờ hình ảnh những nhánh sông đời trong tiền kiếp, nhà thơ Lê Thiên Minh Khoa bật lên trong thơ tiếng kêu của mình, như tiếng con nai vàng lạc trong rừng rậm. Nhà thơ tự họa bằng thơ chân dung của linh hồn mình, như một con thuyền bơ vơ trôi giữa hư và thực, kể cả ngọn hải đăng của đời, của Thiên Đường hay của địa ngục cũng không có. Em và tôi và ma và Phật, và trăm năm đều nằm trong ly rượu. đó là thứ đạo chân lý mà Lê Thiên Minh Khoa làm giáo chủ, để vơi đi nỗi nhớ xa xăm, để quên đi những bài toán khó của cuộc đời không giải được như thần linh, như ma quỷ ám ảnh nhà thơ mãi mãi ./.
Châu Thach

Ngày Chiến Sĩ

Nam Lộc

Ngày Chiến Sĩ Trận Vong và
“Những Người Lính Bị Bỏ Rơi”!

linh1
Vietnam Veterans Memorial Wall in Wash. DC

Hôm nay là ngày “Memorial Day” hay còn gọi là “Ngày Chiến Sĩ Trận Vong” ở Mỹ. Cả đất nước Hoa Kỳ hầu như đều chìm trong tiếng kèn thống thiết tưởng nhớ đến những chiến binh đã hy sinh trong cuộc chiến để bảo vệ quê hương của họ cùng thế giới tự do từ bao năm qua.

lunh2

Vietnam War Memorial in Westminster, California

Hình ảnh người dân Hoa Kỳ, kể cả tổng thống, các vị dân cử, thống đốc tiểu bang, cho đến các cựu quân nhân hay dân chúng Mỹ cặm cụi cắm những lá cờ nhỏ trên ngôi mộ của các tử sĩ của họ, chắc chắn ai trong chúng ta, những người Việt lưu vong, mà không khỏi chạnh lòng nghĩ đến sự hy sinh cao cả của các chiến sĩ QLVNCH, những người đã anh dũng chiến đấu bên cạnh “người bạn đồng minh”, để không những bảo vệ nền tự do dân chủ của miền Nam Việt Nam, mà còn giữ vững thành trì chống chủ nghĩa Cộng Sản mạnh mẽ nhất của thế giới tự do trong vùng Đông Nam Á, cho đến ngày họ bị…bỏ rơi!

linh3

Trong nỗi ngậm ngùi đó, tôi chợt nhớ đến bộ DVD “Những Người Lính Bị Bỏ Rơi” mà một số anh chị em nghệ sĩ chúng tôi vừa chung tay cùng đài SBTN thực hiện để tưởng nhớ và vinh danh QLVNCH, để chia sẻ niềm uất hận của những người lính bị bỏ rơi, và nhất là để tưởng niệm các tử sĩ VNCH đã hy sinh trong cuộc chiến.

linhban
Tường An và các bạn ở Pháp (May 25, 2020)

Đọc những bức điện thư từ khắp nơi trên thế giới gởi về cho chúng tôi và nhất là nhìn tấm hình mà chị Tường An và quý vị đồng hương ở Pháp phổ biến sáng nay, hay của anh Thắng Cảnh cùng cộng đồng người Việt ở Đan Mạnh, của BS Mỹ Lâm, chủ tịch Liên Hội Người Việt Tỵ Nạn tại Đức cùng nhóm thân hữu của chị Bích Thủy. Hội Cựu Quân Nhân VNCH Ontario cùng đồng hương ở Toronto, các thành viên của Phong Trào Giới Trẻ Thế Giới Vì Nhân Quyền, cộng đồng cùng đồng hương người Việt ở Úc Châu, ở Ý, Anh, Bỉ, Pháp, Na Uy, Thụy Điển, Đan Mạch, Hòa Lan, Canada, ngay cả tại Việt Nam. Hội Người Việt Calgary…, anh chị Dương Phục, đài Sài Gòn Radio Houston giúp phổ biến một cách vô vụ lợi và hăng say tại TB Texas v..v… Tất cả, tất cả, đối với tôi đều tiêu biểu cho hình ảnh của những lá cờ Vàng Ba Sọc Đỏ đang được những người Việt tỵ nạn âm thầm cắm trên mộ phần của những tử sĩ VNCH trong ngày Chiến Sĩ Trận Vong năm Quốc Hận thứ 45.

linh bo quen

Chiến Sĩ Trận Vong và “Những Người Lính Bị Bỏ Rơi”

Và cũng trong ngày “Memorial Day” hôm nay, tôi đã đem một bộ DVD “Những Người Lính Bị Bỏ Rơi” đến Tượng Đài Chiến Sĩ Việt Mỹ ở thành phố Westminster, California, xin đặt ở đó như một nén hương lòng, thay mặt cho tất cả các thân hữu cùng những người đã bỏ công thực hiện, đã tham dự, cũng như góp phần phổ biến hoặc trân trọng đón nhận, như một biểu tượng tri ân công lao cùng sự hy sinh của những người Lính VNCH qua hình ảnh và dòng nhạc của một tác phẩm nghệ thuật mang nhiều ý nghĩa nói trên.

linh tuong niem
Tưởng niệm ngày Chiến Sĩ Trận Vong, nhưng chúng ta đã không quên những người Lính bị bỏ rơi.

Nam Lộc
Westminster, California
May 25, 2020

CUỘC ĐỜI Và SỰ LỚN DẦN Của TRÍ TUỆ

VÕ CÔNG LIÊM

image001

TRANH VẼ VÕ CÔNG LIÊM : Người đội nón đen / Man with black hat..

Sự đó nghe qua như bài bản (test) cũ kỹ, chả phải mới, bởi; con người và thời gian là một trải nghiệm rộng rãi, nó phát ra từ suy tư để hình thành cho một văn bản, điều đó quả như thông thường cho một thế hệ đã qua –it was quite a generation ago giữa cuộc đời đang sống; một thiết kế dàn dựng để trở thành văn. Nói ra có tính triết lý: giả như văn bản gởi đi, thì sự đó như biết trước rằng nó sẽ biến mất và chắc chắn trong tiến trình nó sẽ không để lại những gì chứng minh cho sự việc;‘test’ trở nên lời nhắn gởi. Nhưng thực ra đó là một chuẩn bị qua kinh nghiệm thâu tóm để thành văn bản. Điều này là một thực hành thông thường và phổ biến qua những gì gây ra từ trí tuệ: của khôn ngoan hay ngu xuẩn. Thực tế nó chỉ là bài bản không cần thiết. Nhưng; đứng về mặc khác thì nó là một diễn trình của cuộc đời và sự lớn dần của trí tuệ -the Life and Growth of the Mind- trong mỗi con người khi hành động. Cho nên chi cuộc đời là một biến động dữ dội, nhưng trong tiến trình của lớn dần có khi tưởng tượng mà trở nên kỳ quái và không thực, trong khi chúng ta đang trực diện trước một hoàn cảnh thử thách, bởi; trong thử thách là đe dọa đến tính mệnh con người. Người ta thành lập hàng rào phòng thủ cho một bệnh lý tâm thần và thể xác; dựng vào đó những gì có tính cách ‘huyền thoại’. Nhưng; nó hẳn là không thực? –But is it actually so unreal? Chúng ta không nghĩ vậy. Bởi; thực chất của sự kiện vốn đã xẫy ra, những gì đã cảnh báo là quan tâm trước một hiện tượng liên đới giữa người với người. Nó đã trở thành văn bản hiện thực, nếu thực sự có mặt ở đó, thế nhưng; người ta vẫn theo đuổi và tìm hiểu nguồn cơn tự sự do đâu mà có và đến từ đâu, người ta phớt lờ về điều này mà ngấm ngầm trong phương hướng khác giữa kinh tế và chính trị; đấy là sự lớn dần có qui mô bên ngoài của sự lý. Một dữ kiện lạ lùng về trí tuệ của con người, mà sự kiện hoàn toàn khác lạ một cách đột ngột thấy rõ (sharply) có từ thân thể con người mà ra. Dấu hiệu khác cho thấy rằng những gì ở đây là định vị một cách chính xác việc tăng trưởng trong sự ngay thẳng để phát triển bén nhạy, khéo léo và thanh cao. Trên thực tế những thể xác của con người đã bắt đầu đi tới suy giảm bởi thời gian –in fact; many persons’ bodies have begun to deteriorate by that time.

Dẫu là gì trong tình thế biến đổi bất thường hoặc đứng trước một viễn cảnh suy thoái mà ảnh hưởng đến tinh thần và thể xác, nhưng không phải vì thế mà làm ‘cụt hứng’ trong tư thế phát triển; khoa học võ trang một thứ vũ khí mới để chinh phục, nhưng; nhớ cho điều này không có giới hạn để đưa tới một tổng số của sự lớn dần và phát triển; cái đó trí tuệ có thể chế ngự được –But there is no limit to the amount of growth and development; that the mind can sustain. Trí tuệ không thể ngưng phát tiết ở bất cứ tác nhân nào hay tuổi tác. –The mind does not stop growing at any particular age. Phát triển theo mức độ thời gian, chính vì thời gian đã đưa tới một tác động suy thoái / deterioration qua từng ngày tháng…
Trí tuệ có thể teo rút giống như cơ bắp; nếu nó không dùng tới hay vận động. Teo rút trí tuệ cơ bắp là hình phạt, là những gì chúng ta bỏ quên việc tôi luyện. Sự đó là chứng cứ của việc hao mòn trí tuệ là con bệnh cực kỳ ghê gớm –atrophy of the mind is a mortal disease. Cho nên chi ‘động não’ là một tác động thực hành cho cơ não (trí tuệ) được cân bằng, hấp thụ thứ ánh sáng mới đầy chất sáng tạo hơn.
Như đã giải ở trên, con người và thời gian là một trải nghiệm nó phát ra từ suy tư để thành văn bản, dữ kiện đó trở nên thông thường; bài bản không còn là sáng tạo mà nó đi qua kinh nghiệm thiết kế để thành văn, một lối hành văn thông thường không mang tính đặc thù trong khi viết về văn chương. Và; đây là hình phạt thê thảm –And; this is a terrible penalty; là một thứ bài bản, chả phải mới mà rút tiả để dàn dựng cho ra văn, một thứ văn chương gần như nhắn gởi hơn là lý giải, lấy chứng từ để chứng minh, sự đó làm hao mòn của trí tuệ -that atrophy of the mind- Bởi nó chỉ nói lên cuộc đời trong một hạn hẹp nào đó và sự lớn dần của trí tuệ gần như thói quen không thể là văn bản (text) chính thức. Thí dụ: văn nhân Trần Dụ Ân chuyên viết phóng sự hay ký sự thường mô tả những quan hệ bình thường của thi văn nhân là viết theo dạng ‘feuilleton’ của thời báo chí miền Nam giữa thập niên 1960; gần như tìm chuyện để viết thành văn qua từng loạt (serial) chớ chẳng phải là truyện /chuyện mà hóa ra ‘xe cán chó, chó cán xe’ là chuyện bình thường tợ như thông tin thời sự, nó chẳng đánh động như một dữ kiện mà là chuyện nghe qua rồi bỏ, bởi; giữa khách thể và chủ thể cùng một tâm trạng bi đát như nhau, nó không dính gì đến lịch sử của văn chương mà tuồng như chuyện đọc đêm khuya, hò ru con. Ký sự như thế mất tính nghệ thuật sáng tạo, vòng vo trong ao tù nước đọng. Tương tợ những trường hợp khác kéo dài cho tới ngày nay của những văn sĩ, thi sĩ quen tên thường xử dụng ‘bài bản’ phê bình thơ / văn trong lối diễn trình xưa cũ, rập khuôn của những tác giả thời tiền chiến và hậu tiền chiến; tất cả bài bản (test) trở thành văn nhắn gởi. Không tác động mà duy trì thứ văn, thơ cổ lỗ sĩ không đổi mới tư duy để tạo cái ‘matière’ vào đó!
Đấy là những gì đã ghi nhận được về sự sống hiện hữu của con người (human beings) và nó sẽ có thể là điều chính đáng khác biệt giữa trí năng khôn ngoan của con người (homo sapiens) và những loài động vật khác; cho dẫu đó là một thứ siêu vi (virus) đi chăng. Vậy thì những gì xẫy ra là khám phá mới của nhân loại, khám phá từ thể chất đến tinh thần, từ tập thể đến cộng đồng là ý thức tình nhân loại, là đối tác giữa khoan dung và hài hòa; dấu hiệu của sự lớn dần phát sinh từ ý thức của trí tuệ. Mỗi khi con người cần có bên nhau, không còn biên giới thời gian và không gian, không một đối tượng nào là cố hữu; sự lý này không là tâm trạng để vượt ra khỏi giai đọan trong sự phát triễn mở mang này. Nhưng đó là dấu hiệu tiên phong lớn lao hơn bao giờ, là tiến trình mang lại sự lớn dần của cuộc đời, lớn dần của trí tuệ. Cái đó gọi là hiện tượng dung thông giữa thần và xác; con người là một hiện hữu sống thực, xung quanh chúng ta trong cuộc sống hằng ngày là nguồn năng lực trợ vào nhau và coi đó là kỳ diệu, những ấn tượng đậm nét đó là trí tuệ của chúng ta làm nên hay không làm nên, nó dựa trên cơ sở nhận thức hiểu biết, dựa trên trình độ để thành thơ /văn là những gì phản ảnh trung thực. Giả như không hiểu lý thuyết về Nietzsche, quan điểm của Hermann Hesse thì không cần phải dẫn chứng một cách hàm hồ; vô hình chung lộ hẳn cái không thực của trí tuệ, đó là mấu chốt đưa tới ‘atrophy’ một cách trầm trọng và nguy hại đến sinh mệnh văn chương cho hôm nay và mai sau. Bất luận viết gì phải là thực chứng. Dẫu là ký sự đi chăng nó có một tác động đả thông hơn là tán dương một cách vu vơ. Nói cho ngay sự đó có một ít hoặc không có hiệu năng –Eventually; they have little or no effect. Từ đó suy ra cuộc đời và sự lớn dần của trí tuệ là đi theo nhịp bước của tiến trình trau dồi và thực hành để cho cơ bắp toàn thể (corpse) phát tiết một trí tuệ trong sáng và lưu lại một giá trị lâu dài giữa cách viết và đọc, nó không hao tổn tinh thần và thể xác, ngược lại tồn lưu nhân thế. Hai lãnh vực này là vai trò chính để thành hình cho một trí tuệ sáng suốt và độc lập trong tư duy hành văn.Có nghĩa rằng độc lập trong tự phát (spontaneous) có thể là hành vi đưa tới sáng tạo hơn những gì nhai lại hay rập khuôn, thời tất không cho đó là phát huy của cuộc đời đang sống và sự trưởng thành của trí tuệ, bởi; ước lệ chính là rào cản con đường đi tới phát triển, dù phát triển trong hạn hẹp cố hữu là đưa văn chương vào con đường bế tắt mà cuộc đời là biến đổi theo thời gian; văn chương song hành cùng nhịp thở là dấu vết của đổi mới tư duy. Có thể có một vài động lực của cấu tạo văn bản -Some dynamics of textuality- là điều kiện của từng con chữ trong văn bản hoàn toàn khác biệt từ khi phát thành lời (văn hay thơ). Viết thành lời là độc lập và đầy đủ ngữ cảnh của mạch văn trong những gì nói thành lời đến cùng trong một hiện hữu. Chữ nằm trong thế tự nhiên của nó, viết thành chữ là một phần của sự thật –the words in its natural, written word is a part of a real. Còn thốt (utterance) là một tỏ bày sống thực (không pha chế hay phiạ). Chữ luôn luôn bổ nghĩa cho một tổng thể tình trạng mà lại có nhiều nghĩa hơn cả lời nói (verbal). Chữ nghĩa không bao giờ xuất hiện đơn độc mà nằm trong ngữ cảnh giản đơn của những con chữ (words). Từ chỗ đó được đánh giá cao về mặt vật lý và tâm lý của dòng tư tưởng phát tiết từ trí tuệ bằng sự phân tích rút từ nhận định của não thức mà trong cơ (muscle) của não chính là cơ quan đầu não phát sinh ra trí tuệ. Thành ra cuộc đời song hành với sự lớn dần của thời gian mới cấu thành một trí tuệ độc đáo trong tư thế vững chãi.Là văn chương mới ngày nay.

-Khoảng cách -Độ chính xác -Lựa chọn cách viết -Văn phong chỉnh đốn: Là cấu trúc cách viết có ý thức –Writing restructures consciousness trong một khoảng cách (distance) mà cách viết có tính chất khai phá, mở mang một thể loại mới chính xác hơn (precision) trong lối diễn đạt hóa cách viết (grapholecy verbalization) để cho văn phong được chỉnh đốn (magnavocabularies) bằng cách di chuyển nó đi tới một nghĩa cử phong phú, nhưng; chao đảo, lộn xộn là sự thường có trong ngữ cảnh của mỗi khi thốt thành lời hoặc viết thành văn (như văn thi sĩ LTTV và nữ văn sĩ Mỹ Anais Nin) đã huỵch toẹt, phá rào , phơi mở cho thể loại văn chương dâm ô, tục tĩu không còn thấy ở đó một sự chọn lựa cách viết mà trong lối diễn đạt hóa cách viết, có thể hợp nhãn người yêu dục và không hợp nhãn người yêu đạo đức (giả) nó nằm trong ngoặc kép riêng tư; thế nhưng nó tỏ ra ở đó cái khoe khoang, bộc bạch chung của trí tuệ khôn ngoan, khéo léo, như lối kể chuyện hoặc vắn tắt như trong tục ngữ -can be impressive in their magniloquence and communal wisdom, as in formal narrative or brief, as in proverbs- của chính tác giả. Hẳn nhiên sự khôn ngoan trí tuệ phải là cái gì với một tổng số và sự tương quan dễ đổ gãy ở phạm vi xã hội –Yet wisdom has to do with a total and relatively infrangible social contex. Chuyện kể là vận dụng ngữ ngôn và tư tưởng không ghi chép cho một phân tích chính xác, gần như tự phát để thành văn, nhưng đây không phải là điều thông thường hay dễ dàng diễn đạt, nó có ‘chất xám’ đặc biệt nằm cuối của não bộ; cho nên chi cái sự bộc phát (spontaniousness) nó trở thành văn/thơ một cách tài tình và độc đáo; tục mà thanh. Dĩ nhiên; tất cả ngữ ngôn và tư duy là có mức độ phẩm trật của việc phân tích từ con chữ cho tới văn phong; cả hai nó cuộn vào nhau nên văn là ở chỗ đó. Viết hay kể nó đòi hỏi cái độ giao tiếp trong ngữ cảnh như đã dẫn. Nhưng nhớ cho viết từ con chữ để thành lời là một dẫn độ sắc bén và tế nhị của cá tính, là tạo ở chính mình một cái gì trong sáng: không yểu điệu thục nữ, không dương (facial expression), không cường điệu, không một nghe ngóng tin ai mà phải thấy trước, biết trước của ngữ thuật, tất cả có thể bao trùm cả ý nghĩa, chứng từ có thể có cho từng đối tượng trong mọi tình huống khác nhau. Cho nên chi viết ký sự không phải là phóng sự mà cô đọng một văn phong thoát tục giữa khách thể và chủ thể ký mới trở nên linh động và tích trữ ở đó một tâm hồn khách quan hơn chủ quan. Vì vậy ký-sự phải tách ra khỏi khách thể và chủ thể thì ký mới linh động và thoát tục bằng không như tự khoe mình giữa chủ thể và khách thể cùng một ‘trời lận đận’. Cốt tủy của viết là sáng tạo và độc lập là đưa văn chương tới đỉnh cao. Ký không gây chú ý lớn như truyện ngắn, truyện dài, tùy bút hay tản văn, ký chỉ giữ vai trò ‘kể chuyện’ ghi lại hoài niệm cũ mới (chronicle memory).Thoạt kỳ thủy tác nhân được kể đến trong ký dần dà chìm sâu vào quá khứ mà chỉ thấy tác giả ký-sự ở đó mà thôi. Buồn tệ!

Dĩ nhiên; mỗi lần bắt đầu đặc bút xuống viết là cảm thấy có một sự gì ngay thẳng, đúng đắng và phân giải sự lý một cách chính xác là đem lại bên trong một sự tự nhiên để cảm thông sâu đậm trong lời văn như lời phát biểu hiện thực. Dù cho tư tưởng của Plato đòi hỏi con chữ phải rõ ràng trong thể thức đối đáp; mới là đúng nghĩa đưa tới hiệu năng của viết lách trong sự tiến trình của trí năng (neotic), bởi; nói, viết hay thốt là trong ý thức để hành văn; ngay cả Socrates và Plato họ đã thừa hưởng một tổng thể hóa của chữ nghĩa: không cần lý giải, phân tích, thuyết minh qua một thể thức đối đáp mà tự nó đã giải thích để thành văn trong tác phẩm của văn chương trí tuệ -the works of a literate mind- như đã có.
Thế giới của trí năng (trí tuệ) đã mở cửa bằng một sự tái tục chính xác là một sự bày tỏ thấy được và một thông tin hết sức tương xứng đúng nghĩa của lời nói được miêu tả (verbal description), là những gì thuộc tâm lý có thực. Hiệu năng không những chỉ khoa học mà hiệu năng ngay trong văn chương đã có ./.

VÕ CÔNG LIÊM (ca.ab.yyc. 1/5/2020)

 

HOA HỒNG XANH VÀ LÁ DIÊU BÔNG

Nguyên Lạc

.
BÀI THƠ BLUE ROSES – HOA HỒNG XANH

hoa hong xanh
Hoa Hồng Xanh – Blue Roses là bài thơ của Rudyard Kipling, một văn thi sĩ người Anh.

I. Vài Hàng Tiểu Sử Rudyard Kipling
Joseph Rudyard Kipling (sinh tại Mumbai, Ấn Độ 30 tháng 12, 1865 – qua đời 18 tháng 1, 1936) là một trong những tác giả nổi tiếng nhất ở Vương quốc Anh, cả về văn xuôi và thơ, vào cuối thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 20. Rudyard Kipling đoạt giải Nobel Văn học năm 1907 – ông được trao giải Nobel khi mới 42 tuổi – là người trẻ tuổi nhất trong lịch sử giải Nobel Văn học.

 

 

Các tác phẩm tiêu biểu:
– Plain Tales from the Hills (Truyện kể núi đồi, 1887)
– The Jungle Book (Sách Rừng xanh, 1894), tập truyện – dựng thành phim
– The Five Nations (Năm dân tộc, 1903), thơ
– If (Nếu, 1910), thơ – Cuối thế kỷ XX, đài BBC đã đề nghị thính giả chọn những bài thơ hay nhất của các nhà thơ Anh, bài thơ này được chọn nhiều nhất.
– Đặc biệt bài thơ Blue Roses được rất nhiều người biết đến và thích. Có người cho nó thuộc về thơ “Siêu thực”. […”Chủ nghĩa/Trường phái Siêu thực (Surrealism) là khuynh hướng nghệ thuật bắt nguồn từ chủ nghĩa Tượng trưng và Phân tâm học, đặt phi lý tính lên trên lý tính. Chủ trương, khuynh hướng trường phái nầy nhằm giúp con người thoát ra khỏi mọi xiềng xích xã hội. Chủ nghĩa siêu thực cố gắng diễn tả tiềm thức bằng cách trình bày các vật thể và sự việc như được thấy trong những giấc mơ”…] (Nguồn Wikipedia)
.

II. Bài thơ Blue Roses

Xin giới thiệu đến các bạn bài thơ Blue Roses, theo tôi đầy cảm xúc, đánh động lòng người.
.
Nguyên tác:
Blue Roses
By Rudyard Kipling
.
Roses red and roses white
Plucked I for my love’s delight.
She would none of all my posies–
Bade me gather her blue roses.
.
Half the world I wandered through,
Seeking where such flowers grew.
Half the world unto my quest
Answered me with laugh and jest.
.
Home I came at wintertide,
But my silly love had died,
Seeking with her latest breath
Roses from the arms of Death.
.
It may be beyond the grave
She shall find what she would have.
Mine was but an idle quest–
Roses white and red are best
.

III. Ý nghĩa của hoa hồng xanh

Hoa hồng xanh tượng trưng cho những điều không thể thành hiện thực, hoặc không thể đạt được. Bởi hoa hồng xanh rất hiếm trong tự nhiên, nên nó đại diện cho điều gì đó hầu như không nằm trong tầm tay của con người, một giấc mơ không thể thực hiện.
.
IV. Dịch Thơ Blue Roses

Có nhiều người dịch bài thơ Blue Roses, sau đây là các bài dịch tiêu biểu:

1. Nguyễn Viết Thắng dịch:
.
Hoa hồng xanh
.
Tôi mang đến tặng em
Hoa hồng đỏ và trắng.
Không hiểu sao em bỗng
Nói em thích hồng xanh.
.
Tôi đi khắp thế gian
Tìm thứ hoa như vậy.
Nhưng người ta cười nói:
“Chẳng có ở trên trần”.
.
Tôi trở về mùa đông
Em của tôi đã chết
Em có còn nhận biết
Hoa từ tay Tử thần.
.
Biết đâu nơi suối vàng
Có loài hoa ao ước.
Chẳng có hoa nào đẹp
Bằng hoa cõi trần gian.
.
2. Trần Đức Phổ dịch:
.
Bông Hồng Xanh
.
Hoa hồng đỏ, hoa hồng trắng
Tôi hái trao tặng người thương
Vô tình nàng chê chẳng nhận
Đòi màu xanh biếc hoa hường!
.
Lang thang nửa vòng trái đất
Chẳng đâu mọc thứ hoa này
Hỏi tìm nửa vòng trái đất
Chỉ toàn cười mỉa, chua cay
.
Trở về trong mùa đông lạnh
Người yêu thơ dại qua đời
Nhìn nàng trút hơi thở cuối,
Tử thần cướp đóa hồng tôi!
.
Có lẽ bên kia thế giới
Nàng tìm thấy được niềm vui
Riêng tôi chân tình chẳng đổi
Hồng đỏ. hồng trắng tuyệt vời!
.
3. Nguyên Lạc phóng dịch
.
a. Vài ý riêng về dịch thơ nước ngoài:

Trước khi phóng dịch bài thơ, tôi xin ghi ra đây vài ý chủ quan:
– Dịch thơ từ tiếng nước ngoài, nhất là tiếng đa âm – các nước phương Tây, ra tiếng đơn âm – tiếng Việt; hoặc ngược lại, là một điều rất khó. Coi chừng “dịch là diệt”. Dịch chính xác từng mặt chữ – giống như các dịch giả chuyên nghiệp, thì bài thơ sẽ không mượt mà. Theo tôi, thi nhân chỉ cần nắm bắt được “hồn thơ”, dịch theo ngôn ngữ riêng của mình – với điều kiện đừng quá xa rời nguyên bản – thì bài thơ dịch sẽ mượt mà hơn.
– Tiêu biểu viêc nắm vững “hồn thơ” rồi dịch rẩt tài hoa là trường hợp Phan Huy Vịnh, dịch câu thơ chữ Hán của Bạch Cư Dị ra tiếng thuần Việt mà nhiều người cho là còn hay hơn câu nguyên tác:
Đồng thị thiên nhai luân lạc nhân => Cùng một lứa bên trời lận đận
– Với những điều nói trên, tôi sẽ không dịch chính xác theo mặt chữ một vài từ/ chữ, chỉ dịch thoát chúng theo ý/tứ câu/bài thơ.
Thí dụ: “The grave” không dịch là “mộ phần”, “nghĩa địa”, “chết” … mà dịch là “cõi khác”. Tương tợ, “Half the world” tôi không dịch là “nửa vòng trái đất”, mà dịch là “khắp cùng trái đất”, “khắp cùng thiên hạ” cho mạnh nghĩa, vân vân…
.
b. Phóng dịch bài thơ:
Tôi sẽ cố gắng nắm “hồn thơ”, theo sát nguyên tác để dịch bài thơ Blue Roses . Chủ quan, trong công việc dịch thuật văn thơ nước ngoài, ai cũng tham khảo các người dịch trước, tôi cũng không ngoại lệ.
Đúng ra bài thơ này có nhiều người dịch rồi, tôi không nên dịch; nhưng vì đồng ý với nhiều người cho rằng nó thuộc về thơ “Siêu thực”, và giống như bài thơ Việt Nam nhiều người yêu thích- đã được các nhạc sĩ tài hoa phổ nhạc : Lá Diêu Bông của thi sĩ Hoàng Cầm – nên tôi dịch lại.
Bài thơ hầu như là loại thơ 6 chữ, do đó theo chủ quan tôi, dịch thơ theo loại 5 chữ thì thiếu chữ, không diễn tả hết ý nguyên bản; còn dịch bằng 6/8, 7 hoặc 8 chữ … thì dư chữ và khó khăn. Tôi sẽ phóng dịch bằng thơ 6 chữ như thi sĩ Trần Đức Phổ.
Đây là bài phóng dịch thơ của tôi:
.
HOA HỒNG XANH
.
Hoa hồng trắng hoa hồng đỏ
Hái tặng làm vui tình nhân
Không phải màu hoa mong muốn
Nàng đòi xanh biển hoa hồng!
.
Lang thang khắp cùng trái đất
Tìm đâu được thứ hoa này
Hỏi tìm khắp cùng thiên hạ
Nhận toàn giễu cợt mỉa mai
.
Về đúng ngay lúc mùa đông
Ngây thơ yêu đang hấp hối
Tìm nàng thở hơi thở cuối
Hoa hồng trong tay Tử thần!
.
Có lẽ bên kia cõi khác
Nàng sẽ tìm được hồng xanh
Riêng tôi tấm lòng không khác
Trắng đỏ tuyệt nhất luôn dành
.

BÀI THƠ LÁ DIÊU BÔNG
.
Lá Diêu Bông là bài thơ của Hoàng Cầm, thi sĩ người Việt. Bài thơ Blue Roses – Hoa Hồng Xanh khiến ta liên tưởng đến bài thơ Lá Diêu Bông của thi sĩ Hoàng Cầm, vì cả hai đều nói đến sự truy tìm những điều không thể thành hiện thực.
Bài thơ Lá Diêu Bông viết về một câu chuyện có thật, câu chuyện về mối tình đầu tiên trong đời Hoàng Cầm với người con gái lớn tuối, đáng chị mình.
.
1. Tiểu sử Hoàng Cầm
Hoàng Cầm tên thật là Bùi Tằng Việt, sinh năm 1921 (một bài báo ở Saigon gần đây cho biết ông sinh vào năm 1922) tại Làng Lạc Thổ, Huyện Lang Tài, Phủ Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh trong một gia đình Nho Giáo. Hoàng Cầm học Tiểu Học tại Bắc Giang rồi lên Hà Nội học Trung Học và đậu Tú Tài II Pháp. Khi còn đang học lớp Ðệ Tứ, Hoàng Cầm phóng tác cuốn Graziella của Lamartine thành chuyện Việt Nam với tên Hận Ngày Xanh. Tiểu thuyết đầu tay của Hoàng Cầm là Thoi Mộng, viết vào năm 1943. Trở về Bắc Giang, dạy học tại trường La Clarté, Hoàng Cầm vẫn viết văn, làm thơ để gửi đăng trên các báo Tiểu Thuyết Thứ Năm, Tiểu Thuyết Thứ Bẩy. Anh là người dịch truyện Ba Tư Một Ngàn Ðêm Lẻ ra Việt ngữ… [Hoàng Cầm Trong Tôi – Phạm Duy]
.
2. Nguyên văn bài thơ
.
Lá Diêu Bông
.
Đứa nào/ tìm được lá diêu bông
Từ nay ta gọi là chồng.
Mùa Đông sau em tìm thấy lá
Chị lắc đầu/Trông nắng vãn bên sông
Ngày cưới chị/ Em tìm thấy lá
Chị cười xe chỉ ấm trôn kim
Chị ba con/ Em tìm thấy lá
Xoè tay phủ mặt chị không nhìn.
Từ thuở ấy/ Em cầm chiếc lá
Đi đầu non cuối bể/ Gió quê vi vút gọị
Diêu bông hời … ới Diêu bông!”.
(Hoàng Cầm)
.
3. Phổ nhạc bài thơ Lá Diêu Bông
– Năm 1984 bài thơ Lá Diêu Bông của Hoàng Cầm đã được nhạc sĩ Phạm Duy phổ nhac, cùng tên. Nội dung bài thơ được giữ nguyên, Phạm Duy chỉ thêm vào hai câu lục bát ở cuối bài:

Em đi trăm núi nghìn sông
Nào tìm thấy lá diêu bông bao giờ?

– Ngoài ra, khoảng năm 1990, nhạc sĩ Trần Tiến phổ lại nhạc với lời mới cho bài thơ này, bài hát mang âm hưởng dân ca Bắc bộ, lấy tên là “Sao em nỡ vội lấy chồng”.

Trích lời bài hát “Sao em nỡ vội lấy chồng” – Trần Tiến :
.
Bướm vàng đã đậu trái mù u rồi
Lấy chồng sớm làm gì, để lời ru thêm buồn
Ru em thời thiếu nữ xa xôi
Còn đâu bao đêm trăng thanh
Tát gàu sòng, vui bên anh
Ru em thời con gái kiêu sa
Em đố ai tìm được lá diêu bông
Em xin lấy làm chồng
. . .
Thương em tôi tìm được lá diêu bông
Sao em nỡ vội lấy chồng
Diêu bông hỡi diêu bông
Sao em nỡ vội lấy chồng!
.
4. Về lá diêu bông:
Lá diêu bông là lá gì ?
– Lá diêu bông (lá bông diêu thì đúng hơn) là thứ lá đặc biệt ở làng Ðình Bảng, Bắc Ninh, phụ nữ thời xưa thường vắt ra nước rồi bôi lên mặt cho da dẻ được hồng hào tươi đẹp – theo Phạm Duy
– Lá diêu bông được nhà thơ Hoàng Cầm giải thích rằng đó là lá của hoa phiêu diêu, hoa trong mộng tưởng. Tình yêu luôn đẹp và phiêu diêu như vậy.

***
Theo chủ quan của tác giả bài viết thì cả hai bài thơ đều hay, đầy cảm xúc. Vấn đề được nêu ra ở đây là:
– Những điều bản thân mình mong muốn mà “không thể trở thành hiện thực”, khi người mình thương yêu “vẫn hiện hữu” và người mình thương yêu đã bị “Thần Chết cướp đi”, cái nào thảm hơn cái nào?
.
Nguyên Lạc
……………….
Mời nghe:
– Lá Diêu Bông (Thơ Hoàng Cầm, nhạc Phạm Duy – Ý Lan hát)
https://www.youtube.com/watch?v=2mazKAw_vZQ
– Sao Em Nỡ Vội Lấy Chồng (Nhạc Trần Tiến – ca sĩ Tố My)
https://www.youtube.com/watch?v=QAyrm8jA_a8

“Tất cả các kỹ thuật viên phòng thí nghiệm Vũ Hán đã ᴄḣê’t

GS miễn dịch học Nhật Bản:

“Tất cả các kỹ thuật viên phòng thí nghiệm Vũ Hán đã ᴄḣê’t”

Giáo sư Tiến sĩ Tasuku Honjo:” Tôi đã làm việc 4 năm trong phòng thí nghiệm wuhan của Trung Quốc. Tôi hoàn toàn làm quen với tất cả các nhân viên của phòng thí nghiệm đó. Tôi đã gọi điện cho tất cả bọn họ, sau tai nạ.n Corona. nhưng, tất cả điện thoại của họ đã ch.ế.t trong 3 tháng qua. Bây giờ tất cả các kỹ thuật viên phòng thí nghiệm đã ch.ế.t.”
Nhật Bản, Giáo sư Tiến sĩ Tasuku Honjo, đã cảnh báo trước truyền thông ngày nay bằng cách nói rằng virus corona không phải là t.ự nhiên. “Nếu nó là tự nhiên, nó sẽ ảnh hưởng xấu đến toàn bộ thế giới như thế này. Theo bản chất, nhiệt độ là khác nhau ở các quốc gia khác nhau, nếu đó là tự nhiên, nó sẽ ảnh hưởng xấ.u đến những quốc gia có nhiệt độ tương đương với Trung Quốc. Thay vào đó, nó đang lan rộng ở một quốc gia như Thụy Sĩ, giống như cách nó lan rộng ở các khu vực sa mạc. Trong khi đó là tự nhiên, nó sẽ lan ra ở những nơi lạnh, nhưng ch.ế.t ở những nơi n.óng. Tôi đã thực hiện 40 năm nghiên cứ.u về động vật và virus. Nó không phải là t.ự nhiên. Nó được sản xuất và virus hoàn toàn nhân tạo. Tôi đã làm việc 4 năm trong phòng thí nghiệm Wuhan của Trung Quốc. Tôi hoàn toàn làm quen với tất cả các nhân viên của phòng thí nghiệm đó. Tôi đã gọi điện cho tất cả bọn họ, sau ta.i nạ.n Corona, nhưng, tất cả điện thoại của họ đã ch.ế.t trong 3 tháng qua. Bây giờ tất cả các kỹ thuật viên phòng thí nghiệm đã ch.ế.t.”

Honjo Tasuku (本庶 佑 Honjo Tasuku sinh ngày 27 tháng 1 năm 1942 tại Kyoto) là một nhà miễn dịch học người Nhật, được trao giải Nobel danh giá vì công trình khám phá của ông về protein PD-1
“Dựa trên tất cả kiến thức và nghiên cứ.u của tôi cho đến nay, tôi có thể nói điều này với sự t.ự tin 100% rằng Corona không t.ự nhiên. Nó không đến từ dơi. Trung Quốc đã sản xuất nó, nếu những gì tôi nói hôm nay được chứng minh là sai hoặc thậm chí sau khi tôi ch.ế.t, chính phủ có thể rút giải thưởng

Phòng thí nghiệm P4 tại Viện Virus học Vũ Hán ở Vũ Hán, tỉnh Hồ Bắc, Trung Quốc, vào ngày 17/4/2020. (Hector Retamal / AFP / Getty Images)
Honjo Tasuku (本庶 佑 Honjo Tasuku sinh ngày 27 tháng 1 năm 1942 tại Kyoto) là một nhà miễn dịch học người Nhật, được trao giải Nobel danh giá vì công trình khám phá của ông về protein PD-1. Ông cũng được biết đến với nhận dạng phân tử của các cytokine: IL-4 vàIL-5, cũng như phát hiện ra ACD, cần thiết cho sự tái tổ hợp chuyển đổi lớp và siêu độ.t biến.
Ông được bầu làm cộng tác viên nước ngoài của Viện Hàn lâm Khoa học Quốc gia Hoa Kỳ (2001), là thành viên của Học viện Khoa học Tự nhiên Đức Leopoldina (2003), và cũng là thành viên của Học viện Nhật Bản (2005). Năm 2018, ông và và James P. Allison được trao Giải Nobel Sinh lý học và Y khoa vì khám phá của họ trong điều trị u.n.g th.ư bằng phương thức sử dụng các tế bào miễn dịch để tấ.n công tế bào u.n.g th.ư. Ông và Allison cùng nhau đã giành được 2014 giải Tang thưởng khoa học sinh dược cho cùng một thành tích. Năm 2016, ông nhận Giải Khoa học Y khoa Keio Năm 2016, ông cũng được trao Giải khoa học Phục Đán-Zhongzhi Cũng năm 2016, ông được trao giải Thomson Reuters Citation Laureates . Năm 2017, ông nhận Giải Quỹ Warren Alpert
Honjo tốt nghiệp bác sỹ y khoa năm 1966, Đại học Kyoto, năm 1975, ông nhận bằng Tiến sĩ. trong Hóa học y tế dưới sự giám s.á.t của Yasutomi Nishizuka và Osamu Hayaishi.
Từ năm 1971 đến năm 1974, ông là giảng viên thỉnh giảng tại Khoa Phôi học, Viện Carnegie của Washington và Viện Sức khỏe Trẻ em và Phát triển Con người, Viện Y tế Quốc gia. Sau khi học tập tại Mỹ, ông là trợ lý giáo sư tại Khoa Y, Đại học Tokyo từ 1974 đến 1979, và là Giáo sư và Chủ tịch Khoa Di truyền, Trường Y, Đại học Osaka từ năm 1979 đến năm 1984.
Ông là thành viên của Hiệp hội miễn dịch học Nhật Bản và là Chủ tịch của nó từ năm 1999 đến năm 2000. Honjo cũng là một thành viên danh dự của Hiệp hội các nhà miễn dịch học Hoa Kỳ. Từ năm 1984, ông là giảng viên của Đại học Kyoto, và vào năm 2017, ông trở thành Phó Tổng giám đốc và Giáo sư xuất sắc của Học viện Cao học Kyoto (KUIAS).

MỖI NGÀY MỘT CA KHÚC TƯỞNG NIỆM 30 THÁNG TƯ

Nam Lộc

“Tự Do ơi tự do, tôi trả bằng nước mắt…!”

dicu 1

https://youtu.be/HEUHMGeJ5iE
(hình ảnh Sài Gòn “trong cơn hấp hối”, 30 tháng Tư, 1975)

dicu 2

Tôi bước đi, khi Sài Gòn trong cơn hấp hối…
Tôi bước đi, Tân Sơn Nhất lửa khói ngập trời…

Vâng, đó là những gì mà tôi đã trải qua và được ghi nhận lại trong nhạc phẩm “Xin Đời Một Nụ Cười”. Dù tôi chỉ đủ khả năng và nghị lực để viết được một cách khiêm nhường qua hai mươi dòng nhạc, nhưng phần nào đó đã diễn tả được hình ảnh của cuộc hành trình tìm tự do đầy máu và nước mắt mà dân tộc tôi, đồng bào tôi và gia đình tôi đã phải trả để đổi lấy hai chữ “Tự Do”!

Tôi bước đi, khu thương xá cửa khép cuộc đời…
…những con tầu ngơ ngác ra khơi!

Đâu ngờ rằng trên một trong những “con tầu ngơ ngác” đang chết máy đó có bố tôi, chen chúc cùng hàng ngàn người khác, đợi chờ trong tuyệt vọng để mong một phép lạ, cuối cùng điều đó đã xẩy ra. Tầu Trường Xuân đã đưa bố tôi cùng nhạc sĩ Lam Phương, bạn tôi anh Elvis Phương và hơn 5000 người khác đến được bến tự do.

di cu tau truong xuan
Tầu Trường Xuân tại cảng Sài Gòn ngày 30 tháng Tư, 1975

Ngày 30 tháng Tư năm ấy, 1975, tôi đang ngồi ở đảo Guam, nghe tin mất nước mà lòng sầu vô tận. Thuở đó không có cell phone như bây giờ nên chẳng biết gia đình sống chết ra sao? Bố Mẹ, anh chị em đang trôi dạt phương nào…? Mãi về sau mới biết ông Cụ tôi là người duy nhất trong gia đình thoát được, và phải đợi đến 2 năm sau, 1977 thì cậu em út của tôi, Nam Việt, tên sĩ quan trốn “học tập cải tạo”, mới cùng người anh là Nam Ninh, mong manh trên con thuyền nhỏ bé, phải gọi là chiếc ghe thì đúng hơn, vỏn vẹn có 7 người, không kinh nghiệm hải hành, nhưng họ đã quyết định liều chết để sống. Chẳng bao lâu, ghe hư máy lênh đênh trên biển cả, mấy ngày sau thì được tầu dầu Kuwait đến cứu và đem cả bọn vào đảo quốc nhỏ bé này tận miền Trung Đông xa xôi, nóng cháy da người. Và cũng từ những năm đó, hàng triệu người Việt đã lần lượt bỏ nước ra đi bằng đủ mọi cách, đủ mọi phương tiện, và đủ mọi hình thức. Chỉ nội gia đình tôi, tổng cộng 12 người, cùng mấy đứa cháu, đã phải mất hơn 11 lần vượt biển, vượt biên, vượt ngục và phải trải qua 9 quốc gia trên khắp 4 lục địa, ngoại trừ Úc Châu mới đến được bến bờ tự do!

Tôi bước đi, qua đường rừng chông gai, tăm tối…
Tôi bước đi, như con rết lê lết cuộc đời,
như thân bướm đôi cánh rã rời…

Đó là đoạn thứ hai của bài hát, tôi viết cho những người vượt biên bằng đường bộ, trong đó có hai cô em gái, dẫn hai đứa cháu còn nhỏ từ Sài Gòn, xuống Tây Ninh, vượt qua biên giới Cam Bốt. Hơn 10 ngày, 9 đêm đi bộ trong rừng thẳm mới đến được trại tỵ nạn Thái Lan. Sau này còn biết thêm, nhạc sĩ Trúc Hồ cũng là một trong số những “bộ nhân” vào thời điểm đó.

Tôi nép thân trên mảnh thuyền mong manh, sương gió,
Như một người tìm đường về nơi đáy mồ…

Đoạn thứ ba tôi viết cho những thuyền nhân, mà đa số anh chị em của chúng tôi cùng hàng triệu người khác đã dùng phương tiện đầy hiểm nguy này để vượt biển tìm tự do. Tôi còn nhớ, chỉ riêng năm 1979 thôi, nước Mỹ đã nhận hơn 200 ngàn người tỵ nạn VN đến định cư tại HK.

di cu he thong
Thống kê thuyền nhân tỵ nạn Việt Nam của UNHCR

Nhưng dù ra đi bằng cách nào chăng nữa, như chúng tôi, thời điểm 1975, như các thuyền nhân, đường bộ hay đường bay của những vị tù nhân cải tạo, đến HK muộn màng qua diện HO, hoặc gần đầy nhất là các tù nhân lương tâm v..v.., thì người Việt tỵ nạn đã hãnh diện gởi đến cho toàn thế giới một thông điệp mạnh mẽ về lòng quyết tâm và yêu chuộng tự do, dân chủ của chúng ta.

Tự do ơi tự do! Tôi trả bằng nước mắt,
Tự do hỡi tự do! Anh trao bằng máu xương.
Tự do ơi tự do! Em đổi bằng thân xác,
Vì hai chữ tự do, ta mang đời lưu vong.

Và đó là tất cả những tâm huyết tôi đặt vào ca khúc “Xin Đời Một Nụ Cười” cùng những bài hát khác mà tôi đã mạo muội chia sẻ cùng qúy vị và các bạn trong mấy ngày qua. Có một chiến hữu, trung úy Sơn “Lai Khê” của Sư Đoàn 5 Bộ Binh đã viết một bài liên quan đến những sáng tác về tỵ nạn của tôi và ông gọi tôi là “người nhạc sĩ của tháng Tư”. Điều đó không sai, quả thật, nếu không có biến cố 30 tháng Tư, 1975, thì có lẽ tôi sẽ chẳng bao giờ trở thành…“nhạc sĩ”. Nếu không có những khổ đau, gian truân, tủi nhục mà thân phận người tỵ nạn đã phải trải qua và chịu đựng, thi sẽ không bao giờ Sài Gòn Ơi, Vĩnh Biệt, Người Di Tản Buồn, hay Xin Đời Một Nụ Cười được thành hình. Những bài hát này tôi viết cho chính bản thân tôi, cho gia đình tôi, cho đồng bào tôi và cho dân tộc tôi. Vì thế ai cũng có thể sử dụng được mà không phải trả tiền, bản quyền là của quê hương, đất nước. Tôi đã để lại di chúc cho các con, các cháu để chúng hiểu và thực hiện những ý nguyện đó của tôi nếu mai này tôi ra đi.

di cu sinh vien
Sinh viên tỵ nạn Việt Nam tại đại học YALE

Tôi hãnh diện với thế hệ trẻ ngày nay mà quý vị và chúng tôi, lớp người đi trước đã hy sinh để cho chúng trưởng thành và hiểu biết. Các cháu đã thành nhân, thành những người hữu dụng của xã hội tại khắp các quốc gia tự do trên thế giới đã đón nhận chúng ta. Những giờ phút lao động vất vả mà chúng ta đã trải qua, giọt mồ hôi của người thợ sửa xe hay người đứng đổ săng, giọt nước mắt của người lao công hay đứng chùi cầu. Những người thợ dũa móng tay, những tài xế taxi, dọn giường trong khách sạn hay chạy bàn ở nhà hàng v..v.., họ đã dùng đồng tiền mồ hôi nước mắt đó để nuôi nấng bầy con, lũ cháu ăn học thành tài. Và bây giờ chúng sẽ là những nhân tố đóng góp tích cực vào xã hội và các quốc gia mà chúng ta đang tạm dung. Con cháu chúng ta sẽ mãi mãi và muôn đời trả những món nợ ân tình mà các chính phủ cùng những người bảo trợ tốt bụng năm xưa đã giúp đỡ và cưu mang ông bà, cha mẹ của chúng. Viết đến đây, tôi lại nhớ đến câu nói của ký giả George Will trên tuần báo Newsweek năm 2007, viết về một phụ nữ VN đã có những đóng góp tốt đẹp cho đất nước Hoa Kỳ, ông nói “Cám ơn cô đã trả món nợ mà cô nói cô nợ của nước Mỹ. Cô đã hoàn trả đầy đủ, không thiếu một xu nào, lại còn luôn cả tiền lời nữa…….”!

di cu sinhvien ra truong

Ngày các cháu tốt nghiệp đại học YALE
và căn cước tỵ nạn ở trên mình

Hôm nay là ngày 30 tháng Tư, 2020, kỷ niệm 45 năm ngày chúng ta mất quê hương dù vẫn còn tổ quốc. Kính mời quý vị và các bạn nghe lại hai phiên bản của nhạc phẩm “Xin Đời Một Nụ Cười”. Clip đầu được thu thanh đã gần 40 năm trước khi tôi vừa hoàn thành nhạc phâm này và cùng hát với nữ ca sĩ Khánh Ly. Phiên bản sau đó được trung tâm Asia thực hiện gần đây để nhắc nhở kỷ niệm xưa, nhưng cũng để gởi lời tri ân đến các xứ sở tự do đã cho chúng ta cùng thế hệ con cháu của chúng ta một tương lai và một kho tàng trí tuệ, sẵn sàng để chia sẻ cùng thế giới và đóng góp cho một Việt Nam tự do của một ngày không xa.

NAM LỘC & KHÁNH LY
https://www.youtube.com/watch?v=1gVUqtzWkm8

DIỄM LIÊN & NGUYÊN KHANG
https://www.dailymotion.com/video/x7f4q42

&
https://www.youtube.com/watch?v=RiKsJ7J5eLg

VỀ MỘT DÒNG SÔNG

Nguyên Lạc

uminh4-tram

Cần Thơ gạo trắng nước trong
Ai đi đến đó lòng không muốn về
(ca dao)

BÀI THƠ NHỚ BẾN NINH KIỀU

Tình cờ gặp bài thơ và hình chụp của ông bạn thi sĩ Quảng Nam thăm bến Ninh Kiều, TP Cần Thơ, khiến tôi nhớ nó quá, vội họa những lời thơ nầy:

TỚI BẾN NINH KIỀU
(Nguyễn Hàn Chung)

Anh hăm hở tới Ninh Kiều
xung quanh vắng ngắt mĩ miều cù cưa
cái thời nắng khổ tìm mưa
nói chung chấm hết nên chừa vậy thôi

Thơ họa:

NHỚ BẾN NINH KIỀU
.
Bao năm quên bến Ninh Kiều
Chợt nay thấy ảnh buồn nhiều oán sâu!
Cái thời mắt liếc môi trao
Cái thời mưa đượm tình nhau… Xóm Chài!
.
Vẫn còn hoài mãi một đời
Dù bao thống hận lũ người ác nhân
Gây chi bao chuyện tang thương?
Để cho oan nghiệt sâm thương đôi bờ!
.
Còn đâu đại học Cần Thơ!
Còn đâu đường phượng thắm hoa đỏ trời!
Tiếc thương chi? Cũng rồi thôi!
Nhớ thương chi? Để lệ rơi kiếp người?
(Nguyên Lạc)
.
Bài thơ trên cũng khiến tôi chạnh long nhớ đến hai câu ca dao nhân dân của “một thời tôi cố quên”, thời 75 như sau:
Chiều chiều trên bến Ninh Kiều
Dưới chân tượng Bác, đĩ nhiều hơn dân!
(Ca Dao Nhân Gian Thời XHCN Việt Nam)
.
Trong bài thơ họa có hai cụm từ: XÓM CHÀI và ĐẠI HỌC CẦN THƠ các bạn miền ngoài không rõ, nên đã hỏi. Tôi xin được giải thích rõ về hai cụm từ này, cùng những gì liên quan đến nó để các bạn tường.
.
VỀ ĐỊA DANH XÓM CHÀI

1. Xóm Chài
Xóm Chài là một xã đối diện với bến Ninh Kiều nhìn qua sông nhỏ Cần Thơ. Xã này nằm trên doi đất nhô ra, kẹp giữa bởi sông Hậu và sông nhánh Cần Thơ .
Bến Ninh Kiều tọa lạc tại ngã ba sông Hậu và sông nhánh Cần Thơ, trước 1975 là Căn Cứ Hải Quân vùng 4 VNCH. Về phải, con sông nhỏ Cần Thơ nầy chạy qua Công viên Ninh Kiều, chợ Cần Thơ rồi đến huyện Cái Răng – có chợ nổi nổi tiếng và cầu lớn bằng xi măng bắt ngang qua, nối liền quốc lộ 4, chạy xuống Sóc Trăng và Cà Mau. Cầu này, năm 1968 bị mìn CS nổ xập, ban ngày, làm một số xe đò chở đầy người và một số bộ hành (dân đi bộ buôn bán) rơi xuống sông chết. Sau đó cầu được xây lại.
Từ Cái Răng, dòng sông chạy đến Phong Điền, Cầu Nhiếm vang tiếng về những vườn cam bạt ngàn. Cam xanh (Cam sành) rất ngọt, được thương lái chuyện vận lên tận Sài gòn. Đây là quê của “nàng” hiện tại.
Nửa đoạn đường Cái Răng đến Phong Điền, khoảng xà Nhơn Ái nếu rẽ trái là kênh/ kinh đào thẳng tấp: Kênh/ Kinh Xáng Xà-No rồi đến huyện Phụng Hiệp – Ngã Bảy , nơi 7 con sông nhỏ gặp nhau.
.
“Hò ơ …. Cái Răng, Ba Láng, Vàm Xáng, Xà No.
Anh có thương em thì mua một con đò
Để em qua lại. Hò ơ… để em qua lại thăm dò ý anh.”
.
Cá trê trắng nấu với rau cần
Muốn về Kinh Xáng cho gần với em
(ca dao)
.
a. Kênh Xáng Xà-No

Kênh Xáng Xà No – Gọi tắt là kinh (kênh) Xáng, một dòng kênh do thực dân Pháp đào – Năm 1901 kênh Xà No được khởi công, đến tháng 7/1903 hoàn thành – nhằm khai thác vùng đất hoang miền Hậu Giang. Bề ngang trên mặt kênh rộng 60 mét, đáy 40 mét, độ sâu từ 2,5-9 m, dài 39 km nối liền sông Cần Thơ (ngã ba Vàm Xáng, làng Nhơn Ái, Phong Điền, Cần Thơ) đến sông Cái Lớn (ngọn rạch Cái Tư, nay thuộc thị xã Vị Thanh, tỉnh Hậu Giang). Sông Cái Lớn chảy ra biển, vùng vịnh Thái Lan.
Có người cho rằng, gọi tên kênh là Xà No vì được đọc trại từ Saint-Tanoir, tên của người Pháp chỉ huy xáng đào con kênh này. Theo nhà văn Sơn Nam thì cái tên Xà No bắt nguồn từ tiếng Khmer: “Srok Snor – xóm có cây điên điển”.

b. Huyện Phung Hiệp – Ngã Bảy

Được gọi là Ngã Bảy vì sông chia 7 ngả sông toả đi các hướng khác nhau.
.
Dòng sông chia nhánh làm bảy ngả
Biết ngả nào tôi dõi em đây?
Xuôi dòng con nước ngày xưa ấy
Bỏ lại mình tôi khóc ròng đầy
Bỏ lại mình tôi bên bãi vắng
Cây bần buồn rụng trái nào hay!
Bìm bịp kêu giọng khàn đôi tiếng
Nước lớn đầy bảy ngả mù mây!
(Dò Tìm Trên Sông Ngã Bảy – Nguyên Lạc)
.
Huyện Phung Hiệp thuộc tỉnh vừa thành lập (khoảng 1961 – 1962 thời ông TT Ngô Đình Diệm): Tỉnh Chương Thiện. Khoảng năm 1972 (?) TT Nguyễn văn Thiệu bổ nhiệm một vị đại tá rất trẻ, tốt nghiệp từ trường Thiếu Sinh Quân làm Tỉnh trưởng : Đại tá HỒ NGỌC CẨN, tính tới 1975 (năm ông chết) mới vừa 33 tuổi. Vị đại tá Tỉnh trưởng này không chịu đầu hàng ngày 30/4 nên bị Uỷ Ban Quân Quản CS kết án tử hình và định ngày xử bắn tại sân vận động (sân bóng đá) Cần Thơ khoảng cuối tháng 5/1975 (?). Chính quyền CS bắt tất cả mọi gia đình ở thành phố Cần Thơ phải có người đến xem xử, trong đó có gia đình tôi, nếu không sẽ bị kết án chống “Cách Mạng”!
Mặc bộ bà ba đen, mắt bị bịt kín, bị trói thút vào cột bắn, ông được CS “ân huệ” cho nói lời cuối, với ý mớm ăn năn hối lỗi đã chống lại Cách Mạng.
Đây là câu nói cuối cùng của ông Cẩn: “Việt Nam Cộng Hòa muôn n…ă..m…!”
Tên lính CS vội vã bụm miệng ông và nhét giẻ vào.
Sau đó một loạt súng nổ, một phát súng ân huệ, ông Cẩn qua đời, xác được vùi trong bãi tha ma bên đường, ngang Trại Nhập Ngũ vùng 4 thời VNCH.

2. Trở lại bến Ninh Kiều.
Từ bến Ninh Kiều nhìn về sông Hậu rộng lớn, hướng sang trái là bến bắc/ bến phà Cần Thơ chảy đến Long Xuyên. Hướng sang phải chảy ra biển Đông, ngang qua Đại Ngãi (Vàm Tấn) quê tôi, cách cửa biển khoảng 20 km (khoảng 17 miles).
.
– Hò ơ ớ ơ ơ …
Đất Sóc Trăng khô cằn nước mặn
Anh ra Vàm Tấn chở nước về xài
Về nhà sau trước không ai (ơ ờ)
Hò ơ ớ ơ ơ …
Hỏi ra em đã … theo trai mất rồi (ơ ơ)
(Hò ca dao)

— bậu về Đại Ngãi mình ên
bỏ quên kẹp tóc bắt đền tội ta
bậu quên là tại bậu mà
tại sao bậu bắt đền ta một đời
tội này không chịu bậu ơi !
(Bậu về – Trần Phù Thế)

— Tha phương cơm áo tháng ngày
Hồn quê xưa cũ vẫn hoài trong tôi
Cái tên Vàm Tấn tôi ơi!
Trăm năm vẫn nhớ những lời ca dao
“Ra sông, đổi nước ngọt nào
Về nhà, trông trước trông sau vắng nàng
Hỏi ra đã bỏ mất đàng
Theo trai bậu nỡ phụ phàng tình tôi”
Cái tên. Đại Ngãi tôi ơi!
Làm sao quên được. một thời thiết tha?
(Nhớ Về Vàm Tấn/ Đại Ngãi – Nguyên Lạc)

Trước khi đến xã Đại Ngãi khoảng 3 km (2 miles) là xã Nhơn Mỹ, thuộc huyện Kệ Sách, quê hương của vợ sau Đại tướng Cao Văn Viên (Tổng Tham Mưu Trưởng quân lực VNCH)
Chợ xã Nhơn Mỹ tọa lạc trên bờ đất tại ngã ba bờ phải sông Hậu (hướng chạy ra biển) và rạch Nhơn Mỹ. Phía đối diện chợ Nhơn Mỹ, giữa sông Hậu là cồn Quốc Gia (quê của cô bạn gái đầu đời). Đây là nơi ông TT Nguyễn Văn Thiệu có lần ghé thăm, vì nó nổi tiếng trù phú với vườn sầu riêng và chôm chôm.
Ngày 1/5/1975, chú của người bạn gái, xã trưởng Nhơn Mỹ đã bị xử tử tại chợ. Cổ bị xiết bởi một khăn rằn choàng (chàng) tắm, hai đầu khăn kéo bởi 2 tên du kích. Vì ông ta to con, khỏe mạnh giãy giụa, không ngộp thở, nên hai tên du kích, mỗi đầu khăn một tên, lôi ông ta xuống mé bãi rạch Nhơn Mỹ để trấn nước. Ông vùng vẫy nên chúng không đè đầu ông xuống nước được. Một tên khác bèn lấy dao đâm vào bụng ông để làm yếu sức. Ông bị xiết cổ và dìm chết ngộp. (Kể đúng theo lời của cô bạn gái, cháu ông xã trưởng)

3. Gia đình tôi.
Riêng về phần gia đình tôi ở Đại Ngãi:
– Anh Nguyễn Văn Yên tr/uy HQ (VNCH) vượt trại”cải tạo” Chi Lăng (Châu Đốc) chạy vào rừng (1976). Giữa đêm vang dội tiếng súng săn đuổi, mất tích: “40 năm con thơ vẫn đợi” đến nay!
– Cha Nguyễn Văn Hỷ bị bắt, hành hạ trong ngục tú CS và chết trong vụ đàn áp tôn giáo.
.
Đêm tháng tư tha hương. thấy dòng lệ khổ
Tiễn người anh cơ khổ ngục tù
Khóc người anh đêm vượt trại hận thù
Tan biến vào rừng thẳm
40 năm con thơ vẫn đợi!
Đêm tháng tư tha hương. thấy gì tôi hỡi?
Thấy con đường khập khiễng cha đi
Mắt lệ nhòa trên đôi nạng sầu bi
Vào tử ngục. rồi mạng vong. vì hận thù tôn giáo!
(Đêm Tháng Tư Tha Hương Thấy Gi? – Nguyên Lạc)
.
– Gia đình tôi liều chết vượt thoát năm 1986 sau hơn 10 năm sống trong “thiên đường CS” trên một ghe con đi sông dài 10 mét, không hầm trú. Sau 7 ngày te tua mới tới đuợc đảo Bi- Đong (Malaysia), may mắn không ăn thịt người (vừa chết).
.
Đêm tháng tư tha hương. thấy gì tôi hỡi?
Thấy sự thét gầm khủng khiếp của trùng dương
Thấy sự nhỏ bé của con người trước sóng nộ cuồng
cùng nỗi vô vọng. hãi hùng … trước vô cùng biển cả
Thấy đói khát, chết chóc, đau thương …
Thấy những dòng lệ ứa
Mẹ ngất con. chồng khóc vợ…
Thấy uất hận lũ hải tặc hung tàn
(Đêm Tháng Tư Tha Hương Thấy Gi? – Nguyên Lạc)
.
4. Trở lại dòng sông Hậu.
Vừa qua Đại Ngãi, trên đường ra biển, giữa sông nổi lên một dãi đất lớn gọi là Cù lao Dung (Gọi là Cồn nếu dãi đất nổi lên nhỏ). Cù lao Dung nổi lên giửa sông Hậu, khoảng vàm Đại Ngãi chạy dài độ 20 km (khoảng 17 miles) ra đến gần cửa biển. Trên Cù lao này CS có thiết lập Trại “cải tạo” Cồn Cát, để giam giữ các sĩ quan “Ngụy” và các người vượt biển đi tìm tự do bị bắt. Đây cũng là nơi gia đình tôi “chém vè”, chờ đến giữa đêm tối không trăng, lên ghe con thả theo nước ròng trôi ra cửa biển để không gây tiếng động, kẻo Công An biên phòng phát hiện và bắn chẳng nương.
Bãi bùn của cù lao này cũng là nơi vùi bao nhiêu xác người, bị đập đầu chặt cổ giữa đêm, trong cuộc tổ chức vượt biển giả để cướp vàng, có liên hệ đến”Công An kiến cường” huyện Long Phú.
.
Bao năm đời này vẫn nhớ
Đêm thâu xuôi mái theo dòng
Người đi không lời từ biệt
Buồn ơi. tím biếc dòng sông!
.
Quê hương ta ơi. thôi nhé!
Buồn ơi. nước mắt lưng tròng!
Rặng cây quê hương mờ bóng
Có còn gặp lại được không?
(Trích đoạn bài thơ Quê Hương – Nguyên Lạc )

***

Tất cả các câu chuyện đều liên quan đến dòng sông Hậu (sông lớn hoặc sông con). Dòng sông đã in đậm trong tâm khảm!
Mọi người đều có một dòng sông riêng mình. Hãy trân trọng nó!
Từ dòng sông Hậu thân yêu và buồn thảm này tôi mới có những bài viết: CÂU CHUYỆN HAI DÒNG SÔNG (1), CHUYỆN DÒNG SÔNG QUÊ TÔI (2) và CHUYỂN TÌNH VÙNG U MINH (3) vân vân …

Ta sẽ không về thăm lại dòng sông
Của thời hung bạo cũ
.
Xác em nhỏ trôi theo dòng bão lũ
Được tin người
tim nhé … cố yên!
Và đêm dài
đêm nhé … hãy ngoan!
Ai rồi cũng
đến miền miên viễn!
.
Ta sẽ không về thăm lại dòng sông
Của thời quá vãng
Quên đi nhé … quên đi … quên đi nhé!
Đã xa rồi … quên nhé … xa lắm xa!
(Nguyên Lạc)
.
Quên được không?!
.
VỀ ĐẠI HỌC CẦN THƠ

1. Đại học Cần Thơ
Đại học Cần Thơ nằm phía trái, gần Phòng Phát thanh (phát sóng) Cần Thơ trên đường từ Cần Thơ về Cái Răng, Vị Thanh, Sóc Trăng rồi Cà Mau.
Năm 1968 sau trận Mậu Thân, tôi bước vào ngưỡng cũa đại học này với niềm háo hức cùng với giấc mộng “lấp bể vá trời” của tuổi trẻ. Thời trẻ này, sách Phạm Công Thiện luôn giữ trên tay và là sách “gối đầu giường”. Phạm Công Thiện là “thần tượng” của những người trẻ như tôi giai đoạn này. Mỗi lời của ông đều là “chân lý”. Tôi hít hà , uống những lời văn, thơ của ông. Cho những điều ông “ngôn” đều đúng, không chút nghi ngờ. Bắt chước ông, chê Sách Học Làm Người của Nguyễn Hiến Lê (Thời gian là câu trả lời đúng đắn nhất!)
Phạm Công Thiện đã mở ra cho chúng tôi một “Khung Trời Cao Rộng” và cũng đưa đến chúng tôi một niềm nghi ngờ (HỐ THẲM). Hệ lụy: “…đã ít nhiều làm cho thanh niên tỏ vẻ hoài nghi về những hoài bão, lựa chọn của mình. Tâm trạng não nề, chán ngán của tầng lớp thanh niên, trí thức thời kỳ ấy như một đám mây u ám, cứ vần vũ mãi trên bầu trời, che lấp khoảng không gian không xanh, không hồng. Ngày xưa một mình chàng Kinh Kha qua sông Dịch với con chủy thủ trên tay và vĩnh viễn không quay lại điểm xuất phát! Ngày nay, hàng ngàn Kinh Kha qua hàng trăm sông Dịch như thế với nỗi băn khoăn ồn ào, hy vọng và thất vọng trộn lẫn.(Đọc lại “Kỷ Vật Cho Em” của Lính Phuơng – Nguyễn Lệ Uyên)
Qua sông Dịch là gia nhập vào quân đội, thành người chiến sĩ quân lực VNCH, thành người chỉ uy mà tâm trạng như vậy thì than ôi!
Lịch sử ngàn năm cho thấy: Chống kẻ HUNG BẠO (kẻ dồn ép, đốc thúc hết mọi xương máu của người dân, dùng bất kể mọi thủ đoạn để nhất quyết thắng cuộc chiến một mất một còn) mà lòng hoang mang như thế thì cầm chắc sự thất bại! Kết quả thì các bạn đã biết rồi đó!
Nhắc ra đây để rút ra một bài học mà tự hối tiếc và tự trách mình, chứ không có ý chê trách hay kết tội. Các người trẻ hãy lấy làm kinh nghiệm để tránh những vết đổ sau này. Và cũng xin đừng lấy nó – những việc tiêu cực đã kể – mà tự hãnh diện hoặc ngược lại, tự mình hành hạ mình, tự liếm vết thương lòng mà thất chí. Còn lại chút hơi sức hãy đóng góp vào việc đấu tranh cho sự tồn vong của dân tộc.
.
2. Tổng Hội Sinh Viên Đaị Học Cần Thơ
Trở lại trường Đaị Học Cần Thơ, tôi có chân trong Ban Chấp Hành Tổng Hội Sinh Viên. Tôi đã ngây thơ, bầy đàn, không suy nghĩ, cổ động và dẫn đầu những cuộc xuống đường gây hỗn loạn trật tự xã hội. Trong BCH nầy, Phạm Văn Sinh (sư phạm khoa học), sau 1975 lộ rõ là một đảng viên CS. Tên thứ hai là Ngô Phúc Hiện (luật khoa), anh cô bạn gái tôi, là Đoàn viên Thanh niên CS. Tên này, sau 30/4//1975 là phó phòng Thương Mại thành phố Cần Thơ . Trong lúc mọi người dân đói, phải ăn độn bo bo, ăn cơm với muối, thì hắn cùng tên trưởng phòng (cán bộ từ bưng biền ra) nhân viên phòng và công an (Bắc chi viện) rượu bia tràn ly, thuốc cán (đầu lọc) khói mờ mắt mỗi ngày. Cách Mạng đấy!
.
Quê tôi buồn lắm ai ơi !
Từ ngày bão nổi đổi dời bể dâu
Một thời cùng ước mộng đầu
“Vá trời lấp bể” hẹn câu tình người
.
Những “đêm không ngủ” lửa ngời *
Câu ca lời hát dựng đời mai sau
Khung trời đại học thuở nào
Tay ôm. mắt ngỏ. môi trao nụ cười
.
Oan khiên đâu phải do trời
Quê hương tan rã bởi lời dối gian
Điêu tàn cùng với ly tan
Mộng mơ tuổi trẻ lụi tàn từ đây
.
Từ ngày ngụy ngữ lên ngôi
Từ ngày giai cấp phân đôi ta thù
……….
[*] Sinh viên trước 1975 thường tổ chức những đêm không ngủ để hát tình ca và nhạc “đấu tranh”
(Trích đoạn: Một Thời – thơ Nguyên Lạc)
,
LỜI KẾT
Qua trên là những chuyện lên quan đến dòng sông trong tâm thức cùng “Một Thời Ta Cố Quên” của tôi. Quên được không?!
Tất cả điều trên là sử liệu từ nhân dân. Chắc nó sẽ không có trong Lịch Sử Việt Nam Hiện Đại vì theo CS: Lịch sử phải phục vụ cho chế độ!
Đấy, các văn thi nhạc sĩ! Nỗi trầm luân nhân thế. Đừng “cỡi ngựa xem hoa” nỗi đau của người dân thấp bé mà mãi chỉ biết lo phục vụ cho một thiếu số đặc quyền. Hãy viết bằng cảm xúc, bằng con tim của mình. Đừng cố tạo ra cái ly, cái chai hào nhoáng, màu rượu đẹp đẽ, nhưng không có một chút mùi vị nào để lại trên đầu lưỡi của người thưởng thức. Hãy tạo ra cái hương vị ngọt ngào của viên muối nhỏ trên đầu lưỡi của các “chàng Kiều” hiện đại (người sĩ quan trẻ VNCH đi cải tạo) đang đói meo trong các “Thanh Lâu” (trại cải tạo) [Từ Nguyên Lạc dùng trong bài viết về thi sĩ Phạm Hồng Ân)(3)

Xin được kết thúc bài bằng hai câu thơ Khuyết Danh:
Ai muốn chép công ta chép oán
Công riêng ai đó oán ta chung!
(Mã Viện – Khuyết Danh)
.
Nguyên Lạc
…………………
Ghi chú:
(1) http://t-van.net/?p=31929
(2) http://t-van.net/?p=32146
(3) http://t-van.net/?p=31461

“Người Di Tản Buồn!”

NAM LỘC

 

MỖI NGÀY MỘT CA KHÚC
TƯỞNG NIỆM 30 THÁNG TƯ

“Người Di Tản Buồn!”

 

camp 75
Camp Pendleton, 1975: thành phố lều của những “người di tản buồn”!

Hôm nay là ngày 29 tháng Tư. Giã biệt Sài Gòn vào lúc 1 giờ sáng 28, sau khoảng 3 tiếng đồng hồ trên chuyến bay dài nhất ở trong đời, chúng tôi được đưa đến căn cứ Không Quân U.S. Clark Air Base nằm trên hòn đảo Luzon của Phi Luật Tân. Đối với tôi, tất cả mọi hành động, mọi suy nghĩ hay quyết định bây giờ hoàn toàn tùy thuộc vào người hướng dẫn. Họ bảo sao thì nghe vậy, bảo làm gì thì làm theo, như một người máy. Niềm thương nhớ và lo lắng cho gia đình được thay thế bằng những sinh hoạt bận rộn, bằng chi tiết cùng những cảnh tượng mới lạ chưa từng xẩy ra trong đời. Bằng những chiếc ghế bố được phủ lên tấm drap giường tươm tất, nằm trong khu lều vải dựng vội vàng để đón những kẻ vừa nước mất nhà tan! Bằng sự ân cần của các sĩ quan Mỹ, cùng sự cung kính của nhân viên người Phi Luật Tân phục vụ trong nhà ăn. Tất cả đã làm nguôi bớt đi niềm khổ đau và oán hận trong tôi. Ở đây chỉ 24 tiếng đồng hồ, thì chúng tôi được di chuyển đến đảo Guam, và chưa đầy một tuần lễ thì được phi cơ American Airlines đưa từ Guam đến California.

Máy bay đáp xuống phi trường quân sự El Toro của Thủy Quân Lục Chiến Mỹ, nằm ngay Orange County (có ngờ đâu lại chính là thành phố mà tôi đã chọn đế sống những ngày cuối đời mình)! Một toán lính Marines nghiêm chỉnh đứng chào, họ còn cầu kỳ trải thảm đỏ đón người tỵ nạn và đưa lên những chuyến xe bus quân đội (lại xe bus quân đội, dấu tích của gia đình và là niềm hy vọng đã trở thành tuyệt vọng của tôi mấy ngày qua). Xe đi vào xa lộ 5, tôi nhìn bảng tên đường thấy chữ “San Diego Freeway”, rộng thênh thang, xe cộ chạy đầy đường, ngược xuôi như mắc cửi. Hai bên lề là những vườn cam vàng ửng trái, cùng các ruộng dâu trùng trùng, điệp điệp. Chưa đầy nửa tiếng đồng hồ thì tài xế rẽ vào một con lộ nhỏ ngoằn ngoèo đưa chúng tôi đến trại Pendleton sau khi đi ngang qua nhà tổng thống Richard Nixon, tọa lạc tại thành phố San Clemente. Tôi hỏi thầm trong bụng: Có phải vì ông mà chúng tôi đang có mặt ở đây không ngài tổng thống?

1 size fit all
“One size fits all jackets”

Bước xuống xe, sắp hàng để nhận lều tạm trú và quần áo. Mỗi người được các ông lính Marines phát cho một cái áo Jacket và một đôi giầy nhà binh “one size fit all”?, già trẻ lớn bé gì cũng thế, cứ nhận đi rồi hạ hồi phân giải.

1 size fit all shoes
“One size fits all shoes”

Sau đó có thiện nguyện viên hướng dẫn đến lều và “giường” của mình (tương tự như tấm hình ông Nguyễn Cao Kỳ đang ngồi).

nc ky
Thiếu tướng Nguyễn Cao Kỳ trong khu lều trại 8…

nl trai pendleton
…và tôi, trước căn nhà đầu tiên trên đất Mỹ

Đầu tháng Năm rồi mà sao Cali. lạnh thế, không biết lạnh ngoài trời hay buốt giá ở trong lòng? Đặt mình lên chiếc ghế bố vải, tôi bắt đầu nhỏ những giọt lệ đắng cay xuống cuộc đời tỵ nạn. Hôm nay, và bây giờ tôi đã chính thức là một “người di tản buồn”! Buồn và xót xa hơn nữa khi được tin toàn bộ gia đình tôi đã bị người Mỹ bỏ rơi, thủ đô Sài Gòn hoàn toàn sụp đổ, các tướng lãnh và nhiều quân nhân, công chức tuẫn tiết. Cậu em út cùng các chiến hữu của tôi đã bị người CS đánh lừa và lùa vào những trại tù cải tạo. Mẹ và các em gái thì đang chuẩn bị đi vùng kinh tế mới…

Trong khi đó ở bên này bờ đại dương, chúng tôi cũng đang phải phấn đấu với một cuộc sống mới, dù may mắn hơn ở bên nhà, nhưng cũng không kém phần gian truân và tủi nhục. Tôi được nhận vào làm assembler cho một hãng sản xuất giường nước với tiền lương $2.10 một giờ. Anh Jo Marcel làm nghề sửa xe, Tùng Giang thì tìm được job đổ xăng, Khánh Ly làm việc lao công, sau đó được “promote” thành receptionist… Và sau những ngày dài vất vả lao động “vinh quang”, trở về căn phòng nhỏ, nằm trong khu phố u sầu, cô liêu, buồn tủi, bên cạnh toàn người xa lạ. Tất cả những nỗi khổ đau, oán hận trên cộng với niềm thương nhớ về gia đình, về quê hương, đất nước đã âm ỷ trong lòng, để rồi tôi cho ra đời nhạc phẩm “Người Di Tản Buồn”.

nl tunggiang
Nam Lộc đi thăm Tùng Giang ở “sở làm”!

Nhạc phẩm “Người Di Tản Buồn” được nữ ca sĩ Khánh Ly thu âm lần đầu tiên trong một băng nhạc cùng tên. Nhưng sau đó cũng đã rất hân hạnh được nhiều anh chị em nghệ sĩ khác thu thanh và thu hình. Kính mời quý vị cùng các bạn nghe lại sau đây:

KHÁNH LY
https://www.youtube.com/watch?v=3MGC6aebg8s

NAM LỘC
https://youtu.be/Q8gnIsTMkMg

DIỄM LIÊN
https://www.youtube.com/watch?v=5dOH2EJygvQ

THẾ SƠN
https://www.youtube.com/watch?v=yRN6vqxV4s8

NGỌC MINH
https://www.dailymotion.com/video/x7akn4n

TUẤN VŨ
https://www.youtube.com/watch?v=x-55Bj0-Fs4

TÂM ĐOAN
https://www.youtube.com/watch?v=gi6CQ_SAdQc

ELVIS PHƯƠNG
https://sangtao.org/2013/03/31/nguoi-di-tan-buon/

THANH TRÚC
https://www.youtube.com/watch?v=Fv27ih3O1Yo

BẠN VĂN VÀ TÔI

Võ Công Liêm

tinhvat

TRANH VẼ Võ Công Liêm: ‘Tĩnh vật Hoa trái’

Nhà văn Bình Nguyên Lộc có nói: ‘về quê là lên nguồn đời mình’ tôi xét lời nói ấy quả không ngoa cho những khách tha phương mỗi khi nhớ quê. Cái lòng hăm hở đó như lời cảnh báo, vì lẽ; quê hương là nắm nhau, cuống rốn tuy có xa mặt cách lòng nhưng không phải vì thế mà chối bỏ hay đoạn tuyệt. Nó có cái hồn thiêng trong chúng ta.Từ chỗ đó; nó ray rứt, nó quấn quýt, nó ôm đầm như thân phận kẻ lưu đày.
Một số người trước đây hối hả ra đi cho bằng được như thử bị quê hương ruồng rẫy hay ‘khai trừ’. Nghe ra tợ như có điều gì phũ phàng, tàn nhẫn. Thoạt kỳ thủy; mới nhận ra rằng ‘home sweet home’ là nơi về của mái nhà xưa mà cả đôi bờ coi như lời hẹn ước. Dẫu là nghìn trùng xa cách nhưng lòng hoài hương vẫn hiện hữu không dứt. Người đi hay người ở đều nhìn nhận tình quê chan chứa. Bạn tôi tha phương cầu thực một thời như tôi. Nói rằng: -thương đọt bí, đọt bầu chi lạ! Tưởng bạn tôi lãng mạn hóa cuộc đời. Suy rộng thấy bạn tôi thật lòng. Không phải giải thích và chẳng phải nói nhiều. Thì ra; chúng ta cùng cảnh ngộ. Mà khi đã ngộ ra được thì không còn chi để trách cứ mà cho rằng quá đả khuynh?. Tôi hối hả ra đi và lâm vào hoàn cảnh tương tợ như vậy. Nói cho ngay; chuyện ra đi có nhiều nghĩa khác nhau, nhưng riêng tôi đi là ‘tu nghiệp’ để thấy mình thấy ta, trăm trận trăm thắng là ở chỗ đó. Cho nên chi học mấy cũng thấy mình ngu mà không thấy trận nào thắng cả; từ đó chỉ học ở tình bạn là cao qúy. Bởi; trong cái tình người nó chứa cái tình đất nước muôn năm. Xưa hối hả đi thì nay hối hả về là thế.
Về quê lần này tôi được cái hân hạnh đón tiếp một số văn nhân cũ, mới. Kỳ thực thì không có ai mới cả mà tuồng như đã biết nhau từ lâu; tuy không bằng xương bằng thịt nhưng đã gặp nhau trong văn thơ và đã nói với nhau nhiều điều như đã thân quen, bởi; dễ hiểu điều này qua cụm từ ‘style c’est l’homme’ cho nên chi không còn là người xa lạ hay qua một trung gian nào mà chúng tôi đến với cái tình chân. Tình người cao qúi đọng trong một tâm hồn tha thiết, không vin vào nhau để giới thiệu cái ‘le moi’ qủi quái và đáng ghét đó. Hầu hết bạn văn tôi không có thái độ ấy; dù một mảy may nhỏ nhen đều không có mà dâng một tấm lòng cao thượng. Qúi mến nhau mới gọi là thân nhau; bất luận ở nơi nào.

Yoshiro Soseki: Thi sĩ đương đại; con chim sẻ mùa xuân.
Đến Nhật Bản vào đầu tháng hai, tháng xuân hoa anh đào nở, khí trời heo heo như bên nhà. Ở chơi một tuần mà gắn bó vô cùng; cái tình Nhật là cái tình ‘hiệp sĩ đạo’ trọng danh dự hơn trọng tiền bạc.Tôi thân quen người bạn Nhật trong thoáng chốc mà trở nên cái tình dài lâu, bởi; chúng tôi ăn ngay nói thực, chả phải giấu điều gì, chẳng phải là biên giới ‘khách nước ngoài’ cho nên mạnh miệng. Chúng tôi bày tỏ bằng ‘nội công’ tâm truyền tâm và giữa chúng tôi bình đẳng không ‘face talk’ không ‘money talk’. Yoshiro đưa chúng tôi tham quan nhiều nơi.Chúng tôi không còn xa lạ qua sự trọng khách của chủ nhà. Một cái thưa hai cái trình…Gặp nhau tình cờ như đã hẹn ở cửa hàng sushi; món ăn truyền thống Nhật, một lối ẩm thực có lồng chất Thiền vào trong cách sống. Chúng tôi ngỡ ngàng trước cảnh quang, bối rối trong kiểu cách ăn sushi và uống sakê, thực khách hầu hết là dân Nhật, phần đông ngồi ở bàn ghế thấp hoặc phòng riêng có gối ngồi. Chúng tôi ngồi ở quầy để trực tiếp nhìn những tay đầu bếp ‘múa võ’, cạnh tôi một thiếu nữ khác, tuổi ngoài ba mươi đưa mắt mỉm cười thân thiện, và; từ đó chúng tôi trao đổi nhiều chuyện khác nhau, dần dà mới hay nàng là thi nhân, tuy nàng kín đáo về chuyện làm thơ nhưng cuối cùng nàng cho biết nàng yêu thơ. Hóa ra chúng tôi là những người trong làng văn nghệ mà gặp nhau tình cờ.Tôi chẳng nói với nàng tôi làm thơ và nàng cũng chẳng nói nàng là thi sĩ. Nhưng gặp nhau trên cái đất văn vật này cũng đã ngộ ra được cái chất thơ trong con người thơ…Nhớ những khi ngồi ăn mì gói, uống sake trong con hẻm nhỏ mà nhớ con hẻm quê nhà. Đất nước mình có nhiều đặc ưu hơn nơi khác nhưng không biết ‘dụng võ’ cho nên mai một mà chỉ hướng đến cái của người khác làm chuẩn. Nhìn cung cách Yoshiro mà nghĩ đến dáng kiều của ta; cũng có thể do từ phong thổ, tập quán tạo nên?
Hôm nàng tiễn chúng tôi ra phi cảng trao tặng tập thơ mới xuất bản (dĩ nhiên là Nhật ngữ) để giao duyên văn hóa.Tôi không hiểu một chữ hay một nghĩa nào nhưng hình thức qua lối dựng thơ tôi cũng nhận biết được hồn thơ của thi sĩ bộc bạch một cái gì chân tình trong thơ, bởi; nhìn con người của Yoshiro không thể có một nghi ngờ nào hơn. Duyên kỳ ngộ! Yoshiro cho biết thêm: nàng là con cháu nhà văn lừng lẫy Nhật Natsume Soseki (1867-1916) với tác phẩm tiểu thuyết nổi tiếng Kokoro và đã được dịch qua nhiều ngoại ngữ. Gia tộc nàng gốc Đông Kinh. Thì ra; hạnh phúc đến bất ngờ là hạnh phúc có thực ở đời.

Kiệt Tấn: Dân miệt vườn . Uống cạn tào ráo ván.
Sau tết ở Sàigòn trời âm u, bởi; có những trận mưa lai rai làm cho đường sá còn rịn mùi ẩm thấp. Chúng tôi gặp nhau ở ‘Thềm Xưa’ nơi Thân Trọng Minh thường ‘tọa thiền’ một mình hoặc một vài bạn thân quen xưa cũ. Cái sự đến của Thân Trọng Minh thường thấy trầm ngâm, kín đáo là đặc chất của người lương y. Tôi gặp Kiệt Tấn ở đây. Chúng tôi nhìn nhau như đã quen nhau lâu lắm nay mới hội ngộ. Kiệt Tấn có nụ cười nửa mép như nhân vật trong truyện của anh viết. Tôi biết Kiệt Tấn thuở thập niên sáu mươi (60). Mỗi lần đọc truyện anh, tôi thường phán chữ Đan Mạch (đ.m.) vào văn anh. Hôm nay gặp lại nhau tôi kể cho anh biết về cái sự vụ phải dùng ngôn ngữ Denmark với anh vì tôi phục cái ngông nghênh văn chương của anh. -Được thôi! Kiệt Tấn nói. Ngày hôm sau tôi uống rượu với nhà văn tả thực này mới thấy lòng phấn khởi. Phong cách về già của Kiệt Tấn là đà như E. Hemingway mỗi khi uống rượu. Cả hai nhà văn này có cái sâu lắng thâm hậu, nghĩa là ‘rịm rím một vịm troi’ ở cái chỗ đó mới thành văn hay. Nhà văn chân tình là nói toạt những gì như thật trong sự nghiệp cũng như trong cuộc đời, những gì mà đời ít ai thực hiện được. Nếu đem tinh thần Kiệt Tấn ra so sánh với H. Miller thì không khác nhau mấy. Một đằng hụỵch toẹt và một đằng kín đáo thâm trầm. Huỵch toẹt của Miller là thẳng thừng, huỵch toẹt của Kiệt Tấn là huỵch toẹt hơn cả huỵch toẹt đó là nhà văn có một mớ kinh nghiệm đầy đầu trong cách dụng văn: khôn ngoan và trí tuệ. Bởi cả hai nhà văn này đa tình và lãng mạn trong đời và trong văn chương; cả hai đều có chất ‘đế’ trong hồn nên dựng truyện có đế. Điều này không ngạc nhiên chi mấy. Nhưng ngạc nhiên phong thái Kiệt Tấn không thay đổi, dẫu lúc này anh không bỏ hồn vào viết lách một cách dữ dội như xưa. Anh cho tái lại*là vại nước đái.Tư duy của nhà văn là biết dừng đúng lúc để cho sự nghiệp của mình không dừng lại. Đấy là chân chính. Kiệt Tấn chỉ cúi nhìn và cười nụ cười ‘tre trúc’.
Chúng tôi gặp nhau rất tình cờ; tôi ở phương này, anh ở phương kia trên cùng một hành tinh này nhưng sự gặp gỡ tợ như đã có hẹn. Cái nhìn trực diện của Kiệt Tấn là nhìn để nhận diện giữa ta và người, giữa chủ thể và tha thể có cùng hợp chất để dung thông. Đó là cảm quan của tôi khi nhìn ‘bộ dáng/ body /corps’ của anh là một con người ‘dày dạn phong sương’. Nhưng không! cảm giác đó hoàn toàn nghịch lý trong tôi, bởi; trong anh đã phản phất một sự thật có thực qua cử chỉ và lời nói. Quả vậy; anh đã hoà tan vào đó một hóa chất kích thích tố để sống dậy một lần trong tôi và anh. Tôi đón nhận sự chân tình nơi anh cũng như trong văn chương anh là cả một bung phá tiềm tàng, một tiềm thức trú ngụ trong dạng thức của trí tuệ để phát sinh thành ngữ ngôn trong văn chương cũng như trong đời thường…Rất nhiều văn nhân nhận định, bình giải hay phê bình con người Kiệt Tấn trong vai trò khách thể, dựa qua tác phẩm của anh đã viết ra; lối mổ xẻ đó không có một tác động nào nơi nhà văn mà chỉ là người đứng nhìn sự kiện; gần như rập khuôn, nhai lại, khách sáo trí thức, nó không nói toát cái hóa trị (chemistry) là bản chất cố hữu nơi anh một cách độc đáo để thành hình ngữ ngôn trong tác phẩm. Lối bình giải cổ điển là tác hại cho tác giả đã gởi gắm toàn diện tình người, tình nước tình non vào trong đó và đại diện cho chính mình. Trên kệ sách của tôi có một số tác phẩm của Kiệt Tấn. Từ tập ‘Nụ Cười Tre Trúc’, ‘Nghe Mưa’ ‘Em Điên Xõa Tóc’; chừng đó đủ để cho tôi thấy được hồn tác giả ký gởi những gì là bi thương thống thiết. Anh hơn tôi có đôi ba tuổi nhưng anh lớn hẳn hơn tôi về mọi thể kể cả sự nghiệp văn chương của anh mà tôi đọc như một hoài niệm ký ức. Thế nhưng; giữa chúng tôi phá chấp, không còn có tâm phân biệt. Hai chúng tôi sống thực như chưa bao giờ sống. Đấy cũng là cơ duyên hay là ‘hữu xạ tự nhiên hương’ không biết ráp cái câu ngạn ngữ này có phù hợp nhân thế văn nghệ? Nhưng; có thể do từ một tâm thức phản kháng, một thứ phản kháng trí tuệ xâm nhập vào tri giác tôi. Hôm ngồi uống rượu với Kiệt Tấn mới nhận ra đặc chất nơi con người anh: không văn hoa bóng bẩy, không từ ngữ văn chương, không khách sáo đường bệ. Một bản chất tự tại hiếm có ở những nhà văn. Bọn chúng tôi uống đầy. Rượu vơi cạn. Tôi tính chào từ giả anh để ngày mai bay về đất tạm dung nhưng không nói, bởi; nói ra cái từ đó không đẹp lòng nhau. Tôi xô cửa, gật đầu nói: -Về! về đây là trở về ‘revêrs/back’ cái gì thuộc ‘daydream’ có nghĩa gặp như mơ-về giữa ban ngày. Gặp gỡ ở phương này, phương nọ là vũ trụ gặp gỡ của ‘dans les rêveriers cosmiques’ trong tôi và Kiệt Tấn. Cho nên chi; giữa chúng tôi là một hiện hữu, hiện hữu sống thực của: ‘je pense; donc je suis /cogito (Descartes).Tôi nghĩ Kiệt Tấn hiểu ý tôi.
* Tái lại: tái bản tác phẩm.

Đỗ Hồng Ngọc: Bác sĩ của văn chương hay còn gọi là bác sĩ chịu chơi.
Đỗ Hồng Ngọc đa dạng trên lãnh vực văn nghệ như tôi đã biết hơn là trên sự nghiệp chuyên môn. Anh có con mắt cười khi nói chuyện cho nên chi dễ cảm thông với người đọc.Thơ anh làm chân tình như hồn anh. Văn anh viết phản vào đó cái bản lai diện mục thực với chức năng y sĩ; thành ra giọng điệu không có chi là tàng ẩn hay ngụ ý, anh vẽ ký họa tài tình, anh không buông tha còn đứng ra dẫn chương trình cho bè bạn mỗi khi cần đến lời giới thiệu. Anh sốt sắng, không từ nan. Mấy đặc chất đó làm cho tôi nghĩ đến anh. Gặp Đỗ Hồng Ngọc và nhận ra anh qua nụ cười, nụ cười không ‘pha chế’ như đời thường cười. Tôi ký tặng tập truyện cho người bạn hiền lành mà tôi tha thiết được gặp. Tuy sơ ngộ nhưng đã để lại cho nhau cái tình văn nghệ thật sự. Chúng tôi trao đổi chuyện xưa, chuyện nay như cái tình anh em, như cái tình đồng điệu đã có trước đây. Ở tuổi hoàng hôn nhưng với Đỗ Hồng Ngọc không thấy chi hoàng hôn nơi anh. Anh viết khoẻ như hồn thanh niên từ xưa đến giờ. Cái hồn nhiên trong văn chương anh đã đạt tới đỉnh cao và anh đã ký tặng nhiều đầu sách cho độc giả bốn phương. Với một trí tuệ như vậy, thời tất trong đám người cầm ống nghe ít có như anh có. Thơ văn của anh chứa chất một tâm hồn lãng mạn và trữ tình…Anh nắm tay tôi giã từ mà lòng đầy hứa hẹn như tình nhân thuở anh còn ở đại học y khoa. Nhưng; riêng tôi cái nắm tay của anh như một hụt hẫng vừa bắt chụp thì lại bay xa. Anh cười vỗ về tôi như một cảm thông dài lâu.Tấm lòng của anh là tấm lòng của biển.Tâm hồn Đỗ Hồng Ngọc rộng mở từ nụ cười cho tới cử chỉ không thể nào mà không tin ở con người thật thà như thế. Gặp Đỗ Hồng Ngọc là một hạnh ngộ dài lâu. Bước đi thong thả của anh mang theo một tư duy sống động nơi tôi.

Elena Pucillo Trương: Một con người hai cuộc đời.
Tôi gặp chị trong một buổi cơm thân mật ở toà soạn Quán Văn của anh Nguyên Minh và một số đồng sự. Xuất hiện ở cửa phòng tôi nhận ra Elena, chị ném đến chúng tôi nụ cười khoan nhã và ưu ái. Trong đôi mắt của chị tôi đã đọc được những gì chị muốn nói. Mà thật! Trên dưới mười năm về với Việtnam, dạy ở đại học Việt, giao du thân mật với người Việt; từ chỗ đó không còn thấy chi là ‘khách nước ngoài’ mà hóa ra là con dâu xứ Nẫu. Ngặc thay! màu da, màu tóc không thể Việt hóa 100% cho ra Quảng, nhưng; để hoà nhập giữa hai cuộc đời chị tự lột bỏ cái áo khoát của thành quách La Mã, những hào quang ánh sáng minh tinh điện ảnh lừng danh để về sống chết với đất Chiêm (Bình Định); âu đó cũng là một gắn bó với định mệnh. Elena hiểu điều này hơn ai hết và rồi đi tới một quyết định dứt khoát là về làm con dân nước Việt. Chỉ trong vòng 10 năm chị nói tiếng Việt gần như thông thạo kể cả những lời nói thô tục chị hiểu rành rọt. Đó là một chứng minh của vợ chàng Trương; không những trong anh mà ngay cả cộng đồng lớn lao chị đã phủ dụ cái sai biệt đó, không ai nhìn chị là bà đầm Ý Đại Lợi. Dần dà người ta quen phong cách của chị: với nước mắm, hột vịt lộn hay ba cái thứ đồ nhậu chị nhúng đũa bình thường. Không phải chị nhắm thử cho biết cuộc đời mà chị ăn như thử chị là người Việt. Hoà nhập của Elena là cả một triết lý nhân sinh: dấn thân để thấy nghĩa lý cuộc đời. Do đó văn chương của chị mang màu sắc Đông phương hơn Tây phương. Chị viết sung mãn qua nhiều thể loại. Chị kềm kẹp đức lang quân để chuyển hóa ngữ ngôn gốc trở nên ngữ ngôn Việt tộc. Đọc những tác phẩm chị viết là cả một cảm thông sâu đậm. Nhờ vào yếu tố đó mà chị gần gũi với quần chúng. Tôi ví chị như nữ tiểu thuyết gia Mỹ Pearl S. Buck từng sống ở Trung Hoa, học ăn học nói để trở nên Tàu; nhưng so ra Elena khác với những người ly hương, nghĩa là họ không đánh đổi như Elena đánh đổi với cuộc đời chị. Tôi thầm phục lòng quả cảm của một người đàn bà xa xứ.Trong sâu thẳm của chị là con người tiên phong giữa mảng trời đầy màu sắc lạ lùng và dị biệt mà là kẻ khám phá mới cho tâm hồn dự cuộc. Chấp nhận mọi hoàn cảnh dù nắng mưa bất thường ở đất phương Nam; nhưng chị đã chinh phục để không còn thấy mình đơn độc giữa xứ lạ quê người. Tôi đọc một số tác phẩm chị viết cho tôi một lòng tự hào vô hạn. Một người bạn mà tôi mong được kết thân. Trong một bài viết ngắn: ‘Chung Một Đam Mê’ tôi thấy chị là một tài tử đa xuân tứ. Chúng tôi ngưỡng mộ qua tài năng và cái tình đối xử của chị. Elena Trương đã được một số văn nhân thừa nhận là ‘kẻ đưa đường’ mở lối trên chặn đường văn chương hiện nay. Chị là nhà văn nước ngoài hiếm ở đời này và được ngợi ca như một nhà văn chân thật. Nhận định về chị không một khác biệt nào hơn. Elena Pucillo Trương đã hóa Việt, bởi; chị sống thực giữa cuộc đời đang sống.

Từ Sâm: Một tinh thần tự khởi.
Trên không gian của chuyến bay Air Canada đọc thư email của bạn bè gởi thăm; trong đó có thư của Từ Sâm. Tôi ‘click’ ngay như vồ chụp một cái gì vừa tuột khỏi tầm tay. Tôi biết Từ Sâm mấy năm qua nhưng cứ để dành trong trí như ‘kỷ vật’ chờ có cơ hội giao duyên. Nay anh đến trong cái tình cờ nhưng hữu duyên vô cùng. Anh gõ xuống: ‘biết anh ở nhà Nguyên Minh mà không được dịp gặp nhau’ ngần ấy thôi cũng thấy được cái chân tình của con người văn nghệ. Trong cuộc đời sự gặp gỡ là cái trùng trùng duyên khởi bất ngờ và cũng khó mà định lượng nó đến từ đâu hay nó đến như cái nghiệp dĩ; nói theo ngữ ngôn ngày nay là ‘tình văn nghệ không hẹn mà gặp’. Quả là qúy ở đời này! Từ Sâm có gương mặt của tu sĩ hơn là kẻ phàm phu, anh hiền lành và thiện tâm trong đôi mắt nhân ái đó.Tôi chưa một lần ‘xáp lá cà’ vơi Từ Sâm thì lấy đâu mà có nhận xét như thế? -Tôi đọc nhiều thơ anh làm, những bài nhận định nghệ thuật anh viết, phê bình tác phẩm, tác giả anh soạn là chứng cớ để thấy được nhau. Giọng văn thủy chung, không có một gián tiếp nặng nhẹ mà hầu như anh ngợi ca cuộc đời và ngợi ca tình yêu; đấy là yếu tố cấy lên tế bào da mặt của anh và trong huyết lệ của anh để từ đó anh có một tinh thần tự khởi, một tinh thần của tư duy chớ không phải tinh thần của sự cố. Đứng trên vai trò khách quan nhận định về thi ca đương đại; có thể thấy Từ Sâm thuộc trường phái siêu thực qua bài thơ ‘Trăng Viên Mãn’ mà anh cho ra đời đã lâu. Không những một bài tượng trưng mà nhiều bài thơ khác đều một thể như thế. Sắp xếp lại từ A tới Z đều nhận ra đó là giòng thi ca đương đại. Về văn anh phân tích, lý giải, dẫn chứng rất cụ thể từng đường nét như vẽ tranh sơn dầu, nghĩa là thận trọng trong ‘gam’ màu cũng như ‘con chữ’ nó đan kết vào nhau hoà hợp (composition) như một bố cục chặt chẽ; thật không quá lời về điều này. Cho nên chi; hôm nay ‘kỷ vật’ đó được ‘khui’ ra như đập đồng binh nuôi con heo nái mà bản thân tôi ao ước từ lâu. Nói thêm về thơ của Từ Sâm tuồng như anh dốc sức vào đó qua một ngữ ngôn thống thiết trong đó có chứa một ít của bi thương, một cái gì tàng ẩn ngoài cái gương mặt tu sĩ của anh; không biết mỗi bài thơ anh nói những gì về nó, nhưng; chắc chắn ở đó là một sự kết tinh trong cách biểu đạt tư tưởng bằng ngôn từ. Từ chỗ thơ tự do, tân hình thức Từ Sâm biến dạng vào vô thể thơ có duyên lạ. Cơ may hạnh phúc chỉ tìm thấy để đạt tới sự chiếm cứ ‘le bonheur est dans a la quête la conquête’ qua mạch thơ, văn mà anh đã thực hiện xưa nay. Kết thân với người bạn văn nghệ như Từ Sâm là dấu ấn trong tôi.

Huế: Quê nhà.
Và tôi; mỗi lần về quê là phải đi Huế. Bởi; Huế là trầm tích trong tôi, là hoài niệm nơi đã cất giữ những kỷ niệm khó quên của thời mới lớn (ở 9 tuổi) và cái thời vào đời. Huế trở nên chứng nhân cho tình yêu và lịch sử. Những nhân tố đó đưa tôi tìm về Huế như một ‘awakening’ để được sống lại giữa thực và hư. Huế phải có đặc chất đó như nắng mưa mà ai cũng ‘kêu trời’. Không có cái thứ đó không ai gọi là Huế. Huế có cái tàng tích cố cựu xâm chiếm vào con người Huế. Do đó tôi hiện hữu; một hiện hữu dấn thân và thấm thấu vào cái hồn Thần Kinh trong máu lệ tôi. Dân Huế hầu như ai cũng ưa lý sự, cứng đầu, chướng kì và một tự ái lớn lao hay giận. Những ai chưa biết Huế cho Huế khó tính. Đúng! cái này chịu ảnh hưởng ít nhiều nơi mấy ‘mệ’, bởi mấy mệ có cái tự ti mặc cảm trong con người mấy mệ. Nói nôm na là ‘thủ’; đó là ngón nghề thâm hậu mà ít ai tìm thấy. Tôi chơi thân với mấy mệ trong làng, trong xóm cũng như trong trường; đi sâu vào lòng đất địch mới thấy mấy mệ thủ vô hậu. Cái thủ khinh mạng. Tợ như những người kỳ thị chủng tộc; ngoài ngó rứa mà trong không phải rứa. Huế đặc thù là đó: ăn, uống, nói, cười đều có cách riêng của nó. Huế không giống ai và không ai giống Huế. Đó là lý do về để tìm thấy cái đã mất giữa thời đại hỗ mang, thuồng luồng. Có chăng là có trong trí tưởng mà thôi. Nó hoang tàn, bảng lảng bóng chiều mây. Dù là thành quách có tu sửa để thu hút khách ngoại chớ khách nội không mấy hồ hởi với cái gọi là ‘đổi mới tư duy’ theo khuynh hướng kinh tế thị trường; lạc hướng đi.
Tôi sinh ra và lớn lên ở Huế. Học và hành ở Huế; có vô số bạn bè, nhưng; tìm cho ra một ‘thằng bạn’ chân tình là điều khó. May mắn thay trong số bạn học cũ, chỉ còn một hai thằng tại thế, còn một số khác tằng tiu tỉ tiện thì hầu như để gió cuốn đi hoặc để trôi theo với giòng đời. Bởi; không tìm thấy cái chân tâm của nó. Vì vậy; phải nhận thức cái thực, cái giả của Huế. Người ta định nghĩa Huế thâm trầm là phải, vì; trong Huế chứa cái thâm trầm ‘đểu cáng’ khó tìm thấy. Răng rứa? Nó núp sau lưng Thành Nội Huế mà ít ai bắt gặp và nhận ra. Nó lắc léo như câu hò mái đẩy hay nam ai, nam bằng; là rứa đó!.
Thành ra; về Huế chỉ có thi sĩ Cung Thiêm Phan Như Chạy là chân tình trước sau như một.Thuở học cùng lớp; thi sĩ thường dùng tiếng Đan Mạch dành cho tôi. Nhưng nghĩ lại tiếng đ.m. của nhà thơ nó kết cấu trong một từ ngữ thân tương và chân thật. Lần này vợ chồng thi sĩ mời chúng tôi ăn cơm tối tại nhà riêng (kiểu cách này ít có ở nhà thơ họ Phan).Thừa nhận mụ vợ thi sĩ khéo tay dọn bàn, nhưng họ không quên rượu dành cho tôi. Nhớ đời! Trong lúc hào hứng thi sĩ hứa sẽ đưa chúng tôi đến thăm một người bạn cũng biết nhâm nhi rượu. Tôi sướng quá và chờ đợi để gặp người đối ẩm đồng điệu, đồng sàn. Chúng tôi cởi xe đến chùa Liên Trì trên dốc núi Ngự. Tưởng bạn tôi đưa đi bái Phật đầu năm. Không! ngôi biệt thự nằm cạnh chùa. Tôi cho đây là sự sắp xếp kỳ diệu (nhà gần chùa mau thành Phật, nhà gần chợ mau thành kẻ chợ). Thiệt ra; đây là câu nói văn chương bình dân nói theo kiểu nhân gian chơi thôi. Nhưng; chủ nhân ngôi biệt thự đó đã thoát tục từ lâu để đi vào chân-không. Dẫu tiếng chuông sáng trưa chiều tối có gióng lên chăng cũng không phải để thức tĩnh; nó không còn tác động giữa chốn này đối với một nhà nữ mô phạm. Tiếng chuông là một thúc bách sự dấn thân của kẻ tìm đạo lý nhân tâm để được về sống với đời thường. Một đời thường ở cõi Sát-na (Ksanikam) là cõi thời gian vô tận số, nghĩa là ra khỏi cái hạn hữu bất biến để đi vào hư không. Tôi cho sự chọn lựa cuộc sống như thế là chân tình để xa trần tục, xa lớp bụi thế gian chớ không phải xa trần tục để đi vào cõi tịnh; mà là phép tu chứng để đạt chánh quả. Đó là biện minh cho lý giải Phật tính giữa Tu và Tục khác nhau vô bờ bến. Biết đâu cái lẽ thường đó lại là ‘đáo bỉ ngạn’… Mở cửa đón chúng tôi với nụ cười thanh tao hòa nhã. Tôi ôm lấy chủ nhân theo phép tây, bởi chủ nhân vốn có máu tây. -Bọn mình thân nhau gọi bà, gọi cô thấy không chân tình. Chị Thanh Ngọc nói. Không ngờ buổi sơ ngộ mà vui đến thế; chị thiết đãi một bửa ăn đậm chất quê hương pha một chút kiểu cách Tây phương: vịt hầm rượu vang, món ngầu pín dầm chua ngọt, dưa món, tét, chưng còn lại hôm tết. Ôi chao! ngon đáo để. Giữa lúc đó tôi khui chai Lamb/Rum đen có vị hương. Chị Thanh Ngọc đón ly rượu tôi mời một cách trân qúy. Bữa nay mới gặp tay đối ẩm thứ thiệt. Rượu thấm vào người nghe thơm (phải đái ra rượu mới hết buồn / dĩ bĩnh đồng tiêu vạn cổ sầu). Đó là phương thức tiêu sầu và quên, một đặc hiệu và phổ biến nhất trên trần gian này. Chị Ngọc và tôi uống hết chai. Trong cơn mơ màng tôi nhớ Tuyết Thu em chị Ngọc, người mà tôi thầm yêu chớ không dám dòm. Chuyện ăn uống đầu năm ở nhà người bạn văn là một hạnh phúc tôi. Chị Thanh Ngọc lớn tuổi nhưng rất hào phóng khó tìm thấy nơi nhà giáo có một nếp sống nhân sinh như thế. Chị Ngọc là dân Huế thứ gộc cho nên con người chị đã nói hết về Huế. Đón nhận một người bạn văn cao qúy giữa lúc này như một hòa âm điền dã đối với chúng tôi. Chị đưa chúng tôi ra ngõ về mà lòng còn lưu luyến bên nhau. Chưa bao giờ gặp mà tợ như đã thân quen tự bao giờ. Mượn câu thơ của Nguyễn Du để gởi tâm sự vào đây: ‘Sinh tiền bất tận tôn trung tửu / Tử hậu thùy kiêu mộ thượng bôi’.
(Lúc sống không uống cạn rượu trong chén để sau khi chết thì ai là người đem rượu tưới lên mộ mình).
Rượu là tiếng nói của con người đã từng chứng kiến bao nhiêu đổ vỡ ở cõi đời và ở cõi lòng là nỗi đau trong người tôi cũng như trong người khác.Nhưng giờ đây; bạn văn và tôi là cơ duyên được sống lại trong một hiện hữu tồn lưu nhân thế giữa đời này.Tôi chỉ nói lời biết ơn nồng nhiệt của kẻ tha phương ./.

VÕ CÔNG LIÊM (ca.ab.yyc. Cuối Mar 2017)

MỖI NGÀY MỘT CA KHÚC TƯỞNG NIỆM 30 THÁNG TƯ

Nam Lộc

Một đêm thật dài…!

Hôm nay là ngày 26 tháng Tư, 2020. Tôi tiếp tục câu chuyện từ đoạn ông VõVV, người có nhã ý và trong một sự tình cờ đã đưa tôi vào phi trường Tân Sơn Nhất lúc 5 giờ chiều ngày 25 tháng Tư, 1975, 45 năm về trước.

saigon cuoi thg 4
Sài Gòn những ngày cuối tháng Tư, 1975

Khi cái vẫy tay từ giã của ông Võ khuất trong màn nắng đang nhạt dần của một buổi chiều đầy những âu lo và phiền muộn. Tôi bỗng thấy mình như một kẻ lạc loài, cô đơn và yếu đuối. Giằng co giữa sự trở về nhà hay ở lại đây! Lúc thì đổ tội là vì nghe ông Võ “xúi dại”, khi thì nhận là do lỗi của mình vì đã không tự quyết. Nhưng thôi nghĩ gì thì nghĩ, thực tế là tính mạng mình đang treo leo trên biên giới phải chọn lựa, giữa tự do và tù ngục nếu Sài Gòn thất thủ, nhất là đối với vai trò của một phóng viên quân đội

Bây giờ là 7 giờ tối, đèn cũng đã bật sáng trong khuôn viên DAO, tôi bắt đầu nhận rõ được nhiều khuôn mặt thân quen đang đứng, ngồi hay nằm dài để chờ chuyến bay di tản khỏi VN. Có kẻ thì ba hoa, chích chòe, có người thì im lặng thở dài! Tôi chợt tỉnh: À thì ra họ cũng như mình thôi, đang chạy trốn họa Cộng Sản sắp chụp xuống quê hương. Có khác chăng là họ có giấy tờ chính thức để được gọi tên lên các chuyến bay, còn mình thì không, thế nhưng điều đó đâu ai biết được? Tự tin như vậy, tôi ngẩng mặt bước vào đám đông “nhận diện bà con”.

Nhóm đầu tiên là mấy tên nhạc trẻ thân quen gồm có Trung Hành của Mây Trắng, Quang Minh, tức Minh mập CBC, Minh “rè” của Keyhole và một vài người khác đã được ông Oliver một bầu show người Mỹ đưa vào DAO từ mấy ngày nay và đang chờ chuyến bay. Trung Hành cho biết, Trung Nghĩa của The Enterprise và vợ là violist Đoàn Thanh Tuyền đã đi từ ngày hôm qua. Kiềm điểm lại còn biết thêm Kim Anh, Uyên Ly của ban tam ca Ba Con Mèo cũng đã đi từ mấy hôm trước. Ông ca sĩ đầu đàn nhạc trẻ Jo Marcel thì đã rời Sài Gòn từ 19, 20 tháng Tư gì đó, cùng chuyến với tổng trưởng kinh tế Phạm Kim Ngọc, cùng gia đình bà thượng nghị sĩ “trăng sáng vườn chè” Pauline Văn Thơ, Kaxim thì ở lại vì có quốc tịch Tây, còn thì Tùng Giang, Tuấn Ngọc, Khánh Hà và gia đình Uptight nghe nói đã được George Esper (trưởng phòng hãng thông tấn AP ở VN) đưa vào và đang có mặt ở đây v..v.. và v..v… À thì ra, thảo nào cậu Tùng Giang nhìn rất là bình tĩnh lúc gặp tôi và anh Trầm Tử Thiêng ở Givral sáng nay.

Đảo sang phía bên kia, tôi thấy ông Đỗ Ngọc Yến mặt trầm ngâm, đầy âu lo đang thì thầm trao đổi với ông Đỗ Quý Toàn, cạnh đó là gia đình vợ con và túi sách, túi mang. Chợt có người vỗ vai, tôi ngoảnh lại thì ra đó là ông nhà báo kiêm thi sĩ Kiêm Thêm, ông KT tươi cười hỏi thăm rồi đưa tay chỉ về phía trước, gia đình anh Lê Quỳnh kìa, tôi nhìn qua và vẫy tay chào. Khi ở bên ngoài lúc ông Võ rủ tôi vào TSN, mình cứ nghĩ là còn quá sớm mà đi đâu? Thậm chí khi anh Văn Quang nói tôi vẫn chưa tin, đến lúc vào trong này mới biết mình là một trong những kẻ muộn màng! Ông Đỗ Ngọc Yến còn chia sẻ “tin nóng” là gia đình TT Thiệu và ĐT Khiêm cũng vừa được CIA đưa vào phi trường để đi Đài Bắc tối nay. Còn nhiều gia đình người quen khác nữa, nhưng tôi tò mò muốn đến nơi người ta đang sắp hàng để được gọi tên lên máy bay.

Từ xa nhìn vào hàng người xếp theo thứ tự, lần lượt nghe đọc tên, rồi họ xướng lên “có mặt”, sau đó sách hành lý vào cân lượng rồi bước lên xe bus để được đưa đến thang phi cơ. Thật tình cờ tôi nhận ra người đọc tên là ông nhạc sĩ Đức Huy, còn người hành khách vừa trả lời “có mặt” lại là ông bạn kiến trúc sư Nguyễn Tường Quý cùng gia đình. Thấy không khí thân tình, tôi đánh bạo bước lại gần hơn và la lớn cho anh Quý nghe: Lên đường bình an nhe anh Quý. Ông quay lại, nhận ra tôi vẫy tay từ giã vội vàng. Trong khi đó Huy cũng nhận ra tôi nheo mắt cười. Và cũng vì hành động này mà một “biến cố lớn” đã xẩy ra trong cuộc đời lưu vong, viễn xứ của tôi!

8 giờ tối ngày 25 tháng Tư, 1975. Vừa đọc xong danh sách chuyến bay và hoàn tất việc di chuyển hành khách, Đức Huy bước ra ngoài tìm tôi và đưa ngay vào bên trong nơi Huy đang làm việc, toàn là các sĩ quan US Marines Corps vừa từ Mỹ bay sang, mặt còn đỏ hoe, để điều hành cuộc di tản khẩn cấp này, chỉ có Huy là người VN duy nhất. Mặc dù tôi và Huy gặp nhau hầu như mỗi ngày, hai đứa vẫn thay phiên dùng xe đi làm vài ngày mỗi tuần. Huy đưa tôi đến Quân Đoàn III ở Biên Hòa, sau đó chàng lái xe đến Bình Dương nơi Huy phục vụ tại tiều khu này. Cả hai chúng tôi đều là các quân nhân đang tại ngũ, vậy thì Huy làm gì ở đây mà giờ này còn đứng gọi tên người lên phi cơ? Tôi ngại ngùng không dám hỏi, nhưng giả vờ thân mật nói đùa: Tao đâu có biết mày làm cho CIA? Vì chỉ có nhân viên CIA thì giờ này mới dám đứng gọi tên và quyết định cho ai đi, ai ở! Huy hì hì cười và tảng lờ hỏi tôi: mày có đói bụng không? tôi bảo: hơi hơi, nhưng mua thức ăn ở đâu? Huy không trả lơi, đứng dậy bước vào phía trong rồi đem ra cho tôi một cái Hamburger nóng hổi, thơm phức, gói trong giấy foil, cùng một lon Cola Cola lạnh buốt! Bụng đang đói, trời đang nóng, sực một miếng cái đã, chuyện đâu còn có đó!

Ăn xong tôi cám ơn Huy và hẹn lúc gia đình tôi đến nơi sẽ tái ngộ. Nhưng Huy kéo tôi lại và hỏi: Ăn gì nữa không?, tôi lắc đầu rồi bắt tay từ giã. Huy nói tiếp: Đâu có dễ thế, chàng ăn no, uống đã rồi, thì bây giờ phải làm việc chứ. Sau đó Huy dúi vào tay tôi một danh sách mới khoảng 30 gia đình và bắt tôi đọc tên để mời họ lên máy bay.

Đắn đo và lưỡng lự một hồi, Huy than mệt quá, tôi đành chiều theo ý Huy và bước ra ngoài, giọng nghiêm nghị mời mọi người có tên trong chuyến bay số…, hãy chuẩn bị xếp hàng. Mọi người nghe theo răm rắp. Tôi chợt cười thầm trong bụng: Hai tiếng đồng hồ trước còn là một tên “nhập cảnh lậu” vào DAO, hai giờ sau đã trở thành”thầy chú”! Đúng là một cuộc đổi đời! Tối hôm đó tôi làm việc suốt cả đêm, không ngủ, giúp cho Huy chợp mắt vì hắn đã thức trắng đêm hôm qua. Lúc rảnh rang hai thằng ngồi tâm sự thì mới biết là Huy đã được Bill Fraser (trưởng phái đoàn HK trong ban liên hiệp 4 bên), một fan trung thành của ban nhạc đưa cả gia đình vào TSN mấy ngày hôm nay và trong lúc chờ đợi, họ đã nhờ Huy đọc dùm tên người Việt cho đúng, có vậy thôi. Khi nào Huy đi thì họ lại nhờ người khác. và người khác đó, không ai, chính là tôi. Và biết đâu nhiều người cũng đã chụp trên đầu tôi cái nón CIA? Tuy nhiên tôi chẳng bận tâm, niềm an ủi mà tôi nhận được trong công việc này, là lời hứa của anh chàng thiếu tá Mỹ đen, mọi người gọi anh là Bob. Thấy tôi làm việc khá vất vả, Bob nói: Ráng giúp họ đi, khi nào gia đình vào đến DAO anh sẽ cho mọi người đi sớm kể cả tôi, mà khỏi cần phải sắp hàng xin manifest chuyến bay.

Đêm kéo thật dài, đủ mọi chuyện hỷ, nộ, ái, ố của những nhân vật được (hay có thể là “bị”) tôi đọc tên lên phi cơ, nhất là các sĩ quan cao cấp của Quân Đoàn III và Sư Đoàn 5 hoặc các chính khách mà chúng tôi biết mặt, quen tên. Có người e ngại, có người sợ hãi như đại úy Hùng ở Trung Đoàn 8, SĐ 5, nhìn thấy tôi ông định bỏ về, nhưng tôi gọi ông lại và trấn an: việc đi hay ở là không do tôi, ai có tên trong danh sách di tản cùng gia đình và được cấp giấy phép lên phi cơ thì họ có quyền đi. Tuy nhiên hầu hết khi bước qua mặt tôi, mọi người đều mỉm cười thân ái, mang một chút ân tình ở trong đó, đặc biệt là bà vợ và hai đứa con nhỏ của đại úy Hùng, bà gật đầu nhìn tôi và cười trong nước mắt. Những diễn biến đó đã làm cho tôi cảm thấy nhẹ người và quên đi bao nỗi căng thẳng, bàng hoàng của một ngày đầy biến động cùng một đêm dài nhất trong 30 năm cuộc đời.

Trong giây phút giằng co giữa đi và ở, giữa hạnh phúc và khổ đau đó, tôi bỗng nhớ đến Mẹ tôi ngày bồng bế lũ con thơ dại vượt biển vào Nam tìm tự do 21 năm về trước.

di cu bac vao nam 1954
Cuộc di cư từ Bắc vào Nam, 1954

Và ngày hôm nay, 45 năm sau, ngồi viết lại đoạn hồi ký trên, tôi muốn cùng với quý vị và các bạn nghe lại nhạc phẩm “1954 Cha Bỏ Quê, 1975 Con Bỏ Nước” của nhạc sĩ Phạm Duy qua giọng hát Elvis Phương sau đây:

Tháng Tư lại về đem những ký ức u buồn đến với cộng đồng người Việt tỵ nạn của chúng ta. Năm nay là lần thứ 45 tưởng niệm ngày miền Nam VN rơi vào tay Cộng Sản, và cũng là một tháng Tư buồn thảm nhất sau tháng Tư 1975. Không khí của đại dịch Vũ Hán bao phủ một mầu tang trên toàn thế giới. Với những biện pháp giới hạn hoạt động khiến cho năm nay dù có muốn, chúng ta cũng không thể tổ chức tụ họp đông đảo để làm lễ tưởng niệm ngày quốc hận 30 tháng Tư như những năm trước đây.
Trong hoàn cảnh đó, và để giúp quý vị nguôi ngoai niềm nhớ về quê hương, đất nước và ôn lại những kỷ niệm đã trải qua, đồng thời để giới thiệu bộ DVD “Những Người Lính Bị Bỏ Rơi”, kể từ hôm nay cho đến 30 tháng Tư, 2020, chúng tôi xin mạn phép sưu tầm và chia sẻ cùng quý vị một số sáng tác của cá nhân chúng tôi cùng các nhạc sĩ khác, về biến cố lịch sử ghi dấu ngày VN rơi vào tay Cộng Sản khiến cho hàng triệu người phải lần lượt bỏ nứơc ra đi tìm tự do. Kính mời quý vị thưởng thức và giúp phổ biến đến thân hữu của mình.

https://www.sbtn.tv/mot-thang-tu-buon-tham-cua-45-nam-vien-xu-nam-loc/

Một tháng Tư buồn thảm của 45 năm viễn xứ! (Nam Lộc)

nguoi linh bo roi

Kính dâng những Ngưởi Lính VNCH
Chúng ta lại đang bước vào tháng Tư, những tháng Tư u buồn của trang sử tỵ nạn mà bất cứ người Việt lưu vong nào trên đất khách đều không khỏi ngậm ngùi nhớ về nơi mình đã phải bỏ đi và nhiều người vẫn không thể trở về thăm chốn cũ!
Tưởng niệm Quốc Hận 30 tháng Tư năm nay có lẽ còn sầu thảm hơn 45 lần đã qua. Không khí của đại dịch Vũ Hán bao phủ một mầu tang trên toàn thế giới, con số tử vong mỗi lúc một cao. Tuần qua, tổng thống Hoa Kỳ đã chính thức ban hành lệnh “cách ly” cho tất cả công dân trên toàn nước Mỹ cho đến hết ngày 30 tháng Tư, 2020. Và hình như nhiều quốc gia khác trên thế giới cũng đang lần lượt áp dụng biện pháp này, khiến cho năm nay dù có muốn, chúng ta cũng không thể tổ chức tụ họp đông đảo để làm lễ tưởng niệm ngày quốc hận như những năm trước đây. Buồn hơn nữa là sẽ không có bất cứ một trung tâm ca nhạc nào thực hiện các bộ Video, CD hay DVD để tưởng niệm những tháng năm viễn xứ như ngày trước, vì hiện trạng sang băng, đĩa lậu và internet đã giết chết thị trường văn hóa nghệ thuật này.
Trong nỗi niềm và hoàn cảnh đó, một số anh chị em nghệ sĩ tự do đã hợp cùng đài truyền hình SBTN với phương tiện và chuyên viên điện ảnh sẵn có, cùng nắm tay nhau một cách vô vụ lợi, chung lưng thực hiện một bộ DVD lịch sử để tưởng nhớ năm thứ 45, ngày quê hương VN rơi vào tay Cộng Sản. Cá nhân tôi, được mặc lại bộ quân phục của đơn vị mình phục vụ sau 45 năm xa cách lòng không khỏi ngậm ngùi. Kỷ niệm chợt bùng về, nhớ lại ngày tôi xuống Lai Khê trình diện đại úy Nguyễn Văn Quý, trưởng phòng báo chí của Sư Đoàn 5 Bộ Binh vào đúng Mùa Hè Đỏ Lửa 1972, tiếp theo đó là những đêm dài nơi chiến tuyến. Tôi lại thích viết về cuộc đời của những người lính thách đố với cái chết, luôn luôn tình nguyện đi tuyến đầu, vì thế nên đêm đêm thường ngồi với các toán Biệt Kích của Sư Đoàn, say sưa nghe họ kể những trận đụng độ nẩy lửa, vừa hãnh diện với bao chiến công, vừa xót xa với những mất mát!
Nhìn ca sĩ Diễm Liên mặc chiếc áo dài đen trình bầy nhạc phẩm Người Tình Không Chân Dung, thì cả một trời kỷ niệm hiện về với hình ảnh nữ tài tử Kiều Chinh trong bộ phim này của gần 50 năm về trước. Nghe Thế Sơn hát Người Ở Lại Charlie trong bộ quân phục Dù, để nhớ về cố Đại Tá Nguyễn Đình Bảo, thân phụ của người bạn học cùng lớp với Thế Sơn, ai ai cũng nhận ra nỗi xúc động, đôi lúc nghẹn ngào trong tiếng hát của anh. Nhìn Thanh Trúc với Nếu Vắng Anh của nhạc sĩ Anh Bằng, thì không ai không khỏi nhớ đến khuôn mặt cùng giọng hát khả ái của nữ ca sĩ Lệ Thanh một thuở hoàng kim với tình khúc kỷ niệm đầu đời của những chàng trai trong thời gian đầu cuộc chiến, 1960… Và còn nhiều nhiều nữa, Hồ Hoàng Yến, Quốc Khanh, Nguyên Khang, Hoàng Thục Linh, Vũ Anh Thư, Huỳnh Phi Tiễn, Ca Đoàn Ngàn Khơi… còn Trả Lại Em Yêu, Cho Một Người Nằm Xuống, Thương Vùng Hỏa Tuyến, Một Chuyến Bay Đêm, Tôi Nhớ Tên Anh, dĩ nhiên không thể quên Chiến Sĩ Vô Danh… và đặc biệt là Thề Không Phản Bội Quê Hương! Gần 30 tiết mục với hơn 50 ca sĩ góp mặt. Đối với tôi, đây quả là một công trình phi thường mà anh chị em nghệ sĩ, các chuyên viên, và các tình nguyện viên có thể thực hiện được trong giai đoạn cùng hoàn cảnh hiện nay

ho hoang yen.

Hồ Hoàng Yến với “Trả Lại Em Yêu”

Tôi chắc chắn là nếu không vì lòng yêu quê hương, đất nước, không vì tình cảm dành cho những người lính QLVNCH, những người đã bị bỏ rơi, và nhất là nếu không có sự phù hộ của những anh linh tử sĩ, thì có lẽ khó ai có thể thực hiện được một tác phẩm nghệ thuật có tính cách lịch sử để lại cho hậu thế những hình ảnh trung thực của cuộc chiến đấu đầy chính nghĩa để bảo vệ tự do, dân chủ cho VN. Và cũng khó có một tác phẩm âm nhạc nào thể hiện được lòng biết ơn chân thành cùng sự ngưỡng mộ đối với những tấm gương hy sinh quả cảm của người lính VNCH để bảo vệ miền Nam VN, tiền đồn của thế giới tự do bằng DVD “Những Người Lính Bị Bỏ Rơi”!

the son

Thế Sơn và “Người Ở Lại Charlie”

Ước muốn duy nhất của anh chị em nghệ sĩ cùng nhóm thực hiện của chúng tôi là mong mỏi mỗi gia đình người Việt tỵ nan nên có một bộ DVD này, vừa để thưởng thức âm nhạc, vừa dùng làm tài liệu dành cho con cháu mỗi khi chúng muốn tìm hiểu về cuộc chiến VN, và quan trọng hơn cả là để tưởng niệm quốc hận lần thứ 45 trong không khí tang tóc của toàn thế giới hiện nay.
Muốn biết thêm chi tiết và đặt mua DVD hoặc Blu-ray, xin quý vị vào trang nhà: https://www.sbtn.tv/
Hãy ủng hộ và tiếp tay chúng tôi,
Nam Lộc
Tháng Tư, 2020
(hãy thắp cho nhau một ngọn đèn:
https://www.youtube.com/watch?v=H7nmtptLQvw)

MỖI NGÀY MỘT CA KHÚC TƯỞNG NIỆM 30 THÁNG TƯ

Nam Lộc

nguoi linh bo roi

Hôm nay là ngày 25 tháng Tư, 2020. Xin mạn phép chia sẻ cùng quý vị và các bạn một chút tâm sự của ngày này 45 năm về trước. và cũng là ngày mà tôi đã bắt đầu bước vào một cuộc đổi đời đầy những cay đăng, xót xa cho thân phận của một người tỵ nạn.
Ngày hôm qua 24 tháng Tư, 1975, lệnh cấm trại 100%, ngồi viết phóng sự và trực suốt đêm tại phòng Báo Chí Quân Đoàn III ở Biên Hòa. Sáng nay về Sài Gòn đem giao một số bài viết cho nhật báo Tiền Tuyến ở Cục Tâm Lý Chiến. Tình hình đất nước đang vô cùng căng thẳng, nhất là sau khi tổng thống Nguyễn Văn Thiệu từ chức và các tỉnh miền Trung cho đến một số ở miền Nam gần Sài Gòn cũng đang lần lượt lọt vào tay CS Hà Nội và quân Giải Phóng miền Nam! Vào lúc này thì người Mỹ đang ráo riết di tản các nhân viên của họ theo kế hoạch của Hoa Thịnh Đốn, trong số đó có gia đình tôi, vì cô em gái làm việc cho DAO. Cô đã đưa cả bố mẹ cùng hầu hết anh chị em (ngoại trừ tôi) vào nơi cô làm việc để được người Mỹ âm thầm đưa đến Tân Sơn Nhất trên những chuyến xe bus mầu vàng, chạy liên tục như đàn bướm trong thành phố đầy hoang mang và hoảng loạn, hoảng loạn như chính tâm trạng của tôi và cả chắc cũng tương tự như của nhiều người lúc bấy giờ!

Sài Gòn, những ngày cuối tháng Tư, 1975
Từ tòa soạn Tiền Tuyến, tôi ghé ngang báo Diều Hâu thăm thiếu tá Phạm Huấn, và đại úy Hà Huyền Chi là những người anh thân thương đã đỡ đầu chúng tôi trong các buổi Đại Hội Nhạc Trẻ hàng năm để gây quỹ giúp Cô Nhi, Quả Phụ Tử Sĩ. Gặp đại úy Lê Cự Phách, tức nhà văn Du Tử Lê ở báo Tiền Phong, biết tôi thích đọc thơ anh, mỗi lần về anh lại cho tôi một quyển. Trước khi rời nơi đây, tôi ghé qua bên đài phát thanh quân đội thăm trung tá Nguyễn Quang Tuyến tức nhà văn Văn Quang, mà ông đang làm quản đốc. Ông Văn Quang vừa họp xong trong phòng bước ra ngoài, vui vẻ chào đón và hỏi thăm tôi về tình hình ở quân đoàn. Tôi tường trình qua loa rồi bước ngay vào mục đích riêng của mình là xin ông một lời cố vấn rằng, nếu có cơ hội ra khỏi VN thì tôi có nên đi hay không? Tôi nhớ mãi câu trả lời gọn gàng của ông: Đi được thì cứ đi, các “ông lớn” cũng chuẩn bị cả rồi! Câu nói của ông làm tôi thêm hoang mang và suy nghĩ!
Tôi nắm tay ông từ giã, dự định sẽ về nhà ngủ một giấc thật dài để bù lại đêm qua và cũng để quên đi những xao xuyến, giằng co ở trong lòng! Nhưng chợt thấy đói nên ghé ngang Đêm Mầu Hồng rủ Tùng Giang và Lệ Thanh ghé quán Bà Cả “Đọi” ăn trưa. Sau đó cả ba đi bộ đến trụ sở quốc hội gặp chị Phúc, người chị cả của gia đình, đang làm việc tại đây, cũng để thăm dò tình hình và nhân tiện nhờ chị tái gia hạn dùm tôi tấm thẻ báo chí để dự thính ở quốc hội (đến giờ này tôi vẫn còn lo những sinh hoạt bình thường)! Chị Phúc nói với chúng tôi, các dân biểu cũng chia làm hai nhóm, người lo tìm đường ra đi, kẻ thì chuẩn bị tham chánh, hoăc đảm nhận các chức vụ quan trọng trong chính quyền mới! Tôi hỏi chị về chuyện ra đi, chị cũng trả lời tương tự như anh Văn Quang: Đi được thì cứ đi, nhưng cậu Lộc coi chừng đừng để trở thành người đào ngũ! Câu nói của chị càng làm tôi thêm hoang mang và bối rối!
Bước qua bên đường, ghé Givran uống cà phê, gặp ông anh Trầm Tử Thiêng, người nhạc sĩ giáo chức mà chúng tôi rất kính nể, và anh cũng là người nghệ sĩ cuối cùng mà tôi gặp mặt trước khi xa Sài Gòn. Tôi đưa ra cùng một câu hỏi, nhưng lần này bị Tùng Giang “cự nự”: Sao mày lo quá vậy Lộc, hãy cứ để cho số phận an bài! Anh Thiêng bảo: “Nhưng số phận không phải chỉ hoàn toàn là do ở Thượng Đế, mà đôi lúc cũng tùy thuộc vào quyết định của chính mình”, và có ngờ đâu câu nói này đã theo đuổi tôi trong suốt cả cuộc đời còn lại!
Trở về nhà cô em, nơi tụ họp của gia đình, mọi người đã ra đi. Im lặng và trống vắng, tôi đặt mình xuống giường, ngủ như chết! Đến khoảng 5 giờ chiều bỗng có người vừa bấm chuông, vừa gõ cửa ầm ầm, tôi tỉnh giấc và bước ra ngoài xem ai mà hối hả thế, thì gặp ông VõVV, một giới chức cao cấp làm việc tại Bộ Kế Hoạch, anh Võ đến tìm người em trai của tôi là luật sư Nam Khang. Tôi bảo anh, Khang đã vào DAO để chuẩn bị được người Mỹ di tản cùng với gia đình. Anh gật đầu, rồi bất chợt hỏi tôi: Nam Lộc có rảnh không, đi với tôi vào Tân Sơn Nhất chơi, tiện tôi đi công tác đón một yếu nhân của bộ đi họp ở ngoại quốc về. Tôi lưỡng lự từ chối, anh Võ lại đốc thúc, ở nhà làm gì, đi thăm dò tình hình xem sao? Chợt nghĩ, ừ nhỉ, tại sao không? Tôi rửa mặt vội vàng, mặc chiếc quần jean, không kịp đi giầy, sỏ vào đôi dép da của Mẹ để sẵn ngòai cửa, rồi chui vào chiếc xe Volkswagen Beetle chật chội của anh Võ để ra phi trường. Trên đường đến TSN, xe đã bị quân cảnh, cảnh sát rồi MP Mỹ chặn lại hỏi giấy tờ năm lần, bẩy lượt. Lòng tôi cũng hơi bấn loạn, thuộc loại “không” cò tật mà vẫn giật mình, vì tôi có toan tình gì đâu! Nhưng anh Võ đã có sẵn “bùa hộ mệnh”, tấm sự vụ lệnh to tổ chảng của Bộ, với lá cờ VNCH kéo dọc và chéo ngang nên gặp giới chức công lực nào họ cũng phất tay cho đi.

Sài Gòn, cuối tháng Tư, 1975: Quân Cảnh, Cảnh Sát ở khắp mọi nẻo đường

Vào đến phi trường, còn sớm giờ đón khách, anh Võ rủ tôi đi vào khu tập trung của những người Việt đang được chính phủ Mỹ di tản, tôi hết hồn khi nhìn thấy một rừng người khoảng cả ngàn, vừa đứng, vừa ngồi chen chúc trong khuôn viên bên ngoài trụ sở cùng khu vực Gym của cơ quan DAO để chờ được gọi tên lên máy bay. Rảo vội một vòng, tôi nhận thấy có rất nhiều người quen biết, trong số đó có cả các chính khách dân sự, các sĩ quan chỉ huy cao cấp cùng nhiều quân nhân ở các Sư Đoàn hay Quân Đoàn mà tôi đã gặp. Có các bạn hữu của tôi, và có cả những người đã “hứa là sẽ đưa tôi đi” nếu tình thế khẩn trương, ấy thế mà bây giờ họ đã đứng ở đây? Nhìn cảnh tượng này, khiến tôi lại tăng thêm niềm hoang mang và hoảng loạn.
Hai anh em trở lại xe, bỗng dưng ông Võ cản tôi: Nam Lộc ở lại đây đi, chờ gia đình vào rồi nhập bọn để được di tản cùng! Tôi lắc đầu từ chối, và viện dẫn đủ mọi lý do, nào là không chuẩn bị, không mang theo quần áo, không có đủ giấy tờ, tiền bạc và sau cùng là trách nhiệm trong quân đội v..v…! Nhưng nói tới đâu, ông lại thuyết phục và đưa ra lời giải thích tới đó, để rồi rốt cục tôi nghe ông và ở lại phi trường. Ông Võ còn hẹn thêm là 9 giờ sáng mai, tức là ngày 26 tháng Tư, ông sẽ trở lại, đưa hai người em vào, đồng thời sẽ ghé nhà cô em lấy mấy bộ quần áo cho tôi (cò ngờ đâu đến 16 năm sau tôi mới gặp lại ông qua chương trình HO, sau hơn 10 năm ông đi tù cải tạo và 6 năm vất vưởng sống ở VN).
Trở lại khung cảnh náo nhiệt tại khuôn viên DAO, phi trường TSN lúc bấy giờ, tôi không biết mình sẽ phải làm gì, gặp ai và phản ứng thế nào nếu có người nhận ra mình, một quân nhân đang hiện dịch? Rồi đến khi nào thì gặp được gia đình? Nếu bị bắt và bị đưa về quân lao thì có ai biết mà lo lắng cho mình? Bên cạnh đó là tiếng cười ròn rã của những người đang chờ đợi các chuyến bay, trộn với tiếng khóc than, oán trách thật bi ai, tất cả đã đưa tôi từ tâm trạng hoang mang, lo lắng, đến khủng hoảng tinh thần. Tôi chợt nhớ lại câu nói của anh Trầm Tử Thiêng lúc ban chiều: “Số phận không phải chỉ hoàn toàn là do ở Thượng Đế, mà đôi lúc cũng tùy thuộc vào quyết định của chính mình”. Nhưng hỡi ôi, quyết định của tôi để ở lại nơi đây, vào giờ này, không phải do Thượng Đế, cũng chẳng phải của chính mình mà là của ông Võ! Rồi cuộc đời sẽ đưa tôi về đâu? Có lẽ không lời diễn tả nào thích hợp hơn bằng bài hát Kinh Khổ mà anh Thiêng đã viết, có thể diễn tả tâm trạng vào thời điểm đó của tôi hay của bao người đang dở khóc, dở cười, bên cạnh lời cầu nguyện mà Mẹ tôi và các bà Mẹ VN khác đang dâng lên Thượng Đế cho tương lai của những đứa con mình?
Xin hẹn sẽ viết tiếp tiếp vào ngày mai, nhưng bây giờ kính mời quý vị và các bạn cùng nghe Kinh Khổ của nhạc sĩ Trầm Tử Thiêng qua giọng hát Khánh Ly:

https://www.youtube.com/watch?v=CPPpkyOLS1o
(Bút ký này xin được tưởng nhớ đến những người đã khuất mà tôi xin phép nhắc tên trong bài viết: Thiếu tá Phạm Huấn, thi sĩ Du Tử Lê, anh VõVV, các nhạc sĩ Trầm Tử Thiêng, Tùng Giang, và xin kính tặng những người vẫn còn sống bình an trên cuộc đời này: Nhà văn Văn Quang, thi sĩ Hà Huyền Chi, chị Phúc, Lệ Thanh)

Tháng Tư lại về đem những ký ức u buồn đến với cộng đồng người Việt tỵ nạn của chúng ta. Năm nay là lần thứ 45 tưởng niệm ngày miền Nam VN rơi vào tay Cộng Sản, và cũng là một tháng Tư buồn thảm nhất sau tháng Tư 1975. Không khí của đại dịch Vũ Hán bao phủ một mầu tang trên toàn thế giới. Với những biện pháp giới hạn hoạt động khiến cho năm nay dù có muốn, chúng ta cũng không thể tổ chức tụ họp đông đảo để làm lễ tưởng niệm ngày quốc hận 30 tháng Tư như những năm trước đây.
Trong hoàn cảnh đó, và để giúp quý vị nguôi ngoai niềm nhớ về quê hương, đất nước và ôn lại những kỷ niệm đã trải qua, đồng thời để giới thiệu bộ DVD “Những Người Lính Bị Bỏ Rơi”, kể từ hôm nay cho đến 30 tháng Tư, 2020, chúng tôi xin mạn phép sưu tầm và chia sẻ cùng quý vị một số sáng tác của cá nhân chúng tôi cùng các nhạc sĩ khác, về biến cố lịch sử ghi dấu ngày VN rơi vào tay Cộng Sản khiến cho hàng triệu người phải lần lượt bỏ nứơc ra đi tìm tự do. Kính mời quý vị thưởng thức và giúp phổ biến đến thân hữu của mình.

https://www.sbtn.tv/mot-thang-tu-buon-tham-cua-45-nam-vien-xu-nam-loc/

 

Nhạc sĩ Nam Lộc nói về cố nhạc sĩ Việt Dzũng

namloc viet dzung

Phóng viên Người Việt đã có cuộc gặp gỡ với nhạc sĩ Nam Lộc để nghe anh trải lòng những câu chuyện về người bạn đồng hành của anh – ca nhạc sĩ, MC Việt Dzũng.

Nam Lộc (NL): Là một người bạn cũng như được Việt Dzũng xem tôi như một người anh, cùng làm việc với nhau trong suốt hơn 30 năm trời, đối với tôi, Việt Dzũng mất đi được xem là sự mất mát rất lớn sau sự mất mát của cha mẹ tôi.

Tôi còn nhớ hôm tôi được tin mẹ tôi mất là lúc tôi đang trong sở làm, cho nên dĩ nhiên cơn xúc động rất mạnh nhưng gia đình không thấy được.

Ngày bố tôi mất là lúc tôi vừa xuống máy bay sau chuyến đi diễn về, khi đó tôi đứng khóc một mình ở phi trường.

Nhưng lúc nghe tin Việt Dzũng mất thì mọi người trong gia đình đều đang ở nhà, nên họ chứng kiến được sự sụp đổ của ‘chồng mình, bố mình’, tôi khóc một cách thảm thiết, và vợ tôi cũng như các con lúc đó không hề biết lý do tại sao tôi đau buồn vô hạn như vậy, cho mãi về sau này khi biết là Việt Dzũng mất thì bà xã tôi mới nói với các con là “Không có gì ngạc nhiên khi bố suy sụp hoàn toàn như thế!”

Tôi muốn nói như vậy để chứng tỏ được mối quan hệ cũng như tình cảm sâu đậm giữa tôi và Việt Dzũng nhiều đến mức như thế nào?

Việt Dzũng ra đi để lại sự nhớ thương, tiếc nuối của một nhân tài khó tìm thấy… Có rất nhiều người giỏi hơn Dzũng chứ, nhưng nếu để tìm một người đa tài và đặc biệt con người này có một trái tim sắt đá trong thành trì chống cộng, chống lại những sự bất công, bên cạnh đó trái tim của Dzũng cũng mang sự nhân ái đối với những người bất hạnh.

Thật khó tìm được một người như Dzũng… Bởi thế nỗi đau đó kéo dài trong tôi suốt cả một tuần lễ nay.

Người Việt (NV): Sau 30 năm làm việc bên cạnh Việt Dzũng, kỷ niệm nào được xem là đáng nhớ và sâu sắc đối với anh?

NL: Kỷ niệm đối với tất cả các anh chị em nghệ sĩ thì rất nhiều, nhưng nếu hỏi kỷ niệm với Việt Dzũng thì rất đặc biệt vì tôi không có cơ hội để đi chơi riêng với Việt Dzũng.

Dzũng là người rất đam mê công việc, mà có đi chơi với Việt Dzũng cũng chán lắm vì lúc nào cũng vừa làm vừa chơi, có nghĩa là anh em ngồi nói chuyện, đấu láo, hay uống rượu thì trước mặt Dzũng bao giờ cũng là máy tính làm việc, rồi trả lời điện thoại…

Tức là Dzũng vừa làm, vừa chơi, do vậy khiến mình mất hứng đi… Ðôi khi tôi bảo Dzũng “Hay là thôi em ngưng làm việc để nói chuyện, vui chơi được không?” Lúc đó Dzũng trả lời: “Anh yên tâm, em làm việc nhưng vẫn vui như thường mà,” quả thật, Dzũng vừa làm nhưng cũng vẫn sinh hoạt, nghịch ngợm như thường.

Ðó là điều tôi nhìn thấy ở Dzũng, tuy nhiên điều làm tôi nhớ nhất về Dzũng đó là sự đam mê trong công việc, cứ mỗi lần làm bất cứ điều gì dù là văn nghệ, sinh hoạt cộng đồng, từ thiện, Dzũng đều đặt tất cả tâm trí vào công việc được giao phó, đối với Việt Dzũng trong đời sống phân biệt rõ ràng việc nào ra việc đó.

Có một điều khác tôi muốn nhắc đến đó là quan hệ mật thiết giữa tôi và Việt Dzũng giống như anh em ruột thịt, gắn chặt với nhau, bởi vậy khi tôi cần Dzũng giúp việc gì hay Dzũng cần tôi làm điều gì, giữa hai chúng tôi đều biết chắc chắn là đối tác của mình sẽ làm việc ấy trọn vẹn…

Thậm chí trên sân khấu, tôi để cho Dzũng tha hồ đùa nghịch, bởi vì tôi tin Dzũng bao giờ cũng là người có chừng mực, không bao giờ đi quá lố, và làm ảnh hưởng đến danh dự của bạn mình.

Có người hỏi tôi liệu những câu hỏi và trả lời trên sân khấu giữa chúng tôi có được sắp đặt sẵn hay không? Câu trả lời là không bao giờ, tuy nhiên những gì chúng tôi trao đổi với nhau đều nằm trong một giới hạn và không đi quá sự tương kính.

NV: Cơ duyên nào thuở ban đầu anh cộng tác với anh Việt Dzũng trên sân khấu Asia?

Hai MC Việt Dzũng và Nam Lộc trong một chương trình thu hình của Trung Tâm Asia. (Hình: Nhạc sĩ Nam Lộc cung cấp)

NL: Tôi đã biết Việt Dzũng là một nhân tài về âm nhạc, cũng như trong lãnh vực phát thanh và truyền hình, tuy nhiên con người của Dzũng không bao giờ đặt chữ ‘tôi’ lên trước hết, Dzũng thích làm việc gì là Dzũng làm và không cần biết đợi ai mời…

Tôi còn nhớ khi tôi bắt đầu làm việc với Asia, sau khi tôi thực hiện được một số chương trình, thì bất thình lình tôi thấy Việt Dzũng cộng tác với Trung Tâm Asia, lúc đó trong lòng tôi vô cùng sung sướng, hãnh diện vì giống như ‘con cá gặp nước’, tức là đúng môi trường của Dzũng…

NV: Ảnh hưởng của Việt Dzũng đối với đời sống của anh như thế nào?

NL: Ðối với Việt Dzũng, vì tôi nhận biết được tài năng của anh trên lãnh vực âm nhạc, báo chí, truyền thanh, cũng như cá nhân của Việt Dzũng là một người có tư cách đàng hoàng, nên trong trái tim tôi, Dzũng có một vị trí rất trang trọng, đồng thời còn có sự kính nể đối với tài năng và cách ăn nói chững chạc của người thanh niên đó.

Dấu mốc thay đổi cuộc đời của tôi để tôi bước vào lãnh vực truyền thông cũng như lãnh vực di trú, tị nạn đó là năm 1993, khi Dzũng bắt đầu làm việc với đài Little Saigon Radio, thì lúc đó chính phủ Hoa Kỳ đang bàn về kế hoạch Welfare Reform, thì từ Little Saigon Radio, Dzũng và tôi liên kết với nhau.
Dzũng ngồi ở quận Cam, trong phòng thu âm của Little Saigon Radio, còn tôi thì ngồi ở Quốc Hội Mỹ, cả hai anh em thực hiện những cuộc phỏng vấn và tường trình live.

Khoảng cuối thập niên 90, sau một thời gian tiếp tục làm những buổi hội thoại về đề tài di trú như thế, Dzũng lập ra chương trình “Hội Thoại với Nam Lộc” và không ngờ chương trình này kéo dài cho đến ngày hôm nay, tức là những chương trình tôi thực hiện với Dzũng trên SBTN, đài Radio Bolsa đã kéo dài liên tục trong suốt hơn 20 năm qua.

Ðó là những ảnh hưởng của Việt Dzũng trong cuộc đời của tôi.

NV: Trong suốt chừng ấy thời gian làm việc chung với nhau, có khi nào anh bất đồng ý kiến với anh Việt Dzũng không? Và những lúc như thế thì hai người làm thế nào để có thể vượt qua và tiếp tục làm việc chung?

NL: Có chứ! Tôi và Dzũng thỉnh thoảng có những bất đồng với nhau trong công việc, nhưng chúng tôi có những cam kết riêng là cứ để cho đối phương nói, sau đó về thì mỗi người suy nghĩ lại xem ý kiến đó đúng hay sai, tại sao như thế, rồi mình sẽ ngồi với nhau…

Không phải chỉ có mình tôi có những bất đồng với Dzũng, mà cũng có những người khác, thế nhưng tùy mỗi người xử lý ra sao? Thí dụ như có người sau khi có bất đồng ý kiến thì họ dẹp bỏ luôn những gì họ đang tranh luận với Dzũng, hoặc có người thì không muốn ngồi chung làm việc với Dzũng nữa.
Riêng giữa tôi và Dzũng thì hai anh em tin ở một điều là tụi này tìm đến mẫu số chung là làm sao để mang lại kết quả tốt đẹp nhất cho công việc, có lợi cho cả đôi bên…

Thêm một yếu tố khác là chúng tôi tương kính lẫn nhau, tôi không bao giờ nghĩ rằng mình lớn tuổi hơn bạn mình nên bắt nạt đối phương hoặc ngay cả với Việt Dzũng cũng thế, tôi vẫn thường nói với Dzũng là nếu như Dzũng chỉ nghe tôi bởi vì Dzũng nể anh là người lớn tuổi thì chắc chắn Dzũng đã không có những xử sự công bằng khi làm việc với Dzũng. Từ đó trở đi Dzũng rất tự nhiên khi giữa hai chúng tôi có những bất đồng với nhau.

NV: Cảm nhận của anh thế nào đối với tinh thần chống cộng của Việt Dzũng?

NL: Việt Dzũng là một trong những chiến sĩ chống cộng đứng gác ở cổng thành Little Saigon, thủ đô của người tị nạn, nếu không có người có tinh thần chống cộng mạnh như Dzũng hay những người có cùng chiến tuyến với Dzũng thì giờ này cờ đỏ sao vàng chắc có lẽ đã tràn ngập thủ đô tị nạn của chúng ta rồi.
Bạn cứ tưởng tượng một quốc gia đã có sự bang giao với Hoa Kỳ, thì họ có quyền được luật pháp bảo vệ trong lãnh vực ngoại giao, họ có quyền được hoạt động trong một đất nước được coi là tự do, dân chủ nhất thế giới, vậy mà tại sao lá cờ của quốc gia họ không thể có mặt tại đây, đó là nhờ những người tị nạn Cộng Sản, có tinh thần chống cộng dứt khoát, vững chắc như Việt Dzũng.

NV: Anh nghĩ sao khi có người lên án tinh thần chống cộng của Việt Dzũng là quá khích?

NL: Ðối với tôi sự diễn dịch ấy là không đúng, bởi vì chính những tinh thần mạnh mẽ ấy đã giúp cho cộng đồng chúng ta phát triển không ngừng, tinh thần quốc gia bao giờ cũng chắc chắn, vững bền…

Bên cạnh đó những chương trình Dzũng đã làm như ‘Bên Em Ðang Có Ta”, “Children Of The Ocean”, giúp những người tị nạn đang thiếu thốn, giúp những cô gái bị bán qua Ðài Loan… Những chương trình trợ giúp những nạn nhân thiên tai khắp nơi, hay giúp cho các thương phế binh Việt Nam Cộng Hòa… Tất cả những ‘project’ đó đòi hỏi phải là một người có trái tim nhân ái mới làm được như Dzũng.

Ðặc biệt với Việt Dzũng, khi làm một việc gì thì Dzũng đều phải làm với một năng lượng gấp đôi người khác, cả về thể xác lẩn tinh thần, bởi vì như bạn thấy Dzũng có khuyết tật trên người, đi đứng khó khăn hơn người khác.

Nếu như bạn đã từng tiếp xúc gần với Việt Dzũng mỗi khi bước lên sân khấu, bạn sẽ thấy Dzũng phải cực nhọc biết bao nhiêu ở mỗi bước đi như thế… Nhưng với ý chí mạnh mẽ, tinh thần vững chắc, Dzũng không hề để người khác phải quan tâm đến sức khỏe của mình cả.

NV: Có bao giờ anh nhìn thấy anh Việt Dzũng tức giận với ai chưa?

NL: Chưa bao giờ tôi nhìn thấy Dzũng giận ai cả, thậm chí lúc Dzũng khó chịu trong lòng vì ai đó cũng thế, Dzũng vẫn luôn nở nụ cười trên môi, và bình tĩnh trong mọi tình huống.

NV: Làm việc, cộng tác với anh Việt Dzũng trong một thời gian dài như thế, theo anh ưu tư nào của anh Việt Dzũng vẫn chưa được thực hiện?

NL: Có hai điểm, điểm thứ nhất là Dzũng mong mỏi được trở về quê hương, hát cho đồng bào mình nghe, bởi vì chúng tôi nhận rất nhiều thư từ đồng bào trong nước bày tỏ sự quý mến Dzũng, họ mong muốn được gặp, tiếp xúc với Việt Dzũng.

Ðặc biệt là những người trẻ, hoạt động sau này, họ là những thành phần hiểu biết, không chấp nhận chế độ Cộng Sản và biết rằng chỉ có một phương tiện duy nhất là lật đổ chế độ Cộng Sản, Dzũng mong có được ngày đó, với bao nhiêu quyết tâm đã đổ vào công cuộc này, Dzũng mong ngày đó xảy ra sớm hơn ngày Dzũng ra đi.

Riêng tại hải ngoại, có một project mà Dzũng đang âm thầm làm việc với tôi từ bao nhiêu năm nay, đó là làm thế nào kêu gọi những doanh gia cùng hợp sức để xây dựng một trung tâm văn hóa nhỏ cho cộng đồng Việt Nam tại hải ngoại để lại cho thế hệ trẻ sau này.

Ðó là hai mối ưu tư mà tôi nghĩ Việt Dzũng đã ngậm ngùi mang theo về bên kia thế giới.

 

LẠI MỘT NGƯỜI VÀO TÙ, CHỈ VÌ MỘT CA KHÚC!

Hôm nay là ngày 22 tháng Tư, 2020, 2 ngày sau khi Thầy giáo Nguyễn Năng Tĩnh bị tòa án phúc thẩm CSVN tại Nghệ An tuyên y án sơ thẩm 11 năm tù và 5 năm quản chế trong một phiên xử bỏ túi, không có thân nhân tham dự.

Dưới tiêu đề “Thầy Giáo Dạy Trò Bài Hát ‘TRẢ LẠI CHO DÂN’ Bị Khởi Tố”, đài BBC có kèm theo tấm ảnh thật chụp ngay tại lớp học ở thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An, và đây cũng là một trong số những tang chứng kết tội nhà mô phạm yêu nước này.

thay giao 1

Câu nói cuối cùng sau khi bị kết án Thầy giáo Tĩnh tuyên bố:
“Đây là một lũ bất nhân đã làm ra phiên tòa bất công.”

thay giao 2

Ngưỡng mộ tinh thần quả cảm, và xúc động trước lòng yêu nước của một nhà giáo trẻ đã phải đi tù, một phần cũng chỉ vì bài hát do mình sáng tác, nhạc sĩ Việt Khang đã thực hiện đoạn nhạc cảnh sau đây để kính tặng Thầy giáo Nguyễn Năng Tĩnh, mà hôm nay tôi xin thay mặt tác giả được chia sẻ đến toàn thể quý vị.

TỪ SINH LÝ ĐẾN TÂM LÝ

Võ Công Liêm

image002

Tranh Vẽ Võ Công Liêm: ‘Không nhận ra / Unknowable’

Điều không có thể bất khả thi để đè nén trước một ấn tượng gây nên của sống và chết; sự đó con người coi là lẽ thường cho một cảm tính chung, đặc vào một tiêu chuẩn biến tánh, tìm kiếm một năng lực, đạt kết quả hữu hiệu sức khoẻ cho chính họ và đó thật là kỳ lạ trong những thứ khác; trong khi chúng ta coi thường những gì là thực sự có một giá trị trong cuộc đới –It is impossible to resit the impression that people common-sense apply false standarts, seeking power, success health for themselves and admiring them in others; while underrating what is truly valuable in life. Giữa hoàn cảnh hiện thời; sự cớ mà chúng ta đương đầu như đang ở cái giốc đứng (ramp-up) gồ ghề khó bề ‘giải phóng’ dù có ban bố những sắc luật khác nhau, tựu chung chỉ đi tới việc thực hiện cách ly thuộc sinh lý (physical distancing),việc đó nó nằm trong phạm trù sinh lý và tâm lý, vừa ngăn ngừa, vừa theo dõi tiến trình hoạt động giữa hữu thể và tha thể trong cùng một hiện tượng chung. Hẳn nhiên đã vượt qua những phán quyết tổng quát, là một trong những phương hướng ngừa dịch và chửa dịch ở giai đoạn này; người ta cho đó là sự cớ hết sức nguy hiểm mà đó là triệu chứng, với những tốn kém khác nhau của vũ trụ con người và đó là của tâm thần cuộc đời –the rich variety of the human world and its mental life. Tuy nhiên; điều mà con người không thể cho là việc làm giản đơn mà là nỗ lực tìm kiếm giữa những gì con người hành động và suy nghĩ, đấy là hành động đa dạng hóa vấn đề của những gì mà người ta mong muốn, là cảm nhận đặc biệt dành cho những gì mất tính tự do và chủ quyền, là cái mà con người đã tìm thấy ở chính họ và nhiều việc khác sẽ xẫy ra cho hôm nay và ngày mai. Nó biến dạng từ qui tắc đơn sơ trở thành sắc luật (acts) gần như bao trùm hằng triệu người khác trên điạ cầu này; cảm nhận đó người ta nghiêng hẳn về cái gì của tuyệt đối và trong cảm thức đó chính là sự ‘miên viễn / eternity’, một sự gì vô cùng của Thượng đế. Nhưng; thượng đế vô tư trước biến thiên tự nhiên của vũ trụ mà con người không thể ngăn chận được. Cảm nhận đó đôi khi không còn hữu hạn (limitless), không còn biên giới (unbounded) chỉ còn lại mặt phẳng, một mặt phẳng không bóng người. Đấy là cảm nhận chủ quan rõ ràng không thay đổi được –This feeling was a purely subjective fact, không còn là tín điều –not an article of faith và cũng không đoan chắc sự đó do từ bê tha, đồi trụy, ăn dơ ở bẩn dính vào để phát sinh, nhưng; nó đến trong một nguyên cớ tự nhiên mà chúng ta khó tìm thấy để xác quyết cụ thể. Vậy nó từ đâu đến và sanh ra từ đâu. Đó là câu hỏi được đặc ra hôm nay như một biện chứng pháp, một biến chứng chưa từng có, nó khó khăn hơn những gì đã khám phá. Ấy là vấn đề đang lùng kiếm cho một lý do xẫy đến khắp toàn cầu; đấy là vấn đề được thẩm định. Chắc chắn là phải tiêu phí vào một giá rất cao hơn những gì đã tiêu phí trước đây. Để rồi người ta nêu lên tiêu đề gọi là tôn giáo nơi chính con người –one was entitled to call oneself religious, dù cho; dưới mọi niềm tin nào chỉ là niềm tin trong một thứ ảo giác mà thôi.

Chỉ còn lại vấn đề hôm nay liệu có làm được hay không, có thực chứng và lợi ích, liệu nó sẽ có thể là một nhận thức tốt đẹp như thể là fons et origo của tất cả những gì mà tôn giáo cần đến nó. Thực ra chúng ta đang biện minh trong sự tìm kiếm cái gì gọi là phân tâm học (psychoanalytic), việc này có thể nói là di truyền (genetic) hay vi nhiễm (infection), phát sinh từ cảm thức mà ra, hay cho đó là cảm thức tự tại (a sense of self), của bản thể ở nơi ta (our own ego). Bản thể hiện ra nơi ta là bản thể tự trị, đồng thề để cùng nhau lên đường chống trả mọi thứ khác nhau là bài học dạy cho chúng ta những gì là ảo giác, một thứ bản ngã tồn tại và kéo dài trong tư duy của chúng ta; triệu chứng này có phần ảnh hưởng đến vật lý hơn là tâm lý, nó nằm trong một thứ tâm lý vô thức (unconscious psychical). Ngăn cách hay cách ly giữa cái bên trong (internal) và cái bên ngoài (external) là một phục vụ rất đổi tự nhiên cho một mục đích có tính chất thực hành; trong sự đó nó cung cấp để che chở, bảo vệ chống lại những gì ô nhiễm, những gì không được hợp lý hóa là kinh nghiệm và những đe dọa của bệnh dịch mang tới.
Dữ kiện chính là công ăn việc làm, rõ ràng qua cách thức loại bỏ hay đóng cửa; chắc chắn không làm hài lòng từ chỗ không trở nên lại trở nên trong một tình huống chẳng đặng đừng. Tình thế đã xô ngã từ tinh thần đến vật chất đem lại một sự khủng khoảng toàn cầu. Một chứng bệnh vừa tâm lý, vừa sinh lý; gọi nó là bệnh lý tâm thần (mental-illness) hay tâm thần lành mạnh (mental-wellness). Cái đó chính là điểm khởi đầu mang lại ý nghĩa những gì thuộc bệnh lý hỗn loạn –from without becomes the starting point for significant pathological disorders. Đấy là yếu tố cần thiết để thực thi hơn là ban hành điều kiện cách.
Dựa trên quan điểm này, bản ngã tách ra khỏi ở chính nó từ những gì của thế giới bên ngoài, bởi; chúng ta quá cơ bản, quá đặc nặng vấn đề là thái độ hô hào hơn cảnh tỉnh, sự đó gần như tăng không giảm, một đe dọa gián tiếp khơi dậy trong tinh thần và thể xác của người bị nhiễm và trở nên bệnh lý tâm thần hơn là tâm thần lành mạnh. Hay là; đặc nó trong qui chế đúng đắng, bản thể là nguyên thủy bao hàm cho tất cả, nhưng; sau đó mới cách ky hoặc tự cách ly, hoặc ở trong thế giới bên ngoài từ chính nó –Or; to put it more correctly, the ego is originally all-inclusive, but; later it separates off or self-isolation or quarantine an external world from itself. Hiện diện cảm thức của chúng ta về cái tự mình / self là như thể chỉ có mình biết mình, cái còn lại bản thể ở chính chúng ta và thế giới bên ngoài. Thực ra; gọi nó thì, là, hoặc là nó nằm trong khâu tâm thần hay do từ ảnh hưởng khác –either in the mental sphere or in other spheres. Hẳn nhiên chúng ta đã tìm thấy tất cả dạng thể của cuộc đời vẫn còn hiện hữu tới hôm nay.
Chúng ta dừng lại ở đây phòng ngự nhiều vấn đề có thể xẫy ra hoặc được duy trì trong tình trạng thuộc khâu tâm thần, nhưng nó có một sự gì mê hoặc trong đó và trong đó mang nhiều ý nghĩa khác nhau, việc này có lẽ chúng ta thông qua; dù cho nó không có nhiều điều chưa hội đủ cho một cơ sở đưa ra mà chỉ là một dự phóng cho tương lai, quan trọng là chúng ta tìm ra được thuốc chửa (vaccines) để ngăn ngừa giữa lúc đang bành trướng (overwhelming). Đấy là vấn đề cấp thời trước sự lan tỏa đáng sợ. Tuy nhiên; yếu tố đưa tới hủy hoại có thể có nhiều sự lý của căn bệnh: cảm cúm, sổ mũi, ho hen, tiêu chảy … là điều thường xẫy ra ở thành phố lớn đông cư dân như New York, Vũ Hán ngay cả những nơi ít có những xáo động về mặt xã hội, những nơi êm ả như Rome, Madrid, London…; khó khăn cho chúng ta là làm sao khai trừ, tiêu diệt bởi sự tàn phá của siêu vi mà chúng ta xem nó như kẻ thù chung và cũng không vin vào triệu chứng lý hóa nhiên (organic chemistry) mà cho đó là bệnh lý tự nhiên. Thực ra ở đây quá nhiều điều để tìm thấy nó như là hiện tượng mới lạ giữa kỹ nguyên này, kể cả mới lạ đối với nghành y khoa; thế nhưng khoa học y khoa không cho đó lạ lẫm đối với con người. Chính vì vậy mà cần có vật tư để phòng ngừa. Đấy là điều mà chúng ta không đặc nó trong vị trí giảng giải hay dẫn chứng mà đây là một ấn tượng bởi nhiều nghĩa của bất luận tương quan nào –we are not in a position to illustrate this phenomenon by means of any parallel. Có lẽ; chúng ta đi quá xa vấn đề giữa bệnh lý và tâm lý là hai đối tượng tuy gần kề nhưng lại phản đề, bởi; do từ nhận thức hoặc thực hiện mà xa vấn đề muốn nói tới, huống là muôn vàn câu hỏi đưa ra trước một dữ kiện lâm nguy; đó là những gì đã qua, có thể là điều cầm giữ những gì còn có trong đời qua ‘mãn tính’ của sinh lý và tâm lý để không còn tàn phá cho một thể xác lâm nguy mà tạo vào đó một trí năng kiên cố, cho dù có đặc nó vào trong trường hợp của khả năng sinh lý học (physiology sphere) thì sự đó chỉ dựa trên cơ sở xưa cổ gây thêm mù mờ trước một hiện tình khoa học hiện đại. Cho nên chi yêu cầu khẩn thiết là có một xã hội cách ly (social distance) là để phòng ngừa nhiễm bệnh; nhưng sự đó có cách ly khỏi nhiễm thể? Có lẽ; ‘phòng bệnh hơn chửa bệnh’ là yêu cầu cần có cho hôm nay.Người ta sợ về điều này, bởi; quá trình lịch sử đã chứng minh dữ kiện về dịch đã trải dài từ thời Trung cổ cho tới cận đại của đầu tk.hai mươi mốt đã giết hằng triệu người qua những cơn đại dịch khác nhau. Phải chăng đây là vận chuyển của tử sinh, vận chuyển của vũ trụ (?).
Nói về tầm ảnh hưởng hay lãnh vực kích cầu (sphere) thời cái đó nó nằm trong những gì coi đây là bắt nguồn từ ảo giác mà ra, là hình ảnh cuộc đời, mỗi khi cảm thức sự phát triễn thì cơn bệnh theo hình ảnh trở nên trầm trọng, không nhận ra hiện tượng sinh lý mà dựng vào đó cái ám ảnh tâm lý thúc đẩy vào hoàn cảnh hiện thời, một diễn cảm rõ ràng cho những gì đã miễn trừ có từ yêu cầu qua những trải nghiệm thực tế là dành cho một mục đích nào đó, nghĩa là lấp đầy những gì mong muốn trong công việc khó khăn phải đương đầu giữa hai hoàn cảnh sinh lý và tâm lý. Đạt tới mục đích là chúng ta đi qua những dặm đường khó khăn hơn bao giờ, nghĩa là ta phải thách thức (challenge) như yêu cầu để đi tới mục đích, mục đích được xác thực (positive-aim) trên những dặm đường nào đó có thể chúng ta giành được tất cả ao ước –On neither route can we attain all we desire. Sinh lý có thể gây ra từ dương, âm tính hay trong động tác gần kề mà sanh ra vi nhiễm; từ chỗ đó phát sanh dây chuyền trong cộng đồng, lan truyền có tính nhạy cảm trong những trường hợp xẫy ra. Vì vậy người ta đo lường bệnh lý do một phần ảnh hưởng vào đó, một phần trong đời sống hằng ngày với những nguyên cớ khác nhau. Dựa trên lý luận của phâm tâm học: bất luận là ai, con người sanh ra đặc biệt không thuận lợi ở khả năng và không trọn vẹn để đạt yêu cầu việc truyền tinh là do đặt vào đó sự cấu thành có từ tính dục của nam và nữ –Any one who has been born with a particularly unfavourable instinctual constitution and who has not properly undergone the transformation and reordering of the components of (his/her)libido (S. Freud). Thực ra chưa hẳn phải từ người hay động vật hay lý hóa nhiên có thể đến từ trong kinh nghiệm của đời sống mà ra. Khoa học hiện nay là một tiến trình tìm kiếm để xác nhận hơn là xét đoán sự việc.

Hiện tại chúng ta đang đối diện trước một cơn đại dịch, song le; đó là nhiệm vụ khó khăn hơn bao giờ và cũng là một chuyển đổi lớn lao giữa người với người, giữa tinh thần và thể xác là những điều mà trước đây con người xem nhẹ hơn những thứ khác, bởi; con người chối bỏ mọi niềm tin, con người lợi dụng niềm tin mỗi khi tuyệt vọng và chỉ đến trong một đòi hỏi thiết tha. Bệnh lý thuộc sinh vật học do con người gây nên chớ không phải có từ thiên nhiên hay từ lý hóa nhiên mà có; đó là hình thức qui nạp để có nguyên nhân và hậu quả dưới một danh xưng mỹ miều ‘vương niệm siêu vi /coronavirus’, nhưng; thực ra vì tiên tiến hiện đại con người ‘đã xả’ vào đó bao thứ ô nhiễm là triệu chứng không một ai hay và từ đó đổ lỗi hay chụp mũ vào những đối tượng khác nhau; con người đã hàm hồ buộc tội trước một bi thảm xã hội đang ‘trừng phạt’. Một sự trừng phạt vô hình nhưng hữu hình; dẫu là gì khoa học phủ nhận mọi giáo điều để đi tới một xác định cụ thể. Đó là tiến trình của nhân loại kinh qua bao khám phá khác nhau. Lần này; giữa sinh lý và tâm lý đã cho một tinh thần đại đồng hơn là phân tranh. Nghĩa là nó đến với toàn cầu chớ không đến cho mỗi quốc gia. Đấy là điều cho ta nhận thức trước hoàn cảnh chung và cùng nhau nhận một mệnh lệnh bí truyền, bởi: -chối bỏ tức nhận tội trước một khủng khoảng bệnh lý toàn cầu xẫy ra từng giờ, từng ngày của tháng năm. Dập tắt ngọn lửa này là một đòi hỏi thực tập công phu cho một trận chiến không kẻ thù mà trở nên phòng thủ dưới tiêu đề xã hội cách ly từng người một (social distance oneself). Nhớ rằng ‘cách ly’ không còn là ngăn ngừa bệnh lý mà chúng ta đang đoạn tuyệt trước một giới hạn cố hữu. Một thời đại biến thiên vô hạn hữu. Đạt được là phép lạ!
Không ai hứa hẹn sẽ tiêu diệt và bình thường hóa vấn đề một cách cấp thời; mà nỗ lực tìm thấy để ngừa (vaccine) là phương án hữu hiệu. Cả tin thì cho đây là lời phán của Thượng đế: ‘mệnh lệnh bí truyền / inscrutable decrees’. Con người căn cứ trên lời rao để nhận ra đau đớn và hạnh phúc là tiếng nói an ủi tối hậu không có điều kiện mà chỉ có niềm tin. Chinh phục được là chức năng của con người. Nhân tố đó chính là khám phá mới, là thực chứng, là phép lạ tìm thấy giữa con người với con người ./.

VÕ CÔNG LIÊM (ca.ab.yyc. giữa tháng 4/2020)

MỘT TỔNG THỐNG ĐÁNG ĐƯỢC KÍNH TRỌNG.

Bài quá hay! Không đọc thì quá phí. Không đọc thì thiếu cái nhìn CÔNG BẰNG với một vị Tổng Thống đáng kính!
Tôi yêu quý ông, luôn cầu chúc cho ông sức khỏe, sự bình an và sáng suốt.
VÌ SAO TT TRUMP PHẢI ĐỐI MẶT VỚI QUÁ NHIỀU THÙ TRONG, GIẶC NGOÀI?

trump
LÝ DO 1: MỘT “TAY MƠ” VỚI HỒ SƠ CHÍNH TRỊ BẰNG 0
Tổng thống Donald Trump là một hiện tượng chính trị lạ lùng chưa từng có trong lịch sử Hoa Kỳ. Ông chưa từng kinh qua bất cứ một chức vụ nào, cho dù là chức vụ nhỏ bé trong sự nghiệp của một chính trị gia.
Ông là một nhà tài phiệt với hồ sơ “chính trị” là con số 0 tròn trĩnh, lại thẳng tiến một mạch vào Nhà Trắng, bỏ sau lưng những đối thủ chính trị sừng sỏ như cựu Ngoại trưởng Hillary Clinton hay Thượng nghị sĩ lừng danh John McCain. Giới chính trị, học thuật và truyền thông “tiên đoán” rằng, với một vị Tổng thống “không biết gì về chính trị”, Donald Trump sẽ làm nước Mỹ tan nát và khiến thế giới lanh tanh bành.
Nhưng sau hơn ba năm “cầm lái” nước Mỹ, Tổng thống Donald Trump không những không làm nước Mỹ tan nát mà lại trở nên hùng cường với những kỳ tích, như sự bùng nổ việc làm đáng kinh ngạc (tạo ra 7 triệu việc làm), thị trường chứng khoán liên tục tăng ở các mốc kỷ lục, chỉ số Nasdaq lần đầu tiên vượt mốc 9.000 điểm – ghi nhận đỉnh cao kỷ lục mọi thời đại, tỷ lệ thất nghiệp thấp nhất trong hơn nửa thế kỷ qua…
Tổng thống Trump cũng xây dựng lại quân đội hùng mạnh, thiết lập một lực lượng thẩm phán tài ba, cải cách tư pháp hình sự, cắt giảm thuế mang tính lịch sử, loại bỏ bảo hiểm y tế cá nhân bắt buộc; thành lập binh chủng mới trong Quân đội Hoa Kỳ kể từ năm 1947 – Lực lượng Không gian Hoa Kỳ và đưa nước Mỹ trở thành Nhà sản xuất năng lượng lớn nhất thế giới.

LÝ DO 2: KHÔNG NGẠI VA CHẠM, ĐỐI ĐẦU-ĐEM LẠI SỰ CHÍNH NGHĨA
Có thử thách nào tệ hại hơn đối với một Tổng thống Mỹ khi phải đối mặt với thủ tục bị luận tội và truất phế. Sau hơn 2 tháng điều tra với khoảng 12 cuộc điều trần công khai và 15 cuộc điều trần kín, với bản báo cáo dài hơn 300 trang của Ủy ban Tư pháp Hạ viện, cùng cuộc “tổng tấn công” của hàng loạt báo chí truyền thông cánh tả, người ta lo ngại Tổng thống Trump sẽ bị “rối trí” mà “gục ngã”.
Tuy nhiên, với một con người từng trải qua nhiều năm thăng trầm với “đế chế” TRUMP, thủ tục luận tội chỉ là “cú thôi sơn” trong một chuỗi những cáo buộc mà ông phải hứng chịu từ các đối thủ chính trị kể từ khi ông trở thành ông chủ Nhà Trắng. Như một võ sĩ kiên cường so găng trên “võ đài” chính trị khắc nghiệt tại Washington, trận đấu càng gay cấn thì càng khiến Tổng thống Trump trở nên mạnh mẽ.
Có thể nói Donald Trump là vị Tổng thống Mỹ đầu tiên dám đối đầu toàn diện với những nỗ lực của ĐCSTQ hòng thống trị thế kỷ 21 thông qua những hành động “côn đồ” cả về quân sự, kinh tế lẫn ngoại giao.
Bất chấp mọi khó khăn khi bị Đảng Dân chủ bủa vây, quấy phá liên tục trong suốt hơn 3 năm tại vị, Tổng thống Trump vẫn điều hành đất nước một cách tài tình, đưa nền kinh tế Mỹ vươn lên mạnh mẽ trong thế rồng bay, đại bàng cất cánh.
Bên cạnh đó, ông nhấn chìm nền kinh tế Tàu Cộng – vốn tích góp được hàng nghìn tỷ đôla từ thặng dư và “trộm cắp” trong suốt hơn 30 năm hưởng lợi từ thời 4 vị Tổng thống tiền nhiệm – vào tình thế ngày càng lún sâu trong cảnh khốn khó của nợ nần, phá sản và suy thoái.
Từ thái độ ngông nghênh, coi thường mọi quốc gia trên thế giới, rải tiền nuôi Giấc mộng Trung Hoa cho các nước chư hầu dễ bảo và sẵn sàng trừng phạt, “nghỉ chơi” với các nước “cứng đầu”, Tàu Cộng từng liểng xiểng trước uy lực của ông Trump, phải nhân nhượng ký vào bản thỏa thuận thương mại giai đoạn 1 với Mỹ – một bước hụt hơi của ĐCSTQ trong cuộc đọ sức dài hơi với Tổng thống Trump.
Không giống như các vị tổng thống tiền nhiệm luôn lo ngại và né tránh Tàu Cộng, Tổng thống Trump không ngần ngại nhiều lần chỉ ra rằng, ông coi mối quan hệ giữa Mỹ và Tàu Cộng giống như một phép cộng có tổng bằng 0, mà phần thua thiệt nặng nghiêng về đất nước ông.
Ông trừng phạt Tàu Cộng bằng các đòn thuế quan lên tới hàng trăm tỷ đôla, ra lệnh các công ty lớn của Mỹ rút khỏi TQ, cổ vũ đồng minh ngừng làm ăn với đất nước này, đồng thời trừng phạt và cho vào danh sách đen hàng loạt các “ông lớn” của Tàu Cộng như ZTE, Huawei, yêu cầu Canada bắt giữ Giám đốc Tài chính của Huawei, quản thúc tại gia…
Tổng thống Trump cũng gây áp lực lên các Chương trình Trao đổi Văn hóa và Ngôn ngữ do ĐCSTQ tài trợ cho các trường ĐH Hoa Kỳ núp dưới bóng các Viện Khổng Tử, buộc nhiều trường ĐH Mỹ liên tiếp phải đóng cửa các Viện này – mà thực chất là cánh tay nối dài của mạng lưới tuyên truyền của ĐCSTQ.
Ông “cấm cửa” không cho Tàu Cộng tham gia cuộc tập trận quân sự quốc tế RIMPAC để “trừng phạt” nước này về tội quân sự hóa biển Đông. Tổng thống Trump ra lệnh cho các chiến hạm Mỹ (mang theo vũ khí nguyên tử) “vần vũ” liên tục trên biển Đông suốt năm 2019, và đi qua eo biển Đài Loan tới 9 lần (lần cuối cùng vào ngày 12/11/2019). Đây không khác gì là lời cảnh cáo gửi tới chính quyền Bắc Kinh, đồng thời gửi thông điệp ủng hộ mạnh mẽ của nước Mỹ tới Đài Loan, trong bối cảnh vùng lãnh thổ này bị Tàu Cộng nhăm nhe đe dọa bạo lực nhiều năm hòng thu hồi Đài Loan về một mối.
Cũng chưa có đời tổng thống Mỹ nào lại “đủ” can đảm ủng hộ Đài Loan mạnh mẽ như Tổng thống Trump. Ông điện thoại chúc mừng bà Tổng thống Thái Anh Văn – được coi là cuộc điện thoại trực tiếp đầu tiên của một vị đứng đầu nước Mỹ kể từ năm 1979, khi quan hệ chính thức giữa Mỹ và Đài Loan bị cắt đứt. Tổng thống Trump ra các tuyên bố ủng hộ mạnh mẽ bà Thái Anh Văn, và phê duyệt thương vụ vũ khí lớn nhất trong nhiều thập kỷ qua đối với hòn đảo này, ban hành Đạo Luật Bảo vệ Đài Loan (TAIPEI Act).
Bất chấp mọi đe dọa của Tàu Cộng – từng khiến nhiều vị tổng thống tiền nhiệm chùn bước, ông Trump phá vỡ mọi giao thức, vô hiệu hóa các lời đe dọa của Tàu Cộng, ký ban hành đạo luật Dân chủ và Nhân quyền bảo vệ Hồng Kông (11/2019).
Tổng thống Trump không những không làm thế giới lanh tanh bành mà lại khiến nó trở nên trật tự, công bằng hơn. Chính quyền Trump đã đánh bại Nhà nước Hồi giáo Caliph và tiêu diệt thủ lĩnh khủng bố số 1 thế giới Baghdadi; tiêu diệt Tướng Qassem Soleimani – Tư lệnh Lực lượng Quds tại Iraq trực thuộc Vệ binh Cách mạng Hồi giáo Iran; rút khỏi thỏa thuận hạt nhân khủng khiếp với Iran; hủy bỏ Thỏa thuận khí hậu Paris không công bằng và tốn kém; ký kết lại Hiệp định thương mại USMCA giữa Hoa Kỳ, Mexico và Canada thay thế cho Hiệp định thương mại tự do NAFTA cũ; đạt được các hiệp định thương mại mới với Nhật Bản và Hàn Quốc; rút khỏi hiệp định TPP – vốn gây bất lợi cho nước Mỹ .
Bên cạnh đó, Tổng thống Trump đe dọa “xóa sổ” Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) mà ông coi chỉ làm lợi cho TQ, cũng như rút Mỹ ra khỏi Hội đồng Nhân Quyền Liên Hợp Quốc khi ông cáo buộc tổ chức này cho phép các nước có hồ sơ vi phạm nhân quyền như Tàu Cộng, Iran, Nga… trở thành thành viên.
Tổng thống Donald Trump đã đảo ngược chính sách của Hoa Kỳ kéo dài hàng thập kỷ khi ông mạnh mẽ công nhận Jerusalem là thủ đô của Israel, mở đại sứ quán Hoa Kỳ tại đây và công nhận chủ quyền của Israel đối với Cao nguyên Golan – một quyết định táo bạo và liều lĩnh mà những vị tiền nhiệm của ông đều tìm mọi cách trì hoãn.
Tổng thống Donald Trump phát biểu: “Trong vài thập kỷ qua, mọi Tổng thống trước đó đều hứa sẽ chuyển Đại sứ quán Hoa Kỳ đến Jerusalem. Và họ không bao giờ hành động, họ không bao giờ làm điều đó. Họ không bao giờ có ý định làm điều đó”.
Ông không ngại va chạm, đối đầu – từ đối thủ cho tới đồng minh, từ các liên minh quân sự cho đến các nước bất hảo. Ông buộc NATO cũng như các đồng minh như Hàn Quốc và Nhật Bản phải đóng thêm kinh phí cho quân đội Mỹ; làm suy yếu trục Nga – Trung; tiếp tục cấm vận các quốc gia độc tài như Nga, Cuba, Venezuela, Iran và Bắc Triều Tiên; vô hiệu hóa tính hung hăng của Kim Jong Un; bảo vệ nền dân chủ Hồng Kong và tăng cường hỗ trợ cho Đài Loan.. Những vấn đề ông động chạm đến đều là những “hồ sơ” gai góc mà không một vị tổng thống Mỹ nào trước đó dám giải quyết triệt để.
Người xưa có câu: “Quân tử bất vọng động, động tất hữu đạo”, hàm ý rằng người quân tử không hành động mù quáng, hành sự đều chiểu theo đạo lý. Khổng Tử từng nói: “Kiến nghĩa bất vi vô dũng dã” (Thấy việc nghĩa không làm thì không phải kẻ dũng). Người quân tử có dũng khí lớn bởi họ luôn làm việc nghĩa, luôn “giữa đường thấy chuyện bất bình chẳng tha”.
Có thể nói, Tổng thống Donald Trump được người dân thế giới – đặc biệt những người đang phải chịu sống dưới sự kìm kẹp của các chế độ độc tài – kính trọng ông nhiều nhất bởi chữ “NGHĨA” này.
LÝ DO 3: “XÔ NGÔ MỌI TIÊU CHÍ-DÁM NÓI NHỮNG ĐIỀU MÀ NGƯỜI KHÁC KHÔNG DÁM

Tổng thống Donald Trump “xô ngã” mọi tiêu chí thông thường xưa nay trên chính trường nước Mỹ, phá vỡ mọi “chuẩn mực” phát ngôn kín kẽ thường thấy ở các đời tổng thống trước. Ông thường Tweet hoặc chỉ trích, mắng mỏ trực tiếp đối thủ, không ngần ngại, né tránh mà chỉ rõ thẳng vấn đề.
Người yêu quý ông thì gọi ông là “Người khác biệt”. Họ yêu thích sự thẳng thắn trong con người ông, bởi ông dám nói những điều mà người khác không dám nói trong bầu không khí xã hội của “sự đúng đắn chính trị”. Họ yêu mến lòng can đảm của ông, bởi sự mạnh mẽ của ông mới có khả năng “rút cạn đầm lầy” Washington vốn đầy hiểm ác và cạm bẫy.
Họ thích cái cách ái quốc của ông, như cách ông ôm hôn quốc kỳ Mỹ, cách ông quyết liệt đem công ăn việc làm về cho nước Mỹ, tăng thu nhập cho những gia đình nghèo và trung lưu, hỗ trợ những nông dân Mỹ phải hứng chịu tổn thất trong cuộc chiến thương mại Mỹ – Trung. Họ phấn khích ngay cả trong từng lời nói hành động của ông: “Những gì không có lợi cho nước Mỹ thì tôi sẽ không ký, không làm”.
Họ thấy ông ăn nói bạt mạng một cách hấp dẫn, và có trái tim bằng vàng qua những hành động rất tình người, như khi ông động lòng trắc ẩn với người lính của mình trong chuyến thăm Afghanistan vào Lễ Tạ Ơn 2019, đã âm thầm thanh toán toàn bộ tiền nhà, tiền khám bệnh cho con của người lính. Và đây không phải là lần đầu tiên ông làm những việc nghĩa ấy. Nhiều thập kỷ trước, Donald Trump đã nổi tiếng là một trong số những tỷ phú hào phóng nhất thế giới có trái tim nhân hậu.

LÝ DO 4: NGƯỜI MỸ CHỈ VINH DANH TỔ QUỐC CHỨ KHÔNG VINH DANH TỔNG THỐNG, NHƯNG…
Nước Mỹ còn được gọi là Hợp chúng quốc Hoa Kỳ và có người cho rằng, đó là nơi đến của những con người không yêu đất nước mình nhưng lại yêu nước Mỹ. Ở Mỹ, người Mỹ chân chính yêu nước hơn yêu tổng thống của họ. Họ chỉ vinh danh Tổ quốc chứ không vinh danh người đứng đầu Hành pháp. Nhưng trường hợp Tổng thống Donald Trump thì ngoại lệ, vì họ thấy ông ái quốc giống như họ, nên họ đồng hóa lòng yêu nước với sự mến mộ ông.
Kể từ cuộc bầu cử ở Mỹ năm 2016, nhiều người không bầu cho ông nay lại yêu mến ông và trở thành những fan hâm mộ cuồng nhiệt của ông. Họ tự in mũ, cờ và biển hiệu với dòng chữ “TRUMP” để ủng hộ Tổng thống. Các buổi mít-tinh có ông Trump tham dự luôn đông đúc, với hàng chục ngàn người Mỹ yêu nước đến xếp hàng, chờ đợi để được nghe ông diễn thuyết. Mỗi khi Tổng thống Trump dừng lại ngắt câu, cả hội trường chứa hàng chục ngàn người vang dội tiếng reo hò.
Fan hâm mộ ông thuộc mọi thành phần, lứa tuổi, từ người già cho đến trẻ em. Là cô bé 11 tuổi, vốn không quan tâm đến chính trị, chỉ vì ông Trump ra ứng cử mà bắt đầu để tâm theo dõi đời sống chính trị sát sao. Là cụ già 95 tuổi người TQ để có thể được đi bỏ phiếu cho ông, được thực hiện quyền bỏ phiếu, đã học tập chăm chỉ để vượt qua kỳ thi quốc tịch Mỹ. Ngay cả Tổng thống Brazil Jair Bolsonaro cũng từng tuyên bố, ông bổ nhiệm một người hâm mộ Tổng thống Mỹ Donald Trump làm Bộ trưởng Ngoại giao trong chính quyền mới của mình.
Những người chống đối Tổng thống Trump thì ghét cay ghét đắng ông, trong đó giới truyền thông cánh tả thường “tô vẽ” ông như là “một kẻ” có tác phong “ngông nghênh”, phát biểu “điên rồ”, khinh khi tư pháp, kỳ thị màu da, xem thường phụ nữ, khiêu khích phóng viên, và ra các quyết định chính trị “thiếu xuyên suốt”. Thế nhưng trong hơn 3 năm cầm quyền, uy tín của ông chủ Nhà Trắng không những không bị sứt mẻ, mà thậm chí cử tri của ông nay còn lập thành những “câu lạc bộ người ái mộ” .
Donald Trump tiêu biểu cho hạng người vô cùng hiếm trong xã hội Mỹ: Không cờ bạc, rượu chè, hút sách, lại còn giáo dục các con thành tài và cũng giống như ông, nói KHÔNG với các tệ nạn.
Khi lên làm Tổng thống Mỹ, ông nhận mức lương tượng trưng 1 đôla/(400.000 đôla)/hằng năm và quyên góp toàn bộ tiền lương của mình cho các cơ quan chính phủ và tổ chức như Bộ Cựu Chiến binh, Bộ Giao thông, Cục Công viên Quốc gia, Bộ Giáo dục, Bộ An ninh nội địa, Bộ Y tế và Dịch vụ Nhân sinh Mỹ. Gần đây nhất, Tổng thống Trump đã góp toàn bộ tiền lương quý IV/2019 cho Bộ Y tế Mỹ nhằm chống dịch virus Trung Quốc đang bùng phát dữ dội tại đất nước của ông.
Theo tiết lộ của các quan chức chính quyền, một phần lương của Tổng thống cũng đã được dùng cho mục đích chống lại tình trạng nghiện thuốc, thúc đẩy phát triển sinh viên theo đuổi các ngành khoa học và khôi phục các di tích lịch sử.
Trong 3 năm làm ông chủ Nhà Trắng, tài sản của Tổng thống Trump đã sụt giảm vài tỷ đôla, nhưng ông không hề phiền muộn vì điều ấy và phát biểu rẳng: “Dù tôi có mất đi 2 đến 5 tỷ đôla hay ít hơn nữa thì cũng có gì khác biệt. Tôi không quan tâm đến vấn đề này. Tôi làm tổng thống là vì đất nước. Tôi làm tổng thống là vì nhân dân”.
Rất lâu trước khi Donald Trump chính thức ra tranh cử Tổng thống vào năm 2016, “bà hoàng” truyền thông Oprah Winfrey đã hỏi ông trùm kinh doanh bất động sản về niềm đam mê chính trị trong talkshow “The Oprah Winfrey Show” vào năm 1988, rằng ông có muốn tranh cử tổng thống không. Ông Donald Trump khi ấy đã trả lời: “Nếu tình hình trở nên tồi tệ, tôi sẽ không bao giờ muốn loại trừ hoàn toàn ý định đó, bởi vì tôi thực sự mệt mỏi khi nhìn thấy những gì đang xảy ra với đất nước này”.
Người ta vẫn đang không ngừng tranh cãi rằng, mục đích của ông Donald Trump khi lên làm Tổng thống Mỹ là để giúp nước Mỹ và Thế giới trở nên tốt đẹp hơn, hay mục đích là để đánh sập các nước theo chế độ độc tài tàn bạo, đặc biệt là ĐCSTQ, cũng như làm tan rã hệ thống ngầm của các nhóm lợi ích xuyên quốc gia.
Có lẽ tính đến thời điểm này, thì dường như cả hai mục đích trên đều đúng.
Đọc xong, nếu quý vị thấy đúng xin hãy copy bài về tường để những việc tốt của ông ấy được lan tỏa rộng hơn..
T23 NEWS

************************************
DIỄN ĐÀN PHỤNG SỰ XÃ HỘI
************************************

Christ is Risen! Alleluia!

Easter-Cross-2
Happy Easter everyone! Alleluia!

It sure feels good to finally be able to say that after forty days of holding it in. And more importantly, even though we are at home livestreaming, we celebrate and give thanks for the incredible God we have. And what we are celebrating this day is truly beyond anything men and women through all of human history (us included) could ever have imagined. Our God gave himself completely to us — in the fullest sense of that phrase — and through his profound act of self-emptying destroyed even death itself. An incredible victory has been won! And this victory is something we don’t really deserve nor could we have achieved it on our own. No — God won this victory for us for one reason only — because he loves continually, unconditionally, and eternally. What a God we have! Alleluia!

The new-life God has won for us through the saving acts of Chrisy Jesus takes more than just saying we believe. It takes a willingness to always strive to be more, give more, and love more. Easter is not about remaining the same. It is about allowing God to raise us up from whatever is holding us down, or crushing our spirits, or keeping each of us from being the beautiful person God created us to be.

Yes, as Christians we do believe some pretty wonderful things.

May those beliefs, and the power of the resurrection, help us BE wonderful people too — not for our own glory or our own purposes, but for God’s.

He is risen! Alleluia!

“I have seen the Lord” (John 20:18)
He is Risen! Alleluia!

Christ is risen! Alleluia!
The wonders our Lord has done,
Christ is risen! Alleluia!
The immense love God has for ev’ryone.

He chose to come into our world,
To walk our human tempestuous journey,
Lay down His life for all, obediently,
And redeem the world, wholeheartedly

Christ is risen! Alleluia!
He is risen to bring us the newness of life,
He is risen to cleanse out troubled and sinful hearts,
And shine upon us His Holy light.

He is risen to destroy death,
True peace, true hope and true joy restored,
And so was faith in the lost souls,
And like Mary: “I have seen the Lord!”

He is your Lord, my Lord and the Lord of all others,
He is risen and ignite our hearts with burning desire,
To seek Him, He is risen and He is alive,
And He is the God of light,
His love is in the air, everywhere, for all, you and I,
Inhale to embrace His love,
Christ is risen! Alleluia!
Christ is alive! Alleluia!
Amen!

Deacon Joe Hung Nguyen

ĐẠI DỊCH

Võ Công Liêm

tranh vcl 1

Tranh Vẽ Võ Công Liêm

Đúng ra phải gọi đây là hành động khôi phục lớn lao nhất từ trước đến nay –The great instauration, một tia chớp cấp kỳ và lan tỏa; đấy là sự kiện mà con người đương đầu như một tai họa phải gánh chịu. Không tha oán, không buộc tội mà nhận cho một chứng tích có tính thời sự và lịch sử. Một phán đoán hợp lý như là với chúng ta, và coi đây là một sự phán xét đến những gì có lợi của hiện tại và những thế hệ tương lai; đó là những gì mà họ có thể làm được với những gì mà họ đã nghĩ tới – Reasoned thus with ourselves, and judged it to be for the interest of the present and future generations that they should be made with their thoughts. Một sự khủng khoảng của đại dịch đưa tới tử vong toàn cầu, bởi; nó có thể kéo dài triền miên không ngày tháng và không còn cách nào chận lại mà trở nên phòng thủ; một lối ngăn ngừa thông thường không mang tính hiệu năng mà mang tính chất chống trả một cách mơ hồ giữa thời đại khoa học và kỹ thuật. ‘Anh phải sống’ là cứu cánh đưa tới phương tiện giữa con người và khoa học. Một cơn đại dịch chớp nhoáng (instananous pandemic) không ngờ được. Con người đối đầu trước một thảm kịch của cuộc chiến không có kẻ thù và coi chúng ta là kẻ thù chung. Đấy là điều chúng ta phải dừng lại để thấy người thấy ta trăm trận trăm thắng; điều này không còn nữa mà chúng ta dừng lại để thấy những gì đã ‘tai ngược’ mà giờ đây chúng ta phải trả cái giá rất đắt. Nguyễn Du gọi: ‘bỉ sắc tư phong’, luật thừa trừ (?).
Thế giới loài người không còn chính trường để bảo vệ quyền lợi, không còn vũ trang để thách đố hay đe dọa kể cả những lợi ích khác. Chúng ta đang âm thầm trước mặt trận không biên giới, trước kẻ thù không kẻ thù mà nhận thức trước một chủ nghĩa nhân bản. Giờ đây sứ mệnh nhân bản được đề cao. Kẻ thù đang nhìn chúng ta với đôi mắt đe dọa. Vậy chúng từ đâu đến với một thứ vũ khí siêu tầng đó? Có thể nó đến từ một ‘hành tinh’ khác ở cõi ngoài của chúng ta, có thể nó đến từ hằng hà sa số của ánh sáng và tiếng động, có thể nó vượt biên không gian từ hằng tỷ năm qua…Và; coi đây là bước ngoặt (turning-point) của chúng ta. Một cuộc đấu tranh trường kỳ với kẻ thù không tên, thứ vũ khí có mã số covid-19. Một thứ vũ khí thuộc sinh vật học và lý hóa nhiên mà chúng ta bỏ công sức tìm kiếm thuốc chửa (super-vaccine) thứ siêu vi đó. Hình hài và màu sắc khác lạ so với những thứ khác, nó tỉnh mà động trong trạng thái ‘gây mê’ chận đứng mọi nguồn mạch, biến sắc đi tới cái chết trong lặng lẽ. Khoa học muốn mổ ra xem sức tàn phá của nó, nhưng vô hiệu hóa, bởi; nó chẳng để lại dấu tích gì trên thi thể của kẻ chiến bại. Tuy nhiên không phải đó làm con người tuyệt vọng, họ cương quyết đấu tranh cho tới ngày tiêu diệt nó, một nỗ lực từ xưa đến nay và chưa một lần thất bại trước những khám phá khác. Con người chiến thắng trước mọi thứ chủ nghĩa dù đó là thứ chủ nghĩa mới của siêu vi. Thực hiện được giữa lúc này tức chúng ta thắng kẻ thù chung và cứu nguy cho nhân loại. Nhờ đó về sau thế giới trở thành thế giới đại đồng: không còn biên giới tư tưởng, không còn học thuyết chủ nghĩa, không còn phân tranh hơn thua. Kỷ nguyên mới bắt đầu sau cuộc chiến này. Nhìn xa hơn có thể là ‘ý trời’ như một số người đã phát biểu. Đấy là vấn đề được đặc ra hôm nay.
Trong tác phẩm ‘The Psychopathology of Everyday Life’ của S. Freud coi đây là chứng tâm thần hỗn loạn đã ảnh hưởng phần nào hay nhiễm thể tính do từ siêu vi (virus) lợi dụng cơ hội để hoành hành mà trở nên căn bệnh được gọi tên ‘coronavirus’ hoặc do từ những triệu chứng bất thường mà trở nên trầm trọng. Chứng cớ để xác nhận một cách cụ thể: có từ thiên nhiên hay từ động vật; trước đây người ta nghi ngờ do từ đời sống mà ra (ở dơ hay từ hóa chất hay do từ vật liệu phế thải) để rồi qui vào bệnh lý siêu vi mà trị liệu theo phương pháp thông thường; thoạt kỳ thủy nhiều bệnh lý xẩy ra người ta đã tìm thấy qua vi trùng (microbe /bacteria) hơn là tìm thấy có từ siêu vi; chứng cớ đó chỉ đem lại cách luyện ‘khí công / psychotherapy’ là yếu tố tâm lý để phòng bệnh hơn chửa bệnh bắng mọi cách ‘lẫn tránh’ là biện pháp an toàn và cũng là cách điều trị gián tiếp, nhưng; kết quả chưa đạt yêu cầu mà đó chỉ là biện chứng pháp y khoa mà thôi. Vậy đại họa đến giữa lúc này là bệnh lý. Thế thì tại sao phải bế môn tỏa cảng? Kẻ thù không ngại những ‘vạn lý trường thành’ không ngại rào cản, nó đến khắp mọi nơi chả riêng ai và chẳng phải vì ai. Ngăn ngừa là biện pháp và chính sách (policy) của nhà cầm quyền; âu đó là biện pháp duy nhất để chống trả kẻ thù chung, nhưng; bên cạnh đó sự hủy diệt có từ trực tiếp đến gián tiếp một cách không ngờ. Đại dịch vẫn hoành hành, giao chiến với ta, đối đầu với ta. Toàn thế giới là kẻ thù của virus/covid-19.

MỞ

Đó là trạng thái của nhận thức, nó không phải là thứ thăng tiến cũng chẳng phải coi đó là dự tính lớn lao; mà đó là cách được mở rộng cho nhân loại nhận biết toàn thể của sự khác biệt, nó có từ khi chưa ai biết cho đến nay, mặc khác giúp cung cấp những gì có thể thực hiện được; đấy là yêu cầu ắt có và đủ giữa lúc này, không phải cần có để điều trị mà cần có để bảo vệ. Sự đó đem lại an tâm cho người bệnh và người chửa bệnh, không còn nhìn là phương tiện mà là mục đích để chống trả. Chống cái vô hình dung! Trong qui định coi điều đó như luyện tâm trí qua những gì thuộc thiên nhiên thẩm định mà cũng là đặc tính sở hữu tùy thuộc vào đó –in order that the mind may exercise over the nature of things the authority which property belongs to it. Hiện hữu của sự kiện là xác quyết sự kiên định, đó là trí năng của nhân loại tạo nên những điều khoản hết sức khó khăn ở chính mình, nó không dùng vào đó để trợ giúp những gì mà ở đó bị hao hụt nghiêm trọng và hợp lý; và đó là lý do của những gì mà con người chưa nhận ra sự tinh quái lạ thường trong hằng hà vô lượng số. –by reason of that ignorance mischiefs innumerable đang hiện hữu trong ta, nó đến và đi mắt thường không nhận thấy, nó biến mình trong tạng thể trừu tượng, cái đó cũng là một thứ chiến thuật khó lường, cái đó là con đường giao thương giữa trí tuệ của con người và những sự vật thiên nhiên; hẳn nhiên giảm thiểu là điều kiện tiên quyết hơn những gì mà chúng ta yêu cầu.
Chắc chắn rằng tất cả hoài bão khác đi tới nguyện vong hay thỉnh cầu cho dẫu là gì như nhận ra khó khăn, nghèo túng sẽ ngập đến từ bây giờ cho đến về sau là nỗi bi thảm mà con người nhận lãnh nó như trách nhiệm và cùng nhau gánh vác cơn ‘đại hồng thủy’ này là cái họa chung. Nhận thấy được thì đó là vấn đề được thảo luận có hay không có, hoặc cho đó quá lớn lao đối với công lao đã làm nên; không tìm ra được sự đền bù nào khác hơn. Mà coi đây là trụ cột của vận mệnh đặt nó trong ngõ ngách của nhận biết –These are as the pillars of fate set in the path of knowledge; vì rằng con người muốn cái này qua cái nọ, nuôi hy vọng để đạt tới và vận động vào đó như yêu sách để được thu nhập vào, gồm cả những gì lãng phí hay bỏ quên là những gì nhất thời cho tương lai, nó trở nên những gì không thông thường, nhưng; tuyệt đối là điều cần thiết phải thực thi. Sự đó đã vượt quá qui định của lòng danh dự và sự tôn trọng đang diễn ra.
Nhìn chung; nếu khoa học đã làm nên những lợi ích khác trong cuộc đời, thì điều đó có thể không bao giờ xẫy ra trong mọi trường hợp hay cho những thế hệ khác nhau. Năng động của khoa học là tìm kiếm để đi tới đỉnh cao mà loài người mong muốn; đấy là điều cố vị xưa nay, không nhận bất cứ gì để làm tăng thêm giá trị cuộc chạy đua của nhân loại, điều này như đã khẳng định một lần nào là vẫn còn khẳng định, những gì là vấn đề như vấn đề đã một lần nào vẫn còn là vấn đề; đó là nhân tố hiện hữu trước thời cuộc như một quyết tâm bằng những thảo luận khác nhau không những thu xếp chuẩn bị (fixed) và nuôi dưỡng (fed) để đem lại những gì hoàn toàn phụng sự cho con người nhất là lúc con người đang đối đầu trước thảm họa. Sau này cho dù là gì có giành được năng lực mới hơn và nhiều lợi ích khác là sắp đặt vào tương lai và xây dựng lại những đổ vỡ vật chất và tinh thần của hôm qua. Ấy là điều mà con người phải nhận biết trước cuộc đời đang sống, rút tiả kinh nghiệm sống vừa học tập và theo đuổi của những gì xẫy ra và sẽ xẫy ra. Tất cả sẽ qui về một mối ở mức độ tối hậu nhất của những gì mà người ta có thể làm được một cách viên mãn. Có được hôm nay là gặt hái kinh nghiệm, học tập thấu triệt tính nhân bản là cần thiết hơn tranh luận.
Triết học và trí năng khoa học thường đối nghịch; đứng riêng như cố vị, tôn sùng và ngưỡng mộ. Philosophy and the intellectual sciences, on the contrary; stand like statues, worshiped and celebrated, nhưng; nó không động và cũng chẳng tiến. Thế nhưng triết học là nhân chứng, không một dữ kiện nào trong đời là không có lý thuyết, tất cả thuộc tính triết học, bởi triết học ngoài nhiệm vụ phân tích còn là giải bày làm sao cho hợp lý hợp tình đúng chức năng thẩm mỹ; từ chỗ đó nó làm ra cái công việc không phóng nhỏ thành lớn mà gia tăng vào đó những gì giải bày xác thực để chứng minh những gì có thực trong đời cho một hiện hữu sống thực. Nhất là đối với khoa học đã tìm thấy những gì mà con người cần có là vì sau những gì thuộc khoa học đã là một phần thông thường trong đời sống, có lẽ; trau dồi, tu dưỡng, hành xử là chủ yếu và cầm giữ những gì cần cù, ở đó nó dựng lên một vài tính khí dũng cảm nơi con người. Cái đó gọi là phát huy tư tưởng, một tư tưởng phán quyết trước khi hành động dù nó xẫy ra trong tình huống nào; vai trò làm người là đả thông để tìm thấy chân lý tối thượng. Hoàn cảnh xã hội là động lực thúc đẩy để thực thi, là nhập cuộc để đồng tình trong hoàn cảnh khẩn trương mà ngay sau đó dễ dàng cảm nhận. Tuy nhiên; cảm nhận đôi khi ngưng trệ trong hai cách. Đôi khi nó đưa tới một thông tin không chính xác hoặc đôi khi đưa tới thông tin giả dối. Trong sự lý như thế chính là lúc chúng ta vượt thoát ra khỏi cảm thức nghi ngờ; dù rằng đã được xếp đặt và không còn cách nào ngăn chận được. Trong khi đó cảm thức đã nhận ra sự hiểu biết chính đáng một phần phụ thuộc vào hoàn cảnh, nhất là hoàn cảnh xã hội yêu cầu. Cảm thức đó là điểm chuẩn đến với con người chớ không đến vũ trụ. –The sense has reference always to man, not to the universe; điều này là một lỗi lầm đưa tới khẳng định cảm thức, cảm thức đo lường được mọi thứ. –And it is a great error to assert that the sense is the measure of things. Nhận thức triết học đòi hỏi phân tích một cách chuẩn mực cái lý đương nhiên của nó, nhưng; phải trung thực mới làm nên việc.

KẾT

Và như vậy thời có hai đối tượng: con người nhận biết / human knowledge và năng lực con người / human power, kỳ thực chỉ đáp ứng trong một mà thôi. Thì ra nó là thứ chướng khí, lạ lẫm gây ra giữa lúc này; một tác động làm suy thoái toàn cầu. Nhưng; trên thực tế chúng ta chống trả để chứng minh tiềm năng vốn có của con người trên hành tinh này, một trí tuệ vững chắc và một nhận biết sâu sắc và tinh tế so với những động vật khác. Do đó; đấu tranh của con người là chinh phục vũ trụ, một vũ trụ vô tận mà con người muốn khống chế. Cho nên chi trong tất cả còn tùy vào hoàn cảnh giữ con mắt tinh tường đều đặn giữa tình thế lộn xộn, bừa bãi vào những dữ kiện thiên nhiên và như vậy nhận được những hình ảnh đơn sơ như chúng ta đã thực hiện. Dựa trên quan điểm của những người cả tin về hiện tượng thì đó là cái vận chung đã đến với loài người hay là biến thiên của vũ trụ (?). Điều này khoa học phủ nhận và theo triết học thì hoàn toàn trái nghịch và vô căn cớ để định nghĩa. Nhưng; dưới cái nhìn của tôn giáo thì chủ quan vấn đề và coi như mệnh lệnh. Vì rằng Thượng đế ngăn cấm; đó là lý do chúng ta đã tận dụng cái mơ ước của mình –For God forbid that we should give out a dream of our own imagination for a pattern of the world của những ảo ảnh riêng mình mới sanh ra cái mẫu mực đó cho thế giới loài người. Còn hơn thế; Thượng đế khoan nhượng mà ban phát đến chúng ta một án ngử ‘điạ ngục trần gian / apocalyse’ và hình ảnh thực-có qua từng bước một; đấy là dấu ấn mà ông Tạo đã dựng nên. Vì vậy con người ngoan ngoãn xưng mà không niệm; có nghĩa rằng chúng ta đã quên lời dặn vì Người ban phát một thứ ánh sáng hữu hình, lồ lộ như tạo ra những trái cây xanh tươi và con người hít thở ngay trên mặt của con người…sự lành trở về trong vinh hiển –Therefore; Who gavest the visible light as the first fruits of creation, and didst breathe into the face of man… Thy goodness returneth to Thy glory. Nhưng; dưới hình thể của tôn giáo cho đó là niềm tin vĩnh cửu trong mọi chuyển dịch của vũ trụ là sự kiện tuyệt hảo của đấng Tạo hóa.
Với con người luôn luôn là một đối kháng để đi tới thừa nhận quả quyết. Lòng tự hào của con người vẫn cố hữu để đạt tới niềm hy vọng hơn niềm tin của giáo điều. Không có sự gì trên cõi đời này là ngẫu nhiên ngay cả vận mệnh của con người… ./.

VÕ CÔNG LIÊM (ca.ab.yyc . Đầu tháng 4/2020)

 

GOOD FRIDAY

Deacon Joe Hung Nguyen

Good-Friday

THANKS GOD IT’S GOOD FRIDAY

TGIF. Thanks God it’s Friday.

How many times have we said that?

And yet, that sounds so strange given what we have read or heard proclaimed the Passion of our Lord Jesus Christ according to John (John 18:1-19:42). What an incredibly sad story. What an injustice. How could this happened to someone who is so loving and kind and compassionate had to suffer so much, for all of us, the sinners. And it’s hard for us to understand what it all “means” even though we all believe that it has to be done “according to the scriptures”.

This Friday is very different from any other Friday, the Friday that we, the Christian community, glorify as “GOOD” FRIDAY-GOOD for all things on earth.

Good?
What could be “good” about an innocent man suffered with cruel whips and crown of thorns, and was crucified and died on the cross on the hill, two thousand years ago. What ‘s so GOOD about that? The answer is:

Absolutely nothing . . . . . . . without faith.

But with faith . . . . . .

* We see our God (in Jesus) willing to enter our world and embrace the challenges we face.

* We see our God (in Jesus) showing us how to live, what’s important, and what we should be about.

* We see our God (in Jesus) reaching out to us in a profound way to restore our relationship with him — that is, to “save” us.

* We see our God (in Jesus) rejecting the temptation to hate — even those who hate him.

* We see our God (in Jesus) refusing to do anything but the will of the Father, no matter how difficult.

* We see our God (in Jesus) embracing his cross so we might have the courage to embrace ours.

* We see our God (in Jesus) teaching us that violence and vengeance/revenge have no place in his kingdom. (obedience)

* We see our God (in Jesus) showing us the power of love — a power so great that it triumphs over even death itself.

And we see our God (in Jesus) pouring out his love into our hearts and died for us even though we are sinners.

Yes, It is “Good” Friday — because God loves us completely, and unconditionally and eternally, regardless who we are.

And so, TGIGF — Thanks God it’s Good Friday, because

God’s love is in the air,
all we have to do is “inhale” his LOVE to LIVE.
and that is why WE say
“we can’t live without your LOVE, my dear God”.

So, let us ALL pray
and take a deep breath
to take GOD’S LOVE into our hearts, our souls and our lives…

So from now on, every times we take a breath,
don’t forget that GOD is with and in us.

And MORE:
GOD always wants us TO SHARE THAT LOVE with OTHERS…
HE wants us to convey his LOVE to
ALL OF HIS DISPERSED CHILDREN,
inspire others to live a Christian life and those who do not yet believe in Christ that they may be enter the way to salvation by the light of the Holy Spirit
So that, we all would LIVE in PEACE and HARMONY, in HIS LOVE,
to SERVE, WORSHIP and GLORIFY GOD

SO, TGIGF ! Thanks God It’s GOOD FRIDAY!

Amen!

Deacon Joe Hung Nguyen

Chiến Tranh Trung-Mỹ

Lê Quốc

LỢI DỤNG CHÁNH SÁCH SAI LẦM CỦA NHIỀU TRÀO TỔNG THỐNG MỸ, TRUNG CỘNG ĐÃ CÀI MỘT MẠNG LƯỚI GIÁN ĐIỆP KHẮP CÁC CƠ QUAN TRỌNG YẾU CỦA MỸ – CHIẾN LƯỢC BÍ MẬT CỦA TRUNG CỘNG ĐỂ THAY THẾ MỸ TRONG VAI TRÒ LÃNH ĐẠO THẾ GIỚI
Cuộc chiến giữa Hoa Kỳ và Trung Cọng đã âm ỉ từ lâu trong não trạng của các lãnh tụ CS Trung Cộng, khởi sự từ Mao Trạch Đông và bùng nổ đời thứ V của vương triều đỏ: Tập Cận Bình.
Phía Trung Cộng: Lợi dụng chánh sách SAI LẦM của nhiều trào tổng thống Hoa Kỳ, Trung Cộng ĐÃ CÀI MỘT MẠNG LƯỚI GIÁN ĐIỆP KHẮP CÁC CƠ QUAN TRỌNG YẾU CỦA MỸ : Từ Ngũ Giác Đài, các viện nghiên cứu chiến lược quốc tế đến các cơ quan Hành Pháp, Lập Pháp, cả đến cơ quan tối cao về chiến lược CSIS (Center for strategic and International studies) hoặc NSA (National Strategic Agency) của Hoa Kỳ.
Giám Đốc FBI Christopher Wray báo động: Nguy cơ gián điệp TQ trên khắp 50 tiểu bang của Mỹ – từ lãnh vực nông nghiệp, đến lãnh vực công nghiệp cao, tạo ra mối đe dọa lớn nhứt cho Hoa Kỳ. (Báo Business Insider)
Phía Hoa Kỳ: Áp dụng một chánh sách sai lầm là nuôi dưỡng Trung Cộng cho giàu mạnh lên, với hy vọng là khi dân chúng có đời sống khá giả hơn sẽ áp lực làm thay đổi thể chế CS thành chế độ Tự Do Dân Chủ, gia nhập Cộng Đồng thế giới. Và TQ sẽ là một thị trường lớn lao 1 tỷ,4 trăm triệu người cho Hoa Kỳ. Nhưng kết quả ngày nay chứng minh Hoa Kỳ đã sai lầm. Hoa Kỳ cũng như các nước Tây Phương đã không hiều tường tận người CS – nhứt là Cộng Sản Tàu, Cộng Sản Á Châu.
Nhân vật khám phá ra đường đi nước bước, chiến lược bí mật kéo dài cả trăm năm của Trung Cộng chính là Tiến Sĩ Michael Pillsbury – giám đốc Viện Nghiên Cứu Chiến Lược Quốc Tế Hudson Institute – cũng là tác giả quyển sách nổi tiếng “The Hundred Year Marathon” do nhà xuất bản Henry Holt and Co. phát hành năm 2015.

CHIẾN TRANH MỸ- TRUNG ĐÃ PHÁT KHỞI TỪ NÃO TRẠNG CÁC LÃNH TỤ CỘNG SẢN
Bản chất của dân du mục Hán Tộc là bành trướng lãnh thổ, xâm chiếm nước người. Bản chất nầy lại nẩy mầm, sinh sôi nẩy nở trên đất CS, sẽ là một cái họa lớn cho nhân loại. Đức Đạt Lại Lạt Ma nhận xét: “Cộng sản là loài cỏ dại mọc trên hoang tàn của chiến tranh, là loài trùng độc sinh sôi nẩy nở trên rác rưởi của cuộc đời”.
Hai khuynh hướng bành trướng của nòi Hán và chiến tranh của chủ nghĩa CS, sáp nhập với nhau, dưới sự lãnh đạo hiện nay của Đại Đế Đỏ Tập Cân Bình, đang gây sóng gió khắp thế giới – đặc biệt là muốn soán ngôi Hoa Kỳ. Thử xem lịch sử cận đại của dòng Hán tộc Cộng Sản Trung Hoa:
Nhìn lại lịch sử cận đại của Hoa Lục – dù là thể chế Dân Chủ hay Cộng Sản – các lãnh tụ đều nuôi mộng làm bá chủ thế giới: – Tôn Trung Sơn: Lãnh tụ phát động cuộc Cách Mạng Dân chủ, lật đổ vương triều Mãn Thanh, tuyên bố: “Trung Quốc phải chiếm vị trí siêu cường quốc đứng đầu thế giới”.
Mao Trạch Đông: Thực hiện bước “Đại nhảy vọt, vượt Anh, đuổi kịp Mỹ”:
“Trong vòng 75 năm nữa, TQ có thể bắt kịp và vượt qua Mỹ ” (Lưu Minh Phúc dẫn từ sách “Giấc Mộng Trung Hoa”).
Đặng tiểu Bình: “Ẩn mình chờ thời” (thao quang dưỡng hối): Ẩn mình, che giấu thực lực, để chờ thời cơ chín muồi đứng lên giành vị trí đệ nhứt siêu cường làm bá chủ thế giới.
Tập Cận Bình – đời thứ năm, kể từ Mao Trạch Đông thành lập CHNDTH (1949) theo chủ trương trổi dậy của Hồ An Cương – giáo sư Đại Học Thanh Hoa (Bắc Kinh) và “Giấc Mộng Trung Hoa” của Lưu Minh Phúc (Liu Ming Fu). Ông Tập – tại Đại Hội ĐCSTH 19 ngày 18-10-2017 – đọc bài diễn văn 3000 chữ, dài 3 tiếng, 23 phút, nhắc lại 26 lần từ siêu cường hoặc cường quốc, nhấn mạnh “Giấc Mộng Trung Hoa”: “Sự phục hưng vĩ đại của dân tộc Trung Hoa – giấc mơ lớn nhứt của Trung Quốc trong thời kỳ cận đại là Trung Quốc sẽ trở thành cường quốc hàng đầu thế giới vào năm 2049”.
Ông Tập cận Bình ôm giấc mộng Trung Hoa, với vũ khí “Nhất Đới Nhất Lộ” và chương trình “Made in China 2025″ đi chinh phục thế giới.
Bằng chứng rõ ràng và cụ thể : Những lời tuyên bố trên đây của Tôn dật Tiên và 5 thế hệ CS – kể từ Mao Trạch Đông – chứng minh các ông con Trời – dù Dân Chủ hay Cộng Sản – đều muốn xâm lấn các nước khác và đến Tập cận Bình – tham vọng càng lớn hơn gấp bội : Lớn hơn cả Mao, vượt qua Đặng, bỏ đàng sau Giang, Hồ, tàn bạo hơn cà Tần thủy Hoàng, Ngô Khởi qua cuộc thanh trừng đẫm máu ” Đả hổ diệt ruồi”, tiếp tục tiêu diệt Pháp Luân Công để bán nội tạng, tàn sát và đồng hoá các sắc tộc Mông, Hồi, Mãn, Tạng và đặt quan Thái Thú người Việt để cai trị Việt Nam. Không cần phải che giấu, Chủ Tịch Tập cận Bình đã công khai ý đồ thực hiện “Giấc mộng Trung Hoa” trong buổi thăm viếng Viện Bảo Tàng Trung Hoa và trong bài diễn văn đọc tại ĐHĐCS 19 mơ làm bá chủ toàn cầu.
Ông Tập Cận Bình lấy tay che mặt trời.
Trước đây, qua mấy trào tổng thống Hoa Kỳ, từ Nixon bắt tay Tàu Cộng năm 1972, hy sinh VNCH, hy sinh 58,000 nhân mạng chiến sĩ Mỹ, 3 triệu thanh niên hai miền Nam Bắc – đến Bush cha, Bush con, Clinton. Obama-Hillary đều sai lầm trong chánh sách nuôi dưỡng cho Trung Cộng mạnh lên, nhân dân họ khá giả là họ chuyển biến thành thể chế Tự Do dân chủ, gia nhập cộng đồng các nước Dân Chủ thế giới. Thực tế cho thấy Hoa Kỳ đã sai lầm: Nuôi ong tay áo”. Quả thật vậy – nay Trung Cộng mạnh lên, đủ sức quay lại cắn Mỹ, trở thành một địch thủ đáng gờm của Mỹ và một đại họa cho cả thế giới.
Tiến Sĩ M.Pillsbury đã xác nhận sự sai lầm nầy trong tác phẩm của ông: CUỘC CHẠY ĐUA MARATHON 100 NĂM 1949 – 2049
Năm 1949 – 2049 = 100 năm.
Năm 1949 Mao thành lập nước CHNDTH. Năm 2049 – hậu duệ đời thứ V Tập Cận Bình tuyên bố sẽ làm lễ kỷ niệm 100 năm thành lập CHNDTH tại Hoa Lục. Mức đến của cuộc đua Marathon 100 năm nầy:
Trung Quốc là một đệ nhứt siêu cường thay thế Hoa Kỳ lãnh đạo thế giới.
Đây là cuộc chạy đua không công bằng. Trung Cộng đã đi trước 69 năm. Đi trên giấc ngủ yên, lòng tự mãn và chánh sách sai lầm của Hoa Kỳ. Họ đi hết 2/3 thời gian 100 năm. Tổng Thống D. Trump chính thức đối phó công khai với Tàu Cộng năm 2018. Như vậy Trung Cộng đã đi trước 2018-1949 = 69 năm.
Hoa kỳ chỉ có 31 năm đề chạy Marathon với Trung Cộng.
Đây là cuộc chạy đua khủng khiếp để vuợt Mỹ, soán ngôi Hoa Kỳ trong vai trò lãnh đạo thế giới.
Tác giả quyển sách ” The Hundred -Year Marathon” vạch trần những âm mưu trong chiến lựợc dài hạn 100 năm của TQ, để mong trở thành một siêu cường thay thay thế Mỹ.
1.- Tiến Sĩ Michael Pillsbury – người đã từng trải qua những vai trò tình báo tại LHQ, giữa CP Mỹ và Liên Sô. Ông tinh thông tiếng Hán, hiểu biết sâu sắc về các thuật ngữ của ngôn ngữ ngoại giao, những bí mật về các mưu mô xảo huyệt, các thủ đoạn gian manh trí trá, những âm mưu lừa đảo, những chiến thuật tiến thoái, những đòn gián điệp và phản gián, những mưu mỹ nhân kế, khổ nhục kế, những ngón ngoại giao phong bì hiện các nhà ngoại giao Tây Phương gọi là “bẫy nợ ngoại giao” (Debt-Trap- Diplomacy). Tác giả đã khám phá rằng những đòn phép trên đã được các lãnh tụ Cộng Sản nghiên cứu kỷ lưởng từ Binh Pháp Tôn Tử, các truyện Tam Quốc, Chiến Quốc Sách của lịch sử hai ngàn năm trước của họ, để áp dụng vào hoàn cảnh hiện đại.
2.- Trong cuộc chạy đua nầy, các lãnh tụ CS còn áp dụng chiến thuật ngụy trang, che giấu thật kỷ ý đồ hoặc hành động, để cho Mỹ ngủ yên trên sức mạnh và tinh thần tự mãn của mình. Trong khi Trung Cộng âm thầm thực hiện từng bước đi trong cuộc chạy đua Marathon 100 năm.( Sđd)
3.- Từ 50 năm nay, Hoa kỷ theo đuổi một chánh sách ngây thơ: “Hợp tác và xây dựng”, nhiều đời tổng thống Hoa Kỳ đã bật đèn xanh cho tư bản Hoa Kỳ ào ạt đầu tư vào thị truờng nhân công rẻ mạt, để thu lợi nhuận. Tương kế tựu kế, Trung Cộng bắt buộc các nhà đầu tư Mỹ phải giao nạp bí mật kỹ thuật sản xuất, để đổi lấy giấy phép hành nghề. Mặt khác, TQ còn gửi gián điệp kinh tế xâm nhập vào các công ty, xí nghiệp Mỹ để ăn cắp sở hữu trí tuệ, ăn cắp dữ kiện công nghệ, để bắt chước sản xuất những phiên bản rồi xuất cảng qua Mỹ với giá rẻ hơn. Mỹ còn đào tạo cho TQ hơn 1 triệu sinh viên tốt nghiệp đại học trở về bắt chước các mẫu mã hàng hóa Mỹ, Nhựt và Châu Âu, để sản xuất những mặt hàng y như hàng Mỹ, giá rẻ để cạnh tranh với hàng Mỹ, Nhựt và Liên Âu. Theo Counterfeit Report – cơ quan tư nhân chống hàng giả thì TQ sản xuất 80% hàng giả trên thế giới. TQ còn xin Mỹ can thiệp để vào WTO, để lợi dụng mọi sơ hở, cạnh tranh bất chánh và hưởng quy chế tối huệ quốc vì thuộc nước nghèo chậm tiến. TQ tung người vào Mỹ “để tán tỉnh các học giả, thao túng các cố vấn của họ, các nhà chính trị nổi tiếng và những nhận vật hay tổ chức được xem là thân TQ và phải biết kiên nhẫn để tránh không bị bao vây.”. (M. Pillsbury – Sđd)
4.- Tiến Sĩ M. Pillsbury còn tìm tiếp xúc với những nhân vật đào tẩu, bất đồng chánh kiến với CS như tỷ phú Quách Văn Quý (hiện sống ở New York) và nhiều nhân vật khác, để tìm hiểu những bí mật, những mâu thuần trong nội bộ Đảng Cộng Sản TQ.
5.- Nghiên cứu về phía Mỹ, tác giả còn khám phá ra một sự thật mà báo chí ít ai nhắc tới: “Tất cả các lãnh đạo Hoa Kỳ từ thời Nixon-Kissinger cho đến nay , đều đánh giá sai lầm về chủ trương và mục đích của Trung Quốc. Bằng chứng làm chấn động giới chính trị Hoa Kỳ: Quyết định của Jimmy Carter và Kissinger về việc sẵn sàng yểm trợ cho TQ nhiều mặt, trong đó có mặt Khoa học kỹ thuật, để hiện đại hóa quốc gia nầy” (M.Pillsbury – sđd)
6.- Trả lời phỏng vần của ký giả Hélène Vissìère báo Le Point (Pháp), Ông M. Pillsbury nói: “Người Trung Quốc có vẻ như bị mê hoặc trước sự biến đổi của Mỹ thành một siêu cường.Họ nghiên cứu xem chánh sách thương mãi và công nghiệp đã giúp Mỹ vượt qua Anh Quốc và Đức như thế nào. Tôi đã sững sờ khi thấy ở thư viện trường Đảng, bên cạnh các sách về thời chiến quốc, có cả một phần dành cho kỹ thuật quản lý của Mỹ” (M.Pillsbury – Sđd )
7.- Sách của M.Pillsbury còn dẫn một bằng chứng động trời khác: Chính vị tổng thống nổi tiếng của Hoa Kỳ Ronald Reagan cũng phạm một sai lầm lớn là “ký quyết định số NSDD 11 năm cho phép Ngũ Giác Đài đem kỹ thuật tối tân về hỏa tiễn, hải quân và không quân, bộ binh để chuyển hóa QĐND/ TQ thành lực lượng chiến đấu có tầm vóc quốc tế (M.Pillsbury, The Hundred Year Marathon).
(Có lẽ đây là thời chiến tranh lạnh, Tổng Thống Ronald Reagan dùng chiến lược giúp Trung Cộng mạnh lên để liên minh đối phó với Liên Sô).
8.- Mặt trận gián điệp: Kể từ thời Nixon – Kissinger (1972) – lợi dụng sự ngây thơ và sai lầm của chính phủ Mỹ xem TQ chỉ là một nước nghèo, yếu kém – các lãnh tụ CS thiết lập một mạng lưới tình báo, cài điệp viên vào khắp các cơ quan đầu não từ Trung Ương đến địa phương Hoa Kỳ.
Giám Đốc FBI Christopher Wray tường trình trước Quốc Hội Hoa Kỳ ngày 10-10-2018, về tình hình gián điệp Trung Quốc tại Hoa Kỳ và cảnh cáo rằng gíán điệp TQ có mặt khắp 50 tiểu bang Hoa Kỳ. Nó bao gồm mọi thứ từ hạt ngô ở Iowa đến các “turbin” gió ở Massachusetts, từ nông nghiệp đến công nghệ cao. (Business Insider). Đây là một mối đe dọa lớn nhứt cho nền An Ninh Hoa Kỳ xuất phát từ Bắc Kinh.
Phỏng vấn của báo Le Point về chiến lược quân sự của TQ, tác giả quyển sách cho biết: “Người TQ hiện nay không đi chinh phục thế giới như những nước khác kiểu Hitler của Đức và Tojo của Nhật trong thế kỷ qua. Họ thực tiễn hơn. Mối đe dọa thật sự là sự thiếu vắng cải tổ và sự say mê những kẻ độc tài như Assad hay Mugabe. Họ tập trung phát triển loại vũ khí có thể giúp đánh bại kẻ thù hùng mạnh hơn bằng cách tấn công vào những điểm yếu của đối phương. Quyển sách chiến lược mới của TQ đánh giá Mỹ yếu trên phương diện An Ninh Mạng và không gian điện não. QĐNDTQ đã thiết lập được 16 đơn vị gián điệp chuyên trách tấn công tin học và đã phát triển một chương trình vũ khí bí mật, để phá hủy các vệ tinh Mỹ.
Tiến Sĩ Michael Pillsbury nhận định: “Qua nghiên cứu, tôi được biết từ đời Mao đến nay, giới diều hâu TQ luôn luôn muốn nước họ sẽ thay thế Mỹ ở vị trí lãnh đạo kinh tế và quân sự của thế giới vào năm 2049, tức là năm kỷ niệm 100 năm ngày Mao lên cầm quyền”.
” Kế hoạch nầy được biết dưới tên “Cuộc chạy đua Marathon 100 năm” mà không được ai nói đến. Nhưng bây giờ Bắc Kinh đã bắt đầu lên tiếng một cách công khai dưới trào của Chủ Tịch Tập cận Bình” .
“Nếu Mỹ muốn cạnh tranh thì Mỹ phải thay đổi hoàn toàn quan điểm và nhìn nhận TQ là một đối thủ cạnh tranh chứ không phải một quốc gia cần cứu trợ, phải nhận dạng những lãnh vực mà Mỹ có thể gây áp lực, thuyết phục các nước lân cận thiết lập một liên minh, để buộc TQ bớt hung hăng và phải bảo vệ các nhà ly khai Trung Quốc, hổ trợ giới cải cách và nghiên cứu thời kỳ chiến quốc”. Ông M.Pillsbury nói tiếp.
Sách của Tiến Sĩ Michael Pillsbury xuất bản năm 2015.
Tổng Thống D.Trump lên cầm quyền năm 2017.
Chánh phủ D. Trump đã hiểu rõ TQ. QUỐC HỘI MỸ CŨNG ĐÃ THỨC TỈNH VÀ QUYẾT TÂM CHỐNG TRUNG CỘNG QUA LUẬT ỦY NHIỆM QUỐC PHÒNG (NDAA) 716 tỷ $USD, VÓI MỘT SỐ PHIẾU CAO NHỨT CỦA THƯỢNG VIỆN 87/10
Riêng chánh phủ D. Trump đang quyết liệt đối phó với TQ. Chiến tranh thương mãi chỉ là một cái cớ để T.T Trump mở mặt trận đánh toàn diện vào Trung Quốc. Mỹ nhứt định không để cho TQ chiếm vị trí siêu cường của mình.
Mặc dù Mỹ đã sai lầm và đã chậm 2/3 đoạn đường 100 năm. Nhưng là một nước siêu cường, Mỹ có đầy đủ sức mạnh để ngăn chặn Trung Cộng. Cuộc chiến, dù cam go – kẻ thù, dù mưu mô xảo quyệt – nhưng Mỹ có nền văn minh khoa học cao nhứt thế giới, thể chế tam quyền phân lập, Mỹ xưa nay không xâm lăng lãnh thổ của bất cứ nước nào, đủ chứng minh với thế giới chính nghĩa về phía mình.
Mỹ đã thực sự hành động:
*Chiến tranh thương mãi đang quyết liệt với Trung Cộng.
– Ban hành Luật Ủy Quyền Quốc Phòng (NDAA)
– Mở mặt trận quy mô chống gián điệp Trung Cộng tại Mỹ:
*Sa thải, bắt và truy tố các nhà bác học gián điệp tại Viện Ung Thư Anderson TX.
* Bắt nhiều kỷ sư Mỹ gốc Hoa, trong đó có Kỹ Sư Xiaoqing Zheng bị tội ăn cắp dữ kiện công nghiệp “turbin” của CGE. Còn nhiều vụ tương tự khắp nước Mỹ, không thể kể ra hết.
* Mỹ khởi tố 3 vụ gián điệp TQ lấy cắp bí mật công nghiệp động cơ máy bay phản lực dùng cho máy bay chở hành khách. Bộ Tư Pháp Mỹ nêu rõ tên các điệp viên nầy thuộc sở An Ninh tỉnh Giang Tô: Chai Meng, Zhang Zhang Gui, Liu chun Liang, đã ăn cắp kỹ thuật cốt lõi của động cơ turbin cho các công ty hàng không thương mãi TQ.
*Báo cáo của Bloomberg phát giác TQ cấy chip nhỏ hơn hạt gạo vào 30 công ty Mỹ bao gồm cả Amazon, Apple, các ngân hàng lớn và các nhà thầu lớn của CP. Các cuộc iều tra của An Ninh Mỹ cho biết: Các con chip nhỏ hơn hạt gạo cho phép kẻ tấn công tạo ra một cánh cửa tàng hình, để xâm nhập bất kỳ mạng máy điện toán nào. Chỉ đưa ra vài thí dụ điển hình, còn rất nhiều vụ án khác, không kể hết được.
*Kiểm soát gắt gao, trục xuất các công ty TQ là cơ sở hoạt động cho TQ như các đại công ty ZTE, Huawei, Alibaba.
*Ngăn chặn không cho công ty TQ hay công ty trá hình TQ mua các công ty sản xuất sản phẩm chiến lươc của Mỹ như công ty Qualcom (sản xuất chip chiến lược) v.v…
Tình báo TQ xâm nhập vào Mỹ từ năm 2012 – theo báo Washington Free Beacon- con số lên đến 25,000 người và hơn 15,000 điệp viên tuyển dụng, để gia tăng hoạt động do thám tại Mỹ.
– Chánh phủ Trump chủẩn bi trục xuất 100,000 người Hoa tị nạn tại Mỹ
*Trục xuất 350,000 SV/ TQ du học tại Mỹ.
*Đóng băng tài sản các quan chức TQ
*Đóng băngTài sản và doanh nghiệp nhà nước TQ
.
*Cấm các chánh phủ, các tổ chức kinh doanh hoặc các các cá nhân chuyên gia làm ăn với TQ – thậm chí có thể ngăn cấm TQ sử dụng ngoại hối bằng đô la Mỹ (Thời Báo Hồng Kông)
*Phá kế hoạch 1000 mgười của TQ
Tóm lại Trung Quốc chuẩn bị cuộc chạy đua nầy 69 năm trước Mỹ : Phát khởi từ trong não trạng của Mao trạch Đông năm 1949 và các lãnh tụ 5 đời kế tiếp – ý đồ vượt Mỹ, thể hiện từng bước cạnh tranh với Mỹ. Đặng tiểu Bình mở cửa cải cách kinh tế thu hút vốn đầu tư ngoại quốc ( FDI ).Kinh tế TQ càng mạnh, tham vọng càng lớn, cuộc chạy đua càng tăng tốc. Đến đời thứ V, họ Tập không cần giấu giếm đã công khai mức đến của cuộc chạy đua là năm 2049 – kỷ niệm 100 năm thành lập CHNDTH- Trung Quốc sẽ là đệ nhứt siêu cường thay thế Mỹ trong vai trò lãnh đạo thế giới.
Đi trên con đường ngây thơ “NUÔI ONG TAY ÁO” suốt 69 năm (1949 – 2018) – MỸ ĐÃ TỈNH GIẤC từ khi D. Trump xuất hiện. Chỉ còn 31 năm để chạy đua với Trung Quốc. DÙ TRỄ NHƯNG CÒN KỊP…
Cuộc thương chiến chỉ là cái cớ, là Diện – không phải là Điểm. Điểm của Trung Cộng là đánh gục Mỹ để làm bá chủ thế giới. Điểm của Mỹ là ngăn chặn Trung Cộng không cho vượt Mỹ và thay thế Mỹ trong vị trí siêu cường. Do đó, Mỹ không thể ngưng. Trung Cộng không thể lùi. Như vậy, là một cuộc chiến phải có kẻ thắng người bại. Một cuộc chiến “một mất, một còn” giữa Mỹ và Trung Cộng.
.
Về kết quả cuộc đua ghê gớm nầy, báo Le Point (Pháp) hỏi: “Có thể có chiến tranh bùng nổ ra không” ? Ông Pillsbury trà lời: Có đấy, có thể xẩy ra một cuộc chiến tranh ngoài ý muốn. Trung Quốc có thói quen tung ra những cú đánh cảnh cáo: “Họ can thiệp vào Triều Tiên năm 1950, rồi Ấn Độ năm 1962. Họ cho rằng cuộc tấn công phủ đầu thường đem lại chiến thắng.”
Cuộc chạy đua Marathon 100 năm khủng khiếp nầy phản ảnh một cuộc chiến vô cùng phức tạp, khốc liệt không chỉ trên bình diện quân sự như các cuộc chiến tranh khác trong quá khứ – mà là một cuộc chiến toàn diện trên mọi lãnh vực: Kinh tế chính trị, thương mãi, khoa học kỹ thuật, ý thức hệ…
Thêm một bằng chứng Mỹ quyết liệt trong mặt trận chống Trung Quốc: Bộ Tư Pháp Mỹ yêu cầu Gia Nã Đại bắt và dẫn độ bà Mạnh Vãn Chu (Meng Wanzhou) – phó chủ tịch kiêm giám đốc tài chánh công ty Huawei – công ty sản xuất “chip tối tân 5G” lớn nhứt của Trung Quốc tại Mỹ. Mỹ ra tay ngăn chặn và phá vỡ Huawei – công ty tình báo ngụy trang thực hiện kế hoạch “Made in China 2025” để vượt Mỹ và thay thế Mỹ trong vai trò lãnh đạo thế giới.
Thê giới đang nín thở chờ xem diễn tiến ngày càng căng thẳng giữa Mỹ và Trung Quốc.
Lê Quốc

BÀI THƠ TRĂNG TRỐI

MỘT BÀI THƠ TRĂNG TRỐI CỦA PHẠM NGỌC THÁI
Lời bình VIỆT PHƯƠNG

pnthai2
CHẾT CŨNG CHỈ NHƯ GIẤC NGỦ

Không than vãn, lòng chẳng hề hối tiếc
Nắm tro tàn. Thôi thế, đã là xong
Cũng chỉ như giấc ngủ mơ màng
Đời sống vậy, đủ rồi ! Em yêu mến.

Nghiệp đã làm xong, chẳng còn chi vương vấn
Tình cũng tàn, năm tháng kiếp phôi pha
Thì em ơi ! Ta nằm xuống dưới mồ
Thanh thản chết, có gì đâu phải nghĩ ?

Hồn thi sĩ xin mang thơ gửi đời làm tri kỷ
Chốn trần gian sẽ ngợp áng thơ ta
Chỉ chia tay có thân xác thôi mà
Tình yêu ta còn muôn đời bất tử !

Cõi thế gian: Âu cũng kiếp đoạ đầy phận số
Tiếc làm chi ? Sống mãi chỉ mệt thân
Mãn nguyện rồi, cần chi nữa phân vân
Ta nằm xuống hoá mình vào “kinh thánh” !

Ta đã yêu em suốt đời trong hư ảnh
Dù có thời cũng sung sướng, đê mê
Nhưng tình em khác gì những chiếc lá bay kia
Để năm tháng dài… ta hoang ru nơi bến lạnh…

“Tình và tiền” !
Tiếng nói đó làm trái tim đàn bà hưng phấn
Phụ nữ cả thế giới này, họ quí như nhau !
Nhưng nếu ít tiền, tình cũng hóa cô liêu
Giọt lệ thi nhân,
Anh rỏ lên những trang thơ đời, làm liều thuốc ngủ…

PHẠM NGỌC THÁI
Trích tập “ Phạm Ngọc Thái . Cánh đại bàng của thi ca đương đại VN “,
Nxb Thanh niên 2019 )

LỜI BÌNH CỦA VIỆT PHƯƠNG:
– Một bài thơ trăng trối

Trước khi từ giã cõi đời ở Gành Ráng (Qui Nhơn), thi nhân Hàn Mặc Tử đã để lại những lời trăng trối:
Ta trút linh hồn giữa lúc đây
Gió sầu vô hạn nuối trong cây
Còn em sao chẳng hay chi cả
Xin để tang anh đến vạn ngày
(Trút linh hồn)
Còn Xuân Diệu thì nhắn nhủ lại đời, rằng:
Hãy để cho tôi được giã từ
Vẫy chào cõi thực để vào hư
Trong hơi thở chót dâng trời đất
Cũng vẫn si tình đến ngất ngư
Thi hào Pushkin vĩ đại – mặt trời thi ca của nước Nga đã viết:
Nơi đàn thơ thiêng liêng ta không chết!
Hồn ta còn sống mãi chẳng tiêu tan
Và trên đời dù chỉ còn một thi nhân
Danh tiếng ta vẫn còn vang mãi mãi…
“Chết cũng chỉ như giấc ngủ” của Phạm Ngọc Thái cũng thuộc dạng một bài thơ trăng trối:
Hồn thi sĩ xin mang thơ gửi đời làm tri kỷ
Chốn trần gian sẽ ngợp áng thơ ta
Chỉ chia tay có thân xác thôi mà
Tình yêu ta còn muôn đời bất tử !
(đoạn thơ ba)
Thi nhân thản nhiên để chuẩn bị cho mình đi vào cõi vĩnh hằng. Bài thơ đạt đến sự chí lí về cả nghĩa và tình. Ngay mấy câu mở đầu, ta thấy tâm trạng nhà thơ coi cái chết rất nhẹ nhàng:
Không than vãn, lòng chẳng hề hối tiếc
Nắm tro tàn. Thôi thế, đã là xong
Cũng chỉ như giấc ngủ mơ màng
Đời sống vậy, đủ rồi ! Em yêu mến.
Mặc dù nhà thơ viết: Nắm tro tàn. Thôi thế, đã là xong /- Nghe có vẻ như rũ bỏ ? Nhưng không phải. Sở dĩ lòng Người sẵn sàng ra đi thanh thoát vậy, ở trong đoạn thơ hai đã giải thích:
Nghiệp đã làm xong, chẳng còn chi vương vấn
Tình cũng tàn năm tháng kiếp phôi pha
Thì em ơi ! Ta nằm xuống dưới mồ
Thanh thản chết, có gì đâu phải nghĩ.
Vâng, thêm một lần nữa ta thấy Phạm Ngọc Thái đón nhận cuộc ra đi vĩnh cửu… thật ung dung. Bởi, anh biết sự nghiệp thi ca cùng tên tuổi anh để lại cho đời cũng như nền văn học nước nhà, sẽ không bao giờ chết. Dù anh có nằm xuống dưới mồ, vào cõi thiên thu… thì đâu có phải thế là kết thúc ? đâu phải “tất cả đã là xong” ? – cũng như nhà thơ Nga Pushkin từng nói:
Nơi đàn thơ thiêng liêng ta không chết!
Thi nhân coi cuộc ra đi đó chỉ như là một giấc ngủ mơ màng. Bài thơ còn đi sâu lý giải về… đời, như kinh phật nói là “cõi tạm”:
Cõi thế gian: âu cũng kiếp đọa đầy phận số
Tiếc làm chi ? Sống mãi chỉ mệt thân
Mãn nguyện rồi, cần chi nữa phân vân
Ta nằm xuống hoá mình vào “kinh thánh” !
(đoạn thơ thứ tư)
Một quan niệm phật giáo. Nói về hai chữ “kinh thánh” – Trong bài “Khúc xuân tuổi bảy mươi”, tác giả cũng viết hai câu thơ:
Đi giữa mùa xuân,
đã thấy vĩnh cửu ở trên đầu
Cõi Phật rước ta về đất thánh…
Nghĩa là, cuộc đi này của thi nhân không phải để… chết, mà Người hóa mình vào “kinh thánh” đó thôi !
Cuộc đời gồm cả “tình yêu và cuộc sống” – Bài thơ tràn sang lĩnh vực “tình”:
Ta đã yêu em suốt đời trong hư ảnh
Dù có thời cũng sung sướng, đê mê
(câu 17-18)
Trong đời thường từ tư tưởng, tình cảm đến đời sống thực – Ai cũng quan tâm đến tiền bạc. Nhưng với người phụ nữ thời hiện đại thì tiền bạc chỉ đạo họ về mọi phương diện: kể cả lĩnh vực tình ái !? Cái quan niệm “một mái nhà tranh, hai trái tim vàng” là cổ xưa lắm rồi ! Thời nay, tuy cũng có nhưng rất hiếm.Tình thì tình, nhưng họ yêu trước hết phải là… tiền ! “tiền” gần như là một chủ nghĩa, một lý tưởng sống của người phụ nữ bây giờ. Bởi vậy, những chàng thi sĩ với tâm hồn lãng mạn, mộng mơ… chỉ giàu tình mà nghèo tiền, rất dễ bị rơi vào “bến cô liêu” ! Thi nhân viết:
“Tình và tiền” !
Tiếng nói đó làm trái tim đàn bà hưng phấn
Phụ nữ cả thế giới này, họ quí như nhau !
Nhưng nếu ít tiền, tình cũng hóa cô liêu…
Tức là, những tình yêu chỉ xây dựng trên nền tảng theo “tiếng gọi của trái tim” như của các nhà thơ, hầu hết trước sau cũng… tan vỡ ! Nên Người mới than:
Nhưng tình em khác gì những chiếc lá bay kia
Để năm tháng dài ta hoang ru nơi bến lạnh…
(câu 19-20)
Thơ tình Phạm Ngọc Thái phần lớn được sáng tác từ các mối tình xưa. Nhà thơ sống lại trong thơ bằng những kí ức của tình yêu.
Anh trở về như Na-pô-lê-ông
Đi tù ngoài hoang đảo
Ông dành thời gian viết hồi kí thuở tung hoành
Anh lấy tình xưa xây giấc mộng thi nhân
Chỉ tiếc nuối tình sao ngắn ngủi.
(Vĩnh biệt cuộc tình)
Anh đã nói như vậy. Cái thời mà người chồng là một nhà thơ nghèo, được bà vợ vẫn thủy chung như vợ của Tú Xương và Nguyễn Khuyến, là chuyện xửa xưa… Thưở ấy, Tú Xương từng tự sự trong bài thơ “thương vợ” nổi tiếng của ông rằng:
Quanh năm buôn bán ở mom sông,
Nuôi đủ năm con với một chồng.
Lặn lội thân cò khi quãng vắng,
Eo sèo mặt nước buổi đò đông.

Một duyên hai nợ âu đành phận,
Năm nắng mươi mưa dám quản công.
Cha mẹ thói đời ăn ở bạc,
Có chồng hờ hững cũng như không !
Giờ, xin phân tích đôi nét về quan hệ giữa đời sống thực của Phạm Ngọc Thái với thi ca – Tôi không biết nhiều đến hoàn cảnh gia đình trong mối quan hệ vợ chồng của anh ? Nhưng xét nghĩ, với một con người đam mê văn chương, nhất là thơ ca như anh… để có được một gia đình yên ấm ở xã hội hiện đại này, quả thật là khó !? Nghe nói, sau này hai người cũng không tránh khỏi lúc này,khác xích mích nhau về chuyện tiền nong – Mặc dù cũng có giai đoạn tác giả sống rất êm ái, yên ấm với gia đình. Chẳng thế, thời kì đó anh đã sáng tác cả một tập thơ nói về vợ con ! Đó là tập “Có một khoảng trời”, xuất bản năm 1990 khi công tác ở Đức về. Có những bài thơ rất hay nói về người vợ trẻ của mình, như bài Tiếng Hát Đời Thường:
Trong một phố nghèo có người vợ trẻ
Vẫn đón con đi, về… như thường lệ
Vóc em thanh cũng thể mùa xuân
Đôi mắt em: đôi mắt ấy màu đen.
Hay là:
Miền đã theo tôi vào cuộc Trường Sơn
Hành quân rừng già, võng treo sườn gió…
Ai biết chiều nay người vợ trẻ
Đứng mong chồng bên đứa con thơ
Giọt lệ cháy xót lòng mang sắc xanh thu!
Rồi bài “Có một khoảng trời”:
Cái khoảng trời khi anh và em đã cách xa
( xa thật đấy mà cũng gần thật đấy )
Trong đau đớn anh hoá bờ cát cháy
Thổi về phương em giữa chiều gió nổi

Hạt vô tư còn lại… những tàn tro !
Tình cảm của nhà thơ với gia đình, quê hương – Đặc biệt với người vợ, rất đẹp ! Anh không ngớt lời ca ngợi qua một số bài khác nữa: Nỗi trăn trở người đi tìm vàng, Bài ca xứ sở, Trăng quê, Mùa tuyết quê người…
Song cũng phải nói: giai đoạn này tác giả còn đang công tác ở ngành ngoại thương, lại đi nước ngoài – Cuộc sống chắc cũng khá ! Chưa bị mối quan hệ về tiền bạc chi phối nhiều ( như khi anh đã lao hết mình vào sự nghiệp thơ phú, văn chương ).
Mảng sáng tác duy nhất anh nói về người vợ, chỉ ở mỗi tập thơ “có một khoảng trời” đầu tay ấy ! Còn cả một khối lượng hàng trăm bài thơ tình viết sau này, không thấy có bài thơ nào Phạm Ngọc Thái nói về người vợ của mình nữa. “em” trong các bài thơ tình của anh, toàn là em của cái thuở mộng mơ xưa, hoặc cảm xúc với một người nào đó… chứ không phải là vợ.
Thí dụ như bài “Người đàn bà trắng”:
Em không biến thành đá để hoá Vọng Phu
Anh cũng không làm chàng Trương Chi
suốt đời chèo sông vắng
Ta không đi theo Con Đường Lông Ngỗng Trắng
Dẫu hình hài khắc mãi tim nhau.
Anh Trần Đức – Nguyên CB Viện ngôn ngữ & Văn hoá dân gian, khi bình bài này đã phân tích:
“Đoạn thơ đã triết lý về những mâu thuẫn giữa tình yêu và cuộc sống của nhà thơ với Người Đàn Bà Trắng. Đó cũng là một nghịch lý cuộc đời: Em không biến thành đá để hoá Vọng Phu /- Còn anh cũng không đầy mình để làm mãi cái anh chàng Trương Chi suốt đời chèo thuyền trên con sông quạnh vắng, cô đơn ! Rồi tương tư nàng Mỵ Nương mà chết. Hay cái con-đường-lông-ngỗng-trắng mà nàng Mỵ Châu đã rắc cho chàng Trọng Thủy theo tìm – Thần tượng thì rất đẹp, nhưng để cuối cùng chàng cũng nhảy xuống biển mà chết, hoá thành ngọc trai giữ tình son sắt với nàng. Nó bi ai quá !
Cái hay của khúc triết lý trong bài thơ Người Đàn Bà Trắng là đã được viết như đời. Dẫu mối tình bị tan vỡ phải chia lìa năm tháng, nhưng tình thơ không kết thúc bằng sự bi thảm. Đôi trai gái vẫn phải sống và tồn tại, dù là theo chiều gió cuốn cuộc đời. Phải chăng, đó cũng là một cuốn tiểu thuyết “cuốn theo chiều gió” như bao bi kịch tình-đời trên bờ bến nhân gian?”.
Nghĩa là, bài thơ được tác giả cảm xúc sáng tác cũng xuất phát từ trong cuộc tình đời của mình? nhưng chưa phải là giai đoạn tiến đến hôn nhân gia đình – Như thi sĩ Xuân Diệu từng viết:
Tình chỉ đẹp khi còn dang dở…
Mối quan hệ cuộc sống và thi ca của nhà thơ vẫn ở trong một thế giới tưởng tượng, đẹp như mơ… chứ chưa vấp phải cái mâu thuẫn giữa “tình và tiền” !
Tôi thí dụ thêm bài nữa:
Tình để lại vết thương không lành được
Soi mặt hồ in mãi bóng thời gian
Em hiền dịu trái tim từng tha thiết
Người con gái anh yêu nay hóa khói sương tan.
(Anh vẫn ở bên Hồ Tây)
Đấy, tuy bị lỡ dở nhưng họ vẫn tha thiết với nhau như thế. Đến mức vì “tình” trái tim có thể tan vỡ ! Thì đâu có phải vì tiền ? Nhà thơ kết luận:
Thế đó, em ơi ! Tình qua không trở lại
Xế chiều rồi mà máu tim chảy mãi không thôi
Em có nghe gió Tây Hồ đang thổi
Anh ở đây, vẫn bên Hồ Tây mây trôi…
Bởi vậy, thơ tình Phạm Ngọc Thái hoàn toàn xuất phát từ sự rung động trái tim (ngoài phạm trù tiền)… có thể chỉ trong khoảnh khắc mà cảm xúc thành thơ, hoặc của một mối tình dang dở, xa nhau lòng vẫn tha thiết nhớ về nhau. Tan vỡ mà vẫn đẹp !
Giờ xin quay trở lại với bài “Chết cũng chỉ như giấc ngủ”: Nó không chỉ còn là tự sự bản thân nữa, mà đã mang cả ý nghĩa thời đại, trong mối quan hệ giữa tiền bạc với đời sống xã hội… để phản án nhân sinh quan tác giả.
Bài thơ ôm trùm rất nhiều mặt của cả riêng tư và tính hiện thực xã hội trong đó, súc tích và sâu sắc. Không ít chỗ khúc triết và hay, đột biến có câu thơ thật xuất sắc, như:
Ta nằm xuống hoá mình vào “kinh thánh”!
Huyền bí và hiển linh. Hai câu thơ cuối bài là hay:
Nhưng nếu ít tiền, tình cũng hóa cô liêu!
Giọt lệ thi nhân,
Anh rỏ lên những trang thơ đời làm liều thuốc ngủ.
Bài thơ đã được kết ở đó !
Việt Phương

HOLY THURSDAY IN THE CORONAVIRUS CRISIS

Deacon Joe Nguyen

holy thursdsy

Even thought we are at home during this Coronavirus crisis, even though we won’t be able to gather in our holy church with all our brothers and sisters and even though we are livestreamming instead, I know that you all will love this night – The night that I can sum up as SO CATHOLIC.

1) Eucharist is front and center this night. We bow our heads to give thanks for this sacred meal, a God-moment of the highest order, knowing that our Lord and God comes to us in a very concrete, visible, tangible way. And we bow our heads solemnly together in prayer with the Blessed Sacrament — a sign that we will follow the Lord wherever he goes.
And then we sit in silent prayer in the presence of Jesus, reflecting on his great love for us, a love poured out for us on Calvary — while at the same time reflecting on how we can best love him back.

2) And today is also the day our parish (and many other parishes also) formally receive our holy oils that had been blessed and consecrated by our Bishop.

The Oil of the Sick, the Oil of Catechumens, and the Sacred Chrism. (Oils used in the Sacramental life of the Church)
These oils are signs to us that our God is never far away, but rather, is with us always — signs that our God wants to heal us and transform us and forgive us every step of the way, from birth to death. These oils also show us how the created things of this world (even simple, ordinary things) can be channels of God’s grace.

3) Oh yeah — the foot washing. How could I forget that? What was I thinking?
Our Lord Jesus said that He did not come to be served but to serve. His command is to “wash the feet of one another”, what that really means is: care for one another, and embrace one another, and help one another, and reach out to those in need. In other words, love and serve one another.

And so, as we experience this beautiful, holy night (at home during this crisis), as we give thanks to God for all he does for us and within us every second in our lives, as we thank Jesus for his profound act of love for our sake, as we are moved by tonight’s specialness and uniqueness, let’s NOT forget the most important part of being a true disciple of Jesus.

Let’s LOVE one another. There’s nothing more Catholic than that.
AMEN!

Deacon Joe Nguyen

Tháng Ba, Coi Bóng Hát Tế Vía Bà

* Phạm Nga

via ongba
 
1.
Hằng năm, cứ trong vòng tháng Ba âm lịch như lúc này là ở khắp nội/ngoại thành Sài Gòn, các ngôi miếu thờ Ngũ Hành rộ lên cúng vía Bà – tên dân gian gọi chung cho Năm Bà tức Ngũ Hành Nương Nương. Như hôm 19 ta, lễ vía Bà ở chùa Vạn Thọ bên bờ kênh Nhiêu Lộc đã diễn ra suốt ngày đêm.
Buổi sáng đã có một nhóm tế nam, với y trang đĩnh đạc áo thụng xanh, nón cánh chuồng, chuyên diễn nghi thức học trò lễ, nhưng được bà con, cô bác mong đợi và kéo đến xem đông hơn là mấy em bóng, nhóm tế này chỉ vào đám buổi xế trưa.
Được mời tế Bà đã nhiều năm liên tục tại ngôi miếu này, chị Năm Tốt, trưởng nhóm, cho biết: “Hàng năm, cứ cỡ 18,19  tháng này, tôi đi kêu mấy chị em quá khó là khó vì ai nấy tứ tán hết, cũng tại cùng lúc quá nhiều miếu Ngũ Hành ở Sài Gòn đều cúng vía Bà. Như xong ở đây, đến năm giờ chiều là chị em tôi phải lập tức chạy xuống miếu Bà ở Thủ Đức”.
Xưa nay, hể nói tới dân bóng rỗi  – hay gọn hơn, dân bóng – người ta liên tưởng ngay đến các cậu thanh niên pê-đê, tức là nam giới nhưng vẫn được coi là nữ giới, vẫn là “mấy chị em” như chị Năm Tốt vừa đề cập.
Tuy nhiên, qua thâm niên hơn 30 năm theo nghề, chị Năm cho biết là nghề tế gắn liền với hình ảnh những cậu con trai – cả đàn ông trung niên nữa –  ưỡn a ưỡn ẹo mặc đồ phụ nữ, nhưng đúng ra, một nhóm tế thông thường bao giờ cũng gồm luôn cả các cô gái, các chị trung niên, các má lớn tuổi và các chú, các ông nữa. Điển hình như nhóm của chị đang lãnh đám ở đây, quả là rất đề huề về các mặt giới tính, tuổi tác, thế hệ…
 
2.
Đứng cạnh bàn thờ Bà là chị Bảy Thi, tuổi khoảng trên dưới 50, đang vừa gõ trống lịnh vừa hát, tụng “Chầu mời” tức phần mở đầu một buổi tế đúng bài bản. Ngồi gần đó là ông Ba Lựa, tuổi phải trên 60, vốn là nhạc sĩ cổ nhạc, đã từng theo gánh hát và chơi trên đài phát thanh. Sát bên là chú Hai Xiêm trung niên, đang thủ cây ghi-ta điện phím lõm để hòa theo tiếng đàn cò của ông Ba.
Tập kế của “Chầu mời” đáng lý là phần việc của bà Phước, nhưng bữa nay do bận việc nhà, bà không đến được. Tên tuổi của má Phước – tuổi cỡ 70 – thì nức tiếng trong nghề tế bóng hiện nay ở Sài Gòn. Các nhóm tế khác như nhóm Bạch Hồng ở quận 8, Bảy Tước ở Tân Qui, Ngọc Quyên ở quận 6, Minh Đức ở Hốc Môn .v.v, hễ gặp má thì thảy đều cung kính, cúi đầu trước vị sư mẫu dạy nghề  tế, múa, hát này.
Chị Năm Tốt đã bước ra, khoác vào chiếc áo tế do chị Bảy Thi trao lại, tiếp tục hát “Chầu mời” thay cho má Phước.  Áo tế –  hay áo lễ, được may bằng gấm đỏ, kiểu không có tay áo, giống áo đạo bào của thầy cúng, thầy pháp nhưng rực rỡ hơn vì nhiều chỗ đính hạt cườm, thêu kim nhũ rất kiểu cọ, rối rắm. Chị Bảy Thi nói đây là một chiếc áo cũ, đã bao lần xuất hiện trên sân khấu hát bội mà một bạn hát (diễn viên) nhường lại, có sửa sang chút đỉnh, nên chỉ tốn có 400,000 đồng, chứ may mới phải tốn cả triệu.
Chợt bà con bá tánh xì xào. Từ chỗ đứng, chỗ ngồi xa thì nhiều người rủ nhau đến gần bàn thờ Bà hơn. Diễn viên được khán giả mong đợi nhất nảy giờ đã khoác chiếc áo tế lên thân hình thon thả của mình. Vẫn là hát “Chầu mời” tiếp nhưng bà con không hề thấy chán, vì đó là em Ngọc Hậu xinh đẹp ra đứng trước micrô.
Lúc ngồi tại bàn uống trà, đối diện với Hậu, tôi đã không khỏi thầm khen đôi mắt, đôi mày được make-up rất kỹ càng cùng làn da khá mịn màng trên khuôn mặt của chàng trai 33 tuổi, đang mặc áo bà ba mỏng tanh, lộ rõ nịt ngực này. Không biết tên khai sinh của anh bóng này là gì nhưng về cái nghệ danh “Ngọc Hậu” nghe đầy nữ tính, rất gợi cảm kia thì anh chàng đã chọn cho mình suốt gần 20 năm theo nghề. Tôi có cảm giác như, dù có là hậu duệ thiệt thọ của bà Eva hay không đi nữa, em Hậu, với mặt-mũi-mình-mẫy như thế, trông vẫn trẻ, khá trẻ so với cái tuổi Mẹo tức 34 tuổi ta của em.
Tôi thoáng nghe được từ bàn trà bên cạnh, một ông nào đó thốt ra luôn một câu nghe rất kỳ cục, rằng: “Cái thằng…, coi bộ còn muốn đẹp hơn con gái!”.
Trước cái nhìn không việc gì phải kềm chế của phía đàn ông xung quanh, Hậu có vẻ thích thú, hả dạ –  kiểu phụ nữ tự biết là mình đẹp. Hậu còn có luôn cái kiểu rất con gái là cúi mặt lõn lẽn, chạy trốn ánh mắt chăm chăm của người đối diện, khi kiếm chuyện hỏi tôi:
 – Chú… nhà báo hả? Chú có chụp hình bàn thờ tổ của tụi này không vậy?
Đang ngắm người đẹp bóng, thật tình là tôi có giật mình, bèn giả lả hỏi lại:
 – À, à… Nghề tế cũng có tổ riêng sao Hậu? Bàn nào đâu?
Tại một chiếc bàn nhỏ kê gần các nhạc công, được xem là biểu trưng “Tổ” của nghề tế là một bức tranh lụa vẽ hai tiên nữ đứng cạnh một cái cây có 12 đóa hoa vàng nở rộ mà Hậu gọi là cây “bông Càn Thọ”. Khi không có được bức tranh hiếm quí, chỉ truyền thừa trong nghề tế này thì các nhóm tế có thể thay thế bằng bức tranh Bát Tiên, theo kiểu hình vẽ “Bát tiên quá hải” trang trí trên những cái chén, cái tô xưa của Trung Quốc, gồm một số nhân vật huyền thoại Trung Hoa cổ, như Hà Nguyệt Cô, Lã Đồng Tân, Tế Điên, Lý Thiết Quày.v.v…

3.
Kết thúc màn “Chầu mời” và tạm nghỉ vài phút, Hậu ra diễn nghi thức kế tiếp là múa tế “dưng bông”. Em vừa xỏ vô người chiếc váy lụa trắng là tiếng đàn, tiếng trống, nhịp song loan đã háo hức vang rền.
Cứ mỗi lần Hậu sãi bước, lượn người tới bàn Tổ là một trong một bộ 5 cái chén đầy ắp bông cúc vàng để trên bàn lần lượt biến thành một thứ đạo cụ ngộ nghĩnh. Hậu lấy từng cái chén, khéo léo để lên đầu, buông tay, ngồi thụp xuống, đứng lên, xoay tròn nhiều vòng, chấp tay lạy…, mỗi cử chỉ đều nhuần nhuyễn, tinh tế y như của một nữ vũ công chuyên nghiệp, dạn dày kinh nghiệm. Những chuỗi động tác nhanh, gọn, dứt khoát như thế cứ như từ thân hình mảnh mai, thướt tha của Hậu mà hòa quyện một cách mông lung, hư ảo vào những cụm khói nhang, khói trầm đang tỏa lan nghi ngút từ các bàn thờ lớn, nhỏ trong miếu. Ông chánh tế tóc bạc trắng, mặc áo thụng xanh đang đứng cạnh bàn thờ Bà, gần như giật mình, thảng thốt khi vũ công thoáng một cái đã tiến đến sát bên ông, trao chén hoa cúc để ông đặt lên bàn thờ…
Tiếng đàn, trống đã dịu đi khi các chị em nhóm tế luân phiên phục vụ cho nghi thức “Gởi” của bà con cô bác. Gởi có nghĩa là khách dự lễ đưa một ít tiền cùng mảnh giấy ghi tên, họ của mình cho người tế để người này ê a tụng những lời cầu xin Bà phò hộ cho người “gởi” được gia đạo bình an, buôn may bán đắt…
Buổi tế đã náo nhiệt trở lại với phần diễn cuối cùng: múa dân gian. Tùy theo người tế cầm vật gì trên tay mà phần múa này sẽ phân ra là múa mâm vàng/mâm bạc, múa bông huệ, múa lục bình… Đậm nét nghệ thuật múa dân gian nhất, giống trên sân khấu ca-múa-nhạc nhất là múa mâm vàng, hôm nay cũng do Ngọc Hậu biểu diễn.
Trước tiên, từ bàn thờ Tổ, Hậu trình ra một tòa lâu đài đồ mã cao khoảng 5 – 6 tấc, được phất bằng giấy nhũ vàng óng ánh và được dán dính vào giữa một cái mâm nhôm cỡ trung. Vài người bước vào, dùng cọng bún dán sơ sài vào mâm thêm mấy tờ giấy bạc 100 000 đồng, 50 000 đồng. Muốn hưởng những tờ tiền thưởng đó thì trong tất cả các động tác của cánh tay cầm, đỡ mâm, người múa phải làm sao cho những tờ bạc không rơi khỏi mâm. Hậu có làm rơi hết một tờ 50 000 đồng trong một thoáng úp ngược mâm. Bù lại, mọi người phải vỗ tay khen ngợi khi Hậu tung xoáy mâm lên khoảng không với khi Hậu ngửa mặt, dựng vành mâm vào nhân trung, rồi chu môi, giang rộng hai  tay, vừa múa vừa giữ thăng bằng cho mâm vàng trong khoảng 2 – 3 phút.
Rồi chiếc áo tế lại được Hậu cỡi ra, giao cho một “nghệ sĩ” bóng khác. Đó là em Đào, có vẻ lớn tuổi hơn Hậu, giọng tế khàn khàn và nước da ngăm đen thì khó có thể nói là xinh đẹp như Hậu. Nhưng Đào múa giỏi hơn. Sau màn múa không chút khiếm khuyết với một cành hoa huệ dựng đứng trên vai, Đào ngửa mặt, rồi từ chỗ nhân trung dưới lỗ mũi, em dựng thẳng đứng một đoạn ống nước bằng nhựa. Kế đó, Đào từ từ thụp người xuống và quì thẳng lưng, tay giữ cho ống nước đứng yên, một bạn diễn bước vào đặt trên đầu kia của cái ống hai con dao cho nằm ngang, cái dưới cái trên theo hình chữ thập. Khi mọi thứ đã thăng bằng, Đào nói nhỏ “Xong!”, cả hai người cùng buông tay, bạn diễn lui ra, Đào từ từ đứng lên…  Nhà tạp kỹ đã khiến mọi người muốn nín thở khi vừa giữ thăng bằng cho mấy món hung khí, vừa uốn éo thân mình theo tiếng đàn, trống. Xong màn múa dao, ai nấy đều vỗ tay tán thưởng, thưởng thêm tiền để Đào diễn tiếp qua màn múa mâm bạc để trên trán với kiểu quì xoạc hai chân, ưỡn lưng xuống nái sát mặt đất…
 
4.
Theo chị Năm Tốt, tháng Ba là tháng làm ăn khấm khá nhất của nghề tế bóng.  Các nhóm tế liên tục đi diễn từ các miếu Ngũ Hành ở quận Nhất, Bình Thạnh, Gò Vấp, đình thần ở Phú Nhuận, miếu Bà ở Tân Phú, cho đến Dinh Cô ở Long Hải, Bà Rịa.v.v…, vài khi đến diễn cả ở những ngôi miếu nhỏ xíu trong đất vườn tư gia nào đó. Về thù lao, không tính đến phần tiền bà con gởi khi nhờ tụng cầu gia đạo bình an, bèo nhất cho một buổi vào đám cũng vào cỡ 3 – 4 triệu đồng. Tháng Tư thì “lai rai” vì trong tháng này chỉ có vía Bà Chúa Xứ và vía Bà Thiên Hậu. Còn các tháng khác trong năm, các nhóm chỉ chờ được kêu đi cúng Bà Cữu Thiên Huyền Nữ hay Bà Mẹ Sanh ở các vùng ngoại thành, tại nhà các gia đình còn theo tập tục xưa, với thù lao một buổi chỉ  1 triệu hay 1 triệu rưởi…
Chị Năm chắt lưỡi nói nghề tế là nghề tay-trái nên khó có ai sống nổi, dù là sống tạm qua ngày tháng, nếu chỉ làm có mỗi nghề này.
Bấy lâu nay, khi theo nghề tế chuyên nghiệp, với ít nhiều kiêu hãnh, những bạn bóng như em Hậu, em Đào đã tự phân biệt mình với các em pêđê chỉ có thể đi hát đám, có nghĩa là ca, diễn tân nhạc, cổ nhạc, trích đoạn tuồng cải lương một cách nghiệp dư ở những đám ma, đám cúng thất hay giỗ chạp. Cũng mang tiếng là bán nam bán nữ như dân pê-đê và vài khi túng kẹt quá thì cũng phải chấp nhận đi hát đám lai rai cùng các nhóm pê-đê để “kiếm chút cháo”, nhưng dân bóng theo nghề tế phải trải qua cả một quá trình bái sư, thờ tổ, học nghề, khổ công tập dợt với nhóm… Muốn được theo nhóm, bạn bóng nào cũng phải biết sử dụng thuần thục, khi thì nhạc khí là cái trống lịnh, khi thì đạo cụ độc đáo là cành hoa huệ, tách trà, bình bông, cái mâm vàng, con dao yếm… Rồi các chị em cũng phải thật điêu luyện, diễn cảm khi hát “Chầu mời”, tụng lời “Gởi” của bá tánh, và đặc biệt không được phép có sai sót về các tuyệt kỹ múa tế như múa “dưng bông” hay múa dân gian là múa mâm vàng, mâm bạc.
Nói gọn lại, có tài nghề như thế thì các bạn bóng rất xứng đáng được gọi là những nghệ sĩ ca múa nhạc và tạp kỹ chuyên nghiệp. Đặc biệt khi xuất hiện trước mắt công chúng, các bạn bóng không chỉ là những nghệ sĩ ca, múa dân tộc phục vụ cho nhu cầu giải trí của bà con mà còn là những thầy tế, thầy cúng chuyên thực hiện một số nghi thức tế, lễ rất đặc trưng, phục vụ cho mảng tín ngưỡng dân gian của người Việt vùng Nam bộ.
Có điều là, rất chua chát, hẩm hiu đối với các nghệ sĩ bóng, đó là xưa nay các chị em chỉ được trình diễn toàn ở những sàn diễn thường rất chật hẹp, gò bó, như một khoảng sân, mặt thềm nào đó ở các ngôi miếu, đình, chùa, nhà tư gia…, nhiều khi chỉ là chiếc chiếu cũ trải ra trước quan tài.
 
PHAM NGA
(Tháng ba Canh Thìn)

VÕ CÔNG LIÊM: TÂM THỨC

BỒ-ĐỀ-ĐẠT-MA Và HUỆ-KHẢ

hoasen2
gởi : nguyên giác phan tấn hải.

Nói đến tâm thức tức cho ta một ý niệm về ngã thức; có nghĩa là nhận thức (awareness) hay ý thức trong sáng (consciousness) là một cái thức chân tâm để thấy được giữa tâm với tâm. Còn thức ở chính mình; là biểu thị như một cái gì thuộc về ta, ở ‘tôi/moi/self’ là cái tôi thuộc về ‘ngã mạn / the ego’ cái đó thuộc bản chất. Mỗi khi nói ‘ngã’ hay ‘tư kỹ’ là cá thể hóa của cái ngã phân biệt của chủ thể hiện thực, một cái ngã tư duy, phân biệt những gì không phải là mình mà nó thuộc Cõi Khác/ Others, tức gián tiếp chỉ cái tôi ngã mạn, nói cách khác là phủ nhận chính mình là một thứ phi ngã. Tuy nhiên không tránh khỏi thuyết nhị nguyên hay lưỡng phân tự tại. Một chủ thể sinh động trước hoàn cảnh, hoàn cảnh tự do và trách nhiệm, một vượt thoát khác dưới dạng thức khách thể thụ động, một cái gì đã qui định để rồi đi tới trách nhiệm bản thân. Cái đó là bản chất tự tại, một bản chất chứa đựng cái vị ngã trong ngã thức. Đó là duyên hay nghiệp của con người trong đời sống thường ngày; cũng có thể đó là chủ-thể-nghịch-tính (self-contracdictory) giữa bản chất (essence) và ngã thức (self-conscious). Ở đây biểu thị cái toàn thể tính bất khả tri đối với thế giới của nó hoặc ở chính nó. Cũng có thể vì bất khả phân mà chối bỏ: Không! Đó là tiếng thốt phủ định giữa chân tâm và giả lập. Bởi; trong giả lập là ‘độ’ nhưng phải chối từ là phủ định từ, vì; không thể đưa người ta qua sông lụy; cái cốt tủy của Phật là giải thoát để qua khỏi bến mê mà phải ‘phá trừ kiến chấp’ là cái gì không qua một quy trình giáo lý hay giáo điều. Thời mới tới ‘đáo-bỉ-ngạn’ của một tâm thức. Thiền phái là phá chấp để đạt tới chân tâm. Chân tâm là gì? Là bát-nhã (prajnã) là trong sáng tối thượng (transcendence consciousness) tức là Trí-Huệ-Bát-Nhã (vajra prajnã paramita).Đó là lý do hướng tới một tâm thức siêu việt.
Ở vị trí này chúng ta đối diện giữa hai đối tượng chủ thể và khách thể. Một ngã thức Bồ Đề Đạt Ma là bản ngã nhận thức và Huệ Khả là ngã vị nhận thức; xác nhận chính mình tức là cá thể chính mình (the Ego), đồng thời có cái ngã phân biệt trong đó, phân biệt khỏi những gì không phải là mình mà là một xác định nghi ngờ như là chủ thể xác nhận và là cái gì buộc xác nhận; xác nhận hai bề mặt giữa thầy và trò là một sự kiện hiện sinh đề ra cho chính mình. Thời giữa hai cái lập tức đó: ngã thức và vị ngã là cả một khích hoạt ở chính nó. Một bên chủ thể linh động, có trách nhiệm (Bồ Đề Đạt Ma). Một bên là khách thể thụ động, muốn dự cuộc (Huệ Khả). Sự khởi dậy của ngã thức đánh dấu sự khởi dậy của chủ-thể-tính, Cả hai coi như là chủ thể gặp gỡ và thừa nhận. Sự lý như thế nhà Phật cho là nhân duyên của cấu thành, một thiết kế khởi dậy từ tâm thức, biểu thị như thế thời gọi là sứ mệnh. Hơn thế nữa; chủ thể bản ngã và khách thể ngã vị tham dự vào chủ thể tính của đối tượng đang rơi vào hoàn cảnh khốn cùng, trắc ẩn và tình thương; có thể đó là chủ thể tra vấn, hoài nghi, hiểu và nhận, đánh giá và phán đoán trước hoàn cảnh. Có phải đó là nội thức phản kháng trước sự lý để đi tới quyết định và thi hành? Cái đó là vĩ đại của bản ngã trong ngã thức. Đó là phẩm cách của con người trong đời sống, một đối đầu thật sự của người xử thế chân tu đứng trước hoàn cảnh. Giờ đây chủ thể và khách thể chỉ còn cách nương vào ý-thức của Thức-Mạt-Na (Manas Vijnãna) có nghĩa là chấp một Ngã của ngã thức để hành xử cái gọi là A-Lại-Đa-Thức (Alaya Vijnãna). Bồ Đề Đạt Ma phải quay về với Vô-Niệm, vì; vô-niệm tức vô-thức. Thức là bản lai diện mục. Nhất là phái Thiền của Bồ Đề Đạt Ma là hướng tới chính giác của tâm-vô-niệm tức tâm-không-phân-biệt. Với Huệ Khả lúc này là hướng tới cái vị-ngã-dự-cuộc; cái công việc có vẻ bất-khả-tư-nghị giữa một ý thức cám dỗ -hay bị bó buộc vào hoàn cảnh- một thứ chối bỏ chính mình như một chủ thể chân thực. Nhìn hiện thể bi đát như chứng thực hiện thực của yêu cầu. Bởi vậy; vô-niệm tức là không phân chia. Giữa Bồ Đề Đạt Ma và Huệ Khả phải thực hiện một trí huệ vô biên của cái ‘vô-niệm’. Vì sao? -Niệm là vô-thức trong tạng-thức. Họ phải nghĩ ở chính họ:’Ta không phải là Ta và cái không phải là Ta tức là Ta’. Có cái gì nghịch lý? Không! Đó là –chân không (nothingness): cái như-không, như-phật, như-lai, như-tạng-giới của cái gọi là bất diệt và hữu diệt ‘la discrimination de la non-discrimination’ trong một tâm thức như-nhiên, trong bóng không vướng đục.
Do đó; dù có thăm dò, tìm hiểu chân lý tối thượng của một tâm thức là cả một nỗ lực bởi bản ngã; để đối trị với mâu thuẩn, với tình huống hoặc rơi vào ảo ảnh có tính chất hư-vô và hủy-diệt. Trong đời sống hiện hữu bản ngã thường kết hợp vào nhiều mức độ khác nhau, giữa tri giác và nhận thức. Chính trong ý niệm này là một khởi thủy hiện sinh là mục tiêu tối hậu của Thiền. Cốt cách ‘diện bích’ của Bồ Đề Đạt Ma là để tìm tới một phân tâm quán triệt. Nhưng con đường của Thiền là thức tỉnh. Không lấy ‘diện bích’ làm đối thể; mà lấy ‘diện bích’ đối diện thực thể với Thần Quang. Một thách đố giữa kẻ tu Phật và giữa kẻ muốn y áo với Phật. Đó là mẫu thức bản ngã thách đố cho cả hai. Theo “Truyền Đăng Lục” Thần Quang là bật thông đạt, uyên bác đạo lý nhân tâm, rộng đường sách vở, giỏi về lẽ huyền nhiệm. Coi giáo lý Khổng Lão là lễ thuật, phong qui. Lý thuyết của Trang, Mạnh chưa tận diệu lý. Thần Quang chối bỏ đi tìm đạo ‘chân-không’. Thần Quang đem tâm thức của người yêu đạo hoà nhập vào một tâm thức tâm lý để tìm tới chân lý tánh không. Ở Thiếu Lâm có vị sư người xứ Thiên Trúc (Ấn độ) tu đạt đạo đã nhiều lần nhập cảnh. Sư thường diện bích để tham Thiền chẳng nghe rao giảng. Kiên trì theo dõi cái chân tâm tu học đó. Vào mùa giá tuyết Thần Quang quyết tâm xin tu học. Đứng dưới tuyết, tuyết phủ ngập người. Sáng ra; Bồ Đề Đạt Ma thấy kẻ lạ đến cầu xin tu Phật: -‘Đạo huyền diệu vô thượng Phật, nhiều lượng kiếp, hành cái khó hành, nhẫn được cái không nhẫn’. Bồ Đề Đạt Ma nói.Thần Quang với mối bất an, tâm động bỗng nghe qua thức tỉnh. Thần Quang vị pháp quên thân đoạn rút đao chặt cánh tay trái dâng lên sư. Sư tin vào lòng tu; nhận làm đệ tử đổi tên là Huệ Khả.
Câu chuyện có tính chất huyền thoại, hoang đường. Hành động và cử chỉ của đôi bên chưa phải là nhất tâm mà chứa một bản ngã bất ổn, một rối loạn tâm tư, một phản kháng nội tại là nột nghịch-lý-tính tu học. Cái lưỡng lự và hoài nghi của vị sư Ấn với một người muốn dự cuộc. Tâm trạng cả hai giữa lúc này một đằng là cứu cánh, một đằng là phương tiện nhưng cả hai lại cùng một mục đích. Đúng vậy; đó là ước thệ hiện sinh, một yếu tố phân tâm lý học, một bản ngã tự tại giữa chối từ và gia nhập. Dù sử tính như một biến cố; cuộc tìm kiếm là nguồn cơn phát sinh từ ‘khổ hạnh / passion’ mà ra, cái đó là cái nghiệp một hệ lụy trói buộc con người khổ cảnh là cấu thành để phải thoát ly cảnh giới. Cái nhân tố quyết định của Thiền là dòng sinh mệnh vô biên mà đối diện chân thực của bản ngã trong ngã thức. Bồ Đề Đạt Ma cho rằng: ‘không thể tìm thấy chân lý bên ngoài’ lời khẳng định đó chính là cái tâm bên trong ‘inner’ của người tu Phật.Trong thuật ngữ nhà Phật; ta có thể coi ‘tâm’ là bản ngã như là chủ thể, nó chứa một cái gì bao la, rộng mở, nó khác chữ tâm / Psyche (Hy Lạp) và tâm / Geist (Đức) có lối diễn tả gần gũi hơn. Vậy bản ngã như là chủ thể là gì? –Là trạng huống chủ-thể-tính bị ước định, bị dày vò vì bất an và lo âu cầu xin được an tâm. Có thể đó là một đối tượng chủ thể (Huệ Khả) nó sẽ không bao giờ là đối thượng khách thể (Bồ Đề Đạt Ma) ngoại trừ cả hai là một tương hợp. Mọi nỗ lực như thế là để gạt bỏ một chủ thể thụ động trước hoàn cảnh. Huệ Khả chỉ ao ước một điều là giải tỏa cái tâm bất an trước một thực thể hiện hữu. Không một thắc mắc, không một lý sự, cũng chẳng phải quá khứ vị lai, trực chỉ nhân tâm vào cái sống động tha thiết trước một con người đau khổ. Tổ nói: ‘tương tâm lai vị nhữ an / đem tâm ra đây ta an tâm cho’ Không phải đây là công án Thiền mà là đem ra cái bản-ngã-chủ-thể để gọt rửa phiền não; đó là tối hậu căn bản, không phải là bản ngã có vấn đề mà bản ngã chính là vấn đề. Ý rằng; ai là kẻ không phiền não chỉ cho tôi xem; mà đó là vượt qua cái khe hở phân ly nội tại và ngoại tại để có thể nhận thức trọn vẹn và chân thực nó là ai và nó là gì để an tâm.

Tâm thức của Bồ Đề Đạt Ma và Huệ Khả là thứ tâm thức A-Lại-Đa (Alaya), tâm bình đẳng, tâm không phân biệt, tâm không hình thể mà tâm Vũ trụ bao la vô cùng tận, a-lại-đa-thức bao hàm luôn vạn pháp là một nhứt thể -L’Alaya; c’est chacun de nous, c’est chaque chose et c’est l’ incommensurable TOUT (Le Bouddhisme du Bouddha par Alexandra David Néel). A-Lại-Đa là có trong mỗi chúng ta, là mỗi sự vật mà cũng tất cả vạn hữu vô biên, vô lượng chúng sanh nằm trong đó. Mặc khác; người đệ tử đối với vị thầy hằng cửu đồng thời cũng là vị thầy trao y áo mà vì lòng bi mẫn đã xô đẩy vào cái hố thẳm nội tại, một yêu cầu của dục tính ít nhiều hư hại cho một tâm thức giác ngộ, một tâm bất an, dày vò, sống sượng trong hành động chặt tay. Sự hiến dâng của Huệ Khả cũng động đến tâm thức của Bồ Đề Đạt Ma. Đó là sự liệt nhược giả dối không phát sinh trực tiếp từ vết thương hay đây là mâu thuẩn nội tại đối đầu với chân-không? Chính cái tâm thức đó phát sinh từ bản ngã như kẻ mang vết thương ‘tội lỗi’. Trạng huống tâm thức giữa thầy và đệ tử là nội dung bản ngã không phi-chủ-thể và cũng không thực sự phi-khách-thể. Tuy nhiên đây không phải là tiền-ngã-thức (pre-ego-consciousness) kiểu thức này nằm trong dạng thức của ngã thức u mê trẻ con, ngã thức bại hoại tâm bệnh, ngã thức tê liệt thuốc mê v..v.. Đó là cái bản ngã hoàn toàn tận triệt không còn là chủ thể hay khách thể. Mà đó ‘thủy tử’ nước chết để đạt tới chân không là phải diệt, trừ, phá thời mới mong tìm thấy ánh sáng của ‘huệ-minh’ Ngay cả khi nhập diệt Phật nói với môn đệ : ‘xưa nay ta chẳng nói một lời nào’.Trong hàm ý đó vẫn nhận ra được tánh không của Phật là Ngộ tức nhân tâm ‘một chữ tâm bằng ba chữ tài’ (Kiều) là triết siêu lý của nhà Phật. Mà; Phật đâu phải là tôn giáo, bởi; tất cả mọi thứ đều vô thường (anityâ sarve samskâra) và tất cả cái gì vô thường đều được kết thúc trong đau khổ. Tất cả những gì đau khổ đều vô ngã là vì cái gì vô-ngã là không (sunyam). Khi cả thầy và đệ tử nhận thức ý tứ Phật tức đạt tới nhân tâm cho một tâm thức phá-ngã nghĩa là không thấy chính mình mà chỉ thấy chân-không vô-vị-ngã. Bởi thế đứng trước hoàn cảnh này Bồ Đề Đạt Ma và Huệ Khả phải đem tâm ra truyền tâm một cách quán triệt để đi tới ‘đạo-đế’ nghĩa là tìm thấy độc đạo là giải thoát là bát-chánh-đạo để qui về Huệ, Bát-nhã, Giới và Định nhưng phải cần có giáo (sruta) và luận (cintâ) thời mới thấy được Phật tính trong con người tu học Phật, mới thấy được Đại-huệ một thứ Huệ-minh, đó là; một nhận thức trực tiếp giữa sự kiện mà không cần phải nhờ vào mặc khải hay giáo huấn nào khác. Huệ Khả chặt tay dâng thầy như một bày tỏ để tìm tới đạo; cái lý đó không phải chứng minh hết lòng tận tụy của Huệ Khả mà là nhận tội như để cứu chuộc. Tâm siêu việt ở Bồ Đề Đạt Ma là thấy được huệ-minh trong Huệ Khả, do đó đã an tâm cho Huệ Khả bằng tâm Bát nhã.
Đứng trên bình diện phân tâm học (psychoanalytic) dù là tâm lý khoa học nhưng tác động để thấy cái lý như nhiên đã cấu thành bằng một tục truyền để trở nên đạo lý. Freud nhìn sự kiện dưới mắt triết lý và đức lý để lý giải trạng huống thuộc tâm thức. Chủ ý của nó là củng cố Bản ngã (Ego) khiến cho nhận thức độc lập vượt ra khỏi Siêu ngã (Super-Ego) mà cần mở rộng trí huệ để thích ứng hoàn cảnh và có thể thích ứng cho chính nó qua một tư duy mới mẻ hơn là Di-ngã (Id), bởi; ở đâu có Di-ngã ở đó có Bản ngã. Theo khoa phân tâm học giải thích về tâm thức cho cả hai chủ thể và khách thể là tìm tới ‘giải thoát con người’ ra khỏi triệu chứng tâm thần với một tinh thần dồn nén, đau khổ (Huệ Khả) và một thách đố thực tại (Bồ Đề Đạt Ma). Freud quan niệm rằng: ‘kiến thức đưa tới chuyển hóa’ rằng là lý thuyết hay phi lý thuyết, thực hành hay phi thực hành đều không được phân ly, cách biệt mà tự trị như một chuyển hoá vì cái sự tương quan đó dựa trên tình yêu và chân lý, nghĩa là; thừa nhận thực tại bằng một ngăn ngừa giả dối hay bịp bợm nào đó. Vị chi; tâm thức ở đây là một dàn trải của trí huệ, một trí huệ siêu việt thời cái ‘huyền thoại’ được chứng thực là ở chỗ đó. Nó không còn phiền lụy tư duy mà ở đây mở rộng cánh cửa về tâm thức của thiền đốn ngộ.
Tinh thần của Bồ Đề Đạt Ma và Huệ Khả là đòi hỏi một tâm thúc giác ngộ để thấy ‘ta không phải là ta’ thì đó là liễu quán chân tâm. Bản ngã trong ngã thức vừa là một hành động vừa là sự kiện. Thật ra; ngã thức bình thường đã vượt qua dù không phân biệt giữa chủ thể và khách thể, chính mình cũng không phải mình nó bao bọc toàn thể lãnh vực của hiện hữu ngay cả phân biệt giữa hữu và phi hữu. Lý luận như thế để phân định giữa hai đối tượng, nghĩa là cái gì của Bồ Đề Đạt Ma là chánh pháp và cái gì của Huệ Khả là trí tuệ đó là bình diện giữa chủ thể và tha thể. Cái biểu thị là cái được biểu thị, cái mà nhận cho là biểu thị Tự Thể, còn cái xin gia nhập là biểu thị Tự-Thể-Ngã. Phân biệt được như thế tất đạt tới tâm thức giác ngộ. Một sự cớ trong sáng, rõ ràng, vi diệu mà bấy lâu nay chúng sinh lần mò trong vũ trụ vô thức (unconsciousness) mà không thấy huệ-minh chiếu sáng vào tâm-như. Cũng chính nhờ ngộ bản ngã tự tại tiêu tan mà phát tỉnh bản ngã để thấy ta không còn là ta tức phát tỉnh của Tự-thể. Tĩnh ở đây là căn nguyên không còn động vọng, tĩnh ở chỗ không bao giờ còn có hiện hữu tồn lưu. Thật vậy; phát tỉnh được Tự thể là nhận thức được chủ thể tính của bản ngã. Thể tính của Thiền là loại bản ngã xa lià nhân thế; còn nuôi nấng nó thời không tồn lưu mà gieo vào một thứ bản-ngã-chết/thủy-tử. Đau khổ là mối bận tâm không giải trừ ,vì; ‘Ego’ còn vây quanh như cái nghiệp. Nói rút lại; tâm thức ở đây là thức tỉnh chỉ còn lại cái tâm vô lượng là thành tựu của Tự thể. Vì rằng; chính-nó và không-chính-nó như là thực tướng hiện hữu trong không gian. Đúng thế! Cái này gọi là say đắm hôn mê ‘ecstasis’ thời làm sao vượt ra được cái bản-ngã-tự-tại giữa hữu thể và phi hữu thể. Mà; biểu hiện ở đây lòng xót thương sống động thức dậy từ Tự thể; xác nhận toàn diện một hữu thể ở Bồ Đề Đạt Ma và một Tự thể khác là giải thoát toàn diện về ngã thức ở Huệ Khả.

Nhìn chung đã cho chúng ta nhận thức được bản ngã là bản lai diện mục qua từng cá thể. Muốn có một cảm thức trong sáng, chói rọi là có từ vô-ngã để đi tới chân-không của huệ-minh. Triệt thoái cái ngã tự tại (Ego) và cái ngã bản chất (Self) tại thế là tới bến bờ giải thoát; một tinh thần vô lự nghĩa là không còn ranh giới giữa Có và Không mà vốn đã là Không. Thời không còn gì hơn mà chỉ còn lại một tinh thần trong sáng cho một thân tâm trường cửu. Cưu mang là nghiệp chướng. Đạo trong sáng là tâm trong sáng của chân-lý-tánh-không; không đục không trong, không tất cả. Rũ bỏ hết để thấy như-phật là bất diệt và hiện hữu tồn lưu nhân thế. Cho dù; chúng ta đang nhập cuộc giữa những cổ xe truyền thừa (vehicles) lớn nhỏ khác nhau, đều tới một bến của Trí-Huệ; một điểm dừng tuyệt đối, vô biên của con người. Nơi chẳng phải là Niết Bàn! ./.

VÕ CÔNG LIÊM (ca.ab.yyc 23/10/2014)

SÁCH ĐỌC : ’Quan Niệm Giải Thoát trong Phật Giáo Cũ’ của Linh Mục Thiện Cẩm. Đại Nam. SGN 1970.
TÌM ĐỌC THÊM: Những bài viết về Phật giáo Đại Thừa và Tiểu Thừa của võcôngliêm trên một số báo mạng và tc. giấy trong và ngoài nước hoặc email theo đia chỉ.

Con Sư-Tử Đã Thứcs!!! –

Nguyễn-Cao-Quyền

co tau

Cách đây 200 năm (1816), Napoleon Bonaparte, vị hoàng đế trẻ nhất của nước Pháp đã nói về nước Tầu bằng một nhận xét như sau: “Hãy để con sư tử này ngủ yên, vỉ nếu thức tỉnh, nó sẽ làm cả thế giới run sợ”. Câu nói này ngày nay đã trở thành sự thật và sự thật đó sẽ được trình bày trong những đoạn viết tiếp theo.

Biến cải “lục địa đen” thành thuộc địa.

Tàu Cộng đang biến cải Phi Châu thành thuộc địa. Các lãnh đạo Tàu muốn Phi Châu là chư hầu ở xa để vừa giải quyết nạn nhân mãn vừa chiếm được tài nguyên thiên nhiên. Trong khi Hoa Kỳ và cả thế giới im lặng trước hành động này, Tàu cứ tiến tới.

Một triệu quân Tàu di chuyền ngang dọc Phi Châu và Nam Mỹ để chiếm các nguyên liệu chiến lược và chiếm các thị trường mới nổi, trước Mỹ, Nhật và Âu Châu. Thế giới cần phải coi chừng con sư tử đói thức giấc này.

Đế quốc Tàu là một nước tham lam vô độ.. Nó tiêu thụ nửa số xi măng và nửa số thép của thế giới, một phần ba số đồng, một phần tư số aluminium, và những số lượng vĩ đại antimony, chronium, cobalt, lithium, zinc và gỗ.

Những nguyên liệu này, quốc gia nào trên thế giới cũng cần, nhất là Hoa Kỳ và các quốc gia kỹ nghệ Âu Châu. Bauxite và sắt của Guinea và Tanzania dùng để sản xuất phi cơ ở Seattle (Mỹ), đóng tàu ờ Bath (Maine – Mỹ), đồng của Chile dùng làm giây điện, cobalt của Congo dùng trong các sở cơ khí ở Michigan (Mỹ), lithium của Bolivia dùng để chế tạo xe hơi, manganese của Gabon dùng trong kỹ nghệ nhựa, titanium của Mozambique, Madagascar, Paraguay dùng để sản xuất thép tốt trong kỹ nghệ máy bay, làm đầu gối và hông người nhân tạo trong y tế. Tầu cộng đang lăn xả vào các đống nguyên liệu này để giữ làm của riêng. Hậu quả sẽ không thể nào lường trước được cho các nền kinh tế khác ngoài lục địa Trung Hoa.

Thủ thuật cướp tài nguyên thiên nhiên bằng sức mạnh mềm.

Việc khai thác dầu hỏa ở Phi Châu cần sự tiến bộ. Nhưng Tàu đến đây không phài để giúp mà để cướp. Thù thuật cướp bằng sức mạnh mềm là giơ cao tấm chi phiếu to và hứa hẹn cho vay rộng rãi với lãi suất thấp để xây dựng hạ tầng cơ sở, hoặc dinh tổng thống, hoặc mua vũ khí AK 47. Đổi lại phía đi vay chỉ cần chấp nhận hai điều kiện : 1/ khi nhận tiền phải giao nộp ngay tài nguyên thiên nhiên; 2/ phải mở cửa cho hàng TC đã chế biến vào thị trường thuộc địa.

Thủ thuật này tạo công ăn việc làm cho đế quốc Tàu và giúp các công ty đế quốc thịnh vượng. Quảng Châu, Thành Đô, Thượng Hải tiếp tục phát triển trong khi các thuộc địa mới của Tàu tiếp tục lụn bại.

Sức mạnh mềm trở thành công cụ bành trướng

Ai đến Phi Châu cũng thấy ngay là toàn thể lục địa này đang bị Tàu xâm chiếm bằng sức mạnh mềm. Thủ thuật ngoại giao bằng sức mạnh mềm (nghĩa là cho vay) đang được Bắc Kinh áp dụng khắp mọi nơi trên mặt lục địa này. Angola trả nợ Tàu bằng dầu, Ghana trả nợ Tàu bằng hạt cacao, Nigeria trả nợ Tàu bằng khí đốt…Không một nước nào được hưởng lợi với đế quốc Trung Hoa.

Ở Zimbabue, Tàu bóc lột còn tàn nhẫn hơn. Tàu bỏ ra 5 tỳ đô la mua một mỏ platinum đáng giá 40 tỷ đô la. Với 5 tỷ đô la đó, nhà độc tài Robert Mugabe xây lâu đài mới, mua trực thăng vũ trang và phi cơ phản lực cùng với rất nhiều vũ khí khác để đàn áp dân lành.

Hiện tượng này, không chi xảy ra tại Phi Châu mà còn ở khắp nơi trên thế giới.. Tại Peru, Tàu đã làm chủ một ngọn núi đồng. Tàu chỉ mua ngọn núi này với 3 tỳ đô la mà bây giờ đang hưởng lợi tới 2000%. Trong khi đó dân Peru vẫn tiếp tục đói khát, mù chữ và phải đối mặt với đủ thứ tai nạn lao động.

Khi Tàu kiểm soát bauxite ở Brazil, Guinea, Malawi, đồng ở Congo, Kazahkstan, Namibia, sắt ở Liberia, Somalia, manganese ở Burkina Fasco, Campuchia, Gabon, chì ở Cuba, Tanzania, kẽm ở Algeria, Nigeria, Zambia…thì còn đâu cho các xưởng ở Cincinatti, Memphis, Pittsburg của Mỹ và các xưởng của các quốc gia khác như Đức, Nhật, Seoul.

Người ta có nhiều lý do để sợ rằng xe hơi tương lai sẽ sản xuất ở Lan Châu (Lanzhou) và Vũ Hồ (Wuhu) thay vì ở Detroit và Huntsville, máy bay sẽ sản xuất ở Binzhou và Thẩm Dương thay vì ở Seattle và Wichita, chip cho máy vi tính sẽ làm tại Đại Liên (Daliem) và Thiên Tân thay vì tại Silicon Valley, thép cùa thế kỹ 21 sẽ được sản xuất nhiều hơn tại Đường Sơn (Tangshan) và Vũ Hán (Wuhan) thay vì ở Birmingham.. Alabama và Illinois của Hoa Kỳ.

Chắc chắn đây không phải là thị trường tự do và hợp tác thương mại quốc tế nữa. Ai cũng phài rùng mình với chuyện đang xảy ra này. Nhưng không hiểu sao trong các phòng họp chính trị ở Washington, Berlin, Tokyo các chính khách vẫn giữ thái độ “sống chết mặc bay” và chẳng thèm để ý.

Nếu cảnh này cứ tiếp tục thì rồi đây Tàu cộng sẽ ở vị thế độc quyền về tài nguyên với giá thấp nhất và như vậy Tàu có thể cạnh tranh với Mỹ và cả thế giới. Kế hoạch thâu tóm tài nguyên cùa Tàu tương đương với việc cấm vận tài nguyên đối với các quốc gia khác trên mặt địa cầu.

Một cuộc di-dân trá hình:

Trên thực tế không phải chỉ có kỹ sư và kiến trúc sư Tàu đến Phi Châu. Nông dân cũng đến luôn. Lúc đầu Tàu hứa hẹn cho vay tiền để xây dựng hạ tầng cơ sở, tạo công ăn việc làm cho người dân địa phương, nhưng khi khởi công xây cất thì Tàu lại mang cả triệu công nhân sang để mặc nhiên tranh chỗ. Tàu đưa dân mình qua tối đa và chỉ thuê dân địa phương ở mức tối thiểu. Cho nên người dân của các thuộc địa mới của Tàu như Angola và Zimbabue vẫn bị nghèo đói và thường bị nội chiến vì sự tráo trở của Tàu.

Ngoài mục đích thâu tóm tài nguyên và chiếm lĩnh thị trường mới, Tàu còn có kế hoạch xuất cảng nhiều triệu dân qua Phi Châu và Nam Mỹ để giải quyết nạn nhân mãn. Trên lục địa Trung Hoa có 600 con sông thì 400 sông đã kể như chết vì quá ô nhiễm. Wikeleaks tiết lộ Bắc Kinh muốn dời 300 triệu dân sang Phi Châu. Khi các chính quyền Phi Châu không thể trả nợ thì chắc chắn hiện tượng di tản này sẽ xảy ra. Mỹ hiện tại đang nợ Tàu khoảng hai ngàn tỷ đô la: Các tiểu bang Montana và Wyoming vắng dân có thể đang là những điểm ngắm của Bắc Kinh.

Trong thập niên qua 700.000 dân Tầu đã định cư tại Phi Châu. Kế hoạch vẫn còn tiếp tục. Cờ Tầu bay phấp phới khắp mọi nơi trên lục địa đen. Các tòa đại sứ mới của Tàu đang tiếp tục được xây cất, các sân bay mới đang được hoàn tất.

Dân Tàu tràn sang Phi Châu như cơn nước lũ. Các khu đô thị biệt lập với hàng rào bao bọc mọc lên khắp nơi, nhưng không cho người da đen bén mảng. Hơn một triệu nông dân Tàu đang cầy cấy đất Phi Châu, sản xuất thực phẩm để xuất cảng ngược về Hoa Lục trong khi dân địa phương vẫn thiếu thực phẩm tiêu thụ.

Theo tuần báo The Economist, Tàu đã chiếm bảy triệu mẫu dầu cọ (palm oil) của Congo để làm xăng hữu cơ. Hình thức “nông trại hữu nghị” đang được sử dụng tại các xứ Gabon, Ghana, Guinea, Mali, Mauritania và Tanzania.

Dùng gái điếm để thu-hút di-dân tới những nơi vắng-vẻ:

Tầu mang sang Phi Châu cả gái điếm, để họ kiếm ăn ớ những nơi xa xôi có những công trình của Tầu đang xây cất. Tại Cameroon gái điếm Tàu chỉ đòi có 2000 CFA (4.25 đô la) trong khi các cô gái địa phương thì nhất định đòi 5000 CFA mới chịu lên giừờng. Tại Congo Brazaville có một chuyện khá buồn cười cần kể lại. Các cô gái điếm khi được giải thoát lại không chịu trở về Trung Quốc. Lý do là ở̉ lại đất Phi Châu các cô kiếm được nhiều tiền hơn và được đối xử tốt hơn là ở quê nhà tại Tứ Xuyên (Sichuan).

Hệ sinh thái của nước Tàu bi tàn phá khủng khiếp vì quá trình hiện đại hóa nhanh chóng. Giờ đây Tàu lại đang tàn phá hệ sinh thái của các nước chư hầu mới. Nỗi thống khổ của dân bản xứ nói sao cho siết vì sư trâng tráo của các nhà độc tài địa phương là vô giới hạn. Ngoài việc hệ sinh thái bị tàn phá, các khoản tiền khác kiếm được từ việc khai thác cảc mỏ kim cương và việc bán gỗ rừng đều đã được các nhà độc tài này dùng để mua vũ khí đàn áp dân lành, gây ra những cuộc nội chiến đẫm máu.

Quyền-lực mềm của Tàu đang hoành-hành cả tại Úc và Nam Mỹ:

Trong số 640 riệu vũ khí nhẹ đang lưu hành trên thế giới thì 100 triệu lưu hành tại Phi Châu. Những chế độ độc tài khát máu như Angola, Sudan, Zimbabue là những chế độ đứng đầu bảng giết hại dân lành.

Có một lần, Ôn Gia Bảo tuyên bố ở nghị viện Gabon rằng : “Chỉ buôn bán thôi, không có điều kiện chính trị gì cả”. Với chủ trương này, Tàu làm ăn với bất cứ một chính quyền địa phương nào dù tàn bạo đến đâu, thối nát đến đâu. Trong khi các nước văn minh như Mỹ, Anh Pháp, cố gắng tạo áp lực lên bạo chúa , bạo quyền thì Tàu gian manh đi luồn cửa hậu.

Vào lúc này Tàu đang tìm cách tiếp cận với Úc để nâng cao các liên lạc ngoại giao. Tàu muốn đầu tư lớn vào nhiều khu vực khai thác mỏ ớ Úc. Điều đáng ngạc nhiên là các nền kinh tế có cơ cấu dân chủ như Úc, Brazil, Nam Phi… vẫn bị tiền Tàu cuốn hút.

Tại Úc trong vài năm qua một số công ty Tàu như China Minmetals, Hunan Valin Steel & Iron, Shangai Baosteel đã ký được những hợp đồng khai thác tài nguyên ví đại. Trong ngắn hạn vài trăm gia đình thượng lưu Úc sẽ giàu to, nhưng trong tương lai nước Úc sẽ lâm vào cảnh nghèo khó vì các mỏ bị vét sạch. Trong trung hạn sự thâm thủng mậ̣u dịch với Tàu sẽ xảy ra vì Tàu dùng nguyên liệu của Úc rồi lại đem các chế phẩm hoàn tất bán ngược trở lại trên đất Úc..

Tại Brazil và Nam Mỹ Tàu cũng có những chính sách tương tự nhưng yếu hơn. Việc làm ăn giữa Tàu và Brazil được báo Washington Post mô tả như sau: “ Trên bãi cát vàng dài 175 dặm ở bờ Đại Tây Dương, phía Bắc Rio De Janeiro, Tàu đang xây dựng một thực thể kinh tế mới. Tại đây người ta thấy những con tàu khổng lồ đang lấy quặng sắt hoặc lấy dầu trở về Bắc Kinh. Nhìn chung thành phố này lớn gấp đôi Manhattan với nhiều hãng xưởng hoạt động tấp nập…”. Sự đầu tư của Tầu vào Brazil sẽ làm chậm sự phát triễn của các công ty thuộc chính quyền địa phương.

Kết-luận:

Trong bài diễn văn đọc tại Paris khi đến tham dự lễ kỷ niệm 50 năm thiết lập quan hệ ngoại giao Pháp-Trung, Tập Cận Bình có nhắc lại câu nói của Napoleon Bonaparte, nhưng y đã thêm một lời khuyến dụ như sau: “Con sư tử Trung Quốc giờ đây đã thức dậy nhưng đây là một con sư tử hòa bỉnh, dễ mến và văn minh”.

Lời khuyến dụ của Đặng Tiểu Bình không được nhiều người tin tường. Giáo Sư Jean Pierre Cabestan của trường Đại Học Hong Kong nhận xét : “Sư tử là một con vật to lớn, hoang dại, chuyên ăn thịt những con thú khác, khá giống Trung Quốc trong mối quan hệ của họ với các nước xung quanh”.

Nhà báo Trần Thế Diệu, chủ bút tờ Thế Giới Nhật Báo tại New York viết thêm rằng: “Rõ ràng câu nói đó chỉ dành cho người Trung Quốc nghe mà thôi chứ người ngoài không ai tin nổi”.

Giáo Sư Richard Rigby của Đại Học Quốc Gia Úc tóm lược cách tiếp cận của Trung Quốc hiện nay là: “Cứ lấn tới ở bất cứ nơi nào chùng ta có thể !”. Nhận xét này của Rigby cũng được Giáo Sư Hoàng Tĩnh của Đại Học Quốc Gia Tân Gia Ba đồng ý và nói theo cùng một chiều hướng: “Họ là những người làm những gì có thể, bất kể là có nên hay không”.

Đã đến lúc Hoa Kỳ và thế giới dân chủ phải có thái độ và hành động quyết liệt hơn với cáí đế quốc thực dân mới đang hoành hành như chỗ không người. Cái giây thòng lọng mà Bắc Kinh quàng vào cổ nền kinh tế thế giới đang từ từ siết chặt. Kinh nghiệm này Hoa Kỳ đã trải qua kể từ khi Washington lỏng tay cho Đặng Tiểu Bình tác yêu tác quái.

Bài này cũng viết cho người dân Việt Nam đọc để có một thái độ thích ứng và cương quyết với bọn tà quyền Cộng Sản Hà Nội. Lúc này là lúc mọi người Việt Nam yêu nước phải đứng lên đập bỏ cái cơ cấu độc tài toàn trị bán nước đang đưa dân tộc đến họa diệt vong.

Cái chiến lược “tầm ăn dâu” mà bọn Tàu nham hiểm đang áp dụng trên thế giới và cả tại nước ta, từ ngày hiệp định Thành Đô được ký kết, phải được dập tắt ngay.

Cả nước phải sáng suốt nhận định được thế nào là “họa cộng sản” và can đảm đứng lên làm cách mạng dân chủ nếu không tổ quốc sẽ tiêu vong. Thời gian để hành động không còn nhiều nửa. Cộng Sản đã dồn dân tộc vào dưới chân tường và chiến trận này phải là trận chiến “một mất một còn”..

Nguyễn-Cao-Quyền

GẠT BỎ SỰ ĐỐ KỴ

Đặng Xuân Xuyến

hoa-sen-tim-a-050615
-Trích trong MƯU LƯỢC GIÀNH CHIẾN THẮNG của Đặng Xuân Xuyến, Nhà xuất bản Văn Hóa Thông Tin xuất bản lần đầu năm 1998, Nhà xuất bản Thanh Niên tái bản năm 2000 và 2002 –

Điều tiếp theo tôi muốn lưu ý bạn là đừng bao giờ bực tức, đố kỵ trước thành đạt của người khác. Thói xấu ấy sẽ làm cho bạn trở thành nhỏ mọn, tầm thường và sẽ nảy sinh những thói xấu khác biến bạn thành kẻ lố bịch trước con mắt của người đời.
Mỗi người có một khả năng để tự khẳng định mình, tạo dựng sự nghiệp cho mình và người ta chỉ làm được điều đó khi cố gắng, mang hết khả năng, sức lực và trí tuệ dồn cho công việc.
Bạn hãy lẳng lặng theo dõi những doanh nhân thành đạt, những nhân vật nổi tiếng… mới thấy những thành đạt mà họ gặt hái được là cả sự đánh đổi đắt giá, sự khổ tâm và vất vả khôn lường. Những gì mà họ đang có so với những vất vả mà họ đã chịu đựng, những đắng cay, mất mát họ đã nếm trải thì “vinh quang” ấy còn nhỏ nhoi lắm và giá phải trả cho sự “vinh quang” ấy cũng thật đắt đỏ.
Đừng nhìn vào cách tiêu tiền của họ mà hãy nhìn vào cách kiếm tiền của họ mới thấy được đồng tiền mà họ “cố tình” buộc “phung phí” ấy đã thấm đẫm mồ hôi và nước mắt của họ. Người ta nói “thức lâu mới biết biết đêm dài”, “ở trong chăn mới biết chăn có rận”, không ở trong hoàn cảnh của họ, bạn làm sao biết rõ những “cái” họ buộc phải “trả” để có những điều làm cho bạn ghen tức. Tôi tin, nếu bạn làm được điều đó, bạn sẽ gật đầu cảm phục sự miệt mài, cố gắng của họ và trong bạn sẽ có những trăn trở để nhìn nhận lại cách sống của mình.
Sự đố kỵ trước những thành đạt của người khác, sẽ dẫn bạn vào những việc làm xấu: Tìm cách để “hại” người đó, chí ít cũng là nói xấu để hả cơn “bực tức” trong bạn và “sẽ” làm cho “kẻ đó” mất thanh danh. Bạn thật lầm trong phép tính. Người bị mất mát lớn nhất ở đây không ai khác ngoài bạn. Với họ, khi đã đạt được như vậy, mọi lời xúc xiểm của bạn sẽ không đáng giá một đồng xu vì người đời nghĩ rằng: Bạn đang kèn cựa về tài năng của họ mà nói xấu họ. Lẽ đương nhiên, từ quý mến bạn, người ta sẽ chuyển sang coi thường bạn.
Thay vì đố kỵ, bạn hãy mến phục họ, tạo nhiều “cơ hội” tiếp xúc với họ để qua những cuộc chuyện trò ấy, bạn sẽ học được những “bí quyết” đã giúp họ thành công mà vận dụng cho mình.
Hãy mạnh dạn gạt bỏ suy nghĩ sợ người đời cho mình “thấy người sang bắt quàng làm họ” mà ngại ngần trong các cuộc xã giao. Không có gì quan trọng bằng những bài học kinh nghiệm không phải trả học phí mà bạn sẽ có được. Thực tế, những người thành đạt là những người ham hiểu biết, chịu lắng nghe và say sưa sáng tạo. Và hơn nữa, nguyên nhân sâu xa nhất, có ý nghĩa quyết định nhiều nhất đến thành công là sự kế thừa và sáng tạo. Không ai thành công mà lại không có sự kế thừa kinh nghiệm của những người đi trước. Không ai thành đạt trong đời mà không cần tới những lời khuyên!
Một anh bạn tôi (thực ra anh ta hơn tôi một thế hệ nhưng vì là tâm đầu ý hợp nên chúng tôi thường xưng hô bạn bè với nhau) phàn nàn về cậu con trai của mình: “Thằng con tôi có đầy đủ những tư chất để trở thành ông chủ, nhưng một tính xấu của nó đã làm cho tôi không thể đặt niềm tin vào nó được, đó là sự hẹp hòi, ích kỷ. Tôi sợ rằng từ thói hẹp hòi ích kỷ sẽ dẫn nó đến ghen tỵ, mà đúng ra là sự đố kỵ trước những thành đạt của người khác, đó chính là cái “phá tướng” của nó đã làm tôi thất vọng. Khi con người ta chỉ quẩn quanh với sự kèn cựa, bon chen thì chẳng bao giờ làm được một trò trống nào cả, sẽ chỉ mãi luẩn quẩn với điểm khởi đầu, thậm chí còn tồi tệ hơn. Tôi sợ thằng con tôi sẽ lâm vào tình cảnh đó”. Thế đấy! Nhà doanh nghiệp tài ba ấy đã lo lắng cho con mình chỉ vì một lý do rất bình thường là sự hẹp hòi, ích kỷ nhưng phải thừa nhận rằng, những lo lắng đó rất chính đáng.
Tôi công nhận: Đã bước vào nghiệp chủ, không ai có thể thờ ơ, cảm thấy bình thường trước những thành công của đối thủ cạnh tranh. Một sáng kiến nhỏ trong việc cải tiến sản phẩm của đối thủ cũng đủ làm cho nhà doanh nghiệp phải đau đầu, “ăn không ngon, ngủ không yên” nhưng sự “không bình thường” ấy không phải là sự đố kỵ, kèn cựa mà là sự “cạnh tranh” mang tính chất tích cực, lành mạnh: Buộc phải cải tiến sản phẩm cho tốt đẹp hơn, hợp với nhu cầu và thị hiếu ngày càng cao của người tiêu dùng.
Là người đang cháy bỏng trong mình ước mơ cao đẹp: TRỞ THÀNH ÔNG CHỦ, đừng bao giờ để cho tính hẹp hòi, ích kỷ, sự đố kỵ, bon chen ngự trị trong những suy nghĩ của bạn. Biết bao doanh nghiệp đã lâm vào tình cảnh lụi bại, phá sản cũng chỉ vì chủ doanh nghiệp mang nặng trong đầu những tính toán của kẻ tầm thường, nhỏ mọn. Cuộc sống có thể dung thứ những tính xấu như vậy nhưng thương trường không bao giờ dành chỗ cho những ai có tính cách như vậy đâu!

SÀI GÒN: VIRUS GIẾT NGƯƠI

PHÓNG SƯ VIẾT TƯ SÀI GÒN: VIRUS GIẾT NGƯƠI CORONA TRUNG QUỐC ĐANG LAN RỘNG KHĂP VIỆT NAM. – 45 năm sau cũng Tháng 3 Gãy Súng

sg1

Sài Gòn đang ở vào những giờ phút nghẹt thỏ, lo sợ, hoang mang của tuần lễ sau cùng của tháng Ba dươi sư tấn công mảnh liệt của đoàn quân ma áo đỏ Corona Trung Quốc đã hiện diện khăp mọi nơi trong nươc.

Tôi đang đưng bên phía công viên mà trươc măt tôi là con đương Phạm Ngũ Lão. Đây là một trong nhưng con đương huyết mạch dẫn ra trung tâm Sài Gòn.

Bây giơ là 10:10 phút sáng của một ngày cuối tuần. Đây là giơ cao điểm,một ngày cuối tuần trong nhưng ngày cao điểm của sư nhộn nhịp, náo nhiệt ơ con đương này. Nói đến đương Phạm Ngũ Lão là ai ai cũng biết đây là khu Tây ba lô, ồn ào, náo nhiệt 24/24 suốt ngày đêm vơi đầy nhưng văn phòng du lịch, nhà hàng, quán bars, cà phê, quán ăn nhạc xập xình suốt ngày đêm.
Nhưng không! Virus giết ngươi Corona Trung Quốc đã làm đảo lộn tất cả.
Con đương Phạm Ngũ Lão giơ đây văng tanh, văng một cách rơn ngươi. Không khí bệnh hoạn, chết chóc như nhưng đám mây đen đang bao phủ khăp mọi nơi trong nươc. Phải ơ Sài Gòn trong lúc này mơi thấy nổi lo sơ, khủng hoảng của ngươi dân trong nươc giưa lúc này.
Sài Gòn đang trong cơn hôn mê,hấp hối.

Tôi lấy chiếc iphone ra bấm máy.
sg2
Bây giơ là 10:25 phút, tôi băng qua đương và đi một vòng khu Tây ba lô. Hàng quán văng tanh. Có quán chỉ lác đác một hai ngươi. Văn phòng du lịch xe bus Phương Trang không một bóng ngươi. Tôi đi vào 5 tiệm thuốc tây gần đó và 5 tiệm mini Mart để hỏi mua mask, nhưng hoàn toàn không chỗ nào có. Tôi đi trơ lại đương Phạm Ngũ Lão, mua một trái dừa xiêm 30,000 đồng VN bên lề đương.

Tôi đưng trên con đương Phạm Ngũ Lão vơi trái dưa xiêm trên tay nhìn Sài Gòn,đ ất nươc mình như đang trong cơn hấp hối.

Tất cả các văn phòng du lịch trên con đương này đều văng tanh.Các tour du lịch đều bị khách hủy bỏ

Tôi lấy chiếc iphone ra bấm máy..

sg3
Đó!Chúng ta hãy nhìn đi.Văn phòng du lịch không một ngươi khách.

sg4

Mơi đó mà 45 năm đã trôi qua.Nhưng diễn biến lịch sư năm xưa vẫn còn đó.

Tháng 3,1975 chiến sư bùng lên một cách khốc liệt. Chiến tranh lên đến cưc kỳ cao điểm. Những trận đánh chống trả lại sư xâm lươc của đoàn quân nón cối Băc Việt từ nhưng vùng cao nguyên cho đến các tỉnh miền Trung bùng lên một cách tàn khốc. Nhưng xác ngươi ngã xuống và miền Trung đã băt đầu có nhưng cuộc di tản.

Sài Gòn đăm chìm trong bầu không khí ảm đạm, hoang mang, lo sơ, đã có nhưng ngươi tìm đương chạy ra nươc ngoài. Sài Gòn hấp hối vơi nhưng giơ phút sau cùng để rồi rơi vào tay quân xâm lược cộng sản Băc Việt.
Giơ đây tháng 3,2020 tức 45 năm sau, lịch sư tái diễn lại hình ảnh của một Sài Gòn đang hấp hối.

Một trận đánh khốc liệt,tàn bạo, sưc công phá mảnh liệt nhanh hơn vũ bảo, ghê rơn hơn nhưng trận đánh vào tháng Ba, cách đây 45 năm về trươc. Cuộc xâm lươc của đoàn quân ma Coronavirus Trung Quốc đã lan rộng khăp mọi nơi trong nươc. Không bom đạn, không pháo đài, hỏa tiễn, đại bác, nhưng sư tàn phá của Coronavirus Trung Quốc độc hại găp trâm ngàn lần súng đạn. Các tỉnh miền Trung đã hoàn toàn thất thủ măc dù không có nhưng cuộc di tản như 45 năm về trươc.

Và giơ đây, Sài Gòn đang trong cơn hấp hối.
Nhưng con đương Sài Gòn văng tanh. Các cửa hàng ơ nhưng khu thương mại đều đóng cưa. Corona Trung Quốc chăng nhưng lấy đi sinh mạng con ngươi mà còn đang đánh sập nền kinh tế trong nước.

Chính quyền cộng sản đang lo sơ tưng giơ, tưng phút. Họ dư biết răng: – Kinh tế sụp đổ, chế độ sẽ sụp đổ.

Tình hình trong nươc giơ đây hoàn toàn xáo trộn. Nổi lo sơ hoang mang, phẩn uất dâng đến tột cùng vì quyền đươc biết của ngươi dân không có.

Nhưng điều mà ngươi dân cần đươc biết là:
-Con số thật sư đã đang nhiễm bệnh là bao nhiêu?
-Có bao nhiêu ngươi trong nươc thật sư đã chết vì Coronavirus Trung Quốc?
-Tại sao chính quyền cộng sản lại bưng bít, che đậy thông tin về con số thật sư bị nhiễm bệnh thậm chí còn hăm dọa, răn đe nhưng ai cung cấp thông tin về số ngươi bị nhiễm bệnh.
-Tại sao các nươc phương Tây họ cung cấp và cập nhật thông tin mỗi ngày cho ngươi dân biết trong khi chính quyền cộng sản cư phải che dấu, dối gạt người dân?
Bây giơ, chúng ta hãy cùng nhau phân tích sư việc như sau:
-Phải nói, Việt Nam đúng là trung tâm lây nhiễm Cororavirus Trung Quốc. Vì sao?

Vì Việt Nam sát vơi Trung Quốc. Các cửa khẩu biên giơi đến giơ này vẫn rộng mơ. Dân Trung Quốc vào VN không cần visa, trong khi nhưng nươc khác vào VN phải có visa.

-Dân Trung Quốc ào ạt kéo vào Việt nam băng con đương du lịch, lao động, làm ăn tư nhiều năm trươc, khơi đầu là các tỉnh miền Trung. Vì vậy, nếu nói các tỉnh miền Trung đã hoàn toàn thất thủ trong trận dịch Coronavirus Trung Quốc quả là không sai.

-Môi trương ô nhiễm, lây lan ơ Việt Nam rất cao. Đa số phương tiện đi lại là xe găn máy, đương sá chật hẹp, khói bụi đầy đương. Nếu một ngươi bị nhiễm Coronavirus chạy xe găn máy đến đèn đỏ dưng lại, ngươi này có nhưng cơn ho kéo đến. Virus tư đây sẽ bung ra, theo không khí để tấn công, xâm nhập nhưng ngươi chung quanh. Như vậy, chăc chăn nhưng ngươi trên nhưng chiếc xe găn máy chung quanh có nguy cơ lây nhiễm rất cao.Tư 1 ngươi lây sang 10 rồi tư 10 đến con số 100, sau đó là 10,000 ngươi bị nhiễm như chơi. Con số cư thế mà tăng lên một cách chóng măt.

-Ngoài ra,một trong nhưng cưa ngõ lây lan Corona ơ VN chính là các hàng quán trên vĩa hè, hoăc trong chơ. Chúng ta hãy nghỉ xem, nếu một ngươi bị nhiễm Coronavirus Trung Quốc đang ngồi ăn bún riêu, hay một tô bánh canh trên vĩa hè. Sau đó,ngươi này có nhưng cơn ho, tư đó con đương lây lan sẽ truyền đi một cách nhanh chóng cho nhưng ngươi chung quanh. Nhưng hàng quán ơ lề đương thương thì họ chỉ có một hoăc hai thao nươc để rưa chén, tô.

Trên đây chỉ là một số dẫn chưng thưc tế về con đương lây lan Corona mà chính quyền cộng sản cố tình bưng bít, che đậy về con số thật sư đã và đang bị nhiễm Coronavirus Trung Quốc. Đó là chưa kể đến tình trạng thiếu vệ sinh, an toàn trong các bệnh viện. Ơ trong nươc, một giương bệnh, hai ngươi bệnh năm chung là chuyện bình thương. Các thân nhân của ngươi bệnh thì năm la liệt ngoài hành lang. Có ngươi ơ đó đến hàng tháng để nuôi bệnh.

Vậy thì, cho dù chính quyền cộng sản cố tình dấu diếm, hăm dọa ngươi dân, hoăc tìm đủ mọi cách để che đậy sư thật, đánh lận con đen như trưng ra nhưng người bị nhiễm đa số là nhưng ngươi du lịch tư nươc ngoài mang vào. Một cách thưc tế,ngươi dân trong và ngoài nươc đều sáng suốt để biết răng: VIỆT NAM, CHÍNH LÀ TRUNG TÂM LÂY NHIỄM CORONAVIRUS TRUNG QUỐC.

Bây giơ là 2:15 phút trưa, tôi đang đưng ơ một con đương khác, cũng là một trong nhưng con đương huyết mạch dẫn ra trung tâm Sài Gòn. Con đương im văng như một bãi tha ma.. Nhưng con đương Sài Gòn như vang lên nhưng tiếng nấc nghẹn ngào của 45 năm về trươc.

Sài Gòn đang thở nhưng hơi thở thoi thóp. Sài Gòn hấp hối, rồi Sài Gòn mất. Có biết bao nhiều ngươi đã khóc, đã tư sát khi mất Sài Gòn. Bao nhiêu ngươi đã bỏ ra đi….
Có ai ngơ đâu 45 năm sau, lịch sư đã tái diễn lại, nhưng ơ vào một thế trận khác.
Đoàn quân ma giết ngươi Coronavirus Trung Quốc xâm nhập và đã lan rộng khăp đất nươc việt Nam. Hai lá phổi của đảng cộng sản VN bây giơ đầy nhưng con Coronavirus Trung Quốc. Quá trễ, quá trễ rồi đảng ơi! Sài Gòn hấp hối. Đảng giơ đây như một bệnh nhân Corona đang thơ thoi thóp trên giương bệnh phải nhơ qua ventilator.

Coronavirus Trung Quốc đang đánh gục kinh tế của đảng ta không cần tốn một viên đạn.
Tôi vẫn đưng yên lăng trên lề đương. Bầu không khí ảm đạm, thê lương đang bao phủ lấy Sài Gòn, bao phủ đất nươc tôi. Tôi tư hỏi,ngươi dân trong nươc tư hỏi. Mỗi một ngày,có bao nhiêu ngươi chết vì Coronavirus Trung Quốc? Bao nhiêu ngươi cư tiếp nối lây lan khăp mọi nơi? Ai chết ơ nhà? Ai đã chết trong nhà thương bơi con virus giết ngươi này? Ngày mai, ai sẽ là nạn nhân kế tiếp? Sài Gòn, nói riêng và đất nươc tôi đang bao phủ bầu không khí chết chóc, thê lương. Phảng phất đâu đây, mùi tư thi của ai đó đang năm chết bên lề đương, hay ơ một góc phố nào đó.

VIẾT TỪ SÀI GÒN.

Đọc “TÌNH NHÂN ƠI”

Đặng Xuân Xuyến

Đọc “TÌNH NHÂN ƠI”

của TRẦN HẠ VI

*

Đưa bài HỔN HỂN VỚI “TÌNH NHÂN ƠI” CỦA TRẦN HẠ VI lên trang blog Đặng Xuân Xuyến từ sáng 07.11.2017 nhưng sáng nay tôi mới có thời gian đọc bài thơ này. Bị ám ảnh bởi câu “Nghĩ gì bên bờ môi căng mọng ngụm tươi non mời gọi” của Trần Hạ Vi, tôi cứ trằn trọc, lỡ mất giấc ngủ trưa. Tôi khoái hình ảnh tươi nõn, phồn thực của “bờ môi” đầy dục tính…. nên dù đang rất đau lưng (bệnh xương khớp) cũng cố ngồi “lạch cạch” đôi dòng cảm nhận về bài thơ của nữ thi sĩ họ Trần.

Bình thơ ư? Chắc chắn là không rồi! Bài thơ đã được nhà phê bình văn học Châu Thạch ưu ái phóng bút, đã viết gần như cũng đủ hết các ý rồi nên bài viết này chỉ ghi lại vài “sự thích” nho nhỏ của tôi khi đọc “Tình Nhân Ơi” của Trần Hạ Vi, một bài thơ đang được bạn bè trên facebook quý mến.

Vâng! Tôi thích cách “nhớ” của Trần Hạ Vi. Nó rốt ráo, cuống cuồng. Nó gấp gáp, dồn dập. Nó căng lên như dây đàn. Nó rền rĩ như tiếng va đập vọng về của âm thanh chiều vọng: “Em nhớ anh/ cồn cào cội nguồn thúc thôi triền khao khát”. Để làm gì? Chỉ là “Em mong anh/ mơ lắm một bàn tay!”. Thế thôi! Yêu thì nhớ, thì mong, thì cần có nhau, cần những phút giây thuộc về nhau, để quyện vào nhau, để tình yêu được thăng hoa… Vâng! Thì là yêu mà! “Nhớ” như thế thì tình yêu nào chẳng có nhưng “nhớ” ở trong “Tình Nhân Ơi” lại thấy cứ “sao sao”? Nghe nhẹ hều mà sống mũi cay cay?! Khác lắm! Lạ lắm! Buồn lắm!

Thích là thế nhưng tôi khoái khổ thơ thứ 4, khổ mà theo tôi chính là xương cốt, làm trụ cho bài thơ:

 “Tình nhân ơi

sao anh cứ làm thinh?

Nghĩ gì bên bờ môi căng mọng ngụm tươi non mời gọi

Mưa nguồn lũ xối

Úp mặt em cười sau nhàu gối chăn hoan”

Những câu thơ rất “phồn thực”, bỏng nhẫy truy hoan và nỗi sướng rơn hoan hỉ của cô gái sau cuộc ái ân mãn nguyện được Trần Hạ Vi quẳng toẹt lên gường, chẳng cần úp úp mở mở, che che giấu giấu.

Gã trai đã hết hưng phấn, đang thèm được nghỉ ngơi khi đã làm xong nhiệm vụ của giống đực nhưng cô gái thì vẫn còn đang âm ỉ rạo rực, vẫn còn đang lửng lơ ở đỉnh của khoái cảm. Tuy “Úp mặt em cười sau nhàu gối chăn hoan” vì đã mãn nguyện với trận “Mưa nguồn xối lũ” nhưng cô vẫn chờ được ngấu nghiến tiếp, vẫn sẵn sàng với những “nhàu gối chăn hoan”. Máu lửa trong hành động, bạo liệt và tự tin trong cả suy nghĩ như thế bởi cô tin vào thứ vũ khí lợi hại đang sở hữu: “Nghĩ gì bên bờ môi căng mọng ngụm tươi non mời gọi”. Vâng! Tôi khoái hình ảnh “bờ môi” rất nữ tính, rất sex này. Một hình ảnh đẹp, tươi nõn mà phồn thực, căng phồng những gợi cảm, và đầy kích thích dục tính như thế thử hỏi có gã đàn ông nào “làm thinh”? Tôi cũng khoái tính cách thẳng thắn, bạo liệt của cô gái: Yêu bảo yêu! Thích thì sẵn sàng “ba bảy cũng liều” chứ chẳng thèm ỡm ờ, thả thính.

Không nói nhiều về gã trai, chỉ một câu thán “sao anh cứ làm thinh?”, Trần Hạ Vi đã “tố” mối duyên này trái ngang, không thuận. Phải có uẩn khúc nào đó, trắc trở nào đó thì gã trai mới lặng thinh như thế, mới “thụ động” như thế. Phút lặng thinh đó không hẳn là gã thèm được nghỉ ngơi khi đã làm xong nhiệm vụ của giống đực mà còn là phút tự vấn của gã về những liên quan tới cuộc tình mang hơi hướng “vụng trộm”, trái ngang. Cảm thông cho gã thì mới hiểu được lý do vì sao cô gái luôn khát yêu, bạo yêu, mới cảm thương mối tình chông chênh, trắc trở. Đọc “Tình Nhân Ơi”, thấy cô gái “ngông nghênh” trong tình yêu, mà cũng se lòng vì mơ hồ thấy căn nguyên của cái “ngông nghênh” ấy.

Vâng! Thêm một khoái nữa, đó là khoái cách tỏ tình (đúng hơn là cách gạ yêu) của Trần Hạ Vi: “Yêu em đi” rất thẳng thắn, huỵch toẹt, chẳng màu mè, làm giá như những ả nàng. Sự chân thành đến dạn dĩ, mạnh bạo đến trần trụi, và tinh thần “tử vì tình”, chấp nhận thua thiệt trong tình yêu, dẫu biết tình yêu ấy là trái ngang, trắc trở, là bia miệng của người đời thì vẫn cứ bất chấp, vẫn cứ: “Ú ớ hoan mê những lời vô nghĩa/ Nuốt lấy nhau kệ tiếng đời mai mỉa” như Trần Hạ Vi thì quả thật ngay trong giới mày râu cũng khối kẻ lấm lét đứng nhìn.

Không biết ngoài đời Trần Hạ Vi có “ngông nghênh” yêu như vậy không và với những gã trai có tính rụt rè, nhát gái (kiểu như người viết bài này) mà gặp được người trong mộng như vậy thì sao nhỉ? Chắc sẽ tròn mắt vì ngạc nhiên, và cả vì hạnh phúc! Vâng! Là tôi nghĩ thế!

TÌNH NHÂN ƠI

 

Tình nhân ơi, gọi em đi

Tên em trên môi anh dòng ngọt ngào chảy mật

Ta rúc vào nhau

cơn cuồng si hổn hển ngắn dài

quên áo cơm đời chật vật

 

Em nhớ anh

cồn cào cội nguồn thúc thôi triền khao khát

Em mong anh

mơ lắm một bàn tay!

 

Yêu em đi

ngoài kia ngày vẫn là ngày

Đêm vẫn là đêm, chỉ chúng mình là bỏng rát

Cuộn trào trong từng cơn khát

Khát anh khát em

quằn quại đam mê khát tình…

 

Tình nhân ơi    

sao anh cứ làm thinh?

Nghĩ gì bên bờ môi căng mọng ngụm tươi non mời gọi

Mưa nguồn lũ xối

Úp mặt em cười sau nhàu gối chăn hoan

 

Mưa xuân lất phất tưới nụ hoa xoan

Ú ớ hoan mê những lời vô nghĩa

Nuốt lấy nhau kệ tiếng đời mai mỉa

Nguyên thủy hồng hoang tràn về…

sự sống mới mới lại sinh sôi

 Tình nhân ơi, 

lại nhớ anh rồi….

04.11.2017

TRẦN HẠ VI

*.

Hà Nội, chiều 15 tháng 11 năm 2017

ĐẶNG XUÂN XUYẾN

Kinh nghiệm chiến đấu COVID-19

Kinh nghiệm chiến đấu COVID-19 của chúng tôi ở Bergamo

BS Daniele Macchini
Thanh Trần dịch

Sau khi suy nghĩ rất lâu, tôi quyết định viết ra những lời này cho những người không trong giới y khoa biết về kinh nghiệm chiến đấu covid-19 của chúng tôi ở Bergamo. Tôi hiểu là chúng ta không nên lo sợ, nhưng ngày nào sự thật về sự nguy hiểm của covid chưa lọt được vào tai của những người phàn nàn về chuyện không được đi tập gym, hay không được xem bóng đá, thì tôi thấy thật run sợ và khốn nạn.

Tôi cũng hiểu nhiều người lo lắng cho ảnh hưởng tới nền kinh tế, và tôi cũng thế. Tuy nhiên, đến thời điểm hiện tại chúng ta phải chấp nhận một thực tế là hệ thống y tế Ý đã toang, tôi muốn đề cập đến khía cạnh covid tàn phá hệ thống sức khoẻ của một con người như thế nào.

Tôi rùng mình khi nghĩ lại, chỉ một tuần trước đây khi dịch vẫn còn chưa đến, chúng tôi đã được lệnh chuẩn bị kĩ càng, sơ tán bệnh nhân, khử trùng bệnh viện, kê thêm giường, dọn dẹp các chướng ngại vật. Tất cả những sự chuẩn bị vội vã này mang tới cho bệnh viện nơi tôi ngày ngày làm việc một sự tĩnh lặng và trống rỗng một cách siêu thực mà tôi chẳng thể hiểu được. Chúng tôi đã chuẩn bị đón đợi một cuộc xâm lăng mà tất cả không thể ngờ lại có sức tàn phá kinh khủng như vậy.

Tôi vẫn nhớ ca trực đêm của tôi một tuần trước, tôi lo lắng đến mức không ngủ được để chờ mẫu xét nghiệm đầu tiên của bệnh nhân nhiễm covid được gửi tới để tôi trực tiếp điều tra về con virus này. Lúc đấy tôi bất giác mỉm cười, nghĩ là mình có khi lo lắng thái quá chăng, nhưng bây giờ tôi đã thực sự thấy những gì đang xảy ra.

Cuộc chiến đã chính thức bắt đầu và chúng tôi hứng trọn từng đợt tấn công liên miên của kẻ thù ngày và đêm. Từng ngày trôi qua, số lượng những con bệnh khốn khổ lê lết vào phòng cấp cứu ngày càng đông. Họ nói họ có cảm giác như đang bị cúm. XIN HÃY DỪNG NGAY VIỆC NÓI RẰNG ĐÂY LÀ CÚM. Từ khi làm việc ở bệnh viện Bergamo 2 năm nay, tôi chưa từng thấy ai bị cúm mà phải cấp cứu cả. Những người bệnh này đã nghiêm chỉnh chấp hành lời khuyên của chính quyền, tự cách ly ở nhà từ một tuần đến 10 ngày, nhưng bây giờ họ không thể chịu được nữa. Họ không thể thở được, họ thiếu oxy.

Hiện tại có rất ít loại thuốc tạm thời để làm chậm con virus này. Bệnh nhân có chiến đấu lại được covid hay không chủ yếu là dựa vào sức đề kháng của chính cơ thể họ. Chúng tôi chỉ có thể hỗ trợ khi họ không thể chịu được nữa. Chúng ta phải chấp nhận một thực tế là chỉ có chính cơ thể chúng ta mới chống chọi lại được con virus. Chúng tôi đang thử nghiệm những liệu pháp kháng khuẩn trên con virus này và từng ngày qua mỗi ngày chúng tôi lại học thêm được một chút về hành vi của chúng. Việc tự cách ly ở nhà không thể thay đổi tình trạng của căn bệnh.

Việc thiếu giường trầm trọng và các thể loại drama kèm theo bắt đầu kéo tới. Từng khoảng trống trong bệnh viện được lấp đầy bởi các con bệnh với tốc độ kinh hoàng. Các bảng hiển thị với tên của bệnh nhân, với các màu khác nhau tùy thuộc vào đơn vị phẫu thuật, giờ đây đều có màu đỏ và thay vì phẫu thuật có chẩn đoán, luôn luôn giống nhau: viêm phổi kẽ hai bên.

Xin hỏi các vị có loại cúm nào mang đến thảm kịch kinh dị như vậy??? Tôi sẽ nói sự khác biệt giữa covid và cúm (bây giờ tôi sẽ nói kĩ thuật một chút): với cúm thường, ngoài việc lây lan rất là chậm, những trường hợp biến chứng rất là hiếm. Chỉ có con VIRUS là có thể phá huỷ các hệ thống bảo vệ hệ hô hấp trong cơ thể chúng ta, để những VI KHUẨN vẫn thường trú tự nhiên ở thực quản bắt đầu tàn phá cơ thể chúng ta. Người trẻ thì đỡ chứ người già thì xác định. Covid 19 nguy hiểm hơn SARS ở chỗ nó tấn công thẳng vào các túi phổi, lây nhiễm làm vô hiệu hoá chức năng của túi phổi. Thường thì bệnh nhân nhập viện vài ngày là bắt đầu suy hô hấp nặng, những bình oxy thường được để sẵn trong phòng bệnh không thể đủ.

Xin lỗi tôi phải nói thẳng ra là nước chúng ta người trên 65 tuổi rất nhiều, mà ai đến tuổi đấy mà chả có tiền sử bệnh này bệnh kia. Covid rất ưa những người béo phì hoặc huyết áp. Những người trẻ mà có tiền sử bệnh về đường hô hấp cũng là con mồi béo bở. Bệnh viện này ngày xưa trống trải, nhiều chỗ vắng tới mức người ta đồn là có ma, mà bây giờ chật kín con bệnh. Bệnh nhân kiệt quệ. Nhân viên kiệt quệ. Tôi nhìn những gương mặt khốn khổ vì mệt mỏi của đồng nghiệp mà tôi chưa từng thấy ở họ, đến lúc hết ca nhưng bây giờ vẫn tự nguyện ở lại làm thêm, và tôi thấy sự đoàn kết từ tất cả mọi người. Bác sĩ làm cả những việc như thay giường, việc mà hàng ngày giao cho y tá. Rất nhiều y tá vừa làm việc vừa khóc, vì có quá nhiều người chết liên tục, và họ biết rất nhiều bệnh nhân đang cố gắng sinh tồn nhưng số phận của những người đó đã chắc chắn an bài.

Không còn ca kíp, không còn lịch làm việc. Không còn cuộc sống gia đình. Ngày trước tôi đã từng đi trực cả mấy tháng liền không về nhà. Tôi thề là khi tôi nghỉ trực, tôi đã làm đủ mọi cách để có thêm thời gian ở bên cạnh con trai, và dù đêm đó là đêm tôi được nghỉ trực, tôi đã không ngủ một giây nào cho đến khi tôi lại phải chia tay nó. Nhưng trong vòng 2 tuần nay tôi đã phải tình nguyện không gặp con hay bất cứ người thân nào, vì tôi sợ tôi đã nhiễm covid và sẽ lây nhiễm cho người thân. Tôi không thể kiềm chế nước mắt khi nhìn ảnh con và khi gọi video call với con.

Vậy nên bạn ơi, bạn cũng nên học cách kiên nhẫn nếu bạn không được đi xem hát, tham quan bảo tàng, hay đi tập gym. Làm ơn có lòng từ bi nghĩ đến một đống người đang chờ chết. Tôi biết đó không phải lỗi của bạn, nhưng đối với những người vẫn suy nghĩ rằng tình hình hiện nay là làm quá lên và có thể cho rằng những lời tôi nói đây là cường điệu hoá, nhất là những bạn ở những nơi đại dịch chưa kéo đến, làm ơn hãy lắng nghe giới bác sĩ chúng tôi, làm ơn chỉ nên đi ra khỏi nhà khi thực sự cần thiết, và đừng có đến những đám đông đang tranh giành nhau nhu yếu phẩm trong siêu thị, vì những nơi đó là nơi virus lây lan nhanh nhất. Nếu bạn có khẩu trang, làm ơn hãy đeo nó, thậm chí chỉ là khẩu trang vải chống bụi khi bạn làm vệ sinh hàng tuần. Đừng tìm khẩu trang y tế vì hiện tại chúng tôi đang dần cạn kiệt loại khẩu trang này. Cho đến nay chúng tôi đang phải dè xẻn sử dụng chúng vì WHO dự báo là chắc chắn loại khẩu trang này sẽ hết sạch trong sớm mai.

À, mà còn điều này, vì thiết bị y tế thiếu thốn, y bác sĩ chúng tôi rất dễ bị phơi nhiễm mặc dù đã bảo vệ kín toàn thân. Một số người trong số chúng tôi đã bị nhiễm mặc dù làm theo đúng hướng dẫn an toàn. Những đồng nghiệp bị nhiễm đó về nhà và lại lây covid cho người thân của họ. Tôi nói những điều ghê rợn này để làm nỗi sợ của bạn có thể giúp bạn nghiêm túc có những hành động thiết thực để tránh bị nhiễm con covid này. Hãy khuyên nhủ người thân của bạn, nhất là người già, hãy ở yên trong nhà, và đi chợ giúp cho họ.

Đây là công việc của chúng tôi, chúng tôi không có lựa chọn. Phương châm của chúng tôi là, cố gắng chữa càng nhiều người càng tốt, hoặc không thì cũng giúp người ta bớt đau phần nào trong khi chờ cái chết. Tôi không muốn nói nhiều về những gì mọi người nghĩ về chúng tôi, kể cả những người coi chúng tôi là anh hùng lẫn những người vẫn còn nghi ngờ, xúc phạm chúng tôi. Đó đơn giản là trách nhiệm hàng ngày của chúng tôi. Chúng tôi đã phải mạo hiểm khi tay chúng tôi nhuốm máu người lạ bị nhiễm HIV khi chúng tôi làm phẫu thuật, khi phải uống thuốc làm chúng tôi nôn mửa cả tháng để chữa trị bệnh nhân HIV, khi chúng tôi sợ hãi tột độ khi để một sơ suất nhỏ nhoi mà có thể dẫn tới việc bị lây nhiễm.

Lời cuối, tôi chỉ muốn nói là chúng tôi chỉ muốn làm điều thiện cứu người. Bây giờ hãy làm như chúng tôi: với hành động của chúng tôi, chúng tôi có thể cứu người hoặc giết người. Bạn cũng vậy, lời nói của bạn cũng vậy, thậm chí bạn còn có ảnh hưởng hơn chúng tôi.

Làm ơn hãy share những lời này, để giúp những nơi khác không phải rơi vào trường hợp như ở Italy.

BS Daniele Macchini
Thanh Trần dịch

(*) Tựa đề bài do quản thủ thư viện Sáng Tạo đặt

Nguồn: Facebook Thanh Tran