VỀ VẤN ĐỀ NGUỒN GỐC THƠ LỤC BÁT

Thư viện của bài

This gallery contains 1 photo.

Nguyên Lạc

Trong Facebook của nhóm Diartlogue – Văn đàm có đăng bài viết “Lục Bát: Của Ta Hay Của Tàu”, của tác giả Đỗ Quý Dân, nhà văn có tầm ảnh hưởng rộng đến giới trẻ, cùng với lời mời tranh biện. Thấy tầm quan trọng của vấn đề nguồn gốc này, tôi xin ghi ra đây nguyên văn bài viết của ông Đỗ Quý Dân cùng lời phản biện của tôi.

Sau đây là nguyên văn bài viết của ông Đỗ:

LỤC BÁT: CỦA TA HAY CỦA TÀU?

Từ trước đến nay nhiều người cho rằng thể thơ lục bát là do người Việt chúng ta đặt ra. Tuy nhiên, thể lục bát đã được sử dụng trong kinh, truyện, và sử của Trung Quốc (Kinh Dịch, sách Trung Dung và Tống Sử). Vậy phải chăng chúng ta đã mượn lục bát từ người Tàu?

Phần diễn giảng hào lục tam của quẻ Khôn trong Kinh Dịch có hai câu như sau:

“Lục tam, hàm chương khả trinh

Hoặc tòng vương sự, vô thành, hữu chung.”

Đúng là lục bát. Từ số chữ đến cách gieo vần.

Trong sách truyện (Trung Dung) có hai câu:

“Phù thủy, nhất thước chi đa

Cập kỳ bất trắc, ngoan đà giao long.”

Rõ ràng là lục bát. Có khác chăng là lời thơ bằng Hán tự.

Còn sách Tống Sử có hai câu:

”Đế sĩ Sái Xác hữu công,

Sử chi tòng tự Triết tông miếu đình…”

Cũng lại lục bát. Trước khi nên thơ văn của Việt Nam được phát triển.

Khi nhắc đến vấn đề này, cụ Ngô Tất Tố mượn nhân vật “ Cụ bảng”, thầy dạy học của Đào Vân Hạc trong “Lều chõng”, để bàn như sau:

“ Cũng vì có mấy câu đó cho nên từ xưa đến nay đã có nhiều người cho rằng: lối văn trên sáu dưới tám của ta gốc ở kinh, truyện và sử mà ra. Nhưng theo ý ta, thì nói như vậy có lẽ cũng quá khiên cưỡng. Trời đã sinh ra mỗi nước có một thứ tiếng, thì tất nhiên mỗi nước cũng phải có một điệu hát. Nếu bảo điệu hát lục bát gốc ở kinh, truyện và sử, thì sao ở Tầu lại không có cái thể văn ấy? Tuy vậy, các cụ đời trước nói thế, bây giờ mình cũng hãy hay rằng thế, để rồi kê cứu dần dần, không nên vội vàng bài bác.” – trích “Lều Chõng” của Ngô Tất Tô Tiếp tục đọc

Tập Luyên Cơ Thể An Hưởng Tuổi Vàng

Thư viện của bài

 BS Nguyễn Ý Đức

Từ thế kỷ thứ 13, giáo sĩ kiêm khoa học gia, triết gia Anh Cát Lợi Roger Bacon, nhân dịp nghiên cứu về vấn đề tuổi thọ con người, đã có nhận xét rằng: “Không chịu vận động cơ thể là một trong nhiều nguyên nhân đưa đến sự không sống lâu”. Mà bên Việt Nam ta, Cụ Hải Thượng Lãn Ông Lê Hữu Trác cũng khuyên nhủ “Cần lao thân thể khang cường, Tinh thần vui vẻ, gân xương chuyển đều”.

Dù không được coi quan trọng như thực phẩm, không khí, nước uống, sự tập luyện cơ thể đã được chứng minh là có nhiều công dụng. Vận động đóng góp vào việc duy trì sức khỏe, cải thiện sự bền bỉ, di động của con người đồng thời cũng là một phương tiện phòng ngừa bệnh tật rất hữu hiệu. Sinh hoạt này cũng giống như việc tổ tiên ta khi xưa phải dành thì giờ mấy lần một tuần để đi mà tìm kiếm thực phẩm, nước uống. Họ thực sự đi, có khi chạy, đuổi theo để bắt con mồi. Họ vừa cử động cơ bắp vừa kiếm thức ăn. Chứ không ngồi xe tự động tới tiệm mua thực phẩm như chúng hiện nay.

Với ý thức đó, số người thực hiện sự tập luyện cơ thể mỗi ngày mỗi gia tăng nhất là quý cụ cao niên. Vì trong tiến trình lão hóa, có những thay đổi theo chiều đi xuống về chức năng cũng như cấu tạo của mọi bộ phận con người, những thay đổi mà sự vận động có thể khiến chậm lại hoặc khiến tốt hơn.

Thay đổi cơ thể với tuổi già

Với tuổi cao, nồng độ nước và calcium trong xương giảm, sụn của khớp cũng hao mòn khô. Do đó xương già dễ nứt gẫy, khớp xương già co duỗi giới hạn. Các bắp thịt cũng nhỏ dần tới 20% kể từ tuổi 65 trở đi, sợi thịt bớt đàn hồi và dễ tổn thương.

Thần kinh kém nhậy cảm, phản ứng chậm tới 10-15 % kể từ tuổi 60, do đó dễ gây ra nguy cơ té ngã. Tiếp tục đọc

TT Trump Và Đức Tin

trump-melania-swearing-in

Trước thời gian bầu cử TT năm 2016, TTTT cố gắng bôi xấu hình ảnh của UCV Cộng Hoà Trump bằng cách thổi phồng những chuyện riêng tư về đàn bà của ông. Chẳng hạn như chuyện ông khoe đã b.. l… phụ nữ (grab them by pussies  – xin lỗi quý bà )-  với bạn bè trên chuyến xe bus mà không ngờ bị ghi âm lại . Chuyện bù khú của mấy thằng đàn ông riêng tư với nhau trong phòng kín  (đa số toàn là chuyện nổ cho ra vẻ mình dân chơi thứ thiệt là chuyện rất thuờng tình của mấy cha ) trở thành thời sự quốc tế cho đám phá hoại bàn ra tán vào đến bây giờ.

To tiếng nhất phải kể đến bà vợ của Obama khi đăng đàn diễn thuyết khiến không ít phái nữ từ sáu tới sáu mươi sáu tuổi vội vã chạy về phía Hillary , tránh càng xa Trump càng tốt vì …sợ bị bốc hốt!!!

Cuối cùng những chuyện bêu riếu ông TT Mỹ ngày càng rõ ra là chuyện tào lao . Nhiều người trước đây cứ mong cho Hillary làm chủ WH bây giờ thì  tỉnh mộng và hú vía , mừng ông Trump đắc cử chứ không phải bà vợ ông Bill.

(Nhiều người cũng hy vọng những xấu xa tội lỗi giới chóp bu thời Obama sớm được điều tra, lôi ra ánh sáng để tống cả bọn vào nhà kho cho xứng tội từ sau vụ benghazi tới  cái chết của Epstein và trước đó là cuộc tự tử của Bourdain)

*********************************************

Vừa đặt đít xuống ghế ông Trump đã cố gắng thực thi cho bằng được những lời hứa hẹn đối với cử tri. Thành tích của ông bây giờ không cần đăng báo nữa mà nó lan truyền nhanh chóng trên từng cửa miệng người Mỹ và cả thế giới. Mối lo lắng sợ hãi ông sẽ phóng hỏa tiễn nguyên tử gây ra chiến tranh thế giới lần thứ ba vì nổi nóng, vấn đề kinh tế sụp đổ v. .v.. nay thành tào lao thiên đế. Nếu không bị cái đám phá hoại cản trở để ông Trump rảnh tay hành động và hoàn tất thì nước Mỹ bây giờ trở thành thiên đàng trên mặt đất  !!!

Chuyện kế tiếp khiến dân Mỹ (bất kể da màu gì – trắng đen vàng đỏ nâu  – miễn là real American)  không hài lòng là chuyện phải đứng thứ hai sau bất cứ quốc gia nào khác đặc biệt  Tàu . Bây giờ người Mỹ nhận ra rằng duy chỉ có ông Trump là TT duy nhất  “bóp cổ“ Tàu phải xấc bấc xang bang chấp nhận lép vế. Những thằng  con nít láu cá nịnh  bợ  ton hót như CHXHCNVN cũng bị ông điểm mặt chỉ tên, không biết sẽ chịu trừng phạt lúc nào.

Điều này có hai cái lợi : thứ nhất Tàu bắt buộc phải gánh những áp lực của Mỹ để tham gia công bằng hơn các luật lệ về thương mại, kinh tế, tài chánh mà mỗi quốc gia trên thế giới đều đang hành xử . Thứ hai : bởi sự giám sát của Hoa Kỳ, Tàu sẽ vĩnh viễn không còn cơ hội vươn lên cầm đầu thế giới bằng vũ lực. Ai cũng biết nếu Tàu chiếm được vị trí nầy thay thế Mỹ mọi người sẽ phải chịu đau khổ gấp mấy lần hơn  chế độ  Hitler . Hãy cứ hỏi dân Duy Ngô Nhĩ hay Tây Tạng họ sẽ nói cho biết tường tận.  

Không chỉ China, quốc tế nay cũng vào khuôn phép, làm ăn với Mỹ theo kiểu “tương giao tương kính“ chứ không dám lợi dụng Mỹ như các đời TT trước.  (Tôi là người VN nhưng  rất “nực“ chuyện của anh Tây De Gaule bài Mỹ sau WW2 bất kể bao nhiêu máu của thanh niên Mỹ đổ ra để GIẢI PHÓNG Pháp khỏi Phát Xít )

**********************************************

Nhiều cử tri  -DC hoặc lừng khừng –  đã từng nghi ngờ khả năng làm việc , khả năng chính trị của ông Trump nay nhìn thấy kết quả hiện hữu về kinh tế tài chánh chính trị cùng lúc với sự tha hóa thù vặt chỉ biết quyền lợi đảng, cá nhân của các UCV DC sẽ dồn phiếu để ông Trump chắn chắn thắng cử với tỷ lệ cao vào năm 2020 . Mới giữa nhiệm kỳ một ông Trump đã nhận hổ trợ từ nhiều cựu cử tri Dân Chủ thoái đảng. Chẳng hạn như thủ lãnh phong trào # WalkAway Brandon Straka, chẳng hạn như các đảng viên Dân Chủ trước vẫn còn sợ hãi, lo lắng về tính cách ăn nói văng mạng của ông Trump nay nhận ra đằng sau các tuyên bố  – xem ra chẳng theo một nguyên tắc thể thức gì hết  – là cả một chiến thuật, chiến lược khôn ngoan. (So sánh với anh tỷ phú Tom Stayer vừa ngu vừa khùng, khùng vì cứ kêu gọi impeach Trump mà không đưa ra lý do, ngu vì ra tranh cử TT mà mở miệng xin mỗi  người một đồng vào quỹ tranh cử. CÒN TIỀN TỶ CỦA CHA NỘI ĐÂU KHÔNG LẤY RA XÀI ?  , đảng viên DC cỡ tay này mà cũng ra tranh cử chức TT thì thật là hết nước nói).

**********************************************

Do sự dạy dỗ từ gia đình gốc người Đức chuyện ông Trump mộ đạo không có gì ngạc nhiên.  Ông thường dẫn đầu những cuộc cầu nguyện ở WH,  khôi phục lại lời chào Merry Christmas ngày lễ Giáng Sinh ( biến mất trong 8 năm thời Obama),  công khai cảm ơn Thiên Chúa về những ơn lành mà nước Mỹ và người Mỹ nhận được làm cho đám thiên tả (bọn phá hoại) rất khó chịu và xốn con mắt. Tuy nhiên với đại đa số người Mỹ ông là vị TT đầu tiên bày tỏ sự thần phục Thiên Chúa trong việc điều hành guồng máy quốc gia nhiều hơn hẳn các đời TT trước . Đa số dân Mỹ vốn hữu thần rất xem trọng điều này .

Tôi tin rằng không phải bỗng dưng ông Trump trở nên một TT nhiều đức tin như thế. Bản chất và con người của ông vốn luôn luôn chiến đấu và chiến thắng tạo thành một cơ ngơi như ngày nay bời không đặt mình, hoặc chịu thua hoặc nghe lời khuyên bảo tào lao của người khác. Hãy nhớ lời bà Melania cảnh giác “ Ông ấy sẽ trả đũa gấp mười lần những ai gieo oán thù với ông ấy “. Duy  ông chỉ chịu thua một người : đó là vị Đệ Nhất Phu Nhân của Hoa Kỳ, vợ ông !!

Tôi không biết tôn giáo  vợ chồng ông nhưng đoán rằng bà là người Công Giáo dựa vào quốc gia sinh ra bà và dựa vào cách tiếp đón rất trân trọng của bà với Giáo Hoàng Francis. Ông Trump mà ngợi khen, thần phục công khai Thiên Chúa trước mặt mọi người mọi nước phần lớn chính là nhờ vào bà vợ . Mặc dù bà Melania rất ít ồn ào thậm chí hầu như ở ẩn đằng sau cánh rèm tòa WH, nhưng ảnh hưởng của bà trên chồng là điều không thể chối cãi. Mới đây nhất bà xuất hiện trên truyền hình trước cuộc nói chuyện của chồng và bà đã hướng dẫn mọi người tham gia cuộc đọc kinh Lạy Cha trước khi giới thiệu chồng mình.  

Theo tôi vợ là túi khôn, là may mắn của chồng. Có nhiều bà chẳng cần phải lộ diện nhưng rõ ràng hành động cử chỉ từ chồng đều mang hơi hướng ảnh hưởng bởi vợ. Chẳng hạn như phu nhân của TT Thiệu, chẳng hạn như phu nhân của TT Trump. Riêng bà Michelle Obama thì tôi không có ý kiến vì bà ấy xuất hiện ồn ào và phát biểu nhiều câu kỳ quá!!  ( như bà tuyên bố hãnh diện là một người Mỹ chỉ sau khi chồng đắc cử TT . Vậy,  trước và sau khi chồng về hưu Mrs . M. Obama rất mắc cỡ nếu bị người khác coi mình là người Mỹ ?  )

Bà vợ ông Trump gây cảm hứng cho nhiều người. Bà công khai tuyên xưng đức tin trước mặt thiên hạ dù biết rằng đó sẽ là đầu đề cho bọn cánh tả ( phá hoại ) châm biếm.

Chồng bà cũng nhận ra sự mạnh mẽ về đức tin của vợ,   khâm phục và theo gót bà bất kể chuyện đám TTTT sẽ dè bĩu ra sao.

****************************************************** 

Trump khác người ở chỗ ông từng nuôi dạy con cái nên tránh xa những chuyện rượu chè trai gái hút xách bài bạc và … thành công !!!. Ông nêu tấm gương của bản thân, gia đình tới những thanh thiếu niên Mỹ giàu có trong một xã hội đầy dẫy tệ đoan . Ông chắc cũng là vị TT duy nhất trên thế giới không hút thuốc uống rượu.

Mặc dù rất chủ quan tin tưởng ông Trump sẽ thắng cữ năm 2020 nhưng tôi xin mọi người hãy cố gắng cầu nguyện cho ông và gia đình theo tín ngưỡng của mình . Riêng đối với giáo dân Công Giáo xin hãy nài van cùng Thiên Chúa và Mẹ Thiên Chúa chở che và ban phước lành cho gia đình ông. . Lý do là bọn phá hoại sẽ xử dụng tất cả mọi trò bẩn thỉu nhất để destroy ông và các thành viên trong gia đình . ( giả thuyết : Tập Cận Bình hay George Soros có thể đứng đằng sau đạo diễn mọi chuyện).

Tôi chưa bao giờ coi ông Trump là Tướng Nhà Trời được sai xuống để điều hành nước Mỹ, nhưng  TT như ông Trump không phải cứ bốn hay tám năm đều xuất hiện. Cả lịch sử nước Mỹ chỉ có vài người như George Washington hay Abraham Lincoln.

Nguyện xin Chúa Mẹ ban ơn và bảo vệ ông và gia đình cũng như bào vệ nước Mỹ trước sự tấn công của thù địch. 

nguoiviettudo

Đời Sống Người Già Ở Mỹ

Hoành Nguyễn

old people
Năm mới đến Mỹ (1996), tôi có viết bài “Những Nhận Định Khác Nhau Về Cuộc Sống” đăng trên báo Việt ngữ Sacramento; Nguyên do từ câu nói của một bạn học tại trường Sacramento City College: “Nước Mỹ là Thiên Đường của tuổi thơ; Là Chiến Trường của thanh niên, và là Địa Ngục của người già”.
Lúc bấy giờ tôi cũng như người bạn tị nạn chính trị, do chưa hội nhập với cuộc sống mới lạ ở xứ người nên có nhận định không chính xác lắm.
Mười năm sau, tôi đủ tuổi 65 nên xin được nhà dành cho chung cư người già: Eskaton President Thomas Jefferson Manor, nằm ở phía Nam Sacramento, gần khu thương mại Florin Mall, Trung tâm Medical và Thư viện.
Khu nầy tổng cộng có 104 căn, gồm 52 ở từng dưới và 52 từng lầu 2. Đa số là Mỹ trắng, cũng có vài ba người Mỹ đen, khoảng chục vợ chồng người Hoa và chừng 8 người Việt. Nhiều người lãnh trợ cấp già, nhưng cũng có người là Dược sĩ, Worker lãnh tiền hưu trí; Có vị là Tướng Tá ngày xưa, người khác có con cháu là dược sĩ, thương gia, công chức giàu có. Chung quanh khu nhà là vườn hoa dạo chơi, có hàng rào trắng bao bọc, có nhà để xe và có nhân viên an ninh túc trực ngày đêm. Cứ vào khoảng gần 12 giờ trưa mỗi ngày, thì nhân viên an ninh sẽ đi một vòng kiểm soát xem các người cao niên nầy có được khoẻ không, qua cái nút dấu hiệu trước cửa: Nếu đã được kéo qua màu trắng là khỏe, còn vẫn để nguyên màu đỏ mà an ninh tự động làm dấu lúc nửa đêm, thì họ sẽ gõ cửa kiểm soát, nếu không có người trả lời thì ngay lập tức, nhân viên an ninh sẽ mở cửa để xem coi có người bịnh thì gọi xe cứu thương đến chở vào bịnh viện điều trị khẩn cấp.
Nhà người độc thân như tôi thì có một phòng khách rộng rãi để TV và Computer, có gắn loa để liên hệ với văn phòng. Phòng nầy liền với nhà bếp đủ tiện nghi, có cửa lớn mở ra hành lang và cửa sổ ngắm cảnh trời mây hay xe và người qua lại. Một phòng ngủ cũng rộng không kém, có cửa ra hành lang và cửa khác thông với phòng khách, phòng vệ sinh tắm rửa. Còn có một nút đỏ để khi tắm lỡ có trợt té hoặc bị bịnh đột xuất thì giựt sợi dây báo động nầy, sẽ có an ninh đến tiếp cứu ngay tức khắc.
Hàng ngày, chúng tôi có thể đến phòng sinh hoạt để uống cà phê free, xem TV đọc báo, đánh bài bingo giải trí, gặp nhau chào hỏi trò chuyện thân mật; Hoặc đến phòng đọc sách có dụng cụ thể dục, có bàn billard và computer. Còn có cô giáo dạy ESL và dạy Sitersite thể dục ngồi cho người già yếu. Có phòng cắt tóc nam nữ. Tất cả đều sát bên văn phòng Manager. Trên lầu hoặc dưới đất đều có phòng giặt đồ và nơi đổ rác ra bồn chứa bên ngoài, rất tiện nghi vệ sinh.
Mỗi tuần có 2 ngày xe chở đi chợ hoặc mua sắm đồ, thường là ở Wal-Mart, Alberson, Raley’s, Mall và Dollars tree. Những ngày lễ và Tết, có đãi tiệc và xổ số rất vui. Có một buổi khám bịnh theo hẹn. Khách đến thăm đậu xe trước văn phòng, nhắc phôn trước cửa gọi mở, phải ghi vào sổ trực giờ vào và giờ ra.
Quan sát và suy ngẫm cuộc sống ở Mỹ, ta sẽ hiểu được tại sao người già chọn vào ở chung cư mà không ở nhà ngoài với con cháu”
– Trước hết là được chăm sóc chu đáo hơn, đầy đủ mà ít tốn kém; Lại có nhiều bạn cao niên để tâm tình thích hợp, nhất là được yên tĩnh.
– Nếu ở ngoài, con cái bận đi làm; Cho dù có mướn người giúp việc săn sóc cũng không bằng. Nếu trông coi cháu chắt thì ồn ào bận bịu.
– Người ở chung cư, vẫn được con cháu đến thăm và rước về nhà hoặc đi chơi trong những ngày cuối tuần hoặc nghỉ lễ.
Tôi đã sống hơn 3 năm ở chung cư người già, ban đầu thì cũng cảm thấy lẻ loi buồn tủi và hơi lo sợ vẩn vơ về bịnh cao huyết áp; Sau quen dần thì lại rất thích thú và chẳng muốn di chuyển ra bên ngoài ồn ào kém an ninh.
Cái thoải mái nhứt là tự do mà khi đến nhà khác, dù là bà con hoặc thân hữu cũng khó có được. Chẳng hạn như, bất cứ lúc nào, dù ngày hay đêm, nếu thích thì tôi đều có thể mở TV, Computer để sưu tầm tin tức giải trí hoặc viết bài mà không ngại làm phiền ai. Đồ đạc dụng cụ thì trang trí bày biện thế nào tùy ý thích của mình, nhất là đang dùng mà mõi mệt buồn ngủ hoặc có việc cần đi gấp thì cứ bỏ bừa ra đó, không sợ mích lòng ai hoặc có người thấy được cười chê.
Tuy nhiên, cũng phải công tâm nhìn nhận, nhạc sĩ Trịnh Hưng cũng có lý khi diễn tả cảnh sống của một người độc thân qua những vần thơ mà tôi nhớ lõm bõm:
… “Một mình nấu, một mình. Một mình mình nói, một mình mình nghe.
Một mình nhiều lúc cười khì
Hai mình có phải diệu kỳ hơn không” “
Phước duyên thay cho những ai có bạn tri âm, nếu không thì đừng mang gông vào cổ mà chắc lưỡi hối tiếc. Nước Mỹ không chỉ là “Địa ngục” của tuổi già như có nhiều người tự ti măc cảm và hoang tưởng một cách quá đáng.
Chuyện kể trên Diễn đàn internet mới đây: Có một cụ già 92 tuổi động lòng cố quốc, tuyên bố về Việt Nam CS ở luôn. Được vài năm sau lại phải trở qua Mỹ để có đủ phương tiện điều trị bịnh; Xong rồi lại vào sống trong Nursing Home để có bác sĩ và y tá chuyên môn chăm sóc mỗi ngày, mà khỏi tốn kém tiền của thân nhân; Sống đến trăm tuổi thọ. Cũng đành ngậm ngùi qua 2 câu thơ:
“Muôn dặm hồn thiêng về cố quốc,
Trăm năm xương trắng gởi quê người!”
Tiền trợ cấp xã hội cho người già hoặc bịnh tại Hợp Chủng Quốc Hoa Kỳ cũng được chiết tính vừa đủ, nếu lỡ vướng mắc nợ như làm mất hoặc hư  đồ vật có giá của người khác, hoặc chuyển housing quên không báo nên bị cúp trợ cấp tiền nhà, thì theo luật pháp, mỗi tháng chỉ phải trả dần $50 theo mức thu nhập lương hàng tháng của tiểu bang Ca-li cao nhứt là 836 Mỹ kim. Bởi chiết tính chi tiêu bình dân thì gồm có: Tiền nhà $200 + tiền xăng và bảo hiểm xe cũ 200. + tiền điện thoại và internet 100. + tiền ăn 200. + mua sắm và giao tế 100 cũng vừa đủ lương. Khi xe hư nhiều cần tu sửa hoặc mua xe cũ khác vài ba ngàn đô là một vấn đề suy tính đau đầu. Những ai không cần xe và cell phone hoặc ở nhà free của con cháu, thì có dư để đi du lịch hoặc giúp đỡ người thân ở quê nhà, nhưng đó cũng là du di ngoài luật. Vấn đề hậu sự cũng là một nỗi nặng lo, nếu muốn giữ được tro cốt và làm tục lễ cho phần hồn thì phí tổn trên dưới 5 ngàn đô. Còn những ai chết mà không có thân nhân thừa nhận, thì  Sở xã hội sẽ thiêu hủy luôn hài cốt.
Những người già hẩm hiu ở nước ngoài, nếu như thân nhân từ Việt Nam không thông hiểu mà thường than thở thúc bách tiền bạc, thì thật là tội nghiệp cho cuộc đời xa xứ cô độc bơ vơ khi bịnh hoặc tuổi đã về chiều.
 
Hoành Nguyễn

Cửa hàng 0 đồng ‘thơm thảo’ của người Sài Gòn

Cửa hàng 0 đồng ‘thơm thảo’ của người Sài Gòn: Ai thiếu đến lấy, ai dư đến cho (không có ở miền Bắc)

Sài Gòn có nhiều người cần sự giúp đỡ thì cũng luôn có người luôn sẵn lòng chia sớt, sẻ san, cửa hàng 0 đồng này như một nhịp cầu trung gian nối kết hai điều ấy.Thành phố đắt đỏ, xô bồ, trăm ngàn dịch vụ, dù là những thứ tủn mủn nhất cũng phải bỏ tiền ra mua. Nhưng ngược lại với mặt trái ấy, có những nơi sẵn sàng cho đi rất nhiều mà không cần người nhận trả bất kì khoản phí nào.

Mới đây, một cửa hàng đã thu hút sự chú ý của nhiều người khi ‘kinh doanh’ theo kiểu lạ lùng như vậy: 0 đồng, ai thiếu đến lấy, ai dư đến cho.


Nằm trên đường Lê Văn Sỹ, quận Phú Nhuận, cửa hàng này mở từ 6h đến 11h mỗi sáng từ thứ 2 đến thứ 7, buổi chiều vẫn đón khách nhưng không mở rộng rãi như lúc sáng

Mô hình cửa hàng 0 đồng được ông Nguyễn Viết Hợp (66 tuổi), Chủ tịch Hội giáo xứ Tân Sa Châu khởi tạo từ năm 2016, nhưng chỉ thật sự được ‘ăn nên làm ra’ từ tháng 5 đến nay.

Ít ai biết, tại nhà thờ này, còn có một mô hình 0 đồng khác còn lâu đời hơn cả cửa hàng trên, đó là bữa trưa 0 đồng cho người nghèo, đã duy trì được hơn 11 năm nay.

Khách đến dùng cơm đa phần người lao động nghèo, người vô gia cư, người già, người bệnh tật…



Mỗi người sẽ được nhận một phần ăn gồm canh, rau, thịt, trái cây mà không phải trả tiền. Nhiều trường hợp đau ốm còn được chuyển phần ăn đến tận nhà

Trong lúc quản lý bếp ăn này, quan sát thấy nhiều người ăn mặc rách rưới đến đây, ông Hợp nảy sinh mong muốn sẽ lo cho họ cái mặc tươm tất hơn, vậy là mô hình cửa hàng 0 đồng ra đời.

Cửa hàng 0 đồng sẽ kêu gọi, tiếp nhận các loại trang phục như áo, quần, giày dép, mũ, túi xách, ba lô… đã qua sử dụng từ mọi người, sau đó lựa chọn, phân loại và mở ra phát cho những ai thiếu thốn. 



Theo chia sẻ, mỗi ngày, nơi này nhận được 400-500 bộ quần áo, và ước tính có khoảng 100 người đến lấy



Số lượng đồ nhiều quá sẽ được đóng gói và chuyển về các tỉnh huyện vùng sâu, vùng xa


Nhiều người đến đây thường không tránh khỏi việc mắc cỡ, ngại ngùng nhưng thái độ tử tế, ân cần của những tình nguyện viên sau đó có thể giúp họ thấy thoải mái hơn


Tại đây, món đồ ‘đắt hàng’ nhất là áo khoác. Cửa hàng quy định, với những món đồ có số lượng ít như giày, gấu bông, mỗi người chỉ được lấy một cái. Còn với quần áo thông thường, có thể lấy tự do, không giới hạn số lượng và hoàn toàn không mất một đồng nào.

Khi được hỏi có sợ sẽ tồn tại lòng tham, không thiếu vẫn cứ lấy hoặc thiếu ít nhưng lấy nhiều không, ông Hiệp trả lời: ‘Lúc mới mở tôi cũng có nghĩ đến trường hợp này. Lòng tham thì chắc chắn là sẽ có nhưng tôi tin nó sẽ không nhiều. Miễn ai đến lấy, mình đều sẵn sàng cho đi. Bởi vì bên cạnh việc có thể giúp đỡ trực tiếp được nhu cầu ăn mặc của một số người khó khăn, quan trọng là mô hình này còn có thể lan rộng ra tinh thần bác ái nữa’.

Câu hỏi này cũng từng được đặt ra khi mới lập nên căn bếp nấu ra những bữa cơm 0 đồng 11 năm về trước. Tuy vậy, ông đã bỏ qua nỗi ‘lăn tăn’ kia khi ngẫm ra rằng: ‘Người ta chịu tới đây, tức người ta chịu mang cái mác nghèo rồi. Ai cũng có lòng tự ái, ai cũng có lòng tự trọng mà. Nên chỉ cần người ta tới, mình đều đón tiếp chu đáo hết’.


Cửa hàng 0 đồng này đóng vai trò như một cầu nối trung gian, giữa những người có thứ cần và những người có thứ muốn cho

Nhiều người lượm ve chai sẵn đường qua ngang thì ghé vào, xin chiếc mũ cũ đội lên đầu, để lại lời cảm ơn và rời đi về phía những ngã đường oi ả nắng trưa. Có nhiều bà mẹ bán vé số chạy xe đạp vào, mừng tủi vì lựa cho con mình một chiếc quần tây đẹp để dành cho ngày khai giảng sắp tới.

Cũng có ông chú xe ôm lạc quan hơn, lựa được chiếc quần jean xanh đậm thì khoe ‘cái này mặc đi đám cưới được lắm nè’. Hay cũng có những đứa trẻ đi bán hàng rong cùng mẹ, ngập ngừng nhìn một chú gấu bông trên bàn, lễ phép hỏi người lớn ‘cho con xin con này đem về chơi được không?’.




Những thứ đã ít nhiều cũ với người này, nhưng với người khác, vẫn là những cái mới, cái cần, cái giá trị. Thế mới thấy, không có gì là hoàn toàn vô dụng, là phải vứt đi, chỉ là nó chưa được để ở đúng nơi cần nó mà thôi.

Bên cạnh việc là ‘cửa hàng quần áo’ cho người nghèo, nơi này còn là địa chỉ thiện nguyện uy tín của nhiều nhà hảo tâm.



Họ có một nơi an tâm để gửi gắm những món đồ mình có, có thể trực tiếp chứng kiến những thứ mình đã bỏ ra mang đến niềm vui cho người khác thế nào.

Thảm họa diệt chủng cho dân tộc Việt Nam

co tau


Bài viết này rất sắc bén, rõ ràng và xác thực về sự thật đen tôi đang bổ sập xuống quê hương và cái thảm họa khốc liệt đang thành hình cho dân tộc VN và tai họa này sẽ tiếp tục diễn tiến một cách tàn khốc như đã được thấy tại Mãn châu và Nội Mông và đang diễn tiến tại Tây tạng và Tân cương.. Cửa sổ cho VN đẻ thoát khỏi cái thảm họa nô lệ diệt vong càng ngày càng thu nhỏ lại trừ phi người VN phải chấp nhận dấn thân, đớn đau và hy sinh ,vưọt trên nỗi sợ hãi và sự thờ ơ hèn nhát để cố phá bỏ cái cùm xích của Đảng cs Hà nội đang kẹp chói cả một dân tộc để dâng đưa vào cái cũi và lò sát sinh của Trung cộng Bài viết này ký tên bởi một người ở Hưng Yên ,dù tên thật hay tên giả, hiện sống tại VN hay ở ngoại quốc,thắc mác nếu có  không thành vấn đề.

 
Vấn đề chính là những dòng trong bài viết này là tiếng báo động và lời kêu gọi xuất phát từ một tấm lòng yêu thương đất nước và sót đau cho dân tộc Bài kêu gọi này thật thiết tha và chân thành sót đau cho quê hưong và đồng bào trước cái viễn tượng bi đát đất bị nước bị xóa bỏ và dân tộc bị tiêu diệt.


Vietnam  SOS !
Từ lâu, Trung Quốc đã thực hiện cuộc diệt chủng đối với các dân tộc nhỏ để giành đất cho người Hán.  Từ tháng 04.1975 tới cuối năm 1978, trên ba triệu người Campuchia đã bị hành quyết bằng cách đập vỡ sọ thông qua bàn tay Khmer đỏ.  Từ đấy loài người đã biết đến chính sách diệt chủng của Trung Quốc ở Campuchia, nhưng ít người biết rằng Trung Quốc đã thực hiên chính sách này đối với tất cả các dân tộc không phải người Hán..

I. Ở Việt Nam cuộc diệt chủng đang bước vào giai đoạn khốc liệt…

Lá cờ Trung Quốc có 5 ngôi sao, ngôi lớn nhất thuộc về người Hán, 4 ngôi sao nhỏ giành cho các dân tộc Mãn, Hồi, Mông, Tạng, là 4 sắc tộc lớn nhất trong số hơn 100 sắc tộc không phải người Hán sống ở Trung Quốc.  Chúng ta cùng nhau điểm lại, sau 67 năm dưới chế độ Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa, trong tổng số 1,400 triệu người, Trung Quốc còn lại bao nhiêu người Mãn, Hồi, Mông, Tạng?

1. Người Mãn đã từng lập ra triều Mãn Thanh, cai trị nước Trung Hoa gần 3 thế kỷ (từ 1644 – 1912).  Theo công bố của nhà nước Trung Quốc hiện nay còn 10.68 triệu người Mãn, nhưng thực tế con số thấp hơn nhiều, hầu như không còn ai nói tiếng Mãn hay có biểu hiện gì của sắc tộc này nữa.

2. Người “Hồi” bao gồm 18 dân tộc ở Tân Cương, khu tự trị lớn nhất của Trung Quốc với diện tích 1.6 triệu km², dân số 21.8 triệu người, trong đó một nửa là người Hán.  Người Duy Ngô Nhĩ là sắc dân chính tại đây chỉ còn lại 8.3 triệu người. (xem Tân Cương – Wikipedia).

3. Nội Mông là khu tự trị dành cho người gốc Mông cổ, từng lập ra triều đại Nguyên Mông cai trị nước Trung Hoa hai thế kỷ 13 và 14, có diện tích 1.183 triệu km² và dân số 24.7 triệu người.  Tuy nhiên người
gốc Mông Cổ chỉ còn lại 3.6 triệu, chiếm 14.7% dân số toàn Khu tự trị (xem Nội Mông – Wikipedia).

4. Người Tạng với nền văn hóa rực rỡ, sống ở Khu tự trị Tây Tạng có diện tích 1.25 triệu km², nhưng dân số chỉ còn 3.18 triệu người, trong đó một phần đáng kể đã là người Hán (xem Tây Tạng – Wikipedia). Tại các khu tự trị, thành phần dân tộc chính lại là người Hán… Hàng trăm triệu người Mãn, Hồi, Mông, Tạng đã bị hủy diệt bằng mọi cách.

II. Ở Việt Nam thảm họa diệt chủng đang đến nhưng rất ít người nhận ra điều này. Các thủ đoạn hủy diêt của Trung Quốc đã và đang diễn ra trên toàn cõi Việt Nam:

1. TQ hủy diệt châu thổ sông Cửu Long, nguồn lương thực và thực phẩm chính của cả nước.  Việc này chúng thực hiên bằng cách xây nhiều đập thủy điện ngăn sông Mê Kông, gây hạn hán và ngập mặn trầm trọng tại Đồng Bằng sông Cửu Long, đồng thời dùng rất nhiều thủ đoạn thâm độc như dựng nhiều nhà máy, thải hóa chất độc, thả ốc bươu vàng… nhằm phá hoại lúa, hoa màu và thủy sản trên toàn vùng đồng bằng sông Cửu Long (xem Google: Hạn hán và ngập mặn tại Đồng bằng Sông Cửu long).

2. TQ ngăn cấm ngư dân Việt Nam đánh bắt xa bờ, phá hủy hàng ngàn tàu đánh cá của ngư dân Việt.  Đổ khối lượng rất lớn chất độc dọc bờ Biển Đông để hủy diệt các hải sản ở biển và các vùng nuôi hải sản ven biển, đầu độc toàn bộ nguồn muối ăn của người Việt.  Các chất độc đã hủy diệt sự sống trên vùng biển hàng ngàn km2.  Với hàm lượng độc tố thấp hơn sẽ gây các bệnh rất nguy hiểm cho hệ thần kinh và thiểu năng trí tuệ cho nhiều thế hệ về sau (xem Bệnh Minamata – Wikipedia và xem
Google: Cá chết hàng loạt ở Việt Nam).

3. TQ hủy diệt các sông ngòi trên toàn bộ miền Trung thông qua hàng trăm đập thủy điện, khai thác bauxite, thương lái TQ bày trò mua chanh leo giá cao để nông dân Việt Nam phá hàng ngàn hecta cà phê, điều, hồ tiêu; Cung cấp máy xung điện và hóa chất để bắt giun đất và mua giun với giá cao để phá hủy đất trông trọt; Mua vét rong biển để triệt hạ vùng sinh thái của cá… nhằm phá hoại kinh tế người Việt (xem Google: thương lái Trung Quốc phá hoại kinh tế Việt Nam).

4. TQ xây nhiều đập phía thượng nguồn sông Hồng và sông Đà, làm suy kiệt sông Hồng từ nhiều năm.  Chuẩn bị đại dự án sông Hồng với 6 đập thủy điện mới, hủy diệt hoàn toàn hệ sinh thái Châu thổ sông Hồng (xem Google: Đại dự án Sông Hồng).

5. TQ xây dựng hàng ngàn nhà máy, hãng, xưởng trấn gĩữ các vị trí quân sự quan trọng, đồng thời thải hàng trăm ngàn tấn chất độc, hủy diệt khí quyển và các nguồn nước.  Trong khí thải các nhà máy ở Việt Nam với thiết bị Trung Quốc, hàm lượng các khí thải độc hại như CO, SO2, H2S, Hg… đều cao hơn từ 19 lần tới 125 lần hàm lượng cho phép.  Chất thải đổ xuống nước đã làm chết rất nhiều sông ngòi như Thị Nại, La Ngà, Bưởi, Nhiêu Lộc… và hàng ngàn km bờ biển (xem Google “Ô nhiễm môi trường ở Việt Nam“ (xem Google “Ô nhiễm môi trường tại Việt Nam”).

6. TQ tung thực phẩm, dược phẩm và hàng hóa độc hại cùng các hóa chất chế biến thực phẩm độc hại tràn ngập thị trường Việt Nam, đồng thời thương lái Trung Quốc mua vét các loại thực phẩm sạch để người Việt chỉ có thể sống bằng thực phẩm độc hại, suy yếu, ngu đần và chết dần vì bệnh tật.
Hiện nay số người Việt bị ung thư, nhũn não, đột quỵ và nhiều bệnh hiểm nghèo khác đã ở mức cao nhất thế giới (xem Google: Thực phẩm độc hại tràn lan tại Việt Nam). Từ năm 2017, nếu không kịp thời ngăn chặn, nạn đói, bệnh tật và nạn trôm cướp sẽ lan tràn khắp Việt Nam, xã hội sẽ trở nên hoàn toàn hỗn loạn.  Với danh nghĩa “cứu trợ” và “vãn hồi trật tự” hàng triệu “chí quân nguyện Trung Quốc” sẽ tràn ngập Việt Nam.

III. Sau khi chính thức bị sát nhập vào Trung Quốc năm 2020 (xem Google “Hội nghị Thành Đô”), dân tộc Việt Nam như cá nằm trên thớt, mức độ hủy diệt sẽ tàn bạo hơn nhiều.  Sau khi sát nhập, bộ đội và
công an VN cùng hàng chục triệu đàn ông ở tuổi lao động và con trai sẽ bị cưỡng bức tới những vùng biên cương xa xôi phía Bắc Trung Quốc, để vợ và con gái ở lại.  Điều này đã từng xẩy ra ở Tây Tạng từ năm 1959. Hàng chục triệu đàn ông TQ sẽ sang thế chỗ, lấy vợ và định cư ở VN. Sau 20 năm nữa con số 90 triệu người Việt liệu có còn tới 10 triệu như người Mãn hay tới 3 triệu như người Tây Tạng không? Trong số người sống sót có bao nhiêu triệu thanh thiếu niên bị thiểu năng trí tuệ do
cha mẹ ăn phải chất độc của Trung Quốc?

Thảm họa diệt chủng đã hiện ra trước mắt, không ai có thể cứu được dân tộc Việt Nam khỏi thảm họa này, nếu 90 triệu người Việt không tự cứu mình trước.

Mỗi người cần nhìn thấy cái chết đang đến với chính mình và con cháu mình, hãy chuyển tải thông tin này tới mọi người, mọi tờ báo, mọi phương tiện thông tin để mọi người cùng biết, cùng nhau đứng lên ngăn chặn thảm họa diệt chủng đã đến ngay trước mắt, để cả thế giới cùng biết và lên tiếng hỗ trợ chúng ta.

HÃY XIẾT CHẶT VÒNG TAY LỚN – VIỆT NAM MUÔN NĂM! TUYÊN TRUYỀN RỘNG RÃI VỀ THẢM HỌA DIỆT CHỦNG LÀ VIỆC TRỌNG YẾU VÀ HẾT SỨC CẤP BÁCH!

Trong số 90 triệu người Việt, mới chỉ rất ít người nhìn thấy thảm họa diệt chủng.

HÃY CÙNG NHAU LOAN TRUYỀN THẬT RỘNG RÃI ĐỂ MỌI NGƯỜI CÙNG BIẾT và LÀM THÀNH SỨC MẠNH CẢ DÂN TỘC, người lãnh đạo hiền tài sẽ xuất hiện và chúng ta sẽ thành công. Với những người chưa biết, đặc biệt trong công an, quân đội và đảng viên cộng sản, cần loan truyền cho họ biết.  Với những người đã biết nhưng chưa tin, nhiều người kiên trì giải thích họ sẽ tin. Có những người vì quá sợ hãi, đành chấp nhận MẤT NƯỚC, khi nhận ra THẢM HỌA DIỆT CHỦNG sẽ phải thức tỉnh.  Những kẻ cố ý bán rẻ đất nước và quyền lợi dân tộc chỉ là số ít, sẽ bị dẫm nát dưới sức mạnh cả dân
tộc.

Mong mỗi Quý Vị hãy chuyển tiếp bài này tới nhiều người khác. Nếu mỗi người chuyển thông tin tới 10 người, từ 10 người tới 100 người, tiếp tục 5 bước như vậy sẽ có hàng chục triệu người nhận ra sự thật và thảm họa diệt chủng sẽ bị ngăn chặn.  Dân tộc Việt Nam sẽ đời đời nhớ ơn tất cả các bạn đã góp phần truyền bá thông tin về thảm họa khủng khiếp này, góp phần cho tổ quốc và dân tộc mãi mãi trường tồn.

Không thể hy vọng Nhà nước VN bảo vệ đất nước và chống TQ. Tại Hội nghị Thành Đô 1990, chính lãnh đạo CSVN đã ký kết dâng Việt Nam cho Trung Quốc để bảo vệ cho Đảng CSVN(xem Google “Hội nghị Thành Đô”), sau khi nhân dân các nước cộng sản Đông Âu đồng loạt nổi dậy lật đổ chế độ CS cuối năm 1989 (xem “Sự sụp đổ Liên xô và Đông Âu – Wikipedia”).

Hiện nay công an và quân đội chỉ còn là công cụ đàn áp nhân dân và dọn đường cho quân xâm lược.  Thời Bắc thuộc tuy mất nước nhưng còn dân tộc nên nhân dân ta đã giành lại đất nước năm 905.  Hiện nay TQ vừa chiếm đất vừa diệt chủng, nếu không giữ được đất nước, dân tộc Việt Nam sẽ bị diệt vong.  Nạn nhân tiếp theo sẽ là các dân tộc Lào, Campuchia, Thái Lan cùng toàn vùng Đông Nam Á.
THỜI GIAN KHÔNG CÒN NHIỀU NỮA.  Theo hiệp định bán nước Thành Đô 1990, Việt Nam sẽ bị sát nhập vào Trung Quốc năm 2020…

Khi nạn đói, bệnh tật hoành hành và quân Trung Quốc tràn ngập lãnh thổ, mọi việc sẽ trở nên vô cùng khó khăn.

CẦN HÀNH ĐÔNG NGAY TRƯỚC KHI QUÁ MUỘN.  TUYÊN TRUYỀN SỰ THẬT để NGĂN CHĂN NẠN DIÊT CHỦNG LÀ NGHĨA VỤ CỦA MỖI NGƯỜI ĐỐI VỚI ĐẤT NƯỚC và DÂN TIC!

Để góp phần ngăn chặn thảm họa diệt chủng cho dân tộc Việt Nam, các bạn hãy chia sẻ tin này cho các bạn bè để mọi người cùng đọc.

 
Sưu tầm…..

Cái Tôi và Cái Tôi Thuộc Về Mình

    Võ Công Liêm

vode - untitle by VCL

Tranh Võ Công Liêm

   Đó là bản thể tự tại. Một bản thể thuộc duy tâm, một cá thể có tính riêng biệt. Mà phải có chất liệu đó; thời tất mới xác nhận con người ở giữa đời này. Không có cái tôi không hiện hữu được với đời: cái tôi là danh xưng, cái tôi chỉ định từ, cái tôi nói lên ngã vị, cái tôi độc quyền. Con người là một sinh vật có tri giác, có ‘cái tôi’ trong đó. Nhưng cái tôi như nhiên khác với cái tôi của tôi (vị ngã/its ego). Cái tôi và cái tôi thuộc về mình (The Ego And The Id). Nghe như không ổn! Bởi; câu hỏi đó đã nói lên cái bản ngã bào chữa, chứa đựng một nội tại chối bỏ và thừa nhận. Vì nó có cái ‘le moi /the ego’ che lấp và cái tôi tự nhận. Một triệu chứng nằm trong não thức thần kinh của sự lý che chở những gì trong ta và tùy thuộc vào ta (trong The Neuro-Psychoses of Defence của Freud). Cho nên chi ai cũng có cái tôi đáng qúy và cái tôi đáng ghét. Đó là lối xử thế của con người trước mọi hoàn cảnh, trước mọi sự kiện tùy theo từng đối tượng trong xã hội, chính trị hay văn hóa. Không ai nói rằng tôi không có cái tôi. Không có cái tôi thì gọi cái gì, con gì đây? Con vật có tên: tên chó, tên mèo, tên voi, tên cọp, chiếc xe, cái dao, cái kéo, đôi đũa…dẫu là vô tri nhưng vẫn có danh xưng cho cái tên của nó. Dễ thường thì đặc cho nó cái tên để gọi (The Id) đó là cái tôi xác nhận, còn cái tôi đáng ghét thì gọi là cái tôi tâm lý gần như một cái tôi vô thức –Super-ego is a psychoanalysis that part of the psyche which is critical of the self or ego and enforces moral standard at an unconscious…Nhìn chung cái tôi có cái chất riêng của nó trong đó. Nó thường trực với ta để xác nhận ta đang hiện hữu. Ngoại trừ nhắm mắt thì không còn cái tôi quấn quít hay giải thoát (enlightenment) được thì không còn cái tôi đeo đuổi tức là vô-ngã. Sự cớ đó là một đấu tranh triền miên giữa ngã thức (egotism) và vô ngã thức (unself-conscious) không sao dứt được. Chúng ta đã có một thể thức tạo nên ý tưởng trong mỗi cá thể, cái đó gọi là có dính dáng trong cơ cấu tổ chức thuộc tiến trình tâm thức; gọi là cái ‘của nó /ego’. Một cái tôi ý thức gắn liền nhau, một cái tôi kiểm soát để đưa tới một chuyển động –We have formed the idea that in each individual there is a coherent organization of mental processes; and we call this his ego. It is to this ego that consciousness is attached, the ego controls the approaches to motility. Không phải đơn phương cái tôi nói lên cái chính mình mà có cái gì đó thuộc về mình (kể cả cái tôi quá khứ) .Vì vậy những người nặng lòng với cái tôi thường sinh ra chứng tâm thần. Tại sao? Bởi; cái tôi lồng lộng, chiếm cứ không chịu thoát để đi tới vô ngã. Vô ngã là hành vi đứng sau của nhận thức mà mỗi khi nói tới cái tôi thì cái tôi biến dạng từ ý thức (conscious) đến vô ý thức (unconscious) không còn phân biệt giữa chủ thể và khách thể mà chỉ thấy cái tôi lồ lộ; cái tôi biến dạng, mất bóng mù tăm (to slip away) là không hiện hữu giữa trần đời. Cái tôi ít khi có một trí tuệ phán xét (mind) đâu hữu và vô hữu do trí tuệ điều động, ngược lại đó là tri thức chủ thể đưa tới những lý lẽ không hợp thời trang mà trở nên ngu xuẩn. Cũng có thể do từ sự diễn tả của mơ mà tạo thành cái mơ chủ thể (The Interpretation of Dreams) trong cái tôi (ego) này không còn trong vùng siêu ngã (super-ego) mà nó rơi vào trạng huống của tâm lý siêu hình (metapsychological). Trong tất cả những gì ở đây đều là mối tương quan gần gũi của chức năng tâm thần và chức năng thiết kế; điều mà không thể tránh được cho một tư duy trong sáng của cái tôi. Một hình ảnh về trí tuệ như thể bao gồm hai sự lý giao thoa, chia chát lẫn nhau; nghĩa là một đằng chế ngự được và một đằng bị ức chế nào khác –to a picture of the mind as including two portions, one repressed and the other repressing. Trường hợp này nó nằm trong vùng sâu lắng (hypo) của một lý thuyết giả định (hypothesis) mà thôi; chớ chưa chắc chắn để giải bày sự kiện mà chỉ cung cấp như một cơ bản để có một suy lý chứng minh. Ở vị trí này cái tôi nằm trong vô thức và ức chế một phần của hữu thức cái tôi. Thí dụ: nhà văn nọ sanh ra một tác phẩm đầu tay thì nghĩ rằng mọi người có một tư duy thuộc về mình, tất giống ý mình hoặc cho đây là lý lẽ về cái tôi của mình. Cái tôi mang nặng chủ đề (motif) dù chủ đề không ăn nhập với nội dung thì cái đó gọi là cái tôi chuộng ngợi ca còn trình bày cái vỏ là thuộc về cái tôi khoe tài năng. Thế là cái tôi chưa chịu thoát cho một nội tại chất chứa bản năng của vị ngã. Rồi vòng vo tam quốc như con cá mắt cạn. Mắt cạn vì cá có cái tôi vùng vẫy để sống còn. Bản ngã dày vò vì cái tôi khống chế đành đưa cái tôi hình thức và cái tôi tự xưng để chứng minh cái tôi thuộc về mình mà quên đi nồng cốt của tác phẩm; thậm chí phải mượn lời đề bạt (trường hợp này một số thi nhân thường hay xử dụng tương tợ) nghĩa là nêu lên cái tôi chứng tỏ. Cái tôi này là cái tôi vô thức đứng trước cái tôi hữu thức. Lý về giá trị thì cái tôi chủ quan đánh hạ cái tôi khách quan đó là những cái tôi đưa tới cái tôi ngu xuẩn. Thành ra; cái tôi làm cho người ta lâm vào hoàn cảnh thuộc bệnh tâm thần (mental-illness) mà không hay. Thí dụ khác: nhà thơ Z. sáng tác là nhắm hướng vào cái tôi chủ quan hơn là cái tôi siêu thoát ‘chất thơ’. Nhưng quên đi những khi xuất thần thành thơ là ở một tinh thần chao đảo giữa hữu thức và vô thức của trạng huống tâm thần (mental); vì vậy mà có những câu thơ, lời thơ tối nghĩa, âm u (hay dụng tâm tạo hiện tượng thơ?) nhưng cái tôi duy lý vẫn cho đó là ý thơ siêu thoát mà không thấy bản thể suy đồi của tâm lý vị ngã trong thơ /văn. Đấy là triệu chứng thường tình của con người đang sống giữa đời. Chúng ta chỉ đơn cử để tìm thấy vai trò người sáng tác luôn luôn mang nặng tâm tư của cái tôi; ngay cả cảnh vật thiên nhiên, tình yêu, phiếm đàm đều chứa đặc chất của cái tôi; dẫu có mượn ngôi thứ ba thay cho ngôi thứ nhất là ‘tôi’. Một cái tôi chủ thể trong đó hay cái tôi điều động đều có cái tôi sở hữu chủ (The Id property) thay mặt để nói cái tôi tiềm ẩn. Đứng ngoài lãnh vực này mọi thứ, mọi lối trong cuộc sống đều chất chứa cái tôi. Đôi khi phải chấp nhận cái tôi hữu lý và cái tôi phi lý. Sao lại đưa hai cái tôi siêu hình vô đây? Cái tôi hữu lý là cái tôi bảo vệ sống còn. Cái tôi phi lý; theo khoa phân tâm học cho đó là siêu ngã (super-ego) là ngoài vòng cương tỏa của lý trí. Vậy lấy cái gì xóa bỏ cái tôi trong đó? -tức là phân định được hai đường lối của cái tôi. Một cái tôi như nhiên (tự có / itself) và một cái tôi siêu ngã (super-ego). Nếu một trong hai cái tôi mà loại ra được thì đi tới chân không của cái tôi. Cái tôi biến hóa để không còn thấy cái tôi cho dù những thứ gì thuộc về mình đều trở thành vô ngã. Đạt tới vô ngã là đạt tới hư vô tánh không. Từ chỗ đó cho ta một nhận thức về diệt-ngã. Diệt ngã là tâm thức tuyệt đối, mọi chuyện coi như không, không còn thấy mình giữa vũ trụ của Ngã. Xin đừng đặc vấn đề quá nặng, càng nói nhiều càng chấp ngã, càng chấp ngã là để ý đến cái tôi (self / le moi) tức là hướng tới cái của mình (selfish) quên cái của người khác. Duy thức học (thức Mạt-Na thứ bảy) cho đó là một tâm thức có bản chất so đo, thương ghét, tính toán thiệt hơn, chấp trược vì quá ích kỷ, chấp ngã không bao giờ ý thức trước tư duy và hành động. Dù có tôi hay không có tôi đều là Không-Sắc; đòi hỏi duy nhất của cái tôi là quên mình thời cái tôi tồn lại, tồn lưu nhân thế. Chớ cứ trông ngóng người đời nhìn tới cái tôi của mình thì khác gì ‘ông ơi tôi ở bụi này’. Vì đó là cái tôi háo danh, cái tôi khoe khoan chớ chất lượng thì hoàn toàn trống. Cái tôi đi tới vô úy là cái tôi chứng thực. Lục Tổ Huệ Năng nói: “Đừng bám vào mà để lòng vào” (Ứng vô sở trụ nhi sinh kỳ tâm) Tợ như đừng đưa cái tôi vào mà để tâm vào thì cái tôi mới thanh cao diệu vợi. Thế nhưng họ vẫn đeo đuổi cái tôi ảo vọng đó hoặc đem cái tôi trù dập vì sợ cái tôi khác lấn áp cái tôi của mình; vì vậy mà cái tôi hoành hành, dày xéo, réo rắt tâm can để làm sao cái tôi của mình sống còn trước đối tượng tha nhân. Vì cái tôi mà hỏa mù tâm trí mỗi khi làm thơ văn một cách vô tội vạ, thậm chí mượn lời bình để chứng minh cái tôi hạn hữu đó.

Vậy thì làm sao tiêu diệt cái tôi? Hỏi cái này là tréo cẳng ngỗng. Làm sao mà tiêu diệt được; vì ai cũng có cái tôi hiện hữu (như đã nói ở trên) là cái tôi chỉ định, cái tôi độc quyền, cái tôi thay thế. Sáng mở mắt dậy là cái tôi dậy theo là vấn đề giữa bản thể duy lý: tôi phải đi đái, tôi phải rửa mặt, tôi phải ăn; tôi phải, tôi phải…là cái tôi sinh lý hữu cơ không thể chối bỏ, còn cái tôi trong người là cái tôi ý thức. Không thể đem cái tôi này bỏ qua cái tôi kia. Định nghĩa như thế là không nhận ra ngã vị ở chính mình mà do lý trí sai khiến biến thành nạn nhân ‘inmate’ không chừng. Nó không phải là bệnh lý để điều trị mà điều trị bằng cách tiêu diệt một bản ngã tự tại, nghĩa là có ngã nhưng không có ngã vị. Khó để thực hiện rốt ráo cho một cái tôi đúng đắng là không vị kỷ, vị ngã mà vô ngã là để đi vào thực tướng của một con người thực. Cái tôi không bao giờ sáng tỏ mà chứa một cái tôi tiềm ẩn. Phật giáo không nói cái tôi để diệt mà dùng một ngữ ngôn thâm hậu là: ‘ngã mạn / ego’ là diệt chớ không nói ‘tôi/moi/self/itself’. Bởi; cái tôi đó không thể tiêu diệt được. Ngã-mạn là nói lên cái tốt, cái thiện (good) và cái xấu xa, cái ác (evil). Hai sự cớ này là ở cõi ngoài, cõi hư vô (beyond); cõi đó là cõi của lương tri (trong tư tưởng Nietzsche), một cái gì vọng động ở nơi con người, một ý thức mới trong tư tưởng của dục vọng. Triết học Phật giáo có một chiều sâu của tâm-sinh-lý đưa con người hướng tới cõi thiện. Tâm lý là của Tâm và sinh lý là của Dục; hiểu được chân lý đó tức thực hiện được cái Ngã Mạn của Phật tính. Sao lại đưa thuyết nhà Phật vào đây? Có thế mới đi tới chân-như-nhiên. Là; quên mình, quên tất cả để đạt tới chân lý tối thượng thừa của cái tôi. Một cái tôi đa tạp và một cái tôi khoan lượng đều dựa vào hữu thức và vô thức từ con người mà ra. Mà phải dùng Tâm để điều trị cái tôi. Phật giáo gọi: ‘Ta Không Phải Ta / Itself Non Self / Le Moi Non Moi’. Rứa Ta ở nơi mô? -Ta là Ngã là chấp ngã tức cái ta mê loạn, háo danh, háo vọng còn tranh chấp thiệt hơn. Cái tôi đã ngự trị vào hồn khí rồi đó! (cho tới thất thập, bát thập cái tôi còn tồn lại là chưa diệt thời tất phải khốn khổ, không chừng đi tới nghiệp báo luân hồi. Phật chủ trương ‘vô thường’ và ‘vô ngã’ là ở chỗ đó. Bởi; cái tôi không nhận ra cái lý như nhiên vũ trụ là còn vì cái tôi. Nhận ra được lý như nhiên vũ trụ là tỉnh với cái tôi. Thí dụ: Người đàn bà nổi cơn ghen vì bảo vệ cái tôi thua thiệt, cái tôi mất mát, cái tôi tồn lại, cái tôi ức chế…những thứ tôi đó vây quanh cho nên u-mê không phân định giữa Có và Không. Rứa cho nên đưa tới quẩn trí, loạn thần. Đó là cái tôi ngu xuẩn. chớ không phải cái tôi sáng suốt. Kiều không ghen; tức Nguyễn Du diệt được ngã vị không còn cái tôi chiếm cứ. Dù rằng Nguyễn Du mượn lời thay ý tất nói cái tôi nhưng không thấy cái tôi trong đó. Chấp ngã nhưng phá chấp. Đấy là nghĩa lý cái tôi để trở thành cái tôi siêu ngã (super-ego). Thế nhưng; chúng ta phải canh chừng về cái sự ngu xuẩn lơ láo đó mà coi đây là chức năng cá tính vì đó là cái tôi sở hữu chủ của ý thức hoặc không là một trong những phương kế cuối cùng, một ngọn đuốc soi đường dẫn lối từ bóng tối đi ra của một tâm lý chìm lắng trong ta –Neverthelesss we must beware of ignoring this characteristic, for property of being conscious or not is in the last resort our one beacon-light in the darkness of depth-psychology. Cho nên trong cái tôi tồn lại là do tự tánh mà ra. Nói vòng vo; cái tôi chủ quan, cái tôi mù lòa, cái tôi hờ hửng, cái tôi chiếm cứ, cái tôi a-dzua, a tòng , cái tôi đạp đuôi, cái tôi phất cờ theo gió, cái tôi hùm-bà-lằn…là những cái tôi phí phạm, vị ngã chỉ nói cái của mình, một cái tôi sở hữu chủ chỉ biết mình mà quên đi đối tượng tha nhân. Cuối cùng rồi cái tôi vẫn chiếm cứ. Một thứ chiếm cứ bệnh hoạn tìm thấy từ thể chất đến tinh thần nó đi thẳng vào người một cách trực tiếp, hữu ích của chúng ta, cũng không màng tới gán ép nào khác. –Pathological research has directed our interest too exclusively to the repressed. Đó là những gì chúng ta thu nhận được về cái tôi thời ít nhiều cho ta biết được cái tôi có thể xuất xứ từ vô thức trong cảm thức đích thực của điều muốn nói ra (word).Giờ chúng ta nhận thức được cái tôi là cố định và bùng dậy trong ý thức. Điều mà chúng ta cho rằng ý thức về cái tôi là một thiết bị cho bề mặt của tâm thần, sự cớ đó chúng ta qui vào như một chức năng có hệ thống của cõi ngoài ý thức là những gì phát sinh ra từ đó.Trong bất cứ hoàn cảnh nào, thời nào từ ngàn xưa cho tới nay nhu cầu của cái tôi hiện diện trực tiếp khi mới chào đời và đi vào giòng đời (hiện tại, quá khứ, vị lai) đều chất chứa và tàn ẩn cái tôi. Cái tôi bao hàm, cái tôi chứng thực đều là cái tôi. Nó trở thành lý thuyết (về cái tôi) của mọi thứ (The Theory of Everything). Như đã chứng minh cụ thể vấn đề.

Đấy là vấn đề không bắt nguồn có hay không có ngã vị mà coi như hướng tới một hệ thống, một khái niệm về vô thức mà những điều lệ đó có thích nghi và hòa hợp hay không cái đã. Trong cấu trúc của trí tuệ là những gì xẩy ra trong sáng nhưng tự thức xâm lấn để đưa cái tôi vào; một cách thức khác của vô thức đã có sẳn cái tôi chiếm cứ. Và; sự cớ đó bắt đầu hiện ra những gì của cái tôi mà chính tự nó như dự phần để tỏ rõ một thứ vô thức. Vậy thì nó có đôi phần rõ ràng, gần giống như chú ý tới cái sự vô thức và như thể là quan tâm tới cái tôi –It had thus become apparent that, alike as regards ‘the unconscious’ and as regards ‘the ego’. Là; cốt xây dựng lên ở đó một thiết kế về hình ảnh của trí tuệ. Thiệt ra; sự tương quan của ngoại giới /external là một cảm nhận từ tri giác đưa tới cái tôi có chứng cớ rõ ràng, đó là những gì của bản thể nội tại /internal là một cảm nhận từ tri giác đưa tới cái tôi đòi hỏi đặc biệt. Tri giác nội tạng là thừa nhận một tiến trình cảm xúc bùng lên trong hầu hết biến đổi khác nhau chắc chắn trong đó chứa đựng một vị trí bệnh trạng tâm thần mà chửa trị được là một tu chứng.Trường hợp này có từ nguồn đầu, có từ những nhân tố cơ bản hơn những gì bừng dậy từ tri giác của một tạng thể xuất phát; cái tôi thừa cơ hội để bung ra dù cho ý thức lúc đó bị hoả mù. Đó là bản thể tự tại. Một bản thể khốn đốn, một căn bệnh trầm thống vô phương cứu chửa, nó nằm lì trong vũng tối tâm hồn, há hốc mồm cười ngạo nghễ trên tinh thần của đời người. Cái tôi chiếm cứ để thóa mạ đời là cái tôi gian ác. Cái tôi đau xót, bi thương là cái tôi nhân ái. Hai thứ đó là hai chiến tuyến, bởi; bên nào cũng nói lên cái của mình, một thứ hợp lý quả quyết, mọi thứ là lý thuyết thời làm sao ‘ta không phải ta’? Có chăng chỉ là ngụy ngôn che lấp giả dối bên trong. Một cái tôi trở nên truyền thống, nó tồn trử trong huyết lệ, nó đâm chồi nẩy lộc trong tế bào âm dương để sản sinh những đứa con bẩm sinh cái tôi hơn những cái tôi vốn có. Tỵ hiềm, hơn thua, trù dập, củi đậu nấu hạt đậu là bệnh lý tâm thần; đưa tới một ‘inmate’ trong hồn người, do đó; đứng trước cái tôi của một ‘external’ không thể hoà nhập với cái tôi ‘internal’. Cả hai vị trí đó nó có một sự cần thiết khác nhau. Mà đó là chọn lựa thuộc về trí năng, tức tiêu diệt ngã để đi tới vô ngã. Thực ra; đây chỉ là phạm trù đạo đức, luân lý, thứ giáo điều không thể ngăn chận cái bản ngã tự ti mặc cảm trong con người. Cái tôi bất khuất là cái tôi chính đáng có chính nghĩa, còn lấy bất khuất để chứng tỏ thay cho một ẩn dụ, dự mưu thì đâu còn cái tôi bất khuất. Ngay cả việc kể công kể tội để chứng tỏ cái tôi thời đó là cái tôi nguy hiểm, hủ hóa, lạc hậu, vì; chưa đạt tới một trình độ nhận thức sâu xa: đâu tà, đâu chính mà do từ cái tôi bảo thủ sai khiến. Thứ nhất: là qui cách, tập quán thuộc bản chất của ‘phép vua thua lệ làng’ cho thấy hệ thống hóa của tầng lớp xã hội nuôi dưỡng mấy trăm năm vẫn là tồn lại. Thứ hai: là ‘gia truyền’ một căn bệnh thuộc tâm thức, không thể phủ nhận ngay cả khoa học ngày nay thừa nhận trạng huống đó có thể là tâm thần, có thể là não thức gây ra. Hai thứ gia vị này là độc dược tố nuôi nấng cho một bản chất cố hữu khó lòng tiêu diệt mà phải qua một quá trình huấn luyện tâm can; thanh lọc thứ siêu-vi-tôi từ thế hệ này sang thế hệ khác thì may ra chuyển hóa được cái tôi tự tại.

Sau khi thanh lọc cái sự tương quan giữa bên ngoài và bên trong của tri giác cảm nhận và một hệ thống cạn cợt giữa tôi chủ thể và tôi khách thể thời chúng ta chiết ra được ý nghĩa của cái tôi –After this clarifying of the relations between external and internal perception and the superficial [Sub.-Obj.]; we can go on to work out our idea of the ego. Nhưng nhớ cho; như đã tiếp thu, cái tôi cũng là một thứ vô thức –But; as we have learnt, the ego is also unconsciouss. Chớ đừng nghĩ chỉ có cái tôi duy nhất để được nói đến mà quên đi những điều khác, nó chứa cùng một thể chất; một tạng thể khó thực hiện.

Cho nên chi những gì chúng ta đề cập đến cái tôi là những gì thuộc cái tôi của chúng ta cho một đối đãi xử thế hết sức cần thiết và một đôi khi trở nên bị động (passively) trong cuộc đời. Một lý do khác; cái tôi trườn mặt là vì không biết đến và không thể kiểm soát được. Bởi cái lực đó do từ ‘external’ và ‘internal’ thu hút để cho cái tôi chao đảo lộng hành chiếm cứ, đưa cái tôi lạc lối mù tăm. Chớ cái tôi đâu phải bản chỉ đường nhắm vào mà đi. Cái tôi trở thành tàng hình, ẩn dụ, một cái tôi thuộc tính chất siêu hình (metaphysical). Cái tôi lộng hành; có thể là ‘tôi đó’ nhưng không phải là tôi đó, cho nên chi trước đối tượng của cái tôi cần phải cân nhắc, đắn đo suy xét mới nhận ra thực hư của cái tôi.

Rồi thế nào chúng ta cũng tìm thấy có hay không điều mà chúng ta có thể vạch ra dù dưới dạng thức nào của cái tôi, phát hiện từ viễn ảnh cho những mục đích hoặc đã mô tả hoặc là nhận biết. Giờ đây chúng ta hướng tới một cách riêng như tinh thần cái tôi thuộc về mình (psychical-Id) là sự cớ coi như không biết không hay để nhìn vào tất cả bề mặt của cái tôi; một cái tôi có hệ thống, Thể thức bề mặt của cái tôi, ít nhiều vốn đã phôi thai trong vòng quay để nhập vào tế bào trứng –Forms its [the ego’s] surface, more or less as the germinal disc rests upon the ovum; để hình thành trong đó cái ‘chất’ tôi. Nói rộng ra là nhiễm thể tính hay tiềm thức (tốt sinh tốt, xấu sinh xấu) nghĩa là cái tôi tốt xấu tùy thuộc vào [gene] hay [subc].

Còn nói về giữa cái tôi (ego) và cái tôi thuộc về mình (Id) tưởng là cách biệt nhưng mỗi đơn vị có một vai trò cách riêng của nó. Nói thế không có nghĩa cái tôi bỗng dưng tách ra từ những gì cái tôi thuộc về mình mà nó dự phần vào một sự hòa nhập trong đó. Thí dụ: Tôi chủ nhân cái nhà (ego); cái nhà do tôi dựng ra, đứng tên chủ hộ, có sổ đỏ, có mộc và chữ ký đàng hoàng là thuộc về sở hữu của tôi (Id). Đấy là chứng tỏ sự kiện để nhận ra rằng cái tôi chủ thể, mà trong vai trò chủ thể đã là một sự thay đổi đôi phần giữa chủ thể và tha thể; là một thế lực trực tiếp của thế giới bên ngoài xuyên vào trung tuyến tính của [Sub.-Obj.] trong cảm thức đó; nó có một sự mở rộng bề mặt của phân biệt (surface-differentiation). Đối với cái tôi; tri thức trình diễn một phần cái gì thuộc về cái tôi trong khi đó chứng thực của cái thuộc về tôi (Id) rơi vào trong một bản năng trực giác. Cái tôi được giới thiệu những gì có thể gọi là lý do chính đáng và cùng một cảm thức; trong khi đó cái tôi thuộc về tôi là một đối kháng, đối kháng để bảo vệ, duy trì, chất chứa cái tôi si mê. Nhiệm vụ quan trọng của cái tôi là tỏ rõ không còn nghi ngờ dữ kiện; đó là một sự kiểm soát bình thường hướng tới một tác động để đi vào cái tôi thường trực. Cho nên chi cái tôi chủ động trong mọi lãnh vực văn hóa, chính trị. Hai bộ phận này thường biểu lộ cái tôi hùng tráng như vừa chứng tỏ như vừa thách thức. Người làm văn hóa cho tư duy là lý luận chính đáng, viết bằng cái tôi chứng thực. Người làm chính trị hay quân sự cầm chắc cái tôi chinh phục, tự hào. Do đó cái tôi thuộc về cái tôi của mình (Id) không còn thấy hiện diện ở cái tôi (ego) tự nó, một cái tôi gián tiếp nói về mình.

Cái tôi là hàng đầu và trên tất cả, một cái tôi riêng mình ta / body-ego; một cái tôi không những chỉ là bề mặt thực thể cho tồn lại, nhưng tự nó là một dự phóng vào bề mặt của nó –The ego is first and foremost a bodily ego; it is not merely a surface entity, but is itself the projection of a surface (S.Freud). Thực ra đây là mối dây liên đới giữa thân và xác kết cấu trong một ý thức (cái tôi) để chứng tỏ hơn là biểu lộ. Vì; chứng tỏ là nói cái tôi (ego), biểu lộ là nói cái thuộc về tôi (Id) là gia nhập vào trong đó để nhắc đi nhở lại ‘ta’ hiện hữu với cái tôi của ta; cũng chưa hẳn đó là vấn đề quan trọng nêu ra trong mạch nối để diễn tả mà đó là cảm thức tác động vào một đam mê thấp nhứt, vì rằng; tư duy nhỏ nhen đó chính là hành động của vô thức. Từ chỗ đó cái tôi lồng lộng, ngang tàn, phá phách, đòi hỏi cái tôi hiện diện với đời; đó là cái tôi chiếm cứ. Thế nhưng; chúng ta vẫn mong đợi ở một đỉnh cao trí tuệ trong bất cứ nhiệm vụ của tinh thần là chuỗi nối vào nhau trong một ý thức nhận biết về cái tôi; biến cái tôi hiện hữu để trở thành cái tôi như nhiên (hư không) là cái tôi quên mình mà là cái tôi phục vụ.

Đạt được yêu cầu đó tức bước đường đi vào vô-ngã-thức. Đấy là cán cân đo được giá trị của nó một cách dễ dàng và tìm thấy; cái tôi lúc đó sẽ hội nhập trong một ý thức bảo đảm và tin tưởng. Nếu ở đó cho chúng ta hồi cố những gì mà cái tôi hoạt động trong quá khứ, hiện tại hoặc tương lai là cốt để thanh lọc những cặn bã đã tác động vào cái tôi của mình ngay cả những gì thuộc về cái tôi. Nói vòng vo tam quốc, lý này lẽ nọ về cái tôi đó là mặt chủ quan nhưng dưới lăng kính khách quan chúng ta sẽ có thể nói rằng: không có cái gì cho là cái tôi thấp nhứt nhưng cũng chẳng có gì cho là cái tôi đỉnh cao; có thể đó là thứ vô-thức. Nếu sự thật cái tôi đáp ứng được nhu cầu cho một chứng thực cụ thể là những gì mà chúng ta khẳng định về ý thức cái tôi: thời tất đó là hàng đầu và trên tất cả cho một thân xác ngã vị. Tuy nhiên; ở đây không có nghĩa tổng hợp về cái tôi, nhưng; coi đây như một khám mới, ý thức mới cho dù phán xét để phê bình, bắt bẻ; tựu chung đều khơi dậy trong sự hướng tới cho một cảm thức vô thức phạm lỗi ‘unconscious sense of guilt’ mà thôi. Chớ khi thực hiện cái tôi người ta không thấy cái tôi trong đó mà cái tôi nằm dưới thể chất của hình thái khác; có thể là hợp lý và có thể là không hợp lý. Tất cả do từ một bản chất tự tại mà ra ./.

VÕ CÔNG LIÊM (ca.ab.yyc. TBV:14/3/2016 / nhuận sắc QRV: 16/7/2019)

SÁCH ĐỌC: ‘Conscious and Unconscious’ by Sigmund Freud. Tras. Joan Riviere. London The Hogarth Press and The Institue of Psycho-Analysis. 1962.

*Rút tiả qua những bài: Biên khảo,Nhận định,Tiểu luận,Phê bình của võcôngliêm khởi từ 2012 đến 2015 để thành hình bản văn này:

-Sigmund Freud (Bk) 2012 . -Freud Và Jung (Bk) 2012. -Ý thức Thức tỉnh (Tl) 2013. –Phê bình về Phân tâm học và Nghệ thuật (Nđ) 2014.

-Lý tưởng của Từng Cá tính (Bk) 2015. -Vấn đề của Tự thức (Tl) 2015 và một số tổng hợp khác của võcôngliêm đã biên soạn.

Những tác phẩm ghi trên hiện có ở một số báo mạng và giấy trong và ngoài nước hoặc email theo điạ chỉ đã ghi.

TRANH VẼ: ‘Vô đề / Untitled’ Khổ 15” X 20” Trên giấy cứng. Acrylics+House-paint+Mixed. Vcl# 772013

                             

 

 

 

 

 

1001 Kiêng Kỵ

Thư viện của bài

This gallery contains 1 photo.

CÁCH TÍNH TRÁNH SAO XẤU CHO TỪNG VIỆC
THEO TÍN NGƯỠNG DÂN GIAN
(Trích từ: 1001 KIÊNG KỴ TRONG TÍN NGƯỠNG DÂN GIAN
của Đặng Xuân Xuyến ; Nhà xuất bản Thanh Hóa ; 2010)

Các sao xấu là những sao đem lại sự xui xẻo, bất hạnh cho cuộc sống của con người mà con người luôn ở thế thụ động, bất khả kháng. Sự bất hạnh, xui xẻo đó không chừa bất kỳ ai trong gia đình, thậm chí còn ảnh hưởng tới cả dòng tộc. Vì thế, khi tiến hành các việc trọng đại, người ta thường tránh những ngày có các sao xấu hội tụ để cầu may, rước phúc cho con cháu sau này.

Dân gian phổ biến 3 cách tính tránh ngày xấu như sau:

 I. TÍNH SAO VẬN HÀNH THEO NGÀY CAN CHI:

Các sao xấu liệt kê dưới đây được tính vận hành theo ngày Can Chi trong các tháng cho từng công việc, cụ thể như sau:

1. Xấu cho mọi việc:

Những sao được liệt kê dưới đây là những sao xấu (hắc đạo), những hung tinh phá hoại, đem đến những rủi ro, bất trắc, trăm việc đều nên tránh.

Đó là các sao: Sát Chủ, Thụ Tử, Thiên Hình, Thiên Lao, Thiên Cương, Thiên Lại, Tiểu Hồng Sa, Đại Hao, Tiểu Hao, Hoang Vu, Nguyệt Yếm (Phá), Băng Tiêu, Ngọa Giải, Hà Khôi, Thổ Kỵ, Vãng Vong, Chu Tước, Bạch Hổ, Huyền Vũ, Câu Trần, Cô Thần, Quả Tú, Nguyệt Hư (Phá), Âm Thác, Nguyệt Hình (Phá), Sát Sư. Tiếp tục đọc

Vì Sao Hư Bộ Nhớ

Thư viện của bài

This gallery contains 1 photo.

BS. LƯƠNG LỄ HOÀNG

Nếu tưởng người già mới lẫn thì chưa đủ. Tình trạng sa sút trí nhớ đến độ “vừa nghe đã quên” của người trẻ từ lâu đã vượt xa mức báo động.

Ai chưa tin xin thử xem có bao nhiêu người nhớ nổi số… driver license ! Nhiều người quên tuốt luốt, quên giờ vào sở, quên luôn công việc, quên cả vợ con, đến độ sau giờ làm việc phải ngồi hàng giờ ở bàn nhậu để cố nhớ nẻo về nhà, thậm chí quên hết đến độ chỉ còn nhớ có mỗi ngày… lãnh lương!

Chuyện gì cũng có lý do. Bộ nhớ mau hư thường vì nạn nhân chính là thủ phạm do thiếu nhiều thứ cùng lúc lại thừa vài món trong cuộc sống thường ngày. Đó là:

* Thiếu ngủ: Không kể người lỡ chọn nghề trực đêm, thiếu ngủ vì thức quá khuya dường như là “mốt” của nhiều cư dân trong các thành phố. Kẹt một điểm là chất lượng của trí nhớ gắn liền với độsâu của giấc ngủ, theo kết quả nghiên cứu ở Đại học Schleiweg- Holstein. Nhưng nếu tưởng nhưthế chỉ cần dùng thuốc ngủ để ngủ cho được nhằm tăng cường trí nhớ thì lầm. Thuốc an thần tuy tạo được giấc ngủ nhưng não bộ đồng thời cũng mê một lèo khiến bộ nhớ quên luôn công việc. Tiếp tục đọc

Sức Mạnh Của Sự Im Lặng (Power Of Silence)

Thư viện của bài

Có những trường hợp sử dụng lý luận, vũ khí, trí tuệ cũng không bằng sử dụng sự im lặng.

Trong một hoàn cảnh ngặt nghèo nào đó, quí vị bị người ta hăm dọa thì cứ làm thinh, không phản ứng gì hết mà gương mặt rất bình thản, thản nhiên. Người ta thấy quí vị làm thinh, không nghe quí vị nói, hay bình luận, hay có ý kiến gì mà lại rất thản nhiên, họ sẽ hoang mang ngay.

Thậm chí, trong trường hợp một số người đang chạy tới để tấn công mình, quí vị cứ đứng đó, cứ làm thinh, họ sẽ thay đổi thái độ. Nhưng nếu quí vị chống cự, hay tỏ ra mình có vẻ đối phó thì họ tấn công thật.

Trong phim nói về tình sử Đại Đường có một câu chuyện tương tự. Có một ông đại đức ở xứ nọ phải lòng và yêu cô công chúa thứ 17 của vua Đường. Trong hoàn cảnh nào đó không rõ, ông đại đức giống như bị phạt phải ngồi trong một khu rừng có nhiều chó sói.

Ông ngồi nhắm mắt trong rừng cho đến qua đêm. Đêm đó, chó sói đến gần bao vây ông, dồn ông, ngửi ông, nhưng ông vẫn ngồi làm thinh, không cục cựa, không mở mắt, coi như mình không thấy chó sói, không cảm thấy trời thấy đất, không cảm thấy chính mình, không cảm thấy gì hết. Cuối cùng, bầy chó sói đó bỏ đi.

Thật vậy, nếu làm thinh trong trạng thái không thấy luôn cả mình thì tạo ra lực rất mạnh. Tiếp tục đọc

CHUYỆN TÌNH VÙNG U MINH 

Thư viện của bài

This gallery contains 2 photos.

Nguyên Lạc

CHUYỆN TÌNH VÙNG U MINH 
NAM BỘ QUÊ TÔI (II)

(hình hoa Sứ)

Phần II

CHUYỆN TÌNH 

SƠ LƯỢC CHUYỆN TÌNH VÙNG U MINH

Đây là bài thơ kể lại chuyện tình vùng U Minh nam bộ quê tôi, được gợi hứng từ truyện “Hương Rừng” nổi tiếng của nhà văn Sơn Nam. Xin tóm tắt chuyện như sau:
Di dân từ ngũ Quảng vào lập nghiệp vùng rừng U Minh. Ông Hương giáo có một người con gái duy nhất,  xinh đẹp mà ông rất thương yêu tên Hoàng Mai. Khi Hoàng Mai đến tuổi trăng tròn, hỡi ơi ông phát hiện nàng bị bệnh nan y: Cùi  (bệnh hủi hay bệnh Hansen)
Tìm trong gia phả thấy có ghi: – Luyện thuốc bằng “ngọc” ong mật có thể chữa bệnh cùi. Ông bèn thuê một chàng trai trẻ, làm nghề bắt ong mật đi tìm”ngọc”  để ông luyện thuốc cho con gái yêu. Ông Hương giáo mời chàng trai ở luôn trong nhà cho có bạn. Ngày đêm, ông chong hàng chục ngọn nến bạch lạp chung quanh mớ “ngọc” để luyện, hy vọng rằng khi đúng một ngàn ngày, nó sẽ trị được bịnh nan y của Hoàng Mai. 
Một hôm tại nhà ông Hương giáo, chàng trai gặp nàng, người con gái mỏng mảnh, liêu trai đứng tựa cây sứ cùi, mặt cạnh bên những đóa hoa trẳng nhìn chàng với ánh mắt đầy ân tình. Lòng đầy yêu thương, chàng đến đứng cạnh Hoàng Mai xin được cầm tay nàng.

[ – Anh nắm cái chéo tay áo này, em cũng đủ vui rồi. 
Cảm đông làm sao!…  Tiếp tục đọc

CHUYỆN TÌNH VÙNG U MINH

Thư viện của bài

This gallery contains 12 photos.

CHUYỆN TÌNH VÙNG U MINH
NAM BỘ QUÊ TÔI (I)

Phần I:

VÙNG U MINH 

BÀI THƠ, NHẠC VỀ RỪNG U MINH

Trước khi vào bài, mời các bạn đọc bài thơ và nghe bài nhạc phổ bài thơ này. Bài thơ liên quan đến vùng U Minh. Bài nhạc phổ thơ này theo cảm xúc riêng tôi rất hay, nhưng không biết sao nó không được phổ biến bằng các bài nhạc phổ thơ cùng thời, cùng nhạc sĩ Phạm Duy như bài: “Thà Như Giọt Mưa”, “Kỷ Vật Cho Em” “Chuyện Tình Buồn”… Chắc vì nó không đề cập đến thành phố, trường đại học, quán nhạc đèn vàng… mà chỉ nói về nơi chốn chân chất, quê mùa?
Rừng U Minh Ta Không Thấy Em 
[Thơ Nguyễn Tiến Cung]

Ta không thấy em từ bấy lâu nay
Mùa mưa làm rừng đước dâng đầy
Trên cao gió hát mây như tóc
Tràm đứng như em một dáng gầy

Ta không thấy em một lần đi
Nước phèn vàng nhuộm quần trây-di *
Đạn nổ lùng bùng trong nòng ướt
Tình đã xa rồi thôi nhớ chi

Mỗi con lạch là mỗi xót xa
Mỗi giòng sông là mỗi tuổi già
Thành phố đâu đây hình mất dạng
Cuộc chiến già nua theo tiếng ca…
……..
* Treillis: loại quần bằng vải khaki của quân đội, thường có hoa văn màu xanh thẫm để ngụy trang

Mời nghe nhạc:
Rừng U Minh Ta Không Thấy Em – nhạc Phạm Duy – Khánh Ly
https://youtu.be/Cd7H_ieM85k

RỪNG U MINH
Rừng U Minh nằm sát Vịnh Thái Lan, thuộc hai tỉnh Kiên Giang và tỉnh Cà Mau. Rừng U Minh là kiểu rừng rất đặc thù, được xếp hạng độc đáo và quý hiếm trên thế giới, gồm phần trên là U Minh Thượng, phần dưới là U Minh Hạ. Giữa U Minh Thượng và U Minh Hạ là sông Trẹm và sông Cái Tàu, nơi đây thiên nhiên rất hùng vĩ và hoang sơ.
Rừng U Minh được coi là nơi có giá trị sinh khối cao nhất so với các kiểu rừng khác với khoảng 250 loài thực vật, chủ yếu là cây tràm mọc ở khắp nơi, hơn 180 loài chim, hơn 20 loài bò sát… (Wikipedia) Tiếp tục đọc

Sức Khỏe

Một Toa thuốc hay cho tinh thần và thể xác

phuong-tim-37

I. Sức khỏe:

Tổ chức Y Tế Thế Giới (WHO) định nghĩa: “Sức khỏe là một tình trạng thoải mái hoàn toàn về thể chất và hoàn cảnh, chứ không phải là một tình trạng không có bệnh tật hay tàn tật”..

II. Bí quyết trường thọ:

1. Chấp nhận với những gì mình đang có
2. Thích nghi với hoàn cảnh của mình
3. Điều chỉnh để đạt được điều mong muốn.

III. Phòng ngừa bệnh tật:

1. Không vui quá hại tim
2. Không buồn quá hại phổi
3. Không tức quá hại gan
4. Không sợ quá hại thần kinh
5. Không suy nghĩ quá hại tỳ
6. Xua tan hoài niệm cay đắng bằng tha thứ và lãng quên
7. Với người cao tuổi tránh tranh luận hơn thua

IV. Thức ăn & uống trong ngày:

Một củ hành: chống ung thư
Một quả cà chua: chống tăng huyết áp
Một lát gừng: chống viêm nhiễm
Một củ khoai tây: chống sơ vữa động mạch
Một trái chuối: làm phấn chấn thần kinh, bớt lo âu, chống táo bón, giảm được béo
Một quả trứng hay ít thịt nạc: chống suy dinh dưỡng
Uống 1 đến 2 lít nước mỗi ngày: giải độc cơ thể.

V. Triết lý của người Trung Hoa hiện đại:

1. Một Trung Tâm là sức khỏe
2. Hai Tí: Một tí thoải mái – Một tí nhiệt tình
3. Ba Quên: Quên tuổi tác – Quên bệnh tật – Quên hận thù
4. Bốn Có: Có nhà ở – Có bạn đời – Có bạn tri âm – Có lòng vị tha.
5. Năm Phải: Phải vận động
Phải biết cười
Phải lịch sự hòa nhã
Phải biết nói chuyện và
Phải coi mình là người bình thường..

VI. Bảo Sinh Thái Ất Chân Nhân:

1. Ít nói năng để dưỡng Nội Khí
2. Kiêng sắc dục để dưỡng Tinh Khí
3. Bớt ăn hăng mạnh để dưỡng Huyết Khí
4. Đừng nhổ nước bọt để dưỡng Tạng Khí
5. Chớ giận hờn để dưỡng Can Khí
6. Chớ ăn quá độ để dưỡng Vị Khí
7. Ít lo lắng để dưỡng Tâm Khí
8. Tránh tà tâm để dưỡng Thần Khí.

VII. Hãy Dành Thì Giờ – Mẹ Thêrêsa Calcutta :

Hãy dành thì giờ để suy nghĩ Đó là nguồn sức mạnh.
Hãy dành thì giờ để cầu nguyện Đó là sức mạnh toàn năng.
Hãy dành thì giờ cất tiếng cười Đó là tiếng nhạc của tâm hồn.
Hãy dành thì giờ chơi đùa Đó là bí mật trẻ mãi không già.
Hãy dành thì giờ để yêu và được yêu Ưu tiên Thiên Chúa ban.
Hãy dành thì giờ để cho đi Một ngày quá ngắn để sống ích kỷ.
Hãy dành thì giờ đọc sách Đó là nguồn mạch minh triết.
Hãy dành thì giờ để thân thiện Đó là đường dẫn tới hạnh phúc.
Hãy dành thì giờ để làm việc Đó là giá của thành công.
Hãy dành thì giờ cho bác ái Đó là chìa khóa cửa thiên đàng

Sưu Tầm

XEM TRANH

  Võ Công Liêm                         

   Xem tranh cũng là nghệ thuật của thưởng lãm. Cái đó gọi là cách để xem –Ways of Seeing. Chớ xem tranh qua màu sắc, hình ảnh hay vì cái tên được đặc ra, và; nhiều lý do khác; thì đó không phải là nghệ thuật xem tranh mà đó là thị hiếu lôi cuốn để xem tranh. Trong tranh có nhạc và thơ, bất luận là hình tượng của trường phái (class) hội họa nào –tranh trở nên sống thực, bởi; trong tranh có thơ, trong thơ có họa mà mỗi khi nói đến họa và thơ thường nhắc đến thi nhân Vương Duy (701-761) đời Đường của Trung quốc. Nếu nhìn thấy (seeing) tranh là một liên kết của trở-về, là ‘back to the future’ của cái thời xa xưa đó.

Con mắt xem tranh ngày nay có thơ nhạc trong họa phẩm là con mắt đương đại; nó phải xa rời nhân thế mới dung thông với nghệ thuật, bằng không xem tranh chỉ là ‘dưỡng mục’ thì sự đó gọi là ‘chơi qua rồi bỏ’ hay xem chơi cho vui thì quả việc xem tranh không còn tính nghệ thuật giữa người vẽ và người xem. Rất nhiều nhà phê bình về hội họa cũng như âm nhạc đã nhận định về hai bộ môn này, cụ thể qua lời chứng minh hay giải thích một cách khách quan chủ nghĩa, nhưng; lại là vai trò chủ quan của việc nhận định (nói về mình nhiều hơn nói đến ‘hồn nghệ sĩ’). Nó không lý giải chiều sâu hay thâm cung bí sử của tác giả mà vòng vo như một cuộc tranh luận kiểu ‘trống đánh xuôi, kèn thổi ngược’ làm sai lệch vấn đề của nghệ thuật nói chung. Không còn tính triết lý của phê bình mà tợ hồ như lập lại lề thói cũ. Đó là bệnh lý của nghệ thuật và văn chương. Xem tranh phải có con mắt để nhìn thấy cũng như nghe nhạc phải có lỗ tai nghe. Xem dễ, nghe dễ là chuyện thông thường ngày nay, bởi; nó: ‘mua vui cũng được một vài trống canh’ (Kiều) không còn giá trị tuyệt đối cho nghệ thuật hội họa và âm nhạc. Vậy thì xem tranh bằng cách nào? -bố cục của họa phẩm: màu sắc, chất liệu đan kết vào nhau là tiếng nói của tác giả, dàn dựng vật thể qua dáng điệu (gesture) là biểu hiện hình hài và linh hồn của họa nhân. Cảm hứng là điều kiện thích nghi trong trạng huống chuyển động để lên-tranh như đã thấy một vài họa sĩ đặc tên tranh qua lời thơ.

Điều đáng nhớ giữa họa phẩm và họa sĩ nó có một dung thông đặc biệt hơn người thường; ở chỗ nhận thấy đến trước lời nói –Seeing comes before words, với trẻ con thấy để thừa nhận trước khi sự đó có thể nói được –The child looks and recognizes before it can speak. Nhưng; sự lý đó cũng là một cảm thức khác trong những gì nhận thấy đến trước hành động . Chúng ta có thể cho đó là thế giới ngữ ngôn của hội họa, nhưng; ngữ ngôn có thể không bao giờ giũ bỏ đi được; thực ra những gì trong đó đã bủa vây vào .Và; liên đới giữa những gì chúng ta nhìn thấy và những gì chúng ta nhận thức là không bao giờ an vị (settled) một cách chắc chắn. Họa nhân sống trong ‘mộng du’nhiều hơn là sống trong mộng tưởng. Cho nên chi tinh thần và thể xác của người nghệ sĩ nói chung bềnh bồng trong thế giới riêng tư của mình tìm thấy. Vì vậy; giữa chủ nhân họa phẩm và khách xem thường có một đối kháng (conflict) nhận thức lẫn nhau. Có điều người họa sĩ thích giấu hơn phơi ý nghĩa của mình tức không giải thích về chủ đề đã dựng thành hình. Hẳn nhiên; nhận biết (knowledge), giải thích (explanation) là không bao giờ hoàn toàn tương hợp và khó ăn khớp vào nhau mà đặc nó dưới một lăng kính khác biệt hơn. Thành ra phê bình hội họa không phải việc giản đơn mà phải sống vào đó mới nói lên được cái cốt tủy của hội hoạ; bằng không thì cứ việc xem tranh ‘tự do’ cho thỏa thích; còn tự do siêu thực của hội họa là thứ tự do không luật nó nằm ngoài vòng cương tỏa của trí tuệ. Họa sĩ siêu thực Magritte, René (1898-1967) ‘đã nhận định trên những gì luôn gặp gở ở đây có một khoảng hở giữa lời nói và nhận thấy trong tranh vẽ được gọi là bí quyết của mộng mơ’ –commented on this always-present gap between words and seeing in a painting called The Key of Dreams.

Chúng ta nhìn thấy sự vật là tác động mãnh liệt bởi những gì chúng ta biết hoặc là những gì chúng ta tin tưởng. Ở thời kỳ Trung Đại (Middle Ages) khi mà loài người tin trong một tâm lý hiện hữu (physical existence) về những gì của Điạ ngục là dấu hiệu để thấy lửa là có hướng (meant) cho một điều gì đó khác với đời nay là phương tiện (means). Lửa của điạ ngục là thiêu đốt, là tàn tro; lửa của hôm nay ngoài việc thắp sáng, nấu nướng là phương tiện, nhưng; nếu đụng tới lửa là đau đớn và cháy bỏng. Đó là lối nói tâm sinh lý và khoa học thực nghiệm như một nhận thức và nhận thấy (knowledge and seeing). Với hội họa lửa là nguồn sáng khơi dậy trong tâm thức để được sống lại từ tâm lý ‘năng nỗ’ hay còn gọi là đột hứng (spontaneous) hòa nhập bằng chất liệu thiết thực thì may ra nói được nhiệm vụ của lửa và phản ảnh tác động của lửa. Ngần đó cho người xem tranh có một nhận thức sâu xa để đánh giá cho một tác phẩm đạt tới đỉnh cao của nghệ thuật. Làm thơ trong họa được thời làm lửa trong tranh không phải là chuyện khó. Thí dụ: Trong ‘Guernica’của Picasso (1881-1973) sự tức giận của ngựa và nỗi đau của con người là điạ ngục trần gian; không màu không sắc mà là một quyết liệt dữ dội của họa nhân. Đó là lửa đã thiêu đốt chớ không còn là phương tiện như tâm lý nhận thấy. Hẳn nhiên đây là sự nhận thấy mà tất cả ý thức đó đến trước ngữ ngôn mỗi khi sáng tác, dĩ nhiên; có thể điều đó không bao giờ bao che một cách trọn vẹn; nó cũng chẳng phải vấn đề thuộc máy móc mà ảnh hưởng hay tác động vào sự kích thích cảm giác của họa nhân. Ngược lại chúng ta chỉ thấy những gì chúng ta thấy ở đó –We only see what we lơok at. Nhìn nó hay xem nó là một hành động chọn lựa –To look is an act of choice. Kết quả của xem tranh là kết quả của hành xử (act) thời những gì ta nhìn thấy đều mang lại cái tinh hoa bên trong mà chúng ta muốn đạt tới.

                   * Hình dưới (1): ‘Two Ovals (Composition No 218) 1919. Tranh của Wassily Kandinsky (1866-1944)

tranh vcl1.jpg

Vậy thì kết cấu hợp nhất của một bức tranh là góp vào đó nền tảng chủ lực của hình ảnh về nó; đó là lý do để tâm tới cho một bố cục của tranh. Nhưng; ở đây sự kết cấu là đã nghĩ tới, đó là cái của tự nó cho một cảm xúc để vẽ lên tranh. Hình ảnh đã hiện ra trong một tri giác nhận biết về nó là việc làm đầu tiên gợi lên ở đó một vài thứ đã vắng mặt. Bước tiến trình về nó để trở nên chứng cớ là hình ảnh có thể tồn tồn dài lâu (outlast) mà những gì về nó đã được diễn tả. Tranh hiện ra ở đó tất cả hình ảnh hoặc thể hiện qua con người; nó cô đọng trong đó một thực chất của vật thể mà họa nhân muốn bày tỏ và như vậy chủ đề của họa phẩm ít nhiều đã đến với người xem trong một lãnh hội để đi tới đả thông tư tưởng và cho vào đó một cảm nhận sâu sắc của bốn chiều trong một tác phẩm; đưa người xem thoát tục để trở về với hiện hữu sống thực. Sự cố này là kết quả gia tăng nhận thức của những gì có tính chất cá thể -This was the result of an increasing awareness of individuality, đồng thời dẫn độ một sự gia tăng ý thức về lịch sử (đặc biệt ở thời kì Phục Hưng (Ranaissance) để lại ở đó những dấu tích thời thượng). Trong cái hình ảnh trọng vọng đáng qúi này là có nhiều cái chính xác và phong phú hơn cả văn chương, thi tứ. Điều để nói ở đây là không có nghĩa từ nan hay phản đối cái sự diễn cảm dạt dào tình yêu chất chứa trong tranh, không nói nên lời nhưng phơi mở, bộc lộ một sự ẩn tàng trong từng ‘con màu’ như con chữ vậy; là những gì sản lượng của nghệ thuật. Đối xử nó một cách thiết thực như một tư liệu chứng cứ. Nhiều hình ảnh đan kết trong họa phẩm, có nhiều sự chìm lắng trong tư duy giữa người vẽ và người xem qua kinh nghiệm của họa nhân về những gì thấy được một cách tự nhiên –The more imaginative the work, the more frofoundly it allows us to share the artist’s experience of the visible. Hẳn nhiên mỗi khi hình ảnh hiện ra trong trí tức là nắm được chủ đề, bố cục và chất liệu là ‘hợp tố’ để thành hình tác phẩm. Tuy nhiên; dưới mắt người xem tranh có một thái độ và một cảm nhận đặc biệt ở nơi tranh -tranh tức là người-, bởi; họa nhân đã phản ảnh một vài cử chỉ tự hào về tác phẩm của mình làm nên một cách chủ quan. Đúng! Nhưng đừng ‘face talk’ kênh kiệu hay ngạo mạn với nghệ thuật. Nghệ thuật hội họa xưa nay có một sự im lặng lãng mạn và hào khí, nghĩa là đòi hỏi của sự im lặng tuyệt đối là vàng ngọc hơn lời nói; vì nói nhiều làm cho tranh mất giá là ở chỗ đó. Người họa sĩ cần có một tác phong đạo đức dù có ‘trần truồng’ đi chăng vẫn phải là. Nhưng phải nhìn thấy nó trong cái kênh kiệu, ngạo mạn là một thứ làm điệu (drama-queen) chứa ở đó cái bỡn cợt, thách đố vô nghĩa. Kỳ thực tùy vào từng đối tượng nhưng không thể kéo dài với trạng huống đó mà tùy thuộc vào cái vũ trụ như thể là / The world-as-it-is là hiện ra ở đây một thực chất của người nghệ sĩ đúng đắn. ‘as-it-is’ điều này rất hiếm đối với các họa nhân trên thế giới, gần như họ sống chết với nghệ thuật hơn những gì họ phô trương. Hình thể đó cọng-sản gọi là trí thức tiểu tư sản. Tư-bản gọi là trí thức sà-lồn (salon) hay ma đầu đều một nghĩa như nhau.Thí dụ: có những kẻ muốn ‘điên’ cho nghệ thuật như-nó-là chân chính thì sự đó gọi là ảo hóa, lấy vải thưa che mắt thánh không còn gọi là vị nghệ thuật. Hoàn toàn mất tính nghệ thuật mà chỉ là một sự hoàn tất trong hành động không dính tới hội họa. Vậy thì làm thế nào để nói lên ‘hồn nghệ sĩ’? Là người nghệ sĩ ‘không hóa’ như kiểu của Amedeo Modigliani (1884-1920). Không-hóa là gì? Là ‘the world-as-it-is’, là không pha chế, là không hóa chất, là nguyên trạng cái của nó là cõi riêng, nghĩa là: không có ta trong họa phẩm mà họa phẩm có ta dành cho đời…là đặc thù của hội họa. Nhưng phù hợp cách xử dụng về nó và đúng nguyên tắc cơ bản xã hội cái đó là cái cuối cùng nói lên sự nghiệp, nhưng nhớ cho, cái có đó không có nghĩa là trội hơn tất cả. Nghệ thuật là hình ảnh ảo hóa, nhìn thấy mông lung luôn luôn tồn lưu nằm trong lãnh vực riêng tư; căn nguyên ở đây duy trì, gìn giữ cái ma thuật hoặc sùng bái –The visual arts have always existed within a certain preserve; originally this preserve was magical or sacred. Nhưng cái điều đó nó cũng là khoa tâm lý gây ra từ mọi hoàn cảnh, mọi trạng huống cái sự đó đã làm nên tác phẩm. Trước là kinh nghiệm của nghệ thuật và sau là kinh nghiệm của bản chất. Định nghĩa cho rốt ráo: hình ảnh của nghệ thuật có một vài điều trở nên không dài lâu, tầm thường, siêu tưởng, dễ dàng, không có giá cho thứ tự do xa-xỉ-phẩm không điều kiện; để rồi biến hội họa vào cõi phù du.

                       Hình dưới (2): ‘Female nude and Smoker’ 1968 của P. Picasso. Dầu trên bố. Galerie Rosengart, Lucerne.

tranh vcl2

XEM TRANH KHỎA THÂN

Hội họa qua bao thế kỷ thường có khuynh hướng nhìn tới cái đẹp nhất là cái đẹp của phái nữ; đẹp từ bên ngoài tới bên trong một tâm lý phơi mở tột độ của người cầm cọ để nói lên: ‘Rõ ràng trong ngọc trắng ngà / Dày dày sẵn đúc một tòa thiên nhiên’ (Kiều) Hầu như đó là niềm ao ước để đạt tới sự nghiệp của hội họa mà trong đó lồng một triết lý nhân ái đồng thể (homogeneous) đồng thời diễn tả đường nét sắc bén qua cơ thể con người kể cả điêu khắc hay tạc tượng (anatomy). Đặc biệt ở đây chúng ta nói đến cái đẹp của đàn bà, bởi; xã hội thường nhìn vào đàn bà là một sự khác biệt trong một hiện thể của con người –a woman is different in kind from that of a man. Hiện diện của con người trên hành tinh này là tùy vào lời hứa hẹn của quyền năng mà quyền năng đó là hiện thân cho một ám thị tự tại nghĩa là trong đó có qủy ám (demons) và có tốt xấu (good and evil) trùm bọc trong con người đàn bà. Nếu không có Eve thời Adam thánh thiện.

Lý cái sự này có tính chất giáo điều làm lệch hướng của nghệ thuật. Nghệ thuật là thoát tục để đạt tới chân lý hiện thực không còn thấy tà dâm qủy ám mà nó trở thành cái lý đương nhiên mà tạo hóa dựng vào đó để làm đẹp con người. Cho nên chi Michelangelo di Lodovico (1475-1564) không còn nghi ngờ những gì là hình hài của con người mà hầu hết những nghệ sĩ của thời kỳ Sáng Phục Hưng (High-Renaissance) đã cho ông những sáng tạo về tranh cũng như điêu khắc, dựng vào đó một chân tướng tuyệt đỉnh (con người); những tác phẩm trần truồng tạo nên những tác phẩm ngoại hạng và lừng lẫy một thời được truyền lưu hơn 400 năm sau cái chết của ông. Cùng thời với Leonardo Da Vinci (1452-1519) qua bức tranh để đời ‘The Virgin of the Rocks’ (1508). Đấy là sự thật về ‘sắc đẹp’ của con người; thời tất chúng ta không thể cho đó là quá đáng hay quá ‘lõa thể’ mà phải nhìn vào nó như cái đẹp của hóa công…Người ta có thể giản đơn mà nói rằng: nam thì bộc phát (men act) và nữ thì lô liễu (women appear). Đàn ông thì nhìn vào đàn bà còn đàn bà là ngó, nhìn, ngắm (watch) ở chính thân mình và luôn luôn nhìn vào đó (being looked at). Đó là một xác định rõ ràng nhất, nó vừa tâm lý vừa sinh lý không những dành riêng cho phụ nữ để đi tới một sự quan hệ giữa đàn ông và đàn bà, nhưng; trong đó cũng có những quan hệ khác của đồng phái. Đàn ông, đàn bà đều có cái nhìn tương quan vào nhau. Hầu như mục tiêu đặc biệt về hình ảnh cho: một chợt thấy –and most particularly an object of vision: a sight (!) Chợt thấy để được gần nhau là ao ước được nhìn vào.

Như đã nói ở trên, sau Michelangelo tranh sơn dầu về đàn bà trần truồng đã là điểm chính, cho dù tái diễn trong cùng một chủ đề. Sự đó được khẳng định trần truồng (nude) là phơi trắng qua từng đường tơ kẽ tóc thời không có chi mà hổ-ngươi, thẹn thùng mà phải che, che đậy hay cả thẹn là không thực để mô tả và không thực ngay cả chính mình, vô hình chung mình tự dối mình. Nó không còn là quan điểm đơn phương để rồi xa rời nhân thế. Lõa thể là phơi mở cái sự hồn nhiên lộng lẫy trời ban cho là ở chỗ đó. Mà phải nhìn nhận họa nhân người đã dày công gầy dựng lại để trở nên đại lý sự vụ của Thượng đế -becomes the agent of God-. Nhớ cho vẽ trần truồng của những họa sĩ là chúng ta đã khám phá và tìm thấy một vài tiêu chỉ và luận bàn bởi những gì đã được nhìn thấy nơi đàn bà; đó là thị lực để ngắm nhìn của người họa sĩ và người xem tranh. Trần truồng đã có từ Adam và Eve, bởi; xui phải ăn trái cấm mới lấy đồ che thân; để rồi từ đó họ không bao giờ nhìn thấy nhau một cách ‘trong trắng’. Lõa thể đã tạo ra trong trí của người thích nhìn –Nakedness was created in the mind of the beholder. Quả thực; từ khi vấp phải đã đưa tới khát vọng nơi Adam một cách hoàn toàn tuyệt vọng. Eve cũng rơi vào trạng huống đó để đi tới ân hận bởi cám dỗ mà làm mất đi cái đẹp cả đời sau . Vì vậy; người đàn bà luôn luôn nhìn ở chính mình là thế và thừa nhận nó có một sự lôi cuốn vô hình mà người phải lụy tới nó. Và có thể làm sụp đổ cả ‘vạn lý trường thành’. Khởi từ đó người ta mới nhận ra cái đẹp thiên nhiên là cái gì qúy báu trời ban cho. Chúng ta phải giữ lấy!

                                             Hình dưới (3) ‘Nude on a blue cushion’(1917) Của Amedeo Modigliani .

tranh vcl3

Đấy là điều đáng ghi nhận khởi từ tiền Phục Hưng và hậu Phục Hưng đã có tranh, tượng khỏa thân mô tả những sống động khác nhau của người phụ nữ dưới cái nhìn khác nhau của người nghệ sĩ, không những thời kỳ rực rỡ được nói đến và kéo dài bao thế kỷ; hình ảnh đẹp của đàn bà vẫn không dừng lại mà phát huy qua những lăng kính khác nhau. Nghệ thuật tạt tượng của Ấn Độ, nghệ thuật khỏa thân ở Campuchia, nghệ thuật chạm khắc trên đá của Thổ (Persian), nghệ thuật   trần truồng trên gỗ của Phi châu và gần đây đã khám phá tượng hình lõa thể trên đá, đền đài ở Columbian Mỹ châu. Nói chung không ngoài mục đích phơi mở toàn thân của đàn bà. Trần truồng là không bao giờ chán nản, thờ ơ trong lối nhìn –nakedness is never supine in this way. Và nếu; nó là tập quán hay lề thói, thời chủ đề của tác phẩm là tình dục (sexual). Nó bày ra ở đây một hành động của dục tính tình yêu giữa hai người. Hành động đó như thu hút vào nhau.

Từ chỗ đó cho chúng ta bắt đầu nhìn thấy sự khác biệt giữa trần truồng (nakedness) và lõa thể (nude) trong những tác phẩm hội họa hay trên tượng. Tuy nhiên dưới hình thức nào đi chăng trần truồng hay lõa thể là hình thức của nghệ thuật –therfore; the nakedness or nude is a form of art. Chớ đừng cho đó là phàm phu tục tỉu, nếu cảm nhận như thế thì không còn là sự thật ở chính mình mà chính bản thân mình cũng thường hay xem xét ‘being looked at’ một cách kín đáo và âm thầm. Vậy thì nhìn vào là khát vọng. Thì hà cớ gì mà chối bỏ sự thật hiển nhiên như vậy. Cho dù dưới cách nào để nhìn-vào-khỏa-thân là không cần thiết để giới hạn bởi nghệ thuật. Ngày nay nó phơi trắng trên hình chụp, bích báo, trên sàn nhảy qua dáng dấp khêu gợi thể xác (nude gestures); thiết tưởng chuyện ‘ở lỗ’ là lề thói có từ lâu và tự nhiên, nhưng; để rồi phải che kín cho tới khi hợp thức hóa. Che là một đòi hỏi tâm lý giữa đàn bà và đàn ông (?).

Phân tích một cách tường tận theo phương hướng triết học để tìm thấy cái đích thực của trần truồng và lõa thể; cả hai cùng một nghĩa như nhau; nó không vướng đục, nó trong trắng, nó nguyên trinh, nó mới mẻ, bởi; nó là hành động chứng tỏ như một xác nhận củng cố và khơi dậy một cảm thức mãnh liệt để giải thoát một cách dịu dàng (sense of relief). Nàng là đàn bà như muôn triệu đàn bà khác, chàng là một đàn ông như tỷ thằng đàn ông khác: tất cả đã tràn ngập bởi ấn tượng kỳ diệu chung trong ‘hệ phái’, một dục tính hết sức máy móc (sexual mechanism) của cả đôi bên. Không đứt đọan giữa sự phơi mở đó. Trần truồng hay lõa thể đều là hành động của đòi hỏi. Nghệ sĩ đã bị ứ đọng và tràn ngập (overwhelmed) đành phải tháo gỡ dưới mắt trình bày chớ không nhất thiết nghệ thuật vị nghệ thuật. Ít nhiều cũng bị hấp dẫn vào đó. Nói như thế này: ý thức trông đợi thì đây là một sự phản đề giữa linh hồn và thể xác, nó cấu tạo song phương để hòa nhịp vào một trạng thái mê hoặc, bởi; vô thức đồng tính (homosexsual) là sự muốn được hoặc vô thức để đi tới cái sự chống lại sắc dục (heterosexual). Nhưng; nếu ‘giải thoát /relief’ có thể lý giải rằng nó không cần phải đi tới vô thức (unconscious), bởi; trong cái sexual đã có hai dạng thức trong cùng một lúc.

                                          * hình dưới (4) ‘ Olympia’ của E. Manet 1863(1832-1883)

tranh vcl4

Trong hội họa hiện đại khẳng định về tranh khỏa thân đã trở nên ít quan trọng hơn xưa. Họa nhân chính họ bắt đầu đặc vấn đề vào đó là vai trò bất tuân, nghĩa là không còn che giấu mà hụych toẹt như một chứng cứ về nét đẹp dưới cảm thức của người nghệ sĩ. Mẫu thức về đàn bà đã biến thể đầu tk. thứ hai mươi và vẫn còn tiếp tục cho tới nay trong đó chú ý nhất là phái ấn tượng của Đức còn hoạt động.

Nói rút lại; ngày nay thái độ, phong cách và giá trị là những gì đã gây ra, đó là tập quán bày tỏ xuyên qua nhiều góc cạnh khác nhau, nhiều bề mặt rộng lớn tràn lan đại hải -gần như dựa vào cái hấp dẫn của phụ nữ

để truyền thông hay quảng cáo… Đàn bà được miêu tả trong cách nhìn khác nhau dưới mắt của đàn ông.; không phải khác nhau là một bên gọi ‘cái/female’, một bên gọi ‘thằng/male’. Khác ở chỗ ý nghĩ của người xem tranh, nhất là phái nam luôn tỏ ra vô tư nhưng trong vô tư lại chứa khát vọng. Biến thể của người đàn bà cũng nằm trong người đàn ông. Dẫu đó là tranh vẽ nhưng để trong tiềm thức một sự đợi chờ, một sự đợi chờ thỏa đáng. Không có hình ảnh, nhưng; đã mường tượng những gì mà người xem tranh cho là giống như thật; là cái đẹp của phụ nữ mà ‘quyền năng’ dành cho phái nữ một đặc ân để làm người ./.

VÕ CÔNG LIÊM (ca.ab.yyc. 1/7/2019)

*Tranh trong bài rút từ Art of the 20 century by Taschen 2000 Benedikt Koln. Germany.

-Hình (1): ‘Hai hình bầu dục’ (Bố cục số 218) 1919 của W Kandinsky (Nga).

-Hình (2): ‘Người Đàn bà Lõa thể và Người Đàn ông ngậm vố’ 1968 của P. Picasso (Tây Ban Nha).

-Hình (3): ‘Trần truồng trên gối xanh’ 1917. của A. Modigliani (Ý Đại Lợi).

-Hình (4) ‘Nàng Olympia’ 1863 của E. Manet (Pháp).

ĐỌC THÊM: ‘Chân dung tự họa (2018)/ Triết lý của Nghệ thuật (2018)/ Nhận thức về Nghệ thuật / Hội Họa qua từng thời ký (2017)

Những bài đọc trên hiện có trên một số báo mạng và giấy trong và ngoài nước hoặc email theo đ/c đã ghi.

TRANH VẼ: ‘Cảnh Đại dương / Seascape’.Khổ !6” X 20” Trên giấy cứng. Acrylics +Mixed+House-paint .vcl#1102013.

Xem Tranh ở trang dưới.

Vocôngliêm

                                                   CẢNH ĐẠI DƯƠNG / SEASCAPE

tranh vcl5

LIFE

Khê Kinh Kha chuyển ngữ

bien va chim

“Tôi đã đạt đến đỉnh cao của sự thành công trong thế giới kinh doanh. Trong mắt một số người khác, cuộc sống của tôi là mẫu mực của sự thành công. Tuy nhiên, ngoài công việc, tôi chỉ có chút niềm vui. Cuối cùng, sự giàu có của tôi chỉ là một thực tế của cuộc sống mà tôi đã quen. Tại thời điểm này, nằm trên giường và nhớ lại cuộc sống của mình, tôi nhận ra rằng tất cả sự công nhận và sự giàu có mà tôi rất tự hào đã trở nên phai mờ và vô nghĩa khi đối mặt với cái chết của tôi.

 Bạn có thể thuê một người nào đó lái xe cho bạn, kiếm tiền cho bạn nhưng bạn không thể thuê ai đó mang bệnh thế cho bạn. Những thứ vật chất bị mất có thể tìm lại được hoặc thay thế được. Nhưng có một thứ không bao giờ có thể tìm thấy hay thay thế được khi nó mất – (đó là) Cuộc sống. Bất cứ giai đoạn nào trong cuộc sống bạn đang ở ngay bây giờ, với thời gian, bạn sẽ phải đối mặt với một ngày khi tấm màn (cuộc đới) buông xuống.

 Trân quý tình yêu quý giá cho gia đình bạn, tình yêu dành cho người bạn đời của bạn, tình yêu dành cho bạn bè của bạn. Hãy đối xử tốt với bản thân và trân trọng người khác. Khi chúng ta già đi, và hy vọng khôn ngoan hơn, chúng ta nhận ra rằng một chiếc đồng hồ trị giá 3000 đô la hoặc 30 đô la đều chỉ cùng một giờ. Bạn sẽ nhận ra rằng hạnh phúc bên trong thực sự của bạn không đến từ những thứ vật chất của thế giới này. Cho dù bạn bay hạng nhất hoặc hạng thường, nếu máy bay rớt – bạn cũng rớt theo nó.

Vì vậy, tôi hy vọng bạn nhận ra, khi bạn có người tình, bạn thân thiết và bạn bè cũ, anh chị em, người bạn trò chuyện, cười đùa, nói chuyện vớI nhau, hát những bài hát, nói chuyện lung tung đông-tây nam-bắc hoặc trên trời dưới đất , đó là hạnh phúc thật sự! Đừng giáo dục con bạn trở nên giàu có. Giáo dục họ để được hạnh phúc. Vì vậy, khi chúng lớn lên, chúng sẽ biết giá trị của mọi thứ chứ không phải giá cả. Ăn thức ăn của bạn như những liều thuốc bổ cho bạn, nếu không, bạn phải nuốt những viên thuốc làm thức ăn của bạn.

 Người yêu bạn sẽ không bao giờ bỏ rơi bạn vì người khác bởi vì, ngay cả khi có 100 lý do để từ bỏ, người đó sẽ tìm ra lý do để giữ lấy và trân quý bạn. Có một sự khác biệt lớn giữa một con người và làm một con người. Chỉ một số ít thực sự hiểu nó. Bạn được yêu khi bạn được sinh ra. Bạn sẽ được yêu khi bạn chết. Ở thời gian chính giữa, bạn phải tự quản lý lấy!

Sáu vị bác sĩ giỏi nhất thế giới là ánh sáng mặt trời, nghỉ ngơi, tập thể dục, ăn kiêng, tự tin và bạn bè.

Hãy duy trì chúng trong tất cả mọi giai đoạn và hảy tận hưởng một cuộc sống khỏe mạnh”

Khê Kinh Kha chuyển ngữ

(from Unknown Author)

Đại Nghĩa, Quê Hương Tôi

Thư viện của bài

This gallery contains 1 photo.

Biên khảo  Nguyên Lạc

1. Quê hương (danh từ): Đất Nước, nói về một Đất nước mà trong đó có quê (làng, cái nhà) mà mình đã được sinh ra.(Wiktionary)
“Trời sinh ra bác Tản Đà/ Quê hương thời có cửa nhà thì không” (Thú ăn chơi – Tản Đà). “Lòng quê dờn dợn vời con nước/ Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà” (Huy Cận)

2. Trong tùy bút “Lòng yêu nước” của nhà văn Nga Ilya Grigoryevich Ehrenburg (1891- 1967) có viết: “Lòng yêu nước ban đầu là lòng yêu những vật tầm thường nhất: yêu cái cây trồng ở trước nhà, yêu cái phố nhỏ đổ ra bờ sông, yêu vị thơm chua chát của trái lê mùa thu hay mùa có thảo nguyên có hơi rượu mạnh…
Dòng suối đổ vào sông, sông đổ vào dải trường giang Volga, con sông Volga đi ra bể. Lòng yêu nhà, yêu hàng xóm, yêu miền quê trở nên lòng yêu Tổ quốc”. [1]

3. Quê hương qua trích đoạn thơ:

Quê hương. chiếc đò nho nhỏ
Qua sông. kham khổ từng ngày
Thân me vai gầy. gánh khổ
Thương con. chịu nỗi đắng cay
.
Quê hương đong đầy thương nhớ
Ngoại nhai tóm tém trầu cay
Mẹ mày. thằng cháu mất dạy
Rong chơi lêu lỏng suốt ngày
.
Quê hương làm sao không nhớ?
Cầu tre lắt lẻo sớm mai
Đường vui. trống trường réo gọi
Cây cao. chim hót từng bầy
Chia nhau từng viên đạn nhỏ
Bịt mắt. kiếm tìm. Ai đây?
Chia nhau nỗi lo thầy gọi
Nhói đau. thước khẽ bàn tay
Chia nhau trái me keo ngọt
Chia nhau từng tiếng cười đầy Tiếp tục đọc

4th of July: Freedom is never free

flag america

Have you ever wondered what happened to the 56 men who signed the Declaration of Independence?

 

Five signers were captured by the British as traitors, and tortured before they died.

Twelve had their homes ransacked and burned.

Two lost their sons serving in the Revolutionary Army; another had two sons captured.

 Nine of the 56 fought and died from wounds or hardships of the Revolutionary War.

 They signed and they pledged their lives, their fortunes, and their sacred honor.

What kind of men were they?

 

Twenty-four were lawyers and jurists. Eleven were merchants,

Nine were farmers and large plantation owners; men of means, well educated,

but they signed the Declaration of Independence knowing full well that the penalty would be death if they were captured.

   Carter Braxton of Virginia, a wealthy planter and trader, saw his ships swept from the seas by the British Navy. He sold his home and properties to pay his debts, and died in rags.

   Thomas McKeam was so hounded by the British that he was forced to move his family almost constantly. He served in the Congress without pay, and his family was kept in hiding. His possessions were taken from him, and poverty was his reward.

  Vandals or soldiers looted the properties of Dillery, Hall, Clymer, Walton, Gwinnett, Heyward, Ruttledge, and Middleton.

   At the battle of Yorktown, Thomas Nelson, Jr., noted that the British General Cornwallis had taken over the Nelson home for his headquarters. He quietly urged General George Washington to open fire. The home was destroyed, and Nelson died bankrupt.

  Francis Lewis had his home and properties destroyed. The enemy jailed his wife, and she died within a few months.

   John Hart was driven from his wife’s bedside as she was dying. Their 13 children fled for their lives. His fields and his gristmill were laid to waste. For more than a year he lived in forests and caves, returning home to find his wife dead and his children vanished.

   So, take a few minutes while enjoying your 4th of July holiday and silently thank these patriots. It’s not much to ask for the price they paid.

 Remember: freedom is never free!

I hope you will show your support by sending this to as many people as you can, please. It’s time we get the word out that patriotism is NOT a sin, and the Fourth of July has more to it than beer, picnics, and baseball games.

ĐỌC “CHƠI GIỮA THƯỜNG HẰNG”

Thư viện của bài

This gallery contains 1 photo.

Châu Thạch

ĐỌC “CHƠI GIỮA THƯỜNG HẰNG”
TẬP THƠ LỤC BÁT- TÁC GIẢ NGÃ DU TỬ.
              

Nhận tập thơ của Ngã Du Tử tặng đã hơn ba năm, nó đi theo tâm trí tôi suốt ba năm. Viết về nó? Không đủ trình độ ! Không viết về nó? Nó như  bức tranh Giáng Tiên của chàng Tú Uyên treo  ngay trên tường nhà tôi. Nàng tiên phải bước ra thì mới thỏa lòng ao ước của tôi!

Vậy thì hôm nay tôi liều viết. như liều mời nàng tiên ra vậy. Viết xong sẽ gởi tấm lòng cho gió cuốn đi như nhạc Trịnh công Sơn, nó đến đâu thì cứ đến, hoặc nếu nàng tiên bỏ tôi đi biệt về Trời thì cũng thỏa lòng.

“Thường hằng” là gì? Theo nhà thơ Ngã Du Tử: “Mỗi hành trình một đời người trú ngụ trên trần gian đều chứng nghiệm muôn màu muôn vẻ của sinh lão bệnh tử, của thành trụ hoại diệt. Cái ấy khái niệm của Phật giáo là thường hằng”. “Vô thường là dịch biến, ngược lại là thường hằng. Vậy thường hằng là bất biến. Vô thường được giải thích nôm na như sóng, sóng là vô thường còn nước là thường hằng, mặc dầu sóng là do có nước mới sinh ra” Tiếp tục đọc

ĐỌC THƠ NGẮN CỦA LỆ THỦY

Thư viện của bài

This gallery contains 1 photo.

Châu Thạch

Lệ Thủy không phải là người chuyên làm thơ. Tôi chỉ hân hạnh gặp cô một lần khi cô chiêu đãi cà phê vợ chồng nhà thơ Mạc Uyên Linh từ Sài Gòn ra thăm Đà Nẵng. Qua chuyện trò, tôi nhận thấy Lệ Thủy là mọt người yêu thơ thật trọng trắng. Cô quý mến, tôn trọng và tìm đến những nhà thơ vừa già, vừa xấu, vứa không có tên trong các hội đoàn hiện nay như chúng tôi. Về nhà tôi mở trang facebook của lệ Thủy mà tôi vừa kết bạn. Hóa ra Lệ Thủy cũng có làm thơ. Thơ đó chỉ là nhưng dòng ngắn gọn, thành vần do cảm  hứng bất ngờ đến trong phút giây. Tuy thế, chính nhờ vậy mà tiếng thơ của Lệ Thủy cho tôi nhiều cảm xúc, thú vị như được ăn một thứ quả nhỏ, thơm, vừa hái ngay từ trên cây xuống.

Nói thì phải có sách và mách thì phải có chứng. Vậy nên hãy đọc một vài câu thơ liên quan đến thành phố Đà Nẵng mà Lệ Thủy viết gần đây nhất:

Ai nhuộm nổi buồn cho vạt nắng chiều nay.
Để khóe mắt cay.. Ngỡ chiều mưa đổ.
Thành phố lớn.. Mà lòng người thì nhỏ..
Chẳng có nơi nào. Làm điểm tựa. .dừng chân. Tiếp tục đọc

HỌC LÀM NGƯỜI

                                                              Đức Đạt Lai Lạt Ma
dalai lama
 
Tín ngưỡng của tôi rất đơn giản. Không cần có các chùa chiền, không cần các triết lý cao siêu. Tim và óc của tôi là các chùa chiền; triết lý của tôi là lòng tốt.
Học làm người là việc học suốt đời chẳng thể nào tốt nghiệp được!
1. Thứ nhất, học nhận lỗi”. Con người thường không chịu nhận lỗi lầm về mình, tất cả mọi lỗi lầm đều đổ cho người khác, cho rằng bản thân mình mới đúng. Thật ra không biết nhận lỗi chính là một lỗi lầm lớn.
2. Thứ hai,“học nhu hòa”. Răng người ta rất cứng, lưỡi người ta rất mềm, đi hết cuộc đời răng người ta lại rụng hết, nhưng lưỡi thì vẫn còn nguyên. Cho nên cần phải học mềm mỏng, nhu hòa thì đời con người ta mới có thể tồn tại lâu dài được.
3. Thứ ba, ”học nhẫn nhục” . Thế gian này nếu nhẫn được một chút thì sóng yên bể lặng, lùi một bước biển rộng trời cao. Nhẫn, vạn sự được tiêu trừ. Nhẫn chính là biết xử sự, biết hóa giải, dùng trí tuệ và năng lực làm cho chuyện lớn hóa thành nhỏ, chuyện nhỏ hóa thành không.
4. Thứ tư,“học thấu hiểu”. Thiếu thấu hiểu nhau sẽ nảy sinh những thị phi, tranh chấp, hiểu lầm.Mọi người nên thấu hiểu thông cảm lẫn nhau, để giúp đỡ lẫn nhau. Không thông cảm lẫn nhau làm sao có thể hòa bình được?
5. Thứ năm,“học buông bỏ” . Cuộc đời như một chiếc vali, lúc cần thì xách lên, không cần dùng nữa thì đặt nó xuống, lúc cần đặt xuống thì lại không đặt xuống, giống như kéo một túi hành lý nặng nề không tự tại chút nào cả. Năm tháng cuộc đời có hạn, biết buông bỏ thì mới tự tại được!
6. Thứ sáu,“học cảm động”. Cảm động là tâm thương yêu, tâm Bồ tát, tâm Bồ đề; trong cuộc đời mấy mươi năm của tôi,có rất nhiều câu chuyện, nhiều lời nói làm tôi cảm động, cho nên tôi cũng rất nỗ lực tìm cách làm cho người khác cảm động.
Nguon:DPNguyen gui

Hà Nội, trong mắt một người mù

Thư viện của bài

This gallery contains 1 photo.

nam dao Cuốn phim ‘’Hà Nội trong mắt ai’’ (HNTMA) của đạo diễn Trần Văn Thủy bắt đầu bằng tiếng ghi-ta một nhạc sĩ mù. Kính đen sụp xuống mũi, nhạc sĩ gảy đàn như thể cố nhìn cho ra … Tiếp tục đọc

Cuộc Đời và Thời Gian

Thư viện của bài

This gallery contains 1 photo.

võ công liêm

            Là hiện tượng dung thông. Là tiếng kêu thức tỉnh của con người trước cuộc đời, là cái nhìn nội giới mà khi phóng tầm nhìn vào hiện tượng thì đó là bản thể con người. Nhưng nếu mọi thứ trong đời đều khác biệt thì ngay cái nhìn vẫn có cái chung, tuy nội dung khác nhau nhưng cái nhìn vẫn là một; đó là tương quan giữa người và vũ trụ. Sự hội ngộ khơi từ ý thức dù ý thức vô niệm nhưng là ý thức hiện hữu, một ý thức thúc đẩy đi từ vực thẳm tuyệt vọng để rồi bừng dậy bằng ý niệm ta thán để vượt thoát ra khỏi những gì bức xúc vốn đã tồn lại mà mỗi khi con người có ý thức và trách nhiệm làm người; đôi khi do từ cá thể hay do từ hoàn cảnh tạo nên. Từ cái chỗ bức xúc là một dự phóng để tâm hồn giải tỏa cuộc đời và thời gian là hai thứ tích lũy và dằn vặt cô đọng trong một tư duy phát tiết qua ngữ ngôn. Phát huy bằng lời ca tiếng hát như trao trút nỗi uất nghẹn, đặc điểm đáng kể phải nói đến là ca dao. Nó đi từ đồng ruộng đến thành thị, từ bình dân đến bác học là hình ảnh chứng thực cho một hiện hữu đối với chúng ta; thoát khỏi một quá khứ đen, một tương lai mịt mờ mà đi vào với hiện tại của sáng tạo, không những thế; thức tỉnh giữa cuộc đời chính là cái mơ trở về.

Theo nhãn quan tâm lý học: mơ-về là ý thức trôi chảy của hoài vọng, một ray rứt không đạt tới ‘en suivant la pente de la rêverie’. Cho nên chi cái nhìn triết học tâm lý và cái nhìn của người nghệ sĩ hoàn toàn khác nhau, vì; ý thức thức tỉnh đối lập với ý thức thức tỉnh nghệ thuật. Thức tỉnh của người nghệ sĩ là mơ về để nhận diện cuộc đời là cả một quá trình thời gian đòi hỏi. Mà mỗi khi mơ về (rêver à / dreaming day) là buông thả để tùy thuộc cho sự quay về. Cái nhìn mơ mộng là tác động trôi chảy của tâm sinh lý, mà mơ là để biến mình vào ngôn từ trong ca dao hay thi ca: Tiếp tục đọc

Hanh Phúc Nhờ Buông Xả

Thư viện của bài

This gallery contains 1 photo.

Có người nọ nghe nói về một đạo sư nổi tiếng nên tìm đến hỏi đạo. Đến nơi, anh thấy trong nhà của vị đạo sư trống trơn, chỉ có một cái giường, một cái bàn, một cái ghế và một cuốn sách.

Anh ngạc nhiên hỏi: “Sao nhà đạo sư trống trơn, không có đồ đạc gì cả?”

Đạo sư hỏi lại: “Thế anh có hành lý gì không?”

Anh đáp: “Dạ có một va li”.

Đạo sư hỏi: “Sao anh có ít đồ vậy?”

Anh đáp: “Vì đi du lịch nên đem ít đồ”.

Đạo sư nói: “Tôi cũng là một người du lịch qua cuộc đời này nên không mang theo đồ đạc gì nhiều”.

Chúng ta thường quên mất mình chỉ là khách du lịch qua cuộc đời này, lầm tưởng mình sẽ ở mãi nơi đây, nên tham lam, ôm đồm, tích trữ quá nhiều đồ vật, tài sản. Đàn bà thì chất chứa quần áo, vòng vàng, nữ trang. Đàn ông thì máy móc, xe hơi, ti vi, máy điện tử.

Tranh Chấp

Mỗi khi có sự tranh chấp, buồn phiền, chúng ta thường có khuynh hướng đổ lỗi cho người khác. Sau đây là ba trường hợp:

Người chưa biết đạo thì luôn cho mình đúng và người kia lỗi 100%.
Người bắt đầu học đạo, biết tu thì thấy cả hai bên đều có lỗi 50%.
Người hiểu đạo thì thấy mình lỗi 100%.
1/ Người chưa biết đạo thì luôn cho mình đúng 100%. Do vô minh và chấp ngã quá lớn, Tiếp tục đọc

Đọc “Ngày Sinh” Thơ Hư Vô

Thư viện của bài

This gallery contains 1 photo.

 Châu Thạch

Nhà Thơ Hư Vô & Châu Thạch
NGÀY SINH

“Hãy để ngày ấy lụi tàn, 
cái ngày mà tôi mới sinh ra đời 
và cái đêm mà người ta nói rằng có một

 linh hồn được kết thành thai”

………….

Mùa qua chưa trên bãi đời dâu bể
Ai đã dài tay với mộng không thường
Ngày đếm tuổi mây sầu lên tóc rối
Mi ngỡ ngàng thấm ướt dấu mơ sương

Năm tháng ấy đã ghi vào bút mực
Dẫu mây bay tám hướng mười phương
Lời nhân thế mưa ru bằng nước mắt 
Mặn vào lòng hay rớt giữa trùng dương

Hoa và lá vẫn một lòng tận hiến
Và trăng sao còn vẽ mộng bên trời
Con thuyền bé đã lẫn vào sóng biếc
Bến bờ xưa nghe lau lách lỡ bồi.

  Hư Vô

Cảm nhận của Châu Thạch:

Nhà thơ Hư Vô, một cây bút ẩn dật sống đời đạm bạc ở miền quê Đại Lộc Quảng Nam. Thế nhưng lạ thay, thi hữu của anh rất đông, và ai cũng muốn tìm đến anh như tìm một hàn sĩ thân thương được đời mến mộ. Tiếp tục đọc

CHỮ BẬU TRONG HÒ, CA DAO VÀ LỤC BÁT 

Thư viện của bài

This gallery contains 1 photo.

Nguyên Lạc

Bài viết này là bài thứ 2 trong loạt bài giới thiệu quê hương nam bộ bình dị và thân thương của chúng tôi. Đây là bài 1: Nguyên Lạc: VỀ CHỮ “BẬU”

https://wordpress.com/post/trangvhntnguoncoi.wordpress.com/38576

Trong cuộc Nam tiến, nhiều dòng người từ các nơi đã đến vùng đất mới này sinh cơ lập nghiệp, nhất là những đợt di dân từ đất ngũ Quảng (Quảng Bình, Quảng Trị, Quảng Tín, Quảng Nam và Quảng Ngãi) vào cuối thế kỷ 16 và đầu thế kỷ 17.  Trên bước đường chinh phục hoang vu, từ những chiếc ghe bầu, ghe chài, tam bản, xuồng ba lá… hành trang mang theo của những di  dân này có cả những câu ca dao để làm chỗ dựa tinh thần trên bước đường xa xứ. Lênh đênh sông nước, những hành trang tinh thần này được họ- các tiền nhân –  cách tân, sáng tác thêm cho phù hợp với hoàn cảnh mới của mình, rồi phổ biến rộng rãi. Chữ “bậu” đặc biệt của nam bộ xuẩt hiện trong ca dao. Những câu hò, điệu lý… từ những ca dao này được hình thành. Tôi xin được tiếp tục giới thiệu đến các bạn sơ lược về hò và một số bài lục bát ca dao có chữ “bậu” thân thương này.

.
SƠ LƯỢC VỀ HÒ
.
Hò là một trong những thể loại âm nhạc dân gian miền nam Việt Nam, được du nhập bởi những đợt di dân từ đất ngũ Quảng, từ vùng ngoài đưa vô vùng đất mới phía cực nam của đất nước ta.
Hò rất được ưa chuộng ở miền nam vì có sức hấp dẫn lạ thường. Chúng tôi xin tạm phân làm ba loại hò: Hò trên cạn, hò trên sông nước và hò giao duyên hay đối đáp. Tiếp tục đọc

Giàu Sang Hay Giàu Có

Thư viện của bài

This gallery contains 1 photo.

Có nhiều định nghĩa về cái “giàu”. Định nghĩa nào cũng đúng, tùy theo tâm tư / suy nghĩ / ước mơ / hoài bảo của mọi người.

10 năm trước đây, tôi định nghĩa “giàu” không phải là có nhiều tiền – mà là có… rất nhiều tiền. Nhiều tiền có nghĩa là có nhà cao cửa rộng, có xe hơi, có máy bay, có du thuyền, có… bla bla bla… Nói chung là có mọi thứ. Tôi nhìn thần tượng Bill Gate – và ước ao một ngày nào đó tôi cũng như ông ta, dù không trở thành người giàu nhất hành tinh – thì cũng là một người giàu sang quyền quý. Tôi sẽ cố gắng trở thành một nhân viên giỏi nhất, ưu tú nhất, xuất sắc nhất, có được mức lương cao nhất…

Cái “giàu” đó, bây giờ tôi gọi là “Giàu sang”.

5 năm sau, khi đọc cuốn sách “Cha giàu – Cha nghèo” (Rich dad – poor dad), trong tôi hình thành một khái niệm mới về việc đi làm công cho người hoặc làm công cho bản thân mình. Lúc đó hoài bảo về việc lập một business riêng để tự làm giàu cho chính mình cao như đỉnh Thái Sơn vòi vọi. Tôi sẽ là một người thành đạt bằng chính đôi tay, trí óc của mình. Sau ngần ấy năm đi làm, tôi sẽ xây dựng được một cái gì đó để lại sau này, chứ không phải chỉ là một thằng đi làm thuê quần quật suốt ngày.
Tiếp tục đọc

Nhớ Cha Trong Ngày Lễ Của Cha

Thư viện của bài

This gallery contains 1 photo.

Sương Lam

Cứ mỗi lần Tháng Sáu đến là tôi lại nhớ đến Ngày Của Cha thường được tổ chức vào ngày Chủ Nhật của tuần lễ thứ ba trong tháng Sáu. 

Ngày Lễ Của Cha năm nay là Ngày Chủ Nhật 16 Tháng Sáu năm 2019.

Cũng như Ngày Lễ Của Mẹ vào Tháng Năm vừa qua, các người con xứ Mỹ lại có dịp mời Cha đi ăn hay tặng quà cho Cha để tỏ lòng hiếu kính với người Cha của mình. Ngon lành hơn, sang trọng hơn đối với người có tài chánh phong phú thì người con sẽ mời Cha cùng đi du ngoạn trên một chuyến cruise nào đó hay cùng đi nghỉ mát ở một nơi nào đó. Nhưng chuyện này cũng hiếm khi xảy ra vì người con sẽ lấy lý do rất bận việc, nên ông cha bà mẹ cứ việc đợi dài cổ ra nhé. Con cái thời “a còng” mà lị! Ai nấy dều bận túi bụi! Cũng đành thôi!  

Hình như càng lớn tuổi chúng ta lại càng thương cha nhớ mẹ nhiều hơn, nhất là khi cha mẹ đã qua đời vì tâm lý con người thì khi mất đi một vật nào đó, một người thân nào đó thì mới thấy những gì đã mất thật đáng quý vô cùng. Tiếp tục đọc

Bàn về chữ LIKE trên FACEBOOK

Thư viện của bài

This gallery contains 1 photo.

Nguyên Lạc      

Dẫn nhập:

“Nghề chơi cũng lắm công phu” (Truyện Kiều – câu 1201) nhất là VĂN CHƯƠNG, nghề chơi thanh cao nhất. Các cụ xưa nói vậy.

Chơi cho lịch mới là chơi

Chơi cho đài các, cho người biết tay! (Nguyễn Công Trứ)

– Bây giờ sao? Còn thanh lịch, còn đài các không?

Tôi e rằng nghề chơi thanh cao này không còn được như vậy nữa. Người ta đã lợi dụng nó để “mưu đồ” cho lợi ích riêng tư, cho cái DỤC không lấy gì tốt đẹp của riêng mình. Bằng chứng rõ ràng nhất về điều này là việc sử dụng chữ LIKE trong Facebook. Chữ LIKE này vẫn tiếp tục bị “hiếp dâm” (từ của triết gia Phạm Công Thiện)

Trước khi vào phần chánh, xin tặng các bạn bài thơ “hết ý” của cụ Nguyễn Khuyến:

Đầu đường ngang có một chỗ lội

Có miếu ông Cuội cao vòi vọi

Đàn bà đến đó vén quần lên

Chỗ tời đến háng, chỗ đến gối

Ông Cuội ngồi trông mỉm miệng cười

“Cái gì trông trắng giống con cúi?”

Vội vàng khép nép đứng liền thưa:

“Trót dại hở hang xin xá tội!”

Ông rằng: “mầy cũng chẳng tội gì!… ”

Chỉ tội làm ông cứng con buội Tiếp tục đọc

VỀ CHỮ “BẬU”

Thư viện của bài

This gallery contains 1 photo.

Nguyên Lạc 

“Bậu” là tiếng dân dã, tiếng thân yêu của vùng tây nam bộ chúng tôi. Mỗi lần nghe ai nói, hoặc gặp trong thơ văn là lòng tôi cảm thấy bồi hồi. Tiếng”Bậu” nầy hinh như bây giờ trong nước ít ai dùng, ít ai nhắc đến! Tại sao? Vì quê mùa? Tôi xin được tìm hiểu và giới thiệu đến các bạn vài bài thơ có liên quan đến chữ “Bậu” thân yêu nầy.
.
ĐỊNH NGHĨA CHỮ BẬU
.
1. Chữ BẬU trong sách vở

Trong các sách vở khi định nghĩa “Bậu”: 
– Bậu: Chữ nôm, nghĩa:  Em, mầy như chữ em bậu, bậu bạn (bạn hữu chung cùng; đi theo nhau, hôm sớm có nhau), qua bậu (Tao mầy (tiếng nói thân thiết) như lớn nói với nhỏ, chồng nói với vợ)(1)
– Bậu chỉ người nói chuyện với mình khác phái, có ý thương mến, thân mật(2) 
– Bậu chữ được dùng như tiếng “em”, tiếng gọi vợ, hoặc nhân tình, hay em bạn”(3)
–  Bậu (danh từ) (xưa): tiếng thân kêu vợ mình.(4)
(Theo Hai Trầu – Lương Thư Trung)
.
2. Chữ BẬU theo cảm xúc của thi nhân

Xin được trích đoạn ra đầy ý nghĩ, cảm xúc về chữ BẬU của thi sĩ Lê Văn Trung:
.
[… Không biết các nhà ngôn ngữ học giải nghĩa “bậu” như thế nào, tôi vẵn đinh ninh rằng : dù giải nghĩa thế nào đi nữa cũng không thể lột tả hết ý nghĩa tình cảm sâu đậm thiết tha mà đầy thương cảm của đại danh từ ngôi hai nầy. Tiếp tục đọc

Bố Thí Cao Quý

Thư viện của bài

This gallery contains 1 photo.

Tuệ Đăn

Đạo phật xuất hiện trên đời bắt nguồn từ sự Giác Ngộ của đức Phật. do công năng tu chứng, đức Phật thấu triệt được Bốn Chân Lý Thâm Diệu, còn gọi là Tứ Diệu Đế, gồm: 

– Chân lý thứ nhất là Khổ Đế, cho rằng mọi hình thái tồn tại đều mang sẵn mầm mống của khổ não, bất như ý. Sinh, già, bệnh, chết, mong cầu mà không toại nguyện, ưa thích mà phải rời xa, ghét bỏ mà phải gần gũi và cái thân ngũ uẩn thì chợt vui, chợt buồn, khi khỏe, khi đau, đều là khổ.

– Chân lý thứ hai là Tập Đế, tức nguồn gốc hay nguyên nhân dẫn đến thực trạng đau khổ. Nguyên nhân của khổ là lòng ham muốn, tham lam, ái nhiễm, tìm cầu sự thoả mãn dục vọng. Các loại ham muốn này đều là nguồn gốc của khổ đau và nghiệp chướng, dẫn tới luân hồi 

– Chân lý thứ ba là Diệt Đế, sự chấm dứt khổ đau. Nếu lòng tham lam ái nhiễm được tận diệt thì sự khổ cũng được tận diệt. Tiếp tục đọc

Thư viện của bài

Đặng Xuân Xuyến

VỀ TRUYỆN NGẮN
CỦA LÊ MAI
*

Biết nhà văn Lê Mai qua nhà thơ Nguyễn Khôi và blog Trang Đặng Xuân Xuyến cũng đã giới thiệu một số bài thơ và 7 truyện ngắn của ông nên khi nhà thơ Nguyễn Khôi có nhã ý muốn trang nhà đăng lại bài Nguyễn Khôi cảm nhận về thơ Lê Mai – người bạn, người em tri kỷ của ông – tôi đã đắn đo khá nhiều, bởi blog Trang Đặng Xuân Xuyến không đăng lại những bài đã đưa lên trang nhà, đang hiện diện trên trang nhà nhưng trước tấm chân tình dành cho người bạn, người em của nhà thơ lão niên làm tôi cảm động. Dù lưng rất đau, tôi cũng cố ngồi đọc để viết đôi lời giới thiệu về một số truyện ngắn của nhà văn Lê Mai đã đăng trên blog Trang Đặng Xuân Xuyến.

Quyền Được Rên là một truyện ngắn hay, tạo được nhiều chú ý trong dư luận. Lúc sinh thời, Tiến sĩ Ngữ văn Nguyễn Ngọc Kiên đã không tiếc lời ca ngợi: – “Có thể nói mà không sợ ngoa ngôn rằng “Quyền được rên” của nhà văn Lê Mai có thể xếp trên “Sống mòn” của Nam Cao;  vì “Sống mòn” viết về cuộc đời của ông giáo Thứ rất khổ cực trước cách mạng Tiếp tục đọc

TÔ THÙY YÊN NHÀ THƠ VIỆT NAM 1938 – 2019

Thư viện của bài

This gallery contains 1 photo.

Đặng Tiến

            Nhà thơ Tô Thùy Yên tên thật là Đinh Thành Tiên, từ trần tại Houston (Hoa Kỳ) lúc 21g15 ngày 21-5-2019, thọ 81 tuổi. Vào tuổi ấy, và sau bao nhiêu gian truân, ông ra đi vẫn gây ra nhiều tiếc nuối trong giới độc giả trong và ngoài nước. Cái tang chung cho giới văn học đặt ra một câu hỏi khẩn thiết : tác phẩm Tô Thùy Yên đứng ở đâu trong dòng văn học Việt Nam hôm nay ?

Tựa đề bài này khẳng định : Tô Thùy Yên là nhà thơ Việt Nam. Không phải là nhà thơ hải ngoại hay của Miền Nam cũ. Lý do đơn giản : ông là người Việt Nam, viết văn, làm thơ bằng tiếng Việt Nam. Huống hồ đời ông gắn bó với lịch sử đất nước trong mỗi chặng đường, thơ ông đầy ắp tình tự dân tộc, thắm thiết phong cảnh quê hương, ngôn ngữ Việt Nam phong phú, đa dạng, vừa uyên bác vừa sâu đậm lời ăn tiếng nói dân gian, tục ngữ, ca dao. Thơ ông đặc sắc, từ nội dung nhân đạo, tư tưởng cao sâu đến lời thơ tài hoa, hào sảng, giàu hình ảnh lạ trong tiết điệu thân quen. Nghệ thuật vi diệu của ông làm vinh dự cho tiếng Việt và văn hóa Việt. Tô Thùy Yên là nhà thơ Việt Nam bên cạnh Nguyễn Trãi, Nguyễn Du, Nguyễn Khuyến, Tản Đà. Tiếp tục đọc

Trương Quang Ngọc thời Vua Hàm Nghi

Thư viện của bài

This gallery contains 1 photo.

Bùi Thụy Đào Nguyên, soạn.

Trương Quang Ngọc (? – 1893), quê ở khe Tá Bào (hay Khê Ta Bao), châu Tuyên Hóa; nay thuộc huyện Minh Hóa, tỉnh Quảng Bình.

Ông có tiếng là người rất cam đảm, giỏi sử dụng súng hỏa mai, cung tên, có nhiều thuộc hạ tâm phúc; nhưng phải tật nghiện rượu và thuốc phiện.

Theo sách Việt Nam cách mạng cận sử, thì: Cha ông (không rõ tên), trước kia phục vụ dưới triều vua Tự Đức, vì phạm lỗi nên bị thải hồi. Bực tức việc này, ông rút về làng Vè (hay Vé) trên thượng lưu sông Nai (thuộc sông Gianh) lập đồn và chiêu tập dân Mường quanh đó, làm loạn một thời. Đã có phen, quân triều đình đến đánh dẹp mà không được.

Hộ giá vua

Đầu tháng 7 năm 1885, vua Hàm Nghi lên chiến khu Tân Sở. Trương Quang Ngọc khi ấy đang làm thổ tù ở quê nhà, mang đội quân Mường rất tinh nhuệ ra ứng nghĩa. Tướng Tôn Tiếp tục đọc

Ðọc lại ‘Mẫu Hệ’ – nỗi đau còn đó

Thư viện của bài

This gallery contains 1 photo.

Nguyễn Lương Vỵ

Ðầu Thu năm nay, nhân một buổi hẹn cà phê, nhà văn Trần Yên Hòa ký tặng tôi cuốn sách của anh ấn hành cách nay trên 10 năm, truyện dài “Mẫu Hệ” (NXB Thế Kỷ, California, 2004) với câu nói rất chân tình: “Sách in đã lâu, chỉ còn ít cuốn, gửi tặng Vỵ đọc cho vui.” Vốn là người đồng hương, quen biết nhau đã lâu, nay lại gặp nhau ở xứ người, càng quí trọng hơn vì ngoài cái tình văn chương, còn là tình anh em, thông cảm và chia xẻ cho nhau về những bi kịch của cuộc đời. Với tôi, Trần Yên Hòa thuộc thế hệ đàn anh, làm thơ viết văn từ cuối thập niên 60′ thế kỷ 20, và cho đến nay, trải qua nhiều thăng trầm bể dâu, anh vẫn giữ được tình yêu bền lâu với văn chương bằng bút lực và sức sáng tạo mạnh mẽ.

Tôi đọc “Mẫu Hệ” một cách chậm rãi và liên tục bởi sự cuốn hút của cốt truyện. Ngay đầu sách, tác giả ghi mấy dòng khiêm tốn trong “Lời Mở”:
Tiếp tục đọc

ÁNH TUYẾT, HỒN THU TRONG TIÊNG HÁT

anh tuyet

Ngoài Thái Thanh và Khánh Ly ra, tôi rất mến mộ nữ ca sĩ Ánh Tuyết, cũng như Thái Thanh và Khánh Ly, Ánh Tuyết lúc nào cũng dịu dàng va kín đáo trong chiếc áo dài thướt tha của một hình dáng đoan trang phụ nữ Việt Nam, và tôi yêu cái giọng hát vút cao như gió thoảng qua cành lá vàng của rừng thu, đã làm đắm say bao khán giả.

Mùa thu vàng úa giữa trời gió lạnh, hay trong cơn mưa về, mang cho ta nhiều nỗi niềm cô quạnh, nhiều tiếc nuối của một cuộc tình xa vắng như bóng sương mờ, có lẽ mùa thu cũng có nhiều dấu vết tình sầu trong Ánh Tuyết cho nên nữ ca sĩ này hay thường hát những ca khúc mùa thu, với chất giọng chứa chan đầy cung điệu buồn mang mác của hồn thu lá rụng, Ánh Tuyết đã làm cho những ca khúc mùa thu đã buồn lại thêm sầu tủi hơn, đã lãng mạn lại càng thêm trữ tình và đã đầy xót xa lại càng thêm lệ ướt.

Với lòng đam mê trong âm nhạc mùa Thu, Ánh Tuyết đà không ngừng đi tìm cho mình những tình ca chứa chan bao lá vàng, sương lạnh và nắng hanh vàng, của mùa Thu ảm đạm, của tình yêu, của rã rời mục nát như lá vàng khô trên thảm cỏ hay trong tim người va` của gió lạnh qua hồn cô quanh. Có lần Ánh Tuyết tâm sự: “Đời người như Xuân, Hạ, Thu Đông …khi còn trẻ thì đời như mùa Xuân xanh tươi đầy hoa lá, khi trưởng thành thì đời như mùa Hạ nóng bỏng . Nóng trong tình yêu, nóng trong bon chen, nóng trong sư.nghiệp, nóng trong gia đình … để rồi dần bước vào tuổi mùa Thu lành lạnh và vàng úa, đế nhìn lại một khoảng đường đã qua đầy sóng gió, đầy rạo rực đam mê cùng như đầy tiếng cười dòn tan hay nước mắt âm thần trong đêm hiu quạnh …. và thật lòng Ánh Tuyết rất yêu mến mùa Thu …”. Đúng vậy, tuổi mùa Thu là tuổi mà nhịp bưóc chân đời dần chậm lại, tuổi mà hồn người đã chững, điềm đạm hơn; và cũng là tuổi đẹp như muôn mầu sắc của lá mùa Thu

Ánh Tuyết đã lựa chọn cho mình những ca khúc mùa Thu trữ tình để trải nỗi lòng “Thu Vàng” của mình qua những tình ca này, như một tự sự cho đời và tình yêu thầm kín nào đó trong mảnh hồn mong mảnh của người ca sĩ có chút lãng mang. Ít người biết Ánh Tuyết cũng là môt nhà thơ lãng mạng mặc dù Ánh Tuyết chưa bao giờ cho phát hành hay đăng trên tạp chí nào . Có lẽ, thơ là một chút gì riêng mà Ánh Tuyết muốn ôm ấp riêng cho hồn mình . Để sau những xốn xáo của âm nhạc và sân khấu, Ánh Tuyết cùng giòng thơ tâm sự và chia sẻ nỗi niềm . Nhưng có lần Ánh Tuyết chia sẻ với một người bạn bài thơ “Bến Xưa” của mình, thì bài thơ đã được phổ thành ca khúc “Bến Xưa Tình Sầu” rất trữ tình .và lãng mạng. Khi hỏi người bạn này “đặc biệt” như thế nào thì Ánh Tuyết chỉ mĩm cười.

Hãy đi vào thế giới của trời Thu sầu tủi qua tiếng hát nỉ non của nữ danh ca Ánh Tuyết, để thấy Buồn Tàn Thu của Văn Cao sầu lắng như thế nào.

Buồn Tàn Thu – Văn Cao

Rồi lặng hồn mình để nghe từng giọt mưa rơi nhẹ như ai đang khóc nức nỡ trong Giọt Mưa Thu hay Con Thuyền Không Bến của Đặng Thế Phong

Giọt Mưa Thu – Đặng Thế Phong

Khi tình yêu vụn vỡ, người đã  bỏ đi và mang theo cả trời Thu lá vàng thì mùa Thu không bao giờ trở lại nơi đây nữa . Ánh Tuyết thánh thót cuộc tình dang dỡ này trong Mùa Thu Không Trở Lại của Phạm Trọng Cầu.

Mùa Thu Không Trở Lại – Phạm Trọng Cầu

 

Và Ánh Tuyết đã không dừng lại ở những ca khúc mùa Thu thời tiền chiến hay của những năm lãng mạng trước 75, mà còn đi sâu vào trong những năm tháng gần đây để tìm cho riêng mình giòng nhạc tình Thu làm cho con tim mình xao động, để ấp ủ tiếng hát mình và rồi chia sẻ đến với những ai yêu mến giọng hát mình . Và Ánh Tuyết đã dừng lại trong giòng nhạc của một nhạc sĩ không mấy tiếng tăm nhưng theo Ánh Tuyết “giòng nhạc sầu lắng” này đã chinh phục mình .

mặc dù Ánh Tuyết rất khó tính trong việc lựa chọn nhạc cho mình trình diện Có lẽ,ĐỊNH MỆNH đã buộc hai tâm hồn nghệ sĩ với nhau trong âm nhạc

Hày thử lắng nghe Ánh Tuyết với Giọt Lệ Thu của người nhạc sĩ khê Kinh Kha này .

Giọt Lệ Thu – Khê Kinh Kha

ĐỜI TƯ CÁC VỊ HOÀNG ĐẾ

Thư viện của bài

This gallery contains 1 photo.

VÀI LỜI VỚI TẬP SÁCH:

ĐỜI TƯ CÁC VỊ HOÀNG ĐẾ

(LỜI GIỚI THIỆU cuốn ĐỜI TƯ CÁC VỊ HOÀNG ĐẾ, 

Nhà xuất bản Văn Hóa Thông Tin, xuất bản năm 1997)

 

ĐỜI TƯ CÁC VỊ HOÀNG ĐẾ là tập V của bộ sách “CHUYỆN CÁC VỊ VUA TRUNG QUỐC” do Nhà xuất bản Văn hoá Thông tin – Nhà sách Bảo Thắng liên kết xuất bản, giới thiệu các gương mặt hôn quân vô đạo trong gần một trăm quân chủ phản diện mà bộ sách đề cập. Nếu các tập trước bạn đọc đã làm quen với những vị hoàng đế hoặc ít hoặc nhiều có những cống hiến nhất định trong lịch sử Trung Quốc nhưng vì một vài lý do nào đó: Hoặc kiêu căng ưa xiểm nịnh, hoặc không thể vượt quá phạm vi mà điều kiện lịch sử cho phép nên buộc phải rời khỏi vũ đài chính trị, thì ở tập sách này bạn đọc sẽ gặp những vị hôn quân ngu muội, bạc nhược, với những việc làm xằng bậy, quái đản dẫn đến sự diệt vong của một vương triều mà trước đó tổ tiên của họ đã cống hiến nhiều cho lịch sử Trung Quốc. Tiếp tục đọc

LOẠN BÚT VỀ TỬU SẮC (2)

Thư viện của bài

This gallery contains 1 photo.

Nguyên Lạc

Thả tiếu:

Nhân sinh hàm khổ lụy
 Y phạn tích bại thành
Phóng thủ vạn sự tuyệt
Đắc tiếu, tiếu nhất thanh.

Hãy Cười:

Kiếp người nhiều khổ nhọc,
Cơm áo lắm được thua,
Buông tay muôn việc hết,
Ðùa được, thì cứ đùa!
(Nguyên tác và dịch Hạt Cát)

Đời như giấc chiêm bao : “Xử thế nhược đại mộng” – Lý Bạch. Hãy vui lên đi, hãy nâng ly lên cùng nhau hát:  ” Một chăm em ơi, chiều nay một chăm  phần chăm…”, rồi cùng Nguyên Lạc tui cười giỡn chút chơi.

CÙNG UỐNG RƯỢU

Thưa các bạn, trong bài trước Nguyên Lạc tôi dùng nhiều điển tích của “nước lạ” nên có nhiều bạn phản hồi rằng: – Sao khi bàn tới Tửu Sắc/Rượu Tình, ông hay dùng văn chương Tiếp tục đọc

Ánh Tuyết hồi niệm về Trịnh Công Sơn

TP – Ánh Tuyết gặp Trịnh Công Sơn khi chị đã sang tuổi 30. Nhạc sĩ là đại diện nhà trai trong đám cưới Ánh Tuyết với chú rể người Pháp. Tuy nhiên, Ánh Tuyết nhất quyết không làm album nhạc Trịnh ngay cả khi nhạc sĩ yêu cầu. 10 năm sau khi ông qua đời, Ánh Tuyết lần đầu hé lộ vùng kỷ niệm, và cũng là lần đầu chị thực hiện yêu cầu của nhạc sĩ: Ra một lúc 2 đĩa nhạc Trịnh, chưa kể chương trình nhạc Trịnh xuyên Việt.

Ánh Tuyết và Trịnh Công Sơn đầu năm 1996 	Ảnh: TL
Ánh Tuyết và Trịnh Công Sơn đầu năm 1996 Ảnh:

Nhiều lần gặp ông ở quán Nhạc sĩ, tôi cũng muốn chào, nhưng bao sao siệc vây quanh. Ông chào thì tôi mới chào, không thôi. Tại mình nghĩ là mình nhỏ bé thôi. Họ là người lớn, nhạc sĩ lớn, mình chào hóa ra thấy sang bắt quàng làm họ. Ông nói mấy lần: “Giọng hát đặc biệt hầy! Cao dễ sợ!”. Tôi dạ rồi đi. Hồi đó tôi quá nghèo. Lôi thôi lếch thếch, chả ai ngó tới.

Bài đầu tiên của Trịnh Công Sơn tôi hát là Giọt nước cành sen. Chưa ai hát bài đó đến lúc này. Bài nằm trong một băng cassette của nhiều tác giả phổ thơ Thân Thị Ngọc Quế, gần đây vô tình tìm được trên mạng, tôi mới nhớ ra. Sinh nhật bà Quế, ông Trịnh Công Sơn qua chơi. Tôi hát trong buổi đó.

Hồi đó, ông yêu một người mẫu, cô đó đi mất, ông mới viết Em đi bỏ lại con đường, Sóng về đâu với bài gì tôi quên rồi. Hôm đó, ông hát Em đi bỏ lại con đường cho tôi nghe. Ông nói: “Anh chắc Tuyết hát bài ni hay này. Có nội tâm”. Tôi cũng để ý bài đó, nhưng không hát bao giờ.

Quán Nhạc sĩ làm Đêm Trịnh Công Sơn, mọi người phân tôi hát Cuối cùng cho một tình yêu, Lặng lẽ nơi này. Đó là lần đầu tiên tôi hát (nhạc Trịnh) trên sân khấu, khoảng đầu năm 1993. Tiếp theo là Đường xa vạn dặm, mỗi lần tôi hát xong, ông khóc, kêu: “Tuyết hát chết bài ni luôn rồi!”.

Tôi nhớ năm mở cửa cuối cùng của quán Nhạc sĩ, Hội Âm nhạc Hà Nội vô giao lưu. Tôi mặc áo dài trắng hát xong, xuống sân khấu, te te đi, ông ngoắc lại: “Tuyết, lại anh vẽ ni!”. Tức là, Tuyết lại anh bảo này. Ông cầm mấy cái khăn giấy thấm ướt, kêu: “Anh ướt hết bốn cái khăn rồi ni”. Nghĩa là ông dùng khăn thấm nước mắt. Bài đó tôi hát ở đâu là đa số người ta khóc. Trong những ngày lễ Vu Lan, tôi làm chương trình về mẹ, ối chao ơi thôi, còn khóc dữ nữa.

Lần vào bệnh viện thăm ông bịnh, tôi ôm bó hoa tặng. Ông nhắc cái ghế cho tôi ngồi cạnh đầu giường. Ổng nắm tay tôi, bóp bóp, bảo: “Tội hè! Tuyết giỏi hè!”. Tội giống như là không giúp được, thấy tội nghiệp quá. Giỏi hè có nghĩa là không ai giúp mà đi lên được. Câu đó tôi nghe nhiều lắm, nhưng ngày ông bịnh, ông mới cầm tay tôi. Với tính cách ổng, trong lòng có cuồng nộ thì ông cũng ngồi im.

Khi tôi mới sinh con, ông ẵm miết, kêu: “Ôi chao, đẻ đứa con chi mà dễ thương hi!”. Ông cứ khen chồng tôi với mọi người: “Moa chưa thấy thằng Tây mô dễ thương, hiền như thằng ni hết”. Ông bắt tôi làm album. Tôi dạ dạ, nhưng cứ lơ. Tôi quá thiếu tự tin. Dưới cái bóng của Khánh Ly là một chuyện. Nhưng quá nhiều người hát. Mình chui vô chi cho bị giẫm.

Hai anh em ngồi với nhau buồn buồn, ông kêu: “Tuyết kể chuyện tiếu lâm vui hè. Kể cho anh nghe với!”. Mỗi lần nghe tôi kể chuyện tiếu lâm là ông cười sung sướng. Cười khấc khấc như con nít. Nhìn dễ thương lắm! 

Đến 1995, tôi vừa cưới xong, ông nói với ông xã tôi: “Moa muốn toa nói với Ánh Tuyết làm album của moa. Nhưng làm mộc, sẽ hát với ghi-ta, piano, saxo và với moa”. Ông xã nói lại với tôi: “Em không tốt với Trịnh Công Sơn hả! Em không tốt! Trịnh Công Sơn muốn em làm CD mà em dạ dạ và quên. Một bà lười!”. Ông xã vẫn nghĩ tôi hát hay, chứ không nghĩ tôi thiếu tự tin với nhạc Trịnh.

Năm 1997, ông bắt anh Bùi Thế Dũng, giáo viên dạy ghi-ta Nhạc viện, qua nhà tôi, lên cho được danh mục bài hát để làm album. Anh Dũng có soạn hình như bài Mưa hồng hay Còn tuổi nào cho em rất hay, Trịnh Công Sơn rất thích. Chọn được 4-5 bài, tôi bảo để bữa khác làm tiếp. Rồi im luôn. Tại tôi cứ tự ti. Nhưng một phần vì có vài nhà báo hỏi: “Bao nhiêu ca sĩ nổi lên nhờ nhạc Trịnh, qua nhạc Trịnh đánh bóng tên tuổi. Ánh Tuyết cũng không ngoại lệ?”.

Họ hỏi rất thật nhưng tôi bị sốc. Tôi nghĩ: “Mình nổi thì cũng nổi rồi, đâu cần nữa. Nghệ thuật hợp thì mình hát, hoặc yêu quý ai thì mình làm…”. Tôi thôi luôn. Nhưng 10 năm làm phòng trà, tuần nào tôi cũng có một đêm hát nhạc Trịnh. Ngay trong những đêm đó, tôi cũng vẫn sợ, không dám hát nhiều. Nhưng khán giả đã công nhận, khiến tôi mạnh dạn dần.

Ở quán Nhạc sĩ, nhiều khi ông tới sớm, tôi cũng vậy. Hai anh em ngồi với nhau buồn buồn, ông kêu: “Tuyết kể chuyện tiếu lâm vui hè. Kể cho anh nghe với!”. Mỗi lần nghe tôi kể chuyện tiếu lâm là ông cười sung sướng. Cười khấc khấc như con nít. Nhìn dễ thương lắm! Ông ít khi cười to.

Nghe chuyện tiếu lâm, trời ơi, ông cười. Mà có mình tôi với ông là lúc ông cười sung sướng nhất. Đông người, ông không cười nhiều đâu. Một tâm hồn rất lớn. Một con người lớn về nhiều mặt. Chính những giây phút hồn nhiên đó làm tôi càng thêm nhớ ông.

Bây giờ, tôi nghĩ, nếu còn sống, ông nghe cách tôi thể hiện bài hát của ông, ở một góc nào đó chắc cũng để lại trong ông một ấn tượng tốt.

N.M.Hà (ghi).

Nắng hồn nhiên

Thư viện của bài

This gallery contains 1 photo.

  Châu Thạch
NẮNG HỒN NHIÊN VÀ MƯA NGẬM NGÙI
TRONG BÀI “NẮNG CỦA THUỞ NÀO” 
THƠ KAO HOÀNG.
                   

Đọc bài thơ “Nắng Của Thuở Nào” tôi như được nương theo thơ ấy, để linh hồn đi trên dòng sông ký ức, quay về quá khứ cúa một thời thanh xuân . Chắc không mấy ai không biết bài thơ “Tuổi Mười Ba” của Nguyên Sa với hai câu thơ “Áo nàng vàng tôi về yêu hoa cúc/ Áo nàng xanh tôi mến lá sân trường”. Hai câu thơ của Nguyên Sa đã được Kao Hoàng nhớ lại trong bài thơ của anh bằng hai câu thơ rất mới “Nhớ câu thơ ngày ấy áo em vàng/Ta có lẽ mai về yêu hoa cúc”. Bằng hai câu thơ nầy, Kao Hoàng đã nhắc tôi hoài cảm vê một thời vàng son, yêu đương và vụng dại.

Bài thơ có 5 khổ, Kao Hoàng đã đặt cụm từ “Chào phương vĩ” vào trong câu đầu của 4 khổ thơ. Điều đó gây ấn tượng cho ta về những niềm vui tràn đến, náo nức trong tâm hồn những ai rất lạc quan và mau cảm xúc. Tiếp tục đọc

QUẺ DỊCH: CÁCH BẤM ĐỘN – (Bài 5)

Thư viện của bài

This gallery contains 3 photos.

 Nguyên Lạc

Bấm độn không có gì huyền bí, đặc biệt giành riêng cho các ông “cõi trên” tài giỏi như trong truyện giả tưởng Phong Thần của Trung Quốc viết, hoặc lời lẽ của các ông thầy bói (giả) tuyên truyền;  các bạn tự mình có thể bấm độn được sau khi xem kỹ bài này!

Đây là ghi chú thêm cho bài Quẻ Dịch về Bấm Độn, tôi tham khảo từ: THS.BS Kiều Xuân Dũng cùng với sự tìm tòi thêm của mình, xin ghi ra đây.

CÁC ĐIỀU CẦN NHỚ

Trước hết, xin các bạn chú ý kỹ Hậu Thiên Bát Quái, thuộc lòng vị trí của các Quẻ (đơn) và nhớ kỹ số của Bát quái (được ghi ra ở dưới) Tiếp tục đọc

Dùng Muối Vừa Phải

Thư viện của bài

This gallery contains 1 photo.

Bác sĩ Nguyễn Ý Đức

Muối ăn (NaCl) là những hạt mầu trắng, vị mặn, tách ra từ nước biển hoặc khai thác từ mỏ di tích của biển. Đây là một chất cần thiết cho mọi sinh vật nhưng cũng có nguy cơ gây bệnh nếu dùng quá nhiều.

Muối ăn được dùng từ thuở rất sớm trong lịch sử  loài người. Trước đây, vì khan hiếm, nên muối là nguồn lợi mà nhiều lãnh chúa tranh giành. Ngày nay, nhờ kỹ thuật tinh chế tân tiến, muối được sản xuất dễ dàng, nhiều hơn và rẻ hơn.

Về cấu tạo hóa chất, muối ăn gồm hai phần tử là natri (40%) và chlor (60% ). Natri có  trong nhiều thực phẩm, nhất là trong thực phẩm chế biến và các loại nước uống.

Nhiều người cho là muối biển tốt hơn nhưng thực ra muối từ biển và muối từ mỏ có cùng lượngnatri như nhau. Có thể là ở một vài mỏ, muối ít mặn vì nước biển xưa kia cũng nhạt hơn nước biển ngày nay

Vai trò muối trong cơ thể

Trong cơ thể, muối nằm trong các dung môi lỏng (50%), dự trữ trong xương (40%) và 10% trong các tế bào.
Tiếp tục đọc

Quê hương ngày trở lại (kỳ 2)

Thư viện của bài

This gallery contains 1 photo.

Thụy Khuê

(tiếp theo kỳ trước: https://trangvhntnguoncoi.wordpress.com/2019/05/16/que-huong-ngay-tro-lai-ky-1/

Côn Đảo

Từ Sài Gòn, chúng tôi lấy máy bay ra Côn Đảo.

Chiếc máy bay nhỏ chở đầy hành khách, không một chỗ hở. Mọi người cười nói ồn ào, dường như quen nhau cả. Tôi để ý: hầu như không có người Nam, máy bay chở toàn người Bắc. Có lẽ đây là một đoàn du lịch có tổ chức, mà chúng tôi là hai người lạ duy nhất lạc vào, lại ăn mặc lôi thôi, không giống ai. Tôi đã chú ý đến đám này ngay từ lúc đứng xếp hàng ở Tân Sơn Nhất, vì ông già nhà tôi (kẻ hay than phiền nhất thế giới) lầu bầu rằng mình đến trước mà bị người đến sau lấn chỗ, lời qua tiếng lại với một người đàn ông cao lớn như Tây, áng chừng là trưởng đoàn; thế là ông Tây ta tay dứ nắm đấm định đánh: “Thằng già điên, liệu hồn, muốn chết hử?”. Tôi vội vàng líu ríu xin lỗi, vì sợ ông lỡ tay đánh thật thì ông già nhà tôi ra ma ngay.

Từ lúc ấy tôi mới quan sát phái đoàn kỹ hơn: Các ông bà đều mặc quần áo đắt tiền, cười nói oang oang như chỗ không người (y hệt bọn Tây đi du lịch các nước nhược tiểu cách đây mấy năm về trước) giọng en-nờ, e-lờ lẫn lộn. Các bà vận áo đầm đúng mốt, phấn son sặc sỡ, ví vuy-ton loại mới, tôi chắc ví thật. Thứ ví đầm này chúng tôi ở bên Pháp đã ba đời, không đời nào dám mua, vì giá nó đắt bằng một tháng lương người trung lưu, nhưng hai con cháu ngoại tôi lại chê xấu, chúng bảo chỉ tuyền một mầu nâu xỉn và in toàn chữ LV viết móc vào nhau, không có gì sáng tạo. Bây giờ nhà vuy-ton cũng thấy nhược điểm ấy rồi, họ tân trang mầu sắc rực rỡ chẳng kém gì các mác khác. Tiếp tục đọc

Xin Tạ Ơn Em

“Xin Tạ Ơn Em” của Khê Kinh Kha
Hoàng Lan Chi Cảm Nhận

Chưa phải là cuối tuần nhưng có chút gì đó để tôi tưởng như là hôm nay ngày thứ bẩy!

Có lẽ bởi trời cuối đông, lạnh giá không còn.
Có lẽ bởi giàn mai vàng hoa chi chít.
Có lẽ bởi lòng tôi dường như đang chuẩn bị cái gì đó…

Và trong cái man mác của chiều đông, tôi mở nghe “Xin tạ ơn em” của Khê Kinh Kha sau cái ‘thỉnh cầu” của tác giả!

Quen từ vài năm, hiểu tính tôi nên KKK lúc nào cũng “năn nỉ” cái gì đó. Mà tôi thì hay “bắt nạt” bạn bè. Tính “xấu” thật nhưng trong cái “bắt nạt” (đúng ra có khi là giả vờ bắt nạt) là cái “ sẵn lòng”. Và vì thế bạn hữu vẫn ở quanh tôi…

Tôi thoáng ngạc nhiên khi dòng nhạc mở đầu. Bình thường nhạc cho người tình trăm năm rất nhiều gượng ép. Tôi đã từng thực hiện một chương trình “Nhạc cho người tình trăm năm” và nhận thấy vậy. Quả kỳ lạ, nhạc cho mẹ có thể hay nhưng nhạc cho vợ sao hiếm bài sống lâu dài trong lòng người thưởng ngoạn? Tuy vậy, khi nghe hết “Xin tạ ơn em” của Khê Kinh Kha, tôi nhận thấy lời có vẻ rất “trôi” với nhạc. Tôi nghe lại lần hai rồi lần ba, bốn cho ngấm hơn.

Cảm tưởng của tôi là giai điệu nhẹ nhàng, âu yếm, thủ thỉ. Giai điệu này có vẻ dễ hát cho mọi người. Toàn thể dòng nhạc toát lên những điều ấy. Không ảo não rên siết và cũng chẳng kích động ồn ào.

Nhẹ nhàng và có chút u hoài ở phút đầu :

“Xin cám ơn đời, cuộc đời đã mang, em đến trong đời tôi.”.

Nốt nhạc chìm xuống nhẹ nhàng và sau đó hơi vút cao

“ Em gieo mơ ước, trong đời,
Emtre2em ươm cuộc tình mê say,
cho tôi xây mộng đời dài,
cho tôi một đời gắn bó trong tình lứa đôi”.

Giọng hát thật dịu dàng và thủ thỉ. Tôi thoáng ngạc nhiên vì lời nhạc. Những lời viết cho người tình trăm năm thật dễ thương

Em đã cho tôi ngày tháng mặn nồng
em đã cho tôi tình nghĩa vợ chồng
cho tôi niềm tin cùng nỗi sống

Ừ nhỉ những gì chia sẻ của vợ chồng phải chăng là mặn nồng ngày thán,  là tình nghĩa,  là niềm tin để cùng nhau tiến bước.

Em đã cùng tôi qua ngàn con sóng. Tôi rất thích câu này. Gói đủ. Đủ để nói lên sự đồng hành của đôi lứa. Sau những cám ơn em, nốt nhạc hạ xuống thật dịu dàng “Người tình của đời anh”.

Kể ra Khê Kinh Kha đã có nhiều cố gắng để đưa những hình ảnh của đời sống vợ chồng vào nhạc, những hình ảnh mà tôi thấy có thiện cảm vì không dung tục mà nói lên cái đạo vợ chồng của một đời người thăng trầm với nhiều sóng gió. Câu cảm ơn này làm tôi thích lắm vì còn gì hơn món quà “con ngoan” của người vợ tặng chồng? Bao đêm mặn nồng gối chăn mà ngôi nhà vắng lặng tiếng trẻ thơ thì hạnh phúc ấy chưa là trọn.

xin tạ ơn em
người tình muôn thuở
em đã cho tôi
từng ngày yêu đương
cho tôi vạn ngàn âu yếm
cho tôi nồng ấm gia đình
cho tôi con cái ngoan hiển
cho tôi thiên đàng ở trần gian

Tôi mỉm cười khi nghe câu hát “thiên đàng trần gian”. Sau bao sóng gió, thiên đàng ấy hẳn trước kia là “địa ngục” cũng không dưới vài lần? Nhưng có cái gì đẹp đẽ mà không có giá của nó phải thế không? Hạnh phúc chỉ có giá trị khi từng có sự hiện diện của đau khổ kia mà ! Trái ngọt không phải một sớm một chiều mà là công khó vun trồng của cả quãng đời dài..

Tưởng như là thứ bẩy đi bạn nhé để mời “người ấy” cùng nghe “Xin tạ ơn em”:

 

Hay Youtube:

 

XIN TẠ ƠN EM

Xin cam ơn đời
cuộc đời đã mang em đến trong đời tôi
em gieo mơ ước trong đời
em ươmcuộc tình mê say
cho tôi xây mộng đời dài
cho tôi một đời gắn bó trong tình lứa đôi

em,
em đã cho tôi
ngày tháng mặn nồng
em đã cho tôi
tình nghĩa vợ chồng
cho tôi
niềm tin cùng nỗi sống

em,
em đã bên tôi
qua ngàn con sóng
em đã cùng tôi
qua đêm thanh vắng
qua ngày gian nan
xin tạ ơn em
người tình của đời anh

Khê Kinh Kha

Hiểu Sai Về Hạn Dùng Thực Phẩm Và Thuốc

Thư viện của bài

This gallery contains 5 photos.

Vì hiểu sai về hạn dùng, 90% người  Mỹ đã phạm sai lầm là vứt bỏ thực phẩm và thuốc quá sớm.

1/. Thực phẩm

Họ nghĩ rằng thực phẩm sẽ không còn dùng được sau ngày qui định đó, trong khi thật ra ý nghĩa đúng nhất mà các nhà sản xuất muốn nói đến là thực phẩm sẽ đạt tình trạng tươi tốt nhất vào ngày qui định trên nhãn hiệu, chứ không phải là sẽ bị hư hỏng ngay sau ngày đó. 
Một cuộc nghiên cứu mới đây do ban bảo vệ nguyên liệu thiên nhiên phối hợp với ban quy định điều lệ thực phẩm của đại học Harvard cho thấy phần đông người tiêu dụng thường lẫn lộn về ý niệm “bán đến ngày” (sell by), “tiêu thụ đến ngày” (use by), “dùng tốt nhất trước ngày” (best before).

Theo bà Dara Gunders, một trong những người tham gia cuộc nghiên cứu trên thì ý niệm lệch về ngày tháng hết hạn khiến cho biết bao thực phẩm và nguyên liệu để chế biến chúng đã bị lãng phí vì ai cũng sợ ăn vào sẽ mang bệnh. 25% người dân thậm chí còn vứt bỏ thực phẩm sớm hơn ngày quy định.  Tiếp tục đọc

QUẺ DỊCH- Bài 4

Thư viện của bài

This gallery contains 1 photo.

 Nguyên Lạc 
QUẺ DỊCH: CÁCH LẬP VÀ GIẢI ĐOÁN (tt)                                             
GIẢI ĐOÁN QUẺ
“Quẻ vạch đã lập, liền có lành dữ vì là Âm Dương đi lại giao thác ở trong. Thời của nó thì có tiêu đi, lớn lên khác nhau: cái lớn lên là chủ, cái tiêu đi là khách; việc của nó hoặc có nên chăng khác nhau, cái nên là thiện, cái chăng là ác. Theo chỗ chủ khách thiện ác mà phân biệt thì sự lành, dữ sẽ rõ. Vì vậy nói rằng: Tám Quẻ định sự lành dữ. Sự lành dữ đã quyết định không sai, thì dùng nó để dựng các việc, nghiệp lớn sẽ từ đó sinh ra. Đó là thánh nhân làm ra Kinh Dịch, dạy dân xem bói, để mở cái ngu của thiên hạ, để định cái chí của thiên hạ, để làm nên các việc của thiên hạ, là thế. Có điều từ Phục Hy về trước chỉ có sáu vạch, chưa có văn tự truyền được; rồi đến Văn vương Chu công mới đèo thêm lời, cho nên nói rằng: “Thánh nhân đặt quái xem Tượng, đèo Lời vào để tỏ lành dữ”. Khi Quẻ chưa vạch, nhân xem pháp tượng tự nhiên của trời đất mà vạch ra; đến lúc Quẻ đã vạch rồi, thì quẻ nào riêng có Tượng của quẻ ấy. Tượng nghĩa là có chỗ giống giống, cho nên thánh nhân mới theo tượng đó mà đặt ra tên. Văn vương coi hình tượng của quái thể mà làm Thoán từ. Chu công coi sự biến đổi của quái hào, mà làm Hào từ, cái Tượng của sự lành dữ lại càng rõ rệt.” (Ngô Tất Tố)

Như đã biết ở trên, Thoán từ và Hào từ  quá đơn giản, ít ai hiểu, nên người đời sau phải chú thích thêm,  tổng hợp thành bản Thập dực. . Thập  dực còn được gọi là Thập  truyện (truyện là giải thích). Đại truyện giải thích Thoán từ,  Tiểu truyện giải thích Hào từ. Tiếp tục đọc

Quê hương ngày trở lại (kỳ 1)

Thư viện của bài

This gallery contains 1 photo.

Thụy Khuê

Về Sài Gòn tôi bị lạc. Tình trạng lạc hướng kéo dài trên taxi, xe ôm, đi một mình hay cùng gia đình, bè bạn, tôi thường lẩm nhẩm trong đầu: đường này Gia Long, Tự Do đây, chắc là Lê Văn Duyệt… Nhưng khi ra đến Hà Nội, lại tịnh không có sự lẩm nhẩm nào. Hôm tới Lê Văn Hưu ăn phở, dù phố này nay đã hoàn toàn khác với trí nhớ, tôi vẫn nhận ra: đây là Lê Văn Hưu, đi tới chút nữa rẽ ngang là phố Huế. Đèn phố Huế bẩy mươi năm qua chưa bao giờ tắt trong tôi.

Những tối gần Noël, một đứa nhỏ năm, sáu tuổi dí sát mũi vào cửa kính hàng bán đồ chơi, thèm thuồng nhìn mấy con búp bê Pháp, tóc vàng, mắt xanh mà mơ đến ngày nó sẽ được ôm một con búp bê như thế, nó sẽ chải tóc, thắt nơ cho nó như thế nào, nó chưa từng dám mơ đến một ngày sang Pháp. Hôm nay, từ phố Huế, đứa nhỏ bẩy mươi ba, bước trở lại Lê Văn Hưu, đi thêm chút nữa sẽ tới phố nhà nó: Thi Sách, số bẩy. Chợ Hôm mặc dù chỉ nuôi nó có 5 năm, từ 5 đến 10 tuổi, đã trở thành người vú chưa từng rời nó bao giờ. Tiếp tục đọc

ĐỌC “KHUNG TRỜI CŨ”

Thư viện của bài

This gallery contains 1 photo.

Châu Thạch

ĐỌC “KHUNG TRỜI CŨ” THƠ TUỆ SĨ

khung trời cũ
Tác giả: Tuệ Sỹ

Ðôi mắt ướt tuổi vàng khung trời hội cũ
Áo màu xanh không xanh mãi trên đồi hoang
Phút vội vã bỗng thấy mình du thủ
Thắp đèn khuya ngồi kể chuyện trăng tàn

Từ núi lạnh đến biển im muôn thuở
Ðỉnh đá này và hạt muối đó chưa tan
Cười với nắng một ngày sao chóng thế
Nay mùa đông mai mùa hạ buồn chăng!
Tiếp tục đọc

Ca sĩ Ánh Tuyết

 Ngọn đèn lồng bền gan đỏ lửa

AT

Người con của phố cổ cứ quay quắt đi đi về về hàng tuần giữa Sài Gòn và Hội An. Nữ ca sĩ nền nã trong tà áo dài trắng cất tiếng hát “Thiên thai” như suối reo gió vút làm đắm say hàng thế hệ khán thính giả… Đẹp, kín đáo và duyên dáng một cách rất riêng. Để những ai là bằng hữu, những ai mến mộ giọng hát ấy, đã hiểu nghị lực tuyệt vời của người phụ nữ qua biết mấy chông gai trong đời sống, sẽ nhận ngay ra chị – ca sĩ Ánh Tuyết duy nhất giữa Sài Gòn, như ngọn đèn lồng cháy mãi ngọn lửa ấm giữa đời.

Một tính cách quyết liệt bên trong một vóc dáng mảnh mai, “treo cái tôi lên mà thách thức với chính mình và cuộc đời” – như lời chị. Chính nhiệt huyết “ngày trẻ xông pha, bây giờ xông xáo”, chính chất men đã ngấm cho chị bước đi như người say – say trong đời sống và say trong nghệ thuật, nuôi dưỡng giọng hát vượt thời gian.

Ngay từ nhỏ, chị đã là đứa con gái mạnh mẽ và tháo vát trong gia đình gồm toàn anh em trai. Một cô gái nhỏ có óc thẫm mỹ, ham học hỏi, thích độc lập trong mọi việc. Cô thiếu nữ ấy không được học một ngày nào trên máy may mà vẫn có thể tự cắt may cho mình những bộ quần áo ưng ý nhất. Đến thời bước lên sân khấu, chị có thể khoác những bộ trang phục quyến rũ và độc đáo đến làm ngỡ ngàng đồng nghiệp và khán giả, do chính mình thiết kế. Còn nhớ những năm đầu thập kỷ 80, chị là nữ ca sĩ đầu tiên trong nước diện jupe ngắn và quần ống rộng 1 met trên sân khấu.

Cho nên, chị cũng là người lắng nghe mọi người nhưng luôn kiên định lập trường theo cách của mình. Chị dám làm dám chịu bởi lòng yêu mến cái đẹp hoàn thiện hoàn mỹ. Chỉ có khác, bây giờ chị trầm tĩnh hơn xưa, dủ bản chất vẫn như lửa cháy, miệng nói tay làm. Mà lại thích làm ngược lại với số đông, chỉ vì biết chắc những cái ngược ấy đem lại gia vị độc đáo cho cuộc sống, như cái đẹp vượt trội chị muốn phấn đấu cho mình và chia sẻ với mọi người. Phòng trà ATB với thiết kế và trang trí như Hội An thu nhỏ, bằng ngói cũ lô xô trên mái quán, gốm cổ gạch cổ, đèn lồng đỏ giăng giăng… tồn tại tiếng tăm gữa Sài Gòn là một trong những bước đi ngược thông minh và thành công của chị. Là một cõi đi về của chị và những tri âm. Tất cả đến quán để được sống trong cái lòng và cái tình.

Chị có một niềm mê đắm đặc biệt dành cho chiếc áo dài truyền thống mà theo chị là “trang phục khêu gợi, kín đáo và lãng mạn nhất trên thế giới”. Chị say sưa bày tỏ cái nhìn thẩm mỹ về chiếc áo dài, cổ phải cao, tà phải dài, vải phải rũ mềm ra sao, hoạ tiết phải tỉ mỉ thế nào. Chị kể về niềm tự hào khi khoác lên mình chiếc áo dài trong mỗi chuyến ra nước ngoài. Do vậy, chị bảo mình tự tin nhất khi đứng trên sân khấu trong tà áo dài. Đây cũng là hình ảnh rất riêng, đầy yêu mến về người nữ ca sĩ đọng lại trong khán giả gần ba mươi năm qua.

Người phụ nữ độc lập trong suy nghĩ, sống trung thực với cảm xúc bản thân, làm việc quên mình, trân trọng thẩm mỹ và trí tuệ con người hơn bất cứ giá trị vật chất nào. Người phụ nữ từng gánh cơm bình dân đi bán ở bến đò có một ngày trở thành người thể hiện tuyệt vời nhất dòng nhạc lãng mạn và uyên thâm bậc nhất Văn Cao. Hỏi phong cách riêng của chị trong đời thường và trong âm nhạc, chị bối rối. Bỏi chị chỉ biết sống bằng tất cả sự hồn nhiên và say mê, trong mỗi việc làm, với từng nhạc phẩm. Đốt mình cháy hết nhiệt năng cho đời. Thì phong cách đã có tên: Ánh Tuyết.

 

Ngày dành cho Mẹ

Thư viện của bài

This gallery contains 1 photo.

Nguyên Lạc

HAI CÂU CA DAO VỀ MẸ

Ngày dành cho Mẹ – Mother’s Day – tình cờ tôi gặp hai câu ca dao trên web

Mẹ già như chuối chín cây
Gió lay mẹ rụng, con rày mồ côi

Thật ra thì hai câu này được rút gọn từ bài ca dao dân gian về mẹ sau đây:

Mẹ già như chuối ba hương
Như xôi nếp mật, như đường mía lau
Đường mía lau càng lâu càng ngát
Cơm nếp mật ngào ngạt hương say
Ba hương lây lất tháng ngày
Gió đưa mẹ rụng, con rày mồ côi
Mẹ già như áng mây trôi
Như sương trên cỏ, như lời hát ru
Lời hát ru vi vu trong gió
Sương trên cỏ khó vỡ dễ tan
Mây trôi lãng đãng trên ngàn
Gió đưa tan, hợp, hợp, tan, nao lòng.
(Ca dao dân gian) Tiếp tục đọc