SỰ THẬT TRẦN TRUỒNG

Võ Công Liêm Biên Soạn

gởi: huỳnh hữu ủy

     Theo ngữ ngôn văn chương thường gọi là phơi mở hay bày tỏ huỵch toẹt những gì ẩn chứa bên trong và bên ngoài sự thật của nghệ thuật. Một sự thật trần truồng (naked truth) thể hiện đậm nét qua hội họa và thi ca. Nó là đặc chất dung thông vào nhau; hội họa mô tả qua chất liệu (matter/matière) của màu sắc để thành hình, thi ca mô tả qua con-chữ (the word) để thành thơ là đường nét sống thực để diễn tả toàn bộ trong một ý thức siêu thực; nó cuộn vào tế bào não bộ để phát sinh ra trí tuệ mà có; điều này như một xác quyết của mọi trường phái khác nhau; cái đó là tạng thể không thể phớt lờ trong cái nhìn say đắm của người nghệ sĩ –visceral and unflinching was in them gaze; ngay cả hình ảnh thiên nhiên đều hình tượng hóa để mô tả sự thật. Gần như tạo nên thích thú và thỏa mãn cho tác phẩm được đề ra.   

Quả thực; đấy là điều chúng ta tìm thấy tài năng của họa nhân Lucian Freud (1922-2011). Ông đã thực hiện những gì người ta đã thực hiện, nhưng; với Freud khác biệt rõ rệt từ hình thức tới nội dung, phản ảnh một cách trung hòa qua đường cọ của ông. Một lối diễn tả hòa hợp giữa màu sắc và hình dáng của con người cho thêm phần sống động; đó là sự cố không thể che giấu vẻ đẹp thiên nhiên nơi con người.

L.Freud đã thực hiện đường nét độc đáo đó từ lâu như một vóc dáng trước tác siêu đẳng một thời của người họa sĩ. Họa nhân là cháu nội của nhà phân tâm học Sigmund Freud (1856-1939). Ông sinh ra và lớn lên ở Bá Linh, Đức quốc vào năm 1922 và định cư cùng gia đình ở Luân Đôn, Anh quốc 1933. Freud chọn truyền thống ‘sống để làm’ cho sự nghiệp của cuộc đời. Nhưng lạ thay; Freud không thuộc một trường phái hay bài bản của trường lớp. Freud đứng ngoài mọi thị hiếu để đưa đam mê vào hội họa như một sáng tạo mới và khai sáng một hướng đi khác. Một trường phái thuộc xác thịt cách riêng. Freud có lần nói: ‘Tôi muốn thể hiện toàn bộ thể xác. Đầu tiên phải là tứ chi khác / I wanted the expression to be in the body. The head must be just another limb’; là cành nhánh trong cơ thể con người, nó bộc ra một sắc màu khá đặc biệt, những mảng dầu (oil) đông cứng và dày trên gương mặt là một chứng tỏ của khát vọng. Tế bào da mặt là một kết tụ đặc biệt của con người, là ‘tiếng nói / face talk’ của hỉ nộ ái ố, là những gì không thông thường như ta nhìn mà là một sáng tỏ qua chân dung mà họa sĩ muốn vẽ. Freud thừa hiểu điều đó và cho rằng đấy là lực thu hút vào trong hình hài, dáng điệu để bước vào con đường của hiện thực; từ đầu tới chân tay. Đối với Freud chủ đề lõa thể đã đập mạnh vào bộ phận hữu cơ (organic) của con người là hữu thể: nó ngủ hay dậy là tác động tự nhiên chớ không phải là tự động hóa; nó gây mê trong trạng thái ‘chìm’ và thức tĩnh trong trạng thái ‘bị động’; nghĩa là nó dung thông để hòa nhập vào cõi tục như nguồn năng lực của dục cảm (erotic). Người họa sĩ phải vượt qua hàng rào kẽm gai của nhân thế mới đạt tới chân tướng của hội họa. Một vài họa sĩ đời nay nhại theo lõa thể nhưng thứ lõa thể đó không phải là ‘hàng hiệu’ mà là thứ hàng nội hóa chỉ vẽ cho thành hình mà thôi. Xem tranh khỏa thân của Freud mới nhận ra hội họa tả thực còn hơn những thứ tả thực khác. Bởi; Freud không thể giả dối ở chính mình khi nhận diện sự thật. Một sự thật đúng nghĩa của nghệ thuật nói riêng và văn học nghệ thuật nói chung. Cái khó của hội họa phải có con mắt để nhìn. Thi ca phải có cái tâm-như-nhất; cả hai điều hợp trong cùng một tri thức nhận biết tức hiểu được ý nghĩa của nghệ thuật hội họa và nghệ thuật văn chương. Đó là đỉnh cao trí tuệ. Bằng không chỉ là thứ mua vui không có gì giá trị nghệ thuật.

Thấm thấu nghệ thuật nhất là nghệ thuật hội họa xưa nay trở nên thứ nghệ thuật chân truyền, nghĩa là lưu lại với đời những tác phẩm vô giá mà thế giới loài người thừa nhận nó như di sản đáng qúi không thể đem ra so sánh hay lý giải mà phải nhận nó như một giá trị tuyệt đối về mặt giá trị sáng tạo và kỹ thuật điêu luyện mà nghệ nhân đã dựng nên. Cho nên chi nghệ thuật hội họa là người có con mắt tinh tường để nhận thấy cái thâm sâu cùng cốc mà họa sĩ muốn nói đến; nó không thể dửng dưng để tác hợp vào trong tranh một cách ngẫu nhiên, tùy hứng mà cả suy tư trước vật thể và hình ảnh là đòi hỏi ở nơi ngón tay của họa nhân bắt chụp được cái của trời cho; cái đó là năng khiếu thiên bẩm như trường hợp của Freud. Bởi như thế này: trong khỏa thân của Freud đã xác định vị trí trong không gian duy nhất như chính họa sĩ mô tả cái trăn trở, cái quằn quại, cái bi thảm của những gì bị ức chế, kềm kẹp trong một xã hội băng hoại của nền văn minh từ Đông sang Tây đã không thừa nhận một cách ưu ái mà cho đó là ‘ô nhiễm’. Freud vẽ là Không-Hóa toàn triệt trong như nhiên, tận dụng mọi khả năng trí thức thuộc về cơ thể (onatomy) kể cả phần xác của con người (organism); tất cả dữ kiện đó là một tổng hợp của vũ trụ con người được hình thành dưới mắt Freud, một diễn tả rất chi li từ đường tơ kẽ tóc để người xem không còn nghi ngờ giữa thực và giả. Vượt thoát của Freud chính là ý thức thức tỉnh trước tình thế, một thứ ý thức đối lập giữa bản thể và nghệ thuật là ý thức mơ về để có một đường nét sáng tạo khác với những gì đã xẩy ra trước đây, chính là lúc Lucian Freud đối diện vào một liên hệ tương giao giữa họa nhân và người hôn phối, là điển hình cho sự thật để vẽ thành tranh (khỏa thân). Đứng trên lý luận phân tâm thì đó là tâm lý thuần trực giác đang thưởng thức vẻ đẹp của vợ mình bằng trực giác hình tướng. Hình tướng của hiện thể hoàn toàn chiếm hết tâm hồn khiến cho Freud quên hết ngoại giới xung quanh mà nhìn vào đối tượng tha thể như ‘vật ngã đồng nhất’ trong trạng thái xuất thần . Có thể Freud chịu ảnh hưởng của nghệ thuật nguyên sơ, khơi dậy từ những hình ảnh khoái cảm tiền kiếp hướng về cõi đã mất?

Như đã nói ở trên Freud dựa vào châm ngôn tục truyền ‘sống để làm/life’s work’ là một kết hợp tư tưởng giữa con người và cuộc đời. Cuộc đời có ý nghĩa là theo đuổi để được giải phóng ra khỏi những gì bức xúc tồn tại, là theo đuổi cho nghệ thuật –The pursuit of liberty and the pursuit of art. Cái nhìn của Freud là cái nhìn tương quan với Jackson Pollock (1912-1956) tương quan ở chỗ là thấy được họa (painting) như một sự bộc phát đầy năng tính, bởi; họ đứng trước bóng tối của màu sắc để vén lên đó một sự thật nguyên thủy mà bấy lâu nay con người định kiến và vị nể; tránh nó như thuốc độc. Freud phủ nhận mọi hình tướng không thực của cuộc đời mà tìm thấy trong sáng tạo là một sự hóa thân của nghệ thuật –Art is a metaphor of the creation. Đúng! sự thật là cần thiết, thật sự có lợi ích ấy là đạo /way là con đường hiện hữu tối thượng; đấy là thái độ của người cầm cọ, nghĩa là thấy người thấy ta trăm trận trăm thắng. Không phải đây là quan niệm chủ quan của người họa sĩ mà là một kích động thực thể giữa ngoại giới và nội giới; tức kiểm soát một cách trung hòa (media) của màu sắc và cả chính mình. Cái bắt mắt nơi tranh của Freud không phải ở vóc dáng cũng chẳng phải trần truồng hay cái tên gọi mà chính cái đẹp của Freud nằm trong đường cọ, tợ như bút pháp nó uyển chuyển và bay bướm lạ thường. Đó là sự thực hội họa. Một sự thật phơi mở của nghệ thuật dù là huỵch toẹt cái xấu xí dị hợm, nhưng; trong đó vẫn trọn ý thẩm mỹ về con người một cách đầy đủ. Lucian Freud không phải là thứ đạo đức giả.

  (Đứng bên cạnh đống nhàu nát / Standing by the rags.1988. Oil  66 1/5” X 54 1/5” by Lucian Freud)

hinh1

Freud dựng tranh trong một cấu trúc hợp nhứt (unifying structure) đã nhồi nắn một chất liệu để vẽ lên tranh ở chính nó là một thực hiện tự nhiên không gò bó, chải chuốt mà vẫn sống động hơn thực, cái sự chấm phá, bôi bết rất thô thiểm khó coi nhưng đầy nhuệ tính. Lối vẽ đó gọi là biểu tượng hiện thực (expressionistic realist) và đã đạt tới niềm tin chung một cách chính xác của trường phái Lãng mạn (Romanticism). Vai trò chính yếu của Freud là tái phục hồi để chống lại chủ nghĩa cổ điển mới (neoclassicism) mà nhấn mạnh vào hình ảnh và xúc cảm. Đấy là bước ngoặt tạo hình để vẽ lên một bề mặt trong sáng và gợi cảm một cách vững chắc, điều này Freud thường nâng cao sắc diện đặc biệt vào đó, trong một tinh thần bao hàm những gì thương tổn và khắc khoải. Vậy thì sự gì đi vào trong tác phẩm của Freud suốt một hành trình dài dâng hiến cho nghệ thuật hội họa? Ông chẳng dâng hiến gì ngoài dâng hiến cho nghệ thuật; mặc dù thời điểm đó ông đã hứng chịu những lời lẽ thị phi kể cả đám văn nghệ sĩ. Người ta chưa hiểu hết tâm thức của người nghệ sĩ khi sáng tác: là họ bỏ vào đó những gì bi thương và khắc khoải trong cuộc đời, để rồi ông phải sống trong trạng thái căng thẳng. Dữ kiện của cuộc đời là một đấu tranh dai dẳng đưa tới một tâm thức rối loạn, tàn phá một bản năng tự tại, Freud muốn thoát khỏi cuộc đời để tìm cho mình một con đường tự do hội hoạ, nghĩa là không còn khuấy động từ bên ngoài (xã hội) và bên trong (gia đình). Đó là nhược điểm mà ông phải đương đầu để hoàn thành trọn vẹn về thân thể con người. Freud biết hoài bão đó khó để đạt tới, bởi; chung quanh ông là những yêu cầu, đòi hỏi là những gì mà con người mong muốn: mọi con người cần những thứ hài lòng, đó là một hiện hữu đã được chú ý tới –a very human need was fulfilled, that; of being noticed. Vậy thì tại sao Freud tọa vào chỗ đó để nghe những lời tha oán luôn cả vị hôn thê của mình? Freud tọa vào để tìm thấy chất lượng của con người từ ngoài vào trong, là phản ảnh đích thực từ nội quan của con người. Điều này như một thức tỉnh đánh động vào những năm trước khi chết Freud đã chiếm thời gian qúa dài (2400 giờ) để hoàn tất họa phẩm lõa thể vào năm 2007. Là chứng cớ đích thực để thực hiện hoài bão về thân thể trong đó cả xác lẫn hồn. Biết cho rằng; đây là điều hết sức chuyên tâm để đi tới tầm xa của hình tượng mà Freud nỗ lực thực hiện cho bằng được, một nỗ lực chứng minh những gì gọi là thực chất tương đương (equally substantial) dù đó là bóng tối đen đặc, là cảm thức tinh nguyên mỗi khi đụng tới.Tuy nhiên; qua giảo nghiệm sinh học để nhận ra trong Freud một sự hiểu biết rộng lớn về cơ thể học mà ông đã trau dồi kỹ lưỡng trước khi dựng thành tranh (painting) đặc biệt là tranh chân dung. Tranh của Freud thường cho ta một sự choáng ngợp, một sự khó chịu là thứ kinh nghiệm đối đầu khi đứng trước tranh của Freud, nhưng; nhìn lâu ở đó có một cái gì gần gũi thân thiện. Chính trong vóc dáng trầm lắng của Freud mỗi khi ngồi thường cúi xuống như muốn che giấu điều gì; cảm thức đó chính là sự sợ hãi của con người đang đứng trước đổi thay từ mọi phiá, biến Freud trở nên thụ động trước hoàn cảnh cũng có thể từ phía gia đình ông (?). Chân tướng thực sự của con người đối với Freud vẫn còn trong vòng khám phá…

Freud là người giàu trí tưởng và phân tích (có lẽ chịu ảnh hưởng của ông nội Sigmund Freud). Vốn dĩ đã in sâu trong tiềm thức của Lucian Freud là không thu giấu, không bao che (nakedness), muốn lột trần  để không còn thấy thực và ảo. Đấy là lý do tuyệt đối để phơi mở toàn thân của con người. Chủ đề về hai hệ phái nam/nữ đã đem lại những khi không mấy cảm tình hoặc coi đây là thúc đẩy từ ức chế, kiềm hãm. Freud nhìn vào tranh lõa thể là sản phẩm tương đương thuộc điêu khắc của họa phái; tự nó đã trở nên quan trọng đối với Freud. Tác phẩm của ông được đánh giá cao đối với mỹ thuật hiện đại và đã được phân tích, so sánh như những danh họa trước đây với một thành quả to lớn; Freud lột tả toàn phần về cơ thể con người để đi tới một sự thật chân chính giữa hồn và xác, giữa ảo và thực; đấy là triết lý nhân sinh trong hội họa. Freud quan niệm hội họa là tiếng nói không lời nhưng lại có âm vang trong màu sắc. Bởi; nó được xác định vị trí cố hữu nằm trong không gian duy nhất để nhận thức thế nào là hữu thức và vô thức trong thế giới của con người. Khi đứng trước họa phẩm của Freud chúng ta không còn thấy ở đó cái gì là ảo tưởng, là suy đồi, là tục lụy; nó tách ra khỏi một chủ thể hiện hữu và ngay cả khách thể cũng không có trong tranh của Freud. Vì rằng; nó đã tách ra khỏi dòng sống như nhiên, đó là phương tiện thoát ly cuộc đời đang sống để về với cái thực chân như của hội họa, không còn qui ước, khuôn phép, phiến diện hay bó buộc mà tạo vào đó một môi trường sống thực của ‘tòa thiên nhiên’… Đó là tiềm tàng trong tâm hồn người nghệ sĩ, là động lực thúc đẩy từ ý thức, từ nhận biết để sáng tạo nghệ thuật. Một thứ nghệ thuất bất biến, bất di, bất dịch mà thứ nghệ thuật để đời, cái mà người ta không làm nên được. Từ đó về sau Freud được xem là một trong những họa nhân đương đại ở tk. thứ hai mốt. Hiếm mà tìm thấy một chất liệu độc đáo như thế. Tranh của Freud đôi khi thấy trên bề mặt của nó một sự ngỡ ngàng của một thứ chất lỏng nhầy nhậy. Một chuyển dịch biến thể của hình thể không có trong vóc dáng, tợ như rèm thưa không có đường may. Đó là kết quả khác thường trong hình ảnh trầm lắng đọng nơi tranh.

(‘Và đó . Vị hôn phu / And the Bridegroom’ Oil. 91” ¼ X 77” ¼   1993. by Lucian Freud)

hinh2.jpg

Trong tranh của Freud đã để lại cái không ‘đẹp mắt’, ông phết lên đó một sắc màu bạc nhợt, những góc cạnh đổ gãy là lối vẽ đặc thù mà ông muốn dựng vào đó một thể cách nhất quán, nghĩa là trước sao sau vậy là phản ảnh vào cái bên trong (inner) của từng nhân vật; nhất là bày tỏ cho một tình yêu sau cơn mê.                  Nhìn chung Freud đã vẽ những gì là vẽ ở chính mình, ở vợ mình như một tự thú cuộc đời tốt hay xấu, thực hay giả; điều ấy có thể làm cho người xem thêm dị nghị ở chính họ, bởi; sự thật của thể xác mà chúng ta đã che đậy, là vì; nó xấu xí, dị hợm nhưng đó là cái đẹp tự nhiên, ‘đẹp trọn vẹn’, bởi; nó là qui ước, là khoái cảm, là tình yêu mà con người không thể chối bỏ. Freud đã có lần nói: ‘lột nó ra rồi mới thấy /open up it and see it’. Đó là điều mà Freud muốn nói đến, một tâm sinh lý đích thực về vấn đề của con người. Freud có đào tạo, có trường lớp hẳn hoi, có học hỏi, nghiêng cứu, nhưng; Freud tách ra khỏi mỹ thuật, mà tìm thấy mỹ thuật cách riêng; đó là con đường tự do dành cho hội họa. Dĩ nhiên Freud con người -khuấy động để đau khổ nhưng thành công rực rỡ / troubling and brilliant- là ở chính ông ta ./.

VÕ CÔNG LIÊM (ca.ab.yyc. cuối 11/2019)

*Hình trong bài rút từ sưu tập của vcl.

SÁCH ĐỌC: Art of the 20th Century by Taschen (London UK. Munich Germany) 2000.

*Freud Lucian (1922-2011)

-1938-1939:Tùng học ở Central Schơol of Art and Crafts in London.

-1939-1942: Studied at the East Anglian School of Painting and Drawing in Dedham.

-1942-1943: Part-time studies at Goldsmith’s College in London.

From 1946 to 1993: Triển lãm  lần đầu ở Luân Đôn, Pháp, Hy Lạp, Venice Ý, New York và nhiều nước khác trong ‘touring exhibitions’.

Tranh cuối cùng (chưa hoàn tất còn trên giá gỗ) 2011.Oil. 63” ¼ X 54”1.4. ‘Chân dung của Chó săn /Portrait of the Hound.

ĐỌC THÊM: ‘Xem Tranh’ July.2019. của võcôngliêm hiện có trên một số báo mạng /giấy trong và ngoài nước hoặc email theo đ/c đã ghi.

TRANH VẼ: ‘Người và Chim / Man and Bird’ Khổ: 15” X 22”. Trên giấy cứng. Acrylics+House-paint. Vcl# 1552015.

NGƯỜI Và CHIM / MAN And BIRD

nguoi va chim- vcl

Tranh Võ Công Liêm: Người và Chim

CÀ PHÊ ĐEN

sáng bung mắt
dậy là đi
bên kia đường
quán cà phê
nóng cháy mặt bằng
rít điếu thuốc tàn
kể nốt câu chuyện hôm qua như bao lần
từ đầu tới đuôi người ngồi đối diện bực cười
nham nhở như truyện tình lan và điệp
trên sân khấu cuộc đời chất đầy vị mặn
đám ruồi muỗi quen thuộc hát vu vơ tiếng bổng
tiếng trầm trên cánh đồng đầy chơm ba khiá
chiều hôm đi chợ về bó rau muống cong queo
thì hôm nay đứng lại ngắm nhìn bông lý bông lài
nhợt nhạt linh hồn trên manh chiếu nồi vung
hình như muốn nói điều gì mà hôm qua bỏ quên
bên đường lũ dơi chúi đầu ru ngủ trên cánh khô
tưởng chừng như treo án tử hình mà thực tình
cơm đong gạo bữa khoanh tay chờ đợi chén thù chén tạc
đầu tháng năm
lúa trổ bông
qua tháng chín
rạ vàng hoe
con mắt xốc xếch của kẻ điên khùng hăm hở hái
những vì sao trên trời lạc hướng thời tuổi trẻ
để yêu em bằng trí nhớ mông lung cháy rực trời
vẫn không thấy em sau tết mậu thân năm sáu tám
tôi . như con ve sầu lá úa
không biết sống chết về đâu
người ngồi đối diện bực cười hôm đó là tình nhân
tôi . ngụm hết tách cà phê
thả khói xuống lòng đường
em . lên xe về miền cổ xứ
để nhớ người tình cũ
ngày xưa chưa ăn tết
đêm nghe quạ khóc dài
trên con lộ không đèn

hứng từng giọt sao giữa mùa trăng tháng chạp
cả đời uống cà phê đen đắng chát không đường ./.

VÕ CÔNG LIÊM (ca.ab.yyc . mưa tuyết 12/2019).

Những Tảng Đá Kỳ Lạ

Những Tảng Đá Kỳ Lạ Nhất Thế Giới

Nhìn những khối đá dưới đây, không ít người đã tỏ ra rất bất ngờ trước độ chênh vênh kỳ lạ và tự hỏi tại sao chúng có thể giữ thăng bằng được trong hàng ngàn năm. 
Thiên nhiên vẫn luôn tạo ra những điều thú vị như vậy thách thức sự tìm tòi của con người.
Khối đá có độ thăng bằng rất cao này nằm ở Brimham Moor, khu vực thuộc Bắc Yorkshire, Anh. Theo thời gian, nước và gió là yếu tố chính khiến nó bị xói mòn, trong đó phần dưới cùng phải chịu những tác động mạnh mẽ nhất. Hình ảnh chúng ta thấy ngày nay là một khối đá đồ sộ cân bằng trên chóp của một hòn đá rất nhỏ bên dưới.
Cột đá kỳ lạ này nằm ở Digby, Nova Scotia, Canada. Sự chênh vênh của nó khiến người ta có cảm giác tốt nhất nên tránh xa vì nó sẽ đổ bất cứ lúc nào.
Tảng đá sa thạch khổng lồ trong bức ảnh nằm trên đỉnh một mỏm đá tại khu vườn của các vị thần (Garden of the Gods park) gần Colorado Springs, bang Colorado, Mỹ.
Khu đồi Matobo của Zimbabwe được cấu tạo hoàn toàn từ đá granite, thiên nhiên đã ban tặng cho chúng những hình thù hết sức thú vị, chẳng hạn như khối đá cân bằng được đặt tên là “Mẹ và con”ở trên.
Được tìm thấy tại khu vực “Sa mạc trắng” của Ai Cập, tảng đá vôi (còn được gọi là đá nấm) trong bức ảnh trên được hình thành qua quá trình hàng ngàn năm bị gió làm cho xói mòn với tốc độ mạnh nhất ở đoạn giữa bệ đá.
Hòn đá Yeager nặng 440 tấn tọa lạc trên cao nguyên Waterville, Washington khoảng 13.000 năm trước đây bên trong dải băng Cordillera. Tảng đá có hình dáng như bây giờ khi băng bắt đầu tan chảy.
Xuất hiện tại công viên quốc gia Yosemite ở California nhờ quá trình vận chuyển của một dòng sông băng từ rất nhiều năm về trước, tảng đá kỳ lạ vẫn đứng vững trong tư thế không thể cân bằng hơn.
Đây là một trong những tảng đá đặc biệt tại sa mạc Moab thuộc tiểu bang Utah (Mỹ). Chỉ cần một trận động đất là có thể khiến khối đá cân bằng này lung lay, cho nên sự hiện diện của chúng cho thấy đây là khu vực có cấu tạo địa chất khá ổn định.
“Krishna’s butterball” là hòn đá được di chuyển do băng xuất hiện từ thời kỳ băng hà và hiện nằm trên một sườn đồi gần khu vực Mamallapuram, Ấn Độ.

NHỮNG BỨC HÌNH HIẾM THẤY

 
15张照片,见过1张算你牛!(一)

Già nhất thế giới nhưng vẫn… tươi như hoa
15张照片,见过1张算你牛!(一)

Cây “càng gìa càng do càng dai” lạ lùng
15张照片,见过1张算你牛!(一)

15张照片,见过1张算你牛!(一)

15张照片,见过1张算你牛!(一)

Thân cây tuy già nhưng vẫn… “cười toe”
15张照片,见过1张算你牛!(一)

 Vẫn vững như bàn thạch, bão tố cũng chẳng… nhằm nhò gì
15张照片,见过1张算你牛!(一)

Cũng có lúc buồn… rũ người ra
15张照片,见过1张算你牛!(一)

Chúng ta là hàng xóm, bắt tay nhau chơi…
15张照片,见过1张算你牛!(一)

Đố anh nào to bằng tui
15张照片,见过1张算你牛!(一)

Tụi nó chơi ngược tui, vẫn ngon lành…
15张照片,见过1张算你牛!(一)

Bão tố, ngập lụt càng tốt tươi hơn
15张照片,见过1张算你牛!(一)

Tụi nó không cho tui xuống đất thì tui “ngồi” đây luôn
15张照片,见过1张算你牛!(一)

Đố anh nào có nhiều màu sắc bằng tui…
15张照片,见过1张算你牛!(一)

Coi kỹ đi, có thấy một em đẹp như mơ không… 
15张照片,见过1张算你牛!(一)

Lại coi kỹ nữa đi, có biết tui là ai không ?

*** Phố cổ Hà Nội sau gần 100 năm

Phố cổ Hà Nội sau gần 100 năm 

Những hoài niệm về khu phố cổ Hà Nội dưới cùng một góc nhìn,một khoảnh khắc trước và sau 100 năm.

 

https://i-dulich.vnecdn.net/2018/10/09/4-hang-khayxdinh-tien-hoang_r_680x0.jpg

https://i-dulich.vnecdn.net/2018/10/09/4-1_r_680x0.jpg

Đoạn giao giữa phố Hàng Khay và phố Đinh Tiên Hoàng, bờ hồ Hoàn Kiếm.

Ảnh trên chụp trong khoảng thập niên 1920, 1930..

https://i-dulich.vnecdn.net/2018/10/09/5_1539055962_r_680x0.jpg

https://i-dulich.vnecdn.net/2018/10/09/5-1_r_680x0.jpg

Toà nhà bưu điện quốc tế, thuộc bưu điện thành phố Hà Nội nằm ở ngã tư phố

Đinh Tiên Hoàng giao phố Đinh Lễ, nhìn ra bờ hồ Hoàn Kiếm.

https://i-dulich.vnecdn.net/2018/10/09/7-cau-go_r_680x0.jpg

https://i-dulich.vnecdn.net/2018/10/09/7-1_r_680x0.jpg

Ngõ Cầu Gỗ, nằm trên phố Cầu Gỗ. Đây là con phố một chiều, nằm trong khu phố cổ

Hà Nội. Thời xưa, đây là phố cho các học trò trọ xung quanh đến ăn cơm. Đến thời

Pháp thuộc, phố mang tên Rue du Pont en bois (nghĩa vẫn là Cầu Gỗ), là con phố chính

của Hà Nội cổ.

https://i-dulich.vnecdn.net/2018/10/09/6-rap-cong-nhan_r_680x0.jpg

https://i-dulich.vnecdn.net/2018/10/09/6-1_1539055979_r_680x0.jpg

Đường Tràng Tiền, đoạn rạp Công Nhân ngày nay, nơi biểu diễn đa năng như

sân khấu, chiếu phim. Nguyên tên gốc của rạp là Cinéma Palace, do người Pháp

khởi công xây dựng năm 1917 và hoàn thành năm 1920. Rạp được thiết kế theo

phong cách kiến trúc cổ điển của Pháp, với mục đích trở thành một rạp chiếu phim

sang trọng bậc nhất của vùng Đông Dương. Khi người Pháp tái chiếm Hà Nội,

năm 1947, rạp được đổi tên thành Eden. Năm 1954, rạp có tên Công Nhân

như ngày nay.

https://i-dulich.vnecdn.net/2018/10/09/9-hang-bacxhang-dao_r_680x0.jpg

https://i-dulich.vnecdn.net/2018/10/09/9-1_r_680x0.jpg

Ngã tư phố Hàng Bạc giao với phố Hàng Đào. Tên thời Pháp thuộc của phố Hàng Đào

là Rue de la Soie (phố bán lụa). Khi đó dọc phố có lắp đường ray tàu điện bánh sắt chạy

từ bờ hồ Hoàn Kiếm đi vườn hoa Hàng Đậu. Ngày nay đường ray tàu điện không còn

nữa. Phố Hàng Bạc vẫn giữ nghề, còn phố Hàng Đào bán chủ yếu là quần áo.

https://i-dulich.vnecdn.net/2018/10/09/11-ma-may_r_680x0.jpg

https://i-dulich.vnecdn.net/2018/10/09/11-1_r_680x0.jpg

Ngã ba phố Mã Mây, Hàng Bạc. Tên Mã Mây ghép từ hai tên phố Hàng Mã (đoạn phía

nam) và Hàng Mây (đoạn phía bắc). Thời xưa đầu phố phía nam chuyên làm hàng mã,

đoạn đầu phía bắc chuyên làm các đồ dùng chế biến từ mây và cả sợi mây nguyên liệu.

Hiện nay gần như toàn bộ phố là các nhà nghỉ, khách sạn cho khách thuê, văn phòng các

công ty du lịch, và các quán ăn, cửa hàng chuyên phục vụ khách du lịch.

Ảnh trên chụp trong thập niên 1910.

https://i-dulich.vnecdn.net/2018/10/09/14-1_r_680x0.jpg

Bảo tàng Lịch sử Việt Nam nằm ở số 1 Tràng Tiền ngày nay. Bảo tàng thành lập ngày

3/9/1958 trên cơ sở kế thừa Bảo tàng Louis Finot do người Pháp xây dựng năm 1926

và hoạt động vào năm 1932. Ngày ấy, đây là nơi trưng bày những đồ cổ thu thập từ các

nước ở Đông Nam Á. Bảo tàng do các kiến trúc sư C.Batteur và E.Hébrard thiết kế năm

1925, được coi là một đại diện lớn của phong cách kiến trúc Đông Dương.

Ảnh trên chụp trong thập niên 1920.

https://i-dulich..vnecdn.net/2018/10/09/1-hang-tre-1940_r_680x0.jpg

https://i-dulich.vnecdn.net/2018/10/09/1-1_1539055864_r_680x0.jpg

Phố Hàng Tre đoạn giao với phố Hàng Thùng, thuộc phường Lý Thái Tổ,

quận Hoàn Kiếm, Hà Nội. Ảnh trái chụp năm 1940.

https://i-dulich.vnecdn.net/2018/10/09/2-bach-hoa-tt-1972_r_680x0.jpg

https://i-dulich.vnecdn.net/2018/10/09/2-1_1539055893_r_680x0.jpg

Đường Đinh Tiên Hoàng đoạn ngã tư Tràng Tiền, Hàng Khay. Cuối thế kỷ 19,

đoạn đường này gọi là phố Hồ (hay Rue du Lac), kéo dài từ phố Tràng Tiền tới

đền Bà Kiệu. Từ ngày Giải phóng Thủ đô (1954) phố mang tên Đinh Tiên Hoàng

để ghi nhớ công lao vị vua có công dẹp 12 sứ quân, thống nhất đất nước.

Ảnh trên chụp năm 1972.

https://i-dulich.vnecdn.net/2018/10/09/3-1980_r_680x0.jpg

https://i-dulich.vnecdn.net/2018/10/09/3-1_r_680x0.jpg

Bến tàu điện bờ hồ Hoàn Kiếm nay trở thành bãi đỗ xe bus công cộng và xe bus

2 tầng. Bãi đỗ xe này nằm ở quảng trường Đông Kinh Nghĩa Thục, ở phía đông

bắc quận Hoàn Kiếm, thuộc phường Lê Thái Tổ. Thời Pháp thuộc quảng trường

này có tên là Place Négrier.

Ảnh trên chụp năm 1980.

https://i-dulich.vnecdn.net/2018/10/09/8_1539056180_r_680x0.jpg

https://i-dulich.vnecdn..net/2018/10/09/8-1_1539056185_r_680x0.jpg

Một đoạn phố Hàng Bồ, thuộc phường Hàng Bồ, quận Hoàn Kiếm. Thời kỳ Pháp thuộc,

phố có tên là Rue des Paniers. Từ sau năm 1945 phố mang tên Hàng Bồ.

Cùng thời gian đó phố Hàng Bồ là nơi tập trung các cửa hàng bán dụng cụ đan bằng

tre nứa như bồ, sọt, thúng mủng. Nay các vật dụng này đã vắng bóng trên phố.

Ảnh trên chụp trong thập niên 1950.

https://i-dulich.vnecdn.net/2018/10/09/10-dong-xuan_r_680x0.jpg

https://i-dulich.vnecdn.net/2018/10/09/10-1_r_680x0.jpg

Ngã tư phố Đồng Xuân cắt phố Hàng Mã. Cái tên Đồng Xuân chỉ mới có từ sau Cách

mạng năm 1945.Trước đây thực dân Pháp gọi là Rueduriz (tức phố Hàng Gạo).

Ảnh trên chụp trong thập niên 1980.

https://i-dulich.vnecdn.net/2018/10/09/13_1539056280_r_680x0.jpg

https://i-dulich.vnecdn.net/2018/10/09/13-1_r_680x0.jpg

Những căn hầm trú bom hay còn gọi là “hầm tăng xê” (phiên âm từ tiếng Pháp: Tranchée)

nằm trên vỉa hè khách sạn Sofitel Metropole Hà Nội, mặt phố Lê Phụng Hiểu. Hầu như các

tuyến phố ở Hà Nội giai đoạn 1965 – 1972 đều có hầm trú bom. Hầm được đặt so le hai

bên vỉa hè, giúp cho khoảng cách chạy từ nơi bất kỳ đến chỗ trú ẩn là ngắn nhất.

Ảnh trên chụp năm 1967.

https://i-dulich.vnecdn.net/2018/10/09/12-ga-longbien_r_680x0.jpg

https://i-dulich.vnecdn.net/2018/10/09/12-1_r_680x0.jpg

Lối xuống chân cầu Long Biên, nay là đường Trần Nhật Duật, thuộc địa phận phường

Đồng Xuân, quận Hoàn Kiếm. Con phố này trước đây gọi là phố Bờ Sông vì chạy dọc

quãng đê sông Hồng từ bến Long Biên đến đầu phố Hàng Muối. Nửa đầu phố từng gọi

là phố Hàng Nâu, tính từ phố Hàng Đậu đến Ô Quan Chưởng.

Ảnh trên chụp năm 1940, bởi Harrisson Forman.

https://i-dulich.vnecdn.net/2018/10/09/15-bo-ho_r_680x0.jpg

https://i-dulich.vnecdn.net/2018/10/09/15-1_r_680x0.jpg

Bờ hồ Hoàn Kiếm chụp từ phố Hàng Khay. Ảnh trái chụp năm 1967.

Những hình ảnh đi vào lịch sử của dân tộc Ukraine và thế giới.

Thư viện của bài

This gallery contains 1 photo.

Những hình ảnh lịch sử của các linh mục Ukraine Họ đứng can trường thách thức một hàng rào cảnh sát dữ dằn trang bị hùng hậu lá chắn, dùi cui, súng ống. Nắm chặt cây thánh giá hay ảnh Đức Mẹ, … Tiếp tục đọc

“Gái Việt” qua góc nhìn nhiếp ảnh gia nước ngoài

Thư viện của bài

This gallery contains 1 photo.

tiếc nuối còn đâu mái tóc lã lơi còn đâu ánh mắt trao lời yêu thương còn đâu chân bước ngại ngùng em đi giữa phố mây ngàn bước theo còn đâu bở môi yêu kiều còn đâu áo lụa trong … Tiếp tục đọc