ĐÓN NĂM DẦN BÀN VỀ “ĐÓN NĂM MÙI” –  THƠ ĐƯỜNG LUẬT CỦA LA THỤY  

Gallery

This gallery contains 1 photo.

Châu Thạch       La Thuỵ, một nhà thơ được mến mộ, còn là chủ nhân nhiều trang blogspot uy tín tại VN . “Đón Năm Mùi” là một bài thơ Đường luật ông sáng tác vào năm Mùi nào đó trước … Tiếp tục đọc

Cành mai tha hương

Khê Kinh Kha

hoa mai 1

một mùa Xuân nữa
lại về đâu đây
lòng sao hiu quạnh
lạnh theo tuyết bay

bao năm rồi nhỉ
bao mùa Xuân qua
đắng cay như rượu
ai còn nhớ ta

quê nhà xa ta
hay ta xa nhà
bao năm lạc bước
bao niềm xót xa

mẹ gìa đâu nữa
bạn hiền còn ai
nụ mai nào nở
rượu nào cuồng say

có tiếng pháo nào
trong ai không nhỉ
có giọt rượu nào
say lòng người đi

có giọt lệ nào
ướt bờ môi thơm
có an ủi nào
thoa dịu đau thương

còn đây năm tháng
qua nhanh, qua nhanh
như dòng sông cuốn
mang nỗi sầu riêng

tạ ơn tạ ơn
còn đây vợ hiền
tựa vai cùng bước
giữa đời buồn tênh

Xuân đi Xuân đến
phận người bơ vơ
cuối đời ngồi nhớ
khoảng trời xa xưa

một mai xuân nữa
có còn ta không
xin cắm trên mộ
cành mai tha hương.

Khê Kinh kha
(Virginia, Jan 22, 2022)

TẾT

Hoàng Xuân Sơn

hoamai

Tôi viết bài thơ như xõa tóc
giữa chốn ngàn mai xuân lánh về
nghe trong nức nở hương thầm muộn
một chút hanh vàng một chút tê

Trong con mắt tuyết cành lê trắng
chưa đến cỏ non hẹn chân trời*
tháng giêng tháng lẻ buồn như chiếc
gương tẻ như hồn chiếc bóng soi

Tôi vẽ dung nhan mùa hạnh lộc
giọng buồn kéo thơ đi vào khung
trời hôm qua nắng từ âm độ
hát với tôi nghe giữa mịt mùng

Trùng hưng một tiết thơm ngày cũ
tôi đợi em về mưa bụi bay
tiếng thưa tiếng dạ mầu lam biếc
đã chín trầm hương tiếng ngọt đầy

Và đôi tay nhé không thừa thãi
mình kéo nhau đi chạy băng băng
tôi rủ em vào thăm phế tích
một đóa sen thơm đẹp vĩnh hằng

h o à n g x u â n s ơ n
sáng 22 tháng giêng năm 22
[22.1.22]

*Truyện Kiều

 

XUÂN LẠi VỀ

Nguyên Lạc
 
hoa mai 6
.
1.
Năm cũ rồi giã biệt
“Thời gian như vó câu”
Lột bỏ tờ lịch cuối
Bỏ luôn cái ruột sầu
Treo lên trang lịch mới
Cố quên chuyện bể dâu
Xuân đã về rồi đó
Muôn hoa đang khoe màu
Chim líu lo ca hát
Người hân hoan chúc nhau
.
2.
Một cành mai nở sớm
Xuân về rồi biết không?
Ngày mới hương xuân đượm
Da diết chi trong lòng?
.
“Chớ bảo rằng vô vọng
Ðêm qua sân… cành mai” *
Ngâm câu thơ Mãn Giác
Sao lòng vẫn ưu hoài!
.
Hình như tiếng thở dài
Đời chỉ là huyễn vọng
Tìm đâu trời phương mộng?
Tình nào không phôi phai?
.
Xuân mới rực vàng mai
Mang tin vui vạn lòng
Xuân tràn đầy ước vọng
Mọi điều rồi sẽ qua!
.
Quá khứ cuộc chia xa
Vết thương rồi sẽ lành?
Một khối tình rất cũ
Sao hoài mới trong tâm?!
………
Mạc vị xuân tàn hoa lạc tận
Đình tiền tạc dạ nhất chi mai (Thiền sư Mãn Giác)

.
Nguyên Lạc
 
 

Năm Dần – Year of the Tiger

Nổi bật

CUNG CHÚC TÂN XUÂN

tiger yr

Hổ là con giáp thứ ba trong số các cung hoàng đạo của Trung Quốc. Theo truyền thuyết, Cộp tự tin rằng không ai có thể cạnh tranh với tốc độ và sức mạnh của nó đối với thiên thể quyết định thứ tự của các cung hoàng đạo. Tuy nhiên, khi Tiger trèo ra khỏi sông, nghĩ rằng đó là đầu tiên, nó được thông báo rằng Chuột đứng đầu vì sự tinh ranh của nó và Trâu đứng thứ hai vì sự siêng năng của nó. Điều này khiến vị chúa tể rừng xanh phải xếp ở vị trí thứ ba.

Những người sinh năm Dần mạnh mẽ và đầy tham vọng, táo bạo và can đảm, nhiệt tình và hào phóng, tự tin với ý thức công bằng và cam kết giúp đỡ người khác vì lợi ích lớn hơn.

H Ư Ơ N G X A

h o à n g x u â n s ơ n

image001

Từ Vườn Khuya Bước Về, Đinh Cường

 

Và rồi chạm tới hoang khơi
hoàng hôn vữa tím lạc trời xanh mê
ôi đôi mắt. ban mai, kề
những món tóc rủ hồn khuê lạnh vàng
tuổi đời lánh một cung ngang
mùa nao đàn giọt tình tang với lời
còn nghe âm thư gọi mời
nụ môi chiết một cành lơi lả thầm
phải hôm xưa trăng hồ cầm
nguyệt ghi một nét từ ân cho đời
huyền sơ chớm dạng hoa cười
trăm năm gần chút hương vời vợi xa.

h o à n g x u â n s ơ n
10. Janvier, 2022

ĐÊM ĐỘC ẨM

Nguyên Lạc
 
ke say-drunker

TRANH VẼ VÕ CÔNG LIÊM : ‘ Kẻ say / Drunker’


.
Đêm đất khách tìm đâu tri kỷ
Say cùng ta thất chí hồ trường
Bao năm cuộc đó tang thương
Trăng chìm đáy chén tha hương uống sầu!
Cố nhân sương khói về đâu?
Nghiêng sầu chếnh choáng trăng màu phôi phai
.
Rượu sầu ta uống với ai?
Nhạt nhòa sương lệ ánh trăng phai
Thiên hạ ai người lòng lớn rộng?
Nâng chén sơn hà cùng ta say
.
Mình ta say, mình ta say
Mình ta cùng với nỗi tình hoài
Sầu tràn ta uống sầu không cạn
Rượu uống mình ên chẳng chịu say!
.
Chẳng chiụ say, chẳng chịu say!
“Em ơi lửa tắt bình khô rượu
Đời vắng em rồi say với ai?” *
.
Say với ai, say với ai?
Thất chí hoa niên vội bạc đầu!
.
Bạc đầu thật, bạc đầu sao?
Thanh xuân khát vọng còn đâu!
Cuối đời nát mộng còn sầu lưu vong!
……….
* Câu thơ Vũ Hoàng Chương
.
Nguyên Lạc
 
 

If One Day

Khê Kinh Kha

diemphuong3

If one day you don’t kiss me anymore,
All the leaves and flowers are arid and die,
And the ocean has no waves dancing to the shore
There’s no rolling cloud in the blue sky

If one day you don’t hug me anymore
This world will be washed away in hopelessness,
My happiness is frozen like Arctic ice floes,
Life is very ungainly and meaningless.

If one day you don’t look at me lovingly,
And don’t say sweet words of love to me,
I know my life is full of darkness,
And my soul is like gravel under the sea.

If one day you don’t love me anymore,
The sun will die and the moon commits suicide,
This earth broke into thousands of pieces,
Is there any piece left to bury my shattered life?

If one day you abandon my loving,
I know my heart will stop beating.

Joe Hung Nguyen
(Khe Kinh Kha)

Đ  I   C H Ợ

h o à n g  x u â n  s ơ n

Những người đi chợ dọc đường lễ

tuyết trợt lời chào thăm hỏi nhau

hé ra.  mặt bịt, tuồng như biết

còn nhớ tên quen một buổi nào

hai năm ba năm dính như chết

cứng vào hãm địa chốn nhân trần

thèm đi ra khỏi đời thúc thủ

mà nặng vô cùng một bước chân

đi chợ.  chất đầy xe phẩm vật

nghe lòng trống rỗng nỗi phù hư

mây bay thì cứ mây bay sảng

về tới thiên san đỉnh tối hù

nghịch lý không chừng xuôi vạn lý

mốt mai trời đất thông thống nhau

ẵm bồng theo phúc phần tối ám

cùng đến như lai cảm nhiệm mầu

h o à n g  x u â n  s ơ n

27 tháng mưới hai, 2021

MƯA SÀI GÒN XƯA VÀ NAY  / CẢM TÁC BÀI THƠ MƯA THÁNG SÁU  

   Châu Thạch  

1SG xua

MƯA SÀI GÒN XƯA VÀ NAY

Trời Sài Gòn ngày nay mưa đã khác  

Không đổ òa để em ướt tóc, vai  

Dẫu cho em chạy trốn bước chân dài  

Hay nấn ná đợi anh cùng theo gót.  

 

Trời Sài Gòn, mưa ngày xưa vị ngọt  

Trên môi em anh thấy mọng màu son  

Mưa ngày nay chắc vị ấy không còn  

Anh đoán thế vì em đâu có nữa.  

 

Mưa Sài Gòn ngày xưa còn hai đứa  

Mưa ngày nay mỗi đứa mất một người  

Vẫn song đôi, vẫn có tiếng nói cười  

Nhưng bên cạnh không phải người xưa ấy.  

 

Mưa Sài Gòn nơi đây và nắng đấy  

Anh và em xưa mưa nắng chung đường  

Nay khác tình, khác cảnh, khác yêu thương  

Mưa hay nắng đâu cần nhau em nhỉ.  

 

Mưa Sài Gòn! Mưa Sài Gòn mộng mị!  

Đi trong mưa, anh mơ loạn đèn màu  

Con đường nào hai đứa lại gặp nhau?  

Mưa, mưa mãi, mưa dài, mưa chẳng dứt!  

CẢM TÁC BÀI THƠ MƯA THÁNG SÁU  

(Tặng Trần Thoại Nguyên và em)  

 Mưa tháng sáu em ơi mưa tháng sáu  

Có ông già viết thơ mưa thật hay  

Thơ như thế tuổi hai mươi đi học  

Viết thơ tình gởi đăng báo tặng em  

 

Mưa tháng sáu em ơi mứa tháng sáu  

Mưa Sài Gòn qua đôi mắt thi nhân  

Tuổi tuy lớn đời trải bao lận đận  

Thơ vẫn tình mưa tháng sáu em ơi!  

 

Anh đã đọc bài thơ mưa tháng sáu  

Để nhớ em mưa tháng sáu Sài Gòn  

Thưở học đường em mắt biếc môi son  

Anh theo gót đi về mưa tháng sáu  

 

Bài thơ viết có trăm từ yêu dấu  

Vườn tình yêu thi sĩ nở xanh mầu  

Lời thi nhân bút pháp sáng như sao  

Khiến anh tắm trong trời mưa tháng sáu!  

 

Đời anh vẫn lênh đênh không bến đậu  

Tình xa xưa còn nặng một con thuyền  

Tháng sáu về đọc thơ Trần Thoại Nguyên  

Thơ làm nhớ mưa tình, mưa tháng sáu!  

                      Châu Thạch  

 

 

Mừng Sinh Nhật Nhà Thơ Hoàng Xuân Sơn

khê kinh kha

birthday

SINH NHẬT CỎ HÈN

Cho Cậu Hoàng Xuân Sơn

chao ôi tám mươi thật rồi
nhanh như dòng nước ra khơi
như mưa đổ nhào từ trời mênh mông

thắp trong hồn ngọn nến lòng
dọn trong tim, buổi tiệc mừng
nào bia nào rượu nào tâm tình này

rót đầy ly, rượu nồng cay
rượu nồng cay bao tháng ngày
tháng ngày cô quạnh giữa đời bao la

nâng ly này, cạn cùng ta
ly đầy kỷ niệm xa xưa
cho men thương nhớ lên vừa gian nan

ly này nữa, ly tủi hờn
tủi hờn số phận lưu vong
xa quê xa mẹ xa dân tộc mình
xa SàiGòn, phố nhân tình
xa Hương Giang, xa nội thành rêu xanh

cạn ly này, ly lãng quên
lãng quên ngày, lãng quên đêm
lãng quên số phận cỏ hèn tha hương

say cùng ta, say thật lòng
như ngày nào nhé Xuân Sơn
cùng Xuân Giang, cùng Xuân Hùng mình say

uống thêm đi, thêm ly này
ly này có pha lệ cay
làm sao kéo lại khoảng thời gian xưa

ly nữa nhé – cạn hết đi
rượu say, nằm ngủ, không chi
may đâu trong mộng lòng ta nguôi buồn

tỉnh dậy, còn thấy tủi, thương
tỉnh dậy, còn thấy lệ tuôn
cạn thêm ly nữa cho quên nỗi sầu

rồi mai đời có ra sao
một ly một rượu có nhau
có nhau cho đến bạc đầu trăm năm

 

CHÚC MỪNG NĂM MỚI

 
 
ny happy phaobong
 
CHÚC MỪNG NĂM MỚI
(Happy New Year)

.

1.
Đêm trắng bông tuyết bay
Cố nhân người đâu biết
Tóc xanh giờ đổi thay
Bạc màu buồn da diết!
.
Năm cũ rồi giã biệt
Thời gian vèo qua song
Lột vỏ từng tờ lịch  
Còn ruột sầu bên trong!

Tháng năm rồi năm tháng
Quá khứ tờ lịch rơi
Tương lai người đâu biết
Hiện tại tiếng thở dài!
.
2.
Đêm cuối năm thắp nến
Soi từng phiến hồn xưa
Thấy sâu trong ngăn nhớ
Lời tình buồn tiễn đưa
.
Thôi em đừng khóc nữa
Khổ đau chi cũng thừa
Bể dâu đời vẫn thế
Tất cả rồi phai phôi
.
Đêm nay tờ lịch cuối
Lột bỏ thấy nỗi sầu
Treo lên trang lịch mới
Năm mới đời ra sao?
.
Cố hương vời xa đó
Lời thao thiết nhớ về
Chúc mừng người Năm Mới
Chúc Happy New Year
.

Nguyên Lạc
 
 

NỖI BUỒN THƯỢNG ĐẾ / HUYỀN THOẠI CỦA HOÀNG HÔN

VÕ CÔNG LIÊM

conon
NỖI BUỒN THƯỢNG ĐẾ

chúa biết trần gian lắm khổ đau
lửa cháy
nước ngập
bão bùng một khi
lại thêm chiến dịch thình lình bất dzơn
nhà thương nhà nhớ
cũng đành vậy thôi
ai nhè phận số long đong
không chết lửa
cũng chết chìm
một mai có bị đừng trách ông trời
chúa thương chúa cứu dân lành mỗi khi
đại dịch 19 phản hồi
từ đâu đem đến đổ thừa cho ông
lạy trời cơn lụt mỗi năm
tràn be té hủ
con cá lội
dưới sông cũng buồn
lạy trời chận đứng gió cuồng
tan gia bại sản
con kè kè
cũng thất kinh

lạy chúa con là người ngoại đạo*
bài thánh ca buồn lại buồn hơn
xin cho mưa thuận gió hòa
để mai mốt
bay về một chuyến
cho đở nhớ thầy u
đã lắm lần
chúa buồn
thế sự
đổi thay
e rằng mặt lạ** từ đâu xuống trần
đứng xa vạn dặm mắt lồi trợn trong
chúa buồn da diết là buồn
nỗi buồn còn đó biết đâu mà lường
trên cao nhìn xuống đớn đau phận người
tại vì trái cấm đời xưa thuở nào
chớ chi biết sớm thì hay vô cùng
‘lỗi tại tôi mọi đàng’***
amen !

HUYỀN THOẠI CỦA HOÀNG HÔN

nắng phả vào tôi như buốt giá tim đau như lệ sa bà
bàn tay em thuở nọ dưới mái sân trường ngày đó
đêm giã từ vang vang ngoài ngõ em nhớ không ?
để về dưới tuyết nghe bao la tự tình
thời gian ngã màu từ những khoảng trống không cùng
gọi tên em như nuối chết . bàn tay khẽ chạm vào ngực thở
phục sinh ! ôi phục sinh mùa đông rụng tràn môi em
tóc dài vuốt mặt chiều không tả
trăng nghiêng vai dưới trời quá khứ
khoát lạnh lên mình nỗi nhớ mong
huyền thoại của hoàng hôn trên sân thượng cuộc đời lất phất bay
biến tôi vào cõi hư vô không dấu tích không hư hao không hối tiếc
với nụ cười hoang dại thuở xanh ngát rừng phong
vọng từ huyết lệ của tận cùng đất đục gầm dưới mộ
tôi không là tôi với cát bụi mù tăm . chẳng là chi chẳng là không (1)
cho dù có chi chăng . tôi bước vào cõi lặng . trong bóng hoàng hôn tôi.

HÀI-KÚ THƠ

Tới đây xem
những cành hoa gãy gió . thật
đau đớn thay phận má hồng.
(võcôngliêm phỏng dịch bài thơ Hài-Kú của Ba Tiêu) (2)

Come see
real flowers
of this painful world.
(BASHÕ)

VÕ CÔNG LIÊM (ca.ab.yyc . Xmas-Eve 2021)

* Dựa vào lời nhạc của người nào..
** Aliens (UFO)
*** Rút từ kinh cầu nguyện của Thiên Chúa giáo.
(1) ‘quidquid est, est; quidquid non est, non est.’ (Descartes)..
(2) Ba-tiêu/Bashõ: Thi nhân Nhật Bản (1644-1694); người ưa trồng chuói .

BẠN TỐT BẠN XẤU (II)

 MỘT THUỞ XƯA NAY

VÕ CÔNG LIÊM

LTG: Trong só những tác giả ghi ở đây người viết chưa một lần gặp gỡ nhưng lại gặp nhau trong thơ văn tưởng như đã quen nhau từ lâu. Bởi; trong văn chương họ đã để lại một cảm nhận thiết thực đối với đời. Họ là những nhân vật tôi yêu qúy và trân trọng. Dẫu đã gặp hay chưa gặp nhau đều là những người bạn tốt. Thực hiện tùy hứng như một kỷ niệm cho nhau không ngoài mục đích nào khác. Mong vậy. (vcl)

Xin đọc BẠN TỐT BẠN XẤU, PHẦN I ,theo link dưới đây:

BẠN TỐT BẠN XẤU – MỘT THUỞ XƯA NAY

LUÂN HOÁN

   Tôi đọc thơ Luân Hoán từ thuở còn ở ghế nhà trường và cho tới khi vào đời. Mỗi bài thơ của anh đăng trên báo hay bạn bè chép lại tôi đều ‘gậm nhấm’ với những lời thơ tuyệt cú, ấp ủ nó như tình thư một đóa. Đọc thơ Luân Hoán là một nhận thức sâu sắc qua từng con chữ từ mở cho tới kết, nó song hành và quyện vào nhau như mạch thở, luân lưu trong hệ thần kinh siêu thoát không vướng đục, đượm nhiều sắc tố khác nhau đưa thơ vào một thế giới riêng biệt không ảnh hưởng một trường phái nào khác, có nghĩa rằng Luân Hóan có lập trường để dựng thơ với tư cách không vị nể mà vị tình. Thơ anh làm hầu hết theo thể lục bát có khi ngũ ngôn, thất ngôn mà trong mỗi câu thơ đan kết vào nhau rất duyên dáng nhờ có âm điệu, nhạc điệu, một thể thơ vắt dòng đúng điệu tưởng như thơ mới hơn thơ mới; cho nên chi thơ Luân Hoán dễ dàng đi vào lòng người, đặc biện ngôn ngữ thơ Luân Hoán biến mình vào âm điệu bình dân tợ như ca dao, tục ngữ hay ngụ ngôn. Ấy là điều hiếm và khó cho những người thường hay làm thơ. Từ chỗ đó mà tên tuổi anh không lạ đối với quần chúng từ trước cho tới nay. Tôi nghe nói anh làm thơ từ khi còn học ở bậc tiểu học, anh lớn dần với thời gian và trưởng thành từ thể xác đến tâm hồn. Thế nhưng anh vẫn giữ nguyên trạng của một nhà thơ chân chính, một nhà thơ ‘phong vị phú’ dẫu đời là ‘nhãn trung phù thế’ biến đổi thăng trầm, nhưng; anh một mực là kẻ sĩ không thuộc về ai mà thuộc về thi ca. Trung với thơ và hiếu với tình do đó mới có bút danh Luân Hoán là vậy. Cái hay của Luân Hoán là trầm lắng, anh không tỏ một dấu hiệu gì là thi sĩ giữa quần chúng hay bạn bè. Anh trở thành người ‘Việt trầm lặng’ không nói nhiều ngay cả đối thoại hay thư từ. Có thể cho nhà thơ quá hà tiện chữ nghĩa? -Luân Hoán rộng đường thơ nhưng đó là bản chất của con người khi đã mang thân phận thi nhân là biến mình trong thế thủ hơn biểu dương; đó là bản chất trung thực của người làm thơ hôm nay. Cũng có thể là ‘behavior’ của con người. Tôi thích tánh khí đó. Thơ Luân Hoán bình dân không cầu kỳ, không sáo mòn đọc lên tưởng như đùa cợt với con chữ, nhưng; trong sâu thẳm đó là cái nhìn nhân sinh quan cho một tổng thể của thơ và người -Of poems and man- nói thế cho cạn lời người bạn thơ của tôi. Đào sâu thơ Luân Hóan thì thấy cách hành thơ, vận thơ là một cấu trúc đặc biệt; đó là một thứ triết lý thi ca. Không ngạc nhiên! Bởi; thi sĩ phơi mở tột độ cảm thức siêu thoát trong thơ một cách đích thực.

Trước thời chiến hay hậu chiến, trong nước hay ngoài nước Luân Hoán không đổi tư chất, không lấy chuyện xưa bàn chuyện nay. Gần như anh chấp nhận mọi thứ trên đời như một định hệ; về sau anh có thái độ ẩn dật theo tinh thần nhà nho ngày xưa? hay anh đứng lại để nhìn, nhìn ở chính mình và nhìn ở chính người đâu là chân lý cuộc đời. Nghĩa rằng anh dựa vào phép lưỡng phân là tâm không biệt để hành xử cuộc đời. Hay trong sâu thẳm của thơ Luân Hoán là thứ: ‘văn chương tàn tức nhược như y’ (ND) biết đâu đó chăng!

 

Năm 2013 ngồi đợi vợ đi chợ, mở máy gặp thư Luân Hoán gởi thăm. Tôi ngạc nhiên đuợc nhà thơ tôi yêu để tâm với lời lẽ chân tình. Theo suy nghĩ có lẽ anh bắt gặp văn thơ của tôi trên các báo mà đâm ra tâm đắc đến với tôi. Tiện thể gợi ý muốn viết về Luân Hoán. Anh đáp lời và sẽ cung cấp những gì tôi cần đến; rất thật tình! Trả lời thư: ‘Tất cả những gì về thơ và hình ảnh của anh tôi đã có trong trí’. Mấy ngày sau giữa tháng 10 tôi viết: ‘Luân Hoán nhà thơ đương đại’ bài đã được nhận đăng trên một số báo trong và ngoài nước như một cảm thông sống thực về người bạn thơ của tôi.Tình thân hữu đó kết nối cho tới bây giờ.

NGUYỄN XUÂN HOÀNG (1940-2014)

chandung nxhoang

Tranh Vẽ Võ Công Liêm :Chân Dung Nguyễn Xuân Hoàng

Trước và sau 1975 tôi thoáng gặp Nguyễn Xuân Hoàng ở đường Phạm Ngũ Lão Q3 Sàigòn bên cạnh đó có Bùi Giáng, Mai Thảo, một đôi khi có Thanh Tâm Tuyền và một số nhà văn thơ khác; bởi con đường đó là nơi phát hành, in ấn sách báo. Thực ra thuở đó tôi chỉ là thằng va-ga-bông, không một chữ thơ/văn nhưng lại ưa dừng chân mỗi khi ngang qua và nghe ngóng khi người ta gọi tên nhau mà nhìn họ như những người bình thường khác và cũng chẳng biết gì về giá trị văn học nghệ thuật ở mỗi con người của họ.

Đó là cơ hội đã đánh mất, một hối tiếc về sau này của tôi. Dù rằng tôi theo học triết ở trường Văn Học đường Phan Thanh Giàng (cũ) là những gì cần thiết cho môn học của tôi. Thời điểm đó Nguyễn Xuân Hoàng là nhà giáo dạy triết học ở Nha Trang. Sau cuộc chiến tôi không còn gặp ai trên con đường xưa cũ đó, phố thị đã thay đổi dưới một hình thức thương mãi khác và hầu như một số văn nhân thời ấy đã ly tán hoặc đi về một phương trời nào đó; cũng có thể họ rút lui vì thời thế hoặc ẩn dật như một sự trốn tránh sợ theo đuổi. Văn nhân sợ như thú vật sợ mắc bẫy, sợ cho sự sống về sau (lấy gì nuôi vợ con). Hoàn cảnh cuộc đời biến đổi khủng khiếp khi tỉnh khi say chả biết đâu mà định lượng phải, trái. Cuối cùng buông xuôi!

Sau 1975 tan hàng, chạy làng, mỗi người mỗi phương, mạnh ai nấy sống, hướng đi tới là ‘thoát’ tôi bặt tin từ mọi phiá, tôi hóa thân tầm gởi giữa một Sài gòn sụp đổ. Người ta bắt đầu hướng ra biển hoặc lên non tìm động ‘mai vàng’. Bộ mặt Sàigòn thay đổi từ phồn vinh giả tạo đến vô sản giả hiệu. Tôi cuốn theo chiều gió và trôi theo giòng đời; một cuộc đời khốn đốn và khổ lụy, không lối thoát.Tôi trở thành con chuột rúc.

Cơ may đưa đẩy tôi đến đất mới vào 1979 ở Canada và lập lại cuộc đời từ tay trắng tới trắng tay mà vẫn cho đó là tuyệt thú của cuộc đời. Chẳng buồn chi, chằng hề chi. Trong cảnh sống xa xứ là một bắt đầu của cuộc đời qua ngôn ngữ, tập quán, phong thổ và nghề nghiệp. Đầu óc tôi trống, không còn thú vị. Mười năm sau mua được tập truyện của Nguyễn Xuân Hoàng (NXB Văn USA 1998). Tôi lúc đó tợ như đi giữa sa mạc gặp nước. Tập truyện dưới tựa đề: ‘Bất cứ lúc nào, Bất cứ ở đâu’ là một tạp ghi những gì trước và sau 1975. Nhờ đó mà vơi đi nỗi nhớ. Mãi tới năm 2012 duyên tình nào đưa tôi gặp Nguyễn Xuân Hoàng? Nhớ không nhầm họa sĩ Đinh Cường cho tôi điạ chỉ email. Hai chúng tôi trao đổi thư email hằng tuần, Anh viết: -thích đọc những bài viết của tôi trên báo mạng và giấy. Anh thích tranh tôi và gợi ý vẽ chân dung anh- Chân dung Nguyễn Xuân Hoàng thực hiện sau đó. Anh muốn giữ để kỷ niệm nhưng chưa tới tay thì anh đã ra đi. Tới năm 2013 thì nghe tin anh lâm trọng bệnh. Với tôi; Nguyễn Xuân Hoàng là người anh văn học và người bạn qúi. Tôi sung sướng, hãnh diện và coi đó là kỷ niệm để đời. Được biết anh là nhà văn, nhà thơ, nhà báo từ ngày còn ở Việtnam cho đến khi ra nước ngoài. Anh nổi tiếng xưa nay trong giới văn nghệ và quần chúng. Sống ở nước ngoài anh sáng giá. Nguyễn Xuân Hoàng đứng ra thành lập hay hợp tác cho: Văn Học, Người Việt, Thế Kỷ 21, báo Văn , Việt Mercury, BBC Việt cho tới những ngày cuối đời.

 

Anh không để lại gì ngoài sự cống hiến cho văn học nghệ thuật và một nền văn hóa tồn lưu cho Việtnam.

Quá trễ tràng cho tôi, một cái gì hụt hẫng đáng tiếc thay. Giờ đây anh đang nằm trong cõi tịnh tuyệt đỉnh.

NGUYỄN THỊ KHÁNH MINH

Tôi làm quen Nguyễn Thị Khánh Minh qua những bài thơ của thị đăng trên tạp chí (Hợp Lưu), báo mạng (Thư Viện Sáng Tạo) và rải rác một vài bài báo khác. Đọc thơ hay nhâm nhi thơ của họ Nguyễn là một chấn động tâm tư, bởi; thơ thị làm như truyện ngắn, đơn thuần và chơn chất, tinh khiết không pha chế hay đõm dáng, nó thực như đời thường, nhưng; thực trong đời thường là nỗi thống khổ riêng tư, là tiếng nói không lời chỉ mượn lời thơ để phủ dụ. Đọc nhiều thơ của nữ thi sĩ họ Nguyễn, càng sâu sắc bao nhiêu tôi ‘si tình’ bấy nhiêu. Đó là tả tình cho người làm thơ, bởi; nó cùng một tạng thể với tôi. Nói cho ngay tôi yêu Nguyễn Thị Khánh Minh như thuở mới lớn hay thuở còn ở sân trường đại học. Yêu thật, yêu không chối cải. Nếu thị cho tôi quá lộng ngôn thì điều đó bắt tôi phải làm thơ để giải oan. Chớ biết làm răng bi chừ. Vui thôi!

Tôi nhận thư email của y thị gời muốn tôi viết cái bạt cho tập thơ sắp tới và cuối tháng 12/2019 Nguyễn Thị Khánh Minh gởi tặng tôi tập thơ mới nhất dưới tựa đề ‘Ngôn ngữ Xanh’. Tập thơ vừa độ, in ấn đẹp với nhiều văn nhân tên tuổi ghi nhận cảm tưởng về đời và thơ của thị. Không biết bắt nguồn từ đâu thị muốn có cái bạt của tôi dành cho tác phẩm sắp in. Tôi vui! được nước phóng bút ngay sau đó. Và ; từ đó đến nay tôi ngong ngóng đợi chờ tiếng thơ mới của Nguyễn Thị Khánh Minh. Tôi vẫn đợi chờ cho dù bóng đã xế tà ở cái tuổi hiếm này. Có bề gì tôi vẫn trân qúi nó như hạt ngọc xanh của ngôn ngữ xanh: ‘Sao lại xanh? Bởi em là màu xanh / Why blue ? Because I am blue’ (Marc Chagall). Đấy là điều tự nhiên thôi !

Trong lời bạt cho tập thơ sau này, tôi ‘gõ’ khá dài chữ nghĩa như nước vỡ bờ, như thoát ly những ấm ức vốn tích lũy dành cho một cảm tưởng đáng qúy, bởi; ‘thi sĩ làm thơ dưới nhiều dạng, thơ không vần, thơ xuôi, thơ tự do tất cả đã chất chứa những bức xúc, những hoài niệm xưa cũ là tiếng vọng của người phản kháng, của thân phận làm người, của kẻ vong thân, của kẻ lưu đày và quê nhà…’ (Trích trong lời bạt của VCL).

Trang cuối Ngôn ngữ Xanh phần tác giả/tác phẩm: Thì ra nữ sĩ là người quê hương miền cát trắng, con chim bạt ngàn từ Bắc xa xôi bay về dựng tổ ở trường luật Sàigòn (1974) cho nên chi thơ của thị có tính lý luận phán xét; lời thơ lưu loát là tiềm tàng của một sự dày công. Nhờ đó mà rất nhiều báo chí đón nhận thi ca của thị và cho ra nhiều tác phẩm để đời. Tôi hân hạnh được làm bạn thơ với thi sĩ Nguyễn Thị Khánh Minh.

TRẦN HỮU THỤC

Tôi biết tên tuổi Trần Hữu Thục khi ở nước ngoài. Chớ 100% không hay biết anh là người gốc Huế, đất nước Thần Kinh với tôi và bằng hữu thân quen. Tôi biết tên anh như người khách lạ. Bao nhiêu tiểu luận, ký sự, truyện ngắn, dài của anh viết lần lược đến trong tâm não tôi. Tôi cũng chẳng phải săn lùng cái danh thị đó mà tự tìm thấy trong văn chương của anh. Tôi biết cụ thể là Trần Hữu Thục hiện định cư ở miền Đông nước Mỹ. Biết ra anh đã dấn thân và đắm chìm trong hai thế giới ngàn năm văn vật (Việtnam) và tân thế giới (Mỹ) là một dằn co trước cuộc đời anh đã lớn lên và đang sống. Anh lao đầu vào mọi tình huống của đất nước cũ/mới như một thử thách của vận mệnh. Ở quê nhà hay trên đất tạm dung sau thời kỳ hậu chiến là những nghề nghiệp đã biến đổi cuộc đời anh, tuy nhiên; Trần Hữu Thục là người ăn học nhất là chuyên về triết học để rồi đi sĩ quan (Ngụy) để rồi đi tù (Cọng sản) để rôi đi theo diện (HO) và không biết bao nhiêu thứ đổi đời khác nhau. Đặt chân tới đất Đế quốc chưa hẳn phải là thiên đường (như hằng mơ ước, như để trả thù đời) tất cả là thực và ảo (như anh đã có lần nói tới). Đủ biết là anh phấn đấu cật lực trước tình thế cũ/mới là cho anh những bài học đáng kể, những thử thách đó là anh đang tùng học ở ‘đại học đời’ hơn cả đại học đường. Học đời cho anh nhiều kinh nghiệm sống, học đường chỉ là công thức, bài bản để chuẩn bị; chớ không thể áp dụng một cách triệt để. Tôi nghĩ anh nhận thức được điều dó mới viết thành sách. Ngần ấy đủ thấy sự can đảm trường kỳ mà anh đã đón nhận. Kỳ thực thì anh không còn dư một chút thì giờ để ‘nhàn cư vi bút mực’; thế nhưng anh tự đấu tranh để thành công những tác phẩm mà anh ấp ủ từ lâu là điều đáng ngợi ca. Song hành cùng thời điểm đó tôi bắt gặp tập truyện ‘Vết Xước Đầu Đời’ dưới bút danh Trần Doãn Nho. (Xb. 1995.USA). Tôi hết lòng khâm phục người bạn cùng quê tôi; khí khái và lẫm liệt người con xứ Huế. May thay trong những thư gởi về quê nhà thì mới hay Trần Hữu Thục là bạn hữu của một số văn nghệ sĩ Thừa Thiên. Và; từ đó có đôi lần thư từ (emails) thăm hỏi nhau. Buổi đó anh định cư ở miền Đông Hoa kỳ cùng gia đình mà có lần tôi điện thăm nhưng gặp lúc anh không có nhà. Biết ra; giờ đây anh đã thiên di về miền Nam Hoa Kỳ. Cho dù anh có thay đổi nơi này hay chốn nọ. Anh nhớ cho ‘chọn lựa nào cũng đau khổ’ chả có nơi nào là thiên đường điạ giới chỉ có một thiên đường duy nhất là đến với ‘nhàn cư vi bút mực’ là tuyệt thế dẫu ở đó có chút mắm ruốc đi chăng, nhưng; đó là quê nhà.

Năm 2007 tôi nhận tập sách anh gởi tặng với nhan đề ‘Tác giả, Tác phẩm & Sự kiện’ (Xb. Văn Mới 2005 USA) Kèm theo sách tặng anh ghim một thư tay gởi riêng tôi với đôi lời: ‘ …Lại vui hơn khi được biết anh là Huế chay.Tôi ở Thành Nội trước 1975 và ở Gia Hội sau 1975.Tôi có nhiều bạn quen ở Vỹ Dạ…’. Tôi sinh ra và lớn lên ở Vỹ Da, cũng ở Thành Nội và thường hay đi lại trên con đường Gia Hội. Tiếc thay bọn mình không gặp nhau ở thời điểm đó, có lẽ; có quá nhiều biến động mà anh em mình không gặp nhau. Nhưng; tôi đã gặp anh trong văn chương thi tứ của anh; như tôi đã gặp. Được là bạn với anh là hạnh phúc tôi (chữ của Du Tử Lê). Mong tình cảm này dài lâu như cái tình của Huế xưa. Dẫu bỏ Huế mà đi !

ĐINH CƯỜNG (1939-2016)

   Nói là chưa một lần gặp nhau thì quả là không đúng, nhưng với họa sĩ Đinh Cường như tôi đã biết và thường hay gặp ở cà phê Huế hay một vài nơi giới văn nhân gặp nhau và thường khi thấy Đinh Cường ở Central Culturel d’Alliance Francaise /Trung tâm Văn hóa Pháp văn Đồng minh hội đường Lê Lợi Huế, ở đó không xa Sàigòn Morin Hotel bây giờ. Theo chỗ tôi được biết và nghe giọng nói của anh là biết anh dân miền Nam. Anh sinh ở Thủ Dầu Một, học ở Sàigòn và sau đó ra Huế học trường Cao đẳng Mỹ thuật Huế từ đầu thập niên 1960. Sống và làm việc ở Huế, anh cư ngụ ở Huế lâu hơn những nơi khác. Dạy học trường Đồng Khánh (1967) và thành hôn ở đó (vợ người Huế họ Hồ). Đinh Cường coi Huế như quê hương thứ hai. Họa sĩ chọn đất cố đô như một hòa hợp giữa linh hồn và thể xác. Bởi; trong anh chứa những gì trầm uất của đất cố đô và có một cái gì thơ mộng ở Huế đó là lý do níu kéo đời anh. Sao biết được? -Chẳng hạn xem tranh anh vẽ nặng hình ảnh của gái Huế: thường ngồi nơi khung cửa, bên hồ sen, hay sau lưng văn miếu, bến sông của Huế ẩn hiện trong một thế giới mộng mơ đầy thi vị, cảnh vật hữu tình của đồi núi, chùa chiền, sông, biển, gió mây hòa chung vào tranh và thơ của Đinh Cường và một đôi khi nhớ về Đàlạt là phong cảnh nơi anh đã sống một lần. Đó là nói về nhận định nghệ thuật chớ giao lưu với Đinh Cường thời tôi chưa được một lần, kể cả một số văn nghệ sĩ tăm tiếng một thời ở Huế; thấy đó ngó chơi chớ chưa thù tạc như nhạc sĩ Trịnh Công Sơn (gần lắm; mặc dù mẹ tôi là bạn thân với mẹ TCS) Đinh Cường và Trịnh Công Sơn là bạn tâm giao, bên cạnh đó những người như tôi biết và trò chuyện có anh Bửu Ý, Bửu Chỉ, Thái Ngọc San, Nguyễn Đính Trần Vàng Sao. Cùng học mỹ thuật Huế với Đinh Cường có anh Trịnh Cung. Những năm 1960/65 tôi thấy một đôi lần Trịnh Cung vát giá vẽ về bãi bể Thuận An để phóng vẽ, đầu đội mũ rơm (như Van Gogh) quần áo không mấy thẳng nếp. Tôi thích phong cách đó. Tôi đứng xa nhìn người nghệ sĩ một cách say mê, không biết họa sĩ Trịnh Cung còn nhớ hay quên? Tôi biết nhiều giới văn nhân Huế nhưng tôi không đến gần vì khác ‘lifestyle’, bởi; tôi là thứ va-ga-bông, học ít chơi nhiều cho nên được đứng nhìn, nghe ngóng là cao qúi lắm rồi. Gia nhập thì chắc chắn không có tôi: văn thơ họa là ‘cảnh trí’ trong tâm hồn tôi mà thôi chớ chưa một lần phơi mở. Họa sĩ Đinh Cường như tôi đã biết nhiều nhất ở thập niên 1960 là nơi tôi thường đến thư viện Pháp, họa sĩ ngồi trên ghế bành với những cuốn sách ‘Art’ của Pháp và thế giới. Tôi trộm nhìn Đinh Cường trong ăn vận từ đôi giày cho tới chiếc cà-vạt (cravate) rất thời trang đúng điệu. Đương nhiên anh là thầy giáo dạy vẽ ở Trường Đồng Khánh là trường nữ. Còn tôi đến đó đâu phải ‘mọt sách’ mà đến với Paris Matchs, Ciné magazine và đọc thơ Pháp, thuở đó Pháp ngữ của tôi lờ mờ chữ được chữ không, nhưng; thích tới đó, bởi; căn nhà Tây cổ xưa với nét đẹp kiến trúc Pháp nằm bên bờ sông Hương rất thơ mộng và đã một hai lần chụp hình lưu niệm với bà đầm, hơn nữa thích được nhìn nụ cười của bà quản thủ thư viện Pháp mỗi khi…Thời gian phôi pha; tôi bỏ Huế mà đi; đi tứ phương cho tới ngày mất dấu.

Năm 2012 tôi trao đổi văn nghệ với họa sĩ Đinh Cường, qua email gởi thăm được anh đón nhận nồng nàn và được anh nhận xét về tranh vẽ của tôi . Tôi qúi tấm bụng của anh Đinh Cường là con người xây dựng hơn tỏ bày. Những khi đi Việtnam về anh thường gởi cho xem hình chụp chung với những người thân quen. 2015 đến 2016 tôi vắng thư email anh gởi; được biết khoảng thời gian đó anh ra vào bệnh viện bất thường và sau đó nghe tin anh qua đời. Tôi vội vàng vẽ chân dung Đinh Cường qua trí nhớ. Có một điều rất ‘đồng bóng’ hằng tuần anh vẫn đọc bài của tôi trên ĐTHT/VCL không biết có thực vậy không anh ? Tôi tin !

PHAN TẤN HẢI

   Anh là người Phật giáo chính thống. Anh không mặc áo cà sa hay cạo đầu như những sư sãi hay tỳ kheo khác, anh cũng chẳng phải là cư sĩ Phật giáo hay đã là tu sĩ ‘rủ áo nhà chùa’ để hoàn tục. Không! Phan Tấn Hải nguyên chất người tu Phật, học Phật, tìm tới Phật để thấy được Phật đó là tâm nguyện của anh trong suốt hành trình của một Thiền giả; có nghĩa rằng anh đã tu tập Thiền dưới những tông phái khác nhau trong kinh điển và ngoài kinh điển để đạt tới trí huệ nhân tâm. Thành ra có nhiều người nhìn Phan Tấn Hải là người rao giảng Phật giáo. Nhìn như thế là sai lầm cho một người hết lòng tìm học Phật. Cốt tủy việc tu học của Phan Tấn Hải là lấy thiền để lý giải như phương thức hóa trị (chemotherapy) ngay cả việc xử dụng công án hay thiền đốn ngộ; trong công việc tu tập Thiền là để đi tới tánh không, không vướng, không trượt mà giữ cái thế trong bóng không vướng tục; cái cốt của Thiền là ‘giáo ngoại biệt truyền / bất lập văn tự’ (Phật Bồ Đề Đạt Ma) mà vẫn là Đạo. Đó là nói theo tinh thần của Thiền Phật giáo cho ra lẽ; đúng sách vở, bài bản chúng ta cần đọc và nghiên cứu nhiều tác phẩm nói về Phật học của Nguyên Giác Phan Tấn Hải mới thấm nhuần tư tưởng đạo lý nhà Phật (nói chung) chớ không nên lạm bàn một thứ triết lý siêu thần như vậy.

Nói về Phật ‘hằng hà sa số Phật’ nhưng; chưa chắc đã đạt tới đích Phật. Nhìn kỹ Phan Tấn Hải là người lắm công phu để cung dưỡng Phật, Pháp, Tăng là điều khó cho người nào tìm đến Phật. Anh Phan Tấn Hải là người thực hiện những gì anh nghĩ đến, hiểu đến và biết đến Phật học một cách thâm hậu. Hiếm có trên đời này nhất là cái buổi thế sự thăng trầm quân mạc vấn, muôn hình vạn trạng, chân lý ngã nghiêng… Khó lắm! Nhưng; anh Phan Tấn Hải nhứt tâm đem tâm-bồ-đề ra để phân tích đạo tràng qua từng tông phái hay chư vị pháp thân và phân tách một cách cụ thể thế nào là Thiền tu tập, bởi; theoTông Chỉ thì không dựa vào pháp tu mà đi từ chân-không mới đạt được tướng Phật, là tâm trong sạch không một mảy may ngay cả tiếng động rì rào…Anh đã thực hiện in ấn sách Phật, mạng báo để Phật tử khắp nơi hiểu trọn ý nhà Phật dẫu tu theo phái Bắc tông hay Nam tông chỉ là nhản hiệu mà thôi. Cái học Phật, tu Phật là đi từ không sang có hay ngược lại là Không / Nothingness để bắt gặp cái vô-tâm; là phương tiện thiện xảo trong phép tu học Phật. Thực vậy; anh chuyên những gì có liên quan đến Phật giáo, ngay cả sách vở, báo chí và truyền thông (báo mạng). Biết rằng hành trình đi vào Phật học anh có từ Việtnam trước khi định cư ở miền Nam California USA. Con đường tu học Phật còn dài nhưng anh không ngưng nghỉ mà là nhu cầu cần thiết cho đời người.

Tôi làm quen anh Phan Tấn Hải; bước đầu tìm thấy văn thơ và họa của anh trên báo mạng và giấy khoảng đó năm 2012. Sau lần cho ra tập ‘Tranh Vẽ Võ Công Liêm’ vào năm 2013 (NXB HNV/Việtnam) Dịp đó thi sĩ Du Tử Lê góp ý với tôi nhớ tặng một tập cho Phan Tấn Hải. Tôi làm ngay như ý DTL. Anh Phan Tấn Hải đã viết lời nhận định tập tranh vẽ của tôi trên báo Người Việt. Đọc văn phong của Phan Tấn Hải ngoài việc tu học Phật anh còn là một nghệ nhân trong cách thức của người làm văn nghệ. Tôi rất trân trọng. Và; Từ đó chúng tôi thường liên lạc với nhau. Hai năm qua cơn đại dịch hoành hành mà cường độ đó thu ngắn lại, ngoại trừ một đôi khi. Coi anh như người bạn thâm tình cùng chí hướng trong khuôn khổ của người tu học Phật. Trước sau tôi vẫn giữ nguyên vẹn tình thân hữu cao qúi với anh Nguyên Giác Phan Tấn Hải.

ĐỖ QUYÊN

   Năm 2010 tôi đọc bài thơ của Đỗ Quyên trên vanchuongviet.org tựa đề bài thơ ; ‘Ba Người Nữ Một Mùa Thu’ (Trường ca thơ). Thoáng lướt qua đã làm tôi tá hỏa tam tinh. Đọc đi đọc lại nhiều lần, suy đi nghĩ lại hơn cả tiếng đồng hồ vẫn còn trong vòng luẩn quẩn loanh quanh của ‘lưu linh đế thích’. Tôi định thần và lần lược đọc từng con chữ xem cái sự diễn trình của thơ nó đến và đi như thế nào và nó nhập hồn thi nhân trong khía cạnh nào, góc độ nào giữa không gian và thời gian để thành thơ. Tôi ấp mộng như gà mái ấp trứng chờ một ngày đẹp trời có cơ duyên để lãnh hội những gì Đỗ Quyên nghĩ và viết, bởi; lực viết và đầu óc sáng tạo chữ nghĩa của anh là một tư duy thâm hậu, một lý tài siêu thực của một nhãn quang bao quát, một tổng thể lý luận với chi tiết vô cùng tận như anh diễn tả trong tập truyện tiểu thuyết ‘Trung Việt Việt Trung’ ngần ấy cũng đủ thấy cái duy lý của nó. Thơ anh làm là một hình thái khác biệt hơn những hình thức của thơ khác; nếu đem ra ‘phòng mổ’ thì trong thân thể của thơ anh làm xương, thịt khác nhau, tế bào khác nhau, nó dính chùm, đan kết chằn chịt như hệ thần kinh không thể cắt ra từng đọan rồi ghép nối vào nhau. Phải là một bác sĩ chuyên môn thơ mới mổ cái thân thể đó ra thành thơ một cách chí lý; biến mình vào trong vũ trụ của thi ca. Thơ Đỗ Quyên là dòng thơ đương đại, ngay cả thơ tân hình thức cũng không thể đem ra nói đó là thơ tân hình thức. Tại sao? -nó là cõi riêng của thi ca, nó ra khỏi lãnh điạ của thi ca, loại thơ phá thể, phá cách công khai từ con chữ đến hành/vận thơ một cách siêu lý và tài tình. Không những một bài thơ, nhiều bài thơ khác xuất hiện hơn thập niên qua vẫn chứa hồn và tính đó cho tới bây giờ; văn/thơ của Đỗ Quyên gieo vào đó một thể cách xây dựng thơ ‘khác đời’ không riêng thi ca, văn chương tiểu thuyết, tiểu luận hay tùy bút đều chứa ở đó một cái gì muôn hình vạn trạng trong một tư tưởng vượt thoát từ ước lệ sang tiền lệ của văn/thơ đương đại. Quả không ngoa! Đây; đọc xem:

Mở đầu của bài thơ ‘Trường ca’. Thi sĩ viết: ‘Mùa thu đến và đi theo những bàn chân lá’ thơ đó nha! chớ không phải văn xuôi. Thường lắm nhưng lạ lắm; lạ từ hình ảnh đến thể cách của thơ. Đúng là ‘trường ca’ trong bài thơ;tựa: ‘Balcony tựa lối đi cày vạt’. Tôi cắt ra đây một đoạn để thấy ‘tốc độ’ thơ của Đỗ Quyên :

‘Cán ngón tay gọi thơ ra từ đầu

Tìm măng tụi bây đừng láu táu

Ai vặn thêm cho chút nhiệt đới

Để những người vợ không phải trở mình khi đêm lại’

 

‘Còn bao nhiêu chiếc xe đêm đuổi

Con dốc mãi cõng những mảng băng cong không đến’

 

‘Thi sĩ biết bàn tay vừa nhặt lên

Sợi tóc màu của mình tự rụng trong đêm’

Một câu ‘thơ-chảy’/’streaming-line’ khác của thi sĩ Đỗ Quyên như thế này:

‘Sáng sớm thứ bảy hai sẻ non đậu lên ban-công làm mắt cho bộ mặt

Căn phòng sau một đêm hóa thành phòng’

Tiếp sau đó anh liệt kê vào thơ những thi nhân trước thế kỷ và sau thế kỷ như một tỏ bày qua từng dung nhan của thi ca và thi nhân (quá dài không thể ghi hết.Tìm đọc những bài thơ/văn của ĐQ trên mạng báo). Ngần ấy cũng đủ thấy Đỗ Quyên không khác Cao Bá Quát; Đỗ Quyên vô số chữ nghĩa, vô số bồ chữ làm sao mà chia sẻ cho nhân gian (?) riêng anh thì biết mấy cho vừa. Phê bình thơ Đỗ Quyên là phải sống và làm việc như anh thời mới cầm bút phê bình hay nhận định. Còn phê cho có phê là luộc bún chưa chín nước.

Đọc văn/thơ của Đỗ Quyên thật lý thú. Nó mang lại cho ta một hình ảnh thơ siêu thực, thơ biến đổi (meta) của thể thơ siêu hình học (metaphysics poetry) một thể thơ rất khó dựng thành thơ, nhưng; với Đỗ Quyên không còn lạ nó trở nên ngón sở trường; ấy là điều tôi muốn nói hôm nay về thi ca hiện đại của Đỗ Quyên.

Mùa hè 2016 Đỗ Quyên gởi tặng tôi tập truyện (Tiểu thuyết) ‘Trung Việt Việt Trung’ dày ngon ngót 447 trang in ấn công phu (NXB Người Việt Books) tôi trân qúy đọc, đọc dài, đọc sâu qua từng phân đoạn luận để tìm thấy ngọn nguồn dựng nên một tiểu thuyết (tiểu thuyết mới) hay đó là tiểu thuyết đặc tên?.

Được biết Đỗ Quyên là người hay chữ anh đã đi qua các trường lớp từ Âu Châu sang Mỹ Châu để học và hành. Anh dồi mài chữ nghĩa thật lắm công phu, rất ít người trẻ tuổi mà thực hiện như anh. Tôi hết lòng khâm phục ý chí của Đỗ Quyên. Không những học chuyên môn anh còn sáng tác nhiều tác phẩm giá trị khác. Thật là người tài hoa văn vật. Đỗ Quyên cho tôi những cảm tình nồng hậu với lời thăm hỏỉ chân tình.

Kết thân với văn/thi sĩ Đỗ Quyên là hạnh phúc lớn.

HUỲNH HỮU ỦY

   Nói cho ngay tôi không quen biết Huỳnh Hữu Ủy và anh cũng chẳng biết tôi là cha chòi chú chóp nào cả. Thế nhưng giữa thập niên 60, ở Huế; tôi nghe bạn bè cũng như giới cầm cọ nói về Huỳnh Hữu Ủy. Sưu tra thì biết anh không phải dân dao/cọ hay đúc đồng, nặn tượng. Cái tên đã lạ mà tiếng đồn nghe lạ hơn. Thôi thì rứa hay rứa cái đã; không thể nghe qua rồi bỏ, tôi ghim nó trong đầu và đặc trọng tâm về điều này. Lân la với bạn bè thì ra anh là nhà phê bình hội họa xưa/nay. Hình như tôi gặp Huỳnh Hữu Ủy một đôi lần đâu đó hoặc nơi phòng triễn lãm tranh (ở Huế), hay ở cà phê bên hữu ngạn hay tả ngạn sông Hương ? Anh cao ráo, linh hoạt và trông cái gương mặt đầy đặn, không tròn không méo, không đẹp trai như những văn nghệ sĩ khác. Anh với tôi đồng trang lứa, nhưng; được cái anh có tài hơn tôi. Thôi! Thì rứa hay rứa cái đã, tiếng lành đồn xa. Thế nào cũng có ngày diện kiến để học hỏi. Nhưng; đến bao giờ mới gặp người nói về vẽ mà không vẽ, người nói về điêu khắc mà không đìêu khắc. Thuở đó giữa thập niên 1960 tôi lêu lỗng chơi nhiều hơn học, thích vẽ (vẻ) vời nhưng không vẽ, thích văn/thơ mà ghét văn/thơ. Ngông! Ngông thật. Giờ đây là một ân hận hối tiếc. Thì ra Huỳnh Hữu Ủy người quê hương tôi có một điều gì lẫm liệt trong đó. Anh là người chuyên trị những gì có liên can đến nghệ thuật hội họa, một nhà phê bình, nhận định ‘đường gươm’ của hội họa, những gì là nghệ thuật Đông Sơn, tranh giấy, đồ đồng, đồ gốm, tượng đúc, tượng chạm từ phù điêu đế trống đồng…Tôi hết lòng khâm phục một trí tuệ tài hoa như thế. Đọc được cuốn ‘Đường Bay Của Nghệ Thuật’ của Huỳnh Hữu Ủy viết giữa năm 1964, là lúc anh mới 18 tuổi mà có một nhận định sâu sắc và chi tiết như vậy là tuyệt xuất. Được vậy chỉ có trời cho chớ ai mà nói và viết như Huỳnh Hữu Ủy. Hiếm! bởi; anh không xuất thân đào tạo hay chuyên môn về nghệ thuật, ngay cả trường mỹ thuật anh cũng không học tới. Cái hay ở chỗ không qua trường lớp mà làm được mới là thiên tài, sự đó xưa nay ta đã tìm thấy như Mozart mấy học nhạc 5 tuổi đã viết nhạc và chơi đàn dương cầm, họa thì vô số cho nên chi đó mới lạ, mới là phi thường. Phê bình là điều không phải dễ như ta nghĩ, nó có một trí tuệ phán xét, có con mắt nhìn và một mẫu hoà màu trong trí tưởng như xử dụng computeur hiện nay. Với phê bình văn chương văn/thơ là chuyện thường tình, cứ dẫn ra, mổ xè từng phân đoạn, ‘bí’ đem văn/thơ của tác giả ra mổ như mổ xác người; đúng thì ‘hay lắm’ mà trật thì ‘tại ngoại hầu tra’.Còn hội họa hay đúc/tạc là hiện thực của vật thể, bao gồm một bố cục chặt chẽ, có tiết tấu làm nên tác phẩm chớ không thể sao lục sách này vở nọ mà cho rằng nhận thức từ cái làm ra tác phẩm. Phê bình hay nhận định hội họa, điêu khắc là người có óc mỹ thuật, có đôi mắt 3D mới nhìn thấu cái lăng kính đó. Phê mà dựa vào điển tích, điển cố hay lấy xưa lấp vô nay để nói vào tác phẩm thì đó không phải phê bình; nói về đúc/tạt đồng, sắt, gốm hay đất nung cũng phải biết nó thuộc chất liệu gì để làm nên mới là nhận định còn bằng không đó chỉ là lời nói khách quan, nó không sát diễn trình của văn chương, nghệ thuật. Nói chung viết về hội họa tợ như khách thưởng lãm chớ nó không nói lên chiều sâu của nó mà chỉ nói bề ngoài của nó mà thôi. Huỳnh Hữu Ủy không phê bình hay nghĩ tới hội họa theo dạng đó, anh viết lên những cái chưa ai viết về hội họa như tranh vẽ trên giấy, trên bố, trên ván hay tranh mộc bản một cách chi tiết và rộng mở làm cho người trong cuộc cũng như ngoài cuộc thấy được chân tướng của nghệ thuật. Tôi kính phục những người làm công việc đó khởi từ giữa tk. hai mươi cho tới nay.

Thú thật mà nói chỉ có Huỳnh Hữu Ủy làm được việc này. Ngoài chuyện phê bình, nhận định hội họa qua từng trường phái, đúc/tạt qua từng thời đại đều được anh phân tích rất chi tiết; ngoài ra anh còn viết nhiều tùy bút khác đề cập những gì không xa hội họa. Chưa gặp Huỳnh Hữu Ủy bao giờ nhưng nhận ra được một con người tài hoa trí tuệ; hiếm có giữa đời này. Dẫu sao những tác phẩm anh để lại là một tiếp nối cho những thế hệ mai sau học hỏi và nghiên cứu. Ước được hàn huyên với anh một lần là toại nguyện con đường văn nghệ tôi yêu và lao đầu vào trong cái thú đam mê nghệ thuật của ‘một vài chung lếu láo’-tôi.

VƯƠNG TRÙNG DƯƠNG.

Tôi đọc một số bài viết của Vương Trùng Dương trên báo chí và trên mạng vi tính. Đọc nhiều mới thấy bộ óc sưu tập của anh vĩ đại; nghĩa là ‘bộ nhớ’ của anh tợ như hồ sơ lưu trữ, rành rọt và chi tiết mỗi khi anh đặc bút để viết, anh viết nhiều thể loại khác nhau. Nhân một buổi điện đàm người bạn học cũ (Liên Kỳ) có hỏi tới Vương Trùng Dương, bạn tôi hồ hởi cho ngay điạ chỉ email. Sau đó tôi liên lạc với Vương Trùng Dương về chuyện viết lách. Anh không ngần ngại trả lời thư tôi gởi; thú thật Vương Trùng Dương chả biết cái tên thằng tôi là ai và từ đâu đến trong và ngoài văn chương xưa nay. Thư anh gởi cho tôi, đọc thấy con người anh ngay: cởi mở và thân tình như đã quen nhau. Năm 2008 là năm tôi mở mục ĐTHT/VCL trong danh mục đó có tên Vương Trùng Dương. Dĩ nhiên hằng tuần đều có văn/thơ/họa gởi cho anh. Và; từ đó anh rút ra đưa lên báo của tờ ‘Sàigòn nhỏ’ và ‘caliweekly magazine’ mà anh phụ trách; cứ thế cho đến khi hai tờ báo đó ‘sập tiệm’. Tánh nào tật nấy anh xoay tứ phương không báo thì mạng hay f/b. Anh có đưa văn/thơ/họa của tôi vào những trang báo như bạn tôi kể lại. Anh cho biết những bài viết (về triết học) hợp khí huyết anh, bởi anh là sinh viên triết trước 1975. Khi biết ra nhau anh Vương Trùng Dương và tôi như đã quen nhau từ xưa đến nay. Đấy là điều đáng nhớ! Đào sâu lý lịch của Vương Trùng Dương ngoài bút danh này anh còn mang trong hồn trên dưới 10 bút danh khác nhau từ trước 1975 và sau 1975. Quả là con người can trường. Can trường ở đây trên lãnh vực văn học, nhưng; không can trường trên lãnh vực chính trị, anh nghiêng hẳn vào văn chương, cho dù; anh là sĩ quan của trường Chiến tranh Chính trị / Đàlạt ngang hàng trường Võ bị Quốc gia Đàlạt. Nhưng lạ thay anh không ‘phơi’ bộ quân phục trước quần chúng khi anh đến định cư ở Hoa Kỳ theo diện HO 1990. Anh hoạt động văn học nghệ thuật ráo riết từ báo chí đến truyền thông. Với tình hình kinh tế chính trị trên đất Mỹ vấn đề xuất bản hay in ấn có phần đình trệ, người đọc thường vào mặt (screen) vi tính hơn mặt giấy (news) báo chí. Dựa vào yếu tố tâm lý đó anh nghiêng vào vi tính qua những bài viết khác nhau. Anh thường viết về giới văn học nghệ thuật xưa/nay rất đầy đủ và tình tiết. Viết nhiều đến độ tôi gọi là bộ óc lịch sử nhân văn. Khởi từ ngày đến định cư cho tới nay anh viết trên mọi lãnh vực, trên mọi khía cạnh khác nhau như người tình không chân dung mà anh gìn giữ từ bấy lâu nay.

Bút danh của anh gây cho tôi thêm chú ý. Người làm thơ/văn thường chọn bút danh cho mình, một là bí danh hai là tạo cái tên cho mình để dễ thu hút người đọc, vừa mới lạ, vừa có tính đặc thù làm cho cái tên có tính ‘phong vận, kỳ vân’ của người làm văn chương.Tôi nghĩ anh chọn bút danh đó không phải ngẫu nhiên mà chọn cho mình cái tên ‘thời thượng’ trước một trào lưu văn hóa đổi thay qua nhiều tên gọi, phản ở đó cái gì a-dzua, bắt chước, cốp-pi-cat làm mất hay thi vị của nó. Không chừng nhại theo đã không có tiếng thơm như người ta mà hóa ra mất ‘tiếng nói’.Vương Trùng Dương độc lập và khéo chọn bút danh cho mình dẫu trên dưới mười bút danh khác nhau, nhưng; nhất thiết không ‘đụng hàng’ một ai trong giới văn nghệ.

Thú thật tôi mến bút danh đó và con người đó; con người mang tên Vương Trùng Dương như đã cầu chứng.

Tên gọiVương Trùng Dương cho ta một gợi nhớ Đông Chu Liệt Quốc bên Tàu, cho ta hình dung những nhân vật truyền bí trong truyện kiếp hiệp của Kim Dung. Đó là nói theo chủ nghĩa đặc tên, chớ cái tên Vương Trùng Dương là thứ thiệt được xếp hạng xưa nay, không thể hình dung từ mà nặng lòng suy tư cho một người miệng chưa nói mà mắt đã cười của con người một đời dấn thân cho chữ nghĩa văn chương.

Kết thân với Vương Trùng Dương là hân hạnh cho tôi, học được cái sức can trường đó như tôi nghĩ.

TRẦN VẤN LỆ

Thoạt kỳ thủy khi đọc thơ của họ Trần tôi in trong đầu là nhà thơ nữ giả trai để che đi sự thật nào đó hay ẩn tàng một sự gì trong thơ và người. Không! âm ngữ của thơ là nam. Lần hồi nhận ra thi sĩ là nam giới. Thiệt ra cái chữ Lệ có đôi phần ảnh hưởng trong thơ của tôi thường chơi chữ ‘lệ’ chẳng hạn ‘lệ tràn mi’ ‘lệ ướt’. ‘ước lệ’ (nghĩa bóng chảy nước mắt, nghĩa đen là qui ước) nói chung cái gì có ‘lệ’ là tôi yêu. Thậm chí ca khúc của TCS ‘Ướt mi’ tôi cho là lệ chảy và từ đó tôi yêu chữ lệ một cách ngang nhiên, không câu nệ là tên ai hay của ai. Suốt dặm trường theo đuổi về thi ca tìm đọc, tìm học của những năm đầu thập niên 1990/1995 là những năm tương đối bình yên tinh thần với những người mới định cư ở nước ngoài và có chút thời gian thi thố văn/thơ trên báo giấy; báo giấy lúc đó có giá, tiền báo/sách khá cao, lại được nhiều người chiếu cố, có khi đặt mua dài hạng, như để có thêm ‘tài liệu’ hơn thế nữa cho vơi đi nỗi nhớ quê nhà, người viết bài báo thường nghiêng về ‘tình hoài hương/nostalgia’ là trọng tâm của tâm lý quần chúng. Ở Mỹ thì nhiều nhà sách, nhà in mở ra đắc như tôm tươi. Chiếm vị thế trên thị trường sách báo. Ở Canada và Âu châu một vài nước cũng xây dựng trên lãnh vực đó như tiếng nói của người đồng hương xa xứ. Họ viết, nói như để hả dạ, để chưởi bới không sợ ai và chẳng ai sợ ai vì đã đến được bến bờ tự do. Thù cọng sản mạnh hơn bao giờ; không ai dám đụng. Cho tới khi HO ‘đổ bộ’ lên thềm lục điạ Mỹ Châu thì rầm rộ hơn, văn chương khởi sắc từ đó. Ở Canada có tờ Làng Văn là uy tín và là nơi trăm hoa đua nở trên đất lạnh tình nồng và lắm thi/văn nhân đăng đàn, diễn thuyết trước có tiếng sau có miếng. 10 năm sau đó tờ Làng Văn đi ngủ giữa mùa thu lá bay tình thế có phần thay đổi. Ôn lại, đọc lại một số báo Làng Văn bắt gặp rất nhiều bài thơ của Trần Vấn Lệ. Thơ anh làm đại đa số là thơ tả tình, tả cảnh hơn là thơ tả oán, đặc biệt thể thơ không vần với dàn trải như văn xuôi là ngón sở trường của thi sĩ Trần Vấn Lệ. Trước đó anh có cho ra đời nhiều tập thơ mỏng dính, bià và ruột còn tệ hơn giấy ‘Giải phóng’ mới chiếm miền Nam. Những tập thơ đó, theo sự chú ý của tôi không phải bày bán mà dùng để biếu/tặng. Cũng nên biết bán gì thì có ai mua, bán thơ thì ít khi kiếm lời mà khổ công cho tác giả và chủ bán. Trần Vấn Lệ hiểu điều đó từ khi anh đi học tập về. Anh dạy học trở lại ở Đàlạt và từ đó anh càng thương càng nhớ Đàlạt, bởi; ở đó anh lắm người yêu, dù rằng anh gốc Bình Thuận mà ít khi anh nhắc tới; Một cái Đàlạt hai cái Đàlạt vì có em trong đó. Theo sát dòng thi ca tư tưởng của Trần thi sĩ mỗi ngày, mỗi tháng, mỗi năm anh vượt thoát từ ngữ ngôn thơ đến cách dụng thơ, mới thấy rõ nơi con người yêu thơ, phát tiết thơ dữ dội như thế. Trần Vấn Lệ là nhà thơ tôi dành cảm tình lớn nhất.

Vào năm 2016 không biết trời xui đất khiến mỗi lần điện đàm bạn học cũ của tôi đều nghe bạn nhắc tới Trần Vấn Lệ. Tôi vồ lấy như cọp vồ nai tơ. -Cho tôi biết thi sĩ họ Trần giờ ở nơi mô? -Ở đây nè, ngồi cà phê đây nè! Bạn tôi nói. Và; từ đó tôi và thi sĩ họ Trần kết thân. Kể cho nhau bao nhiêu chuyện thăng trầm. Ôm máy vi tính ‘rà mìn’ quê nhà từ Cao Bằng, Lạng Sơn, cho tới Mũi Cà Mâu, Hòn Lụt, Hòn Dái anh đều gởi cho tôi xem. Biết ra anh nhớ quê hương từ ngày rời xa đi theo diện HO. Tôi không dẫn thơ anh làm ở đây.Thừa! Viết xác, viết đúng thì coi như đọc thơ anh. Mong anh hiểu cho. Dẫu là gì hay là gì tôi không còn coi Trần Vấn Lệ là nhà thơ mà coi như anh em ruột thịt; là vì bộc bạch rất tình thiệt chả đượm màu hoa lá cành như những nhà thơ khác. Trần Vấn Lệ để lại trong tôi nhiều kỷ niệm vui buồn tợ như tuổi thiếu thời.

 

VÕ CÔNG LIÊM (ca.ab.yyc. Xmas-day 2021)

L  Ụ  C   B  Á  T   C  H  O  À  N  G   V A I

h o à n g  x u â n  s ơ n

{V Ắ T  D Ò N G,   SÁU  QUA TÁM}

Photo by eberhard grossgasteiger on Pexels.com


Bóng đời úp chụp thân mê
muội nghe rò rỉ từ khe nước mù
mắt còn vọng niệm thâm u
hoài công mật trú ao tù bủa vây
cánh ê ủ một chơn mày
mò trong đêm ảo còn ngây rợn tình
yêu từ kiếp nhọc sinh linh
thiêng lời biến tấu của đinh ninh về
đâu còn bước dặm thôn quê
hương trầm mặc với hẹn thề xa bay
vút theo hành trạng chia bầy
chim di xứ bỏ dạng ngày cho đêm
tối.  ừ vẫn tối, rất mềm
mại hơi tình thuở áo xiêm rực nồng

22 NOV 21


THƠ MỪNG GIÁNG SINH

Châu Thạch  

giang sinh

BÊN CÂY THÔNG GIÁNG SINH

Bên cây thông Giáng Sinh
Em đứng thật là xinh
Mừng em mùa Giáo Lễ
Em thấm nhuần lời kinh

Em là người nên thánh
Em người nữ thức canh
Em là chiên ngoan đạo
Chúa ban em phước lành!

Một mai em cất cánh
Bay qua từng vì sao
Trong chổ ngồi sự sống
Em vui hưởng ngọt ngào

Anh là anh rất mọn
Trong chuồng chiên có nhau
Hôm nay và mãi sau
Ta cùng Cha Thiên Thượng

Gởi em một lời mến
Gởi em một lời thương
Mai sau trên Thiên Đường
Dẫu không là chồng vợ

Tình không còn cách trở
Bởi dục vọng trần gian
Hóa thân về Thiên Đàng
Linh gội hồn ta sạch

Tình không còn xa cách
Tình trong trẻo vô biên
Tình như thánh như hiền
Bởi không còn nguyên tội

Ta không còn chịu lỗi
Của A-Đam, Ê-Va
Vườn Ê -Den chúng ta
Không còn cây trái cấm!
Châu Thạch

HẠT THANH CHÂU EM HÁT

Trong dãy ghế tôi bình an tỉnh lặng
Trên bục thờ em hát bản Thánh ca
Bóng hồng âm bay vút lên cao xa
Và rơi xuống hạt thanh châu vọng tiếng

Tôi cảm thấy cõi bờ xa thánh thiện
Thấy dòng sông có cây trái chửa lành
Thấy thành vàng mây trắng dợn vòng quanh
Mỗi cánh cửa là ngọc châu nguyên tảng

Em, có phải tâm hồn tôi lảng mạn
Không, em ơi đó là chốn ta về
Hai chúng mình nơi đó chính là quê
Em sẽ hát ở nơi miền vinh hiển

Nghe tiếng hát trong hồn tôi hiển hiện
Cõi vĩnh hằng không có mặt trời đâu
Sự vinh quang sẽ sáng mãi trên đầu
Ta ở đó với tình yêu tinh tuý

Tôi bỗng thấy em như hoa tuyệt mỹ
Tưởng thiên binh rải xuống một làn hương
Thơm rất thơm thứ nhuỵ ở Thiên Đường
Linh đầy dẫy và em đầy ân tứ!
Châu Thạch

THÁNG MƯỜI HAI TÌNH TRONG CHÚA

Tháng mười hai em vui không em?
Rộn ràng nhận thế mừng No-El
Em nghe chăng Thánh Ca êm đềm
Cả địa cầu vang vọng chuông đêm!

Tháng mười hai Thiên Chúa Giáng Sinh
Anh đứng bên em một cặp tình
Chúa phán hai ta lìa cha mẹ
Hòa hiệp một thân hai chúng mình!

Đời có gì đâu mà phải sợ
Trủng bóng chết hai đứa từng qua
Cánh toàn năng luôn che chở ta
Vẫn có nhau hồng ân Thiên Tòa!

Tháng mười hai rực sáng đèn hoa
Anh đưa em vào trong nhà Cha
Tưởng tình yêu như thời rất trẻ
Lòng như son quên hết tuổi già!

Tháng mười hai Jê-Su cao cả!
Tháng mười hai Jê-Su thiêng liêng!
Tháng mười hai Jê-Su năng quyền!
Tình ta trong Chúa tháng mười hai!
Châu Thạch

 

 

 

Thơ Võ Công Liêm

image001

TRANH VẼ Võ Công Liêm: ‘ Dưới cơn tuyết thổi / Under snow blower’

THI CA NGẪU HỨNG

xuân chưa về đã thấy chim én lượn
chim bay vào mây xa
không để lại dấu tích
chỉ một vờn mây trắng bay
những cụm hoa thạch thảo
nằm trơ mình với núi cao
thương thay xuân không về đón lấy
nhánh tương tư nhánh mong manh trước gió
một chút tình bỏ lại đường mưa
xa quê nhà xuôi nam tỉnh lẻ
biết nơi nào trú ẩn
gặp bạn cũ xẻ miếng cơm manh áo
lót đường mấy dậm sơn khê
tháng giêng ăn tết xa nhà
tìm nhau để gặp mộng đà thả neo
dõi mắt thời gian khốn đốn năm nào
thương đời thương kiếp phong ba
phù thế giáo trong mắt trần tục
trông cảnh tiến một chương ly ngữ
hái sen với giấc chiêm bao
thấy em trong mộng tưởng như đời thường
sen nhả tơ sen
nhựa sen vướng gót
tình không dứt được
chẳng biết giờ đây em ở nơi mô ?
ngày lạnh lùng khôn tả
đêm chuốc sầu tự thú
muốn về thăm đợi mãi ngọn thu phong
gió nơi đâu cho lá vàng bay . cuối đường trần
ta vẫn đợi dù trời đã ngã hoàng hôn
áo thổi ngoài thân trùm huyễn hoặc
bóng mây ngang qua quầng mắt nhớ
quê nhà xa lắc xa lơ
nỗi lòng quan tái biết đâu mà tìm
‘long nhãn trừng trừng không tưởng tượng
khả liên đối diện bất tương tư’*
dặm khách ly hương bao nỗi nhớ
khó mà gỡ rối tơ lòng một khi
trăng chờ nước lên cùng tuế nguyệt
mộng vỡ tan theo một sắc không
bạc đầu còn thấy được quê cũ
cảnh đó giờ đây đâu còn nữa
địch khúc một thời nghe vọng lại
tưởng như đùa cợt với núi sông
thoảng nghe mà rơi lệ theo dòng nước
cõi nhân gian vật đổi sao dời
thành quách rêu phong thành quách mới
giữa ngọ nhớ xưa thương hải tan điền
hề ! nại hồn hề ! biết làm răng ?
cây trong rừng có cây sống cây chết
làm thân gỗ đứng không sinh không diệt
một đời sống mãi với hư vô
biết ra ‘không chết’ mới là chân kinh.
*Thơ chữ Hán của Nguyễn Du (trong Bắc Hành Tạp lục)

THỦY HỎA*

hỏa tinh thủy tinh
chìm vào biển lửa
lửa bốc lên cao cho đời rực rỡ
nước âm thầm trôi giữa bến sông
là những gì ta muốn thử
tôi . nâng niu ngọn lửa tình ái
dẫu một lần và mãi mãi nghìn sau
ghét phải nói nên lời
dập nát như băng trường tình
điều to lớn đó
Và . chỉ một lần thôi.
*võcôngliêm phỏng dịch sang Việt ngữ bài thơ ‘Fire And Ice’ của thi sĩ Robert Frost (1874-1963) USA.

FIRE AND ICE

Some say the world will end in fire,
Some say in ice
From what I’ve tasted of desire
I hold with those who favour fire.
But if it had to perish twice,
I think I know enough of hate
To say that for destruction ice
Is also great
And would suffice
(1923)
(Thơ rút từ: ‘Thi ca Hiện đại / Modern Poetry’. Volume VII. Second Edition by Prentice-Hall 1962. USA)

GỌI NHỚ

ta gọi tên em cho đở nhớ
từ sâu thẳm miên man sầu biệt xứ
hôm nay tình như đã phôi pha
trên vai gầy guộc nhớ
trong cánh tay dài của biển
con chim cô độc . tôi
với thân thể bại hoại
nín đau thương vào huyệt mộ
để nghe hương lửa dậy trong lòng

căn nhà xưa cũ đó
mái dột bao nhiêu lần…

VÕ CÔNG LIÊM (ca.ab. yyc . giữa tháng 12/2021)

C H Ư   A   C Ó   T Ự A   Đ Ề – U N N A M E D

Hoàng Xuân Sơn

anh1

Tôi bước ra đường trời xé gió
chưa năm nào lạnh như năm nay
tưởng đã quen mà chưa từng biết
rụng rời. và mặt mũi chân tay

Một đời làm hiệp sĩ bịt mặt
đường phố. chợ câm. những chái nhà
thiệt lâu tôi chưa hề thông thạo
luật đi đường nhào tới ngã ba

Nghe như đàn tháo từng nút chặn
mấy mươi năm đời mình la cà
ở khoảng không lật mặt phía trái
bồi hồi chưa kịp ngắm xương da

Không dưng buổi chiều úp chiếc thìa
tuyết bắt đầu rơi trên ly cốc
khói tản mạn những năm bỏ hút
cơn ho dài như chiếc gậy khua

Chưa năm nào buồn như năm này
tưởng tượng khoanh tay nhìn ra biển
mùa hè những cư dân nam bán cầu
đời nhau vẫn luân phiên hiến tặng

Mùa đông. nốt chữ nhọc, thơ gầy
tôi . tôi. tôi. hát như rung chuông
răng. hàm, nhịp đánh tuồng. bọ cạp
phiên khúc phía bên kia thiên đường

Trời buông gió . và mây tràn mọi nẻo*
xé tôi đi như xé áo người
tôi thèm nghe tiếng khóc nức nở
và tiếng cười rộ một đêm thâu

Hoàng Xuân Sơn
Rạng ngày 23 tháng 12,2021

*Dấu Chân Địa Đàng, Trịnh Công Sơn

________________________________________________
P h i ê n b ả n A n h n g ữ : Nguyễn Thị Phương Trâm

U N N A M E D

Stepping out into the wind
it has never been so cold
thought I was used to it all void of a shiver
the exhaustion to the bone

A lifetime as a masked knight
the streets. the silenced markets. the home extensions
I’ve been out of touch for so long
the road rules now piled up at the folk of the road

Removing one obstacle at a time
the decades of no consequence
turning left out of nowhere
too anxious to check for any broken bone

The afternoon flipping the spoon over
the snow fall on the cups and bowls
the scattered smoke across the years abstained from smoking
the coughs as long as my walking stick

There hasn’t been a year as sad as this year
imagined the folded arms staring out at the sea
a southern hemisphere inhabitant’s summer
life giving in turns

Winter. the struggling letters, the sparse poetry
me . me. me. singing like a bell, shivering
teeth. jaw, the dramatic beat. snapping
at a verse on the other side of paradise

By the sky the clouds and wind . cuts across every alley way
rips me apart like a human shroud
and I’m craving for the loud sobbing
the crisp laughter of the sound dark night


)))
December 24th, 2021

 

 

MERRY CHRISTMAS TO YOU AND YOUR FAMILY

CHRISTMAS

MAY THE LOVE OF GOD BE WITH YOU ALL

How Wonderful

How wonderful when I find your love
Bird swimming
Fish flying
Sun rising on shoulders
And on clouds, Flowers blooming.

How wonderful when my heart filled with your compassion
earth rejoicing
air chanting
life praising.

How wonderful when You are my dreams
And all my thoughts are full of your mercy
For, your compassion fills my world
Ev’ryday I sing your glory.

How wonderful when You are my life
My whole life is thirsting for You, above
Thanks be to You, my sweet Lord Jesus Christ
Sprinkle my life, please, with your eternal love

How wonderful when my life rests in your caring hands
How wonderful when I’m one of your children
How wonderful when You are with me, always
And how wonderful I am your lowly servant

Khê Kinh Kha

g   I Á n g   S I   N h   m Ệ T   m Ỏ I

h o à n g x u â n s ơ n

thanh gia crucifix

        [mũi tên xé gió

                  gấu nằm cực bắc]

 

hai con mắt muốn nằm

thằng người không chịu ngủ

ánh sáng ngoài xa xăm

đêm về trong hộc tủ

 

cà vạt sáo điệu buồn

đã lâu không thắt cổ

bộ cánh cứ nằm ườn

chiếc giày da lấp ló

 

hay ho chi nụ cười

lâu quên cười cũng nhớ

hay ho gì chân cẳng

ế dài một cuộc đi

 

à, thì cái bấm vở

khíu miệng một bài thơ

đêm dài, bơi.  thở ngắn

máy động cũng ơ thờ

 

ai hát. in tuồng mình

silent buồn lẳng lặng

một cái ly nằm nghinh

hai phía người nín thinh

h o à n g x u â n s ơ n

23 décembre 2020

 

 

CHIỀU THU TÍM

Nguyên Lạc
 
ThuDC-01
.
Giọt đắng nào rơi mà em tức tưởi?
Đâu phải cỏ cây anh cũng có trái tim sầu
Phiến gió chiều nay lay động nụ trúc đào
Rơi về phương ấy khúc ca dao buồn
.
Đâu phải cỏ cây anh cũng có trái tim buồn
Lệ đỏ lá thu không thăm thẳm
Nghe trong hồn vỡ bờ sóng động
Lạnh một dòng sầu nỗi tàn phai
.
Đúng là em chẳng phải là ai
Tà huy đổ bóng dài tóc xõa
Điệp khúc chiều tiếng ai nức nở
Đâu phải cỏ cây anh cũng là người!
.
Trầm khúc ru lời gió bên trời
Phương hướng nào chiếc lá em tôi?
Nhuộm thêm chi tím biếc hồn này?
Chiều thu tím phiến sầu thêm tím!
.
Thương khúc nhớ vườn thu áo tím
Nụ hôn mềm…
Hương sắc có phôi phai?
Anh vẫn nhớ em ơi màu áo tím
Tím rộn ràng
Tím ngất ngất thu nay!
.
Nguyên Lạc
 
 
 

Ả  O T Ừ

Photo by Pixabay on Pexels.com

về đây cánh bướm hồ nghi

trang sách đã chết từ di cảo đời

mở ra áo chữ không lời

lả lơi hồ thủy rụng rời thúy vi

ồ.  hoa muộn nỗi diên trì

làm sao về kịp bước đi của miền

một lần hồn đá tịnh liên

cầm im sắc náo cho phiền ưu thôi

một mai tình nhớ non đồi

thì phiên tóc trắng cũng lơi nhẹ buồn

h o à n g  x u â n  s ơ n

15 tháng mười hai, 2021

TỎ TÌNH

Khê Kinh Kha

 

chim bay
 
xin làm mây bay về qua chốn cũ – thăm những
con đường bóng mát tuổi mộng mơ –
giữa núi cao nhỏ từng giọt mưa tình – cho đất
khô hân hoan tìm lại bờ lau ngọn cỏ –
rừng cây xưa thêm lá mộng đam mê, và tình ai
miên man như sóng vỗ.

xin một lần cất tiếng khóc vào đời trong tiếng
mẹ ru – xin được làm tuổi thơ ngồi hát bên
dòng sông lững lờ – xin là gió thổi tung tóc em
chiều tan học – tình mong manh ấm lại giữa
lòng mơ. .

nếu một mai mưa về trên thác cũ
dưới hiên xưa xin nằm chết hân hoan
hơi thở cuối xin dành tạ ơn mẹ
trái tim nồng nở nụ hồng trao em
và thân xác làm phân bón núi sông

 

TÌNH VÀ THƠ

Nguyên Lạc
mua rung
.
Tình là gì vậy hở?
Hỏi chi? Cứ nhào vô
“Sắc không là sóng cả”
Đủ dìm chết người ta
.
Thơ là gì vậy hở?
Biết chi? Hết là thơ
“Con cá thì nó lội”
Thi sĩ xót lòng mơ
.
Thiên cổ ai có thể?
Nhan sắc không đam mê
Thế gian ai không thế?
Thất tình than trong thơ!
.
Cảm tạ tình. tình nhé!
Tặng ta một nỗi đau
Chút cay và chút đắng
Cùng một chút ngọt ngào
.
Cảm tạ thơ. thơ nhé!
Tặng ta những cơn mơ
Chút thương và chút nhớ
Chút tiếc nuối dại khờ
.
Tình là gì vậy hở?
Nhào vô sẽ làm thơ
Thơ là gì vậy hở?
Biết chi. cứ dệt mơ
.
Nhan sắc từ thiên cổ
Nhân gian phải ngẩn ngơ
Tình và thơ muôn thuở
Khiến nhân loại thẫn thờ
.
Ta luôn hoài vẫn thế
Tình nhớ hoài trong thơ
Ngoài thơ. tình ta có
Rượu. cho tình. thơ say
.
Nguyên Lạc
 
 

ĐOẠN GHI CUỐI NĂM

VÕ CÔNG LIÊM
hoa3
tưởng nhớ thi sĩ Du Tử Lê (1942-2019)

tháng mười hai
vật vã cơn mê
mùa dịch cách ly
đường đi xuống phố
che mặt che mày
nắng ế ẩm lên vai gầy
tháng ngày buồn lê thê
ngoài trời tuyết bay nhẹ
độ lạnh -10 c
hàng cây chít khăn tang
hương khói mờ nhân ảnh
tưởng mùa xuân năm nọ
súng nổ hay pháo nổ
không thấy bóng người qua
gió đứng
căng nỗi buồn vạn cổ
nhớ ra tháng dương đi tháng âm tới
sanh nhật . tôi . không ngày tháng
lặng đứng nhìn
dưới lủng sâu
dấu chân chim trên tuyết
chiều mù mây xám bay
nhớ về một huế xưa
sân trải đầy vạn thọ
em . thoáng qua mành thưa
tháng chạp đâu đã tới
tết về trong tháng tây
những cụm hoa bẻ gió
xuân gãy nhánh hoa đào
trên tay em hồng hồng tuyết tuyết
trong tôi bốn mùa bóng tịch dương
thèm cốc cà phê đen giữa lúc này
cho đở nhớ một sàigon eden hay pagoda
em . trong cửa kiến
tôi . tượng đá buồn
chiều cuối năm dương lịch
nouvelle année đi qua ngã ba chuồng chó
bổ lẻ những cụm từ dã man không cầu chứng
lên xe lục tỉnh ‘em mỉm nụ nhiệm mầu’*
tôi lặng đứng . giữa trời mưa gió bão bùng

đoạn ghi cuối năm ngày tháng đó
chẳng còn thấy ai bóng với hình.
*Thơ của Quách Thoại (1930-1957)

TÌM NƠI ẨN DẬT VÀ KHÔNG THÂY BẠN Ở NHÀ
Dưới cội thông già
người ở nơi mô ?
thưa rằng :
‘thầy tôi đi nhặt hoa thơm cò qúi
đó đây trong rừng’
Nhưng than ôi !
mây che mấy lớp biết đâu mà mò*
*võcôngliêm phỏng dịch bài thơ dưới đây của (Jia Dao) Giả Đảo (779-845)

LOOKING FOR The RECLUSE And NOT FINDING HIM HOME
I asked his servant under the pines
he said: ‘The master has gone to pick herbs
He is somewhere out there in the hills’
But the clouds so deep I know not where.
(Trích trong tập Thiền Thơ / Zen Poems) Thi tuyển của Peter Harris / Pocket Poets USA 1999.

VÕ CÔNG LIÊM (ca.ab.yyc. đầu tháng 12/2021)

M Ù A  Đ Ô NG  Đ Ế N

h o à n g x u â n s ơ n

snow day

 [ tặng anh Nguyễn Xuân Thiệp, hay viết về hoa nón xanh ]

Dịu lắm nữa. rừng cây. và chim én
mùa rưng về trên một ngọn tuyết lơi
nghe hát nhé bài ca mùi lên tuyến
nhị vô âm và đàn đáy không lời

Gỗ nâu gỗ. nâu ôi, đời thấm nhẹ
mạch tâm si khơi huyền động ngoài xa
blue bonnet nhả tiếng kèn thinh lặng
vẽ thúy sơn một mầu nắng không tà

Ai biết thế. ai vừa mắt nhắm thế
mường tượng đi sen bỏng gót hồng phai
chân mây sáng nỗi ôm cầm tư lự
đến hay không rồi cũng rét bay dài

@hoangxuanson.1decembre21
 

CÓ GÌ ĐÂU

Nguyên Lạc
 
 
bienmoon
.
1.
Có gì đâu chỉ là chiếc lá
Úa vàng chao nhè nhẹ gió lay
Sao se sắt hồn người xa xứ
Ôi thì ra thu đến không hay!
.
Có gì đâu nhung huyền tóc rối
Ôm gầy vai chiều hoa nắng rơi
Em áo lụa biếc màu hoa cúc
Hồng đôi môi chết ngất tim người
.
Có gì đâu mà nhớ tôi ơi
Tình đã đến đã đi sao biết?
Nhớ làm chi những lời vĩnh biệt?
Nhớ làm chi hương ngải môi ai?
.
Có gì đâu vàng lá thở dài
Có gì đâu thu phong tức tưởi
Nhớ làm chi buồn lòng cô lữ
Có gì đâu dĩ vãng đã xa

2.
Có gì đâu chỉ là tiếng lá
Sao trong tôi động cả ngàn thu
Có gì đâu tím chiều phong lữ
Hồn tha hương mờ phủ sương mù
.
Cố nhân ơi chiều thu lữ thứ
Nhớ vườn xưa son đỏ môi hương
Thời đã qua ai người níu được?
Sao thu về vẫn nỗi thê lương
Tình đã qua làm sao giữ được?
Thu về chi ru khúc đoạn trường
.
Thu về chi vỡ bung ngăn nhớ
Bay mùi hương một thuở đam mê
Còn gì đâu rã rời phế phủ
Còn gì đâu bạc tóc não nề!
.
Nguyên Lạc
 
 
 
 

NGƯỢC DÒNG

ĐẶNG XUÂN XUYẾN
 
.
Hôm nọ có người ghé bến sông
Nói chuyện nhà bên đã gả chồng
Từ độ ngược dòng đi xây mộng
Chả thấy một lần ghé bến sông.
.
Tôi biết người ta chẳng ngóng trông
Chỉ mình tôi với mộng hư không
Chiều qua lạc bước về Kim Động
Tôi lại trắng đêm hứng gió đồng.
.
Tôi biết người ta đã gả chồng
Giờ là mệnh phụ giữa phố đông
Tôi buồn tôi giận tôi dại mộng
Say mãi đò ngang khách má hồng.
.
Đã mấy đông rồi, đã mấy đông
Bếp lửa nàng nhen có đượm hồng
Mỗi bận nàng ra cài then cổng
Có lạnh so người trước gió đông?
.
Nàng có còn quen nép cạnh chồng
Hững hờ dạo gót giữa phố đông
Lá vàng lả tả khi chiều xuống
Có thấm cô đơn bởi gió cuồng?
.
Tôi biết người ta chẳng đoái trông
Chỉ mình tôi với mộng hư không
Tôi buồn tôi giận tôi dại mộng
Lỡ cả chuyến đò khách sang sông.
*.
Hà Nội, Ngày 29.11.2014
ĐẶNG XUÂN XUYẾN

 

Help Me Make It Through The Night

Hoàng Xuân Sơn

motminh

H E L P M E M A K E I T T H R O U G H T H E N I G H T
[Kris Kristofferson]

Take the ribbon from your hair
Shake it loose and let it fall
Lay it soft against your skin
Like a shadow on the wall

Come and lay down by my side
Till the early morning light
All I’m taking is your time
Help me make it through the night

I don’t care who’s right or wrong
And I won’t try to understand
Let the devil take tomorrow
Cause tonight I need a friend

Yesterday is dead and gone
And tomorrow’s out of sight
And it’s sad to be alone
Help me make it through the night

)))


T H A O T H Ứ C Đ Ê M T ÌN H

[ lời Việt, Hoàng Xuân Sơn –
từ Help Me Make It Through The Night ]


Làn tóc óng trên vai xõa mềm
Như bóng đêm lung linh ảo huyền
Mắt nhắm khẽ xin lời hôn mềm
Cho mướt xanh ôm đầy xao xuyến

Tình yêu hãy trao nhau ngất lịm
Mai dẫu xa thao thức đêm dài
Hãy mớm nhé môi tình hé nụ
Với khát khao đêm vừa dâng đầy

Dù ngày mai xa nhau muôn kiếp
Em và tôi cùng phút giây này
Không cần biết rằng sẽ bao lâu
Đêm chưa qua ngày sẽ trôi mau

Mình sẽ nói nhau nghe tiếng lòng
Hát tiếng thơ cho mắt môi thơm
Phút đắm đuối hương tình chép mộng
Mãi mãi ta mơ ngày tương phùng

(Sẽ không nói nên câu giã từ
Mãi có nhau như từ bao giờ)


Laval, Québec
15 Novembre – 2021

)))

Nghe hát minh họa song ngữ ở đây: (Vocalist: Hoàng Xuân Sơn)
https://youtu.be/tIx1LYIyZvQ

rượu tình trăm năm

Khê Kinh Kha

ruou va em

cạn đi em, rượu tình ta đấy em
rượu tình nồng vì rượu của con tim
tim nhỏ bé nhưng tình ta vũ trụ
men mặn nồng ngàn năm ru cuộc tình

cạn đi em, dù đời đầy gian khó
say đi em, quên tháng năm trôi xa
say đi em, tương lai đang chờ đợi
say đi em, tình ta thêm mặn mà

say đi em, cho tóc mây thêm mượt
say đi em, môi hồng thêm mộng, mềm
say đi em, mắt buồn thêm đắm đuối
say đi em, trời đất đầy hương em

cạn với ta, trăm năm tình sỏi đá
say cùng ta, trời đất dậy men tình
say đi em, tháng ngày đầy hương phấn
say cùng ta, cuộc tình ta ấm êm

say cùng ta, trong cuộc tình mật ngọt
ta là rượu và ta cũng là tình
cạn đi em, cạn hết rượu tình nhé
say nhe em, ta chìm trong yêu đương

say nhe em, ta quyện tình đôi lứa
say cùng ta, trọn duyên kiếp trăm năm
 khê kinh kha

Thơ Võ Công Liêm

chim bay

CHIỀU

mái tây hiên nguyệt gác chênh chênh*
một trời nhân thế
một đời qua
một trời lung linh
cùng tuế nguyệt
một hoàng hôn xuống một đời trôi
chiều
nghe từng nhung nhớ
để thấy mơ màng mộng tàn phai
chiều
soi bóng mặt hồ
trên từng ngón xuân nồng
một thời phế đế một lần qua
chiều
nuốt dòng dư lệ
của tháng năm mòn trên nẽo trần ai
đời là thế thời phải thế
xin một chút hương thừa làm bằng chứng yêu em
và . nằm xuống sau ngọn đồi trước tròn sau méo
sông lênh đênh chảy theo bốn cửa thành một thuở
để xuôi về biển mẹ trong tay nhớ ngàn sau

chiều
lốm đốm
trên lớp da mòn tóc trắng phêu
chiều
gục xuống
ta . khóc đời ta một kiếp lưu vong.
*ý thơ của Tản Đà Nguyễn Khác Hiếu (1889-1939).

ĐẤY LÀ ĐIỀU MUỐN NÓI*

ta ăn
nhiều mận chín
ngọt như cây cà rem

và em
có thể dành
ăn sáng mai

đừng buồn . đấy là điều muốn nói
vì quá ngon
mà hóa ra lạnh lùng.
*võcôngliêm dịch từ thơ của William Carlos Williams (1883-1963)

THIS IS JUST TO SAY

I have eaten
the plums
that were in
the icebox

and which
you were probably
saving
for breakfast

Forgive me
they were delicious
so sweet
and so cold.

NHỚ XƯA

cùng lúc ấy
gió ngàn phương tiếp dẫn
tôi . bước qua những thăng trầm tục lụy
tuổi phù du đắm đuối gọi xuân về . người đã ngủ
tự ngàn năm còn nhớ bóng quan san
xin giữ lại những bước đi thầm lặng
trong ngõ về giữa ngọ lá lao xao . em trên đôi tay ngà ngọc vuốt
hửng hờ tuyệt trụ thẩn thờ đó đây để cho sa mạc buồn tênh cuối trời
mây lục điạ bềnh bồng sương đục tận nắng vàng đất trích phù vân
bây giờ ai biết lòng ai / từ phiêu du đó lênh đênh trận tiền
lăng cổ miếu lui về trong tịch mịch để nghe hương lửa đánh thức mình
nhớ xưa . xa lạ từ trời . biết không không biết . một lần đó đây . thôi mà !
tay mò mẩm động vào khe nước rịn cho lăn lóc ngậm trái bồ hòn một khi
mặt trời soi mấy dăm trường có ai tào lục bốn bề ngổn ngang ? -tôi
sầu biệt xứ trưa về nghe tiếng vọng tưởng như lời nhắn gởi buổi ban đầu
mấy mùa xanh đá mấy đời xanh rêu cho ba sinh hương lửa khép mình
tam thu cho triền miên mọc cho triền miên cong . lá rơi
từng phiến tơ chùng lai láng chảy / nhựa xuân rồng lộn một huế xưa
thắp nhặt cho tròn giấc ngủ luân hồi một kiếp sau . có có không không
miệng thế gian khi tròn khi méo giữa ta bà bóng sập vây quanh
chiêm bao từ ngõ ngách về / dưới mưa mấy bận câu thề chưa khô
nắng dâng đầu ngọn ưu phiền . gió lủa quá khứ cơn buồn gia tăng
nhớ xưa . huế lạnh đông tàn sau lưng cửa sập* mọc nhành liễu ru
bóng hoàng thành trở giấc từ lâu cho sao mai mọc bốn bề như không
đêm như nối bước biểu tình đèn soi bóng nước hửng hờ một khi
em . ngồi vấn sợi tóc quăn đợi cho năm tháng hứng đêm khuya về
một lần hội nhập gió hoang . ôm vòng tay lại nhớ hoang mang bóng hình
sương đọng lại trên tầng tháp cổ mặc cuồng phong xé nát con tim
buồn bạc xứ lên tấm thân tàn che gió phong sương phủ đầy bóng tối
tôi . lạc bước đường trần giữa chốn ta bà miệng hùm gan sứa giết chết tình tôi
trong giờ hấp hối níu xa xưa lại để hồn lung linh bóng vía giữa triền hạn reo
xin khất lại những thăng trầm cố đế một thời một đời chó ăn đá gà ăn muối
vỡ tan hoang trên trận địa không biên giới để cho cát vàng thổi gió theo mây
và . chìm vào quên lãng dưới lòng sâu xanh biếc không mộ chí suốt đời sau
còn gì nữa không ? chả thấy . chả nghe . chả biết . chả nói . tê mô răng rứa
chỉ nghe gió thở mưa tuông mây đục đậu giữa trời bao la không sắc màu
thôi nhé ! đêm tới gần bên tôi trong tiếng còi xe đang đợi để đưa về . . .

em . có nhớ xưa trên cầu phượng vĩ ?
tôi . nghe như tơ liễu uốn quanh mình.

VÕ CÔNG LIÊM (ca.ab.yyc . remembrance-day 11/11/2021)
*Cửa-sập: Cửa nội thành sập trong trận chiến Mậu Thân (1968) có tên gọi từ đó. Nay đã tu bổ và đổi tên gọi khác.

 

EM GIẤU MÙA THU TÔI Ở ĐÂU?

Nguyên Lạc
Thu221
.
Em giấu mùa thu tôi ở đâu?
Hình như trong phiến nhớ rêu màu
Thu ơi khẽ tiếng chi thương nhớ?
Hãy để tình tôi đáy huyệt sâu!
.
Khơi mở hồn tôi thu thế sao?
Hắt hiu vàng lá chao ngang đầu
Khói sương vương mắt mờ nhân ảnh
Dấu vết tình tôi thu giấu đâu?
.
Vẫn nhớ vườn thu em với tôi
Quế hương son đẫm ngất môi người
Thu phong se sắt trời cô lữ
Hãy chỉ giùm tôi dáng thu ngời
.
Dấu vết tình tôi thu giấu đâu?
Sầu tôi từng cánh gió ru hời!
Em theo mộng ước đời xanh biếc
Bỏ lại hồn tôi lệ lá rơi!
.
Bức tử tình tôi như thế sao?
Em mang theo hết những ngọt ngào
Trong tôi còn lại trời nhung nhớ
Và phiến môi son nguyệt quế nào
.
Em giấu mùa thu tôi ở đâu?
Em, mối tình thu tôi phương nào?
Bao năm rồi đó “mùa thu chết” *
Tôi giấu tình tôi đáy huyệt sâu!
…………
* Tên bài hát của Phạm Duy
.

Nguyên Lạc

30.000 bác sĩ viết bản tuyên bố lên Tối cao Pháp viện Hoa Kỳ – ‘Phá thai là giết người’

Gallery

This gallery contains 2 photos.

30.000 bác sĩ viết bản tuyên bố lên Tối cao Pháp viện Hoa Kỳ – ‘Phá thai là giết người’ —  Nguyên Hương Trong bối cảnh Tối cao Pháp viện Hoa Kỳ chuẩn bị xét xử một vụ phá thai lớn … Tiếp tục đọc