NHỮNG BÀI TỨ TUYỆT

Nguyên Lạc  

tranh thieu nu

1. TRẦM TƯ ĐÊM BÊN SÔNG
.
Tóc rồi sương điểm theo năm tháng
Sắc cùng tàn phai theo tuổi đời
Ai xui trăng rụng trên dòng lắng
Một kiếp người thôi thế nhân ơi!

2. NGÀY CŨ

Biết tìm đâu quê hương ngày cũ
Thời đã qua con nước xa nguồn
Khóc sương điểm tóc đời cô lữ
Nỗi tàn phai lạnh buốt hư không!

3. HƯ KHÔNG
.
Trăm năm dâu bể điêu tàn
Ngàn năm mây trắng trên ngàn vẫn bay
Chuông chiều tám sải gọi ai?
Giật mình lữ thứ thở dài hư không!


4. ĐÊM ĐỢI CHỜ

Chong đêm đầy mắt đợi người
Đôi tay ta dụi kẽo rồi mờ sương
Thấy chi? Tích tắc đêm trường
Quỳnh hương nở đóa còn vương đến giờ!

.
Nguyên Lạc  

cỏ rối

Khê Kinh Kha

Đã biết bao lần ngồi đây để nhớ thương. Nhớ một con đường, nhớ một dòng sông, nhớ một dĩ vãng, hay nhớ đời mình, đời quanh co trong trí nhớ hoang vu. Ai đã đến như mây trời nhẹ theo gió thoảng, như mái tóc bồng xõa ngang vai, rủ áo tình giữa vũng hồn tôi, một vũng hồn bao la, đợi từng giọt tình nồng người mang đến, hương người ngất ngây vây phủ quanh đời, ngón tay dài thoa dịu nỗi thương đau. Da thịt nào một lần cháy bừng trong vụng dại. Em cuối xuống tóc dài nghiêng nhánh liễu, cho đời thêm nỗi nhớ bay xa. Làm sao níu kéo được tháng ngày qua.

Ta còn lại đây vài dấu vết hằn trên thảm cỏ vàng ký ức, mộng đời lướt thướt đi những bước chân ngại ngùng, qua thảm cỏ rối của trí nhớ xa xôi hoang vắng.

Những dấu vết giờ đã héo khô như những héo khô tàn úa của vùng hạnh phúc thuở nào, mộng mơ và ướt át. Em tuổi mộng cho nhau từng giọt  mật, xoáy động con tim. Mắt em là ngưỡng cửa đời, tôi đã bước vào, lạc lối, đi tìm bình mình rực nỗi sống. Bờ môi đã nhiều lần ướt dầm dưới cơn mưa, đã nhiều lần tôi nâng niu trìu mến trong vòng ôm không dứt, những nụ hôn dài hơn hơi thở, đã trôi đi những khát vọng âm
thầm. Bình minh rạn vỡ, sáng lòa trong đáy rượu men đời. Em đã chôn tôi vào vực đam mê tình ái với bao tiếng thở dài.

Tôi lặn hụp trong hơi thở cuộc đời. Đã muộn màng trên bước chân số kiếp. Hôn nồng nàn những ơn sủng em trao. Mai cũng như cỏ rối, phất phơ trong gió, nhàu nát dưới bước chân năm tháng, đời người.

Tương Tư Ở Lại

Tương Tư Ở Lại

Nhạc và Lời Khê Kinh Kha
Casi Quỳnh Lan Trình Bày
Video: 1NgayBinhAn

ai đi
để lại vầng trăng
để tôi ngơ ngác bên giòng sông xưa
như mùa thu
lá vàng khô
như lòng người mãi
hoang vu giữa đời


ai đi
để lại nụ cười
hư vô ở lại
gió trời cuốn bay


như sương
lạnh giữa đôi tay
như hoàng hôn xuống
tháng ngày nhạt phai
như đêm
ở lại trong ai
em đi
để lại ngậm ngùi
trong tôi


ai đi
để lại đời tôi
một con đường vắng
núi đồi cô liêu
bao nhiêu
lòng phố buồn thiu
hoang vu ở lại
hắt hiu nỗi lòng

ai đi
để lại cuộc tình
tương tư ở lại
muộn phiền ở riêng
trăm năm
về giữa lênh đênh
em đi
để lại con tim
tội tình

Và tôi như ngọn cỏ bên đường
em bước sang
không vương vấn
không chờ mong
không nhớ thương….


khê kinh kha

ĐÀO HOA NỞ MUỘN

Thư viện của bài

This gallery contains 1 photo.

Đặng Xuân Xuyến
CHUYỆN ANH CHÀNG
ĐÀO HOA NỞ MUỘN
*

Anh sinh năm 1953, ở Hà Nội, giàu lắm, có mấy cái nhà mặt phố cho thuê, toàn cỡ vài chục triệu/tháng nhưng đường vợ con của anh thì lận đận lắm. Đến tận năm anh rất luống tuổi mới biết yêu, nên vội cưới. Nghe em rể anh kể, thì “chị” sinh năm 1984, hình thức cũng thuộc diện xinh gái, khéo ăn khéo nói, người Hà Nội, gia đình cũng khá giả, kém anh “chỉ có” 31 tuổi, mà anh là con trưởng, lại ở thế độc đinh, xưa tới đó chưa từng biết chuyện gái gú là gì nên cả gia đình gật đầu tắp lự khi anh đưa “chị” về ra mắt, tuyên bố sẽ cưới “chị” làm vợ. Cưới được hơn năm, “chị” sinh cho anh cậu ấm, giống anh như tạc nhưng chả hiểu sao từ ngày sinh được cậu ấm, “chị” đâm ra đổ đốn: Cãi bạt mạng khi anh nhắc nhở chuyện a, chuyện b trong văn hóa ứng xử; chị còn tự mình đặt ra quy định thế này thế kia với họ hàng ruột thịt của anh trong khi anh là người làm ra tiền, là người đang “cầm chịch” lễ nghi của dòng họ. Cãi nhau vài bận, chị đâm đơn ra tòa. Anh gật đầu cái rụp. Cũng chẳng cần ý kiến của tòa, anh hâm hâm đề xuất: Phụ cấp 10 triệu/tháng cho cậu ấm, đưa luôn cả 17 năm 3 tháng (thời điểm cậu ấm tròn 18 tuổi) cho gọn. “Chị” đề xuất anh chi thêm mấy trăm triệu để “chị” mua tạm ngôi nhà nho nhỏ làm nơi tá túc. Tiếp tục đọc

CẮN ĐI NỖI NHỚ

Nguyên Lạc

ao dai dai

Em ơi cắn hộ anh buồn
Cắn luôn anh trái tim mòn tả tơi
” *

Cắn hồn phố lạ mưa rơi
Cắn anh nỗi nhớ một thời đã xa
.
Cắn anh tha thướt lụa là
Cắn anh gác trọ thật thà hiến dâng
Cắn bàn tay cắn gót chân
Cắn luôn vuông cổ xuống lần ngực thơm
.
Cắn anh  hồn điếng trăm năm
Làm sao quên được thân trầm mê hương?
Mai về tìm lại cố nhân
Nơi đâu? Có chắc còn “hiền ma soeur“? **

Mưa chiều cắn nỗi hoài mơ
Cắn anh Đà Lạt sương mờ thông reo
Cắn anh ly biệt ngày nào
Dã quỳ không nở đúng mùa em ơi!
.
Nỗi buồn còn cắn nữa thôi?
Cắn đi Đà Lạt một thời yêu ai!
……….
Thơ Trần Vấn Lệ
** Thơ Nguyền Tất Nhiên/ nhạc Phạm Duy
.

Nguyên Lạc

­­­SAO ĐÊM

Nhật Quang

stars

 

Dỗ dành giấc mộng…
đêm xanh
Sương rơi đọng lá long lanh giọt trầm
Không gian lắng tĩnh thanh âm
Sao đêm mơ ảo…
lặng thầm mênh mông

Hồn chơi vơi
giữa thinh không
Cà phê giọt ấm, giọt nồng dấu môi
Bâng khuâng
ký ức bồi hồi…
Chạm hương làn tóc gió rời rã buông

Xanh xao năm ngón tay suông
Vuốt ve cảm xúc…
thoáng buồn xa xăm
Chơ vơ hiên lạnh giọt trăng
Khép đêm
mắt trắng hút thăm thẳm sầu

Đèn vàng phố vắng canh thâu
Sao đêm rơi chạm một màu hư vô.

Nhật Quang

Hồn Xưa Năm Cũ

hoa nguyên

1sg222
Trở lại SG hồn chưa nguôi
Đường phố đi qua tắt nụ cười
Trên tờ khai sinh còn nguyên bản
Mình mất nhau từ độ đôi mươi

Con phố xưa vàng trong héo hắt
Hàng cây xanh ruột thắt phù hoa
Từ những bình minh thời son sắt
Còn ai trang điểm buổi ngọc ngà

Có ai biết ai đừng hỏi trẻ
Những góc đường đùa vui thuở nhỏ
Bất chợt mưa chợt nắng ai ngờ
Thành giông tố chuỗi ngày lầm lỡ

Nắng SG đi đi tìm mát..!
Bởi mơ hồ áo lụa Hà Đông
Lụa Nguyên Sa áo màu vuột mất
Tìm tháng ngày đã cũ như không

SG hôm qua không còn nữa
Lạ mặt người thất tán bạn xưa
Ngôi nhà cũ con đường ở đó
Ta lạc loài như kẻ tha phương

Trở lại lỡ làng Thủ Đô ơi !
Nghe ta hoang phế kiếp lưu đài
Đã thấy điêu linh từng chỗ.. cũ
Đã đời dã thú tập cuồng quay

Thôi giã biệt nhau thời thịnh đế
Công Lý Trương Minh Giảng Yên Đổ..
Ta về nơi ta ở tha phương
Mồ hôi đất cày lên thực..đạo..

Ta hoang vu từ độ
Trái tim đời trổ những thương đau
Về đâu đây cương thổ
Những hồn xưa cũ đã..về đâu !

hoa nguyên.

Tình Muôn Thuở

Thư viện của bài

This gallery contains 2 photos.

Lời Bình: Châu Thạch

ĐỌC HAI BÀI  THƠ HAY  VỀ “CANH MẠNH BÀ”
CỦA LANG TRƯƠNG VÀ VUA ĂN MÀY
   “Mạnh Bà là một nhân vật của nhiều truyền thuyết Á Đông gồm Trung Quốc, Nhật Bản, Việt Nam… Mạnh Bà là người chế tạo Chén Canh Mạnh Bà ở dưới Địa Phủ giúp các vong hồn quên hết mọi chuyện kiếp trước, trước khi đầu thai kiếp sau.

 Người ta nói rằng, sau khi con người chết đi, linh hồn sẽ phải đi qua một con đường gọi là Hoàng Tuyền lộ. Cuối đường có dòng sông Vong Xuyên, nước chảy không ngừng. Bắc ngang qua sông là cầu Nại Hà, đi hết cây cầu này sẽ đến Vọng Hương Đài. Những linh hồn được đầu thai làm người đều phải qua Vọng Hương Đài này, rồi uống bát canh quên lãng của một bà lão tên là Mạnh Bà.

 Bất cứ ai uống bát canh Mạnh Bà ấy thì mọi chuyện trong quá khứ đều trôi theo dòng nước Vong Xuyên mà chìm vào quên lãng. Những hỷ nộ ai lạc, những ân oán tình thù, hết thảy đều tan đi như làn khói, chỉ còn lại ký ức trống rỗng cùng một gương mặt yên bình.

 Tuy nhiên, trên thế giới có rất nhiều trường hợp, có lẽ vì không uống bát canh Mạnh Bà này, nên đã nhớ được hết thảy những chuyện của đời trước, và những câu chuyện được kể lại hết sức chân thực, khiến người ta không thể không hoài nghi rằng, luân hồi chuyển thế phải chăng là chuyện chân thực.” Tiếp tục đọc

PHẬT CHÚA CŨNG KHÓC

Nguyên Lạc

Tưởng niệm 39 “thùng nhân” chết cóng tại London
.
39 người đông cứng trong container
Trái tim nhân loại phải sững sờ
Xứ sở “thiên đường” sao chối bỏ?
Ngôn từ ngụy trá đã rõ chưa?
.
Phật và Chúa ngày nay lệ đổ
Nỗi trầm luân nghiệp chướng dân mình
Bao oan khiên đành phải lặng thinh
Câu cứu khổ xin dành đời khác
.
Ôi Việt Nam sao quá nhiều điều ác
Những nhân danh “hạnh phúc con người”
Họ ngụy trang lừa gạt dân tôi
Đưa con đỏ đến tận cùng nỗi khổ.
.
Phật và Chúa ngày nay lệ đổ
Chùa nhà thờ nhiều kẻ giật giành
Bọn buôn thần bán thánh cạnh tranh
Kinh cứu khổ tìm đâu người hỡi?!
.
Nguyên Lạc

Tiếng Rên Của Một Người Rơm

ianbui

  • tưởng niệm 39 nạn nhân trên chiếc xe công tử thần tại Anh Quốc

 

Mẹ ơi có nghe
Nghe tiếng con đang kêu cầu
Xin hãy tha thứ cho đời con
Những lỗi lầm—
Những lỗi lầm khiến mẹ buồn đau.

Mẹ ơi thấu cho
Con chết bởi không thở được
Ôi, tấm thân trắng trong ngày nao
Đã chết mòn—
Đã hết còn vết thương rỉ máu.

Quên cho con đi.
Quên cho con đi—
Đứa con của tình yêu mẹ với bố,
Đừng nhớ đến số phận
Người con gái
Chết trong chiếc công quan tài.

Quên cho con đi.
Quên cho con đi—
Đứa con của ngày xưa mẹ với bố,
Đừng nhớ đến số phận
Người vừa thoát thai
Trong chiếc công quan tài.

ianbui
01.11-2019

dựa theo “Dido’s Lament” của Henry Purcell (1659-1695) và “text messenger” của Phạm thị Trà My (1993-2019)

When I am Laid in Earth

  • from “Dido and Aeneas”

When I am laid in earth
May my wrongs create
No trouble in thy breast
Remember me, but
Ah… forget my fate!

Henry Purcell

TẮM NẮNG MÙA ĐÔNG

Võ Công Liêm

00tim2
tình yêu rất tình cờ
của mưa nắng hai mùa
em . thả tóc
tôi . say mèm
giữa mùa tuyết trắng bên hàng dậu
trong cùng một khoang xe về xứ nọ
những đốm lửa nhá nhem cháy hoài như hấp hối
thành phố bỏ lại hoang đường dị nghị ở tầng cao
trong mắt biếc tóc là mây và môi hồng trái chín
tình yêu rất tình cờ
trên luống cày bỏ hoang đầy dấu vết lạ mùa đông
nằm nghe trăn trối thở trong khoảnh khắc hoang vu
hoàng hôn xuống dần sau lần cửa khép . bóng đã xế tà
nghe như hơi thở tợ nhung mềm . đêm siết chặt vòng tay
biển gọi thầm tên cho đở nhớ . mùa hạ trắng sang ngang
em . một thời nhốt gió theo mây
tôi . hoang đường giữa trời sa mạc
trên mảng đời lố nhố lăng nhăng
chuộc em về làm tôi mọi với trăng sao
cho thấy đời ngút ngàn mưa gió đợi
tôi đưa em vào bốn cửa thành . đóng kín
trên tầng tháp cổ vọng tiếng khua đêm . thoát y
cho gió ngột thở cho nắng đã đời cho mây phủ dụ
tôi và em chăn gối dưới thời ma trơi qủy ám
tắm nắng mùa đông
phơi trần nhân thế
một kiếp vong quốc
giữa chốn non đoài ./.
VÕ CÔNG LIÊM (ca.ab.yyc 31/10/2019)

TÌNH TỰ

Thư viện của bài

This gallery contains 1 photo.

Châu Thạch cảm nhận
ĐỌC “TÌNH TỰ’” THƠ CỦA TIM TÍM:
  TÂM HỒN NHẬP VÀO CÕI THU VÔ BIÊN
TÌNH TỰ

Thơ Tim Tím

Mùa thu ướp hương hoa nồng lên tóc
Tóc thơm tho vừa đắm giấc say mê
Dòng tóc chảy như dòng thơ tình tự
Vừa cho ai vùi cơn mộng , quên về

 Mùa thu đọng trên môi trầm ngực biếc
Giọt tương tư ngan ngát đóa hoa yêu
Ta chìm xuống trên sương trời áo lụa
Màu trăng trong và ta cũng tan theo

 Tan , tan mãi , tan về nơi vô tận
Bao đam mê trôi trên mắt môi đầy
Ôi như thể ta không còn nhịp thở
Trăng vàng thu đang lóng lánh tan bay

 Ta nghe thấy trên da mùi hương cỏ
Mùi tường vi ngây ngất cánh nghiêng rơi
Ta trôi mãi cuốn sâu vào thăm thẳm
Bùa tình thiêng huyền hoặc giữa tay người

 Ta sẽ trãi trên da mềm óng ả
Màu sương trăng thành áo lụa thênh thang
Muôn tinh tú reo trên bờ môi ngọt
Mi mềm run hồn níu gọi thiên đàng

 Trăng trong trẻo , trăng nghe lời tình tự
Đất run run đất xao xuyến chuyển mình
Từ tiền kiếp xa xăm quay về lại
Giấc tình mơ thương cảm đến rưng rưng

31/8/2019

Bình ngắn; Châu Thạch

 Một hôm ngồi uống cà phê với nhà văn Nguyễn Khắc Phước, Phước nói với tôi: Thơ của Tim Tím, một nữ tác giả trên facebook thật hay. Tôi liền mở facebook đọc thử vài bài, thấy hay tôi xin kết bạn. Về nhà đọc lại nhiều lần thơ của tác giả nầy, bài thơ “Tình Tự” của Tím Tím đã đã gây cho “con ma” trong lòng tôi cảm xúc, và nó bắt tôi phải viết.

 
Trước hết ta hãy đọc khổ thơ đầu của bài thơ ‘Tình Tự”

 Mùa thu ướp hương hoa nồng lên tóc
Tóc thơm tho vừa đắm giấc say mê
Dòng tóc chảy như dòng thơ tình tự
Vừa cho ai vùi cơn mộng , quên về

 Một cách tả mùa thu rất mới, không có gió heo may, không có trời se lạnh, không có lá vàng rơi mà có những thứ xưa nay ít nhà thơ nói đến, chưa dám viết là không có nhà thơ nào đề cập đến.

 Chỉ đọc bốn câu thơ đầu ta đã thấy mùa thu tràn hương trên người thiếu nữ và người thiếu nữ chính như là bức tranh mang chủ đề “muà thu và em”.  Một bức tranh như thế chỉ có thể thi nhân mới vẽ được bằng lời, họa sĩ cũng khó mà vẽ được. Tiếp tục đọc

Đặc điểm chung của người sống thọ

‘1 nhanh, 2 nhỏ, 3 lớn’, bạn có mấy điểm trong đó?

Những người sống thọ đều có đặc điểm chung ‘1 nhanh, 2 nhỏ, 3 lớn’ 

Ngày nay, con người thông qua các phương thức chăm sóc sức khỏe để đạt mục tiêu trường thọ. Tuy nhiên theo nghiên cứu, những người sống thọ thường có một số những đặc điểm chung đó là “1 nhanh, 2 nhỏ, 3 lớn”.

Tuổi thọ luôn là vấn đề được con người không ngừng khám phá từ xa xưa, hy vọng có một loại “thuốc trường thọ” để sống bất tử. Bạn sẽ hướng đến sống thọ 100 tuổi khi đáp ứng 6 điểm dưới đây:

“1 nhanh” là gì?

Nhanh đi vào giấc ngủ

Người đi vào giấc ngủ nhanh, chứng tỏ tim, gan và sự chuyển hóa trong cơ thể đều rất khỏe mạnh, đồng thời trạng thái tinh thần cũng ở mức lý tưởng vì tâm phiền sẽ gây trằn trọc khi ngủ. Tại sao nói “ăn được ngủ được là Tiên”, giấc ngủ giúp chúng ta hồi phục sau một ngày hoạt động mệt mỏi nên ngủ ngon là yếu tố hàng đầu của người sống trường thọ là điều khẳng định.

“2 nhỏ” là gì?

1. Cổ nhỏ

Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng những người có cổ càng dày càng có nguy cơ mắc bệnh tim mạch cao. Trong trường hợp bình thường, nếu chu vi cổ ở nữ vượt quá 35 cm và ở nam vượt quá 38 cm, chứng tỏ cổ tương đối to. Cổ to còn cảnh báo mọi người nên cảnh giác với chứng bướu cổ, gan nhiễm mỡ, tiểu đường, ngưng thở khi ngủ….

2. Tần suất nhịp tim nhỏ

Những người trưởng thành khỏe mạnh bình thường có nhịp tim 60-100 lần một phút. Một số khảo sát đã phát hiện ra rằng khi nhịp tim của một người khoảng 70 nhịp/phút, tuổi thọ có thể đạt tới 80 tuổi và khi nhịp tim giảm xuống còn 60 nhịp/phút, theo lý thuyết, người này có thể sống lâu hơn 13 năm, tức là khoảng 93 tuổi.

Một ví dụ liên hệ dễ thấy là nhịp tim của rùa rất chậm so với loài báo, và rùa có tuổi thọ hàng trăm năm. Nhịp tim chậm cũng thường thấy ở những người thực hành thiền định, khi đó mức chuyển hóa năng lượng của họ giảm xuống mức tối thiểu nên có thể kéo dài thọ mệnh. 

Nhịp tim tăng lên khi chúng ta phải gắng sức làm việc, đối mặt với nhiều áp lực tâm lý. Với cuộc sống hối hả hiện đại, hãy giữ cho mình có được tâm hồn thanh thản là điều cần thiết để nâng cao chất lượng sống.

“3 lớn” là đặc điểm gì?

1. Dung tích phổi lớn

Quá trình hô hấp giúp trao đổi dưỡng khí, nạp oxy vào cơ thể để cung cấp cho các hoạt động của tế báo. Dung tích phổi càng lớn thì cơ thể càng được làm tươi mới tốt hơn. Thời gian nín thở dài ngắn, có thể phản ánh dung tích phổi của một người lớn hay nhỏ. Bình thường, khi nín thở khoảng 30 giây, chứng tỏ sức khỏe tốt và càng sống lâu.

Môn bơi lội là cách rất tốt để bạn luyện tập cho lá phổi phát triển, cơ thể dưới nước cũng được nâng đỡ. Hiện nay khi không khí ô nhiễm, giữ cho lá phổi khỏe mạnh cũng là yếu tố quan trọng quyết định sự trường thọ.

2. Lực nắm tay lớn

Run chân tay là tình trạng không hiếm gặp ở người già, tuy nhiên không phải tất cả họ đều có biểu hiện run giống nhau. Bởi có rất nhiều nguyên nhân dẫn tới chứng bệnh run chân tay này, phổ biến nhất là run sinh lý, do tác dụng phụ của thuốc điều trị, bệnh hệ thống hoặc do suy giảm chức năng não bộ.

Do đó lực nắm tay lớn mạnh cũng là một biểu hiện của thể chất khỏe mạnh. Nó phản ánh các cơ quan chức năng như tim, thận, phổi, tất cả đều hoạt động bình thường. Nghiên cứu khoa học cho thấy những người có lực nắm tay lớn sẽ sống lâu hơn. 

3. Tấm lòng rộng lớn

Thời gian dài tức giận sẽ gây nguy hiểm nghiêm trọng tới sức khỏe thể chất, những người này sẽ rất dễ gây ra các bệnh về tim mạch. Tâm trạng tốt có thể tăng cường khả năng hệ miễn dịch và ngăn ngừa ung thư ở mức độ nhất định.

Trong nhà Phật cũng khuyên răn ai làm việc tốt mà không cầu báo đáp sẽ gặp được phúc báo. Những người luôn nghĩ cho người khác, tấm lòng bao dung, rộng lượng sẽ luôn vui vẻ. Còn người ích kỷ, chỉ lo nghĩ cho hạnh phúc của bản thân sẽ ăn không ngon ngủ không yên, sống mà không hạnh phúc.

(tham khảo Sohu)

tình xa

khê kinh kha

  • cho DP

AO DAI TRANG 4

đường em về chiều nay mưa có lạnh
mái tóc dài có đẫm ướt không em
gió lạnh lùng có quàng đôi vai nhỏ
em có thầm nuốt lệ vì nhớ anh?

lá mùa thu có rơi đầy trên lối
cỏ có còn quấn quýt gót chân em?
bàn tay thon ai cầm cho đỡ lạnh
bờ môi ngoan ai ủ nụ hôn mềm?

tà áo bay hay mây trời lãng đãng
phố mưa  buồn hay nước mắt em tuôn?
bước chân nhỏ em về trong chiều vắng
hồn cô đơn chắc cóng lạnh vô cùng ?

tóc em bay hay mây trời xuống thấp
cho nỗi buồn từng sợi rối trên vai
ôi tình mình sao muôn ngàn cách trở
nụ hôn nào em dành riêng cho tôi

trời nơi em nắng có đầy trong mắt
trời nơi anh hiu quạnh bóng trăng gầy
tình nơi em chắc mõi mòn thương nhớ ?
tình nơi anh chua xót giữa môi cười

hãy cố nhé, em yêu hãy cố nhé
vì nơi anh mộng ước vẫn đầy hồn
xa cách này có làm em sầu khổ
có làm em khóc, có làm em hờn ?

em hỡi, anh yêu em trong từng giấc mộng
anh yêu em, yêu em đên ngàn năm
em hỡi, anh yêu em trong từng  hơi thở
anh yêu em, yêu em đến ngàn năm

khê kinh kha

CHỈ TẠI CHIỀU THU

Nguyên Lạc

chieu thu
.
Chỉ là một chiếc lá
Sao nỗi niềm trong ta?
Chỉ hanh làn gió thoảng
Sao mắt ta lại nhòa?
.
Chỉ là một chiếc lá
Dĩ nhiên … vì mùa qua
Chỉ là một nỗi nhớ
Cô lữ sao xót xa?
.
Chiếc lá nào héo úa?
Chiếc lá nào lìa xa?
Tiếng thu nào se sắt?
Mùa thu nào thiết tha?
.
Tình thu nào vệt khói?
Tan mờ xa mờ xa
Đời quay cuồng lốc xoáy
Quê hương rồi chỉ là!
.
Chỉ là một chiếc lá
Sao thấy cả mùa thu?
Chỉ sợi chiều rất mảnh
Sao thấy thiên thu sầu?
.

CÁCH BỐ TRÍ TƯỢNG THỜ

Thư viện của bài

This gallery contains 14 photos.

Đặng Xuân Xuyến
CÁCH BỐ TRÍ TƯỢNG THỜ
TRONG CHÙA MIỀN BẮC
*

(trích từ VÀO CHÙA LỄ PHẬT NHỮNG ĐIỀU CẦN BIẾT
Đặng Xuân Xuyến; Văn Hóa Thông Tin ; 2006)

Các chùa miền Bắc thường theo Thiền phái Bắc tông nên cách bài trí tượng Phật đơn giản và khác với chùa miền Nam.

Một ngôi chùa Phật giáo ở miền Bắc phổ biến có 4 khu vực: Chính điện, Tiền đường, Nhà hành lang, Nhà tổ và nhà trai.

 

* CHÍNH ĐIỆN:

1. Tượng Tam Thế:

Là ba pho tượng ngồi ngang nhau ở nơi cao nhất trên bàn thờ, đại diện cho chủ Phật trong ba thời gian quá khứ, hiện tại thế, vị lai thế.

2. Tượng A-di-đà Tam Tôn:

Tượng còn được gọi là “Tây phương tam thánh” đặt ở hàng thứ hai từ trên xuống gồm: Phật A-di-đà (ngồi giữa) Đại Thế Chí (bên trái) và Quan Thế Âm (bên phải) Đây là 2 vị hộ pháp giúp việc cứu độ cho Phật A-di-đà.

Tượng Phật A Di Đà thường có những nét đặc trưng: Dù ngồi hoặc đứng trên toà sen thì đầu đều có các cụm tóc xoắn ốc, mắt nhìn xuống, miệng thoáng nụ cười cảm thông cứu độ, mình mặc áo cà sa, ngực có chữ vạn ở khoảng trống của áo cà sa.

Phật A-di-đà được tạc trong tư thế toạ thiền, ngồi xếp bằng, hai tay đặt giữa lòng đùi, khuôn mặt đôn hậu, mắt nhìn xuống suy tư, miệng hơi mỉm cười.

Một số nơi, tạc tượng A-di-đà ở tư thế đứng thuyết pháp trên toà sen.

3. Tượng Thích Ca Mâu Ni: Tiếp tục đọc

TIỄN NGƯỜI VIỄN XỨ

 VÕ CÔNG LIÊM

dtl2

‘Namo tassa bhagavato arahato sammà-sambuddhassa’ (Karma-suttra) *
gởi: phan hạnh tuyền

trăng bẻ ngang cành liễu
nằm úp mặt khóc thầm
lũ chim di tật nguyền
soi mặt đời xanh xao
chiều
tắt thở
trong vũng mê thoi thóp
nằm
mê sảng
trong tiếc nuối muộn màng
đêm
mò mẫm
trong cụm khói lang thang

như thật
một lần đã phôi pha
ngày
bỏ lại
khoảnh khắc bất ngờ đó
liệm
linh hồn
tha phương một kiếp người
quan tài đi qua vùng lá úa trải đường sương gió với hoàng hôn
những ngày tháng đợi hình như đã . trao tay bao lần bước ra đi
xin chuộc lại cuộc tình xưa cũ để mãi về trong bóng nguyệt dư
em . có nghe bông mười giờ trưa nắng chang chang đứng đợi
dưới cửa thành ngày ấy vẫn còn xuân . từ trong nội mới ban ra
tôi . thất thểu như con chó ốm nằm ru đời vọng tiếng bi ai
sầu nhân thế nghe qua từng nhịp thở . như đoái hoài . như than thở
cùng ai một kiếp tha hương nay gặp lại với đỉnh non cao ngày đó
để ngợi ca những lời thơ âu yếm của núi sông đoài vọng cổ cao
khất lại một ngày không xa lắm cho ta về thênh thang trời lộng gió
quan tài đi qua nghe từng bước âm thầm cho mưa gió rụng
qua thềm đêm trăng khép môi cười dưới vành trán vô ưu
cất trong tim bao nỗi nhớ quê nhà một lần gặp gỡ rồi chia xa
trong tiết điệu nghẹn ngào mưa mấy độ cho một hành trình
quê hương là người đó . cho em là tình nhân . suốt đời được gọi tên
cho đở nhớ một hà nội bỏ lại sau lưng . lê bước theo nhịp thở
với mộng trăng sao để thấy mình một bóng hư vô giữa cõi đời
quan tài đi qua dưới hàng cây khô của mùa thu tháng mười
không chiêng trống không vọng nguyệt không kinh cầu . thủy ơi

tôi . mơ tôi chết một ngày trên biển sóng
giữa tuyến đường trở lại với quê hương
những ngày xưa cũ nắng khép lên môi
cho bình minh dậy trong lòng phố thị
như thật . như mơ . với lời thơ đó ./.

VÕ CÔNG LIÊM (ca.ab.yyc. 8/10/2019)
*’Nam mô  đại thế chí  Bồ tát phật  ma-ha-tát ‘ (Phạn ngữ ‘Nghiệp-kinh’)

hoàng xuân sơn

chieu

đi tìm

những cái chóa đèn giống như chum đựng rượu
cánh đồng ngửa cổ
anh đi lên núi tìm mây bay
mưa về trảng thấp
thung lũng cong theo đường cong chiếc phễu chiết hồn
chắt lọc cơn mơ
bây giờ chẳng biết nơi nao gom lùa cái bóng
về một xó tường an vị thu phương

đường vòng xe cộ phản chiếu luân hồi
khi xưa mình đi tìm bộ lạc
bây giờ lạc lối tìm nhau
gia đình níu kéo khẩn cấp sợi dây chằng thân ái
còn một miếng nhau bỏ sót
từ tháng cắt da

con dấu

tôi léng phéng với giấc mơ
không hề có được một hậu cảnh đì đùng
đành làm tờ báo cũ
lăn lóc ở một góc xó nhà cầu
lâu lâu có người giở đọc
chữ nghĩa làm một cuộc thanh trừng
khi những chất thải ăn nằm khí hậu
đẩy lùi cơn chướng khí
mùa rậm rịt kinh niên

nội dung phiên bản chào mừng 300 năm trước
người thi sĩ gục đầu lên cảo thơm
ánh đèn lũ lượt rọi soi bệ trán thờ
phá tan cơn buồn ngủ
em nằm trong bó nôi
bên ngoài tập đoàn phô trương thơ lại
bộ cánh.  bút lông
và những con dấu cồm cộm nổi
hãy cho tôi chiếu khán
bỏ đi thật xa
miền nước lợ

 hoàng xuân sơn
Lễ Mẹ 12 tháng 5/ 2019

GIỚI THIỆU TẬP THƠ: BẠCH VÂN VÔ SỞ TRÚ

Thư viện của bài

This gallery contains 1 photo.

Nguyên Lạc
.

(Ảnh bìa tập thơ)

VÀI HÀNG TIỂU SỬ

Cảm ơn nữ sĩ Hạt Cát đã gởi tặng thi phẩm Bạch Vân Vô Sở Trú (Mây Trắng Thong Dong) như món quà quý.  Tập thơ in rất trang trọng và rất đẹp.
Xin được ghi ra đây vài hàng về tiểu sử của nữ sĩ:
Hạt Cát tên thật Trần Thị Bạch Vân, bút hiệu thường dùng: Hạt Cát, Lăng Già Nguyệt, Sa Sa, Lạp Sa … Cựu học sinh trường Trịnh Hoài Đức tỉnh Bình Dương, quê Lái Thiêu Việt Nam. Hiện đang sống ở Mỹ.
Tập thơ Bạch Vân Vô Sở Trú gồm 125 bài thơ chữ Hán đủ các thể loại, sau mỗi bài thơ chữ Hán, tác giả còn phiên âm ra Hán Việt và dịch ra thơ thuần Việt rất mượt mà. Về thơ chữ Hán, tác giả làm theo lối chữ phồn thể – Lối chữ hiện được dùng tại Đài Loan, Hồng Kông, Singapore và trong các tác phẩm cổ của văn học Việt Nam. Thi sĩ Hạt Cát cho biết là chị đã học chữ Hán từ gia đình, từ bạn bè. Chị học và yêu thích chữ Hán, rồi làm thơ dễ dàng như làm bằng tiếng mẹ đẻ – tiếng Việt

NHAN ĐỀ BẠCH VÂN  VÔ SỞ TRÚ

Trước khi giới thiệu vài bài thơ tiêu biểu của nữ sĩ Hạt Cát, tôi có vài ý  về nhan đề của thi tập

1. Được biết người cha là nhà Nho, thầy giáo; cụ dặt tên cho các người con gái đều bẳt đầu bằng chữ Mây (Vân). Gia đình có 4 người con gái: Bạch Vân, Thanh Vân, Hồng Vân và Huỳnh Vân.
Tên đặt ảnh hưởng đến cuộc đời riêng chăng? Mây thì phải lơ lửng, lang thang lưng trời:
Phiêu vân bạch mộ không / Quá kiều hốt tâm vong (Chiều hôm mây trắng lênh đênh/ Qua cầu lơ đãng bỏ quên tim này – Hạt Cát) Tiếp tục đọc

Hương Quê

Đặng Xuân Xuyến

aodaiquehuong

 

Hương cốm nhà bên duyềnh sang nhà hàng xóm
Cô bé thậm thò vắt ngang dải yếm
Níu bờ sông
Ơi ời “ra ngõ mà trông”
Vi vút gió đồng…
.
Ngẩn ngơ
giấc mơ
Níu đôi bờ bằng dải yếm
Chuốt tóc mềm làm gối chăn êm
Áo tứ thân trải lá lót nằm
Gom gió lại để chiều bớt rộng…
.
Thẩn thơ
Tiếng mơ thầm thĩ
“Người ơi…
Người ơi…”
Dan díu lời thề
Ngõ quê líu quíu.
Hà Nội, chiều 31.08.2017

THƠ TÌNH THÔN NỮ DƯỚI TRĂNG

PHẠM NGỌC THÁI
Chùm thơ tình Trăng trong đêm khuya buồn hay nhất
         NHÌN TRĂNG NHỚ EM
 
Nhìn mảnh trăng trời lại nhớ em
Trăng trôi miên man khi mờ, khi tỏ
Chúng mình đến với nhau, không còn thơ bé
Nhưng lòng tha thiết yêu thương.
 
Trăng giữa tháng khuyết dần, tình cứ tràn dâng
Cả tới khi không còn trăng nữa
Thì em vẫn bên… vành vạnh tỏ…
Đưa anh vào giấc mộng ru đêm.
 
Để cùng nhau say cảnh thần tiên
Cho quên hết biển đời ngang trái
Cuộc sống mưu sinh với bao mệt mỏi
Chân trời sẽ lụi tàn, nếu chẳng có tình em.
 
Ôi, mảnh trăng nhỏ bé giữa mênh mang
Vẫn soi ngập cõi không gian vô tận
Sâu tận cùng trái tim anh hưng phấn
Đêm nằm thao thức vấn vương.
 
Trăng không còn… Em vẫn hiện lên…
Dìu anh qua phong ba, bão táp
Trong giấc ngủ chập chờn đêm vĩnh tuyệt !
Anh đã bay về ôm lấy trăng em.
 
Áp môi hôn lên vầng nguyệt của Cưng
Nghe trái đất dưới thân mình rung chuyển
Lại thấy ảnh ông Tổng thống Hoa Kỳ đang cầu nguyện
Dân chủ – Cộng hòa ? chả Đảng nào sánh được hơn.
 
Cả nhân thế này chỉ một “mảnh trăng con”…
Sống mãi muôn đời, dù thay bao chủ nghĩa
Thức nhớ em hoài, trăng khuất không biết nữa
Nhìn khắp thiên hà… Càng da diết yêu thêm…
 
            12.7.2019
 

EM VÀ CHIẾC VÁY MÀU CỎ ÚA
 
Mưa bay chiều nay trên Hồ Tây
Bóng em vẫn xa như áng mây
Hỡi cô mặc áo màu cỏ úa
Lòng anh cô đơn. Anh ngồi đây !
 
Nhớ buổi hẹn hò giữa thiên thai
Chỉ có vòm xanh và cỏ cây
Đặt em nằm xuống trong trăng sáng
Cùng nhau yêu hết cả trời này
 
Ôi, đáng yêu chưa mắt em cười
Chiếc váy ngắn với đùi thơm trắng nõn
Như gái đôi mươi, em đẹp lắm !
Anh say mà… ngắm mãi không thôi…
 
Thương tự ngày nào thì chẳng nhớ
Thân vàng ngọc em dâng anh tất cả
Anh đợi tin vui sau buổi ấy đến giờ ?
“cô bé” của em đẹp hơn thơ
 
Em bảo rồi sinh cho anh hai đứa con
Anh xa tâm trí cứ ngổn ngang
Em đi dậy học đường dài lắm
Nhất là những lúc phải sang sông
 
Nhớ nhé, em yêu ! Hãy giữ mình
Qua phà mưa gió chớ coi khinh
Tấm thân nhi nữ thường đau yếu
Đợi anh ít nữa sẽ về bên
 
Chiều nay anh lại ngắm ảnh em
Có cô thôn nữ thật là xinh
Với chiếc váy quê màu cỏ úa
Lòng dạ nôn nao tạc bóng hình
 
Anh dẫn em vào cõi thương yêu
Mưa bay, em ạ ! Suốt buổi chiều
Chỉ lo Cưng ở miền xa ấy
Lại nhớ nhau hoài… bến cô liêu.VÁY
 
                21.6.2019
         PHẠM NGỌC THÁI

Tình Yêu Như Một Kỳ Tích

Thư viện của bài

This gallery contains 1 photo.

Điểm phim

 
Tên phim: Forrest Gump (1994) – Đạo diễn: Robert Zemeckis – Kịch bản: Eric Roth – Diễn viên: Tom Hanks, Robin Wright Penn, Gary Sinise, Mykelti Williamson, Sally Field, David Brisbin… – Sản xuất: Paramount Pictures (Mỹ) – Trình chiếu: https://www.youtube.com/watch?v=QiGEz5lypjs và Kênh 9GO (Sydney), 18/10/2019.

1.

Tính từ lúc phim ‘Forrest Gump’ được vinh danh trong giải Oscar năm 1994, đến nay đã  15 năm qua, nhưng khi có dịp xem lại – như trên kênh 9GO Sydney phát ngày 18/10/2019 , nhiều khán giả – dù đã xem đi xem lại nhiều lần cuốn phim ngoại hạng này – đã y như lần xem đầu tiên, vẫn vô cùng ngỡ ngàng, xúc động trước số phận nghiệt ngã của anh chàng Forrest, nhân vật chính.

Theo dõi bộ phim, người xem trải qua thật nhiều tâm trạng, từ bất ngờ, xúc động, cảm thông cho đến hi vọng rồi lại thất vọng cho nhân vật chính. Có thể xem cuộc đời của Forrest Gump (Tom Hanks đóng) là những mảnh ghép ấn tượng của cuộc sống nhiều người Mỹ trong thập niên 60- 70 thế kỷ trước. Từ một nước Mỹ đầy phân liệt thời đó, âm hưởng của một thế hệ lạc loài và phản kháng (The Lost Generation), cộng thêm ảnh hưởng gần/xa của các tư tưởng hiện sinh, hư vô từ Henry Miller, Ernest Heminway, J.P.Sartre, Albert Camus…, đã thường vương vất trong hành vi và suy nghĩ của nhiều nhân vật trong phim, như Dan (Gary Sinise) – anh thương binh cụt giò hay nổi điên, Jenny (Robin Wright Penn)- cô gái ‘khi nắng khi mưa’, dân hippy lang thang, đám biểu tình phản chiến ở quãng trường Thời Đại… Tiếp tục đọc

NHỮNG CHUYỆN TÌNH

Võ Công Liêm

gởi: lê thị huệ (gió O).

BUỒN ƠI CHÀO MI / BONJOUR TRISTESSE By Vo Cong Liem

  1. BUỒNG TRỐNG

Quyên nhấp nháy đôi mắt lá răm, đưa tay chụi vào mắt, nắng bên ngoài đã lên cao. Nàng mở to mắtnhìn qua cửa sổ; cảnh vật trong và ngoài nhà lặng chìm như bãi hoang. Nắng xối vào nhà thứ ánh sángnhạt nhòa với một âm khí khó thở, lạnh ngắt, không một tiếng rì rào hay tiếng gió từ ngoài thổi vào. Quyên còn nằm trên giường, đưa mắt nhìn mọi thứ xung quanh gần như không mấy để tâm. Chiếc bàntròn bằng gỗ thông cũ kỹ, bạc màu sơn như ván hòm, trên bàn chén, tách, nửa ly nước trong, cái đĩacon cá xanh đựng vài ba trái ổi sẻ chín rục, hai trái chuối mật ngã màu nâu như muốn xé vỏ ra chiên;tất cả đều nằm đó từ ngày hôm qua. Hai cái ghế một ở cạnh bàn ăn, một đặc ở giữa căn buồng, cà hailà ghế gỗ đời xưa. Ở góc trái kê cái bàn nhỏ có nồi cơm điện và lò nấu. Bước tới một khoảng là nơitắm rữa. Quyên nhìn từ vật này đến vật khác, có lẽ; cái tủ áo quần bốn ngăn kéo được nàng chú ý đến.Quyên không chịu dậy, trăn trở với chăn gối. Nhìn vào bốn bức tường, Quyên nói chuyện với trần nhà,nói chuyện với tủ áo quần, nói chuyện với con thằn lằn trên vách nhà. Nàng sải đôi cánh tay trêngiường, chân đạp chọi trong chăn. Nàng đưa tay xuống dưới gãi vào háng. Nàng ngừng lại và nhìnmông lung một cách say đắm. Quyên bung người kéo quần lót lên cao và đi thẳng tới chỗ tắm. Tóc ướtrớt trên vai. Phơi nắng bên cửa sổ, mình trần. Nhìn ra ngoài sân hai con chim sẻ đang đập cánh vàonhau. Quyên nhớ tới Thức. Bên kia tường bằng gạch, vôi lở; tuồng như buồng chưa có người thuê

.2. TRỞ VỀ

Lên đệ nhị cấp là lúc Mai Trâm cảm thấy có thay đổi trong người, đổi thay từ vóc dáng đến tâm hồn.Nàng tỏ ra trầm lắng hơn xưa, nhiều suy tư về cá nhân cũng như về đời. Những bạn đồng lứa nghe đâuđứa có ‘bồ’ đứa có người yêu. -Chắc chắn đẹp lắm mới có người để mắt. Mai Trâm thầm nghĩ. Nàngcũng muốn có như người ta có để được mộng mơ, để được nâng niu.Trên đường từ trường về, ngọngió chiều ập tới thổi ngược chiếc áo dài màu lam ngọc lên cao che cả mặt mày; nàng chới với và tỏ rathẹn thùng. Tâm hồn nàng luôn rạo rực, rạo rực vô cớ nhưng cảm thấy yêu đời. Nàng mỉm cười.Nghe lệnh song thân. -Cuối năm đỗ đạt hay không phải đi lấy chồng. Cha nói. Chưa bao giờ trong đờinàng có một cái ‘sốc’ lớn như vậy. ‘Tuổi đá buồn’ cần có hẹn hò trăng nước với thiên nhiên với ngườitình đó là niềm ao ước và tự hào so với bạn đồng niên. Từ chỗ đó Mai Trâm buồn và tuyệt vọng, bởi;đời là cả một cuộc trá hình, có dự mưu. Lễ giáo cổ truyền là luật ‘ép dầu mỡ’, buộc vào những điều vôlý và cho tình yêu là tội ác. Mai Trâm đau nhói con tim dù chưa một lần đụng tới tình yêu. Mai Trâm bây giờ là hai mươi lăm, một người đàn bà có nhan sắc, có chồng con. Cái sự vây quanhtrong đời sống mỗi lúc tăng thêm tầm thường; sáng đi chiều về, nồi cơm trách cá không tìm thấy‘thiêng liêng’ của tình yêu hòa vào trong đó; dù là làm tình bên nhau. Mai Trâm muốn khám phá cáimới lạ của cuộc đời hơn là sống trong bốn bức tường tù đày. Mai Trâm muốn tìm thấy giá trị nơi conngười mà nàng cảm thấy hụt hẫng như đã một lần trong đời. Nàng bỏ lại tất cả và ra đi. Đến Đà Nẵng thì trời chập tối. Nàng đi thăm cảnh quang để hòa điệu vào đời bằng những gì lý thú, đổithay tâm hồn mà bấy lâu nay như chim trong lồng, khát một bầu trời tự do. Trong đám người thamquan, người ta đua nhau chụp hình cảnh đẹp, vai kề vai. Mai Trâm lặng bước trong một suy tư kháccủa nửa vời, của vắng bóng gia đình. Cảnh vật chung quanh biến mất. Hình như nàng ân hận điều gì?Mai Trâm quyết đuổi để tìm thấy sự đổi thay của tâm hồn. Sau lưng Mai Trâm nghe như có ngườiđang chụp hình về mình. -Nếu cô cho phép được chụp hình cô. Người thanh niên nói. Rất đổi ngạcnhiên lời yêu cầu đó. Mai Trâm cười và đồng ý để cho chàng thực hiện. Điều người ta muốn, có lẽ;như mình muốn. -Tôi thích chụp hình cô. Cô đẹp! Người đàn ông nói. Thật ngẫu nhiên và từ đó họcảm thấy hào hứng trong chuyến đi chơi xa. Họ trao đổi tự nhiên như đã quen nhau. -Anh còn đi họchay đã đi làm? MaiTrâm nói. -Tôi đi làm. Người đàn ông nói. Bên tách cà phê Mai Trâm không e lệ,không ngại ngùng trước kẻ lạ mặt. Khi khám phá ra đàn ông ở chính mình thì hình như họ không đángsợ. Sự thật của đàn ông chỉ có một nửa trong đó. Nhưng; chàng thanh niên nầy có phần khác lạ và hấpdẫn hơn. -Quên hỏi anh tên gì? Mai Trâm nói. -Kha, Vũ Kha. Người đàn ông nói. -Tôi Nguyễn thị T.Mai Trâm nói. Từ chỗ đó họ gần như tình tự hơn, không ngại nghi mà cả hai đã tìm thấy sự thật củamộng mơ. Như đã tin nhau họ có những cuộc hẹn hò chớp nhoáng; cả hai đã rơi vào tình yêu. Đêm ở tỉnh lẽ; tình yêu buộc họ phải làm tình, tác động đó cuộn vào nhau ở tuổi chín muồi; họ ôm lấynó như khát khao, họ thỏa thê nó như giấc mơ, họ làm tình nó như chưa bao giờ làm tình. Họ nhận racái giá hạnh phúc của tình yêu là ở đó… Di động hiện ra. -Xin lỗi tôi có điện gọi.Vũ Kha nói. Ngồitrên giường Mai Trâm nghe rõ lời đối thoại của người tình. Tuyệt vọng. Nàng vội vã thu xếp và đón xe
về lại chốn cũ. Tới quê nhà, trời đã ráng chiều, đèn đường bực sáng. Định đón Mai Trâm ở phi trường.-Anh và con nhớ em. Anh đưa em đi ăn phở nhé. Định nói. Mai Trâm ví mình như con dê tế thần chưatoát hết mồ hôi. Chuyến đi giải trí của nàng chỉ là giấc mơ không thực giữa đời này. Nàng đã vượtbiên giới không gian để tìm thấy. Lần trở về Mai Trâm nhận ra ở chính mình một tình yêu lớn hơn

.3- TRỘM TÌNH

Phúc và Yến lấy nhau ở tuổi thanh xuân. Tính ra họ sống bên nhau có ba mặt con, một trai hai gái.Cả ba trẻ mặt mày khôi ngô và tính khí không giống Yến. Bề ngoài của Phúc hiền lành, ít nói; nhìnqua như người mắc chứng lãnh cảm. Yến yêu chồng sáng đi chiều về, mọi ngày như mọi ngày ngoạitrừ đi công tác xa. Yến vui vẻ, an tâm cho người chồng hiền lành giữa cảnh đời lắm thứ bon chen. Phúc giám đốc cho một công ty sản xuất, bên cạnh có nhiều cộng sự viên; đứng về mặt tình cảm thìkhông mấy ai thân tình với Phúc. Ít ăn, ít nói, vô tư của Phúc được người ta tín nhiệm và làm ăn chotới ngày nghỉ hưu. Về già người Phúc trầm lắng hơn, đưa mắt nhìn xa, không ai biết trong người Phúcnghĩ gì mà thường vác mặt nhìn trời. Vợ khuyến khích nên đi dã ngoại cho tâm hồn thư thới. Phúc nởnụ cười hài hòa. Và; từ đó thường hay đi lại lắm lần. Nhớ lại; hồi mới nhậm chức ở công ty là mộtchạm trán với Nhi (người đẹp của công ty). Phúc Nhi gặp nhau bất chợt ở cuối phòng vật tư. Qua câuchuyện bình thường họ thầm yêu; một bên nhan sắc, một bên làm lớn. Hợp ý đôi bên. Cơ quan chẳngai để tâm và tin chắc Phúc không phải hạng ‘ăn chơi’ cho nên trong sạch từ tinh thần tới thể xác. Phúcgiữ thói quen tợ như ngựa quen đường cũ thích đi dã ngoại hơn ở nhà. Sự im lặng tuyệt đối chỉ cómình Phúc biết; không một ai nhận ra bên trong con người ‘lãnh cảm’ đó. Nghỉ hưu đâu được hai nămPhúc chết đột ngột chưa kịp viết di chúc. Toàn quyền trong tay Yến. Trong buổi lễ động quan, kháchvà thân hữu đến tiễn đưa người bạn, người thân hiền lành sớm ra đi. Tang gia đang bối rối có mộtkhách lạ, Yến nghĩ là nhân viên cũ của Phúc đến đưa đám. Đi bên cạnh với một thanh niên chừng hailăm tuổi. Mặt rũ rượi không nói. -Thưa chị em là Nhi và đây là Lợi. Con của anh Phúc đấy!

võcôngliêm

Men Tình

 Khê Kinh Kha

*Cho DP

vươn tay
ngắt ánh trăng vàng
bỏ vào chum rượu
để dành mai sau
mai sau dù có bạc đầu
vầng trăng vẫn sáng
trong bầu rượu thơ
nhỡ mai
em nhớ lời thề
rượu nồng chia xẻ
cùng ta một đời

giăng tay
hốt hết sao trời
ép vào trang sách
tặng người trăm nămAO TRANG MOONtrăm năm
dù có đoạn trường
ngàn sao vẫn sáng với lòng tơ vương
biét đâu
em vẫn nhớ thương
đem ngàn sao sáng
kết thành tơ duyên

giăng tay
ôm cánh gió mền
trộn thêm ước mộng, cho tình lên hương
nếu mai
em thiếu tình thương
đem gió ân tình
hòa chung men lòng

kiếp này
không trọn duyên em
xin làm cánh bướm
lênh đênh một mình
tình tang
con bướm đa tình
bỏ quên đôi cánh
trên cành yêu thương

một mai
sông núi giao tình
em cũng ngoan hiền
cùng chung men tình

Khê Kinh Kha

8 huyệt vị sinh tử có thể cứu mạng

Thư viện của bài

This gallery contains 1 photo.

Nhớ chắc 8 huyệt vị sinh tử có thể cứu mạng trong lúc nguy nan

Nếu biết bấm vào những quan trọng, bạn có thể nhanh chóng cứu vãn nhiều tình thế éo le bất chợt xảy ra. Đây là phương thức trị liệu và dưỡng sinh hiệu quả, tuy nhiên bạn cần hiểu rõ về hệ thống huyệt đạo trên cơ thể, cũng như cách thức bấm huyệt trị bệnh.

Sơ đồ 108 huyệt nguy hiểm trên cơ thể người Trung y cho rằng trên cơ thể chúng ta có tất cả 365 huyệt đạo khác nhau. Trong đó có 108 đại huyệt và 257 tiểu huyệt.Trong số 108 đại huyệt có 8 huyệt vị là chìa khóa cứu mạng của cơ thể. Để tránh những rủi ro không đáng có và tự cứu mạng mình trong những trường hợp khẩn cấp hãy cùng tìm hiểu về 8 huyệt vị này.

Chìa khóa thứ 1: Huyệt Nhân trung – hỗ trợ chữa ngất choáng

Huyệt vị nằm tại điểm nối 1/3 trên và 2/3 dưới của rãnh Nhân trung, giữa đáy rãnh, đây là một huyệt vị cấp cứu quan trọng của cơ thể. Kích thích huyệt Nhân trung có tác dụng giúp huyết áp tăng cao, khai khiếu, thanh nhiệt, tiêu nội nhiệt, lợi vùng lưng và cột sống, điều hòa nghịch khí của âm dương. Tiếp tục đọc

TÔI VẪN KIẾM

Nguyên Lạc

mat nhin2

Tôi vẫn kiếm
Một tình yêu chân thật
Phiến môi người. nụ hoa nắng chiều thu
Ánh mắt người. không xanh trắng. vẫn ngây thơ
Và như thế tôi một đời vẫn kiếm!
Và như thế tôi một đời biếc tím
Thấy nhói tim đôi môi chuốt bén ngời!
Thôi tôi ơi. Thôi nhé tôi ơi!
Vẫn hoài kiếm những ngôn lời chân thật
.
Và như thế
Tôi vẫn hoài cô độc!
Những vần thơ những ký tự tan nhòa
Lòng giấy nào ai dệt bằng phù phiếm?
Giọt mực nào?
Rồi. cũng chỉ phôi pha!
.
Và như thế
Tôi một đời vẫn kiếm
Tôi sầu tôi chiếc lá rụng tàn thu!
Tôi hận tôi sao vẫn mãi sương mù?
Sao?
Tôi vẫn kiếm

một tình yêu chân thật!

Nguyên Lạc

VỀ ĐI EM 

Đặng Xuân Xuyến

ao dai xanh
– Thương tặng TTQT –
Về đi em! Về ngắm trăng buông
Câu mái đẩy lèn sâu ký ức
Dựa vai anh ngắm đời rất thực
Cổ tích trầu cau đã hết nhựa rồi.
Em cứ về! Ừ! Một lần thôi
Dẫu nắng bên sông không còn chấp chới
Câu lý ngày xưa dẫu thôi diệu vợi
Ta tựa vai nhau nối lại câu hò.
Em cứ về! Đừng mải đắn đo
Về một lần thôi nằm nghe sông hát
Về một lần thôi rộn đêm gió mát
Nghe tiếng lòng khủa nước đêm trăng
Em cứ về! Ừ! Một đêm trăng…
*.
Hà Nội, đêm 30.07.2016
ĐẶNG XUÂN XUYẾN

Tình yêu diệu kỳ

Lanney Trần Cảm Nhận

Lá thư mong manh #6

hpdanYêu Em Đến nghìn Năm
Ca khúc Khê Kinh Kha

Cali, ngày … tháng …

Tình yêu đã đến vào một ngày, một sức mạnh vô hình nào đó đã mở tung cánh cửa tâm hồn em khoá chặt từ lâu. Em nhỏ bé, lao đao và trốn chạy. Em sợ, em sợ những bước chân lạ lẫm làm lao xao một mặt hồ đang phẳng lặng; sợ vòng tay ấm áp một đời trói buộc trái tim em. Tình yêu ư, là cái gì rất bí ẩn trong cuộc đời. Anh biết kg, em đã cảm nhận được điều ấy từ khi em bắt gặp nỗi nhớ nhung da diết quằn quại đến trong lòng, nỗi buồn cũng đã đến vào những ngày chúng ta xa vắng nhau. Bằng bước chân cuồng nhiệt run rẩy, em tìm đến bên anh, mặc cho sương mù giăng lối đi và mặc cho mưa rơi làm cho chân em bước ngại ngần. Em đã đến. Anh đã cho em niềm hạnh phúc thật đầy và tình yêu em biết, em đang có trong tầm tay.

Con đường tình yêu của mình thật đẹp phải kg anh, hòa lẫn giữa những nhộn nhịp, rộn ràng, tất bật của cuộc sống là nhịp thở yêu đương nhẹ nhàng, bình dị, tự nhiên trong tình cờ. Anh đã đến bên em, trầm tĩnh, kiên nghị, uy nghi, kiên nhẫn cảm thông lắng nghe tiếng thổn thức của thất vọng; vỗ về xoa dịu những cơn đau buốt hành hạ thân xác. Để rồi cái vỏ bọc cứng cỏi, bướng bỉnh, chai sạn nhũn mình yếu đuối trước anh. Giọng nói ấm áp, ru em giấc ngủ bình yên với nụ cười hạnh phúc. Nụ hôn ân tình lên mái tóc, “anh chỉ muốn nhìn thấy em ngủ thật bình yên mỗi đêm.” Như một thói quen kg thể vắng trong đời, anh vẫn ru em dù cho mình có cách nhau nửa vòng trái đất với bao áp lực bận bịu của công việc, dù cho thời gian vẫn luôn đi ngược giữa hai phương trời. Trùng dương rộng lớn kg ngăn nổi tình anh để cho em có thể buông mình thả hồn thanh thản vào chốn thần tiên thơ mộng, nơi có những bụi hoa calla lilies trắng và cánh đồng lavender ngát hương – chỉ có anh và em. Cùng em chia sẻ những lo âu phiền muộn, vun đắp chăm bón ước mơ của ngày mai …

Cuồng nhiệt, đắm đuối với bao khát khao hoài vọng được dưỡng mình trong một dòng sông yên ả, hiền hòa, mát dịu và thanh khiết. Nhạc sĩ Khê Kinh Kha đã viết lên bài tình ca, có lần anh đã chia sẻ với em rằng, có lẽ là duyên, bài ca anh đã viết cho K & L … với câu “tôi có một tình yêu, nồng nàn cành Lan yếu…” Thật là ngọt ngào và lãng mạn như mối tình của hai ta … đúng kg anh?

Tình yêu anh dành cho em là ước mơ của nhiều thiếu nữ. Em Tạ Ơn Chúa cho tình thương và sự ưu ái Ngài dành cho em, cho hai ta, bao la hơn cả biển trời. Điều em có được hơn cả những lời nguyện xin.

Đêm nay trăng lại về giữa đêm thâu, bên kia bờ đại dương anh đang lạc loài và cô quạnh. Em nơi này cũng bơ vơ dõi mắt xót xa ngóng trông. Đêm đợi anh và đợi em – sau cơn mưa xuân nặng hạt, trọn kiếp người cập bến một trời vui, trọn cuộc đời ngón tay xen kẽ đi đến cuối chân trời. Trong tiềm thức sâu thẳm, em vẫn mong muốn tình yêu thiêng liêng trong thầm lặng. Còn gì kỳ diệu hơn bằng tình yêu của hai ta, và em muốn sống. Em muốn sống cho trọn vẹn, cho tận cùng những giây phút quý giá vô ngần ấy. Cám ơn Thượng Đế đã ban cho tình yêu, cám ơn định mệnh đã đẩy đưa cho chúng mình gặp gỡ giữa biển đời. Dù có muộn hay ngắn ngủi, nhưng vẫn ở lại tồn tại, mãi mãi chẳng tàn phai.
Ngủ ngon nhé anh yêu, gởi anh nụ hôn nồng nàn yêu thương.

Baby của Anh
Đêm mưa Xuân, Cali ’13

Tôi có một tình yêu
Rộn ràng như sóng vỗ
Miên man như gió chiều
Bềnh bồng như tóc xõa

Tôi có bờ môi thơm
Dịu mềm vầng trăng sáng
Bao nhiêu ngày mưa lạnh
Ngọt ngào từng nụ hôn

Tôi có bờ vai thon
Nghìn trùng vạt áo trắng
Em đi trong phố chiều
Ngàn cánh mây đi theo

Tôi có một con tim
Nồng cháy tình yêu em
Như yêu tình sông núi
Hương thơm tình lúa mới

Tôi có một con tim
Vừa mới biết yêu em
Yêu em tình nắng ấm
Yêu em tình sắc son
Yêu em đến…ngàn năm

Tôi có một đời tôi
Một đời mây phiêu lãng
Từ nay rất yên bình
Vì đời tôi có em

Tôi có một tình yêu
Nồng nàn cành Lan yếu
Hương thơm nghĩa vợ chồng
Ngàn năm mãi … mặn nồng
Ngàn năm mãi … yêu em…

Khê Kinh Kha

quạnh hiu

Khê Kinh Kha

1minh

có nhiều khi ta buồn vì nhớ em
như dòng sông âm thầm chảy trong đêm
như mùa thu tiển đưa từng chiếc lá
như môi nào buồn nhớ nụ hôn thơm

có nhiều khi ta buồn vì vắng em
như bao lần em xa lánh cuộc tình
như giọt nắng vàng khô trên cỏ úa
và cuộc tình thiếu vắng vòng tay ôm

có nhiều khi tủi hờn ta oà khóc
như một lần lỡ đánh mất tuổi thơ
như một lần tình yêu vừa tan vỡ
chút lệ buồn làm di tích tình ta

có nhiều khi thấy ta là cát bụi
ngũ lặng câm trong bóng tối cuộc đời
bao buồn vui ta uống hoài chưa hết
và mộng đời như gió thoảng mây trôi

có nhiều khi ngồi ngắm lại đời mình
một khoảng đời như ngõ hẹp buồn tênh
tuổi nắng hồng phai mờ vùng kỷ niệm
như khói trời tan loãng giữa thinh không

có nhiều khi thấy ta là tuổi mộng
tình bơ vơ như mây lạc nẻo về
có nhiều khi ước mơ làm sóng vỗ
để ngàn đời ru mãi hồn quạnh hiu

Khê Kinh Kha

TRẢ EM 

Đặng Xuân Xuyến
ao dai xanh
Đứng trước em anh thành người rất lạ
Thả rông hồn đắm đuối mắt em
Em rất gần 
Nhưng cũng thật xa xăm
Em hời hợt để anh thèm vị biển
Em hoang sơ để anh khát đại ngàn.
Anh ngợp mình trong ảo vọng ái ân
Mải lặn ngụp xây lâu đài trên cát
Giấu niềm riêng em thản nhiên bỡn cợt
Kéo mùa đông giá lạnh nhích gần
Anh đốt mình cháy bỏng si mê
Thổn thức mãi miền yêu không thể.
Anh biết thế 
Và anh không thế
Sánh vai em dạo bước song hành
Gió đại ngàn khắc khoải rừng xanh
Sao phải lén mơ nơi xa lắm
Trả lại em niềm đau đằm thắm
Trả đêm hoang vật vã rã rời
Câu thơ tình viết vội gãy đôi
Nhịp yêu ấy anh đành lỡ dở
Chân nhẹ bước. Tim yêu bỏ ngỏ
Khép nụ cười héo hắt nửa đời trai.
*
Hà Nội, ngày 23.10.2013
ĐẶNG XUÂN XUYẾN

KHÚC TÌNH HOÀI

Nguyên Lạc

dtle

(Tưởng niệm thi sĩ Du Tử Lê)
.
Riêng đời “cọc nhọn trăm năm”
Ta “chim bói cá” trên ngàn viễn bay
“Thụy du” một khúc tình hoài
Ta không còn nữa lệ ai khóc người?
.
“Sẽ mang theo được những gì?”
“Bên kia thế giới” Thụy ơi nghìn trùng!
……….
“…” Lời thơ Du Tử Lê
.
Nguyên Lạc

Vĩnh biệt nhà thơ Du Tử Lê

Vĩnh biệt nhà thơ “Khúc thụy du” – Du Tử Lê

Gia đình nhà thơ Du Tử Lê cho hay, nhà thơ vừa đột ngột qua đời ở Mỹ, thọ 77 tuổi.

Du Tử Lê (Lê Cự Phách) sinh năm 1942 tại Kim Bảng, Hà Nam. Ông là tác giả của 70 tập thơ, văn xuôi. Ông học Đại học Văn khoa Sài Gòn, tu nghiệp báo chí tại Indianapolis, Indiana (1969). Giải thưởng Văn chương toàn quốc tại Sài Gòn năm 1973 (tập Thơ tình Du Tử Lê 1967-1972).

Thập niên 1980-1990, thơ ông xuất hiện trên Los Angeles Times và New York Times. Thơ ông được dịch trong tuyển tập Understanding Vietnam (liên Đại học Berkeley, UCLA, London ấn hành; là sách giáo khoa về văn học Việt Nam cho nhiều đại học tại châu Âu).

Ông là một trong sáu nhà thơ Việt Nam thế kỷ 20 có thơ dịch trong tuyển tập World Poetry – An Anthology of Verse from Antiquity to Our Time (W.W. Norton New York, 1998). Du Tử Lê cư ngụ tại Garden Grove, Nam California (Mỹ).

Vĩnh biệt nhà thơ 'Khúc thụy du' - Du Tử Lê - Ảnh 1
Nhà thơ Du Tử Lê thăm Hữu Loan lúc sinh thời.

Một số tác phẩm của Du Tử Lê được xuất bản ở Việt Nam thời gian gần đây: Tuyển thơ Giỏ hoa thời mới lớn; tiểu thuyết Với nhau, một ngày nào; tập tùy bút Trên ngọn tình sầu; tùy bút Chỉ nhớ người thôi đủ hết đời; tuyển thơ Khúc Thụy Du; tùy bút Giữ đời cho nhau; tập thơ Chúng ta, những con đường…

Thơ Du Tử Lê có sức sống bền bỉ, có thể “sống sót” qua những thay đổi thế cuộc và vượt trên những áp đặt trong lẫn ngoài văn chương.

Nhiều nhạc sĩ phổ nhạc của ông, như: Anh Bằng, Phạm Duy, Phạm Đình Chương, Trần Duy Đức, Ngô Thụy Miên… 

Đặc biệt, những bài thơ tình được phổ nhạc và nổi tiếng của ông vừa được  in lại trong tập Khúc Thụy Du, như: Khúc Thụy Du (Anh Bằng phổ nhạc), Giữ đời cho nhau (Từ Công Phụng), Khi tôi chết hãy đem tôi ra biển (Phạm Đình Chương)… đã ghi dấu ấn trong lòng khán giả.

Bài thơ “Khi tôi chết hãy đem tôi ra biển” là bài thơ điển hình của ông nói về tình cảm của người xa xứ:  “Khi tôi chết hãy đem tôi ra biển/đời lưu vong không cả một ngôi mồ/vùi đất lạ thịt xương e khó rã/hồn không đi sao trở lại quê nhà/khi tôi chết hãy đem tôi ra biển/nước ngược dòng sẽ đẩy xác trôi đi/bên kia biển là quê hương tôi đó/rặng tre xanh muôn tuổi vẫn xanh rì”.

Vĩnh biệt nhà thơ 'Khúc thụy du' - Du Tử Lê - Ảnh 2
Nhà thơ Du Tử Lê.

Nghe tin nhà thơ Du Tử Lê qua đời, nhà thơ Thanh Thảo vô cùng thảng thốt, dù biết ông bị bệnh ung thư đã lâu. Ông kể một kỷ niệm về  Du Tử Lê: “Còn nhớ có lần, nhà thơ Du Tử Lê về Quảng Ngãi làm đám cưới cho con trai, đã đến thăm tôi. Dù chưa gặp nhau lần nào, trong chiến tranh lại từng ở hai chiến tuyến đối địch, nhưng chúng tôi đã hồ hởi chuyện trò với nhau như những người bạn.

Nhà thơ Du Tử Lê cũng vui mừng báo tôi biết là NXB Văn nghệ TP.HCM đã đồng ý in lại tập Thơ tình Du Tử Lê gồm những bài thơ tình yêu thời chiến tranh của anh. Tôi nói với Du Tử Lê là nếu anh in lại tại Việt Nam trường ca Mẹ về biển Đông của anh, tôi tin tác phẩm này sẽ có tiếng vang. Theo tôi, đó là một trong những trường ca hiện đại viết bằng Việt ngữ hay nhất trong 30 năm qua. Năm 2003, khi có dịp ghé Paris, tôi đã được đọc trường ca này ở nhà một người bạn và tôi đã khóc”.

“Thơ Du Tử Lê rất nặng tình. Mẹ về biển Đông là điển hình cho phong cách thơ nặng tình ấy. Dù nhân vật “tôi” trong trường ca luôn cố ra tỉnh táo khi ngồi một mình trong nhà tang lễ và suy nghĩ, nhớ lại biết bao điều cùng mẹ mình… Yêu mẹ mình cũng là yêu nước. Hãy viết những câu thơ thật lòng nhất về mẹ mình, và tự nhiên, anh sẽ tìm ra một thi pháp của riêng mình…

Du Tử Lê là một nhà thơ giàu cảm xúc, một nhà thơ đa cảm. Nhưng vượt lên, anh còn là nhà thơ Việt hiếm hoi viết cả một trường ca về mẹ mình. Chúng ta đọc, và nhớ nghĩ về mẹ chúng ta. Chỉ như thế, chúng ta đã có cơ hội trở thành những người con có hiếu. Tôi mong một ngày không xa, trường ca Mẹ về biển Đông sẽ có ấn bản in tại Việt Nam, như một ước nguyện thầm lặng của mẹ nhà thơ khi qua đời tại xứ người. Và khi đó, linh hồn người mẹ nhiều vất vả của Du Tử Lê mới thực sự về yên nghỉ giữa quê hương mình”, nhà thơ Thanh Thảo chia sẻ.

Thơ Du Tử Lê sống trong lòng nhiều độc giả chính là vì cái tình ấy, cùng những rung cảm cháy bỏng, và tính dự báo về thời cuộc.

Vài cảm nhận

ĐẶNG XUÂN XUYẾN

Vài cảm nhận về thơ

VĂN THÙY “dị nhân”

*

Nghèo mà tài không được bằng ai nên tôi chọn sách (viết và kinh doanh sách) làm nghề kiếm kế sinh nhai. Ngót nghét hai mươi năm với nghề, khi thấy nghề sách có dấu hiệu “suy thoái”, tôi quyết định bỏ nghề, “về hưu” và tìm thú tiêu khiển với facebook… Lên mạng, tôi chăm chú đọc những bài về văn hóa tín ngưỡng, về đối nhân xử thế… chứ không mặn mà với thơ, truyện vì… ngại đọc, sợ phải “động não” nhiều nên khi thi sĩ Nguyễn Đăng Hành rủ Văn Thùy “dị nhân” đến thăm nhà – ở làng Đá, Ân Thi, Hưng Yên – tôi mới biết ông là thi sĩ cùng quê, là kẻ bấy lâu được giới văn chương “phong tặng” là “dị nhân”, là “lục bát giang hồ”… Cầm mấy tập thơ ông đề tặng, tôi cám ơn cho phải phép rồi cất vào tủ sách. Đêm. Ám ảnh bởi cuộc nói chuyện của ông, tôi vùng dậy “lôi thơ” của ông ra đọc.

Tôi thật sự bị thơ ông cuốn hút!

Ông tung hứng, nhảy múa với từng câu chữ. Ông bắt người đọc phải trầm trồ, ngả mũ vì cách chơi chữ táo bạo mà đắc địa: Phải tay này gặp Thị Màu / Chẳng sưng đầu mõ, cũng nhàu vú chuông… hay: Ngón tay ngọng mấy đốt rồi / Kể là chín vía chột mười cũng xong.

Câu chữ, qua sự nhào nặn của ông – của “dị nhân” Văn Thùy – trở nên sinh động, nhuần nhuyễn và tài hoa: Nửa đời bám gió leo mây / Hôm nay ngồi phệt mặt đầy rong rêu... hay: Con xuôi ngược nửa kiếp người / Vẫn quanh lọn tóc rã rời mái gianh. 

Viết về tình yêu với vợ (cũ), người phụ nữ từng nhiều năm đầu gối má kề, ông dành cho bà những lời dịu dàng, đằm thắm: Bao nhiêu chữ nghĩa hương hoa / Cũng bay về phía thật thà ngày xưa; bằng trải lòng rất thật: Quay về tầm mắt em thôi / Tắm trong giọt lệ thương người phù sinh. Ông dằn vặt, tự trách, ông nhận hết phần sai về mình: Nửa đời bám gió leo mây / Hôm nay ngồi phệt mặt đầy rong rêu / Mải mê thơ phú cánh diều / Bỏ trâu gặm cụt nắng chiều mồ côiTình yêu ông dành cho người vợ nhiều lắm nên bất chấp tính sĩ diện cố hữu của thằng đàn ông, ông thấp giọng “xin” bà cho ông cơ hội: Xin em hết sức lượng tình / Cho tôi tìm lại chính mình hôm qua. Và rồi, cả mãi sau đấy, khi bà rời xa ông, đã trở thành người phụ nữ “của người ta”, thì tình yêu ông dành cho bà vẫn âm ỉ. Sau nhữngTrong nhà luýnh quýnh một người chạy mưa”, ông ngồi thần người nghĩ về người vợ cũ. Hình ảnh người đàn ông cô đơn, tuổi xế chiều, cố nén tiếng thở dài để chặn tiếng khóc chực bật ra trong Nhà Dột như cứa vào tâm trí người đọc: Giá như đôi đũa chẳng cong / Thì đâu lẻ bóng long đong chống trời / Giá như… ừ… giá như thôi / Mình không dại dột chia đôi nếp nhà.

Có lẽ là người thất bại trong hôn nhân nên mặc dù khao khát một tình yêu mãnh liệt, luôn sẵn lòng đắm đuối với ái tình nhưng những khao khát, đắm đuối ấy luôn gặp phải sự cản trở từ chính con người ông. Những câu tếu táo, bông đùa: “Vừa ban thông điệp yêu đương / Bỗng dưng cả bộ dát giường động kinh”, hay “Có gì mạnh đến lạ thường / Yêu suông đã bốn chân giường còn hai” tưởng gia vị cho tình yêu thêm thi vị, máu lửa thì thực ra đó là lời chống chế ngầm của kẻ sợ sẽ bại trận trong tình yêu. Như con chim sợ đậu phải cành cong, ông đắm đuối, bỏng cháy với tình yêu nhưng lại dè dặt, e ngại mở lòng với cuộc tình “sắp” đến. Rất nhiều tính từ (có lúc lại là động từ) như “yêu chay”, “yêu khan”, “yêu suông”… được ông sử dụng để diễn tả tâm trạng e ngại, kìm nén những xúc cảm yêu đương: “Yêu chay nên chỉ dám sờ áo thôi”, “Yêu chay loang lổ mảng tường phong rêu”, “Đã âm thầm nỗi yêu khan”, “Đã thành hội chứng yêu khan”…

Ông viết nhiều về tình yêu trai gái, nhưng thường là thứ tình yêu trớ trêu, thuộc lứa nạ dòng gặp phải trai lơ, bằng thứ ngôn ngữ bình dị của người thôn quê pha chút ngông ngông, “bất cần” của gã trai “bụi” phóng đãng: Cổng chùa xin tiểu lỏng then / Kẻ trần tục dễ lẻn lên thăm chùa... hay: Em nguyền khổ hạnh ăn chay / Tôi thề uống cạn đắng cay cõi trần.

Nhưng khi viết về mẹ thì thơ ông lại trầm lắng mà da diết, từng lời, từng lời như bào xát tâm can, khiến người đọc day dứt, rưng rưng: Vinh hoa con ướm trên người / Phất phơ tóc mẹ dệt thời yêu thương / Đã đi nhẵn một con đường / Còn nghe tóc mẹ bốn phương rối bời / Con đi dọc nửa kiếp người / Vẫn quanh lọn tóc rối thời mái gianh – (Tóc Rối Của Mẹ Năm Xưa). Hay những câu thơ thật hay, thật sinh động, được viết bởi tấm lòng của người con hiếu thảo trong Hoài Cảm Tích Cũ khắc sâu trong tâm trí người đọc: Chân trần mài vẹt đường quê / Lưng về như đặt đoạn đê giữa nhà / Lá trầu dứt cuống đi xa / Nồng cay hương quế thơm qua xứ người.

Viết về mảng nào, dù là tình yêu trai gái hay nhân tình thế thái, thơ ông cũng có sự mượt mà, đằm thắm của ca dao, pha chút tếu táo, bỡn cợt của dân dã, cộng thêm chút khệnh khạng của Văn Thùy, đã tạo nên thương hiệu thơ rất riêng, rất “dị nhân” Văn Thùy, dễ say đắm lòng người.

Trong gia tài thơ ca của ông, có nhiều câu thơ đặc sắc, thể hiện nét tài hoa đặc biệt của ông, nhưng thật tiếc, sự lặp lại về tứ, về ý đến gần như sao y bản chính của không ít câu thơ: “Ngón tay ngọng mấy đốt rồi / Kể là chín vía chột mười cũng xong.” – “Ngón tay ngọng mấy đốt rồi / Kể là chín ngón hỏng mười cũng xong.”, hay: “Con xuôi ngược nửa kiếp người / Vẫn quanh lọn tóc rã rời mái gianh.” – “Con đi dọc nửa kiếp người / Vẫn quanh lọn tóc rối thời mái gianh”…, thậm chí sự tương đối giống nhau của cả những bài thơ (Xin Em – Xin Em Đừng Mặc Áo Dàyđã làm thơ ông xuất hiện sự nhàm chán, nhạt đi và bớt duyên, khiến những người yêu thơ, yêu sự sáng tạo, chỉn chu sẽ khó chịu, cho rằng ông lười sáng tạo nên mới xào sáo, làm giảm sức hấp dẫn với chính thơ của mình.

*.

Hà Nội, 26 tháng 12 năm 2016

ĐẶNG XUÂN XUYẾN

GIÁ CỦA SỰ THÁI QUÁ

ĐẶNG XUÂN XUYẾN

ao-do-bong

Chị vỗ đét cái vào mông anh rồi trề môi, cong cớn: – Eo ơi, già rồi mà còn trẻ con lắm! Gần năm chục tuổi đầu rồi mà nhí nhảnh con cá cảnh lắm cơ…. Đời thủa nhà ai, tóc đã bạc trắng mái đầu rồi mà bày đặt níc nêm là em còn bé lắm… Ơ, mà chồng xưng em với ai thế… Chẳng lẽ chồng xưng em với vợ?

Anh đỏ mặt, ấp úng:

– Thì đặt thế cho nó lạ,… chứ em với ai đâu?

Chị sầm mặt:

– Thế là không được! Thế là chồng không trung thực, chồng gian dối với vợ! Chẳng ai đặt níc nêm lại không có nghĩa cả? Thôi chết! Hay chồng phải lòng mụ bán xôi đầu ngõ mới xưng em ngọt ngào như thế? Chả trách, chồng toàn khen xôi nhà mụ ý vừa ngon vừa rẻ. Tháng trước, vợ đánh dấu 5 lần chồng ăn xôi nhà mụ ý đấy.

Anh gãi gãi đầu, giọng có chiều “nể vợ”:

– Thì xôi nhà bác ấy ngon và rẻ thật nên chồng mới ăn. Mà… năm ngoái vợ chả khen xôi nhà bác ấy nấu ngon, sạch lại bán rẻ còn gì? Vợ chả nhắc đi nhắc lại chồng phải thường xuyên ăn xôi ủng hộ nhà bác ấy đấy thôi…

Chị tròn mắt nhìn anh rất lâu, rồi thẽ thọt:

– Thật không? Có đúng là vợ nhắc chồng như thế không? Mà… Vợ chả tin đâu! Vợ chả dại xúi chồng như thế đâu! Nhìn mụ ý cứ hơn hớn hơn hớn như thế, nỡ mụ ý có ý gì với chồng thì chết à? Chồng có nhớ cái vụ năm kia không? Nhớ không?… Ối dào… Chắc chồng lại cãi đấy là tai nạn chứ gì? Vợ biết tỏng chồng mà… Thế nào chồng cũng nói là tai nạn… Thôi, chồng đừng có định cãi vợ nữa… Như thế là không trung thực, là gian dối. Mà chồng biết đấy, vợ rất ghét ai có tính không trung thực, rất ghét ai có tính gian dối. Chồng nhìn chồng bác Nga mà học, cả đời chẳng biết cãi vợ câu nào… Ngoan ơi là ngoan. Đâu giống chồng, vợ chưa nói xong câu mà chồng đã cãi năm cãi bảy. Vợ nói rồi, vốn kiệm lời nên vợ đâu thích nói nhiều… Mà… vợ đang nhắc chồng chuyện gì nhỉ?

Anh lụng bụng:

– Chuyện xôi nhà bác đầu ngõ.

Chị quệt tay vào mép rồi lấy khăn lau tay, lau đi lau lại, kỹ càng lắm. Chán chê, chị lại dài môi, thẽ thọt:

– Có đúng là vợ nói chuyện xôi nhà bác đầu ngõ không? Ồ đúng rồi, xôi nhà bác ấy ngon, sạch sẽ mà rẻ lắm cơ… nhưng mà vợ không ưng cái thái độ nhà mụ ấy, vợ chúa ghét cái thái độ của mụ ấy… Đàn bà có chồng có con rồi, lại cứ đon đon đả đả với đàn ông là làm sao! Vợ thấy như thế là vô duyên, là lố bịch…. Vợ thấy chướng mắt! Vợ không ưng!

– Nhưng bác ấy bán hàng, phải thế.

Chị dài giọng, trề môi:

– Bác ấy bán hàng, phải thế… Biết ngay mà. Vợ biết tỏng chồng sẽ bênh mụ ấy như thế mà…. Sao không để chồng mụ ấy ra đon đả với chồng mà lại là mụ ấy. Eo ơi. Rõ là có tình ý với nhau nên bênh nhau cứ chằm chặp, chằm chặp ý… Đàn ông ra đon đả với đàn ông, sao lại để đàn bà?

Anh ái ngại nhìn mọi người, rồi khẽ khàng với chị: – Bác ấy vừa ngồi bán hàng vừa mời chào khách chứ có đon đả kiểu như vợ nghĩ đâu…

Chi lại trề môi, chừng muốn dỗi:

– Đấy! Lại cãi! Sao chồng toàn bênh mụ ấy thế? Chồng sợ miệng mọc da non sao mà cứ nhem nhẻm nhem nhẻm cãi vợ? Như thế là không trung thực! Như thế là giả dối! Mà chồng biết rồi đấy, vợ rất ghét ai không trung thực, vợ rất ghét ai sống giả dối… Mà… Mà có chuyện gì không trung thực ở đây nhỉ? (Chị vỗ vỗ đầu một lát rồi hí hửng)… Đúng rồi! Là chuyện tình cảm giữa chồng với mụ bán xôi đầu ngõ… Như thế là chồng không trung thực. Như thế là chồng giả dối. Mà chồng biết rồi đấy…

Anh gắt: – Là đủ rồi! Người ta bán hàng phải tươi cười mời chào khách lại bảo người ta lố bịch? Hàng xóm láng giềng, một tháng mua ủng hộ có 5 bữa sáng mà kêu nhiều là sao? Lại nữa! Người ta là người đàng hoàng sao cứ một điều mụ ấy, hai điều mụ ấy là thế nào? Hở?

Chị co chân lên ghế, nghiêng người, lấy khủy tay che che mặt, ấm ức: – Eo ơi… Sao chồng lại quát tháo vợ như thế? Chồng không nhớ là vợ bị yếu tim à? Hay chồng không coi vợ ra thể thống gì nên mới thế? Vợ biết tỏng chồng mà… Giờ vợ già rồi, vợ xấu rồi nên chồng không chiều chuộng, không nâng niu vợ nữa… Thế này thì vợ chết quách đi cho rồi! Vợ chán sống rồi! Vợ… Vợ… Vợ sẽ đi chết đây!

Chị nhìn anh. Nhìn mọi người. Rồi lại nhìn anh.

Thấy mọi người ngoảnh mặt đi, không nhìn chị, còn anh vẫn “đằng đằng sát khí”, chị sụt sùi:

– Vợ biết mà. Chồng không còn yêu vợ nữa nên chồng kiếm cớ để chê vợ, bỏ vợ. Số vợ khổ, khổ lắm nên mới lấy phải chồng… Chồng quên rồi à? Ngày chồng còn đang cưa cẩm vợ ấy, chồng hứa những gì? Chồng thề thốt những gì mà bây giờ chồng phũ phàng với vợ như thế… Ối giời cao đất dày ơi… Ới hàng xóm láng giềng ơi… Ới bạn ới bè ơi… Mà này, chồng đi đâu đấy?

Anh không trả lời, khoác áo, bước nhanh ra cửa. Chị chạy theo, níu áo, gặng: – Chồng đi đâu đấy?

Anh hất hàm: – Muốn biết thật à? Đi ra quán xôi làm chầu “tình cảm”. Ở nhà với vợ mệt đầu lắm.

Chị luống cuống: – Chồng ra đấy thật à? Thế chồng định đi ra đấy một mình à? Không! Vợ sẽ đi cùng chồng. Vợ cũng đang muốn chầu “tình cảm” với xôi đây…

Mồm nói, chân bước, chị khoác tay anh rất chặt.

Bước chân vào quán, chị cố khoác tay anh thật tình tứ. Rồi vênh mặt lên như để cho mọi người biết anh và chị yêu nhau lắm, lắm.

Ái ngại với mọi người, anh khẽ nhắc chị:

– Vợ đừng khoác tay chồng nữa, mọi người nhìn vào, ngại chết.

Chị phá lên cười, rồi bẹo má anh, nũng nịu:

– Eo ơi… Chồng lại bày đặt làm bộ e thẹn, ngượng ngùng nữa chứ? Yêu chồng lắm cơ!

Chị kéo ghế ngồi xuống. Một tay vuốt tóc, một tay gắp miếng xôi, nghiêng nghiêng đầu nhìn anh, rồi chậc chậc lưỡi, giống kiểu ở nhà chị vẫn nựng cu tí ăn bột: – Nào… Chồng há mồm ra,… há to tí nữa nào… Ừm… Ừm… Thế… Thế… Eo ơi nhìn chồng ừm yêu lắm cơ… Gớm, sao nước miếng của chồng tứa ra nhiều thế? Há to tí nữa nào… Thế… Thế… Chồng ừm cái nữa để vợ xem nào! Hoan hô chồng! Chồng ừm giỏi lắm!…

Anh gạt tay chị, vẻ khó chịu, làu bàu:

– Vợ đừng làm thế. Mọi người cười cho đấy.

Chị trề môi rõ dài, rồi nguýt: – Gớm! Mọi người cười cho đấy… Mọi người nào ở đây? Chồng ngại chị chủ quán chứ gì? Vợ biết tỏng trong đầu chồng nghĩ gì rồi… Hôm nay, nhất định … Vợ… Vợ… vợ phải làm cho ra ngô ra khoai mới được…

Chị giậm chân. Chị chắp tay vào hông. Chị tiến lại chỗ chị chủ quán, chưa kịp la lối thế này thế kia thì anh giang tay tát bốp một cái, rõ đau, rồi lôi chị xềnh xệch về nhà. Vừa đi anh vừa gằn giọng:

– Bà làm tôi xấu hổ với mọi người. Tôi sẽ khâu mồm bà lại để bà hết thói lắm điều! Tôi… Tôi xấu hổ vì bà.

Chị tái mặt.

Chị lắp bắp mãi không thành câu.

Hình như chị chưa lường được tình huống này thì phải!

*.

Hà Nội, ngày 01 tháng 12 năm 2015

ĐẶNG XUÂN XUYẾN

.

              DU TỬ LÊ Và TÔI

 

      ‘viết không khác người ta thì đừng viết’   (Dương Tường)

dutule01

      Ra khỏi cổng trường Quốc Học 1963 thì tôi biết đến Du Tử Lê. Nhà thơ đến với tôi như một thỏa hiệp, một chất liệu sáng tạo đã đánh động trái tim tôi. Một cái mốc thời đại mới, một cái gì vững tin, mạnh dạn đã tìm thấy giữa muôn ngàn lẫn lộn vàng thau của những trào lưu, trường phái hay hiến chương từ Tây sang Đông; có thể đó là một sự bình tâm cho một tâm hồn vượt thoát, có thể đó là một phản kháng nội tại do từ những nguyên nhân khác mà ra, đất phương Nam cho họ gieo hạt, nẩy mầm, phát tiết, nói theo kiểu của F. Nietzsche: ’bi thảm của sinh tồn/the birth of tragedy’ giữa một xã hội ngổn ngang, gò đống của hai miền đất nước. Trăm hoa đua nở vào thời đó, họ gặp nhau như hội trùng dương ‘trên ngọn tình sầu’. Du Tử Lê đứng giữa một khung trời khác biệt, để đi vào một ngôn ngữ thẩm mỹ thơ, chất chứa một cái gì sâu lắng, trầm tư (zen), đượm một triết lý nhân sinh vốn đã nằm nôi trong tay mẹ, để rồi ra đi như kẻ du tử giữa phong ba; du tử là một đánh đổi và rồi chấp nhận bằng một sự bi thương của cuộc đời… nhà thơ trở nên độc lập và tư duy ở một cõi riêng như định vị vai trò và chức năng của một thi nhân đối diện với thực tại. Con đường Du Tử Lê đi không vin vào sự thế mà vin vào thơ để nói lên sự thế. Tôi rung động trước một dòng thơ như thế. Cái ’hoang/wild’ của tôi trong đó, thời của Thanh Tâm Tuyền và Du Tử Lê: -một trường phái lãng mạn thơ mới của văn chương Việt Nam- một cái gì mới như một cuộc cách mạng tư tưởng và có một ít chất của, A. Robbe-Grillet đã dựng nên. Du Tử Lê thắp lên ngọn đuốc để đi vào ’rừng đen/dark forrest’ như soi rọi, như canh tân trường phái, một kiểu thức của ’tân hình thức’; có lẽ Du Tử Lê là kẻ tiên phong avant-garde của new-formalism-poetry mà chưa một lần nói đến, đến bây giờ thì nó trở thành hậu-tân-hình-thức (post-newformalism). Nhận định nầy có thể làm hư hại khuôn phép thẩm mỹ của văn chương; nhưng ở đây chỉ định lượng một giá trị của ngôn ngữ thơ, lời thơ tức linh hồn thơ là những khoảnh khắc thức tỉnh đời sống, cho nên chi đối với Du Tử Lê xử dụng ngôn ngữ để làm phương tiện cho thơ chớ thơ không phải là phương tiện của ngôn ngữ. Đó là lý do nhà thơ ’chơi chữ’ mà một thời cho là ’mode’ hay lập dị để tạo cái khác biệt riêng mình; nếu đứng góc cạnh đó để nhìn thì hoàn toàn khác ý của thơ. Những chấm(…) hoặc một chấm (.) hoặc phẩy(,) hoặc chấm phết(;) giữa câu thơ, những nhát chém (slash) thoạt nhìn hay đọc đưa tri giác vào một cảm thức xa lạ, nhưng đó là một biệt lập tự chủ giữa khách thể và tha thể, đưa trạng thái thơ vào trạng thái bí truyền của thể loại thơ không vần nhưng vẫn giữ được vần điệu (rhythm và tone), không những mang nặng tính nghệ thuật trình diễn (performance art) mà còn trở thành nghệ thuật sắp đặt (installation art) đó là một thứ nghệ thuật của người làm thơ. Du Tử Lê nằm ở vị trí ấy. Du Tử Lê cho những ’chữ thơ’ nhảy sang hàng là dụng ý mô tả, chớ không phải ’chơi chữ’ như một số người trước đây đã nghĩ (trường hợp của Nguyễn Vỹ chẳng hạn). Theo tư duy tôi: Du thi sĩ  mở ra một con đường ngược chiều với thơ tiền chiến, phá vỡ những vần điệu ’ểnh ương’ cổ điển, một thông lệ truyền thống làm cho thơ bị đình trệ mà không khai phá cái mới. Thâm tâm nhà thơ Du Tử Lê mong muốn điều nầy; tôi nghĩ vậy. Thi sĩ xuất thần trong tiết điệu tự do để rồi trở thành ’nhạc thơ’ chớ đừng hiểu là phổ thơ thành nhạc như nhiều bài thơ đã đi vào hoạt cảnh nầy. Thậm chí có những nhạc sĩ cắt xén nguyên bản những câu thơ hay của nhà thơ để làm vừa lòng ý nhạc. Trong tâm trạng thúc đẩy tự chính mình để tìm cho mình một sự vượt thoát sáng tạo. Một: ’sáng tạo trong tinh thần đừng để mất mình, cái tôi hôm nay phải hơn cái tôi hôm qua và kém cái tôi ngày mai’(Nietzsche) bởi trong thơ Du Tử Lê đã cho ta tìm thấy được 2 yếu tố quan trọng ’CHỮ’ và ’ÂM’. Chữ và âm là trọng tâm chính cho thơ. Du Tử Lê xử dụng tài tình chất liệu nầy. Du Tử Lê lấy thơ để nói một cái gì trong đó – a poem should not mean but be, nhưng là hiện hữu. có những câu thơ đưa ta về ‘vô dư’ nhà Phật. Rốt ráo trong chiều sâu thơ Du Tử Lê không có Thăng và Trầm, bởi tâm thức nhà thơ, lúc ấy; là ’tâm bình đẳng’. Cho nên thơ của Du thi sĩ trở nên thanh thoát, diệu vợi (enlightenment). Rải rác khắp nơi từ khi khởi làm thơ cho tới những tháng ngày cuối đời, Du Tử Lê chủ trương thơ chỉ cần ngữ thuật (jeu du langage) hơn là ý nghĩa, có những câu thơ đứt ngang làm cho câu thơ trở nên ’nonsence’ nhưng cái vô nghĩa có duyên kỳ lạ.Thơ Du Tử Lê vững chắc, đông cứng, đậm đặc, cụ thể (concrete poetry) là thế. Một cách riêng của Du Tử Lê không thể ’thuộc điạ’ dễ dàng. Hay ở chỗ đó! đến nổi sau khi thâm nhập và ngộ được một câu thơ hay, bài thơ hay của Du Tử Lê, tôi phải ’thốt’ bằng lời lẽ của E. Kant: ’pourquoi vert l’éternité’ cũng chẳng khác gì lời phẩn nộ J. Pollock khi nhìn tranh của P. Picasso kinh hoàng mà thốt lên cái chữ phàm tục nầy: ’fuck!’. Một cái ’Đi-Em’ thỏa chí tang bồng hồ thỉ. Cảm nhận được nghệ thuật là ở chỗ đó! Và đó cũng một đòi hỏi cho người đọc thơ hay ca ngâm thơ Du Tử Lê. Đều chung một cảm thức siêu thoát; đừng đi xa quá mà lạc đường thơ, nhất là thơ Du Tử Lê.

Nói đến con người và thơ Du Tử Lê chúng ta không cần dẫn chứng hay bình giải hoặc so sánh Du Tử Lê với những nhà thơ lừng danh xưa nay, trong và ngoài nước, ví Du Tử Lê nầy nọ, trích dẫn những hoạt đầu như thế là một thẩm định không nói lên cái siêu lý của thơ, ngược lại làm hư hại một thiên tài chữ nghĩa thơ văn vốn đã nảy sinh giữa kỷ nguyên nầy(epic) và càng làm thế vô hình dung hạ thấp giá trị cho một thi nhân. Tại sao? bởi quá nhiều lý lẽ để bào chửa, quá nhiều cuốc xẻng để đào đục (dù đào bới, ’bắt’ những cái hay trong thơ) mà trong lúc khắp nơi trong và ngoài nước, trước và sau chiến tranh đều đồng tình và thừa nhận với Du Tử Lê. Du Tử Lê không buồn không vui trước những lời thị phi, Du thi sĩ mỉm cười không nói hay đó là bản chất tự tại của nhà thơ (DTL). Đánh giá phải hợp lý mới thấu suốt hồn thơ Du Tử Lê. Bởi cái chất thơ Du Tử Lê không thể nói suông (như mắm) không thể ngọt bùi (như vắt chanh) và cũng không thể ngợi ca (ẩu) như chứng nhân mà cần có con mắt thẩm mỹ quan (aesthetics) mà thấy được ý và hồn thơ Du Tử Lê. Theo quan điểm của tôi: -nó tiềm tàng một chất triết lý trong đó ; vậy có cần dẫn chứng ở đây? Không! bởi thơ có một cá tính siêu lý, siêu nhiên vì thơ là cõi phi, tự tìm thấy trong thơ để rồi cảm nhận, dẫn chứng là biện minh, buộc thơ đi vào ngả rẽ, cái triết lý nhân sinh quan trong thơ Du Tử Lê là ý thức (consciousness) hơn là dẫn chứng, tất cả đã dàn trải hơn nữa thế kỷ qua, không cần một đòi hỏi nào khác, không cần phê bình (dưới dạng phê bình văn học nghệ thuật) khi mà mình chưa đạt tới; vậy ’criticize’ như định mức cho một phủ nhận, điều ấy làm thương tổn cho dòng thơ đi vào đời. Tư duy của Du Tử Lê là bản anh hùng ca, thấm nhuần tình người và tình quê, tự nó đã xuyên thủng những giáo điều giả tạo, cố công tuyên truyền nhưng vẫn không hấp dẫn người nghe kể cả giới bình dân, một thứ văn chương cho mọi giới; nếu cảm nhận một cách sâu sắc. Du Tử Lê không cho mình đã thành danh, dù ở tuổi thất thập, Du Tử Lê thành danh ở quần chúng chớ không ở nơi mình; và đến nay Du Tử Lê vẫn giữ hồn thơ cho tới khi nhịp tim không còn cảm hóa. Khí tiết của một người làm thơ là ’thép đã tôi thế đấy’. Du Tử Lê vẫn còn hít thở nguồn thơ đó cho nhân gian dù hôm nay hay mai sau.

Du Tử Lê và Tôi : tôi ở đây là một bản ngã tự tại, một cái ’self’ trong tôi, một cái ngã-mạn chưa đạt tới để phải thốt: của Zarathustra, của Kant, của Pollock, của Freud, của Sartre, của Warhol và Basquiat…vì rằng ’tôi’chưa bao giờ ’tới’, chứ ’tôi’ không phải nói lên cái thân tình; tôi là cảm phục khí phách. Cho nên chi Du Tử Lê và Tôi gặp nhau bằng cảm thức vô hình của người đồng cảnh, giữa hai chúng tôi có một cái đau chung, đau thể xác và linh hồn, một quằng quại của bi thương. Giữa chọn lựa; chúng tôi chọn ’điều hai’. Xin nhớ ’hai’ không phải ở cái phép nhị-nguyên(!), trong cái chọn lựa nó đã có thuyết nhị-nguyên mà Du Tử Lê đã trút vào dòng thơ bất tận đó…từ bấy lâu nay.

Tôi gần gũi Du Tử Lê từ khi đọc cái bút danh: ’Du Tử Lê’, cái danh xưng nầy đến trước khi thơ Du Tử Lê nhập vào hồn tôi. Từ đó tôi tìm thấy tôi một chất điên đẹp (crazy-pretiness) như Van-Gogh và làm cho tôi say đắm cho tới bây giờ một Du Tử Lê.

Trở về hồn khí nhà thơ sau bao nhiêu năm tầm-thơ, tri-thơ, thức-thơ. Tôi nhận ra Du Tử Lê một kẻ ngoại đạo có trí tuệ (wisdom) ông đã đưa vào thơ đủ màu sắc của các tôn giáo với một cốt tủy: NHƯ-NHIÊN; đấng tuyệt đối vô cùng, một cái gì tinh túy của nhà thơ (poet on pith) là nhập thể vào một khí thiên như thế mới thấy được một Du Tử Lê.

Và những lần về quê, tôi đi vào cõi lặng để tìm lại cái hương xưa ngày nào, tôi không tìm thấy những gì còn lại mà chỉ nghe trong tôi: ’hạnh phúc tôi / hạnh phúc tôi từ những ngày con nước về’ và những nhạc khúc đâu đó còn vang vọng bên tai như lời ăn năn, an ủi tôi có một may mắn giữa thế kỷ nầy bằng xương bằng thịt, có một nhà thơ lớn của trước và sau chiến tranh Việt Nam mà tôi đã chạm tới. Quê hương là người đó!

VÕ CÔNG LIÊM (ca.ab. vàothu 2012)

TRANH VẼ: ’Người Đàn Ông Chống Gậy / The Man with Baton’ Khổ: 8’X10’ Trên giấy bià. Acylics+Oilstick

+Pigment. 2012. vcl

                  *Ghi chú:’Người Đàn Ông Chống Gậy’Lấy từ cảm hứng trong tập:’Du Tử Lê 50 năm’với bạn bè.VHKHVN 07.

Khúc Tình Cho Em

Lanney Trần

DP1

Lời tiễn bước chân người – Lá thư mong manh 

Khúc Tình Cho Em – Nhạc Khê Kinh Kha

Cali, ngày … tháng …

Anh yêu,

Đêm lại trở về, lất phất mưa, hắt hiu, se lạnh những chiếc lá cuối đông, bịn rịn giây phút chia ly. Mưa rơi từng dòng, đọng nơi khoé mắt cay cay, khao khát một vòng tay ôm xiết chặt, tìm kiếm một bờ môi đắm đuối ngọt ngào. Em yêu mưa, những hàng mưa đan nhau hòa cùng nhịp tim thổn thức, nghẹn ngào. Mái tóc mây xõa dài, lắng đọng trong từng phím đàn điệu nhạc, giọng hát ai kia lênh đênh trong khoảng không gian xa vắng. Anh biết kg em yêu lắm, yêu những khoảnh khắc tình cờ, thiết tha. Trong màn mưa long lanh, bóng dáng anh kiên cường ngạo nghễ, cuồng nhiệt nhưng nồng nàn. Em chợt bắt gặp những hạt mưa nức nở, giọt nước mắt trinh trong rơi xuống trên phiến lá của đóa hoa xuân vừa chớm nở, tưởng như chẳng bao giờ khô cạn. Giọt nước mắt của tình yêu trong một lần tiễn chân người, ở một góc trời của riêng em – em đã có anh, em đã có những hạt mưa cuối đông, in khắc hình hài phút giây đáng yêu đong đầy trong niềm mong nỗi nhớ.

Anh yêu, tình yêu đã đến nhẹ nhàng nhưng đầy hương sắc của cả 4 mùa thu đông xuân hạ, ta nghiêng mình chờ đợi bóng thời gian. Đôi chim ríu rít trên cành đón nàng Xuân khoe dáng, rực rỡ nắng hanh vàng của mùa Hạ, lá thu lao đao buông mình để cuốn theo dòng nước trôi, tuyết phủ trắng mùa đông hàn lạnh giá. Dưới ánh đèn mờ ảo, em khẽ hỏi, “đến mùa nào để con thuyền cập bến đỗ bình yên, cho đôi uyên ương xây tổ – vỗ về tiếng côn trùng khóc nỉ non … ?”

Bên anh, em đã nghe được vọng bên tai điệp khúc quyến rũ của tình yêu, dịu dàng. Giữa màn đêm cô quạnh, anh dìu bước em đi, đi hoài kg biết mỏi. Em kg hiểu định mệnh đã cho mình gặp gỡ, kết se cho đôi tim quấn quít đượm nồng, rồi phải tiễn bước người đi xa. Thế gian thật có quá nhiều điều em chỉ có thể cảm nhận bằng xúc cảm mà kg thể giải bày. Lồng trong nỗi lo âu, cố dìm mình quên đi tất cả những muộn phiền đang trói buộc đọa đày thân phận người. Em nhắm mắt lắng nghe tiếng mưa, tí tách bên ngoài khung cửa, trên nhánh cây khô trụi lá suốt mùa đông, cơn mưa âm ỉ, dòng suối nước mắt – hạnh phúc hiện hữu chân thật của tình yêu chúng mình.

Đêm nay em nhớ thật nhiều những đêm dài cùng anh, hoà trong những khát khao và hoài vọng. Giữa cái khoảng cách dài đăng đẳng giữa hai phương trời, cuộc đời đã cho chúng mình hạnh ngộ giữa những nỗi buồn, niềm vui. Em đan kết niềm riêng gởi gió theo mây trời, anh góp nhặt u sầu trong sỏi đá – mình đã nhận ra và gởi thác vào nhau. Lọn tóc buồn thầm kín gởi cho người thủy chung lời vô tận, thời gian trong chuyến du hành tình yêu của đôi ta nào đâu có tuổi phải kg anh …?

Anh kể rằng, “cụm hoa lavender sáng ra chỉ nở mỗi một đôi, cũng như penguine kg thể sống thiếu đi một nửa của mình.” Tiếng hát, lời ru vẫn vương vấn bên tai. Trời Cali nắng ấm long lanh chờ đợi bước chân anh bình an trở về dắt tay em đi đến bên bờ suối trong xanh cùng những bụi calla lilies trắng chen lẫn những cụm lavender – tử yên bạch huệ, một đời tay trong tay suốt con đường, đến bên bến đỗ bình yên. Đêm gần tàn, bài tình ca cùng theo hai ta vào bến mơ tương phùng …

1ao dai trang

Ôi xa cách này chắc làm em hờn

Ôi xa cách này héo mòn tuổi xuân

Em ơi tình mình vần mãi bền lâu

Xin em nuốt lệ chờ ngày bên nhau.

Bây giờ là tháng mấy hỡi em yêu ?
Mùa thu mây có diu hiu ?
Mùa hạ mưa có giăng nhiều
Và em, tóc có rối buồn vì qua’ cô liêu ?

Bây giờ thương nhớ có đầy trong tim ?
Sao phố tình nhân không bước em
Sao đêm thanh vắng em ngồi khóc
Có phải em buồn vì nhớ thương anh ?

Em ơi ! Dù tình cách trở
Yêu nhau tình như hoa nở
Trăm năm nguyện mãi đợi chờ
Em ơi tình mình gắn bó
Như mây ngàn đời vẫn bay
Như trăng ngàn đời vẫn soi

Bây giờ tình đã nồng chưa em ơi !
Lớp học chiều nay sao vắng tiếng cười
Sao tóc em rối ?
Sao môi em nhạt ?
Có phải em buồn vì em thương nhớ tôi ?

Ôi xa cách này chắc làm em hờn
Ôi xa cách này héo mòn tuổi xuân
Em ơi em ơi tình mình vần mãi bền lâu
Xin em nuốt lệ chờ ngày bên nhau.

Khe Kinh Kha

My Way – Đường Ta Mãi Đi

Hoàng Xuân Sơn

CHO NHỮNG MẤT MÁT TRONG ĐỜI

Đường ta đã qua. Đường nào sẽ tới. Đường ta mãi đi.
Hôm nằm mơ thấy bầu trời sao lung linh. Rồi sụp đổ. Cảm nghiệm cuộc đời mong manh quá. Bằng hữu ghé lại bên đời. Rồi xa khuất. Ai biết được ngày mai? Que sera sera!
Nhạc điệu trầm trầm nhưng thôi thúc của ca khúc My Way làm mình nghĩ đến những khoảng cách chia lìa trong đời sống . Và tin xấu cứ dồn dập như những đợt sóng ngầm. Ngày vui rồi cũng qua đi. Đời mình rồi cũng qua đi . . . .

And now – the end is near – and so I face the final curtain
My friend – I’ll say it clear – I’ll state my case – of which I’m certain
I lived – a life that’s full – I traveled each – and every highway
And more – much more than this – I did it my way

Regrets – I’ve had a few – but then again – too few to mention
I did – what I had to do – and saw it through – without exemption
I planned – each charted course – each careful step – along the by way
And more – much more than this – I did it may way

** Yes! there were times – I’m sure you knew
When I bit off – much more than I could chew
But through it all – when there was doubt
I ate it up – and I spit it out
I faced it all – and I stood tall – and did it my way

(Nhạc: Frank Sinatra – Lời: Paul Anka)

*

Đâu là phiên bản cuối cùng của những cuộc rong chơi?

Xin cùng lắng nghe một chuyển đoạn lời Việt (HXS soạn và hát minh họa), như một lời kinh cầu. Cho tất cả chúng ta. Đang còn hay đã mất!
Bạn hãy cùng tôi hát lên nơi cuộc lữ vô cùng

ĐƯỜNG TA MÃI ĐI
My Way!

Chiều rơi. Chiều đang dần rơi. Về đâu ngày mai? những áng mây xa vời
Người đi. Người đi thật xa. Còn ai gần ta? Đã hết rồi thiết tha
Lòng đau, tình yêu dài lâu. Biết về bến nao? Chơi vơi ngàn cánh sao
Có nhau, từng phút giây qua. Tình nồng thơm ngát hoa
Bạn hỡi! Ngày vui giờ đây. Rời xa tầm tay. Bóng tối đan âm thầm
Nhìn qua – màn đêm lạnh căm – còn nghe vọng âm – tiếng nói cười thiết tha
Ngày xưa! Ngày xưa thật xưa. Lúc còn có nhau – không ai ngờ bể dâu
Sóng xô – một kiếp phong ba – ngàn đời ta mất nhau!

**Thời gian trôi nhanh – luyến lưu ngày xanh
Rồi khi xuôi tay – nỗi vui cũng như niềm đau
Nhìn lại quanh ta – trần thế còn ai?
Còn nghe tiếng khóc – lúc mới ra đời
Đường còn rong chơi – sẽ chẳng bao lâu
Là đường ta mãi đi

I DID IT, MY WAY . . .

CHUYỆN VỀ HAI NGÔI MỘ             CHA CON MAI SAU

 PHẠM NGỌC THÁI
 

       Phạm Ngọc Bảo (7.3.1992 – 22.7.2019)
Gió vi vút ngàn năm thổi vọng
Khói sương chiều quấn quít bay đưa
Kể rằng: Ngày xửa ngày xưa
Có hai cha con nhà thơ, hồi còn sống…
 
Trời Hà Nội. Cha hay dắt con ra Hồ Tây chơi lắm !
Vọng bên chùa Trấn Quốc tiếng nam-mô
Qua bốn mùa, ngày tháng thoi đưa
Đứa bé lớn khôn, rồi trở thành sinh viên, thạc sỹ
 
Hai thế hệ ở trong cùng thế kỷ
Người cha dần cũng già đi
Con lại đỡ cha, chăm sóc sớm khuya
Nam mô a di đà Phật !
 
Nghĩa phụ tử trên dòng sông nước Việt
Bóng trời Nam in dấu ngày đêm
Mây bay, gió thổi triền miên
Tình cha con mãi thiêng liêng sống còn
 
Bỗng một hôm bão giông, sấm sét
Cắt người con ra khỏi người cha
Lá vàng thì vẫn còn kia
Đầu xanh đã bỏ, chia ly trọn đời !
 
Nỗi đau uất rụng rời trời, đất
Vì khóc con, cha ngất nhiều phen
Hận đời, giận cả địa thiên
Đã sinh thượng đế, sao còn ác tâm ?
 
Người cha những kêu Quan Âm, Phật Tổ
Giúp một tay nâng đỡ sinh linh
Dù không cứu được đứa con
Thì xin Người đón về trên niết-bàn !?
 
Người cha thề ra tay hay bút    (*)
Viết đoản thiên tuyệt tác lưu danh
Con mình vào với sử xanh
Bao giờ non nước tan tành mới tan.
 
Một đời đã dọc ngang thi phú
Hẹn về bên Hàn Mặc Tử, Nguyễn Du
Miếu thờ tôi ở thiên thu
Mong hậu thế cho con thơ cùng vào !
 
Vài lời trăng trối trời cao
Nay xin để lại rồi chào, tôi đi…
Xác người cũng chẳng còn chi
Gió đưa đôi mộ vu vi vọng hồn
 
“Tình cha như núi Thái Sơn
Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra”…
 
          17.9.2019
    PHẠM NGỌC THÁI
 

(*)  Đến nay người cha cũng đã viết được hơn 40 bài “Thơ khóc con”, chuẩn bị xuất bản thành sách.

ALL OF YOU – ALL OF ME

khê kinh kha

hpdan

For Maria ĐP

If I could gather the moon light and make flowers for your hair
I would do that each and every time we’re watching the moon over the ocean

If I could collect all the flowers in the spring to pave the path for us walking hand in hand through this temporary life
I would spend all my time to build that wonderful path for our lives

If I could reach the sky and pick one star for each smile you gave me with affection and care in all the years we shared
there would not be enough stars in the universe

If I could hug you and kiss you thousand times each day
in each of the years that we’ve been together
and if I could hold you for a million years to full your loving warmth
I still could not fully express all the love in my heart for you

because you are my world
my happiness
my everything
We blend together like rain and water
like ocean and waves
like Autumn and withered leaves
and because
all of you is all of me
all of me is all of you
all of us is in God’s love

khê kinh kha

tommy & laura. lời tạ tình

Thư viện của bài

This gallery contains 1 photo.

tommy & laura. lời tạ tình / tell laura i love her
Jeff Barry & Ben Raleigh
♦ Chuyển ngữ: Hoàng Xuân Sơn ♦ 20.09.2019

Bìa đĩa nhạc Tell Laura I Love Her
của Ray Peterson
(Hình: Amazon.com)

Lời Người Dịch: Khó có ai có thể chối cãi bản chuyển ngữ lời Việt “Trưng Vương Khung Cửa Mùa Thu” của Nam Lộc từ ca khúc “Tell Laura I Love Her” (TLILH) của Jeff Barry và Ben Raleigh là một tuyệt tác để đời, ghi đậm dấu ấn của một thời học đường thơ mộng qua thời kỳ nhạc trẻ Việt Nam.  Phiên bản này cũng có sức lôi cuốn mãnh liệt trong hành trạng trình tấu âm nhạc.  Tác giả Nam Lộc chỉ mượn cái thần thái âm nhạc của nguyên bản TLILH để khoác vào một cái áo khác, nhẹ nhàng , mềm mại, da diết như một bài thơ của tuổi học trò tươi thắm, trong khi lời Anh ngữ bản gốc chỉ là một câu chuyện kể bình thường, nhiều kịch tính.

Vậy mà, ngoài sự hấp dẫn của phiên bản “Trưng Vương Khung Cửa Mùa Thu,” người viết phóng chuyển tài tử này muốn làm một chuyện trái khoáy, lần theo lối mòn thử dọ dẫm dịch (thoát) ý từ nguyên bản tiếng Anh để làm một phiên bản lời Việt có thể ngân nga hát lên (chủ quan) theo giai điệu và gần với ca từ nguyên bản đôi chút.  Xin được tường trình dưới đây, và xin được góp ý từ thân hữu.

— Hoàng Xuân Sơn
(viết tạm xong lúc 11giờ 49
buổi tối ngày 9 tháng 3 năm 2019
Laval, Quebec – Canada) Tiếp tục đọc

hù cái, thơ

hoàng xuân sơn

caysung4

ẩm

chén rượu bọng. nhướng thị
ngờ
bơi người có hạn
càn khôn biển
nguyệt hồng sa môn
đúng điếng

ngụ

mưa trên hoa
súng dặm bèo
thanh cư
vốn ở tỳ kheo
chuông lá vàng
ngân
trụi

phân

núi. là núi?
không phải núi
tơ thiều
mảnh dụi ngân quang
ghềnh đâu
ghềnh
khúc nhặt

ảo ảnh

bước qua cầu trăng
lơ phơ
mọc
xa mấy nhành dương
mù độ đường
hồn ai đốm
hoàng xuân sơn
tháng mười năm 17

LÁ THU

Ý Nga

thuvang2
Thong dong thanh thản về nguồn
Vô thường vô ngã, thả buông nhẹ nhàng
Mênh mông, thanh thoát dịu dàng
Đất thu lắng đọng sắc vàng mênh mang.
 
Rừng thu dừng bước lang thang
Ru tâm yên tĩnh chẳng màng đục trong
Bên trong thực tướng soi lòng
Bên ngoài giả tướng xuôi dòng thế gian.
 
Hữu sinh, hữu diệt tuần hoàn
Gian truân cách mấy dây oan cũng rời!
Tùy duyên chỉ ước độ đời,
Thiện tâm vẫn ước tùy thời độ sinh!
 
Ý Nga

BÀI THƠ GIÚP GHI NHỚ 3000 TỪ TIẾNG ANH

Giáo sư Ngô Bảo Châu
butsach

Hello Xin chào
Goodbye tạm biệt, thì thào Whisper
Lie nằm, Sleep ngủ, Dream mơ
Thấy cô gái đẹp See girl beautiful
I want tôi muốn, kiss hôn
Lip môi, Eyes mắt … sướng rồi … oh yeah!
Long dài, short ngắn, tall cao
Here đây, there đó, which nào, where đâu
Sentence có nghĩa là câu
Lesson bài học, rainbow cầu vồng
Husband là đức ông chồng
Daddy cha bố, please don”t xin đừng
Darling tiếng gọi em cưng
Merry vui thích, cái sừng là horn
Rách rồi xài đỡ chữ torn
To sing là hát, a song một bài
Nói sai sự thật to lie
Go đi, come đến, một vài là some
Đứng stand, look ngó, lie nằm
Five năm, four bốn, hold cầm, play chơi
One life là một cuộc đời
Happy sung sướng, laugh cười, cry kêu
Lover tạm dịch ngừơi yêu
Charming duyên dáng, mỹ miều graceful
Mặt trăng là chữ the moon
World là thế giới, sớm soon, lake hồ
Dao knife, spoon muỗng, cuốc hoe
Đêm night, dark tối, khổng lồ giant
Fund vui, die chết, near gần
Sorry xin lỗi, dull đần, wise khôn
Burry có nghĩa là chôn
Our souls tạm dịch linh hồn chúng ta
Xe hơi du lịch là car
Sir ngài, Lord đức, thưa bà Madam
Thousand là đúng…mười trăm
Ngày day, tuần week, year năm, hour giờ
Wait there đứng đó đợi chờ
Nightmare ác mộng, dream mơ, pray cầu
Trừ ra except, deep sâu
Daughter con gái, bridge cầu, pond ao
Enter tạm dịch đi vào
Thêm for tham dự lẽ nào lại sai
Shoulder cứ dịch là vai
Writer văn sĩ, cái đài radio
A bowl là một cái tô
Chữ tear nước mắt, tomb mồ, miss cô
Máy khâu dùng tạm chữ sew
Kẻ thù dịch đại là foe chẳng lầm
Shelter tạm dịch là hầm
Chữ shout là hét, nói thầm whisper
What time là hỏi mấy giờ
Clear trong, clean sạch, mờ mờ là dim
Gặp ông ta dịch see him
Swim bơi, wade lội, drown chìm chết trôi
Mountain là núi, hill đồi
Valley thung lũng, cây sồi oak tree
Tiền xin đóng học school fee
Yêu tôi dùng chữ love me chẳng lầm
To steal tạm dịch cầm nhầm
Tẩy chay boycott, gia cầm poultry
Cattle gia súc, ong bee
Something to eat chút gì để ăn
Lip môi, tongue lưỡi, teeth răng
Exam thi cử, cái bằng licence…
Lovely có nghĩa dễ thương
Pretty xinh đẹp thường thường so so
Lotto là chơi lô tô
Nấu ăn là cook , wash clothes giặt đồ
Push thì có nghĩa đẩy, xô
Marriage đám cưới, single độc thân
Foot thì có nghĩa bàn chân
Far là xa cách còn gần là near
Spoon có nghĩa cái thìa
Toán trừ subtract, toán chia divide
Dream thì có nghĩa giấc mơ
Month thì là tháng , thời giờ là time
Job thì có nghĩa việc làm
Lady phái nữ, phái nam gentleman
Close friend có nghĩa bạn thân
Leaf là chiếc lá, còn sun mặt trời
Fall down có nghĩa là rơi
Welcome chào đón, mời là invite
Short là ngắn, long là dài
Mũ thì là hat, chiếc hài là shoe
Autumn có nghĩa mùa thu
Summer mùa hạ , cái tù là jail
Duck là vịt , pig là heo
Rich là giàu có , còn nghèo là poor
Crab thi` có nghĩa con cua
Church nhà thờ đó , còn chùa temple
Aunt có nghĩa dì , cô
Chair là cái ghế, cái hồ là pool
Late là muộn , sớm là soon
Hospital bệnh viẹn , school là trường
Dew thì có nghĩa là sương
Happy vui vẻ, chán chường weary
Exam có nghĩa kỳ thi
Nervous nhút nhát, mommy mẹ hiền.
Region có nghĩa là miền,
Interupted gián đoạn còn liền next to.
Coins dùng chỉ những đồng xu,
Còn đồng tiền giấy paper money.
Here chỉ dùng để chỉ tại đây,
A moment một lát còn ngay ringht now,
Brothers-in-law đồng hao.
Farm-work đòng áng, đồng bào Fellow- countryman
Narrow- minded chỉ sự nhỏ nhen,
Open-hended hào phóng còn hèn là mean.
Vẫn còn dùng chữ still,
Kỹ năng là chữ skill khó gì!
Gold là vàng, graphite than chì.
Munia tên gọi chim ri
Kestrel chim cắt có gì khó đâu.
Migrant kite là chú diều hâu
Warbler chim chích, hải âu petrel
Stupid có nghĩa là khờ,
Đảo lên đảo xuống, stir nhiều nhiều.
How many có nghĩa bao nhiêu.
Too much nhiều quá , a few một vài
Right là đúng , wrong là sai
Chess là cờ tướng , đánh bài playing card
Flower có nghĩa là hoa
Hair là mái tóc, da là skin
Buổi sáng thì là morning
King là vua chúa, còn Queen nữ hoàng
Wander có nghĩa lang thang
Màu đỏ là red, màu vàng yellow
Yes là đúng, không là no
Fast là nhanh chóng, slow chậm rì
Sleep là ngủ, go là đi
Weakly ốm yếu healthy mạnh lành
White là trắng, green là xanh
Hard là chăm chỉ , học hành study
Ngọt là sweet, kẹo candy
Butterfly là bướm, bee là con ong
River có nghĩa dòng sông
Wait for có nghĩa ngóng trông đợi chờ
Dirty có nghĩa là dơ
Bánh mì bread, còn bơ butter
Bác sĩ thì là doctor
Y tá là nurse, teacher giáo viên
Mad dùng chỉ những kẻ điên,
Everywhere có nghĩa mọi miền gần xa.
A song chỉ một bài ca.
Ngôi sao dùng chữ star, có liền!
Firstly có nghĩa trước tiên
Silver là bạc , còn tiền money
Biscuit thì là bánh quy
Can là có thể, please vui lòng
Winter có nghĩa mùa đông
Iron là sắt còn đồng copper
Kẻ giết người là killer
Cảnh sát police , lawyer luật sư
Emigrate là di cư
Bưu điện post office, thư từ là mail
Follow có nghĩa đi theo
Shopping mua sắm còn sale bán hàng
Space có nghĩa không gian
Hàng trăm hundred, hàng ngàn thousand
Stupid có nghĩa ngu đần
Thông minh smart, equation phương trình
Television là truyền hình
Băng ghi âm là tape, chương trình program
Hear là nghe watch là xem
Electric là điện còn lamp bóng đèn
Praise có nghĩa ngợi khen
Crowd đông đúc, lấn chen hustle
Capital là thủ đô
City thành phố , local địa phương
Country có nghĩa quê hương
Field là đồng ruộng còn vườn garden
Chốc lát là chữ moment
Fish là con cá , chicken gà tơ
Naive có nghĩa ngây thơ
Poet thi sĩ , great writer văn hào
Tall thì có nghĩa là cao
Short là thấp ngắn, còn chào hello
Uncle là bác, elders cô.
Shy mắc cỡ, coarse là thô.
Come on có nghĩa mời vô,
Go away đuổi cút, còn vồ pounce.
Poem có nghĩa là thơ,
Strong khoẻ mạnh, mệt phờ dog- tiered.
Bầu trời thường gọi sky,
Life là sự sống còn die lìa đời
Shed tears có nghĩa lệ rơi
Fully là đủ, nửa vời by halves
Ở lại dùng chữ stay,
Bỏ đi là leave còn nằm là lie.
Tomorrow có nghĩa ngày mai
Hoa sen lotus, hoa lài jasmine
Madman có nghĩa người điên
Private có nghĩa là riêng của mình
Cảm giác là chữ feeling
Camera máy ảnh hình là photo
Động vật là animal
Big là to lớn , little nhỏ nhoi
Elephant là con voi
Goby cá bống, cá mòi sardine
Mỏng mảnh thì là chữ thin
Cổ là chữ neck, còn chin cái cằm
Visit có nghĩa viếng thăm
Lie down có nghĩa là nằm nghỉ ngơi
Mouse con chuột , bat con dơi
Separate có nghĩa tách rời , chia ra
Gift thì có nghĩa món quà
Guest thì là khách chủ nhà house owner
Bệnh ung thư là cancer
Lối ra exit, enter đi vào
Up lên còn xuống là down
Beside bên cạnh, about khoảng chừng
Stop có nghĩa là ngừng
Ocean là biển, rừng là jungle
Silly là kẻ dại khờ,
Khôn ngoan smart, đù đờ luggish
Hôn là kiss, kiss thật lâu.
Cửa sổ là chữ window
Special đặc biệt normal thường thôi
Lazy… làm biếng quá rồi
Ngồi mà viết tiếp một hồi die soon
Hứng thì cứ việc go on,
Còn không stop ta còn nghỉ ngơi!
Cằm CHIN có BEARD là râu
RAZOR dao cạo, HEAD đầu, da SKIN
THOUSAND thì gọi là nghìn
BILLION là tỷ, LOOK nhìn , rồi THEN
LOVE MONEY quý đồng tiền
Đầu tư INVEST, có quyền RIGHTFUL
WINDY RAIN STORM bão bùng
MID NIGHT bán dạ, anh hùng HERO
COME ON xin cứ nhào vô
NO FEAR hổng sợ, các cô LADIES
Con cò STORKE, FLY bay
Mây CLOUD, AT ở, BLUE SKY xanh trời
OH! MY GOD…! Ối! Trời ơi
MIND YOU. Lưu ý WORD lời nói say
HERE AND THERE, đó cùng đây
TRAVEL du lịch, FULL đầy, SMART khôn
Cô đõn ta dịch ALONE
Anh văn ENGLISH , nổi buồn SORROW
Muốn yêu là WANT TO LOVE
OLDMAN ông lão, bắt đầu BEGIN
EAT ăn, LEARN học, LOOK nhìn
EASY TO FORGET dễ quên
BECAUSE là bỡi … cho nên , DUMP đần
VIETNAMESE , người nước Nam
NEED TO KNOW… biết nó cần lắm thay
SINCE từ, BEFORE trước, NOW nay
Đèn LAMP, sách BOOK, đêm NIGHT, SIT ngồi
SORRY thương xót, ME tôi
PLEASE DON”T LAUGH đừng cười, làm ơn
FAR Xa, NEAR gọi là gần
WEDDING lễ cưới, DIAMOND kim cương
SO CUTE là quá dễ thương
SHOPPING mua sắm, có sương FOGGY
SKINNY ốm nhách, FAT: phì
FIGHTING: chiến đấu, quá lỳ STUBBORN
COTTON ta dịch bông gòn
A WELL là giếng, đường mòn là TRAIL
POEM có nghĩa làm thơ,
POET Thi Sĩ nên mơ mộng nhiều.
ONEWAY nghĩa nó một chiều,
THE FIELD đồng ruộng, con diều là KITE.
Của tôi có nghĩa là MINE,
TO BITE là cắn, TO FIND kiếm tìm
TO CARVE xắt mỏng, HEART tim,
DRIER máy sấy, đắm chìm TO SINK.
FEELING cảm giác, nghĩ THINK
PRINT có nghĩa là in, DARK mờ
LETTER có nghĩa lá thơ,
TO LIVE là sống, đơn sơ SIMPLE.
CLOCK là cái đồng hồ,
CROWN vương niệm, mã mồ GRAVE.
KING vua, nói nhảm TO RAVE,
BRAVE can đảm, TO PAVE lát đường.
SCHOOL nghĩa nó là trường,
LOLLY là kẹo, còn đường SUGAR.
Station trạm GARE nhà ga
FISH SAUCE nước mắm, TOMATO là cá chua
EVEN huề, WIN thắng, LOSE thua
TURTLE là một con rùa
SHARK là cá mập, CRAB cua, CLAW càng
COMPLETE là được hoàn toàn
FISHING câu cá, DRILL khoan, PUNCTURE dùi
LEPER là một người cùi
CLINIC phòng mạch, sần sùi LUMPY
IN DANGER bị lâm nguy
Giải phầu nhỏ là SUGERY đúng rồi
NO MORE ta dịch là thôi
AGAIN làm nữa, bồi hồi FRETTY
Phô mai ta dịch là CHEESE
CAKE là bánh ngọt, còn mì NOODLE
ORANGE cam, táo APPLE
JACK-FRUIT trái mít, VEGETABLE là rau
CUSTARD-APPLE mãng cầu
PRUNE là trái táo tàu, SOUND âm
LOVELY có nghĩa dễ thương
PRETTY xinh đẹp, thường thường SO SO
LOTTO là chơi lô tô
Nấu ăn là COOK , WASH CLOTHES giặt đồ
PUSH thì có nghĩa đẩy, xô
MARRIAGE đám cưới, SINGLE độc thân
FOOT thì có nghĩa bàn chân
FAR là xa cách, còn gần là NEAR
SPOON có nghĩa cái thìa
Toán trừ SUBTRACT, toán chia DIVIDE
PLOUGH tức là đi cày
WEEK tuần MONTH tháng, WHAT TIME mấy giờ?

Đọc hết bài bạn đã nhớ được bao nhiêu từ nè 😋

Theo Giáo sư Ngô Bảo Châu

Váy Cũ

Đặng Xuân Xuyến
2430
Tôi tìm em trong giấc mơ tôi
Chiếc váy rách, cũ thời con gái
Tôi nhử tôi rút sợi chiều thật vội
Se nỗi buồn chơi vơi
Tôi cạn chiều. Tôi cạn bóng tôi
Chiếc váy rách, cũ thời con gái
Tôi khờ khạo xúi tôi tấp tểnh
Víu cành xuân víu nỗi lênh đênh
Chiều xập xềnh. 
Xộc xệch nụ cười tôi
Chiếc váy rách, cũ thời con gái
Tôi bỏ lửng tiếng cười từ năm ngoái
Em đi rồi.
Váy cũ có dần phai.
*.
Hà Nội, 24 tháng 09.2018
ĐẶNG XUÂN XUYẾN

TRẬN CHIẾN CHƯA NGƯNG:

Nguyên Lạc

ĐOẠN TRƯỜNG TÂN THANH VÀ KIM VÂN KIỀU TRUYỆN # 2

 

Bìa lưu tại Paris-Kim Vân Kiều - Thanh Tâm Tài Tử- quyển 1

                                                                      Phần 2

                     ĐOẠN TRƯỜNG TÂN THANH
                     VÀ KIM VÂN KIỀU TRUYỆN

ĐOẠN TRƯỜNG TÂN THANH

Như đã bàn ở phần 1, Nguyễn Du chỉ lấy tích truyện về 3 nhân vật, trước và sau một trận đánh vài giờ xảy ra thời nhà Minh để tạo nên một tác phẩm kéo dài 15 năm, từ Bắc Kinh cho tới Phúc Kiến lừng danh thế giới: Đoạn Trường Tân Thanh. Ba nhân vật trong tích truyện này là Thúy Kiều, Từ Hải, Hồ Tôn Hiến; không có Kim Trọng, Thúy Vân, Đạm Tiên, Thúc Sinh, Hoạn Thư, Tam Hợp, Giác Duyên trong đó. Thúy Kiều chết trên sông Tiền Đường, không có chuyện Thuý Kiều sống lại. Từ câu chuyện hết sức mờ nhạt, tầm thường này, Nguyễn Du xây dựng thành các tuyến tính Kiều, Hoạn Thư, Từ Hải, và chèn vào các nhân vật đệm. Trong này, nhân vật đa tình Thúc Sinh xuất hiện để làm tăng độ phong tình cho câu chuyện đầy nước mắt của một người phụ nữ cực kỳ hiếu thảo: Vương Thúy Kiều.
Sau khi Truyện Kiều ra đời, từ vua, quan, trí thức đến giới bình dân đều say mê. Riêng giới có học, bao thế hệ đã dựa vào Truyện Kiều để sáng tác, chuyển thể, vịnh, họa, cảm tác, cả bói Kiều…
Ngày nay có thể kể đến những tác phẩm trước 1925 như sau:

– Hậu Đoạn Trường Tân Thanh, văn xuôi, chữ Hán của Tiên Phong Mộng Liên Đường Nguyễn Đăng Tuyển (Tiếc rằng chỉ còn 2 hồi, lưu ở Viện Hán Nôm)
– Kim Vân Kiều lục của một tác giả khuyết danh, Phạm Tú Châu dịch.
– 3 hồi kịch Kim Vân Kiều của Trương Minh Ký
– Hàng trăm bài thơ vịnh Kiều của các danh sĩ Bắc Hà trong cuộc thi Vịnh Kiều do Nguyễn Khuyến chánh khảo gồm chữ Hán, chữ Nôm. Người đạt giải nhất là Chu Mạnh Trinh.
– Kịch bản Phim chuyển từ thơ Kiều sang tiếng Pháp của đạo diễn Famechon và kịch bản tiếng Việt của Nguyễn Văn Vĩnh cho cuốn phim Kim Vân Kiều công chiếu tại Hà Nội năm 1924.

Về tiêu đề Đoạn Trường Tân Thanh của truyện thơ Nguyễn Du, Mộng Liên Đường Nguyễn Đăng Tuyển đã giải thích rõ ràng:
-Tiên Phong Mộng Liên Đường Nguyễn Đăng Tuyển ( 1795-1880) người Bắc Ninh, là quan văn nổi tiếng đương thời với Nguyễn Du (1766- 1820), nhỏ hơn Nguyễn Du 29 tuổi. Ông viết bài tựa đề đầu tiên cho bản in, bản Phường, Đoạn Trường Tân Thanh năm 1820, ngay trong năm Nguyễn Du mất (tháng 9 năm 1820). Sau này ông cũng là người viết Hậu Đoạn Trường Tân Thanh bằng văn xuôi, chứng tỏ ông cũng như nhiều người khác hâm mộ Đoạn Trường Tân Thanh.
Bài của Mộng Liên Đình giải thích cặn kẻ tiêu đề tác phẩm là Đoạn Trường Tân Thanh: Giải thích nghĩa của tiêu đề và vì sao chọn tiêu đề như vậy. Xuất xứ tác phẩm, nhắc lại như Nguyễn Du đã viết, câu thứ 7 và thứ 8:

.
Cảo thơm lần giở trước đèn
Phong tình cố lục còn truyền sử xanh.

Xin được nhắc lại: Có sự lầm lẫn giữa “cổ lục” và “cố lục” đã giải thích ở phần 1:
– Cụm từ ” phong tình cổ lục” làm cho câu thơ có vẻ trang trọng, nhưng có thể dẫn tới hiểu lầm như ông Dương Quảng Hàm đã hiểu: Truyện tình cảm nam nữ trong sách xưa. Một cụm từ phổ biến.
Các bản chữ nôm đều viết ” Phong tình cố lục”. (Bản của Trương Vĩnh Ký dịch lại là “có lúc”, có lẽ thợ in sắp nhằm chữ lục vì trong bản nôm viết lục).
Chữ 古 cổ khác với chữ 固 cố. Cố là có, vốn có.
– Khi viết ” phong tình cố lục ” thì nghĩa khác: Phong tình có sách. Đây mới là câu của Nguyễn Du, hiệu đính bởi Kiều Oánh Mậu 1902.
Trần Trọng Kim và Bùi Kỷ 1925 hiệu đính cuốn Kiều Oánh Mậu lại dịch cữ “cố́” thành ” cổ”, chắc có thể các ông nghĩ hợp nét trang trọng với vế sau: “còn truyền sử xanh”: Một sai lầm đáng tiếc. Vì thế Dương Quảng Hàm mới hiểu như trên.
Bản dịch Vương Thuý Kiều của học giả Phạm Quỳnh, đăng trong Nam Phong Tạp Chí số 30, tức trong năm 1919, là văn bản dịch lâu nhất ta có. Phạm Quỳnh đã chứng minh cả lời nói của Nguyễn Du : “Phong tình cố lục ” và đề từ của Mộng Liên Đường: Truyện Thuý Kiều chép ở lục Phong tình, chuyện Phong tình nay cũng đã cũ rồi..” là có thật. Dưới đây là 3 trang bản dịch Vương Thuý Kiều trong Nam Phong Tạp Chí:

Nam Phong tap chi 30- 3(hình trang bản dịch Vương Thuý Kiều trong Nam Phong)

Trong “Đề từ Đoạn Trường Tân Thanh”của Mộng Đình Liên, đoạn dưới đây nhắc đi nhắc lại lục Phong tình với nghĩa là một cuốn sách cụ thể, chứ không phải “ phong tình cổ lục” là thành ngữ phổ biến.
“Truyện Thuý Kiều chép ở trong lục Phong tình, ta không bàn làm gì. Lục Phong tình cũng đã cũ rồi. Tố Như tử xem truyện, thấy việc lạ, lại thương tiếc đến những nỗi trắc trở của kẻ có tài, bèn đem dịch ra quốc âm, đề là Đoạn trường tân thanh, thành ra cái lục Phong tình vẫn là cái lục cũ, mà cái tiếng Đoạn trường lại là cái tiếng mới vậy”.

Phong Tình lục là một mục trong tuyển tập Ngu Sơ Tân Chí của Trương Trào (1650-1707), trong đó có bài Vương Thuý Kiều của Dư Hoài (1616-1696).
Truyện ngắn khoảng 3 trang giấy, chỉ nhắc tới nhân vật chính là : Vương Thuý Kiều và 4 nhân vật liên quan là La Long Văn – Từ Hải – Hồ Tôn Hiến, Hoa lão lão. Truyện viết khá, nhưng cũng chỉ vậy thôi.

Đây là trích đoạn bài viết của Tiên Phong Mộng Liên Đường Nguyễn Đăng Tuyển:

 Đề Từ Đoạn Trường Tân Than -Tiên phong Mộng Liên Đường Nguyễn Đăng Tuyển.
Trong trời đất đã có người tài tình tuyệt thế, tất thế nào cũng có việc khảm kha bất bình. Tài mà không được gặp gỡ, tình mà không được hả hê, đó là căn nguyên của hai chữ đoạn trường vậy. Thế là lại có kẻ thương tiếc tài tình, xem thấy việc, trông thấy người, thì còn nhìn thế nào được mà không thở than rền rĩ.
Nghĩa là bậc thánh mới quên được tình, bậc ngu không hiểu tới tình. Tình chung chú vào đâu, chính là chung chú vào bọn chúng ta vậy. Cho nên phàm người đã ít tình, tất là không có tài, chỉ nửa loà nửa sáng, sống chết trong vòng áo mũ, trong cuộc no say, dù có gặp cái cảnh thanh nhã như hoa thơm buổi sáng, trăng tỏ ban đêm, cũng chỉ trơ trơ như cây cỏ, như cá chim vậy
….
Truyện Thuý Kiều chép ở trong lục Phong tình, ta không bàn làm gì. Lục Phong tình cũng đã cũ rồi. Tố Như tử xem truyện, thấy việc lạ, lại thương tiếc đến những nỗi trắc trở của kẻ có tài, bèn đem dịch ra quốc âm, đề là Đoạn trường tân thanh, thành ra cái lục Phong tình vẫn là cái lục cũ, mà cái tiếng Đoạn trường lại là cái tiếng mới vậy.

Thuý Kiều khóc Đạm Tiên, Tố Như tử làm truyện Thuý Kiều, việc tuy khác nhau mà lòng thì là một: người đời xưa thương người đời trước, người đời nay thương người đời xưa, hai chữ tài tình thực là một cái thông luỵ của bọn tài tử khắp trong gầm trời này vậy.
Ta lấy một thiên mực nhạt, xa viếng nàng Kiều, tuy lời văn quê kệch, không đủ sánh với bức giao thiên, song đủ tỏ cái nợ sầu của hai chữ đa tình, tuy khác đời mà chung một dạ. May được nối ở sau cuốn Tân thanh của Tố Như tử, cùng làm một khúc Đoạn trường để than khóc người xưa.
Tháng hai, niên hiệu Minh Mạng, viết ở Thán hoa hiên đất Hạc giang.
Tiên phong Mộng liên đường chủ nhân. ] [Đề Từ Đoạn Trường Tân Thanh – Tiên phong Mộng Liên Đường Nguyễn Đăng Tuyển] [bản dịch của Bùi Kỷ-Trần Trọng Kim]

Bài của Mộng Liên Đình mới giải thích cặn kẻ việc Nguyễn Du lấy tích cũ trong Phong Tình lục, một mục trong tuyển tập Ngu Sơ Tân Chí của Trương Trào, trong đó có bài Vương Thuý Kiều của Dư Hoài (1616- 1696). Tôi xin trích đoạn bài của Dư Hoài, mời các bạn đọc:

Vương Thúy Kiều là người Lâm Tri. Từ nhỏ đã bị bán vào phường hát xướng, mạo xưng họ Mã, giả mẫu gọi là Kiều Nhi, dung mạo thì xinh đẹp bậc nhất, lại thêm thiên tính thông minh. Nàng được dẫn tới Giang Nam, dạy hát Ngô ca thì hát Ngô ca thông thạo, dạy gảy tỳ bà Hồ thì tinh thông gảy tỳ bà Hồ. Khi thổi tiêu thành khúc thì âm thanh trong trẻo, từng nhịp phách du dương vang lên theo giọng hát làm say đắm bao nhiêu vị khách ngồi. Kiều Nhi rất có danh tiếng ở trong chốn Bình Khang. Song Kiều Nhi tính tình nhã đạm, thường tỏ ra cách biệt, không tha thiết gì với son phấn điểm trang lẫn những môn thuật chiều chuộng khách. Gặp phải những khách buôn bụng phệ hay mấy lão thấp hèn ra giá đến ngàn vàng, nàng chỉ hững hờ liếc mắt rồi cười khinh, chứ chẳng thèm đếm xỉa hay trò chuyện lấy một lời. Do vậy giả mẫu thường nổi giận và đánh mắng. May thay có một chàng thiếu niên lén cho Kiều Nhi nhiều vàng, bày kế thoát khỏi giả mẫu, rồi nàng tự dọn đến sống ở Gia Hưng, đổi tên thành Vương Thúy Kiều.
Lúc bấy giờ, có người ở huyện Thiệp tên là La Long Văn, tiền tài dư dả, là một tay hào hiệp kết giao nhiều tân khách, thường qua lại với Thúy Kiều, còn gần gũi với một kỹ nữ khác tên là Lục Châu. Từ Hải người đất Việt là một kẻ hung tợn trộm cắp, bần cùng vô lại, đang bị bọn cờ bạc bức bách đến túng quẫn nên một mình lẻn vào nhà Thúy Kiều ẩn náu, ban ngày không dám ra gặp ai. Long Văn làm quen với Từ Hải, khen Hải là một tráng sĩ nên nghiêng mình kết bạn, nắm tay nhau đi uống rượu đến say sưa thỏa thích, còn sai nàng Lục Châu thân cận bên mình ra hầu hạ. Hải cũng không từ chối. Đang lúc men rượu bừng lên nóng đến mang tai, Hải vén tay áo cầm chén rượu, ghé sát tai Long Văn nói rằng: Mảnh đất này không phải là nơi tôi thỏa chí, bậc trượng phu há có thể cam tâm chịu đứng sau người khác mãi mãi ư? Ngài nên nỗ lực, tôi cũng quyết dốc sức từ đây. Mai này phú quý, xin chớ quên nhau!. Hải khảng khái hát vang khúc bi ca, ở lại thêm mấy ngày nữa rồi từ biệt ra đi.

Không bao lâu, Hải nhập bọn với Oa Khấu (Nhật – NL), trở thành một chúa tàu, thống lĩnh hùng binh trên mặt biển, nhiều lần xâm phạm Giang Nam. Năm Gia Tĩnh thứ 35 (1556), Từ Hải bao vây quân của Tuần phủ Nguyễn Ngạc ở Đồng Hương, Thúy Kiều và Lục Châu đều bị bắt. Hải nhìn thấy thì kinh ngạc nhưng cũng rất vui mừng, sai Thúy Kiều gảy tỳ bà Hồ để góp vui cho tiệc rượu, rồi ngày càng sủng ái, gọi là phu nhân, bắt các tỳ thiếp ra vái chào. Thúy Kiều được thương yêu hết mực, dù là quân cơ đại sự hay kế hoạch bí mật, nàng đều được phép ngồi nghe. Thúy Kiều bề ngoài thì tỏ ra thân thiết, nhưng trong lòng thì hy vọng họ thua trận, vì nàng vẫn luôn mong mỏi được về nước, dòng lệ cứ rưng rưng, thường lau mặt bằng nước mắt.
… Gặp lúc Tổng đốc Hồ Tôn Hiến đang khai phủ ở Chiết Giang, người này giỏi dùng binh, nhiều kế sách, muốn thu nạp Từ Hải
La Long Văn nghe phong phanh được tin tức, tự mừng thầm vì có tình thân cố cựu với Thúy Kiều, bèn nhờ thượng khách trong mạc phủ là Từ Vị người Sơn Âm đưa tới diện kiến Tông Hiến
Tông Hiến vui mừng, làm theo kế của Long Văn, mang thêm nhiều vàng ngọc châu báu âm thầm đến biếu tặng cho Thúy Kiều. Thúy Kiều dần động lòng, đêm ngày thuyết phục Từ Hải đầu hàng. Hải nghe theo nàng

Hải vừa bước ra ngoài, thấy quan binh tụ tập đông đủ thì trong lòng đã sinh nghi. Tôn Hiến có lòng thương tiếc cho Từ Hải, không muốn giết kẻ quy hàng, nhưng bị Văn Hoa bức bách, đành hạ lệnh, sai Tổng binh Du Đại Du cho toàn quân tiến lên. Gặp lúc trời nổi gió lớn, quân triều đình thừa cơ phóng hỏa, reo hò đánh trống và xông vào chém giết, quân Từ Hải thua to, tan chạy và bị tiêu diệt sạch. Hải vội vàng nhảy xuống nước nhưng bị bắt, chém lấy đầu, còn Thúy Kiều thì cho sống mà dẫn vào quân môn.
Tôn Hiến bày tiệc lớn khao thưởng các quan Tham tá, sai Thúy Kiều hát Ngô ca và mời rượu mọi người. Bọn Tham tá hoặc là quỳ trên chiếu, hoặc nhảy múa nâng chén, cùng chúc thọ Tôn Hiến. Tôn Hiến bị rượu làm cho say mèm hoa mắt, cũng vung tay múa giáo, đùa giỡn với Kiều Nhi. Đến khi tiệc loạn lên hết thì mới thôi. Sáng hôm sau, Tôn Hiến hối hận vì đêm qua say khước, bèn đem Thúy Kiều ban thưởng cho tù trưởng Vĩnh Thuận mới về hàng. Thúy Kiều đã theo tù trưởng Vĩnh Thuận, đi tới giữa sông Tiền Đường, nàng ưu uất đập giường và than rằng: Minh Sơn hậu đãi ta như vậy, nhưng ta lại đem quốc sự đẩy chàng vào chỗ chết. Hại chết một tù trưởng rồi lại thuộc về một tù trưởng khác, vậy bảo ta còn mặt mũi nào để sống ở trên đời nữa đây?. Nói xong, nàng hướng về ngọn sóng gào lên một tràng dài đau khổ, rồi lao xuống dòng nước mà chết.] [VƯƠNG THÚY KIỀU TRUYỆN -Tác giả: Dư Hoài-người dịch: Ngô Trần Trung Nghĩa] [Vương Thúy Kiều truyện -Tác giả: Dư Hoài]

Dư Hoài dựa vào bản viết khô khan và sơ sài của Mao Khôn (1512- 1606): “Kỷ tiễu trừ Từ Hải bản mạt” để viết thêm . “Kỷ tiễu trừ Từ Hải bản mạt” nằm trong bộ sách Trù Hải Đồ Biên của Tổng đốc đời Minh là Hồ Tôn Hiến soạn, gồm 13 quyển; ở quyển 9 có bài “Kỷ tiễu Từ Hải bản mạt” (ghi chép ngọn ngành việc đánh dẹp Từ Hải) kể lại chuyện quân Minh đánh nhau với quân Oa vào năm Bính Thìn (1556) đời Gia Tĩnh. Mao Khôn, đã từng phục vụ trong quân ngũ Hồ Tôn Hiến Khi Mao Khôn chết, 10 năm sau Dư Hoài sinh ra:

“Vương Thuý Kiều là kỹ nữ Lâm Tri, đầu tiên là Kiều Nhi, giỏi hát lối mới, thạo hồ cầm. Sau tìm cách trốn khỏi nhà xướng ca, đổi tên ở bên bờ biển. Nụy khấu đánh Giang Nam, bắt Thuý Kiều mang đi rồi trở thành áp trại phu nhân của Từ Hải. Từ Hải rất yêu quý nàng, mọi kế hoạch đều nghe theo nàng. Quan quân phái người đến chiêu hàng, Kiều đem nhiều việc đến khuyên, Hải mới quyết tâm hàng. Quan quân bố trí kế hoạch, Từ Hải thua chết, Thuý Kiều cũng bị quan quân cướp. Sau khi bị Đốc phủ làm ô nhục, Kiều bị gả cho tù trưởng Vĩnh Thuận làm thiếp. Trên đường qua sông Tiền Đường, Thuý Kiều than: Minh Sơn hậu đãi ta, ta vì việc nước dụ chàng mà bị hại. Giết một người chồng rồi lại lấy một người chồng, còn mặt mũi nào sống nữa! Bèn nhảy xuống sông mà chết.” [Kỷ tiễu trừ Từ Hải bản mạt – Mao Khôn]
………
(*) Trù Hải Đồ Biên 籌海圖編 là bộ sách do Hồ Tôn Hiến soạn, gồm họa đồ vẽ các vùng biển thường bị quân hải khấu Nhật xâm phạm và các kế hoạch trù định nhằm giữ gìn an ninh vùng biển. Bài Kỷ tiễu Từ Hải bản mạt 纪剿徐海本末 chép ở quyển 9 của bộ sách này là do Phó sứ Mao Khôn, thuộc cấp theo lệnh Hồ Tôn Hiến ghi chép, đã kể lại khá tỉ mỉ cuộc đánh dẹp Từ Hải. (Hồ Tôn Hiến – Trù Hải Đồ Biên, Cảnh Ấn Văn Uyên Các, Tứ Khố Toàn Thư, sách thứ 343. Đài Bắc, Đài Loan; Thương Vụ ấn thư quán, 1983 – theo Nguyễn Cẩm Xuyên)

@. Nhận xét:
– Trong truyện Vương Thúy Kiều truyện của tác giả Dư Hoài không thấy Kim, Vân, Quan, Mã Giám Sinh, Tú Bà, Bạc Hạnh, Bạc bà, Thúc Sinh, Hoạn Thư, Tam Hợp, Giác Duyên…
– Đoạn Trường Tân Thanh dài 3254 câu, 22.788 từ. Truyện Vương Thúy Kiều này ngắn chỉ 1100 từ vì khả năng tưởng tượng chỉ từng ấy. Các nhân vật Từ Hải, Hồ Tôn Hiến, chỉ xuất hiện trong đoạn cuối truyện Kiều gồm 436 câu, 3052 từ. So với trong toàn truyện Kiều, đoạn này chiếm 13%. Truyện ngắn của Dư Hoài kể về Hồ- Từ – Kiều so với trong thơ Kiều Nguyễn Du chỉ chiếm 1/3 độ dài. Vì trong Kiều thêm nhiều tình tiết như gắn bó với Từ Hải, báo ân trả oán. So với toàn truyện Đoạn Trường Tân Thanh thì truyện của Dư Hoài độ dài chỉ chiếm 4,8%.
– Giống như William Shakespeare, đại thi hào Nguyễn Du chỉ dựa vào tích truyện cũ, ít người biết đến, đưa nỗi lòng mình vào sáng tạo ra một tác phẩm bất hủ: Đoạn Trường Tân Thanh vinh danh cho nước Việt. Do đó Tổ chức UNESCO họp ở Paris nhất trí thông qua Nghị quyết số 192 EX/32 trình Đại Hội đồng UNESCO biểu quyết vinh danh đại thi hào Nguyễn Du là Danh nhân văn hóa thế giới đầu tháng 11/2013.

.
@ Có người thắc mắc là sao trong ĐTTT các tên nhân vật, xã hội đều từ China?

Tôi có ý này:
Cụ Nguyễn Du dễ dàng đổi tên Thúy Kiều bằng Hồng, Lan, Đào , Diểm nào đó; đổi tên tướng cướp Từ Hải bằng Hai Cọp, Ba Beo…, Hồ Tôn Hiến thành Nguyễn Đêm, Trần Ngày vân vân, và mô tả xã hội VN. Nhưng cụ dám không? Cái “Họa văn tự” khủng khiếp luôn treo trên đầu thời Phong kiến:
Ví dụ như Thi Nại Am sống đời Minh, viết truyện Thủy Hử đời Tống lâu 300-400 trăm năm mà còn vướng họa
Mời đọc những đoạn sau đây:

“Thủy Hử truyện” ra đời và nhanh chóng phổ biến ra ngoài. Minh Thái Tổ Chu Nguyên Chương đọc tác phẩm và vô cùng tức giận. Thấy Thi Nại Am viết sách ca ngợi phường “thảo khấu”, Minh Thái Tổ đã sai người bắt Thi Nại Am giam vào ngục, đồng thời phê rằng: “Đây là cuốn sách xúi giục dấy loạn của người có mưu đồ tạo phản, không trừ đi tất gây họa về sau”. [Wikipedia]
– Vụ án Minh sử triều Thanh: Đây là Văn nạn (họa văn tự ) thứ hai nổi tiếng khủng khiếp ở triều đại Mãn Thanh: Do tên cẩu nhân Ngô Chi Vinh tố giác với Ngao Bá (đại thần triều Mãn Thanh) bộ Minh Thư tập lượt (do Trang Kiến Long và những văn nhân khác biên soạn), những người học giả văn sĩ tham dự vào việc biên soạn bộ Minh Thư tập lượt (Minh sử) và toàn gia họ Trang mấy chục người từ mười sáu tuổi trở lên đều bị xử trãm. Còn đàn bà con gái thì phát lảng đến Thảm Dương để cho bọn kỵ binh Mãn Châu dùng làm tôi mọi.Vì bộ Minh sử mà nhà tan cửa nát, người chết không biết bao nhiêu mà kể. Thảm hơn nữa là bọn thợ thuyền khắc chữ, thợ ấn loát, thợ đóng sách và những chủ tiệm sách, người bán cũng như người mua cùng người đọc sách hể điều tra ra được là xử trãm hết (Lộc Đỉnh Ký – Kim Dung)
Các “Thiên triều” China vì muốn bảo vệ vương triều mình nên luôn luôn nghi ngờ ̀mọi người. Họ sẵn sàng tiêu diệt những ai dám phê bình họ , tiêu diệt những mầm họa từ “trứng nước” mà họ nghi ngờ cho ăn chắc. Các trào vua nổi tiếng trong vụ này là Minh thái tổ Chu Nguyên Chương và Minh thành tổ Chu Đệ và nhà Thanh.
Triều Nguyễn VN cũng không ngoại lệ khi khi vua Gia Long triều phục nhà Thanh. Nhờ Pháp giúp, sau khi tiêu diệt Tây Sơn, vua Gia Long vội vàng tránh Pháp vì e rằng tư tưởng tự do từ Pháp sẽ ảnh hưởng đến triều đại mình, quay lại triều phục phương Bắc, hủy bỏ Luật Hồng Đức, đầy tính nhân đạo, rập khuông theo bộ luật của Thanh với điều luật Tru Di tam tộc tàn độc để răn đe dân chúng.
Chính vì thế ai mà không sợ cái “họa văn tự”. Nguyễn Du cũng không ngoại lệ, để ngừa cái họa này, ông phải dùng tích truyện triều Minh bên China để viểt ra Đoạn Trường Tân Thanh. Vì truyện xảy ra ở China nên xã hội phong tục … phải Chinese, điều đó đâu có gì là lạ?

Đoạn Trường Tân Thanh của cụ Nguyễn Du sáng tác gồm 3254 câu, thuộc thể thơ lục bát – quốc thi của Việt Nam. Trong một lần tổ chức kỷ niệm sinh nhật cụ Nguyễn Du vào đầu thế kỷ XX, cụ Phạm Quỳnh nhắc đi, nhắc lại: “Truyện Kiều còn, tiếng ta còn; tiếng ta còn, nước ta còn”

KIM VÂN KIỀU TRUYỆN VÀ THANH TÂM TÀI TỬ

1. Nhan đề Đoạn Trường Tân Than

Nguyễn Du vốn đặt tên truyện thơ là Đoạn Trường Tân Thanh, được các bạn ông khắc in, bản Phường, phổ biến và dạy các nho sinh.
– Mộng Liên Đường Nguyễn Đăng Tuyển đề từ có nói đến Đoạn Trường Tân Thanh. Ông đã giải thích Đoạn Trường Tân Thanh là “tiếng kêu mới đứt ruột”(Đã giải thích trên)
– Phạm Quý Thích lại có bài “Thính Đoạn Trường Tân Thanh hữu cảm”:Bên cạnh nội dung truyện Kiều của Đại thi hào Nguyễn Du, bản Liễu Văn Đường còn có Bài tựa (bằng thơ Đường thất ngôn bát cú) của Lãng Đường Phạm Tiên sinh – Phạm Qúy Thích, bằng chữ Hán: “Đoạn trường tân thanh đề từ”(hoặc “Thính Đoạn trường tân thanh hữu cảm”).

Giai nhân bất thị náo Tiền Đường
Bán thế yên hoa trái vị thường
Ngọc diện khởi ưng mai Thủy quốc
Băng tâm tự khả đối Kim lang
Đoạn trường mộng lý căn duyên liễu
Bạc mệnh cầm chung oán hận trường
Nhất phiến tài tình thiên cổ lụy
Tân Thanh đáo để vị thùy thương

Dịch nghĩa:
Nếu người đẹp Thuý Kiều mà không đi đến sông Tiền Đường,
Thì nửa đời lầu xanh vẫn chưa trả xong nợ.
Mặt ngọc của nàng đâu cần phải chìm xuống thuỷ cung,
Lòng băng tuyết của nàng thì xứng đáng gặp chàng Kim lắm.
Giấc mộng đoạn trường nay đã biết rõ nguồn cơn,
Khúc đàn Bạc mệnh dứt rồi nỗi hận còn vương.
Vì một mảnh tài tình mà ngàn năm còn luỵ,
Tác phẩm Tân Thanh này vì ai mà thương cảm đau lòng.
(Nguồn: Dương Quảng Hàm, Việt Nam văn học sử yếu, Trung tâm học liệu xuất bản, 1968)

Câu 5 có 2 chữ “đoạn trường“, câu cuối của bài thơ này là:
Tân Thanh đáo để vị thùy thương” Dương Quảng Hàm dic̣h: “Tác phẩm Tân Thanh này vì ai mà thương cảm đau lòng”.

Cả hai bài, theo tục truyền Phạm Quý Thích đã in cùng Đoạn Trường Tân Thanh trước 1821, giảng cho học trò, nên mới có tập cho Minh Mạng xem. Điều này phù hợp với tục truyền của học trò ông: Bản phường – Hàng Gai Hà Nội. Cần thấy rằng học trò Phạm Quý Thích là những tiến sĩ, cử nhân, thám hoa… Nhiều vị đã kế thừa ông làm thầy, và học trò của các vị này lại làm thầy cho đến 1919 bỏ Nho học. Cho nên nói là tục truyền nhưng lại có giá trị vì thời gian liên tục và không lâu.

2. Nhan đề Kim Vân Kiều

Vì cái tên Đoạn Trường Tân Thanh (Tiếng kêu mới đứt ruột”) nhạy cảm chính trị, cũng như nội dung truyên thơ phê phán xã hội, đụng chạm đến chế độ phong kiến. Sự ra đời của nó không thể tránh khỏi những con mắt tinh tường của vua quan đầu thời Nguyễn. Nội dung của Đoạn Trường Tân Thanh “có độc” cho vương triều, mặc dù đã mượn tên chính sử Tàu và địa danh Tàu, nhưng cái tên nghe không ổn.
Tục truyền vua Minh Mạng ngồi uống trà và cũng đã phê bình câu “Dọc ngang nào biết trên đầu có ai” khi vua vừa mới lên ngôi năm 1820.
Có ông vua nào muốn nghe thiên hạ ngâm nga “Tiếng kêu đứt ruột” giữa thời ” thịnh thái” của mình trị vì không? Có ông vua nào thích nghe “Dọc ngang nào biết trên đầu có ai” không? Có ông vua nào thích nghe những lời phê phán xã hội, suy rộng ra là chỉ trích vương triều của mình không?
Vua Minh Mạng tìm các biện pháp khắc phục một sự việc đã rồi, với mục đích làm nhẹ ảnh hưởng tác phẩm đã được tuyệt đại quần chúng say mê: Minh Mạng tuyên triệu Phạm Quý Thích vào kinh đô năm 1821 nhưng ông cáo bệnh (theo tiểu sử Phạm Quý Thích) không vào triều kiến. Học trò ông, có nhiều người làm quan của triều đình đã bảo vệ ông.
Không có mặt Phạm Quý Thích và Mộng Liên Đường, Minh Mạng đành đổi tên Đoạn Trường Tân Thanh ra Kim Vân Kiều ( bản VN B60 có ghi bút tích đổi tên) và đã chỉ đạo Hàn Lâm Viện viết thêm bình giảng truyện Kiều theo hướng làm ngơ việc phản ánh xã hội, khiến nếu ai quan tâm thì xem đó chỉ là chuyện bên Tàu chẳng liên quan gì tới Đại Nam. Tập trung vào than tiếc và an ủi sự gian nan giữa tài và mệnh, như hình thức câu truyện.@

Có một nhận xét này:
Trong bản Kim Vân Kiều Truyện, quyển 2 có ghi: Quán Hoa Đường bình luận- Kim Thánh Thán ngoại thư. Ở Trung quốc, Quán Hoa Đường là nhà Kim Thánh Thán và bản ngoại thư của Kim Thánh Thán không có, không ai tìm thấy cả .
Trong khi đó ở Việt Nam: Hoa Đường là hiệu của Phạm Quý Thích, Thán hoa viên là nhà của Mộng Liên Đường Nguyễn Đăng Tuyển, hai người đã giới thiệu và bình Đoạn Trường Tân Thanh của Nguyễn Du.
Sự trùng hợp lạ lùng thay!
Mới đọc trích đoạn nói về việc đổi tên liên quan đến bút tích vua Minh Mạng trong VN B60:

[…Vua Minh Mạng đổi tên Đoạn Trường Tân Thanh của Nguyễn Du ra Kim Vân Kiều, đồng thời chỉ đạo Hàn Lâm viện soạn thêm các bản văn xuôi bình giảng thơ rồi duyệt và chọn 20 hồi bình giảng ghép thành một tiểu thuyết Kim Vân Kiều Truyện lấy tên Thanh Tâm Tài Tử. Tôi xin dẫn chứng 2 tư liệu quan trọng sau:
Tàng bản ký hiệu VN B60*: Bên trong là các trang thơ Truyện Kiều chữ Nôm. Bìa sách ghi bằng bút sắt:
明命御覽(賜)(名)斷腸新聲. 金雲翹傳 (mấy chữ này viết bằng bút sắt).
Phiên âm là:
Minh Mạng ngự lãm (tứ) (danh) Đoạn Trường Tân Thanh Kim Vân Kiều truyện.
Thông thường ta hiểu là: Minh mạng đã đọc ban ân (tứ) tên( danh) Đoạn Trường Tân Thanh: Kim Vân Kiều truyện.
Như vậy đây là bản Đoạn Trường Tân Thanh trình Minh Mạng duyệt và Minh Mạng đổi tên thành Kim Vân Kiều, có thể có chỉnh sửa, là bản gốc của bản Kinh về sau.
Cuốn này ắt có lưu ở Hàn Lâm Viện nên năm 1902, Kiều Mậu Oánh mới chú giải, lấy lại tên Đoạn Trường Tân Thanh, có sự kiểm duyệt của Hàn lâm kiểm thảo Ngô Thúc Dụ Thư.
…..
* Chúng tôi chưa có ảnh chụp cuốn VN B60 này, nên dẫn theo bài viết của Huy Hoàng Hoàng Phước Quyến và Lê Quang Thái, cả hai cùng trích từ Trần Văn Giáp ][Theo Lê Nghị]
……..
@. Nhận xét của tôi:
Bút sắt thời trước chỉ các vị vương giả dùng. Vua Minh Mạng chắc được các sứ thần Pháp tặng bút sắt, nên suy ra các hàng chữ viểt bằng bút sẳt là thật sự của ông.
……….
Trong tổng thuyết 1830 Minh Mạng đã viết “ Thanh Tâm Tài Tử cổ kim minh lương đề tập biên” ( Tập Thanh Tâm tài tử xưa nay, vua sáng tôi hiền chọn lọc) tôi đã nói ở phần 1.
Sự kiện tổng thuyết này đương nhiên là chỉ có quan chức liên quan tới nội trị và văn hoá. Nó cũng giống như nghị quyết của ban tuyên giáo trung ương ngày nay. Tổng thuyết không có nghĩa là lễ hội công khai, giới sĩ phu cũng chỉ nghe tường thuật từ các quan chức dự mà thôi. Ai tiết lộ điều gì trái lệnh vua là xử tội. Tổng thuyết không nhằm kỷ niệm thiên tài Nguyễn Du, không một lời nào đề cao Nguyễn Du rõ ràng, (Tự Đức sau này tục truyền còn đòi đánh đòn Nguyễn Du, và tổng thuyết của ông là hạ thấp Nguyễn Du)
Đến đời Tự Đức, một lần nữa lại tổng thuyết 1871. Tự Đức kiểm duyệt truyện Kiều, ông cũng lọc tiếp những từ ngữ mà ông cho là phản nghịch. Cả ông và Minh Mạng lái tư tưởng truyện Kiều đi vào ca ngợi và thương tiếc một kẻ tài hoa, làm nổi bật thuyết tài mệnh tương đố. Cố tình lờ đi những chi tiết phê phán xã hội, suy rộng ra là chỉ trích vương triều nói chung và nhà Nguyễn nói riêng. Cả hai ông đều giữ lại ngôn ngữ truyền cảm đỉnh cao hài hoà giữ dân gian và bác học.
Do vua Minh Mạng đổi tên nên các bản in sau này đều lấy tên Kim Vân Kiều Truyện, và sau đó Tự Đức đổi Kim Vân Kiều Tân Truyện. Cuốn thơ cổ nhất được in tìm được hiện nay mang tên Kim Vân Kiều là bản in 1866 thời Tự Đức. Năm 1875 khi Trương Vĩnh Ký chuyển ra quốc ngữ ở Saigon, lấy tên Kim Vân Kiều, không nhắc gì đến Đoạn Trường Tân Thanh
Tuy nhiên Minh Mạng cũng là vị vua anh minh hơn vị cháu nối dòng Tự Đức. Ông tự nhận ông đổi tên. ( Bút phê trang bìa VN B60 nói trên). Đặt biệt trong bài Tổng thuyết ông cũng tỏ vẻ tôn trọng tài năng của Nguyễn Du một cách gián tiếp. Một bài thuyết dưới thể phú biền ngẫu, hạn chế nhiều so với chiếu chỉ văn xuôi. Nhưng cũng đủ để hiểu rõ ràng ý của ông: Cuộc hội thuyết này gồm nhiều người ông gọi chung là Thanh Tâm Tài Tử, trong đó có cả ông (hợp trước phủ ba chi bút, liêu phân thiều bộc chi âm) Hai câu đó thể hiện có sự phân công mỗi người làm một số đề tài nào đó, có thể là từ 1821, khi Phạm Quý Thích không vào Kinh và ông đã duyệt lại Đoạn Trường Tân Thanh và đổi tên thành Kim Vân Kiều.
Cách bình giảng thơ Đoạn Trường Tân Thanh làm nhẹ ý nghìa của nó theo tôi nghĩ như sau:
Chỗ nào Nguyễn Du nói nhân vật làm thơ thì cuốn này cho vào một bài thơ. Chỗ nào tối nghĩa như “vành ngoài bảy chữ vành trong tám nghề” thì lấy kỹ thuật làm tình của Kim Bình Mai mà giải thích. Chỗ nào rất hồi hộp mà Nguyễn Du chỉ giản lược:
Lệnh quân truyền xuống nội đao
Thề sao thì lại cứ sao gia hình.
thì văn bình giảng miêu tả chi tiết các loại gia hình độc ác vô nhân (như tôi đã trích đoạn ớ phần 1 – NL) Nghĩa là theo từng câu thơ mà thêm rồng thêm rắn cho dễ hiểu cốt truyện; cùng làm như Kim Vân Kiều giống giống Kim Bình Mai, vì vậy mới có câu: “Đàn bà chớ kể Thúy Vân, Thúy Kiều”
Cách khắc phục của Minh Mạng là khôn ngoan và hiệu quả cho vương triều, nhưng để lại rắc rối cho đời sau. Người trong nước hiểu lầm và “ai đó” tận dụng xuyên tạc.
Đến năm 1883 vua Tự Đức qua đời, triều đình Huế lúc này thực chất chỉ là bù nhìn, toàn bộ chính trường đều do người Pháp đã đạo diễn . Lúc đó một cựu quan nhà Nguyễn, chủ bút tờ báo Đồng Văn là Kiều Oánh Mậu mới cho tái bản phục hồi tên cũ truyện thơ là Đoạn Trường Tân Thanh, có sự phụng mệnh vua đọc và kiểm duyệt của 3 cộng tác và Hàn Lâm kiểm thảo Ngô Thúc Dụ Thư. Thực ra, phải coi bản Đoạn Trường Tân Thanh do Kiều Oánh Mậu chủ trì biên soạn là cãi chính cuối cùng của đại diện triều Nguyễn, chứa đựng nội dung trung thực nhất: Ghi đúng tên, nguồn gốc của Truyện Kiều. Nói rõ hơn là khẳng định Đoạn Trường Tân Thanh có dính líu tới Phong Tình Lục của Dư Hoài và Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm Tài Tử không phải là nguồn gốc truyện Đoạn Trường Tân Thanh
Thực chất cuốn mà ngày nay bạn đọc thấy ghi: Kim Vân Kiều truyện -Thanh Tâm Tài Nhân – Nguyễn Duy Ngung và Nguyễn Đỗ Mục dịch là kết hợp ba tác phẩm khác nhau: thơ vịnh của Chu Mạnh Trinh để đầu hồi + dịch văn xuôi Kim Vân Kiều của Thanh Tâm Tài Tử+ lời bình của Kim Thánh Thán ( không hề tìm ra cuốn lời bình Kim Thánh Thán ở đâu!).[Theo Lê Nghị]

Về việc ghi đúng tên gốc của Truyện Kiều tôi đã giải thích rõ trong bài viết ” Về Nhan Đề Gốc Của Truyện Kiều” [1]

Tập hợp các bài viết bình giảng văn xuôi xen thơ minh hoạ sát theo tình tiết, theo lời thơ Nguyễn Du được đặt tên là ” Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm Tài Tử” như là một tiểu thuyết chương hồi. Như vậy Thanh Tâm Tài Tử là người Việt Nam . Mục đích chính nhằm đánh lạc hướng tâm sự “ưu thời uất thế” của Nguyễn Du – chỉa mũi nhọn vào đương triều và xã hội đương thời sau bao năm trải nghiệm và so sánh với xã hội Trung Hoa ông đã tận mắt chứng kiến trong đợt đi sứ năm 1813.
Nói cách khác, không có cụ thể một một cá nhân Thanh Tâm Tài Tử nào , mà là tên đại diện cho một tập thể giảng , bình, hoạ Kiều ở Đại Nam như đã bàn rõ ớ phần 1.
Về Thanh Tâm Tài Tử: Ở đây cũng nên giải nghĩa “tài tử” là cụm từ thông dụng để chỉ những người yêu văn hoá văn nghệ không quan trọng danh tính, những người có tâm hồn phóng khoáng, thích tụ họp với nhau. Đến ngày nay còn lưu lại trong cụm tử “ đờn ca tài tử”. Còn Thanh Tâm có thể dùng chơi chữ phiên thiết kết lại là tình. Cũng có thể hiểu là tâm trong sáng, vô tư. Biết đâu chọn cái tên Thanh Tâm Tài Tử cũng do gợi ý từ câu trong đoạn kết: “ chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài”. Dầu lý giải kiểu nào cũng là cái tên đẹp. Thanh Tâm Tài Tử là tên tượng trưng của những người bình giảng Kiều, kể cả vua. Giống với ngày nay người ta hợp thành hội Kiều học. (Lê Nghị)

Tại thư viện quốc gia còn lưu một tập: “Thanh Tâm Tài Tử minh lương đề tập biên” (mã số VN 240 ) gồm cả các bài tổng thuyết của Minh Mạng, Tự Đức, và các tác giả khác như Nguyễn Khuyến, Chu Mạnh Trinh…
Do Minh Mạng đổi tên nên các bản in sau này đều lấy tên Kim Vân Kiều. Cuốn thơ cổ nhất được in tìm được hiện nay mang tên Kim Vân Kiều là bản in 1866 thời Tự Đức. Năm 1875 khi Trương Vĩnh Ký chuyển ra quốc ngữ ở Saigon, lấy tên Kim Vân Kiều, không nhắc gì đến Đoạn Trường Tân Thanh.
Tổng Từ của Minh Mạng 1830 đã có tên là “Thanh Tâm Tài Tử”. Tất cả các tác phẩm liên quan đến bình, giảng Kiều đều xếp trong tuyển tập: “Thanh Tâm Tài Tử cổ kim minh lương đề tập biên”. Thanh Tâm Tài Tử cổ kim (nghĩa là các Tác giả trước, nay và hàm ý cả sau khi tổng thuyết, bao gồm cả Minh Mạng). Minh lương đề tập biên (nghĩa là vua sáng tôi hiền tuyển chọn). Theo đó thì các cuốn A953, Kim Vân Kiều lục và mọi cuốn , mọi thể loại khuyết danh đều gọi là của Thanh Tâm Tài Tử

@. Vài nhận xét thêm:
– Hình như tên Kim Vân Kiều bắt chước cách đặt tên của truyện ba nàng dâm nữ, mỗi nàng một kiểu: Kim Bình Mai . Đó là tên một cuốn sách hư cấu nổi tiếng in năm 1610. “Vành ngoài bảy chữ vành trong tám nghề “ là kỹ thuật làm tình của 3 nàng này với Tây Môn Khánh.
– Trong khi Kiều và Từ Hải chết năm 1556 là nhân vật chính sử, và truyện Kim Vân Kiều nếu do Thanh Tâm Tài Nhân là Từ Vị (1521 -1593) viết thì lẽ nào tác giả chết năm 1593 lại bắt chước 7 chữ 8 nghề theo cuốn sách viết sau đó 17 năm? Đó là chưa nói đến nhiều lý do để bài bác luận điểm Thanh Tâm Tài Nhân là Từ Vị. Không hiểu vì lý do gì mà các ông học giả nói Thanh Tâm Tài Nhân là Từ Vị? Sẽ bàn lại rõ vụ này ở phần 3)
Nói khẳng định là Đoạn Trường Tân Thanh có dính líu tới Phong Tình Lục của Dư Hoài, còn Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm Tài Tử không phải là nguồn gốc truyện Kiều Nguyễn Du, chỉ là những bài bình giảng văn xuôi phát xuẩt từ truyện thơ Đoạn Trường Tân Thanh

Sự kiện tổng thuyết này đương nhiên là chỉ có quan chức liên quan tới nội trị và văn hoá. Nó cũng giống như nghị quyết của ban tuyên giáo trung ương ngày nay vậy. Tổng thuyết không có nghĩa là lễ hội công khai, giới sĩ phu cũng chỉ nghe tường thuật từ các quan chức dự mà thôi. Ai tiết lộ điều gì trái lệnh vua là xử tội! Tổng thuyết không nhằm kỷ niệm thiên tài Nguyễn Du, không một lời nào đề cao Nguyễn Du rõ ràng, (Tự Đức sau này tục truyền còn đòi đánh đòn Nguyễn Du, và tổng thuyết của ông là hạ thấp Nguyễn Du)

Cách khắc phục của Minh Mạng là khôn ngoan và hiệu quả cho vương triều nhưng để lại cái họa cho đời sau: Người trong nước hiểu lầm và gián điệp văn hoá tận dụng xuyên tạc.

Mời đọc trích đoạn này từ nhà nghiên cứu Lê Nghị:

.
Năm 1830 Minh Mạng tổ chức tổng thuyết Kim Vân Kiều truyện ( tức Đoạn Trường Tân Thanh) và nêu lên mục đích của cuốn bình giảng Đoạn Trường Tân Thanh viết bằng văn xuôi. Sự kiện này Minh Mạng đã viết trong “ Thanh Tâm Tài Tử cổ kim minh lương đề tập biên” ( Tập Thanh Tâm tài tử xưa nay, vua sáng tôi hiền chọn lọc. So ảnh trang đầu bên dưới)
Trong đó có nói lý do tuyển chọn tập :
Hà do trùng phát u quang, bổ khuyết nhi thành tín sử ( vì sử sách xa mù, nên bổ khuyết để căn cứ làm tin).
Đoạn giữa bài thuyết chủ yếu nói đến thân phận nàng Kiều, đồng cảm và an ủi với tài và cảnh luôn xung đột, nửa Khổng nữa Phật.
Đoạn kết lại kết lần nữa nhấn mạnh:

Nại hà:
Ngọc nhan bất tác, trúc hãn nan bằng
Tài tử tình thư, cánh lạc ư kim ngọc tượng chi ngoại
Giai nhân tâm sự, tẫn phó ư phong sương binh hỏa chi dư
Thánh Thán bất phùng, hàn yên tán mạn
Hoa Đường dĩ viễn, phá bích tiêu điều

Sở đương mịch kỳ di biên, cáo chư đồng chí
Truyền thân tả chiếu ly tảo trích hoa
Hoá công họa công, hợp trước phủ ba chi bút
Thiên thế bách thế, liêu phân thiều bộc chi âm
Thượng dĩ hoàn luân đài kiểm điểm chi sơ tâm
Hà dĩ bị nghệ uyển bình chướng chi giai thoại

Diệc cổ kim lai tài bình nhất vận sự nhĩ.
( Minh Mạng tổng thuyết)

Tạm dịch nghĩa:

Ngặt nỗi:

Người ngọc chẳng gặp, sử xanh khó làm bằng chứng
Sách tình của tài tử (thì) chỉ là phủ bên ngoài ý vàng ngọc
Tâm sự giai nhân cứ đổ cho thời gian, chiến tranh hủy hoại
Thánh Thán (1) chẳng gặp, khói sương mờ mịt
Hoa Đường (2) đã khuất , tường vách tiêu điều

(Vì vậy) cần biên soạn để lại, thống nhất ý chung
Nghĩa đen nghĩa bóng, tránh lầm xấu tốt.
Trời với người hợp sức múa bút búa rìu cho rõ
Trăm tới ngàn năm phân bàn bật tiếng thơ
Trước là để hợp tâm đầu người đã khuất
Sau góp thêm bình luận chuyện văn chương
Tự xưa tới nay bàn sao nghe cho tốt đẹp.
Mở đầu là Thanh Tâm Tài Tử cổ kim, kết thúc là Diệc cổ kim lai cho thấy không phải là một Thanh Tâm Tài Tử, không phải là một tác giả mà là tập hợp nhiều người, người Việt Nam.
………
(1) Thán hoa viên là nhà của Mộng Liên Đường Nguyễn Đăng Tuyển
(2) Hoa Đường là hiệu của Phạm Quý Thích

Thanh Tâm Tài Tử ( Tổng thuyểt 1830- Minh Mạng)

(Hình Tổng thuyết Minh Mạng -trang trong – 1830)

Từ thời vua Minh Mạng đến đầu thế kỷ 20 đã có ba thế hệ thi gia Việt Nam viết về Kiều, tổng hợp thành 3 thi tập. Mời cảc bạn đọc trích đoạn sau đây của ông Hoàng Hải Vân:
[… Tập đầu tiên soạn khi Minh Mạng mới lên ngôi (1820) gồm những bài thơ xướng và họa bằng chữ Hán dựa theo từng hồi của Kim Vân Kiều truyện, do Phụ chính đại thần Hà Tôn Quyền chủ xướng, đến năm Minh Mạng thứ 11 (1830), đích thân nhà vua viết một bài Tổng thuyết cho thi tập, cũng bằng chữ Hán. Vào năm 1871, tập tiếp theo do Tự Đức chủ xướng, đích thân nhà vua làm các bài thơ xướng cho mỗi hồi và viết lời tựa (Tổng từ)chung cho thi tập. Tập thứ ba ra đời vào cuối thế kỷ 19, có Chu Mạnh Trinh và Nguyễn Khuyến tham gia. Những bản chép tay các tập thời Minh Mạng và Tự Đức mang tên “Thanh Tâm tài tử cổ kim minh lương đề tập biên” (nghĩa là : Các bài của các tài tử vô tư xưa viết, nay nhân vua sáng tôi hiền tập hợp lại – NL) hiện cũng được lưu giữ tại Thư viện quốc gia Hà Nội, ký hiệu VNV 240. – Hoàng Hải Vân...] [Cần công bằng với Thanh Tâm Tài Nhân – Hoàng Hải Vân][2]
***
Tóm lại, Việt Nam thời Minh Mạng 1830 có một truyện thơ Kiều của Nguyễn Du bị đổi tên là Kim Vân Kiều, và một cuốn văn xuôi bình giảng thơ Kiều: Kim Vân Kiều Truyện của Thanh Tâm Tài Tử, tập hợp 20 bài bình giảng, cuả nhiều người do vua Minh Mạng tuyển chọn soạn ra.

(Còn tiếp phần 3: Kim Vân Kiều Truyện Thanh Tâm Tài Nhân )

Nguyên Lạc
………………..
Ghi Chú:
[1] Về Nhan Đề Gốc Của Truyện Kiều – Nguyên Lạc
https://nguyenlac.blog/2019/09/05/ve-nhan-de-goc-cua-truyen-kieu-nguyen-lac/
[2] Cần công bằng với Thanh Tâm Tài Nhân – Hoàng Hải Vân
http://www.hoanghaivan.com/search?updated-max=2009-05-02T18:54:00%2B07:00&max-results=2&reverse-paginate=true