Tiếc Thương

thơ Willam Wordsworth
IanBui chuyển ngữ

flag america

Ngơi nghỉ đi anh, chiến hữu
Trên đồng võ khí đã câm;
Sẽ không còn ai quấy nhiễu—
Đối phương, giọng súng giữa đêm…

Anh từng nằm quen trên đất
Nửa khuya chợt tỉnh bất nhân:
Rập rền rung rinh đại bác,
Bập bung trống trận xuất quân!

Sẽ không còn ai đánh thức
Trong trại binh của Tử thần;
Sẽ không còn đau với nhức,
Không còn sốt bởi vết thương.

Tất cả nằm im, bình thản,
Cỏ không ai giẫm đạp lên.
Tiếng hò reo giờ đình bản—
Cuộc hưu chiến của Bề trên!

Ngủ đi các anh, yên giấc
Trong tâm thức của mọi người;
Dựng chòi canh tôi sẽ gác
Không cho ai xỉa xói bươi.

Bao chiếc lều xanh nín lặng
Sẽ được trang trí bằng hoa:
Các anh giành cơn đau nặng,
Tiếc thương là việc của ta.

-ianbui
Memorial Day (2020.05.25)

oOo

Decoration Day

Sleep, comrades, sleep and rest
On this Field of the Grounded Arms,
Where foes no more molest,
Nor sentry’s shot alarms!

Ye have slept on the ground before,
And started to your feet
At the cannon’s sudden roar,
Or the drum’s redoubling beat.

But in this camp of Death
No sound your slumber breaks;
Here is no fevered breath,
No wound that bleeds and aches.

All is repose and peace,
Untrampled lies the sod;
The shouts of battle cease,
It is the truce of God!

Rest, comrades, rest and sleep!
The thoughts of men shall be
As sentinels to keep
Your rest from danger free.

Your silent tents of green
We deck with fragrant flowers;
Yours has the suffering been,
The memory shall be ours.

-William Wordsworth (1807-1882)

Yêu Nhau Kiếp Này

Featured

* Nhạc Khê Kinh Kha

* HNMinh Hát

\

Chắc gì có kiếp sau mà em hẹn
Hãy yêu anh kiếp này nhé em yêu
vì đời này còn trăm nghin gian khó
không có em đời sẽ mãi quạnh hiu

Chắc gì có kiếp sau mà em hẹn
kiếp này đây anh mơ ước dài lâu
cùng bên em quá tháng ngày yêu dấu
Tình nồng say mình thề ước bên nhau

Chắc gì có kiếp sau mà hẹn mãi
hẹn trăm năm trong kiếp nầy nhé em
trọn đời này anh nguyện yêu em mãi
đời không em hoảng vắng như bóng đêm
tình không em giá lạnh cả đời anh

Chắc gì có kiếp sau mà em hẹn
hẹn thề đi kiếp nầy mình có nhau
dù tình ta có nghìn trùng cách trở
mình yêu nhau cho đến mãi nghìn sau

Chắc gì có kiếp sau mà hẹn ước
dù kiếp này em có là thế nào
anh cũng nguyện không thay lòng bội ước
kiếp nầy đây em nhé mình yêu nhau

kiếp này đây…em hỡi…mình yêu nhau

Khê Kinh Kha

CHIỀU NGỒI BÊN CỬA SỔ

VÕ CÔNG LIÊM

beach-and-sunset

thu về chưa nhỉ ?
mà nắng đợi trên cành
tóc bay từng sợi nhớ
nghe nhẹ tâm hồn đau
một sáng buồn dâng hương
và . hoa gãy trên tay
những đóa hồng lẻ loi
để nắng thu về trong mắt trong
những bước chân xưa níu kéo trời dĩ vãng
chiều khoanh tay bên cửa đợi gió bay về
sáng rực rỡ hồn đi vào tịch mịch
cho lang thang ngày qua mau trên bước đường tùng lộ
đôm đốm sáng trời đêm mở hội dọc bờ hương lau lách
tháng năm còn lại rủ bóng theo nhau sóng cuốn xa bờ
đêm trầm mình trôi theo sông trôi ngày lệ ứa trong tim
tình tôi đầu ngọn gió
một trời biền biệt xa
đợi trăng về giữa chốn tịch liêu
mưa dội bùn cong khung nhớ
mà nắng vẫn phả vào mắt môi em long lanh
cho tôi về một mình trong nỗi nhớ
tháng tư . tháng năm . đầu hạ chợp chờn mưa rụng
thêm bao la trên từng ngón thon dài thuở măng non
tôi . lêu bêu như gã điên khùng
vườn khua thức để hoang mang đụng phải thân gầy
mấy độ thu về cho mưa thở dài đau nhói tình tan
và . trong bất chợt thấy mình du đãng
giữa cõi đời tay trắng trắng tay
lửa tắt rồi cho tâm tư chợt nhớ
ngày ốm bệnh căng con chữ trên tàn lá
vàng xưa ngồi chẻ tóc trắng bay
cho đá nghe kinh ngậm sầu nhân thế
âm u vọt nhảy từng giọt sương mù
tiễn đưa người cho trọn kiếp đời sau

chiều ngồi bên cửa sổ
nghe ngóng tin vui . tôi
khẽ chạm vào hồn . em ./.

VÕ CÔNG LIÊM (ca.ab.yyc. mùa dịch 5/2020)

NHỮNG BÀI THƠ VỀ MƯA

Nguyên Lạc

muamua 1

I. Mưa
.
1.
Tôi hứng giọt mưa rơi
Nếm thử … mùi đăng đắng!
Lòng hình như … nằng nặng?
Quê hương hạn mưa chưa?
.
Trời bên đó đã mưa?
Anh nhớ em nhiều lắm
Nhớ mưa lăn má thắm
Môi em ướt anh hôn
.
Xuân nơi này mưa luôn
Mưa … mưa … như trút nước
Không mưa êm … lất phất
Ngày anh biết yêu em
.
Những cơn mưa thân quen
Thuở nao giờ đã mất
Nụ hôn mưa có thật?
Mưa ướt tóc em tôi
.
2.
Ngoài trời mưa … mưa rơi
Mưa như ai trút nước
Dội hồn tôi lạnh buốt
Biết nơi nào trốn đây?
.
Mưa ơi! Thôi ngưng rơi
Tôi nhớ môi xưa lắm
Mưa êm … ướt má thắm
Không dị hợm mưa đây
.
Mưa. mưa … suốt cả ngày
Mưa ngập đường xe chạy
Mưa mù mịt … tương lai!
Mưa ngăn đường ngăn lối
.
Chỉ chừa lại một lối
Lối hướng về em tôi
Lất phất nhẹ mưa rơi
Ướt tóc … hôn bối rối
.
Mưa ơi! Ngừng đi thôi
Mưa buốt lạnh lắm rồi
Tôi ơi! Ngừng đi thôi
Nhớ thêm chi? Đủ rồi!

II. Câu Nói Trong Mưa

Nhớ câu em nói trong mưa
“Em nào có biểu thương vừa thôi nha!”
.
Nhớ em quá xá quà xa
Mưa đang trút nước … em và câu xưa
Bao năm cứ ngỡ hôm qua
Tình yêu anh giấu bây giờ còn thơm
.
Tận sâu ngăn kín tâm hồn
Lâu lâu mở khóa … tay ôm tim mình
Nhớ mưa ướt tóc em xinh
Lăn tròn má thắm … uống tình môi ngoan
.
Bây giờ vẫn nhớ mùi hương
Cơn mưa câu nói có còn không em?
“Em nào có biểu anh thương?”
Thương chi cho lắm? Để vương một đời!
.
Mưa chi? Mưa mãi không thôi!
Mưa rơi có biết động tôi một trời?
Ngưng đi!
Tôi lạy mưa ơi!
Để tôi đừng nhớ …
câu người trong mưa

III. Lời Em Mưa Đó
.
Mưa ngoài đó vẫn còn mưa mãi
Mưa vẫn hoài có xóa được tình ai
Có xóa được dấu chân gót nhỏ
Mắt môi người hương vẫn khôn nguôi
.
Mưa ngoài đó vẫn mưa … mưa mãi
Ta một mình lần nữa sầu ai
“Thương lắm chi? Hôn vừa thôi nhé”
Lời tình vui mưa lất phất bay
.
Có chút buồn tiếng mưa ngoài đó
Có chút giận hờn người đã xa ta
Nhưng thương rất nhiều lời em mưa đó
Làm sao bây giờ? Nhớ có phôi pha?
.
Gió cứ thổi và mưa cứ mãi
Từng hạt sầu dòng chảy xót xa
Giận. buồn. thương trong ta quyện mãi
Biết khi nào…?
Gió táp mưa sa!

Nguyên Lạc

 

CUỘC ĐỜI Và SỰ LỚN DẦN Của TRÍ TUỆ

VÕ CÔNG LIÊM

image001

TRANH VẼ VÕ CÔNG LIÊM : Người đội nón đen / Man with black hat..

Sự đó nghe qua như bài bản (test) cũ kỹ, chả phải mới, bởi; con người và thời gian là một trải nghiệm rộng rãi, nó phát ra từ suy tư để hình thành cho một văn bản, điều đó quả như thông thường cho một thế hệ đã qua –it was quite a generation ago giữa cuộc đời đang sống; một thiết kế dàn dựng để trở thành văn. Nói ra có tính triết lý: giả như văn bản gởi đi, thì sự đó như biết trước rằng nó sẽ biến mất và chắc chắn trong tiến trình nó sẽ không để lại những gì chứng minh cho sự việc;‘test’ trở nên lời nhắn gởi. Nhưng thực ra đó là một chuẩn bị qua kinh nghiệm thâu tóm để thành văn bản. Điều này là một thực hành thông thường và phổ biến qua những gì gây ra từ trí tuệ: của khôn ngoan hay ngu xuẩn. Thực tế nó chỉ là bài bản không cần thiết. Nhưng; đứng về mặc khác thì nó là một diễn trình của cuộc đời và sự lớn dần của trí tuệ -the Life and Growth of the Mind- trong mỗi con người khi hành động. Cho nên chi cuộc đời là một biến động dữ dội, nhưng trong tiến trình của lớn dần có khi tưởng tượng mà trở nên kỳ quái và không thực, trong khi chúng ta đang trực diện trước một hoàn cảnh thử thách, bởi; trong thử thách là đe dọa đến tính mệnh con người. Người ta thành lập hàng rào phòng thủ cho một bệnh lý tâm thần và thể xác; dựng vào đó những gì có tính cách ‘huyền thoại’. Nhưng; nó hẳn là không thực? –But is it actually so unreal? Chúng ta không nghĩ vậy. Bởi; thực chất của sự kiện vốn đã xẫy ra, những gì đã cảnh báo là quan tâm trước một hiện tượng liên đới giữa người với người. Nó đã trở thành văn bản hiện thực, nếu thực sự có mặt ở đó, thế nhưng; người ta vẫn theo đuổi và tìm hiểu nguồn cơn tự sự do đâu mà có và đến từ đâu, người ta phớt lờ về điều này mà ngấm ngầm trong phương hướng khác giữa kinh tế và chính trị; đấy là sự lớn dần có qui mô bên ngoài của sự lý. Một dữ kiện lạ lùng về trí tuệ của con người, mà sự kiện hoàn toàn khác lạ một cách đột ngột thấy rõ (sharply) có từ thân thể con người mà ra. Dấu hiệu khác cho thấy rằng những gì ở đây là định vị một cách chính xác việc tăng trưởng trong sự ngay thẳng để phát triển bén nhạy, khéo léo và thanh cao. Trên thực tế những thể xác của con người đã bắt đầu đi tới suy giảm bởi thời gian –in fact; many persons’ bodies have begun to deteriorate by that time.

Dẫu là gì trong tình thế biến đổi bất thường hoặc đứng trước một viễn cảnh suy thoái mà ảnh hưởng đến tinh thần và thể xác, nhưng không phải vì thế mà làm ‘cụt hứng’ trong tư thế phát triển; khoa học võ trang một thứ vũ khí mới để chinh phục, nhưng; nhớ cho điều này không có giới hạn để đưa tới một tổng số của sự lớn dần và phát triển; cái đó trí tuệ có thể chế ngự được –But there is no limit to the amount of growth and development; that the mind can sustain. Trí tuệ không thể ngưng phát tiết ở bất cứ tác nhân nào hay tuổi tác. –The mind does not stop growing at any particular age. Phát triển theo mức độ thời gian, chính vì thời gian đã đưa tới một tác động suy thoái / deterioration qua từng ngày tháng…
Trí tuệ có thể teo rút giống như cơ bắp; nếu nó không dùng tới hay vận động. Teo rút trí tuệ cơ bắp là hình phạt, là những gì chúng ta bỏ quên việc tôi luyện. Sự đó là chứng cứ của việc hao mòn trí tuệ là con bệnh cực kỳ ghê gớm –atrophy of the mind is a mortal disease. Cho nên chi ‘động não’ là một tác động thực hành cho cơ não (trí tuệ) được cân bằng, hấp thụ thứ ánh sáng mới đầy chất sáng tạo hơn.
Như đã giải ở trên, con người và thời gian là một trải nghiệm nó phát ra từ suy tư để thành văn bản, dữ kiện đó trở nên thông thường; bài bản không còn là sáng tạo mà nó đi qua kinh nghiệm thiết kế để thành văn, một lối hành văn thông thường không mang tính đặc thù trong khi viết về văn chương. Và; đây là hình phạt thê thảm –And; this is a terrible penalty; là một thứ bài bản, chả phải mới mà rút tiả để dàn dựng cho ra văn, một thứ văn chương gần như nhắn gởi hơn là lý giải, lấy chứng từ để chứng minh, sự đó làm hao mòn của trí tuệ -that atrophy of the mind- Bởi nó chỉ nói lên cuộc đời trong một hạn hẹp nào đó và sự lớn dần của trí tuệ gần như thói quen không thể là văn bản (text) chính thức. Thí dụ: văn nhân Trần Dụ Ân chuyên viết phóng sự hay ký sự thường mô tả những quan hệ bình thường của thi văn nhân là viết theo dạng ‘feuilleton’ của thời báo chí miền Nam giữa thập niên 1960; gần như tìm chuyện để viết thành văn qua từng loạt (serial) chớ chẳng phải là truyện /chuyện mà hóa ra ‘xe cán chó, chó cán xe’ là chuyện bình thường tợ như thông tin thời sự, nó chẳng đánh động như một dữ kiện mà là chuyện nghe qua rồi bỏ, bởi; giữa khách thể và chủ thể cùng một tâm trạng bi đát như nhau, nó không dính gì đến lịch sử của văn chương mà tuồng như chuyện đọc đêm khuya, hò ru con. Ký sự như thế mất tính nghệ thuật sáng tạo, vòng vo trong ao tù nước đọng. Tương tợ những trường hợp khác kéo dài cho tới ngày nay của những văn sĩ, thi sĩ quen tên thường xử dụng ‘bài bản’ phê bình thơ / văn trong lối diễn trình xưa cũ, rập khuôn của những tác giả thời tiền chiến và hậu tiền chiến; tất cả bài bản (test) trở thành văn nhắn gởi. Không tác động mà duy trì thứ văn, thơ cổ lỗ sĩ không đổi mới tư duy để tạo cái ‘matière’ vào đó!
Đấy là những gì đã ghi nhận được về sự sống hiện hữu của con người (human beings) và nó sẽ có thể là điều chính đáng khác biệt giữa trí năng khôn ngoan của con người (homo sapiens) và những loài động vật khác; cho dẫu đó là một thứ siêu vi (virus) đi chăng. Vậy thì những gì xẫy ra là khám phá mới của nhân loại, khám phá từ thể chất đến tinh thần, từ tập thể đến cộng đồng là ý thức tình nhân loại, là đối tác giữa khoan dung và hài hòa; dấu hiệu của sự lớn dần phát sinh từ ý thức của trí tuệ. Mỗi khi con người cần có bên nhau, không còn biên giới thời gian và không gian, không một đối tượng nào là cố hữu; sự lý này không là tâm trạng để vượt ra khỏi giai đọan trong sự phát triễn mở mang này. Nhưng đó là dấu hiệu tiên phong lớn lao hơn bao giờ, là tiến trình mang lại sự lớn dần của cuộc đời, lớn dần của trí tuệ. Cái đó gọi là hiện tượng dung thông giữa thần và xác; con người là một hiện hữu sống thực, xung quanh chúng ta trong cuộc sống hằng ngày là nguồn năng lực trợ vào nhau và coi đó là kỳ diệu, những ấn tượng đậm nét đó là trí tuệ của chúng ta làm nên hay không làm nên, nó dựa trên cơ sở nhận thức hiểu biết, dựa trên trình độ để thành thơ /văn là những gì phản ảnh trung thực. Giả như không hiểu lý thuyết về Nietzsche, quan điểm của Hermann Hesse thì không cần phải dẫn chứng một cách hàm hồ; vô hình chung lộ hẳn cái không thực của trí tuệ, đó là mấu chốt đưa tới ‘atrophy’ một cách trầm trọng và nguy hại đến sinh mệnh văn chương cho hôm nay và mai sau. Bất luận viết gì phải là thực chứng. Dẫu là ký sự đi chăng nó có một tác động đả thông hơn là tán dương một cách vu vơ. Nói cho ngay sự đó có một ít hoặc không có hiệu năng –Eventually; they have little or no effect. Từ đó suy ra cuộc đời và sự lớn dần của trí tuệ là đi theo nhịp bước của tiến trình trau dồi và thực hành để cho cơ bắp toàn thể (corpse) phát tiết một trí tuệ trong sáng và lưu lại một giá trị lâu dài giữa cách viết và đọc, nó không hao tổn tinh thần và thể xác, ngược lại tồn lưu nhân thế. Hai lãnh vực này là vai trò chính để thành hình cho một trí tuệ sáng suốt và độc lập trong tư duy hành văn.Có nghĩa rằng độc lập trong tự phát (spontaneous) có thể là hành vi đưa tới sáng tạo hơn những gì nhai lại hay rập khuôn, thời tất không cho đó là phát huy của cuộc đời đang sống và sự trưởng thành của trí tuệ, bởi; ước lệ chính là rào cản con đường đi tới phát triển, dù phát triển trong hạn hẹp cố hữu là đưa văn chương vào con đường bế tắt mà cuộc đời là biến đổi theo thời gian; văn chương song hành cùng nhịp thở là dấu vết của đổi mới tư duy. Có thể có một vài động lực của cấu tạo văn bản -Some dynamics of textuality- là điều kiện của từng con chữ trong văn bản hoàn toàn khác biệt từ khi phát thành lời (văn hay thơ). Viết thành lời là độc lập và đầy đủ ngữ cảnh của mạch văn trong những gì nói thành lời đến cùng trong một hiện hữu. Chữ nằm trong thế tự nhiên của nó, viết thành chữ là một phần của sự thật –the words in its natural, written word is a part of a real. Còn thốt (utterance) là một tỏ bày sống thực (không pha chế hay phiạ). Chữ luôn luôn bổ nghĩa cho một tổng thể tình trạng mà lại có nhiều nghĩa hơn cả lời nói (verbal). Chữ nghĩa không bao giờ xuất hiện đơn độc mà nằm trong ngữ cảnh giản đơn của những con chữ (words). Từ chỗ đó được đánh giá cao về mặt vật lý và tâm lý của dòng tư tưởng phát tiết từ trí tuệ bằng sự phân tích rút từ nhận định của não thức mà trong cơ (muscle) của não chính là cơ quan đầu não phát sinh ra trí tuệ. Thành ra cuộc đời song hành với sự lớn dần của thời gian mới cấu thành một trí tuệ độc đáo trong tư thế vững chãi.Là văn chương mới ngày nay.

-Khoảng cách -Độ chính xác -Lựa chọn cách viết -Văn phong chỉnh đốn: Là cấu trúc cách viết có ý thức –Writing restructures consciousness trong một khoảng cách (distance) mà cách viết có tính chất khai phá, mở mang một thể loại mới chính xác hơn (precision) trong lối diễn đạt hóa cách viết (grapholecy verbalization) để cho văn phong được chỉnh đốn (magnavocabularies) bằng cách di chuyển nó đi tới một nghĩa cử phong phú, nhưng; chao đảo, lộn xộn là sự thường có trong ngữ cảnh của mỗi khi thốt thành lời hoặc viết thành văn (như văn thi sĩ LTTV và nữ văn sĩ Mỹ Anais Nin) đã huỵch toẹt, phá rào , phơi mở cho thể loại văn chương dâm ô, tục tĩu không còn thấy ở đó một sự chọn lựa cách viết mà trong lối diễn đạt hóa cách viết, có thể hợp nhãn người yêu dục và không hợp nhãn người yêu đạo đức (giả) nó nằm trong ngoặc kép riêng tư; thế nhưng nó tỏ ra ở đó cái khoe khoang, bộc bạch chung của trí tuệ khôn ngoan, khéo léo, như lối kể chuyện hoặc vắn tắt như trong tục ngữ -can be impressive in their magniloquence and communal wisdom, as in formal narrative or brief, as in proverbs- của chính tác giả. Hẳn nhiên sự khôn ngoan trí tuệ phải là cái gì với một tổng số và sự tương quan dễ đổ gãy ở phạm vi xã hội –Yet wisdom has to do with a total and relatively infrangible social contex. Chuyện kể là vận dụng ngữ ngôn và tư tưởng không ghi chép cho một phân tích chính xác, gần như tự phát để thành văn, nhưng đây không phải là điều thông thường hay dễ dàng diễn đạt, nó có ‘chất xám’ đặc biệt nằm cuối của não bộ; cho nên chi cái sự bộc phát (spontaniousness) nó trở thành văn/thơ một cách tài tình và độc đáo; tục mà thanh. Dĩ nhiên; tất cả ngữ ngôn và tư duy là có mức độ phẩm trật của việc phân tích từ con chữ cho tới văn phong; cả hai nó cuộn vào nhau nên văn là ở chỗ đó. Viết hay kể nó đòi hỏi cái độ giao tiếp trong ngữ cảnh như đã dẫn. Nhưng nhớ cho viết từ con chữ để thành lời là một dẫn độ sắc bén và tế nhị của cá tính, là tạo ở chính mình một cái gì trong sáng: không yểu điệu thục nữ, không dương (facial expression), không cường điệu, không một nghe ngóng tin ai mà phải thấy trước, biết trước của ngữ thuật, tất cả có thể bao trùm cả ý nghĩa, chứng từ có thể có cho từng đối tượng trong mọi tình huống khác nhau. Cho nên chi viết ký sự không phải là phóng sự mà cô đọng một văn phong thoát tục giữa khách thể và chủ thể ký mới trở nên linh động và tích trữ ở đó một tâm hồn khách quan hơn chủ quan. Vì vậy ký-sự phải tách ra khỏi khách thể và chủ thể thì ký mới linh động và thoát tục bằng không như tự khoe mình giữa chủ thể và khách thể cùng một ‘trời lận đận’. Cốt tủy của viết là sáng tạo và độc lập là đưa văn chương tới đỉnh cao. Ký không gây chú ý lớn như truyện ngắn, truyện dài, tùy bút hay tản văn, ký chỉ giữ vai trò ‘kể chuyện’ ghi lại hoài niệm cũ mới (chronicle memory).Thoạt kỳ thủy tác nhân được kể đến trong ký dần dà chìm sâu vào quá khứ mà chỉ thấy tác giả ký-sự ở đó mà thôi. Buồn tệ!

Dĩ nhiên; mỗi lần bắt đầu đặc bút xuống viết là cảm thấy có một sự gì ngay thẳng, đúng đắng và phân giải sự lý một cách chính xác là đem lại bên trong một sự tự nhiên để cảm thông sâu đậm trong lời văn như lời phát biểu hiện thực. Dù cho tư tưởng của Plato đòi hỏi con chữ phải rõ ràng trong thể thức đối đáp; mới là đúng nghĩa đưa tới hiệu năng của viết lách trong sự tiến trình của trí năng (neotic), bởi; nói, viết hay thốt là trong ý thức để hành văn; ngay cả Socrates và Plato họ đã thừa hưởng một tổng thể hóa của chữ nghĩa: không cần lý giải, phân tích, thuyết minh qua một thể thức đối đáp mà tự nó đã giải thích để thành văn trong tác phẩm của văn chương trí tuệ -the works of a literate mind- như đã có.
Thế giới của trí năng (trí tuệ) đã mở cửa bằng một sự tái tục chính xác là một sự bày tỏ thấy được và một thông tin hết sức tương xứng đúng nghĩa của lời nói được miêu tả (verbal description), là những gì thuộc tâm lý có thực. Hiệu năng không những chỉ khoa học mà hiệu năng ngay trong văn chương đã có ./.

VÕ CÔNG LIÊM (ca.ab.yyc. 1/5/2020)

 

quàng vai thơ đi giữa đời

khê kinh kha

bienvang

đã hơn 30 năm rồi
ba mươi năm lòng ta ơi
nhìn quanh
             vẫn thấy đất trời lạ ghê

đã bao lần
          chân mỏi quì
bao quị ngã
           lòng mệt, mê
bao nhiêu tâm sự
             tình quê muộn phiền

cầm tay thơ – chỗi dậy nhìn
tựa lưng thơ – đứng vững, yên
tựa lưng thơ, an ủi mình, lòng ơi

chút tình quê –chút tình người
tháng năm trôi – lệ xót, rơi
quàng vai thơ đi giữa đời
                                        cô liêu

 

NHỮNG BÀI TỨ TUYỆT

Nguyên Lạc

khoang cach

1. Tím Cả Đoạn Trường
.
Sương rơi trắng cả con đường
Em rơi tím cả đoạn trường trong anh!
Tinh đầu sương khói mong manh
Nhân sinh dâu bể nỗi lòng trăm năm

2. Nụ Cười
.
chợ đời gom nhặt sân si
lên chùa vấn Phật có gì đổi cho
mĩm cười hai chữ âu lo
về nhà mẹ hỏi … Cười to thế à
.

3. Căn Bệnh Tình Yêu
.
Tình yêu căn bệnh lạ lùng
Ai mà nhiễm phải không khùng cũng điên
Điên thì ta hãy cứ điên!
Yêu thì ta cứ! Không tình sống chi?
.

4. Tội Cho Qua
.
Gió lay rụng trái mù u
Giận ai bậu nói đi tu cho rồi?
Tội cho qua lắm bậu ơi!
Bậu đi tu chắc sự đời qua xong!
.

5. Cuộc Tang Thương
.
Chim quyên khản cổ khóc trùn
Anh hùng mạt vận lên rừng đốt than
Khói than che mất trăng vàng
Nhân sinh thống hận cuộc tang thương nào
.
.
6. Đêm Độc Ẩm Bên Hồ
.
Huơ tay khuấy bóng trăng vàng
Sao nghe tâm buốt vô vàn nỗi ai
Ngâm câu “đoạn thuỷ ” vẫn hoài [*]
Nghiêng bầu uống cạn thở dài hư không!
………..
[*] Trừu đao đoạn thủy thủy cánh lưu/ Rút dao chém nước, nước càng chảy mạnh (Lý Bạch)
.

7. Tiếng Vọng Chiều
.
Hắt hiu trĩu nặng tà huân
Ngút xa não vọng lũng ngàn câu thơ
“Nghìn năm mây trắng hững hờ”
Có không tâm động bến bờ tử sinh
.

8. Hoa Tím Bằng Lăng
.
Bằng Lăng hoa tím tôi về
Tìm em chỉ thấy lời thề đã phai
Đâu xưa áo trắng tóc dài …?
Mùa hè sao lạnh tím ai nỗi lòng!
.

9. Quỳnh Mơ
.
Đêm em về với tôi
Đóa quỳnh mãn khai đợi
Hương quỳnh ngọt đẫm môi
Để ngày đừng mong đợi
.

10. Quên Chưa?
.
Níu tay người hỏi thu phai?
Thưa em thu đó vẫn hoài thu xưa!
Níu mây trời hỏi quên chưa?
Xuân thu hương sắc đủ vừa trăm năm!
.
Nguyên Lạc

HẠ VÀNG

Nhật Quang

aovang

Giọt Hạ vàng rớt mênh mang
Vương bờ vai lụa mượt làn tóc mây

Sân trường trống giục chia tay
Phượng rơi lác đác, gió bay hương nồng

Bằng lăng tím lối mênh mông
Bồi hồi…lưu luyến tuổi hồng sách thơm

Nhặt vần thơ mộng ủ ươm…
Ép trang lưu bút nhẹ vương vấn lòng.

 

MÂY XUỐNG

VÕ CÔNG LIÊM

may

tặng: nguyễn mai ninh
con nắng tàn rơi
buồn thế kỷ
trong vạt gió từ khơi
tháng năm . theo nhau về nơi viễn xứ
thời gian trôi giạt
lần mò đi vào ngõ cụt ngẫu hứng bất ngờ
những con đường đóng băng không người lái
hát vu vơ những tình khúc lỡ dỡ bỏ quên sầu
phố thị buồn say nâu
trầm mình trong nỗi nhớ
chưa lần gặp gỡ mà nhớ thương ngày tháng cũ
đêm đóng cửa rượu nồng đã chén . lần qua tay nhớ đêm về
vĩa hè nghiêng xiêu đèn vàng phố lạ
đứng một mình trong quanh hiu . tôi
và em . cửa mở tự bao giờ ngày đơm thơm trái chín
đậu trên cành mà ngỡ như hôm qua đã một lần yêu
cuối sân ga mờ ảo bóng chân mây . phố đóng then cài
khúc Mozart buồn lai láng cho tim đập chậm tháng năm chờ
mòn xoáy vào mùa đông . cong queo nỗi nhớ mắt môi em rực rỡ
yêu thương trên từng nhánh sông trôi vào biển nhớ
để mưa gió rủ nhau về ôm mái nắng lang thang
mùa dị biệt không gian khép kín vào khung nhớ
tôi . buộc chặc linh hồn cho ngàn cõi chiêm bao vượt thoát

của điệu buồn hụt hẫng
đêm gục đầu sám hối
trong ngăn cách chia xa
bóng hoàng hôn tím dần
nghe mưa ngủ trên tay
chiều rơi vào cố quận
cho tới khi mây xuống
tôi . con chim cô độc ./.

VÕ CÔNG LIÊM (ca.ab.yyc 10/5/2020)

CÔNG LÝ

ĐẶNG XUÂN XUYẾN

uminh 2-rungtram

Ở Việt Nam có chàng Công Lý (*)
Giỏi diễn hề, tráo đổi trắng đen
Cũng mũ hài lái giọng người ngay
Nhưng rặt diễn mấy trò ti tiện

Tôi muốn lắm hề vào vai chính diện
Một lần thôi để Công Lý sáng lòa
Tôi cũng biết chỉ là vai hề diễn
Nhưng lẽ nào CÔNG LÝ mãi là tên?!
————————-
(*) Công Lý: Nghệ sĩ Công Lý thành danh với những vai hài.
*.
Hà Nội, trưa 08-05-2020

Niềm Tin Của Me

Khê Kinh Kha

me oi me

Mẹ gìa tát nước bên đồng
mong con chiến đấu oai hùng ngày đêm
vượt rừng băng suối qua sông
say mê theo tiếng quê hương gọi mời
dù gian lao – mẹ vẫn cười
vì con chiến đấu cho đời tự do

vì con tranh đấu diệt thù
mẹ vui khi có con đi dựng cờ
một mai trong tiếng quân về
mẹ vui khi thấy ánh hòa bình lên

mẹ gìa sớm tối vun trồng
cho con vui bước theo đoàn hùng binh
từng chiều nghe súng âm vang
mong cho con mãi hiên ngang với đời
dù hôm nay – me héo gầy
lòng yêu non nước thương người lầm than

lòng yêu non nước vô vàn
mẹ vui khi có con đang diệt thù
một mai khi gío sang mùa
tình xưa chắp nối ước thề ngày sau

mẹ gìa đôi mắt đã mờ
đêm đêm ra đứng bên bờ nguyệt soi
nguyện cầu cho đứa con trai
xa xôi đâu đó không phai lời nguyền
vì quê hương – lòng vững bền
nguyện đem xương máu đắp nền tự do

con, con ơi
non nước còn lầm than
sông núi còn đau thương
ruộng đồng còn bỏ hoang, tàn úa

con, con ơi
nuôi ước mộng toàn dân
đi thắp tình yêu thương
một ngày Việt Nam sẽ có thanh bình
KhêKinhKha
(1980)

HOA HỒNG XANH VÀ LÁ DIÊU BÔNG

Nguyên Lạc

.
BÀI THƠ BLUE ROSES – HOA HỒNG XANH

hoa hong xanh
Hoa Hồng Xanh – Blue Roses là bài thơ của Rudyard Kipling, một văn thi sĩ người Anh.

I. Vài Hàng Tiểu Sử Rudyard Kipling
Joseph Rudyard Kipling (sinh tại Mumbai, Ấn Độ 30 tháng 12, 1865 – qua đời 18 tháng 1, 1936) là một trong những tác giả nổi tiếng nhất ở Vương quốc Anh, cả về văn xuôi và thơ, vào cuối thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 20. Rudyard Kipling đoạt giải Nobel Văn học năm 1907 – ông được trao giải Nobel khi mới 42 tuổi – là người trẻ tuổi nhất trong lịch sử giải Nobel Văn học.

 

 

Các tác phẩm tiêu biểu:
– Plain Tales from the Hills (Truyện kể núi đồi, 1887)
– The Jungle Book (Sách Rừng xanh, 1894), tập truyện – dựng thành phim
– The Five Nations (Năm dân tộc, 1903), thơ
– If (Nếu, 1910), thơ – Cuối thế kỷ XX, đài BBC đã đề nghị thính giả chọn những bài thơ hay nhất của các nhà thơ Anh, bài thơ này được chọn nhiều nhất.
– Đặc biệt bài thơ Blue Roses được rất nhiều người biết đến và thích. Có người cho nó thuộc về thơ “Siêu thực”. […”Chủ nghĩa/Trường phái Siêu thực (Surrealism) là khuynh hướng nghệ thuật bắt nguồn từ chủ nghĩa Tượng trưng và Phân tâm học, đặt phi lý tính lên trên lý tính. Chủ trương, khuynh hướng trường phái nầy nhằm giúp con người thoát ra khỏi mọi xiềng xích xã hội. Chủ nghĩa siêu thực cố gắng diễn tả tiềm thức bằng cách trình bày các vật thể và sự việc như được thấy trong những giấc mơ”…] (Nguồn Wikipedia)
.

II. Bài thơ Blue Roses

Xin giới thiệu đến các bạn bài thơ Blue Roses, theo tôi đầy cảm xúc, đánh động lòng người.
.
Nguyên tác:
Blue Roses
By Rudyard Kipling
.
Roses red and roses white
Plucked I for my love’s delight.
She would none of all my posies–
Bade me gather her blue roses.
.
Half the world I wandered through,
Seeking where such flowers grew.
Half the world unto my quest
Answered me with laugh and jest.
.
Home I came at wintertide,
But my silly love had died,
Seeking with her latest breath
Roses from the arms of Death.
.
It may be beyond the grave
She shall find what she would have.
Mine was but an idle quest–
Roses white and red are best
.

III. Ý nghĩa của hoa hồng xanh

Hoa hồng xanh tượng trưng cho những điều không thể thành hiện thực, hoặc không thể đạt được. Bởi hoa hồng xanh rất hiếm trong tự nhiên, nên nó đại diện cho điều gì đó hầu như không nằm trong tầm tay của con người, một giấc mơ không thể thực hiện.
.
IV. Dịch Thơ Blue Roses

Có nhiều người dịch bài thơ Blue Roses, sau đây là các bài dịch tiêu biểu:

1. Nguyễn Viết Thắng dịch:
.
Hoa hồng xanh
.
Tôi mang đến tặng em
Hoa hồng đỏ và trắng.
Không hiểu sao em bỗng
Nói em thích hồng xanh.
.
Tôi đi khắp thế gian
Tìm thứ hoa như vậy.
Nhưng người ta cười nói:
“Chẳng có ở trên trần”.
.
Tôi trở về mùa đông
Em của tôi đã chết
Em có còn nhận biết
Hoa từ tay Tử thần.
.
Biết đâu nơi suối vàng
Có loài hoa ao ước.
Chẳng có hoa nào đẹp
Bằng hoa cõi trần gian.
.
2. Trần Đức Phổ dịch:
.
Bông Hồng Xanh
.
Hoa hồng đỏ, hoa hồng trắng
Tôi hái trao tặng người thương
Vô tình nàng chê chẳng nhận
Đòi màu xanh biếc hoa hường!
.
Lang thang nửa vòng trái đất
Chẳng đâu mọc thứ hoa này
Hỏi tìm nửa vòng trái đất
Chỉ toàn cười mỉa, chua cay
.
Trở về trong mùa đông lạnh
Người yêu thơ dại qua đời
Nhìn nàng trút hơi thở cuối,
Tử thần cướp đóa hồng tôi!
.
Có lẽ bên kia thế giới
Nàng tìm thấy được niềm vui
Riêng tôi chân tình chẳng đổi
Hồng đỏ. hồng trắng tuyệt vời!
.
3. Nguyên Lạc phóng dịch
.
a. Vài ý riêng về dịch thơ nước ngoài:

Trước khi phóng dịch bài thơ, tôi xin ghi ra đây vài ý chủ quan:
– Dịch thơ từ tiếng nước ngoài, nhất là tiếng đa âm – các nước phương Tây, ra tiếng đơn âm – tiếng Việt; hoặc ngược lại, là một điều rất khó. Coi chừng “dịch là diệt”. Dịch chính xác từng mặt chữ – giống như các dịch giả chuyên nghiệp, thì bài thơ sẽ không mượt mà. Theo tôi, thi nhân chỉ cần nắm bắt được “hồn thơ”, dịch theo ngôn ngữ riêng của mình – với điều kiện đừng quá xa rời nguyên bản – thì bài thơ dịch sẽ mượt mà hơn.
– Tiêu biểu viêc nắm vững “hồn thơ” rồi dịch rẩt tài hoa là trường hợp Phan Huy Vịnh, dịch câu thơ chữ Hán của Bạch Cư Dị ra tiếng thuần Việt mà nhiều người cho là còn hay hơn câu nguyên tác:
Đồng thị thiên nhai luân lạc nhân => Cùng một lứa bên trời lận đận
– Với những điều nói trên, tôi sẽ không dịch chính xác theo mặt chữ một vài từ/ chữ, chỉ dịch thoát chúng theo ý/tứ câu/bài thơ.
Thí dụ: “The grave” không dịch là “mộ phần”, “nghĩa địa”, “chết” … mà dịch là “cõi khác”. Tương tợ, “Half the world” tôi không dịch là “nửa vòng trái đất”, mà dịch là “khắp cùng trái đất”, “khắp cùng thiên hạ” cho mạnh nghĩa, vân vân…
.
b. Phóng dịch bài thơ:
Tôi sẽ cố gắng nắm “hồn thơ”, theo sát nguyên tác để dịch bài thơ Blue Roses . Chủ quan, trong công việc dịch thuật văn thơ nước ngoài, ai cũng tham khảo các người dịch trước, tôi cũng không ngoại lệ.
Đúng ra bài thơ này có nhiều người dịch rồi, tôi không nên dịch; nhưng vì đồng ý với nhiều người cho rằng nó thuộc về thơ “Siêu thực”, và giống như bài thơ Việt Nam nhiều người yêu thích- đã được các nhạc sĩ tài hoa phổ nhạc : Lá Diêu Bông của thi sĩ Hoàng Cầm – nên tôi dịch lại.
Bài thơ hầu như là loại thơ 6 chữ, do đó theo chủ quan tôi, dịch thơ theo loại 5 chữ thì thiếu chữ, không diễn tả hết ý nguyên bản; còn dịch bằng 6/8, 7 hoặc 8 chữ … thì dư chữ và khó khăn. Tôi sẽ phóng dịch bằng thơ 6 chữ như thi sĩ Trần Đức Phổ.
Đây là bài phóng dịch thơ của tôi:
.
HOA HỒNG XANH
.
Hoa hồng trắng hoa hồng đỏ
Hái tặng làm vui tình nhân
Không phải màu hoa mong muốn
Nàng đòi xanh biển hoa hồng!
.
Lang thang khắp cùng trái đất
Tìm đâu được thứ hoa này
Hỏi tìm khắp cùng thiên hạ
Nhận toàn giễu cợt mỉa mai
.
Về đúng ngay lúc mùa đông
Ngây thơ yêu đang hấp hối
Tìm nàng thở hơi thở cuối
Hoa hồng trong tay Tử thần!
.
Có lẽ bên kia cõi khác
Nàng sẽ tìm được hồng xanh
Riêng tôi tấm lòng không khác
Trắng đỏ tuyệt nhất luôn dành
.

BÀI THƠ LÁ DIÊU BÔNG
.
Lá Diêu Bông là bài thơ của Hoàng Cầm, thi sĩ người Việt. Bài thơ Blue Roses – Hoa Hồng Xanh khiến ta liên tưởng đến bài thơ Lá Diêu Bông của thi sĩ Hoàng Cầm, vì cả hai đều nói đến sự truy tìm những điều không thể thành hiện thực.
Bài thơ Lá Diêu Bông viết về một câu chuyện có thật, câu chuyện về mối tình đầu tiên trong đời Hoàng Cầm với người con gái lớn tuối, đáng chị mình.
.
1. Tiểu sử Hoàng Cầm
Hoàng Cầm tên thật là Bùi Tằng Việt, sinh năm 1921 (một bài báo ở Saigon gần đây cho biết ông sinh vào năm 1922) tại Làng Lạc Thổ, Huyện Lang Tài, Phủ Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh trong một gia đình Nho Giáo. Hoàng Cầm học Tiểu Học tại Bắc Giang rồi lên Hà Nội học Trung Học và đậu Tú Tài II Pháp. Khi còn đang học lớp Ðệ Tứ, Hoàng Cầm phóng tác cuốn Graziella của Lamartine thành chuyện Việt Nam với tên Hận Ngày Xanh. Tiểu thuyết đầu tay của Hoàng Cầm là Thoi Mộng, viết vào năm 1943. Trở về Bắc Giang, dạy học tại trường La Clarté, Hoàng Cầm vẫn viết văn, làm thơ để gửi đăng trên các báo Tiểu Thuyết Thứ Năm, Tiểu Thuyết Thứ Bẩy. Anh là người dịch truyện Ba Tư Một Ngàn Ðêm Lẻ ra Việt ngữ… [Hoàng Cầm Trong Tôi – Phạm Duy]
.
2. Nguyên văn bài thơ
.
Lá Diêu Bông
.
Đứa nào/ tìm được lá diêu bông
Từ nay ta gọi là chồng.
Mùa Đông sau em tìm thấy lá
Chị lắc đầu/Trông nắng vãn bên sông
Ngày cưới chị/ Em tìm thấy lá
Chị cười xe chỉ ấm trôn kim
Chị ba con/ Em tìm thấy lá
Xoè tay phủ mặt chị không nhìn.
Từ thuở ấy/ Em cầm chiếc lá
Đi đầu non cuối bể/ Gió quê vi vút gọị
Diêu bông hời … ới Diêu bông!”.
(Hoàng Cầm)
.
3. Phổ nhạc bài thơ Lá Diêu Bông
– Năm 1984 bài thơ Lá Diêu Bông của Hoàng Cầm đã được nhạc sĩ Phạm Duy phổ nhac, cùng tên. Nội dung bài thơ được giữ nguyên, Phạm Duy chỉ thêm vào hai câu lục bát ở cuối bài:

Em đi trăm núi nghìn sông
Nào tìm thấy lá diêu bông bao giờ?

– Ngoài ra, khoảng năm 1990, nhạc sĩ Trần Tiến phổ lại nhạc với lời mới cho bài thơ này, bài hát mang âm hưởng dân ca Bắc bộ, lấy tên là “Sao em nỡ vội lấy chồng”.

Trích lời bài hát “Sao em nỡ vội lấy chồng” – Trần Tiến :
.
Bướm vàng đã đậu trái mù u rồi
Lấy chồng sớm làm gì, để lời ru thêm buồn
Ru em thời thiếu nữ xa xôi
Còn đâu bao đêm trăng thanh
Tát gàu sòng, vui bên anh
Ru em thời con gái kiêu sa
Em đố ai tìm được lá diêu bông
Em xin lấy làm chồng
. . .
Thương em tôi tìm được lá diêu bông
Sao em nỡ vội lấy chồng
Diêu bông hỡi diêu bông
Sao em nỡ vội lấy chồng!
.
4. Về lá diêu bông:
Lá diêu bông là lá gì ?
– Lá diêu bông (lá bông diêu thì đúng hơn) là thứ lá đặc biệt ở làng Ðình Bảng, Bắc Ninh, phụ nữ thời xưa thường vắt ra nước rồi bôi lên mặt cho da dẻ được hồng hào tươi đẹp – theo Phạm Duy
– Lá diêu bông được nhà thơ Hoàng Cầm giải thích rằng đó là lá của hoa phiêu diêu, hoa trong mộng tưởng. Tình yêu luôn đẹp và phiêu diêu như vậy.

***
Theo chủ quan của tác giả bài viết thì cả hai bài thơ đều hay, đầy cảm xúc. Vấn đề được nêu ra ở đây là:
– Những điều bản thân mình mong muốn mà “không thể trở thành hiện thực”, khi người mình thương yêu “vẫn hiện hữu” và người mình thương yêu đã bị “Thần Chết cướp đi”, cái nào thảm hơn cái nào?
.
Nguyên Lạc
……………….
Mời nghe:
– Lá Diêu Bông (Thơ Hoàng Cầm, nhạc Phạm Duy – Ý Lan hát)
https://www.youtube.com/watch?v=2mazKAw_vZQ
– Sao Em Nỡ Vội Lấy Chồng (Nhạc Trần Tiến – ca sĩ Tố My)
https://www.youtube.com/watch?v=QAyrm8jA_a8

PHỐ NGỦ

Võ Công Liêm

thai thanh
nhớ: thái thanh (1934-2020)
nắng chẻ trên vai buồn đứng bóng
hoàng hôn xa lạ giữa lưng đèo
con đường mồ côi
mấy ngã đường tình
phố ngủ
then cài
phố nắng
buồn thiu
em . đầu hạ giờ đây thôi nhịp bước
tôi . hôn mê uống cạn những khúc tình
ngày
buồn
tênh
đêm
nhầy
nhụa
ta đứng bên này vĩ tuyến thuở mộng mơ
cách xa mấy dặm nụ hôn nồng
bẻ tay nắm ngón nghe thương nhớ
nghìn trùng xa cách có trùng khơi ?
con đường một chiều
của sài gòn nhỏ
lặng lẽ âm thầm
nhạc tiễn người đi
lời ca thắp nhặt vuốt tiếng thời gian
ngậm đá nghe kinh một tiếng chày kình
giới nghiêm giờ ngọ người đóng chặt cửa
có hẹn nhau rồi bóng xế cũng tàn dư
xin khất lại một ngày rất gần gũi
để nghe tiếng hát tợ nhung mềm
đêm màu hồng buồn man nỗi nhớ
sài gòn rít tiếng kèn đồng thêm đau đớn
nhả ngọn khói tròn cuộn lên môi thơm
tình yêu tình cờ đợi đến hôm nay
mắt môi em là biển trời xanh bát ngát
những chuyến xe không người lái đợi cuối chân trời
mắt cười tráng lệ cho lá ngủ trên tay
ôm vào lòng linh hồn nhược tiểu
những nhát dao vào đời theo mây về bên mái rạ
nghe mưa . giữa trời hoang vắng cho mặc sức ngây thơ
thành phố đau nỗi nhớ . đêm giả từ hà nội buồn lăn bánh
biển khóc một đời hoang vu mi ướt chạm vành môi đẫm lệ
đâu phải đêm nay phố ngủ mà nhớ ngọc hồi năm tháng phôi pha
cho xe cát lênh đênh tràn mi mắt . cho ngực thở từng lời yêu dấu
bước chân lên lầu thanh thế hôm qua mà nhớ đến ngày sau đó
em . là cầu thê húc là năm cửa ô là bồng lai tiên cảnh tự do ơi
tôi . nhặt từng con chữ làm sâu bọ tình nhân trong vĩnh cửu

một lần rồi thôi
như giọt mưa rơi
vào lòng sa mạc
của tình ca hụt hẫng dưới hiên trăng ./.

VÕ CÔNG LIÊM (ca.ab.yyc . cuối 4/ 2020)

“Tất cả các kỹ thuật viên phòng thí nghiệm Vũ Hán đã ᴄḣê’t

GS miễn dịch học Nhật Bản:

“Tất cả các kỹ thuật viên phòng thí nghiệm Vũ Hán đã ᴄḣê’t”

Giáo sư Tiến sĩ Tasuku Honjo:” Tôi đã làm việc 4 năm trong phòng thí nghiệm wuhan của Trung Quốc. Tôi hoàn toàn làm quen với tất cả các nhân viên của phòng thí nghiệm đó. Tôi đã gọi điện cho tất cả bọn họ, sau tai nạ.n Corona. nhưng, tất cả điện thoại của họ đã ch.ế.t trong 3 tháng qua. Bây giờ tất cả các kỹ thuật viên phòng thí nghiệm đã ch.ế.t.”
Nhật Bản, Giáo sư Tiến sĩ Tasuku Honjo, đã cảnh báo trước truyền thông ngày nay bằng cách nói rằng virus corona không phải là t.ự nhiên. “Nếu nó là tự nhiên, nó sẽ ảnh hưởng xấu đến toàn bộ thế giới như thế này. Theo bản chất, nhiệt độ là khác nhau ở các quốc gia khác nhau, nếu đó là tự nhiên, nó sẽ ảnh hưởng xấ.u đến những quốc gia có nhiệt độ tương đương với Trung Quốc. Thay vào đó, nó đang lan rộng ở một quốc gia như Thụy Sĩ, giống như cách nó lan rộng ở các khu vực sa mạc. Trong khi đó là tự nhiên, nó sẽ lan ra ở những nơi lạnh, nhưng ch.ế.t ở những nơi n.óng. Tôi đã thực hiện 40 năm nghiên cứ.u về động vật và virus. Nó không phải là t.ự nhiên. Nó được sản xuất và virus hoàn toàn nhân tạo. Tôi đã làm việc 4 năm trong phòng thí nghiệm Wuhan của Trung Quốc. Tôi hoàn toàn làm quen với tất cả các nhân viên của phòng thí nghiệm đó. Tôi đã gọi điện cho tất cả bọn họ, sau ta.i nạ.n Corona, nhưng, tất cả điện thoại của họ đã ch.ế.t trong 3 tháng qua. Bây giờ tất cả các kỹ thuật viên phòng thí nghiệm đã ch.ế.t.”

Honjo Tasuku (本庶 佑 Honjo Tasuku sinh ngày 27 tháng 1 năm 1942 tại Kyoto) là một nhà miễn dịch học người Nhật, được trao giải Nobel danh giá vì công trình khám phá của ông về protein PD-1
“Dựa trên tất cả kiến thức và nghiên cứ.u của tôi cho đến nay, tôi có thể nói điều này với sự t.ự tin 100% rằng Corona không t.ự nhiên. Nó không đến từ dơi. Trung Quốc đã sản xuất nó, nếu những gì tôi nói hôm nay được chứng minh là sai hoặc thậm chí sau khi tôi ch.ế.t, chính phủ có thể rút giải thưởng

Phòng thí nghiệm P4 tại Viện Virus học Vũ Hán ở Vũ Hán, tỉnh Hồ Bắc, Trung Quốc, vào ngày 17/4/2020. (Hector Retamal / AFP / Getty Images)
Honjo Tasuku (本庶 佑 Honjo Tasuku sinh ngày 27 tháng 1 năm 1942 tại Kyoto) là một nhà miễn dịch học người Nhật, được trao giải Nobel danh giá vì công trình khám phá của ông về protein PD-1. Ông cũng được biết đến với nhận dạng phân tử của các cytokine: IL-4 vàIL-5, cũng như phát hiện ra ACD, cần thiết cho sự tái tổ hợp chuyển đổi lớp và siêu độ.t biến.
Ông được bầu làm cộng tác viên nước ngoài của Viện Hàn lâm Khoa học Quốc gia Hoa Kỳ (2001), là thành viên của Học viện Khoa học Tự nhiên Đức Leopoldina (2003), và cũng là thành viên của Học viện Nhật Bản (2005). Năm 2018, ông và và James P. Allison được trao Giải Nobel Sinh lý học và Y khoa vì khám phá của họ trong điều trị u.n.g th.ư bằng phương thức sử dụng các tế bào miễn dịch để tấ.n công tế bào u.n.g th.ư. Ông và Allison cùng nhau đã giành được 2014 giải Tang thưởng khoa học sinh dược cho cùng một thành tích. Năm 2016, ông nhận Giải Khoa học Y khoa Keio Năm 2016, ông cũng được trao Giải khoa học Phục Đán-Zhongzhi Cũng năm 2016, ông được trao giải Thomson Reuters Citation Laureates . Năm 2017, ông nhận Giải Quỹ Warren Alpert
Honjo tốt nghiệp bác sỹ y khoa năm 1966, Đại học Kyoto, năm 1975, ông nhận bằng Tiến sĩ. trong Hóa học y tế dưới sự giám s.á.t của Yasutomi Nishizuka và Osamu Hayaishi.
Từ năm 1971 đến năm 1974, ông là giảng viên thỉnh giảng tại Khoa Phôi học, Viện Carnegie của Washington và Viện Sức khỏe Trẻ em và Phát triển Con người, Viện Y tế Quốc gia. Sau khi học tập tại Mỹ, ông là trợ lý giáo sư tại Khoa Y, Đại học Tokyo từ 1974 đến 1979, và là Giáo sư và Chủ tịch Khoa Di truyền, Trường Y, Đại học Osaka từ năm 1979 đến năm 1984.
Ông là thành viên của Hiệp hội miễn dịch học Nhật Bản và là Chủ tịch của nó từ năm 1999 đến năm 2000. Honjo cũng là một thành viên danh dự của Hiệp hội các nhà miễn dịch học Hoa Kỳ. Từ năm 1984, ông là giảng viên của Đại học Kyoto, và vào năm 2017, ông trở thành Phó Tổng giám đốc và Giáo sư xuất sắc của Học viện Cao học Kyoto (KUIAS).

MỖI NGÀY MỘT CA KHÚC TƯỞNG NIỆM 30 THÁNG TƯ

Nam Lộc

“Tự Do ơi tự do, tôi trả bằng nước mắt…!”

dicu 1

https://youtu.be/HEUHMGeJ5iE
(hình ảnh Sài Gòn “trong cơn hấp hối”, 30 tháng Tư, 1975)

dicu 2

Tôi bước đi, khi Sài Gòn trong cơn hấp hối…
Tôi bước đi, Tân Sơn Nhất lửa khói ngập trời…

Vâng, đó là những gì mà tôi đã trải qua và được ghi nhận lại trong nhạc phẩm “Xin Đời Một Nụ Cười”. Dù tôi chỉ đủ khả năng và nghị lực để viết được một cách khiêm nhường qua hai mươi dòng nhạc, nhưng phần nào đó đã diễn tả được hình ảnh của cuộc hành trình tìm tự do đầy máu và nước mắt mà dân tộc tôi, đồng bào tôi và gia đình tôi đã phải trả để đổi lấy hai chữ “Tự Do”!

Tôi bước đi, khu thương xá cửa khép cuộc đời…
…những con tầu ngơ ngác ra khơi!

Đâu ngờ rằng trên một trong những “con tầu ngơ ngác” đang chết máy đó có bố tôi, chen chúc cùng hàng ngàn người khác, đợi chờ trong tuyệt vọng để mong một phép lạ, cuối cùng điều đó đã xẩy ra. Tầu Trường Xuân đã đưa bố tôi cùng nhạc sĩ Lam Phương, bạn tôi anh Elvis Phương và hơn 5000 người khác đến được bến tự do.

di cu tau truong xuan
Tầu Trường Xuân tại cảng Sài Gòn ngày 30 tháng Tư, 1975

Ngày 30 tháng Tư năm ấy, 1975, tôi đang ngồi ở đảo Guam, nghe tin mất nước mà lòng sầu vô tận. Thuở đó không có cell phone như bây giờ nên chẳng biết gia đình sống chết ra sao? Bố Mẹ, anh chị em đang trôi dạt phương nào…? Mãi về sau mới biết ông Cụ tôi là người duy nhất trong gia đình thoát được, và phải đợi đến 2 năm sau, 1977 thì cậu em út của tôi, Nam Việt, tên sĩ quan trốn “học tập cải tạo”, mới cùng người anh là Nam Ninh, mong manh trên con thuyền nhỏ bé, phải gọi là chiếc ghe thì đúng hơn, vỏn vẹn có 7 người, không kinh nghiệm hải hành, nhưng họ đã quyết định liều chết để sống. Chẳng bao lâu, ghe hư máy lênh đênh trên biển cả, mấy ngày sau thì được tầu dầu Kuwait đến cứu và đem cả bọn vào đảo quốc nhỏ bé này tận miền Trung Đông xa xôi, nóng cháy da người. Và cũng từ những năm đó, hàng triệu người Việt đã lần lượt bỏ nước ra đi bằng đủ mọi cách, đủ mọi phương tiện, và đủ mọi hình thức. Chỉ nội gia đình tôi, tổng cộng 12 người, cùng mấy đứa cháu, đã phải mất hơn 11 lần vượt biển, vượt biên, vượt ngục và phải trải qua 9 quốc gia trên khắp 4 lục địa, ngoại trừ Úc Châu mới đến được bến bờ tự do!

Tôi bước đi, qua đường rừng chông gai, tăm tối…
Tôi bước đi, như con rết lê lết cuộc đời,
như thân bướm đôi cánh rã rời…

Đó là đoạn thứ hai của bài hát, tôi viết cho những người vượt biên bằng đường bộ, trong đó có hai cô em gái, dẫn hai đứa cháu còn nhỏ từ Sài Gòn, xuống Tây Ninh, vượt qua biên giới Cam Bốt. Hơn 10 ngày, 9 đêm đi bộ trong rừng thẳm mới đến được trại tỵ nạn Thái Lan. Sau này còn biết thêm, nhạc sĩ Trúc Hồ cũng là một trong số những “bộ nhân” vào thời điểm đó.

Tôi nép thân trên mảnh thuyền mong manh, sương gió,
Như một người tìm đường về nơi đáy mồ…

Đoạn thứ ba tôi viết cho những thuyền nhân, mà đa số anh chị em của chúng tôi cùng hàng triệu người khác đã dùng phương tiện đầy hiểm nguy này để vượt biển tìm tự do. Tôi còn nhớ, chỉ riêng năm 1979 thôi, nước Mỹ đã nhận hơn 200 ngàn người tỵ nạn VN đến định cư tại HK.

di cu he thong
Thống kê thuyền nhân tỵ nạn Việt Nam của UNHCR

Nhưng dù ra đi bằng cách nào chăng nữa, như chúng tôi, thời điểm 1975, như các thuyền nhân, đường bộ hay đường bay của những vị tù nhân cải tạo, đến HK muộn màng qua diện HO, hoặc gần đầy nhất là các tù nhân lương tâm v..v.., thì người Việt tỵ nạn đã hãnh diện gởi đến cho toàn thế giới một thông điệp mạnh mẽ về lòng quyết tâm và yêu chuộng tự do, dân chủ của chúng ta.

Tự do ơi tự do! Tôi trả bằng nước mắt,
Tự do hỡi tự do! Anh trao bằng máu xương.
Tự do ơi tự do! Em đổi bằng thân xác,
Vì hai chữ tự do, ta mang đời lưu vong.

Và đó là tất cả những tâm huyết tôi đặt vào ca khúc “Xin Đời Một Nụ Cười” cùng những bài hát khác mà tôi đã mạo muội chia sẻ cùng qúy vị và các bạn trong mấy ngày qua. Có một chiến hữu, trung úy Sơn “Lai Khê” của Sư Đoàn 5 Bộ Binh đã viết một bài liên quan đến những sáng tác về tỵ nạn của tôi và ông gọi tôi là “người nhạc sĩ của tháng Tư”. Điều đó không sai, quả thật, nếu không có biến cố 30 tháng Tư, 1975, thì có lẽ tôi sẽ chẳng bao giờ trở thành…“nhạc sĩ”. Nếu không có những khổ đau, gian truân, tủi nhục mà thân phận người tỵ nạn đã phải trải qua và chịu đựng, thi sẽ không bao giờ Sài Gòn Ơi, Vĩnh Biệt, Người Di Tản Buồn, hay Xin Đời Một Nụ Cười được thành hình. Những bài hát này tôi viết cho chính bản thân tôi, cho gia đình tôi, cho đồng bào tôi và cho dân tộc tôi. Vì thế ai cũng có thể sử dụng được mà không phải trả tiền, bản quyền là của quê hương, đất nước. Tôi đã để lại di chúc cho các con, các cháu để chúng hiểu và thực hiện những ý nguyện đó của tôi nếu mai này tôi ra đi.

di cu sinh vien
Sinh viên tỵ nạn Việt Nam tại đại học YALE

Tôi hãnh diện với thế hệ trẻ ngày nay mà quý vị và chúng tôi, lớp người đi trước đã hy sinh để cho chúng trưởng thành và hiểu biết. Các cháu đã thành nhân, thành những người hữu dụng của xã hội tại khắp các quốc gia tự do trên thế giới đã đón nhận chúng ta. Những giờ phút lao động vất vả mà chúng ta đã trải qua, giọt mồ hôi của người thợ sửa xe hay người đứng đổ săng, giọt nước mắt của người lao công hay đứng chùi cầu. Những người thợ dũa móng tay, những tài xế taxi, dọn giường trong khách sạn hay chạy bàn ở nhà hàng v..v.., họ đã dùng đồng tiền mồ hôi nước mắt đó để nuôi nấng bầy con, lũ cháu ăn học thành tài. Và bây giờ chúng sẽ là những nhân tố đóng góp tích cực vào xã hội và các quốc gia mà chúng ta đang tạm dung. Con cháu chúng ta sẽ mãi mãi và muôn đời trả những món nợ ân tình mà các chính phủ cùng những người bảo trợ tốt bụng năm xưa đã giúp đỡ và cưu mang ông bà, cha mẹ của chúng. Viết đến đây, tôi lại nhớ đến câu nói của ký giả George Will trên tuần báo Newsweek năm 2007, viết về một phụ nữ VN đã có những đóng góp tốt đẹp cho đất nước Hoa Kỳ, ông nói “Cám ơn cô đã trả món nợ mà cô nói cô nợ của nước Mỹ. Cô đã hoàn trả đầy đủ, không thiếu một xu nào, lại còn luôn cả tiền lời nữa…….”!

di cu sinhvien ra truong

Ngày các cháu tốt nghiệp đại học YALE
và căn cước tỵ nạn ở trên mình

Hôm nay là ngày 30 tháng Tư, 2020, kỷ niệm 45 năm ngày chúng ta mất quê hương dù vẫn còn tổ quốc. Kính mời quý vị và các bạn nghe lại hai phiên bản của nhạc phẩm “Xin Đời Một Nụ Cười”. Clip đầu được thu thanh đã gần 40 năm trước khi tôi vừa hoàn thành nhạc phâm này và cùng hát với nữ ca sĩ Khánh Ly. Phiên bản sau đó được trung tâm Asia thực hiện gần đây để nhắc nhở kỷ niệm xưa, nhưng cũng để gởi lời tri ân đến các xứ sở tự do đã cho chúng ta cùng thế hệ con cháu của chúng ta một tương lai và một kho tàng trí tuệ, sẵn sàng để chia sẻ cùng thế giới và đóng góp cho một Việt Nam tự do của một ngày không xa.

NAM LỘC & KHÁNH LY
https://www.youtube.com/watch?v=1gVUqtzWkm8

DIỄM LIÊN & NGUYÊN KHANG
https://www.dailymotion.com/video/x7f4q42

&
https://www.youtube.com/watch?v=RiKsJ7J5eLg

VỀ MỘT DÒNG SÔNG

Nguyên Lạc

uminh4-tram

Cần Thơ gạo trắng nước trong
Ai đi đến đó lòng không muốn về
(ca dao)

BÀI THƠ NHỚ BẾN NINH KIỀU

Tình cờ gặp bài thơ và hình chụp của ông bạn thi sĩ Quảng Nam thăm bến Ninh Kiều, TP Cần Thơ, khiến tôi nhớ nó quá, vội họa những lời thơ nầy:

TỚI BẾN NINH KIỀU
(Nguyễn Hàn Chung)

Anh hăm hở tới Ninh Kiều
xung quanh vắng ngắt mĩ miều cù cưa
cái thời nắng khổ tìm mưa
nói chung chấm hết nên chừa vậy thôi

Thơ họa:

NHỚ BẾN NINH KIỀU
.
Bao năm quên bến Ninh Kiều
Chợt nay thấy ảnh buồn nhiều oán sâu!
Cái thời mắt liếc môi trao
Cái thời mưa đượm tình nhau… Xóm Chài!
.
Vẫn còn hoài mãi một đời
Dù bao thống hận lũ người ác nhân
Gây chi bao chuyện tang thương?
Để cho oan nghiệt sâm thương đôi bờ!
.
Còn đâu đại học Cần Thơ!
Còn đâu đường phượng thắm hoa đỏ trời!
Tiếc thương chi? Cũng rồi thôi!
Nhớ thương chi? Để lệ rơi kiếp người?
(Nguyên Lạc)
.
Bài thơ trên cũng khiến tôi chạnh long nhớ đến hai câu ca dao nhân dân của “một thời tôi cố quên”, thời 75 như sau:
Chiều chiều trên bến Ninh Kiều
Dưới chân tượng Bác, đĩ nhiều hơn dân!
(Ca Dao Nhân Gian Thời XHCN Việt Nam)
.
Trong bài thơ họa có hai cụm từ: XÓM CHÀI và ĐẠI HỌC CẦN THƠ các bạn miền ngoài không rõ, nên đã hỏi. Tôi xin được giải thích rõ về hai cụm từ này, cùng những gì liên quan đến nó để các bạn tường.
.
VỀ ĐỊA DANH XÓM CHÀI

1. Xóm Chài
Xóm Chài là một xã đối diện với bến Ninh Kiều nhìn qua sông nhỏ Cần Thơ. Xã này nằm trên doi đất nhô ra, kẹp giữa bởi sông Hậu và sông nhánh Cần Thơ .
Bến Ninh Kiều tọa lạc tại ngã ba sông Hậu và sông nhánh Cần Thơ, trước 1975 là Căn Cứ Hải Quân vùng 4 VNCH. Về phải, con sông nhỏ Cần Thơ nầy chạy qua Công viên Ninh Kiều, chợ Cần Thơ rồi đến huyện Cái Răng – có chợ nổi nổi tiếng và cầu lớn bằng xi măng bắt ngang qua, nối liền quốc lộ 4, chạy xuống Sóc Trăng và Cà Mau. Cầu này, năm 1968 bị mìn CS nổ xập, ban ngày, làm một số xe đò chở đầy người và một số bộ hành (dân đi bộ buôn bán) rơi xuống sông chết. Sau đó cầu được xây lại.
Từ Cái Răng, dòng sông chạy đến Phong Điền, Cầu Nhiếm vang tiếng về những vườn cam bạt ngàn. Cam xanh (Cam sành) rất ngọt, được thương lái chuyện vận lên tận Sài gòn. Đây là quê của “nàng” hiện tại.
Nửa đoạn đường Cái Răng đến Phong Điền, khoảng xà Nhơn Ái nếu rẽ trái là kênh/ kinh đào thẳng tấp: Kênh/ Kinh Xáng Xà-No rồi đến huyện Phụng Hiệp – Ngã Bảy , nơi 7 con sông nhỏ gặp nhau.
.
“Hò ơ …. Cái Răng, Ba Láng, Vàm Xáng, Xà No.
Anh có thương em thì mua một con đò
Để em qua lại. Hò ơ… để em qua lại thăm dò ý anh.”
.
Cá trê trắng nấu với rau cần
Muốn về Kinh Xáng cho gần với em
(ca dao)
.
a. Kênh Xáng Xà-No

Kênh Xáng Xà No – Gọi tắt là kinh (kênh) Xáng, một dòng kênh do thực dân Pháp đào – Năm 1901 kênh Xà No được khởi công, đến tháng 7/1903 hoàn thành – nhằm khai thác vùng đất hoang miền Hậu Giang. Bề ngang trên mặt kênh rộng 60 mét, đáy 40 mét, độ sâu từ 2,5-9 m, dài 39 km nối liền sông Cần Thơ (ngã ba Vàm Xáng, làng Nhơn Ái, Phong Điền, Cần Thơ) đến sông Cái Lớn (ngọn rạch Cái Tư, nay thuộc thị xã Vị Thanh, tỉnh Hậu Giang). Sông Cái Lớn chảy ra biển, vùng vịnh Thái Lan.
Có người cho rằng, gọi tên kênh là Xà No vì được đọc trại từ Saint-Tanoir, tên của người Pháp chỉ huy xáng đào con kênh này. Theo nhà văn Sơn Nam thì cái tên Xà No bắt nguồn từ tiếng Khmer: “Srok Snor – xóm có cây điên điển”.

b. Huyện Phung Hiệp – Ngã Bảy

Được gọi là Ngã Bảy vì sông chia 7 ngả sông toả đi các hướng khác nhau.
.
Dòng sông chia nhánh làm bảy ngả
Biết ngả nào tôi dõi em đây?
Xuôi dòng con nước ngày xưa ấy
Bỏ lại mình tôi khóc ròng đầy
Bỏ lại mình tôi bên bãi vắng
Cây bần buồn rụng trái nào hay!
Bìm bịp kêu giọng khàn đôi tiếng
Nước lớn đầy bảy ngả mù mây!
(Dò Tìm Trên Sông Ngã Bảy – Nguyên Lạc)
.
Huyện Phung Hiệp thuộc tỉnh vừa thành lập (khoảng 1961 – 1962 thời ông TT Ngô Đình Diệm): Tỉnh Chương Thiện. Khoảng năm 1972 (?) TT Nguyễn văn Thiệu bổ nhiệm một vị đại tá rất trẻ, tốt nghiệp từ trường Thiếu Sinh Quân làm Tỉnh trưởng : Đại tá HỒ NGỌC CẨN, tính tới 1975 (năm ông chết) mới vừa 33 tuổi. Vị đại tá Tỉnh trưởng này không chịu đầu hàng ngày 30/4 nên bị Uỷ Ban Quân Quản CS kết án tử hình và định ngày xử bắn tại sân vận động (sân bóng đá) Cần Thơ khoảng cuối tháng 5/1975 (?). Chính quyền CS bắt tất cả mọi gia đình ở thành phố Cần Thơ phải có người đến xem xử, trong đó có gia đình tôi, nếu không sẽ bị kết án chống “Cách Mạng”!
Mặc bộ bà ba đen, mắt bị bịt kín, bị trói thút vào cột bắn, ông được CS “ân huệ” cho nói lời cuối, với ý mớm ăn năn hối lỗi đã chống lại Cách Mạng.
Đây là câu nói cuối cùng của ông Cẩn: “Việt Nam Cộng Hòa muôn n…ă..m…!”
Tên lính CS vội vã bụm miệng ông và nhét giẻ vào.
Sau đó một loạt súng nổ, một phát súng ân huệ, ông Cẩn qua đời, xác được vùi trong bãi tha ma bên đường, ngang Trại Nhập Ngũ vùng 4 thời VNCH.

2. Trở lại bến Ninh Kiều.
Từ bến Ninh Kiều nhìn về sông Hậu rộng lớn, hướng sang trái là bến bắc/ bến phà Cần Thơ chảy đến Long Xuyên. Hướng sang phải chảy ra biển Đông, ngang qua Đại Ngãi (Vàm Tấn) quê tôi, cách cửa biển khoảng 20 km (khoảng 17 miles).
.
– Hò ơ ớ ơ ơ …
Đất Sóc Trăng khô cằn nước mặn
Anh ra Vàm Tấn chở nước về xài
Về nhà sau trước không ai (ơ ờ)
Hò ơ ớ ơ ơ …
Hỏi ra em đã … theo trai mất rồi (ơ ơ)
(Hò ca dao)

— bậu về Đại Ngãi mình ên
bỏ quên kẹp tóc bắt đền tội ta
bậu quên là tại bậu mà
tại sao bậu bắt đền ta một đời
tội này không chịu bậu ơi !
(Bậu về – Trần Phù Thế)

— Tha phương cơm áo tháng ngày
Hồn quê xưa cũ vẫn hoài trong tôi
Cái tên Vàm Tấn tôi ơi!
Trăm năm vẫn nhớ những lời ca dao
“Ra sông, đổi nước ngọt nào
Về nhà, trông trước trông sau vắng nàng
Hỏi ra đã bỏ mất đàng
Theo trai bậu nỡ phụ phàng tình tôi”
Cái tên. Đại Ngãi tôi ơi!
Làm sao quên được. một thời thiết tha?
(Nhớ Về Vàm Tấn/ Đại Ngãi – Nguyên Lạc)

Trước khi đến xã Đại Ngãi khoảng 3 km (2 miles) là xã Nhơn Mỹ, thuộc huyện Kệ Sách, quê hương của vợ sau Đại tướng Cao Văn Viên (Tổng Tham Mưu Trưởng quân lực VNCH)
Chợ xã Nhơn Mỹ tọa lạc trên bờ đất tại ngã ba bờ phải sông Hậu (hướng chạy ra biển) và rạch Nhơn Mỹ. Phía đối diện chợ Nhơn Mỹ, giữa sông Hậu là cồn Quốc Gia (quê của cô bạn gái đầu đời). Đây là nơi ông TT Nguyễn Văn Thiệu có lần ghé thăm, vì nó nổi tiếng trù phú với vườn sầu riêng và chôm chôm.
Ngày 1/5/1975, chú của người bạn gái, xã trưởng Nhơn Mỹ đã bị xử tử tại chợ. Cổ bị xiết bởi một khăn rằn choàng (chàng) tắm, hai đầu khăn kéo bởi 2 tên du kích. Vì ông ta to con, khỏe mạnh giãy giụa, không ngộp thở, nên hai tên du kích, mỗi đầu khăn một tên, lôi ông ta xuống mé bãi rạch Nhơn Mỹ để trấn nước. Ông vùng vẫy nên chúng không đè đầu ông xuống nước được. Một tên khác bèn lấy dao đâm vào bụng ông để làm yếu sức. Ông bị xiết cổ và dìm chết ngộp. (Kể đúng theo lời của cô bạn gái, cháu ông xã trưởng)

3. Gia đình tôi.
Riêng về phần gia đình tôi ở Đại Ngãi:
– Anh Nguyễn Văn Yên tr/uy HQ (VNCH) vượt trại”cải tạo” Chi Lăng (Châu Đốc) chạy vào rừng (1976). Giữa đêm vang dội tiếng súng săn đuổi, mất tích: “40 năm con thơ vẫn đợi” đến nay!
– Cha Nguyễn Văn Hỷ bị bắt, hành hạ trong ngục tú CS và chết trong vụ đàn áp tôn giáo.
.
Đêm tháng tư tha hương. thấy dòng lệ khổ
Tiễn người anh cơ khổ ngục tù
Khóc người anh đêm vượt trại hận thù
Tan biến vào rừng thẳm
40 năm con thơ vẫn đợi!
Đêm tháng tư tha hương. thấy gì tôi hỡi?
Thấy con đường khập khiễng cha đi
Mắt lệ nhòa trên đôi nạng sầu bi
Vào tử ngục. rồi mạng vong. vì hận thù tôn giáo!
(Đêm Tháng Tư Tha Hương Thấy Gi? – Nguyên Lạc)
.
– Gia đình tôi liều chết vượt thoát năm 1986 sau hơn 10 năm sống trong “thiên đường CS” trên một ghe con đi sông dài 10 mét, không hầm trú. Sau 7 ngày te tua mới tới đuợc đảo Bi- Đong (Malaysia), may mắn không ăn thịt người (vừa chết).
.
Đêm tháng tư tha hương. thấy gì tôi hỡi?
Thấy sự thét gầm khủng khiếp của trùng dương
Thấy sự nhỏ bé của con người trước sóng nộ cuồng
cùng nỗi vô vọng. hãi hùng … trước vô cùng biển cả
Thấy đói khát, chết chóc, đau thương …
Thấy những dòng lệ ứa
Mẹ ngất con. chồng khóc vợ…
Thấy uất hận lũ hải tặc hung tàn
(Đêm Tháng Tư Tha Hương Thấy Gi? – Nguyên Lạc)
.
4. Trở lại dòng sông Hậu.
Vừa qua Đại Ngãi, trên đường ra biển, giữa sông nổi lên một dãi đất lớn gọi là Cù lao Dung (Gọi là Cồn nếu dãi đất nổi lên nhỏ). Cù lao Dung nổi lên giửa sông Hậu, khoảng vàm Đại Ngãi chạy dài độ 20 km (khoảng 17 miles) ra đến gần cửa biển. Trên Cù lao này CS có thiết lập Trại “cải tạo” Cồn Cát, để giam giữ các sĩ quan “Ngụy” và các người vượt biển đi tìm tự do bị bắt. Đây cũng là nơi gia đình tôi “chém vè”, chờ đến giữa đêm tối không trăng, lên ghe con thả theo nước ròng trôi ra cửa biển để không gây tiếng động, kẻo Công An biên phòng phát hiện và bắn chẳng nương.
Bãi bùn của cù lao này cũng là nơi vùi bao nhiêu xác người, bị đập đầu chặt cổ giữa đêm, trong cuộc tổ chức vượt biển giả để cướp vàng, có liên hệ đến”Công An kiến cường” huyện Long Phú.
.
Bao năm đời này vẫn nhớ
Đêm thâu xuôi mái theo dòng
Người đi không lời từ biệt
Buồn ơi. tím biếc dòng sông!
.
Quê hương ta ơi. thôi nhé!
Buồn ơi. nước mắt lưng tròng!
Rặng cây quê hương mờ bóng
Có còn gặp lại được không?
(Trích đoạn bài thơ Quê Hương – Nguyên Lạc )

***

Tất cả các câu chuyện đều liên quan đến dòng sông Hậu (sông lớn hoặc sông con). Dòng sông đã in đậm trong tâm khảm!
Mọi người đều có một dòng sông riêng mình. Hãy trân trọng nó!
Từ dòng sông Hậu thân yêu và buồn thảm này tôi mới có những bài viết: CÂU CHUYỆN HAI DÒNG SÔNG (1), CHUYỆN DÒNG SÔNG QUÊ TÔI (2) và CHUYỂN TÌNH VÙNG U MINH (3) vân vân …

Ta sẽ không về thăm lại dòng sông
Của thời hung bạo cũ
.
Xác em nhỏ trôi theo dòng bão lũ
Được tin người
tim nhé … cố yên!
Và đêm dài
đêm nhé … hãy ngoan!
Ai rồi cũng
đến miền miên viễn!
.
Ta sẽ không về thăm lại dòng sông
Của thời quá vãng
Quên đi nhé … quên đi … quên đi nhé!
Đã xa rồi … quên nhé … xa lắm xa!
(Nguyên Lạc)
.
Quên được không?!
.
VỀ ĐẠI HỌC CẦN THƠ

1. Đại học Cần Thơ
Đại học Cần Thơ nằm phía trái, gần Phòng Phát thanh (phát sóng) Cần Thơ trên đường từ Cần Thơ về Cái Răng, Vị Thanh, Sóc Trăng rồi Cà Mau.
Năm 1968 sau trận Mậu Thân, tôi bước vào ngưỡng cũa đại học này với niềm háo hức cùng với giấc mộng “lấp bể vá trời” của tuổi trẻ. Thời trẻ này, sách Phạm Công Thiện luôn giữ trên tay và là sách “gối đầu giường”. Phạm Công Thiện là “thần tượng” của những người trẻ như tôi giai đoạn này. Mỗi lời của ông đều là “chân lý”. Tôi hít hà , uống những lời văn, thơ của ông. Cho những điều ông “ngôn” đều đúng, không chút nghi ngờ. Bắt chước ông, chê Sách Học Làm Người của Nguyễn Hiến Lê (Thời gian là câu trả lời đúng đắn nhất!)
Phạm Công Thiện đã mở ra cho chúng tôi một “Khung Trời Cao Rộng” và cũng đưa đến chúng tôi một niềm nghi ngờ (HỐ THẲM). Hệ lụy: “…đã ít nhiều làm cho thanh niên tỏ vẻ hoài nghi về những hoài bão, lựa chọn của mình. Tâm trạng não nề, chán ngán của tầng lớp thanh niên, trí thức thời kỳ ấy như một đám mây u ám, cứ vần vũ mãi trên bầu trời, che lấp khoảng không gian không xanh, không hồng. Ngày xưa một mình chàng Kinh Kha qua sông Dịch với con chủy thủ trên tay và vĩnh viễn không quay lại điểm xuất phát! Ngày nay, hàng ngàn Kinh Kha qua hàng trăm sông Dịch như thế với nỗi băn khoăn ồn ào, hy vọng và thất vọng trộn lẫn.(Đọc lại “Kỷ Vật Cho Em” của Lính Phuơng – Nguyễn Lệ Uyên)
Qua sông Dịch là gia nhập vào quân đội, thành người chiến sĩ quân lực VNCH, thành người chỉ uy mà tâm trạng như vậy thì than ôi!
Lịch sử ngàn năm cho thấy: Chống kẻ HUNG BẠO (kẻ dồn ép, đốc thúc hết mọi xương máu của người dân, dùng bất kể mọi thủ đoạn để nhất quyết thắng cuộc chiến một mất một còn) mà lòng hoang mang như thế thì cầm chắc sự thất bại! Kết quả thì các bạn đã biết rồi đó!
Nhắc ra đây để rút ra một bài học mà tự hối tiếc và tự trách mình, chứ không có ý chê trách hay kết tội. Các người trẻ hãy lấy làm kinh nghiệm để tránh những vết đổ sau này. Và cũng xin đừng lấy nó – những việc tiêu cực đã kể – mà tự hãnh diện hoặc ngược lại, tự mình hành hạ mình, tự liếm vết thương lòng mà thất chí. Còn lại chút hơi sức hãy đóng góp vào việc đấu tranh cho sự tồn vong của dân tộc.
.
2. Tổng Hội Sinh Viên Đaị Học Cần Thơ
Trở lại trường Đaị Học Cần Thơ, tôi có chân trong Ban Chấp Hành Tổng Hội Sinh Viên. Tôi đã ngây thơ, bầy đàn, không suy nghĩ, cổ động và dẫn đầu những cuộc xuống đường gây hỗn loạn trật tự xã hội. Trong BCH nầy, Phạm Văn Sinh (sư phạm khoa học), sau 1975 lộ rõ là một đảng viên CS. Tên thứ hai là Ngô Phúc Hiện (luật khoa), anh cô bạn gái tôi, là Đoàn viên Thanh niên CS. Tên này, sau 30/4//1975 là phó phòng Thương Mại thành phố Cần Thơ . Trong lúc mọi người dân đói, phải ăn độn bo bo, ăn cơm với muối, thì hắn cùng tên trưởng phòng (cán bộ từ bưng biền ra) nhân viên phòng và công an (Bắc chi viện) rượu bia tràn ly, thuốc cán (đầu lọc) khói mờ mắt mỗi ngày. Cách Mạng đấy!
.
Quê tôi buồn lắm ai ơi !
Từ ngày bão nổi đổi dời bể dâu
Một thời cùng ước mộng đầu
“Vá trời lấp bể” hẹn câu tình người
.
Những “đêm không ngủ” lửa ngời *
Câu ca lời hát dựng đời mai sau
Khung trời đại học thuở nào
Tay ôm. mắt ngỏ. môi trao nụ cười
.
Oan khiên đâu phải do trời
Quê hương tan rã bởi lời dối gian
Điêu tàn cùng với ly tan
Mộng mơ tuổi trẻ lụi tàn từ đây
.
Từ ngày ngụy ngữ lên ngôi
Từ ngày giai cấp phân đôi ta thù
……….
[*] Sinh viên trước 1975 thường tổ chức những đêm không ngủ để hát tình ca và nhạc “đấu tranh”
(Trích đoạn: Một Thời – thơ Nguyên Lạc)
,
LỜI KẾT
Qua trên là những chuyện lên quan đến dòng sông trong tâm thức cùng “Một Thời Ta Cố Quên” của tôi. Quên được không?!
Tất cả điều trên là sử liệu từ nhân dân. Chắc nó sẽ không có trong Lịch Sử Việt Nam Hiện Đại vì theo CS: Lịch sử phải phục vụ cho chế độ!
Đấy, các văn thi nhạc sĩ! Nỗi trầm luân nhân thế. Đừng “cỡi ngựa xem hoa” nỗi đau của người dân thấp bé mà mãi chỉ biết lo phục vụ cho một thiếu số đặc quyền. Hãy viết bằng cảm xúc, bằng con tim của mình. Đừng cố tạo ra cái ly, cái chai hào nhoáng, màu rượu đẹp đẽ, nhưng không có một chút mùi vị nào để lại trên đầu lưỡi của người thưởng thức. Hãy tạo ra cái hương vị ngọt ngào của viên muối nhỏ trên đầu lưỡi của các “chàng Kiều” hiện đại (người sĩ quan trẻ VNCH đi cải tạo) đang đói meo trong các “Thanh Lâu” (trại cải tạo) [Từ Nguyên Lạc dùng trong bài viết về thi sĩ Phạm Hồng Ân)(3)

Xin được kết thúc bài bằng hai câu thơ Khuyết Danh:
Ai muốn chép công ta chép oán
Công riêng ai đó oán ta chung!
(Mã Viện – Khuyết Danh)
.
Nguyên Lạc
…………………
Ghi chú:
(1) http://t-van.net/?p=31929
(2) http://t-van.net/?p=32146
(3) http://t-van.net/?p=31461

“Người Di Tản Buồn!”

NAM LỘC

 

MỖI NGÀY MỘT CA KHÚC
TƯỞNG NIỆM 30 THÁNG TƯ

“Người Di Tản Buồn!”

 

camp 75
Camp Pendleton, 1975: thành phố lều của những “người di tản buồn”!

Hôm nay là ngày 29 tháng Tư. Giã biệt Sài Gòn vào lúc 1 giờ sáng 28, sau khoảng 3 tiếng đồng hồ trên chuyến bay dài nhất ở trong đời, chúng tôi được đưa đến căn cứ Không Quân U.S. Clark Air Base nằm trên hòn đảo Luzon của Phi Luật Tân. Đối với tôi, tất cả mọi hành động, mọi suy nghĩ hay quyết định bây giờ hoàn toàn tùy thuộc vào người hướng dẫn. Họ bảo sao thì nghe vậy, bảo làm gì thì làm theo, như một người máy. Niềm thương nhớ và lo lắng cho gia đình được thay thế bằng những sinh hoạt bận rộn, bằng chi tiết cùng những cảnh tượng mới lạ chưa từng xẩy ra trong đời. Bằng những chiếc ghế bố được phủ lên tấm drap giường tươm tất, nằm trong khu lều vải dựng vội vàng để đón những kẻ vừa nước mất nhà tan! Bằng sự ân cần của các sĩ quan Mỹ, cùng sự cung kính của nhân viên người Phi Luật Tân phục vụ trong nhà ăn. Tất cả đã làm nguôi bớt đi niềm khổ đau và oán hận trong tôi. Ở đây chỉ 24 tiếng đồng hồ, thì chúng tôi được di chuyển đến đảo Guam, và chưa đầy một tuần lễ thì được phi cơ American Airlines đưa từ Guam đến California.

Máy bay đáp xuống phi trường quân sự El Toro của Thủy Quân Lục Chiến Mỹ, nằm ngay Orange County (có ngờ đâu lại chính là thành phố mà tôi đã chọn đế sống những ngày cuối đời mình)! Một toán lính Marines nghiêm chỉnh đứng chào, họ còn cầu kỳ trải thảm đỏ đón người tỵ nạn và đưa lên những chuyến xe bus quân đội (lại xe bus quân đội, dấu tích của gia đình và là niềm hy vọng đã trở thành tuyệt vọng của tôi mấy ngày qua). Xe đi vào xa lộ 5, tôi nhìn bảng tên đường thấy chữ “San Diego Freeway”, rộng thênh thang, xe cộ chạy đầy đường, ngược xuôi như mắc cửi. Hai bên lề là những vườn cam vàng ửng trái, cùng các ruộng dâu trùng trùng, điệp điệp. Chưa đầy nửa tiếng đồng hồ thì tài xế rẽ vào một con lộ nhỏ ngoằn ngoèo đưa chúng tôi đến trại Pendleton sau khi đi ngang qua nhà tổng thống Richard Nixon, tọa lạc tại thành phố San Clemente. Tôi hỏi thầm trong bụng: Có phải vì ông mà chúng tôi đang có mặt ở đây không ngài tổng thống?

1 size fit all
“One size fits all jackets”

Bước xuống xe, sắp hàng để nhận lều tạm trú và quần áo. Mỗi người được các ông lính Marines phát cho một cái áo Jacket và một đôi giầy nhà binh “one size fit all”?, già trẻ lớn bé gì cũng thế, cứ nhận đi rồi hạ hồi phân giải.

1 size fit all shoes
“One size fits all shoes”

Sau đó có thiện nguyện viên hướng dẫn đến lều và “giường” của mình (tương tự như tấm hình ông Nguyễn Cao Kỳ đang ngồi).

nc ky
Thiếu tướng Nguyễn Cao Kỳ trong khu lều trại 8…

nl trai pendleton
…và tôi, trước căn nhà đầu tiên trên đất Mỹ

Đầu tháng Năm rồi mà sao Cali. lạnh thế, không biết lạnh ngoài trời hay buốt giá ở trong lòng? Đặt mình lên chiếc ghế bố vải, tôi bắt đầu nhỏ những giọt lệ đắng cay xuống cuộc đời tỵ nạn. Hôm nay, và bây giờ tôi đã chính thức là một “người di tản buồn”! Buồn và xót xa hơn nữa khi được tin toàn bộ gia đình tôi đã bị người Mỹ bỏ rơi, thủ đô Sài Gòn hoàn toàn sụp đổ, các tướng lãnh và nhiều quân nhân, công chức tuẫn tiết. Cậu em út cùng các chiến hữu của tôi đã bị người CS đánh lừa và lùa vào những trại tù cải tạo. Mẹ và các em gái thì đang chuẩn bị đi vùng kinh tế mới…

Trong khi đó ở bên này bờ đại dương, chúng tôi cũng đang phải phấn đấu với một cuộc sống mới, dù may mắn hơn ở bên nhà, nhưng cũng không kém phần gian truân và tủi nhục. Tôi được nhận vào làm assembler cho một hãng sản xuất giường nước với tiền lương $2.10 một giờ. Anh Jo Marcel làm nghề sửa xe, Tùng Giang thì tìm được job đổ xăng, Khánh Ly làm việc lao công, sau đó được “promote” thành receptionist… Và sau những ngày dài vất vả lao động “vinh quang”, trở về căn phòng nhỏ, nằm trong khu phố u sầu, cô liêu, buồn tủi, bên cạnh toàn người xa lạ. Tất cả những nỗi khổ đau, oán hận trên cộng với niềm thương nhớ về gia đình, về quê hương, đất nước đã âm ỷ trong lòng, để rồi tôi cho ra đời nhạc phẩm “Người Di Tản Buồn”.

nl tunggiang
Nam Lộc đi thăm Tùng Giang ở “sở làm”!

Nhạc phẩm “Người Di Tản Buồn” được nữ ca sĩ Khánh Ly thu âm lần đầu tiên trong một băng nhạc cùng tên. Nhưng sau đó cũng đã rất hân hạnh được nhiều anh chị em nghệ sĩ khác thu thanh và thu hình. Kính mời quý vị cùng các bạn nghe lại sau đây:

KHÁNH LY
https://www.youtube.com/watch?v=3MGC6aebg8s

NAM LỘC
https://youtu.be/Q8gnIsTMkMg

DIỄM LIÊN
https://www.youtube.com/watch?v=5dOH2EJygvQ

THẾ SƠN
https://www.youtube.com/watch?v=yRN6vqxV4s8

NGỌC MINH
https://www.dailymotion.com/video/x7akn4n

TUẤN VŨ
https://www.youtube.com/watch?v=x-55Bj0-Fs4

TÂM ĐOAN
https://www.youtube.com/watch?v=gi6CQ_SAdQc

ELVIS PHƯƠNG
https://sangtao.org/2013/03/31/nguoi-di-tan-buon/

THANH TRÚC
https://www.youtube.com/watch?v=Fv27ih3O1Yo

BẠN VĂN VÀ TÔI

Võ Công Liêm

tinhvat

TRANH VẼ Võ Công Liêm: ‘Tĩnh vật Hoa trái’

Nhà văn Bình Nguyên Lộc có nói: ‘về quê là lên nguồn đời mình’ tôi xét lời nói ấy quả không ngoa cho những khách tha phương mỗi khi nhớ quê. Cái lòng hăm hở đó như lời cảnh báo, vì lẽ; quê hương là nắm nhau, cuống rốn tuy có xa mặt cách lòng nhưng không phải vì thế mà chối bỏ hay đoạn tuyệt. Nó có cái hồn thiêng trong chúng ta.Từ chỗ đó; nó ray rứt, nó quấn quýt, nó ôm đầm như thân phận kẻ lưu đày.
Một số người trước đây hối hả ra đi cho bằng được như thử bị quê hương ruồng rẫy hay ‘khai trừ’. Nghe ra tợ như có điều gì phũ phàng, tàn nhẫn. Thoạt kỳ thủy; mới nhận ra rằng ‘home sweet home’ là nơi về của mái nhà xưa mà cả đôi bờ coi như lời hẹn ước. Dẫu là nghìn trùng xa cách nhưng lòng hoài hương vẫn hiện hữu không dứt. Người đi hay người ở đều nhìn nhận tình quê chan chứa. Bạn tôi tha phương cầu thực một thời như tôi. Nói rằng: -thương đọt bí, đọt bầu chi lạ! Tưởng bạn tôi lãng mạn hóa cuộc đời. Suy rộng thấy bạn tôi thật lòng. Không phải giải thích và chẳng phải nói nhiều. Thì ra; chúng ta cùng cảnh ngộ. Mà khi đã ngộ ra được thì không còn chi để trách cứ mà cho rằng quá đả khuynh?. Tôi hối hả ra đi và lâm vào hoàn cảnh tương tợ như vậy. Nói cho ngay; chuyện ra đi có nhiều nghĩa khác nhau, nhưng riêng tôi đi là ‘tu nghiệp’ để thấy mình thấy ta, trăm trận trăm thắng là ở chỗ đó. Cho nên chi học mấy cũng thấy mình ngu mà không thấy trận nào thắng cả; từ đó chỉ học ở tình bạn là cao qúy. Bởi; trong cái tình người nó chứa cái tình đất nước muôn năm. Xưa hối hả đi thì nay hối hả về là thế.
Về quê lần này tôi được cái hân hạnh đón tiếp một số văn nhân cũ, mới. Kỳ thực thì không có ai mới cả mà tuồng như đã biết nhau từ lâu; tuy không bằng xương bằng thịt nhưng đã gặp nhau trong văn thơ và đã nói với nhau nhiều điều như đã thân quen, bởi; dễ hiểu điều này qua cụm từ ‘style c’est l’homme’ cho nên chi không còn là người xa lạ hay qua một trung gian nào mà chúng tôi đến với cái tình chân. Tình người cao qúi đọng trong một tâm hồn tha thiết, không vin vào nhau để giới thiệu cái ‘le moi’ qủi quái và đáng ghét đó. Hầu hết bạn văn tôi không có thái độ ấy; dù một mảy may nhỏ nhen đều không có mà dâng một tấm lòng cao thượng. Qúi mến nhau mới gọi là thân nhau; bất luận ở nơi nào.

Yoshiro Soseki: Thi sĩ đương đại; con chim sẻ mùa xuân.
Đến Nhật Bản vào đầu tháng hai, tháng xuân hoa anh đào nở, khí trời heo heo như bên nhà. Ở chơi một tuần mà gắn bó vô cùng; cái tình Nhật là cái tình ‘hiệp sĩ đạo’ trọng danh dự hơn trọng tiền bạc.Tôi thân quen người bạn Nhật trong thoáng chốc mà trở nên cái tình dài lâu, bởi; chúng tôi ăn ngay nói thực, chả phải giấu điều gì, chẳng phải là biên giới ‘khách nước ngoài’ cho nên mạnh miệng. Chúng tôi bày tỏ bằng ‘nội công’ tâm truyền tâm và giữa chúng tôi bình đẳng không ‘face talk’ không ‘money talk’. Yoshiro đưa chúng tôi tham quan nhiều nơi.Chúng tôi không còn xa lạ qua sự trọng khách của chủ nhà. Một cái thưa hai cái trình…Gặp nhau tình cờ như đã hẹn ở cửa hàng sushi; món ăn truyền thống Nhật, một lối ẩm thực có lồng chất Thiền vào trong cách sống. Chúng tôi ngỡ ngàng trước cảnh quang, bối rối trong kiểu cách ăn sushi và uống sakê, thực khách hầu hết là dân Nhật, phần đông ngồi ở bàn ghế thấp hoặc phòng riêng có gối ngồi. Chúng tôi ngồi ở quầy để trực tiếp nhìn những tay đầu bếp ‘múa võ’, cạnh tôi một thiếu nữ khác, tuổi ngoài ba mươi đưa mắt mỉm cười thân thiện, và; từ đó chúng tôi trao đổi nhiều chuyện khác nhau, dần dà mới hay nàng là thi nhân, tuy nàng kín đáo về chuyện làm thơ nhưng cuối cùng nàng cho biết nàng yêu thơ. Hóa ra chúng tôi là những người trong làng văn nghệ mà gặp nhau tình cờ.Tôi chẳng nói với nàng tôi làm thơ và nàng cũng chẳng nói nàng là thi sĩ. Nhưng gặp nhau trên cái đất văn vật này cũng đã ngộ ra được cái chất thơ trong con người thơ…Nhớ những khi ngồi ăn mì gói, uống sake trong con hẻm nhỏ mà nhớ con hẻm quê nhà. Đất nước mình có nhiều đặc ưu hơn nơi khác nhưng không biết ‘dụng võ’ cho nên mai một mà chỉ hướng đến cái của người khác làm chuẩn. Nhìn cung cách Yoshiro mà nghĩ đến dáng kiều của ta; cũng có thể do từ phong thổ, tập quán tạo nên?
Hôm nàng tiễn chúng tôi ra phi cảng trao tặng tập thơ mới xuất bản (dĩ nhiên là Nhật ngữ) để giao duyên văn hóa.Tôi không hiểu một chữ hay một nghĩa nào nhưng hình thức qua lối dựng thơ tôi cũng nhận biết được hồn thơ của thi sĩ bộc bạch một cái gì chân tình trong thơ, bởi; nhìn con người của Yoshiro không thể có một nghi ngờ nào hơn. Duyên kỳ ngộ! Yoshiro cho biết thêm: nàng là con cháu nhà văn lừng lẫy Nhật Natsume Soseki (1867-1916) với tác phẩm tiểu thuyết nổi tiếng Kokoro và đã được dịch qua nhiều ngoại ngữ. Gia tộc nàng gốc Đông Kinh. Thì ra; hạnh phúc đến bất ngờ là hạnh phúc có thực ở đời.

Kiệt Tấn: Dân miệt vườn . Uống cạn tào ráo ván.
Sau tết ở Sàigòn trời âm u, bởi; có những trận mưa lai rai làm cho đường sá còn rịn mùi ẩm thấp. Chúng tôi gặp nhau ở ‘Thềm Xưa’ nơi Thân Trọng Minh thường ‘tọa thiền’ một mình hoặc một vài bạn thân quen xưa cũ. Cái sự đến của Thân Trọng Minh thường thấy trầm ngâm, kín đáo là đặc chất của người lương y. Tôi gặp Kiệt Tấn ở đây. Chúng tôi nhìn nhau như đã quen nhau lâu lắm nay mới hội ngộ. Kiệt Tấn có nụ cười nửa mép như nhân vật trong truyện của anh viết. Tôi biết Kiệt Tấn thuở thập niên sáu mươi (60). Mỗi lần đọc truyện anh, tôi thường phán chữ Đan Mạch (đ.m.) vào văn anh. Hôm nay gặp lại nhau tôi kể cho anh biết về cái sự vụ phải dùng ngôn ngữ Denmark với anh vì tôi phục cái ngông nghênh văn chương của anh. -Được thôi! Kiệt Tấn nói. Ngày hôm sau tôi uống rượu với nhà văn tả thực này mới thấy lòng phấn khởi. Phong cách về già của Kiệt Tấn là đà như E. Hemingway mỗi khi uống rượu. Cả hai nhà văn này có cái sâu lắng thâm hậu, nghĩa là ‘rịm rím một vịm troi’ ở cái chỗ đó mới thành văn hay. Nhà văn chân tình là nói toạt những gì như thật trong sự nghiệp cũng như trong cuộc đời, những gì mà đời ít ai thực hiện được. Nếu đem tinh thần Kiệt Tấn ra so sánh với H. Miller thì không khác nhau mấy. Một đằng hụỵch toẹt và một đằng kín đáo thâm trầm. Huỵch toẹt của Miller là thẳng thừng, huỵch toẹt của Kiệt Tấn là huỵch toẹt hơn cả huỵch toẹt đó là nhà văn có một mớ kinh nghiệm đầy đầu trong cách dụng văn: khôn ngoan và trí tuệ. Bởi cả hai nhà văn này đa tình và lãng mạn trong đời và trong văn chương; cả hai đều có chất ‘đế’ trong hồn nên dựng truyện có đế. Điều này không ngạc nhiên chi mấy. Nhưng ngạc nhiên phong thái Kiệt Tấn không thay đổi, dẫu lúc này anh không bỏ hồn vào viết lách một cách dữ dội như xưa. Anh cho tái lại*là vại nước đái.Tư duy của nhà văn là biết dừng đúng lúc để cho sự nghiệp của mình không dừng lại. Đấy là chân chính. Kiệt Tấn chỉ cúi nhìn và cười nụ cười ‘tre trúc’.
Chúng tôi gặp nhau rất tình cờ; tôi ở phương này, anh ở phương kia trên cùng một hành tinh này nhưng sự gặp gỡ tợ như đã có hẹn. Cái nhìn trực diện của Kiệt Tấn là nhìn để nhận diện giữa ta và người, giữa chủ thể và tha thể có cùng hợp chất để dung thông. Đó là cảm quan của tôi khi nhìn ‘bộ dáng/ body /corps’ của anh là một con người ‘dày dạn phong sương’. Nhưng không! cảm giác đó hoàn toàn nghịch lý trong tôi, bởi; trong anh đã phản phất một sự thật có thực qua cử chỉ và lời nói. Quả vậy; anh đã hoà tan vào đó một hóa chất kích thích tố để sống dậy một lần trong tôi và anh. Tôi đón nhận sự chân tình nơi anh cũng như trong văn chương anh là cả một bung phá tiềm tàng, một tiềm thức trú ngụ trong dạng thức của trí tuệ để phát sinh thành ngữ ngôn trong văn chương cũng như trong đời thường…Rất nhiều văn nhân nhận định, bình giải hay phê bình con người Kiệt Tấn trong vai trò khách thể, dựa qua tác phẩm của anh đã viết ra; lối mổ xẻ đó không có một tác động nào nơi nhà văn mà chỉ là người đứng nhìn sự kiện; gần như rập khuôn, nhai lại, khách sáo trí thức, nó không nói toát cái hóa trị (chemistry) là bản chất cố hữu nơi anh một cách độc đáo để thành hình ngữ ngôn trong tác phẩm. Lối bình giải cổ điển là tác hại cho tác giả đã gởi gắm toàn diện tình người, tình nước tình non vào trong đó và đại diện cho chính mình. Trên kệ sách của tôi có một số tác phẩm của Kiệt Tấn. Từ tập ‘Nụ Cười Tre Trúc’, ‘Nghe Mưa’ ‘Em Điên Xõa Tóc’; chừng đó đủ để cho tôi thấy được hồn tác giả ký gởi những gì là bi thương thống thiết. Anh hơn tôi có đôi ba tuổi nhưng anh lớn hẳn hơn tôi về mọi thể kể cả sự nghiệp văn chương của anh mà tôi đọc như một hoài niệm ký ức. Thế nhưng; giữa chúng tôi phá chấp, không còn có tâm phân biệt. Hai chúng tôi sống thực như chưa bao giờ sống. Đấy cũng là cơ duyên hay là ‘hữu xạ tự nhiên hương’ không biết ráp cái câu ngạn ngữ này có phù hợp nhân thế văn nghệ? Nhưng; có thể do từ một tâm thức phản kháng, một thứ phản kháng trí tuệ xâm nhập vào tri giác tôi. Hôm ngồi uống rượu với Kiệt Tấn mới nhận ra đặc chất nơi con người anh: không văn hoa bóng bẩy, không từ ngữ văn chương, không khách sáo đường bệ. Một bản chất tự tại hiếm có ở những nhà văn. Bọn chúng tôi uống đầy. Rượu vơi cạn. Tôi tính chào từ giả anh để ngày mai bay về đất tạm dung nhưng không nói, bởi; nói ra cái từ đó không đẹp lòng nhau. Tôi xô cửa, gật đầu nói: -Về! về đây là trở về ‘revêrs/back’ cái gì thuộc ‘daydream’ có nghĩa gặp như mơ-về giữa ban ngày. Gặp gỡ ở phương này, phương nọ là vũ trụ gặp gỡ của ‘dans les rêveriers cosmiques’ trong tôi và Kiệt Tấn. Cho nên chi; giữa chúng tôi là một hiện hữu, hiện hữu sống thực của: ‘je pense; donc je suis /cogito (Descartes).Tôi nghĩ Kiệt Tấn hiểu ý tôi.
* Tái lại: tái bản tác phẩm.

Đỗ Hồng Ngọc: Bác sĩ của văn chương hay còn gọi là bác sĩ chịu chơi.
Đỗ Hồng Ngọc đa dạng trên lãnh vực văn nghệ như tôi đã biết hơn là trên sự nghiệp chuyên môn. Anh có con mắt cười khi nói chuyện cho nên chi dễ cảm thông với người đọc.Thơ anh làm chân tình như hồn anh. Văn anh viết phản vào đó cái bản lai diện mục thực với chức năng y sĩ; thành ra giọng điệu không có chi là tàng ẩn hay ngụ ý, anh vẽ ký họa tài tình, anh không buông tha còn đứng ra dẫn chương trình cho bè bạn mỗi khi cần đến lời giới thiệu. Anh sốt sắng, không từ nan. Mấy đặc chất đó làm cho tôi nghĩ đến anh. Gặp Đỗ Hồng Ngọc và nhận ra anh qua nụ cười, nụ cười không ‘pha chế’ như đời thường cười. Tôi ký tặng tập truyện cho người bạn hiền lành mà tôi tha thiết được gặp. Tuy sơ ngộ nhưng đã để lại cho nhau cái tình văn nghệ thật sự. Chúng tôi trao đổi chuyện xưa, chuyện nay như cái tình anh em, như cái tình đồng điệu đã có trước đây. Ở tuổi hoàng hôn nhưng với Đỗ Hồng Ngọc không thấy chi hoàng hôn nơi anh. Anh viết khoẻ như hồn thanh niên từ xưa đến giờ. Cái hồn nhiên trong văn chương anh đã đạt tới đỉnh cao và anh đã ký tặng nhiều đầu sách cho độc giả bốn phương. Với một trí tuệ như vậy, thời tất trong đám người cầm ống nghe ít có như anh có. Thơ văn của anh chứa chất một tâm hồn lãng mạn và trữ tình…Anh nắm tay tôi giã từ mà lòng đầy hứa hẹn như tình nhân thuở anh còn ở đại học y khoa. Nhưng; riêng tôi cái nắm tay của anh như một hụt hẫng vừa bắt chụp thì lại bay xa. Anh cười vỗ về tôi như một cảm thông dài lâu.Tấm lòng của anh là tấm lòng của biển.Tâm hồn Đỗ Hồng Ngọc rộng mở từ nụ cười cho tới cử chỉ không thể nào mà không tin ở con người thật thà như thế. Gặp Đỗ Hồng Ngọc là một hạnh ngộ dài lâu. Bước đi thong thả của anh mang theo một tư duy sống động nơi tôi.

Elena Pucillo Trương: Một con người hai cuộc đời.
Tôi gặp chị trong một buổi cơm thân mật ở toà soạn Quán Văn của anh Nguyên Minh và một số đồng sự. Xuất hiện ở cửa phòng tôi nhận ra Elena, chị ném đến chúng tôi nụ cười khoan nhã và ưu ái. Trong đôi mắt của chị tôi đã đọc được những gì chị muốn nói. Mà thật! Trên dưới mười năm về với Việtnam, dạy ở đại học Việt, giao du thân mật với người Việt; từ chỗ đó không còn thấy chi là ‘khách nước ngoài’ mà hóa ra là con dâu xứ Nẫu. Ngặc thay! màu da, màu tóc không thể Việt hóa 100% cho ra Quảng, nhưng; để hoà nhập giữa hai cuộc đời chị tự lột bỏ cái áo khoát của thành quách La Mã, những hào quang ánh sáng minh tinh điện ảnh lừng danh để về sống chết với đất Chiêm (Bình Định); âu đó cũng là một gắn bó với định mệnh. Elena hiểu điều này hơn ai hết và rồi đi tới một quyết định dứt khoát là về làm con dân nước Việt. Chỉ trong vòng 10 năm chị nói tiếng Việt gần như thông thạo kể cả những lời nói thô tục chị hiểu rành rọt. Đó là một chứng minh của vợ chàng Trương; không những trong anh mà ngay cả cộng đồng lớn lao chị đã phủ dụ cái sai biệt đó, không ai nhìn chị là bà đầm Ý Đại Lợi. Dần dà người ta quen phong cách của chị: với nước mắm, hột vịt lộn hay ba cái thứ đồ nhậu chị nhúng đũa bình thường. Không phải chị nhắm thử cho biết cuộc đời mà chị ăn như thử chị là người Việt. Hoà nhập của Elena là cả một triết lý nhân sinh: dấn thân để thấy nghĩa lý cuộc đời. Do đó văn chương của chị mang màu sắc Đông phương hơn Tây phương. Chị viết sung mãn qua nhiều thể loại. Chị kềm kẹp đức lang quân để chuyển hóa ngữ ngôn gốc trở nên ngữ ngôn Việt tộc. Đọc những tác phẩm chị viết là cả một cảm thông sâu đậm. Nhờ vào yếu tố đó mà chị gần gũi với quần chúng. Tôi ví chị như nữ tiểu thuyết gia Mỹ Pearl S. Buck từng sống ở Trung Hoa, học ăn học nói để trở nên Tàu; nhưng so ra Elena khác với những người ly hương, nghĩa là họ không đánh đổi như Elena đánh đổi với cuộc đời chị. Tôi thầm phục lòng quả cảm của một người đàn bà xa xứ.Trong sâu thẳm của chị là con người tiên phong giữa mảng trời đầy màu sắc lạ lùng và dị biệt mà là kẻ khám phá mới cho tâm hồn dự cuộc. Chấp nhận mọi hoàn cảnh dù nắng mưa bất thường ở đất phương Nam; nhưng chị đã chinh phục để không còn thấy mình đơn độc giữa xứ lạ quê người. Tôi đọc một số tác phẩm chị viết cho tôi một lòng tự hào vô hạn. Một người bạn mà tôi mong được kết thân. Trong một bài viết ngắn: ‘Chung Một Đam Mê’ tôi thấy chị là một tài tử đa xuân tứ. Chúng tôi ngưỡng mộ qua tài năng và cái tình đối xử của chị. Elena Trương đã được một số văn nhân thừa nhận là ‘kẻ đưa đường’ mở lối trên chặn đường văn chương hiện nay. Chị là nhà văn nước ngoài hiếm ở đời này và được ngợi ca như một nhà văn chân thật. Nhận định về chị không một khác biệt nào hơn. Elena Pucillo Trương đã hóa Việt, bởi; chị sống thực giữa cuộc đời đang sống.

Từ Sâm: Một tinh thần tự khởi.
Trên không gian của chuyến bay Air Canada đọc thư email của bạn bè gởi thăm; trong đó có thư của Từ Sâm. Tôi ‘click’ ngay như vồ chụp một cái gì vừa tuột khỏi tầm tay. Tôi biết Từ Sâm mấy năm qua nhưng cứ để dành trong trí như ‘kỷ vật’ chờ có cơ hội giao duyên. Nay anh đến trong cái tình cờ nhưng hữu duyên vô cùng. Anh gõ xuống: ‘biết anh ở nhà Nguyên Minh mà không được dịp gặp nhau’ ngần ấy thôi cũng thấy được cái chân tình của con người văn nghệ. Trong cuộc đời sự gặp gỡ là cái trùng trùng duyên khởi bất ngờ và cũng khó mà định lượng nó đến từ đâu hay nó đến như cái nghiệp dĩ; nói theo ngữ ngôn ngày nay là ‘tình văn nghệ không hẹn mà gặp’. Quả là qúy ở đời này! Từ Sâm có gương mặt của tu sĩ hơn là kẻ phàm phu, anh hiền lành và thiện tâm trong đôi mắt nhân ái đó.Tôi chưa một lần ‘xáp lá cà’ vơi Từ Sâm thì lấy đâu mà có nhận xét như thế? -Tôi đọc nhiều thơ anh làm, những bài nhận định nghệ thuật anh viết, phê bình tác phẩm, tác giả anh soạn là chứng cớ để thấy được nhau. Giọng văn thủy chung, không có một gián tiếp nặng nhẹ mà hầu như anh ngợi ca cuộc đời và ngợi ca tình yêu; đấy là yếu tố cấy lên tế bào da mặt của anh và trong huyết lệ của anh để từ đó anh có một tinh thần tự khởi, một tinh thần của tư duy chớ không phải tinh thần của sự cố. Đứng trên vai trò khách quan nhận định về thi ca đương đại; có thể thấy Từ Sâm thuộc trường phái siêu thực qua bài thơ ‘Trăng Viên Mãn’ mà anh cho ra đời đã lâu. Không những một bài tượng trưng mà nhiều bài thơ khác đều một thể như thế. Sắp xếp lại từ A tới Z đều nhận ra đó là giòng thi ca đương đại. Về văn anh phân tích, lý giải, dẫn chứng rất cụ thể từng đường nét như vẽ tranh sơn dầu, nghĩa là thận trọng trong ‘gam’ màu cũng như ‘con chữ’ nó đan kết vào nhau hoà hợp (composition) như một bố cục chặt chẽ; thật không quá lời về điều này. Cho nên chi; hôm nay ‘kỷ vật’ đó được ‘khui’ ra như đập đồng binh nuôi con heo nái mà bản thân tôi ao ước từ lâu. Nói thêm về thơ của Từ Sâm tuồng như anh dốc sức vào đó qua một ngữ ngôn thống thiết trong đó có chứa một ít của bi thương, một cái gì tàng ẩn ngoài cái gương mặt tu sĩ của anh; không biết mỗi bài thơ anh nói những gì về nó, nhưng; chắc chắn ở đó là một sự kết tinh trong cách biểu đạt tư tưởng bằng ngôn từ. Từ chỗ thơ tự do, tân hình thức Từ Sâm biến dạng vào vô thể thơ có duyên lạ. Cơ may hạnh phúc chỉ tìm thấy để đạt tới sự chiếm cứ ‘le bonheur est dans a la quête la conquête’ qua mạch thơ, văn mà anh đã thực hiện xưa nay. Kết thân với người bạn văn nghệ như Từ Sâm là dấu ấn trong tôi.

Huế: Quê nhà.
Và tôi; mỗi lần về quê là phải đi Huế. Bởi; Huế là trầm tích trong tôi, là hoài niệm nơi đã cất giữ những kỷ niệm khó quên của thời mới lớn (ở 9 tuổi) và cái thời vào đời. Huế trở nên chứng nhân cho tình yêu và lịch sử. Những nhân tố đó đưa tôi tìm về Huế như một ‘awakening’ để được sống lại giữa thực và hư. Huế phải có đặc chất đó như nắng mưa mà ai cũng ‘kêu trời’. Không có cái thứ đó không ai gọi là Huế. Huế có cái tàng tích cố cựu xâm chiếm vào con người Huế. Do đó tôi hiện hữu; một hiện hữu dấn thân và thấm thấu vào cái hồn Thần Kinh trong máu lệ tôi. Dân Huế hầu như ai cũng ưa lý sự, cứng đầu, chướng kì và một tự ái lớn lao hay giận. Những ai chưa biết Huế cho Huế khó tính. Đúng! cái này chịu ảnh hưởng ít nhiều nơi mấy ‘mệ’, bởi mấy mệ có cái tự ti mặc cảm trong con người mấy mệ. Nói nôm na là ‘thủ’; đó là ngón nghề thâm hậu mà ít ai tìm thấy. Tôi chơi thân với mấy mệ trong làng, trong xóm cũng như trong trường; đi sâu vào lòng đất địch mới thấy mấy mệ thủ vô hậu. Cái thủ khinh mạng. Tợ như những người kỳ thị chủng tộc; ngoài ngó rứa mà trong không phải rứa. Huế đặc thù là đó: ăn, uống, nói, cười đều có cách riêng của nó. Huế không giống ai và không ai giống Huế. Đó là lý do về để tìm thấy cái đã mất giữa thời đại hỗ mang, thuồng luồng. Có chăng là có trong trí tưởng mà thôi. Nó hoang tàn, bảng lảng bóng chiều mây. Dù là thành quách có tu sửa để thu hút khách ngoại chớ khách nội không mấy hồ hởi với cái gọi là ‘đổi mới tư duy’ theo khuynh hướng kinh tế thị trường; lạc hướng đi.
Tôi sinh ra và lớn lên ở Huế. Học và hành ở Huế; có vô số bạn bè, nhưng; tìm cho ra một ‘thằng bạn’ chân tình là điều khó. May mắn thay trong số bạn học cũ, chỉ còn một hai thằng tại thế, còn một số khác tằng tiu tỉ tiện thì hầu như để gió cuốn đi hoặc để trôi theo với giòng đời. Bởi; không tìm thấy cái chân tâm của nó. Vì vậy; phải nhận thức cái thực, cái giả của Huế. Người ta định nghĩa Huế thâm trầm là phải, vì; trong Huế chứa cái thâm trầm ‘đểu cáng’ khó tìm thấy. Răng rứa? Nó núp sau lưng Thành Nội Huế mà ít ai bắt gặp và nhận ra. Nó lắc léo như câu hò mái đẩy hay nam ai, nam bằng; là rứa đó!.
Thành ra; về Huế chỉ có thi sĩ Cung Thiêm Phan Như Chạy là chân tình trước sau như một.Thuở học cùng lớp; thi sĩ thường dùng tiếng Đan Mạch dành cho tôi. Nhưng nghĩ lại tiếng đ.m. của nhà thơ nó kết cấu trong một từ ngữ thân tương và chân thật. Lần này vợ chồng thi sĩ mời chúng tôi ăn cơm tối tại nhà riêng (kiểu cách này ít có ở nhà thơ họ Phan).Thừa nhận mụ vợ thi sĩ khéo tay dọn bàn, nhưng họ không quên rượu dành cho tôi. Nhớ đời! Trong lúc hào hứng thi sĩ hứa sẽ đưa chúng tôi đến thăm một người bạn cũng biết nhâm nhi rượu. Tôi sướng quá và chờ đợi để gặp người đối ẩm đồng điệu, đồng sàn. Chúng tôi cởi xe đến chùa Liên Trì trên dốc núi Ngự. Tưởng bạn tôi đưa đi bái Phật đầu năm. Không! ngôi biệt thự nằm cạnh chùa. Tôi cho đây là sự sắp xếp kỳ diệu (nhà gần chùa mau thành Phật, nhà gần chợ mau thành kẻ chợ). Thiệt ra; đây là câu nói văn chương bình dân nói theo kiểu nhân gian chơi thôi. Nhưng; chủ nhân ngôi biệt thự đó đã thoát tục từ lâu để đi vào chân-không. Dẫu tiếng chuông sáng trưa chiều tối có gióng lên chăng cũng không phải để thức tĩnh; nó không còn tác động giữa chốn này đối với một nhà nữ mô phạm. Tiếng chuông là một thúc bách sự dấn thân của kẻ tìm đạo lý nhân tâm để được về sống với đời thường. Một đời thường ở cõi Sát-na (Ksanikam) là cõi thời gian vô tận số, nghĩa là ra khỏi cái hạn hữu bất biến để đi vào hư không. Tôi cho sự chọn lựa cuộc sống như thế là chân tình để xa trần tục, xa lớp bụi thế gian chớ không phải xa trần tục để đi vào cõi tịnh; mà là phép tu chứng để đạt chánh quả. Đó là biện minh cho lý giải Phật tính giữa Tu và Tục khác nhau vô bờ bến. Biết đâu cái lẽ thường đó lại là ‘đáo bỉ ngạn’… Mở cửa đón chúng tôi với nụ cười thanh tao hòa nhã. Tôi ôm lấy chủ nhân theo phép tây, bởi chủ nhân vốn có máu tây. -Bọn mình thân nhau gọi bà, gọi cô thấy không chân tình. Chị Thanh Ngọc nói. Không ngờ buổi sơ ngộ mà vui đến thế; chị thiết đãi một bửa ăn đậm chất quê hương pha một chút kiểu cách Tây phương: vịt hầm rượu vang, món ngầu pín dầm chua ngọt, dưa món, tét, chưng còn lại hôm tết. Ôi chao! ngon đáo để. Giữa lúc đó tôi khui chai Lamb/Rum đen có vị hương. Chị Thanh Ngọc đón ly rượu tôi mời một cách trân qúy. Bữa nay mới gặp tay đối ẩm thứ thiệt. Rượu thấm vào người nghe thơm (phải đái ra rượu mới hết buồn / dĩ bĩnh đồng tiêu vạn cổ sầu). Đó là phương thức tiêu sầu và quên, một đặc hiệu và phổ biến nhất trên trần gian này. Chị Ngọc và tôi uống hết chai. Trong cơn mơ màng tôi nhớ Tuyết Thu em chị Ngọc, người mà tôi thầm yêu chớ không dám dòm. Chuyện ăn uống đầu năm ở nhà người bạn văn là một hạnh phúc tôi. Chị Thanh Ngọc lớn tuổi nhưng rất hào phóng khó tìm thấy nơi nhà giáo có một nếp sống nhân sinh như thế. Chị Ngọc là dân Huế thứ gộc cho nên con người chị đã nói hết về Huế. Đón nhận một người bạn văn cao qúy giữa lúc này như một hòa âm điền dã đối với chúng tôi. Chị đưa chúng tôi ra ngõ về mà lòng còn lưu luyến bên nhau. Chưa bao giờ gặp mà tợ như đã thân quen tự bao giờ. Mượn câu thơ của Nguyễn Du để gởi tâm sự vào đây: ‘Sinh tiền bất tận tôn trung tửu / Tử hậu thùy kiêu mộ thượng bôi’.
(Lúc sống không uống cạn rượu trong chén để sau khi chết thì ai là người đem rượu tưới lên mộ mình).
Rượu là tiếng nói của con người đã từng chứng kiến bao nhiêu đổ vỡ ở cõi đời và ở cõi lòng là nỗi đau trong người tôi cũng như trong người khác.Nhưng giờ đây; bạn văn và tôi là cơ duyên được sống lại trong một hiện hữu tồn lưu nhân thế giữa đời này.Tôi chỉ nói lời biết ơn nồng nhiệt của kẻ tha phương ./.

VÕ CÔNG LIÊM (ca.ab.yyc. Cuối Mar 2017)

MỖI NGÀY MỘT CA KHÚC TƯỞNG NIỆM 30 THÁNG TƯ

Nam Lộc

“Sài Gòn Ơi, Vĩnh Biệt!”

Từ lúc 7 giờ tối ngày hôm qua (27 tháng Tư, 1975), khi ông thiếu tá Bob Smith tiết lộ cho tôi biết tin VC sẽ pháo kích vào phi trường Tân Sơn Nhất sáng nay, 28 tháng Tư, 1975, và các phi vụ di tản gia đình nhân viên sở Mỹ sẽ chấm dứt vào lúc nửa khuya, thì lòng tôi rối như tơ vò, không còn muốn làm gì nữa. cứ đứng ở bến xe bus đổ người chờ xem bố mẹ và các em bằng một phép lạ nào đó, đến được đây vào giờ phút cuối cùng này?

Xe vẫn đến, khách vẫn xuống, rồi xe lại đi, bóng người thân vẫn biền biệt, nhưng tôi tiếp tục ngồi lì ở đó, chờ đợi chuyến bus sau, một mình suy ngẫm. Thì ra người Mỹ đã biết trước là họ sẽ bỏ Việt Nam từ cả tháng nay vì thế mới có các kế hoạch di tản bài bản, nhịp nhàng như vậy. Kẻ trước người sau, ưu tiên cho ai và sẽ bỏ mặc ai nếu cần thiết, mà một quân nhân bình thường như tôi không thể nào biết được vì luôn luôn phải bận rộn thi hành quân vụ. Đến giờ phút này, bao chiến hữu của tôi vẫn đang cầm súng chiến đấu ở nhiều mặt trận mà không biết rằng họ đang chống cự trong cơn tuyệt vọng, “người bạn đồng minh” đã phụ chúng ta! Nhìn thấy các nhân viên sở Mỹ được ưu tiên di tản, nhìn thấy các “yếu nhân” trong chính quyền âm thầm bỏ nước ra đi, bây giờ nghe họ tiết lộ “tin tình báo” là VC sẽ pháo kích phi trường TSN, lại càng cho tôi thấy rõ âm mưu bỏ miền Nam VN của chính phủ Hoa Kỳ, mà nạn nhân khổ đau nhất sẽ là các quân, dân, cán, chính VNCH bị bỏ lại, và sẽ phải đối mặt với kẻ thù!

9 giờ tối, Bob đến bãi xe bus tìm tôi, hắn vỗ vai nói: “You got to go buddy, no more bus drops, we have only two more flights”! Ôi, thật là phũ phàng và đau đớn. Tôi hỏi Bob, hoàn cảnh gia đình tôi đang chờ tại DAO office ở Sài Gòn thì sao? Bob nói, sẽ có helicopters bốc họ ra ngoài hạm đội! Nghe như chuyện thần thoại vậy, đến lúc này tôi chẳng còn biết có nên tin người Mỹ nửa hay không?

Bob kéo tôi trở lại nơi cổng departure, cho tôi mấy miếng sandwiches, một lon nước ngọt, hắn bảo ăn đi, rồi lên đường “if you don’t want to live with VC”! thật là chua chát! Họ đã bỏ quê hương tôi thật rồi, họ cũng mặc kệ gia đình tôi và hàng ngàn người đang chờ đợi được giải cứu! Hơn bao giờ hết tâm trạng giằng co giữa “đi hay ở” lại đến với tôi! Trước mặt tôi còn khoảng hơn 500 người vẫn đang chờ đợi để được gọi tên đi, họ không biết rằng chỉ còn 2 chuyến bay nữa mà thôi, đủ chỗ cho chừng 100 người là hết sức. Rồi chuyện gì sẽ đến với họ khi chuyến bay cuối cùng cất cánh? Số phận họ sẽ ra sao lúc sớm mai khi đạn pháo kích của Cộng quân dội xuống địa điềm này? Tôi không dám nghĩ tiếp… thiếp mắt trong ác mộng chờ chuyến bay cuối cùng! Tôi mơ thấy mẹ đưa mấy đưa em gái vào được bên trong, bố và 3 thằng con trai kẹt lại ở bên ngoài… Giật mình tỉnh giậy, mồ hôi toát đầy người, thì ra là mộng tưởng!

Đồng hồ điểm 12 giờ đêm, Bob đưa tôi danh sách cuối cùng gọi tên, khoảng 50 người mệt mỏi đợi chờ, lếch thếch khiêng valy, túi sách lên đường. Bob nắm tay tôi thật chặt, nhìn tôi thật lâu vỏn vẹn nói hai câu “thank you and good luck”! Tôi như kẻ mất hồn, lủi thủi theo đoàn lữ hành trong đêm khuya ngày 27 rạng sáng 28 tháng Tư, 1975 lần lượt chui vào chiếc C-130 định mệnh đưa tôi vào một cuộc đời vô định hướng.

nl dicu
Người di tản từ xe bus xuống, đang bước vào lòng phi cơ C-130

12:45 sáng, 28 tháng Tư, 1975, phi cơ cất cánh, nhìn ra ngoài cửa sổ, Sài Gòn mờ dần trong bóng đêm, leo lét những ánh đèn, nhạt nhòa trong nước mắt, tôi thốt lên “Sài Gòn ơi, vĩnh biệt”, rồi cùng khóc với mọi người. Có ngờ đâu đó chính là tựa đề nhạc phẩm đầu tiên mà tôi sẽ sáng tác tại hải ngoại! Nó cũng đã được “thai nghén” vào những ngày cô đơn, sầu tủi trong trại tỵ nạn Pendleton.

nl pendldeton
Trại Pendleton: “Sài Gòn Ơi, Vĩnh Biệt!” chào đời

Tôi còn nhớ đã hát thử cho Trung Hành nghe trong căn lều vải, nằm dưới thung lũng buồn của trại. Chỉ vừa có vài câu đầu thôi mà hắn đã khóc như một đứa trẻ, đâu biết rằng tôi mới viết chưa xong được đến một nửa bài. Cho mãi đến sau này, khi xuất trại, thật sự đối diện với cuộc sống lưu vong, đầy gian truân, mồ hôi và nước mắt với bao nhọc nhằn, tủi nhục trong thời gian đầu, cộng với nỗi thương nhớ gia đình. Vào giữa tháng 11, 1975 tôi mới hoàn tất nhạc phẩm “Sài Gòn Ơi, Vĩnh Biệt!”. Khánh Ly thu thanh lần đầu tiên vào mùa Xuân 1976, ông Lê Văn của đài VOA phỏng vấn Khánh Ly và tôi, rồi sau đó phát thanh bài này về VN vào tháng Tư, 1976 nhân dịp kỷ niệm 1 năm ngày Sài Gòn sụp đổ!

nl kl
Khánh Ly -Nam Lộc 1976,
ngày thu thanh Sài Gòn Ơi, Vĩnh Biệt

Vào tháng Tư, 1978 đài truyền hình KSCI-Channel 18 tại Los Angeles đã dành cho hội Nghệ Sĩ VN và cộng đồng Người Việt California một chương trình kỷ niệm 3 năm ngày xa xứ, có tên là Giao Chỉ, do hai tài tử Lê Quỳnh và Kiều Chinh giới thiệu, Khánh Ly đã trình bầy ca khúc “Sài Gòn Ơi, Vĩnh Biệt!” của tôi lần đầu tiên trên hệ thống truyền hình. Mời quý vị cùng nghe và xem lại sau đây, cùng âm thanh và hình ảnh, tuy rất thô sơ nhưng đầy kỷ niệm của 42 năm về trước:
https://youtu.be/3nfFo-T1Abo
Nhạc phẩm này cũng hân hạnh được nhiều ca sĩ thu thanh, thu hình. Mỗi người một giọng hát, một lối trình bầy, một cách diễn tả và được người thưởng ngoạn yêu thích khác nhau. Tôi xin mời quý vị cùng nghe lại dưới đây, kể cả phần trình bầy của tác giả ca khúc “Sài Gòn Ơi, Vĩnh Biệt!”:
NGỌC LAN:
https://www.youtube.com/watch?v=uVuWB0KRb-U&list=RDuVuWB0KRb-U&index=1

SĨ PHÚ:
https://youtu.be/wwOlWQCP6AE

KHÁNH LY:
https://www.youtube.com/watch?v=1bwd7813WKo

VŨ KHANH & GUITAR VÔ THƯỜNG:
https://www.youtube.com/watch?v=Zc3VcD9S6ro

HỒ HOÀNG YÊN:
https://www.youtube.com/watch?v=xh097M2SfGI

NAM LỘC:
https://www.youtube.com/watch?v=b14f9RKLiQU

KHÁNH HÀ:
https://www.youtube.com/watch?v=iMbHqh5MXxU

MỖI NGÀY MỘT CA KHÚC TƯỞNG NIỆM 30 THÁNG TƯ

Nam Lộc

Một đêm thật dài…!

Hôm nay là ngày 26 tháng Tư, 2020. Tôi tiếp tục câu chuyện từ đoạn ông VõVV, người có nhã ý và trong một sự tình cờ đã đưa tôi vào phi trường Tân Sơn Nhất lúc 5 giờ chiều ngày 25 tháng Tư, 1975, 45 năm về trước.

saigon cuoi thg 4
Sài Gòn những ngày cuối tháng Tư, 1975

Khi cái vẫy tay từ giã của ông Võ khuất trong màn nắng đang nhạt dần của một buổi chiều đầy những âu lo và phiền muộn. Tôi bỗng thấy mình như một kẻ lạc loài, cô đơn và yếu đuối. Giằng co giữa sự trở về nhà hay ở lại đây! Lúc thì đổ tội là vì nghe ông Võ “xúi dại”, khi thì nhận là do lỗi của mình vì đã không tự quyết. Nhưng thôi nghĩ gì thì nghĩ, thực tế là tính mạng mình đang treo leo trên biên giới phải chọn lựa, giữa tự do và tù ngục nếu Sài Gòn thất thủ, nhất là đối với vai trò của một phóng viên quân đội

Bây giờ là 7 giờ tối, đèn cũng đã bật sáng trong khuôn viên DAO, tôi bắt đầu nhận rõ được nhiều khuôn mặt thân quen đang đứng, ngồi hay nằm dài để chờ chuyến bay di tản khỏi VN. Có kẻ thì ba hoa, chích chòe, có người thì im lặng thở dài! Tôi chợt tỉnh: À thì ra họ cũng như mình thôi, đang chạy trốn họa Cộng Sản sắp chụp xuống quê hương. Có khác chăng là họ có giấy tờ chính thức để được gọi tên lên các chuyến bay, còn mình thì không, thế nhưng điều đó đâu ai biết được? Tự tin như vậy, tôi ngẩng mặt bước vào đám đông “nhận diện bà con”.

Nhóm đầu tiên là mấy tên nhạc trẻ thân quen gồm có Trung Hành của Mây Trắng, Quang Minh, tức Minh mập CBC, Minh “rè” của Keyhole và một vài người khác đã được ông Oliver một bầu show người Mỹ đưa vào DAO từ mấy ngày nay và đang chờ chuyến bay. Trung Hành cho biết, Trung Nghĩa của The Enterprise và vợ là violist Đoàn Thanh Tuyền đã đi từ ngày hôm qua. Kiềm điểm lại còn biết thêm Kim Anh, Uyên Ly của ban tam ca Ba Con Mèo cũng đã đi từ mấy hôm trước. Ông ca sĩ đầu đàn nhạc trẻ Jo Marcel thì đã rời Sài Gòn từ 19, 20 tháng Tư gì đó, cùng chuyến với tổng trưởng kinh tế Phạm Kim Ngọc, cùng gia đình bà thượng nghị sĩ “trăng sáng vườn chè” Pauline Văn Thơ, Kaxim thì ở lại vì có quốc tịch Tây, còn thì Tùng Giang, Tuấn Ngọc, Khánh Hà và gia đình Uptight nghe nói đã được George Esper (trưởng phòng hãng thông tấn AP ở VN) đưa vào và đang có mặt ở đây v..v.. và v..v… À thì ra, thảo nào cậu Tùng Giang nhìn rất là bình tĩnh lúc gặp tôi và anh Trầm Tử Thiêng ở Givral sáng nay.

Đảo sang phía bên kia, tôi thấy ông Đỗ Ngọc Yến mặt trầm ngâm, đầy âu lo đang thì thầm trao đổi với ông Đỗ Quý Toàn, cạnh đó là gia đình vợ con và túi sách, túi mang. Chợt có người vỗ vai, tôi ngoảnh lại thì ra đó là ông nhà báo kiêm thi sĩ Kiêm Thêm, ông KT tươi cười hỏi thăm rồi đưa tay chỉ về phía trước, gia đình anh Lê Quỳnh kìa, tôi nhìn qua và vẫy tay chào. Khi ở bên ngoài lúc ông Võ rủ tôi vào TSN, mình cứ nghĩ là còn quá sớm mà đi đâu? Thậm chí khi anh Văn Quang nói tôi vẫn chưa tin, đến lúc vào trong này mới biết mình là một trong những kẻ muộn màng! Ông Đỗ Ngọc Yến còn chia sẻ “tin nóng” là gia đình TT Thiệu và ĐT Khiêm cũng vừa được CIA đưa vào phi trường để đi Đài Bắc tối nay. Còn nhiều gia đình người quen khác nữa, nhưng tôi tò mò muốn đến nơi người ta đang sắp hàng để được gọi tên lên máy bay.

Từ xa nhìn vào hàng người xếp theo thứ tự, lần lượt nghe đọc tên, rồi họ xướng lên “có mặt”, sau đó sách hành lý vào cân lượng rồi bước lên xe bus để được đưa đến thang phi cơ. Thật tình cờ tôi nhận ra người đọc tên là ông nhạc sĩ Đức Huy, còn người hành khách vừa trả lời “có mặt” lại là ông bạn kiến trúc sư Nguyễn Tường Quý cùng gia đình. Thấy không khí thân tình, tôi đánh bạo bước lại gần hơn và la lớn cho anh Quý nghe: Lên đường bình an nhe anh Quý. Ông quay lại, nhận ra tôi vẫy tay từ giã vội vàng. Trong khi đó Huy cũng nhận ra tôi nheo mắt cười. Và cũng vì hành động này mà một “biến cố lớn” đã xẩy ra trong cuộc đời lưu vong, viễn xứ của tôi!

8 giờ tối ngày 25 tháng Tư, 1975. Vừa đọc xong danh sách chuyến bay và hoàn tất việc di chuyển hành khách, Đức Huy bước ra ngoài tìm tôi và đưa ngay vào bên trong nơi Huy đang làm việc, toàn là các sĩ quan US Marines Corps vừa từ Mỹ bay sang, mặt còn đỏ hoe, để điều hành cuộc di tản khẩn cấp này, chỉ có Huy là người VN duy nhất. Mặc dù tôi và Huy gặp nhau hầu như mỗi ngày, hai đứa vẫn thay phiên dùng xe đi làm vài ngày mỗi tuần. Huy đưa tôi đến Quân Đoàn III ở Biên Hòa, sau đó chàng lái xe đến Bình Dương nơi Huy phục vụ tại tiều khu này. Cả hai chúng tôi đều là các quân nhân đang tại ngũ, vậy thì Huy làm gì ở đây mà giờ này còn đứng gọi tên người lên phi cơ? Tôi ngại ngùng không dám hỏi, nhưng giả vờ thân mật nói đùa: Tao đâu có biết mày làm cho CIA? Vì chỉ có nhân viên CIA thì giờ này mới dám đứng gọi tên và quyết định cho ai đi, ai ở! Huy hì hì cười và tảng lờ hỏi tôi: mày có đói bụng không? tôi bảo: hơi hơi, nhưng mua thức ăn ở đâu? Huy không trả lơi, đứng dậy bước vào phía trong rồi đem ra cho tôi một cái Hamburger nóng hổi, thơm phức, gói trong giấy foil, cùng một lon Cola Cola lạnh buốt! Bụng đang đói, trời đang nóng, sực một miếng cái đã, chuyện đâu còn có đó!

Ăn xong tôi cám ơn Huy và hẹn lúc gia đình tôi đến nơi sẽ tái ngộ. Nhưng Huy kéo tôi lại và hỏi: Ăn gì nữa không?, tôi lắc đầu rồi bắt tay từ giã. Huy nói tiếp: Đâu có dễ thế, chàng ăn no, uống đã rồi, thì bây giờ phải làm việc chứ. Sau đó Huy dúi vào tay tôi một danh sách mới khoảng 30 gia đình và bắt tôi đọc tên để mời họ lên máy bay.

Đắn đo và lưỡng lự một hồi, Huy than mệt quá, tôi đành chiều theo ý Huy và bước ra ngoài, giọng nghiêm nghị mời mọi người có tên trong chuyến bay số…, hãy chuẩn bị xếp hàng. Mọi người nghe theo răm rắp. Tôi chợt cười thầm trong bụng: Hai tiếng đồng hồ trước còn là một tên “nhập cảnh lậu” vào DAO, hai giờ sau đã trở thành”thầy chú”! Đúng là một cuộc đổi đời! Tối hôm đó tôi làm việc suốt cả đêm, không ngủ, giúp cho Huy chợp mắt vì hắn đã thức trắng đêm hôm qua. Lúc rảnh rang hai thằng ngồi tâm sự thì mới biết là Huy đã được Bill Fraser (trưởng phái đoàn HK trong ban liên hiệp 4 bên), một fan trung thành của ban nhạc đưa cả gia đình vào TSN mấy ngày hôm nay và trong lúc chờ đợi, họ đã nhờ Huy đọc dùm tên người Việt cho đúng, có vậy thôi. Khi nào Huy đi thì họ lại nhờ người khác. và người khác đó, không ai, chính là tôi. Và biết đâu nhiều người cũng đã chụp trên đầu tôi cái nón CIA? Tuy nhiên tôi chẳng bận tâm, niềm an ủi mà tôi nhận được trong công việc này, là lời hứa của anh chàng thiếu tá Mỹ đen, mọi người gọi anh là Bob. Thấy tôi làm việc khá vất vả, Bob nói: Ráng giúp họ đi, khi nào gia đình vào đến DAO anh sẽ cho mọi người đi sớm kể cả tôi, mà khỏi cần phải sắp hàng xin manifest chuyến bay.

Đêm kéo thật dài, đủ mọi chuyện hỷ, nộ, ái, ố của những nhân vật được (hay có thể là “bị”) tôi đọc tên lên phi cơ, nhất là các sĩ quan cao cấp của Quân Đoàn III và Sư Đoàn 5 hoặc các chính khách mà chúng tôi biết mặt, quen tên. Có người e ngại, có người sợ hãi như đại úy Hùng ở Trung Đoàn 8, SĐ 5, nhìn thấy tôi ông định bỏ về, nhưng tôi gọi ông lại và trấn an: việc đi hay ở là không do tôi, ai có tên trong danh sách di tản cùng gia đình và được cấp giấy phép lên phi cơ thì họ có quyền đi. Tuy nhiên hầu hết khi bước qua mặt tôi, mọi người đều mỉm cười thân ái, mang một chút ân tình ở trong đó, đặc biệt là bà vợ và hai đứa con nhỏ của đại úy Hùng, bà gật đầu nhìn tôi và cười trong nước mắt. Những diễn biến đó đã làm cho tôi cảm thấy nhẹ người và quên đi bao nỗi căng thẳng, bàng hoàng của một ngày đầy biến động cùng một đêm dài nhất trong 30 năm cuộc đời.

Trong giây phút giằng co giữa đi và ở, giữa hạnh phúc và khổ đau đó, tôi bỗng nhớ đến Mẹ tôi ngày bồng bế lũ con thơ dại vượt biển vào Nam tìm tự do 21 năm về trước.

di cu bac vao nam 1954
Cuộc di cư từ Bắc vào Nam, 1954

Và ngày hôm nay, 45 năm sau, ngồi viết lại đoạn hồi ký trên, tôi muốn cùng với quý vị và các bạn nghe lại nhạc phẩm “1954 Cha Bỏ Quê, 1975 Con Bỏ Nước” của nhạc sĩ Phạm Duy qua giọng hát Elvis Phương sau đây:

Tháng Tư lại về đem những ký ức u buồn đến với cộng đồng người Việt tỵ nạn của chúng ta. Năm nay là lần thứ 45 tưởng niệm ngày miền Nam VN rơi vào tay Cộng Sản, và cũng là một tháng Tư buồn thảm nhất sau tháng Tư 1975. Không khí của đại dịch Vũ Hán bao phủ một mầu tang trên toàn thế giới. Với những biện pháp giới hạn hoạt động khiến cho năm nay dù có muốn, chúng ta cũng không thể tổ chức tụ họp đông đảo để làm lễ tưởng niệm ngày quốc hận 30 tháng Tư như những năm trước đây.
Trong hoàn cảnh đó, và để giúp quý vị nguôi ngoai niềm nhớ về quê hương, đất nước và ôn lại những kỷ niệm đã trải qua, đồng thời để giới thiệu bộ DVD “Những Người Lính Bị Bỏ Rơi”, kể từ hôm nay cho đến 30 tháng Tư, 2020, chúng tôi xin mạn phép sưu tầm và chia sẻ cùng quý vị một số sáng tác của cá nhân chúng tôi cùng các nhạc sĩ khác, về biến cố lịch sử ghi dấu ngày VN rơi vào tay Cộng Sản khiến cho hàng triệu người phải lần lượt bỏ nứơc ra đi tìm tự do. Kính mời quý vị thưởng thức và giúp phổ biến đến thân hữu của mình.

https://www.sbtn.tv/mot-thang-tu-buon-tham-cua-45-nam-vien-xu-nam-loc/

Châu Thạch

tinh ca thieu khanh

CẢM TÁC “TÌNH CA”
(TẬP THƠ CỦA THIẾU KHANH)


Ta biết danh từ thuở hai mươi
Lúc trăng còn mộng xuân còn tươi
Bây giờ tuổi hạc thu qua trọn
Đông đến đời khuya nhận sách người

Một tập vần thơm trỉu ngón tay
Hương từ xuân trước vẫn còn bay
Ta tìm ta lạl trong thơ ấy
Để thấy trăm năm mộng vẫn đầy

Ta cảm ơn người thơ Thiếu Khanh
Cho hoa lá nở giữa khô cành
“Tình Ca” đem gió năm xưa lại
Tắm mát hồn ta một suối xanh

Ta thấy ta nghe tiếng yến oanh
Tiếng sông, tiếng biển sóng vờn quanh
Tiếng ai vang vọng đôi bờ giấy
Như tiếng hồn ta mộng rất lành!

Ta thấy mùi thơm của chiến bào
Thấy trời xưa vọng tiếng binh đao
Thấy ta lãng mạn yêu em gái
Và nhớ tình xưa đã vẩy chào

Ta gối sách thơ như gối sao
Ru đêm ta thức với ly tao
Rồi ta gối mộng lên trang sách
Để nhớ thương ta tuổi ngọt ngào ./.
Châu Thạch

 

Một tháng Tư buồn thảm của 45 năm viễn xứ! (Nam Lộc)

nguoi linh bo roi

Kính dâng những Ngưởi Lính VNCH
Chúng ta lại đang bước vào tháng Tư, những tháng Tư u buồn của trang sử tỵ nạn mà bất cứ người Việt lưu vong nào trên đất khách đều không khỏi ngậm ngùi nhớ về nơi mình đã phải bỏ đi và nhiều người vẫn không thể trở về thăm chốn cũ!
Tưởng niệm Quốc Hận 30 tháng Tư năm nay có lẽ còn sầu thảm hơn 45 lần đã qua. Không khí của đại dịch Vũ Hán bao phủ một mầu tang trên toàn thế giới, con số tử vong mỗi lúc một cao. Tuần qua, tổng thống Hoa Kỳ đã chính thức ban hành lệnh “cách ly” cho tất cả công dân trên toàn nước Mỹ cho đến hết ngày 30 tháng Tư, 2020. Và hình như nhiều quốc gia khác trên thế giới cũng đang lần lượt áp dụng biện pháp này, khiến cho năm nay dù có muốn, chúng ta cũng không thể tổ chức tụ họp đông đảo để làm lễ tưởng niệm ngày quốc hận như những năm trước đây. Buồn hơn nữa là sẽ không có bất cứ một trung tâm ca nhạc nào thực hiện các bộ Video, CD hay DVD để tưởng niệm những tháng năm viễn xứ như ngày trước, vì hiện trạng sang băng, đĩa lậu và internet đã giết chết thị trường văn hóa nghệ thuật này.
Trong nỗi niềm và hoàn cảnh đó, một số anh chị em nghệ sĩ tự do đã hợp cùng đài truyền hình SBTN với phương tiện và chuyên viên điện ảnh sẵn có, cùng nắm tay nhau một cách vô vụ lợi, chung lưng thực hiện một bộ DVD lịch sử để tưởng nhớ năm thứ 45, ngày quê hương VN rơi vào tay Cộng Sản. Cá nhân tôi, được mặc lại bộ quân phục của đơn vị mình phục vụ sau 45 năm xa cách lòng không khỏi ngậm ngùi. Kỷ niệm chợt bùng về, nhớ lại ngày tôi xuống Lai Khê trình diện đại úy Nguyễn Văn Quý, trưởng phòng báo chí của Sư Đoàn 5 Bộ Binh vào đúng Mùa Hè Đỏ Lửa 1972, tiếp theo đó là những đêm dài nơi chiến tuyến. Tôi lại thích viết về cuộc đời của những người lính thách đố với cái chết, luôn luôn tình nguyện đi tuyến đầu, vì thế nên đêm đêm thường ngồi với các toán Biệt Kích của Sư Đoàn, say sưa nghe họ kể những trận đụng độ nẩy lửa, vừa hãnh diện với bao chiến công, vừa xót xa với những mất mát!
Nhìn ca sĩ Diễm Liên mặc chiếc áo dài đen trình bầy nhạc phẩm Người Tình Không Chân Dung, thì cả một trời kỷ niệm hiện về với hình ảnh nữ tài tử Kiều Chinh trong bộ phim này của gần 50 năm về trước. Nghe Thế Sơn hát Người Ở Lại Charlie trong bộ quân phục Dù, để nhớ về cố Đại Tá Nguyễn Đình Bảo, thân phụ của người bạn học cùng lớp với Thế Sơn, ai ai cũng nhận ra nỗi xúc động, đôi lúc nghẹn ngào trong tiếng hát của anh. Nhìn Thanh Trúc với Nếu Vắng Anh của nhạc sĩ Anh Bằng, thì không ai không khỏi nhớ đến khuôn mặt cùng giọng hát khả ái của nữ ca sĩ Lệ Thanh một thuở hoàng kim với tình khúc kỷ niệm đầu đời của những chàng trai trong thời gian đầu cuộc chiến, 1960… Và còn nhiều nhiều nữa, Hồ Hoàng Yến, Quốc Khanh, Nguyên Khang, Hoàng Thục Linh, Vũ Anh Thư, Huỳnh Phi Tiễn, Ca Đoàn Ngàn Khơi… còn Trả Lại Em Yêu, Cho Một Người Nằm Xuống, Thương Vùng Hỏa Tuyến, Một Chuyến Bay Đêm, Tôi Nhớ Tên Anh, dĩ nhiên không thể quên Chiến Sĩ Vô Danh… và đặc biệt là Thề Không Phản Bội Quê Hương! Gần 30 tiết mục với hơn 50 ca sĩ góp mặt. Đối với tôi, đây quả là một công trình phi thường mà anh chị em nghệ sĩ, các chuyên viên, và các tình nguyện viên có thể thực hiện được trong giai đoạn cùng hoàn cảnh hiện nay

ho hoang yen.

Hồ Hoàng Yến với “Trả Lại Em Yêu”

Tôi chắc chắn là nếu không vì lòng yêu quê hương, đất nước, không vì tình cảm dành cho những người lính QLVNCH, những người đã bị bỏ rơi, và nhất là nếu không có sự phù hộ của những anh linh tử sĩ, thì có lẽ khó ai có thể thực hiện được một tác phẩm nghệ thuật có tính cách lịch sử để lại cho hậu thế những hình ảnh trung thực của cuộc chiến đấu đầy chính nghĩa để bảo vệ tự do, dân chủ cho VN. Và cũng khó có một tác phẩm âm nhạc nào thể hiện được lòng biết ơn chân thành cùng sự ngưỡng mộ đối với những tấm gương hy sinh quả cảm của người lính VNCH để bảo vệ miền Nam VN, tiền đồn của thế giới tự do bằng DVD “Những Người Lính Bị Bỏ Rơi”!

the son

Thế Sơn và “Người Ở Lại Charlie”

Ước muốn duy nhất của anh chị em nghệ sĩ cùng nhóm thực hiện của chúng tôi là mong mỏi mỗi gia đình người Việt tỵ nan nên có một bộ DVD này, vừa để thưởng thức âm nhạc, vừa dùng làm tài liệu dành cho con cháu mỗi khi chúng muốn tìm hiểu về cuộc chiến VN, và quan trọng hơn cả là để tưởng niệm quốc hận lần thứ 45 trong không khí tang tóc của toàn thế giới hiện nay.
Muốn biết thêm chi tiết và đặt mua DVD hoặc Blu-ray, xin quý vị vào trang nhà: https://www.sbtn.tv/
Hãy ủng hộ và tiếp tay chúng tôi,
Nam Lộc
Tháng Tư, 2020
(hãy thắp cho nhau một ngọn đèn:
https://www.youtube.com/watch?v=H7nmtptLQvw)

MỖI NGÀY MỘT CA KHÚC TƯỞNG NIỆM 30 THÁNG TƯ

Nam Lộc

nguoi linh bo roi

Hôm nay là ngày 25 tháng Tư, 2020. Xin mạn phép chia sẻ cùng quý vị và các bạn một chút tâm sự của ngày này 45 năm về trước. và cũng là ngày mà tôi đã bắt đầu bước vào một cuộc đổi đời đầy những cay đăng, xót xa cho thân phận của một người tỵ nạn.
Ngày hôm qua 24 tháng Tư, 1975, lệnh cấm trại 100%, ngồi viết phóng sự và trực suốt đêm tại phòng Báo Chí Quân Đoàn III ở Biên Hòa. Sáng nay về Sài Gòn đem giao một số bài viết cho nhật báo Tiền Tuyến ở Cục Tâm Lý Chiến. Tình hình đất nước đang vô cùng căng thẳng, nhất là sau khi tổng thống Nguyễn Văn Thiệu từ chức và các tỉnh miền Trung cho đến một số ở miền Nam gần Sài Gòn cũng đang lần lượt lọt vào tay CS Hà Nội và quân Giải Phóng miền Nam! Vào lúc này thì người Mỹ đang ráo riết di tản các nhân viên của họ theo kế hoạch của Hoa Thịnh Đốn, trong số đó có gia đình tôi, vì cô em gái làm việc cho DAO. Cô đã đưa cả bố mẹ cùng hầu hết anh chị em (ngoại trừ tôi) vào nơi cô làm việc để được người Mỹ âm thầm đưa đến Tân Sơn Nhất trên những chuyến xe bus mầu vàng, chạy liên tục như đàn bướm trong thành phố đầy hoang mang và hoảng loạn, hoảng loạn như chính tâm trạng của tôi và cả chắc cũng tương tự như của nhiều người lúc bấy giờ!

Sài Gòn, những ngày cuối tháng Tư, 1975
Từ tòa soạn Tiền Tuyến, tôi ghé ngang báo Diều Hâu thăm thiếu tá Phạm Huấn, và đại úy Hà Huyền Chi là những người anh thân thương đã đỡ đầu chúng tôi trong các buổi Đại Hội Nhạc Trẻ hàng năm để gây quỹ giúp Cô Nhi, Quả Phụ Tử Sĩ. Gặp đại úy Lê Cự Phách, tức nhà văn Du Tử Lê ở báo Tiền Phong, biết tôi thích đọc thơ anh, mỗi lần về anh lại cho tôi một quyển. Trước khi rời nơi đây, tôi ghé qua bên đài phát thanh quân đội thăm trung tá Nguyễn Quang Tuyến tức nhà văn Văn Quang, mà ông đang làm quản đốc. Ông Văn Quang vừa họp xong trong phòng bước ra ngoài, vui vẻ chào đón và hỏi thăm tôi về tình hình ở quân đoàn. Tôi tường trình qua loa rồi bước ngay vào mục đích riêng của mình là xin ông một lời cố vấn rằng, nếu có cơ hội ra khỏi VN thì tôi có nên đi hay không? Tôi nhớ mãi câu trả lời gọn gàng của ông: Đi được thì cứ đi, các “ông lớn” cũng chuẩn bị cả rồi! Câu nói của ông làm tôi thêm hoang mang và suy nghĩ!
Tôi nắm tay ông từ giã, dự định sẽ về nhà ngủ một giấc thật dài để bù lại đêm qua và cũng để quên đi những xao xuyến, giằng co ở trong lòng! Nhưng chợt thấy đói nên ghé ngang Đêm Mầu Hồng rủ Tùng Giang và Lệ Thanh ghé quán Bà Cả “Đọi” ăn trưa. Sau đó cả ba đi bộ đến trụ sở quốc hội gặp chị Phúc, người chị cả của gia đình, đang làm việc tại đây, cũng để thăm dò tình hình và nhân tiện nhờ chị tái gia hạn dùm tôi tấm thẻ báo chí để dự thính ở quốc hội (đến giờ này tôi vẫn còn lo những sinh hoạt bình thường)! Chị Phúc nói với chúng tôi, các dân biểu cũng chia làm hai nhóm, người lo tìm đường ra đi, kẻ thì chuẩn bị tham chánh, hoăc đảm nhận các chức vụ quan trọng trong chính quyền mới! Tôi hỏi chị về chuyện ra đi, chị cũng trả lời tương tự như anh Văn Quang: Đi được thì cứ đi, nhưng cậu Lộc coi chừng đừng để trở thành người đào ngũ! Câu nói của chị càng làm tôi thêm hoang mang và bối rối!
Bước qua bên đường, ghé Givran uống cà phê, gặp ông anh Trầm Tử Thiêng, người nhạc sĩ giáo chức mà chúng tôi rất kính nể, và anh cũng là người nghệ sĩ cuối cùng mà tôi gặp mặt trước khi xa Sài Gòn. Tôi đưa ra cùng một câu hỏi, nhưng lần này bị Tùng Giang “cự nự”: Sao mày lo quá vậy Lộc, hãy cứ để cho số phận an bài! Anh Thiêng bảo: “Nhưng số phận không phải chỉ hoàn toàn là do ở Thượng Đế, mà đôi lúc cũng tùy thuộc vào quyết định của chính mình”, và có ngờ đâu câu nói này đã theo đuổi tôi trong suốt cả cuộc đời còn lại!
Trở về nhà cô em, nơi tụ họp của gia đình, mọi người đã ra đi. Im lặng và trống vắng, tôi đặt mình xuống giường, ngủ như chết! Đến khoảng 5 giờ chiều bỗng có người vừa bấm chuông, vừa gõ cửa ầm ầm, tôi tỉnh giấc và bước ra ngoài xem ai mà hối hả thế, thì gặp ông VõVV, một giới chức cao cấp làm việc tại Bộ Kế Hoạch, anh Võ đến tìm người em trai của tôi là luật sư Nam Khang. Tôi bảo anh, Khang đã vào DAO để chuẩn bị được người Mỹ di tản cùng với gia đình. Anh gật đầu, rồi bất chợt hỏi tôi: Nam Lộc có rảnh không, đi với tôi vào Tân Sơn Nhất chơi, tiện tôi đi công tác đón một yếu nhân của bộ đi họp ở ngoại quốc về. Tôi lưỡng lự từ chối, anh Võ lại đốc thúc, ở nhà làm gì, đi thăm dò tình hình xem sao? Chợt nghĩ, ừ nhỉ, tại sao không? Tôi rửa mặt vội vàng, mặc chiếc quần jean, không kịp đi giầy, sỏ vào đôi dép da của Mẹ để sẵn ngòai cửa, rồi chui vào chiếc xe Volkswagen Beetle chật chội của anh Võ để ra phi trường. Trên đường đến TSN, xe đã bị quân cảnh, cảnh sát rồi MP Mỹ chặn lại hỏi giấy tờ năm lần, bẩy lượt. Lòng tôi cũng hơi bấn loạn, thuộc loại “không” cò tật mà vẫn giật mình, vì tôi có toan tình gì đâu! Nhưng anh Võ đã có sẵn “bùa hộ mệnh”, tấm sự vụ lệnh to tổ chảng của Bộ, với lá cờ VNCH kéo dọc và chéo ngang nên gặp giới chức công lực nào họ cũng phất tay cho đi.

Sài Gòn, cuối tháng Tư, 1975: Quân Cảnh, Cảnh Sát ở khắp mọi nẻo đường

Vào đến phi trường, còn sớm giờ đón khách, anh Võ rủ tôi đi vào khu tập trung của những người Việt đang được chính phủ Mỹ di tản, tôi hết hồn khi nhìn thấy một rừng người khoảng cả ngàn, vừa đứng, vừa ngồi chen chúc trong khuôn viên bên ngoài trụ sở cùng khu vực Gym của cơ quan DAO để chờ được gọi tên lên máy bay. Rảo vội một vòng, tôi nhận thấy có rất nhiều người quen biết, trong số đó có cả các chính khách dân sự, các sĩ quan chỉ huy cao cấp cùng nhiều quân nhân ở các Sư Đoàn hay Quân Đoàn mà tôi đã gặp. Có các bạn hữu của tôi, và có cả những người đã “hứa là sẽ đưa tôi đi” nếu tình thế khẩn trương, ấy thế mà bây giờ họ đã đứng ở đây? Nhìn cảnh tượng này, khiến tôi lại tăng thêm niềm hoang mang và hoảng loạn.
Hai anh em trở lại xe, bỗng dưng ông Võ cản tôi: Nam Lộc ở lại đây đi, chờ gia đình vào rồi nhập bọn để được di tản cùng! Tôi lắc đầu từ chối, và viện dẫn đủ mọi lý do, nào là không chuẩn bị, không mang theo quần áo, không có đủ giấy tờ, tiền bạc và sau cùng là trách nhiệm trong quân đội v..v…! Nhưng nói tới đâu, ông lại thuyết phục và đưa ra lời giải thích tới đó, để rồi rốt cục tôi nghe ông và ở lại phi trường. Ông Võ còn hẹn thêm là 9 giờ sáng mai, tức là ngày 26 tháng Tư, ông sẽ trở lại, đưa hai người em vào, đồng thời sẽ ghé nhà cô em lấy mấy bộ quần áo cho tôi (cò ngờ đâu đến 16 năm sau tôi mới gặp lại ông qua chương trình HO, sau hơn 10 năm ông đi tù cải tạo và 6 năm vất vưởng sống ở VN).
Trở lại khung cảnh náo nhiệt tại khuôn viên DAO, phi trường TSN lúc bấy giờ, tôi không biết mình sẽ phải làm gì, gặp ai và phản ứng thế nào nếu có người nhận ra mình, một quân nhân đang hiện dịch? Rồi đến khi nào thì gặp được gia đình? Nếu bị bắt và bị đưa về quân lao thì có ai biết mà lo lắng cho mình? Bên cạnh đó là tiếng cười ròn rã của những người đang chờ đợi các chuyến bay, trộn với tiếng khóc than, oán trách thật bi ai, tất cả đã đưa tôi từ tâm trạng hoang mang, lo lắng, đến khủng hoảng tinh thần. Tôi chợt nhớ lại câu nói của anh Trầm Tử Thiêng lúc ban chiều: “Số phận không phải chỉ hoàn toàn là do ở Thượng Đế, mà đôi lúc cũng tùy thuộc vào quyết định của chính mình”. Nhưng hỡi ôi, quyết định của tôi để ở lại nơi đây, vào giờ này, không phải do Thượng Đế, cũng chẳng phải của chính mình mà là của ông Võ! Rồi cuộc đời sẽ đưa tôi về đâu? Có lẽ không lời diễn tả nào thích hợp hơn bằng bài hát Kinh Khổ mà anh Thiêng đã viết, có thể diễn tả tâm trạng vào thời điểm đó của tôi hay của bao người đang dở khóc, dở cười, bên cạnh lời cầu nguyện mà Mẹ tôi và các bà Mẹ VN khác đang dâng lên Thượng Đế cho tương lai của những đứa con mình?
Xin hẹn sẽ viết tiếp tiếp vào ngày mai, nhưng bây giờ kính mời quý vị và các bạn cùng nghe Kinh Khổ của nhạc sĩ Trầm Tử Thiêng qua giọng hát Khánh Ly:

https://www.youtube.com/watch?v=CPPpkyOLS1o
(Bút ký này xin được tưởng nhớ đến những người đã khuất mà tôi xin phép nhắc tên trong bài viết: Thiếu tá Phạm Huấn, thi sĩ Du Tử Lê, anh VõVV, các nhạc sĩ Trầm Tử Thiêng, Tùng Giang, và xin kính tặng những người vẫn còn sống bình an trên cuộc đời này: Nhà văn Văn Quang, thi sĩ Hà Huyền Chi, chị Phúc, Lệ Thanh)

Tháng Tư lại về đem những ký ức u buồn đến với cộng đồng người Việt tỵ nạn của chúng ta. Năm nay là lần thứ 45 tưởng niệm ngày miền Nam VN rơi vào tay Cộng Sản, và cũng là một tháng Tư buồn thảm nhất sau tháng Tư 1975. Không khí của đại dịch Vũ Hán bao phủ một mầu tang trên toàn thế giới. Với những biện pháp giới hạn hoạt động khiến cho năm nay dù có muốn, chúng ta cũng không thể tổ chức tụ họp đông đảo để làm lễ tưởng niệm ngày quốc hận 30 tháng Tư như những năm trước đây.
Trong hoàn cảnh đó, và để giúp quý vị nguôi ngoai niềm nhớ về quê hương, đất nước và ôn lại những kỷ niệm đã trải qua, đồng thời để giới thiệu bộ DVD “Những Người Lính Bị Bỏ Rơi”, kể từ hôm nay cho đến 30 tháng Tư, 2020, chúng tôi xin mạn phép sưu tầm và chia sẻ cùng quý vị một số sáng tác của cá nhân chúng tôi cùng các nhạc sĩ khác, về biến cố lịch sử ghi dấu ngày VN rơi vào tay Cộng Sản khiến cho hàng triệu người phải lần lượt bỏ nứơc ra đi tìm tự do. Kính mời quý vị thưởng thức và giúp phổ biến đến thân hữu của mình.

https://www.sbtn.tv/mot-thang-tu-buon-tham-cua-45-nam-vien-xu-nam-loc/

 

Nhạc sĩ Nam Lộc nói về cố nhạc sĩ Việt Dzũng

namloc viet dzung

Phóng viên Người Việt đã có cuộc gặp gỡ với nhạc sĩ Nam Lộc để nghe anh trải lòng những câu chuyện về người bạn đồng hành của anh – ca nhạc sĩ, MC Việt Dzũng.

Nam Lộc (NL): Là một người bạn cũng như được Việt Dzũng xem tôi như một người anh, cùng làm việc với nhau trong suốt hơn 30 năm trời, đối với tôi, Việt Dzũng mất đi được xem là sự mất mát rất lớn sau sự mất mát của cha mẹ tôi.

Tôi còn nhớ hôm tôi được tin mẹ tôi mất là lúc tôi đang trong sở làm, cho nên dĩ nhiên cơn xúc động rất mạnh nhưng gia đình không thấy được.

Ngày bố tôi mất là lúc tôi vừa xuống máy bay sau chuyến đi diễn về, khi đó tôi đứng khóc một mình ở phi trường.

Nhưng lúc nghe tin Việt Dzũng mất thì mọi người trong gia đình đều đang ở nhà, nên họ chứng kiến được sự sụp đổ của ‘chồng mình, bố mình’, tôi khóc một cách thảm thiết, và vợ tôi cũng như các con lúc đó không hề biết lý do tại sao tôi đau buồn vô hạn như vậy, cho mãi về sau này khi biết là Việt Dzũng mất thì bà xã tôi mới nói với các con là “Không có gì ngạc nhiên khi bố suy sụp hoàn toàn như thế!”

Tôi muốn nói như vậy để chứng tỏ được mối quan hệ cũng như tình cảm sâu đậm giữa tôi và Việt Dzũng nhiều đến mức như thế nào?

Việt Dzũng ra đi để lại sự nhớ thương, tiếc nuối của một nhân tài khó tìm thấy… Có rất nhiều người giỏi hơn Dzũng chứ, nhưng nếu để tìm một người đa tài và đặc biệt con người này có một trái tim sắt đá trong thành trì chống cộng, chống lại những sự bất công, bên cạnh đó trái tim của Dzũng cũng mang sự nhân ái đối với những người bất hạnh.

Thật khó tìm được một người như Dzũng… Bởi thế nỗi đau đó kéo dài trong tôi suốt cả một tuần lễ nay.

Người Việt (NV): Sau 30 năm làm việc bên cạnh Việt Dzũng, kỷ niệm nào được xem là đáng nhớ và sâu sắc đối với anh?

NL: Kỷ niệm đối với tất cả các anh chị em nghệ sĩ thì rất nhiều, nhưng nếu hỏi kỷ niệm với Việt Dzũng thì rất đặc biệt vì tôi không có cơ hội để đi chơi riêng với Việt Dzũng.

Dzũng là người rất đam mê công việc, mà có đi chơi với Việt Dzũng cũng chán lắm vì lúc nào cũng vừa làm vừa chơi, có nghĩa là anh em ngồi nói chuyện, đấu láo, hay uống rượu thì trước mặt Dzũng bao giờ cũng là máy tính làm việc, rồi trả lời điện thoại…

Tức là Dzũng vừa làm, vừa chơi, do vậy khiến mình mất hứng đi… Ðôi khi tôi bảo Dzũng “Hay là thôi em ngưng làm việc để nói chuyện, vui chơi được không?” Lúc đó Dzũng trả lời: “Anh yên tâm, em làm việc nhưng vẫn vui như thường mà,” quả thật, Dzũng vừa làm nhưng cũng vẫn sinh hoạt, nghịch ngợm như thường.

Ðó là điều tôi nhìn thấy ở Dzũng, tuy nhiên điều làm tôi nhớ nhất về Dzũng đó là sự đam mê trong công việc, cứ mỗi lần làm bất cứ điều gì dù là văn nghệ, sinh hoạt cộng đồng, từ thiện, Dzũng đều đặt tất cả tâm trí vào công việc được giao phó, đối với Việt Dzũng trong đời sống phân biệt rõ ràng việc nào ra việc đó.

Có một điều khác tôi muốn nhắc đến đó là quan hệ mật thiết giữa tôi và Việt Dzũng giống như anh em ruột thịt, gắn chặt với nhau, bởi vậy khi tôi cần Dzũng giúp việc gì hay Dzũng cần tôi làm điều gì, giữa hai chúng tôi đều biết chắc chắn là đối tác của mình sẽ làm việc ấy trọn vẹn…

Thậm chí trên sân khấu, tôi để cho Dzũng tha hồ đùa nghịch, bởi vì tôi tin Dzũng bao giờ cũng là người có chừng mực, không bao giờ đi quá lố, và làm ảnh hưởng đến danh dự của bạn mình.

Có người hỏi tôi liệu những câu hỏi và trả lời trên sân khấu giữa chúng tôi có được sắp đặt sẵn hay không? Câu trả lời là không bao giờ, tuy nhiên những gì chúng tôi trao đổi với nhau đều nằm trong một giới hạn và không đi quá sự tương kính.

NV: Cơ duyên nào thuở ban đầu anh cộng tác với anh Việt Dzũng trên sân khấu Asia?

Hai MC Việt Dzũng và Nam Lộc trong một chương trình thu hình của Trung Tâm Asia. (Hình: Nhạc sĩ Nam Lộc cung cấp)

NL: Tôi đã biết Việt Dzũng là một nhân tài về âm nhạc, cũng như trong lãnh vực phát thanh và truyền hình, tuy nhiên con người của Dzũng không bao giờ đặt chữ ‘tôi’ lên trước hết, Dzũng thích làm việc gì là Dzũng làm và không cần biết đợi ai mời…

Tôi còn nhớ khi tôi bắt đầu làm việc với Asia, sau khi tôi thực hiện được một số chương trình, thì bất thình lình tôi thấy Việt Dzũng cộng tác với Trung Tâm Asia, lúc đó trong lòng tôi vô cùng sung sướng, hãnh diện vì giống như ‘con cá gặp nước’, tức là đúng môi trường của Dzũng…

NV: Ảnh hưởng của Việt Dzũng đối với đời sống của anh như thế nào?

NL: Ðối với Việt Dzũng, vì tôi nhận biết được tài năng của anh trên lãnh vực âm nhạc, báo chí, truyền thanh, cũng như cá nhân của Việt Dzũng là một người có tư cách đàng hoàng, nên trong trái tim tôi, Dzũng có một vị trí rất trang trọng, đồng thời còn có sự kính nể đối với tài năng và cách ăn nói chững chạc của người thanh niên đó.

Dấu mốc thay đổi cuộc đời của tôi để tôi bước vào lãnh vực truyền thông cũng như lãnh vực di trú, tị nạn đó là năm 1993, khi Dzũng bắt đầu làm việc với đài Little Saigon Radio, thì lúc đó chính phủ Hoa Kỳ đang bàn về kế hoạch Welfare Reform, thì từ Little Saigon Radio, Dzũng và tôi liên kết với nhau.
Dzũng ngồi ở quận Cam, trong phòng thu âm của Little Saigon Radio, còn tôi thì ngồi ở Quốc Hội Mỹ, cả hai anh em thực hiện những cuộc phỏng vấn và tường trình live.

Khoảng cuối thập niên 90, sau một thời gian tiếp tục làm những buổi hội thoại về đề tài di trú như thế, Dzũng lập ra chương trình “Hội Thoại với Nam Lộc” và không ngờ chương trình này kéo dài cho đến ngày hôm nay, tức là những chương trình tôi thực hiện với Dzũng trên SBTN, đài Radio Bolsa đã kéo dài liên tục trong suốt hơn 20 năm qua.

Ðó là những ảnh hưởng của Việt Dzũng trong cuộc đời của tôi.

NV: Trong suốt chừng ấy thời gian làm việc chung với nhau, có khi nào anh bất đồng ý kiến với anh Việt Dzũng không? Và những lúc như thế thì hai người làm thế nào để có thể vượt qua và tiếp tục làm việc chung?

NL: Có chứ! Tôi và Dzũng thỉnh thoảng có những bất đồng với nhau trong công việc, nhưng chúng tôi có những cam kết riêng là cứ để cho đối phương nói, sau đó về thì mỗi người suy nghĩ lại xem ý kiến đó đúng hay sai, tại sao như thế, rồi mình sẽ ngồi với nhau…

Không phải chỉ có mình tôi có những bất đồng với Dzũng, mà cũng có những người khác, thế nhưng tùy mỗi người xử lý ra sao? Thí dụ như có người sau khi có bất đồng ý kiến thì họ dẹp bỏ luôn những gì họ đang tranh luận với Dzũng, hoặc có người thì không muốn ngồi chung làm việc với Dzũng nữa.
Riêng giữa tôi và Dzũng thì hai anh em tin ở một điều là tụi này tìm đến mẫu số chung là làm sao để mang lại kết quả tốt đẹp nhất cho công việc, có lợi cho cả đôi bên…

Thêm một yếu tố khác là chúng tôi tương kính lẫn nhau, tôi không bao giờ nghĩ rằng mình lớn tuổi hơn bạn mình nên bắt nạt đối phương hoặc ngay cả với Việt Dzũng cũng thế, tôi vẫn thường nói với Dzũng là nếu như Dzũng chỉ nghe tôi bởi vì Dzũng nể anh là người lớn tuổi thì chắc chắn Dzũng đã không có những xử sự công bằng khi làm việc với Dzũng. Từ đó trở đi Dzũng rất tự nhiên khi giữa hai chúng tôi có những bất đồng với nhau.

NV: Cảm nhận của anh thế nào đối với tinh thần chống cộng của Việt Dzũng?

NL: Việt Dzũng là một trong những chiến sĩ chống cộng đứng gác ở cổng thành Little Saigon, thủ đô của người tị nạn, nếu không có người có tinh thần chống cộng mạnh như Dzũng hay những người có cùng chiến tuyến với Dzũng thì giờ này cờ đỏ sao vàng chắc có lẽ đã tràn ngập thủ đô tị nạn của chúng ta rồi.
Bạn cứ tưởng tượng một quốc gia đã có sự bang giao với Hoa Kỳ, thì họ có quyền được luật pháp bảo vệ trong lãnh vực ngoại giao, họ có quyền được hoạt động trong một đất nước được coi là tự do, dân chủ nhất thế giới, vậy mà tại sao lá cờ của quốc gia họ không thể có mặt tại đây, đó là nhờ những người tị nạn Cộng Sản, có tinh thần chống cộng dứt khoát, vững chắc như Việt Dzũng.

NV: Anh nghĩ sao khi có người lên án tinh thần chống cộng của Việt Dzũng là quá khích?

NL: Ðối với tôi sự diễn dịch ấy là không đúng, bởi vì chính những tinh thần mạnh mẽ ấy đã giúp cho cộng đồng chúng ta phát triển không ngừng, tinh thần quốc gia bao giờ cũng chắc chắn, vững bền…

Bên cạnh đó những chương trình Dzũng đã làm như ‘Bên Em Ðang Có Ta”, “Children Of The Ocean”, giúp những người tị nạn đang thiếu thốn, giúp những cô gái bị bán qua Ðài Loan… Những chương trình trợ giúp những nạn nhân thiên tai khắp nơi, hay giúp cho các thương phế binh Việt Nam Cộng Hòa… Tất cả những ‘project’ đó đòi hỏi phải là một người có trái tim nhân ái mới làm được như Dzũng.

Ðặc biệt với Việt Dzũng, khi làm một việc gì thì Dzũng đều phải làm với một năng lượng gấp đôi người khác, cả về thể xác lẩn tinh thần, bởi vì như bạn thấy Dzũng có khuyết tật trên người, đi đứng khó khăn hơn người khác.

Nếu như bạn đã từng tiếp xúc gần với Việt Dzũng mỗi khi bước lên sân khấu, bạn sẽ thấy Dzũng phải cực nhọc biết bao nhiêu ở mỗi bước đi như thế… Nhưng với ý chí mạnh mẽ, tinh thần vững chắc, Dzũng không hề để người khác phải quan tâm đến sức khỏe của mình cả.

NV: Có bao giờ anh nhìn thấy anh Việt Dzũng tức giận với ai chưa?

NL: Chưa bao giờ tôi nhìn thấy Dzũng giận ai cả, thậm chí lúc Dzũng khó chịu trong lòng vì ai đó cũng thế, Dzũng vẫn luôn nở nụ cười trên môi, và bình tĩnh trong mọi tình huống.

NV: Làm việc, cộng tác với anh Việt Dzũng trong một thời gian dài như thế, theo anh ưu tư nào của anh Việt Dzũng vẫn chưa được thực hiện?

NL: Có hai điểm, điểm thứ nhất là Dzũng mong mỏi được trở về quê hương, hát cho đồng bào mình nghe, bởi vì chúng tôi nhận rất nhiều thư từ đồng bào trong nước bày tỏ sự quý mến Dzũng, họ mong muốn được gặp, tiếp xúc với Việt Dzũng.

Ðặc biệt là những người trẻ, hoạt động sau này, họ là những thành phần hiểu biết, không chấp nhận chế độ Cộng Sản và biết rằng chỉ có một phương tiện duy nhất là lật đổ chế độ Cộng Sản, Dzũng mong có được ngày đó, với bao nhiêu quyết tâm đã đổ vào công cuộc này, Dzũng mong ngày đó xảy ra sớm hơn ngày Dzũng ra đi.

Riêng tại hải ngoại, có một project mà Dzũng đang âm thầm làm việc với tôi từ bao nhiêu năm nay, đó là làm thế nào kêu gọi những doanh gia cùng hợp sức để xây dựng một trung tâm văn hóa nhỏ cho cộng đồng Việt Nam tại hải ngoại để lại cho thế hệ trẻ sau này.

Ðó là hai mối ưu tư mà tôi nghĩ Việt Dzũng đã ngậm ngùi mang theo về bên kia thế giới.

 

LẠI MỘT NGƯỜI VÀO TÙ, CHỈ VÌ MỘT CA KHÚC!

Hôm nay là ngày 22 tháng Tư, 2020, 2 ngày sau khi Thầy giáo Nguyễn Năng Tĩnh bị tòa án phúc thẩm CSVN tại Nghệ An tuyên y án sơ thẩm 11 năm tù và 5 năm quản chế trong một phiên xử bỏ túi, không có thân nhân tham dự.

Dưới tiêu đề “Thầy Giáo Dạy Trò Bài Hát ‘TRẢ LẠI CHO DÂN’ Bị Khởi Tố”, đài BBC có kèm theo tấm ảnh thật chụp ngay tại lớp học ở thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An, và đây cũng là một trong số những tang chứng kết tội nhà mô phạm yêu nước này.

thay giao 1

Câu nói cuối cùng sau khi bị kết án Thầy giáo Tĩnh tuyên bố:
“Đây là một lũ bất nhân đã làm ra phiên tòa bất công.”

thay giao 2

Ngưỡng mộ tinh thần quả cảm, và xúc động trước lòng yêu nước của một nhà giáo trẻ đã phải đi tù, một phần cũng chỉ vì bài hát do mình sáng tác, nhạc sĩ Việt Khang đã thực hiện đoạn nhạc cảnh sau đây để kính tặng Thầy giáo Nguyễn Năng Tĩnh, mà hôm nay tôi xin thay mặt tác giả được chia sẻ đến toàn thể quý vị.

VẾT THƯƠNG

Nguyên Lạc

mail

1.
Hai mươi năm đời vốn đã buồn thiu
Từ lúc gặp em ta hết tên liều
Yêu những con đường thương đôi mắt biếc
Thơm tóc em bay … Thương lắm … rất nhiều!
.
Tà áo Văn khoa trắng cả buổi chiều
Mắt liếc dao cau chém hồn ta tiêu
Chân sáo bên nhau nhạc tình quán vắng
Môi son ngon nồng … Yêu biết bao nhiêu!
.
Tạm biệt Sài Gòn lòng sao không đành
Trong hồn lính trận ngực ngải trầm ngoan
Đâu biết từ ly rồi là mãi mãi!
Trại thẳm rừng sâu mất dấu kinh thành

2.
Mười năm ngục tù dã nhân trở lại
Hụt hẫng bơ vơ ngả cũ thị thành
Hàng me gục đầu sáng chiều hiu quạnh
Biết tìm em đâu? Mây trắng trôi nhanh!
.
Lối cũ trường xưa tám hướng đường thành
Một con dã nhân lên xuống loanh quanh
Mười năm không gặp con tim rướm máu
Nhất quyết tìm em cơ khổ cũng đành!
.
Một câu trả lời sấm động trời xanh
Con tim dã nhân dao chém tan tành!
Ngày ấy tang thương có người vượt biển
Cuồng nộ trùng dương …
Thôi nhé phải đành!
.
Thôi hết còn đâu
Xa cách nghìn trùng!
Thôi hết còn đâu!
Còn gì mà mong …?

3.
Bao tháng năm qua thời đó cố quên
Tháng tư trở về mưng mủ vết thương
Mỗi tháng tư về rượu say để ngủ
Rượu vẫn không say!
Đầy mắt cuộc tình!
.
Nguyên Lạc

 

41 NĂM BIỆT XỨ

Ý Nga

30-4tobucket-1
Tuổi hăm mốt con đi, còn rất trẻ
Ba dạy rằng: “Cố gắng sống thành nhân
Tự tu thân, đạo nghĩa phải thấm nhuần
Đem may mắn chia đều người bất hạnh!”

Trời vô tận, thuyền bấp bênh mỏng mảnh
Bao thuyền nhân phải đối diện tử thần
Nhà xa dần, nước ngọt cạn, khát thân
Thêm hải tặc ngoại nhân vây cướp, đánh…

Rời đất Mẹ con lênh đênh trốn lánh
Xa Thái buồn, tìm đất Ý thọ ân,
Đêm khóc con, ngày tự học đánh vần
Con bập bẹ tiếng xứ người, lưỡi gỗ.

Tuổi sáu mốt không còn ai dạy dỗ
Ba về trời, Má bệnh: bại liệt thân
Miệng gọi thăm, chia an ủi ân cần
Thương quốc nạn cản chân người di tản.

Còn cộng sản bạo tàn, còn ly tán,
Với vô thần ai cũng phải gian nan
Canada nghe ta thán dặm ngàn
Ách khổ nạn toàn dân cùng ai oán!

Việt, Thái, Ý, Canada: lắm bạn
Chẳng ai thân nên cay đắng ngập tràn
Sao ngọt ngào khi Quốc Hận? Triệu dân
Cũng đau đớn như thuyền nhân tỵ nạn!

Ý Nga, 21.4.2020

SÀI GÒN THÁNG TƯ

Nhật Quang

1sg222

Sài Gòn bình minh hồng trên phiến lá
Tháng Tư về, bằng lăng tím ngát hương
Có hay lòng người khắc khoải buồn vương?
Con phố ngủ trong lặng sầu lơ đãng

Sài Gòn niềm vui giấu vào quên lãng
Quán xá, nhà hàng thưa dấu chân qua
Cà phê buồn giọt đắng chỉ riêng ta
Đếm thời gian những ngày dài ly cách

Sài Gòn gió ru hàng me xanh ngát
Vẫn yên bình, đâu biết em hoang mang
Đôi con mắt ngỡ ngàng…lớp khẩu trang
Khi Côvid đang chập chờn bóng tối

Sài Gòn ơi! đâu áo dài phất phới
Tháng Tư sân trường ngập tiếng ve than
Hàng phượng vỹ vẫn hoa thắm nồng nàn
Chỉ chơ vơ cánh lá khô xào xạc

Sài gòn chiều, dáng em về ngơ ngác
Phố im lìm, hun hút bước cô đơn
Đâu hẹn hò…mà đôi mắt dỗi hờn
Chờ nhé em! Một mai đời êm lắng.

SG – 15/4/2020
Nhật Quang
.

TÌM HOANG ĐẢO

hoa nguyên.

bienvang

Từ lúc ta về ao nước lã
Tắm bùn gội nắng bảy mùa mưa
Quên chuyện tình đời tìm hoang đảo
Hay còn nặng nợ buổi xa xưa

Mỗi bận đến mùa đi vác mướn
Aó trận dầy thêm lớp vá tay
Để kiếm ít đồng trong ruộng mía
Trưa oi nồng ba bó xuể vai

Bảy năm trời làm con vượn hú
Hót tiếng chim hoang thời loạn ly
Thân quen sống rừng con dã thú
Vất vả sau ngày cởi chiến y

Ngang khu chợ nhỏ mua ít đồ
Bao lần nắng cháy đốt da thô
Xà bông Cô Ba tìm xa xỉ
Giữa những phù sa nhuộm áo phèn

Lâu lắm đâu còn kem PerLon
Ngậm ngùi muối hột cho chắc răng
Sợ chưa đủ sắc màu đạm bạc
Đêm về còn nguyên chuyện sao trăng

Ngọn đèn mù u… thêm leo lét
Đốt cho cháy bớt những đêm ma
Hỡi những oan hồn đừng chọc lét
Ta từ chinh chiến đã can qua

Sống nơi hoang vắng thiếu hụt lắm
Đồng tiền kiếm được cũng lẻ loi
Con cá bắt được kho với muối
Qua ngày đoạn tháng lết cuộc chơi

Cuộc sống dường như không thể chọn
Nhiều khi ngẫm lại cũng khôi hài
Chơi trò cút bắt ta đi trốn
Chạy miết từ nơi.. đến chốn này

Từng ấy năm rồi từng ấy năm !
Mùa xuân, mùa xuân qua dửng dưng
Hân hoan xếp lại từ độ ấy
Vui vầy hạnh phúc như cỏ cây

Mười năm cây có già trông thấy
Về Thành em còn nhận ra ta
Mười năm còn lắm điều trái khuấy
Em cười cất giữ nét kiêu sa..
hoa nguyên.

PHÔI PHA II

Võ Công Liêm

thoiken2

Tranh Vẽ Võ Công Liêm: Người thổi kèb saxo – Saxo-man

ĐÊM
nhốt những cụm từ
chữ nghĩa
vào
khỏa thân
đen

NGÀY
rạn nứt
con phố
hẩm hiu
chết buồn
THÁNG
nuốt
chửng
tờ
lịch
vong

NĂM
phôi pha
đời
chưa một
lần
cập bến ./.

VÕ CÔNG LIÊM (ca.ab.yyc. kỵ mẹ . 22/ 3/2020)

TỪ SINH LÝ ĐẾN TÂM LÝ

Võ Công Liêm

image002

Tranh Vẽ Võ Công Liêm: ‘Không nhận ra / Unknowable’

Điều không có thể bất khả thi để đè nén trước một ấn tượng gây nên của sống và chết; sự đó con người coi là lẽ thường cho một cảm tính chung, đặc vào một tiêu chuẩn biến tánh, tìm kiếm một năng lực, đạt kết quả hữu hiệu sức khoẻ cho chính họ và đó thật là kỳ lạ trong những thứ khác; trong khi chúng ta coi thường những gì là thực sự có một giá trị trong cuộc đới –It is impossible to resit the impression that people common-sense apply false standarts, seeking power, success health for themselves and admiring them in others; while underrating what is truly valuable in life. Giữa hoàn cảnh hiện thời; sự cớ mà chúng ta đương đầu như đang ở cái giốc đứng (ramp-up) gồ ghề khó bề ‘giải phóng’ dù có ban bố những sắc luật khác nhau, tựu chung chỉ đi tới việc thực hiện cách ly thuộc sinh lý (physical distancing),việc đó nó nằm trong phạm trù sinh lý và tâm lý, vừa ngăn ngừa, vừa theo dõi tiến trình hoạt động giữa hữu thể và tha thể trong cùng một hiện tượng chung. Hẳn nhiên đã vượt qua những phán quyết tổng quát, là một trong những phương hướng ngừa dịch và chửa dịch ở giai đoạn này; người ta cho đó là sự cớ hết sức nguy hiểm mà đó là triệu chứng, với những tốn kém khác nhau của vũ trụ con người và đó là của tâm thần cuộc đời –the rich variety of the human world and its mental life. Tuy nhiên; điều mà con người không thể cho là việc làm giản đơn mà là nỗ lực tìm kiếm giữa những gì con người hành động và suy nghĩ, đấy là hành động đa dạng hóa vấn đề của những gì mà người ta mong muốn, là cảm nhận đặc biệt dành cho những gì mất tính tự do và chủ quyền, là cái mà con người đã tìm thấy ở chính họ và nhiều việc khác sẽ xẫy ra cho hôm nay và ngày mai. Nó biến dạng từ qui tắc đơn sơ trở thành sắc luật (acts) gần như bao trùm hằng triệu người khác trên điạ cầu này; cảm nhận đó người ta nghiêng hẳn về cái gì của tuyệt đối và trong cảm thức đó chính là sự ‘miên viễn / eternity’, một sự gì vô cùng của Thượng đế. Nhưng; thượng đế vô tư trước biến thiên tự nhiên của vũ trụ mà con người không thể ngăn chận được. Cảm nhận đó đôi khi không còn hữu hạn (limitless), không còn biên giới (unbounded) chỉ còn lại mặt phẳng, một mặt phẳng không bóng người. Đấy là cảm nhận chủ quan rõ ràng không thay đổi được –This feeling was a purely subjective fact, không còn là tín điều –not an article of faith và cũng không đoan chắc sự đó do từ bê tha, đồi trụy, ăn dơ ở bẩn dính vào để phát sinh, nhưng; nó đến trong một nguyên cớ tự nhiên mà chúng ta khó tìm thấy để xác quyết cụ thể. Vậy nó từ đâu đến và sanh ra từ đâu. Đó là câu hỏi được đặc ra hôm nay như một biện chứng pháp, một biến chứng chưa từng có, nó khó khăn hơn những gì đã khám phá. Ấy là vấn đề đang lùng kiếm cho một lý do xẫy đến khắp toàn cầu; đấy là vấn đề được thẩm định. Chắc chắn là phải tiêu phí vào một giá rất cao hơn những gì đã tiêu phí trước đây. Để rồi người ta nêu lên tiêu đề gọi là tôn giáo nơi chính con người –one was entitled to call oneself religious, dù cho; dưới mọi niềm tin nào chỉ là niềm tin trong một thứ ảo giác mà thôi.

Chỉ còn lại vấn đề hôm nay liệu có làm được hay không, có thực chứng và lợi ích, liệu nó sẽ có thể là một nhận thức tốt đẹp như thể là fons et origo của tất cả những gì mà tôn giáo cần đến nó. Thực ra chúng ta đang biện minh trong sự tìm kiếm cái gì gọi là phân tâm học (psychoanalytic), việc này có thể nói là di truyền (genetic) hay vi nhiễm (infection), phát sinh từ cảm thức mà ra, hay cho đó là cảm thức tự tại (a sense of self), của bản thể ở nơi ta (our own ego). Bản thể hiện ra nơi ta là bản thể tự trị, đồng thề để cùng nhau lên đường chống trả mọi thứ khác nhau là bài học dạy cho chúng ta những gì là ảo giác, một thứ bản ngã tồn tại và kéo dài trong tư duy của chúng ta; triệu chứng này có phần ảnh hưởng đến vật lý hơn là tâm lý, nó nằm trong một thứ tâm lý vô thức (unconscious psychical). Ngăn cách hay cách ly giữa cái bên trong (internal) và cái bên ngoài (external) là một phục vụ rất đổi tự nhiên cho một mục đích có tính chất thực hành; trong sự đó nó cung cấp để che chở, bảo vệ chống lại những gì ô nhiễm, những gì không được hợp lý hóa là kinh nghiệm và những đe dọa của bệnh dịch mang tới.
Dữ kiện chính là công ăn việc làm, rõ ràng qua cách thức loại bỏ hay đóng cửa; chắc chắn không làm hài lòng từ chỗ không trở nên lại trở nên trong một tình huống chẳng đặng đừng. Tình thế đã xô ngã từ tinh thần đến vật chất đem lại một sự khủng khoảng toàn cầu. Một chứng bệnh vừa tâm lý, vừa sinh lý; gọi nó là bệnh lý tâm thần (mental-illness) hay tâm thần lành mạnh (mental-wellness). Cái đó chính là điểm khởi đầu mang lại ý nghĩa những gì thuộc bệnh lý hỗn loạn –from without becomes the starting point for significant pathological disorders. Đấy là yếu tố cần thiết để thực thi hơn là ban hành điều kiện cách.
Dựa trên quan điểm này, bản ngã tách ra khỏi ở chính nó từ những gì của thế giới bên ngoài, bởi; chúng ta quá cơ bản, quá đặc nặng vấn đề là thái độ hô hào hơn cảnh tỉnh, sự đó gần như tăng không giảm, một đe dọa gián tiếp khơi dậy trong tinh thần và thể xác của người bị nhiễm và trở nên bệnh lý tâm thần hơn là tâm thần lành mạnh. Hay là; đặc nó trong qui chế đúng đắng, bản thể là nguyên thủy bao hàm cho tất cả, nhưng; sau đó mới cách ky hoặc tự cách ly, hoặc ở trong thế giới bên ngoài từ chính nó –Or; to put it more correctly, the ego is originally all-inclusive, but; later it separates off or self-isolation or quarantine an external world from itself. Hiện diện cảm thức của chúng ta về cái tự mình / self là như thể chỉ có mình biết mình, cái còn lại bản thể ở chính chúng ta và thế giới bên ngoài. Thực ra; gọi nó thì, là, hoặc là nó nằm trong khâu tâm thần hay do từ ảnh hưởng khác –either in the mental sphere or in other spheres. Hẳn nhiên chúng ta đã tìm thấy tất cả dạng thể của cuộc đời vẫn còn hiện hữu tới hôm nay.
Chúng ta dừng lại ở đây phòng ngự nhiều vấn đề có thể xẫy ra hoặc được duy trì trong tình trạng thuộc khâu tâm thần, nhưng nó có một sự gì mê hoặc trong đó và trong đó mang nhiều ý nghĩa khác nhau, việc này có lẽ chúng ta thông qua; dù cho nó không có nhiều điều chưa hội đủ cho một cơ sở đưa ra mà chỉ là một dự phóng cho tương lai, quan trọng là chúng ta tìm ra được thuốc chửa (vaccines) để ngăn ngừa giữa lúc đang bành trướng (overwhelming). Đấy là vấn đề cấp thời trước sự lan tỏa đáng sợ. Tuy nhiên; yếu tố đưa tới hủy hoại có thể có nhiều sự lý của căn bệnh: cảm cúm, sổ mũi, ho hen, tiêu chảy … là điều thường xẫy ra ở thành phố lớn đông cư dân như New York, Vũ Hán ngay cả những nơi ít có những xáo động về mặt xã hội, những nơi êm ả như Rome, Madrid, London…; khó khăn cho chúng ta là làm sao khai trừ, tiêu diệt bởi sự tàn phá của siêu vi mà chúng ta xem nó như kẻ thù chung và cũng không vin vào triệu chứng lý hóa nhiên (organic chemistry) mà cho đó là bệnh lý tự nhiên. Thực ra ở đây quá nhiều điều để tìm thấy nó như là hiện tượng mới lạ giữa kỹ nguyên này, kể cả mới lạ đối với nghành y khoa; thế nhưng khoa học y khoa không cho đó lạ lẫm đối với con người. Chính vì vậy mà cần có vật tư để phòng ngừa. Đấy là điều mà chúng ta không đặc nó trong vị trí giảng giải hay dẫn chứng mà đây là một ấn tượng bởi nhiều nghĩa của bất luận tương quan nào –we are not in a position to illustrate this phenomenon by means of any parallel. Có lẽ; chúng ta đi quá xa vấn đề giữa bệnh lý và tâm lý là hai đối tượng tuy gần kề nhưng lại phản đề, bởi; do từ nhận thức hoặc thực hiện mà xa vấn đề muốn nói tới, huống là muôn vàn câu hỏi đưa ra trước một dữ kiện lâm nguy; đó là những gì đã qua, có thể là điều cầm giữ những gì còn có trong đời qua ‘mãn tính’ của sinh lý và tâm lý để không còn tàn phá cho một thể xác lâm nguy mà tạo vào đó một trí năng kiên cố, cho dù có đặc nó vào trong trường hợp của khả năng sinh lý học (physiology sphere) thì sự đó chỉ dựa trên cơ sở xưa cổ gây thêm mù mờ trước một hiện tình khoa học hiện đại. Cho nên chi yêu cầu khẩn thiết là có một xã hội cách ly (social distance) là để phòng ngừa nhiễm bệnh; nhưng sự đó có cách ly khỏi nhiễm thể? Có lẽ; ‘phòng bệnh hơn chửa bệnh’ là yêu cầu cần có cho hôm nay.Người ta sợ về điều này, bởi; quá trình lịch sử đã chứng minh dữ kiện về dịch đã trải dài từ thời Trung cổ cho tới cận đại của đầu tk.hai mươi mốt đã giết hằng triệu người qua những cơn đại dịch khác nhau. Phải chăng đây là vận chuyển của tử sinh, vận chuyển của vũ trụ (?).
Nói về tầm ảnh hưởng hay lãnh vực kích cầu (sphere) thời cái đó nó nằm trong những gì coi đây là bắt nguồn từ ảo giác mà ra, là hình ảnh cuộc đời, mỗi khi cảm thức sự phát triễn thì cơn bệnh theo hình ảnh trở nên trầm trọng, không nhận ra hiện tượng sinh lý mà dựng vào đó cái ám ảnh tâm lý thúc đẩy vào hoàn cảnh hiện thời, một diễn cảm rõ ràng cho những gì đã miễn trừ có từ yêu cầu qua những trải nghiệm thực tế là dành cho một mục đích nào đó, nghĩa là lấp đầy những gì mong muốn trong công việc khó khăn phải đương đầu giữa hai hoàn cảnh sinh lý và tâm lý. Đạt tới mục đích là chúng ta đi qua những dặm đường khó khăn hơn bao giờ, nghĩa là ta phải thách thức (challenge) như yêu cầu để đi tới mục đích, mục đích được xác thực (positive-aim) trên những dặm đường nào đó có thể chúng ta giành được tất cả ao ước –On neither route can we attain all we desire. Sinh lý có thể gây ra từ dương, âm tính hay trong động tác gần kề mà sanh ra vi nhiễm; từ chỗ đó phát sanh dây chuyền trong cộng đồng, lan truyền có tính nhạy cảm trong những trường hợp xẫy ra. Vì vậy người ta đo lường bệnh lý do một phần ảnh hưởng vào đó, một phần trong đời sống hằng ngày với những nguyên cớ khác nhau. Dựa trên lý luận của phâm tâm học: bất luận là ai, con người sanh ra đặc biệt không thuận lợi ở khả năng và không trọn vẹn để đạt yêu cầu việc truyền tinh là do đặt vào đó sự cấu thành có từ tính dục của nam và nữ –Any one who has been born with a particularly unfavourable instinctual constitution and who has not properly undergone the transformation and reordering of the components of (his/her)libido (S. Freud). Thực ra chưa hẳn phải từ người hay động vật hay lý hóa nhiên có thể đến từ trong kinh nghiệm của đời sống mà ra. Khoa học hiện nay là một tiến trình tìm kiếm để xác nhận hơn là xét đoán sự việc.

Hiện tại chúng ta đang đối diện trước một cơn đại dịch, song le; đó là nhiệm vụ khó khăn hơn bao giờ và cũng là một chuyển đổi lớn lao giữa người với người, giữa tinh thần và thể xác là những điều mà trước đây con người xem nhẹ hơn những thứ khác, bởi; con người chối bỏ mọi niềm tin, con người lợi dụng niềm tin mỗi khi tuyệt vọng và chỉ đến trong một đòi hỏi thiết tha. Bệnh lý thuộc sinh vật học do con người gây nên chớ không phải có từ thiên nhiên hay từ lý hóa nhiên mà có; đó là hình thức qui nạp để có nguyên nhân và hậu quả dưới một danh xưng mỹ miều ‘vương niệm siêu vi /coronavirus’, nhưng; thực ra vì tiên tiến hiện đại con người ‘đã xả’ vào đó bao thứ ô nhiễm là triệu chứng không một ai hay và từ đó đổ lỗi hay chụp mũ vào những đối tượng khác nhau; con người đã hàm hồ buộc tội trước một bi thảm xã hội đang ‘trừng phạt’. Một sự trừng phạt vô hình nhưng hữu hình; dẫu là gì khoa học phủ nhận mọi giáo điều để đi tới một xác định cụ thể. Đó là tiến trình của nhân loại kinh qua bao khám phá khác nhau. Lần này; giữa sinh lý và tâm lý đã cho một tinh thần đại đồng hơn là phân tranh. Nghĩa là nó đến với toàn cầu chớ không đến cho mỗi quốc gia. Đấy là điều cho ta nhận thức trước hoàn cảnh chung và cùng nhau nhận một mệnh lệnh bí truyền, bởi: -chối bỏ tức nhận tội trước một khủng khoảng bệnh lý toàn cầu xẫy ra từng giờ, từng ngày của tháng năm. Dập tắt ngọn lửa này là một đòi hỏi thực tập công phu cho một trận chiến không kẻ thù mà trở nên phòng thủ dưới tiêu đề xã hội cách ly từng người một (social distance oneself). Nhớ rằng ‘cách ly’ không còn là ngăn ngừa bệnh lý mà chúng ta đang đoạn tuyệt trước một giới hạn cố hữu. Một thời đại biến thiên vô hạn hữu. Đạt được là phép lạ!
Không ai hứa hẹn sẽ tiêu diệt và bình thường hóa vấn đề một cách cấp thời; mà nỗ lực tìm thấy để ngừa (vaccine) là phương án hữu hiệu. Cả tin thì cho đây là lời phán của Thượng đế: ‘mệnh lệnh bí truyền / inscrutable decrees’. Con người căn cứ trên lời rao để nhận ra đau đớn và hạnh phúc là tiếng nói an ủi tối hậu không có điều kiện mà chỉ có niềm tin. Chinh phục được là chức năng của con người. Nhân tố đó chính là khám phá mới, là thực chứng, là phép lạ tìm thấy giữa con người với con người ./.

VÕ CÔNG LIÊM (ca.ab.yyc. giữa tháng 4/2020)

MỘT TỔNG THỐNG ĐÁNG ĐƯỢC KÍNH TRỌNG.

Bài quá hay! Không đọc thì quá phí. Không đọc thì thiếu cái nhìn CÔNG BẰNG với một vị Tổng Thống đáng kính!
Tôi yêu quý ông, luôn cầu chúc cho ông sức khỏe, sự bình an và sáng suốt.
VÌ SAO TT TRUMP PHẢI ĐỐI MẶT VỚI QUÁ NHIỀU THÙ TRONG, GIẶC NGOÀI?

trump
LÝ DO 1: MỘT “TAY MƠ” VỚI HỒ SƠ CHÍNH TRỊ BẰNG 0
Tổng thống Donald Trump là một hiện tượng chính trị lạ lùng chưa từng có trong lịch sử Hoa Kỳ. Ông chưa từng kinh qua bất cứ một chức vụ nào, cho dù là chức vụ nhỏ bé trong sự nghiệp của một chính trị gia.
Ông là một nhà tài phiệt với hồ sơ “chính trị” là con số 0 tròn trĩnh, lại thẳng tiến một mạch vào Nhà Trắng, bỏ sau lưng những đối thủ chính trị sừng sỏ như cựu Ngoại trưởng Hillary Clinton hay Thượng nghị sĩ lừng danh John McCain. Giới chính trị, học thuật và truyền thông “tiên đoán” rằng, với một vị Tổng thống “không biết gì về chính trị”, Donald Trump sẽ làm nước Mỹ tan nát và khiến thế giới lanh tanh bành.
Nhưng sau hơn ba năm “cầm lái” nước Mỹ, Tổng thống Donald Trump không những không làm nước Mỹ tan nát mà lại trở nên hùng cường với những kỳ tích, như sự bùng nổ việc làm đáng kinh ngạc (tạo ra 7 triệu việc làm), thị trường chứng khoán liên tục tăng ở các mốc kỷ lục, chỉ số Nasdaq lần đầu tiên vượt mốc 9.000 điểm – ghi nhận đỉnh cao kỷ lục mọi thời đại, tỷ lệ thất nghiệp thấp nhất trong hơn nửa thế kỷ qua…
Tổng thống Trump cũng xây dựng lại quân đội hùng mạnh, thiết lập một lực lượng thẩm phán tài ba, cải cách tư pháp hình sự, cắt giảm thuế mang tính lịch sử, loại bỏ bảo hiểm y tế cá nhân bắt buộc; thành lập binh chủng mới trong Quân đội Hoa Kỳ kể từ năm 1947 – Lực lượng Không gian Hoa Kỳ và đưa nước Mỹ trở thành Nhà sản xuất năng lượng lớn nhất thế giới.

LÝ DO 2: KHÔNG NGẠI VA CHẠM, ĐỐI ĐẦU-ĐEM LẠI SỰ CHÍNH NGHĨA
Có thử thách nào tệ hại hơn đối với một Tổng thống Mỹ khi phải đối mặt với thủ tục bị luận tội và truất phế. Sau hơn 2 tháng điều tra với khoảng 12 cuộc điều trần công khai và 15 cuộc điều trần kín, với bản báo cáo dài hơn 300 trang của Ủy ban Tư pháp Hạ viện, cùng cuộc “tổng tấn công” của hàng loạt báo chí truyền thông cánh tả, người ta lo ngại Tổng thống Trump sẽ bị “rối trí” mà “gục ngã”.
Tuy nhiên, với một con người từng trải qua nhiều năm thăng trầm với “đế chế” TRUMP, thủ tục luận tội chỉ là “cú thôi sơn” trong một chuỗi những cáo buộc mà ông phải hứng chịu từ các đối thủ chính trị kể từ khi ông trở thành ông chủ Nhà Trắng. Như một võ sĩ kiên cường so găng trên “võ đài” chính trị khắc nghiệt tại Washington, trận đấu càng gay cấn thì càng khiến Tổng thống Trump trở nên mạnh mẽ.
Có thể nói Donald Trump là vị Tổng thống Mỹ đầu tiên dám đối đầu toàn diện với những nỗ lực của ĐCSTQ hòng thống trị thế kỷ 21 thông qua những hành động “côn đồ” cả về quân sự, kinh tế lẫn ngoại giao.
Bất chấp mọi khó khăn khi bị Đảng Dân chủ bủa vây, quấy phá liên tục trong suốt hơn 3 năm tại vị, Tổng thống Trump vẫn điều hành đất nước một cách tài tình, đưa nền kinh tế Mỹ vươn lên mạnh mẽ trong thế rồng bay, đại bàng cất cánh.
Bên cạnh đó, ông nhấn chìm nền kinh tế Tàu Cộng – vốn tích góp được hàng nghìn tỷ đôla từ thặng dư và “trộm cắp” trong suốt hơn 30 năm hưởng lợi từ thời 4 vị Tổng thống tiền nhiệm – vào tình thế ngày càng lún sâu trong cảnh khốn khó của nợ nần, phá sản và suy thoái.
Từ thái độ ngông nghênh, coi thường mọi quốc gia trên thế giới, rải tiền nuôi Giấc mộng Trung Hoa cho các nước chư hầu dễ bảo và sẵn sàng trừng phạt, “nghỉ chơi” với các nước “cứng đầu”, Tàu Cộng từng liểng xiểng trước uy lực của ông Trump, phải nhân nhượng ký vào bản thỏa thuận thương mại giai đoạn 1 với Mỹ – một bước hụt hơi của ĐCSTQ trong cuộc đọ sức dài hơi với Tổng thống Trump.
Không giống như các vị tổng thống tiền nhiệm luôn lo ngại và né tránh Tàu Cộng, Tổng thống Trump không ngần ngại nhiều lần chỉ ra rằng, ông coi mối quan hệ giữa Mỹ và Tàu Cộng giống như một phép cộng có tổng bằng 0, mà phần thua thiệt nặng nghiêng về đất nước ông.
Ông trừng phạt Tàu Cộng bằng các đòn thuế quan lên tới hàng trăm tỷ đôla, ra lệnh các công ty lớn của Mỹ rút khỏi TQ, cổ vũ đồng minh ngừng làm ăn với đất nước này, đồng thời trừng phạt và cho vào danh sách đen hàng loạt các “ông lớn” của Tàu Cộng như ZTE, Huawei, yêu cầu Canada bắt giữ Giám đốc Tài chính của Huawei, quản thúc tại gia…
Tổng thống Trump cũng gây áp lực lên các Chương trình Trao đổi Văn hóa và Ngôn ngữ do ĐCSTQ tài trợ cho các trường ĐH Hoa Kỳ núp dưới bóng các Viện Khổng Tử, buộc nhiều trường ĐH Mỹ liên tiếp phải đóng cửa các Viện này – mà thực chất là cánh tay nối dài của mạng lưới tuyên truyền của ĐCSTQ.
Ông “cấm cửa” không cho Tàu Cộng tham gia cuộc tập trận quân sự quốc tế RIMPAC để “trừng phạt” nước này về tội quân sự hóa biển Đông. Tổng thống Trump ra lệnh cho các chiến hạm Mỹ (mang theo vũ khí nguyên tử) “vần vũ” liên tục trên biển Đông suốt năm 2019, và đi qua eo biển Đài Loan tới 9 lần (lần cuối cùng vào ngày 12/11/2019). Đây không khác gì là lời cảnh cáo gửi tới chính quyền Bắc Kinh, đồng thời gửi thông điệp ủng hộ mạnh mẽ của nước Mỹ tới Đài Loan, trong bối cảnh vùng lãnh thổ này bị Tàu Cộng nhăm nhe đe dọa bạo lực nhiều năm hòng thu hồi Đài Loan về một mối.
Cũng chưa có đời tổng thống Mỹ nào lại “đủ” can đảm ủng hộ Đài Loan mạnh mẽ như Tổng thống Trump. Ông điện thoại chúc mừng bà Tổng thống Thái Anh Văn – được coi là cuộc điện thoại trực tiếp đầu tiên của một vị đứng đầu nước Mỹ kể từ năm 1979, khi quan hệ chính thức giữa Mỹ và Đài Loan bị cắt đứt. Tổng thống Trump ra các tuyên bố ủng hộ mạnh mẽ bà Thái Anh Văn, và phê duyệt thương vụ vũ khí lớn nhất trong nhiều thập kỷ qua đối với hòn đảo này, ban hành Đạo Luật Bảo vệ Đài Loan (TAIPEI Act).
Bất chấp mọi đe dọa của Tàu Cộng – từng khiến nhiều vị tổng thống tiền nhiệm chùn bước, ông Trump phá vỡ mọi giao thức, vô hiệu hóa các lời đe dọa của Tàu Cộng, ký ban hành đạo luật Dân chủ và Nhân quyền bảo vệ Hồng Kông (11/2019).
Tổng thống Trump không những không làm thế giới lanh tanh bành mà lại khiến nó trở nên trật tự, công bằng hơn. Chính quyền Trump đã đánh bại Nhà nước Hồi giáo Caliph và tiêu diệt thủ lĩnh khủng bố số 1 thế giới Baghdadi; tiêu diệt Tướng Qassem Soleimani – Tư lệnh Lực lượng Quds tại Iraq trực thuộc Vệ binh Cách mạng Hồi giáo Iran; rút khỏi thỏa thuận hạt nhân khủng khiếp với Iran; hủy bỏ Thỏa thuận khí hậu Paris không công bằng và tốn kém; ký kết lại Hiệp định thương mại USMCA giữa Hoa Kỳ, Mexico và Canada thay thế cho Hiệp định thương mại tự do NAFTA cũ; đạt được các hiệp định thương mại mới với Nhật Bản và Hàn Quốc; rút khỏi hiệp định TPP – vốn gây bất lợi cho nước Mỹ .
Bên cạnh đó, Tổng thống Trump đe dọa “xóa sổ” Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) mà ông coi chỉ làm lợi cho TQ, cũng như rút Mỹ ra khỏi Hội đồng Nhân Quyền Liên Hợp Quốc khi ông cáo buộc tổ chức này cho phép các nước có hồ sơ vi phạm nhân quyền như Tàu Cộng, Iran, Nga… trở thành thành viên.
Tổng thống Donald Trump đã đảo ngược chính sách của Hoa Kỳ kéo dài hàng thập kỷ khi ông mạnh mẽ công nhận Jerusalem là thủ đô của Israel, mở đại sứ quán Hoa Kỳ tại đây và công nhận chủ quyền của Israel đối với Cao nguyên Golan – một quyết định táo bạo và liều lĩnh mà những vị tiền nhiệm của ông đều tìm mọi cách trì hoãn.
Tổng thống Donald Trump phát biểu: “Trong vài thập kỷ qua, mọi Tổng thống trước đó đều hứa sẽ chuyển Đại sứ quán Hoa Kỳ đến Jerusalem. Và họ không bao giờ hành động, họ không bao giờ làm điều đó. Họ không bao giờ có ý định làm điều đó”.
Ông không ngại va chạm, đối đầu – từ đối thủ cho tới đồng minh, từ các liên minh quân sự cho đến các nước bất hảo. Ông buộc NATO cũng như các đồng minh như Hàn Quốc và Nhật Bản phải đóng thêm kinh phí cho quân đội Mỹ; làm suy yếu trục Nga – Trung; tiếp tục cấm vận các quốc gia độc tài như Nga, Cuba, Venezuela, Iran và Bắc Triều Tiên; vô hiệu hóa tính hung hăng của Kim Jong Un; bảo vệ nền dân chủ Hồng Kong và tăng cường hỗ trợ cho Đài Loan.. Những vấn đề ông động chạm đến đều là những “hồ sơ” gai góc mà không một vị tổng thống Mỹ nào trước đó dám giải quyết triệt để.
Người xưa có câu: “Quân tử bất vọng động, động tất hữu đạo”, hàm ý rằng người quân tử không hành động mù quáng, hành sự đều chiểu theo đạo lý. Khổng Tử từng nói: “Kiến nghĩa bất vi vô dũng dã” (Thấy việc nghĩa không làm thì không phải kẻ dũng). Người quân tử có dũng khí lớn bởi họ luôn làm việc nghĩa, luôn “giữa đường thấy chuyện bất bình chẳng tha”.
Có thể nói, Tổng thống Donald Trump được người dân thế giới – đặc biệt những người đang phải chịu sống dưới sự kìm kẹp của các chế độ độc tài – kính trọng ông nhiều nhất bởi chữ “NGHĨA” này.
LÝ DO 3: “XÔ NGÔ MỌI TIÊU CHÍ-DÁM NÓI NHỮNG ĐIỀU MÀ NGƯỜI KHÁC KHÔNG DÁM

Tổng thống Donald Trump “xô ngã” mọi tiêu chí thông thường xưa nay trên chính trường nước Mỹ, phá vỡ mọi “chuẩn mực” phát ngôn kín kẽ thường thấy ở các đời tổng thống trước. Ông thường Tweet hoặc chỉ trích, mắng mỏ trực tiếp đối thủ, không ngần ngại, né tránh mà chỉ rõ thẳng vấn đề.
Người yêu quý ông thì gọi ông là “Người khác biệt”. Họ yêu thích sự thẳng thắn trong con người ông, bởi ông dám nói những điều mà người khác không dám nói trong bầu không khí xã hội của “sự đúng đắn chính trị”. Họ yêu mến lòng can đảm của ông, bởi sự mạnh mẽ của ông mới có khả năng “rút cạn đầm lầy” Washington vốn đầy hiểm ác và cạm bẫy.
Họ thích cái cách ái quốc của ông, như cách ông ôm hôn quốc kỳ Mỹ, cách ông quyết liệt đem công ăn việc làm về cho nước Mỹ, tăng thu nhập cho những gia đình nghèo và trung lưu, hỗ trợ những nông dân Mỹ phải hứng chịu tổn thất trong cuộc chiến thương mại Mỹ – Trung. Họ phấn khích ngay cả trong từng lời nói hành động của ông: “Những gì không có lợi cho nước Mỹ thì tôi sẽ không ký, không làm”.
Họ thấy ông ăn nói bạt mạng một cách hấp dẫn, và có trái tim bằng vàng qua những hành động rất tình người, như khi ông động lòng trắc ẩn với người lính của mình trong chuyến thăm Afghanistan vào Lễ Tạ Ơn 2019, đã âm thầm thanh toán toàn bộ tiền nhà, tiền khám bệnh cho con của người lính. Và đây không phải là lần đầu tiên ông làm những việc nghĩa ấy. Nhiều thập kỷ trước, Donald Trump đã nổi tiếng là một trong số những tỷ phú hào phóng nhất thế giới có trái tim nhân hậu.

LÝ DO 4: NGƯỜI MỸ CHỈ VINH DANH TỔ QUỐC CHỨ KHÔNG VINH DANH TỔNG THỐNG, NHƯNG…
Nước Mỹ còn được gọi là Hợp chúng quốc Hoa Kỳ và có người cho rằng, đó là nơi đến của những con người không yêu đất nước mình nhưng lại yêu nước Mỹ. Ở Mỹ, người Mỹ chân chính yêu nước hơn yêu tổng thống của họ. Họ chỉ vinh danh Tổ quốc chứ không vinh danh người đứng đầu Hành pháp. Nhưng trường hợp Tổng thống Donald Trump thì ngoại lệ, vì họ thấy ông ái quốc giống như họ, nên họ đồng hóa lòng yêu nước với sự mến mộ ông.
Kể từ cuộc bầu cử ở Mỹ năm 2016, nhiều người không bầu cho ông nay lại yêu mến ông và trở thành những fan hâm mộ cuồng nhiệt của ông. Họ tự in mũ, cờ và biển hiệu với dòng chữ “TRUMP” để ủng hộ Tổng thống. Các buổi mít-tinh có ông Trump tham dự luôn đông đúc, với hàng chục ngàn người Mỹ yêu nước đến xếp hàng, chờ đợi để được nghe ông diễn thuyết. Mỗi khi Tổng thống Trump dừng lại ngắt câu, cả hội trường chứa hàng chục ngàn người vang dội tiếng reo hò.
Fan hâm mộ ông thuộc mọi thành phần, lứa tuổi, từ người già cho đến trẻ em. Là cô bé 11 tuổi, vốn không quan tâm đến chính trị, chỉ vì ông Trump ra ứng cử mà bắt đầu để tâm theo dõi đời sống chính trị sát sao. Là cụ già 95 tuổi người TQ để có thể được đi bỏ phiếu cho ông, được thực hiện quyền bỏ phiếu, đã học tập chăm chỉ để vượt qua kỳ thi quốc tịch Mỹ. Ngay cả Tổng thống Brazil Jair Bolsonaro cũng từng tuyên bố, ông bổ nhiệm một người hâm mộ Tổng thống Mỹ Donald Trump làm Bộ trưởng Ngoại giao trong chính quyền mới của mình.
Những người chống đối Tổng thống Trump thì ghét cay ghét đắng ông, trong đó giới truyền thông cánh tả thường “tô vẽ” ông như là “một kẻ” có tác phong “ngông nghênh”, phát biểu “điên rồ”, khinh khi tư pháp, kỳ thị màu da, xem thường phụ nữ, khiêu khích phóng viên, và ra các quyết định chính trị “thiếu xuyên suốt”. Thế nhưng trong hơn 3 năm cầm quyền, uy tín của ông chủ Nhà Trắng không những không bị sứt mẻ, mà thậm chí cử tri của ông nay còn lập thành những “câu lạc bộ người ái mộ” .
Donald Trump tiêu biểu cho hạng người vô cùng hiếm trong xã hội Mỹ: Không cờ bạc, rượu chè, hút sách, lại còn giáo dục các con thành tài và cũng giống như ông, nói KHÔNG với các tệ nạn.
Khi lên làm Tổng thống Mỹ, ông nhận mức lương tượng trưng 1 đôla/(400.000 đôla)/hằng năm và quyên góp toàn bộ tiền lương của mình cho các cơ quan chính phủ và tổ chức như Bộ Cựu Chiến binh, Bộ Giao thông, Cục Công viên Quốc gia, Bộ Giáo dục, Bộ An ninh nội địa, Bộ Y tế và Dịch vụ Nhân sinh Mỹ. Gần đây nhất, Tổng thống Trump đã góp toàn bộ tiền lương quý IV/2019 cho Bộ Y tế Mỹ nhằm chống dịch virus Trung Quốc đang bùng phát dữ dội tại đất nước của ông.
Theo tiết lộ của các quan chức chính quyền, một phần lương của Tổng thống cũng đã được dùng cho mục đích chống lại tình trạng nghiện thuốc, thúc đẩy phát triển sinh viên theo đuổi các ngành khoa học và khôi phục các di tích lịch sử.
Trong 3 năm làm ông chủ Nhà Trắng, tài sản của Tổng thống Trump đã sụt giảm vài tỷ đôla, nhưng ông không hề phiền muộn vì điều ấy và phát biểu rẳng: “Dù tôi có mất đi 2 đến 5 tỷ đôla hay ít hơn nữa thì cũng có gì khác biệt. Tôi không quan tâm đến vấn đề này. Tôi làm tổng thống là vì đất nước. Tôi làm tổng thống là vì nhân dân”.
Rất lâu trước khi Donald Trump chính thức ra tranh cử Tổng thống vào năm 2016, “bà hoàng” truyền thông Oprah Winfrey đã hỏi ông trùm kinh doanh bất động sản về niềm đam mê chính trị trong talkshow “The Oprah Winfrey Show” vào năm 1988, rằng ông có muốn tranh cử tổng thống không. Ông Donald Trump khi ấy đã trả lời: “Nếu tình hình trở nên tồi tệ, tôi sẽ không bao giờ muốn loại trừ hoàn toàn ý định đó, bởi vì tôi thực sự mệt mỏi khi nhìn thấy những gì đang xảy ra với đất nước này”.
Người ta vẫn đang không ngừng tranh cãi rằng, mục đích của ông Donald Trump khi lên làm Tổng thống Mỹ là để giúp nước Mỹ và Thế giới trở nên tốt đẹp hơn, hay mục đích là để đánh sập các nước theo chế độ độc tài tàn bạo, đặc biệt là ĐCSTQ, cũng như làm tan rã hệ thống ngầm của các nhóm lợi ích xuyên quốc gia.
Có lẽ tính đến thời điểm này, thì dường như cả hai mục đích trên đều đúng.
Đọc xong, nếu quý vị thấy đúng xin hãy copy bài về tường để những việc tốt của ông ấy được lan tỏa rộng hơn..
T23 NEWS

************************************
DIỄN ĐÀN PHỤNG SỰ XÃ HỘI
************************************

THÁNG TƯ THỐNG HẬN HỒ TRƯỜNG

1. Lữ Thứ Hồ Trường
.

ho truong nguyenbatracChiều tha hương tháng tư người lính cũ
Nâng chén sầu chiêu hồn chiến hữu xưa
Hãy về đây cùng ta đối tửu
Khúc Hồ Trường ngày cũ. nhớ. quên?
.
Hồ Trường! Hồ Trường! Tháng Tư buông súng
“Chí ta, ta biết! Lòng ta, ta hay”
“Trời đất mang mang tri kỷ là ai?”
“Lại đây cùng ta cạn một Hồ Trường” [*]
.
Cô lữ. Tháng tư. Chiều …
Người lính cũ
Nâng chén Hồ Trường
Đâu bạn hữu xưa?
Chỉ thấy mây trôi … tiếng chiều nức nở!
Vẳng tiếng chuông âm …
Nhân thế vô thường!
…………..
[*] Những câu thơ trong bài Hồ Trường -Nguyễn Bá Trác. Được sắp xếp lại theo ngất ngưởng say.

2. Thống Hận Hồ Trường
.

Thanh xuân vỡ mộng “dời non”
Ta ơi! Cố đứng dù mòn thời gian
Tháng Tư! Người nhớ hay quên?
Nâng ly thống hận khúc ngâm Hồ Trường [*]
.
Hồ Trường! Thơ cổ Hồ Trường
Ai say. Ai tỉnh? Bước đường lưu vong
Tháng Tư buông súng oán không?
Phố người. Cô lữ …
Cố nhân?
Hồ Trường!
.
“Hồ Trường! Biết rót về đâu?”
Ai người tri kỷ cạn sầu cùng ta?
Hắt hiu lữ thứ chiều tà
Rượu nghiêng ta đổ …
Xót xa Hồ Trường!
………..
[*] “Vỗ gươm mà hát/ Nghiêng bầu mà hỏi/ Trời đất mang mang ai người tri kỷ/ Lại đây cùng ta cạn một hồ trường/ Hồ trường! Hồ trường!/ Ta biết rót về đâu?(Hồ Trường – Nguyễn Bá Trác)

3. Tương Tiến Tửu Ai?

“Nhân sinh đắc ý nâng bầu vui uống trọn…
Ba trăm chung ta uống cạn một lần”…(NL dịch – Mời uống rượu – Lý Bạch)[1]
.
Ai người tri kỷ cùng ta cạn chén?
Ngâm khúc cổ thi thống hận Hồ Trường
Hồ Trường! Hồ Trường! Ta rót mười phương
Chiêu hồn chiến hữu đắng môi Hồ Trường
.
“Hồ Trường! Hồ Trường! Ai say ai tỉnh?”
Nhớ Tháng Tư nao nâng chén Hồ Trường? [2]
“Tháng Tư buông súng” còn nhớ hay quên?
“Nhân sinh thất chí” thống hận Hồ Trường!
.
Tháng Tư năm đó lạc mất đời nhau
Đoạn trường dâu bể tình đã còn đâu?
Kiếp đời tha phương tìm đâu tri kỷ?
“Tương tiến tửu” ai? Trọn chén Hồ Trường!
……………….
[1] Nhân sinh đắc ý tu tận hoan…/ Hội tu nhất ẩm tam bách bôi…(Tương tiến tửu -Lý Bạch) Dịch nghĩa: Con người ta sống mà được đắc ý thì nên hết sức vui…/ Gặp nhau nên uống một lần ba trăm chén (Mời uống rượu)
[2] Hồ trường: “Vỗ gươm mà hát/ Nghiêng bầu mà hỏi/ Trời đất mang mang ai người tri kỷ/ Lại đây cùng ta cạn một hồ trường (Hồ Trường -Nguyễn Bá Trác)
.
Nguyên Lạc

 

Christ is Risen! Alleluia!

Easter-Cross-2
Happy Easter everyone! Alleluia!

It sure feels good to finally be able to say that after forty days of holding it in. And more importantly, even though we are at home livestreaming, we celebrate and give thanks for the incredible God we have. And what we are celebrating this day is truly beyond anything men and women through all of human history (us included) could ever have imagined. Our God gave himself completely to us — in the fullest sense of that phrase — and through his profound act of self-emptying destroyed even death itself. An incredible victory has been won! And this victory is something we don’t really deserve nor could we have achieved it on our own. No — God won this victory for us for one reason only — because he loves continually, unconditionally, and eternally. What a God we have! Alleluia!

The new-life God has won for us through the saving acts of Chrisy Jesus takes more than just saying we believe. It takes a willingness to always strive to be more, give more, and love more. Easter is not about remaining the same. It is about allowing God to raise us up from whatever is holding us down, or crushing our spirits, or keeping each of us from being the beautiful person God created us to be.

Yes, as Christians we do believe some pretty wonderful things.

May those beliefs, and the power of the resurrection, help us BE wonderful people too — not for our own glory or our own purposes, but for God’s.

He is risen! Alleluia!

“I have seen the Lord” (John 20:18)
He is Risen! Alleluia!

Christ is risen! Alleluia!
The wonders our Lord has done,
Christ is risen! Alleluia!
The immense love God has for ev’ryone.

He chose to come into our world,
To walk our human tempestuous journey,
Lay down His life for all, obediently,
And redeem the world, wholeheartedly

Christ is risen! Alleluia!
He is risen to bring us the newness of life,
He is risen to cleanse out troubled and sinful hearts,
And shine upon us His Holy light.

He is risen to destroy death,
True peace, true hope and true joy restored,
And so was faith in the lost souls,
And like Mary: “I have seen the Lord!”

He is your Lord, my Lord and the Lord of all others,
He is risen and ignite our hearts with burning desire,
To seek Him, He is risen and He is alive,
And He is the God of light,
His love is in the air, everywhere, for all, you and I,
Inhale to embrace His love,
Christ is risen! Alleluia!
Christ is alive! Alleluia!
Amen!

Deacon Joe Hung Nguyen

Thơ Võ Công Liêm

thanh gia2

MÙA CHAY

tôi . lăn tay vào sổ đoạn trường
giữa mùa chay
năm ngón tay
‘run như run
thần tử thấy long nhan’*
nội bất xuất
ngoại bất nhập
tôi . đóng đinh tôi trong bốn bức tường
giá vẽ khô màu cùng gỗ đá
gió mưa đứng lại giữa triền hạn reo
con chim cô độc cất cao tiếng gáy
cho nhẹ linh hồn một kiếp phù du
tôi . hóa thân làm người trốn mặt
giữa chốn ba sinh bóng với hình
hoàng hôn chẻ giữa hai hàng
mi ướt một đời lệ thắm lên môi
con đường chiều nay như chết đói
những ngọn khô buồn theo heo may
em . đứng chờ ai giữa bãi đời ?
chẳng một ai chờ chẳng một ai trông
đưa tay hứng lấy trời vô tận
giữa mùa chay xin nguyện chữ nam mô

tôi . nghe tôi buồn rơi mênh mông
trả lại . những gì tai biến với thời gian
tháng ngày khổ hạnh theo mưa rớt
trên vai nặng trĩu bước chân gầy
làm thân tế độ
giữa trời hoang vu

tôi
phục sinh
tôi ./.

VÕ CÔNG LIÊM (ca.ab.yyc. Good Friday 4/2020)

*ý thơ của Hàn Mặc Tử
KHÚC THÁNG BA

đập vỡ trí tưởng băng hoại
loài vi rút không tên
mang dấu tích tiền kiếp
ngoài kia là đám mây u ám thổi
xuống đời những bi lụy thống thiết
đau thương . em khóc từng ngón xuân nồng
lên vừng trán mênh mông tuổi nhỏ một thời
làm người như nhánh rong khô bềnh bồng trôi theo con nước
nắng mưa bất thường đổ lệ khóc đêm nay cho sáng bình minh
đuổi vô ảnh vào huyệt mộ
làm bằng chứng yêu em một đời và . mắt em ướt màu nắng
môi hé mở cho tóc lang thang bay vào nơi không mộ chí
trong sạch như loài thú hoang
không hơn thua không cầu cạnh
xin làm người hát rong không cầu chứng
tôi . đột qụy tư tưởng
em . đoái hoài mộng du
khúc tháng ba
trần truồng thi thể
chết khô trên tuyến đường
đông châu liệt quốc
bốn mùa dị biệt
phất phơ thổi gió
ngáp phải nhằm ruồi
chiều lục tỉnh ốm

đại dịch . hề !
tiễn đưa người
về nơi
không ai hay .

PHÙ VÂN
tôi thả trôi tôi
thân tàng ma dại
giữa chốn hồng trần
tôi cầm tù tôi
trên răng dưới dế
cả đời thất thế .

NAM MÔ

hồn nhiên tôi thốt . lời kinh thần chú
nhẹ nhát dao vào đời
côn trùng hoà tấu . bi khúc thương đau
a ly lỵ đá tý ca lan*
thuyền hà vi hề độc vãn**

nam mô a lị gia bà lô hê . kiết đế
nam mô vi rút ta bà ha . thế giới
nam mô chúng sanh cực lạc sát na
ma hà yà na . ba la mật đa tâm kinh .

VÕ CÔNG LIÊM (ca.ab.yyc. covid-19 . 30/3/2020).

* thần chú Sanskrit của Pali và Sri Lanka.
** ‘hà cớ chi mà lẻ loi’(vcl)

ĐẠI DỊCH

Võ Công Liêm

tranh vcl 1

Tranh Vẽ Võ Công Liêm

Đúng ra phải gọi đây là hành động khôi phục lớn lao nhất từ trước đến nay –The great instauration, một tia chớp cấp kỳ và lan tỏa; đấy là sự kiện mà con người đương đầu như một tai họa phải gánh chịu. Không tha oán, không buộc tội mà nhận cho một chứng tích có tính thời sự và lịch sử. Một phán đoán hợp lý như là với chúng ta, và coi đây là một sự phán xét đến những gì có lợi của hiện tại và những thế hệ tương lai; đó là những gì mà họ có thể làm được với những gì mà họ đã nghĩ tới – Reasoned thus with ourselves, and judged it to be for the interest of the present and future generations that they should be made with their thoughts. Một sự khủng khoảng của đại dịch đưa tới tử vong toàn cầu, bởi; nó có thể kéo dài triền miên không ngày tháng và không còn cách nào chận lại mà trở nên phòng thủ; một lối ngăn ngừa thông thường không mang tính hiệu năng mà mang tính chất chống trả một cách mơ hồ giữa thời đại khoa học và kỹ thuật. ‘Anh phải sống’ là cứu cánh đưa tới phương tiện giữa con người và khoa học. Một cơn đại dịch chớp nhoáng (instananous pandemic) không ngờ được. Con người đối đầu trước một thảm kịch của cuộc chiến không có kẻ thù và coi chúng ta là kẻ thù chung. Đấy là điều chúng ta phải dừng lại để thấy người thấy ta trăm trận trăm thắng; điều này không còn nữa mà chúng ta dừng lại để thấy những gì đã ‘tai ngược’ mà giờ đây chúng ta phải trả cái giá rất đắt. Nguyễn Du gọi: ‘bỉ sắc tư phong’, luật thừa trừ (?).
Thế giới loài người không còn chính trường để bảo vệ quyền lợi, không còn vũ trang để thách đố hay đe dọa kể cả những lợi ích khác. Chúng ta đang âm thầm trước mặt trận không biên giới, trước kẻ thù không kẻ thù mà nhận thức trước một chủ nghĩa nhân bản. Giờ đây sứ mệnh nhân bản được đề cao. Kẻ thù đang nhìn chúng ta với đôi mắt đe dọa. Vậy chúng từ đâu đến với một thứ vũ khí siêu tầng đó? Có thể nó đến từ một ‘hành tinh’ khác ở cõi ngoài của chúng ta, có thể nó đến từ hằng hà sa số của ánh sáng và tiếng động, có thể nó vượt biên không gian từ hằng tỷ năm qua…Và; coi đây là bước ngoặt (turning-point) của chúng ta. Một cuộc đấu tranh trường kỳ với kẻ thù không tên, thứ vũ khí có mã số covid-19. Một thứ vũ khí thuộc sinh vật học và lý hóa nhiên mà chúng ta bỏ công sức tìm kiếm thuốc chửa (super-vaccine) thứ siêu vi đó. Hình hài và màu sắc khác lạ so với những thứ khác, nó tỉnh mà động trong trạng thái ‘gây mê’ chận đứng mọi nguồn mạch, biến sắc đi tới cái chết trong lặng lẽ. Khoa học muốn mổ ra xem sức tàn phá của nó, nhưng vô hiệu hóa, bởi; nó chẳng để lại dấu tích gì trên thi thể của kẻ chiến bại. Tuy nhiên không phải đó làm con người tuyệt vọng, họ cương quyết đấu tranh cho tới ngày tiêu diệt nó, một nỗ lực từ xưa đến nay và chưa một lần thất bại trước những khám phá khác. Con người chiến thắng trước mọi thứ chủ nghĩa dù đó là thứ chủ nghĩa mới của siêu vi. Thực hiện được giữa lúc này tức chúng ta thắng kẻ thù chung và cứu nguy cho nhân loại. Nhờ đó về sau thế giới trở thành thế giới đại đồng: không còn biên giới tư tưởng, không còn học thuyết chủ nghĩa, không còn phân tranh hơn thua. Kỷ nguyên mới bắt đầu sau cuộc chiến này. Nhìn xa hơn có thể là ‘ý trời’ như một số người đã phát biểu. Đấy là vấn đề được đặc ra hôm nay.
Trong tác phẩm ‘The Psychopathology of Everyday Life’ của S. Freud coi đây là chứng tâm thần hỗn loạn đã ảnh hưởng phần nào hay nhiễm thể tính do từ siêu vi (virus) lợi dụng cơ hội để hoành hành mà trở nên căn bệnh được gọi tên ‘coronavirus’ hoặc do từ những triệu chứng bất thường mà trở nên trầm trọng. Chứng cớ để xác nhận một cách cụ thể: có từ thiên nhiên hay từ động vật; trước đây người ta nghi ngờ do từ đời sống mà ra (ở dơ hay từ hóa chất hay do từ vật liệu phế thải) để rồi qui vào bệnh lý siêu vi mà trị liệu theo phương pháp thông thường; thoạt kỳ thủy nhiều bệnh lý xẩy ra người ta đã tìm thấy qua vi trùng (microbe /bacteria) hơn là tìm thấy có từ siêu vi; chứng cớ đó chỉ đem lại cách luyện ‘khí công / psychotherapy’ là yếu tố tâm lý để phòng bệnh hơn chửa bệnh bắng mọi cách ‘lẫn tránh’ là biện pháp an toàn và cũng là cách điều trị gián tiếp, nhưng; kết quả chưa đạt yêu cầu mà đó chỉ là biện chứng pháp y khoa mà thôi. Vậy đại họa đến giữa lúc này là bệnh lý. Thế thì tại sao phải bế môn tỏa cảng? Kẻ thù không ngại những ‘vạn lý trường thành’ không ngại rào cản, nó đến khắp mọi nơi chả riêng ai và chẳng phải vì ai. Ngăn ngừa là biện pháp và chính sách (policy) của nhà cầm quyền; âu đó là biện pháp duy nhất để chống trả kẻ thù chung, nhưng; bên cạnh đó sự hủy diệt có từ trực tiếp đến gián tiếp một cách không ngờ. Đại dịch vẫn hoành hành, giao chiến với ta, đối đầu với ta. Toàn thế giới là kẻ thù của virus/covid-19.

MỞ

Đó là trạng thái của nhận thức, nó không phải là thứ thăng tiến cũng chẳng phải coi đó là dự tính lớn lao; mà đó là cách được mở rộng cho nhân loại nhận biết toàn thể của sự khác biệt, nó có từ khi chưa ai biết cho đến nay, mặc khác giúp cung cấp những gì có thể thực hiện được; đấy là yêu cầu ắt có và đủ giữa lúc này, không phải cần có để điều trị mà cần có để bảo vệ. Sự đó đem lại an tâm cho người bệnh và người chửa bệnh, không còn nhìn là phương tiện mà là mục đích để chống trả. Chống cái vô hình dung! Trong qui định coi điều đó như luyện tâm trí qua những gì thuộc thiên nhiên thẩm định mà cũng là đặc tính sở hữu tùy thuộc vào đó –in order that the mind may exercise over the nature of things the authority which property belongs to it. Hiện hữu của sự kiện là xác quyết sự kiên định, đó là trí năng của nhân loại tạo nên những điều khoản hết sức khó khăn ở chính mình, nó không dùng vào đó để trợ giúp những gì mà ở đó bị hao hụt nghiêm trọng và hợp lý; và đó là lý do của những gì mà con người chưa nhận ra sự tinh quái lạ thường trong hằng hà vô lượng số. –by reason of that ignorance mischiefs innumerable đang hiện hữu trong ta, nó đến và đi mắt thường không nhận thấy, nó biến mình trong tạng thể trừu tượng, cái đó cũng là một thứ chiến thuật khó lường, cái đó là con đường giao thương giữa trí tuệ của con người và những sự vật thiên nhiên; hẳn nhiên giảm thiểu là điều kiện tiên quyết hơn những gì mà chúng ta yêu cầu.
Chắc chắn rằng tất cả hoài bão khác đi tới nguyện vong hay thỉnh cầu cho dẫu là gì như nhận ra khó khăn, nghèo túng sẽ ngập đến từ bây giờ cho đến về sau là nỗi bi thảm mà con người nhận lãnh nó như trách nhiệm và cùng nhau gánh vác cơn ‘đại hồng thủy’ này là cái họa chung. Nhận thấy được thì đó là vấn đề được thảo luận có hay không có, hoặc cho đó quá lớn lao đối với công lao đã làm nên; không tìm ra được sự đền bù nào khác hơn. Mà coi đây là trụ cột của vận mệnh đặt nó trong ngõ ngách của nhận biết –These are as the pillars of fate set in the path of knowledge; vì rằng con người muốn cái này qua cái nọ, nuôi hy vọng để đạt tới và vận động vào đó như yêu sách để được thu nhập vào, gồm cả những gì lãng phí hay bỏ quên là những gì nhất thời cho tương lai, nó trở nên những gì không thông thường, nhưng; tuyệt đối là điều cần thiết phải thực thi. Sự đó đã vượt quá qui định của lòng danh dự và sự tôn trọng đang diễn ra.
Nhìn chung; nếu khoa học đã làm nên những lợi ích khác trong cuộc đời, thì điều đó có thể không bao giờ xẫy ra trong mọi trường hợp hay cho những thế hệ khác nhau. Năng động của khoa học là tìm kiếm để đi tới đỉnh cao mà loài người mong muốn; đấy là điều cố vị xưa nay, không nhận bất cứ gì để làm tăng thêm giá trị cuộc chạy đua của nhân loại, điều này như đã khẳng định một lần nào là vẫn còn khẳng định, những gì là vấn đề như vấn đề đã một lần nào vẫn còn là vấn đề; đó là nhân tố hiện hữu trước thời cuộc như một quyết tâm bằng những thảo luận khác nhau không những thu xếp chuẩn bị (fixed) và nuôi dưỡng (fed) để đem lại những gì hoàn toàn phụng sự cho con người nhất là lúc con người đang đối đầu trước thảm họa. Sau này cho dù là gì có giành được năng lực mới hơn và nhiều lợi ích khác là sắp đặt vào tương lai và xây dựng lại những đổ vỡ vật chất và tinh thần của hôm qua. Ấy là điều mà con người phải nhận biết trước cuộc đời đang sống, rút tiả kinh nghiệm sống vừa học tập và theo đuổi của những gì xẫy ra và sẽ xẫy ra. Tất cả sẽ qui về một mối ở mức độ tối hậu nhất của những gì mà người ta có thể làm được một cách viên mãn. Có được hôm nay là gặt hái kinh nghiệm, học tập thấu triệt tính nhân bản là cần thiết hơn tranh luận.
Triết học và trí năng khoa học thường đối nghịch; đứng riêng như cố vị, tôn sùng và ngưỡng mộ. Philosophy and the intellectual sciences, on the contrary; stand like statues, worshiped and celebrated, nhưng; nó không động và cũng chẳng tiến. Thế nhưng triết học là nhân chứng, không một dữ kiện nào trong đời là không có lý thuyết, tất cả thuộc tính triết học, bởi triết học ngoài nhiệm vụ phân tích còn là giải bày làm sao cho hợp lý hợp tình đúng chức năng thẩm mỹ; từ chỗ đó nó làm ra cái công việc không phóng nhỏ thành lớn mà gia tăng vào đó những gì giải bày xác thực để chứng minh những gì có thực trong đời cho một hiện hữu sống thực. Nhất là đối với khoa học đã tìm thấy những gì mà con người cần có là vì sau những gì thuộc khoa học đã là một phần thông thường trong đời sống, có lẽ; trau dồi, tu dưỡng, hành xử là chủ yếu và cầm giữ những gì cần cù, ở đó nó dựng lên một vài tính khí dũng cảm nơi con người. Cái đó gọi là phát huy tư tưởng, một tư tưởng phán quyết trước khi hành động dù nó xẫy ra trong tình huống nào; vai trò làm người là đả thông để tìm thấy chân lý tối thượng. Hoàn cảnh xã hội là động lực thúc đẩy để thực thi, là nhập cuộc để đồng tình trong hoàn cảnh khẩn trương mà ngay sau đó dễ dàng cảm nhận. Tuy nhiên; cảm nhận đôi khi ngưng trệ trong hai cách. Đôi khi nó đưa tới một thông tin không chính xác hoặc đôi khi đưa tới thông tin giả dối. Trong sự lý như thế chính là lúc chúng ta vượt thoát ra khỏi cảm thức nghi ngờ; dù rằng đã được xếp đặt và không còn cách nào ngăn chận được. Trong khi đó cảm thức đã nhận ra sự hiểu biết chính đáng một phần phụ thuộc vào hoàn cảnh, nhất là hoàn cảnh xã hội yêu cầu. Cảm thức đó là điểm chuẩn đến với con người chớ không đến vũ trụ. –The sense has reference always to man, not to the universe; điều này là một lỗi lầm đưa tới khẳng định cảm thức, cảm thức đo lường được mọi thứ. –And it is a great error to assert that the sense is the measure of things. Nhận thức triết học đòi hỏi phân tích một cách chuẩn mực cái lý đương nhiên của nó, nhưng; phải trung thực mới làm nên việc.

KẾT

Và như vậy thời có hai đối tượng: con người nhận biết / human knowledge và năng lực con người / human power, kỳ thực chỉ đáp ứng trong một mà thôi. Thì ra nó là thứ chướng khí, lạ lẫm gây ra giữa lúc này; một tác động làm suy thoái toàn cầu. Nhưng; trên thực tế chúng ta chống trả để chứng minh tiềm năng vốn có của con người trên hành tinh này, một trí tuệ vững chắc và một nhận biết sâu sắc và tinh tế so với những động vật khác. Do đó; đấu tranh của con người là chinh phục vũ trụ, một vũ trụ vô tận mà con người muốn khống chế. Cho nên chi trong tất cả còn tùy vào hoàn cảnh giữ con mắt tinh tường đều đặn giữa tình thế lộn xộn, bừa bãi vào những dữ kiện thiên nhiên và như vậy nhận được những hình ảnh đơn sơ như chúng ta đã thực hiện. Dựa trên quan điểm của những người cả tin về hiện tượng thì đó là cái vận chung đã đến với loài người hay là biến thiên của vũ trụ (?). Điều này khoa học phủ nhận và theo triết học thì hoàn toàn trái nghịch và vô căn cớ để định nghĩa. Nhưng; dưới cái nhìn của tôn giáo thì chủ quan vấn đề và coi như mệnh lệnh. Vì rằng Thượng đế ngăn cấm; đó là lý do chúng ta đã tận dụng cái mơ ước của mình –For God forbid that we should give out a dream of our own imagination for a pattern of the world của những ảo ảnh riêng mình mới sanh ra cái mẫu mực đó cho thế giới loài người. Còn hơn thế; Thượng đế khoan nhượng mà ban phát đến chúng ta một án ngử ‘điạ ngục trần gian / apocalyse’ và hình ảnh thực-có qua từng bước một; đấy là dấu ấn mà ông Tạo đã dựng nên. Vì vậy con người ngoan ngoãn xưng mà không niệm; có nghĩa rằng chúng ta đã quên lời dặn vì Người ban phát một thứ ánh sáng hữu hình, lồ lộ như tạo ra những trái cây xanh tươi và con người hít thở ngay trên mặt của con người…sự lành trở về trong vinh hiển –Therefore; Who gavest the visible light as the first fruits of creation, and didst breathe into the face of man… Thy goodness returneth to Thy glory. Nhưng; dưới hình thể của tôn giáo cho đó là niềm tin vĩnh cửu trong mọi chuyển dịch của vũ trụ là sự kiện tuyệt hảo của đấng Tạo hóa.
Với con người luôn luôn là một đối kháng để đi tới thừa nhận quả quyết. Lòng tự hào của con người vẫn cố hữu để đạt tới niềm hy vọng hơn niềm tin của giáo điều. Không có sự gì trên cõi đời này là ngẫu nhiên ngay cả vận mệnh của con người… ./.

VÕ CÔNG LIÊM (ca.ab.yyc . Đầu tháng 4/2020)

 

L Ụ C B Á T S Ớ M

Hoàng Xuân Sơn

uminh11- su vang

Đ ê m X u â n

Bàu xanh
quày nước theo đêm
muối sương ăn lạnh
ngoài thềm xuân du
áo ai
nhín một chút mù
cho hơi ẩm thúy
gợn ngu ngơ
tình
phơi buồn
nghe tạng phiêu linh
con mắt khép mở
nheo
hình bóng tan
nghe nhau một dặm hoang đàng
người yêu cứ rủ
chân hàng phục theo
biết đâu nắng
vẫn trên đèo
còn mây hôn thuỵ
về treo vực hồng
nhạc thiều. búi. cỏ rưng rưng
ngàn năm tơ mệnh
neo thừng bến không

N g ồ i T ư ở n g

Hò lơ
trên những máng chồng
khoan đi
rồi nhặt
câu bồng ngũ âm
mùa về một vệt lâm thâm
không mưa
mà cũng vang ầm ghế xuân
buộc quanh giải áo thất thất thần
người ngồi tưởng một trần thân bụi bờ
khi nào
hạt giống nên thơ
níu hồn không chữ
lặng
tờ
giấy yên
có khi chép nốt ưu phiền
và rồi thanh tịnh gỡ miền an du

h o à n g x u â n s ơ n
29 mars 20

GOOD FRIDAY

Deacon Joe Hung Nguyen

Good-Friday

THANKS GOD IT’S GOOD FRIDAY

TGIF. Thanks God it’s Friday.

How many times have we said that?

And yet, that sounds so strange given what we have read or heard proclaimed the Passion of our Lord Jesus Christ according to John (John 18:1-19:42). What an incredibly sad story. What an injustice. How could this happened to someone who is so loving and kind and compassionate had to suffer so much, for all of us, the sinners. And it’s hard for us to understand what it all “means” even though we all believe that it has to be done “according to the scriptures”.

This Friday is very different from any other Friday, the Friday that we, the Christian community, glorify as “GOOD” FRIDAY-GOOD for all things on earth.

Good?
What could be “good” about an innocent man suffered with cruel whips and crown of thorns, and was crucified and died on the cross on the hill, two thousand years ago. What ‘s so GOOD about that? The answer is:

Absolutely nothing . . . . . . . without faith.

But with faith . . . . . .

* We see our God (in Jesus) willing to enter our world and embrace the challenges we face.

* We see our God (in Jesus) showing us how to live, what’s important, and what we should be about.

* We see our God (in Jesus) reaching out to us in a profound way to restore our relationship with him — that is, to “save” us.

* We see our God (in Jesus) rejecting the temptation to hate — even those who hate him.

* We see our God (in Jesus) refusing to do anything but the will of the Father, no matter how difficult.

* We see our God (in Jesus) embracing his cross so we might have the courage to embrace ours.

* We see our God (in Jesus) teaching us that violence and vengeance/revenge have no place in his kingdom. (obedience)

* We see our God (in Jesus) showing us the power of love — a power so great that it triumphs over even death itself.

And we see our God (in Jesus) pouring out his love into our hearts and died for us even though we are sinners.

Yes, It is “Good” Friday — because God loves us completely, and unconditionally and eternally, regardless who we are.

And so, TGIGF — Thanks God it’s Good Friday, because

God’s love is in the air,
all we have to do is “inhale” his LOVE to LIVE.
and that is why WE say
“we can’t live without your LOVE, my dear God”.

So, let us ALL pray
and take a deep breath
to take GOD’S LOVE into our hearts, our souls and our lives…

So from now on, every times we take a breath,
don’t forget that GOD is with and in us.

And MORE:
GOD always wants us TO SHARE THAT LOVE with OTHERS…
HE wants us to convey his LOVE to
ALL OF HIS DISPERSED CHILDREN,
inspire others to live a Christian life and those who do not yet believe in Christ that they may be enter the way to salvation by the light of the Holy Spirit
So that, we all would LIVE in PEACE and HARMONY, in HIS LOVE,
to SERVE, WORSHIP and GLORIFY GOD

SO, TGIGF ! Thanks God It’s GOOD FRIDAY!

Amen!

Deacon Joe Hung Nguyen

MÙA THƯƠNG KHÓ – PHỤC SINH 2020

Châu Thạch

thanh gia crucifix
Đồi Gô-Gô-Tha

Hai ngàn hai mươi năm qua
Uy linh tích Chúa vẫn không nhòa
Sừng sững đồi cao cây Thánh Giá
Lẫy lừng Thiên Chúa chết nguy nga.
Đồi Gô-Gô-Tha
Chúa chết vì ta
Giòng máu hồng tươi tuôn xối xả
Nguồn sông rửa tội đến muôn nhà.
Tiền công người Chúa trả
Gánh tội lỗi thế gian
Rời nơi chí thánh Thiên Đàng
Yêu người Chúa chịu chết oan vì người.
Đồi Gô-Gô-Tha
Bóng tối đã đi qua
Ánh sáng tràn muôn ngã
Ngọn đuốc trường sinh treo Thánh GIá
Tình thương vô đối trổ thiên hoa.
Thơm ngát lời ca
Bức màng nhung xé toạt thấy Thiên Tòa
Đến thẳng cùng Cha
Lũ lượt linh hồn đổi sắc
Máu tội lỗi đỏ hồng điều ngăn ngắt
Bỗng nhiên trắng tựa thiên nga
Đường trần gian u ám băng qua
Cửa Christ bước vào sáng tỏa!
Đồi Gô-Gô-Tha
Huyền nhiệm bài Thánh Ca
Trải ngàn năm đồng vọng dải Ngân Hà
Cao ngất tầng trời quỳ lạy tạ
Cả và thế giới ngước tôn Cha
Ha – Lê – Lu – Gia!
Chúa Jesus cao cả

SẼ HIỂU NƯỚC MẮT.

Đức Chúa Trời làm việc gì cũng tốt
Bạn hãy tin tôi đi
Ngài tể tri cả những điều đau khổ
Sóng thần, dịch lệ và chiến tranh…
Biển vẫn màu xanh
Mặt trời vẫn màu đỏ
Trăng lung linh và gió
Tình yêu của Người vẫn luôn luôn chở che
Đức Chúa Trời đựng nước mẳt trong ve
Giữ gìn tiếng khóc trong bình bằng ngọc
Dầu thế gian ở trong vùng tang tóc
Chẳng sợ gì
Vì Chúa ở cùng ta
Sa Tan đi qua
Rồi Sa Tan sẽ biến
Vinh quang Ngài hiển hiện
Trong trái tim loài người gian khổ
Ba ngày nằm trong mộ
Chúa sống dậy vinh quang
Cả một nước Thiên Đàng
Sắm sẵn ở trên cao
Trên cả mặt trời
Trên cả trăng sao
Nhưng dư dật cả trong lòng ta hiện hữu
Đức Chúa Trời có quyền năng để cứu
Tin hay không tùy bạn mà thôi
Bạn lắng lòng ắt sẽ thấy Chúa thôi
Và sẽ hiểu những điều của nước mắt.

NGHỊCH LÝ!

Khi bà Ê-Va hái trái cấm
Đưa cho chồng mình A-Đam ăn
Mắt họ sáng ra thấy mình lỏa lồ
Bằng lấy lá che thân
Thiên Chúa đuổi họ ra khỏi địa đàng
Chịu bao nỗi gian nan
Họ không trách Ngài
Không đổ tội cho ai
Mấy ngàn năm trường trải
Họ sinh đẻ ra mau
Sống tràn lan khắp cả địa cầu
Con cháu họ quay đầu
Ta thán nỗi thương đau
Quy tội về cho Chúa
Họ có biết đâu
Mình làm mình chịu
Chúa ở trên cao
Cũng đau lòng hơn thế
Quyền tự do Chúa ban cho cả thể
Luật công bình chúa để cho con người
Chúa yêu thương ban sự sống xanh tươi
Nhưng Chúa cũng là cán cân công lý
Vì yêu thế gian
Chúa làm điều thật quý
Xuống làm người chịu chết giữa trần gian
Mở con đường về lại thênh thang
Gánh tội lỗi nhân trần trên vai Chúa
Người thế gian như rừng cây héo úa
Trong cuồng phong cứ rụng cứ rơi
Vẫn quay lưng oán trách ông Trời
Không quay lại nhận nhựa nguyên từ gốc!
Họ hăm hở đi về sông chất độc
Họ xua tay từ chối thuốc trường sinh
Họ sa vào hang ổ thấy mà kinh
Cứ trách Chúa nhưng chẳng cầm tay Chúa!
Châu Thạch

GÓT XUÂN HỒNG

ao dai xanh

Còn thơm suối tóc
mượt mà
Dung nhan
phơi nét kiêu sa gợi tình
Sài Gòn phố
nắng lung linh
Nuột nà gấm vóc khoe hình dáng em

Gót hồng
in dấu chân quen
Mà ai ngơ ngẩn lạc quên lối về?
Ngón gầy
lúng túng
vân vê…
Ghen hờn gió rối tóc thề chấm vai

Chập chờn
giấc mộng …
mơ phai
Thoảng thơm hương tóc
trang đài nét xuân
Một lần
sánh bước bâng khuâng
Lắng trong tiềm thức chung thân hình hài.

Nhật Quang

Theo em nhẹ bước lòng vòng phố trưa
Sài Gòn thoang thoảng gió đưa
Cà phê phố ngát Hương Xưa đợi chờ…
Bên nhau khoảnh khắc mộng mơ…
Tim môi hôn ấm cho vừa nhớ nhung.

Nhật Quang