LÃNH VỰC   CỦA HIỂU BIẾT

VÕ CÔNG LIÊM

 

TRANH VẼ VÕ CÔNG LIÊM : ‘Dáng đứng / Standing figuge’

Theo Sigmund Freud (1856-!930): Lãnh vực của hiểu biết được coi như phân tâm học. Là những gì có lẽ đáng kể, nó mang sắc thái như kinh nghiệm để tạo nên một cách thức mới mẻ, có tính chất hệ thống, một cơ cấu được coi là lãnh vực của hiểu biết –What is perhaps significant is that in this period such experiences become constituted in a new way as a systematic field of knowledge. Đó là ý niệm của nhà phân tâm học (Psychoanalysis) đã khai mở cuối tk. mười chín (19) tại Áo quốc. Chủ thuyết này được khai triễn rộng rải, và; dĩ nhiên đi tới bàn cải với bao nỗi lo; liệu có đạt được không ? Freud cho rằng có một cái gì khó khăn cần thiết ở đó; có nghĩa chúng ta kiềm hảm một xu hướng đưa tới thỏa mãn và hài lòng cho một sự hiểu biết mà ngay trong chúng ta có thể tìm thấy hoặc không tìm thấy qua sự hiểu biết của ta làm nên. Sự cố này Freud đặc tên là ‘hài lòng chính đáng/pleasure principle’ bởi nó có một ‘hiện thực chính đáng/reality principle’ điều đó có ít nhiều nơi chúng ta và ngay cả trong tầng lớp xã hội. Đôi khi chúng ta muốn từ bỏ sự thỏa lòng để trải rộng một sự quả cảm, nhưng; thông thường trong cái sự thực dè dặt lại trì hoãn hài lòng một cách tức thời, chính dữ kiện đó đưa tới một tư tưởng mới lạ hơn. Nghĩa là nhận thức trọn vẹn ý nghĩa của một tác động làm nên; tác động đó có lẽ cho ta một ý niệm vững chắc giữa những trào lưu đương đại. Tuy nhiên; nó có nhiều điều khó khăn để đương đầu với những gì của điều kiện tâm sinh lý mà chính trong cái sự đó là bản ngã, không có thể coi đó như một phần của não thức để kiềm chế cái mong muốn vô thức. Thực ra nó đến dưới dạng lơ là và vô thức bắt đầu dựng lên một sự tiếp nối trong đó, thực sự đó là ảo tưởng sai lầm –Much more difficult to cope with, however; is the condition of psychosis, is which the ego, unable as in nerosis partly to repress the unconscious desire, actuallycome under its sway, and; the unconscious begins to build up an alternative, delusional reality. Nhưng có điều   cần nhấn mạnh: tâm sinh lý học không những chỉ là lý thuyết của trí tuệ con người, nhưng; coi đây như một thực tập cho   việc chửa trị (curing) đó là những gì người ta chú ý tới bệnh trạng tâm thần và thể xác hoặc cho đó là một sự rối loạn tâm can (disturbed). Theo Freud việc chửa trị không phải coi đó là thành quả mà là một việc giải bày đến với bệnh nhân cái có thực và không thực, những gì nằm trong ảo giác mà ra; phơi mở tất cả những gì thuộc tâm sinh lý của cái vô thức là động cơ thúc đẩy để thực hành và điều trị . Đây thuộc về phần phân tâm sinh lý trong thực hành (psychoanalytical practice) nơi bệnh nhân, nhưng; chưa hẳn phải là phương thức chửa trị chung, nó nằm trong từng khiá cạnh của bệnh lý khác nhau. Thành ra yếu tố chửa trị căn bệnh tâm sinh lý là tìm thấy những gì hiện ra nơi bệnh nhân (suy nghĩ và lời nói), bởi ; họ sống trong ‘mộng du’ tư tưởng là trạng thái nghi ngờ giữa thực và ảo là điều xẫy ra giữa thức (conscious) và vô thức (unconscious); một sự rối bời trong tâm can đưa người mắc bệnh khi tĩnh khi say. Cốt tủy của chửa trị theo lý thuyết của Freud là những gì biết được, là những gì chuyển nhượng (transference) đưa tới, chuyển nhượng ở đây không có nghĩa là truyền bệnh hay nhiễm bệnh mà nó chuyển từ trạng thái này sang trạng thái khác một cách không thường, đây là dạng thức giải bày hay phân tích cho một đối kháng của tâm sinh lý có thể từ trong tuyệt vọng hay trong những chịu đựng đau khổ (suffers) và có thể chuyễn nhượng từ bình thường sang không bình thường là trạng huống của những người mang chứng tâm thần, thường hay mắc phải.

Có lẽ tác động của phân tâm lý là một tổng quan tốt đẹp nhất. Một trong những tiêu đề mà Freud gọi là: ‘bản năng cá thể có từ đâu, cái đó sẽ là bản thể tự tại/Where id was, there shall ego be’. Tôi là bản ngã trong ta, một bản chất tự tại giữa nam và nữ là một thể tính, một thể tính tự nhiên đưa tới chứng tê-liệt, một thế bị động trong cơ thể gần như đột biến sinh ra liệt, bởi; cái lực không ngừa được và cũng là điều mà họ không thể hiểu một cách tường tận. Liệt từ nguyên nhân nào hay do từ trạng thái bất ồn sinh ra lãnh cảm. Thời tất trạng huống tâm sinh lý không thể phát động mãnh liệt hơn trước. Cái dạng đó Freud cho là ‘xìu xìu ễnh ển’ trạng thái nửa vời, không buông thả mà cũng chẳng níu kéo. Nó đến chăng là cái điều mà chúng ta tương quan nhau của thể xác –we come to be what we are by an interralation of bodies. Có lẽ Freud qui vào bệnh lý gây ra từ chủ thuyết ma-xốc-xít (masochism) dạng này gọi là khiêu dâm tự ý mà trong đó bản ngã đã buông thả ở tự nó mà bản thân không bị thương tích. Freud sáng tỏ hoàn cảnh này: đó là một yêu sách đồng hóa để lại một con số quá lớn của việc tham dự vào cái không thỏa mãn và đưa tới họ một phản kháng tự tại không những thế mà còn xứng đáng cho một viễn cảnh của một hiện hữu dài lâu –that a civilization which leaves so large a number of its participants unsatisfied and drives them into revolt neither has nor deserves the prospect of a lasting existence.

Từ chỗ đó lãnh vực hiểu biết được đánh giá trong tinh thần phân tâm học mà Freud đã xác nhận như có một hệ lụy giữa trí tuệ và thân xác. Một thân thể lành mạnh thì tinh thần mới trong sáng. Lý lẽ này chưa hẳn phải là điều quả quyết mà Freud cho đó là ‘Tương lai của Ảo giác/The Future of an Illusion’ sẽ thành hình kịp thời vào một lúc nào đó. Nhưng; ở nơi thân xác chúng ta hoặc xẫy ra trong trí chúng ta là một ‘phân thân’ (reflexive) nghĩa là cắt đứt sự tương quan đó. Nhưng nhớ cho đây không phải là một vấn đề giảm thiểu lý thuyết thuộc hệ sinh học (biological reducyionism) mà nó nằm trong sinh lý vật thể (biophysics) -không những thế mà bị loại ra khòi mẫu thức của cuộc đới –Nor is it an asocial model of life. Một bệnh lý tê-liệt luôn hiện ra rõ ràng giữa người nam hay người nữ. Sự đó gọi là liệt âm dương.

Lấy trường hợp này để thấy được lý-thuyết-Freud (Freudianism) là điều chắc chắn không thể dung thông (solve) một cách dễ dàng giữa giao tế và vô thức; ngoại trừ đồng tình luyến ái nó nằm trong một cảm thức giao cấu khác; nếu một trong hai bị tê liệt thì chắc chắn không đem lại đồng tình (homosexual) . Cái lý của Freud được giải bày trong lời lẽ của một thứ văn chương cục bộ; đấy là sự thật có trong cuộc đời hay ngoài cuộc đời. Thí dụ: tiểu thuyết của nhà văn D. H. Lawrence với tựa đề ‘Những đức con và Những tình nhân/ Sons and Lovers’ là một biện minh cụ thể như thay lời cho Freud : Một sự phê nhận chua xót hoàn toàn là chủ đề xử dụng vào tợ như biệt ngữ khó hiểu mà coi đó như ký hiệu, như kịch tính miả mai, như kết cấu dày đặc trong khi đó để lại những gì ngoài ý muốn mà là biểu thị và một hành xử phải phép. Trường hợp rõ nét nhất tác giả của ‘Những đứa con và Những người tình’ không hiện ra đó những gì là tình yêu mà tất cả cho ta nhận thức về nó qua tác phẩm với một cái nhìn hết sức sâu xa trong tiểu thuyết Oedipal: Paul Morel một chàng thanh niên trẻ đã ăn nằm cùng giường với mẹ mình, đối xử với mẹ như đối xử người yêu và cảm thấy như thù địch với cha mình. Morel trở thành đàn ông không thể duy trì một cách thỏa mãn thích thú qua quan hệ mẹ và con để cuối cùng đưa tới sự nhứt nhối để thực hiện giết mẹ trong một lý do mơ hồ khó hiểu qua hành động của tình yêu, trả oán và tự phóng thích. Sở dĩ xẫy ra hoàn cảnh đó, mẹ Paul có một phần ghen tương Miriam người tình của Paul Morel ghen của mẹ là lề thói kẻ cả. Paul ruồng rãy Miriam cho mẹ yên tâm, nhưng; trong cái sự từ bỏ đó Paul hết sức ngu xuẩn vô thức từ bỏ mẹ trong tay người tình. Trong những gì xẫy ra Paul cảm thấy có một cái gì ngột ngạt trong tinh thần sở hữu chủ của Miriam… Đâ là một chân dung bày tỏ hiếm có và kỳ lạ nhất từ xưa đến nay. Truyện đã cho Freud một sự đồng cảm và nhận thức những gì nói đến trong lý thuyết phân tâm sinh lý này. Chúng ta đang nói đến hai bề mặt nơi con người hoặc đó là diện mạo hoặc đó là hoàn cảnh đơn phương của con người. Tuy nhiên; trong tất cả vẫn còn có những hạn chế khác; có thể là ‘phân tích thỏa dạ/content analysis’, thỏa dạ ở những gì đã nói trong chủ đề hơn là hình thức. Nó mang lại cho chúng ta một trọng lượng đáng kể, một thiết kế xây dựng đầy đủ và cấu trúc vững chắc và linh động, đan kết vào nhau như âm vang và dựng ra như chuyện kể đem lại một cái nhìn có hậu cảnh.

Lãnh vực của hiểu biết là nhận thức giá trị chính đáng của nó, bởi; những gì thuộc phân tâm sinh lý là thứ văn chương phê bình có thể mở rộng kiến thức, thông thường lãnh vực thuộc hệ sinh lý phân chia ra nhiều thể cách khác nhau và tùy vào hoàn cảnh để thích nghi, ngay cả sự cố vấp phải tất thảy đều nằm trong thể thức thiết kế xây dựng. Những gì thuộc chủ nghĩa phê phán về phân tam sinh lý nó bao gồm trong hai chiều hướng khác nhau; -một là đúng tâm lý, -hai là đúng trong phê phán. Tuy nhiên; không coi đây là quyết định vấn đề là bởi nó cũng có giới hạn trong vấn đề. Chủ đề của phân tâm sinh lý là lời bình phẩm vô tư, là động cơ thúc đẩy qua vai trò của từng nhân vật mà trong mỗi nhân vật đều có những gì thuộc phân tâm sinh lý. Thí dụ: vui, buồn, hạnh phúc hay đau khổ của con người đều là cảm nhận có từ tâm sinh lý mà ra chớ chẳng phải ngẫu nhiên như đã xẫy ra; ngay cả sự cố vấp phải mỗi khi.

Đứng trên khía cạnh về giá trị văn chương có thể cho ta thấy định vị qua từng con chữ là một tiếp nối của phân tâm sinh lý, ngữ học, quan niệm học và một vài ngữ ngôn khác, nhưng; chưa hẳn phải là hoàn toàn, bởi; trong đó có ít nhiều thay đổi khác nhau giữ tâm lý và sinh lý trong mỗi cá nhân hay trong tập thể đưa ra để định vị cái lý chủ động của nó.. Tuy nhiên; chúng ta đủ để nhận biết trong qui định của phê bình thì may ra có thể tin được. Lý do tại sao chúng ta cần yêu cầu đến năng động của thỏa mãn và không thỏa mãn; là vì chúng ta cần biết thế nào là kiềm chế (repression) và đình trệ (deferred) hay đã chậm lại trong mọi cơ biến xẫy ra như đã hoàn tất mà trong đó xã hội gần như dung thứ nhưng không được khuyến khích, và; làm thế nào việc đó được thỏa mãn hay ngược lại. Chúng ta có thể đánh giá ở chặn cuối cùng của sự việc xẫy ra là những gì thông thường hóa hay coi nhẹ và hạ thấp giá trị những gì đã xẫy ra. Làm thế nào để giữa đàn ông và đàn bà có một vài điều để chuẩn bị đón nhận nỗi đau đè nén (suffer oppression) và sĩ nhục vào đó. Chúng ta có thể học hỏi những sự cố xẫy ra trong và ngoài của con người từ lý thuyết thuộc phân tâm sinh lý. Chúng ta cũng học hỏi nhiều điều tự nhiên: về nền văn minh trong đời sống con người , trong mọi lãnh vực khác nhau và để lại đó vô số cá biệt và vô só những gì không đạt tới, để rồi dẫn đến những bức xúc nội tại, không những đã xẫy ra mà còn xứng đáng cho một viễn ảnh hiện hữu dài lâu. Đúng hay sai lý thuyết của Freud được coi như nền tảng thúc đẩy tất cả mọi tình huống của con người với mục đính tránh đau khổ, phiền muộn và giành được hạnh phúc thỏa lòng mong muốn. Đấy là thể thức của những gì thuộc phân tâm sinh lý được biết đến như chủ nghĩa khoái lạc. Sự thật quá rõ ràng và thực tế hơn bao giờ là điều quan tâm đến trong thế giới loài người .

 

                                                                      PHỤ TRANG

 

         THỎA LÒNG

Mỗi khi con người sống đầy đủ từ A tới Z ở một thời gian lâu dài trong một nền văn minh đặc biệt là lúc chúng ta ra sức khám phá những gì có từ căn nguyên ở tự nó (itself) và suốt cả dặm trường để mở mang trí tuệ và hành động. Nó bao hàm sự cố trong cuộc đời: sống thánh thiện hay tội ác. Hẳn nhiên; trong đời ít nhiều những đụng chạm thường tình xẫy ra hoặc đã xẫy ra. Đôi khi cảm thấy dấy lên trong lòng một cái gì ham muốn hay cám dỗ, quyến rũ, lôi kéo (tempted) để đạt cho kỳ được sự thỏa lòng trong hướng đi khác và tự đặc vấn đề vận mệnh rủi may, là những gì chuyển hóa, là định nghiệp (destined) để chịu đựng đau khổ (undergo). Trong đau khổ nó cũng có vinh quang của đau khổ chớ không thể lấy đau khổ để nói lên điều tuyệt vọng, bởi; có đau khổ mới đưa tới quyết định tối hậu, nghĩa là do đâu mà có đau khổ, nó nằm trong hành động trước và sau cuộc đời, nó tàn tích trong một quá khứ tiền kiếp và chờ đợi để được ‘trả lại’; một là thừa hưởng hai là chịu đựng. Nếu nhận nó như một định hệ thì việc đó coi như thỏa lòng, thỏa dạ mỗi khi đã trả xong nợ trần ai. Một hành động có nhân hậu của đau khổ và cảm thấy hài lòng để thi hành; tất không còn vướng tục mà trở về trong trạng thái như nhiên.

Nhưng lần hồi người ta sẽ tìm thấy trong đó cái giá trị của những gì chất vấn là giảm thiểu nỗi đau trong lòng có từ khi bắt đầu bởi nhân tố riêng tư (several factor) đó là cách ngắm nhìn hướng đi của mình hợp lý hay không hợp lý trong phạm vi hiểu biết của con người, có thể người ta coi đó là nghĩa vụ, nghĩa vụ gần như trách nhiệm. Dẫu sao việc này cho ta biết được, hiểu được là nhiệm vụ cao qúy để hành xử giữa những đối tượng khác nhau, là ít nhiều không do dự mà chứng tỏ như một phán xét của tương lai và chứng minh được sự tự quyết tùy vào việc để thi hành. Thực hiện trong sạch là nhân tố cá thể hơn những động lực thúc đẩy khác và tự quyết để thực hiện những gì mong muốn; đó chính là những gì đã kinh qua trong quá khứ và hiện tại. Đấy là việc lớn lao trong cách hành xử giữa người với người.

Có thể họ có cái nhìn viễn tượng hoặc cho đó là tương lai của một ảo giác mà ra. Có thể giữa những trạng huống đó đặc họ vào trong một khoản cách (gần như bắt buộc) khởi từ đó. Hiện tại là để nói (to say) nhưng phải trở về từ quá khứ (the past) trước khi đi tới một phán quyết tối hậu cho tương lai. Thí dụ: Do đâu để trở nên tu sĩ hay nữ tu trước khi họ bước vào cửa chùa hay cửa nhà thờ, nghĩa là; họ đã biết một thứ ảo giác của tương lai hoặc họ đã nhận ra mặt thực làm người là ‘trả lại’ dẫu định hệ tốt hay xấu của quá khứ, hiện tại hay tương lai. Họ dấn thân vào sự nghiệp tu hành là vượt ra khỏi cái nghiệp, cái nghiệp ắc có và đủ của thân phận làm người: sinh lão bệnh tử; nhưng chúng ta phải sống trong đó thánh thiện hay tội lỗi. Thánh thiện trả lại thánh thiện, tội lỗi trả lại tội lỗi; dẫu có vượt qua hay không họ phải trả lại cái ảo giác đó cho tương lai. Thượng đế không giải cứu con người ra khỏi những phạm trù đó mà chỉ trả lại phép nhiệm mầu trong đau khổ, cốt để xoa dịu làm nhẹ nỗi đau chớ không thể lấy thánh thiện bỏ vào tội ác hay ngược lại, bởi; thượng đế vô tư không dự phần mà coi đó là điều tất yếu. Tất cả vạn vật trên đời đều có một định hệ gắn liền vào nhau. Đó là quy luật như nhiên như đã thấy.

 

Nền văn minh nhân loại là tất cả những gì được ngưỡng mộ trong những gì đã làm nên sự việc cho con người, cho xã hội; đấy là yêu cầu khẩn thiết từ xưa đến nay. Cuộc đời con người (human life) đã đứng lên ở tự nó hơn mọi động vật khác trên hành tinh nầy với những gì giữa văn hóa và văn minh là một tổng thể để xây dựng chí hướng, nó bao gồm tất cả sự nhận biết và năng lực, là con người biết qui phục trước hoàn cảnh để đạt yêu cầu, là thỏa lòng với sự việc như mong ước. Có hai chiều hướng của văn minh là không nhượng bộ đó là cơ bản đầu tiên (firstly) là phương cách có lợi điểm, là những gì đạt tới thịnh vượng ấy là điều có thể thực thi như nhiệm vụ đưa ra. Ở hoàn cảnh này ta phải tìm hiểu hơn là phê phán chỉ trích, không thể lấy cái áo the thâm mà cho thiếu văn minh thời đại, thiếu cương lĩnh văn hóa, chính trị, khoa học, kinh tế nó có một sắc thái đặc thù hơn những gì theo đuổi khác, bởi; trong cái tầm thường đó chính là ý niệm của bừng dậy để thực hiện lời yêu cầu một cách thích đáng. Cái sự đó gọi là: ‘hài long chính đáng’ cho một ‘hiện thực chính đáng’. Đó là cơ bản lý luận trên chiều hướng của nền văn minh đương đai, bởi vì; bất cứ cá thể nào hiện thân đúng với con người thật của mình là gần như kẻ thù của văn minh, dù văn minh tưởng là chủ thể lợi ích cho vũ trụ loài người, nhưng; trong văn minh của loài người có những quan niệm khác nhau. Một là xây dựng trên cương lĩnh đề ra, hai là phá hũy tận gốc để thống trị. Người nô lệ luôn chịu sự khuất phục để đòi hỏi quyền sống, người tù khuất phục trong một phản kháng nội tại nghĩa là cả hai đối tượng cố vượt thoát để thực thi những yêu sách mà họ mong muốn. Nếu đạt tới là một thỏa lòng. Thỏa lòng làm nên việc là chính đáng còn thỏa lòng để phê phán vạch lá bắt sâu, dở trang lịch sử cũ để bôi bác là hành động của tự ái; ngu xuẩn. Cho nên chi trước việc làm và sau việc làm là một nhận biết đâu tà, đâu chính; nếu đặc mình vào điạ vị đó ắt táo bạo hơn kẻ trước đã thực thi. Họ thực thi trong chính nghĩa, phê phán, bài bác là thực thi trong đòi hỏi (cá nhân ). Thực thi là cải thiện, là chịu đựng dày công. Trong hình ảnh đó là một lập trường chính đáng trong ảo giác của tương lại. Có hai lý do để nói lên cuộc đời con người: một là chấp nhận thương đau để đạt yêu cầu, hai là phản kháng không có nguyên nhân (rebel without cause). Cả hai đã đánh mất tính lịch sử. Cái đó là ích kỷ tự tại (selfishness itself). Một sự thỏa lòng trong một thỏa lòng ích kỷ tự tại mà thôi!.

Thí dụ: người nông dân ít học không có tính khoa học hiện đại, nhưng; có óc khoa học hiện đại, nghĩa là lái con trâu theo hướng đi của mình bằng nông cụ thô sơ. Con trâu hiểu ý chủ là người nông dân thực thi đúng đường lối chủ trương. Ngược lại; người tốt chữ, tốt mã nói nhiều hơn làm, chứng minh sự cố như để phơi mở hướng đi, hướng đi gần như mù tăm vì thiếu lập trường chiến đấu mà ‘chạy làng’ là quẫn!.

Đứng trên vai trò khách quan mà nói: nông dân và văn/thi nhân đều là hoài vọng cho hướng đi. Hướng đi nào hợp lý và thích nghi là đi đúng trào lưu tư tưởng đương đại; nếu sự cố đem lại một tương lai khả quan và thịnh vượng. Giữa nông dân và trí thức đều đạt yêu cầu như một lý lẽ chính đáng và một hiện thực chính đáng cho công việc hôm nay và mai sau. Đấy là điều ước của thỏa lòng mong đợi ./.

VÕ CÔNG LIÊM (ca.ab.yyc . đầu tháng 5/2022)

Trả lời

Điền thông tin vào ô dưới đây hoặc nhấn vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s