THƠ ĐẦU NĂM 2021

Châu Thạch

ny 21 hoa

Khuya Nhớ.

Trời đã cuối năm đêm lạnh quá
Ta nằm nhớ núi thuở đi tù
Bụng đêm khoai sắn kêu lời ếch
Đời ở rừng, sương khói mịt mù

Tiếng dế nghe buồn như tiếng khóc
Bờ xa thác lệ róc quanh đêm
Mẹ già có lẽ nằm thao thức
Vợ trẻ dòng châu đẩm gối mềm

Cán bộ soi đèn đi kiểm soát
Nằm im nhớ bạn đã yên mồ
Ngày mai có lẽ ngày mai nữa
Còn đó trăm năm tấm bản đồ

Trời đã vào khuya lạnh gió đông
Nhớ xưa như tím ngắt trong lòng
Thức đêm mới biết đêm dài quá
Đã cuối con đường cuối ước mong!

Chúc Đầu Năm.

Đầu năm mấy lời chúc bạn
Sẽ thôi cuộc sống đang trầm
Trải qua những ngày rét đậm
Rồi thì nắng cũng hòa chan

Đầu năm mấy lời chúc bạn
Của tiền không đến thì thôi
Đến thì ngay đường thẳng lối
Đừng tham đừng dối đừng gian

Tớ đây không có bạn quan
Bạn nghèo thì nhiều lủ khủ
Bạn giàu vài anh vài cụ
Tách đời cũng mấy bạn tu

Đầu năm nằm nhà buồn ngủ
Thưởng mình một tách cà phê
Nghĩ về ký ức lê thê
Ôn cố những điều đáng nhớ

Đầu năm vài lời ngú ngớ
Chúc mừng tất cả bạn đây
Năm mới vui phút vui ngày
Ngoài ra đếch cần chi cả.

Thơ Võ Công Liêm

mona lisaGỞI NGƯỜI TÌNH XƯA

nghĩ về : Mona Lisa (1452-1519)
dịch cơn rộng mối bờ môi
não thiên lấp loé biển thôi giận hờn
hồn tê liệt nỗi bâng khuâng
che khuất bóng tối mờ em nẽo về
cây cô thôn xõa lá ưu phiền
miền cô tịch nọ lộ tuyến đường miên man
nằm trong gối chiếc lại mơ bàng hoàng
chân đi chập choạng bên đường mộ quan
ngọc dồn tồn lọa viễn thương ngậm ngùi
sát na vô tận hắc chiều liễu dương
đứng nghiêng bóng đợi tâm tùy tiện di
chuyển thân tâm ngát mùi hương lập tồn
tại vì đất đục cõi trần diệt vong
hốt nhiên tự tại tồn lui trở đi trở lại cho đời ngát hương
ta về một cõi bình minh dậy nắng ở trên cao nắng rọi hồn
buốc lạnh canh tàn bóng ngạ dương
lưỡng quyền dục mõ phi nghi đáo
lập lờ độc cước vào hang động mò
để em nằm trải mộng mê đường thuở xưa
đường trần ai biết bốn lề trúc thưa
giữa khuya âm trực dương đà ngủ mê
để trăng vàng võ ta về bóng hoang
tàn cơn vi diệu sao mòn tứ phương
chấp tay xin vái nguyện cầu
cho mai sau đó
như nhiên cuộc đời
ngọc thỏ dồn lân du ngã thượng
phiêu diêu dục mã tự đời Thuấn Nghiêu
âm ti bóng đổ bên đường vọng quan
về lấp cõi thế trận đồ ngã ba
cho cây lá trổ
miên trường lũy xưa
tiêu diêu viễn tượng thâm u xứ
phù du kiều lộ mấy mươi đoạn trường
nhớ cho tâm sự lại tồn
luống tưởng di hề diệu thời ngụ trang
lá cây bải hoải trăm đường nhớ
rằng khe thốt nốt cho môi hé cười
dòm trộm miêu cường lộ tuyến xưa
lồng che nguyệt bạch ngã tự tư
ta . phiêu du chốn ta bà
thơ theo óng chuốt bốc lừng
hồn lùa cuồng hứng kiêu hùng một khi
thuần chất chiếc lá đong đưa
trên tay là nhánh hoa chưa lộ thần
năm xưa dâng tặng giữa triều
ngự quan dài đường hái trái lệ chi
cho thơm thân xác ngọc ngà nửa đêm
miền vĩnh cữu hạnh đơn tuyền
khép đôi môi lại ngõ hầu khác xưa
ngắt hoa tiềm tạng nặc mù sương rung
trăng thế kỷ chén quỳnh tương một thời
tháng năm thiêm thiếp hồn sa mạc buồn ./.

(ca.ab.yyc. cuối năm 12/2020)

COVID 19

ta úp mặt khóc
một chiều côi cút
linh hồn mục nát
đợi gió đông về
hoàng hôn rủ bóng
cô Vi cô Vảy
quá nửa vừng trăng
buồn vui lẫn lộn
giữa trời
hoang vu
không một
bóng hình

NẮNG

tặng: thi sĩ TVL
giữa trưa đứng bóng
nắng cực vô cùng
xin một chút tình
cho người khất thực

GIẢ SỬ

mùa đông ta gọi mùa xuân
rồi òa lên khóc như trẻ thơ
tuyết rơi vào sa mạc ướt mắt bò cạp
con chim trốn tuyết bay về đâu nhỉ ?
ta về một cõi đìu hiu gió
giữa chốn ta bà bóng tịch dương

VŨNG TỐI

giữa trời thế kỷ mấy tỷ vì sao đang chuyển động
một trời đất đục cho gió hân hoan uống mặt trời
để theo mưa mở ra từng ngõ lạ dưới chân người
hoa tuế nguyệt vung vải một thời một đời hư vô tận
vấn khăn mỏ quạ lất phất gió sương ươm mắt ngọc
ta . phóng túng chưa dứt tửu nhục thê noa sát tan am
những cánh cửa mở tung lời khấn nguyện như đã
đoạn tuyệt trần gian cho mắt mi xanh lá ngủ
cho đỉnh trời nom thấy ánh dương soi . thoi thóp thở
làm hình tượng người tình chân thật một đời mưa nắng
có bên nhau vào đời dưới bầu trời ẩm đục quá trần ai
sát na thời gian không có trăng đáy nước làm nhân chứng
chỉ tay lên trời là mộng không thành thực giữa thế gian
sự thật xoáy vào đời bằng lời mật ngữ đại chuẩn đề
hóa thân làm người cho thử thách muôn năm vận số
vũng tối ngã qụy khi mặt trời vừa thức dậy một sớm
mai nào cho cuộc tình tháo vát mảng trăng sao vô lượng
kiếp phù du cho ‘khoé mắt biển sâu / cho đời hoa bát ngát’*
hóa giải đời tha ma điạ tha trùng trùng duyên khởi nghiệp
thoát khỏi vòng phàm tục . ta bà ha ta ra ma . úm ma ni ./.

VÕ CÔNG LIÊM (ca.ab.yyc . mùa đại dịch . Xmas. 12/2020)
*Thơ: Thanh Tâm Tuyền.

n G À y m Ớ i

h o à n g x u â n s ơ n

biển chiều VTV

rốt cuộc những người đồng hương ngồi lại với nhau
tưởng niệm về một thời đang qua
những người đồng hương tìm chỗ ẩn nấp
cho một thời đang tới
những người mạnh miệng
những người gân cốt dẻo dai
rốt cuộc không có ai là siêu nhân
còn lại những anh hùng đồng bộ
cất tiếng đồng ca cho một ngày mới
thúng mủng rền vang

h o à n g x u â n s ơ n
Giáng Sinh năm 2020

In the bleak mid-winter | Trong u ám đêm đông dài

 

IN THE BLEAK MID-WINTER
Ý thơ: Christina Rossetti (1830-1894)
Giai điệu: Gustav Holt (1874-1934)

In the bleak mid-winter
Frosty wind made moan,
Earth stood hard as iron,
Water like a stone;
Snow had fallen, snow on snow,
Snow on snow,
In the bleak mid-winter,
Long ago.

Our God, Heav’n cannot hold him
Nor earth sustain;
Heav’n and earth shall flee away
When he comes to reign:
In the bleak mid-winter
A stable-place sufficed
The Lord God Almighty
Jesus Christ.

What can I give him,
Poor as I am?
If I were a shepherd
I would bring a lamb,
If I were a Wise Man
I would do my part,
Yet what I can I give him,
Give my heart.
https://youtu.be/pTzqMi2AQF8”


Lời Việt – Ian Bùi

TRONG U ÁM ĐÊM ĐÔNG DÀI

1. Trong u ám đêm Đông dài
Gió rít lên từng hơi
Nghe như khóc, tiếng con người
Trong giá băng ngập trời
Xuyên màn đêm hoa tuyết rơi đầy
Những cánh hoa màu trắng khôi
Trong u ám đêm Đông dài
Đêm Chúa Con chào đời

2. Người đã đến với nhân loài
Dương thế bao trần ai
Trong đêm vắng tiếng ru hời
Mang giấc mơ miệt mài
Chiên lừa lặng yên đứng trong ngoài
Máng cỏ khô làm chiếc nôi
Trong u ám đêm Đông dài
Đêm Chúa Cha làm người

3. Ta không có chi trên đời
Manh áo tơi sờn vai
Ta chỉ có trái tim này
Xin hiến dâng cùng Ngài
Dẫu trần gian muôn kiếp luân hồi
Hãy yêu thương và sống vui
Trong u ám đêm Đông dài
Thiên Chúa trao nụ cười

-ianbui
2020.12.25

“The Handmaid of The Lord”

Khê Kinh Kha

giang sinh

“Behold, the virgin shall conceive and bear a son,
and they shall name him Emmanuel,
which means “God is with us” (Matthew 1:23)

We ponder the Mystery of the Incarnation as we prepare our minds and hearts to celebrate on Christmas Day the indescribable GIFT of Jesus Christ, the Son of God who came down from heaven to us as one of us.

He comes to us right here on earth.
Right here in the midst of our happiness, our joys, our sorrows, our sadness, our ups, our downs, our problems and
our concerns. He walks with us through all the events of our everyday living.

“Have we opened our eyes to see Him?
Have we opened our ears to hear Him and
Have we opened our minds and hearts to experience His Living Presence?

Each day we submit to you, O Lord,
All our souls and all our beings,
For, we know you are with us and in us
In ev’rything we are doing and serving.
In temptation or in uncertainty.

When anxiety and trouble crush down on us
And darkness conquers over our mind and vision
You are the guiding light for us to see,
Shining forth to our direction and destination.

Each day, O Lord, we lift up our pure hearts,
The wholeness of us, consecrated, completely,
To you, in ev’ryday of our lowly lives
You gift us love, you gift us wisdom,
You gift us vision of eternal light.

Though if our earthly lives could span thousand and thousand years
Still, how could we repay, O Lord, how could we repay?
For, our lives are blessed with Your fullness, always
Like the sun rising in the East every morning
Like ocean waves dancing to the shore, endlessly,
For Your sake, O Lord, we are conforming
Yes, conforming our will to yours,
Like flowers blossom, fruit ripens, in the obedience

You are, Lord, you are the blood flowing in our hearts
The air we are breathing every second,
How can we live without you, how can we live without you – Lord
Like river water longing to the sea,
Like fish and water, bees and flowers, inseparable,
Yes inseparable!
All of our souls, O Lord, all of our minds, all of our planning
Consecrated, ev’ryday, to You O Lord, solemnly.
Yes solemnly.

Jesus wants nothing more than to born within each of us.
Will we let him?
Will we find new ways to give birth to Jesus in our hearts, our souls, our minds, and in the world?
Will we, like Mother Mary, say:
“I am the handmaid of the Lord. May it be DONE to me according to your word” (Luke 1:38)

Amen!

Khê Kinh Kha

[Đoạn viết dở dang mùa giáng sinh giãn cách]

giangsinh2
 
Những bông tuyết bay ngang
đường về nhà lối tắt
mùa đông đứng sắp hàng
đêm rất gầy thánh vọng
 
Hạt bụi. và chuông ngân
bưng hang đời rét cóng
men dã chiến thất thần
cặn mùa sao đáy bọng
 
Giả thử ta nhìn nhau
bằng con dao cắt bánh
giả thử trong vòng rào
tràng kẽm gai hiển tích
 
  • h o à n g x u â n s ơ n
    21 decembre 202

burning love

khê kinh kha

a cross


I’ve given you all my burning love
flash with flashes of fire
scorching in my heart
in my soul
and in my entire life
from now until eternity

there is no rivers
nor waterfalls
nor oceans
can quench my burning love
for you

and there is no sorrow
no ascetic
nor suffering
can bury my burning love
for you, my Lord

because I love you
I need you
you are the breath of my life
and I am drowning in your love and compassion

khê kinh kha

BỎ QUA NHỮNG LẦM TƯỞNG; QUAN NIỆM SAI LẤM VỀ VẮC-XIN COVID-19

Thư viện của bài

This gallery contains 2 photos.

      Bhavesh B.     Trong vài tuần tới, hàng triệu người có thể được tiêm những liều vắc-xin COVID-19 đầu tiên ở những nơi khác nhau trên thế giới. Vương quốc Anh đã bắt đầu triển khai vắc xin … Tiếp tục đọc

đ Ộ d Ằ n c Ủ A s Ó N g

tranh-vcl2
Nặng đè lên
nặng
đè thêm
dằn lên bục nóng
ngoài thềm phân ưu
thở quen ngực với ân cừu
bao la có một miền lưu cữu nằm
nghệch ngờ nơi chốn thẳm thăm
dao đâm một nét
vang ầm thanh chương
phải là em. tôi
dò đường
gậy mòn hôn thụy
vết thai hương
bầm
mình về thấu
cõi
âm âm
chia hai miền tị
chung phần náu nương
kể từ hôm lĩnh xướng
nường
tình yêu có một vết thương cực kỳ
tôi viết
em viết
được gì
nơi hoang mang đứng
nhìn. suy diễn
nằm
rồi từ nhục thể xăm xăm
chúng ta còn lại

[tro đằm
cốt khô]

h o à n g x u â n s ơ n
29.9.2020

ĐÂU CẦN CHỜ ĐÊM GIÁNG SINH ĐẾN PHẢI KHÔNG EM?

Nguyên Lạc
 
cuoiconduong

1.
Đêm Giáng Sinh Chúa hiện xuống trần
mang niềm tin mới cho nhân thế: Công bằng. Bác ái
Có ích kỷ không em?
Khi anh không thích em bác ái
Em phải yêu thương riêng chỉ mình anh!
.
Đêm đâu cần vọng về những tiếng chuông ngân
Khi em đến
ngàn tiếng chuông tình vang hồn anh ngây ngất
Đêm ngọt ngào như mật
như chiêm bao
như cổ tích
Đêm khát khao
Em. bãi cát nhung êm đợi chờ
Anh. sóng biển mơn man phủ tràn
những nụ hôn thân trầm hương ngát
.
Đêm. chỉ riêng anh và em
Vòng tay đan nồng ấm
vũ điệu Rumba mê đắm
hai thân người cháy bỏng quyện tan nhau
.
Đêm mang tin vui.
lời tình ca anh hát
Ngợi ca thần tình yêu Cupid
Em. bắn mũi tên vàng ngay tim. anh ngất
Nên suốt đời anh mãi “vọng một phương”
.

2.
Đâu cần chờ đến đêm Giáng Sinh đâu em!
Để chuông ngân vang mang tin mừng mới
Bất cứ đêm nào quắt quay mong đợi
Em đến …  là đêm Giáng Sinh!
.
Hiện hữu em … cứu rỗi đời anh!

Có tội lỗi lắm không?
Có ích kỷ lắm không?
Khi nghĩ em là Chúa riêng
mang tin mừng chỉ độc nhất anh thôi
.
Cảm ơn em!
suối tóc nhung êm
mật ngot môi cong
Và cảm ơn thân trầm
ngực rằm dâng hiến
.

3.
Đâu cần chờ đến đêm Giáng Sinh đâu em!
Ngàn nến hồng lấp lánh rạng tâm khi em đến
đêm nồng nàn
đêm khát khao
đêm ngọt ngào
đêm mê đắm
Đêm ngất hồn say hương mật tình ta

Đâu cần chờ đêm Giáng Sinh đến phải không em?
.

Nguyên Lạc

TÀN PHAI /VỤ ĐÔNG XUÂN (III)

VÕ CÔNG LIÊM

1phonho

TÀN PHAI

tặng: vương trùng dương.

rồi những lần ra đi
bỏ lại những con đường
con trâu bụi cỏ
hồn nhiên tôi
một thoáng mơ phai
những đốm lửa lập lòe trí nhớ
trong hang cùng ngõ hẹp
biển khổ đứng dậy
rong rêu sống lại
một lần trong đời người tù khổ sai
được yêu em bằng trái chín thật thà
trên băng tầng vô cực của gió
mưa giông bão
với bùn lầy
đưa nhau vào
cuối đường hầm
tuyệt chủng thời gian
chôn vùi quá khứ
quá khứ rắn độc
hổ mang thuồng luồng
dao gâm lựu đạn
đốt cháy linh hồn
vùi dập thể xác
tôi . đưa em vào động thần thất
không một bóng
mặt trời đen
để giao hoan
cho thỏa mộng
giang hồ một kiếp từ đây
lạc bước sang ngang làm lính thú
của chó và người
sa mạc lõa thể
dưới lòng cát bụi
cát bụi hôn mê
tôi . hô hào tôi trong vũng tối điêu tàn
em . giao chiến em từng giọt mưa đau
rồi những lần ra đi
không một dấu tích
‘xin chiếc lá vàng làm bằng chứng yêu em’*
một thời mạt pháp
với trời hư không
tàn phai !
niệm câu thần chú mà đãnh lễ . nam vô phật
‘a di lỵ đá tất đam
a ly lỵ đá tý ca lam’
đêm mông lung mưa rơi bất tận
sáng đường trần mộng mị qua đêm
mắt môi em dị nghị giữa chốn ba đào
những bải cỏ sâu đêm còn thắp đuốc
bằng lời yêu ca dao
lên xe về miền đất hứa
một lần bỏ cuộc chơi
xa chốn bụi đời
‘làm cây thông đứng giữa trời mà reo’
lang thang
sắc lạnh
một đời
chiêm bao ./.

(ca.ab.yyc. 1 /dec/2020)
*Những chữ trong ngoặc đơn là tùy hứng không dẫn chứng nó là của ai. Bởi nó là vô nghĩa thơ. vcl

VỤ ĐÔNG XUÂN (III)

tháng chạp tây
bỏ ngõ vụng về
nắng núp sau tà áo
tuyết phất phơ mùa gió đứng
đông về chưa ?
mà lá đã nghiêng cành
cuối đường mưa
hiên khung trăng trải vụng
mây mùa thu rụng tàn hơi thở
bềnh bồng trôi
như hằng mơ
cõi lạ len qua từng ngõ ngách
xuân lấp ló sau mành đứng đợi
nghe đâu đây tiếng ai gọi hồn
tháng giêng chập chửng đi
giữa lòng đất mẹ
để qua tháng mình trần trải gió
ngáp tàn dư lệ của tháng năm
lất phất mùa đông năm nọ
chờ em dưới mưa sâu
gió bấc hà hơi ấm
liễu buông lơi mưa phùn
những cụm hoa bẻ gió
lướt qua khung trời chất đầy mộng mị
thời gian phôi pha miên man nỗi nhớ
tóc em đổi màu mây theo gió bay
để nghe
tiếng ngất
của biển
chờ nước lên tát cạn bờ môi
trăng bỏ dở cơ hội
tím hoa ngoài hàng dậu
lưa thưa mắt mưa mùa đông
mùa chín chưa hái
non tháng năm chờ
em . nhặt hộ dùm tôi
qua đông xuân đền bù quá khứ
cho hoa thơm xanh ngát
cho nắng chảy lung linh
một trời biền biệt xa đưa
ngoài hiên mưa rơi . mưa rơi

tôi . gọi tên em
một trời thế kỷ
giữa chốn ba đào
làm con quốc kêu ./.

VÕ CÔNG LIÊM (ca. ab.yyc . đầu tháng 12/2020)

đ i ê u đ ứ n g

hoàng xuân sơn

10thuong

đầu trắng cước một hôm ngàn lau dậy
tóc huyền xưa không dẫn nước qua bờ
chim móng đỏ nghe chiều kinh sơ tụng
đại hùng tâm pha lũy tự bao gì

còn lại đấy một linh hồn e ngại
bởi tuần trăng phơi áo lĩnh trên đồi
em đã đến rồi đi cùng hương ảo
nên chuông hồng ngân đọng áng chiều rơi

ôi móng sắc là thú đời ve vuốt
là nhung êm hay máu tụ roi lằn
cung tiển ấy đã ghim vào thương phế
sợi nhu mềm e trói nặng nghìn cân

dẫu tình tang gối đầu lên sóng ngã
vó thuyền đau từ gỗ thụy muôn niên
xin yên thắm vào đại hồ giấc cũ
bóng tích xưa mùa hoán dụ đất liền

thôi biển khép cho sông nằm xuôi chẩy
xuôi tay về miền thất thổ lao lung
và am miễu nghe vô thường điêu đứng
một vì sao cúi lạy giữa vô cùng

Hoàng XuânSơn
16 dec. 2010

ĐẾN GẦN THƯỢNG ĐẾ

                                                CỦA CON NGƯỜI

VÕ CÔNG LIÊM                             

MM

TRANH VẼ: ‘M.M dựa đồ họa của Andy Warhol’ Khổ: 15” X 26” Trên giấy bià cứng. Acrylics+mixed+ house-paint. Vcl#22112020. *Andy Warhol (1928-1987) Sanh ở Pittsburgh (PA/USA) Chết ở New York (NY/USA). Gốc Tiệp Khắc (Czech). Nghệ sĩ chuyên vẽ minh họa trên ảnh và hình ảnh quảng cáo. Kỹ thuật về đồ thị (serigraph technique) Để lại nhiều tác phẩm Pop Art. Tranh và đồ họa hiện có ở Viện bảo tàng Nghệ thuật Hiện đại và Đương đại. Đã triển lãm nhiều nơi trên thế giới. Được xếp là danh họa của tk.thứ Hai mươi.(Art of 20th Century by Taschen)

   Trên nguyên tắc đây là một ý niệm hiểu biết hết sức đầy đủ của vấn đề; là những gì do từ nhận thức ở nơi chúng ta với sự hiện hữu của Thượng đế. Chúng ta phải coi đây là điều hệ trọng để đến gần Thượng đế của con người –Man’s approach to God là tùy vào sở năng tự nhiên thuộc trí tuệ của con người; đó là điều mà con người tìm đếnThượng đế giữa lúc này. Sự này tùy vào niềm tin. Chỉ có như vậy mới mong đưa chúng ta đến hình ảnh của chủ đề, một chủ đề hoàn toàn sống thực không còn ngại nghi là Thượng đế có thật hay cho đó là sự siêu nhiên để lôi cuốn vào niềm tin –the super-natural gift of faith.

Để hợp lý hóa; chúng ta dựa vào những gì thuộc quan điểm triết học để làm sáng tỏ vấn đề, với một vài ý niệm có từ những lý thuyết khác nhau; là một tổng thể để xác định hay không có Thượng đế giữa cõi đời này. Biết rằng chúng ta đang sống trong thế giới khoa học thực dụng là một phủ nhận sự có mặt của Thượng đế. Tuy nhiên; bên cạnh sự phát triễn của nền khoa học hiện đại, có thể cho chúng ta thấy được sự vĩ đại của vũ trụ, một vũ trụ ‘super-nature’ vừa sáng tạo vừa tạo thành là một khả năng vô biên buộc con người phải nhìn nhận hiện hữu của nó (existence of God). Triết học hay lý thuyết chỉ là phương tiện để lý giải thực hư chớ không phải là cứu cánh tuyệt đối để đạt mục đích. Hiện hữu của Thượng đế nằm trong nhận thức và hiểu biết nơi con người.Có thể đó là hình ảnh của sự thật,có thể đó là hình thái của siêu hình.

Vật lý học ngày nay đã minh định cụ thể và không thể vượt qua trí tuệ và văn hóa của chúng ta. Đó là một tiến trình và một thành quả lớn lao; tuyệt vời và xứng đáng ngợi ca. Vậy thì cái gì cho là xấu xa, hay cho đó là một thứ vật lý tạp nham và một thứ nguyên tử hóa (atomizing) đã có trong chúng ta, nhưng; phải biết và hiểu về điều này một cách minh chính, tức không còn hoài nghi giữa thực, giữa mộngảo là hình ảnh chưa thực lòng tin một cách thấu triệt. Đòi hỏi tin là nhận thức, là hiểu rõ về nó một cách tự nhiên, đó là sự thật về lãnh vực hiểu biết và là một hạn định về nó –but; to be aware of its very nature, its true field of knowledge and its limitation. Cho nên chi tánh hư tật xấu là cái gì cần có để trợ vào cho một thứ tâm lý và hiểu biết khác. Tánh hư tật xấu cần có là một sự đổi mới (tư duy) về những gì siêu hình –What is badly needed is a renewal of metaphysics. Xa đi những thứ trần ai là lột bỏ ở chính chúng ta cái thứ ‘hình nhi tượng học’, nó không sống thực mà trở nên mơ hồ, trừu tượng, không còn là đối tượng chủ thể giữa người và vũ trụ. Vũ trụ là hình tượng học, một sự sáng lập vô hình mà hữu hình. Đấy chính là nhận thức trước một hiện hữu tại thế; con người không thể chối bỏ sự hiện hữu của con người, dẫu dưới hình thức nào hoặc từ nguồn gốc nào từ phôi sinh đến hình thành, lấy đó để xác nhận thực hư, xác nhận giữa mộng và ảo là minh định đối tượng chủ thể, không còn nghi ngờ cho đó là thứ không kế tục hay tiếp nối giữa thế giới vật lý học và thế giới của siêu hình học. Không dẫn ở đây thời kỳ quá độ của chủ nghĩa khoa học, cho dù là hình ảnh hiện đại (the modern image) mà tạo ra phức tạp, nhiều thứ bí truyền và nhiều thứ nhiêu khê (fecund) trong một thỉnh cầu thực nghiệm –là thứ hình ảnh thuộc về siêu hình hoặc cho đó là ý tưởng thực thể để dựng nên có thực; rồi từ đó cho chúng ta cái điều không thể đánh giá được về hình nhi tượng học (symbolical) hoặc đây là chuyện lạ phi thường thuộc hiện tượng học (phenomenological) đưa tới sự nhầm lẫn giữa ‘hình tượng’ và ‘biểu tượng’ trong lúc chúng ta đặc vấn đề một cách rốt ráo.

Đó là nhận thức thế nào là vấn đề xử sự (matter behaves), nhưng; không thể chỉ thị hay truyền đạt chúng ta những gì thuộc triết học hoặc bản thể học là vấn đề gì đây (what matter is). Thực ra; cả hai vấn đề đòi hỏi một nhận thức thấu triệt là chủ thể vấn đề được đặc ra giữa có và không có thượng đế là vấn đề chủ lực của niềm tin. Thượng đế không buộc ‘chúng sinh’ phải tin theo mà để con người tự tin theo là bản thể như-nhiên, là chủ hữu. Giờ đây; thời cơ cho ta những gì có thể hóa giải được giữa khoa học và hiểu biết vì những thứ đó là khát vọng tâm trí con người –The opportunity is now given for that reconciliation between science and wisdom for which the human mind thirsts. Từ cái chỗ đặc vấn đề và xử lý hoàn cảnh là động lực ý thức có nơi con người chớ không phải là động lực ‘ban phép’ có nơi Thượng đế. Cái sự lý này là dấu hiệu chìm đắm để muốn tìm thấy một lần nữa cảm thức của Hiện hữu / the sense of Being . Sở dĩ đi tìm cái lý chính đáng trong triết học là chúng ta đi tìm một sự sáng tỏ của hiện hữu, vì; lý do này nọ hay vì bản thể học lôi cuốn hay trong mọi lý do khác nhau. Sự thực chủ nghĩa hiện sinh là nêu ra lý do –True existentialism is the work of reason; chớ chẳng phải là lý thuyết hóa giải cho hiện hữu và thực chất của nó. (trong L’Être et l’Essence by Étienne Gilson) Bởi; như thế này: nó là thứ trực giác của hiện hữu của một thứ trí năng vô hình –it is the intuition of being (abstractive intellection). Lý lẽ này được coi như tư tưởng của Plato hoặc của Spinoza là sự cớ thuộc trí năng của con người đi vào trong lãnh điạ của siêu hình và có thể xem nó là trí năng thuộc siêu hình học (metaphysical intelligence). Nói chung mọi lý thuyết có từ Plato, Aristotle đến Thomas Aquinas, Descartes và Leibniz. Là những gì mà các triết gia đã cống hiến những chứng cứ cụ thể hoặc đã biện minh về sự hiện hữu của Thượng đế. Thực ra bên trong của trực giác là của hiện hữu hoặc những gì minh bạch cho một giá trị hiện hữu, cái đó được coi là một hiện hữu nguyên trạng (absolute existence) hoặc một Hiện hữu chẳng có chi cả (Being-without-nothingness) là một tổng thể vượt quá khả năng của con người để đối diện trước một hiện hữu của Thượng đế.Việc này không còn mới mẻ gì để tìm đến Thượng đế, nó đến trong nhận thức hiểu biết của những gì bình dị, đơn sơ, một sự thức tỉnh hồn nhiên và một năng lực giải thoát là chức năng của những gì đến từ cõi ngoài của vô tận. Thuở xa xưa khoa-học-triết đã chứa những thứ vô lý, thứ khoa học hình ảnh hơn là tìm thấy, hình ảnh đó nôm na là hình tượng thuộc biệt hiệu bản thể học (pseudo-ontological) chớ chẳng đem lại một hiệu năng nào hơn giữa nhận thức hiểu biết về thế giới tâm sinh lý để đi tới nhận thức hiểu biết về Thượng đế. Cảm thức về Hiện hữu là nguyên tắc trong những gì thuộc vũ trụ tư tưởng của họ là đưa vào đó một khí hậu cảm nhận thích nghi và ngày nay tri giác tự nhiện là một hiện hữu tại thế, có thể lấy từ ý niệm hóa và hợp lý hóa khoa học thực chứng để xác nhận sự kiện giữa hữu thức và vô thức mà không lạc mất một năng lực có từ bên trong của tri giác, bởi; cơ bản của nhận thức chính là tri giác của hiện hữu dành cho một hiện hữu tại thế mà lâu nay ra công tìm kiếm để xác nhận cho một sự thật như-nhiên. Bởi; con người luôn luôn hoài nghi, hoài nghi ngay cả bản thể của mình đang sống; hình ảnh Thượng đế trở nên ‘khách quan’ dưới mắt của con người. Hiện diện của Thượng đế như chứng tỏ cho một hiện hữu sống thực và chỉ đến trong một thỉnh cầu của đòi hỏi. Cho nên chi muốn đạt tới niềm tin là do con người tìm đến Thượng đế, tuyệt đối Thượng đế không tìm tới con người trong khi con người còn nghi vấn giữa hữu thể và tha thể. Hoài nghi tất không có niềm tin. Cốt tủy của tôn giáo là rao giảng niềm tin là chứng giám cho sự thật, sự thật hiện hữu của tại thế. Đến với Thượng đế là cái lý do của con người trong cái gọi là nguồn sinh lực của nó, là một lý lẽ tự nhiên –Human reason’s approach to god in its primordial vitality is a natural reasoning., gần giống như tri giác hoặc là sinh lực không thể chống lại được là trí năng phản chiếu một thứ tri giác hiện hữu. Bởi như thế này: Hiện-hữu-với-không-có-gì (Being-with-nothingness) là làm cho trí tuệ gắn bó vào cái cần thiết của cái gọi là Hiện-hữu-không-có-chi-cả (Being-without-nothingness), bởi; hai dữ kiện là một năng lực chiếu sáng của tri giác là cầm giữ trí tuệ và cũng là nghĩa vụ để nhận thấy sự hiện hữu về nó.

Như vậy việc này nó đến trong một tiến trình hết sức tự nhiên, trong một tri giác lóe sáng ban sơ có từ những hệ trọng chắc chắn để có một hệ trọng khác được sống còn (linh hồn và thể xác tái sinh) một cách chắc chắn hơn –Thus it naturally procceds; in a primary intuitives flash, from imperative certainly to imperative certainty (!). Là những gì có từ trong tư tưởng Descartes cho tới Kierkegăard và được coi là tư duy hiện đại có từ thời đó cho tới thời nay; nó bao hàm một tổng thể về ý niệm thuộc tri giác là một đòi hỏi ở nhận thức để nhìn thấy sự hiện hữu tuyệt đối (Thượng đế) đối với con người. Cho nên chi cái gì thuộc sở hữu chủ là của /of /de cái đó là một xác định cụ thể giữa không là ‘cái quyền’ của con người tìm đến Thượng đế; phạm vi đó chưa hẳn phải hoàn toàn để chối bỏ hay khước từ về sự siêu hình và nếu cho là đã được thanh tẩy (cleaned) của những gì không có lý tính, không thể dung thông (irrationalism). Nếu tư duy đó khăng khăng cho rằng Thượng đế chỉ là hình ảnh của tôn thờ hoặc dưới một lăng kính khách quan khác, nghĩa là chưa hẳn tin có thực trong hiện hữu; Thượng đế nằm dưới dạng thức siêu hình hơn là thực thể sống động. Vị chi đến với Thượng đế của con người trong một tri giác trong bóng không vướng đục; ánh sáng vi-diệu-tính-không sẽ mở đường cho một nhận biết mới hơn. Nhận thức hiểu biết là điều hết sức đặc biệt tự nhiên có từ nhận biết thấu đáo của con người. Tức nhận thức, hiểu biết của con người về Thượng đế (man’s knowledge of God). Nó xác định một cách minh bạch hơn bất cứ những gì thuộc lý lẽ khác hoặc những gì phát triễn của khoa học là hợp lý (logical) vốn dĩ đã chứng minh.

Mỗi khi chú ý hay để tâm tới kinh nghiệm luân lý, chúng ta sẽ có thể nhận ra rằng luân lý đạo đức là cần thiết đối với đời và đạo , nó luôn song hành trong một tri giác cố hữu để hình thành thế nào tín ngưỡng của tôn giáo; mà trong đó có Thượng đế; như vậy là ý thức đến một thứ luân lý tồn lưu cho một hiện thể tại thế và hướng tới cái sự tốt lành cho một việc làm có lợi ích của sự tốt đó –the good for the sake of the good, là đi thẳng tới cuộc đời của chúng ta và đây là cách thức nhận biết về Thượng đế, là sinh khí sống động của cuộc đời. Kinh nghiệm luân lý nằm trong con người là một cân nhắc, đắng đo về đấng tôn thờ tức Thượng đế. Người đã chọn lựa một sự chân thật tốt bonum honestum dành cho con người; đó là chặn cuối đời của Thượng đế với một sự sáng tạo khéo léo đầy mỹ thuật mà trong những thứ đó đều đem lại cái gì tốt đẹp –tri giác giữ vững giá trị về trí năng là hành vi, tác động của tồn lưu nhân thế. Ở đây cái sự đạt tới là đạt tới cái sự tồn lưu, tồn lại, tồn thể là tâm khí vững vàng không buông thả mà nhảy vào trong một hiện hữu sống thực –the plunge into real existence. Nhưng nhớ cho cái điểm này: cái đặc quyền bất khả phân của tri giác là của hiện hữu, là cái khuấy động đi tới trong ý thức (conscious) và nhận thức (conceptually) là một diễn cảm bày tỏ, một nhận thức không thể lý giải về những gì hiện hữu của Thượng đế. Cuối cùng đặc Thượng đế trong dạng siêu hình với hình tượng để tôn thờ. Đó là những gì cùng thời cho một khám phá mới về những gì cơ bản hào phóng và phong phú của hiện hữu tồn lưu nhân thế.

Nhưng đây là điều không thể cho đó là nguyên nhân cao cả của hiện hữu tồn lưu, điều đó sẽ không mấy thỏa mãn cái loại chứng cao cả hiện hữu mà nó nằm trong nghi vấn của vấn đề. Chỉ đến trong nhận thức hiểu biết của con người mà thôi; cảm thức của hiện hữu là không những chỉ biết về hiện hữu của Thượng đế mà trong đó bao gồm tất cả những gì mà con người nghĩ tới do từ tri giác để nhận biết., một sự nhận biết được coi là điều có thực tự nhiên (natural truths) và một năng lực tự nhiên (natural forces) là một kết hợp đầy đủ có từ trí tuệ con người (human mind). Con người biết rằng: Thượng đế tự ép mình để sống có tình yêu, đồng thời tự ép mình trong cuộc sống và tự ép mình trong hiện hữu tồn lưu. Dữ kiện để tạo niềm tin giữa con người và Thượng đế có thể có tương quan qua tình bằng hữu, cùng chung hưởng khổ đau và sống chung nhau trong một thế giới đại đồng và chia sẻ cùng nhau là tương ái giữa buồn vui hay hạnh phúc bên nhau là cảm thức giữa Thượng đế và trí năng sáng tạo của Người –common bliss between God and His intelligent creatures. Đấy là sự thật chân chính, là những gì bao hàm của siêu nhiên (supernatural), của những gì được ban ơn và lòng độ lượng có từ Thượng đế và Con người trong cùng một niềm tin ./.

VÕ CÔNG LIÊM (ca.ab.yyc . cuối 11/ đầu 12 / 2020)

ĐỌC THÊM: ‘Thượng đế đã chết’ của võcôngliêm. Hiện có trên một số báo mạng và giấy trong và ngoài nước hoặc email theo đ/c đã ghi.

thơ mùa đông

ĐÔNG VỀ

Thu đi xác lá vương đầy
Heo may se lạnh vai gầy bóng đêm
Hắt hiu gió nhẹ bên thềm
Đêm đông buốt giá gối mềm cô liêu.

ĐÔNG

Mây giăng giăng xám lưng trời
Chim ri sải cánh rã rời phương nam
Chuông chùa vọng khúc miên man
Hiu hiu nghe gió đông mang lạnh về.

ĐÊM ĐÔNG

Đêm đông mờ khuất trăng gầy
Xa em nỗi nhớ đong đầy trong mơ…
Sương giăng lá cỏ lơ thơ
Chập chùng gió buốt vai hờ gối đêm.

Nhật Quang

CHIỀU THU LÁ ĐỎ

Giọt đắng nào rơi lòng em tức tưởi
Đâu phải cỏ cây anh cũng có trái tim sầu
Phiến gió chiều nay lay động nụ trúc đào
Rơi về phương ấy khúc ca dao buồn
.
Đâu phải cỏ cây anh cũng có trái tim buồn
Lệ đỏ lá thu không mắt thẫm
Nghe trong hồn vỡ bờ sóng động
Lạnh một dòng sầu nỗi tàn phai
.
Đúng là em chẳng phải là ai
Tà huy đổ bóng dài tóc xõa
Điệp khúc chiều tiếng ai nức nở
Đâu phải cỏ cây anh cũng là người!
.
Nguyên Lạc

TẢN MẠN ĐÔI ĐIỀU VỀ TRÀ-KỲ 5

Thư viện của bài

This gallery contains 1 photo.

Nguyên Lạc LOẠI TRÀ – DANH TRÀ (tt) III. Các loại trà khác1. Việt namTrước khi nói đến trà Việt, tôi xin nhắc lại sơ lược quan niệm về nguồn gốc trà.Theo Đỗ Ngọc Quỹ: “Từ tài liệu khảo cứu … Tiếp tục đọc

TỰA VÀO MÌNH. GÂY HƯƠNG NHẸ



Hoàng Xuân Sơn


Đừng để khuôn mặt đêm
lấn vào quỹ thời gian tiết kiệm
hãy viết bài thơ
cài lên khung cửa nhàn đàm
ấm trà
hằng tích cũ
tiếng ngân nga mi sương
ban mai vòm họng
hát
vin nghe

Giọt an lành
hứng lấy triều nhụy
màu non vàng anh

Hãy là sen như nhiên
bồ đề chép mắt
phương bối mềm
động vào lũy
tịnh riêng
cho lời của sắc mây mưa
dậy từ khép nép

Về thu xếp lại
nếp ngời xinh
khúc yêu đời
và điệp khúc yêu mình *

H O À N G X U Â N S Ơ N
29 nov. 2020
*ý, Trịnh Công Sơn

THU THA HƯƠNG

 
Nguyên Lạc
 

.
Sao trăm năm vẫn huyền mắt sâu?
Mây tóc em sao không nhạt màu?
Chiều nay nghiêng nắng rơi lá đỏ
Đầy mắt thu ơi một bóng sầu
.
Sao li tan mãi hoài li tan?
Sao trong ta nguyệt vẫn không tàn?
Thu chi cho sáng vầng trăng đó?
Soi rõ làm chi nỗi điêu tàn?!
.
Sao xuân thu vẫn hình bóng ai?
Muôn trùng âm điệp khúc tình hoài
Đêm tha hương trăng thu trắng quá
Soi rõ hồn xanh huyễn mộng dài!
.
Sao mùa thu không là mùa thu?
Một mùa thu môi má ai nồng
Đêm thu cô lữ rơi lệ đỏ
Se sắt thu phong nỗi hư huyền
.
Sao trong tâm vẫn hoài cố nhân?
Kiếp lưu vong một kiếp sống mòn
Xuân thu sương điểm sầu dài tóc
Khóc nỗi tàn phai tuổi xuân hồng!  
.

TRĂNG THUNG LŨNG

VÕ CÔNG LIÊM

chim buồn đậu cánh cô thôn
cho trăng xế bóng
buồn khóc cuối trời
ta về một cõi đìu hiu gió
giữa chốn mây ngàn lá cuốn bay
hình hài một thuở xanh rêu
vàng thu mấy độ cây nghiêng
ngõ chờ
trăng quá tải
trăng sầu ngọn cao
sự thật trải lên giấy
trắng nguyên sơ
mắt xanh ngọc
gót sen mềm
em . liễu rủ một thời thành nội huế
sáu câu hò bạt gió với thời gian
những cánh hoa gục
đầu khóc xước mướt
sáng trời nửa đêm
em . tắm trăng nguyệt bạch
tôi . núp bóng từ bi
hái trộm những vụng dại
trăng nguyệt thực
xực mặt trời
trăng vỗ về đêm dài vô tận
trăng ôm lòng đau giữa tiếng cười

tôi . xô đẩy tôi
làm tình trắng trợn
dưới trăng thung lũng
với bụi tre già ./.

VÕ CÔNG LIÊM (ca.ab.yyc . rằm tháng mười âm 11/2020)

CẢM NHẬN NGHỆ THUẬT GIỮA CUỘC ĐỜI

VÕ CÔNG LIÊM

     Sự thật cuộc đời nếu người ta nhận ra được; một phụ nữ đẹp mặc chiếc áo dạ hội tuyệt hảo với đôi môi héo úa thời khuyết điểm đó không còn nghĩa là đẹp, nhưng; vì cái điểm nhỏ nhặt đọng trên môi mà có thể làm cho người ta không buồn để ý tới, ngắm nghía hay chiêm ngưỡng cái đẹp của tạo hóa.

Nhưng vẽ về một người đàn bà như thế có thể là một suy đồi, tác hại lớn, là nói lên cái thô lỗ, tục tằn một áp đảo vào cái nhìn của nam phái, bởi; cái đẹp là toàn diện trên tất cả mọi thứ.Và từ chỗ đó cho ta một kinh nghiệm rộng rãi về xấu xa, gớm guốc của bức tranh và phẩn uất đối với họa nhân (cũng có một số người cảm nhận điều đó như một chấp thuận và người ta có thể tùy thuộc vào đó như một đối đãi tinh thần của người họa sĩ)Cảm xúc được nói đến trong tranh có thể do từ một bất ngờ bộc phát (instantaneous)bén nhạy hơn cái nhìn cảm thức của người xem (viewer’s mind) cũng có thể đó là một phát hiện bao gồm tất cả lý do liên can tới vẽ. Do từ động vọng thuộc tâm lý, là những thứ đưa đến một đáp ứng vấn đề cho nguồn cơn phát sinh ra vẽ. Là cảm thức con người giữa cuộc đời –is a man’s sense of life. Cảm thức của cuộc đời là một mở đầu nhận thức ý niệm tương quan của siêu hình, một xúc cảm, tiềm thức hòa nhập, để định lượng được những gì thuộc con người và thuộc về tồn lại –A sense of life is a pre-conceptual equivalent of metaphysics, an emotional, subconsciously integrated appraisal of man and of existence.

Cảm thức cuộc đời của người nghệ sĩ là khống chế và tiết điệu được trong tác phẩm của mình, hướng tới một cái nhìn chung cục để bỏ vào trong tranh; từ chọn lựa tiêu đề đến chất liệu khéo léo là chi tiết cho một đặc chất của tranh. Chính sự cớ đó đã hòa điệu vào cảm thức của người xem, văn chương cũng thế là một đồng tình hòa hợp giữa người viết và người đọc. Họa lấy màu sắc thay tiếng nói là việc khó thực hiện, nhưng nói lên được ấy mới là tinh xảo. Đấy là câu trả lời đến một tác phẩm nghệ thuật bằng một xáo động nội tại; hẳn nhiên đó là tác động của nhận và thuận hoặc chối bỏ và phê phán.

Nói như thế không có nghĩa rằng cảm thức cuộc đời là hợp lý, là chuẩn mực của cái gọi là yêu chuộng thẩm mỹ; kể cả người họa sĩ và người xem. Cảm thức cuộc đời không thể sai lầm –A sense of life is Not infallible. Nhưng; cảm thức đó khơi nguồn từ nghệ thuật mà ra, một cơ cấu thuộc tâm lý học mà những thứ đó có thể do từ khả năng con người tạo ra được một chỗ đứng, vị trí cách riêng như là nghệ thuật. –But a sense of life is the source of art, the psychological mrchanism which enables man to create a realm such as art. Một lý lẽ nhận thức là hoà nhập và cảm thông giữa đối tượng hội họa làm cho người vẽ và người xem không còn ‘responds’ vấn đề mà đòi hỏi ý thức được hay không ý thức được.Đó là cốt tủy nghệ thuật.

Cảm xúc là một hệ lụy vướng vào trong nghệ thuật chớ không phải cảm xúc trong cái nghĩa thông thường của từ ngữ hay dùng. Qua kinh nghiệm sinh lý hay vật lý thì có nhiều thứ ‘cảm thức/sense’ hoặc là ‘cảm nhận/feel’ nhưng; có hai đặc điểm liên can đến xúc cảm/emotions: một do từ cơ năng tức khắt và một do từ cường độ thúc đẩy, một cá tính uyên bát thâm hậu (không hẳn đây là xác quyết) giá trị nghĩa lý đưa tới một kinh nghiệm riêng tư cho bộ môn hội họa mà đánh giá sự tương quan cuộc đời và nghệ thuật; lời lẽ đó gọi là cảm xúc: ‘đấy là nghĩa lý cuộc đời đối với tôi / this is what life means to me’. Đừng để ý tới cái lẽ tự nhiên hoặc nội dung về cái nhìn siêu hình, trừu tượng của người nghệ sĩ. Rứa thì lấy chi để bày tỏ cho một tác phẩm nghệ thuật; căn nguyên nào? Dạ thưa; dưới tất cả mọi khiá cạnh nhỏ nhặt nhất là: Cuộc đời ở đây như tôi nhận thấy. Là; cái thâm hậu cần thiết đáp ứng cho người thưởng lãm hoặc người đọc. Dưới mọi yếu tính tối thiểu: Đây là cuộc đời (hoặc không phải cuộc đời) như tôi đã biết. Cái đó là điều ắt có và đủ cho một nhận thức thuộc nghệ thuật; mặc khác là nhu cầu sáng tạo của người nghệ sĩ làm nên.

Khoa tâm lý thuộc nhận thức hiểu biết (the psycho-epistemological) là tiến trình của thông đạt giữa họa nhân và người thưởng lãm hoặc văn nhân và độc giả được diễn tiến như sau: họa nhân khởi sự với một tư duy trừu tượng mà phải cụ thể hóa (concretize) để mang vào đó một thực chất đúng nghĩa thích ứng một cách đặc biệt, người thưởng lãm phải nhận thấy cái sự đặc biệt, cái hợp nhất chất liệu và chiếm trọn hình ảnh trừu tượng từ những gì đã để lại trong tranh; có như vậy là đạt tới chân-không của hội họa và siêu lý của văn chương. Nói theo kiểu ẩn dụ; tạo ra được một tiến trình tương tợ về hình ảnh (của vẽ) như một tiến trình của cái sự giao giảm trong tranh; nhìn vào đó như một cảm thông gần gũi, tương xứng nhau, một diễn biến của lãnh vực hội họa. Nhớ cho; đây không có nghĩa là truyền thông cho mục đích ban đầu của người nghệ sĩ; mục đích chính của họa nhân là mang lại cái nhìn của con người và những gì thuộc về tồn lưu trong một thực thể; nhưng mỗi khi mang lại thực thể thì phải là một cái gì đã được diễn giải trong điều kiện đối tượng của nó… Nói vòng vo tam quốc ba chuyện đời cổ lỗ sĩ là không tác động giữa thời đại này mà gây rối trí, nhầm lẫn đến người đọc vì quá nhiều câu hỏi cho một vấn đề; thành ra cái lối văn,vẽ đã không thông mà vướng vào cái tư kỷ tự tại để trở thành độc ngôn, độc diễn. Thí dụ: Một văn sĩ nhà binh kể chuyện ông Táo: một ông trong đó không chịu chầu trời; tức thời bị quy tội là ‘phản thùng’ không đồng phục, không đồng hướng. Quay đầu trở lại với trần gian. Đâu có quần mà bảo đồng phục cho màu áo ông Táo, ông Điạ. Ông cầm bút quên rằng ông Táo nọ chối bỏ nhiệm vụ vì ông mất ‘chính nghĩa’ không quần; ngay bản thân tác giả cũng đã mất chính nghĩa vì không thực hiện đúng chức năng mà chỉ sống trong hoài niệm, hoài niệm của một tư duy bại hoại, không hoán cải để đổi mới tư duy mà rơi vào vòng luẩn quẩn mất nhuệ khí của kẻ thích khách; đấy là lý do ‘nghệ thuật vị nghệ thuật’ để nói tới.Thể loại nghệ thuật như rứa là nhai lại, rập khuôn, moi móc mất tính sáng tạo nghệ thuật mà trở nên ngu xuẩn nghệ thuật.Nhảm! Răng rứa -như đã đưa đường dẫn lối khi đi vào đề tài này là trọng tâm về ‘ý niệm nhận thức/ conceptual’ của sự nhận biết, vì rằng; họ (nghệ sĩ) cần năng lực để tập trung vào giòng sáng tạo như chuỗi liên hoàn và một đối kháng toàn diện của những gì ý niệm về siêu hình trong một ý thức nhận biết tức thời: họ cần một cái nhìn lãnh hội của tồn lại, tồn lưu, tồn lứa là trọn vẹn cái giá chân-như của người nghệ sĩ (thứ thiệt).Còn nghệ sĩ (giả hiệu) đánh mất ý niệm chính yếu để xây dựng tác phẩm; cho nên chi mất luôn cả sáng tác và sáng tạo mà chỉ mở một lối về của hư ảo; chỉ vì tư kỷ (egotism) mà ra. Tất thảy đều là thứ nghệ thuật vô nghĩa. Mà cần một cảm thức con người giữa cuộc đời, vì; cảm thức cuộc đời không thể nhầm lẫn.

Chọn đúng mục đích, tọa độ, một con đường hướng tới tương lai, bảo trì một hợp nhất và liên đới đến cuộc đời của họ ‘He needs a comprehensive view of existence to integrate his values, to choose his goals, to plan his future, to maintain the unity and coherence of his life’. Nhiệm vụ hợp nhất của khoa tâm lý là một mối dây liên lạc tự động làm ra, cho nên chi tác phẩm thực hiện như một qui tụ sẳn có từ ý thức không cần phải đi qua một dự phóng của tư tưởng mà gợi lên từ trong nhận thức hiểu biết. Có nhiều dữ kiện đặc biệt hiện ra hoặc vượt qua bằng trí tưởng của chuỗi trừu tượng là nằm trong ý niệm giao tiếp (of interconnected concepts) thuộc trí tuệ con người. Nhận thức được trừu tượng là dây chuyền chủ lực, mà tất cả mọi thứ khác đều tùy thuộc vào đó. Rứa cho nên chuỗi dây chuyền là cho mọi thứ như một tinh thần hợp nhất, trọn vẹn, phục vụ có mục đích, một thể thức phù hợp và chuẩn mực. Nhận thức được trừu tượng là lập nên một thiết yếu chuẩn mực có tiết độ giao thông giữa hiện thực và nghệ sĩ. Rứa thì cái gì là chính yếu? -Cái sự cần thiết đó là ý thức nhận biết để thấy rõ lớp lang của tồn sinh từ tất cả mọi phiá –epistemologically essential to distinguish one class of existents from all others. Còn nói về trừu tượng có qui tắc là thiết lập ở đó một cái gì chuẩn mực. Rứa thì cái gì tốt giữa chính yếu và qui tắc? -Trừu tượng thẩm mỹ là cơ cấu bởi tiết điệu: rứa cái gì là quan trọng? –esthetic abstraction are formed by the criterion of: what is important? Lý luận theo chiều hướng này có thể làm cho tư duy người nghệ sĩ thêm có vấn đề giữa nhận thức và trí năng; tuy hai mà một, bởi văn,vẽ dưới dạng thức nào đều có một chủ đề cụ thể nói lên cá tính con người. Văn,vẽ vẫn có triết thuyết của nó, thời mới làm nên sự việc. Vị chi; giữa khách thể và chủ thể phải hòa âm điền dã thì mới thấy được chân lý tối thượng của việc sáng tác. Chớ ‘đừng tưởng xuân tàn hoa rụng hết / đêm qua sân trước nở cành hoa’. Cứ tưởng thế cho nên chi phóng bút, phóng họa mà quên đi bản chất tự tại, tự kỷ của mình đang rơi vào một tâm tư rối loạn của hố thẳm tội lỗi… Người nghệ sĩ đứng trước cuộc đời có một cái nhìn vô tư, trong sáng và thoát tục thì tác phẩm mới có thẩm mỹ, dù là thẩm mỹ trừu tượng nó vẫn để lại một chân tướng xác thực. Nói cho ngay trong mọi chọn lựa chính yếu để đạt một giá trị, kể cả những tác phẩm nghệ thuật (văn, thơ, họa, kịch…) là đi từ thể tài đến chủ thể cho tới cây cọ hay cho một thể định từ xác thực. Đều thu nhận từ ý nghĩa thuộc về trừu tượng bởi chỉ ở một sự kiện hiện hữu đã bao gồm hoặc một hiện hữu ‘quan trọng’ là điều ắt có và đủ -From theme to subject to brushstroke or adjective-acquires metaphysical significance by the mere fact of being included, or being ‘important’ enough to include. Lý luận này đã cho thí dụ ở trên: là yêu cầu cảm thức nhận biết thì mới đạt tới nhân tâm của người nghệ sĩ, dù dưới dạng thức nào hay hoàn cảnh nào đi nữa.

Như đã dẫn nhập cho một luận đề mở đầu; nếu miêu tả về cái bờ môi héo úa của người đàn bà đẹp, thì đó là điều không thể cho là sự thật cuộc đời hay cho đó là một thứ siêu hình lạ thường đầy ý nghĩa, bởi; cái phẩm tích (virtuous character) qua dấu vết bề ngoài là cả một hiện thực trong họa phẩm. Cái đó được phơi mở rõ rệt là những gì thuộc cái đẹp và không chừng đó là nét riêng để đem lại một sức quyến rủ hay mê hoặc của người đàn bà (không phải đẹp ở chiếc áo dạ vũ lộng lẫy) nhưng có một chút gì ‘héo úa’ do từ đau khổ gây ra là một thách đố quyến rủ trước sức mạnh của nam giới. Tín hiệu đó là sự thật cuộc đời. –người đàn bà đẹp có thể là ‘mãnh lực / ‘might’ có từ bờ môi héo úa. Do thẩm mỹ không tương xứng. Nghệ thuật không quan tâm tới sự cố hiển nhiên hoặc ngay cả những gì như thế, nhưng với những gì có tính cách siêu hình của họ là ý nghĩa quan trọng đối với con người –Art is not concerned with actual occurrences or events as such, but with their metaphysical significance to man. Dưới dạng tiềm thức; thì không cần gì nhận biết tới lý thuyết thẩm mỹ, nhưng vì tính chất hình ảnh mà phải dựng bằng hiện thực; sự cớ cho ta hiểu ngầm rằng đó là cái vẻ tự nhiên của nghệ thuật (nature of art). Đây cũng là thể cách biến loại mà hầu hết tác động trong hư cấu và trong tất cả những đường nét hội họa đều xử dụng như đặc thù trong tác phẩm. Dù là minh họa hay phát thảo vẫn là khiá cạnh quan trọng khác biệt giữa cuộc đời thực của truyện thời sự (news story) và của truyện hư cấu (fiction story): truyện thời sự cũng như thơ thời cuộc, thơ kể lể là đông cứng (concrete) từ biến chứng xã hội, tin tức, thế sự là những thứ không vẽ lên được một cái gì phi phàm hoặc có thể người ta không tìm thấy những gì liên đới của trừu tượng trong cuộc đời. Còn truyện hư cấu là một trừu tượng, cái đó là một yêu sách đối với vũ trụ quan –fiction story is an abstraction that claims universality là để người ta cảm nhận được cái năng lực cá nhân là một xúc cảm mãnh liệt về những truyện thuộc hư cấu, dù cho có phiạ ra đi nữa. Cảm xúc có thể là một thực thể chắc chắn trong khi người ta tìm thấy trong ý nghĩ trừu tượng lại là thực thể của cuộc đời thực (real life). Thừa nhận; không do từ cảm thức của nhận biết để ngờ vực, nhưng trong cảm thức cho phép ta trầm tư những gì thuộc bên ngoài của trừu tượng; đó là thức (mind) trong một thể thức thuộc cục diện tồn lưu, tồn lại và tồn tụ; thì đó là hiện hữu nhận thức giữa đời này. Nghệ thuật cho đời nhiên liệu, một tư duy hài hòa, một chủ thể tương quan ở cõi vô biên trí tuệ, một sự thay mặt cho cảm nhận và cảm thức là hiện thực, là cảm thức chủ lực của cuộc đời, là cảm nhận hài hòa nhân thế, là những gì có thể tương tợ như  sống thực trong thế giới lý tưởng của con người -Art gives him that fuel; the pleasure of contemplating the objectified reality of one’own sense of life is the pleasure of feeling what it would be like to live in one’s ideal word. Nhiên liệu không phải cứu cánh có từ học hỏi (một phần) mà do từ kinh nghiệm sống làm nên và cũng chẳng phải là lý thuyết chính yếu ngay cả thông điệp từ sách vở, báo chí truyền thông, nhưng; đời-cho dữ kiện qua kinh nghiệm sống, trong một bất chợt của siêu hình hay trừu tượng mà làm vui cuộc đời . Một giây phút thôi rồi xa nhau nghìn trùng; đó là đời cho ta (life-giving) một hiện hữu với tồn lưu, tồn lại, tồn lân, tồn lui nhân thế với thời gian –A moment of love for existence. Hoặc; dưới một mức độ thấp nhất của cực số vô lý, phản ảnh tính cách cục bộ hóa vấn đề của cảm thức nông cạn hiểm độc, nhưng cuộc đời đã cung cấp cho con người với bao hình ảnh chinh phục cái ác ý, thâm hiểm, phá hoại, đã phá để chiếm cứ cái độc tôn, độc quyền và độc sáng là những gì ghen tị về cái tồn lụt nhân thế; nghĩa là tụt lùi về cái gọi là cảm thức con người giữa cuộc đời (a sense of life) mà trở nên báo ân, báo oán. Nhưng nhớ cho điều này mà lưu niệm: ’lấy ân báo oán thời oán ấy tiêu tan chớ lấy oán báo oán thời oán ấy chập chờn’ nó không dứt mà ngược lại nó ứ trong tâm can như lời phẩn nộ (rút trong kinh nhà Phật) kinh điển cho đó là dục giới, dục sắc, dục tính; sự cớ đó tác hại cho nghệ thuật hội họa và nghệ thuật văn chương, cả hai thứ làm cho nghệ thuật suy đồi, thời đâu còn gọi là đương đại, đương thời, thời đâu còn gọi là tiểu thuyết mới, tiểu thuyết hiện đại; không chừng cổ lỗ sĩ trở về cổ lỗ sĩ biết tới bao giờ mới dừng(!); còn như quyết để phục thù ‘ơn đền, oán trả’ theo kiểu nhà binh thì dấy lên một nghiệp chướng, ở đó chỉ là lời giải thích để bao che cuộc đời, là đánh bại và phá hủy tất cả giá trị của con người. Hỏng cho việc sáng tạo của người nghệ sĩ.

Thể thức của nghệ thuật là cho đời một phút giây ảo tưởng, đó là những gì nghệ thuật cho là đúng –cái sự xấu xa, sai trái là tác động thuộc những gì siêu hình.Từ ngày nghệ thuật thành hình là phát sinh ra triết học (triết học của nhân loại là trộn lẫn vào đó bi thảm cuộc đời / mankind’s philosophy is tragically mixed).

Hầu hết nghệ thuật thế giới bao gồm một vài dẫn dụ lớn lao; sa ngã cũng là một khẳng định dứt khoát. Vị chi sự thật hay sai trái đem lại một thứ triết lý riêng tư của người nghệ sĩ, nó không vin vào thẩm mỹ học để nói lên sự kiện trong hội họa cũng như trong văn chương, có thể tạo cái khác biệt để thu hút người đọc, người xem không chừng chứa cái giả tạo hơn là sáng tạo nhưng không nhất thiết vị nghệ thuật mà cố tạo cái thẩm mỹ trong họa cũng như trong văn chương. Có một vài nghĩa khác thuộc triết học,tuy nhiên; có một cái nhìn ẩn tàng của cuộc đời nằm trong tác phẩm. Đấy là yếu tố cần thiết thuộc về tác phẩm nghệ thuật. Họa phẩm xấu; chiếm hữu một phần trong sự bắt chước‘copycat’cái đó hoàn toàn không phải là sáng tạo của nghê thuật, nó chỉ sống còn ở các cửa hàng vỉa hè mà thôi. Rứa cho nên làm nghệ thuật cần có một phản ảnh trung thực, chủ đề của một tác phẩm nghệ thuật là bày tỏ cái tồn lại của con gười, trong khi ấy kiểu thức bày tỏ về cái nhìn là ý thức của con người. Lối trình bày, diễn tả siêu hình (metaphysics) là của người nghệ sĩ. Còn diễn tả theo nhận thức hiểu biết (psycho-epistemology) là của người văn chương (văn, thơ, dịch thuật). Chọn lựa một thể tài là nói rõ khiá cạnh của hiện hữu tồn lại người nghệ sĩ. Một cái gì quan trọng và một cái gì đáng giá của một hiện hữu tạo tác và trầm mặc của nghệ nhân. Trong mọi thể cách của hội họa người ta chọn một trong những thể tài tiêu biểu để nói lên vóc dáng, hình tượng anh hùng như một giải bày, phân tích cái điều tự nhiên của con người hoặc có thể chọn bản thống kê hòa hợp chất màu của cái không phân biệt được, hoặc có thể chọn cái bầy nhầy, trườn trượt, mẫu thức xấu…để tạo nét đặc thù. Về văn ta có thể nhận biết tính anh hùng lịch sử, anh hùng cá thể là sự kiện thuộc tinh thần (Victor Hugo) hoặc một cố công, rán sức để hoàn thành tác phẩm (Michelangelo) hoặc vinh quang chiến thắng (Shakespeare) hoặc có thể từ chỗ thứ dân đến quyền qúy (Tolstoy) hoặc người ta thấy được qủy ám như một chủ đề cho một luận đề tố cáo (Dostoevsky) hoặc dưới một tư duy biến dạng giữa người và vật (Kafka) hoặc hãi hùng, khiếp sợ (Goya) hoặc bấn loạn tâm can (Van Gogh). Đó là trường hợp chủ thể cho mỗi đề tài, cái đó cũng là một dự phóng cho cái nhìn vào tác phẩm nghệ thuật nơi con người dung thân trong vũ trụ quan. Kiểu cách của người nghệ sĩ là phát sinh từ nhận thức hiểu biết của họ và trong một ngụ ý ẩn tàng, một phản ảnh chiếu vào cái nhìn nhận thức của con người, của hiệu lực hoặc của suy thoái, tất cả chính xác và riêng biệt cho từng thể loại và định mức được chức năng của mỗi thứ. Kiểu cách hầu như có một cái gì phức tạp, hổn độn chính sự cớ đó là yếu tố nghệ thuật, gần như lột tả trọn vẹn, thường thì xáo trộn do từ trạng thái tâm lý. Một nội tại chất chứa đối kháng từ nỗi khổ của người nghệ sĩ, có nhiều người khác thì lại ưa làm lớn hay mù tăm trong tác phẩm của mình. Thí dụ: trường hợp của Salvador Dali; một hổn hợp làm sáng tỏ kiểu thức riêng, một thứ siêu hình lạnh lẽo của thứ chủ nghĩa tự nhiên. Từ đó phát sinh ra nhiều phong trào phản kháng ý thức trong văn chương và hội họa; chống đối bằng một ý thức lớn, biểu thị qua hiện tượng trường phái lập phương (Cubism) là khám phá để tìm kiếm cho một tri thức con người qua hội họa, bởi; chủ thể của hội họa như cái mà con người không nhận thấy được chúng –down and down to the rebellion against consciousness, expressed by a phenomenon such as Cubism which seeks specifically to disintergrate man’s consciousness by painting ojects as man does not perceive them.

Kiểu thức của văn nhân có thể là dự phóng, có thể là pha chế vào đó nhiều lý do và cảm xúc từ một rung động như trường hợp của Victor Hugo và một số văn nhân cùng một cảm thức như vậy.Văn phong, bút pháp là vận chuyển những gì có thể gọi là: ‘cảm thức nhận biết cuộc đời / psycho-epistemological sense of life’. Đấy là lý do tại sao phong cách đó quá nguyên tắc quan trọng trong nghệ thuật đối với nghệ sĩ và người đọc, người xem và tại sao sự quan trọng đó là một trau chuốt, dồi mài như là một vấn đề tích lũy thâm hậu của cá nhân? Nghĩa rằng; cảm thức có tác động. Nghĩa rằng; trân qúy tự tại (self-esteem) hoặc trân qúy cái sai lầm tự tại (pseudo-self-esteem). Thì ra sự cớ đó là che đậy cái nhầm lẫn, cái sa ngã tự tại.

Cảm thức cuộc đời là gốc ngọn của nghệ thuật, nhưng đó không phải là đặc quyền, đặc chế cho khả năng của người nghệ sĩ –A sense of life is the source of art, but it is not the sole qualification of an artist. Còn nói về thẩm mỹ quan thì đó chỉ là cành nhánh của triết học (từ triết học nghĩa là đẹp). Nhưng nhớ cho triết gia không vin vào đó mà đi tới những cành nhánh của khoa học (dù là triết học khoa học) để có một cảm thức hoặc cảm xúc như một chuẩn mực công lý; vậy cho nên chi không-thể-đạt tới lãnh vực của thẩm mỹ. Dù gì cảm thức nhận biết chưa hẳn là một chức năng trang bị đầy đủ để nói tới thẩm mỹ là cần có trong tác phẩm nghệ thuật. Nghệ thuật vị nghệ thuật nó có một lãnh điạ khác biệt cho môi trường người nghệ sĩ.

Thẩm mỹ là việc chính yếu áp dụng vào tất cả bộ môn nghệ thuật; không coi đó là tác động triết học của từng cá thể nghệ sĩ. Mà nhớ cho rằng triết học đưa đường dẫn lối vào dự phóng của đối tượng nghệ thuật. Thế nhưng; cứ để ý và xác nhận bởi khoa học thẩm mỹ / science of esthetics tạo thành nghệ thuật chớ không ngoài một cơ cấu nào khác; đấy là việc phải làm mà hầu như triết học hiện đại đã suy nhược trước hiện tình một cách thê thảm. Vô hình chung khoa thẩm mỹ học lại đứng trên bộ môn triết học nghệ thuật.

Từ chỗ nghệ thuật là một hỗn hợp triết học, thời đó không phải là việc tương phản giữa triết học và nghệ thuật (vì rằng nghệ thuật là nghệ thuật, triết học là triết học). Rứa thì tôi có quyền nói: ‘Đây là tác phẩm lớn của nghệ thuật hội họa, nhưng tôi không thích’ hoặc ‘Đây là tác phẩm văn chương vĩ đại đáng tiêm nghiệm, nhưng tôi ghét’. Là chứa đựng cụ thể một cách xác quyết trong lời nói vì nó tồn lại hai sự cớ: Thứ nhất là đề cập đến cái nguyên chất của thẩm mỹ được đánh giá cao.Thứ hai là mực độ thâm hậu thuộc triết học là bao trùm tất cả cảm thức cuộc đời nhiều hơn giá trị thẩm mỹ. Dù đó là quyền chọn lựa của từng cá tính, vì rằng nó có nhiều khía cạnh khác biệt từ mỗi con người vui thú hay yêu thích cho mỗi giá trị tác phẩm. Nhưng; có cái khác hơn là mối quan hệ hấp dẫn nhất giữa cuộc đời này –other than sense-of-life affinity, mà không ai tìm thấy; chẳng qua cũng từ đối tượng chủ đề mà ra. Răng lạ rứa? Dạ thưa, cảm thức cuộc đời là bao trùm đầy đủ nghĩa lý (nhân sinh, triết lý và nghệ thuật) chỉ có con người cảm thức được một cái gì thâm sâu, uyên bác trong đó, một xúc cảm mãnh liệt về một tác phẩm nghệ thuật. Nhưng không phải vì rứa  mà cho đó có tầm cở (levels) hoặc dựa vào cấp độ của yêu thích (degrees of liking) để rồi đi tới kết luận: ngổn ngang gò đống vây quanh, không giải quyết cho một bản chất tự tại vì suy tư cho một hiện hữu tồn tồn nhân thế…Đứng trên tư duy này là đánh mất lập trường cho một xác quyết về tác phẩm nghệ thuật; sự khác biệt là có cái tương tợ lẫn nhau giữa tình cảm, quan hệ và hữu nghị; yếu tố cô đọng đưa tới tâm thức người nghệ sĩ là chứa đựng tinh thần nghệ thuật (xem và suy đọc và nghiệm) để trước khi đánh giá cho một tác phẩm nghệ thuật và cảm thức của cuộc đời – Art and Sense of Life.

Rứa cho nên chi việc học hỏi là chuyển dịch cái ý nghĩa của nghệ thuật trong đối tượng từ ngữ, khám phá cái không có để mà tiêm nghiệm nghệ thuật trong một phơi mở cần thiết đối với vai trò của con người. Người nghệ sĩ là huỵch toẹt cái linh hồn trần trụi trong tác phẩm của mình –An artist reveals his naked soul in his work. Rứa thì may ra mềm lòng người ngắm và người đọc một cách thỏa mãn, thích thú. Chớ nằng nặc mà bảo phải sạch, phải đẹp, phải như ri, như rứa không tì vết thì mới chịu chơi; quả là nặng lòng vị kỷ. Nhưng; không chừng ‘héo úa’ của người đẹp là cái thức tỉnh nội tại giữa thẩm mỹ và cái thâm cung bí sử triết lý của tồn lại, tồn lưu, tồn lụt nằm trong cái ‘chơi chịu’ đó. Kiều tài sắc vẹn toàn nhưng biết đâu trong cái đau khổ đoạn trường nàng lại có cái hấp dẫn kín đáo mà làm cho bao người hùng điêu đứng. Có ai trong đời cùng một cảm nhận như rứa không? Sự cớ đó chính là cảm thức cuộc đời đang sống ./.

VÕ CÔNG LIÊM (ca.ab.yyc. mồng ba tết Ất Mùi 21/2/2015) SÁCH ĐỌC: ‘A Philosophy of Literature’ by Aym Rand. A Signet Book from New American Library by Bantam Book, Inc. USA 1962.