Tình Thu Yếu Đuối

Tình Thu Yếu Đuối
Nhac Khê Kinh Kha
Tình thu dịu dàng

Cali, ngày … tháng …
Anh thương yêu,
Trời phủ hơi sương se lạnh, lưa thưa vài áng mây mỏng lang thang lơ lửng mình giữa kg trung, lượn lờ nhìn dịng người vội vã với cuộc sống. Ngọn giĩ hiu hiu dịu mát, chợt em nhận ra – mùa thu đã về rồi anh ạ…
Mùa thu mà cả anh và em cùng chờ đợi, những chiếc lá vàng chao liệng dịu dàng đáp mình trên đường phố, trên bệ cửa sổ… và trên vai em …, chiếc lá mỏng manh như người thiếu nữ giữa làn giĩ bấc. Em rất yêu mùa thu, thống yên ả trầm tĩnh sau những ngày nĩng bỏng gắt gao vất vả lao đao của mùa hạ. Mình đã đi qua một mùa hè của yêu thương sau những hờn mát, sau những hiểu lầm … để rồi anh và em, hai quả tim quyện vào cùng một nhịp, anh dìu bước em vào mùa thu, mùa của dịng nhạc, vần thơ lãng mạn và những cơn mưa dịu mát gội rửa cát bụi đường.
Cám ơn anh, anh yêu. Những tháng ngày vừa qua là chuỗi ngày hạnh phúc nhất trong đời của em. Em kg cịn ngần ngại cố chấp, bướng bỉnh đè nén, che giấu cảm xúc của mình. Em kg cịn lạnh lùng vơ cảm mà ngược lại em cảm thấy dễ chịu khi dịng nước mắt vừa ấm vừa mặn được tự do lăn dài trên má muh kg bị một áp lực tự ái nào ngăn cản. Em chẳng cịn ngại ngần, đơ lưỡi… em thật hạnh phúc khi cĩ thể cất lên 3 tiếng mà cả cuộc đời em đã nhiều lần lẩn né, trốn tránh – “Em yêu Anh”.
Anh biết em yêu màu trắng, màu của calla lilies tinh khiết, những đóa hồng trắng của tình yêu hai ta, kg kiêu hãnh như đóa hồng đỏ thắm, cũng chẳng đài các như nhánh phong lan mà bao người ngưỡng mộ – chỉ giản dị và thuần khiết. Anh chính là bến bờ bình yên mà người con gái ướng bướng ao ước được kề vai tựa đầu… hôm nay, ngày mai và suốt quãng đường còn lại của mình. Vì kg ai hiểu em như anh và cũng chẳng ai yêu anh như em …
Anh đã lặng lẽ ở bên em, âm thầm dõi bước chân em trong suốt nhiều ngày tháng mà em đã vô tình kg nhận ra … vì bận rộn của cuộc sống, vì sự bề bộn phiền toái của tình yêu và nỗi đau quá khứ mà em gồng mình trốn chạy. Anh vẫn âm thầm bên em. Anh khơi lại niềm tin ở trong em mà đã rất nhiều ngày nguội lạnh, ngỡ như tan biến vào sương khói. Anh đã giúp em nhận ra rằng, dù kiên cường mạnh mẽ đến mấy em vẫn có thể nương tựa vào một bờ vai để kg phải gồng mình mệt mỏi đi qua từng cơn sóng đời; em kg còn phải tự nhốt mình vào trong cái lao tù kiên cố lạnh lẽo kiêu hãnh của sự cơ độc nữa – can đảm chấp nhận tình yêu mà anh mang đến cho em. Một con đường mới, một khởi đầu mới – “A New Beginning” – như những cành iris anh gởi đến cho em. Em đã hiểu tình yêu của người khác được bắt đầu bằng ánh mắt, nụ cười – còn riêng với em, thì nó là dòng nước mắt, dòng nước mắt của hạnh phúc chỉ rơi cho riêng anh mà thôi. Anh đã từng nói với em, “điều anh cần là nhìn thấy em hạnh phúc, dù em có là của ai đi nữa, anh cũng sẽ vẫn âm thầm ở bên em…”
Anh ạ, người đó chính là anh, hạnh phúc của em là anh, bến bờ bình yên của em chính là anh. Trong những nỗi nhớ da diết, nụ cười vẫn tỏa dáng trên môi mỗi khi em nghĩ đến anh. Anh biết kg, “you are my last thought before I fall asleep, and you are my first thought when I awake…”
Yêu anh, em nhận biết được sự kỳ diệu của tình yêu mà kg một logic nào có thể giải thích được thoả đáng. Luôn nghĩ rằng nhánh cây tình yêu nếu kg được tưới nước, chăm sóc thì sẽ mau chóng tàn lụi. Nhưng tình yêu của anh dành cho em kg có hạn định, kg có rào cản, cũng chẳng có thời gian kỳ hạn, ngạc nhiên ư … vì em biết rõ chờ đợi một người là khoảnh khắc cô đơn nhất trên thế gian này nhưng anh vẫn bền vững yêu em trong sự kiên trì và can đảm như tảng đá hùng vĩ ngồi giữa đại dương xa thẳm đối diện với sóng lớn biển gào …
Anh thường đùa rằng, “anh đã tìm em mấy mươi năm, nhưng khi tìm gặp được em thì anh lại đi đường vòng, để xem đến khi nào em mới nhận ra anh là người bạn tình sẽ đi hết quãng đường còn lại đến cuối đời cùng với em…” – Với cái tính gàn bướng của em, vẫn thường hỏi mình, “cớ sao tình yêu của anh lại có thể đâm chồi nảy lộc nhanh chóng và kéo dài trong sự chờ đợi âm thầm lặng lẽ như vậy …?”
“Đợi tình em mong manh
thương em bờ tóc ngắn
từng mùa thu không em
từng ngày từng tiếc nuối
trong tim này thu chết em ơi!
Một mùa thu chưa say
một đời chưa quen hơi
tình nồng sao phôi phai
để tình thu yếu đuối.”
Chẳng có câu trả lời nào thích ứng cả, chắp tay làm dấu Thánh, “Tạ Ơn Chúa đã mang tình yêu thật sự đến để cảm hóa trái tim chai sạn, lỳ lợm, ngoan cố của con.” Tình yêu kg thể dùng logic để phân tích, cũng kg thể dùng trí khôn kiêu ngạo để luận giải, kg thể dùng biểu đồ phức tạp để đong đo, cân đếm – vì vốn dĩ nó rất đơn giản, một sự kết hợp giản dị, đơn thuần và tha thiết nhất – “anh là hơi thở của em, và em là nhịp đập của trái tim anh – tuy hai là một.”
Con đường phía trước còn dài, và em hiểu được anh đang gắng công từng bước xây dựng tương lai cho chúng mình. Em cám ơn anh, dù gian nan thế nào, em vẫn sẽ bên anh, cùng anh từng bước như anh đã từng ở bên em âm thầm trong suốt nhiều ngày tháng.
Nếu em có thể phát họa lên bức tranh tình yêu của hai ta, thì nó sẽ là một bức họa mùa thu yên ả, thanh bình với một vẻ đẹp của sự bình yên và thơ mộng nhất mà chẳng có mùa đông-xuân-hạ nào có thể sánh bằng. “Một mái ấm thật hạnh phúc đầy ắp tiếng cười của anh, của em, của chúng mình …” – Em tin tình yêu của mình sẽ đạt được điều anh mơ ước. Em yêu anh. “Mùa thu có lá vàng rơi, bao nhiêu chiếc lá, yêu người bấy nhiêu.”
Baby của anh
LanVy~

Tình Thu Yếu Đuối
Sáng tác: Khê Kinh Kha
Ý Lan

Trời vào thu em ơi
quanh đây đầy lá úa
tình buồn theo mưa rơi
lòng sầu đầy thương nhớ
trong sương mờ
anh đợi chờ.
Đợi tình em mong manh
thương em bờ tóc ngắn
từng mùa thu không em
từng ngày từng tiếc nuối
trong tim này
thu chết em ơi!
Một mùa thu chưa say
một đời chưa quen hơi
tình nồng sao phôi phai
để tình thu yếu đuối.
Từng mùa thu xa em
tim đau bao nỗi niềm
từng ngày ta yêu em
một đời đêm tối vây quanh.
Tình mùa thu không em
không em cười trong nắng
một mình anh bâng khuâng
nhặt từng giọt nắng ấm
anh ngỡ rằng
môi em nồng.
Từng mùa thu xa em
xa bao tình yêu mến
thèm bờ môi em ngoan
lòng này còn hoang vắng
ôm lá vàng
anh khóc tình em.

Khê Kinh Kha
(Michigan1970)

HÀ NỘI VÀO THU

Hà Nội đã vào Thu, cánh lá vàng rơi
Heo may nhẹ giăng qua từng con ngõ nhỏ
Hương hoa sữa đong đưa dài cuối phố
Sáng Thu về ươm ước mộng đầy vơi

Hà Nội trời vào Thu đẹp tuyệt vời
Cúc hong vàng bên hồ Tây sắc thắm
Lung linh hàng liễu soi bóng nghiêng say đắm
Cây cơm nguội vàng khoe chùm lá tươi xinh

Hà Nội mùa Thu dịu dàng ánh bình minh
Thạch Thảo bên thềm thoảng hương nắng nhạt
Ru say lòng người ly cà phê ấm áp
Nhạc vang trầm lắng đọng những niềm mơ…

Hà Nội mùa Thu nét đẹp thật nên thơ
Chân dạo bước bình yên trên phố cổ
Cầu Thê Húc tấp nập người du phố
Thắm ân tình, lưu luyến khách phương xa

Hà Nội mùa Thu, tà áo dài thướt tha
Gió mơn man bờ vai em nhung nhớ
Lòng xốn xang, bâng khuâng về một thuở…
Hà Nội ơi! còn xao xuyến mãi đầy vơi.

Nhật Quang

ĐÊM CUỒNG SAY NGÕ LẠ…

Đặng Xuân Xuyến


  • ĐÊM CUỒNG SAY…

Em nhé, một lần quậy cùng ta
Một đêm giả khướt lướt Ngân Hà
Một đêm vịn cớ vì ta đã
Mà hứng đêm cuồng say với ta?

Ừ, giả lần thôi, đâu chết a
Người ta thiên hạ vẫn thế mà
Thì bởi ả Hằng lả lơi quá
Mà dáng ai kia cứ nõn nà…

Thôi, ngả vào ta, cuộn vào ta
Để đêm thánh thót rót trăng ngà
Để làn gió thoảng loang hương lạ
Để trộn vào ta, nghiến nát ta.
*.
Hà Nội, 2G45 ngày 01-07-2020

NGÕ LẠ

Từ bữa em cùng người lạ
Che chung chiếc ô về nhà
Ngõ nhà mình thành ngõ lạ
Lừng khừng mỗi bước anh qua.

Hôm nay ngày thứ mười ba
Em lại che chung ô lạ
Tiếng cười nghe mà vồn vã
Bước chân lấn chút điệu đà.

Ừ, ngõ nhà mình thành lạ
Sớm chiều tíu tít người ta
Anh giờ đã là kẻ lạ
Ngõ về nhà xa quá xa.
*.
Hà Nội, chiều 19-09-2020

ĐỜI “HOA”

  • Với M.Q –

Đôi môi này lẽ thuộc về ta
Sao lỡ trườn bò lên môi lạ
Ú ớ rỉ rên những tên thật lạ
Rối rít hoan ca
Mắt cười đon đả
Vén kiêu sa
Lơi lả
cõi Ta Bà…

Đêm điệu đà
Mướt mát chốn phồn hoa
Em ngúng nguẩy vai trần tóc xõa
Bấu chặt người ta
Rúc ngực vào kẻ lạ
Tuổi đôi mươi em ngả xa ta quá
Vai lèn vai chen ồn ào phố xá
Cõi Ta Bà
Tầm tã
rã đời hoa…
*
Hà Nội, đêm 06 tháng 01.2018

TÌNH CHUNG

Mới hẹn mới thề nhất nhất tôi
Kiếp này, kiếp nữa chỉ yêu tôi
Thế mà tấp tểnh theo họ vội
Vất tuột hẹn thề bỏ sông trôi

Thì chữ chung tình rớt đầu môi
Biết rồi nên chỉ tự trách tôi
3 xu kiếm được duyên vài tối
Hà tất thở than đứng với ngồi.

Thế nhé, chữ tình chỉ vậy thôi
Đừng ví sông kia lúc lở bồi
Đừng than gió lạnh run chiều tối
Đừng mượn sao trời biện với tôi.
*.
Hà Nội, sáng 23-05-2020

KHÔNG ĐỀ 1

  • với NTT –
  • Rỏn rẻn em cười với gió mây
  • Thẩn thơ nỗi nhớ chợt ùa đầy
  • Nụ hôn em trộm từ đêm ấy
  • Tấp tểnh men nồng như mới đây.
  • *.
  • Hà Nội, trưa 21-11-2020

THU NHỚ CẦN THƠ ĐÊM GIàTỪ

Nguyên Lạc
.
1.
Thu về tôi nhớ lắm
Nhớ lắm nhớ một người
Một người của một thời
Một thời xuân mộng đó

Cần Thơ đêm lộng gió
Đèo nhau con đường quen
“Người còn nhớ hay quên”? [*]
Tay ôm đầu nghiêng tựa

Tóc huyền êm nhung lụa
Môi khúc tình thiết tha
– Mai anh rừng núi lạ
Có nhớ phố thân quen?

Người rồi chốn quan san
Mang theo hồn … bối rối
Nụ hôn ngon góc tối
Run rẩy đôi vai gầy
.
2.
Tang thương ai có hay!
Bão loạn kiếp đọa đày
Mười năm rồi trở lại
Dã nhân khóc “mây bay”!

Cố nhân tìm đâu thấy
Vẫn phố xưa đường này
Nhưng sao giờ lạ lẫm
Đâu phiến môi đắm say?
.
3.
Thu về nơi phố lạ
Lá phong lệ đỏ đầy
Quắt quay hồn cô lữ
Nhớ người … Nhớ lắm thay!

Thu phong lá thở dài
Buồn tôi hay buồn ai?
Một mùa thu lại đến!
Bao năm rồi tình hoài

Thu về nơi đất khách
Tôi nhớ lắm một thời
Tôi nhớ lắm mắt môi
Biết bao giờ thôi đây?

Loạn cuồng đời lá bay!
Người bay tận phương nào?
“Làm sao mà quên được?” [*]
Nụ hôn góc đêm nao
.
4.
Cố nhân! Tôi nhớ lắm
Đêm Cần Thơ giã từ
– Mai anh miền quan tái
Xa vắng em đợi chờ …

Bao giờ… biết bao giờ?
Cố nhân ơi nghìn trùng
Mù xa tình sương khói
Tìm đâu? Chỉ huyễn mong!

Tha hương… mòn … năm tháng
Còn chi? Chỉ hư không!
Quên đi! Lòng hằng nhủ
Nỗi nhớ vẫn y nguyên!
……….
[*] Lời nhạc trong bài Nghìn Năm Vẫn Chưa Quên – Phạm Duy 
Nguyên Lạc

ĐỌC TẬP TRUYỆN NGẮN “XÓM CÔ HỒN” KHA TIỆM LY


 
Châu Thạch    

Phi lộ: Nhân dịp nhà văn Kha Tiệm Ly vừa tái bản tập truyện ngắn “Xóm Cô Hồn” lần thứ ba, tôi xin đăng bài cảm nhận của mình về tập truyện ngắn nầy. Đây là một tập truyện có giá trị cao, không thể không có trên tủ sách gia đình. Quý vị nào cần mua xin liên hê với nhà văn trên trang facebook khatiemly Hao han. Kính mời.  

Bài Bình: Châu Thạch   

    Đến tuổi thất thập cổ lai hy; nhà văn, nhà thơ Kha Tiệm ly mới xuất bản được tác phẩm của mình, khi mà tên tuổi ông trong và ngoài nước không mấy ai không biết và không yêu mến. Điều đó chứng tỏ Kha Tiệm Ly đã cày trên thửa ruộng văn chương của mình, thu hoạch hoa màu thật tốt tươi nhưng thời nay, thứ sản phẩm trí tuệ tốt tươi ấy đem tặng không cho đời thì dễ nhưng bán cho đời thật khó.  

     Cũng may tập truyện ngắn Xóm Cô Hồn in 1000 quyển đã được mua sạch khi mới đem về, chứng tỏ uy tín Kha Tiệm Ly khiến cho nhiều người háo hức đón chào. Đến nay ông đã xuất bản lần thứ ba nhưng sách vẫn bán chay. Thành thật chúc mừng ông.  

     Xóm Cô Hồn gồm có 19 truyện ngắn, trong đó có 9 truyện truyền kỳ, còn lại dành cho nhiều thể loại khác.    

     Trước hết người viết xin đề cập đến truyện truyền kỳ của Kha Tiệm Ly vì ở tập sách nầy truyện truyền kỳ chiếm một số trang rất lớn.    

     Truyền kỳ là gì? Tìm câu trả lời hay nhất trên Google như sau: “Truyền Kỳ Mạn Lục (nghĩa là Sao chép tản mạn những truyện lạ) là một tập truyện của nhà văn Nguyễn Dữ, được in trong khoảng năm 1768. Dù là sao chép tản mạn những truyện lạ nhưng Truyền Kỳ Mạn Lục không phải là một công trình sưu tập như Lĩnh Nam Chích Quái, Thiên Nam Vân Lục… mà là một sáng tác văn học. Lấy bối cảnh chủ yếu là một phần hiện thực thế kỷ XVI, các truyện hầu hết ở thời Lý, Trần, Hồ, Lê sơ và đều có yếu tố hoang đường, nhưng đằng sau những yếu tố hoang đường đó chính là hiện thực xã hội phong kiến đương thời với đầy rẫy những tệ trạng mà tác giả muốn vạch trần, phê phán.  

      Truyền Kỳ Mạn Lục phản ánh số phận bi thảm của những con người nhỏ bé trong xã hội, những bi kịch tình yêu mà bất hạnh thường rơi vào người phụ nữ (như người thiếu phụ Nam Xương), thể hiện tinh thần dân tộc, bộc lộ niềm tự hào về nhân tài, văn hoá nước Việt (như chuyện chức phán sự đền Tản Viên), đề cao đạo đức nhân hậu, thuỷ chung, đồng thời khẳng định quan niệm sống “lánh đục về trong” của tầng lớp trí thức ẩn dật đương thời.     

     Truyền Kỳ Mạn Lục là đỉnh cao đánh dấu bước trưởng thành của thể loại truyền kỳ Việt Nam thời trung đại, từng được Vũ Khâm Lân (thế kỷ 17) khen tặng là “thiên cổ kỳ bút”. Tác phẩm đã được dịch ra nhiều thứ tiếng nước ngoài và được đánh giá cao trong số các tác phẩm truyền kỳ ở các nước đồng văn.”    

     Vậy thể loại truyện kỳ có ở nước ta từ 400 năm trước. Nay giữa thế kỷ 21 nầy nhà văn Kha Tiệm Ly lại quay về với nhưng câu chuyện cổ xưa, với lối hành văn cổ xưa, chắc là ông muốn tải cái đạo lý của thời xưa cho người đời nay suy nghiệm.  

      Truyện truyền kỳ của Kha Tiệm Ly đọc hấp dẫn không thua gì Liêu Trai Chí Dị. Trước hết nó đưa ta đến những cảnh vật nên thơ có con người và những mối tình thú vị, với mỹ nhân và thánh thần bí hiểm . Sau nữa truyện truyền kỳ như con thuyền tải đạo lý, đánh động lòng ta suy nghĩ về lẽ phải, công bằng xã hội, nhân cách con người và quyền sống tự do, hạnh phúc.    

      Ta không thể không thoả lòng với con “Chồn Cái Có Nghĩa” tuy ân ái với chàng thư sinh nhưng giúp cho tình chồng vợ của chàng không lỗi đạo.    

      Ta không thể không mông lung suy nghĩ cái cao siêu trong “Chuyện Hai Con Rồng” nói về một bậc nhân tài vẽ muôn chim, muôn thú, muôn hoa y như là thật, nhưng khi vẽ cặp phi long treo tại ngai vàng thì chỉ quệt hai đường mực xạ khiến phải bị rơi đầu! Sau đó chỉ một tên lính hầu tầm thường nói nhỏ vào tai đã khiến nhà vua tỉnh ngộ nhận ra cái thâm thuý của cặp tranh kia để trở thành một đấng minh quân.    

      Ta thật cảm phục câu chuyện “Liệt Nữ anh Hùng” người vợ thủ tiết chết theo chồng.  

       Câu chuyện linh hồn một cân quắc anh thư “ Liên Hà Tiểu Thư” chết vì cả nhà bị lũ gian thần hảm hại, đã hiện thân vầy duyên cùng một ẩn sĩ có ngọn bút như thần viết “Biên Cương Nộ khí Phú”, một bài phú hào hùng, tràn lòng yêu nước, yêu quê hương.     

       Ta thú vị với “Truyền Thuyết Hoa Đà”, một danh y cương trực khẳng khái, đã chữa lành cho hoàng hậu phát bệnh do “thiếu nặng đức nhân, thich nghe lời xu nịnh, chẳng phân biệt phải trái, hay dùng lời cao ngạo” và đã đánh lừa được ước muốn của một hôn quân sinh hoang tưởng mơ chuyện cỡi rồng.     

     Ta cảm kích câu chuyện “Thuỷ Chung Với Vợ” kể chuyện người chồng không đành giết vợ mình khi biết nàng là loài hồ ly bước ra từ chính bức tranh chàng hoạ.     

     Rồi câu chuyện “Khí Phách Giang Hồ” xảy ra trong thời chống Pháp thuộc vùng Gia Định Nam Kỳ, giữa môn phái võ thuật yêu nước đấu tranh cùng môn phái theo gót ngoại bang. Câu chuyện đề cao tinh thần yêu nước, nghĩa khí giang hồ, tình yêu cao thương của anh hùng hảo hán thời bấy giờ.     

     “Ăn Tết Với Ma”, “ Ngọc Lựu Mỹ Nhân” là nhưng câu chuyện xảy ra ở thời mạt Minh bên Tàu hay thời Lê Trung Hưng đất Việt, đều là những câu chuyện huyễn hoặc trong thời suy thoái quốc gia, trên thì tranh giành quyền lực, thu gom của cải, dưới thì sách nhiễu dân chúng, tuỳ tiện cướp của cướp nhà, bá tánh phải chịu muôn vàn lầm than khốn khổ, nước mắt chảy thành sông, thành suối, từ đó những hồn ma bóng quế nữ nhi chịu oan ức không siêu thoát mà trở lại với đời, kết nghĩa với hiền tài bất đắc chí ở trần gian.     

      Truyện truyền kỳ của Kha Tiệm Ly lấy tấm gương xưa mà soi vào hiện thực, khéo léo mà sâu xa, nhẹ nhàng mà thâm thuý, cuốn hút người đọc thích thú theo sự việc ly kỳ để rồi khi bình tâm lại, nghe tiếng lẽ phải cáo trách, nghe lương tâm thời đại nhói đau trong lòng.    

     Mười truyện ngắn còn lại, Kha Tiệm Ly viết về kỷ niệm đời mình, về những mẫu người đặc biệt, về nếp sống của tầng lớp cùng đinh xã hội. Nói chung mỗi câu chuyện đều làm cho ta suy nghiệm về một triêt lý sống ở đời.  

      Với truyện ngắn “Gánh Hát Về Làng” ta quay lại thời tuổi thơ của tác giả ở một miền quê Nam Bộ. Thời đó gánh hát bội về làng và gánh hát bội ra đi để lại trong lòng trẻ thơ biết bao nhiêu là kỷ niệm êm đềm.  

      Với truyện ngắn “ Nhật Ký Của Ba” làm ta rơi nước mắt vì người cha bán một phần thân thể cho con ăn học. Truyện ngắn “Xóm Cùi” viết về một người đàn bà xấu xí tật nguyền bị hất hủi cho đến phút cuối cuộc đời. Truyện ngắn “Người Bạn Lạ Đời” kể chuyện một người đi tu có tính toán nhưng đem đến cho ta nhiều phân vân về cái thật cái giả ở đời. Truyện ngắn “Đạo Đời Hai Ngã” là nỗi đau của mối tình phân rẽ, gặp nhau lại thì đạo, đời hai ngã lại làm cho phân cách nhau hơn.  

      Những truyện ngắn như “Đậu Cô Lang”, “Muộn Màng”, “Thế Võ cuối cùng”, “Xông Đất”… đều cuốn hút người đọc vào tinh tiết lý thú trong hư cấu nhân vật nổi bật và bố cục mạch lạc ngắn gọn làm cho ta say sưa câu chuyện . Đặc biệt “Xóm Cô Hồn” có lẽ là câu chuyện tâm đắc của tác giả nhất nên ông đã lấy nó làm đầu đề cho cả tập truyện ngắn của mình. “Xóm Cô Hồn” nhưng lại có hồn vì nơi đó chứa những mảnh đời bất hạnh, những thành phần lao động từ tứ xứ kéo về. Đời sống họ phi pháp, nếp sống họ xô bồ vì xã hội đẩy họ vào chỗ cùng đinh nhưng tình bạn của họ, sự chơn chất của tâm hồn, sự đùm bọc che chở nhau phát xuất từ vẻ đẹp, từ sự cao thượng một cách rất tự nhiên có trong lòng họ.  

     Đọc truyện ngắn “Xóm Cô Hồn” ta tìm thấy ở đó tính nhân văn trong lớp người bần cùng của xã hội, ta tìm thấy ở đó tính Người viết hoa, nhân phẩm của họ được đề cao trong tính cách, trong cách xử sự theo lối bình dân của họ, một lớp người khốn khổ. Lời văn trong những câu chuyện nầy vô cùng xúc tích, giống như một hiền nhân điềm đạm kể chuyện đời, rót vào tai người nghe những điều ý vị trong những nghịch lý của nhân quần xã hội.    

     Nói chung, tập truyện “Xóm Cô Hồn” của Kha Tiệm Ly là một tác phẩm đáng trân trọng, phù hợp với mọi người, mọi tuổi đời dầu già hay trẻ, vì trong đó chứa đựng huyền thoại để con người được tưởng tượng khi xem, vì nó chứa đựng nhiều câu chuyện hấp dẫn về người, về thần , về ma một thuở xa xưa, vì nó dựng lại cuộc sống của con người hiện thực trong con mắt sâu sắc của văn nhân. Tất cả những thứ ấy như những bó hoa chở trên con thuyền đạo lý, để người đọc nhìn thấy cốt truyện như vẻ đẹp của hoa và ẩn dụ của truyện như hương thơm ngào ngạt toả ra, đọng lại lâu dài trong thiện tâm của ta./.     

                                                          Châu Thạch   

ƯỚT MI HUẾ

VÕ CÔNG LIÊM

huế phải hứng chịu
mưa to gió lớn
huế buồn thiu thỉu
‘trời hành cơn lụt mỗi năm’
khóc lời ai oán
khóc đời nhiễu nhương
những tháng năm môi son má phấn
trên con đường phủ lá me bay . em
phố cũ giờ đây hoang phế ngập lụt
chảy theo hương giang về nơi biển xá
huế . phủ đầu những cơn mưa bội bạc
mang theo gió cuốn cho bão tràn hôn mê
tháng chín nghe gió xô con đường lê lợi
tháng mười xơ xác mái lá chợ đông ba
gia hội trường tiền ngập cả đường đi
lội nước trắng hai bờ cỏ lau xanh mướt
tháng mười một cầu cong cầu thẳng đứng nuốt gió
ướt mi huế . mà nhớ mùa xuân năm sáu tám
chẻ hai dòng nước ngăn cách tình ta một huế xưa
gió có tạt mưa có xan
tình tôi đứng đầu sóng
cho huế về lại chốn ngàn năm
để thấy trăng trong gió
và . mây trôi theo mưa
những cơn bão mang con số tử
vận mệnh huế cũng chìm trong đắng cay
hởi người em xóm học
huế có còn là mùa thu cũ
hay chìm trong lũ lụt của tháng ngày qua
sông tràn be
nước xối xả
gió điên cuồng
đổ lên đầu ngọn
núi ngự bình trước tròn sau méo
một thuở yêu người mát mặt với non sông
những căn biệt thự đánh ghen thời tiết đó
để lại con đường không bóng người qua
mùa dịch đỏ che mặt che mày như kẻ cướp
lầm than tôi linh hồn đã qụy
cho mưa bão tha hồ vuốt mặt đám bần dân
con vện trên mái rạ
ngơ ngáo giữa cõi đời
sông trôi về đâu sông ?
bỏ huế mà đi
thêm sầu cổ độ
bỏ huế mà đi
du mục cả đời
bỏ huế mà đi
một kiếp vong thân

ướt mi huế . cho thôi mưa gió
gạt giọt lệ . cho nước đừng trôi
về nơi biển xá một trời nhân thế ./.

VÕ CÔNG LIÊM (ca.ab.yyc. tháng 11/2020)

Thơ Hoàng Xuân Sơn


c h i ế n  t r a n h

[ collage FB Hồ Đình Nghiêm,

Một Thời Để Yêu Một Thời Để Chết ]

sự cựa mình của đêm
hơi thở nông cánh rừng
những đám mây tự sự
chiến tranh ôi chiến tranh

thân thể đêm tịch mịch
thở qua ranh xóa nhòa
im lặng. và im lặng
thai huyền một chiếc hoa
10 Nov. 2020

l ậ p  r i ê n g

Đầu đông se nhịp ngủ hàn
cái huyền trong gió
mênh mang bụi bờ
nghe mình rượi rã
tình
thơ
từng con chữ lấm có chờ được đâu
ý hoang sờn lạnh một mầu
chuyến đi của lá
về sâu bụi lầm
cộng
trừ
nhân một phiến âm
nhìn nhau tuyết cũng vô ngần
thế thôi

@9AM
12.11.20

bắt đầu rét
Thu tay tìm chút nhiệt mình
mà sao lạnh quá từ dinh xuống làng
từ đồi nghịch gió bay sang
lá khô một chiếc xuyến vàng ai quên
mà sao lạnh cả ba miền
mưa còn nước tạt ngoài hiên thúy gầy
nhiệt hờ chẳng đủ ấm tay
tự thân đã rét cùng ngày bão hoang
nằm đâu hơi giá cũng choàng
đời lâu. và chút hở hang phận còn


h o à n g x u â n s ơ n
30 tháng 10, 2020
[trời mon men sang đông]

VÌ ĐÂU HOA KỲ RA NÔNG NỖI NÀY ?

Bằng Phong Đặng văn Âu

Sau khi theo dõi kết quả bầu cử, bạn tôi hỏi tôi tại sao Hoa Kỳ ra nông nổi này? Tôi xin dựa trên những sự kiện cụ thể đã khiến choMiền Nam bị mất nước vào tay cộng sản để trả lời câu hỏi của bạn.Nguyên nhân Miền Nam mất vào tay cộng sản là vì tầng lớp lãnh đạo tôn giáo, chính trị, quân sự của Miền Nam không thấy cuộc chiến đấu chống lại cộng sản là một cuộc chiến đấu một mất một còn. Đặc biệt tầng lớp mang danh trí thức, hưởng được nhiều bổng lộc quốc gia, có nhiệm vụ khai hóa nhân dân, nhưng sống vô trách nhiệm, lãnh đạm, thờ ơ, lại thêm có kẻ ngấm ngầm làm tay sai cho kẻ thù.Hoàn cảnh chính trị nước Mỹ rất giống Miền Nam trước năm 1975. Cho nên nước Mỹ sẽ có nguy cơ mất vị thế hùng cường đệnhất thế giới, để cho Trung Cộng thống lĩnh thiên hạ, thì toàn thể nhân loại sẽ biến thành một trại súc vật khổng lồ. Nền văn minh không còn nữa!Nước Mỹ từng có cuộc nội chiến Nam – Bắc vào năm 1861 dưới thời Tổng thống Abraham Lincoln. Nhưng cuộc nội chiến lúc bấy giờ là cuộc chiến để giải phóng người nô lệ Da Đen. Cuộc nội chiến năm 2016 là cuộc nội chiến do đảng Dân Chủ cầm đầu để đưa nước Mỹ vào vòng nô lệ Trung Cộng.Đảng Cộng Hòa được xem là bảo thủ (conservative), vì muốn duytrì đạo đức tôn giáo, gìn giữ giá trị truyền thống. Còn đảng Dân Chủ muốn phá bỏ những giá trị cũ, để xây dựng lối sống phóng túng (liberal), thác loạn, tự do phá thai và vô thần, mà họ cho là cấp tiến (progressive). Phương thức đấu tranh giành quyền lực của đảng Dân Chủ giống hệt cộng sản: mị dân, lừa đảo, vu khống, chụp mũ, bạo hành … và không biết xấu hổ!
Chủ nghĩa cộng sản là một tôn giáo của ngạ quỷ, súc sinh. Nó có khả năng làm mê muội, ngu si đầu óc tầng lớp trí thức thượng thặng của nước ta. Hãy nhìn lại mà xem. Hầu hết những trí thức danh tiếng Việt Nam đã cắm đầu cắm cổ chạy theo cái chiêu bài chống Pháp giành độc lập của Hồ Chí Minh, Mặc dầu Hồ Chí Minh là đệ tử Đệ Tam Quốc Tế Cộng sản, tuân theo ý thức hệ Marxist, chủ trương bần cùng hóa nhân dân, “trí phú địa hào, đàotận gốc trốc tận rễ” thì cái chiêu bài “độc lập–tự do–hạnh phúc” cóxứng đáng để đổ xương, đổ máu mà giành lại hay không?Tổ tiên dạy: “Bần cùng sinh đạo tặc”. Tại sao trí thức không nhớ lời dạy của tổ tiên? Cả nước trở thành đạo tặc, thì độc lập làm quái gì? Trí thức là bậc thầy để dạy dân từng bước tiến lên trình độ văn minh. Vậy cái đảng chủ trương đào tận gốc trốc tận rễ tầng lớp trí thức thì lấy ai dạy cho dân tiến lên nấc thang văn minh?Nếu tôi bảo rằng trí thức Việt Nam chạy theo cái ý thức hệ cộng sản là ngu ngốc, chắc chắn mọi người đều mắng tôi là kẻ hỗn hào. Do đó, tôi phải nói trí thức Việt Nam bị quỷ ám là để tránh mang cái tội khiếm nhã. Chỉ có bị quỷ ám thì mới không thấy cái chết ở trước mặt mình!Năm 1954, Pháp thua trận Điện Biên Phủ. Nước Việt Nam bị chialàm hai. Một nửa từ vỹ tuyến 17 trở lên phía Bắc bị giao cho đế quốc của quỷ sứ cộng sản. Một nửa từ vỹ tuyến 17 xuôi về phía Nam được Hoa Kỳ nhảy vào để giúp xây dựng Tự Do Dân Chủ. Miền Bắc bị bọn cộng sản biến thành trại lính, thành trại súc vật. Miền Nam chưa hẳn là thiên đàng, nhưng ít nhất người dân đượcno ấm và tương đối có tự do.Mặc dầu Hoa Kỳ với thiện chí đến giúp Miền Nam xây dựng tự dodân chủ, tốn kém hàng ngàn tỉ đô-la, 58 ngàn binh sĩ hy sinh, nhưng thất bại, vì phạm hai sai lầm:

1►/ Sai lầm thứ nhất: Hoa Kỳ không hiểu rằng trí thức, đảng phái, tôn giáo Việt Nam bị quỷ ám. Do đó, họ trở nên ngu muội, không biết lợi dụng sức mạnh quân sự và† kinh tế Hoa Kỳ để tiêu diệt cộng sản. Ngày 11 tháng 11 năm 1960 hai sĩ quan tay sai Thực dân Pháp là Vương văn Đông và Trần Đình Lan làm cuộc đảo chánh lật đổ Tổng thống Ngô Đình Diệm, mà lại có sự tham gia của những tên tuổi lớn như lãnh tụ Nhất Linh Nguyễn Tường Tam, từng là Bộ† trưởng Ngoại giao trong chính phủ Liên Hiệp của Hồ Chí Minh, nhưng rời bỏ vì thấy dã tâm bán nước của Hồ Chí Minh; như bác sĩ Phan Quang Đán – Chủ tịch Phong trào Sinh viên Công giáo du học tại Hoa Kỳ–như một số lãnh đạo Quốc Dân Đảng, Đại Việt. Nếu những nhân vật này cùng hợp tác với Tổng thống Ngô Đình Diệm tiêu diệt cộng sản, thì Mỹ đâu có bỏ rơi Miền Nam?Ngày 1 tháng 11 năm 1963 xảy ra cuộc đảo chánh lần thứ hai. Lần này, do chính quyền của Tổng thống John Kennedy chủ động, với sự cộng tác của một số Tướng lãnh, tay chân bộ hạ của Tổng thống Ngô Đình Diệm, phản bội nhúng tay. Hoa Kỳ giết chết một lãnh tụ yêu nước, có khả năng chống lại chủ trương lấy nông thôn bao vây thành thị của Việt Cộng bằng quốc sách Ấp Chiến Lược, thì gọng kìm bao vây của kẻ thù càng ngày càng siếtchặt vào cổ nhân dân Việt Nam. Đồng thời, kẻ thù dùng bọn đội lốt nhà tu quấy phá hậu phương, thì nhiệm vụ của người lính bảo vệ an ninh cho đồng bào† đâu còn hữu hiệu nữa?2►/† Sai lầm thứ hai: Hoa Kỳ đổ quân vào Miền Nam để cứu vãn Miền Nam thoát khỏi cuộc xâm lăng của Việt Cộng từ Miền Bắc. Hoa Kỳ phạm phải một sai lầm rất trầm trọng, vì chủ trương phòng thủ, mà không sử dụng sức mạnh hỏa lực và tính cơ động của mình để đánh vào đầu não bọn xâm lăng. Hoa Kỳ đã bị sa lầyvì lâm vào cuộc chiến mệnh danh chiến tranh nhân dân do Việt Cộng học từ Mao Trạch Đông. Đó là một kiểu chiến tranh bẩn thỉu, cài răng lược vào dân, bắt đàn bà trẻ con làm bia đỡ đạn, thìhỏa lực hùng hậu tốc chiến tốc thắng phải đành bó tay.
Nguyên tắc của chiến tranh là đánh rắn, phải đánh dập đầu. Nếu không có quyết tâm đó thì đừng nhảy vào cuộc chiến. Hoa Kỳ đánh giặc kiểu dằng co, khiến quần chúng Hoa Kỳ mất kiên nhẫn,nên phong trào phản chiến nẩy sinh. Chính quyền đàn áp thì dân bất mãn. Nguyên tắc của cộng sản là nơi nào có đàn áp, nơi đó có đấu tranh. Cho nên cộng sản đã lợi dụng tình thế bất mãn để cấy người của chúng vào truyền thông (sử dụng cho công tác tuyên truyền) và ngành giáo dục để nhồi sọ (brainwash) vào đầu óc ngây thơ của học sinh, sinh viên về thiên đường cộng sản.Vì không thể chiến thắng cuộc chiến tranh nhân dân, Tổng thống Nixon nghe lời cố vấn của Henry Kissinger sang gặp Mao Trạch Đông ở Bắc Kinh. Cái chết của Hoa Kỳ bởi Trung Cộng khởi sự kể từ cái bắt tay của Nixon với quỷ sứ Trung Cộng, chứ không đợi tới khi Tiến sĩ Peter Navarro viết cuốn sách “Death By China” để cảnh báo.Tổng thống Ronald Reagan mở cuộc chạy đua vũ khí không gian (Star War) làm cho Liên Sô chạy theo hụt hơi, khiến khối cộng sản Đông Âu tan rã. Tổng thống George H. Bush (quen gọi Bush Cha) và các đời Tổng thống kế tiếp chủ trương ngược lại, nghĩa là làm cho Trung Cộng giàu lên với hy vọng Trung Cộng từ bỏ chủ nghĩa cộng sản. Có lẽ Hoa Kỳ tự cho mình là quốc gia tiên tiến nhất loài người, nên không cần học hỏi để thấy cái nhìn xa trông rộng của Tổng thống Ngô Đình Diệm.Giá như Hoa Kỳ tìm hiểu tại vì sao sau khi dẹp xong giặc Bình Xuyên, Tổng thống Ngô Đình Diệm ký sắc lệnh trục xuất người Tàu ra khỏi Việt Nam, thì Hoa Kỳ sẽ không bỏ rơi Miền Nam, Đài Loan cho Trung Cộng và rồi giao thương với Trung Cộng.Dân tộc Tàu tự cho đất nước họ là trung tâm địa cầu, các nước chung quanh đều là man di mọi rợ. Vì thế họ đặt tên nước của họ

là Trung Hoa. Trung tướng Lưu Á Châu của Trung Cộng khẳng định rằng nước Tàu không có triết gia như Phương tây. Người Tàu thờ Khổng Minh, một mưu sĩ thời Tam Quốc, nên đầu óc người Tàu chuyên môn sử dụng mưu hiểm kế độc để hạ thủ đối phương. Tổ tiên người Tàu dạy con cháu họ “Phi thương bất phú,vi phú bất† nhân” (Không buôn bán thì không giàu, muốn làm giàuthì đừng nghĩ tới nhân đạo). Cho nên Tàu Cộng chỉ đi ăn cắp sản phẩm trí tuệ của thiên hạ để mau chóng chế tạo vũ khí hiện đại và làm hàng nhái rẻ tiền để lũng đoạn kinh tế thế giới. Bản chất người Tàu vốn đã như thế, cộng thêm cái chủ nghĩa cộng sản tiêu diệt Tôn giáo, hành động thì theo phương châm “cứu cánh biện minh phương tiện”. Cho nên, để đạt giấc mộng thống trị† thế giới, cộng sản sử dụng bất cứ phương tiện gì, dù tồi bại tới đâu, dù bẩn thỉu tới đâu, dù vô đạo đức đến đâu, mồm mép cộng sản đều có cách biện minh để chứng tỏ sự chính đáng của chúng.Nước Mỹ có vị Tổng thống đem gái non vào Tòa Bạch Ốc hành lạc, mà được cả đảng bảo vệ địa vị là dấu hiệu đạo đức suy đồi. Người Công giáo thuộc đạo dòng như Nancy Pelosi, Joe Biden mà chủ trương phá thai là những kẻ bị quỷ ám nên phản đạo chống Chúa, lại được ở địa vị đại diện dân, lãnh đạo Quốc gia thì còn sự phản đạo lớn lao nào hơn? Một người tổng thống Mỹ mà có lý lịch mờ ám như Hồ Chí Minh, chẳng biết thật sự sinh ra trênđất nước Mỹ hay ở Kenya, có tín ngưỡng Hồi Giáo chống Chúa Jesus, có tư tưởng† Marxist chống Tư Bản, thì nền chính trị của Hoa Kỳ rập khuôn theo kiểu lưu manh cộng sản là điều đương nhiên.Trong lịch sử nước Mỹ, có bao giờ mà ngành truyền thông ăn gian, nói dối, điêu ngoa, trơ trẽn trở thành thống soái như ngày nay đâu, phải không? Nếu không bị Trung Cộng dùng tiền chế độc dược “sinh tử phù” sai khiến thì là cái gì đã khiến Truyền Thông thành một lũ không còn lương tri

Tướng Trì Hạo Điền của Trung Cộng đã nói một cách công khai, không cần giấu giếm từ năm 2011 rằng chúng sẽ dùng vũ khí sinh học để tiêu diệt dân Hoa Kỳ.† (*)Tại sao lãnh đạo Mỹ không cảnh giác? Năm 2019, Trung Cộng dùng con Virus Wuhan để cho cả thế giới bị lây nhiễm, để đánh sụp kinh tế thế giới. Đảng Dân Chủ lợi dụng vũ khí của Trung Cộng để làm vũ khí nhằm triệt hạ hệ thống dân chủ của quốc gia mình thì đảng Dân Chủ chính là kẻ nội thù của nhân dân Mỹ, chứ còn gì nữa?Ai cũng thấy được đảng Dân Chủ chỉ có gian lận mới thắng nổi Tổng thống Donald Trump. Bởi vì cái tội tham nhũng, dâm ô của cha con nhà Biden đã có bằng chứng nằm trong ba cái Laptop, thì cử tri nào bầu cho ông ta? Đáng lý ra, đảng Dân Chủ phải loại Joe Biden ra khỏi vai trò đại diện đảng để tranh chức Tổng thống mới phải. Nhưng đảng Dân Chủ là đảng quỳ gối hèn hạ, thì còn biết gì là liêm sỉ để hành xử cho xứng đáng? Rõ ràng đảng Dân chủ Mỹ đang bị Trung Cộng nắm đầu.Thời đại chúng ta đang sống là thời đại kỹ thuật cao (High Tech). Ngoài bọn truyền thông bất lương, những “Big Tech” như Google,Facebook, Twitter đều là tay sai của quỷ sứ, ma vương thì cái đấtnước giàu mạnh đệ nhất hoàn cầu sẽ sụp đổ là điều không thể tránh khỏi.Tôi tin thuyết nhân quả là có thật. Tổng thống John Kennedy giết anh em nhà Tổng thống Ngô Đình Diệm. Sau đó anh em nhà Kennedy bị giết chết. Nước Mỹ bỏ rơi Miền Nam vì đánh rắn không chịu đánh dập đầu, khiến cho hàng triệu người Việt Nam bịtù đày dưới tay Việt Cộng, hàng triệu người chết ngoài biển, trongrừng sâu. Ngày nay nước Mỹ bị bọn Dân Chủ và Truyền Thông làm cho điêu đứng thì cũng là chuyện quả báo mà thôi.

Cụ Ngô Đình Diệm đã quyết định vào dòng tu, nhưng Hoàng Đế Bảo Đại phải kêu gọi tinh thần trách nhiệm công dân đối với Tổ Quốc Việt Nam để thuyết phục cụ Ngô Đình Diệm nhận lời về nước lãnh đạo Quốc Gia. Cụ Ngô đã cầu xin Đức Mẹ hộ trì, trướckhi nhận lời. Cụ Ngô đã sống một cuộc đời đạo hạnh theo Đức Tin Thiên Chúa, đã phục hưng Miền Nam thành hòn ngọc Viễn Đông. Nhưng Tổng thống John Kennedy, một người Công Giáo, đã sai Đại sứ Henry Cabot Lodge dùng bọn phản tướng giết người con yêu của† Thiên Chúa, thì chẳng bao lâu sau Kennedy bị nhận hình phạt quả báo.Tỷ phú Donald Trump, một người có Đức Tin Thiên Chúa một cách mãnh liệt giống như Tổng thống Ngô Đình Diệm, thấy cái đầm lầy ở Thủ đô Washington DC gồm những chính trị gia Dân Chủ lẫn Cộng Hòa là một lũ tham nhũng, sa đọa phản bội quyền lợi dân tộc, sẽ làm cho nước Mỹ bị rơi vào tay Trung Cộng, ông đã ra tranh cử để cứu nước Mỹ. Gần 4 năm cầm quyền, Tổng thống Donald Trump đã đạt những thành tích to tát hơn tất cả cácđời Tổng thống trước, nhưng đảng Dân Chủ và bọn truyền thông vẫn ra sức triệt hạ thì đảng Dân Chủ và bọn Truyền Thông lưu manh sẽ bị Thiên Chúa† làm cho chúng bị lưu vong như dân Do Thái vài ngàn năm.Âm mưu cướp quyền của Hillary Clinton và đảng Dân Chủ năm 2016 tin tưởng sẽ chiến thắng vẻ vang, nhưng đã thất bại. Lần này, năm 2020, bọn Dân Chủ phải nhờ đến sự trợ giúp của TrungCộng dùng con Virus Wuhan để chiến thắng. Trên nguyên tắc, một người lãnh đạo được dân yêu, dân quý như Tổng thống Donald Trump thì sẽ được dân yêu cầu ông tiếp tục nhiệm† kỳ hai. Nhưng đảng Dân Chủ dùng mọi thủ đoạn gian lận để đưa một ông già bị quỷ ám và phản Chúa là Joe Biden, trí óc ngớ ngẩn, nói năng lung tung lên làm Tổng thống, thì nước Mỹ bị Trung Cộng sai khiến là hiển nhiên.
Là người ở tuổi 80, tôi chẳng có một tham vọng gì cho tương lai bản thân. Chẳng qua thấy Hoa Kỳ có vị lãnh đạo bất chấp sự phản đối Trung Cộng, dám bán vũ khí tối tân cho bà Thái Anh Văn để bảo vệ nền độc lập của Đài Loan, tôi tin rằng ông Trump sẽ liên minh các quốc gia trên thế giới để giải từ mối hiểm họa Trung Cộng, thì Việt Nam sẽ có cơ may thoát gông cùm Việt Cộng, nên tôi kêu gọi người Việt Nam yêu nước thành lập phong trào ủng hộ Tổng thống Donald Trump và đảng Cộng Hòa. Tôi tin rằng Thiên Chúa đã chọn tỷ phú Donald Trump làm sứ mệnh thanh tẩy cái đầm lầy của nước Mỹ, thì không vì lý do gì nửa chặng đường Tổng thống đã đi qua, mà Thiên Chúa không giúp ông vượt rào cản trước mặt để hoàn thành sứ mạng† dở dang?Tôi tin rằng Thiên Chúa sẽ chiến thắng, thì sứ mạng của Tổng thống Donald Trump sẽ thành công, để tôi hoàn thành ý nguyện theo chân Chúa.

@Bằng Phong Đặng văn Âu,Viết xong vào 2 giờ trưa, ngày 4 tháng 11 năm 2020.Telephone: 714 – 276 – 5600.Email address:bangphongdva033@gmail.com————(*) – Hãy tham khảo bài viết “Chiến tranh không xa chúng ta và là bà Mụ của kỷ nguyên Người Tàu” [http://bacaytruc.com/index.php/2130-chi-n-tranh-khong-xa-chung-ta-va-la-ba-m-c-a-k-nguyen-ng-i-tau-d-ch-gi-truc-dong-quan] để am hiểu về mưu đồ không che giấu của Trung Cọng muốn gây chiến tranh sinh học nhằm thôn tính cả thế giới” †

NỀN DÂN CHỦ Ở MỸ

VÕ CÔNG LIÊM

gởi: nguyễn quang thiều, bảo ninh.

Phải nói nước Mỹ cũng như một vài nước trên thế giới thực thi tinh thần ‘xã hội chủ nghĩa’ một cáchđúng nghĩa. Lấy nền dân chủ ở Mỹ (Democracy in American) làm chuẩn, bởi; họ thực hiện từ xưa đếnnay thứ khoa học chính trị một cách ‘logic’ có nghĩa rằng họ là chứng nhân cho một sự nới rộng chủnghĩa tự do có công lý hợp hiến; đấy là những gì đã xuất hiện và phát triễn ở thế giới Phưong Tây tronghướng đi của tk. thứ mười chín và tiếp nối sau đó –Political and social democracy, as a logical extensionof the principles of liberalism, developed in the Western world in the course of the nineteenth centuryand after. Có rất sớm với một hiến chương đầy đủ và phong phú hợp lòng dân là những gì đổi mới tưduy cho một nền dân chủ cũng như những đảng phái khác của một đất-nước-liên-hiệp (United State ofAmerica). Theo dòng lịch sử; ở thời điểm 1830 chính là lúc nền dân chủ ở Mỹ đón nhận luồng tư tưởngchính trị Âu châu và những nước tiên tiến; cuối cùng chỉ còn lại những hoạt động tích cực dưới mắtphân tích của những nhà tư tưởng Phương Tây, nhưng; chưa hẳn phải là chính đáng như đã đề ra; mà coiđó là một thứ tinh xảo và dự đoán phân tích của chế độ dân chủ qua hành động –it was shrewd andprophetic analysis of democracy in action.Vấn đề cốt cán là thực hiện trưng cầu dân ý với những gì liêncan đến lời tuyên bố: cho một xã hội bình đẳng (social equality), ý kiến quần chúng (public opinion),nguyên tắc đại đa số (majority rule), lãnh đạo tư tưởng dân chủ (democratic leadership) và thực thi rõràng công nghiệp hóa (emerging industrialization); đó là yếu tố để dựng nên nền dân chủ ở Mỹ. Tuy nhiên; cái sự đó là một hóa giải cá tính tự do với luật định tuân theo, nghĩa là không vượt quá tự do,dẫu là chủ nghĩa tự do tuyệt đối, chủ nghĩa duy vật biện chứng và những gì chuyên chế áp bức của mệnhlệnh thuộc về chức năng đã đặc ra.Tự do của nước Mỹ là tuân theo ‘mệnh lệnh’ của tối cao pháp viện,một tòa án nhân dân để giải trừ những gì có ý độc tài, độc đảng hay một dụng tâm khác; sự đó trái lòngdân, trái hiến pháp ấn định; mà phải nằm trong một lý tưởng có qui hoạch, thích nghi hoàn cảnh xã hội,hoàn cảnh sinh hoạt đời sống hằng ngày của con người. Người làm chính trị là trải qua một kinh nghiệmđấu tranh trường kỳ: thật sự yêu nước, yêu dân không thể mang hình thức bề ngoài để phủ dụ hay dụngtâm cho một nhu cầu khác. Người dân Mỹ đã kinh qua nhiều thời kỳ quá độ của chủ nghĩa, ngay cả chủnghĩa thực dân mới là một thoái trào đã quá vãng. Nền dân chủ Mỹ ngày nay có hướng đi cho tương laiqua nhiều thế hệ khác nhau và giành lại những gì của thời đại ánh sáng đi trước tiếng động, tức vượt bứctường âm thanh để đạt tới mục đích của khoa học kỹ thuật. Song le; không phải vì thế mà mất tính đốiphó của hai bề mặt trong và ngoài nước. Thực hiện được là nhờ ở tinh thần dân chủ hóa. Sự cố ấy đãđược thừa nhận và trở nên hoài vọng của mọi người đang mong đợi, đồng thời coi đó là chứng cứ cụ thểvà toàn diện trước thế giới. Quả vậy; người Mỹ muốn thực hiện một ‘kỳ quan thế giới’ cho tương lai!Nói cho ngay; khởi từ ngày lập quốc đến nay gần ba trăm năm qua; nước Mỹ đã thành công trên nhiềulãnh vực khác nhau như một chứng tỏ của Tân Thế giới (New World) được thành lập, họ đã vượt quamột quảng đường dài hằng thế kỷ, là một thu tập và thực hành để có ngày hôm nay.Tự động hóa một đấtnước dân chủ cọng hòa xã hội chủ nghiã đầu tiên trên đất nước họ, phủ nhận dưới mọi nhản hiệu khácnhau (Quốc xã chủ nghĩa, Đại đồng chủ nghĩa hay Cọng sản chủ nghĩa) bởi; nó không chứng thực nhữnggì thuộc xã hội và con người mà là giáo điều. Đã quan sát kỹ điều kiện bình quyền là sự tiến trình hằngngày hướng tới những gì hạn hữu tột cùng chỉ đến cho một nước Liên Bang Mỹ mà thôi – observed thatthe equality of conditions is daily progressing towards those extreme limits which it seems to havereached in the United States. Hiến pháp Hiệp Chủng Quốc là ý nghĩa của tự do, dân chủ trên toàn lãnhthổ của một quốc gia độc lập và tự trị không qua một điều kiện cách nào khác hơn từ trước đến nay.Cảm thức đó giờ đây đã thay đổi; thay đổi toàn diện trên bộ mặt chính trị, văn hóa, kinh tế và khoa họckể cả khoa học y khoa đang là dấu hiệu bộc phát mà người Mỹ phải đương đầu như một thách đố; khảnăng đó là cầm giữ trong một quần thể rộng lớn, ánh sáng của giải thoát được lan trải và năng lượng củatất cả mọi tầng lớp được trau dồi và hành xử như nhau, nhưng; sự kiện này phải thực thi trọn vẹn cóbằng chứng hơn là diễn thuyết và dựa trên cơ sở lập trường chính trị hợp lý. Mỗi một cá thể sẽ cảm thấynhư cảm thông, như cùng cần thiết cho một ý nghĩa ‘huynh đệ chi binh’ để che chở mỗi khi yếu mềm vàcần trợ giúp như một sự hợp tác. Cái sự đó là ý thức có từ người dân của cái thời hiện đại, cái thời đạikhông cần phải học tập hay ‘lên lớp’ mà ở cái chỗ thấy được (seeing) tức sống là để nhận biết cái đúng,cái sai; chủ thuyết nào rồi cũng phải xây dựng như thế. Vậy dân chủ là gì? Là quyền được sống đúngnghĩa của nó. Đối với nước Mỹ, người đứng đầu nước là gánh vác trách nhiệm trước quần chúng. Đứngđầu nước không lập thành tích lịch sử là thoái trào. Lịch sử Mỹ xưa nay là vậy. Dấn thân ở đây là mộtcái gì thuộc ‘sacrifice’ cho đất nước. Và; công dân Mỹ sẽ còn lại ở đó một sự im lặng, không vì tuyệtvọng của lầm lẫn –not because it despairs of amelioration, mà coi đó như một sửa sai đúng cung cáchthời sự. Âm vang phong kiến không có ở đây; một thứ chủ nghĩa lên án không có nguyên cớ (without cause), sự cố đó chỉ đến cho những nước nhược tiểu. Dân chủ ở Mỹ là người dân cầm quyền sứ mệnhchớ không phải người đứng đầu cầm quyền sứ mệnh. Cầm quyền ở đây là thi hành một cách tuyệt đốikhông chối từ mà phải hành động để đạt tới cứu cánh, mục đích; đó là kết quả yêu cầu của đất nước.Xuyên qua những cuộc bầu cử xưa nay, bất luận là đảng phái nào sứ mệnh duy nhất của người ứng cử làtrung thành đường lối chủ trương do đảng đề ra gần như ‘vị quốc vong thân’ là điều ắt có và đủ. Bêncạnh đó chúng ta phá trừ thứ quan liêu, là thứ nhũng lạm, chắc chắn không có ở những nước dân chủnhư ở Mỹ, và; tuồng như chúng ta thấy có khuynh hướng nghiêng về sự suy tàn với sự đồng tình và gắnbó vào nơi chốn của chúng ta trong một đất nước đang trong cơn bối rối của họ –we have destroyed anaristocracy, and; we seem inclined to survey its ruins with complacency, and; to fix our abode in themidst of them. Một thứ đặc công trá hình dưới mọi tiêu đề khác nhau. Sự kiện đó rất khó diễn hành trênđất Mỹ, bởi; họ là những công dân có trách nhiệm bảo vệ đất nước của họ.Thời tất không một mảy may.Do đó những gì đã trải qua với những gì đã được khai phá để đưa tới hòa bình cho đất nước là hoài bãocủa những nhà lãnh đạo. Trong qui trình đó là tạo được ý thức nhận biết, là tầm quan trọng trên hết, và;nếu coi đó là điều có thể khác biệt cho một ý nghĩa thời tất sự đó có thể đưa tới một lợi ích khác chotương lai. Phải thú nhận rằng kẻ đứng ngoài có thể nhìn rõ hơn kẻ đứng trong nhà; dẫu đó là viễn vọngkính đi chăng, nhưng; guồng máy của Mỹ là cục bộ ‘dân chủ’ rất khó lung lay hay phá vỡ.Thông thườngngười ta đã thấy hình ảnh của chế độ dân chủ ở tự nó, với khuynh hướng nghiêng về nó, chức năng, vaitrò của nó, định kiến của nó và sự hăng say của nó – Frequent; sought the image of democracy itself,with its inclination, its character, its prejudices and its passion. Đấy là trọng điểm dưới mắt nhìn củangười dân cho những đối tượng có khuynh hướng làm chính trị. Sự lý này cũng có thể đưa tới sợ hãihoặc hy vọng vào đường lối của chính mình đưa ra với những tiến trình khác nhau. Nền dân chủ ở Mỹđược xem như ‘có quyền’ phán quyết tối hậu cho người đứng ra đảm nhiệm: một viễn ảnh vinh quang vàdanh dự trên mọi lãnh vực đối nội và đối ngoại. Đấy là cốt tủy trong tinh thần dân chủ ở Mỹ.

QUYÊN CHUYÊN CHẾ Của TẬP ĐOÀN
Nói đúng ra đó là quyền tối hậu, nó qui tụ một thành viên của thượng, hạ viện Mỹ như một tập đoàn(the majority) để trở thành một đại đa số phán quyết về tình hình đất nước, nó gần giống như cơ quanđầu não (thuộc chính trị), một cơ chế chuyên chế, chuyên quyền (tyranny). Quyền buộc phải tuân theokhông những Cọng Hòa hay Dân Chủ hoặc bất luận đảng phái nào khác hơn đều coi đó là pháp lệnh.Một đạo luật tổng thể là vấn đề có liên quan đến an sinh xã hội và chú ý đến, cũng như; mang lại nhữnggì thích nghi khác –Question that bears on the welfare of the country, also; to bring one’s mind to bearon somethingelse. Những gì đem lại được thời gọi là Công lý –which bears the name of Justice. Khôngnhững chỉ một tập đoàn hay đại đa số của những người hoặc những người đó, nhưng; do từ tập thể củacon người –but; by a majority of mankind. Cái quyền nơi con người là hợp lý, là ‘logic’ ,là kết quả tấtnhiên (consequently) như đinh đóng cột, nó đơn giản nhưng kiên cố; cái đó chính là lập pháp vững chắccủa nước Mỹ. Một quốc gia luôn đặc vấn đề cân nhắc, thận trọng trong việc điều hành guồng máy quốcgia trong sự khai sáng của một ban giám khảo có thẩm quyền (jurisprudence) đó là những gì có quyềnhạn và chế ngự được cho một xã hội rộng lớn và có thể ứng dụng vào những gì to tát, đó là tổng quan vềcông lý của Mỹ; không những thế công dân Mỹ cũng được nhìn nhận như một bồi thẩm phán (jury).Tập đoàn như giám khảo, như bồi thẩm phán được xem là một tập hợp chọn lựa có thể nhìn đó là mộthiện hữu bất di, bất dịch. Tất cả những ý kiến thông thường là ý kiến hợp lý và thích ứng để chống lạinhững ý kiến ít hơn; thường là kiểu cách nhóm thiểu số (minority) đưa ra chớ không thể phán quyết. Thếnhưng; mỗi cá thế hay một đảng phái nào có ý ‘phản phé’ hay tiêu cực trong đất nước Hoa Kỳ thì nhânsự đó sẽ được tập đoàn điều nghiêng lời thỉnh cầu, hợp lý sẽ được bồi hoàn theo phép tắc danh dự và tàisản chớ không độc đoán phán xét lời thỉnh nguyện mà ‘chấp pháp’ để hành xử trái phép. Trong mọi vấnđề lớn nhỏ ý dân được tôn trọng và nhận biết; sự đó là dấu hiệu một nền văn minh khoa học chính trịkhác với những nước mới phát triễn, hơn nữa những người được đề cử phải là người có trình độ kiếnthức, có trường lớp hoặc trải qua một sự huấn luyện như thể ‘thép đã tôi thế đấy’ là đưa tới niềm tin chongười dân. Dân chủ ở Mỹ tạo nên những nét đặc thù cho chính họ và cho những đối tượng khác.Tuynhiên sự đó đưa tới nguyên nhân của bất đồng chính kiến, chắc chắn không phải là ngăn chận hay ràocản mà tạo vào đó một sự củng cố vững chắc; đó chính là nguyên nhân làm nhẹ gánh nặng tư duy. Chính phủ là người đã tìm thấy mọi tình huống xẫy ra và hoạch định đường lối phù hợp đất nước hiệntại thay vì dựa vào luật định để phán xét hay biện minh mà đả thông tư tưởng trong vấn đề sẽ xẫy đến .

QUYỀN LỰC THI HÀNH BỞI TẬP ĐOÀN Ở MỸ DỰA TRÊN QUAN ĐIỂM CHÍNH TRỊ.
Điều này như một giảo nghiệm về việc trình bày ý kiến chung ở Mỹ, điều đó rõ ràng và sáng tỏ cho mộtnhận thức thế nào là quyền lực của tập đoàn trội hẳn hơn mọi quyền hạn khác với những gì mà họ thu
tập từ những qui luật của Âu châu trước đây. Kinh nghiệm đó ảnh hưởng ít nhiều, nhưng; vẫn được coilà có ít nhiều ‘hệ lụy’ để đối đầu. Sự kiện đó đem ra áp dụng vào nơi đất lành chim đậu thì có phần khácbiệt ở tân thế giới mới, nếu đem ra áp dụng một cách triệt để thì sự đó họ cho là trở ngại công việc cựcnhọc của việc làm, đồng thời có tính cách áp chế là điều nghịch với hiến pháp Hoa Kỳ. Dù cho lịch sửHoa Kỳ ghi nhận nội chiến Bắc Nam là một cuộc chiến dành độc lập thống nhất chớ không phải cuộcchiến phân tranh. Bên cạnh đó vấn đề da màu là một trở ngại lớn lao cho chính phủ Mỹ, bởi; nó là tàntích cố cựu, một vết thương khó chửa hoặc phải đương đầu hoặc phải nhượng bộ; tuy nhiên trong hiếnpháp Mỹ không đặc vấn đề cụ thể mà để cho con người tự ý thức qua hành động của mình là phươngpháp hóa giải căn bệnh trầm thống vốn được coi là ung nhọt đổ xuống cho Mỹ cũng như những nướckhác trên khắp lục điạ Mỹ châu. Do đó quyền lực là dựa vào cơ sở pháp lý để điều hành bởi quan điểmcủa tập đoàn chính trị Mỹ -Power Exercised by the Majority in American upon opinion- một thẩm quyềnmà trong đó có phần tâm lý (physical) và luân lý (moral) cùng một lúc, nhưng tất cả cần có một luận bànđể có lợi cả hai bên; đấy là lý do hoàn toàn sáng tỏ, không có chuyện vua quan sĩ tứ hay chính thể quânchủ nằm trong quyền lực này, ngay cả những gì thuộc về quan liêu chính trị (aristocratic) cũng khôngthể lọt vào guồng máy chính trị Mỹ, bởi những thứ đó là ‘phù phiếm’ đối với con người và xã hội Mỹ.Quan liêu chính trị chỉ đến những đất nước lạc hậu, chậm tiến, thiếu trình độ văn hóa và nhận thức hiểubiết chính trị, nó chỉ đạt tới mục đích riêng tư hơn là dành cho cộng đồng nhân loại; chính vì vậy mà đưatới bi thảm xã hội (society tragedy)…Ở Mỹ độc lập là ngày hiến chương (4/7), là một đánh dấu vĩ đạiqua bao cuộc đấu tranh để giành lấy, ấy là biện chứng hùng hồn cho một trang lịch sử mới; cùng lúc giữvững quyền tự do cho mọi người, một sự tự do trong pháp luật mà xưa nay người Mỹ đã thực hiện. Thựcvậy; tinh thần tự do của người Mỹ được phát huy với một trí tuệ khai phá và sáng tạo vốn là hoài vọng.Ở Mỹ tập đoàn đứng lên là rào cản rất chi là dữ dội đối với ý kiến tự do mà trong những gì gọi là rào cảnhay ngăn chận qua lời phát ngôn, họ có thể nói những gì họ muốn nhưng rồi họ sẽ nhận ra sự nhầm lẫntrong đó, bởi quyết nghị ở lòng dân; không những thế mà trở thành quá khích của cái gọi là ‘auto-da-fé’trái luật hay qúa cứng ngắt, hành động đó gần như dị-giáo, đi tới phớt lờ giữa chính phủ và người dân.

NGUỒN GỐC CHÍNH CỦA NIỀM TIN TRONG SỐ NHỮNG QUỐC GIA DÂN CHỦ.
Là khi xã hội đặt vào hoàn cảnh phân chia giai cấp không có bình quyền –When the ranks of society areunequal, và; con người không giống điều kiện như người khác –and; men unlike each other in condition.Con người sống nơi đây là thời kỳ tiêu biểu nhất, là sự lẽ cố nhiên luôn cả mọi thứ đều có định hướngnhững gì họ nghĩ đến, bởi; những tiêu chuẩn tột đỉnh của mỗi cá nhân hoặc mọi tầng lớp trong xã hội.Trong lúc có những điều không mấy hài lòng để thừa nhận rằng sự lầm lẫn phần lớn ở quần chúng màra. Nhà nước bảo thủ trong vai trò hòa giải giữa trắng và đen đều xử thế như nhau, quân bình theo pháplý. Đối kháng đòi hỏi sự bình quyền, bình đẳng qua từng lứa tuổi, đem lại sự gần gũi và cảm thông trongmột quốc gia có nhiều sắc tộc khác nhau, ít đi sự nghiêng bên này hay bên nọ mà làm tăng thêm ẩn ýnghi ngờ, chắc chắn trong mỗi con người của họ có cái ‘implicit faith’ của niềm tin. Không những chỉdành cho ý kiến chung mà đó là lời hướng dẫn những gì thuộc công lý riêng tư, chận lại sự sụp đổ giữanhững gì thuộc tính cách dân chủ, giữa những gì mà họ chiếm cứ và có thể xẫy ra nhiều nơi khác. Tínhchất ‘đả phá’ ở Mỹ đôi khi vượt ngoài ý muốn làm hư hại tinh thần dân chủ mà họ duy trì bấy lâu nay.Thời kỳ bình đẳng, bình quyền của con người không còn tin nhau giữa người này, người nọ; tuy bầu bícùng chung một giàn nhưng sắc thái lại khác nhau, bởi; suy tư, định kiến hay bởi mặc cảm, một phầnảnh hưởng vào giai cấp thống trị trước đây. Chính trị khoa học đã nhận ra điều này như sự cố một sự cốchẳng đặng đừng mà đòi hỏi ý thức nhận biết. Sự đó dần dà đi tới cảm thông như vấn đề của sự sống(live matter). Trong khi đó người ta đang trú ngụ trong lãnh điạ dân chủ với tất cả sự bão vệ; nhìn chunglà bình đẳng nhưng bên trong vẫn còn đối kháng tạo nên một cảm thức lạnh nhạt. Đó là lý do hôm nay!Căn cứ trên pháp lý và tập đoàn của Mỹ làm kim chỉ nam cho một số quốc gia có tầm ảnh hưởng chunggiữa cao trào dân chủ. Dân chủ là yêu cầu của mọi sắc dân, triệt tiêu những lề thói xưa cũ đã kinh qua nôlệ hay thống trị của thuộc điạ cũ và mới. Những chặn đường như thế đã tạo nên chông gai và máu lửa.Nước Mỹ đã phản ảnh cụ thể là nguồn gốc phát huy tính dân chủ của niềm tin, liên đới giữa những quốcgia phát huy dân chủ, đối kháng để đặc nơi đó một sự bình đẳng không phân chia –Of the principalsource of belief among Democratic Nations. Đó là mực độ chung về bình quyền là điều kiện hết sứcgiản đơn và nó trở nên cái nơi không còn nghi ngờ ở nhà nước, trong mỗi người và trong mọi người. Khiđặc niềm tin thì không cần tiêu đề cho chế độ.Thí dụ: Cọng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên…cácnước văn minh ngày nay chỉ có ‘last name’ đủ chứng minh họ đã độc lập, tự do từ xưa tới nay. Chẳnghạn Nhật (tên họ) Thái dương Thần nữ (tên thường gọi) nghe thông thoát và rõ ràng. Cần chi phải là.Cho nên vấn đề thực thi mới là quan trọng và đúng nghĩa một nước dân chủ. Thuận lòng dân thời tấtthành công trên mọi lãnh vực và đưa cả nước tiến lên thế giới đại đồng như những nước khác.

KẾT
Ở Mỹ tập đoàn đảm đương và cung ứng mọi điều kiện thuận lợi, hổ tương với quần chúng dù là Dânchủ hay Cọng hòa. Sự thật của việc làm là dựa trên căn bản chính trị để điều hành, gần như luật chính trị (political laws), đúng ra là định chế thẩm quyền (majority rules) với cái quyền tối cao (sovereign rights).Đây là những gì thuộc chính trị vạn năng của tập đoàn ở Mỹ, mục đích làm tăng thêm giá trị về sắc luậtđể người dân không còn nghi ngờ hay mất niềm tin. Một sự kết cấu, cục bộ của tập đoàn thay mặt dân đểgiữ gìn giang sơn; sự cớ này đã được mệnh danh là ‘đế quốc’ của chủ nghĩa tư bản. Tài trí thống trị củathành viên là một kết hợp to lớn, có lẽ; nằm trong người của tập đoàn, tức trong guồng máy của đảngdân chủ, nhưng nó sẽ luôn luôn là đỉnh cao –but it will always he extremely absolute, and; whateverpolitical laws men are governed in the age of equality và; bất cứ là gì đi nữa, luật pháp chính trị vẫn do người dân làm chủ và tập đoàn hay người đứng đầu nước chỉ là kẻ thừa sai của công dân Mỹ mà thôi ./

.VÕ CÔNG LIÊM (ca.ab.yyc . remembrance-day 11/11/2020

ĐỌC THÊM : ‘Thay Đổi Có Đến Với Mỹ?’ Hiện có trên vanchuongviet.org và một số báo giấy trong và ngoài nước (2008)

Bàn Về “ĐỌC LẠI NGƯỜI XƯA” Bài 1- Thơ Vũ Hoàng Chương

I – Sơ lược về nhà thơ Vũ Hoàng Chương:  

     Vũ Hoàng Chương(1916-1978) ở Nam Ðịnh, nguyên quán ông là làng Phù Ủng, huyện Đường Hào nay là huyện Mỹ Hào tỉnh Hưng Yên.  

Thi phẩm của Vũ Hoàng Chương được nổi tiếng nhất là tập Thơ Say (xuất-bản năm 1940). Sau tháng Tám 1945, nhà thơ họ Vũ đã cho ra đời thêm mấy tập thơ nữa là: Mây (1943), Rừng Phong (1954); một tập kịch thơ Vân Muội, Trương Chi, Hồng Diệp (1944).  

      Sau năm 1954, nhà thơ di cư vào Nam, ông tiếp tục sáng tác không ngừng cho đến khi ông mất. Các tác phẩm giai đoạn này là các tập thơ Tâm Sự Kẻ Sang Tần (1961), Lửa Từ Bi (1963), Ta Đợi Em Từ 30 Năm (1970), Chúng Ta Mất Hết Chỉ Còn Nhau (1973)… Ông từng được vinh danh là “Thi bá” Việt Nam.  

     Sau 1975 bị bắt giam ở Chí Hòa, do bệnh nặng Ông mất ngày 6 tháng 9 năm 1976 tại Sài Gòn.  

II – Sự Kiện của thơ:  

     Sự kiện của thơ do nhà thơi La Thuy, Quản nhiệm trang blogspot Phú Đoàn và La Thụy đăng trên báo của mình như sau:  

“Di cảo của Vũ Hoàng Chương (1975 – 1976), do Vũ Hoàng Chương trao cho Hoàng Hương Trang giữ trước khi qua đời, đây là công bố đầu tiên di cảo này, gồm 14 bài, trong đó có 1 bài thơ Tết vịnh Tranh Gà Lợn, 12 bài cùng 1 nhan đề “Đọc lại người xưa”, còn 1 bài ông làm trong tù gồm 12 câu, phải làm 6 lần, mỗi lần bà Đinh Thục Oanh vợ ông vào thăm nuôi, ông chỉ viết 2 câu trên mảnh giấy gói đồ, 6 lần vào thăm nuôi ghép lại mới hoàn chỉnh bài thơ, tuy nhiên bài ấy do bà Đinh Thục Oanh giữ và nay đã thất lạc, Hoàng Hương Trang chỉ nhớ vỏn vẹn 1 câu: “Tối về Khánh Hội sáng vô Chí Hòa” để chỉ những cuộc thăm nuôi của bà Đinh Thục Oanh vào thăm ở Chí Hòa, lặn lội cuốc bộ về tới Khánh Hội ở đậu nhà bà Đinh Hùng thì trời đã chiều tối. Nhưng bài thơ này cũng là ngoài 12 bài liền mạch “Đọc lại người xưa”.  

Hoàng Hương Trang nay cũng ở gần cái tuổi 80 rồi, sợ không giữ được, nên xin công bố, in vào tuyển tập sau này để lưu giữ được lâu dài, làm tài liệu cho văn học sau này.  

     Năm 2012, La Thụy được chị Hoàng Hương Trang tặng TUYỂN TẬP THƠ VĂN XUÔI HOÀNG HƯƠNG TRANG, trong đó có in những bài thơ cuối cùng, là “di cảo do thi sĩ Vũ Hoàng Chương trao cho chị Hoàng Hương Trang giữ trước khi qua đời”. Những bài thơ này được in từ trang 398 đến trang 407 trong tuyển tập nêu trên. Xin giới thiệu cùng quý bạn đọc.”  

III- Nghiên cứu bài thơ “Đọc Lại Người Xưa” Bài 1  

 

1.  Bài thơ “ĐỌC LẠI NGƯỜI XƯA (1)  

 

“Minh nhật dục từ nam phố đạo  

Hà nhân cách xướng bắc cung thanh”  

                       Cao Bá Quát  

Đường Thanh Nghệ Tĩnh chon von  

Nhịp ba cung bắc ai còn hát đây  

Cánh chim lượn gió đong đầy  

Khói hoàng đô thoắt liền mây Đế Thành  

Rồng Lê phượng Nguyễn tung hoành  

Chẳng e lưu xú chẳng đành lưu phương  

Ba hồi trống giục pháp trường  

Máu tuôn phách dựng phố phường còn mưa  

Cơn buồn lọt gió mành thưa  

Mấy mươi giông bão cho vừa nhịp ba  

Nào ai đáng mặt danh ca  

Mời ai danh sĩ Bắc hà về nghe.  

                Vũ Hoàng Chương  

 

      Bài thơ nầy Vũ Hoàng Chương viết về Cao bá Quát:  

       Cao Bá Quát ( 1809 – 1855), biểu tự Chu Thần, hiệu Mẫn Hiên, lại có hiệu Cúc Đường, là quân sư trong cuộc nổi dậy Mỹ Lương chống lại triều Nguyễn, và là một nhà thơ nổi danh ở giữa thế kỷ 19 trong lịch sử văn học Việt Nam.  

Ông là người làng Phú Thị, huyện Gia Lâm, tỉnh Bắc Ninh; nay thuộc xã Phú Thị, huyện Gia Lâm, Hà Nội. Cuối đời Cao Bá Quát làm thủ lĩnh của cuộc khởi nghĩa lớn chống triều Nguyễn. Khởi nghĩa thất bại, cái chết của ông có nhiều giả thuyết, giả thuyết Cao Bá Quát bị chém được kể lại thành giai thoại văn chương.  

      Trước khi nhập đề “Đọc Lại Người Xưa” (1), nhà thơ Vũ Hoàng Chương đã dùng hai câu thơ của Cao Bá Quát để dẩn nhập cho bài thơ của mình. Nguồn gốc của hai câu thơ nầy được nhà thơ La Thụy giản giãi như sau:  

 “Minh nhật dục từ nam phố đạo,  

Hà nhân cánh xướng bắc cung thanh.  

(Cao Bá Quát)  

     Hai câu thơ đó có nghĩa là:  

Ngày mai muốn xa cách đường Nam phố,  

Ai lại còn đàn hát giọng Bắc hôm nay.”  

     “Bài thơ này nằm trong quyển “Cao Chu Thần thi tập’ của Trung Tâm Học Liệu xuất bản năm 1971  

ĐỀ ĐÀO NƯƠNG XÁ  

Cổ nhân bất thức kim nhân hận,  

Tài đáo thương ly thuyết tận tình.  

Minh nhật dục từ nam phố đạo,  

Hà nhân cánh xướng bắc cung thanh.  

Hàn y cô quán băng xương thiểu,  

Vụ hiệp thâm thôn trúc thụ bình.  

Túy sát Tầm Dương tiếu Tư Mã,  

Thanh sam hà sự lệ tung hoành  

                    Cao Bá Quát  

     Dịch nghĩa:  

     Người xưa không biết thấu nỗi lòng hận của người đời nay,  

Nên mới gặp một sự đau lòng biệt ly hơi hơi, cũng đã nói hết sầu tình.  

Ngày mai muốn xa cách đường Nam phố,  

Ai lại còn đàn hát giọng Bắc hôm nay.  

Sương giá không bao, quán trọ vẫn quạnh hiu lạnh lẽo,  

Cây cối đều bằng phẳng, vì mù trùm làng mạc thâm u.  

Nực cười cho bến Tầm Dương, chàng Tư Mã kia say,  

Việc gì mà đến nỗi lai láng dòng lệ, thấm tràn áo xanh.  

*  

      Dịch thơ:  

     ĐỀ THƠ QUÁN ĐÀO NƯƠNG  

Người xưa không biết người nay hận,  

Vừa mới xa nhau đã hết tình.  

Mai sẽ từ biệt đường Nam phố,  

Mà ai lại ca giọng Bắc thanh?  

Lạnh lùng quán quạnh dầu sương ít,  

Bằng phẳng cây nhiều với vụ sanh.  

Cười ngất rượu say Tư Mã khách,  

Can gì lệ đẫm khắp bào xanh!  

     “Sa Minh Tạ Thúc Khải”  

    Đọc hai câu dẩn nhập vào bài thơ “Đọc Lại Người Xưa”(1) của Vũ Hoàng Chương, ta cũng có thể hiểu nhà thơ Vũ Hoàng Chương muốn dùng hai câu thơ của Cao Bá Quát để nói lên tâm sự u uẩn của người xưa mà cũng gởi vào đó tâm sự u uẩn của chính mình ngày nay.  

     Hai câu thơ dẩn nhập cho “Đọc Lại Người Xưa” là “Minh nhật dục từ nam phố đạo/Hà nhân cánh xướng bắc cung thành” dịch là “Mai sẽ từ biệt đường Nam phố/Mà ai lại ca giọng Bắc thanh?” cho ta đoán định được tâm sự lưu luyến khi phải từ bỏ một quá khứ, một quê hương để bước vào một cuộc sống mới, xa lìa nguồn vui thanh nhã đàn ca hát xướng, cũng như nỗi buồn khi phút cuối còn nghe giọng ca quen thuộc như một lời tiển đưa ai oán.  

     Thế rồi Vũ Hoàng Chương vào đề bài thơ bằng câu thơ: “Đường Thanh Nghệ tỉnh cho von”. Đọc câu thơ nầy ta nhớ đến bài thơ “Qua đèo Ngang” của bà Huyện Thanh Quan. Bà Huyện Thanh Quan cũng đi trên con đường Thanh Nghê tỉnh để vào kinh đô Huế, đên đèo Ngang, bà cảm tác bài “Qua Đèo Ngang” bày tỏ tấm lòng thương nhớ triều Lê.  

     Ở bài thơ nầy, Vũ Hoàng Chương cũng nhắc đến “Đường Thanh Nghệ tỉnh cho von”, nhưng trong một câu thơ sau nhà thơ lại nhắc đến cái chết bị chém đầu trên pháp trường cúa Cao Bá Quát:”Ba hồi trống giục pháp trường/Máu tuôn phách dựng phố phường còn mưa”. Điều đó chứng tỏ câu thơ “Đường Thanh Nghệ tỉnh chon von” Vũ Hoàng Chương muốn nói đên việc Cao Bá Quát qua Thanh Nghệ tỉnh hay qua đèo Ngang, trên con đường bị đưa vào kinh đô Huế để chém đầu,  

      Câu thơ thứ hai của “Đọc Lại Người Xưa”( 1), Vũ Hoàng Chương nhắc đến ca trù hay hát nói: “Nhịp ba cung bắc ai còn hát đây”  

 

     Hát nói vừa là một thể thơ, vừa là một trong 46 điệu thức của loại hình nghệ thuật dân gian ca trù. Nửa đầu hay tiền bán thế kỷ 19, hai nhà thơ cùng nổi danh với những bài Hát nói trong giáo phường cũng như trong lòng kẻ thưởng ngoạn, và thường được xếp bên nhau trong chương trình giáo khoa văn học VN là Nguyễn Công Trứ và Cao Bá Quát.  

Qua những bài hát nói, Cao Bá Quát tỏ ra là một tài tử đa cùng, một nghệ sĩ tài hoa, một khách phong lưu ưa thú cầm kỳ thi tửu và thích hưởng nhàn và hưởng lạc.  

      “Nhịp ba chung bắc” là gì? Đó là một cách  hát trong nghệ thuật hát nói.  

     “Hát Cung bắc trước chậm sau mau, có ba chỗ thay đổi điệu. Thoạt đầu ngâm nga rồi vào phách, giọng hát chen cung nam lẫn cung bắc, sau chuyển sang cung pha nên gọi là nhịp ba cung bắc.”  

     Câu thơ “Nhịp ba cung bắc ai còn hát đây” Vũ Hoàng Chương muốn nói đến Cao Bá Quát, một “Tài tử đa cùng phú” đã bị dưa đi chém đầu rồi thì từ đây, điệu ca hay “nhịp ba cung bắc” không ai còn hát nữa, vì hát cho ai nghe, bởi khách tài hoa phong lưu bậc nhất không còn ở trên đời.  

     Tiếp tục bài thơ, câu thứ 3 và câu thứ 4 như sau:  

Cánh chim lượn gió đong đầy  

Khói hoàng đô thoắt liền mây Đế Thành  

     “Khói hoàng đô” thì dễ hiểu. Đó là khói ở kinh đô. Còn mây Đế Thành là gì?  

     Đế Thành là thành Hoàng Đế. Thành Hoàng Đế là kinh đô của triều Tây Sơn trong lịch sử Việt Nam từ năm 1776 tới năm 1793 . Năm 1778, sau khi đánh bại chúa Nguyễn, Nguyễn Nhạc lên ngôi hoàng đế nhà Tây Sơn và cho xây dựng kinh đô tại vị trí cũ của thành Đồ Bàn vương quốc Chăm Pa, đây là nơi của Hoàng đế Thái Đức Nguyễn Nhạc ở nên gọi là thành Hoàng Đế.  

     Hai câu trên nói đến sự suy tàn của triều đại Tây Sơn. “Khói hoàng đô” nói sự thịnh vượng của đế đô hoàng đế Nguyễn Nhạc. Đế đô đó tên là Thành Hoàng Đế. Sau khi Tây Sơn tbua cuộc, Thành Hoàng Đế bị san bằng, phút chốc đã hóa thành thành mây, gọi là “mây Đế Thành”.  

     Câu thứ 5 và thứ 6 của “Đọc Lại Người Xưa”(1) như sau:  

Rồng Lê phượng Nguyễn tung hoành  

Chẳng e lưu xú chẳng đành lưu phương  

    “Lưu xú” là lưu tiếng xấu (Lưu danh thiên cổ. lưu xú vạn niên). “Lưu phương” là lưu tiếng thơm cho đời sau . Hát nói của Nguyễn Công Trứ có câu “Làm cho bách tuế lưu phương, trước là sĩ sau là khanh tướng”.  

     Hai câu thơ 5 và 6 đề cập đến sĩ phu thời Cao Bá Quát. “Rồng Lê” là những sĩ phu thời vua Lê, “phượng Nguyễn” là sĩ phu thời các vua Nguyễn. Đấy là những người “Phú quý bất năng dâm/ Bần tiện bất năng di/ Uy vũ bất năng khuất” – hiểu đơn giản là miễn nhiễm trước những nguy cơ tấn công của tiền bạc, của đói nghèo và bạo lực. Thứ duy nhất mà họ theo đuổi, và tôn thờ đến khi nhắm mắt xuôi tay là lý tưởng phụng sự tổ quốc, phụng sự dân tộc mình. Cao Bá Quát là một trong những ngôi sao sáng của tầng lớp nầy nhưng sinh ra dưới ngôi sao xấu nên đường khoa cử, đường hoạn lộ đều gặp trắc trở, để cuối cùng bị họa diệt thân, họa tru di tam tộc.  

     Bốn câu thơ 7 và 8, 9 và 10, Vũ Hoàng Chương nhắc đến cái chết bị chém đầu của Cao bá Quát:  

Ba hồi trống giục pháp trường  

Máu tuôn phách dựng phố phường còn mưa  

Cơn buồn lọt gió mành thưa  

Mấy mươi giông bão cho vừa nhịp ba  

Về cái chết của Cao Bá Quát có nhiều thuyết khác nhau. Sử nhà Nguyễn ghi chép về cái chết của Cao Bá Quát, lãnh tụ cuộc khởi nghĩa nông dân Mỹ Lương nổ ra bắt đầu ở Quốc Oai (Sơn Tây), rằng ông bị bắn chết ở trận tiền (1855). Truyền thuyết cho rằng Cao Bá Quát bị bắt, giải về Hà Nội rồi đưa vào giam ở Huế trước khi đem ra chém đầu, Trong thời gian bị giam trong ngục ông làm hai đôi câu đối nổi tiếng:  

Một chiếc cùm lim chân có đế,  

Ba vòng dây xích bước cỏn vương.  

và:  

Ba hồi trống giục, đù cha kiếp,  

Một nhát gươm đưa, đéo mẹ đời!  

     Trong bốn câu thơ trên, Vũ Hoàng Chương đã hư cấu cho trời đất cũng hát tiếng hát ca trù thảm thiết bằng nhưng cơn gió lọt vào mành thưa khi nhà thơ Cao Bá Quát bị chém trong một ngày mưa. Để rồi tiếp hai câu thơ chót, Vũ Hoàng Chương đã cho tiếng ca của trời đất đó thê thảm đến nỗi không một danh ca Bắc Hà nào có thể diễn đạt được hết nỗi bi thương kia:  

Nào ai đáng mặt danh ca  

Mời ai danh sĩ Bắc hà về nghe.  

     Quê hương của Cao Bá Quát là tỉnh Bắc Ninh, do đó ông chính là kẻ sĩ miền Bắc. Câu thơ “Mời ai danh sĩ Bắc hà về nghe” như một lời kêu than, một lời phân bua, một lời oán trách đến người kẻ sĩ Bắc Hà, mời họ nghe tiếng khóc của mưa gió cho cái chết của họ Cao còn ai oán, bi thương nhiều hơn tiếng ca trù của một danh ca Bắc Hà than vản.  

     Nhà thơ La Thụy cho biết, “ĐọcLại Người Xưa” bài 1 là một trong 12 bài thơ di cảo của Vũ Hoàng Chương sáng tác năm 1975-1976,  là thời kỳ nhà thơ lâm vòng lao lý, tù tôi. Mười hai bài thơ “Đọc Lại Người Xưa” nầy tác giả phải đưa vợ cất dấu rồi chuyền tay cho nhà thơ Hoàng Hương Trang giử hộ. Điều này cho ta có thể suy đoán, 12 bài thơ là nỗi lòng mà thi nhân ấp ủ vào đó. Vũ Hoàng Chương đã đọc lại 12 thi nhân xưa để sáng tác về họ, lấy cùng nhan đề “Đọc Lại Người Xưa” để lồng gởi vào đó niềm riêng mà nhà thơ không thể nói công khai ra được.  

    Châu Thạch tôi vì ái mộ Vũ Hoàng Chương, nên tra cứu để tìm hiểu nhà thơ trên mạng, biết được điều gì xin chép lại điều đó, nghĩ rằng nên truyền thông ra để thân hữu, bạn đọc có thể biết thêm về cuộc đời, sự nghiệp văn chương của một thi nhân nỗi danh một thời. Bài viết có nhiều tư liệu đã thành phổ biến tôi không đưa vào ngoắc kép, còn những tư liệu mới tôi đều đưa vào ngoặc kép hoặc nói xuất xứ rõ ràng. Mong được tha lỗi những sai trật hoặc nhận định khác ý của tôi, vì đây chỉ là bài viết của một người tay ngang múa rìu qua mắt thợ mà thôi ./.  

                                                                   Châu Thạch  

 

ă N M ù g I Ữ a c H Ợ

h o à n g x u â n s ơ n

Tranh Vẽ Võ Công Liêm “Kẻ Ăn Mày”



Rồi tất cả cùng vẹo xiêu
những chân đi bộ
những liều thuốc âm
ba vạn giới
một sanh cầm
người mắng người giữa hàm ân
thụ hình
ngó xem sắc (phải) diện mình
soi vô bóng
đợi
u minh nhiếp hồn
những cãi tranh. bắn. thực phồn
vào quỹ đạo rỗng
vào khôn ngoan trù
rồi tất cả
chỉ một dù
không sinh cũng diệt
không mù cũng
đui

4.11.20 @7:49PM


TRÊN XE BUÝT/MƯA GIÓ THÁNG MƯỜI

VÕ CÔNG LIÊM



TRÊN XE BUÝT

người thứ mười bước lên
xe buýt chuyển bánh
chạy trong đêm
ngoài phố những ngọn đèn nhấp nháy
như sao băng dưới mắt người
đàn ông mù ôm cây đàn bầu gục đầu nói nhảm
bên kia dãy ghế người đàn bà tuổi ngoài hăm nhăm
con đĩ đứng đường
mất ngủ đêm qua
mộng du tình ái
đường phố rơi vào
đêm sâu hoáy tình cờ
tôi . vồ chụp tôi
trong vòng tay nhớ
kêu răng rắc trên những ngón tay khô
đã một lần đeo nhẫn cưới trong đời . một người
chưa bao giờ cưới người tình làm vợ cho dù là
con đĩ đứng đường giữa đêm đen sài gòn lố nhố
sau những năm tháng một chín bảy lăm cho tới khi
những chuyến xe buýt chở nhau về lục tỉnh miền tây
người đàn ông mù ôm cây đàn bầu gảy khúc bi ai
nghe như ru
như thao thức
như đồng vọng
người đàn bà làm thân con đĩ đứng đường
trong sạch như tờ giấy
trắng nguyên vẹn hình hài
chưa một lần gian dối
trên xe buýt
còn lại tôi
với bóng tối
xe buýt chuyển bánh
người đàn ông mù
ôm cây đàn bầu
con đĩ khả kính
mỉm nụ nhiệm mầu
xe buýt chuyển bánh
về nơi không có người

chỉ thấy
người đàn ông mù
con đĩ đứng đường
băng qua lộ
giữa ban ngày
không đèn hiệu ./.

(ca.ab.yyc. Thanksgiving day 10/2020)

MƯA GIÓ THÁNG MƯỜI

hiu hiu buồn căn
gác nhỏ ế ẩm một chủ đề
những bước chân chập choạng
thêu dệt mùa trăng đi qua
và chảy dài lên mi mắt
nghe réo rắt cơn bão số 5
chậm hơn một giờ dự báo
từ đất nước đưa về
mưa gió tháng mười ‘ngẩn đầu tư cố hương’
sóng ngập
xô giạt những cọng buồn vô cớ
cửa đóng then cài
chờ mưa
trắng bạc màu con nước
tràn be té hủ lẫn lộn đường mương
ngày cuối tuần cây ngả nghiêng đổ xuống
chận con đường tình của tôi thời xa xưa đó
trí nhớ hoang mang buồn thế kỷ
cảm giác lạnh lúc em vừa thức dậy
tóc rối gợi hình
mùa thu rũ lá bay
giữa cơn đại dịch không có chỗ đứng
nghiêng tóc chẻ nắng chiều ngắt gió
cho vong thân hồn lạc bước chốn phù vân
mưa bất chợt thức dậy
em . ngoái nhìn sông đã trôi theo
dòng nước đầm đià dưới bàn chân bó
bắt chụp tháng mười mùa lũ
bên tách cà phê không đường
pha vội giữa trời mưa
bên kia đập đá nước xấp xỉ nhảy lên bờ
đôi tay thở dài năm ngón
len lén thấm lạnh
đợi hồng thêm một chút
cho nắng rộ bờ vai

em . mơn man cành liễu rũ
mùa gió bấc ngập ngừng
ngoài sân xanh cỏ biếc
tôi . ngược chiều theo gió mưa
giữa trời bát ngát
không một bóng hình
nơi chốn ta bà ./.

VÕ CÔNG LIÊM (ca.ab.yyc. tuần chay 22/10/2020)

Tranh Vẽ Võ Công Liêm: Thiếu Nữ Tóc Ngắn / Young girl with Short Hair’

THƠ CHO THỦY TIÊN

Châu Thạch



(Nữ nghệ sĩ dấn thân cứu trợ nạn nhân lũ lụt)
Châu Thạch

VỊNH ẢNH THỦY TIÊN

Người cóng, tay run bưng bát mì
Bỏ ăn quên uống bởi vì chi
Thương dân nước lớn càng xông tới
Cứu đói mưa dầm vẫn cứ đi
Dung mạo thua đâu trang quốc sắc
Anh hùng chẳng khác đấng nam nhi
Cả và thiên hạ đều yêu mến
Chỉ chó tranh công sủa ngại gì .
Châu Thạch – 21.10.2020

THUỶ TIÊN TIÊN THUỶ!
(Tặng nghệ sĩ Thuỷ Tiên)
Thơ Châu Thạch

Em là cô tiên nước
Đi cứu nạn thuỷ tai
Trên đời không có hai .
Chỉ em là tiên nước!

Em xông về phía trước
Đi vỗ về ưu phiền
Tên em hoa Thủy Tiên
Nên em là tiên nước

Em chở nguồn ơn phước
Đến xoá bớt nỗi đau
Khi lũ lụt đến mau
Cuốn an lành ra biển

Em con người của thiện
Em chỉ là nữ nhân
Em không phải là thần
Nhưng em làm việc thánh

Nhìn em trong mưa lạnh
Nhìn em trên sóng hồng
Em xinh khi lội nước
Đẹp ngồi thuyền qua sông

Nhìn thấy em lồng lộng
Rất lớn và rất cao
Như nguồn sáng thanh tao
Như nguồn ân ngọt ngào

Em linh hồn của đạo
Em tâm hồn chính nhân
Em nghệ sĩ thời tân
Em Thuỷ Tiên, tiên thuỷ!!!


TÔI THẤY

Tôi thấy một bà già
Ngồi ngay trước cửa nhà
Đói lạnh run liên miên

Tôi thấy một cô Tiên
Lội nước ôm túi tiền
Cô cho bà mười triệu

Bà già như muốn xỉu
Vì vui mừng quá chừng
Một đời làm còng lưng
Có đâu được thế nhé

Tôi thấy một bà mẹ
Nhận mười triệu sửa nhà
Thấy nữ sinh lệ nhoà
Có tiền học đại học

Trong lòng tôi muốn khóc
Thấy bao cảnh đáng thương
Niềm vui đến bất thường
Vỡ oà trong tim họ

Còn vạn ngàn cảnh khó
Cô tiên chắc gian nan
Lội nước và băng ngàn
Đến tận nơi cứu trợ

Có mấy tên man rợ
Lòng ô uế nghi ngờ
Buông lời thật nhuốt nhơ
Tưởng ai cũng như nó

Đời lọc lừa muôn ngỏ
Vẫn có một nàng Tiền
Trong sáng và dịu hiền
Để niềm tin chẳng mất.
Châu Thạch

VÀI CẢM NHẬN VỀ 2 BÀI THƠ TÌNH CỦA CẬU HỌC TRÒ LỚP 12

ĐẶNG XUÂN XUYẾN


Đọc 2 bài thơ tình “Tôi đi tìm tiếng ơi” và “Giết” của Nguyễn Tấn Thành tôi thấy lạ lắm: Thật diết da, thật khắc khoải, thật hy vọng và cũng thật nhiều bi lụy, tuyệt vọng. Tất cả những cung bậc tình cảm đó đều có trong 2 bài thơ “Tôi đi tìm tiếng ơi” và “Giết”.
Những câu thơ đẫm lệ với xám xịt màu hy vọng tình yêu của Nguyễn Tấn Thành thật có sức ám ảnh người đọc:
Tôi đang gọi. Sao chẳng thấy ai “ơi”?
Ai đáp “ơi”, nơi nào tôi xin tới
Cho thỏa mong, hai mảnh hồn chờ đợi
Tiếng đáp “ơi”, tôi chờ đến bao giờ?
(TÔI ĐI TÌM TIẾNG ƠI – Nguyễn Tấn Thành)
Đọc những câu thơ như thế của anh tôi chợt nhớ tới những câu thơ mời gọi, van lơn, xót xa đến đứt ruột của cô kỹ nữ trong thơ Xuân Diệu:
“Khách ngồi lại cùng em trong chốc nữa;
Vội vàng chi, trăng lạnh quá, khách ơi!
Đêm nay rằm: yến tiệc sáng trên trời;
Khách không ở, lòng em cô độc quá!
Khách ngồi lại cùng em! Đây gối lả,
Tay em đây mời khách ngả đầu say;
Đây rượu nồng. Và hồn của em đây,
Em cung kính đặt dưới chân hoàng tử.
Chớ đạp hồn em! Trăng về viễn xứ.”
(LỜI KỸ NỮ – Xuân Diệu)
Tôi chép thơ Xuân Diệu ra đây không có ý để so sánh thơ của anh với thơ của “Hoàng tử thi ca” Xuân Diệu vì như thế là khập khiễng, là ngô nghê nhưng những câu thơ đã trích dẫn ở trên của Nguyễn Tấn Thành được viết khi anh đang là cậu học trò lớp 12 (2016) tuy không phải là những câu thơ hay nhưng tôi tin nhiều người thơ cũng không viết được những câu thơ gợi nhiều cảm xúc như thế. Thật tiếc, khi trở thành sinh viên khoa Văn học và Ngôn ngữ (đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn thành phố Hồ Chí Minh) thì thơ anh không viết bằng cảm xúc thật của tiếng lòng nên nhợt nhạt, thiếu nhựa và không có hồn. Trang Đặng Xuân Xuyến chỉ mới giới thiệu mấy bài thơ của cậu học trò cấp 3 Nguyễn Tấn Thành vì những bài thơ ấy giàu cảm xúc, nhiều ám ảnh người đọc.
Thơ tình (“Tôi đi tìm tiếng ơi” và “Giết”) của Nguyễn Tấn Thành, của cậu học trò cấp 3 tỉnh Bến Tre, có gam màu lạ lắm. Nó diết da mà nhuốm màu u uẩn. Nó cháy bỏng khát khao mà phủ kín nỗi đớn đau, bi lụy!
Đọc những câu thơ:
Rồi ngày tàn, bóng tối phủ muôn nơi,
Trong đêm mơ, tôi vẫn sầu vời vợi,
Mộng gặp ai đáp lại giữa cuộc đời,
Tôi chợt tỉnh! Tiếng “ơi” kia vẫn đợi.
(TÔI ĐI TÌM TIẾNG ƠI – Nguyễn Tấn Thành)
tôi cứ hỏi: Sao tình yêu của Nguyễn Tấn Thành lại bi lụy, tuyệt vọng đến thế? Thứ tình yêu xám xịt niềm tin mà cậu học trò lớp 12 đang đau đáu khắc khoải là thứ tình yêu gì vậy? Trên đời này thực tồn tại thứ tình yêu đó thật sao?
Đọc thơ anh, tôi thích cách viết của cậu học trò lớp 12 Nguyễn Tấn Thành khi anh viết về những cuộc “truy hoan” giữa 2 thực thể mê đắm yêu nhau: Êm ái nhưng đủ sự cuồng nhiệt, dữ dội, nhẹ nhàng nhưng đủ nỗi khát khao, khêu gợi:
Ta giết nhau bằng lưng chừng thương nhớ
Khi đã trao từng nhịp thở nồng nàn
Đôi tay hờ trên xương thịt mê man
Lối sơn khê người dò hang tìm tối.
(GIẾT – Nguyễn Tấn Thành)
Câu chữ Nguyễn Tấn Thành dùng vừa đủ dẫn người đọc thả sức tưởng tượng để bước vào cuộc truy hoan tình ái với những mê đắm, khát khao, những dữ dội, cuồng nhiệt nhưng lại thật êm ái, nhẹ nhàng, không vướng tí ti nào khêu gợi sự dâm tục. Một cậu học trò lớp 12 mà viết về “những cuộc truy hoan” dày dạn cả kinh nghiệm “dục tính”, cả kinh nghiệm “tả dục tình” nóng bỏng mà không sa vào “dâm thơ” như thế thì quả thật rất đáng khen ngợi.
Khi đọc những câu thơ:

Ta giết nhau bằng lưng chừng lo sợ
Một chuyện tình chẳng viết được nên thơ
Người bỏ dở gục đầu trên giấy trắng
Kẻ viết hoài dù mặn đắng bờ môi.
(GIẾT – Nguyễn Tấn Thành)

Tôi như gặp lại một chút tâm trạng của mình khi viết “Mơ Trăng”:
“Em rướn mình hà hít nụ hôn anh
Tê tái lắm. Cuộc tình mình thật tội
Môi khóa môi mà sao xa vời vợi
Đêm cuống cuồng khoả lấp nỗi chơi vơi.”
nhưng chuyện tình của “Mơ Trăng” là cuộc tình một bên cuống quýt được thỏa mãn cơn khát thèm thể xác, vội vã tận hưởng những phút giây ân ái, một bên lặng người, xót xa, tội nghiệp cho tình yêu “em” đang dâng hiến và cũng tê tái cho cuộc tình ngang trái của cả hai. Còn chuyện tình của “Giết” thì hoàn toàn khác, cả 2 đều yêu nhau, đều khao khát dâng hiến, đều khao khát được mãi bên nhau nhưng oái oăm, cả 2 đều xót xa buông bỏ, tự rời xa nhau vì “Một chuyện tình chẳng viết được nên thơ”.
Hai câu cuối của khổ thơ những ầng ậc nước mắt của hai kẻ yêu nhau, khao khát trọn đời bên nhau nhưng người đọc không hiểu vì “trắc trở tình duyên” nào mà kẻ chấp nhận buông bỏ, kẻ vẫn cố kiên trì bấu víu để nuôi dưỡng chút hy vọng mong manh từ chính trong sự “trớ trêu”, “oan nghiệt” của cuộc tình:
Người bỏ dở gục đầu trên giấy trắng
Kẻ viết hoài dù mặn đắng bờ môi.
(GIẾT – Nguyễn Tấn Thành)

Không biết lý do nào khiến 2 kẻ yêu nhau, khao khát bên nhau đến răng long đầu bạc lại cay đắng “tự nguyện” buông bỏ? Nguyễn Tấn Thành không nói. Người đọc chỉ mơ hồ suy đoán có thể cuộc tình đó bị gia đình cấm cản vì không “môn đăng hộ đối”, vì 1 trong 2 người đã có vợ có chồng hoặc có thể vì chênh lệch tuổi tác quá lớn,… Tất cả nhưng suy đoán đó càng khó hiểu, thậm chí là hoang mang khi Nguyễn Tấn Thành mở đầu 3 khổ thơ liền nhau đều bằng mệnh đề “Ta giết nhau bằng lưng chừng…” lần lượt với: thương nhớ, bối rối, lo sợ. Đó là sự sắp xếp chủ ý theo cấp độ gia tăng tình cảm của tác giả.
Ôi! Tình yêu mà phải “Ta giết nhau bằng lưng chừng…” để bi lụy vì tình thì chua xót nào bằng?! Tình yêu là phải được thăng hoa, phải được “đốt để cháy hết mình” với tình yêu chứ cứ “lưng chừng”, “nửa vời” “đứt đoạn” như thế thì thật xót xa, tội nghiệp!
Đọc những bi lụy tình của Nguyễn Tấn Thành tôi lại nhớ những dữ dội tình, những cuồng nhiệt tình kiểu “trắng phớ” “tất tay” của Trần Hạ Vi. Tôi thích “cách tỏ tình (đúng hơn là cách gạ yêu) của Trần Hạ Vi: “Yêu em đi” rất thẳng thắn, huỵch toẹt, chẳng màu mè, làm giá như những ả nàng. Sự chân thành đến dạn dĩ, mạnh bạo đến trần trụi, và tinh thần “tử vì tình”, chấp nhận thua thiệt trong tình yêu, dẫu biết tình yêu ấy là trái ngang, trắc trở, là bia miệng của người đời thì vẫn cứ bất chấp, vẫn cứ: “Ú ớ hoan mê những lời vô nghĩa/ Nuốt lấy nhau kệ tiếng đời mai mỉa” như Trần Hạ Vi thì quả thật ngay trong giới mày râu cũng khối kẻ lấm lét đứng nhìn.” (ĐỌC “TÌNH NHÂN ƠI” CỦA TRẦN HẠ VI – Đặng Xuân Xuyến).
Tôi thầm hỏi: Tình yêu lạ thế? Kê là đấng nam nhi sao lại rụt rè, không dám cháy hết mình với tình yêu để rầu rĩ chịu cảnh tình bi lụy, ngậm ngùi kêu rên những tiếng tang thương phẫn uất, còn người mang phận liễu yếu đào tơ lại mạnh mẽ, thẳng tuột với khát vọng cháy mình cho yêu, vì yêu?!
Rồi lại thắc mắc: Nhưng mà “Giết” và “Tôi đi tìm tiếng ơi” là thơ của cậu học trò lớp 12, ở lứa tuổi trong trắng hồn nhiên, nhiều đam mê, tươi trẻ, nhiều khát vọng khám phá, chinh phục… sao u ám và bi lụy đến vậy?!
Phải chăng đó là những ẩn ức sinh lý, những tổn thương tâm lý đã gây sang chấn tâm lý khiến thơ tình được cất lên từ tiếng lòng của Nguyễn Tấn Thành mới lạ lẫm với những gam màu u uẩn rất riêng như thế?!
—————-
Mời nhấp chuột đọc:
https://dangxuanxuyen.blogspot.com/2016/04/toi-i-tim-tieng-oi-tho-nguyen-tan-thanh.html
https://dangxuanxuyen.blogspot.com/2017/02/giet-tho-nguyen-tan-thanh-ben-tre.html
*.
Hà Nội, 28 tháng 10 năm 2020
ĐẶNG XUÂN XUYẾN









CHỌN/LẠC

ĐẶNG XUÂN XUYẾN

CHỌN

Người ta chọn lược tặng sư
Chọn tranh đem tặng người mù ngắm chơi
Người ta chọn điếc ráp lời
Chọn câm phản biện lẽ đời đúng sai.

Người ta, ừ, thế mà tài
Đảo điên thiên hạ diễn hài quậy chơi.
*.
Hà Nội, 26 tháng 10-2020

LẠC

Cuộn chiều bóng đổ về đêm
Mà bên đấy chẳng chịu têm nắng vào
Gió thì vòi vọi trên cao
Mây thì lững lững trôi vào phía tây.

Gió mùa chả ngả về đây
Mà se se lạnh mà gầy nhớ thương
Tơ trời ai thả mà vương
Vẩn vơ chi chuyện nõn nường người dưng.

Đã rằng chẳng nợ thì đừng
Mà sao cứ rộn lưng chừng phía tây
Nắng chiều chả chạm về đây
Mà hong sợi nhớ giăng dầy ngõ xưa.

Cạn chiều cạn cả bóng mưa
Hững hờ đấy cứ như vừa biết đây
Giao mùa lại gió lạc mây
Lại quên rải nắng bên này, đấy ơi.
*.
Hà Nội, chiều 27 tháng 10.2020

 

 

lều thu

h o à n g x u â n s ơ n

lều thu

thu lây bệnh ngứa da trời
nằm nghiêng nghe thấy cuộc đời chạy rông
đàn kiến tở mở qua sông
lá. lá tấp một bụm hồng thiết thao
trên nóc. quạ khản giọng. gào
trả tôi bạn lữ lời chào muôn xưa
thu đi. còn bợn gió chừa
ngọn tóc bay quá lầu trưa dụi buồn

đẩy người. tới một niềm thương
mà rồi đứng lại bên đường thở than
nghe ai hò giọng xuyến vàng
chim đi một nước cầu sang lại về
đời buồn. luẩn quẩn hòn đê
bàn tay rất tội giữa nghề sinh lao
sân chơi đã trụi cây rào
xin đêm còn chống ngọn sào ăn năn

bước qua. bước qua ân cần
vuốt ve. nắn lại chút trần gian quên
ngày đi có vạn dốc triền
cứ lăn. lăn mãi cũng quen ngấn chiều
dựa. ngồi với tảng hoang liêu
nghe lều thu vãn đôi điều nhớ thương
ơn nhau. giữ lại vô thường
và môi son nhạt mùi hương giảo trình

5 nov. 2014

G i ả n c á c h  đ ờ i  m ớ I


Chỉ riêng ngày rụng xa xăm
mà đêm đã lỡ ăn nằm với ma
tôi dần xa
tôi
dần
xa
tôi xa hẳn khúc la cà
với tôi
em biết không
đứng
hay ngồi
nhiều khi cũng khác nằm chơi
một mình


h o à n g x u â n s ơ n
29 tháng 7 năm 2020

CẢM NHẬN KHI ĐỌC TRUYỆN NGẮN “CÔ SƯỚNG CƯỚI VỢ”


Tôi đọc truyện ngắn “Cô Sướng Cưới Vợ” trên trang facebook của tác giả Đặng Xuân Xuyến. Lối viết dí dỏm của anh đã lôi cuốn tôi ngay từ phần đầu của truyện. Khi đọc trên báo mạng, tên nhân vật và tên truyện không hiểu lý do gì mà thay đổi, dù cốt truyện giữ nguyên nhưng tôi thích đọc tên truyện cũ là “Cô Sướng Cưới Vợ”. Có lẽ vì ấn tượng tên “Cô Sướng Cưới Vợ” tạo yếu tố dân dã hơn, chân thật hơn.
Nhân vật Sướng được Đặng Xuân Xuyến ưu ái, giành nhiều sự quý mến. Tính khí khác thường của “cô” Sướng qua ngòi bút của Đặng Xuân Xuyến không hề phản cảm, gây cười mà đáo để duyên:
“Sướng thích được gọi là cô, là chị. Sướng khoái được mọi người mắng yêu câu: “Con đĩ Sướng này xinh phết!”. Thích là thế nhưng Sướng ghét cay ghét đắng kẻ nào lại thực tâm coi Sướng là phụ nữ, là phận liễu yếu đào tơ, là thân gái chân yếu tay mềm. Tóm lại, Sướng là đàn ông, là nam nhi chính hiệu, là chuẩn men đích thực nên Sướng không chấp nhận ai đó cho rằng, nghĩ rằng Sướng là phận nữ nhi! Ừ thì Sướng thích gọi là cô, là chị. Ừ thì Sướng thích nhảy dây, thích chơi ô ăn quan, thích chơi trò búp bê, thích buôn hàng, thích cãi lộn… Như thế thì đã sao? Những sở thích đó tuy có khác biệt với đặc trưng giới tính của giới nam nhưng cũng chẳng ảnh hưởng gì tới bản chất giới tính vốn có của Sướng? Thật đấy! Sướng vẫn là thằng đàn ông đích thực. Sướng vẫn chưa bao giờ phải tụt quần ngồi xổm mà tiểu tiện. Sướng cũng chưa bao giờ tùy tiện cho rằng mình không phải là thằng đàn ông nên vì thế đừng có ai vớ vẩn nghĩ Sướng là đàn bà con gái. Sướng ghét đấy. Sướng chửi cho đấy.”
Bạn đọc yêu nhân vật Sướng bởi bản chất thật thà, tốt nết của anh. Đằng sau sự đanh đá chua ngoa của Sướng là tấm lòng lương thiện, tử tế, sống nghĩa hiệp với người thân và bè bạn. Bị cụ Vân, bố đẻ của “dì Kiên”, người bạn thân bị “bê đê nặng”, “nhiếc móc” là “pha gái”, chọc vào “điều cấm kỵ” khi coi Sướng là “con đàn bà” dù rất tức cụ Vân nhưng Sướng vẫn biết dừng lại ở đúng đạo nghĩa:
“Nghe câu “Tôi lại hỏi thật chị nhé: Hai con đàn bà lấy nhau thì đẻ đái làm sao?” mặt Sướng tái lại rồi thoắt cái phừng phừng sát khí. Sướng chống hai tay vào hông. Sướng dậm chân đến huỵch một cái rồi kéo dài giọng:
– Hai con đàn bà lấy nhau thì đẻ đái làm sao? Này! Con nói thật với bố. Đừng tưởng con này trông như pha gái mà nghĩ con này là phận liễu yếu đào tơ, không phải là thằng đàn ông. Đây nói cho bố biết. Đây chưa bao giờ ngồi xổm như mấy con đàn bà! Chưa bao giờ! Bố hiểu chửa! Mà con nói thật nhé. Chắc gì bố đã là đàn ông mà bố bĩu môi, dè bỉu, coi khinh con này như thế.
Thấy sắc mặt tím tái rồi thoắt cái đỏ bừng của Sướng, cụ Vân chột dạ:
– “Mẹ nó! Chạm phải vía “con dở ông dở thằng” này rồi. Nó mà nổi cơn đồng bóng thì mình dại mặt.”. Cụ lùi người, lùi người để tránh cơn giận của Sướng, không ngờ cụ trượt chân ngã oạch một cái. Nhìn bộ dạng luống cuống của cụ, Sướng phì cười, bĩu môi:
– Gớm! Đàn ông chưa? Ối dào! Đàn ông như bố, đây cũng dí thèm!”
Bị cụ Bống, là bố đẻ, đánh chửi, dù “nhiều oan ức” nhưng “cô” Sướng không cãi mà ngồi im cam chịu vì đạo làm con. Bị cụ Bống hiểu sai là “thằng đồng cô” (bê đê) và đe sẽ huỷ hôn giữa Sướng với Ngân nhưng lo cho tương lai của “dì Kiên”, sợ nói ra sự thật chỉ Kiên ái mới là “đồng cô” thì Kiên ái sẽ khó lấy được vợ, sẽ khổ nửa đời về sau của bạn mình nên dù bị oan ức, bị cụ Bống chửi đánh… Sướng vẫn cắn răng chịu đựng. Nghĩa cử đó của Sướng thật đẹp, không phải ai cũng làm được.
Ngân là nhân vật được tác giả giành những lời ngợi ca, những khắc họa rất đẹp về nhan sắc và nhân cách:
“Ngân không mỏng mày hay hạt nhưng Ngân thùy mị, nết na. Ngân không sắc nước hương trời nhưng nét dịu dàng của Ngân đủ khiến trai làng phải thầm mơ trộm nhớ. Ngân được người. Ngân được nết. Cả làng, cả xã chưa thấy Ngân mặt nặng mày nhẹ, cãi cọ với ai. Cứ nhẹ nhàng với mọi người, cứ nhún nhường với mọi người như thể Ngân sinh ra là để chan hòa với mọi người vậy.”
Không chỉ xinh đẹp, hiền thục, đảm đang mà Ngân còn được tác giả Đặng Xuân Xuyến mô tả là người phụ nữ mạnh mẽ trong tình yêu và dám sống với tình yêu đích thực của mình. Cái đêm Sướng biến thiếu nữ Ngân thành người đàn bà được tác giả Đặng Xuân Xuyến dàn dựng như một vụ “tai nạn” hi hữu, chủ yếu để đề cao chữ “trình tiết”, đề cao phẩm hạnh của Ngân. Có thể vì quá quý mến em gái mình nên Đặng Xuân Xuyến mới dàn dựng như thế nhưng nếu là tôi, tôi sẽ để Ngân “dính bầu” như các trường hợp “ăn cơm trước kẻng” khác, thì sự mạnh mẽ trong tình yêu của Ngân mới thật.
Tóm lại, Đặng Xuân Xuyến đã giành cho nhân vật Ngân sự yêu mến và trân trọng đặc biệt. Người con gái ấy không chỉ đẹp người, đẹp nết mà còn là người phụ nữ hiện đại, mạnh mẽ với tình yêu.
Nhân vật cụ Bống xuất hiện cuối truyện và số chữ viết về cụ không nhiều nhưng Đặng Xuân Xuyến đã khắc hoạ thành công hình ảnh cụ Bống: một người ông, người cha yêu thương con, cháu hết mực; có những nghĩa cử cao đẹp, hơn hẳn người đời, biểu hiện ở hành động khi nghe tin con trai bị “đồng cô, không yêu được con gái” đã yêu cầu con trai huỷ hôn, đừng làm lỡ dở cuộc đời người con gái xinh đẹp, hiền thục của làng xã:
– “Thầy hỏi, con phải trả lời thật nhé. Con có yêu cái Ngân không? Con có làm chuyện đàn ông với đàn bà được không? Còn chuyện con với thằng Kiên “ái” nhà ông Vân thế nào? Thầy nghe thằng cháu đích tôn nói con với thằng Kiên “ái” yêu nhau, thề thốt nếu không được sống cùng nhau sẽ cắt tóc đi tu. Đã thế, còn bày đặt chuyện lấy vợ làm gì hả con?”.
Phải là người có tấm lòng của Bồ Tát thì cụ Bống mới lo lắng cho Ngân, khuyên Ngân huỷ bỏ hôn nhân với Sướng vì:
– “Ngân này. Con đẹp người đẹp nết lấy đâu chả được thằng chồng tử tế sao lại chọn thằng Sướng nhà bác làm chồng? Lấy nhau về, không có con cái thì sao được hả con? Rồi sẽ khổ cả đời, con ạ. Nghe bác, hủy đám cưới với thằng Sướng nhà bác đi. ”.
Tóm lại, tôi thích truyện ngắn “CÔ SƯỚNG CƯỚI VỢ” của Đặng Xuân Xuyến bởi, như tác giả Nguyễn Bàng đã nhận xét: “Truyện viết dí dỏm, hài hước gợi nhiều trăn trở với người đọc. Truyện chạm vào trái tim người đọc bởi trong truyện đầy ắp tính nhân văn.”
*.
VŨ THỊ HƯƠNG MAI
Địa chỉ: Khu tập thể Tổng công ty 319
Long Biên – Hà Nội.

THƠ CAO TRẠNG PHÁ RỪNG SỐ MỘT

CHẤU THẠCH


TỜ CÁO TRẠNG

Tôi đi trên ghềnh cao
Nhìn những con suối chết
Dòng nước đọng thành máu rừng đỏ quệt
Như đại ngàn ai đâm thủng con tim.

Tôi đi trên ghềnh cao
Nhìn những dòng suối chết
Rừng bên suối hoang tàn thoi thóp mệt
Lá phổi rừng đông đặc một mùi tro.

Và tôi nghĩ đến những thành phố khói
Những đồng bằng sa mạc hóa khô màu
Đến những mùa nước lũ cuốn về mau
Đến khí hậu đổi thay lượng oxy không điều
hòa chu chuyển.

Rừng yêu tôi khi đời tôi bạo biến
Đeo ba lô lên núi sống cùng rừng
Khi tôi buồn rừng có đóa hoa tươi
Khi tôi nhớ con chim rừng hót tặng.

Và tôi khóc thì rừng yên lặng
Để hồn tôi định lại những niềm vui
Để hồn tôi quên hết những ngậm ngùi
Khi ngắm cảnh, nghe tiếng rừng tịnh quá.

Nay trở lại nhìn rừng không còn lá
Suối ở đâu, con chim hót ở đâu?
Rừng tôi yêu đã thay sắc đổi màu
Cô gái đẹp nay trở thành bà lão.

Núi ngồi xỏm tấm thân tàn ảo não
Rừng thành than lổn ngổn những xương cây
Tôi đau thương mà viết bài thơ nầy.
Tờ cáo trạng tội con người trên đất ./.
Châu Thạch

NGHĨA ĐỊA XANH

Nghĩa địa xanh chôn những mồ xác lá
Trên nấm mồ cây chết đứng chơ vơ
Những cành khô chới với nhánh tay hờ
Như níu kéo phao mây trời cứu hộ.

Mây ngạo nghễ cứ trôi qua bán bổ
Con sói già không có chốn nương thân
Con chim non chết trong tổ mộ phần
Vì mẹ nó không bao giờ quay lại.

Nhớ thuở ấy núi xanh dường thảm trải
Rừng nối rừng qua những đỉnh cheo leo
Cây tiếp cây xuống dốc lại lên đèo
Cảnh xen cảnh vườn địa đàng muôn thú.

Những sinh vật chọn ngôi nhà xanh trú
Sống phong lưu tự tại giữa rừng hoang
Đêm bên sông uống từng ngụm trăng vàng
Ngày ăn trái ngàn thơm trời chẳng cấm.

Thời hoàng kim của hoa rừng sắc thắm
Những rừng hương cứ thả gió thơm bay
Bướm và ong nhộn nhịp đến từng bầy
Chúng vận chuyển đem cho đời lắm mật.

Nay núi chỉ còn trơ da mặt đất
Hồn ma thiêng núp bóng ở trong mưa
Biến thành bao cơn lũ quét không chừa
Từng gốc rạ, cọng rơm, mái nhà ra biển ./.
Chấu Thạch

QUÊ HƯƠNG CÒN GÌ?

Nguyên Lạc


Quê hương còn gì để nhớ?
Dối gian chia rẽ lòng người!
Mệnh danh yêu thương tổ quốc
Máu xương lãng phí dân tôi!
.
Quê hương còn gì để nhớ ?
Chia nhau trên những tai ương [*]
Cười vui trên những căm hờn
Trưởng giả học đòi “giao hưởng”
.
Mệnh danh tương lai dân tộc
Dạy con em chữ lạ lùng
Thiên tai đói nghèo dân khóc!
Chia nhau cùng hưởng “công trình” [**]
.
Quê ơi khổ đau hãy chịu !
Dân ơi oan nghiệt phải đành !
Mệnh danh giang sơn giàu mạnh
Tạo bao thống hận điêu linh !
.
Quê hương chắc còn để nhớ?
Hận ai đốt cháy cơ đồ!
Bao nhiêu công ơn tiên tổ
Tư dục họ nỡ thờ ơ!
.
Người ơi sao không lên tiếng!
Chúng quên xương máu ông cha
Dân Việt ơi mau góp tiếng!
Kẻo mai mất trắng sơn hà
……….
[*] Ăn chặn đồ cứu tế
[**] Xây nhà hát giao hưởng Thủ Thiêm để lấy đất của dân và những công trình khác.
.
Nguyên Lạc


Ý THỨC MỚI TRONG VĂN HỌC NGHỆ THUẬT

VÕ CÔNG LIÊM

TRANH VẼ VÕ CÔNG LIÊM : ‘Người Đàn bà Độc diễn Đàn bầu / Perform Solo (with one Stringed)’.

gởi: Luăn Hoán . Nguyễn Vy Khanh . Khánh Trường

   Ai là người được gọi là ý thức mới và nhận thức mới trong văn học nghệ thuật? –Who are to be the new consciousness and new intellectuals in the culture and art? -Cái đó là vấn đề nêu ra cho một chủ đề của tiểu luận, một phân tách những gì thuộc văn học nghệ thuật; thảo luận để tìm thấy sự tiến trình của nó, xác định sự biến cách của nó; giới thiệu những gì thăng hoa và những gì suy tàn trên con đường tiến lên xã hội chủ nghĩa tư tưởng cho một tư duy phục hưng nhận thức (an intellectual renaissance): Bất luận nam hay nữ là lớp người có ý thức muốn nghĩ tới những gì mà người ta đang sống giữa đời này; đấy là lý do, là giá trị mà họ đang hiện diện trong cuộc đời và cũng không vì điều đó mà ‘bó tay’ để đi đến một thứ văn hóa nghệ thuật tuyệt vọng trong một thứ văn chương ta bà, hùm-bà-lằn hiện đại bởi của những gì yếm thế, phù hư mà ở đây người ta không thể đầu hàng trước một thế giới mù tăm và kiềm chế bởi những gì ngu xuẩn không nhân tính. Cho nên chi ý thức mới là nhận thức toàn diện cả hai bề mặt của văn học nghệ thuật: chiều dài của thời gian và chiều rộng của không gian với cái nhìn trong sáng và đích thực giữa hữu thức và vô thức để xác định vấn đề của sự thật làm nên và xác quyết cho một giá trị tồn lưu nhân thế; xác quyết thế nào là ý thức cũ và ý thức mới dưới một lăng kính vừa độc đáo vừa để đời. Muốn đạt tới chân tướng đích thực tất phải xóa đi những tàn tích, cố cựu vốn dĩ mất lập trường cho những gì sâu sắc và tinh tế trong ngữ cảnh văn học và nghệ thuật giữa một kỷ nguyên mới. Đó là bước tiến hóa của nhân loại trong khoa học kỹ thuật, khoa học văn chương, khoa học nhân văn và những bộ môn khác làm nên lịch sử có tính chất sáng tạo nghệ thuật, sáng tạo văn phong, ngữ ngôn với một ý thức toàn diện để lãnh hội trọn vẹn ý nghĩa của nó. Không chứa chấp một tư duy lạm dụng hay vay mượn ‘chữ nghĩa’ để nói lên cá thể của mình, hành trang một ngữ ngôn vừa ‘mị-dân’ vừa giả dối là hoàn toàn suy đồi, lạc hậu, phù phiếm, ngụy trang như thế là biến văn chương chữ nghĩa mù tăm lạc đường trần, tác hại cho nền văn học nghệ thuật hiện đại. Do đó đòi hỏi ở đây một ý thức mới; giới thiệu những gì cần thiết có tính chất triết học, bởi triết học là cơ bản lý luận, phân tích nguồn cơn tự sự cho những gì người ta muốn đạt tới một viễn ảnh hợp nhất và trung thực của hiện hữu tồn lưu –for those who wish to acquire an integrated view of existence. Dựa trên tri thức khách quan (objective knowledge) để chống lại những thoái trào làm hư hại cho những thế hệ về sau, nghĩa là phải có một ý thức trung thực không vin vào một lý do ‘dụ dỗ’ đang thành hình trong một qui ước có tính chất giáo điều thuộc thần bí, ẩn tàng (mysticism), có chiều hướng vị tha (altruism) và một thứ chủ nghĩa tập thể cộng đồng (collectivism). Hầu như ẩn cái không thực trong đó. Đấy là thể tài cho lý luận về ý thức mới hôm nay.

Dự phóng cho một ý thức mà người ta nhận ra đây như một trách nhiệm để làm nên một nhận thức mới. Nó chứa đựng một yếu tính thuộc triết học chuyển từ những tiểu luận và giới thiệu một phát thảo của hệ thống thuộc triết học mới –It contains the main philosophical passages from its essaies and presents the outline of a new philosophical system. Chắc chắn trong cảm thức đó, bất cứ là nhà văn viết dưới dạng thức nào đều là những nhà tư tưởng, bởi; người ta không thể giới thiệu một con người hiện hữu tồn lưu nhân thế mà không có một dàn dựng khung cảnh thuộc tư duy của mình, dù dàn dựng rõ ràng minh bạch hoặc một hàm ý trong truyện của họ; dù có hay không có ý thức về nó đều có chứa ít nhiều niềm tin về sự nhận biết hoặc nhận biết dưới dạng tiềm thức, bởi; dưới cái nhìn cơ bản của con người và những gì thuộc hiện hữu tồn lưu vốn đã có một sự đối kháng mà gần như là một lý thuyết hiện sinh trong triết học. Đó là biện chứng của con người đứng trước một ý thức mới ngày nay: là định rõ mục đích, giải thích và gìới thiệu sự hiện diện với ý niệm của con người. Cho những gì mà người ta có thể thấy lợi ích trong biên niên thời gian đều phát triển qua tư duy –For those who may be interested in the chronological development of our thinking. Qua tư duy này có thể đưa tới một ngữ văn bí tỉ, khó nhận ra đâu là hữu thức và đâu là vô thức. Phải có ý thức nhạy bén trong nhận biết (conscious intelligence) thì may ra mở múi cho một ý thức mới, còn bằng không nó cứ là đà trong một tri thức cạn cợt chưa vượt thoát ra khỏi những gì là bí tỉ khó giải thích (mysterious). Tại sao? Triết học đã là một liên kết, tiếp giáp vào nội thức bởi tâm lý, nhận thức tự tạo, khoa học thần kinh, khoa học hình thành vật thể và lý thuyết tiến hóa cho tới những danh xưng chính yếu –Philosophy has been joined by psychology, artificial intelligence, neuroscience, ethology and evolutionary theory, to name the principals. Trong tám mươi năm trước, khởi điểm từ 1930 cho đến nay có nhiều cao trào trong nước cũng như nhiều khuynh hướng khác nhau (chính trị, tôn giáo, văn hóa…) đã bừng dậy qua từng bộ môn, đặc biệt thi văn họa là thành viên trong cuộc cách mạng văn hóa; triết học tự nó là tiến trình trong ngữ cảnh của trí tuệ: điểm chính là tháo gở những trạng huống bất thường của trí tuệ, nhưng; cung cấp một ý niệm sáng suốt của những gì có thể cho đó là tự nhiên, một lý thuyết chuyển thể của trí tuệ giữa những gì mà chúng ta phải biết cách chọn lựa cho một ý thức mới và nhận biết mới là một sự lý trong sáng, những thể loại biểu lộ là nhu cầu cần thiết nếu chúng ta tạo những lý do để chọn lựa giữa triết học và người triết học để có một ý thức mới trong cái gọi là tư chất triết học đương đại. Thí dụ: Một nhà giáo dạy triết ý thức được vai trò chức năng, nhiệm vụ của một nhà mô phạm thời ý thức được vai trò đạo đức là chủ lực hành động, dù là ngoại giới lôi cuốn nhưng không vì thế mà hóa ra ta bà thế giới, mai nhà chùa mốt nhà thờ, khi áo dòng, khi áo cà sa hình thức đó là hình tượng phủ dụ, đội lốt che đậy hành tung cho một tác động vô trách nhiệm và từ đó đưa dẫn trí tuệ vào trạng thái khủng khoảng mất nhân tính sanh ra bê tha, phát ngôn bừa bãi như kẻ vô thần. Đứng trước hoàn cảnh đó cho ta một ý thức mới để nhận định cho một ý thức cũ vốn nhai lại, rập khuôn không định hướng đâu tà, đâu chính hay vì những chứng tích mù mờ mà hóa ra mù mờ (?). Ý thức như thế không có chi là ‘conscious intelligence’ mà đưa tới một tập đoàn ngu xuẩn, hỗn độn, bởi thần tượng hóa cho một thiên tài chưa từng có. Cái nhìn thiển cận chính là cái nhìn sa đọa, bạc nhược cho một ý thức mới ngày nay mà cần có một suy luận để chọn lựa giữa họ và ta – we are to make are reasoned choice between them…Tâm lý học dạy cho chúng ta một vài điều thật bất ngờ về những gì nhận ra được và cậy vào những gì nhận thức từ bên trong.(Đây là vấn đề quan trọng từ khi có một vài lý thuyết về trí lực để rồi nương vào một cách nặng nề trong những gì thuộc tự thức nội giới, thiết tưởng như là một tiết lộ từ bên trong / This is an important matter, since some theories of mind rely heavily on what self-conscious introspection is supposed to reveal). Nhận thức về tâm lý và tri thức giả tạo là phát sinh một kiểu thức khiêu khích của nhận thức, là những điều mang lại một tư duy tạp nhạp không ý thức; trong lúc tiến trình của nhận thức hướng tới một ý thức toàn diện hợp thời trang là phá vỡ những thành quách ý thức cổ điển không thiết thực, cho dù ý thức đó đã được đồng hóa để hợp thức hóa. Chủ nghĩa ý thức hệ là đầu mối những gì cố cựu chuyển sang thời kỳ đổi mới tư duy để có một khái niệm đúng đắng cho ý thức mới trong mọi lãnh vực, lãnh vực được chú ý tới ở văn học nghệ thuật là chỉ tiêu để nhận biết qua một liên lạc trung gian giữa trí tuệ và ý thức mới hơn trước. Ý thức mới trong văn học nghệ thuật đòi hỏi những gì? -Không đòi chi cả mà đòi cho bằng được một ý thức trung thực trước một viễn cảnh cuộc đời, biến trình xã hội và một dự phóng vào đời với tất cả những gì trong sáng cho nhận định cũng như phê bình, một phương hướng định lượng được giá trị của nó; tuyệt nhiên không vì một lý do nào hay căn cứ vào những gì phi thực để tạo nên ‘thần tượng’ trong ý thức; nhìn như thế không phải là người thức thời mà chứng minh cho thấy một nội tạng vốn đã tàn tích suy thoái tư tưởng. Ý thức là lập trường cố định, nhận biết được những gì của hữu thức và vô thức là tác động do từ trí tuệ gây nên. Con người hiện sinh là con người có ý thức nhận biết không còn mù mờ để phán đoán trước những gì đang sống. Tác động của ý thức là tác động vào vấn đề thuộc về ngữ ngôn (The Semantical Problem) bên cạnh vấn đề bản thể tính siêu hình (The Ontological Problem) Cả hai vấn đề tựu chung trong một vấn đề thuộc về tri thức nhận biết (The Epistemological). Đó là ba nguồn cơn đưa tới ý thức mới bằng một khám phá cho từng trường hợp và phản biện cho ba lý thuyết đưa ra: Thứ nhất có nghĩa là cảm thức nhận biết về tâm lý là bắt nguồn từ tác động trong bản chất. Thứ hai là khẳng định có nghĩa là bắt nguồn từ tác động vào định nghĩa. Thứ ba là yêu sách có nghĩa là bắt nguồn từ nơi chốn trong hệ thống pháp lý. Cả ba trường hợp là một chứng tỏ trung thực; tuy chiều hướng khác nhau nhưng cùng một phục hưng nhận thức. Phục hưng nhận thức là gì? (đã dẫn ở trên). -Nó là một lý thuyết bao gồm trong mọi lý thuyết, là cung cấp nguồn phát sinh ra ý thức mới là thái độ đối xử có tính chất triết học –an alternative theory was provided by the philosophical behaviorists; những thứ đó nó nằm trong ngữ cảnh thuyết duy ngã (semantic solipsism). Ngữ cảnh duy ngã là cái chi chi? -Đặc vấn đề như thế là có tính chất ngụy biện, bởi; duy ngã là luận văn của những gì nhận thức ra được, điều có thể dự trử cho một nhận biết tức khắc tức tự nó mà ra. Và; từ đó có thể cho chúng ta tìm thấy kinh nghiệm của vấn đề và ý thức (Matter and Consciousness) trong một liên trình đưa tới ý thức, tất phân biệt được giữa hữu thể và tha thể. Cái sự đó là trạng huống cảm nhận chủ quan (subjective feelings). Nghĩa là: có tính chất bí truyền (mystics) hoặc bởi một sự chối bỏ kịch liệt là lý do chối bỏ để có một giá trị luân lý cái đó là giá trị phán quyết cho một xác định ý thức sự kiện xẩy ra hợp lý hay không hợp lý. Giữa tình thế đó ta phải nhìn qua từng góc độ của nó mới nhận ra được ý thức trong triết thuyết mang lại. Không bộ môn nào đứng đơn lẽ trong ý thức tư duy, nghĩa là đã chất chứa hoặc tiềm ẩn những gì thuộc triết học của nó. Thí dụ: Phản kháng ngấm ngầm trong vai trò thách đố của Zarathustra (trong Ecce Homo) là đồng dạng tương đố của Raskolnikov (trong Hồi Ký Viết Dưới Hầm / Notes from the Underground) một bức xúc Ivan Karamazov (trong Anh em nhà Họ Karamazov /The Brothers Karamazov) là ý thức mới của Nietzsche và của Dostoevsky; một ý thức bi thảm, một ý thức thuộc nhân bản mà họ đã sáng tạo trong những tác phẩm bắt đầu của họ. Từ đó cho ta nhận thức được ý niệm của ý thức mới là làm sống thực như cuộc đời trải qua từng nhân vật. Chúng ta có thể tìm thấy những ý thức khác qua nhân vật như Kiều (Nguyễn Du) Chí Phèo (Nam Cao) là một bộc bạch qua ý thức triết học nhân vật. Tất cả là tượng hình cho những gì gọi là ý thức mới trong văn học nghệ thuật là vậy. Cho nên chi giữa ý thức cũ và ý thức mới không còn là ngăn cách, biên giới mà là tổng thể chứa đựng một thứ triết học của văn chương (A Philosophy of Literature). Vậy thì triết học văn chương chứa cái gì trong đó? Hỏi cái này tất đụng phải một thứ nghệ thuật khác (dù cổ điển hay đương đại) cho một tâm lý tri thức nhận biết thuộc về nghệ thuật (The Psycho-Epistemology of Art). Dẫn ở trên là lý do cho một thành quả có từ ý thức mang lại; nghĩa là thanh lý những nhận thức cạn cợt, suy thoái trước đây làm hư hại cho một trào lưu, lý thuyết, trong văn học nghệ thuật; bởi do từ bí tỉ của tư duy đã không nhìn thấy giá trị thâm hậu mà tác giả muốn nói lên những gì muốn nói tới: là phơi mở, huỵch toẹt cái điều mà con người phải nhận biết (ý thức). Ý thức này không phải là ý thức kia; nghĩa là không dựa vào mà tìm thấy từ sự phát tiết để làm thế nào thấy được nội giới bên trong; là đưa dẫn từ lý trí (mind) chớ không từ tri giác (perceptual). Cho nên chi đứng trước một hoàn cảnh của văn học nghệ thuật nói chung là đòi hỏi một ý thức mới cho vấn đề; chỉ có suy luận, những gì là bi thảm, tuyệt vọng và một sự tàn phá âm thầm là những gì đã xẩy ra qua bao thế kỷ trong cái ngấm ngầm bí ẩn không thể nhận ra được sở nghiệp của nhận thức. Điều mà không bao giờ biết đến –One can never know; only surmise, what tragedies, despair and silent devastation have been going on for over a century in the invisible underground of the intellectual profession. Cái cạn cợt, không kinh nghiệm, không chuyên nghiệp đều đến trong điạ hạt của nhận biết với một cảm thức không sáng tỏ (the inarticulate sense) của trào lưu. Ở đây chúng ta tìm kiếm cái lý lẽ vấn đề để trả lời thành quả đầy đủ ý nghĩa của hiện hữu tồn lưu của con người, tìm ra được những gì thuộc triết học với một phương hướng đi tới nhận thức cho một nhận thức mới (For the New Intellectual). Đưa sự lý này vào đây không biết có bí tỉ không? -Đấy là vấn đề. Không! mà đấy là nguồn cơn của nghệ thuật đặc trong sự kiện; đó là nhận thức từ tri thức của con người là thể chất thuộc về nhận thức (conceptual). Khi đã ý thức vai trò của nhận biết thì ý thức được sự kiện một cách sáng tỏ, không ấm ớ hội tề, chi mô răng rứa mà thêm mù mờ; chớ bây giờ biết lấy chi để giải thích hơn. Nguyên nhân xưa nay cứ nói ý thức là cụm từ được mô tả từ tri giác; cái tri giác này gần như tự động hóa cho thành vấn đề chớ chưa nhận thức thấu đáo của từ ngữ ‘ý thức / consciouness’ có từ đâu và sinh ra từ đâu. Tuy có tính chất siêu hình trừu tượng nhưng khám phá ra được nó thì tự nhiên hiện hữu với đời và tồn lại với ngữ văn trong văn chương, còn nếu như (as if) chưa thấu đáo với tư duy thì chắc chắn ý thức đó đi ngược với những trào lưu đang phát tiết. Đấy là sự nguy hiểm của nhận biết. Nghệ thuật ‘nó là / it does’ có mục đích và ‘nó là’ phục vụ nhu cầu của con người, không cần phải có vật chất, chất liệu làm nên nhưng cần ý thức nơi con người làm nên. Nghệ thuật là cái điều không thể giải thích được, để buộc vào sự sống còn của con người. –Art is inextricably tired to man’s survival, but a need of man’s consciousness. Không có nghĩa là nêu lên tính chất vật lý mà là một sự bảo tồn và sống còn của ý thức. Thí dụ: Người đàn ông nọ nắm được nhận thức hiểu biết và đưa tới hành động; không có nghĩa là đơn độc, một tri giác cô lập trong hành động mà hành động trong dạng thức trừu tượng. Cho nên chi nhận thức hành động là ý thức được sự kiện để hành động. Đứng trước hoàn cảnh thuộc văn học nghệ thuật là đòi hỏi một nhận thức thấu triệt, đưa vấn đề ngữ ngôn và ngữ cảnh đến một nơi chốn toàn vẹn để có một ý thức nhận biết giá trị của nó; nhưng đó là then chốt trong chính nó mà ra –but is an end in itself. Sự lý này phục vụ không mục đích khác hơn là thưởng ngoạn. Thí dụ khác: Nhạc sĩ nọ phát tiết nhạc từ qua ngẫu hứng, gần như thể loại thi ca vô nghĩa (nonsence poetry hay còn gọi là fatrasie) chính trong vô nghĩa (của ngẫu hứng chớ không phải của mô-típ văn chương) cốt làm giàu âm thanh, nhạc điệu, có khi bất chấp cung bậc nhạc lý. Thế rồi trở nên thứ âm nhạc thuần túy. Nhạc sĩ (ngẫu hứng) thính giả (bắt chụp) cả hai tâm lý khác nhau; bắt nguồn từ vô thức chớ không phải từ hữu thức sinh ra. Vì vậy trong nghĩa cử nhận thức chiều sâu của nghệ thuật (luôn cả thi ca, hội họa, âm nhạc) phải nhận biết và có ý thức mới để nhận ra nó thời mong định được phương hướng của nghệ thuật. Tại sao? -vì ngữ ngôn là ẩn số, là ký hiệu của tai nghe mắt thấy (visiual-auditory) đó là chức năng phục vụ của tâm lý tri thức nhận biết (psycho-epistemological) là chức năng của biến đổi dạng thể trừu tượng trong dạng thức cục bộ hoặc chứng tỏ dạng thức chính xác, cụ thể đều nằm trong tâm lý tri thức nhận biết cũng là dạng thức tương đương cụ thể cho một tác động giữa ý thức trí tuệ và chức năng tự động của dạng tiềm thức. Nói tới đây đưa ta về thế giới của siêu hình –siêu hình là khoa học, là xử lý cho một cơ bản tự nhiên của thực chất; liên can đến một thứ trừu tượng rộng lớn của con người. Bao gồm mọi thứ cụ thể, cục bộ, khuôn phép mà người ta nắm lấy, cảm nhận được, bao luôn cả những gì rộng lớn của nhận biết và một chuỗi dây chuyền về nhận thức ý niệm chính những gì hiện ra; là những gì mà con người cầm giữ lấy nó với một tọa độ cho ý thức mới tức thời. Con người cần có một nhận thức nhận biết đó là năng lực đưa tới một nền văn học nghệ thuật: Nghệ thuật là một chọn lựa tái sáng tạo thiết thực hợp cho một cái gì thuộc về siêu hình xét đoán hợp lý –Art is a selective re-creation of reality according to an artist’s metaphysical value-judgments. Văn học nghệ thuật là cụ thể hóa (concretization) về những gì là siêu hình. Văn học nghệ thuật mang lại ý niệm nhận thức đến từ tri giác và từ tri giác gây nên ý thức để gói trọn tâm tư một cách trực tiếp trong tư duy; nếu những dữ kiện đó xẩy ra cùng một lúc, đồng thời là một giao thông tư tưởng có tính cách đạo đức luân lý. Nói tới đây không có nghĩa văn học nghệ thuật là thay thế cho tư duy triết học, nhưng; cũng không phải trợ vào những gì thuộc văn học nghệ thuật, cách thức đạo đức mà chỉ còn lại một vị trí của những gì thuộc lý thuyết nghệ thuật cơ chế (theoretical engineering). Nghệ thuật và văn chương là mẫu thức tạo tác –Art and literature is the model-builder. Nhưng; tất cả đã ảnh hưởng và đó là thông điệp như một kết quả: -Nghệ thuật là không có nghĩa đưa tới đích giáo dục. –Art is not the means to any didactic end, và; Nghệ thuật không có nghĩa là sao chép hay rập khuôn –Art is not the means of literal transcription. Đó là sự khác biệt giữa ý thức cũ và ý thức mới đều bao hàm trong một ý thức (awareness) hiện đại hơn.

Trong ba thập niên sau này; ý thức nhận biết về giá trị thuộc văn học nghệ thuật ở nước ta chuyển hướng rõ rệt; một thứ triết học tự nó đã làm nên một tiến trình có ý nghĩa trên phương diện tự nhiên của trí tuệ; phần chính không còn thấy hỗn mang, gò đống trong cách suy diễn hay văn phong cục bộ mà thoát ra bởi nhờ vào phương tiện kỹ thuật cho một trạng thái thông thường tự thức của trí tuệ (mind’s self-knowledge) nhưng cung cấp ở đó những ý niệm nhận thức trong sáng của những gì phát tiết tự nhiên không còn khuôn phép hay ước lệ mà chủ trương cho một phương hướng nhận thức sâu xa. Thế nào là mới trong văn học và nghệ thuật? -là những gì có thể thay thế hay chọn lựa trong những lý thuyết đã đề ra và nhận ra những gì sáng suốt trong ý thức nhận biết, những thể loại chứng tỏ là nhu cầu cần thiết mà những thứ đó tạo ra nguyên cớ cho việc chọn lựa; chọn lựa trong một ý thức mới. Đấy là vấn đề được nêu ra cho ý thức nhận biết: nhấn mạnh vào những gì có liên đới đến ngữ cảnh của văn chương, khai thác triệt để có một tư duy sáng tỏ, trung thực và phản biện mọi cá tính chủ quan; vượt ra khỏi con đường quá độ vốn ẩm thấp, độc hữu và ước lệ giữa trào lưu đổi mới tư duy, cốt để bước lên con đường xã hội chủ nghĩa tư tưởng; nghĩa là giải phóng toàn bộ vũng lầy còn ứ đọng trong tư tưởng để có một ý thức mới kiện toàn, một tư tưởng không bị khống chế bởi ngoại giới đưa tới mà cần có một thảo luận đặc biệt chống lại cái viễn ảnh cố cựu tiêu chuẩn: một thảo luận ngữ ngôn riêng tư –had a futher argument against the standard view: the private language argument. Đó chính là con đường sáng tác; đòi hỏi một tư duy độc lập, không hệ lụy ngay cả việc chịu ảnh hưởng một số tác giả làm nên, ảnh hưởng vào đó chỉ là lâm thời chớ không thể xem đó là trường phái riêng tư cho mình. Nếu duy trì nó tức là đưa mình lên giàn hỏa thiêu…Vậy thì yêu cầu gì có ý thức mới nơi người văn nghệ sĩ? -Hỏi cái này có tính chất lý tài và biện minh cho cái lý riêng tư. Vì rằng; thời gian biến chuyển con người chớ con người không chuyển biến thời gian tất giữa người và thời gian là biện chứng tư duy để vượt thoát ra khỏi một tư tưởng ‘bùn lầy nước đọng’ không còn trong vòng luẩn quẩn, vu vơ mà cần có một tư duy mới cho một ý thức mới tức cải thiện để bước đi xa là dẫn độ đến con đường văn học nghệ thuật. Nói ra đây có vẻ triết thuyết. Thực ra; nó tụ trong quan điểm của lý thuyết hóa của ngữ văn (the Semantic of theoretical terms) cho nên chi viễn cảnh của ý thức mới là bùng nỗ trong một trạng thái kích động (stated); cái mà ta thường cho là thuật ngữ của lý thuyết (theoretical terms); mà là cảm thức có từ trí tuệ (common-sense); thời tất không cho đó là ý thức trước một ý thức mới. Thí dụ: Văn sĩ Z. và thi sĩ X. họ có những phát tiết từ trí tuệ nhưng họ không khai thác tư duy mà chủ quan trong tư duy vì cho rằng họ độc hữu trong tư duy, phát sinh ra ngữ ngôn riêng để tạo hiện tượng; thật ra cả hai chưa ý thức vai trò nhân thế mà ‘dựa hơi’. Nói theo lý thuyết đó là hành động theo bản năng một cách tự động hóa vấn đề để nói lên cái kích thích hứng khởi mà không tỏ rõ bởi ý thức (philosophical behaviorism) để rồi cả văn và thơ trở nên thụt lùi không còn định lượng mặt hàng thực giả cho trào lưu mới. Vì vậy con người làm nên là vượt thời gian bằng một ý thức cải cách và đổi mới tư duy không còn vướng tục mà bước ra cõi ngoài của ngữ ngôn để đạt tới cái nguyên vẹn hình hài của con người hiện sinh với một tư duy trong sáng và bày tỏ chân lý sự thật của tâm hồn và thể xác, đồng điệu trong một tinh thần mới nghĩa là phải mới từ trong ra ngoài do từ ý thức mang lại của trí tuệ hướng đến tri thức tuyệt đối, quan điểm mọi biểu tượng xẩy ra là do tác động trực tiếp; một đôi khi ý thức đã vượt giới hạn của nhận định làm cho nhận thức tư tưởng trở nên siêu hình trừu tượng (metaphysics) mà phải biết vận hành để có một khái niệm cụ thể về ý thức là ở chỗ đó. Ý thức mới là nhận định sáng tỏ thực hư của vấn đề. Nhận thức ở đây là có một trí tuệ minh bạch để xác quyết vấn đề nghĩa là không chạy-theo để a-tòng hay rập-khuôn tất cả những hình thái như thế gọi chung là tư tưởng vô thức, bởi; trí tuệ hỏa mù thì làm cho nhận định lạc hướng trước một hiện hữu tại thế; trong lúc những gì gọi là ‘ý thức’ hoàn toàn khác với thực tế mà đó chỉ là ngữ ngôn phô diễn cho một quá trình đã tham dự. Ý thức mới phải độc lập trong tư tưởng, tức không bị khống chế bởi tri giác mà do từ trí tuệ làm nên. Tựu chung định hướng đó không thể đi tới ý thức mới. Ý thức mới là hình thái tạo nên chất lượng trong cách viết đầy sáng tạo hơn, mới hơn..

Ý thức trong sáng là ý thức mới; cũng không phải vận hành qua tất cả tri giác (The Theory-Ladenness of All Perception) mà vận hành qua trí tuệ thì cuộc đời tươi sáng và mở rộng. Trí tuệ là não thức tìm thấy ở chính nó như có một cái gì rắc rối, phức tạp và không thể nào hiểu thấu trong lúc cố quyết đi tìm thế giới vô tận ở cõi ngoài mà xưa nay đã mắc phải. Cái sự ‘mắc phải’ là căn bệnh trầm thống, một thứ tệ đoan văn hóa xẩy ra giữa thập niên 50, 60 và đầu 75 ở miền Nam là dấu tích suy thoái tư tưởng, nghĩa là chưa định rõ phương hướng thế nào là ý thức và thế nào là vô thức; lý do mắc phải bởi ngọn gió chướng của tư tưởng phương Tây. Thừa nhận nó như một thứ văn chương độc hữu và coi đó là thần tượng cố hữu. Lý thuyết của họ như giáo điều lấy đó làm cơ bản, biến nó như trào lưu đương đại mà quên ở chính mình cũng có thể làm nên thế sự. Sở dĩ yếm thế trước trào lưu đương đại phương Tây với nhiều lý do khác nhau nhất là lãnh vực văn học nghệ thuật hiện đại. Lý do tìm thấy ở sự phát tiết trí tuệ là nguồn cơn của mặc cảm bị trị, bởi; họ đã thổi vào một sắc khí độc dược và mê hoặc như món hàng thời thượng. Chính vì thế mà nguồn phát tiết tư duy đi qua từng thời kỳ đều lấy đó mà rập khuôn, một thứ ước lệ hủ hóa, nghĩa là không thoát tục và độc lập ở chính mình. Đấy là nguy cơ không biết đến nay đã giác ngộ hay chưa? Nhận ra được tư duy chiếm cứ thì không thể ý thức được sự kiện; nhưng phải xuyên thủng một tiến trình phát triển về nhận thức: thời trí tuệ sẽ bừng lên với một ý thức mới, phát tiết từ trong con người của chúng ta để làm nên một nền văn học nghệ thuật hiện đại và trong sáng hơn xưa ./.

VÕ CÔNG LIÊM (ca.ab.yyc. 5/ 8/2016 / Hiệu đính 15/9/2020).

TÌM ĐỌC : Những bài của võcôngliêm:

– Vô Thức Hữu Thức

– Ý Nghĩa Của Nghệ Thuật.

– Triết Lý Cuộc Đời.

– Triết Học Nghệ Thuật.

– Phân tích Tâm lý thuộc Triết học Tự nhiên.

– Phương pháp thuộc về Phân tích trong Văn chương.

– Ý nghĩa của Nghệ thuật.

Hiện có trên một số báo mạng và giấy trong và ngoài nước hoặc email theo điạ chỉ đã ghi.