TẢN MẠN ĐÔI ĐIỀU VỀ TRÀ (Kỳ 2) –

Nguyên Lạc

..

LỊCH SỬ, NGUỒN GỐC PHÁT TRIỂN VÀ CON ĐƯỜNG ĐI CỦA TRÀ

  1. Tên khoa học

Năm 1753, Carl Von Liaeus, nhà thực vật học Thụy Điển, đặt tên khoa học cây trà là Camellia Sinensis thuộc họ Theacae, xác định cây trà có nguồn gốc Trung Quốc. Thế nhưng một số học giả Anh lại cho rằng nguồn gốc cây trà là Ấn Độ. Cuộc tranh luận về quê hương cây trà đã kéo dài trên hai thế kỷ.

Năm 1976, Djemukhatze, Viện sĩ Thông tấn Viện Hàn lâm khoa học Liên Xô (cũ), sau khi đi khảo sát vùng trà cổ thụ trong 2 năm tại miền bắc Việt Nam, bằng phương pháp sinh hóa thực vật, lại xác định Việt Nam là quê hương cây trà trên thế giới, theo sơ đồ tiến hóa sau đây:


Camellia — trà Việt Nam — trà Vân Nam lá to — trà Trung Quốc — trà Ấn Độ

– Ta nên nhớ rằng: Khi nhà thực vật học lấy một địa danh nào đặt tên (như sinensis: Trung Hoa) không có nghĩa nơi đó là cái nôi của một loài, mà thường do nơi đó là nơi lần đầu tiên phát hiện), do vậy không thể dựa vào từ “Sinensis” để nói cây trà có nguồn gốc từ Trung Hoa.

.

2. Trà – huyền thoại và lịch sử

Hình như tất cả những gì có người Trung Hoa tham gia vào đều có bên cạnh một vài huyền thoại; trà cũng không ngoại lệ. Ít ra người Trung Hoa có hai huyền thoại về trà: một huyền thoại mang sắc thái người Hoa Bắc và một mang sắc thái người Hoa Nam.
. Huyền thoại thứ nhất của người Hoa Bắc cho rằng cho rằng người đầu tiên phát hiện ra trà chính là Thần Nông (2737- 2697 tr. Công Nguyên). Truyền thuyết này lại được giới thiệu trong cuốn Trà Kinh của Lục Vũ (vào năm 780 sau Công nguyên).
Vua Thần Nông là vị Hoàng Đế huyền thoại rất giỏi về nông nghiệp và y dược. Ngài nếm nhiều loại cây cỏ để tìm dược tính trị bệnh cho dân; “Thần Nông một ngày nếm thử một trăm loại thảo dược và gặp bẩy mươi loại độc và tự mình giải độc.”. Sự tích tìm ra cây trà của Thần Nông cũng được dệt bằng một huyền thoại thần bí. Một hôm, Vua Thần Nông cùng vợ con lên núi, giữa chừng núi vua thấy khát nước thì ngay lúc đó một chiếc lá rơi xuống cạnh chân Ngài. Thần Nông lượm lên và vò nát trong tay mình, chất nhựa dính vào ngón tay và Ngài đưa lên miệng nếm. Vị đăng đắng cho Thần Nông biết nó có dược tình và cảm thấy cơn khát mất đi. Thần Nông bèn đem chiếc lá đó sắc lên, và Ngài là người đầu tiên uống trà. Lại có truyền thuyết nói Thần Nông đun nước dưới một gốc cây, lá cây này rụng và rơi vào nồi. Nước trong nồi có màu vàng xanh và mùi vị thơm ngon, uống vào hết khát: đó là trà.
Người Trung Hoa chứng minh huyền thoại này bằng cách trưng ra cuốn ‘Thần Nông Bản Thảo” , trong đó có ghi tính dược cây trà. Nhưng thực ra tác phẩm này là một biên khảo vào thời Tần-Hán (khoảng năm 220 sau Công Nguyên) do nhiều nhà y học ghi chép và về sau Đào Hoằng Cảnh (457 – 536) chỉnh lý lại và người đời sau bổ sung và sửa đổi khá nhiều. Có điều chúng ta cần lưu ý trong Trung Y (y học Trung Hoa) không thấy cổ phương danh tiếng nào dùng trà làm vị thuốc và trong các hiệu thuốc đông dược chẳng thấy ai dùng đến trà cả.
Người Trung Hoa nói thế. Các học giả phương Tây dựa vào tài liệu Trung Hoa thuật lại thế và chúng ta nhắm mắt tin thế. Rồi người Nhật phụ họa thêm truyền thuyết trà là một cây thuốc như sau: vào đời Chiến Quốc một danh y truyền dạy y thuật cho con trai, nhưng chỉ mới truyền được bảy phần thì ông qua đời. Tưởng là phần còn lại thất truyền, nào ngờ nơi mộ ông ta mọc lên một loại cây hội đủ dược tính phần y thuật còn truyền sót; đó là cây trà. Càng về sau, các tài liệu đều ghi: “Khởi đầu trà là một vị thuốc, sau trở thành thứ nước uống giải khát.”
Củng cố thêm cho nguồn gốc cây trà và văn hóa trà xuất phát từ Trung Hoa, người Hoa Bắc còn đưa ra huyền thoại “Các vua nhà Chu đã dùng trà tế lễ từ năm 221 trước Công Nguyên”. Huyền thoại này thực sự có cơ sở chăng?! Nếu từ thời kỳ Xuân Thu Chiến Quốc người Trung Hoa đã dùng trà trong tế tự, ắt điều này phải có ghi trong các kinh lễ của các bậc thánh nhân như Chu Công và Khổng Tử. Đáng tiếc, Kinh Lễ hay Lễ Ký do Đức Khổng Tử san định cũng không hề thấy nói đến trà; sách Luận Ngữ do học trò ngài ghi lại các lời Ngài dạy hàng ngày cũng chẳng thấy nói đến trà; Kinh Thi cũng do Ngài san định là một tác phẩm ghi chép lại các bài ca dao trong dân gian không hề có một chữ trà hay chữ đồ. Trở ngược dòng lịch sử, sách Chu Lễ ghi rất chi li lễ tiết đời Chu cũng không thấy có chữ trà, Hoặc quay xuống đến đời Hán chúng ta thấy có cuốn Sử Ký của Tư Mã Thiên (khoảng những năm 90 trước Công Nguyên), có một thiên Lễ Thư, hay Hán Thư cũng không dành cho trà một chữ. Qua đó có thể nói ít nhất đến đời Hán trà chưa hề được biết đến ở Trung Hoa.
Trái lại chúng ta dễ dàng thấy chữ “tửu” trong các tác phẩm vừa nói, với câu nói nổi tiếng “Vô tửu bất thành lễ”. Điều này cho thấy việc vua nhà Chu dùng trà tế lễ là sự gán ghép đời sau. Nho gia không phải rồi, vậy trà có phải của Đạo gia chăng?! Chắc chắn là không vì biểu tượng thường đi kèm với các vị tiên gia là phất trần và bình rượu chứ không phải ấm trà, và giới đạo gia có thứ rượu Quỳnh tương trên tiên giới thần diệu như nước cam lồ bên Phật giáo. Chỉ mãi sau đến đời Chu Hy (cuối Nam Tống) mới xuất hiện một bài thơ gắn ông tiên với lò nấu trà. Như vậy có thể nói điều Lục Vũ ghi trong Trà Kinh “Thần Nông là ông tổ cây trà” có thể chỉ là lời lượm lặt trong dân gian thích thêu dệt huyền thoại của người Trung Hoa mà thôi.
. Huyền thoại thứ hai của người Hoa Nam. Huyền thoại này cho rằng chính Bồ Đề Đạt Ma (Bodhidarma), Sơ tổ Thiền Trung Hoa, là người mang cây trà từ Ấn Độ vào Trung Hoa (năm 519 sau Công Nguyên). Nhờ cây trà mà Ngài thức suốt 9 năm để ngồi nhìn vách đá quán tưởng công án. Tin vào truyền thuyết này nên về sau Thiền Nam Tông có nghi thức uống trà trước tượng Bồ Đề Đạt Ma. Xoay quanh Bồ Đề Đạt Ma lại có một huyền thoại thần bí hơn, lại do người Nhât phụ họa: Sau ba năm diện bích, tổ Đạt Ma kiệt sức và ngủ lịm đi. Khi tỉnh dậy, tổ hối hận và lo lắng, cắt hai mi mắt mình liệng xuống đất. Ít lâu sau nơi đó mọc lên một loại cây bụi, tổ Đạt Ma lấy lá của nó nấu lên uống thì tỉnh ngủ hẳn. Và Ngài tiếp tục diện bích cho hết 9 năm.

Cũng lưu ý là các tác phẩm như Hán Sở Tranh Hùng, Tam quốc Chí có nhiều lần nói đến việc uống trà, nhưng điều này không thể khẳng định trà có từ đời Hán vì các tác phẩm này viết vào đời nhà Minh, thời trà Trung Hoa đang ở giai đoạn hoàng kim. Việc các cây bút văn chương lồng một số chi tiết nho nhỏ quen thuộc đương thời vào câu chuyện không phải là điều không xảy ra nếu không muốn nói rất thường.

Còn nếu lấy huyền thoại làm chứng cứ thì e rằng người Việt biết uống trà và có một nền văn hóa trà sâu xa từ thời Hùng Vương (ngang đời nhà Chu). Ai trong chúng ta cũng đều biết câu chuyện cổ tích Trương Chi – Mỵ Nương , hai chữ Mỵ Nương đủ khẳng định bối cảnh câu chuyện xảy ra vào thời Hùng Vương rồi. Chuyện kể tóm tắt rằng: Chàng lái đò Trương Chi có giọng hát thật hay làm xiêu lòng Mỵ Nương. Nhưng khi gặp khuôn mặt xấu xí của chàng lái đò Mỵ Nương đâm thất vọng, ngược lại trước nhan sắc của Mỵ Nương Trương Chi về ốm tương tư rồi mất. Trương Chi chết hóa thành một hòn ngọc, người thợ đá tạc thành một cái chén uống trà dâng cho gia đình Mỵ Nương. Cứ mỗi lần rót nước trà vào chén Mỵ Nương thấy trong đó có hình chiếc đò bơi qua bơi lại và một tiếng hát từ cõi xa xăm nào đó vọng lại. Thương cảm, Mỵ Nương khóc, giọt nước mắt rơi vào chén trà và chén trà tan thành nước.

Bên cạnh, người Trung Hoa trưng ra một số tư liệu lịch sử để chứng minh nguồn gốc cây trà của họ. Sự viện dẫn này dựa vào thương mại để chứng minh cây trà và văn hóa trà có nguồn gốc từ Trung Hoa:
. Dẫn Con Đường Trà Cổ (Trà Mã Cổ Đạo): Đây là con đường núi ngoằn ngoèo đi xuyên qua vùng núi Vân Nam – Tứ Xuyên phía Tây Nam trung Hoa, phương tiện vận chuyển chủ yếu là lừa và ngựa. Theo tư liệu của Trung Hoa con đường này hình thành vào đời nhà Đường (618-907), và trà của Trung Hoa theo đường đó bán cho các nước phía Nam.
Điều này không mấy hữu lý vì tính theo thời gian vùng này thuộc về đất nước Nam Chiếu – Đại Lý. Thực tế cũng cho thấy đời Đường chưa cai trị được vùng đất này, nếu không muốn nói có nhiều chiến tranh qua lại giữa Trung Hoa và các bộ tộc (nhất là khi vùng này hình thành quốc gia) tại nơi đây. Cứ liệu đáng tin nhất; năm 629 khi Đường Tam Tạng có ý qua Hồ Quốc (tức Ấn Độ) thỉnh kinh, ông phải lén đi vì Đường Thái Tông cấm đi ra nước ngoài. Lý do cấm đoán đó là vì các vùng biên giới không yên ổn và nhà Đường lúc đó không đủ sức thảo phạt . Tình hình như thế cho thấy con đường này thực sự dưới quyền kiểm soát của Nam Chiếu – Đại Lý, trà từ vùng này chuyển đi các vùng lân cận và Hoa Nam để bán . Luận cứ này cho thấy con đường Trà Mã Cổ Đạo này không do nhà Đường mở ra, thực tế nó là một con đường tự phát nhằm trao đổi hàng hóa nhỏ lẻ với Hoa Nam và các nước lân cận Đại Lý. Trà quả là sản phẩm của con đường này nhưng chủ nhân là Đại Lý chứ không phải Trung Hoa. Chính vì thế ta sẽ thấy tập quán uống trà những nước quanh Đại Lý cũ không hề giống thói quen uống trà của người Trung Hoa.

(Phần huyền thoại và lịch sử này được trích từ quyển Trà Thư trong Trà Luận của nhà biên khảo Đức Chính)

.


3. Truy lại cội nguồn nền văn hóa trà


Qua những điều trên chúng ta đã biết: Trà là sản phẩm của Con Đường Trà Cổ (Trà Mã Cổ Đạo) và chủ nhân của nó là nước Đại Lý.
Lãnh thổ nước Đại Lý bao gồm 3 tỉnh: Vân Nam, Quý Châu và tỉnh Tứ Xuyên ngày nay. Nước này còn chiếm một phần vùng thượng du miền Bắc Việt Nam và một phần lãnh thổ của Myanmar hiện nay. Trước khi thành lập nước Đại Lý, vùng đất này là của người Bạch và người Di, gồm 6 bộ tộc (gọi là chiếu) Mông Huề, Việt Thác, Lãng Khung, Đằng Đạm, Thi Lãng, Mông Xá, trong số đó Mông Xá là bộ tộc mạnh nhất nằm ở phía nam nên thường gọi là Nam Chiếu. Năm 737, thủ lãnh của Mông Xá là Bì La Cáp mượn thế lực của Đường Huyền Tông thống nhất các chiếu khác thành lập ra nước Nam Chiếu. Điều này có ghi trong Đại Việt Sử Ký Toàn Thư: “Trong khoảng năm Khai Nguyên (713-742) đời vua Huyền Tông nhà Đường, Nam Chiếu là Bì La Cáp cường thịnh lên, mà 5 chiếu kia suy hèn đi. Bì La Cáp mới đút lót cho quan tiết độ sứ đạo Kiếm Nam là Vương Dục để xin hợp cả 6 chiếu lại làm một. Triều đình nhà Đường thuận cho, và đặt tên là Qui Nghĩa. Từ đó Nam Chiếu càng ngày càng thịnh lên, đem quân đi đánh Thổ Phồn (Tây Tạng)… Bấy giờ Nam Chiếu đã mạnh lắm, bèn xưng đế và đặt quốc hiệu là Đại Mông rồi lại đổi là Đại Lễ…” Triều đại này tồn tại đến năm 902, Đoàn Tư Bình nổi lên thành lập nước Đại Lý.

.

(Hình Bản đồ nước Đại Lý)

.

Vương Quốc Đại Lý tồn tại trên vùng đất này từ năm 937 cho đến năm 1253; kế tiếp nhau bởi 22 đời xưng đế, trong đó có nhân vật Đoàn Chính Thuần được Kim Dung hư cấu vào tiểu thuyết võ hiệp của mình. Sau năm 1253, Đại Lý mất vào tay Nguyên Mông nhưng dòng họ Đoàn vẫn cai trị vùng đất này với tước danh Tổng quản đến tận năm 1387 (vị tổng quản cuối cùng là Đoàn Thế) bị diệt dưới tay Minh Thái Tổ Chu Nguyên Chương. Nước Đại Lý đổi thành phủ Đại Lý, người Bạch và người Di nước lưu lạc xuống phương Nam. Một số thành các dân tộc người ở Việt Nam, Lào và Myanmar (như Thái Trắng, Thái Đen, Thái Đỏ, Lô lô, Nùng); một nhóm đông hơn di chuyển sâu về hướng Nam thành lập nước Thái Lan ngày nay.
Nếu Trung Hoa cho rằng Vân Nam – Tứ Xuyên ngày nay là của Trung Quốc nên nguồn gốc từ Trung Quốc mà ra; chúng ta cũng có thể nói vùng Thượng Du Bắc Việt Nam ngày nay của Việt Nam xưa thuộc Đại Lý, vậy Việt Nam cũng là cái nôi của thế giới. Theo tôi điều này không hay ho chút nào. Hãy như người Việt, cứ để nền văn hóa Óc Eo là tài sản của vương quốc Phù Nam, Tháp Chàm của người Chăm, … chứ không nhận bừa của người Việt. Tương tự, cội nguồn của trà là người Đại Lý, một vương quốc cổ nay không còn nữa. Và có thể các nhóm dân tộc dùng ngôn ngữ Tạng-Miến như người Thái vùng Tây-Bắc miền Bắc Việt Nam là một thành tố đại diện còn tồn tại đến ngày nay.
Nghiên cứu về văn hóa nên lấy mốc từ khi một sự kiện trở nên phổ quát và đi vào tư tưởng, chứ không nên vin vào một vài chứng cứ vật thể nhỏ để khẳng định đã có một nền văn hóa. Cũng như khi cắm ngọn cờ trên mặt trăng không thể khẳng định con người đã sống trên mặt trăng vào thời điểm đó. Chính trị và văn hóa khác biệt nhau ở chỗ này.
Vậy tại sao ngày nay khi nói đến trà người ta nghĩ ngay đến Trung Hoa và Nhật Bản. Đó là vì họ có phương thức truyền bá tư tưởng tốt: người Trung Hoa bằng các huyền thoại và cửa miệng các Hoa Kiều (chưa kể ngụy thư đời sau viết gán cho người đời trước để làm chứng cứ giả tạo); người Nhật có tác phẩm Book of the Tea của Okakura Kakuzo gây tiếng vang trên thế giới và gây tò mò người Phương Tây nơi nghi thức trà của họ vừa cầu kỳ vừa thoang thoảng kỳ bí.

(Phần truy lại cội nguồn này được trích từ quyển Trà Thư trong Trà Luận của nhà biên khảo Đức Chính)
.

  1. Các giai đoạn phát triển trà

Cây trà nguyên thổ sản của miền Hoa Nam, đã dược các nhà thực vật học và dược vật học Trung Hoa biết đến từ những thời đại rất xa xưa. Các văn gia cổ điển gọi nó bằng những tên khác nhau: Đồ (Tou), Thiết (Tach), Thuấn (Chung), Giả (Kha), và Minh (Ming), và trà được tán dương là có hiệu năng làm cho người ta hết mệt nhọc, tinh thần sảng khoái, ý chí tăng cường và thị lực hồi phục. Người ta không chỉ dùng trà làm thuốc uống bên trong, mà còn hay dùng như một thứ cao đắp ở bên ngoài để trị phong thấp nữa. Các môn đồ Đạo gia coi trà là một vị trọng yếu trong môn thuốc trường sinh bất lão; còn các tăng đồ Phật giáo thì thường dùng trà để chống lại cơn buồn ngủ trong những giờ ngồi trầm tư mặc tưởng dài đằng đẵng.

Tuy nhiên, phương pháp uống trà thời kỳ ấy hãy còn cổ lỗ hết sức. Người ta lấy lá trà đem hấp lên, bỏ vào cối giã, làm thành bánh rồi đem nấu với gạo, gừng, muối, vỏ cam, hương liệu, sữa, và một đôi khi cả hành nữa! Tập quán này cũng còn thịnh hành trong dân xứ Tây Tạng và các bộ tộc Mông Cổ, họ chế tất cả các vị kể trên thành một chất “xi rô” kỳ xảo. Lối dùng những lát chanh của người Nga tập uống trà tại những đội thương lữ quán Trung Hoa là một lối cổ còn sót lại.

Sau nhờ thiên tài của Đường triều, trà mới được “giải thoát” khỏi trạng thái thô lậu này và được lý tướng hóa một cách tuyệt diệu. Lục Vũ ở khoảng giữa thế kỷ thứ tám, là đệ nhất sứ đồ của trà. Ông sinh vào thời kỳ mà Phật giáo, Đạo giáo và Khổng giáo đang tìm đường tổng hợp với nhau. Phiến thần luận của tượng trưng chủ nghĩa lúc bấy giờ có ý muốn phản chiếu cái “Phổ biến” (Universal) ra khỏi cái “Đặc thù” (the Particular). Lục Vũ là một nhà thơ, nhận thấy trong bộ đồ trà cũng có đủ cả sự điều hòa và trật tự như trong mọi sự vật khác. Trong tác phẩm danh tiếng của ông là cuốn Trà Kinh (Kinh thư của Trà Đạo), ông đã định thức hóa Pháp điển về Trà. Từ đó ông được thờ như vị thần giám hộ của các nhà buôn trà Trung Hoa.

Nhưng trà chỉ thật sự phổ cập ở khắp Trung Hoa bắt đầu từ thời Nguyên khi Đại Lý bị diệt và dòng họ Đoàn quy thuận, trà mới có cơ sở thông thương rộng hơn. Qua đời Minh (1368-1644), việc buôn bán trà trở nên rất thịnh vượng nên triều đình lập ra “Bộ Trà Mã” để quản lý và thu thuế, kết quả tất yếu của việc sáp nhập nước Đại Lý vào Đại Minh. Trong bối cảnh đó nhiều tay bút bàn về trà sinh sôi nảy nở là điều tất yếu, và thường hay đề danh tính người đời trước để dễ thuyết phục người đọc (đời nhà Minh nổi tiếng nhiều ngụy tác). Tuy vậy để xuất khẩu trà quy mô phải đợi đến khi kỹ thuật canh tác phát triển và trà được trồng nhiều ở các vùng như Hồ Nam, Hồ Bắc, Chiết Giang, Giang Tô, Lãnh Nam, Kinh Tương, Phúc Kiến, nghĩa là khó sớm hơn thế kỷ 14.
.

5. Bước đi của trà

  • Vào cuối thế kỷ thứ mười sáu, người Hòa Lan truyền đi cái tin ở Đông phương có loại thức uống làm bằng một thứ lá cây rất ngon. Các nhà du lịch Giovanni Batista Ramusio (1559), L.Almeida (1576), Maffeno (1528), Tareira (1610), cũng nói đến trà. Trong năm cuối cùng kể trên, thương thuyền của Hòa Lan Đông Ấn Độ Công ty đem những lá trà đầu tiên về Âu châu. Trà được nước Pháp biết đến năm 1636, và lọt vào nước Nga năm 1638. Năm 1650, nước Anh hoan nghênh trà và khi nói đến trà thì ca ngợi coi là “một món đồ uống ngon tuyệt, tất cả các y sĩ đều tán thành món đồ uống Trung Hoa, mà người Trung Hoa gọi là trà, các nước khác thì gọi là tê (thé) hay ti (tea)”. Trà đã bắt đầu được coi là thức uống quốc tế
    Sự giao lưu thương mại giữa Trung Hoa và các nước phương Tây ngày một lớn mạnh bắt đầu từ triều đại nhà Thanh. Khi Hoàng đế Trung Hoa “ngự hít” điếu thuốc lá đầu tiên được mang đến từ Châu Âu, thì Nữ hoàng Anh Quốc cũng đang nhấm nháp tách trà đầu tiên. Vào khoảng năm 1615, các thương gia Anh Quốc với công ty Đông Ấn Độ nhận thức được sự có mặt của Trà. Trà đã nhanh chóng được truyền bá khắp Châu Âu và gần 100 năm sau, khối lượng trà nhập khẩu vào Anh tăng từ 100 pound/năm lên đến hơn 5 triệu pound/năm. Điều này đòi hỏi cần phải có nhiều phương tiện lớn mới mang được tải trọng trà như thế từ Trung Hoa.
  • Tại Anh: Theo sử liệu,thì chính Nữ Công Tước Bedford, tác giả quyển “Năm giờ uống trà” rất được người Anh ưa thích. Bà cũng là người đã tạo ra phong trào uống trà vào buổi chiều tại xứ sương mù. Ngày nay tới nhà bất cứ một người Anh nào, đặc biệt là giới trung và thượng lưu trí thức, ai cũng phải lóe mắt trước sự khéo tay và vô cùng thẩm mỹ của các bà nội trợ , trong việc trang trí bàn uống trà với khăn phủ bàn có bình hoa tươi và bộ bình trà làm bằng bạc và sứ men Trung Hoa. Người Anh từ lâu có tập quán đãi khách loại trà sữa hay trà chanh. Cũng theo sử liệu, thì vào thế kỷ XVIII, khi Anh chiếm Hồng Kông và nhiều thành phố lớn khác tại Trung Hoa như Thiên Tân, Thượng Hải, Quảng Châu đã du nhập tập tính uống trà của người Tàu về bản quốc.

  • Tập quán uống trà ở Anh phát triển mau lẹ không thể tưởng tượng dược, trong nửa đầu thế kỷ thứ mười tám, những quán cà phê ở London, trên thực tế, đã biến thành những phòng trà, nơi hẹn hò của những bậc anh tài như Addison và Steele, tiêu khiển bên những “món trà”. Chẳng bao lâu, trà trở thành một món cần thiết cho đời sống sinh hoạt – một món có thể đánh thuế được.
  • Tại Hoa Kỳ: Hằng năm theo thống kê, thì dân chúng Hoa Kỳ tiêu thụ cả chục triệu tấn trà, bằng mọi hình thức như uống nóng, lạnh, trà nguyên chất hay ướp các loại hoa, uống không hay uống chung với đường thêm mật ong, sữa, kem, chanh. Người Mỹ uống nhiều loại trà, từ thứ gọi là Decaffeinated Tea hoặc các loại trà lá, kể cả dược trà bằng lá ổi, lá hồng để trị bệnh va làn tan mỡ, gọi là Herbal Tea.
    Xin được nhắc qua về vụ Trà đã dự phần hết sức quan trọng trong sự kiện lịch sử hiện đại. Thuộc địa Mỹ cam chịu áp chế cuả Anh cho đến khi sức nhẫn nhục của con người không thể chịu đựng được nữa, phải nổi dậy trước những khoản thuế quá nặng đánh vào Trà. Nền độc lập của Mỹ bắt đầu từ ngày người ta quẳng những thùng trà xuống hải cảng Boston: Người Mỹ đã vùng dậy mà ném cả 342 thùng trà xuống biển, để rồi bắt đầu cuộc khởi nghĩa giành độc lập năm 1773. Cố nhiên là không lỗi ở trà, và cũng không phải chỉ vì trà, mà còn nhiều lý do khác nữa; nhưng đã nói đến trà thì cứ nên cho rằng, nhờ đó mà cái gọi là Boston Tea Party trở thành bất hủ.
  • Tại Nhật: Cuối thế kỷ 11 đầu thế kỷ 12, cùng với Thiền, trà ở Trung Hoa tràn sang Nhật. Người Nhật tiếp thu cả hai thứ văn hoá vật chất và tôn giáo này, đem nó hoà quyện với văn hoá bản địa và nâng lên thành triết lý riêng của dân tộc là Trà Đạo.
  • Trà đạo bao gồm những nghi lễ thiêng liêng thấm đượm chất tâm linh tôn giáo, khiến cuộc thưởng trà trở thành một cuộc lễ.
    Ngày nay Triết Lý Trà của người Nhật đã trở thành một nghi thức chính thống của một tôn giáo gọi là Trà Đạo, hình thành từ thời kỳ Mạc Phủ Tướng Quân ở thế kỷ thứ XV. Những trà đồ trước khi bước vào trà thất đã tự mình rũ bỏ hết cái thế giới ồn ào bon chen, nhập vào sự tĩnh lặng của tâm hồn, quên hết kể cả cái ta phiền toái đáng phiền.
  • Cho đến thế kỷ 19 mà Trung Hoa vẫn còn là nơi độc quyền sản xuất trà bán ra khắp toàn thế giới. Thuở ấy người ta chỉ mới biết mua trà về pha chế thêm, mang bỏ vào hộp, đóng thùng dán lên các thứ nhãn hiệu rồi đưa đi bán lại mà thôi. Càng ngày thấy nhu cầu càng tăng và nguồn lợi càng rõ ràng vĩ đại, người ta nghĩ đến mang giống trà đi trồng ở các miền đất đai các xứ khác mới đủ cung cấp cho cả thế giới.
    Người Anh quốc là kẻ tiên phong đã biết dùng ngay đất thuộc địa của mình, tức là xứ Ấn Độ thời ấy, làm nơi trồng trọt và sản xuất trà, thay vì phải mua từ người Trung Hoa. Họ đã lấy giống trà từ Trung Hoa, đón một số chuyên viên Trung Hoa trong ngành trồng tỉa cũng như pha chế, đưa những người nầy sang Ấn Độ để dạy cách thức trồng trọt pha chế cho dân địa phương, và họ đã thành công.
    Ngoài ra còn những vùng mà cây trà được trời ban cho cũng mọc lên tự nhiên và hợp khí hậu không kém trà của Trung Hoa đó là những vùng như Việt Nam, Miến Điện, Mã Lai, Lào, Miên.
    .
    (Còn tiếp nhiều kỳ)
    .
    Nguyên Lạc

Thơ Hoàng Xuân Sơn

L Ờ I X I N

Cầu xin cho lũ lụt
vơi đi nước hằng hà
đêm. sao trời lại sáng
những phận đời oan gia

  1. octobre 2020

H O A C H U Ô N G

Và rồi cũng ngỡ hoa đi
độc bình trên cạn
xuân thì dưới khe

nghìn năm nhớ quá
hoa về
chuông rung một cánh buồn nghe
mịt mờ

{9:21 am} 23 avril 2020

L Ũ N G C Ú

Ta phong tước hiệu nhau
thi sĩ và thi sĩ
trong mùa khổ nạn này
virus là thi sĩ

Ôm lời thơ chết chóc
thi sĩ là virus
trái đất lủng lẳng treo
hồi lửa chuông báo dữ
lời ôn dịch lan tràn
mù mờ gieo khởi điểm

những con tán xuống đường
đội lên chiếc xe không
người đụng người bịt mặt
màu không gian đặc quánh
thời gian trét miệng mồm

màu quan tài hiển lộng
không còn đất cho cây
khói thở và nghẹt thở
đậm đặc những luống cày

Chim đừng ăn vi khuẩn
người đừng thở vi khuẩn
lửa đốt cháy lò thiêu
làm sao mình lý sự

Làm sao một chiếc thìa
đã run lên khổ sợ
làm sao tách nước ấm
làm sao những dây đàn

Cuối cùng một chấm hỏi
về đâu những mùa than
cây bạch dương thầm lặng
rơi khẩu nghiệp bên đàng

h o à n g x u â n s ơ n
[7:44 am] 07 tháng tư năm 2020

KHỜ ĐẾN THẾ LÀ CÙNG

 CẢM NHẬN KHI ĐỌC ‘VIẾT CHO KHỜ’

CỦA ĐẶNG XUÂN XUYẾN

*

Chúng ta đang sống trong thời đại 4.0 mà người ta xem chữ TÌNH nhẹ phều.

Người ta có thể thay người yêu như thay áo, có thể đem chuyện tình cảm ra mua bán, giao dịch, đổi chác… Bữa nay quấn quýt anh anh em em, ngày mai đã quay phắt lạnh như tiền, gọi nhau thằng này con kia… Thế nên chuyện TÌNH “Dẫu lìa ngó ý còn vương tơ lòng” mà Cụ Nguyễn Du nói đến cách nay mấy trăm năm đã xưa lắm rồi, đã dần khan hiếm lắm rồi! Nếu có người vì tình còn vương, còn vấn, còn tiếc, còn nuối, sẽ bị người ta cho là ĐIÊN, là KHÙNG mà nhà thơ Đặng Xuân Xuyến lại có hẳn một bài thơ VIẾT CHO KHỜ về sự “điên”, “khùng” ấy với những vấn vương, tiếc nuối.

Thơ Đặng Xuân Xuyến tôi đọc cũng kha khá và đã yêu thơ của tác giả này… Nhưng vì biết khả năng mình không thể viết ra hết được tài điều khiển vần, điệu, chữ, nghĩa… và càng biết không thể diễn tả hết những tâm ý sâu xa làm con tim thổn thức, làm cảm xúc rung rinh thỏa độ ghiền, đủ độ say của mình trong những bài thơ của tác giả này, nên chỉ ngốn ngấu cầm lên, rồi hả hê đặt xuống…

Vậy mà không hiểu sao sau khi đọc VIẾT CHO KHỜ bài thơ cứ vấn vít không cho tôi làm gì, nghĩ gì, yêu thích gì… cứ như hồn vía bị bắt đi, bịt mắt lại… để chỉ được nhìn nó, thì thầm, thủ thỉ với nó mà thôi…

Triền sông chiều nay cạn gió

Ai dụi câu hò

Ai dúi cánh cò líu ríu qua sông

Ai lùa gió đốt lòng

Ai bủa giăng chim trời mà đợi

Khờ hỡi…

Biết rồi

Sao còn vít vương tơ rối.

Ngẩn ngơ chi thì thầm lời của gió

Thương nhớ gì lộc cộc tiếng ngõ khuya

Thì kệ nắng quái trưa

Thì mặc mưa mút mùa

Thì thả nụ yêu quá thì chìm nổi

Để rồi tong tẩy cuộc người

Để rồi xéo xắt miệng đời

Để rồi nụ cười bảy chìm ba trôi chín rối…

Khờ hỡi

Biết rồi

Sao nặng lòng vít vương tơ rối…

Về thôi!

*.

Hà Nội, chiều 10-09-2020

ĐẶNG XUÂN XUYẾN

——————-

(in tại chuyên mục: QUÁN THƠ HƯ VÔ 396 trên báo Việt Luận (Úc) – Viet’s Herald on Friday, September 18,2020)

KHỜ ĐẾN THẾ LÀ CÙNG -“Khờ” là tính từ chỉ nhân cách. Là một cách gọi ở thời đại 4.0 này cho những người có trí tuệ thông minh, nhiều hiểu biết… mà không buông bỏ được TÌNH, còn bị TÌNH làm cho long đong lận đận, luẩn quẩn loanh quanh vương vào rối rắm gỡ mãi không ra.

Nếu như “duyên trời” (gió) đã đưa thứ gì đó tới cho mỗi chúng ta: Có thể là một báu vật, có thể là một bình “rượu độc” “hương mê”… mà thế gian gọi là TÌNH để ta thương yêu, chiều chuộng, để ta đắm chìm vào đó mà mê, mà say… thì sẽ có người may mắn được cái duyên lâu bền, cái tình đằm thắm… Những người này thì khỏi nói, vì “duyên ấy”, “tình ấy” sẽ nên vợ nên chồng đến răng long tóc bạc, làm gì có ai khờ ai dại ở đây! Nhưng cũng có một số người gặp phải duyên ít, tình cạn mau để anh đi đường anh, em đi đường em… để rồi có Khờ, có thơ VIẾT CHO KHỜ

Bài thơ VIẾT CHO KHỜ là viết cho ai? hay cho chính tác giả?

Kệ! tôi không cần biết là ai! Chỉ biết khi đọc bài thơ này thì thấy, Trời ơi, khờ gì mà khờ quá mức? Khờ đau, khờ đớn, khờ hết chỗ nói, khờ hết thuốc chữa!

Phải chăng bởi tại thể loại bài thơ là thơ tự do, phong cách lại hiện đại, phóng khoáng cho tư duy bay lên, cùng với cách sử dụng những biện pháp tu từ đặc biệt như hoán dụ, lặp từ, so sánh… cùng quấn quyện với hình ảnh, âm ngữ dân gian sau lũy tre làng có con sông bến nước, có bãi mía nương dâu, như trong ca dao dân ca… đã làm tôi cứ tưởng tượng, cứ suy diễn, cứ lan man… để rồi một hình hài, một tâm hồn, một quãng đời của một con người rất là khờ hiện ra trước mắt tôi..

Cả bài thơ chả thấy tác giả dùng gì đến những chữ: chia tay, ly dị, bỏ đi… mà chỉ là “cạn gió“. Gió cạn được ư? – phải chăng chỉ là giữa người với người dưới một mái nhà duyên đã tận, tình đã hết.

Bài thơ cũng chẳng kể lể dông dài những nguyên nhân “ai” phá đi niềm vui, hạnh phúc, làm xáo trộn sự bình yên, đã thiêu rụi cuộc tình, mà ta chỉ thấy câu hò bị “dụi“, cánh cò bị “dúi“, gió bị “lùa” và chẳng thể “bủa giăng” nhau nữa… Người ta đã buông bỏ cuộc tình này rồi, đã phủi tay, xoay mặt sạch rồi, không vớt vát nổi tí gì nữa rồi… mà sao:

Khờ hỡi

Biết rồi

Sao còn vít vương tơ rối

Biết rồi – sao còn vít vương tơ rối” để rồi tự hành hạ, tự đày đọa cả thể xác lẫn tâm hồn. Để rồi biến mình, biến cuộc sống của mình ra thế này đây:

Ngẩn ngơ chi thì thầm lời của gió

Thương nhớ gì lộc cộc tiếng ngõ khuya

Thì kệ nắng quái trưa

Thì mặc mưa mút mùa

Thì thả nụ yêu quá thì chìm nổi

Để rồi tong tẩy cuộc người

Để rồi xéo xắt miệng đời

Để rồi nụ cười bảy chìm ba trôi chín rối…

Khờ hỡi

Biết rồi

Sao nặng lòng vít vương tơ rối…

Về thôi

Biết tình đã mất, biết người đã phụ bạc, biết mình đã te tua mà vẫn còn “nặng lòng vít vương tơ rối” thì gọi là KHỜ chứ còn gọi là gì?

Mà sao cái tính cách “Khờ” mà nhà thơ Đặng Xuân Xuyến vẽ bằng những biện pháp tu từ đặc biệt và những tiếng gọi “Khờ hỡi” – “Về thôi” lại làm tôi (người làm mẹ) nao lòng, lo sợ đến vậy!

Phải chăng cái thời buổi ngày nay, nhân tình thế thái đã quá tụt dốc. Giềng mối gia đình đã quá lỏng lẻo…đã đẩy những con người, dù họ có là bác sĩ, luật sư, là ông này bà nọ,… mà quá nặng lòng với TÌNH, khi mất tình thì họ sẽ thành kẻ khờ? Liệu ai biết được một mai có ai cạnh mình, hay chính con mình có trở thành kẻ khờ không cơ chứ?

Khờ hỡi – Về thôi” là tiếng gọi diết da, là sự nhắc nhở chúng ta cố sao tôn trọng tình yêu, giữ cho trọn tình, trọn nghĩa tào khang, đừng làm cho xã hội có nhiều KHỜ nữa.

Phải chăng tác giả cũng đang gọi chính mình???

Bài thơ VIẾT CHO KHỜ của nhà thơ Đặng Xuân Xuyến hay quá! Xin trân trọng giới thiệu đến bạn đọc

*.

Germary, 09 tháng 10-2020

TRẦN THỊ HỒNG CHÂU

Địa chỉ: Meissner Str 316a, 01445 Radebeul,

Garmany (Cộng hòa Liên bang Đức).

PHỐ, ĐÊM, MƯA

Tản văn Pham Nga

1.
Những ngày này, bởi ảnh hưởng của liên tục những cơn bão ngoài Trung, Sài Gòn mưa liên lỉ, hết cơn lớn, ào ạt trút nước lại đến cơn nhỏ lâm râm kéo dài. Tôi đành bó gối ngồi nhà, bởi ngại mưa gió nên cả những công việc cần thiết phải đi – trong đó có đi bộ ở công viên, cần cho việc trị tiểu đường- cũng đành bỏ qua hay gác lại, nói gì đến chuyện đi chơi, ra quán quen gặp bạn già tán gẩu… Càng nên ít ra đường, đến nơi công cộng còn vì ‘giãn cách xã hội’ có mức độ vẫn còn cần thiết bởi Covid19 chỉ lắng xuống, chưa hề kết liễu. Đành xa cách, vắng mặt đối với phố phường thân quen.
Vâng, trước mùa bão tháng 10, nghĩa là chỉ mới nửa tháng trước, khi ‘giãn cách’ bởi dịch bệnh được nới lỏng, mọi người dù có nghiêm chỉnh mang khẩu trang hay không vẫn có thể ít nhiều thong dong ra phố, từ ngoại ô vào nội thành hay từ Sài Gòn đi các tỉnh và ngược lại… Giờ đây, đến lượt thời tiết mưa gió lì lợm kéo dài cũng gây ‘giãn cách’ chẳng vui vẻ gì hơn dù chỉ bó buộc, hạn chế về không gian giữa con người với nơi chốn con người muốn lui tới hơn là ‘giãn cách’ xã hội, tức giữa người với người để phòng dịch lây lan trong cộng đồng.
Đêm nằm thao thức, nghe tiếng mưa rơi ngoài trời khi thì vang rền khi thì khẽ khàng buồn thiu. Lại chạnh nghĩ đến bão lũ tàn khốc vửa qua đã gây nhiều tang thương, mất mát cho bà con các tỉnh miền trung Trung bộ.
Trời đã khuya, văng vẳng tiếng hát karaôkê bên nhà hàng xóm:“Ðêm khuya mưa rơi rơi trên đường vắng/ Ðôi chân lang thang tâm tư trầm lắng…” . Mặc cho cái giọng nam trung thô thiển rớt nhịp hoài của anh hàng xóm, tôi vẫn bàng hoàng bởi từ thời trẻ trai đã thích dòng rumba/boléro đơn sơ, không cầu kỳ mà thật dễ mến của Văn Phụng. Và lúc này, đang đêm mưa buồn lại tình cờ được nghe bài ‘Giã từ đêm mưa’ với nhạc điệu khoan thai mà đầy níu kéo của ông nữa thì thật hạnh phúc.

2.
Xưa nay trong văn học nghệ thuật, từ một mẫu minh họa cho tập thơ, cuốn truyện cho đến khuôn hình trang trí bìa một bản nhạc, thường hay có hình ảnh phố đêm – những con đường, những góc phố vắng lặng, im lìm. Và, như các tác giả thường đươc gợi cảm hứng hay chọn làm nguyên mẫu, đó thường là thành phố Sài Gòn thân thương này.
Bởi được thể hiện trong văn chương nghệ thuật nên những “văn ảnh” phố phường này luôn có cách điệu. Trước hết là có mưa – mưa nhẹ nhàng, lướt thướt thôi cho thêm phần buồn bã cảnh đường phố ban đêm. Kế đó, trong văn ảnh thường là những con đường nhỏ, hẹp hay ngõ hẻm lụp xụp, nhà cửa cũ kỹ, mộc mạc thôi chứ không cần thiết là đại lộ nguy nga, cao ốc hào nhoáng. Đôi khi, như trong ca từ bản ‘Phố đêm’ (Phạm Đình Chương), lãng đãng có “ánh đèn vàng hắt hiu” – ánh sáng vàng vọt, yếu ớt, thê lương mới phù hợp chủ đề về phố mưa buồn, phù hợp với chính hình ảnh rất quen nơi các tờ nhạc in ngày trước: chàng nhạc sĩ nghèo, cây guitar cũ mang trên vai, lầm lũi bước đi dưới ánh đèn đường. Chứ phải nói là xa lạ, lạc điệu là loại ánh sáng ngày (day light) trắng toát của đèn néon cao áp chiếu sáng các đại lộ, cầu bắt qua sông, giao lộ hay vài đoạn xa lộ đi qua khu phố, thị trấn.

3.
Nhớ thời trẻ trai, tôi vẫn lo học hành đàng hoàng nhưng do có phần bắt chước ‘nghệ sĩ tính’ từ các đàn anh ban C, nhiều bận tôi đã cùng nhóm bạn thân rong chơi phố phường Sài Gòn, luôn cả vào giờ giấc rất khuya muộn. Cả bọn thích đi bộ lang thang hay chạy xe thật chậm qua những con phố đêm vắng lặng không bóng người. Gặp lúc đô thành có lịnh giới nghiêm, cả bọn vẫn lì lợm, lang thang đến sát giờ còi hụ mới chịu quay về. Hay nếu có mưa nhẹ, lất phất trên đầu thì càng thú vị, đến nổi đứa nào có đem theo áo mưa cũng không lấy ra mặc vào khi mưa đã rớt hột. Có khi đang chạy honda ngoài đường, trời đang tạnh ráo bỗng mưa kéo đến, gió nổi lên rào rạt cùng sấm chớp ì ầm, cả bọn lại thích chí cười vang, kể cả các cô bạn ngồi yên sau cũng vui hẳn lên. Nỗi phấn chấn, hứng khởi kỳ cục khi nhận được những giọt mưa đầu tiên rơi xuống mặt!
Đến thời tốt nghiệp, ra trường, đi dạy học, đi làm báo, lãnh lương thì bù khú chút đỉnh với anh em. Nhớ những lần tình cờ ‘bắt’ được ngoài phố mấy tên bạn thân thiết, bạn thơ văn…đã rất lâu không gặp là dẹp hết mọi bận tâm hay kế hoạch trong ngày, ngay lúc đó kéo nhau ‘tấp’ đại vô một quán nhậu, sạp nhậu xập xệ lạ hoắc thấy trên vỉa hè. Quán chỉ có rượu đế, rượu thuốc cùng cóc ổi, đậu phộng…, cũng chẳng hề kén chọn, cứ mãi miết vừa ‘xây tua’ vửa hỏi thăm nhau tin tức bạn gần bạn xa, đứa này đứa khác. Rồi cơn mưa chợt đến, tấm bạt che mưa cũ rách chẳng ra trò trống gì, mưa dột mưa hắt làm ướt đẫm cả tóc, cả lưng mấy gã bợm ké né ngồi đó. “Tữu phùng tri kỷ thiên bôi thiểu”, anh em bạn bè vẫn tỉnh bơ nâng ly, chén tạc chén thù. Có điều cũng lạ, cũng ngộ là ai nấy dù uống nhiều, uống liên tục như thế nhưng chưa lần nào có ai say gục đến phải nằm lại tại chỗ. Nhậu đã đã mà trời còn mưa thì ‘10 lần như 1’, cả bọn kéo hết vào một quán cà phê.
Cứ như mưa trời chẳng những không có vẻ gì gây khó dễ băng nhậu tri kỷ tụi tôi, ngược lại còn góp vui, góp phẩn giúp bữa nhậu ‘tao ngộ chiến’ càng tăng thêm phần hào hứng, thú vị. Lúc này nếu tình cờ hay ho là mượn được cây guitar, chắc chắn sẽ có bạn đòi ai đó hát cho nghe hay tự hát luôn những ca khúc rumba/boléro, những nhạc phẩm cùng nhạc sĩ theo ‘gu’ riêng của bọn tôi, cũng đẫm nước mưa hay đẫm… rượu đế, như: Mưa Sài Gòn mưa Hà Nội (Phạm Đình Chương phổ thơ Hoàng Anh Tuấn), Những ngày xưa thân ái (Phạm Thế Mỹ), Trăng tàn trên hè phố (Phạm Thế Mỹ), Giã từ đêm mưa (Văn Phụng), Phố đêm (Phạm Đình Chương), Những bước chân âm thầm (Y Vân), Mưa đêm ngoại ô (Đỗ Kim Bảng)… Và chắc chắn cả bọn sẽ không bỏ qua nhạc Trịnh Công Sơn, trong đó có bài tuy không phải rumba/ boléro nhưng ‘trứ danh’ là ngay ở câu đầu đã nhắc luôn tới mưa: “Mưa vẫn hay mưa trên tầng tháp cổ” (Diễm xưa), hay “Em đứng lên gọi mưa vào hạ” (Gọi tên bốn mùa), hay mưa rơi suốt bài suốt bản luôn là “Trời mưa, trời mưa không dứt. Ô hay mình vẫn cô liêu”(Lời buồn thánh).
Phố. Đêm. Mưa. Ba yếu tố ngoại cảnh thân quen đã góp phần làm nên bao kỷ niệm sâu sắc cho thời học sinh lớp tú tài cùng thời sinh viên thư-sinh-mặt trắng chúng tôi. Cái thời bọn trẻ tóc còn xanh nhưng đã không khỏi già háp bởi những trăn trở, thao thức về thân phận trong cuộc chiến kéo dài, vẫn có lúc mơ mộng, có lúc hát ca, có lúc là những đêm mưa dịu dàng, cả đám cùng lang thang, chạy xe chầm chậm, vô định qua những con đường im vắng của Sài Gòn…
PHẠM NGA
(Tháng 10 bão lũ)

l ề u t h u

Hoàng Xụân Sơn

thu lây bệnh ngứa da trời
nằm nghiêng nghe thấy cuộc đời chạy rông
đàn kiến tở mở qua sông
lá. lá tấp một bụm hồng thiết thao
trên nóc. quạ khản giọng. gào
trả tôi bạn lữ lời chào muôn xưa
thu đi. còn bợn gió chừa
ngọn tóc bay quá lầu trưa dụi buồn

đẩy người. tới một niềm thương
mà rồi đứng lại bên đường thở than
nghe ai hò giọng xuyến vàng
chim đi một nước cầu sang lại về
đời buồn. luẩn quẩn hòn đê
bàn tay rất tội giữa nghề sinh lao
sân chơi đã trụi cây rào
xin đêm còn chống ngọn sào ăn năn

bước qua. bước qua ân cần
vuốt ve. nắn lại chút trần gian quên
ngày đi có vạn dốc triền
cứ lăn. lăn mãi cũng quen ngấn chiều
dựa. ngồi với tảng hoang liêu
nghe lều thu vãn đôi điều nhớ thương
ơn nhau. giữ lại vô thường
và môi son nhạt mùi hương giảo trình

hoàng xuân sơn
5 nov. 2014

giác quan dự phòng

Hoàng Xuân Sơn

(tặng Phạm Đoan Trang)

đề phòng có ai bịt mắt
mình nghe bằng tai của trời
đề phòng có ai bịt mồm
mình nói bằng lời của gió

có ai lăm le đốn chặt
cây rừng và tay chân người
lo gì. mình sẽ chống nạng
rao giảng tình thương khắp nơi

có bọn rập rình hút máu
mình sống bằng thập tự đời
đàn vác trên vai khổ nạn
là còn xương thịt người ơi

hoàng xuân sơn
tháng ba mười chín

đề phòng có ai bịt mắt

mình nghe bằng tai của trời

đề phòng có ai bịt mồm

mình nói bằng lời của gió

có ai lăm le đốn chặt

cây rừng và tay chân người

lo gì.  mình sẽ chống nạng

rao giảng tình thương khắp nơi

có bọn rập rình hút máu

mình sống bằng thập tự đời

đàn vác trên vai khổ nạn

là còn xương thịt người ơi

hoàng xuân sơn

tháng ba mười chín

TẢN MẠN ĐÔI ĐIỀU VỀ TRÀ (Kỳ 1)

Nguyên Lạc

Li nói đu:

C Nguyn Hiến Lê,  thy tôi, có nói: “Mun hc điu gì thì hãy viết về điều đó“. Tôi đã áp dng câu này khi hc v Kinh Dch, thy rt có hiu qu. Nay tôi đang hc v thú ung trà, tìm hiu v trà,  tôi cũng s áp dng điu c Nguyn dy.

Như thông l, tôi tìm hiu sách v, bài viết ca tin nhân, ca các đàn anh thâm sâu v điu mình cn hc, ghi li có h thng cho d dàng nh. Xin hiểu cho, đây chỉ là những ghi chép vụn vặt trong quá trình học hỏi, nên chắc nó sẽ có rất nhiều thiếu sót, mong các bậc cao minh ch dn thêm. Tôi mo mui chia s nhng điu tôi đã ghi chép, gi đến các bn ri lng nghe nhng li phn hi,  góp ý chân thành đ chnh sa cho điu mình tìm hc đưc chính xác.

Tập tiểu luận này nặng về VĂN CHƯƠNG hơn NGHIÊN CỨU, chủ ý của tác giả là muốn cung cấp các bạn những điều “vui vẻ” trong lúc “trà dư tửu hậu”. Nếu các bạn muốn nghiên cứu sâu, xin hãy tìm hiểu các tác phẩm của các nhà nghiên cứu mà tôi đã sưu tầm, tham khảo. Đó là: Trà Đạo của tác giả Kakuzo Okakura, Niệm Thư của nữ sĩ Minh Đức Hoài Trinh, Trà Luận của nhà nghiên cứu Đức Chính, Trà kinh của Vũ Thế Ngọc, các bài viết của Nguyễn Duy Chính và trên FB  .v.v…

Nếu đc gi tìm thy đưc nhiu đu lý thú trong tp tiu lun này, thì đó là công ca các nhà nghiên cu mà tác gi sưu tm; còn nếu thy nó d, đy khiếm khuyết, thì đó là li ca tác gi bài viết, hiu biết còn quá nhiu hn hp, xin tha li cho. Trân trng

.

MỤC LỤC

Tiểu luận này được chia làm nhiều mục:

– Giới thiệu

– Vài bài văn thơ về trà

– Lịch sử, nguồn gốc phát triển và con đường đi của trà

– Sơ lược Trà Kinh của Lục Vũ

– Các hình thức trà

– Các loại trà, danh trà

– Cách trồng và chế biến trà

– Dụng cụ uống trà

– Các loại ấm trà danh tiếng

– Các loại chén uống trà

– Cách thức pha trà, thưởng thức trà

– Sơ lược về Trà Đạo Nhật Bản

– Phần phụ lục- Phiếm luận

*

Gii thiu:

Ông bà ta có câu “Khách đến nhà không trà thì rượu”. Với nhiều người, uống trà không chỉ đơn thuần là giải khát, mà còn là thú vui tao nhã thưởng thức hương vị thơm, ngọt, chát, nồng của ” Dịch thể ngạnh ngọc bào” – bọt của chất lỏng màu ngọc bích (Tên người xưa gọi nước trà). Trà, rượu và cà-phê là 3 thức uống hầu như hiện nay ai cũng yêu thích. Đối với cụ Trần Tế Xương thì : “Một trà, một rượu, một đàn bà/ Ba cái lăng nhăng nó quấy ta”. Về “yêu trà”, tôi xin dẫn ra đây vài lời của nữ sĩ Minh Đức Hoài Trinh, trong chương sách Nghệ Thuật Yêu Trà của bà, đại khái:

   – “Yêu là cả một nghệ thuật, mà đã là nghệ thuật thì cần phải có sự nghiên cứu kỹ càng, và sự hướng dẫn chu đáo. Muốn yêu ai thì cần phải tìm hiểu tính tình, biết cả từ tính tốt đến tính xấu, những ưu khuyết điểm, xét xem có thích hợp với mình không. Khi đã biết rõ rồi mới yêu thì tình mới bền. Trà cũng như người, cổ nhân gọi trà là Tình Nhân, và ngày xưa cũng như bây giờ có những người yêu trà, chờ đợi giờ phút được ngồi cạnh ấm trà như chờ đợi giờ phút hò hẹn với người yêu“- (Minh Đc Hoài Trinh)

Ngồi cạnh ấm trà một mình vào buổi sáng tinh sương hay với tri kỷ trong đêm khuya, thì không cần phải dùng đến lời nói; đọc cho nhau nghe một câu thơ, hay mỗi người nói một mẩu chuyện rồi thả tâm tư suy nghĩ; chẳng cần bàn cãi nhiều lời, khói trà và hương trà sẽ đưa hai tâm tư đến cùng một điểm. Hai người tri âm tri kỷ đã trở thành một.

Chúng ta hãy cùng nhau nhắp một chén trà. Ánh sáng xế trưa đương chiếu vào bụi trúc, dòng suối đương róc rách vui tai, và tiếng ngàn thông đương rì rào trong ấm trà của chúng ta. Hãy thả hồn mơ vào chỗ vô thường, tha thẩn trong cái vẻ cuồng dại mỹ miều của vn vật.

Lý Chi Lai, (Lichilai) một kẻ yêu trà,  một thi sĩ đời Tống đã cho rằng, đời có 3 mối hận nhất là : “Những thanh niên ưu tú bị hư hỏng vì một chế độ giáo dục sai lầm; những bức danh họa bị mất giá trị vì những kẻ phàm phu tục tử tán thưởng; và những cánh trà ngon bị hao phí quá nhiều vì những bàn tay bất tài vầy vò.

Trà không có cái tính chất tự tôn xằng như của rượu, tự ý thức như của cà phê, hay ngây thơ khờ khạo như của ca cao – (Bảo Sơn – Trà Đạo, dịch từ cuốn The Book of Tea của Okakura Kakuzo)

.

VÀI BÀI VĂN THƠ V TRÀ

.

Ghi theo trình tự trước sau:

 1. Thi nhân đời Đường , Lô Đồng – hay Lư Đồng ( 778 – 835 ) có bài thơ tả cảm giác khi uống trà được người đời khen xuất thần: Trà Ca  

.

Nhất oản hầu vẫn nhuận

Nhị oản phá cô muộn

Tam oản sưu khô trường

Duy hữu văn tự ngũ thiên quyển

Tứ oản phát khinh hãn

Bình sinh bất bình s

Tận hướng mao khổng tán

Ngũ oản cơ cốt thanh

Lục oản thông tiên linh

Thất oản khiết bất đắc

Duy giác lưỡng dịch tập tập thanh phong sinh

Lời dịch:

Chén thứ nhất làm trơn cổ họng

Chén thứ hai làm tan nỗi buồn phiền

Chén thứ ba thấm vào ruột đang khô héo

Chỉ còn lại năm nghìn cuốn sách

Chén thứ tư làm mồ hôi rướm ra

Những chuyện bất bình trong đời

Cũng theo lỗ chân lông mà bay đi

Chén thứ năm làm cơ thể sạch sẽ

Chén thứ sáu đưa ta tới cõi tiên

Chén thứ bảy không uống được nữa

Chỉ thấy hai bên cánh tay gió phần phật thổi

.

2. C Trần Tế Xương đã từng có bài thơ thở than:

.

Một trà, một rượu, một đàn bà

Ba cái lăng nhăng nó quấy ta

Chừa được cái nào hay cái nấy

Có chăng chừa rượu với chừa trà…”

.

3. Nhà văn Nguyn Tuân có truyện ngắn lý thú viết về trà “Những Chiếc Ấm Đất” – trong quyển Vang Bóng Một Thời. Xin trích vài đoạn:

“Ngày xưa, có một người ăn mày cổ quái. Làm cái nghề khất cái là phải cầm bằng rằng mình không dám coi ai là thường nữa; thế mà hắn còn chọn lựa từng cửa rồi mới vào ăn xin. Hắn toàn vào xin những nhà đại gia thôi và cố làm thế nào cho giáp được mặt chủ nhân rồi có xin gì thì hắn mới xin. Có một lần hắn gõ gậy vào đến lớp giữa một nhà phú hộ kia, giữa lúc chủ nhà cùng một vài quý khách đang ngồi dùng bữa trà sớm. Mọi người thấy hắn mon men lên thềm, và ngồi thu hình ở chân cột một cách ngoan ngoãn, mọi người không nói gì cả, để xem tên ăn mày định giở trò gì. Hắn chả làm gì cả, chỉ nhìn mọi người đang khoan khoái uống trà. Hắn đánh hơi mũi, và cũng tỏ vẻ khoan khoái khi hít được nhiều hương trà nóng tản bay trong phòng. Thấy mặt mũi người ăn mày đã đứng tuổi không đến nỗi bẩn thỉu quá, chủ nhân bèn hỏi xem hắn muốn xin cơm thừa hay là canh cặn, hay là hơn nữa, hắn lại muốn đòi xôi gấc, như kiểu người trong phương ngôn. Hắn gãi tai, tiến gần lại, tủm tỉm và lễ phép xin chủ nhân cho hắn “uống trà tàu với!”. Mọi người tưởng hắn dở người. Nhưng tại sao không nỡ đuổi hắn ra và còn gọi hắn lại phía bàn cho hắn nhận lấy chén trà nóng. Hắn rụt rè xin lỗi và ngý muốn được uống nguyên một ấm trà mới kia. Hắn nói xong, giở cái bị ăn mày của hắn ra, cẩn thận lấy ra một cái ấm đất độc ẩm. Thấy cũng vui vui và lạ lạ, mọi người lại đưa cho hắn mượn cả khay trà và phát than tàu cho hắn đủ quạt một ấm nước sôi, thử xem hắn định đùa định xược với bọn họ đến lúc nào mới chịu thôi. Hắn xin phép đâu đấy rồi là ngồi bắt chân chữ ngũ, tráng ấm chén, chuyên trà từ chén tống sang chén quân, trông xinh đáo để. Lúc này không ai dám bảo hắn là ăn mày, mặc dầu quần áo hắn rách như tổ đỉa. Uống một chén thứ nhất xong, uống đến chén thứ nhì, bỗng hắn nheo nheo mắt lại, chép môi đứng dậy, chắp tay vào nhau và thưa với chủ nhà: “Là thân phận một kẻ ăn mày như tôi được các ngài cao quý rủ lòng thương xuống, thực kẻ ty tiện này không có điều gì dám kêu ca lên nữa. Chỉ hiềm rằng bình trà của ngài cho nó lẫn mùi trấu ở trong. Cho nên bề dưới chưa được lấy gì làm khoái hoạt lắm”. Hắn lạy tạ, tráng ấm chén, lau khay hoàn lại nhà chủ. Lau xong cái ấm độc ẩm của hắn, hắn thổi cái vòi ấm kỹ lưỡng cất vào bị, rồi xách nón, vái lạy chủ nhân và quan khách, cắp gậy tập tễnh lên đường. Mọi người cho là một thằng điên không đý đến. Nhưng buổi chiều hôm ấy, cả nhà đều lấy làm kinh sợ người ăn mày vì, ở lọ trà đánh đổ vung vãi ở mặt bàn, chủ nhân đã lượm được ra đến mươi mảnh trấu”.

Ông cụ Sáu nghe khách kể đến đấy, thích quá, vỗ đùi mình, vỗ đùi khách, kêu to lên:

– Giá cái lão ăn mày ấy sinh vào thời này, thì tôi dám mời anh ta đến ở luôn với tôi để sớm tối có nhau mà thưởng thức trà ngon. Nhà, phần nhiều lại toàn là ấm song ấm quý.

– Cổ nhân cũng bịa ra một chuyện cổ tích thế để làm vui thêm cái việc uống một tuần nước đấy thôi. Chứ cụ tính làm gì ra những thứ người lạ ấy. Ta chỉ nên cho nó là một câu giai thoại.

– Không, có thể như thế được lắm mà. Tôi chắc cái lão ăn mày này đã tiêu cả một cái sản nghiệp vào rừng trà Vũ Di Sơn nên hắn mới sành thế và mới đến nỗi cầm bị gậy. Chắc những thứ trà Bạch Mao Hầu và trà Trảm Mã hắn cũng đã uống rồi đấy ông khách ạ. Nhưng mà, ông khách này, chúng ta phải uống một ấm trà thứ hai nữa chứ. Chẳng nhẽ nghe một câu chuyện thú như thế mà chỉ uống với nhau có một ấm thôi.

Thế rồi trong khi cụ Sáu tháo bã trà vào cái bát thải rộng miệng vẽ Liễu Mã, ông khách nâng cái ấm quần ẩm lên, ngắm nghía mãi và khen:

– Cái ấm của cụ quý lắm đấy. Thực là ấm Thế Đức màu gan gà. “Thứ nhất Thế Đức gan gà; – thứ nhì Lưu Bội; – thứ ba Mạnh Thần”. Cái Thế Đức của cụ, cao nhiều lắm rồi. Cái Mạnh Thần song ẩm của tôi ở nhà, mới dùng nên cũng chưa có cao mấy.

Cụ Sáu vội đổ hết nước sôi vào ấm chuyên, giơ cái ấm đồng cò bay vào sát mặt khách:

– Ông khách có trông rõ mấy cái mấu sùi sùi ở trong lòng ấm đồng không? Tàu, họ gọi là kim hỏa. Có kim hỏa thì nước mau sủi lắm. Đủ năm cái kim hỏa đấy.

– Thế cụ có phân biệt thế nào là nước sôi già và nước mới sủi không?

– Lại “ngư nhãn, giải nhãn” chứ gì. Cứ nhìn tăm nước to bằng cái mắt cua thì là sủi vừa, và khi mà tăm nước to bằng mắt cá thì là nước sôi già chứ gì nữa”.

(Những Chiếc Ấm Đất trong Vang Bóng Một Thời – Nguyễn Tuân)

…………

Ngày xưa người ta lắng đọng tâm hồn vào chén trà ngay trước khi nó được pha, các cụ thưởng thức trà ngay từ tiếng reo của nước đang đun nên tinh tế phân biệt ba loại nước sôi: độ thứ nhất là nước sôi “giải nhãn” trông như mắt loài cua (mới chớm sôi); độ thứ nhì là “ngư nhãn” tức bọt nước lăn tăn trông giống như mắt đàn cá đang lội gần mặt nước (sôi vừa); cuối cùng là nước sôi to. (Chú thích của Nguyên Lạc trích  từ Trà Kinh Lục Vũ)

.

4. Cái thú trong khi ch đi

Uống trà, cái thú không phải chỉ lúc uống mà cả khi trong lúc đợi chờ. Mời bạn đọc những trích đoạn này:

– “Rồi người khách khom người chui qua cánh cửa nhỏ cao không quá ba bộ để vào gian phòng. Bất cứ khách nào, quyền quý hay thấp hèn, cũng đều như vậy cả nhằm ý nói với khách về đức tính khiêm hạ. Khách theo thứ tự trước sau chờ nơi trì hợp (machiai), từng người một khe khẽ bước vào nơi ấy, nghiêng đầu chào bức họa hay bình hoa cắm đặt nơi sàng gian (tokonoma), rồi vào chỗ ngồi của mình không gây một tiếng động, Khi tất cả khách mời đều an tọa và một sự tĩnh lặng thật sư ngự trị, ngoại trừ tiếng nước reo trong ấm sắt, chủ nhân mới bước vào phòng. Những miếng sắt xếp khéo léo dưới đáy ấm reo lên nghe rõ theo một giai điệu lạ kỳ tuồng như tiếng vọng của thác nước bị mây che khuất, nghe như tiếng biển nơi xa xăm dập dồn vỗ vào vách đá, tiếng phong ba quét rít qua các bụi tre rừng, hay tiếng thông reo trên ngọn đồi xa lắc”– (Trà Đạo – Bảo Sơn dịch từ cuốn The Book of Tea của Okakura Kakuzo)

– Trong truyện ngắn “Chén trà trong sương sớm”, Nguyễn Tuân còn thi vị hóa việc đun nước pha trà, cho từng hòn than ngọn lửa một linh hồn và linh hồn đó hòa nhập vào người thưởng trà:

 “Thỉnh thoảng, từ hòn than tự tiêu diệt buột ra một tiếng khô, rất khẽ và rất gọn. Thế rồi hòn than sống hết một đời khoảng chất. Bây giờ hòn than chỉ còn là một điểm lửa ấm ấp trong một cái vỏ tro tàn dầy và trắng xốp. Cụ Ấm vuốt lại hai mái tóc trắng, cầm thanh đóm dài đảo lộn tàn than trong hỏa lò, thăm hỏi cái hấp hối của lũ vô tri vô giác. CẤm bỏ thêm một vài hòn than hoa nữa vào hỏa lò. Than hoa không nổ lép bép như than tầu; nhưng từ ruột ấm đồng bị nung nấu đã lâu, có tiếng thở dài của khối nước sắp biến thể. Nước đã lên tiếng để nhắc người ta nghĩ đến nó.”- (Chén trà trong sương sớm – Nguyễn Tuân)

.

5. Các bài thơ gn đây v trà

– Thi sĩ Trần Phù Thế có bài thơ về trà:

Nhìn cốc trà bốc khói

Buổi sáng trời âm u

Cách ly, cách ly dịch

Một mình giỡn với thơ

.

Đưa cốc trà lên môi

Uống từng ngụm nho nhỏ

Nghe mùa thu than thở

Nghe mùa thu cựa mình

Hương trà như hương gái

Thơm thơm tuổi trăng rằm

Lòng ta như trẻ lại

Rộn ràng tuổi mười lăm

Nhâm nhi cốc trà sáng

Nghe lòng chút bình an …

(Buổi sáng uống trà một mình – Trần Phù Thế)

–  Thi sĩ Võ Thạnh Văn có bài thơ về trà:

Trà Vũ Di – Ấm Nghi Hưng

Lò đun gỗ quế. Nước chưng suối dòng

Hồn Lục Vũ – Phách Lô Đồng

Má thơm hương sớm. Môi hồng nhụy khuya

(Xuân Trà Tụng – Võ Thạnh Văn)

.

–  Thi sĩ Trần Bảo Kim Thư có bài thơ về trà:

Mỗi sáng nhấp môi mấy tách trà

Hương thơm thoang thoảng quyện bay xa

Thái Nguyên, Bảo Lộc … mùi tinh khiết

Long Tỉnh, Quan Âm … chất đậm đà

Cậu trẻ yêu đời luôn xoắn xuýt

Lão ông thích chí mãi khề kha

Sớm chiều đối ẩm cùng bè bạn

Rõ thú thanh nhàn đệ nhất đa!

(Trà – Trần Bảo Kim Thư)

.

–  Cảm xúc riêng của tác giả bài viết về trà:

a.

Thức dậy pha trà sáng nguyên xuân

Mời em, hãy cạn chén thơ anh!

Vị có ngọt ngào hay cay đắng

Vẫn chúc đời nhau vạn sự lành!

(Chén Trà Nguyên Xuân – Nguyên Lạc)

b.

Thiết quan âm, Trảm mã trà?

Hầu trà, Trinh nữ hay trà Kỳ Môn?

Sang hèn, danh lợi có không

Tri âm, tri kỷ chén lòng nhớ lâu

.

Mời người ta hãy cùng nhau

Chén trà nhân ái đẹp câu Đạo trà *

(Chén Trà Nhân Sinh- Nguyên Lạc)

…………

 Trong các bài thơ trên:

– Lục Vũ , Lô Đồng là các Trà thánh, Trà thần của Trung Hoa

– Ấm Tử sa Nghi Hưng: Thế Đức, Lưu Bội, Mạnh Thần là loại ấm trà/ trà hồ nổi tiếng của Trung Hoa

– Trảm mã trà, Hầu trà, Trinh nữ trà, Thiết Quan Âm trà – một loại Ô long trà (trà Oolong), Trà Vũ Di, Kỳ Môn Hồng trà … là những loại trà tàu có tiếng. Trà Thái Nguyên , Bảo Lộc là của Việt Nam.

– * Trà Đạo, tác giả Kakuzo Okakura (1862 – 1913), một nhà nghiên cứu về trà lừng danh của Nhật Bản. Ông  đã viết: “Trà Đạo là một tôn giáo lập ra để tôn sùng cái đẹp trong những công việc tầm thường của sinh hoạt hàng ngày. Nó là nghi thức của đức tinh khiết và sự hòa hợp; nó làm cho người ta cảm thấy sự huyền bí của lòng hổ tương nhân ái và ý nghĩa lãng mạn của trật tự xã hội”. Theo ông, triết lý của Trà Đạo không phải chỉ là một chủ nghĩa thẩm mỹ đơn giản theo ý nghĩa thông thường của nó, vì triết lý này cùng với luận lý và tôn giáo biểu thị tất cả quan niệm của chúng ta về con người và tạo hóa”.

Chúng ta sẽ gặp các điều kể trên lần lượt trong các phần sau.

.(Còn tiếp nhiều kỳ)

Nguyên Lạc

NGÔI CHÙA CỔ TRÊN NÚI CHÂU THỚI

Ký PHAM NGA

Rằm tháng Tám vừa rồi, cũng là Tết Trung Thu vốn năm nào cùng rộn ràng vui vẻ, nay tiếc là cái dịch Covid 19 hiện vẫn còn đe dọa nên chùa Phổ Quang (Phú Nhuận) dù vẫn nghi ngút khói nhang nhưng rõ ràng là khá vắng khách thập phương.
Lâu nay, cứ ngày rằm hay mùng 1 là vợ chồng tôi hay đi chùa, riêng tôi còn có job riêng là chụp ảnh. Trong bộ sưu tập ảnh các chùa, đình, miếu, lăng, đền… của mình, tôi tâm đắc nhất là các ngôi chùa cổ. Từ lâu rồi, đã lặn lội săn ảnh chùa chiền khắp các vùng gần/xa Sài Gòn, trí nhớ tôi lại đặc biệt ghi đậm hình ảnh Châu Thới sơn tự ở thị xã Dĩ An, Bình Dương, mà tôi đã đến khoảng năm 2007, 2008…

Thời đó, ngay ranh giới hai tỉnh Bình Dương với Đồng Nai, đường quốc lộ 1K còn đang sửa chữa, đào xới ngổn ngang, bụi đường mù mịt. Đứng ở vệ đường nhìn lên núi Châu Thới, tôi thấy thấp thoáng một mái chùa bèn quẹo xe luôn vào một con đường nhựa gần đó. Nhưng cánh cổng đóng kín của cơ quan tên là Công ty cổ phần Bê tông 620 đã ngăn tôi lại. Đường cấm! Một người dân chỉ cho tôi đi lối khác, là phải trở ra quốc lộ, cứ thấy bên kia đường có bảng hiệu lò gốm “T&C” thì bên này là đầu một con đường khác dẫn lên Châu Thới sơn tự.
Con đường nhỏ, cũng được cán nhựa nhưng mấp mô và lở lói, dành cho khách thập phương dài khoảng 1 cây số, phình rộng trước cổng tam quan chùa rồi uốn éo thêm chừng nửa cây số nữa mới dẫn vào chùa. Nhưng như để tỏ lòng thành, thay vì dùng xe hai bánh, xe hơi nhỏ chạy thẳng lên chùa, một số khách hành hương chọn cách leo núi từ cổng tam quan. Một tư liệu cho biết núi Châu Thới chỉ cao 85 mét và con đường bậc thang chỉ bắt đầu từ lưng chừng núi nhưng dưới ánh nắng gay gắt, phải nói là vất vả, hụt hơi khi phải leo tới 220 bậc xi măng. Ân cần chia sẻ nỗi khó nhọc của khách leo núi, đám người ăn xin ngồi rải rác ở các bậc thang đã xua đuổi mấy con bò cứ vô tư gặm cỏ, đứng choáng cả mặt đường. Họ thi nhau mời bà con nghỉ chân, ghé vô mấy sạp bán đồ giải khát để nằm võng, dùng nước cho khỏe rồi chỉ xin bố thí cho “năm trăm” thôi. Thấy tấm bảng “xưng xâm lạnh, mát” tô đậm nét, treo trước một quán cóc thì tôi cảm thấy càng khát nước hơn nhưng đành thôi, vì còn phải leo tiếp lên cao để chụp ảnh mấy bà thầy bói. Cũng mời chào khách ngồi xuống chiếu của mình để coi “tình duyên, gia đạo”, nhưng một ông thầy có vẻ điềm đạm hơn, lo sửa sang lại bình hoa trong mâm thờ tượng Quan Âm bày trên chiếu, trong mâm có cả một con búp-bê gái nhồi bông…
Cổng chùa hiện ra trước sự phấn khởi của những ai đổ mồ hôi leo núi. Tôi dừng bước để …thở, cũng kịp nhận ra rằng trước mặt mình là cổng sau chùa Châu Thới. Khuôn viên chùa rộng mênh mông nhưng khi đã vượt qua cổng chùa, mấy chiếc xe hơi vẫn chầm chậm chạy tiếp dọc theo hông chùa để vào bãi đậu nằm ở khu vực mặt tiền ngôi chùa.
Theo đài điện thoại 0650.1080, chuyên giải đáp mọi thứ câu hỏi về địa phương tỉnh Bình Dương, chùa Châu Thới được xây năm 1612, tính đến nay đã được 395 năm, nhưng theo nội dung của tấm bảng cắm ở cổng tam quan, đến năm 1989 chùa này mới được công nhận là một di tích lịch sử – văn hóa, khi chùa còn thuộc địa phận huyện Thuận An, tỉnh Sông Bé, chứ không phải thuộc huyện Dĩ An, tỉnh Bình Dương như hiện giờ. Nhìn chung thì đây là một ngôi chùa cồ được xây theo lối kiến trúc chùa Trung Hoa, thuộc phái Phật giáo Bắc tông. Phù điêu hình rồng bay, phượng múa có mặt khắp trong khuôn viên chùa, từ những ngai thờ Tam vị Phật tổ, Di Lặc Bồ tát cho đến chỗ thờ Quan Công, Thái Thượng Lão quân… Cũng do ảnh hưởng của Khổng giáo và Lão giáo vốn đã đề huề, hòa hợp với Phật giáo trong tín ngưỡng văn hóa người Trung quốc tự xa xưa, cả Sơn thần – không thuộc hàng ngũ các vị Phật, Bồ tát trong Phật giáo – cũng chễm chệ ngồi trong một ngôi miếu nhỏ gần bãi đậu xe.
Vì ở mặt tiền chùa không có lối vào chánh điện, tôi theo chân một đoàn hành hương vòng ra phía sau chùa, len qua một khung cửa rất hẹp mới lọt được vào điện thờ Bồ tát Quan Âm. Khói hương nghi ngút, tượng Quan Âm được choàng bộ y áo thật lộng lẫy, lấp lánh nhũ vàng nhũ bạc, trông không khác chút nào so với những bộ áo mão rất diêm dúa, nặng nề do một số thương gia, nghệ sĩ cải lương dâng cúng Bà Chúa Xứ ở chùa Bà Châu Đốc hay bà Thiên Hậu ở chùa Bà vùng Chợ Lớn. Ngược lại, ở điện thờ Phật Di Lặc mà phía sau lưng vị Phật có diện mạo rất vui vẻ, xuề xòa này là tượng Phật Thích Ca Mâu Ni, có gì đó “nam tính” hơn, thật sự trang nghiêm hơn, khi tượng đồng của cả hai vị Phật đều được miễn phần y áo thướt tha, tua ren đủ màu đủ sắc! Gần đó là hai vị sư và một vị cư sĩ tóc dài chỉ mặc nâu sòng mộc mạc, chăm chú giải đoán các lá xăm cho khách hành hương. Tôi nhớ, khi nhận lời coi thêm về tình duyên, gia đạo, phong thái của ba vị này thật đạo mạo, khác hẳn mấy bà, ông thầy bói ngồi dưới đất, và cổng chùa đã là lằn ranh giới hạn địa bàn hoạt động của họ cùng giới hành khất.

Khi theo chân mọi người len lách tìm lên khu tầng trên của chùa bằng những đoạn thang lầu rất hẹp, tôi nhớ đã nghe mấy bà Phật tử ồ lên xôn xao “ Kìa, đằng kia kìa, Phật ngàn tay ngàn mắt!”. Cái điện thờ Phật Thiên Thủ Thiên Nhãn cùng Long Thiên Hộ pháp này chỉ rộng khoảng 4mx5m, được một nhóm cư sĩ góp công góp của xây dựng trong 2 năm và hoàn thành năm 1991. Màu sắc tưới rói như được tô vẽ mới ngày hôm qua, nhất là trên màu da “ngàn cánh tay” và đôi môi đỏ chót của tượng Phật. Và dù điện thờ này nhỏ hẹp như thế vẫn đủ chỗ cho một thùng công quả, có mặt bình thường như những thùng công quả, công đức khác được đặt trước mỗi điện thờ, bệ thờ trong nội điện cũng như ngoài sân chùa.
Lúc đó, thấy một bác lớn tuổi đang ngồi nghỉ ở một băng đá trong sân chùa, tôi bước đến ngồi bên cạnh và xin phép hỏi vài câu. Bác cho biết là sư Huỳnh Lý, trụ trì chùa, thường vắng mặt ở chùa do nhiệm vụ lớn lao của mình trong ban lãnh đạo trung ương hội Phật giáo trong nước. Dù vậy, giới Phật tử luôn nhắc đến thầy Lý qua cuộc đấu tranh không khoan nhượng đối với ông Sơn, khi đó là giám đốc Xí nghiệp khai thác đá số 3. Vài năm sau ngày 30/4/75, xí nghiệp này đã kéo máy móc, công nhân đến lưng chừng núi Châu Thới, ra sức đục đẽo, dùng chất nổ bắn phá đá núi. Cái công trường khai thác đá khốc liệt này đã làm vạt hẳn phần vách núi ở khu vực mặt tiền nhà chùa nhìn xuống. Khách thập phương vắng bóng hẳn. Sư Huỳnh Lý đã miệt mài khiếu kiện suốt từ tỉnh ra đến Hà Nội thì công trường chỉ chuyển hướng phá núi là đào sâu xuống đất, tạo thành một cái ao khồng lố ngay chân núi. Sau cùng thì trung ương ra lịnh cho Xí nghiệp số 3 phải rút quân, dời công trường đi chỗ khác tuy không rời bỏ vùng núi Châu Thới. Trong 10 năm gần đây, tình hình đã tạm yên tĩnh, sư trụ trì chùa tổ chức, kêu gọi bá tánh góp sức trùng tu, xây dựng lại ngôi cổ tự. Khách thập phương đã đến chùa đông đảo trở lại…
Chỉ vào một nhóm tượng bên hông chùa, diễn lại cảnh các vị sư và muôn thú quần tụ trước Phật Thích Ca ngồi trên tòa sen, bác lớn tuổi còn cho biết đó là một trong những công trình tạo ấn tượng nhất qua các đợt chùa trùng tu suốt từ trong chánh điện ra tới khuôn viên.
Cám ơn bác Phật tử “thạo tin”, tôi đã ra đứng tựa vào bờ thành đá xanh bao lấy khuôn viên chùa, ngó mông lung. Cảnh quan khu vực chân núi cùng con đường bậc thang khi ấy rất khô hanh, cây cỏ còi cọc, cháy vàng và phủ đầy bụi đỏ. Nghe nói ở vùng này đã có hệ thống nước máy nhưng nước quá yếu nên người dân tiếp tục dùng nước giếng nhiễm phèn, mà phải đào sâu hơn 50 mét thì phèn mới giảm. Khi quay nhìn về phía phần sau và bên hông chùa, tôi đã thấy màu nâu sậm của những loại đá cổ xưa trông mát mẻ được phần nào. Tôi mường tượng lại khu điện thờ Phật Di Lặc và Phật Thích Ca. Hình như trong toàn bộ nội thất nhà chùa, cái màu nâu đồng – trầm mặc và yên nghỉ – nơi hai pho tượng lâu đời này mới ít nhiều còn ẩn chứa những dư âm, dư ảnh của quãng thời gian gần bốn thế kỷ đăng đẳng mà ngôi cổ tự này đã trải qua. Tôi cũng đã cảm thấy trong lòng yên ả, nhẹ nhàng khi nhìn những cặp chân đèn và áng thờ bằng gỗ gụ sẫm đen, hay đôi liễng phủ nhũ vàng mà những nét chữ Hán mực đỏ đã bạc màu thời gian.
Không có gì phải nghi ngờ về công lao của vị sư trụ trì chùa Châu Thới trong cuộc đấu tranh kéo dài hằng chục năm dài để bảo vệ cảnh quan, nền móng nhà chùa và giành lại bầu không khí yên lành, tĩnh tại cho nơi thờ phượng Phật tổ, cũng như những nỗ lực lớn lao của sư nhằm tổ chức, vận động cho công trình trùng tu chùa, tôn tạo ngôi chùa duy nhất trên núi Châu Thới – ngôi cổ tự đẹp đẽ, nổi tiếng khắp các tỉnh miền Đông nam bộ trong suốt mấy thể kỷ qua… Tuy nhiên, riêng tôi đã cảm thấy nơi diện mạo đã tôn tạo cho ngôi cổ tự có chút gì đó ít nhiều gây ảnh hưởng tiêu cực đến tính chất và giá trị cổ xưa rất quí báu của di tích lịch sử văn hóa Châu Thới sơn tự. Đó là sự lạc lõng, xa lạ nơi một số chất liệu “hiện đại”có mặt đây đó trong chùa, như những bảng đèn, vòng đèn néon đem trang trí các bệ thờ hay đem làm thành vầng hào quang trên phần đầu các pho tượng cổ, cùng những mảng màu sơn đỏ, vàng, xanh, tím…tươi chói, đầy vẻ phô trương, có phần lạm dụng khi sơn phết, sửa sang lại chỗ này, chỗ kia trong ngôi chùa có số tuổi đến gần 400 năm này.

PHẠM NGA

(Biên tập lại, Trung Thu Canh Tý 2020)
.

Thơ Võ Công Liêm

CÂY SỨ CHẾT BỆNH COVID

ký thác một đời nơi cửa không
hơn thế kỷ qua
nắng mưa đi vào ngõ ngách
ngoài sân chùa ba đồn
huế nơi chôn
kỷ niệm xưa
không ai nhớ
những cái chết
vô gia cư
vô điạ táng
và họ đến đây
trong lăng mộ vô hình
chẳng nghe kinh kệ
hay chuông mõ
chỉ nghe hương
sứ trổ bông
vàng thơm một thuở
lặng đứng cúi đầu
không tiếc nuối
nhiễm bệnh dịch
covid chết đêm qua
những viên gạch đỏ
ướt đầy mi mắt
mùa lũ ngang qua
thắp nén nhang đêm
rước về trời
cành nhánh rách bươm
đọng nước mắt khô
không chiêng trống
không tế lễ
một đời tu
thân khổ hạnh
cho trời thôi mưa
đêm nay . nơi chốn ba đồn .

(võcôngliêm . Xuân Canh Tý ở Huế 3 / 2020)

LỆ CHO MỘT MÙA ĐÔNG

đêm qua tuyết xuống để tang
mái nhà cổ bịt khăn
không gian khóc rũ rượi
dưới tàn cây sầu đông

tôi . phúng điếu bài thơ
không tựa đề
lệ cho một mùa đông
tôi cào xé tôi
gió không đưa tiễn
cuối cùng
tôi rút dao đâm linh hồn tôi
chôn luôn một thể ./.

(võcôngliêm . Xuân Giáp Tý ở ca. ab. yyc 2 / 2008)

NHỮNG CHUYỆN TÌNH

                           

 gởi: lê thị huệ (gió O).

1. BUỒNG TRỐNG

   Quyên nhấp nháy đôi mắt lá răm, đưa tay chụi vào mắt, nắng bên ngoài đã lên cao. Nàng mở to mắt nhìn qua cửa sổ; cảnh vật trong và ngoài nhà lặng chìm như bãi hoang. Nắng xối vào nhà thứ ánh sáng nhạt nhòa với một âm khí khó thở, lạnh ngắt, không một tiếng rì rào hay tiếng gió từ ngoài thổi vào.  

Quyên còn nằm trên giường, đưa mắt nhìn mọi thứ xung quanh gần như không mấy để tâm. Chiếc bàn tròn bằng gỗ thông cũ kỹ, bạc màu sơn như ván hòm, trên bàn chén, tách, nửa ly nước trong, cái đĩa con cá xanh đựng vài ba trái ổi sẻ chín rục, hai trái chuối mật ngã màu nâu như muốn xé vỏ ra chiên; tất cả đều nằm đó từ ngày hôm qua. Hai cái ghế một ở cạnh bàn ăn, một đặc ở giữa căn buồng, cà hai là ghế gỗ đời xưa. Ở góc trái kê cái bàn nhỏ có nồi cơm điện và lò nấu. Bước tới một khoảng là nơi tắm rữa. Quyên nhìn từ vật này đến vật khác, có lẽ; cái tủ áo quần bốn ngăn kéo được nàng chú ý đến. Quyên không chịu dậy, trăn trở với chăn gối. Nhìn vào bốn bức tường, Quyên nói chuyện với trần nhà, nói chuyện với tủ áo quần, nói chuyện với con thằn lằn trên vách nhà. Nàng sải đôi cánh tay trên giường, chân đạp chọi trong chăn. Nàng đưa tay xuống dưới gãi vào háng. Nàng ngừng lại và nhìn mông lung một cách say đắm. Quyên bung người kéo quần lót lên cao và đi thẳng tới chỗ tắm. Tóc ướt rớt trên vai. Phơi nắng bên cửa sổ, mình trần. Nhìn ra ngoài sân hai con chim sẻ đang đập cánh vào nhau. Quyên nhớ tới Thức. Bên kia tường bằng gạch, vôi lở; tuồng như buồng chưa có người thuê.

2. TRỞ VỀ

   Lên đệ nhị cấp là lúc Mai Trâm cảm thấy có thay đổi trong người, đổi thay từ vóc dáng đến tâm hồn. Nàng tỏ ra trầm lắng hơn xưa, nhiều suy tư về cá nhân cũng như về đời. Những bạn đồng lứa nghe đâu đứa có ‘bồ’ đứa có người yêu. -Chắc chắn đẹp lắm mới có người để mắt. Mai Trâm thầm nghĩ. Nàng cũng muốn có như người ta có để được mộng mơ, để được nâng niu.Trên đường từ trường về, ngọn gió chiều ập tới thổi ngược chiếc áo dài màu lam ngọc lên cao che cả mặt mày; nàng chới với và tỏ ra thẹn thùng. Tâm hồn nàng luôn rạo rực, rạo rực vô cớ nhưng cảm thấy yêu đời. Nàng mỉm cười.

Nghe lệnh song thân. -Cuối năm đỗ đạt hay không phải đi lấy chồng. Cha nói. Chưa bao giờ trong đời nàng có một cái ‘sốc’ lớn như vậy. ‘Tuổi đá buồn’ cần có hẹn hò trăng nước với thiên nhiên với người tình đó là niềm ao ước và tự hào so với bạn đồng niên. Từ chỗ đó Mai Trâm buồn và tuyệt vọng, bởi; đời là cả một cuộc trá hình, có dự mưu. Lễ giáo cổ truyền là luật ‘ép dầu mỡ’, buộc vào những điều vô lý và cho tình yêu là tội ác. Mai Trâm đau nhói con tim dù chưa một lần đụng tới tình yêu.  

Mai Trâm bây giờ là hai mươi lăm, một người đàn bà có nhan sắc, có chồng con. Cái sự vây quanh trong đời sống mỗi lúc tăng thêm tầm thường; sáng đi chiều về, nồi cơm trách cá không tìm thấy ‘thiêng liêng’ của tình yêu hòa vào trong đó; dù là làm tình bên nhau. Mai Trâm muốn khám phá cái mới lạ của cuộc đời hơn là sống trong bốn bức tường tù đày. Mai Trâm muốn tìm thấy giá trị nơi con người mà nàng cảm thấy hụt hẫng như đã một lần trong đời. Nàng bỏ lại tất cả và ra đi.  

Đến Đà Nẵng thì trời chập tối. Nàng đi thăm cảnh quang để hòa điệu vào đời bằng những gì lý thú, đổi thay tâm hồn mà bấy lâu nay như chim trong lồng, khát một bầu trời tự do. Trong đám người tham quan, người ta đua nhau chụp hình cảnh đẹp, vai kề vai. Mai Trâm lặng bước trong một suy tư khác của nửa vời, của vắng bóng gia đình. Cảnh vật chung quanh biến mất. Hình như nàng ân hận điều gì? Mai Trâm quyết đuổi để tìm thấy sự đổi thay của tâm hồn. Sau lưng Mai Trâm nghe như có người đang chụp hình về mình. -Nếu cô cho phép được chụp hình cô. Người thanh niên nói. Rất đổi ngạc nhiên lời yêu cầu đó. Mai Trâm cười và đồng ý để cho chàng thực hiện. Điều người ta muốn, có lẽ; như mình muốn. -Tôi thích chụp hình cô. Cô đẹp! Người đàn ông nói. Thật ngẫu nhiên và từ đó họ cảm  thấy hào hứng trong chuyến đi chơi xa. Họ trao đổi tự nhiên như đã quen nhau. -Anh còn đi học hay đã đi làm? MaiTrâm nói. -Tôi đi làm. Người đàn ông nói. Bên tách cà phê Mai Trâm không e lệ, không ngại ngùng trước kẻ lạ mặt. Khi khám phá ra đàn ông ở chính mình thì hình như họ không đáng sợ. Sự thật của đàn ông chỉ có một nửa trong đó. Nhưng; chàng thanh niên nầy có phần khác lạ và hấp dẫn hơn. -Quên hỏi anh tên gì? Mai Trâm nói. -Kha, Vũ Kha. Người đàn ông nói. -Tôi Nguyễn thị T. Mai Trâm nói. Từ chỗ đó họ gần như tình tự hơn, không ngại nghi mà cả hai đã tìm thấy sự thật của mộng mơ. Như đã tin nhau họ có những cuộc hẹn hò chớp nhoáng; cả hai đã rơi vào tình yêu.

Đêm ở tỉnh lẽ; tình yêu buộc họ phải làm tình, tác động đó cuộn vào nhau ở tuổi chín muồi; họ ôm lấy nó như khát khao, họ thỏa thê nó như giấc mơ, họ làm tình nó như chưa bao giờ làm tình. Họ nhận ra cái giá hạnh phúc của tình yêu là ở đó… Di động hiện ra. -Xin lỗi tôi có điện gọi.Vũ Kha nói. Ngồi trên giường Mai Trâm nghe rõ lời đối thoại của người tình. Tuyệt vọng. Nàng vội vã thu xếp và đón xe về lại chốn cũ. Tới quê nhà, trời đã ráng chiều, đèn đường bực sáng. Định đón Mai Trâm ở phi trường. -Anh và con nhớ em. Anh đưa em đi ăn phở nhé. Định nói. Mai Trâm ví mình như con dê tế thần chưa toát hết mồ hôi. Chuyến đi giải trí của nàng chỉ là giấc mơ không thực giữa đời này. Nàng đã vượt biên giới không gian để tìm thấy. Lần trở về Mai Trâm nhận ra ở chính mình một tình yêu lớn hơn.

3- TRỘM TÌNH

   Phúc và Yến lấy nhau ở tuổi thanh xuân. Tính ra họ sống bên nhau có ba mặt con, một trai hai gái. Cả ba trẻ mặt mày khôi ngô và tính khí không giống Yến. Bề ngoài của Phúc hiền lành, ít nói; nhìn qua như người mắc chứng lãnh cảm. Yến yêu chồng sáng đi chiều về, mọi ngày như mọi ngày ngoại trừ đi công tác xa. Yến vui vẻ, an tâm cho người chồng hiền lành giữa cảnh đời lắm thứ bon chen.

Phúc giám đốc cho một công ty sản xuất, bên cạnh có nhiều cộng sự viên; đứng về mặt tình cảm thì không mấy ai thân tình với Phúc. Ít ăn, ít nói, vô tư của Phúc được người ta tín nhiệm và làm ăn cho tới ngày nghỉ hưu. Về già người Phúc trầm lắng hơn, đưa mắt nhìn xa, không ai biết trong người Phúc nghĩ gì mà thường vác mặt nhìn trời. Vợ khuyến khích nên đi dã ngoại cho tâm hồn thư thới. Phúc nở nụ cười hài hòa. Và; từ đó thường hay đi lại lắm lần. Nhớ lại; hồi mới nhậm chức ở công ty là một chạm trán với Nhi (người đẹp của công ty). Phúc Nhi gặp nhau bất chợt ở cuối phòng vật tư. Qua câu chuyện bình thường họ thầm yêu; một bên nhan sắc, một bên làm lớn. Hợp ý đôi bên. Cơ quan chẳng ai để tâm và tin chắc Phúc không phải hạng ‘ăn chơi’ cho nên trong sạch từ tinh thần tới thể xác. Phúc giữ thói quen tợ như ngựa quen đường cũ thích đi dã ngoại hơn ở nhà. Sự im lặng tuyệt đối chỉ có mình Phúc biết; không một ai nhận ra bên trong con người ‘lãnh cảm’ đó. Nghỉ hưu đâu được hai năm Phúc chết đột ngột chưa kịp viết di chúc. Toàn quyền trong tay Yến. Trong buổi lễ động quan, khách và thân hữu đến tiễn đưa người bạn, người thân hiền lành sớm ra đi. Tang gia đang bối rối có một khách lạ, Yến nghĩ là nhân viên cũ của Phúc đến đưa đám. Đi bên cạnh với một thanh niên chừng hai lăm tuổi. Mặt rũ rượi không nói. -Thưa chị em là Nhi và đây là Lợi. Con của anh Phúc đấy!

VÕ CÔNG LIÊM (ca.ab.yyc. Cuối 9/2019)

TRANH VẼ: ‘Buồn ơi chào mi / Bonjour Tristesse’ Khổ 15” X 22” Trên giấy cứng. Acrylics+House-paint+Acrylic-pen. Vcl#1112013.

                                                                      BUỒN ƠI CHÀO MI / BONJOUR TRISTESSE