Thơ Hoàng Xuân Sơn

C Ò N Đ Ó

Núi rừng còn lại hốc khô
những viên đá cuội mơ hồ tung bay
tôi đi khe suối hao gầy
con sông chết sớm mùa mây tự trầm
đi đi. tao tác hồ cầm
xốn xang đờn nhị nâu bầm phách lan
đi đi cùng nỗi tan hàng
cùng neo gắng gượng tình tang mỏ người
quặng buồn như tuổi thôi nôi
ô hay đá cũng ngậm ngùi xuân xanh*
đi đi vào một khúc quành
lọt vô khúc rẽ vàng hanh nỗi đời

tháng 5/2020
*ý, Trịnh Công Sơn

T Ĩ N H V Ậ T

                    [ lẻ loi hồn cũ
                      cương cường điệu tân ]*

chiếc xe đạp đạp một mình
trên lối cỏ

tôi đi bộ theo chiếc bóng
bên ngoài rìa cây

lá buông bỏ
một đoạn tình

22.9.20
*( Lục Bát HXS)

l Á c UỘ i

Tôi vẫn đi tìm chút hạnh phúc người đánh rơi dọc đường
hôm nhặt được viên sỏi
ngỡ là hồng ngọc ban mai
hóa ra khuôn ngực trời
đã chớm cùng thu muộn

[7:03 am]
7.8.20

v Ô đ Ề

Kiệm lời với hư không
đêm
bóng trăng thủ thỉ

  1. sept. 2020

TẢN MẠN VỚI “SAY CỐ NHÂN” THƠ TRẦN MAI NGÂN

Châu Thạch

SAY CỐ NHÂN

Rót một ly gọi nhau cố nhân
Một ly xin lỗi hết ân cần
Con đường thẳng tắp xa nhau mãi
Mùa hạ cháy nồng hay xuân phai

Rót một ly ta say, ta say
Bóng em trong đáy cốc hay ai
Chiều nay giăng tím chiều hôm ấy
Em đến bên trời ta mơ hoa

Rót một ly xin lỗi nhạt nhoà
Ký ức bây giờ như vệt tro
Rải trên sông lạnh làm tang chế
Khóc một thời yêu “dáng hoa” xưa…

Rót một ly uống hết không chừa
Nỗi đau, nỗi nghẹn bình rượu đắng
Khứa nát linh hồn ta như dao
Nhớ em ta uống cạn nghìn sau…

Cứ thế ta uống cùng gió sương
Tình em… xin nợ một vết thuơng
Rót thêm ly nữa sầu cô quạnh
Em biết gì không… sao xa nhau !

Em biết vì sao ta xa nhau
Em biết gì không sao xa nhau !

Trần Mai Ngân
9-3-2019

Tản mạn; Châu Thạch

Không ngờ một phụ nữ lại làm thơ như một hảo hán. Đọc bài thơ tôi lại nhớ đến những nhà thơ mà tôi có diểm phúc được ngồi uống rượu với họ như Kha Tiệm Ly, Lê Giao Văn, Lê Đình Hạnh, Lê Thiên Minh khoa, Nguyên Bình, Ngã Du Tử, Hải Thụy, Du Phong, Lang Trương…vv.

Ngồi với những nhà thơ say nầy, tôi thấy mình nhỏ bé lại, nhưng cũng ngập tràn trong lòng sự thích thú. Nhìn họ cụng ly say sưa, đọc thơ nghiêng ngã, mình cảm tưởng như được nhìn những cơn phong ba bão táp đang dậy lên, vừa cuồng nhiệt vừa ướt át làm mê say con mắt ái mộ của mình. Nhìn họ, như đang nhìn những sự kiện ghi lại trong lòng dấu ấn hạnh phúc. Nhìn họ, như được ngắm những hình tượng nghệ thuật hóa thân thành người trước mắt. Nói như thế có quá không?, nhưng thật thì trong lòng tôi như vậy.

Thật tình, tôi thích ngồi với những nhà thơ hơn là đọc thơ của họ. Đọc thơ thì chỉ là nhìn cái bóng của tác giả. Ngồi với nhà thơ, tức là tiếp xúc trực tiếp đến tận nguồn thơ, vì người thơ chính là nguồn thơ vậy.

Tôi có may mắn gặp nhà thơ Trần Mai Ngân một lần, nhưng chỉ được đưa đi thăm sông nước Vĩnh Long, ăn trưa cùng các bạn tại nhà hàng trong khu vườn sinh thái, nhưng chưa có cơ hội được ngồi uống rượu cùng bạn ấy. Hôm nay đọc bài thơ “Say Cố Nhân” của Trần Mai Ngân viết cho một chàng trai nào đó, nhưng biết đâu có thể viết cho chính mình vì nhà thơ thường dấu tâm tư dưới những điều hư cấu hay gởi nỗi niềm mình vào những ẩn dụ chứa trong thơ.

Bây giờ thử đi vào khổ thơ đầu tiên:

Rót một ly gọi nhau cố nhân
Một ly xin lỗi hết ân cần
Con đường thẳng tắp xa nhau mãi
Mùa hạ cháy nồng hay xuân phai

Đây là ly rượu quyết định số phận của cuộc tình. Ly rượu đầu tiên như một lưỡi đao oan nghiệt cắt đức ngàn sợi chỉ hồng bện thành sợi dây quyến luyến, sợi dây cột chặc hai tâm hồn đam mê lại với nhau.

Rồi thì mắt ta nhìn thấy một con đường vắng tanh ngun ngút, không mưa sa, không giá lạnh nhưng sầu đến não nuột: “Con đường thẳng tắp xa nhau mãi/ Mùa hạ cháy nồng hay xuân phai”

Ít khi tôi đọc được một bài thơ thất tình mà ý thơ lạ lùng như vậy. Con đường thất tình thì phải hiu hắt gió sương, mưa rơi và lá rụng, chớ sao con dường đẹp quá, mà lại nồng nàn nắng hạ và hương hoa còn phản phất buổi xuân phai. Thế nhưng đọc bốn câu thơ, lòng tôi lại cảm nhận thấy mối tình đẹp quá, nó sưởi ấm cả cuộcđời, dầu cho cuộc đời ấy cô dơn và vắng lặng như con đường dài kía kéo đến cuối chân trời.

Thế rồi nhà thơ chỉ rót thêm một ly thứ hai đã nói “ta say, ta say”:

Rót một ly ta say, ta say
Bóng em trong đáy cốc hay ai
Chiều nay giăng tím chiều hôm ấy
Em đến bên trời ta mơ hoa

Đúng rồi, vậy cho nên cái đầu đề bài thơ là “Say Cố Nhân” nghĩa là tác giả say hình bóng người xưa chớ không phải say rượu. Chỉ mới ly thứ hai mà bóng em đã hiện trong đáy cốc, nghĩa là tác giả đã nhớ em mà đi uống rượu chớ chẳng phải rượu vào làm cho nhớ em. Nhà thơ đi uống rượu vì “Chiều nay giăng tím chiều hôm ấy” tức là chiều nay tâm trạng nhà thơ đang tím, tím cả cõi lòng vì nhớ đến chiều tím nào đó đã tiễn em đi “đến bên trời”. “Bên trời” có thể là bên kia đại dương, cũng có thể là bên kia thé giới.

Khổ thơ cho ta nhìn thấy nhà thơ chưa say, nhưng khổ thơ cũng cho ta nhìn thấy nhà thơ buồn đến cực độ. Tôi dùng chữ “buồn”chớ không dùng chữ “sầu” vì với tôi, buồn thì còn cảm giác, nhận biết được chung quanh, còn sầu là tê cứng mọi cảm giác của mình.

Thê rồi qua khổ thơ sau, Trần Mai Ngân hỏa thiêu tình yêu của mình, rải tro tình yêu trên dòng sông định mệnh:

Rót một ly xin lỗi nhạt nhoà
Ký ức bây giờ như vệt tro
Rải trên sông lạnh làm tang chế
Khóc một thời yêu “dáng hoa” xưa…

Hai câu thơ “Ký ức bây giờ như vệt tro/Rải trên sông lạnh làm tang chế” phát họa một hình ảnh sống động, ảm đạm và kéo dài nỗi buồn thâm nhập vào tâm hồn ta miên man. Đọc thơ, không ai không nghĩ đến con thuyền trên dòng sông và những vệt tro cốt nổi bồng bềnh trôi dài trên sóng nước. Vệt tro rải trên sông lạnh có thể chỉ là biểu tượng của mối tình ly biết, cũng có thể là tro cốt của nàng đã vĩnh viễn ra đi.

Nhà thơ uống đến ly thứ tư thì bây giờ nỗi đau ùa đến ngập tràn tâm khảm. Từ đây nhà thơ uống liên tiếp và uống đến ngàn ly:

Rót một ly uống hết không chừa
Nỗi đau, nỗi nghẹn bình rượu đắng
Khứa nát linh hồn ta như dao
Nhớ em ta uống cạn nghìn sau…

Đọc cái say của Trần Mai Ngân đến đây, tôi lại nhớ đến cái say của Kha Tiệm Ly. Hai cái say dồng điệu nhau ở lúc nầy. Hãy đọc Kha Tiệm Ly:

“Ta bước chân đi vương sợi tóc
Đủ làm choáng váng giấc mê say
Tàn đêm rượu cạn bao nhiêu cốc
Mà ảnh người, như khói thuốc bay!

Réo rắt đàn xưa cung lỗi nhịp
Bâng khuâng hồ rượu biết vơi đầy?
Ta thèm một chút hương thừa cũ
Sao cứ mơ màng như bóng mây?

Phật thệ khói sương mờ bốn nẻo
Huyền Trân nào lạc bước nơi đây!
Bồng bềnh tóc rối bời năm cũ
Mãi quyện hồn ta bao ngất ngây!

Rượu đắng lung linh mờ dáng ngọc
Cho ngàn đêm nhớ, với đêm nay.
(Tình Say Kha Tiệm Ly)

Nhà thơ Kha Tiệm Ly thì “Cho ngàn đêm nhớ với đêm nay”, còn Trần Mai Ngân thì “Nhớ em ta uống cạn nghìn sau…”. Hai câu thơ đều nhớ tất cả nhưng Trần Mai Ngân đến bây giờ mới thật sự uống, Ta cứ thử tưởng tượng họ ngồi đối ẩm với nhau đi, mới thấy “uống cạn nghìn sau” và uống “cho ngàn đêm nhớ” nó túy lúy làm sao và nó thi vị biết bao!

Cuối cùng rồi Trần Mai Ngân cũng phải khóc, cuối cùng rồi cũng thổn thức, cuối cùng rồi cũng bật lên thành lời cay đắng. Đó là lúc hỏi. Hỏi nhưng mà không cần câu trả lời, vì đã say quá đổi, đã đem cơn nhớ đi vào giấc ngủ miên man:

Cứ thế ta uống cùng gió sương
Tình em… xin nợ một vết thuơng
Rót thêm ly nữa sầu cô quạnh
Em biết gì không… sao xa nhau !

Em biết vì sao ta xa nhau
Em biết gì không sao xa nhau !

“Em biết gì không ta xa nhau” lặp đi lặp lại nhiều lần là lúc chìm vào trong hôn mê, rượu đã nói thay lời!

Chiều nay Châu Thạch tôi trốn dịch Covid, đi tìm thơ giãi khuây trên trang facebook. Gặp lại bài thơ của cô em bạn thơ kết nghĩa, cảm động thì viết tản mạn, vì bài thơ cho tôi và những ai đọc thơ, chắc cũng thích có một cơn “Say Cố Nhân” như th!
Châu Thạch

NGÕ LẠ

ĐẶNG XUÂN XUYẾN

.
Từ bữa em cùng người lạ
Che chung chiếc ô về nhà
Ngõ nhà mình thành ngõ lạ
Lừng khừng mỗi bước anh qua.
.
Hôm nay ngày thứ mười ba
Em lại che chung ô lạ
Tiếng cười nghe mà vồn vã
Bước chân lấn chút điệu đà.
.
Ừ, ngõ nhà mình thành lạ
Sớm chiều tíu tít người ta
Anh giờ đã là kẻ lạ
Ngõ về nhà xa quá xa.
*.
Hà Nội, chiều 19-09-2020

VÕ CÔNG LIÊM và THƠ

CHƠI TRĂNG

gởi: trịnh cung. rừng . lê thánh thư

tôi . ném màu lên vải bố
nhầy nhụa
chảy
từng dòng
nước màu như nước mắt
người con gái
trắng tinh màu giấy
trắng hiện nguyên hình
thiếu nữ trong tranh
bóng tối
nhìn trộm
nguyệt thực
giữa đêm đen tịch mịch
tôi . phá thể cùng trăng
lột trần
xoa bóp
liếm láp
húp trăng
cái thời rồng lộn
đến mai thức dậy
trăng loã thể
trên giường bệnh
hội chứng coronavirus
vương niệm của hành tinh ?
và . sẽ chết như sao rơi vào bất tận*
cho một thời một đời phiêu bạt giang hồ
với trăng treo đầu ngõ
hóa thân con dê xồm
trên sừng dưới râu
làm thân tế thần
chơi trăng
một lần mát mặt với nhân gian
nơi mặt trời ngủ yên
ngoài kia những vì sao
lẻ loi chờ đợi
một ngày trong đời
của võ công liêm
toàn thân bại hoại giữa mùa trăng
xin khất lại ngày rằm
năm tới
chơi trăng
vọc trăng
cho đã cuộc đời

sống chỉ
một lần
chết mãi
nghìn năm ./.

(ca.ab.yyc. lễ vu-lan tháng 9/2020)
*mượn ý thơ của Quách Thoại.

CHÓ SỦA

đêm đi ngủ chưa ?
mà đời còn thức trắng
để nghe gió thổi
tợ nhung mềm
lên ngực thở
tôi . kỵ sĩ không đầu
sang giờ dậu
chó còn tru
thì ra hồn ma bóng quế
chó sủa
từng hồi
trong giấc chiêm bao
trở giấc
chó gào
như cào
một đời lăn lộn
tôi . hoang mang tôi
tình trôi mênh mông trôi
em . thờ ơ em
theo sương mơ hồ theo
chó sủa
mà nhớ
một đời
đêm buồn khóc nghe như mưa khóc
ngày buồn tẻ nghe như buồn nôn
chó tru đầu xóm hay cuối xóm
lời thì thầm qua cơn say từng miếng
ngon mà nhớ cuộc cờ tây năm nọ
nếm chút phong tình trên sông hòa
tiếng chày kình từ xa vọng lại giữa
lòng đêm thêm thổn thức ai ơi
tiếng chó tru . sá chi hề ! đêm nghe tiếng tù
và nhớ kiếp ba sinh hương lửa một thời xưa huế
trăng treo đầu ngọn
tre lả lơi bay
theo điệu cung thương
chơi vơi bóng hình em
vuốt ve từng ngón xuân nồng
chó tru đưa con nước về nguồn
mà nhớ thuở xa xưa
chó tru trăng lồng bóng
một thời xa đưa
trong tay nải bước lê trên chốn vỉa hè
thu rụng tới đông tàn với đôi tay quờ quạng
mò đêm giữa dòng hương trăng sao ẩm đục
đất có còn hay đã phôi pha
giựt mình
chó sủa
nghe như chuông gọi hồn ai
giữa chốn ba đào bóng tịch dương ./.

(ca.ab.yyc. đầu tháng 9/2020)

NGỌN GIÓ ĐẦU THU

sáng trời
đụng phải
mây đưa
ướt trong mạch thở
ướt ngoài hiên xưa
ngọn gió đầu thu
rơi từng ngọn lá
vàng bay một thuở
xa người mấy thu ?
nắng chậm sáng nay lá vẫn chờ
nghe râm râm từng lóng xương mềm
ký ức đụng chạm bất ngờ
giữ nguyên màu kỷ niệm
ngày phẳng lặng hoa ngoài hàng dậu rụng
tơi bời đêm qua bầy quạ đen mổ đá
động biển căn nỗi nhớ
lời thơ nhốt trong khung cửa hẹp
ngoài trời nghe từng cuộn gió thổi
ngọn lửa hực cháy mấy ngày nay
cho không gian mặc màu tang chế
người lính cứu hỏa thoát nạn
và . lửa hân hoan cháy cho tới tận cùng
mùa dịch còn hấp hối đậu trên những nhánh cây
tôi . đốt nốt cây nhang tàn để truy điệu
con chim nhỏ thiêu thân trong rừng xưa đã khép
nằm xếp cánh mềm ngủ vùi trong giấc điệp nghìn thu
những khoảnh khắc bất chợt nhớ
lửa vẫn cháy hoang
rừng khô đã chết
cho sương phủ đầu phô
loài cỏ dại yêu dấu
cất tiếng hát trăm năm
về nơi xứ mẹ ngút ngàn xa
cho tôi được yêu em bằng trái chín nồng nàn
trong nỗi tận cùng của dòng sông vô tận đó
chảy miết chảy hoài cho định mệnh thêm đau
thu vẫn dật dờ trên từng khung cửa cấm

mùa thu không có nơi nương tựa cho vàng lá bay
khao khát trong em nghe mùi hương thạch thảo
của người thi sĩ xa xưa ngồi gặm nhấm những câu thơ
tôi .vô nghĩa một cách quái gở
nếu được làm con đĩ đứng đường
mà tôi có lần mắt xanh dã thú lên thân thể người con gái
tuổi mới nhú măng non vành khuyên trước gió một chiều
lãng đãng mưa bay ngoài ngõ trúc một trời bạc mệnh
xa đi ruồi muỗi
tôi
thả tóc theo gió
về nơi tịch mịch
nơi đó
gió nào vỗ cánh bay
vào nửa lưng trời đã cũ
sương mốc meo nằm yên bên bờ đá
đã hoang tàn trong gió hú chiều hôm
những cánh hoa bẻ gió
đợi mùa đông tới
mây cuộn tròn hư vô
tôi . hứng những ngọn lá mùa thu trong vườn nhà ngoại
một thời nham nhờ . trụy lạc linh hồn . con chó ốm
cắm đầu chạy vào sa mạc hoang vu có kên kên bò cạp
chờ liếm láp mùa thu của tôi
mùa thu chết năm nào trong vũng tối ăn năn ./.

VÕ CÔNG LIÊM (ca.ab.yyc. cháy rừng . 9/2020)

ÁNH SÁNG VÔ TẬN PHẬT

VÕ CÔNG LIÊM  

TRANH VẼ VÕ CÔNG LIÊM : ‘Bồ Đề Đạt Ma / Bodhidhama’

 

                                                                                                                                            Kính dâng: song thân.

    Theo kinh điển nhà Phật gọi là ‘Vô tận Phật / the Buddha of Infinite Light’ hay vô tận của ‘Vô lượng Pháp  / Abhidharma of Infinite’ là đỉnh cao trí tuệ, là hào quang, thứ ánh sáng vi diệu tỏa muôn phương. Phật giáo Tây Tạng (Tibetan Buddhist) cho đó là những gì trội hẳn, là những gì hiện diện nơi Phật. Amitabha: Phạn ngữ (Sanskrit) gọi là cõi sáng vô tận (Infinite Light) hay còn gọi là  ánh sáng vô biên (Boundless Light). Thân tâm ngài tinh anh và soi rọi được tôn thờ dưới ba mươi hai ký hiệu khác nhau với tám mươi dấu hiệu tỏ rõ cho một hiện hữu tồn lưu nhân thế, hiện thân giữa vũ trụ loài người. Ngọn đuốc soi đường với một thứ ánh sáng không thể tưởng được, chiếu rọi vào nơi vô cực tính của mười phương, một thứ ánh sáng vi diệu: ánh sáng của ngài là đức độ, hiện thực hóa và trí tuệ -His lights are the virtues, realization and wisdom. Một năng lực chưa từng có, một thân tâm bừng sáng cho những gì của cực đại, của khôn ngoan, của hân hoan tuyệt đối. Bởi; ở chính ngài là cuộc đời trải rộng là vô hạn lượng cho một kết tinh của ánh sáng vô tận Phật –he is also known as the Buddha of Infinite Light.

Lời dạy của Người sắc bén vững chắc là giáo pháp. Giải thoát là trí toàn năng của Phật, một cõi thanh tịnh đại hải và vi diệu –deep peace and wisdom.Trí tuệ của Phật là tình yêu và lòng từ bi cho tất cả những gì đau đớn, bi thảm. Trong lòng đất trinh nguyên của ngài là nguồn sáng vô tận, nó bao gồm của hai loại người đi tìm thứ ánh sáng cho chính họ và giải thoát (enlightenment) cho chính họ (shravaka and pratyeka-buddha) và người kia đi tìm giải thoát cho chúng sinh là Bồ tát (Bodhisattva) là hai đối tượng của Phật; nghĩa là họ nhận ra được cõi sáng là con đường giải thoát tự tại, nó không còn là cảnh giới của tục lụy; Bồ tát là sở hữu chủ, chiếm cứ gấp năm lần nhận biết phi thường : (1) cầm giữ được khả năng vi-diệu-tính-không để đưa chúng sanh đến bờ giác. (2) Bồ tát có một khả năng nhớ phi thường từ quá khứ đến hiện tại qua lời cầu nguyện. (3) một thi thể thánh thiện (celestial bodies), một đôi mắt tinh tú sáng ngời có thể nhìn xuyên qua vũ trụ mười phương trong tụ điểm hiện hữu tồn sinh mà chỉ có những đấng bồ tát thực hiện được.(4) Bồ tát là một thính thị siêu nhiên có thể nghe và hiểu những gì Phật dạy qua lời kinh tiếng kệ hay qua lời nguyện. (5) Bồ tát nhận biết về tất cả tâm trạng của chúng sinh : hạnh phúc, đau khổ là một phục vụ như tỏ bày. Trong tất cả biến dịch của bồ tát là vi diệu tánh không cung cấp niềm vui an lạc và lợi ích khác cho hằng hà sa số sinh linh trong vũ trụ loài người. Bởi; đây là những gì mà chúng sanh đã nghi ngờ về việc tái sinh trong đất-phật hoặc thiếu tin tưởng trong năng lực của Phật, của thứ ánh sáng vô tận đó và là lời nguyện của ngài–This is; because they have had doubts about taking rebirth in the pure land or lacked full faith in the power of the Buddha of Infinite Light and his wows. Chúng ta chưa đạt được; bởi chúng ta chưa gặp phải hoặc chưa nhận thấy thế nào là chân-như, thế nào là như-lai-phật, chưa bắt gặp chánh-pháp. Thực ra thuyết pháp không có thuyết nào để thuyết nên gọi là pháp (trong Kim Cang) Còn nói ‘pure land’ cái đó là ‘Chân như tuyệt đối’ hay còn gọi là Đất Phật hay Phật độ (buddha-land) là cõi không; còn nói ‘Niết Bàn’ hay ‘Cực lạc’ là dự phóng cho tương lai hay kiếp sau mà phải hiểu một cách thâm hậu của ‘Tâm-sai-biệt’ và ‘Tâm-vô-sai-biệt’ tức là ‘niện’ với ‘vô-niện’ là nằm giữa hữu thức (consciousness) và vô thức (unconsciousness). Như vậy ta nhận ra được cái gì là sai biệt và cái gì không sai biệt. Cụ thể; giáo lý nhà Phật là một tổng hợp của vô lượng tính đi từ cõi vô minh đến cảnh giới của giác ngộ (enlightenment) để nhận ra trong vũ trụ loài người là do từ Nghiệp / Karma. Nghiệp thì có thiện nghiệp ác nghiệp. Cái sự này được một số đông tu học phật cho là phương tiện để đạt tới mục đích của Phật-thừa. Nói một cách minh chính thiện hay ác đều do vô-minh mà ra cả, chả phải lấy thiện mà tu tập hay lấy ác mà phá trừ. Cả hai thứ: Ác thì nó chứa ích kỷ. Thiện cũng chỉ là hình thức khác của ‘ngã chấp’ tức nghĩ cho chính mình; nó nằm trong dạng ‘ngã mạn /subtitle de l’égotisme’ mà ra chớ chẳng phải là gì. Tu học là một việc, hành là một việc. Cái khó của Phật giáo là nhận thức; đó là yếu tố làm nên phật sự. Từ chỗ đó suy ra lời nói của Cổ Đàm sau khi thuyết pháp xong. Ngài nói: ‘Ta đã ròng rã bốn mươi chín năm thuyết pháp nhưng chưa từng nói một lời’ (trong Lăng Già) là một hàm ý tối hậu, gián tiếp nhắc nhở chúng sanh vào cái ‘nghiệp’. Ngay trong kinh Pháp Cú (Dhammapada) của Tiểu Thừa có lời day: ‘cần phải thoát khỏi sự trói buộc của thiện-nghiệp và ác-nghiệp mới đi tới giải thoát, bằng không nó nằm trong trầm luân của tội lỗi, bởi cả hai duy trì một thứ vô thức của ngã mạn’. Mà phải thoát khỏi cảnh mộng huyễn, bào ảnh của sinh tử luân hồi mới đáo bỉ ngạn. Đáo bỉ ngạn ở đây là cõi sáng, một thứ ánh sáng tuyệt đối ở nơi chốn nguyên trinh của phật-độ, bởi; chỉ có một thứ ánh sáng duy nhất ‘vô tận Phật’ mới giải trừ, cái đó còn gọi là Phật-tánh tức là đạt tới trạng thái hết mê. Nghĩa là chuyển sang ngộ, nói rộng ra mê là vô-minh, tâm não bị lu mờ trước đám mây che sáng. ‘Chi tông chỉ’ là gì? chỉ vào trăng để thấy vô tận Phật ;đó là chân lý nhà Phật ngoài ra chẳng còn gì để nói mà chỉ còn lại tâm , tâm sáng không còn thiện / ác vây quanh, có chăng đó là cái nghiệp, một qui luật tự nhiên của nhân quả hay còn gọi là luật-nhân-quả -Karma, the Natural Law of Causality- Nghiệp là ngữ cảnh của Phật giáo coi nó như qui luật, luật đó khống chế trên tất cả mọi thứ. Trong mọi hành động thuộc tâm trí và tâm sinh lý khởi đầu bằng tâm ý để rồi trở nên sự cố, cái đó là do thiếu thận trọng đưa tới hậu quả trầm trọng; là do từ hiện thực của cá thể mà ra. Với đạo Phật ngăn ngừa hay hướng dẫn tới những chi tiết lớn lao về hậu quả chính xác đã xẩy ra và sẽ theo sau những hành động hay cử chỉ một cách rõ ràng nhưng ‘mắt đời’ không nhận ra, bởi; nghiệp quả là một hội chứng siêu hình, có thể xẫy ra hôm nay hay ngày mai điều đó khó đo lường và định liệu.

Nói chung; khuôn mẫu hay cách thức có thể xác thực được minh bạch là do tư tưởng mà có. Đúng ra đó là sự thể trở lại của cuộc đời –the events of life’s cycle. Nó nằm trong qui trình của vay trả chớ chẳng đâu xa. Tất cả nguyên nhân và hậu quả do từ cảm thức hủy diệt ở nơi ta là thói quen thường có trong ý niệm tâm lý và tư tưởng của mỗi con người. Cái đó là ngọn nguồn trong những gì Phật giáo cho là bám lấy ở nơi chốn của tự tại hay tự ngã / self  là ý niệm phân biệt giữa chủ thể và khách thể. Cho nên chi trong cái nghiệp là cái tự mình tạo ra thì cũng tự mình hủy diệt; mà đời thường gọi là ‘nghiệp dĩ’ là do từ chữ ‘số mệnh’ mà có; đúng ra nghiệp hay mệnh thuộc về Tâm Pháp. Phật giáo Tây Tạng nhìn tâm-pháp thuộc về Nhân tức do tâm thức tạo ra. Thí du: Người có tính tham là có ở bản chất ham muốn, tích lũy ở tiềm thức (alaida) muốn tiêu trừ để đến gần ánh sáng trước mắt phải có tâm pháp nghĩa là phải có ‘tương vi nhân’ tức biết thương người như thương mình thời không còn thấy tham vọng là gì cả. Bởi; mỗi người của chúng ta đều có một thức a-lại-da riêng để nắm lấy sinh mệnh của mình. Nói chung nó nằm trong tâm-thức. Thức theo Phạn ngữ (Sanskrit) là hàm chứa, tất cả mọi hiện tượng đều có hạt giống (chủng tư) ẩn núp trong thức. Thức ở đây là chỗ chứa của A-lại-đa-thức (Alaya Vijnana) có khi gọi Tạng thức: nơi chứa hạt giống của tất cả các pháp. Cho nên chi; luận ra được nơi nào có ánh sáng vô tận Phật và nơi nào không có ánh sáng là do từ tâm thức của mỗi con người tạo ra trong và ngoài đó.

Với tư duy của triết gia Phật giáo Tây Tạng Nagarjuna cho rằng: ‘Tất cả vọng niệm đến từ cái sự tham lam ích kỷ ở tự tại / All beings have come from grasping at ‘self’’. Cái sự đó; là chiều hướng của trí tuệ là ôm đầm vào để trở nên dính liền nhau đưa tới đối tượng tư tưởng và nhận thức; đó là nguồn cơn của những gì đến trong ta cũng coi đó là đối ngẫu hiện hữu tồn lưu nhân thế. Tham vọng, ham muốn là ở tại ta, là lối về của ý, là nhận thức có từ lý trí là một nhập cuộc trung thực. Chủ thể trí tuệ bao gồm tất cả những gì thuộc hiện tượng luận cái sự đó mọc lên từ tâm thức của chúng ta. Đấy là ý thức ‘đáo bỉ ngạn / paramita’ một cách rõ ràng minh bạch và được coi là chân lý tối thượng của nhà Phật. Quan trọng của đạo Phật là nhận thức; tức loại bỏ mọi vọng niệm, mọi vô-trước: là không dính vào; thời mới thấy nghĩa lý cuộc đời đang sống, bằng không chỉ ‘ve vãn’ với bóng tối thời bóng tối vây quanh như ngục tù.

Trong cái nhìn của đạo Phật; tự tại / self nó bao gồm ‘cái tôi /me’ và ‘cái của tôi /mine’, nhưng; điều đó cũng là cái sự bao quanh trong tất cả mọi hiện tượng, nẫy mầm trong hữu thức của chúng ta. Tuy nhiên; để phù hợp tới nhận thức cao siêu của Phật giáo thời đừng nói cái tự tại của mình, đạt được thời coi đó là vững chắc cho một hiện hữu tồn lưu và không có gì thay đổi để đi vào thế giới của ánh sáng, một thứ ánh sáng vô cùng tận và vô biên., bởi; chúng ta thật sự bị thu hút vào trong cái nghiệp –because; we are in the grip of karma; ảo ảnh suy tư và thái độ của chúng ta là kết quả đưa tới đau đớn và khổ lụy, tất cả điều đó đến quá thực cho chúng ta –our delusory thinking and behaviour result in pain and suffering that are all too real to us. Nói chung cái vòng luẩn quẩn bi lụy đó tiếp tục lập đi, lập lại ở chính nó như tiếp tục, như mệnh lệnh, đó là luật nhân quả của cuộc đời. Cảm thức ưu phiền, khổ lụy là ngọn nguồn của buộc phải ở chính mình để cho việc luân hồi tái sinh. Trong khi đó trạng thái lạc quan của trí tuệ là phương tiện để giải thoát. Thế nhưng chúng ta cần tu luyện thân tâm để có một tâm hồn an lành và cho tới cái chết được thanh thản và mong ước kiếp sau nghiệp và mệnh được vẹn toàn như ý.

Cuối cùng; chu kỳ ảo ảnh của cuộc đời là : đi tới cái chết và sau cái chết được biết tới như một samsara trong kinh điển của Phạn ngữ (Sanskrit) giải thích: trong bánh xe luân hồi của cuộc đời (wheel of life) có ba bực thấp nhất và ba bực cao nhất: Thấp nhứt: (1) Vùng điạ ngục /hell realms. (2) Vùng đói rách, ma trơi qủy ám /hungry ghost. (3) Vùng súc sanh / animal realm. Cao nhất: (1) Vùng gần thượng đế / realm of the demigods (2) Vùng của Trời /realm of the gods. (3) Vùng người / human realm. Tất cả kinh qua thời kỳ tu tập và kinh nghiệm sống. Trong luận thuyết của giáo phái Tây Tạng có bốn thời kỳ chính miêu tả những gì quan tâm đến gọi là bardo (chữ của Phật giáo Tây Tạng): là thông điệp của cuộc đời, là thời kỳ chuyễn hóa giữa sự chết và tái sinh qua ba thời kỳ: ‘đời’, ‘chết’ và ‘lẽ tự nhiên’. Đấy là dấu hiệu cho ta nhận thức nghĩa lý cuộc đời là vòng quay mà con người phải đón nhận như luật sinh tồn và là chu kỳ của luật nhân quả. Hầu như mọi tôn giáo trên thế gìới luôn hướng đến ‘tương lai’ cho một kiếp sau với hứa hẹn tuyệt đỉnh; đó là hoài vọng để được tôn thờ, đặc biệt Phật giáo Tây Tạng coi bardo là một trải nghiệm (glimpses of the Bardo) của cuộc đời trước khi chết họ tin vào phần hồn hơn phần xác. Theo quan điểm thuộc về văn chương Phật giáo Tây tạng cho rằng những người nhập định (meditators) phải quên đi thể xác của mình cho những ngày ở thời gian nhập hồn vào thế giới vô hình, những người nhập định biết đây là sự trở về từ cõi chết (delogs (TaTg) / return from death) là sự trở về trong thi thể thánh thiện của họ và ghi nhận rằng đó là một hành trình kỳ diệu và tưởng chừng như phép lạ đã được tái sinh (reborn), hoạt cảnh đó tợ hồ như tiếng chuông rung lan trải tận đáy điạ ngục cực kỳ diệu vợi.

Đất Phật / Pure land là nơi không diễn tả hết, không một lời để nói, bởi; nơi đây là hoan lạc và một cảnh giới thanh bình, ở đó chỉ có phật, biểu lộ một sự trong sáng xuyên qua tất cả những gì gọi là từ bi hỷ xả không cần đến những gì là quyền qúy cao sang, những thứ đó không hiện diện ở nơi phật tổ / pure land và được nhận đây là nơi giải thoát toàn diện tức đạt tới cảnh trí của Niết bàn (Nirvana) là của đại ngộ. NgộKhông là nơi không còn thiện và ác nghĩa là không có Nghiệp và Mệnh, không còn hai thứ lưỡng phân quấn quýt. Ở đó chỉ còn lại năng lực danh xưng của Phật –The Power of the Buddha’s Name . Danh xưng đó là cánh cửa sổ xuyên qua những gì chúng ta có thể nhìn thấy Ánh sáng Vô tận của Phật và một chân hạnh phúc trong đất phật. Phật giáo Đại thừa (Mahayana Buddhism) dạy chúng ta thực hiện những gì trong kinh điển bao gồm: những thể, âm thanhtrí tuệ để đi tới giải thoát. Nhưng; muốn đạt được mục đích chúng ta cần đi vào, xuyên qua những gì mà ta bắt gặp ở đại môn; bất cứ là gì mà ở đó chỉ có hình ảnh phật với một âm thanh đầy phẩm lượng. Đại môn có tên là Amitabha, đứng nơi đó chỉ có phật độ giúp cho chúng ta đến gần phật với một năng lực của ngài đưa tới chúng ta. Danh xưng Amitabha là hiện diện phật, trí tuệ, lòng xót thương và trí năng. Ngài ở trong chúng ta và với chúng ta –he is in us and with us. Vậy chúng ta tập trung tư tưởng vào và nhất quán với danh xưng của phật là chính chúng ta hiến dâng những gì thành quả đã đạt được là chính chúng ta tự giải thoát cho chính chúng ta. Bất luận là gì chúng ta thấy, nghe và cảm nhận là những gì đến gần với Phật.

Rút lại; tu Phật là tu để chấm dứt dòng luân hồi nghiệp quả, tu là thoát ra khỏi mọi vọng niệm, chấp trượt, vô trước , bởi; những thứ đó là bóng tối vô hình luôn đòi hỏi trong ta và dán cứng đời ta, không soi sáng mà ‘kẽm gai’ chận đường để lại cái vô-minh không ánh sáng. Giá trị tuyệt đối để tu là hướng tới chánh-pháp tức đó là cõi sáng vô tận Phật. Một nhà tu Phật bên xứ Thiên Trúc (Ấn Độ) đã nói: ‘Ni l’homme de vertu, ni l’homme de vice ne sont plus près de la Vérité… / Người đạo đức đầy đức tốt, người xấu xa đầy tật xấu. Không ai gần với Chân lý cả…Chân lý tuyệt đối là vượt ra khỏi hai đức tính đó, đừng vin vào đạo đức để nói đạo đức, đừng che cái xấu để nói cái tốt mà đòi hỏi nguyên nhân do đâu mà có tức là nó nằm trong ngã thức. Nếu nhận thức nghĩa lý thâm hậu của nó để phá trừ và đi tới cái tinh anh duy nhất tức thị không là không còn chi mà chỉ còn ở đó một thứ ánh sáng vô tận, vô biên Phật.

Nói rộng ra đó là cõi sáng tuyệt đối mà thôi. Trong kinh Pháp Cú (Dhammapada) của Phật giáo Tiểu Thừa có thể xem đây là giáo lý chính thống về phép tu-nghiệp hay còn gọi tu-thiện-nghiệp là phải thoát khỏi mọi vọng niệm, mọi trói buộc của Thiện và Ác mà nhắm hướng giải thoát. Còn nói theo Thiền phái tu tập thì coi đó là con đường ‘tiệm-pháp’ (voie graduclle) hay lý cho cùng là ‘đốn ngộ’ để đi tới ‘vô trước’; tức là con đường đi tới ‘thiên thừa’ qua phép tu bằng cách ‘luyện khí công’ hay là phương tiện thiện xảo là con đường và phương tiện để phá trừ, ngoài ra không có con đường nào hơn để giải thoát.

Chúng ta có tất cả kinh nghiệm về tu-chứng và nghiệp-quả là lúc trí tuệ chúng ta lấp đầy niềm an lạc, thời bất luận là gì ngay cả thấy, nghe và cảm nhận đều mang lại hạnh phúc; một thứ hạnh phúc thực sự, bởi; lúc đó trí tuệ chúng ta trong sáng không vướng đục, ngược lại trí tuệ chúng ta khuấy động hay phát khùng thời mọi thứ xưng quanh tợ như bóng tối, hết lối thoát. Vậy thì; nếu chúng ta xua đuổi lòng căm ghét, hận thù thời chúng ta tái sinh một tâm hồn trong trắng và cao thượng…Trong tất cả lời cầu nguyện hay tĩnh lự là đặc ta vào một tinh thần nhất quán, lấy tâm làm chính. Nhà Phật chỉ kêu gọi ở tâm-thức chớ không kêu gọi phải cầu mà đòi hỏi ở cung ngưỡng thực sự với một tấm lòng thương yêu nồng nàn là cửa ngõ của tâm hồn. Có nhiều người tu một cách tích cực nhưng vẫn chưa đạt ý (Phật) bởi; khả năng tu chứng đòi hỏi một sự hiến dâng trọn vẹn, nhưng; điều đó chưa hẳn phải –But; it is not a must.Tu hay nguyện là mong cầu đến với Ánh sáng Vô tận Phật; đó là chỉ tiêu tu-chứng-phật-pháp, không có phương pháp nào hơn ngoài ‘tâm phật / pure land’ là giác ngộ, là giải thoát thì mọi nghiệp chướng sẽ tiêu tan ./ .

VÕ CÔNG LIÊM (ca.ab.yyc . mủa lễ Vu Lan 9/2020).

SÁCH ĐỌC: Mahàyàna Buddhism and Hinayàna Buddhism by Paul Williams. Routledge London UK / New York USA 1994.

VIẾT CHO KHỜ

ĐẶNG XUÂN XUYẾN


Triền sông chiều nay cạn gió
Ai dụi câu hò
Ai dúi cánh cò líu ríu qua sông
Ai lùa gió đốt lòng
Ai bủa giăng chim trời mà đợi
Khờ hỡi…
Biết rồi
Sao còn vít vương tơ rối.
.
Ngẩn ngơ chi thì thầm lời của gió
Thương nhớ gì lộc cộc tiếng ngõ khuya
Thì kệ nắng quái trưa
Thì mặc mưa mút mùa
Thì thả nụ yêu quá thì chìm nổi
Để rồi tong tẩy cuộc người
Để rồi xéo xắt miệng đời
Để rồi nụ cười bảy chìm ba trôi chín rối…
Khờ hỡi
Biết rồi
Sao nặng lòng vít vương tơ rối…
.
Về thôi!
*.
Hà Nội, chiều 10 tháng 09-2020

ĐỌC SÁU BÀI THƠ THƠM HƯƠNG THIỀN THỜI TRAI TRẺ CỦA THI SĨ TRẦN THOẠI NGUYÊN

Thư viện của bài

This gallery contains 1 photo.

Châu Thạch Trước khi bàn đến những bài thơ thơm hương thiền của Thi sĩ Trần Thoại Nguyên, xin hãy nghe tác giả tâm sự:     “Tiểu luận về tổ sư thiền tông Bồ Đề Đạt Ma”, một cuốn … Tiếp tục đọc

NÓI VỀ THƠ HAY CỦA NGÀN NĂM VĂN HIẾN THĂNG LONG

PHẠM NGỌC THÁI

      Nói về thơ hay ở đây, nghĩa là bài thơ đó phải được lưu danh sử sách trong văn hiến của ngàn năm Thăng Long – Thí dụ: cao siêu là KIỀU của đại thi hào Nguyễn Du, thuộc thể tiểu thuyết thơ. Các loại thơ ngắn hay xưa nay, trường cửu với thời gian, như:

      Qua Đèo Ngang của Bà Huyện Thanh Quan (BHTQ) – Làm lẽ, Hồ Xuân Hương – Thu điếu, Nguyễn Khuyến – Thương vợ, Tú Xương – Đây thôn Vỹ Dạ * Mùa xuân chín * Bẽn lẽn, Hàn Mặc Tử – Tràng giang, Huy Cận – Tương tư, Nguyễn Bính – Tương tư chiều, Xuân Diệu – Tranh lõa thể, Bích Khê – Say đi em, Vũ Hoàng Chương – Hai sắc hoa tigôn, TTKH. – Thuyền và biển, Xuân Quỳnh – v.v….

          Đó là những bài thơ hay thuộc hàng đỉnh của nền văn học nước nhà. Thơ hay như thế của các nhà thơ đương đại hiếm lắm? Theo con mắt thơ của tôi: Các nhà thơ của HNVVN hiện nay, chưa có ai vượt qua nổi bài thơ hay “Thuyền và biển” của Xuân Quỳnh.

    Vậy, Thế nào mới là một bài thơ hay của văn hiến ngàn năm Thăng Long? Dứt khoát phải có hai yếu tố:

1.  Thơ của muôn đời, chứ không phải thơ chỉ một thời.

2.  Thơ phải thật viên mãn về cả nghĩa và nghệ thuật thi ca.

     a-  Viên mãn về nghĩa: Bắt buộc tình, ý trong thơ phải viên mãn. Nếu nghĩa thơ không viên mãn? dù ngôn ngữ tinh túy, hình tượng đẹp… cũng chưa tạo được bài thơ hay.

     b-  Viên mãn về nghệ thuật thi ca: Khi nghĩa bài thơ đọc lên đã viên mãn rồi – Ngôn ngữ, hình tượng thi ca hay tới mức nào? Nó quyết định bài thơ hay đến đó.

            Nếu tất cả đều đạt tới đỉnh, thì bài thơ hoàn bích.

                                        ĐIỂM ĐÔI NÉT MẤY BÀI THƠ NỔI TIẾNG XƯA NAY

A/. ” QUA ĐÈO NGANG” của Bà Huyện Thanh Quan (BHTQ) –  Đây là một bài thơ thất ngôn bát cú, theo thể Đường luật rất mẫu mực ở nước ta. Ngôn ngữ, nghệ thuật tinh hoa. Ta bàn về ý nghĩa bài thơ xem độ viên mãn thế nào?

     Bốn câu đầu chỉ là miêu tả để giới thiệu quang cảnh Đèo Ngang: Trên trời bóng đã xế tà; quanh đèo cỏ cây, hoa lá mọc chen trong khe đá; dưới núi vài chú tiểu đi kiếm củi… và mấy quán chợ lác đác bên sông – Nhưng đến hai câu giữa:

                 Nhớ nước đau lòng con quốc quốc

                 Thương nhà mỏi miệng cái gia gia

     Tương truyền, BHTQ rất thạo việc quốc gia: Khi ông Huyện đi vắng, bà vẫn thay ông lên chốn công đường xử kiện. Đồng thời Bà Huyện còn là một phụ nữ rất đảm việc nhà, để ông Huyện yên tâm làm việc nước – Vậy là, chỉ bằng hai câu thơ (cũng vẫn là mượn cảnh vật), đã ôm bọc cả nỗi lòng bà: về nước, về nhà trong đó.

 – Mượn hình ảnh con chim cuốc ra rả kêu vào những tháng hè – Cái tiếng “gia gia” ở đây là xuất xứ từ con đa – đa… gọi lái sang thành “gia gia”…  nói lên nỗi nước, tình nhà của bà – Hình tượng, ngôn ngữ trong thơ thật là sâu xa, huyền thẳm. Không biết khi sáng tác BHTQ viết là “con cuốc” hay “con quốc”? Người đời sau, nhiều bản khi chép lại thơ của bà, đã viết thành con “quốc quốc”… để biểu thị cho tính nước non. Hai câu cuối đẩy bài thơ đến hoàn toàn viên mãn:

                 Dừng chân đứng lại trời, non, nước

                 Một mảnh tình riêng, ta với ta

      Nỗi niềm tâm sự giữa chốn đèo hoang vu, chỉ mình ta với ta thôi – Một câu thơ kết tuyệt bút!

B/.  HÀN MẶC TỬ –  Thi nhân Hàn Mặc Tử có một chùm thơ ba bài tuyệt hay: Đây thôn Vỹ Dạ, Mùa xuân chín, Bẽn lẽn – Tôi nói ít nét về từng bài.

     1.  Đây thôn Vỹ Dạ: Bài thơ gửi gắm tâm tư về một mối tình đơn phương của thi nhân với nàng Hoàng Cúc – Ba câu đầu của khổ thơ thứ nhất là cảnh của hồi ức: Từ hàng cau, nắng mới, đến màu xanh mướt của vườn cây vào buổi sáng – Ông nhớ về nơi ở của nàng Hoàng Cúc trong thôn Vỹ Dạ. Đến câu thứ tư:

                  Lá trúc che ngang mặt chữ điền

     Đã là câu thơ tượng trưng rồi: “lá trúc” là hình ảnh biểu tượng cho làng quê Việt Nam – Còn “mặt chữ điền”, theo cách nói cổ nho, ví cho gương mặt của người đàn ông (biểu tượng cho chính thi nhân), giờ đây đã bị “chắn ngang”: mãi mãi phải cách xa, không gặp lại được nhau nữa.

     Đến khổ thơ thứ hai, phát triển còn sâu hơn. Ta gọi là tư duy trong:

                  Gió theo lối gió, mây đường mây

                  Dòng nước buồn thiu, hoa bắp lay

     Nghĩa là:

                  Em theo đường em, anh đường anh

                  Tình của đôi ta có thế thôi

     Để nói về duyên phận của hai người phân cách đôi đường, không thể đến được với nhau. Thi nhân cô đơn, ngồi nhớ người xưa: Lòng ông như dòng nước lặng lờ chảy buồn thiu, với bông hoa bắp phật phờ lay ở bên sông – Những bài thơ tuyệt hay của thi đàn xưa nay, nghĩa thơ thường được phản ảnh qua những hình tượng sâu xa, tinh tế như vậy.

      Tôi chỉ phân tích một số nét đặc trưng để toát lên cái hay của bài thơ, chứ không bình hết vì sẽ rất dài.

     “Đây thôn Vỹ Dạ” là một tuyệt tác thi ca! Có nhà bình thơ ở đương đại lại cho rằng: Khổ thơ thứ hai chỉ là tả cảnh theo cảm xúc của nỗi buồn mênh mang – Hiểu  thế sẽ không thấy được cái hay, độ sâu sắc trong tư duy về cuộc đời của nhà thơ? Tình, ý trong thơ cùng ngôn ngữ thi ca phải thật sự viên mãn vậy, mới được gọi là thơ hay!

2/.  Mùa xuân chín:  Là bài thơ tả cảnh mùa xuân. Lúc này thi nhân đang phải điều trị bệnh tại Gành Ráng, Qui Nhơn, biệt lập xa cách với sự sống con người. Thi phẩm được rút ra từ trong thơ điên Hàn Mặc Tử (đề mục Hương Thơm). Nhưng đọc “Mùa Xuân Chín” ta thấy chẳng những thơ không điên, lòng thi nhân thanh tao, cõi hồn siêu thoát, tựa thể ông đang ngồi thụ cảnh thiên thai của bậc khách tiên sa.

       Hoài Thanh có nhận xét về thơ HMT như sau: “… Ta bắt đầu bước vào một nơi ánh trăng, ánh nắng, tình yêu và cả người yêu đều như muốn biến ra hương khói…”. Cảnh thơ tựa bức gấm thêu, toát lên tấm tình tha thiết của thi nhân với nơi thôn dã. Ngôn ngữ, nghệ thuật thơ sử dụng rất nhiều thi pháp của dòng thơ tượng trưng châu Âu.

    Ta hãy nghe một đoạn thơ:

                         Tiếng ca vắt vẻo lưng chừng núi

                       Hổn hển như lời của nước mây…

                       Thầm thĩ với ai ngồi dưới trúc,

                       Nghe ra ý vị và thơ ngây…

          Không phải là “nước mây hổn hển” đâu? Chính là lòng thi nhân đang “hổn hển”. Hay những hinh ảnh: “tiếng ca vắt vẻo”, “sột soạt gió trêu tà áo biếc”, “Thầm thĩ với ai ngồi dưới trúc”… đều là  biểu tượng của dòng thơ tượng trưng: Bộc lộ một tâm tư, tình cảm về cuộc sống. Ngay cái tên đề “Mùa xuân chín” cũng có tính tượng trưng rồi.

        Kết thúc thơ, lòng thi nhân trào lên một nỗi nhớ thương làng quê da diết:

                     Khách xa gặp lúc mùa xuân chín

                     Lòng trí bâng khuâng sực nhớ làng

                             – Chị ấy năm nay còn gánh thóc,

                     Dọc bờ sông trắng nắng chang chang?

       Sắc thái “…sông trắng nắng chang chang”, vẽ ra cảnh trắng toát trên con sông mộng. Cảnh thực trong hồi ức mà như ảnh ảo, đưa tình thơ viên mãn tới tột cùng. Tả cảnh mùa xuân, nhưng lại chứa chất nỗi tình đời sâu sắc như thế… mới trở thành một bài thơ hay!

      Tuy vậy, bài “Đây thôn Vỹ Dạ” hay hơn một chút so với “Mùa xuân chín”: Chủ yếu vì ngôn ngữ, hình tượng có phần ảo hơn, nên thơ huyền diệu và sâu lắng hơn.  Như Chế Lan Viên đã từng viết trong Di Cảo, rằng:

                    Bên kia bờ hư ảo – bờ thơ 

3/.  Bẽn lẽn:

                Trăng nằm sóng soãi trên cành liễu

                Đợi gió đông về để lả lơi

                Hoa lá ngây tình không muốn động

                Lòng em hồi hộp, chị Hằng ơi.

                Trong khóm vi vu rào rạt mãi

                Tiếng lòng ai nói? Sao im đi?

                Ô kìa, bóng nguyệt trần truồng tắm

                Lộ cái khuôn vàng dưới đáy khe.

                Vô tình để gió hôn lên má

                Bẽn lẽn làm sao lúc nửa đêm

                Em sợ lang quân em biết được

                Nghi ngờ tới cái tiết trinh em.

     Có người lại cho rằng, bài thơ “Bẽn lẽn” hay hơn “Đây thôn Vỹ Dạ”? Thực ra, hai bài thơ này đều là thơ tuyệt hay thuộc hàng đỉnh của HMT – Về phong dáng, tính chất, chúng đứng trên hai ngọn thi sơn khác nhau: Nhưng bài “Đây thôn Vỹ Dạ”… “rất đời”, nên dễ cảm hóa lòng người – Như câu châm ngôn của dân gian “Chỉ có cây đời mãi xanh tươi”. Gần gũi cuộc sống nên được nhiều người thích và bình… mà nổi tiếng hơn. 

     “Bẽn lẽn” sở dĩ trở thành bài thơ rất hay: Bởi nó có những “câu thơ vàng”:

                       Trăng nằm sóng soãi trên cành liễu

                       Đợi gió đông về để lả lơi

     Hay:

                       Ô kìa, bóng nguyệt trần truồng tắm

                       Lộ cái khuôn vàng dưới đáy khe

     Là những câu thơ hay vào hàng kiệt xuất của thi đàn xưa, nay – Ngôn ngữ, nghệ thuật thi ca thì khỏi chê rồi… Vậy, ta xem về tình, ý (tức là nghĩa bài thơ) có viên mãn không, mà lại gọi là thơ hay?

    Bốn câu đầu, miêu tả cảm xúc của thi nhân với nguyệt trên trời, như một người tình (đã được nhân cách hóa), xuống lả lơi “nằm sóng soãi” (như tấm thân trắng ngần của người con gái) để… tình ái với Người – Cảm xúc đến mức độ: “hoa lá ngây tình không muốn động”, lòng người mới bồi hồi thốt lên gọi: “chị Hằng ơi”!

          Ta hãy chú ý, Hàn Mặc Tử đã tả hai câu thơ sau đó:

                       Trong khóm vi vu rào rạt mãi

                       Tiếng lòng ai nói? Sao im đi?

     Hai câu thơ này thuộc về “tư duy trong”: Lòng thi nhân bồi hồi, xao xuyến… Người nghe như văng vẳng tiếng mời chào của ái tình đang dậy lên ở trong mình… rồi lại lặng đi… nên hỏi: “Sao im đi”? Về nghệ thuật thi ca: Đây là cảm xúc nội tâm đang chan chứa trong lòng thi nhân, đồng họa với tiếng gió thổi qua khóm cây lau… nghe rào rạt – Về cấu tứ: Thơ được tư duy giống như trong bài “Qua đèo ngang” của BHTQ hạ hai câu thơ ở giữa bài:

                        Nhớ nước đau lòng con quốc quốc

                        Thương nhà mỏi miệng cái gia gia

      Hay như “Đây thôn Vỹ Dạ” của Hàn Mặc Tử, khi viết hai câu:

                        Gió theo lối gió, mây đường mây

                        Dòng nước buồn thiu, hoa bắp lay

      Để nói về nỗi đời chất chứa bên trong – Chính thế mà tình ý bài thơ mới được diễn tả một cách sâu sắc để tiến đến sự viên mãn – Trở lại với bài “Bẽn lẽn”, sau đó thi nhân tả:

                        Ô kìa, bóng nguyệt trần truồng tắm

                        Lộ cái khuôn vàng dưới đáy khe

     Hình ảnh bóng nguyệt in hình trong khe nước, nhưng chính là để tượng trưng cho cái thiên thai của người con gái, qua đó hạ hai câu kết về chuyện trăng hoa trai gái:

                        Em sợ lang quân em biết được

                        Nghi ngờ tới cái tiết trinh em

      Đây chỉ là cách nói mà HMT “ví chơi”: nhưng để nhân cách hóa với hình ảnh lấy làm biểu tượng về “cái ấy” của người con gái ở câu thơ trên: Ô kìa, bóng nguyệt trần truống tắm /-  Mà tạo nên sự dung dị, hoàn bích của bài thơ. Bài thơ chứa đầy những cảm xúc khao khát, vì nỗi tình quạnh vắng của thi nhân.

      Đọc sâu về nội tâm bên trong của Bẽn Lẽn, ta thấy từ ngôn ngữ, hình tượng thi ca… đến ý, tình của bài thơ đều quyện lấy nhau mà tuôn chảy theo dòng cảm xúc.

     Tôi bình đôi nét về một bài thơ hay ở thời hiện đại.

C/.  “THUYỀN VÀ BIỂN” của Xuân Quỳnh:  “thuyền”, biểu tượng cho người con trai – Và “biển”, chính người con gái ấy!

        Biển và thuyền quấn quít với nhau trong tình yêu của đôi trai gái. Xuân Quỳnh viết:

                   Lòng thuyền nhiều khát vọng

                   Và tình biển bao la…

     Hay là:

                   Những đêm trăng hiền từ

                   Biển như cô gái nhỏ

                   Thầm thì gửi tâm tư

                   Quanh mạn thuyền sóng vỗ

      Về tính cách của tình yêu, cũng có lúc say đắm – khi lại giận hờn. Nữ thi sĩ diễn tả:

                  Cũng có khi vô cớ

                  Biển ào ạt xô thuyền

                  Vì tình yêu muôn thuở

                 Có bao giờ đứng yên?

     Thơ được tư duy rất sâu sắc về nội tâm bên trong:

                 Chỉ có thuyền mới hiểu

                 Biển mênh mông nhường nào

                Chỉ có biển mới biết

                Thuyền đi đâu, về đâu…

      Thơ diễn đạt mọi chiều của tình yêu một cách rất lô-gích. Yêu đã thế, ngay cả khi nói về sự xa cách, cũng được lấy hình ảnh của “thuyền – biển” làm tượng trưng thật hay:

                Những ngày không gặp nhau

                Biển bạc đầu thương nhớ 

                Những ngày không gặp nhau

                Lòng thuyền đau – rạn vỡ…

     Hình ảnh “sóng biển bạc đầu”… trở thành sự “bạc đầu vì thương nhớ” của người con gái – Sự rạn vỡ của con thuyền…  để nói về sự quặn đau trong trái tim người con trai khi phải xa cô gái mình yêu.

     Đoạn kết thơ: 

                  Nếu từ giã thuyền rồi

                  Biển chỉ còn sóng gió

                  Nếu phải cách xa anh

                  Em chỉ còn bão tố…

     Nếu phải chia ly, cả đôi trai gái đều đau đớn và trái tim tan vỡ!

  –  Ý, tình bài thơ được đẩy tới viên mãn tột cùng. Ngôn ngữ hình tượng đẹp, tư duy lô-gích và giàu cảm xúc – Chính vì vậy, “Thuyền và biển” mới đạt được là một bài thơ hay, lưu mãi vào trong nền văn học nước nhà.

 PHẠM NGỌC THÁI 

Uống nước cây sả tươi làm cho tế bào ung thư tự tiêu hủy

Tại Do Thái, ruộng rãy trồng sả tươi là thánh địa cho bệnh nhân ung thư (cancer)

Uống một lìều lượng nhỏ chừng 1g cây sả tươi, chứa đủ chất dầu làm cho tế bào cancer tự hủy trong ống nghiệm. Các nhà nghiên cứu người Do Thái đã tìm ra đường lối làm cho tế bào cancer tự hủy diệt. Tại trường đại học Ben Gurion, Đầu tiên người ta thấy một nông dân tên là Benny Zabidov, người này đã trồng một loại cỏ trong trang trại Kfar Yedidya của mình thuộc vùng Sharon, ông này không hiểu sao có rất nhiều bệnh nhân cancer, họ đến từ khắp nơi trong nước, tập trung trước cửa nhà Zabidov hỏi xin cây sả tươi. Thì ra các bác sĩ bảo họ đến. Họ được khuyên phải uống mỗi ngày 8 lần cây sả tươi chụng với nước sôi trong những ngày họ đến chữa bằng radiation và chemotherapy. Tất cả bắt nguồn từ các nhà nghiên cứu tại trường đại học Ben Gurion thuộc vùng Negev, năm ngoái họ đã khám phá ra dầu thơm trong cây sả đã diệt được tế bào cancer trong ống nghiệm, trong khi tế bào lành vẫn sống bình thường.Dẫn đầu toán nghiên cứu là bác sĩ Rivka Okir và giáo sư Yakov Weinstein, giữ chức vụ của Albert Katz Chair, trong nghiên cứu sự khác biệt của tế bào và những bệnh ác tính.từ các phân khoa vi sinh học và miễn nhiễm tại BGU. Chất dầu sả là chìa khóa cấu thành đã tạo mùi thơm chanh và mùi vị dược thảo như cây sả (Cymbopogon ctratus), melissa (melissa officinalis) and verbena (Verbena officinalis) . Theo Ofir, sự học hỏi tìm ra chất dầu sả gây cho tế bào cancer tự tử gọi là chương trình gây sự tử vong của tế bào (programmed cell death). Uống một liều lượng nhỏ 1g cây sả có đủ chất dầu thúc đẩy tế bào cancer tự hủy trong ống nghiệm! Các nhà thanh tra thuộc trường BGU thử lại sự ảnh hưởng của chất dầu sả trên tế bào cancer bằng cách cho thêm tế bào lành, đã được nuôi cấy, vào. Số lượng cho vào bằng với số lượng trà cây sả với 1g đã được ngâm nước sôi. Nhận thấy trong khi chất dầu sả diệt tế bào cancer thì tế bào lành vẫn sống bình thường. Sự khám phá được đăng trên báo khoa học Planta Medica, được nhấn mạnh về các sự thí nghiệm các phương thuốc chữa trị bằng dược thảo. Ngay sau đó, sự khám phá đã được đưa lên phổ biến bằng các phương tiện truyền thông công chúng. Tại sao dầu sả lại tác dụng như vậy? Không ai biết chắc chắn, nhưng các khoa học gia trường BGU đã đưa ra một lý thuyết: trong mỗi tế bào của cơ thể chúng ta có một chương trình di truyền, nó đã gây ra một “chương trình tế bào chết”. Khi có điều gì sai lạc, tế bào phân chia ra mà không kiểm soát được và trở thành tế bào cancer. Ở tế bào bình thường, khi tế bào khám phá ra hệ thống kiểm soát không điều hành đúng, thí dụ khi nó nhận thấy tế bào chứa đựng những di truyền sai lạc khi phân chia – nó sẽ kích hoạt cho tế bào chết đi, đó là sự giải thích của Weinstein. Sự nghiên cứu này đã cho thấy lợi ích của dược thảo trên về mặt y khoa. Sự thành công của họ đã đưa tới kết luận về cây sả, có chứa chất dầu, được coi như có khả năng chống lại tế bào cancer, như là họ đã từng nghiên cứu tại trường BGU và đã được phổ biến trên truyền thông, nhiều bác sĩ tại Do Thái đã bắt đầu tin tưởng những nghiên cứu có thể mở rộng hơn nữa, trong khi vẫn khuyến cáo những bệnh nhân, tìm đủ mọi cách để chống lại căn bệnh này, bằng cách dùng cây sả để tiêu diệt tế bào cancer. Đó là lý do tại sao.trang trại của Zabidov – nơi duy nhất trồng cây sả (lemon grass) tại Do Thái – đã trở nên một thánh địa cho những bệnh nhân này. May mắn thay họ đã tự tìm thấy đôi bàn tay thần diệu. Zabidov đón tiếp những người khách viếng thăm với những ấm trà cây sả và những đĩa bánh ngọt bằng thái độ niềm nở, ông ta nói: ‘ Cha tôi chết vì cancer, chị vợ tôi chết khi còn trẻ cũng vì cancer. Vì vậy tôi hiểu rõ những gì họ đã phải chịu, và tôi có thể không biết gì về thuốc men, nhưng tôi biết lắng nghe. Những bệnh nhân thường nói với tôi về sự điều trị đắt tiền mà họ phải trải qua. Tôi không bao giờ bảo họ ngưng chữa trị, nhưng cũng rất tốt khi họ dùng thêm trà cây sả. Zabidov biết rõ tiếng gọi của nghề nông đã đến với ông từ thời trai trẻ. Ở tuổi 14, ông đã theo học trường trung học canh nông Kfar Hayarok.Sau khi phục vụ trong quân đội, ông làm việc cùng nhóm lý tưởng chủ nghĩa hướng về phương nam, trong vùng sa mạc Arava một moshav mới (argriculture settlement) gọi là Tsofar. Ông ta mỉm cười và nói:’ chúng tôi rất thành công. Chúng tôi trồng trái cây và rau. Chúng tôi cũng nuôi nấng những đứa con xinh xắn. Trong một chuyến du lịch sang Âu châu vào giữa thập niên 80, ônng ta bắt đầu thích dược thảo. Do Thái, ở một thời, thường có khuynh hướng là không gì thích hơn các món ăn Đông phương và chỉ có một số thể loại được trồng có tính thương mại như cây cần tây (parsley), cây thì là (dill), cây ngò thơm (coriander). Đi lang thang trong khu chợ Paris, tìm kiếm một vài loại dược thảo, Zabidov đã thấy được một tiềm lực có thể xuất cảng to lớn nằm trong một góc chợ. Zabidov mang mẫu về nhà, ông ta mỉm cười, nói: đây là sự bất hợp lệ có tính kỹ thuật, để xem chúng có thể lớn lên trong nhà kính vùng sa mạc không. Không bao lâu ông ta có thể trồng các loại như rau húng quế (basil), cây kinh giới (oregano), cây ngải giấm (tarragon), một loại tỏi (chives), cây đan sâm (sage), và bạc hà. Công việc của ông ta là phát triển cơ ngơi vùng sa mạc, ông ta quyết định di chuyển về phía bắc, lập trang trại moshav tại Kfar Yedidya, môt giờ rưỡi lái xe ở phía bắc Tel Avis. Bây giờ ông ta bán hàng mấy trăm kí lô cây sả mỗi tuần và đã ký kết những hợp đồng phân phối hàng với các tiệm thực phẩm. Zabidov đã chính mình học hỏi về dầu cây sả và giúp khách hàng của ông ta hiểu biết hơn nữa, cũng như mời các chuyên gia y khoa tới trang trại của ông ta, nói chuyện về công dụng của cây sả. Ông ta cũng có trách nhiệm để nói chuyện với khách hàng của mình về cách dùng dược thảo này, Khi tôi nhận thấy có gì xảy ra, tôi cầm phone lên và gọi bác sĩ Weistein ở đại học Ben Gurion, vì những người này hỏi tôi cách tốt nhất để dùng dầu cây sả. Ông ấy nói ngâm sả trong nước sôi và uống 8 ly mỗi ngày. Zabidov là người có công tìm ra cây sả, không phải đơn giải chỉ cho công việc trong trang trại, mà còn vì ảnh hưởng đến sức khỏe của chính ông ta. Ngay cả trước khi sự lợi ích của cây sả được biết đến và xử dụng, ông ta và gia đình đã uống trà cây sả hằng năm’bởi vì hương vị thích thú của nó’

 

CHIỀU THU PHONG

Nguyên Lạc

2.
Chiều vàng lá thu phong
Tiếng thu động trong hồn
Có người đầu sương điểm
Đứng lặng vời thu không!
.
Chiều lá đổ thu phong
Đầy mắt vời vô vọng
Ra đi là vĩnh biệt
Đã biết rồi sao mong?
.

3.
Rót thêm một ly đầy
Nhòe mắt hương rượu cay
Chiều thu xưa lá đổ
Tiễn người hay hồn tôi?
.
Thu phong mây trắng bay
Tà huân tiếng thở dài
Cố nhân? Này ly đắng
Mời bóng ta cùng say!
.
Chiều tàn … Ly rượu nầy
Rót thêm mời ai đây?
Biệt li chiều thu ấy
Cố say …
Nhưng sao không?!
.
Nguyên Lạc

SOMETIMES / m ٠i m  y


· .
SOMETIMES
s U m m E r T i M E

Thỉnh thoảng em
thỉnh thoảng tôi
đôi khi. thỉnh thoảng
ta ngồi như không
có việc gì đi lòng vòng
buồn buồn ghé lại bên hông nhà người
thỉnh thoảng em cười thiệt tươi
còn tôi thỉnh thoảng
biếng
lười
kinh thiên
thỉnh thoảng chúng ta
chia miền
về gom xứ lại
đốt
thiên sự buồn

31 Aug. 20

m ٠i m  y

đồi của nguời
rừng của trời
đi hoang nhánh lạ
cây bồi tịch liêu
ờ thì bước
[chậm]
liêu
xiêu
men theo dấu đợi
tuổi chiều ngây ngây
già đi
cũng có phiên ngày
mây nghe sảng khoái
chút gầy vóc thơm

h o à n g x u â n s ơ n
đi bộ sáng ngày 4 tháng 9
năm 2020

THUỞ MẸ RU


Nhạc & Lời Khê Kinh Kha
Danh Ca Ánh Tuyết Trình Diễn LIVE
tại Sài Gòn

thuở mẹ ru

1.
mẹ ngồi ru con đêm khuya mưa tới
mẹ ngồi ru con ru tình sông núi
mẹ ngồi ru con đong đưa năm tháng
vào nôi

mẹ ngồi ru con âm vang tiếng hát
mẹ ngồi ru con ru lòng sỏi đất
mẹ ngồi ru con ru them mái tóc
bạc phơ

thuở mẹ ru
ru gío qua sông
ru mưa về nguồn
ru mây qua rừng
ru trăng âm thầm
ru con nghiêng nằm
ru mãi nghìn năm

Thuở mẹ ru
ru nước lênh đênh
ru sông muộn phiền
ru thân phận buồn
ru tim âm thầm
ru con yên nằm
ru mãi nghìn năm

lời mẹ ru con lênh đênh trong gío
lời mẹ ru con chan hòa nước mắt
lời mẹ ru con câu thơ ngay ngất
hồn con

lời mẹ ru con bên hiên trăng xuống
lời me ru con qua đời mưa nắng
lời me ru con êm như tiếng suối
đầu non

2.
mẹ dạy cho con đôi chân con đứng
mẹ dạy cho con đôi bàn tay nắm
mẹ dạy cho con non sông hơn bốn
ngàn năm

mẹ dạy cho con con tim son sắt
mẹ dạy cho con tấm lòng yêu mến
mẹ dạy cho com trên môi tiếng nói
Rồng Tiên

thuở mẹ ru
ru gío qua sông
ru mưa về nguồn
ru mây qua rừng
ru trăng âm thầm
ru con nghiêng nằm
ru mãi nghìn năm

Thuở mẹ ru
ru nước lênh đênh
ru sông muộn phiền
ru thân phận buồn
ru tim âm thầm
ru con yên nằm
ru mãi nghìn năm

một ngày con đi mang thân phiêu lãng
mẹ ngồi bâng khuâng ru ngày hoang vắng
một lòng thương con bao la như cả
vầng trăng

gìơ mẹ thâu đêm rưng rưng thương nhớ
gìo mẹ âm u như ngọn nến úa
một đời mênh mông trăm năm thân xác
là bao

khê kinh kha

LỜI RU MẸ.

Nguyên Lạc


“Gió mùa thu mẹ ru con ngủ
Năm canh chầy thức đủ vừa năm” (Hát ru Nam bộ)

.
À ơi mẹ hỡi mùa thu
Mùa thu năm đó biệt mù con đi
Đem theo tàn mộng xuân thì
Bao năm chờ đợi… còn gì nữa đâu?!
.
Ngày về trông trước nhìn sau
Tìm đâu bóng mẹ? … “Trên đầu mây bay” 
Bao năm “cải tạo” đủ dài
Đủ cho mắt mẹ khóc ai hóa mù!
.
À ơi con hỡi mùa thu
Những lời ru mẹ nghìn thu vẫn còn
Bao năm mẹ đã ru con
Giờ con ru lại … lời buồn mẹ ru
.
À ơi con hỡi mùa thu
À ơi mẹ hỡi… Tìm đâu bóng hình?!
.
Nguyên Lạc