VỀ THĂM

VÕ CÔNG LIÊM

TRANH VẼ Võ Công Liêm: ‘Tĩnh vật Hoa trái’

tặng: phạm thị tuất.

mồng một tết năm ngoái
về thăm nàng
bên cầu ngói thanh toàn
con đường xưa
màu đất nung
hai bên bờ
bụi tre
xanh lá bay
miệng cười núp dưới nón bài thơ
mồng một tết năm ngoái
về thăm nàng
bánh tét chiên dòn
thơm mùi tóc

nắng
hây hây theo gió
về thăm nàng
mồng một tết năm ngoái
hai bên bờ
bụi tre
xanh lá bay
huệ đi rồi
từ mười năm
nọ
bên cầu ngói thanh toàn
cây bàng lá đỏ
nàng
viết
thư
tình tặng . tôi
không còn nhớ
ngày tháng nớ

bên cầu ngói thanh toàn
huệ và tôi núp mưa dưới mái
ngói cầu gỗ nghe răng rắc thời gian

thì ra
huệ
đã đi
rồi ./.

VÕ CÔNG LIÊM (ca.ab.yyc. đầu tháng 9/2020)

 

YẾU TÍNH Của THI CA TÂN HÌNH THỨC

  VÕ CÔNG LIÊM

TRANH VẼ VÕ CÔNG LIÊM : ‘Chân dung TTKM / TTKM’s Portrait’

 

   ‘Thượng đế đã sinh ra rất nhiều nhà thơ nhưng lại rất ít thơ’ (Charles Bukowski).

   Trong mọi trưòng phái thi ca đều có cái chất riêng của nó; nói theo phạm trù hội họa gọi đó là ‘matière’, là thực chất, chất liệu để thành thơ; một sáng tạo khéo léo (creative/skill) và đó cũng được coi là bề mặt của thơ; có khi tiềm ẩn trong dạng hoang đường (mythic metaphor) khó hiểu nhưng tăng thêm phần linh động cho thơ. Trong thơ dù bất luận mọi thể loại hay trường phái nào đều đòi hỏi một dạng thức bí truyền với một tiết tấu lạ lùng từ con chữ đến cách hành văn thời mới ‘nên thơ’. Ở đây chúng ta không đặc nặng vấn đề làm thơ mà tìm thấy nơi thơ có những sắc tố khác biệt, bởi; thơ là như-nhiên, là cõi-phi nó có từ tâm thức siêu lý phát sinh qua ngữ ngôn để thành thi tứ của thơ. Một lối thơ đặc trưng mang nhiều sắc thái khác nhau, tuôn chảy không dứt hoặc có khi dừng lạị để tiếp nối theo dòng luân chuyển như cách đọc không ngừng ở cuối dòng. Đó là yếu tính của thi ca tân hình thức –The Elements of New formalist Poetry. Bởi; như thế này: thi ca là cuộc chơi / the poetry game hay cho đó là trò chơi thi ca hay ‘thả thơ’ mà xưa nay đã có lần trải nghiệm. Nếu bạn hỏi một nhà thơ: ‘có cái gì hay trong đó? Nhân gian có gì lạ hơn không?  Đó là câu hỏi mà nhiều người yêu thơ sẽ trả lời: ‘tôi! tôi chả mấy thích’ hoặc nhà thơ Tây phương W.H. Auden nói: ‘thi ca chẳng làm nên sự thể / poetry makes nothing happen’. Cái đó nó thuộc về tâm lý nội tại, một sự chối bỏ của cái gọi là ‘bất khả thi’; yếu tính đó chính là chân lý như nhiên, nó thuộc vũ trụ của tâm hồn được khám phá nhờ cái nhìn vào cõi ngoài mà bắt gặp cái nhìn của ngoại giới, cũng từ chỗ đó mà thơ lần vào con đường siêu hình một cách tự nhiên, hài hòa giữa những lúc mưa nắng bất thường và chính trong sự bất thường đó là hạt lệ của thi ca tân hình thức. Chính vì vậy mà ngôn ngữ thi ca tân hình thức là một hiện hữu ở chính mình, bởi; trong thâm cung của mỗi con chữ tôi chứng kiến sự sinh ra tôi /Au fond de chaque mot j’assiste à ma naissance; đó là một tiếp giáp tương quan của sáng tạo, của ngôn từ. Thi ca tân hình thức không cần đến sự vật ngoại giới mà cần sự vật nội giới làm hình ảnh tiếp thu để trở thành ngữ-thơ trong ngôn từ; đó là lối chơi dũng cảm , tuồng như nửa đùa nửa thật của trò chơi chữ /game of words /jeu de mots. Nhưng; trong cuộc chơi thơ là một khám phá không ngừng mà thi ca tân hình thức là một biểu hiện:biểu dương ngữ ngôn là đối tượng giữa bản thể và tha thể. Biểu dương hình ảnh là cái nhìn trừu tượng của tâm thức. Biểu dương tâm trạng là ý thức thức tỉnh trực tiếp của bơ vơ, của bi thảm, của phân ly, của dày xéo. Cho nên chi thi ca tân hình thức không còn là  ‘hình thức’ của cái vỏ bề ngoài mà hình thức chứa đựng một nội tâm bị phủ quyết; họ bung lên để tìm thấy mặt trời ở chính mình và ở chính người là một xác quyết đầy chất sáng tạo mới.

Những thi sĩ hiện đại cũng như những nhà thơ tân hình thức là không muốn mang sang hay tỏ bày cho cái việc ‘trình diễn’ thơ. Họ làm thơ trong một khả năng không giới hạn, ăn ngay nói thiệt, họ đi từ nồi niêu để thấy trong nồi niêu là đồng thau, là vàng son rút từ cái không vần điệu của thơ không vần (blank verse) để biến mình vào một thể thức mới hơn (new formalist); nó gần giống như truyện không có câu chuyện. Đúng ra chúng ta không đứng ở vị trí khách quan mà thẩm định tấm lòng chung thủy thi ca của thi sĩ mà đụng chạm về quan điểm của họ. Thi ca là cơ bản cho một cuộc chơi, là luật thường tình của ngón nghề ăn ngay nói thiệt được bày tỏ trong hai phương diện của : người viết người đọc đó là cách chơi. Nếu người đọc chưa đả thông trọn vẹn hay cà giựt thì cuộc chơi sẻ không thực hiện được –Poetry is essentially a game, with artificial rules and it take two: a writer and reader to play it. If the reader is reluctant, the game will not work. Quả vậy! trong thơ tân hình thức có thể giúp cho ta tạo ra tiếng nói con người để cùng nhau đi tới tiếng nói trí tuệ là một phản ảnh thực tế giữa người làm thơ và người đọc thơ. Thơ tân hình thức ‘luân phiên tụng niệm’ là kiểu cách người chơi thơ. Một lối canh tân mới của thi ca tân hình thức. Họ thao tác trong việc dựng thơ là đổi mới tư duy trong trường phái của tân hình thức.

Chúng ta cũng biết rằng thơ tân hình thức là một trào lưu văn chương có từ cuối tk. thứ hai mươi và đầu tk. thứ hai mươi mốt, một trường phái mới và bốc lửa. Trong đó đáng kể thi ca Mỹ châu, đặc biệt ở Hoa kỳ đã được thăng tiến như một sự trở về âm luật của thơ (metrical) và cước vận của thơ (rhymed verse). Tranh luận giữa hai trào lưu thi ca vẫn còn tiếp tục trong thời sự của văn chương, tuy nhiên; dạng thơ tân hình thức còn duy trì và tung hoành trên mạng báo nhiều hơn ở lúc này. Nhớ cho; năm 2006 thi ca tân hình thức đã trở nên ‘phủ sóng’ một cách vững chắc trong luật tắc của văn chương đương đại Mỹ. Ngược lại; người ta coi thơ tân hình thức gần như thứ tản văn, một thứ văn xuôi tầm thường (prosaic); vì thế mà đưa tới cái nhìn nhỏ nhặt và ấn vào đó một cách sâu đậm về mặt tình cảm của con người qua thi ca tân hình thức và nhìn nó như thứ không hợp thời trang. Cuối cùng đưa tới phê phán một cách thậm tệ; một lối thơ có cung cách trưởng giả pha chất phong kiến (bourgeois)… Thế nhưng; trào lưu thi ca tân hình thức lại được bộc phát một cách mãnh liệt kể từ 1960 đến 1978 như một trào lưu thi ca đương đại.

Thơ tân hình thức không có chi là trưởng giả hay coi thường các thể thơ khác hay đặc mình trong vị trí cố hữu của người chơi thơ, trái lại; nó đã đánh thức trong ta cho một trả lời củng cố về nhịp điệu của vần thơ, dù cho ngắt dòng hay vắt dòng hay lập lại là thể thức dụng văn của thi ca tân hình thức. Nhưng; nếu nhìn một cách độ lượng thi ca tân hình thức còn có chức năng khác bằng một kết hợp đặc biệt của những gì thuộc âm nhạc, một thi ngữ có vần điệu. Thí dụ: Nhạc của Trịnh Công Sơn hầu hết xử dụng nhạc từ theo dạng tân hình thức, bỏ lửng, vắt dòng đưa tới những nhạc từ rất lạ đời; nếu như nghe kỹ thì điệu nhạc nghe mới hơn và tạo nét đặc thù cho nhạc mà ngay cả thơ là ở chỗ đó. Bình thơ và nhạc không thể dẫn chứng  hay ‘phanh phui’ để nói cái hay mà phải nhận biết yếu tính của thơ, nhất là thơ tân hình thức nó có một sự hổn hợp đặc biệt của những gì thuộc âm nhạc và phẩm lượng của ngữ ngôn –It is a special combination of musical and linguistic qualities. Chúng ta bỏ mất nhịp điệu (rhythm) trong thơ chẳng khác nào ta bỏ mất thanh điệu (nhạc) hay giọng điệu (thơ) khi bàn về thơ và âm nhạc. Người ta thường phổ thơ để thành nhạc ít khi nghe phổ thơ THT để thành nhạc, ngoại trừ nhạc sĩ Trịnh Công Sơn hay Ngô Thụy Miên, họ đã trình diễn con chữ trong nhạc có ‘điệu’ của tân hình thức. Nghe lạ tai và mới lạ trong suy tư. Thơ hay nhạc là những khoảnh khắc thức tỉnh của đời sống con người. Ngôn ngữ là phương tiện cho thơ chớ thơ không phải là phương tiện của ngữ ngôn. Nhạc thơ cũng thế và chỉ có một không hai là thi nhạc sĩ Bob Dylan (Mỹ) mà thôi. Dylan hát như đọc thơ là điều hiếm có ở cõi đời này.

Những nhà thơ tân hình thức mở rộng và chấp nhận mọi khuynh hướng từ quá khứ tới hiện đại, phá vỡ những biên giới giữa nhiều bộ môn nghệ thuật khác nhau, giữa hội họa, âm nhạc và văn chương, giữa hình thức nghệ thuật nầy với bât cứ hình thức nghệ thuật nào khác. Tân hình thức còn chấp nhận mọi khám phá của những phong trào tiên phong khác, từ thế hệ Beat, trường phái New York đến những thi pháp của Olsm, Creeley theo quan điểm ‘nothing is true everything is permitted’(Trong Tân Hình Thức của Khế Iêm –Văn Mới 2000). Nói chung thơ là một hổn hợp bởi ba nghệ thuật: âm nhạc, truyện kể và hội họa qua màu sắc của con chữ. Trong thơ tân hình thức ta bắt gặp thường xuyên ngữ điệu như thế. Thi ca Tân hình thức là một áp đặt con chữ để đi tới thích ứng của thơ, đi tới một điều kiện hiện hữu trong những gì mà chúng ta tìm thấy ở chính chúng ta, nó giúp cho chúng ta diễn đạt của đọc thơ qua trạng thái của tâm thức –it helps us articulate our states of mind. Trần Dần có một bài thơ và nhiều bài thơ khác diễn cảm bằng một thứ tình cảm éo le, chan chứa. Đọc xem để thấy thơ tiền chiến và hậu tiền chiến đã dẫm chân lên môi trường của tân hình thức:

‘Bước lặng

Tôi về cõi lặng?

một trời

tôi vẫn lạc quan đen

tôi bước lặng bên tôi

không một ai – mà vẫn bước

đều

cho đến lúc say nâu

tôi rẽ vào phố lặng

(Trong bài thơ tựa đề Nhân Sinh của Trần Dần NXB Đà Nẵng 2007)

Một bài thơ khác của Trần Dần qua cách thức vắt dòng nhưng vẫn liên kết trong ngữ điệu của thơ tân hình thức:

tôi khóc thu không – nhưng thu

không không khóc

cũng không cười?

không trống?

chỉ là lằng lặng thu không’

(Trong bài Uẩn khúc Ga cuối)

Thời kỳ hậu một chín bảy lăm là con đường ngược chiều giữa tiền chiến và thế hệ tiếp nối, phủ nhận toàn bộ lối thơ xưa cũ, ước lệ của lục bát, thơ 7, 8 chữ hoặc thơ xuôi, thơ không vần ngay cả ca dao dùng ngữ điệu thông thường, bởi; những thể thơ như thế dựa vào ngữ điệu hay vần điệu để thành lời thơ, ngược lại thơ tân hình thức dựa vào thể âm luật (metrical) với kỹ thuật vắt dòng (enjambment); vắt dòng bất cứ nơi nào trong câu thơ và đôi khi tiếp tục như thế cho tới cuối dòng… Thế nhưng có những luật tắc tương tợ lẫn nhau: ‘Tân hình thức và Tự do gần giống nhau, gần với cách nói thông thường, còn tạo được nhịp điệu…’ (Khế Iêm. Trong tập Tân Hình Thức. 2000 USA). Nói vậy Chầu văn hay Hầu văn, hò Giã gạo, Đồng bóng là nhạc cổ điển Huế cũng đã xử dụng nhịp điệu của hình thức tân hình thức mà vẫn lôi cuốn người nghe qua những câu hò vấn đáp suông sã và nhịp nhàng mà giờ đây đã phục sinh. Nếu xếp những thứ đó để trở thành văn xuôi thời nó trở nên văn kể chuyện hoặc cho đó là thơ không vần có phần nhẹ nhàng hơn cả văn xuôi một cách trung thực bởi không bận tới yếu tố thị giác.

Hậu 75 phát sinh những dòng thơ mới hơn cả thơ mới, nó mang mang chất tân hình thức; bởi nó không ngừng lại theo ước lệ của thơ; vì thế mà làm cho thơ không thoát theo trí tưởng mà làm mất ‘duyên thơ’:

‘Mưa bay lất phất gió căm căm

Đường lầy trơn nhà cửa tối tăm

Trốn đâu lũ trẻ mặt lem luốc

Co ro đứng coi tù qua thôn

vác bó cuốc bước loạng choạng

về trong xây xẩm buổi tàn đông

lạnh lẽo nhà ai không đèn lửa

ảm đạm lòng ta chiều cuối năm’

(Thanh Tâm Tuyền. Trại Vĩnh Phú Đông 1976)

Có những câu thơ xen lẫn nhau là một sự kết hợp  giữa 5 chữ (ngũ ngôn) sáu, bảy chữ (lục, thất ngôn) là luật tắc của Trung Hoa mà chúng ta thường bắt gặp trong thơ dân gian của Việt Nam như trong Ca Huế của thơ Tứ Đại Cảnh, Nam Ai, Nam Bằng…) Với âm sắc đó với chất thơ lắp đặc (poetry installation) phản phất chất thơ trình diễn (the poetry art-performance) hơn cả thơ có vần điệu. Đọc bài thơ này:

‘Đêm đã nhuốm màu lên làn da em

Lên đôi mắt vòng vòng một quầng đêm

Đêm đã nhuốm màu lên đôi bàn tay em

Để em không thể nhìn thấy anh

Bằng xúc giác

Đêm đã nhuốm màu lên lưỡi của em

Để em không thể nhìn thấy anh

Bằng vị giác

Dêm đã tràn vào từng sợi thủy tinh của chiếc đèn vàng

Và khe khẻ hát

Để em không thể nhìn thấy anh

Bằng thính giác’

(Đêm và Anh của Ly Hoàng Ly Hà Nội 2006).

Đấy là những gì mà nhà thơ khéo xử lý (tact) để cho dòng thơ trở nên nhịp nhàng cân đối, câu này liên kết câu kia dẫu có vắt dòng hay ngắt dòng vẫn duy trì đường nét phá thể của hình thức mới. Nhận thức được điều này thời đó là tính đa dạng của thi ca –acknowledges the diversity of poetry. Khéo xử con chữ cũng như vận thơ thì đạt tới cái đích của thơ, phải thấu đáo cho thơ có ‘hồn’ nhiên  thì thơ mới có trọng lượng. Đó là chỉ tiêu làm thơ. Tân hình thức đòi hỏi xử thế con chữ trong mọi cách hành văn thơ là việc cần chú ý cho thơ tân hình thức, nếu không biết vận dụng ngữ ngôn thi ca một cách trong suốt thì thơ tân hình thức bị nghẽn một cách vô lý, vô vị so ra không đúng đường lối thơ vô nghĩa (nonsense-poetry) mà tuột hậu giữa con đường cái quan của tân hình thức. Nói ra nghe dễ cho việc làm thơ, nhưng; không phải dễ như một số đông đã làm thơ. Họ chú trọng làm thơ theo khuynh hướng của thị hiếu; thấy dễ ‘chơi’ cho nên chơi thử mà thành thiệt. Làm thơ trở thành thói quen như hút thuốc lá hoặc có khi phỏng theo hay cốp-pi (imitation) để cho ra thơ rồi từ đó biến mình thành thi sĩ. Thơ tân hình thức là một vận dụng trí tuệ, vận chuyển con chữ để kết dòng là sở đắc của người làn thơ theo thể thức mới. Nói đúng ra; ai làm thơ cũng được cả, nó hao hao với nhau có gì khác mà phân tích, chẳng qua bày vẻ cho thêm chuyện và dựa vào đó để bình thơ chớ không tìm thấy yếu tính của thi ca. Cho nên chi hằng triệu bài văn bình giải thơ, từ xưa đến nay tợ như hò mái nhì, đả đớt như mem cơm. Văn và thơ song hành kiểu đó thì có khác chi ‘mùa thu lá bay’. Cứ đem ba cái chuyện đời xưa ra bình giải thì hóa ra nó trở về cái ‘nonsense’ mà không thấy mình đang rơi vào hố thẳm của văn chương. Hãy sáng tạo là yêu cầu mật thiết cho người làm thơ; sở dĩ như thế vì tương quan sáng tạo là tương quan của ngôn từ. Cái sâu thẳm của thơ tân hình thức là con chữ gần như tiếp giáp với cuộc đời, lời thơ phát ra với một tâm như nhiên, một tiếp cận giữa người và thơ. Henri Bosco nói: ‘J’ai mes allumettes: les mots’ Đó là định đề cố hữu của người làm thơ; nói chung, với thơ tân hình thức lấy ngôn từ để soi sáng nội tâm mỗi khi nhận ra vũ trụ ngoại giới là thấy mình hiện hữu với tâm trạng của mình. Cái sự đó nó nằm trong bối cảnh của tân hình thức. Thơ của tân hình thức là đi vào trong kịch tính (drama) và trong sự diễn giải (narration) là vai trò chủ thể đối diện với tha thể trong một liên trình tiếp diễn của trạng huống tâm lý hay cảnh quang vật lý. Như vậy chúng ta đã đạt tới yếu tính  trong thi ca bằng một cố gắng làm nên thơ. Sự đó là nồng cốt miêu tả của thi tứ, sự đó nó đến với chúng ta như nhận lấy sự cảm thấy và thói tính của thi nhân –It is of the essence of poetic description that it come to us charged with the poet’s feelings and attitudes. Nhưng; đôi khi trong thơ lại ẩn tàng (implicit) đôi khi lại bộc bạch (explicit) bằng lời thơ tự thuật hay tự phê về mình. Sở trường của thơ tân hình thức là vắt dòng hay chuộng vần điệu, nhưng; lại sở đoản trong trong phong cách trình diễn, bởi vấn đề của của chất giọng (tone) hay nhịp điệu (rhythm) và ẩn dụ (metaphor). Chú ý vào bốn câu thơ mở đầu trong tập Tân Hình Thức của tác giả Khế Iêm. Thái độ hoặc cảm xúc gì đã truyền đạt qua lời thơ và làm thế nào để nhận ra sự vận chuyển đó. Bài thơ được chia ra 5 đoản khúc. Dẫn ở đây 3 đoản khúc:

Khi tôi ngồi uống cà phê ngoài lề

đường và kể lại câu chuyện đã được

kể lại từ nhiều đời mà đời nào

cũng giống đời nào, mà lời nào cũng

giống lời nào, về người đàn bà và

đàn con nheo nhóc (nơi góc phố được

gọi là chỗ chết, nơi góc phố được

gọi là chỗ sống), kẻ những đường kẻ

bằng than đen, gãy góc, xấu xí như

cái bóng trong tấm hình cũ, như dĩ

nhiên hôm nay ngày mai ngày mốt, như

thế thôi thì thế thôi, biết đâu chừng

(Hai khúc  sau lập lại của hai khúc đầu)

(Tân Hình Thức Và Câu Chuyện Kể của Khế Iêm)

Sang bằng bài thơ thì đó là chuyện kể, chuyện kể bằng thơ. Thơ tân hình thức giản dị như cơm với cá như mạ với con. Chúng ta đọc để ‘nghe’ chớ chẳng phải bình luận, Vì; nó là thơ tân hình thức. Là tinh thể của tâm hồn theo thể thức mới; nó phản chiếu vào đó những nghi vấn cuộc đời để thành thơ. Nó đang cần một sự giải thoát. Nói chung nó là thứ thuộc ngữ ngôn siêu hình (metaphorical language). Gần như trong thi ca tân hình thức chứa đựng một thứ siêu hình, trừu tượng và một thứ ngữ ngôn chăm biến hay ‘chọc quê’, bởi; ngôn từ của tân hình thức có thể giúp cho chúng ta nắm được mối tương quan của người làm thơ và người đọc thơ, cái đó là mạch nối giữa những gì lạ lẫm hoặc giúp cho ta làm nên một đối xử giữa có và không của thơ. ẩn tàng và mai mỉa là cơ bản cặp đôi của ngữ ngôn thi tứ -Methaphor and irony are the twin bases of poetical language. Tuy nhiên; vẫn nhìn nhận việc xử dụng ngữ ngôn như thế là nhấn mạnh vào hình ảnh (image emphasizes) một sự bộc phát tự nhiên của tình thương yêu, thứ đến là hài hòa một cách điềm nhiên để cho thơ thoát tục. Yếu tính thi ca tân hình thức là chú trọng tới âm luật của câu thơ với tất cả vần điệu là hiệu năng trong thi ca. Trong Anh ngữ cái sự chuyển thành thơ có nghĩa rằng đó là vấn đề to tát của chất giọng (accents) và ngắt câu (pauses). Ngắt câu là chấm dứt bằng một ngữ pháp thông thường cái đó gọi là diễn đọc và viết thành thơ và như thể tạo ra ký hiệu cho ngữ ngôn. Đọc tập thơ ‘Có Những Ngày’ của nhà thơ tân hình thức Hồ Đăng Thanh Ngọc để thấy những gì thuộc nhịp điệu (rhythmical) mà tác giả xử dụng trong cùng một khuôn khổ của thơ, nó không đi ngoài những gì của tân hình thức, một điều gì rất thường nhưng chất chứa cái vô hạn trong đó đúng vị trí của thơ tân hình thức, một tỏ rõ chung tình giữa người và vật. Đọc để thấy, nghe và suy ngẫm suốt trong hơn 70 bài thơ đóng tập (NXB Thuận Hóa. Huế 2019) là một phản ảnh cụ thể của thơ tân hình thức:

Có một hoàng hôn như chiêm

Bao như ai đó đốt câu thơ cũ

thả vào cánh cò như ai

đó kêu lên có con chim gãy chân

lạc vào rừng ngón mưa như

ai đó kêu lên bắt lấy giấc mơ

bỏ vào chai rượu như ai

đó kêu lên bắt lấy hoàng hôn thả

vào bóng đêm như ai đó

kêu lên bắt lấy con chim chơi trò

trốn tìm như ai đó kêu

lên về nhà bắt khói kẻo khói bay

mất chỉ còn một dấu hỏi

như ai đó kêu lên hãy bắt lấy

khói kẻo khói bay mất sẽ

chỉ còn một dấu lạnh có một hoàng

hôn như thế có ai kêu

lên

(Một Hoàng Hôn)

Hậu 75 với một thế hệ đã qua; hai muơi lăm năm trên đất người đã sản sinh những người Mỹ gốc Việt làm thơ Việt ngữ là thời điểm bùng dậy của trào lưu thi ca tân hình thức, hình thức này đã ảnh hưởng không ít vào tâm hồn của người xa xứ. Quả vậy; dòng thơ tân hình thức đến đúng lúc hơn bao giờ, bởi; trong thâm tâm người làm thơ, thời ấy; như có một sự khước từ bởi bức tử như vết sẹo khó phai mờ; đó là một sự trải qua lắm chông gai. Người làm thơ lúc này không lấy qui ước để làm thơ là vì khó để phát huy tư tưởng, nó gò ép, gượng gạo, thập thò như đứng trong vòng thép gai. Cho nên họ phá rào để nói những gì từ lòng họ một cách thỏa thê qua con chữ, phản ảnh trực tiếp những đoái hoài mong đợi để vượt thoát, để gặp gỡ tự do và từ đó họ phóng mình vào một hình thức mới hơn như ngôn ngữ thoát tục, là một sự vượt thoát vô hạn hữu không bị chận lại (unrestrict), phủ nhận để đón nhận là hai môi trường của tâm trạng muốn bung lên bằng văn từ hay thi tứ cho một sự phản kháng, phản kháng qua tâm thức. Tâm thức ở đây là đối tượng chủ thể được qui về trong cái nhìn tương quan sự vật, một cái nhìn so sánh sự vật: cái gì của quá khứ và cái gì của hiện tại để làm sáng tỏ vũ tụ tâm hồn là hòa nhập vào cái vũ trụ mơ về bằng mọi nỗ lực khác nhau…Lấy thi ca để xoa dịu, lấy thi ca để phàn kháng đó chính là đối tượng biểu dương, nhờ đó mà thấy được tâm trạng của mình. Đó là lý luận trên cương vị giải bày tâm trạng để nhập cuộc qua lời thơ, tiếng nhạc, họ hòa nhập như một ‘hòa âm điền dã’ đúng tiêu chuẩn của trường phái thi ca đương đại. Thơ tân hình thức là ‘à la mode’ hợp thời trang thời thượng giữa lúc này.

Cuối cùng những dòng thơ là tự nó đánh dấu của một chấm câu đúng chỗ -The end of a line of verse is itself a mark of punctuation, cái chấm câu đúng chỗ ta gọi là chấm hết (end-stopped) thơ tân hình thức không chấm hết mà nó được tiếp tục trong những gì thuộc ngữ pháp mà được coi như dòng thơ tuôn chảy (line run-on) hoặc cùng lắm là không ngắt câu hay vắt dòng (enjambed) mà thêm vào đó những gì khác lạ hơn.Thi nhân thường dùng thơ không vần hay thơ tự do là vì; nó có tính chất độc lập ở cái chỗ ngắt câu (enjambment) để cho con chữ của họ thêm trọng lượng trong thi ca. Chúng ta tìm thấy những gì trong đó. Qua tập thơ ‘Ngôn Ngữ Xanh’ NXB Văn Học Press. USA 2019 của thi sĩ Nguyễn Thị Khánh Minh. Với nữ sĩ họ Nguyễn đã dựng thơ tân hình thức trước thời điểm Hoa Kỳ liệt kê tân hình thức là thi ca đương đại. Ý thức đó đã đến từ trong tâm hồn của người biệt xứ, chớ chẳng phải đến bây giờ mới là đương đại. Nói chung giữa kỷ nguyên của thập niên chín mươi đã hình thành thơ tân hình thức ở Việtnam nhưng chẳng mấy quan tâm vì ‘bộ dáng’ khác lạ của nó cho nên chi phong trào tiên khởi tân hình thức không mấy chú ý. Thế nhưng; trường phái tân hình thức ở nước ta nhập cuộc trước thời điểm bùng dậy khắp toàn cầu. Bởi; một điều rất tự hào là người Việt chuộng thi ca như mạch sống. Đọc lại những bài thơ tân hình thức trước đây như một chứng tích của hình thức thi ca mới.

1.

Tôi đã mở cửa ban mai. Bằng nụ cười

Tôi đã đóng cửa ban mai. Bằng tiếng khóc

Thì đâu là nơi. Của ánh sáng. Của bóng tối

Ngoài tôi

2.

Tôi che ánh nắng

Để tìm một bóng mát

Qua khe hở của tấm màn

Sót một đường sáng mong manh

Đường chỉ trắng. Long lanh hơn cái ánh sáng nó che

Cũng tựa như vậy. Khi tôi ngồi trong bong tối

3.

Đừng bật thêm đèn nữa

Ngày đã sáng lắm rồi

(Xin lỗi) hay vì con mắt tôi

Đã quen rồi bóng tối …

(Sáng. Tối) Thơ NTKM 2002.

Hầu hết những bài thơ tân hình thức của nữ thi sĩ Nguyễn đã thực hiện là dựng trong một khung cảnh của đổi mới tư duy, thiết kế và cấu trúc đúng đường lối chủ trương của tân hình thức, bởi; rõ nét nhất ở chỗ gieo vần là yếu tính quan trọng trong thi ca âm nhạc –Rhyme is an important element in musical poetry (như đã dẫn ở trên). Nhưng; ít đi những gì kịch tính trong thi ca. Trong thơ của Nguyễn tạo được âm thanh một thứ âm thanh ‘nguyên chất /purely’ có thẩm mỹ cách (aesthetical) coi như là phong thái của thơ tân hình thức, cái đó gọi là điệp vận và âm vọng (alliteration and assonance). Nói rộng ra cho trọn ý: Điệp vận là lập lại cái đã có cùng chữ, cùng nghĩa. Âm vọng là lập lại cái ‘âm thanh’ nguyên âm trong cùng một nghĩa hoặc phụ trợ vào dòng thơ. Đấy là yếu tính của thi ca tân hình thức.

Tóm lại bất cứ thể loại nào phải thực hiện đúng với tâm hồn thơ.Thơ đòi hỏi một sự độc lập, và sáng tạo không câu nệ cưỡng ép cung cầu. Thi ca là một cảm thức nhạy bén từ trí tuệ không vì một lý do nào mà phải ‘gò lưng’ hay ‘rặn đẻ’ để thành thơ. Thi ca phản ảnh lòng chân và hồn nhiên là việc tự nhiên cấu thành. Ai cũng là thi sĩ nhưng có ba hạng thi sĩ. Thi sĩ có ‘tầm cở’ và thi sĩ ‘ba phải’ thời nhất thiết không thể liệt kê là thi sĩ của thi ca ; ngay cả hàng hiệu chưa hẳn phải là hàng thiệt huống là thơ ./.

VÕ CÔNG LIÊM (ca.ab.yyc. cuối tháng 8/2020)

KHI TRẺ CÓ TÍNH ĂN TRỘM, ĂN CẮP

VŨ THỊ HƯƠNG MAI

Trẻ ăn cắp, ăn trộm là một hành vi không tốt, phát triển về sau có thể vi phạm pháp luật, là một trong những vấn đề các bậc cha mẹ quan tâm. Hành vi trộm cắp ở lứa tuổi nhi đồng cũng không hiếm thấy, nhưng tình tiết nặng nhẹ khác nhau: trẻ nhẹ, nói cho nghiêm túc thì không coi là trộm, trẻ nặng là đã hình thành thói xấu trộm cắp. Tình trạng trộm cắp tùy lứa tuổi hoặc nguyên nhân khác nhau, phương thức biểu hiện cũng khác nhau.

Nguyên nhân trẻ ăn cắp

+ Để thỏa mãn nhu cầu về vật chất:

Trẻ 4 – 5 tuổi cầm đồ của người khác chỉ thuần túy là do thích. Chúng chưa hiểu cái gì là của mình, cái gì là của người khác, vẫn chưa hiểu được quy tắc đồ vật người khác khi chưa cho phép thì không được tùy tiện lấy. Nhưng trẻ ở thời kì này đã có sẵn năng lực biết phân biệt. Do đó, cha mẹ phải giúp con phân biệt đồ vật của mình và của người khác và dạy cho con biết quy tắc đồ vật của người khác là không được lấy.

Khi một đứa con đã phân biệt được cái gì là của mình, cái gì là của người khác, biết rõ cầm đồ vật của người khác là không đúng, không tốt, nhưng nhìn thấy đồ vật của người khác đẹp, lại không tự khống chế được bản thân, cố ý lấy đồ vật của người khác rón rén đưa về nhà mình đó là thuộc vào hành vi trộm cắp. Đối với việc làm đó, cha mẹ không thể xem nhẹ bỏ qua, cũng không thể giải quyết thô bạo, phải đối xử nhẫn nại, tìm phương pháp sửa chữa tốt đối với trẻ.

+ Trẻ ăn cắp ảnh hưởng không tốt của gia đình:

Các nhà tư vấn tâm lý phát hiện rất nhiều hành vi ăn cắp của trẻ có liên quan đến giáo dục của cha mẹ và ảnh hưởng không tốt của gia đình.

Tuy vấn đề là ở bản thân đứa trẻ, nhưng gốc rễ lại ở gia đình, cha mẹ. Ví dụ, cha mẹ nhặt được của rơi, về nhà thích thú, con sẽ để ý và nhớ trong lòng, ngấm ngầm học theo. Đó là mong muốn nhặt được của rơi dần dần tăng lên và rồi nhuốm phải hành vi ăn cắp, ăn trộm. Khi cha mẹ phát hiện đựơc hành vi ăn cắp của con, có cha mẹ làm ngơ không qủan, có cha mẹ đánh đập tàn bạo, kết quả của những việc làm đó thường sẽ làm con đi theo đường cực đoan, trượt dốc xa hơn. Cần phải nói rằng con ăn cắp, cha mẹ có phần trách nhiệm.

+ Ăn cắp là một loại phản xạ có điều kiện:

Trong quá trình tư vấn các nhà tâm lý học đã phát hiện: trước khi trẻ ăn cắp chúng thường có những hành vi không tốt như nói dối, ghét học, hút thuốc, trốn học… Nếu những hành vi không tốt đó, không được phát hiện và giáo dục kịp thời rất dễ phát triển thành hành vi ăn cắp. Nói chung, trước hết là ăn cắp trong nhà, một khi đã thành công thì từ trong nhà dần dần chuyển sang ăn cắp ngoài xã hội. Từ ăn cắp vặt phát triển thành những thói quen xấu hễ thấy vật gì của người khác, không quản có cần hay không, đều phải ăn cắp cho được. Cũng có nghĩa là ăn cắp đã hình thành phản xạ có điều kiện.

+ Ăn cắp vì đời sống bần cùng- xã hội sa đọa:

Trong xã hội còn phân giai cấp, trẻ em nghèo khó ăn cắp để kiếm sống, trẻ em hư hỏng ăn cắp để thỏa mãn nhu cầu vui chơi, nước ta ngày nay tệ nạn xã hội đó vẫn còn nhiều và ảnh hưởng của nó không dễ xóa bỏ được. Cho nên, trẻ em ăn cắp vì nguyên nhân nói trên vẫn còn khá nhiều, tạo thành một tệ nạn mà biện pháp giáo dục bình thường không thể sửa chữa được. Chính quyền phải tổ chức những nhà trường đặc biệt để cải huấn các em. Cha mẹ nên hợp tác với chính quyền để hoàn thành tốt công việc cải huấn đó.

Ngoài những lý do trên, cũng còn có những nguyên nhân phức tạp khác làm dẫn đến những hành động trên. Trẻ giận dữ hoặc chúng muốn người khác quan tâm đến chúng. Hành động ăn cắp phản ánh những vấn đề khó khăn và căng thẳng mà chúng gặp phải ở nhà, ở trường, hoặc trong quan hệ bạn bè. Một số trẻ ăn cắp vì chúng cảm nhận hành động đó như một lời kêu gọi giúp đỡ khi bị tử thương về tình cảm hoặc bị cha mẹ đánh đập.

Bác sĩ tâm lý Mary-C.Ghentile, bang MaryLand đã từng nói: “Bọn trẻ cũng thường ăn cắp nếu chúng đang nổi giận, hoặc bất hòa giữa cha mẹ hoặc cũng có thể chúng muốn níu kéo cuộc hôn nhân của cha mẹ. Lạ hơn nữa chúng ăn cắp vì chúng muốn làm như vậy chứ không có một nguyên nhân sâu xa nào cả”.

Sửa chữa hành vi ăn cắp của trẻ như thế nào?

+ Bồi dưỡng quan niệm phải, trái:

Trẻ ăn cắp, tuyệt đại đa số đều bắt đầu từ sự thiếu hiểu biết đạo đức chính xác. Do đó, đối với việc sửa chữa loại trẻ này trước hết phải giúp chúng hình thành quan niệm phải trái đúng đắn, bắt đầu từ sự nhấn mạnh cảm giác phải trái. muốn làm được điều này cần phải xuất phát từ trình độ nhận thức thực tế của chúng dần dần nâng cao, phải làm cho trẻ hiểu được ăn cắp là một hành vi không tốt, nếu hôm nay chỉ ăn cắp vặt, thì ngày mai có thể ăn cắp lớn hơn, rồi dần dần sẽ đi vào con đường tội phạm. Như vậy, thông qua giáo dục nhiều lần, bồi dưỡng quan niệm phải trái cho trẻ sẽ làm tăng thêm quyết tâm cải tà quy chính của chúng.

+ Xác lập lòng tin, bảo vệ lòng tự tôn:

Trẻ có hành vi ăn cắp, có lòng tự tôn hay không? Rất nhiều người cho rằng, những đứa trẻ này giáo dục nhiều lần không chịu cải tạo, căn bản không có lòng tự tôn. Kì thực không như vậy bởi vì đòi hỏi được sự tôn trọng của người khác là đòi hỏi cơ bản của con người, trẻ cũng không ngoại lệ. Cha mẹ phải bảo vệ lòng tự tôn của con, phải cố gắng kéo chúng ra khỏi con đường lầm lỗi nếu không chúng sẽ không phân biệt được phải trái, chứng nào tật ấy, lấn sâu vào lỗi lầm. Cha me phải xuất phát từ nguyện vọng chân thành được tôn trọng, bảo vệ, cố gắng khai thác ưu điểm của trẻ, áp dụng nhiều biện pháp biểu dương, khen thưởng, tín nhiệm, thắp sáng lòng tự tôn của chúng, gợi dậy cảm giác vinh dự cho trẻ, loại trừ tình cảm đối kháng, xác lập lòng tin tiến thủ.

+ Tạo lập cơ hội tỉnh ngộ, thúc đẩy tâm lý biến chuỷên:

Khi đứa trẻ phạm sai lầm nhưng sau qua giáo dục, nhận thức được sai lầm và muốn sửa chữa sai lầm, thì gọi đó là sự tỉnh ngộ.  Cha mẹ nên tạo cơ hội tỉnh ngộ cho trẻ có hành vi ăn cắp. Ngòai việc động viên tinh thần cho trẻ, cha mẹ phải làm cho con hiểu rõ hành vi ăn cắp là xấu xa. Một khi thấy con sửa chữa, cha mẹ phải kịp thời nắm bắt cơ hội khẳng định cho con, làm cho con chuyển biến.

+ Tăng cường việc củng cố thói quen hành vi mới:

Trẻ có hành vi ăn cắp, sau khi tiếp thu giáo dục, có lúc có cải tạo thay đổi. Khi hành vi mới chưa được củng cố, trong thời gian ngắn hành vi cũ vẫn có thể ảnh hưởng tới trẻ. Nếu trẻ có thói quen ăn cắp, do không sửa chữa triệt để, khi chúng có cơ hội lại tiến hành ăn cắp, mà không làm chủ được. Nhất là khi có sự lôi kéo của bạn bè, lại có thể làm những điều sai trái khác. Do đó, khống chế điều kiện bên ngoài một cách thích đáng, trong một thời gian thích đáng, giúp cho trẻ tránh xa những sự lôi kéo mê hoặc nào đó là rất quan trọng và thông qua giáo dục để cho chúng quyết định lòng tin và quyết tâm đấu tranh với sai lầm. Khi trẻ đã có tiến bộ, cha mẹ phải kịp thời biểu dương, khen thưởng, cổ vũ. Nhưng khi trẻ “tái phát” cha mẹ cũng không nên sốt ruột lo lắng quá mà phải kiên trì thuyết phục, phê bình để trẻ cảm thấy hổ thẹn, động lòng tự giác sửa chữa sai lầm.

Như vậy có thể thấy nếp sống gia đình là thành trì bảo vệ trẻ chống lại mọi tật xấu, trong đó có tật ăn cắp. Nếu cha mẹ tổ chức được nếp sống tốt thì những đứa trẻ trong gia đình sẽ trở thành những đứa con ngoan. Nhưng nếu cha mẹ đã sơ hở, công việc giáo dục có phần lỏng lẻo và các con đã sinh tật ăn cắp thì các bậc làm cha làm mẹ phải bình tĩnh, giữ thái độ giáo dục, đồng thời chỉnh lại nếp sống cho con.

VŨ THỊ HƯƠNG MAI

miễn là đời có em

Khê Kinh Kha

miễn là đời có em

có phải em từ tranh Tố Nữ
từ tranh Tố Nữ em bước ra
hay em là Tây Thi nước Việt
trở lại trần gian dáng kiêu sa

kiếp này anh nguyện chỉ mình em
mình em trong trái tim của anh
đường trần dù trăm nghìn mưa gió
bên nhau ta bước vào trăm năm

miễn là tình có em
thì đời đầy lẽ sống
sống bên em nghìn năm
trong tình yêu hương phấn

miễn là mình có nhau
trong tháng ngày yêu dấu
thì dù vạn núi cao
hay trăm nghìn vực sâu
anh cũng sẽ vượt qua
bên em đến bạc đầu

Khê Kinh Kha

BÀI THƠ VUI TẶNG CUỘC ĐỜI TÔI

Châu Thạch

  •  
  • ĐỌC TẬP THƠ “BÀI THƠ VUI TẶNG CUỘC ĐỜI TÔI”  CỦA TẦN HOÀI DẠ VŨ.             

  •  
  • Tần Hoài Dạ Vũ, thi nhân mà tôi yêu mến thơ ông từ khi còn rất trẻ. Cho đến nay, sau bao nhiêu đổi thay của lịch sử – xã hội, tôi lại càng cảm thấy yêu thơ ông nhiều hơn trước nữa .

    Tần Hòa Dạ Vũ, là một trong những người có tác phẩm văn chương mang dấu ấn thời đại, để lại cho thế hệ sau dấu vết của một thời nhiễu nhương và một thời yên tịnh, vào cuối thế kỷ 20 và đầu thế kỷ 21.

    Tập thơ “Bài thơ Vui Tặng Cuộc Đời Tôi” vừa phát hành, in 100 bài thơ của Tần Hoài Dạ Vũ; sách in rất đẹp, trang nhã, sang trọng.
    Tôi hoàn toàn đồng ý với TS. Huỳnh Văn Hoa, người viết “Lời giới thiệu” tập thơ, rằng: “Nhà thơ muốn đem tiếng thơ vui tặng cho chính lòng mình, lại có tiếng thơ buồn, tiếng gọi nhân sinh, tặng cho cuộc đời này”. Vì thế, tôi sẽ chỉ gọi tên tập thơ này là “Bài thơ vui Tặng Cuộc Đời”.
    Và tôi hân hạnh được thưởng thức tập thơ nầy trong những ngày cơn dịch Covid-19 vây hãm xã hội.
    Tiếng thơ Tần Hoài Dạ Vũ đưa tâm hồn tôi đi đến xứ sở của Cái Đẹp. Tôi thấy vẻ đẹp trong thơ Tàn Hoài Dạ Vũ không khác chi chiếc cầu vồng bảy sắc hiển hiện ở chân trời trong một bình minh hay một hoàng hôn nào đó.

    Cảm nhận đầu tiên của tôi khi đọc tập thơ này là:

    1. Thơ Tần Hoàn Dạ Vũ, tiếng thơ của lương tri:

    Lương tri là khả năng hiểu biết, nhận thức đúng đắn điều phải trái, đúng sai hình thành ở con người, qua thực tiễn cuộc sống. Như Vương Dương Minh, người xướng thuyết lương tri, thì lương tri chính là “tính linh của tạo hóa phú bẩm cho con người, kết tinh lại trong tâm ta”. Vậy, khi nói tiếng thơ của Tần Hài Dạ Vũ là tiếng thơ của lương tri, nghĩa là chính tiếng thơ ấy thể hiện lương tâm con người.

    Hãy đọc những vần thơ trong bài thơ đầu tiên in trong tập sách:

    “Anh sẽ đi xuyên qua nỗi buồn và số phận cô dơn bắng trái tim tĩnh tại.
    Anh sẽ gọi nắng về trong đêm tối tâm hồn và sẽ đọc lời chúc phúc cho mọi nỗi thống khổ nhân gian”
    … “Hãy cho anh được dành hết cuộc phiêu lưu diệu kỳ của một kiếp người khốn cùng trong niềm tin vĩnh cửu.”
    … “Hãy cho tôi được ở bên cạnh bạn, những người khốn cùng, và hãy cho tôi hôn cuộc dời nầy, như hôn chính trái tim tôi!”
    (Hãy Cho Tôi Hôn Cuộc Đời Này!”

    Vậy đó, thơ Tần Hoài Dạ Vũ không phải là thơ của một tu sĩ, thơ Tần Hoài Dạ Vũ cũng không phải là thơ của người đấu tranh cho công lý, nhưng thơ Tần Hoài Dạ Vũ mang bản sắc cúa hai nhân vật nầy

    Trong toàn bộ tập thơ, Tần Hoài Dạ Vũ cũng yêu như mọi người, mà còn hơn thế nữa; cũng đau như mọi người, mà còn hơn thế nữa; nhưng nhà thơ mang tình yêu đó, mang nỗi đau đó, như hình ảnh của người tự nguyện đi qua trủng bóng chết vì ước nguyện tìm một thiên đàng thanh bình cho em, cho bạn, cho mọi người và trước hết là cho chính mình.

    Cảm nhận thứ hai của tôi khi đọc tập thơ nầy là:

    2. Thơ Tần Hoài Dạ Vũ, là tiếng thơ cúa trải nghiệm cuộc sống:

    Nhà thơ nào cũng phải trải nghiệm cuộc sống thì thơ mới hay, nhưng thường họ làm thơ như rơi vào hố sâu, như đi vào ngõ cụt, như tiếng rên cho thân phận, trên linh hồn khô héo cúa mình. Tần Hoài Dạ Vũ thì khác, nhà thơ chấp nhận nỗi đau, bước qua mọi nghich cảnh và trải nghiệm mọi nỗi đời như chính nó là cứu cánh, để cuộc sống được thăng hoa trong cõi con người.:

    Anh bơi qua đời cạn
    Bằng trái tim chân thành
    …Chưa bao giờ ân hận
    Dẫu đời cho đắng cay
    …Cũng chưa hề hờn tủi
    Trong ngõ cụt phận mình
    …Rồi một ngày hy vọng
    Gõ cửa lòng bất ngờ
    Anh đón nhận câu thơ
    Tặng hồn mình nắng mới…
    (Hồn Như Nắng Mới)

    Thơ đối với Tàn Hoài Dạ Vũ là phần thưởng nhận được sau trải nghiệm cuộc đời. Phần thưởng đó là niềm vui bắt được điều mà nhà thơ hằng ngưỡng vọng:

    Cơn gió về rồi mùa mới xuân sang
    Số phận nào neo bến bờ thao thức
    Mặt trời em soi lòng anh náo nức
    Đời sẽ vui hơn, nhịp sống mới hương tràn?
    (Ngưỡng Vọng)

    Và khi “Đời sẽ Vui hơn, nhịp sống mới hương tràn” là khi nhà thơ thấy được chân hạnh phúc của cuộc đời:

    Đến một lúc nào đó
    anh chợt nhận ra
    chính sức mạnh tình yêu giữa con người với con người
    đã dắt anh đi qua những nỗi đời thống khổ
    để biến đổi tâm hồn anh
    và đưa anh đến gần hơn nữa
    với hạnh phúc của sự an bình.
    (Hạnh Phúc Của Sự An Bình)

    Cảm nhận thứ ba của tôi khi đọc tập thơ nầy là:

    3. Thơ Tần Hoài Dạ Vũ, tiếng thơ của Cái Đẹp hài hòa:

    Tình yêu nam nữ là động lực tạo cảm tác nhiều cho mọi nhà thơ. Người đẹp trong thơ Tần Hoài Dạ Vũ không phải là người đẹp nguyệt thẹn hoa nhường, nhưng là người đẹp nhân cách; người đẹp có dung nhan và nhan sắc tâm hồn hài hòa nhau, như “Trang sách thơm giữa đời”, như “dòng sông xanh vẫn trôi chảy an lành” và như “Bầu trời đêm ánh sao sáng thanh bình”:

    Em là trang sách thơm giữa đời mà anh chưa đọc
    Em môi hoa ngắm mãi chiếc gương đời
    Nỗi buồn âm thầm như ánh lửa xa khơi
    Trong đêm tối lòng anh về ám ảnh
    (Tiếng Chim Hót Bên Hồ)

    Em là cánh chim báo một mùa hy vọng
    Là ánh dương quang chiếu lại cuộc đời anh
    Là dòng sông xanh vẫn trôi chảy an lành
    Trong tâm thức của một mùa khổ nạn
    Em là giọt mưa lành trên lòng anh hạn hán
    Là bầu trời đêm ánh sao sáng thanh bình
    Khi em về lòng đã gọi bình minh
    Và anh đón tiếng đời vui câu hát.
    (Giấc Đời Ân Sủng)

    Ai đó là người đẹp của Tần Hoài Dạ Vũ trong đời, chắc hẳn sẽ nghe “Tiếng chim hót bên hồ” trong lòng mình mãi mãi; người đó sẽ cảm nhận được “Giấc đời ân sủng” mà mình nhận được từ chính những dòng thơ này.

    Đọc thơ về “Em” của Tần Hoài Dạ Vũ, lòng ta dậy lên một thứ men tình yêu làm cho ấm áp tâm hồn, nhận lãnh sự ban cho của người nữ trong trái tim mình. Nhận lãnh một thứ hương tình yêu tinh khiết của bầu trời, của ánh dương quang chiếu rọi, để “đón tiếng đời vui ca hát” cả khi trong tâm thức ta đang là “một mùa khổ nạn”.

    Cảm nhận thứ tư cúa tôi khi đọc tập thơ nầy:

    4. Thơ Tần Hoai Dạ Vũ là, tiếng thơ của tình yêu đắm say cao thượng:

    Trong 100 bài thơ in trong tập “Bài Thơ Vui Tặng Đời” thì hầu như thơ tình yêu chiếm gần trọn. Thơ tình yêu của Tần Hoài Dạ Vũ không có bài nào không cho ta thứ hương rất thanh và vị rất lành, cả vẻ đẹp trang nhã. Nhà thơ yêu với tất cả linh hồn, tôn vinh người yêu đến tận cùng cái đẹp, nhưng nhà thơ không yêu cuồng loạn, không si mê đến dại khờ, không sa đà trong men rượu hay khóc lóc trong tình trường:

    Em sáng danh cánh chim trời cao quý
    Em tài hoa thần nữ của niềm vui
    Trong cuộc đời anh là kẻ quay lui
    Em ánh sáng soi đường anh đi tới.
    (Hoa Trái Thơm Đời)

    Em, trong thơ Tần Hoài Dạ Vũ là “Hoa Trái Thơm Đời”, không phải ma túy cho anh khát khao đắm duối, không phải là men rượu làm anh say túy lúy, mà “Em” là đôi cánh thiên thần bay trong bầu trời thơ trong trẻo vô biên của anh.

    Còn Tình Yêu trong thơ Tần Hoài Dạ Vũ là thứ tình yêu cao thương, vị tha. Chắc hẳn nhà thơ cũng “Yêu là chết trong lòng một ít”, “Cho rất nhiều song nhận chẳng bao nhiêu”, giống như thơ Xuân Diệu. Thế nhưng, Tần Hoài Dạ Vũ không một lời trách móc người yêu “Em đài các, lòng cũng thoa son phấn/ Đôi bàn chân kiêu ngạo dẫm lên thơ” như Đinh Hùng, hay như bao nhiêu nhà thơ khác đã bi lụy, hư cấu nỗi sầu làm cho trời đât ngã nghiêng, mà Tần Hoài Dạ Vũ luôn:

    Anh yêu em trăng đợi phía chân trời
    Và đêm lạnh rất dài trong nỗi nhơ
    Môi hôn cũ còn lửa nồng trong gió
    Yêu một ngày mà nhớ ở muôn nơi
    (Lặng Lẽ Đời Chia)

    Anh viết cho em câu thơ dài bối rối
    Chuyến xe đi chiều nắng lạnh trong lòng
    Vẫn yêu người chuông đổ phía chờ mong
    Câu son sắt chưa một ngày quên lãng.
    (Chưa Một Ngày Quên Lãng)

    Trong tập thơ, Tần Hoài Dạ Vũ viết nhiều đề tài. Nếu phải nhận định hết và đủ ý những đề tài ấy, có lẽ phải viết 100 trang chưa đủ. Vậy nên, cuối cùng tôi xin trình bày cảm nhận khái quát cúa tôi về tập thơ nầy:

    5. Thơ Tần Hoài Dạ Vũ, bài thơ vui tặng đời:

    Nhan đề của tập thơ, như tôi cảm nhận, là “Bài Thơ Vui Tặng Đời”. Tôi nghĩ toàn bộ sự nghiệp văn chương của Tần Hoài Dạ Vũ cũng gói gọn trong cụm từ nầy. Vì tâm huyết đó mà Tần Hoài Dạ Vũ đã lặn lội 30 năm nơi đèo heo hút gió, nơi thâm sơn cùng cốc để sưu tầm, biên soạn lại vốn văn học dân gian xứ Quảng và sáng tác những vần thơ trữ tình tặng đời, như những vần thơ hay sau đây:

    Em là hoa hay là hương của đất
    Hương của đời và hương của trời thơ
    Đêm sẽ tan ngày mở của đợi chờ
    Bàn tay lạnh trong tay đời nồng ấm

    Ngày em tới trời xuân mây xuống chậm
    Áo không bay hồn phất phới bay về
    Em mở lòng hoa cỏ mở sơn khê
    Và anh mở cơn mơ vào nhan sắc
    (Bài Thơ Vui Tặng Cuộc Đời tôi)

    Thế đó, em của Tàn Hoài Dạ Vũ không chỉ là một mỹ nhân, một đóa hoa hay một vầng trăng. Em của nhà thơ này là hương nồng của đất, hương sắc của đời và của hoa cỏ sơn khê; nghĩa là, em mang linh hồn của thơ, hay đúng ra, em của tác giả chính là linh hồn của tác giả, của con người yêu thiên nhiên, yêu đời và yêu những cơn mơ nhan sắc.

    Hãy tiếp tục đọc bài thơ:

    Trời buổi ấy như mắt người khuê các
    Như hướng dương không cần thấy mặt trời
    Như thuyền yêu đậu lại bến tình tôi
    Và sóng gió đêm dịu dàng trăng mật

    Em say rồi lệ ngời nơi cuối mắt
    Và mùa xuân nép bên ngực ân tình
    Anh bồi hồi lòng mới chạm bình minh
    Đời mới chạm ánh sáng ngày ân sủng
    (Bài Thơ Vui Tặng Cuộc Đời tôi)

    Em của Tần Hoài Dạ Vũ không như Thúy Vân “Mây thua nước tóc tuyết nhường màu da”, cũng không như Thúy Kiều “Hoa ghen thua thắm liễu hờn kém xanh”, mà em của Tần Hoài Dạ Vũ chính là mây, là tuyết, là hoa, là liễu, là một bài thơ chất chứa vẻ đẹp của thiên nhiên và của cả con người. Em của nhà thơ là sự hài hòa êm đềm, vô vi trong ân sủng của Con Tạo mà nhà thơ hằng nhận lãnh.

    Rồi cuối cùng, Em của Tần Hoài Dạ Vũ là con thuyền đưa nhà thơ vào sâu trong dòng chảy của thạch động, đậu vào bến an lành, để nhà thơ thực chứng, chiêm ngưỡng và chiêm nghiệm sự lung linh huyền diệu của hạnh phúc ngày xanh, trong cơn mưa ân sủng của đời:

    Em là mộng mở cửa đời thực chứng
    Gọi hồn anh về bên bến an lành
    Hương của đời hay hạnh phúc ngày xanh
    Mở hết dạ đón cơn mưa trần thế!
    (Bài Thơ Vui Tặng Cuỗc Đời tôi)

    Tần Hoài Dạ Vũ sáng tác bài thơ nầy thật tuyệt vời. Bài thơ không chỉ để tặng em mà còn làm “Bài Thơ Vui Tặng Cuộc Đời”. Qua em, nhà thơ cảm tạ ân sủng của cuộc đời đã ban cho mình. Lầy nhan đề bài thơ làm tựa đề cho cả tập thơ của mình, tôi nghĩ Tần Hoài Dạ Vũ muốn bày tỏ tấm lòng mình với đời: chan chứa yêu thương, mở rộng vòng tay đón những cơn mưa trần thế và mơ ước sự nghiệp của mình, tuy nhỏ nhoi, nhưng cũng làm được như một “Bài Thơ Vui Tặng Đời” vậy.

    Hãy bước vào vườn thơ của Tần Hoài Dạ Vũ, để thấy đời đẹp như vạn luống hoa, để thấy niềm đau cũng có nhan sắc của Cái Đẹp, của hương vị thanh bình, của Uóc mơ hướng thượng, và để tâm hồn ta mở rộng như tấm lòng ta, cánh tay ta âu yếm nhận và trao, trao và nhận muôn vàn tinh túy ẩn, hiện trong thơ giữa cuộc đời nầy!
    Châu Thạch

ĐỌC “NỖI BUỒN ĐAN CẲNG CHÉO” THƠ ĐẶNG TƯỜNG VY

Châu Thạch  

NỖI BUỒN ĐAN CẲNG CHÉO    

  • Ai cầm tay ngọn gió
    Xước cả một trời đau
    Dấu sầu mang bụi đỏ
    Đường về có còn nhau  
     Nhịp đời nung đỏ đóm
    Đếm từng hơi thở buồn
    Gã mặt trời giấc muộn
    Thôi làm bạn chim muông  
     Cõng buồn sang ngõ nhỏ
    Nói lời với người xa
    Nổi trầm qua nhịp gõ
    Thời gian có đâu là  
     Vuốt giọt sương kẽ lá
    Vô thường có gọi tên
    Giả vờ thôi đừng dạ
    Đời còn chút nhớ quên  
     Ao tù qua mấy nẻo
    Quạ quang quác trời xa
    Nỗi buồn đan cẳng chéo
    Chân trần thắt ngõ qua  
     Tay buông lơi tràng hạt
    Thôi nguyện cầu ngày mai
    Chữ duyên còn bỏng rát
    Chén rượu đời men cay.
  •  04/08/2020 Đặng Tường Vy  
  •  
  • Lời bình: Châu Thạch        
  • Những ngày trốn dịch Covid trong nhà, tôi tìm nguồn vui riêng cho mình, là đọc thơ của các bạn facebook, khám phá cho mình nhiều bài thơ hay của những tác giả còn xa lạ đối với tôi. Sáng nay vừa thức giấc, còn nằm trên giường đã đọc được một bài thơ hay. Đó là một bài thơ có ý tứ lạ lùng nhưng độc đáo.         “Nỗi Buồn Đan Cẳng Chéo”: Chỉ cái đầu đề thôi có thể cho ta trề môi chê trách vì thật là vô nghĩa. Thế nhưng chịu khó đọc bài thơ, ta sẽ tìm được một hình ảnh trẻ vui và lạc quan trong nỗi buồn của tác giả.         Vậy hãy vào ngay khổ đầu của bài thơ để thấy nó lạ và nó độc đáo ở đâu:                   Ai cầm tay ngọn gió
                             Xước cả một trời đau
                             Dấu sầu mang bụi đỏ
                             Đường về có còn nhau  
         
  • Trước hết tác giả ngược đời khi tả nỗi sầu nằm trong ngọn gió mang đầy bụi đỏ. Người đi trên đường về cô đơn, không còn nhau nữa. Gió cuốn qua không gian như có người cầm tay nó chạy, để lại sau nó, bụi đỏ bám trên những dấu tích kỷ niệm nằm trên đường về.         Thường thường thì cảnh sinh tình, nhưng để sinh tình buồn, cảnh phải sâu lắng, nên thơ và hiu hắt, giống như Thúy Kiều buồn khi ở “Trước lầu ngưng bích khóa xuân/ Vẻ non xa tấm trăng gần ở chung”vậy.         Thế nhưng ở đây, đọc khổ thơ đầu của “Nỗi Buồn Đan Cẳng Chéo” ở trên, ta thấy ngay nhà thơ có khuynh hướng tả thật. Sự thật thì nhìn có thể nghịch lý, nhưng chính nó là thật thì có nghịch lý vẫn là sự thật. Đây là sự thật có ý vị, là một cảm xúc bất chợt sinh ra trên con đường về, mà một cây bút e dè không dám viết thành thơ bao giờ, và một cây bút non tay cũng chẳng bao giờ viết thành một bài thơ hay được.         Bây giờ xin mời bước qua khổ thơ thơ thứ hai:.                                                      Nhịp đời nung đỏ đóm
                             Đếm từng hơi thở buồn
                             Gã mặt trời giấc muộn
                            Thôi làm bạn chim muông  
         
  • Trong khổ thơ nầy, chiều đang xuống dần dần. Chiều đang xuống dần dần vì “Gã mặt trời giấc muộn/Thôi làm bạn chim muông” trong khi “Nhịp đời nung đỏ đóm/Đếm từng hơi thở buồn”. Chỉ có buổi chiều thì cảnh mới làm cho buồn, và chỉ có cảnh mặt trời lặn thì mặt trời mới “Thôi làm bạn chim muông”. Nếu cảnh bình minh thì mặt trời “sẽ” hoặc “sắp” làm bạn chim muông chớ không “thôi” bao giờ.

     
         Khổ thơ vẽ nên một khung cảnh không đẹp nhưng bức tranh lại đẹp vì tài hoa của bàn tay nghệ sĩ, đã phát họa như thật cả hơi thở buồn của buổi chiều trong sắc đỏ, là một màu sắc đối nghịch với vẻ buồn mà người họa tranh hay người viết văn thường hay né tránh.          Qua khổ thơ thứ ba:                             Cõng buồn sang ngõ nhỏ
                             Nói lời với người xa
                            Nổi trầm qua nhịp gõ
                            Thời gian có đâu là  
          Nhiều nhà thơ đã viết “cõng mẹ”, “cõng vợ” hay “cõng em” để diễn tả hình ảnh thân thương với những người thân yêu của mình. Nhà thơ dùng từ ngữ “cõng buồn” cũng cho ta một cảm nhận thi vị trong nỗi buồn của tác giả. Có lẽ tác giả muốn nói mình đến con ngõ nhỏ, kỷ niệm hiện về êm ái, nỗi buồn nhè nhè đến, đem hạnh phúc trở về trong tâm tưởng, như những điều âu yếm năm xưa còn đó, nỗi buồn không làm nặng bờ vai.         Khổ thơ hoàn toàn diễn tả được sự giao cảm giữa hai người qua giác quan thư sáu. “Nói lời với người xa” là nói tiếp những gì ngày xưa đã nói với nhau. “Nối trầm qua nhịp gõ” là truyền thông hiểu nhau qua nhịp thời gian trầm gõ, và “Thời gian có đâu là” nghĩa là thời gian không thể làm mờ phai tình yêu và kỷ niệm.         Bước qua khổ thơ thứ tư:                  Vuốt giọt sương kẽ lá
                          Vô thường có gọi tên
                          Giả vờ thôi đừng dạ
                         Đời còn chút nhớ quên  
         
  • Nhà thơ vuốt giọt sương trên kẽ lá, tức thì cảm nhận ngay sự vô thường ở đời giống như “trực chỉ nhân tâm/kiến tánh thành đạo” trong giáo lý nhà Phật. Thế nhưng ở đây nhà thơ không kiến tánh sự vô thường trời đất mà kiến tánh sự vô thường của tình yêu. Sự vô thường đó chính là tình yêu của mình. Tình yêu của tác giả thì có năm, có mùa, có tên tuổi được gọi lại trong con tim lúc nầy, nên nhà thơ đã “Giả vờ thôi đừng dạ” và tự an ủi lòng mình “Đời còn chút nhớ quên”.         Khổ thơ diễn đạt sự nhớ nhung, sự bâng khuâng xảy ra trong lòng tác giả. Câu thơ dung dị, dễ thương mà sâu xa ý nghĩa, bộc lộ một tâm hồn cởi mở, lạc quan, vị tha trong tình yêu và cuộc sống.         Qua khổ thơ thứ tư, không gian nặng nề hơn, nỗi buồn của tác giả “Cõng” trên vai đã trĩu, nên tác giả phải rũ bỏ nó, bằng cách vừa đi vừa nhảy, đan cẳng chéo như trẻ em tung tăng khi phấn chấn trong lòng:                            Ao tù qua mấy nẻo
                            Quạ quang quác trời xa
                            Nỗi buồn đan cẳng chéo
                            Chân trần thắt ngõ qua  
     
  • Hình ảnh trong thơ thật là sống động, cho ta tưởng tượng được vạn vật đã u trầm, người đi mang đầy tâm sự, đã quyết tâm vứt bỏ nỗi buồn bằng dáng đi như in nốt nhạc trên con đường chiều. Khổ thơ như một đoạn phim hiển hiện trước mắt có bóng dáng, màu sắc và tiếng nhạc từ vết chân chim của thiếu nữ.         Khổ cuối bài thơ hơi nghịch lý ở chổ cô gái có tràng hạt trên tay:                    Tay buông lơi tràng hạt
                             Thôi nguyện cầu ngày mai
                             Chữ duyên còn bỏng rát
                             Chén rượu đời men cay.  
         
  • Nếu không khó tính, người đọc có thể hiểu câu thơ mang ý nghĩa quyết tâm quên quá khứ vừa nẩy sinh trong lòng tác giả. “Tay buông lơi tràng hạt/ Thôi nguyện cầu ngày mai” là bỏ trong lòng đi những ước nguyện tái ngộ hay mơ ước một lâu đài tình ái sau nầy. “Chút duyên còn bỏng rát/ Chén rượu đời men cay” là tiếng than cho mối tình nồng nàn như chén rượu đã uống. Hương vị của mối tình đó khi tưởng niệm, tác giả còn tưởng tượng được như còn bỏng rát trên làn môi.        
  • Đọc “Nỗi Buồn Đan Cẳng Chéo” của Đặng Tường Vy ta như đi qua một căn phòng treo nhiều tranh lạ, màu sắc tưởng như phản cảm  nhưng lại cuốn hút ta đứng lại nhìn, nhìn lâu và nhìn say sưa, bỏ đi còn nuốn quay lại nhìn. Với tôi, bài thơ cho tôi niềm vui khi vừa thức giấc và giết được thì giờ của tôi cả buổi sáng hôm nay./.
      Châu Thạch

     
     

NHẬN BIẾT CHƯ PHẬT QUA HÌNH DÁNG TƯỢNG THỜ

 

*

– Trích từ VÀO CHÙA LỄ PHẬT – NHỮNG ĐIỀU CẦN BIẾT

của Đặng Xuân Xuyến ; Nhà xuất bản Văn Hóa Thông Tin 2006 –

Vào chùa lễ Phật, cho dù ở ngoài đời mỗi người một tâm tính nhưng khi đứng trước Ban thờ Phật, mọi bon chen, toan tính của đời thường dường như không còn nữa mà thay vào đó là những khuôn mặt hướng thiện, những ánh mắt trong sáng, chan chứa niềm tin gửi nơi cửa Phật.

Cứ nhìn cử chỉ dâng hương, ánh mắt thành kính, và những cái chắp tay lạy Phật của tín đồ Phật giáo mới thấy lòng chí thành, khẩn thiết của họ, mới cảm nhận sâu sắc sự tôn nghiêm, thanh tịnh chốn Phật đường.

Tuy vậy, cũng không ít Phật tử đang thành tâm hành lễ dâng hương lại không biết mình đang đứng vái lạy, cầu xin trước chư Phật (Phật và Bồ Tát) nào? Và lời cầu xin ấy có đúng sở nguyện của chư Phật đó khi đắc đạo, để lời cầu xin ấy được toại nguyện?

Tất nhiên, chư Phật nào cũng từ bi, hỷ xả, cứu độ chúng sinh nhưng mỗi chư Phật khi đắc đạo có sở nguyện khác nhau nên thiện nam tín nữ phải phân biệt được tượng thờ các chư Phật để lời cầu xin được chư Phật chứng giám.

1. Tượng thờ Phật Thích Ca:

Tượng thờ Phật Thích Ca mặt tròn, đỉnh đầu có gò thịt nổi cao, cằm vuông vức, nơi ấn đường (chỗ đầu hai lông mày giao nhau) có nốt ruồi đỏ. Tai dày, tròn, đầy đặn, thành quách phân minh, sắc trắng hơn mặt. Hai tay dài và dày. Ngực có chữ vạn, mình vàng, sắc hoàng kim.

Cũng tùy theo bố trí thờ cúng của mỗi chùa mà tượng Phật Thích Ca có các tư thế đứng, ngồi khác nhau. Tuy nhiên, tượng Phật Thích Ca thường được tạc theo thế ngự trên đài sen, hai tay để ấn tam muội, đôi mắt khép lại ba phần tư.

Cũng có chùa ở tầng cao nhất, sát vách cửa chính điện, thờ “Tam Thế Phật”, đó là các vị Phật của ba thời gian: Quá khứ (Phật A Di Đà), hiện tại (Phật Thích Ca) và vị lai (Phật Di Lặc). Ba tượng Tam Thế có kích thước và hình dáng giống nhau, đỉnh đầu có gò thịt nổi cao như búi tóc, tai dài, tóc xoắn ốc, ngực có chữ vạn, mình có sắc hoàng kim sáng rực, ngồi trên tòa sen.

2. Tượng thờ Phật Di Lặc:

Tượng Phật Di Lặc thường được an vị ngay ở cửa ra vào, hiếm khi được thờ ở chính điện.

Khi thờ ở Tam Thế Phật thì tượng Phật Di Lặc giống tượng Phật Thích Ca nhưng khi thờ riêng, thường là ở ngay chỗ cửa ra vào thì tượng Phật Di Lặc được tạc theo tư thế ngồi ngả lưng ra đằng sau, nhành miệng ra cười ngặt nghẽo, hớn hở như khoe cái bụng phệ, béo tròn, vô lo vô nghĩ của mình, mà cũng giống như niềm hân hoan chào đón khách thập phương và hoan hỉ ban niềm tin cho du khách.

Cũng có chùa thờ Ngài Di Lặc theo tượng hình một vị hòa thượng mập mạp, mặc áo phơi ngực, bày cái bụng to tướng, xung quanh Ngài có năm, sáu đứa trẻ quấy nhiễu mà Ngài vẫn cười ngặt nghẽo…

3. Tượng thờ Phật A Di Đà:

Phật A Di Đà là hiện thân đời sống vĩnh cửu và trí tuệ hào quang nên có hai danh hiệu: Vô lượng thọ Phật (đời sống của Phật dài vô lượng, vô biên) và Vô lượng quang Phật (hào quang của Đức Phật chiếu tới các cõi thập phương).

Theo lời Phật Thích Ca trong kinh A Di Đà thì cõi Phật ở phương Tây cách xa Trái Đất hàng vạn ức dặm. Cõi Phật có tên Cực Lạc quốc (Sukhavati), là nơi có đời sống hạnh phúc, an lạc. Chúng sinh nào muốn được về cõi Cực Lạc thì phải thành tâm tu trì, tin đức Phật A Di Đà.

Tượng Phật A Di Đà thường có những nét đặc trưng: Đầu có các cụm tóc xoắn ốc, mắt nhìn xuống, miệng thoáng nụ cười cảm thông cứu độ, mình mặc áo cà sa, ngực có chữ vạn ở khoảng trống của áo cà sa, ngồi hoặc đứng trên toà sen.

Đi theo hầu Phật A Di Đà thường là hai vị Bồ Tát: Đại Thế Chí và Quan Thế Âm. Ba tượng này được gọi là bộ A Di Đà Tam Tôn. Tượng Phật A Di Đà thường được tạc thờ theo hai thế:

– Tượng ngồi kiết già trên tòa sen, tay kiết định ấn, hình dáng tương tự như Phật Thích Ca nhưng có sự khác biệt so với tượng Phật Thích Ca như: Tượng Phật Thích Ca thường đắp cà sa choàng qua cổ không có đắp y (cà sa) khoát vuông để trống, trước ngực có chữ vạn và không bao giờ duỗi một cánh tay.

Ngược lại, tượng Phật Di Đà có đôi khi người ta tạc tượng Ngài ngồi tư thế kiết già và duỗi xòe bàn tay mặt. Y (cà sa) khoát cổ vuông và trước ngực có chữ vạn.

– Tượng đứng trên hoa sen lơ lửng trong hư không, bên dưới là bể cả sóng nổi lên rất cao, mắt Ngài nhìn xuống, tay trái bắt ấn cam lồ và đưa lên ngang vai, tay mặt duỗi xuống như sẵn sàng cứu vớt những chúng sinh đang đắm chìm trong bể khổ. Tượng này gọi là tượng Di Đà phóng quang.

Về tượng đứng, bên cạnh Ngài thường có hai vị đại Bồ tát Quán Âm và Thế Chí. Bồ tát Quán Âm thì đứng bên tay trái và Bồ tát Thế Chí đứng bên tay phải của Ngài. Đây gọi là tượng Tam Thánh (như tượng thờ Phật A Di Đà ở chùa Kim Liên (Hà Nội).

4. Tượng thờ Quan Thế Âm Bồ Tát:

Đức Phật nói về thần lực của Quan Âm trong kinh Phổ Môn rằng: Nếu một ngàn chỗ có tâm thành cầu nguyện Đức Quan Âm thì đồng một lúc đó có một ngàn Bồ tát Quan Âm liền ứng hiện, Ngài sẽ hiện thân hình tương ứng với nhu cầu của con người như hiện thân Tỳ kheo, hiện thân cư sĩ, hiện thân ngoại đạo…

Tượng Phật Bà Quán Thế Âm được thờ tại các chùa đều theo các cách thể hiện: Quan Âm Chuẩn Đề (Tượng có ba mặt và 18 tay), Quan Âm nghìn tay, nghìn mắt (Thiên thủ, thiên nhãn), Quan Âm Tọa Sơn (Quan Âm ngồi trên đỉnh núi), Phật Bà (Quan Âm đội mũ, ngồi toà sen), Quan Âm Tống Tử (Quan Âm ngồi bế đứa bé, một bên có Thiện Sĩ – biểu trưng bằng hình con vẹt)…

Tượng thờ Phật Phật Bà Quán Thế Âm tại các ngôi chùa Việt Nam thường là hiện thân hình dáng của người phụ nữ quý phái, nhân hậu, dịu dàng, đứng trên đài hoa sen tay trái cầm bình thanh tịnh, tay phải cầm cành dương liễu để phổ độ chung sinh. Cũng có một số chùa lại thờ theo lối Di Đà Tam Tông: Đức Phật Di Đà ở giữa, bên tả là Quan Thế Âm Bồ Tát, bên hữu là Đại Thế Chí Bồ Tát.

5. Tượng thờ Văn Thù Bồ Tát:

Văn thù Sư Lợi là vị Bồ Tát tượng trưng cho kinh nghiệm giác ngộ, đạt được bằng phương tiện tri thức, là một trong những vị Bồ Tát quan trọng của Phật giáo.

Theo truyền thuyết Phật giáo Trung Quốc, Văn Thù Bồ Tát được Phật Thích Ca đích thân giao phó việc truyền bá Phật pháp và Ngũ Đài sơn chính là nơi Bồ Tát thuyết pháp. Vì vậy, Ngũ Đài sơn cũng được xem là trụ xứ của Văn Thù Bồ Tát.

Văn Thù Bồ Tát thường được tạc theo tượng đứng trên hoa sen trắng, an vị bên trái tượng Phật Thích Ca (theo thế đứng vái lạy của người dâng lễ) để theo hầu Phật Tổ.

Nhưng có chùa thờ riêng Văn Thù Bồ Tát ngồi trên lưng sư tử xanh, tay trái cầm cành hoa sen xanh, tay phải cầm thanh kiếm sắc. Cũng có chùa thờ tượng Ngài theo hình thức người cư sĩ đội mũ, mặc giáp, cầm kiếm….

6. Tượng thờ Phổ Hiền Bồ Tát:

Phổ Hiền là vị Bồ tát Đẳng giác có năng lực hiện thân khắp mười phương pháp giới, tùy theo mong cầu của chúng sinh mà Ngài hiện thân hóa độ. Trong Phật giáo Đại thừa thì Ngài là một trong những vị Bồ Tát quan trọng.

Theo truyền thuyết của Phật giáo thì Bồ Tát Phổ Hiền được xem là người hộ vệ của những ai tuyên giảng đạo pháp và đại diện cho “Bình đẳng tính trí” tức là trí huệ thấu hiểu cái nhất thể của sự đồng nhất và khác biệt.

Phổ Hiền Bồ Tát thường được an vị đứng trên tòa sen, bên phải Phật Thích Ca (theo thế đứng vái lạy của người dâng lễ) để theo hầu Phật Tổ.

Tại các chùa, Bồ Tát Phổ Hiền hay được thờ chung với Phật Thích Ca và Bồ Tát Văn Thù Sư Lợi. Nhưng cũng có chùa thờ riêng Phổ Hiền Bồ Tát với tượng hình người cư sĩ cưỡi voi trắng sáu ngà (voi trắng tượng trưng cho trí huệ vượt chướng ngại, sáu ngà tượng trưng cho sự chiến thắng sáu giác quan)….

7. Tượng thờ Địa Tạng Bồ Tát:

Địa Tạng Bồ Tát là vị Bồ Tát chuyên cứu độ sinh linh trong địa ngục và trẻ con yểu tử hoặc cứu giúp lữ hành phương xa. Đó là vị Bồ Tát duy nhất được diễn tả với bạch hào (lông trắng xoáy nằm giữa hai mắt) trên trán, một trong ba mươi hai tướng tốt của một vị Phật.

Tại Trung Quốc và các nước Đông nam Á, Địa Tạng Bồ Tát được xem là một trong bốn vị Đại Bồ Tát (ba vị khác là Quán Thế Âm, Văn Thù Sư Lợi và Phổ Hiền) chuyên cứu độ những người bị sa vào địa ngục. Trú xứ của Bồ Tát Địa Tạng là Cửu Hoa Sơn. Tương truyền, Địa Tạng Bồ Tát đã thật sự hiện thân tại núi Cửu Hoa vào đời Đường dưới dạng một hoàng tử xứ Triều Tiên. Sau khi chết, nhục thân của vị hoàng tử này không tan rữa và người dân bản địa đã xây một ngôi tháp để thờ và bảo tháp đó ngày nay vẫn còn trên núi Cửu Hoa.

Tượng Địa Tạng Bồ Tát thường có dáng một vị tăng đầu đội mũ thất phật (trên mũ có hình 7 vị Phật), mặc áo cà sa đỏ, tay phải cầm gậy tích trượng có 12 khoen, tay trái cầm ngọc minh châu, ngồi trên tòa sen.

Ở một số chùa, tượng Bồ Tát Địa Tạng lại được tạc ở tư thế đứng hoặc cưỡi trên lưng một con vật giống như sư tử.

8. Tượng thờ Đại Thế Chí Bồ Tát:

Đại Thế Chí Bồ tát còn gọi là Đắc đại thế Bồ tát, Đại tinh tấn Bồ tát, Vô biên quang Bồ tát… Là vị Bồ tát dùng ánh sáng trí tuệ chiếu khắp mọi loài, làm cho chúng sinh thoát khổ thành tựu quả vị Vô thượng bồ đề.

Theo kinh “Quán vô lượng thọ”, Bồ tát thân cao tám mươi muôn ức, da màu vàng tử kim, trong thiên quang của Bồ tát có 500 hoa báu, mỗi một hoa báu có 500 đài báu, trong mỗi đài đều hiện quốc độ tịnh diệu của mười phương chư Phật, nhục kế như hoa Bát đầu ma, giữa nhục kế có một hình báu, khác hình tượng Quan thế âm Bồ tát.

Theo “A lợi đa la đà la ni a lỗ lực”, thì hai Bồ tát (Đại Thế Chí và Quán Thế Âm) đều toàn thân màu vàng, phóng hào quang trắng, tay phải cầm phất trần trắng, tay trái cầm hoa sen, nhưng thân hình Bồ tát Đại thế chí nhỏ hơn thân hình Bồ Tát Quán Thế Âm.

Còn trong “Hiện đồ mạn đồ la thai tạng giới” của Mật tông, thì tượng Ngài ngồi trên hoa sen đỏ, thân màu trắng, tay trái cầm hoa sen mới nở, tay phải co ba ngón giữa đặt trước ngực. Mật hiệu là Trì luân kim cương, hình Tam muội da là hoa sen mới nở.

Tại các chùa Việt Nam, tượng Đại Thế Chí Bồ Tát thường được tạc theo hình dáng người cư sĩ, cổ đeo chuỗi anh lạc, tay cầm hoa sen xanh, đứng bên trái Đức Phật A Đi Đà (theo thế đứng vái lạy của người dâng lễ) để theo hầu Phật A Di Đà. Đây là lối thờ Di Đà Tam Tông: Đức Phật Di Đà ở giữa, bên tả là Quan Thế Âm Bồ Tát, bên hữu là Đại Thế Chí Bồ Tát.

Khi đứng riêng thì tượng Đại Thế Chí Bồ tát được tạc theo nhiều hiện thân, nhưng cơ bản là hình tượng cư sĩ ngồi hoặc đứng trên toà sen, tay cầm một cành sen.

9. Tượng Đức Thánh Hiền:

Đức Thánh hiền được thờ ở các chùa, chính là Ngài Anan tôn giả, đệ tử đệ nhất đa văn của Đức Phật. Theo Phật giáo Đại thừa ngài còn phát nguyện độ sinh do đó Ngài còn tái sinh nhiều lần để cứu vớt chúng sinh.

Tượng ngài được đặt ở bên trái của Bái Đường. Tượng có khuôn mặt thanh thoát, hiền từ, đầu đội mũ có 7 cánh sen, mỗi cánh sen có hình một Đức Phật, một tay cầm chén, một tay bắt ấn.

10. Tượng Đức Ông:

Có chùa ghi là Đức Chúa, được an vị ở bên phải Bái Đường. Tượng được tạc theo hình dáng quan văn, đầu đội mũ cánh chuồn, mặt đỏ, râu dài, vẻ mặt nghiêm nghị.

Theo điển tích Phật giáo thì khi Đức Thích Ca vừa thành đạo, Trưởng giả Cấp Cô Độc, một nhân vật thời Đức Thích Ca tại thế, đã mua một khu vườn cây xây tịnh xá, ngôi chùa rất to, thỉnh Phật Thích Ca về thuyết pháp. Sau này ông được coi là người bảo vệ tài sản của nhà chùa. Vì vậy người ta gọi là Đức ông hay Đức Chúa Già Lam Chầu Tể.

*          *

*

Trên đây là một số tượng được thờ ở các ngôi chùa Việt Nam. Nhìn chung, các vị Phật hay Bồ Tát đều ngồi hoặc đứng trên tòa sen với đôi mắt khép kín, khuôn mặt nhân hậu, thanh thản, tượng trưng cho sự đại phú, đại quý, siêu phàm và vinh quang.

————————–

Mời tham khảo để lấy hình minh họa:

https://dangxuanxuyen.blogspot.com/2015/08/nhan-biet-chu-phat-qua-hinh-dang-tuong.html

n h Ớ

h o à n g x u â n s ơ n

Không dưng
nhớ lụa màu ngà
nhớ da màu trắng
nhớ
tà hương bay
nhớ một đời nhớ
quắt quay
chút mơn man sóng
chút bày biện sông
chút khuê dung đã tân tòng
chút xa như nhớ chút gần gụi đau

Không dưng
chiều đứng trên cầu
vàng rơi một chút thương nâu bạc lòng

25.8.20
@ 1:24 AM

Nghe từng trang lịch sử thét từng trang

Nguyệt Quỳnh

Một tấc đất của tiền nhân để lại, cũng không được để lọt vào tay kẻ khác
(Trần Nhân Tông)

Tại núi rừng Tam Điệp, vua Quang Trung truyền lệnh cho binh tướng Phú Xuân, Nghệ An hợp cùng binh tướng của Ðại Tư Mã Ngô Văn sở cùng ăn tết sớm và hẹn nhau sẽ ăn mừng Khai Hạ tại Thăng Long vào ngày mùng bảy tết. Kế hoạch của nhà vua là sử dụng sở trường của binh Tây Sơn tấn công chớp nhoáng khi quân Thanh vui chơi ngày Tết và tướng Thanh còn đang mải mê yến tiệc. Đúng vào đêm trừ tịch năm Kỷ Dậu, từ phòng tuyến Tam Điệp nhà vua ra lệnh xuất quân.

Vua Quang Trung chia quân làm 5 đạo, tấn công giặc từ ba hướng:

Hướng chính gồm đạo quân chủ lực do chính vua Quang Trung điều động. Tiên phong là tướng Ngô văn Sở và Phan văn Lân sẽ tấn công thẳng vào dãy thành phòng thủ của mặt Nam Thăng Long.

Hữu quân gồm hai đạo thủy quân vượt đường biển, tiến vào cửa sông Lục Ðầu. Ðạo thủy quân của Ðô Ðốc Tuyết sẽ tấn công đám quân tòng vong của Lê Chiêu Thống, tiến chiếm Hải Dương, rồi vượt bộ vào tiếp ứng và đánh vào mặt Đông thành Thăng Long.

Ðạo Thủy quân của Ðô Ðốc Lộc sẽ vượt bộ lên Phượng Nhỡn, Lạng Giang, Yên Thế để khóa lương, ngăn viện, và chận đường lui binh của giặc.

Ðại Ðô đốc Bảo và Ðô đốc Long đem tả quân, có tượng và kỵ binh tăng cường đi bọc đường núi đánh tạt cạnh sườn vào phòng tuyến địch. Cánh quân của Ðại Ðô đốc Bảo dùng tượng binh từ huyện Sơn Minh đánh vào các căn cứ địch ở xã Ðại Áng.

Ðô đốc Long, người được người đời phong danh hiệu là Ðặng Thiết Tý, nghĩa là cánh tay họ Ðặng cứng như sắt. Trong cánh quân của ông có viên phó tướng là Ðặng Tiến Ðông sinh trưởng ở xã Lương Xá gần thành Thăng Long nên rất am hiểu địa hình. Đô đốc Long dẫn tượng binh và kỵ binh đi đường tắt từ huyện Chương Ðức đến huyện Thanh Trì. Thực hiện chiến thuật bất ngờ đánh từ Tây Bắc xuống Nam, chận đường rút quân về đại bản doanh Thăng Long, làm địch hoang mang mất tinh thần ngay từ phút đầu.

Mục tiêu đầu tiên của quân ta là chiếm gọn căn cứ Nhân Mục và Yên Quyết, hai tiền đồn mặt Tây và Bắc Khương Thượng, không để một tên địch nào chạy thoát về báo tin. Rồi nửa đêm ngày mùng bốn tết, quân ta đã áp sát 4 mặt thành Khương Thượng. Trong đồn, giặc vẫn không hề hay biết.

Lệnh khai hoả, tức thì những bó đuốc bằng rơm quấn chặt, tẩm dầu phựt sáng thành một một vành đai lửa; trùng điệp khép kín với tiếng trống trận; tiếng hò hét vang trời, dậy đất; quân Thanh hoảng hốt, không còn sức kháng cự.

Ðề đốc Sầm Nghi Ðống chưa kịp xoay trở, thì mũi nhọn của cảm tử quân với sức mạnh như chẻ tre đã phá vỡ thành, xông vào như nước vỡ bờ. Sầm Nghi Ðống phải mở đường máu chạy về Thăng Long. Nhưng khi đến gò Ðống Ða thì bị một cánh quân của Ðô đốc Long chận đánh. Bí đường, Sầm Nghi Ðống phải thắt cổ tự vẫn. Số tàn quân ngơ ngác vì rắn mất đầu, hoảng quá chạy dội lại về phía nam. Nhưng vừa đến Ðầm Mực thì bị quân của Ðại đô đốc Bảo đón đánh, tiêu diệt hết.

Ðạo quân do chính vua Quang Trung thống lãnh chỉ huy cả ba doanh: tiền, trung và hậu. Tư Mã Sở và Nội hầu Lân mang tiền quân làm mũi nhọn tiên phong. Tân binh Nghệ An thì sung vào trung quân do nhà vua trực tiếp chỉ huy. Hậu quân có Hô Hổ Ðầu thủ vai đốc chiến và đề phòng địch tập hậu.

Ngày 30 tết, đại quân của Quang Trung vượt bến đò Gián Khuất ngược chiều tiến quân của giặc; dùng thế võ đâm so đũa, nhanh như chớp lần lượt hạ các đồn Thanh Liêm, Nhựt Tảo, Phú Xuyên.

Quân giặc ở Hà Hồi và Ngọc Hồi vẫn chưa hay biết, tiếp tục uống rượu đón xuân. Chừng nghe tiếng quân Nam reo hò vang dội ngoài thành vào nửa đêm mùng Ba Tết. Quân Thanh thủ Hà Hồi thất kinh hồn vía, mở cửa thành dâng nộp vũ khí xin hàng.

Ðêm Hà Hồi rực hồng lửa đỏ
Bóng lá lùm cây cũng gợi kinh hoàng
Tiếng loa từ trời vọng xuống vang vang
Mặt đất xông lên đoàn người dũng mãnh
Gươm giáo tuốt trần
Ðằng đằng nét mặt
Bạt vía sài lang
Ghê hồn quân giặc
Lớp lớp buông thương bó gối qui hàng
Ðồn mất rồi giấc điệp vẫn chưa tan
(Hương Giang)

Ðạo quân chủ lực hợp cùng đạo quân của Ðô đốc Bảo tiến ra Ngọc Hồi vào mờ sáng mùng năm. Đụng phải sức cố thủ mãnh liệt của giặc Thanh, đạn trong thành bắn ra như mưa. Vua Quang Trung huy động hơn 100 thớt voi dàn hàng ngang như một đoàn thiết giáp tiến về mục tiêu.

Giặc cố thủ trong đồn được ưu thế có thành lũy kiên cố, có chông sắt dầy đặc, có chỗ ẩn nấp an toàn đã bắn tên đạn ra như cát vãi.

Nhà vua bèn cho dùng phên gỗ quấn rơm nhào với đất bùn làm lá chắn để ngăn tên đạn. Cứ 10 người lưng dắt đoản đao, chung nhau vác dựng đứng một tấm phên, mặt bện rơm quay về phía địch. Theo sau họ là 20 khinh binh, võ trang đầy đủ, sẵn sàng chiến đấu theo nguyên tắc công thủ song hành.

Các tấm phên dàn hàng chữ nhất tiến vào đồn làm vô hiệu hóa hoả lực của địch quân. Khi đến sát đồn, các phên gỗ ấy được sử dụng như một tấm đệm trải lên chông để cảm tử quân tiến vào. Chính nhà vua cỡi voi đốc chiến, quân giặc tan vỡ cấp kỳ, đạp nhau mà chạy tán loạn.

Ðây là chiến thắng cam go nhất. Lộ quân tiên phuông của Ðại Tư Mã Ngô Văn Sở có đến tám ngàn người hy sinh.

Ðây muôn người lòng trải với giang san
Nghe hào khí tiền nhân ngời trong gió
Ðất Ngọc Hồi trời còn chưa tỏ
Mà tiếng quân reo ngựa hí vang rền
Ôi phút tên bay đạn réo bên mình
Ðã thấu lòng nhau lời thề tâm huyết
Máu xương này đổ vì bờ cõi Việt
Mảnh đất bao đời gìn giữ gửi trao
(Hương Giang)

Cùng lúc đó, đạo quân của Ðô đốc Long ở mặt Tây Nam đã chiếm Khương Thượng rồi tiến như vũ bão sang công phá Ðống Ða. Hai đạo thủy quân của Ðô đốc Tuyết và Ðô đốc Lộc thanh toán chớp nhoáng các vị trí chiến lược Hải Dương, Phượng Nhỡn, Lạng Giang, Yên Thế rồi hổ trợ đại quân đánh thẳng vào Thăng Long.

Sáng mồng năm Tết, tại cung Tây Long, Tôn sĩ Nghị đang sốt ruột theo dõi mặt trận phía Nam bỗng được tin cấp báo – quân Tây Sơn như trên trời giáng xuống đang tiến vào cửa Tây với khí thế ngùn ngụt. Tôn Sĩ Nghị hoảng quá, không kịp mặc áo giáp, không kịp mang theo sắc thư và ấn tín vội nhảy lên ngựa chưa kịp thắng yên cương. Tôn Sĩ Nghị cùng toán kỵ binh thoát ra thành Thăng Long, vượt cầu phao qua sông Nhị Hà.

Quân Thanh thấy chủ tướng bỏ chạy, bèn vứt cả khí giới, tranh nhau qua cầu phao. Đến nỗi bị ứ nghẹn cầu bị dồn nén, sức nặng quá tải nên đứt dây, ném cả xuống sông. Gặp lúc cuối mùa đông nước lớn chảy xiết, quân Thanh chết vô số kể.

Cánh quân viện binh Quý Châu – Vân Nam của giặc, vừa tới Sơn Tây nghe tin chủ soái bỏ chạy; các tướng Sầm Nghi Ðống, Hứa Thế Hanh, Trương Sĩ Long, Thượng Duy Thăng đều tử trận; cũng tất tả tháo chạy. Dọc đường về còn bị phục kích, chận đánh tơi bời bởi các lộ quân của Ðô đốc Lộc; qua biên giới sang Tàu rồi mà vẫn chưa hết bàng hoàng.

Khoảng 4 giờ chiều ngày mồng 5 Tết Kỷ Dậu, Ðô đốc Long mở cửa thành đón đại quân. Hoàng Ðế Quang Trung với chiến bào đen xạm khói thuốc súng, có 80 thớt voi làm lá chắn, uy nghi tiến vào Thăng Long sớm hơn kỳ hẹn 2 ngày.

Ôi người xưa Bắc Bình Vương
Ðống Ða một trận năm đường giáp công
Ðạn vèo năm cửa Thăng Long
Trắng gò xương chất đỏ sông máu màng

Chừ đây lại đã xuân sang
Giữa cố quận một mùa xuân nghịch lữ
Ai kia lòng có mang mang
Ðầy vơi sầu xứ – Hãy cùng ta
ngẩng đầu lên hướng về đây tâm sự
Nghe từng trang lịch sử thét từng trang
(Vũ Hoàng Chương)

Xin mời nghe Youtube “Chiến Thắng Đống Đa 2

Nguyệt Quỳnh (đề tựa & tổng hợp)

 

ÔM TÔI KỶ NIỆM

VÕ CÔNG LIÊM

Tranh Vẽ Võ Công Liêm: ‘Không nhận ra / Unknowable’

1.
phương sài
phương sài ơi
một thời xa xưa ấy
giờ có còn hay không ?
ngày nắng hạ
mà ngỡ thu về đâu đó
đứng bên nầy dòng hương
nghe đời đi qua vội
đứng bên ni đập đá
sông chẻ ra làm hai
ta ngập ngừng theo mây về ngáp gió
cho sen vàng lộng ngọc với trăng treo
ôm tôi kỷ niệm
một lần mất dấu
em . nhoẻn nụ nhiệm mầu
trong mắt biếc xanh um
tôi . con chim cô độc một đời rong ruổi
đậu lên cành trên nhánh tuyết chơi vơi
một trời xa ngát muôn trùng nhớ
cho tới bây giờ ‘mộng dưới hoa’
khẽ động vào đêm nghe dội lại ưu phiền
trong mắt nhớ
lặng lẽ nhìn
mắt môi khô
bước vào cõi lặng
và . cho tới bi chừ thu vẫn là thu không
trời nhiệt đới nghiêng nghiêng sầu cổ độ
bóng hình em tràn dâng mắt môi thơm
mưa triền miên trong khung thành đại nội
một thuở yêu người dưới bóng lung linh
ôm tôi kỷ niệm . ngày đầu tháng chạp mưa lất phất bay
qua tháng giêng vật đổi sao dời mang màu tang chế đó
và . một sáng mai nào trong đáy mắt rưng rưng
sau cánh cửa khổng lồ đầy ấp mạn nhện giăng
giữa trời bảng lảng bóng hoàng hôn . tôi
hỏa thiêu tôi trên căn gác đìu hiu cho khói nhớ
con gió lạ tràn qua phố thổi tung bầy chim nhỏ
tiếng muỗng kêu trên tách cà phê nghe chậm từng hồi
như chuông báo tử . ôm tôi kỷ niệm . một lần cho đở nhớ
tóc em chảy dài theo ngày tháng và . sông lờ đờ trôi suốt cả năm
một chiều vô hạn
một chiều cô độc
lạ

2.
em . nhắn tin liên tục trên máy cầm tay
thì nắng úa đã tàn sau lần cửa khép
tôi hớp vội vã những lời ai oán đó
cho đến bi chừ mộng đã tan theo
ôm tôi kỷ niệm
làm tình vô tội
lốm đốm sương rơi
nơi ngõ đi vào
phố chảy dài trên đại lộ hoang vu
tháng tám húp mắt mù sương đợi
bốn mùa lưu vong không địa giới
biến mình trong hạt bụi vô ưu
ngủ quên trên võng mô nhân thế
quanh chiếc bàn trống vắng bóng hình ai
ngọn lá buồn rơi về miền cô tịch
tôi . đột qụy tư tưởng
trên con tàu mù tăm ra khơi
để về trong vĩnh cửu với đất nâu
một chiều giông tới
lạnh màu da xám
trong bàn tay ốm
em
ôm ấp con chihuahua
lời thì thầm nhắn gởi
ne me quittes pas
never far away !

3.
tôi . va chạm sự thật trần truồng
hơn bốn mươi năm tuyết trắng phủ đầu
dưới trời lặng lẽ bóng hình kim tự tháp
một thời lạc hậu yêu em vô tận số
ôm tôi kỷ niệm . đừng khóc mưa đêm nay ./.

VÕ CÔNG LIÊM (ca.ab.yyc. tháng tám 2020)

CSVN ĐÃ LỪA NGƯỜI VIỆT HẢI NGOẠI THẾ NÀO?

CSVN ĐÃ LỪA NGƯỜI VIỆT HẢI NGOẠI THẾ NÀO?

Cộng Sản Việt Nam đã lừa người Việt hải ngoại thế nào trong vụ bắt cóc Trương Duy Nhất?

Ông Trương Duy Nhất, cựu ký giả nhật báo Đại Đoàn Kết, và cũng là một nhà báo, một blogger bất đồng chính kiến với nhà cầm quyền CSVN vừa bị Tòa Án Nhân Dân Cấp Cao tại Hà Nội bác đơn kháng cáo và y án 10 năm tù vào ngày 14 tháng Tám, 2020 vừa qua về tội “lợi dụng quyền hành trong khi thi hành công vụ”.

Biết trước nguy cơ sẽ bị cáo buộc và kết tội oan ức chỉ vì những tranh chấp quyền lợi giữa các nhóm lãnh đạo của nhà nước CSVN. Vào cuối tháng Giêng, 2019, ông Trương Duy Nhất đã tìm cách trốn sang Thái Lan để lánh nạn và tìm sự che chở từ Cao Ủy Tị Nạn LHQ cũng như từ các quốc gia tự do. Tại Bangkok, ông Nhất đã được tổ chức VOICE cùng LS Trịnh Hội, các ông Bạch Hồng Quyền và Phạm Cao Lâm (một Việt kiều sống lâu năm ở Bangkok), giúp đỡ thuê nhà và hướng dẫn về thủ tục xin tị nạn chính trị. Tuy nhiên vụ việc đào tị của ông đã bị nội gián, nên công an CSVN biết rõ đường đi, nước bước và theo dõi mọi hoạt động, đồng thời chuẩn bị kế hoạch bắt cóc đương sự để đưa về lại VN, hầu che dấu những tin tức liên quan đến tham nhũng, đang tạo ra sự tranh chấp nội bộ giữa các phe nhóm trong đảng CS ở VN. Họ sợ ông TDNhất sẽ phổ biến khi được tự do ở nước ngoài. Xin nhớ rằng nhà báo, blogger TDNhất được xem là một người thường xuyên lên tiếng chỉ trích những bất công của xã hội tại VN. Ông cũng là chủ nhân của trang blog “Một Góc Nhìn Khác” và đã từng bị nhà cầm quyền Hà Nội đàn áp và kết án tù 2 năm (2013-2015) về tội “lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân?”. Ông đã được tổ chức quốc tế “Phóng Viên Không Biên Giới” (RFS) tuyên dương và ghi tên vào danh sách “100 Anh Hùng Thông Tin” vì lòng can đảm cùng tinh thần bất khuất của ông trong ngành truyền thông.

Vụ bắt cóc Trịnh Xuân Thanh tại nước Đức vào tháng Bẩy, 2017 đã để lại biết bao tai tiếng và hệ lụy trong lãnh vực ngoại giao khiến cho CSVN cẩn thận và kỹ lưỡng hơn trong âm mưu bắt cóc nhà báo Trương Duy Nhất. Kịch bản mà họ sử dụng lần này là tố cáo và buộc tội ông TDNhất cùng những người giúp đỡ ông ta với chính quyền Thái Lan (nơi ông đang tạm trú) rằng, đây là một “tổ chức buôn người quốc tế” từ VN ra nước ngoài qua ngã Thái Lan. Cộng tác với công an CSVN lần này là Nguyễn Thanh Tú, CSVN sử dụng Tú bằng cách phát tán rộng rãi cũng như ngụy tạo ra những lời vu cáo tổ chức VOICE cùng giám đốc điều hành, LS Trịnh Hội là những “kẻ buôn người”. Tú còn được sự cộng tác ngấm ngầm của Phạm Cao Lâm cùng linh mục Joseph Thiện Nguyễn (một người sống ở Buffalo, New York, nhưng thường xuyên đến Thái Lan du lịch).

Âm Mưu và Thủ Đoạn:

Vào cuối tháng Giêng, 2019, chỉ vài ngày sau khi đến Thái Lan, công an CSVN đã bủa vây bắt cóc nhà báo TDNhất và đưa về lại VN, cùng một lúc truy lùng Bạch Hồng Quyền theo lệnh truy nã đã ban hành từ tháng Năm, 2017. Rút kinh nghiệm vụ Trịnh Xuân Thanh và để tránh phản ứng của quốc tế, CSVN một mặt giấu kín tin này (mãi cho đến cuối tháng 3, 2019, tức là gần 2 tháng sau, họ mới thông báo cho gia đình ông TDNhất biết). Cùng một lúc, bật đèn xanh cho NTTú tung ra một video ngụy tạo tin tức hết sức “giật gân” và phát tán rộng rãi ở trên mạng vào ngày 19, tháng 3, 2019 dưới tiêu đề: “VOICE/Trịnh Hội/Lộc cát xê buôn lậu Trương Duy Nhất, TDN mất tích, VOICE/VT ‘tẩu’ Thái Lan”!

Mục đích của họ là để đánh lừa cảnh sát Thái Lan cùng dư luận quốc tế và cộng đồng người Việt rằng, ông TDNhất chỉ là “di dân nhập cảnh lậu” chứ không phải một nhà đối kháng hay một cựu tù nhân lương tâm! Hầu hết các YouTubers ở hải ngoại được Tú trao cho bản tin “nóng hổi” kể trên đã nhanh chóng khai thác và phổ biến rộng rãi. Tất cả đã vô tình lọt vào cạm bẫy của Nguyễn Thanh Tú cùng CSVN. Rất may là sau khi những diễn biến này xẩy ra, VOICE đã tiếp xúc trực tiếp và kịp thời với nhà cầm quyền Thái Lan, giải thích toàn bộ kịch bản do CSVN và NTTú dựng lên để “bắt cóc hợp pháp” nhà báo TDNhất, một người bất đồng chính kiến ở VN, đồng thời nhờ vào sự can thiệp của ông Bộ Trưởng Di Trú Canada cũng như Thượng Nghị Sĩ Ngô Thanh Hải tại Ottawa, thủ đô Canada, VOICE đã làm việc với các giới chức cao cấp của chính phủ Thái Lan cùng các tổ chức bảo vệ nhân quyền, Human Right Watch (HRW), cơ quan di dân quốc tế IOM, và văn phòng Cao Ủy Tỵ Nạn LHQ (UNHCR) tại Bangkok, để can thiệp và vận động cho sự an toàn của Bạch Hồng Quyền trong tiến trình định cư khẩn cấp để gia đình anh được đến Canada qua sự bảo trợ của VOICE. Nói một cách khác, thay vì bị cảnh sát Thái Lan “truy lùng” như lời Tú bịa đặt, ngược lại họ đã che chở và bảo vệ để Bạch Hồng Quyền cùng gia đình được rời khỏi Thái Lan bình an.

Sau khi biết được âm mưu thâm độc nói trên, chính phủ Thái Lan đã lên tiếng phản đối nhà cầm quyền CSVN trong vụ bắt cóc nhà báo TDNhất, đồng thời cho mở cuộc điều tra để biết rõ sự việc. Chính phủ Hoa Kỳ cũng được thông báo tin này, họ đã lên tiếng hoàn toàn ủng hộ và hoan nghênh quyết định đứng đắn nói trên của nhà nước Thái Lan.

Thủ Đoạn Lừa Đảo và Tin Tức Trung Thực:

Các điểm chính trong video mà Nguyễn Thanh Tú hợp cùng CSVN đưa ra trong thủ đoạn lừa đảo dư luận đã từ từ bị lộ tẩy vì sự thật mỗi ngày một sáng tỏ:

1. Trắng trợn bịa đặt rằng: “Một khoản tiền lớn đã được nhà báo Trương Duy Nhất trao cho Trịnh Hội và Bạch Hồng Quyền để đưa ông TDNhất nhập cảnh lậu vào Thái Lan”.

Đây chỉ là những luận điệu xảo trá do Nguyễn Thanh Tú tạo dựng để vu cáo việc làm nhân ái, giúp đỡ người Việt tỵ nạn định cư của LS Trịnh Hội cùng tổ chức VOICE từ bấy lâu nay mà NTTú không hề chứng minh được bất cứ một bằng chứng nào về những cáo buộc nói trên.  

2. Nhờ linh mục Joseph Thiện và Cao Lâm bôi bẩn hình ảnh của nhà tranh đấu môi trường Bạch Hồng Quyền, là một tay “cờ bạc” và một người không tốt!

(Đây là những chi tiết trung thực về lai lịch của ông BHQ: https://www.bbc.com/vietnamese/vietnam-48143876)

3. Trắng trợn bịa đặt rằng: “Lực lượng cảnh sát đặc biệt, đơn vị chống buôn người của Thái Lan đang theo dõi các thành viên của VOICE là Trịnh Hội, Nam Lộc, Nguyễn Văn Khanh và luật sư Anna Nguyễn. Mọi sự di chuyển của những người trên đều đang bị theo dõi, mọi cuộc điện đàm đều đã bị thu âm lại”. Và tất cả những người này hiện đang “lẩn trốn”!

Sự thật là vào giữa tháng Ba, 2019, luật sư Anna Nguyễn (người điều hành văn phòng VOICE ở Thái Lan) đã rời Bangkok đi Âu Châu để tham dự hội nghị nhân quyền tại trụ sở quốc hội Liên Âu ở Brussels, cùng với bác sĩ Hoàng Thị Mỹ Lâm, Chủ Tịch Liên Hội Người Việt Tỵ Nạn Cộng Hòa Liên Bang Đức, và nhiều đại diện cơ quan đoàn thể thuộc cộng đồng người Việt tại châu lục này, sau đó đã trở lại Thái Lan làm việc bình thường. Riêng LS Trịnh Hội và NS Nam Lộc, sau khi hoàn tất việc định cư gia đình ông Bạch Hồng Quyền, cả hai cũng đã trở lại Thái Lan để công khai mở các cuộc họp cộng đồng với sự tham dự của đông đảo người tị nạn, cùng linh mục Peter Namwong và đại diện các tổ chức nhân quyền ở Bangkok mà không gặp bất cứ một trở ngại gì như lời cáo buộc nhảm nhí của Nguyễn Thanh Tú trong video của hắn. Cá nhân tôi đã có mặt trong cuộc tiếp xúc nói trên.

4. Phần cuối, Nguyễn Thanh Tú kết luận: Các thành viên của VOICE “đã tự nạp mạng cho cảnh sát Thái Lan”, và “50 hồ sơ của đồng bào tỵ nạn đang được tổ chức VOICE giúp đỡ (để đi định cư tại Canada)” đều xem như bị hủy bỏ, và họ sẽ “chẳng còn được đi đâu nữa cả”!

Như đã nói ở trên cảnh sát Thái Lan không hề thắc mắc gì đến những hoạt động bảo vệ nhân quyền của VOICE cùng sự đi lại của các thành viên thuộc tổ chức này. Đồng thời cuộc vận động để giúp định cư 50 đồng bào tị nạn VN tại Thái Lan, đã và đang tiến hành một cách tốt đẹp. Chính phủ Canada không có bất cứ cuộc “điều tra” nào như Nguyễn Thanh Tú và đồng bọn đã rêu rao trên một vài tờ báo và các kinh Youtube, ngược lại họ vẫn luôn luôn tin tưởng cũng như vẫn tiếp tục hợp tác chặt chẽ với tổ chức VOICE để phỏng vấn đồng bào tị nạn VN tại Indonesia và Thái Lan, đồng thời chấp thuận các đơn xin bảo trợ và định cư do VOICE đệ trình.

Là những người tị nạn sống lâu năm ở Thái Lan, chúng tôi đã theo dõi và biết rất rõ sự việc. Một điều thật đau lòng xẩy ra lúc đó khi được xem các đài TV YouTube ở hải ngoại phổ biến cũng như phỏng vấn Nguyễn Thanh Tú, ông Cha Joseph Thiện và tên Cao Lâm. Được nghe các nhân vật nói trên tác yêu, tác quái, dựng lên những câu chuyện hoàn toàn bịa đặt, đồng bào tị nạn thấp cổ bé miệng của chúng tôi ở bên này thật là đau lòng, nhưng bất lực! Không có một “nhà báo” nào hỏi thăm những người Việt tị nạn ở đây lâu năm như chúng tôi để biết rõ sự việc.

Thật là đáng tiếc, và đó cũng là lý do mà chúng tôi mạn phép được lên tiếng ngày hôm nay, khi sự việc đã ngã ngũ. Một nhà báo, một blogger, một người bất đồng chính kiến đã bị cưỡng bức, bị bắt cóc về VN để lãnh án 10 năm tù tội, mất đi cơ hội đoàn tụ với con gái của ông tại Canada. Tuy phải trải qua nỗi oan khiên cùng với cách đối xử dã man của nhà cầm quyền CSVN, nhưng trước vành móng ngựa ông Trương Duy Nhất vẫn hiên ngang tuyên bố: Đừng để cho các thế hệ cháu con sau này nhìn lại phải cúi đầu tủi hổ về những phán quyết sai lầm của cha ông chúng, của một thời nhóm lò loạn lạc, một thời đất nước tưởng có Phúc mà vô phúc, có Trọng mà không đáng trọng….”.

Nguyễn Đức Tiến

Bangkok, Thái Lan

@Tài liệu tham khảo:

1. https://www.youtube.com/watch?v=pqLoAL3MO3c

2. https://vietbao.com/a296749/to-chuc-voice-thong-bao-tien-trinh-dinh-cu-dong-bao-ty-nan-viet-nam

3. http://vanviet.info/tren-facebook/loi-ni-sau-cng-cua-truong-duy-nhat/ 

4. https://www.bbc.com/vietnamese/vietnam-47140347

5. https://sinhhoatdoisong.blogspot.com/2019/12/bo-mat-that-cua-nhung-nhan-vat-au-tranh.htmlDownload all attachments as a zip file

 

VỀ TÌM RU LẠI TUỔI MƠ/ RƯỢU CHIỀU CÔ LỮ

Nguyên Lạc

 

VỀ TÌM RU LẠI TUỔI MƠ

1.
Tôi về ru lại bóng tôi
Tôi về ru lại một thời xưa xa
.
Bóng tre ngậm ánh trăng tà
Gió đưa bụi chuối tiếng gà sớm mai
.
Tôi về ru lại tình hoài
Về tìm ru lại hình hài chân quê
.
Đòng đòng lúa ngả bờ đê
Thương ai mưa nắng đi về sớm hôm
Trâu về nghé ngọ chiều buông
Trăng thanh giã gạo vui luồn vào tâm
.
Tôi về tìm lại mùi hương
Tôi về ru lại cố hương ngày nào
.
2.
Xa quê từ thuở ba đào
Tôi về tìm lại thấy bao đoạn trường
Đâu rồi dáng cũ quê hương?
Đâu rồi rám nắng hồng thương má nào?
.
Hai mươi năm vậy đó sao?
Hai mươi năm đủ nỗi đau đổi dời?
.
3.
Tôi về ru lại tình tôi
Tôi về ru lại một thời cố quên
Cố quên có nghĩa không quên
Tôi về ru lại … mình ên bóng mình!
.
Đâu rồi hình dáng thân quen
Em ơi có biết tìm em tôi về?
Tôi về bóng rũ đường đê
Kêu chiều chim vịt buồn thê thiết buồn” [*]
.
Tôi về cùng nỗi hoài hương
Ru tôi đỏ mắt tà dương rụng sầu!
.
Về chi tôi hỡi còn đâu?
Động chiều chuông vọng não câu vô thường
.
Hai mươi năm phải tha hương
Một đời lữ thứ đầy hồn quê xưa
Về tìm ru lại tuổi mơ
Còn chi đâu nữa … thẫn thờ … Quê ai?!
……….
[*] Chiều chiều chim vịt kêu chiều/ Bâng khuâng nhớ bạn, chín chiều ruột đau – Ca dao
.
 RƯỢU CHIỀU CÔ LỮ
.
Rượu rót về một phương
Đời sầu “khúc đoạn trường” *
Lữ khách hồn cô quạnh
Chiều nay nhớ cố hương!
.
Bao năm rồi tôi hỡi?
Từ cuộc thế tang thương
Đâu rồi người tri kỷ?
Từng say khướt Hồ trường
.
Bao năm rồi tôi hỡi?
Tóc đời đà điểm sương
Rượu “bên trời lận đận” **
Khóc xuân mộng lụi tàn
.
Bao năm rồi li biệt
Tình chia cách nghìn trùng
Đắng giọt chiều … nuối tiếc
Nhan sắc giờ mù sương!
.
Tri kỷ!
Này chén tiễn
An nghỉ nơi viễn phương
Tình ta!
Này chén nhớ
Ngất cạn tưởng mùi hương
.
Trong tận cùng ngăn nhớ
Nhức nhối còn chữ ai
Biết làm sao đây hở?
Thôi
Một tiếng thở dài!
.
Ai đã rồi miên viễn!
Ai đã rồi sương tan!
Ôi! một đời mộng vỡ
Chiều thống hận Hồ trường!
.
Nâng chén
hồn cô lữ
Mời ai cùng ta say
Bao nhiêu năm có đủ …?
Chiều. Giọt đắng. Tình hoài …
…….
* “Cuộc vui gảy khúc đoạn trường ấy chi” – Đoạn Trường Tân Thanh – Nguyễn Du
** “Cùng một lứa bên trời lận đận”: Phan Huy Tḥực dịch từ câu thơ Bạch Cư Dị

.
Nguyên Lạc

ĐCSTQ thâm nhập vào giới lãnh đạo Mỹ

ĐCSTQ thâm nhập vào giới lãnh đạo Mỹ, cựu Giám đốc truyền thông của Pelosi là đặc vụ của CCTV

Đảng Cộng sản Trung Quốc (ĐCSTQ) đã thâm nhập khắp mọi nơi, và một trong những cách thức chủ yếu của nó là tuyên truyền thông qua các phương tiện truyền thông. 
Người tiếp tay cho Đài truyền hình trung ương Trung Quốc CCTV tiến nhập vào các gia đình Mỹ lại chính là Brendan Daly, cựu Giám đốc truyền thông của Chủ tịch Hạ viện Nancy Pelosi, và là người được bổ nhiệm chính trị (political appointee) của chính quyền Obama.
Theo ấn phẩm tin tức The National Pulse của phái bảo thủ Mỹ đăng  ngày 13/8, trong nhiệm kỳ làm Phó Chủ tịch Quan hệ Công chúng  Toàn cầu của Ogilvy (Ogilvy PR) – một trong mười công ty quan  hệ công chúng chuyên nghiệp hàng đầu thế giới, ông Brendan Daly  đã vận động hành lang công ty này và họ đã ký hợp đồng với CCTV.

ĐCSTQ thâm nhập vào giới lãnh đạo Mỹ, cựu Giám đốc truyền thông của Pelosi là đặc vụ của CCTV

Người tiếp tay cho Đài truyền hình trung ương Trung Quốc CCTV tiến  nhập vào các gia đình Mỹ lại chính là Brendan Daly, cựu Giám đốc  truyền thông của Chủ tịch Hạ viện Nancy Pelosi.  Trong ảnh, ông Daly đi bên trái bà Pelosi. (Photo by Win McNamee/Getty Images)
công ty này đã “cung cấp lời khuyên chiến lược, xác định các bên  liên quan trong công nghệ truyền thông và sử dụng mối quan hệ  với giới truyền thông” để giúp CCTV tiến vào các  gia đình Mỹ.
Theo các tài liệu được đệ trình vào năm 2012, căn cứ theo Đạo  luật Đăng ký Cơ quan đại diện Nước ngoài (FARA), quy định rằng  Ogilvy PR sẽ hợp tác với “CCTV Hoa Kỳ” (CCTV America) và  hướng đến công chúng Mỹ, “CCTV Hoa Kỳ” sẽ cung cấp các  chương trình tin tức thuyết phục, toàn diện và công bằng từ góc  nhìn của người châu Á.
Tuy nhiên, theo thông tin đăng ký của CCTV tại FARA, CCTV hoàn toàn được “giám sát, sở hữu, chỉ đạo, kiểm soát, tài trợ và  trợ cấp” bởi ĐCSTQ.  Tổ chức phi chính phủ Mỹ “Freedom House” đã nhận định CCTV là “vũ khí bền bỉ trong kho vũ khí trấn áp của Bắc Kinh”, và nhiệm  vụ của tổ chức này là “tấn công kẻ thù được chỉ định của ĐCSTQ” –  chủ yếu là Hoa Kỳ.
Ông Daly nói với các đồng nghiệp của mình rằng CCTV đã thuê  Ogilvy, và chỉ ra rằng “CCTV Hoa Kỳ” do ĐCSTQ tài trợ sẽ trả cho  công ty này 15.000 USD mỗi tháng, theo định kỳ ba tháng một lần  Theo thông tin đăng ký của FARA, ông Daly nằm trong danh  sách biên chế của ĐCSTQ.
Qua email của Brendan Daly có thể thấy, ông này đang ở vị trí  dẫn đầu trong dự án và đồng thời còn có trao đổi qua lại với người  liên lạc của “CCTV Hoa Kỳ“. Ông cũng cung cấp một bản ghi nhớ  cho “CCTV Hoa Kỳ” nêu chi tiết kế hoạch chiến lược của Ogilvy,  đưa ra cách thức để cung cấp hỗ trợ toàn diện cho CCTV Hoa Kỳ,  ngoài ra còn hướng dẫn chi tiết cách tốt nhất để xóa bỏ khoảng  cách giữa các gia đình Mỹ và tuyên truyền của ĐCSTQ.

Chủ tịch Hạ viện Mỹ phản đối luận tội ông Trump

bà Pelosi

Ông Daly từng là Giám đốc truyền thông của Chủ tịch Hạ viện  Mỹ Pelosi trong gần mười năm từ 2002 đến 2011 và thậm chí đã  quyên góp 1.000 USD cho chiến dịch của bà Pelosi vào năm 2001.
 Ông Daly đã lợi dụng các mối quan hệ có được thông qua  bà Pelosi để nâng cao ảnh hưởng của “CCTV Hoa Kỳ“.
Ông Daly hiện là Giám đốc truyền thông của Hiệp hội Công nghiệp  Ghi âm Hoa Kỳ (RIAA), Hiệp hội này đại diện cho nhiều công ty  thu âm hàng đầu, chẳng hạn như Warner Music Group.  Mới đây, “công cụ” Tencent của ĐCSTQ đã mua lại 200 triệu USD  cổ phần của Warner Music Group.
Bà Pelosi khẳng định rằng mình là “người Mỹ không được yêu thích  nhất ở Trung Quốc”, nhưng mối quan hệ giữa các nhân viên của  bà và ĐCSTQ lại khác xa với thực tế. Gần đây, Michael Hacker,  cựu Cố vấn cấp cao của bà Pelosi, đã tham gia chiến dịch vận  động hành lang của TikTok để phản đối lệnh cấm của Tổng thống  Trump đối với TikTok.
Để đối phó với sự thâm nhập của ĐCSTQ, trong bài phát biểu tại  Thượng viện Cộng hòa Séc hôm 12/8, Ngoại trưởng Mỹ Mike  Pompeo đã tuyên bố rằng những gì đang diễn ra bây giờ không  phải là Chiến tranh Lạnh 2.0, việc chống lại mối đe dọa của  ĐCSTQ trên một số phương diện sẽ khó hơn nhiều.
 “Đó là bởi vì ĐCSTQ đã thâm nhập vào nền kinh tế, chính trị và  xã hội của chúng ta theo cách mà Nga Xô trước đây cũng chưa  từng nghĩ tới”. Hơn nữa, Bắc Kinh khó có thể thay đổi hướng  đi trong tương lai gần. Nhưng theo ông Pompeo, cho dù là như  vậy thì tương lai của chúng ta vẫn tràn đầy hy vọng. Đông Phương

Phong tỏa bắt giữ 900 người Hoa phân phối hạt giống

Phong tỏa bắt giữ 900 người Hoa phân phối hạt giống phá thủng phổi gây tử vong chứa mầm bệnh SARS-nCoV-2
BỞI TIN TỨC ONLINE06/08/2020
ĐỂ LẠI MỘT BÌNH LUẬNPHONG TỎA BẮT GIỮ 900 NGƯỜI HOA PHÂN PHỐI HẠT GIỐNG PHÁ THỦNG PHỔI GÂY TỬ VONG CHỨA MẦM BỆNH SARS-NCOV-2
UNITED STATES OF AMERICA
Trong số gần 8500 người Trung Quốc nằm trong danh sách đen “chờ” bị trục xuất khỏi Mỹ vì vi phạm luật di trú nước này, trong đó có hơn 900 người cảnh sát liên bang vừa bắt vì liên quan đến hoạt động phân phối những hạt giống mầm trong túi lạ nghi ngờ nhiễm khuẩn mầm bệnh SARS-nCoV-2.

Một cửa hàng của người Hoa bị phong tỏa nhiều người ở trong cửa hàng đã bị bắt
Trong đợt truy bắt có liên quan đến hoạt động phân phối hạt giống trên toàn bộ 50 bang của Mỹ vừa qua thì có tới hơn 900 người có tư cách pháp nhân sống trên đất Mỹ liên quan đến hoạt động này và theo như chính quyền Mỹ cho biết thì họ sẽ trục xuất tất cả những người trong gia đình có liên quan tới người phân phối thứ hạt giống nguy kịch này.

Một số khu phố có chứa người Hoa cũng đã được cảnh sát thiết lập.
Ông Haranie một nhân viên y tế cho biết trong số những người bị bắt giữ có rất nhiều người có biểu hiện nghi nhiễm virut. Hiện những người này đang được cách ly rất nghiêm ngặt tại một khu biệt lập riêng và có sự quản giáo của hàng trăm cảnh sát.

Một hình ảnh khác của cửa hàng ăn uống tụ tập rất nhiều người Hoa.
Đại diện Cục Hải quan và Bảo vệ Biên giới (CBP) đưa ra thông báo cho biết 260 người sẽ bị trục xuất ngay lập tức trong chuyến bay của hãng hàng không Trung Quốc ngày 8 tháng 8 tới đây.

Cũng theo cơ quan cảnh sát điều tra FBI cho biết thì 260 người này thuộc diện gây nhiễm bệnh toàn bộ nước Mỹ có ý đồ gây lây nhiễm mầm bệnh SARS-nCoV-2 cũng như chính là những người chỉ đạo có tổ chức tới hoạt động này.

Cảnh sát liên bang cũng đã tạm giữ hàng trăm ngàn gói hạt giống liên quan đến hoạt động phân phối hạt giống này cũng như phong tỏa tẩy trùng toàn bộ những khu vực có liên quan tới phân phối hạt giống chứa chất cấm này.
Như tin chúng tôi đã đưa : Florida: 5 người gia đình Việt dùng máy thở khẩn cấp khi chồng mặc áo len vợ mang về.
C.ả.n.h s.á.t Florida xác nhận một gia đình Việt 5 người nhiễm SARS-nCoV-2 trong tình trạng nguy kịch phải dùng máy thở khẩn cấp để duy trì tình trạng sống.

Theo c.ả.n.h s.á.t Florida Cô Hoang Oanh đã nhận được một món quà có tên người nhận thì đúng là của chị ở địa chỉ 5650 Dr Phillips Blvd, Orlando, FL 36519-3112 nhưng lại không có tên người nhận.

Chị nghĩ chắc là bạn bè bí mật tặng mở ra thì đó là một cái áo len cho đàn ông, chị đưa cho chồng chị mặc thử.
3 ngày sau thì trong gia đình 5 người của chị có 4 người bị sốt, ho, khó thở đi khám thì cả gia đình bị nhiễm Covid 19.
Hiện tại tất cả đều phải dùng máy thở để duy trì tình trạng sống dưới sự chăm sóc đặc biệt của các bác sĩ.

Trước khi đi vào bệnh viện cách li và chữa trị Cô Hoàng Oanh nói rằng “Vì lòng tham cái áo lên của tôi mà tôi hại gia đình vào hoàn cảnh này tôi thật sự quá ngu ngốc”
Phía c.ả.n.h s.á.t FBI và lực lượng CDC Mỹ thông báo ngoài hạt giống thì có thể có những món hàng không tên như trên được giao tới địa chỉ của bạn hoặc gia đình bạn. Cô Hoàn Oanh cũng chính là nhân viên tiệm Nail&Spa của người Việt cũng chính thức bị điều tra để xét nghiệm phong tỏa khẩn cấp.

Hiện tại c.ả.n.h s.á.t đã phong tỏa căn hộ của cô Hoàng Oanh và tiến hành phun khử trùng toàn bộ cả khu nhà cũng như các khu nhà xung quanh.
Lịch trình di chuyển và tiếp xúc của 5 người trong gia đình cô được c.ả.n.h s.á.t Orlando, Florida điều tra và ghi nhận là đang thực hiện biện pháp cách li với các thế hệ F1, F2.

Các thông tin của các bạn được thu thập bởi các ứng dụng của Trung Quốc mà các bạn cài đặt như TikTok..vv, vừa qua TikTok cũng chính thức bị chính phủ Mỹ cấm sử dụng và bắt buộc phải bán lại cho Microsoft.

Đừng vì một món quà như chị Hoàng Oanh mà làm cả gia đình rơi vào cảnh dịch bệnh.
Trước đó hàng loạt người Mỹ cũng nhận hàng loạt gói hạt giống chưa mầm bệnh SARS-nCoV-2 có nhãn mác của Trung Quốc gửi tới địa chỉ nhà các bạn.

CDC Mỹ cũng đã chính thức ban bố tình trạng khẩn cấp khi hàng loạt gói hạt giống được phân bố tràn lan trên toàn nước Mỹ và đã có người t.ử v.o.n.g do gieo trồng những gói hạt giống không tên.

Tháng Tám Buồn

ĐT Minh Giang

Tranh Nguyễn Sơn

Hạ tàn tháng tám đẫm cơn mưa
Kỷ niệm chập chờn tiếng gió đưa
Xin giữ cho nhau tình thiện mỹ
Thời gian phai bóng mộng âm thừa

Buổi sáng tinh sương làn gió mát
Đôi chim sẻ nhỏ hót trên cây
Hương hoa Nguyệt Quế thơm dìu dịu
Nhẹ thoảng vấn vương mái tóc gầy

Dòng đời biền biệt bóng câu qua
Thức giấc soi gương chợt xế tà
Mái tóc phong sương sầu lữ thứ
Ngậm ngùi nuối tiếc buổi chiều sa

Hoàng hôn nhòa nhạt nắng buông lơi
Tháng tám vọng buồn tiếng lá rơi
Than khóc tiếng ve chào tiễn Hạ
Gởi niềm thương nhớ bay chơi vơi.
6-2020
ĐT Minh Giang

VĂN CHƯƠNG Và NGHỆ THUẬT

 VÕ CÔNG LIÊM    

                VĂN CHƯƠNG Và NGHỆ THUẬT

     gởi: nguyễn đức tùng. đỗ quyên và lê thánh thư.

    Hình như hai thứ này luôn gần gũi nhau. Nói đến văn chương là có nghệ thuật. Nhưng mỗi thứ có một sắc tố đặc thù của nó chớ không phải là khiá cạnh riêng biệt khi nói đến mà phải hoà hợp hay dung thông vào nhau để có một tư duy độc đáo và cao độ; cái đó là phong cách phát huy cho vấn đề kiểu cách của văn chương –the matter of literary style mới làm sống thực chức năng của nó, bởi; văn tức là người, nghĩa tức là hồn –Style and Meaning. Nhưng; văn chương là lương tri, là thẩm quan của người viết và người đọc. Nếu đứng trên cương vị chủ quan mà nhận xét theo chiều hướng cố vị thì chính sự lý này đem lại những rắc rối khác mà chức năng, nhiệm vụ của người viết là để làm sao cho người đọc một cái gì đơn sơ, dễ hiểu  –but his literary conscience was troubled and his duty to his readers was plain. Đấy là nghệ thuật viết văn chớ đừng cố tạo cái thâm sâu cùng cốc mà đưa tới một sự ngu xuẩn, vớ vẩn. Còn đứng ra phản thùng hay phản phé thì cả hai đều nghiêng hẳn về lẽ phải của mình. Tác giả là người quá hăng say cho những gì viết ra hay nghĩ tới (whole-souled) cho những vấn đề muốn đặc ra và ngay trong phút chốc hay chỉ giây lát thoáng qua tất cả là một bung phá tột bực đến trong trí, dẫu là tính chất hư cấu đều cân nhắc, đắng đo suy xét (wholeness) một cách rốt ráo để thành văn; trạng huống đó thuộc hồn (soul) và hiếm khi bắt chụp được mỗi khi sáng tác trong vị trí giữa người và hồn, đấy là hai đặc chất mà chúng ta tìm thấy một cách rõ nét, nó thuộc hình dạng hay trình độ thấm thấu qua trí tuệ ở mỗi nhà văn hay nhà thơ dù cố tạo một sắc thái khác đi nữa để nói lên nhân tính của mình, đó là cơ may để phơi bày lên giấy trắng mực đen cái của mình muốn nói –the occasion was a paper of mine in which. Là; những gì nói đến; cho nên chi tư duy bộc phát chính là cái đẹp xẩy ra, là một trải rộng vấn đề về cuộc đời chúng ta đang sống; đó là những gì mà tác giả đã chín chắn và cảm nhận được, có nghĩa rằng tư duy lớn dần theo kinh nghiệm của thời gian. Giọng văn dù ‘trang điểm’ cách mấy cũng đủ nhận ra được tác giả ở góc độ nào của tuổi tác và trình độ, cảm thấy như không thêm được gì hơn và cảm thấy mù mờ trong ý chữ nghĩa. Viết văn hay làm thơ là phản ảnh trung thực cái duy tâm chủ nghĩa. Không vì một sự cớ nào mà nói lên cái không thuộc của ‘conscience’ mà cần có một tâm như trong sáng và thực mới vực được đạo. Đấy là yếu tố xây dựng văn và cảm hứng thơ; còn mượn tiếng hay tỏ vẻ, kể lể để nâng giá trị cá nhân thì hoàn toàn phản biện với lương tâm. Văn chương và nghệ thuật không phải là món hàng thương mãi cần rao bán, nó trở thành sở hữu chủ của độc giả; đó là giá trị đích thực. Đôi khi chỉ một tác phẩm mà đi vào lịch sử văn chương, ngược lại ‘sản xuất’nhiều trên mặt báo chỉ là giá trị sản lượng chớ không có giá trị thành phẩm. Văn chương ngày nay hầu như đi lạc hướng chủ đề, khác hẳn văn chương thuở xưa: -chuộng tinh túy hơn là thể cách. Sự cớ này dần dà làm xáo trộn cả trào lưu hiện đại. Văn chương lương tâm là phải thực như cuộc đời đã sống, còn đặc điều thì cái đó gọi là văn chương vô lương tâm (unconscience) mà trở nên tội phạm (criminal) như một số văn thi sĩ đã lạm dụng chữ nghĩa hay lạm dụng diễn đàn (dễ dãi) mà phóng bút bừa bãi che đậy sự thật. Thứ thi văn như thế là thứ văn chương tha hóa và dễ bị đào thải giữa trào lưu văn chương đang đòi hỏi một sự thật có thực. Sự cớ đó gọi là bi thảm của văn chương (The Literary of Tragedy). Mà thay vào đó một ‘kích thích tố’ đặc biệt hơn không đè nặng hay phải cố gắng; dẫu vận dụng cho ‘con chữ’ lạ hơn, làm cho câu văn thêm trì trệ và hồ lốn. Đấy là những gì có hiệu năng để phản bác vào bất cứ câu văn, ngữ cú đều đưa đến cái chết –these are charges sufficient to condemn any phrase to death. Văn hay Thơ là ngữ ngôn chuyển tải đặc dưới ký hiệu tự nhiên của ngữ ngôn (The Nature of Symbolic Language). Thành ra người viết thường dẫn chứng hay viện cớ qua ký hiệu của chữ nghĩa là ngữ ngôn bị đè nặng trong tâm trí; kiểu thức này còn gọi là ám thị tư tưởng, có nghĩa là làm rõ vấn đề bên trong qua một thứ khác –something that stands for something else. Chứng minh như thế tuồng như không thực mà đưa tới sự phản trắc trong lương tâm của văn chương. Nhưng; ngược lại ký hiệu ngữ ngôn là một thứ dụng ngôn bày tỏ kinh nghiệm bên trong (inner); nếu như nó có một kinh nghiệm cảm biến nhạy bén (sensory experience). Ký hiệu ngữ ngôn là một thế giới bên ngoài đồng thời là ký hiệu thế giới bên trong. Ký hiệu chữ nghĩa phơi mở tâm hồn và trí tuệ nơi chúng ta –a symbol for our souls and our minds. Văn chương và nghệ thuật là thế đấy!

Từ chỗ đó cho ta một nhận định sắc bén hơn. Bởi; văn chương và nghệ thuật là một thứ hòa âm điền dã, nghĩa là không cầu kỳ nhưng có trọng tâm cho một lý tưởng và bao hàm một ý nghĩa tổng quát từ bên ngoài đến bên trong của tác giả và tác phẩm thì nó sẽ là một ký hiệu tự nhiên qua ngữ ngôn, văn phong và hành văn; nghệ thuật của văn chương là biết vận dụng và ‘điều hòa không khí’ giữa tác giả và độc giả là một cảm thông giao lưu tư tưởng; nghệ thuật còn có một vai trò khác trong văn chương là ngữ điệu, một chất liệu chứa hợp tố vui buồn lẫn lộn, phơi mở cái thật của tâm hồn. Quan trọng của văn chương là phản ảnh nhân tính của con người, do đó văn chương đòi hỏi cái thực dù ‘phiạ’ nhưng phải thực chất thì câu văn không bị ‘lạm phát’ kể cả lạm phát tư tưởng sanh ra ‘dzỗm’ mà không hay biết, nhưng độc giả tìm thấy cái tâm trạng thực hay không thực của tác giả, ngay cả những chi tiết vụn vặt, những thứ đó làm tê liệt, bại hoại cho văn chương mất nghĩa lý (tức lý thuyết) và nghệ thuật của chữ nghĩa không màu không sắc rơi vào vũng cạn. Thành thử xử dụng dưới dạng thức nào đòi hỏi phải thực mới vực được đạo. Phiạ với đời để sống thì được nhưng phiạ với văn chương là phải tội, dù xây dựng trong hư cấu nhưng phải sống thực với đời thời tất đó là nghệ thuật viết văn. Thí dụ: Z. ngoài đời đi lính hạ sĩ quan mà viết ký sự là sĩ quan bộ binh (đâu có thành chung mà vô đại học). Khổ thay! tác giả đưa dữ kiện không thực vào ký sự thì văn bản trở nên không thực; chẳng qua cả tin ở chính mình. Đó là một nhầm lẫn lớn lao. Thí dụ khác: Y. viết văn thường pha thứ văn chương trào phúng vào truyện từ đầu ải cho tới cuối mũi đọc ra thấy tác giả đặc điều không thực mà trở nên đỏm dáng trong văn chương một cách tệ. Z và Y cùng một quan điểm, bên thơ, bên văn nhưng không ‘cải cách ruộng đất’ làm cho văn thơ biến thể (metamorphosis) rất là dị hợm. Một thứ biến thể khác biến thể của người khác.Thành ra vai trò làm văn, làm thơ là một cấu thành qua trí tuệ có tính nghệ thuật văn chương lồng vào trong đó. Mới ra hồn !    

Nói chung; lợi ích văn chương có thể cải thiện về trí tưởng tượng của tác giả và một vài vi phạm ngữ pháp, nhưng; giữa tác giả và độc giả phớt lờ mà quên đi những chi tiết đối với văn chương. Nguy hại hơn nữa của thi văn nhân cứ cho rằng không ai trách cứ về lối diễn trình của mình để rồi: văn một đường và nghĩa một nẻo, trình tự một văn phong không đầu, không đuôi mà biến thể dị ứng; cái sự đó có thể là loại quái dị (wildest-kind) của một nhà thông thái dzỗm (pedantry) mà trở nên lối hành văn chỉ thị cuộc đời. Có lẽ ở đây chúng ta thấy được lý do tại sao thi sĩ không những chỉ là người hiếm có để có thể hướng về sự thấm thấu trong phát biểu của thế giới thi ca –Perhaps here we see one reason why the poet is not only very seldom a person one would turn to for insight into the state of the world (poetry); mà tuồng như quá cả tin hoặc quá chất phác đã an vị để chúng ta tin vào. Suy ra; thi sĩ ở tầm cở đó chỉ tội cái chưa đạt tới đỉnh cao của văn chương, cho nên chi họ rơi vào hoàn cảnh ù lì, trước sau như một mất tính sáng tạo để thơ văn chìm vào thủy tử, bởi; chủ quan không nhìn thấy giá văn chương là đổi mới tư duy để đi vào thế giới văn chương và nghệ thuật hoặc có thể họ quên trong văn chương có nghệ thuật để sáng tác. Đặc thù của văn thơ là có màu sắc mới điểm tô cho tác phẩm ‘hội họa văn chương’ thành văn, thành thơ hay là chỉ việc nấu gạo ra cơm chớ không phân biệt được gạo nào ngon cơm và gạo nào không ngon cơm. Đó là tệ đoan trong văn chương lo việc sản xuất cho ra gạo chớ không lọc lừa hột gạo chữ.

Vòng vo tam quốc cho ra sự lý thường tình về cách làm ra thơ văn đúng nghĩa xưa nay thì phải thừa nhận những tác phẩm trước có một chỗ đứng riêng, chỗ đó là tính nghệ thuật của nó: ‘Tố Tâm’ Hoàng Ngọc Phách (trước 1922) lối dụng văn có phần cả nể nhưng thoát tục; dù rằng ngữ pháp chưa chuẩn mực so với ngày nay nhưng toàn tập tác phẩm chứng minh cho một cuộc cách mạng văn hóa của tiểu thuyết mới chớ đợi gì phải có A. Robbe-Grillet mới xác nhận cái nớ, cái ni mà tồn lại, tồn lui. Về sau; khi phong trào thi văn bộc phát thì khai sinh nhiều tác phẩm giá trị vừa có tính chất tân truyện vừa có tính chất triết lý nhân sinh như ‘Chí Phèo’ của Nam Cao, ‘Số Đỏ’, ‘Làm Đĩ’ của Vũ Trọng Phụng hoặc Nguyễn Tuân với Tùy bút  hay Tú Mở là cả một trào lộng, giễu đời trong văn chương, tất thảy mang tính chất nghệ thuật hội họa văn chương. Đến thời cận đại phát sinh nhiều thi, văn nhân mở ra nhiều hiện tượng mới; điển hình: Bình Nguyên Lộc, Sơn Nam, Lê Xuyên đượm sắc quê hương dân tộc vào truyện, khơi dậy như khiêu khích đánh động cho một danh xưng mến yêu của vùng quê yêu dấu – exasperation at social hypocrisies. Thi ca phát biểu qua nhiều trường phái khác nhau, không còn qui cách, ước lệ mà nó chất chứa cả trào lưu thi ca đương đại.Trước có Xuân Diệu, Huy Cận, Trần Dần, Phùng Quán và sau có Lê Đạt, Tế Hanh, Quách Thoại, Thanh Tâm Tuyền, Tô Thùy Yên là những giòng thơ như chạm đụng vào nhau, là qui ước bởi ‘conventions collide’; đấy là điều mà họ cố thực hiện khác đi những gì đã có ‘different they are’. Cho nên chi trào lưu thi văn là hoán chuyển qua kinh nghiệm thời gian để vượt thời gian đi vào giá trị nhất thể của nó, đứng riêng một cõi mới gọi là thi văn đương đại còn thứ văn chương lập lại là thói tính bắt chước, ‘copy-cat là imitate’ cái đó là phản đề của văn chương và nghệ thuật. Vị chi cuộc đời và văn chương từ chỗ đó cả hai đã là một qui ước hóa xã hội (conventionlized) là những gì mà chúng ta muốn nói tới, là những gì bao quát chớ cuộc đời không giống như hoặc giản đơn như trong văn chương mô tả. Ngược lại văn chương là một bày tỏ đối kháng trước vấn đề của con người và xã hội. Trong văn chương và nghệ thuật là nhất thể còn nghệ thuật văn chương là nhị thể, nghĩa là cái này có thời cái kia không. Nhưng; không vì thế mà ảnh hưởng vào nhau cho dù là khuynh hướng hay trường phái; nó phải độc lập trong ngữ cảnh, tiết điệu và nghĩa chữ mới nói lên được nghệ thuật: tinh túy và sáng tạo trong văn chương thời nay. Thế nhưng; cái rập khuôn từ xưa đến giờ vẫn còn tồn lại, tồn lưu không chịu tồn lui; nhất là lối bình giải thi ca hay phê bình tác phẩm văn học nghệ thuật không tìm thấy một thể thức nào mới hơn mà cứ một thể điệu nhai lại. Thường trích đoạn thơ hay văn làm dẫn chứng, lối sáo mòn đó đã không khai thác triệt để tiềm tàng của tác giả hay ẩn ý trong tác phẩm; kiểu thức đó là gián tiếp đâm sau lưng tác giả mà không tìm thấy thâm hậu của tác giả, lối bình giải đó là lối luận văn cổ điển xa xưa ở cấp tiểu học. Đó là cái họa bi thảm của văn chương và nghệ thuật. Văn chương và nghệ thuật Việt Nam là tinh hoa phát tiết qua từng thời đại, kỷ nguyên và để lại vô số tác phẩm qúy nhưng trong đó vẫn có chất Việt Nam; một thứ Việt Nam chủ nghĩa (Vietnamesenism) gần như phổ cập hóa (popularized) vào văn giới; điều đó không thể nào cải cách mà trở thành cục bộ cứng ngắc khó chuyển hoá cho một văn chương hiện đại kỷ nguyên – for the modern literary era. Thành ra Việt Nam chủ nghĩa là tế bào máu đã ăn sâu vào não thức cho nên chi phát tiết cùng một thể điệu. Đi tìm nguồn sáng tạo và hình thức mới trong hằng triệu thi sĩ quả là khó huống là tìm cho ra một nhà văn chân thật đúng nghĩa là khó hơn. Cho dẫu có một cuộc cách mạng văn hóa như kiểu Mao Trạch Đông đi chăng cũng không thể đánh bạt thứ văn hóa cục bộ vốn đã tồn lứa, tồn lần trong máu con người chúng ta. Thế nhưng; cho tới nay vẫn chưa có cuộc cách mạng văn hóa bùng dậy vượt thời gian và không gian. (chưa có Nobel).

Trí tưởng trong văn chương không đến nổi  phải thử thách hay giảo nghiệm; cái đó không liên hệ đến văn chương một cách trực tiếp trong cuộc đời hay trong hiện thực; liên quan đến văn chương trong cách thức khác là xây dựng qua một cấu trúc văn tự của trí tưởng lưu động để hoàn thành tác phẩm và tiếp tục nâng đôi cánh để bay cao, bởi; chúng ta không nhận ra sự bén nhạy tương quan của văn chương, của cuộc đời hoặc chúng ta cho đó là viễn cảnh chân trời của văn chương là thế giới mà ở đó không hiện thực ngoại trừ là hình ảnh con người hiện thực. Tuy vi diệu nhưng vẫn không hiện thực giữa đời.

Dĩ nhiên; trong những tác phẩm vĩ đại để lại chưa hẳn đã tuyệt đối là một thứ văn phong chất chứa đa hiệu mà đôi khi trong đó vẫn có cái ấm ớ, nửa úp, nửa mở trong cách diễn từ, nhưng; không phải là điều để nói ra mà thường khi như muốn được nhìn thấy sự khác biệt trong đó của một lý thuyết chính đáng. Có hai thứ chia ra trong kinh nghiệm văn chương. Trí tưởng giúp cho nhà văn có hai cái lợi tốt và đáng giá hơn là có một ít hiện thực trong đời mà đòi hỏi ở độc giả nhìn vào đó như một hiện thực vững chắc cho cả hai trong kinh nghiệm văn chương. Ở đây; văn chương không không phải là thế giới mộng mơ mà hiện thực của cuộc đời; dẫu là hư cấu. Khác với tư duy thi ca là sống trong trí tưởng để thành thơ và rất hiếm khi phản ảnh hiện thực trong thơ, ngoại trừ người ta đem ra bình giải. Văn chương và nghệ thuật là cả trí tuệ đan chiết vào nhau do từ sáng tạo mà ra, cũng có thể là một bày tỏ sâu đậm nhưng chỉ đạt tới một thỏa mãn giấc mơ mà thôi –literature would express only a wish-fulfilment dream.

Có một số người đưa ra câu hỏi tại sao thi nhân muốn nói lên bi thương hay tuyệt vọng, đau khổ trong khi thế giới thơ có bao nhiêu điều để ngợi ca, bao nhiêu gợi ý khác cho hạnh phúc, tình yêu là những thứ mà cần cho thơ, nhưng; trong thơ có một vài thứ nằm trong bệnh của não: -cảm thức bềnh bồng, buông thả, nổi trôi…thời tất những thứ đó nằm ngoài phạm trù văn chương. Chúng ta không thể lý sự cái siêu phàm đó. Một thứ biểu tượng thi ca, một ký hiệu của ngữ ngôn trong văn chương. Chính cái mơ hồ trừu tượng trong thơ là một thứ nghệ thuật siêu hình khó tìm thấy chỉ có tiềm thức tích lũy để tự khởi, tự phát cho thi văn tuyệt cú mà thôi. Dù biến thơ văn vào lãnh điạ nào, hình thức nào, kiểu dáng nào, nó vẫn giữ nguyên vị trí của nó, nghĩa là không mất chất hay chịu ảnh hưởng một cách vô lý mà hại đến văn thơ.

Nói chi thì nói; chúng ta chỉ rút ra một nửa của văn chương và nghệ thuật trong đó có những ngữ ngôn tuyệt cú, tuyệt hứng và quá đạt là những gì mà chúng ta cảm nhận ra rằng nó đứng riêng một cõi nhưng đó là sự đắm chìm thuộc dạng vô thức –The top half of literature is the world expressed by such words as sublime, inspiring, and the like; where what we feel is not detachment but absorption. Đặc thù của văn chương và nghệ thuật không nhất thiết phải kinh qua kinh nghiệm mà kinh nghiệm thời gian tu tập trong cuộc đời, có thể đó là một trong ngàn lý do khác, bởi; cuộc đời không bao giờ là tầm độ nói lên kinh nghiệm mà chỉ là ảo tưởng cuộc đời đến với chúng ta. Chỉ có nghệ thuật và khoa học có thể thực hiện rốt ráo qua kinh nghiệnm tu tập. Điều duy nhất đối với văn chương là dọn đường và xếp loại trí tưởng của con người như những gì tự có của nó. Nói ra nghe như mâu thuẩn cho một lý giải về văn chương nhưng kỳ thực trong đó cũng có cái khó của nó mà nhiều người vẫn chưa thông đạt đường lối chủ nghĩa văn chương và nghệ thuật một cách thiết thực hay quá ám thị trong ngữ ngôn hay quá cường độ về kinh nghiệm của văn chương. Cả hai thứ này gần như sinh lý trong con người khi muốn thực hiện cái đạt-tới (wish-fulfillment) cho thỏa thê đó là nguyện vọng của người cầm bút, cầm cọ. Khi nói đến văn chương và nghệ thuật thì đây không phải là thế giới mộng mơ (dream-world). Nhưng; nói như thế là võ đoán cho một xác quyết; thực tế văn chương nó có hai cái mơ: -một là mơ đạt-tới và một là mơ của ước ao; cả hai là trọng tâm hướng tới. Và; trở nên viễn cảnh của ý thức. Thứ nghệ thuật này dựa theo triết gia Plato: “mơ là thức dậy từ trí tuệ, tác phẩm của trí tưởng là loại ra từ một cuộc đời bình thường / is a dream for awakened minds, a work of imagination withdrawn from ordinary life”. Vậy thì thi sĩ và người mộng là khác biệt hoàn toàn. Mơ của Hàn Mặc Tử là mộng-thi-ca khác mơ của người bình thường là mơ ao ước (trúng số). Cái sự đó là cuộc đời bình thường cho một ao ước chung.Văn chương là bao bọc những thứ khác, một thứ nghệ thuật truyền thông và cùng ao ước như nhau. Dưới đáy vực của văn chương còn có một thể thức khác là tiềm thức. Một năng lực tiềm tàng qua trí tuệ của con người.

Vậy văn chương là gì? Nghệ thuật là gì? Hai biểu tượng này những người phê bình luôn luôn gọi là phán xét của văn chương / a judge of literature. Phán cái chi? -phán cái lý không cho rằng thi nhân, văn nhân là vị trí tuyệt đỉnh, nhưng phán xét để thấy đủ giá trị một vài thứ trong văn chương, chỉ phán xét cái đúng đắng, hợp lý trên chiếc ghế quan tòa nhận biết của luật pháp / a knowledge of law. Văn chương nói lên tất cả nhưng không phải đó là một tổng thể để phô diễn. Mèo đen hay mèo tam thể là màu sắc con mèo chớ màu đen hay trắng không phải là tổng thể phô diễn riêng cho con mèo. Văn chương cũng vậy!

Văn chương là hé mở như một khải huyền nhân loại, bộc lộ toàn diện của con người đến với con người. Với lời phê phán thẳng thừng chớ đây không phải thể thức phán xét; nhưng đây là một nhận thức siêu lý của những gì được bộc bạch trắng đen cho một phán quyết trung thực của văn chương và nghệ thuật ./. VÕ CÔNG LIÊM (ca.ab.yyc. Phục sinh 4/2017)

VÕ CÔNG LIÊM (ca.ab.yyc. Phục sinh 4/2017)

nếu mai không còn anh

NẾU MAI KHÔNG CÒN ANH

Nhạc và lời: Khê Kinh Kha
Tiếng hát: Xuân Phú

kkk2-neumaikhongconanh_nhac

nếu mai này
không còn anh nữa

cho ttv

nếu mai này không còn anh nữa
chắc em buồn em khóc mình em?
chắc em buồn nhìn mưa giăng kín
phủ hồn mình bao nỗi nhớ thương ?

nếu mai này không còn anh nữa
ai nói với em lời ngọt mềm
ai nhắc em những điều con cái
ai thì thầm, tình tự trong đêm

nếu mai này không còn anh nữa
em làm sao sống được một mình
chắc em khổ vì quá tủi thân
hồn em lạnh như cơn bảo tuyết
kiếp tha hương càng thêm đơn chiếc
em héo mòn vì thiếu hơi anh

nếu mai này không còn anh nữa
đời vẫn đi từng bước vô tình
em đừng buồn đừng tủi nghe em
vì anh vẫn còn đây như thuở trước
vẫn bên em anh ngồi vuốt tóc
vẫn ôm em âu yếm mặn nồng
bên lò sưởi mình ngắm tuyết mùa đông
và anh vẫn hôn lên môi lên mắt
và anh vẫn bên em khi em mệt
vẫn còn đây trong mỗi buổi cơm
khi em thức dậy, khi em đi làm
khi em nấu ăn, khi em chải tóc
khi em đi chợ, đưa con đi học
khi em thay áo, khi em soi gương
khi em ôm mặt nuốt vội nhớ thương
khi em đọc sách cho con đi ngủ
anh vẫn bên em trong từng hơi thở
trong từng lời nói, trong từng giấc mơ
trong từng nỗi khổ, trong từng niềm vui
anh vẫn như xưa dìu em giữa đời

nếu mai này không còn anh nữa
tình đôi ta vẫn mãi vẹn toàn
vì anh vẫn bên em từng bước
hồn mãi còn quanh quẩn bên em

KheKinhKha

NGÀY GIÃN CÁCH

Châu Thạch 

aodai54-r

ĐỐI THOẠI VỚI THIÊN THẦN ÁO TRẮNG

– Có phải em là thiên thần áo trắng?
– Không phải đâu, em chỉ là con người

– Sao áo em tinh sạch trắng màu tươi
Và em làm những điều thánh thiện?

– Vâng, bởi em, chính là em tình nguyện
Nguyện trong lòng làm từ mẫu cho đời
Những thiêng liêng em nhận ý trên Trời
Và nhân ái di truyền từ cha mẹ

– À như vậy hiểu ra rồi mọi nhẽ
Không người Trời em vẫn cứ thiên thần
Em là người có một tấm lòng nhân
Và có cả một tâm hồn bác ái!

– Em hiệp sĩ của loài người hiện đại
Chận con đường bách hại bệnh nan y
Con vi trùng, con vi rút lui đi
Em áo trắng! Em thiên thần áo trắng!

– Dịch Covid đem bao điều cay đắng
Cả thế gian khuất phục địch vô hình
Chỉ có em, em mặc áo trắng tinh
Đứng án ngữ, chận quân thù xông tới

– Chúng là dịch, loại quân thù rất mới
Chúng giết người hơn cả quỷ Sa Tan
Không có em, nhân loại sẽ quy hàng
Không có em, thế gian không lối thoát

– Không có em, tiếng sầu thay tiếng hát
Không có em, sự chết đến muôn nhà
Em thiên thần! Người đặt vạn bài ca
Vạn thi phú tôn vinh em chẳng đủ

– Bàn tay em chận nguồn cơn đại lũ
Áo trắng em cháy đại dịch Cô-Vi
Cả thế gian có lẽ không chân quỳ
Nhưng đã nhận em thiên thần áo trắng!!!
Châu Thạch

CÀ PHÊ MỘT MÌNH

Covid, cà phê ngồi một mình
Nhìn hoa ngắm cảnh đời vẫn xinh
Không gian là của riêng ta vậy
Chỉ có mình ta chỉ một mình!

Nghe tiếng thời gian lướt nhẹ nhàng
Thiên đường có thật ở trần gian
Ung dung ta đứng nhìn dương thế
Đâu có cần chi phải vội vàng

Bỗng nhiên kiến tánh đạo trong thơ
Bỏ chấp thì ngay đến bến bờ
Một cõi Niết Bàn trong đáy cốc
Thiên Đàng tiềm ẩn đóa hoa mơ.
Châu Thạch

BẠN TÔI HÁT ĐÓ.
(Tặng bạn Lê Văn San)

Trốn Covid, nằm nhà, buồn, lên mạng
Nghe bạn tôi hát đó, phía trời xinh
Hát cho tôi nghe lại tiếng ca tình
Đêm Thạch Hãn ngày xưa ngồi dưới nguyệt

Rồi chinh chiến đưa xa nhau mãi miết
Tôi tiền phương, bạn mũ đỏ kiêu hùng
Đêm Cổ Thành tôi lặng ngắm không trung
Mơ một bận được ngồi nghe bạn hát

Năm mươi năm trãi bao mùa tan tác
Bạn nhớ tôi, tôi nhớ bạn khôn cùng
Quả đất tròn nhưng trời đất mông lung
Tôi và bạn đường đời chia vạn ngã

Nay nghe tiếng người xưa lòng khôn tả
Nhớ ngày xưa những kỷ niệm quay về
Khuôn mặt người qua muôn dặm sơn khê
Vẫn thấy đậm trong hồn, tình thuở trước

Nghe tiếng hát tưởng như mình bắt được
Cả trời xưa trong ký ức hiện ra
Trường Nguyễn Hoàng, phố Quảng Trị, làng xa
Cầu Bến Đá, Trường Sanh quê của bạn

Đời hai đứa trầm luân vì nhiễu loạn
Nghĩa thân yêu xa cách vẫn không nhoà
Ước một ngày đoàn tụ giữa quê ta
Đêm dưới nguyệt tôi ngồi nghe bạn hát!!!
Châu Thạch

HÌNH DÁNG CƠ THỂ VÀ ĐỜI SỐNG TÌNH DỤC CỦA QUÝ ÔNG

Đặng Xuân Xuyến

quy ong
Người viết tổng hợp 4 lưu ý về HÌNH DÁNG CƠ THỂ VÀ ĐỜI SỐNG TÌNH DỤC CỦA QUÝ ÔNG dưới đây từ những kết quả thực nghiệm khoa học và các cuộc khảo cứu của các nhà khoa học tình dục, các Giáo sư, Tiến sĩ tâm lý ở các trường: Đại học New York (Hoa Kỳ), Đại học Western (Australia), Đại học Cornell (Hoa Kỳ), Đại học Dalhousie (Canada)… đã được công bố trên các phương tiện thông tin đại chúng nên 4 lưu ý tổng hợp dưới đây hoàn toàn là những kết luận mang tính khoa học.

HÌNH DÁNG CƠ THỂ VÀ ĐỜI SỐNG TÌNH DỤC CỦA QUÝ ÔNG
Bằng kết quả thực nghiệm và các cuộc khảo cứu, các nhà khoa học tình dục khẳng định một vài nhân tố bên ngoài cơ thể có thể gián tiếp cho biết cấu trúc và khả năng tình dục của người đàn ông. Chẳng hạn quý ông chân dài thường “yếu kém” hơn về độ ham muốn tình dục và khả năng hành xử “chuyện ấy” so với quý ông chân ngắn. Hay khoảng hói trên trán (ngay ở lứa tuổi trẻ) cũng được đánh giá như biểu hiện chức năng cân đối của các tuyến tình dục, và ngược lại, nếu tóc chảy thẳng xuống trán cũng chỉ rõ sự “kém cỏi” của các tuyến nội tiết, điều đó gián tiếp chỉ ra sự “yếu kém” trong khả năng “chăn gối” của người đàn ông.
Các nhà khoa học cũng cho rằng những quý ông có ý chí năng động lại thường là những người ít ham muốn và có khả năng tình dục kém hơn so với những quý ông có tính ba phải, thụ động và chậm chạp. Tuy nhiên, các nhà khoa học cũng khuyến cáo rằng: Những tiêu chí tương đối đó không thể đánh giá chính xác được sự ham muốn và khả năng tình dục của người đàn ông. Vì thế, chỉ nên coi những tiêu chí đó dùng để tham khảo, phần nào “tiên liệu” những hệ lụy từ những biểu hiện của cơ thể tới đời sống tình dục của người đàn ông.
Hay một nghiên cứu mới đây đăng trên tạp chí Journal of Personal and social Psychology – Tạp chí về Tâm lí xã hội và nhân cách con người – do Giáo sư Kerri Johnson và các cộng sự ở Đại học New York cho biết: Đối với các chuyển động cơ thể, thì quý ông đồng tính thường có xu hướng lắc mông, xoay mông nhiều hơn là những quý ông dị tính (bình thường về giới tính); còn đối với người đồng tính nữ thì phần vai có vẻ ngênh ngang hơn so với những người nữ bình thường về giới tính. Tuy nhiên, đây là một thí nghiệm có số lượng người tham gia hạn hẹp nên các nhà khoa học khuyến cáo: Không nên lấy kết quả của nghiên cứu này làm kết luận chung cho những trường hợp tương tự.

BỘ ĐÔI TRÊN CƠ THỂ CỦA QUÝ ÔNG VÀ ĐỜI SỐNG TÌNH DỤC
Các nhà khoa học (Canada) đã đo đạc những cặp bộ phận trên cơ thể nam giới và nhận thấy sự cân xứng hình thể và chất lượng tinh dịch có liên quan chặt chẽ với nhau. Càng mất cân xứng (nhất là đôi tai) thì chất lượng “đàn ông” càng kém. Bởi những bộ phận có đôi trên cơ thể phát triển cùng lúc với tuyến sinh dục, xảy ra từ khi bào thai còn nằm trong tử cung của người mẹ.
Người ta đã đặt ra giả thuyết rằng nếu có điều gì đó không ổn xảy ra vào thời điểm mang thai, thì sự phát triển của thai nhi sẽ bị ảnh hưởng. Vì thế, sự mất cân đối hình thể có thể là dấu hiệu của những vấn đề tiềm ẩn xảy ra trong quá trình phát triển chức năng sinh sản.
Các nhà khoa học tại Đại học Western (Australia) đã kiểm chứng giả thuyết trên và đưa ra kết luận: Một số lệch lạc về mặt đối xứng có thể xuất hiện trong quá trình phát triển bào thai, khi có nhân tố tác động tới khả năng phát triển cân đối một cơ quan trên 2 phía của cơ thể. Điều này tạo ra cái được gọi là sự bất cân xứng (FA).
Trong khi kiểm chứng, các nhà khoa học đã đo cân nặng, chiều cao, độ dài của tai, vòng cổ tay, khuỷu tay, mắt cá chân, chiều dài và chiều rộng bàn chân của một nhóm nam giới ở độ tuổi từ 18 đến 35. Bên trái và bên phải của mỗi người được đo riêng biệt và chính xác tới 0,1 mm. Với mỗi bộ phận, tỷ lệ FA được tính bằng cách lấy kích cỡ bên trái trừ kích cỡ bên phải. Kết hợp với 3 con số khác – chiều dài tai, chiều dài ngón thứ 4 và chiều dài bàn chân, các nhà khoa học tính ra con số FA tổng hợp. Kết quả này được đem so sánh với chất lượng tinh trùng của mỗi người đàn ông.
Các nhà khoa học đã kết luận: “Chúng tôi tìm thấy mối quan hệ giữa FA với số lượng và tính linh hoạt của tinh trùng. Kết quả cho thấy sự bất ổn trong việc phát triển cơ thể có liên hệ với chất lượng tinh dịch kém”.
Các nhà tâm lý học tại Đại học Dalhousie ở Nova Scotia (Canada) còn phát hiện thấy FA có liên quan tới tính ghen tuông. Những quý ông có cơ thể không cân đối thì thường có tính ghen tuông hơn những quý ông có cơ thể cân đối.

QUÝ ÔNG QUÁ BÉO HOẶC BỤNG QUÁ PHỆ SẼ KHÓ CÓ CON
Khi nghiên cứu về ảnh hưởng của cân nặng đến khả năng sinh sản của nam giới, Tiến sĩ Markku Sallmen (Phần Lan) và các đồng sự công bố: Đàn ông béo phì dễ mắc chứng vô sinh.
Theo Tiến sĩ Markku Sallmen, béo phì làm giảm mật độ tinh trùng, làm biến đổi cân bằng hoóc môn và làm tăng nhiệt độ ở bìu, dẫn tới hoóc môn testosterone (hoóc môn sinh dục nam) bị suy giảm mà hoóc môn này lại là biểu tượng cho sức mạnh và sự ham muốn “chuyện yêu” của người đàn ông. Hay nói nôm na là người đàn ông béo phì có ham muốn tình dục thấp hơn và cũng ít “yêu” hơn so với những người có cân nặng bình thường.
Nghiên cứu cho thấy, những người béo phì tăng 25 lần nguy cơ gặp phải trục trặc về tình dục, như thiếu ham muốn và bất lực. Nguyên do: Vòng bụng càng lớn thì lượng hoóc môn testosterone càng giảm, dẫn đến giảm hứng thú và chất lượng cuộc ân ái cũng trở nên “yếu kém”. Tuy nhiên, Markku Sallmen cũng cho biết nghiên cứu này không xác định được liệu sau khi giảm cân có thể phục hồi được khả năng sinh sản của quý ông hay không.
Một nghiên cứu khác trên gần 1.600 đàn ông Đan Mạch (độ tuổi trung bình là 19) cho thấy số lượng và mật độ tinh trùng của những người nặng cân, bụng phệ giảm 28- 36% so với những người bình thường.
Các nhà khoa học khuyến cáo các quý ông rằng: Để giúp quá trình sản xuất hóc môn testosterone được ổn định, rất cần cung cấp cho cơ thể những thực phẩm giàu chất kẽm như: thịt bò, thịt lợn nạc, cá biển.
Các nhà khoa học cũng khuyến cáo: Để đời sống tình dục được tốt đẹp, người đàn ông nên hạn chế lạm dụng bia rượu. Nếu một người uống nhiều hơn 0.5 lít bia mỗi ngày, lượng hóc môn testosterone trong cơ thể sẽ giảm. Nếu uống thường xuyên như thế, chắc chắn đời sống tình dục của người đàn ông sẽ gặp nhiều trở ngại do rối loạn cân bằng hoóc môn.

QUÝ ÔNG NGÁY TO KHI NGỦ DỄ MẮC CHỨNG BẤT LỰC, VÔ SINH
Các nhà nghiên cứu ở Đại học Cornell (Hoa Kỳ), đứng đầu là John P Mulhall, bằng thực nghiệm đã tìm thấy trong số 30 đàn ông bị rối loạn hơi thở trong giấc ngủ, thì có tới 24 người mắc triệu chứng của rối loạn sự cương dương. Những bệnh nhân này bị gián đoạn hơi thở rất nhiều lần trong đêm, đã gây ra tiếng ngáy rất to và liên tục. Nguyên nhân là do những mô mềm ở sâu trong cổ họng tạm thời bị sụp xuống làm chặn luồng hơi thở.
John P Mulhall cho biết sự cương dương mà đàn ông thường có trong giai đoạn ngủ sâu (REM) giúp bảo tồn chức năng tình dục thông thường của họ. Tuy nhiên, những anh chàng bị ngưng thở khi ngủ sẽ luôn bị rối loạn giấc ngủ và có giai đoạn REM ngắn hơn vì thế mà ảnh hưởng đến sự cương cứng của dương vật, dẫn đến khả năng giao hợp bị trục trặc.
Để tìm hiểu mối liên hệ giữa sự ngưng thở khi ngủ và tình trạng rối loạn cương dương, Mulhall và cộng sự đã kiểm tra thêm 50 đàn ông có triệu chứng dương vật khó cương cứng, thì có tới 30 người được chẩn đoán là bị chứng ngưng thở khi ngủ, và 24 người trong số 30 người đó được xác định bị rối loạn sự cương cứng của dương vật. Hơn nữa, chứng ngưng thở khi ngủ càng nặng thì tình trạng rối loạn cương dương càng tồi tệ. Ngược lại, chỉ có 4 trong số 20 người không bị chứng này là gặp trục trặc với bộ phận sinh dục.
Mulhall kết luận: “Kết quả của chúng tôi cho thấy đàn ông bị ngưng thở khi ngủ có khả năng cao bị rối loạn sự cương cứng và mối quan hệ này đi theo tỷ lệ thuận.”
……..
(Trích từ: QUÝ ÔNG VÀ NHỮNG CHUYỆN NGẠI HỎI của Đặng Xuân Xuyến ; Nhà xuất bản Thanh Hóa 2008)

GIỮ GÌN ĐÚNG MỨC QUAN HỆ NAM NỮ

VŨ THỊ HƯƠNG MAI

bantay

Sau khi giới tính của nam và nữ đã phát triển đầy đủ thì việc sinh hoạt nam nữ là một đòi hỏi tự nhiên. Sức khoẻ của con người sẽ có lợi hơn nếu việc sinh hoạt này diễn ra bình thường, còn nếu thái quá thì sẽ gây ảnh hưởng xấu đến cơ thể.
Theo ý kiến của Từ Linh Chiêu – một nhà y học cổ đại Trung Quốc thì việc sinh hoạt nam nữ vốn có từ lâu. Người ta sinh hoạt khi ham muốn, không có thì thôi, biết chủ động thì tốt, sẽ có hại nếu cưỡng bức, thái quá thì cạn kiệt sức lực. Tốt nhất là nên để tự nhiên mà không chút miễn cưỡng. Sinh hoạt nam nữ là một quá trình sinh lý phức tạp. Nhịp đập của mạch máu trong khi nam nữ giao hợp có thể lên tới hơn một trăm lần trong một phút, vì thế người ta rất mệt mỏi sau khi kết thúc việc giao hợp. Do đó, nếu sinh hoạt quá mức thì không những làm mất đi tinh dịch và tiết dịch của cả hai người mà còn làm trao đổi một lượng năng lượng lớn và gây căng thẳng thần kinh, kéo theo các chức năng sinh lý thông thường của cơ thể con người cũng sẽ bị ảnh hưởng rất nhiều. Cơ thể chắc chắn sẽ suy nhược nếu như tình trạng này kéo dài. Một người có bệnh lại càng cần phải điều độ hơn trong sinh hoạt vợ chồng. Có những trường hợp một người trung niên bị bệnh cao huyết áp sau khi sinh hoạt xong liền mắc chứng xuất huyết não và dẫn đến bệnh liệt nửa người. Vì vậy, nên ngừng việc sinh hoạt tình dục nếu thấy cơ thể không được khoẻ hay có bệnh tật hoặc say rượu, hoặc quá mệt mỏi sau khi đã lao động cật lực. Đặc biệt, những người mắc bệnh tim, bệnh lao phổi càng cần hạn chế việc sinh hoạt nam nữ.
Trong vấn đề bảo vệ sức khoẻ của y học Trung Quốc có nêu ra ba nguyên tắc lớn là:
– Giữ tinh dịch tố.
– Đảm bảo hít thở lưu thông.
– Chế độ ăn uống đầy đủ.
Trong 3 yếu tố trên thì yếu tố quan trọng nhất chính là việc sinh hoạt nam nữ phải điều độ để giữ tinh dịch tố. Theo sách “Hoàng đế nội kinh” thì quan hệ tình dục trong lúc say rượu sẽ làm tinh dịch cạn kiệt, rất dễ gây ra chết yểu. Còn cuốn “Y học nhập môn” thì coi một trong những bí quyết quan trọng giúp người ta sống lâu là việc hạn chế sinh hoạt nam nữ. Một người biết bảo vệ sức khoẻ là một người thưa vào buồng the, tự biết quý trọng sức khoẻ của mình, giữ đúng lẽ tự nhiên. Sách khuyên người ta nên chừa bỏ sắc dục để di dương tinh tố.
Nhìn chung, việc sinh hoạt nam nữ được coi là điều độ nếu diễn ra khoảng 2 lần mỗi tuần đối với thanh niên. Còn đối với trung niên và người có tuổi thì chỉ nên sinh hoạt 1 đến 2 lần một tháng là đủ nếu như không cảm thấy mệt mỏi sau lần thứ hai. Còn nếu thấy tinh thần uể oải, sức lực giảm sút hay đau lưng đau vai sau khi sinh hoạt thì nên cố gắng hạn chế.
Việc sinh hoạt nam nữ lành mạnh là một trong những yếu tố làm cho cuộc sống trở nên vui vẻ và hạnh phúc hơn. Sinh hoạt nam nữ đối với một người mạnh khoẻ không bao giờ bị coi là vật cản hay một thứ bệnh nội tâm cần giấu kín hay cần áp chế. Trái lại, nó tạo nên một nguồn cảm hứng cho cuộc sống.
Một người có tình dục lành mạnh cần có những đặc điểm sau:
– Thực sự yêu thương người bạn mình và tin tưởng sâu sắc vào tình dục. Họ không thay đổi tâm lý, cũng không có cảm giác tội lỗi trước những cử chỉ tình dục, biết xoá bỏ mọi nỗi lo lắng và xấu hổ, không nóng nảy, cũng không áp chế những khoái cảm của tình dục. Họ nhận thức một cách đúng đắn và thú vị về những cử chỉ tình dục của bản thân và cho đó là điều bình thường, tự nhiên. Họ không có những quan điểm phong kiến, bảo thủ như việc ra sức phản đối những cử chỉ và khoái cảm của tình dục.
– Không chỉ biết hưởng thụ và cảm nhận mà họ còn có khả năng tự kiểm soát, điều chỉnh bản thân khi có khoái cảm. Đối với tình dục, họ có những cử chỉ và thái độ đúng đắn.
– Biết thể hiện cử chỉ tình dục qua phương thức cộng hưởng để cùng đạt được khoái cảm một cách nhẹ nhàng êm ái.
– Có thể tự xử sự với mình và với đối tượng bằng một phương thức tích cực riêng, chứ không nhất thiết phải bắt chước hay dùng mô thức của người khác sao cho cả hai cùng chấp nhận, đồng tình.
– Không cần có cảm giác giữ ưu thế về tình dục hay tìm mọi cách để phô bày ưu thế sẵn có của mình thông qua những kinh nghiệm về sự từng trải trong quan hệ yêu đương. Đối phương sẽ cảm thấy bị hạ thấp khi anh dùng kiểu bộc lộ này. Điều này không có lợi cho mối quan hệ tình dục thậm chí còn tạo nên sự đổ vỡ vì nó chỉ có thể thoả mãn lòng ham muốn về tình dục của cá nhân một người.
– Biết dùng những hiểu biết của mình để vừa khám phá những cử chỉ tình dục của bản thân vừa không làm mất thế cân bằng. Đồng thời khống chế được những xung đột về tình dục. Biết vận dụng những quan điểm phù hợp với đạo đức để xử sự với những cử chỉ tình dục của cá nhân mình.
Thường thường mọi người hay nghĩ rằng chỉ có người trẻ mới có quan hệ tình dục và hay nghĩ tới những cử chỉ tình dục. Ở những người đã đứng tuổi mà vẫn còn những cảm giác mạnh về tình dục thì bị cho là không đứng đắn.
Thực ra quan niệm như vậy là không đúng và không khoa học. Khoa học đã chứng minh rằng, đến trước ngưỡng của người tuổi già thì tình cảm đối với tình dục gia tăng theo tuổi tác, tức là nhiều tuổi hơn thì khả năng tình dục càng mạnh và thuần thục. Ở người phụ nữ, độ tuổi sung mãn nhất về tình dục là trên dưới 40. Trong cuộc sống hàng ngày, sự ham muốn sẽ giảm bớt nên những cử chỉ tình dục ngày càng ít đi. Khi tình cảm bị ép buộc thì dẫn đến việc tự hạn chế cử chỉ tình dục của mình. Như vậy có nghĩa là sự ham muốn sẽ càng lớn nếu tiến hành càng nhiều hành vi tình dục.
Tuy nhiên, các cử chỉ tình dục được thể hiện qua cả một quá trình gồm nhiều động tác. Khi những cử chỉ thân mật này không còn nữa thì sẽ dẫn đến kết cục không hay là một bên muốn thể hiện những cử chỉ tình dục trong khi đối phương lại cự tuyệt và ngược lại. Nhiều lần như vậy sẽ khiến cho việc bộc lộ tình cảm đối với tình dục của cả hai người nam và nữ ngày càng khó khăn.
Vì vậy, các chuyên gia khuyên rằng cả hai người nên chủ động sáng tạo ra những mô thức quan hệ tình dục mới phù hợp với sở thích của đôi bên khi những cử chỉ tình dục cũ không còn tạo được những cảm giác hay kích thích thú vị như trước. Làm như thế cũng có nghĩa là biết cách duy trì cử chỉ tình dục lành mạnh. Tuy nhiên cũng nên lưu tâm rằng việc sáng tạo mô thức cử chỉ mới phải nằm trong phạm vi tiếp thu của đối phương. Nếu vượt quá giới hạn tiếp thu này thì sẽ gây ra những kết cục không tốt cho cả hai.
*.
VŨ THỊ HƯƠNG MAI

 

T I N X A N H

image001
những chấm đỏ điểm hồng tâm thân cây
báo tử một đời ruỗng mục
mới ngày nào nuôi liếp xanh
nâng hoa
vỗ um mầm trái
bây giờ vân gỗ hong phơi
người ta sẽ đốn cưa những đời cằn
như người
như ta
rồi cũng tới lúc
rã reng niềm vọng
đi bộ nghe mình
thở theo cây
cảm một chút bình yên còn được thở
như cảm buồng phổi cây tới giờ hấp hối
vẫn còn đó tiếng kèn thúc giục trưa hè
kéo áo sang thu
người nhạc công của thiên nhiên thu nhặt mây chiều
ôi chẳng có phần đời nào vĩnh cửu
như cỏ lấp. mòn lối
hóa vàng những nốt chân tình nhân truy lùng hạnh phúc
nốt đau một lằn vết

những chấm đỏ ngước nhìn tin xanh
như môi son ngóng chờ
nụ hôn lập trình mùa đông tử biệt

hoàng xuân sơn
{12 gìờ trưa ngày 7 tháng 8
năm 2020 tiếp tục bộ hành}

NHỮNG VẾT Ố TRÊN TƯỜNG QUÁN CÀ PHÊ

PHẠM NGA

pham nga trg quan

Nhớ thời trẻ trai, thập niên 60 và đầu 70 thế kỷ trước, ngày đêm giờ giấc nào tôi cùng bạn bè cũng đều có thể rủ nhau ra quán café, có khi cả 3 cữ sáng/chiều/tối. Thời xưa ấy, đô thành Sài Gòn chỉ mới có vài triệu dân nhưng đã nổi tiếng sầm uất, nhiều đường phố náo nhiệt. Tuy nhiên, đâu đó trong cái thành phố ồn ã này vẫn tồn tại vài khoảnh không gian trầm lắng, gần như đóng kín.
Những địa điểm hơi khuất lánh ấy là các quán cà phê không hề thuộc hạng hoành tráng phô trương ở các đại lộ mà chỉ khiêm tốn náu mình trong những con đường nhỏ – cứ là đường nhỏ dù có khi thuộc một quận trung tâm thành phố – và mặt bằng quán nào cũng thật nhỏ hẹp, bàn ghế chỉ đủ kê khoảng 10 bộ trở lại, tiêu biểu như cà phê Hồng ở đường Pasteur, khuTân Định, hay cà phê Chi, đường Nguyễn Phi Khanh, Đa Kao, cùng thuộc quận 1 Sài Gòn. Có điều là do cung cách lặng lẽ của chủ quán và điềm đạm của hầu hết khách quen đã chọn loại quán này, nhịp sống trong quán thường trôi chậm rãi, Chậm rãi như từng giot cà phê phin ung dung nhỏ xuống ly, mặc cho bên ngoài quán sinh hoạt cuộc sống có hối hả xe cộ, xô bồ mưa nắng…
Hòa mình đã dài lâu trong đám dân ghiền café và đã nhẵn mặt ở một vài quán quen, một lần nọ khi ngồi ở cà phê Hồng ở cuối đường Pasteur, thật thú vị là tôi đã nhận ra mình với họ – những người ngồi quán, đa số là lớp trẻ – ngoài điểm giống nhau là tâm lý vào quán thường ai cũng chọn ngay chỗ ngồi sát vách tường để tha hồ dựa lưng, còn có điểm giống nhau nữa, tượng hình hơn. Đó là:
“Nhìn những vết ố, không thể phân biệt được vết nào mới vết nào cũ, theo năm tháng,cứ lưu lại ngang ngang nhau trên các mặt tường trong quán, có lẽ từ tóc hay mồ hôi lưng của khách ngồi uống cà phê, tôi chợt nghĩ hình như ở cái thời chiến tranh, bất ổn còn kéo dài này, lớp trẻ chúng tôi có cùng một cỡ xương sống mệt mỏi, chán chường.” (*)
PHẠM NGA

(*)Trích bài ký “Cà phê quán, một sắc thái văn nghệ”. trên nhật báo Nhân Xã Thời Báo ở Sài Gòn năm 1970 (sau rút gọn tên, thành Thời Báo).

ĐỜI TRẢ LỜI CHO TA

Nguyên Lạc

ao dai trang1

Tranh Nguyễn Sơn

*
Ba mươi năm có đủ
Quên cuộc tình cũ xưa?
Ba mươi năm có đủ
Quên nỗi buồn tiễn đưa?
.
Chiều bên sông khói phủ
Mờ bóng hình dấu yêu
Thuyền trôi xuôi ra biển
Cô vạc khổ khóc chiều
Tím một dòng thê thiết!
Đắng một lòng hắt hiu!

*
Ba mươi năm có đủ?
Quên mối tình dấu yêu!
Đêm mắt đầy mong đợi
Người xa mãi … phương nào
.
Ba mươi năm cơ khổ
Bao mộng đời vỡ tan!
Lời dối gian giả ngụy
Thanh xuân ấy lụi tàn
.
Ba mươi năm mãi đợi
Mắt lệ nhòa xuân thu
Thời gian đâu chờ đợi
Người ở lại bạc đầu!

*
Chẳng thà không gặp nhau
Thì đâu buồn tiễn biệt!
Chẳng thà đừng hứa nhau
Thì trăm năm đâu là …!
.
Ba mươi năm có đủ?
Đời trả lời cho ta!
Cho nỗi buồn đưa tiễn
Chiều khói phủ sông xưa

*
Chẳng thà đừng gặp lại
Mãi một nỗi mong chờ
Gặp chi buồn mắt đợi?
Nhạt màu tình xưa xa!
.
Ai bây giờ lạ lẫm
Đâu người cũ năm xưa!
Nhìn nhau đầy mắt lạ
Đã từng quen biết chưa?!

*
Ba mươi năm dài đủ?
Để riêng đời nhớ mong!
Gặp chi rồi chia ngả
Người còn nhớ chi không?
.
Ba mươi năm chắc đủ
Quên hứa nào phải không?
Phải chi đừng gặp lại
Giữ hình bóng riêng lòng!

*
Ba mươi năm hoài phí
Cả một thời thanh xuân!
Lạnh lùng … người bước vội
Kẻ hụt hẫng … lưng tròng!

*
Người. lại rồi xứ lạ
Ta. một trời hư không!
.

10 CHUYỆN THẾ SỰ

Đặng Xuân Xuyến

*
CHUYỆN Ở ĐỒNG TÂM

Lại loạn Đồng Tâm (*) 1 chữ TIN
4 con dân Việt ngậm oan hồn
Lịch sử sau này ghi đêm ấy
Đẫm máu thôn Hoành nghẹn tiếng dân.
…………..
(*): Đêm 09.01.2020 hàng nghìn cảnh sát tiến vào xã Đồng Tâm (Hà Nội) “giải quyết chuyện đất đai” dẫn đến 4 cái chết thương tâm (cụ Lê Đình Kình và 3 cảnh sát Cơ động).
*.
Hà Nội, ngày 15 tháng 01.2020

CHUYỆN CỤ LÊ ĐÌNH KÌNH

Quá nửa đời cúc cung theo Đảng
Nhất nhất tin “còn Đảng còn Mình”
Phút cựa mình bứt giữa trời xanh
Cụ nằm xuống. Anh linh hóa Tượng!
…………..
(*): Đêm 09.01.2020 hàng nghìn cảnh sát tiến vào xã Đồng Tâm (Hà Nội) “giải quyết chuyện đất đai” dẫn đến 4 cái chết thương tâm (cụ Lê Đình Kình và 3 cảnh sát Cơ động).
*.
Hà Nội, 23giờ25 ngày 11.01.2020

CHUYỆN “KIỂM DUYỆT” 1

Mã (*) cấm tiệt “vành đai” “9 đoạn”
Ngát (**) rình rang công chiếu “lưỡi bò”
Dân lên tiếng Ngát la chyện nhỏ
Lợi ích nào trong nhóm duyệt phim?
…………..
(*): Malaysia
(**): Nguyễn Thị Hồng Ngát, nhà thơ, thành viên Hội đồng Trung ương thẩm định phim, duyệt chiếu phim Người Tuyết Bé Nhỏ có hình “đường lưỡi bò”.
*.
Hà Nội, ngày 01 tháng 11.2019

CHUYỆN “KIỂM DUYỆT” 2

Nhạc sĩ “Đời Người” đốt “Rừng Cây” (*)
Ôi thời mạt pháp của bầy hầy
Một câu ông đốt đời ông lụi
“Rừng Cây” vạn đại mãi xanh cây!
…………..
(*): Nhạc sĩ Trần Long Ẩn nói: “Phải hết sức thận trọng với trang sử đen tối của miền Nam Việt Nam lúc bấy giờ là bị xâm lược. Văn học, nghệ thuật độc hại của nó xuyên tạc đường lối cách mạng đúng đắn của Đảng ở miền Nam và hiện nay không thể tẩy xóa.” tại thành phố Hồ Chí Minh ngày 10.11.2019.
*.
Hà Nội, ngày 30 tháng 11.2019

CHUYỆN NGHỊ TRƯỜNG

Tướng Việt Khoa (*) trên nghị trường dõng dạc:
– Tàu “nước ngoài” thêm sách nhiễu biển Đông
Đại biểu Quốc (**): – Có cần bạc nhược
Né chỉ tên kẻ cướp ngông cuồng?!
…………..
(*): Trần Việt Khoa, trung tướng, Viện trưởng Học viện Quốc phòng, phát biểu tại nghị trường Quốc hội 30.10.2019.
(**): Dương Trung Quốc, đại biểu Quốc hội khóa XIV, phát biểu tại nghị trường Quốc hội 31.10.2019.
*.
Hà Nội, ngày 01 tháng 11.2019

CHUYỆN “YÊU NƯỚC” 1

Ngài Chủ tịch điểm 5 trọng án (*)
Quyết xử nghiêm để níu lòng dân
Bạn “4 tốt” cướp hồn Văn hóa (**)
Nghìn báo đài rón rén rỏ tin.
…………..
(*): Ngày 18.11.2019 Tổng Bí thư, Chủ Tịch Nước Nguyễn Phú Trọng chỉ đạo khẩn trương xét xử sơ thẩm 5 vụ án nghiêm trọng,.
(*): Báo China Daily (Trung Quốc) gọi nón lá, áo dài Việt Nam là “phong cách Trung Quốc”.
*.
Hà Nội, ngày 01 tháng 11.2019

CHUYỆN “YÊU NƯỚC” 2

Họa sĩ Trần Lương giữa Nam kinh (*)
Kiên quyết ra tay “cắt lưỡi bò”
Lan Khuê ngời sáng vang Tam Á (**)
Trung Quốc cuống cuồng kế tiểu nhân.
…………..
(*): Họa sĩ Trần Lương yêu cầu Trung Quốc loại bỏ “đường lưỡi bò” trong poster Triển lãm nghệ thuật đương đại Đông Nam Á tổ chức 09.11.2019 tại Nam Kinh và nhà tổ chức đã đáp ứng.
(**): Lan Khuê, người đẹp Việt Nam dự thi Hoa hậu Thế giới tháng 12.2015 tại Tam Á, bị Trung Quốc xử ép, loại khỏi Top 5+1 vì cô tuyên bố chủ quyền của Việt Nam với Hoàng Sa – Trường Sa.
*.
Hà Nội, ngày 30 tháng 11.2019

CHUYỆN “KHÓC CƯỜI”

39 mạng (*) trốn nghèo lâm nạn
Bám chuyên cơ 9 (**) vị du Hàn
Dân xứ Nghệ như thời chiến loạn
Rợn đất trời rặt tiếng khóc than.
…………..
(*): 39 người Việt Nam thiệt mạng trong container đông lạnh ở Anh ngày 24 tháng 10.2019
(*): 9 người Việt Nam “đi nhờ” chuyên cơ của Chủ tịch Quốc hội Việt Nam Nguyễn Thị Kim Ngân trốn ở lại Hàn Quốc
*.
Hà Nội, ngày 01 tháng 11.2019

CHUYỆN KHỐN NẠN 1

Đội lốt Việt nhôm Tàu đi Mỹ
Né hải quan gấp mấy trăm lần
Con buôn Việt giúp Tàu (*) gian lận
Kiếm dăm đồng phá lợi ích Quốc Gia.
…………..
(*): Lô hàng giá trị 4,3 tỷ USD của Công ty Nhôm Toàn cầu Việt Nam do người Tàu đồng chủ sở hữu bị Hải quan Mỹ (và Việt Nam) ngăn chặn vì đội lốt hàng Việt Nam.
*.
Hà Nội, ngày 01 tháng 11.2019

CHUYỆN KHỐN NẠN 2

Luật sư Hùng (*) trở cờ về với Đảng
Luận “góc nhìn thời thế” báo Nhân Dân
Liệu Ngô Kỷ (*) có ngồi gãi háng
Nghĩ dăm trò ma mị giật gân
…………..
(*): Luật sư Hoàng Duy Hùng định cư ở thành phố Houston, tiểu bang Texas, Hoa Kỳ, từng chống Cộng kịch liệt tại Hải ngoai.
(**): Ngô Kỷ là người Mỹ gốc Việt, thành phần chống Cộng cực đoan tại Hải ngoại.
*.
Hà Nội, ngày 01 tháng 11.2019
ĐẶNG XUÂN XUYẾN
.

President Trump VS Joe Biden

President Trump Vs Joe Biden

President Trump                                                                         Joe Biden            

PRO LIFE                                                                   PRO CHOICE- killing Babies

1) Create 6 million Jobs in 3.5yrs                                 Create no Jobs in 40+yrs

2) Bring JOB back to USA                                               Send JOB to China, Mexico, etc

3) Lowest Unemployment for Women                        Done NOTHING for Women
In 60+ yrs

4) America FIRST                                                             China FIRST (America LAST)

5) Trade deal for American Benefit                                Has Done NOTHING & let other
                                                                                                   Countries rip off America

6) Tough on China                                                           Weak on China

7) Lowest Unemployment for Black                              Create NO JOBS for Black,
Hispanic & Asia (in history)                                             Hispanic, Asia or Women

8) Law & Order                                                                  Defund Police

9) Protect 2nd Amendment                                             Shred 2nd Amendment

10) Lower Tax for all                                                        Raise Tax on All

11) Appeal&Replace disaster Obamacare                    Impose Obamacare on All

12) Veteran Reform & Accountability                           Done NOTHING for Veterans

13) Prison Reform                                                             Done NOTHING

14) Strengthen Military                                                   Weaken Military

15) LOVE AMERICA                                                          Anti-America

16) Uphold Constitution                                                  Socialist Agenda

17) Conservative SCOTUS                                               Left-wing SCOTUS

Con mèo nhập niết bàn

Elizabeth Coatsworth
Doãn Quốc Sỹ chuyển ngữ từ nguyên tác The Cat Who Went to Heaven của Elizabeth Coatsworth.

cat

CON TÀI LỘC

Xa … xa lắm, mãi tận bên xứ Nhật Bản, xưa có một chàng họa sĩ nghèo. Hôm đó họa sĩ đương ngồi buồn thiu trong căn nhà nhỏ của chàng, chờ bữa ăn trưa. Người vú già đi chợ chưa về, chàng lim dim ngồi đó, thở dài nghĩ đến những thức ăn mà người vú có thể mua về. Chàng ngóng đợi từng phút từng giây bước chân hấp tấp của vú, tưởng tượng vẻ khúm núm khi vú kính cẩn trình lên chủ những thứ mua về đựng trong chiếc lẳng nhỏ, phải đảm đang lắm mới có thể với mấy xu tiền chợ mà mua về ngần bao nhiêu thứ. Họa sĩ quả đã nghe thấy tiếng chân trở về. Chàng nhỏm vội dậy. Chàng đói lắm rồi.
Nhưng sao vú lại e dè dừng bước trước cửa thế kia? Lẵng thức ăn đậy kín.
“Vào đi chứ, vú,” chàng nói lớn, “xem vú mua được những gì nào”.

Người vú run run, hai tay ôm chặt lấy chiếc lẵng tre. “Bẩm cậu,” người vú nói, “cháu nghĩ rằng nhà mình quạnh quẽ quá.” Những nét nhăn trên khuôn mặt già nua của vú vừa phiền muộn, vừa thoáng vẻ cương quyết.
“Quạnh quẽ!” họa sĩ nói, “thì tất nhiên là quạnh quẽ rồi! Vú bảo làm sao mà khách khứa tấp nập vào ra nhà này được, chúng ta có gì đãi họ đâu? Ngay như ta đây, đã từ lâu chẳng được nếm miếng bánh trôi bánh chay nào, hương vị những thứ đó cơ hồ ta cũng quên phứt đi rồi!” Và họa sĩ lại thở dài, bởi quả tình chàng thích những loại bánh chưng, bánh trôi, bánh chay vô cùng. Ôi bánh chưng nhân đậu có mỡ ngậy, bánh trôi bánh chay nhân đậu đường nhuyễn thả ngập trong màu chè đường đặc sánh và tinh khiết. Chàng còn thích uống trà với vài người bạn thân, trà pha và rót vào chén men sứ trắng phau, vừa thưởng thức trà vừa cùng bạn đàm đạo về một cành đào hoa nở chẳng hạn, cành đào đẹp như một nàng công chúa khép nép trong khuê phòng.
Nhưng đã từ lâu rồi, tuần này qua tuần khác, tháng này qua tháng khác chẳng có ma nào tới mua cho một bức tranh nhỏ. Đã từ lâu rồi chàng họa sĩ nghèo nàn cam phận với bát cơm hẩm ăn với chút tép kho, nhưng nếu cái điệu chẳng ai tới ngó ngàng mua tranh này, còn kéo dài thì đến cơm hẩm tép kho cũng chẳng có được nữa. Đôi mắt chàng trở về với chiếc lẵng xinh còn đậy kín. Có thể là vú đã khéo thu xếp mua được một hay hai củ xu hào cũng nên, biết đâu lại chẳng thêm cả một quả đào chín mọng.
“Bẩm cậu,” người vú vừa nương theo hướng nhìn của chủ vừa nói, “cháu lại còn nhớ hình như đêm đêm cứ bị thức giấc vì chuột.”
Nghe tới đó chàng họa sĩ bật tiếng cười lớn.
“Chuột?” chàng nhắc lại khôi hài. “Chuột? Vú ơi, chuột nào mà đậu được ở cái nhà quanh năm không có lấy một hạt cơm vãi trên chiếu?”
Và chàng chăm chú nhìn người vú, trí thoáng gợn nghi ngờ:
“Vú không mua gì ăn về thì phải!”. Chàng nói.
“Dạ!” người vú ngượng ngùng đáp.
“Và vú mua về con mèo thì phải.”
Người vú vội cúi thấp đầu hơn nữa khúm núm: “Bẩm cậu thực sáng suốt, cái gì cậu cũng biết!”
Tới đó thì chàng họa sĩ dậm chân đánh rầm một cái. Rồi vừa vò đầu bứt tai vừa đi đi lại lại trong phòng, chàng tưởng như mình chết đến nơi rồi, vừa chết đói vừa chết tức.
“Mèo! Trời ơi, mèo!” – chàng nói như hét – “vú mua mèo làm gì cơ chứ, vú điên sao? Mình chết đói đến nơi rồi, vú biết đấy, vú lại đi rước con quỷ này về, rồi phải nuôi nó chứ, biết đâu nó chẳng còn hút máu mình nữa. Phải rồi, đêm đến khi tôi sực dậy, khi vú sực dậy đã thấy răng nó cắn ngập cuống họng mình, chỉ còn biết nhìn vào đôi con mắt to bằng hai cái đèn lồng của nó, thật tuyệt! Ờ mà có lẽ vú có lý! Nghèo khốn đến thế này thì thà chết quách cho xong, thây cho con quỷ quặp lấy xác mình ta đi trên nóc nhà”.
“Bẩm cậu” vú ngước đầu kêu lớn, “nhưng cũng có nhiều con mèo thật tốt. Bẩm cậu, cậu quên rồi sao chuyện thằng nhỏ vẽ toàn mèo trên tấm bình phong tại ngôi đền bỏ hoang nọ, rồi nó vào ngủ vùi trong căn phòng nhỏ, nửa đêm phấp phỏng nghe như có tiếng mèo gào? Rồi sớm hôm sau tỉnh dậy nó thấy xác một con chuột khổng lồ ở ngay trước bực cửa. Tất nhiên là con chuột định đến ăn thịt nó. Bẩm cậu, ai đã giết con chuột khổng lồ đó? Chính là những con mèo của chú bé, những con mà chú đã vẽ trên bình phong chúng vẫn ngồi nguyên trên bình phong kia, nhưng móng vuốt đầy máu me. Bẩm cậu, có nhiều mèo tốt lắm chứ!”
Nói tới đấy vú khóc nức nở, chàng họa sĩ dừng lại, nhìn những giọt nước mắt chảy liên tiếp trên khuôn mặt nhăn nheo của vú già. Sao chàng nỡ nổi đóa lên như vậy? Đâu phải là lần đầu chàng bị đói!
“Thôi được rồi, vú,” chàng nói, “đôi khi có một con quỷ trong nhà cũng là điều hay, nó sẽ đuổi hết những con quỷ khác ra khỏi nhà. Rồi con mèo của vú tất nhiên cũng muốn có cái ăn chứ, biết đâu nó lại chẳng run rủi cho ta gặp vận kiếm được chút tiền. Phải, biết đâu! Mình đã khổ cực đến như thế này, thì cũng chẳng thể khổ cực hơn được nữa.”
Người vú khúm núm cúi đầu cảm tạ.
“Thực cả vùng này hiếm có người nhân đức như chủ ta,” vú nói đoạn toan cắp chiếc lẵng còn đậy kín nắp xuống bếp.
Nhưng chàng họa sĩ làm hiệu cho vú dừng lại. Như mọi nghệ sĩ khác, chàng tò mò.
“Nào để ta xem con mèo ra sao nào”, chàng nói như thể rửng rưng xem hay không cũng được.
Người vú vội đặt rổ xuống, khẽ nâng chiếc nắp lên. Thoạt không một chút động tĩnh. Rồi một chiếc đầu … một chiếc đầu tròn, xinh lông trắng muốt từ từ nhô khỏi miệng rổ tre, rồi hai con mắt ánh vàng mở lớn e dè nhình quanh phòng, rồi một chiếc chân trắng muốt từ từ đặt lên miệng rổ. Rồi bỗng nhiên cả con mèo xinh trắng muốt thoắt dời khỏi đáy lẵng nhảy lẹ lên chiếu, cái lẵng không hề động đậy. Nó đứng đấy y hệt một người vẫn chưa hề được biết là mình có được đón tiếp nồng hậu hay không. Bây giờ thì mèo đã nhảy hẳn ra ngoài rồi, họa sĩ thấy hai bên sườn nó có những đốm màu vàng, đuôi nó xinh như đuôi thỏ mà dáng dấp thì rất mực tao nhã.
“Trời ơi, một con mèo tam thể”, chàng reo vui “sao vú không ngay với tôi từ đầu? Nhà có được con mè tam thể như thế này là hên lắm đó”.
Họa sĩ vừa dứt lời, con mèo như hiểu ý, nó tiến lên, tới trước chàng, hơi cúi chiếc đầu xinh xuống như để cảm ơn chàng, trong khi người vú già vỗ tay vì vui mừng. Chàng họa sĩ quên khuấy rằng mình đói, đã lâu lắm chàng có gặp được cảnh nào đáng yêu vừa ý như vậy đâu.
“Hààà.. phải đặt cho nó một cái tên chứ”, chàng vừa nói vừa ngồi xuống manh chiếu cũ trong khi con mèo đứng nghiêm trang trước chàng. “Xem nào, nó trắng như tuyết mới rơi, lại lốm đốm điểm vàng, điểm nâu cánh gián; nó như bông hoa trắng tinh hàm tiếu lại có hai loại bướm vừa đậu xuống; nó như …”
Tới đây chàng họa sĩ ngừng lại, vì tiếng gù gù của con mèo ấm cúng như tiếng nước sôi trên bếp lửa chuẩn bị pha trà.
“Thật tuyệt!” Họa sĩ thốt khẽ. “Thế này còn hơn cơm hơn gạo nhiều”. Rồi chàng nói với người vú già, “Nhà ta trước đây quả là quạnh quẽ thật, vú nói đúng”.
“Bẩm cậu thứ lỗi cho”, người vú nói, “cậu nghĩ sao cháu xin đề nghị đặt tên nó là con Tài Lộc?”. Tài Lộc, dù sao thì cái tên đó cũng nhắc nhở dùm họa sĩ bao nỗi đắng cay hiện tại của chàng.
“Thôi cũng được”, chàng nói, rồi đứng dậy thắt lại dải lưng cho chặt hơn quanh chiếc bụng lép kẹp, “nhưng bây giờ vú hãy mang nó xuống bếp ngay đi”. Chàng vừa dứt lời, con mèo đã đứng dậy theo vú ra khỏi phòng, bước nó đi vừa nhẹ nhàng vừa nhẫn nhục khiêm tốn làm sao!
BÀI HÁT CỦA NGƯỜI VÚ GIÀ
Xá chi nghèo túng già nua,
Xá chi mái tóc bạc phơ trên đầu.
Xá chi áo vải rách nhàu,
Xá chi giải lụa phai màu xác xơ.
Thần Tài Lộc vẫn chưa gõ cửa,
Khách khứa con vắng vẻ nơi xa.
Không tiệc sớm, không trà trưa,
Nhện buồn mặc nhện trăng tơ giăng mành.
Riêng ta vẫn vui cùng chủ cũ,
Đầu ngẩng cao, lòng nhủ lòng hay:
Tài danh lồng lộng xưa nay,
Thân hèn rồi cũng thơm lây ngại gì.
BỨC HỌA
Sáng hôm sau họa sĩ thấy con mèo nằm cuộn tròn như trái banh trên chiếc đệm nhỏ của chàng.
“À, ta biết, chỗ nằm êm nhất đó!” chàng nói. Con mèo – con Tài Lộc – lập tức đứng dậy, đi ra nơi khác tự lau chùi mặt mũi cẩn thận và khéo léo vô cùng. Khi người vú già đi chợ về, bắt đầu nhóm lửa nấu bữa ăn còm, Tài Lộc cũng không hề tiến tới gần, mặc dầu tia nhìn nó đôi lần có lãng đãng hướng về đấy, và hai hàng ria mép mướt như tơ của nó run rẩy vì đói. Cũng là vô tình nó có mặt đúng lúc người vú già bưng chiếc bàn gỗ vuông có chân thấp lên nhà đặt trước chủ. Rồi vú bưng lên bát cháo cá – có trời biết vú đã khéo ăn khéo nói thế nào để có thể xoay xở mua được cá nấu cháo như vậy – nhưng kìa con Tài Lộc lại biết hướng tia nhìn sang phía khác.
Họa sĩ rất hài lòng, chàng nói với vú: “Hình như con mèo cũng hiểu rằng nhìn người khác ăn là một thái độ vô lễ nên tránh. Nó được dạy dỗ đúng cách lắm. Vú mua của ai vậy?”
“Bẩm cậu cháu mua của một người đánh cá ở chợ,” người vú đáp. “Nó là con đầu lứa. Bẩm cậu cũng biết đấy, không một ngư nhân nào rong buồm ra khơi đánh cá mà không mang theo một con mèo trên thuyền để nó xua đi những tà ma hải quái.”
“Chà, tà ma hải quái với mèo là bà con thân thuộc với nhau, vú biết không,” họa sĩ nói, “tà ma hải quái không lập úp thuyền là vì thương con mèo chứ không phải vì sợ nó.”
Vú không cãi lại, vú biết phận lắm. Tài Lộc thì vẫn ngồi ngay gần đấy quay mặt vào tường.
Húp thêm một, hai ngụm cháo nữa, họa sĩ nói với người vú già:
“Lát nữa khi vú mang cơm lên cho tôi, vú làm ơn mang cho Tài Lộc một bát, tội nghiệp chắc nó đói lắm rồi đấy vú ạ.”
Khi vú đã mang bát cơm lên cho mèo, khi đã được chủ chính thức gọi, Tài Lộc mới thôi quay mặt về phía bên tường mà thủng thỉnh tới ngồi bên chủ. Nó không hối hả vục miệng xuống ăn. Trái lại nó ăn nhỏ nhẻ, giữ cho cằm không bị dính cơm. Và mặc dầu nó đói lắm, nó vẫn chỉ ăn có nửa phần, nửa phần còn lại để dành cho ngày hôm sau, tựa hồ nó cũng biết hết sức tránh để khỏi là một gánh nặng cho người chủ nghèo.
Cứ như vậy ngày lại ngày trôi qua. Một buổi sáng họa sĩ quỳ trầm tĩnh trên chiếc nệm nhỏ và vẽ những bức họa xinh thiệt là đẹp: khi thì là những chàng dũng sĩ đeo hai gươm; khi là những kiều nữ đương quấn mớ tóc mây; khi là mấy ông thần gió đương phùng mang trợn mép thổi; khi lại là mấy chú thỏ xinh chạy dưới ánh trăng hoặc mấy chú chồn mập thù lù tự vỗ lên bụng như vỗ lên trống. Vẫn chẳng có ai tới mua tranh cho chàng.
Trong khi chàng làm việc như vậy thì vú già đi chợ, tiêu pha hết sức tần tiện với số tiền nhỏ nhoi còn lại, rồi làm cơm, giặt gịa, lau chùi, và khâu mạng để áo quần họ mặc, nhà cửa họ ở bớt vẻ tả tơi chừng nào hay chừng nấy. Con Tài Lộc tự biết chẳng thể giúp chủ được gì về những việc ấy nên ngồi lặng thinh sưởi nắng, cố ăn ít chừng nào hay chừng nấy, và rất nhiều khi nó ngồi hằng giờ trước tượng Phật đặt trên một cái kệ thấp gần đấy.
“Bẩm cậu, con miu đang niệm Phật,” vú nói bằng một giọng cảm mến.
“Nó đương rình bắt ruồi đấy,” họa sĩ nói. “Vú có vẻ đặt quá nhiều tin tưởng vào con mèo tam thể của vú.” Ý chừng chàng họa sĩ trong thâm tâm cảm thấy hơi ngượng vì dạo này quả tình chàng rất ít niệm Phật. Đời sống có thư thái gì đâu.
Nhưng tới một ngày kia chàng phải buộc lòng công nhận con Tài Lộc quả không giống những con mèo khác. Hôm đó chàng đương ngồi trong căn phòng riêng của chàng, ngắm lũ chim sẻ bay ra bay vô từ một bụi hoa gần đấy. Bỗng chàng thấy con Tài Lộc tự một khoảng tối vụt nhảy tới, chụp được một con chim. Trong một giây đồng hồ đôi cánh nâu, chiếc đầu có chấm đen, đôi chân mảnh mai, đôi mắt ráo rác bị chụp gọn giữa hai chân mèo. Họa sĩ có thể vỗ tay ra hiệu bắt con mèo tha con chim nhưng chàng chưa kịp làm một cử động nhỏ nào, chàng đã thấy vẻ lưỡng lự của con mèo. Rồi từ từ, rất từ từ, nó nhấc một chân lên, rồi nhấc nốt chân kia nữa. Thoát nạn, con chim không hề bị thương vỗ cánh, thoạt lao đao một chút, rồi vút lên cao.
“Thật là nhân đức!”. Họa sĩ thốt lên như vậy và cảm thấy lệ rưng rưng lên mắt. Chàng hiểu là con miu đói lắm, chàng còn lạ gì cảnh đói nữa. “Ta thật tự lấy làm xấu hổ trước đây đã gọi nó là con quỷ”, chàng nghĩ vậy. “Nó thật còn nhân đức hơn một vị hòa thượng nữa.”
Chính ngay vào lúc đó vú già rón rén vào, khuôn mặt cố kìm giữ một niềm vui kích thích.
“Bẩm cậu!” vú lắp bắp nói. “Bẩm cậu vị hòa thượng chủ trì ở chùa lớn đợi cậu tại phòng bên. Người nói người muốn gặp cậu ngay. Trời ơi, cậu có thể đoán được người đến đây tìm gặp để làm gì không?”
“Vị hòa thượng tự chùa tới đây tìm tôi?” họa sĩ nhắc vậy còn không tin là mình đã nghe đúng, bởi hòa thượng là một nhân vật vô cùng quan trọng, người làm gì có thì giờ đi thăm những loại nghệ sĩ nghèo chẳng ai buồn để ý tới như chàng. Khi thấy vú gật đầu lia lịa tới đó chàng cũng cảm thấy bị kích thích như vú vậy. Chàng phải cố giữ cho bình tĩnh.
“Phải đi mau, vú!” chàng thốt lên. “Phải đi mau, mua trà và bánh ngọt,” và chàng trao cho vú vật có giá cuối cùng mà chàng còn giữ được, đó là chiếc bình cổ chàng vẫn dùng để cắm một cành hoa trang điểm cho căn phòng. Dù sau đây căn phòng riêng của chàng có bị trần trụi cũng không sao; quý khách giáng lâm tất phải được tiếp đón nồng hậu. Chàng tự trách đã để hòa thượng phải ngồi chờ chàng, dù chỉ một phút. Chàng tự trách đã không biết trước để ra đón người tự ngoài cổng vào. Khi chàng vội vã bước ra, chàng cũng không chú ý đến con Tài Lộc có giụi đầu vào gót chân chàng tỏ vẻ sung sướng.
Tại phòng bên vị hòa thượng đã ngồi đợi kia, vẻ lim dim như đang tham thiền. Họa sĩ cúi đầu kính cẩn chào và đợi người chú ý tới. Thực là cả một thế kỷ chờ đợi với chàng lúc đó cho tới khi vị hòa thượng từ từ ngẩng đầu lên, nhìn chàng với đôi mắt xa xôi của người. Họa sĩ cúi chào một lần nữa và kính cẩn thưa đây là một điều vô cùng vinh hạnh cho chàng được hòa thượng chiếu cố tới nhà.
Vị hòa thượng vào đề tức khắc:
“Chúng tôi cần một bức họa cho ngôi chùa của chúng tôi,” người nói, “một bức họa vẽ đức Phật lúc Người tịch diệt. Chúng tôi đã bàn về cách lựa chọn họa sĩ và đã đồng ý viết tên từng họa sĩ trên từng mảnh giấy nhỏ rồi bầy hết trên bàn thờ chính điện. Sớm hôm sau gió đã lùa quét hết những mảnh giấy khác trừ mảnh giấy có ghi tên họa sĩ. Như vậy tôn ý đức Như Lai đã rõ. Chúng tôi lại cũng được biết đôi chút về hoàn cảnh hiện thời của họa sĩ nên có mang theo đây ít tiền đặt trước để họa sĩ khỏi phải lo lắng về vấn đề sinh kế trong khi vào việc. Mặt hồ có trong hình ảnh phản chiếu mới diễm lệ. Nếu họa sĩ thành công trong việc này, đó là điều chúng tôi kỳ vọng, họa sĩ sẽ giầu sang mấy hồi, bởi khi đã được chùa ta thẩm định giá trị, thì cả tỉnh sẽ nô nức thẩm định theo.” Nói đoạn vị hòa thượng rút bên mình ra một bọc tiền.
Họa sĩ cũng không nhớ là sau đó chàng đã cám ơn vị hòa thượng thế nào, đã mời vị hòa thượng dùng trà, dùng bánh ra sao, đã cúi chào tiễn biệt vị hòa thượng khả kính bên khung cửa hẹp của nhà mình ra sao. Dầu sao thì đây cũng là dịp giàu sang, danh vọng đến gõ cửa nhà chàng. Đẹp như một giấc mộng đẹp! Nhưng vì sao đức Như Lai lại chọn chàng kia chứ? Dạo này trái tim nặng u sầu lo lắng, chàng có mấy khi chú ý tới việc cầu nguyện, vú già cũng vậy, vú bận tối tăm mặt mũi suốt ngày mà. Không lẽ chính con Tài Lộc đã nguyện Phật cho chàng? Chàng e ngại đây chỉ là giấc Nam Kha bất bình, và khi bừng con mắt dậy lại thấy mình tay không thôi. Có lẽ chàng sẽ còn chìm trong giấc mơ suy tư lo lắng đó mãi nếu không có thứ tiếng chi là lạ nổi lên thức tỉnh chàng.
Không phải chỉ có một mà là hai thứ tiếng lạ, thiệt lạ, họa sĩ chưa hề bao giờ nghe thấy. Rất đỗi ngạc nhiên, họa sĩ lần mò xuống bếp xem đó là hai thứ tiếng gì. Tới nơi thì Trời Phật ơi, đó là vú già và con Tài Lộc, một thì đương khóc vì sung sướng, một thì kêu gù gù vì sung sướng, và thực khó mà biết rằng giữa hai kẻ đó, kẻ nào làm rộn lớn hơn kẻ nào.
Họa sĩ bỗng cất tiếng cười lớn, không phải tiếng cười tủi thân giận đời thường có trước đây, mà là tiếng cười giống như tiếng cười của một chàng trai mới lớn, yêu đời, tin đời. Rồi họa sĩ ôm cả hai lên tay. Thế là trong gian bếp nghèo của chàng lúc đó có ba loại tiếng động hòa hợp với nhau để bày tỏ niềm vui.
THAM THIỀN
Sớm hôm sau, trước khi vừng đông ló rạng, vú già đã trở dậy quét dọn cửa nhà. Vú giặt giũ lau chùi cẩn thận đến nỗi những chiếc chiếu trông láng tựa đồ cũ bằng bạc và các đồ gỗ thì bóng như được mạ lướt bằng vàng. Trong khi đó chàng họa sĩ cũng đã y phục chỉnh tề, tóc chải mượt để tới quỳ niệm trước tượng Phật. Tới nơi chàng thấy con Tài Lộc đã ở đó rồi, vẻ rất sùng kính, thấy chủ tới nó vội né sang một bên. Thế là cả hai thày trò cùng ngồi niệm Phật. Họa sĩ giơ cao hai cánh tay, đôi khi hai bàn tay vỗ khẽ vào nhau như để xá tạ một lần cuối rồi sang phòng bên ngồi xếp bằng tròn trên chiếc nệm nhỏ. Chưa bao giờ chàng cảm thấy mình sung sướng như vậy.
Ngày hôm nay chàng sửa soạn vẽ đức Thế Tôn lúc Ngài nhập diệt. Bức họa sẽ được treo tại chùa làng để đời con, đời cháu, đời chắt, đời chút chàng được ngắm. Vinh hạnh biết bao! Tuy nhiên trước mặt chàng vẫn chưa hề có một cuộn lụa, một thỏi sơn, một chiếc bút lông, một bình nước suối trong mát. Chưa, chưa cần những thứ đó vội, chàng cần phải tìm hiểu cuộc đời thâm diệu của đức Như Lai đã nhiên hậu mới có thể ca ngợi Người trên lụa.
Thoạt tiên họa sĩ tưởng nhới tới Người khi còn là thái tử Tất đạt đa sống trên nhung dưới lụa trong cung, kẻ hầu người hạ tấp nập tưng bừng. Chàng nhớ lại Người đã thắng oanh liệt các tình địch ra sao trong cuộc thi tài cưỡi ngựa, bắn cung, múa kiếm để chiếm trái tim công chúa Da du đà la, trang tuyệt thế giai nhân con gái tiểu vương Thiện giác. Và ngay trong phút chiến thắng đó, họa sĩ hiểu lắm, thái tử cũng không hề để lòng gợn một chút tự kiêu, khinh khi các tình địch chiến bại của mình. Thái tử quả là hiện thân của ý chí dũng mãnh, của Trí-huệ sáng suốt, của Từ-bi rộng lớn. Đó, tất cả những điều trên họa sĩ suy ngẫm ngày đầu.
Sang ngày thứ hai họa sĩ tưởng nhớ lại thái tử đã cảm thương cho chúng sinh bị khu bách trong sinh, lão, bệnh, tử ra sao, người đã giã biệt vợ con, từ bỏ cuộc đời vương giả phù du, một mình lên đường đi tìm tình yêu trường cửu cho cả nhân loại như thế nào.
Sang ngày thứ ba họa sĩ ngồi tham thiền tưởng nhớ lại tất cả những nỗi gian lao thái tử đã trải trong những ngày khất thực tìm đạo giải thoát cho nhân loại khổ đau. Sau cùng nguồn trí huệ sáng láng đã tới với Người, giúp Người đạt được niềm yên bình vĩnh cửu. Người trở thành Phật, đấng Sáng Suốt, đấng Toàn Tri Toàn Năng.
Chàng họa sĩ mệt lắm rồi. Chàng đã cố gắng sống lại cả một cuộc đời kỳ diệu trong ba ngày. Nhưng cũng vì vậy mà chàng thâm cảm được lúc sắp nhập diệt khuôn mặt đấng Từ Bi ra sao. Khuôn mặt Người hẳn là cao quý và cương nghị như khuôn mặt của một ông hoàng. Khuôn mặt Người hẳn cũng đượm niềm xót thương lũ chúng sinh còn trong bể khổ. Và đồng thời gương mặt người hẳn cũng tỏa ra một niềm thanh tịnh an lành.
Tìm hiểu tới đấy chàng hoàn toàn kiệt lực. Mắt nhắm nghiền, chàng ngủ liền hai mươi bốn tiếng đồng hồ. Thức giấc, chàng kêu mang lại nào bút lông, nào mực, nào nước suối và một cuộn lụa. Ngay đầu cuộn lụa chàng vẽ hình đức Phật nằm nghiêng trên giường, nét vẽ sắc lẹ và vững chắc.
Mấy ngày kế tiếp chàng vẽ các thiên thần, sơn thần, thủy thần, thổ thần cùng các đệ tử của đức Phật đến kính viếng trước khi Người nhập Niết bàn. Hết thần và người, chàng họa sĩ bắt đầu vẽ tới các loài cầm thú. Chúng cũng trên đường tới chào vĩnh biệt đức Phật tổ.
Chàng nhớ thuở sinh thời đức Phật, Người thương mến những vật hèn mọn biết là chừng nào. Nghĩ đến những con ốc sên mà chàng đã có dịp ngắm chúng đi, chiếc sừng xinh, chiếc vỏ ốc tròn, thân hình như chiếc lá lợt ướt, chúng sống thẹn thùng e lệ nhưng đầy thiện chí, chàng bèn nhúng bút vào bình nước suối, quệt mực, và vẽ một con ốc sên. Kế đến chàng nghĩ về con voi thân hình to lớn, dũng mãnh và khôn ngoan. Chàng nhớ voi rất được tôn trọng và là biểu tượng cho vương quyền tại Ấn Độ, quê hương đức Như Lai. Thế là chàng lại cầm bút tẩm mực vẽ hình con bạch tượng rất là uy nghi, đôi mắt nhỏ và hiền, đôi tai lớn với những đường gân hồng.
Những ngày kế tiếp chàng vẽ rất nhiều các giống vật khác. Chàng vẽ con ngựa cao quý và can trường với con bạch nga đẹp như mộng, con trâu trung hậu và tự trọng với con chó trung thành; cứ như vậy tới khắp các giống vật trên trần gian. Mỗi lần họa sĩ vẽ xong một con vật nào, con Tài Lộc, luôn luôn ngồi yên lặng sát đấy, lại ren rén bước lên chăm chú ngắm nghía rồi kính cẩn quay nhìn chàng như muốn nói, “Chao ôi, chủ nhân ngài thực là một đại nghệ sĩ.” Nó như lại thở dài với niềm lo âu biết rằng chủ nhân rồi có vẽ mèo giữa các giống vật khác?
TÁC PHẨM CỦA TÌNH THƯƠNG
Tới ngày kia họa sĩ ngồi trên nệm, tri lự bị giằng co bởi một vấn đề nan giải nhất tự trước đến nay. Vẻ nhũn nhặn của con ốc sên, sức lực và trí khôn cao quý của con voi, đức can trường của con ngựa, vẻ đẹp của con bạch nga, sức dẻo dai của con trâu, sự trung thành của con chó, và đức rộng lượng của con nai, tất cả đều dễ dàng giải thích trước đây chúng có thể đã phục vụ đức Phật tổ ra sao, hoặc ngay cả ở một tiền kiếp nào, Ngài đã từng sống dưới những hình thức đó. Với chim gõ kiến, thỏ rừng, ngỗng, dê, đười ươi cũng vậy chúng đều là những con vật vô hại; ngay cả sư tử cũng chỉ bắt con giống khi đói lòng thôi, có bao giờ sư tử lấy giết tróc làm thú tiêu khiển đâu.
Nhưng họa sĩ lại biết rằng cả con hổ cũng đến chào vĩnh biệt đức Phật và cũng được Phật độ. Sao có thể thế được nhỉ? Chàng nghĩ đến thái độ hung dữ bạo tàn của loài hổ, chàng tưởng tượng chúng đương nằm dài dưới bóng rừng loang lổ mắt rực tia lửa. Chúng là mối nguy cơ khoảng gần vùng nước, chúng là quân sát nhân giữa vùng lau sậy. Đôi khi một con lần mò về làng cõng đi một người đàn bà đương trên đường tới giếng kín nước. Hoặc một con khác tới vồ người đàn ông đương làm đồng, tha đi đứa trẻ nhỏ đương chơi đất trước cửa nhà mình.
Còn gì ở một con vật như vậy mà Phật độ?
Lâu, lâu lắm họa sĩ ngồi trầm tư, và sau cùng chàng nhớ ra rằng con hổ vốn vô cùng tận tụy với “bạn đường”, với con thỏ; nó dám đương đầu với bất cứ điều dị thường nào, trong trường hợp những thân tình đó gặp cơn nguy biến. Chàng nghĩ: “Đó chính là con đường hẹp đưa hổ tới đức Phật. Có thể có hung hãn trong thương yêu, và thương yêu trong hung hãn”.
Chính vì chàng đã mở rộng ý nghĩ để đi sâu vào thế giới Yêu Thương (và ngay loài hổ cũng có yêu thương) mà chàng bỗng sực nhớ ra một điều từ trước tới nay vẫn quên. Trong trí chàng lúc đó hiển hiện cảnh thái tử Tất đạt đa lúc thí võ để đoạt nàng Da du đà la. Trong cuộc thi tài với các hoàng tử tình địch khác thái tử đã trương cánh cung bằng đồng đen nặng lắm ở đền Simbahanou mà không ai trương nổi; thái tử đã cưỡi được con ngựa ô long hung hãn mà không ai trị nổi; thái tử đã lẹ đưa một đường kiếm tiện phẳng cả hai thân cây cổ thụ mọc song đôi. Nàng Da du đà la lúc đó vẫn ngồi nơi kiệu vàng để theo dõi thái tử, mặt nàng che một làn voan mỏng có những vằn vàng vằn đen.
Sau cùng đến lúc trao giải cho kẻ chiến thắng, Tiểu vương Thiện giác dẫn thái tử Tất đạt đa tới bên con gái mình. Chính vào lúc đó thái tử ghé bên tai nàng Da du đà la thì thầm: “Làn voan mỏng có vằn vàng vằn đen của nàng đã giúp ta nhớ lại một thuở tiền kiếp xa xưa nàng là hổ cái, và ta là hổ đực, ta cũng phải chiến thắng hết các tình địch như ngày hôm nay mới chiếm đoạt được nàng.”
Thế là trong muôn vàn kiếp tái sinh đức Phật đã hân hoan có lần được tái sinh làm kiếp hổ, chứng tỏ rằng ngay trong kiếp sống man rợ đó vẫn có một cái gì cao cả. Sau cuộc suy tư dài, họa sĩ bừng khám phá thấy vẻ đẹp riêng tư của kiếp hổ, hung hãn đấy nhưng cũng đầy tận tụy hy sinh. Chàng hoan hỉ chấm bút vào bình nước suối quệt mực và vẽ một con hổ trên mặt lụa.
Như thường lệ con Tài Lộc lại ren rén tới. Khi nhận ra hình con hổ, toàn thân nó run lên bần bật, và nó nhìn họa sĩ.
“Bẩm chủ nhân,” nó nhường như muốn nói với họa sĩ, “nếu đến như con hổ cũng được lên đường tới chào vĩnh biệt đức Phật khi Ngài sắp nhập diệt thì một con mèo nhỏ nhoi vô hại hẳn cũng sẽ được tới. Bẩm chủ nhân, con chắc chắn là nó cũng được Phật độ mà nhập Niết bàn.”
Họa sĩ lộ vẻ buồn rầu vô cùng.
“Tài Lộc, con” chàng vừa dịu dàng nói vừa ôm nó lên tay, “ta cũng muốn vẽ một con mèo trong đám này lắm. Khổ thay tất cả mọi người đều biết là mặc dầu mèo đáng yêu thật, nhưng nhiều khi mèo lại kiêu căng, tự mãn. Cả muôn loài, riêng có mèo là không được Phật độ. Có lẽ điều đáng trách là mèo hay làm bạn đồng hội đồng thuyền với những loại tinh ma quỷ quái.”
Tới đó con Tài Lộc cứ giụi giụi chiếc đầu xinh của nó vào ngực họa sĩ, và ai oán cất tiếng kêu meo meo y như đứa trẻ khóc. Họa sĩ cố dỗ dành nó, rồi chàng gọi vú già lên.
“Vú hãy mua riêng cho Tài Lộc một con cá thật ngon,” chàng nói với vú già. “Và cho đến ngày bức họa được mang đi, vú đừng để nó lên đây nữa. Nó có thể làm chúng ta tan nát cõi lòng.”
“A, bẩm cậu cháu cũng sợ nó làm hư bức họa,” giọng vú đượm vẻ lo lắng. Vú luôn luôn cảm thấy mình có trách nhiệm với con mèo đã mang về ngoài ý muốn của chủ, huống chi tài lộc của chủ từ nay về sau đặt cả vào bức tranh sẽ được ở chùa làng kia.
“Không phải thế đâu vú ạ,” họa sĩ nói vậy rồi quay trở lại trầm tư. Trông chàng mệt mỏi, kiệt sức nhưng cũng thật đẹp. Bức họa của chàng gần hoàn tất rồi. Kia là hình đức Phật nằm dài lúc Người sắp nhập diệt, khuôn mặt vương giả, mệt mỏi, xót thương. Kia là hình chư thần cùng những đệ tử quây quần bên Phật; và kia là các giống vật. Cuộn lụa tưởng khó mà chứa đủ ngần nhiêu cuộc đời khác nhau; tất cả sùng kính ngưỡng vọng hướng về đấng Đại Từ Đại Bi.
Nhưng vẫn còn một vật bị khai trừ. Họa sĩ nghe tiếng “miu miu” yếu ớt từ bếp vọng lên, và tiếng vú già đương cố dỗ dành con Tài Lộc ăn, nhưng vô hiệu. Chàng hiểu tâm trạng con mèo lắm, nó thật dễ yêu, thật hiền dịu nhưng vẫn mãi mãi bị thất sủng. Tất cả giống vật khác đều được Phật độ, và nhập Niết bàn, trừ có mèo. Chàng cảm thấy nước mắt rưng rưng lên mi.
“Ta không thể nhẫn tâm như vậy được,” chàng tự nhủ. “Nếu chư vị đại đức khước từ bức tranh, ta chịu chết đói cũng chẳng sao.”
Chàng chọn chiếc bút lông tốt nhất, nhúng vào nước, lấy mực, và con mèo được vẽ sau hết các loài vật.
Chàng gọi vú già.
“Vú hãy cho con Tài Lộc lên đây”, chàng nói. “Có thể chúng ta cam nhận thất bại, nhưng ít nhất ta cũng làm cho con Tài Lộc được hài lòng.”
Cánh cửa vừa được kéo mở, con Tài Lộc bước vào, nó chạy tới trước bức họa, và nó nhìn, và nó ngắm tưởng như suốt đời chẳng bao giờ nó được nhìn ngắm cho đã mắt như vậy. Rồi nó quay nhìn họa sĩ, ánh mắt biểu lộ niềm tri ân vô bờ. Rồi nó khuỵu xuống chết tức khắc. Nó đã quá mãn nguyện rồi, chẳng còn sống thêm một phút nào nữa.
BÀN TAY PHẬT
Sớm hôm sau khi hay tin bức họa đã hoàn tất, vị trưởng lão hòa thượng tới. Họa sĩ ra tận cửa đón chào rồi dẫn người vào xem bức họa. Hòa thượng ngắm kỹ, lâu.
“Bức họa sao mà rực rỡ”, người nói khẽ.
Khuôn mặt hòa thượng chợt nghiêm lại.
“Nhưng con vật nào họa sĩ vẽ sau rốt đây?” Người hỏi.
“Bạch hòa thượng đấy là con mèo,” họa sĩ đáp và cảm thấy lòng não nề tuyệt vọng.
“Họa sĩ há không hiểu rằng mèo đã chống lại đức Thế Tôn”, giọng vị hòa thượng càng trở nên nghiêm khắc, “không được Người độ và không thể nhập Niết bàn?”
“Dạ, bạch hòa thượng con hiểu”, họa sĩ đáp.
“Ai nấy hái lấy quả mà mình gieo nhận,” hòa thượng nói. “Con mèo phải gánh lấy hậu quả bướng bỉnh của mình, cũng như họa sĩ giờ đây vậy. Bởi chung con người không thể xóa bỏ những gì đã làm, nên ta muốn mang bức họa này về để ngày mai công khai hỏa thiêu. Sẽ có bức họa của một họa sĩ khác được treo trong chùa vậy.”
Cả ngày hôm đó vú già khóc trong bếp, vú cho rằng chính tại mình mang con mèo về mà sự nghiệp chủ sụp đổ như vậy.
Cả ngày hôm đó họa sĩ ngồi trong phòng bên bụi hoa nở hồng và suy tư. Bức họa đã được mang đi, mang theo một phần sự sống của chính chàng đặt vào đó. Mai đây chư vị đại đức sẽ thiêu nó giữa sân chùa. Chắc chắn từ nay sấp đi chẳng còn ai thèm bén mảng đến nhà chàng nữa. Tuy nhiên chàng không hề hối tiếc về điều mình đã làm. Trong bao nhiêu ngày qua chàng đã đắm hồn trong suy tư vẽ tình thương yêu cùng những gương hy sinh cao cả. Hy sinh để con Tài Lộc có những giây phút chói sáng cuối cùng đó, đâu có uổng!
Chàng ngồi suốt đêm đôi mắt thức tỉnh như vậy. Vú già không dám tới ngắt quãng dòng suy tư của chàng. Ánh bình minh lợt lạt đầu tiên đã lọt vào phòng, gió rạng đông khua nhẹ bụi hoa bên cạnh. Một giờ sau chàng nghe có tiếng ồn ào của dân chúng chạy về phía nhà chàng. Chư vị thượng tọa tới vây quanh chàng, vị hòa thượng kéo tay áo chàng.
“Xin họa sĩ hãy tới, hãy tới”, mọi người tiếp tục cùng nói. “Xin họa sĩ hãy tới, thực là nhiệm mầu! Ôi lòng từ bi của đức Thế Tôn!”
Họa sĩ theo họ, tâm hồn choáng váng, không kịp thở nữa, chẳng để ý gì quanh mình trên đường tới chùa. Tiếng reo vui vang ầm bên tai, chàng liếc thấy vú già cũng đã có mặt ở đấy, giây lưng còn sộc sệch, đám đông xung quanh ai nấy há miệng ngạc nhiên. Bức tranh của chàng treo cao ngay chính điện, đèn nến sáng trưng, hương trầm nghi ngút. Nét vẽ y nguyên như cũ, ồ mà không … kia …
Họa sĩ bỗng quỳ xuống thốt lời kêu:
“Ôi lòng từ bi của đấng Chí tôn!”
Vì chàng vừa nhận ra rằng khoảng lụa chàng vẽ con vật cuối cùng nay đã trở lại nguyên màu lụa bạch cũ tưởng như nét bút lông chưa hề một lần chạm tới. Còn hình đức Phật, hình đức Phật mà trước đây chàng vẽ nằm ngả trên giường, hai tay khoanh lại trước ngực, thì nay một cánh tay Người duỗi ra, và dưới bàn tay tế độ an lành, thanh tịnh của Người, hình con mèo nhỏ khép nép quỳ, chiếc đầu trắng xinh hơi cúi xuống trong một niềm sùng kính hân hoan.

Elizabeth Coatsworth
Doãn Quốc Sỹ chuyển ngữ
Nguồn: Việt Báo

Ai bán linh hồn cho quỷ?

The truth about Clinton sold USA to China 1996 

Nếu ai muốn biết bản chất thật sự của đảng Dân Chủ là như thế nào, nguyên nhân vì đâu mà nước Mỹ xuống dốc không phanh, nếu lười biếng không đọc hết quyển sách thì đọc phần tóm tắt này cũng sẽ hiểu được phần nào, Đừng có ngồi đó mà mơ là họ sẽ đánh sập Trung cộng. Còn ai không rành tiếng Việt thì xin mời đọc bản tiếng Anh, Chính xác và hay hơn vì là bản gốc

Dưới đây là bản dịch tóm tắt ngắn gọn những gì Clinton Đã làm với Trung cộng để tàn phá nước Mỹ, nếu bạn nào muốn tìm hiểu kỹ thì phải có sách đó , sách gồm hai cuốn:
1/ YEAR OF RAT ,
2/ RED DRAGON RISING. nói về sự trỗi dậy của quân đội Trung Cộng và kế hoạch thu tóm thế giới và nước Mỹ , có thể mua ở Amazon, EBay . Còn muốn biết quỷ đỏ này thu tóm Úc như thế thì các bạn có thể tìm thấy những điều này trong quyển SILENT INVASION của Clive Hamilton, và ngay cả bộ Ngoại Giao và bộ Tư Pháp Hoa Kỳ đã giới thiệu với công chúng khi họp báo

Xin tóm tắt quyển Year of rat .
Năm con chuột, 1996 Theo lịch Á Đông là năm con chuột, Những con chuột gián điệp và băng đảng của nó thì đầy nhóc trong toà Bạch cung, chỉ có thể tẩy uế toàn bộ từ trong ra ngoài không chừa một chỗ nào mới giết sạch được những con chuột này, lý luận này không làm bạn đọc ngạc nhiên: CLINTON Đã thực hiện một chuỗi thương lượng mặc cả mua bán có tính cách “ bán linh hồn cho Quỷ sứ Để đổi chác “ với tàu cộng và những Agents của nó ở Mỹ.
Đưa cho tàu cộng những bí mật của an ninh quốc gia để đổi lại sự đóng góp tiền bạc mạnh mẽ của họ cho ban vận động tranh cử của Clinton.

Tác giả đã nói : Bill Clinton made a series Faustian bargain with the communist Chinese , Câu này thật đúng và thâm thúy nhưng rất khó dịch (Faust có nghĩa là sẵn lòng bán linh hồn cho quỷ dữ để đổi lấy quyền lực và danh vọng, và linh hồn sẽ thuộc về quỷ dữ mãi mãi, còn người bán linh hồn sau đó sẽ đời đời xuống hỏa ngục, Faustian là tính từ, như vậy ý của tác giả muốn nói rằng Clinton đã thực hiện hàng loạt các cuộc thương lượng bán linh hồn của mình cho quỷ dữ với tàu cộng để đổi lấy quyền lực, theo truyền thuyết của Đức).
Logistics trong bài viết này không biết chuyển sang tiếng Việt từ tương đương là gì? – Logistic có nghĩa là sắp xếp vận chuyển quân trang quân dụng vũ khí, điều động quân đội , sắp xếp các ban ngành làm theo đúng thứ tự chức năng và phải nhịp nhàng ăn khớp với kế hoạch hành quân .

Sự phản bội của Clinton : Từ việc tiết lộ những top secret Cho đến Việc giúp hiện đại hóa quân đội giải phóng nhân dân Trung cộng, vấn đề là Clinton biết rõ những việc làm này của Trung Cộng nhưng ông ta vẫn cứ thản nhiên tiếp tay cho họ bán đứng đất nước Hoa Kỳ , Trung Cộng thâm nhập từng bước một Chỉ để điều khiển các chính trị gia Hoa Kỳ mà thôi.

John Huang , làm việc ở Lippo Bank , Đại diện cho tầng lớp hoa kiều giầu có, bạn của Clinton, , Được gián điệp của tàu cộng là Riady và các gián điệp tàu cộng cấp trên của ông ta ( mà Riady Cũng là gián điệp của Hoa Kỳ nhưng theo Trung cộng) Cố gắng đưa Huang Được làm việc ở bộ thương mại 1994, mục đích là để ăn cắp những tin tình báo và đầu tư của Hoa Kỳ rồi chuyển cho Trung cộng.

Khi các viên chức bộ an ninh muốn ngăn chận việc để cho Huang làm việc Ở nơi có những hồ sơ tối mật, lập tức Riady “ mua “một cuộc hẹn với Hillary liền, giá cho cuộc hẹn này là 100 ngàn, Số tiền này được trả cho Hubbell với danh nghĩa là consultant fee Người trả số tiền này là Lapseng, một trùm băng đảng mafia Á châu, và đồng đảng của ông ta là Charlie Trie, Cũng là bạn cũa Clinton, Cũng cùng ngày đó Monday June 20th, 1999 , Hubbell gặp Hillary bày tỏ sự khó khăn về tài chánh của mình, Lapseng Lặng lẽ tới Hoa Kỳ với một va li tiền mặt 175,000 , Không đầy một tháng sau Huang bắt đầu làm việc ở bộ thương mại.

CIA nói Rằng Chỉ trong một thời gian ngắn ngủi làm việc ở bộ thương mại, Huang Đã đọc khoảng từ 370 – 550 Hồ sơ tình báo của Hoa Kỳ trong đó bao gồm luôn cả hồ sơ MEM DISSEM , có nghĩa là” tuyệt đối không được phép lộ ra, vì có thể dẫn đến sự mất mạng của những người cộng sự”.CIA hoàn toàn không hề phóng đại một chút nào khi nói rằng những hồ sơ như vậy hoàn toàn là nhạy cảm cần phải được giữ kín tuyệt đối, Thế mà Clinton Để cho gián điệp tàu cộng khơi khơi tha hồ coi tha hồ mà ăn cắp , hoàn toàn không quan tâm để ý một chút nào.

Khi Dick Morris thông báo cho Clinton biết cuộc vận động tranh cử có thể sẽ thất bại nếu như không nhanh chóng dùng những phương tiện truyền thông Phủ sóng Chấp nhoáng ( expensivev media blitz) Lẽ dĩ nhiên muốn như vậy thì phải có tiền, Clinton nói với Riady , lập tức Huang trở thành người gây quỹ cho DNC, vì chỉ có như vậy, gián điệp tàu cộng Riady và những tay chân của nó mới có thể đóng góp vào quỹ tranh cử của Clinton một cách chính thức, thật là hết biết!!!!!

Vào năm 1992 trong các cuộc vận động tranh cử tổng thống , ứng cử viên Clinton/ Gore tranh cử với Bush Sr. . Clinton and His campaign cùng với những cố vấn của DNC đã lập đi lập lại hằng 1000 lần vào tai của cử tri rằng: Bush Sr. Đã nuông chiều thằng độc tài Trung cộng Ở Bắc Kinh, bởi vì đã không mạnh tay tri tôi Beijing trong vụ Thiên An Mon , ( vào thời điểm đó tụi Trung Cộng còn rất nghèo và yếu thế Việt Cộng hồi đó lúc còn thân với Nga Xô gọi nó là bánh trướng bắc kinh mà nó đâu dám ho he gì , làm sao mà nó dám đụng tới Mỹ)..

Người Mỹ thời đó và nhiều nhà lập pháp của đảng Dân Chủ tin rằng, khi Clinton thắng cử, Ông ta dùng đặc quyền và sức mạnh của Tổng thống Sẽ giúp Quốc Hội chận bớt những đặc ân về thương mại cho Trung Cộng, Ít nhất là cho tới khi Tàu Cộng cải thiện về nhân quyền, Nhưng họ không biết rằng Clinton Đã đi đêm với Trung cộng bật đèn xanh cho họ sau lưng Quốc Hội , ăn tiền đút lót của Trung Cộng và giúp cho nó đuợc quy chế tối Huệ quốc (hoàn toàn ngược lại với những gì Clinton nói và người dân Mỹ mong đợi khi vote cho Bill Clinton )

Những nỗ lực tạm thời của Bush để đối phó với Beijing về nhân quyền bằng cách ngăn chận những đặc quyền về thương mại cho Trung Cộng so với việc Clinton Đi đêm Ngấm ngầm với Red devil , cho quỷ đỏ những đặc ân đặc lợi, Điều này so ra cho thấy việc làm của Bush Sr. còn đàng hoàng đạo đức hơn nhiều gấp mấy lần thằng cha Clinton này.

Một ngày trước khi Clinton bước chân vào nhà Trắng nam 1992 , Riady and Huang Đóng góp 100 ngan vào Quỷ Clinton , Chưa đầy một tháng sau cha của Riady Viếng thăm nhà trắng, vào tháng March 1993 Riady gửi một lá thư thuộc vào loại personal confidential letter của ông ta cho Clinton hai tháng sau khi Clinton lên làm tổng thống , Ông ta đã khẩn cấp thúc giục Clinton hãy mau chóng bãi bỏ việc chống lại Đặc ân thương mại cho Trung Cộng, vì ông ta rất nóng lòng bảo vệ hàng ty đô la tiền bạc Đầu tư vào Trung Cộng Cũng như những tài sản của cải của những Tên bè phái bạn bè với Trung cộng .

Có nhiều bằng chứng cho thấy Huang Liên hệ rất chặt chẽ với gián điệp Trung cộng, lấy đi những tài liệu top secret Từ bộ thương mại Về văn phòng riêng của ông ta gần Hotel Willard do công ty Stephens , bạn thân làm ăn của Clinton va Cũng là Người cộng sự của Riadys , Huang Đến văn phòng Stephen 2, 3 lần mỗi ngày, fax rồi copy, gọi điện thoại, gửi các package ngay trong phòng làm việc Chị để tiếp khách viếng thăm từ ngoài vào !!!
Huang Liên lạc với Riadys Stephens Ins , chính quyền Trung cộng, Những tin tức mà ông ta lấy được từ bộ thương mại đưa cho ho , Đáng giá cả ty bạc, vì nhờ đó họ sẽ đoán được chính sách của Hoa Kỳ để đầu tư , Đó là một điều tối kỵ vi phạm luật insider information , Nhưng họ vẫn thoát nạn và làm giầu .

Clinton Đã bị bán đứng cho tụi tàu cộng,với chính sách mở cửa, Họ đã để cho tàu cộng tha hồ tung hoành trong việc ăn cắp kĩ thuật, biết được hết tất cả những bí mật của quốc phòng, Chương trình hạt nhân Nguyên tử, Theo báo cáo của bộ quốc phòng Clinton Đã hoàn toàn trao chìa khoá Cho Trung Cộng bước vào Mở toang tất cả những bí mật của Hoa Kỳ để đem về làm lợi cho họ

COSCO ( không phải là Costco) một công ty hàng hải do chính quyền Trung cộng làm chủ, Họ mướn căn cứ hải quân Ở Long Beach , mua bán vũ khí và ma túy ngay trong nước Mỹ, Quốc Hội và dân địa phương phản đối, Clinton vẫn làm lơ, Chẳng những thế Ông ta còn đi lại vài lần với hội đồng thành phố để vận động cho COSCO vẫn được tiếp tục hoạt động, Điều này có nghĩa là COSCO vẫn nhỡn nhỡ hoạt động gián điệp , Họ hiện diện khắp nơi trong các ngành điện tử , biết được vũ khí tối tân bí mật Được phát minh và sáng chế ở những nơi tối bí mật nào, Hệ thống vũ khí tối tân được phát triển ra sao V.v..

William Perry Bộ trưởng bộ quốc phòng cùng với Clinton Đã bán cho tàu cộng Những vũ khí tối tân nhất và quan trọng nhất, Đã giúp cho tàu cộng thay đổi toàn diện quân đội của họ, Trở thành một quân đội được trang bị hùng mạnh và những chiến lược hoàn hảo, họ đã chia sẽ tất cả không chừa một cái gì hết về quốc phòng với tụi tàu cộng thậm chí cả Vũ khí nguyên tử, Họ nói cho tụi tàu cộng biết cách hoạt động của Cơ quan Federal Express Như thế nào thì Quân đội Mỹ cũng làm y như vậy, muốn biết quân đội Mỹ vận hành như thế nào thì cứ nhìn cách sắp xếp tổ chức của Federal Express là biết ngay, Clinton Đã tiết lộ bí mật tối quan trọng về quân sự cho quỷ đỏ .

Tội lỗi sai lầm lớn nhất của Clinton chưa dừng lại ở việc tiết lộ bí mật quốc phòng cho quỷ đỏ, mà còn đã giúp hiện đại hóa hoàn hảo cho quân đội trung cộng, Chỉ rõ cho họ logistics Điểm mạnh yếu ở chỗ nào, Đó là một điều rất tối kỵ trong quân đội, Clinton Đã chào đón tên giết người hàng loạt Trong vu Thảm sát Thiên an môn la Jiang Zemin Bằng 19 khẩu súng danh dự Được dàn hàng ngang đưa ra, mà điều này các đời tổng thống chưa bao giờ làm cho kẻ thù của mình.

Sự băng hoại trong chính trị giống như ung thư, nếu không Đánh bại nó, nó sẽ tiếp tục lập lại, một vài người trong đảng Cộng Hòa nói rằng nếu mình không thắng nó, thì mình Nhập bọn với nó, cái kiểu suy nghĩ như vậy nếu mà lan rộng ra trong Đảng CH thì không sớm thì muộn Đảng Cộng Hòa cũng sẽ làm một việc giống như Clinton and Gore Đã làm: bán linh hồn của mình cho quỷ dữ để đổi lấy sự tham vọng và quyền lực.

[Sent by M.Nguyen]

Cô đơn

Khê Kinh Kha

Lunar Eclipse

tim anh rớt ở ngoài hiên
nắng mưa
             mưa nắng
                            ưu phiền em ơi
em là ánh trăng vàng trong đáy nước
nên tình tôi lận đận đến ngàn năm
em là lan thơm ngát đời hương phấn
nên suốt đời tôi cam chịu cô đơn

KheKinhK

Di Tích

Khê Kinh Kha

thulavang

chỉ còn lại đêm nay
nữa thôi, dù có muốn
kéo dài như dòng song
nước chảy, dù muốn chần

chừ vòng tay mơn trớn,
ngày mai rồi cũng sẽ
đến, mặt trời sẽ lên
cao và cuộc tình cũng

sẽ hết, những hơi ấm
cho nhau cũng lạnh lùng,
lạnh lùng như tuyết ngoài
kia đang rơi trên cành

khô. Như mùa thu vừa
tự tử cách đây không
lâu, bỏ lại trên đời
những xác lá vàng giờ

đã bị chôn vùi trong
đá tuyết. Tất cả những
hương nồng, bao giận hờn,
bao tức tủi, bao giọt

lệ, bao nụ cười, bao
hạnh phúc, đã được chôn
lịm bởi hai ta. Trong
một ngăn kéo xa lạ

nào đó mà chắc chẳng
bao giờ ai tìm ra
dấu vết của một thời
cuồng nhiệt trong đam mê.

chỉ còn lại đêm nay
thôi em, hãy nhìn sâu
vào mắt anh lần cuối,
nhìn sâu vào tận tâm

hồn, vào tận đáy lòng
anh, em sẽ thấy những
gì em muốn biết, về
anh, về tình chúng mình

và em sẽ tìm thấy
sự thật của hồn anh
đã vở nát như những
mảnh thuỷ tinh, lâu rồi.

Hãy nhìn vào mắt nhau
lần cuối đêm nay em
nhé, vì mai đây đời
trăm ngàn lối rẽ, biết

bao giờ mình tìm thấy
nhau nữa. Nhưng nếu có
ngày nào, trong đời còn
lại của em, vô tình

dừng chân nơi bến cũ,
em có tìm cũng chẳng
thấy tình ta, nhưng có
thể em sẽ tìm thấy,

những mảnh hồn anh, vụn
nát, khô cằn, theo năm
tháng, nằm sót lại bên
lề đường, làm di tích
cho cuộc tình đôi ta.

Khe kinh kha