MẸ ƠI

VÕ CÔNG LIÊM

me20nam

 

con sống trong trí tưởng
những ngày thơ ấu thuở xa đưa
với tháng ngày chôn vùi theo dĩ vãng
trong mái ngói vườn xưa
những mưa nắng bất thường
con nhớ mẹ với nụ cười vô lượng
trên gò má thiên nhiên chiều đứng bóng
của mùa đông giá lạnh
dòng sông mênh mông trôi
con sống trong trí tưởng
những tháng ngày xa xôi
bên kia bờ giới tuyến
kỷ niệm có còn không ?
trong trái tim héo mòn
cả đời sống chia xa
con sống trong trí tưởng
giữa đất trời
ngút ngàn mưa gió xô
quê nhà và lưu đày
vòng tay âu yếm đó
mà nhớ áo nâu sòng
cúi đầu niệm nam mô
nghe mưa dậy trong lòng
trở giấc chiêm bao
mẹ đã đi rồi
trong cõi xa mờ xa
biết đến bao giờ mới gặp lại
con sống trong trí tưởng
với trái chín vàng khô
để nhớ mẹ ngày xưa
bên nấm mồ đã cũ
một đời vong thân . tôi
trong nỗi đau đoạn trường

mưa vẫn mưa rơi
một chiều tắt nắng
sông trải đầy tay
biển vẫn đợi chờ

con sống trong trí tưởng
suốt đời mất dấu xưa ./.

VÕ CÔNG LIÊM (ca.ab.yyc. kỵmẹ thángtư 2020

VĂN CHƯƠNG LÀ GÌ (II)

VÕ CÔNG LIÊM

vcl-diem hen

TRANH VẼ Võ Công Liêm ‘Điểm Hẹn / Rendez-vous’

‘Thiên tuế trường ưu vi tử tiền’ Nguyễn Du*

Nếu đó là một thứ văn chương lý thuyết, rõ ràng, minh bạch thời tất sự đó được gọi là văn chương có lý thuyết.Từ chỗ đó chúng ta bắt đầu đặc vấn đề:văn chương là gì ? what is literature?Thế nào là văn chương.
Đã có nhiều cố gắng khác nhau để minh định cho văn chương. Người ta có thể minh định nó. Thí dụ: giàu trí tưởng tượng để viết trong một cảm thức hư cấu / writing in the sense of fiction; là những gì viết mà trong đó không đúng sự thật về văn –writing which is not literally true. Dù có viết vắn tắt đều phản ảnh tính người dưới những đề tài đều hướng tới văn chương; thiết tưởng điều này sẽ không tránh khỏi khi viết văn. Đã là hư cấu, tất dựa vào tâm lý học để hình dung quá trình khi dựng thành chuyện cho truyện.
Tk. thứ mười tám ở Việt Nam cho đến nay chỉ xuất hiện một thứ văn chương lỗi lạc, xuất chúng khác thường đó là Nguyễn Du (1765-1820) nó bao hàm cả một lý thuyết nhân sinh vừa tâm lý vừa sinh lý là nhân tố cấu thành trong văn chương, bất luận từ thời nào đều dựng vào đó cái lý chính đáng, phản ảnh trọn vẹn tính nhân bản là cốt tủy của văn chương. Đồng thời hay những thế kỷ về sau có nhiều thi văn nhân xuất hiện với lối trình diễn văn chương khác nhau nhưng tựu chung trong hình thức sáng tác đều là hư cấu; văn chương tả chân không nhất thiết là ‘chuyện có thực / true story’ mà dựng vào đó một trí tưởng sống thực, dẫu là hư cấu nhưng vẫn có một lý thuyết chung hay riêng về con người và xã hội; gọi chung là văn chương hư cấu ngay cả thi ca cũng như văn xuôi đều xuất xứ từ trí tưởng của hư cấu hóa mà ra.
Sự khác biệt giữa sự thật (fact) và hư cấu (fiction), tuồng như khác hẳn những gì chúng ta nghĩ tới, không nhiều thì ít, bởi; nó đứng cách riêng ở chính nó là sự cố thường đưa tới tranh luận; sự đó là phản lại giữa những gì thuộc lịch sử và những gì thuộc thẩm mỹ nghệ thuật (artistic). Sự thật không thích ứng ở tất cả những gì thuộc thần thoại hay tiền sử mà vẫn coi như là sự thật. Thí dụ: Sơn Tinh, Thủy Tinh, chuyện Âu Cơ, chuyện Mỵ Nương, Phù Đổng Thiên Vương đã thần thánh hóa từ hư cấu chuyện để thành truyện.
Cuối tk. thứ mười bảy và đầu tk. mười tám văn chương tiểu thuyết Việt Nam nở rộ trong một văn phong ảnh hưởng xã hội, dưới lốt ‘giáo điều’ của từ chương, tích cú, điển tích, điển cố được coi là thích ứng và hợp lý; chưa thấy ở đó dấu hiệu sáng tạo, nó ảnh hưởng một phần văn tự cổ từ Hán Nôm chuyển qua Quốc ngữ là cả vấn đề được nêu ra; tuy nhiên, thi văn thời đó nửa hư, nửa thật dường như thấy được một ít sự thật và hư cấu; hẳn nhiên cả hai không mấy là xác thực một cách trung thực. Có lẽ một trong hai thứ đó cần có một thể cách riêng để đi tới bên nhau. Có lẽ văn chương là một định nghĩa rõ ràng không tùy vào những gì thuộc hư cấu hoặc trí tưởng, nhưng nó được coi ngữ ngôn thông thường trong lề lối mới hơn. Trên phương diện lý thuyết; văn chương là thể cách viết thay lời là những gì thể hiện trong lời văn: phẩn nộ, thương yêu là vai trò làm người mà Nam Cao đã thấy trong tác phẩm Chí Phèo, qua hành động táo bạo với ngữ ngôn dung tục là đặc chất trung thực của văn chương tả chân, một lột tả phơi mở, không ấp úng mà làm lạc hướng văn chương. Chỉ tiêu của văn chương là đi đúng hướng cỏn ngược lại thì đó là tư duy mất cân đối giữa quan trọng và không quan trọng –there is a disproportion between the signifiers and signifieds. Bởi như thế này: ngữ ngôn của ta đưa tới một chú ý ở tự nó, phơi ra một chất liệu hiện thể qua câu nói ‘em chả’ có tính chất làm dáng hay đòi hỏi, tả như vậy trong văn chương gọi là tả thực. Ở đây tác giả muốn nói đến chất liệu thực tướng văn bản của văn chương là ở tự nó. Văn chương không là thứ tôn giáo ngụy tạo hoặc tâm lý hoặc khoa học xã hội nhưng nó phải là một cơ cấu hóa ngữ ngôn cách riêng –literature was not pseudo-religion or psychology or sociology, but; a particular organization of language thời mới tạo cho văn chương độc sáng và lạ lẫm.Tác phẩm văn chương đã không những là phương tiện truyền bá cho ý tưởng, phản ảnh bề mặt xã hội một cách trung thực mà thể hiện của một vài thực nghiệm. Nó còn làm cho chữ nghĩa trở nên siêu thoát, không còn là chủ thể của vấn đề hoặc do cảm quan sanh ra; đấy là một sự nhầm lẫn để thấy cách diễn đạt bên trong văn chương, vô hình chung nói cho cá nhân mình hơn là nói việc đại chúng, bởi; nhận thức chưa thấm thấu với kinh nghiệm chưa thấu đáo trong cuộc sống thường có. Thí dụ: nhà văn nữ viết về nhà thơ nam là biểu lộ một sự đam mê thái quá, biến lỏng thành đặc, biến ảo thành thực là xử dụng phương pháp hóa trị (chemotherapy) trong văn chương một cách bừa bãi qua tư thế lý giải thơ văn, biến con chữ và văn phong không thoát ly khỏi vũng lầy, bởi; cả văn thi nhân cùng một tạng thể. Dẫn cái không đáng dẫn đưa văn chương vào ngõ cụt. Cái đó gọi là văn chương tha hóa. Tình trạng này thường xẫy ra mỗi khi nhận định hay phê bình thơ văn đều có tính chất rập khuôn.
Vậy thì dựng lên đó văn chương thuộc hư cấu (fictional) hay văn chương trí tưởng (imagination)? Cả hai tình huống đó đôi khi không thực ở chính mình để trốn cái xấu bên trong hoặc có thể che lấp một sự giả dối nào đó không muốn nói ra…Cái đó gọi là văn chương ta thán. Điều này đã làm cho chữ nghĩa không còn là chủ đề muốn nói với một cảm thức sâu sắc mà là một sự nhầm lẫn trong tư duy của tác giả muốn đề ra.Tất cả ý tứ đó phát sinh từ thói tính kiểu cách hoặc hình thức hóa để chứng tỏ vai trò của mình đang hiện diện với đời. Kiểu cách đó gọi là văn chương dung tục; một hình thức dị hợm, buồn nôn không hợp cảnh đối với con người văn nghệ đang trên đường dấn thân cho một bày tỏ sống thưc giữa người và đời.
Hình thức chủ nghĩa là phần cơ bản nồng cốt thích hợp cho ngữ ngôn học nhất là học cách viết văn, bởi; ngữ ngôn học trong vấn đề của hình thức thể loại, quan tâm tới ngữ điệu và cấu trúc hành văn khác hơn những gì trong đời thường nhưng vẫn thấy ở đó một thứ rất thường. Hình thức đã vượt qua sự phân tích của văn chương như ‘đạt yêu cầu’ / Formalists passed over the analysis of literary ‘content’ là thói tính thường bắt gặp một khi viết về ký sự hay phóng sự là lối viết như ‘đặt hàng’ nó không còn là sáng tạo của văn chương. Đạt được là động cơ thúc đẩy một cách đơn thuần của thể thức, một cơ hội thuận tiện cho thực tập về hình thức viết lách. Cho nên chi lối viết đó không thay đổi giọng điệu mà trở nên cục bộ ngay cả trong văn và thơ; hai thứ này nó đòi hỏi phải sáng tạo mới hình thành văn chương độc hữu (property).
Văn chương; bởi một sự buộc phải chúng ta trong vai trò kịch tính ý thức của ngữ ngôn cho đẹp ý lẫn lời, coi đây là thể thức đáp lễ và dẫn đưa chủ đề có thêm cảm giác mới. Thế giới của ngữ ngôn chứa đựng những gì có sinh khí và hiện đại hóa; đó là tác động trong văn chương. Bởi; như thế này: đối với hình thức chủ nghĩa cho rằng văn chương là chức năng chuộng về lượng /differential liên quan giữa thể loại luận văn hay thuyết trình, nó không còn là chân lý ngàn đời cho một sự độc hữu –it was not an eternally given property mà chỉ để lại cái thói tính (formalists) không thực khi viết thành văn. Có lẽ; văn chương là phương tiện cho một vài điều nghịch lý hay phản đề của nhiều cách viết khác nhau hoặc nâng lên một giá trị cao hơn. Văn chương là một cảm thức trong sáng phát sinh từ trí tuệ; dẫu đó là một sự rỗng tuếch vẫn có phần sáng tỏ –empty sort of definition. Dù cho chúng ta yêu sách nào đi nữa sự đó không tác động vào trong ngữ ngôn của viết lách, càng đòi hỏi luật tắc thời chúng ta vẫn không đạt tới cái cốt tủy của văn chương, bởi; đôi khi ta tìm thấy ngữ ngôn của văn chương tợ như đùa, nhưng trong cái sự đùa là một thứ ẩn tàng khác của cách viết hay nói. Có thể nó tạo thêm thi vị cho người đọc hoặc mang lại một ý nghĩ khác cho một vượt thoát của tư duy. Đôi khi đọc một tiểu thuyết là tìm quên trong thích thú, khác hẳn từ chỗ đọc bảng tên đường như một chỉ dẫn cần thiết; thế thì làm thế nào đọc một đoạn văn chương triết học để lãnh hội trong trí tuệ của ta? Đó là vấn đề đòi hỏi ở nhận thức hiểu biết, một nhận thức bao quát hơn là nhận thức chuyên nghiệp. Văn chương không có giới hạn mà đòi hỏi một sự vượt thoát tư duy trong ý thức sáng tạo tư tưởng là hình thức đả thông tư tưởng. Người không học triết vẫn nhận ra rằng cuộc đời là một triết lý. Kẻ chuyên nghiệp lại có cái nhìn chủ quan trong tư duy, phát sinh từ một tư duy ‘đốn mạt’ của hờn dỗi bởi chưa đạt được một cách thỏa lòng (content). Thành ra văn chương là nhu cầu cần thiết để lãnh hội ý tứ thâm hậu trong câu văn như lời nói lý thuyết, là kim chỉ nam dành cho người viết và đọc. Văn chương là gạch nối của truyền thông, văn chương không phải là tự sự đem chuyện đời xưa ra kể chuyện đời nay; cái đó gọi là văn chương tham vọng đã tham vọng thì không còn gọi là văn chương.
Độc đáo của văn chương là thoát ly mọi tình huống của ‘ao tù nước đọng’ bung lên để tìm thấy mặt trời, bởi: ‘văn chương chỉ dung nạp được những người biết đào sâu, biết tìm tòi, khơi những nguồn chưa ai khơi và sáng tạo những gì chưa ai có’ (trong Đời Thừa của Nam Cao) Cái đó gọi là văn chương thức tỉnh giữa sự thật và hư cấu là đứng giữa tâm thức và trí tưởng đủ khả năng giúp ta sáng tạo những gì mà ta nhận thức được; đặc nhiệm của văn chương là mang tính chất sáng tạo nghệ thuật, quên tất cả để tạo nên quan hệ tương giao giữa người với văn chương, dựng vào đó một vũ trụ dự cuộc để hoàn thành sứ mệnh văn nghệ đúng phương hướng của văn chương tự thức ; đó là chỉ tiêu, là minh định cụ thể để thành văn.

Trong cảm thức này không một khả năng nào của một kết hợp bày tỏ hay phát biểu hay hành văn một cách vô bổ cả -In this sense; there is no possibility of a wholly disinterested statement- Nhưng; cũng có thể đó là vị trí của hình ảnh tạo nên cho một cảm thức khác nhau giữa hư (fiction) và thực (in fact) mà coi đó là lời bày tỏ có nhiều lợi ích cho về sau này. Có lẽ điều này cho là lạ lùng, quái gở và cũng có thể là tuyệt vời, kỳ diệu nó mang nhiều điều lạ hơn là kiểu cách đồng dạng, đồng nghĩa, là thói tính quen lề, quen thói, rập khuôn, đúc lại, dẫn chứng…Tất cả thứ đó là a-tòng trong lối bình văn thơ thường hay xãy ra. Bởi cái sự a-tòng đó mà mất tính sáng tạo trong văn chương, bởi vì; chúng ta không tìm thấy cái sự lợi ích cấu thành qua sự nhận biết / knowledge để làm sáng tỏ lời văn trong khi viết, việc này không phải là định kiến đơn thuần mà tạo vào đó một thứ phiêu lưu kỳ lạ cho văn chương. Yêu cầu đó là nhận thức hiểu biết có thể đem lại cái giá tự do (value-free) hay gọi là không thuế (tax-free) là việc không còn ngại cho việc viết lách để đưa vào đó một giá trị cho văn chương. Đây không phải vấn đề của đổ lỗi mà cũng chẳng phải vơ đũa cả nắm; thực ra là nhận định khách quan của tâm sinh lý thường có, là cốt đạt tới cái nguyên thủy /pure có trong ta cho một thứ phê bình thuộc nghệ thuật văn chương là điều hợp lý và lợi ích.
Nói về ‘văn chương và hệ tư tưởng /literature and ideology’ như thể coi đây là biểu tượng cách ly, mà cả hai gần như có một quan điểm chung giữa trí tuệ và lý trí. Văn chương đúng nghĩa tâm lý là có một cái gì để lại (inherited) về sau; hệ tư tưởng sẽ tiếp nối như một khám phá khác của văn chương, một quan hệ gần gũi giữa con người và xã hội. Có thể về sau được coi là chứng cứ tồn lưu, tồn lại của văn chương ./.

VÕ CÔNG LIÊM (ca.ab.yyc. 15/7/2020)

* ‘Trước khi chết lo mãi chuyện nghìn năm’ (Nguyễn Du)

ĐỌC THÊM: ‘Văn Chương Là Gì’ của võcôngliêm (3/2020). Hiện có trên một số báo mạng và giấy trong và ngoài nước hoẳc email theo đ/c đã ghi.

ĐÓA HOA VÔ THƯỜNG

Nhật Quang

ao dai and hoa

Trăm năm ở tạm chốn này
Trần gian sinh ký đọa đày bể dâu
Trầm thăng bao nỗi cơ cầu
Nợ nần chưa dứt nỗi sầu cưu mang

Vai gầy quằn gánh nhân gian
Còn in theo dấu chân mang tội tình
Khóc, cười một kiếp sinh linh
Làm sao qua khỏi bóng mình hư vô

Buồn vương theo cánh lá khô
Quẩn quanh ngang dọc xô bồ gót chân
Đi cho hết đoạn cuộc trần
Rưng rưng nghoảnh lại phù vân…cuối đường

Đóa hoa nở giữa vô thường
Tàn trên phiến đá âm dương lạnh lùng.

tỊnH đẾ

h o à n g x u â n s ơ n

mua rung

[tặng Trương Đình Uyên]

Ngồi buồn
lẳng lặng
sen vua
nơi đâu một chút vui đùa
ái phi
bông mưa
vẫn rưới diêu trì
trẫm nghe hương góa bay đi
tận hồi
mộc mầm nẻ chút ô môi
cưa đôi nhung nhớ
nợ bồi xương văn
ngôi sao đã miết vện vằn
về thôi vân cẩu
về chăm bóng tình
bây giờ hơi áo mần thinh
làm răng trẫm biết
hương quỳnh lục lăng

26 juillet 2020

ĐỌC THƠ CỔ NHỚ NGƯỜI XƯA : NGUYỄN DU

Nguyên Lạc

THƠ TƯỞNG NIỆM NGUYỄN DU

nguyen-duNhân kỷ niệm 200 năm ngày mất của Đại thi hào Tiên Điền Nguyễn Du (1820- 2020) tôi làm bài thơ tưởng niệm này:

TƯỞNG NIỆM NGUYỄN DU
.
“Bất tri tam bách dư niên hậu
Thiên hạ hà nhân khấp Tố Như” *

*
Nến trầm đêm đọc người xưa
“Thập loài văn tế” xót xa hồn này
Tiên Điền thơ cổ kinh thay
Rợn hồn từng chữ từng lời oan khiên
.
“Còn chi ai quí ai hèn
Còn chi mà nói ai hiền ai ngu
Một phen thay đổi sơn hà
Mảnh thân chiếc lá biết là về đâu” [1]
.
“Long thành cầm giả” khúc đau
Ngậm ngùi thơ cổ bể dâu cuộc đời
Sắc hương đệ nhất một thời
Ðàn cầm thánh thoát giờ rồi tàn phai [2]
.
Trăm năm thoáng chốc thở dài
Bồi hồi chuyện cũ thương ai mà buồn
Động lòng khói sóng Tiền Đường [3]
Thương Kiều phận bạc “Đoạn trường tân thanh”
.
Hai trăm năm đấng tài danh
Bài thơ tưởng niệm con dâng tặng người
Đất nước tôi dân tộc tôi
Nguyễn Du hai chữ rạng ngời Việt Nam
……………
* Không biết hơn ba trăm năm sau/ Thiên hạ ai người khóc Tố Như?- Độc Tiểu Thanh ký- Nguyễn Du
[1] Câu thơ trong “Văn tế thập loại chúng sinh” – Nguyễn Du
[2] Quái để giai nhân nhan sắc suy/ Song nhãn trừng trừng không tưởng tượng/ Khả liên đối diện bất tương tri – “Long thành cầm giả ca” – Nguyễn Du
[3] Thúy Kiều trầm mình trên sông Tiền Đường- Đoạn Trường Tân Thanh
.
Nguyên Lạc
.
BÀI THƠ TƯỞNG NIỆM CỦA LÂM THANH SƠN

Sẵn đây, tôi xin giới thiệu đến các bạn thêm bài thơ tưởng niệm Nguyễn Du của bạn Lâm Thanh Sơn, ở Hà Nội – một trong những người thuộc nhóm Tình Tự Dân Tộc chúng tôi, nhóm quyết chí giải oan cho đại thi hào Nguyễn Du – cụ bị “ai đó” kết án “đạo văn” Kim Vân Kiều Truyện của Tàu, “bê nguyên xi” truyện này dịch ra văn vần: Đoạn Trường Tân Thanh- Truyện Kiều. [*]
Link nhóm Tình Tự Dân Tộc:
https://www.facebook.com/groups/1141641829504367/?hc_location=ufi
Đây là bài thơ tác giả Lâm Thanh Sơn gởi đến tôi:

NHỚ NGUYỄN DU
Kính Gởi Cụ Tiên Điền
( Nhân kỷ niệm 200 năm ngày mất của Đại thi hào Nguyễn Du 1820- 2020 ).
Lâm Thanh Sơn
.
Hai trăm năm đã trôi qua
Hoa tàn, trăng khuyết xót xa những chiều
Đâu Kim Trọng, đâu Thuý Kiều?
Ai làm tan những lời yêu đá vàng …

Giai nhân, tài tử bẽ bàng
Long thành nức nở tiếng đàn Cầm ca
Mấy triều đại ấy trôi qua
Ngai vàng, điện ngọc hoá ra bụi rồi

Chỉ còn lại bấy nhiêu lời
Giữa nhân gian với cuộc đời đảo điên
Nào ai vua sáng, tôi hiền
Triều sau, sóng trước triền miên cõi người

Anh hùng cũng đến thế thôi
Văn nhân, thy sỹ cũng đời bỏ đi
Bảng vàng, bia đá ra gì
Ngàn năm dầu dãi khắc ghi hận lòng

Lối người xưa phủ rêu phong
Một lời một vận vào vòng tai ương
Con nghe trong sóng Tiền Đường
Chiều nay ngào nghẹn đoạn trường tân thanh …!
.
LỜI KẾT
“Truyện Kiều còn, tiếng ta còn. Tiếng ta còn, nước ta còn” (Phạm Quỳnh)
Bài diễn thuyết về Truyện Kiều này được Phạm Quỳnh đọc nhân lễ kỷ niệm ngày giỗ Nguyễn Du vào ngày 8 tháng 12 năm 1924, tức ngày mồng 10 tháng 8 năm Giáp Tý do Hội Khai trí tiến đức của ông tổ chức.

Nhân đọc lại dòng thơ cổ làm rạng danh nước Việt, tôi đốt 3 nén hương trầm để tưởng nhớ đến người xưa, đến công ơn của tiền nhân: Đại thi hào Nguyễn Du, người đã đóng góp biết bao công sức cho nền văn học nước nhà.
.
Nguyên Lạc
……………
[*] Đổng Văn Thành – China cho rằng: “Nguyễn Du chẳng những chỉ mượn đề tài của tiểu thuyết Trung Quốc mà dường như bê nguyên xi […]. Nguyễn Du không có bất kỳ một sáng tạo mới nào, chỉ chuyển thuật khá trung thực nội dung tiểu thuyết của Thanh Tâm Tài Nhân…” [ “Minh Thanh tiểu thuyết luận tùng” GS. Đổng Văn Thành – Theo Phạm Tú Châu “So sánh Truyện Kim Vân Kiều Trung Quốc và Việt Nam”]
“So sánh Truyện Kim Vân Kiều Trung Quốc và Việt Nam”
http://www.talawas.org/talaDB/showFile.php?res=5966&rb=0102

@ Mờii đọc :
– “Long Thành Cầm Giả Ca” của Nguyễn Du
http://www.art2all.net/tho/laiquangnam/lqn_nguyendu_longthanhcamgiaca_gioithieu.htm

THƠ TÌNH CỦA PHẠM NGỌC THÁI

bia tho PNThai
Trích “Tuyển thơ chọn lọc”, Nxb Hồng Đức 2019

ANH ĐỨNG NHÌN THEO BÓNG CHIM CÂU
Tặng người sinh nữ xa xưa

Mấy chục năm rồi … Em ở đâu?
Ơi, người con gái của thời yêu!
Chiều nay thành phố trong mưa lạnh
Anh đứng nhìn theo bóng chim câu…

Kìa! Dáng hình xưa lại hiện về
Gót thon bước nhẹ dưới đường quê
Gió bay mái tóc hương thơm ngát
Để cả trời xanh phải đê mê

Tiếng hát ai đưa vọng bên hồ
Đã xa năm tháng hãy còn mơ
Mắt em thăm thẳm soi làn nước
Tận đáy hồn anh cứ ngẩn ngơ

Chiều nay mà ngỡ buổi chiều nao
Vẫn đến trường em lối cổng vào
Đón cô thiếu nữ xinh xẻo ấy
Chạy đến bên anh tủm tỉm chào

Thôi thế, hết rồi … Bé yêu ơi!
Bụi cát lầm lên phủ cuộc đời
Giá em mãi tuổi đôi mươi nhỉ
Và anh cũng đừng vội già người

Mấy chục năm trời … Em ở đâu?
Anh đứng nhìn theo bóng chim câu …

13.2.2019

ANH VẪN VỀ THEO DÒNG LỆ EM TIẾC NUỐI

Em nói với tôi rằng: “Muốn có một đứa con…”
Dù xa cách nhớ nhau trong hoài niệm
Năm tháng dáng hình em hiển hiện
Phía chân trời thắp sáng lửa tim tôi!

Người thục nữ tôi yêu, những năm cuối cuộc đời
Cho tới lúc nấm mồ anh xanh cỏ
Em hãy thắp nén hương lòng tưởng nhớ
Để hồn anh siêu thoát dưới trời âm

Gặp em muộn rồi, bóng xế hoàng hôn
Tóc cũng bạc đôi phần, dẫu tim còn khao khát
Ngày anh khuất chắc làm em thổn thức
Nước mắt tràn trên nấm mộ thương yêu

Thì đời này, em ạ! Có trớ trêu
Nhưng ta đã bên nhau, sưởi ấm ngày đông rét
Anh hôn lên đôi môi em như một vầng trăng khuyết
Thấy cả bầu trời du ngoạn cõi hồn xanh

Lại bùng cháy trong thơ ngọn lửa trái tim
Ngọn lửa của tình yêu vĩnh diệt
Em đừng khóc cho lòng anh thêm tan nát
Có rời chốn dương trần, anh không chết đâu em

Chỉ hóa kiếp mình, tiếp cuộc trường sinh
Cùng thi ca. Anh sẽ sống muôn đời trong nhân thế
Vẫn khắc khoải quanh nàng vào nỗi nhớ
Với mối tình nồng thắm của em yêu…

Nếu giây phút nào em lạc bến cô liêu!
Giọt lệ thơ rơi nhòa trang giấy trắng
Hãy tìm đến nấm mồ anh, miền xa vắng
Rồi âm thầm một chút khóc cho nhau

Anh thương em đời gặp cảnh bèo dâu
Em nhớ về anh sống kiếp chàng du mục
Thời trai trẻ phong trần qua chiến tranh loạn lạc
Khi tuổi già có vợ vẫn cô đơn!

Anh tìm đến em, lúc đã tàn úa mái đầu xanh
Yêu tha thiết mà cách ngăn thế giới
Anh vẫn về theo dòng lệ em tiếc nuối
Và yên lòng nơi nấm mộ ngàn thu…

6.9.2018
Chiều thu năm Mậu Tuất

NHÌN TRĂNG NHỚ EM
Tặng Tuyết

Nhìn mảnh trăng trời lại nhớ em
Trăng trôi miên man khi mờ, khi tỏ
Chúng mình đến với nhau, không còn thơ bé
Nhưng lòng tha thiết yêu thương

Trăng giữa tháng khuyết dần, tình cứ tràn dâng
Cả tới khi không còn trăng nữa
Thì em vẫn bên… vành vạnh tỏ…
Đưa anh vào giấc mộng ru đêm

Để cùng nhau say cảnh thần tiên
Cho quên hết biển đời ngang trái
Cuộc sống mưu sinh với bao mệt mỏi
Chân trời sẽ lụi tàn, nếu chẳng có tình em

Ôi, mảnh trăng nhỏ bé giữa mênh mang
Vẫn soi ngập cõi không gian vô tận
Sâu tận cùng trái tim anh hưng phấn
Đêm nằm thao thức vấn vương

Trăng không còn… Em vẫn hiện lên…
Dìu anh qua phong ba, bão táp
Trong giấc ngủ chập chờn đêm vĩnh tuyệt!
Anh bay về ôm lấy trăng em

Cả nhân thế này, chỉ một “mảnh trăng con”
Sống mãi muôn đời dù thay bao chủ nghĩa
Thức nhớ em hoài, trăng khuất không biết nữa
Nhìn khắp thiên hà… càng da diết yêu thêm…
TIẾNG HÁT ĐỜI THƯỜNG
Viết trên thư gửi về cho vợ

Trong một phố nghèo, có người vợ trẻ
Vẫn đón con đi, về… như thường lệ
Vóc em thanh cũng thể mùa xuân
Đôi mắt em: Đôi mắt ấy màu đen

Ngôi nhà nhỏ bên đền
Gốc đa, quán báo
Nơi ngày xưa ai bán chiếu gon (1)
Đêm hồ nước trăng soi
Chiều lá me, lá sấu
Cung thành xưa dấu đại bác còn (2)

Ôi, quê hương!
Cái phố nhỏ cứ mưa là lầy lội
Cháu gái nhà bên, tuổi không đoán nổi
Chưa tối đã khêu đèn bê mẹt thuốc rao đêm
Ngày hai bữa, bữa nào cũng vội

Miền đã theo tôi vào cuộc Trường Sơn
Hành quân rừng già, võng treo sườn gió…
Ai biết chiều nay người vợ trẻ?
Đứng mong chồng bên đứa con thơ
Giọt lệ cháy xót lòng, mang sắc xanh thu!

Tuyết bạc quê người… xứ sở mưa cau…
Đi đâu, đến đâu: Nhớ về phố ấy!

Đôi mắt em buồn cho bài hát anh ca
Con sẻ hót mênh mông đồng nước
Người hát rong hát vui sân ga
Tiếng Hát Đời Thường thường lẫn vào bụi cát
Anh hát cho đời…
Anh hát em nghe…
Nước Đức, 2/1989

(1) Gợi lại câu chuyện bà Thị Lộ thời con gái đi bán chiếu gon ở Hồ Tây, gặp ông Nguyễn Trãi. Những vần thơ đối đáp của hai người còn truyền tụng đến ngày nay.
(2) Hình ảnh mặt thành Thăng Long phố Cửa Bắc Hà Nội: Đến nay vẫn còn in dấu đạn đại bác từ thời giặc Pháp bắn vào. Thành Thăng Long thất thủ, quan Tổng đốc Hoàng Diệu phải thắt cổ để tuẫn tiết.
NGƯỜI ĐÀN BÀ TRẮNG

Người đàn bà đi trong mưa rơi
Chứa một trời thầm như hoa vậy…
Tặng Bích Đào

Chiếc mũ trắng mềm em đội bầu trời
Khóm mây trắng bay nghiêng trôi trên tóc
Đôi mắt em đong những áng mây
Người đàn bà trắng!

Em đi – về… chao những hàng cây
Hồ gió thổi lệch vành mũ đội
Thấm đẫm mình em cả thềm nắng gội
Xoã ngang vai mái hất tơi bời

Nỗi niềm thao thức
Những đêm trăng nước…
Chùm trinh em hát: Đấy chỗ thiên thai
Người đàn bà ai mà định nghĩa?

Đường xưa đó về đây, em ơi!
Những con đường đã đầy xác lá rơi
Xác ve, xác gió và xác của mưa

Em không biến thành đá để hoá Vọng Phu
Anh cũng không làm chàng Trương Chi
suốt đời chèo sông vắng
Ta không đi theo Con Đường Lông Ngỗng Trắng
Dẫu hình hài khắc mãi tim nhau!

Vết thương lòng không dễ đã lành đâu
Những đêm sao buồn, những đêm gió khát
Khúc thơ tình anh lại viết về em
Người đàn bà ngậm cả vầng trăng…

“DOANH NGHIỆP VỚI THỊ TRƯỜNG”

GIÁP KIỀU HƯNG

“DOANH NGHIỆP VỚI THỊ TRƯỜNG”
– MỘT CUỐN SÁCH ĐÁNG ĐỌC!

*
Để tìm một cuốn sách về kinh nghiệm làm giàu thật hay thực sự không phải là một điều dễ dàng, mặc dù trong tủ trưng bày ở các nhà sách loại sách này chất cả đống với những cái tên đầy “kích thích”. Nhưng, ở đây, chúng tôi muốn giới thiệu một cuốn sách mà theo cảm nhận của chúng tôi, mỗi một dòng, một chữ đều bật ra trong tâm huyết, từ máu thịt của người viết như những lời “tâm sự” “gan ruột”.
Cuốn sách bao gồm hai phần. Phần thứ nhất, tác giả hệ thống cho bạn đọc những kiến thức rất cơ bản của một nhà kinh doanh về thị trường. Đối với những ai đã từng qua các “cua” đào tạo về quản lý kinh tế hay đã từng đeo “mác” sinh viên các trường kinh tế thì những kiến thức như thế này không phải là điều mới mẻ. Tuy nhiên để nghĩ cho sâu, hiểu cho kỹ thì không phải ai cũng làm được vì sự phong phú của thị trường. Chính người viết cũng rất khiêm tốn khi viết: “Người viết không có tham vọng trình bầy hết những vấn đề của thị trường hoặc liên quan đến thị trường bởi tính muôn màu muôn vẻ của thị trường, bởi tính biến đổi (nhu cầu và thị hiếu) không ngừng của thị trường”. Ở đây, tác giả “xoáy” váo ba vấn đề chính:

giapkieu

GIÁP KIỀU HƯNG

– Tìm hiểu thị trường
– Chiếm lĩnh thị trường
– Các chiến thuật chiếm lĩnh thị trường
Đây là những nguyên tắc, những điều nên làm và thật cần đối với các doanh nghiệp. Cái “được” mà tác giả xây dựng được trong phần này của cuốn sách là đã “mềm hoá” được những kiến thức kinh tế vốn không mấy “dễ tiêu” đối với người đọc. Vì lẽ đó mà nhiều bạn đọc đánh giá sách của Đặng Xuân Xuyến không nặng về lý thuyết. Nhưng theo chúng tôi, có lẽ đó là cảm nhận của cả hai phần vì ở phần thứ hai của cuốn sách có rất nhiều lời khuyên hữu ích đối với các doanh nhân trẻ mà những lời khuyên này xuất phát từ những điều tâm huyết của người viết khi chiêm nghiệm cuộc sống, chiêm nghiệm quá trình kinh doanh của bản thân cũng như của những doanh nghiệp thành đạt trên thương trường. Điều đáng ghi nhận là Đặng Xuân Xuyến đã không truyền đạt những lời khuyên ấy theo lối “dội” từ trên xuống mà lời lẽ rất chân tình, giản dị nhưng không kém phần mãnh liệt, thổi vào người đọc một luồng cảm hứng cháy bỏng về khát vọng làm giàu. Hãy nghe: “Tôi thành thật mong bạn đừng bao giờ chấp nhận cuộc sống an phận thủ thường, đừng bao giờ bằng lòng với những gì đã có vì cái chất người như vậy không bao giờ giúp bạn trở thành ông chủ được đâu” (Khát vọng làm giàu). Và “hãy mạnh dạn xắn tay áo lên mà miệt mài công việc! Hãy trau dồi kiến thức và mở rộng các mối quan hệ tốt đẹp trong xã hội!” (Thời cơ). Đọc những dòng này, người đọc sẽ rất có cảm tình về khát vọng làm giàu, khát vọng xây dựng cuộc sống, sự nghiệp của chính bản thân người viết. Không trăn trở, không “đau đớn” về cái khát vọng làm giàu của mình thì Đặng Xuân Xuyến không thể bật lên khẩu hiệu đầy lôi cuốn như thế. Cứ cho rằng bạn là người bàng quan với của cải, vật chất nhưng tôi tin bạn là người trọng danh dự và bạn sẽ cảm thấy mình bị thua kém khi đứng cạnh những người bạn thành công trong kinh doanh. Và khi ấy bạn có chắc chắn rằng mình sẽ không có một chút tị hiềm nào trong lòng? Ở đây, Đặng Xuân Xuyến khuyên chúng ta rằng: “đừng nhìn vào cách tiêu tiền của họ mà hãy nhìn vào cách kiếm tiền của họ”. Nhìn để mà học, mà học thì chắc chắn để làm việc rồi. Có nghĩa, bạn phải là con người của hành động!
Với 10 đề mục trong phần hai của cuốn sách, bên cạnh việc thôi thúc, kích thích khát vọng làm giàu của bạn, Đặng Xuân Xuyến còn truyền đạt rất nhiều những kinh nghiệm trong thực tiễn kinh doanh. Điều này thể hiện chủ yếu ở ba đề mục:
– Chính sách dùng người.
– Đánh giá khách hàng.
– Giao dịch – tiền đề của thành công.
Tất nhiên, tác giả không quên nhắc đến “kẽ hổng trong quản lý vốn” – một trong những tiền đề cơ bản khiến cho doanh nghiệp… phá sản! Đọc những mục này, tất cả những chiêu thức quan trọng của các nhà lãnh đạo trong việc quản lý nhân sự, đánh giá khách hàng và giao dịch với đối tác, tác giả đã phân tích từng chi tiết nhỏ giúp cho người đọc dễ hình dung ra “chiến trường” của mình hơn. Ở đây, tác giả đã giúp đọc giả làm công việc gian khổ, khó khăn nhưng cũng thú vị nhất đó là hiểu rõ cả “địch” và “ta”. Bạn có thể hiểu mình nhưng bạn đâu biết hết được tâm lý của mọi đối tác. Không phải là quá khen nhưng công lao nghiên cứu của tác giả trong lĩnh vực tâm lý kinh doanh quả là không thể phủ nhận. Tất nhiên, khi đã khẳng định được danh tiếng của bạn thì không thể không tính chuyện khuếch trương danh tiếng ấy lên và Đặng Xuân Xuyến cũng không quên gởi đến độc giả những kiến thức trong vấn đề quảng cáo rất cần thiết cho các doanh nghiệp trong thực tiễn.
Bên cạnh phần chính của cuốn sách, hai phụ bản là “Vài lời về bốn tể tướng đại tài trong lịch sử Trung Quốc” và “Đôi điều về bốn danh tướng vang bóng một thời trong lịch sử Trung Hoa” của cùng tác giả Đặng Xuân Xuyến là một món quà khá thú vị. Đây có lẽ chính là điểm nhấn để chúng ta tin sự uyên thâm của Đặng Xuân Xuyến là… Đặng Xuân Xuyến.
Bạn có thể không tâm đắc với những điều mà cuốn sách này đặt ra, thậm chí bạn còn hiểu ngược lại vì mỗi người có một quan điểm riêng, thủ pháp riêng trong kinh doanh. Chính tác giả cuốn sách này cũng chỉ khiêm tốn mong muốn: “Cuốn sách sẽ giúp bạn có một khái niệm cụ thể về thị trường và doanh nghiệp; có thể bạn là người đang chuẩn bị bước vào công cuộc kinh doanh thì Doanh nghiệp với thị trường sẽ làm tốt khâu “chuẩn bị” nắm bắt được một số nguyên lý cơ bản để an tâm bước vào nghiệp chủ; còn nếu bạn đã là một doanh nghiệp thực thụ và tài ba thì với hai trăm trang sách này, chí ít sẽ trút bỏ được một số sai lầm đáng tiếc sẽ xảy ra trong cuộc đời kinh doanh của bạn”. Vâng! Tư tưởng đặt ra rất lớn cho tác phẩm – tư tưởng ấy là dành cho bạn đọc – nhưng mong muốn của tác giả thì lại giản đơn như vậy.
Dẫu sao, sau khi đọc xong hai trăm trang sách của Đặng Xuân Xuyến, tôi biết mình đã phần nào chịu ảnh hưởng tư tưởng của anh chàng quá nhiều tham vọng này.
Chẳng biết sự ảnh hưởng ấy có… hại không?
*.
Hà nội, ngày 15 tháng 10 năm 1999
GIÁP KIỀU HƯNG
.

M Ù a hÈ CỦa [M]

h o à n g x u â n s ơ n

aovang

Em cứ nấp như thế
trong áo váy
trong khăn quàng cổ
nấp trong giày giày rủ đi chơi
trắng tinh cùng gió
em cứ rình rang đây đó
nấp trong cây nắng nhìn mồ hôi trộm
nấp trong cơn khát bia vại um tùm
du theo bạn nói cười hể hả
những viên đá chạm ngày lanh canh
em cứ thế nấp vào tăm bọt
bọt sủi tình thơ
có anh ngồi đợi
buổi chiều
loang dần cuộc phiếm du

h o à n g x u â n s ơ n
19 tháng bảy 20

NẮNG MƯA VÀ NỖI NHỚ ÊM ĐỀM!

Cảm nhận của Châu Thạch

TÔI CHO TÔI

vt nguyenTrời cho nắng, trời cho mưa
Tôi cho tôi nhớ ngày xưa của mình.
Ngày xưa tóc mây hoe vàng
Trắng đôi tà áo, chân ngoan đến trường.
Có ai níu giữ mùi hương
Sầu đông tim tím ngát đường tuổi hoa.
Có ai đếm bước chân thơ,
Cột từng sợi gió cho mưa thưa về.
Hạt mưa bụi, vạt tóc thề,
Nhẹ nâng guốc gỗ bên lề phố xưa.
Ngày xưa, Quảng Trị ngày xưa
Mộng đời yên ả trong mùa chiến chinh.
Đường phượng hồng, dòng sông xanh,
Hàng dương gọi gió ru tình hồn nhiên.
Bến xưa bờ cỏ non hiền,
Bước cao bước thấp…một miền tuổi thơ.
Trời cho nắng, trời cho mưa,
Tôi cho tôi nhớ ..ngày xưa của mình.
Võ Thị Nguyên.

Lời Bình: Châu Thạch
Võ Thị Nguyên là đồng môn, là bạn facebook của tôi. Tôi chưa gặp Võ Thị Nguyên lần nào, nhưng có lẽ chúng tôi đã xem nhau là anh em thân tình.
Hồi còn nhỏ, cứ mỗi lần thấy một trái bông gòn nổ bộp trên cao và hàng ngàn cánh trắng tỏa xuống, bay phấp phới trong gió, lòng tôi lại nao nao một niềm vui, như thấy an lành trong tâm hồn. Bây giờ mỗi khi đọc thơ Võ Thị Nguyên, cảm tưởng ấy lại trở về trong tôi. Tôi gọi thơ Võ thi Nguyên là “những cánh hoa trắng, đẹp như những cánh bông màu trắng, nhẹ nhàng bay lửng lờ trong gió “
Đọc bài thơ “Tôi Cho Tôi” của Võ Thi Nguyên có lẽ ít người tâm đắc nếu chưa từng sống trong một thị xã mà chúng tôi đã sống, thị xã Quảng Tri trước ngày bão lửa năm 1972. Chiến tranh đã tàn phá thị xã thành ra bình địa. Chúng tôi thương nhớ ngôi trường đã học, thương nhớ ngôi nhà đã ở, thương nhớ con phố đã đi và thương nhớ những kỷ niệm còn trong ký ức. Thế nhưng sự thương nhớ trong thơ Võ Thị Nguyên không làm rơi nước mắt. không co thắt con tim, mà nó như một cơn gió thoảng, mang hương thơm từ qua khứ bay về, tỏa ra ngào ngạt trong không gian cao rộng. Mùi hương kỷ niệm khiến ta ngây ngất, cho tâm hồn êm đềm bay về quá khứ, như đi trong một giấc thụy du!
“Trời cho nắng trời cho mưa/Tôi cho tôi nhớ ngày xưa của mình” nghĩa là Võ Thị Nguyên nhớ về quá khứ luôn luôn, trong tất cả thời tiết và trong cả bốn mùa.
Chỉ đọc hai câu thơ nầy ta đã cảm nhận nỗi nhớ trong lòng tác giả luôn luôn có, tràn ra không gian, tỏa trong thời gian và thời tiết dầu nắng mưa hay gió bão đều trở nên đẹp tất cả vì nó đều mang hình bóng ngày xưa, phản ảnh tháng ngày qua trong quá khứ. Thế rồi:
Ngày xưa tóc mây hoe vàng
Trắng đôi tà áo, chân ngoan đến trường
“Tóc hoe vàng” vì được biết cả nhà tác giả đều có màu tóc hoe vàng. Cô nữ sinh có mái tóc hoe vàng đó học trường Nguyễn Hoàng, mặc áo trắng, đi về ngày hai buổi dưới chân bóng cổ thành. Câu thơ làm tôi nhớ đến bài thơ “Quê Hương Điều Tàn” của Nguyễn Đức Quang có mấy câu sau đây:
“ Quê Hương anh là Quảng Trị
Nhà của anh bên dòng sông Thạch Hãn
Và xưa đó anh học trường Nguyễn Hoàng
Ngày hai buổi đi về đường Quang Trung
Và chiều chiều trên con phố buồn hiu
Cùng người yêu anh buông lời hẹn hò”
Bây giờ nếu ta đổi nhân vật, anh thành em, thì cuốn phim ngày xưa với mái tóc hoe vàng, với áo trắng, với guốc mộc mà tác giả dựng lại trong những câu thơ sau đây thật vô cùng diễm xưa và vô cùng thắm thiết:
Có ai níu giữ mùi hương
Sầu đông tim tím ngát đường tuổi hoa.
Có ai đếm bước chân thơ,
Cột từng sợi gió cho mưa thưa về.
Hạt mưa bụi, vạt tóc thề,
Nhẹ nâng guốc gỗ bên lề phố xưa.
Tác giả hỏi “Có ai níu giữ mùi hương” nghĩa là không có ai cả, vì mùi hương là vô hình không ai giữ được. Thế nhưng khi tác giả hỏi “Có ai níu giữ thời gian” thì ta hiểu chính tác giả đã níu giữ được cả mùi hương, cả thời gian tâm lý trong tâm hồn mình nhiều năm tháng đã qua. Bởi thế tác giả tiếp tục nhắc lại những kỷ niệm của một thời đi học: Con đường có hoa sầu đông màu tím, mưa bụi, tóc thề và guốc gỗ.
Hai câu thơ “Có ai đếm bước chân thơ/Cột từng sợi gió cho mưa thưa về” cho ta hình ảnh ảnh những chàng trai lẻo đẻo theo gót chân nàng trong những buổi chiều mưa bụi trên tóc thề em. Chắc chắn chàng sẽ vái trời đừng mưa lớn để có thể theo em cho đến tận nhà. Vậy là chàng “cột gió” bằng sự van vái trong lòng mình. Chàng đi theo sau, nhìn từng sợi tóc nàng bay lất phất trên đôi bờ vai thon, trên cổ trên gáy nỏn nà, lòng mong ước gió đẩy mưa đi, để từng sợi tóc kia đừng ướt. Biết đâu trời sẽ thương chàng không mưa lớn, và chàng đã “cột được” “từng sợi gió” bằng tình yêu của mình.
Bằng sáu câu thơ xúc tích ở trên, Võ Thị Nguyên đã hiển thị trong mắt ta quá khứ bằng phim đen trắng, mơ hồ mà lung linh, khiến ta cảm nhận được tất cả chính mình trong đó.
Bây giờ, qua khổ thơ tiếp, tác giả mới nói rõ địa danh, không gian, thời gian nơi mình đã sống, nơi tuổi thơ êm ái và nơi để lại cho mình nỗi nhớ êm đềm:
Ngày xưa, Quảng Trị ngày xưa
Mộng đời yên ả trong mùa chiến chinh.
Đường phượng hồng, dòng sông xanh,
Hàng dương gọi gió ru tình hồn nhiên.
Bến xưa bờ cỏ non hiền,
Bước cao bước thấp…một miền tuổi thơ.
Hai câu thơ mà tôi thích nhất trong khổ thơ nầy là hai câu “Đường phượng hồng, dòng sông xanh/ Hàng dương gọi gió ru tình hồn nhiên” cho tôi nhớ lại trọn ven con đường Gia Long ngày xưa chạy dọc theo bờ sông Thạch Hãn.
Tứ thơ hay nhất trong khổ thơ nầy là tứ thơ “Mộng đời yên ả trong mùa chiến chinh”, một tứ thơ nghịch lý nhưng là sự thật mà ai cũng cảm nhận được nhưng không ai đưa vào thơ cả.
Cuối cùng nhà thơ nhấn mạnh lại bằng hai câu thơ vào bài để người đọc cảm nhận hoàn toàn nỗi nhớ thương triền miên nhưng êm ái trong lòng tác giả. Nỗi nhớ đó phát xuất từ tình yêu một quá khứ vàng son, hằng hữu trong tâm hồn, vĩnh viễn không quên:
Trời cho nắng, trời cho mưa,
Tôi cho tôi nhớ ..ngày xưa của mình
Mỗi lần nhìn ảnh Võ thị Nguyên ngồi trên chiếc xe lăn, chung quanh là hoa, chung quanh là bạn bè, người thân, đồng môn, đồng nghiệp, văn thi sĩ từ phương xa về thăm, lòng tôi lại nao nao như thấy một phụ nữ ngồi giữa “Vườn trong trẻo vô biên và quyến luyến” như Hàn Mạc Tử đã nói về người thơ vậy. Mà thật thế, thơ của Võ Thị Nguyên là tiếng thơ trong trẻo vô biên và quyến xuyến vì nó phát từ con tim quyến luyến, từ tâm hồn trong trẻo và từ sự vô biên của đất trời mà thành thơ. Thơ ấy chỉ có hương của hoa thiên nhiên, chỉ có vị của mật từ loài ong tinh khiết, và cho ta thụ hưởng thanh âm êm đềm qua tiếng thơ êm ái!!!
Châu Thạch

ĐỌC THƠ CỔ NHỚ NGƯỜI XƯA: LÝ THUỜNG KIỆT

Nguyên Lạc

ban dap lap

ĐỌC THƠ CỔ: NAM QUỐC SƠN HÀ
.
1. Bài cảm xúc 1

“Kẻ sĩ phương Nam ai đâu hở ?
Trực chỉ theo ta phận má đào
Biển Đông ngày hội non sông mở” [*]
Cùng giữ giang sơn hỡi đồng bào
.
1.
Kẻ sĩ phương Nam ở nơi nào?
Rượu bia bóng đá luận anh hào!
Khóc la mê đắm ca sĩ lạ!
Quên mất cha ông đổ máu đào!
.
Kẻ sĩ phương Nam ở nơi nào?
Tào lao ngất ngưởng hút thuốc lào!
Biệt phủ bồ đào quên nhiễu sự
Đâu biết ngư dân khổ thế nào!
.
2.
Kẻ sĩ phương Nam vẫn thét gào
Chỉ vào giặc Bắc nước của tao
Nghịch ý trời phân, bây dám phạm
Toi đời, tiêu mạng với dân tao
.
“Nam quốc sơn hà Nam đế cư
Tiệt nhiên định phận tại thiên thư
Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm
Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư” [**]
.………….
[*] Thơ Phạm Thanh Vân
[**] Nam quốc sơn hà – Lý Thường Kiệt
.
2. Bài cảm xúc 2
.
Khóc đợi bao năm mà trời chưa sáng!
Mù bấy nhiêu năm chưa thấy bình minh!
Buồn lòng thay thảm cảnh quê mình
Ai thục nữ anh hùng? Hãy cùng dựng xây đất nước!
.
Đừng ngồi đó gục đầu sướt mướt
Hãy xăn tay bồi đắp sơn hà
Hãy nhớ ơn xương máu ông cha
Quyểt giữ vẹn cơ đồ tiên tổ?
.
LÝ THUỜNG KIỆT

1. Tiểu sử:
Lý Thường Kiệt (1019 – 1105) là một nhà quân sự, nhà chính trị rất nổi tiếng vào thời nhà Lý nước Đại Việt. Ông làm quan qua ba triều Lý Thái Tông, Lý Thánh Tông, Lý Nhân Tông và đạt được nhiều thành tựu to lớn, khiến ông trở thành một trong hai danh tướng vĩ đại nhất nhà Lý:
Ông nổi bật với việc chinh phạt Chiêm Thành (1069), đánh phá 3 châu Khâm, Ung, Liêm nước Tống (1075-1076), rồi đánh bại cuộc xâm lược Đại Việt của quân Tống do Quách Quỳ, Triệu Tiết chỉ huy (1077). Ông đã làm tể tướng hai lần dưới thời Lý Nhân Tông và là một trong 3 người phụ chính khi vua này còn nhỏ tuổi. Năm 2013, Bộ Văn hóa, Thể và Du lịch liệt ông vào trong những 14 vị anh hùng dân tộc tiêu biểu nhất trong lịch sử Việt Nam.

2. Bài hịch/ thơ Nam Quốc Sơn Hà
Năm 1076, (tức đời Tống Hy Ninh năm thứ 9). Mùa xuân, tháng 3, nhà Tống sai viên tướng sừng sỏ Quách Quỳ đem quân sang xâm lấn nước ta; hợp với quân Chiêm Thành và Chân Lạp ba mặt giáp công.
Tại sông Như Nguyệt, Lý Thường Kiệt dùng một diệu kế: Ông kỷ lưỡng chọn một ngôi miếu vốn nổi tiếng linh thiêng, “đền thờ thần sông ” nằm ở phía nam sông Như Nguyệt – đền thờ hai vị anh hùng Trương Hát & Trương Hống, vốn là hai võ tướng dưới thời Triệu Quang Phục – đọc bài Hịch/ thơ “Nam Quốc Sơn Hà” – bài thơ đã được xem là tuyên ngôn độc lập đầu tiên của đất nước. Hơn một ngàn năm trôi qua bài thơ vẫn còn và sẽ còn tồn tại mãi, không bao giờ đi vào quên lãng trong hồn người Việt.
Thật là một diệu kế của một danh tướng. Trong thế trận tưởng đã nghiêng về phía quân Tống, bổng đảo chiều khi binh sĩ nghe bài thơ phát ra từ miếu thần.
.
” Một đêm quân sĩ chợt nghe ở trong đền của Trương tướng quân là thần sông Như nguyệt, có tiếng đọc to rằng:
Nam quốc sơn hà Nam đế cư
Tiệt nhiên phân định tại thiên thư
Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm?
Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư!
.
Dịch thơ:
(Núi sông nước Nam thì vua Nam ở
Cương giới đã ghi rành rành ở trong sách trời
Cớ sao lũ giặc bạo ngược kia dám tới xâm phạm?
Chúng bay hãy chờ xem, thế nào cũng chuốc lấy bại vong
Nam quốc sơn hà – Lý Thường Kiệt)
.
Khí thế quân Nam trở nên bừng bừng như có thần nhân hổ trợ, Tống quân bị tổn thất nặng nề. Quân Tống tiến thoái lưỡng nan từ dạo ấy. Lý Thường Kiệt đề nghị giảng hòa nhằm giảm sự khổ đau cho nhân dân. Quách Quỳ thấy kéo dài là sẽ thua nên thuận lui binh. ” [Theo Laiquangnam và Wikipedia]
.
Nhân đọc lại dòng thơ cổ yêu nước, tôi đốt 3 nén hương trầm để tưởng nhớ đến người xưa, đến công ơn của tiền nhân đã đổ ra biết bao xương máu để xây dựng và bảo vệ nước nhà.
.
Nguyên Lạc

VƯỜN ĐÊM

VÕ CÔNG LIÊM

 

29cw2v5

cây lá ôm lòng đau
những cánh hoa rũ xác
nằm tê liệt chờ trăng
sao rơi lẻ loi
giữa đêm buồn độc chiếc
ngày nắng úa
buốt lạnh
vườn đêm
cây
trèo
lên
tới
đọt
trăng xoa
vào hồn
ngọn phong ba bủa vây
xé đêm từng mảng nhỏ
cánh hoa uất kim cương
vật vã trước gió đùa
đêm thao thức
nhớ trăng xưa cùng tuyết nguyệt
dưới mái hiên nhà
nắng chẻ hai hàng nắng chẻ đôi
đêm vụt tắt
những cánh hoa bẻ gió
thị giác mờ hơi sương
đêm nghe mưa
như cẩm sắt* réo rắt cung thương
mà nhớ xưa áo nâu chàm dưới trời áy náy sao khuya
vườn đêm nghe thăm thẳm xa đưa trời đã dậy
mà hồn thì vất vưởng theo mây về gió cho sáng mai
nắng không về nắng sáng vườn cây để hoa thêm mướt
dưới lòng đất lã chã tiếng khua đêm trở mình
căn nhà ố màu hoen biến chất từ dạo ấy
mưa gió điên cuồng thổi không mệt mỏi
trong huyệt mộ hồn vọng lại ngàn xưa
thuở sinh thời đội nắng che mưa cho cây lá xanh um
vườn đêm đi vào cõi lặng
rơi vào thế kỷ trước
những chiếc lá vàng thu
trở mình giấc mơ cũ
giữa vườn đêm ngập tiếng hoang ca

đưa tay sờ không gian ngoài đó
đám siêu vi phất phơ trở gió
mùa dịch hút cạn mắt đời xưa
nằm phơi cánh gió giữa đêm hè ./.

VÕ CÔNG LIÊM (ca.ab.yyc. đầu tháng 7/2020)

* cẩm sắt (không phải cầm sắt) Cẩm: là gấm. Sắt: là đàn. Cẩm sắt một loại đàn 25 dây.

ĐỌC THƠ CỔ NHỚ NGƯỜI XƯA: ĐẶNG DUNG

Nguyên Lạc

tranh 1=dang dung

Tranh của Trần Duy Thuận

ĐỌC THƠ CỔ: CẢM HOÀI
.
1. Bài cảm xúc 1
.
Phí chi bút mực anh hùng luận?
Ai người nước Việt hãy cùng ta
Nói chi cho lắm mòn chữ nghĩa?
Xăn áo cùng nhau giữ sơn hà!
.
“Quốc thù vị báo đầu tiên bạch,
Kỷ độ Long Tuyền đới nguyệt ma” *
“Đầu bạc giang san thù chưa trả” **
Mấy độ mài gươm dưới trăng tà
.
Ngàn năm vẫn nhớ lời thơ cổ
Rạng đấng hùng anh của nước nhà
Hoài Cảm Đặng Dung lời thê thiết
Nén trầm tôi kính … mắt lệ nhòa!
………..
* Câu thơ trong bài Cảm hoài – Đặng Dung
** Tản Đà dịch
.
2. Bài cảm xúc 2
.
“Quốc thù vị báo đầu tiên bạch,
Kỷ độ Long Tuyền đới nguyệt ma”
.
Dưới trăng mài kiếm Long Tuyền
Mài luôn cho bén lời nguyền nước non
Thề rằng quyết giữ vẹn toàn
Giang sơn gấm vóc mãi còn thiên thu
“Tiệt nhiên định phận thiên thư” +
Kiếm này ta chém giặc thù xâm lăng!
………
+ Nam Quốc Sơn Hà – Lý Thường Kiệt
.
PHÂN TÍCH HAI CHỮ ANH HÙNG

“Anh” trong “anh hùng’ có nghĩa là tốt đẹp, tài hoa hơn người, kiệt xuất, xuất chúng. Nghĩa gốc của chữ “anh” là loài hoa đẹp nhất.
Còn “hùng” trong “anh hùng” có nghĩa là người dũng mãnh tài giỏi, siêu quần, kiệt xuất
Anh hùng: Nhân vật phi phàm xuất chúng, chỉ người có kiến giải, tài năng siêu quần xuất chúng.
.
ĐỊNH NGHĨA ANH HÙNG
“Anh hùng là hành động của một người vì đại cuộc không xem sự sống chết của mình là quan trọng tuyệt đối, sống vì tha nhân, hy sinh vì dân tộc, cho dù có phải chết thì vui lòng đón nhận. Khi bàn đến hai từ “anh hùng” thì ý niệm thành công không nằm trong thuộc tính định nghĩa cho từ đó. Thử tra hai từ Heros trong các bộ Encyclopedia thì biết. Đông Tây đều định nghĩa như thế” (Laiquangnam)
.
LUẬN ANH HÙNG
Ta thử luận về vài nhân vật nổi tiếng được cho là anh hùng:
.
1. Kinh Kha
– Nhân vật Kinh Kha này ai cũng biết qua việc hành thích Tần Thủy Hoàng. Nhân vật này thường được nhiều người Việt nhắc đến, ca tụng trong nhiều bài văn thơ. Suy gẫm chuyện Kinh Kha, tôi thấy ông ta đâu phải là người anh hùng.
Nguyễn Du đã chê bai: Kinh Kha đi thích khách Tần Thủy Hoàng chỉ vì có người biết đến mình và vì sự đối đãi thừa mứa. Kinh Kha chỉ là một con rối, hành động không vì tấm lòng trung dũng (diệt kẻ tàn bạo, phò người đức độ), đâu có hy sinh vì dân tộc, mà hành động chỉ vì sự mua chuộc và kích động của người khác.
Đây là trích đoạn bài thơ chữ Hán của Nguyễn Du, phần chê bai Kinh Kha.
.
Thần dũng nghị nhiên duy độc quân.
Đồ đắc Điền Quang khinh nhất vẫn.
Khả liên vô cô Phàn Ô Kỳ,
Dĩ đầu tá nhân vô hoàn thì.
Nhất triêu uổng sát tam liệt sĩ,
Hàm Dương thiên tử chung nguy nguy.
(Kinh Kha Cố Lý– Thơ chữ Hán Nguyễn Du)
.
Dịch thơ
Liều thân chỉ vì kẻ biết mình,
Huống được Điền Quang tự đâm cổ.
Khá thương Phàn Kỳ chẳng tội chi.
Đem đầu cho mượn chẳng hoàn gì.
Một sớm chết oan ba liệt sĩ.
Hàm Dương, Thiên tử vẫn uy nghi.
(Nhất Uyên dịch)
.
Kinh Kha là nhân vật Tàu, người Tàu có ca tụng hay không là chuyện của họ; tại sao ta là người Việt mà lại ca tụng, vinh danh?!
– Anh hùng là như Đặng Dung của VIỆT NAM ta đây, ta hãy thử luận bàn về nhân vật này.
.
2. Đặng Dung
Đặng Dung (1373 – 1414) con trai của Đặng Tất. Ông là tướng lĩnh của vua Trùng Quang Trần Quý Khoáng – nhà Hậu Trần trong lịch sử Việt Nam.
Theo Đại Việt sử ký toàn thư:
Các vị anh hùng -dưới sự lãnh đạo của Đặng Dung đã đánh nhau ròng rã trên dưới bảy năm (1407-1413) với 80 vạn quân dân binh Minh do Trương Phụ đẫn đạo xâm lấn Việt Nam, một binh lực hơn hẳn mình nhiều lần
.
“Chuyện khó tin trong binh sử thế giới, trường hợp hy hữu này duy chỉ có trong quân sử Đại Việt. Khi vị tướng tư lệnh lại là cầm đầu toán người nhái cảm tử rất gọn nhẹ đánh thẳng vào sào huyệt kẻ tử thù. Tháng 8/1413, được biết quân Trương Phụ vào đến Thuận Hóa, và kéo binh tập kết vào ngã ba sông này để tổ chức cuộc săn đuổi vua quan Hậu Trần đang đóng quân ở trên bờ; quan thái phó Nguyễn Súy và quan đại tư mã Đặng Dung nửa đêm chia quân đến đánh Trương Phụ. Quan thái phó Nguyễn Súy dùng thuyền nhẹ đánh nghi binh, giặc Minh trào về phía Nguyễn Suý, và thừa lúc đó Quan tư mã Đặng Dung lao mình xuống nước trước, hơn mươi chiến sĩ cảm tử quân lao theo sau. Họ bơi nhanh về phía thuyền lớn nhất, sáng nhất trên sông. Từ dấu hiệu của Đặng Dung, bọn họ leo lên được thuyền của Trương Phụ, dùng đoản đao thịt lẹ các tên lính trên sàn. Họ nhào vào tên mập mạp nhất, phương phi nhất và đã bắt sống tên này, lôi y xuống nước. Y la lên. Do vì không biết thường ngày tên Trương Phụ mặc quần áo gì, do chưa thấy mặt kẻ thù lần nào, nên họ đã bắt lầm. Thừa cơ Trương Phụ lập tức nhảy xuống sông lấy cái thuyền con mà chạy thoát.”(Laiquangnam)
Đánh nhau ròng rã trên dưới bảy năm (1407-1413) với một binh lực hơn hẳn mình, có lúc quân đội Đặng Dung cũng đã thắng nhiều trận lẫy lừng, nhưng dài hơi thì cuộc đọ sức đã không cân sức. Than ôi! ông đã bại trận! Trên đường bị bắt đưa về Yên Kinh ( Bắc Kinh ngày nay) để làm nhục, vua tôi Đặng Dung đã ca hát như không có chuyện gì xảy ra, thắng bại là lẽ thường tình đối với người tráng sĩ một khi họ đã toàn tâm toàn ý, hết lòng, hết sức vì dân tộc. Đặng Dung, trong vai trò lãnh đạo cuộc kháng chiến, đã ngâm cho vua tôi nghe bài thơ Cảm Hoài này, vừa ngâm vừa gõ nhịp xuống ván gỗ thuyền, cùng vui và sẵn sàng đón nhận mọi sự trả thù tàn bạo của kẻ thù. Trên đường bị giải về Yên Kinh, Trung Quốc ông và vua Trùng Quang đã nhảy xuống sông tự vẫn.
Qua các điều trên, rõ ràng ta thấy Đặng Dung mới xứng đáng hai chữ anh hùng
.
3. Bài thơ Cảm Hoài
Đây là bài thơ Cảm Hoài (Nỗi niềm hoài bão) của Đặng Dung.
Bài thơ này là một bản anh hùng ca mang tâm trạng về thế sự, trong ấy thể hiện rõ phong cách của người tráng sĩ, người anh hùng trong cơn quốc nạn. Lý Tử Tấn, một học giả thời Lê, tác giả Chuyết Am văn tập, khi đọc bài thơ này đã hết lời ca tụng người sáng tác ra nó là “phi hào kiệt chi sĩ bất năng” (không phải là kẻ sĩ hào kiệt thì không thể sáng tác được như vậy).
.
Cảm Hoài
.
Thế sự du du nại lão hà
Vô cùng thiên địa nhập hàm ca
Thời lai đồ điếu thành công dị
Vận khứ anh hùng ẩm hận đa
Trí chúa hữu hoài phù địa trục
Tẩy binh vô lộ vãn thiên hà
Quốc thù vị báo đầu tiên bạch
Kỷ độ Long Tuyền đái nguyệt ma.
.
Tạm dịch nghĩa:

Nối Niềm Hoài Bảo

Thế sự mang mang lại tuổi già
Thiên hạ thì vô cùng hãy nhập vào mà hát hàm ca
Thời đến bọn đồ tể, bọn câu cá cũng thành công dễ dàng
Thời qua anh hùng cũng đành nuốt hận
Hết lòng vì chúa có hoài bão xoay trục đất
Rửa giáp binh không lối kéo ngược dòng sông ngân hà
Thù nước chưa báo thì đầu bạc trước
Bao thời qua đội trăng mà mài kiếm long tuyền.
.
Vua Lê Thánh Tôn có tặng cho dòng dõi họ Đặng hai câu thơ:
Quốc sĩ vô song, song quốc sĩ
Anh hùng bất nhị, nhị anh hùng
.
Nhân đọc lại dòng thơ cổ yêu nước, tôi đốt 3 nén hương trầm để tưởng nhớ đến người xưa, đến công ơn của tiền nhân đã đổ ra biết bao xương máu để xây dựng và bảo vệ nước nhà.
.
Nguyên Lạc
…………….
@ Mờii đọc :
– Đặng Dung với Cảm Hoài, phần 1
http://www.art2all.net/tho/laiquangnam/lqn_dangdung_p1.htm
– Niệm Đặng Dung của Phạm Ngọc Lư
http://www.art2all.net/chantran/chantran_tho/phamngoclu/niemdangdung.html

BÍ TRUYỀN CỦA THIỀN

VÕ CÔNG LIÊM

vcl thieu nua toc ngan

Tranh Vẽ Võ Công Liêm: Thiếu Nữ Tóc Ngắn / Young girl with Short Hair’

 

‘Một ngày nào có kẻ như ta nhưng không phải là ta’
(Cổ Đàm Phật Thích Ca)

Nhu cầu trí tuệ không bao giờ ngưng nghỉ. Quả vậy; với một kinh nghiệm nhỏ nhoi thì chắc chắn kinh nghiệm này không thể bao quát mà nhìn thấy trí tuệ của con người và quan sát vào đó để làm thế nào phát hiện những điều mới lạ, hữu ích đối với người tu tập về Thiền. Đây là một tác động mới và khai phá một tư duy mới, tìm hiểu một cách chính xác về cái ‘đạo’ mà không đi qua một sự tôi luyện công phu mà gần như một chủ động ở chính mình và tự kiểm soát ở chính mình. Cái sự cớ này thường hay xẩy ra khi đứng trước ngưỡng cửa của Thiền và cứ thế mà giao động tâm tư như một câu hỏi rằng mình đã ‘chứng ngộ’ để đi vào Thiền hay giữa trạng huống đó đã làm mê hoặc và kinh ngạc trước đối tượng tu tập về Thiền. Rứa thì trong Thiền có gì huyền nhiệm về nó –The Mystery of Zen để đạt tới chân truyền?
Dữ kiện này đã đưa con người tới một nhận thức cho một quyết định dứt khoát trước hoàn cảnh dấn thân; cái đó là tầm nhìn vào thời gian và không gian, là thiết thực quan trọng của việc làm (hành động) với một hiệu năng đặc biệt hơn. Bí truyền về Thiền khởi động từ công án, từ kinh điển hoặc từ kệ để nhập Thiền? Không! nhập Thiền là tuệ giác, là đi tới chân như tánh không; nghĩa là vượt thoát nhập vào vũ trụ như nhiên tức đi vào cõi tịnh để nhập định không còn thấy mình giữa ngoại giới và nội giới; nhờ đó mới có một nhận thức nhất quán về Thiền.Tâm như trong bóng không còn vướng dù là hạt bụi. Cái đó là bí truyền. Cho một thí dụ khác trong cách xử thế về Thiền : một thức giả sống ở Nhật học tập về cách xử dụng cung tên, kiếm thuật thời làm thế nào để luyện trí mà trong cách hành xử có thể cho ông ta hiểu được bí truyền giáo điều của Thiền qua từng giáo phái Thiền Phật giáo –To understand the esoteric doctrines of the Zen sect of Buddhisms. Chính cái đó là thâm hậu cho một tư tưởng nhập cuộc; cho nên chi nói đến Thiền là cả công phu về trí và thân cả hai cơ cấu hữu cơ đó là vận hành cho việc nhập thiền một cách rốt ráo. Đúng như rứa; vì những gì của Thiền là những gì xa lạ đến với đời sống chúng ta và đó cũng là điều mà chúng ta muốn biết tới và nhất là ở Nhật việc tu tập Thiền không còn là cái đạo mà là nghệ thuật (Zen in the Art). Thiền Phật giáo không những chỉ tìm thấy những gì huyền nhiệm trong kinh điển, đặc biệt ở Đông phương mà còn là một giáo phái khai mở trí tuệ tới đỉnh cao, một khám phá mới và chắc chắn là một trong những phép tu tập khó khăn để đạt đến. Một lý thuyết không thể trải rộng để phân tích lý sự có dính líu tới trí tuệ, sự kiện đó thường là một tương quan bình thường giữa sư và đệ tử là việc giản đơn không có chi xa lạ đối với giáo phái, bởi; thiền sư cảm thấy vô dụng để giải thích từng giai đoạn một và biện minh về những gì có thể thông đạt được qua từng giáo lý. Cái gọi là bí truyền Thiền ngay cả người tu tập cũng đã thấy được cái huyền nhiệm bao la vi diệu của Thiền. Bí truyền của Thiền là học về những gì nghệ thuật tu tập là nói lên những gì về nó. Tức là cảm thức được Thiền. Cảm thức đó không bao giờ dừng lại trước một hiện hữu vật thể. Con cóc nhảy vào bờ ao là con cóc nghe và nhận được tiếng động của sóng nước trong tĩnh lặng. Người tu Thiền và con cóc là một cảm thức dự cuộc đồng hóa. Đứng trước hoàn cảnh này cho ta một ý niệm về cái chân như Thiền; bất kể là giáo phái nào nhập thiền là ‘Phá’ và ‘Chuyển’; cho nên chi Thiền đi vào thanh tịnh là ở chỗ đó. Thật ra Tổ sư Thiền (Zen Master) không lấy Pháp để truyền đạt mà phải thấy được Tánh trước khi nói đến Thiền, bởi; đốn được thiền không phải đi qua giáo điều mà nhìn vào thiền như thực chứng thời mới ngộ được thiền: ‘Nhất thiết tu đa la giáo như tiêu nguyệt chỉ’ tất cả giáo điều chỉ là ngón tay chỉ trăng. (Kinh Viên Giác). Nói như rứa Thiền không phải là ‘đạo’?-Thiền không có kinh điển để rao giảng, Thiền là một trong những thứ nghệ thuật vĩ đại trong cuộc sống. Có lẽ vĩ đại nhất mà không học qua một ai. Thiền không môn đăng hộ đối. Thiền đến bất cứ lúc nào, thời nào Thiền cần có. Đạo của Thiền là không có khởi đầu và không có kết thúc. Càng đi sâu vào Thiền càng thấy bí tỉ để rồi trở nên phán đoán qua giòng ý thức (the irrational functions of consciousness) nghĩa là dựa trên cảm quan (sens du reel). Rứa cho nên chi thấy được Thiền tức chấp nhận với Thiền cái nghịch lý của nó: ‘Một trong Tất Cả và Tất Cả là Một’ là trạng huống hoàn toàn mang tính xúc cảm. Cái quan trọng trong bí truyền Thiền là Tuệ-giác (Prajnã chữ của Sanskrit) ngoài ra chả tìm thấy gì trong cửa Khổng sân Trình mà chỉ thấy cửa Không của Thiền là tuệ-giác tức là Ngộ (Satori chữ của Nhật).Theo nghĩa Phạn ngữ còn có tính chất không sợ không than oán ‘sans peur et sans re-proche’. Nhưng nhớ cho phân biệt giữa cái này với cái kia, giữa tốt và xấu, giữa giữa là chấp trượt vì chấp trượt là phá luật Thiền thêm phiền não thì không thể định-thiền (meditation). Đòi hỏi của Thiền là Ngộ để thức tỉnh, khống chế cái vô thức để có hữu thức. Bí truyền của Thiền là chứa đựng những gì thuộc về phân tâm học (Freud và Jung) những vấn đề tâm thức tâm lý cấu tạo nên vô thức chuyển sang ý thức là mục tiêu thuộc tâm thức của Thiền. Tổ sư Thiền chỉ rao giảng hầu hướng tới tâm bình đẳng và ám chỉ sự việc ở tận thâm cung của giáo điều, của kinh kệ Thiền Phật giáo mà thôi, chớ không ngoài một mục đích nào khác hơn. Nhờ đó người ta hiểu được giá trị tối thượng của giáo điều không riêng về mặt luân lý đạo đức nhưng đưa con người đi vào hiện hữu. Trong bất cứ định hướng nào đều có chứa bí truyền của Thiền –Any rate had solved the mystery of Zen. Giáo điều của Thiền không thể nào phân tích từ cái-không; mà nó phải sống thực –The doctrine of Zen cannot be analyzed from without: it must be lived. Nhưng cho dù điều đó không thể phân tích được, Thiền xử dụng ám ngữ để giải thích mà thường bắt gặp ở công án hay trong đối đáp mà ra. Nói bóng gió chính là tín điều cho chúng ta nhận thức về một duy lý thích thú và thiết thực hơn là rao giảng luật tắc. Như đã nói ở trên bí truyền của Thiền là vượt thoát, là thức tỉnh để không còn luẩn quẩn, vu vơ mà làm hư hại cho một tâm thức nhận biết về những gì thanh cao diệu vợi, trong sáng giữa tâm và thân. Người tu Thiền với trọng tâm là giải thoát để đi tới toàn thiện tính năng. Tuy nhiên hướng tới Thiền thời bắt gặp những kỳ bí, những gì không nhận biết một cách đặc biệt và cũng chưa hẳn để phải quên. Gom lại với nhau; Thiền đưa dẫn chúng ta hướng tới lẽ sống của cuộc đời là nhìn đời một cách như nhiên, thế nhưng; trong Thiền vẫn có một sự mê hoặc sâu lắng và chứa đựng một vài giá trị riêng biệt mà chúng ta phải quan tâm đến nó. Nguyên nghĩa của Thiền là trầm tư. Một tư duy chính của giáo phái Phật giáo. Ngần ấy thôi; nhưng chắc chắn nó có một giá trị độc nhất và một tinh thần cao đẹp. Bởi; nó đã phát sinh ra một chất lượng nghệ thuật cao, khác biệt hơn mọi khác biệt, nhất là bộ môn hội họa; vì vẽ là trầm tư với hình tượng –To paint is to meditate upon forms trong thể chủ động thuộc trí tuệ để nhìn thấy được sự vật của ngoại giới thời mới du nhập vào nội giới (là phát tiết, là sáng tạo trong tư duy bừng sáng). Lối nhận thức của thiền và lối nhận thức của người họa sĩ là một. Răng rứa? –Là cái nhìn trực chỉ chân tâm, có thể nói đó là cái-bên-trong. Nói theo Suzuki là trạng huống vô thức, một thứ vô-thức-vũ-trụ. Một vô thức đồng hóa chân thành của người nghệ sĩ. Vô thức theo nghĩa Thiền là cái huyền nhiệm, cái ‘vô tri’ siêu lý chính vì thế có tính cách phi-khoa-học hay còn gọi là tiền-khoa-học là đòi hỏi một sự tôi luyện ý thức. Vô thức của họa sĩ là Cảm: là nền tảng dựng nên hiện thể trước mắt. Cái thấy chưa phải là đủ để nhận biết, người họa sĩ phải sống bằng tâm thật trong đời mình đang sống…Nhiều lúc cho người họa sĩ là vị-ngã. Thứ vị-ngã không nắm bắt được, cái thứ bất-khả-đắc ‘anupalabdha’(Phạn ngữ).Ngã vừa đức lý và tâm lý. Nếu chúng ta biết một vài điều về Phật giáo thời chúng ta có thể nói rằng Thiền đến gần với những giáo phái khác. Tuy nhiên; có một vài điều lệch lạc trong cuộc sống của Thiền nghĩa là có một năng lực tác động về hành xử, có một cái gì gay go hoặc mơ hồ, lộn xộn như vồ chụp mà trên thực tế cần phải tránh xa, có một vài điều giống như bỡn cợt…Trong cảm thức này; tĩnh lự / meditation không có nghĩa là những gì chúng ta thường nghĩ tới cho những nhà tư tưởng là trầm lắng để mới có những phân tích hiện thực, một cái gì bao che cho tôn giáo và đạo đức. Có nghĩa là một vài điều không thể phân chia, nhưng cho tất cả. Không có hệ thống, nhưng có tổ chức. Không dài dòng văn tự (long-drawn-out), nhưng tức thì. Có nghĩa rằng những thứ đó gần giống như từ ngữ mà ta gọi là ‘tri giác / intuition’ và ‘nhận thức / realization’. Cũng có nghĩa là con đường của cuộc đời mà trong đó không có một phân đoạn luận giữa tư duy và hành động; không còn là vực thẳm của đau khổ; như vậy cho ta hiểu biết tất cả những gì thuộc về của chúng ta, giữa trí tuệ vô thức và hữu thức và không còn phân biệt tuyệt đối giữa ngã thức và vũ trụ bên ngoài dù cho giữa những khác biệt từng phần của vũ trụ vô cùng và những gì thuộc vế tất cả. Sự quan hệ của sư và đệ tử rất quan trọng, gần như thiêng liêng; nhất là ở Viễn Đông, và; đệ tử khó lòng nghĩ đến việc rời xa sư hoặc thể hiện thái độ qua những phương thức của sư đưa ra. Tuy vậy; ở đây vẫn xem là việc phi thường mà đệ tử tuồng như nhận ra được. Những môn sinh trẻ tuổi không ở đối tượng hiện thể để có một trí tuệ bừng dậy, một ý thức khôn khéo (wisdom) để đối đáp một cách tức thời mà đưa vào hành động phục dịch để có ý niệm nhận thức giữa tâm và thức ở chính mình: bửa củi, lặt rau, gánh nước, quét sân, nấu ăn… là huấn nhục để thêm nghị lực kiên nhẫn, chịu đựng để về sau đưa lần vào khuôn phép. Đại sư thỏa thuận nhận lãnh nhưng vẫn giữ vai trò của cái-không(without) là đưa ra cái vỏ kiếm mà không có thanh kiếm. Thói tính trở lại như trước; ngoại trừ một đôi khi sư có thể đánh vào người tu sĩ trẻ bằng cây khẻ, bất luận khi nào trong lúc phục dịch, đánh khẻ là phương thức cảnh giác là thức tỉnh để trở về với hiện thực; không cần biết đệ tử đang nghĩ gì. Cái lối tu thiền từ hành động đến lời nói đều chứa một bí tích không thể giải được, hiểu được, nhận được mà đòi hỏi của Thiền là ý thức; tức quán triệt là Ngộ ở thân tâm. Linh hồn Thiền phái xưa nay đều duy trì một cái ‘ngông’ của đạo lý như giáo điều. Đó là cái khó tu tập bí truyền của Thiền. Nhớ cho: đòi hỏi của Thiền là phá chấp mọi hạnh nguyện lợi để đi tới chân-như-tánh-không.

Tĩnh lự Thiền không có nghĩa là tọa thiền và trầm tư –Zen meditation does not mean sitting and thinking. Trái lại; Thiền có nghĩa là Hành và Suy (luận). Thí dụ: Kiếm sư dạy cho môn sinh biết cách ngăn ngừa để chống trả bằng lực và trí trong khi bị tấn công bất ngờ; tức thời phải biết vận dụng trí năng với một bản năng tự vệ; kiếm khách phải có đôi mí mắt khép hờ như chận đứng đôi mắt đối phương trong cái thế đe dọa để chống trả. Đưa ra cái thí dụ như rứa nghe qua không có chi để lãnh hội hay tư duy cả. Nhưng; giữa lúc ấy thầy và trò đang truyền ‘y bát’ cho nhau bằng nội lực chớ không bằng kiếm thuật, có nghĩa là biết vận dụng hoàn cảnh để thích nghi hoàn cảnh chính cái đó là thâm hậu của Thiền. Cái bí truyền của Thiền là truyền đạt để đi tới chân-như-tánh-không. Siêu lý của Thiền Phật giáo qui tụ cái tinh anh trong đó; ‘Thiền đã tôi thế đấy’ hoặc ‘Zarathustra đã thốt thế đấy’ là cốt tủy của đạo Phật. Ngần ấy thôi mà có một sức chứa vĩ đại. Việc làm của sư là hướng tới cứu cánh với mục đích đánh đổ bức tường giữa tư tưởng và hành động: là ở cái lúc làm tan chảy một thân tâm bùng nổ, một cảm thức nhen nhúm và một trí tuệ bại hoại có như vậy mới hoàn tất một cách bén nhạy và thấu đạt chất Thiền. Bí truyền Thiền là làm cho người ta hiểu đến Thiền. Răng rứa? ‘giáo ngoại biệt truyền’ chớ có chi mô mà chất vấn, lộn xộn, hùm-bà-lằn !
Trở lại cái chất Thiền ; nơi chứa chấp tiềm ẩn qua vấn đáp, hành động. Tất cả qui tụ trong một trạng thái tỉnh ngộ nghĩa là không động để tâm tĩnh trước hoàn cảnh. Dù là ‘phiến động’ chăng nữa. Trong biên niên Thiền có nhiều câu trả lời đột xuất, tối nghĩa là để chấm hết câu hỏi đưa ra. Thí dụ: Có người học trò hỏi đại sư; ‘Phật là gì?’ Sư trả lời: ‘Tên trò là Cu Cương’ hoặc giữa sư với sư vấn đáp: ‘Ngay cả họa sĩ không thể vẽ chính nó’ Sư kia trả lời: ‘Vô nghĩa ’. Rồi lại nói: ‘Cái miệng là khẩu nghiệp’. Chuyện khác: Môn đệ hỏi đại sư: ‘Con chó có Phật tính không?’ Đại sư trả lời: ‘Gâu! Gâu!’. Thì đó là những gì chính con chó có thể nói được. Sự cố đó giờ đây coi như chỉ trích để tấn công Thiền, bởi; những gì nói ra là tín điều của sơ khai, thô thiểm hoặc là loài dã thú. Nghe không có chi là mệnh lệnh hay tín điều; mà tợ như hư-không. Bí truyền của Thiền là rứa đó; có đó mà không có đó. Bất-Nhị-Pháp (Advaya) nghĩa là không phải Có tuyệt đối mà chẳng phải Không tuyệt đối. Rứa thì răng đây? -Có chi mô! vì; tất cả là ‘dịch’ là ‘phi ngã’nghĩa là Có ta đó và Không có ta đó ‘moi et non-moi’. Hay Thiền muốn chơi chữ để bỡn cợt thế gian? Không;Thiền trung thực cho một tâm-như; thiền biết tự-tánh (le soi) thì biết được tất cả là phương tiện độc nhất để giải thoát. Thiền xử dụng ‘ngông’ và ‘bỡn cợt’ cốt để thức tỉnh. Xem câu này có dính chất Thiền không đây: ‘ngựa trắng không phải là ngựa’ (Công Tôn Long. Tư tưởng gia Trung Hoa). Rứa thì con gì?
Đích thực của Thiền có thể là một sự từ chối khéo –The adherents of Zen deny that; mà dựa vào ‘tự giác, giác tha’ hoặc có thể có nhiều điều mà họ phớt lờ cái sự lý bắt bẻ hoặc làm ra cái dấu hiệu bí ẩn mà ý nghĩa đó chỉ là cái điều vô nghĩa –Or more probably they would ignore the criticism, or make some crytic remark which meant that it was pointless. Thiền có một cõi riêng trong thâm cung bí sử của cô đơn, vắng lặng. Cứu cánh của Thiền là dạy cho chúng ta sống, như một phương cách cuối cùng, chúng ta hành động để tất cả phải có một cuộc sống; cho mình ‘ên’. Có nhiều lời chỉ trích nguy hại cho Thiền; có thể đó là hư-không hoặc có thể mục đích của nó là thủ tiêu tất cả những ý nghĩ khác cùng đến một lúc. Thật khó lòng để chứng minh thực hư một cách trọn vẹn, bởi; với tất cả chủ thuyết của Phật giáo là –Hư-Không /Nothingness. Và; nhớ cho những gì đại sư Thiền nói thật sự là như-không (nihilistic). Vũ Hán hỏi Đạt-Ma: ‘Cái gì là cơ bản tối hậu và cái gì là linh thiêng chính yếu nơi cửa Phật’ Đạt-Ma trả lời:‘Một sự trống rỗng vĩ đại và chẳng có thánh ý gì trong đó cả’.–The emperor asked: ‘what was the ultimate and hollies principle of Buddhism’ Bodhidharma replied: ‘Vast emptiness, and nothing holy in it’.Mục đích hay phương tiện thiện xảo đối với Thiền là tiêu diệt, đó là cách suy tư và thay thế; vô thức là có thể đi đến cái chết, nhưng hữu thức thì điều đó không còn phân tích, lý giải nhưng kinh nghiệm sống là ‘trực chỉ nhân tâm’. Dù là luật tắc qui định cho người cầu nguyện; ở đây: không kinh điển, không lễ nghi, không tôn thờ, không nơi đến và đi cho kiếp sau. Thiền là một tôn giáo triết học. Jung (tâm sinh lý gia) ghi nhận Thiền có mục đích, cứu cánh của nó, phát sinh một thứ tôn giáo đối đáp, một chuyển thể. Jung nói: ‘chuyển thể là tiến trình không thể so sánh để đánh giá với sự hiểu biết trí tuệ’(The transformation process is incommensurable with intellect). Dẫu là gì; Thiền luôn luôn là tác động lợi ích nhưng lại thường ‘ốm đau’ trong cô đơn. Thiền lặng trong thanh thản tâm hồn.Thiền giác ngộ để giải thoát mang lại một cảm thức tuyệt đối. Thiền là nguồn sáng bao la diệu vợi. Nhưng Thiền là trạng huống không thể giải bày một cách rõ nét.Trong Thiền Phật giáo thường vặn những lời vấn đáp hóc búa, nghịch lý. Răng rứa; với mục đích gì cho lối tu Thiền? -Thức tỉnh. Cứu cánh gì? -Đi tới chân-không. Là phương tiện thiện xảo của Thiền ./.

VÕ CÔNG LIÊM (ca.ab.yyc. 1/7/2015)

SÁCH ĐỌC:
– ‘Zen Buddhism and Psychoanalysis’ by D.T. Suzuki, Erich Fromm & R. De Martino. George Allen & Unwin.1973.
– ‘Great Works of Philosophy’ by Robert Paul Wolff. New American Library. USA and CANADA. 1969.

TÌNH BUỒN CA DAO LỤC BÁT 1

Nguyên Lạc

tran din cuon

Trang Đinh Cường

I. Tình Bậu Duyên Quê

“Bậu như con vịt chết chìm
Thò tay qua vớt, cá lìm kìm cắn tay” [*]

*
Rạch nhỏ hai bên có hàng bần
Rụng bông quyến dụ cá lòng tong
Trên bờ thương bậu tìm lưới vó
Vớt cá lòng tong, cá ròng ròng

*
Lòng tong và cá ròng ròng
Kho tiêu cho bậu đừng hòng quên qua
Ví dù bậu có xa ta
Mùi cá kho tộ chắc là … khó quên?
.
Bậu xa qua sống mình ên!
Chiều chiều ra rạch buồn tênh … qua tìm
Lục bình trôi xuống trôi lên
Bậu như con cá lìm kìm … mất tăm
.
Bậu còn nhớ cá lòng tong
Kho tiêu cùng cá ròng ròng. bậu ăn?
Tình qua bậu nhớ hay không?
Duyên quê kho cá lòng tong … ròng ròng! [**]
………..
[*] Má ơi ! Con vịt nó chết chìm
Con thò tay xuống vớt cá lìm kìm nó cắn tay con” [Ca dao]
[**] Ròng ròng:- Cá lóc con/ – Khóc ròng ròng
.
.
II. Bậu Đi
.
Tìm em “mút chỉ cà tha”*
“Mút mùa lệ thủy” xót xa khôn cùng
Thấy trăng rụng xuống đáy sông
Nghe sầu trĩu nặng đoạn lòng bi thương
.
Bậu quên lời hứa tình chung
Bao năm qua kíếm nghìn trùng dấu chim
“Tìm em như thể tìm chim
Chim bay biển Bắc anh tìm biển Đông”
.
Buồn tình cá đớp bóng trăng
Buồn qua đêm vắng trái bần rụng rơi
Vị bần chua lắm bậu ơi
Vị đời cay đắng bậu rồi mù không
.
Huơ tay lạnh một chỗ nằm
Chăn nghiêng gối lệch mất tăm bậu rồi
Ngã ba ngã bảy dòng đời
“Mút mùa lệ thủy” tìm “lòi con ngươi”
.
Bậu rồi như áng mây trời
Sông xưa tím biếc hoa trôi lục bình
Bậu đi để lại mùi hương
Bậu đi để lại đoạn trường trong qua
.
Nhớ bậu nhớ cháo le le
Ngọt canh bông bí ngọt chè hột sen **
……….
* “Mút chỉ cà tha”,”Mút mùa lệ thủy” : Phương ngữ Nam bộ với nghĩa hoài hoài, tận cùng, rất xa … Cũng có nghìa là miên viễn.
** Thương chồng nấu cháo le le/ Nấu canh bông bí nấu chè hạt ( hột) sen – ca dao
.
Nguyên Lạc

NHƯ MỘT BÀI TẬP LÀM VĂN

Thư viện của bài

This gallery contains 1 photo.

NHƯ MỘT BÀI TẬP LÀM VĂN
THƠ TRẦN VẤN LỆ

*

“Như một bài tập làm văn” là bài thơ sáng tác gần đây của nhà thơ Trần Vấn Lệ.

Thơ 5 chữ, cuốn hút người đọc ngay từ những câu thơ đầu:

“Gió không chừa ngọn cỏ

Mưa không chừa lá nào”

Tả thực mà tinh tế, nhiều gợi cảm. Chữ không thừa không thiếu, vừa đủ để người đọc “cảm thấy”, “nhìn thấy” trận mưa quét rát rạt đang diễn ra trước mắt.

Câu: “Mưa gió rung rinh rào” làm nặng thêm sức lạnh của gió mưa, khiến người đọc gai người rùng mình với cảm giác cô đơn trước khung cảnh hoang vắng, lạnh lẽo của chiều mưa gió.

Câu: “Hoa đào còn, rụng hết…” ngắt thành nhịp 3/2 với dấu chấm lửng ở cuối câu khiến dư âm buồn của trận mưa quét đã tàn phá cảnh vật thêm u ám, xót xa.

Không gian và thời gian càng lạnh lẽo và hoang vắng khi nhà thơ đặt “Người đưa thư, một mình” giữa “Rộng mênh mông phố xá”, nhất là cách ngắt câu ở “Người đưa thư, một mình” thành 2 vế để tăng thêm sự cô tịch và đẩy sự hoang vắng lạnh lẽo của phố xá chiều mưa nhuốm thêm u buồn sang nỗi lòng của người thơ.

Từ “làm” cố ý lặp lại ở câu: “Làm việc và làm thinh” chủ ý để nhấn mạnh hình ảnh lẻ loi nhưng cần mẫn, trách nhiệm với công việc trong suy nghĩ, hành động của người đưa thư.

“Cái bóng hình” người đưa thư “quen thuộc!” được Trần Vấn Lệ vẽ tiếp bằng những câu chữ bình dị, đời thường mà thật ấn tượng: Tiếp tục đọc

L I N H H Ồ N

h o à n g x u â n s ơn

buom

nếu linh hồn có cánh
hãy bay lên bay lên
nếu linh hồn không cánh
cứ nằm im nằm im

nghe tôi mùa chép lại
đời thức giấc ngoài xa
những cánh cửa không chốt
làm sao khóa được nhà

làm sao khum miệng giếng
nở một chùm lưu ly
con ễnh ương thời loạn
đã tan giấc ngụ kỳ

nơi mây xanh hằng cựu
làm sao mây trắng về
nếu linh hồn mỏng vỏ
quỵ nhạt mầu di thê

nếu linh hồn linh hồn
còn một chút mùi son
vẽ hờ lên cánh kiến
hương đau rụng trăng tròn

[3 : 28 am] 5 juin 20

NƯỚC MẮT QUÊ HƯƠNG

Nguyên Lạc

khoc1
Sáng hôm nay
góc quán cà- phê xứ người. thả hồn theo khói thuốc bay
Lặng ngắm từng giọt cà-phê sầu đọng đáy ly
Ngắm vui vẻ phố chợ kẻ đến người đi
Sao nhớ quá ánh mắt quê hương
và câu vọng cổ một thời đã mất
.
Nhớ hôm nao
cùng nhau xuống vùng ruộng thấp
Gió nhẹ nhàng đưa đẩy lúa sữa mởn đòng đòng
Em nơm bắt được một con cá lóc
Chuối đọt non quấn nướng cùng thỏa lòng. em nhớ không?
.
Bên ly rượu đế hai ta cùng nhắm
Câu vọng cổ em ca hòa theo tiếng nhạc anh đàn
Tiếng hát em. ánh mắt nụ cười sâu lắng
Ngất ngây ta uống “nước mắt quê hương” [*]
.
Đất nước ta không phải thiên đường
Thiên đường hở? Chỉ ở mép môi ai đó
Quê hương ta một thời khốn khó
Chúng ta uống say. quên đời. ngày đó. em nhớ hay quên?
.
Say! chúng ta say “nước mắt quê hương”
Rượu Tây dành riêng nhóm nói “thiên đường”
Nhóm “đổi đời”. chủ biệt phủ xênh xang
Say! chúng ta say bên ly rược đế. cùng câu ca vọng cổ
.
“Nước mắt quê hương” và câu ca vọng cổ
Thương lắm em ơi nỗi khổ quê mình!
Thảm lắm em ơi đất nước điêu linh!
Người lữ khách sáng nay
bên tách cà- phê sao hồn quá đắng?
.
Ai gởi giùm tôi chút đường cho cà-phê bớt đắng
Tôi gởi đến em … giọt nước mắt cho quê hương
Giọt lệ này tôi khóc cho hai chữ “thiên đường”
Em tôi ơi! Đoài phương đó. ruộng năm cũ vẫn còn con cá lóc?
.
Sáng hôm nay
góc quán cà-phê xứ người. thả hồn theo khói thuốc bay
lữ thứ thở dài. tuyết sương màu tóc
thẫn thờ lòng muốn khóc
Ôi nhớ làm sao!
Câu vọng cổ một thời và ánh mắt em thương
.
Nguyên Lạc
………………..
[*] “Nước mắt quê hương” là rượu nếp – rượu đế – tiếng gọi thân mật của người dân miền Nam

MỘT SỐ CÁCH ỨNG PHÓ VỚI TẬT XẤU CỦA CẤP DƯỚI

Thư viện của bài

This gallery contains 1 photo.

Một tổ chức (doanh nghiệp) làm ăn có hiệu quả cần phải có sự tâm đầu ý hợp từ trên xuống dưới. Nhân viên có tinh thần vững vàng, tư tưởng tập trung mọi khả năng để làm việc. Bên cạnh đó, người lãnh đạo nên có một đường lối khôn khéo điều hành, chỉ đạo có hiệu quả. Tuy nhiên, dù có khôn khéo đến mấy cũng không tránh khỏi những phần tử cố ý chống đối. Sau đây, chúng tôi xin đưa ra một số tình huống và cách đối phó để các bạn tham khảo.
1. Khi cấp dưới cố tình trì hoãn, không làm việc.
Biểu hiện rõ ràng là khi cấp trên ra chỉ thị, mệnh lệnh, cấp dưới cố tình trĩ hoãn công việc, nếu có làm việc anh ta cũng tỏ ra thờ ơ không tha thiết với tình trạng tốt xấu của công việc. Có khi, họ là người sống không có lập trường, cách sống không dứt khoát; lúc thế này, lúc thế khác nên rất hay chạy theo bè nhóm. Ngoài ra, họ còn lạm dụng quyền thế của cấp trên để có hành vi chống đối lại cấp trên.
Là một lãnh đạo, bạn phải làm gì với trường hợp như thế? Tốt nhất bạn nên tìm cách tiếp xúc, gặp gỡ họ để tìm lý do chống đối. Nếu nguyên nhân do sự lãnh đạo của mình, bạn phải thẳng thắn tự sửa sai, càng sớm càng tốt. Bạn không nên gây áp lực, bạo lực. Điều đó rất dễ gây nên sự chống đối chung, làm mất lòng cả tập thể nhân viên và sẽ bị cả tập thể nhân viên chống lại. Tiếp tục đọc

NỢ NHAU KIẾP NÀO

Ca Khúc
NỢ NHAU KIẾP NÀO
Nhạc & Lời Khê Kinh Kha
Ca Sỹ Bảo Châu Trình Bày

 

Nợ Nhau Kiếp Nào

DPDP12Sao chưa gặp nhau mà lòng đã nhớ nhau
Sao chưa gặp nhau mà thao thức đêm thâu
Mà thương nhớ từ lâu
Hay ta nợ nhau từ kiếp nào
Sao chưa gần nhau, mà mơ ước dài lâu
Sao chưa gần nhau mà hơi ấm quyện vào nhau
Mà mộng đã ngọt ngào
Người ơi,
Tình ta như đã từ ngàn xưa kiếp nào
Sao chưa kề vai mà đời đã bên nhau
Sao chưa kề vai mà nồng ấm con tim
Mà dịu mến tình duyên
Hay ta đã nợ nhau tiền kiếp nào
Sao chưa kề môi mà tình đã nồng say
Sao chưa kề môi mà tình đã quen hơi
Mà tình đã ngàn khơi
Người ơi,
Tình như đã thề non hẹn nước
Sao người còn xa tôi
Sao tình còn đơn côi
Sao lòng đầy mưa rơi
Sao chưa chung lối nào đời đã chung đôi
Sao chưa chung gối nào tình đã bện hơi
Mà hương nồng đầy trong mộng
Người ơi
Xin hãy ở lại giữa tình tôi
Giữa đời tôi
Trọn kiếp này
Mình có đôi

khê kinh kha

một ngày nhớ em

khê Kinh Kha

1000

sáng thức dậy
nhìn quanh
không em
lòng buồn thiu
ly café nguội tanh
trống trơn bao nỗi niềm
tôi nhớ em
nhớ em

trưa ngủ gật trên ghế
ngoài trời mưa bay nhẹ
bước chân ai khe khẽ
giật mình, giấc mơ qua
tôi nhớ em
nhớ em

chiều về căn nhà, vắng
nhìn chén bát đầy bàn
bửa cơm tối vô duyên
tàn thuốc lá đầy sàn
tôi nhớ em
nhớ em

đêm lủi thủi, lạnh
những giọt sương trên vai
chai hennessy trống trơn
thèm hơi em nồng ấm
tôi nhớ em
nhớ em

khuya úp mặt, khóc
nhớ bàn tay em ngoan
thèm bờ môi cong, mềm
gió thở dài qua cửa
lạnh buốt hồn cô liêu
gọi thầm tên em, cho đỡ nhớ
dáng ngọc – iễu gầy
tôi nhớ em
nhớ em

khê Kinh Kha

ĐÊM CUỒNG SAY…

324

Em nhé, một lần quậy cùng ta
Một đêm giả khướt lướt Ngân Hà
Một đêm vịn cớ vì ta đã
Mà hứng đêm cuồng say với ta?

Ừ, giả lần thôi, đâu chết a
Người ta thiên hạ vẫn thế mà
Thì bởi ả Hằng lả lơi quá
Mà dáng ai kia cứ nõn nà…

Thôi, ngả vào ta, cuộn vào ta
Để đêm thánh thót rót trăng ngà
Để làn gió thoảng loang hương lạ
Để trộn vào ta, nghiến nát ta.
*.
Hà Nội, 2G45 ngày 01-07-2020
ĐẶNG XUÂN XUYẾN

TỰ TÌNH

Nhật Quang

aodai54-r

Nón em che dáng lụa
Gió rối vạt tóc mây
Ta bâng khuâng từ thuở
Hương nắng thơm vai gầy

Em hong mùa ân ái
Phơi hồng dấu môi ngoan
Mắt xanh thời con gái
Gợi dấu yêu nồng nàn…

Ta gởi hồn lãng đãng
Phím loan buồn mênh mang
Giọt Guitar trầm lắng
Nhỏ nỗi đau muộn màng

Thu gieo lời thổn thức
Heo may chạm giấc mơ…
Em như đời hư, thực
Ta phiêu lãng dại khờ

Hồn rong rêu đá mục
Đếm vời tháng năm trôi
Đời rớt ngang đáy vực
Nghe hồn chợt chơi vơi.

CÁO TRẠNG

VÕ CÔNG LIÊM

image001

TRANH VẼ VÕ CÔNG LIÊM : ‘Biến dạng / Metamorphosis’

tôi qui tội tôi
giết người không gươm dao
bằng chữ nghĩa âm hồn vọng
tôi gông cùm tôi
trên răng dưới dế một thời
ăn chay nằm đất suốt đời đi hoang
tôi phỉ báng tôi
đầu trâu mặt ngựa giả dạng làm người
hiếp dâm con kiến con trùn con tôm con cua
tôi kêu trời tôi
sanh phải nhằm thời :
vô ra thằng cha khi nãy mặt dày mày dạng
toàn phường giá áo túi cơm cửa khổng sân trình
học hành dăm ba chữ dạy đời lố nhố lăng nhăng
có khi làm thi sĩ có khi làm văn sĩ có khi làm con khỉ
múa gươm trong bị cô gái đồ long chữ nghĩa mênh mông
đứng đường gáy vu vơ đại học quân trường không kể xiết
tôi gọi tên tôi cho đở nhớ sàigòn đêm rít tiếng kèn đồng
mắm ruốt quê hương là người đó sáng dưa trưa muối túi cà
xin làm người khất thực niệm chữ nam mô sanh quán bát nhã
ba la mật a di đà bỏ xứ ra đì chết vô gia cư vô điạ táng trên cõi đời
toàn là thứ mặt trắng như vôi một thời phất cờ theo gió trốn lính
trốn dịch bỏ giáo vô chùa mặc áo cà sa hùm bà lằn bầu cua cá cọp
ôi ! miệng lưỡi thế gian không xương nhiều đường lắc léo
ca bài con cá khâu vá tứ tung cổ lỗ sĩ một đời sợ lãng quên
lịch sử không có chứng từ thế vì khai sanh đổi tên đổi họ chưởi bới
toe tua chết dọc bờ dọc bụi hoá thân cô hồn các đảng ăn trộm chữ
khoe tài khoe tướng múa gậy tầm vông in sách từng đống để thờ
xấu hay làm tốt dốt hay nói chữ ông chả ra ông thằng chả ra thằng
vượt biển vượt biên đường dài vạn dậm kê khai lý lịch thường trú
làm người hát rong trong thành phố một thời chịu đắng nuốt cay
xin nhận nơi đây làm quê hương với người tình không chân dung
thế rồi một buổi chiều vàng ngồi buồn gải háng dái lăn tăn
ngẫm sự đời mà thương con mụ kiếm* cái cò lặn lội bờ sông
học văn học võ bỏ hoang . ba sinh hương lửa một đời oái ăm
sáng tạo các anh hãy còn sáng tạo** phê bình phê phán rập khuôn
nồi nào úp vung nấy chẳng gì là mới với tư duy . thưa mông xừ !
kệ . mua vui cũng được một vài trống canh*** cho xong sự đời ?

tôi . trễ tràng một chuyến tốc hành đi về phương đông
giữa mùa giá tuyết buổi hoàng hôn trên ga vắng người ./.

VÕ CÔNG LIÊM (ca.ab.yyc. cuối 6/2020)

* ‘mụ kiếm’ chữ thơ của Tú Xương.
** ‘sáng tạo các anh hãy còn sáng tạo’ thơ Quách Thoại.
*** ‘mua vui cũng được một vài trống canh’ thơ Nguyễn Du.

MÙA ĐÔNG SẼ DÀI: LONG SERA D’HIVER

Nguyên Lạc

snow

PAUL MAURIAT

Bản nhạc “Long sera l´hiver” được sáng tác bởi nhạc sĩ Jacques Plante và Claude Carrère 1968, được ca sĩ Sheila thâu vào dĩa lần đầu, sắp xếp và dàn dựng bởi Paul Mauriat.
Vài hàng về Paul Mauriat:
Paul Julien André Mauriat nhà soạn nhạc kiêm nhạc trưởng dàn nhạc Le Grand Orchestre de Paul Mauriat. Ông là người Pháp. Những bản hit nổi tiếng như Love is Blue, El Bimbo, Toccata, Penelope…
Paul Mauriat và một số nhạc sĩ khác cổ động cho phong trào nhạc nhẹ – the easy listening – ai nghe cũng hiểu và cảm được, khác với nhạc cổ điển – muốn thưởng thức nhạc cổ điển cần phải có “căn bản” kiến thức âm nhạc tối thiểu.
.
BẢN NHẠC LONG SERA D’HIVER

Bản nhạc “Long sera l´hiver”, rất phổ biến thập niên 60 -70, tình cờ tôi được nghe lại và rất thích nên muốn chuyển dịch lời nhạc thành thơ, chia sẻ cùng các bạn.
Đây là đường link dẫn tới bản nhạc “Long sera l´hiver”:
Không lời:
https://youtu.be/2tBIArfBcH8
Có lời:
Sheila – Long Sera L’Hiver
https://youtu.be/ampKesGS5B8
Bài hát rất hay, tôi xin ghi ra nguyên văn bài hát – tiếng Pháp, cùng lời dịch tiếng Anh và sẵn dịp tôi phóng dịch ra thơ tiếng Việt:

1. Nguyên tác – lời nhạc Pháp
.
Long sera d’hiver
.
Long sera l´hiver, my love!
Tu n´es plus près de moi
Je me sens si seule
Dans la neige et le froid
.
Long sera l´hiver, my love!
Le monde est sans pitié
Pour tous ceux qui s´aiment
Et qui sont séparés
.
Et la Terre toute entière
Ne courbe les roseaux
Que c´est triste, un ciel gris
Sans aucun chant d´oiseau
.
Oui, j’ai tant besoin de toi
Oui, car je m’ennuie sans toi
Ici, où tout est sombre et désert
.
Long sera l’hiver, my love!
Mais je me suis jurée
Qu’au premier soleil
J’irai te retrouver
.
Ni les mers, ni les terres
Ne pourront m’arrêter,
De frontière en frontière
Vers toi, je m’en irai
Et tu ouvriras les bras
Oui, et tu me garderas, là-bas
.
Long sera l’hiver, my love!
Et tu ouvriras les bras
Oui, et tu me garderas, là-bas
Long sera l’hiver mais nous aurons gagné
De rester ensemble pour l’éternité
.
Long sera l’hiver, my love!
.
2. Phóng dịch thành thơ lời Việt

Tôi tạm phóng dịch thành thơ lời Việt như sau:
.
Mùa đông sẽ dài
.
Mùa Đông sẽ dài em ơi
Em không còn ở bên tôi
Đơn côi anh đang đơn côi
Bên trời buốt lạnh tuyết rơi
.
Mùa đông sẽ dài em ơi
Tàn nhẫn, tàn nhẫn cuộc đời
Sao buộc người thương yêu nhau
Chịu cảnh ly biệt xa rời?
.
Tuyết đừng phủ cong lau lách
Buồn lắm xám thẫm bầu trời
Buồn lắm không tiếng chim hót
Khắp cùng trái đất người ơi!
.
Rất cần em cạnh bên tôi
Mọi thứ không em chán rồi
Nơi đây tối tăm vắng vẻ
Nhưng tôi tự thề tôi sẽ
Tìm em khi trời vừa lên
.
Biển cả núi đồi biên giới
Không đâu ngăn cản được tôi
Và em sẽ rộng vòng tay
Ôm tròn giữ tôi ở đó
.
Mùa Đông sẽ dài em ơi
Và em sẽ rộng vòng tay
Em trọn giữ tôi ở đó
Mùa đông sẽ dài chắc thế
Nhưng sao thắng được chúng ta
Mãi bên nhau chẳng lìa xa
.
Mùa Đông sẽ dài em ơi
.
LỜI KẾT
Long will be Winter/ Long sera l´hiver tôi dịch là “Mùa đông sẽ dài”, nếu các bạn nào thích dịch thành “Lâu quá sẽ thành mùa Đông” thì tùy. Tuy nhiên, hãy nhớ rằng: Ta đừng để như vậy, hãy “hâm nóng tình” lên nha bạn hiền!
Chúc hạnh phúc.
.
Nguyên Lạc
………………
@. Phụ lục:

1. Bản nhạc chuyến dịch lời Anh

Long will be Winter
.
Long will be winter, my love!
You’re not near me anymore.
I feel so alone
In the snow and cold
.
Long will be winter, my love!
The world is merciless
For all those who love
And that are separated
.
And the whole Earth
Do not bend the reeds
How sad, a grey sky
Without any bird song
.
Yes, I need you so much.
Yes, because I’m bored without you
Here, where everything is dark and deserted
.
Long will be winter, my love!
But I swore
That at the first sun
I will find you
.
Neither the seas nor the lands
Can’t stop me,
From border to border
To you, I will go
And you will open your arms
Yes, and you will keep me there
.
Long will be winter, my love!
And you will open your arms
Yes, and you will keep me there
Long will be winter but we will have won
To stay together for eternity
.
Long will be winter, my love!
.
2. Vài hàng về nhạc EASY LISTENING
Nhạc cổ điến hầu như “thống trị” suốt thế kỹ 17,18,19 phương Tây, muốn thưởng thức nhạc này cần phải có “căn bản” kiến thức âm nhạc tối thiểu. Hình như chúng dành cho tầng lớp ” thượng lưu trí thức”, “trưởng giả”.
Paul Mauriat, Franck Pourcel và một số nhạc sĩ khác là những người đầu tiên khởi xướng về loại nhạc nhẹ êm dịu – the easy listening, ai nghe cũng hiểu và cảm được – ở những nơi như là phòng khách, phòng đợi khách sạn v.v…
Hiện nay có thêm nhạc êm dịu New Age
Về nhạc Easy listening hiện nay các ca nhạc sĩ có tếng là Andrea Bocelli, Cesaria Evora, Julio Iglesias …
– Julio Iglesias: một ca sĩ, nhạc sĩ người Tây Ban Nha, ông là ca sĩ có dĩa bán chạy nhất trong lịch sử trong thể nhạc Latin và cũng là một trong những ca sĩ có đĩa bán nhiều nhất thế giới. Phạm Duy có chuyển lời Việt vài bài. Tôi có nhiều kỹ niệm với bài La Paloma do ông hát trước 75. Ca sĩ Lệ Thu có hát bài lời Việt: Cánh Buồm Xa Xưa
. La Paloma – Julio Iglesias
https://youtu.be/CZfN2y7tgfE
. Cánh Buồm Xa Xưa (La Paloma) – Giọng ca Lệ Thu
https://youtu.be/kgmZAtNhYKw
– Andrea Bocelli là ca nhạc sĩ người Ý- ông là người khiếm thị/ blind man từ 5 tuổi.
Bài tôi thích nghe ông hát là Bésame Mucho/ Kiss me a lot (nghĩa là “Hãy hôn em thật nhiều”)
. Andrea Bocelli – Besame Mucho
https://youtu.be/fTxcrjBGves
– Cesária Évora (1941 – 2011) là nữ ca sĩ nổi tiếng người Cabo Verde/ Cape Verde – Tây Phi, với biệt danh “barefoot diva” (“nữ danh ca chân trần”) vì khi biểu diễn bà không mang giày dép.
. Cesaria Evora – Besame Mucho
https://youtu.be/LLsg_Lk819s
– Yanni là nhạc sĩ người Hy Lạp – Greek, ông đang sống ở Mỹ với những album nhạc New Age rất hay.
. Yanni – “Until the Last Moment”
https://youtu.be/9WECMgGG8dg
. Yanni – Felitsa- Live
https://youtu.be/CN7y6FVBdR8

Nhạc các ông bà này bạn có thể search trên You Tube