GIỚI NGHIÊM

VÕ CÔNG LIÊM

corona virus

ôn dịch
đại họa phủ sóng khắp nơi
bế môn tỏa cảng ăn chơi cọ mình
ngồi buồn . gải háng dái lăn tăn
nhớ xưa truyền hịch chống xâm lăng
ngày nay truyền dịch tràn lan mọi người
em . trốn dịch cho đời không thấy mặt
tôi . trốn dịch như trốn lính đầu quân ngày nào
có đánh nhau đâu mà thua thiệt
kẻ thù bất cộng đái thiên
tại trời hay tại nhân gian
hay là có kẻ chơi trong giấu ngoài ?
giới nghiêm
cuộc chiến đã tàn chưa
cho tôi đi lại thênh thang giữa đời
hát vu vơ hát điên cuồng
cho em dắt chó giữa đường cái quan
sống chỉ một lần chết mãi nghìn sau
giới nghiêm
sáng dưa
trưa muối
túi cà
ăn chay niệm phật một thời hư ăn
làm thân tế độ kiếp này được tha
để cho mai mốt không còn có chi
ôn dịch
đại họa
toàn cầu
sống chết bất thường chả sợ ma trơi
cá chết không thúi sông
cọp chết để da
người ta chết để tiếng
mộ chí ghi tên
chết cho ôn dịch thần sầu
một đời
khó quên
giới nghiêm
với chuyện ta bà
thuở xưa có dịch
mà đâu cấm đường
chết vô tư
chết bình thường
không sợ dịch
chả sợ ma
hề ! giới nghiêm

thằng bé
buồn cười
hơn
buồn khóc ./.

VÕ CÔNG LIÊM (ca.ab.yyc. mùa dịch covid-19 / cuối tháng 5/2020)

Hoang Tưởng Ngày Thiếu Nhi 1 – 6

Phạm Nga

1.
tre nam duongMột sáng chúa nhật, một anh bạn hẹn tôi uống cà phê gần cổng Nhà Thiếu nhi thành phố mà không phải chỗ nào khác vì trúng bữa anh phải đưa con đến đây học vẽ. Lâu rồi, từ hồi chưa xây tòa nhà mới thật hoành tráng thì cái trung tâm sinh hoạt lớn nhất thành phố  này vẫn đã dành riêng cho trẻ em đến vui chơi, học tập các môn có tính năng khiếu như hội hoạ, âm nhạc, võ thuật.v.v… Có một dạo, dù còn phải kiếm sống khá chật vật, tôi cũng ráng đưa con gái mình đến học vẽ trong dịp hè. Con bé thích học đàn dương cầm hơn nhưng học phí môn này thì cao mà phần thực tập, ngồi vào đàn thì khá ít ỏi. Đành tránh qua một bên môn chơi quí tộc này thôi!
Nắng đã lên cao, tôi dắt xe ra về thì tình cờ gặp một phụ nữ đang chờ rước con ở cổng. Chị cười, gật đầu khi cháu bé khoanh tay chào mẹ. Chợt chị ngăn con mình lại, nói nhỏ:
“Nè, con có thấy ông đứng ở gốc cây kia hôn? Mẹ con mình cũng khó nhưng ông còn đang khó hơn mình nữa con à. Ông không có con cháu nuôi dưỡng ở nhà nên già yếu như ngoại con rồi mà còn phải ra đường… Con thấy ông tội nghiệp hôn? Vậy thì con tới giúp ông đi há?”.
Chị đưa con một tờ 5000 đồng, chỉ về phía một cụ già ăn xin đang đứng, gần như ẩn núp ở một gốc cây to trên vỉa hè. Đứa bé ngoan ngoan “dạ”, đĩnh đạc bước đến trước mặt cụ già, nói lí nhí gì đó rồi hai tay kính cẩn đưa ra tờ bạc…
Tôi chợt cảm thấy xốn xang. Chị phụ nữ, với chiếc “cánh én” rách yên, bộ đồng phục công nhân chị đang mặc cũng không lành lặn gì, vậy mà không hiểu sao chị đã tránh dùng từ “nghèo”, chỉ dùng từ “khó” khi dạy con mình? Hay “nghèo” nghe có vẻ quá ức chế, như rất nhiều người nhất định cho là mình nghèo là do số mạng trói buộc, còn “khó’ thì có thể chỉ là tạm thời, còn có hy vọng vượt qua, như người ta vẫn thường vẫn an ủi nhau với cách nói “khó khăn trước mắt…”?
Nhưng dù đang thuộc phía người nghèo, chị phụ nữ khả kính vẫn dạy cho con mình – dạy cả cho tôi nữa, đã thầm lén chứng kiến nãy giờ – một bài học về lòng nhân ái, thói quen làm việc thiện, một cách tuyệt vời!
Rõ ràng điều đáng quí không phải ở số tiền cho mà ở cách cho, như em bé đã học được từ mẹ mình. Thật tình tôi không chắc là tôi, xuất thân nhà giáo – có thể cả cái bà phấn son lòe loẹt vừa dừng chiếc xe hơi bảng số xanh mới tinh hảo để rước cậu con béo phị – biết cách dạy con mình về lòng thương người bằng một phương pháp giản dị nhưng đầy tính thuyết phục như vậy.
Nhìn theo hai mẹ con người-tốt đi xa, tôi lại có một thắc mắc khác từ hình ảnh cụ già ăn xin.Trên vỉa hè vắng người đang có một thanh niên bày bán các loại báo chí trên mặt đất. Tôi mua đại một tờ rồi hỏi: “Chắc cháu đã bán ở đây lâu rồi hả? Có thấy dân ăn xin được vô trong nhà thiếu nhi không?”. Cậu ta vừa dáo dác nhìn về phía cuối đường – chắc sợ công an đến hốt – vừa đáp: “Dạ đâu có được, bảo vệ đuổi hết. Chỉ có người tàn tật bán vé số thì may ra, nhưng bữa nào đông các em quá thì cũng khó được cho vô…”. Tôi mới nhớ ra rằng trong cả tiếng đồng hồ ngồi cà phê, chuyện vãn với anh bạn vừa rồi trong căn-tin, đã không thấy bóng dáng người ăn xin nào. Hèn chi, lúc nãy cụ già cứ đứng hoài ở gốc cây bên ngoài nhà thiếu nhi, tưởng là cụ trốn nắng.
2.
Tôi chạy xe về phía dinh Thống Nhất thì bệnh “khó tiêu” nặng nề trong tâm tưởng lại tái phát. Đó là mấy em bé, không rõ là người Campuchia hay người dân tộc thiểu số nào khác, đang xin ăn quanh quẩn ở một ngã tư cách nhà thiếu nhi chừng ba, bốn trăm mét. Dưới nắng bụi, đứa nào cũng đen nhẻm, hôi hám, áo quần rách nát. Một đứa nhỏ xíu được chị nó bế trên tay thì ở truồng, mũi dãi lòng thòng. Tất cả đều thảm thương, tơi tả. Chỉ có mấy cái gáo nhựa, tô nhựa màu xanh màu đỏ mà các em đang chìa ra xin ăn là mới tinh, sáng lòa, nổi bật một cách kỳ cục, không hiểu nổi.
Dân thiểu số kéo về thành phố Sài Gòn xin ăn là một hình ảnh đã quá quen thuộc trước mắt mọi người, nhưng lòng tôi cứ bâng khuâng. Vừa rồi, tại nhà thiếu nhi, các em bé đứa nào đứa nấy trông cũng sạch sẽ, khoẻ mạnh, thậm chí béo phì – đúng là mẫu khách quí được chào đón, chăm sóc, dạy dỗ ở một tòa biệt thự đồ sộ, khang trang, thoáng mát. Hơn thế, hẳn để bảo vệ khung cảnh sang trọng của mình, nơi đây cấm cửa dân ăn xin.
Tôi tự hỏi: “Có thể suy đoán là do sợ mất trật tự, mất vệ sinh, mất cắp đồ đạc… nên Nhà thiếu nhi cấm dân ăn xin. Nhưng nếu người ăn xin là thiếu nhi thì sao? Nhà thiếu nhi là dành cho thiếu nhi cơ mà, và trong nội qui Nhà thiếu nhi đâu có điều khoản đặc biệt nào qui định việc cấm cửa thiếu-nhi-ăn-xin?”.
Rồi tôi mơ hồ cầu xin ai đó, rằng: “Thưa ban giám đốc Nhà thiếu nhi, nếu quý vị trả lời là chưa nghiên cứu về thiếu-nhi-ăn-xin thì xin quý vị cũng nên linh động, uyển chuyển mà cho phép…”. Một giọng lạnh giá bác ngay thỉnh cầu của tôi: “Không thể! Chức năng chúng tôi là đón nhận, phục vụ thiếu niên – nhi đồng vào sinh hoạt, nghĩa là vui chơi, tập luyện, nâng cao năng khiếu. Còn về phần các em ăn xin, nếu có vào đây cũng đâu có sinh hoạt gì mà chỉ có… xin ăn, nên không thuộc chức năng của Nhà thiếu nhi mà thuộc ngành thương binh – xã hội. Chỉ có một trường hợp duy nhất có thể được xem xét là, nếu các em ăn xin vào đây không phải để xin ăn mà là để sinh hoạt, tức phải giống các thiếu nhi khác khi đến đây…”.
Cắt! Tôi lập tức tự bật qua OFF.
Nãy giờ, mọi hỏi-đáp, thỉnh cầu gì đó chỉ là do tôi hoang tưởng nhưng tôi đã muốn điên lên thật sự vì cách lý giải dài dòng rất “công chức” của ai đó, cứ “sinh hoạt” rồi lại “xin ăn” rối tung cả lên. Nhưng tôi “cắt” không phải vì đã tỉnh cơn điên, mà vì… Trời hỡi! Có người bình thường nào mà tưởng tượng ra nổi chuyện một ngày nào đó, các em bé ăn xin dơ dáy, hôi hám kia quăng mấy cái gáo nhựa xin ăn để hiên ngang bước vào Nhà thiếu nhi, rồi đường bệ lựa chọn môn sinh hoạt – học tập, điền vào phiếu đăng ký, đóng tiền học, như học đàn piano, học hội họa, học múa ba-lê…? Con cái nhà lao động nghèo và cả một số gia đình trung lưu còn không dám mơ đến những môn “quý tộc” cao sang này nữa là!
Nhận trọng trách quản lý Nhà thiếu nhi, ban giám đốc khả kính của chúng ta – nhất định cũng là người bình thường, thì nhất định họ có yêu mến trẻ em, ít ra là theo chừng mực của bất cứ con-người-có-trái-tim nào khác trên đời này. Vậy làm sao quí ban giám đốc lại có thể giả định một trường hợp là “các em ăn xin vào đây không phải để xin ăn mà là để sinh hoạt”, hoàn toàn có thể khiến các em ăn xin nghe mà vô cùng tủi nhục?
Ngay điều giả định đầu tiên trong thỉnh cầu mê muội của tôi, là “Ban giám đốc linh động cho phép trẻ em ăn xin vào… xin ăn trong Nhà thiếu nhi!” thì đã là hoang tưởng rồi vì chuyện này may ra chỉ có thể có trong loại truyện cổ tích thời hiện đại dành viết về những ông tiên, bà tiên tự nhiên mà xuất hiện trong giới quan chức quản lý. 
3.
Tôi đã có phần tỉnh táo trở lại nhưng hoang tưởng trong tôi vẫn lì lợm, không-biết-tiếp-thu, vì nó nhất định “sinh hoạt” theo phạm trù cảm xúc mềm mại của riêng mình, chứ không theo cùng những phạm trù lý luận duy lý, duy hệ thống cứng ngắt, lạnh lùng của những nhà công chức chuyên nghiệp.
Hoang tưởng vừa xúi tôi trình ra một thỉnh cầu vớt vát: “Vậy thì vào ngày Quốc tế Thiếu Nhi hằng năm, như sắp tới ngày 1 tháng 6 rồi kìa, thì sao? Vâng, thưa ban giám đốc, đúng rồi, đó là ngày lễ lớn, tầm cỡ quốc tế, thuộc nguyên con vào chức năng của quí vị chứ không phải của ai khác. Ngày mà toàn thể nhân loại, đứng đầu là Liên Hợp Quốc, đồng loạt dành tất cả những gì tốt đẹp nhất trên đời này cho thiếu nhi, nhất là trẻ em thuộc các nước nghèo, đang phát triển như Việt Nam ta. Vậy ban giám đốc có hạ cố, uyển chuyển cho phép các em xin ăn vào Nhà thiếu nhi sinh hoạt, chung vui cùng với mọi thiếu niên – nhi đồng khác hay không? Xin một lần duy nhất này thôi cũng được. Hay quí vị cứ cho phép các em vô để “sinh hoạt” thôi, “xin ăn” thì vẫn cấm tiệt cũng được…”.
Cắt! Lại phải cắt.
Hoang tưởng ơi, nếu không thể làm khó dễ người khác chút nào đó thì cũng không nên làm khổ chính mình. Có điều này là dễ dàng nhất đây. Hãy tưởng tượng về đoạn đường từ cái ngã tư có các em bé ăn xin đến cổng Nhà thiếu nhi thì riêng đối với các em bé đang sống bên lề xã hội ấy, đoạn đường này không phải chỉ dài có vài trăm mét, mà phải dài tới bằng đường… lên trời! 
4.
Vừa rồi, từ chuyện chị phụ nữ nghèo dạy con làm việc thiện cho đến chuyện các em bé xin ăn, sống nhờ vào lòng từ thiện của mọi người, chuyện nào cũng khiến cho tôi xúc động sâu xa nên tôi rơi vào hoang tưởng. Buồn nhất là khi tôi “dựa hơi” ngày Quốc Tế Thiếu Nhi 1 tháng 6 để cầu xin ai đó một cách vô vọng.

Đúng ra, không cần ai phải dạy đời cho ai, cũng như không cần phải chờ đến ngày 1 tháng 6 hằng năm, chúng ta mới suy gẫm về cách dạy con trẻ về lòng nhân ái. Bao lâu trong cuộc sống vẫn còn những người lớn, những đứa trẻ vô cảm trước tình cảnh nghèo khó, khổ sở của người khác thì đó vẫn là một món nợ lớn lao, thuộc trách nhiệm của toàn xã hội và mỗi gia đình. Riêng về chuyện những em bé ăn xin thì vấn đề người lang thang, bụi đời, xin ăn.v.v…, ở mọi lứa tuổi và sắc tộc, trước hết là trách nhiệm, phần hành của ngành thương binh – xã hội. Tiếc là hiệu quả công tác của ngành này còn quá hạn chế nên trên đường phố còn quá nhiều dân ăn xin, lang thang đầu đường xó chợ.
Nhưng “Đừng tuyệt vọng, tôi ơi, đừng tuyệt vọng…” (Tôi tự biết mình còn có một cái tật khó ưa, hay bị bạn bè cười mà tha thứ cho, đó là thỉnh thoảng tôi cứ lấy nhạc Trịnh Công Sơn mà minh họa cho nỗi niềm của mình). Xung quanh ta vẫn còn nhiều điều tuyệt diệu để có thể sống và hy vọng vào cuộc đời.
Vào những dịp lễ Quốc tế Thiếu nhi, Tết Trung thu, Giáng sinh, Tết nguyên đán.v.v…, từ lâu đã có những nhà hảo tâm, những nhà hoạt động xã hội, những nhà tu hành, những chị tiểu thương ở các chợ, những thanh niên nam nữ tình nguyện trong nước hoặc đến từ những đất nước xa xôi, có cả những nhân viên – người Việt cùng người nước ngoài – của những công ty nước ngoài, liên doanh, tư nhân…, cả khách du lịch ba-lô nữa, họ chia nhau tìm đến những vĩa hè, những gầm cầu, những công viên trong thành phố. Tại những nơi tạm-trú-khỏi-đăng-ký này của dân lang thang, bụi đời, cơ nhỡ, những con người tốt bụng ấy đã tặng quà – chủ yếu là thức ăn và quần áo, giày dép – cho các trẻ em kém may mắn, không phân biệt dân thành phố, dân các tỉnh, người kinh, người Thượng gì cả. Giữa đêm tối – phải là đêm hôm khuya khoắc mới gặp đông đủ các em đi kiếm ăn trở về “nhà” – họ còn chơi trò chơi, kể chuyện, hò hát, hớt tóc, cắt móng tay, sứt ghẻ… cho các em. Và không chờ đến các dịp hè hay lễ tết, đã có những lớp học tình thương do những người tình nguyện mở ra, đôi khi ngay trên các vỉa hè thiếu ánh sáng, để dạy chữ, dạy nghề cho trẻ em bụi đời, cùng những hoạt động ngày càng mở rộng của những Nhà Mở , Làng Thiếu nhi SOS… do các tổ chức thiện nguyện nước ngoài thành lập và các cơ sở bảo trợ, nuôi dạy trẻ em nghèo, mồ côi, khuyết tật, cơ nhỡ của các vị sư, các nữ tu, nhà giáo về hưu… Đơn giản là họ chỉ biết ngày đêm hoạt động với mục tiêu “Tất cả vì thiếu nhi” mà không cần ai đó ghi cho thành tích nhì nhằng này nọ, rằng là tổ chức công hay tư, cá nhân hay tập thể, hoạt động thường xuyên hay nhất thời, do tiền túi riêng, tiền quyên góp hay tiền tài trợ.v.v…
Tất cả những việc làm của những người-tốt nói trên đều có ý nghĩa cao đẹp, ít nhiều đều góp phần cải thiện tình hình nghèo đói trong cộng đồng xã hội. Đó là cách mà những con người tốt kia đã làm, đã đến với các trẻ em nghèo khổ, lang thang.
Ngược lại, cái cách mà các em bé ăn xin có thể đến, có thể được bước vào một nơi chốn có treo bảng là dành riêng phục vụ trẻ em, thiếu niên – nhi đồng, thì vẫn chỉ là trò vẽ vời trong hoang tưởng vớ vẩn của riêng tôi…

Phạm Nga

ĐỌC “CHÂN DUNG TỰ HOA 34” CỦA LÊ THIÊN MINH KHOA.

Châu Thach

flowers
Thơ Lê Thiên Minh Khoa tự họa 34:
VÀ EM…
Và em.
Và tôi.
Và thơ.
Và lung linh rượu.
Và chờ đêm qua
Và Không.
Và Phật.
Và Ma.
Hội nhau trong cõi ta – bà
Rong chơi
Và em.
Và tôi.
Và ai.
Và trăm năm
Vẫn nhớ hoài ngàn năm
Và ngàn năm
Nhớ xa xăm
Và xa xăm nhớ lầm
Than kiếp người!…
Nhà sáng tác Đà Lạt – 8.2006
LÊ THIÊN MINH KHOA

Lời Bình: Châu Thạch

Có lần tôi đã viết một bài cảm nhận về “Thơ Ngắn Lạ Đời Lê Thiên Minh Khoa”. Ngoài những bài thơ ngắn lạ đời đó, nhà thơ Lê Thiên Minh khoa còn có nhiều bài thơ “Chân Dung Tự Họa” cũng rất lạ đời. Hôm nay tôi xin bàn đến một trong những bài thơ ấy. Đó là bài “Và Em..”

“Và Em…” là một bài thơ mà Lê Thiên Minh khoa không tự họa chân dung của khuôn mặt mình. Nhà thơ tự họa chân dung của tâm hồn mình. Đọc “Và Em…”, ai mến Khoa thì gọi nó là thơ, ai ghét khoa thì gọi nó không là thơ cũng được. Bởi vì “Và Em …” như lời vu vơ của một tên khùng. Ngược lại “Và Em…” cũng như lời cao vời của một thi nhân:

Và em.
Và tôi.
Và thơ.
Và lung linh rượu.
Và chờ đêm qua

Em, tôi, thơ và rượu được hòa điệu trong nhau là những thời khắc hạnh phúc tuyệt vời. Chữ “Và” cho ta cảm nhận sự hội ngộ của 4 nhân vật đem đến niềm vui trác tuyệt. Em là một nhân vật, tôi là một nhân vật, thơ và rượu ở đây cũng được nhân cách hóa thành hai nhân vật để đáng ra, cuộc vui tồn tại thâu đêm.
Thế nhưng lạ thay, nhà thơ xuống một câu thơ nghịch lý vô cùng: “Và chờ qua đêm”.

Chờ ai qua đêm và vì sao phải chờ qua đêm?

Đọc câu thơ nầy tôi bỏ bài thơ xuỗng. Không hiểu! Ngày hôm sau đọc lại câu thơ nầy, tôi lại bỏ bài thơ xuống. Không hiểu! Rồi bỗng một lúc nào đó, sáng tỏ bừng lên trong đầu tôi khi đọc tiếp khổ thơ thứ hai của Lê Thiên Minh Khoa:

Và Không.
Và Phật.
Và Ma.
Hội nhau trong cõi ta – bà
Rong chơi

Hóa ra “Và em, và tôi, và thơ” chỉ là chữ “Sắc” trong đạo Phật. “Sắc tức thị không, không tức thị sắc”, chữ “Sắc” nầy biến thành chữ “Không” ngay trong tâm hồn vô thường của nhà thơ: “Và không”

Hình như trong khổ thơ thứ nhất chỉ có rượu là thật, còn tất cả chỉ là ảo ảnh, ảo ảnh ấy diển biến trong tâm trí nhà thơ mà thôi. Nhà thơ đang cô đơn giữa cuộc đời, đang bơ vơ lạc lõng trong hố thẳm trí tuệ, đang mất định hướng về đời, về thơ, về tình và về chính bản thân mình.

Đi với linh hồn Lê Thiên Minh Khoa lúc ấy, ở trong đầu Lê Thiên Minh Khoa lúc ấy, không những chỉ có bóng em, bóng thơ mà còn có bóng ma và bóng Phật. Tất cả các bóng đó chập chọa, ẩn rồi hiện, có mà không, không mà có. Những hình bóng đó cùng Lê Thiên Minh Khoa “Hội nhau trong cõi ta-bà/ Rong chơi”. Đúng ra, tất cả những bóng ấy ám ảnh trong tâm hồn nhà thơ, đích thị là chân dung của “tâm hồn Lê Thiên Minh Khoa” đã tự họa cho mình. Một tâm hồn đang khắc khỏi với những nan đề của tình yêu và của tâm linh khó giải trong cuộc sống.

Đọc hai khổ thơ trên ta thấy nhà thơ Lê Thiên Minh Khoa không rong chơi bình an bao giờ. Tác giả mang nặng trong tâm tư mình sự dằn vặt, thắc mắc, chạy đi tìm kiếm nhiều sự thật còn mập mở. Nhà thơ đang đuổi theo những bóng chân lý về đời, về tình, về thơ, về đạo và về cái “tôi” của chính nhà thơ. Có lẽ nhà thơ chỉ có thể rong chơi được trong rượu để “chờ qua đêm”. Chờ qua đêm để trông mong hội ngộ cái chân lý mình tìm kiếm. Chân lý ấy như bóng ma, chỉ chập chờn trong tư duy mà chẳng bao giờ lộ diện nguyên hình để nhà thơ bắt được nó trong trí óc của mình. Bởi thế nhà thơ “Chờ qua đêm” và sẽ còn “Chờ qua đêm” mãi mãi…

Và khi hoài nghi trong đầu lên đến độ cao, thật và ảo làm mờ đôi mắt tuệ, nhà Lê Thiên Minh Khoa không đi tìm cứu cánh trong đạo, trong thiền để định được tâm linh mình. Nhà thơ đi tìm cứu cánh trong thơ và rượu thì dễ lắm tinh thần tẩu hỏa, cái nhìn trở nên bấn loạn:

Và em.
Và tôi.
Và ai.
Và trăm năm
Vẫn nhớ hoài ngàn năm

Bây giờ Lê Thiên Mình Khoa không biết em, không biết tôi, không biết cả thời gian dài hay ngắn. Khổ thơ cho ta thấy sự nghi ngờ, sự lẩn lộn xảy ra trong tâm hồn tác giả. Mọi sự nhà thơ dồn vào trong một chữ “Và”. Chữ “Và” đó chứa em, chứa tôi, chứa ai nữa không biết, chứa nỗi nhớ gì không biết, chỉ biết là nhớ 100 năm cho đến 1000 năm còn nhớ.

Sau phút loạn thị đôi mắt của tuệ, những tưởng nhà thơ tẩu hỏa vi căn thẳng tư duy trong rượu. Nhưng không, Lê Thiên Minh Khoa còn tỉnh táo để cho ta biết nỗi nhớ trăm năm, ngàn năm, hay chính ra, là nỗi nhớ trải qua bao kiếp người. Bao kiếp người ấy nhà thơ đã nhận chịu những nỗi đau vật chất và tinh thần phi lý:

Và ngàn năm
Nhớ xa xăm
Và xa xăm nhớ lầm
Than kiếp người!…

Hóa ra cũng chỉ là nhớ nỗi đau của “Khổ Đế”, một chân lý trong bốn chân lý mà Đức phật tìm ra dưới gốc cây bồ đề. Đức Phật tìm ra nguyên nhân của sự khổ, Ngài ngộ được nhưng Lê Thiên Minh Khoa không ngộ được. Nhà thơ có thấy chăng cái nguyên nhân đó, thì cũng như sự thấy của triệu triệu sinh linh trong cõi ta bà nầy, nghĩa là thấy mập mờ hình bóng mà thôi, thấy như thấy vầng trăng Đức Phật chỉ, nhưng nó ở ngàn vạn xa không bao giờ đến được.

Là một thi nhân còn trong cõi tục lụy, mang nỗi đau của kiếp nhân sinh, con tim nhạy cảm, rung động trước hoan lạc và trước nỗi buồn, tìềm tàng trong linh hồn mập mờ hình ảnh những nhánh sông đời trong tiền kiếp, nhà thơ Lê Thiên Minh Khoa bật lên trong thơ tiếng kêu của mình, như tiếng con nai vàng lạc trong rừng rậm. Nhà thơ tự họa bằng thơ chân dung của linh hồn mình, như một con thuyền bơ vơ trôi giữa hư và thực, kể cả ngọn hải đăng của đời, của Thiên Đường hay của địa ngục cũng không có. Em và tôi và ma và Phật, và trăm năm đều nằm trong ly rượu. đó là thứ đạo chân lý mà Lê Thiên Minh Khoa làm giáo chủ, để vơi đi nỗi nhớ xa xăm, để quên đi những bài toán khó của cuộc đời không giải được như thần linh, như ma quỷ ám ảnh nhà thơ mãi mãi ./.
Châu Thach

KHI CHỢT GẶP NGÔI TRƯỜNG

Nguyên Lạc

ao-dai-6
Tưởng rằng quên được một thời
Khóa trong tiềm thức lâu rồi … xưa xa
Ô kìa! Cuối phố phải là …?
Không đâu tôi nhé!
Chỉ là nhớ thương
.
Ve reo. huyết phượng con đường
Dáng em trắng cả ngôi trường tuổi mơ
Có tôi run ngất tờ thơ
Mắt ai lá trúc nhung tơ tóc thề
.
Môi hồng vẫn thắm đam mê?
Khổ đau có đã …?
Đi về chung. riêng?
.
Vẫn tôi. vẫn nỗi muộn phiền
Trường xưa. lối cũ. hiện tiền đó sao?
Không đâu! Chỉ xót xa nào
Ngôi trường lạ lẫm. cớ sao lại buồn?
.
Thời gian bóng vụt qua song
Làm sao níu được xuôi dòng nước trôi?
Thôi đành thôi nhé. đành thôi!
Phượng hồng tình đó một đời riêng mang!
.
Bể dâu cùng với điêu tàn
Bao giờ hạnh ngộ?
Ly tan đang là
Vô thường lời Phật dạy ta
Lục Như kệ tụng chắc là tâm an? [*]
.
Tịnh không điệp khúc muôn trùng
Lắng khuya. tích tắc. nhịp buồn thời gian
Tiếng chim cô lẻ vọng âm
Chong đêm nến lệ
buốt căm nỗi hoài!
.
Cố nhân? Một tiếng thở dài
Mù sương cố lý đoạn đoài …
Biết chăng?
.
Nguyên Lạc
……………..
[*] Kệ Lục Như – Kinh Kim Cang: Như mộng, huyễn, bào, ảnh/ Như lộ diệc như điện (Như mộng, huyễn, bọt, bóng/Như sương, như chớp loé)

TÌNH CHUNG/THÔI…

ĐẶNG XUÂN XUYẾN

tinhvat

TRANH VẼ Võ Công Liêm: ‘Tĩnh vật Hoa trái’

TÌNH CHUNG

Mới hẹn mới thề nhất nhất tôi
Kiếp này, kiếp nữa chỉ yêu tôi
Thế mà tấp tểnh theo họ vội
Vất tuột hẹn thề bỏ sông trôi

Thì chữ chung tình rớt đầu môi
Biết rồi nên chỉ tự trách tôi
3 xu kiếm được duyên vài tối
Hà tất thở than đứng với ngồi.

Thế nhé, chữ tình chỉ vậy thôi
Đừng ví sông kia lúc lở bồi
Đừng than gió lạnh run chiều tối
Đừng mượn sao trời biện với tôi.
*.
Hà Nội, sáng 23-05-2020

THÔI..

(với G)

Mình chia tay lâu rồi
Sao còn tìm nhau trong mơ
Níu dài cuộc tình đã vỡ

Giờ mình không cùng hướng
Giờ mình cũng lạc giường
Thì thôi
Giường ai nấy lo ủ ấm
Đừng nữa đêm tìm trong mơ
Mỏi mòn ngày nỗi nhớ
Giận hờn mãi chi
Nào ai biết khôn biết dại

Thôi
Em cứ nằm giường lạ
Cứ ủ ấm người ta
Đêm nay… Và đêm nay nữa
Buồn nào rồi cũng sẽ qua.
*.
Hà Nội, 04 tháng 02.2020

Ngày Chiến Sĩ

Nam Lộc

Ngày Chiến Sĩ Trận Vong và
“Những Người Lính Bị Bỏ Rơi”!

linh1
Vietnam Veterans Memorial Wall in Wash. DC

Hôm nay là ngày “Memorial Day” hay còn gọi là “Ngày Chiến Sĩ Trận Vong” ở Mỹ. Cả đất nước Hoa Kỳ hầu như đều chìm trong tiếng kèn thống thiết tưởng nhớ đến những chiến binh đã hy sinh trong cuộc chiến để bảo vệ quê hương của họ cùng thế giới tự do từ bao năm qua.

lunh2

Vietnam War Memorial in Westminster, California

Hình ảnh người dân Hoa Kỳ, kể cả tổng thống, các vị dân cử, thống đốc tiểu bang, cho đến các cựu quân nhân hay dân chúng Mỹ cặm cụi cắm những lá cờ nhỏ trên ngôi mộ của các tử sĩ của họ, chắc chắn ai trong chúng ta, những người Việt lưu vong, mà không khỏi chạnh lòng nghĩ đến sự hy sinh cao cả của các chiến sĩ QLVNCH, những người đã anh dũng chiến đấu bên cạnh “người bạn đồng minh”, để không những bảo vệ nền tự do dân chủ của miền Nam Việt Nam, mà còn giữ vững thành trì chống chủ nghĩa Cộng Sản mạnh mẽ nhất của thế giới tự do trong vùng Đông Nam Á, cho đến ngày họ bị…bỏ rơi!

linh3

Trong nỗi ngậm ngùi đó, tôi chợt nhớ đến bộ DVD “Những Người Lính Bị Bỏ Rơi” mà một số anh chị em nghệ sĩ chúng tôi vừa chung tay cùng đài SBTN thực hiện để tưởng nhớ và vinh danh QLVNCH, để chia sẻ niềm uất hận của những người lính bị bỏ rơi, và nhất là để tưởng niệm các tử sĩ VNCH đã hy sinh trong cuộc chiến.

linhban
Tường An và các bạn ở Pháp (May 25, 2020)

Đọc những bức điện thư từ khắp nơi trên thế giới gởi về cho chúng tôi và nhất là nhìn tấm hình mà chị Tường An và quý vị đồng hương ở Pháp phổ biến sáng nay, hay của anh Thắng Cảnh cùng cộng đồng người Việt ở Đan Mạnh, của BS Mỹ Lâm, chủ tịch Liên Hội Người Việt Tỵ Nạn tại Đức cùng nhóm thân hữu của chị Bích Thủy. Hội Cựu Quân Nhân VNCH Ontario cùng đồng hương ở Toronto, các thành viên của Phong Trào Giới Trẻ Thế Giới Vì Nhân Quyền, cộng đồng cùng đồng hương người Việt ở Úc Châu, ở Ý, Anh, Bỉ, Pháp, Na Uy, Thụy Điển, Đan Mạch, Hòa Lan, Canada, ngay cả tại Việt Nam. Hội Người Việt Calgary…, anh chị Dương Phục, đài Sài Gòn Radio Houston giúp phổ biến một cách vô vụ lợi và hăng say tại TB Texas v..v… Tất cả, tất cả, đối với tôi đều tiêu biểu cho hình ảnh của những lá cờ Vàng Ba Sọc Đỏ đang được những người Việt tỵ nạn âm thầm cắm trên mộ phần của những tử sĩ VNCH trong ngày Chiến Sĩ Trận Vong năm Quốc Hận thứ 45.

linh bo quen

Chiến Sĩ Trận Vong và “Những Người Lính Bị Bỏ Rơi”

Và cũng trong ngày “Memorial Day” hôm nay, tôi đã đem một bộ DVD “Những Người Lính Bị Bỏ Rơi” đến Tượng Đài Chiến Sĩ Việt Mỹ ở thành phố Westminster, California, xin đặt ở đó như một nén hương lòng, thay mặt cho tất cả các thân hữu cùng những người đã bỏ công thực hiện, đã tham dự, cũng như góp phần phổ biến hoặc trân trọng đón nhận, như một biểu tượng tri ân công lao cùng sự hy sinh của những người Lính VNCH qua hình ảnh và dòng nhạc của một tác phẩm nghệ thuật mang nhiều ý nghĩa nói trên.

linh tuong niem
Tưởng niệm ngày Chiến Sĩ Trận Vong, nhưng chúng ta đã không quên những người Lính bị bỏ rơi.

Nam Lộc
Westminster, California
May 25, 2020

Tiếc Thương

thơ Willam Wordsworth
IanBui chuyển ngữ

flag america

Ngơi nghỉ đi anh, chiến hữu
Trên đồng võ khí đã câm;
Sẽ không còn ai quấy nhiễu—
Đối phương, giọng súng giữa đêm…

Anh từng nằm quen trên đất
Nửa khuya chợt tỉnh bất nhân:
Rập rền rung rinh đại bác,
Bập bung trống trận xuất quân!

Sẽ không còn ai đánh thức
Trong trại binh của Tử thần;
Sẽ không còn đau với nhức,
Không còn sốt bởi vết thương.

Tất cả nằm im, bình thản,
Cỏ không ai giẫm đạp lên.
Tiếng hò reo giờ đình bản—
Cuộc hưu chiến của Bề trên!

Ngủ đi các anh, yên giấc
Trong tâm thức của mọi người;
Dựng chòi canh tôi sẽ gác
Không cho ai xỉa xói bươi.

Bao chiếc lều xanh nín lặng
Sẽ được trang trí bằng hoa:
Các anh giành cơn đau nặng,
Tiếc thương là việc của ta.

-ianbui
Memorial Day (2020.05.25)

oOo

Decoration Day

Sleep, comrades, sleep and rest
On this Field of the Grounded Arms,
Where foes no more molest,
Nor sentry’s shot alarms!

Ye have slept on the ground before,
And started to your feet
At the cannon’s sudden roar,
Or the drum’s redoubling beat.

But in this camp of Death
No sound your slumber breaks;
Here is no fevered breath,
No wound that bleeds and aches.

All is repose and peace,
Untrampled lies the sod;
The shouts of battle cease,
It is the truce of God!

Rest, comrades, rest and sleep!
The thoughts of men shall be
As sentinels to keep
Your rest from danger free.

Your silent tents of green
We deck with fragrant flowers;
Yours has the suffering been,
The memory shall be ours.

-William Wordsworth (1807-1882)

Yêu Nhau Kiếp Này

* Nhạc Khê Kinh Kha

* HNMinh Hát

\

Chắc gì có kiếp sau mà em hẹn
Hãy yêu anh kiếp này nhé em yêu
vì đời này còn trăm nghin gian khó
không có em đời sẽ mãi quạnh hiu

Chắc gì có kiếp sau mà em hẹn
kiếp này đây anh mơ ước dài lâu
cùng bên em quá tháng ngày yêu dấu
Tình nồng say mình thề ước bên nhau

Chắc gì có kiếp sau mà hẹn mãi
hẹn trăm năm trong kiếp nầy nhé em
trọn đời này anh nguyện yêu em mãi
đời không em hoảng vắng như bóng đêm
tình không em giá lạnh cả đời anh

Chắc gì có kiếp sau mà em hẹn
hẹn thề đi kiếp nầy mình có nhau
dù tình ta có nghìn trùng cách trở
mình yêu nhau cho đến mãi nghìn sau

Chắc gì có kiếp sau mà hẹn ước
dù kiếp này em có là thế nào
anh cũng nguyện không thay lòng bội ước
kiếp nầy đây em nhé mình yêu nhau

kiếp này đây…em hỡi…mình yêu nhau

Khê Kinh Kha

CHIỀU NGỒI BÊN CỬA SỔ

VÕ CÔNG LIÊM

beach-and-sunset

thu về chưa nhỉ ?
mà nắng đợi trên cành
tóc bay từng sợi nhớ
nghe nhẹ tâm hồn đau
một sáng buồn dâng hương
và . hoa gãy trên tay
những đóa hồng lẻ loi
để nắng thu về trong mắt trong
những bước chân xưa níu kéo trời dĩ vãng
chiều khoanh tay bên cửa đợi gió bay về
sáng rực rỡ hồn đi vào tịch mịch
cho lang thang ngày qua mau trên bước đường tùng lộ
đôm đốm sáng trời đêm mở hội dọc bờ hương lau lách
tháng năm còn lại rủ bóng theo nhau sóng cuốn xa bờ
đêm trầm mình trôi theo sông trôi ngày lệ ứa trong tim
tình tôi đầu ngọn gió
một trời biền biệt xa
đợi trăng về giữa chốn tịch liêu
mưa dội bùn cong khung nhớ
mà nắng vẫn phả vào mắt môi em long lanh
cho tôi về một mình trong nỗi nhớ
tháng tư . tháng năm . đầu hạ chợp chờn mưa rụng
thêm bao la trên từng ngón thon dài thuở măng non
tôi . lêu bêu như gã điên khùng
vườn khua thức để hoang mang đụng phải thân gầy
mấy độ thu về cho mưa thở dài đau nhói tình tan
và . trong bất chợt thấy mình du đãng
giữa cõi đời tay trắng trắng tay
lửa tắt rồi cho tâm tư chợt nhớ
ngày ốm bệnh căng con chữ trên tàn lá
vàng xưa ngồi chẻ tóc trắng bay
cho đá nghe kinh ngậm sầu nhân thế
âm u vọt nhảy từng giọt sương mù
tiễn đưa người cho trọn kiếp đời sau

chiều ngồi bên cửa sổ
nghe ngóng tin vui . tôi
khẽ chạm vào hồn . em ./.

VÕ CÔNG LIÊM (ca.ab.yyc. mùa dịch 5/2020)

NHỮNG BÀI THƠ VỀ MƯA

Nguyên Lạc

muamua 1

I. Mưa
.
1.
Tôi hứng giọt mưa rơi
Nếm thử … mùi đăng đắng!
Lòng hình như … nằng nặng?
Quê hương hạn mưa chưa?
.
Trời bên đó đã mưa?
Anh nhớ em nhiều lắm
Nhớ mưa lăn má thắm
Môi em ướt anh hôn
.
Xuân nơi này mưa luôn
Mưa … mưa … như trút nước
Không mưa êm … lất phất
Ngày anh biết yêu em
.
Những cơn mưa thân quen
Thuở nao giờ đã mất
Nụ hôn mưa có thật?
Mưa ướt tóc em tôi
.
2.
Ngoài trời mưa … mưa rơi
Mưa như ai trút nước
Dội hồn tôi lạnh buốt
Biết nơi nào trốn đây?
.
Mưa ơi! Thôi ngưng rơi
Tôi nhớ môi xưa lắm
Mưa êm … ướt má thắm
Không dị hợm mưa đây
.
Mưa. mưa … suốt cả ngày
Mưa ngập đường xe chạy
Mưa mù mịt … tương lai!
Mưa ngăn đường ngăn lối
.
Chỉ chừa lại một lối
Lối hướng về em tôi
Lất phất nhẹ mưa rơi
Ướt tóc … hôn bối rối
.
Mưa ơi! Ngừng đi thôi
Mưa buốt lạnh lắm rồi
Tôi ơi! Ngừng đi thôi
Nhớ thêm chi? Đủ rồi!

II. Câu Nói Trong Mưa

Nhớ câu em nói trong mưa
“Em nào có biểu thương vừa thôi nha!”
.
Nhớ em quá xá quà xa
Mưa đang trút nước … em và câu xưa
Bao năm cứ ngỡ hôm qua
Tình yêu anh giấu bây giờ còn thơm
.
Tận sâu ngăn kín tâm hồn
Lâu lâu mở khóa … tay ôm tim mình
Nhớ mưa ướt tóc em xinh
Lăn tròn má thắm … uống tình môi ngoan
.
Bây giờ vẫn nhớ mùi hương
Cơn mưa câu nói có còn không em?
“Em nào có biểu anh thương?”
Thương chi cho lắm? Để vương một đời!
.
Mưa chi? Mưa mãi không thôi!
Mưa rơi có biết động tôi một trời?
Ngưng đi!
Tôi lạy mưa ơi!
Để tôi đừng nhớ …
câu người trong mưa

III. Lời Em Mưa Đó
.
Mưa ngoài đó vẫn còn mưa mãi
Mưa vẫn hoài có xóa được tình ai
Có xóa được dấu chân gót nhỏ
Mắt môi người hương vẫn khôn nguôi
.
Mưa ngoài đó vẫn mưa … mưa mãi
Ta một mình lần nữa sầu ai
“Thương lắm chi? Hôn vừa thôi nhé”
Lời tình vui mưa lất phất bay
.
Có chút buồn tiếng mưa ngoài đó
Có chút giận hờn người đã xa ta
Nhưng thương rất nhiều lời em mưa đó
Làm sao bây giờ? Nhớ có phôi pha?
.
Gió cứ thổi và mưa cứ mãi
Từng hạt sầu dòng chảy xót xa
Giận. buồn. thương trong ta quyện mãi
Biết khi nào…?
Gió táp mưa sa!

Nguyên Lạc

 

CUỘC ĐỜI Và SỰ LỚN DẦN Của TRÍ TUỆ

VÕ CÔNG LIÊM

image001

TRANH VẼ VÕ CÔNG LIÊM : Người đội nón đen / Man with black hat..

Sự đó nghe qua như bài bản (test) cũ kỹ, chả phải mới, bởi; con người và thời gian là một trải nghiệm rộng rãi, nó phát ra từ suy tư để hình thành cho một văn bản, điều đó quả như thông thường cho một thế hệ đã qua –it was quite a generation ago giữa cuộc đời đang sống; một thiết kế dàn dựng để trở thành văn. Nói ra có tính triết lý: giả như văn bản gởi đi, thì sự đó như biết trước rằng nó sẽ biến mất và chắc chắn trong tiến trình nó sẽ không để lại những gì chứng minh cho sự việc;‘test’ trở nên lời nhắn gởi. Nhưng thực ra đó là một chuẩn bị qua kinh nghiệm thâu tóm để thành văn bản. Điều này là một thực hành thông thường và phổ biến qua những gì gây ra từ trí tuệ: của khôn ngoan hay ngu xuẩn. Thực tế nó chỉ là bài bản không cần thiết. Nhưng; đứng về mặc khác thì nó là một diễn trình của cuộc đời và sự lớn dần của trí tuệ -the Life and Growth of the Mind- trong mỗi con người khi hành động. Cho nên chi cuộc đời là một biến động dữ dội, nhưng trong tiến trình của lớn dần có khi tưởng tượng mà trở nên kỳ quái và không thực, trong khi chúng ta đang trực diện trước một hoàn cảnh thử thách, bởi; trong thử thách là đe dọa đến tính mệnh con người. Người ta thành lập hàng rào phòng thủ cho một bệnh lý tâm thần và thể xác; dựng vào đó những gì có tính cách ‘huyền thoại’. Nhưng; nó hẳn là không thực? –But is it actually so unreal? Chúng ta không nghĩ vậy. Bởi; thực chất của sự kiện vốn đã xẫy ra, những gì đã cảnh báo là quan tâm trước một hiện tượng liên đới giữa người với người. Nó đã trở thành văn bản hiện thực, nếu thực sự có mặt ở đó, thế nhưng; người ta vẫn theo đuổi và tìm hiểu nguồn cơn tự sự do đâu mà có và đến từ đâu, người ta phớt lờ về điều này mà ngấm ngầm trong phương hướng khác giữa kinh tế và chính trị; đấy là sự lớn dần có qui mô bên ngoài của sự lý. Một dữ kiện lạ lùng về trí tuệ của con người, mà sự kiện hoàn toàn khác lạ một cách đột ngột thấy rõ (sharply) có từ thân thể con người mà ra. Dấu hiệu khác cho thấy rằng những gì ở đây là định vị một cách chính xác việc tăng trưởng trong sự ngay thẳng để phát triển bén nhạy, khéo léo và thanh cao. Trên thực tế những thể xác của con người đã bắt đầu đi tới suy giảm bởi thời gian –in fact; many persons’ bodies have begun to deteriorate by that time.

Dẫu là gì trong tình thế biến đổi bất thường hoặc đứng trước một viễn cảnh suy thoái mà ảnh hưởng đến tinh thần và thể xác, nhưng không phải vì thế mà làm ‘cụt hứng’ trong tư thế phát triển; khoa học võ trang một thứ vũ khí mới để chinh phục, nhưng; nhớ cho điều này không có giới hạn để đưa tới một tổng số của sự lớn dần và phát triển; cái đó trí tuệ có thể chế ngự được –But there is no limit to the amount of growth and development; that the mind can sustain. Trí tuệ không thể ngưng phát tiết ở bất cứ tác nhân nào hay tuổi tác. –The mind does not stop growing at any particular age. Phát triển theo mức độ thời gian, chính vì thời gian đã đưa tới một tác động suy thoái / deterioration qua từng ngày tháng…
Trí tuệ có thể teo rút giống như cơ bắp; nếu nó không dùng tới hay vận động. Teo rút trí tuệ cơ bắp là hình phạt, là những gì chúng ta bỏ quên việc tôi luyện. Sự đó là chứng cứ của việc hao mòn trí tuệ là con bệnh cực kỳ ghê gớm –atrophy of the mind is a mortal disease. Cho nên chi ‘động não’ là một tác động thực hành cho cơ não (trí tuệ) được cân bằng, hấp thụ thứ ánh sáng mới đầy chất sáng tạo hơn.
Như đã giải ở trên, con người và thời gian là một trải nghiệm nó phát ra từ suy tư để thành văn bản, dữ kiện đó trở nên thông thường; bài bản không còn là sáng tạo mà nó đi qua kinh nghiệm thiết kế để thành văn, một lối hành văn thông thường không mang tính đặc thù trong khi viết về văn chương. Và; đây là hình phạt thê thảm –And; this is a terrible penalty; là một thứ bài bản, chả phải mới mà rút tiả để dàn dựng cho ra văn, một thứ văn chương gần như nhắn gởi hơn là lý giải, lấy chứng từ để chứng minh, sự đó làm hao mòn của trí tuệ -that atrophy of the mind- Bởi nó chỉ nói lên cuộc đời trong một hạn hẹp nào đó và sự lớn dần của trí tuệ gần như thói quen không thể là văn bản (text) chính thức. Thí dụ: văn nhân Trần Dụ Ân chuyên viết phóng sự hay ký sự thường mô tả những quan hệ bình thường của thi văn nhân là viết theo dạng ‘feuilleton’ của thời báo chí miền Nam giữa thập niên 1960; gần như tìm chuyện để viết thành văn qua từng loạt (serial) chớ chẳng phải là truyện /chuyện mà hóa ra ‘xe cán chó, chó cán xe’ là chuyện bình thường tợ như thông tin thời sự, nó chẳng đánh động như một dữ kiện mà là chuyện nghe qua rồi bỏ, bởi; giữa khách thể và chủ thể cùng một tâm trạng bi đát như nhau, nó không dính gì đến lịch sử của văn chương mà tuồng như chuyện đọc đêm khuya, hò ru con. Ký sự như thế mất tính nghệ thuật sáng tạo, vòng vo trong ao tù nước đọng. Tương tợ những trường hợp khác kéo dài cho tới ngày nay của những văn sĩ, thi sĩ quen tên thường xử dụng ‘bài bản’ phê bình thơ / văn trong lối diễn trình xưa cũ, rập khuôn của những tác giả thời tiền chiến và hậu tiền chiến; tất cả bài bản (test) trở thành văn nhắn gởi. Không tác động mà duy trì thứ văn, thơ cổ lỗ sĩ không đổi mới tư duy để tạo cái ‘matière’ vào đó!
Đấy là những gì đã ghi nhận được về sự sống hiện hữu của con người (human beings) và nó sẽ có thể là điều chính đáng khác biệt giữa trí năng khôn ngoan của con người (homo sapiens) và những loài động vật khác; cho dẫu đó là một thứ siêu vi (virus) đi chăng. Vậy thì những gì xẫy ra là khám phá mới của nhân loại, khám phá từ thể chất đến tinh thần, từ tập thể đến cộng đồng là ý thức tình nhân loại, là đối tác giữa khoan dung và hài hòa; dấu hiệu của sự lớn dần phát sinh từ ý thức của trí tuệ. Mỗi khi con người cần có bên nhau, không còn biên giới thời gian và không gian, không một đối tượng nào là cố hữu; sự lý này không là tâm trạng để vượt ra khỏi giai đọan trong sự phát triễn mở mang này. Nhưng đó là dấu hiệu tiên phong lớn lao hơn bao giờ, là tiến trình mang lại sự lớn dần của cuộc đời, lớn dần của trí tuệ. Cái đó gọi là hiện tượng dung thông giữa thần và xác; con người là một hiện hữu sống thực, xung quanh chúng ta trong cuộc sống hằng ngày là nguồn năng lực trợ vào nhau và coi đó là kỳ diệu, những ấn tượng đậm nét đó là trí tuệ của chúng ta làm nên hay không làm nên, nó dựa trên cơ sở nhận thức hiểu biết, dựa trên trình độ để thành thơ /văn là những gì phản ảnh trung thực. Giả như không hiểu lý thuyết về Nietzsche, quan điểm của Hermann Hesse thì không cần phải dẫn chứng một cách hàm hồ; vô hình chung lộ hẳn cái không thực của trí tuệ, đó là mấu chốt đưa tới ‘atrophy’ một cách trầm trọng và nguy hại đến sinh mệnh văn chương cho hôm nay và mai sau. Bất luận viết gì phải là thực chứng. Dẫu là ký sự đi chăng nó có một tác động đả thông hơn là tán dương một cách vu vơ. Nói cho ngay sự đó có một ít hoặc không có hiệu năng –Eventually; they have little or no effect. Từ đó suy ra cuộc đời và sự lớn dần của trí tuệ là đi theo nhịp bước của tiến trình trau dồi và thực hành để cho cơ bắp toàn thể (corpse) phát tiết một trí tuệ trong sáng và lưu lại một giá trị lâu dài giữa cách viết và đọc, nó không hao tổn tinh thần và thể xác, ngược lại tồn lưu nhân thế. Hai lãnh vực này là vai trò chính để thành hình cho một trí tuệ sáng suốt và độc lập trong tư duy hành văn.Có nghĩa rằng độc lập trong tự phát (spontaneous) có thể là hành vi đưa tới sáng tạo hơn những gì nhai lại hay rập khuôn, thời tất không cho đó là phát huy của cuộc đời đang sống và sự trưởng thành của trí tuệ, bởi; ước lệ chính là rào cản con đường đi tới phát triển, dù phát triển trong hạn hẹp cố hữu là đưa văn chương vào con đường bế tắt mà cuộc đời là biến đổi theo thời gian; văn chương song hành cùng nhịp thở là dấu vết của đổi mới tư duy. Có thể có một vài động lực của cấu tạo văn bản -Some dynamics of textuality- là điều kiện của từng con chữ trong văn bản hoàn toàn khác biệt từ khi phát thành lời (văn hay thơ). Viết thành lời là độc lập và đầy đủ ngữ cảnh của mạch văn trong những gì nói thành lời đến cùng trong một hiện hữu. Chữ nằm trong thế tự nhiên của nó, viết thành chữ là một phần của sự thật –the words in its natural, written word is a part of a real. Còn thốt (utterance) là một tỏ bày sống thực (không pha chế hay phiạ). Chữ luôn luôn bổ nghĩa cho một tổng thể tình trạng mà lại có nhiều nghĩa hơn cả lời nói (verbal). Chữ nghĩa không bao giờ xuất hiện đơn độc mà nằm trong ngữ cảnh giản đơn của những con chữ (words). Từ chỗ đó được đánh giá cao về mặt vật lý và tâm lý của dòng tư tưởng phát tiết từ trí tuệ bằng sự phân tích rút từ nhận định của não thức mà trong cơ (muscle) của não chính là cơ quan đầu não phát sinh ra trí tuệ. Thành ra cuộc đời song hành với sự lớn dần của thời gian mới cấu thành một trí tuệ độc đáo trong tư thế vững chãi.Là văn chương mới ngày nay.

-Khoảng cách -Độ chính xác -Lựa chọn cách viết -Văn phong chỉnh đốn: Là cấu trúc cách viết có ý thức –Writing restructures consciousness trong một khoảng cách (distance) mà cách viết có tính chất khai phá, mở mang một thể loại mới chính xác hơn (precision) trong lối diễn đạt hóa cách viết (grapholecy verbalization) để cho văn phong được chỉnh đốn (magnavocabularies) bằng cách di chuyển nó đi tới một nghĩa cử phong phú, nhưng; chao đảo, lộn xộn là sự thường có trong ngữ cảnh của mỗi khi thốt thành lời hoặc viết thành văn (như văn thi sĩ LTTV và nữ văn sĩ Mỹ Anais Nin) đã huỵch toẹt, phá rào , phơi mở cho thể loại văn chương dâm ô, tục tĩu không còn thấy ở đó một sự chọn lựa cách viết mà trong lối diễn đạt hóa cách viết, có thể hợp nhãn người yêu dục và không hợp nhãn người yêu đạo đức (giả) nó nằm trong ngoặc kép riêng tư; thế nhưng nó tỏ ra ở đó cái khoe khoang, bộc bạch chung của trí tuệ khôn ngoan, khéo léo, như lối kể chuyện hoặc vắn tắt như trong tục ngữ -can be impressive in their magniloquence and communal wisdom, as in formal narrative or brief, as in proverbs- của chính tác giả. Hẳn nhiên sự khôn ngoan trí tuệ phải là cái gì với một tổng số và sự tương quan dễ đổ gãy ở phạm vi xã hội –Yet wisdom has to do with a total and relatively infrangible social contex. Chuyện kể là vận dụng ngữ ngôn và tư tưởng không ghi chép cho một phân tích chính xác, gần như tự phát để thành văn, nhưng đây không phải là điều thông thường hay dễ dàng diễn đạt, nó có ‘chất xám’ đặc biệt nằm cuối của não bộ; cho nên chi cái sự bộc phát (spontaniousness) nó trở thành văn/thơ một cách tài tình và độc đáo; tục mà thanh. Dĩ nhiên; tất cả ngữ ngôn và tư duy là có mức độ phẩm trật của việc phân tích từ con chữ cho tới văn phong; cả hai nó cuộn vào nhau nên văn là ở chỗ đó. Viết hay kể nó đòi hỏi cái độ giao tiếp trong ngữ cảnh như đã dẫn. Nhưng nhớ cho viết từ con chữ để thành lời là một dẫn độ sắc bén và tế nhị của cá tính, là tạo ở chính mình một cái gì trong sáng: không yểu điệu thục nữ, không dương (facial expression), không cường điệu, không một nghe ngóng tin ai mà phải thấy trước, biết trước của ngữ thuật, tất cả có thể bao trùm cả ý nghĩa, chứng từ có thể có cho từng đối tượng trong mọi tình huống khác nhau. Cho nên chi viết ký sự không phải là phóng sự mà cô đọng một văn phong thoát tục giữa khách thể và chủ thể ký mới trở nên linh động và tích trữ ở đó một tâm hồn khách quan hơn chủ quan. Vì vậy ký-sự phải tách ra khỏi khách thể và chủ thể thì ký mới linh động và thoát tục bằng không như tự khoe mình giữa chủ thể và khách thể cùng một ‘trời lận đận’. Cốt tủy của viết là sáng tạo và độc lập là đưa văn chương tới đỉnh cao. Ký không gây chú ý lớn như truyện ngắn, truyện dài, tùy bút hay tản văn, ký chỉ giữ vai trò ‘kể chuyện’ ghi lại hoài niệm cũ mới (chronicle memory).Thoạt kỳ thủy tác nhân được kể đến trong ký dần dà chìm sâu vào quá khứ mà chỉ thấy tác giả ký-sự ở đó mà thôi. Buồn tệ!

Dĩ nhiên; mỗi lần bắt đầu đặc bút xuống viết là cảm thấy có một sự gì ngay thẳng, đúng đắng và phân giải sự lý một cách chính xác là đem lại bên trong một sự tự nhiên để cảm thông sâu đậm trong lời văn như lời phát biểu hiện thực. Dù cho tư tưởng của Plato đòi hỏi con chữ phải rõ ràng trong thể thức đối đáp; mới là đúng nghĩa đưa tới hiệu năng của viết lách trong sự tiến trình của trí năng (neotic), bởi; nói, viết hay thốt là trong ý thức để hành văn; ngay cả Socrates và Plato họ đã thừa hưởng một tổng thể hóa của chữ nghĩa: không cần lý giải, phân tích, thuyết minh qua một thể thức đối đáp mà tự nó đã giải thích để thành văn trong tác phẩm của văn chương trí tuệ -the works of a literate mind- như đã có.
Thế giới của trí năng (trí tuệ) đã mở cửa bằng một sự tái tục chính xác là một sự bày tỏ thấy được và một thông tin hết sức tương xứng đúng nghĩa của lời nói được miêu tả (verbal description), là những gì thuộc tâm lý có thực. Hiệu năng không những chỉ khoa học mà hiệu năng ngay trong văn chương đã có ./.

VÕ CÔNG LIÊM (ca.ab.yyc. 1/5/2020)

 

quàng vai thơ đi giữa đời

khê kinh kha

bienvang

đã hơn 30 năm rồi
ba mươi năm lòng ta ơi
nhìn quanh
             vẫn thấy đất trời lạ ghê

đã bao lần
          chân mỏi quì
bao quị ngã
           lòng mệt, mê
bao nhiêu tâm sự
             tình quê muộn phiền

cầm tay thơ – chỗi dậy nhìn
tựa lưng thơ – đứng vững, yên
tựa lưng thơ, an ủi mình, lòng ơi

chút tình quê –chút tình người
tháng năm trôi – lệ xót, rơi
quàng vai thơ đi giữa đời
                                        cô liêu

 

NHỮNG BÀI TỨ TUYỆT

Nguyên Lạc

khoang cach

1. Tím Cả Đoạn Trường
.
Sương rơi trắng cả con đường
Em rơi tím cả đoạn trường trong anh!
Tinh đầu sương khói mong manh
Nhân sinh dâu bể nỗi lòng trăm năm

2. Nụ Cười
.
chợ đời gom nhặt sân si
lên chùa vấn Phật có gì đổi cho
mĩm cười hai chữ âu lo
về nhà mẹ hỏi … Cười to thế à
.

3. Căn Bệnh Tình Yêu
.
Tình yêu căn bệnh lạ lùng
Ai mà nhiễm phải không khùng cũng điên
Điên thì ta hãy cứ điên!
Yêu thì ta cứ! Không tình sống chi?
.

4. Tội Cho Qua
.
Gió lay rụng trái mù u
Giận ai bậu nói đi tu cho rồi?
Tội cho qua lắm bậu ơi!
Bậu đi tu chắc sự đời qua xong!
.

5. Cuộc Tang Thương
.
Chim quyên khản cổ khóc trùn
Anh hùng mạt vận lên rừng đốt than
Khói than che mất trăng vàng
Nhân sinh thống hận cuộc tang thương nào
.
.
6. Đêm Độc Ẩm Bên Hồ
.
Huơ tay khuấy bóng trăng vàng
Sao nghe tâm buốt vô vàn nỗi ai
Ngâm câu “đoạn thuỷ ” vẫn hoài [*]
Nghiêng bầu uống cạn thở dài hư không!
………..
[*] Trừu đao đoạn thủy thủy cánh lưu/ Rút dao chém nước, nước càng chảy mạnh (Lý Bạch)
.

7. Tiếng Vọng Chiều
.
Hắt hiu trĩu nặng tà huân
Ngút xa não vọng lũng ngàn câu thơ
“Nghìn năm mây trắng hững hờ”
Có không tâm động bến bờ tử sinh
.

8. Hoa Tím Bằng Lăng
.
Bằng Lăng hoa tím tôi về
Tìm em chỉ thấy lời thề đã phai
Đâu xưa áo trắng tóc dài …?
Mùa hè sao lạnh tím ai nỗi lòng!
.

9. Quỳnh Mơ
.
Đêm em về với tôi
Đóa quỳnh mãn khai đợi
Hương quỳnh ngọt đẫm môi
Để ngày đừng mong đợi
.

10. Quên Chưa?
.
Níu tay người hỏi thu phai?
Thưa em thu đó vẫn hoài thu xưa!
Níu mây trời hỏi quên chưa?
Xuân thu hương sắc đủ vừa trăm năm!
.
Nguyên Lạc

HẠ VÀNG

Nhật Quang

aovang

Giọt Hạ vàng rớt mênh mang
Vương bờ vai lụa mượt làn tóc mây

Sân trường trống giục chia tay
Phượng rơi lác đác, gió bay hương nồng

Bằng lăng tím lối mênh mông
Bồi hồi…lưu luyến tuổi hồng sách thơm

Nhặt vần thơ mộng ủ ươm…
Ép trang lưu bút nhẹ vương vấn lòng.

 

MÂY XUỐNG

VÕ CÔNG LIÊM

may

tặng: nguyễn mai ninh
con nắng tàn rơi
buồn thế kỷ
trong vạt gió từ khơi
tháng năm . theo nhau về nơi viễn xứ
thời gian trôi giạt
lần mò đi vào ngõ cụt ngẫu hứng bất ngờ
những con đường đóng băng không người lái
hát vu vơ những tình khúc lỡ dỡ bỏ quên sầu
phố thị buồn say nâu
trầm mình trong nỗi nhớ
chưa lần gặp gỡ mà nhớ thương ngày tháng cũ
đêm đóng cửa rượu nồng đã chén . lần qua tay nhớ đêm về
vĩa hè nghiêng xiêu đèn vàng phố lạ
đứng một mình trong quanh hiu . tôi
và em . cửa mở tự bao giờ ngày đơm thơm trái chín
đậu trên cành mà ngỡ như hôm qua đã một lần yêu
cuối sân ga mờ ảo bóng chân mây . phố đóng then cài
khúc Mozart buồn lai láng cho tim đập chậm tháng năm chờ
mòn xoáy vào mùa đông . cong queo nỗi nhớ mắt môi em rực rỡ
yêu thương trên từng nhánh sông trôi vào biển nhớ
để mưa gió rủ nhau về ôm mái nắng lang thang
mùa dị biệt không gian khép kín vào khung nhớ
tôi . buộc chặc linh hồn cho ngàn cõi chiêm bao vượt thoát

của điệu buồn hụt hẫng
đêm gục đầu sám hối
trong ngăn cách chia xa
bóng hoàng hôn tím dần
nghe mưa ngủ trên tay
chiều rơi vào cố quận
cho tới khi mây xuống
tôi . con chim cô độc ./.

VÕ CÔNG LIÊM (ca.ab.yyc 10/5/2020)

CÔNG LÝ

ĐẶNG XUÂN XUYẾN

uminh 2-rungtram

Ở Việt Nam có chàng Công Lý (*)
Giỏi diễn hề, tráo đổi trắng đen
Cũng mũ hài lái giọng người ngay
Nhưng rặt diễn mấy trò ti tiện

Tôi muốn lắm hề vào vai chính diện
Một lần thôi để Công Lý sáng lòa
Tôi cũng biết chỉ là vai hề diễn
Nhưng lẽ nào CÔNG LÝ mãi là tên?!
————————-
(*) Công Lý: Nghệ sĩ Công Lý thành danh với những vai hài.
*.
Hà Nội, trưa 08-05-2020

Niềm Tin Của Me

Khê Kinh Kha

me oi me

Mẹ gìa tát nước bên đồng
mong con chiến đấu oai hùng ngày đêm
vượt rừng băng suối qua sông
say mê theo tiếng quê hương gọi mời
dù gian lao – mẹ vẫn cười
vì con chiến đấu cho đời tự do

vì con tranh đấu diệt thù
mẹ vui khi có con đi dựng cờ
một mai trong tiếng quân về
mẹ vui khi thấy ánh hòa bình lên

mẹ gìa sớm tối vun trồng
cho con vui bước theo đoàn hùng binh
từng chiều nghe súng âm vang
mong cho con mãi hiên ngang với đời
dù hôm nay – me héo gầy
lòng yêu non nước thương người lầm than

lòng yêu non nước vô vàn
mẹ vui khi có con đang diệt thù
một mai khi gío sang mùa
tình xưa chắp nối ước thề ngày sau

mẹ gìa đôi mắt đã mờ
đêm đêm ra đứng bên bờ nguyệt soi
nguyện cầu cho đứa con trai
xa xôi đâu đó không phai lời nguyền
vì quê hương – lòng vững bền
nguyện đem xương máu đắp nền tự do

con, con ơi
non nước còn lầm than
sông núi còn đau thương
ruộng đồng còn bỏ hoang, tàn úa

con, con ơi
nuôi ước mộng toàn dân
đi thắp tình yêu thương
một ngày Việt Nam sẽ có thanh bình
KhêKinhKha
(1980)

HOA HỒNG XANH VÀ LÁ DIÊU BÔNG

Nguyên Lạc

.
BÀI THƠ BLUE ROSES – HOA HỒNG XANH

hoa hong xanh
Hoa Hồng Xanh – Blue Roses là bài thơ của Rudyard Kipling, một văn thi sĩ người Anh.

I. Vài Hàng Tiểu Sử Rudyard Kipling
Joseph Rudyard Kipling (sinh tại Mumbai, Ấn Độ 30 tháng 12, 1865 – qua đời 18 tháng 1, 1936) là một trong những tác giả nổi tiếng nhất ở Vương quốc Anh, cả về văn xuôi và thơ, vào cuối thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 20. Rudyard Kipling đoạt giải Nobel Văn học năm 1907 – ông được trao giải Nobel khi mới 42 tuổi – là người trẻ tuổi nhất trong lịch sử giải Nobel Văn học.

 

 

Các tác phẩm tiêu biểu:
– Plain Tales from the Hills (Truyện kể núi đồi, 1887)
– The Jungle Book (Sách Rừng xanh, 1894), tập truyện – dựng thành phim
– The Five Nations (Năm dân tộc, 1903), thơ
– If (Nếu, 1910), thơ – Cuối thế kỷ XX, đài BBC đã đề nghị thính giả chọn những bài thơ hay nhất của các nhà thơ Anh, bài thơ này được chọn nhiều nhất.
– Đặc biệt bài thơ Blue Roses được rất nhiều người biết đến và thích. Có người cho nó thuộc về thơ “Siêu thực”. […”Chủ nghĩa/Trường phái Siêu thực (Surrealism) là khuynh hướng nghệ thuật bắt nguồn từ chủ nghĩa Tượng trưng và Phân tâm học, đặt phi lý tính lên trên lý tính. Chủ trương, khuynh hướng trường phái nầy nhằm giúp con người thoát ra khỏi mọi xiềng xích xã hội. Chủ nghĩa siêu thực cố gắng diễn tả tiềm thức bằng cách trình bày các vật thể và sự việc như được thấy trong những giấc mơ”…] (Nguồn Wikipedia)
.

II. Bài thơ Blue Roses

Xin giới thiệu đến các bạn bài thơ Blue Roses, theo tôi đầy cảm xúc, đánh động lòng người.
.
Nguyên tác:
Blue Roses
By Rudyard Kipling
.
Roses red and roses white
Plucked I for my love’s delight.
She would none of all my posies–
Bade me gather her blue roses.
.
Half the world I wandered through,
Seeking where such flowers grew.
Half the world unto my quest
Answered me with laugh and jest.
.
Home I came at wintertide,
But my silly love had died,
Seeking with her latest breath
Roses from the arms of Death.
.
It may be beyond the grave
She shall find what she would have.
Mine was but an idle quest–
Roses white and red are best
.

III. Ý nghĩa của hoa hồng xanh

Hoa hồng xanh tượng trưng cho những điều không thể thành hiện thực, hoặc không thể đạt được. Bởi hoa hồng xanh rất hiếm trong tự nhiên, nên nó đại diện cho điều gì đó hầu như không nằm trong tầm tay của con người, một giấc mơ không thể thực hiện.
.
IV. Dịch Thơ Blue Roses

Có nhiều người dịch bài thơ Blue Roses, sau đây là các bài dịch tiêu biểu:

1. Nguyễn Viết Thắng dịch:
.
Hoa hồng xanh
.
Tôi mang đến tặng em
Hoa hồng đỏ và trắng.
Không hiểu sao em bỗng
Nói em thích hồng xanh.
.
Tôi đi khắp thế gian
Tìm thứ hoa như vậy.
Nhưng người ta cười nói:
“Chẳng có ở trên trần”.
.
Tôi trở về mùa đông
Em của tôi đã chết
Em có còn nhận biết
Hoa từ tay Tử thần.
.
Biết đâu nơi suối vàng
Có loài hoa ao ước.
Chẳng có hoa nào đẹp
Bằng hoa cõi trần gian.
.
2. Trần Đức Phổ dịch:
.
Bông Hồng Xanh
.
Hoa hồng đỏ, hoa hồng trắng
Tôi hái trao tặng người thương
Vô tình nàng chê chẳng nhận
Đòi màu xanh biếc hoa hường!
.
Lang thang nửa vòng trái đất
Chẳng đâu mọc thứ hoa này
Hỏi tìm nửa vòng trái đất
Chỉ toàn cười mỉa, chua cay
.
Trở về trong mùa đông lạnh
Người yêu thơ dại qua đời
Nhìn nàng trút hơi thở cuối,
Tử thần cướp đóa hồng tôi!
.
Có lẽ bên kia thế giới
Nàng tìm thấy được niềm vui
Riêng tôi chân tình chẳng đổi
Hồng đỏ. hồng trắng tuyệt vời!
.
3. Nguyên Lạc phóng dịch
.
a. Vài ý riêng về dịch thơ nước ngoài:

Trước khi phóng dịch bài thơ, tôi xin ghi ra đây vài ý chủ quan:
– Dịch thơ từ tiếng nước ngoài, nhất là tiếng đa âm – các nước phương Tây, ra tiếng đơn âm – tiếng Việt; hoặc ngược lại, là một điều rất khó. Coi chừng “dịch là diệt”. Dịch chính xác từng mặt chữ – giống như các dịch giả chuyên nghiệp, thì bài thơ sẽ không mượt mà. Theo tôi, thi nhân chỉ cần nắm bắt được “hồn thơ”, dịch theo ngôn ngữ riêng của mình – với điều kiện đừng quá xa rời nguyên bản – thì bài thơ dịch sẽ mượt mà hơn.
– Tiêu biểu viêc nắm vững “hồn thơ” rồi dịch rẩt tài hoa là trường hợp Phan Huy Vịnh, dịch câu thơ chữ Hán của Bạch Cư Dị ra tiếng thuần Việt mà nhiều người cho là còn hay hơn câu nguyên tác:
Đồng thị thiên nhai luân lạc nhân => Cùng một lứa bên trời lận đận
– Với những điều nói trên, tôi sẽ không dịch chính xác theo mặt chữ một vài từ/ chữ, chỉ dịch thoát chúng theo ý/tứ câu/bài thơ.
Thí dụ: “The grave” không dịch là “mộ phần”, “nghĩa địa”, “chết” … mà dịch là “cõi khác”. Tương tợ, “Half the world” tôi không dịch là “nửa vòng trái đất”, mà dịch là “khắp cùng trái đất”, “khắp cùng thiên hạ” cho mạnh nghĩa, vân vân…
.
b. Phóng dịch bài thơ:
Tôi sẽ cố gắng nắm “hồn thơ”, theo sát nguyên tác để dịch bài thơ Blue Roses . Chủ quan, trong công việc dịch thuật văn thơ nước ngoài, ai cũng tham khảo các người dịch trước, tôi cũng không ngoại lệ.
Đúng ra bài thơ này có nhiều người dịch rồi, tôi không nên dịch; nhưng vì đồng ý với nhiều người cho rằng nó thuộc về thơ “Siêu thực”, và giống như bài thơ Việt Nam nhiều người yêu thích- đã được các nhạc sĩ tài hoa phổ nhạc : Lá Diêu Bông của thi sĩ Hoàng Cầm – nên tôi dịch lại.
Bài thơ hầu như là loại thơ 6 chữ, do đó theo chủ quan tôi, dịch thơ theo loại 5 chữ thì thiếu chữ, không diễn tả hết ý nguyên bản; còn dịch bằng 6/8, 7 hoặc 8 chữ … thì dư chữ và khó khăn. Tôi sẽ phóng dịch bằng thơ 6 chữ như thi sĩ Trần Đức Phổ.
Đây là bài phóng dịch thơ của tôi:
.
HOA HỒNG XANH
.
Hoa hồng trắng hoa hồng đỏ
Hái tặng làm vui tình nhân
Không phải màu hoa mong muốn
Nàng đòi xanh biển hoa hồng!
.
Lang thang khắp cùng trái đất
Tìm đâu được thứ hoa này
Hỏi tìm khắp cùng thiên hạ
Nhận toàn giễu cợt mỉa mai
.
Về đúng ngay lúc mùa đông
Ngây thơ yêu đang hấp hối
Tìm nàng thở hơi thở cuối
Hoa hồng trong tay Tử thần!
.
Có lẽ bên kia cõi khác
Nàng sẽ tìm được hồng xanh
Riêng tôi tấm lòng không khác
Trắng đỏ tuyệt nhất luôn dành
.

BÀI THƠ LÁ DIÊU BÔNG
.
Lá Diêu Bông là bài thơ của Hoàng Cầm, thi sĩ người Việt. Bài thơ Blue Roses – Hoa Hồng Xanh khiến ta liên tưởng đến bài thơ Lá Diêu Bông của thi sĩ Hoàng Cầm, vì cả hai đều nói đến sự truy tìm những điều không thể thành hiện thực.
Bài thơ Lá Diêu Bông viết về một câu chuyện có thật, câu chuyện về mối tình đầu tiên trong đời Hoàng Cầm với người con gái lớn tuối, đáng chị mình.
.
1. Tiểu sử Hoàng Cầm
Hoàng Cầm tên thật là Bùi Tằng Việt, sinh năm 1921 (một bài báo ở Saigon gần đây cho biết ông sinh vào năm 1922) tại Làng Lạc Thổ, Huyện Lang Tài, Phủ Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh trong một gia đình Nho Giáo. Hoàng Cầm học Tiểu Học tại Bắc Giang rồi lên Hà Nội học Trung Học và đậu Tú Tài II Pháp. Khi còn đang học lớp Ðệ Tứ, Hoàng Cầm phóng tác cuốn Graziella của Lamartine thành chuyện Việt Nam với tên Hận Ngày Xanh. Tiểu thuyết đầu tay của Hoàng Cầm là Thoi Mộng, viết vào năm 1943. Trở về Bắc Giang, dạy học tại trường La Clarté, Hoàng Cầm vẫn viết văn, làm thơ để gửi đăng trên các báo Tiểu Thuyết Thứ Năm, Tiểu Thuyết Thứ Bẩy. Anh là người dịch truyện Ba Tư Một Ngàn Ðêm Lẻ ra Việt ngữ… [Hoàng Cầm Trong Tôi – Phạm Duy]
.
2. Nguyên văn bài thơ
.
Lá Diêu Bông
.
Đứa nào/ tìm được lá diêu bông
Từ nay ta gọi là chồng.
Mùa Đông sau em tìm thấy lá
Chị lắc đầu/Trông nắng vãn bên sông
Ngày cưới chị/ Em tìm thấy lá
Chị cười xe chỉ ấm trôn kim
Chị ba con/ Em tìm thấy lá
Xoè tay phủ mặt chị không nhìn.
Từ thuở ấy/ Em cầm chiếc lá
Đi đầu non cuối bể/ Gió quê vi vút gọị
Diêu bông hời … ới Diêu bông!”.
(Hoàng Cầm)
.
3. Phổ nhạc bài thơ Lá Diêu Bông
– Năm 1984 bài thơ Lá Diêu Bông của Hoàng Cầm đã được nhạc sĩ Phạm Duy phổ nhac, cùng tên. Nội dung bài thơ được giữ nguyên, Phạm Duy chỉ thêm vào hai câu lục bát ở cuối bài:

Em đi trăm núi nghìn sông
Nào tìm thấy lá diêu bông bao giờ?

– Ngoài ra, khoảng năm 1990, nhạc sĩ Trần Tiến phổ lại nhạc với lời mới cho bài thơ này, bài hát mang âm hưởng dân ca Bắc bộ, lấy tên là “Sao em nỡ vội lấy chồng”.

Trích lời bài hát “Sao em nỡ vội lấy chồng” – Trần Tiến :
.
Bướm vàng đã đậu trái mù u rồi
Lấy chồng sớm làm gì, để lời ru thêm buồn
Ru em thời thiếu nữ xa xôi
Còn đâu bao đêm trăng thanh
Tát gàu sòng, vui bên anh
Ru em thời con gái kiêu sa
Em đố ai tìm được lá diêu bông
Em xin lấy làm chồng
. . .
Thương em tôi tìm được lá diêu bông
Sao em nỡ vội lấy chồng
Diêu bông hỡi diêu bông
Sao em nỡ vội lấy chồng!
.
4. Về lá diêu bông:
Lá diêu bông là lá gì ?
– Lá diêu bông (lá bông diêu thì đúng hơn) là thứ lá đặc biệt ở làng Ðình Bảng, Bắc Ninh, phụ nữ thời xưa thường vắt ra nước rồi bôi lên mặt cho da dẻ được hồng hào tươi đẹp – theo Phạm Duy
– Lá diêu bông được nhà thơ Hoàng Cầm giải thích rằng đó là lá của hoa phiêu diêu, hoa trong mộng tưởng. Tình yêu luôn đẹp và phiêu diêu như vậy.

***
Theo chủ quan của tác giả bài viết thì cả hai bài thơ đều hay, đầy cảm xúc. Vấn đề được nêu ra ở đây là:
– Những điều bản thân mình mong muốn mà “không thể trở thành hiện thực”, khi người mình thương yêu “vẫn hiện hữu” và người mình thương yêu đã bị “Thần Chết cướp đi”, cái nào thảm hơn cái nào?
.
Nguyên Lạc
……………….
Mời nghe:
– Lá Diêu Bông (Thơ Hoàng Cầm, nhạc Phạm Duy – Ý Lan hát)
https://www.youtube.com/watch?v=2mazKAw_vZQ
– Sao Em Nỡ Vội Lấy Chồng (Nhạc Trần Tiến – ca sĩ Tố My)
https://www.youtube.com/watch?v=QAyrm8jA_a8

PHỐ NGỦ

Võ Công Liêm

thai thanh
nhớ: thái thanh (1934-2020)
nắng chẻ trên vai buồn đứng bóng
hoàng hôn xa lạ giữa lưng đèo
con đường mồ côi
mấy ngã đường tình
phố ngủ
then cài
phố nắng
buồn thiu
em . đầu hạ giờ đây thôi nhịp bước
tôi . hôn mê uống cạn những khúc tình
ngày
buồn
tênh
đêm
nhầy
nhụa
ta đứng bên này vĩ tuyến thuở mộng mơ
cách xa mấy dặm nụ hôn nồng
bẻ tay nắm ngón nghe thương nhớ
nghìn trùng xa cách có trùng khơi ?
con đường một chiều
của sài gòn nhỏ
lặng lẽ âm thầm
nhạc tiễn người đi
lời ca thắp nhặt vuốt tiếng thời gian
ngậm đá nghe kinh một tiếng chày kình
giới nghiêm giờ ngọ người đóng chặt cửa
có hẹn nhau rồi bóng xế cũng tàn dư
xin khất lại một ngày rất gần gũi
để nghe tiếng hát tợ nhung mềm
đêm màu hồng buồn man nỗi nhớ
sài gòn rít tiếng kèn đồng thêm đau đớn
nhả ngọn khói tròn cuộn lên môi thơm
tình yêu tình cờ đợi đến hôm nay
mắt môi em là biển trời xanh bát ngát
những chuyến xe không người lái đợi cuối chân trời
mắt cười tráng lệ cho lá ngủ trên tay
ôm vào lòng linh hồn nhược tiểu
những nhát dao vào đời theo mây về bên mái rạ
nghe mưa . giữa trời hoang vắng cho mặc sức ngây thơ
thành phố đau nỗi nhớ . đêm giả từ hà nội buồn lăn bánh
biển khóc một đời hoang vu mi ướt chạm vành môi đẫm lệ
đâu phải đêm nay phố ngủ mà nhớ ngọc hồi năm tháng phôi pha
cho xe cát lênh đênh tràn mi mắt . cho ngực thở từng lời yêu dấu
bước chân lên lầu thanh thế hôm qua mà nhớ đến ngày sau đó
em . là cầu thê húc là năm cửa ô là bồng lai tiên cảnh tự do ơi
tôi . nhặt từng con chữ làm sâu bọ tình nhân trong vĩnh cửu

một lần rồi thôi
như giọt mưa rơi
vào lòng sa mạc
của tình ca hụt hẫng dưới hiên trăng ./.

VÕ CÔNG LIÊM (ca.ab.yyc . cuối 4/ 2020)

“Tất cả các kỹ thuật viên phòng thí nghiệm Vũ Hán đã ᴄḣê’t

GS miễn dịch học Nhật Bản:

“Tất cả các kỹ thuật viên phòng thí nghiệm Vũ Hán đã ᴄḣê’t”

Giáo sư Tiến sĩ Tasuku Honjo:” Tôi đã làm việc 4 năm trong phòng thí nghiệm wuhan của Trung Quốc. Tôi hoàn toàn làm quen với tất cả các nhân viên của phòng thí nghiệm đó. Tôi đã gọi điện cho tất cả bọn họ, sau tai nạ.n Corona. nhưng, tất cả điện thoại của họ đã ch.ế.t trong 3 tháng qua. Bây giờ tất cả các kỹ thuật viên phòng thí nghiệm đã ch.ế.t.”
Nhật Bản, Giáo sư Tiến sĩ Tasuku Honjo, đã cảnh báo trước truyền thông ngày nay bằng cách nói rằng virus corona không phải là t.ự nhiên. “Nếu nó là tự nhiên, nó sẽ ảnh hưởng xấu đến toàn bộ thế giới như thế này. Theo bản chất, nhiệt độ là khác nhau ở các quốc gia khác nhau, nếu đó là tự nhiên, nó sẽ ảnh hưởng xấ.u đến những quốc gia có nhiệt độ tương đương với Trung Quốc. Thay vào đó, nó đang lan rộng ở một quốc gia như Thụy Sĩ, giống như cách nó lan rộng ở các khu vực sa mạc. Trong khi đó là tự nhiên, nó sẽ lan ra ở những nơi lạnh, nhưng ch.ế.t ở những nơi n.óng. Tôi đã thực hiện 40 năm nghiên cứ.u về động vật và virus. Nó không phải là t.ự nhiên. Nó được sản xuất và virus hoàn toàn nhân tạo. Tôi đã làm việc 4 năm trong phòng thí nghiệm Wuhan của Trung Quốc. Tôi hoàn toàn làm quen với tất cả các nhân viên của phòng thí nghiệm đó. Tôi đã gọi điện cho tất cả bọn họ, sau ta.i nạ.n Corona, nhưng, tất cả điện thoại của họ đã ch.ế.t trong 3 tháng qua. Bây giờ tất cả các kỹ thuật viên phòng thí nghiệm đã ch.ế.t.”

Honjo Tasuku (本庶 佑 Honjo Tasuku sinh ngày 27 tháng 1 năm 1942 tại Kyoto) là một nhà miễn dịch học người Nhật, được trao giải Nobel danh giá vì công trình khám phá của ông về protein PD-1
“Dựa trên tất cả kiến thức và nghiên cứ.u của tôi cho đến nay, tôi có thể nói điều này với sự t.ự tin 100% rằng Corona không t.ự nhiên. Nó không đến từ dơi. Trung Quốc đã sản xuất nó, nếu những gì tôi nói hôm nay được chứng minh là sai hoặc thậm chí sau khi tôi ch.ế.t, chính phủ có thể rút giải thưởng

Phòng thí nghiệm P4 tại Viện Virus học Vũ Hán ở Vũ Hán, tỉnh Hồ Bắc, Trung Quốc, vào ngày 17/4/2020. (Hector Retamal / AFP / Getty Images)
Honjo Tasuku (本庶 佑 Honjo Tasuku sinh ngày 27 tháng 1 năm 1942 tại Kyoto) là một nhà miễn dịch học người Nhật, được trao giải Nobel danh giá vì công trình khám phá của ông về protein PD-1. Ông cũng được biết đến với nhận dạng phân tử của các cytokine: IL-4 vàIL-5, cũng như phát hiện ra ACD, cần thiết cho sự tái tổ hợp chuyển đổi lớp và siêu độ.t biến.
Ông được bầu làm cộng tác viên nước ngoài của Viện Hàn lâm Khoa học Quốc gia Hoa Kỳ (2001), là thành viên của Học viện Khoa học Tự nhiên Đức Leopoldina (2003), và cũng là thành viên của Học viện Nhật Bản (2005). Năm 2018, ông và và James P. Allison được trao Giải Nobel Sinh lý học và Y khoa vì khám phá của họ trong điều trị u.n.g th.ư bằng phương thức sử dụng các tế bào miễn dịch để tấ.n công tế bào u.n.g th.ư. Ông và Allison cùng nhau đã giành được 2014 giải Tang thưởng khoa học sinh dược cho cùng một thành tích. Năm 2016, ông nhận Giải Khoa học Y khoa Keio Năm 2016, ông cũng được trao Giải khoa học Phục Đán-Zhongzhi Cũng năm 2016, ông được trao giải Thomson Reuters Citation Laureates . Năm 2017, ông nhận Giải Quỹ Warren Alpert
Honjo tốt nghiệp bác sỹ y khoa năm 1966, Đại học Kyoto, năm 1975, ông nhận bằng Tiến sĩ. trong Hóa học y tế dưới sự giám s.á.t của Yasutomi Nishizuka và Osamu Hayaishi.
Từ năm 1971 đến năm 1974, ông là giảng viên thỉnh giảng tại Khoa Phôi học, Viện Carnegie của Washington và Viện Sức khỏe Trẻ em và Phát triển Con người, Viện Y tế Quốc gia. Sau khi học tập tại Mỹ, ông là trợ lý giáo sư tại Khoa Y, Đại học Tokyo từ 1974 đến 1979, và là Giáo sư và Chủ tịch Khoa Di truyền, Trường Y, Đại học Osaka từ năm 1979 đến năm 1984.
Ông là thành viên của Hiệp hội miễn dịch học Nhật Bản và là Chủ tịch của nó từ năm 1999 đến năm 2000. Honjo cũng là một thành viên danh dự của Hiệp hội các nhà miễn dịch học Hoa Kỳ. Từ năm 1984, ông là giảng viên của Đại học Kyoto, và vào năm 2017, ông trở thành Phó Tổng giám đốc và Giáo sư xuất sắc của Học viện Cao học Kyoto (KUIAS).

MỖI NGÀY MỘT CA KHÚC TƯỞNG NIỆM 30 THÁNG TƯ

Nam Lộc

“Tự Do ơi tự do, tôi trả bằng nước mắt…!”

dicu 1

https://youtu.be/HEUHMGeJ5iE
(hình ảnh Sài Gòn “trong cơn hấp hối”, 30 tháng Tư, 1975)

dicu 2

Tôi bước đi, khi Sài Gòn trong cơn hấp hối…
Tôi bước đi, Tân Sơn Nhất lửa khói ngập trời…

Vâng, đó là những gì mà tôi đã trải qua và được ghi nhận lại trong nhạc phẩm “Xin Đời Một Nụ Cười”. Dù tôi chỉ đủ khả năng và nghị lực để viết được một cách khiêm nhường qua hai mươi dòng nhạc, nhưng phần nào đó đã diễn tả được hình ảnh của cuộc hành trình tìm tự do đầy máu và nước mắt mà dân tộc tôi, đồng bào tôi và gia đình tôi đã phải trả để đổi lấy hai chữ “Tự Do”!

Tôi bước đi, khu thương xá cửa khép cuộc đời…
…những con tầu ngơ ngác ra khơi!

Đâu ngờ rằng trên một trong những “con tầu ngơ ngác” đang chết máy đó có bố tôi, chen chúc cùng hàng ngàn người khác, đợi chờ trong tuyệt vọng để mong một phép lạ, cuối cùng điều đó đã xẩy ra. Tầu Trường Xuân đã đưa bố tôi cùng nhạc sĩ Lam Phương, bạn tôi anh Elvis Phương và hơn 5000 người khác đến được bến tự do.

di cu tau truong xuan
Tầu Trường Xuân tại cảng Sài Gòn ngày 30 tháng Tư, 1975

Ngày 30 tháng Tư năm ấy, 1975, tôi đang ngồi ở đảo Guam, nghe tin mất nước mà lòng sầu vô tận. Thuở đó không có cell phone như bây giờ nên chẳng biết gia đình sống chết ra sao? Bố Mẹ, anh chị em đang trôi dạt phương nào…? Mãi về sau mới biết ông Cụ tôi là người duy nhất trong gia đình thoát được, và phải đợi đến 2 năm sau, 1977 thì cậu em út của tôi, Nam Việt, tên sĩ quan trốn “học tập cải tạo”, mới cùng người anh là Nam Ninh, mong manh trên con thuyền nhỏ bé, phải gọi là chiếc ghe thì đúng hơn, vỏn vẹn có 7 người, không kinh nghiệm hải hành, nhưng họ đã quyết định liều chết để sống. Chẳng bao lâu, ghe hư máy lênh đênh trên biển cả, mấy ngày sau thì được tầu dầu Kuwait đến cứu và đem cả bọn vào đảo quốc nhỏ bé này tận miền Trung Đông xa xôi, nóng cháy da người. Và cũng từ những năm đó, hàng triệu người Việt đã lần lượt bỏ nước ra đi bằng đủ mọi cách, đủ mọi phương tiện, và đủ mọi hình thức. Chỉ nội gia đình tôi, tổng cộng 12 người, cùng mấy đứa cháu, đã phải mất hơn 11 lần vượt biển, vượt biên, vượt ngục và phải trải qua 9 quốc gia trên khắp 4 lục địa, ngoại trừ Úc Châu mới đến được bến bờ tự do!

Tôi bước đi, qua đường rừng chông gai, tăm tối…
Tôi bước đi, như con rết lê lết cuộc đời,
như thân bướm đôi cánh rã rời…

Đó là đoạn thứ hai của bài hát, tôi viết cho những người vượt biên bằng đường bộ, trong đó có hai cô em gái, dẫn hai đứa cháu còn nhỏ từ Sài Gòn, xuống Tây Ninh, vượt qua biên giới Cam Bốt. Hơn 10 ngày, 9 đêm đi bộ trong rừng thẳm mới đến được trại tỵ nạn Thái Lan. Sau này còn biết thêm, nhạc sĩ Trúc Hồ cũng là một trong số những “bộ nhân” vào thời điểm đó.

Tôi nép thân trên mảnh thuyền mong manh, sương gió,
Như một người tìm đường về nơi đáy mồ…

Đoạn thứ ba tôi viết cho những thuyền nhân, mà đa số anh chị em của chúng tôi cùng hàng triệu người khác đã dùng phương tiện đầy hiểm nguy này để vượt biển tìm tự do. Tôi còn nhớ, chỉ riêng năm 1979 thôi, nước Mỹ đã nhận hơn 200 ngàn người tỵ nạn VN đến định cư tại HK.

di cu he thong
Thống kê thuyền nhân tỵ nạn Việt Nam của UNHCR

Nhưng dù ra đi bằng cách nào chăng nữa, như chúng tôi, thời điểm 1975, như các thuyền nhân, đường bộ hay đường bay của những vị tù nhân cải tạo, đến HK muộn màng qua diện HO, hoặc gần đầy nhất là các tù nhân lương tâm v..v.., thì người Việt tỵ nạn đã hãnh diện gởi đến cho toàn thế giới một thông điệp mạnh mẽ về lòng quyết tâm và yêu chuộng tự do, dân chủ của chúng ta.

Tự do ơi tự do! Tôi trả bằng nước mắt,
Tự do hỡi tự do! Anh trao bằng máu xương.
Tự do ơi tự do! Em đổi bằng thân xác,
Vì hai chữ tự do, ta mang đời lưu vong.

Và đó là tất cả những tâm huyết tôi đặt vào ca khúc “Xin Đời Một Nụ Cười” cùng những bài hát khác mà tôi đã mạo muội chia sẻ cùng qúy vị và các bạn trong mấy ngày qua. Có một chiến hữu, trung úy Sơn “Lai Khê” của Sư Đoàn 5 Bộ Binh đã viết một bài liên quan đến những sáng tác về tỵ nạn của tôi và ông gọi tôi là “người nhạc sĩ của tháng Tư”. Điều đó không sai, quả thật, nếu không có biến cố 30 tháng Tư, 1975, thì có lẽ tôi sẽ chẳng bao giờ trở thành…“nhạc sĩ”. Nếu không có những khổ đau, gian truân, tủi nhục mà thân phận người tỵ nạn đã phải trải qua và chịu đựng, thi sẽ không bao giờ Sài Gòn Ơi, Vĩnh Biệt, Người Di Tản Buồn, hay Xin Đời Một Nụ Cười được thành hình. Những bài hát này tôi viết cho chính bản thân tôi, cho gia đình tôi, cho đồng bào tôi và cho dân tộc tôi. Vì thế ai cũng có thể sử dụng được mà không phải trả tiền, bản quyền là của quê hương, đất nước. Tôi đã để lại di chúc cho các con, các cháu để chúng hiểu và thực hiện những ý nguyện đó của tôi nếu mai này tôi ra đi.

di cu sinh vien
Sinh viên tỵ nạn Việt Nam tại đại học YALE

Tôi hãnh diện với thế hệ trẻ ngày nay mà quý vị và chúng tôi, lớp người đi trước đã hy sinh để cho chúng trưởng thành và hiểu biết. Các cháu đã thành nhân, thành những người hữu dụng của xã hội tại khắp các quốc gia tự do trên thế giới đã đón nhận chúng ta. Những giờ phút lao động vất vả mà chúng ta đã trải qua, giọt mồ hôi của người thợ sửa xe hay người đứng đổ săng, giọt nước mắt của người lao công hay đứng chùi cầu. Những người thợ dũa móng tay, những tài xế taxi, dọn giường trong khách sạn hay chạy bàn ở nhà hàng v..v.., họ đã dùng đồng tiền mồ hôi nước mắt đó để nuôi nấng bầy con, lũ cháu ăn học thành tài. Và bây giờ chúng sẽ là những nhân tố đóng góp tích cực vào xã hội và các quốc gia mà chúng ta đang tạm dung. Con cháu chúng ta sẽ mãi mãi và muôn đời trả những món nợ ân tình mà các chính phủ cùng những người bảo trợ tốt bụng năm xưa đã giúp đỡ và cưu mang ông bà, cha mẹ của chúng. Viết đến đây, tôi lại nhớ đến câu nói của ký giả George Will trên tuần báo Newsweek năm 2007, viết về một phụ nữ VN đã có những đóng góp tốt đẹp cho đất nước Hoa Kỳ, ông nói “Cám ơn cô đã trả món nợ mà cô nói cô nợ của nước Mỹ. Cô đã hoàn trả đầy đủ, không thiếu một xu nào, lại còn luôn cả tiền lời nữa…….”!

di cu sinhvien ra truong

Ngày các cháu tốt nghiệp đại học YALE
và căn cước tỵ nạn ở trên mình

Hôm nay là ngày 30 tháng Tư, 2020, kỷ niệm 45 năm ngày chúng ta mất quê hương dù vẫn còn tổ quốc. Kính mời quý vị và các bạn nghe lại hai phiên bản của nhạc phẩm “Xin Đời Một Nụ Cười”. Clip đầu được thu thanh đã gần 40 năm trước khi tôi vừa hoàn thành nhạc phâm này và cùng hát với nữ ca sĩ Khánh Ly. Phiên bản sau đó được trung tâm Asia thực hiện gần đây để nhắc nhở kỷ niệm xưa, nhưng cũng để gởi lời tri ân đến các xứ sở tự do đã cho chúng ta cùng thế hệ con cháu của chúng ta một tương lai và một kho tàng trí tuệ, sẵn sàng để chia sẻ cùng thế giới và đóng góp cho một Việt Nam tự do của một ngày không xa.

NAM LỘC & KHÁNH LY
https://www.youtube.com/watch?v=1gVUqtzWkm8

DIỄM LIÊN & NGUYÊN KHANG
https://www.dailymotion.com/video/x7f4q42

&
https://www.youtube.com/watch?v=RiKsJ7J5eLg