Thơ Võ Công Liêm

tranh vcl thieu nu

Tranh vẽ Võ Công Liêm: ‘Thiếu Nữ với Cụm Hoa/ Girl with Flowers’

CUỐI MÙA

màu nắng vàng tươi không nồng lắm
tôi . nhớ hoài
điệp khúc mùa xuân
mây xám bay
một thời lang thang phương trời viễn mộng
hiện diện trong ta những ngày khất thực
buồn chao ôi tháng năm sụp đổ
con đường xưa đó có còn không ?
để thấy mình nghêu ngao một thuở
thời gian không ngoảnh lại
sợ vết thương tím bầm
rạn nứt đường trần
lên da thịt . em
đốt tàn dư lệ một đời qua
mưa khóc những ngày cận chiến
để nghe xuân về trong tiếng thở than
nắng nhạt trên môi
và . tóc thổi từng hạt nhớ
lên phiến tơ chùng
ngọn khói vô tình nuốt chửng hư vô
tôi . up-side-down
núc cạn chén tiêu tương cho đở nhớ
giao thừa một kiếp giang hồ tận
với núi non đoài bạc mái trăng thưa

cuối cùng . trăn trở những lời thơ ai oán
hứng nắng một lần cho mộng vỡ tan theo .

BIỂN

xa ngát nghìn trùng
lớp sóng phế hưng
hải âu phi xứ
chim
kêu
biển
nhớ
về nơi cuối trời .

CON GIÓ

tặng: tvl. lk. ttm/tv và bè bạn cũ.

phóng thích em từ độ ấy
để nghiêng con gió lộn lèo tình tôi ./.

VÕ CÔNG LIÊM (ca.ab.yyc . Cuối tháng 2/2020

 CAO BÁ QUÁT: NGẠO VÌ THẤT CHÍ Hay NGẠO VÌ PHẨN NỘ

Võ Công Liêm Soạn Thảo

Cao_Ba_Quat

    Rất nhiều người nói đến Cao Bá Quát từ vua quan, sĩ tứ cho đến bần dân thiên hạ. Từ trong cuộc đời đang sống của thi nhân cho tới cái chết của người gần hai thế kỷ qua. Ngay cả câu nói ’bồ chữ’ là phản ảnh lòng tự hào vốn đã có trong con người ngạo mạn. Phải chăng đó là âm vang của thiên tài sinh ra để ngạo? Ngạo để biếm đời, ngạo để khinh thường hay ngạo để nói lên lòng kiêu hãnh; vì nỗi tuyệt vọng mà sinh ra miệt thị đời; chẳng qua ức mà sinh ra ngạo -to be contemptuos/méprisant/non-comparution- Chân tình mà nhận ra rằng: ngạo mạn là hào phóng của con người bất cần, bất-khả-tư-nghị để giải thoát một chân như hiện hữu –éclaircie de l’être/to be enlightened. Đó là cái gì khác biệt cho một cái nhìn khác biệt về Cao Bá Quát; chính sự cớ đó đã đưa tới cách ly, có thể không còn hiển hiện mà đành chấp nhận sự căng phồng, bôi bác, chà đạp, hủy bỏ -La différence va si loin que de son fait la possibilité de connaitre ce qu’elle sépare est éteinte, abolie (Andre Préau).

Từ đó Cao tiên sinh trở nên hiện tượng, một hiện tượng siêu lý mà ít ai có giữa cõi đời này. Trong từng tiếng nói hay trong từng lời thơ phản phất một chất liệu phản kháng; giữa hai bề mặt xã hội và con người:

Trời nắng chang chang người trói người

Nước trong veo vẻo cá đớp cá.

Lời thơ không có gì là bác học, không có gì là hàm chứa mà cả một tập trung của sự thật, sự thật đau đớn phải gánh chịu của thân phận, cảnh tỉnh qua một phản kháng khác. Đó là triết lý nhân bản, một lý thuyết nói lên giá trị của con người, một giá trị gắn liền giữa ý niệm và tư tưởng: tình cảm nầy hay tình cảm kia, hành động này hay hành động nọ. Vì; cái nhìn của thi nhân là phán đoán, thẩm định giá trị của chân lý làm người giữa sai lầm và chính nghĩa, giữa thiện và ác, giữa hành vi nhân ái và sát nhân đó là chuỗi liên trình giữa người và vật; vẫn đau xót vẫn triền miên. Con vật khác con người ở chỗ con người biết đo lường, biết thẩm định và biết đánh giá. Đó là phạm trù của ngôn ngữ ‘bản chất và hiện tượng’ cả hai là biểu hiện của dung-thân; lý sự nầy cốt thỏa mãn dục vọng, tàn tích của con người trong cái bản chất ‘egoist’ cho nên chi con người không thể xác nhận được bản chất tự tại như thế nào, để rồi đi tới hành động điên rồ, ngu xuẩn. Như chúng ta biết: con người là hữu thể có lý trí, hữu thể xã hội, hữu thể kinh tế(quyền lợi) và hữu thể tự do. Con đường đó chính là con đường tồn lưu –monde et chose n’ont leur être que l’un par l’autre (M. Heidegger). Vì vậy ; Cao Chu Thần nhìn đời bằng đôi mắt miệt thị của ‘hữu-vô’ của ‘thiện-ác’ của ‘quân-tử/tiểu-nhân’ đó là một lý giải thông đạt và liễu quán.

Đấy là tâm thức ‘hoài vọng của tồn lưu’ –la espoir de l’être. Cái đó đã làm cho người ta trở nên khinh khi để còn lại hoài vọng của mơ-về, của cuộc đời là lẽ sống, nói lên biểu hiện tự do vì chứng cớ ‘trói người’ và ‘đớp’ là hai động từ bi đát của ‘tragedy’ là thảm kịch, bởi ý nghĩa chung hay riêng của cuộc đời đều nằm trong tư thế của ‘hư-vô’ cho mỗi cá thể. Với chừng đó câu thơ 7 chữ thi nhân đã nói lên trọn gói của bi thảm ; đời là chấp nhận sinh tử, dù là thương đau, dù là thất bại nhưng để lại tiếng đời. K. Jasper có lần nói : ‘Thất bại chỉ có với tồn lưu / Il n’y a d’échec que pour l’existence’.

Lời thơ của Cao Bá Quát không còn tính cách châm biếm, ngạo đời hay mai mỉa mà chứa đựng một phản kháng nội tại : vô cùng, mãnh liệt, bi thương. Bởi ; phản kháng của Chu tiên sinh có nghĩa là không chấp nhận cái thứ quyền lực phi lý, kết án không bản án, cáo trạng của vô tội giữa một tình huống ngổn ngang, gò đống. Tinh thần phản kháng đã biến mình qua gào thét, đơn điệu, ngạo mạn ung dung, mỉm cười trong đau xót của thế thái nhân tình mà mấy ai hiểu lòng dạ của thi nhân.  Không chừng nhìn Cao Chu Thần là kẻ cuồng si thời đại, chưởi đời qua ngạo nghễ tư duy ! A. Camus cũng có lần thốt lên như vậy :’Tôi thốt lên rằng mọi thứ là vô lý nhưng tôi không thể nào nghi ngại lời than, lời thét(ngạo)của mình mà ít ra tôi phải tin vào sự quyết của tôi / Je crier que je ne crois à rien et que tout est absurde, mais je ne puis douter de mon cri et il me faut au moins croire ma protestation’. Vậy thì tinh thần phản kháng của Cao tiên sinh là tìm thấy ở chính mình với những lý do đưa ra như tự mình kiểm xét tự mình để mở một lối thoát ; cái dồn ép nội tại nầy là lý do đẩy Cao Bá Quát theo phong trào cựu Lê để dấy binh ở Mỹ Lương (1854). Có phải đó là con đường ‘la nostalgie de l’être’ một hiện hữu của tình quê ? một phản kháng cuối đường được tìm thấy qua những gì kêu ngạo đời vì đời nuôi dưỡng bất công, hủ hóa ngay cả triều thần đang rơi vào cõi u minh (luật trường thi). Cái phản kháng nói không mà có, nói có mà không ; một lối chơi chữ tài tình của con người vốn hay chữ như Mẫn Hiên Cao Chu Thần. Hiếm có người làm thơ theo dạng đó.

Từ thất bại nầy đến thất bại khác Cao tiên sinh rơi vào vực thẳm, nỗi thống khổ chồng chất khi nhận tước vị Quốc sư cho dòng hậu Lê mà không đạt được mộng ‘xây thành’, ngọn cờ không thuận gió như mộng ban sơ :

             ‘ Bình dương, Bồ bản vô Nghiêu Thuấn/Mục dã Minh điền hữu Vũ Thang’

(Bình dương, Bồ bản không có vua Nghiêu Thuấn thì Mục dã Minh điền phải có Vũ Thang nổi dậy). Ngần ấy thôi cũng là tội mất đầu đối với triều Nguyễn, còn biết bao nghịch phản lệnh triều đình, bao lần sửa bài, phạm húy luật trường thi. Cao Bá Quát đang đối diện với thực trạng, đối diện một xã hội thoái trào, thủ cựu, bao che, đì ải của quyền lực : một cho quyền lực  thiết lập trên nghi thức của dòng tộc, hai cho quyền lực thu đoạt, khống chế. Đó là nguyên cớ phát động bùng dậy để trừ gian diệt bạo của phường nhà ma, ngạ qủi. Quyền lực của đám ruồi muỗi nhỏ nhen khơi nguồn như một quyền lực vô biên.  Cao Chu Thần không nghi ngờ điều nầy, và ; cũng chẳng ai nghi ngờ sự thế, cho dù một giây phút nào đó, cái đặc ân ghê gớm đó đều đem lại bè phái tức khắc và rồi chúng ta trở nên nạn nhân của thoái trào –this powerfull little group of innitiates knows that it has all the rights. Anyone who doubts, even for a second, these formidable privileges is immediately driven from the flock, and once mere becomes a victims (The Rebel. A. Camus). Nhưng  Cao tiên  sinh phá chấp để đạt tới một tinh thần cách mệnh chủ nghĩa. Nhìn xa hơn ta thấy được cái tâm như của Mẫn Hiên là tâm bình đẳng; một hoài vọng của kẻ sĩ đứng trước thảm cảnh, muốn biến mộng thành thực, đó là hướng vọng cuộc đời, là lẽ sống là hướng trực là ý nghĩa làm nền cho mọi hoạt động của mình, sửa bài là một thái độ phá chấp để nuôi dưỡng hoài bão, mưu cầu trọng dụng nhân tài, chớ phải mục đích mua quan bán tước mà đó là tinh thần của người thức giả, một yêu cầu tự thân của hiện thể.

Với 46 năm cuộc đời là đón nhận thảm cảnh bi thương, khi thăng khi trầm, khi đày, khi dương hành hiệu lực, khi sơn lâm cùng cốc hay đến miền cao heo hút. 1840 (32 tuổi) đánh dấu một đời tham quan trước cửa Khổng sân Trình để rồi nhận lãnh chức Hành Tẩu Bộ Lễ ở Sơn Tây. Cao Chu Thần bình tâm trước vận nước đảo điên, xót thương tình người, tình bầu bạn, tình yêu vợ con, tình trăng trong núi biếc với chén thù chén tạc. Lời thơ như tự thán, như trách phận mình làm mà không thành để vạ lây:

      ‘Cầu điều nhân chưa đạt thành gây họa / Cùng bệnh thương nhau mà lụy đến người’.

Ba năm ngồi tù vì tội ngạo, tội nghịch nhưng khí tiết ‘nhà nho’ không vì thế mà khiếm nhược, vẫn ngạo nghễ để chưởi vào mặt đám quan liêu, xua nịnh, hoạt đầu để nhũng lạm, bênh vực kẻ yếm thế và tình người cao cả; đọc bài ‘Tài tử đa cùng phú’ tưởng là lời lẽ bông đùa nhưng trong đó chứa một nội thức phản kháng. Một thứ phản kháng siêu hình là cơn dấy động của con người, đứng lên để đối đầu với thân phận. Tại sao cho Cao Bá Quát là phản kháng siêu hình? – trong con người nô lệ có cái sự đặt định buộc phải, giá trị con người ngang hàng con vật; cho nên dấy động là đi từ kẻ nô lệ và kẻ phản kháng trở thành đồng tính. Nguyễn văn Siêu và Cao Bá Quát là bạn tâm giao (dù mức độ và tuổi tác cách biệt) nhưng đồng cảm; cả hai đã chối bỏ, chối bỏ thân phận bị vùi dập –pour l’un et l’autre, il ne s’agit pas seulement d’une negation pure et simple. Vì vậy Cao Bá Quát, Nguyễn Văn Siêu phản kháng để thấy họ hiện hữu, tư duy nầy gần với Descartes, đó là lối suy tư phản kháng ‘cogito’ của hai vị thức giả nhà nho ở vào thời đó.

                                           Trái chân kỳ ký cho vào rọ

                                           Rút ruột tang bồng trả nợ cơ

Kỳ ký là bậc tài hoa mà không biết dụng võ, lãng quên như đồ bỏ. Chí tang bồng hồ thỉ thì lại dùng vào chuyện áo cơm. Cao Chu Thần manh nha từ đó để ngạo mạn. Cái đối đãi ơn sủng, mưa móc của nhà vua là nặng nhẹ trong hình phạt. Cao Chu Thần hiểu rõ điều đó hơn ai. Thiệu Trị,Tự Đức sủng ái, bổ nhiệm, khoan hồng, ân huệ vì; Cao Bá Quát có tài về văn, chữ lại giỏi, thông tuệ chính trị; như đã một lần quân sư thì đó không phải người thường. Song le; chất ngạo ở con người Cao là một khinh mạn có lý, có tình, một cung cách phản kháng thâm hậu mỗi khi đáp lễ vua quan; tàng ẩn một sự so sánh giữa vua tôi:

‘Thiên tải nhất ngộ, hữu thị quân hữu thị thần’

(Nghìn năm gặp được một lần, có vua đó có tôi đây)

Cái lối cưỡng kháng mà vua quan đành lòng thừa nhận bản chất cố hữu của con người ngạo mạn, một biểu thị ngang ngửa, khát vọng là đòi hỏi chung. Suy ra lời lẽ đối thoại không phải là lời nói tao nhã của kẻ sĩ mà đó là ý chí quyết thắng, đánh đổ để dồn đối tượng vào ngõ cụt mới thấy được người được ta. Thế mạnh của Cao Bá Quát là ở chỗ ‘văn chương nết đất thông minh tính trời’(ND) điều đó hẳn nhiên đã rõ. Cho nên đứng trước vua quan  Mẫn Hiên không nhìn là đối tượng tôn kính mà bằng một bản thể tự tại mới xuất thần thành thơ, một lối thơ ‘mới’ đối đáp có văn tự. Qua tư duy triết học giữa vua tôi là hiện thể của hai là một ‘un être-à-deux’ thì không còn phẩm trật hay đẳng cấp mà cả hai cùng chung một tế bào nhạy cảm, vướng vít vào nhau đưa đến một đối thoại rộng rãi; như gặp nhau, như đang sống cùng một tương thức lồ lộ –révélation de ‘toi’ pour ‘moi’ như Merleau- Ponty đã nói. Trở lại bài thơ đọc trước vua quan của Cao tiên sinh như sau:

‘Bảo mã tây phương huếch hoắc lai

Huênh hoang nhân tự thác đề hồi

Viên trung oanh chuyển khề khà ngữ

Dã ngoại đào hoa lấm tấm khai

Xuân nhật bất văn sương lộp bộp

Thu thiên chỉ kiến vũ bài nhài

Khù khờ thi tứ đa nhân thức

Khệnh khạng tương lai vấn tú tài’.

(Ngựa qúy từ phương tây huếch-hoắc lại/Người huênh-hoang nhờ cậy dìu về/Trong vườn chim oanh khề-khà hót/Ngoài đồng hoa đà lấm-tấm nở/Ngày xuân chẳng nghe tiếng sương lộp-bộp/Trời thu chỉ thấy mưa bài-nhài/Thi tứ khù-khờ mà nhiều người biết/Khệnh-khạng mang đến hỏi ông tú tài.) Những chữ, những câu có tính súc tích hàm chứa nghe như biền ngẫu nhưng đầy phong thái chân như của người thơ yêu nước. Ngẫm mới thấy cái tài dụng văn, cái nghịch lý của thơ là đưa Nôm vào Hán của Cao tiên sinh, diễn tả trọn vẹn cõi thời gian là yếu tố, cơ sở, sinh, diệt và chính con người dự cuộc với trần gian như giấc mơ, nhưng nhìn lại thì một thoắt. Vua Tự Đức người uyên bác ít nhiều hiểu được: thời gian là cuộc đời. Cao Bá Quát hiểu được: thời gian là qui trình; vì thế thời gian in dấu trong thơ, bởi; cuộc đời trôi chảy không thể vượt được thời gian, cho nên chi vạn vật song hành với thời gian để rồi đưa tới biến dịch, đổi thay và dần dà đi vào hư vô dưới ánh mặt trời:

‘Dưới thiều-quang thấp thoáng bóng Nam-San

Ngoảnh mặt lại cửu-hoàn coi cũng nhỏ’ (Uống Rượu Tiêu Sầu.CBQ)

Thời kỳ đi làm giáo thụ Quốc Oai, Sơn Tây. Ông tự thấy mình thừa giữa cuộc đời, một lưu đày tại thế. Biến Cao Chu Thần ở trạng thái lỡ thời. Cao Bá Quát tuyệt vọng, con đường hoạn lộ coi như vùi dập ; cái lối ‘đãi ngộ’ của đám vua quan là trị tội; vì cho rằng Cao Chu Thần vạch mặt chỉ tên những kẻ phì gia, hả hê trong đau khổ. Đau đớn thay phận làm người. Ông từ quan cáo bệnh để xa cái cảnh trói người, đày người rồi buộc tội :

Nhà nát ba gian, một thầy một cô một chó cái

Học trò dăm đứa, nửa người nửa ngợm nửa đười ươi

Cái đau nhói của thi nhân là bị ‘nhốt’ và đã ở hoàn cảnh đó thì thực trạng con người trước nhất có lẽ là thời gian, vì ; thời gian là bao hàm quản thúc sự sống ; nỗi tuyệt vọng đó đã giết chết nguồn thơ biếm đời ngay cả nguồn thơ tức cảnh để sinh tình của Cao thi nhân. Hiện tượng đó nói lên cái siêu lý của Cao Chu Thần ; đó là cảnh u hoài, bi đát đưa đến một nội quan phản kháng. Do đó cái ngạo của Cao Bá Quát không còn tính cách biếm đời mà ngạo để lật đổ tàn tích cố cựu, để làm mới xã hội : mục nát giữa người và ngợm !

Chưa thỏa mộng lại triệu về cung làm những điều không phải mộng mà đứng lại để nhận cái bi thương xã hội ; bởi những ký sinh trùng thời đại biến minh quân trở nên u quân. Vì thế đời ra sức dzìm kẻ có tài đó là luật thường tình. Cao tiên sinh học giỏi lại hay chữ, cốt cách uyên thâm của giòng dõi để lại, một trí tuệ vượt bực khi ở tuổi thiếu thời thì đủ thấy được cái chất hào khí ngang tàng, ngỗ nghịch của một con người thấy được cuộc đời giữa hư và thực, giữa mộng và ảo thì làm sao kẻ sĩ nguôi ngoai với tình huống. Ngạo mạn là lý do uẩn khúc trước thời cuộc. Chí thì lớn mà đôi tay thì yếu… Cũng nhờ về đất Thuận Hóa làm kinh sử bên cạnh vua mới thấy được mộng là mộng, chân là thực :

‘Đem mộng sự đọ với chân thân thì cũng hệt’

Vị chi trạng thái tâm thần của Cao Bá Quát trở nên bị động trước hoàn cảnh đến bây giờ ngoảnh đầu thì xa vời với thực tại. Phải hiểu hoàn cảnh ở đây cho Cao tiên sinh ; dù đối đầu qua nhiều trạng huống khác nhau nhưng hoài vọng nhà Chu vẫn một mực dấy động, làm bầy tôi nhà Nguyễn, hào khí bất khuất đó không thể dập tắc được. Dù rằng ; về mặt tinh thần lễ giáo, đạo đức, gia phong có kiềm tỏa, quân với tôi là nghĩa cử nhưng yếu tố đó khiến cho con người ray rứt trước hoàn cảnh, trước bản chất, trước thời gian tất đưa tới khổ lụy. Đó là sự cớ đẩy Cao Bá Quát vào một tư duy phóng ngoại như để xoa dịu nỗi đau trước hoàn cảnh xã hội, trước hoàn cảnh cố hữu của thần và quân như trói buộc. Tình thế đó ; dẫu là gì con người một đôi khi phải trở-về cho chính mình, một cái gì xao xuyến tương thức giữa đời và người, một nhân sinh quan tương hợp hóa ‘rationlisation’. Nói một cách lý thuyết thì đó là hiện hữu cho mình –être-pour-soi mà vẫn chứa một cơ cấu hiện hữu cho người khác –être-pour-autrui. Thì đó là một liên trình của Cao Bá Quát :

‘Thế sự thăng trầm quân mạc vấn

Yên ba thâm xứ hữu ngư châu’

(Việc đời thăng trầm chất vấn làm chi/Trong khói sóng mịt mờ có chiếc thuyền câu)

Phải biết rằng ; Cao Bá Quát là đấng tài hoa quán thế, tài không dụng, chí không phát mà gặp phận số long đong. Sinh lòng mà lui về một góc trời riêng, mượn chén men say :

‘Ba vạn sáu ngàn ngày là mấy

Cảnh phù du trông thấy cũng nực cười

Thôi công đâu mà chuốc lấy sự đời

Tiêu khiển một vài chung lếu láo’

(Uống Rượu Tiêu Sầu. CBQ)

Gia nhập vào Mạc Vân Thi Xã là duyên trùng phùng với cái nghiệp thi ca. Ở đây Cao tiên sinh thả thơ, bình thơ với những tay thi bá tiếng tăm cố đô văn vật, một tao ngộ kỳ phùng bởi chỉ có ngôn ngữ thơ mới nói lên sách lược của mình. Cao thủ như Mẫn Hiên mới thách đố được những bậc công hầu khanh tướng như thủ lãnh thi đàn Miên Thẩm.

Càng thâm sâu càng thấy cái dở, càng đào sâu mới thấy đất nhiều hơn vàng hơn bạc. Ngao ngán phải thốt nên lời miệt thị, khinh khi  đám sĩ tử.Mặc dù Tự Đức đãi cho mấy chữ ngợi ca :

‘Văn như Siêu Quát vô tiền Hán

Thi đáo Tùng Tuy thất thịnh Đường’

Nhưng Cao Chu Thần không lấy đó làm tự mãn. Bởi Cao là một nhà thơ. Một nhà thơ chân chính và biệt tài. Thì dẫu có sánh hơn cả Hán hay Đường chỉ là lời ngợi ca khí tiết, trấn an một nội tại phản kháng.  Phản kháng ngay trong lòng địch :

‘Ngán thay cái mũi vô duyên

Câu thơ thi xã con thuyền Nghệ An’

Có cần lý giải cái thảm cảnh sầu bi này không ? Giải làm chi một vùng đất mắm tôm dưa muối suốt đời thì hay ho gì mà phân bua bày biện. Thói đời là thế. Cứ thấy mình là hay !

Trong buổi tiệc rượu của đám văn nhân Mạc Vân Thi Xã ; đó là lần cuối Cao Bá Quát lên đường ra Bắc. Trước khi đi có trao bài thơ xuân cho bạn chí thân Nguyễn Văn Siêu :

‘Khách nay chẳng thấy xuân xưa nữa

Thổn thức xuân nay gặp khách xưa

Nay hóa thành xưa nào mấy chốc

Hư nhìn ra thực khỏi lầm chưa ?

Bao phường danh lợi cơn mưa sáng

Mấy bậc anh hùng đám bụi mờ

Tục lụy cười mình chưa dứt được

Gần đây sách vở quá say sưa’

(Xuân Dạ Độc Thư/Đêm Xuân Đọc Sách. CBQ/Nguyễn Văn Tú dịch nôm)

Đấy là bài thơ tả cảnh xuân. Miên Thẩm cho đây là tặng phẩm mùa xuân của Cao Chu Thần, xuống lịnh mở yến tiệc, tiễn đưa hiền hữu và cho lấy đàn Nam-Cầm dạo khúc tiêu tương. Dạo lên nghe như muôn sắc ngàn tiá của mùa xuân tươi sáng ; nhưng chính ở lòng Mẫn Hiên là ước đời đổi thay sau những cơn mưa gió bão bùng.Ý thơ là vậy !

Tháng chạp năm 1854 Cao Bá Quát(*) bị bắt. Tự Đức ra lệnh chém đầu và tru di tam tộc. Người anh Cao Bá Đạt tự tử trên đường giải về Kinh. Cao Bá Nhạ con Đạt phanh phui nơi ẩn trốn bị bắt và đày lên sơn cước. Sau chết ở đó.

Thời gian Cao Bá Quát ở ngục thất chờ hành quyết có làm thơ và đối mang khẩu khí ngạo mạn của một tử tù nhưng lại là vua, được truyền tụng :

‘Một chiếc cùm lim chân có ĐẾ

Ba vòng xích sắt đứng (bước) thì VƯƠNG’

Nghe đồn rằng khi thi sĩ Cao Chu Thần bước lên đoạn đầu đài, áo vải thô, cổ bị gông, trói tay ; dõng dạc, ung dung gục đầu cho người ta chém, miệng lẩm bẩm chưởi đời đôi câu như sau :

‘Ba hồi trống giục mồ cha kiếp

Một nhát gươm đưa bỏ mẹ đời’

Đó là thời gian ngoại tại và chuyển vần. Cao Bá Quát chết để thỏa lòng vị kỷ của đám vua quan. Chết ở đâu cũng là cái chết qua thời gian. Thế nhưng con người cứ tưởng khổ đau và những gì bi thảm có thể hết nhưng quên rằng thời gian là chứng tích, lịch sử là văn bản, con người là hiện thể, ba thứ nêu trên là sắc lệnh để đời. Nhưng ; chắc chắn điều nầy không thể vượt qua được. Tại sao ? Vì ; sống có nghĩa là xoay vần, chuyển dịch có nghĩa là nghiệp chướng (theo nhà Phật) biến thiên của vũ trụ mà thời gian là cái gì vây quanh đời người ‘thương hải biến vi tang điền, tan điền biến vi thương hải’. Mẫn Hiên Cao Bá Quát chết theo thời gian . Thời gian của Người đứng lại nơi đây. Bởi ; thời gian chuyển vần vì thời gian là yếu tố sống còn và miên viễn như bao số phận khác…

Quan Án sát Nguyễn Văn Siêu những ngày sau đó không ngủ được, nằm nghe đêm âm thầm trôi với hồi trống canh năm ở cổng thành xa đưa tới. Nguyễn tiên sinh rùng mình, khơi ngọn đèn dầu lạc trong sương sớm, động lòng trắc ẩn làm một bài thơ nhớ bạn tài hoa dũng khí ./.

VÕ CÔNG LIÊM (ca.ab.yyc cuối 6/2013)

SÁCH ĐỌC : Thơ Văn Cao Bá Quát. NXB Văn Học Hà Nội. 1984.

(*)  Ngày sanh tháng đẻ CBQ chưa minh định chính xác, người ta dựa vào đời nhà Nguyễn (Minh Mệnh (1820-1840) Thiệu Trị (1841-1847) Tự Đức (1848-1883) là những thời đại cực thịnh về Nho/Hán và khoa cử. Do đó căn cứ thời điểm nầy mà hầu hết sách báo có khi ghi :(1800/1803/1804/1808). Cao Bá Quát song sanh cùng anh Cao Bá Đạt. CBQ 5 tuổi thông minh lỗi lạc. Ông mất năm 1855.

Có thể do lòng hận thù vì lời ngạo mạn điểm mặt chỉ tên ;để bịt miệng dư luận. Phản trắc chống triều đình vua Tự Đức hạ lệnh xử trảm và tru di tam tộc. Hoặc chết sau khi dấy động khởi nghĩa ở Mỹ Lương.Chặt đầu, bêu rêu sau đó bằm nát quẳng xuống sông về tội chống vua.(Rút từ Đại Nam Liệt truyện mục Nghịch thần).

 

ĐÊM LẠNH

Đặng Xuân Xuyến

trang-31

Gác nhỏ co ro
Phì phò ngoài hiên tiếng gió
Nặng mưa lạnh từng giọt rỏ
Lật mình khoảng trống chơ vơ.

Đêm mờ bờ môi hé mở
Phập phồng ngực hồng dụ dỗ
Bàn tay, bàn tay…. nín thở
Giật mình. Gác nhỏ co ro.
*.
3giờ, sáng 24 tháng 12.2018

Thơ Nguyên Lạc

ao-dai-6

NGƯỜI VỀ MÙA DÃ QUỲ NỞ
.
Dã quỳ vàng cả chiều hoang
Tìm em chỉ thấy lụi tàn trong tôi
Giọt sầu uống cạn đi thôi
Lệ tình hãy nuốt để rồi phân ưu
.
Mùa thu lâu lắm mùa thu
Mùa thu năm đó xuân thu chia lìa
Người rồi từ giả ra đi
Dã quỳ vàng cuộc từ ly đã từng
.
Người về lạnh một mùa đông
Dã quỳ đang nở nhưng không thắm vàng
Tà huy đổ bóng chiều tan
Màu quỳ úa thẫm như than người về
.
Về chi? Không mãi ra đi
Về chi? Đắ́ng cuộc từ ly ngày nào
Dã quỳ cánh rũ hư hao
Người về hụt hẫng thấy đau lời thề!
.
Nguyên Lạc 

 NGƯỜI VỀ TÌM LẠI MÀU HOA

.
Tường vy mùa nở tôi về
Thấy tôi đứng giữa bốn bề tàn phai
Giáo đường “chuông gọi hồn ai”?
Về chi? Chỉ thấy nỗi hoài cố nhân
.
Đường xưa lạ lẫm bước chân
Phố xưa hiu hắt bâng khuâng góc sầu
Quán xưa đâu? Cố nhân đâu?
Cà-phê giọt đắng rơi câu nhạc buồn
.
Mười năm không gặp tưởng quên” *
Bao năm cách biệt dặn lòng hãy thôi …
Về chi? Hụt hẫng tình tôi
Người giờ mắt lạ biết rồi có quen?!
.
Tường vy sắc tím buồn tênh
Người về tìm lại cuộc tình đã qua
Đã qua có nghĩa mù xa
Làm sao giữ được ánh tà huy phai?
.
Nguyên Lạc
………………
Mười Năm Không Gặp (Mười Năm Tình Cũ ) – tên bài nhạc Trần Quảng Nam

LỤC VÂN TIÊN CÕNG MẸ VIỆT NAM

Nguyên Lạc

1.

Trước đèn xem truyện Tây Minh [*]
Giận loài ngạ quỷ vong tình tiền nhân
Nước non rồi sẽ còn không ?
Chúng đem dâng trọn mưu toan Hán hồ
Quên câu Nam quốc Sơn hà [**]
Đoạn đành đốt cháy cơ đồ Việt Nam
Rồi xong dòng dõi rồng tiên
Hận phường bội nghĩa bạc tình ông cha!

2.

Vân Tiên giải cứu Mẹ già
Tránh phường bạo ngược cõng ra sân ngoài
Vân Tiên cõng Mẹ chạy dài
Đụng phường thảo khấu vội quày vào trong
Vân Tiên cõng Mẹ chạy rong
Đụng phường phù Hán vội vòng quay lui
Vân Tiên cõng Mẹ trở lùi
Gặp phải một lũ dùi cui vong tình
Vân Tiên uất hận bất bình
Ghét thay cho lũ âm binh côn đồ
.
Vân Tiên vội cõng Mẹ vô
Gặp phải một lũ xí xô xí xào
Giật mình chẳng biết tại sao?
Corona chúng truyền vào nước ta
Vân Tiên hoảng vía chạy xa
Biên cương mở ngõ Corona tung hoành
Vân Tiên cõng Mẹ loanh quanh
Khẩu trang đã hết thôi đành Mẹ ơi
Phương nao bỏ chạy đây trời?
Tội thay dân Việt sẽ rồi bình an?
.
Dối người lẽo lự ngụy ngôn
Giang sơn xã tắc đem dâng Hán triều
Thế là gấm vóc sẽ tiêu
Thế là nước Việt mến yêu tan tành!
Ngẩng đầu than với trời xanh
Hận cho một lũ lưu manh bạc tình
Biết bao xương máu dân mình
Công ơn tiên tổ chúng đành lãng quên!
.

“Chạy miết rồi đụng vô mình
Vân Tiên cõng mẹ thình lình ngộ ra”
Ngàn năm xây dựng sơn hà
Thiên thu vẫn mãi … mãi là Việt Nam
.
Nguyên Lạc
……………….
[*] Tây Minh là những bài Trương Tái tóm lược và diễn giảng những điều ông tâm đắc về triết lý nhân sinh của đạo Nho, những nguyên lý đạo đức của thánh hiền mà ông học được và đem truyền thụ theo cách hiểu của mình cho học trò.
Nguyễn Đình Chiểu đọc và tâm đắc bài Tây Minh, ông dùng nó làm nền tảng tư tưởng triết học cho nhân vật Lục Vân Tiên.
Kêu rằng bớ đảng hung đồ
Chớ quen làm thói hồ đồ hại dân
[**] Nam quốc sơn hà Nam đế cư/ Tiệt nhiên định phận tại thiên thư/ Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm/ Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư.- Lý Thường Kiệt

….

+ Nhân vụ dịch viêm phổi Vũ Hán do vi khuẩn Corona truyền vào Việt Nam, tôi đăng lại bài thơ này. Bài thơ này trích từ bài viết cùng tên đã đăng 

LỤC VÂN TIÊN CÕNG MẸ VIỆT NAM – Nguyên Lạc

Dịch Corona Từ Đâu Đến

Quách Văn Quý tiết lộ:  viêm phổi Vũ Hán là kết quả cuộc đấu tranh nội bộ ĐCSTQ

Trong 2 chương trình phát sóng trực tiếp vào thứ Bảy (8/2), Quách Văn Quý, tỷ phú Trung Quốc hiện đang sống lưu vong ở Mỹ đã tiết lộ nguyên nhân của sự bùng phát virus Corona mới ở Vũ Hán. Theo đó, ông nói rằng, dịch bệnh Vũ Hán là kết quả của cuộc đấu tranh trong nội bộ Đảng Cộng sản Trung Quốc (ĐCSTQ), tuyệt nhiên không phải là hành vi có tổ chức.

Quách Văn Quý tiết lộ: Dịch viêm phổi Vũ Hán là kết quả của cuộc đấu tranh trong nội bộ ĐCSTQ (ảnh 1)Quách Văn Quý tiết lộ: Dịch viêm phổi Vũ Hán là kết quả của cuộc đấu tranh trong nội bộ ĐCSTQ. (Ảnh chụp video)

Ông Quách nói rằng, nguồn gây ra dịch bệnh ở Vũ Hán là từ phòng thí nghiệm của ĐCSTQ. Virus Corona mới là một loại vũ khí sinh học do ĐCSTQ tạo ra. Virus đã cố tình được dùng để nhắm vào các đối thủ chính trị nhất định ở Hồng Kông và trong nội bộ ĐCSTQ.
Ông nói, việc phát tán virus Corona mới không phải là một quyết định “tập thể” của ĐCSTQ. Ngược lại, đây là quyết định của một nhóm quan chức cấp cao để thi hành lệnh giới nghiêm ở Hồng Kông và tiêu diệt các đối thủ chính trị. Mục đích ban đầu là thực hiện một cuộc tấn công virus có giới hạn, có thể kiểm soát để giết chính xác những người cần giết ở Vũ Hán và Hồng Kông, còn tình trạng mất kiểm soát hiện tại là do bị phá hoại hoặc là lỗi do con người gây ra.
Ông Quách nói rằng, thông tin được thu thập từ nhiều nguồn khác nhau trong ĐCSTQ cho thấy, có sự hỗn loạn lớn tồn tại ở tất cả các cấp của hệ thống phân cấp xã hội. Từ tầng cao nhất cho tới chính quyền ở địa phương, chế độ Cộng sản Trung Quốc đang trên bờ vực sụp đổ do phải chịu áp lực khủng khiếp.
Ông cũng chia sẻ, các chuyên gia hàng đầu thế giới trong lĩnh vực vũ khí sinh học đã xác nhận chắc chắn 100% rằng, virus Corona mới ở Vũ Hán không đến từ động vật hay tự nhiên, mà là từ một phòng thí nghiệm ở Vũ Hán.

Quách Văn Quý tiết lộ: Dịch viêm phổi Vũ Hán là kết quả của cuộc đấu tranh trong nội bộ ĐCSTQ (ảnh 2)Ông Quách nói, các chuyên gia hàng đầu thế giới trong lĩnh vực vũ khí sinh học đã xác nhận chắc chắn 100% rằng, virus Corona mới ở Vũ Hán không đến từ động vật hay tự nhiên, mà là từ một phòng thí nghiệm ở Vũ Hán. (Ảnh: Sở nghiên cứu virus Vũ Hán)

Thảm họa lần này là dấu hiệu cho sự diệt vong của ĐCSTQ

Quách Văn Quý nói, cuộc đấu tranh quyền lực trong nội bộ ĐCSTQ chủ yếu là giữa băng đảng Bắc Kinh và băng đảng Thượng Hải. Nhóm trung gian với đại diện là Uông Dương và Hồ Xuân Hoa đã không tham gia vào cuộc tấn công virus này. Trong số ba nhóm chính của ĐCSTQ, băng đảng Bắc Kinh hoặc Thượng Hải (chưa xác định) đã ra lệnh tấn công virus. Thủ tướng Trung Quốc Lý Khắc Cường là người ngoài cuộc mà những người trong cả ba nhóm này đều không thích.
Ông Quách cũng nói thêm rằng, có nhiều hoạt động bất thường trước khi dịch bùng phát. Chính phủ Mỹ sẽ điều tra các thao túng thị trường chứng khoán xảy ra trước đại dịch Vũ Hán: một số lượng lớn cổ phiếu đã bị bán khống trên các sàn giao dịch chứng khoán ở Thượng Hải, Thâm Quyến và Hồng Kông. Những người biết rõ về cuộc tấn công của virus đã bán một số lượng lớn cổ phiếu cho các nhà đầu tư ở Hoa Kỳ, Châu Âu và Saudi Arabia.
Nhiều người bán cổ phiếu bao gồm Giang Chí Thành (cháu nội của Giang Trạch Dân, cựu tổng bí thư của ĐCSTQ), Mạnh Hải Tinh (con gái của Mạnh Kiến Trụ), cùng với Cao Yên Yên. Tỷ phú Lý Gia Thành thân ĐCSTQ đã thoái vốn phần lớn cổ phần của ông sau ngày 12/11/2019, một hành động đã không được áp dụng trong các cuộc biểu tình dân chủ ở Hồng Kông. Kể từ ngày 12/11/2019, nhiều ông trùm kinh doanh Trung Quốc đã bán khống cổ phiếu và đồng thời cũng bán cổ phiếu cho người nước ngoài.
Ông Quách cho biết, vào đầu tháng 1 năm nay, Trung ương đã cảnh báo những người trong cuộc tránh xa Hồ Bắc và Hồng Kông. Từ giữa đến cuối tháng 1, Trung ương nhất trí quyết định “từ bỏ Hồ Bắc, bảo vệ Bắc Kinh và Thượng Hải”. Việc “từ bỏ Hồ Bắc” đã báo trước một thảm họa sắp xảy ra ở tỉnh Hồ Bắc, đây là một thảm họa 100% do con người gây ra. Vũ Hán là tâm chấn của virus Corona mới và là thủ phủ của tỉnh Hồ Bắc.
Ông nói rằng, giới cao tầng ĐCSTQ không ngờ rằng chưa tới 2 ngày xây dựng chính sách, Ủy ban Kiểm tra Kỷ luật Thành phố Bắc Kinh đã có người chết rồi, và một số quan chức của Ủy ban Kiểm tra Kỷ luật Trung ương Bắc Kinh từ Vũ Hán trở về đã mang theo virus và tử vong. Các bác sĩ ở Bắc Kinh cũng bị nhiễm. Người đầu tiên bị nhiễm virus ở Bắc Kinh là thuộc Ủy ban Kiểm tra Kỷ luật Bắc Kinh và Cảnh sát Bắc Kinh. Từ ngày đó, do những cân nhắc về an ninh, Tập Cận Bình không còn làm việc tại Trung Nam Hải.
Tất cả những ca nhiễm bệnh này được giữ bí mật tuyệt đối. Tuy vậy, Lý Khắc Cường lại được gửi đến thăm Hồ Bắc mà không hề biết mức độ nguy hiểm của con virus này.

Quách Văn Quý tiết lộ: Dịch viêm phổi Vũ Hán là kết quả của cuộc đấu tranh trong nội bộ ĐCSTQ (ảnh 3)Thủ tướng Lý Khắc Cường đến thành phố Vũ Hán, tỉnh Hồ Bắc để chỉ đạo công tác phòng chống dịch bệnh. (Ảnh: AP)

Ông Quách nói rằng, sau thất bại của kế hoạch đầu tiên, cuộc đấu tranh nội bộ của ĐCSTQ trở nên khốc liệt hơn. Cuộc đấu tranh ngấm ngầm giữa Bắc Kinh và Thượng Hải đã trở thành một trận chiến thực sự. Chu Dung Cơ ngay lập tức gửi gia đình ra nước ngoài, hầu hết trong số họ hiện đang ở New York.
ĐCSTQ không ngừng che giấu thông tin về dịch bệnh đã dẫn đến ngày càng có nhiều người chết ở nhiều thành phố khác nhau. Các cơ quan chính phủ của ĐCSTQ đã ngừng hoạt động ngoại trừ cơ quan tuyên truyền.
Bước ngoặt là Tổng thống Mỹ Donald Trump đã yêu cầu các nhà khoa học Mỹ điều tra nguồn gốc của virus Corona mới ở Vũ Hán. Việc nước Mỹ tham gia vào quá trình điều tra là rất có ý nghĩa, sự lãnh đạo của Mỹ rất quan trọng đối với hợp tác quốc tế nhằm khám phá ra sự thật. Mỹ sẽ cung cấp các báo cáo chính xác từ cuộc điều tra để trả lời các câu hỏi như liệu đó là virus nhân tạo hay tự nhiên, và liệu virus “rò rỉ” là cố ý hay vô ý.
Quách Văn Quý nói, tiếp theo chúng ta sẽ thấy một số kết quả khủng khiếp vào khoảng ngày 29/2: Các sàn giao dịch chứng khoán ở Thượng Hải, Thâm Quyến và Hồng Kông sẽ bị đóng cửa, Hồng Kông sẽ bị phong tỏa, Mỹ sẽ đưa ra một cuộc điều tra chính thức.

Sự thật về số lượng người chết và nhiễm bệnh ở Trung Quốc

07/02/20, 10:19 Trung Quốc 8,410
Quách Văn Quý, tỷ phú Trung Quốc hiện đang sống ở Mỹ đã tiết lộ vào ngày 3/2 rằng, Đảng Cộng sản Trung Quốc (ĐCSTQ) thừa nhận virus Corona kiểu mới là virus nhân tạo, nhưng nói dối là do Mỹ tạo ra. Ông cũng nói rằng, hiện tại đã có hơn 30.000 người tử vong vì viêm phổi Vũ Hán, cao hơn rất nhiều so với con số vài trăm người do ĐCSTQ tuyên bố.

Quách Văn Quý: ĐCSTQ muốn giá họa cho Mỹ đã tạo virus corona kiểu mới (ảnh 1)Ngày 3/2/2020, bác sĩ trong một bệnh viện ở Vũ Hán đang trao đổi với bệnh nhân. (Ảnh: AFP)

Tỷ phú Quách Văn Quý đã nói trong một chương trình phát sóng trực tiếp rằng, ĐCSTQ đã thừa nhận virus Corona kiểu mới không phải đến từ động vật hay tự nhiên, cũng không liên quan gì đến chợ hải sản mà là do con người tạo ra, nhân vật then chốt trong toàn bộ sự cố virus này là Quách Đức Ngân, hiện là Trưởng khoa Viện Y học, Đại học Trung Sơn.
Quách Văn Quý nói, cổng thông tin quân sự của ĐCSTQ (tức trang mạng Tây Lục xilu.com) đã thừa nhận rằng, virus Corona kiểu mới do con người tạo ra, nhưng bọn họ tuyên bố virus là do Mỹ tạo nên.
Trong một bài báo được Xilu.com đăng vào tháng 1 nói rằng “Virus không thể là sản phẩm của tự nhiên”, điều này tương đương với việc thừa nhận “Virus là do nhân tạo, không phải bị đột biến bởi virus của dơi”, hơn nữa còn đẩy trách nhiệm cho Mỹ.
Video: Quách Văn Quý tiết lộ về số lượng người chết và nhiễm bệnh ở Trung Quốc
Trong chương trình, Quách Văn Quý cũng trích dẫn một thông tin vừa mới nhận được, nói rằng hiện tại đã có tới 1,3 triệu người được chẩn đoán mắc bệnh ở Trung Quốc, số người tử vong đã hơn 30.000 người.
Ông còn đề cập, một khi lây nhiễm từ người sang người vượt khỏi tầm kiểm soát và lan rộng khắp thế giới, hậu quả sẽ là không thể tưởng tượng được. Bởi vì ĐCSTQ đã châm ngòi cho lòng thù hận của nhân dân Trung Quốc với Mỹ, bây giờ số người Trung Quốc hận Mỹ còn hơn số người ghét dịch bệnh. Ông nhắc nhở người Mỹ ở Trung Quốc hãy cẩn thận, có thể sẽ xảy ra sự cố.
Đối với lời giải thích của Quách Văn Quý, Steve Bannon – cựu chiến lược gia cấp cao của Nhà Trắng, người cũng tham gia buổi phát sóng trực tiếp đã trả lời ngắn gọn rằng, ông cũng hy vọng con số mà Quách Văn Quý nói tới là không chính xác, bởi vì đó sẽ là bi kịch trong lịch sử nhân loại.

Steve Bannon hy vọng con số mà Quách Văn Quý nói tới là không chính xác, bởi vì đó sẽ là bi kịch trong lịch sử nhân loại.Steve Bannon hy vọng con số mà Quách Văn Quý nói tới là không chính xác, bởi vì đó sẽ là bi kịch trong lịch sử nhân loại. (Ảnh: Thehill)

Bannon cũng nhấn mạnh, người dân Mỹ là những người bạn tốt nhất của người dân Trung Quốc, ông hy vọng Hoa Kỳ sẽ tiếp tục giúp đỡ người dân Trung Quốc chống chọi với dịch bệnh trong những tuần tới.
Trước đó, Quách Văn Quý đã từng tiết lộ, ĐCSTQ ước tính sẽ có khoảng 10 triệu đến 100 triệu người tử vong vì dịch bệnh viêm phổi Vũ Hán này.
Theo thông tin chính thức cho đến 5 giờ sáng ngày 7/2, ở Trung Quốc Đại lục đã có 30.551 ca nhiễm bệnh, số ca tử vong đã tăng lên là 633 người. Có thể thấy con số thống kê về tình hình dịch bệnh mà ĐCSTQ đưa ra là vô cùng nhỏ nhoi so với những gì mà ngoại giới tiết lộ.
Gần đây, một cư dân mạng có tên là Phương Bân đã liều mạng đến điều tra ngầm và quay video tại Bệnh viện Vũ Hán thứ 5, sau đó tiết lộ nó trên Twitter vào ngày 1/2. Đoạn video ngắn cho thấy, người này đã nhìn thấy xe của nhà tang lễ Vũ Xương đang vận chuyển thi thể ở trước cổng bệnh viện, chỉ trong 5 phút đã nhìn thấy 8 thi thể được bọc trong túi và đưa lên xe.
Video: Phương Bân quay video tại bệnh viện Vũ Hán thứ 5
Mấy ngày trước, Nhà tang lễ Vũ Hán còn đưa ra một thông báo khẩn cấp yêu cầu thi thể bệnh nhân phải được hỏa táng “ngắn, gọn, nhanh”, hơn nữa lò lửa được mở liên tục 24 giờ, cho thấy nội tình kinh khủng của dịch bệnh ở Vũ Hán. Số người tử vong chỉ dừng lại ở con số vài trăm như ĐCSTQ công bố thật khó mà khiến người ta tin tưởng.

Minh Huy (Theo Epoch Times)

CẦN THƠ DẤU YÊU

Nhật Quang

cho noi

Mơn man gió khẽ ru chiều
Hoàng hôn trên bến Ninh Kiều nhẹ rơi
Cái Răng chợ nổi đón mời
Tây Đô nét đẹp rạng ngời thiết tha
Lưng ong, dáng liễu bà ba
Môi cười em gái nở hoa chân tình
Mênh mông sóng nước dập dềnh
Mái chèo lướt nhẹ dáng hình thân thương
Bồi hồi… dạ chợt vấn vương
Ngẩn ngơ quên lối, quên đường phố quen
Loanh quanh phố đã lên đèn
Sánh vai chung bước bên em ngỡ ngàng
Cần Thơ đêm xuống mơ màng
Bên dòng sông Hậu âm vang câu hò…
Trăng soi bến nước con đò
Gái, trai khúc khích hẹn hò…đắm say
Trăng tàn lưu luyến vòng tay
Tình trao ánh măt, ngất ngây tiếng lòng
“ Cần Thơ gạo trắng nước trong
Ai đi đến đó lòng không muốn về “.

( Sài Gòn )

XEM BÓI

Đặng Xuân Xuyến
tuvi01-302x300
Tặng nhà thơ Ái Nhân 
.
Cưới vợ rồi lại bỏ
Đủ 3 lần mới thôi
Đời lấm lem, vẹo vọ
Rút ruột mà nhả tơ.
.
Đi xem thầy bảo thế
Về nhà cứ lo lo
Đường tình duyên đến tệ
Nửa đời đằm bến mê.
.
Mẹ bảo, xưa ông ngoại
Khen cháu mình tài trai
Duyên tình tuy lận đận
Công danh ắt phát tài.
.
Giờ mới tuổi bốn hai
Chưa một lần yêu ai
Nghề hai năm chín việc
Biết năm nao phát tài.
*.
Hà Nội, 10 tháng 05.20

HỒN NGƯỜI LÍNH CŨ

Nguyên Lạc
LINH VO DANH2

Đã rồi một trận máu tanh
Hồn xưa lính cũ tan thành quách xưa
Lạc ơi! Gió lạnh mưa thưa
Bao năm hồn cũ bây giờ còn đâu?

 (Trần Phù Thế)
.
*

Mùa xuân hoa nở khoe màu
Hồn người lính cũ nỗi sầu thời qua
Còn đâu? Tình đó thiết tha
Ngày xuân đất khách chỉ là … người ơi!
.
Bạn bè dăm đứa một thời
Khói cay đôi mắt. giọt rơi đáy sầu
Lính ơi! đâu có gì đâu?
Mà lòng trầm thống. mà rầu xuân thu
.
Buồn chi? Chỉ khói sương mù
Hợp. tan. hạt bụi bay vù thời không
Lời kinh. vạn pháp vô thường
“Thịnh suy. mộng huyễn bọt sương chớp lòe.” [*]
.
Nguyên Lạc
……………….
[*] “Nhất thiết hữu vi pháp/ Như mộng, huyễn, bào, ảnh/ Như lộ diệc như điện/ Ưng tác như thị quán.”- kinh Kim Cang
Dịch nghĩa: Tất cả pháp hữu vi/ Như mộng, huyễn, bọt, bóng/ Như sương, như chớp loé/ Hãy quán chiếu như thế.

CHIẾN TRANH BIÊN GIỚI – 1979

Đặng Xuân Xuyến

co tau

Rạng sáng ngày 17 tháng 02 năm 1979, nhà cầm quyền Bắc Kinh đã điều động một lượng lớn quân đội và vũ khí hiện đại nhất mà chúng có lúc đó, ngang nhiên tấn công xâm lược trên toàn tuyến biên giới của 6 tỉnh biên giới phía bắc Việt Nam.

Để tấn công xâm lược Việt Nam, nhà cầm quyền Trung Quốc đã huy động 60 vạn quân (chưa kể dân công hỏa tuyến phục vụ), sử dụng 9 quân đoàn chủ lực và một số sư đoàn bộ binh độc lập (tổng cộng 32 sư đoàn), 6 trung đoàn xe tăng, 4 sư đoàn và nhiều trung đoàn pháo binh, phòng không… với trọng điểm là Lạng Sơn và Cao Bằng. Ngoài ra, quân Trung Quốc còn mang theo mấy trăm máy bay, và một số tàu chiến thuộc hạm đội Nam hải sẵn sàng tham chiến khi cần thiết.

Đây là đợt huy động quân sự lớn nhất của Cộng Sản Trung Quốc kể từ Chiến tranh Triều Tiên (1950 – 1953).

Về phía quân dân Việt Nam, do phần lớn các quân đoàn chính quy (3 trong số 4 quân đoàn) đang chiến đấu ở Campuchia nên phòng thủ ở biên giới với Trung Quốc chỉ có một số sư đoàn chủ lực quân khu (chủ yếu là tân binh) của Quân khu I và II cùng các đơn vị bộ đội địa phương tỉnh, huyện, công an vũ trang (biên phòng) và dân quân tự vệ. Lực lượng tinh nhuệ nhất của phía Việt Nam đóng ở biên giới Việt – Trung là Sư đoàn 3 (đóng tại Lạng Sơn) và sư đoàn 316A (đóng tại Sa Pa), ngoài ra còn có các sư đoàn 346 ở Cao Bằng, 325B ở Quảng Ninh, 345 ở Lào Cai, 326 ở Phong Thổ, Lai Châu. Sư đoàn 346 đóng tại Cao Bằng nhiều năm chủ yếu làm nhiệm vụ kinh tế, thời gian huấn luyện sẵn sàng chiến đấu trở lại chưa nhiều…

CUỘC CHIẾN XÂM LƯỢC VIỆT NAM

CỦA BÁ QUYỀN TRUNG QUỐC

Cuộc tấn công xâm lược của quân Trung Quốc vào lãnh thổ Việt Nam bắt đầu từ ngày 17 tháng 02 năm 1979 và kết thúc ngày 16 tháng 03 năm 1979, có thể chia làm 2 giai đoạn: giai đoạn xâm lược và giai đoạn rút lui.

Giai đoạn xâm lược:

*. Thời gian 17 ngày (từ 17/2 đến 5/3/1979):

Ngày 17/2-19/2: Trung Quốc đột kích trên toàn tuyến biên giới dài trên 1.000 km chiếm một số vị trí tiền duyên của Việt Nam.

Ngày 20/2: Trung Quốc chiếm thị xã Lào Cai, thị trấn Đồng Đăng của Việt Nam.

Ngày 21/2: Trung Quốc chiếm thị xã Cao Bằng của Việt Nam.

Ngày 22/2: Trung Quốc chiếm thị trấn Bảo Lộc của Việt Nam.

Ngày 23/2: Trung Quốc chiếm thị xã Hà Giang của Việt Nam.

Ngày 24/2: Trung Quốc chiếm thị trấn Cam Đường của Việt Nam.

Những ngày này, quân dân Việt Nam kiên cường chiến đấu bảo vệ từng tấc đất của tổ quốc. Chiến sự đặc biệt dữ dội tại vùng gần Lạng Sơn, Sapa.

Ngày 5/3: Trung Quốc chiếm Sapa và một phần thị xã Lạng Sơn của Việt Nam.

Ngay trong ngày hôm đó (5/3), Cộng Sản Trung Quốc tuyên bố đã đạt mục đích, bắt đầu rút quân khỏi (cuộc chiến xâm lược) Việt Nam.

Việt Nam tuyên bố tổng động viên toàn quốc.

Giai đoạn rút lui:

* Thời gian 10 ngày (từ 6/3 đến 16/3/1979):

Kể từ lúc quân Trung Quốc rút lui, bộ đội Việt Nam không tổ chức tấn công, truy kích địch.

– Ngày 5 tháng 3, Trung Quốc bắt đầu rút khỏi một phần của thị xã Lạng Sơn, đến 12/3 rút hết khỏi Đồng Đăng.

– Ngày 7 tháng 3, Trung Quốc bắt đầu rút khỏi vùng Lào Cai, đến 13/3 thì rút hết

– Ngày 7 tháng 3, Trung Quốc bắt đầu rút khỏi vùng Cao Bằng, đến 14/3 thì rút hết.

Ngày 7 tháng 3, Việt Nam tuyên bố để thể hiện “thiện chí hòa bình”, Việt Nam sẽ cho phép Trung Quốc rút quân.

Mặc dù tuyên bố rút lui, quân Trung Quốc vẫn thảm sát dã man người dân Việt Nam, như vụ thảm sát ngày 9/3 tại thôn Đổng Chúc, xã Hưng Đạo, huyện Hòa An, tỉnh Cao Bằng. Chúng, quân Trung Quốc, đã dùng búa và dao giết 21 phụ nữ và 20 trẻ em, trong đó có 7 phụ nữ đang mang thai, rồi ném xác xuống giếng hoặc chặt ra nhiều khúc rồi vứt hai bên bờ suối.

Trong thời gian rút lui, quân Trung Quốc còn phá hủy một cách có hệ thống toàn bộ các công trình xây dựng, từ nhà dân hay cột điện, tại các thị xã, thị trấn Sapa, Đồng Đăng, Lạng Sơn…

Ngày 16/3/1979 nhà cầm quyền Trung Quốc tuyên bố hoàn thành việc rút quân, chiến tranh xâm lược Việt Nam kết thúc.

THỐNG KÊ THƯƠNG VONG:

*. Số liệu từ Nhà nghiên cứu Dương Danh Dy:

Một thống kê chính thức của Đài Loan  phản ánh, số người chết của phía Trung Quốc là 26.000; của phía Việt Nam là 30.000 người.

Số bị thương: Phía Trung Quốc là 37.000 người. Số thương vong phía Việt Nam là 32.000 người.

Về số bị bắt sống, phía Trung Quốc là 260 người. Phía Việt Nam là 1.600 người.

*. Số liệu từ các nguồn khác:

– Theo nhà sử học Gilles Férier thì có khoảng 25.000 lính Trung Quốc thiệt mạng và gần 500 xe bọc thép hoặc pháo bị phá hủy, con số này phía Việt Nam cũng là gần tương tự nhưng thấp hơn một chút. 

– Russell D. Howard cho rằng quân Trung Quốc thương vong 60.000 người, trong đó số chết là 26.000, một số nguồn khác cũng đồng ý với con số thương vong ít nhất khoảng 50.000 của phía Trung Quốc.

– Nguồn của King Chen nói rằng riêng tại các bệnh viện lớn ở Quảng Tây đã có ít nhất 30.000 thương binh Trung Quốc.

– Theo tạp chí Time thì phía Việt Nam có khoảng dưới 10.000 lính Việt Nam thiệt mạng và hàng nghìn dân thường bị lính Trung Quốc giết.

Trong cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam năm 1979, quân Trung Quốc đã phá hoại hoàn toàn 4 thị xã, hơn 20 thị trấn, 735/904 trường học, 428/430 bệnh viện, nhiều làng xóm, nhà máy, hầm mỏ, nông trường, cầu đường, nhà cửa… của nhân dân Việt Nam tại những nơi chúng đi qua.

NHỮNG TIẾNG NÓI HẬU CHIẾN:

Thiếu tướng LÊ VĂN CƯƠNG:

Tưởng niệm cuộc chiến 1979: Không có gì nhạy cảm!

Theo tôi, không có gì nhạy cảm ở đây, khi tưởng niệm một chiến công oanh liệt đến thế của dân tộc. Nó hoàn toàn khác và không liên quan gì đến kích động chủ nghĩa dân tộc cả.

Nước nào trên thế giới cũng tổ chức những ngày kỷ niệm tương tự như vậy. Nhật Bản và Mỹ hiện là đồng minh chặt chẽ. Nhưng chẳng hạn với sự kiện Trân Châu Cảng 7/12/1941, hàng năm nước Mỹ vẫn kỷ niệm và thế hệ sau vẫn hiểu rất sâu sắc thảm họa. Còn thanh niên Nhật vẫn tỏ tường tội ác của Mỹ khi ném 2 quả bom nguyên tử xuống Hiroshima và Nagasaki. Nước Nhật ghi rõ sự kiện này trong SGK và cũng tưởng niệm hàng năm.

Ở châu Âu, thanh niên Anh, Pháp… vẫn hiểu tường tận tội ác của phát-xít Đức giai đoạn 1940-1945. Tất cả hệ thống sách giáo khoa sử của Mỹ, Nhật, Anh… đều có những trang đen tối như vậy cả, trong khi hiện họ là đồng minh của nhau.

Đối với Việt Nam, việc kỷ niệm những sự kiện như chiến thắng Ngọc Hồi, Đống Đa, chiến thắng Điện Biên Phủ, thống nhất đất nước 1975, Chiến tranh Biên Giới 1979… chính là để các thế hệ hiện tại khắc cốt ghi tâm, tưởng nhớ đến những người đã chiến đấu bảo vệ đất thiêng. Và cũng là để hun đúc cho họ ý chí quật cường yêu nước.”

.Nguyên Phó Chủ tịch nước NGUYỄN THỊ BÌNH:

Sòng phẳng với lịch sử không phải kích động hận thù:

“Chiến tranh biên giới phía Bắc là một câu chuyện buồn trong lịch sử, một câu chuyện buồn trong quan hệ Việt Nam – Trung Quốc. Dẫu vậy, nó vẫn là lịch sử.

Và đã là lịch sử thì phải nhìn nhận nó với sự thật đầy đủ. Sẽ không thể không nhắc đến ngày 17.2.1979, ngày mà cuộc chiến tranh biên giới phía Bắc đã nổ ra; ngày mà hàng ngàn con em chúng ta đã hy sinh để bảo vệ biên cương của Tổ quốc.  Nhắc để dân ta nhớ, biết ơn và tôn vinh những chiến sĩ và đồng bào đã hy sinh để bảo vệ biên cương tổ quốc, như chúng ta đã và sẽ vẫn tôn vinh bao nhiêu anh hùng liệt sĩ trong cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc. Không những dân ta cần hiểu, mà nhân dân Trung Quốc cũng như nhân dân các nước cũng phải hiểu đúng: đâu là sự thật, đâu là lẽ phải và coi đó là bài học. Không thể quên lãng nó.”

Giáo sư NGUYỄN MINH THUYẾT:

Cần phải sòng phẳng với lịch sử:

“Chiến tranh biên giới 1979 với Trung Quốc là một cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc oanh liệt. Cũng như mọi cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc khác, cuộc kháng chiến này cần phải được đưa vào sách giáo khoa, trước hết là sách giáo khoa môn lịch sử, bởi đây là một phần của lịch sử, có tác dụng giáo dục cho thanh thiếu niên lòng yêu nước, tinh thần cảnh giác trong việc bảo vệ Tổ quốc.

Giáo trình “Đại cương lịch sử Việt Nam” dành cho bậc đại học đã có phần viết về cuộc chiến tranh biên giới này rồi. Nhưng sách giáo khoa phổ thông thì chưa có.

Đưa nội dung này vào sách giáo khoa không phải để khắc sâu hận thù hay kích động tâm lý bài Trung. Sách giáo khoa không chỉ viết về cuộc chiến tranh biên giới 1979 mà còn phải viết về những trận chiến tại Hoàng Sa, Trường Sa. Cần phải sòng phẳng với lịch sử. Chúng ta lên án những kẻ gây ra chiến tranh và những hành vi tàn bạo, đê hèn trong chiến tranh biên giới và các cuộc chiến ở Hoàng Sa, Trường Sa… nhưng chúng ta không chống nhân dân Trung Quốc.”

Thiếu tướng NGUYỄN XUÂN THÀNH:

Phải đưa chiến tranh biên giới vào sách giáo khoa:

“Trong khi Việt Nam kiềm chế không đưa những sự kiện chiến tranh biên giới 1979 vào sách lịch sử, giáo khoa, phim ảnh, báo chí, tuyên truyền… thì Trung Quốc đơn phương thực hiện tuyên truyền, xuyên tạc sự thật về bản chất cuộc chiến tranh này khi coi đó là cuộc chiến chính nghĩa, là phản kích tự vệ của Trung Quốc. Đó là điều không thể chấp nhận được.

Chúng ta không cắt xén, bịa đặt, cũng không tô hồng hoặc bôi đen lịch sử. Việc đưa cuộc chiến tranh biên giới 1979 với Trung Quốc vào sách lịch sử và giáo khoa phải được coi là hành động làm rõ sự thật lịch sử, nói rõ với nhân dân và các thế hệ sau sự thật về bản chất của cuộc chiến tranh này.”

Hà Nội, 16 tháng 02 năm 2017

ĐẶNG XUÂN XUYẾN (tổng hợp)

.

TRĂNG NGUYÊN TIÊU

Nguyên Lạc

trang-31

Hiên đời lữ khách mồ côi
Nguyên tiêu trăng lạnh trêu tôi bóng hình
Quỳnh hương trầm ngát thân trinh
Vẳng khuya điệp khúc muôn trùng vọng âm
.
Cố nhân sương khói mù không
Đã rồi yêu dấu mông lung nghìn trùng
.
Nguyên tiêu huyễn mộng trăng chung
Đào hoa nhân diện … ánh hồng nơi nao“? *
Nhớ câu thơ cổ buồn sao
Khứ niên kim nhật “… Kiếp nào gặp đây?
.
Tôi và tôi chén rượu cay
Nguyệt và tôi mối tình hoài thiên thu!
……….
Ý thơ: “Khứ niên kim nhật thử môn trung/ Nhân diện đào hoa tương ánh hồng/ Nhân diện bất tri hà xứ khứ/ Đào hoa y cựu tiếu đông phong” – Đề Đô Thành Nam Trang của Thôi Hiệu
.
Nguyên Lạc

NGUYÊN TIÊU
CỐ NHÂN LỘNG NGUYỆT

.
“Nguyên tiêu chi dạ hoa lộng nguyệt” (thơ Đường) (*)
“Từ khi em là nguyệt/ trong tôi có những mặt trời” (Trịnh Công Sơn) (**)

.
*
Trăng trong hắt đổ bóng dài
Cố nhân lộng nguyệt?
Trang đài quỳnh xưa
Nguyên tiêu. hoa mãn khai chưa?
Để tôi huyễn mộng hương xưa khơi tình!
.
Nguyên tiêu. rực ký ức mình
Trong tôi trọn vẹn bóng hình nguyệt xưa
Mưa đêm níu giữ chân về
Tay ôm tình ngất đê mê quỳnh người
.
Từng vuông da thịt ngọt môi
Cho nhau quên cả đất trời ngoài song
Tiếng mưa cùng tiếng nhạc lòng
Hòa tan từng nốt …
Đêm mong vô cùng
.
*
Người rồi mất dấu tình chung
Nguyên tiêu thinh vắng tôi cùng bóng tôi!
Tưởng như trăng chỉ trăng thôi
Lộng tôi. nguyệt sáng
Trêu tôi. bóng người!
.
Từ khi em nguyệt trong tôi…“(**)
Từ em thôi nguyệt … Mồ côi trăng tàn!
.
Nguyên tiêu trăng sáng khôn cùng
Cố nhân lộng nguyệt hãi hùng thi nhân
Một trăng. Một bóng. Mông lung
Thiên thu tình nguyệt vô ngần em ơi!
………
(*) Đêm Nguyên tiêu hoa đùa giỡn trăng
(**) Từ khi trăng là nguyệt/ đèn thắp sáng trong tôi
Từ khi em là nguyệt/ trong tôi có những mặt trời (Trịnh Công Sơn)

.
Nguyên Lạc

 VỀ HUẾ

Võ Công Liêm

hue
gởi : như mai. nguyễn bửu tường vi và lộc tường vi.

thì mắt nâu đã ngủ
bóng chiều rũ xuống đường cây
con thuyền bỏ mặt thế gian
đi vào quên lãng
về huế
quên luôn những con đường mù u thành nội
chỉ còn lại ở đó một màu tương tư nhớ
bên tách cà phê sống sượng
chiều huế lần vào ngõ cụt
sau cơn mê đột xuất bất ngờ
buồn lây lên thớ thịt
hoàng hôn đọng lại mắt môi
một cuộc tình chớm nở
cửa đóng chiều ba mươi
đong nắng
màu nắng ngự viên
khuất lấp thời gian cổ xứ
đôi tay trần nhân thế
uống những khúc tình muộn
trên con đường lên men tuổi nhỏ
ngọn núi kia hình như thiếu nữ nằm nghiêng dáng
hở hang lâu đài cổ tích rêu phong mọc kín bốn mùa
với dòng sông mang nặng dấu tích vết sẹo chìm sáu tám
sông trăng đã khép tự bao giờ
ngơ ngáo một mình trên đường phố cũ
cho nước thắp nguồn một buổi về xuôi

tìm nắng trên môi
và . ướt mi tràn
bước lần vào đêm
huế . đi ngủ chưa ?
để thấy mình là hồn ma bóng quế
em . biết rồi đó . tôi . con chó gầy lây lất ./.

VÕ CÔNG LIÊM (ca.ab.y yc . ngày tình yêu / valentine’s day 14/2/2020)

GIẢI THOÁT Và SÁNG TẠO

Võ Công Liêm         

vcl-asu khi tam

TRANH VẼ Võ Công Liêm: ‘Sau khi tắm / After bath’

    Là huyết mạch của người làm văn nghệ. Kỳ thực sứ mệnh văn nghệ có được là khởi điểm từ những con đường mòn, nẻo (the path) để biến thành con đường cái quan (avenue). Một sứ mệnh gần như thiêng liêng; đó là đại lộ văn học nghệ thuật xưa nay. Lỗ Tốn (1881-1936), tác giả AQ chính truyện của nhà văn Trung quốc đã nói; đại khái như thế này: ‘Trên quả địa cầu không có đường, người ta đi lại nhiều lần rồi từ đó trở thành con đường’.Thuở xa xưa nhìn lịch sử văn chương là ‘phương trời viễn mộng’ ít ai qua lại; nhưng thời gian đã dẫm lên mà trở thành con đường thi văn cây cỏ xum xuê, nói chung; từ chỗ đó cho là hoang tưởng hay chuyện phi thường (hư cấu). Nói như thế không có nghĩa là phủ nhận giá trị văn chương, phủ nhận vai trò người viết hoặc coi văn chương như chỗ để giải thoát tâm hồn (the enlightenment) và coi đó là con đường dấn thân hay dựa vào đó để tạo sự nghiệp; mà phải tìm thấy lý tưởng trên con đường đi tới và thực sự có một tác động gì cho con người. Hay chỉ là nẻo đường ‘buôn thúng bán bưng’; như thế thì quá võ đoán không nhận ra từ sở đoản trở nên ngón sở trường đi vào sự nghiệp của văn chương. Cũng chẳng phải cho đây là sự lý để vạch ra đường lối chủ nghĩa văn chương hay vạch lá bắt sâu mà là thái độ cảnh tỉnh cho người làm văn nghệ có cái nhìn sáng tạo (create) vừa năng động vừa có tính chất luân lý.Trong mọi hoàn cảnh hay thời gian vai trò nhận định trước sự kiện nó đòi hỏi sự trung thực ở chính nó hơn là làm công việc tán dương một cách vô bổ, bởi mất chất phân tích lý thuyết (deconstruction) của nó; một nguy hại khác là nhận định không thực mà giả, gần như chiếu lệ hay a-dzua trở thành cái ‘mốt’ thời thượng chủ nghĩa; vóc dáng đó trở thành căn bệnh thời đại, mất lập trường chân chính của nhà ‘văn, thơ’ mà bán đứng linh hồn, kiểu thức đó nói theo giọng điệu Cọng sản là trí thức hạ tầng cơ sở, một thứ trình độ tiểu tư sản là mối mọt đục khoét, không khai phá tiềm lực ở nó mà phê nhận một cách từ chương tích cú, dẫn giải những cái không đáng dẫn, phân tích cái không đáng phân tích mà cả trang nhận định, phê bình theo kiểu ‘hò mái đẩy’, lục lạo từng câu thơ, hay vần điệu trong thơ như kiểu ‘xin chiếc lá vàng làm bằng chứng yêu em’ thà là phong cách siêu hình, trừu tượng mà thực còn hơn lý giải qua từng câu thơ hay đoạn văn mà thực tình không đi vào chủ đề cho việc nhận định, phê bình mà diễn trình một lối hành văn kéo sợi, dài lê thê, trước sau một luận điệu ‘ca bài con cá’. Lối đó làm cho văn chương tha hóa, ngay cả tác giả của tác tác phẩm cũng ngây ngô tưởng thế là ‘thiệt’ hồ hởi phấn khởi một cách khoe mình vào con đường văn nghệ dấn thân. Không biết Marx, Engels hay Hegel có nói thế không mà đời sau phán những câu đao to búa lớn như vậy. Nhưng; đứng trên lập trường khách quan mà thừa nhận rằng câu nói xưa lại hợp với thời nay một phần nào trong đó. Có nhiều lý do khác qua từng đối tượng, trong mỗi đối tượng cho chúng ta ý thức vai trò của nó. Ở thế kỷ này phương tiện khoa học kỹ thuật đẩy đưa chúng ta nhập cuộc, đưa đường dẫn lối để giải thoát tâm tư và sáng tạo theo chiều hướng chủ nghĩa tự do và chủ nghĩa cá thể; cái đó không chừng tạo nên cơ hội chủ nghĩa cho những ai háo danh không thức thời .

Qua những tiểu luận trước đây, chúng tôi có đặc vấn đề tương quan giữa người viết và tác phẩm với trọng tâm đưa vấn đề đến phân tích lý giải gần như lý thuyết ‘deconstructionism’ với lý do cụ thể tìm thấy cái cốt tủy của nó. Nhớ cho cái sự này là dựa vào giáo điều lý giải theo chủ thuyết mới (Neo-Thomism) của Thomas Aquinas (1226-1274) là gợi ý niệm theo tập truyền xưa cũ mà chúng ta gọi chung bằng một cụm từ có tính chất thuộc phân tích triết học (analytical philosophy) hoặc tính chất thuộc luân lý kinh nghiệm chủ nghĩa (logical empiricism) và đưa lý thuyết luân lý của Aristotle vào đây cốt lấy nguồn gốc làm cơ bản lý luận. Trong kỷ nguyên này chúng ta cần chỉnh lý cho được hoàn tất vấn đề mới để đương đầu –in our time (epoch) we also have completely new problem to face. Dẫn ra đây là xác thực sự kiện cho một hiện hữu tồn lưu. Mà gần như nghiêm trọng cho những gì của môi trường văn hóa. Đấy là con đường dẫn độ một vài tư duy có thể là thí điểm đưa tới tai họa cho tất cả những gì mà chúng ta đang sống giữa hành tinh này. Những nhà thơ, nhà văn khi thực hiện tác phẩm của mình là một cân nhắc khơi từ lý trí: dám ăn, dám chịu là một thử thách cho lòng đam mê của mình. Bởi; sự thật của dấn thân là một hiện hữu tự tại, một bản ngã cố hữu; cái đó là linh hồn sống mãi, còn đưa tư duy vào tham vọng chủ nghĩa là đi vào cõi chết, là tuyệt vọng của kinh nghiệm. Nhưng văn, thi nhân quyết tâm đi cho trọn đường tình. Cần có một tự giác, giác tha tức là tự phê cho một cảm nhận trung thực, chịu đựng trước mọi hoàn cảnh mới gọi là văn chương hiện thực. Archimedes nhà khoa học Hy Lạp nói: ‘Cho tôi một cứ điểm kiên cố nào đó mà là chỗ đứng và tôi sẽ lay chuyển điạ cầu’. Nghe qua như dã tưởng, hoang đường, nhưng; nó là tụ điểm, là mục đích, là tọa độ (point on) mà chúng ta tự tìm thấy để tìm ra cái kiên cố đó bên trong vũ trụ (inner universe). Việc đầu tiên là những gì đều cho chúng ta một dữ kiện gần như quan trọng hoặc đôi khi cho là quan trọng hóa vấn đề của cái gọi là ‘giải thoát / enlightenment’. Từ tụ điểm đó đưa tới mô tả cho một phác thảo (outline) về triết học của Kant để rồi thừa nhận thi ca lãng mạn hay là trường phái lãng mạn (romanticism). Từ cái chỗ tạo ấn tượng hình ảnh để thêm phần lãng mạn hóa ấy là điều mà chúng ta tìm thấy ở nhà văn, nhà thơ vốn tích lũy một thứ kịch tính trong văn chương để dựng lên những gì mình quá mơ mộng. Nhưng trong cái thỏa mãn đó nhà văn, nhà thơ hướng tới mục đích gì để có tiêu đề phi lãng mạn? Thí dụ: thi phẩm mang chủ đề ‘thư tình viết trên ngọn lá đa’ hoặc một chủ đề ấn tượng hơn ‘Qùy. hương một đóa’. Hai sản phẩm trên là cảm nhận cho một bi thương (tragedy) tợ như giữa Nietzsche và nhân vật Zarathustra. Nhưng chắc chắn đó là một đối kháng thích thú với cái sự ngẫu nhiên ở tự nó cho một chiếu cố đến (condescension) cái sự chiếu cố bên trong của tác phẩm sanh ra tội nghiệp, đáng thương (poor). Đấy là sự kiện tâm lý của nhà văn, nhà thơ, nhà họa, đứng trước đối tượng của độc giả qua cái nhìn thẩm định chủ quan mà đòi hỏi giữa tác giả và độc giả có một tư duy trong sáng. Rilkes nói: ‘Bạn phải thay đổi đời bạn /Archaic Torso of Apollo / You must change your life’. Văn học nói chung và văn chương nói riêng đều mang một ý nghĩa là ‘thép đã tôi thế đấy’ (của Nikolai Ostrovsky). Theo thiển ý: nhà thơ, nhà văn tợ như nhà rèn. Lấy từ chất liệu sắt để sáng tạo ra dao, kéo có nghệ thuật, văn chương cũng là sáng tạo nghệ thuật của văn, thơ, họa, kịch một bên rèn qua lửa (forge in fire) và một bên lấy mực để viết, lấy màu để vẽ. Những thứ đó để sáng tạo nên sự thật chớ không phải mô tả sự vật; đó là qui chế trong thế chủ động. Vậy thì con đường văn học là gì? –là một sự hóa thân của sáng tạo. Dẫn ra đây trường hợp của họa sĩ Paul Klee dùng lý thuyết âm nhạc vào trong hội họa là để kích động ở chính ông; có nghĩa là kiểm soát được khi vẽ. Văn thơ bổ ích phải hiểu biết và từng trải. Không thể đem văn thơ ra chơi theo lối tùy hứng; cũng có khi xuất thần thì không nói chi còn diễn tả đứt đoạn làm cho thơ ‘ngọng’ nghe khó mà hiểu cũng khó, mặc dù thi sĩ cố sức rặn những ngữ âm điạ phương để tô điểm câu thơ. Biết rằng thơ là phi thực nhưng phải chứa cái siêu lý của thơ thời mới thành thơ. Sự giao thoa ấy làm thơ mất duyên là ở chỗ đó. Phải tránh xa cái thứ tha hóa, lũng đoạn văn chương đối với thời đại ngày này; vô hình chung dẫn thơ vào ngõ cụt (no exit) dẫu trong dạ chất chứa cả bồ chữ đi nữa, ngoại trừ mấy bồ chữ của Cao Bá Quát, thời tất ngoại lệ, ngoài vòng cương tỏa của nó. Qua kinh nghiệm viết văn của nhà văn Nam Cao.Trong ‘Đời Thừa’ ông nói: ‘văn chương chỉ dung nạp được những người biết đào sâu, biết tìm tòi, khởi những nguồn chưa ai khởi và sáng tạo những gì chưa ai có’. Đó là lời nói của người trí thức, một nhận định tối hậu, một nhắc khéo cho những nhà văn ù lì, không chịu thay đổi đường lối viết theo đúng văn phong, ngữ điệu, dù là hư cấu, nhưng; phải là dàn dựng cấu trúc trong một mạch văn chân thật với đời và người; chớ đưa vào những luận điệu vô cớ, vô nghĩa làm thương tổn một nền luân lý trong văn chương, vô tình đánh rơi tài năng sở trường của mình vốn đã đam mê từ lâu. Mặc khác; ngày nay cũng có một số nhà thơ (không biết trường phái siêu thực, dã thú, đa đa hay tân hình thức) chơi ‘những gì chưa ai có’ trên răng dưới dế chữ nghĩa nhảy tùm lum như ho lao, thậm chí đem chuyện thời sự họa vào thơ như bóng ma trơi; sự đó gọi là giỡn với thơ chớ không ai gọi là làm thơ; bởi thơ sanh ra từ trí và hồn là tinh trùng hấp thụ trong trứng thuộc trí năng cho một dạng thức có trình độ thời tất đẻ đứa con ‘thơ’ mẹ tròn con vuông là ở chỗ đó. Nó tợ như con thạch sùng (thằn lằn) ở nhà nào sanh màu da nhà đó; thơ ở chỗ đó mà ra. Nếu thử lấy ra một mảng thơ đưa vào kính lúp thì thấy toàn siêu vi thứ dữ. Thành ra nói chuyện văn chương chữ nghĩa là một hóa trị. Một thứ hóa trị cần thiết có nghĩa là chắc lọc để chỉ còn một ‘tonic’ trí tuệ làm cho văn chương phong phú hơn xưa và có hướng đi tới trên thị trường chữ nghĩa với thế giới là trọng tâm đích thực để thực hiện vào giá trị của nó. Đấy là con đường chúng ta đã khởi hành không dẫm lên ‘lối xưa xe ngựa hồn thu thảo’ thường quen đi lại lắm lần mà cần khai phá, mở rộng con đường cái quan như chúng ta thường ngợi ca: con đường rực sáng đầy chất liệu sáng tạo.

Đôi khi lời nói hay văn phong trở nên chủ quan, một thứ chủ quan có lập trường đúng đắng thời mới vực được đạo như cổ nhân đã nói. Nhưng; quan điểm đó tuồng như buộc phải, để rồi nô lệ hóa với văn chương. Claude Lévy Strauss nói : ‘Ngôn ngữ là một lý lẽ của con người mà con người không biết’. Vậy thì ai là người tự cho mình là thẩm định chủ quan? Hơn thế nữa văn học nghệ thuật không cần giải thích –Art without consolation. Mà đành chấp nhận, bởi; văn tức là người, một bản chất tự tại, có cải tạo đi nữa bản chất cố hữu vẫn tồn lại. Lời thơ. giọng văn đi qua mấy chục năm dưới trời thế kỷ, cái ‘style’ đó không chuyển hóa, nó đứng một chỗ; ắt thì lời nói của Archimede không một tác động nào cả. Không chừng thi văn nhân cho đó là lý luận phản đề không hợp thời trang xưa nay. Đứng trên lãnh vực thi ca thì nó có cách riêng của nó, một cõi phi không thể hoán cải mà nó đóng chốt với thời gian. Đây! từ khi sống cho tới chết đời cho Bùi Giáng là thi sĩ điên với khùng. Đọc câu thơ này của ông để thấy cái siêu lý của thi nhân. Thi sĩ điên hay mình điên mà nói chuyện ba-xàm(?); nghiệm ra lời Archimede đáng giá ngàn vàng và chỉ dành chỗ đứng đó cho cái sự điên, khùng siêu lý của Bùi thi sĩ:

‘Trời kỷ niệm đi về trong đáy mắt / Thổi dư vang từ dĩ vãng xa vời’ (trong: Chào Thu Lục tỉnh). Lãng mạng quá đi chơ! Cần chi phải tìm ‘lá đa’, ‘đóa qùy’ mà viết thành thơ.Tưởng không cần thi vị hóa mà phản ảnh vào đó cái cần có cho nếp sống hiện sinh. Đó là những gì thuộc dòng thơ đương đại. Thực ra, thi văn nhân mỗi khi phát tiết chính là lúc họ trở về để được sống lại trong cái gọi là bi thương mà họ đã sống, cho một hàm chứa: của thất vọng, của phủ phàng, của tàn nhẫn để gào, thốt vào thơ như bản cáo trạng trước tòa án lương tâm. Nói theo ý Nguyễn Du: một người đã từng chứng kiến và sống qua bao nhiêu đổ vỡ ở ngoài đời và trong lòng là xót xa. Nguyễn viết: ‘Sinh tiền bất tận tôn trung tửu / Tử hậu thùy kiêu mộ thượng bôi’ Vậy thì lúc sống không chịu ăn chơi, cạn chén thì đến khi chết có ai đem rượu mà rưới lên mộ mình. Đó là cái lo xa của thi hào họ Nguyễn. Cái sự này khác Lý Bạch bên Tàu trầm mình vì quá say trăng. Nhưng đời nay lại khác: không đem hương hoa viếng mộ mà đem rượu đến viếng mộ. Đó là nói về tâm hồn lãng mạn của thi nhân.  Còn nói về văn thì văn chương để lại những gì có tính chất hàm chứa, văn chương giúp cho con người nhận thức về mình hơn là nhận thức qua lý lẽ. Lấy truyện không có câu chuyện của Anton P. Tchekhov và Katherine Manfield cho ta thấy rằng cái việc làm khác đời, cái kiểu văn không ra văn, ý chẳng ra ý nhưng trong đó nó để lại một tư duy cao qúy hơn là truyện có chủ đề nồng cốt; thế mà thế gian vẫn ngợi ca, bởi; trong đó mang chất siêu thực và hiện sinh cho một phản ảnh sống thực, đồng thời là ẩn dụ tạo tính chất phiếm diện qua lối biểu đạt bằng ngôn từ hơn là tỏ vẻ văn hoa mà cần sáng tạo trong tinh thần đừng để mất mình. Nietzsche nói: ‘cái tôi hôm nay phải hơn cái tôi hôm qua và kém cái tôi ngày mai’.Và; nhất thiết đạp đổ cái cũ để xây dựng cái mới, tuyệt đối khai trừ cái tạo hiện tượng ngu xuẩn trong thi văn.

Mà phải thực chứng ngay cả hư cấu. Viết để thấy được sự thật một cách huỵch toẹt đến mức người ta tưởng là điên rồ. Đã gọi là sự thật tất không cho đó là điên rồ mà nó có từ một cảm thức sống thực chẳng qua cho không thực hay điên rồ là bản thân mình chưa một lần sống thực với đời. Con chim trong lồng chỉ thấy bầu trời trong ý thức của ảo giác, đợi tới khi chạm phải không gian thực hư thì con chim đã chổng cọng dơ que trong cái lồn tre, may mắn lắm thì ở lầu son gác tiá. Thành ra có nói trăng, nói cuội chủ đề của văn chương hôm nay là vai trò khai phá những tiềm năng mà bấy lâu nay họ là những con cừu non lạc đường, đưa về hội tụ là một phân tích lý giải chất liệu của nó làm nên lịch sử (văn chương). Chúng ta phải đón nhận sự chung thủy đó, gạt phức cái tư kỉ cố hữu, cái sự mà Descartes rêu rao: ‘Cogito, ergo Sum’ đó là tư duy hiện hữu. Thi văn nhân xuất thần là lúc họ thoát tục một xúc cảm chưa từng có để viết xuống.Văn thơ bổ ích, thích thú là sống thực với tâm hồn không có  cái gì riêng mình mà là cảm thức chung giữa đời. Thi sĩ Trương Trào người Trung quốc nói: ‘Văn chương bất hủ tự cổ chí kim đều viết bằng huyết lệ’. Cái đặc quyền chuyện viết thành văn, thơ không cần phải chứng minh, không cần viện dẫn, không cần mượn lời mà vẫn thu nhập một kết quả tốt đẹp, nếu như phản ảnh một thực chất trung thực. Dù cho xây dựng trên điạ bàn thơ đúc (Concret-poetry) thơ chạm, thơ khắc, kể cả thơ rờ mu rùa (Tangible poems) là thơ thực. Văn; thì sôi sục, bung phá để ‘giải thoát’; đó là văn thực tính như Vũ Trọng Phụng, Nam Cao và nữ sĩ Anais Nin của Mỹ…Và; từ hơn bốn mươi năm sau đã sản sinh những tài hoa xuất chúng, đánh dấu một sự trưởng thành lớn lao, đánh đổ gián tiếp vào ‘con đường xưa em đi’ là ảo hóa đẩy một nền văn học hiện tại đi vào chỗ nghẹt thở giữa đám bụi mờ đã một thời phủ xuống trên mặt kính trắng.Nên quét nó đi và chẳng còn một biện minh nào hơn. Theo nghĩa sâu xa của từ triết học: văn chương là nét đẹp thẩm mỹ của người phụ nữ.

Sự đó là hình thức giải thoát linh hồn và một sáng tạo nghệ thuật để đời trong văn học sử ngày nay ./.

VÕ CÔNG LIÊM (ca.ab.yyc . july/2017)

ĐÔNG – JUAN THỜI HIỆN ĐẠI

Trích trong ĐIỀM YẾU CỦA NGƯỜI ĐÀN ÔNG MẠNH MẼ

của Đặng Xuân Xuyến ; xuất bản năm 2006

*

Đông-Juan là một nhân vật trong tác phẩm văn học của nhà văn Stendal. Đó là một mẫu đàn ông gợi tình, mạnh mẽ, táo bạo và có số “đào hoa”. Chính vẻ đẹp đầy nam tính, gợi tình và tham vọng chinh phục phụ nữ đã giúp anh ta giành được nhiều “chiến công” trong đời sống tình ái của mình. Stendal đã viết: “Đông-Juan luôn rũ bỏ mọi trách nhiệm trong các mối quan hệ tình cảm của anh ta. Trên “chiến trường” bao la rộng lớn, anh ta luôn luôn là kẻ đào hoa, luôn luôn chiến thắng mà không bao giờ chịu nếm mùi thất bại”. Như vậy, anh ta quả là tay săn lùng phụ nữ lạnh lùng, trơ trẽn và “hiệu quả”. Stendal đã xây dựng rất thành công nhân vật Đông-Juan để từ nhân vật Đông-Juan trong tác phẩm văn học, bước ra với cuộc đời, đại diện cho những gã Đông-Juan của đời thường: Lạnh lùng đến tàn nhẫn, trơ trẽn đến bỉ ổi.

Điểm chung cơ bản đầu tiên ở những gã Đông-Juan là sự đa tình, có mới nới cũ. Bản chất đa tình, háo sắc, lấy thú vui xác thịt làm lẽ sống đã khiến những gã Đông-Juan trở thành kẻ “săn tình” siêu hạng. Trong các cuộc phiêu lưu tình ái, các gã Đông-Juan không quan tâm tới tình cảm, nhân cách của người phụ nữ mà anh ta sẽ (đang hoặc đã) chiếm đoạt. Anh ta cũng không cần quan tâm cuộc chơi tình ái ấy kéo dài được mấy ngày, mấy tháng. Điều quan tâm duy nhất của anh ta là được thỏa mãn nhu cầu sinh lý đến mức bệnh hoạn của mình.

Tìm kiếm sự thủy chung ở những gã Đông-Juan thật không khác việc xuống đáy biển mò kim. Trong đời sống tình cảm của mình, những gã Đông-Juan luôn đề cao sự tận hưởng của thú vui xác thịt, coi đó là mục đích sống, là chiến công cần đạt được. Gã luôn thay đổi bạn tình kiểu như người ta thay áo. Đồng thời, gã biết dùng những mánh khóe đầy nghệ thuật, bằng sự thiên biến của mình và bằng sự sắp xếp những “ứng phó” rất tiểu xảo nhưng cũng rất nghệ thuật để tránh con mắt dò xét của thiên hạ. Theo các nhà tâm lý học, nguyên nhân khiến cho những người đàn ông này hành động như vậy là do họ thường cảm thấy bất an, yếu đuối và bất ổn về con người của họ nếu không tạo được mối quan hệ với nhiều phụ nữ.

Một điểm chung nữa thường thấy ở những gã Đông-Juan, là tính hiếu thắng, muốn chinh phục được bất kỳ người phụ nữ nào mà họ thích. Có hay không tình cảm thật sự với những người phụ nữ này, đối với họ điều đó không quan trọng, điều quan trọng với họ là bản danh sách những người phụ nữ đã bị họ, những gã trai lơ đĩ bợm, chinh phục là bao nhiêu?

Thông thường, cánh đàn ông coi việc chiếm đoạt trái tim phụ nữ như những cái mốc trong cuộc đời. Họ gán sự ham muốn tình dục của mình là do bẩm sinh, là nhu cầu chính đáng nên xã hội không có lý do gì để cấm kỵ. Như con thiêu thân, họ lao vào những cuộc tình chớp nhoáng, không đếm xỉa đến cảm xúc, không nghĩ đến hậu quả và không bận tâm đến dư luận nhìn nhận, đánh giá thế nào. Trong những cuộc “hội họp” của các gã Đông-Juan, những chuyện mà người khác nghe thấy thường là những cuộc phiêu lưu tình ái, mà ở đó, các chàng Đông-Juan luôn là người sắm vai chính, đảm đương vị trí của kẻ săn lùng.

Các nhà khoa học đã chỉ ra nguyên nhân chủ yếu làm cho sự xung động tình dục của các gã Đông-Juan – hay còn gọi là những gã trai lơ, đàng điếm – luôn mạnh mẽ là bởi sự mất cân bằng của nội tiết tố. Hệ thống thùy não dưới – tuyến yên – tuyến tình dục trong cơ thể chi phối toàn bộ hoạt động sinh sản và đời sống tình dục của con người. Nếu một khâu nào đó trong hệ thống này trục trặc, sẽ dẫn tới bất thường về đời sống tình dục, mà cơ bản, sự bất thường đó làm gia tăng ham muốn tình dục.

Qua giải phẫu và kết quả của nhiều công trình nghiên cứu, các nhà tâm sinh lý tình dục cũng chỉ ra một số nguyên nhân khác dẫn tới sự ham muốn tình dục gia tăng mạnh mẽ: Một khối u nào đó trong đầu, một bệnh nhân thần kinh do tâm lý khác thường, một người thích xem tranh ảnh khiêu dâm,… đều có thể làm cho hưng phấn tình dục quá mức bình thường, dẫn tới sự ham muốn tình dục gia tăng mạnh mẽ. Đây cũng chính là một trong những nguyên nhân khiến người đàn ông hào hoa, phong nhã của chúng ta trở nên trăng hoa, đĩ điếm.

Một điểm chung nữa mà các chàng Đông-Juan thường có, đó là càng khao khát tình yêu thì họ càng cố buộc người khác phải phục tùng, thậm chí còn áp đặt người khác phải nghe theo và làm theo sở thích bệnh hoạn song hành cùng tính hiếu thắng của mình.

Tham vọng quyền lực của các chàng Đông-Juan nằm sau ham muốn tình dục. Mỗi thành công mới trên bước đường chinh phục mỹ nhân là mỗi lần thỏa mãn tính hiếu thắng của anh ta, và là cách các chàng Đông-Juan cho rằng để khẳng định về sức mạnh đàn ông và ý nghĩa giá trị (tính đực) của con người mình.

Chúng ta, chắc khá nhiều người biết nam ca sỹ Nguyễn Ngọc là người bị tai tiếng về tình ái như thế nào. Với vẻ đẹp đàn ông rất phong trần, hoang dại và giọng ca mượt mà, truyền cảm, Nguyễn Ngọc là thần tượng của nhiều cô gái trẻ. Lợi dụng tình cảm khán giả nữ dành cho mình, Nguyễn Ngọc luôn tạo mọi cơ hội để chinh phục những cô bé “nhẹ dạ” sau những đêm lưu diễn. Mới 10 năm vào nghề nhưng số “nạn nhân” bởi đặc tính Đông-Juan của Nguyễn Ngọc thì không thống kê nổi. Gần đây, sau cái tát “trời giáng” của một “bé con Hà Nội” khi Nguyễn Ngọc định giở trò Đông-Juan, phần nào đã làm anh thức tỉnh. Không biết cái tát ấy có làm cho Nguyễn Ngọc từ bỏ hẳn câu “châm ngôn” cửa miệng: “Tình dục là nhu cầu chính đáng của mỗi người nên xã hội không có lý do gì để khoanh vùng cấm kỵ” hay không, nhưng những lần xuất hiện gần đây, người ta thấy Nguyễn Ngọc trầm hẳn.

Nghiên cứu về tâm sinh lý người đàn ông, người ta thấy sự “gồng mình đến khổ sở” của đấng mày râu khi buộc phải trả lời các câu hỏi: Người đàn ông là gì? Tính nam là gì? Thế nào mới được gọi là người đàn ông đích thực?…. Giáo sư Elisabeth Badinter đã viết: “Khi đề cao hình ảnh không thể với tới được về tính nam, người ta gây ra một ý thức đau đớn: Ý thức là một người đàn ông không hoàn tất. Để đấu tranh chống lại tình cảm bất an thường trực, một số đàn ông nghĩ rằng đã tìm thấy phương thuốc trong việc đề cao một tính siêu đực. Thực ra, họ lại bị cầm tù bởi một tính nam ám ảnh và xung năng, nó không bao giờ để họ được yên ổn. Trái lại, nó là nguồn gốc của sự tự hủy hoại và hung hăng tấn công chống lại tất cả những ai đe dọa làm rơi tấm mặt nạ. (Nhân dạng nam, trang 271, Nhà xuất bản Phụ Nữ, 1999, Nguyễn Xuân Khánh dịch). Đây cũng chính là một trong những căn nguyên khiến người đàn ông phong độ, hào hoa, coi sự “chiếm đoạt và thống trị phụ nữ” là tố chất của người đàn ông trở nên đàng điếm.

Trên thực tế, sự ham muốn tình dục thường tăng lên khi chịu ảnh hưởng của sự lo lắng vì sự bất ổn nào đó về tâm sinh lý trong sâu thẳm con người. Và với những chàng Đông-Juan thì nỗi hãi sợ sự cô đơn và sợ thằng đàn ông yếu đuối trong chính con người mình đã bật dậy nổi loạn bằng những cuộc tình chóng vánh và nhạt thếch, vô vị. Lydia Flem thật xác đáng khi nhận xét: “Về mặt cơ bản người nam là hoang sơ và cô đơn, dù có sự đánh giá cao cái tượng dương, anh ta là và vẫn còn là một kẻ bất lực về tình cảm.

Một điểm chung nữa thường thấy ở các chàng Đông-Juan là sự trau chuốt về trang phục và hình thể. Không giống sự “trau chuốt” của người đàn ông đỏm dáng (thường cầu kỳ nhưng lại tùy tiện trong chọn lựa trang phục nên nhiều khi trở thành lố bịch), sự đỏm dáng của các chàng Đông-Juan lại thiên về trang phục thể hiện sự mạnh mẽ, phóng khoáng của người đàn ông và “tôn vinh” vẻ đẹp rất đàn ông, rất gợi tình của mình (gần giống gu ăn mặc của các chàng đồng tính). Công bằng mà nói, các chàng Đông-Juan rất có khiếu về ăn mặc. Lợi thế về hình thể đẹp, cộng thêm cách ăn mặc rất đặc trưng giống đực và khả năng tán gái hơn người, các chàng Đông-Juan thực sự trở thành “tiêu điểm” để phụ nữ ngước nhìn. Đây cũng là một điểm chung cơ bản của những chàng Đông-Juan thời hiện đại: Khéo léo và biết cách chinh phục lòng người.

Giống như người đàn ông đỏm dáng, các gã Đông-Juan hiện đại cũng rất quan tâm tới việc chăm sóc hình thể. Anh ta sẵn sàng bỏ ra cả ngày để đến các Salon làm đẹp, nhưng anh ta không chấp nhận kiểu làm đẹp nhờ “son phấn” như người đàn ông đỏm dáng hoặc người đàn ông đồng tính… Đây có thể coi là ưu điểm của các chàng Đông-Juan vì anh ta đã đề cao sự nam tính của người đàn ông, dù chỉ trong nhận thức hay ở vẻ bề ngoài.

Mặc dù đề cao tính nam nhưng trong thực tế, hình ảnh người đàn ông hào hoa của chúng ta những năm gần đây đã mềm yếu đi khá nhiều. Những người bảo lưu khuôn mẫu người đàn ông truyền thống không thể tìm thấy hình ảnh người đàn ông phong trần, đậm đặc chất đực, liền quay sang đổ lỗi cho các hãng thời trang đã làm “mềm yếu tính nam của người đàn ông” khi đưa những siêu sao như David Beckam, Richard Gere, Takuya…. trong chiến lược quảng cáo sản phẩm của mình. Người ta lo lắng, giận dữ và phán quyết quá lời rằng: Chính hình ảnh thần tượng của giới trẻ đang “trau chuốt làm đẹp” trên các phương tiện thông tin đại chúng đã tạo nên cuộc cách mạng về khuôn mẫu người đàn ông của thế kỷ XXI – trong đó có cả các gã trai lơ, đĩ bơm – làm biến dạng người đàn ông cương cường, dũng mãnh thành kẻ lập dị, nữ tính đến mềm oặt.

Thực ra chúng ta đều rõ, trong bất kỳ người đàn ông nào cũng tồn tại “chất nữ nguyên thủy”. (Xem: http://dangxuanxuyen.blogspot.com/2015/09/nhung-thac-mac-ve-ong-tinh-luyen-ai-tac.html). Hơn nữa, chuẩn mực về người đàn ông trong xã hội hiện đại đã có những biến đổi quan trọng: Sự thành đạt và bản chất “hiền lành”, tử tế là ưu tiên số 1 dành cho người đàn ông hiện đại. Đó chính là căn nguyên “buộc” người đàn ông luôn có ý thức đề cao tính đực phải “nghiêm túc” thay đổi phong cách để thể hiện mình.

Với vẻ đẹp ngang tàng, đầy nam tính đã giúp các Đông-Juan thực hiện được các cuộc nổi loạn mà các chuyên gia tâm lý gọi đó là cuộc nổi loạn chống lại chính mình, bằng những cuộc tình vô vị, tẻ nhạt, bằng những ham muốn giả tạo, bệnh hoạn. Văn học (và cả phim ảnh) Mỹ những năm đầu thế kỷ XX đã làm ngây ngất hàng triệu trái tim thiếu nữ khi xây dựng nhân vật chính là những chàng cao bồi miền Tây, cũng với hình thể và tính cách như những chàng Đông-Juan mà Stendal đã xây dựng. Những gã cao bồi miền Tây, trên bước đường chinh phục phái đẹp, trái tim của họ luôn luôn vô cảm. Họ “là hiện thân của mọi kiểu người rập khuôn nam giới (…) về một cuộc săn đuổi không ngừng của những người đàn ông đi tìm tính đực của mình. Khẩu súng côn, rượu và ngựa là những thứ phụ tùng bắt buộc của hắn, và những người đàn bà chỉ đóng những vai trò phụ” (Nhân dạng nam, trang 268). Hình ảnh gã cao bồi ngang tàng, đầy nam tính với thanh kiếm (hoặc khẩu súng côn) trên tay, rong ruổi trên lưng ngựa, bất chấp sự khắc nghiệt của ngoại cảnh đã thách thức nhân loại bằng câu hỏi: Phải chăng đó là biểu tượng cho sự mạnh mẽ của người đàn ông đích thực? Hay chính là vũ khí cần thiết buộc phải có để bảo vệ tố chất người đàn ông đang bị xâm phạm trầm trọng? Rong ruổi trên cao nguyên rộng lớn với trái tim không cảm xúc, không mục đích, không lý tưởng và không hiểu mình đi đâu, làm gì và vì cái gì của các chàng cao bồi như lời cảnh báo của các nhà văn hóa về sự khủng hoảng nhân dạng người đàn ông hiện đại.

Nghiên cứu về đời sống tình dục của các gã Đông-Juan, các nhà tâm lý tình dục cho rằng: Ham muốn tình dục của người đàn ông Đông-Juan luôn mạnh mẽ và hưng vượng. Sự xung động tình dục của anh ta mạnh tới mức không kể thân sơ, không chọn đối tượng, không cần giữ thể diện, miễn sao anh ta được thỏa mãn cơn ghiền xác thịt. Đông y gọi anh ta là kẻ “dâm loạn”, còn Tây y gọi anh ta là người ham muốn tình dục quá mức. Sự hưng phấn tình dục quá mạnh và bản chất lấy thú vui xác thịt làm lẽ sống đã biến anh ta thành kẻ lưỡng tính luyến ái, có nghĩa anh ta thèm muốn thỏa mãn sinh lý với cả đàn ông và đàn bà. Trong các cuộc phiêu lưu tình ái đồng giới, anh ta luôn là người giữ thế “chủ động”. Đây là trường hợp rất hiếm sảy ra với những chàng Đông-Juan dị tính nhưng lại thường xuyên với những gã Đông-Juan lưỡng tính. (Xem: http://dangxuanxuyen.blogspot.com/2015/09/nhung-thac-mac-ve-luong-tinh-luyen-ai.html). Trớ trêu thay, theo kết quả điều tra xã hội học của các nhà tâm lý, tình dục (ở các nước phương Tây) thì trong số các chàng Đông-Juan – thường rơi vào các chàng Đông-Juan có ngoại hình “hoàn hảo”- có khá nhiều người là dân đồng tính.

Chúng ta, những người được “mệnh danh là phái mạnh”, không ít người “đã giật mình” rồi tỏ ra tức giận khi nghe lời tuyên bố “xanh rờn” của cô người mẫu “đỏng đảnh” Hồ Ngọc Hà về hình ảnh và tính cách người đàn ông hiện đại. Chúng ta thể hiện sự bất bình đó bằng những lời ác cảm, “thóa mạ” nhân cách của cô vì không thể chấp nhận được lời nhận xét “hết sức phiến diện và cực đoan” của cô: “Đàn ông giàu có thường hay đem tiền ra mua chuộc phụ nữ đẹp. Còn đàn ông đẹp trai quá thì chắc gì anh ta đã là một người đàn ông thực sự, có khi là đồng tính đấy.” (theo VnEXpress thø 1/4/2004: Tôi hơi coi thường đàn ông). Nhưng công bằng mà nói, ở chừng mực nào đó lời nhận xét của cô không hẳn là không có căn cứ.

Như chúng tôi đã trình bày, những gã Đông-Juan lưỡng tính, hay gọi đúng tên là những gã Đông-Juan đồng tính, sau những cuộc tình chớp nhoáng với những người phụ nữ nhẹ dạ lại thích tìm đến những người đàn ông khác để được yêu thương, chở che như tình chồng vợ. Trong các cuộc tình đồng giới ấy, những gã Đông-Juan thực sự đóng các vai trò là các “thím”, các “mợ” với đầy đủ đức tính của những “bà chằn”. (Xemhttp://dangxuanxuyen.blogspot.com/2015/08/tim-hieu-nhan-dang-nam-nguoi-ong-ong.html) Trong thế giới người mẫu, không ít chàng bảnh chọe, đầy nam tính và gợi cảm đã tự biến mình thành điếm đực của cả quý ông và quý bà. Họ chụp ảnh “khoe thân thể 100%” rồi tung lên mạng với lời quảng cáo “kết bạn” để săn lùng những kẻ háo sắc, bệnh hoạn. Kè kè bên họ trước công chúng là những tiểu thư xinh đẹp đài các, nay một nàng, mai một nàng với những biểu hiện thật tình tứ, lãng mạn nhưng khi đêm về họ lại cung cúc chiều chuộng những gã trai còn hơn những bà vợ yêu chiều chồng nhất. Những gã Đông-Juan kiểu này tạo ra muôn vàn lý do để ngụy biện cho hành động khác thường và được người đời chấp nhận, coi đó là bình thường vì cho rằng nhu cầu “chuyện ấy” quá cao của chàng “quá đẹp trai” nên mới có chuyện tình “oái oăm” như thế (hoặc không nhận thấy những chuyện khác người bởi sự che chắn rất giỏi của các gã Đông-Juan), mà không nhận ra rằng: Thực ra những chàng Đông-Juan lại là những người đàn ông yếu đuối và rất nữ tính.

Một dạo dư luận bàn tán ầm ĩ về chuyện tình giữa nam ca sỹ Trần Minh và nam người mẫu Vũ Bình với nhiều thông tin trái ngược. Người thì bảo Trần Minh là “con gà trống” thực thụ bị Vũ Binh làm cho thân tàn danh bại vì lòng trắc ẩn, người lại bảo Vũ Bình là nạn nhận trong vụ tai tiếng về giới tính này. Những người hiểu rõ thì chỉ chép miệng lắc đầu. Họ không biết nên lý giải thế nào về chuyện hai người đàn ông rất nam tính lại vướng vào chuyện cấm kỵ, khinh khi của xã hội. Cả hai chàng trai đều còn rất trẻ, đều từng có những cuộc tình trai gái làm tốn bao giấy mực của những người cầm bút. Và cũng mới đó không lâu, ca sỹ Trần Minh phải lẳng lặng đưa bạn gái đi “giải quyết” hậu quả làm rùm beng dư luận nhưng những cử chỉ nũng nịu, trìu mến hai người dành cho nhau và cảnh hai người sống với nhau như vợ như chồng thì chỉ có tạo hóa mới hiểu nổi…

Tệ hơn nữa, có những gã Đông-Juan còn coi quan hệ “xác thịt” với cả 2 giới là mốt của giới quý tộc, không phải ai cũng “vinh dự” có được. Nhà đạo diễn tài ba nọ, sau vài phim “nổi đình nổi đám” đã ỡm ờ chia sẻ với công chúng mình là người “đa hệ”, là “bóng”, là thích sưu tầm “màu tím”, kẹo socola, búp bê… Không cải chính, không phản đối những bài viết về thói đỏng đảnh, cong cớn của mình, nhà đạo diễn tài ba nọ cứ nhẩn nha tung ra những hé lộ “tin tức” làm “chao đảo” dư luận về con người thực của mình và những cuộc tình “cực kỳ hấp dẫn, cực kỳ lãng mạn” mà người bình thường không thể có được. Lật lại những trang tình sử của nhà đạo diễn, người ta giật mình vì số nhân tình cả 2 giới của nhà đạo diễn lên tới vài trăm. Có thế dư luận mới bàn tán: Muốn nhận vai diễn trong phim (của đạo diễn này) chỉ cần ngoại hình đẹp và chịu “tay trong tay, chân trong chân” với đạo diễn là được.

Hay như câu chuyện về nam diễn viên K. T là một ví dụ cho sự băng hoại về đạo đức trong con người các gã Đông-Juan thời hiện đại.

Là một diễn viên tài sắc vẹn toàn, K.T là gương mặt “sáng giá” của điện ảnh nước nhà. Không ít thiếu nữ dù biết anh đã có gia đình nhưng vẫn thầm yêu trộm nhớ, thậm chí có khán giả vì mến mộ anh, tìm mọi cách tiếp cận để được “gần gũi một lần” với anh làm “kỷ niệm”. T.T – vợ anh – không ít lần nuốt lệ vì thói trăng hoa, đàng điếm của chồng, nhưng vì yêu chồng, muốn giữ thanh danh cho chồng, chị âm thầm chịu đựng. Như kẻ bệnh hoạn, anh cặp bồ với bất cứ phụ nữ nào coi anh là “thần tượng”. Tệ hơn, K.T còn đón nhận nồng nhiệt tình cảm của những khán giả nam và coi đó là “chiến tích đặc biệt” của mình. Ban đầu chứng kiến cảnh khán giả nam ôm hôn say đắm chồng mình, T.T choáng váng nhưng rồi chị tin vào sự rõ ràng về giới tính của chồng bởi những cuộc tình “chóng đến nhanh đi” của anh với khán giả nữ, nhất là lời phân trần của K.T khi chị căn vặn: “Anh chỉ cho họ ôm hôn vì “thương hại” họ và anh không muốn mất khán giả của mình nên em đừng nghĩ ngợi gì.”. Nhưng một lần do quên đồ, nữ nghệ sỹ T.T quay về nhà, vừa bước chân vào phòng ngủ, chị sững người khi thấy chồng cùng một bạn diễn nam đang làm cái chuyện mà chỉ có hai người khác giới mới làm. Chị vội vàng khăn gói nữ trang, hành lý dời khỏi ngôi nhà đã gần mười năm mặn nồng tình chồng vợ. Trước tòa chị lạnh lùng: “Tôi không thể sống chung với anh ta được. Thật là kinh tởm. Tôi không thể hiểu nổi tại sao hai thằng đàn ông rất nam tính ấy, cũng rất yêu vợ thương con như thế lại làm những việc bẩn thỉu hết chỗ nói. Thì ra lũ họ chỉ đóng kịch để lừa dối chị em phụ nữ chúng tôi.”. Từ đó đến nay, nữ nghệ sỹ T.T đã 2 lần “lên xe hoa” nhưng vẫn “lặng lẽ một mình” vì chị không còn tin vào tình yêu của người khác giới. (Còn nam nghệ sỹ K.T, sau đó một thời gian, anh lên “xe hoa” với một khán giả yêu anh, chấp nhận con người thực của anh, đến giờ hạnh phúc của họ không hiểu có được viên mãn hay không nhưng chuyện tình kiểu “thời thượng” của K.T không làm dư luận ầm ĩ thêm nữa.).

Với đặc tính của những kẻ đa tình, háo sắc, các chàng Đông-Juan cho dù đã có vợ trẻ đẹp, tháo vát, yêu chồng thương con hết mực vẫn “hăm hở” kiếm tìm những cô gái trẻ người non dạ để tạo dựng mối quan hệ sặc mùi xác thịt. Không ít gã đàn ông kiểu này đã làm khổ vợ khổ con vì tính trăng hoa, đàng điếm của mình. Thực tế cuộc sống cho thấy 90% những bà vợ có chồng thuộc nhóm các chàng Đông-Juan đều bất mãn với tính đĩ điếm của chồng và cuộc sống gia đình của họ luôn rơi vào cảnh hoặc “cơm không lành canh không không ngọt”, hoặc phải đưa nhau ra tòa. Thường thì trong những gia đình như vậy, người bố không có được sự kính trọng của con cái, nếu phải đưa nhau ra tòa thì phần đông con cái không chịu sống cùng người bố. Trong suy nghĩ của những đứa con, hình ảnh người bố không mấy tốt đẹp ấy là nguyên nhân dẫn đến những thua thiệt, khổ cực mà chúng phải gánh chịu.

Trái ngược với những gã Đông-Juan như vậy, trong cuộc sống, không ít gã Đông-Juan mặc dù là người thành đạt, rất yêu vợ yêu con nhưng trước tình yêu “mù quáng” của một số phụ nữ đã lợi dụng “diễn kịch” là kẻ bất hạnh trong cuộc sống gia đình, để biến những người phụ nữ đáng thương đó trở thành “nô lệ tự nguyện”, phục vụ vô điều kiện không chỉ cho riêng gã mà còn cả vợ con gã bằng thái độ tận tụy, bằng niềm trung thành tuyệt đối.

Quay trở lại câu chuyện của nữ nghệ sỹ T.T để bạn đọc hiểu thêm về tính đĩ điếm của các gã Đông-Juan đã gây ra hậu quả tai hại cho người thân như thế nào.

Sau khi chia tay K.T, nữ nghệ sỹ T.T nhận lời cầu hôn của một nghệ sỹ cùng đoàn. Cuộc hôn nhân kết thúc cũng nhanh như thời gian hai người tìm hiểu. Chừng năm sau, chị lần nữa “gá nghĩa” cùng một doanh nhân với niềm tin đây sẽ là bến đậu bình an của đời chị. Thật oái oăm, cuộc hôn nhân này cũng chỉ tồn tại tám, chín tháng. Chị tâm sự với mọi người: “Tôi yêu anh K (tên nhà doanh nghiệp) nhưng lại sợ phải làm “chuyện ấy” với chồng. Tôi thật sự không còn hứng thú. Chồng tôi là nhà kinh doanh, anh ấy rất hiểu vì sao tôi lại thế nên rất tâm lý an ủi, động viên nhưng tôi vẫn không thể. Cứ mỗi lần anh ấy muốn “gần gũi” là hình ảnh nhớp nháp của K.T với bạn diễn nam lại làm tôi hãi sợ. Chồng tôi là người đáng kính, anh ấy rất tuyệt vời nên tôi chủ động chia tay, giải phóng cho anh ấy. Tôi không thể để anh ấy vì tôi mà khổ sở.

Hậu quả từ việc trăng hoa, đàng điếm của những gã Đông-Juan không chỉ để lại “di chứng” trầm kha cho người vợ mà còn làm bất hạnh cho cuộc sống lứa đôi của con cái sau này. Câu chuyện của Trà Mi là một ví dụ.

Năm lên mười tuổi, bố mẹ chia tay, Trà Mi ở với mẹ. Sau đó, mẹ đi bước nữa, Trà Mi phải chứng kiến những trận đòn vô cớ mẹ phải gánh chịu từ người bố dượng. Không chỉ vậy, hắn còn lôi người tình về nhà, bắt mẹ con cô đứng xem hắn làm trò thú vật. Khốn nạn hơn, tên bố dượng còn chiếm đoạt cô khi cô vừa bước sang tuổi mười bốn. Căm hận, mẹ Trà Mi làm đơn ly dị và kiện hắn về tội cưỡng hiếp trẻ vị thành niên. Hắn đã phải trả giá trước pháp luật nhưng vết thương lòng của Trà Mi không có thuốc nào chữa lành được. Trở thành thiếu nữ, dù khá xinh đẹp, lại chăm chỉ, ngoan ngoãn, được nhiều người theo đuổi nhưng cô vẫn dửng dưng với chuyện xây dựng gia đình. Trước thúc ép của người mẹ, ngoài ba mươi tuổi cô mới chấp nhận lấy chồng. Đêm tân hôn, khi chồng háo hức “yêu đương”, cô lạnh lùng như một khúc gỗ. Những ám ảnh của quá khứ làm cô ghê tởm “chuyện ấy” với cả chồng mình. Nhìn vẻ mặt sợ hãi của Trà Mi, chồng cô rã rời dời phòng ngủ. Cô yêu và thương chồng nhưng cô không thể làm được bổn phận của người vợ. Ban ngày cô vui vẻ với chồng bao nhiêu thì đếm đến cô lại lo sợ khi nằm cạnh chồng bấy nhiêu. Anh càng gần gũi, cô càng kiếm cớ xa lánh để khỏi phải làm “chuyện ấy”. Chồng thắc mắc, thậm chí cáu gắt cô cũng chỉ im lặng ngồi khóc. Cô không thể nói rõ cho chồng nỗi hãi sợ của mình. Cô càng không đủ can đảm để nói cho chồng biết nỗi đau mà cô và mẹ cô phải chịu đựng. Cứ như vậy, sau một năm “làm vợ người ta”, Trà Mi lặng lẽ quay trở về sống âm thầm bên mẹ.

Như vậy, các chàng Đông-Juan của chúng ta còn là những kẻ thất bại trên con đường kiếm tìm tình yêu và hạnh phúc.

Thương thay hỡi các chàng Đông-Juan thời hiện đại. Các chàng nghĩ sao khi đọc xong điểm yếu này?

*.  

ĐẶNG XUÂN XUYẾN

THƠ, CA DAO CHO NGÀY LỄ TÌNH YÊU

Nguyên Lc

luvtim

SƠ LƯỢC VỀ NGÀY VALENTINE

  1. Ý nghĩa của ngày Valentine

Ngày Valentine (tên tiếng Anh là Valentine’s Day, Saint Valentine’s Day) còn được gọi là ngày lễ tình yêu, ngày lễ tình nhân, diễn ra vào ngày 14/2 hàng năm. Đây là một trong những ngày lễ lớn tại châu Âu và Bắc Mỹ. Nó được đặt tên theo Thánh Valentine – một trong những vị Thánh tử vì đạo Kitô giáo đầu tiên.

 Valentine chính là dịp để cả thế giới tôn vinh tình yêu đôi lứa, tình cảm giữa các đôi tình nhân và rộng hơn là tình cảm bạn bè khác phái. Mỗi khi đến Valentine, người ta lại bày tỏ tình cảm cho nhau thông qua những lời chúc ngọt ngào hay những món quà ý nghĩa như thiệp, hoa hồng, socola, tấm thiệp tình yêu xinh xắn …

.

  1. Nguồn gốc của ngày Valentine

Có rất nhiều giả thuyết về nguồn gốc của ngày lễ tình nhân Valentine, nhưng giả thuyết được nhiều người chấp nhận nhất là câu chuyện của vị linh mục có tên Valentine dưới thời Hoàng đế La Mã Claudius II ở thành La Mã (Rome).

Vào khoảng thế kỷ thứ III, Đế quốc La Mã phải tham gia nhiều cuộc chiến tranh. Do gặp khó khăn trong việc kêu gọi các chàng trai trẻ tham gia nhập ngũ – họ không muốn xa gia đình hay người yêu. Claudius II cho rằng hôn nhân chỉ làm đàn ông yếu mềm, nên ông đã ban lệnh cấm người dân tổ chức lễ đính hôn hoặc đám cưới để toàn lực tập trung vào chiến tranh.

Sắc lệnh của nhà vua vấp phải sự phản đối của nhiều người, trong đó có linh mục Valentine ở thành La Mã và Thánh Marius. Họ tiếp tục cử hành lễ cưới cho các đôi vợ chồng trẻ trong bí mật. Không lâu sau đó, việc này bị phát hiện, linh mục Valentine bị bắt và kết án tử hình bằng thức kéo lê và bị ném đá cho đến chết vào ngày 14/2/273. Tuy nhiên vào buổi chiều trước khi ra pháp trường, ông đã gửi tấm “thiệp Valentine” đầu tiên cho con gái của người cai tù, ông này tên Asterius – một người thiếu nữ mù lòa bẩm sinh đã được ông chữa lành bằng phép màu lạ. Trên tấm thiệp, mà linh mục Valentine gửi có ký tên “dal vostro Valentino” (From your Valentine – từ Valentine của em/con). Dần dần, ngày 14 tháng 2 hằng năm đã trở thành ngày mà các cặp tình nhân trao đổi các bức thông điệp của tình yêu. Thánh Valentine cũng từ đó trở thành vị Thánh bổn mạng của những lứa đôi.

– Những cánh chim tình của Chaucer

Năm 1382, nhà thơ Geoffrey Chaucer viết một bài thơ “Nghị hội của đám đông” (Parlement of Foules) trong đó có những câu nói về ngày Thánh Valentine:

.

For this was on saint Valentine’s day

When every birds came there to choose his make…

Vì vào ngày Thánh Valentine này,

Những cánh chim bay về đó để chọn bạn tình…

.

Bài thơ này được viết để tôn vinh kỷ niệm một năm lễ đính hôn của Vua Richard II của Anh với Anne của Bohemia, một hiệp ước hôn nhân đã được ký kết vào ngày 02 tháng 5 năm 1381, và hôn lễ được cử hành 8 tháng sau đó

( Theo Wikipedia)

.

Valentine ban đầu chỉ là ngày lễ riêng ở Bắc Mỹ và châu Âu, nhưng sau này nó được phổ biến tại hầu hết các quốc gia trên thế giới, trong đó có cả Việt Nam

.

  1. Các ngày Valentine

Theo truyền thống thì Valentine chỉ có 1 ngày duy nhất vào 14/2 hằng năm. Tuy nhiên 1 ngày lễ tình nhân dường như chưa đủ để người ta thể hiện hết tình cảm với nhau, nên ngoài ngày Valentine 14/2 chánh ra, người ta đã tổ chức thêm 2 ngày Valentine nữa:  Vào ngày 14/3 và ngày 14/4. Vậy có 3 ngày Valentine:

– Valentine đỏ

Valentine đỏ là ngày lễ tình nhân truyền thống, được tổ chức vào ngày 14/2 theo “truyền thuyết” về Thánh Valentine. Đây là dịp để người ta bày tỏ tình cảm của mình với người thương/yêu thông qua những món quà, những lời chúc thật ngọt ngào.

– Valentine trắng

Valentine trắng (White Day, White Valentine) được tổ chức vào ngày 14/3 hằng năm, đúng một tháng sau ngày Valentine đỏ. Valentine trắng bắt nguồn từ câu chuyện của một chàng trai Nhật Bản, 1965. Anh muốn đáp lại tình cảm của cô gái đã tặng quà cho mình vào Valentine đỏ nên đã làm một hộp kẹo trắng như tuyết rất to để gửi đến cô gái. Từ đó, Ngày Trắng ra đời.  White Day lần đầu tiên được tổ chức vào năm 1978 ở Nhật Bản rồi dần được biến thể trở thành Valentine trắng phổ biến rộng rãi ở nhiều nước trên thế giới.

Valentine trắng là “ngày trả lời” đối với ngày Valentine đỏ. Vào ngày này, các chàng trai sẽ đáp lại tình cảm của người con gái yêu mến mình trong suốt thời gian qua bằng một món quà ý nghĩa hoặc lời nói thật cảm động.

Valentine đen

Valentine đen có nguồn gốc từ Hàn Quốc, diễn ra vào ngày 14/4. Khác với Valentine đỏ và Valentine trắng, Valentine Đen là ngày dành riêng cho những thành viên của hội độc thân (FA).

.

HAI BÀI THƠ VỀ TƯƠNG TƯ

Nhân ngày lễ tình yêu, tôi xin dịch và giới thiệu đến bạn 2 bài thơ chữ Hán ngắn nói về tình yêu, về tương tư cùa 2 thi sĩ: Một người hiện tại và một người “ngàn năm trước”:

.

1 . Thơ về tương tư cùa Hạt Cát

– Nữ sĩ Hạt Cát tên thật Trần Thị Bạch Vân, bút hiệu thường dùng: Hạt Cát, Lăng Già Nguyệt, Sa Sa, Lạp Sa … Cựu học sinh trường Trịnh Hoài Đức tỉnh Bình Dương, quê Lái Thiêu Việt Nam. Hiện đang sống ở Mỹ.

Nữ sĩ là tác giả thi tập Bạch Vân Vô Sở Trú mà tôi đã giới thiệu năm 2019 [*]

.

– 4 câu thơ

.

Tương Tư Nguyệt

.

Mang mang canh trường hàn nguyệt,

Tình hoài nhất thốn đa đoan,

Nguyệt chiếu sơn vân dã thảo

Tương tư hà xứ chung ngân?

.

Dịch nghĩa:

Đêm dài, ánh trăng lạnh, mênh mông

Một tấc tình thương nhớ ngổn ngang

Trăng soi chiếu mây núi, cỏ hoang dại

Nhớ nhung biết bờ bến tận cùng nơi đâu?

( Hạt Cát)

.

Nguyên Lạc chuyển ngữ

.

Trăng Tương Tư

.

Mênh mang đêm dài trăng lạnh

Chút tình thương nhớ đa đoan

Trăng soi mây ngàn cỏ nội

Tương tư bờ bến đâu tìm?

.

  1. 2. Thơ về tương tư cùa Yến Thù

–  Yến Thù hay Án Thù 晏殊 (991-1055 – thời Bắc Tống) tự Đồng Thúc, người huyện Lâm Xuyên (nay thuộc tỉnh Giang Tây), 7 tuổi đã làm văn, về sau làm quan tới Tể tướng. ông nổi tiếng trên văn học sử với tập Chân ngọc từ [Thi viện]

.

– 4 câu thơ trong Xuân Hận

.

Vô tình bất tự đa tình khổ

Nhất thốn hoàn thành thiên vạn lũ

Thiên nhai địa giác hữu cùng thời

Chỉ hữu tương tư vô tận xứ

(Xuân hận – Yến Thù)

.

Dịch nghĩa: 

Kẻ vô tình đâu thấu hiểu nỗi khổ của người đa tình,

Một tấc tương tư cũng biến thành ngàn vạn sợi sầu khổ.

Chân trời góc bể có cũng có điểm cuối cùng

Chỉ có tương tư là mãi vô tận.

.

Phóng dịch:

Chân trời gốc bể đâu xa

“Trường tương tư”* mãi bao la không bờ

Đa tình khác kẻ thờ ơ

Tấc thôi thương nhớ vạn tơ kết sầu

(Hận xuân)

………..

* Mượn tên tựa đề bài thơ “Trường tương tư” của  Lương Ý Nương. Trong bài thơ này có 4 câu nổi tiếng hầu như ai cũng biết: Ngã tại Tương giang đầu/Quân tại Tương giang vĩ/Tương tư bất tương kiến/Đồng ẩm Tương giang thuỷ.

 

.

CA DAO VỀ TÌNH YÊU

Xin ghi ra đây 4 câu ca dao về tình yêu đôi lứa nổi tiếng

.

Lá này gọi lá xoan đào

Tương tư gọi nó thế nào hở em?

Lá khoai anh ngỡ lá sen

Bóng trăng anh ngỡ bóng đèn em khêu

(Ca dao)

.

LỜI KẾT

Xin được dùng bài thơ sau đây xem  như là lời kểt cho bài viết về ngày lễ tình yêu:

.

Tặng người yêu dấu

.

Mời nhau cạn chén rượu đầy

Ngoài song xuân đến trong nầy tình ta

Tặng người yêu dấu ngày xưa

Chút tình cùng nỗi xót xa ngậm ngùi

Buốt lòng đã để em tôi

Cháy màu tóc mượt một đời còng lưng

Trao em một gã lừng khừng

Tưởng như thông thái. nửa khùng nửa ngu

Tặng luôn “ảo vọng mùa thu”

Đại ngôn tuổi trẻ cùng bao dại khờ!

.

Cảm ơn chẳng phải tình vờ!

Dìu nhau đi đến bến bờ tử sinh

Ơn em trọn kiếp ân tình

Nếu không… một kiếp điêu linh khổ nàn!

.

Nguyên Lạc

……………

[*] Giới thiệu tập thơ Bạch Vân Vô Sở Trú – Nguyên Lạc

http://t-van.net/?p=40987

http://www.art2all.net/tho/nguyenlac/nguyenlac_gioithieu-bachvanvosotru.htm

Những đoản khúc yêu cưng

Khê kinh kha

00ao dai trang

1.
đới sẽ vì cưng mà hân hoan
đại dương vì cưng mà đầy sóng
núi rưng vi cưng mà xanh lá
tình sẽ vì cưng mà mặn nồng

2.
cưng quá xa nhưng tình gần lắm
chút lạnh buồn như mưa rơi rơi
chút úa tàn mọc trong hồn vắng
tình cưng xa thương nhớ dâng đầy.

3.
em xa  rồi nhưng tình còn ở lại
ôi hương nồng còn đọng trên thịt da
rồi mai đây trên nẻo đường xa vắng
có bao giở người nhớ cuộc tình ta

4.
thu sắp tàn, người vẩn xa xôi
ôi lòng tôi lạnh quá người ơi
bao đêm dài hồn còn nức nở
đến bao giờ tình mới có đôi

5.
tôi nhớ em hỡi em yêu
nhớ đêm thanh vắng nhớ chiều thiết tha
nhớ lay từng sợi trăng tà
nhớ trong sương lạnh nhớ qua gió lùa
nhớ em khô héo mộng mơ
nhớ trăm năm nữa cho vừa thương đau

6.
anh xa em hay em xa anh
trăng xa ai, mà trăng úa vàng
đêm xa ai mà đêm lạnh, vắng
mình xa nhau nên tình mong manh

7.
nỗi nhớ lên đầy cưng ngoan ơi
vì cưng đang ngự giữa tim tôi
xin gói nổi lòng trong cánh gió
đến tựa bên cưng tình có đôi

Khê kinh kha

 TÌNH YÊU MÙA CO-VY

Nhật Quang

Concern In Japan As Mystery Virus Spreads

Ra đường ai cũng khẩu trang
Chỉ hai con mắt ngỡ ngàng nhìn nhau
Từ khi nạn dịch thảm sầu
Từ nơi Vũ Hán bên Tàu lây ra
Dịch Virus Corona
Bao nhiêu người phải lìa xa gia đình
Ôi thương đau, ôi tội tình!
Bệnh đâu giáng xuống thình lình khắp nơi
Lòng anh cũng thấy rối bời
Phải xa em cả tháng trời nhớ nhung!
Muốn gặp em cứ bảo “đừng”
Vì con Virus bay lung tung rồi
Găp em anh phải hôn môi
Cho nên sợ lắm…buồn thôi cũng đành
Anh ơi!  Tình vẫn mãi xanh
Mai kia hết dịch, ta dành cho nhau
Từ nay anh nhớ một câu
Chỉ hôn…qua máy*, đỡ buồn tí nhe!
Lời em dặn, anh phải nghe
Qua mùa Virus mới khoe mọi người
Tình yêu mùa dịch ai ơi!
Valentine đến, đắng lời…yêu em
Cầu xin thế giới bình yên
Thoát con Virus, khắp miền an vui
Tim anh cũng nở hoa tươi
Nụ hôn ngan ngát hương ngời trao em.

Nhật Quang
“máy” *  Điện thoại

XÁC CẬU

Phạm Nga

thumbnai1l

1.

Cô gái đang ngồi bỗng ngã người nằm ngữa trên chiếc chiếu rách, hai chân co lên, rồi dễ dàng kéo một bàn chân lên miệng để mút ngón chân cái. Mấy người đàn bà nảy giờ ngồi xung quanh cô gái, kể cả các mụ hung dữ, nanh nọc nhất, đồng loạt khúm núm cúi đầu, như tự thu nhỏ mình lại trước một sức mạnh vô hình và thì thào “Cậu về! Cậu về rồi!”. Họ chấp tay, lầm bầm khấn vái, có người khóc lóc, sụp lạy…

Từ bên sân nhà mình nhìn sang, hắn hiểu ngay là cô gái vừa không còn là chính mình nữa mà đã biến thành xác. Theo bà con ở đây, có một hồn ma rất thiêng của một cậu bé trai tên Yến đã chết vào thời nào không rõ. Cậu đã chọn xác để nhập vào mà cứu-nhân-độ-thế, được một thời gian thì lại có tin truyền rằng Yến đúng ra là một hoàng tử chứ không phải con nhà dân dả nên bà con lại càng thần phục: Cậu Yến thăng lên thành Cậu hoàng Yến.

Cậu, vẫn nằm ngữa, bắt đầu đớt đát nói tiếng trẻ thơ, nghe khi được khi không. Lập tức bà Sáu chủ nhà “dịch” lại bằng giọng ồ ề của bà, nghe cũng rất mệt. Rằng cậu đã nói chỉ một tâm cứu nhân độ thế, không màng lợi lộc nên mấy ông cốc bà cốc không nên cúng lễ vật, tiền bạc làm gì. Rằng con nữ kia đừng buồn chuyện thằng chồng đi lấy bậy nữa, cứ lo tu nhân tích đức đi, từ từ cậu sẽ dạy cho nó tỉnh ngộ mà quay về với vợ con. Rằng bá gia cứ tiếp tục tu trì, làm việc thiện và nhớ đừng nghe lời ai hết! Nghe hôn?…Mọi người, tức là bá gia, cứ việc cúi đầu dà dà, dạ dạ liên tục. Nhưng không biết cậu sẽ nghĩ gì, dạy gì khi biết được ở rất gần “giảng đàn” của cậu, đang có gã nhà hàng xóm đứng khuất bên kia dãy hàng rào bông bụp, vô cùng nghịch đạo vô lễ bởi hắn không hề kính cẩn lắng nghe cậu dạy mà chỉ chăm chăm ngó vô háng của xác.

Khách quan mà nói, xác tức con nữ có tên là Gái hay tên gì khác cũng không đáng để ai quan tâm vì đã nói, một khi được làm xác của cậu thì cô ta không còn bản ngã, nhân cách, tên tuổi riêng gì nữa. Cũng từ đây, vào lúc bình thường nghĩa là những khi không có cậu nhập, mọi người đều trân trọng gọi là ‘cô’, ‘thưa cô’ chứ đâu dám gọi tên Gái. Điều đáng nói là khi cô nằm ngữa ra như lúc này, dù ở phần trên là kiểu trẻ thơ hồn nhiên mút tay nhưng ở phần dưới vẫn cứ là kiểu banh háng, uốn éo, vẫn cứ là kiểu đàn bà trâng tráo gợi dục. Những nếp quần lót cứ lồ lộ, tô hô, khiến gã hàng xóm xốn xang tưởng tượng…, mà đã ba, bốn ngày rồi, vợ hắn lại kẹt. Nghĩa là giờ này hắn không tích đức, diệt dục gì ráo mà chỉ tích máu, cương cứng…

2.

Sau ngày 30-4, không được dạy học nữa, gã hàng xóm đành lui về quê vợ kiếm sống. Đó là một vùng quê gần chợ nhưng vô cùng nghèo khó. Tối tăm từ khung cảnh – mỗi tuần chỉ hai đêm có điện – cho đến lòng người: ở đây không được vào công nhân viên nhà nước ‘có tiêu chuẩn’ thì chỉ còn những nghề lao động nặng nhọc, lam lủ, ít tiền. Ngày ngày hắn phụ đẩy xe ba bánh chở đồ hàng bông, hàng rẫy ngoài chợ, chiều tối về thì bập vô mấy xị rượu, mấy con khô bên ngọn đèn dầu để quên đi những sọt khoai lang, khoai mì, bí rợ quá nặng cho một tên thầy giáo “mất dạy”…Thường khi say rồi hắn làm biếng ăn cơm nhưng cứ sau khi ra giếng tắm truồng trong bóng tối, hắn lại hay siêng năng mò vô vợ hắn. Ở trong buồng, bóng tối phủ đầy – tiết kiệm dầu hôi – nhưng hắn vẫn nhận ra được cặp mắt, cặp vú vợ mình hình như lấp lánh sáng. Sáng yếu ớt như chút xíu hạnh phúc héo hon, độc nhất còn sót lại trên đời này.

Cùng khổ, tuyệt vọng dễ khiến người ta tìm tới những chỗ dựa ít kén chọn hay những niềm an ủi ít tốn kém cho cả tâm linh lẫn cảm xúc. Như chuyện con gái của hắn tự nhiên hay bị thức giấc giữa đêm. Con nhỏ mới sáu tuổi nên không thể kể lại rõ ràng nó thấy gì trong khi ngủ đến nỗi phải choàng thức và khóc lóc. Vậy là mấy bà hàng xóm giành quyền giải nghĩa với vợ hắn, rằng cháu nó đã bị người-khuất-mày-khuất-mặt tìm đến hù dọa, phá phách. Quan sát sinh hoạt ban ngày của con nhỏ, đồng thời tìm hiểu kỹ về sức khỏe của nó…, hắn không tìm ra được nguyên nhân ác mộng thì cứ bị vợ hắn thúc gịuc việc cúng kiếng, cầu thầy. Hắn nổi điên!

Một tối, hắn nhậu rỉ rả rất khuya với thằng đạp xe ba bánh ở miếng thềm trước nhà, nó chán hắn đến nỗi lén bỏ về hồi nào không hay. Còn lại một mình trong bóng tối, đèn đã cạn dầu mà vợ hắn đang giận nên chẳng thèm ra dọn dẹp, bỏ mặc hắn nằm dài ra đất như cái mền rách.

Hắn bắt đầu chữi – một hành vi mà từ trước tới giờ mọi người không hề thấy ở hắn, dù đã nhiều lần hắn cũng say dữ dội.

Đ.mẹ, vậy là có thằng nào con nào đó tên là người khuất mày khuất mặt tới phá con tao? Một đứa hay mấy đứa? Hay toàn thể tụi bây? Đâu cần đông đủ long trọng dzữ dzậy? Con tao chỉ là một đứa nít thôi mà? Không đứa nào trả lời à? Tốt! Dù sao thì cũng cho tao được phép kính cẩn nghiêng mình gởi lời.. đ. mẹ tới toàn thể quí vị. Nghe rõ chớ hả? Để tao nghỉ chút xíu, mệt quá… Tiếp đây. Phải, tao lập lại là con tao chỉ là một đứa nít sáu tuổi, yếu ớt, ốm nhách và nó chỉ là con của một thằng cũng ốm nhách, nghèo mạt là tao đây. Tụi bây là những đấng khuất mày khuất măt? Có chức danh nào khác nữa không? Hả? Gì? Người cõi trên? Người cõi âm? Trân trọng kính chào nhưng tụi bây đúng ra chỉ là lũ chó cắn áo rách. Chớ còn gì nữa? Người cõi trên bề trên gì đó thì phải lo phù hộ, độ trì cho đám dân đen dưới trần gian này sống đỡ đỡ một chút chớ! Đằng này tụi bây lại… Tụi bây có lao động không hả, có đổ mồ hôi sôi nước mắt kiếm cơm không hả? Hay rảnh quá rổi chỉ biết đi ăn hiếp con nít. Vinh quang quá hả? Ma cha con tao có chọc ghẹo gì bây đâu? Thôi, tao mệt quá, tao lạy xin tụi bây đừng tới phá con tao nữa, để cho nó được ngủ yên mai dậy còn đi học. Còn nếu không thì… tụi bây có ngon thì tới phá tao đi. Phải, quên con tao đi rồi tới chơi với tao, tao thế mạng con tao, được chưa? Tao đây nè, có ngon thì tới đây. Tao hả? Hồi xưa tao là ai là gì bây khỏi cần biết, giờ thì tao đếch là gì cả, chỉ là một thằng khố rách áo ôm, nhà cửa sự nghiệp không có, cày cả ngày muốn tắt thở mà cũng không đủ kiếm được nổi một miếng thịt nhỏ xíu cho vợ con tao ăn kẹp với rau củ cho đỡ khổ nữa. Nhưng được cái tao là thằng lương thiện, nghèo thì nghèo chớ tao chưa hề gạt gẫm, chơi xấu ai. Mà là người lương thiện thì tao đếch sợ tụi bây, nghe chưa? Tụi bây có biết ông Khổng tử bên Tàu không, ổng có nói câu “Đức trọng quĩ thần kinh”, có nghĩa khi ta là con người lương thiện, trong sạch thì quĩ thần còn phải kinh sợ ta, việc gì ta phải sợ quĩ thần…Thôi, tao mệt quá, lời cuối tao nói cho tụi bây biết, một là tụi bây cứ ngồi yên trên bàn thờ để người ta thắp nhang, cha con tao và tụi bây không ai chọc ai, còn nếu không thì hai là tụi bây có ngon cứ tới chơi tao. Hay là ngay giờ đi, thằng nào con nào ngon thì hiển linh hiện ra đi, tao đây nè. Tao thách đó! Sao, không dám hả? Dzậy mà kêu là người cõi trên. Đ.mẹ tụi bây, đ. mẹ toàn thể tụi bây…

Mơ hồ hắn cảm thấy trong lúc mình lãi nhãi, hình như tới phần giới thiệu sơ nét diện mạo và hoàn cảnh cùng mạt của cha con hắn, hắn đã khóc. Mơ hồ trong những khoảng lặng, hắn cảm thấy hình như mình chân thành thèm chết mới xin “thế mạng” vì… lạy Trời, con hắn là tương lai, còn hắn thì không.

Những ngày sau đó, mọi người tránh mặt gã hàng xóm, cứ như ai cũng kiêng cữ không đến gần kẻ xấu. Hắn thì chỉ nhớ mang máng một số ý tưởng chất chứa trong bài độc thoại đêm đó chứ không biết gì về mức độ âm thanh cùng số lượng khán thính giả có mặt hoặc khuất mặt. Vậy mà, cứ như quan hệ nhân quả, có chuyện lạ xảy diễn, không biết hung cát thế nào.

Đó là tự nhiên có một cặp vợ chồng lạ mặt đến ở trọ sát bên cạnh nhà hắn. Họ đều còn trẻ, anh chồng làm nghề bốc vác ở chợ, không có gì đặc biệt. Chị vợ thì đáng để ý hơn, nhưng không phải bởi nhan sắc, vóc dáng. Hàng xóm đến làm quen thì được cho biết cái cô tên Gái này đã từng là cô giáo, thợ may và cả ni cô nữa, nhưng hiện giờ không thấy cô ta làm gì cả. Cô trầm lặng, ít nói, ít khi ra khỏi nhà cũng như ít khi nấu cơm cho chồng ăn. Có điều là cô bị chứng bịnh gần như động kinh, thỉnh thoảng đột nhiên ngã ra, ngất đi một lát rồi tỉnh, bình thường trở lại như không có gì xảy ra, bà con hàng xóm khỏi cần cạo gió, giựt tóc mai gì cho rộn chuyện.

Nhưng trước sau gì cuộc trình diễn cũng phải bắt đầu. Sân khấu: không cần phông màn âm thanh ánh sáng, chỉ là một manh chiếu rách. Vốn ở miếng sân trước nhà cô Gái đến trọ, lâu nay cứ vào chiều tối – mùa này chiều nào cũng rất mau tối, rất nhiều bóng tối –manh chiếu này hay được thả ra, làm chỗ họp cho mấy bà ngồi lê đôi mách. MC : bà Sáu chủ nhà phụ trách. Cũng không ai có ý kiến, thắc mắc gì về chuyện nhà bà Sáu có đạo, có bàn thờ Chúa mà bà lại tin chuyện đồng bóng.

Cậu đã hiển linh trong một lần Gái động kinh vô cùng khác thường. Cô gái đã không nằm im, nhắm mắt như mọi lần khác, đằng này lại co lên hai chân, tay kéo một bàn chân lên sát miệng để mút ngón chân cái, cặp mắt mở láo liên và thỏ thẻ giọng trẻ thơ. Bà Sáu thấy lạ liền xáp vô, ghé sát mặt Gái. Ban đầu bà hỏi: ” Hả, hả? Mày nói gì tao nghe không được. Hả? Con nhỏ này bữa nay sao lạ…“, rồi bỗng đổi giọng: “Hả? Trời ơi! Dạ? Cậu!? Dạ…Cậu, con lạy Cậu. Dạ con hiểu rồi!” Bà sụp lạy mấy lạy vô thân mình cô gái rồi quay lại mọi người, giọng khác hẳn, kinh hoàng: ” Mấy bà con ơi, té ra đây là Cậu, Cậu về nhập con Gái, ủa, xin lỗi, nhập cổ để cứu nhân độ thế!”. Không khác gì một nhà tiên tri báo tin đấng Chúa mới, vừa ra đời trên chiếc chiếu rách của người nghèo khó! Kế đó, Chúa cũng chọn luôn chiếc chiếu rách làm giảng đàn.

Mọi sự đảo lộn. Bắt đầu từ cô gái. Với trạng thái nhị – trùng – bản – ngã (hay tam trùng? đa trùng?), Gái là đàn bà, đồng thời là xác, và vì Cậu vốn là hài nhi nên Gái cũng là đứa bé trai luôn luôn nằm ngữa. Bà Sáu là chủ nhà nhưng đang kính cẩn cúi lạy con nhỏ thuê nhà và chắc chắn không lấy tiền nhà nữa, đồng thời bà cũng là MC thông dịch, còn lãnh luôn việc giảng nghĩa và bình luận thêm cho lời lẽ của “phức thể” đàn bà + xác + đứa bé… Đám đàn bà con nít xung quanh biến thành những bà cốc, con nữ, thằng nam… Chi tiết quan trọng: Cậu không hiện diện (ai thấy? mặt mũi, hình tướng, quần áo Cậu ra sao?) nhưng luôn luôn hiện hữu trong tin tưởng của những ai tin là có Cậu. Rồi tin tưởng nhanh chóng biến thành tin đồn. Hơn thế, thỉnh thoảng vị khuất-mày-khuất-mặt này thông qua xác mà coi như đã hiển linh thành người trần. Có điều là khi Cậu sử dụng cái thế thân (avatar) dạng “phức thể” đàn bà +xác+ đứa bé như đã phân tích, tuy cụ thể sờ-mó-được nhưng bá gia cũng cần phải kính cẩn tưởng tượng thêm nhiểu nữa mới mơ hồ cảm nhận được thần thái uy nghi của Cậu. Chi tiết ít quan trọng: không thấy có thêm phần cờ quạt, nhang đèn, múa may, rùng mình, ợ ngáp, cười khóc.v.v… theo kiểu lên đồng, nhập xác cổ điển thường thấy trong nước xưa nay.

Một điều nữa là không rõ các bá gia có hiểu hết câu “Đừng nghe lời ai hết” được nhắc đi nhắc lại trong lời dạy của Cậu (hay của xác? hay của MC?) hay không, mà khởi từ buổi khai pháp đó, một cách kín đáo, lặng lẽ – không có lịch họp định kỳ rõ ràng như kiểu họp câu lạc bộ phụ nữ, phụ lão… dưới phường, cái hội trầm mặc kia cứ sinh hoạt bữa có bữa không trong cái ánh sáng nhờ nhợ, buồn bã vào buổi sẫm chiều, ở cái miếng sân hình như thu hẹp và đóng kín hơn khi bóng tối sung sướng ùa về ngự trị.

Qua xác, cộng thêm MC, Cậu giảng dạy việc đạo, việc đời, việc tu hành, việc diệt dục, đặc biệt là về ý nghĩa và sự chuẩn bị cho cái chết. Cậu cũng nhận lời chữa bịnh cho bá gia , nhưng không có thảo dược hay tàn nhang nước thãi bài bản theo kiểu thầy pháp cổ điển, Cậu chỉ dạy người bệnh uống thuốc tây ta gì cũng được, nhưng cần nhất là phải làm việc thiện và thường xuyên cầu xin Cậu độ trì, và nếu là số mạng phải bệnh tật thì Cậu sẽ xin với Trên cho từ từ mà giải hạn, hết bệnh. Cậu không nói Trên là đấng nào, cứ ngầm hiểu là ở bất cứ cõi nào, dù là con người, thần tiên hay ma quĩ cũng đều luôn luôn có cấp trên là được.

Thỉnh thoảng vì bá gia nài xin quá thể, Cậu cũng cho số đề nhưng vấn đề là không bao giờ có một con số cụ thể nào được Cậu xác quyết rằng thế nào cũng trúng. “Đêm qua ta thấy…”, Cậu chỉ mơ hồ nói đến một lô hình ảnh lẫn lộn vài con vật, đồ vật gì đó, rồi qua diễn dịch vô tư, thoải mái của MC, ai hiểu ra là con gì cứ tự đánh con nấy. Mặt khác, tế nhị hơn, dù Cậu không ra lời dạy hay chính thức đặt thành vấn đề, bà con vẫn lén Cậu, lũ lượt đem các loại phẩm vật đến tặng cho Gái theo ý thích của cô. Cô ăn chay, chắc là thích trái cây, nhưng qua lời của MC tiết lộ, cô có thích quần áo hàng mút-xơ-lin màu tối.

Phải kể thêm là qua tâm sự của chồng Gái thố lộ trong một bữa say xỉn bên nhà gã hàng xóm, Gái thích quần lót hàng va-li-ze có thêu, ren chút đỉnh, mặc dù trong bóng tối thì không ai thấy ren, thêu gì. Anh ta dặn đừng nói với ai nên gã hàng xóm chỉ nói với vợ và vậy là vợ hắn mở đầu cho kiểu tặng phẩm vật loại đặc biệt này để mấy bà khác bắt chước.

Riêng có một phần tâm sự rất lâm ly của chồng Gái mà gã hàng xóm còn dấu vợ. Đó là, quá đả bởi một sự hào phóng rẻ tiền cùng tin cậy hoàn toàn nơi bạn nhậu ‘tình thương mến thương’, anh chồng nói nhỏ là từ ngày được Cậu nhập, trên giường Gái chỉ nằm im lặng, xuôi xị, không còn tỏ vẻ có cảm giác hưởng ứng dù có được kích thích hết cỡ, riết rồi chồng cô đành ngủ chay. Cũng vẫn xác thịt đó nhưng nay lại là xác của Cậu rồi, thiêng liêng biết mấy? Gã hàng xóm không nhớ nổi anh chồng đã kể lại chuyện kín này bằng giọng tự hào hay uẩn ức nữa.

Quan hệ trao đổi giữa đôi bên là xác Cậu và bá gia cứ diễn ra thật kín kẽ, đầm thắm. Đầm thắm đến mức không ai nói gì về kết quả của những việc cứu nhân độ thế của Cậu. Không nghe ai nói bệnh của họ có hết hay không, nhưng tốt hơn là không nên khai bệnh hoài – nhất là con nít bệnh này nọ – nếu không muốn nghe Cậu tiết lộ thiên cơ rằng Cõi Trên đang có đợt tuyển người hầu hạ chư thần. Và chỉ có người run rủi bỗng trúng số đề mới mừng rỡ báo tin tài lộc của mình, tất nhiên chỉ khoanh lại trong trong kỳ xổ số họa hiếm ngày hôm đó thôi, vì dù người vừa trúng đề tiếp tục đến dự các buổi Cậu nhập xác, tiếp tục ghi nhận những con số Cậu cho, nhưng chẳng nghe họ trúng tiếp bữa nào nữa.

Vài gia đình xào xáo được Cậu khuyên răn, hòa giải đã hòa thuận trở lại, không cần phải nhờ đến người lớn tuổi hay chính quyền phân xử nữa. Riêng gia đình gã hàng xóm thì vui vẻ hơn vì không rõ có phải do trận chữi liều mạng của hắn đêm đó hay không, tự nhiên con hắn không còn bị ác mộng nữa. Gã hàng xóm đã đoán là vợ mình, nếu không ớn cái tật lý sự, phân tích đủ mọi mặt, mọi khía của hắn thì nhất định cô nàng đã ra tay cải tạo hắn. Hoặc cô sẽ nói : “Anh thấy chưa, vì cái tội vô đạo, không biết tin tưởng quỹ thần, say xỉn rồi mới dám chữi bới, thách thức thần linh, nên Cõi Trên mới ra ơn, thay vì trừng phạt anh lại cho Xác Cậu đến ở cạnh nhà mình và, dù anh vẫn không chịu tin tưởng, một số chuyện tốt đẹp – dù nhỏ nhoi, không có tầm cỡ quốc gia đại sự như anh đòi hỏi – cũng đã đến với gia đình mình và bà con hàng xóm…” . Chỉ có điều đáng tiếc là Thượng đế mà những người loại như cái gã gốc nhà giáo này tin tưởng chắc phải ở một cõi nào khác hay không ở cõi nào cả, chứ không phải là như đang có ở đây là kiểu thần linh loại 2, chuyên trình diễn ở đâu cũng những bài bản múa máy, ợ ngáp giống nhau đến nhàm chán.

Thôi, đó là chuyện của cõi trên, cõi âm gì đó. Trong khi ở cõi này, lúc này, trong cái xóm tối tăm, khuất lánh này, chuyện xác Cậu đến với đám người nghèo khổ và vô vọng là chuyện cũng không đến nỗi tồi. Xác nguyên là cô giáo/thợ may/ni cô gì đó thì cũng là thứ người lạc loài, khốn khó, trôi dạt trong/bởi thời thế như gã hàng xóm, phu xe ba bánh, nguyên là nhà giáo mà thôi.

PHẠM NGA

(Trích tuyển tập ký/truyện THỨ NHỤC DỤC TỦI NHỤC, bìa và phụ bản Roger Mapes & T.K, Australia 2007)

           

ĐẦU NĂM,

Hoa Nguyên

cropped-hoa-mai-3.png
Mở nụ cười đầu năm
Một hoa mai nở sớm
Một bầu trời thăm thăm
Lời đầu tiên chim hót

Có loài ong tích mật
Thất tình nhụy phấn hoa
Qua màn sương trời đất
Rớt chút tình giao ca

Nụ cười như tiếng khóc
giữa lòng nghe tê tái
Quê hương ngày đầu tiên
Từ bông mai rạng sớm

Lời đầu năm muốn nói
Như thể đã ngại ngùng
Mùa xuân đâu chờ đợi
Hiển linh từ mông lung

Bên trời là vô biên
Những âm u buông mỏi
Những mất mát hoa niên
Thời gian đâu ai đợi

Lời đầu năm em hát
Như từ thời lưu vong
Bầu trời xanh bát ngát
Giữ hững hờ thôn lân

Tiếng hát nào tự do
Trong áo mới thơm tho
Có trong làn hơi thở
Thuở áo ấm cơm no

Lời hát mãi thiết tha
Tự tình vào bao la
Không khí ta ná thở
Cớ sao đành hỡi hoa !

Mùa xuân như tình phụ
Thăm thẳm cánh chim buồn
Từ lâu loài hoang thú
Biết tự do trong chuồng..

Đã hết thời vượt truông ..!
hn.

Tiếng hú ngoài bìa rừng

hoàng xuân sơn

MAT TROI SHINNING THRU

Không tim không óc
nút kín tai
tiền ngậm miệng
chúng đang bận ăn
không nghe đâu
đừng kiến nghị
[chả bổ béo djì]
khẩn.  với trương
ối dào
đạo
chi chi đạt
không có quỡn
đồng với chả đồng
tâm đâu ra
thơ thẩn toi công

hãy phát cho chúng
cái bàn chông gãi đít
và đuổi thẳng vô rừng

hoàng xuân sơn
5 tháng hai năm 2020

NGƯỜI LÍNH CŨ

Nguyên Lạc

bienvang
“Khách uống cà phê toàn lính lão
thản nhiên như chẳng thấy thời gian
khui bao thuốc lá ra ngồi đốt
rồi búng lung tung những cái tàn…
Lính lão dễ thương hơn lính trẻ” – (Trần Vấn Lệ)

.
“Khách uống cà phê toàn lính lão”
Làm bộ như chẳng thấy tóc sương
Điếu thuốc trên tay mờ dĩ vảng
Buồn búng lung tung những mảnh hồn
.
“Lính lão dễ thương hơn lính trẻ”
Vì biết thương ai? Chỉ bóng hình …
Tuổi trẻ còn bao điều vui vẻ
Quá khứ buồn không lính lão mình?
.
Sáng nay có một người lính cũ
Đáy cốc cà phê đắng bóng tình
Khói thuốc ngày xưa vương cay mắt
Quá khứ buồn không lính lão mình?
.
Nguyên Lạc

HAI CHỮ QUÊ HƯƠNG

 Nguyên Lc

nguyenlac-1

HỌA THƠ ĐƯỜNG

Thơ Đường hay Đường thi được xem là thơ hay nhất của các thi nhân đời Đường, trong đó một số được làm theo thể thơ Đường Luật, số còn lại làm theo những thể thơ khác mà đa số là thơ Cổ phong: Cổ phong hay Cổ thể là loại thơ có trước đời nhà Đường, phóng khoáng và tự do về niêm luật – không theo niêm luật nhất định.

Bài “Dịch Thủy Tống Biệt” tiễn Kinh Kha qua sông Dịch, đi hành thích Tần Thủy Hoàng của Lạc Tân Vương là thơ Cổ phong ̣́

Từ bài “Dịch Thủy Tống Biệt”, nhiều bạn thơ, trong đó có thi sĩ kiêm nhà bình thơ DHD họa, Nguyên Lạc xin họa theo ghóp vui.

  1. HỌA THƠ CỔ PHONG

Xin được ghi lại nguyên tác:

Dịch Thủy Tống Biệt

(Lạc Tân Vương)

Thử địa biệt Yên Đan

Tráng sĩ phát xung quan

Tích thời nhân dĩ một

Kim nhật thủy do hàn.

Nguyễn Hiến Lê dịch:

Tiễn Biệt Trên Bờ Sông Dịch

Đây chỗ biệt Yên Đan

Tóc dựng khí căm gan

Anh hùng xưa đã khuất

Nước lạnh hận chưa tan.

 

DHD họa thơ:

 

Khứ niên tráng sĩ biệt

Dịch Thủy hàn căm căm

Kim nhật vọng cố quốc

Bạch đầu tâm bất trầm.

 

Nguyên Lạc lược dịch:

 

Anh hùng xưa ra đi

Nước sông Dich lạnh căm

Hôm nay nhớ cố quốc

Bạc đầu lòng không an

 

Nguyên Lạc họa thơ:

 

Khứ niên mạt sĩ biệt

Đông hải hàn “căm căm”

Kim nhật vọng cố quốc

Cố nhân hề vô âm!

.

Và thêm hai câu:

Kim nhật vọng cố quốc

Cố nhân … bất khả tầm!

 

Nguyên Lạc tự lược dịch

 

Cùng sĩ xưa ra đi

Nước biển Đông lạnh căm (*)

Nay nhớ về cố quốc

Người xưa giờ biệt tăm

Nay nhớ về cố quốc

Người xưa … ơi nơi nào?! (không thể tìm!)

………….

(*) “Căm căm” là tiếng Nôm, hai chữ nữ sĩ DHD định dùng là “băng băng” nhưng đưa vào thơ thấy không hay nên nữ thi sĩ đọc luôn “căm căm” cho nghe se sắt hơn – Vì xét về âm thanh cũng gần nhau. Tôi đùa với nữ sĩ nên dùng “căm căm” để họa, đúng ra là “lẫm lẫm” [凛凛: Lẫm lẫm là lạnh lắm lắm, rét căm căm]

– Ý 2 câu “Cùng sĩ xưa ra đi/ Nước biển Đông lạnh căm”  tác giả muốn nói là ra đi “vượt thoát” sau 1975.

  1. HỌA CÂU PHÚ TÔ ĐÔNG PHA

.Vọng mỹ nhân hề THIÊN nhất phương

(Tiền Xích Bích phú – Tô Đông Pha)

(Ngóng người đẹp trời chỉ một phương)

Nguyên Lạc họa

 

Mộng cố nhân hề ĐỊA đa phương

Thêm 1 câu tâm trạng:

ởng cố hương hề NHÂN đon trường

Nguyên Lạc lược dịch:

Mơ người xưa đất nhiều hướng

ởng cố hương lòng đứt ruột

  1. THIÊN, ĐỊA, NHÂN

Về 3 chữ THIÊN, ĐỊA và NHÂN trong các câu thơ trên:

Trong Dịch học:  Vạch dương ( __ vạch liền) là ; vạch âm (- – vạch dứt) là không.

Trời trên, đất dưới và người ở giữa: Quẻ CÀN: 3 vạch dương ☰ . Quẻ CÀN là quẻ tốt, hạnh thông.

Người (NHÂN) mà:  Trên  THIÊN – trời không có (- – vạch dứt) ; dưới ĐỊA – đất  cũng không có (- – vạch dứt). Trời và đất = QUÊ HƯƠNG không có thì NHÂN – người làm sao vui vẻ, hạnh thông được? Vì lúc đó quẻ CÀN biến thành quẻ KHẢM (Thủy): – Vạch dương ở giữa , hai vạch âm: một trên một dưới. NHÂN- người trên không trời, dưới không đất – nghĩa là không có QUÊ HƯƠNG.

          ☰  Càn (Kiền)

          ☵  Khảm (thủy)

     KHẢM là nước: Nước chảy lang thang không nói cố định. Không quê hương ai mà không lang thang?

Hãy cố gắng bảo vệ quê hương mình để còn nó. Mong thay!

LỜI KẾT

Qua trên, Nguyên Lạc tôi họa thơ Đường cho vui cùng với bạn thơ. Tuy nhiên, những dòng thơ này cũng là tâm sự của kẻ tha hương:

Kim nhật vọng cố quốc

Cố nhân hề vô âm!

Kim nhật vọng cố quốc

Cố nhân … bất khả tầm!

Xin tặng các lữ khách vẫn hoài vọng quê nhà bài thơ nhớ quê hương của tôi, xem như lời kết.

QUÊ HƯƠNG VẪN MÃI THIÊN THU

Quê hương bứt gốc ra đi

Quê hương là nỗi phân ly não lòng

Quê hương là những dòng sông

Quê hương là khói đốt đồng chiều lam

.

Quê hương lời đó linh thiêng

Máu xương giữ nước lời nguyền khắc ghi

Quê hương dù có biệt ly

Vẫn hoài cố lý vẫn lời nước non

.

Quê hương một tấm lòng son

Tổ tiên ơn nghĩa mãi còn thiên thu

“Sơn hà Nam quốc đế cư

Tiệt nhiên phận định thiên thư rành rành”

.

Quê hương người hỡi sao đành?

Quên câu ” kiến nghĩa” lợi danh riêng mình! **

.

Nguyên Lạc

……………..

* Nam quốc sơn hà Nam đế cư

Tiệt nhiên phận định tại thiên thư

Lý Thường Kiệt

** Kiến nghĩa bất vi vô dõng giả/ Lâm nguy bất cứu mạt anh hùng.

Thấy việc nghĩa trước mắt mà không làm không phải là người anh dũng/ Thấy chuyện nguy nan không cứu không đáng mặt anh hùng.

Nguyên Lạc

 

THỜI GIAN

Võ Công Liêm

nguoi va chim- vcl

Tranh Võ Công Liêm: Người và Chim

là siêu vi
không một ai hay
nó đến rồi đi
tàn nhẫn vô cùng
quẳng nó lên xe
vào nhà đá
xi măng cốt sắt
cửa đóng then gài
xiềng chân còng tay
không lời trăn trối
bên ngoài nắng đợi mưa chờ
tôi . tự do đi vào mộng ảo
sự thật phơi trắng dọc đường
chủ nghĩa là gai nhọn
nhan sắc là ngòi nỗ
em . lược là son phấn
thả hồn theo mây đưa
không màu không sắc không biên giới
lặng lẽ âm thầm trên những bước đi
bốn mùa là thú dữ
ngày đêm là dối trá
tháng năm là kẻ thù
bất cộng đái thiên
hạnh phúc tôi đi qua từng nhịp thở
không sợ vỡ toang linh hồn
du mục thể
tình yêu không ngăn kéo
không huếch hoác không toe tua
rượu hư vô
nhắp tới cùng
cho phồn vinh tá hỏa bốn ngàn năm
ngựa không còn duỗi theo mặt trời
chim không sợ tối trời bay đêm
tôi về như tuổi thơ ngây
gặp em nón lá như thời xa đưa
ngỡ mình trong mộng chiêm bao
trùng dương mở cửa đi tìm tuổi xuân
hôm nay là hôm qua
hôm qua là hôm nay
ôi ! thời gian mi ơi
mùa xuân đã rụng mất rồi
con tàu không bến biết về nơi mô
biển xanh
xanh mãi
nguyễn du
tại thế
muôn đời
nhân gian chờ đợi
bao lần xót xa
‘mẹ là trời, con là hạt sương rung’*

thu . đông . mưa . nắng bốc đồng
nằm trong khe hở một đời có nhau ./.

VÕ CÔNG LIÊM (ca.ab.yyc. cuối tháng 1/2020)
*ý thơ Xuân Diệu.

NGHỆ THUẬT CỦA VIẾT Và ĐỌC

Võ Công Liêm

 

vcl-tranh1

Tranh Vẽ Võ Công Liêm: ‘Người đàn bà ngồi nhìn nghiêng đầu với Áo-dài xanh / Seated woman head in profile with green ‘Ao-dai’

    Từ khi có chữ ra đời là có người viết; viết không thể để chơi, để đở buồn, để nổi danh. Viết và đọc trong tư cách hiểu biết và chính nghĩa của nó là để đời, có thể để tiếng dở (tai họa) hoặc để tiếng hay (lịch sử). Bởi; người viết và người đọc, đúng nghĩa là người giữ sự tương giao gần gũi với tư duy, hầu như mọi thứ đến từ văn chương và trí tuệ mà con người thường dùng đến nó…–By; ‘writers’ and ‘readers’ we mean people who are still accustomed, as almost every literate and intelligent person used to be…nghĩa là họ giành được một sự chia sẻ rộng lớn từ những thông tin phát ra từ hiểu biết và những gì họ nhận thức được của thế giới ‘con-chữ/the word’; chắc chắn con số đó lấy từ mọi nguồn tin khác nhau và nhận biết; sự đó xuyên qua lời nói và xuyên qua sự quan sát, tìm hiểu.Tuy nhiên; nhận thức trí tuệ và khám phá về con người thiết nghĩ chưa phải là đủ. Biết rằng họ cần phải viết và đọc như họ đã viết và đã đọc là bước tiên khởi để thành văn về sau này. Viết và đọc là nhu cầu đối với người trí thức.

Ngày nay có một vài cảm nhận khác nhau: viết, đọc không những cần thiết như điều kiện ắt có và đủ, cả hai thứ đó được lồng trong một khung cảnh của nghệ thuật, Nghệ thuật viết lách và nghệ thuật đọc sách; cả hai vị trí này rất tế nhị và bén nhạy (the activity); đây là chức năng được coi ngoại hạng, một hình ảnh giao thông hay còn gọi là đả thông cho những gì mới lạ có từ nơi viết và có từ nơi đọc dẫu đó là thí dụ hay một tác động rộng lớn nào đi nữa. Dù đó là vấn đề nghiêm trọng, thời liệu điều đó là tín hiệu ngẫu nhiên của thông tin hiện đại hay quá nhiều sự tăng tiến về thế giới hiễu biết, nhận thức nơi ta? Có lẽ; chúng ta hiểu biết nhiều về thế giới bên ngoài hơn những gì chúng ta thường dùng tới, để rồi đi tới nhận biết, đó là chuẩn bị những gì tất yếu của hiểu biết một cách tốt đẹp, coi đó là niềm tin chung (commonly supposed). Chúng ta không cần phải để biết mọi thứ về vài điều nằm trong qui định để hiểu về nó, chẳng qua quá nhiều thứ trong câu chuyện viết lên đó, quá nhiều thứ bình giải qua tư cách ‘dựa hơi’ vào thơ hay văn để biện chứng, đấy là điều không đúng cung cách của phạm trù phê bình (giữa phê bình và bình giải khác nhau rõ rệt); đến nổi đưa những dẫn chứng qua phong cách ‘thù tạc’ của văn thi nhân như một xác quyết cho định nghĩa thế nào là viếtđọc, hình ảnh đó chỉ là cảm tưởng như mình cảm tưởng chớ chẳng phải là phủ quyết để thành văn thơ hơặc bất luận cách viết nào khác; mà là ngộ nhận cho một luận đề cơ bản nói về viết và đọc. Vô hình chung những gì đưa ra như một thứ cản trở để hiểu biết, trong khi đó thì quá ít ỏi về nhận định hay lý giải rốt ráo thái độ của viết và đọc; ngữ điệu đó làm lạc đề, lạc hướng cho văn chương chủ nghĩa. Điều này có thể phương hại đến nhận thức hiểu biết một cách sâu sắc của những gì viết ra và những gì được đọc tới, bởi; nhiều dẫn chứng là nhiều mạo nhận. Không chừng gây thiệt hại nhận thức hiểu biết với người đọc, làm thương tổn đến giá trị của tác phẩm đã dựng ra.

Một trong những lý do đưa tới tình huống là điều rất là chi li, rất là trung hòa/media cho phương tiện truyền đạt (tư tưởng) điều mà chúng ta quan tâm tới mỗi khi viết là truyền thông đến người đọc, mà như là tạo nên suy tư cần thiết hoặc không cần thiết –we have mentioned are so designed as to make thinking seem necessary or unnecessary. Suy nghĩ để viết thành văn và đọc thành lời là viễn cảnh một trong những hoạt động truyền thông thuộc về trí tuệ đối với ngày nay, nó không giản đơn như xưa viết là bày tỏ, là thúc đẩy, hay khám phá, hay phản kháng cho một nội tại bức xúc…sự đó là bao hàm của cảm xúc chớ không phải lấy đó là điều kiện thành văn. Một thứ qui nạp tổng hợp giữa trí năng sáng tạo chớ không vì nặng lòng ‘bức xúc’ mà tác động thành văn thơ của cái gọi là ‘active writing’. Quan niệm như thế là sai lầm cho một định nghĩa tinh tế về viết và đọc. Cả hai lảnh vực này thuộc về tâm thức. Thành ra; viết và đọc là liên tu bất tận, không bao giờ dứt mà nó gắn bó vào đó một ý niệm thâm hậu để đời, để người đọc tìm thấy cái tiềm tàng bí ẩn của tư duy; cũng có thể người ta dựa ý thay lời trong cách viết, chữ được vận dụng để con-chữ trở nên một thứ nghệ thuật của ngôn từ nghe như lời nói (verbal), là lối diễn đạt có ý tứ, là ngón sở trường của người làm văn thơ, là tác động trực tiếp đến với người đọc.

Nói đúng ra; điều này có thể không nhứt thiết hợp lý như một nhắn gởi qua viết hay nhắn gởi qua đọc. Có nhiều người nghĩ rằng đây là việc so sánh giữa viết và đọc mà thực ra phân tích lý giải nguồn cơn tự sự trong nhận diện của nghệ thuật; mà là hành động hiển nhiên để nhận thấy (acknowledge), hiểu biết (understandings) và đảm nhận (undertakings). Người viết và người đọc phải vứt bỏ hẳn một vài nỗ lực để trông cậy vào, nhưng; không cần làm cái cần có bởi người đọc –The witer and reader must put out some effort, but; no work need be done by the reader. Dù cho đó là một tác động mãnh liệt dễ thu hút trong việc gởi gắm lời hay tiếng đẹp. Yêu cầu chính của người đọc là chụp lấy /catching nó như một tiếp nhận/receiver; đấy là cảm thức bén nhạy đưa tới kết thúc cho việc chọn lựa, tợ như chọn lựa của trường phái hội họa qua từng thời kỳ. Suy diễn giữa viết và đọc là gần như hoàn toàn, gần như một tạng thể liên đới lẫn nhau, chớ không đứng riêng rẽ trong nhận thức khác, nó kết hợp và hài hòa cho một đả thông tư tưởng và hành động. Những gì viết và đọc tợ như trái banh được chuyền tay trong hai động tác ném và chụp; cái đó là khởi điểm cho một phát triển kết thúc. Thành thử; quan hệ gần gũi của người viết và người đọc suy ra rất giản đơn. Viết là không ráng cái không bắt chụp được –The writing isn’t trying not to be caught, dù cho có những gì hình dung ra được –although it sometimes seems so. Thường thì người viết (nhà văn, thơ) có cái sở hữu chủ cho chính mình là ‘kiểm soát’ được cái lý đưa ra, họ biết chắc những gì họ muốn chuyên chở tới, và; họ chuyên chở tới cái chính xác, rõ ràng và đúng đắn. Thật quả; người viết chụp (catch) cái dễ dàng hơn là tán rộng (widest) mà tác giả (nhà văn, thơ) không kiểm soát được để rồi không tìm thấy chất sáng tạo trong văn chương. Từ chỗ đó suy rộng ra người viết vô hình dung đưa tới một ám thị tư tưởng. Lối trình diễn đó không mang tính nghệ thuật viết văn, là chủ quan tư tưởng; mà cho đó là ‘chính xác’. Đúng! nhưng; không thể chính xách dưới con mắt nghệ thuật của người đọc. Bởi; hai cái nhìn phiến diện lẫn nhau. Tuy nhiên; cái mảng của viết lách là đối tượng phức tạp –A piece of writing, however; is a complex object. Sự đó thường xảy ra nhiều hơn là gặt hái tốt đẹp.

Nét đặc trưng giữa viết và đọc là tín hiệu dành cho người đọc và sự nhận thức của người viết là liên đới trong một tâm thức nghệ thuật thành văn, nó không tách ra cõi riêng của người viết và người đọc, phải có cái nhìn thấu suốt mới tìm thấy một thứ nghệ thuật chân chính, bởi; con đường giữa hai lãnh vực đó là những gì có thể đọc được và những gì viết đúng được trong cùng một đường lối. Sự đó gọi là cảm thức:-Người viết là một giao cảm giữa hồn và khí là dung thông trong tính người, trong tập quán xã hội, trong tiến bộ của loài người; yếu điểm đó có thể tăng thêm phần lãnh hội cho người đọc. Nói chung là viết ‘hợp thời trang’ để nhập vào hồn người đọc một cách thích ứng như âm nhạc, nghĩa là nó không đòi hỏi phải cầu kỳ, văn phạm mà đòi hỏi một điều gì trong sự thật cho dù viết theo dạng hư cấu. Như chúng ta biết hư cấu là dựng chuyện nhưng không thể dựng vào đó một sự huyễn mộng, ngoại trừ thi ca, càng huyễn càng thực bởi thi ca là là thứ ngoại vi của ảo và thực , bởi; trong văn chương chuyện hư cấu của văn và thơ không phải là không có mà là đòi hỏi để hóa cách sống thực của sự thật. Chỉ cần một nửa của trong đó mới gọi là giả sử của thần thoại hay huyền thoại. Dẫu có sai sót hay mường tượng để hư cấu hóa câu chuyện, cốt dẫn đưa người đọc đến từ sự thật của hư cấu. Thì ra; đó là một sự hài hòa giữa viết và đọc. Người viết là vai trò truyền thông một vài dữ kiện sống thực làm tăng sự hiểu biết cho người đọc. Điểm chính ở đây chúng ta muốn nhấn mạnh đến nghệ thuật của viết và đọc là chúng ta giữ được  một sự hiểu biết chính xác. Dĩ nhiên; đó là sự thật dành cho người viết, bởi; tác giả muốn chứng tỏ và coi đó là điều đáng nhớ là đúng nghĩa của mong muốn khi viết thành văn. Truyền thụ là đi trước như điều kiện cần thiết cho việc giải thoát, tuy nhiên; cái đó là tụ điểm vượt thoát, là không dừng lại ở một hiện hữu tại thế. Thế nhưng; trong muôn vàn cách viết và nói chưa hẳn là đả thông trọn vẹn nghĩa lý thâm hậu của nó, mà có khi lãng quên một cách vô cớ như đứa con hoang vô thừa nhận. Đó là nỗi đau bi thảm của người viết (tragedy of writer). Triết gia Pháp Michel Montaigne (1533-1592)) nói: ‘một người mới học chả màng tới việc hiểu biết đã có và một người học vị chả màng gì tới cái việc sau đó / an abecedarian ignorance that precedes knowledge, and doctoral ignorance that comes after it’.Thời cái thứ người đó gọi chung là mu-huyền chẳng biết chi-mô-răng-rứa thì có viết ông trời cũng không ra chất Huế-tui; rứa thì nói chi tới bún bò, cơm hến, bánh ướt, bánh nậm; mấy thứ đó liệt vào văn minh mắm ruốc, là thứ triết lý để đời; vì lẽ đó mà đưa người đọc hoài nghi trong cách ‘pha chế mắm nêm’ để viết là vì chưa chịu đi ‘thực tế’ điều nghiêng cái giá trị đích thực trong nồi cháo lòng ‘Ngã Giữa’ của Huế-tui. Hy Lạp gọi thứ đó là học chưa tới nơi, thứ nửa vời / sophomores. Từ chỗ đó chuyện viết lách không phải trò đùa hay giễu cợt, ngược lại nó có một tác phong dành cho phẩm vị của nó. Văn minh hiện đại qua vi tính đã sản sinh nhiều mặt hàng: văn, thơ, họa hùm-bà-lằn-bầu-cua-cá-cọp không biết hàng nào thực và hàng nào giả. Người mua phải đề cao cảnh giác chớ đừng thấy quen mặt, đắc hàng mà đem lòng tin (nó dệt trong đó thứ giả lụa). Thành ra chuyện viết lách là chân chính có phẩm trật, đọc là để tâm hóa giải (chemistry) cái sự biến chất trong đó; nhất là thi ca. Nó được tiếng là mạnh nói; khó để hóa trị!.

Mở rộng phương hướng nghệ thuật chủ nghĩa trong cách viết và đọc, chúng ta tìm thấy ở đó có một sự tương quan gần gũi giữa viết và đọc; nếu chúng ta giả vờ không để tâm tới cái nhỏ nhặt khác biệt giữa những gì hai cách của việc truyền thụ thời chúng ta có thể nói rằng đọc và nhận thấy là như một thứ nghệ thuật –If we ignore the minor differences between these two ways of receiving communication; we can say that reading and seeing are the same art. Lý do cụ thể để minh định nó là coi nghệ thuật đọc tự nhiên là bao gồm trong đó một thứ nghệ thuật khác của viết từ bất cứ thể loại nào. Do đó để lại gì về tư duy? Nếu tư duy đúng nghĩa chân chính là thường phát sinh một trí tuệ sáng suốt (không dung tục) là nắm được một nhận thức mới hoặc một sự hiểu biết tốt. Thời một trong hai điều chúng ta giành được là khám pháhọc hỏi bởi lời giới thiệu rốt ráo là cách thức để nắm lấy sự nhận biết một cách đầy đủ không còn ngại nghi mà là tác động mãnh liệt vào người viết và người đọc. Dĩ nhiên; cách thức suy nghĩ là khác nhau –khác nhau giữa hai cách viết và đọc là thế đó –Naturally; the kinds of thinking are different –as different as the two ways of writing and reading are . Suy tư chỉ một phần trong tác động của học hỏi, nếu trong đó (viết) chứa đựng những gì khác lạ, mới, đặc thù, thời tất người đọc đã ghi nhận ở đó một sự thâm hậu của người viết, có nghĩa rằng người ta phải dùng tới cảm thức và hình tượng và từ đó nhận ra một thiết kế của ngữ ngôn. Thí dụ khác: khi bình giải thơ người ta cho rằng tư tưởng của thi sĩ thường hay dùng hình ảnh (imagination) khi viết thành thơ, nhưng; ngược lại họ không phải dùng hình ảnh của họ trong khi đọc lên thơ. Mà hình tượng đã tự động hóa thành thơ rất tự nhiên.

   Nói tóm lại; viết hay đọc là một nỗ lực tận tình là một thứ nghệ thuật điêu luyện, không thể gọi ‘cho đở buồn’ cái đó gần như không thực ở chính mình; mà là cảm thức của sáng tác. Là vì; includes all of the same skills that are involved in the art of unaided discovery. Viết và đọc là hoài niệm, chuỗi liên trình của hình ảnh, là tư thế tri thức nằm trong vị trí phân tích và phản ảnh; coi đây như cảm thức của khám phá dành cho nghệ thuật của viết và đọc. Là điều cần bước vào (within) hơn là không (without) ./.

VÕ CÔNG LIÊM (ca.ab.yyc. Nov 11 Remembrance-day 2019)

Nguyễn Nhược Pháp, Chàng Hoàng Tử Ngủ Trong Rừng

Huyền Chiêu

nguyen nhuot phap
(Tưởng nhớ Nguyễn Nhược Pháp, 80 năm ngày mất 1938- 2018)

Nhà thơ Nguyễn Nhược Pháp
Năm 1916, tại Hà Nội có một người đàn bà dùng súng lục bắn vào đầu tự sát bỏ lại đứa con trai mới lên hai.
Đứa bé đó tên Nguyễn Nhược Pháp.
Lớn lên, đứa bé trở thành nhà thơ với những bài thơ hồn nhiên, tươi tắn không nhuốm chút bi lụy của cuộc đòi .
Nhà phê bình Hoài Thanh viết về thơ Nguyễn Nhược Pháp: “… lúc nào hình như cũng thoáng thấy bóng một người đương khúc khích cười.”
Tuổi thơ tôi không có truyện trẻ em, không truyện tranh, không phim hoạt hình.Thuở ấy, không có một nền văn học dành cho trẻ em và với tôi Thơ Nguyễn Nhược Pháp lộng lẫy, sinh động không thua phim hoạt hình của Walt Disney.
Hình ảnh của Mỵ Nương có gì đó rất giống với công chúa Bạch Tuyết:
Ngày xưa, khi rừng mây u ám
Sông núi còn vang um tiếng thần,
Con vua Hùng Vương thứ mười tám,
Mỵ Nương xinh như tiên trên trần…
Tóc xanh viền má hây hây đỏ,
Miệng nàng bé thắm như san hô,
Tay ngà trắng nõn, hai chân nhỏ:
Mê nàng, bao nhiêu người làm thơ
Làm sao các bé gái không mơ mộng và ước gì mình được xinh đẹp như … một công chúa theo cách mà Nguyễn Nhược Pháp vẽ ra.
Nguyễn Nhược Pháp chịu ảnh hưởng Tây học từ người cha lừng danh Nguyễn Văn Vĩnh.
Chàng học ở Albert Sarraut, sinh viên trường Luật, viết kịch, viết văn, làm báo hoạt động như một hướng đạo sinh trên mọi lĩnh vực.
Lạ thay thơ chàng luôn có hình bóng của người con trai dịu dàng nho nhã rất Việt Nam của “Ngày Xưa”:
“Hôm đó buổi chiều xuân
Trông mây hồng bay vân
Liền gập pho kinh sử
Lững thững khỏi lầu văn”
(Một Chiều Xuân)
“Khi qua chùa Giải Oan
Trông thấy bức tường ngang
Chàng đưa tay lẹ bút
Thảo bài thơ liên hoàn”
(Chùa Hương)
Tập Ngày Xưa của Nguyễn Nhược Pháp làm ta tưởng chừng cuộc đời này đối với chàng là những ngày hội vui.
Vậy có khi nào chàng đau vì cái chết oan nghiệt của mẹ mình?
Bà Phan Thị Lựu, mẹ chàng, một giai nhân con nhà giàu xứ Lạng, lịch lãm và nói giỏi tiếng Pháp nhưng số phận đưa đẩy bà yêu một người đàn ông đã có vợ con.
Chịu thân phận làm vợ lẽ đã là cay đắng vậy mà người đàn ông ấy vẫn nhẫn tâm chà đạp lên trái tim chân thành, say đắm của bà.
Có người bảo tận đáy lòng chắc Nguyễn Nhược Pháp oán hận người mẹ đã bỏ mình ra đi khi chàng chưa kịp nhận rõ mặt mẹ.
Tôi thì nghĩ ngược lại. Nếu có đau khổ, Nguyễn Nhược Pháp chỉ quay quắt thương mình quá nhỏ, không cứu được mẹ. Nếu biết nói, Nguyễn Nhược Pháp sẽ ôm mẹ thổn thức:
“Mẹ ơi còn con đây mà!”
Những người đang đứng bên bờ vực thẳm, trong tích tắc, luôn cần một bàn tay níu giữ.
Nguyễn Nhược Pháp là một người con hiếu thảo.
Chàng sống vui tươi để nói với người mẹ nông nỗi nơi chín suối rằng: “Mẹ yên tâm, con vẫn ổn”
Chàng cũng muốn nói với người mẹ Cả bao dung đã mang chàng về nuôi nấng rằng: “Cám ơn Mẹ, nhờ Mẹ mà con đã lớn lên bình yên”
Không giống người cha đa tình và bạc tình, Nguyễn Nhược Pháp chưa từng làm đau một trái tim thiếu nữ. Thơ của chàng luôn là những lời tụng ca dành cho người nữ.
Trời hỡi! Sao một con người sống đẹp như thế mà bà phù thủy số phận lại bắt chàng phải nằm ngủ giấc nghìn thu trong khu rừng định mệnh ở tuổi hai mươi tư.
Hay chàng sợ mẹ mình cô đơn nơi chín suối?
Trong bài thơ “Mây”, Nguyễn Nhược Pháp có những câu thơ buồn hiếm hoi:
Khi thấy hồn người thân
— Nhìn mây lệ khôn cầm! —
Trên bầy xe tứ mã,
Tiếng bánh lăn âm thầm;
Để tưởng nhớ Nguyễn Nhược Pháp, chàng hoàng tử trong sáng nhất trong thi ca Việt, xin được ghi lại bài thơ khóc bạn của Nguyễn Bính:
“Buồn xao xuyến quá sương mù
Buồn xao xuyến quá, mùa thu vừa tàn
Ai đem bứt hết lá vàng
Dệt làm khăn liệm đám tang muôn đời
Thương anh, nói chẳng hết lời
Giờ đây, anh đã ra người ngàn xưa!
Ví dù còn một đường tơ
Cũng xin rút nốt thành thơ khóc người
Ngài xanh cái kén bay rồi
Nhả tơ xây tổ trên đời bao năm
Kéo dài kiếp số trăm năm
Cũng mang tiếng một con tằm mà thôi
Thương anh nói chẳng hết lời
Giờ đây anh đã ra người ngàn xưa!
(Khóc anh Nguyễn Nhược Pháp)

Huyền Chiêu
Tháng 6-2018

{nguon: TinhThan Blog}

 

BUỒN KHÔNG NGƯỜI LÍNH CŨ

Nguyên Lạc

.LINH VO DANH2
Chiều vội vã tà huy nhòa bóng
Đông phong về lăn chiếc lá tàn thu
Có bóng người cao thấp lối sương mù
Đời lữ khách mòn theo từng năm tháng
.
Sâu góc vắng khói thuốc cay vương mắt
Dĩ vảng buồn theo từng giọt cà-phê
Khúc tình xa quá khứ lại về
Thời đã cũ. nhớ chi. người lính cũ?
.
“Lứa lận đận chúng ta cùng một lũ” [*]
Mất còn ai ngày tháng hao mòn?
Đã rồi tình sương khói hư không
Đầu tuyết điểm. buồn không. người lính cũ?

.
*
Chiều cuối năm buồn chi người lính cũ?
Bận lòng chi. đáy cốc bóng hình?
Lặng nhìn chi. khói thuốc lung linh?
Để quay quắt. để thống trầm lòng lính cũ?
.
Người lính cũ búng bay tàn thuốc vỡ
Búng bay không. từng mảnh vỡ hồn sầu?
Búng bay không. hằn những vết sẹo đau?
Tha phương. quán lạ. vọng cố nhân…
Buồn không người lính cũ?
.
Mắt phố đầy. một bóng người khập khiễng
Đêm cuối năm. từng bước quá khứ buồn
Đêm đón đưa bè bạn đã từng …
Tan sương khói!
Buồn không người lính cũ?
.
Nguyên Lạc
………..
[*] Đồng thị thiên nhai luân lạc nhân/ Tương phùng hà tất tằng tương thức – (Tỳ Bà Hành- Bạch Cư Dị)
Cùng một lứa bên trời lận đận/ Gặp gỡ nhau lọ sẵn quen nhau – (Phan Huy Vịnh dịch)

BẾN ĐỢI

Đặng Xuân Xuyến

tran din cuon

Trang Đinh Cường

(tặng G)

Chẳng rình em tắm như người ta
Anh sỗ sàng dụ em buông thả
Vội vã thành đàn bà
Ngẩn ngơ làm “vợ người ta”
Em mặc miệng đời bủa vây mai mỉa
Lời yêu nuốt sâu cuống họng
Em thị phi khác thường…

Anh cưới vợ rồi
Em lấy chồng thôi
Chỉ là thêm cuộc chơi
Thêm nữa vắng đứng ngồi chờ đợi
Thói đời
Miệng đời
Bạc bẽo lắm mây trôi bèo dạt…

Gửi gắm gì câu hát
Í a xang xề xề xang
“Ai mang con sáo sang sông
Để sáo sổ lồng…”
Em theo chồng
Bến nào có rộng
Sao thăm thẳm lời hát
Sao gió gằn ràn rạt
Anh ơi
Mỏi mòn câu chờ câu đợi
Buông mái chèo
Em neo đậu bến mô…
*.
Hà Nội, sáng 31 tháng 01.2019
ĐẶNG XUÂN XUYẾN