ĐỜI TRẢ LỜI CHO TA

Nguyên Lạc

1minh

1.

Bấy nhiêu năm có đủ
Quên cuộc tình cũ xưa?
Bấy nhiêu năm có đủ
Quên nỗi buồn tiễn đưa?
.
Chiều bên sông khói phủ
Bóng hình ai hắt hiu
Thuyền trôi xuôi ra biển
Đời chắc rồi cô liêu!
.
Bấy nhiêu năm có đủ?
Quên mối tình dấu yêu!
Đêm mắt đầy mong đợi
Người xa mãi phương nào
.
Bấy nhiêu năm mãi đợi
Tóc điểm màu xuân thu
Thời gian đâu chờ đợi
“Bạch vân … không du du” [*]
.
2.

Chẳng thà không gặp nhau
Thì đâu buồn tiễn biệt!
Chẳng thà đừng hứa nhau
Thì trăm năm đâu là …
.
Bấy nhiêu năm có đủ?
Đời trả lời cho ta!
Cho nỗi lòng đưa tiễn
Chiều khói phủ sông xưa
.
Chẳng thà đừng gặp lại
Mãi một nỗi đợi chờ
Gặp lại chi mắt lạ?
Nhạt màu tình xưa xa!
.
Ai bây giờ lạ lẫm
Phải người muôn năm xưa?
Đâu thật thà môi thắm?
Ta từng quen biết chưa?!
.
Bấy nhiêu năm dài đủ?
Để riêng đời nhớ mong!
Gặp chi rồi chia ngả
Người còn nhớ chi không?
.
Bấy nhiêu năm chắc đủ
Quên hứa nào phải không?
Phải chi đừng gặp lại
Giữ hình bóng riêng lòng!
.
3.

Bấy nhiêu năm hoài phí
Cả một đời thanh xuân!
Lạnh lùng người bước vội
Kẻ chờ đợi lưng tròng!
.
Người. lại rồi viễn xứ
Kẻ. một trời hư không!
.
Nguyên Lạc

……………
[*] thơ Thôi Hiệu  

CHÈ TRONG NỖI NHỚ

Nguyên Lạc và Lê Văn Quới

don_ganh
.
Mỗi tên chè – một nỗi thương
Mỗi tên chè – gợi mùi hương nhớ đời
.
Cần Thơ thành phố thân yêu của tôi, thành phố của một thời, một thời mộng mơ. Thành phố của những con đường, những ngõ ngách thân quen, những quán cà – phê với những bài ca muôn thuở. Đặc biệt là những quán chè bên lề đường của thời áo trắng môi hồng phượng đỏ. Những chén chè ngọt lịm môi người, ngào ngạt hương yêu.
Ai mà ở bến Ninh Kiều không nghe tiếng rao chè tha thiết, ngọt ngào, ngân nga kéo dài trầm bổng nửa khuya: “Ai ăn chè bột khoai, đậu xanh, nước dừa, đường cát hô.ô.ô…hôn? lời rao gợi nhớ đến bài ca vọng cổ “Gánh chè khuya” của soạn giả Viễn Châu, qua giọng ca ngọt ngào, trầm ấm của “Đệ nhứt danh ca” Út Trà Ôn và “sầu nữ” Út Bạch Lan. Chỉ đoạn ca mở đầu, người nghe cảm thấy tâm hồn bâng khuâng, xao xuyến:
“Nghe tiếng rao/ Trong đêm dài u buồn/ Đêm từng đêm thầm vang bên phố vắng/ Nghe tiếng rao/ Như một lời kêu than cho số kiếp phụ phàng…”
Về chè của Cần Thơ, tôi xin giới thiệu đến các bạn bài viết rất lý thú của thầy Lê Văn Quới, đồng nghiệp và cũng là đàn anh cùng dạy ở Cần Thơ trước 1975.
Trước khi vào bài viết của thầy Quới, tôi xin bàn sơ về hai chữ CHÈ và TRÀ:
.
CHÈ, TRÀ
.
1. Chè – Sweet Soup/ Sweet gruel – là món tráng miệng trong ẩm thực Việt Nam và nhiều nước khác. Còn trà – tea – là thức uống nổi tiếng như cà-phê -coffee .
Có lẽ không ở đâu như ở xứ mình, chè rất thông dụng và có sức sống mãnh liệt. Tiếng “chè” đã được nhắc bên tai đứa bé từ lúc nó vừa tròn tháng tuổi. Đó là món “chè ỉ ” không thể thiếu trong lễ cúng mừng đầy tháng và thôi nôi cho bé.
Trong ngôn ngữ phía Bắc nước ta, hai từ “chè” và “trà” thường dùng lẫn lộn và trong thực đơn các món chè miền Bắc có một số loại chè rất lạ với miền Nam, chẳng hạn như chè bà cốt, chè con ong, chè hạt lựu, chè hoa cau, chè kho… Ngược lại, một số loại chè có thể xem là món đặc sản, là sự sáng tạo của đồng bào Nam bộ mà miền Bắc xa lạ như chè thưng, chè củ năng trứng cút, chè chuối, chè bà ba, chè táo xọn …
.
2. Riêng tại miền Trung, như Quảng Nam thì dân chúng còn phân biệt rõ ràng: Thường nói uống nước chè, gồm chè chín (chè đã sơ chế ), chè tươi , chè xanh (hái trên cây vào chưa sơ chế, sấy ). Còn uống trà là mua những gói trà hoặc hộp trà về nấu nước sôi để pha trà uống . Chè thì phải nấu chứ không thể chế nước sôi để pha. Còn chè, món tráng miệng trong ẩm thực nấu với đậu, hoặc những loại ngũ cốc khác với đường thì được gọi là chè ngọt.
.
3. Trích đoạn bài viết về CHÈ của thầy Lê Văn Quới bên dưới rất hay, nhưng có lẽ thầy quá nghiêm chỉnh chăng? Trong phần bàn về chữ CHÈ, theo tôi còn hơi thiêu thiếu, tôi xin ghi ra thêm cho đầy đủ “bộ tam sên”.
Nam bộ quê tôi có vài phương ngữ liên quan đến “chè” ” rất vui.
Thí dụ như “đi ăn chè” và “cho chó ăn chè”
– Đi ăn chè: Đi tìm “ngọt ngào” ngoài luồng.
– Cho chó ăn chè: Nói tình trạng “mút mùa lệ thủy” hay “mút chỉ cà- tha” rồi bị ói mữa của các “ông thần men”. (“…” là phương ngữ “giang hồ” nam bộ, ghi ra cho vui nhe các bạn)
.
Thơ rằng:
Khoan khoan ngồi đó chớ đi
Bạn bè tri kỷ mấy khi sum vầy
Bà đâu ta bảo bà này
Hãy ra bờ ruộng lùa bầy vịt non
Ca-ri vịt, tiết canh ngon
Vài chai rượu rắn cho tròn đệ huynh
.
Uống cho trọn nghĩa trọn tình
“Mút mùa lệ thủy” rồi mình … đứt dây!
(Nguyên Lạc)

Đùa chút cho vui nhe các bạn, có gì bỏ qua.
.
4. Trong ca dao, có vài bài vui liên hệ đến chè/ trà.
Để tặng các bạn vài nụ cười, tôi xinh trích đoạn ra đây bài ca dao, tân cũng như cổ liên hệ đến vụ hái chè/ trà:
.
Cô Gái Hái Chè – Chính Bản
.
Hôm qua em đi hái chè
Gặp thằng phải gió nó đè em ra
Em lạy mà nó chẳng tha
Nó đem đút cái mả cha nó vào
.
Cô Gái Hái Chè – Phó Bản
.
Hôm qua lên núi hái chè
Có thằng mất dạy nó đè em ra
Nó đè em chẳng dám la
Em đè lại nó… nó la quá trời
.

TƯƠNG TƯ TIẾNG RAO CHÈ
.
Phần trích đoạn sau đây là của GS Lê Văn Quới.
.
[ … 1. Cái “hồn chè” sống mãi trong tôi chính là tiếng rao chè. Những năm sống ở Chợ Lớn (khoảng 1958 – 1963), tôi quen tai với tiếng rao chè của người Hoa: “Chí mà phủ… ủ; lục tào xá… á” mà mỗi lần nghe lại không nhịn được cười. Cười vì cái âm cuối cụt lủn, chỉ ủ ủ, á á rồi ngưng, rồi chìm lẫn giữa phố vắng, đường khuya.
Tháng 9/1964, tôi đến Cần Thơ dạy học. Đêm nghỉ ở khách sạn Thế Giới (đường Thủ Khoa Huân) gần bến Ninh Kiều. Nửa đêm, bỗng nghe tiếng rao chè; “Ai ăn chè bột khoai, bún tàu, đậu xanh, nước dừa, đường cát hôôôônnn…? Tiếng “hôn” kéo dài ngân nga, như bay như lượn, trôi nổi chơi vơi suốt một cung đường. Tiếng rao tha thiết, ngọt ngào của một cô gái miền Tây. Lần đầu tôi được nghe, sao mà xao xuyến quá! Tiếng rao khiến tôi nghĩ đến bao cảnh đời tần tảo, bao số phận chìm nổi giữa chiến tranh… rồi tôi thao thức cả đêm.
Như thế, đêm đầu hội ngộ Cần Thơ, tôi đã tương tư một tiếng rao chè! “Nhất thanh, nhì sắc…” Tôi hình dung những cô gái miền Tây sông nước, những cô gái Cần Thơ đều có chất giọng ngọt ngào như giọng cô gái rao chè. Và trong sâu thẳm lòng tôi như vút lên câu hát cũ: “Đến đây thì ở lại đây – Bao giờ bén rễ xanh cây hãy về”. Và tôi đã gắn bó với quê hương tình yêu này từ ấy đến nay.
.
2. Những năm 1960, ở Cần Thơ có nhiều quán chè, chốn gặp gỡ lãng mạn của giới học sinh sinh viên và cũng là của tất cả mọi người. Hai nơi bán chè nổi tiếng nhất là những quán đá đậu nhỏ trên đường Ngô Quyền – nơi có hai trường trung học: trường nam Phan Thanh Giản và trường nữ Đoàn Thị Điểm – và quán chè bưởi La San ở đường 30/4 hiện nay. Tôi trở thành khách hàng thường xuyên hai nơi này. Chè ngon là từ cái không khí của quán chè, từ những bâng khuâng ngọt ngào mà sâu thẳm gợi lên từ tiềm thức, từ giọng nói tiếng cười tươi tắn trữ tình của những người trẻ, và như từ lâu lắm trong ký ức bởi một tiếng rào chè…
Một điều thật bất ngờ là từ tờ báo tường của lớp tôi phụ trách, lại xuất hiện mấy câu thơ liên quan đến chè:
.
Buồn mang mang – ôi nỗi buồn mang mang
Anh hỏi em – cô gái trường Đoàn
Lòng có buồn như kẻ ở trường Phan
Khi tiếng rao chè vừa mới qua ngang?
.
Những câu thơ không đề tác giả. Và tôi – người thấy giáo trẻ, chợt ngỡ ngàng vì cảm thấy mình hình như chưa hiểu hết học sinh mình. Cái tâm trạng “nghe tiếng rao chè” mà lòng “mang mang” cũng chính là tâm trạng của tôi – của một thời trong quá khứ. Người học trò tôi không biết tên đó rõ ràng là khách đồng điệu của tôi! Từ đó, tôi nảy sinh ý tưởng là tìm tòi bằng mọi cách tất cả những bài thơ của người Cần Thơ viết về chè. Tôi đã tập hợp được hơn 30 bài. Những bài thơ tôi gìn giữ có giá trị như một loại văn học dân gian.
Tôi chia những bài thơ này làm hai loại: 1. Những câu viết riêng cho những cô gái bán chè, tác giả có thể là những khách tình si thuộc nhiều lứa tuổi; 2. Những câu “đặc sản” của giới học sinh, viết chỉ để gởi cho nhau.
.
Ở loại thứ nhất, xin dẫn mấy đoạn thơ sau:
.
Người là thi sĩ – làm thơ
Anh là “chè sĩ” – vẩn vơ phố phường
Mỗi tên chè – một tên thương
Mỗi tên chè – gợi mùi hương nhớ đời
Đậu đen, đậu đỏ… thơm môi
Chè thưng, bột bán, phổ tai ngọt mềm.
.
Nhìn viên xôi nước phát thèm
Ba chìm bảy nổi thân em vẫn tình
Mát lòng một chén đậu xanh
Thắm duyên chè bưởi ai đành quên ai!
Dù đi khắp biển sông dài
Tiếng rao chè! vẫn đêm ngày tương tư!
.
Ở loại thứ hai, có những câu tiêu biểu:
.
Cần Thơ có lắm quán chè
Quán ở vỉa hè – quán thật khang trang
Chè bưởi nổi tiếng La San
Con đường đá đậu – trường Đoàn lừng danh
Xôn xao nữ tú nam thanh
Gần xa nô nức, yến oanh hẹn hò!
Đẹp thay cái tuổi học trò
Chén chè mát ngọt để cho tinh nồng.
.
Cuộc sống ngày một đổi thay. Nếp sinh hoạt đô thị không còn giống ngày xưa. Tiếng rao chè hàng đêm ngày càng thưa vắng! Mai này có thể ở thành phố sẽ không còn bóng dáng những gánh hàng rong. Tôi bồi hồi nghĩ đến tiếng rao chè và ngậm ngùi cho “những người muôn năm cũ”…] [Lê Văn Quới]
.
LỜI KẾT
.
Ôi Cần Thơ thương nhớ. Cần Thơ của những chén chè ngọt lịm thân thương. Cần Thơ của “Một thời ta cố quên”.
Xin mượn câu nói sau đây và vài câu thơ để kết thúc bài viết này – chắc nó pha trộn giữa vui và buồn?
– “Không ai tắm hai lần trên một dòng sông” – Heraclitus (triết gia Hy Lạp cổ đại)
– Thời gian – nước chảy qua cầu/ Tiếng rao chè cũ đã vào hư vô

Và:
.
Cái thời mắt liếc dao cau
Cái thời đưa đón tình nhau Ninh Kiều[*]
Ly chè ngào ngạt hương yêu
Hoài trong tâm tưởng dù chia nghìn trùng
(Nhớ bến Ninh Kiều – Nguyên Lạc)
.
Tất cả chỉ còn là kỷ niệm, chỉ còn là dĩ vãng khôn nguôi!
.
Nguyên Lạc
……………
[*] Thời Đệ nhất Cộng Hoà, chính quyền Việt Nam Cộng hòa nâm 1957 đã cho lập nơi bến sông Cần Thơ một công viên cây kiểng và bến dạo mát: Ninh Kiều. Kế tiếp là chợ Cần Thơ.

SÂN GA

Đặng Xuân Xuyến

train
– Tặng nhà thơ Như Ý Gialai
Chủ nhiệm web Phố Núi Và Bạn Bè –

Ông lão ngồi sân ga
Lầm lũi đàn rồi hát
Trời đang mưa nặng hạt
Gió quẩn ngoài phố thưa.

Bà lão ngồi nhìn mưa
Tay lần lần tràng hạt
Tiếng đàn như muối xát
Ai oán từng nốt rung.

Bà lão người miền Trung
Ông lão người xứ Bắc
Hai phận đời cơ cực
Vịn đau mà nương nhau.

Trời bắt đầu mưa mau
Gió quẩn từng câu hát
Nụ cười trên môi nhạt
Thắt lòng mùi gió sương.

Hình như ông mất nương
Hình như bà mất ruộng
Đời gặp cơn ác mộng
Đói nghèo mà tha hương.
*.
Hà Nội, trưa 28.01.2019
ĐẶNG XUÂN XUYẾN

GIỜ NGỌ

Võ Công Liêm

nguoi va chim- vcl

Tranh Võ Công Liêm: Người và Chim

*nhớ đêm ngủ với Chuột ở trong bếp (Pleiku/1967).

ngày của đời tôi
trôi đầy tháng
năm ngã nón chào
du miên tôi đi vào nỗi nhớ
một lần nào
lá nhuộm màu quan san
trên bước đường tùng lộ
đá xanh rêu ngày đó
lên thân xác điêu tàn
ngủ say cùng với khói
nhớ xưa người tình cũ
cà phê sửa đặc quánh
lệ đã trào rồi đó
không thấy sao em
chạy thanh bình trên biển trắng xanh um
đã chìm trong quên lãng màu trăng thuở nọ
giờ ngọ
nuốt chửng tiếng khóc khô
cho thế gian tồn lại
em . muốn chảy vào trong đó cho bóng đè
thân thể anh nhàu nát như trận cuồng phong
những đóa hồng tan theo nhịp thở
nằm lịm bên đời giữa trời tháng chạp
tôi . bỏ hoang phế vào quá khứ thôi miên
mang hạnh phúc làm tiếng sóng ru trăng dỗ dành
đầu ngọ . con chuồn chuồn ngô gục đầu bên bờ liễu gió
đêm tắt ngúm thổi vô tình giọt yêu thương nguội lạnh
cuối ngọ . lê thê buồn nôn lạ ngày tháng đứng nghiêng ô
em . dang tay giữa trời vô tận hứng những sợi mưa khóc
vào mắt nhớ
sao lại đến đây ?
sao phải thế nầy ?
hoa vạn thọ nở chậm vào giờ ngọ
đến sáng mai mới sang mồng một
đôi tay siết em cực nóng
những buổi chiều
mây lang thang lạc hướng phương trời
nổ tung quá khứ một lần yêu
trên chiếu hoa ướt mềm nhung nhớ
giờ ngọ
ta thức trắng một ngày mai để
không còn thấy bóng đêm phủ dụ hoàng hôn
tím cuối trời thắp hồng ngọn lửa ngoan hiền
tháng năm ơi có người lỗi hẹn . tưởng như quên
nỗi nhớ rì rào cuộn vào suối ra sông quằn qua
cửa biển hứng chịu đau thương cho xuân nở
những đám lục bình làm tình bán thời gian
bềnh bồng theo bóng chiều mưa giông tới
tượng đá ngoài kia
hình như khóc
trên vòm trời xấu xí
lũ kên kên ngóng đợi
giữa giờ ngọ hoảng
hốt cơn mê chiều
nay không có em
để nghe gió hú
có phải đây là ‘le vent se lève et fait voler les oiseaux’*
không ! tiếng kêu rừng rú đâu phải tiếng chim kêu mà
ngẩng đầu tư cố hương

tôi . bậc khóc một mình giữa trời tháng ngập
em . ngồi đong gió với thời gian thâu qua
ngọ đã đi rồi ./.

VÕ CÔNG LIÊM (ca.ab.yyc. ba mươi tết canhtý 2020)

* ‘gió nổi lên làm bầy chim vỗ cánh bay…’ (Marcel Proust (1971-1922)

TRANH VẼ: ‘Khỏa thân trắng / White nude’. Khổ 15” X 20”. Trên bià thùng mì gói hiệu con tôm. Acrylics. Vcl#1522015.

KHỎA THÂN TRẮNG / WHITE NUDE

Thơ Võ Công Liêm

vcl tranh-nguo dan ba dan

Tranh Võ Công Liêm “Người đàn bà chơi đàn độc huyền cầm”

BÊN TRỜI PHƯƠNG ẤY

từ trong tinh thể mà ra
cưỡng bức triệt để hồn sa đắm chìm
nhớ
người
tình

từ khơi mộng ủ trong miền phù du
nhân
gian
chờ
đợi
bao lần xuân đến xuân đi
bên trời phương ấy
một mình tuyết phơi

XUÂN ĐÁO

bước đi chập chửng
trên
thềm
cổ
xưa
xuân đầu ngọn gió
một mình
một bóng
giữa triền hạn khô

HOA VÀ GIÓ

ngáp gió
hoa cười
đón xuân
trận phong tình
đứng xa buồn dặm
xuân về hay chưa ?

CỜ BẠC XỈU

mùng một
xả xui
mùng hai
lộn đầu

sòng
bạc xỉu

RƯỢU

thiếu
thịt
chuột
không
phải
tết ./.
VÕ CÔNG LIÊM (ca.ab. yyc. đầu năm Canh Tý 2020)

THI CA ĐƯƠNG ĐẠI

Võ Công Liêm

NGUYỄN THỊ KHÁNH MINH
THI CA ĐƯƠNG ĐẠI

Khanhminh2=ngon ngu xanh

‘Elle est venue par cette ligne blanche’* (M. Heidegger)

Là một định nghĩa quả quyết khi nhận được tập thơ của thi sĩ Nguyễn thị Khánh Minh gởi tặng vào đầu năm 2020. Tác giả tập thơ Ngôn Ngữ Xanh cho tôi một ấn tượng hào sảng khi đọc trọn tập thơ với những phụ lục khác nhau, mục đích nêu lên tính đặc thù trong thi ca của Nguyễn thi sĩ. Thừa nhận nó cho một thứ ngôn ngữ lạ của thơ và hiếm có cho một lối kiến trúc thơ giữa đời này. Ngôn Ngữ Xanh qua nhiều thể thức khác nhau, nhưng; lại bao trùm trong một tư tưởng phảng kháng; một thứ phản kháng nội tại qua một tâm thức tự nhận, tự thú hơn là lý giải hay biện minh. Nó hoàn toàn thoát tục từ bản thể đến bản chất nơi con người thi nhân. Với Nguyễn thị Khánh Minh ta phải hiểu thêm rằng: -thi ca là từ ngữ khác biệt vô cùng / poetry works differently; là vì thi sĩ biết vận dụng chữ thơ để thoát ra khỏi phạm trù lý luận văn chương mà đặt ở đó một thứ văn chương thơ riêng biệt; bởi vậy gọi là ngôn ngữ xanh, nó hiện nguyên hình một tác phẩm hội họa thi ca /art of poetry là một nhân tố đơn thuần trong mỗi bài thơ đã được chú ý tới, thơ coi như tình cảnh kịch tính –the poem as a drmatic situation, là tiếng nói của người xướng ngôn (speaker) vì thơ là một thứ âm vang đồng vọng, hầu như là tiếng nói trung thực bởi người làm thơ. Thơ của Nguyễn thị thuộc trường phái siêu thực là hình ảnh phá thể trong một không gian duy nhất như chính thi sĩ đã xác định qua ngôn ngữ trong thi ca, giữa những băng hoại của đời sống văn minh vật chất là lý do chính đáng hay ngấm ngầm trong một tâm thức phản kháng tự tại; đó là cái bóng, cái bóng đe dọa cho một bi kịch đời; chẳng còn thấy gì khách quan chủ nghĩa và chủ quan chủ nghĩa mà cả hai là đối tượng giữa đời đang sống của Nguyễn thi sĩ, và; cho đây là một phạm trù phiến diện ẩn trong thơ để tách ra khỏi dòng sống như-nhiên (an nhiên tự tại) mà bừng lên như phương tiện thoát tục, thoát tục để thấy mình trong thế giới tự do thơ, tức thoát ly thế giới ước lệ, ràng buộc của luật tắc để trở về một lần nữa trong như-nhiên của tâm hồn. Đấy là nhiệm vụ của kẻ làm thơ: -không hóa toàn triệt trong đời để đi tới một vận dụng bất khả thi là thực hiện trên mọi khả năng trí thức vốn có, là cơ hội đưa mình vào tác phẩm như chứng nhân làm người; đó là phong cách vượt thoát ra khỏi cõi đời. Sự dày vò, bức xúc ít nhiều đã thấm thấu vào tế bào ngũ tạng, tế bào da mặt của nữ sĩ, phản ảnh vào một hiện thể như đã sinh ra. Thơ và người hài hòa vào nhau trong tư thế độc sáng, bên cạnh đó với một tâm thức đơn thuần để chuyển hóa thành thơ là cái lý đương nhiên của thơ, nó nói lên thân phận làm người phải đối đầu trước mọi tình huống. Dựa theo tác phẩm ‘Con người phản kháng / L’homme Révolté’ của A. Camus. Thời mới nhận ra thi nhân là kẻ vong thân, một kẻ lưu đày và quê nhà; tất cả đã bộc bạch qua thơ xuôi, thơ mới, thơ không vần là một trong những thể điệu thông thường ngày nay. Nguyễn thi nhân đã chắc lọc trước sau để đúc thành bản trong cùng một tư duy hiện thực nghĩa là không thay đổi phương hướng mà cùng một ý thức để dựng thành thơ. Đấy là ý thức thức tỉnh để sáng tạo sự mơ về /dreaming-day, một thức tỉnh mãnh liệt của sáng tạo nghệ thuật, một thứ nghệ thuật dành cho thơ. G. Bachelara nói: ‘tâm thức và trí tưởng của ta đủ khả năng để giúp ta sáng tạo những gì mà ta nhận thức được’. Dựa vào đó ta thấy được phần nào hồn và xác của Nguyễn thị Khánh Minh là một hiện thực cụ thể, nghĩa là không bị lôi cuốn trước trào lưu, không ngại ngùng trước mọi tình thế biến đổi chất thơ, hoàn toàn lạc quan của người làm thơ là đứng trong tư thế vững chắc /concreted để thành lập thơ bằng một thứ ngữ ngôn khác lạ đầy màu sắc của hy vọng và bí truyền. Gọi nó là Ngôn ngữ Xanh chính là cái đẹp cuộc đời, xoa đi những chạm trán giữa đời, là một liên hệ tương thức để tạo nên cái nhìn khát vọng. Một vũ trụ dự cuộc, vũ trụ khát vọng của con người. Đọc thơ của Nguyễn thị Khánh Minh bằng tất cả giác quan và ý thức, khêu lên một ký ức chua xót: -một cõi kia đã mất (HNI) để đón nhận một nơi khác làm quê hương thứ hai (NTR) cuối đời lại dung thân vào ‘đất hứa’ nhưng trên đất hứa lại chứa huyễn và mộng nhiều hơn là những gì trong mơ để được trở về nguyên quán của con người. Nhờ vào đó mà Nguyễn thi sĩ tìm thấy được cái bản ngã tự tại để nhận diện một trào lưu thi ca mới hơn của thời kỳ chủ nghiã hậu hiện đại thi ca (Post-modernisme poetry). Tức nói lên cái mới hơn cái mới, nói lên thể thơ (poetic form) mới hơn hình thức thi ca mới (new formalism poetry) kể cả siêu thực, trừu tượng và quá thực; tất thảy nằm trong Ngôn ngữ Xanh của Nguyễn thị Khánh Minh là bằng chứng hùng hồn của những gì mới mà tác giả muốn nói tới. Thành ra trong ngôn ngữ xanh là một thứ ngữ ngôn của thời đại mới. Bao trùm ở đó một thứ phản kháng nghệ thuật và một thứ phản kháng siêu hình. Lấy từ đó thấy được Nguyễn thi sĩ xưng cái ‘tôi/moi/self’ có lúc, có thì, bởi; xưng cái tôi là nói lên một hiện hữu sống thực (cogito) nhờ vậy mà lôi đầu cơn độc cô nội tại ra khỏi vũng mê chìm đắm trong tiềm thức từ bấy lâu nay. Cho nên chi dòng tư tưởng thi ca của Nguyễn thị Khánh Minh phất phơ một sự nuối tiếc nào đó để đi tới phản kháng trước những biến thiên nhân thế; để rồi hòa mình vào trong cái gọi là ‘tôi phản kháng vậy thì chúng ta hiện hữu’.Đó là thứ phản kháng tự nhận, tự biết để thoát tục làm người và coi đó như cơn dấy động đã qua đi để trở về với bản thể hiện hữu, một hiện hữu sống thực giữa đời đang sống của thi nhân và tìm thấy một thứ tự do đúng nghĩa như mong đợi. Nguyễn thi sĩ thực hiện sứ mạng này là cả một trường kỳ đấu tranh tư tưởng mới sanh ra đứa con như ý mình: hợp với tánh khí và hợp với đời.
Trong tập thơ chan chứa một tình người nồng thắm, chất đầy cái huyền nhiệm của thi ca mà Nguyễn thi sĩ muốn nói tới nhiều lần như nhắc nhở; đó là tiếng nói của linh hồn xanh, ký ức xanh và nhiều màu xanh khác nhau (Tr 87).Xanh ở đây là xanh của trạng thái tâm linh, một tâm thức siêu hình không còn vọng động; dù đang ở trong sự vọng động đó, thế nhưng; Nguyễn thi sĩ trở về trong cái nhất thể của nó nghĩa là không có hai mà một, cho nên chi đưa hồn vào thơ là ý tứ nhất quán của con người biết phận mình. Nhớ lời Nguyễn Du: -một người đã từng chứng kiến và sống bao nhiêu lần đổ vỡ ở ngoài đời và trong lòng. Ông viết: ‘sinh tiền bất tận tôn trung tửu / Tử hậu thùy kiêu mộ thượng bôi’. Nguyễn thị Khánh Minh không uống rượu quên đời. Nữ sĩ uống rượu thơ để say với đời. Tâm lý này là tương như giữa hồn và xác của Nguyễn thi sĩ khi vào ra với con bệnh: ‘Trường đồ nhật mộ tân du thiểu / Nhất thất xuân hàn cựu bệnh đa’ (Nguyễn Du). Tất cả nằm trong ‘Hạt Thời Gian’ là sát-na vô tận số của thời gian để không còn thấy mình giữa nhân gian chờ đợi mà rơi lệ khiến ta khóc (Tr.80 ) Bạn bè cũ mới xa dần, không còn nữa…
Với những bài thơ khác nhau nhưng cùng một cảm thức trước hoàn cảnh nhân sinh như tiếng gọi lòng : ‘Anh ơi. Đó là gió.Và nắng,Và em / Của phố biển Huntington Beach. Hôm nay’(Tr.69).Tôi cảm hóa câu thơ này! Đi cùng một bài thơ xuôi khác, như thể hòa điệu cùng tôi: ‘Tôi biết.Tôi sẽ được cất tiếng. Trong mùa thơ quyến dụ ấy với ngôn ngữ tình nhân. Ngôn ngữ tôi nghe một lần trong xứ sở chiêm bao. Khoảnh khắc giấc mơ tôi thực sống…(Tr.118) Đọc rồi mới thấy cái đáo để trong thơ của Nguyễn thị Khánh Minh. Quả không ngoa! Mà thừa nhận nó như một chứng thực cuộc đời đang sống; có trong đó của chúng ta.

Sở dĩ gọi là Thi ca Đương đại (Contemporary poetry), là vì thi nhân là kẻ đang sống và chứng kiến của đổi thay từ nội giới tới ngoại giới trong cùng một thời kỳ, cùng một thời đại và trong cùng một cảm xúc. Xưa gọi là Thi ca Hiện Đại (Modern poetry) tưởng là mới lạ nhưng quan niệm đó chưa đạt yêu cầu để rồi phải có một Hậu Hiện Đại với một tư duy đổi mới hơn. Là ghi chú vào một phân định và tính cách thi ca hiện đại –A Note on Chronology and the Modern temper. Cho nên chi gọi Nguyễn thị Khánh Minh là thi sĩ đương đại, bởi; nó được định vị của tất cả những gì mới / modern nằm trong một cảm thức đồng tình như một điều gì đã có trước và sau này. Nguyễn thi sĩ đứng trên cương vị chủ thể của đổi mới tư duy, dù rằng nó đã đổi mới thi ca vào những thập niên 1930 và lớn dần về sau này, những thể thơ như thế tiếp cận nhanh và lôi cuốn như một trào lưu thi ca thời thượng là khác biệt giữa ước lệ, qui cách hoàn toàn nghịch lý giữa đời này. Nhưng; hậu hiện đại của tk. hai mươi mốt là cái mốc lớn, nó đổi thay toàn diện từ ngữ ngôn cho tới văn phong, một sự vượt thoát để đuổi kịp trào lưu. Nguyễn thị Khánh Minh du nhập vào đó để làm sáng tỏ bằng một thi văn kinh dị và lạ lẫm. Càng dị thường chính là lúc Nguyễn thi sĩ chinh phục được cuộc đời, tức là chinh phục ở chính mình bằng mọi phương tiện khác nhau để đi tới cái mới lạ trong thi ca. Nói theo thuật ngữ triết học thời cái sự đó là vấn đề trầm tĩnh tư duy (philosophycal problem). Thơ của Nguyễn thi sĩ là có ý để đả thông (esoteric) bởi ít nhiều chọn lựa con chữ để đi vào cái ngoài (beyond) của hiểu biết và nhận thức và cũng là là một tiềm ẩn khác có tính cách mơ hồ (obscure) trong mỗi bài thơ của Nguyễn thi sĩ đã dựng nên. Cái mơ hồ trừu tượng trong ngôn ngữ xanh của Nguyễn thi sĩ là cả suy tư và tìm thấy để định nghĩa cho rõ thực hư của thế nào là thi ca đương đại(?) -Nó ẩn tàng, ẩn dụ, trừu tượng, siêu hình là vị trí của hiện sinh chủ nghĩa. Nói đúng ra nó là thứ thi ca thuộc siêu hình (The metaphysical poetry). Nó nhập vào thơ một cách vô hình (ngay một số thi nhân khi thành thơ vẫn không tìm thấy cái siêu hình trong đó). Thi ngữ đó rất ư độc cô /solely. Bởi nó là âm vang đồng vọng mỗi khi cất tiếng, giòng luân lưu đó là tiếng nói ‘tự do’ và ‘hạnh phúc’ trong cái chặn chót / next-to-last của bài thơ mà nó chỉ nhập vào một cách tự nhiên và bất ngờ; là cõi phi trong thi ca. Là thứ thơ thời thượng của nữ sĩ Nguyễn.
Cái gì gọi là siêu hình ? -chính là cái ‘vượt thời gian’.Vượt ở đây là ra khỏi cõi ngoài space/beyond, nó không thuộc về thời gian tính mà nó là cảm thức chưa được trọn vẹn như yêu cầu ở tự nó, cảm nhận về những gì không cầm giữ được cho một hiện hữu tồn lưu. –The sense of incompleteness itself, the feeling of irrecoverable loss of existence… mà trở nên hình dung từ của trí tưởng để thành thơ là thế đấy!.
Ở đây chúng ta không cần lý giải, phê bình, phân tích từng loại thơ khác nhau, cũng chẳ cần bình giải mà nặng ưu tư. Nhớ cho rằng: những nhà thơ là vận động viên của ngôn ngữ -Poets are the athletes of language- là khả năng vận chuyển trí tuệ để thành lập ở đó một chủ đề đầy chất xanh. Đấy cũng là một ẩn dụ của thơ, bởi; thi ca là nguồn phát tiết trước tiên và hàng đầu của nghệ thuật trình diễn –Poetry is first and foremost a performer’s art. Đời thơ nằm trong ngôn ngữ; là con đường rộng mở, có thể cảm thức nó dưới nhiều chiều kích khác nhau, không còn thấy gì là trừu tượng hay siêu hình mà là thứ ảo giác của nhà thơ mô tả có chiết tính giữa hiện hữu và tha nhân (người đọc) một cách rõ nét để đả thông tư tưởng.
Cho nên chi nói hiện hữu và tha nhân là cái sự bất khả tư nghị, là vì; hiện hữu chỉ là đối tượng thời gian và tha nhân chỉ là biến cố, sự kiện. Nhưng đặc nó vào hiện hữu và tha nhân để nhận diện mặt thực của đời trong thi ca mà thôi. Vì; thơ là thể tính của nhân sinh. Nguyễn thi sĩ hiểu một cách thấu đáo vai trò làm người qua một thứ ngôn ngữ mới của ‘Xanh’ là tiếc thương và hoài niệm hay cố thoát ra khỏi thân phận bằng những hình tượng hướng tới tương lai như được trở về trong cõi mơ. Thành ra dưới nhản hiệu ‘Ngôn ngữ Xanh’ là một liên trình biện chứng giữa quá khứ và hiện tại , tương lai được gieo vào cánh đồng ‘xanh’ bất tận đó để làm nền cho mầm sống. Ngôn ngữ Xanh để lại cho ta một bố cục như sau:
1-Thời gian ngoại tại và sự chuyển vần.
2- Thời gian nội tâm và giòng tâm lý.
3- Dòng đời tương giao giữa người và vũ trụ.
Cả ba thứ đó là trục quay trong thi ca của Nguyễn thị Khánh Minh.Thực ra; thơ của nữ sĩ Khánh Minh là loại thơ trình diễn (poetry performance) không xa với Thanh Tâm Tuyền hay Phạm Hầu. Mà mỗi người mỗi vẻ mười phân vẹn mười là thế, đó là đặc thù riêng cho thơ. Nguyễn thi sĩ thực hiện ‘trọn gói’ về nó.
Để tìm thấy một sự rốt ráo trong thơ của Nguyễn thị Khánh Minh, bởi Nguyễn thi sĩ không duy trì một thể thơ cố hữu mà dựng vào đó đa dạng thơ là biểu tượng cho một thứ thi ca sống thực, dù cho ngữ ngôn xa la của thơ vô nghĩa (nonsense poetry) ngay cả thơ nhảy, vọt là thể thơ lắp đặc (the poetry installation); biết rằng ngắt nhịp hay vắt dòng trong mỗi bài thơ nhất là thơ một, hai hoặc ba, bốn chữ, không phải vì thế mà gián đọan (Tr. 41,42, 47,48) . Rất nhuần nhuyễn và tiết tấu. Ngắt câu có chuẩn độ của nó thành thử không lạc phách, bởi; qua kinh nghiệm làm thơ của nữ sĩ Khánh Minh đã tìm thấy sự hợp lý đó trong thơ. Tuy nhiên; thơ tự do hay thơ không vần của Nguyễn thi sĩ là thái độ xử lý để dựng thành thơ: bằng ngữ điệu, cú pháp, văn phạm và sự lập lại của con chữ mà vẫn tinh thông không phạm trường qui và không bi lụy hay ảnh hưởng gì đến qui luật của thi văn. Đó là chân tướng của người làm thơ dưới mọi thể thức khác nhau.

Ngưng ở đây. Tôi đã thân quen với thi sĩ Nguyễn thị Khánh Minh cách đây chín, mười năm với những bài thơ mà tôi đã bắt gặp, coi nó như chứng tích hình thành loại thơ xuôi một cách hào khí và tuyệt cú. Tôi dùng nó làm phương tiện phát huy. Chắc chắn tập thơ Ngôn Ngữ Xanh của Nguyễn thị Khánh Minh với nhiều bài thơ khác nhau đều cùng một tâm lý như nhau. Đọc nó để thấy mình nằm trong ý thơ đó một cách hồn nhiên với một thân tâm độ lượng. Trích một khúc trong bài: ‘Mùa Xuân Mưa’ của nữ sĩ Khánh Minh:

‘Dường như nắng chưa biết mùa xuân về
Trời xám cùng những dự báo về một cơn bão lớn, về một
trận động đất, về một ngày tận thế, có thể.
Tôi thảng thốt.
Như một tiếng chim vừa hoảng hốt trong mưa.
Không thể bắt đầu mùa xuân như thế.

Có tiếng khóc của ai đó vừa cất lên chào ngày thứ nhất.
Nắng một ngày nõn xuân, tiên đoán cuộc đời sẽ mãi là
những ngày nắng đẹp, nên người yêu màu xanh, yêu thanh
bình, yêu những đơn sơ. Người đến em từ giấc mơ. Mùa xuân phương Nam rực rỡ nắng.

Tại sao bắt đầu mùa xuân bằng những trận mưa và gió.
Gió Santa Ana. Gió có gai làm tôi buốt nhói.
Phiá bên kia đại dương trời đất chập chùng tin dữ.
Bình minh yên ngủ, gần đây thôi, mà như đã thành cổ tích.
Nỗi sợ đồng hóa hết mọi thứ. Thiên tai mong manh hóa hết
mọi điều.
Tại gió, tại mưa không nhớ hạn kỳ? Tại đất tại trời xô lệch



Mưa bắt đầu xuân ở đây.
Mưa mặn nước mắt.
Nhòa trời Santa Ana’.



Nguyễn Thị Khánh Minh (Santa Ana, mùa xuân 2011))
Hợp Lưu #116/2012
.
Tập thơ Ngôn Ngữ Xanh của Nguyễn thị Khánh Minh là thơ tuyển của một hành trình dài chất chứa những khuynh hướng khác nhau; nhưng tựu chung nói lên một thứ chủ nghĩa tự nhiên (naturelyricism) và hình tượng (Imagism); là điều dễ cho ta tiếp thu, bởi; trong mỗi bài thơ không phải là tự ý muốn nói cái gì mà là một thể hiện cụ thể về tình người và cuộc đời / A poem should not mean; but be. Sách in ấn tao nhã, trình bày mỹ thuật và gần gũi giữa người viết và người đọc. Sách thơ hiện đang lưu hành hoặc muốn biết thêm chi tiết qua điạ chỉ email : khanhnguyenm@yahoo.com sẽ đem lại niềm vui trọn vẹn. (vcl)

VÕ CÔNG LIÊM (ca.ab.yyc . áp tết Canh Tý 2020)

* ‘Nàng đã đến bởi cái đường vạch trắng đó’ (Martin Heidegger)

Ăn Tết Muộn

MANG VIÊN LONG

 

y nghia tet3

 

Trung và Ái My vẫn chọn thị xã vùng biển Ninh Hòa làm nơi ăn Tết như hai năm trước, tuy biết rằng, qua cơn bão số 12 và nhiều cơn lũ tiếp theo, đã làm nhiều xã vùng ven đã nghèo, càng thêm xơ xác, tiêu điều; thị xã cũng bị nhiều ảnh hưởng nặng nề. Cơn bão số 12 đổ bộ vào thị xã Ninh Hòa với sức gió trên 100 km/h, đã khiến hàng nghìn nhà bị tốc mái, hư hỏng nặng. Các phường Phước Hải, Ninh Diêm, Ninh Thủy nằm ven biển, là nơi hứng chịu thiệt hại nặng nhất của thị xã Ninh Hòa. Nhiều nhà bị sập hoàn toàn không có nơi tạm trú, Nhiều gia đình kiếm sống bằng nghề nhặt ve chai, làm thuê, các nghề phục vụ không ổn định, qua bão tài sản không còn gì, đang đứng trước cảnh nghèo đói mà không thể xoay sở được! Theo thống kê của tỉnh Khánh Hòa,với sức gió cao nhất đạt cấp 12, giật cấp 15 kèm theo mưa lớn khiến 27 người chết, 5 người mất tích, 89 người bị thương; trên 10.000 căn nhà bị sập và hư hỏng; 3.826 ha diện tích lúa bị ngập và 6.258 ha diện tích hoa màu các loại bị ngập, hư hại; 44.320 lồng và 3.270 bè nuôi tôm cá bị trôi hoàn toàn.
Ái My nói:
– Mấy ngày ăn Tết ở đây, em muốn anh đưa em đến thăm…
– Những nơi nào?
– Ngôi trường mà em đã dạy…
– Còn nơi nào nữa không?
– Thăm gia đình anh Thành…
– Có muốn thăm gia đình “nhà chồng cũ” không?
Nhận ra trên gương mặt tươi sáng hồn nhiên của Ái My bỗng như có những đám mây đen lướt qua, Trung biết mình đã lỡ lời. Anh nắm tay nàng: “Bảy ngày ăn Tết ở đây, chúng ta chỉ cần sự yên tĩnh, còn chuyện đi thăm nơi này, nơi nọ, tùy duyên thôi em ạ!” – “Dạ” – Ái My khẽ cười.
***
Năm 81, Trung gặp Ái My lần đầu ở nhà Thành – cách nay đã hơn ba mươi năm. Ngày ấy, Ái My vừa mới ra trường, đến nhận việc nơi ngôi trường Thành đang làm hiệu trưởng. Trung ghé thăm Thành vì đang có dịp công tác ở Nha Trang. Thành hiền, học chăm, không có gì đặc biệt; nhưng Trung lại rất quý sự chơn chất có chút quê mùa ở Thành từ thời trung học. Sau bao năm, ngoài “nghề” dạy học, Thành còn có thêm “nghề” xem quẻ kinh Dịch, rất kinh nghiệm, và uy tín. Hỏi thăm nhà thầy giáo Thành ở Ninh Đông, bà con đều hỏi “Có phải ông thầy coi quẻ kinh Dịch không?”. Xem ra, nghề “xem quẻ” lại nổi tiếng hơn, có ăn hơn nghề thầy giáo. Trung đã có dịp “thử tài” Thành khi nhờ Thành xem giúp đường “tình duyên” của mình, còn danh vọng, tài lộc thì xin miễn, bởi Trung có “ăn gì” đâu, ngoài những tờ giấy? Sau một lúc hý hoáy vẽ sơ đồ, Thành ngước nhìn thẳng lên mặt Trung: “Tuổi thân rất khổ về đường tình duyên, cậu ạ. Phải hai, hay ba lần dang dở, mới yên được!”. Nghe Thành nói, Trung nhận ra Thành đã nói đúng! Cái khổ thân xác chẳng có gì phải bận tâm, nhưng nỗi ưu tư phiền não, đã khiến anh mang phải chứng bệnh mất ngủ mãn tính, không có thuốc nào chữa dứt!
Ái My gọi Thành là “thầy” và cũng gọi Trung là “thầy” luôn. Nàng hồn nhiên, vui tươi, như không nhớ mình đang là một cô giáo cấp ba. Gặp Ái My lần ấy, Trung không có cảm giác gì đặc biệt, ngoài nhận ra ở nàng sự trong sáng, chân tình. Nhưng sau đó không lâu, lúc nhận được Thiệp hồng báo tin ngày Vu quy của nàng, rồi cũng tiếp theo khoảng ba năm, nhận được từ Thành tin nàng đã ly hôn – Trung mới cảm thấy rất thương quý nàng. Một con người hiền thục, hồn nhiên, có tâm từ như Ái My sao lại phải gặp cảnh bất hạnh vậy? Theo lời kể của Thành, nàng được chàng trai của một gia đình giàu có người gốc Hoa ở đây săn đón, theo đuổi. Thành cười, nhắc lại câu ca dao: “Gái khôn, trai dỗ, lâu buồn cũng xiêu!”, nên Ái My đã chấp thuận, bởi nếu sống quanh quẩn trong cái thị trấn bé nhỏ nầy, thì khó tìm ai hơn vậy!
Thời gian sau, gia đình chàng trai được đi ra nước ngoài theo diện người Việt gốc Hoa, nhưng Ái My chưa có tên trong hộ khẩu, nên không thể theo chồng được. Nàng vui lòng chờ đợi ngày bảo lãnh như bao người khác, nhưng không hiểu sao, bà mẹ chồng lại yêu cầu nàng ưng thuận ký vào giấy xin ly hôn với con trai bà, trước ngày rời nước. Ái My cầm tờ đơn hỏi ý chồng, được trả lời ngắn ngủi: “Em làm theo lời mẹ đi!”. Chuyện đến và đi đơn giản vậy, nhưng với Ái My là một lần vấp ngã khủng khiếp. Nàng hụt hẫng, suy nhược, và ưu phiền suốt năm, rồi ngã bệnh. Trong một lần gọi thăm Trung bất ngờ, Thành đã hé lộ cho Trung biết tin từ những thân còn lại của gia đình chồng nàng, rằng Ái My được chẩn đoán trước đó là nàng không thể sanh con được. Tin nầy, có lẽ, Ái My cũng vẫn chưa biết được chăng?
Trung đã gởi cho nàng một thư điện tử, khá dài, chia sẻ nỗi đau, cảm thông và khích lệ nàng hãy vui sống. “Ông trời còn cho em một cơ hội tốt đẹp hơn, là ngày mai, em ạ!” Ái My không trả lời bằng email, mà gọi qua Viber, trò chuyện với anh tưởng như không dứt ra được. Nàng như người đang trôi dạt trên dòng sông chảy xiết, bám được bè gỗ. Trung biểt nàng đang bị suy tim, nghẽn động mạch chủ, đang nằm điều trị ở bệnh viện đa khoa Phan Thiết, chờ chuyển vào Chợ Rẫy; cuộc sống đang rất mong manh. càng khiến anh thương quý nàng, không thể rời xa, như một định số.
Một hôm, nghe nàng nói trong hơi thở nặng nhọc: “Em muốn được nói chuyện với anh, cho dầu sau khi nói, em có thể chết bất cứ lúc nào anh ạ! Xin anh hãy nghe em…” – Trung đã quyết định đến thăm nàng ngay sau đó.
Hai năm qua, họ đã trải lòng yêu thương qua email, những cuộc gọi, tin nhắn, và một năm một lần được “ăn Tết” ở nơi tùy thích; từ ngày Ái My được xuất viện, và bệnh tim của nàng dần dần ổn định, khỏe mạnh, dầu không hề can thiệp bằng phẩu thuật như đề nghị của bệnh viện. Nàng đã luôn nhắc với Trung, trong những lần trò chuyện, tâm sự: “Nhờ tình yêu thương mầu nhiệm của anh, mà em đã khỏe hẳn lên, yêu cuộc sống nầy gấp bội anh ạ!”. Còn Trung, luôn nói: ”Anh cũng rất cảm ơn em – viên thuốc an thần kỳ diệu, vô giá của anh!”.

***

Căn phòng B-07 của khách sạn Viễn Đông dường như luôn dành sẵn cho họ, mỗi lần ghé lại. Có lần, vào phòng Lễ Tân hỏi lấy phòng, nhìn thấy khách đang ở đông, Trung nghĩ đã hết, nhưng cô tiếp tân mỉm cười, chìa ra trước mặt anh xâu chìa khóa của phòng B-07. Ái My cũng ngạc nhiên, tròn xoe mắt nhìn Trung: “Đúng là duyên số đã định rồi, anh!”.
Vào phòng B-07 – cả hai đều có cảm giác an vui như được trở về “nhà xưa” của mình. Họ ôm chầm lấy nhau, như hai mảnh nam châm.
Tình yêu và tương lai của họ là đời sống hiện tại, trong căn phòng B-07 nầy để vui xuân, đón Tết – thời khắc ngắn hay dài, với họ, không còn ý nghĩa nữa! Trung nằm bên nàng, cầm bàn tay nàng đặt lên ngực mình: “Chúng ta lạc lõng như những mùa xuân muộn em ạ!”. Anh đọc:
“Vụng sắm cành đào không kịp Tết,
Ra giêng chợt hé một vài bông…
Xuân nhà người khác bay đi hết,
Ngoảnh lại xuân ta mới chớm hồng!” (*)

MANG VIÊN LONG
(*) Thơ Yến Lan

Chúc Cưng

hpdan.jpeg

Cưng ơi Xuân đến thật rồi
mà sao hoang vắng giăng đầy trong anh
thì thôi anh cũng chúc em
mọi sự như ý – tình thêm mặn mà

Chúc em năm mới ngoan nha
Ngoan như mai nở – ngoan như hương trầm
Ngoan như bánh tét, bánh chưng
Ngoan như củ kiệu dưa hành, mứt sen

Chúc em Canh Tý mộng thêm
chúc em tìm được tình nồng nơi ai
chúc ai tìm đươc tim ai
và ai ngồi giữ tình ai suốt đời

khê kinh kha

NĂM TÝ LẠM BÀN CHUYỆN CHUỘT (2)

Nguyên Lc

tuoi ty_Nam Phương

 

Phần II

CHUỘT TRONG ĐỜI SỐNG, KHOA HỌC & VĂN CHƯƠNG

CHUỘT TRONG BỆNH HỌC

     Ngoài những sự phá hoại trong nhà, ngoài đồng, ngoài đường phố quanh các thùng rác, thân xác của chuột từ nước miếng, nước tiểu đến phân chuột đều có độc chất có thể gây tử vong cho loài người. Bọ chét Xenopsylla cheopis trên mình chuột được xem là nguyên nhân gây bệnh dịch hạch. Năm 1347 lục địa Á- Âu bị bệnh dịch càn quét khiến cho hàng triệu người chết.

Chuột mang hại cho loài người:

– Bệnh thương hàn chuột (rat- borne typhus)

– Bệnh leptospirosis do ký sinh trùng Leptospira interrogans gây ra sốt vàng da, bắp thịt đau nhức, tổn hại đến gan, thận, màng óc, cột xương sống và dẫn đến tử vong.

– Bệnh salmonellosis do nhiễm trùng Salmonella enterica gây nóng sốt, nôn mửa, thổ tả.

– Bệnh trichinosis do nhiễm trùng Trininella spiralis gây tiêu chảy, nóng sốt, bắp thịt suy nhược v.v.

– Hội chứng hô hấp vi khuẩn Hanta (HPS: Hantavirus Pulmonary Syndrome) gây sốt, vỡ phế mạch.

– Hội chứng thận và sốt xuất huyết (HFS: Hemorrhagic Fever with Renal Syndrome)

(Theo Phạm Đình Lân)

  1. Về bệnh dịch hạch

     Dịch hạch là một loại bệnh do vi khuẩn Yersinia pestis hình que thuộc họ Enterobacteriaceae gây ra. Bọ chét Xenopsylla cheopis sống trên mình chuột được xem là yếu tố trung gian trong việc truyền bệnh.

Vậy chuột có liên quang đến bệnh dịch hạch – căn bịnh đã cướp đi sinh mạng con người một cách khủng khiếp, gấp nhiều lần thiên tai.

  1. Cái Chết Đen

     Cái Chết Đen là tên gọi của một đại dịch xảy ra ở châu Á và châu Âu trong thế kỷ XIV, mà đỉnh điểm là ở châu Âu từ năm 1346 đến năm 1350 đã lây lan đến mức không kiểm soát được. Bệnh dịch Cái Chết Đen được coi là một trong những đại dịch chết chóc nhất trong lịch sử nhân loại, ước tính nạn dịch này đã giết chết từ 30% tới 60% dân số của châu Âu và giảm dân số toàn cầu từ khoảng 450 triệu người xuống còn từ 350 đến 375 triệu người vào năm 1400.

     Quan điểm truyền thống cho rằng nguyên nhân của đại dịch này là sự bùng phát của bệnh dịch hạch gây ra bởi vi khuẩn Yersinia pestis tuy nhiên cho đến thời gian gần đây đã có những ý kiến nghi ngờ quan điểm này. Địa điểm bùng phát của cái Chết Đen thường được cho là ở Trung Á sau đó căn bệnh này nhiều khả năng thông qua loài chuột trên các tàu buôn mà lan đến bán đảo Krym vào năm 1346 rồi xâm nhập vào vùng Địa Trung Hải và châu Âu. Sự tàn phá khủng khiếp của cái Chết Đen đã dẫn đến nhiều thay đổi lớn trong xã hội châu Âu như việc ra đời của nhiều tôn giáo mới hay sự chuyển đổi về cơ bản của kinh tế và xã hội châu Âu, tạo ra những ảnh hưởng sâu sắc tới tiến trình lịch sử của châu lục này.

     Ước tính châu Âu đã phải mất tới 150 năm để phục hồi dân số như trước thời gian đại dịch, sau này dịch hạch còn nhiều lần bùng phát trở lại tại đây và nó chỉ biến mất vào thế kỷ XIX -(Wikipedia)

  1. Nạn dịch hạch đầu thế kỷ thứ 20

     Ở thế kỷ thứ 20 trên thế giới từng xảy ra nạn dịch hạch khủng khiếp nhất lịch sử, làm thiệt mạng hơn 20 triệu người từ Âu châu lan sang các nước Á châu và Trung đông. Chuột đã truyền bệnh đến con người hai thứ bệnh: dịch hạch (Bubinic) và phổi có nước (Pneumonia). Loài vi khuẩn Yersinia pestis hình que chiều dài từ 1 μm đến 5 μm. Đây là một loại trực khuẩn Gram âm, thuộc họ Enterobacteriaceae. Vi khuẩn gây bệnh dịch hạch có thể bị tiêu diệt ở nhiệt độ 550C trong vòng 30 phút, ở 1000C trong vòng 1 phút và các thuốc sát khuẩn thường dùng.

  1. Chữa trị bệnh dịch hạch và bắt giết chuột
  1. Huyết thanh chữa trị bệnh dịch hạch

   Chuột truyền bệnh do loại bọ chét Xenopsylla cheopis sống ký sinh trên chuột. Những trung tâm thí nghiệm, các nhà khoa học dùng chuột nhiều hơn thỏ hay cừu, nên hàng triệu con chuột được thí nghiệm tìm ra nhiều kết quả hữu ích cho Y học. Năm 1894 bác sĩ Alexandre Émile Jean Yersin người Pháp gốc Thụy sĩ (sinh năm 1863- †1943 tại Nha Trang) là nhà vi khuẩn học khám phá ra vi khuẩn Yersinia pestis. Yersin cũng là nhà thám hiểm khám phá cao nguyên Lâm Viên và tìm con đường bộ từ miền Trung sang Campuchia và Lào, ông là người thành lập trường Y Đông Dương (sau nầy là Đại học Y khoa Hà Nội) và làm hiệu trưởng đầu tiên của trường nầy. Bệnh dịch hạch xảy ra tại Hồng Kông năm 1894. Yersin là thành viên của “trường phái Pasteur”. Ông Shibasaburo Kitasato (1894- †1934), một nhà vi khuẩn học người Nhật học trường đại học Y khoa Tokyo, từng làm việc cùng Dr. Robert Koch ở Đức (1885- †1891), năm 1890 ông cùng Emil von Behring cấy được vi trùng bệnh phong đòn gánh. Ông cũng giúp tìm ra chất kháng độc tố cho bệnh bạch hầu và bệnh than (tiếng Anh: anthrax). Ông cũng tham gia nghiên cứu tìm vi khuẩn gây bệnh dịch hạch. Tuy nhiên chính Yersin là người đã tìm vi khuẩn Yersinia pestis gây ra bệnh. Vi khuẩn này lúc đầu được gọi là Pasteurella pestis, và sau đó được đặt lại tên theo tên của Yersin. Nhờ nhà bác học Yersin chế huyết thanh chữa trị bệnh dịch hạch.

  1. Bắt giết chuột, bẫy chuột

     Kẻ thù của chuột là Chó, Mèo, Rắn, Trăn, Chồn Cáo, Chim Cu, Chim Ưng… Nhưng kẻ thù đáng sợ nhất vẫn là … loài người.

  1. Gài bẫy, dùng thuốc độc để diệt chuột, hun khói để chuột bị ngộp phải chạy ra khỏi hang để bắt.
  2. Nuôi mèo để bắt chuột trong nhà và nuôi chó để săn chuột ngoài đồng.

   Ở Việt Nam người ta có hai cách xua đuổi chuột không cần mèo.

– Cách thứ nhất: bắt một con chuột cạo lông và sơn trên da chuột ba hay bốn màu khác nhau rồi thả chuột về hang. Các chuột khác thấy con chuột kỳ dị có ba, bốn mầu thì bỏ chạy. Chuột có ba, bốn màu có nhu cầu kết bạn đồng loại nên rượt theo. Các chuột khác càng sợ càng chạy mau bao nhiêu thì chuột màu càng rượt theo nhanh bấy nhiêu. Thế là cả đàn chuột rời xa hang ổ của chúng.

– Cách thứ hai: bắt một con chuột đực, mổ ngọai thận và nhét vào đó miễng chai cà nhuyễn rồi khâu lại.. Xức thuốc cho vết mổ lành lại rồi thả cho chuột về hang ổ cũ. Chuột bị ngứa ngáy khó chịu và trở nên hung dữ bất thường nên rượt đồng loại mà cắn. Các chuột khác sợ nó cắn nên bỏ hang ổ mà chạy, đi tìm nơi khác để sống.

CHUỘT TRONG ĐỜI SỐNG

  1. Vài điều về chuột

 – Những người đi sông đi biển, họ rất sợ chuột có mặt trên tàu ghe của mình, vì nó cạp lủng ghe tàu lúc nào không hay; cho nên dưới ghe họ có lập bàn thờ, thờ Ông Tý.

– Như đã nói ở trên, thị giác của chuột lại kém, nhưng bù lại thính giác của chuột rất tinh nên chuột hình như “biết nghe tiếng người”; cho nên khi muốn gài bẩy chuột trong nhà,  ta phải lặng lẽ mà gài, không nên đánh tiếng trước chuột nó nghe và không dại gì vào bẫy. Đây là kinh nghiệm tiền nhân.

– Chuột thích ăn mỡ; nếu mở đựng trong chai thì chuột ta cho đuôi vào chai cho mỡ thấm vào đuôi rồi rút đuôi ta liếm, từ từ thưởng thức, chứ không cần làm ngã chai cho mỡ đổ ra.

– Chuột có thể ăn cắp quả trứng,. Muốn thế nó cần phải rủ chuột khác  ôm quả trứng, rồi chuột ta gặm đuôi chuột này  kéo về hang. Chuyện này sẽ được kể rõ ràng ở phần dưới, mục: Chuột Trong Văn Chương.

  1. Mối lợi ca chuột: Món ăn
  1. Tht chuột món ăn tuyệt vời

Ngoài những cái hại như phá phách, gieo bệnh như đã biết, chuột cũng mang lợi ích cho loài người. Đó là một nguồn thịt to lớn. Thịt chuột được ăn thường là chuộc đồng.

   – Ngày xưa người La Mã ăn thịt chuột ngủ Glis glis thuộc gia đình Gliridae.

   – Người Trung Hoa, Việt Nam và nhiều dân tộc khác trên lục địa Á-Phi- Trung, Nam Mỹ đều ăn thịt chuột. Ở Việt Nam người ta quay chuột như quay gà và làm mắm chuột, khô chuột.

   – Riêng người Việt ở các tỉnh đồng bằng sông Cữu Long, thường ăn các loại chuột đồng/Microtus vì loại chuột nầy chỉ ăn lúa, ốc cua ngoài đồng, mập sạch thịt thơm ngon, khác với chuột ở thành phố vì dơ bẩn ở hang cống nhiểm bệnh,

    – Chuột lại là món ăn ngon lành béo bở của nông dân với các món: Chuột nướng trui, chuột rô ti, chuột xào lăn, chuột xào bún nấm củ hành… Bắt được nguyên ổ chuột con còn đỏ hỏn thì cho vào hũ rượu đế ngâm chừng ba tháng là uống được. Nghe nói thứ rượu chuột nầy trị bịnh trật đả thấp khớp rất công hiệu. Theo y học dân tộc cổ truyền thì thịt chuột đực có thể trị bệnh té ngã, tan máu bầm; phân chuột trị được bệnh kinh phong; còn đất của chuột đùn lên cũng có thể trị bịnh co rút, tê thấp.

  1. Phân biệt chuột đồng và chuột nhà:

– Nhiều người, không phải xuất thân ở chốn đồng quê nên cũng khó phân biệt được chuột nào là chuột đồng, chuột nào là chuột nhà. Chuột đồng có bộ lông rất mướt, màu nâu vàng có xen đen hoặc xám lợt. Ở nhà quê cũng có chuột cống mà chuột cống ở đồng khôngt nhiều, lông chuột cống ở nhà quê cũng màu xám nhưng loại màu xám có pha đen, lông mướt. Sự khác biệt rất dễ nhận thấy. Chuột đồng có dáng dấp khỏe mạnh tươi mát hơn đám chuột nhà. Chuột chui ống cống ở thành thị, sợ ánh sáng, mình ghẻ lở, lông xù, thấy phát sợ thì làm sao làm món ăn nuốt trôi được.

  1. Cách săn bắt chuột

    Sau đây là vài cách săn chuột đồng dưới quê.

    – Săn bắt chuột bằng chó săn

    Săn bắt chuột cần phải có chó săn có tài đánh hơi bắt chuột. Chó săn được tuyển chọn “có nghề”, đúng nòi “chó săn chuột” truyền thống. Chó săn được huấn luyện từ lúc còn nhỏ. Thường thì bắt chuột nhắt, chuột con cho Cún “ngửi” bắt hơi, cho tập vồ, tập cắn, tập tha… (không được ăn, không được cắn chết). Kế tiếp, thả chuột vào hang bắt Cún con đi “tìm”, thả chuột xuống ao cho Cún bơi, ngoạm đưa vào bờ cho chủ. Tập đánh hơi vào các hang xem hang nào có chuột, lúc đó chỉ phải nhẹ nhàng “vẫy đuôi” (báo hiệu) thôi, để chuột khỏi thấy động  mà vọt ra chạy mất… (theo Nguyễn Khôi)

Vào mùa khô, chuột ở tứ tán, không tập trung như mùa nước, thường ở những hang dọc theo kinh, rạch. Dẫn chó theo đánh hơi, hang nào có chuột thì chó dùng hai chân trước cào bới đất, người ta lấy thùng múc nước đổ vào hang, chuột vọt ra một ngách, ngõ khác nào đó. Chúng thường hoảng sợ phóng xuống nước, chó săn nhà ta phóng lội rượt. Trong tích tắc chó cắn được đầu chuột lội vào bờ, chạy đến ngoe nguẩy đuôi nhả ra báo cáo lập công với chủ. Chuột được bỏ vào giỏ, hoặc buộc lại thành xâu. Hang nào, chó không đào bới mà nó đứng sủa hoặc mặt lấm lét thì người ta biết rằng hang đó là hang rắn. Gặp hang rắn hổ mang, loài rắn dữ nhứt, nó cắn, nọc độc truyền sang nhanh, có người không kịp về đến nhà thì đã sôi bọt mồm, ngất ngư và đôi khi chết trên đường về nhà.

    – Săn bắt chuột bằng đăng, lp

   – Cách săn bắt bằng chó trên chỉ có tính cách tài tử, sau đây là cách săn bắt chuột quy mô của Nguyễn Viết Tân:

   ” Lúa vùng này năng xut đã kém, mà chut đng còn phá ddi. Nhng đám lúa gn lung đìa luôn luôn phi ct tr, vì nước sâu nên chín chm hơn chcao. Chut dn về đây nên dưới mt đt in đy du chân chut. Người ta cm đăng, đt lp như bt cá, trên lp còn phmt cái chài, va ngăn chut chy thoát, va có thbt thêm được ít chim c cao đang ln lút dưới bi lúa không bay ra được. Bình thường, lp tre hay lưới chài, bn chut coi có ra gì vi hàm răng sc bén, nhưng lúc đang brượt đui, chúng chlo chy mà thôi. Có đôi khi hdùng phương pháp dm cù: Chng năm mười người chy vòng quanh mt đám lúa hay c, đp nhp xung, càng lúc càng nhvòng li. Sau cùng, cù chcòn ln bng cái nia, chut quay đu vào gia, thò cmy trăm cái đuôi ra ngoài. Người ta nm đuôi tng chú, đp mnh xung đt, ri vt ra phiá sau. Chut lt da, xào sả ớt nhu mt ba, còn bao nhiêu mi đem ra chbán (Nguyễn Viết Tân-Việt Báo)

Cách săn bắt chuột ở miệt thứ của Rạch Giá, Cần Thơ :  Có nhiều cách bắt chuột, ngoài cách đâm, đập, đổ nước, xông khói vào hang chuột phóng ra, người ta đập,”dậm cù” hoặc cho chó lội, rượt theo cắn bắt. Những vùng ở miệt thứ của Rạch Giá, vùng Cờ Đỏ của Cần Thơ hay những vùng nào có nhiều sậy, lác, cỏ ống cao rậm rạp và là nơi sinh sôi nẩy nở chuột nhiều. Người ta dùng trâu hoặc bò đuổi, đi càn quét để chuột sợ chạy rần rần đến chỗ có đăng chận cản lại. Chuột chạy theo chân đăng tìm chỗ trống chui thoát qua nơi đó đã đặt sẵn những cái lọp, có miệng để chuột chạy vào mà lại không có lối ra. Quần bắt chuột như thế có khi một lần được mấy trăm con. (Chuyện Đồng Quê -Trần Văn)

  1. Cách làm tht chuột

– Có hai cách : ở Châu Đốc, Long Xuyên, Cần Thơ… người ta thường dùng nước sôi nhúng chuột vào rồi lột da rửa sạch, chặt bỏ đầu, mổ bụng chỉ lấy gan. Cách làm chuột thứ hai, người ta đập chuột cho thật chết cho vào một bẹ chuối, buộc kín lại hoặc chỉ để trên bẹ chuối, dùng lá cây hoặc rơm rạ đốt một chập chừng hơn năm phút thấy bẹ chuối bị cháy nhiều, lấy chuột ra lột da. Làm chuột cách nầy thịt chuột thơm hơn nhưng tốn công hơn và có thể xem như không sạch bằng lột da bằng nước sôi, có thể tro, bụi than của rơm rạ dính vào da thịt chuột. Lột da bằng cách thui nầy thường thấy ở vùng Trà Vinh, Sóc Trăng, Bạc Liêu. Đường nào cũng tới La Mã, chuột cũng bị lột da.

Làm cách nào cũng được miễn sao chuột được sạch và nhanh, có đủ thời giờ còn để chuột ráo nước rồi người ta ướp nào ngũ vị hương, hành tỏi, xì dầu, bột ngọt. Hồi xưa, lúc tôi còn nhỏ, làm gì có bột ngọt, người ta cho thêm một chút đường hoặc có người không ướp thêm đường, vì thịt chuột đã ngọt và béo rồi.

  1. Vũ̀ng và món thịt chuột miền Nam

   Chuột là món ăn đặc sản của VN bây giờ. Tôi xin nhờ ông Vũ Bằng kể với các bạn về món thịt chuột:

   “Chut săn đưc đem về đập chết ri đem thui, lt da, mbng, ly bt mchcha li lá gan ri đem ngâm nưc phèn, tht chut đdn lên sau ln ln xung mu, trng phau phau và láng bóng như da ngưi trinh n; có đôi chli ng hng lên. Không, không, cách gì anh cũng phi nhn vi tôi rng cái da tht mn màng y ha hn không biết bao nhiêu, hp dn không biết chng nào và trphi anh là Liu HHuê không nói gì, chnếu anh cũng là ngưi như tôi thì mun gì anh cũng phi liên tưng mt cách tc tĩu và ti li đến thân thngc ngà “dy dy sn đúc” ca cô Năm Trng Gà – chng gì cũng ni tiếng là “ngưi đp Long Xuyên” mt thu.

Cái ging chut này thui lên ri lt da ăn mi thit ngon, chứ đem nhúng nưc sôi thì trông như chut chết sình, không nhng đã không đp mt mà ăn vào li không thơm. Bi thế, chut bán chhu hết đu đem thui vàng ri lt da không có ai bán chut sng trphi phi chuyên chttnh này sang tnh khác, tnhà quê ra kch.

Chut lá lt, chut cun, chut xé phay và chut lúc lc. Nhưng làm cho ta sưng ckhu giác, thgiác và thính giác cùng mt lúc có llà cái món chut nưng vàng trên than hng, mrt xung than cháy xèo xèo, bc lên mt mùi thơm điếc mũi còn hơn cbún chbăm và chmiếng ca ngưi Hà Ni. Ngi ở đầu xóm cui xóm chngi thy mùi thơm cũng bt thèm và phi chi đng mt câu cho… đã tc! Rưu đế c nht ngâm sâm và bìm bp, hthmt trăm ngày ly lên ung ri gp mt miếng vàng ngy như mùi da đng, nóng hôi hi, chm nưc mm sả ớt, đim my si xoài thái chri nhai rt ttvà ly hai ngón tay nhón mt tí rau thơm, mt tí húng cây hay mt tí ngò tây, anh sthy – quái! Sao cái tht này nó mm thế nh, mà li ngt, mà li thơm mt cách rùng rn, mê ly thế nh!

Ăn tht gà, tht bò, tht vt, tht heo, xong món này thì đi món khác, điu y ai cũng thy ri và có như thế thì ngưi ăn mi lming và không thy ngán. Ôi chao, đến cái tht chut thì huyn diu lm: nhu tht chut ri, đến lúc ăn cơm li dùng toàn nhng món chut luôn, vy mà chng thy ngán mt ly ông c, trái li vn cngon ơ, ăn mun… chết cơm mà ming vn cmun còn ăn na. Mê không để đâu cho hết là món chut bm nhxào rau mò om cp vi bánh tráng nưng và món chut xào bu ăn va mát va thơm, ta ta như cơm trn vi trng cáy mà li ăn thêm vi my ngn rau sng chùa Hương vy.

Nguyên Đi sTây Ban Nha mà anh va nói đó, lúc y làm Đi sứ ở Trung Hoa, dưi triu Mãn Thanh. Hoàng đế Trung Hoa, Tây Thái Hu có mt ln mi đi din ca mưi tám nưc Âu Mỹ đến dmt ba tic đc nht vô nh, không tin khoáng hu. Dba tic y v, ông ta viết mt hi ký dy bng mt cun sách, thut li tcách tchc, trưng bày, lli thù tiếp, ăn ung cho đến chi tiết các món ăn mà ngưi đu bếp ca nhà vua đã nghiên cu và nu nưng đcho quan khách thưng thc trong hi hp, kinh hoàng, và tán thưng liên tiếp sut ctun – là vì ba tic y kéo dài trong sut ctun, chsao! Ăn ung say sưa ri, ai mun ngcó phòng riêng và ngưi đp như tiên hu h; ai có công vic phi đi, ctnhiên ri li về ăn; còn ai mun đánh bài, ăn thuc, thì sang mt khu riêng có đcác th“tệ đoan xã hi” cdùng thca ri li quay vmà ăn ung, ăn ung thế nào kcho thích khu thì thôi. Vì đc thiên hi ký đó trên dưi hai mươi năm nay ri, anh không thnhhết chi tiết các món ăn lnht, quí nht và ngon nht thế gii đkli cho em thương; chnhtrong các món y có mt món kêu là sâm th. Sâm là cây sâm, thlà chut, sâm thlà chut sâm.

K, sao li có thchut gì là chut sâm?

– Nguyên Đi sTây Ban Nha thut li rng đến món ăn đc bit y thì có mt ông quan đng lên gii thiu trưc ri quân hu dưng lên bàn tic cho mi quan khách mi cái đĩa con bng ngc trong có mt con chut bao tchưa mmt, đhon hn hãy còn ca quy – nghĩa là mt con chut bao tsng. Bao nhiêu quan khách thy thế chết lng đi bi vì nếu phi theo giao tế mà ăn cái món này thì… nht đnh phi… trli hết nhng món gì đã ăn trưc đó. Mi ngưi nhìn nhau. Tây Thái Hu cm nĩa xúc con chut bao tử ăn đcho mi ngưi bt chưc ăn theo. Con chut kêu chi chí, ngưi tinh mt thy mt tia máu vt ra… Hoàng đế Trung Hoa thong thva nhai va suy nghĩ như thmun kéo dài cái thú ăn tuyt diu ra đcho cái thú y thm nhun trí óc và cơ th. Và Ngài nói: “Mi chư v“. Nhưng không mt vnào đng đũa, cngi đơ ra mà nhìn. Tây Thái Hu bèn cưi mà nói đùa: “Tôi tiếc không thm nhun đưc cái văn minh Âu Mca các ngài, nhưng riêng vcái ăn thì tôi thy qucác ngài chm tiến, không biết cái gì là ngon là b. Vmón đó, các ngài có lcòn phi hc nhiu ca ngưi Á Đông”.

Không mt ông nào trli vì có lcác ông đi din y đến lúc y đu bán tín bán nghi không biết ăn chut bao tnhư thế là văn minh hay man dã. Tuy nhiên ngưi ta có thchc chn là chưa có mt nưc nào trên thế gii li có mt món ăn tinh vi, quí báu, cu kỳ đến thế bao gi. Chut mi đẻ đem nuôi trong lng kính cho ăn toàn sâm thưng ho hng và ung nưc sui, đến khi đra con thì ly nhng con đó nuôi riêng cũng theo cách thc đó đcho sinh ra mt lp chut mi, nhưng lp chut mi này vn chưa dùng đưc. Cnuôi như thế đến đi thba, chut mi thc là “thp toàn đi b“, ngưi ta mi ly nhng con chut bao tca thế hmi này ra ăn và ăn như thế tc là ăn tt ccái tinh hoa, bén nhy, khôn ngoan ca ging chut cng vi tt ctính cht ci lão hoàn đng, ci thoàn sinh, tráng dương bthn ca cây sâm vn đưc y lý Đông Phương đt lên hàng đu thn dưc tcchí kim trong tri đt.”   (Món Lạ Miền Nam  V Bằng)

……….

@. Ghi chú thêm về Từ Hi Thái hậu (Cixi 1835 – †1908):  Với đời sống xa hoa ăn uống cầu kỳ, nên người đầu bếp phải biến chế nhiều thức ăn bổ khoẻ cho Thái hậu như: bắt chuột trắng trên núi Ngự Hằng về nuôi lúc mới đẻ con, họ đem nuôi trong lồng kính cho ăn toàn sâm thượng hảo hạng và uống nước suối, đến khi đẻ ra con thì lấy những con đó nuôi riêng cũng theo cách thức đó để sinh ra một lớp chuột mới, nhưng lớp chuột mới này vẫn chưa dùng được. Cứ nuôi như thế đến đời thứ ba, thế hệ chuột nầy là “thập toàn đại bổ”, người ta lấy những con vừa đẻ còn đỏ hồng nên gọi là “chuột bao tử/ pinkie mouse” ăn như thế tức là ăn tất cả cái tinh hoa có tính chất cải lão hoàn đồng, cường dương bổ thận. Dù Thái hậu đã ăn các loại chuột đó, cũng như mỗi ngày đầu bếp nấu 500 nón ăn khác nhau, nhưng bà đã không vượt qua qui luật của tạo hóa.

.Vài món thịt chuột của miền Nam

.  Ngoài các món chính như nướng, rô-ti, còn món chuột áp chảo, xào lá dang, rau ngổ, lá cách, nấu hủ tíu. Người ta còn làm mắm, làm khô, muối sả ớt. Món chuột muối sả ớt, nướng hoặc chiên, người thợ cày rất thích. Sau đây là món rô-ti:

   – Bắc chảo lên bếp, đợi chảo nóng cho một ít mỡ heo vào, nhiều khi không có mỡ heo, người ta lấy mỡ chuột. Đợi mỡ tan cho vào vài tép tỏi. Mỡ phi xong gắp chuột từng con cho vào chảo. Chảo trung bình, không lớn lắm cũng không nhỏ lắm, chiên một lúc nãm, ba con. Lửa riu riu, dù có mất thời giờ một chút, chuột lâu vàng. Nếu đốt lửa cao, mau vàng, gọi là chín háp như trái cây vú ép, thịt chuột hay bất cứ thịt, cá gì cũng không được ngon lắm hoặc không thật chín. Chiên một bên vàng, lật sang bên kia chiên tiếp, từ từ không vội lắm, như thế thịt chuột rô-ti mới thật ngon.

   Trong lúc đợi chuột chín vàng, người đầu bếp còn lo làm nước mắm ớt chanh, tỏi và không quên khi vắt chanh hết nước, thái xác vỏ chanh một ít cho vào nước mắm. Xác chanh màu trăng trắng cùng với màu xanh của vỏ và màu đỏ tươi của ớt nổi lềnh bềnh trên mặt nước mắm màu nâu nhạt, tạo thành nhiều màu sắc thật hấp dẫn. Trong lúc bà nội trợ lo chiên chuột và làm nước mắm thì ông chồng cắt rau, đặc biệt là rau rắp cá, thêm một chút rau răm, rau húng, tía tô, kinh giới hoặc lá quế, rau tần, có rau gì ăn cũng được, sẽ làm tăng cái ngon của thịt chuột. Ăn thịt chuột mà thiếu rau thì quả thật làm giảm độ ngon hết hai, ba mươi phần trăm. Dĩa rau sống đa dạng còn kèm theo nào dưa leo hoặc chuối chát, khế, khóm hay cả đào lộn hột …

Ở nhà quê, còn có loại rau ăn chua chua chát chát như ngành ngạnh, rau chiết, rau chốc, đọt xoài, đọt cây cóc.

(Trích trong Chuyện Đồng Quê -Trần Văn)

.Rat Temple – Đền Chuột; Thiên đường của chuột

.   – Theo tạp chí National Geographic, ngôi đền của đạo Hindu có tên là Karni Mata ở Rajasthan còn được gọi là “Đền Chuột” (Rat Temple). Nơi đây có khoảng 25.000 con chuột sinh sống và được mọi người “tôn kính”. Đó là “thiên đường” của chuột.

Karni Mata là tên của một vị nữ thần, bà ước muốn có một ngôi nhà cho loài chuột mà kiếp trước là “những người hành nghề kể chuyện” (storytellers). Vào năm 1900, một ngôi đền được xây dựng để vinh danh thần Karni Mata và… những con chuột. Một đội ngũ nhân viên hơn 500 người có nhiệm vụ hàng ngày nuôi chuột bằng hạt ngũ cốc và sữa, đồng thời họ cũng có trách nhiệm làm vệ sinh trong đền.

   – Theo nguồn khác thì Karni Mata Temple là một ngôi đền Ấn độ giáo nằm cách thành phố Bikaner 30 km, trong vùng Rajasthan. Ngôi đền này được dựng lên để thờ phụng Karni Mata, một vị thần của Ấn độ giáo.

Theo truyền thuyết, người con trai yêu quý của Karmi Mata là Laxman bị chết đuối khi xuống hồ uống nước. Thần Karni Mata cầu khẩn Tử thần giúp con ông sống lại. Lúc đầu thì bị từ chối , nhưng sau nể tình Karni Mata, thần chết cho Laxman và tất cả các người con trai khác của Karni Mata được đầu thai làm chuột.

Ngôi đền là “thiên đường” của hơn 25,000 chú chuột. Các chú tha hồ ăn thức ngon vật lạ và uống sửa tươi do thí chủ cúng dường. Các chú ăn no rửng mở nên sanh đẻ đông nhung nhúc.

.Chuột trong phim nh

      Về phim hoạt họa của Walt Disney (1901-1966) với hàng trăm nhân vật do ông dựng nên. Trong số đó, có khá nhiều chó, mèo. Riêng chú chuột láu lỉnh Mickey dễ thương này được tạo ra năm 1928 bởi họa sĩ Ub Iwerks và ông Walt Disney lồng tiếng. Hãng phim Walt Disney ấn định ngày sinh của chú chuột này là ngày 18 tháng 11, thời điểm tung ra (năm 1928) bộ phim Steamboat Willie ở New Yorker. Sau sự thành công đó các phim ra đời. Mickey and the Beanstalk-Mickey’s Christmas Carol. Micky, Donald & Goofy im Märchenland. Walt Disney lồng tiếng cho Mickey từ năm 1928 đến 1946, sau đó chuyên gia hiệu ứng âm thanh James G. MacDonald đảm nhiệm vai trò này. Hiện nay, giọng nói của Mickey được thể hiện bởi Wayne Allwine. Doanh thu hàng năm phim lên đến hơn 2,2 tỷ đô la. Disneyland không thể vắng bóng chú chuột dễ thương chào đón quan khách.

     Con chuột Mickey trong tranh và phim hoạt họa Walt Disney, có lẽ là chú chuột lừng danh nhất thế giới hiện đại. Hãng phim này trong năm 2007 đã sản xuất một phim hoạt họa lừng danh, đoạt nhiều giải thưởng quốc tế,  « Ratatouille », một cách chơi chữ, lấy tên một món ăn bình dân, tương đương với món bung của ta, và bắt đầu bằng tiếng Rat (chuột).

ty chuot 3

                             (Hình chuột Mickey)

  Mèo chuột nếu theo nghĩa đen của người Việt chúng ta ám chỉ người đàn ông lập gia đình mà có thêm bồ bịch, nhưng trong show hoạt hoạ nổi tiếng mèo là Tom, chuột là Jerry thì khác. Show hoạt họa ” Tom and Jerry”, rất hấp dẫn chinh phục khán giả của mọi lứa tuổi. Show nhiều tập Tom and Jerry do Cty MGM sản xuất tại Hollywood từ năm 1940 đến 1967 được 161 show hoạt hoạ chiếu trên Tivi cũng như ở Kino được nhận giải Oscar, do hai đạo diễn William Hanna và Joseph Barbera được người ta gọi là “The king of Tom and Jerry”. Năm 2000, tạp chí TIME công bố Tom and Jerry là một trong những show truyền hình hay nhất mọi thời đại.
     Phim ” Ratatouille”, kể chuyện con chuột Rémy chạy lạc vào một tiệm ăn lớn ở Paris, lừng danh là nơi có nhiều tiệm ăn ngon. Tình thế đẩy đưa, chú chuột Rémy trở thành một đầu bếp xuất sắc, được làng chuột Paris bảo vệ và ủng hộ. Phim có tính cách ngụ ngôn, vui nhộn, truyền cảm;  nhạc hay, ý nhị, tinh tế. Phim ” Ratatouille” cũng đã được nhiều giải thưởng trên thế giới (Theo Nguyễn Quý Đại)

  1. Vài việc liên quan đến chữ chuột
  1. Cuộc sống ngày càng văn minh, hiện đại chuột cũng đi vào lịch sử máy điện toán – computer với “computer mouse”: tiếng Việt gọi là “con chuột máy tính”. Đây chính là “thiết bị ngoại vi” giúp người sử dụng có thể theo dõi sự di chuyển trên màn hình. Douglas Engelbart phát minh ra nó năm 1963, ông gọi là “con chuột” chỉ vì cái đuôi có dây nối với máy vi tính giống như… con chuột. Ngày nay còn có “chuột không dây” nhưng vẫn bị gọi “chết tên” là… con chuột!

      Con chuột là bộ phận thân thiết nhất với bàn tay, có lẽ dịch từ tiếng Anh Mouse, tiếng Pháp Souris, là chuột nhắt, chứ không phải là chuột cống, Rat, mang âm vang xấu hơn.

     – Chữ Mouse (Chuột) được thịnh hành kể từ khi thế giới bước sang thời đại computer.

     – Chữ Rat trong tiếng Anh còn có nghĩa là kẻ phản bội, phản đảng.

  1. Chuột rút (Krampus), hay vọp bẻ, là cảm giác đau gây ra bởi sự co rút, thường là co cơ. Chuột rút có thể xảy ra với những vận động viên thể thao hoạt động với cường độ cao, mất nước và khoáng chất do ra mồ hôi nhiều, Chuột rút chân lúc ngủ đêm là sự co cơ có thể xảy ra ở cơ bắp chân, cơ bàn chân trong lúc ngủ hay nằm nghỉ. Triệu chứng có thể là cẳng chân duỗi đơ với các ngón chân quắp xuống. Chuột rút kiểu này có thể xảy thoáng qua trong vài giây hoặc vài phút và sự đau kéo dài một lúc sau đó. Chuột rút kiểu này hay xảy ra với người lớn tuổi, nhưng cũng có thể xảy ra với bất cứ ai. Có thể lý do là thiếu một số khoáng chất như: Magnesium, thiếu nước hoặc nằm bất động lâu quá. bệnh giãn tĩnh mạch hoặc xơ vữa mạch máu. Theo kinh nghiệm nếu bị chuột rút chân trái đưa tay phải lên, hoặc ngược lai sẽ hết.
  2. Bị chuột cắn cũng nguy hiểm như bị chó dại cắn vì nước miếng chuột rất độc.

CHUỘT TRONG VĂN CHƯƠNG

chuot an cap

     (Hnh chuột ăn cắp trứng)

  1. Chuột Rồng: Long Th

Chuột ăn cắp trứng rất hay. Các bạn sẽ biết được chúng làm như thế nào trong truyện sau đây, (thay vì trứng, chuột ôm chuông) nói về một con chuột kỳ dị gọi là Long Thử của ông Hồ Hữu Tường, trong truyện ngắn nổi tiếng một thời của cụ: “Con Thằn Lằn Chọn Nghiệp”.

Truyện rằng: Con thằn lằn vốn biết nguyện vọng của nhà sư: là hễ tụng xong lần cuối cùng thứ một nghìn, thì nhà sư sẽ lên giàn hỏa mà tự thiêu;  nó nghĩ: nhà sư lòng còn mê tín nên muổn cứu. Con thằn lằn uống dầu của đỉa đèn cho tắt lữa, không cho nhà sư đọc kinh Phật được, Phát hiện ra, nhà sư mới giận, tay cầm dùi mõ nhắm ngay đầu con thằn lằn mà đập mạnh. Con thằn lằn bị đánh vỡ đầu chết.  Sau đó con thằn lằn đầu thai thành con chuột, có hình dạng giống con rồng.

   “…Bởi là do con thằn lằn đầu thai, nên khi chuột ta sanh ra, thì hình vóc còn mang máng giống con thằn lằn. Mẹ nó lầm tưởng là rồng. Bèn đặt tên cho nó là Long Thử.

Long Thử lớn lên, có vẻ trầm ngâm, đạo mạo. Lời nó kêu chít chít nào, nghe cũng có ý nghĩa ưu thời mẫn thế. Một hôm, nó gọi một bạn chuột lực lưỡng theo nó. Té ra, nó đã gặp được một nơi góc tàu ngựa, một cái lục lạc to bằng quả trứng, nên về gọi bạn theo nó. Đến nơi, nó nằm ngửa ra, ôm lục lạc vào lòng, và bảo bạn cắn đuôi nó mà kéo, như là kéo xe vậy. Kéo nó tới đâu, thì tiếng lục lạc kêu lên rổn rảng. Mà bạn nó, vì cắn đuôi nó mà kéo, đi chỉ nghe theo lịnh nó chít chít điều khiển, nên chẳng biết trước sẽ hướng vào đâu, thành ra không sợ sệt chi. Long Thử ra lịnh cho kéo đến lão mèo, tính đem lục lạc mà mang vào cổ lão mèo, như trước kia, lúc nó còn là hồn con thằn lằn, nó đã nghe nói vậy.

Nằm một góc, lừ đừ, lão mèo nghe vang tiếng lục lạc. Bèn giương mắt nhìn, chẳng biết con gì, đầu chẳng thấy mặt mũi chi, chỉ thấy một cái vòi quơ qua quơ lại, để tìm phương hướng, lại có đến tám chân, bốn chân để đi, bốn chân lại chổng lên mà nghỉ, mà kêu rống chẳng ngơi. Lão mèo quá sợ nhảy phóc lên nóc nhà, kêu “miao! miao!” rất là kinh hãi.

Lũ chuột núp trong hang, nãy giờ thấy mèo rình không dám ra. Bây giờ thấy mèo hoảng nhảy đi bèn nà ra. Con nào đói thì mau mau đi tìm mà ăn vụng. Một số đông lại bu quanh Long Thử, lên tiếng chê bai:

– Việc này có gì là khó. Ai mà nằm ngửa ôm lục lạc chẳng được? Vì lối ăn cắp trứng ấy, chuột nào mà chẳng biết? Chỉ vì mèo dại, thấy hai con chuột cắn đuôi nhau, lầm tưởng là con quái gì, mà sanh sợ thôi!

Chẳng dè, nằm trên mái nhà, lão mèo nghe và hiểu tiếng chuột. Lão nhìn xuống, thấy quả là Long Thôm lục lạc, nằm ngửa cho một con chuột khác cắn đuôi; và cái mà lão lúc nãy tưởng đâu là cái vòi quơ qua quơ lại, thật sự, chỉ là cái đuôi chuột! Lão vừa thẹn cho lão, vừa phục Long Thử đa mưu, vừa phát ghét lũ chuột vô ân, đã buông lời chê bai kẻ mới cứu mình khỏi nạn. Từ trê mái nhà, lão mèo phóng xuống, mỗi một tay hay chơn, sè vuốt mà móc họng một chuột.

Tất cả các chuột khác hoảng chạy tứ tán. Long Thử và bạn nó cũng giựt mình hoảng hốt chạy theo, chun vào   hang mà trốn. Chừng tinh thần định tỉnh lại, lũ chuột bèn lập tòa án chuột để mà xử Long Thử. Long Thử bị buộc tội là Thử gian, làm chuột mà lãnh lịnh của mèo, hại loài chuột của mình. Bằng cớ là bấy lâu nay, lão mèo mỗi lượt chỉ móc họng được một chuột mà thôi; còn bây giờ, mèo và Long Thử toa rập, để cho mèo giết một lần bốn trự chuột. Nếu không phải nhờ Thử-gian đồng lõa mà giúp, dễ gì mèo chụp một lượt đến bốn chuột? Lời buộc tội quá hữu lý như vậy, đủ bằng cớ thiết thực như vậy, dễ gì Long Thử đem tâm tình của mình, một tâm tình vô hình, không biết tựa vào đâu, để mà chứng minh, để nói rằng mình chỉ có lòng cứu độ loài chuột, chớ chẳng có dạ phụng sự cho mèo để hại chuột? Long Thử bị kết án tử hình. Điều này nó dễ chấp nhận, nếu nó phải đem cái chết của nó làm điều kiện, để cứu độ loài chuột, mà nó quá thương yêu. Song cái bản án của nó, “tội Thử gian,” làm cho nó đau khổ vô cùng; vì nó mang một cái oan vô tận, không ai giải cho được.(Con Thằn Lằn Chọn Nghiệp – Hồ Hữu Tường)

Sao các bạn, nghĩ sao về Long Thử?

  1. Của Chuột Và Người ca John Ernst Steinbeck Jr.

   Của Chuột Và Người – Of Mice and Men:  Sách xuất bản tháng 2/1937, thời kinh tế Mỹ khủng hoảng, kể về tình bạn và những ước mơ chung của George và Lennie, hai công nhân nông nghiệp lang thang khắp nơi để kiếm sống.

Lấy bối cảnh nước Mỹ thời Đại suy thoái, cuốn tiểu thuyết mỏng đã trở thành kinh điển này kể một câu chuyện chân thực và hấp dẫn, dù bi kịch, về hai kẻ bên lề cố gắng tìm lấy một chỗ cho mình trong một thế giới nghiệt ngã. Lang thang khắp nơi tìm việc, George và Lennie, người bạn to lớn ngờ nghệch của hắn, chẳng có gì ngoài nhau và một giấc mơ chung: rằng một ngày nào đó họ sẽ kiếm đủ tiền để mua một trang trại. Nhưng rồi cũng như trong câu thơ của Robert Burus-  “Những dự tính hoàn hảo của chuột và người thường không thực hiện được” – đã gợi cảm hứng cho nhan đề tác phẩm này, như trong chính cuộc đời này, những dự định tốt nhất thường đổ bể, những giấc mơ đẹp nhất thường không thành, mọi hy vọng của họ đã bị kết liễu ngay khi số phận đẩy Lennie ngờ nghệch đến chỗ gây ra một tội lỗi bất khả sửa chữa, để rồi từ đó hy vọng lao thẳng tới thất vọng và tất cả rơi vào một kết cục bi thảm không thể vãn hồi…

John Ernst Steinbeck Jr. (1902–1968) là nhà văn vĩ đại người Mỹ từng giành giải Pulitzer năm 1939 và Nobel văn chương năm 1962.Ông để lại một sự nghiệp đồ sộ với hàng chục tiểu thuyết, truyện ngắn và sách phi hư cấu, trong đó đáng chú ý nhất có thể kể đến Của chuột và người (1937), The Long Valley (1938), The Grapes of Wrath (1939), East of Eden (1952), The Winter of Our Discontent(1961), và Travels with Charley (1962).

  1. Chuột trong văn chương
  1. Thảo Thử Hịch của Nguyễn Đình Chiểu

     Cụ Nguyễn Đình Chiểu, 1822-1888, có bài Thảo thử hịch (Hịch đánh chuột) toàn bài gồm 40 câu. Cụ đồ Chiểu đã mượn con chuột để chỉ bọn tham quan ô lại, những kẻ cường bạo hại dân, pha hoại luân thường đạo lý, chia rẽ cha con, chồng vợ… Nói tóm lại con chuột tiêu biểu cho tà gian, cường bạo; vì thương dân yêu nước, bảo vệ đạo lý nên phải ra lệnh tiêu diệt hết loài gian ác:

.

  Gọi danh hiệu : chuột xạ, chuột lắt, chuột chù, chuột cống, anh em dòng họ nhiều tên;

 Tra quán chỉ ; ở nhà, ở ruộng, ở lạch, ở ngòi, bầu bạn non sông lắm lối

Lớn nhỏ răng đều bốn cái, ăn của người thầm kín biết bao nhiêu;

Vắn dài râu mọc hai chia, vắng mặt chủ hung hăng đà lắm lúc

Cớ sao đem lòng qu quái;

Cớ sao còn làm thói gian tham?

Nền x tắc là nơi báo bổ, can chi mi đào lỗ đào hang?

Sâu hiểm bấy tấm lòng nghiệt thử cục cứt ra cũng nhọn hai đầu;

Báu xót chi manh áo thử cầu, tấm da lột không đầy ba tấc.

Giận là giận trộm đồ bàn Phật, trốn án mà xưng vương;

Căm là căm cắn sách kẻ nho, đành lòng mà phá đạo.

Ví có ngàn giòng nước khảm, khôn bề rửa sạch tội đa dâm;

Dẫu cho muôn nén vàng đoài, cũng khó mua riêng hình bất xá.

Chớ để con nào sơ lậu, phi ra tay lấp lỗ tam bành;

Đừng cho chúng nó xẩy ra, phi hết sức trừ đồ lc tặc.(Thảo thử hịch – Nguyễn Đình Chiểu )

Chuột bị kết án đa dâm vì … mắn đẻ.

  1. Vài Thành ngữ nổi tiếng

   – Mèo khóc Chuột – Miêu Khốc Lão Thử , ý muốn nói: Chỉ làm bộ thương xót mà thôi! Cả câu là “Miêu khốc lão thử giả từ bi” Mèo khóc chuột là lòng từ bi giả dối, để che mắt thiên hạ nhằm muốn đạt được một mục đích nào đó.

Thành ngữ Miêu Khốc Lão Thử có xuất xứ từ truyện Thuyết Đường, hồi thứ 62. Đây là câu nói mỉa mai của tướng Trình Giảo Kim nói với Tần Vương Lý Thế Dân, khi Tần Vương đến điếu tang tiểu tướng La Thành vừa mới bị Ân Tề nhị vương hại chết. Trình Giảo Kim cho là Tần Vương chỉ giả bộ thương xót để cho các tướng khác cảm động mà liều mình bán mạng để giúp nhà Đường tạo dựng nên cơ nghiệp mà thôi, chớ chẳng phải thương xót thật tình. Nên câu… Mèo khóc Chuột có nghĩa tương đương như là câu “Nước mắt cá sấu” của ta vậy.

   – Chuột Sa Hũ Nếp để chỉ người gặp dịp may đưa đến bất ngờ mà trở nên no đủ giàu sang, thường dùng để mĩa mai những người ở rể cho các nhà giàu.

.

Gió bấc non thổi lòn hang chuột,

Thấy chị hai mầy… tao đứt ruôt đứt gan!

Khi đã được vào làm rể để cùng ngủ chung một nhà rồi, đến đêm cô gái đã ướm thử lòng và thách thức chàng trai:

Chuột kêu chút chít trong lò,

Lòng anh có muốn thì mò lại đây!

.

Thách thức xong, cô lại sợ chàng trai hưng phấn quá mà bộp chộp không cẩn thận, nên lại nhắc nhở:

.

Chuột kêu chút chít trong rương,

Anh đi cho khéo, kẻo… đụng giường má hay!

Cái anh chàng làm rể nầy cũng lém lỉnh lắm, anh ta đã liệu trước tình huống lỡ mà xảy ra:

Má hay má hỏi đi đâu? Thì đáp là…

Con đi bắt chuột cho mèo con ăn!

(Theo Đỗ Chiêu Đức)

.

   – Tai Voi Mặt Chuột để chỉ tướng mạo khuôn mặt của những kẻ tiểu nhân nham hiểm, tâm địa hung ác hay phá phách và hại người khác.

   – Cháy Nhà Mới Lòi Ra Mặt Chuột để chỉ chuyện gì đó hay người nào đó đến nước cuối cùng mới để lộ ra cái xấu, cái âm mưu thâm hiểm của mình.

     – Chuyện mèo chuột: Cảnh “mèo rình chuột” hầu như diễn ra hàng ngày nhưng không hiểu sao người ta lại hay dùng thành ngữ “chuyện mèo chuột” để diễn tả một cuộc tình thơ mộng của đôi trai tài, gái sắc. Có ẩn ý gì chăng?

Hình như trong lối nói đó có hàm ý mèo là “chàng” và chuột là “nàng”: Chàng sẽ “ăn tươi nuốt sống” nàng?. Chắc không? Biết đâu ngược lại nàng chính là con mèo lanh lợi, còn chuột lại là chàng vốn khù khờ nên bị nàng “ăn gỏi”. Xem ra thì một bên tám lạng bên kia cũng vừa nửa cân, không biết “mèo nào cắn mỉu nào”

  1. Ca dao tc ngữ về chuột

.

  – Con mèo trèo lên cây cau

Hỏi thăm chú chuột đi đâu vắng nhà

Chú chuột đi chợ đường xa

Mua mắm mua muối giỗ cha chú mèo

.

  – Chuột chù chê khỉ rằng hôi,

Khỉ lại trả lời: cả họ mầy thơm

chuột chê xó bếp chẳng ăn

Chó chê nhà dột ra nằm bụi tre.

.

  1. Ngôn ngữ Việt Nam đề cập nhiều đến chuột như:

Cháy nhà ra mặt chuột.

Chuột đội vỏ trứng (người đạo đức giả)

Chuột sa hủ nếp (nam nhân nghèo nhưng có vợ giàu)

Chuột gặm chân mèo (không biết lượng sức khi gặp một đối thủ mạnh hơn)

Chuột cắn dây buộc mèo (dại dột khi cứu kẻ hại mình)

.

  1. Chuột trong tướng mệnh

Các thầy tướng Đông Phương cho rằng người có tai nhỏ như tai chuột thì không thọ và người có mặt như mặt chuột thì không phải là đấng trượng phu quân tử.

***

   Qua trên, đó là những gì tôi đã sưu tầm và tổng hợp cho có hệ thống mạch lạc, mong các bạn tìm thấy ở đây vài điều lý thú và vui trong ba ngày Tết. Chúc Xuân mới anh khang và thịnh vượng.

Nguyên Lc

……………

Nguồn tham kho: Nguyễn Đình Chiểu, Vũ Bằng, Hồ Hữu Tường, Đặng Tiến, Đỗ Chiêu Đức, Nguyễn Quý Đại, Phạm Đình Lân, Nguyễn Viết Tân, Trần Văn, Nguyễn Ngọc Chính, Wikipedia …

NĂM TÝ LẠM BÀN CHUYỆN CHUỘT (1)

Nguyên Lạc
ty chuot 4

Dẫn nhập:
Nhân dịp Xuân về, Nguyên Lạc tôi gởi đến các bạn bài LẠM BÀN về Tý/ Thử/ Chuột này cùng với lời chúc an khang và thịnh vượng. Mong các bạn tìm thấy được vài điều lý thú, đáng quan tâm.
Nào, mời các bạn nâng ly cùng hát!
.
Ngày xuân nâng chén ta chúc nơi nơi!

Nhấp chén đầy vơi
Chúc người người vui!

Nhấc cao ly này!
Hãy chúc ngày mai sáng trời tự do
Nước non thanh bình
Muôn người hạnh phúc chan hoà!
(Ly rượu mừng – Phạm Đình Chương – 1975)
.
*
Để vào bài, mời thưởng lãm bài thơ về năm chuột “hết ý” của “lão niên thi sĩ” Hoàng Xuân Sơn:
.
N ă m c h u ộ t
.
Hoang mang với đá tai mèo
Ờ con chuột nhắt/ Cứ trèo lên/ Xem
A/ Năm tí rồi sao? hèn
gì lũ nhỏ cứ bon chen/ hà rầm
Mình cứ một tuổi/ dập. bầm
vẫn xuân lai láng/ còn hăm/ động đình
Con chuột/ Be bé/ Xinh xinh
Xin đừng cắn cái dập dình/ Nước/ Nôi
(Hòang Xuân Sơn)
.
Phần I
TỔNG QUÁT VỀ TÝ/ CHUỘT

VỀ CHỮ TÝ
Năm mới này là năm Canh Tý. Tý là gì? Canh là gì? Ta thử bàn xem:
1. Tý
– Nghĩa Tiếng Nôm: Có vài nghĩa như: Tí tẹo, tí hon; một tí; phong thấp; phong tê liệt; cánh tay …
– Nghĩa tiếng Hán Việt: Có rất nhiều nghĩa, nhưng nghĩa chúng ta chú ý nhất cho bài viết là nghĩa này: – Tý 子 đứng đầu Thập Nhị Địa Chi, cầm tinh Thử 鼠 là con Chuột.

Tuổi Tý là con chuột nhà
Bắt vịt bắt gà khoét lỗ đào hang.
(Bài Vè 12 Con Giáp)

– Đứng đầu Thập Nhị Địa Chi là Tý 子, cầm tinh Thử 鼠 là con Chuột: Vậy năm Tý là năm Chuột, Chuột được gọi một cách văn vẻ là Thử.
Chuột là loại gặm nhấm có xương sống, máu đỏ, sinh con.
Tên khoa học của chuột là Mus musculus thuộc gia đình Muridae.
Tên gọi thông thường của chuột là:
.
Việt Nam: Chuột; Thử (Hán Việt)
Anh: Rat; Mouse (chuột nhà)
Pháp: Rat; Souris
Trung Hoa: 子 zǐ ; 鼠 Shu (âm thành Thử)
Nhật Bản: Nezumi (chuột lắc), Sozoku (chuột lớn)
Hàn: 자 ja
.
2. Canh: Sơ lược về Can và Chi

a. Can Chi (干支), đôi khi gọi dài dòng là Thiên Can Địa Chi (天干地支) hay Thập Can Thập Nhị Chi (十干十二支), là hệ thống đánh số thành chu kỳ được dùng tại các nước có nền văn hóa Á Đông :

b. Thiên Can được xác định và hình thành dựa vào năm Hành, phối hợp âm dương: Giáp(1) ất (2) bính (3) đinh(4) mậu (5) kỷ (6) canh(7) tân (8) nhâm (9) quí (10).
– Số lẻ là dương can (giáp, bính, mậu, canh, nhâm)
– Số chẵn là âm can (ất, đinh, kỷ, tân, quí)
– Ngày lẻ là dương can – thiên về đối ngoại và ngày chẵn được xem là âm can – thiên về đối nội.

c. Địa Chi được tính dựa vào tuổi của mỗi người – tức 12 con giáp và mỗi con giáp ứng với 1 con số: Tý (1), Sửu (2), Dần (3), Mão (4), Thìn (5), Tỵ (6), Ngọ (7), Mùi (8), Thân (9), Dậu (10), Tuất (11), Hợi (12).
Những Địa chi có số thứ tự là số lẻ được xem là dương chi: Dương chi chỉ kết hợp với dương can. Tương tự, Địa chi số chẵn là âm chi và chỉ kết hợp với âm can.
d. Mỗi năm theo Thập Nhị Đại Can tức: Tý, Sửu, Dần, Mẹo Thìn, Tỵ, Ngọ, Mùi, Thân, Dậu, Tuất, Hợi. chiếu theo cung Hoàng đạo, chuột là con vật đầu tiên trong 12 con giáp, chuột nhỏ bé nhưng thông minh và lém lỉnh.
Cứ 60 năm (Lục thập hoa giáp) ta có năm cùng can chi. Thí dụ: Năm 1960 là năm Canh Tý, năm 1960 + 60 = 2020 cũng là Canh Tý.

3. Canh Tý
Năm 2020 là năm Canh Tý 庚子. Canh là ngôi thứ 7 của Thiên Can. Kể về âm dương ngũ hành thì Canh Tân thuộc Kim là Vàng; còn Tý thuộc Thử 鼠 là con Chuột. Nên Canh Tý là con Chuột Vàng.

4. Đêm 5 canh, ngày 6 khắc
Năm Tý đứng đầu Thập Nhị Địa Chi, nhưng tháng Tý không phải là tháng Giêng mà là tháng Mười Một, và giờ Tý không phải là buổi sáng đầu ngày mà là nửa đêm từ 11pm cho đến 01 am của ngày hôm sau; theo như câu nói của dân gian là:
Nửa đêm, giờ Tý, canh ba …
.
Tháng Tý là tháng 11; giờ Tý từ 23 giờ đến 1 sáng – canh ba
Theo người xưa:
a. Đêm 5 canh: mỗi canh 2 giờ.
– Canh 1: Từ 19 giờ đến 21 giờ tức giờ Tuất/ Canh 2: Từ 21 giờ đến 23 giờ khuya tức giờ Hợi/ Canh 3: Từ 23 giờ đến 1 giờ sáng tức giờ Tý/ Canh 4: Từ 1 giờ đến 3 giờ sáng tức giờ Sửu/ Canh 5: Từ 3 giờ đến 5 giờ sáng tức giờ Dần/

b. Ngày 6 khắc: mỗi khắc 2 giờ 20 phút.
– Khắc 1: Từ 5 giờ đến 7 giờ 20 sáng/ Khắc 2: Từ 7 giờ 20 đến 9 giờ 40 sáng/ Khắc 3: Từ 9 giờ 40 đến12 giờ trưa/ Khắc 4: Từ 12 giờ đến 14 giờ 20 xế trưa/ Khắc 5: Từ 14 giờ 20 đến16 giờ 40 chiều/ Khắc 6: Từ 16 giờ 40 đến 19 giờ tối.
.
Nửa đêm giờ Tí canh ba
Vợ tôi con gái đàn bà nữ nhi
– Nửa đêm, giờ tý, canh ba: Đều là thời điểm lúc nửa đêm.
– Con gái, đàn bà, nữ nhi đều nói về một việc: Vợ tôi là giới nữ.
.
Đúng là “huề vốn” phải không các bạn?
.
5. Chuyện vui về tuổi Tý
Còn về tuổi? Bạn đã từng nghe qua chuyện Tuổi Tý chưa?
Tậng các bạn chuyện vui – hay buồn? – này. Mời xem.
Chuyện rằng:

“Có một nhà nho thi đỗ, được vua bổ nhậm làm tri huyện ở một huyện nọ. Ông rất thanh liêm, không bao giờ nhận của đút lót; do đó, khi về hưu, ông trở về quê sống rất đạm bạc với người vợ già trong căn nhà nhỏ trên mảnh đất hương quả.
Cuộc sống ngày càng khó khăn, thiếu trước hụt sau. Hàng ngày, ông ra vào thở vắn than dài. Nhớ mùi thịt béo, nhớ hơi rượu nồng mà ông thiếu vắng bấy lâu nay. Người vợ nhìn chồng mà đau đứt ruột.
Rồi một buổi nọ, người vợ dọn lên bàn một đĩa thịt gà và một chai rượu tăm. Mùi rượu thịt xông lên làm ông rỏ dãi. Chưa kịp hỏi vợ, ông gắp nhai một miếng thịt, chiêu một hớp rượu rồi khà một tiếng rõ to.
Một luồn sảng khoái rần lên trong người. Ôi hạnh phúc!
Ông tì tì thưởng thức, thoáng chóc đã sạch láng rượu thịt. Xong tiệc, mặt mài hớn hở, ông hỏi bà vợ:
– Đâu mà bà có được điều tuyệt vời này?
– Dạ thưa quan anh, thiếp thành thật không dám giấu giếm. Số là lúc quan anh còn làm tri huyện, một bữa nọ có một thương nhân đến lén gặp thiếp và hỏi tuổi quan anh; hắn nói là sẽ tặng quan anh một món quà đặc biệt cho sinh nhật. Thiếp nói rằng quan anh tuổi Tý. Ngày hôm sau anh ta lén đưa thiếp một con chuột nhỏ bằng vàng. Thiếp vội giấu cho đến tận bây giờ, làm của phòng thân lúc khó khăn. Gần đây, thiếp không đành nhin quan anh rầu buồn, nên mới đem bán nó mua chút rượu thịt và một số gạo thóc dành cho việc ăn uống hàng ngày. Xin quan anh thứ lỗi.
– Chậc chậc, ông nhà nho tặc lưỡi, tiếc quá, tiếc quá!… phải chi bà …sụt tôi một tuổi, nói tôi … tuổi Sửu”.
(Kể theo trí nhớ chuyện tôi đã đọc trước 1975 – Không nhớ tên tác giả)[ trong Chuyện Vui Cuối Tuần – Nguyên Lạc]

.
VÀI NÉT TỔNG QUÁT VỀ CHUỘT

1.
a. Chuột được tìm thấy khắp nơi trên thế giới ngoại trừ Nam Băng Châu. Ngay cả Greenland và Iceland là những vùng băng giá quanh năm cũng có chuột sinh sống. Chuột là loài ăn tạp. Chúng ăn khoai củ, lúa thóc, thảo mộc, thịt, cá và các sinh vật nhỏ khác.
Chuột kiếm ăn ban đêm nhưng thị giác của chuột lại kém. Bù lại thính giác của chuột rất tinh. Khứu giác của chuột rất tốt. Người ta dùng chuột để khám phá bãi mìn, bịnh tật của loài người hay thử nghiệm thuốc. Chuột có thể nghe những tiếng động nhẹ cách xa 10- 15 m dễ dàng. Chuột có bốn chân. Hai chân sau to lớn và mạnh nên chạy và phóng nhảy rất nhanh. Nên mới có nhóm chữ nhanh như chuột lắc.
Trong các loài động vật chuột và thỏ nổi tiếng về khả năng sinh sản. Một con chuột mới sinh được 02 hay 03 tháng tuổi bắt đầu yêu đương, mang thai và sinh con. Một con chuột cái có thể có từ 24 đến 72 con chuột con trong một năm. Ở Mỹ Châu có lộc thử (deer mouse) mang tên khoa học Peromyscus maniculatus thuộc gia đình Cricetidae sinh 14 lứa trong một năm! Chuột cái vừa sinh đã quan hệ tình dục với chuột đực và mang thai trong vòng 24 giờ đồng hồ sau. Thời kỳ mang thai chỉ kéo dài lối 30 ngày mà thôi. Ba mươi (30) ngày sau có thêm một bầy con khác. Mỗi lứa có từ 04 đến 12 con chuột con. Tuổi thọ trung bình của chuột xê dịch từ 1 đến 3 năm. Trong thời kỳ động cỡn một chị Chuột có thể ái ân chăn gối với hàng trăm người yêu khác phái trong một đêm. Các chuột con mới sinh không có lông, mình trần trụi, da mỏng màu đỏ hồng. Vì vậy người Anh gọi các chuột con mới sinh là pinkies.
Vì mắn đẻ nên chuột bị kết án đa dâm.
.
b. Chuột là loài gặm nhấm, đại cương ta có:
– Chuột nhà nhỏ con nhưng phá hại đồ đạc và gây nhiễm độc cho thức ăn trong nhà đáng kể. Ở các nước Âu- Mỹ chuột nóc nhà Rattus Rattus thường gây cúp điện hay hoả hoạn vì cắn phá các đường dây điện trong nhà.
– Chuột đồng to lớn, sống trong hang và phá hoại mùa màng. Mỗi con chuột ăn tối thiểu 10 ki- lô hoa màu trong năm. Một gia đình chuột 200 con ăn 2,000 ki- lô hoa màu trong năm. Những con số này cho thấy sự phá hại kinh khiếp của Thử tộc. Chuột đồng phá hại ruộng lúa trên đồng bằng sông Cửu Long. Chuột đào hang dưới chân đê dọc theo sông Hồng làm cho chân đê yếu khiến dễ bị vỡ gây nạn lụt khủng khiếp vào mùa mưa.
– Chuột cống là chuột thành phố, to lớn nhưng trông nghèo nàn và bẩn thỉu vì sống dưới cống hôi thối và ẩm ướt. Tên khoa học của chuột cống là Rattus norvegicus thuộc gia đình Muridae. Chuột cống là chuột thành phố. Chúng mang bịnh cho loài người không ít.
– Chuột chù hay chuột xạ là chuột có mỏ nhọn, mắt gần như mù. Loài chuột này mang tên khoa học Sorox palutris thuộc gia đình Soricidae. Chuột toát mùi xạ khó chịu. Nước miếng chuột xạ có độc chất soricidin được dùng làm thuốc trị cao huyết áp, nhức đầu. Chuột xạ lội và lặn dưới nước rất giỏi nên người Anh gọi chuột xạ là water shrew. Người Việt Nam không thích nhưng không ghét chuột xạ. Người ta tin rằng đêm chuột xạ kêu thì ngày hôm sau sẽ có khách đến nhà. Khách thân quen tùy theo tiếng chuột kêu nhiều hay ít: Nhiều, liên hồi thì khách thân, ít thì khách lạ. Kinh nghiệm bản thân tôi, ở quê luôn đúng.
– Chuột bạch hay chuột Tàu là thân thuộc sang trọng trong đại gia đình chuột. Người ta nuôi chuột bạch trong nhà để biểu diễn trong các chiếc đu trong chuồng. Chuột bạch cũng được dùng trong các phòng thí nghiệm. Loài người dùng chuột bạch, cũng như chuột Ấn (Bọ) trong các phòng thí nghiệm để thử nghiệm thuốc. Thử tộc cũng được dùng để nghiên cứu bịnh Alzheimer, cao huyết áp. Chúng tôi cũng giúp cho các nhà y học sửa chữa dây cột sống bị tổn thương. Người Trung Hoa và Việt Nam dùng các chuột con mới sinh còn đỏ ối để ngâm rượu thuốc. Rượu nầy dành cho các sản phụ mới sinh uống để phục hồi sức khỏe.
– Bọ có hình dạng như chuột nhưng mập và có bộ lông rất đẹp. Tên khoa học của bọ là Cavia porcellus thuộc gia đình Cavidae. Người ta dùng bọ (Cobaye) trong phòng thí nghiệm để thử thuốc, chẩn đoán bịnh tiểu đường, ho lao, bịnh scurvy vì thiếu sinh tố C, rối loạn khi mang thai v.v…
– Chuột rằn (Zebra mouse) trong sa mạc Sahara mang tên khoa học Lemniscomys barbarus thuộc gia đình Muridae ăn trái cây và sống trên cây như nhen, sóc chớ không sống trong hang hay cống rãnh. (Theo Phạm Đình Lân)
.
2.
Chuột sống gần với loài người gọi là chuột nhà Hausmaus/ Mus musculus. Theo tài liệu thời tiền sử từ 10.000 năm trước công nguyên (CN) chuột ở Ấn Độ từ đó đến các vùng các vùng Trung đông Ai Cập 4000 trước CN, Hy Lạp Tây Ban Nha 1000 trước CN và theo tàu buôn hay theo các cây trôi đến các lục điạ khác như Nam Mỹ, Phi châu và Úc Châu.
Chuột thuộc loại động vật có vú, đuôi dài 7-10 cm, mũi nhọn và lỗ tai dựng đứng, mắt không nhìn thấy xa, không phân biệt được màu sắc, bù lại chuột có khả năng cảm nhận mùi vị, thức ăn rất tốt mà không cần ngậm trong miệng, rất thính tai, do đó khi nghe một tiếng động nhỏ, chuột chạy trốn ngay, các răng cửa dài cứng bé nhọn để gặm nhấm, thân dài từ 7 đến 11 cm nặng 20-25 g, lông thường màu xám nâu, tuy nhiên cũng có loại lông trắng gọi là chuột bạch. Đời sống chính của loài chuột vào ban đêm đi tìm thức ăn, ban ngày lẩn trốn ở trong hang hay chỗ kín. Ngoài thiên nhiên chuột sống từng đàn, chuột leo trèo nhanh có thể bò ngược trên trần nhà, trên dây, nhảy vọt, chạy nhanh, bơi lội và có tài đào đất làm hang để ở, hay làm tổ trên cây, trong các bụi rậm, chuột thuộc loại ăn tạp, ăn các loại ngũ cốc, rau cỏ non, côn trùng, cua, cá … Chuột có tính đa nghi, thường di chuyển trên đường mòn, hay men theo bờ, nghi ngờ chỗ lạ, thức ăn lạ, chuột nếm thử thức ăn trước khi ăn nhiều, chuột cũng khôn ngoan, ngậm vào đuôi nhau để qua sông, chuột ăn cắp trứng gà, phải dùng bốn chân ôm qủa trứng nằm ngửa để con khác ngậm đuôi mình kéo về hang … Chuột cái có chửa trong vòng 3 tuần đẻ đến 10 con, lúc sinh chuột con chưa mở mắt, điếc, da trần truồng màu hồng, khoảng 10 ngày sau chuột con mọc đủ lông, 15 ngày mở mắt, nhưng còn nằm trong ổ bú sửa mẹ. Từ 21 ngày chuột con rời bỏ mẹ, tự đi tìm thức ăn, sức nặng khoảng 6 gr. Sau 6 – 8 tuần tuổi chuột cái có thể tiếp tục sinh sản. Chuột sinh sản rất mau, chuột luôn gặm nhấm để mài răng, cắn phá làm hư hại mùa màng, mỗi ngày một con chuột cống ăn hết 100gr, nếu 1 triệu con ăn như vậy thì hao tốn hàng chục tấn thực phẩm! Người miền Nam rất sợ loại chuột từ hang Pắc Pó không những ăn tạp mà còn ăn cả đất và thịt người. Theo qui luật tự nhiên về cân bằng sinh thái, nên phải có các loại khác sinh ra để trừ khử bớt chuột đó là: mèo, chim cú, qụa, rắn, diều hâu. Bởi vì những con nầy thường săn chuột làm mồi. (Chuột Trong Đời Sống & Khoa Học Nguyễn Quý Đại)
.
(Còn tiếp Phần II)
.
Nguyên Lạc
……………
Nguồn tham khảo: Vũ Bằng,Hồ Hữu Tường, Đặng Tiến, Đỗ Chiêu Đức, Nguyễn Quý Đại, Phạm Đình Lân, Nguyễn Viết Tân, Wikipedia …

NỖI LÒNG CỐ HƯƠNG

Nguyên Lạc

Ailan Congtang -Vọng nguyệt (1)

1.
Theo chân ra chợ xứ người
Xôn xao. đỏ. tím… vui cười hân hoan!
Thấy con cua. tưởng con còng!
Thấy cây sồi. nhớ cây còng quê. nao! [1]
.
Chiều nay bên phố lạ nào
Nhớ con rạch nhỏ. cây cầu đòn tre
Nhớ con còng gió xanh lè
Chiếc càng “tổ chảng” kẹp ta đau tình! [2]
Nhớ ai “dáng trúc bờ xinh” [3]
Lá răm mắt liếc. điếng tình tới nay!
Nhớ sao! cau thẳng hàng dài
Con diều sáo trúc tình ngoài nghĩa trong
Lam không. lúa trổ đòng đòng [4]
Thả con mồi kiến. động lòng cá rô
.
Nhớ ơi. tuổi dại ngây thơ
Còn đâu? chỉ bóng chiều tà xứ xa!
Xứ xa có nghĩa người xa
Người xa đoài ấy. biết ta nhớ về?
Nhớ về vời ấy chân quê
Đốt đồng khói trắng lặng lờ bay xa!
.
2.
Xuân thu cùng nỗi phôi pha
Nhuộm ta màu tóc khiến ta bạc đầu!
Bạc đầu. đâu bạc tình đâu
Cố nhân vẫn mãi mộng nào đêm say
.
Tha phương cùng mối tình hoài
Quê hương. mắt liếc chết người lá răm!
Chắc là … chắc mãi trăm năm
Cô miên đất khách . nỗi lòng cố hương!
.
Cố hương đầy mắt đêm trường
Chong đêm đoài đoạn. vô thường bể dâu!
Cố nhân nay biết về đâu?
Về đâu. rồi cũng trắng màu mây bay! [*]
……
[*] Bạch vân thiên tải không du du – thơ Thôi Hiệu.
.
Nguyên Lạc
.
…………….
@. Xin giải thích cho các bạn thành phố rõ:
[1] Cây còng hay còn gọi là muồng tím, muồng ngủ, me tây…Tên khoa học Samanea saman họ Fabaceae, bộ Đậu (Fabales). Cây có nguồn gốc ở châu Mỹ nhiệt đới, du nhập vào Việt Nam từ thời Pháp.
[2] “Tổ chảng”: “bự chà bá”, “to tổ chảng”(Phương ngữ, Khẩu ngữ) to quá mức thường thấy.
Gọi còng gió, vì đây là loại còng chạy rất nhanh, tưởng có thể bằng cả tốc độ của gió. Mặc dù có bộ dạng nhỏ thó, nhưng đôi càng của còng gió đực (một lớn, một nhỏ) lại là vũ khí hết sức đáng sợ, càng nó rất khỏe, mép càng sắc như dao, kẹp có thể đứt thịt. Ở quê tôi, Đại Ngãi, Hậu Giang nơi các sông rạch, còng gió lớn cỡ ngón tay màu xanh blue rất đẹp
[3] Trúc xinh trúc mọc bờ ao/Em xinh em đứng nơi nào cũng xinh/Trúc xinh trúc mọc đầu đình/Em xinh em đứng một mình cũng xinh (ca dao)
[4] Lúa trổ “đòng đòng” là lúa đang bắt đầu trổ bông, tức bông lúa non.
.

MÙA XUÂN NHÌN LÁ KHÔ

hoa nguyên

tran din cuon

Trang Đinh Cường

Rồi mai nép lá rừng xanh
Về trong tiếng ngủ trên cành trăng phai
Như lặng lẽ vẫn đêm nay
Để nghe âm vỡ những ngày cuối năm

Đã chọn rồi mình ơi tình ngỡ
Chọn nhau đi cho hết đường trần
Nửa chừng cây, cành lìa gãy đổ
Nợ vương tình vốn chưa nương thân ..

Cho ta nhớ tình ơi tình ngỡ
Chọn nhau đi cho hết đường này
Những con đường chừng cây bóng ngả
Ta tận tình cho hết đổi thay

Xót tình nào thơ nghe ta say
Tiếng chim gầy bỡ ngỡ sớm mai
Những loài chim đông đàn đứng sẻ
Hót nhau về đậu hết tương lai !

Có bướm hoa nào trong sáng nay
Hứng mặt sương mình trong đôi tay
Có ngàn lớp ngăn trong chỉ kẽ
Một đường sinh tử xẻ chia hai

Mùa xuân đi mùa xuân lại về
Người đi rồi biết không còn nữa
Mùa xuân đầy đêm nghe lê thê
Tiếng cúc cù đê mê hiên cửa

Từ đó rừng bóng nghiêng bóng ngả
Cánh chim bằng bạt gió sơn khê
Đêm thắp lên cho nhen nhúm lửa
Bạch đầu lòng hết cuộc đam mê

Cây sẽ chết từ khi mất nước
Hoa đến tàn từ héo đến khô
Đi mỗi bước là lui mỗi bước
Đường mấp mô như những nấm mồ

Ta về mùa xuân nhìn lá khô..

DÁNG XUÂN

Nhật Quang

uminh11- su vang

Xuân đã về
long lanh trên cánh lá
Giọt sương tan trong nắng ấm bình minh
Ta lắng nghe tiếng Yến, oanh lảnh lót
Muôn sắc hoa hương thoảng khúc tự tình

Dáng Xuân xanh
điệu đà khoe áo mới
Gió thẹn thùng ve vuốt nhẹ bờ vai
Tóc nhung huyền chạm lòng ai mơ đắm
Dáng liễu mềm như dải lụa nghiêng bay

Dáng Xuân cười
bên thềm hoa rực rỡ
Đôi má hồng lúng liếng ngát làn hương
Làn mi biếc, ta trộm nhìn bối rối…
Giấu khát khao, vụng dại thuở yêu đương

Dáng xuân hồng
bên trời thơm nắng mới
Ta ươm đầy bao ước mộng lên ngôi
Đêm mộng mị…nụ hôn tình êm ái
Đắm nồng nàn vương đọng dấu bờ môi.

Nhật Quang

.

Năm Tý nói chuyện Chuột

Nguyễn Ngọc Chính

ty chuot 1

Chuột đứng đầu danh sách 12 con giáp. Đó không phải là chuyện ngẫu nhiên khi sinh vật vừa nhỏ bé lại vừa gớm ghiếc này lại “làm xếp” những con to xác như cọp và trâu, lại còn đứng trên cả mèo, kẻ thù không đội trời chung lúc nào cũng săn lùng… “bè lũ ăn hại”!

Cảnh “mèo rình chuột” hầu như diễn ra hàng ngày nhưng không hiểu sao người ta lại hay dùng thành ngữ “chuyện mèo chuột” để diễn tả một cuộc tình thơ mộng của đôi trai tài, gái sắc! Có ẩn ý gì chăng?

Hình như trong lối nói đó có hàm ý mèo là “chàng” và chuột là “nàng”. Ngược lại, biết đâu đó, nàng chính là con mèo lanh lợi còn chuột lại là chàng vốn khù khờ nên bị… ăn thịt! Xem ra thì một bên tám lạng bên kia cũng vừa nửa cân, không biết “mèo nào cắn mủi nào”!

Có điều chắc chắn là chuột sợ mèo…. Nỗi kinh hoàng di truyền đó lâu nay vẫn ám ảnh chuột nên người đời tự nhiên thấy “thương hại” cho số phận hẩm hiu của loài chuột. Dân gian thường bênh vực kẻ yếu thế nên mới có câu chuyện đặt lời ca dao thóa mạ mèo để… binh chuột:

“Con mèo mà trèo cây cau
Hỏi thăm chú chuột đi đâu vắng nhà
Chú chuột đi chợ đường xa
Mua mắm mua muối giỗ cha chú mèo”

Trong kho tàng nghệ thuật hội họa dân gian, chuột cũng hiện diện qua tranh Đông Hồ, mô tả một đám cưới toàn là chuột. Từ cô dâu, chú rể cho đến đoàn tùy tùng đều là chuột nhưng lại có thêm một chú mèo, “sát tinh của loài chuột”, hiện diện trong đám cưới. Thế cho nên, người ta mới hiểu một quy luật tất yếu của cuộc sống: mèo và chuột lúc nào cũng phải đi đôi với nhau như bóng với hình!

Họ hàng nhà chuột đông lắm. Nào là chuột nhắt, chuột chù, chuột cống, chuột đồng… đó là chưa kể đến… “chuột hai chân”! Giống chuột này tuy chỉ có hai chân nhưng lại “ăn tàn, phá hại”, “ăn không chừa một thứ gì”! Những “bẫy chuột”, “bả chuột”, “keo dính chuột”… hầu như không còn tác dụng, có lẽ phải nhờ đến luật pháp trừng trị mới may ra mới tận diệt được chúng.

Các bà, các cô vốn sợ chuột nhưng các ông hình như rất “kết” món… thịt chuột đồng. Vùng đồng bằng sông Cửu Long và kể cả ở nước láng giềng Campuchia có món thịt chuột nướng lò. Những người “khoái” thì ca ngợi thịt chuột đồng “giàu chất dinh dưỡng”, tốt cho sức khỏe bởi chúng không ăn “cơm thừa canh cặn” mà chỉ ăn toàn lúa ngoài đồng!

Ở Xứ Miệt Dưới Úc Châu lại có một giống chuột mà người Việt gọi là “chuột túi”. Phải nói là thiên nhiên ưu đãi kangaroo với một cái túi trước bụng để nuôi con còn chưa mở mắt. Cũng từ “cái nôi ấm áp” này, chú kangaroo thoải mái “bú tí” mẹ vào bất cứ lúc nào trong khi mẹ còn bận “nhảy” đi kiếm ăn bằng hai chân sau.

Nếu ở Úc kangaroo được thiên nhiên ưu đãi thì ở Ấn Độ chuột cũng được người ta “chiếu cố tận tình”. Theo tạp chí National Geographic, ngôi đền của đạo Hindu có tên là Karni Mata ở Rajasthan còn được gọi là “Đền Chuột” (Rat Temple). Nơi đây có khoảng 25.000 con chuột sinh sống và được mọi người “tôn kính”. Đó là “thiên đường” của chuột.

“Dân số chuột” ở đền Karni Mata ngày càng phát triển mạnh. Chúng sinh sống một cách “tự nhiên như ở nhà” mà lại còn được… tôn kính vì thờ phượng chuột vốn là một trong những truyền thống của đạo Hindu từ thế kỷ thứ 15.

ty chuot 2

Karni Mata là tên của một vị nữ thần, bà ước muốn có một ngôi nhà cho loài chuột mà kiếp trước là “những người hành nghề kể chuyện” (storytellers). Vào năm 1900, một ngôi đền được xây dựng để vinh danh thần Karni Mata và… những con chuột. Một đội ngũ nhân viên hơn 500 người có nhiệm vụ hàng ngày nuôi chuột bằng hạt ngũ cốc và sữa, đồng thời họ cũng có trách nhiệm làm vệ sinh trong đền. Ôi! Kiếp sau xin làm chuột ở Ấn Độ để được… “cơm bưng, nước rót”!

Phương Tây cũng “khoái” chuột qua nhân vật của Walt Disney (1901-1966). Ông là “cha đẻ” của chuột Mickey nhí nhảnh, duyên dáng đã chiếm trọn cảm tình của mọi người. Đúng ra thì ngành công nghiệp giải trí của Disney chỉ khởi đầu vỏn vẹn có 2 con chuột và 2 con vịt. Ấy thế mà doanh thu hàng năm lên đến hơn 2,2 tỷ đô la!

Mickey chính thức ra “chào đời” năm 1928 qua phim hoạt họa “Mickey Mouse”. Trước đó, nhiều người sợ chuột nhưng chuột Mickey đã chiếm được cảm tình, từ trẻ em cho đến người lớn đều ưa thích. Xét ra, cái công “vinh danh loài chuột” của Mickey là không nhỏ. Ngôi sao chuột Mickey cho đến ngày nay vẫn sáng chói trên Đại lộ Danh vọng Hollywood bên cạnh tên tuổi của những tài tử nổi tiếng khác.

ty chuot 3

Nói đến Mickey ta phải nhắc đến cô bạn gái của chàng là Minnie. Nàng có một nhan sắc “chim sa, cá lặn” với cái nơ trên tóc và bộ váy màu đỏ điểm những chấm trắng. Nhìn cặp “nhân tình” quấn quýt bên nhau ai dám bảo là… đời chuột nhiều gian nan, khổ cực?

Cuộc sống ngày càng văn minh, hiện đại và chuột cũng đi vào lịch sử của máy tính với “computer mouse”, tiếng Việt gọi là “con chuột máy tính”. Đây chính là “thiết bị ngoại vi” giúp người sử dụng có thể theo dõi sự di chuyển trên màn hình. Douglas Engelbart phát minh ra nó năm 1963, ông gọi là “con chuột” chỉ vì cái đuôi có dây nối với máy vi tính giống như… con chuột. Ngày nay còn có “chuột không dây” nhưng vẫn bị gọi “chết tên” là… con chuột!

Để chấm dứt bài viết “Năm Tý nói chuyện Chuột” chúng tôi mời các bạn thưởng thức một bức tranh vui kể lại cái thời mới có máy vi tính…. Chuyện kể cậu con trai gửi cho bố mẹ một cái máy vi tính, dặn rằng phải có “con chuột” mới sử dụng được. Khốn nỗi lại quên gửi “con chuột” đi kèm. Thế là ông bố tìm cách bẫy được một con chuột và bà mẹ điện thoại cho con: “Bố mày đã bắt được một con chuột rồi nhưng không biết dùng như thế nào?”

ty chuot 5

Nhân dịp năm mới Canh Tý 2020, xin chúc mọi người và mọi nhà sung túc, đầy đủ tựa như… “chuột sa hũ nếp”!

ty chuot 4

Nguyễn Ngọc Chính
.

Tết là gì?

Trần Tấn Luân

6 ý nghĩa ngày tết mà không phải người Việt nào cũng biết

Y-nghia-ngay-tet

Tết là dịp lễ truyền thống vô cùng ý nghĩa và quan trọng với mỗi con người Việt Nam chúng ta. Thời điểm giao thừa cũng là lúc đánh dấu sự chuyển giao giữa năm cũ và năm mới. Cây cối đâm chồi nảy lộc, trăm hoa đua nở. Thời điểm này cũng là lúc mà những đứa con xa quê trở về, gia đình đoàn tụ, không khí vui vẻ nhộn nhịp, vậy bạn có hiểu được ý nghĩa ngày tết hay không. Nếu không hãy để chúng tôi giải đáp cho các bạn nhé.

1. Ý nghĩa ngày tết Nguyên Đán sum họp, đoàn viên

Sum họp không phải là ý nghĩa chính của tết nhưng dường như nó lại tự trở thành ý nghĩa quan trọng nhất mà ngày tết mang đến. Vào những ngày này, mọi người tạm ngừng công việc lại, con cái sắp xếp về nhà, người lớn trong nhà tảo mộ thăm những người đã khuất bóng.
Tết sum họp đoàn viên bên gia đình là điều mà gia đình nào cũng mong đợi
Những ngày gần tết cùng nhau quây quần bên nồi bánh chưng bánh tét cùng ôn lại những chuyện xưa kia. Gợi nhớ lại một thời con sum họp, vậy nên với những đứa con xa quê, gia đình có người đi xa làm ăn thì tết là thời điểm được mong đợi nhất trong năm.
>>> Xem Thêm: 7 món quà tết ý nghĩa nên biếu ông bà cha mẹ

2. Ý nghĩa giao hòa giữa trời đất, con người với thần linh

y nghia tet5
Là thời điểm chuyển giao giữa đất trời, con người, thần linh, người Việt tin rằng thời điểm này là lúc chuyển giao giữa 2 năm với nhau, thần linh cũng từ hạ giới mà về trời báo lại chuyện trong năm. Cũng vì thế mà những nghi lễ, cúng kính thờ phụng cũng được tổ chức thường xuyên trong dịp này.
Những loại bánh được làm ra cúng ngày tết đa phần được làm để dân lên thần linh
Con người và thời điểm này thường rất dễ mở lòng với nhau, tính tình thoải mái, nhẹ nhàng vui vẻ hòa đồng. Từ đó khiến con người với con người cũng yêu thường nhau và quan tâm nhau nhiều hơn.
3. Ý nghia tết Nguyên Đán hướng về cội nguồn
Những ngày tết đến xuân về cũng là lúc gia đình tập hợp với nhau cùng đi tảo mộ, thăm ông bà cha mẹ, thắp nén hương hướng về tổ tiên, những người đã khuất bóng. Bàn thờ ông bà, tổ tiên luôn luôn trưng đầy đủ mâm ngũ quả, bánh mứt, đồ cúng, thịt lợn, gà. Nhìn về người xưa mà cố gắng cho một năm mới đầy sinh khí.
>>> Xem Thêm: Top 10 câu chúc hay và ý nghĩa năm 2019
4. Tết Nguyên Đán ý nghĩa rước tài lộc
Ngày tết thần tài gõ cửa cho một năm mới tràn đầy an khang thịnh vượng, sung túc quanh năm. Mọi gia đình luôn mở rộng của rước thần tài vào nhà, mang theo may mắn, giàu đẹp và những điều tốt lành. Đó cũng là lý do vì sao mà ngày tết gia chủ thường mở cửa thâu đêm suốt sáng, và bày biện những vật mang đến may mắn.
Tết đến xuân về mang theo may mắn và tài lộc cho mọi nhà
5. Ngày khởi nghiệp cho một năm mới vẹn toàn
Ngày tết được xem là thời điểm mọi thứ bắt đầu lại từ đầu, một năm mới với những chuyến đi mới, những công việc mới. Vậy nên mỗi đợi tết đến hãy bỏ qua hết mọi phiền muộn của năm cũ, bắt đầu lại một năm mới với những khởi đầu mới. Chắc hẳn sự may mắn, tài lộc sẽ giúp bạn đạt nhiều thành công hơn trên đường đời.
Là một khởi đầu mới, mang đến những niềm vui mới, bỏ hết điều xui xẻo ở lại năm cũ. Tâm trạng của con người cũng từ đó mà vui vẻ khác thường, sức khỏe cường tráng, sự sạch sẽ và mới mẻ của năm mới chắc chắn sẽ giúp bạn đạt được thành công ngoài sự mong đợi.
>>> Xem Thêm: 3 vấn đề xoay quanh câu chuyện “cây nêu ngày tết có ý nghĩa gì”
6. Tết Nguyên Đán hòa thuận yêu thương
Ngày tết là cơ hội để mọi người dành cho nhau những lời chúc tết chân thành tốt đẹp nhất. Gần thì đến thăm nhau, trao cho nhau những lời hay ý đẹp, xa thì gọi điện thăm hỏi dặn dò nhau. Người lớn những ngày này cũng kiêng cử hạn chế la rầy con cái, cãi vã nhau trong những ngày tết.
Ý nghĩa ngày tết cốt lõi vẫn là tình yêu thương con người với nhau
Tất cả mọi mâu thuẫn tạm gác qua một bên, trao cho nhau những tình cảm chan hòa. Bất hòa được hóa giải tạo nên thiện cảm cho mọi người.
Những ngày này luôn mang đến ý nghĩa ngày tết vô cùng sâu sắc, nhân văn mà mỗi người Việt mãi giữ trong con người mình. Ngày tết luôn mang đến cho khắp mọi gia đình sự háo hức, mong chờ từ người lớn đến trẻ nhỏ.
Tuy nói “tết nay buồn hơn tết xưa” nhưng tết là do con người chúng ta tạo ra, và có “đậm” hay không đều là do chính mỗi chúng ta quyết định. Tết thì vẫn mãi là tết, vẫn mang trong mình cái sự hy vọng, niềm vui và ý nghĩa ngày tết vẫn không bao giờ phai nhòa.

Trần Tấn Luân

Thương Về Kỷ Niệm

ĐT Minh Giang

tran din cuon

Trang Đinh Cường

Giở sách ra hai hàng lụy nhỏ
Quên chữ học bài vì bởi nhớ thương ai.
Ca Dao
 
Tôi mơ thấy hai hàng cây phượng vĩ
Nơi sân trường hoa nở đỏ mái hiên
Các cô gái áo trắng nụ cười duyên
Làm ngơ ngẩn anh học trò mới lớn.
 
Tôi tập làm thơ lòng vương sóng gợn
Đôi chín tâm hồn chớm mộng vẩn vơ
Có quá sớm khi chợt biết ươm mơ
Rồi ao ước ngày mai thành thi sĩ.
 
Tôi đi tìm một chân tình tuyệt mỹ
Tiếng nói con tim vượt cả thời gian
Có đêm thao thức ôm giấc mộng vàng
Từng trang vở bài thơ tình viết mãi.
 
Tôi vẫn nhớ tiếng giảng bài sót lại
Nắng buổi chiều vàng ấm cả không gian
Mỗi độ hè về là bóng của ly tan
Mình xa cách chỉ còn thương tuổi ngọc.
 
Tia nắng lung linh bên thềm lớp học
Nhớ nhung chồng chất hồn đọng ưu sầu
Trường xưa lớp cũ bằng hữu về đâu
Trống vắng hồn tôi nghẹn ngào nuối tiếc.

BẾN XUÂN

Đặng Tiến

uminh3-rungthuong

 Xuân đã đem mong nhớ trở về
Lòng cô gái ở bến sông kia
Cô hồi tưởng lại ba xuân trước
Trên bến cùng ai đã nặng thề…

Nguyễn Bính

Từ một ý thơ xuân, hôm nay chúng ta cướp cả ánh thiều quang để nói chuyện Thơ, bàn về thi tính, hay chất thơ trong từ ngữ, lấy từ bến làm ví dụ. Dĩ nhiên là còn nhiều ví dụ khác. 

Trong ngôn ngữ, dân tộc nào cũng vậy, có một số từ ngữ được trọng dụng trong thi ca nhờ vào nội hàm, có khi nhờ vào cái vỏ âm vang, giới ngữ học gọi là cái được-biểu-hiện và cái-biểu-hiện. Nhưng chúng chỉ được trọng dụng trong một thời gian, dài hay ngắn tùy nền văn hóa mà chúng phản ánh. Trong thời gian văn hóa này, chúng được tiếp nhận, cảm thụ trên những tần số khác nhau, tùy từng thành phần văn hóa và xã hội, và tùy cảm nhận cá nhân, lúc này hay lúc khác.

Cảm thụ cá nhân, thường tình là chủ quan, nhưng việc khảo sát ngôn ngữ, có thể khách quan. Thậm chí Yves Bonnefoy, nhà thơ, nhà nghiên cứu hàng đầu về thi ca Pháp, có lần đã đưa ra khái niệm coefficient poétique (1), hệ số thi lượng (hay thi tính, chất thơ) của một số từ ngữ đắc dụng trong thi ca, có khi do bản thân nó, đôi khi do văn cảnh, thì ta gọi là « đắc ».

Yves Bonnefoy, Giáo sư Học viện Pháp quốc (Collège de France) chức danh cao cấp nhất trong ngành nghiên cứu Pháp, về môn Nghiên cứu đối chiếu về chức năng thi pháp từ 1982, nối nghiệp truyền thống Paul Valéry, là chuyên gia dịch thuật Shakespeare ra tiếng Pháp, đã đối chiếu hai ngôn ngữ Anh và Pháp để lảy ra khái niệm hiệu số thi lượng nói trên.

Khảo sát giá trị văn học của danh từ bến, chúng ta thử so sánh khái niệm này trong thơ chữ Hán và chữ Việt, hai ngôn ngữ gần nhau. Bắt đầu bằng thơ chữ Hán của Nguyễn Khuyến do tác giả tự dịch ra quốc âm. Bài Ức vọng Đội Sơn II, được dịch ra thành Nhớ cảnh chùa Đọi (2). Hai câu luận, 5 – 6 như sau :

Kỷ tằng trúc ảnh nghi vô lộ
Hữu khách tang gian lập đãi thuyền

Dịch nghĩa:
Mấy tầng bóng tre, tưởng như không có lối đi
Có khách giữa (bãi) dâu đứng đợi thuyền

Nguyễn Khuyến tự dịch:
Dặm thế ngõ đâu tầng trúc ấy
Thuyền ai khách đợi bến dâu đây

Tác giả dùng từ “bến” không có trong nguyên tác ; cũng hợp lý, vì “đợi thuyền” thì thường ở bến. Nhưng về mặt chữ nghĩa, trong nguyên tác không có khái niệm bến: tang gian nghĩa là giữa (cây) dâu; vì gần sông nên có thể dùng chữ bãi, đúng nghĩa và hợp luật bằng trắc.

Thuyền ai khách đợi bãi dâu đây

Tiếng Việt có thành ngữ “trên Bộc trong dâu” mà Nguyễn Du đã dùng trong Kiều để dịch câu chữ Hán “Bộc thượng tang gian” chỉ những cuộc hẹn hò tình ái bất chính. Nhưng Nguyễn Khuyến lại đưa lên từ bến, thay vì “trong dâu”, mà không ai dám nói là cụ dịch sai thơ mình, hay túng vần ép chữ, hay không sành chữ nôm.

Không khí cổ kính câu thơ chữ Hán chuyển sang khí hậu thơ Việt, nhẹ nhàng, bàng bạc, sầu mộng. Về mặt quy luật Đường thi, thì câu thơ nôm của Nguyễn Khuyến đối ngẫu không hoàn chỉnh, mà lỏng lẻo. Chữ Hán và Việt tuy cấu trúc gần nhau, nhưng thi pháp khác nhau: thơ Việt xuất sắc ở những hư từ: ngõ đâu… trúc ấy… thuyền ai… dâu đây…, những âm hao luyến láy: dâu đây, ấy, ai mơ hồ mà quyến luyến. Nhịp thơ Đường luật 4/3 là cổ điển, nhưng cách cài đặt những âm hao vào tiết điệu câu thơ, là tuyệt vời. Câu thơ chữ Hán: nghi vô lộ khẳng định, câu thơ nôm ngõ đâu…mơ màng giữa nghi vấn và phiếm định. Tôi chạnh nhớ sang câu thơ Huy Cận trong Tràng giang:

Đâu tiếng làng xa vãn chợ chiều

Xuân Diệu dứt khoát cho rằng từ đâu là phủ định, đi với câu sau Không cầu gợi chút niềm thân mật, nhưng hỏi sang chính tác giả, thì Huy Cận… không chắc!

Nới rộng nguồn thơ như thế, là để cùng nhau thưởng thức một câu thơ hay và qua giá trị thi pháp của từ ngữ, cùng thấy rằng từ bến ở đây, Nguyễn Khuyến, rất ý thức, đã đặt đúng nơi và đúng lúc.

Chúng ta sẽ còn thấy thêm nhiều ví dụ khác, qua thơ dịch Hán Việt, với ba bài nổi tiếng nhất: Phong Kiều dạ bạc, Hoàng Hạc Lâu và Tỳ Bà Hành.

Nguyệt lạc ô đề sương mãn thiên
Giang phong ngư hỏa đối sầu miên
Cô Tô thành ngoại Hàn San Tự
Dạ bán chung thanh đáo khách thuyền

(Trương Kế, Phong Kiều dạ bạc)

Bản dịch quen thuộc nhất, gốc của Nguyễn Hàm Ninh (1808-1867) thường bị gán nhầm sang Tản Đà, hai lần dùng chữ bến không có trong nguyên văn:

Trăng tà chiếc quạ kêu sương
Lửa chài cây bến sầu vương giấc hồ
Thuyền ai đậu bến Cô Tô
Nửa đêm nghe tiếng chuông chùa Hàn San
 (3)

Riêng với tên Cô Tô nhiều dịch giả nổi tiếng như Tản Đà, Ngô Tất Tố, Trần Trọng Kim đều thêm vào chữ bến, là không sát, vì Cô Tô, nay gọi là Tô Châu, thuộc tỉnh Giang Tô, là một thành phố trên cao, ngày xưa tương truyền vua Ngô đã dựng đài cho Tây Thi. Nhưng vì nguyên tác có chữ “bạc” (ghé thuyền) và chữ “thuyền”, nên dùng danh từ bến là hợp lý, tuy vẫn là thêm vào nguyên tác. Câu này sẽ phái sinh:

Thuyền ai đậu bến sông trăng đó…

của Hàn Mạc Tử; hay ca từ trong Phạm Duy :

Thuyền tôi đậu bến sông Lô
Nửa đêm nghe tiếng…

Điển cố còn gợi ý cho Quách Tấn:

Trời bến Phong Kiều sương thấp thoáng

Nhà thơ dùng chữ bến cho một địa danh có nghĩa là cầu (kiều) có trồng cây phong; học giả người Pháp, Demiéville dịch ra là “Pont de l’érable”.

Ví dụ phổ biến tiếp theo là bài Hoàng Hạc Lâu của Thôi Hiệu, với hai câu 5-6:

Tình xuyên lịch lịch Hán Dương thụ
Phương thảo thê thê Anh Vũ châu

Trong nguyên tác, không có chữ nào có nghĩa là bến, nhưng trong bản dịch của Ngô Tất Tố, bậc thầy trong nghề dịch:

Vàng gieo bến Hán ngàn cây hửng
Xanh ngụt châu Anh lớp cỏ dày.

Nhà thơ Vũ Hoàng Chương, một bậc thầy của thi ca, trước khi lìa đời, đã “chuyển ngữ” bài thơ để gửi gắm tâm tư, cuối năm 1975:

Cây bến Hán Dương còn nắng chiếu
Cỏ bờ Anh Vũ chẳng ai chơi.

Chữ bến dựa theo phong cảnh và ý nghĩa trong nguyên tác, nhưng vẫn là một sáng tạo. Nó tạo thêm âm hưởng cho câu thơ, như con thuyền cập bến vừa khi.

Bài thơ dịch Hán Việt nổi tiếng thứ ba là Tỳ Bà Hành của Bạch Cự Dị, bản dịch được truyền tụng nhất do Phan Huy Thực, xưa kia ghi là do Phan Huy Vịnh, tuyệt trần ngay từ câu đầu:

Bến Tầm dương canh khuya đưa khách

Nguyên tác:

Tầm dương giang đầu dạ tống khách

Dịch sát ta sẽ có: “Đầu sông Tầm dương đêm tiễn khách”, sát và êm tai nhưng không hay. Có người nêu lên tính cách tượng hình của âm thanh: bến và khách là hai âm trắc, dấu sắc, đầu và cuối câu, đóng khung cho năm âm bằng liên tiếp, là hình ảnh hai bên bờ sông cao hơn mặt nước, tượng hình cái bến. Giải thích như thế, dù có khiên cưỡng, cũng được nhiều người thích thú. Trong bản dịch còn có câu hay:

Thuyền không đỗ bến mặc ai
Quanh thuyền trăng dãi nước trôi lạnh lùng

Chữ bến dịch từ “giang khẩu” trong nguyên tác, nghĩa na ná, nhưng âm vang có khác, do duyên nợ ba sinh vốn có trong tiếng Việt, giữa bến và thuyền.

Dẫn chứng những bản dịch Việt Hán, mà chỉ nói đến thơ Đường, không nhắc đến ví dụ trong văn ta, như Chinh Phụ Ngâm, là thiếu sót. Nguyên tác chữ Hán của Đặng Trần Côn, nhiều bản dịch ra quốc âm, phổ biến nhất là bản Phan Huy Ích, thường được gán cho Đoàn thị Điểm. Câu nhiều người thuộc:

Chốn Hàm Dương chàng còn ngoảnh lại
Bến Tiêu Tương thiếp hãy trông sang

Nguyên văn:

Lang cố thiếp hề, Hàm Dương
Thiếp cố lang hề, Tiêu Tương

Rõ ràng là không có ý “bến“, và hai câu tiếp theo nói đến khói Tiêu Tương, sông Tiêu Tương

Tiêu Tương yên trở Hàm Dương thụ
Hàm Dương thụ cách Tiêu Tương giang

Bản dịch, lần này chính của Đoàn thị Điểm, theo khảo sát văn bản của Hoàng Xuân Hãn:

Bến Tiêu Tương mấy hàng khói tỏa
Cây Hàm Dương bóng lá ngất đầu
 (4)

Nghiệm cho cùng dịch sát, dò theo từng chữ một, cũng không phải là khó, chỉ cần đổi hay dời một đôi chữ trong các ví dụ trên đây; bạn đọc có thể làm thử. Nhưng các dịch giả toàn là bậc tài danh, họ dùng từ bến, có khi tự nó đến, đến chỗ ấy, khi ấy; có khi vì trong tiếng Việt từ bến có ngân vang mà chữ Hán, những giang đầu, giang tân, giang khẩu, độ đầu, cổ độ…không gợi lên, nghĩa là từ bến bản thân nó có một “hệ số thi lượng” cao như Bonnefoy đã nói. Do đó bản nôm Chinh Phụ Ngâm có rải rác nhiều từ bến, có thể là một công cụ dịch thuật thuận lợi cho thi pháp.

Chất thơ có khi nhờ vào vỏ ngôn ngữ, cái biểu hiện, âm chấn mà nhà bác học Gaston Bachelard gọi là “giá trị phát âm” (valeur vocale) “một đức tính xướng ngôn hoạt động trên bậc thềm những mãnh lực của giọng nói” mà Edgar Poe gọi là mãnh lực của lời nói (5).

Ông viết điều này trong sách kinh điển La poétique de l’espace (Thi tính của không gian), khi nhận xét về tính từ vaste (rộng, bao la, bát ngát) trong thơ Baudelaire: từ này được sử dụng nhiều lần, nhưng ít khi trong nghĩa khách quan của nó, mà thường do âm hưởng nội tâm. Thậm chí, trong từ vaste, nguyên âm a đã là “nguyên âm của bao la” (6). Chúng ta chợt nhớ cảnh lầu Ngưng Bích: bốn bề bát ngát xa trông… Và lưu ý đến nguyên âm ê trong ca dao:

Thuyền về thuyền nhớ bến chăng
Bến thì một dạ khăng khăng nhớ thuyền

Từ bến, sau nghĩa khách quan, có thể để lại một âm hao ngân vọng trong tâm tưởng, trong thơ, như ta đã thấy, và còn thấy rõ hơn nữa qua ca từ của tân nhạc: Con thuyền xa bến…, con thuyền không bến…, bến ấy ngày xưa. Và đặc biệt là trong bài Chuyển Bến của Đoàn Chuẩn.

Bến là nơi tiếp xúc giữa đất liền và nước, nước sông, hồ hay biển; bến là một thiên nhiên được chỉnh trang để giặt giũ, tắm rửa hay lấy nước. Nghĩa đến sau, ngày nay thông dụng hơn là: nơi thuyền bè ghé vào, dần dà ẩn dụ thêm ý nghĩa đưa tiễn, mong chờ, đón đợi. Những ra đi mong có ngày về. Hay không hẹn ngày về

Sen xa hồ sen khô hồ cạn
Lựu xa đào lựu ngả đào nghiêng
Em xa anh như bến xa thuyền
Như Thúy Kiều xa Kim Trọng biết mấy niên cho tái hồi

(Ca dao Bình Trị Thiên)

Đất và nước, thủy thổ, là hai yếu tố cơ bản cho đời sống, vật chất và tâm linh. Nhưng nếu chỉ có giao tiếp giữa đất và nước, thì mới nên bờ chứ chưa thành bến: bến là thêm sự hiện diện của con người. Có thể nói: bến là cuộc hôn phối giữa đất và nước do con người môi giới. Sông biển làm xa cách, bến là thành tựu của con người vượt thiên nhiên để đến gần nhau, từ làng này sang làng khác, rồi từ nước nọ sang nước kia. Làm cho “ những đất đai, những chân trời gần lại” theo lời thơ Văn Cao, 1956.

Làng quê Việt Nam bình dị, ít danh lam thắng cảnh; nông dân Việt Nam gắn bó với bờ ruộng, lũy tre, ít xê dịch, ngao du, trong những phương tiện giao thông giới hạn. Do đó, bến đò đã là biên cảnh, rồi phong cảnh, dần dà trở thành tâm cảnh. Bến là cánh cửa mở ra thế giới, cho những ước mơ, nhưng đồng thời cũng khép lại những phương trời viễn mộng.

Nguyễn Minh Châu có tập truyện tên Bến quê lấy tiêu đề từ một truyện ngắn, chắc là ông tâm đắc. Nhân vật tên Lũy, là một “người cha sắp từ giã cõi đời, đang dấu một tâm sự bí mật gì đó trong cái vẻ lúng túng”. Anh nằm liệt giường, phải có người đỡ dậy để nhích “từ mép tấm nệm nằm ra mép tấm phản” bậu vào cửa sổ để nhìn xuống sông Hồng. Cao hứng anh bảo đứa con trai xuống đò sang bên kia sông “chẳng để làm gì cả. Đi chơi loanh quanh, ngồi xuống nghỉ ngơi ở đâu đó một lát rồi về”. Kỳ thật, Lũy chỉ muốn nhìn theo đứa con, hình ảnh của chính mình, ra bến đò, xuống đò, sang sông. Và để nhìn ngắm bến đò “một giải đất đứng bên này, một đám đông khách đợi đò. Người đi bộ, người dắt xe đạp. Một vài tốp đàn bà đi chợ về đang ngồi kháo chuyện hoặc xổ tóc ra bắt chấy !!”. Cảnh tượng như thế thì lấy gì làm hấp dẫn ? “Họa chăng chỉ có anh đã từng trải, đã từng in gót chân khắp mọi chân trời xa lạ mới nhìn thấy hết sự giàu có và mọi vẻ đẹp của một cái bãi bồi sông Hồng ngay bờ bên kia, cả trong những nét tiêu sơ, và cái điều riêng anh khám phá, thấy giống như một niềm mê say pha lẫn với nỗi ân hận, đau đớn, lời lẽ không bao giờ giải thích hết”. (7)

Phải gắn bó với nông thôn xưa, với những bến đò, với quê hương khốn khó, mới thẩm thấu điều riêng, niềm mê say lẫn với nỗi ân hận trước một bờ sông, một bến đò của nhân vật Lũy, hình ảnh của tác giả Bến quê.

Trong tiểu thuyết Đôi Bạn, 1939, Nhất Linh cũng đã cho nhân vật Dũng, trước bến đò Gió, thốt lên: cảnh bến đò bao giờ cũng buồn, nhưng không phải vì cảnh biệt ly,  “nỗi buồn ấy có một duyên cớ sâu xa hơn (…), Dũng thấy là hình ảnh của cuộc đời…, những khách bộ hành, một buổi chiều đông, qua bến đò, in bóng trong chốc lát trên dòng nước trắng của cuộc đời chảy mãi không ngừng (…). Buồn nhất là những cái quán xơ xác của các bến đò. Mình là những cái quán ấy, đứng yên trong gió lạnh nhìn cuộc đời trôi qua trước mắt.”
(Đôi Bạn, tr 68 bản Hương Anh, Paris, 1951, tr 57 bản Văn Mới, Califorrnia, 2010)

Nhất Linh có thể đồng cảm với nỗi ân hận đau đớn nửa thế kỷ sau của Nguyễn Minh Châu: họ cùng là những tác gia lớn lao vì tài năng và vì tác phẩm đậm đà tình người. Tình người không nhất thiết phải gồm cả tình quê. Nhưng tình quê thì ắt phải có tình người.

Bến quê, nghe theo cách nào đó, là hai từ trùng lặp ý: mỗi Quê là một Bến. Ra đi và trở về. Ra đi từ bến sông Thương của Anh Thơ, để Trở về bến mơ, bài hát của Ngọc Bích. Hạnh phúc của Ulysse không phải là cuộc phiêu lưu dài, đầy chiến công và thành tích, mà là buổi trở về, bến xưa thềm cũ, nơi có con chó già nhận diện được cố nhân.

Nhà thơ Đặng Đình Hưng, muốn cách tân thơ đã sáng tác một thi phẩm tân kỳ đến bí hiểm, nhưng chọn một tiêu đề đơn giản: Bến lạ (1991), hình ảnh được lặp lại nhiều lần như một điệp khúc trong ngôn từ hiện đại:

Tôi ghé Bến lạ cắn một quả vả và những kỳ lạ
Màu xanh chưa chín…

Và kết thúc bài thơ:

Đời jì
Sao cứ đi đi những cái vali cứ về
Bến lạ !

Như vậy thơ dù cách tân đến đâu vẫn cần buông neo vào một hình ảnh thân thuộc, tạo tính cách đồng thuận, ở đây là cái bến.

Lê Đạt, một nhà thơ hiện đại khác, cảm hứng từ bài thơ Nguyễn Khuyến, đã gieo đôi vần điệu u hoài:

Mộng đầu sông
mưa ngâu
thuyền bến cũ…

(Thu điếu)

Hay tân kỳ hơn:

Em đời bến nước tên em mát
Đội mắt em qua mấy nắng rồ…

(Vào hè).

Tập Bên kia sông Đuống của Hoàng Cầm, ấn bản 1993, mở ra với bài Cỏ Bồng Thi bắt đầu bằng:

Chị đưa Em đến bến này
Cheo leo mỏm đá
Trước vực
Sau khe
Thòng lọng tơ gì quấn gót

Cũng là một bến…lạ. Vì bến thì phải nơi bằng phẳng cho người xuống thuyền. Có lẽ từ bến tự đến với Hoàng Cầm, trên hài âm lãng đãng của nó.

Nếu Lưu Trọng Lư có lần ví mắt em là một dòng sông, thì Hoàng Cầm ví hàng mi với cái bến, cũng không có gì là trái lý:

Ngày em ngủ bến mi ánh nắng đọng
Chiều em đi không quá một vòng tay.

(Ngẩn ngơ)

Hoàng Cầm đã đi xa lắm, rời xa những bến khói sương… bến sông xa… Nếu anh còn trẻ… (1943). Có người còn nhắc câu này của ông:

Anh nhớ em đôi mắt trong như ngọc
Đã mờ phai sương khói bến thu xa

Hỏi lại thì Hoàng Cầm… không nhớ !!!.

Cùng một chuyến đò, còn có Phùng Cung. Đi vắng nhà đằng đẵng mười hai năm, khi trở về, 1972, ông không còn tìm thấy “ bến cũ” như Lê Đạt, nhưng vẫn nhận ra quê xưa từ những sợi lạt bó rau:

Bạc tóc trở về quê
Bỡ ngỡ tìm đò bến mới
Nhìn dáng lạt bó rau
Nhận được người làng

(Người làng)

Nhận ra thôn làng, dễ hơn nhận ra người làng. Con người khó nhận ra nhau hơn phong cảnh.
Sợi lạt bó rau càng khó nhận ra.

Vậy cái bến có thể nằm im lìm như bến My Lăng, bến Cộ, những bến đợi dưới cây già đâu đó, nhưng từ bến thì lại lênh đênh theo thời gian, nổi trôi theo thời cuộc. Chỉ trong tác phẩm Văn Cao thôi, thì cái Bến Xuân, bến Bính bên Sông Cấm mộng mơ năm 1942 đã khác với cảnh ai qua bến nắng hồng với những bóng người sầm uất bến Then bên bờ sông Lô, 1947. Từ bến cảng Hải Phòng những ngày tranh đấu 1945, Mỗi ngày mồng một tháng năm… Tàu đứng chết trên bến, cho đến ngày giải phóng 1954, khách nước ngoài đầu tiên vào bến… chúng tôi hôn nhau… những đất đai, những chân trời gần lại… (Những người trên cửa biển, 1956).

Muốn đạt tới niềm vui huynh đệ ấy, con người phải đi qua một cái bến vùng cao, như Nguyễn Đình Thi đã đi qua, 1950 khi tìm viếng mộ bạn là nhà văn Trần Đăng đã hy sinh trên chiến trường biên giới Lạng Sơn, trước đó chưa lâu:

Qua bến sông quen tôi về đây
Tìm mộ anh nơi ven núi cũ
Tôi ngắt những hoa rừng tím đỏ,
Ngắt nhiều hoa nữa nhiều trên tay

(Hoa rừng)

Nhưng rồi cũng có cái bến nằm ngoài thời gian, im lìm mà vẫn linh động, trong một bài tứ tuyệt Phạm Tiến Duật làm 1969, thời cao điểm của chiến tranh, mô tả tâm trạng một người lính lái xe :

Cái vết thương xoàng mà đưa viện
Hàng còn chờ đó tiếng xe reo
Nằm ngửa nhớ trăng, nằm nghiêng nhớ bến
Nôn nao ngồi dậy nhớ lưng đèo.

(Nhớ, trích từ Vầng trăng và những quầng lửa, 1983, tr 27)

Trong bài này, chữ “bến” chỉ bãi đậu xe vận tải. Nhưng trong tâm tưởng người đọc, bến đây là bến thuyền, ngang mặt sông khi nhìn nghiêng từ khoang thuyền, đối lập với mặt trăng trên cao, như trong cảnh:

Cắm thuyền sông lạ một đêm thơ
Trăng thượng tuần cao sáng ngập bờ
Đâu đó Tầm Dương sầu lắng đợi
Nghe hồn ly phụ khóc trên tơ…

(Vũ Hoàng Chương)

và cách luyến láy, vừa tiếp nối vừa đối lập: nằm ngửa nhớ… nằm nghiêng nhớ… của Phạm Tiến Duật thật tài hoa, trong một bài thơ ngắn thuộc loại hay nhất thời chiến tranh, không khỏi nhắc đến nguồn thơ cổ trong Lý Bạch:

Cử đầu vọng minh nguyệt
Đê đầu tư cố hương.

Ngẩng đầu nhìn trăng sáng
Cúi đầu nhớ cố hương.

Một từ ngữ có thể có giá trị trong giai đoạn, và giá trị đó thay đổi theo thời gian văn hóa, nhưng cái vốn văn hóa thì tồn tại dài lâu trong tâm thức con người, cho nên, ngày nay, độc giả vẫn còn thích thú tìm lại trong thơ Hoài Khanh cái bến xa xôi trong hoài niệm:

Em thì vẫn nụ cười xanh mắt biếc
Màu cô đơn trên suối tóc la đà
Còn gì nữa với mây trời đang trắng
Đã vô tình trôi mãi bến xông xa

Hay cái bến diệu vợi, vời vợi ước vọng, trong cùng một bài thơ:

Quá khứ đó dòng sông em sẽ ngủ
Giấc chiêm bao nguyên vẹn có bao giờ
Ta sẽ gặp trong ý tình vũ bão
Con thuyền hồn trở lại bến hoang sơ

(Ngồi lại bên cầu, trong tập Thân Phận, 1962)

Bến là ngoại cảnh, mà cũng là tâm cảnh. Bến là thực tại mà cũng là hoang tưởng. Là không gian cùng với thời gian trong hiện tượng luận. Bến là thời gian ngoài thời gian, như trong bài thơ Đăng Trình của Vũ Hoàng Chương:

Bao nhiêu hạt cát bến sông này,
Đã bấy nhiêu ngàn thế kỷ nay,
Ta vượt ngàn năm đường ánh sáng,
Đi từ vô tận đến nơi đây.

Bến đây có thể là một Cõi Về, vào một kiếp khác, và đâu đó, cũng là một Bến Quê:

Đêm đêm ta dõi mấy tầng cao,
Tìm một không gian mới lạ nào,
Lấp lánh Quê Trời thơ hẹn bến,
Giam mình Quê Đất mãi hay sao ?

Bài thơ này Vũ Hoàng Chương cảm hứng từ những thành tựu khoa học không gian, những phi thuyền đầu tiên mà loài người phóng lên thám hiểm vũ trụ, 1957, có đoạn lồng lộng thi tứ:

Này lúc vèo qua hệ thái dương
Ném sau ngàn lửa đóm kim cương,
Mạn phi thuyền cháy lên hừng hực
Ta gõ mà ca: thiên nhất phương…

Phi thuyền hực cháy, nhà thơ ngồi trong đó, mà vẫn an nhiên “gõ mà ca” thơ Tô Đông Pha: vọng mỹ nhân hề…thì quả là ngang tàng, hào sảng, siêu thoát. Bài thơ tuyệt diệu, đưa khoa học vào chân trời mơ mộng, làm giao điểm giữa kỹ thuật và thi ca.

Bến là một tâm cảnh đã nằm sâu trong tiềm thức cộng đồng, có khi không ai nhắc đến mà ta vẫn nhớ, như trong câu thơ nổi tiếng của Xuân Diệu:

Đã nghe rét mướt luồn trong gió,
Đã vắng người sang những chuyến đò.

Trong câu thơ, nào có chữ bến nào đâu, sao mà ta vẫn thấy ? Thế thì cái bến nằm ở đâu ? Xin thưa nó nằm ở chỗ ngắt câu 4/3, khi giọng người chậm lại, chùng xuống

Đã vắng người sang
– những chuyến đò..

Trở về lý thuyết cơ bản của thi pháp: mọi kỹ thuật hình thức đều tiềm ẩn nội dung của nó. Điều cơ bản, nhưng không phải lúc nào, và ai ai cũng nhận ra.
 

*
 

Bến quê… Mỗi quê hương là cái bến trong trí nhớ. Nhớ một bến quê ngày xuân trong thơ Nguyễn Trãi: Trại đầu xuân độ (Bến xuân đầu trại):

Độ đầu xuân thảo lục như yên
Xuân vũ thiêm lai thủy phách thiên
Dã kính hoang lương hành khách thiểu
Cô châu trấn nhật các sa miên.

Xuân Diệu dịch tài tình, vừa sát ý vừa thoát lời, dịp Tết 1977:

Cỏ xuân đầu bến xanh như khói
Thêm hạt mưa xuân nước vỗ trời
Đường nội vắng xa, hành khách ít
Thuyền côi gác bãi suốt ngày ngơi.

Trong Quốc Âm thi tập, Nguyễn Trãi một đôi lần đã có dùng từ bến:

Bến trúc đường thông cảnh cực thanh…
Bến liễu mới dời thuyền chở nguyệt…

Sau đó là trong Hồng Đức quốc âm thi tập:

Bãi tạnh thuyền ai bến liễu dời.

Có lẽ đây là những « bến » nôm đầu tiên trong thơ quốc âm. Cần lưu ý đến cụm từ « thuyền ai » thường trở đi trở lại trong thơ ta, nhờ nội hàm và âm giai, như trên đã nói.

Hình tượng bến, thịnh hành trong phong trào Thơ Mới. Nguyễn Bính, 1938, đã có nhịp thơ lạ:

Hôm nay, dưới bến xuôi đò
Thương nhau qua cửa tò vò nhìn nhau
Anh đi đấy, anh về đâu
Cánh buồm nâu, cánh buồm nâu, cánh buồm.

Một hơi thơ buồn bã mở đầu tập Rau Tần của Trần Huyền Trân :

Mưa bay trắng lá rau tần,
Thuyền ai bốc khói xa dần bến mưa,
Có người về khép song thưa
Để rêu ngõ trúc tương tư lá vàng.

(Thu, 1939)

Tâm trạng u uất một thời, qua đoạn thơ Vũ Hoàng Chương mà nhiều người biết:

Lũ chúng ta đầu thai nhầm thế kỷ,
Một đôi người u uất nỗi chơ vơ,
Đời kiêu bạc không dung hồn giản dị,
Thuyền ơi thuyền xin ghé bến hoang sơ.

(Phương xa, 1940)

Hay Lưu Trọng Lư ngất ngưởng, trên báo Hà Nội Tân Văn, số 13 ngày 9-4-1940:

Ước gì ta có ngựa say
Con sông bên ấy bên này của ta.
Trời cao, bến lặng, bờ xa
Lao đao gió sậy, la đà dặm trăng…

Bài này khi in lại trong Tuyển Tập Lưu Trọng Lư, 1987, thì văn bản vừa thiếu sót vừa…vớ vẩn, tr.64:

Ta say ngựa cũng la đà ( ???)
 *
 Quê tôi cũng lắm bến, nhiều đò. Đò dọc, đò ngang, những bến đò hiu hắt chiều sông, nay chỉ thấp thoáng trong hoài niệm của một người bạn trẻ, – cũng là xấp xỉ cổ lai hy – đồng hương, nhà thơ Uyên Hà, mới gửi đến tôi:

Chị ơi chiều đến em say khướt
Như những chàng trai lỡ hẹn về
Chị ơi, trong bóng chiều thổn thức
Vẫn sáng vô cùng một bến quê.

Không cứ gì một Uyên Hà, trong chúng ta đã có bao nhiêu khách tình xuân, cùng với Nguyễn Bính, đã

Đi biệt không về với bến sông

Riêng với tôi, sau cuộc sum vầy, họp bạn trên báo hôm nay, trong mùa xuân này, trên Bến Xuân này, sẽ còn ngân dài một giọng hò mái nhì, mái đẩy, đâu đó, đâu đây, sâu lắng, vắng xa:

Tình về Đại Lược,
Duyên ngược Kim Long
Đến đây là chỗ rẽ của lòng
Gặp nhau còn biết trên sông bến nào.

Đặng Tiến
Xuân Ất Mùi
31-1-2015

_____________

1. Yves Bonnefoy (sinh 1923), trong Un Rêve fait à Mantoue, 1967, nxb Mercure de France. Gallimard in lại trong loại sách bỏ túi : L’Improbable et autres essais, tr. 256-257, 1992, Paris.
2. Thơ văn Nguyễn Khuyến, tr. 102 và 385, nxb Văn Học, 1971, Hà Nội, Thi hào Nguyễn Khuyến đời và thơ, tr. 457-462, nxb Giáo dục, 1994, Hà nội. Núi Long Đội, tức núi Đọi thuộc tỉnh Nam Hà.
3. Thơ Đường, Tập I, tr.172, nxb Văn Học, 1962, in lại 1987, Hà Nội. Ghi dịch giả khuyết danh
4. Hoàng Xuân Hãn, Chinh phụ ngâm bị khảo, tr.143, nxb Minh Tân, 1953, Paris.
5. Gaston Bachelard, La poétique de l’espace (Thi tính của không gian) tr.179, nxb P.U.F.1957
6. Nt, tr.174 và 180.
7. Nguyễn Minh Châu, Bến quê, tr.61-64, nxb Tác Phẩm mới, 1985, Hà Nội. Truyện ngắn 8 trang, viết tháng 7-1983. Đọc thêm bình luận về bài này của Tôn Phương Lan, Phong cách nghệ thuật NMC, tr.125, nxb Khoa học Xã hội, 1999, Hà Nội.

 

Con Chuột MẬU TÝ

Đặng Tiến

chuot8

          Năm nảo năm nao, năm nào cũng vậy, ngày hết Tết đến, viết bài Tết, ký ức lại xôn xao nhiều hình ảnh quê xưa, nao nao vần điệu ca dao.

Năm Tý, nhớ câu :

Chuột kêu rúc rích trong rương
Anh đi nhè nhẹ, đụng giường má hay

Ngày nay, nhất là ở thành phố, thấy chuột chạy, nghe chuột kêu, sẽ có người hoảng hốt. Nhưng xưa kia, việc ấy bình thường, thậm chí câu lục bát nói trên, còn là một âm vang của hạnh phúc. Nó chứng tỏ trong nhà có cái ăn. Tiếng rúc rích canh khuya gợi lên khoảng thời gian thanh lắng, và không gian êm ả. Trong khí hậu yên lành đó có tiếng chân người, kín đáo, kiêng dè : hạnh phúc đang đi dần, đi dần lại, cùng bóng đêm đồng lõa. Chúng ta tưởng tượng đôi vợ chồng mới cưới, về thăm cha mẹ, có lẽ là cha mẹ vợ, vào một dịp giỗ tết. Cứ tưởng tượng tối mồng hai Tết : mồng một lễ cha, mồng hai lễ mẹ, mồng ba lễ thầy. Vợ chồng đã cưới hỏi, nhưng khi về nhà cha mẹ, vẫn phải giữ kẽ nằm riêng. Tại sao lại sợ « má hay », mà không sợ cha, sợ tía ? Có lẽ là thời ấy, đàn ông ngủ nhà trên, phụ nữ ngủ nhà dưới. Xưa. Hạnh phúc ngày xưa : dè dặt mà đằm thắm sâu xa, không như cái vồ vập, thường dễ phôi pha ngày nay.

Tình huống đêm hôm khuya khoắt này ắt là hư cấu, hoặc ít xảy ra. Nhưng tình cảm là thật và lễ nghi là thường. Lời người con gái – tôi dùng từ sai – nói ra lúc nào ? Phải chăng chỉ là giấc mơ hạnh phúc, thậm chí là hoang tưởng của người phụ nữ, đặt trên tình yêu, đồng cảm và lễ nghĩa, và trong chừng mực của kinh tế. Hạnh phúc trong không gian âm phái : người vợ, người mẹ, canh khuya, cái giường. Phải đặt tiếng chuột rúc rích trong không gian đó, chứng nhân, đồng lõa, rúc rúc  chúc phúc.

Một câu ca dao ngắn, ôi sao mà súc tích !

Tiếng chuột biểu hiện hạnh phúc, không phải tôi suy ra để tán tụng câu ca dao, mà do Tô Hoài kể lại, trong truyện O chuột, 1941, một thành công đầu tay của anh :

« Người ta chỉ ưa cái tiếng kêu « chuúc… chuuúc.. ». Các cụ ta nói : ấy chuột chù bảo : « túc, túc » « đủ đủ ». Nhà ai mà chuột chù cứ túc túc luôn, ắt nhà ấy hẳn sắp có việc đại phát tài ».

Nửa thế kỷ sau, Tô Hoài nhắc lại ý cũ, và đế thêm vào câu ca dao minh họa :

Thứ nhất đom đóm vào nhà,
Thứ nhì chuột rúc, thứ ba hoa đèn.

Lại Chuyện chuột, trong Chuyện Cũ Hà Nội, ấn bản 2000, là một đoản văn hay, đầy đủ về loài chuột. Tác giả giải thích :

« Tôi viết bài lại kể về chuột này bởi xưa nay tôi có cơ duyên với chuột, đã viết nhiều về chuột. Những truyện ngắn O chuột, Chuyện gã Chuột bạch, Chuột đồng chuột nhà, và những Chuột thành phố, Đám cưới chuột… Tôi kiếm cơm nhờ chuột, vậy mà tôi vẫn chén thịt chuột… »

Trong các tác phẩm được nhắc lại, đặc sắc nhất là Chuyện gã chuột bạch, tinh vi và tinh quái, ý vị và thi vị :

«  Cả hai vợ chồng cùng ưa đêm tối. Bởi ban ngày họ thường ngủ. Bốn cái chân trước sát vào nhau ; bốn con mắt cùng khép. Chiều đến đã đem bóng về dần dà trong cửa sổ, Bấy giờ vợ chồng chuột mới bừng mắt. Họ ngơ ngác nhìn hoàng hôn. Gã chuột đực mò mẫm tìm cái đĩa đựng gạo. Chị vợ cũng nhẹ nhàng đi theo. Họ gậm nhấm mấy hạt. Những tiếng răng nghiến trên hạt gạo, nghe ken két, sàn sạt như tiếng một con mọt cựa mình trong thớ gỗ ».

Không biết trong văn học thế giới, có nhiều những âm hao tinh tế như vậy chăng?

Một hôm chuột vợ ngoạm được miếng mồi to, nuốt trửng một chú bọ ngựa : « Một mạng lớn, giết đi một mạng nhỏ, êm nhẹ như hơi chiều lặng lờ sang… »

Chuột ả chết vì mắc nghẹn, chuột chàng không mấy quan tâm : « Gã đã khỏi ốm. Không có đàn bà thì chừng như gã khỏe khoắn lắm lắm. Một mình đánh cả hai cái vòng, nghe rộn ràng, cũng vui… ».

Truyện đăng báo Tiểu Thuyết thứ bảy, 1941. Nhân cái Tết năm Tý này, đọc lại, ngoài niềm thích thú, ta còn tìm được đôi ba chìa khóa đưa vào triết lý Tô Hoài, hiểu thêm non 200 trước tác của anh, về sau.

Trong Lại Chuyện Chuột đã dẫn, Tô Hoài có nhắc đến truyện dân gian Trinh Thử ; chắc là anh đã nghe truyển khẩu và không kiểm soát văn bản nên đã kể… ngược, nhầm nhân vật chuột chồng ra chuột vợ.

Trinh Thử, con chuột trinh tiết là một truyện nôm bằng thơ, ra đời cuối thế kỷ 19. Vì các bản in xưa kia, ngoài bìa ghi tác giả là « Trần triều xử sĩ Hồ huyện Qui tiên sinh soạn » nên độc giả tưởng là tác phẩm thời Trần Hồ.

Ngày nay, giới biên khảo tìm ra nguồn gốc là truyện văn xuôi Trung Quốc xuất hiện nửa sau thế kỷ XIX, tên là Đông thành trinh thử truyện, chuyện con chuột trinh tiết thành phía đông. Bản in sớm nhất hiện nay là 1875, có người cho là của Nguyễn hàm Nghi, quê Quảng Bình.

Tác phẩm gồm 850 câu lục bát, kể chuyện con chuột Bạch góa bụa đi kiếm mồi nuôi con ; một hôm tránh chó, lỡ cơ sa vào ổ khác. Gặp lúc chuột Cái đi vắng, chuột Đực thừa cơ tán tỉnh, chuột Bạch một mực từ chối ; chuột Cái về, bắt gặp, nghi ngờ và ghen tuông. Cuối cùng là đả thông và hòa giải.

Chuyện răn đời, đề cao tiết hạnh, cảnh cáo thói trăng hoa và tính ghen tuông không cơ sở. Nhưng đặc sắc của Trinh Thử là đã đưa lời ăn tiếng nói dân gian vào tác phẩm, đôi khi bất ngờ. Ví dụ thành ngữ « râu quặp » chỉ người sợ vợ, qua lời chuột Đực :

Ta đây dễ nạt được nào
Chẳng như kẻ quặp râu vào rẻ roi.

Thành ngữ « no cơm rửng mỡ » tưởng là đã hiện thực, Trinh Thử lại còn táo tợn hơn : « no cơm thì rửng hồng mao ». Một câu nói đùa vui, không ngờ xuất hiện trong tác phẩm văn học :

Ruồi kia một phút bay qua
Biết là đực cái, lọ là sự ai.

Đây là lời chuột Cái trách chồng, rất thực tế và dân dã :

Chiếu chăn nào có hững hờ
Mà như voi đói thì vơ dong dài
Quen mùi bận khác ăn chơi
Có ngày cũng được như ai ghẻ tàu.

Ghẻ tàu là tên nôm na của bệnh dương mai, da liễu. Truyện Kiều lắm lầu xanh, từ Tú Bà sang đến Bạc Bà dập dìu lắm kẻ vào ra,  mà không nghe những Thúc Sinh, Từ Hải bệnh hoạn gì.

Trinh Thử thật sự là một truyện dân gian.

Trên đây là những con chuột tượng trưng, tô điểm cho văn chương. Không phải là loài chuột thực tế, phá hoại mùa màng và đồ đạc trong nhà. Chưa kể phương Tây còn cho rằng chuột truyền nhiễm nạn dịch. Trong tiếng Pháp, từ thông dụng để nói hỏng việc là rater, nguồn gốc là từ rat, loài chuột đồng, chuột cống.

Vì nạn phá hoại mùa màng, từ thời Kinh Thi do Khổng Tử san định, đã có ba bài Thạc thử, Chuột lớn : chuột lớn chuột lớn…, đừng ăn nếp ta… Chớ ních gạo mạch… đừng cắn mạ ta…

Ngoài nghĩa đen, ở đây loài chuột còn ám chỉ tham quan, ô lại. Cùng nghĩa ấy trong thơ Việt Nam, Nguyễn Bỉnh Khiêm 1491-1585, có bài Tăng thử, Ghét chuột, dữ dội, với câu thơ cô đúc : thành xã ỷ vi gian. Con chuột, không những tàn phá đồng áng, mà còn ẩn nấp, dựa vào nơi tường thành, đàn xã (bàn thờ xã tắc) để làm điều gian xảo. Trích đoạn bản dịch của Ngô Lập Chi :

Chuột lớn kia bất nhân
Gậm khoét thật thâm độc
Đồng ruộng trơ lúa khô
Kho đụn hết gạo thóc
Nông phụ cùng nông phu,
Bụng đói miệng gào khóc
Mệnh người dám coi thường
Chuột mi sao tàn khốc ?
Ỷ thành xã làm càn
Thần, nhân đều hằn học.

Rõ ràng là Nguyễn Bỉnh Khiêm không chỉ nhắm vào chuột-súc vật. Thơ Trạng Trình như là có tính cách sấm ký.

Gần ta hơn Nguyễn đình Chiểu, 1822-1888, có bài Thảo thử hịch, Hịch đánh chuột, hiện thực, chân xác và quyết liệt :

Gọi danh hiệu : chuột xạ, chuột lắt, chuột chù, chuột cống, anh em dòng họ nhiều tên, tra quán chỉ : ở nhà, ở ruộng, ở lạch, ở ngòi, bầu bạn non sông lắm lối…

Lớn nhỏ răng đều bốn cái, ăn của người thầm kín biết bao nhiêu, vắn dài râu mọc hai chia, vắng mặt chủ hung hăng đà lắm lúc…

(…) Sâu hiểm bấy tấm lòng nghiệt thử, cục cứt ra cũng nhọn hai đầu…

(…) Ngàn dòng nước khôn bề rửa sạch tội đa dâm …

Bị kết án đa dâm vì… mắn đẻ.

Trong bài, có câu nằm ngửa cắn đuôi tha trứng… nhắc tới thơ Trinh Thử cắn đuôi tha trứng gần xa…. Con chuột muốn tha quả trứng, phải nằm ngửa, ôm trứng trên bụng, đợi một con chuột khác ngậm đuôi kéo đi. Tranh Trung quốc có minh họa cảnh này :

Loài chuột, do đó, được tiếng  tinh khôn, có tài « ngũ kỹ » gồm năm cái khéo, theo sách Tuân Tử : bay, leo, bơi, đào, chạy. Lại có sách nói : thiên khai ư tý : trời mở ở cung Tý, vì theo lịch Trung Quốc, thiên can và địa chi khởi đầu ở cung Giáp Tý. Mỗi chu kỳ 12 hay 60 năm đều vậy.

Chuyện nọ bù chuyện kia, hình ảnh chuột, ngay ở phương Tây cũng không phải luôn luôn và hoàn toàn xấu. Bằng cớ là con chuột Mickey trong tranh và phim hoạt họa Walt Disney, có lẽ là chú chuột lừng danh nhất thế giới hiện đại. Hãng phim này trong năm 2007 đã sản xuất một phim hoạt họa lừng danh, đoạt nhiều giải thưởng quốc tế,  « Ratatouille », một cách chơi chữ, lấy tên một món ăn bình dân, tương đương với món bung của ta, và bắt đầu bằng tiếng Rat (chuột).

Phim kể chuyện con chuột Rémy chạy lạc vào một tiệm ăn lớn ở Paris, lừng danh là nơi có nhiều tiệm ăn ngon. Tình thế đẩy đưa, chú chuột Rémy trở thành một đầu bếp xuất sắc, được làng chuột Paris bảo vệ và ủng hộ. Phim có tính cách ngụ ngôn, vui nhộn, truyền cảm, nhạc hay. Ý nhị, tinh tế.

Ngày nay, trong máy điện toán, con chuột là bộ phận thân thiết nhất với bàn tay, có lẽ dịch từ tiếng Anh Mouse, tiếng Pháp Souris, là chuột nhắt, chứ không phải là chuột cống, Rat, mang âm vang xấu hơn.

Trong ca dao, dường như cũng là chuột nhắt :

Con mèo mày trèo cây cau

Hỏi thăm chú chuột đi đâu vắng nhà ?

Chú chuột đi chợ đường xa

Mua mắm mua muối giỗ cha con mèo.

 

Tranh Đám cưới chuột, có tiêu đề Nghênh hôn, vẫn có người gọi là Chuột vinh quy, trong nghệ thuật dân gian, có lẽ nguyên ủy là hai bức tranh kết hợp, bổ sung cho nhau, không rõ là chuột gì; có lẽ là chuột nhắt mới phải đấm mõm mèo, dù là trên đường vinh quy.

Dung hòa những nét đa dạng, có khi tương phản về loài chuột, Apollinaire, 1880-1919, có bài thơ La Souris, Con chuột, trong bộ Le Bestaire, Tranh cầm thú, gồm 30 bài được Raoul Dufy minh họa, 1911. Bài thơ ngắn, đơn giản, hiện thực và thi vị :

Belles journées, souris du temps

Vous rongez peu à peu ma vie.

Dieu ! je vais avoir vingt huit ans,

Et mal vécus, à mon envie.

Tạm dịch :

Bao nhiêu ngày đẹp, chuột thời gian

Gậm nhấm đời ta đã mẻ mòn.

Trời ơi ! mình sắp lên hăm tám

Sống vất vơ và mộng dở dang.

 

Nhạc sĩ Nguyễn Tư Triệt đã phỏng dịch và phổ nhạc :

 

Năm tươi tháng đẹp, ôi lũ chuột thời gian,

Đời ta từng chút gậm mòn…

Bài hát Chuột thời gian được in trong tập nhạc Khúc hát tiều phu, nhà xuất bản Thuận Hóa, Huế, 2003 và ghi vào đĩa hát CD.

Đây là cuộc giao duyên tươi đẹp của nghệ thuật, mà con chuột đã giăng đầu tơ mối nhợ.

*

Chuột gây tai hại, thì ai cũng biết.

Nhưng tâm thức con người và qua văn thơ, nhất là ngôn ngữ dân gian, chuột là một hình ảnh thân thuộc và thân ái. Có lẽ vì vậy mà chuột đứng đầu trong hàng can chi, và nhiều người tin năm Tý là năm may mắn.

Ở đời, không có gì may mắn bằng Chuột sa chĩnh gạo.

Đón mừng xuân Mậu Tý, mình cứ chúc nhau dân dã như thế.

Đặng Tiến

Orléans, Tết Mậu Tý 2008

ÁO LỤA SÓC TRĂNG

Nguyên Lạc

aodaiquehuong

Ai về đất Sóc quê tôi *
Nhớ thăm Hoàng Diệu một thời đã xa
Một thời yểu điệu thướt tha
Trắng dài áo lụa đón đưa con đường
.
Nhớ thăm cây điệp sân trường
Hoa vàng rơi nhẹ lời thương tóc người
Nhớ thăm … nhiều lắm người ơi
Trong tôi trọn cả đất trời Sóc Trăng
.
2.
Phương này giờ tuyết trổ bông
Muôn trùng trắng phủ. Nỗi lòng quê tôi
Nhớ thương … thôi cũng chỉ rồi
Đêm ba mươi lạnh ngoài trời tuyết bay
.
Có người lữ khách mồ côi
Đón xuân xứ lạ thấy đời hư không
Sóc Trăng thời đó còn không?
Dáng ai ngày đó … còng lưng nắng đời?
.
Sóc Trăng vẫn mãi trong tôi
Trắng dài áo lụa trọn đời … Thiên thu!
..
Nguyên Lạc

NHỚ

Võ Công Liêm

bienvang

tặng: ngô thị hạnh . chiêu anh nguyễn.
nắng rủ hàng cây
lả lơi theo gió
bên dốc đời trôi
theo thành phố buồn
tôi . nghe từng nhịp bước
trên vĩa hè vắng bóng tình nhân
sài gòn nằm đợi đêm về sáng
thả xuống hoàng hôn một hôn hoàng
em . ngoái cổ nhìn đời trên bao lần sụp đổ
một sáng mưa về đếm từng hơi thở muộn
ỏ quán chùa hay hân đa kao đặc quánh cà phê
những chuyến xe xuôi miền lục tỉnh
em gót sen vàng chờ đợi giữa mùa trăng
anh con trâu ngái ngày xưa mơ mộng dữ
đến bây giờ mới thấy một sài ghềng thơm
nhớ . những khi chênh vênh đầu núi nọ
với nụ cười khấp lõa bước chân đi
tôi trở về trong lòng thành phố cũ
mùi nắng cháy . trắng da dài tóc một thuở nào
con đường rợp bóng cười nghiêng ngã
thỏa mộng giang hồ một kiếp đời dư .

tặng; phan như mai . nguyễn bửu tường vi.

xin đừng mưa
lên thành phố cổ
xin đừng gió
lộng thổi quần em
mỗi khi qua cầu
giữa trưa đứng bóng
trên sông tiếng quốc kêu ai oán
một thời phế đế vẫn còn vương
thành nội xưa câu hò mái đẩy
cho mưa thúi đất cho nắng cực hình
em . ngự viên ghé qua chùa diệu đế
tôi . lên từ đàm nhìn đá nghe kinh
‘núi ngự bình trước tròn sau méo
sông an cựu nắng đục mưa trong’*
thấy em phơi gió giựt mình thêm
lửng lơ lơ lửng nằm ôm bóng chiếu
nghiêng qua ngửa lại một chầu trống canh
huế chiều mưa về vội
trên con đường ướt áo em qua
những chiều rất huế em còn nhớ
trăng trải đầy sông mênh mông xanh
trong mắt em cả trời thành nội
tôi . đưa em vào hạ
em . đưa tôi ngất ngư
vĩnh biệt tình em cho thêm huyền thoại nhớ
huế của tôi ơi màu tím áo quan san không còn nữa
xin khất lại ngày xưa hoàng thị để nhớ huế của tôi
bún bò mụ rớt bên gia hội
bánh bèo đò cạn vẫn còn đây
nhớ . tô cơm hến thơm mùi ruốc
bên bến đò cồn lút mặt thằng tôi
một huế xưa em theo pháo nổ về nhà nọ
tôi vẫn chờ em ngày nắng trắng trong .

* Phương ngữ nhân gian (tục ngữ xứ Huế)
tặng: võ thị xuân hà . nguyễn thị hồng ngát

em . theo ai về bên nớ rứa
tôi . ở bên ni tắm nắng mùa đông
mà nghe hơi thở tợ nhung mềm
những chiều tháp rùa nghiêng bóng đợi
ngọc hồi chùa cổ sơn màu đỏ
làm ngập ngừng chân bước qua cầu
ngày thăng long tôi ru em ngủ
cho vẹn câu thề với núi sông
hà nội . ba mươi sáu phố phường còn đó không ?
đồng xuân thịt chó treo đầy chợ
để một đầu năm rượu với chè
nhớ . văn cao chiều ba mươi tết
bên chiếc dương cầm thuộc điạ xưa
hình như trong đó hồn tử sĩ
một thời đua nở trăm hoa chen
cho tới bi chừ mộng dưới trắng sao
những tình ca ngày đó
sống lại như bao lần
kiếp hoa . bóng hạnh phúc . dư âm ngày cũ
năm cửa ô em đi vào thời chiến
giữa muôn trùng rừng núi ngập hồn anh
hà nội phố . cửa cao nhà lớn tưng bừng sáng
em mặc áo hồng hay áo hoa ?
tôi . tặng em toàn bài ca tình ái
để thấy đời như một nhánh sông trôi
tình . vẹn hay mất
người . còn hay chết
đời . lộ thảo đầu phô
‘em còn nhớ hay em đã quên’*
một ngày lộng gió trời phương ấy
em có về nghe gió reo ?
giữa triều hạn khô khóc đất đục
cả vùng thuốc súng qụy đôi chân
giành giựt làm chi với đồng khô hồ cạn
buồn ơi chào mi . thời phong nhụy đã qua rồi
lấy vinh quang mà tát biển đông này . ạ

tôi . chờ em bao tháng năm
trong lòng đất địch không biên giới
để nghe quan họ hát . nhịp phách cười .

* Lời nhạc: của trịnh công sơn.

VÕ CÔNG LIÊM (ca,ab.yyc . áp tết Canh Tý 2020)

Võ Công Liêm Khảo Cứu

CA DAO Và THI CA II
LÀ TRIẾT LÝ CUỘC ĐỜI

tranh vcl 1

Tranh Vẽ Võ Công Liêm: ‘Ban nhạc Dân gian / The Folk Band’

Kính dâng giáo sư: Lê Tuyên.

Nói đến ca dao và thi ca cho ta một liên tưởng đến vũ trụ ngoại giới của con người, một cái nhìn khám phá mới giúp cho chúng ta bắt gặp vũ trụ nội giới; một dàn trải tâm lý giữa chủ thể và ý thức liên kết với nhau để trở thành một phạm trù văn chương, bởi trong sâu thẳm của tâm hồn phát sinh ra ngữ điệu để soi sáng nhận thức, thiết lập và chứng kiến sự lớn dần ’Au fond de chaque mot/J’assiste à ma naissance’ (A. Bosquet) Đó là những gì xuất thần để sáng tạo ra ngữ ngôn; đó là tri giác ngoại giới đã làm rung động nội giới, một thể hiện thường hay xẩy ra của con người trong mọi tình huống, trong mọi đẳng cấp khác nhau cùng khởi từ một tâm hồn trong sáng, một thức tỉnh sống dậy từ tiềm thức đi qua từ vũ trụ ngoại giới đến vũ trụ nội giới kết hợp thành ca dao hay thi ca.
Ca dao là nguồn cội của dân gian, thi ca là tầng lớp của văn học kết duyên để hòa hợp vào một ngữ điệu thông thường mà chúng ta bắt gặp một cách dễ dàng không còn là giới tuyến của văn chương. Nếu trong mỗi lối diễn đạt ’cao siêu’ của thi ca thì người ta không cần sự vật ngoại giới làm đối tượng mà chất liệu lấy từ nội giới để xây dựng hình tượng, ngược lại ca dao phải đi qua từ hình ảnh ngoại giới, dung hòa giữa nội giới đúc thành văn bằng biểu hiện qua ngữ ngôn nói lên tâm trạng và hoàn cảnh thích nghi một cách tự nhiên, một cách trong sáng hơn ’J’ai mes allumettes: les mots’(Henri Bosco). Đó là những chuyển biến để chúng ta thấy rằng, một vị trí nội tại bởi con người đặt mình trước cuộc đời như một nhập thể, một lối đi vừa tự nhiên vừa đương nhiên là một gắn bó con người với vũ trụ giới, một tâm trạng mà trong suốt Đoạn Trường Thân Thanh Nguyễn tiên sinh không cho đó là hiện tượng mà là vai trò chủ thể đối diện với vũ trụ như định mệnh, một thứ ngữ ngôn được dung thông và cách mạng hóa vào mọi tầng lớp con người, xã hội và bất cứ hoàn cảnh nào, thời đại nào:
’Nói chi kết tóc xe tơ
Đã buồn cả ruột lại dơ cả đời’ (Kiều)
Thì đó; một lời ta thán, não nuột vốn đã có, hình ảnh đó không còn xa lạ mà đó là một tâm lý nội tại, gắn bó cho đối tượng một ý nghĩa vào đời là một thảm trạng ngao ngán, một thảm họa bi thương nẩy nở như ’The Birth of Tragedy’ (Nietzsche) liên hệ của ngữ ngôn mà thi ca đã xử dụng là một ý thức, một thứ ngôn từ biểu dương đối tượng, biểu dương hình ảnh và cũng là biểu dương tâm trạng, coi những câu thơ đương đại không còn trong phạm vi thơ mà nó vượt xa đến quần chúng như ca dao, dù là thảm họa bi thương nhưng đó là tâm thức , một tâm thức trách nhiệm con người:
’Quanh năm buôn bán ở ven sông
Nuôi đủ năm con với một chồng
Lặng lội thân cò nơi quãng vắng
Eo xèo mặt nước buổi đò Đông’ (Tú Xương).
Con người thi ca nhìn hiện tại nhiều hơn thấy vũ trụ ngoại tại, nó gây ra từ động lực ý thức nội tại ’innermost being’, đó là một thức tỉnh trực tiếp và hiện tại, từ ’hình ảnh’ đó biến thể ra ngôn từ, biến chất liệu để thành thơ, có đôi khi vượt thoát để xúc tác thành một ngữ điệu siêu lý thành thi-tứ một cách thông thường không còn xa lạ; không có lối đi, lối về, đẩy đưa như ca dao. Sở dĩ có trường hợp như vậy vì ca dao ’sống’ với ngoại giới vũ trụ, chiếm cứ một cách quan trọng trong sự khám phá của tâm hồn; cho nên người nghệ sĩ bình dân sáng tạo ra ca dao là nuôi dưỡng một ý thức ngoại giới sau đó du nhập vào nội giới để biến thành vần điệu. Thí dụ: mơ trong ca dao là cái nhìn hiện vật nhưng biến hóa sự vật vào hiện tượng dung thông với tâm hồn. Hợp cảnh, hợp tình của ca dao đi vào người không còn là hình tượng mà hiện thực:
’Mẹ già như chuối bà hương
Như xôi nếp một như đường miá lau’ (ca dao phổ thông)
Hay:
’Cá không ăn muối cá ương
Con cải cha mẹ trăm đường con hư’… (ca dao phổ thông)
Đó là tiếng khua động nội tại nhưng ca dao không có hình tượng gần gũi thì ca dao không còn thi vị hóa. Vì vậy vũ trụ ca dao là một hòa nhập nhất thể tuy có hình tượng, nhưng hình tượng chỉ là mệnh đề phụ cho bản ngã tức chủ thể nội tại. Francis James có lần nói: ’tôi không thể nào có được một tình cảm, nếu không có trái ngọt hay sự vật ngon miệng…’ vị chi cái nhìn như thế là cái nhìn của ca dao, không phải cái nhìn tưởng tượng hay đòi hỏi mà cái nhìn sâu xa, chung thủy giữa con người(nghệ sĩ sáng tạo)với mối tương giao thiên nhiên để biến mình thành hiện hữu,một hiện hữu hiện sinh trong ca dao:
’Con cua anh không sợ, anh sợ con còng
Kẻ tiểu nhân anh không sợ, anh sợ gái hai lòng hại anh’(ca dao Nam bộ).
Rõ ràng ngôn từ như thế là một biểu thị để thăm dò tình yêu chân thật, lối diễn tả của ca dao mang nhiều tính chất nhân thế mà con người là một tiếp cận hiện hữu với thiên nhiên, xử thế như một tiến trình của vũ trụ; chính nhờ vũ trụ mà con người thấy được hình ảnh của tâm trạng, hay nói cụ thể hơn vạn vật của vũ trụ là đối tượng thích ứng trong ca dao và thấy được tâm trạng trên vũ trụ. Linh hồn của ca dao nó biến hóa một cách linh diệu, ca dao là trực diện, một ẩn dụ sâu xa, một diễn tả thẩm mỹ của ca dao Việt Nam, nhìn ra ca dao là tác động tự khởi ’motility’. Không!ca dao là cảm thức trực tiếp với hoàn cảnh, đầy đủ chất liệu thơ để chứng tỏ sự ngay thẳng, thật thà, phản ảnh cả tâm hồn ’ăn ngay nói thật’ không mộng mị, không đạo đức giả. Tưởng như rào trước đón sau. Mà đó là một xác quyết có mục đích ’for decidedly different purposes’. Giữa thi ca và ca dao trở thành gia-huấn-ca:
’Đời phồn hoa cũng là đời bỏ đi’ (Kiều)

’Hải đường mơn mởn cành tơ
Ngày xuân càng gió càng mưa càng nồng’
Nguyệt hoa hoa nguyệt não nùng
Đêm xuân ai dễ cầm lòng được chăng? (Kiều)
Đó là mối giao kết giữa người với đời, giữa người với thiên nhiên là hai hình tượng quấn quýt bên nhau được đưa vào vũ trụ của thi ca , mà chính hai sự thể đó là chuỗi liên trình nằm trong mơ, cái mơ tuyệt diệu, thẩm mỹ, tránh cái viễn tượng cuộc đời lố nhố, lăng nhăng, khó mà có cái nhìn tương giao hội ngộ, dù có ’hoa chào ngõ hạnh’ rồi đi tới cái cảnh ’hoa cười gió đông’ tất thảy đều nằm trong vũ trụ nhân sinh, một thế giới phủ phàng mà Tố Như tiên sinh hầu như trải dài đến 3254 câu thơ là cả một gắn bó đời mình vào đó, như một thổn thức chất chứa triết lý nhân sinh . Bởi thi ca cũng như ca dao đều có ý thức từ sự vật, khám phá tự chính mình mà trở thành đối tượng chủ thể, nghĩa là chủ thể nghi ngờ đời không thật lòng, cho nên chi gắn bó ở đây là tế nhị, sâu xa để trở nên siêu hình. Siêu hình chủ-thể-đối-tượng và siêu hình chủ-thể-tìm-thấy mình trong lòng đối tượng. Nguyễn Du đưa thi ca vào hai lãnh vực chủ thể và tha thể. Một thứ thi ca vượt thời gian. Một thái độ hiện sinh trong vai trò độc lập của con người, đó là lòng khao khát tự do.Tự do trong một tình nghĩa cao đẹp. Nguyễn Du khao khát tự do!
’Khuyên chàng đọc sách ngâm thơ
Dầu hao thiếp rót đèn mờ thiếp khêu’ (ca dao phổ thông)

Con người luôn có một dự phóng về tương lai, tức là dựa vào vũ trụ mơ ước, nhìn thực thể của đối tượng là thấy được hoài vọng, một tâm thức trở về của cõi mộng là bình diện của hiện hữu, đó là một giao liên ngấm ngầm của con người, một ý thức tri giác là hy sinh để có hoài vọng; tư duy đó cho ta một nhận thức khác của ’Cartian’ là ’cogito/ego/self’ nằm trong định đề của Descartes :’Je pense, donc je suis’ cái tư duy riêng mình là hiện hữu, một hiện hữu của sự mơ về, không phải mơ về trong chiêm bao mà mơ về với hy sinh, chịu khổ, chịu cực cái mơ của hiện thực. Ca dao đứng trên bình diện diễn đạt của ngôn từ là một lối về của mơ, một ước ao tiềm ẩn nhưng mang nặng hình thái nghệ thuật, không vượt quá cái nhìn tâm thức mà muốn sự vật trở nên vô ngã mà ở đây là cái nhìn đồng hóa được tìm thấy trong vật thể:
’Ước gì em hóa ra dưa
Để anh đem rửa nước mưa chậu đồng
Ước gì em hóa ra hồng
Để cho anh bế anh bồng trên tay’ (ca dao phổ thông)
Một lối đối đáp bình dân đơn điệu, nhịp nhàng cân đối, có thể, có cách; tuy nhiên trong dáng vẻ đó đã thoát ra vẻ đẹp nội giới, đó là trạng thái tâm hồn. Vậy thì ca dao ngoài sự bộc bạch của vũ trụ ngoại giới còn có nhiệm vụ tiêu diệt ’ngã’ để đi tới vô-ngã-vũ-trụ. Do đó cái vô ngã của sự vật ngoại giới không còn một vô ngã thuần lý của triết học mà chính cái vô ngã của đòi hỏi yêu cầu, ao ước, cả hai đặc trưng nầy dành cho chủ thể, một thứ vô ngã tình cảm xóa mờ cái bản ngã tự tại sự vật. Nhưng với con mắt triết học thì có cái nhìn thâm hậu hơn, nhìn bằng ý thức, bằng tri giác hiện hữu; đó là cái nhìn hiện sinh: vừa thực thể vừa hiện hữu ’existenz/da-sein/being’. Ở đây không có khoảng cách không gian và thời gian mà chỉ có một thể của hiện hữu là cốt tủy; thi ca và ca dao sống động là nhờ đó.Ngoài ra tạo được một sự tương hợp thiết tha để tìm thấy được triết lý nhân sinh nằm trong ngữ ngôn. Vì vậy cái nhìn của thi-nhân hay cái nhìn của nghệ-sĩ-ca-dao đều mang nặng tính chất mơ về ’dreaming-day’ Tại sao? Cái nhìn của họ thực nhưng phi-thực nghĩa là từ bản ngã hóa ra vô ngã vì tất cả hình tượng, vật thể bị đồng hóa để nhập vào nội cung của tâm hồn ’innermost’. Thử lấy ra một câu ca dao bình dân để thấy được hiện hữu nhân sinh, bao gồm không gian hình tượng, không gian hiện thực và một không gian hiện sinh đích thực gói trọn trong ca dao lục bát; một bày tỏ xót xa, một thân gái dãi dầu, chịu nắng chịu mưa, rõ ràng từ ’ngã’ bước sang ’vô ngã’ để đi tới KHÔNG. Do đấy; thế giới của người nghệ sĩ ca dao không nói lên hiện hữu của mình mà ở đây là một liên đới hiện hữu giữa người và vật:
’Thân em như hạt mưa rào
Hạt rơi xuống giếng hạt vào vườn hoa’ (ca dao phổ thông).
Đi sâu vào lòng đất của Nguyễn Tiên Điền ta tìm thấy được những gì là bi thương của thân phận, người đã triết lý hóa thân phận làm người như chứng minh một hiện hữu có thực, một chấp nhận thương mong của người phụ nữ, phản lên một tiết điệu hiện sinh:
’Vội chi liễu ép hoa nài
Còn thân ắt lại đền bồi có khi’ (Kiều)
Một lý lẽ khác; chuẩn mực hơn là trong các nhận định văn hóa ta thấy ít nhắc đến: là người nghệ sĩ tuyệt đối không chiếm cứ vũ trụ, nghĩa là không chiếm cứ sự vật ngoại giới để nằm lòng như vai trò ngoại nhân ’outsider/L’Étranger’ mà chiếm cứ vũ trụ như một phản kháng nội tại. Cảm nhận nầy nó trở thành ’truyền thống’ cố hữu của những thi nhân, không những riêng ở ta mà khắp mọi nơi. Nhẹ nhàng một câu để thấy siêu thực:
’Mai chẳng bẻ thương cành ngọc
Trúc nhặt vun, tiếc chiếu rồng’ (Nguyễn Trãi)
Vô biên! siêu đẳng ’transcendence ’ cốt tủy của thi ca nằm gọn trong ngần ấy, có cần so sánh những Homère, Nietzsche, Heidegger, Hoelderlin, Sartre hay Camus…(?) Thi ca như vậy là trọn gói. Ấy là điều cho ta thấy rằng giữa người, vật và không gian chỉ là điều tương hợp. Thi ca và ca dao không nặng tính chất chiếm cứ như tư tưởng văn học Tây phương, ngược lại ở đây thi nhân và nghệ sĩ dung thông cùng vũ trụ ngoại giới như hoà nhập vào một cảm thức nội tại. Nói chung thi ca hay ca dao là khát vọng. Cụ Tiên Điền cũng khát vọng! Để được thổn thức, để được khóc sau hơn ba thế kỷ đợi chờ(!) Và; chính nhờ vào thi ca, ca dao hai ’nhân cách’ nầy cùng khám phá một khát vọng vũ trụ. Bởi cái đẹp của cuộc đời cũng như cái đau khổ của con người là một liên hệ tương giao, hợp thông để nói lên khát vọng; đó là khát vọng dự ước, khát vọng tồn lưu. Một định đề mà con người ở bất cứ thời nào, hoàn cảnh nào cũng phải nhận một sự hòa hợp đương nhiên như thế :
’Trăm năm trong cõi người ta
Chữ tài chữ mệnh khéo là ghét nhau
Trải qua một cuộc bể dâu
Những điều trông thấy mà đau đớn lòng’ (Nguyễn Du/ĐTTT)
Đó chính là khát vọng mơ về, mơ về vũ trụ sơ khai như định mệnh an bài là phải nhận một bi kịch đời ’tragety of the birth’ là cái nhìn nhân thế: ’dans les rêveries cosmiques primitives, le monde est corps humain, regard humain, souffle humain, voix humaine’.
(G. Bachelard). Vũ trụ của sự vật là biểu hiện của nhắn gởi, vì xót xa cùng thân phận:
’Bầu ơi thương lấy bí cùng
Tuy rằng khác giống nhưng chung một giàn’ (ca dao phổ thông)
Nghệ sĩ ca dao đưa câu văn bình dân để trở thành thơ, bởi ngữ ngôn trong thơ là cái nhìn khát vọng hiện hữu, nói lên tâm trạng con người, ca dao nhân cách hóa thiên nhiên, sự vật là tiếng nói trung thực và là sự thật hiển nhiên c’est la vérité. Đó là lối về của ngữ ngôn, để nói lên sự thật của hiện hữu và cũng là biểu dương hiện hữu lịch sử. Một hiện hữu soi sáng ’éclaircie de l’Être’. Một thức tỉnh đáng nể của Martin Heidegger : ‘la vérité de l’être et sur l’histoire de l’être. Ce qui compte, c’est uniquement que la vérité de l’être vienne au langage et que la pensée atteigne à ce langage’(L’Hummananisme). Đấy không phải là những gì trừu tượng mà con người chưa bắt gặp ; đó chính là những thực hữu mà con người đang sống. Thành thử vũ trụ khát vọng của ca dao là một vũ trụ bắt nguồn từ cuộc đời thực hữu để đi tới khát vọng ; do đó ca dao là tiếng kêu chân thành của con người yêu đời, yêu người là nhịp đời có thực . Ca dao không cầu kỳ,viễn vông còn thi ca là chứa đựng hình ảnh để biến hóa qua ngôn từ để nhập vào tư duy nội thể, nó không có chi là ảo tưởng mà cõi thực trong hình ảnh. Tựu chung ca dao hay thi ca đều nói lên cái chân lý hữu thực. Miêu tả dưới dạng thức chủ thể nhận thức. Vì vậy thi ca và ca dao có những cái mơ mộng, lãng mạng của cõi đi về ;ca dao không mộng ảo, không viễn vông, thi ca thì mộng nghe qua thì ảo nhưng thực. ‘trăng thanh gió mát là tương thức / Nước biếc non xanh ấy cố tri’(Nguyễn Bỉnh Khiêm). Cả hai đều có chân lý của nó.
‘Sáng trăng trải chiếu hai hàng
Bên anh đọc sách bên nàng quay tơ
Quay tơ phải giữ mối tơ
Dù năm bảy mối vẫn chờ mối anh’(ca dao phổ thông)
Cho nên phải hiểu rằng ca dao chứa tính cách biểu dương hơn là miêu tả, nó phản chiếu một hiện hữu trong sáng của hạnh phúc, sự cớ như thế cho ta nhận ra được khát vọng của con người. Có một lối biện chứng triết học : khát vọng đó là tâm trạng trong mỗi tình cảm, nhưng cái nhìn triết học là cái nhìn bao hàm trước một thái độ, trước một biến dịch đổi thay để có khát vọng. Đấy là tất cả cái đau xót của con người đứng trước sự kiện, đứng trước thảm họa, cho nên chi cái nhìn của thi ca và ca dao là một tương quan giữa đời và người : ‘Những điều trông thấy mà đau đớn lòng’ hay ‘Đau đớn thay phận đàn bà’, hoặc ‘Đồng bao nhiêu lúa thương chồng bấy nhiêu’ từ cái đau phải nhận và khát khao thương mong phải chấp, cả hai đều đồng nghĩa của thân phận. Vì thế ; có lẽ chúng ta nên nhìn cuộc đời khác cái nhìn tâm lý học. Triết học đứng lại trong hình thái của đối tượng tha nhân. Mặc khác cái nhìn của thi ca và ca dao nhìn vật thể trong vũ trụ ngoại giới mang sắc thái TỊNH và từ trong cõi tịnh thi ca, ca dao mới thấy được hiện hữu của vật thế để du mình vào chủ thể. Vì cõi tịnh của thi ca, ca dao là cõi phi của ngữ ngôn ; tức thơ.
Qua sự phân tách ca dao và thi ca tưởng như là hai thái cực, mỗi người mỗi phương , chạy mãi trên một tuyến đường không bao giờ gặp nhau ; nhưng không ! tụ điểm vô cực bắt chúng ta phải gặp nhau của hai hành trình : ca dao và thi ca ; cả hai hòa nhập vào một vũ trụ ngoại giới, một kích động đưa tới vũ trụ nội giới. Dù đứng ở giới tuyến nào vũ trụ thiên nhiên của thi ca và ca dao là nhân chứng của hiện thực và thể hiện được tâm trạng khát vọng. Vị chi giữa hai giòng siêu thực của ca dao và thi ca là một chiếm cứ của mơ về để đi tới ‘tuyệt đối như nhiên’. Những chiếm cứ ấy không phải là khuôn phép, rập khuôn nó chỉ đến một lần trong đời mỗi khi ý thức và hội nhập, đồng lõa với bản thể (hiện thể) và hiện tượng dung thông là một tập kết cho hai luồng tư tưởng nêu trên. Xuất thần đầy sáng tạo một cách tuyệt đối để thành thơ, không thể tái tục hai lần trên một dòng sông –Aimez ce que jamais on ne verra deux fois. Phải chăng đó là chặng đường của ca dao và thi ca, mà bản thân chúng ta cũng đang trên đoạn đường đó…
Để kết thúc bài nhận định về ca dao và thi ca thời chúng ta xếp cả hai vào một thể loại chung là thơ : thơ bình dân và thơ văn chương mà mỗi vị trí đều có cách riêng của nó.
Nói cho ngay ca dao hay thi ca nó có đất đứng (ground/concrete) vững chắc từ xưa đến nay là điều bất khả tư nghị.Tất nhiên là tuyệt đối dù cho là tương đối chăng nữa ./.

***
VÕ CÔNG LIÊM (ca. ab. yyc. tiết đạihàn 1/2013)

BÀI ĐỌC THÊM :
– ‘Cái Tình Trong Ca Dao I’ 10/2009 vcl.
– ‘Thiền Thơ Trong Thi Ca’ 9/2008 vcl.
Bài đã có trên một số báo mạng, báo giấy hoặc email theo điạ chỉ đã ghi.

TRANH VẼ : ‘Ban nhạc Dân gian / The Folk Band’ Khổ 16’X12’ trên giấy cứng Acrylics+Mixed media. Vcl 2015

Một chữ Nhẫn

Một chữ Nhẫn có thể dưỡng thân tâm, hãy học Nhẫn để đời này sung túc

hoasen2Đối đãi và giải quyết vấn đề cũng như nhâm nhi một ly trà ngon, cần bình tĩnh và điềm đạm. Nếu người nông dân trong câu chuyện dưới đây kiềm chế được cơn bực tức, có lẽ ấm trà quý của ông vẫn còn nguyên vẹn.
Một người nông dân được tặng một ấm trà quý giá. Ông ta rất nâng niu món quà, vì sợ mất trộm nên đã đặt ấm trà lên trên đầu giường mỗi khi đi ngủ.
Một lần đang ngủ, ông trở mình, quơ tay làm rơi ấm trà xuống giường, còn cái nắp ấm văng xuống đất. Nửa đêm tỉnh dậy chỉ thấy ấm mà chẳng thấy nắp đâu, ông thất vọng vô cùng, buồn rầu nghĩ: “Nắp ấm rơi xuống đã bị vỡ, vậy còn giữ ấm trà này làm gì nữa?”. Thế là ông nhặt ấm trà trên giường, ném nó ra ngoài cửa sổ rồi ngủ thiếp đi.
Sáng ra, ông mới phát hiện, hóa ra nắp ấm vẫn còn nguyên vẹn trên đôi giày bông bên cạnh giường. Người nông dân hối hận: “Ấm trà tím đã bị ném ra khỏi cửa sổ đêm qua, giờ để lại một cái nắp thì làm gì?”. Tức giận quá, ông đập vỡ luôn cái nắp ấm.
Sau khi ăn sáng, người nông dân vác cái cuốc định đi ra đồng, nhưng khi ông ngước mắt lên, ngạc nhiên làm sao! Cái ấm trà tím đang treo lơ lửng trên cành cây bên ngoài cửa sổ…

Nhẫn nại và bao dung khiến tâm hồn ta thanh khiết hơn
Trong cuộc sống, một số người vì quá nóng giận, không kiềm chế được cảm xúc nên đã hành động bồng bột, khiến kết quả trở nên tệ hại và sau đó là hối hận khôn nguôi.
Người xưa có câu: “Nhẫn một lúc gió êm sóng lặng, lùi một bước biển rộng trời cao”. Đối diện với mất mát to lớn và mâu thuẫn gay gắt, nếu bạn giữ được tâm thái bình hoà, điềm tĩnh thì có lẽ cánh cửa này đóng lại sẽ có một cánh cửa khác mở ra.
Bình tĩnh bao nhiêu thì cuộc đời bạn sẽ bớt hối tiếc bấy nhiêu.
Khoan dung bao nhiêu thì ngày tháng của bạn sẽ rộng dài bấy nhiêu.
Nhẫn là đạm bạc nên có thể dưỡng thân.
Nhẫn là không màng danh lợi nên có thể dưỡng tâm.
Nhẫn là chịu khổ chịu khó nên sẽ sung túc. Người biết nhẫn sẽ bách tà bất xâm.
Trong cuộc sống hằng ngày, nếu mỗi người đều học được cách nhẫn nhịn, thì sẽ loại bỏ được rất nhiều xung đột, không gian sống của chúng ta sẽ trở nên hài hòa tốt đẹp hơn rất nhiều.
Nhẫn nhịn là tâm vàng kim, lùi một bước trời cao biển rộng

Lùi một bước biển rộng trời cao, nhẫn một chút sóng yên gió lặng. Xưa nay những người có thể làm nên sự nghiệp lớn đều là nhờ đức nhẫn nhịn tuyệt vời.
Chuyện kể rằng, xưa có hai nhà sư tên gọi: Năng Nhẫn và Bất Nhẫn. Hai người cùng cạo đầu xuất gia từ ngày còn trẻ và cùng tu hành ở một ngôi chùa hẻo lánh. Sau một thời gian dài tu luyện, bỗng một hôm, Năng Nhẫn được đức Phật độ cho thành chính quả.
Bất Nhẫn thấy mình tu hành không kém gì bạn mà không được hưởng may mắn như bạn thì rất buồn bực. Chàng đến trước tòa sen hết sức kêu nài với đức Phật, bày tỏ lòng chân thành tu đạo cùng mọi sự khổ hạnh đã trải qua của mình. Đức Phật bảo chàng: “Nhà ngươi chuyên tâm cầu đạo, lại là người trong sạch, thật đáng khen ngợi. Nhưng tính tình nhà ngươi vẫn như con trâu chưa thuần, chưa thể đắc đạo lên Phật giới. Vậy hãy cố gắng để tu bỏ đi sự bất thuần đó trong một cuộc khổ hạnh trường kỳ, rồi sau đó ngươi theo bạn cũng chưa muộn”.
Bất Nhẫn nghe lời, bèn lên núi chọn một gốc cây, bắt chước người xưa ngồi xếp bằng tu theo lối trường định. Chàng cương quyết ngồi im lặng như thế mãi trong ba năm, dù có phải thế nào cũng không chịu dậy.
Và từ hôm đó, Bất Nhẫn như một vật vô tri vô giác. Những con sâu, con kiến bò khắp mình chàng. Những con thú cào vào thân chàng. Những con chim tha rác lên đầu chàng. Chàng đều không hề bận tâm. Chàng chỉ một mực tâm tâm niệm niệm nghĩa lý cao thâm của đạo Phật.
Cứ như thế, trải qua hai mùa hè và sắp sửa qua một mùa hè thứ ba là kết kết thúc cuộc tu luyện. Một hôm bỗng dưng có hai vợ chồng chim chích ở đâu đến làm tổ ngay trong vành tai của Bất Nhẫn. Chàng cứ để yên, mặc chúng muốn làm gì thì làm. Chúng đi về tha rác lên đầu, lên mặt. Rồi chim mái đẻ trứng. Rồi cả một thời kỳ hai vợ chồng thay phiên nhau ấp. Cho đến lúc trứng nở, những con chim non kêu léo nhéo suốt ngày. Nhưng Bất Nhẫn không lấy thế làm khó chịu.
Một hôm, lúc ấy chỉ còn mười ngày nữa thì Bất Nhẫn kết thúc thời gian tọa quan dưới gốc cây. Hôm đó, đến lượt con chim vợ đi tìm thức ăn cho con. Suốt một buổi chiều nó vẫn không kiếm được một chút gì. Mãi đến gần tối, lúc lượn qua một cái hồ, chim vợ mới thấy một con nhện đang giăng tơ trong một đóa hoa sen. Nhện nhác thấy chim liền ẩn mình vào giữa những cánh hoa làm cho chim mất công tìm mãi. Không ngờ hoa sen vừa tắt ánh mặt trời đã cụp ngay cánh lại, nhốt chim vào trong. Chim cố công tìm lối chui ra nhưng những cánh hoa vây bọc dày quá đành chịu nằm lại đó.
Ở nhà, chim chồng hết bay đi kiếm vợ lại trở về. Đàn con đói mồi nháo nhác suốt đêm. Mãi đến sáng mai, chờ lúc hoa nở, chim vợ mới thoát được bay về tổ. Một cuộc cãi lộn nổ ra bên tai Bất Nhẫn. Ghen vợ, chim chồng mắng nhiếc vợ hết lời. Nhưng chim vợ vẫn hết sức bày tỏ nỗi lòng trinh bạch của mình. Cuộc đấu khẩu kéo dài suốt cả buổi sáng và có cơ chưa chấm dứt. Bất Nhẫn rất khó chịu. Thêm vào đó, đàn con khóc đói chíu chít điếc cả tai. Nhè lúc vợ chồng chim cãi vã đến chỗ găng nhất, Bất Nhẫn không chịu nổi, chàng bỏ tay lên tai giật cái tổ chim vứt mạnh xuống đất và nói: “Đồ khốn! Chỉ có mỗi một chuyện đó mà chúng mày làm điếc tai ông từ sáng đến giờ”.
Thế là công sức tu luyện của Bất Nhẫn sắp hoàn thành thốt nhiên vứt bỏ trong chốc lát.

Nhưng Bất Nhẫn vẫn không nản chí. Trước tòa sen, chàng hứa sẽ kiếm cách tỏ rõ sự hối lỗi của mình. Chàng tìm đến một khúc sông nước chảy xiết, tình nguyện làm người chèo đò đưa khách bộ hành quá giang mà không lấy tiền. Chàng quyết chở cho đến người thứ một trăm mới chịu nghỉ tay.
Lần này Bất Nhẫn tỏ ra một người rất nhẫn nại. Tuy bến sông thường vắng khách, chàng vẫn không chịu bỏ dở công việc. Luôn trong hai năm chàng chở được chín mươi tám người mà không xảy ra việc gì.
Một hôm vào khoảng giữa thu, nước sông tự nhiên tràn về chảy xiết hơn mọi ngày. Trời bỗng đổ một trận mưa lớn. Giữa lúc đó có một người đàn bà dắt một em bé đòi qua sông. Bà có vẻ là vợ một viên quan sở tại, chưa bước xuống thuyền đã dọa Bất Nhẫn:
– Chú nhớ chèo cho vững nghe không. Che mui cho kín. Nếu để chúng ta mà ướt thì liệu chừng kẻo roi quắn đít đó.
Nghe nói thế Bất Nhẫn đã hơi bực, nhưng chàng nín được và vẫn giữ vẻ mặt tươi cười đáp:
– Bà và cậu đừng sợ gì cả. Tôi xin cố sức.
Rồi chàng vận dụng hết tài nghề để đưa hai mẹ con nhà nọ qua bên kia sông được vô sự. Lúc sắp lên bờ, người đàn bà bỗng kêu lên:
– Ta quên khuấy đi mất. Có một gói hành lý bỏ quên ở quán bên kia. Vậy nhà ngươi chịu khó chèo sang lấy hộ.
Bất Nhẫn nín lặng cắm cổ chèo qua sông giữa sóng gió. Mãi đến gần tối chật vật lắm chàng mới đưa được gói hành lý sang cho người đàn bà. Nhưng khi soát lại gói, người đàn bà nọ lại kêu lên:
– Thôi rồi! Còn một đôi giày của thằng bé bỏ ở gầm giường. Thế nào nhà ngươi cũng phải gắng sang lấy cho ta một lần nữa.
Người đàn bà nói chưa dứt lời thì Bất Nhẵn phừng phừng tức giận, chỉ tay vào mặt:
– Bà cút đi! Tôi có có phải sinh ra để hầu hạ mẹ con bà mãi đâu.
Nhưng người đàn bà ấy vốn là đức Phật Bà Quan Âm hiện hình xuống thử lòng người đệ tử khổ tu đó, bấy giờ lại hiện nguyên hình và cất tiếng bảo chàng:
– Nhà ngươi vẫn chưa thực tâm nhẫn nhục, như thế thì tu luyện nỗi gì, họa chăng là tu hú!
Bất Nhẫn thẹn quá đành cúi đầu nhận lỗi.
Phật Bà Quan Âm sau đó biến Bất Nhẫn hóa thành một giống chim mà người đời sau quen gọi là chim tu hú. Họ bảo thứ chim đó vào khoảng cuối hè sang thu hay xuất hiện, đúng vào lúc xảy ra câu chuyện giữa Bất Nhẫn với Phật Bà.

***
Trong dân gian thường lưu truyền nhiều câu chuyện ý nghĩa về người tu luyện, để lại cho nhân loại những bài học sâu sắc. Câu chuyện tu luyện bất thành của nhà sư Bất Nhẫn kể trên đã nhắc chúng ta nhớ rằng, bất kỳ sự nhẫn nại và cố gắng nào cũng cần phải trọn vẹn tới cùng. Cổ nhân nói, chuyện nhỏ không nhịn được thì loạn mưu lớn. Người không thể nhẫn chịu những xung kích nhỏ thì ắt là xôi hỏng bỏng không, khó công thành viên mãn. Sắp tới đích nhưng vẫn chưa phải là đích, chặng đường cuối cùng càng cần phải cẩn thận, không được phép buông lơi. Rất có thể mọi cố gắng sẽ đổ sông đổ biển một khi người ta dấy động nhân tâm, để tâm hồn mình vẩn đục.
Tiêu chuẩn của Thiên Quốc là rất nghiêm ngặt, sinh mệnh nào cũng đều cần phải đạt đến độ thuần tịnh theo tiêu chuẩn thì mới có thể tiến vào. Không hề có chuyện hễ khoác áo cà sa đi tu đều có thể tiến vào Thiên Quốc. Câu chuyện của Bất Nhẫn nghe cũng thật thương tâm. Vốn dĩ căn cơ cũng không tồi nên mới có thể bước vào tu luyện, vậy mà cứ tới quan ải cuối cùng lại rớt không thành. Lãng phí cả một kiếp làm người.

4 động tác đơn giản phòng chống ĐỘT QUỴ

 

Bốn động tác đơn giản nhưng kỳ diệu phòng chống đột quỵ tốt nhất

(Rất hiệu nghiệm, rất hay)

Phòng chống đột quỵ là một trong những việc làm cần thiết, khi đột quỵ đang là một trong những mối đe dọa của cả nhân loại, cướp đi sinh mạng của hàng chục triệu người mỗi năm, chỉ đứng sau bệnh tim mạch và ung thư. Có nhiều cách để phòng chống đột quỵ tai biến cực đơn giản nhưng lại đem lại kết quả kỳ diệu. 4 động tác đơn giản phòng chống đột quỵ dưới đây chính là một trong những phương pháp như thế. Chỉ cần thực hiện chính xác, đều đặn, nó sẽ giúp bạn và người thân phòng ngừa đột quỵ não vô cùng hiệu quả. Cùng theo dõi ngay sau đây.

Đột quỵ là gì? Bệnh đột quỵ nguy hiểm đến mức nào?

Đột quỵ là gì?

Đột quỵ (còn gọi là đột quỵ não, tai biến mạch máu não) là tình trạng bệnh lý do tổn thương mạch máu não đột ngột. Tình trạng này có thể do sự tắc nghẽn mạch máu não (nhồi máu não) làm ngừng trệ dòng máu lên nuôi não phía sau chỗ tắc; hoặc do sự vỡ mạch máu trong não làm cho máu trong lòng mạch thoát ra bên ngoài tràn vào trong mô não gây phá hủy và chèn ép mô não (xuất huyết não). Hậu quả là phần não có liên quan bị tổn thương không thể hoạt động được, dẫn đến phần của cơ thể mà phần não đó kiểm soát cũng không thể hoạt động.

phòng chống đột quỵ hiệu quả

Đột quỵ là căn bệnh gây nên tỷ lệ tử vong lớn thứ 3 hiện nay

 

Những hậu quả mà bệnh đột quỵ gây nên cho con người là rất khủng khiếp:

– Theo thống kê của tổ chức Y tế thế giới WHO, đột quỵ – tai biến mạch máu não là nguyên nhân gây ra tử vong lớn thứ 3 chỉ sau ung thư và tim mạch. Nhưng điều đáng sợ hơn là căn bệnh này được các chuyên gia dự đoán sẽ đứng lên hàng số 1 trong những bệnh gây tử vong cao nhất vào năm 2020.

– Đặc biệt, một con số khác được đưa ra sẽ khiến chúng ta không khỏi giật mình. Đó là cứ 40 giây lại có 1 người mắc bệnh đột quỵ và cứ 4 phút lại có một người chết do tai biến mạch máu não. Và tổng số người chết vì căn bệnh này thậm chí còn nhiều hơn tổng số ca tử vong từ 3 bệnh AIDS, Lao và Sốt Rét cộng lại.

– Thống kê tại Đức năm 2006, có hơn 65.000 người chết do đột quỵ não, chiếm gần 8% tỷ lệ người chết trong năm đó của nước này.

– Riêng tại Mỹ, mỗi năm có khoảng 730.000 trường hợp tử vong do tai biến mạch máu não. Trong những người sống sót sau lần đột quỵ não lần đầu tiên thì chỉ có 10% bệnh nhân khỏi hoàn toàn, 65% để lại di chứng từ nhẹ đến nặng, thậm chí cần sự trợ giúp hoàn toàn từ thiết bị y tế và người thân.

– Tại Australia, con số tử vong do tai biến mạch máu não được thống kê trung bình hàng năm là hơn 12.000 người, chỉ đứng sau bệnh tim ở nước này.

– Còn ở Việt Nam, tỷ lệ người bị đột quỵ, tai biến mạch máu não mỗi năm là trên 200.000 người và đang không ngừng gia tăng trong những năm gần đây. Trong số đó, có một nửa là tử vong, trong tổng số người sống sót cũng có đến 90% bị các di chứng về thần kinh và vận động.

– Đặc biệt, tỷ lệ tái phát lần 2 của bệnh đột quỵ não là rất cao, từ 34 đến 50%, tức là cứ 3 người bị tai biến mạch máu não lần 1 thì có 1 đến 2 người bị tai biến mạch máu não lần 2.

Có nhiều cách phòng chống đột quỵ, ngoài một lối sống và dinh dưỡng lành mạnh, các động tác tự mát-xa dưới đây sẽ giúp những người có nguy cơ cao phòng chống được chứng đột quỵ khó lường.

phòng chống đột quỵ hiệu quả

Tại Việt Nam, mỗi năm có khoảng hơn 200.000 người bị đột quỵ tai biến

1. Mát-xa phần cổ là một cách phòng chống đột quỵ tai biến hiệu quả

Mát-xa phần cổ có thể thúc đẩy mạch máu, cơ vùng cổ thư giãn, giảm bớt cholesterol tích tụ, làm cho mạch máu hồi phục đồng thời cải thiện cung cấp máu cho não, phòng chống gây ra đột quỵ.

Cách  thực hiện phương pháp phòng chống đột quỵ này là: hai tay chà xát vào nhau cho nóng, mát xa hai bên trái phải của vùng cổ, tốc độ nhanh một chút, đến lúc da phần cổ đỏ lên là được.

Một cách massage rất nhẹ nhàng, đơn giản nhưng được xem là một bài tập giúp lưu thông máu lên não rất tốt, qua đó giúp phòng ngừa đột quỵ não, tai biến mạch máu não hiệu quả.

https://aloola.vn/userfiles/matxaco.jpg

Massage vùng cổ giúp phòng chống đột quỵ hiệu quả

2. Nhún vai phòng là cách phòng chống đột quỵ tai biến cực đơn giản nhưng hiệu quả

Nhún vai có thể làm cho thần kinh, huyết quản và cơ bắp phần vai thư giãn, hoạt huyết thông mạch, để cung cấp động lực cho lưu lượng máu ở động mạch cổ lưu thông vào não. Đây là một bài tập giúp lưu thông máu lên não rất đơn giản ai cũng có thể làm được, nhưng nó lại mang lại hiệu quả phòng chống đột quỵ, thiếu máu lên não rất tốt.

Cách phòng chống đột quỵ này thực hiện như sau: mỗi sáng tối nhún vai theo động tác lên xống, mỗi lần thực hiện 4-8 phút. Nếu bạn thực hiện một cách đều đặn và đúng cách, đây chắc chắn trở thành một trong những cách phòng chống đột quỵ tai biến mạch máu não hiệu quả nhưng đơn giản nhất.

3. Nắm tay cũng có thể phòng chống đột quỵ

Nghiên cứu phát hiện, tràn máu não liên quan đến phương thức vận động, thói quen sinh hoạt của người bệnh, thiếu vận động thì thành mạch máu não phải rất yếu, dễ gây ra vỡ nứt, vì vậy người bệnh nên hoạt động tay trái nhiều. Một phương pháp đơn giản nhưng được các nhà khoa học chứng minh là có thể phòng chống đột quỵ tai biến cực hiệu quả là nắm tay.

Cách làm như sau: Mỗi sáng, trưa, tối nắm tay không 3 lần, mỗi lần nắm từ 400- 800 lượt. Một bài tập phòng chống đột quỵ tai biến cực đơn giản phải không nào? Nhưng bạn yên tâm, hiệu quả là vô cùng bất ngờ đó.

https://aloola.vn/userfiles/nam-tay.jpg

Nắm tay mỗi ngày 3 lần, mỗi lần 400 – 800 lượt để phòng chống đột quỵ

4. Lắc đầu phòng chống đột quỵ hiệu quả

Chuyên gia phân tích từ thực tế là công nhân phun sơn rất ít phát sinh đột quỵ do khi làm việc, phần đầu và cổ chuyển động nhiều. Phần đầu chuyển động trước sau có thể gia tăng sức bền của mạch máu, có lợi trong việc phòng chống đột quỵ. Đây cũng chính là một bài tập giúp lưu thông máu lên não được nhiều bác sĩ hướng dẫn các bệnh nhân nên luyện tập để phòng và hỗ trợ điều trị đột quỵ hiệu quả.

Thực hiện phương pháp phòng chống đột quỵ này như sau: ngồi thẳng, thư giãn cơ bắp vùng cổ, sau đó chuyển động đầu theo hướng trước, sau, trái, phải, mỗi lần thực hiện 30-50 lần, tốc độ chậm, làm 3 lần mỗi ngày, người bị huyết áp thấp có thể nằm ngửa để tập.

Trên đây, chúng tôi đã giới thiệu và hướng dẫn các bạn thực hiện 4 động tác đơn giản nhưng đem lại hiệu quả phòng chống đột quỵ rất tuyệt vời. Đây cũng là cách phòng chống đột quỵ, bài tập giúp lưu thông máu lên não hiệu quả được chuyên gia và bác sĩ khuyến khích mọi người nên áp dụng mỗi ngày. 4 động tác phòng chống đột quỵ tai biến cực đơn giản như vậy chắc chắn bạn không được bỏ lỡ đúng không nào. Bên cạnh đó, bạn cũng có thể áp dụng một số phương pháp ngăn ngừa, phòng chống đột quỵ tai biến khác dưới đây.

Một số cách phòng chống đột quỵ tai biến khác

Đi bộ là một cách phòng ngừa đột quỵ não hiệu quả

Thể dục thể thao được xem là một trong những cách phòng chống đột quỵ tốt nhất hiện nay. Không cần các bài tập cao siêu và mất quá nhiều sức, nhiều thời gian. Bạn chỉ cần giành 20 phút mỗi ngày đi bộ là cách phòng ngừa bệnh đột quỵ não cực kỳ hiệu quả.

Nếu không có thời gian, bạn có thể chia thành 2 lần đi bộ, mỗi lần 10 phút, bạn cũng có thể leo cầu thang. Theo những số liệu điều tra và thực nghiệm chỉ ra rằng, cứ dành khoảng 2 giờ đi bộ mỗi tuần bạn sẽ giảm được 30% nguy cơ bị đột quỵ. Trong khi đó, nếu đi bộ nhanh thì tỷ lệ này lên đến 40%.

phòng chống đột quỵ tai biến hiệu quả

Đi bộ rất tốt để phòng ngừa đột quỵ tai biến

 

Ngủ 7 tiếng mỗi đêm là cách để phòng chống đột quỵ rất tốt

Một quan niệm sai lầm là chúng ta nên ngủ từ 8 – 10 tiếng mỗi đêm, nhưng thực chất, theo các nhà khoa học tại Đại học Harvard cho thấy những người ngủ 10 tiếng mỗi ngày lại làm tăng nguy cơ đột quỵ cao hơn rất nhiều so với những người chỉ ngủ 7 tiếng. Như vậy, để phòng chống đột quỵ, tốt nhất là bạn ngủ đủ 7 tiếng mỗi đêm. Đặc biệt, những người ngủ ngáy cũng thường làm tăng nguy cơ đột quỵ cao hơn với những người khác. Vì vậy, nếu bạn thường xuyên bị ngủ ngáy thì nên tìm ra nguyên nhân và điều trị càng sớm càng tốt.

Giải quyết những phiền muộn của bạn thân để phòng ngừa đột quỵ

Theo các nhà khoa học, để phòng chống đột quỵ tai biến hiệu quả, bạn cần phát hiện và hiểu rõ những phiền muộn của bản thân đang gặp phải. Đây thực ra là một cách phòng ngừa đột quỵ não hiệu quả nhưng ít ai biết đến.

Nếu bạn thường xuyên buồn phiền, lo lắng, đầu óc căng thẳng, làm việc không thể tập trung, không hứng thú với bật cứ điều gì, stress nặng nề và trầm cảm kéo dài, có ý định tự tử…thì bạn cần đến gặp bác sĩ  ngay để được tư vấn và điều trị kịp thời. Vì đây là những biểu hiện dễ dẫn đến bệnh đột quỵ.

Hãy giữ cho tinh thần luôn vui vẻ, thoải mái, không tức giận chính là một trong những cách phòng ngừa đột quỵ não, tai biến mạch máu não hiệu quả

 

BỮA RƯỢU

PHẠM NGA

RUOU

BỮA RƯỢU THÁNG CHẠP CỦA CÁC THẦY GIÁO

1.

Hôm nay đã mùng 10 tháng chạp, cái chợ nhỏ bên cạnh nhà thờ Xóm Thuốc Gò Vấp rộn rịp người đi mua sắm đồ Tết. Chờ bà xả vào chợ mua mấy bộ quần áo làm quà Tết cho cháu nội, Hòa ngồi ở một quán cà phê gần cổng nhà thờ. Anh chạnh nhớ  đâu khoảng hơn 20 năm trước, có thời gian mình đã thường ghé nhà hai người bạn thân ngụ trong giáo xứ này.

Hòa có nhóm bạn 4 – 5 người, cùng dạy học ở chế độ cũ, nay cùng ngụ ở vùng Gò Vấp, gặp nhau vẫn thường gọi nhau “thầy” dù chế độ mới không cho dạy học nữa. Bạn trong nhóm đều rơi vào khó khăn, thiếu thốn ngay sau ngày 30 tháng 4 năm 75. Có điều là, dù cùng xuất thân là nhà giáo, kiểu truân chuyên, khó khăn của riêng mỗi thầy lại đều mang đầy cá tính, không ai giống ai.

Mở đầu là thầy Ngạn. Là chủng sinh nhà dòng giỏi tiếng Pháp, Ngạn tu xuất năm 17 tuổi, chỉ mới có tú tài I đã lập tức được một trường tư thục ở Đà Lạt mời dạy môn Pháp văn. Sau tháng 4-75, Ngạn đi học tập cải tạo với tư cách hiệu trưởng một trường tiểu học công lập và “được” nghỉ dạy luôn. Trôi nổi mãi qua mấy huyện nông thôn Hốc Môn, Bình Chánh…, cuối cùng anh về được vùng ven đô là giáo xứ Xóm Thuốc thuộc quận Gò Vấp. Cuộc sống bắt đầu dễ thở một chút khi chồng đạp xích lô, vợ bán quần áo trẻ em trong cái chợ nhỏ cạnh nhà thờ.

Một sinh nhật của Ngạn nhằm tháng chạp âm lịch, anh chỉ mời nhóm bạn nhà giáo cũ. Thời ấy, không được dạy học nữa, đám Ngạn, Hòa… mỗi người làm một nghề, không dính gì tới công nhân viên chức nhà nước, như: đạp xích lô, dịch sách, chạy hàng tạp hóa, thư ký văn phòng hợp tác xã, coi số tử vi…, tất nhiên thu nhâp đều thấp mà sống qua ngày. Do đó, sinh nhật phu xích lô Ngạn chỉ có vài lít rượu thuốc, một con gà vừa nấu cháo vừa làm gỏi và vài gói đậu phộng rang. Về “vật chất” chủ nhà bình thãn dọn ra chỉ như thế, về “tinh thần” cũng không kém phần đạm bạc một khi khách đến cũng bình thãn chìa ra quà sinh nhật chỉ là cuốn sách cũ mèm hay tập thơ vàng ố. Cũng không có gì bất tiện khi cả đám trải giấy báo ngồi dưới đất rồi ung dung nhấm rượu theo cách riêng…

2.

Cuộc đổi đời 30 tháng 4 đã khiến các thầy giáo ít nhiều đều từ chán đời đến bất đắc chí, từ bi quan đến buông trôi, nên khác với thời trước 30 tháng 4, hể gặp nhau thì thay vì chỉ uống cà phê, nay có thêm uống rượu. Nghĩa là trong cao trào người dân ở phía Nam nhậu rộ lên, uống rượu nhiều hơn trước thời “được giải phóng”, lần hồi các cựu giáo chức vốn dĩ mực thước đã thỉnh thoảng gầy độ nhậu, y như đàn ông ở các ngành nghề khác.  Có điều là, sau 30 tháng 4, do hầu hết người dân nghèo mạt đi, còn hàng hóa, lương thực – trong đó có các loại bia, rượu tây – thì khan hiếm, mắc mỏ nên dân nhậu – trong đó có các thầy giáo –  chuyển qua rượu đế, rượu thuốc rẻ hơn nhiều.

Giống những tín đồ nhút nhát mới vào đạo, các thầy giáo e ngại bị hối, bị phạt ở kiểu uống ‘xây tua’ thông thường nên khi nhậu với nhau, cách uống được sửa lại cho hiền lành hơn, cũng như sẽ miễn sát phạt nhau. Đó là không có ly ‘xây tua’ mà có chai rươu nhỏ ‘xây tua’, chai đến ai thì người đó tự rót tới-đâu-cũng-được vào ly riêng của mình, còn chưa uống cạn ly của mình thì cứ cho chai ‘xây tua’ qua người bên cạnh. Dù kiểu uống này đã từng bị vài ông, vài anh không phải nhà giáo tình cờ tham gia phê bình rằng không vui bởi không hào hứng, sôi động, nhưng đám Ngạn, Hòa… vẫn không thay đổi kiểu uống, bởi chỉ với kiểu uống ‘xây tua’ mềm mỏng, ‘không sát phạt’ ấy họ mới thấy thoải mái, dễ chịu. Phong cách nhà giáo rơi rớt của họ là dù có đang nghèo khó, thiếu thốn cũng vẫn có cái chất từ tốn, nho nhã trong cư xử, ăn uống…

Hòa nhớ khi đã ngà ngà, Ngạn xướng một câu:

Chiều ba mươi, thầy giáo tháo giầy ra chợ bán,

Một thầy tên Thiện, cũng ngụ trong giáo xứ Xóm Thuốc, đã đối lại khá chỉnh:

Sáng mùng một, giáo chức ‘dứt’ cháo đón xuân sang.

Men rượu thuốc càng lúc càng khiến cho mỗi câu chuyện, mỗi đề tài trao đổi giũa bạn bè trở nên thú vị, hào hứng hơn. Độ nhậu hiền lành của các thầy giáo kết thúc ở liều lượng vừa phải khi vị khách ít nói nhất lên tiếng nhắc nên dừng cái chai ‘xây tua’ để chủ nhà còn dọn dẹp, nghỉ ngơi vì sớm mai chị còn phải dọn hàng ra chợ, anh còn phải đẩy xe ra kiếm khách…

3.

Sau bao nhiêu khó khăn, run rủi thế nào đó mà cuộc sống của Ngạn thầy-giáo-đạp-xích-lô một thời nay lại rất ổn, đó là nhờ có 3 con gái thì vợ chồng đứa đầu đang làm chủ một doanh nghiệp lớn về ngành IT và hai đứa sau đều yên bề gia thất khá giã ở châu Âu. Bạn bè cũ đã tròn mắt bất ngờ khi nghe Ngạn từng đi du lich Mỹ và vài nước châu Âu, còn chơi ngông sắm xe mô tô phân khối lớn…

Cũng run rủi thế nào đó, những người khác của nhóm thầy-giáo-tháo-giày hơn 20 năm trước nhìn chung cũng thoát nghèo, cũng khá lên. Dẫn đầu chính là thầy Thiện  – người duy nhất sau 30 tháng 4 được cho tiếp tục dạy môn Văn ở một trường cấp 3 trong quận. Vốn mộ đạo, nhút nhát và không đẹp trai, bạn bè đã làm cò tình giới thiệu cho Thiện 1-2 cô cũng đều là con chiên ngoan đạo, hiền hậu nết na, nhưng không vụ nào thành đôi. Run rủi đến năm 58 tuổi, Thiện gặp gỡ trong giáo họ một cô đã 45 tuổi, y tá trong BV Nhi đồng 2, nên duyên trong xác định rằng lấy nhau chỉ để có bạn đời chăm sóc nhau. Nhờ bên gia đình cô y tá rất giàu, anh em ở cả nước ngoài nên cặp ‘tình già’ không có con này đã định cư an nhàn ở đất Mỹ…

Về các thầy khác trong nhóm, ngẫu nhiên thú vị là họ thoát nghèo, khá lên đa phần là nhờ con cái. Như thầy Hạnh,  khi cuộc sống bắt đầu tạm ổn bằng chấm số tử vi thì khổ thảm vì vợ mất bởi ung thư cùng con trai mất bởi tai nạn xe cô, nay anh già ngoài 70 vẫn coi như “độc thân vui tính, tiền bạc rủng rỉnh” bởi dòng tu của cô chị – con gái lớn của Hạnh – đã giới thiệu một ông người Pháp giàu có về cưới cô em, ông rể đã cất luôn cho cha vợ một căn phố lầu 3 tầng… Đến thầy San, sau 30 tháng 4 từng ngồi sửa giày dép ngoài đường, bán cà phê cóc, dịch tài liệu giảng dạy cho nhà dòng…, cặm cụi phụ cho con gái du học Pháp với học bổng bán phần, tốt nghiệp thạc sĩ trở về làm việc lương cao, lấy chồng không thể không giàu… Đến thầy Hòa, người trẻ nhất, cũng mơ mộng, lãng đãng nhất trong bọn, bấy lâu nay việc ngăn phòng trong nhà cho sinh viên thuê lấy thu nhập cũng tạm ổn trong khi chờ  đi định cư ở Úc do con bảo lãnh…

4.

Nay lại tháng chạp, lại sinh nhật thầy Ngạn. Từ căn nhà nhỏ xíu trong giáo xứ, Ngạn đã về ở một căn phố lầu ‘3 tấm’ thật khang trang trong hẻm lớn… Chủ nhà gõ ly, tuyên bố khai mạc đại tiệc ê hề cao lương mỹ vị: “ Các thầy à, thầy Thiện có gởi về 200 đô, dặn là phụ vô cho tôi làm vừa sinh nhật vừa tất niên cả nhóm bữa nay, và… Đặc biệt đáng cho điểm 10 là dù bao năm qua rồi, thầy Thiện đã nhắc cái ước-gì-có-đủ-bốn-màu của thầy Hòa ngày trước. Và cái hiện thực đủ-bốn-màu đã có hôm nay các ông ạ!”.

Trong quãng hơn 20 năm về trước, trong một độ nhậu ở nhà cũ của Ngạn, tất nhiên là rượu thuốc nhà nghèo, nhân khi tán chuyện “hồi trước…”, có người nhắc đến những loại hàng Mỹ tốt, ngon có tiếng nhưng giá hạ bởi được bán trong PX quân đội Mỹ mà đám thầy giáo có thể nhờ mấy người bạn Mỹ mua dùm, như: quẹt máy Zippo, kiếng mát Rayban, các loại rượu Blach and White, Johnnie Walker …, Hòa đã xuýt xoa: “Ước gì giờ này mà tụi mình có chai Johnnie Walker nhãn đỏ, hay ngon hơn, chai nhãn đen! Thôi, ước gì có đủ luôn bốn chai bốn nhãn đỏ, đen, xanh, vàng đi, mới là nhất trên đời!”

Kìa, ở đầu bàn tiệc thầy Ngạn-hay-chơi-ngông đã cho khui cùng lúc các chai whisky Johnnie Walker đủ bốn mùi/hương vị thông dụng tức bốn nhãn (label) của loại whisky hay được gọi tếu là “Ông Mỹ Đi Bộ” này, là: đỏ (red), đen (black), xanh (blue) và vàng kim (gold). Tại bàn còn để rải rác nhưng lon soda ướp lạnh cùng những cái chung nhỏ, để các thầy ung dung tự tại, tha hồ nhấm rượu theo ý riêng, hoặc là uống whisky pha soda (consomation), hoặc uống nguyên chất whisky (sec) từng chung nhỏ cho “thơm râu” tùy ý; còn kiểu cách thì ‘xây tua’ mềm mỏng, không sát phạt lâu nay của riêng họ,

5.

Thật chậm rãi với xen kẽ các quãng dừng nghỉ, Hòa lần lượt thưởng thức từng nhãn Johnnie Walker đỏ, đen và xanh bằng từng cặp ly, một chung nhỏ nguyên chất rồi một ly pha soda. Phải nói là đã thấm rượu, đã bắt đầu say nên Hòa ra dấu cho cậu phục vụ bàn khoan rót chai Johnnie Walker nhãn vàng kim vào chung nhỏ của anh. Hòa ngồi im ắng, nhìn bạn bè quanh mình, thoáng khép hờ đôi mắt.

Từ khi bước vào tuổi già, đối diện thời khắc năm tàn tháng tận, tâm-trạng-tháng-chạp của Hòa trở nên một kiểu trầm cảm ray rức, phiền muộn mơ hồ.

Tuy nhiên, vài năm gần đây, cũng vào các ngày cuối tháng chạp,  khi ngồi suy nghĩ tính sổ năm cũ, nhân tiện cho cả quãng dài vài chục năm quá khứ, anh nhận ra trong lòng mình nhạt dần cái cảm giác tiếc nuối, thất vọng về các dự phóng lớn lao từ tuổi thanh xuân và thay vào đó nỗi dửng dưng, an phận.

Như hôm kia, tình cờ ngồi cà phê một mình cạnh nhà thờ Xóm Thuốc mà nhớ  quãng thời gian hơn 20 năm về trước hay ghé nhà Ngạn và Thiện, phải nói cảm nhận của Hòa  tràn đầy thương cảm đối với quá khứ, dù khách quan mà nói, cuộc sống của anh cùng nhóm bạn cựu nhà giáo đã sáng sủa hơn thời 20 – 30 năm trước khá nhiều khi thầy nào thầy nấy tuy không phất lên giàu sụ nhưng cũng tạm đủ sung túc nhờ đám con cái thành đạt, dễ dàng  nuôi lại bố mẹ già. Rồi một lát sau, hoài niệm bi quan ấy lại chuyển sang dửng dưng, hanh khô cảm xúc.

Và hôm nay, Ngạn cùng Thiện đã bỏ ra vô số tiền tổ chức họp mặt tất niên nhóm bằng bữa tiệc ê hề các món đặc sản cùng rất tốn hao, chơi ngông là món uống whisky Johnnie Walker đủ bốn màu; chủ tiệc còn nhấn mạnh đây là thực hiên một mơ ước bâng quơ của Hòa đã thố lộ vào cái thời cả đám bạn còn rất khó khăn, thiếu thốn. Vậy mà Hòa, từ cảm giác ban đầu hồ hỡi hòa mình vào không khí náo nhiệt chung với mọi người tại bàn tiệc, dần hồi anh như mỏi mê gục ngã vào nhưng hoài niệm đầy ray rức. Rượu ngon, rượu mơ ước nay đã có ê hề đấy nhưng anh uống một cách ung dung chừng mực để chỉ say nhẹ nhàng, nhưng rốt cuộc, càng uống trong lòng Hòa càng phiền muộn không đâu…

Có lẽ trong bất cứ hoàn cảnh đã ‘đổi đời’ cao sang, phú quý nào, người ta – nhất là một nhà giáo –  luôn thầm lặng có cảm-xúc-nợ-nần đối với quá khứ nghèo, buồn của mình?

PHẠM NGA

(cận Tết Canh Tý 2020)

RU EM TÌNH ĐẮM XUÂN MƠ

Nhật Quang

IMG_9378
Thầm thì ru đắm xuân mơ…
Rót vào sương đẫm mềm tơ nắng vàng
Trời nghiêng mây trắng lang thang
Em nghiêng vạt tóc mượt màng hong xuân
Dáng hoa thanh thoát giai nhân
Môi ngoan lúng liếng, thơm ngần nét duyên
Gió hôn má lúm trinh nguyên
Mây thương nét thắm dịu hiền dấu yêu
Bướm hoa lơi lả dập dìu
Ngẩn ngơ mắt ướt, liêu xiêu lối về
Xanh ngời nụ biếc đam mê
Hồng vương xao xuyến, lịm tê ngõ hồn
Nắng phai, gió khẽ dỗi hờn
Lơ thơ tím rụng hoàng hôn bên lòng
Lâng lâng tình cõi phiêu bồng
Ngọt môi hôn đã say nồng giấc xuân.

ĐÊM BA MƯƠI

Nguyên Lạc

em1

1.
Xin mời giai nhân
Bồ đào đêm xuân
Rượu tình hãy uống
Say điếng đôi mình
.
Đêm ngoài ba mươi
Trời đất lặng thinh
Chờ nghe tiếng ngất?
Hấp hối đôi tình?
.

2.
Xin mời tôi ơi!
Ly đắng mồ côi
Bồ đào đêm ấy
Nồng nàn chờ xuân
Giờ rồi đâu thấy?
Đêm ngoài tuyết băng!
.
Đón xuân xứ lạ
Trắng tuyết muôn trùng
Lạnh hồn cô lữ
Mối tình không chung
.

3.
Đêm ngoài ba mươi
Tuyết trắng rơi rơi
Một người lữ khách
Say khướt rượu đời
.
Bồ đào đêm ấy?
Đâu rồi ngực xuân?
.
Đón xuân xứ lạ
Đêm trắng muôn trùng
Mồ côi nến lệ
Khóc tình hư không
.

4.
“Em đến đêm ba mươi” [*]
Nụ quỳnh mãn khai môi
Dung nham tràn máu nóng
Địa chấn tiêu một đời
.
Nhan sắc đêm ba mươi
Trói tim này thiên thu!
.
Nguyên Lạc
…………..
– Rượu Bồ đào là rượu Champagne
[*] Em đến thăm anh đêm ba mươi
Còn đêm nào vui bằng đêm ba mươi.

Tay em lạnh để cho tình mình ấm
Môi em mềm cho giấc ngủ em thơm
(Nhạc Vũ Thành An, thơ Nguyễn Đình Toàn)

Quê Hương Vẫn Mãi Thiên Thu

Nguyên Lạc

rong-vnQuê hương bức gốc ra đi
Quê hương là nỗi phân ly não lòng
Quê hương là những dòng sông
Quê hương là khói đốt đồng chiều lam
.
Quê hương lời đó linh thiêng
Máu xương giữ nước lời nguyền khắc ghi
Quê hương dù có biệt ly
Vẫn hoài cố lý vẫn lời nước non
.
Quê hương một tấm lòng son
Tổ tiên ơn nghĩa mãi còn thiên thu
“Sơn hà Nam quốc đế cư
Tiệt nhiên phận định thiên thư rành rành”
.
Quê hương người hỡi sao đành?
Quên “câu kiến nghĩa” lợi danh riêng mình! **
.
Nguyên Lạc
…………………
Nam quốc sơn hà Nam đế cư
Tiệt nhiên phận định tại thiên thư
Lý Thường Kiệt

** Kiến nghĩa bất vi vô dõng giả/ Lâm nguy bất cứu mạt anh hùng.
Thấy việc nghĩa trước mắt mà không làm không phải là người anh dũng/ Thấy chuyện nguy nan không cứu không đáng mặt anh hùng.

CHÙM THƠ VỀ RƯỢU

Thư viện của bài

This gallery contains 1 photo.

Người ta thường nói những gì, nghĩ ra trong lúc say, nói trong lúc say là những gì chân thật nhất. Đó cũng là lúc mà những bài thơ mà chính tác giả khi say viết hoặc khi tức cảnh sinh tình viết ra nói lên biết bao tâm trạng của kẻ say rượu hay nói đúng hơn là say tình. Đã bao giờ bạn ở tâm trạng nhờ men say nói hộ tình yêu. Đã bao giờ bạn nhờ men say mà chiêm nghiệm về một cuộc đời đầy những chới với. Mời bạn cùng sntv.vn thưởng thức những áng thơ về rượu để cùng hòa mình vào cơn say tình này nhé.

Thơ về rượu, nỗi buồn riêng mình và nỗi buồn nhân thế

Khi nói về thơ về rượu với những cảm xúc buồn của chính tác giả, chiêm nghiệm về nỗi buồn nhân thế thì đều thấm đẫm nhân tình thế thái. Người ta thường nói thưởng trà không nên quá 3 người vì sẽ không cảm nhận được cái ngon của trà, cái hay của câu chuyện người nói. Còn thưởng rượu thì cần phải từ 4 người trở lên thì cuộc vui mới dài mới lâu. Thế nhưng, có những cuộc rượu “độc ẩm” một mình của nhà thơ. Ấy thế mà say, mà đau mà buồn mà tràn đầy cảm xúc xuyến xang khó có thể “tỉnh”ngay được. Tiếp tục đọc

HÃY VỀ ĐI

Nguyên Lạc

cropped-hoa-mai-3.png

HÃY VỀ ĐI

1.
.Đầu xuân hoa rộ màu tươi thắm
Em hãy về đi hái lộc đầu
Biệt xứ lưng tròng xa thăm thẳm
Để lại nơi đây một nỗi sầu
.
Để lại riêng tôi hoài huyễn mộng
Chong đêm mơ chỉ bóng nguyêt rầu
Xuân đến phương người hoa có thắm?
Có nhớ không em ước hẹn nào?
.
2.
Đầu xuân hoa nở màu tươi thắm
Sao mãi hồn tôi rêu phủ màu
Em hãy về đi xuân rồi đó
Mang theo chút nắng ấm tình nhau
.
Đầu xuân chim líu lo ngoài ngõ
Hoan ca mừng đón nắng xuân hồng
Ta mãi vẫn chờ … chờ em đó
Từ lúc phân ly lệ lưng tròng
.
Hãy về em nhé. về em nhé?
Mang theo nắng ấm sưởi ta đông

XUÂN VỀ

.Một nhành mai khoe sắc
Xuân về rồi phải không?
Chim líu lo ca hát
Sao sầu động trong lòng?
.
Mây trắng trời lam bay
Về phuơng nào ai biết?
Tóc xanh giờ có hay?
Màu thời gian da diết!
.
Năm cũ rồi giã biệt
“Vó câu vèo qua song”
Lột vỏ từng tờ lịch  
Còn chữ sầu bên trong
.
Một nhành mai nở sớm
Xuân về người biết không?
Ngày mới hương xuân đượm
Sao lệ ứa lưng tròng?!
.
Một khối tình rất cũ
Sao hoài mới trong tâm ?!

Nguyên Lạc

Lục bát thuở mới yêu em

theo em


theo em, nhất định theo em
dù cho em có không thèm nhìn tôi

theo em giữa buổi chiều rơi
giữa ngày nắng cháy, giữa trời mưa bay

dù cho em chẳng một lời
chỉ mong ánh mắt liếc tôi một lần

theo em từng buổi tan trường
áo bay mà rối cả hồn tôi đây

từng đêm thơ thẩn nhìn trời
bao giờ em mới mỉm cười với tôi

chỉ vì

chỉ vì em bỉm môi duyên
chỉ vì môi bỉm có thêm nụ cười
chỉ vì em liếc nhìn tôi
mà trong cái liếc
gói lời yêu thương
để bao đêm vắng
canh trường
mình tôi thổn thức
tơ lòng rối ben


trong tim


mắt ai như cánh lá răm
nguýt tôi một cái đứt ngang tim này
mở tim ra ngắm
mới hay
trong tim đã có dáng ai.bao giờ ?

Tại sao

tại sao liếc mắt đưa tình
tại sao cái liếc chứa nghìn thiết tha
tại sao chẳng chịu nói ra
những lời âu yếm mặn mà tình nhân

tại sao cứ phải ngại ngùng
tại sao cứ phải thẹn thùng tránh xa
tại sao giả bộ làm ngơ
để tôi thờ thẩn, bơ vơ đêm ngày

tại sao chỉ để nắm tay
tại sao không để quành vai một lần
tai sao em cứ ngập ngừng
để tôi như kẻ mất hồn em ơi

xa nhau

xa em
xa mắt
xa môi

xa hương
xa mộng
xa ngày
xa đêm

xa em
xa mộng
xa tình

xa vai
xa tóc
xa lòng
xa tôi

xa em
xa đất
xa trời

xa năm
xa tháng
xa đời
xa nhau

khê kinh kha

 NỖI NHỚ QUÊ HƯƠNG

Thư viện của bài

This gallery contains 1 photo.

Châu Thạch
 NỖI NHỚ QUÊ HƯƠNG TRONG
     THƠ THÁI QUỐC MƯU

                           

Hiếm có ai xa quê hương mà không nhớ đến quê hương. “Quê hương nếu ai không nhớ/ Sẽ không lớn nổi thành người” thơ của Đỗ Trung Quân hầu như đã trở thành câu thành ngữ ăn sâu vào lòng người dân Việt. Tuy thế, nỗi nhớ quê hương đó không phải ai cũng giống ai. Bởi mỗi người có sự gắn bó với quê hương khác nhau, có hoàn cảnh xa quê hương khác nhau và sự rung động của tâm hồn cũng khác nhau nữa, nên nỗi niềm thương nhớ quê hương cũng có sự khác biệt trong nội tâm mỗi người. Thơ diễn tả nỗi nhớ quê hương cũng thế, có bài da diết, có bài dằn vặt, có bài êm đềm sâu lắng, nhưng chung quy tác giả nào thật sự yêu quê hương thì tiếng lòng của họ làm cho ngôn ngữ của họ hồn nhiên đi vào tâm tư người đọc, mặc dầu thơ họ có thể tự nhiên như là lời nói mà thôi. Ba nhà thơ mà tôi có cơ hội biết đến bút pháp của họ như có hồn quê hương núp ở trong thơ, đó là Nguyệt Lãng, Trần Ngọc Hưởng và Thái Quốc Mưu, trong đó nhà thơ Thái Quốc Mưu là người thật sự xa quê hương biền biệt vì ông định cư ở xứ người bên kia bờ biển Thái Bình Dương.

 Cũng như bao người ly hương khác, mỗi độ xuân về thì nhà thơ Thái Quốc Mưu lại nhớ đến quê hương, nhất là khi mùa xuân đến ở xứ ta thì nơi xứ người vẫn còn tiết đông, khiến cho cõi lòng như cũng thành băng tuyết với không gian. Nỗi buồn của Thái Quốc Mưu không giống với cái buồn của nhưng người hoà nhập với vùng đất mới định cư, mà nỗi buồn của ông trĩu nặng bởi mặc cảm tấm thân mình bèo dạt mây trôi:

 Xuân đến xứ người đang tiết đông

Hỏi, đời ly xứ có buồn không?

Mả mồ tiên tổ nhờ chăm sóc

Đền miếu ông bà cậy ngó trông

Tất bật xứ người quên tết đến

Mệt lừ thân xác hết Xuân mong

Tấm thân lạc xứ con bèo dạt

Mỗi độ xuân sang tím ngắt lòng.

                         (Chạnh Lòng) Tiếp tục đọc