HAI MƯƠI HAI MƯƠI

 

nguoi chet

TRANH VẼ: ‘Người chết /A dead-man’ by Võ Công Liêm

    Tính ra cái cảnh ‘lià xa’ ngon ngót bốn mươi lăm năm (1975/2020) gần nửa thế kỷ cho thân phận lưu đày, hờn vong quốc. Đó là con số thời gian mà kẻ ở người đi phải nhận lấy nó như một thử thách với cuộc đời giữa hai bến bờ, cái đó gọi là mơ, nhưng; thực tế đó chỉ là mơ-về /rêver của ‘dream come true’ cho một mong đợi, bởi; nó mang nặng sắc thái chủ nghĩa hơn là tình người. Sự đó gọi là hiện tượng vũ trụ là một tiếp cận gần kề đối với chúng ta, một vũ trụ khát vọng là cái nhìn dự cuộc để tạo nên một liên hệ tương giao; nghĩa là xây dựng vào đó một hình ảnh lý tưởng của cuộc đời đi vào trong cuộc đời và đặt con người vào cuộc đời như một cái nhìn nội giới, nhưng; đến khi chúng ta phóng tầm nhìn vào hiện tượng là để đi tìm bản thể của ta đang đứng trước một môi giới thời gian và vũ trụ; sự gặp gỡ đó chính là nơi chúng ta làm nên hay không làm nên, cái đó gọi là ý thức thức tỉnh, là những gì mà con người kêu lên hay thốt thành lời trong một không gian qui trình và văn phạm; con người kêu hay thốt là âm vang đắng cay tuyệt vọng để có một cái gì mà con người đang dự cuộc, dù là dự cuộc dưới hình thức nào đều nằm trong qui trình của mong đợi cho một thái độ nhận biết của con người đang đứng trước một thế giới khoa học hiện đại hơn là buông thả, a-dzua, a-tòng để từ đó mất luôn tính sáng tạo, ngay cả sáng tạo trong văn chương hay trong cuộc đời. Đó là lý luận theo dạng văn chương triết học; nhưng đứng trên lập trường tâm lý học thì trạng thái đó là tâm lý mơ-về / rêverà không phải là trạng thái thức tỉnh / awakening / réveil mà là một đánh đổi tuyệt vọng giữa thời gian và cuộc đời (con người) cho một sự an-bài, không còn thấy ánh sáng cuối đường hầm, mù mờ bế tắc vô tận số, tức là nhập vào thời gian của ‘sát-na’ là đi vào cõi vô cùng . Cái sự đó tâm lý học cho rằng : En suivant ‘la pente de la rêverie’ là theo đuổi cho bằng được trên con đường nghiêng ngã của sự mơ về, thực ra nó không phải là điều tuyệt vọng cho một tâm lý theo đuổi giữa một trạng huống đối lập của tỉnh mà đó là một quyết định nhận thức: đã làm được gì và chưa làm được gì trong một thời gian dài đằng đẵng mà chưa đạt tới. Dù có đạt hay không đạt chúng ta coi đó như đối tượng hiện hữu giữa chủ thể và tha thể, mà nhìn vào nó như một dữ kiện, nhưng; nhớ cho rằng dữ kiện chưa hẳn phải là xác quyết để thừa nhận, những gì đã đưa ra hay đề xuất chỉ là hành động mơ hồ, giả tưởng, nó không phản ảnh vào đó một thứ chính nghĩa mà biến mình vào trong cái dự tưởng không có đối tác, là phong cách của kẻ theo đuổi trên cái dốc đứng của mơ về; tất thảy những thứ đó là giả hợp để rồi nảy sanh ra nhiều biện chứng khác nhau, bởi; đó là hình ảnh của ảo giác, một thứ hy vọng vô tưởng tức không thuận lòng người để làm nên, thời tất giòng thời gian đó sẽ đi vào quên lãng, một quên lãng đau đớn như bao lần đã xẫy ra.Vì vậy mà trượt/pente/slope ra khỏi vòng tay là ở chỗ đó, nó có một cái gì hụt hẳng không bao giờ bắt chụp một cách trọn vẹn, thế nhưng; con người vẫn theo đuổi, dù là vô vọng trong cái mơ ước của mình; một sự chạm trán giữa người và vật, chạm trán giữa vật lý và tâm lý; nó vòng vo trong cái tàng tích cổ lỗ sĩ không vượt thoát để tìm thấy sáng tạo, dù có lập lại hay thiết kế hoa lá cành, tất cả nằm trong tuồng tích, vô ra thằng cha khi nãy, một phường giá áo túi cơm chẳng làm nên lịch sử. Mặc khác; trên ‘thị trường’ chữ nghĩa có lắm thứ bung ra như bày tỏ nguyện vọng, như khẩn trương tình thế, những thứ đó chỉ nhất thời chớ không thức thời, đều trở nên a-tòng, dự phần trong cái thế chẳng đặng đừng, tức cờ phất theo gió, không có lý tưởng chủ nghĩa như yêu cầu đã đề ra; trầm trọng khác là không đổi mới tư duy để có một hướng đi cụ thể cho việc mơ-về, làm mất luôn tính sáng tạo ngay cả sáng tạo trong văn học nghệ thuật từ xưa đến nay.

Hai mươi hai mươi (2020) là cái năm tròn của thế kỷ hai mươi mốt, một đánh dấu lớn giữa người và việc, trong cùng một hoàn cảnh, trong cùng một khuynh hướng xã hội và nhân văn; vừa có tính người, vừa có tính lịch sử bao gồm giữa cõi đời đang sống. Vị trí mật thiết của hai mươi hai mươi là làm sáng tỏ tư duy, một tư duy cải cách và đổi mới. Cái gọi là ‘hoàn toàn theo mới’ khởi từ 1930/1937 đã phát động từ những nhóm nhân văn, đứng lên phá hủy bức tường thuộc điạ cũ (Bắc thuộc, Pháp thuộc) và thuộc điạ mới (Việtnam hóa /Vietnamezation Mỹ) để rồi từ đó dựng lên những thể chế mới hơn. Biên giới điạ dư hay biên giới không gian không còn là rào cản mà là một sự ‘vượt thoát’ để nhìn thấy mình và tìm thấy mình trong một môi trường thích hợp hơn, bởi; nhìn thấy mình của những gì thoái trào do từ tàn tích để lại, nghĩa là không giải phóng con người và vật thể như thời kỳ của Lý Trần ở tk. mười, mười hai và tìm thấy mình đang dự cuộc trên chính trường Quốc tế hiện nay. Thì ra thời gian của chúng ta là thời gian của bi thảm đã rì kéo, đẩy vào con đường chiến tranh, một thứ chiến tranh bẩn thỉu, tanh hôi để rồi văn hóa cũng bị vạ lây tiêu tán và hủy diệt. Từ chỗ đó mới nhận ra rằng văn hóa là nồng cốt để xây dựng một nền tảng đúng phong cách của chúng ta. Cái đó gọi là thời gian hiện sinh, bởi; thời gian là cuộc đời, đưa bao nhiêu điều mới lạ vào đời với những gì đáng có và không đáng có. Cho nên chi; trong cuộc đời con người dự cuộc chính là thời gian. Sở dĩ đặc vấn đề thời gian vào cuộc đời là vì sống là một sự chuyển vần, nó đổi thay và biến dạng dưới mọi tình huống, thời gian là bản chất của đời người, thân phận làm người, thân phận lưu đày hay quê nhà là một tâm lý thuần nhất của vũ trụ như-nhiên. Thời gian chuyển vần qua những đổi thay giữa hiện hữu và tha nhân; điều này cho ta một liên tưởng đến đề tài 20/20 của thập niên trước đây trên hệ thống truyền hình ABC của Mỹ. Qua một vài xướng ngôn viên nhưng đặc biệt xướng ngôn viên Barbara Walter dẫn chương trình đã thu hút nhiều khách xem, bà là một người hiếm có, biết vận dụng miệng lưỡi để đối đáp và đã tạo nên hiện tượng; với chủ đề 20/20 là tạp chí tin tức truyền hình Mỹ (American Television Newsmagazine) là ‘show’ nóng có tính chất nhạy bén được định lượng và đánh giá cao, hầu hết là vấn đáp (orally) với những yếu nhân Mỹ hay một vài nhân sự khác khắp toàn cầu. Căn cứ vào sự kiện để thấy mình đang hiện diện giữa đời, là một nỗ lực chung để Việt nam đang đứng trên 20/20 như một chứng minh hùng hồn sau những năm chịu đựng của máu lửa, sau những năm bị đè bẹp vô căn cứ bởi chủ nghĩa, bởi quyền lực và sức ép. Ghi nhận nó tức thừa nhận nó là một hiện hữu tại thế. Những hành động của con người không còn là vấn đề quan trọng để trực diện –Les actions humaines n’ont pas d’importance directe. Mà nó nằm trong lương tâm. Tất cả chẳng để lại gì ngoài một nhân tính trung thực giữa người với người. 20/20 chỉ là sự kiện thời sự. Nó không phải là bước ngoặt để đánh dấu về con người mà là nhân tính con người trước thời cuộc. Lịch sử nước ta bao phen tử sinh giữa tà đạo và chánh đạo là một hỗn hợp để cấu thành. Dẫu thời gian có chuyển vần, chẳng qua chỉ là biến dịch vũ trụ, bởi con người dự cuộc với thời gian hiện sinh là cái mốc lớn:

Khởi từ 1930/1937 đổi mới tư duy trong thi văn, cách mạng tư tưởng trong văn học sử và xã hội. 1945/ 1955 chống mọi xích hóa, chủ nghĩa, chủ quyền, cọng sản, quốc gia, luật điều im lặng: ‘cải cách ruộng đất’, ‘người cày có ruộng’ là những đề tài phi thực không hiện thực của đòi hỏi mà là giáo điều của chủ nghĩa. 1954/1965 hòa bình trở lại (miền Nam) rồi đấu tranh, hoan nghinh, truất phế rồi chiến tranh. 1965/1975 đánh nhau ‘nội chiến từng ngày’ đạp nhau mà đi với bao cảnh tang thương, tắm máu…cho tới bây giờ: 1975/2020 vẫn chưa phải là đề mục sốt sắng giữa kỷ nguyên này; liệu có đem lại một nền hòa bình thực sự như hoài bão mong đợi? Còn gì nữa đây giữa hai bờ giới tuyến?–Anh có thể làm những gì anh muốn, nhưng; đừng phụ lòng người và xin đừng cầm tù, bắt bớ, vu khống, bôi bác, mị dân, chụp mũ văn hóa, dù là văn chương bình dân hay văn chương bác học. Tất cả là chứng tích của lịch sử ./.

VÕ CÔNG LIÊM (ca.ab.yyc . 31/12/2019)

TRANH VẼ: ‘Người chết /A dead-man’ Khổ 15” X  22”. Trên giấy cứng. Acrylics+ mixed + oil-stick. vcl# 2052010.

   

VỤ ĐÔNG XUÂN

Võ Công Liêm

cropped-hoa-mai-3.png

năm nay thời tiết có thay đổi
điạ cầu không nóng mà gió bấc căm căm
lạnh mưa phùn . tiền khí hậu không chịu tăng
củi khô chụm hết
đèn dầu cạn tim
thực phẩm từ từ
tăng giá bất ngờ
kể cả thuế má
xăng nhớt lên xuống
khi nhiều khi ít
tháng tận năm cùng
tôi . đánh xe đi tìm mùa đông giữa trời
giá tuyết . đó là mùa đông xứ lạnh đầy
trời vắng thấy những bầy chim nhỏ bay
thơm thơm mùi hương hoa nguyệt quế
những cụm hoa đến từ bên kia vĩ tuyến
nghe như có tết ở trong lòng
tách cà phê đen không đường
tôi uống từng cụm khói
mà nhớ
năm nào trên cánh đồng khô
con cò lặn lội bờ ao
nhớ con rạm gạch to càng
kho tiêu
vụ đông xuân
gặt hái qua loa
về nhà chăn gối
ngủ giấc nam kha
cho mộng bay xa
tôi và em đi chơi tuyết vùng cao
những cọng khô phơi gió
hây hây mùa hạ quê nhà
hôm nay tháng mấy rồi nhỉ ?
mà đôi chân lạnh tím
để em không còn nhìn thấy
tôi thị giác mờ hư ảo
và . đêm đã tới gần
trong căn gác đìu hiu
cửa sổ mờ mịt trắng
trời ơi mênh mông . mênh mông buồn
điã hát chạy quay vòng
torna a surriento*
mà nhớ mưa phùn bay

em . ở đâu ? tôi ơi

‘bỗng chạnh lòng cơn lạnh bủa vây
đầu bạc cười qua gom góp vụng’**

VÕ CÔNG LIÊM (ca.ab.yyc. Jan 1/2020)

* ‘Về mái nhà xưa’ Nhạc Ý Đại Lợi. Phạm Duy phổ nhạc..
** ‘Thu nhật Ký hứng’ của Nguyễn Du . Lại Quảng Nam chuyển dịch Việt  ngữ.

L    Ạ   N   H

hoàng xuân sơn

snow

Rờ đâu cũng thấy lạnh
thực phẩm
chăn
mền
câu thơ biếm vào số lẻ
nước. nước lạnh ré
nơi góc tối
hằng hà đóng băng
không còn ai trượt tuyết giờ này
tuyết. và máu
những ngón tay
đông
cứng
ly rượu đỏ
lấm lét màu cờ

24 tháng mười hai 2019

LẠI MỘT MÙA ĐÔNG

Nguyên Lạc

snow
1.
Chớm đông lạnh mặt trời không dậy sớm
Bạc sầu sương vương mắt cây trơ
Có chiếc lá tiếc cành nức nở
Nuối tiếc chi? Rồi cũng đổi mùa
.
Trời tàn thu đông phong đến vội
Lạnh lùng chi? Trời chẳng nắng hồng
Bao năm rồi buốt giá mùa đông
Nhớ thương lắm quê hương tôi nắng ấm
.
Tôi nhớ lắm dòng Hậu Giang yên ắng
Ôm vào lòng thành phố Cần Thơ
Thành phố của tôi. thành phố mộng mơ
Từng ngõ ngách thân quen. từng ngôi trường hoa phượng vĩ
.
Thành phố của tôi. lứa bạn bè tri kỷ
Những quán đêm. góc phố hẹn hò
Những quán chè ngọt lịm môi mơ
Tựa bước lang thang bến đêm Ninh Kiều rạng rỡ
.
Thành phố của tôi: Cần Thơ một thuở
Thuở yêu người. thuở xuân mộng lên ngôi
Thành phố của tôi một thuở … đã rồi
Mù xa thăm thẳm. lận đận đời viễn xứ!
.
2.
Sáng mùa đông biết cách chi ấm hở?
Mặt trời đâu? Những tia ấm rực hồng?
Thắp giùm tôi chút nắng được không?
Cho tôi rọi hồn … Tìm lại Cần Thơ ngày cũ
.
Thành phố của tôi. mối tình xưa cũ
Cố nhân ơi! Tôi vắng mất người rồi
Cố lý ơi! Chỉ hoài niệm mà thôi
Cô lữ. Lưu vong …
Một mùa đông lại đến!
.
Nguyên Lạc

RỪNG QUÊN LÁ NGỦ

thu 7

Võ Công Liêm

chiều xốc xếch bước
bên đồi dốc đứng
liêu xiêu tình ta
đợi chuyến xe về
giữa trời tháng chạp
mắt nhung nhớ . em
đường giăng mạng nhện
ngõ cụt tắc nghẽn
tôi . giang hồ kiếp
một đời hư hao
thôi miên thị giác
gió giựt đầu truông
nghe thầm viên mãn
đêm . nhầy nhụa nhớt
lên tấm thân tàn
vàng thau lẫn lộn
một trời xa tít
nơi chốn lưu đày
mấy độ đông về
rưới vào ngực thở
cho tình phôi pha
ngày hoàng đạo phố thị buồn thiu
đêm đập cổ kính tìm lấy bóng
giờ tứ ly ôm đầm trắc trở
đứng đầu gió hái cụm tàn phai một thuở
chòng chành con đò săn đêm
kéo lê đôi gót giữa trời mưa truông
trên căn gác đìu hiu lạnh lùng đứng đợi
gió không về đêm nay làm tình lỡ một lần qua
từ những con đường mặc khách
giai nhân ôm vai vào quầng mắt
trong lũy khuất . đêm nghêu ngao tình huống
uống cạn ly phong trần cho đở nhớ
cùng em ôm siết cuộc đời để gió mây ngàn bay
nhớ ga hàng cỏ đầy nhóc dã thú đa đa
hình tượng em chiều giáng sinh cô độc
đêm chênh vênh trên từng sợi nhỏ
mùa hạ trắng nằm nghiêng vai chờ gió
đêm đút ta vào ngăn kéo hôn mê
thiu thỉu ngủ dưới mái lầu phong nguyệt
xa em bỗng nhớ
quán đêm tu hú
cổ tích hoang đường trầm mình trong giả sử hoang ca
khâu vá những chuyện tình lỡ dỡ một thời rất bỏ ghét

đất vùi chôn thế kỷ
mưa khóc đời rêu rao
thở chung cùng nhịp đập
cho rừng quên lá ngủ

sau lần cửa khép
tôi . bỏ cuộc chơi rong ./.

VÕ CÔNG LIÊM (ca.ab.yyc . Xmas 12/2019)

BỖNG NHIÊN TRỜI LẠI SÁNG

Võ Công Liêm

vcl tranh-nguo dan ba dan

Tranh Võ Công Liêm “Người đàn bà chơi đàn độc huyền cầm”

  1. Tu viện Dòng Tên xây dựng thời Pháp thuộc, nghe đâu từ đầu năm 1911 xây bằng đá, cốt sắt trông đồ sộ. Tu viện nằm sâu trong rừng bao bọc bởi hàng thông già, cây cỏ um tùm, xa xa một vài ngọn đồi trọc nhô lên giữa da trời xanh lơ lơ làm cho cảnh vật thêm đìu hiu và lạ lẫm. Tu viện nằm riêng một cõi, ít người lui tới, mặt tiền hướng ra biển, tọa trên một vuông đất rộng giữa hai lằn biên Quảng Nam và Thừa Thiên. Sau hiệp định Giơ-Neo; Pháp rút lui vào năm 1955 được bề trên giao cho cha Mùi cai quản. Họ đạo tập trung dưới thung lũng cạnh bờ biển, phần đông là dân chài, đâu chừng chưa tới năm mươi hộ gia đình. Dân cư sống rãi rác dưới những mái nhà lá đơn sơ, xiêu vẹo. Lên thăm viện đường đi dốc vách có khi phải đánh xe vào thăm viện và bới một ít khô cá, khô mực, mắm muối để cha Mùi dùng độ bữa. Dần dà tình ‘cha con’ trở nên thân quen và gần gũi. Phụng dưỡng tu viện không lâu thì cha Mùi qua đời vào đầu năm 1960. Viện trống không và vắng bóng thế gian. Ai xui; lọt tai cậu Cẩn, thời đó cậu quyền cao, chức trọng, hét ra lửa nên chi nói tới đâu trên dưới chấp hành nghiêm chỉnh, không dám nhúc nhích với lại tánh khí cậu nóng nảy. Cậu Cẩn gởi văn thư yêu cầu sở tài chánh Huế cấp ngân sách cho việc sửa chửa tu viện.

Ít tháng sau có chiếu chỉ của tòa Tổng Giám Mục chuyển giao tu viện cho Xơ-Mari Nguyễn thị Thới đứng ra điều hành; đi theo Xơ-Mari có dì Phúc và dì Hạnh cùng đến nhận nhiệm sở. Điều hành và sắp xếp viện tu học thì Xơ-Mari lên phẩm mẹ Bề Trên (lúc đó bà Thới đã tới tuổi sáu mươi ngoài). Xơ-Mari có lệnh cho thu nhận nữ tu ở hai tỉnh và một vài nơi về tu tập và chăm sóc bệnh nhân phong cùi ở dưới làng Lăng Cô (thuộc tỉnh Quảng Nam).Tu viện thiết kế theo lối kiến trúc miền Nam nước Pháp; trông bề thế và kiên cố. Cửa lớn viện làm bằng gỗ qúy, chạm trổ hoa văn theo kiểu cổ tích trông oai nghiêm và trang trọng; suốt ngày đêm cửa đóng then cài như chận chướng ngại vật xâm phạm; biến tu viện thành dòng tu kín.

  1. Sau mười lăm năm tu viện đã phục chức hơn ba mươi nữ tu xuất viện đi phục vụ một số bệnh viện, trường học và nhà thờ trong nước. Xơ-Mari Thới giờ già hơn trước nhưng còn minh mẫn; tu sinh coi chị Bề Trên như mẹ của mình. Trên dưới răm rắp một khuôn theo phép đạo; tách ra hai thế giới bên trong và bên ngoài. Ngoài việc tu tập các chị lao động việc trồng trọt để có thêm lương thực xanh. Họ quên đi cảnh giới, sống âm thầm và chịu đựng trong cô đơn, tiếp cận rộng rãi với bốn mùa thiên nhiên hoặc hứng chịu những ngọn gió xoáy từ biển tát lên ào ạt tợ như muốn đánh sập cửa viện để tuôn vào phòng riêng của mấy nữ tu. Nữ tu sợ cảnh này; sợ gió uy hiếp mà thương tổn đến thể xác và tinh thần. Chạm phải tội tư tưởng. Ở đó chỉ có sự bạo dạng của rừng và núi đá gầm lên để chống trả một định mệnh đã chôn vùi và lãng quên; để rồi tu viện cũng như người tu chỉ còn cách cúi đầu lặng đứng giữa thế gian này…mà thở dài.

Đứng trong bếp lửa than hồng của một sáng đầu đông; mẹ Bề Trên cho gọi nữ tu An na Lê thị Nầy lên chánh phòng. Thả đôi đũa bếp xuống, vội vã lau mặt, vuốt tóc, khoát áo dòng tu đến gặp mẹ. Nữ tu hồi hộp sợ vấp phải điều gì hoặc chờ lệnh sai bảo. Xơ-An na nhẹ tay đẩy cửa vào chánh phòng. Gương mặt hiền như nai tơ, mỉm cười cúi đầu chào. Lặng đứng! -Con ngồi xuống. Mẹ Bề Trên nói. Chị An na ấp úng muốn nói điều gì, nhưng mẹ Bề Trên đã tiếp lời: -Tôi nhận được thư gởi từ người thân của con xin được phép cho về quê để mai táng hài cốt thân sinh con ở Quảng Trị. Chị An na tỏ ra ngạc nhiên về điều này, vì; hơn hai mươi mấy năm qua chưa một lần nghe về lai lịch cha mẹ mình, giờ lại nghe đi dời hài cốt. -Thưa mẹ có thật như vậy không? Chị An na nói. Mẹ Bề Trên mỉm cười âu yếm tỏ ra thông cảm ý nghĩ lạ của chị An na. Nhưng cả hai trầm tĩnh trong giây lát; gương mặt chị An na trở lại bình thường, đầu cúi xuống và lắng nghe. -Đây điạ chỉ và tên người muốn gặp con. Cứ việc đi bao giờ xong chuyện rồi hãy về, công việc không có gì quan trọng để con phải ngại. Lo thu xếp mà lên đường. Mẹ Bề Trên nói.

3. Chuyến tàu lửa đến Huế đúng mười hai giờ trưa. Chị An na ngủ lại đêm ở Dòng Chúa Cứu Thế. Sáng hôm sau đáp xe đò đi Quảng Điền gặp người thân. -Bà có phải bà Thắm. Lê thị Thắm? Chị An na nói. -Xơ Nầy phải không? Thắm nói. Họ ngồi bên nhau và tâm sự nguồn cơn tại sao có cuộc gặp hôm nay. Trong căn nhà xưa cổ, mái ngói, vách vôi, mục rữa xuống cấp, sinh khí ủ dột phản phất mùi rượu và thuốc lá. Cảnh sống của bà Thắm không mấy lành mạnh. Phong cách hiện ra nét phóng đảng, liều lĩnh tuồng như bất mãn đời. Tuổi chừng năm muơi nhưng trông bốn mươi kém cho nên bề ngoài còn phấn son, loè nhèo. -Mời nước. Bà Thắm nói. Xơ-Nầy ngồi lặng yên ít nói, nghe tới đâu ngúc đầu tới đó không thắc mắc hay nghi ngờ gì cả. Thái độ dịu dàng của nữ tu có phần thu hút người đối diện. Bà Thắm không còn ngại ngùng nói huỵch toẹt đời mình cho Xơ-Nầy nghe. Những gì bà Thắm nói ra như lời xưng tội trước Chúa. Đôi mắt an ủi của chị An na là một thương cảm cho những kẻ đau khổ. Bà Thắm cầm tay Xơ-Nầy với đôi mắt buồn: “Năm 1972 tôi cứu cô ra khỏi lằn bom lửa; người chết như rơm rạ dọc đường cái. Cuộc chiến bùng nỗ dữ dội, tôi và mọi người chạy nhưng không biết chạy về đâu. Dọc bên hào rãnh người chết ngập, tôi nghe tiếng trẻ con khóc ơi ới, một đứa bé chừng như ba, bốn tuổi nằm dưới bụng mẹ đầy máu, bên cạnh người đàn ông cũng đầy máu; chết tiệt. Tôi kéo đứa trẻ ra khỏi tay mẹ, ôm vào người tiếp tục chạy cho tới khi đến một thị xã gần đó…Đứa trẻ khóc miết vì nhớ cha mẹ và đói. Tôi; lúc ấy 17 tuổi và cha mẹ tôi cũng chết trong cuộc chiến. Tôi chăm sóc cô được một tháng thì gởi cô vào viện mồ côi. Với tên thường gọi (do tôi đặc) Lê thị Nầy. Tìm hiểu ra cô đã được dòng tu nhận lãnh và cho tới nay được 28 năm mới gặp lại nhau”.Tôi nghĩ cô sẽ không đến vì mọi thứ đã đổi thay. Với Xơ-Nầy khi ra khỏi tu viện như chim sổ lồng, tất cả xa lạ, ngoài những gì đã nghĩ; mọi thứ hấp dẫn và lôi cuốn. Gió từ đâu thổi tới bung ngược áo dòng của Xơ-Nầy, lạnh dưới đôi chân. Nữ tu giữ lại thế quân bình và chậm rãi bước đi; tiếp cận cảnh đời tự nhiên tâm hồn rộng mở sau hơn hai mươi năm sống trong tu viện. Tự nhiên nữ tu cảm thấy phơi phới tâm hồn. Trời ở ngoài đời xuống chậm và huyên náo.Càng huyên náo càng lắm chuyện. Xơ-Nầy qùi lạy làm dấu thánh trước khi lên giường ngủ. Bên kia căn buồng bà Thắm còn rì rào, có tiếng đàn ông và khói thuốc len qua buồng của Xơ-Nầy; rồi lại nghe tiếng cười khúc khích, bỡn cợt. Lạ vô cùng! Xơ-Nầy bịt tai, nhắm mắt, nhốt trí óc lại để đừng phạm tội với nước Trời.

4. Chuyến xe đò đi Quảng Trị chật ních cá hộp, phần đông là dân buôn bán. Hàng ghế đầu dành cho khách đi ‘độc cước’ không gồng không gánh. Ngồi bên cạnh nữ tu là chàng thanh niên dường như ba mươi ngoài, tác phong nghệ sĩ, bởi; có mang theo cây đàn. Ép mình trong tư thế khiêm nhường và tránh né. Xơ-Nầy cảm thấy áy náy vì đụng phải người đàn ông, mà xưa nay nhìn bằng đôi mắt qua loa cho có nhìn chớ chả có ấn tượng. Bên cạnh Xơ-Nầy bà Thắm ngậm điếu thuốc thơm phì phào, mắt lim dim như nhớ về cảnh xưa. -Bà có chắc là ông già chôn người chết thời đó còn sống không? Xơ-Nầy nói. -Tôi nắm cả rồi. Đừng lo cứ theo tôi. Bà Thắm nói. Xe chạy mệt mỏi với dặm đường. Thanh niên đưa kẹo ho mời nữ tu và nói bâng quơ vài câu chuyện ngoài lề. Nữ tu mỉm cười, nhìn qua khung cửa xe, gió bụi bay lung tung. Hình như cái dịu dàng đó lôi cuốn chàng nghệ sĩ hay là chàng muốn tỏ tài nghệ ngón đàn độc chiêu của mình cho nữ tu biết? Chàng thanh niên nói, nữ tu nghe và mỉm cười. Xơ đến bến nào? Chàng nghệ sĩ nói. Xơ-Nầy không trả lời mặc cho xe lắc lư. -Chắc không xa Hiền Lương. Bà Thắm nói. Xe đổ bến thì trời nhá nhem tối. Bà Thắm và Xơ-Nầy ngủ lại khách sạn. Khách sạn lúc này đông khách, đại đa số đến dự kỷ niệm ba năm thành lập khách sạn (1997/2000) có mời một số văn nghệ sĩ tăm tiếng đến trình diễn. Bà Thắm đưa áo dài, giày cao gót, môi son cho Xơ-Nầy. -Mặc vào đi! Đêm vui có ăn uống và văn nghệ, đờn ca, nhảy múa, ăn vận cho dễ ngó thì hơn. Không nhẽ đến đó mặc đồ dòng. Bà Thắm nói. Tiếng nhạc dội từ dưới lên.Tiếng nhạc ít nghe nhưng khi nghe thì lại giựt đôi chân, mình mẩy rung rung. Xơ-Nầy cố đuổi mấy thứ đó ra khỏi người. Không thay đồ mặc nguyên áo dòng. Bên ngoài trời tối sậm chỉ nghe tiếng còi xe ầm vang đủ để hình dung không có luật giao thông. Khách đến dự đông ngập, không còn thấy chỗ trống cho một bàn ăn. Trước cửa phòng ăn bà Thắm phục trang loè loẹt, đi giày cao, phấn son, xịt nước hoa nội hóa phản ra từ người; đứng bên cạnh là nữ tu, với chiếc áo dòng màu vỏ trứng sáo, trông không hòa điệu nhưng nhờ có nụ cười hiền hòa mà làm cho nữ tu có nét đẹp khác người. Họ ngồi trong một góc chật hẹp. Nhạc ào ạt vung vãi, dội tiếng rền vang át cả tiếng người. Không xa một người đàn ông đầu hói, ngậm vố thượng du mỉm cười đưa tình. Thắm đáp lại bằng mắt. Trên bục diễn chàng thanh niên nhận ra nữ tu ngồi cạnh trên chuyến xe đò Huế/Quảng Trị cùng về chiều nay. Âm nhạc, muỗng nĩa trộn vào nhau nghe rát. Trên sàn nhảy bà Thắm ôm người đàn ông đầu hói vai kề vai, lả lướt nhảy vũ điệu xì-lô trông tình tứ. Bà Thắm ném nụ cười thân ái đến Xơ-Nầy. Cuộc diễn thưa dần gần nửa đêm. Bà Thắm không về phòng cùng với Xơ-Nầy. Trở lại phòng ăn uống ngồi đợi bà Thắm. Giữa lúc này người thanh niên với cây đàn sà tới chào đón niềm nở. Xơ-Nầy cúi đầu mỉm cười không nói. Đêm chuẩn bị đi ngủ. Hơi gió se lạnh thổi nhẹ vào những màn mỏng giăng ở cửa. Cả hai ngồi trong thế bị động cũng khá lâu. Không biết họ có trao đổi gì không. Chỉ nghe tiếng đàn phổ nhẹ bên tai nữ tu.Tóc người nghệ sĩ đổ xuống trên cây đàn…

  1. Tới Hiền Lương bà Thắm tìm gặp ông Triệu, người đã chôn tập thể một số tử thi mùa hè đỏ lửa 1972. Ông Triệu tuổi ngoài tám mươi sức khoẻ kém, thường nằm viện. Ông kể rõ điạ điểm nơi chôn nhưng khó mà nhận ra hài cốt ai là người thân của mình trong mồ chôn chung. Cả hai tuyệt vọng lủi thủi đi về. Xơ-Nầy qùi gối làm dấu thánh cầu nguyện bên cạnh hố chôn. Bà Thắm đi cùng với phu mộ ở một khoảng xa. Trời xám đặc như muốn mưa, xung quanh là rừng cây khô chỉ thấy một vài con quạ đen đậu trên cành chờ mồi. Ngày sau; cả hai trở lại Quảng Điền. Xơ-Nầy thu xếp để về tu viện vào chuyến tàu cuối. Đường hướng lên tu viện trời ngả chiều, gió từ biển luồn vào áo dòng chị An na, chị cảm thấy lạnh cơ thể, bụng đói bước đi dốc ngược người bạc phơ và mệt nhọc sau hơn mười ngày trở về quê cũ. Đứng trước cửa tu viện chị An na thở phào nhẹ nhõm, ngước nhìn trời đêm như thầm nhủ điều gì.

Chưa tới một tuần ở tu viện Xơ-Nầy nhận hung tin: ‘O Thắm đã tự sát.Về gấp’.Trở lại Quảng Điền tìm gặp Hoàng Thái người nghệ sĩ với cây đàn để trợ giúp những việc khó trước mắt. Thái tỏ ra vui mừng khi gặp lại Xơ-Nầy. Chàng tưởng là biền biệt nghìn trùng, nhưng; gặp nhau giữa thiên đường và điạ ngục là hạnh ngộ. Tìm hiểu nguyên nhân cái chết của bà Thắm chỉ có cơ quan biết thực giả của vụ án; theo đời truyền khẩu thì Thắm vô bưng sau năm 1972 và làm việc nhà nước cho tới nay; không chồng, không con nhưng lại lắm tình yêu và nhiều thứ bon chen hơn thiệt. Thư di chúc đề: ‘Căn hộ này thuộc Xơ-An na Lê Thị Nầy làm sở hữu chủ’ Xơ-Nầy không vui khi nhận việc thừa kế. Vì; đây không phải là phần gia sản dành cho mình. Xơ-Nầy và Thắm chỉ là người dân nước lã. Qúi nhau ở cái tình bà Thắm cứu sống đời mình. Đem tâm tình phơi mở với Thái. Quyết định cuối cùng của Xơ-Nầy hiến bất động sản cho dân Quảng Điền làm chỗ trú cho người nghèo và tật nguyền. Cả hai không xem trọng việc để lại hồi môn. Họ trao đổi suốt đêm. Đêm lôi cuốn vào mộng ảo, âm vang nhạc khúc đêm cuối cùng ở Quảng Trị là một gợi nhớ, một kỷ niệm chôn giấu. Quên hết để sống thực. Đêm ở khách sạn; Xơ-Nầy ăn vận bình thường, trang phục những gì bà Thắm để lại, những bước nhảy trong vòng tay là cả một ao ước được sống lại một lần. Chính thời điểm đó đã đánh thức linh hồn Xơ-Nầy bằng một khám phá mới; mới hơn cả sự thật. Họ hẹn nhau ở tiệm ăn khách sạn; mượn đây như đã một lần gặp gỡ. Hôm nay; trong không khí này nhớ lại những gì họ đã nói trong mắt, trong tim. -Cô thích nhảy không? Thái nói. -Tôi chưa bao giờ biết nhảy. Xơ-Nầy nói. -Tôi bày cho. Thái nói. Đêm hôm ấy Xơ-Nầy nhấp rượu đỏ. Hình như rượu đã ngấm vào người và Xơ-Nầy mất kiểm soát…Họ đưa nhau về thì trời đã qua đêm. Sáng sớm Xơ-Nầy mặc lại áo dòng và nhẹ bước rời khỏi khách sạn. Nửa giờ sau Thái còn trên giường ngủ, cong vòng như con chuột chết khô trong hủ nếp. Trời bỗng nhiên rực sáng. Xung quanh không một bóng người, cảnh vật êm đềm, nhẹ nhàng ở một thị trấn miền xa.

Sáu tháng sau Chị-An na Nầy nhận lễ thệ nguyện tấn phong trong hàng ngũ giáo sĩ. Và; làm việc với mẹ Bề Trên Ma ri Nguyễn thị Thới cho tới khi mẹ Bề Trên qua đời. Tu viện không có gì thay đổi. Mãi sau năm 1975 tu viện đặc dưới sự quản lý nhà nước. Xơ-Nầy được chính quyền và tòa Tổng Giám Mục đề bạt làm tổng giám thị tu viện dưới quyền mẹ Bề Trên Xơ-Ma Đờ Len Đặng Thị Phúc. 30 tháng 4 năm 2000 sanh nhật Xơ-Nầy ở tuổi ba mươi mốt. Một chặn đường tu và sống của dì phước Lê thị Nầy ./.

VÕ CÔNG LIÊM (ca.ab.yyc / ch.pek 4/2016)

* LTG: Tên, tuổi nhân vật và địa dư trong truyện là hư-cấu. Trùng hợp là chuyện ngẫu nhiên ngoài ý muốn.

-Giơ-Neo ( tức Geneva/Genève) thuộc Thụy Sĩ. Nơi họp hội nghị chia đôi đất nước Việtnam ở vĩ tuyến 17; năm 1954.

NGẪM NGỢI ĐỜI NGƯỜI

Phạm Ngọc Thái

Phạm Ngọc Thái Cánh đại bàng của thi ca đương đại

               

Chiều mệt mỏi. Ta ngồi ngẫm ngợi…
Đời người bao nắng, gió, mưa sa
Dẫu trong hồn vẫn chưa dứt phong ba
Nhưng “cuộc sống – tình yêu” thì đã mãn
 
Em đã hết. Thân tàn. Vui, buồn đều cạn
Óc chai lỳ như một kẻ vô tri
Nghe bốn phương tình: toàn thấy tiếng chia ly !?
Ừ thì thôi, đi đi ! Không tiếc nữa…
 
Yêu đã đủ. Khát vọng giờ cũng thỏa.
Sống làm người chỉ đến thế mà thôi !
Vượt hơn lên chán vạn kẻ trên đời
So các bậc tài nhân, đâu có kém.
 
Để lại nước non, một tấm hình thương mến
Quê hương sẽ ôm ấp tấm lòng ta
Nay hòa chút lệ đời, viết chương cuối khúc tình ca
Rồi dứt bỏ ra đi, không còn lưu luyến nữa.
 
Ta đã sống cuộc đời đầy ý nghĩa
Đạp trên tiền, danh vị để mà đi…
( thì chuyện áo cơm ai chẳng phải lo vì )
Có vào chốn ngàn thu, ung dung bay cánh hạc.
 
Chiều mệt mỏi. Đôi vần thơ tan tác…
Ngẩng nhìn trời. Ta gọi: Thế nhân ơi !
Xin rũ sạch bụi trần. Trọn một kiếp người.
Bay lên chín tầng cao… Kẻ lữ hành cô độc…
 
          7.7.2019
     PHẠM NGỌC THÁI

CHUYỆN CŨ…

Đặng Xuân Xuyến

uminh4-tram

– Kính tặng chú Trần Quốc Phiệt
nhân đọc comments bài NGƯỜI XƯA –

Cháu vốn đa tình mà thủy chung
Mười năm vun mãi khối si tình
Nào đâu biết được người ta đã
Lặng lẽ lên đò để quên sông.

Cháu khờ, khờ lắm. Chú biết không
Cứ ngỡ sông kia chả uốn dòng
Đem gán Xuân thì vào ảo mộng
Đâu ngờ gió lạnh phủ kín sông.

Cháu rõ người ta vội cưới chồng
Cưới người chồng đó có như không
Cứ nghĩ sầu tình vừa tỉnh mộng
Sao lòng còn ở ngã ba sông.

Cháu nhắc bao lần đừng ngoái trông
Thây kệ người ta nợ vợ chồng
Nhưng mà đằng đẵng mười năm mộng
Cứ rức trong lòng tiếng sáo Trương!

Hà Nội, 22 tháng 12.2019

ĐÂU CẦN CHỜ ĐẾN ĐÊM GIÁNG SINH PHẢI KHÔNG EM?

Nguyên Lạc

tran din cuon

Trang Đinh Cường

1.
Đêm Giáng Sinh Chúa hiện xuống trần
mang niềm tin mới cho nhân thế: Công bằng. Bác ái
Có ích kỷ không em?
Khi anh không thích em bác ái
Em phải yêu thương riêng chỉ anh thôi!
.
Đêm đâu cần vọng về những tiếng chuông ngân
Khí em đến. ngàn tiếng chuông tình vang hồn anh ngây ngất
Đêm ngọt ngào như chiêm bao
như cổ tích
Đêm khát khao
Đêm huyễn mơ
em. bãi cát nhung êm đợi chờ
anh. nghìn sóng biển phủ tràn
những nụ hôn thân trầm hương ngát
.
Đêm. chỉ riêng anh và em
Vòng tay đan nồng ấm
vũ điệu Rumba mê đắm
hai thân người cháy bỏng quyện tan nhau
.
Đêm mang tin vui.
lời tình ca anh hát
ngợi ca thần tình yêu Cupid. em. bắn mũi tên vàng ngay tim. anh ngất
Nên suốt đời anh mãi vọng một phương

2.

Đâu cần chờ đến đêm Giáng Sinh đâu em!
để chuông ngân vang niềm tin mới
Bất cứ đêm quắt quay mong đợi
Em đến là đêm Giáng Sinh!
.
Hiện hữu em cứu rỗi đời anh!
Có tội lỗi lắm không?
khi nghĩ em là Chúa
mang tin mừng riêng chỉ anh
.
Cảm ơn em. suối tóc êm nhung
mật ngot môi cong
Và cảm ơn thân trầm
ngực rằm dâng hiến

3.
Đâu cần chờ đến đêm Giáng Sinh đâu em!
Ngàn nến hồng lấp lánh rạng tâm khi em đến
đêm nồng nàn đêm khát khao đêm mê đắm
Đâu cần chờ đến đêm Giáng Sinh phải không em?
.
Nguyên Lạc

Reason to Celebrate!

advent candle3

We are in the Advent season. And the Advent Wreath is the recognized symbol of Advent. The wreath is made of a circle of green branches to symbolized eternal life and reminds us of His eternity and endless mercy.

The four weeks before Christmas represent HOPE – LOVE – JOY – PEACE and are symbolized with four candles with one lit every Sunday of Advent. The fifth candle (traditionally white) represents the birth of Christ – the light of the world – and is lit on Christmas Day.

My friends, Christmas is all about the birth of Jesus, and not his birthday.  And what we are celebrating is not a coming into the world that occurred long ago, but one that is taking place this very day, this very minute, this very moment — within every human heart that is open to this incredible miracle. 

In other words, Christmas is not principally about recalling a birth that happened two thousand years ago, but about rejoicing in a birth that can and will take place in you and in me. We almost never say Jesus WAS born.  We say Jesus IS born.

In many ways, Jesus wants to be born within each of us this Christmas.

Will we do all we can to keep him alive and healthy in our hearts? 

Will we give ourselves completely to him? 

Will we make him our top priority, our focus — the very center of all we say and do, the very center of who we are?  And maybe most importantly, will we do anything for Him — even the difficult things, the things that require we give everything we have and everything we are?

My friends, Jesus doesn’t want to wait another moment.  He wants nothing more than to born within each of us.  Will we let him?  Will we find new ways to give birth to Jesus in our hearts, our souls, our minds, and in the world?  Will we, like Mother Mary, say “yes”?

 For if we let it happen, if we let Jesus be born within us, people will know.  They will see Jesus on our face, on our smiles and in our actions, shining forth for all to see — a light in the darkness.

Now that’s a reason to celebrate! 

Amen!

Deacon Joe Nguyen

Thắp lên nến sáng đêm đông

Nhật Quang

advent candles.jpg
Chuông ngân…
thánh thót giọt trời
Phong vân réo rắt ru lời kinh xa
Nắng gieo ân phúc chan hòa
Giáng sinh thắp sáng câu ca an lành
Tuyết rơi
huyền thoại…đêm xanh
Ngàn muôn tinh tú long lanh dịu hiền
Tỏa lan màu nhiệm Thánh thiêng
Nguồn ơn cứu rỗi thắm miền đợi trông…
Thắp lên
nến sáng đêm Đông
Mừng con Chúa đến, ấm nồng nhân sinh
Thiên Đường rạng ánh quang vinh
Thế trần tâm thiện, an bình khắp nơi.

Đà Lạt, Mùa Giáng Sinh Ngày Xưa…

PHẠM NGA

  dalat mua

1.

Hòa biết bản “Bài thánh ca buồn” của nhạc sĩ Nguyễn Vũ khi Hòa mới 15 tuổi, đang học lớp đệ tam C trường Pétrus Ký. Ông nhạc sĩ tài hoa đã kể thuở còn một cậu bé 14 tuổi sống trên Đà Lạt, ngày ngày đi lễ ở nhà thờ Con Gà thì tình cờ gặp một cô gái rất xinh. Mở lời làm quen thì biết cô ấy lớn hơn mình 2 tuổi nhưng trái tim vụng dại của cậu con trai mới lớn vẫn đập loạn nhịp trước bóng dáng thiếu nữ có mái tóc dài buông thả, đẹp như mộng ảo giữa cảnh sắc đồi thông Đà Lạt sương mù.

Hòa mê mẩn trước lời kể của nhạc sĩ Nguyễn Vũ, rằng có một lần tan lễ Giáng sinh thì trời đổ mưa, cô gái nép vội vào mái hiên ngôi nhà nọ gần nhà thờ, ông cũng đứng trú bên cạnh. Những kỷ niệm và xúc cảm thiết tha lần ấy chính là nguồn cảm hứng để ông viết nên bản “Bài thánh ca buồn” sau này.

Năm Hòa ngồi lớp đệ nhị C là 1965, Hòa lại càng thích bản “Bài thánh ca buồn” bởi bắt đầu quen Vi ở Sài Gòn, bởi ngẫu nhiên Vi cũng là người gốc Đà Lạt, cũng lớn hơn Hòa 2 tuổi, cũng duyên dáng, cũng tóc dài, nghĩa là có khá nhiều điểm giống cô gái trong chuyện tình dịu ngọt thời thơ dại của nhạc sĩ Nguyễn Vũ …

Cuối tháng 12 năm ấy chợt có kỳ trại đặc biệt được Bộ Giáo dục thời đó tổ chức vào dịp Giáng sinh, ưu ái dành cho ban đại diện học sinh và các lớp trưởng khối đệ nhị cấp của riêng bốn trường lớn nhất Sài Gòn là Pétrus Ký, Chu Văn An, Gia Long và Trưng Vương được đi chơi Đà Lạt 5 ngày. Hòa là lớp trưởng nên được dự kỳ trại có cái tên “Anh Đào” thật đẹp này.

Có cơ hội lần đầu tiên lên Đà Lạt, lại trúng ngay mùa Noel, Hòa nghĩ ngay đến Vi, bởi khi đó Hòa chỉ có Vi là người quen/bạn duy nhất có nhà ở thành phố này.

2.

Đỗ tú tài nhất xong, Vi từ biệt bố mẹ xuống Sài Gòn học sư phạm mẫu giáo. Do người bà con giới thiệu, cô gái đến ở trọ trong trường Mạnh Mẫu, nơi em gái út của Hòa đang theo học, vốn là một trường mẫu giáo nổi tiếng ở khu Tân Định. Một lần nọ, vào giờ tan học buổi chiều, anh tài xế ở nhà lái xe đi rước con bé, Hòa rảnh nên cũng theo chơi. Đang thơ thẩn ngồi chờ trước sân chơi xích đu, cầu tuột, Hòa thấy một cô gái thật trẻ ra phụ các cô giáo trông chừng bọn học con trai lí lắc hay leo trèo, nhảy nhót quá đáng. Gương mặt cô gái không trang điểm nhưng vẫn thùy mị dịu dàng. Mái tóc Vi đen tuyền, xỏa ngang vai, còn giọng khuyên bảo bọn trẻ nghe cứ ngọt như mật ong…, Vi thu hút Hòa ngay từ cái nhìn đầu tiên. Rồi thư viết cho nhau đã nhiều nhưng ngồi bên nhau trong khuôn viên nhà trường thì còn ít bởi để giữ gìn cho các thiếu nữ ở trọ, qui định về khách thăm viếng ở trường Mạnh Mẫu rất nghiêm nhặt.

Vi nhận lời hẹn gặp và cho Hòa địa chỉ ở Đà Lạt. Hòa sung sướng đến muốn bay bổng lên trời xanh. Thế là đến tuổi 16 cậu mình mới được thỏa mơ ước cháy bỏng từ thời thiếu niên là được lên Đà Lạt, đặt chân đến thành phố của Ngàn Hoa, thành phố Sương Mù… như văn chương, âm nhạc thường ngợi ca. Càng hạnh phúc, hát ca hơn là trong chuyến du lịch miễn phí diệu kỳ này, Hòa sẽ có dịp gần gũi hơn với cô bạn xinh đẹp vào đúng dịp Giáng sinh, nghĩa là gần như Hòa sẽ được thể nhập trọn vẹn – chứ không phải ngồi tưởng tượng nữa – vào khung trời lãng mạn tuyệt vời của bản “Bài thánh ca buồn”.

3.

Trời mới rạng đông, trại viên trại Anh Đào được đưa ra phi trường Tân Sơn Nhứt, ngồi máy bay quân sự C123 lên Đà Lạt. Mờ sáng đã đến phi trường Liên Khàng, thời tiết thật tuyệt diệu, không quá lạnh như Hòa tưởng tượng. Có chuyện hơi buồn cười là suốt 5 ngày trại, toàn thể bọn trại viên con trai lại được cho về ở chỗ của… con gái:  trường nữ trung học Bùi Thị Xuân. Ổn định chỗ ở xong, trại viên được tự do ra phố vài tiếng, chỉ cần 11 giờ 30 phải về lại trường để đi ăn cơm trưa.

Theo một nhóm bạn xuống đến bờ hồ Xuân Hương thì Hòa tách ra, nói với tụi nó là cần đi tìm, thăm nhà bà con. Hòa đứng bên lề đường, dáo dác kiếm taxi. Ở Sài Gòn thời ấy có một kiểu sử dụng xe taxi khá tiện lợi, đó là bạn có thể gọi bất cứ chiếc taxi chạy ngang đang chở khách nhưng vẫn còn ghế trống, thường là xe sẽ dừng lại để tài xế hỏi bạn đi đâu, nếu lộ trình bạn cần đi thuận chiều với lộ trình của khách đã ngồi trước trên xe thì tài xế sẽ đồng ý chở bạn đi chung, ai xuống trước cứ trả phần tiền xe của mình… Hòa vừa quắt trúng chiếc taxi đã có hai sinh viên sĩ quan trường Võ Bị Đà Lạt ngồi ghế sau. Cửa xe vừa đóng là Hòa vội vàng nói ngay, cố ý cho cả ba người trên xe cùng nghe:

-Chào các anh, làm ơn chỉ dùm và cho tôi đến địa chỉ này, số 23 đường Biệt Thự, bờ hồ Xuân Hương. Tôi ở Sài Gòn, đây là lần đầu tiên lên Đà Lạt, muốn ghé thăm người bà con…

Một anh SVSQ ngồi phía sau vui vẻ trả lời ngay:

-Hên cho anh rồi, đường Biệt Thự ở ngay phía bờ mờ mờ bên kia, đây vòng qua đó chừng 10 – 12 phút thôi, phải không bác tài?

Mọi việc đều diễn ra suôn sẻ, Hòa vừa hí hửng vừa nôn nao đầy lòng. Chiếc taxi dừng lại cạnh một bãi cỏ thật xanh bên đường, Hòa hỏi bác tài tiền xe bao nhiêu thì bác ta lại quay nhìn hai người khách phía ghế sau. Cũng cái anh SVSQ vui tính lại nhanh miệng nói:

-Có bao nhiêu đâu anh bạn. Đúng ra ở Đà Lạt rất ít người đi chung xe taxi như ở Sài Gòn nên hiếm có ai quắt xe đã có khách như anh vừa rồi. Thôi, rất vui nghe anh học ở Sài Gòn, lên dự trại thăm Đà Lạt. Để tụi tôi tính cho, coi như cho anh quá giang. Lo đi tìm nhà người bà con đi nhé!

Hòa không ngờ ngày đầu tiên ở Đà Lạt mình đã may mắn gặp được người tử tế như vậy nên xăng xái bắt tay cám ơn hai anh SVSQ, cám ơn cả bác tài. Họ cười, chúc Hòa vui vẻ trọn những ngày ở Đà Lạt.

Từ lề đường nhìn lên chỉ thấy dốc đồi thoai thoải, lối đi ngoằn nghèo chạy giữa những bãi cỏ xanh rờn cùng những mái nhà thưa thớt, ẩn mình giữa những cây thông cao vút nên ở đâu cũng đầy bóng râm. Nhà số 23 nằm khuất ở một sườn đồi cách đường lộ bên dưới khá xa nên có vẻ đìu hiu, vắng lặng. Gõ cửa rất lâu Vi mới ra mở cửa với nụ cười thật phấn khích, vẻ bất ngờ vươn đầy ánh mắt…

Vi mời Hòa vào nhà, rót tách trà actixô bảo Hòa uống liền cho ấm. Nhà đang chỉ có mỗi mình Vi. Ngồi chốc lát là Hòa đã khẽ đề nghị cô bạn ra ngoài ngõ, ngồi chơi ở bãi cỏ trên sườn đồi thoai thoải phía trước cổng nhà.

Đã là hiện thực cái trường đoạn phim trữ tình, thơ mộng nhất mà cậu con trai tuổi 16 đã khổ công vẽ vời sẵn từ những đêm cậu mình bỏ ngủ, nằm tưởng tưởng đủ điều trước ngày đi Đà Lạt.

Ở lần gặp trước gần đây nhất, Hòa đã vừa hỏi Vi xin địa chỉ ở Đà Lạt vừa hỏi nàng có về nhà nghỉ mùa Giáng sinh không. May mắn là Vi sẽ về nhà trước cả ngày trại Anh Đào khai mạc và tận sau Tết dương lịch mới trở xuống Sài Gòn. Tuy nhiên, khi ấy Hòa chỉ nói là trong mấy ngày trại sẽ cố gắng, sắp xếp thời gian để tìm đến nhà Vi, gọi là gặp nhau ở nhà bạn, quê hương bạn cho thân thương hơn. Do đó khi thấy Hòa ở cửa, Vi nói ngay bất ngờ quá đi!  Giờ ngồi trên bãi cỏ, Vi giải thích thêm rằng dù có đồng ý cái hẹn “để trống ngày giờ” nhưng trong thâm tâm nàng lại cảm thấy biết đâu sẽ có trở ngại này khác khiến Hòa không thể sắp xếp, thực hiện được chuyện hai đứa gặp nhau được trên Đà Lạt, nhất là vào dịp đặc biệt là Giáng sinh.

Giờ đây Hòa đang ngồi với cô bạn gái trên bãi cỏ ngập lá vàng khô. Hoàn toàn chỉ có hai đứa, không có con mắt dòm ngó nào của thiên hạ xung quanh.

Lúc nào gặp Vi, Hòa cũng thấy cô thật thùy mị, dễ yêu. Đặc biệt là khi trở về với khí hậu Đà Lạt, đôi má Vi trở nên hồng hào thật quyến rũ, không còn màu trắng, thoáng xanh nhợt nhạt bình thường như lúc ở Sài Gòn.

Thỉnh thoảng bờ vai hai đứa chạm khẽ vào nhau. Hòa còn thầm mong, thèm nhiều hơn nữa, như được nắm tay, hay được ôm qua vai người con gái. Vi trong thực tế là cô bạn gái lớn hơn Hòa 2 tuổi, học cũng trên lớp, nhưng trong “kịch bản” của Hòa, nàng đã mơ hồ hóa thành người yêu bé bỏng. Hòa thêu dệt, lý tưởng hóa kịch bản này đến nổi, do gặp nhau đột ngột, cô gái có sửa soạn gì đâu mà chỉ mặc bộ đồ bộ bình thường ở nhà, gương mặt cũng không trang điểm chút nào nhưng Hòa vẫn thấy Vi thật xinh đẹp và quyến rũ.

Được ngồi sát bên Vi, Hòa đã hết sức sung sướng bởi hai lẽ, một là được gần gũi Vi với mối cảm xúc ngất ngây hình-như-là-tình-yêu đang lên ngôi dù Hòa chưa hề tỏ tình, hai là được thưởng thức cảnh tượng lãng mạn đang trở thành hiện thực từ những gì Hòa tô vẽ trước đó…

Hòa kể Vi nghe hiện Hòa đang “tạm trú” ở một nơi khá đặc biệt, đó là trường con gái. Mỗi tổ nam sinh được đưa vào một lớp học để tự động ghép bàn làm chỗ ngủ, ba-lô túi xách cứ để bừa trên ghế, nhà vệ sinh chung thì ở cuối dãy… Cô bạn cười ha ha, trêu Hòa là hãy biết mang ơn ban tổ chức trại, hãy ráng tìm trong các hộc bàn coi có cái kẹp tóc, gói muối ớt cùng miếng ổi xanh nào không, hay lãng mạn hơn thì một sợi tóc dài thiệt dài nào đó rồi ráng mà tưởng tượng đó là của một cô bé dân Đà Lạt thiệt xinh nên hãy viết lá thư làm quen để lại trong hộc bàn, “Nghề của dân ban C mà!”. Hòa trêu lại nàng, hỏi khẽ “Xinh như Vi phải không? Có Vi đây rồi thì mình còn phải đi tìm cô nào khác nữa?”.

Cô bạn gái hốt nhiên hóa thành nửa-bạn-nửa-người-yêu, đôi má đỏ hồng hơn nữa vì thẹn thùng và cúi mặt cười tủm tỉm, cũng để tránh ánh mắt say đắm, khát thèm yêu thương của người con trai. Rồi hai đứa im lặng thật lâu. Có cảm xúc gì đó chợt dâng lên ngọt ngào, êm ái thấm sâu vào tâm tưởng…

Nhờ Hòa có cẩn thận bảo trước với Vi rằng cần tập trung về cái trường con gái ấy trước 11 giờ 30 nên dù hai đứa mê mãi thủ thỉ chuyện trò, cô bạn vẫn kịp nhắc Hòa. Vi đưa Hòa xuống đến lề đường, hai đứa đều có vẻ bâng khuâng, bàng hoàng như vừa tỉnh một cơn mộng ảo giữa ban ngày. Hòa âu yếm bắt tay Vi, nàng để yên cho Hòa xiết nhẹ, giữ thật lâu bàn tay mình. Hòa lưu luyến vớt vát hơi ấm nồng nàn từ người con gái, nhưng khi nói lời từ biệt thì câu mình lại không thể nói hẹn gặp lại lần nữa tại Đà Lạt này, bởi Hòa chạnh nghĩ chỉ còn bốn ngày trại, chương trình thăm viếng các nơi thì đặc kín sáng chiều

4.

Một, hai năm sau, tình bạn của Hòa và Vi vẫn cứ thế, không tiến triển thành tình yêu. Vi vẫn khoan hòa, tế nhị như có ý chờ đợi Hòa, còn Hòa vẫn thấy không ổn, vẫn ngại tỏ tình với người con gái lớn hơn mình hai tuổi và còn vào đời, trưởng thành sớm hơn mình nữa.

Nói chung, Hòa vẫn tiếp tục là một tên con trai tân nhát gái, vẫn mộng tưởng với loại tình yêu “duy tâm” hiền lành. Chỉ được cái là về viết thư tình, cậu mình có thêm một số kinh nghiệm cảm xúc để viết hay hơn – theo nghĩa lâm ly hơn, tạo ấn tượng hơn để con gái chịu bóc xem các lá thư kế tiếp… 

Có lần Hòa đem chuyện lên Đà Lạt gặp Vi kể cho một thằng bạn học lớn hơn Hòa cũng đúng 2 tuổi, từng trải nhiều mối tình và thuộc hạng hơi Casanova Sát Gái một chút. Nghe xong chuyện, hắn không thèm hỏi lại câu nào mà chỉ cười nhếch mép, phân tích chỉ dạy cho Hòa hai khía cạnh hay và dở đối lập nhau của vấn đề. Một là, vào các dịp Noel thì bọn con trai luôn ước mơ có được, có đủ những thứ quí giá, như có xe máy mới, được mời dự dạ vũ cùng tiệc réveillon và quí hơn hết là có đào xinh xắn, là bạn gái hay người yêu đều được, để cùng đi chơi Noel – điều này thì vào dịp Noel năm đó, cái hay của Hòa là dù còn khờ, Hòa vẫn may mắn có đào tuy phải mò lên đến tận xứ sở sương mù. Hai là, cái dở của Hòa là lúc đó đúng là Hòa khờ quá, còn con nít quá, không biết lợi dụng ngay hoàn cảnh chỉ có một mình cô gái ở nhà, chỉ biết rủ nhau ra ngồi bãi cõ, tựa vai nhau nói chuyện chay thì hiền quá!

Tất nhiên, có bị đàn anh về chuyện bồ bịch, yêu đương kia chê là “con nít”, “khờ” gì thì cũng ráng mà chịu nhưng Hòa đã rây lọc, chỉ tiếp thu ý kiến nào nghe đứng đắn, lương thiện từ thằng bạn nổi tiếng là Casanova bạc tình kia.

Dù sao, Hòa đã nhận ra là vào mùa Giáng sinh phiêu lãng trên Đà Lạt năm nào,  mình đã được thỏa ước nguyện. Như được phép lạ từ Chúa Hài Đồng, cậu con trai 16 tuổi ấy, lần đầu tiên trong đời đã được cùng cô bạn gái ngồi khăng khít bên nhau trên đồi thông đầy lá rụng. Đây là cuộc hẹn hò hình-như-là-tình-yêu lãng mạn nhất mà cậu con trai mới lớn đã phóng rọi và thăng hoa từ một tình bạn thắm thiết với một thiếu nữ hiền lành nết na, mà dù sau này không bay bổng thành tình yêu đi nữa thì cũng vẫn luôn là một tình bạn thật đẹp, thật thuần khiết, trong sáng đến muôn đời…

PHẠM NGA

(cận Giáng sinh 2019)

g h é t  c ư n g

khê kinh kha

hn2
tôi ghét cưng, cưng có ghét tôi
ghét bao sông núi quá xa xôi
xa xôi ơi hỡi xa xôi lắm
tôi ghét vô cùng xa xôi ơi

tôi ghét cưng, ghét tóc cưng bay
tóc cưng nhiều quá tóc cưng ơi
làm sao tôi ngủ trong rừng tóc
cho mộng trăm năm thêm lã lơi

tôi ghét cưng, ghét cả môi thơm
ghét môi qúa mộng, qúa lụa mềm
môi ơi xa qúa làm sao được
làm sao có được nụ hôn nồng

tôi ghét cưng, ghét cả vòng tay
vòng tay ôm chặt ước mơ dài
vòng tay xa qúa, vòng tay trống
làm sao ôm được xa xôi ơi

tôi ghét cưng, tôi ghét chờ mong
ghét thu vừa đến gió lạnh lùng
chao ôi hồn tôi như chiếc lá
lã tã rơi hoài vì nhớ cưng

tôi ghét cưng, cưng có ghét tôi
ai đón đưa cưng giữa xa xôi
cưng có mĩm cười cùng ai đó
hay cưng cúi đầu vì yeu tôi

cưng có thẩn thờ giữa đêm trăng
cho nhớ nhung về giữa cô đơn
nơi đây cơn mộng đầy trăng ướt
ôi xa cách này cưng có héo hon?

tôi ghét muôn trùng xa cách ơi
làm sao cưng đến được bên tôi
dù xa xôi lắm xa xôi lắm
tôi vẫn nhớ cưng từng phút giây

khê kinh kha

DẠY CON

Ý Nga 
          Bạn tôi kể:
 
          Hồi nhỏ Ba mình dạy Toán cho con gái thường dùng những thí dụ dễ hiểu như vầy:
          -Nếu con bưng một nồi cà ry từ bếp lúc 3 giờ, đến nhà ông Ngoại để biếu là 4 giờ 10 phút. Vậy con đã đi với vận tốc bao nhiêu cây số 1 giờ?
          Má hỏi: -Cái nồi nặng bao nhiêu ký vậy anh?
          Ba rộng lượng với mấy con số bất chợt: -Riêng cái nồi không 4kg, thêm 9 lít nước, 1kg thịt gà, 2kg vừa khoai tây, khoai lang vừa cà rốt, sả, hành, tỏi, tiêu, ớt và 1 trái dừa. Con tính luôn xem là nguyên nồi cà ry nặng bao nhiêu kg đi?
          Má nói: -Con thưa với Ngoại là: món này Ba nấu lỏng bỏng vậy tha hồ cho bà Ngoại chấm bánh mì, khỏi cần nhai, nhưng Ba quên bỏ cà ry và quên mua bánh mì rồi, Ngoại sai con Nụ đi mua giùm Ba.
          Rồi quya sang Ba, Má hỏi: Mà nồi có nắp không anh?
          Ba thương con: -Nắp chi nữa cho nặng con nhỏ?
          Má lo lắng: -Không có nắp thì con trừ hao đi: đến nơi sẽ đổ hết một nửa trọng lượng, không mỏi tay đâu.
          Ba sợ đổ: -Vậy con ra vườn hái một tàu lá chuối to, rửa thật sạch, rồi đậy lên thì đi đường nước không sóng sánh ra đất, vừa nhẹ lại vừa tránh bụi bặm.
          Má chu đáo: -Nếu bụi bay lên lá chuối nhiều quá thì con đi chầm chậm không thôi bụi nó… ăn hết… “cà ry” nha con.
          Rồi cũng Má thắc mắc: -Mà nồi nóng không anh?
          Ba trấn an: -Ấm thôi! Cho khỏi phỏng con gái cưng! Khi nào dùng, bà Ngoại sẽ hâm lại cũng được.
          Má lại lo xa: -Nóng hay lạnh thì con bé cũng không thể bưng nỗi cái nồi nhiều ký thế kia đâu anh.
          Ba có ngay một biện pháp: -Anh Hai sẽ khiêng phụ con!
          Má phản đối: -Đứa cao tồng ngồng sẽ nghiêng hết sức nặng về phía con bé tí teo này. Anh đâu muốn nàng út… tắm “cà ry” phải không nè? Sao anh không đổi cái nồi “cà ry” khổng lồ nặng trịch kia thành một cái giỏ trái cây nhẹ nhàng êm ái hơn cho con gái?
          Ba đuối lý nên cho một bài toán rất “xì trum” (Les Schtroumpfs*): -Ừ thì một cái giỏ gồm vừa hoa quả, vừa trứng gà, bánh, kẹo là… 5,1 kg
          Má vẫn còn lo: -Giỏ nặng không anh?
          -Chỉ 132,65gr thôi, tính luôn cái… nắp gài lại để giữ cho hoa tươi và trái cây bà Nội mới hái không bị rớt dọc đường!
          Má rành rẽ: -Người ta bảo: “Nâng như nâng trứng, hứng như hứng hoa”, ai lại bỏ trứng và hoa tươi chung với trái cây thế kia thì còn gì… đời hoa? Con cầm hoa trên tay nha!
          Con bé ngây thơ vô số tội tính toán thật hà tiện: -Dạ cứ để hoa trong giỏ! Tay của con phải cầm viết thì mới tính bài toán này được.
          Để coi: 5 kg thì chắc là trong giỏ có 1 trái ổi, 1 trái xoài tượng, 2 trái me dốt, 2 trái cốc, 10 trái chùm ruột, gói muối ớt và 1 vòng hoa vạn thọ để con và nhỏ Nụ chơi trò Cô Dâu.
          Ba còn đang ngơ ngác thì Má đã nhắc tuồng: -Con không thêm ô mai, xí muội cho đủ trọng lượng Ba đã yêu cầu sao?
          -Dạ! Hổng ấy thêm 1kg hột dưa và mứt dừa nghen Má? Con Nụ nó hổng thích ô mai!
          -Ừ! Để Má lấy trái dừa trong nồi “cà ry” của Ba ra làm mứt, bề nào thì không cà ry cũng phải có dừa cho Ba con vui.
          Ba đầu hàng: -Thôi hôm nay con qua đó tính với cháu Nụ xem thử vận tốc là mấy km/1 giờ đi?
          Kể từ mai, lớp Toán sẽ chỉ còn mỗi một giáo sư và 2 đứa học trò thôi, nhớ nhắc cháu Nụ qua sớm!
          Má đắc thắng: Hai giáo sư dạy một học trò thì mới giỏi chứ anh! Em cũng dạy toàn những điều hữu lý, có ích cho sự suy nghĩ của con mà!
          -Dứt khoát chỉ hai học trò và một giáo sư! Anh chỉ muốn dạy cho con tập tính toán cho mau, em vừa… rề rà vừa… rầy rà quá… như vậy thì nên ở trong phòng mà làm… thơ đi!
          Ừ mà con có nhớ cách tính bài toán này không nè?
*
          Sau này mình nghe ông anh kể thêm rằng: sự im lặng hơi lâu sau câu hỏi làm ba má khựng lại, quay qua nhìn thì cô học trò bé bỏng đã… ôm mứt dừa biến mất tự lúc nào.
          Ông nội ngừng đọc sách và trả lời thay:
          -Giờ này chắc tụi nhỏ đang gọt xoài tượng chấm muối ớt rồi!
          Hổng biết chúng sẽ làm gì với mấy cái trứng bể trong giỏ chứ Giáo Sư Toán và Giáo Sư Văn thì nên học nhau cách dạy con qua đề toán cho rõ ràng và nhanh nhẹn hơn giùm ba.
          Sau Tết hai con ghi danh liền cho 6 đứa nhỏ trong nhà đi sinh hoạt Hướng Đạo Việt hết đi! Chứ cứ để chúng nó hết khiêng “cà ry” lại làm Cô Dâu Đội Bông Vạn Thọ thì làm sao mà tháo vát và khôn ra nỗi?

CHIỀU TRÊN BIỂN VẮNG.

Nguyên Lạc
Bien Ho 2

Ngóng về cố lý xa xăm
Thấy tôi và bóng nghìn năm nỗi sầu
Quê hương giờ biết nơi đâu?
Quê hương là một nỗi đau đoạn trường!
.
Mười năm lòng vẫn vấn vương
Mười năm canh cánh một phương: Phương đoài! *
Đoài phương người biết có ai?
Tha phương cô lữ nỗi hoài thiên thu
.
Đoài kia cố lý xa mù
Chiều trên biển vắng hải âu khóc người
Trời hồng ngụp lặn trùng khơi
Bỏ tôi ngần sóng biển lời nhân gian
.
Ngóng về cố lý xa xăm
Mồ côi biển lạnh trọn hồn cố nhân
.

Nguyên Lạc

Yêu Em

KhêKinhKha

00ao-dai-trang

yêu em, lúc vừa đôi tám
yêu em, tình như giấy trắng
yêu em, lòng như đổ nắng sân trường

yêu em, mái tóc sợi mềm
yêu em, lời nói dịu hiền
yêu em, ánh mắt trao tình lánh đen

yêu em, gót nhỏ, môi thơm
yêu em, tà áo eo thon
yêu em, hương phấn thơm nồng giấc mơ

yêu em, vành nón nghiêng che
yêu em, chiều nắng vàng hoe
yêu em, yêu cả đường về dưới mưa

yêu em, hờn dổi bâng quơ
yêu em, nắn nót vần thơ
yêu em, thổn thức đợi chờ đêm sâu

yêu em, giờ đã xa nhau
yêu em, tình đã mòn hao
trăm năm
        nào có là bao hởi đời ?

xa nhau, ai đã phụ ai ?
xa nhau, nát cả tim tôi
xa em
       chết cả một đời em ơi !

KhêKinhKha

Toàn Láo Cả!

BS Đỗ Hồng Ngọc
Không biết lịch sử ghi lại các triều đại phong kiến đúng sai như thế nào, cũng chẳng có cách nào để kiểm chứng. Thế nhưng, thời đại ta đang sống hoá ra toàn láo cả. Rồi lịch sử thời hiện đại sẽ viết sao đây?
Thằng doanh nhân bán đồ giả làm giàu, cứ tưởng nó giỏi, hoá ra chẳng phải thế. Nó chỉ là kẻ “Treo dê bán chó”, mua 30.000 bán 600.000 không giàu sao được, thế rồi lúc giàu lên, hàng ngày lên mạng truyền thông dạy đạo đức, dạy bí quyết, dạy cách cư xử.
Kẻ thì đem hoá chất trộn vào thức uống, khiến người ta nghiện chất độc, tạo thành thói quen nguy hiểm cho người dùng. Thế rồi khi có nhiều tiền, anh ta in sách dạy người ta tư duy, dạy cho tuổi trẻ cách sống. Nuôi đội ngũ nhà văn nhà báo tung hô mình như thánh sống, tuyên bố như đấng khải đạo.
Một ông chuyên làm thép, nghĩ toàn chuyện xây dựng những công trình có hại cho dân, nhưng lúc nào cũng mặc áo lam, đeo tràng hạt, nói toàn chuyện Phật pháp.
Một tập đoàn làm nước mắm giả, toàn hoá chất, bỏ biết bao tiền để quảng cáo lừa dân, bỏ tiền đầy túi. Một tập đoàn khác mua hoá chất quá hạn để sản xuất nước uống, lừa những kẻ phát hiện sai sót của sản phẩm mình để đưa họ vào tù, lại chuyên nói lời có cánh….. Kẻ buôn gian bán lận lại dạy cho xã hội đạo đức làm người.
Thời đại đảo lộn tất! Hài thế, mà vẫn không thiếu kẻ tôn sùng, xem các ông ấy như tấm gương sáng để noi theo. Khi vỡ lở ra, chúng toàn là kẻ nói láo.. Tất cả đều chỉ tìm cách lừa đảo nhau.
Toàn xã hội rặt kẻ nói láo, ca sĩ nói láo theo kiểu ca sĩ, đạo diễn nói láo theo kiểu đạo diễn, diễn viên nói láo theo kiểu diễn viên. Ừ thì họ làm nghề diễn, chuyên diễn nên láo quen thành nếp, lúc nào cũng láo. Thế nhưng có những kẻ chẳng làm nghề diễn vẫn luôn mồm nói láo.
Thi gì cũng láo, từ chuyện thi hát đến thi hoa hậu, chỉ là một sắp đặt láo cả… Ngay chuyện từ thiện cũng rặt chi tiết láo để mua nước mắt mọi người. Cứ có chuyện là loanh quanh láo khoét. Kẻ buôn lớn láo, kẻ bán hàng rong ở bên đường cũng lừa đảo, láo liên tục. Mỗi ngày mở truyền hình toàn nghe nói láo từ tin tức cho đến quảng cáo, rặt láo. Nhưng cả nước đều hàng ngày nghe láo mà chẳng phản ứng gì lại cứ dán mắt mà xem.
Thằng đi buôn nói láo đã đành, vì họ lừa lọc để kiếm lời. Thế mà cô hiệu trưởng nhà trẻ, anh hiệu trưởng trường cấp ba, ông hiệu trưởng trường đại học cũng chuyên nói láo. Thực phẩm cho các cháu có giòi, cô hiệu trưởng chối quanh… Các cháu học sinh đánh nhau như du côn, làm tình với nhau trong nhà trường, anh hiệu trưởng bảo là không phải, tảng bê tông rớt chết sinh viên, ông hiệu trưởng bảo là tự tử. Thế rồi tất cả đều chìm, đều im im ỉm. Người ta đồn tiền hàng đống đã lót tay bộ phận chức năng để rồi để lâu cứt trâu hoá bùn.
Mấy ngài lãnh đạo lại càng nói láo tợn Chỉ kể vài chuyện gần đây thôi, chứ kể mấy sếp nhà ta phát biểu láo thì thành truyện dài nhiều tập. Từ chuyện quốc gia đại sự cho đến chuyện hưng vong của tổ quốc, toàn chuyện quan trọng đến vận mệnh quốc gia thế nhưng dân toàn nghe láo. Kẻ thù mang tham vọng, âm mưu để biến nước ta thành chư hầu, chuyện này rõ như ban ngày, ai cũng thấy, ai cũng hiểu, thế mà các quan toàn nói tào lao, láo lếu.
· Đến chuyện Formosa, khi biển nhiễm độc, cá chết, các quan bày lắm trò láo để mị dân, lấp liếm tội ác của thủ phạm, tuyên bố, họp báo, trình diễn ăn hải sản, ở trần tắm biển…tất cả đều rặt láo.
· Đến chuyện BOT với các trạm đặt không đúng chỗ cho đến mở rộng phi trường Tân Sơn Nhất, các quan ở Bộ Giao thông lại được dịp nói láo, tuyên bố rùm beng để bênh vực những tập đoàn và cá nhân vi phạm.
· Khi vụ thuốc giả của VN Pharma nổ ra, cả một hệ thống truyền thông của Bộ Y tế kể cả các quan chức cấp bộ đều tuyên bố láo, tìm mọi cách che dấu tội ác của những tên buôn thuốc giả.
· Rừng Sơn Trà quý hiếm, các ông vì tư lợi cá nhân, ra lệnh xây cất, chấp nhận nhiều dự án khai thác, các nhà chuyên môn, nhân dân phản ứng dữ quá,các ông bắt đầu chiến dịch nói láo, chạy quanh tìm kế hoãn binh.
Đến chuyện cá nhân của các quan thì lại càng nói láo tợn… Ông bí thư xây biệt phủ như cung điện của vua chúa ở xứ nghèo phải sống nhờ trợ cấp của chính phủ cho đến ông giám đốc môi trường xây biệt phủ mênh mông ở xứ lắm rừng, rồi đến ông lãnh đạo ngành ngân hàng với những dãy nhà hoành tráng trên miếng đất hàng ngàn thước vuông. Tất cả đều cho rằng do sức lao động cật lực mà có. Kẻ thì do nuôi gà, trồng cây, anh thì bảo chạy xe ôm đến khốc cả người, người thì nhờ bán chổi, trồng rau, kẻ khác thì bảo nhờ tiền của con dù con chẳng làm gì ra tiền và có đứa thì mới mười chín tuổi.
Lương thì chẳng bao nhiêu mà quan nào cũng vi la trong và ngoài nước, nhà nghỉ trên núi, nhà mát dưới biển, lâu đài, nhà to ở nước ngoài. Con cái ăn chơi như các công tử, tiểu thư quý tộc. Các bà vợ thì như các mệnh phụ, chỉ xài đồ dùng ở nước ngoài, đi shopping các mall lớn ở nước ngoài như đi chợ… Thế nhưng các ngài luôn phát biểu yêu dân, thương nước, yêu tổ quốc, đồng bào, và luôn nhắc nhở đất nước còn nghèo phải học tập ông này, cụ nọ để có đạo đức sáng ngời.
Các lãnh đạo xem rừng như sân nhà mình, phá nát không còn gì.. Một cây có đường kính 1m phải mất trăm năm mới hình thành, lâm tặc chỉ cần 15 phút để đốn hạ. Hàng trăm chiếc xe chạy từ rừng chở hàng mét khối gỗ chỉ cần đóng cho kiểm lâm 400.000 đồng một chiếc là qua trạm. Rừng không nát mới lạ. Khi rừng không còn, lệnh đóng rừng ban ra, các lãnh đạo địa phương toàn báo cáo láo với chính phủ và có nơi tìm cách tiếp tục vét cú chót bằng cách làm trắng những cánh rừng còn lại..
Rừng bị tận diệt vì nạn phá rừng, rừng còn bị huỷ diệt bởi những dự án thuỷ điện. Tất cả đều có sự tiếp tay của các quan và ban ngành chức năng của địa phương. Rừng không còn, lũ về gây tang thương chết chóc, đê vỡ khiến nhà cửa tài sản trôi theo dòng nước, các quan cho là xả lũ đúng quy trình.
Bão chưa tới, lũ chưa về, các quan tỉnh đã ngồi với nhau viết báo cáo thiệt hại để xin trợ cấp. Một anh từng là tổng biên tập tờ báo lớn, sau khi thu vén được hàng triệu đô la bèn đưa hết vợ con qua Mỹ, sắm nhà to, xe đẹp còn anh thì qua lại hai nước, lâu lâu viết bài biểu diễn lòng yêu nước thương dân, trăn trở với tiền đồtổ quốc, khóc than cho dân nghèo, kinh tế chậm lớn, đảng lao đao…
Còn biết bao chuyện láo không kể xiết: Ngay cả thầy tu, các bậc tu hành cũng làm trò láo để quảng cáo chùa của mình, để thêm nhiều khách cúng bái, để thùng phước sương thêm đầy, để nhà thờ của mình thêm tín hữu. Chúa, Phật đành bỏ ngôi cao mà đi khi thấy những kẻ đại diện mình đến với mọi người bằng những điều xảo trá..
Chúng ta đang ở một thời đại láo toàn tập, láo từ trung ương đến địa phương, láo từ tập đoàn cho đến công ty, láo từ một tổ chức cho đến cá nhân. Láo mọi ngành nghề, láo toàn xã hội. Tất cả đều bị đồng tiền sai khiến, bị danh lợi bám G. Hơn nữa vì sự thật bi đát quá, đành láo để khoả lấp, hi vọng sẽ an dân. Nhưng thời đại bùng nổ thông tin, dân biết hết nên chuyện láo trở thành trơ trẽn.
Nghe láo quen, chúng ta lại tự láo với nhau và chuyện láo trở thành bình thường, láo để tồn tại, để phấn đấu, để thêm lợi thêm danh, và rồi láo đã trở thành một nếp sống.
Trẻ con học người lớn nói láo rồi tiếp tục những thế hệ nói láo. Ở nhà trường nghe cô thày nói láo, ra đời nghe thiên hạ nói láo, về nhà lại được nghe nói láo từ cha mẹ, mở máy nghe, nhìn cũng rặt điều láo.
Một nền văn hoá láo đã nẩy sinh và phát triển.
Hỏi sao trẻ con không láo và tương lai lại tiếp tục láo. Nghĩ cũng buồn!
Bs Đỗ H  Ngọc  tp/hcm 

TÌNH SẦU HOÀNG NGỌC

Cảm Nhận Hoàng Lan Chi

 

kkk-bia-kkk

Tranh vẽ Võ Công Liêm

Khi xa Hà nội, các nhạc sĩ đã sáng tác nhạc về Hà Nội thật hay. Đỉnh cao là “Giấc Mơ Hồi Hương” của Vũ Thành mà tôi thấy dòng nhạc thật sang trọng nhưng vẫn quyến rũ.

Tuy vậy, khi xa Sài Gòn không biết có phải vì hoàn cảnh khác xưa nhiều, vừa xứ người vừa phải mưu sinh mà hầu hết các “cổ thụ” âm nhạc không sáng tác được cho Sài Gòn những tình tự như thuở nào cho Hà Nội. Một ngọai lệ, “Sài Gòn Vĩnh Biệt” của Nam Lộc được đón nhận vì đáp ứng tình cảm của người Sài Gòn lúc đó. Xa Sài Gòn và Sài Gòn bị mất tên nhưng giai điệu không mượt mà trữ tình và với cá nhân tôi không lắng đọng lắm.

Một chiều cuối đông Hoa Thịnh Đốn, khi tuyết rơi trong các ngày đầu xuân Kỷ Sửu vẫn còn đọng thảm cỏ, phủ vùng đồi thoai thỏai, tôi nghe dòng nhạc về Sài Gòn của Khê Kinh Kha (KKK) và lòng thấy rung động. Có lẽ tôi thích âm điệu dân ca quê hương, những giai điệu buồn nên “Tình sầu Hoàng Ngọc” đã chinh phục tôi ngay khi mới nghe lần đầu.

Lời & Nhạc Khê Kinh Kha
Tiếng Hát Hoàng Quân

Tôi không biết KKK nhiều. Chỉ từ khi giúp anh Nguyễn Đăng Tuấn thực hiện chương trình Sáng Tác Mới một thời gian, Nguyễn Đăng Tuấn giới thiệu KKK như giới thiệu vài nhạc sĩ khác.Tôi có đi theo dấu vết KKK theo cái link ở cuối mail của KKK nhưng không chú tâm lắm. Không thể nói lý do, ít ra là bây giờ!

Sau khi nhận chương trình về “Sài Gòn niềm thương và nỗi nhớ” từ e-mail của tôi, KKK gửi “Tình Sầu Hoàng Ngọc” cho tôi. Chỉ giản dị “Mời LC nghe cho vui” nhưng vui nỗi gì! Điều tưởng chừng đã ngủ yên thì trỗi dậy và tôi không nén được tâm tình đang vô cùng xao xuyến mà phải viết ngay. Như thuở nào say sưa viết cho tình ca quê hương của PD. Thế mới biết trong cuộc sống, hạnh phúc đôi khi đến bất ngờ và hết sức nhỏ nhoi. Đọc một cuốn sách hay, nghe một nhạc phẩm tuyệt cũng là một hạnh phúc!

1sg222Nếu KKK không nói thì rất dễ hiểu đó là một tình sầu cho người yêu tên Hoàng Ngọc! Nhưng đã có lời “dặn dò” trước nên tôi nghe với tâm trạng của một người xa quê. Quê hương thứ hai vì khi rời miền Bắc, tôi còn nhỏ lắm và vì thế kỷ niệm về miền Bắc không thể nào sánh với Sài Gòn của tôi.

Mở đầu dòng nhạc thật chậm, buồn, đầy nỉ non tình tự:

Ôi mất rồi những tháng ngày tôi với người trong tình dấu yêu
Nguời tình ơi đến bao giờ đến bao giờ tôi mới được gần em
Năm tháng dài chân bước hòai đi giữa đời nhưng lòng khó nguôi
Người tình ơi vẫn muôn đời vẫn muôn đời em sống mãi lòng tôi

Thoạt đầu, “ôi mất rồi” nghe thóang một chút cao nhưng không là thảng thốt mà chỉ là một tiếng kêu thật buồn. Trong ngôn ngữ Việt Nam những chữ “bao giờ và làm sao” rất dễ thấm vào lòng người nghe.
[align=center] [IMG=http://files.myopera.com/KheKinhKha/blog/Saigon1974-.jpg] [/align]
Tôi vẫn chêm câu thơ sau “Mai sau dù có bao giờ” vào bài viết của mình. Hoàng Quân nhả chữ “Ơi” rất nhẹ và “gần em” cũng được buông thật dịu dàng. Thật cảm ơn KKK đã mời Hoàng Quân hát vì nếu nhạc phẩm này mà rơi vào tay cô ca sĩ QL và nghe cô ấy “rên rỉ” ảo não cũng như “rung” quá nhiều thì chắc là tôi không đủ can đảm nghe hết bản nhạc! Tôi chợt có ý tưởng giá như Nhật Trường còn sống thì với cái chất giọng đượm chút dân ca của anh, cái luyến láy rất “điệu đà” của anh chắc hẳn sẽ thành công hơn nữa so với Hoàng Quân. Phải, chỉ Nhật Trường không ai khác, cho dù là Sĩ Phú, Duy Trác hay Anh Ngọc! Điều tôi múôn nói là nhạc phẩm trữ tình này không sang trọng để cần đến giọng hát Anh Ngọc. Phải là Nhật Trường với giọng hát “hơi điệu”, ấm và luyến láy thì sẽ diễn tả được trọn vẹn Tình Sầu Hoàng Ngọc!

Dòng nhạc tiếp theo làm tôi ngạc nhiên. Từ tha thiết nỉ non chỉ ở vài câu đầu thì tiếp theo nốt nhạc bỗng rơi xuống rất tình tự. Hết sức tình tự không than van rên rỉ. Tôi bỗng ao ước chớ phải chi tôi được nghe ai đó đàn và hát cho tôi nghe nhạc phẩm này trên một thân cây gẫy trong rừng phong Virginia. Lá vàng ngút tầm mắt, lạnh se sắt và dòng nhạc tình tự, còn gì thú bằng phải không!

Xa em tôi biết những ngày buồn thương
Xa em tôi mất những nụ hôn thơm

Để phù hợp nốt nhạc,“nụ hôn” đã được hát thành “nụ hồn” nhưng thật lạ lùng, không gượng ép mà dễ dàng quá, mà tròn trịa quá.

Để rồi nốt nhạc rơi thật chùng thật thấp:

Xa em tôi cũng héo hon đời mình

Ngôn ngữ Việt Nam ở đây được KKK sử dụng thật “nhuyễn”. Mất “nụ hôn thơm”, thật tượng hình và “héo hon” cũng vậy. Diễn tả tâm trạng xa người yêu dấu không gì đẹp hơn là “héo hon”. Chỉ hai chữ “héo hon” là đủ. Không cần nói gì hơn. Nhất là “héo hon đòi mình” thì còn gì hay hơn cho nỗi nhớ quê hương?

Tôi yêu cả những dòng nhạc sau. Tha thiết và trữ tình làm sao:

Hoàng ngọc ơi, từng đêm tôi uống lệ buồn làm sao tôi uống hết nỗi lòng nhớ em
Từ nay trên những con đường có người yêu muộn cuồng điên giữa đời.

Hoàng Quân gọi “Hoàng ngọc ơi” nghe dịu dàng quá, thiếu cái “đẫm lệ” nhưng đoạn cuối chữ “hết” được HQ nhấn và luyến lên rất nhẹ, rất Việt Nam. Chữ “nhớ” trong “nhớ em” cũng vậy.
[align=center] [IMG=http://files.myopera.com/KheKinhKha/blog/saigon23.jpg] [/align]
Tôi hơi nhăn mày cho lời nhạc “Có người yêu muộn cuồng điên giữa đời”. Vì sao “yêu muộn”? Tôi muốn hỏi cho ra lẽ, không phải KKK sinh ra hay lớn lên ở Sài Gòn hay sao mà yêu “Hoàng Ngọc” của tôi muộn như thế? KKK cho biết viết bản nhạc này vào năm 1982. Không lẽ, lúc ấy mới biết xa Sài Gòn là héo hon đời mình? Tôi khe khắt và muốn KKK phải biết rằng, khi Sài Gòn mất tên vào cái tháng tư đen tối năm 1975 ấy, là phải biết héo hon cuộc đời rồi! Hay là KKK nghĩ rằng ta sẽ chiếm lại mảnh đất yêu thương nên từ 75, còn sôi sục phục quốc để đến 82, khi thấy hy vọng lụi dần và mới ảo não “Ta yêu em, Hòn Ngọc Viễn Đông ơi, quá muộn và hàng đêm uống lệ buồn?”. Nếu quả là như thế thì tôi có thể “tạm tha” cho nhạc sĩ! Không dưng lẩn thẩn tôi nghĩ suy, nếu là tôi, tôi sẽ viết:

Từ nay trên khắp nẻo đường, có người say mộng Hoàng thương suốt đời.

Vẫn là Hoàng, Hoàng Ngọc, Hòn ngọc viễn đông!

Lời hai:

Tôi khóc hòai theo tháng ngày, tôi réo gọi tên người dấu yêu
Hoàng ngọc ơi cách muôn cách muôn trùng tôi thức gọi từng đêm
Như lá vàng như nỗi hờn rơi giữa hồn trăm nghìn nhớ thương
Hoàng ngọc ơi nhớ thương này nhớ thương này sẽ giết chết hồn tôi

“Trăm nghìn nhớ thương”, câu nhạc rất Việt Nam. Phải nói chúng ta đọc thấy ở rất nhiều áng văn thơ xưa và nay. KKK sử dụng “muôn trùng” cũng rất hay. Tôi lại lẩn thẩn suy nghĩ. Nếu là một nhạc sĩ tài tử không giỏi văn chương Việt, chắc hẳn họ sẽ viết “Cách xa rồi, cách xa rồi!’ hay “Xa nhau rồi, xa nhau rồi”! Quả tình tôi nghe một số sáng tác mới và hiểu các nhạc sĩ đã quên tiếng mẹ để nhiều. Để rồi nghe nhạc họ tôi cứ ngỡ nhạc ngọai quốc vì lời dường như rất thiếu! Thiếu đến độ chữ dùng khá là ngô nghê! A, đến đây thì tôi mang máng nhận ra vì sao tôi yêu nhạc phẩm này. Ngoài cái âm điệu buồn phảng phất nỉ non tình tự thì lời của nhạc phẩm khá trau chuốt. “Khá” thôi vì tôi biết “Sẽ giết chết hồn tôi” thì… không thể khen là trau chuốt được!
[align=center] [IMG=http://files.myopera.com/KheKinhKha/blog/Saigon2370295885.jpg] [/align]
Trời đã tối.

Trời đã tối, tiếc thương rồi sẽ hết
Và dấu giầy mai sẽ lá sương che

(Thơ Nguyễn Đình Tòan)

Cảm ơn KKK về tình tự cho Sài Gòn, Hòn Ngọc Viễn Đông.

Mai sau dù có bao giờ
Trở về phố cũ Hoàng mơ vẫn đầy!

Viết tại Rừng Gió Virginia

Hoàng Lan Chi

mộng tàn

khê kinh kha

ao-dai-trang-4

1.
thu lại về – lá vàng bay
lá bay vào giữa hồn ai
lá bay vào giữa hồn này người ơi

hương tình còn đọng trong tôi
hương người còn đọng quanh đây
người đi tình cũng đi rồi tình ơi

từ nay đời vắng môi cười
người đi mang hết hồn tôi
nghìn trùng xa cách núi đồi bơ vơ

tìm đâu một thoáng hương xưa
tìm đâu một chút hương thừa
vầng trăng đơn chiếc tình vừa đơn côi

2.
thu lại về – lá vàng khô
lá khô hay lòng tôi khô
gío lay hay bước ai về trong mơ

tình ơi sao mãi mộng mơ
lòng ơi sao mãi đợi chờ
mộng xưa tàn úa bên bờ tương tư

đời nay vắng bóng ai về
mộng tôi tàn úa cho vừa lá khô

khê kinh kha

SỰ THẬT TRẦN TRUỒNG

Võ Công Liêm Biên Soạn

gởi: huỳnh hữu ủy

     Theo ngữ ngôn văn chương thường gọi là phơi mở hay bày tỏ huỵch toẹt những gì ẩn chứa bên trong và bên ngoài sự thật của nghệ thuật. Một sự thật trần truồng (naked truth) thể hiện đậm nét qua hội họa và thi ca. Nó là đặc chất dung thông vào nhau; hội họa mô tả qua chất liệu (matter/matière) của màu sắc để thành hình, thi ca mô tả qua con-chữ (the word) để thành thơ là đường nét sống thực để diễn tả toàn bộ trong một ý thức siêu thực; nó cuộn vào tế bào não bộ để phát sinh ra trí tuệ mà có; điều này như một xác quyết của mọi trường phái khác nhau; cái đó là tạng thể không thể phớt lờ trong cái nhìn say đắm của người nghệ sĩ –visceral and unflinching was in them gaze; ngay cả hình ảnh thiên nhiên đều hình tượng hóa để mô tả sự thật. Gần như tạo nên thích thú và thỏa mãn cho tác phẩm được đề ra.   

Quả thực; đấy là điều chúng ta tìm thấy tài năng của họa nhân Lucian Freud (1922-2011). Ông đã thực hiện những gì người ta đã thực hiện, nhưng; với Freud khác biệt rõ rệt từ hình thức tới nội dung, phản ảnh một cách trung hòa qua đường cọ của ông. Một lối diễn tả hòa hợp giữa màu sắc và hình dáng của con người cho thêm phần sống động; đó là sự cố không thể che giấu vẻ đẹp thiên nhiên nơi con người.

L.Freud đã thực hiện đường nét độc đáo đó từ lâu như một vóc dáng trước tác siêu đẳng một thời của người họa sĩ. Họa nhân là cháu nội của nhà phân tâm học Sigmund Freud (1856-1939). Ông sinh ra và lớn lên ở Bá Linh, Đức quốc vào năm 1922 và định cư cùng gia đình ở Luân Đôn, Anh quốc 1933. Freud chọn truyền thống ‘sống để làm’ cho sự nghiệp của cuộc đời. Nhưng lạ thay; Freud không thuộc một trường phái hay bài bản của trường lớp. Freud đứng ngoài mọi thị hiếu để đưa đam mê vào hội họa như một sáng tạo mới và khai sáng một hướng đi khác. Một trường phái thuộc xác thịt cách riêng. Freud có lần nói: ‘Tôi muốn thể hiện toàn bộ thể xác. Đầu tiên phải là tứ chi khác / I wanted the expression to be in the body. The head must be just another limb’; là cành nhánh trong cơ thể con người, nó bộc ra một sắc màu khá đặc biệt, những mảng dầu (oil) đông cứng và dày trên gương mặt là một chứng tỏ của khát vọng. Tế bào da mặt là một kết tụ đặc biệt của con người, là ‘tiếng nói / face talk’ của hỉ nộ ái ố, là những gì không thông thường như ta nhìn mà là một sáng tỏ qua chân dung mà họa sĩ muốn vẽ. Freud thừa hiểu điều đó và cho rằng đấy là lực thu hút vào trong hình hài, dáng điệu để bước vào con đường của hiện thực; từ đầu tới chân tay. Đối với Freud chủ đề lõa thể đã đập mạnh vào bộ phận hữu cơ (organic) của con người là hữu thể: nó ngủ hay dậy là tác động tự nhiên chớ không phải là tự động hóa; nó gây mê trong trạng thái ‘chìm’ và thức tĩnh trong trạng thái ‘bị động’; nghĩa là nó dung thông để hòa nhập vào cõi tục như nguồn năng lực của dục cảm (erotic). Người họa sĩ phải vượt qua hàng rào kẽm gai của nhân thế mới đạt tới chân tướng của hội họa. Một vài họa sĩ đời nay nhại theo lõa thể nhưng thứ lõa thể đó không phải là ‘hàng hiệu’ mà là thứ hàng nội hóa chỉ vẽ cho thành hình mà thôi. Xem tranh khỏa thân của Freud mới nhận ra hội họa tả thực còn hơn những thứ tả thực khác. Bởi; Freud không thể giả dối ở chính mình khi nhận diện sự thật. Một sự thật đúng nghĩa của nghệ thuật nói riêng và văn học nghệ thuật nói chung. Cái khó của hội họa phải có con mắt để nhìn. Thi ca phải có cái tâm-như-nhất; cả hai điều hợp trong cùng một tri thức nhận biết tức hiểu được ý nghĩa của nghệ thuật hội họa và nghệ thuật văn chương. Đó là đỉnh cao trí tuệ. Bằng không chỉ là thứ mua vui không có gì giá trị nghệ thuật.

Thấm thấu nghệ thuật nhất là nghệ thuật hội họa xưa nay trở nên thứ nghệ thuật chân truyền, nghĩa là lưu lại với đời những tác phẩm vô giá mà thế giới loài người thừa nhận nó như di sản đáng qúi không thể đem ra so sánh hay lý giải mà phải nhận nó như một giá trị tuyệt đối về mặt giá trị sáng tạo và kỹ thuật điêu luyện mà nghệ nhân đã dựng nên. Cho nên chi nghệ thuật hội họa là người có con mắt tinh tường để nhận thấy cái thâm sâu cùng cốc mà họa sĩ muốn nói đến; nó không thể dửng dưng để tác hợp vào trong tranh một cách ngẫu nhiên, tùy hứng mà cả suy tư trước vật thể và hình ảnh là đòi hỏi ở nơi ngón tay của họa nhân bắt chụp được cái của trời cho; cái đó là năng khiếu thiên bẩm như trường hợp của Freud. Bởi như thế này: trong khỏa thân của Freud đã xác định vị trí trong không gian duy nhất như chính họa sĩ mô tả cái trăn trở, cái quằn quại, cái bi thảm của những gì bị ức chế, kềm kẹp trong một xã hội băng hoại của nền văn minh từ Đông sang Tây đã không thừa nhận một cách ưu ái mà cho đó là ‘ô nhiễm’. Freud vẽ là Không-Hóa toàn triệt trong như nhiên, tận dụng mọi khả năng trí thức thuộc về cơ thể (onatomy) kể cả phần xác của con người (organism); tất cả dữ kiện đó là một tổng hợp của vũ trụ con người được hình thành dưới mắt Freud, một diễn tả rất chi li từ đường tơ kẽ tóc để người xem không còn nghi ngờ giữa thực và giả. Vượt thoát của Freud chính là ý thức thức tỉnh trước tình thế, một thứ ý thức đối lập giữa bản thể và nghệ thuật là ý thức mơ về để có một đường nét sáng tạo khác với những gì đã xẩy ra trước đây, chính là lúc Lucian Freud đối diện vào một liên hệ tương giao giữa họa nhân và người hôn phối, là điển hình cho sự thật để vẽ thành tranh (khỏa thân). Đứng trên lý luận phân tâm thì đó là tâm lý thuần trực giác đang thưởng thức vẻ đẹp của vợ mình bằng trực giác hình tướng. Hình tướng của hiện thể hoàn toàn chiếm hết tâm hồn khiến cho Freud quên hết ngoại giới xung quanh mà nhìn vào đối tượng tha thể như ‘vật ngã đồng nhất’ trong trạng thái xuất thần . Có thể Freud chịu ảnh hưởng của nghệ thuật nguyên sơ, khơi dậy từ những hình ảnh khoái cảm tiền kiếp hướng về cõi đã mất?

Như đã nói ở trên Freud dựa vào châm ngôn tục truyền ‘sống để làm/life’s work’ là một kết hợp tư tưởng giữa con người và cuộc đời. Cuộc đời có ý nghĩa là theo đuổi để được giải phóng ra khỏi những gì bức xúc tồn tại, là theo đuổi cho nghệ thuật –The pursuit of liberty and the pursuit of art. Cái nhìn của Freud là cái nhìn tương quan với Jackson Pollock (1912-1956) tương quan ở chỗ là thấy được họa (painting) như một sự bộc phát đầy năng tính, bởi; họ đứng trước bóng tối của màu sắc để vén lên đó một sự thật nguyên thủy mà bấy lâu nay con người định kiến và vị nể; tránh nó như thuốc độc. Freud phủ nhận mọi hình tướng không thực của cuộc đời mà tìm thấy trong sáng tạo là một sự hóa thân của nghệ thuật –Art is a metaphor of the creation. Đúng! sự thật là cần thiết, thật sự có lợi ích ấy là đạo /way là con đường hiện hữu tối thượng; đấy là thái độ của người cầm cọ, nghĩa là thấy người thấy ta trăm trận trăm thắng. Không phải đây là quan niệm chủ quan của người họa sĩ mà là một kích động thực thể giữa ngoại giới và nội giới; tức kiểm soát một cách trung hòa (media) của màu sắc và cả chính mình. Cái bắt mắt nơi tranh của Freud không phải ở vóc dáng cũng chẳng phải trần truồng hay cái tên gọi mà chính cái đẹp của Freud nằm trong đường cọ, tợ như bút pháp nó uyển chuyển và bay bướm lạ thường. Đó là sự thực hội họa. Một sự thật phơi mở của nghệ thuật dù là huỵch toẹt cái xấu xí dị hợm, nhưng; trong đó vẫn trọn ý thẩm mỹ về con người một cách đầy đủ. Lucian Freud không phải là thứ đạo đức giả.

  (Đứng bên cạnh đống nhàu nát / Standing by the rags.1988. Oil  66 1/5” X 54 1/5” by Lucian Freud)

hinh1

Freud dựng tranh trong một cấu trúc hợp nhứt (unifying structure) đã nhồi nắn một chất liệu để vẽ lên tranh ở chính nó là một thực hiện tự nhiên không gò bó, chải chuốt mà vẫn sống động hơn thực, cái sự chấm phá, bôi bết rất thô thiểm khó coi nhưng đầy nhuệ tính. Lối vẽ đó gọi là biểu tượng hiện thực (expressionistic realist) và đã đạt tới niềm tin chung một cách chính xác của trường phái Lãng mạn (Romanticism). Vai trò chính yếu của Freud là tái phục hồi để chống lại chủ nghĩa cổ điển mới (neoclassicism) mà nhấn mạnh vào hình ảnh và xúc cảm. Đấy là bước ngoặt tạo hình để vẽ lên một bề mặt trong sáng và gợi cảm một cách vững chắc, điều này Freud thường nâng cao sắc diện đặc biệt vào đó, trong một tinh thần bao hàm những gì thương tổn và khắc khoải. Vậy thì sự gì đi vào trong tác phẩm của Freud suốt một hành trình dài dâng hiến cho nghệ thuật hội họa? Ông chẳng dâng hiến gì ngoài dâng hiến cho nghệ thuật; mặc dù thời điểm đó ông đã hứng chịu những lời lẽ thị phi kể cả đám văn nghệ sĩ. Người ta chưa hiểu hết tâm thức của người nghệ sĩ khi sáng tác: là họ bỏ vào đó những gì bi thương và khắc khoải trong cuộc đời, để rồi ông phải sống trong trạng thái căng thẳng. Dữ kiện của cuộc đời là một đấu tranh dai dẳng đưa tới một tâm thức rối loạn, tàn phá một bản năng tự tại, Freud muốn thoát khỏi cuộc đời để tìm cho mình một con đường tự do hội hoạ, nghĩa là không còn khuấy động từ bên ngoài (xã hội) và bên trong (gia đình). Đó là nhược điểm mà ông phải đương đầu để hoàn thành trọn vẹn về thân thể con người. Freud biết hoài bão đó khó để đạt tới, bởi; chung quanh ông là những yêu cầu, đòi hỏi là những gì mà con người mong muốn: mọi con người cần những thứ hài lòng, đó là một hiện hữu đã được chú ý tới –a very human need was fulfilled, that; of being noticed. Vậy thì tại sao Freud tọa vào chỗ đó để nghe những lời tha oán luôn cả vị hôn thê của mình? Freud tọa vào để tìm thấy chất lượng của con người từ ngoài vào trong, là phản ảnh đích thực từ nội quan của con người. Điều này như một thức tỉnh đánh động vào những năm trước khi chết Freud đã chiếm thời gian qúa dài (2400 giờ) để hoàn tất họa phẩm lõa thể vào năm 2007. Là chứng cớ đích thực để thực hiện hoài bão về thân thể trong đó cả xác lẫn hồn. Biết cho rằng; đây là điều hết sức chuyên tâm để đi tới tầm xa của hình tượng mà Freud nỗ lực thực hiện cho bằng được, một nỗ lực chứng minh những gì gọi là thực chất tương đương (equally substantial) dù đó là bóng tối đen đặc, là cảm thức tinh nguyên mỗi khi đụng tới.Tuy nhiên; qua giảo nghiệm sinh học để nhận ra trong Freud một sự hiểu biết rộng lớn về cơ thể học mà ông đã trau dồi kỹ lưỡng trước khi dựng thành tranh (painting) đặc biệt là tranh chân dung. Tranh của Freud thường cho ta một sự choáng ngợp, một sự khó chịu là thứ kinh nghiệm đối đầu khi đứng trước tranh của Freud, nhưng; nhìn lâu ở đó có một cái gì gần gũi thân thiện. Chính trong vóc dáng trầm lắng của Freud mỗi khi ngồi thường cúi xuống như muốn che giấu điều gì; cảm thức đó chính là sự sợ hãi của con người đang đứng trước đổi thay từ mọi phiá, biến Freud trở nên thụ động trước hoàn cảnh cũng có thể từ phía gia đình ông (?). Chân tướng thực sự của con người đối với Freud vẫn còn trong vòng khám phá…

Freud là người giàu trí tưởng và phân tích (có lẽ chịu ảnh hưởng của ông nội Sigmund Freud). Vốn dĩ đã in sâu trong tiềm thức của Lucian Freud là không thu giấu, không bao che (nakedness), muốn lột trần  để không còn thấy thực và ảo. Đấy là lý do tuyệt đối để phơi mở toàn thân của con người. Chủ đề về hai hệ phái nam/nữ đã đem lại những khi không mấy cảm tình hoặc coi đây là thúc đẩy từ ức chế, kiềm hãm. Freud nhìn vào tranh lõa thể là sản phẩm tương đương thuộc điêu khắc của họa phái; tự nó đã trở nên quan trọng đối với Freud. Tác phẩm của ông được đánh giá cao đối với mỹ thuật hiện đại và đã được phân tích, so sánh như những danh họa trước đây với một thành quả to lớn; Freud lột tả toàn phần về cơ thể con người để đi tới một sự thật chân chính giữa hồn và xác, giữa ảo và thực; đấy là triết lý nhân sinh trong hội họa. Freud quan niệm hội họa là tiếng nói không lời nhưng lại có âm vang trong màu sắc. Bởi; nó được xác định vị trí cố hữu nằm trong không gian duy nhất để nhận thức thế nào là hữu thức và vô thức trong thế giới của con người. Khi đứng trước họa phẩm của Freud chúng ta không còn thấy ở đó cái gì là ảo tưởng, là suy đồi, là tục lụy; nó tách ra khỏi một chủ thể hiện hữu và ngay cả khách thể cũng không có trong tranh của Freud. Vì rằng; nó đã tách ra khỏi dòng sống như nhiên, đó là phương tiện thoát ly cuộc đời đang sống để về với cái thực chân như của hội họa, không còn qui ước, khuôn phép, phiến diện hay bó buộc mà tạo vào đó một môi trường sống thực của ‘tòa thiên nhiên’… Đó là tiềm tàng trong tâm hồn người nghệ sĩ, là động lực thúc đẩy từ ý thức, từ nhận biết để sáng tạo nghệ thuật. Một thứ nghệ thuất bất biến, bất di, bất dịch mà thứ nghệ thuật để đời, cái mà người ta không làm nên được. Từ đó về sau Freud được xem là một trong những họa nhân đương đại ở tk. thứ hai mốt. Hiếm mà tìm thấy một chất liệu độc đáo như thế. Tranh của Freud đôi khi thấy trên bề mặt của nó một sự ngỡ ngàng của một thứ chất lỏng nhầy nhậy. Một chuyển dịch biến thể của hình thể không có trong vóc dáng, tợ như rèm thưa không có đường may. Đó là kết quả khác thường trong hình ảnh trầm lắng đọng nơi tranh.

(‘Và đó . Vị hôn phu / And the Bridegroom’ Oil. 91” ¼ X 77” ¼   1993. by Lucian Freud)

hinh2.jpg

Trong tranh của Freud đã để lại cái không ‘đẹp mắt’, ông phết lên đó một sắc màu bạc nhợt, những góc cạnh đổ gãy là lối vẽ đặc thù mà ông muốn dựng vào đó một thể cách nhất quán, nghĩa là trước sao sau vậy là phản ảnh vào cái bên trong (inner) của từng nhân vật; nhất là bày tỏ cho một tình yêu sau cơn mê.                  Nhìn chung Freud đã vẽ những gì là vẽ ở chính mình, ở vợ mình như một tự thú cuộc đời tốt hay xấu, thực hay giả; điều ấy có thể làm cho người xem thêm dị nghị ở chính họ, bởi; sự thật của thể xác mà chúng ta đã che đậy, là vì; nó xấu xí, dị hợm nhưng đó là cái đẹp tự nhiên, ‘đẹp trọn vẹn’, bởi; nó là qui ước, là khoái cảm, là tình yêu mà con người không thể chối bỏ. Freud đã có lần nói: ‘lột nó ra rồi mới thấy /open up it and see it’. Đó là điều mà Freud muốn nói đến, một tâm sinh lý đích thực về vấn đề của con người. Freud có đào tạo, có trường lớp hẳn hoi, có học hỏi, nghiêng cứu, nhưng; Freud tách ra khỏi mỹ thuật, mà tìm thấy mỹ thuật cách riêng; đó là con đường tự do dành cho hội họa. Dĩ nhiên Freud con người -khuấy động để đau khổ nhưng thành công rực rỡ / troubling and brilliant- là ở chính ông ta ./.

VÕ CÔNG LIÊM (ca.ab.yyc. cuối 11/2019)

*Hình trong bài rút từ sưu tập của vcl.

SÁCH ĐỌC: Art of the 20th Century by Taschen (London UK. Munich Germany) 2000.

*Freud Lucian (1922-2011)

-1938-1939:Tùng học ở Central Schơol of Art and Crafts in London.

-1939-1942: Studied at the East Anglian School of Painting and Drawing in Dedham.

-1942-1943: Part-time studies at Goldsmith’s College in London.

From 1946 to 1993: Triển lãm  lần đầu ở Luân Đôn, Pháp, Hy Lạp, Venice Ý, New York và nhiều nước khác trong ‘touring exhibitions’.

Tranh cuối cùng (chưa hoàn tất còn trên giá gỗ) 2011.Oil. 63” ¼ X 54”1.4. ‘Chân dung của Chó săn /Portrait of the Hound.

ĐỌC THÊM: ‘Xem Tranh’ July.2019. của võcôngliêm hiện có trên một số báo mạng /giấy trong và ngoài nước hoặc email theo đ/c đã ghi.

TRANH VẼ: ‘Người và Chim / Man and Bird’ Khổ: 15” X 22”. Trên giấy cứng. Acrylics+House-paint. Vcl# 1552015.

NGƯỜI Và CHIM / MAN And BIRD

nguoi va chim- vcl

Tranh Võ Công Liêm: Người và Chim

CÀ PHÊ ĐEN

sáng bung mắt
dậy là đi
bên kia đường
quán cà phê
nóng cháy mặt bằng
rít điếu thuốc tàn
kể nốt câu chuyện hôm qua như bao lần
từ đầu tới đuôi người ngồi đối diện bực cười
nham nhở như truyện tình lan và điệp
trên sân khấu cuộc đời chất đầy vị mặn
đám ruồi muỗi quen thuộc hát vu vơ tiếng bổng
tiếng trầm trên cánh đồng đầy chơm ba khiá
chiều hôm đi chợ về bó rau muống cong queo
thì hôm nay đứng lại ngắm nhìn bông lý bông lài
nhợt nhạt linh hồn trên manh chiếu nồi vung
hình như muốn nói điều gì mà hôm qua bỏ quên
bên đường lũ dơi chúi đầu ru ngủ trên cánh khô
tưởng chừng như treo án tử hình mà thực tình
cơm đong gạo bữa khoanh tay chờ đợi chén thù chén tạc
đầu tháng năm
lúa trổ bông
qua tháng chín
rạ vàng hoe
con mắt xốc xếch của kẻ điên khùng hăm hở hái
những vì sao trên trời lạc hướng thời tuổi trẻ
để yêu em bằng trí nhớ mông lung cháy rực trời
vẫn không thấy em sau tết mậu thân năm sáu tám
tôi . như con ve sầu lá úa
không biết sống chết về đâu
người ngồi đối diện bực cười hôm đó là tình nhân
tôi . ngụm hết tách cà phê
thả khói xuống lòng đường
em . lên xe về miền cổ xứ
để nhớ người tình cũ
ngày xưa chưa ăn tết
đêm nghe quạ khóc dài
trên con lộ không đèn

hứng từng giọt sao giữa mùa trăng tháng chạp
cả đời uống cà phê đen đắng chát không đường ./.

VÕ CÔNG LIÊM (ca.ab.yyc . mưa tuyết 12/2019).

ĐỌC “TRẢ LẠI TA” THƠ MẠNH TRƯƠNG

Thư viện của bài

This gallery contains 4 photos.

Châu Thạch TRẢ LẠI TA -/- Trả lại ta chuỗi thời gian Tuỗi thơ êm đẹp mơ màng bướm hoa Không gian ơi,trả lại ta Núi sông rừng trãng bao la một vùng Trả ta một khoảng không trung Trời … Tiếp tục đọc

giấc mộng bên nhau

Trần Hoa Phượng

anhlaai

 

em bàng hoàng trong cơn mộng
anh về – anh đến bên em

yêu đương rộn ràng
tình say đắm
anh yêu em – yêu trong hơi thở
trong ngón tay mềm
trong giấc mộng đêm nay

đêm nay, xin đêm đừng qua nhé
chỉ một lần thôi
một vòng tay anh…
vòng tay chờ đợi bên nhau

đừng đi, xin anh đừng đi nữa
mình yêu thương – mình yêu thương
dù là giấc mộng đêm nay

đêm dài xin đừng sáng
yêu đương xin vẫn lâu dài
mặt trời xin đừng đến vội
anh đi rồi
mộng tình vỡ đôi

Trần Hoa Phượng