Kẻ lai vãng cửa chùa

Phạm Nga

chua 4

“Tánh anh nóng nảy, nổi cộc lên thì coi hung lắm, phải đi chùa
cho nó trầm tính lại”. Đã một thời, nhiều lần vợ tôi đã nhận xét
và đề nghị như vậy.
Ngày xưa, bố tôi theo Tây học, từ Bắc vào Nam làm báo, ra cả
báo Pháp và dịch sách, tánh khí nghệ sĩ, phóng dật, khiến cho
căn nhà nhỏ của gia đình ở khu Đa Kao thời đó thỉnh thoảng lại
chộn rộn cái không khí văn chương chữ nghĩa. Có lần, lấy cớ
khui một chai rượu chát rất xưa, bố tôi mời vài người bạn thân
đến nhà chơi. Cần nói thêm là trong số văn hữu của bố tôi thời
đó, tôi khoái một bác cùng dân Bắc kỳ, để chút râu kiểu Hitler
dưới mũi, thường phong nhã với bộ cánh veston, foulard với ống
píp, đó là nhà thơ/nhà văn Tchya Đái Đức Tuấn. Núp phía sau
một bức bình phong, tôi lén theo dõi người lớn nói đủ thứ
chuyện trên đời. Chợt tôi nghe bác Tchya cười, vỗ vai bố tôi, gật
gù bảo: “…Vậy là toa cũng rất libéral về vấn đề tôn giáo!”.
Phải nói là, trước khi tôi đủ lớn khôn để tìm hiểu cho thật rõ các
tính từ “libéral”, “libertin”… có nghĩa là gì thì bố tôi đã có quan
niệm rất phóng khoáng về vấn đề tín ngưỡng, nghĩa là vợ con
trong nhà ai muốn theo đạo nào cũng được. Bố tôi không hề
bày tỏ một ý kiến, nhận xét nào về chuyện mẹ tôi sùng đạo
Phật, qui y tại chùa, có pháp danh cũng như bày khuôn thờ
Phật Bà Quan Âm phía trên bàn thờ ông bà, hay chuyện em gái
tôi được mấy xơ trường Thiên Phước ở Tân Định dẫn dắt vô đạo
Thiên Chúa khi em học tiểu học rồi trung học chương trình Pháp
tại trường này. Có lần một vị giáo sư, bạn bà chị họ rũ tôi vào
đạo Baha’i. Tôi nhận vài tờ tài liệu về đạo này, đem về kể cho
bố tôi nghe. Ông chỉ cười, nói: “Đạo Bà Hai, gốc ở Ba Tư chớ gì.
Thì đạo nào cũng dạy con người sống, cư xử cho có đạo đức và
làm việc thiện. Tùy ý con thôi.”
Rốt cuộc, tôi lớn lên không thể không chịu ảnh hưởng tinh thần
libéral ấy từ bố tôi. Đã vậy, thời theo ban triết trường Văn Khoa
Sài Gòn, tôi được học hỏi ít nhiểu các hệ tư tưởng, giáo lý muôn
màu muôn sắc của Phật giáo, Kitô giáo, Hồi giáo, Khổng giáo,
Lão giáo, Bà la môn giáo,… Cứ thế, học riết rồi đám sinh viên
triết bọn tôi tùy xu hướng riêng mà thích Thiền, Zen, thần học
Sáng Thế, kinh Dịch, thậm chí cả Dục lạc kinh (Kama Sutra) lồ
lộ các tư thế làm tình của Ấn Độ giáo, chứ chẳng thấy hấp dẫn,
hay ho gì mấy cái thuyết vô thần dù hiểu theo nghĩa triết học
hay nghĩa tôn giáo. Riêng vài sinh viên như tôi, tức đang không
(hay chưa) là tín đồ của một tôn giáo nào đó để có thể tin vào
Phật Tổ hay Đức Chúa Trời, đấng Allah hoặc đấng Bhrama…,
bọn tôi vẫn tin trên cõi đời này, vũ trụ này vốn có một đấng
Thiêng Liêng, một Thượng Đế Tối Cao định đoạt mọi sự ở trần
gian, trong đó định mạng con người.
Mặt khác, do bạn học của bọn tôi các lớp triết Tây hay Đông
đều gồm cả các linh mục, sư huynh, nữ tu, nhà sư, ni cô nên
dần hồi bọn tôi có quan niệm rất ‘thoáng’, đại khái như “liên
tôn giáo” hay “hòa đồng tôn giáo”, thấy đạo nào cũng tốt, hay
ít ra hàng tu sĩ, đại diện của các tôn giáo ấy chẳng xa lạ gì với
mình.
2.
Sau biến cố 30-4, cuộc sống ăn-độn đầy dẫy khó khăn, thiếu
thốn. Với nhiều người dân miền Nam, một khi những lo nghĩ về
cơm-áo-gạo-tiền quá đè nặng tâm trí, khó tránh chuyện đức tin
tôn giáo lung lay. Ai vốn xem giá trị tinh thần, tâm linh cao quý
hơn của cải vật chất cứ như bị thời thế cải tạo, dần hồi chuyển
qua những cách nghĩ thực dụng như “Có thực mới vực được
đạo”, “Lương tâm không bằng lương… thực”!
Cái ăn lúc này còn đè bẹp cả cái học. Như em gái út của tôi, học
rất giỏi, hát cũng hay, tốt nghiệp cấp 3 xong trong nhà làm gì
có tiền nuôi cho học đại học, em xin vô làm công nhân một xí
nghiệp may ở Nhà Bè. Ít lâu sau, đi làm về em nói mấy đứa ở
trỏng hát bản “Rước tình về quê hương” thật thơ mộng, lãng
mạn một thời của nhạc sĩ Hoàng Thi Thơ thành… đầy mùi ăn
uống: “Anh đưa em vô chùa/ Chùa hôm nay có chuối/ Anh đưa
em vô chùa/ Chùa hôm nay có chè/ Thầy chùa nhắm mắt tụng
kinh/ Chúng ta bay vô giựt chuối/ Thầy chùa nhắm mắt tụng
kinh/ Chúng ta bay vô giựt chè!”. Em tôi “thuyết minh phim”
thêm rằng phải giựt mới có ăn, vì giải phóng rồi, mấy thầy tu
trong chùa cũng phải sống ăn, theo “chế độ”, tức theo tiêu
chuẩn gạo nhất định. Đâu còn như hồi trước, người ta hay nói
cơm chùa, tức cơm miễn phí, do các chùa hay có cơm chay bố
thí, ai nghèo mạt không kiếm nổi bữa ăn thì cứ thong thả tìm
đến cửa Phật…
Không ai bảo ai, người ta lặng lẽ tạm làm lơ các nhu cầu của đời
sống tín ngưỡng, sinh hoạt thờ phượng của bản thân mình, gia
đình mình. Một Phật tử sùng đạo như mẹ tôi đã dần hồi thưa
thớt, rồi bỏ hẳn việc đi chùa ngày rằm, mùng một, để còn lo
xếp hàng mua nhu yếu phẩm hay may hàng gia công kiếm
thêm tiền chợ, phụ vào đổng lương chết đói của mấy đứa con
công nhân viên…
Thời ăn-độn hay gặp người khùng hoặc nữa tỉnh nữa mê ngoài
đường phố. Tôi nhớ một lần có việc ra bến xe Văn Thánh, tôi lên
một chiếc xe than, ngồi chờ xe chạy. Chợt có một người đàn
ông ốm yếu, mặc bộ nâu sòng rách nát, cầm một cây phướn,
bước lên xe thểu thào kêu gọi hành khách:“Bá gia ơi, lo tu đi,
không thì chết đó nghen! Hội Long Hoa tới rồi! Ráng tu liền đi
bá gia!”. Tôi chạnh nghĩ:“Mệt quá, đang thiếu đói tùm lum đây,
lo chạy cơm từng bữa cho con người chưa xong, sức đâu lo
chuyện tu hành cho vui lòng thần Phật nào đó?”. Đang lúc chán
nãn, lo nghĩ chuyện cơm áo như thế, tôi chán luôn nhà tiên tri
thảm hại đang lãi nhãi rao giảng kia. Đúng lúc xe nổ máy, tôi
buột miệng nói nhảm, mỉa mai ông ta:“Thôi xuống xe dùm cái
bá gia! Không chịu xuống thì lơ nó lấy tiền xe, bá gia có tiền trả
hôn?”.
Đến khi tôi lập gia đình, rất chật vật với cảnh chồng công nhân
viên/vợ bán buôn lặt vặt, thu nhập không đủ sống, vợ tôi lại
sinh con đầu lòng. Tôi quyết định nghỉ việc để dốc hết sức lực
phụ bà xả chuyển hẳn qua nghề buôn chuyến hàng tạp hóa.
Tất nhiên, vào cái thời thiếu thốn đủ điều ấy, vợ tôi – đã quy y
cửa Phật, đã có pháp danh từ thời con gái – cũng đành bỏ lệ đi
chùa ngày rằm, mùng một. Tôi nhớ chỉ có một lần, là vào ngày
Phật đãn năm nào đó, vợ tôi đã ráng cùng mẹ tôi đến thắp
nhang, lạy Phật ở ngôi chùa gần nhà.
Rồi thời “mở cửa” đến, cuộc sống tương đối dễ thở hơn, quý
phụ nữ gia đình chúng tôi gần như chính thức trở lại với tập
quán đi chùa vào ngày rằm, mùng một hay ít nhất là một trong
hai ngày đó. Còn những dịp đặc biệt như Tết nguyên đán, Phật
đãn, rằm tháng Giêng, Tết Đoan Ngọ, rằm tháng Bảy và rằm
tháng Chạp, mẹ tôi và vợ tôi soạn mâm quả cúng chùa thịnh
soạn hơn, cũng như sẽ ăn bữa chay tại chùa luôn.
Thêm một sự “trở lại” đầy tốt lành nữa tại nhà chúng tôi, đó là
tôi lãnh nhiệm vụ dựng lại bàn thiêng ngoài sân trước nhà. Khi
ấy tôi như chợt được sống lại những cảm xúc tinh khôi của thời
thơ ấu… Nguyên từ nhỏ tôi đã rất yêu những hình ảnh ngọt
ngào, thanh tịnh ở vùng quê Nha Trang, nơi tôi luôn quay về ở
trọn mấy tháng nghỉ hè hằng năm. Còn lưu lại mãi trong ký ức
tôi là hình ảnh bà ngoại tôi, cứ ngày rằm, mùng một hay dịp giỗ
chạp là ngoại lụm cụm ra cắt những loại hoa trồng trong vườn
nhà, như: bông trang, vạn thọ, huệ, mồng gà, bông giấy… Rồi
ngoại đi quét sơ bàn bàn thiêng ở sân trước, xúc cái lục bình,
chưng mớ bông vừa cắt cùng nãi chuối xanh, trái thanh long
cũng bẻ trong vườn.
3.
Vài năm sau, có chút tiền dành dụm từ nghề buôn bán, chúng
tôi ra riêng, Từ dạo ấy, hễ vợ tôi đi chùa là tôi chở bằng honda –
có nghĩa cái gã, do chán cảnh đời tối mù vì nợ cơm áo, từ rất
lâu đã không lai vãng cửa chùa nào, nay đã đi chùa trở lại. Có
điều là, vẫn do nếp nghĩ duy lý, duy con người chứ không duy
thần linh, tôi không cùng bà xả vào chánh điện thắp nhang, lạy
Phật mà chỉ ngồi băng đá trong sân chùa, hút thuốc, lơ đãng
nhìn cảnh mọi người xung quanh dâng hương, khấn lạy, nguyện
cầu…
Đâu khoảng năm 2003 hay 2004, tôi dự một chuyến hành
hương ra tận vùng Bình Thuận. Nói là đi chùa nhưng thật ra đây
là một chuyến đi phượt bằng honda đầy nhọc nhằn, lang bạt.
Điểm đến là chùa•Linh Sơn Trường Thọ, cách Sài Gòn hơn
250km đẩy nắng bụi. Chùa lại nằm trên sườn•núi•Tà Cú•ở độ
cao 400m và năm đó chưa có cáp treo nên bọn tôi phải tuôn
mồ hôi leo núi. Đó là một cái “cầu thang” đất, đá quanh co, dài
tới 2500m. Trên đường đi, tôi gặp vài cụ già phải nhờ người dìu
lên từng bậc đá. Rồi khi đã lên đến chùa, các cụ lại nhờ người
dắt đến trước Phật đài để quì xuống, khấn lạy thật lâu trước
tượng Thích Ca lúc nào cũng nhắm mắt, khiến khuôn mặt tượng
lúc nào cũng toát ra một vẻ bình an vời vợi.
Và một lần, vào lúc màn đêm sắp phủ trùm sân chùa, chợt
thoáng qua như một sát-na, hình như tôi cũng đã được thấy
thêm một vẻ bình an diệu vợi khác nơi gương mặt của một cụ
già mù, đang quì lạy pho tượng Phật mà cụ không thể nào nhìn
thấy…
Nói là do cảnh tượng khác thường, gần như siêu tưởng ấy mà
tôi đã “ngộ” thì nghe cao đạo quá. Tôi chỉ xin nhận mình như
một con thú hoang đàng, do chữ Duyên của nhà Phật mà được
thuần hóa thật nhẹ nhàng bởi hình ảnh đạo hạnh thuần khiết
của cụ già mù.
Từ sau chuyến đi định mệnh ấy, tôi dẩn dần đổi tính – vợ tôi có
thừa nhận, ít ra là thay đổi thái độ lạnh lẽo, khép kín đối với vấn
đề tín ngưỡng. Tôi bắt đầu săn ảnh, làm bộ sưu tập chùa chiền,
nhất là các ngôi cổ tự. Và khi tự hồi sinh tinh thần giúp ích của
hướng đạo sinh đã rèn luyện từ thời niên thiếu, có dịp là tôi cố
gắng gợi ý bạn bè và người có khả năng cùng làm việc thiện,
như giúp trẻ cô nhi, người già neo đơn, người tàn tật. Riêng đối
với anh em lính chế độ cũ như mình, vài lần tôi đã ráng chạy
tìm, dò hỏi cho ra địa chỉ của một số anh em thương binh cấp
độ nặng ở Sài Gòn để cung cấp thật sớm cho một nhà hảo tâm
ở Úc…
Nhiều năm qua, khung cảnh quen thuộc để nuôi dưỡng, bồi bổ
cho bước “trở lại tâm linh” của tôi là tịnh xá Trung Tâm, gần
chợ Cây Quéo. Do ngôi chùa này rất gần nhà, coi như chỉ băng
qua đường xe lửa ga Xóm Thơm là tới nên vợ chồng tôi thường
ghé chùa lễ Phật, làm chút công đức vào mùa Phật đãn, các
ngày rằm, mùng một, cùng những khi vợ tôi cần nguyện xin
điều gì đó hay cúng tạ khi điều đó đã thành hiện thực. Đáng
nhớ là khi vợ tôi đã chữa lành một căn bệnh ngặt nghèo, gia
đình tôi đặt in một số quyển kinh ấn tống, đem cất dưới bệ tòa
sen chân tượng Phật Bà Quan Âm dựng ở phía bên trái khuôn
viên chùa, để bà con nào cần cứ lấy…

4.
Sáng thứ bảy này, vợ chồng tôi muốn tìm đến một nơi mát mẻ,
thoáng đãng sau một đêm khó ngủ vì trời vẫn tiếp tục nóng bức
y như mấy ngày trước. Công viên Gia Định ở gần nhà thì đang
làm cầu vượt, mặt đường bị ép hẹp bởi ‘lô cốt’, xe cộ dồn cục
rối rắm. Vợ tôi nói: “Hay mình ghé chùa Trung Tâm đi. Ngày
mùng 1 rồi, mấy đứa nó đến chơi cả ngày làm mình đâu có đi
được!”.
Vậy là chúng tôi đến tịnh xá Trung Tâm. Vợ tôi đến thắp nhang
trước tượng Phật Bà Quan Âm. Tôi cũng lạy Phật Bà rồi tìm đến
một băng đá dưới bóng cây sa la ngồi, thư thái ngó quanh.
Bá tánh trong chùa sáng nay chợt có cả mấy con mèo hoang,
không biết ở đâu đến mà chạy lung tung. Là mèo con nên
chúng rất nghịch ngợm, con bám gốc cây hoa sứ, con lục hộp
nhang, con rúc dưới bệ tượng Phật Bà… Tôi biết cái kiểu mình
dáo dác theo dõi mấy con mèo cũng đang bị theo dõi bởi một
người khác. Đó là một bé gái đang đứng gần cây hoa sứ, nước
da đen đúa, quần áo cũ vá, đi chân trần, trên tay không cầm
xấp vé số hay hộp xin-gum gì đó thì chắc là dân sống lang
thang đường phố. Chẳng phải đợi lâu, cô bé bụi đời lên tiếng
cho biết bầy mèo con cũng ‘bụi đời’ này tổng cộng là bảy ‘đứa’.
Cô bé còn đoan chắc con số đó là chính xác nhất vì ‘tụi nó’ chạy
lung tung, phải đếm tới đếm lui cả buổi mới được.
Một chị phụ nữ mù đứng gần đó, vừa mời tôi mua vé số vừa cho
thêm thông tin, rằng theo chị biết thì lâu nay các sư không có
nhận nuôi chó, mèo hoang, thành ra bầy mèo con này phải do
ai đó lén bỏ đại vô sân chùa, chắc là vào ban đêm.
Hai chú mèo hoang nhỏ bé thật nghịch ngợm, đang loay hoay
leo lên cây hoa sứ với bàn tay trợ giúp của cô bé bụi đời. Tôi lấy
điện thoại ra bấm liền mấy ‘pô’. Thấy tôi dáo dác nhìn quanh,
tỏ ý muốn chụp nữa, cô bé nói “Để con đi bắt tụi nó cho”.
Cô bé mệt mề chạy tới chạy lui ở khu vực xung quanh tượng
Phật Bà, kiếm được cứ hai chú mèo là hai tay cầm chạy liền đến
chỗ vợ tôi đang ngồi chờ, tạm giao trước hai ‘đứa’ rồi ù chạy đi
kiếm tiếp… Mất cả mươi, mười lăm phút cô bé mới gom lại đủ
lại cả bảy con mèo con đang một mực rong chơi tứ tán kia cho
tôi chụp hình.
Cần nói thêm, hẳn cô bé đã gần gũi, sinh hoạt với bầy mèo con
này lâu ngày rồi, tức đã quen hơi bạn bè, cùng chơi đùa đủ trò
rồi nên chúng chẳng phản ứng gì, cứ để yên cho cô bé đưa tay
bắt từng con, ưng đem đi đâu thì đem.
Vợ tôi thật vui, nói: “Bảy đứa mèo này thiệt bụi đời, mà đứa nào
đứa nấy đều dễ thương hết sức!”. Tôi nghĩ, phải nói là có tám
‘đứa’ bụi đời, ‘đứa’ nào cũng dễ thương hết sức mới đúng, vì
không thể không tính tới cô bé lang thang chưa biết tên kia, đã
quá ân cần giúp chúng tôi tiếp cận với bầy mèo con.
Cái gã ngày nào từng chỉ lai vãng trước cổng chùa, nay lặng lẽ
ngồi nghỉ dưới cội sa la trong sân chùa, tự nhiên lòng nhẹ tênh,
an lạc…

PHẠM NGA
(Tháng Bảy Kỷ Hợi 2019)

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s