Cái Tôi và Cái Tôi Thuộc Về Mình

    Võ Công Liêm

vode - untitle by VCL

Tranh Võ Công Liêm

   Đó là bản thể tự tại. Một bản thể thuộc duy tâm, một cá thể có tính riêng biệt. Mà phải có chất liệu đó; thời tất mới xác nhận con người ở giữa đời này. Không có cái tôi không hiện hữu được với đời: cái tôi là danh xưng, cái tôi chỉ định từ, cái tôi nói lên ngã vị, cái tôi độc quyền. Con người là một sinh vật có tri giác, có ‘cái tôi’ trong đó. Nhưng cái tôi như nhiên khác với cái tôi của tôi (vị ngã/its ego). Cái tôi và cái tôi thuộc về mình (The Ego And The Id). Nghe như không ổn! Bởi; câu hỏi đó đã nói lên cái bản ngã bào chữa, chứa đựng một nội tại chối bỏ và thừa nhận. Vì nó có cái ‘le moi /the ego’ che lấp và cái tôi tự nhận. Một triệu chứng nằm trong não thức thần kinh của sự lý che chở những gì trong ta và tùy thuộc vào ta (trong The Neuro-Psychoses of Defence của Freud). Cho nên chi ai cũng có cái tôi đáng qúy và cái tôi đáng ghét. Đó là lối xử thế của con người trước mọi hoàn cảnh, trước mọi sự kiện tùy theo từng đối tượng trong xã hội, chính trị hay văn hóa. Không ai nói rằng tôi không có cái tôi. Không có cái tôi thì gọi cái gì, con gì đây? Con vật có tên: tên chó, tên mèo, tên voi, tên cọp, chiếc xe, cái dao, cái kéo, đôi đũa…dẫu là vô tri nhưng vẫn có danh xưng cho cái tên của nó. Dễ thường thì đặc cho nó cái tên để gọi (The Id) đó là cái tôi xác nhận, còn cái tôi đáng ghét thì gọi là cái tôi tâm lý gần như một cái tôi vô thức –Super-ego is a psychoanalysis that part of the psyche which is critical of the self or ego and enforces moral standard at an unconscious…Nhìn chung cái tôi có cái chất riêng của nó trong đó. Nó thường trực với ta để xác nhận ta đang hiện hữu. Ngoại trừ nhắm mắt thì không còn cái tôi quấn quít hay giải thoát (enlightenment) được thì không còn cái tôi đeo đuổi tức là vô-ngã. Sự cớ đó là một đấu tranh triền miên giữa ngã thức (egotism) và vô ngã thức (unself-conscious) không sao dứt được. Chúng ta đã có một thể thức tạo nên ý tưởng trong mỗi cá thể, cái đó gọi là có dính dáng trong cơ cấu tổ chức thuộc tiến trình tâm thức; gọi là cái ‘của nó /ego’. Một cái tôi ý thức gắn liền nhau, một cái tôi kiểm soát để đưa tới một chuyển động –We have formed the idea that in each individual there is a coherent organization of mental processes; and we call this his ego. It is to this ego that consciousness is attached, the ego controls the approaches to motility. Không phải đơn phương cái tôi nói lên cái chính mình mà có cái gì đó thuộc về mình (kể cả cái tôi quá khứ) .Vì vậy những người nặng lòng với cái tôi thường sinh ra chứng tâm thần. Tại sao? Bởi; cái tôi lồng lộng, chiếm cứ không chịu thoát để đi tới vô ngã. Vô ngã là hành vi đứng sau của nhận thức mà mỗi khi nói tới cái tôi thì cái tôi biến dạng từ ý thức (conscious) đến vô ý thức (unconscious) không còn phân biệt giữa chủ thể và khách thể mà chỉ thấy cái tôi lồ lộ; cái tôi biến dạng, mất bóng mù tăm (to slip away) là không hiện hữu giữa trần đời. Cái tôi ít khi có một trí tuệ phán xét (mind) đâu hữu và vô hữu do trí tuệ điều động, ngược lại đó là tri thức chủ thể đưa tới những lý lẽ không hợp thời trang mà trở nên ngu xuẩn. Cũng có thể do từ sự diễn tả của mơ mà tạo thành cái mơ chủ thể (The Interpretation of Dreams) trong cái tôi (ego) này không còn trong vùng siêu ngã (super-ego) mà nó rơi vào trạng huống của tâm lý siêu hình (metapsychological). Trong tất cả những gì ở đây đều là mối tương quan gần gũi của chức năng tâm thần và chức năng thiết kế; điều mà không thể tránh được cho một tư duy trong sáng của cái tôi. Một hình ảnh về trí tuệ như thể bao gồm hai sự lý giao thoa, chia chát lẫn nhau; nghĩa là một đằng chế ngự được và một đằng bị ức chế nào khác –to a picture of the mind as including two portions, one repressed and the other repressing. Trường hợp này nó nằm trong vùng sâu lắng (hypo) của một lý thuyết giả định (hypothesis) mà thôi; chớ chưa chắc chắn để giải bày sự kiện mà chỉ cung cấp như một cơ bản để có một suy lý chứng minh. Ở vị trí này cái tôi nằm trong vô thức và ức chế một phần của hữu thức cái tôi. Thí dụ: nhà văn nọ sanh ra một tác phẩm đầu tay thì nghĩ rằng mọi người có một tư duy thuộc về mình, tất giống ý mình hoặc cho đây là lý lẽ về cái tôi của mình. Cái tôi mang nặng chủ đề (motif) dù chủ đề không ăn nhập với nội dung thì cái đó gọi là cái tôi chuộng ngợi ca còn trình bày cái vỏ là thuộc về cái tôi khoe tài năng. Thế là cái tôi chưa chịu thoát cho một nội tại chất chứa bản năng của vị ngã. Rồi vòng vo tam quốc như con cá mắt cạn. Mắt cạn vì cá có cái tôi vùng vẫy để sống còn. Bản ngã dày vò vì cái tôi khống chế đành đưa cái tôi hình thức và cái tôi tự xưng để chứng minh cái tôi thuộc về mình mà quên đi nồng cốt của tác phẩm; thậm chí phải mượn lời đề bạt (trường hợp này một số thi nhân thường hay xử dụng tương tợ) nghĩa là nêu lên cái tôi chứng tỏ. Cái tôi này là cái tôi vô thức đứng trước cái tôi hữu thức. Lý về giá trị thì cái tôi chủ quan đánh hạ cái tôi khách quan đó là những cái tôi đưa tới cái tôi ngu xuẩn. Thành ra; cái tôi làm cho người ta lâm vào hoàn cảnh thuộc bệnh tâm thần (mental-illness) mà không hay. Thí dụ khác: nhà thơ Z. sáng tác là nhắm hướng vào cái tôi chủ quan hơn là cái tôi siêu thoát ‘chất thơ’. Nhưng quên đi những khi xuất thần thành thơ là ở một tinh thần chao đảo giữa hữu thức và vô thức của trạng huống tâm thần (mental); vì vậy mà có những câu thơ, lời thơ tối nghĩa, âm u (hay dụng tâm tạo hiện tượng thơ?) nhưng cái tôi duy lý vẫn cho đó là ý thơ siêu thoát mà không thấy bản thể suy đồi của tâm lý vị ngã trong thơ /văn. Đấy là triệu chứng thường tình của con người đang sống giữa đời. Chúng ta chỉ đơn cử để tìm thấy vai trò người sáng tác luôn luôn mang nặng tâm tư của cái tôi; ngay cả cảnh vật thiên nhiên, tình yêu, phiếm đàm đều chứa đặc chất của cái tôi; dẫu có mượn ngôi thứ ba thay cho ngôi thứ nhất là ‘tôi’. Một cái tôi chủ thể trong đó hay cái tôi điều động đều có cái tôi sở hữu chủ (The Id property) thay mặt để nói cái tôi tiềm ẩn. Đứng ngoài lãnh vực này mọi thứ, mọi lối trong cuộc sống đều chất chứa cái tôi. Đôi khi phải chấp nhận cái tôi hữu lý và cái tôi phi lý. Sao lại đưa hai cái tôi siêu hình vô đây? Cái tôi hữu lý là cái tôi bảo vệ sống còn. Cái tôi phi lý; theo khoa phân tâm học cho đó là siêu ngã (super-ego) là ngoài vòng cương tỏa của lý trí. Vậy lấy cái gì xóa bỏ cái tôi trong đó? -tức là phân định được hai đường lối của cái tôi. Một cái tôi như nhiên (tự có / itself) và một cái tôi siêu ngã (super-ego). Nếu một trong hai cái tôi mà loại ra được thì đi tới chân không của cái tôi. Cái tôi biến hóa để không còn thấy cái tôi cho dù những thứ gì thuộc về mình đều trở thành vô ngã. Đạt tới vô ngã là đạt tới hư vô tánh không. Từ chỗ đó cho ta một nhận thức về diệt-ngã. Diệt ngã là tâm thức tuyệt đối, mọi chuyện coi như không, không còn thấy mình giữa vũ trụ của Ngã. Xin đừng đặc vấn đề quá nặng, càng nói nhiều càng chấp ngã, càng chấp ngã là để ý đến cái tôi (self / le moi) tức là hướng tới cái của mình (selfish) quên cái của người khác. Duy thức học (thức Mạt-Na thứ bảy) cho đó là một tâm thức có bản chất so đo, thương ghét, tính toán thiệt hơn, chấp trược vì quá ích kỷ, chấp ngã không bao giờ ý thức trước tư duy và hành động. Dù có tôi hay không có tôi đều là Không-Sắc; đòi hỏi duy nhất của cái tôi là quên mình thời cái tôi tồn lại, tồn lưu nhân thế. Chớ cứ trông ngóng người đời nhìn tới cái tôi của mình thì khác gì ‘ông ơi tôi ở bụi này’. Vì đó là cái tôi háo danh, cái tôi khoe khoan chớ chất lượng thì hoàn toàn trống. Cái tôi đi tới vô úy là cái tôi chứng thực. Lục Tổ Huệ Năng nói: “Đừng bám vào mà để lòng vào” (Ứng vô sở trụ nhi sinh kỳ tâm) Tợ như đừng đưa cái tôi vào mà để tâm vào thì cái tôi mới thanh cao diệu vợi. Thế nhưng họ vẫn đeo đuổi cái tôi ảo vọng đó hoặc đem cái tôi trù dập vì sợ cái tôi khác lấn áp cái tôi của mình; vì vậy mà cái tôi hoành hành, dày xéo, réo rắt tâm can để làm sao cái tôi của mình sống còn trước đối tượng tha nhân. Vì cái tôi mà hỏa mù tâm trí mỗi khi làm thơ văn một cách vô tội vạ, thậm chí mượn lời bình để chứng minh cái tôi hạn hữu đó.

Vậy thì làm sao tiêu diệt cái tôi? Hỏi cái này là tréo cẳng ngỗng. Làm sao mà tiêu diệt được; vì ai cũng có cái tôi hiện hữu (như đã nói ở trên) là cái tôi chỉ định, cái tôi độc quyền, cái tôi thay thế. Sáng mở mắt dậy là cái tôi dậy theo là vấn đề giữa bản thể duy lý: tôi phải đi đái, tôi phải rửa mặt, tôi phải ăn; tôi phải, tôi phải…là cái tôi sinh lý hữu cơ không thể chối bỏ, còn cái tôi trong người là cái tôi ý thức. Không thể đem cái tôi này bỏ qua cái tôi kia. Định nghĩa như thế là không nhận ra ngã vị ở chính mình mà do lý trí sai khiến biến thành nạn nhân ‘inmate’ không chừng. Nó không phải là bệnh lý để điều trị mà điều trị bằng cách tiêu diệt một bản ngã tự tại, nghĩa là có ngã nhưng không có ngã vị. Khó để thực hiện rốt ráo cho một cái tôi đúng đắng là không vị kỷ, vị ngã mà vô ngã là để đi vào thực tướng của một con người thực. Cái tôi không bao giờ sáng tỏ mà chứa một cái tôi tiềm ẩn. Phật giáo không nói cái tôi để diệt mà dùng một ngữ ngôn thâm hậu là: ‘ngã mạn / ego’ là diệt chớ không nói ‘tôi/moi/self/itself’. Bởi; cái tôi đó không thể tiêu diệt được. Ngã-mạn là nói lên cái tốt, cái thiện (good) và cái xấu xa, cái ác (evil). Hai sự cớ này là ở cõi ngoài, cõi hư vô (beyond); cõi đó là cõi của lương tri (trong tư tưởng Nietzsche), một cái gì vọng động ở nơi con người, một ý thức mới trong tư tưởng của dục vọng. Triết học Phật giáo có một chiều sâu của tâm-sinh-lý đưa con người hướng tới cõi thiện. Tâm lý là của Tâm và sinh lý là của Dục; hiểu được chân lý đó tức thực hiện được cái Ngã Mạn của Phật tính. Sao lại đưa thuyết nhà Phật vào đây? Có thế mới đi tới chân-như-nhiên. Là; quên mình, quên tất cả để đạt tới chân lý tối thượng thừa của cái tôi. Một cái tôi đa tạp và một cái tôi khoan lượng đều dựa vào hữu thức và vô thức từ con người mà ra. Mà phải dùng Tâm để điều trị cái tôi. Phật giáo gọi: ‘Ta Không Phải Ta / Itself Non Self / Le Moi Non Moi’. Rứa Ta ở nơi mô? -Ta là Ngã là chấp ngã tức cái ta mê loạn, háo danh, háo vọng còn tranh chấp thiệt hơn. Cái tôi đã ngự trị vào hồn khí rồi đó! (cho tới thất thập, bát thập cái tôi còn tồn lại là chưa diệt thời tất phải khốn khổ, không chừng đi tới nghiệp báo luân hồi. Phật chủ trương ‘vô thường’ và ‘vô ngã’ là ở chỗ đó. Bởi; cái tôi không nhận ra cái lý như nhiên vũ trụ là còn vì cái tôi. Nhận ra được lý như nhiên vũ trụ là tỉnh với cái tôi. Thí dụ: Người đàn bà nổi cơn ghen vì bảo vệ cái tôi thua thiệt, cái tôi mất mát, cái tôi tồn lại, cái tôi ức chế…những thứ tôi đó vây quanh cho nên u-mê không phân định giữa Có và Không. Rứa cho nên đưa tới quẩn trí, loạn thần. Đó là cái tôi ngu xuẩn. chớ không phải cái tôi sáng suốt. Kiều không ghen; tức Nguyễn Du diệt được ngã vị không còn cái tôi chiếm cứ. Dù rằng Nguyễn Du mượn lời thay ý tất nói cái tôi nhưng không thấy cái tôi trong đó. Chấp ngã nhưng phá chấp. Đấy là nghĩa lý cái tôi để trở thành cái tôi siêu ngã (super-ego). Thế nhưng; chúng ta phải canh chừng về cái sự ngu xuẩn lơ láo đó mà coi đây là chức năng cá tính vì đó là cái tôi sở hữu chủ của ý thức hoặc không là một trong những phương kế cuối cùng, một ngọn đuốc soi đường dẫn lối từ bóng tối đi ra của một tâm lý chìm lắng trong ta –Neverthelesss we must beware of ignoring this characteristic, for property of being conscious or not is in the last resort our one beacon-light in the darkness of depth-psychology. Cho nên trong cái tôi tồn lại là do tự tánh mà ra. Nói vòng vo; cái tôi chủ quan, cái tôi mù lòa, cái tôi hờ hửng, cái tôi chiếm cứ, cái tôi a-dzua, a tòng , cái tôi đạp đuôi, cái tôi phất cờ theo gió, cái tôi hùm-bà-lằn…là những cái tôi phí phạm, vị ngã chỉ nói cái của mình, một cái tôi sở hữu chủ chỉ biết mình mà quên đi đối tượng tha nhân. Cuối cùng rồi cái tôi vẫn chiếm cứ. Một thứ chiếm cứ bệnh hoạn tìm thấy từ thể chất đến tinh thần nó đi thẳng vào người một cách trực tiếp, hữu ích của chúng ta, cũng không màng tới gán ép nào khác. –Pathological research has directed our interest too exclusively to the repressed. Đó là những gì chúng ta thu nhận được về cái tôi thời ít nhiều cho ta biết được cái tôi có thể xuất xứ từ vô thức trong cảm thức đích thực của điều muốn nói ra (word).Giờ chúng ta nhận thức được cái tôi là cố định và bùng dậy trong ý thức. Điều mà chúng ta cho rằng ý thức về cái tôi là một thiết bị cho bề mặt của tâm thần, sự cớ đó chúng ta qui vào như một chức năng có hệ thống của cõi ngoài ý thức là những gì phát sinh ra từ đó.Trong bất cứ hoàn cảnh nào, thời nào từ ngàn xưa cho tới nay nhu cầu của cái tôi hiện diện trực tiếp khi mới chào đời và đi vào giòng đời (hiện tại, quá khứ, vị lai) đều chất chứa và tàn ẩn cái tôi. Cái tôi bao hàm, cái tôi chứng thực đều là cái tôi. Nó trở thành lý thuyết (về cái tôi) của mọi thứ (The Theory of Everything). Như đã chứng minh cụ thể vấn đề.

Đấy là vấn đề không bắt nguồn có hay không có ngã vị mà coi như hướng tới một hệ thống, một khái niệm về vô thức mà những điều lệ đó có thích nghi và hòa hợp hay không cái đã. Trong cấu trúc của trí tuệ là những gì xẩy ra trong sáng nhưng tự thức xâm lấn để đưa cái tôi vào; một cách thức khác của vô thức đã có sẳn cái tôi chiếm cứ. Và; sự cớ đó bắt đầu hiện ra những gì của cái tôi mà chính tự nó như dự phần để tỏ rõ một thứ vô thức. Vậy thì nó có đôi phần rõ ràng, gần giống như chú ý tới cái sự vô thức và như thể là quan tâm tới cái tôi –It had thus become apparent that, alike as regards ‘the unconscious’ and as regards ‘the ego’. Là; cốt xây dựng lên ở đó một thiết kế về hình ảnh của trí tuệ. Thiệt ra; sự tương quan của ngoại giới /external là một cảm nhận từ tri giác đưa tới cái tôi có chứng cớ rõ ràng, đó là những gì của bản thể nội tại /internal là một cảm nhận từ tri giác đưa tới cái tôi đòi hỏi đặc biệt. Tri giác nội tạng là thừa nhận một tiến trình cảm xúc bùng lên trong hầu hết biến đổi khác nhau chắc chắn trong đó chứa đựng một vị trí bệnh trạng tâm thần mà chửa trị được là một tu chứng.Trường hợp này có từ nguồn đầu, có từ những nhân tố cơ bản hơn những gì bừng dậy từ tri giác của một tạng thể xuất phát; cái tôi thừa cơ hội để bung ra dù cho ý thức lúc đó bị hoả mù. Đó là bản thể tự tại. Một bản thể khốn đốn, một căn bệnh trầm thống vô phương cứu chửa, nó nằm lì trong vũng tối tâm hồn, há hốc mồm cười ngạo nghễ trên tinh thần của đời người. Cái tôi chiếm cứ để thóa mạ đời là cái tôi gian ác. Cái tôi đau xót, bi thương là cái tôi nhân ái. Hai thứ đó là hai chiến tuyến, bởi; bên nào cũng nói lên cái của mình, một thứ hợp lý quả quyết, mọi thứ là lý thuyết thời làm sao ‘ta không phải ta’? Có chăng chỉ là ngụy ngôn che lấp giả dối bên trong. Một cái tôi trở nên truyền thống, nó tồn trử trong huyết lệ, nó đâm chồi nẩy lộc trong tế bào âm dương để sản sinh những đứa con bẩm sinh cái tôi hơn những cái tôi vốn có. Tỵ hiềm, hơn thua, trù dập, củi đậu nấu hạt đậu là bệnh lý tâm thần; đưa tới một ‘inmate’ trong hồn người, do đó; đứng trước cái tôi của một ‘external’ không thể hoà nhập với cái tôi ‘internal’. Cả hai vị trí đó nó có một sự cần thiết khác nhau. Mà đó là chọn lựa thuộc về trí năng, tức tiêu diệt ngã để đi tới vô ngã. Thực ra; đây chỉ là phạm trù đạo đức, luân lý, thứ giáo điều không thể ngăn chận cái bản ngã tự ti mặc cảm trong con người. Cái tôi bất khuất là cái tôi chính đáng có chính nghĩa, còn lấy bất khuất để chứng tỏ thay cho một ẩn dụ, dự mưu thì đâu còn cái tôi bất khuất. Ngay cả việc kể công kể tội để chứng tỏ cái tôi thời đó là cái tôi nguy hiểm, hủ hóa, lạc hậu, vì; chưa đạt tới một trình độ nhận thức sâu xa: đâu tà, đâu chính mà do từ cái tôi bảo thủ sai khiến. Thứ nhất: là qui cách, tập quán thuộc bản chất của ‘phép vua thua lệ làng’ cho thấy hệ thống hóa của tầng lớp xã hội nuôi dưỡng mấy trăm năm vẫn là tồn lại. Thứ hai: là ‘gia truyền’ một căn bệnh thuộc tâm thức, không thể phủ nhận ngay cả khoa học ngày nay thừa nhận trạng huống đó có thể là tâm thần, có thể là não thức gây ra. Hai thứ gia vị này là độc dược tố nuôi nấng cho một bản chất cố hữu khó lòng tiêu diệt mà phải qua một quá trình huấn luyện tâm can; thanh lọc thứ siêu-vi-tôi từ thế hệ này sang thế hệ khác thì may ra chuyển hóa được cái tôi tự tại.

Sau khi thanh lọc cái sự tương quan giữa bên ngoài và bên trong của tri giác cảm nhận và một hệ thống cạn cợt giữa tôi chủ thể và tôi khách thể thời chúng ta chiết ra được ý nghĩa của cái tôi –After this clarifying of the relations between external and internal perception and the superficial [Sub.-Obj.]; we can go on to work out our idea of the ego. Nhưng nhớ cho; như đã tiếp thu, cái tôi cũng là một thứ vô thức –But; as we have learnt, the ego is also unconsciouss. Chớ đừng nghĩ chỉ có cái tôi duy nhất để được nói đến mà quên đi những điều khác, nó chứa cùng một thể chất; một tạng thể khó thực hiện.

Cho nên chi những gì chúng ta đề cập đến cái tôi là những gì thuộc cái tôi của chúng ta cho một đối đãi xử thế hết sức cần thiết và một đôi khi trở nên bị động (passively) trong cuộc đời. Một lý do khác; cái tôi trườn mặt là vì không biết đến và không thể kiểm soát được. Bởi cái lực đó do từ ‘external’ và ‘internal’ thu hút để cho cái tôi chao đảo lộng hành chiếm cứ, đưa cái tôi lạc lối mù tăm. Chớ cái tôi đâu phải bản chỉ đường nhắm vào mà đi. Cái tôi trở thành tàng hình, ẩn dụ, một cái tôi thuộc tính chất siêu hình (metaphysical). Cái tôi lộng hành; có thể là ‘tôi đó’ nhưng không phải là tôi đó, cho nên chi trước đối tượng của cái tôi cần phải cân nhắc, đắn đo suy xét mới nhận ra thực hư của cái tôi.

Rồi thế nào chúng ta cũng tìm thấy có hay không điều mà chúng ta có thể vạch ra dù dưới dạng thức nào của cái tôi, phát hiện từ viễn ảnh cho những mục đích hoặc đã mô tả hoặc là nhận biết. Giờ đây chúng ta hướng tới một cách riêng như tinh thần cái tôi thuộc về mình (psychical-Id) là sự cớ coi như không biết không hay để nhìn vào tất cả bề mặt của cái tôi; một cái tôi có hệ thống, Thể thức bề mặt của cái tôi, ít nhiều vốn đã phôi thai trong vòng quay để nhập vào tế bào trứng –Forms its [the ego’s] surface, more or less as the germinal disc rests upon the ovum; để hình thành trong đó cái ‘chất’ tôi. Nói rộng ra là nhiễm thể tính hay tiềm thức (tốt sinh tốt, xấu sinh xấu) nghĩa là cái tôi tốt xấu tùy thuộc vào [gene] hay [subc].

Còn nói về giữa cái tôi (ego) và cái tôi thuộc về mình (Id) tưởng là cách biệt nhưng mỗi đơn vị có một vai trò cách riêng của nó. Nói thế không có nghĩa cái tôi bỗng dưng tách ra từ những gì cái tôi thuộc về mình mà nó dự phần vào một sự hòa nhập trong đó. Thí dụ: Tôi chủ nhân cái nhà (ego); cái nhà do tôi dựng ra, đứng tên chủ hộ, có sổ đỏ, có mộc và chữ ký đàng hoàng là thuộc về sở hữu của tôi (Id). Đấy là chứng tỏ sự kiện để nhận ra rằng cái tôi chủ thể, mà trong vai trò chủ thể đã là một sự thay đổi đôi phần giữa chủ thể và tha thể; là một thế lực trực tiếp của thế giới bên ngoài xuyên vào trung tuyến tính của [Sub.-Obj.] trong cảm thức đó; nó có một sự mở rộng bề mặt của phân biệt (surface-differentiation). Đối với cái tôi; tri thức trình diễn một phần cái gì thuộc về cái tôi trong khi đó chứng thực của cái thuộc về tôi (Id) rơi vào trong một bản năng trực giác. Cái tôi được giới thiệu những gì có thể gọi là lý do chính đáng và cùng một cảm thức; trong khi đó cái tôi thuộc về tôi là một đối kháng, đối kháng để bảo vệ, duy trì, chất chứa cái tôi si mê. Nhiệm vụ quan trọng của cái tôi là tỏ rõ không còn nghi ngờ dữ kiện; đó là một sự kiểm soát bình thường hướng tới một tác động để đi vào cái tôi thường trực. Cho nên chi cái tôi chủ động trong mọi lãnh vực văn hóa, chính trị. Hai bộ phận này thường biểu lộ cái tôi hùng tráng như vừa chứng tỏ như vừa thách thức. Người làm văn hóa cho tư duy là lý luận chính đáng, viết bằng cái tôi chứng thực. Người làm chính trị hay quân sự cầm chắc cái tôi chinh phục, tự hào. Do đó cái tôi thuộc về cái tôi của mình (Id) không còn thấy hiện diện ở cái tôi (ego) tự nó, một cái tôi gián tiếp nói về mình.

Cái tôi là hàng đầu và trên tất cả, một cái tôi riêng mình ta / body-ego; một cái tôi không những chỉ là bề mặt thực thể cho tồn lại, nhưng tự nó là một dự phóng vào bề mặt của nó –The ego is first and foremost a bodily ego; it is not merely a surface entity, but is itself the projection of a surface (S.Freud). Thực ra đây là mối dây liên đới giữa thân và xác kết cấu trong một ý thức (cái tôi) để chứng tỏ hơn là biểu lộ. Vì; chứng tỏ là nói cái tôi (ego), biểu lộ là nói cái thuộc về tôi (Id) là gia nhập vào trong đó để nhắc đi nhở lại ‘ta’ hiện hữu với cái tôi của ta; cũng chưa hẳn đó là vấn đề quan trọng nêu ra trong mạch nối để diễn tả mà đó là cảm thức tác động vào một đam mê thấp nhứt, vì rằng; tư duy nhỏ nhen đó chính là hành động của vô thức. Từ chỗ đó cái tôi lồng lộng, ngang tàn, phá phách, đòi hỏi cái tôi hiện diện với đời; đó là cái tôi chiếm cứ. Thế nhưng; chúng ta vẫn mong đợi ở một đỉnh cao trí tuệ trong bất cứ nhiệm vụ của tinh thần là chuỗi nối vào nhau trong một ý thức nhận biết về cái tôi; biến cái tôi hiện hữu để trở thành cái tôi như nhiên (hư không) là cái tôi quên mình mà là cái tôi phục vụ.

Đạt được yêu cầu đó tức bước đường đi vào vô-ngã-thức. Đấy là cán cân đo được giá trị của nó một cách dễ dàng và tìm thấy; cái tôi lúc đó sẽ hội nhập trong một ý thức bảo đảm và tin tưởng. Nếu ở đó cho chúng ta hồi cố những gì mà cái tôi hoạt động trong quá khứ, hiện tại hoặc tương lai là cốt để thanh lọc những cặn bã đã tác động vào cái tôi của mình ngay cả những gì thuộc về cái tôi. Nói vòng vo tam quốc, lý này lẽ nọ về cái tôi đó là mặt chủ quan nhưng dưới lăng kính khách quan chúng ta sẽ có thể nói rằng: không có cái gì cho là cái tôi thấp nhứt nhưng cũng chẳng có gì cho là cái tôi đỉnh cao; có thể đó là thứ vô-thức. Nếu sự thật cái tôi đáp ứng được nhu cầu cho một chứng thực cụ thể là những gì mà chúng ta khẳng định về ý thức cái tôi: thời tất đó là hàng đầu và trên tất cả cho một thân xác ngã vị. Tuy nhiên; ở đây không có nghĩa tổng hợp về cái tôi, nhưng; coi đây như một khám mới, ý thức mới cho dù phán xét để phê bình, bắt bẻ; tựu chung đều khơi dậy trong sự hướng tới cho một cảm thức vô thức phạm lỗi ‘unconscious sense of guilt’ mà thôi. Chớ khi thực hiện cái tôi người ta không thấy cái tôi trong đó mà cái tôi nằm dưới thể chất của hình thái khác; có thể là hợp lý và có thể là không hợp lý. Tất cả do từ một bản chất tự tại mà ra ./.

VÕ CÔNG LIÊM (ca.ab.yyc. TBV:14/3/2016 / nhuận sắc QRV: 16/7/2019)

SÁCH ĐỌC: ‘Conscious and Unconscious’ by Sigmund Freud. Tras. Joan Riviere. London The Hogarth Press and The Institue of Psycho-Analysis. 1962.

*Rút tiả qua những bài: Biên khảo,Nhận định,Tiểu luận,Phê bình của võcôngliêm khởi từ 2012 đến 2015 để thành hình bản văn này:

-Sigmund Freud (Bk) 2012 . -Freud Và Jung (Bk) 2012. -Ý thức Thức tỉnh (Tl) 2013. –Phê bình về Phân tâm học và Nghệ thuật (Nđ) 2014.

-Lý tưởng của Từng Cá tính (Bk) 2015. -Vấn đề của Tự thức (Tl) 2015 và một số tổng hợp khác của võcôngliêm đã biên soạn.

Những tác phẩm ghi trên hiện có ở một số báo mạng và giấy trong và ngoài nước hoặc email theo điạ chỉ đã ghi.

TRANH VẼ: ‘Vô đề / Untitled’ Khổ 15” X 20” Trên giấy cứng. Acrylics+House-paint+Mixed. Vcl# 772013

                             

 

 

 

 

 

Câu Chuyện Thầy Trò

Thư viện của bài

This gallery contains 1 photo.

Trần Huiền Ân

Ông thầy không ở trong hàng lớn tuổi, không phải là giới trẻ mới tốt nghiệp sư phạm, cũng chưa tới khoảng trung niên, chỉ ở khoảng giữa hai thế hệ này, nhưng hội đủ đức tính của cả ba, chẳng những hội đủ mà còn vượt trội. Nghiêm nghị đạo mạo hơn các thầy lớn tuổi, vui vẻ hoạt bát hơn các thầy trẻ và chững chạc mực thước hơn các thầy trung niên. Mỗi khi bước vào lớp, có vẻ như ông thầy đem sự sợ hãi gieo rắc khắp bọn học trò. Không đứa nào đi trễ mà dám xin phép vô lớp. Ông thầy thấy đó nhưng cứ tảng lờ như không, và đứa đi trễ chịu khó ra sân sau hoặc xuống nhà ông Cai chờ đợi. Giờ học lúc ấy luôn luôn là giờ đôi, hai tiếng đồng hồ không phải là ngắn ngủi. Tôi đã có lần bị như vậy, mà tôi chỉ chậm hơn ông thầy không đầy mươi bước chân chứ lâu lắc gì cho cam. Muốn khóc mà khóc không được, rủa thì cũng chỉ dám rủa thầm !

          Lớp chúng tôi đâu phải lớp tầm thường. Chính thầy Hiệu trưởng cũng bảo rằng đây là nơi tập trung tài hoa, trí tuệ, đây là nơi bất cứ bộ môn nào từ học tập đến sinh hoạt đều có phần thưởng, và thầy cũng cảnh cáo về sự ngỗ nghịch không phải chỉ đứng thứ ba mà e còn hơn cả ma cả quỷ. Chúng tôi dám giỡn mặt với thầy Tổng Giám thị nữa, nhưng đối với ông thầy thì khác.

Ngồi nhìn lên ông thầy, chúng tôi có cảm tưởng như con hươu, con nai bị con cọp, con beo thôi miên, im lặng khép nép gần như không dám thở mạnh, nhìn nhau lo lắng, không biết đứa nào sẽ mang thân phận con mồi bị săn ! Thế nhưng, thời gian hỏi bài vừa hết, thường là năm sáu phút, có khi hai ba phút, có khi ông thầy ngồi xuống mở sổ, đảo Tiếp tục đọc

Vĩnh Biệt Con Yêu

Phạm Ngọc Thái

                   . Kỷ niệm con Phạm Ngọc Bảo
               ( 7.3.1992 – 14h… 22.7.2019 )
 
 
                 Ảnh con Phạm Ngọc Bảo
                                        
Bố nhỏ lệ, nhìn con đi biệt tích
Dòng đau buồn cắt tự máu tim cha
Con ơi con ! Khi con vĩnh biệt bố, mẹ ra đi
Thế là hết đời người cha già đau khổ.
 
Già chưa chết mà đầu xanh đã bỏ
Ở thiên đàng, con hãy đợi cha lên !
Bố con mình sẽ ôm ấp nhau tới nghìn năm
Cha không bao giờ rời con ra nữa.
 
Thôi con ạ ! Kiếp người là bể khổ
Con đi rồi, trút gánh nặng vào cha
Đứa con yêu, cha thương nhất cõi sơn hà
Vài dòng thơ. Cha cầu nguyện vong hồn con siêu thoát.
 
Cha vẫn nói: Con là linh hồn của người cha bất diệt !
Nay linh hồn bỏ đi rồi, cha sẽ sống sao đây?
Trăm lậy con yêu !
Bố quì xuống trước vong linh con muốn nói rất nhiều
Nhưng nghẹn đắng, không thể cất lời khôn được nữa.
 
Viết mấy dòng thơ. Bố, mẹ tiễn con về nơi yên nghỉ
27 năm trời con sống với mẹ cha, bỗng chốc hóa tiêu tan
Cha có ở lại chốn trần gian, cũng chỉ là nắm thân tàn
Hãy đợi cha, nhanh thôi con yêu ! Sẽ đến ngày cha con ta đoàn tụ.
 
Thơ bố viết, lệ tuôn dòng máu đổ
Cái cõi trần khốn kiếp này, tiếc làm chi !
Thôi thì con đi trước. Bố trả nốt tí nợ đời, rồi cũng ra đi
Bố sẽ bế ẵm con như thuở còn rất nhỏ.
 
27 năm sống trên cõi đời. Bố nhìn vận con xấu số
Lòng người cha trăm nhát dao đâm
Khi con sống, không phút giây nào… Cha mẹ ngừng chăm sóc, thương con
Nay con mất, chỉ còn biết sụp lậy trước vong linh… oán than số kiếp…
 
Mấy dòng thơ vĩnh biệt con ! Bố viết ra từ máu và nước mắt
Một lần cuối trong đời, run rẩy nhìn khuôn mặt đứa con yêu
Hãy đợi bố nghe con !
Rồi bố sẽ đến bên con một sớm, một chiều…
 
          PHẠM NGỌC THÁI
   ( Đọc tại tang lễ con 15h… ngày 25.7.2019 )

1001 Kiêng Kỵ

Thư viện của bài

This gallery contains 1 photo.

CÁCH TÍNH TRÁNH SAO XẤU CHO TỪNG VIỆC
THEO TÍN NGƯỠNG DÂN GIAN
(Trích từ: 1001 KIÊNG KỴ TRONG TÍN NGƯỠNG DÂN GIAN
của Đặng Xuân Xuyến ; Nhà xuất bản Thanh Hóa ; 2010)

Các sao xấu là những sao đem lại sự xui xẻo, bất hạnh cho cuộc sống của con người mà con người luôn ở thế thụ động, bất khả kháng. Sự bất hạnh, xui xẻo đó không chừa bất kỳ ai trong gia đình, thậm chí còn ảnh hưởng tới cả dòng tộc. Vì thế, khi tiến hành các việc trọng đại, người ta thường tránh những ngày có các sao xấu hội tụ để cầu may, rước phúc cho con cháu sau này.

Dân gian phổ biến 3 cách tính tránh ngày xấu như sau:

 I. TÍNH SAO VẬN HÀNH THEO NGÀY CAN CHI:

Các sao xấu liệt kê dưới đây được tính vận hành theo ngày Can Chi trong các tháng cho từng công việc, cụ thể như sau:

1. Xấu cho mọi việc:

Những sao được liệt kê dưới đây là những sao xấu (hắc đạo), những hung tinh phá hoại, đem đến những rủi ro, bất trắc, trăm việc đều nên tránh.

Đó là các sao: Sát Chủ, Thụ Tử, Thiên Hình, Thiên Lao, Thiên Cương, Thiên Lại, Tiểu Hồng Sa, Đại Hao, Tiểu Hao, Hoang Vu, Nguyệt Yếm (Phá), Băng Tiêu, Ngọa Giải, Hà Khôi, Thổ Kỵ, Vãng Vong, Chu Tước, Bạch Hổ, Huyền Vũ, Câu Trần, Cô Thần, Quả Tú, Nguyệt Hư (Phá), Âm Thác, Nguyệt Hình (Phá), Sát Sư. Tiếp tục đọc

Biển Chiều Đợi Mong

Nguyên Lạc

 
dauchantrencat.jpg
.
Nghìn năm vẫn mãi huyễn mong
Bởi em là mộng tôi đành mơ thôi!
.
Nghìn năm em vẫn xa xôi
Sóng chiều biển vắng. tôi ngồi đợì em
Dã tràng xây mộng đời riêng
Xa kia. trời lặn ưu phiền. trốn tôi!
.
Em giờ là mộng thật rồi
Dấu chân trên cát biển đời xóa mau
Trong hồn. vẫn dấu chân nào
Trinh nguyên. em vội bước vào tim tôi 
.
Những chiều biển vắng trông vời
Thấy bao tan vỡ mộng đời vụt qua!
Thấy ai. mỏng mảnh lụa là
Thấy tôi. với bóng chiều tà. biển mong!
.
Chỉ là huyễn mộng phải không?
.
Nguyên Lạc

dỗ lòng ngủ say

Khê Kinh Kha

ruou

 

ly nữa đi, hỡi ta ơi
ly cho người, ly cho đời
ly cho nước mắt cho tôi hao mòn

ly cho tuổi mọn lưu vong
ly cho cơm áo long đong
ly cho năm tháng giữa đường lênh đênh
ly cho mộng, ly cho tình
cho dòng tóc, áo dài xanh
cho bao thương nhớ rụng quanh cõi lòng

ly cho mẹ, cho quê hương
ly cho em, cho núi sông
ly cho ngọn lúa trổ bông trên đồng

cho nỗi nhớ, cho chờ mong
cho đau khổ, cho tủi thương
cạn đi ta hỡi cho lòng lãng quên

say say trăng sáng bên thềm
ly quên, ly nhớ, ly buồn
ly nào mặn đắng giữa hồn âm u

 ly nữa nhé, cạn hết đi
rượu say, nằm ngủ, không chi
may đâu trong mộng lòng ta đỡ sầu

Khê Kinh Kha

Ta Như

hoa nguyên

1minh

Nào phải đâu vó câu
Chỉ là mành khua nhau 
Những âm thanh buồn bã
Rớt thành hồ mắt sâu

Ta như con ngựa khều lóc cóc
Bên tàu.. lá mướt hãy còn xanh !
Chuyến xe thồ.. giờ sợ dốc
Có tháo gông.. nào khó thể phi nhanh!

Bản hùng ca, ngựa bổng nhớ về biên ải
Màu rừng xanh đã rờn rợn vây quanh
Đường gươm đao cũng hóa nhiều hoang dại
Ta ngại ngùng một thuở đã niên thanh

Những người lính cùng thời chiến sử
Còn lại gì trong mỗi bước nghi dung
Ta nhớ gì trong những điều quên lãng
Vết sẹo nào tàng tích của chiến thương

Ai về từng vẻ y nhung
Thương trong loạn lạc kiếm cung buổi nào

hoa nguyên.

Thơ Hoàng Xuân Sơn

tranh vcl1

trào phúng số 4

 gao*

thải bớt ra chút, cụ uy rích**
cụ làm đầu gối sưng chật ních
đây nghèo lõ đít chả phải giàu
mần răng cụ cứ thích nhào vào

ờ, cụng. thì cũng dăm đường cụng
dzô dzô dzô dzô                       dzô cái gì?
xoong chảo nồi niêu chày ế cối
thôi cụ. xin đường ai nấy đi

loạn tóc

một hôm tóc
nhiễu nhương buồn
sợi bay lạc chợ
sợi luồn chân quê
sợi đi đi mãi không về
cụ tản đà bảo:
vân vê sợi này
sợi lù đù chạm ngón tay
khi không tác nghiệp
giữa ngày vi vu

mười ba tháng bảy mười chín
*bệnh thống phong
**uric acid

T R À O P H Ú N G # 5
C A O T H Ấ P

vui, chơi với vương ngọc minh

xuống. lên
rồi có lúc ngưng
huyết áp tưng bừng rồi cũng dàn ngang
phè phè ở mức chứa chan
hi vọng một buổi xóm làng yên vui
đặng có cớ : ca
rệu. mùi
tình tang khúc nhạc cẳng, đùi chu lưu

E M N H Ỏ

lâu ghê
em nhỏ
ở đâu?
đã lâu không chộ mặt rầu cơm canh
ở đâu em
nhỏ. sao đành
chui vô ngã bảy
loành quành ngã ba
ngã nào vô tới sân ga
bám. đu một chuyến
ta bà thế gian

K H Ú C Đ I B Ộ

lần hồi
chưn cẳng cũng quen
lết ra đầu ngõ
một phen bộ hành
xắn ngang vô khúc rẽ quành
khúc quẹo mệt nghỉ
mấy thành khúc nôi
thở dốc. khúc leo lên đồi
thở hắt khúc bước xuống đời sum suê
đi ra. rồi cũng lộn về
tới nơi tụ. hội
bộn bề chơn không

C Ụ P

ngón tay cong queo buổi mai
mình muốn duỗi thẳng
hắn đòi: cúp vô
ngón tay y hệt cơ đồ
cụp lạc cụp lạc
đường mô lần tìm?

hoàng xuân sơn
22 juillet 2019

Thơ Võ Công Liêm

cropped-bien-chim-bay.jpg

CON CHIM LẠ

đến từ phương trời xa
với rừng phong bát ngát
gió muôn chiều
xốc tới
một sáng bình minh dậy
mặt trời mọc
ngứa cổ gáy vu vơ
chết khô dưới tuyết
giữa miền đất lạnh . một trời hoang vu

CHAY*

một tô phở tái
dăm ba lát thịt
ngò gai húng quế
ớt cay chanh trái
sau
lần
thử
máu

NHỚ

nhớ miên man
nhớ hoang mang
nhớ lang bang
hoảng !
đạp
trên
vàng
khô ./.
*fasting: kiêng ăn, trai.
VÕ CÔNG LIÊM (ca.ab.yyc. cuối 7/2019)

Liên Khúc Tình Đầu

Nguyên Lạc

aodai 11
I. HỜN DỖI 1

Có chút sầu bi trong mắt em?
Chiều hanh. bên góc vắng êm đềm
Môi ngoan không tiếng. dù than trách
Chết điếng hồn tôi. yêu lắm thêm!
.
Có nỗi niềm chi trong mắt ai?
Lặng im ngồi dõi áng mây trời
Dáng gầy tóc xỏa bờ vai mỏng
Buồn hỡi người ơi buốt tim này!
.
Có giận hờn không trong mắt sâu?
Buồn giăng từng sợi nắng ngang đầu
Ve ơi thôi nhé đừng vang tiếng
Kẻo phượng hồng rơi mắt lệ nào!

*
Hè nơi xứ lạ không phượng thắm
Chỉ tiếng ve thôi đủ đời sầu !
Nhớ ơi mắt lệ chiều xưa ấy!
Có cách nào quên mối tình đầu?!

II. HỜN DỖI 2

Nói đi em. kẻo nắng phai
Chiều nghiêng bóng xế. thở dài với tôi
Khẽ nhe em. chuyện buồn vui
Để tôi vẫn thấy. nụ cười hồn nhiên
Dỗi chi em. để mưa nghiêng?
Thấm tim chút lạnh. lòng phiền muộn thôi!

*
Chiều nay. cô lữ bên trời
Dương lam màu nhớ. một thời đã xa
Nhớ làm sao. mắt lệ nhòa
Thương gì đâu. những xót xa tình đầu!
.
Dại khờ. rồi cũng qua mau
Xuân thu. để lại nỗi sầu tóc ai
Tình đầu. như sợi tóc dài
Dù màu có bạc. vẫn hoài vấn vương!
.
Sợi thương. sao vẫn âm thầm?
Ve sầu. phượng thẩm. nhức lòng tôi chi?
.
Nguyên Lạc 

Vì Sao Hư Bộ Nhớ

Thư viện của bài

This gallery contains 1 photo.

BS. LƯƠNG LỄ HOÀNG

Nếu tưởng người già mới lẫn thì chưa đủ. Tình trạng sa sút trí nhớ đến độ “vừa nghe đã quên” của người trẻ từ lâu đã vượt xa mức báo động.

Ai chưa tin xin thử xem có bao nhiêu người nhớ nổi số… driver license ! Nhiều người quên tuốt luốt, quên giờ vào sở, quên luôn công việc, quên cả vợ con, đến độ sau giờ làm việc phải ngồi hàng giờ ở bàn nhậu để cố nhớ nẻo về nhà, thậm chí quên hết đến độ chỉ còn nhớ có mỗi ngày… lãnh lương!

Chuyện gì cũng có lý do. Bộ nhớ mau hư thường vì nạn nhân chính là thủ phạm do thiếu nhiều thứ cùng lúc lại thừa vài món trong cuộc sống thường ngày. Đó là:

* Thiếu ngủ: Không kể người lỡ chọn nghề trực đêm, thiếu ngủ vì thức quá khuya dường như là “mốt” của nhiều cư dân trong các thành phố. Kẹt một điểm là chất lượng của trí nhớ gắn liền với độsâu của giấc ngủ, theo kết quả nghiên cứu ở Đại học Schleiweg- Holstein. Nhưng nếu tưởng nhưthế chỉ cần dùng thuốc ngủ để ngủ cho được nhằm tăng cường trí nhớ thì lầm. Thuốc an thần tuy tạo được giấc ngủ nhưng não bộ đồng thời cũng mê một lèo khiến bộ nhớ quên luôn công việc. Tiếp tục đọc

Sức Mạnh Của Sự Im Lặng (Power Of Silence)

Thư viện của bài

Có những trường hợp sử dụng lý luận, vũ khí, trí tuệ cũng không bằng sử dụng sự im lặng.

Trong một hoàn cảnh ngặt nghèo nào đó, quí vị bị người ta hăm dọa thì cứ làm thinh, không phản ứng gì hết mà gương mặt rất bình thản, thản nhiên. Người ta thấy quí vị làm thinh, không nghe quí vị nói, hay bình luận, hay có ý kiến gì mà lại rất thản nhiên, họ sẽ hoang mang ngay.

Thậm chí, trong trường hợp một số người đang chạy tới để tấn công mình, quí vị cứ đứng đó, cứ làm thinh, họ sẽ thay đổi thái độ. Nhưng nếu quí vị chống cự, hay tỏ ra mình có vẻ đối phó thì họ tấn công thật.

Trong phim nói về tình sử Đại Đường có một câu chuyện tương tự. Có một ông đại đức ở xứ nọ phải lòng và yêu cô công chúa thứ 17 của vua Đường. Trong hoàn cảnh nào đó không rõ, ông đại đức giống như bị phạt phải ngồi trong một khu rừng có nhiều chó sói.

Ông ngồi nhắm mắt trong rừng cho đến qua đêm. Đêm đó, chó sói đến gần bao vây ông, dồn ông, ngửi ông, nhưng ông vẫn ngồi làm thinh, không cục cựa, không mở mắt, coi như mình không thấy chó sói, không cảm thấy trời thấy đất, không cảm thấy chính mình, không cảm thấy gì hết. Cuối cùng, bầy chó sói đó bỏ đi.

Thật vậy, nếu làm thinh trong trạng thái không thấy luôn cả mình thì tạo ra lực rất mạnh. Tiếp tục đọc

Thơ Phạm Ngọc Thái

ao dai xanh
 EM SỐNG MÃI BÊN ANH
 
” Thế giới bảy tỉ người, sao anh lại yêu em “
Tiếng em nói nghẹn ngào, tha thiết
Hỡi ái nữ của dòng sông nước xiết
Người đàn bà chung thủy đời anh.
 
Em dịu dàng như một vầng trăng
Cứ xoa vuốt lòng anh rồi biến mất
Nỗi nhớ tràn đầy mà trăng lại khuyết
Thì có bao giờ em tròn hẳn lên đâu.
 
Không thể đến với anh để sống bạc đầu
Chỉ biết hẹn em làm vợ trong tiểu thuyết
Anh sẽ mang em theo sơn hà bất diệt
Những trang thơ sống mãi ngàn thu.
 
Đêm ngẩng nhìn thấy bóng trăng lu
Trăng em trong anh lại soi vằng vặc…
Ơi cái vầng trăng khuyết !
Sáng hơn cả ánh trăng rằm.
 
Em vẫn về lấp lánh giữa sao băng
Da diết, cồn cào nỗi nhớ
Anh vẳng nghe trên Sông Tiền sóng vỗ
Ngày đêm không lặng tiếng bao giờ.
 
Rồi một mai ta khuất để vào hư
Thơ anh viết cho em còn ca mãi
Người đàn bà của một trái tim huyền thoại
Bay qua mọi chủ nghĩa tới vạn niên.
 
– Hà Nội mùa này nhiều mưa gió lắm anh…
Anh nhớ giữ ấm mình: Em bảo thế !
Sống giữa cù lao (*) tháng năm đầy bão gió
Cứ lo cho anh hoài, người chốn Thủ đô !
 
Em là vầng trăng và cũng là thơ
Ta muốn hỏi vũ trụ cùng sự sống…
Em ở chỗ nào trong chân trời khát vọng
Của đời ta, nơi thế giới con người.
 
Anh đã yêu gần hết kiếp rồi
Người đàn bà nay mang theo, dành em tất cả
Trong ngôi mộ ta mai sau, hậu nhân hãy nhớ !
Đặt thêm tấm ảnh Nàng, cạnh bóng hình ta.
 
Một mối tình đưa ngát hương hoa
Em sống mãi bên anh… thơm mát cõi thiên hà…
 
          5.7.2019

  (*) Ngày ngày em đi phà qua con Sông Tiền… để về đến cù lao Lợi Quan: Nơi em sống.
 
        
        ĐÊM MƠ GẶP LẠI EM
                Tặng em AT.
                         *
” Cũng không hiểu vì sao em thương anh “
Em bảo thế ! Anh nghe lòng sóng vỗ.
– Hà Nội… hai ngày nữa có mưa to, anh nhé !
Anh nhớ giữ gìn sức khỏe, kẻo em lo.
 
Tình yêu kia đến tự bao giờ
Anh chẳng biết. Em đếm ngày đếm tháng.
Trời Tiền Giang, con phà qua sông lớn
Có mang nổi tình ta đã thương nhau ?
 
Với em ! Anh là mối tình đầu
Còn anh: Yêu – vỡ… bao lần, không nhớ nữa
Chở con thuyền em cũng mênh mông sóng dữ
Nào biết… về bến có xuôi không ?
 
Giữa đêm mơ gặp lại em thương
Trời cuối hạ sang thu rồi, Cưng ạ !
Đời cũng ngắn chỉ như là bóng lá
Yêu đi em ! Mặc gió xả… mưa to….
 
Chút tình này, xin gửi vào thơ
Lòng anh thương bao la như biển cả
Đâu phải tìm em chỉ vì hương sắc lạ
Bởi duyên đời ta gặp đó, em ơi !
 
Rồi một ngày… Anh sẽ bay lên tận đỉnh trời
Em cũng xuống suối vàng yên giấc mộng
Hỡi hậu thế ! Những người nối tiếp ta trong cuộc sống
Hãy tìm lấy bóng người thôn nữ mà ta đã yêu thương
 
Và cắm lên mộ Nàng: Một cô giáo ở Trường tiểu học Long Bình…
                                        Bông hoa hồng trắng trinh hương…
 
             24.6.2019
   PHẠM NGỌC THÁI

CHUYỆN TÌNH VÙNG U MINH 

Thư viện của bài

This gallery contains 2 photos.

Nguyên Lạc

CHUYỆN TÌNH VÙNG U MINH 
NAM BỘ QUÊ TÔI (II)

(hình hoa Sứ)

Phần II

CHUYỆN TÌNH 

SƠ LƯỢC CHUYỆN TÌNH VÙNG U MINH

Đây là bài thơ kể lại chuyện tình vùng U Minh nam bộ quê tôi, được gợi hứng từ truyện “Hương Rừng” nổi tiếng của nhà văn Sơn Nam. Xin tóm tắt chuyện như sau:
Di dân từ ngũ Quảng vào lập nghiệp vùng rừng U Minh. Ông Hương giáo có một người con gái duy nhất,  xinh đẹp mà ông rất thương yêu tên Hoàng Mai. Khi Hoàng Mai đến tuổi trăng tròn, hỡi ơi ông phát hiện nàng bị bệnh nan y: Cùi  (bệnh hủi hay bệnh Hansen)
Tìm trong gia phả thấy có ghi: – Luyện thuốc bằng “ngọc” ong mật có thể chữa bệnh cùi. Ông bèn thuê một chàng trai trẻ, làm nghề bắt ong mật đi tìm”ngọc”  để ông luyện thuốc cho con gái yêu. Ông Hương giáo mời chàng trai ở luôn trong nhà cho có bạn. Ngày đêm, ông chong hàng chục ngọn nến bạch lạp chung quanh mớ “ngọc” để luyện, hy vọng rằng khi đúng một ngàn ngày, nó sẽ trị được bịnh nan y của Hoàng Mai. 
Một hôm tại nhà ông Hương giáo, chàng trai gặp nàng, người con gái mỏng mảnh, liêu trai đứng tựa cây sứ cùi, mặt cạnh bên những đóa hoa trẳng nhìn chàng với ánh mắt đầy ân tình. Lòng đầy yêu thương, chàng đến đứng cạnh Hoàng Mai xin được cầm tay nàng.

[ – Anh nắm cái chéo tay áo này, em cũng đủ vui rồi. 
Cảm đông làm sao!…  Tiếp tục đọc

CHUYỆN TÌNH VÙNG U MINH

Thư viện của bài

This gallery contains 12 photos.

CHUYỆN TÌNH VÙNG U MINH
NAM BỘ QUÊ TÔI (I)

Phần I:

VÙNG U MINH 

BÀI THƠ, NHẠC VỀ RỪNG U MINH

Trước khi vào bài, mời các bạn đọc bài thơ và nghe bài nhạc phổ bài thơ này. Bài thơ liên quan đến vùng U Minh. Bài nhạc phổ thơ này theo cảm xúc riêng tôi rất hay, nhưng không biết sao nó không được phổ biến bằng các bài nhạc phổ thơ cùng thời, cùng nhạc sĩ Phạm Duy như bài: “Thà Như Giọt Mưa”, “Kỷ Vật Cho Em” “Chuyện Tình Buồn”… Chắc vì nó không đề cập đến thành phố, trường đại học, quán nhạc đèn vàng… mà chỉ nói về nơi chốn chân chất, quê mùa?
Rừng U Minh Ta Không Thấy Em 
[Thơ Nguyễn Tiến Cung]

Ta không thấy em từ bấy lâu nay
Mùa mưa làm rừng đước dâng đầy
Trên cao gió hát mây như tóc
Tràm đứng như em một dáng gầy

Ta không thấy em một lần đi
Nước phèn vàng nhuộm quần trây-di *
Đạn nổ lùng bùng trong nòng ướt
Tình đã xa rồi thôi nhớ chi

Mỗi con lạch là mỗi xót xa
Mỗi giòng sông là mỗi tuổi già
Thành phố đâu đây hình mất dạng
Cuộc chiến già nua theo tiếng ca…
……..
* Treillis: loại quần bằng vải khaki của quân đội, thường có hoa văn màu xanh thẫm để ngụy trang

Mời nghe nhạc:
Rừng U Minh Ta Không Thấy Em – nhạc Phạm Duy – Khánh Ly
https://youtu.be/Cd7H_ieM85k

RỪNG U MINH
Rừng U Minh nằm sát Vịnh Thái Lan, thuộc hai tỉnh Kiên Giang và tỉnh Cà Mau. Rừng U Minh là kiểu rừng rất đặc thù, được xếp hạng độc đáo và quý hiếm trên thế giới, gồm phần trên là U Minh Thượng, phần dưới là U Minh Hạ. Giữa U Minh Thượng và U Minh Hạ là sông Trẹm và sông Cái Tàu, nơi đây thiên nhiên rất hùng vĩ và hoang sơ.
Rừng U Minh được coi là nơi có giá trị sinh khối cao nhất so với các kiểu rừng khác với khoảng 250 loài thực vật, chủ yếu là cây tràm mọc ở khắp nơi, hơn 180 loài chim, hơn 20 loài bò sát… (Wikipedia) Tiếp tục đọc

Sức Khỏe

Một Toa thuốc hay cho tinh thần và thể xác

phuong-tim-37

I. Sức khỏe:

Tổ chức Y Tế Thế Giới (WHO) định nghĩa: “Sức khỏe là một tình trạng thoải mái hoàn toàn về thể chất và hoàn cảnh, chứ không phải là một tình trạng không có bệnh tật hay tàn tật”..

II. Bí quyết trường thọ:

1. Chấp nhận với những gì mình đang có
2. Thích nghi với hoàn cảnh của mình
3. Điều chỉnh để đạt được điều mong muốn.

III. Phòng ngừa bệnh tật:

1. Không vui quá hại tim
2. Không buồn quá hại phổi
3. Không tức quá hại gan
4. Không sợ quá hại thần kinh
5. Không suy nghĩ quá hại tỳ
6. Xua tan hoài niệm cay đắng bằng tha thứ và lãng quên
7. Với người cao tuổi tránh tranh luận hơn thua

IV. Thức ăn & uống trong ngày:

Một củ hành: chống ung thư
Một quả cà chua: chống tăng huyết áp
Một lát gừng: chống viêm nhiễm
Một củ khoai tây: chống sơ vữa động mạch
Một trái chuối: làm phấn chấn thần kinh, bớt lo âu, chống táo bón, giảm được béo
Một quả trứng hay ít thịt nạc: chống suy dinh dưỡng
Uống 1 đến 2 lít nước mỗi ngày: giải độc cơ thể.

V. Triết lý của người Trung Hoa hiện đại:

1. Một Trung Tâm là sức khỏe
2. Hai Tí: Một tí thoải mái – Một tí nhiệt tình
3. Ba Quên: Quên tuổi tác – Quên bệnh tật – Quên hận thù
4. Bốn Có: Có nhà ở – Có bạn đời – Có bạn tri âm – Có lòng vị tha.
5. Năm Phải: Phải vận động
Phải biết cười
Phải lịch sự hòa nhã
Phải biết nói chuyện và
Phải coi mình là người bình thường..

VI. Bảo Sinh Thái Ất Chân Nhân:

1. Ít nói năng để dưỡng Nội Khí
2. Kiêng sắc dục để dưỡng Tinh Khí
3. Bớt ăn hăng mạnh để dưỡng Huyết Khí
4. Đừng nhổ nước bọt để dưỡng Tạng Khí
5. Chớ giận hờn để dưỡng Can Khí
6. Chớ ăn quá độ để dưỡng Vị Khí
7. Ít lo lắng để dưỡng Tâm Khí
8. Tránh tà tâm để dưỡng Thần Khí.

VII. Hãy Dành Thì Giờ – Mẹ Thêrêsa Calcutta :

Hãy dành thì giờ để suy nghĩ Đó là nguồn sức mạnh.
Hãy dành thì giờ để cầu nguyện Đó là sức mạnh toàn năng.
Hãy dành thì giờ cất tiếng cười Đó là tiếng nhạc của tâm hồn.
Hãy dành thì giờ chơi đùa Đó là bí mật trẻ mãi không già.
Hãy dành thì giờ để yêu và được yêu Ưu tiên Thiên Chúa ban.
Hãy dành thì giờ để cho đi Một ngày quá ngắn để sống ích kỷ.
Hãy dành thì giờ đọc sách Đó là nguồn mạch minh triết.
Hãy dành thì giờ để thân thiện Đó là đường dẫn tới hạnh phúc.
Hãy dành thì giờ để làm việc Đó là giá của thành công.
Hãy dành thì giờ cho bác ái Đó là chìa khóa cửa thiên đàng

Sưu Tầm

Sân Ga và Chuyện Đàn Cừu

Thư viện của bài

This gallery contains 1 photo.

Đặng Xuân Xuyến

Sân ga
– Tặng nhà thơ Như Ý Gialai
Chủ nhiệm web Phố Núi Và Bạn Bè –

Ông lão ngồi sân ga
Lầm lũi đàn rồi hát
Trời đang mưa nặng hạt
Gió quẩn ngoài phố thưa.

Bà lão ngồi nhìn mưa
Tay lần lần tràng hạt
Tiếng đàn như muối xát
Ai oán từng nốt rung.

Bà lão người miền Trung
Ông lão người xứ Bắc
Hai phận đời cơ cực
Vịn đau mà nương nhau.

Trời bắt đầu mưa mau Tiếp tục đọc

XEM TRANH

  Võ Công Liêm                         

   Xem tranh cũng là nghệ thuật của thưởng lãm. Cái đó gọi là cách để xem –Ways of Seeing. Chớ xem tranh qua màu sắc, hình ảnh hay vì cái tên được đặc ra, và; nhiều lý do khác; thì đó không phải là nghệ thuật xem tranh mà đó là thị hiếu lôi cuốn để xem tranh. Trong tranh có nhạc và thơ, bất luận là hình tượng của trường phái (class) hội họa nào –tranh trở nên sống thực, bởi; trong tranh có thơ, trong thơ có họa mà mỗi khi nói đến họa và thơ thường nhắc đến thi nhân Vương Duy (701-761) đời Đường của Trung quốc. Nếu nhìn thấy (seeing) tranh là một liên kết của trở-về, là ‘back to the future’ của cái thời xa xưa đó.

Con mắt xem tranh ngày nay có thơ nhạc trong họa phẩm là con mắt đương đại; nó phải xa rời nhân thế mới dung thông với nghệ thuật, bằng không xem tranh chỉ là ‘dưỡng mục’ thì sự đó gọi là ‘chơi qua rồi bỏ’ hay xem chơi cho vui thì quả việc xem tranh không còn tính nghệ thuật giữa người vẽ và người xem. Rất nhiều nhà phê bình về hội họa cũng như âm nhạc đã nhận định về hai bộ môn này, cụ thể qua lời chứng minh hay giải thích một cách khách quan chủ nghĩa, nhưng; lại là vai trò chủ quan của việc nhận định (nói về mình nhiều hơn nói đến ‘hồn nghệ sĩ’). Nó không lý giải chiều sâu hay thâm cung bí sử của tác giả mà vòng vo như một cuộc tranh luận kiểu ‘trống đánh xuôi, kèn thổi ngược’ làm sai lệch vấn đề của nghệ thuật nói chung. Không còn tính triết lý của phê bình mà tợ hồ như lập lại lề thói cũ. Đó là bệnh lý của nghệ thuật và văn chương. Xem tranh phải có con mắt để nhìn thấy cũng như nghe nhạc phải có lỗ tai nghe. Xem dễ, nghe dễ là chuyện thông thường ngày nay, bởi; nó: ‘mua vui cũng được một vài trống canh’ (Kiều) không còn giá trị tuyệt đối cho nghệ thuật hội họa và âm nhạc. Vậy thì xem tranh bằng cách nào? -bố cục của họa phẩm: màu sắc, chất liệu đan kết vào nhau là tiếng nói của tác giả, dàn dựng vật thể qua dáng điệu (gesture) là biểu hiện hình hài và linh hồn của họa nhân. Cảm hứng là điều kiện thích nghi trong trạng huống chuyển động để lên-tranh như đã thấy một vài họa sĩ đặc tên tranh qua lời thơ.

Điều đáng nhớ giữa họa phẩm và họa sĩ nó có một dung thông đặc biệt hơn người thường; ở chỗ nhận thấy đến trước lời nói –Seeing comes before words, với trẻ con thấy để thừa nhận trước khi sự đó có thể nói được –The child looks and recognizes before it can speak. Nhưng; sự lý đó cũng là một cảm thức khác trong những gì nhận thấy đến trước hành động . Chúng ta có thể cho đó là thế giới ngữ ngôn của hội họa, nhưng; ngữ ngôn có thể không bao giờ giũ bỏ đi được; thực ra những gì trong đó đã bủa vây vào .Và; liên đới giữa những gì chúng ta nhìn thấy và những gì chúng ta nhận thức là không bao giờ an vị (settled) một cách chắc chắn. Họa nhân sống trong ‘mộng du’nhiều hơn là sống trong mộng tưởng. Cho nên chi tinh thần và thể xác của người nghệ sĩ nói chung bềnh bồng trong thế giới riêng tư của mình tìm thấy. Vì vậy; giữa chủ nhân họa phẩm và khách xem thường có một đối kháng (conflict) nhận thức lẫn nhau. Có điều người họa sĩ thích giấu hơn phơi ý nghĩa của mình tức không giải thích về chủ đề đã dựng thành hình. Hẳn nhiên; nhận biết (knowledge), giải thích (explanation) là không bao giờ hoàn toàn tương hợp và khó ăn khớp vào nhau mà đặc nó dưới một lăng kính khác biệt hơn. Thành ra phê bình hội họa không phải việc giản đơn mà phải sống vào đó mới nói lên được cái cốt tủy của hội hoạ; bằng không thì cứ việc xem tranh ‘tự do’ cho thỏa thích; còn tự do siêu thực của hội họa là thứ tự do không luật nó nằm ngoài vòng cương tỏa của trí tuệ. Họa sĩ siêu thực Magritte, René (1898-1967) ‘đã nhận định trên những gì luôn gặp gở ở đây có một khoảng hở giữa lời nói và nhận thấy trong tranh vẽ được gọi là bí quyết của mộng mơ’ –commented on this always-present gap between words and seeing in a painting called The Key of Dreams.

Chúng ta nhìn thấy sự vật là tác động mãnh liệt bởi những gì chúng ta biết hoặc là những gì chúng ta tin tưởng. Ở thời kỳ Trung Đại (Middle Ages) khi mà loài người tin trong một tâm lý hiện hữu (physical existence) về những gì của Điạ ngục là dấu hiệu để thấy lửa là có hướng (meant) cho một điều gì đó khác với đời nay là phương tiện (means). Lửa của điạ ngục là thiêu đốt, là tàn tro; lửa của hôm nay ngoài việc thắp sáng, nấu nướng là phương tiện, nhưng; nếu đụng tới lửa là đau đớn và cháy bỏng. Đó là lối nói tâm sinh lý và khoa học thực nghiệm như một nhận thức và nhận thấy (knowledge and seeing). Với hội họa lửa là nguồn sáng khơi dậy trong tâm thức để được sống lại từ tâm lý ‘năng nỗ’ hay còn gọi là đột hứng (spontaneous) hòa nhập bằng chất liệu thiết thực thì may ra nói được nhiệm vụ của lửa và phản ảnh tác động của lửa. Ngần đó cho người xem tranh có một nhận thức sâu xa để đánh giá cho một tác phẩm đạt tới đỉnh cao của nghệ thuật. Làm thơ trong họa được thời làm lửa trong tranh không phải là chuyện khó. Thí dụ: Trong ‘Guernica’của Picasso (1881-1973) sự tức giận của ngựa và nỗi đau của con người là điạ ngục trần gian; không màu không sắc mà là một quyết liệt dữ dội của họa nhân. Đó là lửa đã thiêu đốt chớ không còn là phương tiện như tâm lý nhận thấy. Hẳn nhiên đây là sự nhận thấy mà tất cả ý thức đó đến trước ngữ ngôn mỗi khi sáng tác, dĩ nhiên; có thể điều đó không bao giờ bao che một cách trọn vẹn; nó cũng chẳng phải vấn đề thuộc máy móc mà ảnh hưởng hay tác động vào sự kích thích cảm giác của họa nhân. Ngược lại chúng ta chỉ thấy những gì chúng ta thấy ở đó –We only see what we lơok at. Nhìn nó hay xem nó là một hành động chọn lựa –To look is an act of choice. Kết quả của xem tranh là kết quả của hành xử (act) thời những gì ta nhìn thấy đều mang lại cái tinh hoa bên trong mà chúng ta muốn đạt tới.

                   * Hình dưới (1): ‘Two Ovals (Composition No 218) 1919. Tranh của Wassily Kandinsky (1866-1944)

tranh vcl1.jpg

Vậy thì kết cấu hợp nhất của một bức tranh là góp vào đó nền tảng chủ lực của hình ảnh về nó; đó là lý do để tâm tới cho một bố cục của tranh. Nhưng; ở đây sự kết cấu là đã nghĩ tới, đó là cái của tự nó cho một cảm xúc để vẽ lên tranh. Hình ảnh đã hiện ra trong một tri giác nhận biết về nó là việc làm đầu tiên gợi lên ở đó một vài thứ đã vắng mặt. Bước tiến trình về nó để trở nên chứng cớ là hình ảnh có thể tồn tồn dài lâu (outlast) mà những gì về nó đã được diễn tả. Tranh hiện ra ở đó tất cả hình ảnh hoặc thể hiện qua con người; nó cô đọng trong đó một thực chất của vật thể mà họa nhân muốn bày tỏ và như vậy chủ đề của họa phẩm ít nhiều đã đến với người xem trong một lãnh hội để đi tới đả thông tư tưởng và cho vào đó một cảm nhận sâu sắc của bốn chiều trong một tác phẩm; đưa người xem thoát tục để trở về với hiện hữu sống thực. Sự cố này là kết quả gia tăng nhận thức của những gì có tính chất cá thể -This was the result of an increasing awareness of individuality, đồng thời dẫn độ một sự gia tăng ý thức về lịch sử (đặc biệt ở thời kì Phục Hưng (Ranaissance) để lại ở đó những dấu tích thời thượng). Trong cái hình ảnh trọng vọng đáng qúi này là có nhiều cái chính xác và phong phú hơn cả văn chương, thi tứ. Điều để nói ở đây là không có nghĩa từ nan hay phản đối cái sự diễn cảm dạt dào tình yêu chất chứa trong tranh, không nói nên lời nhưng phơi mở, bộc lộ một sự ẩn tàng trong từng ‘con màu’ như con chữ vậy; là những gì sản lượng của nghệ thuật. Đối xử nó một cách thiết thực như một tư liệu chứng cứ. Nhiều hình ảnh đan kết trong họa phẩm, có nhiều sự chìm lắng trong tư duy giữa người vẽ và người xem qua kinh nghiệm của họa nhân về những gì thấy được một cách tự nhiên –The more imaginative the work, the more frofoundly it allows us to share the artist’s experience of the visible. Hẳn nhiên mỗi khi hình ảnh hiện ra trong trí tức là nắm được chủ đề, bố cục và chất liệu là ‘hợp tố’ để thành hình tác phẩm. Tuy nhiên; dưới mắt người xem tranh có một thái độ và một cảm nhận đặc biệt ở nơi tranh -tranh tức là người-, bởi; họa nhân đã phản ảnh một vài cử chỉ tự hào về tác phẩm của mình làm nên một cách chủ quan. Đúng! Nhưng đừng ‘face talk’ kênh kiệu hay ngạo mạn với nghệ thuật. Nghệ thuật hội họa xưa nay có một sự im lặng lãng mạn và hào khí, nghĩa là đòi hỏi của sự im lặng tuyệt đối là vàng ngọc hơn lời nói; vì nói nhiều làm cho tranh mất giá là ở chỗ đó. Người họa sĩ cần có một tác phong đạo đức dù có ‘trần truồng’ đi chăng vẫn phải là. Nhưng phải nhìn thấy nó trong cái kênh kiệu, ngạo mạn là một thứ làm điệu (drama-queen) chứa ở đó cái bỡn cợt, thách đố vô nghĩa. Kỳ thực tùy vào từng đối tượng nhưng không thể kéo dài với trạng huống đó mà tùy thuộc vào cái vũ trụ như thể là / The world-as-it-is là hiện ra ở đây một thực chất của người nghệ sĩ đúng đắn. ‘as-it-is’ điều này rất hiếm đối với các họa nhân trên thế giới, gần như họ sống chết với nghệ thuật hơn những gì họ phô trương. Hình thể đó cọng-sản gọi là trí thức tiểu tư sản. Tư-bản gọi là trí thức sà-lồn (salon) hay ma đầu đều một nghĩa như nhau.Thí dụ: có những kẻ muốn ‘điên’ cho nghệ thuật như-nó-là chân chính thì sự đó gọi là ảo hóa, lấy vải thưa che mắt thánh không còn gọi là vị nghệ thuật. Hoàn toàn mất tính nghệ thuật mà chỉ là một sự hoàn tất trong hành động không dính tới hội họa. Vậy thì làm thế nào để nói lên ‘hồn nghệ sĩ’? Là người nghệ sĩ ‘không hóa’ như kiểu của Amedeo Modigliani (1884-1920). Không-hóa là gì? Là ‘the world-as-it-is’, là không pha chế, là không hóa chất, là nguyên trạng cái của nó là cõi riêng, nghĩa là: không có ta trong họa phẩm mà họa phẩm có ta dành cho đời…là đặc thù của hội họa. Nhưng phù hợp cách xử dụng về nó và đúng nguyên tắc cơ bản xã hội cái đó là cái cuối cùng nói lên sự nghiệp, nhưng nhớ cho, cái có đó không có nghĩa là trội hơn tất cả. Nghệ thuật là hình ảnh ảo hóa, nhìn thấy mông lung luôn luôn tồn lưu nằm trong lãnh vực riêng tư; căn nguyên ở đây duy trì, gìn giữ cái ma thuật hoặc sùng bái –The visual arts have always existed within a certain preserve; originally this preserve was magical or sacred. Nhưng cái điều đó nó cũng là khoa tâm lý gây ra từ mọi hoàn cảnh, mọi trạng huống cái sự đó đã làm nên tác phẩm. Trước là kinh nghiệm của nghệ thuật và sau là kinh nghiệm của bản chất. Định nghĩa cho rốt ráo: hình ảnh của nghệ thuật có một vài điều trở nên không dài lâu, tầm thường, siêu tưởng, dễ dàng, không có giá cho thứ tự do xa-xỉ-phẩm không điều kiện; để rồi biến hội họa vào cõi phù du.

                       Hình dưới (2): ‘Female nude and Smoker’ 1968 của P. Picasso. Dầu trên bố. Galerie Rosengart, Lucerne.

tranh vcl2

XEM TRANH KHỎA THÂN

Hội họa qua bao thế kỷ thường có khuynh hướng nhìn tới cái đẹp nhất là cái đẹp của phái nữ; đẹp từ bên ngoài tới bên trong một tâm lý phơi mở tột độ của người cầm cọ để nói lên: ‘Rõ ràng trong ngọc trắng ngà / Dày dày sẵn đúc một tòa thiên nhiên’ (Kiều) Hầu như đó là niềm ao ước để đạt tới sự nghiệp của hội họa mà trong đó lồng một triết lý nhân ái đồng thể (homogeneous) đồng thời diễn tả đường nét sắc bén qua cơ thể con người kể cả điêu khắc hay tạc tượng (anatomy). Đặc biệt ở đây chúng ta nói đến cái đẹp của đàn bà, bởi; xã hội thường nhìn vào đàn bà là một sự khác biệt trong một hiện thể của con người –a woman is different in kind from that of a man. Hiện diện của con người trên hành tinh này là tùy vào lời hứa hẹn của quyền năng mà quyền năng đó là hiện thân cho một ám thị tự tại nghĩa là trong đó có qủy ám (demons) và có tốt xấu (good and evil) trùm bọc trong con người đàn bà. Nếu không có Eve thời Adam thánh thiện.

Lý cái sự này có tính chất giáo điều làm lệch hướng của nghệ thuật. Nghệ thuật là thoát tục để đạt tới chân lý hiện thực không còn thấy tà dâm qủy ám mà nó trở thành cái lý đương nhiên mà tạo hóa dựng vào đó để làm đẹp con người. Cho nên chi Michelangelo di Lodovico (1475-1564) không còn nghi ngờ những gì là hình hài của con người mà hầu hết những nghệ sĩ của thời kỳ Sáng Phục Hưng (High-Renaissance) đã cho ông những sáng tạo về tranh cũng như điêu khắc, dựng vào đó một chân tướng tuyệt đỉnh (con người); những tác phẩm trần truồng tạo nên những tác phẩm ngoại hạng và lừng lẫy một thời được truyền lưu hơn 400 năm sau cái chết của ông. Cùng thời với Leonardo Da Vinci (1452-1519) qua bức tranh để đời ‘The Virgin of the Rocks’ (1508). Đấy là sự thật về ‘sắc đẹp’ của con người; thời tất chúng ta không thể cho đó là quá đáng hay quá ‘lõa thể’ mà phải nhìn vào nó như cái đẹp của hóa công…Người ta có thể giản đơn mà nói rằng: nam thì bộc phát (men act) và nữ thì lô liễu (women appear). Đàn ông thì nhìn vào đàn bà còn đàn bà là ngó, nhìn, ngắm (watch) ở chính thân mình và luôn luôn nhìn vào đó (being looked at). Đó là một xác định rõ ràng nhất, nó vừa tâm lý vừa sinh lý không những dành riêng cho phụ nữ để đi tới một sự quan hệ giữa đàn ông và đàn bà, nhưng; trong đó cũng có những quan hệ khác của đồng phái. Đàn ông, đàn bà đều có cái nhìn tương quan vào nhau. Hầu như mục tiêu đặc biệt về hình ảnh cho: một chợt thấy –and most particularly an object of vision: a sight (!) Chợt thấy để được gần nhau là ao ước được nhìn vào.

Như đã nói ở trên, sau Michelangelo tranh sơn dầu về đàn bà trần truồng đã là điểm chính, cho dù tái diễn trong cùng một chủ đề. Sự đó được khẳng định trần truồng (nude) là phơi trắng qua từng đường tơ kẽ tóc thời không có chi mà hổ-ngươi, thẹn thùng mà phải che, che đậy hay cả thẹn là không thực để mô tả và không thực ngay cả chính mình, vô hình chung mình tự dối mình. Nó không còn là quan điểm đơn phương để rồi xa rời nhân thế. Lõa thể là phơi mở cái sự hồn nhiên lộng lẫy trời ban cho là ở chỗ đó. Mà phải nhìn nhận họa nhân người đã dày công gầy dựng lại để trở nên đại lý sự vụ của Thượng đế -becomes the agent of God-. Nhớ cho vẽ trần truồng của những họa sĩ là chúng ta đã khám phá và tìm thấy một vài tiêu chỉ và luận bàn bởi những gì đã được nhìn thấy nơi đàn bà; đó là thị lực để ngắm nhìn của người họa sĩ và người xem tranh. Trần truồng đã có từ Adam và Eve, bởi; xui phải ăn trái cấm mới lấy đồ che thân; để rồi từ đó họ không bao giờ nhìn thấy nhau một cách ‘trong trắng’. Lõa thể đã tạo ra trong trí của người thích nhìn –Nakedness was created in the mind of the beholder. Quả thực; từ khi vấp phải đã đưa tới khát vọng nơi Adam một cách hoàn toàn tuyệt vọng. Eve cũng rơi vào trạng huống đó để đi tới ân hận bởi cám dỗ mà làm mất đi cái đẹp cả đời sau . Vì vậy; người đàn bà luôn luôn nhìn ở chính mình là thế và thừa nhận nó có một sự lôi cuốn vô hình mà người phải lụy tới nó. Và có thể làm sụp đổ cả ‘vạn lý trường thành’. Khởi từ đó người ta mới nhận ra cái đẹp thiên nhiên là cái gì qúy báu trời ban cho. Chúng ta phải giữ lấy!

                                             Hình dưới (3) ‘Nude on a blue cushion’(1917) Của Amedeo Modigliani .

tranh vcl3

Đấy là điều đáng ghi nhận khởi từ tiền Phục Hưng và hậu Phục Hưng đã có tranh, tượng khỏa thân mô tả những sống động khác nhau của người phụ nữ dưới cái nhìn khác nhau của người nghệ sĩ, không những thời kỳ rực rỡ được nói đến và kéo dài bao thế kỷ; hình ảnh đẹp của đàn bà vẫn không dừng lại mà phát huy qua những lăng kính khác nhau. Nghệ thuật tạt tượng của Ấn Độ, nghệ thuật khỏa thân ở Campuchia, nghệ thuật chạm khắc trên đá của Thổ (Persian), nghệ thuật   trần truồng trên gỗ của Phi châu và gần đây đã khám phá tượng hình lõa thể trên đá, đền đài ở Columbian Mỹ châu. Nói chung không ngoài mục đích phơi mở toàn thân của đàn bà. Trần truồng là không bao giờ chán nản, thờ ơ trong lối nhìn –nakedness is never supine in this way. Và nếu; nó là tập quán hay lề thói, thời chủ đề của tác phẩm là tình dục (sexual). Nó bày ra ở đây một hành động của dục tính tình yêu giữa hai người. Hành động đó như thu hút vào nhau.

Từ chỗ đó cho chúng ta bắt đầu nhìn thấy sự khác biệt giữa trần truồng (nakedness) và lõa thể (nude) trong những tác phẩm hội họa hay trên tượng. Tuy nhiên dưới hình thức nào đi chăng trần truồng hay lõa thể là hình thức của nghệ thuật –therfore; the nakedness or nude is a form of art. Chớ đừng cho đó là phàm phu tục tỉu, nếu cảm nhận như thế thì không còn là sự thật ở chính mình mà chính bản thân mình cũng thường hay xem xét ‘being looked at’ một cách kín đáo và âm thầm. Vậy thì nhìn vào là khát vọng. Thì hà cớ gì mà chối bỏ sự thật hiển nhiên như vậy. Cho dù dưới cách nào để nhìn-vào-khỏa-thân là không cần thiết để giới hạn bởi nghệ thuật. Ngày nay nó phơi trắng trên hình chụp, bích báo, trên sàn nhảy qua dáng dấp khêu gợi thể xác (nude gestures); thiết tưởng chuyện ‘ở lỗ’ là lề thói có từ lâu và tự nhiên, nhưng; để rồi phải che kín cho tới khi hợp thức hóa. Che là một đòi hỏi tâm lý giữa đàn bà và đàn ông (?).

Phân tích một cách tường tận theo phương hướng triết học để tìm thấy cái đích thực của trần truồng và lõa thể; cả hai cùng một nghĩa như nhau; nó không vướng đục, nó trong trắng, nó nguyên trinh, nó mới mẻ, bởi; nó là hành động chứng tỏ như một xác nhận củng cố và khơi dậy một cảm thức mãnh liệt để giải thoát một cách dịu dàng (sense of relief). Nàng là đàn bà như muôn triệu đàn bà khác, chàng là một đàn ông như tỷ thằng đàn ông khác: tất cả đã tràn ngập bởi ấn tượng kỳ diệu chung trong ‘hệ phái’, một dục tính hết sức máy móc (sexual mechanism) của cả đôi bên. Không đứt đọan giữa sự phơi mở đó. Trần truồng hay lõa thể đều là hành động của đòi hỏi. Nghệ sĩ đã bị ứ đọng và tràn ngập (overwhelmed) đành phải tháo gỡ dưới mắt trình bày chớ không nhất thiết nghệ thuật vị nghệ thuật. Ít nhiều cũng bị hấp dẫn vào đó. Nói như thế này: ý thức trông đợi thì đây là một sự phản đề giữa linh hồn và thể xác, nó cấu tạo song phương để hòa nhịp vào một trạng thái mê hoặc, bởi; vô thức đồng tính (homosexsual) là sự muốn được hoặc vô thức để đi tới cái sự chống lại sắc dục (heterosexual). Nhưng; nếu ‘giải thoát /relief’ có thể lý giải rằng nó không cần phải đi tới vô thức (unconscious), bởi; trong cái sexual đã có hai dạng thức trong cùng một lúc.

                                          * hình dưới (4) ‘ Olympia’ của E. Manet 1863(1832-1883)

tranh vcl4

Trong hội họa hiện đại khẳng định về tranh khỏa thân đã trở nên ít quan trọng hơn xưa. Họa nhân chính họ bắt đầu đặc vấn đề vào đó là vai trò bất tuân, nghĩa là không còn che giấu mà hụych toẹt như một chứng cứ về nét đẹp dưới cảm thức của người nghệ sĩ. Mẫu thức về đàn bà đã biến thể đầu tk. thứ hai mươi và vẫn còn tiếp tục cho tới nay trong đó chú ý nhất là phái ấn tượng của Đức còn hoạt động.

Nói rút lại; ngày nay thái độ, phong cách và giá trị là những gì đã gây ra, đó là tập quán bày tỏ xuyên qua nhiều góc cạnh khác nhau, nhiều bề mặt rộng lớn tràn lan đại hải -gần như dựa vào cái hấp dẫn của phụ nữ

để truyền thông hay quảng cáo… Đàn bà được miêu tả trong cách nhìn khác nhau dưới mắt của đàn ông.; không phải khác nhau là một bên gọi ‘cái/female’, một bên gọi ‘thằng/male’. Khác ở chỗ ý nghĩ của người xem tranh, nhất là phái nam luôn tỏ ra vô tư nhưng trong vô tư lại chứa khát vọng. Biến thể của người đàn bà cũng nằm trong người đàn ông. Dẫu đó là tranh vẽ nhưng để trong tiềm thức một sự đợi chờ, một sự đợi chờ thỏa đáng. Không có hình ảnh, nhưng; đã mường tượng những gì mà người xem tranh cho là giống như thật; là cái đẹp của phụ nữ mà ‘quyền năng’ dành cho phái nữ một đặc ân để làm người ./.

VÕ CÔNG LIÊM (ca.ab.yyc. 1/7/2019)

*Tranh trong bài rút từ Art of the 20 century by Taschen 2000 Benedikt Koln. Germany.

-Hình (1): ‘Hai hình bầu dục’ (Bố cục số 218) 1919 của W Kandinsky (Nga).

-Hình (2): ‘Người Đàn bà Lõa thể và Người Đàn ông ngậm vố’ 1968 của P. Picasso (Tây Ban Nha).

-Hình (3): ‘Trần truồng trên gối xanh’ 1917. của A. Modigliani (Ý Đại Lợi).

-Hình (4) ‘Nàng Olympia’ 1863 của E. Manet (Pháp).

ĐỌC THÊM: ‘Chân dung tự họa (2018)/ Triết lý của Nghệ thuật (2018)/ Nhận thức về Nghệ thuật / Hội Họa qua từng thời ký (2017)

Những bài đọc trên hiện có trên một số báo mạng và giấy trong và ngoài nước hoặc email theo đ/c đã ghi.

TRANH VẼ: ‘Cảnh Đại dương / Seascape’.Khổ !6” X 20” Trên giấy cứng. Acrylics +Mixed+House-paint .vcl#1102013.

Xem Tranh ở trang dưới.

Vocôngliêm

                                                   CẢNH ĐẠI DƯƠNG / SEASCAPE

tranh vcl5

cuộc tình không may

Khê Kinh Kha

thieunudalat

một chiều đứng giữa hoàng hôn
lặng nghe thân thế trăm đường về không
một lần thấy nhớ giòng sông
là lần thấy bóng quê hương nhu mì
một ngày em bỏ ra đi
trong tôi thân xác gần như không hồn
một lần thấy đóa tình duyên
đời tôi có bóng trăng nằm chờ khuya
môt lần bước tới vườn kia
tay xưa ngắt đóa tường vi đâu ngờ
một lần khoát áo ra đi
thiên thu réo gọi tình về ngũ yên

một đời em nhớ không em
một đời em có lần quên câu thề
tình nồng đã quá đam mê
từng ngày gió lọng ta về mênh mông
từng chiều gió lạnh ta chờ rạng đông

một lần thấy bóng đời rơi
ngáy tôi không có mặt trời rọi soi
một ngày quên hết đời tôi
là ngày mưa gió cuốn trôi mịt mùng
từng ngày ôm trái tim hèn
trong tôi còn lại cuộc tình không may.

Khê Kinh Kha

Lắng / Đêm vỡ

Đặng Xuân Xuyến

motminh

Lắng

Người về sũng nắng tháng Tư
Tôi hong gió lạnh suốt từ đêm qua
Ngậm ngùi mưa bụi trườn qua
Hoa Xoan nát cả tháng Ba đến giờ.

Hà Nội, đêm 12.05.2019

Đêm vỡ

– Tặng V. yêu –

Đêm vấp em
Rỏn rẻn cười
Em cắn đêm vỡ
Mi huyền ngân ngấn hạt ngọc vương.

Hà Nội, đêm 01 tháng 07.2018

ÁO TÍM

Nguyên Lạc

 

DDT1.jpg
tranh Đỗ Duy Tuấn

Vẫn thương nhớ mùa thu áo tím
Tím hoàng hôn. tím ngất hồn tôi
Mỗi thu đến. bao năm hoài kiếm
Chỉ thấy màu gian dối mà thôi!
.
Thôi đã hết mùa thu áo tím 
Hết tự ngày phố đổi màu đau
Thu khóc ngất. lạc bờ tóc bím
Người xa rồi.  màu tím thu nao!
.
Sao nhớ chi mùa thu áo tím?
Sao tìm chi màu tím sân trường?
.
Dù rất biết thời qua khôn kiếm
Dặn lòng. thôi! 
Sao vẫn cứ thương?!
.

 
 

LIFE

Khê Kinh Kha chuyển ngữ

bien va chim

“Tôi đã đạt đến đỉnh cao của sự thành công trong thế giới kinh doanh. Trong mắt một số người khác, cuộc sống của tôi là mẫu mực của sự thành công. Tuy nhiên, ngoài công việc, tôi chỉ có chút niềm vui. Cuối cùng, sự giàu có của tôi chỉ là một thực tế của cuộc sống mà tôi đã quen. Tại thời điểm này, nằm trên giường và nhớ lại cuộc sống của mình, tôi nhận ra rằng tất cả sự công nhận và sự giàu có mà tôi rất tự hào đã trở nên phai mờ và vô nghĩa khi đối mặt với cái chết của tôi.

 Bạn có thể thuê một người nào đó lái xe cho bạn, kiếm tiền cho bạn nhưng bạn không thể thuê ai đó mang bệnh thế cho bạn. Những thứ vật chất bị mất có thể tìm lại được hoặc thay thế được. Nhưng có một thứ không bao giờ có thể tìm thấy hay thay thế được khi nó mất – (đó là) Cuộc sống. Bất cứ giai đoạn nào trong cuộc sống bạn đang ở ngay bây giờ, với thời gian, bạn sẽ phải đối mặt với một ngày khi tấm màn (cuộc đới) buông xuống.

 Trân quý tình yêu quý giá cho gia đình bạn, tình yêu dành cho người bạn đời của bạn, tình yêu dành cho bạn bè của bạn. Hãy đối xử tốt với bản thân và trân trọng người khác. Khi chúng ta già đi, và hy vọng khôn ngoan hơn, chúng ta nhận ra rằng một chiếc đồng hồ trị giá 3000 đô la hoặc 30 đô la đều chỉ cùng một giờ. Bạn sẽ nhận ra rằng hạnh phúc bên trong thực sự của bạn không đến từ những thứ vật chất của thế giới này. Cho dù bạn bay hạng nhất hoặc hạng thường, nếu máy bay rớt – bạn cũng rớt theo nó.

Vì vậy, tôi hy vọng bạn nhận ra, khi bạn có người tình, bạn thân thiết và bạn bè cũ, anh chị em, người bạn trò chuyện, cười đùa, nói chuyện vớI nhau, hát những bài hát, nói chuyện lung tung đông-tây nam-bắc hoặc trên trời dưới đất , đó là hạnh phúc thật sự! Đừng giáo dục con bạn trở nên giàu có. Giáo dục họ để được hạnh phúc. Vì vậy, khi chúng lớn lên, chúng sẽ biết giá trị của mọi thứ chứ không phải giá cả. Ăn thức ăn của bạn như những liều thuốc bổ cho bạn, nếu không, bạn phải nuốt những viên thuốc làm thức ăn của bạn.

 Người yêu bạn sẽ không bao giờ bỏ rơi bạn vì người khác bởi vì, ngay cả khi có 100 lý do để từ bỏ, người đó sẽ tìm ra lý do để giữ lấy và trân quý bạn. Có một sự khác biệt lớn giữa một con người và làm một con người. Chỉ một số ít thực sự hiểu nó. Bạn được yêu khi bạn được sinh ra. Bạn sẽ được yêu khi bạn chết. Ở thời gian chính giữa, bạn phải tự quản lý lấy!

Sáu vị bác sĩ giỏi nhất thế giới là ánh sáng mặt trời, nghỉ ngơi, tập thể dục, ăn kiêng, tự tin và bạn bè.

Hãy duy trì chúng trong tất cả mọi giai đoạn và hảy tận hưởng một cuộc sống khỏe mạnh”

Khê Kinh Kha chuyển ngữ

(from Unknown Author)

Đại Nghĩa, Quê Hương Tôi

Thư viện của bài

This gallery contains 1 photo.

Biên khảo  Nguyên Lạc

1. Quê hương (danh từ): Đất Nước, nói về một Đất nước mà trong đó có quê (làng, cái nhà) mà mình đã được sinh ra.(Wiktionary)
“Trời sinh ra bác Tản Đà/ Quê hương thời có cửa nhà thì không” (Thú ăn chơi – Tản Đà). “Lòng quê dờn dợn vời con nước/ Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà” (Huy Cận)

2. Trong tùy bút “Lòng yêu nước” của nhà văn Nga Ilya Grigoryevich Ehrenburg (1891- 1967) có viết: “Lòng yêu nước ban đầu là lòng yêu những vật tầm thường nhất: yêu cái cây trồng ở trước nhà, yêu cái phố nhỏ đổ ra bờ sông, yêu vị thơm chua chát của trái lê mùa thu hay mùa có thảo nguyên có hơi rượu mạnh…
Dòng suối đổ vào sông, sông đổ vào dải trường giang Volga, con sông Volga đi ra bể. Lòng yêu nhà, yêu hàng xóm, yêu miền quê trở nên lòng yêu Tổ quốc”. [1]

3. Quê hương qua trích đoạn thơ:

Quê hương. chiếc đò nho nhỏ
Qua sông. kham khổ từng ngày
Thân me vai gầy. gánh khổ
Thương con. chịu nỗi đắng cay
.
Quê hương đong đầy thương nhớ
Ngoại nhai tóm tém trầu cay
Mẹ mày. thằng cháu mất dạy
Rong chơi lêu lỏng suốt ngày
.
Quê hương làm sao không nhớ?
Cầu tre lắt lẻo sớm mai
Đường vui. trống trường réo gọi
Cây cao. chim hót từng bầy
Chia nhau từng viên đạn nhỏ
Bịt mắt. kiếm tìm. Ai đây?
Chia nhau nỗi lo thầy gọi
Nhói đau. thước khẽ bàn tay
Chia nhau trái me keo ngọt
Chia nhau từng tiếng cười đầy Tiếp tục đọc

4th of July: Freedom is never free

flag america

Have you ever wondered what happened to the 56 men who signed the Declaration of Independence?

 

Five signers were captured by the British as traitors, and tortured before they died.

Twelve had their homes ransacked and burned.

Two lost their sons serving in the Revolutionary Army; another had two sons captured.

 Nine of the 56 fought and died from wounds or hardships of the Revolutionary War.

 They signed and they pledged their lives, their fortunes, and their sacred honor.

What kind of men were they?

 

Twenty-four were lawyers and jurists. Eleven were merchants,

Nine were farmers and large plantation owners; men of means, well educated,

but they signed the Declaration of Independence knowing full well that the penalty would be death if they were captured.

   Carter Braxton of Virginia, a wealthy planter and trader, saw his ships swept from the seas by the British Navy. He sold his home and properties to pay his debts, and died in rags.

   Thomas McKeam was so hounded by the British that he was forced to move his family almost constantly. He served in the Congress without pay, and his family was kept in hiding. His possessions were taken from him, and poverty was his reward.

  Vandals or soldiers looted the properties of Dillery, Hall, Clymer, Walton, Gwinnett, Heyward, Ruttledge, and Middleton.

   At the battle of Yorktown, Thomas Nelson, Jr., noted that the British General Cornwallis had taken over the Nelson home for his headquarters. He quietly urged General George Washington to open fire. The home was destroyed, and Nelson died bankrupt.

  Francis Lewis had his home and properties destroyed. The enemy jailed his wife, and she died within a few months.

   John Hart was driven from his wife’s bedside as she was dying. Their 13 children fled for their lives. His fields and his gristmill were laid to waste. For more than a year he lived in forests and caves, returning home to find his wife dead and his children vanished.

   So, take a few minutes while enjoying your 4th of July holiday and silently thank these patriots. It’s not much to ask for the price they paid.

 Remember: freedom is never free!

I hope you will show your support by sending this to as many people as you can, please. It’s time we get the word out that patriotism is NOT a sin, and the Fourth of July has more to it than beer, picnics, and baseball games.

Ngày Sinh Của Đá

Võ Công Liêm

soida
tặng tôi.
không ngày không tháng
giờ mưa tuổi nắng
cha núi mẹ đèo
buồn vui thế kỷ
hứng chịu
tai ương
trên mỏm đời lắm phong ba
đêm nghe bão cào tơi tả
ngày chìm sâu dưới mưa tuôn
và . trơ gan cùng tuế nguyệt
đá hồn nhiên với núi sông
nằm ru biển gọi bao lần
giữa trời không một bóng ai
xin nhặt những viên đá cuội
về hợp tấu khúc đoạn trường
để nghe tiếng vọng hồn thu thảo
thoát thai từ đó mình hóa đá
làm dê tế độ một lần thôi
đổi đời cho đá mừng sinh nhật
một chén phù du trót ngậm ngùi
trên răng dưới dế hồn xiêu vẹo
trăng có về chăng thêm xót xa
giữa lòng đất lạnh cùng kinh kệ
để thấy đời trôi mong manh bay
lấy trăng bầu bạn
cho trọn kiếp người
mắt răm từ dạo đó
bóng hình bàn tay em
xoa lên cơ thể mòn hơi đá
chết lịm bên đời bóng quạnh hiu ./.

VÕ CÔNG LIÊM (ca.ab.yyc. đầu tháng 7/2019)

Dẫu biết trăng là mộng

Thơ: Quách Như Nguyệt
Nhạc và hòa âm: Đặng Vương Quân
Ca sĩ: Tâm Thư

Dẫu biết trăng là mộng

Ai chở trăng của anh đi đâu?
Chở cả khối tim nặng âu sầu
Ai chở trăng của anh đi đâu?
Nhớ quá trăng ơi, nhớ đậm sâu

Trăng của anh hay trăng của ai?
Sao xa vời vợi nhớ ai hoài
Mối tình u uẩn tình ngang trái
Nhớ quá trăng ơi.. cơn mộng say

Từ dạo yêu trăng, đi trên mây
Muốn đến thăm em ngắm nguyệt hằng
Mà sao nghìn dặm xa thăm thẳm
Tưởng gần mà sao quá xa xăm!

Trăng ơi trăng, ta yêu trăng lắm
Có biết tình ta say đắm không?
Trăng ơi trăng, si mê trăng lắm
Dẫu biết trăng xa, trăng là mộng…

Ta vẫn yêu hoài, yêu mãi trăng!

Như Nguyệt

QUAN THỜI NAY

Thư viện của bài

This gallery contains 1 photo.

Đặng Xuân Xuyến

*
Làm quan
– nhân đọc về hậu thương vụ AVG –
Oách nhất thời nay nghề làm quan
Ngông nghênh một cõi trổ tài gian
Tiền dân thỏa chí lèn chặt túi
Kế bẩn mưu hèn mặc dân than.

Hà Nội, 24 tháng 02.2019

Tôi thấy…
– Tặng cháu Ngô Văn Linh –
Văn bản Đặc khu
Đánh đu câu chữ
“Nước láng giềng chung biên giới Quảng Ninh”
Chẳng yếu tố Bắc Kinh?
Chẳng liên quan Trung Quốc?
Chẳng thách thức lòng dân yêu Tổ Quốc?
Bốn nghìn năm lịch sử Tiếp tục đọc

“DẠ CỔ HOÀI LANG”

Nguyên Lạc  
dan-thieu nu
SÔNG KHUYA 
VẲNG KHÚC “DẠ CỔ HOÀI LANG”
.
Gây chi bao cảnh chia li?
Thanh xuân vĩnh biệt. tan đi mộng đời!
Người từ cuộc lữ xa xôi
Ưu phiền trên tóc. rã rời đôi chân!
Về tìm. hình bóng trăm năm
Chỉ sương khói lạnh!
Khuyết rằm trăng côi!
.
Sầu xuôi. thuyền độc mộc trôi
Dòng đời cô độc.
Biết rồi về đâu?
Về đâu?
Trời nước một màu
Một màu thảm biếc. tím câu tương phùng!
.
Tìm đâu người?
Giấc tình chung!
Sông khuya vẳng khúc não nùng
Hoài lang! (*)
.
Nguyên Lạc
…………….

(*) Trích đoạn bản “Dạ Cổ Hoài Lang” – Cao Văn Lầu
Đường dầu sa ong bướm
Xin đó đừng phụ nghĩa tào khang
Còn đêm luôn trông tin bạn
Ngày mỏi mòn như đá Vọng phu…

@. Mời nghe Hương Lan ca Dạ Cổ Hoài Lang

ĐỌC “CHƠI GIỮA THƯỜNG HẰNG”

Thư viện của bài

This gallery contains 1 photo.

Châu Thạch

ĐỌC “CHƠI GIỮA THƯỜNG HẰNG”
TẬP THƠ LỤC BÁT- TÁC GIẢ NGÃ DU TỬ.
              

Nhận tập thơ của Ngã Du Tử tặng đã hơn ba năm, nó đi theo tâm trí tôi suốt ba năm. Viết về nó? Không đủ trình độ ! Không viết về nó? Nó như  bức tranh Giáng Tiên của chàng Tú Uyên treo  ngay trên tường nhà tôi. Nàng tiên phải bước ra thì mới thỏa lòng ao ước của tôi!

Vậy thì hôm nay tôi liều viết. như liều mời nàng tiên ra vậy. Viết xong sẽ gởi tấm lòng cho gió cuốn đi như nhạc Trịnh công Sơn, nó đến đâu thì cứ đến, hoặc nếu nàng tiên bỏ tôi đi biệt về Trời thì cũng thỏa lòng.

“Thường hằng” là gì? Theo nhà thơ Ngã Du Tử: “Mỗi hành trình một đời người trú ngụ trên trần gian đều chứng nghiệm muôn màu muôn vẻ của sinh lão bệnh tử, của thành trụ hoại diệt. Cái ấy khái niệm của Phật giáo là thường hằng”. “Vô thường là dịch biến, ngược lại là thường hằng. Vậy thường hằng là bất biến. Vô thường được giải thích nôm na như sóng, sóng là vô thường còn nước là thường hằng, mặc dầu sóng là do có nước mới sinh ra” Tiếp tục đọc

Thơ Võ Công Liêm 

 ĂN SÁNG Ở CHỢ EAU CLAIRE MARKET

mail
gió mưa năm tháng lất phất bay
chợ đông người lần lửa bước chân
chui rúc vào hang cùng ngõ hẹp
nắm một chút tình cuối mùa đông
xốc vai gánh vác đôi tay gãy
lảo đảo thân gầy chốn tịch dương
đêm đen co rúm giữa tàn cơn
lặng đứng nghe mình thổn thức rơi
ngày sót lại đau lên cơn sốt
ngụm chén trà nhớ buổi đầu xuân
khóc một thời dong duỗi loanh quanh
lóng ngóng làm chi giữa chợ trời
dăm ba đứa tóc úa tàn hơi
đưa nhau về lại chốn xa mù
nước mắt khô rơi chậm đêm hè
xót xao lòng nhớ cõi mông lung.
ÂM HƯỞNG
xin đừng bôi bát
giữa cơn mưa bị động
cám dỗ
cuộc tình mang tính chất trừu tượng
nụ hôn em làm vỡ vì sao
rưng rưng
mùa phượng nở .
VÕ CÔNG LIÊM (ca.ab.chestermere hè 2008