mất em

Khê Kinh Kha

ao non la.jpg
Mất em
mất cả trời xanh
Mất em
        mất cả tình duyên
Mất đôi mắt liếc
                 tóc mềm hơn mây

Mất em
                tôi mất nụ cười
Mất thêm tà áo
                       bay bay
Mất ăn mất ngủ
                 tháng ngày bơ vơ

Mất em
       hồn lạnh giăng mưa
Lòng thêm điêu đứng, ngẩn ngơ
Trời ơi ! tôi mất lời thề, xa, xôi

bao thu tàn
            lá vàng rơi
ai đi
       quên hết tình tôi
Mất em
      tôi mất cuộc đời thế gian

Khê Kinh Kha

Để Trả Lời Một Câu Nói

Thư viện của bài

This gallery contains 1 photo.

Nguyên Lạc

ĐỂ TRẢ LỜI MỘT CÂU NÓI

VỀ MỘT CÂU NÓI
Trong bài thơ CHUYỆN THÁNG TƯ QUÊ TÔI : MỘT THỜI EM TÔI, liên hệ đến “thân phận” các gia đình bị xếp vào thành phần “ngụy quân”, tôi có dùng các câu ca dao như quotes (lời trích dẫn) – “câu dẫn” – để giới thiệu; và khổ 1 – “phục bút”- dùng để “dẫn dụ” đưa vào nội dung rồi khổ cuối; một bạn thơ XYZ (xin được dấu tên) đã nói với tôi, đại ý : “Cải lương”, “sến” đưa vào làm chi?”.
Đây là bài viết tôi trả lời bạn.
Xin được dẫn ra đây bài thơ liên hệ:

CHUYỆN THÁNG TƯ QUÊ TÔI

MỘT THỜI EM TÔI
.
“Bìm bịp kêu nước lớn anh ơi
Buôn bán không lời, chèo chống mỏi mê” (ca dao)
.
Nhánh lục bình trổ chùm bông tím biếc
Vướng bãi bùn khóc dòng xiết trôi xa!
Con thòi lòi trố mắt nhìn thương tiếc
Bỗng giật mình trái bần rụng chiều tà

***
Người về đâu lệ lưng tròng rưng rức
Bỏ lại sau bờ bến khói sương và…
Xuôi về đâu chiều bóng ngả bờ xa?
Buồn con nước bìm bịp kêu đôi tiếng!
.
Người năm cũ đâu còn áo lụa!
Trên dòng kinh bờ lở bờ bồi
Đôi mái chèo cùng đứa con côi
Vạt tóc khét lưng còng đời cô phụ!
Tiếp tục đọc

Có Lẽ Nào…

Thư viện của bài

This gallery contains 1 photo.

Châu Thạch

hoai huyen thanh

ĐỌC BÀI THƠ “CÓ LẼ NÀO” CỦA HOÀI HUYỀN THANH

CÓ LẼ NÀO…
(Thơ Hoài Huyền Thanh)

Có lẽ nào ngày mai không còn nữa
Trời thêm xa và đất lại thật gần
Có lẽ nào chốn trầm luân cõi tạm
Nẻo nào xa còn lưu luyến phân vân.
*
Có lẽ nào từ mong manh sợi khói
Từng ngày qua đau đáu trái tim nhàu
Có lẽ nào con sông quê thuở ấy
Bàng bạc trôi viễn xứ chở niềm đau.
*
Có lẽ nào hoàng hôn chênh chếch bóng
Nghiêng nghiêng đêm mộng mị đến nao lòng
Có lẽ nào lá vàng rơi thật khẽ
Mây biết buồn và sao cũng bâng khuâng
Tiếp tục đọc

Nước Không Nguyên

Nước Không Nguyên – Nhà Không Yên !

Nhạc & Lời: Nguyễn Văn Thành

cobay

Nước Không Nguyên Nhà Không Yên

tp://www.danchuca.org/128kbps/NuocKhongNguyenNhaKhongYen.mp3

1.
Chờ gì nữa hỡi những người con Việt
Lời tổ quốc đã núi đồi rung chuyển
Kia Nam-Quan còn ghi dấu khí thế dân hùng xưa
quân vong nô nào đã bán đứng cơ đồ.

Chờ gì nữa máu đã rực trong lòng
giờ đã tới khí thế này Diên-Hồng
nơi Nam-Quan một lần nữa sẽ thấy dân hùng xưa
hôm nay sẽ đứng cao ngọn cờ.

ĐK:
Dân Việt ơi đứng lên dành lại từng tấc đất linh thiêng
máu ngàn năm tổ tiên
loài giặc nào khiếp vía mau quên
chờ gì nữa, chờ gì nữa, chờ gì nữa
nước không nguyên thì nhà cũng cũng không yên.

2.
Chờ gì nữa núi sông đã mỏi mòn
bọn giặc Bắc quyết phen này sống còn
nơi Mê-Linh còn tiếng trống nghĩa khí kia Lam-Sơn
quân vong nô nào đã bán đứng cơ đồ

Chờ gì nữa hỡi con Việt anh hùng
một lần nữa núi sông vào nước cùng
vung gươm thiêng diệt cho hết lũ bán nước quân cầu vinh
bao lâu gieo rắc bao tội tình.
ĐK

Starbucks Coffe Đêm Tuyết

Nguyên Lạc

van gogh

” Rã rời tôi dọc theo đường khổ
Đại lộ buồn những giấc mơ tan 
Cười đêm nay mai sẽ lệ tràn
Khi thấy mộng thanh xuân vụn vỡ ” [*]
*
Quán đêm
Góc vắng
Đèn vàng
Ly càphê đắng
Bàng hoàng mắt trông!
Kính ngoài
Tuyết trắng trổ bông
Tôi trong
Thinh lặng
Thấy hồn vỡ theo!
.
Quán 
Người
thủ thỉ tình trao
Góc 
Tôi cô độc!
Đắng theo giọt sầu!
.
Có gì đâu? 
Biệt ly nhau!
Tiếng buồn nức nở
khúc đau mộng tàn
Con đường vỡ mộng thanh xuân” [*]
.
Yêu thương thời đó…
đã từng thiết tha
Ơn ai 
dâng hiến đêm mưa!
Oán đời dâu bể 
đuổi xua ta. người!
.
Đêm đông
Quán vắng 
Góc ngồi
Ngoài kia tuyết trắng 
Trong tôi một thời!
Vẫn tôi. một thuở yêu người
Dù màu tóc khổ. đổi dời xuân thu
.
Trách ai gây cảnh ngục tù!
Phân chia giai cấp hận thù giết nhau!
Tháng Tư
Vùi xác ba đào!
Sinh ly
Tử biệt! 
Kiếp nào tình chung?!
.
Tuyết rơi  
đêm trắng muôn trùng!
Người ơi! 
Nhan sắc! 
Trùng phùng kiếp sau?!
.
Nguyên Lạc
……………….
[*] Thơ kết hợp theo lời nhạc: Boulevard of Broken Dreams – Diana Krall
I walk along the street of sorrow 
The boulevard of broken dream
You laugh to night and cry tomorrow
When you behold your shattered dream 

đọc thơ Tô Thùy Yên

Cao Vị Khanh

ToThuyYen-01đọc thơ Tô Thùy Yên

Xin Kính Mời Quý đọc gỉa click vào link bên dưới để đọc:

đọc-thơ-Tô-Thùy-Yên-Copy

 

Hay Đọc Bên dưới:

Từng chữ một.

Tôi đọc truyện ngắn của Tô Thùy Yên khi còn đâu ở trung học, những năm sáu mươi. Lớp mấy cũng chẳng nhớ. Truyện có tựa gì cũng đã quên luôn. Cái điều chưa quên là lúc đó, cuộc chiến tranh khốn nạn do những người cộng sản phát động chỉ mới vừa manh nha dù đã âm ỉ từ lâu ở Mạc Tư Khoa, Bắc Kinh … Nay có tin một ông xã trưởng ở làng xa đêm qua vừa bị ám sát. Mai báo đăng quốc lộ số 4 bị đắp mô đâu ở khoảng Cai Lậy, Cái Bè. Mốt nghe tin một đồn dân vệ ven biên vừa bị mấy tên du kích vác oảnh-tầm-xào bắn phá lốc chốc mấy phát rồi bỏ chạy. Còn nhớ chắc thêm một điều, truyện được đăng trên tạp chí Hiện Đại của Nguyên Sa, vừa bỏ Paris với khói sóng sông Seine trở về Sài-Gòn, đem hương thơ và hơi văn mới thổi phà vào sinh hoạt văn học của miền Nam thuở đó. Mười mấy tuổi chớ gì. Cái tuổi ăn chưa no lo chưa tới. Vậy mà ngay lúc đó, truyện đã nhéo vào cái bộ não non xèo của tôi một cái nhéo đau nhói. Rồi nhớ hoài.
Đâu như là …

… trên một chuyến xe đò liên tỉnh miền đông chạy xuyên qua những cánh rừng lá im ỉm, hành khách bị nhốt kín trong lòng chiếc xe ọp ẹp hẳn không có chuyện gì làm ngoài chuyện ngủ gà ngủ gật vì tiếng máy chạy rì rì (hoặc là vì chuyến xe đi quá sớm hay về quá trễ?), có thể cộng  thêm một nỗi lo lắng vu vơ nào đó … thì bị một đám du kích nhào ra chặn lại xét hỏi để hoạnh họe tuyên truyền. Hành khách nam nữ lão ấu gái trai già trẻ lớn bé gì cũng bị lôi tuốt xuống xe, sắp thành hàng lối, để cho quý -vị-núp-trong-quần-chúng … ló mặt ra xăn quần, xắn áo, lận dao găm hay xách mã tấu hoặc dậm thêm vài khẩu súng xưa mốc thếch vốn đã được chôn giấu ngay từ khi có lệnh tập kết … điểm mặt xem tên. Rồi, y như ba đời đã là cán-bộ-chính-trị-viên-có-ba-tăng dấm dẳn lên lớp để dọ dẫm dụ dỗ giày vò … thả giàn cái đám con dân hiền lành ngu ngơ, gồng gánh đi buôn hàng bán lẻ kiếm ăn hay đi thăm bà con chòm xóm. Kiểm soát như vậy nghĩa là ai nấy phải xuất trình tấm thẻ căn cước. À, tấm thẻ căn cước! Thuở đó, người ta từ mười tám tuổi trở lên, bất kể nam nữ, ai nấy đều lận trong người một tấm thẻ căn cước, ghi rõ tên tuổi, năm sanh tháng đẻ, số nhà, nghề nghiệp … như một minh chứng cho sự có mặt hợp pháp của mình trong một đất nước mới được yên ổn mấy năm đang rục rịch … trở lại bất ổn. Chính phủ hợp pháp đòi như vậy. Mà cái đám làm loạn với súng ống và dao găm lăm lăm trong tay cũng đòi hỏi như vậy. Dĩ nhiên với hai mục đích khác nhau. Nếu đối với phía thứ nhất, tấm căn cước là một bảo đảm cho sự lương thiện và tin cậy của người cầm thẻ, thì đối với phía đối nghịch, miếng giấy cứng có bọc nhựa đó có thể sẽ là bản cáo trạng hùng hồn để họ hùng hổ lôi đương sự vào rừng, vào bưng hoặc để giam giữ hoặc để đâm, chém, bắn giết hay bỏ vô bao bố thả trôi sông, tùy ý. Ở thời buổi đó, tấm thẻ căn cước quan trọng sinh tử đến vậy.

Và cũng vì vậy, để bảo đảm an ninh cho những người làm việc dưới quyền mình, chính quyền thuở đó còn cấp thêm cho họ một loại thẻ căn cước thứ hai, thẻ căn cước dân sự. Nhất là đối với những người phục vụ đất nước trong những phạm vi liên quan đến hành chánh và quân sự. Tấm thẻ căn cước dân sự đó như một chiếc mộc che đỡ cho họ những nguy hiểm chực chờ như buổi sáng hôm đó hay buổi chiều hôm đó …

Và như vậy, truyện kể …

Đám hành khách khốn khổ đó bị lùa xuống xe, xếp hàng … để chờ khám xét. Mọi người nhốn nháo. Lo lắng. Bồn chồn. Mỗi người một bộ mặt, một con tim, một bộ quần áo, một gia đình cha mẹ vợ con anh chị em, một người tình … Mỗi người một thân phận, một hoàn cảnh, một đắn đo  … và … một tấm thẻ căn cước. Nhưng chắc chắn chỉ có duy nhất một nỗi lo. Lọt vào tay cái đám sát nhân giả dạng người yêu nước.

Truyện kể tiếp …

Vậy rồi từng người một bị xét hỏi, từng người một phải trình ra tấm thẻ căn cước, với hình ảnh, tên tuổi, ngày sinh, tháng đẻ, nghề nghiệp … dưới những mũi súng hung hăng đang chĩa vào họ và chực chờ lảy cò. Người thứ nhất, người thứ hai, người thứ ba … Mọi việc diễn ra suôn sẻ. Không có ai là ngụy quân ngụy quyền, ác ôn ba đầu sáu tay, không có ai là tay-sai-mỹ-ngụy. Từ cụ ông đến người trai trẻ. Từ con gái đến đàn bà. Ai nấy đều không có tội-tổ-tông. Mẻ lưới tung ra như lọt vào chỗ không. Lúc đó, mặt trời đang mọc hay mặt trời đang lặn, thú thật, loay hoay qua cái chằng chịt của mớ trí nhớ rối mù, tôi không chắc, nhưng hề chi, mặt trời mọc hay mặt trời lặn, bởi vì rạng đông hay tà dương, thì những tia sáng chói lòa đó vẫn bung ra từ một cõi mênh mông, vượt khỏi cõi người trần thế.

Vâng, ngay lúc đó, khi những tia sáng đầu tiên – hay cuối cùng – của mặt trời vừa hắt lên thì bỗng một tiếng hét vuột ra khỏi cửa miệng của tên trưởng toán gian hiểm. Nghiêm. Một tiếng hô “nghiêm” bỗng dội ngược vào tai đám đông đang còn đứng lố nhố như một bầy tử tội khi không rồi được ân xá.  Ngay bon lúc đó, hay một tích tắc sau đó, có tiếng đôi giày da của ai đó chập vào nhau, sắc và gọn. Như tiếng giày saut chập vào nhau khi … người lính nghe quân lệnh của thượng cấp. Cái thế đứng nghiêm, hai tay buông thõng ép sát vào thân, hai chân chập lại, mặt ngẩng lên, cằm giương thẳng … vừa như tuân thủ mà vừa như biểu lộ một sự tự chủ tuyệt đối. Cái thế “nghiêm” trong bài thao diễn cơ bản mà người lính đã học và tập bao nhiêu lần từ khi khoác vào đời trai bộ quân phục. “Nghỉ “. “Nghiêm“. Ôi cái huấn lệnh nghe đi nghe lại đến nhập tâm. Và trở thành cái phản xạ của bất cứ một người trai nào đã mang nghiệp lính vào thân.

Vâng, buổi sáng đó – hay buổi chiều đó -, bên bìa một khu rừng hiểm hóc, một người trai miền Nam, một người lính miền Nam, trên chuyến xe về phép, thăm cha thăm mẹ, hẹn hò người yêu … , người lính trẻ mặc bộ đồ dân sự, cầm tấm thẻ căn cước dân sự … đã đối mặt với định mạng, trực diện, rồi ngang nhiên chấp nhận cái số phận như một chọn lựa của ý thức, đánh đu tính mạng mình lên sợi dây sinh tử. Trong cái giây phút bất ngờ, bất chợt, bất định đó … anh đã sống đúng phóc cái bản chất của người lính với tất cả vinh quang và tủi nhục của nó, với mọi bất trắc của một người con trai đi gánh vác chuyện nước non. Và … chuyện phải đến đã đến. Toán du kích hí hửng như bắt được vàng, chĩa súng xúm lại …

Mấy chục năm đã qua, làm sao tôi còn nhớ được lời văn, câu chữ … Vậy mà tôi vẫn nhớ, cái tình huống mà tác giả đã dựng lên khi người con trai bị bắt trói bởi đám người cuồng tính. Lạnh như tiền. Vững như đồng. Khi đã biết chắc số phận mình, nhân vật chính, người con trai, người lính trẻ vẫn ngẩng cao mặt, thân thẳng, vai ngang, mắt quắc … Ngay lúc đó, chính lúc đó, mặt trời, chính mặt trời với chùm sáng ngạo nghễ hắt lên mặt anh vừng hào quang lóng lánh nhất. Tôi nhớ, ngay lúc đó, tôi đã rùng mình. Ngay lúc đó hình ảnh con chó sói của Alfred de Vigny bỗng chồm lên trong trí. (*) Người thanh niên, dáng thẳng, mặt lạnh, lời câm. Cái hình ảnh mà tác giả dựng lên khốc liệt đến làm há hốc miệng mà không kêu ra lời.

Mãi nhiều năm sau, tôi mới tìm ra được chữ để gọi cái giây phút kết thúc đó. Bi tráng. Quả tình bi tráng. Bi đát một cách hùng tráng. Có mâu thuẫn không. Không. Đó là một bi kịch với một kết thúc táo bạo đến rùng mình. Và đẹp lẫm liệt như một thần thoại Hy Lạp.

Vậy rồi, đến chừng lên đại học, lại được đọc thêm thơ của ông. Những bài thơ tự do, thơ năm chữ, bảy chữ … Chữ nghĩa vạm vỡ. Ẩn dụ mênh mông. Hình tượng lẫm liệt. Đọc xong cứ như vừa chạy băng đồng. Thở dốc. Hụt hơi … Mà rồi lại muốn bắt đầu một cuộc băng đồng mới. Đọc rồi như có điều gì muốn nói. Mà rồi lại ngậm câm. Chữ của ông như tẩm thuốc mê. Đọc xong rồi ú ớ. Có điều mãi mãi tôi vẫn muốn viết về thơ của ông. Thơ Tô Thùy Yên. Mà viết về cái gì. Chữ Nghĩa của ông? Thứ chữ nghĩa tự nó đã biện minh cho sự hiện hữu phi thường của nó. Mỗi chữ đã là một giá trị tự thân. Tự nó. Chính nó. Nói gì thêm cũng chỉ là phù phiếm. Ý tưởng của ông? Thứ ý tưởng lồng lộng như mây giông đầu hạ, giậm giựt bao nhiêu là sấm sét chỉ chờ dịp cựa mình. Như vậy thì viết làm sao cho ráo, bắt làm sao cho kịp những tia chớp, nháng lên từ những liên tưởng xảo diệu và ẩn mật đến sững sờ.  Vậy mà sao tôi lại dại dột loay hoay hoài với những bài thơ, những câu thơ, những vần những điệu, những chữ mà ý nghĩa của từng chữ từng câu cứ chực trào ra khỏi cái khuôn đang cầm giữ nó. Câu hỏi cứ lẩn quẩn trong cái đầu rối mịt của tôi. Đã lâu, lâu lắm! Rồi bây giờ, mấy mươi năm sau. Sao vẫn cứ ý nguyên cái thắc thỏm như chính mình đã để lỡ một hẹn thề.

Từ những năm 60, 70, 80, 90 … của thế kỷ trước, rồi vụt sang thế kỷ khác, những năm 2000, khi thân xác đã có chừng mệt mỏi mà trí óc thì vẫn lùng bùng y nguyên thời còn trẻ, mỗi khi đọc lại thơ ông.

Thi sĩ Bắc Nam đều chết rạp 
Ba trăm năm lịch sử làm thinh

Đủ chưa, hai câu thơ đó. Hai câu thơ đọc lúc trai trẻ đã muốn rùng mình. Bây giờ, vài mươi năm sau, đọc lại vẫn nguyên cái cảm giác choáng ngộp của Trần Tử Ngang khi leo lên chót đỉnh U Châu đài mà ngẫm nghĩ chuyện nhân sinh. Niệm thiên địa chi du du. Độc thương nhiên nhi lệ hạ. Thi sĩ có phải là bậc tiên tri thấu thị. Thơ làm từ năm 72. Vậy sao đọc lên lại thêm cái cảm giác hãi hùng khi nghĩ tới bước chân của lịch sử đã và đang giẫm lên số phận của người Việt, nhất là từ khi người cộng sản giẫm đạp bằng những bước chân thô bạo lên cái dòng sinh mệnh của dân tộc. Hai câu thơ, 14 chữ, gọn bâng mà sao nghe rổn rảng tiếng chì chiết rủa xả, lời đay nghiến, giọng kêu thương của lớp lớp biển dâu, của trùng trùng oan khuất, của núi xương vô định, của mồ mả vô danh…

Làm thinh. Chữ nôm na mà nghĩa trầm thống. Chữ tĩnh mà nghĩa động thốn tâm. Thử đọc lên hai chữ làm thinh, làm thinh là làm thinh, là ngậm miệng, là nuốt tiếng…  nhưng sao như nghe vọng lại từ đó bao nhiêu tiếng kêu gào rên siết, tắt nghẹn trong cổ họng … của đám dân đen mỗi lần thay ngôi đổi chúa, của sông Gianh cắt lìa ruột thịt, của Bến Hải nước tẻ hai dòng, của đường 13 pháo chùm pháo chụp, của đường số 1 con bú xác mẹ, của đảo Ko Kra trinh tiết dập vùi, … của từng đám tù nhân không-danh-số lê lết qua những trại giam ngụy trá. Lịch sử làm thinh hay chính lòng người ngoảnh mặt làm ngơ, bịt tai bịt mắt trước những lộng hành của cái ác. Từ khi nào thơ không còn là hoa trái của cuộc đời và người làm thơ bị coi là đồ thừa thãi, bị giam cầm hay bắn giết, mặt đất này chỉ còn là sa mạc, thứ sa mạc làm khô khốc lòng người. Rồi ra, thơ chỉ còn là tiếng dội của vô vọng, là lời của vô ngôn, là mặt thật của vô cùng để lần cuối biểu dương cùng tận cái vinh dự lầm than của kiếp người

Vinh dự lầm than của kiếp người?

Cái nghĩa nghịch lý của câu thơ đã đủ để biểu lộ cho con-mắt-trông-thấu-cả-sáu-cõi-tấm-lòng-nghĩ-suốt-cả-nghìn-đời (**) của bậc-vương-tôn miền-trí-tuệ chưa! Lời thơ như sóng cuộn ì ầm mà dội lại tiếng vô thanh, vô thanh của vô cùng vô tận, như vẽ ra rồi lại xóa đi từng bức tranh vân cẩu, như mở ra rồi đóng lại cái vòng lẩn quẩn loay hoay của cuộc lữ miên trường. Mỗi câu thơ là một vấn nạn. Nhưng… Thiên hà ngôn tai. Trời đất có nói gì đâu.

Và rồi tất cả sẽ nguôi ngoai ?!

Rồi tất cả sẽ nguôi ngoai…

Đã có lúc, làm thơ như dấn thân vào một cuộc đuổi bắt với vô vọng … Mọi thắc mắc siêu hình vốn dĩ là cách thức ngạo mạn của kẻ chơi đùa với chữ nghĩa. Nhưng khác với lối đua đòi làm dáng, Tô Thùy Yên đã xua thơ mình chạy mút tới tận cùng để giáp mặt cái Cùng Tận đó, cái Vô Hạn đó, cái Hư Không! Thơ sung mãn như cái hùng tâm truy lùng chân lý. Và vì vậy, ông đã gặp, tôi tin vậy. Bạn có nghe, này bạn có nghe. Vũ trụ miên man chuyển động đều. Chim đã bay quanh từ vạn cổ. Gió thật xưa, mây thật già nua. Nên với một đời, bao biến đổi. Mà trong vô hạn có gì đâu. Bài thơ, những bài thơ làm trong giai đoạn này không ghi ngày tháng – mà thật sự có cần ghi ngày tháng không. Cái điều rõ ràng là người làm thơ chưa già mà thơ đã cỗi, cỗi như cả cái vũ trụ vô sở vô trú, cả cái dòng thời gian vô thủy vô chung, trùng trùng, điệp điệp… Và tôi hiểu tại sao Trần Tử Ngang chảy nước mắt, tại sao Tô Thùy Yên sau khi đã mòn gót chân sương nắng tháng năm đã có lúc cũng phất phơ chéo áo đường thiên cổ, nước mắt hồng tuôn đến đá mòn.

Rồi sao nữa ? Rồi  là… đáo bỉ ngạn!

Từ đó là thái độ tri kỷ tri bỉ, biết điều như mọi kẻ biết-điều nhất trần gian. Vạn vật giai bị ư ngã, phản thân nhi thành, lạc mạc đại yên.  Hề, ta trở lại gian nhà cỏ. … Ở đây ta có dăm người bạn. Phúc tự tâm, không lý đến đời. Ở đây ta có dăm pho sách. Và một dòng sông, mấy cụm mây. Hạnh phúc ở đâu mà lặn lội dang thân. Hạnh phúc trần gian ở đâu hay ở chính lòng ta đó. Dòng sông u hiển trôi vô lượng. Dòng sông hiền triết chảy vô tâm. Mà ta ngưỡng vọng như sư phụ. Mà ta thân thiết tựa tri âm… Quên quên, nhớ nhớ tiền sinh kiếp. Thiên cổ mang mang thế sự nhòa. Trận lốc cười tròn trên quá vãng. Ta làm lại cả tâm hồn ta … Ờ vậy thì còn tiếc gì mà không về …

Tưởng tượng ta về nơi bản trạch! Còn gì vui bằng khi mọi điên đảo của thế sự quanh quanh không còn đảo điên giữa lòng ta. Đó có phải là quê-nhà của mọi gã đãng tử sau cuộc tuần du bất tận. Với khám phá diệu kỳ: rồi tất cả sẽ nguôi ngoai

Rồi tất cả sẽ nguôi ngoai!

Nhưng rồi có thật sự tất cả sẽ nguôi ngoai hay vẫn bất tận nỗi đời hung hãn đó như chính ông đã mường tượng, một ngày.

Những năm 70, chiến tranh bùng lên dữ dội. Súng đạn hung hăng, lòng người hung bạo. Qua sông. Đò nghẹn đoàn quân xa tiếp viện. Mưa lâu, trời mốc, buồn hôi xưa. Con đường đáo nhậm xa như nhớ

Xa như nhớ. Trời ơi làm sao đo được cái khoảng cách ở hai đầu một nỗi nhớ mơ hồ. Xa như nhớ. Hoán dụ đến nỗi không còn tính được bằng cây số bởi dặm trường có ở đâu xa. Dặm trường ở ngay chính lòng ta đó. Tuyệt.

Bộ mặt chiến tranh được vẽ ra bằng đường nét tự tại. Không lớn lối cũng chẳng e dè. Không thêm không bớt. Mà nghe ra như đã sầu đâu từ thiên cổ hận… Nao nao mường tượng bóng mình. Mịt mùng cõi tới, u minh tiếng rền. Xuống đò, đời đã bỏ quên. Một sông nước lớn trào lên mắt ngời.

Dĩ nhiên giấy bút làm sao tả cho hết cái bi kịch mà mỗi vai trò chỉ thoáng hiện thoáng mất như những chiếc bóng vật vờ, nhân vật chỉ còn là cái cớ. Diễn trường chính yếu là cái khoảng không còn lại, cái khoảng trống không sau khi vai diễn đã biến mất, mọi tiếng động đã bặt im. Cái còn lại là cái không-còn-gì, không-có-gì. Cái còn lại sau những cuộc tranh giành, dù thắng dù thua, cái còn lại chính là cái im ỉm của thiên địa trơ trơ, của thánh thần lánh mặt, của mất còn còn mất chỉ là hai mặt sấp ngửa của đồng tiền quay tít rồi … bật ngửa ra, bất kể. Em chạy tìm anh ngoài cõi gió. Lửa oan khốc giỡn cười ghê hồn. Tiếng kêu đá lở long thiên cổ. Cát loạn muôn trùng xóa dấu chôn.

Trên bối cảnh của một cuộc vật lộn giữa tử sinh không hồi ngưng nghỉ, thơ như một cầu cơ giáng bút. Điều gì khiến ông làm Trường Sa Hành. Trường Sa hay Hoàng Sa? Ai biết! Đọc thử hết trọn một bài của Tô Thùy Yên để thấy cái điên đảo của chữ nghĩa, cái lồng lộng của ý tưởng …

Trường Sa Hành

Toujours il y eut cette clameur,
Toujours il y eut cette fureur…

Saint-John Perse

Trường Sa! Trường Sa! Ðảo chuếnh choáng
Thăm thẳm sầu vây trắng bốn bề
Lính thú mươi người lạ sóng nước
Ðêm nằm còn tưởng đảo trôi đi

Mùa Ðông Bắc, gió miên man thổi
Khiến cả lòng ta cũng rách tưa
Ta hỏi han, hề, Hiu Quạnh Lớn
Mà Hiu Quạnh Lớn vẫn làm ngơ

Ðảo hoang, vắng cả hồn ma quỷ
Thảo mộc thời nguyên thủy lạ tên
Mỗi ngày mỗi đắp xanh rờn lạnh
Lên xác thân người mãi đứng yên

Bốn trăm hải lý nhớ không tới
Ta khóc cười như tự bạo hành
Dập giận, vác khòm lưng nhẫn nhục
Ðường thân thế lỡ, cố đi nhanh

Sóng thiên cổ khóc, biển tang chế
Hữu hạn nào không tủi nhỏ nhoi?
Tiếc ta chẳng được bao nhiêu lệ
Nên tưởng trùng dương khóc trắng trời

Mùa gió xoay chiều, gió khốc liệt
Bãi Ðông lỡ mất, bãi Tây bồi
Ðám cây bật gốc chờ tan xác,
Có hối ra đời chẳng chọn nơi?

Trong làn nước vịnh xanh lơ mộng
Những cụm rong óng ả bập bềnh
Như những tầng buồn lay động mãi
Dưới hồn ta tịch mịch long lanh

Mặt trời chiều rã rưng rưng biển
Vầng khói chim đen thảng thốt quần
Kinh động đất trời như cháy đảo
Ta nghe chừng phỏng khắp châu thân

Ta ngồi bên đống lửa man rợ
Hong tóc râu, chờ chín miếng mồi
Nghe cây dừa ngất gió trùng điệp
Suốt kiếp đau dài nỗi tả tơi

Chú em hãy hát, hát thật lớn
Những điệu vui, bất kể điệu nào
Cho ấm bữa cơm chiều viễn xứ
Cho mái đầu ta chớ cúi sâu.

Ai hét trong lòng ta mỗi lúc
Như người bị bức tử canh khuya
Xé toang từng mảng đời tê điếng
Mà gửi cùng mây, đỏ thảm thê.

Ta nói với từng tinh tú một
Hằng đêm tất cả chuyện trong lòng
Bãi lân tinh thức âm u sáng.
Ta thấy đầu ta cũng sáng trưng

Ðất liền, ta gọi, nghe ta không?
Ðập hoảng vô biên, tín hiệu trùng
Mở, mở giùm ta khoảng cách đặc
Con chim động giấc gào cô đơn

Ngày. Ngày trắng chói chang như giũa
Ánh sáng vang lừng điệu múa điên
Mái tóc sầu nung từng sợi đỏ
Kêu giòn như tiếng nứt hoa niên

Ôi lũ cây gầy ven bãi sụp
Rễ bung còn gượng cuộc tồn sinh
Gắng tươi cho đến ngày trôi ngã
Hay đến ngày bờ tái tạo xanh

San hô mọc tủa thêm cành nhánh
Những nỗi niềm kia cũng mãn khai
Thời gian kết đá mốc u tịch
Ta lấy làm bia tưởng niệm Người

Đọc lên thành tiếng. Trường Sa! Trường Sa! Đảo chuếnh choáng. Thăm thẳm sầu vây trắng bốn bề … Mùa Đông Bắc, gió miên man thổi. Khiến cả lòng ta cũng rách tưa. Ta hỏi han, hề, Hiu Quạnh lớn. Mà Hiu Quạnh lớn vẫn làm ngơ…

Tôi sẽ nói gì thêm. Đã hỏi rồi. Đã nói rồi. Hiu Quạnh Lớn có nói gì đâu. Thiên địa bất nhân dĩ vạn vật như sô cẩu. Trời đất bất nhân coi vạn vật như chó rơm. Đã vậy thì còn gì để nói thêm?

Còn. Còn rất nhiều điều để kể.

Đầu tiên ta kể về im lặng

Mà ý chừng kể để Hư Không nghe

Hư không, hư không có nghe không? Có nghe Mùa hạn rên siết. Ở đây địa ngục chín tầng sâu. Cả giống nòi câm lặng gục đầu. Cắn chết hàm răng, ứa máu mắt. Chung xiềng nhưng chẳng dám nhìn nhau. Không nhìn nhau nhưng không phải không có gì để nói với nhau. Hay lắm khi im lặng còn nói được triệu lần hơn điều được nói.

Thơ Tô Thùy Yên có triệu điều để nói. Tuy nhiên giọt nước mắt ứa ra ít mặn hơn giọt nước mắt nuốt ngược vào lòng.

Thơ Tô Thùy Yên đọc thầm hay đọc ra rả cho át tiếng sóng vỗ ngoài biển lớn đều như nhau. Cả hai cách đều dội ngược vào người đến nghe đau mềm phế phủ.

Thơ của ông như vậy là như vậy. Y như Hiu Quạnh Lớn. Còn nói nỗi gì. Còn viết thêm chi. Có làm rộn tai. Có làm xốn mắt. Mà sao vẫn cứng đầu cứng cổ mà run tay muốn nhắc muốn nói muốn viết. Mà viết cái chi. Khi mọi sự đã an bày. Hiu Quạnh Lớn có nói gì đâu. Có gì để nói đâu. Hay tại lớn đến choáng ngộp nên làm miệng ú ớ, tay cứng, chữ cùn … Hay nói đại, nói bất kể, thơ Tô Thùy Yên… Nói về chuyến Tàu đêm chở tù chạy như một cơn giông lửa ròng rã từ Nam ra Bắc, qua trùng trùng oan khuất. Tàu đi như một cơn điên đảo. Sắt thép kinh hoàng va đập nhau. Ta tưởng chừng nghe thời đại động. Xô đi ầm ĩ một cơn đau … Con tàu chạy ngược, suốt con đường sắt xuyên Việt như trở ngược giòng lịch sử, từ văn minh trở lại man rợ, từ yêu thương trở lại thù hằn, từ khoan dung trở lại hẹp hòi, từ chân thành trở lại gian trá.

Muốn nín nhưng đọc thơ lòng như lửa đốt. Có gì cháy âm ỉ giữa lòng ta. Có gì cháy hừng hực giữa đầu ta. Lửa bắt từ xác chữ dị thường, cháy lan theo đường gân sớ thịt, nung đốt ý tưởng rồi làm tro than mọi ý tưởng. Vậy mà vẫn níu chữ chạy theo trối chết, để được tới nơi, cùng lúc với ông. Bởi vậy vẫn viết cho cố xác mà rồi cũng chẳng biết sẽ tới đâu. Vẫn muốn viết về thơ ông như lúc còn tưởng tay vói tới trời. Đến lúc biết trời cao tay không vói tới mà cứ vẫn loay hoay điều bất khả. Viết thêm. Viết thêm nữa. Điều bất khả. Làm sao, làm sao nói hết được cái hạo khí hừng hực bốc lên từ chữ nghĩa ông.

Cho nên …

– Giảng! Bình! Phê! Luận! Tán!
– Nhảm!!!!

Khổ nỗi! Ý bốc lửa. Chữ cuống cuồng. Những trang giấy trắng. Trắng mênh mông. Trắng lạnh ngắt mà lại kêu đòi. Viết về thơ Tô Thùy Yên có phải là vẽ cái vòng tròn mà điểm cuối không bao giờ nối lại được điểm khởi đầu. Viết về thơ Tô Thùy Yên có phải là tả cái mênh mông không cột mốc, không điểm tới cũng chẳng có điểm đứng. Cái dập dềnh của sóng, của gió, của mây, của nước mà mọi hình thù bị phá vỡ từ mỗi sát sa. Có phải là tung tóe theo cơn nổ hồng hoang. Hay là ngộp chìm theo cơn hồng thủy. Cái chết tru rân giờ nguyệt tận. Máu bung từ mỗi lỗ chân lông… Như tên phù thủy già điên loạn. Lịch sử lên cơn dữ bất thường. Viết về thơ Tô Thùy Yên có phải là vẽ rắn thêm chân khi rắn đâu có chân mà vẫn bò vun vút, là châm nước thêm vào lòng biển lớn, là vùi thêm củi vào miệng hỏa diệm sơn.  Người mẹ trẻ buồn đôi mắt trũng. Thân gầy nhom, tóc cháy, da cằn. Địu con, một dúm thịt nhăn nhúm. Ra ruộng khê tìm mót cái ăn. Còn nói được gì thêm về tội ác ngút trời của loại hà-chính-mãnh-ư-hổ đã và đang cắn xé mảnh đất vốn đã gầy còm ở bên kia biển lớn. Thơ của ông dữ dội lắm. Thơ của ông là bản cáo trạng không lời buộc tội dù được viết bằng máu và nước mắt chảy ngược của chính bản thân, thay mặt cho cả một thành phần dân tộc bị án tử oan tình. Vì mỗi hình ảnh ông kê ra đã là một bản án tự thân cho đám sát nhân tội đồ của nhân loại. Thơ ông là một bản J’accuse của Émile Zola để đòi lại sự thật cho sự thật. Đọc thơ ông, sống lại ngày dài trong trại-lán-cải-tạo, trong hầm kiên giam, dưới chòi canh hầm hừ, giữa lon cơm mốc thếch, trên bàn tay trần bươi đất, hay quằn đôi vai kéo cày thay trâu, trong mảnh vải bố nát che thân khi rừng núi lập đông. Ta khóc lẻ loi, cười một mình. Thu hình ẩn náu dưới tâm linh. Mắt chong kinh hãi đêm hư sử. Thân lõa lồ đau cháy khổ hình. Nguyễn Du xưa viết Kiều khiến người đời cứ tưởng nhỏ máu ra năm đầu ngón tay mà viết. Nay đọc thơ Tô Thùy Yên cứ tưởng ông đã mài đá ra mà làm mực. Thứ mực không bao giờ phai vì đã và sẽ trầm tích trong não cân, trong huyết quản của người đọc, đời này và cả đời sau.

Mà còn tuyệt vời hơn nữa, điều đó còn để xác nhận thơ và người thơ đã không bao giờ và sẽ không bao giờ bị thắt cổ bởi lòi tói xiềng gông. Bởi vì, nghĩ cho cùng, cái được gọi là trại cải tạo trong dãy quần đảo ngục tù mênh mông ở Việt Nam sau năm 75 chỉ nhằm một mục đích duy nhất là triệt hạ nhân phẩm của người tù, triệt tiêu mọi ý thức phản kháng, biến họ thành súc vật. Trại tù nằm bên bờ sông Mã ở Thanh Hóa mà tù nhân không được đi thẳng người, phải bò như con thú bốn chân là một điển hình. Nhưng dù vậy, ác tâm hèn hạ đó đã và sẽ không bao giờ thành tựu được. Chẳng những vậy, con người, sinh vật thượng đẳng vẫn mãi là con người dù có bị đòn tra ép uổng tới tận tầng cuối của địa ngục. Hơn vậy nữa, người làm thơ, kẻ chịu khổ nạn nhất trong kiếp đọa đày đó vẫn mãi mãi là sinh vật tối thượng vượt hẳn lên trên lũ cầm thú giả dạng làm người. Ta về. Ta về – một bóng trên đường lớn. Thơ chẳng ai đề vạt áo phai … Ta về cúi mái đầu sương điểm. Nghe nặng từ tâm lượng đất trời. Cám ơn hoa đã vì ta nở. Thế giới vui từ nỗi lẻ loi … Ta về như lá rơi về cội. Bếp lửa nhân quần ấm tối nay. Chút rượu hồng đây, xin rưới xuống. Giải oan cho cuộc biển dâu nầy.

Ôi, tấm lòng thi sĩ, người run giùm thế nhân hơi thu run rẩy, ấm giùm thế nhân tia ấm cuối đông, người đau giùm thế nhân cơn bội bạc của thế sự mà cũng vui giùm thế nhân sự thuận thảo của đất trời. Trên dưới trong ngoài đông tây nam bắc, có chỗ nào kềm giữ được đôi cánh chim hồng hộc. Tấm lòng thi sĩ bay lượn vượt thoát khỏi trói buộc của nhân thế,  nhạy như tơ trời, nhịp cùng nhịp với nhịp mùa, đập cùng đập với nhịp tim của thiên hạ. Tấm lòng đó, bao dung đến vô lượng. Hãy nghe ông sẻ chia với người quen kẻ lạ nỗi-vui-nhục-nhằn khi trở lại từ địa ngục trần gian. Ta về như hạt sương trên cỏ. Kết tụ sầu nhân thế chuyển dời. Bé bỏng cũng thì sinh, dị, diệt. Tội tình chi lắm nữa người ơi … Ta về như sợi tơ trời trắng. Chấp chới trôi buồn với nắng hanh. Ai gọi ai đi ngoài cõi vắng? Dừng chân nghe quặn thắt tâm can. Ta về như tứ thơ xiêu tán. Trong cõi hoang đường trắng lãng quên. Nhà cũ, mừng còn nguyên mái vách. Nhện giăng, khói ám, mối xông nền… Ta về như tiếng kêu đồng vọng. Rau mác lên bờ đã trổ bông. Cho dẫu ngàn năm em vẫn đứng. Chờ anh như biển vẫn chờ sông… Ta về dẫu phải đi chân đất. Khắp thế gian này để gặp em. Đau khổ riêng gì nơi gió cát. Thềm nhà, bụi chuối thức thâu đêm… Ta về như hạc vàng thương nhớ. Một thuở trần gian bay lướt qua. Ta tiếc đời ta sao hữu hạn. Đành không trải hết được lòng ta.

Ta về như tứ thơ xiêu tán. Trong cõi hoang đường trắng lãng quên. Tù về mà thơ phiêu hốt như hạc nội mây ngàn. Nghĩ ra làm sao không khoái trá.

Đành không trải hết được lòng ta? Ờ, làm sao nói cạn được tấm lòng thi sĩ. Người đau cái đau của nạn nước, gấp bao lần cái đau của nhân gian, người buồn cái buồn của thời vận, gấp bao lần cái buồn của nhân gian. Vậy mà rồi, cuối cùng, vẫn phá chấp để tìm lại bộ mặt tích cực của đời sống, để mở lòng yêu đời yêu người dù đã quá độ đắng cay. Mặc kệ trời bày cuộc bể dâu, nhấn chìm hết mọi ước mơ, tắt lịm hết mọi dự phóng, vẫn nguyên si tấc dạ của đứa con lưu lạc trở về nhà. Thương hờn oán giận rồi ra cũng chỉ là mấy nét nhăn nhúm của bộ mặt trần gian khó ưa. Mặc kệ, vẫn còn đó, nụ hoa nở trái mùa, trái chín muộn trên cây … Cũng chẳng biết triết lý nào đạo nghĩa nào đã nuôi hồn thi sĩ. Mà cũng chẳng cần biết. Vậy chớ lẽ đời tính vậy chẳng là … phải phải lắm sao! Giáo điều chi cho mệt. Đọc xong tôi cũng hả dạ lây. Ôi tâm hồn thi sĩ ấy!

Bởi vậy mà đọc lại thơ ông khi lòng đã lạnh mọi hương nguyền, chuyện đời đã trơn tuột ngoài vòng tay mà sao vẫn thấy xao xuyến như có gì muốn cà kê, muốn lải nhải, muốn trần tình, muốn kể lể… muốn… muốn… muốn…

Vậy thì nhìn vào những khung giấy bỏ trống bên dưới, có thấy không, chữ nối chữ, lời tiếp lời, đầy ắp … những điều không nói được, vừa thảng thốt mà lại vừa thống khoái trong lòng khi đọc thơ ông. Thơ Tô Thùy Yên không có tính từ để ép uổng. Nói này nói nọ thật ra chỉ là cưỡng cầu. Hãy đọc thôi. Đọc bằng tấm lòng xích tử, khi ngôn ngữ chưa thành lời…

………………………………………………………….

…………………………………………………………..

………………………………………………………….

…………………………………………………………..

………………………………………………………….

…………………………………………………………..

………………………………………………………….

…………………………………………………………..

Những khung giấy trắng phẳng phiu này, mặt giấy mênh mông đó có phải là cách nói đúng nhất về những gì cần nói về thơ Tô Thùy Yên.

Hay là chỉ nên đọc. Đọc. Đọc. Đọc. … Đọc thầm hay ngâm nga. Đọc như đăng đàn tuyên cáo hay đọc khi bưng đầu diện bích. Rồi ngưng bặt. Và … im tiếng. Làm thinh.

Thơ ông đã nói đủ, nói hết mọi điều cần nói.

Thiên hà ngôn tai.

Cao Vị Khanh
tháng tư 2019

TTY – Tôi châm điếu thuốc nữa
Đốt tàn thêm tháng năm

(*) Gémir, pleurer, prier est également lâche.
Fais énergiquement ta longue et lourde tâche
Dans la voie où le Sort a voulu t’appeler,
Puis après, comme moi, souffre et meurs sans parler
(Alfred de Vigny, La mort du loup)

(**) Mộng Liên Đường chủ nhân

– nét chữ đậm: chữ và thơ Tô Thùy Yên.

HIỂU

Ý Nga

cobaycobay
*
Trích tuyển tập THUYỀN NHÂN
*
Gn c năm mi gp li em Thiếu Sinh Hướng Đo ngoan. Sau khi chào hi, con bé bt đu câu tâm stht là l:
-Do này em trc lóc luôn đó Trưởng.
Nhìn con bé có v xanh xao làm tôi git c mình, nhưng cũng cố gng hi vi ging không bi quan:
-Sao vy nè? Em b rng tóc nhiu quá phi không? Chng l em đang đi tóc gi?
-D hng phi tóc mà lóc. Trc lóc luôn!
Đến đây thì ging nói ca tôi đã bt đu run run xót xa:
-Sao mà đến nông ni trc lóc? Em bnh chi phi điu tr bng thuc mnh lm à?
-D hng phi luôn! Ti em “lân” qua, “lân li quài” mà hng ngủ được.
Tôi đnh thn mt chút mi v l:
-Chao ơi! Em làm trưởng mun ung thuc tr tim luôn. Lăn hoài không ngủ được là TRN TRC chkhông phi TRC LÓC đâu.
Con bé ngn ngon:
-D là TRN TRC đó, ch nào cũng có TRC nên em nói sai “quài”. Dzy sao hôm “hm” ông Ni chi: “My thng DiCng” là sai, VIT CNG mới đúng mà trưởng hng sa ông Ni?
-Trưởng không sa vì không phi ông sai đâu, ông biết là VIT chứ, nhưng đó là cách phát âm của người min Nam: tt c các ch V đu phát âm thành D. Không nên sa cách phát âm vì đó là thói quen khó bỏlm! Nếu nói ông sai thì em cũng va mi nói sai nè: VY, HOÀI, HÔM ĐÓ ch đâu phi DZY, QUÀI, HM. Với người Vit thì dù ông có nói sai, trưởng cũng không dám sa, vì sa thế là vô phép.
-D em biết rồi! Nhưng tại sao ông Ni nói:
-“Chi dzy Vit Cng nó cũng không hiu đâu cháu”? Sao Vit Cộng ngu quá? Người ta chi mà không biết?
Tôi tr li em vi c ni bun trong tim:
-Chúng mà… khôn thì chúng ta đâu có  đây, dân Vit mình ở trong nước đâu kh vy!
-D chuyn đó em hiu.
Tôi thoáng ngc nhiên: -Em còn nhỏ mà đã… hiu sao?
            -D hiu chứ, năm nào nhà em cũng có bạn lính ca ông Ni đến họp hành đông đ đ t chc lễ Tưởng Nim Quc Hn 30.4. Ai cũng chi Vit Cng ác quá “chi chi” luôn
Thế ri con bé k huyên thiên bao nhiêu tội ác do VC gây ra mà nó đã thấm được vào đầu, qua ông bà, qua bn bè nhà binh ca ông, qua cha m và h hàng thân thuc trong nhà… Tôi tha hồ được ngi nghe mãn nh mt ngôn ng “Vit lai M”, nghe mà nhiều lúc cười chy cả nước mt. Nim vui thy tr còn nói tiếng Vit có l là nim vui duy nht ca một tháng Tư đầy bi ly trong lòng mt thuyn nhân xa x.
*
Chao ơi! Đứa tr mà còn nghe và hiu nhiu v ti ác ca VC, không hiu sao bao nhiêu Vit gian li không nghe bao gi nh? Hay là chúng nghe nhiu mà không hiu như con bé?
Ý Nga

MỘNG

Thư viện của bài

This gallery contains 1 photo.

Hồ Đình Nghiêm

            Tôi gặp chị lần đầu tiên vào tháng 10 năm 1987, gặp ở “Trăng Đất Khách”. Chị là tác giả bài thơ Trăng Đất Khách, được Làng Văn Magazine chọn làm nhan tuyển tập “Các Cây Bút Nữ Hải Ngoại” bao gồm 18 người với bề dày lên tới 352 trang. Trong tuyển tập ấy, riêng chị đóng góp 7 bài thơ và 1 bài được Phan Ni Tấn phổ thành ca khúc. Từ 1987 cho đến nay tôi vẫn chưa có cơ hội được gặp chị ngoài đời, chỉ nhìn bóng dáng chị ẩn hiện trên các trang giấy, lẩn trốn trong các dòng chữ; theo tôi là quá đỗi mượt mà, quá đỗi trong sáng… những yếu tố tiên khởi làm nên sức quyến rũ đọc giả được hình thành từ một ngòi bút tài hoa. Mới đây, lòng tôi lại thổn thức khi đọc phải bài bút ký của chị thuật lại chuyến đi “hành hương” về Mã Lai, quanh các trại tỵ nạn cũ từng lưu dấu vết của thuyền nhân Việt Nam để thắp hương cho các linh hồn xấu số. Không cầm được lòng, tôi đã viết lá thư ngắn gửi đến chị để bày tỏ lòng biết ơn. Nghĩa cử của chị khiến một đứa vượt biển may mắn như tôi phải xót xa, thầm tri ân.

Tôi yêu câu thơ của Hoàng Trúc Ly (?):

“đời lê thê quá tôi về muộn
em ngủ một mình đêm gió mưa”.

Cuộc sống tôi rất “lê thê”, muốn đi thăm hỏi những người mình mến chuộng thì luôn bị “gió mưa” làm khó. Chị là người tôi mến chuộng. Ở xa, tôi chỉ còn biết duy một cách là thực hiện cuộc trò chuyện này. Tiếp tục đọc

Đừng Đi

Đặng Xuân Xuyến

ao-dai-trang-4
Ở lại đi
Một đêm thôi
Một đêm thôi, ở lại
Ta xin người ở lại, chỉ một đêm 
Ngoài kia trời lướt khướt sũng đêm
Ta tí tách trong này mơ hồ từng giọt rỏ
.
Ta nào khóc. Chỉ là ta quá nhớ
Những chiều Thu ai tết tóc bên thềm
Rãi trăng vàng ai ríu rít hằng đêm
Và ai nữa khiến ta từng ngộp thở.
.
Ta xin đấy. Ngoài kia là những gió
Hun hút đêm, hun hút ánh đèn mờ
Người ở lại. 
Đừng đi!
Đừng đi! 
Ta sợ
Bảy năm trời thoáng chốc chỉ là mơ.
*.
Làng Đá, đêm 29.09.2018
ĐẶNG XUÂN XUYẾN

Khúc Tự Tình Tháng Ba

Nhật Quang

ao trang1
Gió đùa hoa bưởi tháng Ba
Hương xuân ngan ngát la đà khoe duyên
Nồng nàn vai lụa thuyền quyên
Nắng rơi vương nhẹ nét huyền thanh tân
Tháng Ba xa lắm cũng gần
Mắt em biêng biếc xanh ngần ước mơ
Hoa xoan tím lối hẹn chờ
Ép trang kỷ niệm…vần thơ ngọt ngào
Say đêm Nguyệt mộng chiêm bao…
Quỳnh hương lơi lả, thầm trao tim hồng
Buông lơi nhẹ khúc tơ lòng
Địa đàng trái cấm ngọt nồng dấu môi.
Nhật Quang
(Sài Gòn)

CHUYỆN THÁNG TƯ QUÊ TÔI 2

Thư viện của bài

This gallery contains 1 photo.

Nguyên Lạc
RA ĐI. VỀ TÌM
.
Tang thương một thuở ba đào
Trùng khơi sóng dữ xác nào vùi sâu!
(Nguyên Lạc)

1.
Đêm nay chợt nhớ con kính
Hai bờ dừa nước. dòng tình xuôi êm
Hậu Thạnh đồng lúa êm đềm
Anh ra Đại Ngãi tìm em má hồng
Trường xưa. còn nhớ hay không?
Phượng hồng. mắt biếc. tình nồng. duyên quê
.
Tháng Tư. dâu bể não nề!
Chồng đi “cải tạo”. em về quê xưa
Lưng còng. sáng nắng. chiều mưa
Trên dòng kinh cũ. sớm khuya tảo tần
Nuôi con. ngấn lệ. đợi chồng
Đợi bao năm nữa? Tiếp tục đọc

Đọc Bài Thơ “Bạn Quan” của Đặng Xuân Xuyến

Thư viện của bài

This gallery contains 1 photo.

CHỬ VĂN LONG

BẠN QUAN

Bạn cũ lâu ngày gặp lại
Chén rượu quê đưa đẩy tẩy trần
Tao ruột ngựa hỏi câu ngớ ngẩn
Mày làm quan chắc kiếm bộn tiền
Chức ấy rẻ mà sinh lắm lãi
Mày học ngu nhưng thủ đoạn tài
Tao học giỏi nhưng mù thủ đoạn
Mãi long đong chức phó dân quèn
Mày nhăn mặt chửi tao thằng đểu
Quá nửa đời mãi chửa hết ngu…
.
Rượu tới tầm
Mày ghé tai tao
Nói thật nhỏ
Căng tai mới rõ
Làm người khó
Làm quan càng khó
Chốn quan trường chó vịt giống nhau
Mày than đời chỉ rặt những thau Tiếp tục đọc

bài nhớ em thứ nhất

Khê Kinh Kha

1thieu_nu_va_bien

cho DP

xa nhau, cách mấy trùng dương
hay xa cách chỉ con đường
mà sao lòng nhớ, lòng thương thế này

vắng nhau, mấy mùa lá bay
vắng nhau, hay chỉ một ngày
mà hồn day dứt buồn hoài không ngơi

mưa rơi hay nước mắt rơi
trăng cao trong đắy rượu đầy
em ơi, đêm vắng mình tôi ưu phiền

gío bay hay hồn chênh vênh
xót xa nhàu nát trong tim
từng đêm úp mặt gọi tên một người

KhêKinhKha

Một Thời Em Tôi

CHUYỆN THÁNG TƯ QUÊ TÔI
.
(Gởi Trần Phù Thế)
*
“Ai muốn chép công ta chép oán,
Công riêng ai đó oán ta chung” (Vô danh thị)
.
I. MỘT THỜI EM TÔI 
.
“Bìm bịp kêu nước lớn anh ơi
Buôn bán không lời, chèo chống mỏi mê” (ca dao)
.
*
Nhánh lục bình trổ chùm bông tím biếc
Vướng bãi bùn khóc dòng xiết trôi xa!
Con thòi lòi trố mắt nhìn thương tiếc
Bỗng giật mình trái bần rụng chiều tà
.
*
Người về đâu lệ lưng tròng rưng rức
Bỏ lại sau bờ bến khói sương và…
Xuôi về đâu chiều bóng ngả bờ xa?
Buồn con nước bìm bịp kêu đôi tiếng!
.
Người năm cũ đâu còn áo lụa!
Trên dòng kinh bờ lở bờ bồi
Đôi mái chèo cùng đứa con côi
Vạt tóc khét lưng còng đời cô phụ!
.
Người năm cũ đâu còn cười nụ
Bên dòng đời khóc nỗi tàn phai!
Người “chinh phu” trên ngàn đẵn gỗ [*]
Ngày khổ sai lệ đổ đêm dài!
.
Ai gây chi đớn đau dâu bể?
Để em tôi cơ khổ phận người!
Để héo hon tuổi mộng đôi mươi
Trang đài cũ tả tơi theo năm tháng!
.
*
Tháng Tư chi?
Nhân sinh đầy khổ nạn
Ký ức ơi! 
Chứng tích đến khi nào?
Làm cách gì? 
Biết làm sao?
Ai níu được mây trắng bay… bay… 
Mãi…!
.
Nguyên Lạc  
………
[*] Trại “cải tạo”:Chém tre, đẵn gỗ trên ngàn/ Hữu thân, hữu khổ phàn nàn cùng ai?!
(Ba năm trấn thủ lưu đồn – Khuyết danh)
………
(Còn tiếp bài 2: “Ra đi, Về tìm”)

Đắp Mộ Cuộc Tình

Trương Thị Thanh Tâm 

00cogai hinh ve
Tôi với anh đã bao mùa thắm thiết
Nhưng giờ đây có lẽ đã tàn phai 
Một lần yêu đã trôi dài năm tháng 
Bởi cuộc tình quá trăm đắng ngàn cay 
Sao anh để tình ta chôn đáy mộ 
Giọt lệ nào tôi từng khóc bên anh 
Giờ tan biến theo thời gian xa cách 
Tôi không muốn, cũng đành thôi anh ạ 
Cuộc tình nầy chắc chỉ có bao nhiêu 
Bao lời thơ anh gởi gắm ai nhiều 
Lòng đau đớn, tôi vay từ kiếp trước 
Những muộn phiền giờ xin trả anh yêu 
Không mơ mộng cũng chẳng chờ chẳng đợi 
Chôn cuộc tình vào ngõ tối mênh mông 
Có còn chăng chỉ tiếng nói trong lòng 
Một lần nói yêu tôi…giờ quên lãng!
                Trương Thị Thanh Tâm 
                           Mytho 

Biết

Đặng Xuân Xuyên

1tocthe

Ừ biết
Em rồi chẳng đợi
Mà lòng chẳng nỡ buông lơi.

Ừ biết
Chỉ lời giả dối
Mà tin, tin đến cạn lời.

Thôi thì
Sắm vai người dại
Ngô nghê với tháng năm dài
Một mai giữa đời gặp lại
Chỉ là lữ khách vãng lai.

Thôi thì
Xuân tình trễ nải
Gãy duyên, gãy cả trâm cài.

ĐẶNG XUÂN XUYẾN
Hà Nội, Ngày 21 tháng 03 năm 2015

Làm Sao Quên Được

Nguyên Lạc

codon

Sâu trong tiềm thức… 
vẫn còn
Bao nhiêu năm nữa? 
ta quên một thời!
Tháng Tư…
một thuở xa người!
Đêm nay 
nến lệ khóc đời…
oan khiên!
.
Vô thường. Không. Sắc
Tâm kinh
Cố quên. ta tụng…
Nhưng hình như không!
.
Làm sao quên được… 
mà mong?
Tháng Tư về lại. xát lòng. nỗi đau!
.
Xót xa 
dâu bể thuở nào
Người ơi chứng tích…
ngàn sau vẫn còn!
.
Nguyên Lạc

Tháng Tư, cười hay khóc?

Thư viện của bài

This gallery contains 1 photo.

Trần Mai Trung

Tháng Tư năm 1975, người Việt Nam phía Bắc chiến thắng người Việt Nam phía Nam. Người phương Bắc vui vẻ. Người phương Nam buồn rầu, nhưng tự an ủi là từ nay có hòa bình, anh em Việt Nam không còn bắn giết nhau.

Trong chiến tranh 1954-1975, phía Bắc không nói nhiều về hòa bình, hô hào “dù phải đốt cháy cả dãy Trường Sơn” cũng tiếp tục chiến tranh ở miền Nam. Phía Nam thì nói nhiều về hòa bình, có lẽ vì chiến tranh diễn ra tại miền Nam, tàn phá chết chóc nhiều quá. Một số thanh niên “lý tưởng” ở miền Nam còn mơ mộng “nối vòng tay lớn” với người anh em phía bên kia, họ đâu biết là người CS sẽ không bắt tay với tình anh em bạn bè, đảng CS chỉ muốn lãnh đạo và ra lệnh.

Hòa bình đến khi một bên thắng và một bên thua, cuộc sum họp không có tình anh em chút nào. Hai tháng sau, hơn 200 ngàn người anh em miền Nam bị người anh em miền Bắc đưa vào các trại cải tạo tập trung, tức là tù lao động khổ sai. Nhiều người bị giam từ 5 đến 10 năm, nhiều người đã chết ở đó, có người bị giam đến 17 năm. Cuộc chiến đã chấm dứt, người CS vẫn đi theo đánh người ngã ngựa. Tiếp tục đọc

Tháng tư ruồi muỗi. [châu chấu] [cào cào]

Thư viện của bài

This gallery contains 1 photo.

hoàng xuân sơn

chui vào không đặng chui ra

                bài ly hương thứ 38
chểnh mảng chui vô buồng mình
lạnh người bỗng thấy rộng rinh cửa nhà
tự hồi phên dậu bứng ra
gió huơ nhà trống người/ma rập rờn
lét leo đóm lửa cô hồn
cành cao đại thụ chui lòn dưới mương
con đường chảnh chọe vô ơn
lầu phủ làm bộ mặt nhơn nhơn ngầu
vườn hoang kệ tía bí bầu
bạn còn rã họng dưới khâu bít bùng
chui dzô chui ra cái mùng
mới hay ruồi muỗi hùa chung cắn mình

ly hương
đổ oà lên thúng cây
những con chó xa bầy Tiếp tục đọc

 Đọc Lại Biên cương hành

Cao Vị Khanh

1minhTháng 4, đọc lại Biên cương hành

của Phạm Ngọc Lư

 

Biên cương hành

Biên cương biên cương chào biên cương
Chào núi cao rừng thẳm nhiễu nhương
Máu đã nuôi rừng xanh xanh ngắt
Núi chập chùng như dãy mồ chôn
Gớm, gió Lào tanh mùi đất chết
Thổi lấp rừng già bạt núi non
Mùa khô tới theo chân thù địch
Ta về theo cho rậm chiến trường
Chiến trường ném binh như vãi đậu
Đoàn quân ma bay khắp bốn phương
Lớp lớp chồm lên đè bẹp núi
Núi mang cao điểm ngút oan hờn
Đá mang dáng dấp hình chinh phụ
Trơ vơ chóp núi đứng bồng con
Khu chiến ngày tràn lan lửa dậy
Đá Vọng Phu mọc khắp biên cương
Biên cương biên cương đi biền biệt
Chưa hết thanh xuân đã cùng đường
Trông núi có khi lầm bóng vợ
Ôm đá mà mơ chuyện yêu đương
Thôi em, sá chi ta mà đợi
Sá chi hạt cát giữa sa trường
Sa trường anh hùng còn vùi dập
Há rằng ta biết hẹn gì hơn?

Đây biên cương, ghê thay biên cương!
Núi tiếp rừng, rừng tiếp khe truông
Hãi hùng chưa trời hoang mây rậm
Mùa mưa về báo hiệu tai ương
Quân len lỏi dưới tàn lá dữ
Lá xôn xao xanh mặt hoảng hồn
Sát khi đằng đằng rừng dựng tóc
Ma thiêng còn ngán lũ cô hồn
Cô hồn một lũ nơi quan tái
Có khi đã hoá thành thú muông
Cô hồn một lũ nơi đất trích
Vỗ đá mà ca ngông hát cuồng
Chém cây cho đỡ thèm giết chóc
Đỡ thèm môi mắt gái buôn hương

Đây biên cương, ghê thay biên cương!
Tử khí bốc lên dày như sương
Đá chảy mồ hôi rừng ứa máu
Rừng núi ơi ta đến chia buồn
Buồn quá giả làm con vượn hú
Nào ngờ ta con thú bị thương
Chiều hôm bắc tay làm loa gọi
Gọi ai nơi viễn xứ tha phương?
Gọi ai giữa sơn cùng thuỷ tận?
Ai người thiên cổ tiếc máu xương?
Em đâu, quê nhà chong mắt đợi
Hồn theo mây trắng ra biên cương
Thôi em, yêu chi ta thêm tội
Vô duyên xui rơi lược vỡ gương
Ngày về không hẹn ngày hôn lễ
Hoặc ngày ta nhắm mắt tay buông
Thôi em, chớ liều thân cô phụ
Chiến trường nay lắm nỗi đoạn trường
Nơi nơi lạnh trăm dòng sông Dịch
Kinh Kha đời nay cả vạn muôn
Há một mình ta xuôi biên tái
“Nhất khứ bất phục phản” là thường!

Thôi em, còn chi ta mà đợi
Ngày về: thân cạn máu khô xương
Ngày về: hôn lễ hay tang lễ
Hề chi! buổi chinh chiến tang thương
Hề chi! kiếp cây rừng đá núi
Nghìn năm hồn quanh quẩn biên cương.

5-1972
**************

Biên cương biên cương chào biên cương
Chào núi cao rừng thẳm nhiễu nhương

Bài hành bắt đầu bằng một tiếng chào. Tiếng chào câu hỏi từ muôn đời vẫn được coi là biểu tượng của sự quen biết, thân ái, mời mọc … Có ai mà chào người dưng nước lả. Hay có ai mà gật đầu chào một kẻ thù, một đối tượng sẵn sàng nuốt sống, ăn gan, uống mật mình đâu. Vậy mà Phạm Ngọc Lư lại gật đầu, lại vẩy tay chào… mối hiểm họa đang chờn vờn ngay… trước mắt mình.

Biên cương biên cương chào biên cương
Chào núi cao rừng thẳm nhiễu nhương

Dù vậy, nguyên câu thứ nhất  bảy chữ toàn vần bằng, mà hết sáu chữ là loại phù bình thanh. Giọng ngang ngang, không cao không thấp, nghe ra cái điệu khinh khỉnh… như chào mà không chào. Chào mà không lấy gì làm thân thiết, lại như có chút gì thách đố.

Biên cương biên cương chào biên cương

 Thật ra, đã có thời, trên cái xứ sở khốn khổ của chúng ta, biên cương hay rừng núi hay thành phố hay đồng bằng, kể cả chợ búa hay trường học… đã có gì khác nhau đâu. Tất cả đã được người ta biến thành mọi bãi chiến trường. Ở đâu, bất cứ lúc nào cũng có thể là trận địa, một khi lòng người đã bị nhuộm đỏ bằng sự cuồng tín và ngụy trá. Nghĩ vậy rồi, đọc lại câu mở đầu bài Biên cương hành mới nhận ra được hết sự cay đắng, niềm xót xa của một kẻ sĩ trót sanh nhằm-thế-kỷ.

 Ông tới đó, Củng sơn, một thị trấn hẻo lánh nằm dạt về phía biên giới Lào, nơi mà máu-đã-nuôi-rừng-xanh-xanh-ngắt-núi-chập-chùng-như-dãy-mồ-chôn.

Hình dung một thế đất, bốn phía rừng núi vây quanh, chướng khí mù mịt, gió Lào thốc tháo, mà mỗi thân cây đã được vun phân bén gốc bằng máu me xương thịt của bao nhiêu trai trẻ được xua tới đó để giết người hoặc bị người giết. Điệp tự xanh-xanh ( ngắt )sẽ tính ra bằng bao nhiêu cân lượng của bao nhiêu nấm mồ ( kể cả không có được một nấm mồ ) để dựng lên một phong cảnh núi rừng toàn bích !

Thử nghĩ coi, bài thơ được ghi làm vào tháng 5 năm 1972, lúc ông vừa 26 tuổi. Năm 72, mà trong bất cứ trí nhớ dù đã quá sức mòn mỏi của những người Việt miền nam vẫn chưa bao giờ quên được. Cái gọi là chiến dịch xuân hè, người miền bắc xua đại quân vượt sông Bến Hải, xé bỏ hiệp định Genève, công khai đánh phá khắp nơi. Bình Trị Thiên. Kontum. Peiku. Bình Long. An Lộc… trọn phần đất ở phía nam vĩ tuyến 17 chìm trong đạn pháo mịt mù. Lính tráng hai bên, dân lành vạ lây chết oan như rạ. Năm đó Phạm Ngọc Lư hai mươi sáu tuồi. Và ông cảm khái làm hành Biên cương.

Tuổi hai mươi, lứa tuổi vừa hết non nhưng chưa đủ dạn dày, lứa tuổi sắp sửa cho một lên đường hướng tới những phương trời cao rộng. Vậy mà người thanh niên đó đã bị chặn hết mọi ngỏ ngách, mọ̣i hy vọng đã bị dìm chết, mọi dự phóng đã bị bóp nghẹt … bằng đủ thứ dã tâm ác ý nhằm dồn đẩy cho được tuổi trẻ bước lọt vào con đường một chiều … con đường sinh tử.

Người thi sĩ đó, lớp tuổi trẻ đó đối diện tương lai mình với tâm trạng cay đắng cùng cực. Vậy còn lạ không khi ông viết

Biên cương biên cương chào biên cương
Chào núi cao rừng thẳm nhiễu nhương
Máu đã nuôi rừng xanh xanh ngắt
Núi chập chùng như dãy mồ chôn

 Lời chào như một tiếng cười mỉa, hay bi tráng hơn, một tiếng cười gằn, phẩn uất… của một kẻ giác đấu bị đưa ra đấu trường mà mọi vòng thành đã bít kín. Nghĩa là không có mảy may một chọn lựa nào khác. Hoặc chết. Hoặc sống. Chết ! Hết chuyện. Sống ? Đã hẵn là may mắn chưa sau khi mặt mày đã nám khói đạn bom, sau khi ngón tay trỏ đã tê điếng vì siết cò súng tới rướm máu ? Câu hỏi trở nên vấn nạn bậc nhất cho cuộc chiến tranh tương tàn đó.  Người thanh niên miền nam nước Việt sinh ra và lớn lên được nuôi dạy trong tinh thần khai phóng, nhân bản và dân tộc. Họ được dạy dỗ yêu nước thương nòi, quí trọng đồng chủng cùng giòng máu đỏ da vàng, họ được uốn nắn theo tinh thần nhân nghĩa ngay từ thưở còn ê a đánh vần từng chữ cái. Huyền thoại cái-bọc-trăm-con đã được giảng dạy hết sức ân cần để in sâu vào ý thức họ ngay từ buổi khai tâm. Lớn lên, hít thở không khí tự do – dù có còn hạn chế, họ vẫn có cơ hội tiếp xúc với mọi trào lưu tiến bộ của nhân loại về mọi mặt. Từ đó, tâm hồn họ trở nên giàu có, phóng khoáng, nhân bản … biết bao nhiêu. Do vậy, khi phải đối đầu với kẻ thù cùng màu da rõ ràng là một thách đố quá bất công và bất nhân của định mạng. Nghĩ lại coi, có phải. Bắn một viên đạn vào kẻ bên kia chiến tuyến là một việc làm chẳng đặng đừng trong khi lòng họ băn khoăn hết sức. Phía bên kia, ngược lại trăm phần. Lịch sữ đã chứng minh triệu triệu điều như vậy.

Bởi vậy khi đối diện với thực tại của cuộc chiến tranh tương tàn đó người thanh niên miền nam, người thi sĩ đó còn thái độ nào khác ngoài sự chấp nhận nó một cách… chua chát đến ngậm ngùi.

Biên cương biên cương đi biền biệt.
Chưa hết thanh xuân đã cùng đường.

Trọn bài hành là một cực tả về tính chất vô lý đến bi đát của cuộc tranh giành xương máu đồng loại vừa qua, trải ra từ trái tim của một kẻ có lòng. Cái tuyệt vời là trong suốt 66 câu 7 chữ không có một chỗ nào để lộ ra sự phẩn nộ. Dù là người trong cuộc, chịu chung kiếp hẩm hiu, ông làm thơ với giọng điệu bi tráng, khẩn thiết mà trầm tỉnh, đau đớn mà không bi lụy. Cho nên dù âm điệu của bài thơ rất trung tính, người ta vẫn nghe ra từ đó tiếng kêu trầm thống của cả một dân tộc bị đọa đày, bị cấu xé, bị giành giựt đến tang thương bởi chính những kẻ cùng chung một nguồn gốc tổ tiên !!! Chữ chở nghĩa trọn tình, từ tốn mà thâm trầm hết mực. Ông không tả cảnh núi rừng mà thấy núi rừng phủ chụp như thiên la địa võng. Ông không tả cảnh sát phạt mà nghe ra như súng nổ đạn bay. Đọc thơ mà tai như nghe ù ù gió thổi, tưởng đâu hồn tử sĩ bay vật vờ trên bãi chiến còn úng khói.

Đây biên cương, ghê thay biên cương
Tử khí bốc lên dày như sương
Đá chảy mồ hôi rừng ứa máu

Trong bất cứ một cuộc chiến tranh nào rồi cũng sanh ra kẻ hèn nhát, người anh hùng. Nhưng cuộc chiến đó, qua hồn của kẻ sĩ làm thơ, không có mảy may vinh quang, mà chì rặt có điêu tàn. Không có người thắng kẻ bại mà chỉ rặt có nạn nhân. Những nạn nhân bị ném ra đất chết như vãi-đậu. Cái chữ nôm na mà ôi sao ai oán ! Vãi đậu. Còn chữ nào tượng hình hơn cho cái chiến-thuật-biển-người đem nướng con đen trong lửa đỏ. Lính tráng được xô ra bãi chết như một lũ hình nhân được cắt bằng giấy không biết vui buồn, không có yêu thương hờn giận. Chỉ là một lũ hình nhân vô tri vô giác trong tay đám phù thủy núp kín dưới tầng tầng công sự, bị ném ra như vãi đậu để giành giựt cho được thứ tham vọng ngông cuồng. Nỗi cay đắng cùng cực của kẻ sĩ Phạm Ngọc Lư thể hiện rõ ràng trong hai chữ cho-rậm, ta về theo cho rậm chiến trường. Cho rậm, rậm đám … người ta hay nói vậy. Nhưng thường nói trong những cuộc vui. Ở đây, giữa cuộc chiến, lấy gì vui mà về-cho-rậm-đám. Nếu không phải  một nỗi bi phẩn cùng cực của một tâm hồn hết sức nhạy cảm trước nỗi bất lực của mình khi thấy chuyện bất nhân bày ra hằng giây hằng phút trước mắt mình. Ôi người thi sĩ tội nghiệp giữa một thời vô đạo. Người thi sĩ đó, kẻ đã được nuôi dạy trong không khí hoa lệ của văn học cỗ điển, với những hồn thơ nhân bản tuyệt vời của một thuở Đường thi lộng lẫy đã đem cái phong cách trang trọng của thơ xưa vào thơ mình. Chữ nghĩa của ông cỗ kính mà nhẹ nhàng, kinh điển mà phóng túng khiến cho bài hành vừa có vẻ xa xôi trang trọng mà lại gần gũi với người trong cuộc biết mấy. Bằng phong độ của một bậc thức giả và nghệ sĩ, ông đã phóng tầm mắt xuyên suốt cõi địa chấn để nhìn thấu qua rừng núi, cỏ cây, đất đá, đạn bom… cái bị che át bởi tiếng nổ, bị chôn vùi bởi đất đá cày xới, bởi đường mật tuyên truyền, bởi rù quến chủ nghĩa… cái thực ở đằng sau mọi giả trá, cái còn lại sau những nát tan… Ông đã thấy đằng sau những núi non trùng điệp bị nổ tung vì đạn mìn, đằng sau những thét gào say máu giữa khói súng và ánh thép loang loáng của dao găm, ông đã thấy ra cái không gian lặng ngắt sót lại, đã nhìn ra cái hình ảnh lạnh lẽo sau cùng, đã nghe ra tiếng kêu gào vô thanh của những… cô hồn, thêm nữa tiếng khóc lặng lẽ nuốt ngược vào lòng của những… cô phụ.

Đá mang dáng dấp hình chinh phụ
Trơ vơ chớp núi đứng bồng con
Khu chiến ngày tràn lan lửa dậy
Đá vọng phu mọc khắp biên cương

Ông ta thấy rõ ràng như một với một là hai, mà có phải ai cũng thấy ra những hồn oan vất vưởng, hay nghe ra tiếng đời vô vọng đó.

26 tuổi. Đã đủ già chưa để cằn cỗi. Đã hết mơ mộng chưa để chai đá. 26 tuổi. Cái tuổi như hoa mới hết thời hàm tiếu mà chưa tới lúc mãn khai. Vậy sao nhìn ra chỉ thấy cái điêu tàn. Cái tuổi lẻ ra đang trên bệ phóng để nhắm tới tương lai. Cái tuổi đã được chuẩn bị để dành cho những hẹn ước. Vậy mà sao gần như con đường trước mặt đã bị phong tỏa kín bưng đến nỗi không dám nghĩ tới cả một lời hẹn ước.

Thôi em, sá chi ta mà đợi
Sá chi hạt cát giữa sa trường
Sa trường anh hùng còn vùi dập
Há rằng ta biết hẹn gì hơn ?

Thương cảm và trân quí biết bao nhiêu tâm hồn thi sĩ đó. Ông làm thơ không phải cốt để tả cái chon von của núi cao, cái thăm thẳm của rừng già, cái hiểm hóc của hang động, cái ngặt nghèo của đèo cả, ông làm hành để nói lên cái oan nghiệt của chiến tranh, cái chờ đợi vô vọng của những người cha người mẹ có con cái bị xua vào chỗ chết, của những người con gái có tình nhân thất hẹn, của những người vợ có chồng bị ném như vãi đậu vào cuộc bắn giết hung tàn. Bài hành như một dấn thân vào phía mặt thật của chiến tranh bị che giấu, bị tô vẻ bằng những ngôn từ hoa mỹ. Ở phía đó, hoàn toàn không có gì hết, không tiếng gầm của bom đạn, không có tiếng thét của trái tim búng máu, không có tiếng la của da thịt rách nát… Ở đó là một sự im lặng tuyệt cùng, im lặng tuyệt đối. Ở đó là tiếng kêu không vuột ra được khỏi hai bờ môi. Ở đó là cặp tròng ráo hoảnh không còn đủ một giọt nước mắt chảy xuôi. Ở đó là cái lỗ trống khủng khiếp của người mẹ mất con, của người vợ mất chồng, của đứa con mới lọt lòng đã mất cha… Cái thấy của ông khác với cái thấy của những bản tin chiến sự, khác với cái thấy của xảo ngôn ra rả trong những tuyên ngôn tuyên cáo. Cái thấy của ông là cái thấy của con-mắt-trông-thấu-cả-sáu-cõi*. Thơ của ông được làm ra từ những-giọt-máu-chảy-ở-đầu-ngọn-bút *. Cho nên, mỗi năm đến tháng tư, lục ra đọc lại Biên Cương Hành lại nghe như có giọt nước-mắt-thấm-trên-tờ-giấy* khi người thi sĩ ấy vẩy bút làm thơ…

Quả vậy, nói được gi thêm nữa. Hành được làm bằng hết tài hoa bút mực và tấm lòng mẫn cảm đến muôn đời. Hồn thi sĩ rướm những giọt máu còn rây rớt trên từng ngọn cỏ lá cây, trây trét trên đất đá vô tri, từ mươi năm trước, từ hôm qua, mà hôm nay, mà ngày mai… vẫn tiếp tục thấm máu của bao nhiêu trai trẻ bị xô đẩy tới đó để tiếp tục giết nhau, giết nhau tận tình như những kẻ cuồng sát dù trong lòng họ không thiếu nỗi bi thương.

Cho nên, ở đó giữa núi rừng cô tịch, ông thấy từng đoàn cô hồn kéo đi lũ lượt. Những cô hồn giận dữ !

Cô hồn một lũ nơi đất trích
Vỗ đá mà ca ngông hát cuồng
Chém cây cho đỡ thèm giết chóc
Đỡ thèm môi mắt gái buôn hương

Rừng núi cô tịch có gì vui sao kéo nhau vào đó mà tan thây nát thịt. Có nghe chăng tiếng hát ngông cuồng bi thiết của lũ người bị lừa gạt bị dụ dỗ bị mê hoặc mà ném thân vào hiểm địa làm mồi cho súng đạn vô tình. Ai nghe được tiếng kêu uất hận đó ngoài người thi sĩ đang độ tuổi đôi mươi. Và ai ngoài ông để cảm thông được nỗi ai oán của những người trẻ chết trận mà chưa một lần được nếm chút hạnh phúc trần gian. Chữ nghĩa được chọn lọc tinh tế mà không lộ chút kỷ xảo. Phạm Ngọc Lư đã sống tận tình kiếp sống của người trong cuộc. Hẵn, ông đã không ngại dấn mình vào chỗ thâm sơn cùng cốc đó để nghe cây rừng rùng mình, đề nghe đất đá run rẩy… sau mỗi bận súng đạn gầm thét. Mà chắc phải vậy, phải tận mắt cảnh núi lở đèo nghiêng, đất đá nát ngấu, rừng cháy tan hoang bỏ trơ cây cối cụt đầu, hầm hố chằng chịt … mới cảm ra được sức tàn phá đó nổ banh trên thịt xương người ra sao, mới nhận ra được lửa nướng cháy da người khét lẹt thế nào, mới nghe được tiếng kêu thất thanh xé ruột làm sao khi lưỡi dao bén ngót đâm lút vào thân xác. Phải ở đó, mới nghe ra được tiếng gọi từ thăm thẳm của cả một lớp trẻ đương tuổi yêu đời yêu người mà bị bức tử đoạn đành.

Chiều hôm bắt tay làm loa gọi
Gọi ai nơi viễn xứ tha phương ?
Gọi ai giữa sơn cùng thủy tận ?
Ai người thiên cổ tiếc máu xương ?

Tiếng gọi u uất nghe đến nát lòng. Mà rồi tiếng gọi cũng chỉ rơi vào cõi vô vọng. Như triệu triệu tiếng kêu đòi khác, vẫn rền rĩ, từ tiếng súng đầu tiên phát nổ …

Chẳng vậy, mà hơn 40 năm qua, vẫn còn nguyên tiếng gọi giải oan cho bao nhiêu người đã chết, chết mà không biết vì sao mình chết, chết mà lịch sử bị đẩy cho quay ngược lại vòng quay, mà đất nước đi ngược lại chiều tiến bộ, mà năm này sang năm khác, đất nước trở lại y nguyên cái tình trạng từ thời người ta xua con trẻ đi làm chuyện … giải phóng.

Hãy đọc lên thành tiếng thêm một lần, 6 câu cuối của bài thơ để nghe lại hết nỗi oan khiên của nguyên mấy thế hệ bị hy sinh cho một chủ nghĩa bất cận nhân tình. Đọc lên thành tiếng để nghe dội lại tim ta tiếng kêu thương của từng lời kinh khổ

Thôi em, còn chi ta mà đợi
Ngày về: thân cạn máu khô xương
Ngày về: hôn lễ hay tang lễ
Hề chi ! buổi chinh chiến tang thương
Hề chi ! kiếp cây rừng đá núi
Nghìn năm hồn quanh quẩn biên cương.

Hai mươi mấy tuổi đời của những năm 60, 70 … hay xa hơn nữa từ những năm 30, 40, 50 … thử nghĩ lại, đã có khi nào, trên mảnh đất gầy còm hình chữ S, mà tuổi trẻ Việt Nam được sống yên lành đề dự phóng tương lai cho chính mình và đồng loại mình. 6 câu thơ cuối, Phạm Ngọc Lư làm cho ông, cho thế hệ ông và cho cả bao nhiêu người tuổi trẻ trước ông, kể từ khi có một lũ người đi vay mượn thứ chủ nghĩa ngoại lai và không tưởng đem về bày trò giết chóc đề̉ áp đặt lên quê hương. Từ đó, súng nổ, dao đâm, dìm nước thả trôi sông… từ đó, tang thương… từ đó, đoạn trường… từ đó…

Thôi em, còn chi ta mà đợi
Ngày về: thân cạn máu khô xương

Từ đó một hẹn thề là trăm lỗi hẹn, có một hạt giống gieo là đã cả vườn cây cháy rụi, một đứa bé ra đời là đã bao nhiêu trai trẻ bỏ xác góc núi bìa rừng. Bởi vậy, đến một lúc, ngay cả đương tuổi thanh xuân, người ta cũng bỏ mặc buông xuôi, như thể mọi vẫy vùng đều vô ích, mọi phản kháng đều bất khả.

Hề chi ! buổi chinh chiến tang thương
Hề chi ! kiếp cây rừng đá núi

Hề chi ! Sá chi ! Mặc kệ ! Những tán thán từ người ta chỉ dùng đến khi bị dồn vào đường cùng. Ờ , mà tuổi trẻ Việt Nam thời đó, thời của những biên cương rào kín lòng người, thời của súng đạn ngoại bang được nhét vào tay, thời của mắt bị bịt kín… rồi bị xô bị đẩy bị lùa từng đoàn từng lũ vào eo chết thì… nếu không … hề chi, sá chi… thì cũng có làm gì hơn được !

Hề chi ! kiếp cây rừng đá núi
Nghìn năm hồn quanh quẩn biên cương

Hề chi ! Hề chi ! Tán thán tự được lập lại hai lần phải chăng để hình dung hai cánh tay buông xuôi, bỏ mặc, khi người ta đã ở chỗ cùng đường, tuyệt lộ.

Biên cương hành. Đọc lại mà sống lại cùng ai nỗi đoạn trường !

Chính vì vậy, mươi năm trước đọc qua đã ngậm ngùi, bây giờ đọc lại còn nguyên cơn đau thắt ruột với vẫn nguyên nỗi cảm phục nét tài hoa tót chúng. Rõ ràng, đọc lại Biên Cương Hành, thấy nguyên vẹn nỗi oan ức của hàng đoàn hàng lũ cô hồn cô phụ đi vất vơ cạnh bên phía lề oan trái của lịch sử.

Hành. Loại thơ sủng ái của những bậc tài tình thiên cổ lụy. Chữ cuồn cuộn như nước đổ trường giang. Ý tiềm ẩn như rồng thiêng thấy đầu mà không thấy đuôi. Chính vì loại thơ vừa lề luật vừa phá thể khiến cho người làm thơ mặc tình phóng bút.

Trong tay bậc tài hoa, hành làm … thốn tâm thiên cổ.

Cho nên, đọc hành làm sao mà không thấy dạ mang mang. Nay-đời-xa-người-khuất, đọc hành Phạm Ngọc Lư như thấy lại lòng mình, làm sao không cảm khái đến trăm nỗi xót xa. Xót xa cho đời. Xót xa cho người.

Xót xa cho vận nước.

Hành. Đổ Phủ. Bạch Cư Dị. Lý Bạch … Rồi Thâm Tâm. Nguyễn Bính. Thanh Nam. Tô Thùy Yên. Viên Linh… Và Phạm Ngọc Lư.

Vâng. Và Phạm Ngọc Lư.

 
Cao vi khanh
*như một lời đã hứa
tháng 4-2018

* chữ của Mộng Liên Đường chủ nhân

Tóc Thề

TÓC THỀ
Nhạc và lời : Khê Kinh Kha
Xuân Phú trình bày

 

TÓC THỀ

em mang giọt nắng hồng
gieo giữ đời mênh mông
em mang tình nắng ấm
cho đời nhiều bâng khuâng

em buông giòng tóc mềm
lời tình chưa dám trao
bàn tay chưa dám nắm
măt nhìn đã nhớ nhau

em mang tim cỏ dại
tóc thề rũ ngang vai
mùa thu rơi đầy lối
nắng vàng theo áo bay

em mang hồn tình nồng
cho đời thêm nỗi sống
xin em giọt nắng đầy
ru tình vừa cơn say

em buông giòng tóc mềm
con đường tình nắng lên
miên man hồn gío mới
tóc thề xõa trong tôi

em gieo giọt nắng hồng
cho đời đầy hương thơm
thư hồng vừa mới nhận
mà tình đã mong manh

tóc thề, tóc thề ơi
sao em còn ngại
cho lòng này bối rối
cho hồn này chơi vơi
cho tình mình xa xôi
tóc thề ơi
tóc thề của tôi ơi

kkk2-tocthe1

kkk2-tocthe2.jpg

Hải Ðảo Hờn Căm

Thư viện của bài

This gallery contains 1 photo.

Phạm Lê Phan

Lời biển gọi cuối năm
Hờn căm trừng mắt lửa
– Hỡi Hoàng Sa, hỡi Hoàng Sa …
Mẹ đứng mũi Sơn Chà
Gửi hồn ra Ðông Hải
Ðảo nổi giận nên biển cuồn sống dậy
Ôi, đất nước ông cha: tay đứt lòng đau
Súng thét khơi xa, sao lửa đốt trong đầu
Lòng mẹ bời bời: ruột mềm máu chảy
Mắt mẹ trông vời, triền môi run rẩy:
– Hỡi Hoàng Sa, hỡi các cháu con ta?

Con cháu mẹ
Năm mươi đứa làm anh hùng của bể
Năm mươi con thành dũng sĩ Trường Sơn
Bốn ngàn năm mài nhọn mũi căm hờn
Phóng mắt hận, nghiến răng ghìm giặc Bắc.
Cờ Nương Tử phất bay hồn xâm lược
Gươm Mê Linh thét máu nhuộm đầu voi
“Trèo lên đỉnh núi mà coi
Dáng Bà quản tượng trăng soi ngời ngời”.
Cửu Chân hề, Cửu Chân ơi! Tiếp tục đọc

Bệnh Ung Thư – Một Căn Bệnh Ngặt Nghèo

Thư viện của bài

This gallery contains 1 photo.

Nguyễn Duy Vinh

Trong chuyến đi về thăm Canada vừa qua, chúng tôi có rất nhiều niềm vui và sự ấm cúng được gặp lại bạn bè và người thân nhưng đồng thời chúng tôi cũng đã sống qua những giây phút chạnh lòng. Đã có những người bạn thân của chúng tôi ra đi vĩnh viễn gần đây vì bệnh ung thư. Và chúng ta đều biết bệnh này là một trong những căn bệnh ngặt nghèo nhất trong thời đại chúng ta đang sống. 

Vừa qua, tôi nhận được tạp chí Science et Vie, một tạp chí có giá trị xuất bản ở Pháp, số đặc biệt nói về bệnh ung thư. Và tôi đã để thì giờ đọc và tóm tắt những chi tiết quan trọng dưới đây. 

Hiện nay theo thống kê của bộ y tế Pháp, một trên hai người đàn ông Pháp và một trên ba ngưòi đàn bà Pháp trước sau cũng phải bị con bệnh ung thư đến viếng trong cuộc đời của họ. Bệnh này đã được nhà y sĩ kiêm hiền triết Hippocrate khám phá ra từ thế kỷ thứ tư trước công nguyên và bệnh ung thư đã trở thành nguyên nhân đầu tiên trong các bệnh gây tử vong ở Pháp năm 2004.

Các phương pháp chữa bệnh ung thư ngày nay cũng rất tiến bộ, nhờ vào những nghiên cứu trong ngành y khoa gần đây. Bên cạnh những cuộc giải phẫu và phương pháp dùng tia phóng xạ và dùng thuốc hoá học cực mạnh, hiện nay các nhà nghiên cứu đang phát triển một phương pháp dùng những tế bào đặc biệt mà họ có thể tiêm vào máu để “tiêu diệt” thẳng những tế bào ung thư. Tiếp tục đọc

Thói Quen Trường Thọ hay Đoản Thọ

Thư viện của bài

This gallery contains 6 photos.

10 Thói Quen Đoản Mệnh Và 10 Thói Quen Trường Thọ Được Thế Giới Công Nhận

Bạn muốn sống lâu, sống khỏe sống có ích hay sống trong bệnh tật? Dưới đây là 10 thói quen đoản mệnh và 10 thói quen trường thọ đã được thế giới công nhận.

Rất nhiều ví dụ thực tế đã chứng minh rằng thói quen sống không tốt chính là nguyên nhân gây ra các bệnh mãn tính và ung thư. Bởi vậy, nếu tránh xa được các thói quen xấu thì cũng có thể tránh xa được các loại bệnh.

Bạn muốn sống lâu, sống khỏe sống có ích hay sống trong bệnh tật? Điều này phụ thuộc vào sự lựa chọn của bạn. Dưới đây xin chia sẻ tới các bạn mười thói quen đoản mệnh và mười thói quen trường thọ đã được thế giới công nhận.

Mười thói quen cuộc sống khiến bạn đoản mệnh
1. Lười vận động

Tạp chí y khoa hàng đầu thế giới “The Lancet” đã từng có một bài viết rằng, trong 10 người tử vong sớm thì có 1 người tử vong do thiếu vận động. Ngoài ra còn có những nghiên cứu chỉ ra rằng những người mắc bệnh tim mạch, đột quỵ, u bướu, tiểu đường tuýp 2, các bệnh mãn tính có 12%-19% nguyên nhân mắc bệnh là do kém vận động.

Năm 2013 tổ chức y tế thế giới đã từng công bố “bệnh lười vận động” đã trở thành nhân tố có nguy cơ tử vong đứng thứ 4 trên thế giới. Theo thống kê, trên toàn thế giới mỗi năm có 3,2 triệu người chết do nguyên nhân này mà con số này đang tăng lên mỗi năm. Tiếp tục đọc

Passersby of the Resurrection

Deacon Steve Haut

Two weeks ago, I was invited to speak at the weekly gathering of WINGS (Women in God’s Friendship) on the Lenten topic of the Journey to Calvary.  I chose to introduce the topic with the story from the fifth station of the cross, the story of Simon of Cyrene.

Simon was possibly on a once in a lifetime Passover pilgrimage to Jerusalem from his hometown in Libya.  Most likely, he was also minding his own business making only passing notice of the sad procession of three criminals being led to the hill of Calvary to be crucified.

Suddenly, one of the soldiers grabbed him and forced him to carry the heavy cross for the most abused and feeble of the condemned.  The political impact of this horrific execution would be lost if the criminal died before the terrible ordeal was accomplished.  So, Simon, a passerby, is reluctantly impressed to get this man to the hilltop where he will die.

Now let’s jump ahead to Easter.  In fact, let’s reflect on the afternoon reading of Easter Sunday, the famous afternoon encounter of Jesus with travelers, disciples, returning to Emmaus from Jerusalem.  Emmaus was a small town probably located about six miles outside Jerusalem so it was a short two hour walk.

This was probably a group of disciples, disheartened and distressed.  Only Cleopas is named but surely his wife (one of the women who remained at the cross was also there).

As they walked and tried to sort out the wrenching events of the past couple of days, they encountered another passerby on the road.  He joined them and readily entered the conversation.

To their amazement, he explained why the Messiah had to endure this ordeal but they were restrained from actually recognizing this passerby as Jesus Himself.  Jesus was invited to stay with them since it was evening.  Later, as they sat at the dinner meal, Jesus broke bread and distributed it and as the Gospel says, “their eyes were opened,”

In our busy hustle bustle world where we often have our eyes fixed on an iPhone screen, we may not notice others as we pass by each other.  Or we just prefer to watch, not participate.  Both Simon and Cleopas’ group failed to recognize the significance of what was going on around them because they were simply passersby.  We are not isolated individuals; we are social community-oriented creatures whose hearts burn for companionship, affirmation, and love.  Jesus came to offer that.

Christians are not called to be passersby.  This week, consider how we can break the habit of just being passersby.

(FYI:  Simon of Cyrene is the patron Saint of Passersby)

Deacon Steve Haut

Đọc Đường Thi Bút Thép Vũ Thu Yến

Thư viện của bài

This gallery contains 2 photos.

Châu Thạch

Từ ngày thơ Đường luật thịnh hành trở lại trên diễn đàn thơ nước Việt, người ta thấy rất nhiều tác giả nữ ở tuổi trung niên xuất hiện trên thi đàn, đã góp phần quan trọng trong việc làm cho thể thơ nầy mỗi ngày thêm khởi sắc. Một trong những nhà thơ đó mà Châu Thạch tôi có duyên được mến mộ trên dòng thời gian facebook và trên các trang web thơ văn, bởi ngoài  những bài thơ với những để tài chung quanh cuộc sống, tác giả còn có những bài thơ đanh thép như bút kiếm của nam nhi hảo hán, chém vào những điều tệ hại của cuộc đời. Đó là Vũ Thu Yến. một người đẹp đang sống giữa lòng thành phố Sài Gòn hoa lê.

 Hôm nay Châu Thạch xin đề cập riêng về chủ đề “bút thép” trong Đường thi Vũ Thu Yến, là một thể loại thơ cần kỷ thuât cao, hình thức cấu trúc, phương pháp diễn đạt và kỷ xảo phải đạt một trình độ thượng thừa thì thơ mới đi vào được lòng người. 

Đường thi Vũ Thu Yến có nhiều về những đề tài xã hội, là một đề tài thật khô khan. Thế nhưng, nhà thơ mượn thể thơ bác học nầy để khéo léo diễn đạt rõ nét những vết nhơ bẩn giữa đời, biến cái không đẹp thành thơ đẹp, tác động vào ta thấy những bức xúc nổi cộm mà từ lâu ẩn chứa trong lòng người và khuấy động giữa thời gian.

Hãy đọc thử một bài thơ nói về một loại côn trùng:

VỊNH CON ĐUÔNG DỪA Tiếp tục đọc

Ở lại

Đặng Xuân Xuyến

00ao dai trang

Thì cứ lại đây. Ngồi xuống đây
Nhấp chén rượu thơm ủ lâu ngày
Ngoài kia mưa gió nhiều như thế
Ở lại đi em. Mai hãy về.
.
Ta biết sự đời cũng nhiêu khê
Mười hai bến nước lắm ê chề
Em về hay ở đều như thế
Ngang dọc miệng đời chẳng bớt chê.
.
Thôi ở lại đây. Nghỉ lại đây
Ngực ta làm gối thật êm dầy
Tay ta làm nệm nhung rất ấm
Em quấn thân ta tựa chăn mềm.
.
Ta muốn đêm này em với ta
Quyện từng hơi thở trộn thịt da
Ưu phiền cứ mặc trôi theo gió
Nào hãy cùng ta dạo bến mơ.
*.

Hà Nội, chiều 04 tháng 09 năm 2014
ĐẶNG XUÂN XUYẾN

Đêm Sa Trường

Mời Quý Vị cùng tham dự trận đánh cuối cùng của dân tộc ta vào một mùa Xuân lịch sử, để lấy lại chủ quyền cho toàn dân tộc Việt.

                  cobay             cobay            cobay           cobay

http://www.danchuca.org/128kbps/DemSaTruong.mp3

Đêm Sa Trường

Nguyễn Văn Thành

Người đem quá khứ về nơi phố lạ,
Người đem cả mối sầu từ đất xa,
Để ta trong hôn mê bỗng thấy ra:
Đây Kinh Đô, đây Hoa Thành, Trường Sa.

Người đâu kéo ắp về như trướng hội?
Người đem cả giáp bào cùng kiếm đao,
Dàn binh trông hiên ngang, những tướng quan
nghe vua ban, quân bước đi rập ràng..

Hu . . . hê . . . . hu . . . . hề
Hu . . . hê . . . . hu . . . . hề
Dân ta đang sống những tháng ngày đoạn trường
Đêm nay trăng thắp sáng soi đường ra biên cương
Theo nhau về dưới trướng bao kiêu binh, loạn phường
Đêm nay, đêm cuối nơi Sa Trường.

Nơi nơi từ góc núi, ven sông hay chân đồi
Dân ta lượt lũ kéo nhau ra chung sức người
Bao lâu dồn nén tiếng oan khiên cao ngất trời
Đêm nay, đêm cuối ta thay đời.

Hu . . . hê . . . hu . . . hề
Hu . . . hê . . . hu . . . hề
Hình như có tiếng dồn chiêng trống gọi,
Bụi tung đất khói mù, ngựa với voi,
Loạn quân buông yên cương thua tả tơi.
Dân nơi nơi đưa quân về phục ngôi.

Hình như có tiếng cồng Sông Núi gọi
Lòng say đứng giữa trời, lệ mắt cay
Đường tên xuyên qua tim ta chẳng hay
Nghe tin vui, ta lao đao khảy cười . . . .

Cuộc Đời Của Núi

Võ Công Liêm

http_cdn.cnn.comcnnnextdamassets170407220919-06-iconic-mountains-mount-fitz-roy-restricted

tặng: ngự bình
núi vẫn đợi
sông vẫn chờ
cho mây bay về cội nhớ
nao nao lòng hoang mang
nước chảy đá mòn
trơ gan tuế nguyệt
sông sâu hồ cạn
núi trách đời thôi xoa
chơi vơi lòng đất đục
ôm mộng phiêu du để thấy mặt trời
địa ngục môn mưa dầm miền cố thổ
bốn cửa thành vách đá mãi xanh rêu
trong tay nhớ ngày xưa màu áo tím
những lời ai oán núi biết đến bao giờ núi hóa non
sông kêu suốt dặm trường nào hay nắng đục mưa trong
núi khóc đời quên lãng . sanh nhằm thế kỷ đau . suốt đời đứng chịu tang
nghe kinh nhớ đá . tiền kiếp hóa thân . xa mặt cách lòng . núi của ta ơi !
biết đến bao giờ núi trở về với dãy trường sơn xa tít đó . nhớ không em ?
một đời mật đắng như vôi . một đời nước mắt không lệ chảy vào tim
những đêm hò hẹn cùng trăng gió trên ngọn núi nằm trước tròn sau méo
núi kêu trời dị biệt giữa cõi hồng trần nhá nhem tuổi nhỏ trốn vào hang núi
cho nắng úp mặt khóc cho hồn thơ thẩn bóng trăng treo đầu núi nọ một dạo
đi về tay trắng trắng tay của hòn chông hòn gai hòn đuối làm điểm hẹn
để thấy em lần cuối để nước xuôi nguồn để núi non đoài vọng cổ cao
che đậy một thời hoang phế . và . thông reo theo gió ngáp vào mắt môi thơm
của sông hương núi ngự đối diện điện thái hòa có giàn bông sứ bóng em qua

bên này là sự thật
bên kia là giả dối
núi khóc đời đi nhé
cho mát mặt non sông

em . chiêm bao đời trong kiếp phù du

tôi . sơn dương trên mỏm đá cheo leo ./.

VÕ CÔNG LIÊM (ca.ab.yyc. giữa tháng tư/2019

Cánh Diều Ngày Xưa

Trương Thị Thanh Tâm 

a-kite-a-string-and-a-bridge
Chờ anh với nỗi buồn dài 
Thôi thì nhắm mắt buông tay cho rồi 
Trái tim trở lại đơn côi 
Mà nghe tiếng nấc khóc đời bi ai 
Cà phê đắng sao lại say 
Hay ly cà phê đó, tràn đầy nỗi đau 
Người đi con nước dâng cao 
Cho thuyền lướt sóng, rời mau bỏ bờ 
Tình còn rớt những câu thơ 
Nào ai có biết đêm chờ đêm mong 
Nào ai thấu hiểu nỗi lòng 
Bao năm tôi đợi bên dòng sông xưa 
Cánh diều ngày trước gió đưa 
Đứt dây bay bỗng khi chưa mặn nồng 
Còn gì đâu nữa mà mong 
Khung trời ngày ấy nhớ thương xa dần 
               Trương Thị Thanh Tâm 
                           Mytho 

Người trong gương

Thư viện của bài

This gallery contains 1 photo.

Hoàng Ngọc Thư

Nàng trở mình thức giấc. Tấm chăn bông trượt xuống một bên giường, để lộ cánh tay và một bên ngực nàng lạnh buốt. Nàng với tay kéo chăn đắp lại, co ro cố tìm chút hơi ấm. Bên cạnh nàng, đứa con gái nhỏ ngủ ngon lành, đôi má ửng hồng bầu bĩnh trông thật đáng yêu. Nàng choàng tay ôm con, áp mặt vào cái thân thể bé xíu ấm áp và thấy thương yêu con vô hạn. Nàng thường cảm thấy hạnh phúc pha lẫn chút ăn năn mỗi khi được gần gũi, trìu mến với con, vì ít khi nào nàng có được nhiều thì giờ để vui chơi và âu yếm con như thế. Nàng luôn bận bịu với công việc, học hành, và nhất là lúc này, khi chồng đi công tác xa, một mình nàng phải đảm đương mọi việc lẫn chăm sóc con thật chu toàn, chừng ấy đã chiếm hết thì giờ của nàng.

Nàng cố dỗ giấc ngủ nhưng bao nhiêu ý nghĩ trong đầu vẫn tiếp tục xoay tròn. Nàng nhớ đến những việc phải làm ngày mai, những việc gấp lẫn thư thả mà ngày thường chồng nàng đảm trách. Nàng nhớ chồng và ước sao thời gian qua mau. Một tháng công tác! Khi vừa biết tin anh phải đi xa, nàng cho rằng điều này chẳng có gì đáng ngại. Thế nhưng từ hôm anh đi, nàng thật sự cảm thấy bận rộn, mệt mỏi và cô đơn. Cô đơn ư? Thật ra nàng có phút nào được nghỉ ngơi để mà cô đơn đâu, ngoại trừ lúc lên giường sau một ngày mệt nhoài, hoặc lúc thức giấc nửa đêm như bây giờ nàng mới thật sự nhớ đến chồng. Nàng nhớ tha thiết và thèm hơi ấm của anh, thèm vòng tay vững vàng, ấm áp của chồng và những cái hôn thật âu yếm, dịu dàng. Nàng thấy thiếu vắng nhất là cảm giác an tâm khi có chồng bên cạnh và biết rằng mọi việc đều được lo lắng đầy đủ.
Tiếp tục đọc

Vĩnh Hằng

Thư viện của bài

Hoa Nguyên

Mẹ tìm Cha trùng phùng
Thẳm đã hai tuần Thất
Tiếng kinh chiều như rung
Hình bóng giờ đã khuất

Lần lượt Mẹ về đất
Từng bước thời mênh mông
Còn đâu những cánh đồng
Tuổi nhỏ tay thường dắt

Tìm trong đời khuất tất
Những bến đục bến trong
Tìm trên những dòng sông
Có nơi nào Mẹ đợi…

Tìm về ngôi mộ mới
Trong nắng hè như nung
Ngày qua trong dịu vợi
Lặng lẽ hồi chuông ngân Tiếp tục đọc

Thung Lũng Tình Yêu/Người Đàn Bà Của Biển

Thư viện của bài

This gallery contains 1 photo.

Phạm Ngọc Thái

THUNG LŨNG TÌNH YÊU

Anh đưa em vào “thung lũng của tình yêu”
Có bướm, có chim… vờn bay ríu rít
Em hát, em cười long lanh khóe mắt
Ngỡ như mình sống mãi tuổi đôi mươi.

Quê em sóng biển vỗ xanh trời
Thời con gái trôi… bể tình cay đắng…
Nay trở về cùng anh, đẹp lắm !
Anh dắt em qua thế giới thiên thai.

Nơi hoang sơ, thanh khiết nhất trên đời
Em hồn nhiên khoe sự nõn nà tạo hóa
Anh hồi lại thưở còn trai trẻ
Bên em say đắm mộng yêu đương Tiếp tục đọc

Sao Nỡ Phụ Em

Nguyên Lạc

ao dai dai
(viết cho mối tình vô vọng của Khê Kinh Kha)
.
Anh quên em rồi có phải thế không?
Thành phố không anh đường vắng âm thầm
Một bóng quạnh hiu đèn vàng rưng mắt
Quán vắng nhạc buồn xa cách tình nhân!
.
Anh quên em rồi có phải không anh?
Quên mất đôi môi dâng hiến nồng nàn
Giờ chỉ khô cằn màu son phai nhạt
Quay quắt đêm buồn chăn chiếu lạnh căm!
.
Anh phụ em rồi trả lời đi anh?
Sao nỡ lạnh lùng bóp nát tim em?
Thiếu vắng anh rồi ngày dài hoang vắng
Rưng rức đêm buồn hiu hắt vầng trăng
.
Anh phụ thật rồi chắc thế phải không?
Quên mất thật rồi lời hứa trăm năm!
Tan vỡ thật rồi cuộc tình tuổi mộng!
Đời vắng anh rồi còn lại mùa đông!
.
Nguyên Lạc  
…………….
@. Mời nghe:
Anh đã phụ em – nhạc và thơ Khê Kinh Kha

Sóng Gió Nội Cung

Thư viện của bài

This gallery contains 1 photo.

Đặng Xuân Xuyến

Vài lời về tập sách:

tu hy thai hau

SÓNG GIÓ NỘI CUNG

(Thay cho lời nói đầu cuốn SÓNG GIÓ NỘI CUNG)

Lịch sử phong kiến Trung Quốc là lịch sử thay đổi liên tục các vương triều, các “thiên tử”. Mỗi triều đại, mỗi quân vương, nhìn chung chỉ tồn tại với quãng thời gian ngắn ngủi. Sở dĩ các vương triều chết yểu do nhiều nguyên nhân nhưng cơ bản là do người kế vị sau đó, sau vị vua khai quốc một vài đời đã không xứng đáng là “con trời” để “thay trời hành đạo”, “chăn dắt muôn dân”. Họ là những kẻ hoặc ngu đần, bạc nhược hoặc bất tài, hoang dâm, hoặc kiêu căng, ưa xiểm nịnh, bụng dạ tiểu nhân… nên trong thời gian tại vị đã làm đảo điên xã hội, gây ra bao thảm cảnh mà “thần và người đều căm giận” nên đã bị “trăm họ” phế truất vai trò của họ ra khỏi chính trường.

Chế độ phong kiến là chế độ thế tập quyền uy nên quyền lực của nhà vua là tối thượng. Nền chính trị tập quyền khiến các đế vương không cần sức kiềm chế. Một đấng minh quân hết lòng chăm lo đến muôn dân, xã tắc sẽ ảnh hưởng lớn đến suy nghĩ và hành động của các cận thần dưới quyền, làm cho muôn dân no ấm, đất nước được cường thịnh, nhưng một vị hôn quân thì xuất phát từ ân oán cá nhân, tin dùng bọn xiểm nịnh làm cho muôn dân điêu đứng, đất nước bị loạn lạc, triều chính bị tan nát để rồi dẫn đến sự diệt vong vương triều
Tiếp tục đọc

Đứng Trước Thánh Gía

Nhật Quang

chua 4
Chúa chết trên Thập giá
Tóc rối đội mũ gai
Còn tôi ngày hôm nay
Đầu mũ nhung, tóc sấy
Tay chân Chúa ngày ấy
Đinh đóng hằn vết thương
Còn tay tôi thơm hương
Vòng vàng đeo lóng lánh
Phố phường chiều vương nắng
Dòng người vội vã nhanh
Lụa hồng, tím, vàng, xanh
Khoe sắc màu rực rỡ
Cal-vê trời lộng gió
Chúa chết treo đồi cao
Chiều thê lương thuở đó
Áo Chúa mang màu nào?
Đứng trước tấm gương soi
Tôi không nhìn ra Chúa
Đứng trước Thánh giá Chúa
Tôi nhìn thấy rõ tôi.
Nhật Quang
Mùa Phục sinh 2019

Cũng Vẫn Là Một Chuyện Tình

NGUOI-GIA

Ngày đẹp trời, một cặp vợ chồng khoảng trên 60 tuổi đến văn phòng luật sư. Họ muốn làm thủ tục ly hôn.

Lúc đầu vị luật sư vô cùng ngạc nhiên, nhưng sau khi nói chuyện với đôi vợ chồng, ông đã hiểu đầu đuôi câu chuyện. Trong 40 năm chung sống, cặp vợ chồng này luôn cãi nhau và dường như chẳng bao giờ quyết định gì cho đúng đắn. Họ chịu đựng nhau đến bây giờ là vì các con. Bây giờ con cái của họ đã lớn, đã có gia đình riêng, nên hai vợ chồng già không còn điều gì lo lắng nữa. Họ muốn được tự do sau những năm tháng dài không hạnh phúc. Cả hai vợ chồng đều đồng ý ly hôn. Hoàn tất thủ tục ly hôn cho cặp vợ chồng này là điều không dễ vì tình sâu nghiã nặng.

Vừa ký xong giấy tờ, người vợ già vừa nói với chồng: “Tôi thực sự yêu ông, nhưng tôi không thể chịu đựng hơn được nữa. Tôi thành thật xin lỗi”.
“Không sao, tôi hiểu.”, ông chồng già đáp lại.
Nhìn cảnh này, ông luật sư đề nghị mời hai vợ chồng một bữa cơm tối. Người vợ trả lời: “Sao lại không? Dù ly hôn, ta vẫn sẽ là bạn cơ mà”.
Bên bàn ăn, bầu không khí im lặng, nặng nề đến khó thở.
Món ăn đầu tiên được mang ra là món gà quay. Người chồng lập tức gắp một miếng đùi gà cho vợ: “Bà ăn đi, đây là món bà ưa thích.” Nhìn cảnh này, vị luật sư nghĩ “vẫn còn cơ hội cho họ hàn gắn lại”. Không ngờ người vợ cau mày, đáp lại: “Đây là vấn đề. Ông luôn chủ quan quá nên không bao giờ hiểu được tư tưởng của tôi. Ông không biết tôi ghét đùi gà chừng nào à?”

Điều người vợ không nhìn thấy được là trong bao nhiêu chung sống, người chồng luôn luôn cố gắng làm vui lòng bà, dù là người thiếu nhận xét hay khéo léo. Bà không biết là đùi gà là món yêu thích nhất của ông, cũng như ông không biết bà ghét đùi gà. Dù ông chỉ muốn dành những miếng ngon nhất theo khẩu vị của ông, nhường những thứ tốt nhất cho bà, bà chưa bao giờ cảm nhận được là ông hiểu bà.

Đêm hôm đó, cả hai ông bà đều không ngủ được. Sau nhiều giờ trằn trọc, người chồng không thể chịu đựng nỗi nhớ nhung nữa. Ông hiểu rằng ông yêu bà và không thể sống thiếu bà. Ông muốn van bà quay trở lại làm vợ chồng. Ông muốn xin lỗi, muốn nói “Anh yêu em” thật nhiều. Ông nhấc điện thoại lên và bấm số của bà. Tiếng chuông reo không ngừng, nhưng bà không nhấc. Ông lại cố gắng bấm máy, suốt tối.

Đầu bên kia, bà vợ cũng rất buồn. Bà không hiểu điều gì đã xẩy ra trong những năm tháng sống cùng nhau. Sau 40 năm, ông ấy vẫn chẳng hiểu bà. Bà vẫn yêu ông nhưng bà không thể chịu đựng cuộc sống tẻ nhạt như thế nữa.

Mặc cho chuông điện thoại reo liên hồi, bà không thèm trả lời, dẫu biết rằng người gọi là ông. Bà tự nghĩ: “Nói làm gì nữa khi mọi chuyện đã xong xuôi hết rồi. Mình quyết định ly hôn mà. Bây giờ đâm lao thì phải theo lao, nếu không mất mặt lắm”. Chuông điện thoại vẫn cứ reo rồi bà quyết định tháo dây điện thoại ra. Trong khi đầu bận suy nghĩ rối bời , bà quên bẵng đi là ông bị đau tim…

Sáng hôm sau, bà nhận được tin ông qua đời. Như một người mất trí, bà lao thẳng đến căn nhà của ông, để nhìn thấy thân thể ông trên chiếc divan, tay vẫn giữ chặt máy điện thoại. Ông buồn bã, thất vọng suốt đêm khi bà không cho cơ hội tỏ nỗi lòng và tim ông đã buông suôi. Bà đau đớn vì hối hận. Một cảm giác mất mát quá lớn bao trùm lấy tâm khảm bà.

Khi thanh toán tài sản của ông, bà tìm thấy trong ngăn kéo một hợp đồng bảo hiểm ông ta đã mua cho bà, từ ngày họ cưới nhau. Kèm vào đó, là một lá thư: “Gửi người vợ thân yêu của anh. Lúc em đọc lá thư này, chắc hẳn anh không còn trên cõi đời này nữa. Anh đã mua bảo hiểm này cho em, anh hy vọng nó có thể giúp anh thực hiện lời hứa của mình khi chúng ta lấy nhau. Đến khi anh không còn ở bên cạnh để chăm sóc cho em nữa thì mong số tiền này có thể giúp anh tiếp tục đùm bọc cho em. Đó là điều anh ước nguyện sẽ được làm suốt cuộc đời anh. Anh sẽ mãi mãi bên em và yêu em thật nhiều”.

Nước mắt bà tuôn chảy hai hàng. Bà cảm thấy yêu ông hơn bao giờ hết. Bà muốn nói vạn lời xin lỗi, muốn nói ngàn lời yêu thương nhưng ông không còn nghe được nữa.

Sưu tầm

Nguyên Lạc: Những Giòng Thơ Tháng Tư

Thư viện của bài

Nguyên Lạc 

MỜI NHAU CẠN CHÉN THÁNG TƯ

Rượu sầu
ly rót mời ai?
Giọt cay  
giọt đắng
giọt hoài nhớ thương! 
giọt mong 
men chín toả hương
giọt ly 
giọt biệt…

Cố nhân phương nào?
Bạn bè miên viễn 
nơi nao?

Mời nhau cạn chén 
trút sầu… tháng Tư!
Tiếp tục đọc

Nụ Hôn Tình Anh Gởi / Thời Gian Gõ Nhịp

Thư viện của bài

This gallery contains 1 photo.

Trương Thị Thanh Tâm 
NỤ HÔN TÌNH ANH GỞI 

         
Tôi vẫn biết yêu anh là không thể 
Khi tuổi đời chẳng sánh được cùng nhau 
Nhưng trái tim vẫn hồ hởi muốn trao 
Lòng ngây ngất nụ hôn tình anh gởi 

Anh yêu hỡi, yêu nhau rồi đừng ngại 
Chuyện thấp cao hay lớn nhỏ chi tình 
Không phân chia vai vế của chúng mình 
Chỉ cần biết sao trái tim rộn rã…

Cứ reo vui khi nhìn thấy được anh 
Em yêu anh từ cái nhìn trong ảnh 
Cách mĩm cười, đủ hớp cả hồn em 
Ánh mắt anh, ơi sao quá long lanh Tiếp tục đọc

MỘT CON TIM

Khê Kinh Kha

tuadau
xin khép lại những mãnh tình đã vỡ
góp dùm anh những giọt lệ hao gầy
cất đi cưng những muộn phiền năm tháng
ngồi bên anh mình bắt đầu từ đây

dù gian khó xin trọn đời gắn bó
như gíó mây ngàn đời vẫn có nhau
như sỏi đá không bao giờ xa cách
như trùng dương và con sóng bạc đầu

dù dĩ vãng có trăm nghìn chua xót
dù hôm nay mình có lắm sầu đau
xin cưng hãy tựa vào tôi cưng nhé
nghiêng cuộc tình vào giữa đời nhau

ngồi bên nhau mình chia sẻ măn nồng
đời mênh mông thân thế phận cỏ hèn
giữa gian lao mình cùng chia cơm áo
cầm tay nhau mình bước qua núi sông

ngồi xuống đây, bên anh. cưng yêu hỡi
đời có nhau ta cùng tát biển đông
ngồi bên anh, cưng hỡi, sát tim nồng
chỉ hai đứa mình, cùng một con tim

Khê Kinh Kha
 

Tháng tư / Quy cố hương

Thư viện của bài

Nguyễn Hàn Chung

Tháng tư

Tháng tư nhớ chết màu hương cũ
nhớ chuyến tàu di tản chớm khuya
em mắt quầng thâm buồn ủ rũ
anh bám be tàu. Con sóng kia
Tháng tư từ đó mưa không ướt
đất dưới chân đen đến lạnh lòng
nghe khúc hùng ca mà khát nước
triều dâng sa mạc vẫn khô ran

Tháng tư buồn đứt đuôi nòng nọc
tiếng ngụy găm đau mỗi ngọn đèn
lòng chợt già như người đứng tuổi
chờ người thắng cuộc gọi kêu tên

Tháng tư đạp chiếc xe đầm cũ
ngơ ngác hồi lâu trước cổng trường Tiếp tục đọc

Hương Kinh Đêm

Nhật Quang

trang3
Chuông ngân rơi chạm giấc mơ…
Không gian lắng đọng hồn thơ mượt mềm
Hoàng hôn buông gió ru đêm
Dạ Lan sương đẫm bên thềm thoảng lơi
Trăng vàng mơ khúc thu rơi
Lung linh ánh bạc tỏa ngời tịch liêu
Hương kinh lấp lánh tin yêu
Cửu trùng khẽ nhấp sóng triều lênh đênh
Dương gian muôn lối ghập ghềnh
Tiếng linh hồn vọng mông mênh cõi nguồn
Trầm luân, bão gió mưa tuôn
Điệp trùng sóng sánh nhịp buồn bể dâu
Chuông ngân vang vọng kinh cầu
Qua bờ giông tố đêm thâu vô thường
Gian trần nơi chốn náu nương
Tử qui hoan lạc ánh dương nhiệm màu.
Jos Nhật Quang

Giới Thiệu Tập Thơ Hoài Ziang Duy

IMG_3235IMG_3236IMG_3232

Bàn tay, có điều chưa nói hết

Năm xưa anh cầm lấy tay em
Năm ngón tay nồng nàn nỗi nhớ
Tình yêu trong chiến cuộc trao nhau
Khác gì thân gác trọ
Ở một thưở vào nơi gíó cát
Có giử được bao lâu
Bàn tay ước vọng thanh bình
Trong đôi mắt chia xa
Ngày về
Nhớ một lúc anh cầm lấy tay em
Tay không dưng giã từ vũ khí
Khi chiến tranh ngơ ngác ngả xuống
Hòa bình mặt lạ đứng lên
Có lòng người vui rộng mở
Có tiếng bi thương cuồng nộ
Cùng tấu khúc ở một không gian
Cơn đau chiều hấp hối
Đâu ai tưởng có một ngày thật thà
Một ngày người không giống ai
Một ngày không như mọi ngày
Đặt để số phận chúng ta
Chung cùng
Cộng nghiệp
Em đã sống cùng anh thời khắc qua đi
Cầm như kinh nhật tụng đi qua, đi qua
Có nghe thấy tiếng thầm tự hỏi
Ở đâu có bàn tay quê hương ?
Để lúc tủi lòng níu lấy
Khóc dùm dâu bể tang thương
Giòng lệ khô là lúc nhìn nhau
Rỏ mặt
Năm nầy anh cầm lấy tay em
Năm ngón tay đau khi tiết trời trở lạnh
Bàn tay xưa một thời chở che
Đã già theo
Nhọc nhằn tủi nhục
Ngày lớn dần đêm cũng thay tên
Như tình ta sống gần hơn trước
Có biết buồn, cũng buồn theo vận nước
Giỡn chiêm bao mà sống thật với lòng
Một đời người,
Nửa kiếp sống lưu vong
Biết bao mùa rừng cây xanh
Trút lá
Hôm nay ta cầm lấy tay nhau
Cũng có lúc buông rời
Sau
Trước
Khi lẽ loi mới biết xa rời hẹn ước
Đâu ai hiểu hạnh phúc gần
Ở một bàn tay
Không tưởng là mình
Không là của ai
Ở một lần vuốt mặt

Hình như có điều không thể

Em có biết những điều không thể nói
Dấu đằng sau góc thấp tâm hồn
Che hết bóng ngậm ngùi dở lỡ
Sống lại thời dạ buổi tân hôn

Nếu một ngày, tháng, không sống hôm qua
Năm sao hiểu dòng đời dang dỡ
Sóng xô nhau một thời tình lỡ
Đạn bom nhau chia chác hận thù

Biết về đâu gọi hồn người năm cũ
Máu xương hề đàn dạo khúc bi thương
Mấy mươi năm một kiếp đoạn trường
Sao vơi được khối tình đau ấp ủ

Quê hương không buồn quên chốn cũ
Khi tuồng đời dần đổi xoay quanh
Đổi áo hoa góc đường ngôn ngữ
Đổi lòng trong sốc duổi mặt ngoài

Em có biết là điều không thể
Điều không tin sự thể đã rồi

Xưa phế tích sống vay phần cơm áo
Trước rồi sau cũng chết, dẫu muộn màng
Lúc vàng son ai nghĩ thời giông bảo
Đã quên thời ẩn náu sống cưu mang

Em có biết những điều xưa dấu kín
Giờ tan hoang bày biện cách dị thường
Những bông hoa mọc trên đường gian trá
Ngậm ngùi trông hạt đỏ nở khoa trương

Đâu ai đợi đâu chờ người sống kiếp
Gần bên nhau trong thế giới tận cùng
Lúc đứng lặng một mình nghe gíó hú
Tự ngàn phương tình đã tuyệt mông lung

Không ai thấy mặt trời mù sóng biển
Nhấp nhô lòng cạn kiệt buổi hoàng hôn
Đất nước ta người còn dời đổi
Thời mai sau hệ lụy lấy lời nguyền.

Khi đứng lại nghe người điên khóc kể
Điều không tin như thể đã qua rồi.

HOÀI ZIANG DUY

Việt Nam, Thiên Đường Của “Tự Do”

Thư viện của bài

This gallery contains 1 photo.

 Mạnh Kim

Việt Nam đang trở thành thiên đường của tự do. Đây là nơi mà một người có thể tự do đâm chết bạn gái trước sự chứng kiến của cảnh sát. Đây là nơi học sinh không chỉ được tự do đánh nhau mà có thể đánh thầy. Đây là nơi người ta có thể tự do cưỡng hiếp trẻ em mà không bị vào tù…
Khi đi chợ, bạn tùy ý mua bất cứ gì bạn thích và người bán thì tự do bơm bất kỳ gì vào thực phẩm mà không bao giờ sợ bị “quản lý thị trường” phạt. Khi vào bệnh viện, bạn được tự do nằm ở bất cứ nơi nào có thể, từ gầm giường đến hành lang. Con của bạn cũng được tự do biến thành “vật thí nghiệm” cho các loại vắcxin gây chết người mà chẳng ai chịu trách nhiệm. Trong thế giới tự do này, ý thức trách nhiệm được thả bay bổng tự do hoàn toàn. Ở Việt Nam, trẻ đến tuổi đến trường vẫn có thể được tự do nghỉ học đi bán vé số. Khi đi học, con của bạn được tự do chửi thề, tự do đánh nhau; thầy cô cũng được quyền tự do tra tấn hành hung con bạn. Nếu không thích những điều đó, bạn có toàn quyền tự do chuyển sang trường khác, miễn bạn có đủ tiền để “chạy”. Không chỉ chạy trường, bạn cũng có thể chạy điểm mà không bao giờ lo danh tánh bạn hoặc con bạn bị tiết lộ. Chạy chức còn tự do làm được thì chạy trường hoặc chạy điểm chẳng phải là chuyện lớn. Tiếp tục đọc

Tháng Ba . Buồn .

Thư viện của bài

This gallery contains 1 photo.

Đặng Lệ Khánh
( Nhớ P. )

Tháng ba rồi đó em
Không dưng mà nằm nhớ
Những ngày xưa đã qua
Lúc mình còn nơi đó

Đọc “Tháng Ba Gãy Súng” *
Xem hình sóng người đi
Những khuôn mặt ngơ ngác
Nước mắt tràn trên mi

Hè phố đầy áo trận
Súng lăn lóc bụi đường
Giày chơ vơ từng chiếc
Nón sắt úp mặt buồn Tiếp tục đọc

GIAI ĐIỆU TÌNH SI

Thư viện của bài

This gallery contains 1 photo.

Châu Thạch

ĐỌC “GIAI ĐIỆU TÌNH SI” THƠ LÊ GIAO VĂN
 GIAI ĐIỆU TÌNH SI

( riêng tặng những người tình, được tái ngộ sau 1975)
Cũng có thể khi chúng mình gặp lại
Con đường xưa cỏ úa lá rụng đầy
Anh sẽ nói với em là như vậy
Cuộc tình nào không có lúc chua cay

Cũng có thể khi chúng mình gặp lại
Cây khô ran bỗng thức dậy đâm chồi
Anh sẽ nói với em đừng trăn trối
Trái tình yêu cắn ngọt vị đầu môi

Cũng có thể khi chúng mình gặp lại
Phút tái sinh líu lưỡi nỗi oan cừu
Trăng thần thoại nhập hồn bờ ảo giác
Hạt răng cùn- cắn phập tuổi hai mươi Tiếp tục đọc

thơ lòi tói tháng tư

Thư viện của bài

This gallery contains 1 photo.

hoàng xuân sơn

đinh và người

ngồi che cán lọng ba đình
bỗng nghe hòm xiểng
hôi rình mốc meo
tháng khum bộ xương cà kheo
bày hàng lẹo tẹo
dâng mèo mỡ
rưng
bộ vía tộc tuệch mùi rừng
cáo đi tám hoánh
cầy hung hăng rình
ta ơi đừng sợ cửa mình
bốc nhà
cháy hụi
còn đinh đóng hòm

xúc xích

tôi mần thơ kinh tế
giựt tuốt bầu nhân văn
hột giống nằm mọi rợ
chắc chi lép một mình
tôi làm thơ làm thinh
cong đuôi chạy có cờ Tiếp tục đọc

DI CHÚC CHO CON

Khê Kinh Kha

thanhthuy

Danh Ca Thanh Thúy

Mời Nghe DI CHÚC CHO CON do Danh Ca Thanh Thúy trình bày

này con hỡi
mai này khi mẹ đã qua đời
dù con đang ở một nơi nào trên mặt đất này
con cũng nhớ về thăm mảnh đất quê hương nghèo của mẹ
nơi mẹ đã cất tiếng khóc chào đời
nơi mẹ đã lớn lên và yêu mến mọi người
yêu mến ruộng vườn, cỏ cây cùng sông núi
nơi mà tổ tiên đã gầy dựng bao đời
hơn bốn ngàn năm
một lòng son sắt

quê hương mẹ ở tận Đông Nam Á
có dãy Trường Sơn muôn đời xanh lá
có bờ đại dương sóng vỗ dịu dàng như những dòng ca dao
bao lũy tre già, bao bờ ao nhỏ
con đê hiền bên dòng sông lững lờ
có sông Hồng như mạch máu dân ta

hãy về thăm Hà Nội, Hồ Tây
cùng ba mươi sáu phố xưa
mặc cho mẹ chiếc áo lụa Hà đông mầu hoa cúc
ăn lại cho mẹ điã bánh cuốn tinh sương
húp giùm cho me bát miến gà nửa đêm
rồi con hãy dừng chân nơi Huế mộng mơ
ngồi trên mạn thuyền ngắm cánh mây trôi
nhìn lại rêu xanh trong Thành Nội
rồi ghé qua Đồng-Khánh thăm lại mái tóc thề
trên đường vào Hội-An, dừng chân trên đỉnh Hải-Vân
vươn tay hốt từng ngụm mây trắng
thả theo gió bay về Trường-sơn
và con nhớ đi chân đất trên những biển cát trắng
để thấy mạch sống quê hương chạy rần lên tim, óc
của một thời tuổi mộng, mới tập yêu
tình mặn nồng như ruộng muối Miền Trung

con hãy lấy chuyến tàu đêm, lên Đà-Lạt
ngồi bên hồ vắng nghe tiếng thông reo
như lời tỏ tình của gió
như lời tâm sự của cây
thả hồn bay trên những cánh mây
xuôi vào Miền Nam thăm vựa lúa Đồng-Nai
cùng những nhánh sông dài Cửu Long
hãy nằm ngủ bên bờ ruộng lúa
để nghe gió reo vui trong từng ngọn lúa chín
qua chuyến phà xưa – hát dùm mẹ lời ca tình muôn thuở
Ai về ruộng lúa Đồng Nai
cho tôi nhắn gởi tình này chứa chan

và khi đêm khuya bao trùm đất nước
con hãy lắng nghe linh hồn người tâm sự
qua tiếng côn trùng nỉ non
qua cành lá xạc xào
ngồi trong đêm hứng từng giọt sương mong manh
chờ bóng trăng vàng rụng rơi trên đồi nương
rồi con ôm gió vào lòng
ngủ với trăng rằm

nếu mai này khi mẹ đã chết
con nhớ phải đem xương mẹ
chôn dưới lòng đất quê nhà
cho hồn mẹ vui nhẹ bay theo gió
cho hồn mẹ vui cùng non sông cũ
cho mẹ được nhìn rừng núi nắng lên
cho mẹ trọn tình cùng với tổ tiên

nếu mai này khi mẹ đã chết
con nhớ về thăm quê hương mình con nhé
trồng lại cho mẹ cụm hoa vàng
bên mộ người năm xưa
đốt dùm cho mẹ nén hương trầm
quỳ trước mộ người
nguyện cầu dùm mẹ
những lời thơ ấu
con về quê hương
Việt Nam yêu dấu
chôn xác mẹ vào
lòng đất nhiệm mầu

Khê Kinh Kha
(Virginia-‘78)

Mời Nghe DI CHÚC CHO CON do Danh Ca Thanh Thúy trình bày

Quy tắc sáng tác lời cho một bản nhạc

Thư viện của bài

This gallery contains 2 photos.

Bạn,

Tôi có chụp lại bìa của một số quyển sách nhạc tôi sưu tầm qua năm tháng, mời bạn ghé coi. 

https://hoctroviet.blogspot.com/p/sach.html

Tôi hy vọng bên nhà tìm cách liên lạc với các nhà xuất bản, rồi dịch và phát hành các quyển thiết yếu nhất trên toàn cõi Việt Nam thì chắc chắn là sẽ rất bổ ích cho người muốn học sáng tác nhạc. Tôi nhớ rất rõ ràng rằng chỉ sau khi đọc rất kỹ hai quyển Writing Music For Hit Songs và Melody in Songwriting, tôi mới có đủ khả năng và tư liệu để bạo gan phân tích 19 cách phát triển một bài nhạc với các thí dụ từ nhạc Phạm Duy được.

Hôm nay tình cờ giở quyển sách:The SongWriters Idea Book của bà Sheila Davis, thấy những trang đầu chỉ dẫn ngắn gọn và rõ ràng quá, bèn lên Google Book tìm rồi để dành dịch từ từ, để những ai không mua sách được cũng có thể theo các chỉ dẫn. Như tôi có nhắc đến rải rác, bên này nhiều sách về lý thuyết sáng tác nhạc hay quá, chỉ sợ không có thì giờ học chứ không sợ thiếu sách, phải chi bên nhà để ý và tìm dịch các loại sách này, thay vì dịch các thứ vô bổ.  Tiếp tục đọc