FRANÇOISE SAGAN VÀ NỖI BUỒN

Bích Hoài

francoise sagan

            Năm 1954, một cô gái 18 tuổi, Françoise Sagan, xuất hiện trên văn đàn Pháp quốc với tác phẩm đầu tay Bon-jour Tristesse, gây sóng gió. Tựa đề của cuốn sách bắt nguồn từ bài thơ của Paul Éluard “À peine défigurée” (Vừa mới biến dạng), với dòng chữ đầu tiên “Adieu tristesse/Bonjour tristesse (Buồn ơi, chào mi).” Một cuốn phim tiếng Anh, phỏng theo cuốn sách, được phát hành năm 1958 với đạo diễn Otto Preminger.

Câu chuyện như sau: Cô bé Cécile, 17 tuổi, nghỉ hè tại một biệt thự bên bờ sông Riviera của Pháp cùng với cha là Raymond, một người hấp dẫn, trần tục, vô luân, tự bào chữa cho mình về tài tán gái với lời trích dẫn của Oscar Wilde, theo đó thì tội lỗi chỉ là một sắc màu sặc sỡ, dai dẳng trong thế giới hiện đại. Cécile nói cô tin rằng cô có thể lấy việc đó làm căn bản trong đời sống của cô và chấp nhận cái phong cách sống đó làm mẫu mực. Một trong những lợi thế đối với cô là cha cô không chút quan tâm đến khả năng hiểu biết nên chẳng cần để ý cô có học hành hay không. Một lợi thế khác là ông bỏ mặc cho cô rảnh tay lôi cuốn đàn ông. Ban đầu cô tìm đến những người đàn ông cùng tuổi với cha, nhưng ở biệt thự kế bên có một chàng trai tuổi đôi mươi, Cyril, mà cô bắt đầu cuộc tình lãng mạn.

Ngày nghỉ hè bình thản của bốn người tại Côte d’Azur ở miền Nam nước Pháp trở nên xáo trộn với sự xuất hiện của Anne do Raymond mời đến. Anne là một phụ nữ có học thức, trọng nguyên tắc, thông minh, cần mẫn, bạn của bà vợ cuối cùng của ông. Bà ta tự xem như là mẹ đỡ đầu của Cécile. Một sự tranh chấp khai triển giữa ba người đàn bà. Anne thắng thế khi ngủ với Raymond ngày hôm sau và tuyên bố hứa hôn với ông. Elsa bỏ đi. Anne bắt đầu ảnh hưởng đến Cécile. Bà ta bảo Cécile chấm dứt mối tình với Cyril và trở về với sách vở. Hoảng sợ với mối đe dọa mất đi đời sống lười biếng, Cécile đặt ra kế hoạch phá cuộc hôn nhân giữa cha và Anne.

Với ý tưởng làm cho Raymond nổi ghen, cô xếp đặt cho Elsa và Cyril cặp đôi với nhau trong những khoảnh khắc riêng biệt. Raymond không chịu đựng được sự kết đôi đó nên đi tìm lại Elsa. Nhưng Cécile đã đánh giá sai sự nhạy cảm của Anne để đi đến kết quả bi thảm. Thấy Raymond và Elsa gặp nhau khắn khít trong rừng, Anne nổi cơn giận dữ nhảy lên xe và lao xuống vách đá mà người ta nghi rằng bà tự tử. Sau đó, người ta phát hiện là Raymond và Elsa chỉ có hôn nhau mà thôi.

Cécile và cha quay về cuộc sống trống rỗng, không hệ thống như trước lúc Anne đến làm gián đoạn cuộc sống trong mùa hè.

Tựa đề cuốn tiểu thuyết đầu tay của Françoise Sagan nhắc chúng ta nhớ đến bản nhạc cùng tên của cố nhạc sĩ Nguyễn Ánh 9:

Buồn Ơi Chào Mi

Buồn ơi ta xin chào mi
Khi người yêu ta đã bỏ ta đi
Buồn ơi ta xin chào mi
Khi tình yêu chắp cánh bay đi

Buồn ơi ta đang lẻ loi
Buồn hỡi ta đang đơn côi
Buồn ơi hãy đến với ta
Để quên chuyện tình xót xa

Nếu trên đường tình ta lẻ loi một mình
Thì trên đường đời ta có mi buồn ơi! …

Buồn ơi thế nhân là thế
Sao người yêu vẫn mãi say mê
Buồn ơi yêu đương là thế
Sao tình ta mãi mãi đam mê

Người yêu cho ta niềm đau
Buồn hỡi cho ta quên mau
Buồn ơi hãy đến với ta
Để quên chuyện tình xót xa.

 

Về nỗi buồn

Buồn là một cảm xúc được vực dậy trong tâm trí với nhiều mức độ khác nhau. Chúng ta có những từ như u sầu (melancholy), trầm uất hay trầm cảm (depression), chấn thương tâm thần (trauma), âu sầu (sadness), nỗi đau khổ (grief)… Ở một vài quan điểm, có những nguyên nhân của sự việc mà chúng ta muốn. Chúng ta bị va chạm mạnh bởi vì cái đó cho ta ý niệm rằng có những việc chúng ta cần mà không bao giờ có được. Chúng ta khám phá ra rằng những hành động của chúng ta, sơ khởi là khóc than, quả thật là do ảnh hưởng của những tác động có nguyên nhân bên ngoài.

Chúng ta có thể đọc cuốn sách “The Anatomy of Mel-ancholy” (Sự mổ xẻ nỗi u sầu) của Robert Burton (1621), trong đó ông nói về nguyên nhân, triệu chứng, dự đoán, và nhiều cách chữa trị. Trong ba phần chính yếu của cuốn sách với những đoạn và phân đoạn, chúng ta được đưa vào lãnh vực triết học, y học, sử học. Sau khi đọc sách của Burton, chúng ta sẽ chắc chắn biết ý nghĩa của nỗi buồn.

Chúng ta có thể xem qua nỗi buồn trong chủ nghĩa hiện sinh. Nhưng chúng ta không nghĩ rằng chủ nghĩa hiện sinh giúp ích gì nhiều cho nỗi buồn của chúng ta.

Rồi chúng ta có thể mong chờ quá nhiều từ cuộc đời. Mọi người cười trong những quảng cáo trên TV và trên mạng xã hội đến nỗi chúng ta nghĩ rằng mọi người luôn luôn có hạnh phúc. Nhưng nên nhớ rằng những diễn viên đang cười, và một nhà đạo diễn đang hét to bảo họ cười trước ống kính thu hình. Chúng ta nhớ câu chuyện Kép Tư Bền của Nguyễn Công Hoan. Trên sân khấu, anh ta chọc cho khán giả cười mà trong thâm tâm anh ta đang đau khổ vì lúc đó cha anh ta đang trút hơi thở cuối cùng ở nhà.

Đức Phật nói cuộc đời là bể khổ và Ngài đưa ra Bát Chính Đạo là phương cách để giải quyết vấn đề. Nhưng sự giác ngộ đòi hỏi chúng ta cởi bỏ những Chấp thủ trong con người của chúng ta, đặc biệt cái mê chấp trong cái tôi của chúng ta. Dù thế nào mặc lòng, Đức Phật đã có một tư tưởng rất thâm sâu về chủ đề này và đáng được học hỏi về Ngài. Chúng ta nói vậy không có ý xem thường những tôn giáo khác. Chúng ta đề cập đến Phật giáo vì Phật giáo đặt vấn đề ở trước mặt và ở trung tâm suy nghĩ của chúng ta.

 Giải phẫu nỗi u sầu

Người ta không thể không chọn đọc cuốn The Anatomy of Melancholy của Robert Burton. Đó là một cuốn sách trứ danh xuất bản lần đầu tiên năm 1621, nhưng tái xuất bản năm lần sau đó có sửa đổi.

Cuốn sách, trên danh nghĩa, là một cuộc giải phẫu, một sự mô tả khái quát, một cuộc phân tách từng chi tiết, một sự giải trình nỗi u sầu. Nhưng u sầu là một từ ngữ đại cương, một nỗi ưu phiền thông thường với nhiều nguyên nhân, triệu chứng, và có thể được chữa trị. Và Burton kiên định xem xét từng biến tấu của chủ đề. Ông nhìn nhận: “Tôi đã đọc nhiều sách, nhưng với ít chủ định đi tìm phương pháp tốt. Tôi đã tình cờ tìm thấy nhiều tác giả trong thư viện không mong muốn gì nhiều về nghệ thuật, về trật tự, về ký ức, về phán đoán. Tôi không bao giờ đi du lịch, ngoại trừ trên bản đồ hay trên bưu ảnh, nơi đó những tư tưởng tự do của tôi được trải rộng dài dòng.”

Thật vậy, Burton đã đọc nhiều sách trong thời đại của ông. Hình như ông đã trích dẫn từng cuốn vào trong tác phẩm The Anatomy of Melancholy của ông, từ những tác giả Hy Lạp đến những nhà văn đương thời của ông. Người ta có thể cho rằng cuốn Anatomy là cuốn sách cuối cùng chứa đựng toàn bộ kiến thức của nền văn hóa Tây phương, một nỗ lực nhồi nhét tất cả vào trong một tác phẩm.

Cuốn sách gây ghi nhớ một cách lạ lùng, trong đó gần như là gồm những lời trích dẫn, những chỉ dụ tham khảo ý kiến của người khác, đan chung vào nhau như trong một tấm thảm trọn vẹn. Burton kiến tạo những luận cứ và những giải thích của ông, quy chiếu vào những gì người khác nói trước đây. Ông đứng trên vai của cả một nhân loại thông thái, như là một nét chấm phá bên trên một quần chúng đông đảo, hữu hình.

Ở đây có cả hai, sự điên rồ lẫn phương pháp. Cuốn sách chứa đựng gần như tất cả những chủ đề: y học, thiên văn, triết lý, văn học và nghệ thuật, chính trị, vạn vật, cẩn thận xây dựng có ngăn nắp, chia ra từng phần, từng tiết mục, từng tiểu đoạn. Tất cả các vấn đề được đưa ra và thảo luận một cách toàn diện, không mệt mỏi. Phong cách viết lạ lùng với những câu dường như chấm phá ở mọi ngõ ngách, nhưng Burton vững tay giữ mọi việc trong vòng kiểm soát một cách thần kỳ.

Phần cuối của cuốn sách dành cho những nỗi đau thương phức tạp và phi lý: nỗi u sầu trong tình yêu và nỗi u sầu trong tôn giáo.

Nỗi u sầu giống như một tấm bạt căng trên khung để cho người ta nhào lộn trên đó, nhưng chính đó là toàn thể kinh nghiệm của con người, đượm nét buồn rã rượi. Tất cả chồng chất lên nhau, cô đọng lại trong thực chất của vấn đề.

Đứng về quan điểm cơ bản của phân tâm học, theo Melanie Klein, một nhà phân tâm học người Anh gốc Áo, nỗi buồn và đau khổ thoái bộ trở lại trạng thái đầu tiên, trong đó chúng ta cảm thấy khi chúng ta muốn khóc mà không khóc được. Đặc biệt là sự nhận thức hành động của chúng ta không hữu hiệu. Cái ý tưởng đó giải thích cảm giác kiệt quệ và sự biểu hiện cảm xúc bên ngoài là khóc, nhưng không mạnh mẽ.

Và chúng ta đi đến cái triết lý về hai trạng thái đối nghịch giữa hạnh phúc và nỗi buồn. Một khi các bạn buồn nên biết rằng nỗi buồn sẽ đi qua. Không có gì thường tồn trong đời. Và hạnh phúc là một trạng thái tâm hồn cũng sẽ đi qua và nỗi buồn sẽ tiếp bước. Hoặc là trái ngược lại. Điều quan trọng là ôm lấy cả hai với cùng một nhiệt tâm. Bạn sẽ không biết hạnh phúc được cảm nhận như thế nào nếu bạn không kinh nghiệm nỗi buồn. Cả hai trạng thái đó hỗ tương phụ thuộc vào nhau.

Hạnh phúc và nỗi buồn là một mô hình nhận thức, cả hai đều là phản ứng của chúng ta về những việc xảy ra quanh ta. Xã hội và lương tâm của chính chúng ta đã định ra những thông số làm cho chúng ta hạnh phúc hay buồn rầu. Nhưng có những ngoại lệ, đôi khi chúng ta bị hại, đôi khi không. Thành thực mà nói, có hạnh phúc hay cảm thấy buồn rầu là một cái gì rất thông thường và cần thiết để chúng ta lớn lên. Nếu bạn hạnh phúc hay buồn rầu một cách thản nhiên, bạn có lợi nhiều hơn trong bất cứ tình huống nào bạn lâm vào.

Hạnh phúc là do chúng ta tạo ra, trong khi nỗi buồn là do người khác đem đến. Rốt cuộc rồi một ngày nào đó người ta đầu độc những kẻ lâm vào cảnh buồn rầu. Và đó là điều chúng ta thấy trong một tác phẩm khác của Françoise Sagan được xuất bản năm 1969 khi cô ở tuổi 34. Cuốn sách này được chuyển thể thành phim năm1971, do J. Deray đạo diễn với kịch bản của chính tác giả.
 Một chút ánh mặt trời trong nước lạnh

Đây là cuốn tiểu thuyết thứ tám của Françoise Sagan xuất bản, như trên đã nói, năm 1969 khi cô 34 tuổi. Cuốn sách được chuyển thể thành phim năm 1971 do J. Deray làm đạo diễn theo kịch bản của chính Sagan. Cô theo truyền thống lấy tựa đề ngộ nghĩnh của thi ca (ở đây là của Paul Éluard) minh họa một cách tuyệt hảo lời đề xuất (chịu đựng khổ đau) của cuốn sách dẫn đến đề tài trầm cảm. Năm 1957, trong một tai nạn xe hơi, cô phải lệ thuộc vào việc tiêm một loại thuốc phó sản của morphine. Nhân vật chính trong truyện là một người đàn ông. Trong một cuộc phỏng vấn của Jacques Chancel, cô cho biết về cuốn sách là cô muốn kể lại câu chuyện một người đàn ông bất hạnh chạm trán với một phụ nữ, người
giúp anh lấy lại niềm vui của cuộc sống. Nhưng cuối cùng, anh ta không muốn sống, rời bỏ nàng, từ bỏ mối tình của hai người. Đây là một sự nối tiếp chủ đề của các tiểu thuyết trước trong đó cô thích khám phá sự sai lầm trong đam mê tình ái, nhất là sự cô đơn, những yếu tính đôi khi xé nát con tim.

Chân dung của một người mất ảo tưởng

Từ một thế hệ mất phương hướng và giữa đám những người hiện đại trong văn chương sau các cuộc chiến tranh thế giới, đầy dẫy những nhân vật phản diện, nạn nhân của một thế giới phi lý, trải dài từ cuốn Kẻ xa lạ của Camus (1942) đến nỗi đau hiện sinh do Sartre mô tả. Nhân vật phản diện của Françoise Sagan (Gilles, một ký giả đẹp trai dân Paris, tuổi 30 ) sống ở Paris, một người khá giả trong những năm cuối của thập niên 60, thời kỳ vinh quang của những chàng trai loạt tuổi tam thập nhi lập, nhưng cũng là thời kỳ của chiến tranh lạnh, của cuộc chiến Algérie ở Bắc Phi chấm dứt vào năm 1962. Sagan không tìm cách phê bình chính trị về thời đại của cô mà đặt trọng tâm vào việc phân tích tâm lý, điều mà các nhà phê bình – phần lớn là thuộc nam giới – chê trách một cách ngớ ngẩn những tiểu thuyết gọi là của nữ giới.

Dù sao người ta cũng vui thích vì nhân vật của cô là một “biên tập viên chính trị” giữ mục ngoại giao mà dường như chẳng quan tâm đến việc gì hết, chẳng bàn luận đến những việc xảy ra trên thế giới. Nói chung, anh ta là con người phiến diện, tự chui rúc vào bên trong của chính mình, đầu óc vỡ toang. Có lẽ phải diễn dịch cái vô cảm của anh ta về mọi việc xảy ra như là một sự chối bỏ tham vọng nghề nghiệp, một chủ đề mà Sagan ưa thích trong các tác phẩm của cô. Sagan vẽ ra “một thế giới đầy những biến cố đẫm máu, phi lý, đánh thức nơi các đồng nghiệp của anh ta một sự ghê tởm rợn người.”

Về đề mục này, người ta dễ dàng thấy ở anh một thanh niên báo hiệu sự mất ảo vọng nở rộ vào đầu những năm 2000. Hơn nữa anh ta chia sẻ về phần anh khía cạnh gàn dở, không kiên định, hứng thú với ban đêm, một con người mê ảo của ngày nay, không thực sự “đau nỗi đau của thế kỷ,” cái u sầu đó, cái u uất lãng mạn cao quý theo kiểu của thi sĩ Baudelaire, mà chỉ đơn giản là một sự thiếu thèm muốn phổ quát và bất ngờ ngoài cái cảm giác chôn mình dưới chăn giường và không làm gì hết.

Cái điều làm cho người ta ngỡ ngàng là anh ta không giải thích sự suy sụp bất ngờ, không có nguyên nhân rõ ràng đó. Thực vậy, trên giấy tờ, anh ta có tất cả những gì để sung sướng như anh ta đã tự phân tích lấy mình (thể chất tốt, nghề nghiệp thích thú, thành công mọi mặt).

Vô ưu, hời hợt và phóng đãng, anh ta không nhận thức tội lỗi kết bạn với một cô gái giống như tượng giả mặc y phục quảng cáo ở cửa hiệu buôn bán lớn, Eloïse, mà anh ta chỉ cảm thấy một sự thu hút mơ hồ, chẳng thiết gì đến sự hấp dẫn thể xác của người phụ nữ thực sự nhỏ nhắn xinh xinh. Những sự sai lầm xuất hiện giống như ở tất cả những nhân vật của Sagan. Gilles không thực sự cảm nhận vị trí của anh ta trong vũ trụ nghề nghiệp của anh ta và chia sẻ thái độ thù nghịch vô cảm về tham vọng như đã nói

ở trên. Người ta tìm thấy đó đây lời văn thường lệ của những văn sĩ chống lại tham vọng nghề nghiệp, xem như là “bẩn thỉu.” Anh ta nói: “Dường như anh ta trải qua cuộc sống rong ruổi dưới ánh mặt trời, làm tình với Nathalie vào buổi trưa và mơ màng vào buổi chiều. Ý tưởng trong hai tháng nữa anh ta sẽ là biên tập viên chính trị, ngập tràn công việc, tiếc rẻ thời gian hiện tại, và cùng thời gian này anh ta trải qua cơn gió lốc xám xịt của Paris, đối với anh chính xác là phi lý.

Anh thích niềm khoái cảm của cuộc sống hơn là công việc, đặc biệt là những ly huýt-ki với đám bạn bè nghiện rượu trần tục trong những câu lạc bộ ở thủ đô, một chủ đề khác tái diễn mang tính cách Sagan.

Tác giả phác họa một cách chính xác chân dung của một chàng trai tuổi ba mươi, hư hỏng, không ảo mộng, trầm cảm.

 

Sự trầm cảm: một căn bệnh “không màu sắc” tạo nên bực bội

Nhân vật của Sagan nói:

Tôi chẳng thiết gì hết, thế thôi. Đó là một căn bệnh thời thượng, có phải không?”
“Tôi không muốn hiện hữu. Bạn có biết những thuốc bổ sinh tố nào dùng chữa trị chứng đó không?

Từ ngữ “trầm uất hay trầm cảm” (depression) dùng ở bệnh viện còn là điều cấm kỵ chăng? Thông thường từ ngữ này được tránh, ngoại trừ nó được Eloïse và bác sĩ dùng đến. Các nhân vật khác thích dùng từ thay thế ít bi thảm hơn như những chữ “các vấn đề nhỏ nhặt của tôi,” “không được ổn,” “mất sự thèm muốn,” “sống không tốt ,” “bệnh đời sống,” “đau vặt,” “chán nản,” “không vững tâm.”

Trạng thái trầm cảm được thấy trên báo chí nhưng đó gần như một tính thất thường hơn là một căn bệnh.

Trong những năm 50/60 khi các loại thuốc chống trầm cảm xuất hiện, ngôn từ y học “trầm cảm” được dùng phổ quát.

Sagan nắm lấy những cách nói lòng vòng của căn bệnh ác tính, “không màu sắc” và “không định danh được” đó, không hiểu sao lấn chiếm vào con người… Cô mô tả sự lo âu, nỗi cô đơn, cái cảm giác chơi vơi, tình trạng yếu kém tinh thần và sự giận dữ theo sau bệnh trầm cảm bằng câu nói: “Cuộc đời lẩn trốn khỏi anh ta như biển cả bất ngờ lui bước bỏ lại ghềnh đá mà nó đã mơn trớn từ quá lâu.”

Nhưng cái cảm giác lạ lùng nhận thức trong thâm tâm cũng được nói: “Và anh ta nghĩ đến cái tôi với sự pha trộn hy vọng và sợ hãi như nghĩ đến một kẻ xa lạ có khả năng hành động thay cho anh.

Về sự bất công, cô nói: “Nhưng sau cùng cái gì đến với anh ta. Vì cái gì người ta trừng phạt anh ta? Và ai?…

Tại sao anh ta nhận cuộc sống của anh trong đầu, giống như một vũ khí phản hồi (giống như một boomerang của người Úc ném ra bay tới đích rồi quay về chỗ người ném).
 

Về sự bất lực hoàn toàn làm anh ta sợ hãi: “Ai là người duy nhất cô đơn hơn lấn chiếm sự vui mừng, niềm hạnh phúc, tính yếm thế dịu dàng xâm nhập vào anh một cách tự nhiên bằng bản năng – và biến mất khỏi anh ngay tức khắc, tại Paris, trong năm ân sủng 1967?”

Sagan, với sự nhạy bén, nắm lấy những cảm giác đa dạng lần lượt thay nhau lấn chiếm anh khi anh càng lúc càng sa lầy trong trạng thái trầm uất. Cô nói: “Một người lương thiện không có quyền đau cái đau trong thân xác của mình” hay “người ta cuối cùng rồi một ngày nào đó đầu độc những kẻ âu sầu.

Sagan nghĩ đến một giải pháp chữa trị căn bệnh trầm uất bằng cách cho nhân vật đi về tỉnh lẻ, nơi cư ngụ của chị anh ở Limoges trong tỉnh Limousin. Anh so sánh cuộc sống vàng son ở Paris điên rồ hơn và cuộc sống ở tỉnh lẻ khôn ngoan hơn. Nhưng anh thấy ở đây có một cái gì thở ra hơi hướng của tiền bạc gợi lên cái giàu có của tỉnh lẻ được phối trí tài tình như trong một ban nhạc. Với tư cách là một nhà báo và một người dân Paris, anh được tham dự những hội hè xa xỉ hơn và điên loạn hơn do những người bị phá sản tổ chức. Anh cảm thấy anh ưu việt hơn một chút. Anh chỉ yêu đồng tiền bị xài phí. Câu hỏi là thiên nhiên có thể chữa trị chứng bệnh trầm uất của đời sống không? Sagan định nghĩa hạnh phúc như là một thứ “trống rỗng trong nội tâm,” khi trí não nghỉ ngơi không làm việc: nhân vật Gilles không nghĩ đến việc gì cả và anh ta biết sự thiếu vắng của tư tưởng được gọi là hạnh phúc.
 

Tình yêu, phương thuốc và độc dược

Ở bên kia cánh đồng cỏ là sự gặp gỡ Nathalie, người đẹp bí ẩn được mệnh danh là “nữ hoàng của thị xã,” một người đẹp tóc màu hung và mắt màu xanh lá, vợ của một quan tòa trong tỉnh, dựng đứng anh lên. Tuy nhiên, một cuốn tiểu thuyết của Sagan không được viết mà không có một mối tình bi thảm chực chờ, nơi đó tình yêu, hạnh phúc chỉ kéo dài trong một thời gian ngắn ngủi. Ngoài những trò ve vãn cổ điển, họ gặp nhau qua một ít lời nói và Nathalie rơi vào tay anh, lạ lùng và sảng khoái: “Nhưng sau cùng trò chơi không xảy ra như vậy, người ta không gượng lại được với tất cả những cảm xúc trong tay của một kẻ vô danh!

Nàng hiến dâng cho anh, không chống chọi được, như là bị bùa mê mặc dầu chỉ mới trao đổi với nhau vài câu. Sagan không thêm chi tiết mà chỉ dựng lên sự mơ hồ trong tâm lý của hai nhân vật: “Nàng là một phụ nữ mà sự yếu đuối lại mãnh liệt đến nỗi cảm thấy không chống cự được.”

Cuộc tình chớp nhoáng diễn ra theo kiểu Bà Bovary trong truyện của Gustave Flaubert. Một phụ nữ phú hào lấy chồng ở tỉnh lẻ, không lấy gì tươi đẹp cho lắm, cuộc đời đơn giản nhưng cùng lúc lại phức tạp, đơn giản vì chẳng có gì ngoài sự tầm thường, phức tạp vì phải lặng câm không nói được một tính từ đặc biệt hay không thay thế một câu nói này bằng một câu nói khác. Cuộc sống yên lặng, hạnh phúc, nhưng xé lòng. Mối quan hệ ngay từ đầu được đặt dưới dấu ấn của định mệnh. Sự giao tiếp trước hết rất vật chất giữa hai nhân vật. Đó là dục tình, không phải là tình yêu. Họ nếm mùi nhau, khám phá nhau với tất cả sự bạo lực âm ỉ, một trạng thái căng thẳng, đa tình, hung hăng, trao đổi trong đồng lõa. Người ta cảm nhận sự phát sốt nguy hiểm trong đam mê của Nathalie qua sự lo lắng làm cho Gilles được hạnh phúc. Có sự bất tương đồng trong cuộc tình và chính Nathalie sẽ mất mát trong câu chuyện này.

Có lẽ Gilles tạo kích thích hơn ông chồng quan tòa chân chất nhưng ích kỷ, ít chín chắn và kém trang bị để làm cho vợ được hạnh phúc.

Sau thời gian yêu nhau vô lo ở đồng quê, cả hai chạm thực tế. Tại Paris, cặp tình nhân hiểu biết nhau hơn và khám phá ra sự khác biệt giữa một Nathalie thông minh, trí thức hơn và một Gilles hoan lạc, hời hợt. Sagan nắm bắt được sự bất hòa tiềm tàng, những toan tính giảng hòa, tiến trình hủy hoại mối liên hệ đến cái điểm chia tay nhau vì có một cái gì gãy đổ giữa hai người.

Mặc dầu có sự thích nghi của Nathalie trong đời sống ở Paris với lũ bạn bè của Gilles, những người sống về đêm, những con vạc ăn đêm, suy đồi, chẳng ra gì cả, Gilles lại tự tạo cho mình sự thù hiềm và ghen tức. Sagan phơi bày ra cái nghịch lý trong tâm trí của phái nam ở cái thời kỳ mà một phụ nữ phải kín đáo và phục tùng.

Bên ngoài câu chuyện của một đam mê tình ái bi thảm, Sagan đặt vấn đề về vai trò của mỗi giới trong vấn đề tình dục và vị trí của họ trong xã hội, phơi bày cái nghịch lý và sự mâu thuẫn trong tư tưởng, ngay cả sự bực bội của đàn ông trước những phụ nữ khẳng định lấy mình một cách hơi quá đáng, nhưng cũng lật mặt trái lòng ích kỷ của bọn đàn ông.
 

Tiểu sử của Françoise Sagan

Françoise Sagan (21/6/1935-24/9/2004), tên thật là Françoise Quoirez, là một nhà biên kịch, tiểu thuyết gia, và một nhà văn viết chuyện phim. Bà được François Mauriac xưng tụng trên trang đầu của báo Le Figaro là một quái vật nhỏ nhắn, duyên dáng. Sagan được biết đến với những tác phẩm có chủ đề lãng mạn mạnh bạo để hết tâm trí vào những nhân vật thuộc từng lớp giai cấp tư sản giàu có và vỡ mộng. Tiểu thuyết được biết nhiều đến của bà la Bonjour Tristesse (1954) mà bà trước tác khi còn ở tuổi thiếu nữ dưới đôi mươi.

Sagan được sinh ra ở Cajarc (Lot), thời thơ ấu sống ở khu hành chính Lot của Pháp. Trong thời Đệ Nhị Thế Chiến, bà sống ở Dauphiné (Vercors). Tổ mẫu bên nội của bà là người Nga, quê ở Saint Petersburg. Sagan bị đuổi khỏi nữ tu viện trong năm học đầu tiên vì không có tinh thần ngoan đạo. Bà đậu Tú tài và theo học ở trường đại học Sorbonne nhưng không tốt nghiệp. Bà chủ tâm viết theo phong cách tiểu thuyết tâm lý.

Bà đã hai lần kết hôn. Lần thứ nhất, năm 1958, với Guy Schoeller, chủ bút của nhà xuất bản Hachette. Sau khi ly dị năm 1960, bà kết hôn với Bob Westhof, một người Mỹ trẻ tuổi, và có một vài mối tình với những người khác.

Thích du lịch ở Hoa Kỳ, bà thường giao thiệp với nhà văn Truman Capote và nữ tài tử Ava Gardner. Ngày 14/4/1957, bà bị tai nạn trong khi lái xe và bị hôn mê trong một thời gian.

Trong thập niên 1990, bà bị bắt vì sở hữu loại ma túy cocaine.

Trong những năm 2000, sức khỏe của bà yếu kém. Năm 2002, bà không đủ sức để ra hầu tòa về tội trốn thuế trong một vụ có liên can đến cựu tổng thống Jacques Chi-rac. Bà mất đi năm 2004, ở tuổi 69. Nước Pháp mất một trong những nhà văn sáng chói và nhạy cảm nhất.

Bích Hoài

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s