*** khúc thu

Hoàng Xuân Sơn

thuvang2

một khúc thu

chim ca. héo lánh ban ngày
rơi xuống triền vực
hồ mây lãng điều
áo vàng ngợi
khúc đăm chiêu
du di trên những ngón thiều đứt dây
nối thầm. cảm nghiệm hơi may
không trăng hút bụi
không mày nhíu kim
thu dung có bữa trao mềm
đường tha thướt chẩy vào niêm luật người

mười chín tháng chín 2016

thu chiếu lệ

tẩn mẩn như sương buồn
lời tà dương kín miệng
một chốc. rồi mây tuôn
người còn ho húng hắng

người đứng tẻ như cây
ôm ngực gầy. ủ bóng
nghe tiếp giáp hình hài
chút hồ trường bất động

rúc âm còi lẩn lút
thức dậy. đời phiêu xa
tầu va vào đơn thoại
về đâu cũng nhớ nhà

đi đâu. chừ lẻ bạn
đường viền neo song đôi
nhìn. vẫn nhìn. đâm lẫn
khúc quanh núi chạm đồi

20 oct. 2015

thu nh[ớ] [ỡ] [ờ]

đáp lời mưa nắng nguyễn đăng thường

thở vàng. dưới trán heo may
cùng nghe thu ảm
đạm ngày tiêu sơ
một khấc ghi. dấu
bụi bờ
rồi mênh mang trắng
phất phơ rừng chiều
mầu ngào đỏ tợ son kiêu
thèm môi vị đắng hôn
điều lãng quên
thưa em thưa em thưa em
gần trong gang tấc vẫn thèm nhớ xa [*]
hương thuỳ mị phải chăng là
chút bay vụng dại
bám tòa cúc xanh

hoàng xuân sơn
mười tháng chín/2015
[*] mượn ý Thanh Tâm Tuyền

*** CON SÁO SANG SÔNG

Trương Thị Thanh Tâm 

ao dai dai
Đã là con sáo sang sông 
Anh ơi đừng nhớ đừng mong làm gì 
Em làm anh khổ một thời 
Em yêu, mà chẳng lấy người em yêu 
Cho nên quả báo đến nhiều 
Khổ đau lận đận bao điều bận tâm 
Giá như ngày trước anh gan…!
Yêu em, sao chẳng nói rằng…yêu em 
Bây giờ trầu héo cau xanh 
Tim em mở ngõ, phòng không lâu rồi 
Nhưng anh thì đóng cửa thôi 
Vuông tròn hạnh phúc anh thời có đôi 
Nhờ em anh mới có nơi 
Con xinh vợ đẹp, tháng ngày yên vui 
Bây giờ…lặng lẽ mồ côi 
Em đang gánh chịu, phần tôi của mình!
      
Trương Thị Thanh Tâm
 Mytho 

*** Khối Tinh Thần Ngô Đình Diệm Toàn Cầu

Thư viện của bài

This gallery contains 1 photo.

Nguyễn Anh Tuấn Tuyên Ngôn Của Khối Tinh Thần Ngô Đình Diệm Toàn Cầu Trước tình thế cực kỳ sôi bỏng hiện nay đang diễn ra trong quốc nội; trước tinh thần quật khởi truyền thống rất dũng mãnh của … Tiếp tục đọc

*** Người Đi Lưu Mấy Dòng Không

Lê Diễm Chi Huệ

 

*** “Hương Trinh Đã Tan Rồi!”

Lê Hữu

Hương Trinh Đã Tan Rồi!

Em không đi nữa
Em về ôm quê hương mình
(thơ Minh Đức Hoài Trinh)

“Hương trinh đã tan rồi!” câu hát ấy ở trong bài hát “Kiếp nào có yêu nhau” (1958) của nhạc sĩ Phạm Duy, phổ từ bài thơ cùng tên của Minh Đức Hoài Trinh. Câu hát nghe thật buồn. Có điều là, trong bài thơ được phổ nhạc không hề có câu ấy, không hề có “hương trinh” nào cả.

 “Hương trinh đã tan rồi!” là một trong những câu người nhạc sĩ tự ý thêm vào, một cách cố ý, khi phổ nhạc bài thơ ấy. Sao gọi là “một cách cố ý”?

Trên những tờ nhạc xưa cũ, bên dưới cái tựa bài hát ấy, người ta đọc thấy: “Thơ: Hoài Trinh, nhạc: Phạm Duy”, hoặc “Thơ: Hoài Trinh, Phạm Duy soạn thành ca khúc”.
Một bài thơ khác cùng tác giả cũng được Phạm Duy phổ nhạc, người ta nghe được:

Ðừng bỏ em một mình
một mồ trinh
chênh vênh chờ cỏ xanh 
(“Đừng bỏ em một mình”, Phạm Duy & Hoài Trinh)

Người ta cũng nghe được, trong một bài quen thuộc của Phạm Duy:

Rước em lên đồi xanh
Rước em lên đồi trinh
(“Cỏ hồng”, Phạm Duy)

Hương trinh, mồ trinh, đồi trinh… Nếu chỉ là ngẫu nhiên, hẳn sẽ là một ngẫu nhiên thú vị khi nghe thêm một bài Phạm Duy khác:

Người xây ngục tối / tình yêu lừa dối
Giọt mưa tìm tới / để chia lầm lỗi
với người hoài trinh
(“Nước mắt mùa thu”, Phạm Duy) 

Câu ấy từng được nghe, được hát nhiều lần nhưng liệu có mấy ai hiểu được những tình ý trong câu hát.
“Hương trinh đã tan rồi”, đâu chỉ câu hát ấy, những câu nào nữa cũng được người nhạc sĩ thêm vào khi phổ nhạc bài thơ “Kiếp nào có yêu nhau”:

Đôi mi đã buông xuôi / Môi răn đã quên cười  
Xa nhau đã xa rồi / Quên nhau đã quên rồi…

Những câu hát ấy, lạ một điều, nghe rất “thơ” (“Môi răn đã quên cười”, chẳng hạn), là những câu được thêm vào hoặc để đáp ứng cấu trúc của bài nhạc, hoặc do bài thơ ngắn, cô đọng, cần “nối” thêm ý. Những câu hát này, hay những “câu thơ Phạm Duy” này, chảy xuôi chiều với mạch thơ và phù hợp với tổng thể của bài thơ.

Đến cả lời thơ cũng được thay đổi câu, chữ, vừa để tạo nhạc tính vừa để tương ứng với âm vực thấp cao, trầm bổng của nốt nhạc:

“Trăng mùa thu gãy đôi”  đổi thành  Trăng thu gãy đôi bờ
“Chim nào bay về xứ”  đổi thành  Chim bay xứ xa mờ
“Hoa đời phai sắc tươi”  đổi thành  Hoa xanh đã bơ vơ
“Đêm gối sầu nức nở”  đổi thành  Đêm sâu gối ơ thờ

Những đổi thay này vừa giữ lại được ý thơ vừa nghe cũng rất “thơ” nữa (“Trăng thu gãy đôi bờ”, chẳng hạn).

Tâm hồn nhạc sĩ Phạm Duy vốn nhạy bén với thơ, dễ bắt được những tần số rung động của thơ, ông đã thực sự chắp cho bài thơ “đôi cánh nhạc”. 

“Nếu không có nét nhạc thần tình của Phạm Duy,” tác giả bài thơ được phổ nhạc nói, “‘Kiếp nào có yêu nhau’ sẽ chẳng có được sức sống mãnh liệt đến như thế.”

“Kiếp nào có yêu nhau” không dễ hát và càng không dễ hát cho hay. Thái Thanh, giọng hát vẫn được xem là gắn liền với nhạc Phạm Duy, cũng gắn liền với bài hát này. Những giọng ca sĩ khác, mỗi giọng có cách thể hiện riêng; thế nhưng, với nhiều người yêu nhạc và yêu bài hát này, Thái Thanh vẫn là giọng hát thể hiện được trọn vẹn nỗi niềm, tình ý của bài nhạc.

Nghe Thái Thanh là nghe tiếng lòng thổn thức của trái tim đầy thương tích, là nghe trộn lẫn những tình cảm tiếc thương buồn tủi, chua xót đắng cay, giằng xé giày vò của duyên kiếp lỡ làng, của tình yêu muộn màng, vô vọng.

Giọng hát rã rượi, như phả hơi thở cảm xúc vào từng lời từng chữ, từng nốt nhạc, thể hiện nỗi đau xót đến tột cùng.  Bài hát cuốn hút người nghe ở những chuyển đoạn đột ngột đầy kịch tính, từ khắc khoải, rời rạc đến gấp gáp, vội vàng, từ những nốt thật trầm vươn đến những nốt thật cao, đẩy mạch cảm xúc lên đến tột độ.

Đừng nhìn em! Đừng nhìn em nữa…, anh ơi!
Những nốt nhạc rướn lên, não nuột.
Anh đâu, anh đâu rồi? Anh đâu, anh đâu rồi?!…
Những nốt nhạc chùng xuống, rã rời.
Nước mắt đã… buông rơi
theo tiếng hát… qua đời

Nghe câu hát ấy, nghe giọng hát ấy, không ai mà không nghe tim thắt lại.
Đừng nhìn nhau nữa…, anh ơi!…

Những nốt nhạc lại rướn lên ở câu kết (coda) với chuỗi ngân thảng thốt tạo cảm giác hụt hẫng, như một nỗi tiếc nuối không nguôi, một kết thúc chưa tròn vẹn.

Cái hụt hẫng và kết thúc chưa tròn vẹn ấy cứ mãi đeo bám, đè nặng lên trái tim người nghe, như một nỗi ám ảnh, dằn vặt, tựa ngấn nước mắt vẫn còn đọng lại trên khuôn mặt nhạt nhòa.

  Ban Giám Khảo Giải Văn Chương Học Đường VNCH (Saigon, 1974)
– Từ trái: Nhân viên Nha Sinh Hoạt Học Đường, Phạm Long Điền, Nguyễn Mộng Giác, Minh Đức Hoài Trinh, Bình Nguyên Lộc, Minh Quân, Lê Tất Điều, Võ Phiến (Ảnh: nguyenmonggiac.com)

Có thể dẫn ra một đoạn trong bài phân tích về nhạc thuật của “Kiếp nào có yêu nhau”, được nhạc sĩ Phạm Duy khá “tâm đắc” lúc sinh thời:

“… Cấu trúc thơ đã được đẽo gọt lại để hợp với cấu trúc nhạc. Tôi đoán rằng nhạc sĩ đã ngân nga được cái motif ‘Đừng nhìn em nữa anh ơi’ và cái motif cân bằng thứ hai là ‘Hoa xanh đã phai rồi / Hương trinh đã tan rồi’, và chọn nó làm sườn bài chính của nhạc khúc. Cái cấu trúc này rất logic, nó khởi đầu bằng một câu tán thán với một cung nhạc rải vút lên (arpeggiated) ‘Đừng nhìn em nữa anh ơi’, rồi chứng minh ngay lời cầu khẩn đó bằng hai câu nhạc tương tự nhau là ‘Hoa xanh đã phai rồi’ và ‘Hương trinh đã tan rồi’…

Sang phần hai của phiên khúc, ta thấy nhạc sĩ đã làm tăng kịch tính của câu nhạc bằng cách khéo léo nhắc lại motif nhưng với một biến thể là thêm vào ba nốt ‘Đừng nhìn em (Là Mi Lá)’ trước khi lên đến nốt Mí rồi trả lại nốt Ré, rất phù hợp với lời nhạc có tính cách van xin, vì có ai van xin một câu rồi thôi?” (1)

Chỉ một vài nét phác ấy đủ cho thấy “tay nghề” phổ thơ của “nhà phù thủy âm nhạc” Phạm Duy, như cách người ta vẫn gọi ông.

Đến nay nhiều người vẫn còn nhớ giọng hát rưng rưng của Thái Thanh và “Kiếp nào có yêu nhau” trong vở kịch “Áo người trinh nữ” trình diễn trên Đài Truyền Hình Việt Nam (1967), đã lấy đi không ít nước mắt của khán giả.

Gần đây, cũng bài hát ấy, cũng giọng hát ấy đã mê hoặc và truyền cảm hứng cho một đạo diễn điện ảnh người Mỹ gốc Việt, Dustin Nguyễn, để thôi thúc anh thực hiện một phim tình cảm lãng mạn ở trong nước. “Bao giờ có yêu nhau”, tên phim, mượn từ một câu hát trong bài hát ấy.  “Kiếp nào có yêu nhau”, nhạc phim chính, và giọng hát đầy ma lực của Thái Thanh đã “hớp hồn” nhiều khán giả trẻ lần đầu tiên nghe được ca khúc ấy, khiến phải đi tìm cho bằng được bài hát và giọng hát này để được thưởng thức trọn vẹn. Rõ ràng là trước giờ tuổi trẻ trong nước chưa hề nghe được bài hát nào, giọng hát nào như thế.

“Tôi chọn ca khúc ‘Kiếp nào có yêu nhau’ làm nhạc phim vì nội dung bài hát quá phù hợp với chuyện phim,” người đạo diễn trẻ tâm sự. “Ca khúc bất hủ ấy không chỉ nói về kiếp người, sự luân hồi, mà còn khắc họa cả câu chuyện tình bất hạnh, tiếc nuối. Bên cạnh đó, giọng ca của nghệ sĩ Thái Thanh mang màu sắc liêu trai, ám ảnh và cực kỳ ma mị. Ca khúc này được lồng ghép vào phim chắc hẳn sẽ chạm được đến trái tim khán giả.”

Đối với nhiều người ở trong nước, đấy là bài hát “mới”, hiểu theo nghĩa mới được nghe lần đầu.
Bài hát, như thế, có đến hai đời sống, cách nhau đến hơn nửa thế kỷ.
“Kiếp nào có yêu nhau” phù hợp với giọng nữ hơn là giọng nam. (Vài nam ca sĩ tự ý đổi lời bài hát từ “em” sang “anh” nghe khá… phản cảm, khi mà những “hoa xanh” và “hương trinh” chỉ dành cho người nữ:

Đừng nhìn anh! Đừng nhìn anh nữa…, em ơi!
Hoa xanh đã phai rồi!
Hương trinh đã tan rồi!)

Thái Thanh-Hoài Trinh-Phạm Duy, “bộ ba” này đã giữ cho lời hẹn thề “Kiếp nào có yêu nhau” của những đôi tình nhân được bền vững mãi cho đến trọn… kiếp này.

Điều đáng ngạc nhiên là, bài thơ được phổ nhạc khi tác giả còn tuổi đời rất trẻ. Người đọc tìm thấy, nhiều bài thơ, câu thơ của Minh Đức Hoài Trinh như được phủ lên một màn sương âm u, một không gian u tịch của những “chiều tha ma hoang lạnh”, những “đường nghĩa trang gập ghềnh”, những “tiếng cầu kinh văng vẳng”, những “tiếng búa nện vào đinh”, những “vòng hoa tang ủ rũ”, những “cỏ dại phủ mộ trinh”, và cả đến những “thịt xương rữa nát”, những “côn trùng rúc rỉa”, những “oan hồn lạnh lẽo”, những “bóng thuyền ma lênh đênh”…

Về phía người nhạc sĩ, những bài thơ của sinh ly tử biệt ấy mang đến cho ông sự đồng cảm sâu xa, khi mà “Tình yêu–Sự khổ đau–Cái chết” vẫn là những chủ đề, như ông bộc lộ, từng theo đuổi và ám ảnh ông không dứt. “Kiếp nào có yêu nhau”, “Đừng bỏ em một mình” và những bài thơ nào nữa của Minh Đức Hoài Trinh đã truyền cảm hứng đến ông để từ đó một loạt những ca khúc về siêu hình, tâm linh, về cái chết và nỗi chia lìa ra đời, như “Đường chiều lá rụng” (1958), “Nếu một mai em sẽ qua đời (1958), “Tạ ơn đời” (1959), “Một bàn tay” (1959), “Ru người hấp hối” (1965), “Những gì sẽ mang theo về cõi chết” (1966), “Anh yêu em vào cõi chết” (thơ Nguyễn Long, 1971), “Tưởng như còn người yêu” (thơ Lê Thị Ý, 1971), “Bài hát nghìn thu” (1988), “Người tình già trên đầu non” (1988), “Trút linh hồn” (thơ Hàn Mặc Tử, 1993)…

Đến nay thì cả hai, người nhạc sĩ lẫn người thi sĩ đều đã đi về một thế giới khác. Và tiếng hát người ca sĩ, từ lâu cũng lặng tiếng, im hơi.

***

“Anh còn có dịp đi qua
thăm giùm em với, căn nhà thân yêu
Hôn giùm em những buổi chiều
Nói giùm em, nói rất nhiều xót xa” (2)

Người viết những câu lục bát ấy đã đi xa. Lời thơ thật tha thiết, thật xót xa. Tôi không rõ chị đi xa mãi đến đâu, thế nhưng tôi tin rằng linh hồn chị thế nào cũng về lại quê hương cũ, về ngồi lại trên thềm nhà cũ của “căn nhà thân yêu”, về hôn lên những buổi chiều vàng trên đồng lúa mênh mông, về thăm lại “màu đất đỏ đường dốc cao Bến Ngự”, (2) về nhìn lại “trăng sông Hương vằng vặc giọng hò khoan” (2) nơi thành phố đầy ắp những kỷ niệm mà một phần đời của nhà thơ còn gửi lại chốn ấy.

Tình yêu ấy, tình yêu chị gửi về quê nhà xa lắc xa lơ ấy, đến “kiếp nào” đi nữa cũng không hề nhạt phai. Dẫu “hương trinh đã tan rồi”, dẫu hoa đời có “phai sắc tươi” thì tình vẫn cứ xanh cho đến “tận ngàn sau”. Không phải là bài hát ấy đã nói như thế sao?

Minh Đức Hoài Trinh, chị không đi xa (như cách người ta vẫn nói), chị trở về. Một con người yêu đất nước yêu quê hương đến như chị, yêu đến nâng niu từng kỷ niệm như chị thì không thể nào không trở về. 

Trở về như cánh “chim nào bay về xứ”. (2) Trở về như những câu thơ:

“Trở về thành phố của màu rêu tuổi nhỏ
vẫn còn nghe trong gió
bầy chim sẻ trên nóc chuông nhà thờ
gọi tên rất khẽ
Hoài Trinh”
(“Quê Nhà”, thơ Minh Đức Hoài Trinh)

Và những câu thơ nào nữa, trong những bài thơ “trở về” nào nữa:

“Em về ôm lửa
Em về ôm anh
Em không đi nữa
Em về ôm quê hương mình”.
(“Em về ôm quê hương mình”, thơ Minh Đức Hoài Trinh)

Lê Hữu
9/9/2017

(1) Học Trò: Vài cảm nghĩ về “Kiếp Nào Có Yêu Nhau”, thơ Hoài Trinh, nhạc Phạm Duy
(2) Thơ Minh Đức Hoài Trinh

*** ĐÔNG VỀ

Nhật Quang

jpeg111

Chiều buông trầm
Gió níu Thu vàng vương lên mắt nhớ
Hoàng hôn tím nhuộm bâng khuâng
Ngõ phố xạc xào
Hương Thu còn sót trên nhành lá
Có tiếng chim gù gọi bạn
Rơi vào khoảng lặng mênh mang

Trên gác vắng
Tiếng dương cầm văng vẳng, ray rứt
Quyện vào bóng đêm tĩnh lặng
Hàng cây bên đường run run
Và những chiếc lá cong queo nằm trăn trở…
Hứng giọt sương buốt giá
Nghe mùa Đông thức giấc quay về.

Nhật Quang
(Sài Gòn)

*** ĐÊM NGHE RỪNG YÊN TĨNH!

Hoa Nguyên

hoa_hong_cau_vong_5_ejcc

Tàn tích ngỡ giọng người
Dấu nhiều năm sót lại
Ta còn thấy ngôi xanh
Ngày chiến chinh xa ngái..
Cô gái Việt lai Miên
Chút ba tàu trong máu
Mái tóc vừa Tịnh Biên
Ta mới về tiền tuyến
Những đầu xanh với núi
Treilli trong màu rừng
Phong sương mùi mưa bụi
Trong mắt em rưng rưng
Chiến tranh nào ngại chết
Sợ mất dấu núi rừng
Ta gọi em gái Chệt
Trong mắt đen tội mừng
Chỉ nhìn thôi không nói
Nỗi sợ rất tội tình
Những đàn chim cánh mỏi
Ghé về thăm bình minh
Đôi mắt tròn ly biệt
Chưa nói đã ngại ngùng
Đời chiến binh khắc nghiệt
Về đâu buổi trùng phùng
Những chiều đi vời vợi
Non nước còn điêu linh
Hàng poncho đồng đội
Quấn quanh đời chiến chinh
giữa mình thật mong manh
Mối tình xanh xao lính
Đêm nghe rừng yên tĩnh
Địch chắc toan tính gì!
Chiều biên giới ta đi..

hoa nguyên

*** Giấu Những Đam Mê

Trương Thị Thanh Tâm 

aodai do
           
Yêu người có tội hay không?
Mà sao tôi thấy phập phồng lo âu 
Tình yêu nào biết được đâu!
Trái tim cứ thế đập sai nhịp rồi 
Tim ơi đừng có bồi hồi 
Đừng nhìn ánh mắt nụ cười người ta 
Biết rằng người ấy ở xa 
Nâng khăn sửa túi , người ta có phần 
Xin thôi đừng có phân vân 
Nhở yêu thì khổ, mua dần nổi đau 
Trời ơi! Tôi biết làm sao 
Ngày đêm thương nhớ, ngọt ngào muốn trao 
Bao giờ mới được gặp nhau 
Tình xa cách trở, nỗi đau lại về 
Hay là tôi đứng bên lề 
Nhìn người giấu những đam mê trong lòng 
            Trương Thị Thanh Tâm 
                      Mytho

*** Thương Lá Bay Xa

Lệ Hoa Trần

aotrang2-kkk
Tháng mười về mưa rơi, lá đổ
Cây xa cành nỗi nhớ buồn tênh
Đường vắng người phố xá đèn lên
Con chim nhỏ ẩn mình góc vắng
Chiều cuối thu một mình thầm lặng
Chân bước lê dọc quảng đường dài
Dưới tàng cây đếm lá thu bay
Lòng lưu luyến nhớ về xưa cũ
Hai con mắt giữa ngày……  ủ rũ
Muốn vui cùng vạn vật thiên nhiên
Muốn quên đi bao nỗi ưu phiền
Mà lệ mãi lăn tròn trên má
Tình yêu hỡi. Ôi ! Sao vĩ…quá
Chỉ phút, giây mà nhớ nghìn trùng
Chỉ nụ hôn in mãi không quên
Chỉ tay nắm dường như bó chặt
Tháng mười về lòng đau quặn thắt
Tiếc nuối tình, thương lá bay xa.
Lệ Hoa Trần
18-10-2018

*** Là Lá Hát

Hoa Nguyễn

hoa xoan
Xác người còn quanh đây
Trên nền nhà tận hưởng
Đem pháp trường phơi thây
Tên thời trang tối thượng!
Giao hưởng trên phận người
Như tiếng trời đười ươi
Loài thần thoại quỉ dử
Múa giữa thời ma chơi!
Trong trùng trùng loài dơi
Thử chập chờn chơi vơi
Bay rập rờn thượng đẳng
Rờn rợn những tiếng cười!
Xác nào vừa thê lương
Nghe đêm trường đau thương
Màu hoa đèn u quái
Dệt hình hài tai ương!
Trên giảo trường âm u
Trong chốc lá mùa thu
Dư âm toan.. rời rã
Là.. lá hát ngục tù!
Là.. Lá hát ngục tù..
Là.. Lá hát ngục tù!

*** Quê Nhà, Còn Đó Hay Không?

Đặng Lệ Khánh

Gởi Người Tình Tuvalu

Nơi ta sinh ra nước xanh như ngọc
Có những khóm dừa nghiêng bóng thầm thì
Cát trắng thi nhau mời Em đến học
Viết mãi tên Anh trên mỗi bước đi

Có cánh hải âu soãi dài trên đá
Có nắng rất vàng trên tóc buông lơi
Có Em ngồi đây ngắm mây đón gió
Lồng lộng hồn Anh thơm muối biển khơi

Tình yêu nồng nàn đâu cần tiếng nói
Sóng vỗ xô bờ lời nguyện muôn niên
Dã tràng ngàn năm sẽ hoài xe cát
Và Anh và Em sẽ tát biển êm

Sẽ có một ngày cát thôi chờ đón
Nước biển dâng dầy khuất lấp quê hương
Nơi Em đang ngồi sóng hờ hững gợn
Hải âu bay dài cất tiếng thê lương

Đặng Lệ Khánh

          tuvaluBạn đang hỏi Tuvalu là cái quái gì vậy mà K bày đặt làm thơ ư? Bạn muốn biết thì cứ mở computer và vào site này để xem nhé:

http://www.thesinkingoftuvalu.com/

Bạn đã đọc chưa? Cái quốc gia bé tí mười dặm vuông với khoảng mười ngàn người dân ấy có thể sẽ biến mất tăm trên bản đồ thế giới trong vòng năm mươi năm nữa thôi. Nơi cao nhất của nó bây giờ là 15 feet trên mực biển và nơi thấp là bốn feet. K không biết người ta đo theo kiểu nào chứ với mười lăm feet cao thì một cơn sóng lớn cũng đủ ngập rồi. Nhưng dân ở đấy văn minh lắm đấy, không thiếu truyền hình và vi tính. Có người đã xin tị nạn nước biển ở Úc và Tân Tây Lan, những nước lân cận lớn rộng, không sợ bị nước biển xâm lăng như ở quê nhà.

Năm mươi năm nữa, con số người ra biển vọng cố hương sẽ tăng thêm khoảng mười ngàn, hợp với hàng triệu người tha phương trên khắp thế giới, đứng nơi này mà vòi vọi trông nơi kia, tâm hồn vượt núi, vượt sông, vượt biển mà vọng cố hương. Người Cuban đứng trên đất Florida Bay nhìn qua eo biển mà thương người ở lại, người Việt đứng ở Cali mà vọng qua Thái Bình Dương, nhớ cuộc vượt biên. Người Nga, người Đông Âu chắc chỉ chờ mùa đông tuyết rơi rơi mà nhớ đậm nhớ đà những hội hè gia đình đầm ấm.

Các nhà văn lưu vong có người sau khi đi khắp vùng trời thế giới xin quay về sống nơi quê nhà dù phải đành gác bút, có người nhất định chôn nắm xương tàn nơi đất khách như một quê hương thứ hai, thà nhìn đất đai mây nước người từ lòng đất hơn là được chôn tại quê nhà mà vẫn thấy cô đơn.

Mất nước vì nước biển như Tuvalu mới thật là mất nước. Có ai hô hào được người dân đứng lên cùng nắm tay nhau mà tấn công hà bá long vương được. Có ai lưu vong, đi góp công, góp của, góp nhân lực để về giúp dân chống lại mực nước đang dâng được. Sự chống chỏi lại một tương lai tối mù thê thảm là sự chống chỏi tuyệt vọng ngay từ lúc sơ khai, nguyên thuỷ. Sống bây giờ là sống trên một đất nước đang đi vào cõi chết. Vài chục năm sau nữa, khi con cái khai lý lịch chánh quán của mình, tìm trên bản đồ chỉ thấy một vùng nước xanh lơ, loáng thoáng dưới đáy đầy rong, một lớp đá vẫn còn ngữa mặt nhìn trời xanh tìm bóng dáng những chú hải âu một thời nhởn nhơ bay lượn , lòng sẽ tự hỏi : Tuvalu, tên hay nhỉ, nhưng nó là gì, nằm ở nơi nào.

K lại lan man tự hỏi, con cái đời nay ở Huế, có thể có người nào tình cờ một hôm đào xới sau vườn hương hoả để đặt xuống một cây ngọc lan chẳng hạn, bỗng đào lên một di vật của Chiêm quốc. Người ấy có bâng khuâng, xót xa mà nhìn vào quá khứ để đau hận mà tìm xem Chiêm Quốc nằm ở nơi nào. Những người Chiêm mới thật là kẻ vong quốc ngay trên đất nước mình. Mỗi khi đứng giữa những hoang tàn của thành quách một thời hưng thịnh, họ chắc đau lòng vô cùng tận.

Năm kia khi K về Việt Nam, K đi Tháp Chàm ở Nha Trang, Phan Rang, Mỹ Sơn. Đứng trên Tháp ở Nha Trang và Phan Rang, K buồn buồn thôi mà không thấy thê thảm như khi đi Mỹ Sơn. Có lẽ nhờ những nơi ấy nằm trên cao nhìn xuống thành phố, còn giữ nét uy nghi ngạo nghễ của một dân tộc dù đã khuất nhưng vẫn có những trang sử oai hùng. Còn Mỹ Sơn thì khác hẳn. Nằm khuất lấp giữa rừng núi hoang vu, tiêu điều u ẩn, suối nước chảy lặng lẽ vờn quanh, cỏ hoang bơ phờ theo gió hiu hiu lành lạnh giữa trời chiều trở qua sắc tím. Những ngọn tháp rêu phong, đổ nát, tường loang lỗ, cột xiêu nằm la liệt. Trên mỗi cột to cả hai người ôm, chữ nghĩa một thời vẫn còn in dấu như những lá bùa vĩ đại bảo vệ chứng tích người xưa. Đã biết bao nhiêu nhà khảo cổ tìm về đây, mong đọc được những hàng chữ khắc đều tắp, bí mật ấy mà bó tay.

Ngồi trên cột đá, tay mân mê những hàng chữ thảo, tưởng như oan hồn một thời còn quanh quẩn đâu đây, hàng đêm khóc đòi nước cũ. Dưới chân mình là đám cỏ mắc cỡ, chạm chân nhè nhẹ cho chúng khép mắt, nằm yên ngủ bình an. Huyền Trân có vô tình góp một bàn tay diệt một giống nòi không nhỉ. Với ta, Công Chúa là một anh thư. Với người, Công Chúa chắc là kẻ phản bội. Mọi khen chê đều tuỳ theo người phán xét đang đứng ở biên giới nào. Và vì thế, lúc nào cũng chỉ là tương đối.

Người Chiêm sống trên đất nước tuy đã mất tên nhưng nắm đất rất hiện thực vẫn còn nằm đó. Từ xưa, đất vẫn là đất, họ tên do người đặt ra, đất nào cần biết tới. Đất chỉ cần biết đất đang ở cùng ai, đang ôm ấp nắm xương nào, đang nuôi sống rễ cây nào, đang góp mầu cho đám hoa nào, đang nghe trong lòng dòng suối nào len lỏi buồn buồn mà ấm áp. Tên tuổi có thay đổi, nhưng cảm giác thân quen khi vọc tay xuống đám đất xốp man mát, hay chao chân xuống con nước trong vắt, con người nơi ấy có lẽ vẫn thấy lòng gắn bó nơi mình đã sinh ra.

Người Việt lưu vong thì tâm hồn không đơn sơ đến thế. Họ làm sao biết nên đứng bên nào để nhìn về hướng quê nhà. Quê hương có mất đâu mà than mất nước. Mảnh đất hình chữ S vẫn còn nguyên, tên vẫn còn nguyên, đất đai vẫn còn đấy, chỉ có chủ thuyết là khác thôi. Chủ thuyết chắc chắn không phải là quê nhà, chủ thuyết chắc chắn không phải là quê hương. Vậy mà chúng ta vẫn buồn đau vì sự thay đổi ấy.

Chúng ta cảm thấy mất quê hương chỉ vì những kẻ theo chủ thuyết ấy đã đối xử những kẻ đối đầu với họ một cách tàn nhẫn, để lại những vết thương không bao giờ khép lại trong tim và trong trí nhớ của những anh hùng đã sa cơ. K cũng chắc rằng không phải vì bị đối xử tàn ác mà chúng ta không chấp nhận họ và chủ thuyết của họ. Chúng ta có tư duy để thấy lý thuyết ấy không sao nâng con người lên đến chỗ thăng hoa của tâm hồn.

Con người không phải chỉ thuần sinh lý. Con người còn có nhân phẩm, có tâm hồn, có tư tưởng. Con người không chỉ kiếm tìm thực phẩm cho cơ thể cần sinh tồn, nó còn cần tìm thức ăn cho tâm trí muốn được khai sáng và tự do. Những thức ăn tinh thần ấy, ở quê nhà không bán, ai muốn mua phải mua chợ đen, mua lặng lẽ và ăn trong lặng lẽ.

Quê nhà còn đó mà như mất. Bước chân về mà như đi vào một nước xa lạ, lòng lại có cảm giác như mình đang phản bội lại những người bạn một thời đã sát cánh tranh đấu cho một lý tưởng chung. Đi hay ở, người Việt có lương tâm ở hải ngoại vẫn không nguôi thổn thức trong lòng cố tìm cho mình một câu trả lời thật nghiêm trang và đầy nhân bản. Hoặc ít ra, đó là câu hỏi K riêng nhìn thấy được trong những ánh mắt của bè bạn thân quen.

Quê nhà, còn đó hay không?

Đặng Lệ Khánh

 

*** Nỗi Đau Phận Người

Trương Thị Thanh Tâm 

ao dai ngoi
Anh nói gì với gió 
Sao chỉ thấy lặng im 
Lá thu nhẹ rơi thềm 
Nắng còn vương chút hạ 
Anh nói gì với mây 
Mặt trời đi đâu vội 
Buông rèm đêm sập tối 
Tiếng vạc sầu năm canh 
Anh nói gì cùng mưa 
Cơn mưa hoài chưa dứt 
Nên có người thao thức 
Đếm giọt buồn lê thê 
Anh nói gì với biển 
Sao biển vẫn thét gào 
Nước dâng theo dòng lũ
Người trôi dạt nơi đâu 
Anh nói gì nữa không 
Đời còn nhiều bối rối 
Bước trong vùng bóng tối 
Nghe nỗi đau phận người!
           Trương Thị Thanh Tâm 
                    Mytho 

*** Lương Tâm MẸ NẤM

Đỗ Hiếu/ĐHT

Phim Tài Liệu Về Gia Đình Tù Nhân Lương Tâm MẸ NẤM – NGUYỄN NGỌC NHƯ QUỲNH

Buổi trình chiếu phim “Mẹ Vắng Nhà”, được VOICE tổ chức vào chiều thứ sáu 31 tháng 8, 2018 tại hội trường Providence Recreation Center, thành phố Falls Church, Virginia.

Sau nghi thức khai mạc do ông Bùi Mạnh Hùng phụ trách, luật sư Trịnh Hội, Giám Đốc Điều Hành Tổ Chức VOICE cho biết đây là phim tài liệu đầu tiên về một nhà dân chủ, một phụ nữ đấu tranh cho nhân quyền, blogger Mẹ Nấm, đang ngồi tù, do đạo diễn Clay Phạm thực hiện tại Nha Trang. Cốt truyện diễn tả cuộc sống kham khổ, gian nan, gia đình của Mẹ Nấm, bà ngoại tật nguyền, mẹ già chật vật nuôi  hai con nhỏ của tù nhân lương tâm này mà còn thường xuyên bị công an bám sát, theo dõi, gây khó khăn đủ điều.

Cuốn phim dài 40 phút, được bí mật thu hình trong hoàn cảnh rất gay go, nguy hiểm, đã được chiếu tại các quốc gia trên thế giới tạo nhiều cảm xúc và thương xót trong công luận, khiến cộng sản Hà Nội phản ứng gay gắt.

Mẹ Nấm bị tòa án cộng sản xử 10 năm tù cộng với 5 năm quản chế, ghép vào tội “tuyên truyền chống phá nhà nước” vì đã tham gia biểu tình chống Trung Cộng chiếm Hoàng Sa, Trường Sa. Cô cũng thường xuyên lên tiếng bảo vệ dân oan bị cộng sản chiếm đoạt đất đai, tài sản, bênh vực gia đình các nạn nhân bị đột tử trong đồn công an, chống đối tập đoàn Formosa gây thảm họa môi trường, khiến cá chết đồng loạt tại bốn tỉnh Miền Trung.

Hiện nay cô bị giam trong một hỏa ngục ở Thanh Hóa, ngoài Miền Bắc, cách xa gia đình trên 1200 cây số và  thường bị nữ tù hình sự “đầu gấu” hành hung, tính mạng luôn bị đe dọa.  Cô đã nhiều lần tuyệt thực để phản đối hành động khủng bố tinh thần và vật chất dã man của các cai tù.

Mẹ Nấm Nguyễn Ngọc Như Quỳnh dù vắng mặt, đã được trao tặng nhiều giải thưởng như: Tự Do Báo Chí, Bảo Vệ Nhân Quyền,  Những Người Phụ Nữ Quốc Tế Can Đảm. 

Với sự can thiệp nhiều lần của chánh phủ Hoa Kỳ và Liên Hiệp Âu Châu đòi Hà Nội trả tự do vô điều kiện cho Mẹ Nấm nhưng vẫn chưa được đáp ứng!

Sau phần hỏi đáp qua điện thoại với đạo diễn Clay Phạm, hiện đang lẩn tránh an ninh Việt Nam và bà Nguyễn Thị Tuyết Lan, mẹ chị Nguyễn Ngọc Như Quỳnh, ở Nha Trang, buổi trình chiếu kết thúc vào lúc 8 giờ tối. Có những vị ân nhân ở Mỹ đề nghị với bà Tuyết Lan xin nhận hai bé Nấm và Gấu làm con nuôi. Bà nói, sẽ hỏi ý kiến của Mẹ Nấm, khi bà đến trại giam thăm con gái và phúc đáp sau.

Lên tiếng với VIETV, luật Sư Trịnh Hội, Giám Đốc Điều Hành của VOICE (Vietnamese Overseas Initiative For Conscience Empowerment/ Sáng Kiến Thể Hiện Lương Tâm Người Việt Hải Ngoại) cho biết về cảm tưởng chung, nói đúng hơn đó là sự phẩn nộ, cú “sốc” của khán giả tại Đài Loan, Philippines, Úc, Canada và Hoa Kỳ khi xem tận mắt những hình ảnh đàn áp, sách nhiễu thô bạo của công an đối với gia đình Mẹ Nấm cũng như những tiếng nói dân chủ khác lên tiếng phản đối bản án nặng nề dành cho Mẹ Nấm.

Tại Việt Nam, phim chỉ được chiếu kín đáo trong các giáo xứ và nhà thờ với số người xem hạn chế. Trên Xứ Thái, phim được chiếu lần đầu tiên vào ngày 27 tháng 6 vừa qua, trong Câu Lạc Bộ Báo Chí Quốc Tế (FCCT) tại Bangkok, Thái Lan. Khi biết được, Hà Nội triệt để ngăn cấm đồng thời áp lực chánh phủ Thái phải hủy bỏ các buổi trình chiếu phim “Mẹ Vắng Nhà”.

Bà Phùng Thị Hạnh, cựu Chủ Nhiệm báo Tin Sống ở Saigon [trước 1975] và cựu phóng viên tạp chí Newsweek, bày tỏ sự đồng cảm với hoàn cảnh gia đình đơn chiếc, chật vật của chị Nguyễn Ngọc Như Quỳnh và mong muốn công luận quốc tế, cùng tập thể người Việt Hải Ngoại mạnh mẽ vận động đòi hỏi Hà Nội sớm trả tự do cho hàng trăm tù nhân lương tâm còn bị cộng sản Việt Nam giam cầm trong hỏa ngục, trong đó có Mẹ Nấm, nhân vật chính không thể có mặt trong cuốn phim cảm động này.

Đỗ Hiếu/ĐHT

***BÊN DÒNG SÔNG CỬU

Trang Châu

Mekong-River-654x454-621x431

ai đứng bên kia bờ giới tuyến
nghe chiều buông nắng ngậm ngùi đi
trông nhau mấy độ thu rồi nhỉ
hẹn với thuyền em đến bến gì?

mắt lệ năm nào tiễn biệt nhau
trùng trùng con nước cuốn trôi mau
tàu đi, sông biếc đìu hiu lạnh
gió cuốn đời trai theo bể dâu

lưu lạc phương trời, lòng một phương
rừng thu vàng úa lá quê hương
nao nao tiếng hát buồn rười rượi
côi cút người đi vạn dặm trường

ta đứng bên này con sông xanh
bình minh chim hót nắng trên cành
bên kia, mưa nửa dòng sông đục
lớp lớp cuồng dâng sóng bạo hành

Bao giờ lá úa, cành khô mục
lửa tiếp hờn căm cháy gót thù
thế nước bừng bừng con thác hận
ta về,trời lộng gió thiên thu

ta về, hẹn với dòng sông Cửu
nối lại bờ chia một nhịp cầu
xanh xanh mái tóc bên đầu súng
áo trắng thương thương áo bạc màu

Trang Châu

*** Người có tính tình khó ưa mới dễ giàu

Một nghiên cứu mới cho thấy những người tính tình dễ chịu thường có thu nhập thấp, quản lý tài chính kém.

BIEN NUOCMột nghiên cứu mới cho thấy những người tính tình dễ chịu thường có thu nhập thấp, quản lý tài chính kém.

Theo Telegraph, các chuyên gia tại Đại học London và trường kinh doanh Columbia đã phân tích dữ liệu từ hơn 3 triệu người tham gia nghiên cứu tại Anh và thấy rằng, xét về trung bình, những ai có tính tình khó ưa thì lại giàu có hơn.

Họ đã xem xét ở cả trẻ em, bằng cách theo dõi chúng tới khi trưởng thành, và trực tiếp ở người lớn. Nhóm nghiên cứu cũng tìm hiểu vì sao có mối liên quan giữa tính tình dễ mến với tình trạng khó giàu.
 

Họ kết luận rằng những người dễ tính nghèo hơn không phải vì họ dễ thỏa hiệp hơn mà đơn giản bởi họ ít nghĩ về tiền và do đó khả năng quản lý chuyện công việc, làm ăn kém.

Tiến sĩ Sandra Matz, Đại học Columbia, nói: “Kết quả này giúp chúng ta hiểu một yếu tố tiềm ẩn của các khó khăn về tài chính – điều có thể ảnh hưởng đáng kể tới sự giàu có của mỗi người. Trở thành người tốt bụng và đáng tin phải đánh đổi về tài chính, đặc biệt với những ai vốn đã không giàu có gì”.

Nghiên cứu đăng trên Journal of Personality and Social Psychology.

 

*** MẸ NẤM

Nhật Quang

Tặng Nguyễn ngọc Như Quỳnh
Em vẫn hiên ngang, dũng cảm
Trước lũ bán nước đê hèn
Bản án 10 năm
Không làm em nao núng
Trước đòn thù, em vẫn đứng thẳng ngay
Nêu chí khí của cháu con bà Trưng, bà Triệu
Em quyết chọn
Con đường Tự Do – Dân Chủ
Quyết đấu tranh cho đất nước rạng rỡ, đẹp tươi
Em quyết giữ biển Đông sáng ngời
Em quyết bảo vệ cho những người dân oan đói khổ
Đòi formosa trả lại môi trường biển xanh
Đòi công lý cho muôn người bị áp bức
Em vẫn kiên cường phía trước
Những bất công của bọn dã tâmhoathach
Giương cao lá cờ Công Bằng – Chân Lý
Nốt gót bao anh hùng quyết giữ gìn mảnh đất tổ tiên
Em dõng dạc, phí khách hiên ngang
Dù tấm thân nhi nữ mỏng manh, gầy yếu
Em kiêu hãnh, mỉm cười trước gông cùm kẻ ác
Chí khí em biến thành sức mạnh phi thường
Cuốn phăng phường bán nước, hại dân
Tấm gương sáng để đời cho hậu thế
Đóa hoa Quỳnh vẫn lặng thầm trong đêm tươi nở
Ngát hương thơm giữa trời đất mênh mông.
Nhật Quang
(Sài Gòn)

*** the matrix

Sử Mặc

ba bảy hăm mốt
 

5       10
15
20
3   7
21
đi đời nhà ma
đếm tới đếm lui vẫn là

7
3
21
nhà ma đi đời

00co baynum bờ tu

1.
thế là thằng cẳng giữa
túm gọn
anh hai vziên
2.
hồn ma lũ chim nhào xuống
độp phù mỏ
đứa bắn chùng

xạo [ke]

sao chúng mày cứ bật tắt bật           tắt
bỏ bà hết củi nỏ vào lò
cho được việc

một nhời

 đã đến lúc
lâu la tùng đảng bọn mày phải rút lui
bằng không thì
mất mạng

Sử Mặc
 
 

*** Praying

chua- cau nguyen 2

“Cast all your worries upon Him because He cares for you”. (1 Peter 5:7)

When we face difficulties in life, we often turn to God in prayer and beseech for help. We come to God to find comfort when we are in grief, in the midst of tragedy, or to find strength during life’s trial and tribulation.

Praying is divine and is a submission to God. It requires completely all of our hearts, minds, souls, and bodies consecrated to God. Furthermore, prayer is obedience to God’s will and acting according to His commandments. Prayer is also: sharing feelings with God; confiding and expressing our innermost thoughts and wishes to God; crying and laughing with God; walking hand in hand with God; spending time and creating memories with God; crying out for joy with God; crying out for help from God; igniting and growing the flame of passion in our hearts and souls for God; planning and dreaming with Him; worshiping, serving and glorifying Him; and lets His holiness shine upon us. I learn that everyday of our lives has its own troubles and we are not immune from it. Just open your heart, be honest and simple in your prayer. Simple prayer means we do not have to find a right words or holy phrases to move God. It is fine and alright to express your anger or despair because it shows that a communication channel or relationship between us and God is open and established. And that is a key to finding strength, comfort, courage, guidance, and happiness, because God has promised: “call on me on the day of distress, I will rescue you, and you shall honor Me.” (Psalm 50:15).

Always remember: “You do not possess because you do not ask” (James 4:2) and be assured that God is always with us and He will always answer us, thus, be faithful, patient, submissive, “trust in the Lord” (Psalms 37:3) because He has been and will be carrying us through life: “Even though I walk through the valley of the shadow of death, I will fear no evil, for you are with me; your rod and your staff comfort me.” (Psalms 23:4). ,

Strengthen your relationship with God with consistent prayer.

 Yes, God is always with us. So keep on confiding and praying to Him. He will always be there to listen and will lift us up in His loving and caring arms.

Let us pray:

Dear almighty God, the God of love, mercy and compassion, we cast all our anxieties on You, for You care about the smallest things that affect our worldly lives.
Thank you for always loving us.

Amen!

Joe HX Nguyen 

mùa thu Thánh Chúa

thu 6

tạ ơn Chúa mùa thu lại về nữa
nắng vàng rơi trên lối cỏ chiều nay
lá trên cành hân hoan thay áo mới
khoe sắc mầu trong nắng ấm muôn nơi

cánh chim trời nhẹ chao trong trời rộng
gió đường xa về thăm lá thu vàng
ôi lòng con như cánh diều lơ lững
theo gió trời chao lượn đón thu sang

nhặt lá vàng để thấy lòng ấm lại
vì tình Chúa gói kín trong lá thu
vì tình Chúa đầy ngập trong không khí
cho đời con hít thở tình Chúa yêu

tạ ơn Chúa tặng con thu rực rỡ
rực rỡ muôn mầu ân sủng Chúa ban
con chợt hiểu vì sao thu vàng úa
vì thế gian này còn lắm đau thương

tạ ơn Chúa tặng con mùa thu nữa
thu tha hương trong nỗi nhớ chơi vơi
tình yêu Chúa bao la hơn vũ trụ
làm sao con đền đáp nổi Chúa ơi!

tạ ơn Chúa tặng đòi thu muôn sắc
như tình yêu Chúa trao tặng nhân gian
Chúa chịu chết cho loài người được sống
cho đời này mãi mãi trong yêu thương
cho đời này đầy ơn phúc Chúa hiển linh

Joe Hung Nguyen
(Khê Kinh Kha)

*** Lời Kinh Mân Côi

Nhật Quang

hoa_hong_cau_vong_4_epwl

Maria
Mẹ yêu ơi!
Con dâng lên
Chuỗi hoa đời
Muôn hương
Mừng, Vui lẫn tiếng sầuThương
Chơi vơi kiếp sống vô thường trầm luân

Bể dâu
Cuộn sóng gian truân
Mắt gầy lệ đẫm
Buồn dâng kiếp người
Nghe chuông chiều vọng tháng mười
Mân Côi chuỗi ngọc vang lời thiết tha

Tay nâng
Ước nguyện…đơm hoa
Vui mùa ân phúc
Thoảng xa ngàn trùng
Thầm thì chuỗi hạt kính Mừng
Sáng ngời màu nhiệm…cửu trùng hạ thân

Thương đời
Lữ khách phù vân
Thập hình cứu độ
Suối ngần thương yêu
Hương kinh nhẹ ngát lam chiều
Bốn mùa vương quyện tin yêu nồng nàn.

Jos, Nhật Quang

*** NHỚ

Trương Thị Thanh Tâm 

           1ao dai trang
Mấy đêm rồi không ngủ 
Từ khi nói lời yêu 
Ta như đôi đủa lệch 
Nên lo sợ rất nhiều 
Làm sao giữ được tình!
Khi đôi ta hai ngã 
Trái tim nghe hối hả 
Với bao nỗi đợi chờ 
Từ khi nói lời yêu 
Lòng luôn thấy bối rối 
Sợ tình vuột khỏi tay 
Trái tim lại nghẹn ngào 
Nhớ ơi sao là nhớ 
Ánh mắt với nụ cười 
Cứ miết lấy hồn tôi 
Rộn rả những niềm vui 
Áo hoa khoát lên người 
Pha sắc nét rạng ngời 
Xao xuyến cả hồn tôi 
Dật dờ trong nỗi nhớ !
          Trương Thị Thanh Tâm 
                  Mytho 

*** CẢM NHẬN VỀ THƠ

VÀI CẢM NHẬN VỀ THƠ

TRẦN MAI NGÂN

00cogai hinh ve

Thơ của Trần Mai Ngân là thơ của nỗi lòng. Hình như, chị mượn thơ chỉ để ghi lại Nhật Ký Nỗi Lòng nên thơ của chị gần gũi, dễ đi vào lòng người bởi đọc thơ chị. người đọc dễ “cảm”, dễ nhớ. Chị viết nhanh để ghi lại những cảm xúc thật của mình nên những câu thơ của chị rõ là của chị, không chịu ảnh hưởng cúa ai, cứ nhẹ nhàng đằm thắm, nhẹ nhàng chịu đựng, nhẹ nhàng hy sinh (có lẽ) như chính con người của chị.

Đọc những câu thơ:

– “Tôi đi nhặt lấy phù du
Trần gian một cõi mịt mù chơi vơi
Tôi tìm trong chiếc lá rơi
Phận người với cả một đời hư hao”
(Phù Du)

– Ngồi buồn xòa ngón tay hao
Đã đan trong gió đã nhòa trong mưa
Gần xa cũng đã từng chưa
Ngón tay đeo nhẫn như vừa chơi vơi.
(Ngồi Buồn Bấm Đốt Ngón Tay)
– Gió chiều, chân vội bước qua
Chỗ cười, chỗ đứng đã là ngày xưa
Mười Hai trời chẳng thôi mưa
Tiễn Thu hay tiễn tôi vừa hôm nay!”
(Tiễn Thu 2)

người đọc thấy trân quý cuộc đời hơn dù những câu thơ ấy viết về sự cô đơn, về nỗi xót xa vì những dang dở chuyện tình, bởi thơ ấy không hề bi lụy, tiêu cực mà chỉ nhẹ nhàng dâng kín nỗi buồn, rồi nhẹ nhàng buông bỏ để người thơ trở về với những gì là của mình, thuộc về mình.

Tôi thích thơ chị, có lẽ cũng từ những câu thơ hay và tinh tế như thế.

Hôm nay, đưa thơ chị lên trang blog Đặng Xuân Xuyến, không hiểu lý do gì mà 3 lần tôi lập cập làm hỏng, cứ phải dàn trang lại. Vì đặc thù riêng (một phần do thiết kế) nên thời gian dành cho việc đưa bài lên trang blog Đặng Xuân Xuyến thường tốn khá nhiều nên tôi bực, định xóa hẳn bài nhưng tiếc công sức đã bỏ ra nên nán làm lại, vì thế mà tôi đọc kỹ bài thơ GIẬN của chị. Tôi bật cười với suy nghĩ: Thảo nào tên bài thơ là Giận!

Và cặm cụi ngồi gõ đôi dòng về Giận cả về thơ của chị:

GIẬN…
.
Cứ một lần giận dỗi
Là thêm một cách xa
Mà em luôn nói dối
Không sao…em ổn mà!
.

Cứ một lần im lặng
Không nhìn nói với nhau
Làm tim em băng giá
Một mình âm thầm đau 
.

Thêm một lần… lần nữa
Có chắc còn lần sau
Ngày mỗi ngày hờ hững 
Nên tình đành xa mau…
.

Canberra trắng màu
Mây trôi xa xôi quá 
Em nhủ lòng quên đi
Chuyện đôi ta …còn gì? 
*
Canberra, 25 tháng 08.2018
TRẦN MAI NGÂN

Vâng. Thơ Trần Mai Ngân là thế. Cứ thẳng tuột với những suy nghĩ của mình, chẳng cần chọn lựa câu chữ bóng bảy, chẳng cần rào dậu chắn be. Sự thẳng tuột ấy chỉ là chị tự nói với lòng mình, tự lẩm bẩm với nỗi buồn đang xâm kín lòng mình, sự nhẹ nhàng ấy rất phụ nữ Miền Tây:

Cứ một lần giận dỗi
Là thêm một cách xa

Biết là giận dỗi là căn nguyên của sự “cách xa” nhưng chị không giãi bày, không phân tỏ mà chỉ âm thầm chịu đựng, âm thầm để níu giữ:

Mà em luôn nói dối
Không sao… em ổn mà.

Câu: “Không sao… em ổn mà!” nghe như tiếng nấc đang được chị cố ghìm lại.

Chị tiếp tục thật thà với nỗi ấm ức đầy vơi của mình, bằng những câu không thể đời thường hơn, không thể thật hơn, cứ như chị bê nguyên xi nỗi ấm ức, hờn tủi của chị bằng những câu nói thường nhật trong cuộc sống vào thơ mà chẳng cần cầu kỳ gọt rũa, chẳng cần chọn lựa kỹ câu từ. Vì thế mà chuyện của chị, thơ của chị thật lắm, đời và dễ chạm vào lòng người:

Cứ một lần im lặng
Không nhìn nói với nhau
Làm tim em băng giá
Một mình âm thầm đau

Biết là sức chịu đựng của con người có giới hạn nên khi đối diện với lòng mình, chị lắng hỏi lòng mình, và cũng là tự nhủ với lòng mình: “Thêm một lần… lần nữa/ Có chắc còn lần sau“. Biết sự nhường nhịn ấy, cam chịu ấy rồi cũng sẽ không đem lại kết quả tốt đẹp, nhưng chị lại buông xuôi, bất lực, tiếp tục cam chịu “thêm một lần”, rồi lần nữa, “lần nữa”… để chấp nhận sự đổ vỡ, chia ly: “Ngày mỗi ngày hờ hững/ Nên tình đành xa mau…”, thì thật là một bi kịch.

Nhẫn nhịn và bất lực trước cuộc tình sắp tan vỡ là tư tưởng yếm thế của một phụ nữ cam chịu xuyên suốt bài thơ.

Đọc bài thơ, không thấy hình bóng ai ngoài hình bóng chị, được mặc định bởi nhân vật “em” đang thủ thỉ kể chuyện tình buồn của mình. Cũng không biết căn nguyên những lần giận dỗi từ đâu, sự giận dỗi ở mức nào mà chỉ thấy hình ảnh nhẫn nhịn, cam chịu của chị, với những tâm sự của riêng chị, cũng rất chung chung, mơ hồ, khiến người đọc dù mến thương, cảm thông với nhân vật “em“, vẫn buông tiếng thở dài, nhẹ nhàng trách cứ: “tại anh tại ả, tại cả đôi đường.”.

Dù thế, thì “Giận” vẫn là bài thơ nhiều cảm xúc, cuốn hút người đọc bởi sự chân thành trong từng câu chữ của người viết.

Vâng! Thơ của Trần Mai Ngân là thế, là thơ của nỗi lòng, là tấm gương phản chiếu chân thực cuộc sống mà nữ sĩ Trần Mai Ngân đã trải qua, đã cảm nhận và đối diện.

Tôi thích những câu thơ buồn nhẹ nhàng nhưng lại rất sâu, rất thấm, kiểu:

Xa nhau, ừ nhỉ xa nhau vậy
Vá víu trăm năm một nụ cười
Mắt đã rời xa không trở lại
Lúc ở cạnh nhau đã vắng rồi.
(Khắc Vào Gió)

Nhưng tôi mong lắm được đón đọc những bài thơ tươi rói nụ cười, những niềm tin rạng ngời về sự vẹn tròn, đủ đầy của tình yêu chung thủy như mái ấm gia đình mà chị đang có, về những hạnh phúc lứa đôi mà tôi thấy đã có nhưng chưa nhiều trong thơ của chị. 

Hà Nội, 27 tháng 09.2018

ĐẶNG XUÂN XUYẾN

*** cuộc tình

Hoàng Xuân Sơn

1aodai trang

với da trời. mượt. xanh xao
áo em mặc kín
điệu chào thanh thiên
khép lại từ khúc
ngoan
hiền
rồi trắng hết cả mùa
hiên thuý về
bây giờ tình nhẩm hương mê
một chữ vón vén
câu thề vĩnh ly
với thu ký             một lần
đi
đời ghi chép giữa
truyền kỳ nắng mưa
con đường nhữ thuỵ hương xưa
dấu chân mường tượng
vết lùa chim bay
một lần hôn đẫm ngón tay
còn nghe bạt tuỵ cuối ngày vân vi

hoàng xuân sơn
19/9/18