*** Em từ lục bát bước ra

đặng lệ khánh

Em từ lục bát bước ra
Tóc mềm quấn vội, áo là chưa tươm
Gót chân vương ngọn cỏ thơm
Tay ôm mấy khúc đoạn trường dở dang

Em cười, trăng thở đầu non
Em đi, hương bưởi khẽ luồn vào thơ
Từ Em, sáu tám đong đưa
Từ Em, mấy nốt nhạc đùa à ơi

“Đêm đêm ra đứng nhìn trời
Sao mờ, cá lặn, nhện khơi nỗi nhà …”

Em từ lục bát bước ra
Ca dao thấm đẫm mượt mà thời qua

Lời ru từ thuở ấu thơ
Trên vai cháu tựa, chị đưa ạ ời
Vỗ lưng bé bỏng tuyệt vời
Giữa khuya tĩnh lặng ấm hơi ngủ vùi

Em từ lục bát mỉm cười
Thả tay rải những ý lời đơn sơ
Bồng bềnh kẽo kẹt nôi xưa
Theo câu sáu tám đêm là đà vơi…

Đặng Lệ Khánh

*** BIỂN KHÓC

Khê Kinh Kha


DPDP21

Nhạc và lời : Khê Kinh Kha

Bảo Yến trình bày

BIỂN KHÓC

ngồi bên bờ biển này
nhớ giòng tóc mây bay
nhớ nụ cười trong gió
bàn chân in cát nhỏ
giờ đây đã phai mờ

ngồi bên bờ biển này
nhớ người qúa xa xôi
nhặt từng hạt cát nhỏ
ép vào bờ môi tôi
để nhớ thương một người

thì thôi người đã bỏ đi
bỏ tôi ngơ ngác bên bờ biển hoang
bỏ tôi ngồi dưới trăng vàng
ôm ngàn con sóng khóc tình mây trôi
thì thôi nă’ng nhạt biển tôi
hoang vu rơi lệ, ngậm ngùi trăm năm
thì thôi biển vắng tình nồng
ngàn năm biển khóc, khóc tình đôi ta

ngối bên bờ biển này
gió lạnh đầy tim tôi
người ơi sao xa mãi
biển ơi sao khóc hoài
ngọt lệ này cho ai ?

rồi đây biển âm thầm
rồi đây sóng lặng câm
rồi đây tình tôi chết
trên bãi cát khô cằn
ngàn năm mây bay mãi
ngàn năm biển khóc hoài


khê kinh kha

*** Những Tác Phẩm Cuối Cùng Của Khái Hưng

Trọng Đạt

Tưởng Niệm 70  Năm Nhà Văn Khái Hưng Bị Việt Minh Thủ Tiêu Tại Bến Đò Cựa Gà, Làng Ngọc Cục, Nam Định Vào Đêm Giao Thừa Năm Mới Đinh Hợi (21-1-1947).  

Khái Hưng tên thật là Trần Khánh Giư, sinh năm 1896 tại Cổ Am, Vĩnh Bảo Hải Dương , thuộc thành phần gia đình quan lại, con cụ Tuần phủ Phú Thọ, bố vợ là Tổng đốc Bắc Ninh, anh  ruột nhà văn Trần Tiêu. Khái Hưng theo học trường Lycée Albert Sarraut, HàNội, đậu tú tài ban cổ điển, ông cũng uyên thâm Hán học.

Ông tham gia hoạt động cách mạng giành độc lập 1940. Năm sau 1941, các đảng viên Đại Việt Dân Chính như Khái Hưng, Hoàng Đạo  bị Pháp bắt giam tại nhà lao Vụ Bản thuộc tỉnh Hòa Bình, đó là một vùng nước độc. Năm 1943 ông được tha, bị quản thúc tại Hà Nội. Nhật đầu hàng đồng minh tháng 8 năm 1945. Các nhà cách mạng lưu vong bên Tầu kéo về nước, Khái Hưng và Nguyễn Tường Bách giữ nhiệm vụ tuyên truyền cho Việt Nam Quốc Dân Đảng. Việt Minh cướp chính quyền ngày 19 tháng 8 năm1945, sau khi thành lập chính phủ liên hiệp, họ bất ngờ tấn công các trụ sở Quốc Dân Đảng, tiêu diệt các thành phần Quốc Gia.

Pháp tấn công Hà Nội, Khái Hưng tản cư về làng Lịch Diệp quê vợ,  bị Việt Minh bắt đưa đi thủ tiêu nửa đêm 21-1-1947, tức giao thừa Tết Nguyên đán Đinh Hợi.  Trong hai năm 1945, 1946 ông sáng tác một số truyện ngắn và kịch đăng trên tuần báo Chính Nghĩa. Năm 1966 ông Nguyễn Thạch Kiên đã cho xuất bản các tác phẩm ấy tại Sài Gòn và năm 1997 tại California, Hoa Kỳ nhân dịp kỷ niệm năm mươi năm Khái Hưng bị Việt Minh thủ tiêu,  Nguyễn Thạch Kiên đã cho in lại trong một bộ sách hai tập lấy tên Kỷ Vật Đầu Tay Và Cuối Cùng, nhà xuất bản Phượng Hoàng.

Đây là những truyện ngắn và những vở kịch cuối cùng của Khái Hưng, của Tự Lực Văn Đoàn . Bốn cây viết chính của văn đoàn gồm Khái Hưng, Nhất linh, Thạch Lam, Hoàng đạo. Nhưng lúc này chỉ còn một mình Khái Hưng, Thạch Lam chết bệnh năm 1943, Nhất Linh, Hoàng Đạo lưu vong sang Tầu, Khái Hưng sáng tác một mình.

Những tác phẩm cuối cùng của ông cũng là những áng văn tuyệt tác của một cây bút già dặn, những tâm tư của một nhà cách mạng chân chính trước cảnh cốt nhục tương tàn của cuộc chiến  Quốc -Cộng đang diễn ra. Các truyện ngắn gồm: Bóng Giai Nhân, Lời Nguyền, Hổ, Tây Xông Nhà, Quan Công Xứ, Nhung, Khói Hương, Người Anh Hùng, Tiếng Người Xưa và ba vở kịch: Câu Chuyện Văn Chương, Khúc Tiêu Ai Oán, Dưới Ánh Trăng. Vì phạm vi giới hạn chúng tôi xin được đề cập một số truyện chọn lọc.

BÓNG GIAI NHÂN 

Xin sơ lược 

“Trên một chiếc ô tô chở chính trị phạm lên Vụ Bản, Khanh một tù nhân nhớ lại những chuyện cũ tại trại giam sở Liêm Phóng: Phòng giam hôi hám, tối tăm, chàng đi bộ cùng các bạn tù tới nhà ga, những lời kêu khóc của thân nhân đi tiễn. Nhưng một kỷ niệm mà hắn khó quên lóe lên trong ký ức: Bóng giai nhân, một bạn gái bị giam ở xà lim bên cạnh trong thời gian hai mươi bốn tiếng đồng hồ “Sà lim 18’’, tên của giai nhân, cả trại đều ghi nhớ nàng bị giải đi đâu không biết.

Thế rồi một buổi sáng người ta dẫn vào một lô tù mới, trong đó có một thiếu nữ ăn mặc quê mùa rách rưới. Khanh và mọi người hỏi lính gác được biết cô gái bị giam ở đây nay là lần thứ ba. Lần thứ nhất cô là nữ học sinh tân thời, lần thứ hai cô giả trai, và lần này cô giả nhà quê. Tội của cô là “ làm cách mạng”’, từ lúc ấy thiếu nữ chiếm hết lòng sùng kính của trại giam.

“Sà lim 18’’là một cô bé nhỏ nhắn xinh xắn, cặp mắt sáng, môi tươi, mặt trái soan, nước da nhỏ mịn. Anh em tới tấp chạy lại để ngó qua lỗ cửa hỏi thăm tin tức, thiếu nữ tươi cười yên lặng. Lần trước nàng đã trốn trại sau bị bắt lại, các anh em cách mệnh cho quà bánh, nàng đã ôn tồn nói chuyện với mọi người. Khanh hay đến thăm nàng, chàng tưởng mình được nàng lưu ý nhất. Bóng giai nhân chỉ chỉ thoáng hiện nơi trại giam như tia nắng hé ra giữa khoảng trời mây đen. Khanh thở dài nghĩ thầm ước gì ta gặp nàng lần nữa rồi bị tù chung thân cũng cam! .

Đó chỉ là chuyện hồi tưởng, xe đã tới Vụ Bản, tại đây chiều chiều nhìn dẫy Hoành Sơn chàng ta mơ mộng tới hình ảnh bất diệt của giai nhân không bao giờ trở lại. Trại giam cho phép một cô gái gánh hàng tạp hóa vào sân trại bán, Khanh nhìn cô bán hàng mơ tưởng tới bóng giai nhân. “ 

Bằng lối hành văn bay bướm, điêu luyện, Khái Hưng đã tạo lên một bầu không khí thật lãng mạn trong một đề tài chính trị, cách mệnh. Một giai nhân xinh đẹp, người nhỏ bé, đôi mắt sáng, cặp môi tươi, mặt trái soan mà các anh em tù thường gọi là ‘Sà Lim 18’, nhưng nàng còn đẹp tuyệt vời hơn nữa vì nàng làm cách mạng cứu quốc vào tù ra khám ba lần, đã được sự sùng kính của toàn thể trại giam.

Khái Hưng tạo nên một chàng cách mạng dạt dào tình cảm, ông cũng tạo nên một không khí lãng mạn tuyệt vời. Chàng cách mạng chăm chỉ đến thăm giai nhân, tặng quà bánh và tưởng là được nàng lưu ý nhất! giữa cảnh núi đồi trùng điệp chàng cứ ngồi thẩn thơ mỗi chiều để gửi lòng yêu tới tận phương xa, mơ màng nghĩ tới người gặp gỡ trong những ngày ngắn ngủi và không bao giờ quên được nàng, đó là hình ảnh bất diệt của giai nhân không bao giờ trở lại, Khái Hưng kết luận. 

“Rồi đây, những lúc cách mệnh tha thiết gắt gao lên tiếng gọi, y  sẽ cảm thấy lòng tự tin, lên đường xông pha trong gian khổ với bóng giai nhân huyền ảo gặp gỡ giữa cảnh lao tù”. 

 

LỜI NGUYỀN 

Xin sơ lược 

“Đồn Vụ Bản chót vót trên ngọn đồi cao. Khanh , tù nhân chính  trị, một hôm ra suối lấy nước, gặp người lính kèn, hắn ta bảo ‘Phải , một lời nguyền! !

Trong đám dân kinh bên phố, lính bên đồn, anh em tù chính trị trong trại thỉnh thoảng lại có người giã từ cõi nhân gian về miền cực lạc. Khanh cảm thấy sự việc như có liên quan đến lời nguyền ghê gớm của người xưa. Một hôm người lính kể lại cho chàng chuyện ấy.

Đồn Vụ Bản là một trong những đồn binh kiên cố theo chương trình thống trị, nó án ngữ đường Nho Quan – Ninh Bình, nó cũng có thể kiểm soát hành động của những ông quan lang có oai quyền. Vì vậy viên quản mà người Pháp cho về coi đồn là người thật hách. Trước đây có một ông quản tên Tăng, được giữ chức trưởng đồn, ông hách dịch bệ vệ, nằm giường Hồng Kông, ăn cơm tây. Mỗi lần sang phố ông đeo huy chương đầy ngực. Tay cầm roi da, dắt chó tây to kếch sù. Tụi trẻ thường bảo:  -Quan Quản!

Quan là chúa tể vùng này: Nào thu thuế chợ, thuế đò, thuế thân. Dần dần thành ‘quan đồn’ và thành ‘cụ lớn’. Bao nhiêu người lễ lạc quà cáp cho cụ. Nhậm chức mới hai tháng, Cụ Lớn lấy cô nàng hầu người Kinh, con thương gia và hai nàng hầu người Mường nữa.

Quan thường ‘nổ’ với mọi người là Quan và và Bà Lớn đều là con nhà thế gia đại tộc, cụ thân sinh ra Quan và Bà Lớn toàn là Tổng đốc, Tuần Phủ  cả! . Có lần ông Quản bịa ra một lô truyện tả cái gia thế nhà mình: Cụ Cố, quan lớn về hưu thích chè tầu, tổ tôm, còn Bà Lớn trông coi mấy trăm mẫu ruộng!

Thế rồi một buổi sáng, một ông già tóc hoa râm và người đàn bà trạc ngoài ba mươi. Cả hai đều quê mùa cục mịch: ông lão quần nâu sắn đến đầu gối, người đàn bà mặc áo tứ thân mầu nâu, váy chồi đen. Họ hỏi đường sang đồn, qua phà, sang sông, leo dốc, lên đồi. Khi tới nơi cuối dốc, người lính canh quát:

-Hai người nhà quê hỏi ai?

-Chúng tôi vào thăm ông Quản!

-Vào hầu quan có việc gì?

-Bẩm chúng tôi là người nhà! 

Người lính cho người vào trình quan rồi hỏi. 

-Có họ hàng thế nào với quan?

-Ông cụ sinh ra quan và vợ quan!

Lúc ấy ông Quản đứng trong sân bảo:

-Đuổi cổ chúng nó ra! 

Nhân lúc cổng đồn mở, ông cụ và người đàn bà xông vào sân kêu:

-Tăng, Anh Tăng! 

Ông Quản quát mắng:

-Đồ nhà quê! bay đâu tống cổ chúng nó ra! 

Bọn lính tống cổ hai người ra. Ông lão và con dâu lẳng lặng ra về, đến bờ sông bên giòng nước chảy ào ào, ông lão thốt lời thề nguyền độc địa:

“Từ nay đứa nào còn lên đây thăm chồng con thì chết như thế này”. 

Rồi ông nhảy xuống sông tự tử. Từ đó lời nguyền vẫn thiêng lắm, những ai lên đây thăm chồng, thăm con về ốm đau nặng rồi chết.”

Một ông quản lỡ lời ‘nổ zăng miểng’ với mọi người về gia thế nhà mình, cháy nhà ra mặt chuột, khi ông cụ và mẹ đĩ lên thăm thì xấu hổ sai lính đuổi không nhận là bà con.

Theo ông Trần Ngọc, trong cuốn Kỷ Vật Đầu Tay Và Cuối Cùng, Khái Hưng viết truyện này để diễn tả cái chủ trương ‘vô gia đình’ của những người độc quyền yêu nước, từ chối bà con ruột thịt, và như vậy tác giả đã nguyền không bao giờ còn liên hệ với các ‘đồng chóe’ vô gia đình vô tổ quốc ấy.

Một truyện ngắn gọn đơn sơ mang mầu sắc huyền bí ghê rợn, ý nghĩa thật là sâu sắc, nó thể hiện cái phi nhân bản của những người tự cho là vị tha yêu nước. Độc giả như thấy hiện ra một vùng rừng thiêng nước độc với một lời nguyền ghê gớm. 

HỔ 

Xin sơ lược

“Bảy Hai, người lính gác trên chòi cao một trại tù. Hắn đã hai lần đánh mõ tre đáp lại tiếng khánh sắt cầm canh bên  đồn. Hắn buồn ngủ muốn ríu mắt mà không dám ngủ vì sợ đội Giới phạt. Đội Giới thù ghét Bảy hai vì một truyện nhỏ tại sòng bài tối qua. 

Tối nay, dưới ánh trăng mờ, Bảy Hai ngắm cảnh để quên đi giấc ngủ, hắn chợp mắt được vài phút rồi choàng tỉnh, linh tính báo cho biết có chuyện gì ghê gớm. Hắn trông thấy một vật gì như con bò đang tiến về phía mình , tới lưng chừng đồi nó dừng lại rẽ sang phía nam, một lúc sau nó tiến về phía Bảy Hai, hắn nhận rõ đó là con hổ lực lưỡng, to béo đang  từ từ tiến lại. Bẩy Hai hồn vía lên mây xanh không dám động tịnh. Con hổ lực lưỡng tới chân thang chòi dừng lại rồi nằm xuống, Bảy Hai không dám cựa quậy, hắn chỉ sợ nó vùng dậy chồm lên đạp đổ cột chân chòi gác  làm thịt mình, hắn định bắn mà không dám, chỉ sợ trật hay bắn bị thương nó thì vô cùng nguy hiểm, hắn biết rằng nó chỉ chống lại người, tấn công người khi có ý định giết nó. 

Tiếng khánh bên đồn và tiếng mõ tre các chòi canh vang lên, Bảy không dám đánh, hắn nghĩ nếu mai có bị phạt cũng ráng chịu vì nếu gây tiếng động bây giờ là toi mạng. Không nghe thấy tiếng mõ của Bẩy, Đội Giới bèn lại chòi canh của hắn để rình bắt quả tang Bẩy ngủ gục trong canh gác để phạt trả thù. Bẩy Hai bắt đầu lo cho tính mạng của Đội Giới, hắn vụt quên mối thù để nghĩ tới tai họa do một loài khác tàn ác gây ra. Lòng nhân đạo tự nhiên sống dậy, hắn nghĩ tới cách cứu mạng một người, tiếng chân người nghe lạo xạo, con hổ vẫn nằm im lìm. Bẩy Hai hoảng hốt thét lớn.

-Đứng lại, có hổ đấy! có hổ! con hổ chạy biến mất, người cũng chạy biến đi.” 

Khái Hưng lấy truyện người gác tù (lính Tây) có tình thương đồng bào để ám chỉ tình thương của người quốc gia đối với kẻ thù khi tai họa sảy ra. Dù là người mình thù ghét, ta vẫn có thể quên đi mối hận để cứu họ vì tình đồng loại, cái mà ông gọi là lòng trắc ẩn, tình nhân đạo.

“Mối thù y vụt quên để chỉ nghĩ tới tai nạn xảy đến cho kẻ đồng loại do một loài khác, một loài tàn ác gây lên. Lòng trắc ẩn, tình nhân đạo đến với y một cách tự nhiên, một cách ngẫu nhiên .Y không lý luận nữa, không cân nhắc nữa , chỉ tìm cách cứu sống một con người thoát khỏi nanh vuốt một con vật”. 

Thánh Ghandi đã nói chúng ta có thể chiến thắng bằng tình thương.

NHUNG

Xin sơ lược. 

Sinh là con trai của bà Đồ, một thanh niên hư hỏng, rượu chè, cờ bạc. Là con một ông Cử, chị em bà đều lấy chồng con nhà nho, nhưng chị bà lấy ông Thượng Nguyễn đỗ đạt làm quan, còn chồng bà chỉ là ông đồ nghèo kiết. Chị bà có giúp bà nhiều phen, nhận nuôi Sinh cho cùng đi học với con mình, rồi chồng bà chết, chị bà chết, ông Thượng Nguyễn (anh rể) lấy vợ khác, bà vợ này có con gái tên Nhung. Ông Thượng bạc đãi Sinh nên anh bỏ về với mẹ, đã hai mươi tuổi, anh học không hay, nghề không có, cờ bạc phá của, khiến gia đình ngày càng thiếu hụt. 

Sinh oán thù ông Thượng và gia đình ông. Hồi chị của mẹ hắn ( bà Cả Thượng) còn sống, bà coi hắn như con, mua sắm đủ thứ, và nay bị đối xử bạc bẽo, hắn cho là hai mẹ con Nhung gây lên rồi oán ghét gia đình ông Thượng, hắn oán ghét tất cả xã hội quan lại, hào phú, trưởng giả, hắn tìm ra đủ tội lỗi đê tiện, xấu xa. Sinh có quan niệm về xã hội loài người: Loài người chia làm hai giai cấp: Giai cấp nhiều quyền lợi và giai cấp không có quyền lợi. Hắn nghĩ tới cách giải quyết vấn đề cho những người ở giai cấp thua thiệt; hắn lười biếng, hư hỏng nhưng chỉ muốn cải tạo xã hội, hắn cương quyết phá hoại phe địch, hắn đi nói xấu bọn nhà giầu như ông Thượng, người đã nuôi hắn, cho hắn nếm mùi phú quí rồi ném hắn xuống đất đen cho thấm thía chênh lệch bất công, hắn tuyên truyền bôi nhọ bọn phú hào rằng chúng đã xây đắp hạnh phúc trên xương máu quần chúng. 

Khi ấy xẩy ra vụ cướp nhà ông Thượng Nguyễn, người ta đoán chắc Sinh có dính líu vụ này vì dinh cơ kiên cố rộng rãi ấy nếu không có người thuộc đường như Sinh chỉ lối thì cướp không thể vào được. Sinh bị bắt, người làng vui cười, họ cho là hắn đáng tội vì hắn căm thù gia đình ông Thượng ghê gớm. Hôm cướp vào nhà, ông bà Thượng đi vắng, người nhà chạy trốn thoát, duy chỉ có Nhung bị bắt. Về sau bọn cướp bị quan nha bắt, người ta kêu Nhung đến nhận diện chúng. Nàng nhận diện hết mọi tên trừ Sinh , có người nghĩ Sinh vô tội, có người cho là Nhung thương hại hắn vì chính bọn cướp cũng khai Sinh là đồng lõa.

Vụ cướp bẵng đi một thời gian, người ta lại bàn tán đến chuyện mới sảy ra: Sinh tự tử trong buồng để lại bức thư tuyệt mệnh gửi Nhung.

B… ngày 1940  

Em Nhung. 

Đây là một bức thư dài dòng văn tự, Sinh cho biết mẹ hắn là em bà Thượng cả (mẹ Nhung là bà hai) không phải là gì Nhung, hắn và nàng không có họ hàng với nhau, ví thử có lấy Nhung làm vợ cũng không sao. Từ ngày được thả về, trí óc hắn rối ren, nay quyết định chết nên rất bình tĩnh, khi Nhung nhận thư này Sinh đã là cái xác không hồn. 

Lúc thì hắn xưng anh, lúc thì hắn xưng em, .  . hắn gửi lời vĩnh biệt, lời tạ lỗi vì đã xúc phạm Nhung trong cái đêm lịch sử ấy, Sinh thú tội với Nhung ví như một tín đồ Thiên Chúa xưng tội để trút gánh nặng trong lòng, hắn nói tội dắt cướp vào nhà bác và làm nhục một thiếu nữ chưa đáng kể. Hắn thú một tội tầy trời: thuở nhỏ được hai bác dậy dỗ nuôi nấng, sống trong cảnh giầu sang không bao giờ Sinh  thương người nghèo, có một điều mà Nhung không ngờ là hắn yêu Nhung thầm lén bao lâu nay. Nhung thì lãnh đạm, mẹ Nhung khinh rẻ hắn (bà này là bà hai, không bà con với Sinh) bởi thế hắn bỏ về ở với bà cụ, từ chỗ tư thù cá nhân biến thành thù chung của cả xã hội bị bóc lột, Sinh chỉ ao ước được trả thù cho giai cấp bị hất hủi như hắn. 

Chủ ý của Sinh là giết hai bác, làm ô nhục Nhung, tình yêu trong lòng hắn vẫn còn, khi bị bắt giam Sinh đã hối hận trước khi Nhung nhận diện, hắn nghĩ tại sao Nhung không để cho hắn chịu hình phạt lại cứu vớt hắn ra khỏi ngục thất làm chi, đối với Nhung hắn đời đời là tên khốn nạn và tự khép mình vào án tử hình.”

Bằng một truyện tình bi thảm, lãng mạn tuyệt vời, Khái Hưng đã diễn tả cái thô bạo bất nhân của đấu tranh giai cấp và hận thù giai cấp. Đấu tranh giai cấp không phải là một lối thoát để giải quyết bất công xã hội mà chỉ là biểu hiện của thú tính con người để trả thù đời bằng bạo lực đê hèn. Sinh một tên vô lại, cặn bã của xã hội, từ hận thù cá nhân đưa tới hận thù xã hội, hắn đã dùng thủ đoạn tàn bạo để giải quyết hận thù xã hội. Đó chỉ là phá hoại xã hội chứ không phải xây dựng cho xã hội tốt đẹp hơn lên, nhưng Sinh còn biết xấu hổ về cái hành động đê hèn của mình.

Đề tài của Khái Hưng trong các tác phẩm cuối cùng của ông thường xoay quanh trại tù Vụ Bản, đó là những áng văn tuyệt tác cuối cùng của một nhà cách mạng đáng kính, một chiến sĩ quốc gia yêu nước, những áng văn đã đóng góp rất nhiều cho nền văn học mới nước nhà.

Trọng Đạt

*** Tống Biệt Hành

Thâm Tâm

thu cay

Đưa người, ta không đưa qua sông
Sao có tiếng sóng ở trong lòng?
Bóng chiều không thắm, không vàng vọt
Sao đầy hoàng hôn trong mắt trong ?
Đưa người ta chỉ đưa người ấy
Một giã gia đình, một dửng dưng…

– Ly khách! Ly khách! Con đường nhỏ
Chí lớn chưa về bàn tay không
Thì không bao giờ nói trở lại
Ba năm mẹ già cũng đừng mong!

Ta biết người buồn chiều hôm trước
Bây giờ mùa hạ sen nở nốt
Một chị, hai chị cùng như sen
Khuyên nốt em trai dòng lệ sót

Ta biết người buồn sáng hôm nay:
Giời chưa mùa thu, tươi lắm thay
Em nhỏ ngây thơ đôi mắt biếc
Gói tròn thương tiếc chiếc khăn tay…

Người đi? Ừ nhỉ, người đi thực!
Mẹ thà coi như chiếc lá bay
Chị thà coi như là hạt bụi
Em thà coi như hơi rượu say…

Mây thu đầu núi, giá lên trăng
Cơn lạnh chiều nao đổ bóng thầm
Ngừng ở ven trời nghe tiếng khóc
Tiếng đời xô động, tiếng lòng câm.[1]

Thâm Tâm
(1940)

*** Trái Tình Yêu Cứ Như Thế Xa Dần

 

Trương Thị Thanh Tâm 

00tim2
Ta trôi giạt giữa một chiều bão tố 
Trái tim yêu biết đau ngắn hay dài 
Lời thơ buồn dào dạt nhớ người đi 
Xa thăm thẳm mà sao như gần thế 
Đời trôi nổi nên tình yêu đến muộn 
Hay tơ duyên chưa đến lúc chín muồi 
Thôi thì để mặc tình quên hay nhớ 
Trái sầu đâu còn đắng lúc mềm môi 
Ngày yêu nhau do lời thơ kết trái 
Mộng mơ nhiều những tưởng được bền lâu 
Có ngờ đâu, duyên trái mùa nên lỡ 
Đếm giọt sầu chìm lắng những hương yêu 
Từ dạo đó ta nghe sầu lên mắt 
Những bủa vây, qua những áng thơ buồn 
Làm sao giữ khi đời nhiều hương lạ!
Trái tình yêu cứ như thế xa dần  
Trương Thị Thanh Tâm 
     Mytho 

*** Nỗi Đau Muộn Màng

Nhật Quang

0nhatquang-anh

Lá vàng
Gió cuốn xa bay
Thu rơi ngả bóng
Lắt lay lối chiều
Xanh rêu phủ dấu chân xiêu
Sầu riêng trăn trở
Bao điều…khát mong
Ta ngồi
Tựa vách thinh không
Nghe mùa trăng úa
Mênh mông…cõi mình
Tim đau se thắt mộng tình
Ấp ôm mùa nhớ, bóng hình
Dỗ…quên
Phố khuya
Lạc bước sương đêm
Nghe da diết nỗi buồn
Hiên gió lùa
Đêm côi, trăng khuyết
Mấy mùa?
Cô miên ảo mộng…thêu thùa
Dối gian
Trớ trêu phận số dở dang
Khóc, cười
Duyên kiếp đa mang
Trĩu sầu
Em, ta khắc khoải niềm đau
Hỏi trời
Mai có kiếp sau chung đường?

Nhật Quang
(Sài Gòn)

*** ÔI CHAO GIỌNG HUẾ !

đặng lệ khánh

1aodaibuon

      

Mình người Huế mà đi nơi lạ, nghe được giọng Huế mô đó là rán ngước mắt, quay đầu tìm cho kỳ được chủ nhân của giọng nớ đang đứng ở mô, có quen chút mô không. Người Huế qua Mỹ hà rầm, mô phải ít. Cứ mỗi lần nghe giọng Huế thì quay đầu tìm, chẳng mấy lúc mà chóng mặt, nếu không gãy cổ. Nhưng mà lạ quá, hễ nghe được thì tự nhiên trong lòng như có một chút dậy sóng, a, bên cạnh mình đang có một ai đó đang tha hương lạc bước từ xứ mình đây.

Hôm kia đi ăn cưới, hai bên dâu rể đều là người Huế. Ông MC người Huế, ông ca sĩ chính cũng người Huế. Khi ông ca sĩ nói, một cô trong bàn phê bình : ” Ông ni nói tiếng Huế chi lạ rứa, ông nói tiếng chi a! “, còn ông xã thì nói: ” Nói tiếng Huế gì nghe nặng wá, hổng hiểu gì cả .”  K thì nghe hiểu tất.

Vậy thì giọng Huế ra răng mới đúng tiêu chuẩn ? Cô bé phê bình giọng Huế của chàng ca sĩ thì vừa rời Huế năm năm, ông xã K là Huế lai căng, sinh ở cao nguyên và lớn lên ở miền Nam, họ có đôi tai khác hẳn K chăng ? K không phân biệt được âm sắc trong giọng nói chăng ? Hay là K vì lòng thương Huế, cái xứ mình bỏ mà đi từ xưa nên rộng rãi hơn với cái giọng thân thương nớ, nghe bằng trái tim hơn là bằng đôi tai?

Giọng Huế khác với giọng Hà Nội, giọng Sài Gòn ra răng mà ông Hà Huyền Chi đi giữa chợ Mỹ, chắc chắn là nghe rất nhiều người nói tiếng Việt, mà chỉ khi nghe giọng Huế mới chiêng trống dậy hồn quê, mới khơi nỗi sầu xa xứ chất ngất trong lòng, dù ông là dân Bắc chính cống ? Có phải chăng khi đã nghe một giọng Huế thỏ thẻ bên tai, không chỉ là lời đi vào hồn người, mà cái giọng đã đậu trong tim, đâm cành trẫy lá ?

…Giọng Huế bỗng nghe từ chợ Mỹ
Mà chiêng mà trống dậy hồn quê
Hương cau màu trúc xanh thôn Vỹ
Áo mới xênh xang giữa hội hè

Tôi bước bên nàng không dám thở
Không gian đầy Huế núi cùng sông
Tóc ai thả gió hồn tôi mở
Dấu kín trong tim những nụ hồng

Hà Huyền Chi ( Huế đầy)

Giọng Huế quý giá vô cùng làm cho Mạ đã lưu lạc bao nhiêu năm, mất mát đủ thứ mà khư khư ôm lấy giọng Huế ướt rượt, nhất định không đánh đổi, không pha trộn, dù đời sống Mạ như cuồng lưu tràn bờ biết bao lần. Lúc lắng xuống, giọng Mạ như giòng Hương sau những cơn cuồng nộ, lại lặng lờ xanh trong chảy xuôi ra biển, êm ái nghe giọng hò thoang thoảng xa đưa.

…Tuổi con gái Mạ từng uống nước sông
Đến bây giờ giọng Huế nghe còn ướt
Giọng Huế nghe còn một chút gì trong
Bao đắng cay pha vào chưa đục được …

Đoàn Vị Thượng ( Giọng Huế của Mạ)

Giọng Huế ăn sâu trong tâm người con Huế, đi đến bờ bến nào cũng thương nhớ không nguôi. Chỉ cần nghe tiếng thỏ thẻ của một người bạn Huế là gợi nhớ đến một thời thơ ấu có tiếng Mạ ru hời bên tai, và cảm thấy gần gũi ngay, như gần gũi với thời gian đã qua, đã mất.

…Nếu lại được em ru bằng giọng Huế
Được vỗ về như mạ hát ngày xưa
Câu mái đẩy chứa chan lời dịu ngọt
Chết cũng đành không hối tiếc chi mô

Tô Kiều Ngân ( Giọng Huế)

Giọng Huế của gái Huế dịu dàng, nhiều người công nhận. Nhưng giọng Huế con trai Huế thì đang còn được bàn cãi. Nhiều người cho rằng giọng trai Huế không hùng hồn, không kêu gọi được người khi làm chuyện lớn. Điều ấy thực chăng ? Không phải đâu. Chỉ tại người Nam và người Bắc không muốn sửa đổi đôi tai của họ để nghe một âm sắc trầm trầm bằng bằng. Không sửa được, họ không hiểu thì họ không nghe. Nên để được người nghe, người Huế đổi giọng. Người Nam, người Bắc không ai đổi giọng của họ, mà người Huế thì đi đến đâu pha giọng đến đó. Chính vì vậy mà người khác địa phương không cần phải lắng nghe, sửa tai mà nghe. Hai người Huế tha phương gặp nhau, phải một thời gian lâu mới biết là họ cùng người Huế cả vì họ nói giọng Bắc, giọng Nam. Khi biết ra, cả hai cùng hân hoan, tự hào nói : Rứa hả, em cũng Huế đây nì.

Ngày K mới theo chồng từ Huế vào Sài Gòn, K ở chung với chị chồng. Bà đi làm suốt ngày. Bà có một người giúp việc, bà Tư, người Kiên Giang. Trong những ngày đầu sống trong căn gác xép xa lạ, chồng theo tàu lênh đênh, chung quanh không người thân quen, K chỉ có mỗi bà giúp việc ấy để chuyện trò cho đỡ nhớ nhà. Mà nói chuyện với Bà như nói chuyện với người điếc. Bà nói K còn nghe được chứ K nói thì bà hoàn toàn mù tịt, không hiểu K nói gì. Nhờ bà làm gì rồi thì cũng tự mình đi làm lấy vì bà ư hử mà không làm, chỉ vì bà không biết K muốn gì. Bà than : ” Cô nói tiếng ngoại guấc, hông nói tiếng Yiệt “.

Đối với người Nam, ai không nói giọng Nam là không nói tiếng Việt.

Như vậy, giữa tiếng và giọng, có một sự sai biệt khá lớn. Chúng ta hay dùng lẫn lộn. Khi nói ” nói tiếng Huế ” hay ” nói giọng Huế ” , thì ai cũng hiểu ngay là người ấy đang dùng âm thanh trọ trẹ để phát ngôn. Nhưng khi nói theo ông Võ Hương An ” Tiếng Huế, một ngoại ngữ “, thì rõ ràng tiếng không còn là giọng Huế nữa. Bạn có thể nói giọng Huế, nhưng giọng Huế nớ sẽ không là giọng Huế rặt nếu bạn không dùng mô tê răng rứa. Nghe một giọng Huế thỏ thẻ mà trong câu toàn là thế là thế nào, thưa vâng, không sao đâu ạ thì nghe nó … kỳ kỳ như ăn cơm hến với dưa muối, cà pháo. Huế không thưa vâng ạ. Huế chỉ dạ nhẹ nhàng. Cái tiếng dạ của mấy cô gái Huế làm chết biết bao chàng trai Huế cũng như không Huế. Huế không nói thế là thế nào, Huế nói : Dạ, rứa là răng ? Mấy chữ mô tê răng rứa ni phải đi với giọng Huế, chứ còn đi với giọng Sài Gòn, với giọng Hà Nội thì dĩ nhiên chỉ là nói đùa cho vui, hoặc đang lấy lòng một người Huế nào đấy thôi, hoặc là một dấu vết cho thấy người nói đã một thời lăn lóc trên đất người, đã lậm tiếng người, đã mất gốc không nhiều thì ít. Như K đây. Đau lòng mà nhận ra như rứa.

Người Huế không kêu ” cô “, người Huế kêu ” O “.
Người Huế không kêu ” Bà “, người Huế thưa ” Mệ “
Người Huế không “nói “, người Huế “noái “
Người Huế không “mắc cỡ “, người Huế “dị òm”,
Người Huế không hỏi: “Sao vậy? “, người Huế hỏi “Răng rứa? “
Người Huế không nói ” Đẹp ghê “, người Huế nói ” Đẹp dễ sợ. “

Người Huế cái chi cũng kêu lên “Dễ sợ !! “, dữ dễ sợ, hiền dễ sợ, buồn dễ sợ, vui dễ sợ, xấu dễ sợ, thương dễ sợ, ghét dễ sợ.

K đang trở lại với Huế, đang nói lại cái giọng mà thuở xưa đã từng thỏ thẻ bên tai ai, đang tìm học lại tiếng Huế, một ngôn ngữ tuy đang dần dần bị mai một vì những đợt sóng người từ các nơi trôi dạt đến. Những người mới này mang theo họ cái giọng, cái tiếng từ quê cha đất tổ, hoà lẫn với tiếng và giọng Huế, tìm cách đồng hoá nó, như xưa kia người Việt đồng hoá người Chiêm.

Những người ở các vùng khác có tha thiết nhớ và gìn giữ tiếng và giọng của họ không hè ?

Hồi còn đôi tám, đi nghỉ hè trọ ở nhà một người bạn gái tại Sài Gòn. Nhà bạn có hai ông anh lớn hơn chừng ba bốn tuổi. Cả bọn họp thành một nhóm đi chơi với nhau vui vẻ. Một buổi trưa, sau khi đi chơi đâu đó về, cả 4 nằm ngang trên chiếc giường lớn nói chuyện bâng quơ. Một trong hai anh nằm kề K, lấy mái tóc dài của K đắp ngang mặt mình, hỏi :

” Tại sao người Huế khi nói gì cũng nói ” dễ sợ ” vậy K ? “
” K không biết. “
” Vậy thì nếu nói ‘ Dễ thương dễ sợ ‘ có đúng không ? “
” Không biết. “

Đặng Lệ Khánh

*** Chiếc Áo Dài

Lệ Hoa Trần

ao dai 6
Phụ nữ nào cũng đẹp
Đàn bà nào cũng xinh
Nhất là khi trên mình
Mặc chiếc áo dài “Quê……”
Đầu thả mái tóc thề
Tha thướt trên đường chiều
Đi bên người mình yêu
Vào những ngày chủ nhật
Cùng bao người tất bật
Dự lễ hội mùa xuân
Theo mẹ đến chùa gần
Viếng nhà thờ lạy chúa
Chiếc áo dài xanh lúa
Thể hiện tuổi thanh xuân
Chiếc áo dài xám vừng
Hiện thân người mẹ Việt.
Lệ Hoa Trần
29-07-2018

*** Nhớ Lắm Chứ

Thủy Điền

aodaitrang 1

Nhớ lắm chứ, buổi trưa năm ấy
Nơi sân trường còn chỉ đôi ta
Đôi mắt em- mắt anh lệ nhòa
Khi phải nói những lời chia cách
Nhớ lắm chứ, những lời em trách
Thật ngọt ngào, nhưng thấm đậm sâu
Nhưng làm trai, anh biết thế nào
Đành câm lặng ra đi lặng lẽ
Nhớ lắm chứ, lời em khe khẽ
Mai nhớ về thăm lại quê xưa
Và, thăm em cô gái mới vừa
Được, rồi mất chỉ trong khoảnh khắc
Nhớ lắm chứ, những lời cân nhắc
Trên đường đời vạn lắm chông gai
Có thương người….đừng có yêu ai
Em đau khổ suốt đời anh nhé
Nhớ lắm chứ….giờ em đơn lẻ
Ngồi một mình nhìn lá thu rơi
Lòng luôn mong hình bóng một người
Quây trở lại bên người yêu nhỏ.
Thủy Điền
19-09-2018

*** thao chiêm

Hoàng Xuân Sơn

cropped-thu-4.jpg

mùa se se lạnh
mình thè thẹ đi
quanh cơn mộng nhỏ
ôm tiếng thầm thì

mình nghe giọt sương
áp vào thành kính
một chút môi son
một chút má hường

đôi chân của gió
đượm mùi nắng trong
mình nghe hoa cỏ
thơm một cánh đồng

nghe chút cựa mình
bài thơ động mạch
tìm chút vô minh
trong từng ngõ ngách

khúc hát buổi chiều
vàng trên lưng nhạc
nghe mình đương yêu
một niềm khao khát

đừng kéo dài ra
sợi tơ vừa mớm
hơi thở hít hà
thao chiêm hò hẹn

cùng tiếng chim kêu
giữa màu thu lạ
làm sao níu với
một thời đang qua . . .

hoàng xuân sơn
mười. tháng chín.  mười tám

*** TÌNH NỒNG SAY

TÌNH NỒNG SAY

nhạc : khê kinh kha

tiếng hát : Ý Lan

TÌNH NỒNG SAY

vươn tay anh hái trăng vàng
cài lên (cài lên) mái tóc cho nàng (là nàng) thêm duyên
yêu em anh đón mây ngàn
anh đem (là đem) dâng giữa tim nàng (là) tình nồng say
giăng tay anh hứng (ánh) mặt trời
tô môi (là môi) em thắm cho đời (là đời) thêm hương
à ơi anh đã (anh đã) yêu nàng
từ nay thề ước mặn nồng lứa đôi

yêu em, yêu cả đất trời
yêu em, yêu cả cuộc đời
yêu nhau em hỡi một đời (là đời) có nhau
có nhau giữa chốn đường trần
có yêu thương trong trái tim nồng
có trăm năm trong nghĩa vợ chồng em ơi

yêu em chia xẻ trần gian
dù bao (dù bao) mưa nắng một lòng (là lòng) thủy chung
yêu em anh hiến dâng nàng
con tim (là tim) son sắt dâng nàng là tình trăm năm
tình tang con bướm qua mành
ngàn năm sông núi, trọn tình lứa đôi

khê Kinh Kha

*** NHỮNG NGƯỜI ANH EM BỊ “LÃNG QUÊN”

Thư viện của bài

This gallery contains 1 photo.

Huỳnh Thục Vy Hôm nay, tôi viết những dòng này trong bối cảnh đất nước nằm trước nguy cơ Bắc thuộc, hàng ngàn ngư dân khốn đốn vì Formosa, hàng chục nhà hoạt động nhân quyền tên tuổi đang trong … Tiếp tục đọc

*** Có thực mới vực được đạo

Thư viện của bài

This gallery contains 1 photo.

Nguyễn Thị Chân Quỳnh Tôi thích ăn ngon. Ngày Tết đương nhiên tôi bàn chuyện “ăn” vì người Việt Nam chỉ “mừng Xuân” chứ không “mừng Tết” mà “ăn Tết”.Nói chuyện ăn ngon tôi nghĩ đến Pháp trước bỏi tôi … Tiếp tục đọc

*** người. và việc

Hoàng xuân sơn

K núp

nấp. hay núp
rõ ràng là ấp [trứng]
úp thúng voi
to đùng làm răng che được
trứng nở ra voi
con voi có vòi chúng bảo         ậy ậy. của anh hùng kờ núp
dựng cây khơ nia rồi châm lửa đốt
cháy phừng phừng
cỡ đuốc sống lê văn tám
giờ còn để râu làm răng nấ(ú)p đặng
ba lăng nhăng lăng miếu hôi rình
của

đọc

Dew Photographs 4đọc ông vê tưởng bà về
bà mụ vườn ổ lót
tưng
tửng
từng tưng
có cái hay nhộn nhạo
răng cỏ tu từ
ép xác trong chữ
nghệ thuật bắp nếp đè lên tranh
sét đánh thành thử
người con gái tẻ làm hai khuôn diện
diện đồ

 nạn đói

7:00 giờ chấp nhận thức giấc nằm
nướng
ở địa vị củ khoai
mập mẫy năm này tháng nọ
ựa hơi
ai mớm cho bình minh nở toàn bông thẫm tối
thơ phú gì bụng sôi
ùng ục
lép kẹp nằm nướng mình
tội thằng cu không có cái
ăn

hoàng xuân sơn
22 tháng 8 mười tám

*** Tiếng Khen Cũng Đủ Bồi Hồi Trong Tim

   Trương Thị Thanh Tâm 

             1anhve
Sương nay đã phủ mái đầu 
Mắt môi cũng kẽ vết sầu hằn sâu 
Thời gian ai giữ được đâu 
Nên hoài nuối tiếc năm nào thanh xuân 
Soi gương nhìn kỷ thật lâu 
Mắt khoen, tóc bạc còn đâu má hồng 
Đời còn có những long đong 
Điểm trang chi nữa, vui không hỡi người?
Đếm đong được mấy khi cười 
Tạo duyên chút sắc, đếm thời gian trôi 
Em cười, em nói với tôi 
Tóc phai chị nhuộm, cho tươi sắc hồng 
Nghe xong cảm thấy bâng khuâng 
Hay là cứ thế, vui lòng em tôi 
Dẫu sao…thôi cũng một đời 
Tiếng khen cũng đủ …bồi hồi trong tim 
           Trương Thị Thanh Tâm 
                     Mytho 

*** Nguy Cơ Lớn Cho Tập Cận Bình

no-Chinatrump-make-american

Chủ Tịch Tập cận Bình đang rơi vào một nguy cơ lớn không những tai hại về phương diện đối ngoại và mà còn về đối nội nữa, do cuộc Chiến Tranh Thương Mại với Mỹ. Đó là nguy cơ lớn nhứt thách thức ông Tập từ khi lên cầm quyền TQ tới giờ.

Một là về kinh tế. Chiến tranh thương mại với Mỹ sẽ làm kinh tế Trung Quốc suy thoái. Kinh tế là tính chính danh cầm quyền của TC sau khi chủ nghĩa Cộng sản thất bại Liên xô và một loạt chư hầu các chế độ CS ở Đông Âu. Lúc bấy giờ TC phải chuyển sang kinh tế thị trường nhưng để giữ mặt mũi CS vẫn giữ cái đuôi theo định hướng xã hội chủ nghĩa gần hai thập niên đã qua.

Suy thoái, suy sụp kinh tế muốn hay không muốn cũng ảnh hưởng tớí vị thế và quyền lực của Ông Bình. Dầu có cố gắng TC cũng không đấu lại Ô Trump một Ông Già Gân lão thành trong kinh doanh, với nước Mỹ là một thị trường lớn nhứt thế giới, trong khi TQ chỉ là một công xưởng sản xuất hàng rẻ tiền để xuất cảng. Thế cho nên khi Mỹ tăng thuế hàng TQ nhập cảng vào Mỹ liên quan đến cả 500 mặt hàng và hàng mấy trăm tỷ, hàng TQ bị Mỹ coi là xấu mà giá lại lên cao thì chắc chắn sẽ ế, rất khó bán nếu không muốn nói là không thể bán được.

Thời kỳ vàng son của Ô Bình nay còn đâu khi chiến tranh thương mại với Mỹ bắt đầu. Đã hết rồi cái thời Ông Bình đã thành công trong việc dập tắt những tiếng nói chống đối bên trong lẫn bên ngoài đảng Cộng sản Trung Quốc, được quốc hội CSTQ hủy bỏ giới hạn nhiệm kỳ chủ tịch có thể ngồi ở  bệ rồng suốt đời như hoàng đế Trung Hoa ngày xưa. Tư tưởng Tập Cận Bình của Ông cũng được đưa vào hiến pháp TQ.  Điều này khiến Ông được xem là lãnh đạo quyền lực nhất Trung Quốc, vang danh như người khai nguyên ra chế độ là Mao Trạch Đông.

Và cũng là thời mà theo báo South China Morning Post, Ông Bình coi “Tây phương rơi vào hỗn loạn, còn Trung Quốc trở nên thịnh vượng”. Và Ông Bình trên phương diện đối ngoại chuẩn bị mở rộng tầm ảnh hưởng của TC thông qua sáng kiến “Vành đai, Con đường”, một chương trình phát triển cơ sở hạ tầng ông dành nhiều tâm huyết.

Nhưng đùng một cái cuộc chiến thương mại với Mỹ đã  gây một tình thế hoàn toàn khác, tai hại cho Ô. Bình. Con đường bành trướng của TQ thời Ông Bình không còn bằng phẳng nữa. “Đây là thách thức lớn nhất (của ôngTập)”, Shi Yinhong, chuyên gia nghiên cứu các vấn đề quốc tế thuộc Đại học Nhân dân Trung Quốc ở Bắc Kinh, kiêm cố vấn Quốc vụ viện Trung Quốc, bình luận. “Nếu Trung Quốc phải đương đầu với một cuộc chiến tranh thương mại lan rộng và kéo dài, nền kinh tế, tài chính chắc chắn sẽ bị thiệt hại. Cuộc phục hưng vĩ đại của dân tộc Trung Hoa không thể tiến lên phía trước”, Yinhong nhấn mạnh. Thế là ‘Giấc mơ Trung Hoa’ là giấc mộng lớn của Ô. Binh vẫn là giấc mơ chớ không thành sự thật được.

Trên chiến trường thương mại, Ô. Bình đã phải tỏ ra nhượng bộ lớn, vì biết chơi không lại Mỹ nên cần hoà hưỡn để mong sống chung hoà bình, chớ táo bạo chiến tranh rất dễ sẽ từ chết tới bị thương. Chính Ô. Bình ra lịnh cho truyền thông của Đảng Nhà Nước bớt đánh phá Mỹ.

Ngay trận đầu sau khi Washington thực hiện lời đe dọa áp thuế nhập khẩu 25% trên 34 tỷ USD hàng hóa Trung Quốc bán sang Mỹ mỗi năm, phía TQ đã lo đòn áp thuế trên sẽ tác động tới Trung Quốc nặng nề trên phương diện chính trị lẫn tài chính. Ô. Yinhong cho rằng chiến tranh thương mại lần này có thể khiến Trung Quốc phải thay đổi cách hành xử trên trường quốc tế, thậm chí xuống nước lập trường hung hăng mà họ đã theo đuổi thời gian qua. Theo Ô. Yinhong, đối mặt với sức ép đang gia tăng từ Mỹ và các nước Tây phương khác về vấn đề thương mại, Trung Quốc sẽ phải đưa ra các nhượng bộ lớn. Ông dự đoán Trung Quốc có thể sẽ bớt mạnh tay hơn trong các dự án đầu tư ở nước ngoài vì nguồn tiền dành cho những hoạt động này đã giảm.

 Nhưng TC sẽ không thay đổi chánh trị. Nhà nghiên cứu chính trị Chen Daoyin ở Bắc Kinh nhận xét dù điều gì xảy ra trên mặt trận thương mại, mọi người cũng không nên kỳ vọng bất kỳ thay đổi lớn nào của Trung Quốc trên phương diện chính trị.

Phát biểu tại một diễn đàn thảo luận về tranh chấp thương mại Trung – Mỹ hồi tháng ba, cựu bộ trưởng tài chính Trung Quốc Lâu Kế Vĩ bác bỏ những ý kiến cho rằng cải cách thị trường sẽ dẫn đến thay đổi lớn về chính trị.

“Trong nhiều thập kỷ, tính chính danh cầm quyền của đảng Cộng sản Trung Quốc được xây dựng dựa vào thành tích kinh tế. Nếu một cuộc khủng hoảng kinh tế xảy ra vì chiến tranh thương mại, điều này chắc chắn làm tổn hại tính chính danh đó”, ông nói.

Perry Link, chuyên gia chính trị Trung Quốc ở Đại học California, Mỹ, cũng đồng ý với ý kiến trên. “Một cuộc suy thoái kinh tế… sẽ là mối đe dọa lớn hơn nhiều đối với sự ổn định chế độ của ông Tập… Tôi không nghĩ chủ nghĩa dân tộc mới sẽ giúp ích cho ông ấy, thậm chí, nó có thể chống lại ông ấy nếu mọi thứ chuyển biến xấu.”

Vì các căng thẳng thương mại Trung – Mỹ ngày càng leo thang, Bắc Kinh gần đây tìm cách xây dựng mối quan hệ gần gũi hơn với châu Âu, vốn cũng là mục tiêu mà đòn thuế của Tổng thống Mỹ Donald Trump nhắm đến.

Nhưng Christopher Balding, nhà kinh tế thuộc Trường Kinh doanh HSBC thuộc Đại học Bắc Kinh, vẫn nghi ngờ khả năng xuất hiện một liên minh Bắc Kinh – Brussels về thương mại. “Thẳng thắn mà nói, châu Âu chỉ xem Trump như một cơn cảm lạnh vì ông ấy rồi sẽ rời nhiệm sở vào một lúc nào đó. Và họ có mối liên kết lịch sử sâu sắc hơn nhiều với Mỹ cũng như có một thị trường cởi mở hơn nhiều. Họ không có bất kỳ sự bảo đảm nào như vậy từ Trung Quốc”, Balding nhận xét. Ông lưu ý Tập Cận Bình đã được thông qua là lãnh đạo trọn đời của Trung Quốc và “Trung Quốc cũng không có lịch sử về một thị trường mở cửa”.

Thêm vào đó căn bản chánh trị của TC hoàn toàn khác với chế độ tự do, dân chủ của Liên Âu và Mỹ. Lịch sử Âu, Mỹ đã gắn bó  chặt chẽ với nhau, trong hai Thế Chiến. Một bằng cớ rõ rệt gần đây nhứt. Trong cuộc họp Liên Minh Bắc Đại Tây Dương (NATO) mở ra ngày thứ Tư 11 và thứ Năm 12/07 tại Bruxelles với sự tham dự của tổng thống Mỹ. Các lãnh đạo của 29 nước của Liên minh quá nhiều lời qua tiếng lại với nhau. Nhứt là TT Trump của Mỹ lớn con, to tiếng, quen nói thẳng thừng. Ô. Trump đòi các đồng minh NATO tôn trọng cam kết đến năm 2024 tăng chi tiêu quân sự lên 2% GDP. Nhưng chỉ trong ngày đầu tiên của thượng đỉnh, 11/07/2018, đã kết thúc với việc 29 quốc gia NATO ra một tuyên bố chung, tái khẳng định cam kết chi 2% GDP cho quốc phòng, như một cử chỉ nhượng bộ, đồng thuận trước các đòi hỏi của tổng thống Mỹ. Trump nói với các phóng viên báo chí sau ngày thứ hai của thượng đỉnh NATO tại Brussels, “Tôi cho họ biết rằng tôi vô cùng không hài lòng.” Nhưng ông nói thêm rằng các cuộc đàm phán đã kết thúc với những điều khoản tốt nhất: “Cuối cùng tất cả đã đồng ý với nhau sau một chút khó khăn trong một lúc.”

Và khi Mỹ chuyển trục quân sự về Á châu Thái bình dương để bảo vệ tự do hàng hải theo Luật Biển thì Anh, Pháp đều điều chiến hạm và phi cơ qua phối hợp cùng Mỹ.

Vi Anh

*** Ký Ức Mùa Hè

Trương Thị Thanh Tâm 

maytroi
          
Nắng hạ vàng lá cỏ 
Hoa phượng đỏ trên cây 
Sân trường giờ im vắng 
Nỗi buồn ai có hay 
Đâu bàn tay nho nhỏ 
Tìm nhặt cánh phượng rơi 
Ép vào trong trang sách 
Tiếng cười vỡ trên môi 
Hạ tô hồng ký ức 
Màu nắng sớm lung linh 
Vòng tay ấm thân tình 
Xa nhau thời thương nhớ 
Đâu còn màu áo mới 
Bay theo gió hạ buồn 
Chỉ còn tiếng ve ngân 
Chỉ còn màu phượng đỏ 
Rồi hạ cũng ra đi 
Một chút thu trên lá 
Tiếng trống trường giục giã 
Trang giấy mới còn thơm 
Mỗi lần qua trường cũ 
Lại nhớ gốc phượng già 
Bạn bè thân ngày ấy 
Còn xuôi ngược bôn ba 
         Trương Thị Thanh Tâm 
                   Mytho 

*** quạt [máy] / nhà [thuỷ]

Hoàng Xuân Sơn

quạt [máy]

 cũng phải vặn chút gió
cho người thấy lơ phơ
hè qua thu tới
phờ phạc phạc phờ

nhà [thuỷ]

ngủ nhiều
chẳng đặng mắt no
chỉ nghe hóc hiểm
tò mò
trắng
đêm00hoang hon
ai giăng lụa bạch ngang thềm
mà phơi lưng giậu
ướt niềm cúc hoa
về qua mấy ngõ trăng

mình đi lẩn lút
như là ma trơi
giọt lân tinh. lóe. giữa trời
hồn muôn năm của
trùng khơi
đắm
chìm

hoàng xuân sơn
31/8/18

*** thơ khục khặc

Hoàng xuân sơn

mia

thơ khục khặc

hỏi thăm các bác
 nghe mình nhang nhác
điệu con sâu kèn
tấu qua miệng phổi
biến thành cơn hen

hỏi thăm các các
có đặng an khang?
mình giờ chậm lụt
từ thở tới than

nhà máy sập cửa
mình đứng sắp hàng
chờ nghe củi lửa
bộn phần đa đoan

hóa ra các bác
mần thơ như hát
mình thiệt hổ ngươi
ù ù cạc cạc
kinh niên nhợt nhạt
thêm cái bịnh lười
chữ cắn làm đôi
không bằng cắc bạc
nên tự phát lạc
đi chỗ khác chơi
khặc. khặc. khặc. khặc.
 
 hoàng xuân sơn
tháng chín 18
[kẹt giỏ mần thơ, viết bậy]

*** Bé và Quê Hương Anh

Bé và Quê Hương Anh

Bài thơ BÉ Và QUÊ HƯƠNG ANH của Khê Kinh Kha đã được GS Nguyễn Thanh Chí tại Đại Học San Jose State, CA, chọn dạy trong Chương Trình Vietnamese Culture từ hơn 10 năm nay.

Bài thơ cũng được chính tác giả Khê Kinh Kha soạn thành ca khúc KHI BÉ ĐẾN.

Ca khúc KHI BÉ ĐẾN.

Nhạc và lời : khê kinh kha
tiếng hát : diệu hiền

bé và quê hương anh

này bé hỡi, chiều nay trời lành lạnh
ở phương này anh nhớ một quê hương
bé đừng quên, chiều nay mình đã hẹn
anh sẽ ngồi kể hết chuyện quê anh

khi bé đến, nhớ mặc áo dài xanh
như mầu xanh của lúa mạ lên mầm
như mầu xanh của rừng thông Đà Lạt
áo bay mềm như dòng nước Cửu-Long

khi bé đến, nhớ để tóc xoã dài
xõa dịu dàng như liễu rủ ngang vai
xõa trong anh bóng tre gìa quê ngoại
xoã hương tình bao ruộng lúa Đồng-nai

khi bé đến, nhớ đừng thoa son nhé
để nắng chiều ửng đỏ nét môi thơm
để chiều nay mặt trời không ngủ sớm
như những chiều nắng phủ dãy Trường-sơn

khi bé đến, nhớ đừng thoa hương phấn
để hương trinh ngào ngạc gập vào hồn
như cúc vàng bên thềm xưa Vỹđạ
ngát hương nồng bên dòng nước sông Hương

khi bé đến, nhớ đừng mang kính mát
để trời xanh rơi rớt vào mắt trong
để anh thấy biển Hội-An, Đà-Nẵng
bãi cát dài sóng vỗ đến Nha-trang

khi bé đến, nhớ bước đi nhè nhẹ
để lòng anh không xao động nổi hờn
vì anh vẫn thấy hoài trong giấc mộng
phố Sài-gòn, Hà-nội, Huế buồn tênh

khi bé đến, đừng hôn anh bé nhé
hãy để dành hôn mẹ Việt Nam ta
mẹ Việt Nam bàn tay còn chai đá
nụ hôn nào sẽ xóa dịu lòng me

khi bé đến, nhớ cười vui bé nhé
để lòng anh như pháo nổ đầu xuân
anh sẽ ngắt cánh mai vàng vừa nở
tạ ơn đời và tổ quốc mến thương

KhêKinhKha
(trích tập thơ Tỏ Tình)

*** GIỜ ĐÂY MẸ KHÓC

GIỜ ĐÂY MẸ KHÓC

 

 

Bao nhiêu năm qua mẹ sống gian nan
Mồ hôi thấm ướt núi sông
Màu da phơi nắng phong sương
Lời ru hiu hắt đêm trường
Đời mẹ như lá tàn đông
Giờ đây, giờ đây mẹ còn khóc nữa
Tháng năm rồi cũng tàn phai ơ hờ
Mình mẹ vẫn ngồi trông chờ đàn con

2.
Bao nhiêu năm qua mẹ sống âm u
Giờ đây mẹ vẫn xót xa
Vì quê hương vẫn phong ba
Đàn con thơ ấu chưa về
Chờ mong đã héo lòng Mẹ…
Giờ đây, giờ đây mẹ còn khóc nữa
Đá xanh còn có nhiều khi than thở
Mà riêng bo’ng me can trường nghìn thu

3.

Bao nhiêu năm qua mẹ đã đau thương
Nhìn con thơ ấu chết oan
Nhìn tương lai cháy trên non
Từng đêm nghe súng vang rền
Lòng mẹ se thắt từng cơn…
Giờ đây, giờ đây me còn khóc nữa
Trái tim mẹ đã thành bông hoa nở
Từng đêm gió về ru mẹ nằm mơ

4.
Bao nhiêu năm qua mẹ đã nuôi con
Bàn tay vun xới trái tim
Lời ru nhân ái mênh mông
Lòng mẹ như nước trên nguồn
Nghìn năm chan chứa tình thương…
Từ đây, từ đây con buồn trông ngóng
Thế gian dù có tàn phai âm thầm
Tình yêu với mẹ sống hoài đời con

giodaymekhoc_nhac

*** Tự Tình Tháng Tám

Nhật Quang

00ao dai trang

Chiều đắm hồn nhau trong từng nhịp thở
Tìm bóng em về trên dấu môi
Giọt Cà phê lung linh màu mắt nhớ
Pha chút buồn vời vợi áng mây trôi

Em có mơ…những chiều xanh lòng phố?
Sài Gòn Thu, tháng tám gió lao xao
Buông dáng mềm thướt tha đôi tà áo
Tôi khuấy tan em vào nỗi khát khao

Nhấp nhẹ làn hương thơm trên vạt tóc
Ngọt môi nồng…chút đắm đuối, cuồng quay
Hỏi tim em có bồi hồi, ngây dại?
Tôi mê hồn, như lạc chốn thiên thai

Biết ngày mai, em có còn mong nhớ?
Ký ức…nào còn đọng nắng bờ vai
Tôi dốc cạn chút tình miên man đắng
Chiều liêu xiêu, ray rứt bóng hình ai…?

Nhật Quang
(Sài Gòn)

*** LÁ SẦU

VÕ CÔNG LIÊM

thu-4

nắng về cháy cả mùa sang
nắng thắp nắng đốt nắng vàng vọt theo
tôi . đưa em vào chín cõi đường trần
giữa mùa thu tịch
để nghe hơi thở
tợ nhung mềm . em
buồn lá đổ sầu mây
những nhánh sông trôi bỏ mưa về cuối
chập chừng xanh lá rừng hoang mang chờ
chôn lặng trùng khơi nghe sóng vỗ bờ
những đá lăn hoài cho trọn kiếp phù du
lòng như thử mây đục đậu ngàn năm tới
lá thu mưa
nghe dậy hồn phiêu lãng
về lại xưa
để mưa nằm xuống cuối đời xót xa
đêm hồng
đuổi gió
xanh mơ
trong mắt ngọc những khi buồn tới chốn
lá xanh xao mắt đợi mắt chờ lạc gió mười phương
đêm khờ khạo thả mây đuổi gió miên man nhớ
những khi trăng đuối giữa miền vọng mô

lá khóc quanh năm theo triền dốc đổ
lá sầu đứng bóng cuối đường hư vô
lá ngủ ngàn năm cho rừng xanh lá
lá chết âm thầm lá vẫn say mưa

em . thổi gió cho mây ngàn đứng lại

tôi . chơi vơi ngất vọng tiếng xa vời ./.

VÕ CÔNG LIÊM (ca.ab.yyc. vào thu . đầu 9/2018)

*** CHƯA MINH CHỦ: CỜ VÀNG LÀ ĐẠI TRỤ

Ý Nga

*
Nhà văn Nguyễn thị Vinh, Na Uy
đã viết trong “CỎ BỒNG LÌA GỐC”, TÂM CẢM
(trang 187, tác phẩm “THƯƠNG YÊU”):
 
“Sài Gòn thất thủ năm 1975, nhà tù, vượt biển, trại cấm…
Nhưng văn học nghệ thuật và nhất là thi ca, của một số
văn thi sĩ, chưa hề đoái hoài tới tiếng người ta kêu khóc,
chưa ngó tới những cuộc đời ăn mày vẫy gọi.
Trong sự sai lầm này có cả tôi…”
 *
Tôi cũng thế! “Khóc” chưa tròn “vẫy gọi”
Nên cả đời cứ đau mãi: Việt Nam!
Cứ mơ làm những chuyện rất tham lam
Chỉ duy nhất: màu Cờ chưa bội phản!
 
Kể từ lúc phải tha hương tỵ nạn
Ta có gì để kết hợp với nhau:
Ngọn Cờ Vàng vươn nghịch cảnh thương đau,
Vào các đảo* theo thuyền nhân ấp ủ!
 
Ba sọc đỏ, nền vàng: như Minh Chủ
Đã chu du theo Lý Tưởng Tự Do
Nhờ trong tim cùng Căn Cước Vàng Cờ
Mà đoàn kết bao tấm lòng yêu nước!
 
Một Biểu Tượng không gì thay thế được!
Dẫu khởi đầu và chấm dứt ở đâu,
Dẫu chúng ta xuôi ngược khắp địa cầu,
Thế chiến đấu: Cộng Đồng luôn bảo vệ!
 
Cờ truyền thống, chống độc tài Đất Mẹ
Tìm Lối Về! Chống áp bức, bất công!
Khắp năm châu bốn bể, giống Lạc Hồng
Quyết chống Cộng để làm gương con cháu!
 
Còn cộng sản là ta còn chiến đấu!
Dù nữ, nam, lão, ấu vẫn Cờ Vàng
Vài cò mồi* đem cờ đỏ khoe khoang
Ta cùng đánh! Chúng chạy về đồng… đảng!*
 
Nhờ sắc bén, ta giữ Cờ rực sáng
Lá Cờ Vàng Lịch Sử đã lưu vong,
Theo bước chân của tất cả Cộng Đồng
Trắng tay đi vẫn giữ gìn DI SẢN!
 
Giữ DI SẢN để chống người CỘNG SẢN
Chống bạo tàn, chống Quốc Nạn suy vong
Dẫu đục trong ta vẫn trọn tấm lòng
Nuôi hy vọng, giữ bền lòng son sắt!
 
Ý Nga, 14-4-2011.

*** Nụ Hôn Đầu / Vẫn Chờ Ai

Trương Thị Thanh Tâm 

Nụ Hôn Đầu 

Từ khi anh đặt môi hôn 
Là em đã biết con tim muộn phiền 
Anh ru mộng giấc bình yên 
Em ôm gối lẻ cô đơn phận mình 
Từ khi nhận cái hôn anh 
Em như liệm chết, hồi sinh lại rồi 
Trong màu mắt biếc chơi vơi 
Trái tim ngây ngất, hương đời nở hoa 
00cogai hinh ve
Nghiêng nghiêng bóng xế trăng tà 
Đêm ru điệu nhớ lời ca ngọt ngào 
Từ khi môi chạm môi nhau 
Nghe hơi thở ấm, đời trao gởi tình 
Bên cầu hạnh phúc mong manh 
Ước mơ bến đậu có dành cho em 
Từ khi anh đặt nụ hôn 
Ngày chơi vơi nhớ, đêm còn khát khao 
Từ khi môi kiếm tìm nhau …
Bởi ăn trái cấm, buồn sao… nhớ hoài 
               ***____***

Vẫn Chờ Ai 

               ***
Thơ chẳng nên câu buồn quá đổi 
Lời thương còn nghẹn ở bờ môi 
Gío bấc về đây mang hơi lạnh 
Đêm về buốt giá trái tim khô 
1ao dai trangHạnh phúc vẫn còn xa lạ quá 
Chợt đến rồi đi như bóng mây 
Cả đời đánh mất trời hy vọng 
Ai nhặt dùm ta chiếc lá bay 
Chậm bước đường đời chân vấp ngã 
Một lần đánh mất nhói con tim 
Hai lần để lỡ ân tình muộn 
Lạc lõng hồn thơ bước gập ghềnh 
Hư thực trò đời như giấc mộng 
Khóc cười sấp ngửa tựa bàn tay 
Muốn quên vẫn nhớ, buồn hiu hắt 
Mộng vẫn còn đây, giấc tỉnh say 
Nhắm mắt chờ đêm hoa Quỳnh nở 
Mùi hương thoang thoảng ở trong mơ 
Chờ tiếng cười ai…sao lặng lẽ 
Đêm muốn chờ ai vẫn cứ chờ!
             Trương Thị Thanh Tâm 
                        Mythi