*** Đấu Tranh Bất Bạo Động

TS LS Lưu Nguyễn Đạt

Bất Tuân Dân sự & Đấu Tranh Bất Bạo Động

Mohandas Karamchand Gandhi [2 October 1869 – 30 January 1948).
Tên thông dụng của Ông: Mahatma Gandhi

Phản Ứng Từ Lòng Dân   

Trong những năm trước đây tại Trung Đông và Bắc Phi, rồi tại Châu Á, và cả Việt Nam, đã dồn dập xẩy ra những phản ứng xác đáng từ lòng dân.  Đó là những cuộc đấu tranh cho công lý, tự do dân chủ và nhân quyền lâu nay bị chèn ép, tước đoạt bởi các chế độ độc tà, toàn trị; bởi các nhà cầm quyền tham nhũng, bất xứng, phản quốc, hại dân.    

Riêng tại Việt Nam, đó là những tiếng nói của lương tâm, những gào thét của dân oan mất đất mất nhà, mất nơi thờ phụng; những tiếng kêu cầu cứu, phẫn nộ của giới lao động bị bóc lột, lừa đảo; bị công khai đem bán nơi chợ người, trên thế giới.  Đó là những cuộc xuống đường liên tiếp tại Hà Nội, Sàigòn của toàn dân đòi lại quần đảo Hoàng Sa, Trường sa, đòi cắt “lưỡi bò” điên Hán tộc, dù nhà cầm quyền Cộng Sản Việt Nam — ác với dân, hèn với giặc — tiếp tục bỏ tù những ai yêu nước xuống đường chống Tầu hải tặc. 

Tất cả những cuộc biểu lộ ý chí và tư duy chính đáng đó đều tụ tập thành một trào lực chung, dưới hình thức tương đương với “bất tuân dân sự”, mà truyền thống Anh-Mỹ gọi là “civil disobedience”, thường phát hiện tại những nơi có tai ương nhân tạo, có bất công xã hội, trên khắp thế giới.    

Thế Nào Là Bất Tuân Dân Sự?   

Bất tuân dân sự hay “Civil Disobedience” là những hình thức chống đối tích cực những thể chế hại nước, hại dân, những đạo luật, chỉ thị bất công, mà thủ tục lý giải thông thường không còn hữu hiệu nữa.    

Trong bài tham luận về “Civil Disobedience”,[1] Henry David Thoreau (1817-1862) cho rằng người dân có bổn phận dân sự hành động theo lương tâm của chính mình để từ chối tuân theo luật pháp và chỉ thị của một chính quyền sai lạc, bất công, bất chính.  Và nếu không khai trừ, giải thể được chế độ của tội ác, sai quấy, ít ra cũng không sát gần, tương trợ họ, ít ra cũng không a tòng kẻ phạm pháp.         

Khi sự chống đối có tính cách ôn hoà, bất bạo động, thì sẽ gọi là “kháng cự dân sự” [civil resistance], ở vị thế phản ứng hơn là tự tại, tự phát, như trong trường hợp bất tuân dân sự.  Do đó, Mahatma Gandhi,[2] khi tìm cách giải phóng Ấn Độ khỏi chế độ thuộc địa Anh, đã đề xướng đường lối tranh đấu bất bạo động dưới hình thức “kháng cự dân sự” [Satyagraha / civil resistance],[3] như sau:   

  1. Kháng cự [satyagrahi], nhưng không bầy tỏ nộ khí.
  2. Kháng cự bạo quyền bạo lực có thể bị chế độ hiện hữu ngược đãi, trừng phạt.
  3. Dù bị hành hạ, doạ nạt, vẫn không trả thù, mà cũng không quy hàng.
  4. Khi bị bắt, không chống cự; khi bị tước đoạt quyền lợi, tài sản, vẫn không tranh chấp.
  5. Nhưng khi giám hộ trông nom của cải, quyền lợi, thanh danh của người khác, thì phải gìn giữ tới cùng, dù nguy hại tới tính mạng mình.
  6. Không trả thù cũng có nghĩa là không sỉ nhục, bêu xấu kẻ địch.
  7. Khi kháng cự, bất tuân, luôn luôn giữ cách xử thế ôn hoà và tự trọng — tôn trọng sự thật, tôn trọng phẩm giá con người.
  8. Khi kháng cự, bất tuân, phải biết rõ kháng cự trực tiếp một đạo luật bất công, một chỉ thị tai ác, dưới hình thức kháng cự chiến thuật.  Hay kháng cự, bất tuân gián tiếp một thể chế tai hại, dưới hình thức kháng cự, bất tuân chiến lược.

Bất Tuân Dân Sự đã Thành Công ở Nhiều Nơi    

Ai Cập & Ấn Độ   

Ngay đầu thế kỷ 20, Ai Cập đã dành độc lập khỏi sự đô hộ của Anh Quốc bằng một cuộc “Cách Mạng bất bạo động năm 1919,[4]  dưới hình thức bất tuân ôn hoà.  

Ta cũng đã thấy, để chống lại chế độ thuộc địa Anh, Mahatma Gandhi đòi hỏi người dân Ấn Độ phải đấu tranh ở vị trí dân sự, một cách ôn hoà, kỷ luật, sáng suốt, cẩn trọng và biết hy sinh.  Gandhi gọi hình thức đấu tranh bất bạo động đó là “kháng cự dân sự” [Satyagraha/Civil Resistance”],[5] có bề ôn hoà hơn là hình thức Bất Tuân Dân Sự/ “civil disobedience” của Thoreau.  Dù sao sự phát động “kháng cự dân sự ” này cũng đã giúp Ấn Độ giành được độc lập năm 1947.   

Bangladesh  

Từ năm 1955, Pakistan được thành lập, một phần ở phía Tây Bắc Ấn Độ [West Pakistan], một phần ở phía Đông Bắc Ấn Độ [East Pakistan], cách nhau hơn một ngàn miles.  Lãnh thổ East Pakistan tuy nhỏ cỡ một phần năm West Pakistan lại đông dân cư hơn, nên phải đóng thuế nhiều cho cả Nước.  Năm 1971, Khối Quốc gia Bengali đã phát động phong trào “bất-hợp-tác” với Chính quyền West Pakistan, rồi từ chối trả thuế và đình hoãn mọi dịch vụ kinh tế tài chính với West Pakistan.  Cho đến tháng Ba  năm 1971, sau hơn một năm trời tranh chấp dưới hình thức “bất tuân dân sự”, East Pakistan ly khai để trở thành một quốc gia mới, dưới quốc hiệu Bangladesh.[6]   

Cuba  

Chỉ sau một năm cuộc Cách Mạng 1959, Cuba đã cho hơn 20,000 thuộc dân bất đồng chính kiến nhập trại cải tạo.  Nhiều phong trào dân sự chống đối chính quyền và quân đội cộng sản đã thành hình, đem lại nhiều tiếng vang về mặt quốc tế.  Đó là các nhóm bất tuân dân sự ly khai Cuba, như Nhóm “Yo No” [Yo No Coopero Con La Dictadura]:[7] không hợp tác với Chính quyền, không trợ giúp, không khai trừ…Hoặc Tổ chức “Các Bà Áo Trắng” cũng dùng chiến thuật “bất tuân dân sự” để đòi chế độ cộng sản trả tự do cho chồng con bị quản thúc.  Nhóm này đã được cấp Giải thưởng Sakharow về Tự do Tư Tưởng.[8] 

Ngày 19 tháng tư năm 2018, Chủ tịch Raúl Castro (kế nhiệm Fidel Castro) quyết định từ chức, chấm dứt 60 năm đảng cộng sản chế ngự tại Cuba. 

Cộng Hoà Sô Viết Estonia: Cách Mạng Đồng Ca[9] 

Từ năm 1987 cho tới 1991, nhiều nhóm dân Estonia biểu tình tụ tập mỗi lúc cả 3 trăm ngàn người tại công trường Tallinn, vừa để tung hô khẩu hiệu tranh đấu đòi quyền tự quyết, vừa để hát những bài quốc ca, dân ca từng bị chế độ Nga-Sô cấm đoán.  Khi Quân đội Nga đem xe tăng đến uy hiếp, thì dân chúng biểu tình lấy thân làm hàng rào chống đỡ theo đường lối “bất tuân dân sự” để chính quyền Estonia kịp trở tay giải tán quốc hội và tuyên bố độc lập.  Nhờ có dân chúng đồng lòng tham dự cuộc Cách Mạng Đồng Ca, đất nước Estonia đã thu hồi chủ quyền độc lập mà không phải “tắm máu”.  

Đông Đức

Năm 1989, dân chúng Đông Đức đã dùng tác động “bất tuân dân sự” để phá bỏ Tường Rào Bá Linh ngăn chia Nước Đức giữa một bên tư bản và bên kia cộng sản.[10]  Ngày nay nơi đó, chế độ cộng sản đã chấm dứt, Đông Đức không còn nữa, toàn cõi nước Đức đã trở thành một lực lượng phồn thịnh, góp phần phát triển Âu Châu, mỗi lúc mỗi tân tiến.   

Nam Phi Châu

Một phong trào nhân dân, do lãnh tụ Nelson Mandela[11] và Tổng giám mục Desmond Tutu phát động, đã chủ trương “bất tuân dân sự” qua những cuộc biểu tình vĩ đại “Trong Mưa Tím” [Purple Rain Protest] và “Diễn Bước Hoà Bình” [Cape Town Peace March].  Nhờ đó đã chấm dứt chế độ kỳ thị Apartheid,[12] năm 1994.   

Ukraine

Tại Ukraine, cuối năm 2004, tại Công Trường Độc Lập, Thủ Đô Kiev, gần triệu người biểu tình mặc toàn áo màu da cam, thi hành kỹ thuật “bất tuân dân sự” [chống-đối-ngồi, đình công, bãi thị], đòi tự do dân chủ, xoá bỏ gian lận bầu cử v.v.  Họ đã thành công và sau đó còn tham dự vào nhiều cuộc cải tổ sinh hoạt chính trị trong nước theo hướng triệu tập bất bạo động của cuộc Cách mạng Da Cam này [Orange Revolution[13] (Ukrainian: Помаранчева революція, Pomarancheva revolyutsiya].   

Hoa Kỳ

Năm 1955, Rosa Parks[14] trở nên nổi tiếng khi Bà từ chối không chịu nhường chỗ ngồi trên xe buýt công cộng cho người da trắng và lập tức phát động phong trào “Bãi Truất Xe Buýt Montgomery”.  Những cuộc “bất tuân dân sự” tương tự xẩy ra khắp Hợp Chúng Quốc, và cùng với Phong trào Dân Quyền [Civil Rights Movement], đã đưa tới việc phê chuẩn các Đạo luật Dân Quyền [Civil Rights Act][15] năm 1964 và 1968.   

Dân chúng Hoa Kỳ cũng đã dùng quyền “bất tuân dân sự” để phản đối việc Hoa Kỳ tham chiến tại Việt Nam và sau đó tại Irak v.v. với thành quả là đã ảnh hưởng tới đường lối ngoại giao và chính trị của Hoa Kỳ trong suốt hậu bán thế kỷ 20.    

Kể từ thập niên 1970, phe chống phá thai tiếp tục sử dụng “bất tuân dân sự” để chống đối những đạo luật cho phép phá thai theo án lệ  Roe v. Wade, 410 U.S. 113 (1973).[16]  Bên bênh lẫn bến chống phá thai đều căn cứ vào nguyên tắc bảo vệ nhân quyền [human rights]: quyền chọn lựa [pro-choice] của người đàn bà mang thai và quyền sống [pro-life] của bào thai đã thành hình.   

Kể cả cụu Phó Tổng Thống Al Gore,[17] sau khi nhận giải thưởng Nobel,[18] với xu hướng bảo trọng môi trường, đã thôi thúc giới trẻ Hoa Kỳ sử dụng quyền “bất tuân dân sự” để chống đối việc xây cất thêm những cơ xưởng đốt tạo than khí:

If you’re a young person looking at the future of this planet and looking at what is being done right now, and not done, I believe we have reached the stage where it is time for civil disobedience to prevent the construction of new coal plants that do not have carbon capture and sequestration.”[19] 

TẠM KẾT   

Theo TS chính trị học Maria J. Stephan, khi căn cứ vào hơn 300 phong trào chính trị bạo động và bất bạo động trên toàn thế giới từ năm 1900 đến 2006, thì các phong trào bất bạo động có mức độ thành công là 53% trong khi các phong trào bạo động chỉ thành công tới 25%.

Lý do là:

1. Phong trào đấu tranh bất bạo động [a] giành được sự ủng hộ lớn hơn trong nước; [b] dễ thu hút sự ủng hộ hữu hiệu của các tổ chức dân sự và các chính thể quốc tế tôn trọng nhân quyền.

2. Nhà cần quyền dùng bạo lực tùy tiện để đàn áp các phong trào bất bạo động sẽ mất sự ủng hộ của toàn dân và mất uy tín đối với các đối tác quốc tế.

Tại Việt Nam, dân chúng tiếp tục đứng lên áp dụng mọi hình thức đấu tranh bất bạo động, trực tiếp hay gián tiếp, đơn độc hay quy mô, để đổi hướng cần thiết cho một chế độ sai lầm, bế tắc, và sau đó xây dựng lại môt sinh lực mới, công bằng, hữu hiệu hơn.  Dân chúng trong nước đứng lên chống đối thể chế hiện hành và những hành vi tai ngược liên hệ, vì CSVN chế tạo pháp quyền giả mạo, thiếu công minh, thiếu tác dụng khả thi, thiếu đạo đức căn bản, cốt để củng cố cơ sở đảng phiệt, dù phải bán nước hại dân, dù phải tác hại công lý và nhân quyền.    

Trong giai đoạn khẩn cấp hiện tại, người dân trong nước có bổn phận dân sự hành động theo lương tâm của chính mình để tiếp tục từ chối tuân theo luật pháp và chỉ thị của một chính quyền sai lạc, bất công, bất chính.  Người dân trong nước bất tuân dân sự, đứng lên đấu tranh vì chính nghĩa vậy. 

Đó là quyền tự quyết của cả dân tộc Việt, nếu họ muốn sinh tồn trong tự do nhân bản, trong công bằng đạo đức.  Cuộc đấu tranh của người dân kết sinh vì chính nghĩa ắt sẽ thành công, như những cuộc nổi dậy vì chính nghĩa trên khắp thế giới, mà chúng ta từng chứng kiến.   

Còn người Việt tại hải ngoại, nay sinh sống trong các thể chế tự do dân chủ, dù có toàn quyền về chính kiến, 

  • cần tiếp tay đồng bào trong nước khai trừ, giải thể chế độ CSVN nay trắng trợn bán đứng Việt Nam cho Trung Cộng (thà mất nước hơn mất đảng);
  • hoặc ít ra cũng không tương trợ, a tòng kẻ phạm pháp, khi biết rõ trục lợi bán nước, bán dân, bán biển, bán rừng là phản quốc, là trọng tội.   

Giờ tổng khởi nghĩa đã ở mức cao điểm.  Dân tộc Việt hãy quyết định cho chính mình trong đại cuộc tự vệ sinh tồn.

Lưu Nguyễn Đạt,  PhD, LLB/JD, LLM
Michigan State University

Cập nhật August 25, 2018

“DAO TA SẮC, GIẶC PHẢI LÙI”

Ý Nga

vn11
“Những trằn trọc trong cơn  mộng mị
Chỉ băn khoăn một nỗi đồ hồi”
*
Bình Ngô Đại Cáo của công thần NGUYỄN TRÃI
 *
Mỗi khổ nạn, riêng mang một ý nghĩa:
Trăng dịu dàng. Mặt trời sáng rực ra,
Chiều trôi qua côn trùng khúc tấu hòa,
Bình minh hóa hoa tươi thêm rực rỡ.
 
Em đừng sợ Nước Vỡ Bờ trắc trở
Em đừng lo Việc Nhỏ khó hóa To
Mọi cam go, khốn khó từ học trò
Chí quyết tỏ mới trở thành sư phụ.
 
Mọi Cổ Thụ đều cuối thu ấp ủ
Để đầu xuân tỉnh ngủ làm Trượng Phu
Tiếng Quỷ tru hay Cầm Thú phù phù
Hoa Dân Chủ đừng sợ khi kết Trái!
 
Cây Khẳng Khái sống tài, nhất thiết phải
Vì tương lai, như Nguyễn Trãi miệt mài
Một “Bình Ngô Đại Cáo” thảo êm tai:
“Dao ta sắc giặc phải lùi!”* biên ải.
 
Nhờ vững chãi, mai cây non trĩu trái
Nhờ hôm nay em mới có ngày mai
Nhờ đất đai, cây vươn lớn hình hài
Tạ ơn Đất, Người Chăm: đừng sợ hãi!
 
Ý Nga
Calgary-Canada, 8-2-2013

*** tựa nhỏ – t r ớ t r ờ

Hoàng xuân Sơn

tựa nhỏ

cắn nhằm phải lưỡibeach and sunset
môi miệng vẫn cười
chờ nghe em hát
hiện tình đôi mươi

chừ mình già chát
tiền sử lăng nhăng
cuội. như hòn đá
vô tình vẫn lăn

qua miền đại ngãi
chú niệm lên bờ
ngàn dương xanh mạc
búi trần khai sơ

máu hồng loang ngực
ôm lấy ngọt ngào
một triền âm vực
lạnh tràn hanh hao

vấy nheo hạt bụi
nom đẹp như hằng
tháng năm tuần tự
tuổi chiều khôn ngăn

thì em cứ trẻ
cho hương nuột nà
dẫu đời bay biến
cũng còn xương da
tháng 8/18

t r ớ                                t r ờ

dấu trời
mỏi ngóng                            xa xăm
một vệt đen
một
vệt                     bầm
cơ ngơi
huyện tình
bien suncó bấy nhiêu thôi
quanh đi quẩn lại
tiếng
lời
vo ve
sống-ở-đây. ngột. khôngdè
cùng dốc đứng                                thở
bờ. be
mịt mùng
che đời thiển cận
lên khung
nhiều lúc cũng ngại
tơ đồng
hở
hang

HoàngXuânSơn
31.1.12

*** Ký Ức Mùa Hè

 Trương Thị Thanh Tâm 

Nắng hạ vàng lá cỏ 
Hoa phượng đỏ trên cây 
Sân trường giờ im vắng 
Nỗi buồn ai có hay 
Đao dai 6âu bàn tay nho nhỏ 
Tìm nhặt cánh phượng rơi 
Ép vào trong trang sách 
Tiếng cười vỡ trên môi 
Hạ tô hồng ký ức 
Màu nắng sớm lung linh 
Vòng tay ấm thân tình 
Xa nhau thời thương nhớ 
Đâu còn màu áo mới 
Bay theo gió hạ buồn 
Chỉ còn tiếng ve ngân 
Chỉ còn màu phượng đỏ 
Rồi hạ cũng ra đi 
Một chút thu trên lá 
Tiếng trống trường giục giã 
Trang giấy mới còn thơm 
Mỗi lần qua trường cũ 
Lại nhớ gốc phượng già 
Bạn bè thân ngày ấy 
Còn xuôi ngược bôn ba 
         Trương Thị Thanh Tâm 
                   Mytho 

*** VÀNG THU TA RỤNG …

Châu Thạch

thuvang2
ĐỌC “VÀNG THU TA RỤNG…” THƠ THỤY SƠN
                                             
VÀNG THU TA RỤNG …                  Thụy Sơn .
Quên choàng y áo chân tu
Qua sông để rớt kinh thư thuở nào
Đọa làm kiếp lá hanh hao
Vàng thu ta rụng xanh xao nỗi buồn

Áo đời hai mảnh vá suông
Sợi khâu tang hải sợi luồn bể dâu
Bàn chân giẫm nát đêm nhàu
Thái hư xẻ nửa trăng đầu khuyết hao
Hành châu nghịch thủy về đâu
Sóng tràng giang nhuộm trắng màu biệt ly
Đò chưa qua buổi xuân thì
Sông trăng dường đã già đi nhánh buồn
Ta ngồi chải tóc hoàng hôn
Sợi dài thế kỷ mót bòn yêu thương
Đò mai rẽ bến Tiêu Tương
Khóc ròng con nước nguyên sương quê nhà
Buồn vui túy ngọa giang hà
Vàng thu ta rụng cội tà huy xưa ./.
TS
Lời bình: Châu Thạch
Đọc cái đầu đề “Vàng Thu Ta Rụng…” chắc không ai hiểu gì. Đọc qua khổ một của bài thơ thì hiện lên trong mắt ta cả nỗi sầu hanh hao từ tiền kiếp. Lá cũng có linh hồn và lá trong thơ là hóa thân của một vị chân tu bị đọa từ kiếp trước bởi sơ hở trên con đường tu tập:
Quên choàng y áo chân tu
Qua sông để rớt kinh thư thuở nào
Đọa làm kiếp lá hanh hao
Vàng thu ta rụng xanh xao nỗi buồn
Cả một câu chuyện về luân hồi được kể lại trong bốn câu thơ. Một câu chuyện hoàn toàn hư cấu nhưng là một câu chuyện tưởng tượng độc đáo.
Chiếc lá vàng rơi mùa thu là quả của nhân. Cái nhân đẹp thì cái quả cũng đẹp. Nhân là vị chân tu thanh tịnh thì quả là chiếc lá vô tư trên cây. Nhân “quên choàng y áo” nên hậu quả của một sự vô tình đó là “để rớt kinh thư”. Rớt kinh thư trở thành tội để luân hồi kiếp sau thành chiếc lá.
Áo của tu sĩ màu vàng thì quả cũng nhập xác vào chiếc lá màu vàng để “vàng thu ta rụng”.
Tác giả đã hòa nhập triết thuyết Phật giáo vào thơ, dùng hình ảnh thanh thoát, câu từ thi vị để diễn đạt cái nghiệp lực mà dầu một vị chân tu cũng phải nhận lảnh.
Đọc thơ ta để ý đến chữ “ta” mà tác giả đã dùng. “Ta” chính là mình, là tác giả. Nếu không là sự cảm biết bản thân trong quá khứ thì cũng là một cảm ứng giữa kiếp trước và kiếp nầy trong hồn thơ tác giả.
Chữ “ta” làm cho tác giả nhập vào sự kiện, làm cho chuyện kể trở nên thực và làm cho người đọc cảm nhận gần gủi với câu chuyện hoàn toàn hư cấu mà tác giả nghĩ ra.
Nhà sư trong thơ “Đọa làm kiếp lá hanh hao”cũng đẹp tuyệt vời. Ngài không sa vào dục vọng trần gian, ngài chỉ lảng quên “choàng y áo” khiến sinh hệ luy mất kinh thư, từ đó sự đọa thành chiếc lá vàng của ngài cũng đẹp như chiếc lá thu bay vậy.
Qua khổ thơ thứ hai, rõ ràng tác giả hóa thân mình vào nhà sư, hóa thân mình vào chiếc lá, với những trăn trở của mình trong kiếp nhân sinh:
Áo đời hai mãnh vá suông
Sợi khâu tang hải sợi luồn bể dâu
Bàn chân giẫm nát đêm nhàu
Thái hư xẻ nửa trăng đầu khuyết hao
Hai câu thơ đầu, tác giả lấy ý từ thành ngữ “Tang điền biến vi thương hải và ngược lại” (ruộng dâu biến thành biển xanh và ngược lại) nhưng hay và lạ ở chổ, nhà thơ đã đem hai sự kiện lớn lao làm thành một chiếc áo của đời mình.
Hình ảnh trong thơ diễn đạt sống động chiếc áo “tang thương” là hai mảnh của kiếp người với tất cả nghĩa vô thường của nó.
Hai câu thơ kế tiếp diễn tả hình ảnh kiếp người trong đêm tối mông lung.
“Thái hư” là “khoảng trống không vô định”. Trong khoảng trống không vô định đó, con người dẫm nát bóng đêm để đi tìm chân lý. Thế nhưng chỉ thấy “ nửa trăng đầu khuyết hao”nghĩa là chẳng thấy vầng trăng tròn bao giờ, hay là chân lý chưa hề hiện ra trọn vẹn. Chân lý chỉ thấy từ xa như thấy nửa vầng trăng.
Khổ thơ nầy hoàn toàn là miêu tả cái “khổ đế”của Phật giáo, nhưng diễn đạt bằng ngôn ngữ của thơ, hình tượng nỗi đau bằng hai mãnh áo, hình tượng sự mê muội bằng đêm thâu và hình tượng sự trôi lăn vạn kiếp lạc bước trong vô định để nhìn thấy chân lý như nửa vầng trăng, không trọn vẹn bao giờ . Bốn câu thơ bi quan, mô tả đời người trong hố thẳm tội lỗi, muôn kiếp mịt mờ trong bóng tối hư vô.
Khổ thơ thứ ba nhà thơ diễn đạt sự đấu tranh nhọc nhằn, sự tìm kiếm trong vô vọng, cùng sự phôi pha của một kiếp nhân sinh:
Hành châu nghịch thủy về đâu
Sóng tràng giang nhuộm trắng màu biệt ly
Đò chưa qua buổi xuân thì
Sông trăng dường đã già đi nhánh buồn
“Hành châu nghich thủy” có nghĩa là đi ngược dòng nước. Người xưa có câu “Nghich thủy hành châu bất tiến bất thoái” nghĩa là đi ngược dòng nước thì tới cũng không được mà lui cũng không được. Câu thơ đầu chỉ sự nan giải của một kiếp người, mắc kẹt giữa dòng đời như chiếc thuyền đi ngược dòng sông. Câu thứ hai mô tả dòng đời đầy sự biệt ly buồn ảm đạm.
Qua hai câu thơ sau “Đò đưa qua buổi xuân thì/ Sông trăng dường đã già đi nhánh buồn”nhà thơ đã nhìn vào đời bằng con mắt tâm lý của mình. Tất nhiên tuổi con sông phải già nhưng người qua sông lại thấy nó già hơn cái già của nó, giống như người đã ngao ngán cuộc đời vì thấy cuộc đời nhiêu khê và cằn cổi khi mình đang ở tuổi xuân thì.
Rồi thì bởi cái nhìn tâm lý, thấy đời già trước tuổi thọ của mình, nhà thơ mang tâm trạng bi quan yếm thế, ngồi thở than bên dòng sông định mệnh:
Ta ngồi chải tóc hoàng hôn
Sợi dài thế kỷ mót bòn yêu thương
Đò mai rẽ bến tiêu tương
Khóc ròng con nước nguyên sương quê nhà
Bến Tiêu Tương là bến ở sông Tiêu Tương, nơi đây có chuyện tình Trương Chi-Mỵ Nương. Mỵ Nương rơi lệ xuống chén ngọc làm bằng quả tim anh lái đò có tiếng hát làm lung linh trăng vàng. Trương Chi, người đã chết xuống tuyền đài với tình yêu say đắm nàng vĩnh viễn. Trái tim chàng chỉ tan ra trong giọt nước mắt của nàng. Nhà thơ Thụy Sơn đã hư cấu mình ngồi chải tóc ở đó suốt trăm năm để nhìn con nước quê nhà khóc ròng cho mối tình bất diệt.
Thật ra tác giả chỉ mượn chuyện tình trên bến Tiêu Tương để nói về tất cả nhưng ngăn trở của cuộc đời. Sự chải tóc là hình ảnh của sự đợi chờ. Hoàng hôn chỉ thời gian đã qua, thời cơ của mình đã hết. Bốn câu thơ dùng những bức tranh tuyệt đẹp, lung linh để ta thán những nghịch cảnh mà đời đem đến. Đoạn phim trên bến Tiêu Tương, một người ngồi chải tóc, nhỏ lệ trên dòng sông sự tích đẹp làm sao, khiến cho người đọc thơ cảm nhận như mình ngồi ở chốn “nguyên sương” của thời xa xưa vậy.
Thụy Sơn dùng hai cầu thơ kết có hào khí ngất trời. Không phải hào khí của người chiến binh trong bài thơ “Khúc hát Lương Châu” của Vương Hoán có hai câu thơ “Túy ngọa sa trường quân mạc tiếu/ Cổ lai chinh chiến kỷ nhân hồi” mà khác nhiều hơn với ý thơ này:
Buồn vui túy ngọa giang hà
Vàng thu ta rụng cội tà huy xưa
Hai câu thơ của Vương Hoán được Trần Trọng San dịch là “Sa trường say ngủ ai cười/ Từ xưa chinh chiến mấy người về đâu”. Thụy sơn cũng dùng hai chữ “túy ngọa” là say nằm, nhưng không “túy ngọa sa trường” mà “Túy ngọa giang hà” là say nằm trên sông nước. Giang hà trong bài thơ “Vàng Thu Ta Rụng…” của Thụy Sơn như trên ta biết không phải là sông nước của mặt đất nầy, mà đó là dòng sông của định mệnh, là dòng quay của bánh xe luân hồi chuyển tiếp đời người kiếp nầy qua kiếp khác. Trên dòng sông đó có một người chân tu vì phạm lỗi phải đọa vào cuộc đời vàng như chiếc lá thu rơi. Vị chân tu buồn, túy ngọa trên dòng sông định mệnh ấy để rồi, cũng rụng như chiếc lá vàng rơi dưới cội cây trong một chiều nào đo, như những chiều năm xưa của kiếp trước.
Nhà thơ Lê Giao Văn đã bình luận bài thơ nầy như sau: “Bài thơ cổ điển mà hồn cốt rất tân thời”. Tôi nghĩ một nhận xét như thể đã nói đủ bài thơ nầy rồi. Cái hay của bài thơ nầy thật ra chỉ dùng chữ để gợi ý mà thôi. Người đọc, qua trình độ hiểu biết Phật pháp, qua tâm hồn nghệ sĩ và qua sự thẩm thấu văn chương nhiều hay ít mà thưởng thức bài thơ, cảm nhận được những gì chất chứa trong thơ càng sâu thì càng thú vị. Với tôi, tôi đọc thấy nó hay ngay tự ban đầu, suy nghiệm nó hơi lâu, nhưng càng lâu thì càng yêu mến nó, một bài thơ không dễ có ai làm!!!
                                                          Châu Thạch
 

*** SỐ MỆNH

Lê Khắc Thanh Hoài

 untitled

          Trước khi bàn đến Số Mệnh thì có lẽ chúng ta nên tìm hiểu rõ riêng từng chữ, Số là gì và Mệnh là gì ?

Chữ Số, đứng riêng một mình, nó có thể hiểu hai nghĩa. Nghĩa thứ nhất giản dị là con số, hay chữ số, dấu hiệu được đặt ra để biểu thị cho cái lượng, cái gì có thể tính, đếm, đo, cân. Các con số này có thể cộng trừ nhân chia với nhau. Nghĩa là con số có thể thêm, bớt, tăng, giảm. Con số còn có thể là chẳn lẻ, dư thừa, số dương, số âm, con số nguyên hay phân số, nghịch hay đảo, số thực hay phóng đại, số trung bình hay số vô tỉ…


Mới nhìn thoáng qua thì chúng ta không thấy mối liên hệ gì giữa chữ Số, theo nghĩa thứ nhất này, với chữ Mệnh, đứng bên cạnh nó. Dường như vậy. Chúng ta thử rộng bàn hơn về con số này nhé.

Con người vừa mới mở mắt chào đời với tiếng khóc oe oe, chỉ vừa ló đầu ra khỏi lòng mẹ, cuốn rún vừa được cắt là có người chực sẳn bên bà mụ, mắt dán vào chiếc đồng hồ, hô to những con số : « Đúng năm giờ mười lăm phút sáng !» một người khác vội ghi ngay trên giấy, cộng thêm tên họ, dĩ nhiên là không quên ghi những con số quan trọng khác : ngày, tháng, năm, năm ta lẫn năm tây, nhưng năm ta mới là quan trọng hơn chứ, không thể nhầm lẫn, là Ất dậu, Quí dậu hay Bính dậu, mọi chi tiết đều được ghi chú một cách cẩn trọng, nghiêm túc. Bởi vì những con số này sẽ là bằng chứng của sự có mặt của con người trên mặt đất, sẽ được hiện rõ ràng minh bạch trên tờ Khai Sanh cũng như trên tấm Lá Số Tử Vi, vén mở trước cho thấy hành trình mà con người sẽ bước qua.

Giờ phút linh thiêng đã điểm. Đúng, một con người vừa mới ra đời. Một động vật hai chân nhưng là loài thông minh và đáng nể trọng nhất trên quả đất này. Đúng, hai chân và đứng thẳng, có thể ngẩng đầu lên cao giữa đất trời thì chỉ có loài người. Đầu đội trời, chân đạp đất thì chỉ có loài người. Các loài khác, tuy nhiều chân hơn nhưng lại luôn cúi rạp đầu xuống đất, ở nơi chỗ dơ dáy và không thể có khối óc như con người. Con người xứng đáng tự xưng mình là chúa tể của mọi loài trên trái đất, dù tự cho mình là con trời hay chỉ ỷ vào sức mạnh của bạo lực, của quyền uy, của tài sản vật chất, của gươm đao, súng ống, với phương tiện nào cũng được, cậy quyền, cậy thế hay cậy sức, con người có thể vỗ ngực tự xưng và đương nhiên được coi là hơn hết, trên hết mọi loài khác. Không những thế, cùng đồng loại, đồng chủng, con người cũng có thể xưng hùng xưng bá, cho mình là bậc nhất để đàn áp, diệt chủng, cướp đoạt lãnh thổ, thâu nạp nô lệ…Và con người đã làm như thế. Có thể còn mãi mãi sẽ làm như thế.

Con người dù có mạnh như Hercule, chỉ cần dùng sức mạnh của hai tay để hạ đối thủ, giết chết quái vật, nhưng may thay, con người cũng biết giới hạn của mình. Đứng trước thiên nhiên, mưa dầm, bão tố, sóng cao, gió lớn, hạn hán, núi lửa, lụt lội, động đất… thì con người bó tay. Cũng như bó tay trước cái chết của chính bản thân mình.


Con người thôi kiêu căng và cúi đầu tuân thủ bậc Trời, hay Thượng đế, nếu tin có Thượng đế, là cha sinh ra loài người. Điều này có những ưu điểm, đem lại trật tự, kỷ cương cho xã hội, con người biết sợ hãi khi làm điều ác, vì sẽ bị trừng phạt gắt gao, địa ngục luôn mở cửa để lùa kẻ ác vào, và con người sẽ siêng năng làm thiện vì Thiên đường cũng luôn mở cửa để đón tiếp kẻ thiện tâm.

Nhưng rồi con người cũng đi quá trớn và lạm dụng danh nghĩa để làm những điều sai trái, không hợp đạo lý, không thuận theo ý Trời hay Thượng đế nữa. Đó là lỗi của con người, không phải lỗi của Trời hay Thượng đế.

Trở lại với con Số. Như vậy là vừa mới mở mắt chào đời, con người đã mang vào mình một hàng số. Hàng số này mà về sau, con người nhớ mãi để mỗi năm thì ăn mừng. Mừng Sinh Nhật. Mừng cái ngày mình, một con người, có mặt trên cõi đất này. Vui cái đã ! Suy nghĩ mông lung xa vời thì chẳng cần biết tới. Đơn giản quá ! Sự thật là như vậy. Đùng một cái, con người bỗng thấy mình có mặt trên trái đất và phải đi cho hết cuộc đời còn lại mà cũng chưa chắc tìm ra câu trả lời vì sao, vì đâu tôi lại có mặt trên cõi đời này ! Trách gì, tấm bé thì đâu biết gì mà suy với nghĩ, chỉ biết vui chơi, ngày Sinh Nhật thì được quà cáp, đồ chơi ai mà không thích. Nhưng lớn rồi thì cũng có khác đâu, tiệc tùng ăn uống thỏa thích cho cái ngày Sinh Nhật, chuyện gì mà bận rộn trí óc cho mệt cái thân. Chỉ có mấy ông triết gia lẩm cẩm dư thì giờ ngồi vuốt râu, bứt tóc bứt tai suy nghĩ chuyện không đâu!

Mỗi năm, con số của cái ngày trọng đại này, ngày Sinh Nhật, không thay đổi nhưng cái số tuổi thì « leo thang » vùn vụt với năm tháng trôi qua, với thời gian. Từ một đứa bé lưa thưa vài sợi tóc, cho đến một ông già bà lão tóc bạc phủ trắng đầu. Và rồi con số cuối cùng sẽ đến nằm gọn gàng bên cạnh cái con số của ngày Sinh Nhật. Con Số của cái ngày Tạ Thế. Cái ngày mà con người từ biệt cõi thế, lìa đời, mạng chung. Dù muốn dù không cũng phải giã biệt. Đó là định luật ngàn thu.


Dù thông minh cách mấy con người vẫn chưa lật ngược được định luật này. Chỉ còn biết chấp nhận.


Như vậy là con số đầu và số đuôi đã nối nhau. Những con số của tờ Khai Sanh sẽ được bổ túc thêm với những con số của tờ Khai Tử.


Nhưng chặng giữa của đời người thì không thiếu nhưng con số.


Thử tìm những con số này qua miệng của dân gian, trong các sinh hoạt thông thường, qua những câu ca dao còn mãi với thời gian hay qua thi ca của nước Việt chúng ta.

Gần gũi nhất là những con số mà chúng ta thân quen, là anh, là chị, là em trong gia đình : anh Hai, chị Ba, anh Tư, em Sáu, em Bảy và rồi đương nhiên là có dì Năm, dượng Sáu, cô Tám…người miền Nam nước ta thì hay dùng các con số thứ tự trước sau để gọi con cái. Cái con số nó gắn liền với con người đơn sơ, giản dị và dễ thương như vậy.

Trong văn học, con số một trăm dưòng như quá rõ ràng để chỉ độ dài của đời người, thường được tìm thấy nơi các vần thơ của cụ Nguyễn Du :


Trăm năm trong cõi người ta (1)

Kiếp phong trần trăm năm thân thế
Khắp bờ sông bãi bể lang thang.
(2)

Hoa đẹp không trăm ngày
Người sống không trăm tuổi.
(3)

Và khi dân gian muốn ám chỉ những ai hay những gì mà miệng người đời rêu rao, bêu xấu, cảnh giác con người nên thận trọng :

Trăm năm bia đá thì mòn
Nghìn năm bia miệng hãy còn trơ trơ
(4)

Với cảnh vật thiên nhiên mà con người rất hiểu, rất am tường :

Trăm hoa đua nở tháng giêng
Có bông hoa cải nở riêng tháng mười
. (5)

Mạ chiêm ba tháng chưa già
Mạ mùa tháng rưỡi ắt là chẳng non
(6)

Đêm tháng năm chưa nằm đã sáng
Ngày tháng mười chưa cười đã tối.
(7)

Những ngày tháng không thể quên, và con người cùng nhắc nhở nhau :

Nhớ ngày mồng bảy tháng ba
Trở về hội Láng, trở ra hội Thầy.
(8)

Ai về Phú Thọ cùng ta
Vui ngày giỗ Tổ tháng ba mùng mười.
(9)

Ấy ngày mồng sáu tháng ba
Ăn cơm với cà đi hội chùa Tây.
(10)

Nhắc đến Hà Nội với Ba Mươi Sáu phố phường :

Cố đô rồi lại Tân đô
Nghìn năm văn vật bây giờ vẫn đây
Rủ nhau chơi khắp Long Thành
Ba mươi sáu phố chẳng rành chẳng sai.
(11)

Nhà nông chất phát mà biết lo toan :

Mồng chín tháng chín có mưa
Thì con sắm sửa cày bừa làm ăn
Mồng chín tháng chín không mưa
Thì con bán cả cày bừa đi buôn.
(12)

Một con số khác, để nói đến phận gái long đong :

Lênh đênh một chiếc thuyền tình
Mười hai bến nước, biết gửi mình vào đâu ?
(13)

Hay nói đến tình yêu bạc bẽo :

Yêu nhau cau sáu bổ ba
Ghét nhau cau sáu bổ ra làm mười.
(14)

Và cầu mong bạn đời chung thủy với mình :

Muối mặn ba năm muối hãy còn mặn
Gừng cay chín tháng gừng hãy còn cay
Đạo nghĩa cang thường chớ đổi đừng thay.
(15)

Nhưng trước khi thành đạo phu thê thì thử thách cũng khó lắm cho chàng trai :

Em là con gái nhà giàu
Mẹ cha thách cưới ra màu xinh sao.
Cưới em trăm tấm lụa đào
Một trăm hòn ngọc, hai mươi tám ông sao trên trời.
Tráp tròn dẫn đủ trăm đôi
Ống thuốc bằng bạc, ống vôi bằng vàng.
Sắm xe tứ mã đem sang
Để quan viên họ nhà nàng đưa dâu.
Ba trăm nón Nghệ đội đầu
Mỗi người một cái quạt Tàu thật xinh.
Anh về sắm nhiễu Nghi Đình
May chăn cho rộng ta mình đắp chung.
Cưới em chín chĩnh mật ong
Mười cót xôi trắng, mười nong xôi vò.
Cưới em tám vạn trâu bò
Bảy vạn dê lợn, chín vò rượu tăm.
Lá đa mặt nguyệt hôm rằm
Răng nanh thằng cuội, râu cằm thiên lôi.
Gan ruồi mỡ muỗi cho tươi
Xin chàng chín chục con dơi góa chồng.
Thách thế mới thỏa tấm lòng
Chàng mà lo được thiếp thời theo chân.
(16)

Cưới cô gái nhà nghèo mà xem ra tình tứ, dễ thương hơn một bực :

Cưới em có cánh con gà
Có dăm sợi bún, có vài hạt xôi
Cưới em còn nữa anh ơi
Có một dĩa đậu, hai môi rau cần
Có xa dịch lại cho gần
Nhà em thách cưới có ngần ấy thôi
Hay là nặng lắm anh ơi !
Để em bớt lại một môi rau cần.
(17)

Cũng qua dân gian mà chúng ta biết được vai trò của người con trai trưởng, cũng liên hệ với các con số :


Bốn con ngồi bốn chân giường
Mẹ ơi, mẹ hỡi, mẹ thương con nào ?
Mẹ thương con bé mẹ thay,
Thương thì thương vậy, chẳng tầy trưởng nam
Trưởng nam nào có gì đâu
Một trăm cái giỗ đổ đầu trưởng nam.
(18)

Và học thêm được tập tục của việc để tang :

Chồng cô, vợ cậu, chồng dì
Trong ba người ấy chết thì không tang.
(19)

Láng giềng còn để ba ngày
Chồng cô vợ cậu, nửa ngày cũng không.
(20)

Tự thuở nào, nàng dâu thì sợ mụ o :
Một trăm ông chú không lo
Lo về một nỗi mụ o nỏ mồm.
(21)

Và nỗi lòng nàng dâu được tỏ bày cũng không thiếu những con số :

Thân em mười sáu tuổi đầu
Cha mẹ ép gả làm dâu nhà người
Nói ra sợ chị em cười
Năm ba chuyện thảm, chín mười chuyện cay.
(22)

Đó là việc nhà, nhưng việc nước, thời Nam Bắc phân tranh, cũng được nói lên qua con số :

Một nhà hai chủ không hòa
Hai vua một nước ắt là không yên.
(23)

Đó là trong quá khứ, chúng ta thấy những con số luôn đi theo đời người, qua mọi sinh hoạt dù riêng dù chung.


Ở thời hiện đại, các con số lại càng gia tăng và gắn liền hơn nữa với đời sống. Số nhà, số điện thoại, điện thoại bàn, điện thoại cầm tay, số mật mã phải nhớ nằm lòng để mở cửa vào nhà, bước vào thang máy, mở máy vi tính, tủ két đựng tiền, bất cứ dụng cụ máy móc tối tân nào, hoặc dùng thẻ tín dụng ngân hàng, mà bất cứ ở đâu cũng phải đem theo, từ mua sắm nhỏ nhặt cho đến thanh toán chi tiêu lớn…Đi tới đâu cũng thấy bấm nút, bấm số. Giấy tờ chỗ nào cũng ghi chú nhan nhản điều một, điều hai, điều ba…Số ghi trên vé đi xem hát, xem kịch. Số ghi trên sổ thông hành, chiếu khán, hộ tịch, căn cước, sổ lương, sổ trợ cấp, sổ bảo hiểm, số xe, số giày, số quần áo…Số tiền ghi trên tấm giấy bạc hay tờ ngân phiếu thì không thể sai được, đôi khi phải đọc lui đọc tới vài chục lần vì không thể có nhầm lẫn trong chuyện này được !


Những con số, chao ơi, toàn là những con số !


Chưa kể những con số để chơi loto, đánh cá ngựa, đánh số đề…


Chưa kể những ngày tháng kỵ giỗ người thân.


Chưa kể những cuộc hẹn từ vài tháng trước phải ghi phải nhớ, lỡ quên là lại mất vài ba tháng nữa mới có được một cuộc hẹn mới.


Chưa kể những con số trên chiếc đồng hồ rượt con người chạy…ứ hơi !


Chưa kể những con số phải thuộc nằm lòng, những con số khẩn, cấp cứu, bệnh viện, cứu hỏa, cảnh sát…


Như vậy chúng ta đã thấy là con Số không hề rời xa con người chút nào, mà theo sát chữ Mệnh đứng sau nó rồi phải không ?


Đó chỉ là mới nói đến nghĩa thứ nhất của chữ Số.

Nghĩa thứ hai của chữ Số thì lại hoàn toàn đồng nghĩa với chữ Mệnh đứng bên cạnh nó. Chữ Số này chỉ làm rõ nghĩa thêm chữ Mệnh mà thôi. Bởi nó chính là Phần Số, Số phận, cuộc đời con người. Mọi người vẫn thường nghe “ số tôi là vậy, tới số rồi, số như vậy, mỗi người đều có số…” Chính lả chữ Số này trong Số Mệnh.


Số với Mệnh, tuy hai mà một.


Vậy bây giờ chúng ta bàn qua chữ Mệnh này nhé. Nó khá phức tạp rắc rối bởi vì qua nhiều thời đại, con người không ai cùng đồng ý với ai nữa cả khi bàn đến nó.

Mệnh hay Mạng được đặt ra từ khi có cụ Khổng với cái thuyết Thiên mệnh luận hay Thiên đạo. Ông Trời qui định cho mỗi cá nhân một số mệnh, một cuộc đời và chỉ có tuân theo. Sống theo Thiên mệnh hay Thiên đạo cũng là sống đúng với qui tắc thiên nhiên, hợp với thời thế, đạo lý mà Trời đã đặt ra, đó là ý Trời. Thiên tử lại là con trời, mà phản
lại ý vua cũng là phản lại ý trời. Vua bảo chết mà không chết là quan bất trung. Cha mẹ bảo chết mà con không chịu chết là con bất hiếu. Quá ư khắt khe cụ Khổng !

Ngoài Nho giáo ra, còn có các triết thuyết như Túc mệnh luận, Định mệnh luận, quan niệm mỗi con người đều có một số mệnh do quá khứ an bài, xếp đặt, định trước, định sẳn rồi. Mọi cố gắng nổ lực ở hiện tại hầu như vô ích. Gọi đó là Định Mệnh. Không thể thay đổi.


Các triết thuyết này, và cả Nho giáo, tin vào sự chỉ định của Trời, đều mang tính tiêu cực và thụ động. Con người thường xuôi tay, phó mặc cho số mệnh.


Đạo Phật không tin vào số mệnh do một đấng siêu nhiên chỉ định, an bài. Số mệnh này, theo Phật giáo là kết quả tạo từ các đời trước của Nghiệp, hành động có tác ý, chủ ý, chủ động của con người. Và cứ thế, luân hồi triền miên bất tận, con người tự tạo ra cái số mệnh của mình, tự tạo và tự hứng chịu hậu quả của nó. Như vậy thì số mệnh này không bất di bất dịch mà có thể thay đổi tùy theo hành động, theo chiều hướng thiện hay ác của hành động, của sự tạo tác mà cái mệnh theo đó chuyển đổi, vận hành.

Ảnh hưởng từ phương Tây, Thiên chúa giáo là một thần giáo, tin vào Thượng Đế, đấng tạo ra con người, nhưng con người không hoàn toàn mất tự do và lệ thuộc vào Thượng Đế bởi vì con người có quyền lựa chọn hành động của mình. Và hai con đường, thiện hay ác đều có kết quả phù hợp. Thượng Đế không bắt buộc ai phải vào địa ngục hay lên thiên đường, chính hành động của con người lôi kéo con người vào hai đường này. Thượng Đế chỉ sinh ra con người nhưng không hành động thay thế con người. Đó là sự lựa chọn của con người.


Ở đây, nơi sự tự do lựa chọn và hành động thì Phật Giáo và Thiên chúa giáo gặp nhau.

Chúng ta lại thử tìm qua ca dao, những suy nghĩ về số phận, thân phận con người.


Dù biết cuộc đời có giới hạn, nhưng không vì thế mà sống không xứng đáng, để phải hổ thẹn :


Người đời hữu tử hữu sanh
Sống lo xứng phận, thác dành tiếng thơm.
(24)

Cho dù nghèo khó :


Đói cho sạch, rách cho thơm (25)

Tốt danh hơn lành áo ( 26)

Chết trong còn hơn sống đục (27)


Sống vẫn có đạo lý :

Một câu nhịn, chín câu lành (28)

Người trồng cây hạnh người chơi
Ta trồng cây đức để đời về sau
. (29)

Ở hiền thì lại gặp lành
Những người nhân đức trời dành phúc cho.
( 30 )

Tốt gỗ hơn tốt nước sơn
Xấu người đẹp nết, còn hơn đẹp người
(31)

Ăn quả nhớ kẻ trồng cây
Uống nuớc sông, nhớ mạch suối
(32)

Ai ơi chớ vội cười nhau
Cười người hôm trước, hôm sau người cười
(33)

Nói chín thì làm nên mười
Nói mười làm chín, kẻ cười người chê.
(34)

Nhiều không thể kể hết những câu ca dao nói lên cái đạo lý sống hướng thiện của con người. Và chúng ta cũng thấy cái số mệnh đã được an bài, được chấp nhận qua các câu :


Số lao đao phải sao chịu vậy
Tới số ăn mày, bị gậy phải mang
. (35)

Số giàu tay trắng cũng giàu
Số nghèo chín đụn mười trâu cũng nghèo.
(36)

Cây khô xuống nước cũng khô
Phận nghèo đi tới chỗ mô cho giàu.
(37)

Số giàu đem đến dửng dưng
Lọ là con mắt tráo trưng mới giàu.
(38)

Con vua rồi lại làm vua
Con sãi ở chùa lại quét lá đa
.(39)

Mọi người đều đồng ý là ai cũng có một phần số, một số mệnh riêng biệt, không đồng đều, nhưng nó từ đâu đến, sự sai biệt này từ đâu mà có thì chưa ai đồng ý với ai. Người bảo là do Trời, do Thượng đế, người bảo là do Nghiệp. Chuyện này không bao giờ có kết luận và cũng không phải là mục đích của bài viết.


Người viết chỉ muốn nói đến muôn vàn số mệnh khác biệt trên cõi thế. Đôi lúc chỉ vì một quyết định bốc đồng, thiếu chín chắn, một lời nói thiếu suy nghĩ, một hành động vô ý thức hay một cuộc gặp gỡ bất ngờ nào đó mà số mệnh của con người lại thành tựu, vận hành, chuyển hướng, rẽ sang một ngả khác.


Trong đời, không ai không từng thốt lên : “ Giá mà tôi được…Chẳng qua vì…Nếu hôm đó không xảy ra…Nếu chuyện ấy không như thế…”

Hằng hà sa số cảnh đời, số phận cũng chỉ vòng quanh các tính từ vui, buồn, sướng, khổ, giàu, nghèo, hoặc các động từ CÓ và KHÔNG CÓ :


Có vợ đẹp, có con ngoan, không có vợ đẹp, không có con ngoan, có tiền, không có tiền, có chức vị, không có chức vị, có nhà, không có nhà, có tình, không có tình, có sức khoẻ, không có sức khoẻ, có sắc đẹp, không có sắc đẹp, có tài, không có tài…


Và cũng tưong tự, các số phận xoay quanh động từ ĐƯỢC và KHÔNG ĐƯỢC :


Được yêu, không được yêu, được thăng chức, không được thăng chức, được ưu đãi, không được ưu đãi, được nhàn hạ, không được nhàn hạ, được sống lâu, không được sống lâu, được nổi tiếng, không được nổi tiếng…


Xoay quanh động từ LÀ và KHÔNG LÀ, các số phận này hoặc bằng lòng, thỏa mãn hoặc bất như ý, bất toại nguyện : tôi là luật sư, tôi không là luật sư, tôi là bác sĩ, tôi không là bác sĩ, tôi là doanh nhân, tôi không là doanh nhân, tôi là giáo sư, tôi không là giáo sư, tôi là dân Mỹ, tôi không là dân Mỹ, tôi là người da đen, tôi không là người da đen…


Cũng thế, các số phận xoay quanh động từ BỊ thì càng không ít : Bị chê, bị trách, bị mắng, bị nhiếc, bị bạc đãi, bị hà hiếp, bị bóc lột, bị lạm dụng, bị thù, bị oán, bị giết, bị tù, bị tội, bị bắt cóc, bị cưỡng ép, bị chịu đựng, bị khống chế, bị tàn tật, bị thương tích, bị ruồng bỏ, bị lãng quên…


Thống kê ra thì sẽ dài bất tận.


Tóm lại, con người vui buồn, khổ đau hay hạnh phúc là nhờ CÓ hay KHÔNG CÓ, ĐƯỢC hay KHÔNG ĐƯỢC, LÀ hay KHÔNG LÀ và BỊ hay KHÔNG BỊ.


Cũng thế, nếu thống kê hết những hạng người, theo loại, theo nghề nghiệp, theo hoàn cảnh sống, theo địa lý, theo phong tục…thì cũng rất dài dòng, thử tạm liệt kê một vài hạng người theo số mệnh mà CÓ, mà ĐƯỢC hay LÀ :


Người là vua, là hoàng tử, là công chúa, là tổng thống, là ông này bà nọ, có chức vị quan trọng trong xã hội thì cũng có hạng thường dân, không tên tuổi, không ai biết, có anh hùng, có tướng tá, sĩ quan, quân nhân thì cũng có thi nhân tao nhã, nhạc sĩ, tài tử chỉ cống hiến cho đời những giây phút thoải mái vô ưu, có tu sĩ, bác sĩ, võ sĩ, có người nhân đạo thì cũng có người vô nhân đạo, có trộm cướp, có sát nhân giết mướn giết thuê, có thương nhân đàng hoàng làm ăn thì cũng có dân buôn lậu, buôn thuốc nghiện, thuốc hút, buôn người, buôn cả trẻ con, đàn bà, con gái, ngoài những mỹ nữ buôn phấn bán hương, thời hiện đại như chúng ta thì còn có cả “ mỹ nam” cạnh tranh với mỹ nữ, bên cạnh đó vẫn còn những người cần cù, tay lấm chân bùn, đầu tắt mặt tối, như nông dân, ngư dân, thợ thuyền, người giúp việc, người buôn thúng bán bưng, gánh gồng, dầm mưa dãi nắng, thì cũng có người làm việc bằng trí óc, quanh quẩn trong bốn bức tường, đôi lúc thật khô khan nhàm chán…đối lại thì có “ siêu mẫu chân dài ” khoe khoang hàng hiệu, phô trương hình ảnh xa hoa, xa xỉ, lúc nào cũng tươi cười, xinh đẹp, lộng lẫy nơi các nhà hàng thượng thặng, đôi khi cùng với các tài tử xi nê lên xuống “siêu xe ”, với những cuộc chạy đua tốc độ xoay xẩm mặt mày…

Số mệnh con người dường như cũng đi theo hai chiều trái ngược, hoặc sướng hoặc khổ, hoặc lên, hoặc xuống, hoặc thiện hoặc ác, hoặc tốt hoặc xấu, hoặc hay hoặc dở, hoặc hên hoặc xui, như nói có số đỏ, có số đen. Tuy nhiên cũng có thể là không đỏ, không đen, không thiện không ác, không tốt, không xấu, không khổ, không sướng, ở giữa lưng chừng, trung bình mọi mặt.


Hiểu rõ số mệnh, phải chăng vì con người luôn bị thời gian thôi thúc đằng sau lưng. Con người chẳng thể nào đứng yên, tất cả đều tan biến vào hư vô vậy thì con người có thể níu kéo được gì ? Hạnh phúc nằm ở đâu ? Ở cái điều mà tôi có, tôi không có, tôi được, tôi không được, tôi là, tôi không là, tôi bị, tôi không bị ?


Con người chỉ nên nghĩ đến con đường đang đi, thực tại đang có và phải đi, phải sống như thế nào hơn là nghĩ con đường này, cuộc sống này dẫn tới đâu ? Trước khi có mặt trên trái đất, con người hoàn toàn không biết gì, sau khi rời khỏi mặt đất con người cũng hoàn toàn không biết gì. Mọi người đến và ra đi đều không hề nói năng, không hề tỏ rõ cho ai biết rằng chỗ trước khi tôi đến trái đất là như thế và chỗ sau khi tôi rời trái đất là như vậy. Đằng sau là quá khứ, thì tối tăm mù mịt mà đằng trước là tương lai thì cũng tối tăm mù mịt. Con người chỉ có và thấy một luồng ánh sáng độc nhất là hiện tại. Nơi mà con người có thể nói năng, thấy, nghe, cảm, nhận và cùng nhau chia sẻ buồn vui sướng khổ. Trong vùng ánh sáng này, hiện hữu một số mệnh mà con người không thể làm gì khác hơn là chấp nhận, và làm tất cả những gì có thể để thích ứng với những gì bất ngờ xảy đến. Những điều có thể có, có thể không, có thể được, có thể không được, có thể là như vậy, cũng có thể không là như vậy, có thể bị mà cũng có thể là không bị gì hết. Trước cái bấp bênh của số mệnh, con người không thể buông xuôi mà nắm chặt trong tay hơn những gì có thể chuyển đổi số mệnh, chuyển hóa số mệnh, vượt lên trên số mệnh, trở thành vận mệnh bởi vì số mệnh không hề bất di bất dịch, có thể vận chuyển, vận hành, đổi thay theo hành động, theo ý tưởng, theo cảm xúc. Cái hiện tại luôn luôn chuyển động, không đứng một chỗ và con người luôn bị thôi thúc phải tác ý và hành động để thực hiện những gì có thể thực hiện được trước khi luồng ánh sáng nhận thấy được nơi cái hiện tại này cũng vụt tắt. Cái vòng tròn của bánh xe Số Mệnh đã bắt đầu quay và sẽ mãi mãi quay theo cái gọi là luân hồi !


Chận lại vòng quay của bánh xe luân hồi là vượt lên trên số mệnh.

LêKhắcThanhHoài
Paris, Tháng Bảy, 2014

_________

Chú thích :
1. Kiều. Nguyễn Du
2. Mạn Hứng . Nguyễn Du
3. Hành Lạc Từ . Nguyễn Du
4. 5. 6.….cho đến 39 : Tục Ngữ Ca Dao Dân Ca Việt Nam. Vũ Ngọc Phan

*** lục bát quái dị

Hoàng Xuân Sơn

phôm nim

phim nôm
rạng
phía trời nồm
chữ bay
tá lả
còn ôm tình về
tặng-vì-rai chim. mê mê
dấu trăng đã nguột
đầu hè
thảm
thương
vết cà răng sực
nức hường
mỏ chu lạnh cáu
tà dương
rập rờn

biến hiệuao tranhve

hấp hiu

quấn
lạch lườn
vào trong rổ rá
mười thương lọc sàng
cọc mù
lọt tọt xuống
hang
con mắt bí tỉ say
tràn cửu cung
nường ôi
lều chỏng bít bùng
nằm nghe cái giống
dzô
chun[g]
liếp đời

mẻ

không có gì mở
[nút]
bay hơi
thinh không ba vạn nhà trời
thong manh
châu thân là chốn đoạn đành
cù sương nẻ. nứt tóc xanh về hùn
sợi chín
buồn. nâu [nẫu] khung
ôm vai huyền chú
bập bùng
áo xiêm

hoàng xuân sơn
ngày lục tháng bát năm mười tám

Nhẹ Thoáng Phù Vân

Nhật Quang

bien chim bay

 Này đêm
Vương vất…hao trầm
Buông lơi nhịp thở, giấc thầm mông lung
Hong tình
Héo hắt chiều lưng
Phôi pha
Nguyệt khuyết
Rưng rưng mắt gầy

Hong mưa
Lên ký ức đầy
Rêu rong
Phai dấu
Chạm ngày tháng trôi
Vườn yêu
Hoa khép, nhụy rơi
Nghe mùa giông tố, đẫm lời dối gian

Còn vương chi
Kiếp đa đoan
Sân si
Mê đắm…
Nặng mang cõi lòng
Khát mơ
Gối mộng…thong dong
Phù vân nhẹ thoáng qua dòng bể dâu.

Nhật Quang
(Sài Gòn)

 

*** Đặng Lệ Khánh dịch William and Mary của Roald Dahl

Thư viện của bài

This gallery contains 1 photo.

WILLIAM VÀ MARY ( dịch William and Mary của Roald Dahl )     Đặng Lệ Khánh           Khi ông William Pearl qua đời, ông chẳng để lại được nhiều tiền bạc gì, và chúc thư của ông cũng giản dị. Ngoại … Tiếp tục đọc

*** Chờ Tàu Về Sân Ga

Trương Thị Thanh Tâm 

ao trang1
Em mỗi ngày vẫn đợi 
Chuyến tàu về sân ga 
Ngừơi đi cơn mưa muộn 
Nước mắt buồn chia xa 
Một lần đi để lại 
Trăm nỗi nhớ riêng mình 
Chưa nói câu hò hẹn 
Mà nghe sầu vây quanh 
Sân ga trời thương nhớ 
Kẻ ở và người đi 
Lời thề thầm biệt ly 
Đã bay xa vời vợi 
Tiếng còi tàu bối rối 
Theo nhịp bánh xe lăn 
Đã khuất rồi vầng trăng 
Đời bao nhiêu nhánh khổ 
Mấy mươi năm vẫn nhớ 
Lời tình cho riêng ta 
Đời vẫn xanh màu lá 
Đợi tàu về sân ga 
           
Trương Thị Thanh Tâm 
    Mytho 

*** Văn Hóa Khoanh Tay: “Tôi là Người Việt Nam”

Thư viện của bài

This gallery contains 1 photo.

Lê Hữu Chào khách đến nhà, tranh Phạm Hoan Tôi nhớ, năm đầu đặt chân đến Hoa Kỳ, phần muốn học hỏi về ngôn ngữ và văn hóa xứ người, phần muốn tìm lại không khí “sân trường, lớp học” … Tiếp tục đọc

*** Vẽ Với Bóng Mình

Hoa Nguyên

ao tranhve
Dường như có dường như không
Ra.. ai hát giữa mênh mông không ngờ
Dẫu quanh đây rất ơ thờ
Nghe con sóng vỗ bơ vơ muôn trùng..
Hẹn lòng nước cuốn tao phùng
Hẹn ngày lửa đó khói đùn thác mây
Cây phiền muộn rũ nghiêng đài
Vàng trong cỏ úa rụng vài xác xơ
Chừng nao qua tới bến bờ
Trên dòng mực kẻ bất ngờ chuông kinh
Nghĩa trong tử cõi phù sinh
Về đây vẽ với bóng mình khói sương..
Câu kinh sám hối nỗi buồn..
Thắp lên như khói bình hương tạ từ
Bay bay một cõi mơ hồ
Hồn ta tro bụi đến bờ viễn du
Thôi ta ngựa cúi vó mù
Màu thời gian chết ngục tù ngày kia
Đi về đâu buổi chia lìa
Đường mây bóng ngã chừng khuya mất rồi
Trần ai nào dễ cuộc chơi
Nghe ra thoáng đã bời bời bước chân
Với tay chào cuối con đường
Con sông đã chảy vô thường phù vân
Còn đây một chút tình gần
Tìm trong hạt bụi bao phần trùng lai
hn.

*** THƯƠNG ƠI ĐỒNG ĐỘI!

Ý Nga

linh chien
Kính tặng những CHIẾN SĨ QL VNCH đã vượt thoát được ngục tù bằng đường bộ
*
Rời tù nhỏ, ta ra nhà tù lớn
Thôi giữ đồn, hết chào đón đạn xuyên,
Thôi chiến trường, hết di tản cao nguyên,
Mà vượt ngục vùng tam biên vất vả.
Nghe nhớ quá đường rừng từng phong tỏa
Cộng mấy bầy ngụy lá, vẫn nhận ra
Nhớ buôn Thra cô sơn nữ hái trà
Đôi mắt đẹp màu rừng khuya hoang dại.
Mưa tầm tã, nhớ bùn lầy doanh trại,
Nhớ bạn bè biền biệt cuối chân mây
Đứa nhảy dù, đứa tăng viện bủa vây
Ngày nắng dãi, đêm mưa dầm đi kích,
Đứa tận lực, sa trường lưu chiến tích,
Đứa lìa đời với thương tích toàn thây
Ta làm gì cô độc giữa rừng đây?
Có vượt thoát khỏi vũng lầy cộng sản?
Không bại trận, bao mộ phần căm phẫn?
Bạn bè ơi! Uất hận cả quân đoàn
Bãi đáp quân cùng đối diện tử thần
Sao nay phải cô đơn tìm đất sống?
Ý Nga, 8 tháng 8.2018.

*** Vacation With God – Đi Nghỉ Với Thiên Chúa

Joe Hung Nguyen

1minh

I guess most if not all of us take vacation at least once a year, right?

We rest and enjoy good relaxing time, No works, no cooking, no cleanup, no cutting grass, no project dead line, no pressure, no anxiety, no everything except you and your love ones with the sun, ocean, cruise, beach, mountain, casino, reunion, or ski resorts, etc… Somehow we all look forward to that precious time of relaxing, calm. peace and harmony.

But have you ever looked forward to taking a vacation with God, to talk or confide with Him, to walk or jogging with Him, to smile and laugh with Him, or to even complain. I guess some if not many have.

And so have I.
I took one week of Silent Retreat in early July. You might call it a Retreat but I call it a Vacation with God.

One week of no noise, no talking, no TV, no internet, no cell phone, no music, no worry, no everything.

One week with just me, peace, quietness and our Lord God. And yes, I did walk and jog with Him, talk and confide with Him, read the bible with Him, write poetry with Him, pray and thank Him for all the graces and blessings I have received, praise and glorify Him.

It is also the time to look deep into my heart, my soul, and my spirit vision; and judge myself on the things that I’ve done and failed to do, words that I’ve said and failed to say. And to focus on Him and on His love and accept Christ as my Lord and ask him take away my blindness, sinfulness and iniquities, broadens my awareness and compassion, enlarges my sense of family and community and opens my eyes, my heart for others in serving, in His love and will.

I also confessed to Him my sins, and He always smiles and forgives me.
I know for certain that He will never forsake me (or any of his dispersed children).
God inspired me to write this poem during this Vacation With God:

My New Me

Your blood that has been shed, washed away my old life,
New heart, new spirit and new vision, reborn was I,
My blindness and sinfulness were taken away,
In me, your light and wisdom shine.

My new me embraces your salvation,
I live by your statutes and commandments,
And praise You before all living being on earth,
I am, O Lord, I am a lowly servant.

You are my God, a spirit true in righteousness,
I shall always be your follower, a humble child,
In me, a spirit cross guides my direction,
Your sheep, O Lord, your sheep am I.
(JoeNguyen)

“Come away by yourselves to a deserted place and rest a while” (Mark 6:31).
“Come to me, all of you who are weary and burned, and I will give you rest” (Matthew 11:28)

God invites us to take a Vacation with God, so will you?

I already plan for next year, my wife and I, we will take this invitation to be on Vacation with God.

Đi Nghỉ Với Thiên Chúa

Tôi đoán hầu hết, nếu không phải tất cả chúng ta, ai cũng đi nghỉ ít nhất mỗi năm một lần, đúng không?
Chúng ta nghỉ ngơi và tận hưởng thời gian thư giãn . Không làm việc, không nấu ăn, không dọn dẹp, không cắt cỏ, không có dự án hết hạn, không áp lực, không lo lắng, không có gì ngoại trừ bạn và những người thân yêu của bạn với mặt trời, đại dương, du thuyền, bãi biển, núi, sòng bạc, đoàn tụ, hoặc nơi trưôt tuyết, vv … Bằng cách nào đó tất cả chúng ta đều mong đợi thời gian quý giá này để tẫn hưởng sự thư giãn, yên tĩnh. an bình và hòa hợp.

Nhưng bạn có bao giờ mong đợi được đi nghỉ với Thiên Chúa, để nói chuyện hay tâm sự với Ngài, để đi bộ hoặc chạy bộ với Ngài, để mĩm cười và cười với Ngài, hoặc thậm chí than phiền. Tôi đoán một số nếu không có nhiều đều nghĩ đến.
Và tôi cũng thế.
Tôi đã lấy một tuần để đi dự Cấm Phòng Im Lặng (Silent Retreat) vào đầu tháng Bảy. Bạn có thể gọi đó là Cấm Phòng (Retreat) nhưng tôi gọi đó là một kỳ nghỉ với Thiên Chúa.

Một tuần không có tiếng ồn, không nói chuyện, không có TV, không có internet, không có điện thoại di động, không có âm nhạc, không lo lắng, không có mọi thứ.
Một tuần với tôi cùng an bình, yên tĩnh và Chúa của chúng ta. Và vâng, tôi đã đi bộ và chạy bộ với Ngài, nói chuyện và tâm sự với Ngài, đọc kinh thánh với Ngài, làm thơ với Ngài, cầu nguyện và cảm tạ Ngài cho tất cả những ân sủng và phước lành mà tôi đã nhận, ca ngợi và tôn vinh Ngài.

Đó cũng là thời gian để nhìn sâu vào trái tim, linh hồn, và hướng vọng tinh thần của mình; và phán xét bản thân mình về những điều đã làm và không chịu làm, những lời tôi đã nói và không chịu nói. Và để tập trung vào Ngài và vào tình yêu của Ngài và chấp nhận Đấng Christ là Chúa của mình và cầu xin Ngài xóa bỏ sự mù lòa, tội lỗi và gian ác của mình, mở rộng nhận thức và lòng từ bi, mở rộng ý thức về gia đình và cộng đồng và mở mắt, trái tim mình để phục vụ cho người khác, trong tình yêu và ý chí của Thiên Chúa.

Tôi cũng thú nhận với Ngài về tội lỗi của mình, và Ngài luôn luôn mỉm cười và tha thứ cho tôi.
Tôi biết chắc chắn rằng Ngài sẽ không bao giờ từ bỏ tôi (hoặc từ bỏ bất kỳ đứa con lưu lạc nào của Ngài).

Đức Chúa Trời đã ban cảm hứng để tôi sáng tác bài thơ này trong ký Nghỉ Với Thiên Chúa:

Cái Mới của Tôi

Máu của Ngai đã đổ ra, rửa sạch cuộc đời xưa cũ của tôi,
Trái tim mới, tinh thần mới và tầm nhìn mới, đã tái sinh tôi,
Sự mù lòa và tội lỗi của tôi được lấy đi,
Trong tôi, ánh sáng và sự khôn ngoan sáng suốt của Ngài tỏa sáng.

Tôi mới ôm lấy sự cứu rỗi của Ngài,
Tôi sống theo các điều luật và điều răn của Ngài,
Và ca tụng Ngài trước mọi người sống trên trái đất,
Tôi là, Chúa ôi, tôi là một tôi tớ thấp hèn.

Ngài là Thiên Chúa của tôi, một linh hồn đích thực trong sự công chính,
Tôi sẽ luôn là người theo chân Ngài, một con chiên khiêm tốn,
Trong tôi, cây thánh giá chỉ đạo hướng dẫn tôi,
Con chiên của Ngài, Ôi Chúa ơi, con chiên của Ngài là tôi.

Hãy đi tẻ ra trong nơi vắng vẻ, nghỉ ngơi một chút
“Hãy tự mình đi đến một nơi vắng vẻ và nghỉ ngơi một chút” (Mác 6:31).
“Hãy đến với tôi, tất cả các bạn đang mệt mỏi và bị đốt cháy, và tôi sẽ cho bạn nghỉ ngơi” (Ma-thi-ơ 11:28)

Hỡi những kẻ mệt mỏi và gánh nặng, hãy đến cùng ta, ta sẽ cho các ngươi được yên nghỉ.

Đức Chúa Trời mời chúng ta đi nghỉ với Đức Chúa Trời, vậy bạn có nhận lời không?
Tôi đã dự tính cho năm tới, vợ tôi và tôi, chúng tôi sẽ nhận lời mời này để được đi nghỉ với Thiên Chúa.

Joe Hungx Nguyen

*** Viết từ chuyện có thật

Phạm Trung Thu

00cogai hinh ve

( Viết từ một chuyện có thật)Từ ngày đơn vị về đóng quân ở vùng này,Quân như suy tư hẳn lên.
Các bạn trong đơn vị thường hay chế nhạo chàng đã bị một bóng hồng nào đó chế ngự.
Thật ra Quân đang theo dõi một người,một Dì Phước thì đúng hơn.Nàng thường ra tập hát cho đám học trò nhỏ của ngôi trường sau Nhà Thờ.Dáng dấp tha thướt trong áo dòng trắng và gương mặt dịu hiền đã làm rung động con tim của chàng lính trẻ.
…Quân là một Trung Úy BĐQ,cuộc đời quân ngũ đã đưa anh đi đến không biết bao nhiêu miền của đất nước và cũng đã gặp nhiều cô gái trẻ đẹp nhưng chưa bao giờ chàng cảm thấy bâng khuâng để nghỉ đến tình yêu.
Bây giờ trớ trêu thay,sự rung cảm lại đến thật bất ngờ bởi hình bóng người nữ tu kiều diễm,Quân thấy ước vọng của mình không bao giờ đạt được.Tuy nhiên chàng không thể quên nàng dù biết đó là một mối tình vô vọng.
Những lúc không hành quân,buổi chiều Quân thường thả bộ ra vòng rào Nhà Thờ nhìn những đứa trẻ con tập hát.Mỗi lần đám học học trò trở vào lớp chàng lại rẽ vào Nhà Thờ đọc một kinh Lạy Cha rồi trở ra.
Tôi dể ý đến cử chỉ của Quân vì tôi và hắn thân nhau nhất đơn vị.Một hôm tôi hỏi:
_Tao thấy hình như mày đang buồn?
Quân nhìn tôi:
_Sao mày biết?
_Biết chứ ! mày đã chẳng nói với tao bao giờ buồn mày siêng đến với Chúa sao?
Quân bật cười:
_Có lẽ.
Rồi không đợi tôi hỏi,hắn nói thầm thì:
_Phong ! mày có tin là tao đã bị tiếng sét ái tình không?chính tao cũng không ngờ,mà cái tao không ngờ nhất là người tao yêu lại là một Dì Phước.
Quân lôi tôi vô phòng rút dưới đầu giường ra một quyển tập bìa nâu,Quân lật trang đầu,tôi hoa mắt bởi giòng chữ:
* NHẬT KÝ CỦA MADALEINE THỤC CHI *
Như sợ tôi không hiểu,Quân nói:
_ Tao đã làm quen được đứa học trò thân tín nhất của nàng và nhờ nó…mà tao có được,đây mày đọc đi rồi biết.
Tự dưng tôi cũng thấy hồi hộp,tay tôi hơi run khi lật trang đầu,những dòng chữ màu mực tím rất đẹp…
***1h trưa…
Lạ quá,giấc trưa sao mình không chợp mắt được,có cái gì buồn buồn,nghèn nghẹn chận ở cổ họng mình thì phải?có lẽ vì mình vẫn còn tức chuyện hồi sáng…ai đời mình đã 18 tuổi rồi mà anh Hào cứ gọi mình là bé con:<<Thế nào,bé Chi năm nay làm cô Tú rồi,giỏi quá…bé có khao anh không nào?…>>Mình muốn gân cổ lên cãi lại thấy Mẹ đứng gần đó tủm tỉm cười nên thôi,tức ghê người gì mà thấy ghét quá chừng.
***3h chiều…
Mình vừa tắm xong thật thoải mái,số là trưa nay mìng được nghe một mẫu chuyện <kỳ cục> giữa Ba và Mẹ,mình nghe Mẹ nói:
_Cậu Hào đã thưa gì với ông chưa?
Ba gật đầu:
_Có rồi,trước đó thằng Lâm con trai mình cũng đã có nói với tôi rằng nó muốn mình gã con Thục Chi cho cậu ấy.Tôi đồng ý nhưng không biết ý con gái mình ra sao?bà là Mẹ nó,gần gũi,dò ý nó thử xem…
***2h sáng…
Thế là xong,thoát nạn…
Mình cứ hồi hộp đến phút <coi mắt> của đàng trai thôi,run gần chết…có lẽ mặt mình trông quê lắm,cả Hào cũng thế,anh chàng cũng ngẫn tò te ra trông đến tội.Hôm nay mình mặc áo dài xanh màu mạ non Mẹ bảo mình trắng và đẹp lắm,lại có tí son phấn trang điễm nữa.Mình chào hai họ xong liền chạy vào phòng quỳ dưới chân dung Đức Mẹ mĩm cười.Chưa bao giờ mình sung sướng như vậy.
***4h chiều…
Trời ơi ! Sự thật có thể như thế sao ? Hào chết,anh Lâm chết vì trận đánh hôm kia thật ư? Mình không tin vạn ngàn lần không tin như thế.Nhưng sự thật vẫn là sự thật,Mẹ đang khóc kia!Mình bỏ học chiều nay để chờ tin Ba đi đưa quan tài về…Chúa ơi,Đức Mẹ ơi ! sao lại có thể như thế được…
Hào ơi,anh mới giã từ em tuần trước đây mà,tháng sau là đám cưới chúng mình rồi,sao anh bỏ em mà ra đi , anh Lâm ơi,anh em sống cạnh nhau bao nhiêu năm trời anh xa em không lời từ giã…
***6h chiều…
Mình lại nghe thêm tin gi thế kia? Ba mất,xe bị cán mìn…
Ôi ! lạy thượng đế con nghẹn rồi biết nói gì bây giờ…
Mình chạy vô phòng ôm tượng Mẹ khóc tức tưởi , dường như Mẹ đang dỗ dành mình…Mẹ đang dỗ con hở Mẹ…con khổ quá Mẹ ơi…nước mắt con cạn mất rồi.
***9h sáng…
Thế là Ba,Hào và anh Lâm đã vĩnh viễn dưới lòng đất lạnh.Mẹ mình bệnh li bì suốt cả tuần nay,bà không ngớt gọi Ba và anh Lâm trong cơn mê sảng.Mình lo quá,bây giờ chỉ còn hai Mẹ con thôi…
***3h khuya…
Mình đã quyết định rồi ! Mình sẽ đi tu !Sẽ từ bỏ vùng kỷ niệm êm ấm này để vào ẩn mình trong tu viện . Mẹ đã theo Ba,mình còn gì nữa để bám víu làm lẽ sống?Mình không biết trên đời còn có người thứ hai chịu những khổ đau như mình không?
Lạy Mẹ Hằng Cứu Giúp,xin người giúp con,con yếu đuối,con không còn thiết sống và chỉ muốn hủy hoại thân xác này.Nhưng Chúa đã tạo nên con,con không có quyền hủy hoại nó.Xin Đức Mẹ nhân từ giúp con quên đi những hình ảnh đau buồn,để tươi cười dâng mình trong tay Mẹ.

Những dòng chữ nhảy múa trước mặt tôi,tôi như vẫn còn trôi trong những cãm nghĩ chua xót đến tê tái,bàn tay Quân đặt nhẹ lên vai tôi và giọng hắn đầy xúc động:
_Thê thảm Phong nhỉ ! Tao không ngờ người tao yêu lại trãi qua quá nhiều đau đớn đến như vậy.
Tôi gật đầu đồng ý với Quân,mắt buồn buồn hắn nói:
_Tao nuôi mối tuyệt tình mày biết rồi , tao có lỗi với Chúa với Đúc Mẹ là đã thầm thương đứa con yêu của người,tao chỉ ước mong mày giúp tao một điều.
Tôi chưa kịp hỏi Quân đã nói:
_Sáng mai tao đi hành quân,mày làm ơn đích thân mang quyển nhật ký này trả lại cho nàng dùm tao và nói với nàng rằng trong đời tao chỉ một lần yêu và yêu chỉ một người : Đó là nàng.
Thấy tôi ngần ngại Quân khẩn thiết:
_Giúp tao đi Phong,tao van mày…chỉ có mày mới đủ thân tình để hiểu và giúp tao.
Quân dúi quyển nhật ký vào tay tôi rồi bước vội ra khỏi phòng như sợ tôi từ chối .
Chuyến hành quân sáng hôm sau,Quân bi vướng đạn và tử thương trên đường về quân y viện.Tôi nhận hung tin ,nước mắt rướm ra trên bờ mi chai cằn của người lính trận.
**********************
Tôi y lời Quân tìm cách gặp soeur Madaleine để trao trả cuốn nhật ký và nói lại lời cuối của thằng bạn thân ký thác.Nghe tôi nói,đôi mắt của người nữ tu như long lanh ướt,giọng nàng nghẹn ngào xúc động:
_Cám ơn ông đã cho tôi lại quyển nhật ký này,tuy tôi đã hiến dâng trọn vẹn linh hồn lẫn thể xác cho Chúa và Đức Mẹ , tôi vẫn cãm xúc trước tình cãm của người bạn ông đã dành cho tôi nhất là người ấy đã chết.
Gương mặt kiều diễm của Dì Phước Madaleine thuần lại . Tôi không còn ngạc nhiên vì sao Quân lại yêu mê gương mặt đó.Trước khi ra khỏi sân Nhà Thờ tôi nói với người nữ tu:
_Cuốn nhật ký của soeur đã ghi quá nhiều hình ảnh đau thương,nhưng tôi xin soeur hãy ghi thêm tên một người nữa,đó là Trung Úy Nguyễn Hữu Quân người bạn bất hạnh của tôi.
Tôi quay đi nhưng bên tay tôi còn văng vẳng tiếng của người nữ tu dịu dàng đuổi theo tôi trong gió chiều cuối đông:
_Có lẽ…thêm một ray rức trong sổ đời…Lạy Mẹ Hẳng Cứu Giúp xin thêm nghị lực cho con…

*** Tiếng Thu

Nhật Quang

ao dai ngoi

Em có nghe?
Thu về trong sương sớm
Gió thầm thì…
Nhẹ trải nắng vàng mơ
Mây giăng giăng
Phố chiều nghiêng lá đổ
Phím loan trầm
Man mác ngập hồn thơ

Em có nghe?
Thu vàng xào xạc lá
Nhè nhẹ vương
Lên suối tóc mây bay
Bờ vai nõn
Ngọc ngà ôm dáng lụa
Hương Thu mềm
Ngan ngát cúc vàng say

Em có nghe?
Thu trao lời ân ái
Giấc mơ hồng…
Đêm nguyệt vọng lả lơi
Ta nhắp cạn
Chén tình Thu đắm đuối
Ngọt lời yêu…
Còn đọng mãi bờ môi.

(Sài Gòn)

*** Tôi là người Việt Nam

khê kinh kha

 

tôi là người Việt Nam
xác thân của Mẹ Âu Cơ
ra đi từ Động Đình Hồ
hơn 4 ngàn năm trước
dân tôi nghèo nhưng đầy tình thương
đất tôi cằn nhưng lắm can trườngvn11
này Lê, này Lý, này Nguyễn, này Trần
này bao xương máu đắp nền Việt Nam
một giang sơn gấm vốc kiêu hùng

tôi là người Việt Nam
trái tim là rừng Trường sơn
trên xác thân thơm mùi lúa chín
đôi cánh tay sông Hồng và Cửu Long
4 ngàn năm đi trong khói lửa
dựng nên một giang sơn từ ải Nam Quan cho đến Cà Mâu
một non nước oai hùng rục sáng khắp năm châu

nhưng than ôi,
hôm nay quê hương tôi đang trong gông cùm tàn bạo
của một bọn cướp của hại dân bán nước cho Tàu Cộng
vì sao đánh đập những ngươi dân yêu nước của tôi
vì sao dâng cho Tàu Cộng những mảnh đất quê hương mình
mà tổ tiên đã đổ bao xương máu để bảo tồn
và vì sao bỏ tù người anh em tôi
và bao nhiêu con dân yêu nước yêu tư do, yêu tôn giáo
đang trong ngục tối

tôi là người Việt Nam
dù thân tôi có tan nát vì bạo tàn
dù tôi có bị tù ngục và tra tấn
tôi vẫn can trường đứng lên
đứng lên bảo toàn tổ quốc
đứng lên phá tan ngục tù tăm tối
đứng lên đánh đuổi bọn giặc Tàu chiếm nước
dựng lại hoà bình cho giống nòi
đòi lại tự do cho đất nước Viêt Nam của tôi

tôi là người Việt Nam
ngàn đời vẫn là người Việt Nam

khê kinh kha