*** CỤM RƯỢU TÀN PHAI

VÕ CÔNG LIÊM

giữa mùa trăng vỡ
mộng chưa thành mà đã phôi pha
tôi . ngậm dư âm vào biển nhớ
em . tàn dư lệ một chiều hoang
ngoảnh cổ hề tư cố hương
ngoài kia thả tóc lang thangruou tinh
theo gió về ngã bóng hoàng hôn
núc cạn chén
một hồ trường
cụm rượu tàn phai chung phí thủy
giữa trời lãng đãng ngất ngây gió
nào hay trời đất nghiêng ngả say
giữa hồn với xác như ma dậy
cho tới khi về
một kiếp vong thân
lá ngủ trên tay
cụm hoa bẻ gió
vườn ôm nắng chết
đêm nhuốm màu mắt
màu mắt nâu phai
căn nhà bậc khóc những cành liễu rụng trên đầu ngón tay
chìa đôi cánh nhỏ bước vào vùng trăng ngẫm câu thơ mọn
chén rượu tàn cơn say lúy túy giữa chốn ta bà một mình ta
sờ vào ngũ giác em từng ngón xuân nồng nắng ướt viền môi
con sông kỳ cùng chảy theo hồn phế đế như lộ thảo đầu phô
cho ngọn sóng triều dâng một thời lộng ngọc. em ở đó
tôi điêu tàn . cổ tích chiêm thành nằm ôm lòng đất nhớ
chất đầy mộng mị trên gò má tháng năm hoa phượng nở
tôi . uống cạn một đời ôi giông bão
em . thả trôi theo vận mệnh lênh đênh

ngã bóng thời gian
cho mây chẻ gió
đá thở ngậm ngùi
cho mai một thôi
tôi
đứng
chịu
tang ./.

ca.ab.yyc. đầu 8/2018)

*** Con Đường Phượng Xưa

Trương Thị Thanh Tâm

phuong9
Cho tôi tìm lại ngày xưa
Cho tôi về với cơn mưa thuở nào
Phượng hồng cơn gió lao xao
Nón che ngực áo, bước mau lối về

Cho tôi tìm thuở đam mê
Theo anh nhặt cánh phượng rơi bên đường
Nắng chiều hoa sứ tỏa hương
Ngây thơ chân sáo, mắt buồn vu vơ

Tôi về với tuổi thờ ơ
Vầng trăng cổ tích, giấc mơ ngọt ngào
Tôi về nghe điệu ca dao
Cánh diều thuở nhỏ bay vào ước mơ

Đâu còn hình bóng ngày thơ
Người đi xa biết còn chờ đợi ai
Cũng đành làm cánh chim bay
Mang theo một mối tình say qua cầu

Thôi thì ta đã nợ nhau
Quê người xứ lạ, biết sao quên buồn
Tình thơ gởi chốn cố hương
Người ơi có nhớ con đường phượng xưa ?
Trương Thị Thanh Tâm
Mytho

*** Mai Nhớ Về Pleiku Người Nhé

Thủy Điền

ao dai trang 1

Mai nhớ về Pleiku người nhé
Tình phố núi đang mời đón ai
Anh cũng là người đứng bên vai
Vươn cánh dài hân hoan chào đón

Mai nhớ về miền cao, núi ngọn
Thăm cảnh rừng, đất đỏ Bazan
Thăm Phú cường, thác Ba, Bầu cạn
Thăm biển hồ, thủy điện Yali

Mai nhớ về Pleiku người nhỉ
Miền đất ấm thắm tình duyên quê….!
Cây, lá, cành nặng trĩu Cà- Phê
Đang ngát mùi hương đưa….làn gió

Mai hãy về Pleiku người nhớ
Ngàn sắc thắm đang chờ khách xa
Nơi đã từng một thuở phong ba
Nay trưởng thành….quê hương từng bước

Mai nhớ về Pleiku…..Sơn cước
Nhìn cô gái núi rừng Gia rai
Vai vác gùi leo non đội nước
Khoe dáng chiều, áo ……. cẩm hay hay

Mai nhớ về Pleiku người hãy
Chiêm…bản làng, Sơn nữ Ba na
Đêm lửa rừng ngồi quanh nhảy múa
Tay vỗ đều, giai điệu bài ca.

 Thủy Điền

24-07-2018

*** Quảng-Bình: quê hương hang động của Việt-Nam”

Thư viện của bài

This gallery contains 1 photo.

An-Tiêm MAI-LÝ-CANG (Paris 1-9-2015) Sơn-Đoòng là một trong những hang động đẹp mê hồn trên thế giới Sau ngày thống nhất nước nhà, sau ba mươi năm đắm chìm vào trong hoàn cảnh chiến tranh tàn phá toàn cõi quê … Tiếp tục đọc

*** Gịot Buồn

Nhật Quang

00cogai hinh ve

Gởi T L
Anh thả vào tim em
Từng giọt buồn, nỗi nhớ!
Những đêm dài trăn trở
Chập chờn giấc chiêm bao…

Nhặt tiếng lòng xuyến xao
Gom vần thơ kỷ niệm
Tâm tư chùng lưu luyến
Bao hoài niệm mênh mang

Chiều góc phố thênh thang
Hoàng hôn buồn nhạt nắng
Sương giăng trầm lẳng lặng
Hương đêm lạnh bờ vai

Mơ em trong vòng tay
Đường yêu đương lạc lối
Nhuốm loang màu lỗi tội
Rưng rưng mặn bờ môi

Đêm gối mộng đơn côi
Nghe sầu dâng da diết
Nỗi lòng anh, ai biết?
Tan nát cả hồn thơ

Yêu em chỉ là mơ…
Đời trái ngang, dâu bể
Thôi tình nầy, em nhé!
Ngàn đời mãi nhớ thương.

Nhật Quang
(Sài Gòn)

*** THÁNG 3, THÁNG 7

Hoà Nguyễn

mua 2

Tháng ba của người
Tháng bảy với tôi
Tuyệt vô âm tín
Hư Aỏ chơi vơi!

Tháng ba đợi người
Tháng bảy mưa nơi
Bóng chim tăm cá
Tình trong buông lơi !

Tháng ba tự người
Tháng bảy tự trời
Thả vòng dây buộc
Những sợi mây trôi…!

Trôi từ viễn xứ
Một cánh chim trời
Châu về hiệp phố
Vòng tay lả lơi

Là lời từ tạ
Vang vọng đất trời
Có loài mưa lạ
Qua những trùng khơi

Mưa từ nơi nơi
Vỡ trong đất mới
Hạt nào buông lơi
Về khi chưa tới

Tháng ba với người
Tháng bảy rong chơi !
Tung lung cánh gió
Về nơi.. Về nơi…

Tình trong im hơi!
Trôi cứ xa xôi
Về miền Hạ cuối
Lạ tiếng chim rồi

Tĩ trong sáng ngôi
Trong chừng mực chơi
Từ là tiêng tiếc
Biệt dấu bồi hồi

Buồn rơi lả lơi..
Trong lá tả tơi
Người ơi! với người!
Và tôi.. với tôi..

 

*** Mưa Hạ/ Mưa Hạ(2)

 Võ Công Liêm

mua5

  Mưa Hạ

đêm nghe mưa
đổ xuống tàn dư lệ lên cánh tay dài mộng ủ thời gian
một đời ngơ ngáo thổi lung tung . ngọn phi lau ngã
con chim cô độc tôi . âm vang một thuở
trên bước đường tùng lộ một sớm mai nào hay
kiếp giang hồ trôi nổi đứng ngóng đời nổi trôi
theo nhịp thở hôn mê . khói nuốt đời hư ảo
mộng giang đầu là mộng chết không nguôi
em
hứng gió để đưa mây về cội
ta
dun dủi một thời vùi dập trái tim đen
ngoài những đôi môi ngọt lịm hừng hực cháy
lên quầng mắt biếc thâu đêm nỗi nhớ
mưa sổ lồng vào giấc ngủ ướt mộng mị . ngập tràn tinh thể chảy
hút cạn trong em hơi thở bạc phù du
căn nhà uốn mình theo thời gian . táo bạo trườn vào khoảng trống say đêm
ám ảnh hóa thân vi khuẩn . co vào thân thể em thêm miên man
bàn tay ốm lạnh . đoái hoài nghìn xưa lên tầng mây tha hương thơm
đột qụy sự sống . virus tràn lan khuấy động đời du thủ yêu em
đêm nghe mưa . sâu hoáy tâm hồn . thủ dâm bằng mắt em trong xanh
mưa hạ!
mưa hạ!
đưa ta về mộng mị vu vơ trên đồng cổ chiên thần thoại lúa ngô khoai sắn
tất suất!
tất suất!
tiếng ai oán hay lòng ta ai oán . mưa trào như nước dâng . ôi hạ nở khi nào?
nơi em
tự hổ dư hương
nơi ta
một loài dị điểu
 
một đời
 băng hoại
 nhói đau ./.

(ca.ab. yyc. trăng non 6/2014)

muaMưa Hạ (2)

năm giờ sáng
nghe mưa dậy
như lệ ứa
lên mắt môi
tưởng đông về che khuất trời dị biệt
cho tóc phơi gió cho mây ngàn vần vụ chớp mưa nguồn
ngày đó rất xa trên con đường đầy cỏ hoa yêu dấu
mắt môi là chùm sao vỡ . bầy chim thả cửa khung trời
em . tỉnh vật mùa đông bên tách cà phê một sáng nào
thành phố khép đôi chân lạnh . chợt nhớ hồn nhiên em
tôi . là dấu chân chim lang thang chín nẻo đường trần
của đông tàn thu rụng hạ cháy xuân qua một đời vẫn nhớ
đột nhập vào thân thể em trong từng ngõ ngách chật hẹp . em
những phím ngà như lệ rơi của tháng ngày mưa khóc thôi xoa
đột nhiên mùa hè trở lại . căn nhà cháy rụi . vừng trăng mọc
đêm ôm lá chết . nhật nguyệt trao thân . cây điệp trổ bông
mưa bảo bùng xô xát sau lần cửa khép . chim vụt bay
con sông trầm mình cho nước cuốn mây trôi về cõi xa mờ xa
ngọn núi vắt ngang thuở tình tôi gió tạt mưa xan một buổi đi về
tôi và em nằm phơi cánh cỏ cho gió ngáp chẻ tóc tràn mi mắt
để ngọn cỏ bồng bay vào trí nhớ hoang đường miên man cánh gãy
vi dã hoàng hôn một chiều nuốt bóng cho mây đứng khỏa thân đen
mưa thở cho đời thêm xanh lá cho nắng thả hồn hoang giữa bãi không

em . nước mắt khô không lệ
tôi . con chim bạc màu sương
giữa trời
mưa hạ ./.

VÕ CÔNG LIÊM (ca.ab.yyc. 15/7/2018)

*** Chuyện Tình Tây Đô

Thơ Minh Giang
Nhạc Quốc Thái
Tiếng Hát Diệu Hiền

Đêm Tây Đô nồng nàn bóng tình nhân
Vai kề vai sao chưa thấy thật gần
Bến Ninh Kiều trăng vàng soi lóng lánh
Áo ước chung đời tròn vẹn nghĩa ân

Ta trao nhau tấm chân tình tuyệt mỹ
Buồn chia ly dâng hoài cảm thiết tha
Phương này nghe hoang sơ chiều phố thị
Vương vấn trong tim kỷ niệm ngọc ngà

Năm tháng dần trôi sương mờ giăng ngõ
Bao niềm lưu luyến trao gởi về anh
Nuôi mái tóc cho ngọn dài thương nhớ
Dù bây giờ như làn khói mong manh

Thuyền tình lênh đênh trôi lạc bến mơ
Tâm hồn xa vắng sầu mộng vần thơ
Đôi mắt vời trông mây trời xanh biếc
Theo dòng thời gian phai mối duyên tơ….

Giây phút tương phùng tà dương nghiêng bóng
Hương xưa dịu dàng nhẹ thoáng ru êm.
4/2018
Minh Giang

*** TÌNH KHÚC BỐN MÙA

 Nhật Quang

00anh

Nắng Xuân e ấp bên thềm
Mượt mà suối tóc nhung mềm buông lơi
Em xinh, nét thắm cười tươi
Dáng mềm như dải lụa phơi nắng hồng

Trời xanh trong suốt mênh mông
Áo em mỏng quá để lòng ta say
Giật mình, sáo nhỏ vụt bay
Đong đưa nhánh phượng gió lay Hạ vàng

Quyện hương liễu rũ mơ màng
Tiếng ve tiễn hạ, vội vàng bâng khuâng
Xạc xào cánh lá đầy sân
Em đưa tay níu Thu ngần sương mơ

Thuyền trôi bến mộng…lững lờ
Chiều nay ai đứng lặng chờ bên sông
Cầu mong em phận má hồng
Yêu đương ấm áp, khi Đông lạnh về.

Nhật Quang
(Sài Gòn)

*** Thơ khẩu hiệu/Stop/ thơ cóc

Hoàng Xuân Sơn

 

bien may mat troithơ khẩu hiệu

cái lưới ngăn quả lóng lướt qua
người cứ vượt
vượt
          vượt
trường sơn trùm ảo tưởng
sá gì tường lửa cát cứ biên phòng
vượt qua lửa
chúng cơ động mình chủ động
người người vượt qua biển
biển hát tân tòng
vượt tới tâm đồng
mọi nẻo đường căng khẩu hiệu
đả đảo bọn cầm dây
cho lũ ác thả diều

tháng 7/2018

STOP

   [chúng vờ vịt làm người lương thiện]
hãy chặn đầu bọn hung thủ luồn lọt núp bóng tự do
bây giờ là thằng cu bé
mai mốt tới thằng cu lớn
chúng âm thầm kế sách tháo chạy
[rì rò như nước giọt]
sau khi vơ vét cạn đáy thủng nồi miếng cơm manh o người dân
chúng âm mưu lạy dâng đất nước cho ngoại bang
đám lù phù tởm lợm
để kéo dài chút nguỵ quyền trấn áp

STOP chúng lại. bọn tội phạm thế kỷ
điểm mặt
từng tên
từng tên
đừng cho chúng lọt vào
chiến tuyến lương tâm nhân loại

mười lăm tháng bảy 2018

thơ cóc

tôi nghiến răng
tôi là cậu ông trời
tôi muốn trời đánh thức giùm bọn hỏa lú
lửa cháy tư bề
bọn chúng hãy còn đang nhảy múa tưng bừng vui đùa dưới địa ngục
xà nẹo ôm nhau quên cả đường về
chúng luôn vỗ ngực tự xưng
đỉnh cao trí tuệ vô sản chân chính
thực chất là một lũ đần độn ngu dốt
trấn lột hết mình
bạ cái gì cũng vơ vét bán chác
thậm chí khố- sờn- áo- rách- hương- hỏa- bàn- thờ- ông- cố- ông- sơ- ông- bà- ông- vải
chúng vô gia đình vô tổ quốc
chỉ chực chờ luồn cúi xin làm đầy tớ kẻ thù
ông trời làm ơn đánh động giùm
đầu óc mù mờ bọn rao mõ đầu đường xó chợ
cho chúng nhớ cha mẹ chúng là ai
tổ quốc chúng là gì
đất nước chúng nằm đâu

tôi bây giờ bất lực
biết làm gì ngoài việc                nghiến răng
[tôi cậu ông trời]
tôi xù xì
tôi cóc

hoàng xuân sơn
thứ sáu mười ba
tháng 7/2018

*** Còn Gì Đâu Người Hỡi

  khê kinh kha

dao diep son

 vùng dĩ vang đã bao lần chổi dậy
để nghe đời hiu quạnh kiếp tha hương
ôi nỗi nhớ như đại dương cuồn sóng
vẫn muôn đời vổ mãi niềm nhớ nhung

 ôi đường đời đầy những đêm mưa lạnh
rơi vào lòng từng giọt lệ xót đau
thành phố xưa còn bao vét kỷ niệm
và lòng sầu thổn thức đến nghìn sau

 vầng trăng cũ héo mòn trong mong đợi
quê hương buồn thêm tội những đêm khuya
bao rượu đắng giữa đêm dài vô vọng
gió lạnh lùng lay động ngàn xót xa

 co`n gì đâu quê hương xa ngàn dặm
còn gì đâu bao yêu mến ngọt ngào
còn gì đâu những tháng ngày tuồi mộng
còn gì đâu, người hỡi, vạn sầu đau

 còn gì đâu non nước rách tả tơi
còn gì đâu thương nhớ vẫn đầy tay
ôi mộng ước theo tháng ngày tàn úa
giữa tim này giòng lệ vẫn tuôn rơi

 khê kinh kha

*** cái đầu nằm đâu

Hoàng Xuân Sơn

ao tranhve

đầu dây mối nhợ cũng vì . . .

trong bất cứ tình huống nào
ai biết cái đầu nằm đâu?
cái đầu biết sử dụng cái đầu
sẽ vô cùng lợi hại
đa số những bàn thắng tuyệt đỉnh của môn túc cầu
[bạn thấy đó World Cup 2018]
là những cú đội(đánh) đầu thần tốc
cuộc chơi nào cũng cần đầu óc
thậm chí binh pháp
xưa nay đầu óc vẫn chỉ đường cho sức mạnh
[kẻ sĩ xưa vì đầu óc mù quáng
bị tà thuyết dụ hoặc lợi dụng]
vẫn là vấn nạn cái đầu nằm đâu?
nay biết ăn năn dù muộn màng
cũng đáng ghi vào bảng điểm
“Dắt tay nhau đi, dưới tấm biển chỉ đường của trí tuệ”*
đầu óc tỉnh táo
có thể đánh động lương tri mù lòa của túi tham
hỡi những cái đầu chúi vào miếng ăn
hãy mở mắt đàng sau gáy
tỉnh thức lên bạn ơi
để cho trí khôn chỉ lối đưa đường
hãy xuống đường bằng triệu con tim
dùng đầu óc đập chết
lũ không đầu

hoàng xuân sơn
tháng 7 sôi máu
*Hà Sĩ Phu

*** RU TÌNH

 Nhật Quang

1ao dai trang

Mi ngoan hãy khép giấc say…
Cho em gối tạm ngực gầy của anh
Đêm vàng áo nguyệt long lanh
Ru ngây ngất phút mộng lành bên nhau

Để anh gỡ mối tơ nhàu
Đong đưa…em giấc mơ đầu yêu đương
Đêm trầm khẽ níu vấn vương
Ngực thơm còn thoảng mềm hương căng đầy

Trái tình ngào ngạt hây hây
Chạm tay nâng nhẹ…nhấp say môi nồng
Ngủ đi em…giấc mơ hồng
Chắt chiu khoảnh khắc bềnh bồng hương yêu.

*** khẩn cấp

Hoàng Xuân Sơn

maytroi

chỉ có lật đổ bọn chúng
mới hi vọng sống còn

tôi không cần thưa gởi
tôi cóc cần kiến nghị
tôi không tuyên cáo tuyên cầy
chả có gì sất góp ý
đừng thậm thụt
vô ích
đối thoại với lũ dịch vật
còn tệ hơn súc vật
đáng gì đồng nát với xà bần

chúng ăn hết cả phân
nuốt toàn gạch
chúng-câm-điếc-đui-mù
vô ích
bởi chúng có thấy đâu nghe đâu
chúng bóp hầu bóp họng nhau ra rả
lắm đứa hùa theo
khốn nạn
cả bọn mù chữ
đù đèo nhau lên ăn trên ngồi trốc
khóa miệng thằng dân
khốn nạn
bọn thú tánh thấp hèn
chuyên luồn trôn bợ đít

tôi không việc gì lý tới bọn chúng
đếch thèm giáo dục bọn lưu manh tùng đảng
từ thằng đầu trộm tới con đuôi cướp
tôi chỉ muốn đào lỗ chôn hết bọn chúng
như chúng đã chôn đồng bào tôi
ngày lại ngày
trước sau không ngừng nghỉ

hoàng xuân sơn
25,26 juin 2018
 

*** TƯƠNG TƯ / TÀN TÍCH YÊU

Thơ Tử Thụy

TƯƠNG TƯ

mến tặng TC…
Chiều rơi, chiều rụng, chiều nghiêng!
Chiều loang tím vệt mây triền tương tư
Ừ thôi anh cũng hồ như
Ừ thôi em cũng từ từ mà quên …
Ừ thôi cũng một cái tên
Ừ thôi không nợ bắt đền ai đây
Ừ thôi một kiếp cỏ cây
Bên đường rũ mộng trả vay cuộc cờ…
Chiều nay nắng chết đồi mơ
Gió rung rẩy lá bên bờ nhân gian
Mắt trời rướm những vệt loang
Anh không về lại ghé ngang – một lần …
Có xa đâu mấy nẻo trần
Bên kia thu trẩy hội sân cúc vàng
Bên em đào cũng chín mang
Ngăn câu gia giáo buộc ràng chi duyên …
Biển xanh lòng sóng truân chuyên
Cưa đôi xuân gặm trinh nguyên tuổi mình
Nói đi kẻo lỡ ba sinh
Chỉ lời gió tạm đăng trình hồn mưa…
Thương yêu em biết có thừa!
Sao ngôn ngữ ngậm ngải chưa thành hình
Em đâu cần khách chung tình
Cách mây nước bóng vô minh …vậy mà…
Anh khư khư giữ ngọc ngà
Sợ đêm em úa, lệ oà lên trăng
Tại sao thế hỡi phải chăng
Tình kia chưa chín trĩu oằn tim nhau…
Lại chiều mây ngự bên rào
Bài ca Cỏ úa hôm nào anh ca
Em nâng niu tợ thịt da
Ấp ôm bóng huyễn để mà nhớ quên …
Lại chiều chết nắng lên thơ
Japan đào có nở chờ mùa yêu
Có bao giờ nghĩ ít nhiều
Cái cô con gái với điều trở trăn…
Có bao giờ nhớ – có chăng?
Tình em xin cất dẫu rằng không yêu!
TT…(LA)

TÀN TÍCH YÊU

Chờ nhau mãn cuộc luân hồi
Em về từ độ thai phôi góc trần
Làm thân tùng bách bên sân
Dầm mình hái mộng thu phân chuyện mình…

Đêm oà trong gió vô minh
Lá rơi nhuốm lạnh bóng hình lên trăng
Thềm rêu xanh gót xưa hằn
Vệt chai sạm khoé mắt ăn năn – người…

Chờ nhau hỡi gió mây ơi!
Gặm đời trổ một cuộc chơi- ta bà
Em từ huyễn vóc mà ra
Ta từ cát bụi xây nhà hư vô…

Tóc vương liễu rối bên hồ
Tay thơ nhạt nét son tô vội vàng
Tơ trời phủ khói mây hoang
Mộng thiên thu gửi theo tàn tích yêu…
TT…

*** Con Chó, Văn Học và Dân Tộc

Đặng Tiến

00chochocho

Con mèo, con chó có lông,
Cây tre có mắt, nồi đồng có quai

Câu hát giàu chất thơ, nằm ngoài cái hay từ chương, học được ở nhà trường hoặc qua sách vở. Lời thơ đơn giản trong từ vựng cũng như bút pháp, và không mang một lượng thông tin nào đáng kể cho người nghe, vì chỉ nói lên những điều hiển nhiên, tầm thường, người người đều biết. Lời nói xem như không có nội dung, mà vẫn đứng vững được đời này sang đời khác ; như vậy, câu nói tự lấy mình làm nội dung, ngôn ngữ tự lấy mình làm cứu cánh. Đấy là một câu thơ đích thực, theo quan niệm hiện đại. Mà lại là một câu thơ hay, phần nào nhờ giàu nhạc tính, phụ âm k luyến láy ở những vị trí trọng yếu, làm nổi bật động từ có, vừa là sở hữu (avoir) vừa là hiện hữu (être). Bộ lông là hiện thân, là thành phần bản thể tự nhiên của con mèo, con chó. Câu thơ gợi lên một không gian im lìm, thân thuộc : mảnh vườn, góc sân, xó bếp, trong tâm trạng thư thái, hạnh phúc, tin cậy vào cuộc sống. Phong cảnh ở đây ngưng bóng thời gian, ngoại quan là một tâm cảnh, một tâm cảm dù không có chữ nào diễn đạt tâm tình.

2217 1 ConCho VanHoc Dantoc DangTien
Giấy cắt – Vink 2006

Dù vậy, không phải ai ai cũng thích ; Xuân Diệu đã chê gắt gao : « đó là một kiểu mẫu về câu thơ vô vị (…) trần trụi như mèo chó đã bị vặt lông ( !) và nghe đến nó thì ống tre cũng không hứng thú gì mà có mắt nữa » ( !) (1).

Tệ đến thế là hết nấc !
Về chó, ca dao ta còn có câu cực hay :

Bực mình con chó nhỏ sủa dai
Sủa nguyệt lâu đài, sủa bóng trăng lu

Nhà thơ Tô Thùy Yên, khi trích dẫn câu này, đã bình luận :

« nhóm từ ‘nguyệt lâu đài’ không rõ nghĩa, nhưng dàn dựng cho lời thơ một cảnh sắc hoang đường lạ lẫm. Thi tính, đôi khi nếu chẳng phải là thường khi, vượt ra ngoài những diễn luận thông phàm. Một trong những kỳ tích của thơ, có lẽ cũng của tình yêu nữa, là ôm cõng được cái thực tách khỏi chỗ thường nhật. Cái thực trong thơ là cái thực ròng » (2)

Tô Thùy Yên sành văn học dân gian và do đó dè dặt hơn Xuân Diệu. Câu ca dao trách con chó sủa dai, phá giấc ngủ, lúc nào cũng sủa được : trăng lu cũng sủa, trăng sáng lại sủa. ‘Nguyệt lâu đài’ là cảnh trời mây huy hoàng tráng lệ khi trăng bỗng nhiên rực rỡ, đối lập với ‘bóng trăng lu’.

Thơ Xuân Diệu :

Đêm nay rằm yến tiệc sáng trên trời…
…Trăng đĩa ngọc giữa mâm trời huyền bí

Thơ Hàn Mạc Tử :

Trăng tan tành rơi xuống một cù lao
Hóa đài điện đã rất nên tráng lệ
(Phan Thiết)

Điều lạ làm lạc hướng Tô Thùy Yên, là một người thơ dân gian, vô danh, không chuyên nghiệp, đã sáng tạo ra được hình ảnh ‘sủa nguyệt lâu đài’, tân kỳ, hư ảo và diễm ảo.

***

Trong văn học thành văn, con chó cũng đã góp mặt rất sớm qua bài thơ Vô Đề, mở đầu Quốc Âm Thi Tập của Nguyễn Trãi, tác phẩm bình minh trong nền thi ca Việt Nam:

Ao bởi hẹp hòi khôn thả cá
Nhà quen xú xứa ngại nuôi vằn

Ngày xưa nước ta con chó không có tên, được ô theo màu lông, con vằn, con vện, con mực, con khoang… Vằn, vện cùng nguồn gốc ngôn từ, là chữ văn trong Văn Lang, văn hóa, văn minh ; có khi phát âm ra vân trong quả cau nho nhỏ, cái vỏ vân vân… Câu thơ Nguyễn Trãi : xú xứa nghĩa là xuề xòa, xuềnh xoàng ; ngại nuôi vằn vì bạn mình ưa lục lọi, nên tục ngữ có lời khuyên : chó treo, mèo đậy ; nhà thơ mải lo tiếp mây khách khứa, nguyệt anh em ắt không mấy để tâm đến việc đậy điệm, treo leo.

2217 2 ConCho VanHoc DantocDangTien
Vink – En passant le pont p.17
Tác phẩm Nguyễn Trãi còn lưu truyền đến nay là nhờ vua Lê Thánh Tông giải oan và ra lệnh sưu tầm ; Thánh Tông sống sót là do Nguyễn Trãi bao che, và lên ngôi nhờ công Nguyễn Xí phù lập. Nguyễn Xí lập sự nghiệp bắt đầu từ việc… nuôi chó : ông có tài điều khiển đàn chó săn hàng trăm con của Lê Lợi, trước khi cầm quân thời khởi nghĩa Lam Sơn và trở thành danh tướng.
Bóng dáng, tiếng sủa của con chó gắn bó với phong cảnh làng mạc Việt Nam, được Nguyễn Khuyến ghi lại bằng câu thơ tài tình :

Trâu già gốc bụi phì hơi nắng
Chó nhỏ bên ao cắn tiếng người

Lời lẽ nôm na, toàn những tiếng đơn âm, gợi lên phong cảnh, khí hậu buổi trưa hè Việt Nam trong những chi tiết độc đáo và chọn lọc, hơi thở mạnh của con trâu trong khí nóng bức và im ắng , khiến một âm hao nào đó của con người cũng đủ khuấy động không gian, làm giật mình con « chó nhỏ » thơ ngây. Câu thơ nôm na như vậy dễ làm người đọc quên nguyên tác bằng chữ Hán :

Ngọa thụ bì ngưu hư thử khí
Cách trì tiểu khuyển phệ nhân thanh

Bài này Nguyễn Khuyến làm để tặng người anh họ là Đặng Tự Ý và tự dịch ra quốc âm. Có lẽ câu thơ dịch hay hơn nguyên tác, vì hợp tình hợp cảnh hơn.
Thời thế đổi thay, con chó cũng đổi thay. Có lần Tổng đốc Nam Định là Vũ văn Báo, theo lệnh chính quyền Pháp, vời Nguyễn Khuyến đến nhà, có ý mời ra làm quan. Nguyễn Khuyến cùng đi với con cả là Nguyễn Hoan, vào đến cổng dinh tổng đốc thì gặp viên công sứ Pháp đi ra, lại bị con chó tây chồm lên cắn ; Nguyễn Khuyến hoảng hốt đẩy con ra chắn chó. Sau đó, trong câu chuyện với chủ nhân, ông đã làm thơ tức cảnh :

Hốt đáo nhĩ môn phùng nhĩ cẩu
Cấp tương ngô tử thế ngô thân
Tạm dịch :
Chợt đến cửa ngươi, gặp chó ngươi
Kíp đưa con mỗ thay thân mỗ

Không rõ đây là chuyện thật, hay là giai thoại , hư cấu theo chuyện Nguyễn Khuyến từ quan nhưng đẩy con trai, phó bảng Nguyễn Hoan, ra tham chính thay mình. Dù sao hình ảnh con chó tây xuất hiện ở đây, cũng đánh dấu một giai đoạn xã hội khác, đời mới, người mới, chó mới, như trong bài văn tế Ri-vi-e (Henri Riviere), chết tại trận Ô Cầu Giấy, năm 1883 :

Nhớ ông xưa
Mắt ông xanh lè, mũi ông thò lõ
Đít ông cưỡi lừa, mồm ông huýt chó

Loại chó tây này, càng về sau, càng rõ nét hơn như trong bài thơ Thăm bạn, 1937 của Võ Liêm Sơn (1888-1949) :

Lâu ngày đi thăm bạn
Đến ngõ chó tuôn ra
Những con to và béo
Tiếng sủa như đồng loa
Thấy chó biết nhà chủ
Làm ăn rày khá mà.
Thôi thế, cũng là đủ
Bất tất phải vào nhà.

Có những con chó làm cho con người gần nhau. Hay xa nhau.

Trong quá trình phát triển của đất nước, Nam Bộ gia nhập vào văn học muộn màng ; có khi nhờ vậy mà ít vướng mắc vào những kiêng dè đề tài, và đề cập nhiều đến chó.
Huỳnh Mẫn Đạt (1807-1883) quê Gia Định, có bài thơ đề cao công trạng chó, tự ví mình với con chó già, than thân chó, trách phận mình, lời thơ ưu ái :

Con chó già
Tuy rằng muông cẩu có ân ba
Răng rụng lâu năm nó phải già
Bởi đuổi hươu Tần nên mỏi gối
Vì lo khỉ Sở mới dùng da
Không ai trấn Bắc ngăn bầy cáo
Ít kẻ ngừa Tây giữ đứa tà
Mạnh mẽ khi xưa còn hớn hở
Bây giờ yếu đuối hết xông pha
(Hươu Tần, khỉ Sở : điển tích về việc tranh bá đồ vương thời Tần Hán, và nhiệm vụ săn bắt của loài chó)

Nguyễn văn Lạc (1842-1915) thường được gọi là Học Lạc, quê Mỹ Tho, có bài thơ nhiều người biết :

Chó chết trôi
Sống thì bắt thỏ, thỏ kêu rêu
Thác thả dòng sông xác nổi phều
Vằn vện xác còn phơi lửng dửng
Thúi tha danh hãy nổi lều bều.
Tới lui bịn rịn bầy tôm tép,
Đưa đón lao xao lũ quạ diều.
Một trận gió dồn cùng sóng dập
Tan tành xương thịt biết bao nhiêu.

Thảm cảnh một xác chó, dưới một góc độ nào đó, cũng ẩn dụ thân phận con người.
Nói đến Mỹ Tho, chạnh nhớ đến nhà thơ Phạm Công Thiện, quê miệt ấy, khoảng 1970, trôi dạt sống tại Paris, đi lang bang trong chợ trời Montreuil, có bài thơ thân phận :
Thân anh như con chó
Treo bảng bán chợ chiều
Một lần em qua đó
Con chó đứng nhìn theo…

Một bạn thơ khác, Luân Hoán có một thi phẩm tên Trôi Sông, lấy ý từ thành ngữ “lạc chợ trôi sông”, nói lên cảnh chìm nổi, trôi giạt của một thế hệ thanh niên. Bạn bè nghịch ngợm lại đùa, cho rằng anh lấy ý ở ca dao : Em như cục cứt trôi sông / Anh như con chó đứng trông trên bờ.
Dĩ nhiên là chuyện đùa vui giữa bạn bè thân thiết. Chốn văn học nghiêm trang, không ai dám nói thế.

Nhưng dường như các nhà thơ phía Nam ưa tả chó: Nguyễn đình Chiểu (1822-1888), tả cảnh lụt: Lổm xổm giường cao thấy chó ngồi. Tuy là cảnh hiện thực, nhưng ý lấy từ thành ngữ chó nhảy bàn độc, ám chỉ những tiểu nhân đắc chí trong cảnh mất nhà tan, bốn mặt giang sơn ngập cả rồi.

Giữa chó và lịch sử dân tộc truyền thuyết dân gian đã thiết lập mối quan hệ lâu đờI : An Dương Vương Thục Phán chấm dứt triều đại các vua Hùng, lên ngôi năm 258 trước Tây lịch, dời đô từ miền trung du Vĩnh Phú về miệt đồng bằng Sông Hồng. Vua định đô tại làng Tó (Uy Nỗ), rồi dời về gò Cổ Loa là theo chân… đàn chó, có lẽ là chó săn vì các thủ lãnh bộ lạc là những thợ săn lỗi lạc – Lê Lợi về sau cũng vậy. Con chó được vua sủng ái nhất, có lẽ là chủ soái đàn chó săn, cũng dời về Cổ Loa để lót ổ đẻ con. Ngày nay, dân địa phương còn chọn nơi chó đẻ để làm nhà, cho là đất phát phúc (3).
Ông vua xây dựng cơ chế quốc gia độc lập lâu dài cho nước Đại Việt là Lý Công Uẩn, sinh năm Giáp Tuất, 974, cầm tinh chó. Truyền thuyết kể rằng bà mẹ họ Phạm sống trong chùa, nằm mơ thấy thần chó đá và thụ thai. Sinh con trai, bà mang đến chùa Cổ Pháp và con chó bằng đồng của chùa bỗng sủa mừng ; Sư cụ là Lý Khánh Vân cho là điềm lành, ứng vào sấm ký của chùa, rước nuôi đứa bé và đặt tên Công Uẩn, cho mang họ của mình. Cậu bé theo học thầy Vạn Hạnh, thành đạt, làm tướng giỏi, sau lên ngôi vua, 1009.
Năm sau, Canh Tuất 1010, Lý Thái Tổ dời đô từ Hoa Lư về thành Đại La, gần Cổ Loa, đặt tên Thăng Long. Lúc dời đô, có con chó cái bơi từ Cổ Pháp vượt sông Hồng, theo vua, về lót ổ đẻ bên Hồ Tây, chỗ hồ Trúc Bạch bây giờ còn dấu tích. Truyền thuyết khác, kể rằng con chó Cổ Pháp vượt sông lót ổ đẻ trên núi Nùng, nên Lý Thái Tổ dời đô về phía ấy và chọn núi Nùng làm chính diện, lập đền thờ. Đại Việt Sử Ký Toàn Thư còn kể chuyện con chó châu Cổ Pháp, đẻ con sắc trắng có đốm đen thành ra hai chữ “thiên tử”, kẻ thức giả nói đó là điềm người sinh vào năm Tuất làm thiên tử, quả là ứng nghiệm (vào Lý Công Uẩn).

2217 3 ConCho VanHoc DanTocDang Tien
Chó – Champa – thế kỷ thứ 6

Dĩ nhiên đây là huyền thoại. Nhưng huyền thoại do đâu mà ra ? Học giả Kiều Thu Hoạch, trong một bài báo nghiêm túc, cho rằng do tục thờ chó đá cổ truyền, còn vết tích tại Hà Nội, như Tô Hoài đã kể cặn kẽ trong Chuyện Cũ Hà Nội, 1998, mục Con Chó Đá . Và một vài nơi khác ở Hà Tây, và Vĩnh Phúc. Ông Kiều Thu Hoạch trích dẫn chính xác nhiều sách Hán Nôm ghi lại những truyền thuyết về chó và vua Lý Thái Tổ (4).

Chế độ thuộc địa Pháp cáo chung vào năm 1945 và dẫn đến cuộc chiến tranh Việt Pháp. Người lính da trắng đầu tiên của Việt Minh là Erwin Borchers lấy tên Việt Nam là Chiến Sĩ và có lẽ là công thần ngoại quốc số một. Ông là lính lê dương gốc Đức, thuộc quân số Trung Đoàn 5 REI lừng danh, quan hệ với phong trào Việt Minh từ 1944 vì chuyện… một con chó ! Ông kể lại là đã chứng kiến hai cảnh ngộ : một đầu bếp Việt Nam thịt con chó của ông chủ người Pháp, thì lãnh một tháng tù ; còn anh lính lê dương đâm chết một phu xe Việt Nam vì kì kèo tiền xe thì lãnh 15 ngày tù : vậy sinh mệnh con người Việt Nam chỉ đáng giá nửa con chó tây. Đây là khởi điểm một ý thức chính trị đã đưa ông đến quyết định đào ngũ và hợp tác với phong trào giải phóng, chủ yếu là viết bài cho báo Le Peuple, về sau phụ trách huấn luyện, phục kích và địch vận, quân hàm thiếu tá (5).
Những ngày đầu toàn quốc kháng chiến, Quang Dũng là một tác giả hiếm hoi ghi lại đôi mắt con chó, khi Trung Đoàn Thủ Đô rút quân :

Nhớ buổi trung đoàn ta ra đi
Dân ta gánh gồng cả cơ nghiệp
Mái nhà trăm năm thôi để lại
Lạc chủ chó gầy mắt hoang dại
(1947, Sử Một Trung Đoàn)

Khi phát động du kích, 1947, những hy sinh hằng loạt đầu tiên, là những con chó, để bảo vệ bí mật chuyển quân. Hai mươi năm sau, 1968, trong vụ Tổng công kích Mậu Thân, những ngày áp Tết, loài chó, một lần nữa lại nhất loạt hy sinh. Sau trận tập kích, những con chó lạc chủ lang thang lại mất mạng. Cứ mỗi lần đất nước có biến động lớn lao, loài chó là những nạn nhân tiền tiêu. Và món thịt cầy cũng tùy nghi thăng trầm, phát triển, chúng tôi xin miễn dẫn chứng hay lý luận chi tiết ở đây, e mất vui ngày Tết.

2217 4 ConCho VanHoc DanTocDangTienBửu Chỉ – ký họa

Lạ một điều : thơ đương đại ít khi tả chó, dù nó vẫn là bóng dáng và âm vang quen thuộc của làng quê. Trong tập « Bức tranh Quê », 1941, Anh Thơ đã tả chó sáu lần. Huy Cận thường tả cảnh nông thôn, nhắc đến nhiều súc vật, mà dường như không tả chó. Hay là nhà thơ Ngô văn Phú, chuyên viên về đời sống nông thôn, trong một tuyển tập dày cộm gồm 400 bài, chỉ một lần tả chó, mà là chó đất làm đồ chơi, con tò he (6).
Người đọc khó bề giải thích sự việc này bằng chính sách, lập trường. Tuy nhiên ta có thể nhận xét trong thơ đương đại, những tác giả bên lề đường lối, lại thường nhắc đến chó : Phùng Cung trong tập thơ Xem Đêm, 1995, có đến những mười bài nói đến chó, Hoàng Hưng có nhiều bài thơ về đề tài này :
Chó Đen và Đêm (7)

1
Con chó
Con chó đen
Con chó đen chạy vào đêm
Đêm gừ gừ, ấm ấm

2
Chó đen sủa bông sứ máu

3
Chó đen ngửa mặt nhìn trăng

4
Chó đen rin rít những điều khó hiểu
Hồn ai đang lang thang trong đêm
5
Buồn quá chó ơi
Ai cũng bỏ ta rồi
Phì phì mày ghếch mõm vào môi

6
Chó đen sùng sục suốt đêm
Nỗi ngứa ngáy tiền kiếp
Phát điên vì không nói được

Chó ở đây không phải là một súc vật có thật – nó sẽ là chó Mực – mà biểu tượng cho bóng tối, đau thương, cô đơn, u uẩn, uất ức. Trong tập thơ Hành Trình mới đây, 2005, Hoàng Hưng lại có bài Chó Rừng u uất như vậy.
Cùng cảm hứng này, Tuệ Sĩ có bài Tĩnh Thất (8) dài 32 khổ, làm năm Tân Tỵ, hai khổ 5 và 6 như sau :

Lon sữa bò nằm im bên chợ
con chó lạc
đến vỗ nhịp
trời mưa
Tôi lang thang
đi tìm cọng cỏ
Nó nhìn tôi
vô tư..
Trời cuối thu se lạnh
Chó giỡn nắng bên hè
Nắng chợt tắt
Buồn lê thê.

Trong các bộ môn văn học nghệ thuật, thơ là một thể loại nặng tính cách chủ quan, riêng tây, nhưng ngược lại, cũng giàu chất đại đồng (universalité) nhất ; những câu thơ Tuệ Sĩ, Hoàng Hưng, Phùng Cung là cách nhìn, cảm xúc cá nhân, nhưng như xé ra những mảng da thịt rớm máu từ lịch sử dân tộc. Những biểu tượng tù đày, oan khiên, tuyệt vọng không nói nên lời. Để có cái nhìn thảm thiết kia, các tác giả phải trải qua những nghịch cảnh, những oan khuất. Họ không làm thơ ngẫu hứng, tự trào, ngâm vịnh buồn vui ; họ cũng không đẽo gọt những hình ảnh văn chương trác tuyệt lưu lại cho sử sách, do đó mà đã sử dụng hình ảnh con chó, vốn được yêu thương và bị nguyền rủa và… thưởng thức. Nghiệm trong lịch sử dân tộc gần đây, không ai, và không cái gì là vô tội, con chó cùng chung số phận : chó là một gia súc bán hợp pháp, một hồ sơ chưa kịp, hay chưa cần thụ lý.

Hình ảnh con chó đa dạng, đa nghĩa, hàm súc, thâm trầm và hoa mỹ nhất là trong thơ Tô Thùy Yên, tôi đếm được 15 lần trong hơn 30 năm – nhất định là thiếu sót.
Bài Vườn Hạ tạo nên không gian an bình, hạnh phúc, như thiên đường xanh những mối tình thơ dại trong thơ Baudelaire :

Mênh mang lưu thủy trường trăng lạnh
Con chó tung tăng giỡn bóng mình
Mương nước rì rào sao sáng thở
Đài hoa sương nạm hạt lân tinh (9)
Thơ Tuyển, tr.93

Tác giả không ghi thời điểm sáng tác ; dường như là khoảng 1974. Bài thơ gồm 17 khổ thật hay, về hạnh phúc của quê hương thơ ấu miền Nam Bộ. Trong không gian thiên đường xa xôi ấy, cảnh tử biệt sinh ly vẫn êm ả, thơ mộng :

Con chim lạc bạn kêu trời rộng
Hồn chết trôi miền dạ lý hương
Thơ Tuyển, tr.94

Nhưng chiến tranh đã ập đến. Cuộc tranh chấp năm châu thế giới đã òa ập xuống đầu một dân tộc nhỏ bé, trên quê hương mong manh trăng tơ và nắng lụa :

Xa nghe đợt gió lên cơn bão
Nhân loại quay cuồng biến đổi sâu
Bầy chó năm châu cắn sủa rộ
Quỷ ma cười khóc rợn đêm thâu…
Thơ Tuyển, tr. 46

Tiếp theo là hình ảnh con chó, trong bài Mùa Hạn, 47 khổ, làm trong trại tù Nghệ Tĩnh, năm 1979 :

Làng mạc giờ đây đã trống trơn
Con dê con chó cũng không còn
Người đi bỏ xác nơi bờ bụi
Miếu sạt, thần hoàng rũ héo hon
Con chó không còn, nhưng vẫn còn tiếng tru rân :
Cái chết tru rân giờ nguyệt tận
Máu bung từ mỗi lỗ chân lông
Mọi người nghe chính mình kêu rú
Liệu sáng mai còn ai nữa không ?
Thơ Tuyển, tr.104-103

Sau 13 năm tù, tác giả sang định cư tại Hoa Kỳ từ 1993. Bài Nhà Xưa, Lửa Cất Ủ, trong Thắp Tạ, gồm 21 đoạn, làm năm 1997 :

Nghe trong xanh thẳm thời gian
Dai dẳng
Tiếng con chó nhỏ bên hè
Sủa bóng trăng lu

Bàn thờ nhện giăng
Nói chi cơm cúng
Tội cho hồn con chó nhỏ vẫn nằm chờ
Mơ màng người chủ vừa ra đi.

Đây là cảnh ngộ của nhiều người, tiêu biểu cho một giai đoạn lịch sử. Nhà thơ gửi thêm vào một hoài niệm riêng :

Em đứng lại, khóc cựu tình sơ ngộ
Nghe hồn con chó nhỏ quấn mừng em.
Thắp tạ, tr. 60,62 và 66

Nhưng rồi con chó già đi, hao mòn ký ức :

Nắng mưa thấm thoát đời ta
Mối mọt căn nhà rệu rã
Đòi phen năm tháng cũ dò về
Chó già lạ hơi sủa
Chuyện đời như thất thiệt
Vàng đá còn không giữ nổi mình
Biết nhờ đâu xác chứng ?
… Quê nhà nghe nói có
Chỉ dấu tìm không ra
2002, Thắp tạ, tr.100-102

Con chó đeo đẳng mãi với thơ Tô Thùy Yên, càng ngày càng bi thiết. Trong bài mới làm hồi tháng 5-2005, anh tự xem mình là “Khất giả” :

Chỉ mong đồng loại chớ xua đuổi
Giờ này thế giới kín khuya khoắt,
Còn cửa nào cho ta gõ đây ?
Lũ chó sủa rong theo
Quả đáng ngờ vực, mọi nhân dạng (10)

Câu cuối chua xót : con người mất xứ sở, mất tài sản tinh thần, may còn tiếng nói tùy thân, mất niềm tin, nơi mình, nơi kẻ khác. Ngờ vực cả nhân gian, nhân dạng, cả nhân tình, nhân tính. Lũ chó sủa rong theo là một biểu tượng cay nghiệt và cay đắng.

Trong tiếng Việt, chó là lời nguyền rủa. Thường thường là nặng nề và oan ức. Con chó tự nó không có gì xấu; cái ta cho là xấu là do con người sai khiến, luyện tập. Trong hoàn cảnh xã hội đảo điên, lịch sử nghiệt ngã, chó trở thành biểu tượng u uất, đa nghĩa, như trong đoạn thơ Tô Thùy Yên dưới đây :

Chuyện kể cốt qua đêm, nề chi chuyện kể lại

Chó tru, miền xa tối rợn gai
Nơi hốc đá một cành hoa đợi sáng nở
Đi. Đi qua. Đi qua nữa. Đi qua nữa nữa.
2003, Thắp tạ, tr. 116

Làm nhớ thơ Phùng Cung :

Chạng vạng chiều – rơi
Trên xóm nhỏ
Con chó hoang
Ngoạm vành khăn tang
Rượt theo lòng xóm
Tới ngã ba – nhớn nhác
Lại cắm đầu rượt tiếp
Phía trước mặt trời đang tắt
Vầng trăng đang mọc phía sau
(bài Chạng Vạng)

Những lời thơ thống thiết. Nhưng vẫn còn lóe lên một tia hy vọng, với một cành hoa đợi sáng nơi Tô Lang hay vầng trăng đang mọc phía sau của Phùng Quân

2217 5 ConCho VanHpoc DanTocDangTien

Gia đình chó – Nguyễn Tú Nghiêm

Chúng ta đã thấy con chó gắn bó thế nào với con người, văn học và lịch sử Việt Nam. Vì gắn bó, nó thành liên đới và chia sẻ số phận với con người. Mà không cứ gì là người Việt Nam.
Chó làm bạn, làm đồng minh với nhân loại từ 15.000 năm nay, khắp nơi trên mặt đất. Chó thời tiền sử giúp con người săn bắt, bồi dưỡng chất đạm cho lương thực, chó canh chừng giấc ngủ an toàn cho chủ nhân. Ăn ngon ngủ yên, con người gia tăng sức lực, và thảnh thơi hơn, để phát triển kinh nghiệm, ngôn ngữ, tín ngưỡng, chăn nuôi, nông nghiệp, tổ chức xã hội, chính trị, kinh tế. Nói khác đi, chó là kết quả, thành phần và tác nhân của các nền văn minh, văn hóa văn hiến. Dần dà, có lúc, có nơi người phụ chó, chứ ít khi chó phụ người.

Ngày Tết, nói chuyện chó, là nhắc lại chút nghĩa cũ càng e một mai có lìa tơ ý..

Đặng Tiến