*** “Giáo Dục Giải phóng Con người”

Paulo Freire I

và chủ trương “Giáo Dục Giải phóng Con người”

 

( Paulo Freire : 1921 – 1997)

Paulo Freire sinh năm 1921 tại Brazil. Ông học Luật và Triết học, nhưng lại dấn thân vào công cuộc giáo dục đặc biệt cho giới tráng niên, nhằm gây ý thức cho đại chúng phải mạnh dạn tự giải thoát mình ra khỏi tình trạng áp bức nặng nề, tàn bạo của xã hội đương thời. Vì có tư tưởng và hành động cấp tiến như vậy, nên ông bị giới quân nhân cầm quyền bắt buộc phải sống lưu vong ở nước ngoài, từ năm 1964, mãi cho đến năm 1980, ông mới có thể trở về quê hương mình được.

trab-paulo-freire-1-638

Tại nước Chi lê, ông đã làm việc cho tổ chức văn hóa Unesco của Liên Hiệp Quốc, và Viện Cải cách Ruộng đất của chánh phủ Chi lê. Ông còn được mời tới làm việc tại Trung tâm Nghiên cứu về Phát triển và Biến đổi xã hôi thuộc đại học Harvard ở Mỹ (Center for Studies in Development and Social Change). Rồi sau này làm giám đốc chương trình giáo dục của Hội đồng Tôn giáo thế giới (World Council of Churches) tại Geneva, Thụy sĩ.

Năm 1970, ấn bản tiếng Anh “The Pedagogy of the Oppressed” (Giáo dục của Người bị Áp bức) của Paulo Freire đã gây một tiếng vang lớn trong giới giáo dục và hoạt động xã hôi khắp thế giới. Sau trên 40 năm, thì đã có hàng triệu cuốn được phổ biến rộng rãi qua nhiều lần tái bản, và hàng mấy chục bản dịch ra các thứ tiếng khác nữa. Ông là người đã cổ võ cho ý niệm “ Conscientizacao’ nguyên văn tiếng Bồ đào nha, mà bây giờ đã trở thành thông dụng khắp thế giới với tiếng Anh là “Conscientisation” (= Consciousness Raising, Critical Conciousness). Ta có thể diễn tả ý niệm này là : Sự thức tỉnh Ý thức và Suy nghĩ có tính cách phê phán.

Quả thật, chủ trương giáo dục có tính chất cách mạng triệt để của ông đã ảnh hưởng mạnh mẽ đến các phong trào giáo dục và xã hội cùng khắp thế giới. Và tư tưởng triết học của ông cũng ảnh hưởng đến nhiều ngành học thuật như thần học, xã hội học, nhân chủng học, sư phạm, ngữ học thực hành và nghiên cứu văn hóa (applied linguistics & cultural studies).

Có thể nói : Paulo Freire là một nhà tư tưởng có ảnh hưởng nhất về bộ môn giáo dục vào cuối thế kỷ XX ( the most influential thinker about education).

Bài viết này nhằm giới thiệu tư tưởng độc đáo và dứt khoát của ông. Đồng thời cũng lược qua về ảnh hưởng của tư tưởng này trong thế giới hiện đại, đặc biệt là tại các quốc gia vốn xưa kia là thuộc địa của thực dân Tây phương ở Châu Mỹ La tinh, Châu Phi và Châu Á. Để bạn đọc có thể dễ dàng theo dõi quá trình hình thành và phát triển tư tưởng của Paulo Freire, là một nhân vật tiêu biểu của trào lưu thức tỉnh và vận động xã hội tại Châu Mỹ La tinh là quê hương của ông, người viết xin được dàn trải việc trình bày trong 2 bài như sau :

Bài 1 / – Bối cảnh văn hóa xã hội của Châu Mỹ La tinh vào cuối thế kỷ XX.

Bài 2 / – Cốt lõi chủ trương “Giáo dục giải phóng” & Ảnh hưởng trong thế giới hiện đại.

I – Bối cảnh văn hóa xã hội của Châu Mỹ La tinh.

Châu Mỹ La tinh (Latin America) là khu vực nằm ở phía nam của nước Mỹ, mà xưa kia hầu hết đều là các lãnh thổ nằm dưới sự cai trị của hai nước Tây ban nha và Bồ đào nha. Hiện nay khu vực này có chừng 30 nước với tổng số dân là trên 560 triệu. Chỉ có Brazil với dân số trên 190 triệu là nói tiếng Bồ đào nha. Còn lại, thì tất cả đều nói tiếng Tây ban nha. Trừ một số rất nhỏ xưa kia là thuộc địa của Pháp, Anh, Hòa lan, thì vẫn còn nói tiếng như tại “mẫu quốc” cũ của họ.

Có tới 70% dân chúng trong khu vực theo đạo Thiên chúa giáo La mã (Roman Catholic). Và chừng 15% theo đạo Tin lành.

A – Tình trạng bất ổn trong thời kỳ chiến tranh lạnh.

Kể từ thập niên 1960 trở đi, khu vực này đã trải qua nhiều biến động về chính trị kinh tế, cũng như về mặt văn hóa xã hội thật sôi động, nhiều khi đưa đến những tranh chấp tàn bạo đẫm máu, do các chế độ độc tài thiên hữu, quân phiệt hay thiên tả gây ra. Nhiều cuộc đảo chính đã liên tục xảy ra, khiến cho xã hội luôn bất ổn định, và chế độ độc tài quân phiệt dễ có cơ hội được củng cố, và người dân bị dồn vào thế bị động, không thể hợp nhau góp phần vào công cuộc xây dựng và phát triển quốc gia được.

Lại nữa, vào giữa thời chiến tranh lạnh, nên phía Liên Xô đã tìm nhiều cách để gây ảnh hưởng của chủ thuyết cộng sản tại đây; điển hình là tại Cuba từ khi Fidel lên nắm chánh quyền năm 1959 và đã ngả hẳn về phía Liên Xô. Chúng ta hẳn đều còn nhớ việc Liên Xô cho đem thiết trí lọai hỏa tiễn tại Cuba nhằm hướng vào nước Mỹ, khiến xúyt gây nên cảnh chiến tranh giữa hai siêu cường Nga-Mỹ vào năm 1962, trước sự đối đầu nẩy lửa của hai lãnh tụ Kruschev và Kennedy.

Mà phía Mỹ, thì cũng tìm mọi cách can thiệp nhiều khi rất nặng tay tàn bạo, để bảo vệ toàn thể khu vực được gọi là“cái sân sau” (backyard) của riêng nước Mỹ; điển hình như có bàn tay của CIA trong việc lật đổ chế độ thiên tả của Tổng thống Salvador Allende tại Chi lê năm 1973. Rồi sau này vào thập niên 1980, thì phe Sandinista khuynh tả đã lên nắm được chánh quyền ở Nicaragua, với sự trợ giúp đắc lực của Cuba cộng sản cũng như của Liên Xô. Và chánh quyền Mỹ dười thời Tổng thống Reagan đã ra tay can thiệp mạnh bạo, để giúp phe đối lập Contras lập lại thế cờ tại đây. Đại khái đó là vài nét đại cương về ảnh hưởng của chiến tranh lạnh tại khu vực Châu Mỹ La tinh, từ hồi thập niên 1960 cho đến khi khối Liên Xô bị tan rã kể từ 1990.

B – Sự nhập cuộc của Giáo hội công giáo La mã.

Về phía Thiên chúa giáo, thì do ảnh hưởng của tinh thần đổi mới của Công đồng Vatican 2, trong giới tu sĩ và giáo dân tại khu vực đã có sự chuyển biến rất mạnh mẽ trong sự nhận thức, cũng như trong hành động của Giáo hội công giáo. Điển hình như trường hợp của Tổng giám mục Helder Camara của Brazil; ông là người rát năng động trong việc phục vụ và tranh đấu cho khối đa số nghèo túng, đến nỗi bị chụp mủ là “vị giám mục đỏ” (the red bishop). Ông nói chua chát như sau : “Khi tôi cho người nghèo ăn, thì người ta gọi tôi là một ông thánh. Khi tôi hỏi tại sao người nghèo lại không có thực phẩm, thì người ta gọi tôi là một người cộng sản!” Giám mục Camara và cầu thủ Pele’ là hai người xứ Brazil mà được biết đến nhiều nhất trên thế giới.

Lại có trường hợp vị Giám mục cấp tiến Oscar Romero ở nước El Salvador, ông còn bị chánh quyền cho dùng tay chân ám sát, ngay giữa lúc ông đang cử hành thánh lễ an táng cho bà mẹ của một người bạn vào năm 1980. Và đã có đến 250,000 người đến tham dự lễ an táng của vị mục tử kiên cường này, mà họ coi như là một vị thánh tử đạo (Martyr).

Cũng tại El Salvador, vào cuối năm 1980 đã xảy ra việc sát hại 4 nữ tu người Mỹ, do bàn tay của nhân viên công lực nhà nước. Sự kiện này đã gây sự phẫn nộ tột cùng của báo chí và công luận nước Mỹ, đến độ tạo thành áp lực buộc chánh phủ Mỹ phải có biện pháp răn đe mạnh mẽ đối với chánh quyền tàn bạo của El Salvador.

Cũng phải kể thêm về trường hợp của vị linh mục Camilo Torres ở nước Colombia, ông là một tu sĩ cấp tiến, được đào tạo tại đại học công giáo nổi tiếng Louvain bên nước Belgium ở Âu châu. Vì áp lực nặng nề từ phía chánh quyền Colombia, ông phải thóat ly theo hẳn phe du kích chống chánh phủ, và đã bị hạ sát vào năm 1966 trong một cuộc đụng độ với quân đội. Tên tuổi của Camilo Torres, cũng như của Che Guerava bị hạ sát năm 1967 tại Bolivia, thì đã trở thành một huyền thoại lôi cuốn giới trẻ trong toàn thể khu vực Châu Mỹ La tinh từ trên 40 năm nay.

Nhân tiện, cũng cần phải ghi lại cái thủ đọan cực kỳ độc ác là “làm mất tích” (disappearance), bằng cách thủ tiêu những người chống đối, mà cơ quan an ninh tại nhiều nước trong khu vực sử dụng, để đàn áp phong trào tranh đấu cho dân chủ tự do tại các nước này. Điển hình là tổ chức Các Bà Mẹ có con bị mất tích ở Argentina, đã liên tục trong nhiều năm tháng đến tụ hợp với nhau tại một quảng trường Plaza de Mayo trong thành phố thủ đô, để đòi hỏi chánh quyền phải cho công bố về các vụ mất tích này. Các tổ chức tranh đấu bảo vệ nhân quyền quốc tế như Hội Ân xá Quốc tế (Amnesty International) cũng đã thâu thập được khá nhiều chứng từ về các trường hợp “ người bị mất tích” (disappeared persons) tại nhiều quốc gia trong vùng, mà có nơi con số này lên tới nhiều ngàn người. Rõ ràng chế độ độc tài nào dù theo phe tả như cộng sản, hay theo phe hữu như chế độ quân phiệt, thì cũng đều tàn bạo độc ác như thế cả.

C – Nền Thần học Giải phóng.

Châu Mỹ La tinh này lại còn là nơi phát sinh một trào lưu tư tưởng đặc biệt sôi nổi sinh động, đó là nền “Thần học giải phóng” ( Liberation Theology). Đó là cả một phong trào của các giáo sĩ và giáo dân phản ứng không khoan nhượng trước thực trạng xã hội đày rẫy bất công áp bức, bóc lột trong xã hội các quốc gia trong khu vực. Họ lục tìm trong Kinh thánh và trong Giáo huấn chân truyền của Giáo hội công giáo từ xưa nay, để xây dựng được một nhận thức đứng đắn, trung thực về vai trò dấn thân nhập cuộc của Giáo hội trong công trình giải thoát con người và xã hội khỏi các định chế chính trị xã hội hủ lậu, phản động và vô luân trong xã hội đương thời. Trừ một số nhỏ thiên về phía marxit cộng sản quá khích, còn đa số giáo sĩ và giáo dân đều giữ vững lập trường tranh đấu ôn hòa, bất bạo động của tôn giáo. Hệ thống tư tưởng tiến bộ này luôn được sự hưởng ứng của quần chúng giáo dân và giới chức sắc của giáo hội, mà tiêu biểu sáng ngời nhất là “Hội Đồng Giám mục Châu Mỹ La tinh (CELAM = the Latin American Episcopal Conference). Dưới sự thôi thúc của những vị lãnh đạo năng nổ, nhiệt tình như Helder Camara, Hội Đồng này đã biểu quyết thông qua chủ trương rất tiến bộ là : “ Giáo hội phải dứt khoát chọn lựa đứng về phía người nghèo” ( Church’s Option for the Poor).

D – Vai trò của giới trí thức và văn nghệ sĩ.

Trong khi đó, thì giới hàn lâm đại học (Academia), cũng như giới văn nghệ sĩ, đều sôi nổi góp phần vào công cuộc dấn thân phục vụ xã hội, mà điển hình là sự đóng góp thật là vĩ đại của Paulo Freire với chủ trương “Giáo dục Giải phóng Con người” như đã được trình bày rất khúc chiết trong cuốn “Pedagogy of the Oppressed”. Ta sẽ đề cập chi tiết vế tư tưởng này trong một bài sau.

Cũng cần phải ghi thêm về ảnh hưởng của phong trào trí thức tả phái phát xuất từ Âu châu, đặc biệt là từ thập niên 1950, đối với tư tưởng và hành động của học giới và văn nghệ sĩ tại Châu Mỹ La tinh. Khuynh hướng “Bài Mỹ” (Anti-Americanism) từ Âu châu đã làm tăng thêm sự hậm hực, ân óan vốn có sẵn từ lâu đời đối với sự thống trị và khuynh lóat của chánh sách bá quyền (hegemony) của nước Mỹ đối với tòan thể các quốc gia và lãnh thổ yếu thế, mà lại bị chia rẽ, phân tán ở phía Nam bán cầu (hemisphere). Lâu lâu, người ta vẫn nghe thấy dân chúng tại đây hô thật to cái khẩu hiệu “Yankees, Go Home” (Người Mỹ, Hãy Cút Đi!) mỗi khi có phái đòan cao cấp của Mỹ đi qua một số thành phố lớn. Điển hình là vụ phản đối rầm rộ, đến độ xô xát bạo hành đối với Phó Tổng thống Nixon của Mỹ trong chuyến viếng thăm Nam Mỹ vào năm 1958.

Lại nữa, chánh phủ Mỹ vì luôn bênh vực che chở cho giới tài phiệt Mỹ làm ăn buôn bán khai thác tại các nước trong khu vực, nên đã cho thiết lập và ủng hộ các chánh quyền cực hữu, độc tài mà được đặt tên một cách mỉa mai là “Banana Republics”, vì chuyên làm tay sai cho các đại gia chuyên môn khai thác trồng chuối để xuất cảng về Mỹ, hoặc khai thác các nguồn lợi thiên nhiên khác, để thu về được một số lợi nhuận khổng lồ cho các tập đòan kinh tế có độc quyền khai thác, mà điển hình là United Fruit.

Trước tình trạng bất ổn căng thẳng như thế, ta không lạ gì với sự chống đối quyết liệt như của những lãnh tụ mới đây như Tổng thống Hugo Chavez của Venezuela đối với nước Mỹ. Và qua đó, chúng ta có thể hiểu rõ thêm về phản ứng dứt khóat và triệt để của giới trí thức như Paulo Freire trong bối cảnh chung của khu vực Châu Mỹ La tinh vậy.

 

TQH/

*** Blood

Hoàng Xuan Sơn

hoa_hong_cau_vong_4_epwl

cái phông màn đỏ nhìn riết muốn nổ tròng con mắt
trời xanh đội mồ đi đâu
hỡi em áo trắng
đỏ đỏ đỏ
máu máu máu
nhìn đâu cũng thấy máu
ho ra máu
tiêu tiểu ra máu
mửa ra máu
chén cơm đoại máu
máu nhóp nhép đường phố
đỏ ngầu mắt hung tợn
máu nhão nhoẹt hồn đất cao nguyên
máu đảo điên lòng sông biển
máu lãnh hải gọi đất liền
máu rình rang học đường công sở
máu chất ngất nghị quyết nhà tù
máu tâm thần
cọ
quẹt
trên chóp bu ngọn cờ
áo xống lũ bất nhân

 hai mươi tháng sáu 2018

*** CHUYỆN NHỚ THƠ NHẬN NGƯỜI

Châu Thạch

chuyen tho

Đây là câu chuyện có thật, hai người trong cuộc vẫn còn sống sờ sờ, họ còn làm thơ và còn có dịp say bí tỉ cùng nhau.

 Chuyện là cách đây gần 50 nắm, có hai chàng thanh niên sống ở miền Nam đất Việt. Họ có học và đến tuổi nên bị động viên đi lính, vào trường võ bị sĩ quan Thủ Đức. Trong thời gian là sinh viên sĩ quan, họ không biết nhau. Trải qua chín tháng quân trường gian khổ, hai người ra bãi tập, đi giây tử thần, chạy đoạn đường chiến binh. Nói chung họ làm cái việc theo khẩu hiệu lúc bấy giờ là “Thao trường đổ mồ hôi chiến trường bớt đổ máu”. Sau đó họ ra trường mang quân hàm Chuẩn Úy.  Cả hai tân sĩ quan được binh chủng Pháo Binh tuyển dụng. Họ được đưa qua quân trường pháo binh Dục Mỹ, Nha Trang để tiếp tục tôi luyện tay nghề bắn súng loại nặng. Tại đây, họ ở chung  cùng một trung đội. Một hôm, trong giờ nghĩ giải lao, chàng sĩ quan có máu làm thơ nầy nổi hứng, ứng khẩu đọc to một bài thơ sáng tác đột xuất cho các bạn mình nghe. Bài thơ đó, tuy chỉ nghe một lần nhưng lại nhập tâm trong lòng, nằm mãi trong ký ức của một chàng sĩ quan có máu làm thơ khác.

 Người đọc thơ tên là Lê Đình Hạnh. Người nghe thơ một lần mà nhớ mãi  tên là Thái Quốc Tế, bút hiệu là Kha Tiệm Ly. Sau cuộc chiến, hai người cùng đi tù cải tạo. Được phóng thích trở về, họ sống cuộc đời bình thường, chỗ ở cách nhau hàng ngàn cây số: Đà Nẵng và Mỹ Tho. Bây giờ Thái Quốc Tế với bút hiệu là Kha Tiệm Ly đã nổi danh trên văn đàn với những bài thơ, những bài phú hào khí ngất trời. Lê Đình Hạnh vẫn lấy bút hiệu là Lê Đình Hạnh, ít sinh hoạt trên văn đàn, nhưng thơ anh làm say mê nhiều người trong giới thầm lặng. Hai người không những quên mặt nhau là điều chắc chắn bởi bao nhiêu biến đổi do thời gian, mà họ còn quên luôn tên của nhau nữa. Nhờ có facebook, họ kết bạn ảo với nhau. Rồi một hôm, họ nhớ ra nhau và nhận ra nhau nhờ Kha Tiệm Ly một lần nhắc lại bài thơ kia.  Lê Đình Hạnh từ Đà Nẵng bay vào Mỹ Tho gặp Kha Tiệm Ly. Họ uống với nhau suốt ngày đêm.

Bài thơ của Lê Đình Hạnh như sau đây:

CHỈ CÓ THẾ !
Nơi nghĩa trang vào một trưa mùa Hạ
Con chó đực long trọng bảo con chó cái rằng :_anh yêu em,
Ừ nhỉ ! anh yêu em.
Bỗng nhiên mặt trời thấp xuống
Bỗng nhiên người chết cựa mình .
Chỉ có thế
Chỉ có thế !
Mà người đời nguyền rủa .

Nơi nghĩa trang vào một trưa mùa Hạ
Con chó cái e dè bảo con chó đực rằng:_
Em cũng yêu anh
Ừ nhỉ !em rất yêu anh
Bỗng nhiên mặt trời oi bức
Bỗng nhiên người chết đứng dậy
Chỉ có thế !
Chỉ có thế !
Mà người đời nguyền rủa .

 Nơi nghĩa trang vào một trưa mùa Hạ
Hai con chó cùng yên lặng..
Ân hận vì những giọt mồ hôi đã đỗ ?
Mặt trời tản ra
Người chết nằm xuống.
Chỉ có thế !
Chỉ có thế !
Mà người đời lãng tránh…

 L Đ H.(1970 mùa hè Dục Mỹ Nha Trang)

 Đọc bài thơ nầy có lẽ nhiều người không hiểu Lê Đình Hạnh muốn nói gì. Thế nhưng trên đời có những bài thơ như thơ điên của Bùi Giáng, không ai hiểu gì nhưng không ai dám chê vì đọc nó, ai cũng có một cảm nhận tiềm tàng, ẩn sâu và mơ hồ thấy được cái hay của nó. Tôi không dám đem so Hạnh với Bùi Giáng, nhưng tôi biết một bài thơ mà tác động vào tâm hồn của một người dày kiến thức như Kha Tiệm Ly, gây ấn tượng mạnh cho cho một nhà thơ có bài “Lý Ngạo Đời” rất nghạo nghễ như Kha Tiệm Ly, để chỉ nghe một lần mà nhớ nó 50 năm, thì nhất định bài thơ ấy phải có gì đặc biệt.

 Với tôi, tôi cảm thấy rợn người khi đọc khổ thơ đầu tiên. Tôi cảm thấy những tiếng kêu răng rắc của hàng ngàn bộ xương trong nghĩa địa  cựa mình vì bất bình khi được nghe con chó đực tỏ tình. Tình yêu là quyền tự nhiên của mọi sinh vật mà đấng tạo hóa cho phép. Thế nhưng những thây ma trong nghĩa địa cho rằng chó không được yêu.

Rồi khi con chó cái chấp nhận tình yêu ấy, thì các bộ xương người đứng dậy. Phản ứng của loài ma quỷ nặng nề đến nỗi mặt trời cũng hạ thấp xuống và trở nên oi bức.

 Việc nầy chỉ có thể xảy ra ở nghĩa địa, nơi mà ma quỷ lộng hành, nơi mà những quyền thiêng liêng đươc tạo hóa cho phép  đã không được tôn trọng mà còn bị cho là phạm pháp.

 Thế nhưng tình yêu đã thắng sự phi nghĩa. Ma quỷ cũng phải đành nằm xuống khi hai con chó đổ mồ hôi để dành được tình yêu cho mình.

 Lê Đình Hạnh kể câu chuyện về chó và những bộ xương người trong nghĩa đia. Thế nhưng lạ thay, ở cuối mỗi khổ thơ anh đều dùng hai chữ “người đời”: “Chỉ có thế mà người đời nguyền rủa, chỉ có thế mà người đời lãng tránh”. Vậy thì chuyện tình yêu cúa chó trong nghĩa địa đã được đưa vào giữa xã hội con người. Nghĩa địa là hình ảnh của một xã hội băng hoại. Trong nhĩa địa ấy, loài bần tiện như chó nhưng biết yêu thì mang linh hồn con người. Ngược lại, các bộ xương khô, tuy đã từng là người nhưng nay họ là ma quỷ. Vì mang linh hồn ma quỷ, họ đoán phạt cả những lẻ phải, như đoán phạt tình yêu tốt đẹp  đang xảy ra tại nơi chốn của họ  !

Bài thơ nầy cũng có thể hiểu rằng cặp tình nhân loài vật đã làm cho những bô xương tuy khô héo nhưng vẫn còn tiềm tàng dục vọng, họ bi xung động gây hưng phấn bởi sự âu yếm của hai con vật. Thật ra, nếu tác giả chủ ý diễn tả như thế thì sẽ đưa cuộc tỏ tình vào một khung cảnh nên thơ hơn, một buổi sáng mùa xuân hay một đêm trăng sáng chẳng hạn, chớ không thể cho cặp diễn viên kia diễn xuất trong một buổi trưa hừng hực nóng. Hơn nữa các bộ xương người trở mình rồi đứng lên biểu hiện một hành động giân dữ và phản đôi rất rõ ràng. Nễu những bộ xương người đồng cảm với cặp tình nhân thì tác giả sẽ diễn tả những linh hồn thức giấc và ngồi dậy trong cử chỉ khoái lạc khi xem một màng kích dục mê ly. Trong thơ Lê Đình Hạnh hoàn toàn không nói đến điều ấy. Bởi thế,người viết buộc phải hiểu theo chiều hướng bất bình của các bộ xương trong bài thơ nầy vậy ./.

                                     Châu Thạch 

*** ƯỚC NGUYỆN CỦA NGƯỜI TỬ TÙ

MANG VIÊN LONG

chua hk

Sáng nay Công được chuyển sang phòng biệt giam khác nhưng cùng khu nhà của trại. Nhìn thoáng, anh biết phòng nầy chật hơn phòng giam cũ mỗi chiều khoảng gần một mét. Công ngồi xuống trên chiếc giường-bệ-xi-măng sát bên phải vách phòng, đưa mắt nhìn một vòng căn phòng lờ mờ ánh sáng. Bên kia cũng có một bệ-xi-măng” tương tự, có lẽ sẽ dành cho một người nào đó nữa. Đây là phòng giam cho những tử tù vừa qua vòng sơ thẩm của mọi tội phạm, từ hình sự đến chính trị. Qua chiếc cửa sổ duy nhất bằng vài thanh sắt ấp chiến lược ghép lại, mỗi cây cách nhau gần một gang tay, Công có thể nhìn thấy một khoảng sân nhỏ, hay một mảnh bầu trời xa trên cao. Không gian và thời gian của những con người ở đây đang thu hẹp lại. Cuộc đời vốn ngắn ngủi nhưng với họ thì không hề có ngày mai nữa.

Vài ngày sau, người quản trại mở cửa, đẩy vào phòng Công một người đàn ông trạc năm, sáu mươi, chỉ cho ông ta chiếc giường-xi-măng đối diện Công đang nằm. Công thầm nghĩ, lại có thêm bạn, đỡ buồn. Anh ngồi dậy – chào người đàn ông: “Anh phạm tội gì mà “chui” vào đến tận phòng nầy vậy?”

– Vượt biên. Còn chú mầy?

Giọng nói lơ lớ, không rõ của gã, làm Công nhận ra ngay gã là một “Ba Tàu”. Trông gã hơi ngớ ngẩn, hiền từ. Công nhếch môi, cười: “Chống nhà nước. Tử hình!”

Sống chung được gần tuần lễ, một buổi sáng – khoảng 3 giờ, gã thức dậy sớm như mọi ngày, nhưng lại bước sang giường của Công ngồi, nói tỉnh bơ: “Tôi thấy Đức Quan Âm ngồi trên đầu giường anh, đưa tay vuốt trán anh. Anh không chết đâu!”

Công khẽ cười: “Tội chống nhà nước, phản động của tôi như vậy, đã thành án sơ thẩm tử hình, sao lại không chết được? Ông nói nghe lạ quá!”

Gã chỉ nói thêm một câu: “Không chết, không chết đâu!’ rồi sang giường của mình, nằm im lặng, chờ mở cửa để đi làm công việc vệ sinh hằng ngày. Hai cái bô to đã đầy phân và nước tiểu cả ngày hôm trước còn để ở góc phòng, đang bốc mùi.

Lời nói đơn giản, thoáng qua của người bạn tù “Ba Tàu’ như có một mãnh lực vô hình, rất bất ngờ và tự nhiên, cứ ám ảnh Công mãi từ buổi sáng sớm hôm ấy. Suốt ngày đêm, ngoài lúc ngồi nhẩm học thêm các trang của quyển tự điển Anh văn “The Vest Pocket Dictionary” của vợ gởi vào cho, theo đề nghị của anh – Công thường nằm yên, thầm nguyện cùng Mẹ Quan Âm nếu cứu cho anh sống, cho anh làm được chút gì cho gia đình, cho người thân và mọi người chung quanh, thì anh vô cùng tạ ơn; nếu không, xin Mẹ Quan Âm cho anh được chết sớm.

Khoảng một tuần sau nữa, người bạn tù “Ba Tàu” chung phòng được tha – Công chia vui với anh: “Tôi tặng anh chiếc áo mới này do chính tay vợ tôi may, để làm kỷ niệm. Tôi không mặc nó lâu được đâu”. Người bạn tù đỡ lấy chiếc áo đã được Công xếp ngay ngắn – “Này, cảm ơn cậu, cảm ơn…” Công cười: “Nhưng anh nhớ cho tôi gởi một lá thư về cho vợ con tôi nhé?” – “Được rồi!”. Công viết vội cho vợ vài dòng thăm hỏi, báo tin sức khỏe, nhưng cốt yếu là viết cho hai con đang ở nước ngoài với người dì nuôi dưỡng, từ sau ngày anh bị bắt giam. Anh dặn dò hai con chăm lo học hành, khuyên đừng chơi bời lêu lõng theo đua đòi ở xứ người mà hư hỏng. Gắng tự học thêm được bao nhiêu, tốt bấy nhiêu, vì sự học bao giờ cũng cần, không bao giờ hết. Xếp vội thư lại, trao cho người bạn tù – Công dặn thêm: “Khi anh đến chợ gặp vợ tôi, anh nên mặc chiếc áo nầy, cô ấy sẽ biết chính là thư của tôi, nhé!” – “Được rồi, được rồi!” – “Chúc anh về với gia đình bình an, hạnh phúc!”

* * *

Công đã nằm chờ ở “khung” tử hình của vòng sơ thẩm gần một năm, đến vòng chung thẩm, Công vẫn bị xử y án. Nghĩa là chết! Khi có phán quyết của tòa, Công và số anh em chung trại, cùng án tử hình, được di chuyển sang khám Chí Hòa, chờ ngày thi hành án lệnh. Biết mình đã nhận cái chết trong tay, nhưng Công vẫn ngày đêm âm thầm khấn nguyện cùng “Mẹ Quan Âm” như đã từng tha thiết tin tưởng bấy lâu. Mỗi ngày qua, là một ngày sống với sự cầu nguyện. Công cảm thấy, sau mỗi lần lắng lòng, khẩn thiết thành tâm nguyện cầu, anh được an ổn hơn, Niềm tin ngày càng sáng hơn. Dường như sau mỗi lần cầu nguyện, Công như thấy được chút tia sáng le lói chiếu rọi vào trái tim khô héo, lạnh lẽo của mình. Lời nguyện cầu như một vị thuốc mầu nhiệm, đã khiến anh vượt qua bao ám ảnh của cái chết, nỗi đau buồn, và thất vọng, dằn vặt thúc giục anh từng giờ. Đồng thời, Công nhận ra rằng, anh còn sống, còn hít thở, còn nhìn thấy đời sống chung quanh, chính là nhờ vào sự cầu nguyện. Một lần, trong lúc thầm khấn, Công đã ước nguyện cùng Mẹ Quan Âm, khi được trở về anh sẽ xây dựng một ngôi chùa, để được gần gũi, ngưỡng vọng, và cúng dường chư Phật. Anh nguyện sẽ trao lại ngôi chùa cho một vị Thầy có đạo hạnh, có nhân duyên với chùa trông coi, để vị ấy trợ duyên lâu dài cho những người muốn tu học, muốn đi vào con đường lành, an vui sau nầy.

Một buổi sáng chủ nhật, Công được người quản trại đến mở cửa, gọi tên: “Anh được phép ra gặp người nhà!”. Công mặc vội áo quần, theo ngưởi quản trại ra khu tiếp tân. Vợ anh, đứa con trai út lên tám tuổi, và người anh cả trên sáu mươi của Công vẫn thường được đến thăm anh, bất thường như vậy, đôi lần trong năm, khi anh còn ở khu trại biệt giam sơ thẩm trước đây.

Đứng cách xa vợ con, và người anh khoảng một mét, Công đăm đăm nhìn con, cố ý không nhìn vợ. Anh không muốn để nàng thấy rõ nỗi đau buồn, gầy xanh hiện rõ trong mắt anh. Anh khẽ cười, trả lời to, rõ ràng những lời hỏi thăm của vợ và con về tình trạng sức khỏe; rồi dặn dò vợ lo chăm sóc con và bản thân, yên tâm chờ anh. Khác với vài lần trước, người anh chỉ nghe, nhìn, và cúi đầu – như cố che dấu những giọt nước mắt chực rơi xuống.

Hết giờ thăm, Công đứng yên, nhìn theo, đưa tay vẫy chào tiễn vợ con và anh đang lững thững từng bước trên con đường hẹp dẫn ra cổng trại. Công đứng đó, nhìn dáng người anh đi xiêu vẹo, như chực ngã, mà nghe lòng quặn thắt. Đứa con trai tám tuổi, không cầm tay mẹ như mọi lần, mà đi thụt lùi, mặt hướng nhìn anh, như cố thu hút hình ảnh của anh lần cuối, với gương mặt đẫm nước mắt tiếc nhớ.

Công quay vội trở về phòng, thoáng nghĩ rằng, đây có lẽ là lần thăm cuối cùng của gia đình dành cho anh. Giọng nói gắng gượng, ngập ngừng của vợ, sự im lặng của người anh, và nhất là đứa con trai quay nhìn khi chia tay như một lần vĩnh biệt. Anh nói với người quản trại đang đi theo sau: “Anh cho tôi mượn cây bút và tờ giấy…”

– Anh định làm gì?

– Tôi làm gì, anh đọc sẽ biết rõ thôi.

Một lát sau người quản trại mang đến phòng giam cho anh cây bút nguyên tử và tờ giấy manh. Công cảm ơn và kê giấy trên giường – bắt đầu viết: “Đơn tình nguyện xin đi bắn”.

* * *

Gần ba tuần nay, khu trại biệt giam phạm nhân nhận án tử hình quen dần với “thời khóa biểu” dành cho họ: Sau 4 giờ sáng thứ 5 nếu không bị mở cửa gọi tên ra đi, thì sẽ sống tiếp được đến sáng thứ 7. Sau 4 giờ sáng thứ 7, không bị gọi tên, sẽ được sống cho đến thứ 5 tuần sau. Phòng của Công đã hai lần được mở cửa gọi tên vào 4 giờ sáng thứ 5 và thứ 7. Lúc bắt tay tiễn người bạn ra cửa – Công đã có lần nói: “Anh vui vẻ đi trước nhé, anh em sẽ theo sau!” Có người đùa: “Nhớ đăng ký cho tôi một hộ khẩu ở dưới đó nhé!” Có người vừa nghe gọi tên qua cửa sổ, đã ngã quỵ, hay đái đầy quần.

Một lần, đúng 4 giờ sáng thứ 7, người quản trại trẻ đi ngang qua cửa sổ, nói lớn: “Anh Công chuẩn bị!” Công quay nhờ người bạn nằm phía trong lấy giúp thau nước, khăn lông, để anh rửa mặt trước khi ra đi. Công làm công việc chuần bị cho mình nhanh chóng, như đã sắp đặt trước từ lâu.

Vài phút sau, người quản trại trẻ lách cách mở cửa, nhưng đến gọi tên người đang nằm phía bên kia, không nhắc đến tên Công. Hôm sau, gặp lại người quản trại trẻ ấy – Công quát lên: “Anh là con gì? Có phải là con người không? Anh đùa giỡn được trên nỗi đau đớn, trên cái chết của người khác như vậy sao?” – Người quản trại vội vàng cầm tay Công – giọng run run: “Xin anh tha lỗi! Tôi biết lỗi rồi! Anh bỏ qua cho…”

Khoảng một tuần lễ sau khi Công nhờ chuyển “Đơn tình nguyện xin đi bắn”, một nhân viên của viện Kiểm sát thành phố, đã đến tận phòng gặp Công. Nhìn anh từ đầu đến chân, ông hỏi: “Nhân viên trại đã đối xử với anh thế nào, mà anh xin tình nguyện đi chết sớm vậy?”

– Thưa, họ vẫn cư xử bình thường với anh em.

– Vậy sao anh không thích sống, muốn chết sớm?

– Tôi không muốn được sống một ngày, mà để vợ con, người thân phải đau buồn lo lắng thêm một ngày. Tôi thà chết sớm để cho người thân chỉ đau khổ một lần, được yên.

– Anh đừng nên nghĩ vậy – ông an ủi, ai cũng cần sự sống, anh nên sống.

Sau buổi sáng bị gọi tên “hụt” – nhất là sau buổi găp người của viện Kiểm sát, hằng ngày Công thầm đọc bài nguyện cầu cho riêng mình:

“Cầu xin Đức mẹ Quan Âm

Dìu con tránh khỏi lỗi lầm thế nhân

Cho con đi trọn đường trần

Tai qua nạn khỏi, thân tâm an toàn

Con cầu xin Mẹ cho con

Chung lo việc nghĩa, vuông tròn trả xong

Quê nhà vui bước thong dong

Ơn sâu ghi tạc một lòng chẳng quên.

Con dâng lên Mẹ báo đền

Trọn niềm tôn kính – tạ ơn Mẹ hiền!”

* * *

Công nhận được lệnh ân xá án tử hình, chuyển về trại cải tạo lao động. Mười lăm năm sau, qua nhiều đợt được xét ân xá, miễn giảm mức án chung thân, anh được trả về lại với gia đình. Ước nguyện xây một ngôi chùa vẫn còn là một ước vọng mà Công ngày đêm đang nỗ lực thực hiện.

Tháng 6.2018

MANG VIÊN LONG

 

*** ĐỌC THƠ Ý NGA

NGUYỄN HỮU LUYỆN

rong vn

 

(Trích LỜI TỰA tuyển tập:

TRI ƠN CHIẾN SĨ VNCH VIỆT NAM CỘNG HÒA)

Ý Nga (yngacalgary@aol.com) là tác giả của 22 tập thơ đã được xuất bản và phổ biến trên các diễn đàn điện tử từ nhiều thập niên qua, (còn 45 tác phẩm khác chưa xuất bản nhưng cũng đã được phổ biến trên các diễn đàn).  Đọc thơ Ý Nga, chúng ta dễ cảm nhận được tâm tư của tác giả gửi gấm qua những vần thơ giản dị, khúc chiết và gợi cảm của những người đã từng phải lao vào cái chết để tìm “cái sống tự do”. Đây là tâm trạng của hàng triệu người Việt Nam đã phải bỏ lại quê hương và tài sản của mình để LAO RA KHƠI.  Biết bao người đã táng thây dưới đáy đại dương khiến cho Liên Hiệp Quốc phải ban hành quy chế tỵ nạn cộng sản và thành lập nhiều trại Tỵ Nạn Cộng Sản ở các vùng ven đại dương để tiếp nhận những chuyến RA KHƠI bi hùng tráng của người Việt Nam, sau biến cố 30 tháng 4 năm 1975:                                         

“Người tỵ nạn vẫn giữ hoài trang sử

Chúng tôi đi, sinh tử lắm nghẹn ngào

Nên không quên thảm não của đồng bào

Tim rỉ máu, thương cho Người Ở Lại!

(Ý Nga, 7-4-2011.)

Thơ Ý Nga bao hàm nhiều cảm nghĩ phong phú và đôi khi mang sắc thái châm biếm, tế nhị, trong đó có cả thơ tình.  Điểm đáng chú ý hơn cả là sáng tác chống Cộng và nỗi lòng buồn nhớ cố hương vẫn là hai nguồn cảm hứng sôi động, nếu đem so sánh với những nguồn cảm hứng sáng tác khác:

“Việt Nam hỡi! Bao anh thư hào kiệt,

Hãy vùng lên! Hãy quyết liệt đập tan,

Noi gương xưa lật đổ bọn bạo tàn,

Dẹp cộng sản! Dựng thái bình đất nước”

Ý Nga, 11-2-2011 (Bao Giờ Em Về)

Hình như đối với Ý Nga thì ra đi là thoát nạn cộng sản nhưng lại phải mang nặng trong lòng mối tình hoài hương da diết:

“Đi đâu thì cũng sầu vong quốc

Muôn dặm quê nhà xa vẫn xa.”[i] 

Ngay trong thơ Xuân của Ý Nga cũng pha màu chống Cộng:

“Chốn mong về không có Tết, dẫu Xuân.

Nơi muốn đến chẳng xuân về, sao Tết?

Người yêu dân, tưởng niệm Tết Mậu Thân

Bọn bán nước ăn mừng từng “chiến thắng”?”

(Ý Nga, Xuân Mậu Tuất 2018)

Sinh trưởng trong một gia đình nền nếp nên Ý Nga đã sớm ý thức được bổn phận và trách nhiệm của tuổi trẻ. Gia nhập Phong Trào Hướng Đạo VN Hải Ngoại, ngoài việc chia sẻ trách nhiệm chung với chồng là trưởng Phan Thế Vinh, đó cũng là một cách để Ý Nga tự rèn luyện bản thân để rồi trở thành một Trưởng Hướng Đạo nhằm giúp ích cho xã hội. Hai Trưởng Vinh Nga đã và đang say sưa trong trách nhiệm dìu dắt thế hệ Hướng Đạo trẻ từ những ngày còn ở trong nước cho tới nay (Trưởng Vinh là một Hướng Đạo Sinh của đạo Lâm Viên (Đà Lạt) từ nhỏ cho đến khi phải rời Đà Lạt để vào đại học, cả 3 anh em ruột của trưởng Vinh đều là thành viên của gia đình Hướng Đạo trong nhiều năm.

Hiện nay Hướng Đạo Việt Nam tại hải ngoại đã và đang phát triển trên ý thức hệ Nguời Việt Tỵ Nạn Cộng Sản dấn thân vào Phong Trào, lấy giáo dục làm phương châm để giúp các em hướng về cội nguồn và phát triển bản năng trẻ biết yêu thích thiên nhiên và trở thành người hữu dụng cho xã hội, cho Cộng Đồng.   

Với cái TÂM của một Trưởng Hướng Đạo, thơ Ý Nga luôn luôn bộc lộ phong cách đạo đức xã hội của tuổi trẻ:

“Hy sinh vì người khác

Chính mình có niềm vui!

Sá gì chút hành xác

Mà tâm hồn thảnh thơi.”

Ý Nga, 26-6-2014.

Trong tâm trạng buồn nhớ cố hương, Ý Nga cũng đem thơ đượm nỗi sầu viễn xứ vào hoạt động Hướng Đạo:

“Tâm ý không chưa đủ

Khi bạn muốn dấn thân

Chẳng phải duy bàn chân

Mà còn cần tâm ý.

Cộng thêm nhiều ý chí

Mới cất bước lên đường

Nhất là Đường-Tha-Hương

Vương càng nhiều trở ngại.”

Ý Nga, 29.1.2007 (TÂM Ý, THÀNH Ý)

Ý Nga cũng đã và đang làm công tác thiện nguyện với các tổ chức người Việt Quốc Gia ở Ý Đại Lợi, Âu Châu, Mỹ và Canada.v.v… từ năm 1980 cho đến nay, qua những đóng góp công sức vào các hoạt động: xã hội, văn hóa, từ thiện & giáo dục (dạy học tại các Trung Tâm Việt Ngữ, Ý Ngữ ở Ý và Canada); Ý Nga cũng đã nhận lời của đoàn thể, thay chồng, đảm nhiệm công tác Trưởng Nhóm Việt Nam Thanh Niên Thiện Chí tại Ý Đại Lợi trong nhiều năm, hoạt động cùng mục-đích trên.  Phải nhìn nhận ngay rằng đây chính là gánh nặng hoặc rất nặng trước cộng đồng và đoàn thể,  vậy mà Ý Nga vẫn không sao lãng với “mối tình chung thủy yêu thơ”. 

Dường như chính “mối tình yêu thơ” đã tạo ra sức mạnh tinh thần và thể lực cho Ý Nga trong đời sống hàng ngày.  Với thân hình nhỏ nhắn, sức khoẻ mong manh, nhưng Ý Nga vẫn bền bỉ cáng đáng việc gia đình, tận tụy và chu đáo săn sóc chồng, đồng thời hoàn thành NHIỀU NGHĨA VỤ trước cộng đồng và đoàn thể, vậy mà Ý Nga vẫn bền bỉ sáng tác thơ.  Đây chính là điểm son vô cùng cao quý của một phụ nữ trong mọi thời đại.  Mặc dầu mang nặng trong lòng mối “sầu viễn xứ” và nôn nóng ngày về “cố quốc”, Ý Nga cũng không che dấu bản tính dí dỏm, vui nhộn của mình.  Điều này đã biễu lộ khi Ý Nga dùng cách “nói lái” để đổi tên của mình là Ý Nga thành bút hiệu Á Nghi: 

 “Bốn mươi mốt năm trôi qua

Nợ tình cùng vay, cùng trả

Với em: anh vẫn chưa già

Ngày nào anh kêu, còn dạ.

30-4tobucket

Mình còn lời hẹn về Nhà

Mà đường tìm chưa ra ngả

Đừng bỏ em một mình nha!

Bệnh nào cũng có thuốc chữa”

Á Nghi, 1.3.2018

Qua mấy vần thơ sáng tác nhân dịp Tết Mậu Tuất, Ý Nga đã gợi lại thảm cảnh tang tóc của người dân miền Nam sau ngày 30/4/1975, trong thơ  Tết đau thương: với một đoạn thơ ngắn ngủi, Ý Nga đã rất “tài tình” bó gọn tình yêu thương cha già đã mệnh thác, mẹ già cô quạnh, khổ ải nơi quê nhà trong khốn cùng của xã hội CS, gia cảnh yên vui nay tiêu điều hoang phế . . . người đọc khó cầm nước mắt . . .

“Xuân tàn, mai rụng bên kia

Mẹ đi không nỗi, ai kìa quét mai?

Hồn Ba đã chốn thiên thai

Gốc mai-chiếu-thủy còn ai giữ gìn?

Cánh mai-tứ-quý ai nhìn?

Sang năm xuân vẫn cho xin sắc vàng?

*

Sao mà hồn cứ mênh mang?

Tàn Xuân, con vẫn lang thang chưa về!”

Ý Nga, 26.2.2018

***

Năm 2000, khi Cộng Đồng Người Việt Tỵ Nạn Cộng Sản trên khắp thế giới phát động vụ kiện WJC[ii].  Canada là một trong những Cộng Đồng VN yểm trợ mạnh mẽ  cho vụ kiện này. Tại Canada: sau cộng đồng người Việt tại Montreal là cộng đồng người Việt tại Calgary (thành phố giá lạnh và xa xôi này đang ấp ủ mái ấm gia đình của cặp vợ chồng Vinh-Nga).  Ý Nga đã nhanh chóng và nhiệt thành đáp ứng lời kêu gọi của Ủy Ban Vận Động Vụ Kiện WJC, viết nhiều hưởng ứng gửi khắp nơi hô hào yểm trợ cho vụ kiện.  Ý Nga cũng đã trực tiếp bắc nhịp cầu thân hữu để chúng tôi sang Âu Châu làm việc với các cộng đồng và hội đoàn Người Việt tại nhiều quốc gia và thành phố bên Âu Châu. Trong thời gian này, Ý Nga cũng đã lên tiếng:

“Quý Độc Giả thử tưởng tượng nếu có một ngày, chúng ta phải đọc những tài liệu viết về người Việt Nam yêu chuộng tự do đã từng thề không đội trời chung với loài Quỷ Đỏ, nên đành phải vượt qua cõi chết để được sống trong không khí tự do nơi quê người, nhưng bi hài thay,  những tài liệu để cho thế giới và hậu thế biết rõ thêm về những người “vượt từ cõi chết ấy”, lại không do chính tay chúng ta viết mà do những cán bộ văn hoá cao cấp của đảng cộng sản viết ra(chính họ  là  những thủ phạm đã dồn dân Việt chúng ta đến cõi chết) thì quả thật không có gì đau đớn và nhục nhã cho chúng ta bằng thảm trạng đó.  Chỉ có quý Bạn Đọc, bằng sự suy nghĩ và lương tâm của Người Việt Quốc Gia mới giúp đỡ chúng ta thắng được WJC và c.s.VN trong vụ kiện này:

Lũ ngợm nằm đáy giếng

Thấy gì trong mắt dân?

Hổ dữ ăn đầy miệng

Nghe gì tiếng nạn nhân?

Bàn tay ai rướm máu,

Cho chúng yến tiệc ngon?

Bàn chân ai nát ngấu,

Cho chúng tiếng cười giòn?”

***

 Ngày 30 tháng 4 năm 1975, trong khúc ngoặc tang thương của lịch sử Việt Nam, đã có những BINH SĨ QLVNCH không chịu buông súng đầu hàng mà đã âm thầm tự sát. Trên thế gian này, không có tấm lòng TRUNG DŨNG nào, không có một khí phách nào  có thể so sánh với hình ảnh anh Binh Nhì đã chọn cái chết để chết theo QLVNCH, mặc dù vào khoảng thời gian đó, kẻ thù đã tuyên bố không trả thù anh. Trong giây phút thiêng liêng đó, có lẽ anh đã thấy mình vừa mất đi một bảo vật thiêng liêng, đó là QLVNCH với lý tưởng bảo vệ người dân. Những viên đạn trong nòng súng ấy, đáng lẽ dành cho quân thù thì anh đã dành cho chính mình vì khí phách của quân nhân QLVNCH và vì lòng trung thành với QLVNCH.  Những anh BINH NHÌ ấy tuy đã mất đi sự sống của thể xác nhưng hình ảnh uy dũng của các Anh vẫn còn sống mãi mãi trong thơ văn của hậu thế và Ý Nga đã chuyển tải UY DŨNG đó cho hậu thế, qua nhiều vần thơ rất cảm động:

“Kèn truy điệu, âm não nề tưởng niệm

Những Chiến Binh không cấp bậc linh đình

Những hương linh tuẫn tiết vì dân mình

Ngàn thu trước, ngàn thu sau nối tiếp.

*

Kèn truy điệu trong quốc kỳ thẳng nếp

Thương tiếc Người, đời binh nghiệp truân chuyên

Quyết không hèn, chọn cái chết trung kiên!

Kèn dâng hiến âm chiêu hồn Tử Sĩ.”

Ý Nga, 20-10-2013 (TRUY ĐIỆU)

“Cho dù bị giặc bủa vây

Cuộc đời binh nghiệp dựng xây vì Nhà.

Không riêng Võ Bị Quốc Gia;

Công Binh Kiến Tạo, Lính Già, Quân Y,

Bộ Binh, Quân Cảnh… cũng vì

Thương dân, bảo quốc. Oai nghi Nhảy Dù,

Cục Quân Tiếp Vụ, Quân Nhu…

Anh em Biệt Kích chống thù: Cộng nô.

Biệt Khu bảo vệ Thủ Đô,

Công Binh Chiến Đấu giúp cho Quân Đoàn,

Chỉ Huy hay Hạ Sĩ Quan,

Lục, Không, Hải, Địa Phương Quân… luyện thuần

Biết luôn “Tự thắng, dấn thân”

Quyết vì TỔ QUỐC: dân cần, có ngay!

Các Quân Binh Chủng dạn dày

Chiến trường đổ máu, cờ bay giữ vàng.

Bao nhiêu chiến tích vẻ vang

Bấy nhiêu khí thế vinh quang lưu truyền

Giữ thơm DANH DỰ, luyện rèn

Tinh thần TRÁCH NHIỆM võ biền: sử lưu.

Ý Nga*8.4.2017 (VINH DANH NGƯỜI LÍNH CỘNG HÒA)

Song song với những vần thơ tôn vinh các anh Lính Cộng Hòa đã vì đại nghĩa quyên sinh trong ngày tang tóc của lịch sử Việt Nam.  Ngoài ra, Ý Nga cũng còn sáng tác những vần thơ cổ vũ chiến thắng oanh liệt của các đơn vị QLVNCH:

Chiến Sĩ Cộng Hòa

Miền Nam giữ vững thành trì

Bao công Chiến Sĩ trường kỳ dấn thân

Noi gương tâm huyết tiền nhân

Luôn luôn giữ vững tinh thần Quốc Gia.

Một lòng gìn Nước, giữ Nhà

Dân thương, không ngớt ngợi ca rộn ràng.

Nhờ Anh, dân tộc an khang

Ấm no, hạnh phúc huy hoàng nhiều năm.

Cứu dân thoát cảnh tối tăm,

Tấm lòng quyết chống ngoại xâm rịt ràng

Tô son hùng sử bao trang

Lưu đời chiến thắng sử vàng vẻ vang

Vô vàn rực rỡ hào quang

Sáng ngời áo trận vinh quang mọi đàng!

Ý Nga*24.4.2017 (VIỆT CỘNG CỨU NƯỚC HAY CÚ NƯỚC?)

Qua thơ, Ý Nga cũng gửi gấm tình cảm nồng nhiệt và lòng ngưỡng mộ chân thành tới các anh Lính Cộng Hòa:

Thương Anh nén hận căm gan

Trui rèn ý chí: bạo tàn đạp tung!

Thương dân: vẫn góp sức cùng!

Ôi ơn Chiến Sĩ! Dũng, hùng ngàn năm!

(HÀO QUANG NGƯỜI LÍNH CỘNG HÒA. Ý Nga, 1-12-2014)

***

Vai súng đạn, từng mục tiêu chu đáo

Chiếm! Cho dân được lành áo, no cơm!

Nên chúng ta phải viết, ủ danh thơm:

Lòng can đảm bao Anh Hùng Giữ Nước!

Người Đi Trước chưa bao giờ khiếp nhược!

*

Lìa quê hương, sao quên được ơn Người?

Lòng tri ân xin ghi khắc một đời

Cờ phất phới sắc Vàng làm minh chứng!

Xin ngưỡng phục từng âm thầm chịu đựng

Những Tôi Trung của dân tộc oai hùng!

Làm gương soi, hương chiến đấu thơm lừng

(Ý Nga, 7-4-2011- NGƯỜI LÍNH DŨNG CẢM!)

Dù bị bức tử trong uất hận, QLVNCH vẫn sống với ký ức kiêu hùng qua tuyển tập thơ: “TRI ƠN CHIẾN SĨ VNCH” của Ý Nga, trong đó, những chiến công hiển hách của một thời oanh liệt đã làm rạng danh Việt Nam Cộng Hoà, một quốc gia giữ trọng trách “Tiền Đồn của Thế Giới Tự Do” đã không hổ thẹn trước lịch sử Thế Giới khi nhân loại đi vào ngõ cụt suy thoái trước làn sóng đỏ:

“Thương Người Anh Dũng, gian nan

Đầu tên, mũi đạn nguy nàn vì dân.

Bốn mươi năm, vạn mộ phần

Anh linh ngút hận: ngoại nhân lan tràn!”

           Và:

“Thật hãnh diện! Danh truyền bao Chiến Sĩ!

Tuổi hoa niên dâng hiến: giữ chủ quyền!

Vì bình yên, lính chiến đánh liên miên

Đời chinh chiến bao trận tiền đối diện.”

(QUY CỐ HƯƠNG-Ý Nga, 20-11-2014)

*

Lời kết của NGƯỜI ĐỌC THƠ Ý NGA hôm nay là xin ghi vào đây, hình ảnh một nữ TRƯỞNG HƯỚNG ĐẠO, có đầy lòng yêu thương các em Hướng Đạo Sinh, các em học trò trường Việt Ngữ; yêu thương người chồng đồng CHÍ HƯỚNG: một trưởng Hướng Đạo luôn tha thiết với quê hương, yêu thơ và yêu DÂN VIỆT.

                                                          ***

Tôi xin chân thành cảm ơn những vần thơ của Ý Nga đã gây cho tôi nguồn cảm hứng trung thực khi viết bài giới thiệu này.

San Jose ngày 5 Tết Mậu Tuất (2018)

Nguyễn Hữu Luyện

[i]   Bià sau của tác phẩm THUYỀN NHÂN (thơ Ý Nga, NGUYỄN HỮU NHẬT trình bày, ảnh tác giả do PHAN THẾ VINH chụp)

[ii]   WJC là viết tắt của WILLIAM JOINER CENTER chuyên nghiên cứu về chiến tranh và hậu quả về xã hội của chiến tranh.  WJC thuôc University of Massachusetts at Boston thường viết tắt là WJC/Umass Boston.  WJC mời các học giả và những nhà văn từ Hà Nội sang UMASS BOSTON thực hiện một chương trình nghiên cứu có tầm cỡ quan trọng, do Rockefeller Foundation cấp học bổng $250.000, để viết chương trình nghiên cứu với nhan đề: “RECONSTRUCTING IDENTITY AND PLACE IN THE VIETNAMESE DIASPORA (tạm dịch là: TÁI XÂY  DỰNG DIỆN MẠO VÀ QUÊ HƯƠNG CỦA NGƯỜI VIỆT Ở NƯỚC NGOÀI).

Vào thời điểm này, đại đa số người Việt ở nước ngoài là Người Việt Tỵ Nạn CS. Đem đảng viên cao cấp của đảng cộng sản VN từ Hà Nội sang Mỹ để viết lại căn cước của  người VN tỵ nạn CS là một nghịch lý giống như đem bọn cướp của giết người vào Đại Học để viết về nạn nhân của chúng,  Theo luật pháp Hoa Kỳ, Cộng Đồng chúng ta  không có quyền cấm ai viết về mình, nhưng chúng ta có quyền vô hiệu hoá chương trình nghiên cứu vừa vi phạm quy luật hàn lâm rất nghiêm khắc của ngành Đại Học Hoa Kỳ, vừa chứa đựng âm mưu chính trị đen tối của một Đại Học thân Cộng.

Cộng Đồng Người Việt Tỵ Nạn CS trên khắp thế giới đã đồng tâm:

1/ Về phương diện hàn lâm, chúng ta không thể để chương trình nghiên cứu này đi vào các thư viện nghiên cứu của Hoa Kỳ và các quốc gia khác. 2/  Dựa trên nguyên tắc hàn lâm là “KHI NGƯỜI VIẾT NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN VỚI ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU THÌ MẶC NHIÊN CHƯƠNG TRÌNH NGHIÊN CỨU ĐÓ COI NHƯ VÔ GÍA TRỊ VÌ THIẾU VÔ TƯ.

3/ Cộng Đồng VN đã mau chóng đưa WJC ra trước pháp luật với đủ bằng chứng. Trong vụ kiện tập thể (CLASS ACTION) này, chúng ta nhằm mục đích VÔ HIỆU HOÁ CHƯƠNG TRÌNH NGHIÊN CỨU NÀY, chúng ta thắng hay thua, thì kết qủa cuối cùng cũng như nhau: về phương diện hàn lâm, khi một chương trình nghiên cứu lại bị chính ngay chủ đề nghiên cứu đưa ra toà nhất là ra tới Toà TỐI CAO (Supreme Court) thì không còn môt học giả nào có thể dùng  nó làm tài liệu nghiên cứu nữa.

Kết qủa là WJC được Tòa Tối Cao tuyên án VÔ CAN.  Chúng ta THUA về pháp lý, nhưng chúng ta đã THẮNG về mặt HÀN LÂM, có nghĩa là chương trình nghiên cứu của WJC/UMASS BOSTON hoàn toàn vô giá trị về mặt HÀN LÂM.

(Y Nga gui)

*** Chỉ Còn Lại Nét U Buồn

Thủy Điền

 HoNhu-HVL-1

   Ngày về, qua mấy ngõ, định ghé thăm Mây sau những ngày xa cách. Đứng lặng, nhìn căn gác cửa đóng, hoang tàn, hiu hắt tôi đoán được nàng có lẽ đã ra đi từ dạo ấy.

       Thời gian tuy lâu, nhưng cũng mau thật mới đó mà đã mười tám năm rồi. Nhớ ngày ấy hai đứa còn học chung, thỉnh thoảng một vài hôm tôi hay đạp chiếc xe đạp đến thăm nàng. Trước sân nhà dưới bóng cây Trứng cá có cái bàn nhỏ cũ kỷ và hai chiếc ghế, nàng hay cùng tôi nhâm nhi tách nước và kể nhau nghe những câu chuyện vui, buồn cũng như những sinh hoạt hàng ngày trông cuộc sống thật là lý thú.

       Ngày qua ngày- tháng qua tháng tình bè bạn bỗng dưng trở thành tình yêu mà cả hai không hề hay biết. Nàng ngoài việc học thường hay quan tâm đến tôi bằng mọi thứ và tôi cũng thế. Cảnh chiếc xe đạp của tôi dựng phía trong cổng rào nhà nàng dần dần như quen thuộc. Hỡi thiếu vắng nó một giây, một phút là hình như nàng khó chịu trong lòng. Tôi thương nàng nhất là khi nàng với gương mặt giận dỗi tôi và thốt lên câu “Sao anh đến trễ thề “ Rồi quây mặt nhìn về nơi khác.

       Sau ngày đất nước thống nhất, gia đình tôi chuyển về quê nội, tôi theo cùng và từ đó xem như tôi tạm xa nàng. Đêm ấy giữa tháng tư trời không mưa, oi bức mà bên cạnh tôi dường như thác đỗ. Những giọt lệ tình, những giọt lệ chia xa cứ tuôn tràn trên đôi má của nàng, tôi không cầm được những xúc động và cứ mãi ôm choàng nàng thật chặt như không muốn đánh mất một tình yêu mà nàng đã dành cho tôi từ bấy lâu nay. Trong khoảnh khắc tôi luôn tự hỏi? mình có nên đi hay là không. Thương nàng thì nghĩ thế, nhưng hoàn cảnh không cho phép tôi làm điều ấy và cuối cùng tôi phải chia xa.

       Những năm tháng xa xôi nơi phương trời khác tôi thương nhớ mây nhiều lắm. Lòng hứa hẹn một ngày nào đó sẽ trở lại thăm Mây. Nhưng định mệnh trớ trêu, cuộc sống vô tình đã làm cho tôi quên dần những kỷ niệm đẹp và lời hứa ấy, để người tôi yêu phải chờ đợi bao ngày.

       Nơi quê cũ, tôi biết nàng cũng như tôi, cũng mang một nỗi khổ nhớ nhung, những nỗi buồn chan chứa. Nhưng người ta cứ lặng yên quên lãng thì mình phải biết làm gì bây giờ hơn nữa mình là phận gái đành cúi đầu nuốt lệ dưới màn đêm.

       Cảnh cô đơn, lẻ loi tháng nầy qua năm khác, một bông hoa rực nở giữa trời, Bướm , Ong thao lượn. Mây đi lấy chồng và về tận mút trời xa. Cha mẹ qua đời, căn nhà được khép lại, héo mòn theo thời gian, cây Trứng cá trước sân càng già- càng già đi, che khuất chiếc bàn cũ kỷ, chôn lấp những kỷ niệm ngày nào bằng những nét rêu phong.

       Riêng tôi vẫn chờ đợi em, dù vô tình, quên lãng. Mười tám năm trời trở lại, không ai hiểu hơn tôi Mây dù muốn, dù không nàng cũng sẽ lấy chồng để tạo hạnh phúc riêng cho đời mình. Dẫu biết thế, tuy đã gần nữa cuộc đời tôi quây lại thì thật đúng như những gì mình dự đoán căn gác xưa chỉ còn lại nét u buồn.

 16-06-2018

*** đồng lõa của lặng im

Hoàng Xuan Sơn

 vn11

tôi khượi một nỗi buồn
 nơi tòng tâm bất lực

ngậm câm ngậm câm ngậm câm
tôi ngậm
câm
như ngậm hột thị
tràng nguyệt quế bồ hòn
ở đâu
bạo lực tràn lan ngoài phố
trong con hẻm mù
mắt nhắm và tai điếc
máu em sẽ
đổ xuống
dài dài
sẽ. hay đã
lưỡi dao mụ đàn bà đanh ác
máy hình chị bị dẫm nát
dưới cơ bắp lũ côn đồ chưa sạch lông măng
máu và mủ
hỡi ơi đồng nát
tổ quốc giống nòi
[đất nước loạn rồi sao tôi cứ bình tâm!]
những cú đạp tôi ngậm câm
khẩu trang chà nóng mặt
không có hạt bụi nào nhởn nhơ lúc này
cánh tay cha ở ngoài biên giới
mẹ chịu đòn không sợ khóc
biểu ngữ trên ngọn cây
những chai nước tăng thêm bàn đạp
dòng chảy đan tâm
không hiểu. thiệt tình không hiểu
vì sao tôi ngậm câm
có lẽ thành phố đã quá liều nhiệt động

hoàng xuân sơn
tháng sáu nóng bức

*** AI ĐÃ DỊCH CHINH PHỤ NGÂM RA CHỮ NÔM ?

NGUYỄN CẨM XUYÊN

chinh phu nganĐOÀN THỊ ĐIỂM và NGUYỄN THỊ ĐIỂM;

AI ĐÃ DỊCH

CHINH PHỤ NGÂM RA CHỮ NÔM ?

     Sách Đăng Khoa Lục sưu giảng của Trần Tiến đời Lê có chép chuyện bà Nguyễn Thị Điểm. Sách Tang Thương ngẫu lục của Phạm Đình Hổ và Nguyễn Án đời Nguyễn lại chép chuyện bà Đoàn Thị Điểm.

Hai nữ sĩ trong hai truyện trùng tên, khác họ… và ai là người đã dịch Chinh Phụ ngâm khúc ra chữ Nôm?
ĐOÀN THỊ ĐIỂM VÀ NGUYỄN THỊ ĐIỂM CÓ PHẢI CHỈ LÀ MỘT ?
Ra đời sau Tang Thương ngẫu lục 100 năm, Nam Hải dị nhân liệt truyện của Phan Kế Bính đã viết “Nguyễn Thị Điểm tức Đoàn Thị Điểm”.

Thật ra đây là hai người khác nhau. Chẳng qua lúc biên soạn Nam Hải dị nhân liệt truyện, có thể do không đủ điều kiện khảo sát mà lúc này lại cần phải hóa giải liền một mâu thuẫn giữa hai sách xưa để không phải bỏ qua một truyện hay về nữ sĩ nước Nam nên Phan Kế Bính đã cho rằng hai người là một.

Đầu thập niên 70 vừa qua, các nhà nghiên cứu đã về Hải Dương đọc gia phả họ Đoàn và tìm gặp gia tộc họ Nguyễn Trác thì mới rõ là có hai bà Đoàn Thị Điểm và Nguyễn Thị Điểm. Hai bà có những chi tiết trùng hợp đến kì lạ. Trước hết cả hai cùng sống vào thời Lê Trung hưng, đời Trịnh Giang, cùng quê ở Hải Dương: bà Nguyễn Thị Điểm ở Bình Lao trang, trấn Hải Dương còn bà Đoàn Thị Điểm thì quê ở Giai Phạm, huyện Đường Hào cũng thuộc trấn Hải Dương (nay là xã Giai Phạm thuộc huyện Yên Mỹ, tỉnh Hưng Yên), cả hai đều giỏi văn thơ và điều lạ kì là cả hai bà đều có anh tên là Luân, một người là Đoàn Doãn Luân và một người là Nguyễn Trác Luân… vậy nhưng gốc gác, gia thế cũng như cuộc đời của hai bà thì khác nhau nhiều.

Bà Nguyễn Thị Điểm thuộc gia đình quyền quí; anh là Nguyễn Trác Luân đỗ Tiến Sĩ năm 1721, làm quan đến chức Phó Đô Ngự Sử và là tay chân thân tín của chúa Trịnh Giang. Chính Nguyễn Trác Luân là người đã giúp Trịnh Giang phế truất rồi giết vua Lê Duy Phường rồi theo lệnh Trịnh Giang làm giả tờ sắc tấn phong cùng ấn tín của vua nhà Thanh sang phong cho Trịnh Giang làm An Nam Thượng Vương… Em gái là Nguyễn Thị Điểm về sau còn dạy học ở kinh đô, thọ đến 78 tuổi. Sách Đăng Khoa Lục sưu giảng có chép: Bà Nguyễn Thị Điểm có viết cuốn “Truyền Kì tân lục” (Truyền kì tân phả).

TRUYỀN KÌ TÂN PHẢ – VĂN GIANG HỒNG HÀ ĐOÀN PHU NHÂN TRƯỚC

(Truyền kì tân phả do Văn Giang Hồng Hà Đoàn phu nhân soạn – Thư viện Quốc gia. Bản chụp của nomfoundation)

Cuộc đời bà Đoàn Thị Điểm khác hẳn. Xuất thân trong một gia đình nghèo; bà là con ông Đoàn Doãn Nghi. Tổ tiên vốn họ Lê, quê quán ở Hải Dương; về sau đổi ra họ Đoàn. Đoàn Doãn Nghi đỗ Hương cống và nhận một chức quan nhỏ hàm bát phẩm rồi từ quan, về nhà bốc thuốc. Sau khi hỏng kì thi Hội, ông ở lại kinh đô dạy học rồi cưới thêm thứ thất ở phường Hà Khẩu, gần Hồ Hoàn Kiếm và sinh được hai con: con cả là Đoàn Doãn Luân, con thứ là Đoàn Thị Điểm. Đoàn Doãn Luân chỉ là giám sinh đã qua kỳ sát hạch để chuẩn bị thi Hương, chưa đỗ đạt gì. Riêng bà Đoàn Thị Điểm: sau khi cha mất, cùng mẹ về ở với anh trai, ngụ cư tại làng Vô Ngại, huyện Ðường Hào, tỉnh Hải Dương (nay là Mỹ Hào, tỉnh Hưng Yên) nhưng chỉ được mấy năm thì Doãn Luân lại qua đời; một mình bà phải nuôi cả nhà (gồm mẹ, chị dâu và các cháu) và phải tự mưu sinh bằng nghề bốc thuốc, dạy học…

Bà có nhan sắc nhưng kén chồng; sau làm vợ kế ông Nguyễn Kiều (1696- 1752) tức là ông Nghè Sù người làng Phú Xá (làng Sù) huyện Từ Liêm, Hà Nội đỗ tiến sĩ đời Lê Dụ Tông, làm quan đến chức Đô ngự sử. Nguyễn Kiều vốn đã có 2 đời vợ trước: vợ đầu là con gái quan Tham tụng Lê Anh Tuấn; bà này mất sớm, ông tục huyền với con gái Thượng thư Nguyễn Quý Đức nhưng bà này lại cũng qua đời… Nguyễn Kiều nhờ mai mối đến hỏi bà Đoàn Thị Điểm; sau mấy lần chối từ, cuối cùng bà Đoàn Thị Điểm thuận về làm vợ kế. Năm 1734, Nguyễn Kiều nhậm chức Tham thị thành Triều Khẩu (Nghệ An), bà Đoàn Thị Điểm đi thuyền theo chồng, đến ngang đền Sòng (Thanh Hoá) thì bị cảm và sáu ngày sau đến Triều Khẩu thì mất, lúc này bà mới 44 tuổi.

Mới đây, ngày 24/7/2011, tại cánh đồng thôn Phú Xá (Phú Thượng, Tây Hồ, Hà Nội), Hội Khảo cổ học cùng Ban Quản lý di tích-danh thắng Hà Nội đã cải táng mộ của ông Nghè Nguyễn Kiều về cạnh mộ bà Đoàn Thị Điểm ở cách đó 2km.

NGUYỄN THỊ ĐIỂM ĐÃ DỊCH CHINH PHỤ NGÂM RA CHỮ NÔM

CHỨ KHÔNG PHẢI LÀ ĐOÀN THỊ ĐIỂM ?
Trước câu hỏi ai là tác giả Chinh Phụ ngâm diễn âm, các nhà nghiên cứu đã tìm kiếm bằng chứng và tranh luận sôi nổi suốt gần 100 năm qua.

Nhiều sách nay vẫn ghi tác giả là Đoàn Thị Điểm theo như lời “tương truyền” vốn có từ xa xưa…nhưng nay lại đang có nghi vấn được nêu: Phải chăng tác giả Chinh Phụ ngâm diễn âm hiện hành là Nguyễn Thị Điểm?

Điều có thể dùng làm chứng cớ là ở 2 người anh là Nguyễn Trác Luân và Đoàn Doãn Luân. Bà Nguyễn Thị Điểm là em ông Nguyễn Trác Luân và tên tuổi Nguyễn Trác Luân thì không thể sai bởi đã ghi trong sử đời Lê mạt… Đầu thập niên 70 thế kỉ XX, GS. Bùi Văn Nguyên, lúc này đang là Giảng viên Khoa Ngữ Văn trường Đại Học Sư phạm Hà Nội cùng GS. Phan Huy Lê, Chủ tịch Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam về Hải Dương, gặp bố và chú của ông Nguyễn Trác Cách là Nguyễn Trác Thức và Nguyễn Trác Ngữ để hỏi cụ thể về việc dịch thuật của bà Nguyễn Thị Điểm. Các nhà nghiên cứu tìm đến gia tộc Nguyễn Trác thì điều không may là gia phả, sắc phong và cả ngôi nhà thờ họ năm gian mang tên Duy Ái Từ đã cháy trong kháng chiến chống Pháp. Tại đây, ông Nguyễn Trác Cách sinh năm 1936, trưởng tộc họ Nguyễn Trác đã kể lại các giai thoại văn chương giữa Nguyễn Trác Luân với em gái là Nguyễn Thị Điểm, vốn ham học ngay từ khi còn nhỏ và thường cùng anh xướng họa thơ văn. Các giai thoại này dòng họ ông vẫn lưu truyền và ông khẳng định chính bà Nguyễn Thị Điểm mới là tác giả của Tục truyền kỳ và bản dịch Chinh phụ ngâm được phổ biến rộng rãi hiện nay(2).

Sau đợt nghiên cứu, trên Tạp chí Văn học, số 6 năm 1977, GS. Bùi Văn Nguyên viết bài “Bà Điểm nào trong hai bà Điểm, tương truyền có tham gia dịch một bản Chinh phụ ngâm của Đặng Trần Côn”. GS Bùi Văn Nguyên cho rằng: “Sự thật, có hai bà Điểm khác nhau, một bà họ Nguyễn, một bà họ Đoàn, hai bà sống có phần đồng thời, ở cùng một vùng, nay là tỉnh Hải Hưng, đều có người anh trùng tên là Luân và đều giỏi văn thơ, pha nghề dạy học”(3).

Điều GS. Bùi Văn Nguyên phát hiện làm rõ mối ngờ 20 năm trước của GS. Hoàng Xuân Hãn về độ chính xác của Vũ Hoạt khi cho rằng bà Đoàn thị Điểm là tác giả của bản Nôm Chinh Phụ Ngâm: “Có thể Vũ Hoạt nghe loáng thoáng có một bà Điểm nào đó hay chữ, liền nghĩ ngay đến bà Điểm vợ ông Kiều ở huyện Từ Liêm, cùng quê với ông Đặng Trần Côn là tác giả khúc ngâm, rồi ghi luôn vào bản khắc mà mình giới thiệu cho thêm phần giá trị và Vũ Hoạt trong lời bạt viết năm 1904 đời Thành Thái đã khéo bảo vệ bằng luận điểm tương truyền. Đã gọi là tương truyền thì chả có bằng cớ nào, về sau nếu không đúng cũng thôi…”

Năm 1953, trong cuốn Chinh phụ ngâm bị khảo, GS, Hoàng Xuân Hãn có nêu ra 7 bản Chinh Phụ Ngâm diễn âm trong đó ông tập trung chú ý 4 bản A,B,C,D. Bản A là bản thịnh hành thì ông cho là của Phan Huy Ích. Riêng bản B (ít phổ biến) ở đầu có chữ “nữ lưu”, ông cho rằng đây là bản của bà Đoàn Thị Điểm. Phải chăng bản này là của bà Nguyễn Thị Điểm còn bà Đoàn Thị Điểm tuy hay chữ nhưng chỉ viết Truyền Kì tân phả (Tục Truyền Kỳ) như lời kể của Nguyễn Án và Phạm Đình Hổ.

Một chứng cớ nữa là nay ở thư viện trường Đại học Yale Hoa Kỳ còn một bản chép tay Chinh Phụ ngâm bị lục đời Thành Thái bằng chữ Nôm có chua quốc ngữ. Bản này ghi tên dịch giả là Nguyễn Thị Điểm. Tác phẩm gồm 412 câu, câu chữ gần như phù hợp với bản Chinh Phụ ngâm phiên ra quốc ngữ hiện được dùng phổ biến trong các sách văn học, kể cả sách giáo khoa Trung học và giáo trình Đại học hiện nay.

GHI CHÚ:

Ảnh sachxua.net

Theo tài liệu ông Nguyễn Trác Cách gửi viện trưởng Viện Văn học ngày 10 tháng 3 năm 2009; Đoàn Thị Điểm và Truyền kỳ tân phả; Bùi Thị Thiên Thai, Văn hóa Nghệ An 26.9.2010.

GS Bùi Văn Nguyên, “Bà Điểm nào trong hai bà Điểm, tương truyền có tham gia dịch một bản Chinh phụ ngâm của Đặng Trần Côn” – Tạp chí Văn học, số 6 năm 1977,

*** NGƯỜI LÍNH DŨNG CẢM! / BẬC CHÍ SĨ

Ý Nga

LINH VO DANH2
 
Thành kính vinh danh QL VNCH và
quý Tù Nhân Chính Trị, Thương Phế Binh hiện vẫn còn
đang chịu nhiều đọa đày tại quê hương, đặc biệt là Lực Lượng
Bí Mật vẫn đã và đang âm thầm chiến đấu cho Đại Cuộc
 *
 
Anh đã viết cho những Người Nằm Xuống
Bị đọa đày không cơ hội thở than
Kẻ bình an tranh sống, anh miễn bàn
Chính vì thế anh chưa hề nãn chí!
 
Đem mỹ ý, em dâng người Chiến Sĩ
Những Tù Nhân Chính Trị thật can trường
Chết, bị thương vì mảnh đất quê hương
Chưa thụ hưởng được một ngày êm ái.
 
Chị khẳng khái bao dòng thơ ghi lại,
Đêm di hành dã trại, Lính bôn ba
Ngày hành quân, xung trận cứu sơn hà
Nơi chiến địa đã xem thường lửa, máu
 
Vai súng đạn, từng mục tiêu chu đáo
Chiếm! Cho dân được lành áo, no cơm!
Nên chúng ta phải viết, ủ danh thơm:
Lòng can đảm bao Anh Hùng Giữ Nước!
 
Người Đi Trước chưa bao giờ khiếp nhược!
Lìa quê hương, sao quên được ơn Người?
Lòng tri ân xin ghi khắc một đời
Cờ phất phới sắc Vàng làm minh chứng!
 
Xin ngưỡng phục từng âm thầm chịu đựng
Những Tôi Trung của dân tộc oai hùng!
Làm gương soi, hương chiến đấu thơm lừng
Lòng kính trọng tự đáy lòng ấp ủ!
 
Người tỵ nạn vẫn giữ hoài trang sử
Chúng tôi đi, sinh tử lắm nghẹn ngào
Nên không quên thảm não của đồng bào
Tim rỉ máu, thương cho Người Ở Lại!
 
7-4-2011
BẬC CHÍ SĨ
*
Thành kính tưởng niệm
những CHIẾN SĨ V.N.C.H. và những bậc Chí Sĩ
đã bị VC bức tử khi cưỡng chiếm miền Nam VN.
*
Nước tao loạn, dân lầm than, quốc hận
Toàn vẹn? Không! Thì thà chết vẹn toàn!
Đừng bao giờ ai nghĩ họ thác oan!
Chọn cái chết, họ không hề than vãn.
 
Theo mây trắng, đi với lòng thanh thản
Không đầu hàng, những khí phách hiên ngang!
Gió trên ngàn hoan hỷ điệu reo vang
Ngời ánh sáng: vẻ vang tô hùng sử.
 
Chúng bức tử nhưng anh hùng bất tử!
Giặc lù lù, lịch sử đã phân minh
Bạn hay thù? Ai: lắm tội, hữu tình?
Không thưa thỉnh, cả Nhà Nam đều rõ!
 
Bao khốn khó, cam go nào đâu nhỏ!
Mà cơ đồ vào tuyệt lộ Cộng nô,
Mà dân lành phải mất hết tự do,
Mà báng bổ Tổ Tiên, phường bất nghĩa?
 
Bia Chí Sĩ dù nọ, kia tứ phía
Nhưng vì Nhà, cùng một dạ sẻ* chia
Thương Ai Kia cùng sống chết không lìa
Vì dân tộc, Nước Nhà mà tranh đấu!
 
Ý Nga, 10-4-2015

*** Nhớ Mưa Huế

00hue

  Ai ở Huế lâu ngày cũng biết Huế mưa theo nhiều cách, tuỳ vào từng thời điểm trong năm. Mưa Huế thất thường như tính cách của một cô gái mới lớn, mang đến thật nhiều tâm trạng.

Vào độ từ tháng 5 đến tháng 8 âm lịch, Huế thật ít khi mưa mà thay vào đó là rưới lên Huế cái nắng hồng hộc của mùa hè. Tuy nhiên vào khoảng thời gian này, đôi khi ông trời cũng cố gắng ‘lắc rắc một vài hột’ mưa theo như cách nói của người già ở Huế. Những cơn mưa này thật ngắn và và nhiều khi không đủ lớn nên lại càng làm cho không khí càng oi nồng, ngột ngạt thêm. Cái đẹp của cơn mưa rào này, nếu mưa đủ lớn, làm dịu hẳn cả thành phố và in lên bầu trời quang đãng sau đó một cái cầu vồng thật rực rỡ. Đám con nít bọn tôi thường chỉ trỏ lên lên trời và tưởng tượng ra đủ thứ với cái cầu vồng đó. Huế tuy nhỏ nhưng những cơn mưa đỏng đảnh này nhiều khi cũng chỉ dành cho bờ Bắc hoặc bờ Nam sông Hương mà thôi.   

“Trời mưa ở Huế sao buồn thế

Cứ kéo dài ra đến mấy ngày”

(Nguyễn Bính)

Tôi chắc rằng thi sĩ này đang nói đến những cơn mưa vào khoảng 10 đến tháng Chạp âm lịch ở Huế. Mưa rả rích, mưa da diết, mưa triền miên, mưa như cố làm chậm lại hoặc làm đông cứng tất cả những gì hoạt náo, tươi vui vốn đã hiếm hoi ở cái thành phố này. Vào những ngày này, Huế đã buồn lại càng buồn hơn. Những chiếc áo mưa sùm sụp, những vũng nước đọng và những chiếc lá, cành cây rơi rụng trên đường càng làm cho khung cảnh u ám, trầm mặc hơn. Có lẽ chẳng bao giờ tôi quên được những đêm trời mưa và lạnh thấu xương, vào khoảng đầu những năm 80, mấy anh em tụi tôi cùng trùm chung một cái mền (chăn) dạ cũ còn lại từ trước giải phóng, đã thủng lỗ chỗ, vừa lắng nghe tiếng mưa rơi trên mái tôn vừa mông lung với những suy nghĩ, những ước mơ về một cuộc sống đỡ nhọc nhằn hơn cho gia đình mình. Những lúc như vậy, nếu nghe được một tiếng rao: “Mì nooong—–đê…y” thì hình như cả mấy anh em tụi tôi chợt thấy như cái mền đang đắp lành lặn hơn, dày hơn một chút và dĩ nhiên, thấy mình vẫn còn may mắn hơn một chút. Chúng tôi cố gắng theo tiếng rao mì và tiếng chân lẹp xẹp khuất dần, khuất dần sau một con hẻm nào đó và chìm dần vào giấc ngủ lúc nào không hay.

“Nỗi niềm chi rứa Huế ơi

Mà mưa xối xả, trắng trời Thừa Thiên”

(Vẫn không nhớ tên tác giả)

‘Mưa xối xả’, ‘mưa trắng trời’ có lẽ chỉ xảy ra vào giữa tháng 10 cho đến giữa tháng 11 âm lịch. Nhiều khi mưa cả tuần hoặc hai tuần không ngớt, mưa như ai nghiêng cả một cái giếng mà đổ hết lên mái nhà. Sông hồ mặp nước. Sông Hương nước dâng cao, đục ngầu và cuồn cuộn chảy như chưa bao giờ được chảy. Và rồi lụt. Ban đầu nước sông Hương lên mấp mé bờ cỏ Thương Bạc. Rồi Đập Đá ngập. Rồi nước ngập các con đường ở bờ Nam như Hùng Vương (đoạn chạy ngang qua cà phê Sứ), Đống Đa, Chợ Cống…; bờ Bắc thì Phu Văn Lâu, Thương Bạc, Bạch Đằng, Huỳnh Thúc Kháng (về phía Bao Vinh) và một số con đường nhỏ trong Thành Nội. Nếu là lụt lớn thì hầu như nơi nào cũng ngập. Và ngập đến vài ngày. Lụt đối với nhiều gia đình còn có nghĩa là gạo thua (gạo tăng giá), là đồ ăn đắt đỏ, là công ăn việc làm ế ẩm, là mất mát (người và của). Hầu như cứ mỗi cơn lụt, dù lớn hay nhỏ, là dân Huế lại nghe đến có người chết đuối: khi thì ở Ngã Ba Bãng Lãng (gần Lăng Minh Mạng, nơi con sông Hương chia làm hai nhánh), khi thì ở Đập Đá, khi thì ở các huyện lân cận như Hương Trà, Phú Vang. Điển hình là hai cái lụt khủng khiếp nhất mà hầu như ai cũng biết: đó là lụt 53 và lụt năm 1999.

Nếu không tính đến những ‘mặt trái’ của nó, thì mưa lụt Huế cũng mang lại những cái thú, những cái thi vị và đầy ắp kỷ niệm về một thời ở Huế cho những kẻ như tôi. Lụt là dịp mà dân ở thành phố được trở thành những tay câu cá, cất rớ (lưới) nghiệp dư. Bờ hào quanh Thành Nội, đặc biệt là gần các cống như Thượng Tứ, Cửa Sập (sập vào lụt năm 1953)…, và các ao hồ quanh Đại Nội là những nơi lý tưởng để những tay cất rớ chuyên nghiệp và không chuyên nghiệp thi thố tài năng. Bờ Nam thì hồi trước có cánh đồng An Cựu, đoạn từ Ngã Tư Âm Hồn (gần bến xe An Cựu ngày trước) cho đến Nhà Hát Lớn bây giờ. Cánh đồng này giờ đây đã ‘đô thị hoá’ thành nhà cửa, văn phòng, không còn một ao nước nào để thả rớ xuống cả.
Một cái thú nữa vào những ngày lụt là ‘đi lội lụt’. Nếu nhìn ra đường phố lúc này sẽ thấy rất ít bóng dáng xe cộ, mà thay vào đó là từng nhóm năm bảy người, già có, con nít có, nam có, nữ có, với chiếc quần đùi hoặc quần dài xăng đến tận đùi, tùm hụp trong chiếc áo mưa, vừa đi vừa chuyện trò rôm rả. Một vài người còn tỏ ra chuyên nghiệp hơn khi trang bị cho mình một chiếc gậy tre hay gỗ để được an toàn hơn qua những nơi nước xoáy. Hầu hết những người ‘đi lội lụt’ chỉ nhằm mục đích ham vui, tò mò muốn biết nước cao ngang đâu ở Đập Đá hay Thương Bạc. Ba tôi là một người rất thích đi lội lụt, mỗi lần như vậy đều dẫn tôi đi theo. Sau mỗi lần như vậy, tôi trở về nhà với đôi chân mỏi nhừ, lạnh cóng và bạc phếch vì ngâm nước quá lâu nhưng trong lòng vui và kiêu hãnh như vừa vượt qua được một thử thách nào đó. Những người không lội vì tò mò ham vui thì lội lụt để thăm viếng, trợ giúp bà con hoặc người thân ở những vùng bị ngập. Khi lớn lên, tôi không còn đi lội lụt với ba tôi nữa mà đi lội một mình, dĩ nhiên, mục đích ‘chuyến đi’ cũng khác trước. Nhà vợ tôi (khi đó còn là bạn gái) ở trong một vùng thấp của Thành Nội, nên tôi thường hay lội từ …An Cựu sang, tay xách theo một chai dầu ăn hay xì dầu vì bên đó không có chợ búa vào những ngày lụt. Có điểm lắm!

Nếu không có lụt thì có một cái thú khác nữa là đi uống cà phê với bạn bè hoặc người yêu (dân Huế gọi là bồ). Để ngồi với bạn bè thì tôi thường chọn các quán trên đường Trần Thúc Nhẫn (dẫn lên Chợ Bến Ngự). Con đường này ngắn nhưng lại có rất nhiều quán cà phê, tập trung ở những ngôi nhà xây theo dạng một villa nhỏ với một khoảng vườn (sân) rộng ở đằng trước. Điển hình quán Số 6. Nếu tôi không lầm thì đây là nhà của một cô giáo từng là hiệu trưởng của trường nữ Đồng Khánh ở Huế. Bên trong ngôi nhà đặt khoảng 4-5 bộ bàn ghế gỗ khá lịch sự còn ngoài vườn có thêm khoảng mươi bộ nữa đặt rãi rác dưới tán cây đào và một số cây gì mà tôi cũng không nhớ rõ nữa. Thức uống hồi đó lui tới một vài thứ đơn giản như: cà phê (đen, sữa, nóng, đá…), nước chanh (đá, nóng). Hồi đó tôi thích quán này không phải do cà phê mà do cái không khí ở quán này. Yên tĩnh và lịch sự. Cái gu nhạc của chủ quán cũng giống như của tôi: nhạc Trịnh Công Sơn và nhạc pop Pháp của những năm 50-60 (tôi đoán thế vì không rành lắm về âm nhạc ngoại quốc). Nhớ những chiều mưa rả rích cuối tuần ngồi với một vài đứa bạn thân ở quán này, vừa nhâm nhi ly cà phê vừa ‘khẩu’ đủ thứ chuyện trên trời dưới đất cho đến khi tối mịt mới chịu rời quán. Năm kia khi tôi về lại quán Số 6 thì cách bài trí, nhạc, khách…tất cả đã khác xưa, tôi thấy như mình vừa mất một cái gì đó….

Nhưng để thật sự cảm được cái đẹp-buồn của mưa Huế thì nên ngồi ở quán Sông Xanh nằm trong một con hẻm gần Đập Đá, nhìn ra Sông Hương. Tiếng hát khàn khàn, chậm rãi của Khánh Ly, những giọt cà phê đều đặn, cái lạnh ngấm ngầm xuyên qua quần áo, những hạt mưa bên ngoài khung cửa sổ rơi xiên xiên qua những tán lá cây, một dòng sông đang trãi mình trong mưa đầy vẻ cam chịu… tất cả tạo nên một cảm giác buồn buồn, nằng nặng khó tả. Tôi và vợ lại thường chọn một quán nằm bên kia đập đá, lấy tên một loài hoa. Quán này nằm lọt thỏm trong một khu vườn thật lớn ở Vỹ Dạ. Có lẽ chỉ có những kẻ đang yêu mới chọn quán này để ngồi vào ngày mưa vì chỗ ngồi hoàn toàn không có tường vách gì cả, trên đầu là một mái nhà lợp tranh. Gió thổi xuyên qua cây cối trong vườn làm lạnh thấu xương nhưng hai đứa hầu như không để ý gì cả! Sau này có những lúc nằm trong phòng cư xá ở Manchester, nhìn ra bên ngoài cửa sổ là bầu trời tháng 11 cũng xám xịt, cũng lạnh cóng và những hạt mưa cũng rơi xiên xiên, xiên xiên tôi thấy nhớ nhà nhớ Huế kinh khủng!

Càng gần tới Tháng Giêng Âm lịch thì mưa nhỏ dần nhưng vẫn còn dai dẳng lắm. Mưa làm cho cái lạnh càng da diết; ngược lại những cơn gió mùa Đông Bắc lại làm cho mưa có vẻ ẩm ướt hơn. Tôi nhớ như in những hôm gò lưng trong mưa lạnh đạp xe qua cầu Tràng Tiền đưa đón người yêu đi học. Gió thổi ngược vào người làm chiếc xe nặng trịch, chiếc áo mưa không đủ che cho hai ống quần và cổ áo nên làm mình lạnh thêm. ‘Khổ’ là thế mà vẫn cứ vui vẻ tự nguyện làm ‘công tác’ này trong suốt mấy năm cho đến khi cưới nhau về ở một nhà. Càng về cuối mùa mưa – trước và sau Tết một chút – thường có những cơn mưa phùn, mưa bụi. Đối với những kẻ lãng mạn thi một trong những cái thú là rảo xe qua những con đường nhỏ rợp bóng cây quanh Đại Nội hoặc dọc theo hai bờ sông Hương dưới cơn mưa bụi này để cảm nhận được cái tiết trời lúc giao mùa này.

Rồi một buổi sáng nào đó ta thức dậy, nhìn ra cửa sổ thấy bầu trời quang đãng hẳn. Không khí như nhẹ hẳn lên. Cây cối như cũng tỉnh ngủ hẳn ra cùng mình. Phía Đông dần dần hén lên một chút nắng. Ai đó dưới nhà nói: “A! Ngày ni nắng rồi! Tết ni mà ông (Trời) nắng cho vài ba ngày để đi thăm bà con thì sướng biết mấy!”. Cả xóm tục tục sửa soạn, lôi áo quần, mền mùng ra phơi hết cho kịp nắng. Ừ! Hình như sắp hết mùa mưa rồi thì phải.

nguồn A.T

*** Like A Rock

Joe Hung Nguyen

chua chua 4

 

I am, a lowly servant, fearing the Lord God,
Taking all His commands in my heart, obediently,
One may feed me with sinful thought
But, like a rock, my obedience is solid, wholeheartedly

 Does my talk about God’s love for all offend your sense?
Does my song, praising and glorifying God, upset your days?
You may throw harsh words at me,
But, like a rock, my trust in Him is solid, always.

Does my always cheerfully face bother you?
Does my broken English keep you distancing?
You may turn your back to ignore my existence,
But, like gentle air, I embrace you in serving

Does my friendly smile trouble your coldheartedness?
Do my prayers for enemies catch you with an odd feeling?
You may crush me with hatefulness,
But, like incense, my love for you will never be descending,

Because a loving, kind and compassionate, innocent man
Suffered with cruel whips and crown of thorns,
And crucified and died for all,
In my heart, a cross stands.

Wickedness may drown me with earthly temptation,
Or pour upon me the hatred, racism and division
But because God loves all more than life, everlasting.
And because God’s will is guiding me in loving,
Like a rock, my hope, my dream and my destination are in serving,
Like a rock, my faith in Him will never be wavering.

 Joe Hung Nguyen

*** GIỌT MÁU NÀO TRÔI ĐI

Hoa Nguyên

1anhveAnh em nào như thể tay chân?
Cánh tay ta đưa nhiều ngón cụt
Khi bước đi trên đường đầy gai góc
Máu ứa bàn chân cơ nhỡ ruột…rà!

Anh em nào như thể tay chân
Cánh tay gảy hay là chân cụt
Hãy đi và vẽ những tiếng chuông
Thiên đường của tay chân tù ngục

Những ngón tay bàn chân trong trại mộc
Làm sao cho máu chảy ruột mềm
Giọt máu nào trôi đi nước lã
Có mặt trời ngã giá bóng đêm

Những giọt máu bán mua không mặn
Nên mặt da nhiều lúc cũng ươn hèn
Hớp rượu tàn cũng nghe cay đắng
Có bóng ngày rời rã bóng đêm..

Có tiếng cười lời nói thâm uyên…
Từ trong thân tình xen lẫn dối gian
Thành thói đời ba hoa ngạo mạng
Ta chán chường qua ngõ dã tâm

Tiếng ong ve…nông nổi tình câm..
Ta về đây quanh quẩn… thú cầm
Đâu rồi thuở oanh rờn chiến địa
Có bạn thù xương máu đầm đìa

Đường đi qua có sinh có tử
Dây tử thần đến lược phải xưng danh
Nơi đó một con đường lành dữ
Vạch luân hồi thả xuống chợt mong manh…

Alexandre de Rhodes

Alexandre de Rhodes

quoc-ngu-2

Alexandre de Rhodes (phiên âm tiếng Việt là A-Lịch-Sơn Đắc-Lộ hay Cha Đắc Lộ,

A-lếc-xăng Đơ-rốt; 15 tháng 3 năm 1591 – 5 tháng 11 năm 1660)

là một nhà truyền giáo dòng Tên người Avignon và một nhà ngôn ngữ học.

Ông đã góp phần quan trọng vào việc hình thành chữ quốc ngữ Việt Nam hiện đại

bằng công trình Tự điển Việt-Bồ-La, hệ thống hóa cách ghi âm tiếng Việt bằng mẫu tự La tinh.

GiaoSiDacLo2 (1)

Xem tiếp tiểu sử tại Wikipedia https://vi.wikipedia.org/wiki/Alexandre_de_Rhodes

Kỷ niệm 354 năm qua đời của linh mục Alexandre de Rhodes (hay còn gọi là cha Đắc Lộ),

người đã khai sinh ra chữ Việt cho chúng ta đang sử dụng .

Xin cám ơn Người đã cho chúng ta biết được những mặt chữ tiếng Việt và

từ đó chúng ta không còn lệ thuộc vào chữ viết của giặc Tàu nữa .

Cha Đắc Lộ, một nhà truyền giáo vĩ đại của Giáo hội Công giáo Hoàn vũ nói chung và của Giáo hội Công giáo Việt Nam nói riêng,

„Khi cho Việt Nam các mẫu tự La Tinh, Alexandre de Rhodes đã đưa Việt Nam đi trước đến 3 thế kỷ“.

Năm 1651 khi chính thức xác định mẫu tự, bằng cách cho ra đời tại Roma nơi nhà in Vatican,

quyển tự điển đầu tiên và các sách đầu tiên bằng chữ Quốc ngữ,

cha Đắc Lộ đã „giải phóng “ nước Việt Nam khỏi nô lệ giặc Tàu .

Thật vậy, giống như Nhật Bản và Triều Tiên, người Việt Nam luôn luôn sử dụng chữ viết của người Tàu và bị nô lệ vì chữ viết này. Chỉ mới cách đây không lâu, người Triều Tiên mới chế biến ra một chữ viết riêng của họ. Còn người Nhật thì, sau nhiều lần thử nghiệm, đã phải bó tay và đành trở về với lối viết tượng hình biểu ý của người Tàu.

Trong khi đó, người Tàu của Mao Trạch Đông đang tìm cách dùng các mẫu tự La Tinh để chế biến ra chữ viết của mình, nhưng cho đến nay vẫn chưa thành công. Vậy mà dân tộc Việt Nam, nhờ công ơn của cha Đắc Lộ, đã tiến bộ trước người Tàu đến 3 thế kỷ.

Với hy vọng có thể tìm được nơi linh mục trở về với cát bụi, chúng tôi, đoàn Việt Nam đang công tác tại Iran đã đến Isfahan – thành phố cổ cách Teheran 350 km về phía Nam. Đó là một ngày đầu năm 2011, một tuần sau lễ Giáng sinh.

Quảng trường Naghsh-i Jahan của Isfahan là một trong những quảng trường lớn nhất địa cầu với kiến trúc tiêu biểu Hồi giáo đã được UNESCO công nhận là Di sản văn hóa nhân loại. Tại thành phố này, Alexandre de Rhodes đã sống những năm cuối đời. Mặc dù trước đó, phần đời chính của ông là ở Việt Nam.

Chúng tôi đến Isfahan vào một ngày mùa đông se lạnh nhưng tràn ánh nắng. Hỏi đường đến một nhà thờ Công giáo nào đó, chúng tôi được người dân chỉ dẫn tận tình. Điểm chúng tôi đến là nhà thờ Vank, nhà thờ thiên chúa lớn nhất Isfahan.

Qua giây phút ngạc nhiên trước đoàn khách Việt Nam, cha xứ nhà thờ nồng nhiệt đón tiếp chúng tôi “ hồ hởi “ . Trước nay, hiếm có du khách Á đông nào, nhất là từ Việt Nam xa xôi tới nơi đây. Ông nhiệt tình dẫn chúng tôi đi “ tham quan “ và nói về lịch sử nhà thờ.

Nằm trong thế giới Hồi giáo, nhà thờ có kiến trúc bề ngoài đặc trưng Hồi giáo, nhưng vào bên trong, với các tranh và tượng Thánh đầy ắp khắp các bức tường, cứ ngỡ như đang ở một nhà thờ nào đó ở Roma hay Paris.

Cha xứ càng ngạc nhiên hơn khi chúng tôi hỏi về giáo sĩ Alexandre de Rhodes – người đã mất cách đây hơn 350 năm. Nhà thờ Vank có một thư viện lớn, lưu trữ nhiều tư liệu quý giá. Cha xứ nói người vào thư viện tìm kiếm. Lát sau, một thanh niên to khỏe khệ nệ mang ra một cuốn sổ dày cộp, to chừng nửa cái bàn, bìa bọc da nâu ghi chép về các giáo sĩ đã làm việc và mất tại đây. Ngạc nhiên và vui mừng tột độ, cha và chúng tôi tìm thấy dòng chữ ghi Alexandre de Rhodes mất năm 1660.

Như vậy, không nghi ngờ gì nữa, chính tại nhà thờ Vank này, cha Đắc Lộ đã sống và làm việc những năm cuối đời.

Chúng tôi hỏi: “Thưa cha, liệu có thể tìm thấy mộ của Alexandre de Rhodes ở đâu không?”.

Cha xứ tận tình chỉ đường cho đoàn khách đặc biệt tới Nghĩa trang Công giáo ở ngoại ô thành phố.

Nghĩa trang nằm dưới chân đồi.

Các ngôi mộ nằm êm mát dưới tán rừng thông, tùng, bách mênh mông, vắng lặng.

Lạ một điều, nghĩa trang Công giáo nhưng không thấy một cây thánh giá nào.

Chia nhau đi các ngả tìm kiếm, lần mò hồi lâu, chúng tôi reo lên khi thấy ngôi mộ có ghi rõ tên Alexandre de Rhodes.

Mộ ông nằm bên cạnh hai ngôi mộ khác thành một cụm ba ngôi. Gọi là mộ, nhưng không đắp nổi như ở Việt Nam.

Đó chỉ là tảng đá lớn nằm nghiêng nửa chìm, nửa nổi trên mặt đất. Dù đã trải qua mưa nắng, biến động cuộc đời hơn ba thế kỷ, chữ khắc trên tảng đá còn khá rõ nét.

Trong ánh nắng ban trưa, chúng tôi kính cẩn nghiêng mình trước ngôi mộ,

ai cũng thấy dâng lên trong lòng mình những cảm xúc bâng khuâng khó tả.

Tem_Alexandre_de_Rhodes

2- CHỮ QUỐC NGỮ VÀ CHA ĐẮC LỘ

Trong cuốn Giáo sử 1, Linh Mục Phan Phát Hườn đã từng dày công nghiên cứu công trình truyền bá Phúc Âm qua ngôn ngữ mà các Vị Thừa Sai bắt gặp khi chuyển đạt tư tưởng hầu giúp dân bản xứ lĩnh hội lời Chúa được dễ dàng. Chính các Ngài đã mò mẫm học tiếng bản xứ để rồi phát minh ra một loại mẫu tự mới dể viết hơn. Đó là tài năng phi thường nhờ vào sức Thiêng nên các Ngài mới làm được…

Mời xem bài nguồn gốc Chữ Quốc Ngữ bên dưới do Cố Linh Mục Phêrô Phan Phát Hườn

chuyển đạt qua Cuốn Giáo Sử 1 do Ngài thực hiện…

***

Chử Quốc ngữ không phải được phát sinh do Giáo sĩ Alexandre De Rhôdes, nhưng Ngài đã khảo cứu từ 2 quyển tự điển chỉ viết bằng tay; cuốn thứ nhất là tự điển Bồ-Việt (Portuguese-Vietnamese) do nhà truyền giáo Antonio Barbosa soạn và quyển thứ hai là tự điển Việt-Bồ (Vietnamese-Portuguese) do Giáo sĩ Gaspar d‘ Amiral thực hiện, nhưng cả hai đều chỉ viết bằng tay;

Vị Thừa sai Alexandre De Rhôdes đã hoàn thiện hệ thống chuyển tả (transcription).

Ngài nói : „Đây không phải là công việc dễ dàng“. Quyển nầy được in tại Roma .

Quyển thứ hai là cuốn Văn phạm Việt Nam và cuốn thứ ba là sách Giáo lý (Catechism) gồm 324 trang

bằng song ngử Việt-Latin cũng đều in tại Roma vào khoảng năm 1651, 1652.

Các Ngài đã dùng 23 mẫu tự Latin để làm thành chử Quốc Ngữ

gồm A B C D E F G H I J K L M N O P Q R S T U V X Y,

không có chử J W Z.

Sau nầy các nhà ngôn ngữ học điều chỉnh đã loại bỏ thêm chử F.

Ngoài ra còn thêm các mẫu tự Ă Â Đ Ê Ô Ơ Ư và 5 dấu: sắc, huyền, hỏi, ngã, nặng; như vậy trong chử Quốc Ngử có 29 mẫu tự: A Ă Â B C D Đ E Ê G H I K L M N O Ô Ơ P Q R S T U Ư V X Y.

Xin trích một đoạn trong quyển sách Giáo Lý (Catechism) do Giáo Sĩ Đắc Lộ biên soạn được ấn loát tại Rome dày 324 trang. Đây là cuốn sách văn xuôi đầu tiên của nền văn hoá Việt Nam và là nền móng cho sự điều chỉnh để trở nên hoàn hảo hơn sau nầy:

“ Dies Primus (Tiếng Latin) Ngày Thứ Nhít.

Ta cầu cù đức Chúa blời giúp ức cho ta biết tỏ tuàng đạo Chúa là nhưàng nào, vì bậy ta phải…ở thế nầy chẳng có ai foú lâu, vì chưng kẻ đến bảy tám mươi tuổi chẳng có nhèo, vì bậy ta nên tìm đàng nào cho ta được foú lâu, là kiếm … foú bậy, thật là viẹ người cuến tử, khác phép thế gian nầy, dù mà làm cho người được phú qúi… chẳng làm được cho tangày fau.“

Phần có 3 dấu chấm… là chử qúa mờ, không thể đọc được.

Qua đoạn văn trên, chúng ta thấy có sự khác biệt khi Giáo Sĩ bắt đầu viết chử Quốc Ngử và bây giờ.

Thứ Nhít Thứ Nhứt

Cù Cùng

Ức Sức

Blời Trời

Tỏ Tuầng Tỏ Tường

Bậy Vậy

Việ Việc

Cuên Tử Quân Tử

Foú Sống

Ngày Fau Ngày Sau

Về sau, Giám Mục Taberd, Linh Mục Ravier, Grenibrel, Cordier, Ông Huỳnh Tịnh Của và Pétrus Trương Vĩnh Ký đã điều chỉnh lại cho hoàn hảo.

Năm 1838, Giám Mục Taberd đã soạn quyễn tự điển Việt -La và La-Việt gồm 732 trang.

Năm 1888, ông Pétrus Trương Vĩnh Ký, người rành tiếng Latinh, Hy Lạp, Pháp, Anh, Tàu, Nhật Bản đã cổ vũ cho việc dùng chử Quốc Ngử thay tiếng Nôm vì rất khó viết, khó học, chỉ có 5% người dân biết viết, biết đọc !

Năm 1898, Linh Mục Genibrel soạn quyễn tự điển Pháp-Việt.

Ông Huỳnh Tịnh Của (1834-1907) đã soạn quyển tự điển Việt đầu tiên, đây là nền móng cho những loại tự điển nầy về sau

Vào năm 1931, nhà sách Khai Trí đã cho phát hành cuốn tự điển La-Việt gồm 1272 trang, đây là cuốn đầy đủ nhất từ trước đến nay.

Năm 1934, Giáo Sĩ Cordier cũng đã ấn hành cuốn tự điển Pháp-Việt.

Chử Quốc Ngữ có những ưu điểm mà tiếng Anh không có; mổi chử, dù dài, vẫn phát 1 âm, ví dụ chử „nghiêng“ có tới 7 mẩu tự, nhưng chỉ phát 1 âm và người nghe hiểu và viết lại được liền, không như tiếng Anh, mỗi lần xưng tên, phải đánh vần, người đối diện mới biết, rất bất tiện, nhất là khi nói trên điện thoại.

Về cách phát âm 5 dấu sắc huyền hỏi ngã nặng thì với người ngoại quốc rất khó, khó như người Việt đã trên 18 tuổi sang Hoa Kỳ, lưởi đã cứng, dù nói tiếng Pháp lưu loát, khi nói chuyện với Mỹ, đôi khi phải dùng động từ quơ, quơ cả hai tay !

Cô Ỷ Lan làm việc tại Phòng Thông Tin Phật Giáo thuộc PGVNTN Văn Phòng II Viện Hoá Đạo Hải Ngoại tại Paris đã đưa ra nhận xét trong tiếng Việt có những cái thật vô lý:

Anh Không Quân bay giữa bầu trời thì lại không có quần (Không Quần),

rủi có chuyện gì xảy ra phải búng dù, người bên dưới nhìn lên, coi kỳ lắm!

Trái lại anh Hải Quân ở ngoài biển khơi phải ăn mặc cho thoáng hơn để bơi khi hữu sự, thì lại mặc hai quần (Hải Quân).

Điều nầy chứng tỏ cách phát âm 5 dấu của tiếng Việt rất khó đối với người ngoại quốc và các cháu người Việt ở thế hệ hai tại Hoa Kỳ khi nói tiếng Việt, đôi khi người nghe không thể hiểu được vì bị trở ngại lúc phát âm 5 dấu nầy không chỉnh!

Trong tiếng Anh và Tiếng Việt có sự trùng hợp lý thú, đó là động từ cắt,cut; đồng nghĩa, đồng âm và chử dài nhất trong tiếng Anh cũng chỉ phát ra 1 hoặc 2 âm, chử smiles, những nụ cười, dài hơn 1 mile !

Năm 1618 từ Macao hai vị Thừa sai Pedro Marquez và Christoforo Borri đến Trung phần Việt Nam, sau đó các Ngài đến Quảng Nam và nói với Thống đốc sở tại rằng lúc 11 giờ khuya ngày 19-12-1620 sẽ có nguyệt thực nhưng Thống đốc không tin vì nhà Thiên văn đã không trình cho Chúa Nguyễn Phúc Nguyên biết. Thời bấy giờ người Việt Nam tin rằng nguyệt thực là do rồng nuốt mặt trăng, bởi thế Vua truyền lệnh cho dân bắn súng, đánh chiêng, trống, phèng la để đuổi rồng. Trước 11 giờ khuya, dân chúng tụ tập tại điểm hẹn và qủa là nguyệt thực đã xảy ra, Thống đốc bèn ra lệnh bắn súng , đánh chiêng trống phèng la đuổi rồng. Từ đó Cha Borri rất có uy tín.

Vào ngày 21-5-1621 Nhà Thiên văn của Chúa Nguyễn Phúc Nguyên thông báo sẽ có nhật thực, Cha Borri cũng xác nhận điều nầy nhưng Ngài qủa quyết với Thống đốc rằng ở Việt Nam sẽ không thấy hiện tượng nầy, do vậy ông tin tưởng vào Cha Borri mà không thông báo lệnh đuổi rồng của Chúa Nguyễn cho dân Quảng Nam. Đúng 3 giờ chiều ngày 21-5-1621, Vua và Quan Triều đình ra sân xem nhật thực, đợi hoài mà không thấy rồng xuất hiện nuốt mặt trời, Nhà Thiên văn phải xin lỗi và hứa ngày mai cùng giờ rồng sẽ đến. Cũng đúng 3 giờ chiều ngày hôm sau Vua Quan lại ra sân lần thứ hai nhưng rồi rồng lại lỗi hẹn. Chúa Nguyễn Phúc Nguyên nỗi giận lấy lại đất đã cấp phát trước đây và phạt qùy gối để đầu trần ngoài sân …

Năm 1627 Giáo sĩ Đắc Lộ là người đã tặng đồng hồ qủa quýt và cuốn hình học cho Chúa Trinh Tráng ở Đàng Ngoài.

Vào năm 1642, Chúa Nguyễn Phúc Lan ở Đàng Trong (lúc đó bản đồ Việt Nam mới đến Phú Yên) mời Giáo Sĩ vào cung điện dạy môn đại số, sau khi Giáo Sĩ tặng Chúa vài đồng hồ qủa quýt, nhưng ban đêm lại giảng đạo, bị Chúa đuổi ra khỏi thành phố Huế, phải chạy vào Đà Nẳng.

Giáo Sỉ là con người thông minh, đẹp trai mà chẳng được Công Chúa nào tỏ tình như Công Chúa Mai Hoa dưới thời Hậu Lê đã ngỏ ý muốn cầu hôn với Linh Mục Ordonez de Cevallos và Chúa Trịnh Tráng cũng đã mời Giáo Sĩ Baldinotti thuộc Dòng Tên định cư luôn !

Có người hỏi thời Vua Tự Đức, Giám Mục nào đã xây dựng trại cùi để cứu giúp kẻ cùng khổ bị xã hội ruồng bỏ ?

Xin thưa đó là Giám Mục Retord cai quản giáo phận Hànội, Ngài đã xây cất 20 căn nhà tại Vĩnh Trì vào năm 1851,

bốn năm sau khi Vua Tự Đức lên ngôi (1847-1883) để làm bệnh viện cho người cùi xấu số !

Đến năm 1930, Cha Jean Cassaigne đã thành lập trại cùi tại Di Linh, Lâm Đồng.

Ngài bị lây bệnh và mất tại đó sau khi làm Giám Mục Địa Phận Sàigòn.

Trong năm 1971 đã có tới 6189 Nữ Tu phục vụ tại 41 bệnh viện với 7000 bệnh nhân,

239 trạm phát thuốc miển phí, 36 nhà bảo sanh, 9 trại cùi với 2500 bệnh nhân, 82 cô nhi viện với 11.000 em và 29 nhà dưởng lảo.

Các Nữ Tu dòng Thánh Phao Lô đã lăn xả vào phục vụ tại các Viện Bào Lao.

Các Sư Huynh dòng Lasan đã giáo dục, đào tạo nhiều thanh niên ưu tú, nhiều nhân tài,

các vị lãnh đạo nhiệt tâm phục vụ cho quê hương, dân tộc.

Tất cả đều nằm trong chính sách cứu nhân, độ thế của Vatican

*** TÌNH KHÚC THÁNG SÁU

Nhật Quang

1aodai trang

Khi cánh bằng lăng khoe sắc tím
Bình minh hồng ươm những giấc mơ…
Tháng Sáu ơi! Ta nhớ vô bờ
Chút luyến lưu…buổi ban đầu gặp gỡ

Cành phượng hồng đong đưa màu rực rỡ
Tà áo em hong vạt nắng vàng say
Đồi cỏ non, ta trải mộng hoa đầy
Chiều hò hẹn, bên em vơi niềm nhớ

Chiều tháng Sáu dệt thơ trên lá cỏ
Đời đẹp như những ước mộng màu xanh
Bao kỷ niệm…ướp ngọt đêm trăng lành
Trao tặng em nụ hôn đầu ngan ngát

Tháng sáu về, cơn mưa chiều dịu mát
Từng giọt buông trên cung phím chơi vơi
Nghe thanh thót dấu yêu đọng bên đời
Gom ký ức…trải vương màu ân ái.

Nhật Quang
(Sài Gòn)

*** Những chất thuốc của cây xoan

Võ Quang Yến

hoa xoan

Xoan tây trước bến bao lần đỏ
Lệ nhỏ hai lần chàng có hay ?
Lưu Trọng Lư

Soạn xong bài viết, tôi chạy tìm một cây xoan để chụp hình so sánh với cây sầu đâu đã thấy ở trên bờ sông An Cựu. May mắn quá, ở Paris tôi bắt được một cây, và là cây độc nhất, ở Jardin des Plantes. Cây to lớn gần như cổ thụ nên khó so sánh với cây ở Huế non tơ mảnh khảnh. Hôm ấy lại vào xuân, chưa có hoa, chỉ còn trái trăng trắng lúc nhúc tô điểm thân cành trơ trụi đen thui, nổi bật trên nền trời xanh thẳm trông cũng ngoạn mục. Lẽ tất nhiên, tôi đợi đầu hè trở lại thì chiêm ngưỡng được những chùm hoa tím tươi thắm không khác gì những hoa sầu đâu. Thảo nào bên ta thường lẫn lộn xoan với sầu đâu, trong dân gian đã đành mà ngay cả ở trong sách vở. Theo Gs Đỗ Tất Lợi, xoan là loại cây mọc hoang bên nước ta nhưng cũng được trồng để lấy gỗ làm cột nhà, đồ dùng. Về mặt chữa bệnh, hột xoan được đem làm thuốc với tên khổ luyện tử. Người ta dùng vỏ thân và vỏ rễ gọi là khổ luyện căn bì để chữa giun sán ; lá sắc diệt được côn trùng. Người ta còn để lá xoan vào chum đựng các loại đậu để tránh mọt, hoặc lấy nước tắm súc vật (trâu, bò, ngựa) để chữa ghẻ (ĐTL).
Tên khoa học của xoan là Melia azedarach Linn., thuộc họ Xoan Meliaceae (khác với cây sầu đâu Azadirachta indica A. Juss tức Melia azadirachta Linn. hay Melia indica cùng họ) (PHH). Ngoài Việt Nam, xoan còn mọc ở các nước châu Á, tràn qua cả châu Phi, châu Úc, châu Mỹ, vì vậy nó mang nhiều tên tùy theo xứ : kulen ở Trung Quốc, sendan hay ochi ở Nhật Bản, dharek hay dhrek ở Ân Độ, bakain ở Pakistan. Âu Mỹ gọi nó là chinaberry, China tree, chinaberry tree, bead tree, Persian lilac tree hay lilas du Japon, lilas des Indes, laurier grec, faux sycomone (ĐTL). Gần đây, tôi được đọc bài của bà Nguyễn Thị Hồng Nhung (noithatkhaihong.com.vn) xếp cây xoan làm 4 nhóm : xoan ta (còn gọi xoan trắng, có khi xoan lai), xoan tía (gỗ đỏ, còn gọi sầu đâu, sầu đông), xoan đào (tức xoan rừng, màu hồng xẩm), xoan chụi hạn (tức là cây neem), không phân biệt rõ ràng sầu đâu và xoan. Tuy không được khảo cứu sâu rộng như cây sầu đâu, cây xoan cũng đã được nhiều phòng thí nghiệm đặc biệt chú š vì cây có nhiều hoạt chất hay ho mà quan trọng nhất vẫn là azadirachtin hay ấn khổ luyện tử tố như ở cây sầu đâu. Chất nầy có khả năng xua đuổi hoặc phòng ngừa sâu bọ phá hoại, tác dụng lên nền sinh lš thần kinh và cơ thể của chúng, ngăn chặn hay phá hủy quá trình biến thái của nhộng trần, cuộc sinh trưởng của sâu lớn, giảm hạ hay ức chế việc đẻ trứng của sâu cái. Trong phòng thí nghiệm, nhiều loại M. azedarach đã được khảo xét, phần lớn thuộc var. japonica Makino, nhưng cũng thấy có var. australasica, var. subtripinnata, những giống mọc ở Ai Cập, Jamaique, Okinawa bên Nhật Bản, Cucurova bên Thổ Nhĩ Kỳ hay Porec bên Nam Tư.

Độc tính của xoan

Trong dầu hột xoan, nhiều hóa chất dễ bốc hơi đã được xác định : pinen, menthen, camphen, cymen, cadinen, terpinolen cùng linalool, citronellol, cadinol, guaiacol, cresol, phenol. Một nhóm hóa chất thường gặp là steroid, phần lớn ở rễ, có khi ở trái : sitosterol, campesterol, azedarachol, campestenon, stigmastenon. Những terpenoid được tìm ra trong đủ bộ phận của cây : kulinon, kulacton, kulolacton trong vỏ, melianon, melianol, melianodiol trong trái. Những acid khác như vanillic, cinnamic acid, những alcool như lupeol, tricosanol, triacontanol, những ceton như cycloartanon, cycloeucalenon, bakalacton, cũng đã được tìm ra. Tuy những amin acid không có nhiều trong dầu hột xoan, hột chỉ chứa 10,25% protein và lượng đạm N trong protein 13,9%, người Ấn Độ dùng hột xoan làm nguồn amin acid trong thức ăn. Quan trọng là những limonoid : những azedarachin và các dẫn xuất acetyl, đã từng thấy ở sầu đâu, được phát hiện trong vỏ cành, vỏ rễ cùng những trichilin và các dẫn xuất acetyl, diacetyl, những meliacarpinin và các dẫn xuất. Một phần lớn các hóa chất có mặt đưới dạng glycosid : sitosterol glucosid trong trái, trong rễ, flavon rhamnopyranosyl glucopyranosid trong vỏ cành, quercetin rutinnosid trong lá, meliacdien xylopyranoid trong hột, apigin galactopyranosid trong rễ,

Ở nước ta, ai cũng biết sầu đâu và xoan mang chất độc (ĐTL). Nhiều cuộc thực nghiệm đã chứng minh cho cả người lẫn thú vật (12). Một phần chiết từ cây gây chết cho heo con, bò con, thỏ và nhiều loại gia cầm khi tiêm vào hay cho ăn vì gây hỗn loạn, chảy máu trong gan, thận, ruột, dạ dày (6). Con nít chơi nuốt hoa, lá, vỏ cây, hay thường là hột xoan thì buồn nôn, oẹ mửa, ỉa chảy, run giật và sau vài ngày có thể chết. Một nhóm khảo cứu viên ở Canberra bên Úc đã chiết xuất luôn đuợc bốn melatoxin từ trái cây. Những chất nầy không bền, gặp chút acid là tan hủy cũng như khi các hóa sư thử làm ròng hay phân tích qua silice. Vì vậy năng suất chiết xuất rất kém (0,5%), nhưng họ có đủ số lượng để thử lên heo và xác định các chất độc ấy đã gây ra những triệu chứng thần kinh dữ dội và giết chết heo (7) Tuy vậy, ác tính nầy, cũng như mọi chất độc khác, có thể có ích nếu biết dùng đúng liều lượng và biết hướng vào mục tiêu. Một phần chiết từ cành, vỏ rễ đã tỏ ra rất độc đối với tế bào khối u của người. Chiết từ vỏ cành, những chất hydroxy amoorastaton, hydroxy amoorastatin, acetoxy amoorastatin rất độc đối với các tế bào u tuyến ung thư thượng bì ở phổi A-549, buồng trứng SK-OV-3, ruột già HCT-15 cũng như melanoma ác tính SK-MEL-2 (15). Một phần chiết từ vỏ rễ trong ấy người ta đã tách chiết ra những dẫn xuất acetyl tigloyl melacarpinin, deacetyl và isobutyl sendanin cùng hydroxy amoorastin thì lại rất độc cho tế bào bạch cầu lympho P388 (16).

Bảo vệ lúa trồng

Đằng khác, chất meliacin gây một sức chống cản sự nhiễm trùng của virus vào tế bào động vật có vú (10), ức chế cuộc sinh sản nhiều loại virus thường tác động lên chân và miệng FMDV, poliovirus BHK-21(17) và cả những virus VPr, VSH-1, VSH-2, Junin, Tacaribe, Sindbis (13). Meliacin, chiết từ lá, là một peptid có một trọng lượng phân tử khoảng 2200-2300, chỉ gồm toàn những acid béo. Một bản báo cáo khá xưa có nói đến một phần chiết bằng nước có khả năng làm thuyên giảm một cơn hen (1). Đấy là chưa nói đến khả năng chống nhiệt, chữa hủi, eczema cùng những hỗn loạn khác trong cơ thể (7). Người ta cũng có báo cáo về chất vanillic acid tác dụng lên Ascaris suilla và Hymenolepis nana chữa được giun, sán (2). Còn genudin thì ức chế Plasmodium falciparum nên có thể dùng để chữa trị sốt rét (12). Như vậy, linonoid và cả glycosid (9)đều có tác dụng chống khuẩn. Nhưng quan trọng nhất của các hoạt chất cây xoan, cũng như cây sầu đâu, là trừ diệt sâu bọ. Các limonoid như meliacarpinin, trichlin, azedarachin cùng các dẫn xuất đều được đem thử lên nhiều loại sâu, đặc biệt Spodoptera exigua và S. eridania. Những meliacarpinin mạnh nhất vì hoạt tính đã diễn biến từ 50 ppm, tương đương với nồng độ 1micron/cm2, trong lúc những trichlin phải lên đến 200 ppm, còn những azadirachtin thì vào khoảng 200-4000 ppm. Suy ra, về mặt cấu trúc, những limonoid có công hiệu nhất là những loại apo-euphol mang vòng epoxid C14-C15 và có cầu lactol C19-C29. Sự kiện nầy đã được chú ý trong cuộc khảo cứu chữa trị ung thư (12). Ngoài ra melianoniol, chiết từ lá, phá rầy việc ăn uống của sâu bắp cải Pieris repae; salanin, ochninilid B, azadiron, melianon, cũng như một phần chiết từ lá ức chế cuộc sinh trưởng và ngăn chận sự biến thái của ấu trùng sâu đậu Epilachna varivestis ; còn azedarachol từ vỏ rễ thì lại tác động lên ấu trùng sâu Ajrotis sejetum.

Nói chung, ngoài azadirachtin, dầu hột xoan chứa đựng meliantriol (4), có lẽ là chất thuốc cần yếu nhất cho một nước trồng lúa như nước ta vì nó diệt được sâu đục lúa Tryporyza incertulas cùng các sâu Sogatella furcifera, Nilaparvata lugens. Kỹ nghệ thuốc trừ sâu đã bán các loại thuốc JAP-821, JZAP-822 có khả năng bảo vệ cây lúa (8). Riêng genudin, chiết xuất từ gỗ thân cây, tác dụng rất hiệu quả lên các sâu ăn lúa Heliothis zea và Spodoptera frugiperda (12). Bột hột xoan cũng được dùng để bảo vệ lúa mì chống sâu Trogoderma granarium (4). Dùng nước chiết, người ta đạt được một chất khử nấm, chống sâu thuốc lá Peronospora tabacina(3). Từ nấm Penicillum janthinellum mọc trong trái xoan nhiều hóa chất đã được chiết xuất : emodin, jathinon, đặc biệt citrinin ức chế Leishmania phát triển (20). Còn từ nấm Penicillium mọc trong vỏ rễ, những chất preaustinosid A, B có tính chất kìm vi khuẩn trên Escherichia coli, Staphylococcus aureus, Pseudomonas aeruginosa, Bacillus sp. (19). Phần chiết với methanol cành xoan rất hiệu nghiệm chống các trùng Helicoverpa armigera, Earias vittella, Plutella xytostella (18). Lá và vỏ cây đã được dùng trong cuộc chữa trị các bệnh phong hủi và tạng lao (14). Một văn bằng sáng chế Trung Quốc cho trộn 65-75% chất độc của xoan với nicotin và stemonin để làm thuốc bảo vệ cây bông và rau cỏ, cam đoan không độc cho người và gia súc (11). Tính chất khử nấm của xoan cũng được khai thác làm dầu đánh bóng áo và quần da bên Nhật Bản. Cũng nên biết gỗ cây xoan có thể dùng làm giấy hay tơ vải. Người ta theo dỏi tiến triển của độ dày màng tế bào cũng như kích thước ruột, sợi trong vòng gỗ cây theo mùa để sử dụng đúng lúc. Như sầu đâu, cây xoan đã cống hiến một loạt hóa chất có tính chất sinh học hay ho có thể áp dụng vào y khoa, canh nông hay kỹ nghệ.

Cây xoan Tứ Xuyên

Trong số các cây xoan, có một loại mọc ở vùng tây bắc nước ta (Sơn La, Lai Châu,..) và cả ở miền mam Trung Quốc nên đưọc gọi là xoan Tứ Xuyên. Tên khoa học của nó là Melia toosendan Sieb.et Zucc., người Trung Quốc gọi lian ye (cây) và chuan lian zi (thuốc chiết từ trái), tương đương với tên sen ren shi của Nhật Bản. Một vài hóa chất trong cây đã được thấy với xoan và sầu đâu : isochuanliansu từ vỏ, melianon, diacetyl sendanin từ trái, trichlin với hai dạng I và J từ vỏ cành. Những chất khác là toosendanin từ vỏ, toosendansterol A, B, melia ionosid A, B, toosendanosid từ lá, acetyl toosendantriol, methyl toosendapentol từ trái.

Tác dụng ngừa ăn, chống sâu bọ của toosendanin đã được khảo sát trên sâu Spodopstera litura (21). Đem so sánh với azadirachtin trên sâu đục cành Scirpophaga incertulas thì toosendanin có phần mạnh hơn, trái lại ít công hiệu bằng khi thử lên sâu đục lúa Ostrinia furnacalis. Dù sao, hột xoan có thể dùng trong canh nông để chống các sâu phá hoại lúa như Nilaparvata lugens, Orseolia oryzae và cam, chanh như Diaphorina citri, Panonychus citri (21). Một phần chiết từ vỏ chứa toosendanin đã được thử nghiệm với kết quả khả quan lên các sâu phá hoại hột dự trữ như Cryptolestes ferrugineus, Sitophilus oryzae, Tribolium castaneum (100). Cũng như cây xoan, một phần chiết từ trái đã tỏ ra rất độc hại cho tế bào ung thư vú và MCF-7 (27). Chất diacetyl sendanin chiết từ trái đã đuợc khảo sát về mặt chống ung thư. Các tế bào SF-539 và PC-3 ở CNS và tiền liệt tuyến rất nhạy cảm và so với adriamycin, deacetyl sendanin ức chế chọn lọc hơn lên cuộc phát triển tế bào ung thư ở người (25). Người ta đã có dùng thuốc chiết từ trái để chữa dạ dày khi bị đau cúm hay giun, sán hoành hành (22). Dầu chiết từ xoan cũng được đem trộn với borneol để rải vào giày, tất chống mùi hôi (26). Bột hột xoan và bột rễ bạch chỉ đã được dùng trong một công thức chữa đau chân (23). Sau cùng, một phần chiết từ hột gồm có alcaloid cũng được trộn với bột đậu nành và vài muối kim loại để làm phân bón (24). Như vậy, cây xoan Tứ Xuyên tuy ít, cũng góp phần vào canh nông, y học, kỹ nghệ như xoan và sầu đâu.

Tất cả các loại cây xoan đều là tài nguyên thiên nhiên sẵn có, đáng được khai thác sâu rộng.

Thông tin Khoa học và Công nghệ 4 1996
Tham khảo
1- B. Natl, Chemical examination of the heartwood of Melia azedarach, J. Sci. Ind. Res. (India) 13B (1954) 740-1

2- T. Tanaguchi, Anthelmintic constituents of Melia azedarach, Osaka Shiritsu Daigaku Igaku Zasshi 9 (1960) 445-6

3- D.B. Campbell, Fungicide from chinaberries, US 3 262,844 (1966) 2tr.

4- P.U. Saramma, A.N. Verma, Efficacy of some plant products and magnesium carbonate as protectants of wheat seed against attack of Trogoderma granarium, Bull. Grain Technol. (3) 9 (1971) 207-10

5- P.R. Zanno, I. Miura, K. Nakanishi, Structure of the insect phagorepellent azadirachtin. Application of PRFT/CWD Carbon-13 Nuclear Magnetic Resonance, J. Amer. Chem. Soc. (7) 97 (1975) 1975-7

6- D.S. Hothi, B. Singh, M.S. Kwatra, R.S. Chawla, A note on the comparative toxicity of Malia azedarach (Drek) berries to piglets, buffalo-calves, rabbits and fowls, J. Res. Punjabn Agric. Univ. (2) 13 (1976) 232-4

7- P.B. Oelrichs, M.W. Hill, P.J. Vallely, J.K. MacLeod, T.F. Molinski, Toxic tetranortriterpenes of the fruit of Melia azedarach, Phytochem. (2) 22 (1983) 531-4

8- J. Hu, J. Yang, L. Chen, Preliminary study on the antifeedant and toxicity properties of chinaberry (Melia azedarach L.) seed oil against major insect pests of rice, Zhongguo Nongyu Kexue (Beijing) (5) (1983) 63-9

9- S.D. Srivastava, Limonoids from the seeds of Melia azedarach, J. Nat. Prod. (1) 49 (1986) 56-61

10- G.M. Andrei, E.B. Damonte, R.A. De Torres, C. E. Coto, Induction of refractory state to viral infection in mammalian cells by a plant inhibitor isolated from leaves of Melia azedarach, Antiviral Res. (4) 9 (1988) 221-31

11- X. Cao, J. Li, M. Du, Insecticidal compositions containing Malia azedarach toxin for crops, Faming Zhuanli Shenqing Gongkai Shuomingshu CN 1,045,684 (1994) 4tr.

12- D.E. Champagne, O. Koul, M.B. Isman, G.G.E. Scudder, G .H.N. Towers, Biological activity of limonoids from the rutales, Phytochem.(2) 31 (1992) 377-94

13- G. Andrei, A.S. Couto, R.M. De Lederkremer, C.E. Coto, Purification and partial characterization of an antiviral active peptide from Melia azedarach L. , Antìviral Chem. Chemother. (2) 5 (1994) 105-10

14- H.C. Kataria, Medicinal plant Melia azedarach used in leprosy control, Otiental J. Chem. (2) 10 (1994) 178-80

15- J.W. Ahn, S.U. Choi, C.O. Lee, Cytotoxic limonoids from Melia azedarach var. japonica, Phytochem. (6) 36 (1994) 1493-6

16- H. Itokawa, Z.S. Qiao, C. Hirobe, K. Takeya, Cytotoxic limonoids and tetranortriterpenoids from Melia azedarach, Chem. Phar. Bull. (7) 43 (1995) 1171-5

17- M.B. Wachsman, C.E. Coto, Susceptibility of picornaviruses to an antiviral agent of plant origin (meliacin), Rev. Argent. Microbiol. (1) 27 (1995) 33-7

18- M. Rani, P. Suhag, R. Kumar, R. Singh, S.B. Kalidhar, Chemical coponents and biologiacl efficacy of Melia azedarach stems, J. Med. Arom. Plant Sci. (4) 21 (1999) 1043-7

19- R.M. Geris dos Santos, E. Rodrigues-Filho, Meroterpens from Penicillium sp found in association with Melia azedarach, Phytochem. (8) 61 (2002) 907-12

20- A.M. Do Rosario Marinho, E. Rodrigues-Filho, M.L.R. Moitinho, S. Lourivaldo, Biological active polyketides produced by Penicillium janthinellum isolated as an endophytic fungus from fruits of Melia azedarach, J. Brazilian Chem. Soc.(2) 16 (2005) 280-3

Melia toosendan

21- S.F. Chiu, The active principles and insecticidal properties of some Chinese plants, with special reference to Meliaceae, Schriftenz. GTZ 161 (1984) 255-61

22- T. Nakanishi, A. Inada, M. Nishi, T. Miki, R. Hino, T. Fujiwara, The structure of a new natural a apotirucallane-type triterpene and the stereochemistry of the related terpenes. X-ray and 13C NMR spectral analyses, Chem. Letters (1986) 69-72

23- S. Qiu, Thermal-insulated onsoles for foot disease control, Faming Zhuanli Shenqing Gongkai Shuomingshu CN 85,106,399 (1986) 6tr.

24- H. Zhang, Manufacture of trace element fertilizers containing amino acids, Faming Zhuanli Shenqing Gongkai Shuomingshu CN 1,069,257 (1993) 6 tr.

25- H.M. Kim, G.T. Oh, S.B. Han, D.H. Hong, B.Y. Hwang, Y.H. Kim, J.J. Lee, Comparative effects of a adriamycin and 28-deacetyl sendanin on in vitro growth inhibition on human cancer cell lines, Arch. Pharmacal. Res. (2) 17 (1994) 100-3

26- D. Jun, Sprays containing Melia toosendan extracts and borneol for foot odor, Faming Zhuanli Shenqing Gongkai Shuomingshu CN 1,089,136 (1994) 5tr.

27- Y.H. Kim, B.Y. Hwang, S.E. Kim, G.T. Oh, J.S. Ro, K.S. Lee, J.J. Lee, Isolation of two limonoids from the fruits of Melia toosendan, Yakhak Hoechi (1) 38 (1994) 6-11

28- Y.S. Xie, P.G. Fields, M.B. Isman, W.K. Chen, X. Zhang, Insecticidal activity of Melia toosendan extracts and toosendanin against three stored-product insects, J. Stored Prod. Res. (3) 31 (1995) 259-65

*** mầu của tư

Hoàng Xuân Sơn

hoa 1

 
cũng không có gì ghê gớm
khi tôi nói lái một chữ
bần thần
bằng bức xúc rốt ráo
xin đừng nhăn mặt
nói nhịu nói lắp
có nghĩa mình đương căng dây dọi
làm thước thợ đo tường
vượt quá rặng liễu thuỳ thanh
dâng về diệp lục tố
mai này cây non tái sinh
mít dái mái dít
treo lòng thòng
những trường thành vô cảm

bạn đừng cầu giùm phật độ
tôi cũng chỉ là một thứ tinh ma ở đời
không trai
không tịnh
xạ ảnh luông tuồng
đường thẳng nắn đường cong
mà tuyên đức vẫn kính dường
cao trên hết thảy tầng cao
bình nguyên hoa lệ
kính cẩn bưng mặt mình
liếm láp mượt mà
cỏ. cùng âm linh thời thượng
tâm kinh chôn giấu
hoa là dấu chỉ đăng đàn
phấn sinh thù mấy ai nhặt được
nơi cửa đời nghiêm cấm

hãy nô nức quần thoa
thêm một tràng ước lệ

19/8/2016

*** Quốc gia ‘nổi trên mặt nước’

Quốc gia ‘nổi trên mặt nước’ đầu tiên của thế giới sẽ xuất hiện ở Thái Bình Dương.

Dự án quốc gia nổi trên mặt nước đầu tiên của thế giới sẽ nằm tại Thái Bình Dương, ngoài khơi của đảo Tahiti, dự kiến xuất hiện vào năm 2020, và sử dụng loại tiền điện tử có tên Vayron.

alt

Theo  bản dự án, quốc gia nổi sẽ bao gồm thành phố biển với khoảng 300  nhà ở, một số khách sạn, nhà hàng, và văn phòng làm việc. Dự án này cũng tạo ra một quốc gia độc lập với chính phủ có luật pháp riêng.

 

alt

Xem có vẻ khó khả thi, nhưng dự án quốc gia nổi được thiết kế mái xanh bao phủ với các vật liệu địa phương thân thiện môi trường như: tre, gỗ, kim loại, hay nhựa tái chế…

Các kỹ thuật và vật liệu xây dựng của địa phương sẽ pha trộn cùng công nghệ hiện đại nhằm đáp ứng nhu cầu thực tế, đồng thời bảo tồn tính truyền thống.

 

alt

Mặt sàn của công trình làm từ loại bê tông cốt thép đủ độ kiên cố cho những tòa nhà 3 tầng chịu được khoảng thời gian lên tới 100 năm. Theo đại diện từ đơn vị thiết kế dự án, mỗi mặt sàn có chi phí chưa tới 15 triệu USD. Đây là con số tương đương với giá đất ở New York (Mỹ), hay London (Anh).

 

alt

Theo Seasteading Institute, tổ chức phi lợi nhuận có trụ sở tại San Francisco, họ đã phát triển ý tưởng này khi thành lập vào năm 2008. Trong một bài phát biểu diễn ra vào tháng 11/2017, ông Joe Quirk, Chủ tịch Viện Seasteading cho biết: Ông muốn được nhìn thấy hàng ngàn thành phố nổi vào năm 2050, trong đó mỗi nơi có chính quyền quản lý riêng biệt và độc lập.

 

Sau đó, đơn vị này cũng đạt được những thỏa thuận với chính quyền Polynesia thuộc Pháp để xây dựng dự án. Quốc gia nhỏ bé với 118 hòn đảo ở miền nam Thái Bình Dương, dân số chỉ hơn 200.000 người, đã cung cấp cho Viện Seasteading 100 mẫu đất của bãi biển để lên kế hoạch cho dự án.

Ngoài ra, các đảo nổi còn được thiết kế trang trại nuôi trồng thủy sản, cơ sở chăm sóc sức khỏe, trung tâm nghiên cứu Y học, và nhà máy điện cung cấp nguồn năng lượng bền vững. Dự kiến, công trình tiêu tốn khoảng 167 triệu USD.

Hoàng Hà.

Theo DM.   ./

*** Bài Bút Ký Đầy Nước Mắt

ao dai ngoiLiên Thục Hương -Trang Hạ Dịch

 

Những hiểu lầm vô tình nối tiếp, đã làm vấp những bước chân của hạnh phúc. Khi cái thòng lọng của số mệnh bắt ta trả giá, tất cả đã trở nên muộn màng.

  1. Khi đưa mẹ chồng về đây an hưởng tuổi già, ai ngờ đó là gốc rễ sự chia ly của chúng tôi.

Sau khi kết hôn hai năm, chồng tôi bàn với tôi đón mẹ lên ở chung để chăm sóc bà những năm tuổi già. Chồng tôi mất cha từ ngày anh còn nhỏ, mẹ chồng tôi là chỗ dựa duy nhất, mẹ nuôi anh khôn lớn, cho anh học hết đại học. “Khổ đau cay đắng” bốn chữ ấy vận đúng vào số phận  mẹ chồng tôi! Tôi nhanh chóng gật đầu, liền đi thu dọn căn phòng có ban công hướng Nam, phòng có thể đón nắng, trồng chút hoa cỏ gì đó. 

Chồng tôi đứng giữa căn phòng ngập tràn nắng, không nói câu nào, chỉ đột ngột bế bổng tôi lên quay khắp phòng, khi tôi giãy giụa cào cấu đòi xuống, anh nói: 

-“Đi đón mẹ chúng ta thôi!”. 

Chồng tôi vóc dáng cao lớn, tôi thích nép đầu vào ngực anh, cảm giác anh có thể tóm lấy cả thân hình mảnh mai bé nhỏ của tôi, nhét vào trong túi áo. Mỗi khi chúng tôi cãi cọ và không chịu làm lành, anh  thường nhấc bổng tôi lên đầu quay tròn, cho đến lúc tôi sợ hãi van xin  anh thả xuống. Nỗi sợ hãi hạnh phúc ấy làm tôi mê mẩn. 

Những thói quen ở nhà quê của mẹ chồng tôi mãi không thể thay đổi. Tôi thích mua hoa tươi bày trong phòng khách, mẹ chồng tôi sau này không nhịn được bảo: 

-“Bọn trẻ các con lãng phí quá, mua hoa làm chi? Nào có thể ăn được như cơm!” 

Tôi cười: 

-“Mẹ, trong nhà có hoa nở rộ, tâm trạng mọi người cũng vui vẻ”. 

Mẹ chồng tôi cúi đầu cằn nhằn, chồng tôi vội cười: 

-“Mẹ, người thành phố quen thế rồi, dần dần mẹ sẽ quen thôi!” 

Mẹ chồng tôi không nói gì nữa, nhưng mỗi lần thấy tôi mang hoa về, bà 

vẫn không nhịn được hỏi mua hoa mất bao nhiêu tiền, tôi nói, thì bà chép miệng. Có lần thấy tôi xách túi lớn túi nhỏ đi mua sắm về, bà hỏi cái này bao nhiêu tiền cái kia giá bao nhiêu, tôi cứ kể thật, thì bà chép miệng càng to hơn. Chồng tôi véo mũi tôi nói: 

-“Đồ ngốc, em đừng nói cho mẹ biết giá thật có phải đỡ hơn không?” 

Cuộc sống hạnh phúc đã lẳng lặng trỗi những âm điệu không êm đềm. Mẹ chồng tôi ghét nhất là thấy chồng tôi dậy nấu bữa sáng, với bà, làm đàn ông mà phải vào bếp nấu nướng cho vợ, làm gì có chuyện ngược đời đó? Trên bàn ăn sáng, mặt mẹ chồng tôi thường u ám, tôi giả vờ không nhận thấy. Mẹ chồng tôi bèn khua bát đũa canh cách, đấy là cách phản đối không lời của bà. Tôi là giáo viên dạy múa ở Cung  thiếu niên, nhảy múa đã đủ mệt rồi, mỗi sáng ủ mình trong ổ chăn ấm  áp, tôi không muốn phải hy sinh nốt sự hưởng thụ duy nhất đấy, vì thế  tôi vờ câm điếc trước sự phản ứng của mẹ chồng. 

Còn mẹ chồng tôi thỉnh thoảng có giúp tôi làm việc nhà, thì chỉ làm tôi càng bận rộn thêm. Ví như, bà gom tất thảy mọi túi nilông đựng đồ và đựng rác trong nhà lại, bảo chờ gom đủ rồi bán đồng nát một thể,  vì thế trong nhà chỗ nào cũng toàn túi nilông dùng rồi; Bà tiếc rẻ không dùng nước rửa bát, để khỏi làm bà mất mặt, tôi đành phải lén lút  rửa lại lần nữa. 

Có một buổi tối, mẹ chồng tôi bắt gặp tôi đang lén rửa lại bát, bà đập cửa phòng đánh “sầm” một cái, nằm trong phòng khóc ầm ĩ. Chồng tôi khó xử, sau việc này, suốt đêm anh không nói với tôi câu nào, tôi nũng nịu, làm lành, anh cũng mặc kệ. Tôi giận dữ, hỏi anh: 

-“Thế em rốt cục đã làm sai cái gì nào?” 

Anh trừng mắt nhìn tôi nói: 

-“Em không chịu nhường mẹ đi một chút, ăn bát chưa sạch thì cũng có  chết đâu?” 

Sau đó, cả một thời gian dài, mẹ chồng tôi không nói chuyện với tôi, không khí trong gia đình gượng gạo dần. Thời gian đó, chồng tôi cũng sống rất mệt mỏi, anh không biết nên làm vui lòng ai trước. Mẹ chồng tôi không cho con trai nấu bữa sáng nữa, xung phong đảm nhận “trọng trách” nấu bữa sáng. Mẹ chồng tôi ngắm con trai ăn sáng vui vẻ, lại nhìn sang tôi, ánh mắt bà trách móc tôi làm không trọn trách nhiệm của người vợ. Để tránh bị khó xử, tôi đành ăn tạm gói sữa trên đường đi làm. Lúc đi ngủ, chồng tôi hơi buồn trách, hỏi tôi: 

-“Rodi, có phải em chê mẹ anh nấu cơm không sạch nên em không ăn ở  nhà?”. 

Lật mình, anh quay lưng về phía tôi lạnh lùng, mặc kệ tôi nước mắt tủi thân lăn tràn trề. Cuối cùng, chồng tôi thở dài: 

-“Rodi, thôi em cứ coi như là vì anh, em ở nhà ăn sáng được không?”. 

Thế là tôi đành quay về ngồi ở bàn ăn ngần ngại mỗi sáng. Sáng đó, tôi húp bát cháo do mẹ chồng nấu, đột nhiên lợm giọng, mọi thứ trong dạ dầy tống tháo hết ra ngoài, tôi cuống cuồng bịt chặt miệng không cho nó trào ra, nhưng không được, tôi vứt bát đũa (chú thích: người Trung Quốc ăn cháo bằng đũa, không dùng thìa như ở Việt Nam) nhảy  bổ vào toa-lét, nôn oẹ hết. Khi tôi hổn hển thở được, bình tâm lại, thấy mẹ chồng tôi đang khóc lóc than thân trách phận bằng tiếng pha rặt giọng nhà quê, chồng tôi đứng ở cửa toa-lét giận dữ nhìn tôi, tôi há  miệng không nói được nên lời, tôi đâu có cố ý. 

Lần đầu tiên tôi và chồng tôi bắt đầu cãi nhau kịch liệt, ban đầu mẹ chồng tôi ngồi nhìn chúng tôi, rồi bà đứng dậy, thất thểu đi ra khỏi cửa. Chồng tôi hằn học nhìn tôi một cái rồi xuống nhà đuổi theo mẹ. 

  1. Đón chào sinh mệnh mới, nhưng mất đi tính mệnh bà!

Suốt ba ngày, chồng tôi không về nhà, cũng không gọi điện. Tôi đang giận, tôi nghĩ từ ngày mẹ chồng tôi lên đây, tôi đã cực nhục đủ rồi, còn muốn gì tôi nữa? Nhưng kỳ lạ làm sao, tôi vẫn cứ buồn nôn, ăn gì cũng chẳng thấy ngon, thêm vào đó việc nhà rối ren, tâm trạng tôi cực kỳ tồi tệ. Sau đó, một đồng nghiệp bảo tôi: 

-“Rodi, trông sắc mặt cô xấu lắm, đi khám bác sĩ xem nào”. 

Kết quả khám của bác sĩ là tôi đã có thai. Tôi hiểu ra sáng hôm đó vì sao tôi nôn oẹ, trong cảm giác hạnh phúc có xen lẫn chút oán trách, chồng tôi và cả bà mẹ chồng đã từng sinh nở, vì sao họ không hề nghĩ đến lý do ấy? 

Ở cổng bệnh viện, tôi gặp chồng tôi. Mới chỉ ba hôm không gặp mặt, chồng tôi đã trở nên hốc hác. Tôi đáng lẽ định quay người đi thẳng, nhưng trông anh rất đáng thương, tôi không nén được gọi anh lại. Chồng tôi nghe tiếng thì nhìn thấy tôi, nhưng làm như không quen biết,  trong mắt anh chỉ còn sự căm thù, ánh nhìn ấy làm tôi bị thương. Tôi  tự nói với mình, không được nhìn anh ấy, không được nhìn anh ấy, tôi  đưa tay vẫy một chiếc taxi chạy qua. Lúc đó tôi mong muốn làm sao  được kêu lên với chồng tôi một tiếng: “Anh ơi, em sắp sinh cho anh một  đứa con rồi!” và được anh bế bổng lên, quay tròn hạnh phúc, những  cái tôi mơ ước nó không xảy ra, trên chiếc taxi, nước mắt tôi chầm  chậm rơi xuống. Vì sao một vụ cãi nhau đã làm tình yêu trở nên tồi tệ  như thế này? 

Sau khi về nhà, tôi nằm trên giường nhớ chồng, nhớ đến sự căm thù trong mắt anh. Tôi ôm một góc chăn nằm khóc. Đêm đó, trong nhà có tiếng mở ngăn kéo. Bật đèn lên, tôi nhìn thấy gương mặt đầy nước  mắt của chồng tôi. Anh ấy đang lấy tiền. Tôi lạnh lùng nhìn anh, không  nói gì. Anh coi như không có tôi, cầm tiền và sổ tiết kiệm rồi đi. Có lẽ anh đã quyết định rời bỏ tôi thật sự. Thật là một người đàn ông khôn ngoan, tình và tiền rạch ròi thế. Tôi cười nhạt vài cái, nước mắt lại “ồn ào” lăn xuống. 

Ngày hôm sau, tôi không đi làm. Tôi dọn lại toàn bộ suy nghĩ của mình, đi tìm chồng nói chuyện một lần cho rõ. Đến công ty của chồng, thư  ký hơi lạ lùng nhìn tôi, bảo: 

-“Mẹ của tổng giám đốc Trần bị tai nạn xe cộ, đang trong viện.” 

Tôi há hốc mồm trợn mắt, chạy bổ tới bệnh viện, khi tìm được chồng tôi, mẹ chồng tôi đã mất rồi. 

Chồng tôi không nhìn tôi, mặt anh rắn lại. Tôi nhìn gương mặt gầy gò trắng bệnh xanh tái lại của mẹ chồng, nước mắt tôi tuôn xuống ào ạt, trời ơi! Sao lại ra thế này? Cho đến tận lúc chôn cất bà, chồng tôi cũng không hề nói với tôi một câu, thậm chí mỗi ánh mắt đều mang  một nỗi thù hận sâu sắc. Về vụ tai nạn xe, tôi phải hỏi người khác mới biết đại khái là, mẹ chồng tôi bỏ nhà đi mơ hồ ra phía bến xe, bà muốn về quê, chồng tôi càng theo bà càng đi nhanh, khi qua đường, một  chiếc xe bus đã đâm thẳng vào bà… 

Cuối cùng tôi đã hiểu sự căm ghét của chồng, nếu buổi sáng hôm đó  tôi không nôn, nếu chúng tôi không cãi nhau, nếu như… trong tim anh  ấy, tôi chính là người gián tiếp gây ra cái chết của mẹ anh. 

Chồng tôi im lặng dọn đồ vào ở phòng mẹ, mỗi tối anh về nhà nồng nặc hơi rượu. Và tôi bị lòng tự trọng đáng thương lẫn sự ân hận dồn nén tới không thể thở được, muốn giải thích cho anh, muốn nói với anh rằng chúng ta sắp có con rồi, nhưng nhìn vào đôi mắt lạnh lùng của  anh, tôi lại nuốt hết đi những lời định nói. Thà anh đánh tôi một trận  hoặc chửi bới tôi một trận còn hơn, cho dù tất cả đã xảy ra không phải  do tôi cố ý. 

Ngày lại ngày cứ thế trôi đi trùng lặp, chồng tôi về nhà ngày càng muộn. Tôi cố chấp, coi anh còn hơn kẻ lạ. Tôi là cái thòng lọng thắt trong trái tim chồng tôi. Một lần, tôi đi qua một tiệm ăn châu Âu, xuyên qua lớp cửa kính trong suốt kéo dài từ trần nhà xuống sát mặt đất, tôi nhìn thấy chồng tôi ngồi đối diện trước một cô gái trẻ, anh nhè nhẹ vuốt tóc cô gái, tôi đã hiểu ra tất cả. 

Ban đầu tôi sững sờ, rồi tôi bước vào tiệm ăn, đứng trước mặt chồng, nhìn anh trân trối, mắt khô cạn. Tôi chẳng còn muốn nói gì, cũng  không thể nào nói gì. Cô gái nhìn tôi, nhìn chồng tôi, đứng lên định bỏ  đi, chồng tôi đưa tay ấn cô ngồi xuống, và, anh cũng trân trối nhìn tôi, không hề thua kém. Tôi chỉ còn nghe thấy tiếng trái tim tôi đang đập thoi thóp, đập thoi thóp từng nhịp một từng nhịp một cho tới tận ranh giới tái xanh của cái chết. Kẻ thua cuộc là tôi, nếu tôi cứ đứng thế này mãi, tôi và đứa bé trong bụng tôi sẽ cùng ngã. 

Đêm đó, chồng tôi không về nhà, anh dùng cách đó để nói cho tôi biết: Cùng với cái chết của mẹ chồng tôi, tình yêu của chúng tôi cũng đã chết rồi. Chồng tôi không quay về nữa. Có hôm, tôi đi làm về, thấy tủ quần áo bị động vào, chồng tôi quay về lấy vài thứ đồ của anh. 

Tôi không muốn gọi điện cho chồng tôi, ngay cả ý nghĩ ban đầu là giải thích mọi chuyện cho anh, giờ cũng đã biến mất hoàn toàn. Tôi một  mình sống, một mình đi bệnh viện khám thai, mỗi lần thấy những người  chồng thận trọng dìu vợ đi viện khám thai, trái tim tôi như vỡ tan ra.  Đồng nghiệp lấp lửng xui tôi nạo thai đi cho xong, nhưng tôi kiên quyết  nói không, tôi điên cuồng muốn được đẻ đứa con này ra, coi như một  cách bù đắp cho cái chết của mẹ chồng tôi.    

Khi tôi đi làm về, chồng tôi đang ngồi trong phòng khách, khói thuốc mù mịt khắp phòng, trên bàn nước đặt một tờ giấy. Không cần liếc  qua, tôi đã biết tờ giấy viết gì. Trong hai tháng chồng tôi không về  nhà, tôi đã dần dần học được cách bình tĩnh. Tôi nhìn anh, gỡ mũ  xuống, bảo: 

-“Anh chờ chút, tôi ký!”. 

Chồng tôi cứ nhìn tôi, ánh mắt anh bối rối, như tôi. Tôi vừa cởi cúc áo khoác vừa tự dặn mình: “Không khóc, không khóc…”. Mắt rất đau, nhưng tôi không cho phép nước mắt được lăn ra. Treo xong áo khoác,  cái nhìn của chồng tôi gắn chặt vào cái bụng đã nổi lên của tôi. Tôi  mỉm cười, đi tới, kéo tờ giấy lại, không hề nhìn, ký lên đó cái tên tôi, đẩy lại phía anh. 

-“Rodi, em có thai à?” 

Từ sau khi mẹ chồng gặp tai nạn, đây là câu đầu tiên anh nói với tôi. Tôi không cầm được nước mắt nữa, lệ “tới tấp” giàn xuống má. Tôi  đáp: 

-“Vâng, nhưng không sao đâu, anh có thể đi được rồi!”. 

Chồng tôi không đi, trong bóng tối, chúng tôi nhìn nhau. 

Chồng tôi nằm ôm lấy lấy người tôi, nước mắt thấm ướt chăn. Nhưng trong tim tôi, rất nhiều thứ đã mất về nơi quá xa xôi, xa tới mức dù tôi có chạy đuổi theo cũng không thể với lại. Không biết chồng tôi đã nói “Anh xin lỗi Em!” với tôi bao nhiêu lần rồi, tôi cũng đã từng tưởng rằng tôi sẽ tha thứ, nhưng tôi không tài nào làm được, trong tiệm ăn châu Âu hôm đó, trước mặt người con gái trẻ ấy, ánh mắt lạnh lẽo chồng tôi nhìn tôi, cả đời này, tôi không thể nào quên nổi.Chúng tôi đã cùng rạch lên tim nhau những vết đớn đau. Do tôi, là vô ý; Còn anh, là bởi cố tình. 

  1. Mong ước hoá giải những ân hận cũ, nhưng quá khứ không bao giờ  trở lại!

Trừ những lúc ấm áp khi nghĩ đến đứa bé trong bụng, còn với chồng, trái tim tôi lạnh giá như băng, không ăn bất cứ thứ gì anh mua, không cần ở anh bất cứ món quà gì, không nói chuyện với anh. Bắt đầu từ  lúc ký vào tờ giấy kia, hôn nhân cũng như tình yêu đã biến mất khỏi đời tôi. 

Có hôm chồng tôi thử quay về phòng ngủ, anh vào, tôi ra phòng  khách, anh chỉ còn cách quay về ngủ ở phòng mẹ. 

Trong đêm thâu, đôi khi từ phòng anh vẳng tới tiếng rên khe khẽ, tôi im lặng mặc kệ. Đây là trò anh thường bày ra, ngày xưa chỉ cần tôi giận anh, anh sẽ giả vờ đau đầu, tôi sẽ lo lắng chạy đến, ngoan ngoãn đầu hàng chồng, quan tâm xem anh bị làm sao, anh sẽ vươn một tay  ra tóm lấy tôi cười ha hả. 

Anh đã quên rồi, tôi lo lắng là bởi tôi yêu anh, còn bây giờ, giữa chúng tôi còn lại gì đâu? Chồng tôi dùng những tiếng rên ngắt quãng  để đón ngày đứa bé chào đời. Dường như ngày nào anh cũng mua gì đó  cho con, các đồ dùng của trẻ sơ sinh, đồ dùng của trẻ em, ngay cả  sách thiếu nhi, từng bọc từng bọc, sắp chất đầy gian phòng anh. Tôi  biết chồng tôi dùng cách đó để cảm động tôi, nhưng tôi không còn cảm  thấy gì nữa. Anh đành giam mình trong phòng, gõ máy tính “lạch cà  lạch cạch”, có lẽ anh đang yêu đương trên mạng, nhưng việc đó đối với  tôi không có ý nghĩa gì. 

Đêm cuối mùa xuân, cơn đau bụng dữ dội khiến tôi gào lên, chồng tôi nhảy bổ sang, như thể anh chưa hề thay quần áo đi ngủ, vì đang chờ  đón giây phút này tới. Anh cõng tôi chạy xuống nhà, bắt xe, suốt dọc  đường nắm chặt bàn tay tôi, liên tục lau mồ hôi trên trán tôi. Đến bệnh viện, anh lại cõng tôi chạy vào phòng phụ sản. 

Nằm trên cái lưng gầy guộc và ấp áp, một ý nghĩ hiện ra trong đầu tôi: 

“Cả cuộc đời này, còn ai có thể yêu tôi như anh nữa không?” 

Anh đẩy cửa phòng phụ sản, nhìn theo tôi đi vào, tôi cố nén cơn đau nhìn lại anh một cái nhìn ấm áp. Từ phòng đẻ ra, chồng tôi nhìn tôi và đứa bé, anh cười mắt rưng rưng. Tôi vuốt bàn tay anh. Chồng tôi nhìn tôi, mỉm cười, rồi, anh chậm rãi và mệt mỏi ngã dụi xuống. 

Tôi gào tên anh… Chồng tôi mỉm cười, nhưng không thể mở được đôi  mắt mệt mỏi… Tôi đã tưởng có những giọt nước mắt tôi không thể nào  chảy vì chồng nữa, nhưng sự thực lại khác, chưa bao giờ có nỗi đau  đớn mạnh mẽ thế xé nát thân thể tôi. 

Bác sĩ nói, phát hiện chồng tôi ung thư gan đã vào giai đoạn cuối cùng, anh gắng gượng cho đến giờ kể cũng đã là kỳ tích. Tôi hỏi bác  sĩ phát hiện ung thư khi nào? Bác sĩ nói năm tháng trước, rồi an ủi tôi: 

-“Phải chuẩn bị hậu sự đi!” 

Tôi mặc kệ sự can ngăn của y tá, về nhà, vào phòng chồng tôi bật  máy tính, tim tôi phút chốc bị bóp nghẹt. Bệnh ung thư gan của chồng  tôi đã phát hiện từ năm tháng trước, những tiếng rên rỉ của anh là thật, vậy mà tôi nghĩ đó là… 

Có hai trăm nghìn chữ trong máy tính, là lời dặn dò chồng tôi gửi lại cho con chúng tôi: 

-“Con ạ, vì con, bố đã kiên trì, phải chờ được đến lúc nhìn thấy con bố mới được gục ngã, đó là khao khát lớn nhất của bố… Bố biết, cả cuộc đời con sẽ có rất nhiều niềm vui hoặc gặp nhiều thử thách, giá như bố được đi cùng con suốt cả chặng đường con trưởng thành, thì  vui sướng biết bao, nhưng bố không thể. Bố viết lại trên máy tính, viết những vấn đề mà con có thể sẽ gặp phải trong đời, bao giờ con gặp phải những khó khăn đó, con có thể tham khảo ý kiến của bố… Con ơi,  viết xong hơn 200 nghìn chữ, bố cảm thấy như đã đi cùng con cả một  đoạn đời con lớn. Thật đấy, bố rất mừng. Con phải yêu mẹ con, mẹ rất  khổ, mẹ là người yêu con nhất, cũng là người bố yêu nhất…” 

Từ khi đứa trẻ đi học mẫu giáo, rồi học Tiểu học, Trung học, lên Đại học, cho đến lúc tìm việc, yêu đương, anh đều viết hết. Chồng tôi cũng viết cho tôi một bức thư: 

“Em yêu dấu, cưới em làm vợ là hạnh phúc lớn nhất đời anh, tha thứ  cho những gì anh làm tổn thương em, tha thứ cho việc anh giấu em  bệnh tình, vì anh muốn em giữ gìn sức khoẻ và tâm lý chờ đón đứa con  ra đời… Em yêu dấu, nếu em đang khóc, tức là em đã tha thứ cho anh  rồi, anh sẽ cười, cảm ơn em đã luôn yêu anh… 

Những quà tặng này, anh sợ anh không có cơ hội tự tay tặng cho con nữa, em giúp anh mỗi năm tặng con vài món quà, trên các gói quà anh đều đã ghi sẵn ngày sẽ tặng quà rồi…” 

Quay lại bệnh viện, chồng tôi vẫn đang hôn mê. Tôi bế con tới, đặt nó bên anh, tôi nói: 

-“Anh mở mắt cười một cái nào, Em muốn con mình ghi nhớ khoảnh  khắc ấm áp nằm trong lòng bố…” 

Chồng tôi khó khăn mở mắt, khẽ mỉm cười. Thằng bé vẫn nằm trong  lòng bố, ngọ nguậy đôi tay hồng hào bé tí xíu. Tôi ấn nút chụp máy  ảnh “lách tách”, để mặc nước mắt chảy dọc má… 

Liên Thục Hương

Bản dịch của Trang Hạ 

“Bài bút ký đầy nước mắt” nầy được đăng trên tạp chí “Gia đình” (Trung Quốc) năm 2002 và lên mạng vào ngày 8/12/2003

*** Little Saigon, Quận Cam

little SGLittle Saigon, Quận Cam có còn là Thủ Đô của người tỵ nạn?

 

Quang An: Cuộc sống quanh ta.

Little Sàigòn, hay còn gọi là Sàigòn Nhỏ, là một Sàigòn thu hẹp trong lòng của hầu hết người Việt bỏ chạy, di tị nạn cộng sản từ năm 1975. Khi bánh xe xích sắt của chiếc xe tăng T54 của quân đội cộng sản Bắc Việt húc sập cánh cửa hông của Dinh Độc Lập ở Sàigòn, cũng là lúc đánh dấu người Việt chạy tha hương. Chạy khỏi Sàigòn, qua đến Guam, rồi đến trại Pendleton ở Oceanside, miền Nam tiểu bang California, rồi sau đó được phân chia đi nhiều tiểu bang khác nhau ở Mỹ, người Việt vẫn mang trong lòng nỗi nhớ Sàigòn khôn nguôi. Lần lần rồi thì một phần do thời tiết ở các tiểu bang khác khá khắc nghiệt, lại thêm công ăn việc làm ở tiểu bang California dễ dàng hơn, dân Việt rủ nhau kéo về California để sinh sống. Vì không cạnh tranh nỗi với người gốc Đại Hàn, người Tàu sinh sống ở Los Angeles, nơi được xem là thành phố thiên thần, người Việt xuôi về phía Nam của Los Angeles khoảng chừng 1 giờ đồng hồ lái xe, và bắt đầu gầy dựng ở đây.

Với vùng đất rộng lớn gồm các thành phố kề sát nhau, người Việt định cư rải đều ra các thành phố Westminster, Garden Grove, Midway City, Santa Ana ở quận hạt Orange, mà dân ta hay gọi là Quận Cam. Cửa hiệu, nhà hàng, cơ sở thương mại mang tên Việt bắt đầu xuất hiện. Ban đầu chỉ là một khúc đường Bolsa, nơi có thương xá nổi tiếng mang tên Phước Lộc Thọ. Rồi dần dần cửa hiệu, nhà hàng, cơ sở thương mại của người Việt Nam mọc lên như nấm, lan ra khắp nơi, trải dài từ Bolsa, qua Westminster, Brookhurst, Euclid, Magnolia, v..v… Từ Garden Grove, đi xuống thành phố Westminster, hay Fountain Valley, Santa Ana, đều thấy bảng hiệu chữ Việt tràn đầy. Thậm chí là Midway City, hay được gọi là Thị Trấn Giữa Đàng, cũng có luôn cửa hiệu của người Việt.

Phải nói rằng với sự cần cù và siêng năng, thế hệ người Việt tỵ nạn cộng sản từ năm 1975 đã tạo nên một khu vực mà ai ai cũng có cảm giác như là một Sài Gòn thu nhỏ. Đến đây, ngoài việc là có thể tiếp xúc, gặp gỡ người Việt xa xứ, người Việt bỏ chạy cộng sản từ hồi năm 1975 còn có dịp tìm lại những hình ảnh, những tác phẩm văn hoá của miền Nam trước kia. Ghé nhà sách Tú Quỳnh, hay ghé các trung tâm sản xuất băng dĩa nhạc, là có thể tìm lại chút gì đó của thoáng hương xưa. Dĩ nhiên, nếu muốn tìm lại mùi vị của những món ăn Việt Nam, người Việt tị nạn sẽ dễ dàng tìm thấy những bát phở, những tô bún bò, những đĩa bánh cuốn, hay thậm chí là cả những chén chè xôi nước, v…v… Cái tên Little Sàigòn là đây. Người Việt yêu kiều đặt địa danh này cho một vùng đất cách xa quê hương hơn nửa quả địa cầu để hồi tưởng, để nhớ nhung về một Sàigòn xưa. Và hơn cả, Little Sàigòn còn là một trung tâm văn hoá nhằm gìn giữ bản sắc của người dân Việt trước đại hoạ cộng sản từ hồi năm 1975. Chính vì vậy, Little Sàigòn luôn luôn được xem là thủ đô của người Việt tỵ nạn cộng sản.

Rồi thời gian trôi qua,  thế hệ người Việt tị nạn cộng sản đầu tiên nay đã già. Ráng chịu khó làm ăn vất vả để nuôi gia đình, con cái của thế hệ này nay đã trưởng thành, đã học thành tài để rồi có người là bác sĩ, có người là kỹ sư, v..v… Cuộc sống khá giả hơn, ổn định hơn, cho nên rất nhiều người Việt đã dọn về phía Nam của vùng Little Sàigòn để an cư lập nghiệp. Người thì ở Irvine, người thì ở Mission Viejo, hay thậm chí là xa hơn nữa như San Juan Capistrano, v..v… Hầu hết, thế hệ sau này không muốn tiếp tục con đường làm ăn của thế hệ trước đó, cho nên rất nhiều chủ nhân nhà hàng, cửa hiệu, đến tuổi về hưu, phải tìm cách bán lại những gì mình đã gầy dựng.

https://i0.wp.com/farm3.staticflickr.com/2950/15210408559_2fa6e71019.jpg?zoom=1.5&ssl=1

Người đi, thì phải có người đến. Trong những năm vừa qua, với những chính sách thu hút người ngoại quốc đem tiền vào Mỹ đầu tư, đã có rất nhiều thành phần giàu có ở Việt Nam mà thường được gọi là “đại gia đỏ” hay “tư bản đỏ” … đổ bộ qua Mỹ. Thành phần này là những tay cựu “quan chức” hay những tay làm ăn buôn bán tham nhũng, những tay có thể có cả chục triệu đô la lận lưng để làm vốn, để có thể mua nhà, mua cơ sở, mua cửa hiệu, v..v… Ban đầu thì còn rải rác ở các tiểu bang khác, nhưng gần đây thì đổ về tiểu bang California rất nhiều.

Thế là cuộc sống ở Little Sàigòn bắt đầu thay đổi. Các cửa hiệu, nhà hàng do những người Việt tỵ nạn làm chủ, từ từ lại thấy thay tên, đổi hiệu. Có những cái tên nhà hàng, chỉ cần nghe cái tên, cũng có thể đoán được gốc gác của người chủ từ đâu đến. Chợ búa cũng thay đổi. Và phong cách người dân ở Little Sàigòn cũng thay đổi. Có những quán cà phê, thanh niên ngồi đánh bài “tiến lên”, hay còn gọi là “chặt hẻo”, một loại bài của mấy chú bộ đội miền Bắc đem vào Nam, suốt cả ngày. Khói thuốc lá bay mù mịt. Có những quán bar mà đêm nào cũng đông thanh niên đến …. “xập xình”, và là nơi giới thiệu các ca sĩ ở Việt Nam bay sang. Thử hỏi, dân bình thường thì lo đi làm ở công sở, đâu có thì giờ mà la cà quán xá như thế cả ngày lẫn đêm. Có chăng thì chỉ vào dịp cuối tuần, nhưng ở Little Sàigòn bây giờ, ngày trong tuần, hay ngày cuối tuần đều … đông như nhau.

https://i2.wp.com/l7.alamy.com/zooms/e542528150f042bda81a5b68f699a810/orange-county-city-of-westminster-southern-california-usa-february-f706rn.jpg

Little Sàigòn đã thay đổi nhiều lắm. Văn hoá, văn nghệ thì các sản phẩm từ trong nước nhan nhản đầy trong các cửa hiệu. Quán ăn thì không còn vẻ thanh lịch, và không còn trông sạch sẽ như lúc trước. Bãi đậu xe thì lại càng quá tệ, nhìn rất dơ bẩn. Các đài truyền thanh, truyền hình, thì cứ như là “cơ quan ngôn luận” của Việt Nam vì tin tức đọc nhiều khi dùng chữ “y chang” VN Express của nhà cầm quyền cộng sản Việt Nam. Quan trọng hơn nữa là tình hình an ninh trật tự không còn như xưa. Nghe thử một quảng cáo phát trên truyền thanh bảo rằng “đến ăn phở ở tiệm của chúng tôi, quý khách có thể an tâm là xe của quý vị không bị … đập kính”. Thế là đủ hiểu chuyện xe bị đập kính, mất đồ là “chuyện như cơm bữa” ở Little Sàigòn rồi.

Việc phong cách sống thay đổi, có thể một phần là do người mới định cư sau này mang những “thói hư tật xấu” đã “nhiễm” sau 40 năm sống với cộng sản sang đây. Những “đại gia đỏ” coi trời bằng vung vì ỷ có tiền đã thể hiện cách sống của mình. Ở trần, mặc xà lỏn, là hình ảnh mà dân Mỹ ở đây không bao giờ gặp ở ngoài đường. Thế nhưng, có những tên đại gia, cầm đầu cả hệ thống xuất nhập cảng hải sản, lại nghênh ngang bước ra đường với mình trần và chiếc … xà lỏn. Thành phần như thế này bây giờ không hiếm ở Little Sàigòn. Cũng chẳng có gì ngạc nhiên, vì ngay giữa đường Brookhurst, đoạn gần với tiệm bánh Vân, những bảng hiệu quảng cáo “bảo lãnh đi Mỹ” bảo đảm … 100%, “bao” … đậu, bất kể là tội phạm hình sự, v..v… đầy nhan nhản.

Thử nhìn xem, với sự nhếch nhác như thế, Little Sàigòn có còn là thủ đô của người tỵ nạn? Nét văn hoá, sự thanh lịch của người Việt tị nạn đang dần dần bị … “xâm lăng”?

Cuộc sống chung quanh ta coi thế mà thay đổi chóng mặt. Nếu không để ý, và không có thái độ tích cực để gìn giữ văn hoá của người Sàigòn xưa, thì Little Sàigòn có thể sẽ mất đi cái tên và ý nghĩa yêu kiều mà người dân tỵ nạn giữ trong lòng bao nhiêu năm nay.

Quang An

*** Bán Nước Dưới Tên Mỹ Miều: Đặc Khu Kinh Tế

 


 

Cuối thế kỷ 19, Nhà Thanh bạc nhược và suy tàn. Trong khi đó các nước Tây Phương đang trỗi dậy với sự phát triển kỹ thuật giúp gia tăng sản xuất, đồng thời với việc gia tăng sức mạnh quân sự.

 

Nền kỹ thuật mới cần nhiều nhân công và đồng thời cũng cần thị trường tiêu thu. Chính vì những nhu cầu này, thế giới Tây Phương lúc đó đã nhìn Nước Tàu bạc nhược như một miếng mồi ngon và cùng nhau chia để trị.

 Trước đó các nước đế quốc xâu xé Nước Tàu bắt đầu từ cuộc Chiến tranh nha phiến của thực dân Anh năm 1840-1842. Với hiệp ước Nam Kinh tháng 8/1842, Nước Tàu phải cắt Hong Kong cho Anh.

xuong duong 1

Sau Chiến tranh nha phiến, các nước đế quốc từng bước nhảy vào xâu xé Nước Tàu. Cho đến cuối thế kỷ XIX, Đức xâm chiếm tỉnh Sơn Đông; Anh xâm chiếm  vùng châu thổ sông Dương Tử, Pháp thôn tính vùng Vân Nam, Nga và Nhật chiếm đóng vùng Đông Bắc…

Ngày nay, Nước CHXHCNVN luôn tự hào là một nước Độc Lập có đầy đủ chủ quyền, hà cớ gì phải Cắt Đất Nhượng Biển như một kẻ chiến bại đối với bọn Tàu Khựa.

Bày đặt dùng chữ cho kêu “Luật Đặc Khu” để lừa bịp quần chúng. Đây chính là những hành động nhộn nhịp bán nước khi những tháng ngày áp chót hoàn tất tiến trình bán nước theo Hội Nghi Bán Nước mà các chóp bu VC ký tại Thành Đô tnh Tứ Xuyên bên Tàu năm 1991 và hoàn tất sát nhập Tàu vào năm 2020

Người Dân hãy tỉnh táo và chuẩn bị cho Ngày Hội Lớn Của Dân Tộc. Đảng và Nhà Nước VC có thể đã suy tàn và trở nên hèn hạ như Nhà Thanh trước đây. Nhưng với kinh nghiệm trong Ngàn Năm Bắc Thuộc, với kinh nghiệm 13 cuộc chiến chống ngoại xâm của Tiền Nhân luôn luôn toàn thắng bọn Tàu xâm lược, lẽ nào Dân Tộc VN lại ươn hèn đến độ kẻ thù chưa đánh mà đã Dâng Đất Nhượng Biển cho kẻ thù truyền kiếp là Tàu Khựa.  

Mong Tiền Nhân Anh Hùng chứng giám cho những tấm lòng thành và những trái tim quả cảm đang miệt mài tận hiến chuẩn bị cho Ngày Hội Lớn Của Dân Tộc.

*** HẬN BÁN NƯỚC

Ngô Minh Hằng

 
 

 
 

HẬN BÁN NƯỚC

Giặc cộng cho người mướn núi sông
Vân Đồn, Phú Quốc, Bắc Vân Phong
Nghe tin, trong nước đều cay dạ
Thấy chuyện, ngoài biên thảy đắng lòng
Chín chín năm Tàu vui chủ đất
Ngàn đời dân Việt nhục cùm gông
Tung tiền, chệt chiếm luôn rừng biển
Hám bạc, vẹm dâng cả ruộng đồng
    *
Hám bạc, vẹm dâng cả ruộng đồng
Nhục nào bằng nhục bán non sông ?
Đồng bào ! Nước mất, đừng mê nữa!!!
Dân tộc ! Nhà tan, có tỉnh không???
Vùng dậy đòi về ngay tổ quốc !
Tiến lên đập nát hết xiềng gông !
Quê vào tay chệt là quê sẽ
Đại họa ngàn năm mãi chất chồng !!!
    *
Đại họa ngàn năm mãi chất chồng…
Hỡi nòi Hồng Lạc, giống Tiên Long
Hãy thương tổ quốc đau từng khúc
Và xót quê hương lệ vạn dòng…
Mướn đất bọn Tàu xây thuộc địa
Bán rừng lũ đảng hưởng tiền nong
Chỉ dân tộc Việt là điêu đứng
Một cổ rồi đây vướng mấy tròng !!!
  *
Một cổ rồi đây vướng mấy tròng !!!
Nhục mình, hận tủi cả non sông
Âm mưu thuê đất mà suông sẻ
Công việc bàn giao đúng dự phòng !
Tàu chức chủ quyền ngôi thống trị
Ta đời nô lệ phận cùm gông !
Đặc khu kinh tế: trò lừa bịp
Cộng bán quê rồi có biết không !
  *
Cộng bán quê rồi có biết không !
Hỡi ai thấy hận, thấy đau lòng
Thì xin đứng dậy châm mồi lửa
Và hãy vùng lên nổi trống đồng
Đừng mãi yếu hèn nhìn phản tặc
Mà cùng dũng cảm cứu non sông !
Kìa gương Tây Tạng Tân Cương đó
Thêm nhục thân danh, hổ giống dòng !!!
Ngô Minh Hằng

 

“Tủ lạnh” không cần cắm điện

“Tủ lạnh” không cần cắm điện vẫn giữ thực phẩm tươi ngon gấp 9 lần bình thường.

 
Bảo quản đồ ăn tươi ngon tới 27 ngày, hiện đại mà không “hại điện”, đó chính là những lợi ích tuyệt vời mà chiếc “tủ lạnh” đặc biệt được sáng chế bởi một giáo viên người Nigeria mang lại cho cuộc sống của người dân nghèo nơi đây.
 
Những sáng chế đơn giản nhưng mang đến hiệu quả đến khó tin, lại không tốn quá nhiều chi phí chính là những thứ mà người dân nghèo vùng nông thôn Châu Phi vẫn luôn “mơ” đến. Ngay cả trong cuộc sống hiện đại ngày nay, thiết bị điện cơ bản như chiếc tủ lạnh cũng trở thành thứ vô cùng “xa xỉ” đối với người dân nơi đây do điều kiện địa hình xa xôi hẻo lánh và chi phí cho việc sử dụng điện quá đắt đỏ.
May mắn đã đến với người dân nghèo Nigeria khi một công cụ giữ lạnh đặc biệt có tác dụng bảo quản thực phẩm không thua kém gì tủ lạnh được sáng chế bởi ông Mohammed Bah Abba, một giáo viên người Nigeria.
 
Kì lạ chiếc
Công cụ giữ lạnh đặc biệt có tác dụng bảo quản thực phẩm không thua kém gì tủ lạnh.
Chiếc tủ lạnh “có một không hai” này không cần cắm điện, không tốn nhiều chi phí, thậm chí còn có thể “cầm tay”, mà lại đặc biệt hiệu quả trong điều kiện thời tiết nóng khô dễ khiến trái cây, rau quả và các thực phẩm nhanh chóng bị hư hỏng, ôi thiu khi bảo quản được đồ ăn tới gần một tháng.
 
 
Kì lạ chiếc
Ông Mohammed Bah Abba, người sáng chế ra hệ thống làm lạnh đặc biệt thay đổi cuộc sống người dân nghèo Nigeria.
 
 
Mohammed Bah Abba sinh ra trong một gia đình có truyền thống làm đồ gốm và đất sét. Là một người con của Nigeria, hiểu rõ được hậu quả của thời tiết khắc nghiệt nắng như thiêu đốt ở châu Phi, cũng như ước mong của người dân nghèo, cuối những năm 90, ông Mohammed đã tạo ra chiếc “tủ lạnh” đặc biệt áp dụng công nghệ làm gốm truyền thống.
 
 
Kì lạ chiếc
Chiếc “tủ lạnh” này không cần cắm điện, bảo quản được đồ ăn lâu gấp 9 lần điều kiện bình thường.
 
Dựa trên ý tưởng cổ xưa của chiếc bình gốm giữ nước lạnh, ông Mohammed đã chế tạo ra chiếc “tủ lạnh” đặc biệt với cơ chế “bình trong bình”. Hai chiếc bình gốm to và nhỏ được lồng vào nhau, trong chiếc bình to hay khoảng trống giữa hai bình sẽ được đổ đầy cát ướt, còn bình gốm nhỏ sẽ dùng để lưu trữ thực phẩm và đậy lại bằng một tấm vải ướt.
 
Kì lạ chiếc
Cấu tạo của chiếc “tủ lạnh” gồm hai chiếc bình gốm to nhỏ được lồng vào nhau, khoảng trống giữa hai bình sẽ được đổ đầy cát ướt, còn bình gốm nhỏ sẽ dùng để trữ thực phẩm và đậy lại bằng một tấm vải ướt.
 
Để hai chiếc bình hoạt động hiệu quả như một chiếc tủ lạnh, cần phải đặt chúng ở nơi khô ráo, thoáng mát. Khi đó nước trong cát đã được đổ vào từ ban đầu sẽ bốc hơi, nồi trong được làm mát chỉ còn 4 độ C, ngăn không cho vi khuẩn phát triển và giữ thực phẩm tươi ngon.
 
 
Kì lạ chiếc
Nước trong cát ướt sẽ bốc hơi, nồi trong được làm mát chỉ còn 4 độ C, ngăn không cho vi khuẩn phát triển và giữ thực phẩm tươi ngon.
 
Có thể nói, chiếc “tủ lạnh” đặc biệt này của ông Mohammed là một minh chứng cho sáng chế “hiện đại nhưng không hại điện” khi có giá rẻ đến giật mình. Chỉ phải bỏ ra 20 đến 90 nghìn đồng (từ 2 đến 4 đô la) cho mỗi chiếc, không hề sử dụng đến điện và có thể bảo quản thực phẩm từ thịt cá, rau củ, cho đến trái cây tới 27 ngày, gấp 9 lần so với 3 ngày ở nhiệt độ bình thường.
 
Kì lạ chiếc
Có thể nói, chiếc “tủ lạnh” đặc biệt này của ông Mohammed giúp người dân dự trữ thực phẩm tới 27 ngày.
 
Hệ thống “bình trong bình” hiệu quả này thực sự đã thay đổi cuộc sống của người dân nghèo Nigeria, khả năng lưu giữ thực phẩm được lâu và tươi ngon lâu hơn giúp họ bán nông sản cũng được giá cao hơn. Từ khi có những chiếc bình này, người dân nơi đây sẽ không cần ngày nào cũng phải đi chợ mua thực phẩm nữa, vô cùng tiện lợi mà còn tiết kiệm được rất nhiều thời gian.
Trước khi mất vào năm 2010, ông Abba liên tục cải tiến hệ thống bình trữ lạnh, sau đó ông sử dụng tiền của chính mình thuê các nhà máy địa phương sản xuất hàng loạt 5.000 “tủ lạnh” phân phối cho 5 ngôi làng ở Jigawa và 7.000 chiếc “tủ lạnh” cho người dân địa phương Nigeria.
 
 
Kì lạ chiếc
Những chiếc tủ lạnh được tạo ra bởi người giáo viên Nigeria này đã giúp cải thiện đáng kể đời sống người dân nơi đây, giúp họ bán nông sản được giá cao hơn, tiết kiệm nhiều chi phí.
 
Cho tới nay những chiếc tủ lạnh “siêu tiết kiệm” này đã được sử dụng rộng rãi tại các vùng nông thôn ở Nigeria, Cameroon, Chad, Eritrea, và Sudan. Năm 2000, Mohammed Bah Abba được trao giải thưởng Rolex Award for Enterprise dành cho các sáng chế xuất sắc được vinh danh. Tạp chí Time đã từng gọi phát minh bình làm lạnh mang tính đột phá của Mohammed là một trong những phát minh vĩ đại của năm.
Ngọc Quỳnh (Theo NG)

*** “ĐÊM ĐÊM HÀN THỰC, NGÀY NGÀY NGUYÊN TIÊU”

SONY DSC     Châu Thạch

BÀN VỀ CÂU THƠ

“ĐÊM ĐÊM HÀN THỰC, NGÀY NGÀY NGUYÊN TIÊU”

                                      Gần đây học giả  Lại Quảng Nam có viết một bài đề cập đến câu thơ “Đêm đêm Hàn Thực ngày ngày Nguyên Tiêu” của Nguyễn Du. Trong bài viết nầy học giả Lại Quảng Nam có nhắc lại những điều tôi xin tóm tắt gọn lại sau:

  1. Ong Vân Hạc Lê văn Hòe (1953) với quyển Truyện Kiều Chú-Giải rất nổi tiếng trong văn giới và trong giới giáo dục. Ông dừng rất lâu lại tại câu Kiều thứ 942 này, với ưu tư là tại sao Nguyễn Du lại viết “Đêm đêm Hàn Thực, ngày ngày Nguyên Tiêu”, mà lại không viết “ngày ngày Hàn thực, đêm đêm Nguyên tiêu”. Cụ Lê Văn Hoè viết “Lý ra phải viết như thế này thì mới đúng:”Đêm đêm Nguyên tiêu, ngày ngày Hàn thực”, bởi tất cả lễ lạc đông người dành cho quần chúng do triều đình Tàu sắp đặt đều xảy ra, ban ngày cho Hàn Thực, ban đêm cho ngày Nguyên Tiêu. Cụ Lê văn Hòe nhận định thêm: “Có lẽ vì nhu cầu vần thơ”
  2. Tại Việt nam có một người Tàu tên là An Chi, khi giữ mục Chuyện Đông Chuyện Tây trên tờ KTNN* vào đầu thập niên 90 tại Việt Nam viết như sau về Nguyễn Du “Tóm lại…; trong điều kiện cụ thể của câu thơ đang xét thì Nguyễn Du không thể vùng vẫy ngọn bút của mình một cách hoàn toàn thỏa mái được. “Đêm đêm Hàn Thực, ngày ngày Nguyên Tiêu” trong đó ông tác giả đã bị gò bó về thanh điệu và vần điệu…., Chẳng qua vì… túng vận nên ông mới lấy đêm làm ngày, lấy ngày làm đêm đó mà thôi”

 

Sau đó học giả Lại Quảng Nam đã phản bác những ý kiến trên. Xin mời quý bạn đọc vào trang web vanngheqt.blogspot.com và nhiều trang web khác để đọc.

Châu Thạch tôi vốn học ít, trí hèn, không dám nhận xét gì về ý kiến của các vị học giả, vốn là những người có vai vế trên văn đàn, chỉ xin góp một chút suy luận thô thiển của mình để bạn đọc giải trí năm ba phút mà thôi. Nếu có sự sai trái xin lượng tình thứ cho.

“Đêm đêm Hàn Thực ngày ngày Nguyên Tiêu” là câu thơ của Nguyễn Du nhưng ông lấy tư cách của Tú Bà đề viết lời khấn vái. Đây là đoạn mà Nguyễn Du mô tả lần đầu tiên Thúy Kiều nằm trong tay Tú Bà, một chủ chứa. Tú Bà van vái trước tượng thần Bạch mi (vị thần bảo trợ cho nghề bán phấn buôn hương ) cho bà được buôn may bán đắt:

935. Cởi xiêm lột áo sỗ sàng,
Trước thần sẽ nguyện mảnh hương lầm rầm.
Đổi hoa lót xuống chiếu nằm,
Bướm hoa bay lại ầm ầm tứ vi!
Kiều còn ngơ ngẩn biết gì,
940. Cứ lời lạy xuống mụ thì khấn ngay:
”Cửa hàng buôn bán cho may,
Đêm đêm hàn thực, ngày ngày nguyên tiêu,
Muôn nghìn người thấy cũng yêu,
Xôn xao oanh yến rập rìu trúc mai!
945. Tin nhạn vẩn, lá thư bài,
Đưa người cửa trước, rước người cửa sau”.
Lạ tai, nghe chửa biết đâu,
Xem tình ra cũng những màu dở dang.
Lễ xong hương hỏa gia đường,
950. Tú Bà vắt nóc lên giường ngồi ngay.

 

Theo Châu Thạch tôi nghĩ câu thơ  “Đêm đêm Hàn Thực ngày ngày Nguyên Tiêu”có ý nghía sau đây:

1)Ý thứ nhất;

– Đêm đêm Hàn Thực : Có nghĩa là đêm nào cũng vui chơi như ngày có lễ Hàn Thực

– Ngày ngày Nguyên Tiêu: Có nghĩa là ngày nào cũng vui chơi như đêm có  lễ Nguyên Tiêu

–  Đêm đêm Hàn Thực ngày ngày Nguyên Tiêu: Đêm đêm vui chơi như ban ngày. Ngày ngày vui chơi như ban đêm

– Tóm lại “Đêm đêm Hàn Thực ngày ngày Nguyên Tiêu” có nghĩa là vui chơi mút mùà, không phân biệt ngày đêm.

2)Ý thư hai:

– Hàn Thực: “Hàn thực, ngày 3 tháng 3 âm lịch, kỷ niệm ngày Giới Tử Thôi bị chết cháy. Bên Tàu, ban ngày tổ chức các cuộc vui chơi, ngày này là ngày cấm lửa, ăn thức ăn  nguội .

– Nguyên Tiêu: Đêm Nguyên Tiêu là đêm rằm tháng giêng, đêm trăng tròn đầu năm âm lịch. Ngày này thời Đường, vua lệnh cho mở hội đốt pháo bông, lễ Phật.

– Qua hai định nghĩa trên ta thấy rằng các trò vui chơi trong ngày Hàn Thực và đêm Nguyên Tiêu là các trò vui chơi thanh nhã, không dung tục. Từ đó ta thấy rằng Tú Bà tuy là một chủ chứa, nhưng bà xin thần Bạch Mi phù hộ chổ động chứa của bà vui chơi theo phong cách thanh nhã. Như thế động chứa của bà là nơi ăn chơi của giới thương lưu đài các hay kẻ sĩ. Nhờ vậy sau nầy Thúy Kiều mới gặp được Thúc Sinh là một trang phong lưu hào hào. Cũng theo kiểu ăn chơi cao cấp, phong lưu nầy, ngày sau ở một thanh lâu khác Thúy Kiều gặp được Từ Hải là một anh hùng.

  Kết luận: Bởi lý giải trên ta thấy rằng Nguyễn Du viết “Đêm đêm Hàn Thực ngày ngày Nguyên Tiêu” là một sự dùng chữ cố ý của tác giả, không phải là do “bị gò bó thanh điệu” mà ông phải “hoán vị ngày ngày với đêm đêm”. Cách chơi chữ nầy khiến cho câu thơ đầy hàm xúc, vừa làm âm điệu câu thơ hay thêm, lại vừa diễn tả trọn vẹn nhừng cuộc vui chơi triền miên phong lưu và trang nhã nơi động chứa của Tú Bà. Phải nói rằng khi Nguyễn Du cho Tú Bà khấn như thế,không ai đọc mà nghĩ rằng nhà thơ muốn đảo lộn cuộc vui chơi của đếm qua ngày và ngày qua đêm. Ngược lại ai cũng tự nhiên hiểu được lời khấn có ý nghĩa trọn vẹn là xin cho thanh lâu của bà ngày đêm gì cũng có đàn ca, hát xướng, ngâm vịnh, uống rượu và các trò vui hoa bướm dập dìu khác thịnh hành thời bấy giờ. Như vậy, khi phóng bút viết câu thơ đảo lộn nầy, Nguyễn Du đã trực chỉ phát họa trong cảm nhận của người đọc cảnh ăn chơi và phong cách ăn chơi tại thanh lâu của Tú Bà. Từ đó ta có thể thấy rằng trong câu thơ nầy Nguyễn Du dùng chữ biến hóa rất “thoải mái” chớ không phải vì  muốn cho “trơn” câu thơ  mà thần thơ buộc phải viết thế./.

                           

*** Vai Màu Sương Phụ…/ Hình Hài Chiều Lá Bay

Hoa Nguyên

cropped-bien-chim-bay.jpgVai Màu Sương Phụ…

Có gì đâu! cũng là giã biệt
Dù chẳng xao lòng chẳng thấy vui
Chim xoải cánh từ phương mỏi mệt
Nhiều khi ta thấy chỉ mây trời..
 
Mây đã bay về phương từ bửa
Những gió xưa duyên dáng qua mành
Ví dầu sương bay từ khe cửa
Vẫn nghe tình là những mong manh
Có gì đâu! trò chơi ly hợp!
Lũ còng con bờ cát vô biên
Từ bên trời sóng vỗ triền miên
Trên vai người lụa trần sương phụ
Ta não nùng thiếu phụ như tiên
Vai bầu trời cởi mở chim huyên
Từ vết trần ai màu thiên địa
Bờ vai sương tà áo lụa đen
Có gì đâu! bọt trắng chia tan
Vỗ vào đây bờ cát dã tràng
Người đến đi như từng sóng biển
Chút hương nào ngơ ngác bay đan..

Hình Hài Chiều Lá Bay

Ta về từ gió bão
Tuổi trẻ nào qua đi
Như mới từ hôm qua
Về đây cây đã già
Nghe đời xanh hóa vội
Đường về gần cõi xa
Ra đi từ bôn ba
Rong đời qua dâu bể
Về ngang cây bóng xế
Thấy chiều như bóng ma
Đi quá ngày xót xa
Bình minh ngày đã tàn
Nghe chiều lên hấp hối
Chút tự tình phôi pha
Có qua đây giông tố
Như xoáy nào cuốn lên
Mây gió thành cuồng nộ
Bay muôn trùng mũi tên
Lòng ta hay cơn gió
Có như là mây bay
Những đường bay bé nhỏ
Chết bên trời có hay..!
Dấu điêu tàn chưa phai
Còn chút yêu dấu này
Chết nơi ngày viên tịch
Hình hài chiều lá bay
hn.