Tình Già

Thủy Điền

tuoi gia

 

Ước gì khi tuổi tám mươi
Còn ngồi kề vợ nở cười như hoa
Măn mê từng sợi tóc ngà
Chung nhau bên ấm, tách trà sáng mai
Khác chi một khoảng đời trai
Bên nàng tiếu tiếu, hài hài chuyện vui
Choàng hôn đỏ má, em cười
Bên hàng chè đậu lúc trời về đêm

Ước gì sức khỏe vững bền
Cùng người xuôi, ngược khắp miền gần, xa
Lên non, xuống biển, xe, phà
Nhìn mây, nhìn nước, ngắm hoa hữu tình
Như thời trai trẻ thư sinh
Hè về hai đứa đứng nhìn phượng bay
Thu sang tay nắm…. đường dài
Lê chân chậm bước nhặt vài lá thu

Ước gì được tuổi chín u
Để ta kề cạnh ngồi ru tình già
Tiếng em thay thế tiếng “Bà “
Cười tươi em bảo “Ông” à tôi đây.

Thủy Điền
22-05-2018

*** LẶNG LẼ MỘT TÌNH YÊU

Trần Minh Nguyệt

“ Em thả thuyền tình trên cõi thế<

Buông chèo, gác mái-bến cheo leo…”

 ao dai xua

                         Sương khóc thầm trong lòng, cô nén những giọt nước mắt không dám để nó tràn ra bờ mi. Vậy là chỉ còn hơn một tuần nữa người mà cô yêu thương, đặt hết niềm tin yêu còn lại trong đời cưới một cô vợ, mà cô dâu không phải là cô. Sương nhận được thiệp mời cưới của Phú  cách đây hai ngày, và hai ngày qua cô sống như một cái bóng không hồn. Nhà Sương đông anh chị em, ai cũng có đôi, có cặp chỉ còn mình cô là vẫn một mình lẻ bóng thôi. Dù lòng rất đau nhưng cô vẫn phải cười, phải nói, phải giữ thái độ bình thường không để ai biết nỗi dằn xé trong lòng cô.          

                               Cuộc đời đúng là như bóng câu qua cửa sổ, mới ngày nào cô còn là một con bé học cấp ba thơ ngây, học giỏi được thầy yêu, bạn mến và đầy ắp những ước mơ ngọt ngào,Cô mơ thấy mình là một cô gái dịu hiền, tốt bụng, giỏi giang luôn giúp đỡ mọi người và nhất là ai cũng yêu mến cô. Cô mơ thấy một mái ấm gia đình, một ngôi nhà nhỏ, xung quanh nhà trồng nhiều hoa, bốn mùa nở rộ. Một người chồng yêu thương cô hết mực và những đứa con xinh xinh.Nhưng cuộc đời không giống như trong giấc mơ, cô nay đã gần bốn mươi tuổi rồi- những ước mơ thời trẻ tuổi cũng theo thời gian mà rời bỏ cô. Nhiều khi thấy buồn Sương cũng muốn mơ những giấc mơ ngọt ngào thời xưa, tìm hạnh phúc trong cỏi ảo cho tâm hồn bớt buồn nhưng cô không thể nào mơ được nữa- tất cả dường như chao động và xóa nhòa trước mắt cô, trong suy nghĩ của cô. Giờ đây cứ nằm mà nhắm mắt lại và suy nghĩ là nước mắt cô lại tuôn ra ướt đẫm gối hàng đêm. Đã hơn 12 giờ đêm rồi mà Sương không tài nào chợp mắt được, đầu óc của cô đang mơ về thời quá khứ, những chuyện đã từng đến và đi trong cuộc đời của cô, Nhiều lúc quá cô độc và buồn- cô muốn tìm ra lí do nào đã khiến đời cô truân chuyên, buồn khổ như thế này? Hay đó là số mệnh trời đã dành sẳn cho cô từ khi cô chào đời mà người ta đặt cho nó  một cái tên khó hiểu là “định mệnh.”?

                                             Sương đậu vào lớp 10 với số điểm rất cao, Văn 8,5 điểm, Toán 9,5 điểm và cô được cộng thêm 2 điểm thưởng  vì cô là học sinh giỏi năm lớp 9. Điểm chuẩn của trường rất thấp hai môn văn, toán cộng lại được 6 điểm là đậu. Vì vậy mà Sương nghiễm nhiên trở thành cô lớp trưởng của lớp 10A2. Cô Thanh, một giáo viên mới ra trường xinh xắn, thông minh với đôi mắt tròn to và gương mặt rất tươi làm chủ nhiệm của lớp. Sương học cùng với 38 người bạn  ở nhiều trường khác, nhiều xã khác của Huyện. Học cùng trường với cô chỉ có Phú, con một thầy giáo cũ dạy cô năm lớp 7- Phú, với gương mặt trắng hồng như con gái, nhìn rất thư sinh. Phú học giỏi ,vui tính và sôi nổi trong các lĩnh vực. Ở đâu có Phú là ở đó đầy ắp tiếng cười. Phú là lớp phó học tập của lớp. Chỉ khoảng một tháng sau thôi, từ thầy cô, đến các học sinh trong trường ai cũng biết Phú- các chàng trai thì phục Phú vì cậu ấy thông minh, học giỏi và chơi được tất cả các môn thể thao, môn nào cũng giỏi. Còn các cô gái thì nhìn Phú ngưỡng mộ và có không ít các cô gái trong trường cũng thầm thương trộm nhớ Phú. Sương  có bản tính  như con trai -cô chưa cảm nhận được mình là  một thiếu nữ đang tuổi dậy thì nên  chỉ xem Phú như một người bạn thân, người bạn cùng đi học, cùng về mỗi ngày. Phú rất thân tình, dịu dàng với bạn cùng trường, lớp, nhưng không hiểu sao cô với Phú ngày nào cũng có chuyện xích mích nhau, giận nhau cả. Sương làm lớp trưởng mà mọi chuyện của lớp Phú làm  giúp toàn bộ,-từ việc quản lí lớp, đến việc tham gia các phong trào. Sương trở thành một cô lớp trưởng rất mờ nhạt, không ai biết đến. Năm lớp 11 cô không còn làm lớp trưởng nữa mà vị trí đó bây giờ là của Phú- còn Sương vì tự ái, cô không giữ chức Lớp phó học tập mà trở thành một thành viên của lớp. Sương còn nhớ như in lời của Phú nói với cô Thanh ” Em với Sương không hợp nhau, bạn ấy học giỏi nhưng tính tình hiền và nhút nhát quá nên nói không ai nghe, em đề nghị cử Bạn Hoa làm lớp phó cô à”

               Cô Thanh nhìn Sương ái ngại. Cô Thanh rất thương Sương vì Sương học rất giỏi môn Hóa do cô dạy. Sương lấy hết can đảm đứng dậy nhìn cô giáo chủ nhiệm và nhìn Phú nói lớn ” Em không xứng đáng làm chức vụ gì đâu cô, em nghĩ bạn Hoa xứng đáng hơn em, hợp với Phú hơn em”. Nói xong Sương chạy ra khỏi lớp, cô khóc. Cô không ngờ người bạn thân nhất của cô lại có thể đối xử với cô như vậy. Cô nghĩ trong đầu là cô sẽ không bao giờ nói chuyện hoặc quan tâm gì đến Phú nữa, cô xem như không có người bạn này. Vậy mà hết giờ học Phú vẫn ra cổng trường đợi cô cùng về chung, và lẽo đẽo theo Cô . Cô đạp xe lầm lũi một mình, cô xem như không có Phú. Phú đã tìm dịp gần Sương- giải thích với cô nhiều điều  dài dòng lắm- nhưng cô vì giận, cô không muốn nghe. Thời gian qua mau, nhưng vẫn không thể hàn gắn lại vết thương lòng quá sâu trong tim cô, Cô vẫn học giỏi nhưng vẫn lầm lũi một mình ít nói, ít cười và ít khi tham gia vào các hoạt động chung của trường, của lớp chỉ vì một điều rất vô lý là cô không muốn nghe giọng nói của Phú- không muốn được Phú quan tâm, chăm sóc hay cắt đặt một việc gì đó. Trái với cô, Phú vẫn đối xử với cô rất dịu dàng, vẫn lo lắng cho cô hơn những bạn cùng lớp khác. Cô Thanh- chủ nhiệm lớp, vẫn hay nói với cô về  Phú.- khuyên cô đừng giận Phú nữa, nhưng Sương chỉ im lặng, cô vẫn không thể nào  nguôi gíận Phú được?       

                     Lớp cô là lớp chọn của trường, nên 38 thành viên của lớp đều đậu đại học với kết quả rất cao.Vậy là bạn bè phải chia tay nhau, bạn cô vào Sài Gòn học y, Bách khoa, kinh tế… còn Cô đậu vào đại học sư phạm khoa hóa, vì nhà cô nghèo và cô không muốn xa nhà. Những niềm vui, nỗi buồn của thời phổ thông lặng lẽ theo chân  mỗi đứa mỗi nơi…

                    Phú đậu vào trường Bách Khoa thành phố- khoa Điện tử, và anh ta đậu với số điểm rất cao. Với sự năng nổ, hoạt bát , và phong thái đàng hoàng nên Phú vẫn được chọn làm lớp trưởng. Sương đôi lúc nghĩ vì trời sinh Phú vậy nên anh ta thành công ở mọi lĩnh vực là chuyện bình thường .     Trước lúc rời quê vào  nhập học ở Sài Gòn,  Phú có xuống nhà thăm Sương, nhưng cô trốn biệt – không chịu gặp. Cô nghĩ, giữa cô và Phú giờ đã có hai con đường riêng để đi rồi- không còn gì dính dáng tới nhau nữa. Vậy mà ngay tuần đầu tiên vào ký túc xá sống cuộc đời sinh viên, cô nhận được thư của Phú. Trong thư , Phú xin lỗi và bảo không muốn mất đi tình bạn giữa cô và anh ta. Đọc xong thư, Sương cũng cảm thấy Phú tội tội. Từ đó, tuần nào cô cũng nhận được thư của Phú- anh kể với cô những chuyện vui buồn khi xa nhà và bao giờ cuối thư cũng có câu ” Mình nhớ Sương nhiều lắm. Giá mà mỗi ngày được nhìn thấy Sương như trước kia thì tốt biết bao nhiêu. Mình đợi thư của Sương đến dài cổ rồi. Sương viết cho mình vài chữ đi dù là những lời cay đắng nhất cũng được”. Những lá thư của Phú càng nhiều thì nỗi giận hờn trong lòng cô cũng dần tan biến. Và  lạ thay,Phú lại hiện diện trong giấc mơ của cô hàng đêm. Dù cách xa nhau nhưng mối tình chớm nở của cô và Phú thật đẹp.   Có cơ hội, có dịp nghỉ lễ là Phú vội vàng vào thăm cô.  Cha, mẹ hai bên biết vậy đều an tâm, mong chờ . Cô và Phú đã nhièu lần ước nguyện -chỉ chờ ra trường, có việc làm ổn định là xin làm lễ cưới nhau thôi.

                            Sự đời mấy ai học được chữ ngờ? Cô và Phú ai cũng ra trường với tấm bằng loại khá và xin được việc thích hợp với ngành học- thu nhập ổn định. Ba, mẹ hai bên định đến cuối năm sẽ tổ chức lễ ăn hỏi, vậy mà chỉ vì một câu nói của người lớn- cuộc đời Sương đã đổi thay- khốn khổ như thế này ….

                Hôm đó Sương đến nhà Phú chơi- bà nội Phú có vẻ không vui, Lúc ấy Sương không biết là lý do tại sao , chỉ cảm thấy rất sợ. Khi mọi chuyện đã xảy ra rồi, cô nghĩ lại mới hiểu ra một điều cay đắng rằng  bà  nội Phú có ý chê cô không xứng với cháu đích tôn của bà -về cả học thức và ngoại hình. Bà muốn cháu dâu của bà  xinh đẹp hơn- hoàn thiện hơn. Bà nhìn Sương rất lâu và đột nhiên hỏi:

            – Ba mẹ cháu khỏe luôn chứ? Nhà cháu còn bán tạp hóa không? Mà ở chỗ  cháu bán tạp hóa chắc là ít người mua?

            Sương đỏ mặt- giọng lí nhí: ” Dạ, còn bà ạ! Mẹ cháu ở nhà bán cho vui .thưa bà! “

           Bà nội của Phú nhìn Sương một lát và nói tiếp” Cháu giống mẹ cháu, thật xinh đẹp và thật khéo ăn nói nhưng nói thật bà rất ghét những người như vậy. Khéo quá bà thấy nó cứ giả tạo làm sao ấy, cháu à. Bà nghĩ sinh ra là thiên nga thì lớn lên là thiên nga, còn sinh ra là vịt bầu thì có chải chuốt như thế nào đi nữa vẫn là một con vịt bầu thôi. Cháu hiểu ý bà chứ?”

            Sương ngồi chết trân, cô không biết giấu sự xấu hổ vào đâu nữa. Cô muốn chạy ra khỏi phòng thật nhanh để không còn phải nghe thêm những lời cay độc nữa.

            Không ngừng – bà nội của Phú vẫn giọng ngọt ngào nói tiếp ” Ông bà nội của cháu trước đây nghèo lắm, hay làm mướn cho nhà của bà,nhưng vì sinh nhiều con quá, nên cuộc sống thật khốn khó. Vậy mà cha, mẹ của cháu thật giỏi, biết làm ăn, dành dụm nên nhà cháu mới được như ngày nay. Mà cũng nhờ ba cháu làm thủ kho hợp tác xã nên….”. Nói đến đó bà nội của Phú ngừng lại.

           Sương thấy một sự sỉ nhục ghê gớm ,không chịu nổi thêm nữa Sương vụt chạy ra khỏi phòng. Cô ra về mà không chào ai cả. Cô hiểu rằng sự cưới xin của cô và Phú mãi mãi sẽ không thành. Dù biết Phú yêu cô nhiều lắm nhưng nỗi nhục của gia đình trong lòng cô không thể xóa nhòa. Cô thấy thương ông, bà cha ,mẹ cô lắm. Họ sinh cô ra- nuôi cô lớn lên, tất cả có nhờ gì ở cô đâu mà giờ này vì cô lại phải bị  sỉ nhục ?                                        

                    Mấy ngày sau Sương gặp Phú ở quán cà phê Kỉ Niệm-  nơi mà cô và Phú có những giây phút tuyệt vời bên nhau, nơi đã giữ của cô và Phú biết bao kỉ niệm vui buồn của tình yêu đầu đời nồng nhiệt thơ ngây.. Sương muốn chọn nơi này để nói lời chia tay với Phú, bởi vì nếu không làm vậy, cô biết làm sao  khi cuộc tình đã dang dở? Chia tay Phú-  tim cô nhói đau, nhưng nếu không nói được lờì tha thíết sau  cùng-cô sẽ  cảm thấy ân hận suốt đời. Cô  cũng cảm thấy mình đang là một người con, người cháu bất hiếu.  Tình yêu của cô và Phú đang đi dần vào ngõ cụt- không có đích đến.

              Phú đến gặp Sương với nét mặt buồn buồn ( chắc bà Nội Phú đã nói gì với Phú rồi.? ). Chưa kịp ngồi xuống ghế Phú đã nói nhỏ nhưng giọng đanh lại: ” Phú không ngờ Sương lại đối xử với bà của Phú như vậy, bà đã già rồi, và bà lại bị tim và huyết áp cao. Sương có cần tranh luận với bà như vậy không? Sương làm hư mọi chuyện rồi, giờ ba, mẹ của Phú và bà rất giận Sương”

             Sương như ngây như dại-cô không biết bà nội đã nói  thêm điều gì với Phú mà Phú nói với Sương những lời như vậy. Cô muốn giải thích nhưng cô không biết bắt đầu từ đâu. Mà có nên giải thích gì nữa không? khi định  kiến dã ăn sâu trong tấm lòng chật hẹp, phân biệt? Cô nghĩ- thôi thì đành vậy, biết đâu như vậy Phú và cô sẽ dễ dàng chia tay nhau mà đỡ phải khổ đau nhiều hơn?  Sau một lúc yên lặng, cô nhìn vào Phú- nói như đã nằm lòng từ lâu : ” Con người Sương là vậy đó- Sương vô lễ vậy …, Nó là bản chất của Sương mà?  Phú đừng quan tâm tới Sương làm gì nữa !”

              Phú  sững sờ khi nghe Sương nói như vậy-anh dang tay ra định tát vào mặt cô nhưng nghĩ sao Phú lại buông thõng tay xuống một cách buồn bã.  Gương mặt của Phú trở nên nhợt nhạt, phẳng lặng  . Sương nghĩ- chắc là Phú đang giận cô lắm?  Phú lặng lẽ cầm lấy li cà phê lên uống từng ngụm, từng ngụm nhỏ- và  đăm chiêu như kẻ vô hồn.. Sau cùng Phú nói :” Chúng ta có duyên mà không có nợ, đó là ý trời Sương ạ.  Chúng ta chia tay nhau đi. Anh rất yêu em, nhưng anh không thể làm được gì lúc này  . Anh chỉ hứa với em là anh sẽ lập gia đình khi em đã yên bề gia thất. Anh muốn tiễn em đi một quảng đường đời, dù con đường đó không dẫn chúng ta về đâu cả. Tạm biệt em, Chúc em hạnh phúc.”  Nói xong- Phú đứng dậy trả tiền cà phê và đi ra khỏi quán. Sương bật khóc nức nở- cô biết rằng từ giây phút này đây-  cô đã mất Phú mãi mãi…                   

                     Ngày khai giảng sắp đến gần- Sương  đến trường để dự họp hội đồng sớm hơn thường lệ.  Trải qua ba tháng nghĩ hè, cô cảm thấy nhớ trường, nhớ đồng nghiệp kinh khủng. Cô đang đi trên hành lang -con đường dẫn đến phòng hội đồng, thì có tiếng thầy Nam- hiệu trưởng, gọi to :” Cô Sương! Cô đi họp sớm vậy sao? Còn hơn 45 phút nữa mới họp mà ? Vào đây uống nước đi “. Gặp lại thầy Nam cô vui lắm- cô muốn hỏi thầy nhiều chuyện, nhưng khi bước vào phòng – cô im bặt, vì thầy đang có khách lạ. Người đàn ông nhìn cô chằm chằm. Sương cảm  thấy khó chịu, ngượng  ngùng-định bước lui ra- nhưng thầy Nam đã kịp kéo cô lại – bảo cô ngồi xuống, Thầy Nam giới thiệu với Sương: ” Đây là Thầy Minh-dạy Lý, thầy về trường mình năm nay em à. Em và Thầy Minh làm quen đi…

–         Vậy là đồng nghiệp rồi.-Sương vừa nói, vừa cúi đầu chào.

  Minh không trả lời nhưng hơi cúi – gật đầu chào lại Sương.

            Một khoảng trống yên lặng, Sương thấy ngượng- cô không biết phải hỏi han gì thêm  Minh để che lấp khoảng  trống yên lặng khó xử.? Còn  Minh –anh chỉ nhìn cô thôi, cũng không  biét nói thêm gì.  Nam để mặc  cho  hai người-  cứ lục hết xấp giấy tờ này tới cặp giấy tờ kia-  không  hề để ý gì đến cuộc gặp gỡ đầu tiên  của Sương và  Minh

            Không chịu nổi sự yên lặng thêm nữa- Sương làm vẻ dạn dĩ- hỏi  :” Thầy Minh chuyển từ trường nào về đây vậy?”

             – Tôi ra trường đã 7 năm nay nhưng chưa dạy ở đâu cả, giờ xin ở trường này là đầu tiên cô à! – Minh ngập ngừng- Cô dạy môn gì? Cô đã dạy mấy năm rồi’

             – Em dạy hóa. Em dạy được ba năm rồi.

             Thầy Nam bỗng nhiên nói xen vào:” Cô Sương là hoa hậu trường này đó, vẫn phòng không, Cậu có đăng kí làm vệ sĩ không?”

             Minh đỏ mặt- cười  mơ hồ:  ” Em xin chịu cả hai tay luôn, chỉ sợ cô Sương đây cho em nghèo- không chịu thôi thầy à?

            Thầy Nam cười hào hứng :” Tôi làm ông mai thường là rất thành công đó. Tôi sẽ xắn quần làm mai cho thầy, cô nhé ?”

              Sương thấy ngượng quá-cô không biết trốn vào đâu? Cô  vội tìm cớ phải ra quán internet  để gởi mấy cái thư cho bạn- chào vội thầy Nam và  Minh- đon đả  bước  ra khỏi phòng.  Tiếng của thầy Nam vẫn vọng theo sau : ” Cô Sương nhớ lời tôi không? Là duyên tiền định đó….”                  

         Minh khá dễ nhìn , lại  dạy giỏi và rất vui tính.  Sau một năm học, mọi người trong trường ai cũng yêu quý Minh. Với Sương, thầy Minh đăc biệt rất ân cần và quan tâm.  Về nhà, Minh phải đi ngang qua  ngõ nhà của Sương,  vì vậy Minh thường nấn ná  chờ cô về chung cho vui, Đường từ trường về nhà Sương là một đường đất nhỏ-nhiều ổ gà rất khó đi. Nhất là những chiều mùa đông, khi hết tiết dạy thứ năm thì trời đã tối mịt. Sương đi về  rất khổ – đường đi đất sét nhão ra, cộng với rơm rạ nông dân còn bỏ lại nhão nhẹt- xe qua số một đôi lúc cũng không chạy nổi. Có hôm trên đường về nhà Sương bị trợt té đến hai, ba lần.  Minh bao giờ cũng bên cạnh- sẵn sàng dìu  đỡ cô – giúp đưa cô về tận nhà. Và dần dần- từ đó, Sương cảm thấy  tim mình một lần nữa  -đang xao động., thổn thức…

                       Gia đình  biết được chuyện  gần gũi thương yêu  của cô và  Minh-ai cũng mừng- vì nghĩ rằng- từ nay, nỗi đau xưa cũ của một cuộc tình  sẽ dần bị  xóa mờ để cho cô  được an vui sống tiếp chặng đời còn lại, Nhất là bà nội và ba, mẹ Sương-. các đồng nghiệp ở trường, và bà con ở quê -ai cũng mong  sẽ sớm được uống ly rượu mừng của cô. Phần Sương, cô cũng đang mơ nghĩ đến điều đó.…

                   Nhưng chữ tình mà trời định cho Sương quá mong manh- nó giống như  sương mù buổi sớm – dể dàng tan biến đi khi mặt trời ló dạng. Sương còn nhớ rõ hôm ấy là một ngày chủ nhật, Minh gọi điện rủ cô buổi chiều cùng đi dự đám cưới  của người bạn ,Hoàng model – một thầu xây dựng giàu có, lắm tiền- thay người yêu như thay áo khoát. Minh đã từng kể về  người bạn có tên là Hoàng Model với cô như vậy. Cô đã từ chối không muốn đi, nhưng cuối cùng cô bị Minh thuyết phục nên đồng ý để làm vui lòng Minh.. Sương có dáng người rất đẹp, nhưng vì  nghĩ mình là một giáo viên nên cô chỉ trang điểm nhẹ nhàng và ăn mặc rất  giản dị. Sương mặc quần Jean, với áo pull kín cổ, dài tay vì đang vào tiết đông.. Trong bàn tiệc-  khi Minh giới thiệu cô là bạn gái của anh- mọi người  ai cũng nhìn cô với ánh mắt ngạc nhiên, lạ lẫm.  Sương cũng không hiểu tại sao họ lại nhìn mình như vậy?  Suốt buổi tiệc hôm đó Minh không nói gì với Sương cả Anh uống rất nhiều rượu- và cười nói huyên thuyên với những cô gái khác cùng bàn .Sương bỗng cảm thấy mình trở nên thừa thải, Cô không biết trốn vào đâu cho đỡ xấu hổ.  Sau hôm đó , một người quen của cô cùng dự đám cưới kể lại rằng- mọi người cho cách ăn mặc của cô giống như một cô gái nhà quê vậy .Họ còn nói nhìn cô cũng không còn trẻ nữa mà chưa lập gia đình, chắc là bị sao rồi . Thị phi, đàm tiếu- thật là đáng sợ.  Cũng từ hôm đó -Minh dường như muốn xa lánh cô-cô có hỏi thì Minh mới trả lời- anh còn viện cớ là nhà có việc nên phải về sớm, họa hoằn không tránh được, Minh mới cùng về với Sương…

           Và rồi chuyện gì đến cũng phải đến- Minh đi bỏ lễ cưới Nga, một cô gái ở huyện bên. Nga  trẻ , đẹp- model hơn Sương, nhà lại rất giàu,Gia đình của cô vợ Minh  đang định cư ở Đức. Đau lòng hơn nữa là khi Minh quen Nga lại cùng một lúc với cô .  Sương  xấu số-kém duyên hơn nên con thuyền tình một lần nữa lại bị bão đời đen bạc làm đắm chìm- không trở về bến đợi.       Sau ngày cưới- Minh cùng Nga được gia đình nhà vợ bảo lãnh sang Đức đoàn tụ với gia đình. Sương một lần nữa lại trở về cuộc sống lặng lẽ trước đây với hai vết thương lòng không thể nào có thể lành được.

                 Lâm- một người bạn thời phổ thông của cô đang làm kế toán trưởng cho một công ty  đang làm ăn phát đạt . Trong đám bạn bè cùng lớp ,Lâm là một trong những người giàu nhất. Nhưng tiền bạc không mua được cái chết.  Sau cuộc ăn nhậu cùng đối tác, Lâm lái xe về nhà và tự tông vào trụ điện bị chấn thương sọ não chết tại chỗ. Đám tang của Lâm không thiếu mặt ai trong lớp. Cô Thanh và các bạn ai cũng bật khóc khi quan tài hạ huyệt. Trên đường về , Phú đi bên cô- đây là lần đầu tiên cô gặp lại Phú sau năm năm xa cách. Đi bên nhau một lúc- Phú nói nhỏ :” Mình biết chuyện của Sương rồi. Nhưng sương đừng buồn. Những người như anh ta không đáng cho Sương phải buồn, phải quan tâm đâu. Biết sớm đôi khi cũng là cái phúc của Sương đó “. Cô không trả lời, hay thanh minh gì mà hỏi lại :” Tại sao anh không chịu lập gia đình?”

                   Phú yên lặng một lúc –giọng buồn buồn:” Sương có còn nhớ khi chúng mình chia tay Phú nói gì không? Phú đợi Sương đám cưới trước, sau đó phú mới cưới mà”

                    Sương bật cười ” vậy tôi ở giá, không lập gia đình,Phú cũng ở vậy tới già à ?”

                   Phú cũng cười- đáp :” Phú nói như đinh đóng cột mà, Rồi thời gian sẽ trả lời Sương thôi”

                   Sương thấy sống mũi mình cay cay. Tại sao cô và Phú lại lâm vào hoàn cảnh trớ trêu như thế này? Phú cũng không thể bước qua rào cản của gia đình và cô cũng vậy. Đành nhắm mắt mặc cho cuộc đời tự nó nó trôi chảy…

                         Miên man với dòng suy nghĩ, với những kí ức buồn,Sương ngủ rất muộn.

–         Chị Sương! Sáng bạch rồi mà chị không dậy đi dạy à? Tiếng Lan -em kề cô hỏi vọng vào.

            – Chị sáng nay không có tiết dạy.- Sương thở dài- Chị chắc là bị cảm nên rất mệt. Chị muốn ngủ thêm một lúc nữa…

           – À chị ơi! Chị có thư đó. Người ta đem đến ngày hôm qua nhưng em quên mất.

           – Của ai vậy em?- Cô thờ ơ hỏi- Để chút nữa ngủ dậy chị đọc.

           – Em cũng không biết, không có địa chỉ của người gởi chị à.

           Sương bỗng thấy tò mò- tỉnh hẳn cả ngủ. Cầm lá thư trên tay, cô giật mình- nét chữ này là của Phú, cô không thể nào nhầm được. Phú đã đi lấy vợ, thiệp cưới cô đã nhận rồi sao còn viết thư cho cô làm gì nữa.? Trong thư Phú viết : ” Vậy là Phú không giữ đúng lời hứa với Sương rồi, Nhưng Phú không thể nào bỏ đi đứa con ruột của mình mà trong một lần nhậu say Phú đã gởi cho cô ấy- Phú không yêu cô ấy, nhưng cũng không thể làm khổ cô ấy nữa. Sương hãy hiểu cho Phú. Phú báo tin cho Sương thôi, nhưng Phú xin Sương đừng đến dự đám cưới của Phú nhé?. Phú hẹn Sương kiếp sau vậy. Sương hãy sống cho tốt, hãy tìm một chổ dựa vững chắc cho cuộc đời mình, Đừng buồn, đừng âu sầu mà buông xuôi tất cả  nghe em?”

            Sương bật khóc- cô cảm thấy  Phú thật đáng thương. Cô không thể cưới một người mà cô không yêu thương làm chồng.  Tình yêu trong cô dường như đã chết hẳn rồi. Cô cảm tháy lòng mình không còn  chút cảm xúc gì khi nghĩ đến hai chữ yêu thương nữa.

            Phía  nhà ngoài -đứa em gái của cô đang vô tư  hát – lời bài hát thật buồn. ” Đàn lòng buông lơi tiếng tơ lòng. ai đã quên lời ta? Tình yêu, mộng mà chi, Đừng mơ hái sao trên trời. Đời chẳng chung đôi, còn gì đâu cũng vậy mà thôi…. “. Sương tự nghĩ- kiếp này cô không thả thuyền tình lên cõi thế nữa, nhưng cô sẽ cố gắng sống an nhiên hơn trước mọi nỗi khổ đau. Cô  quyết định , năm nay- sẽ xin  Hiệu Trưởng để đi học cao học. Cô hi vọng- thời gian sẽ là liều thuốc  nhiệm mầu chữa lành  mọi vết thương …

*** Viết Cho Cha

 tranh DC4

Hoàng Lan Chi

Gia đình tôi hơi khó chịu! Cha tôi là giáo sư, cộng thêm tánh cũng khó sẵn (chớ không phải cái nghiệp giáo làm cho khó) nên khó dàn trời.

Thuở nhỏ, khi di cư vô nam, để có nghề ngay, ông đành xuống Sóc Trăng dạy. Mọi việc ở nhà phó cho vợ. Mẹ tôi không phải giáo sư gì ráo nhưng cũng khó từ máu khó ra nên tụi tui coi như bị kềm kẹp. Và cha tôi hoàn toàn yên tâm khi đi xa, khỏi sợ “con hư tại mẹ”.

Hồi đó tôi ví von: lũ chúng tôi bị ba  tầng áp bức: gia đình, học đuờng, xã hội. Tầng nào cũng kinh như nhau. Gia Long thì kỷ luật nghiêm quá trời. Chắc có lẽ nhìn thấy Gia Long đã có cơ ngơi sẵn, kỷ luật gắt nên hồi đó cha tôi biểu tôi thi vô GL, chứ lẽ ra, con gái bắc kỳ 9 nút như chúng tôi, phải học Trưng Vương mới đúng.

Sau này cha tôi  đổi dần về gần Saigon. Ban đầu là giáo sư Cần Giuộc. Sau đó Hiệu truởng Bến Lức, rồi Cần Đước. Cuối cùng về dạy Anh văn ở Petrus Ký cho đến 75.

Cha tôi giỏi văn. Cụ làm nhiều thơ. Gia nhập văn đàn gì đó. Tất nhiên thời đó, thơ các cụ đa số đường luật. Tôi thấy để “chỉ trích”  hay “tự trào” chi đó thì làm kiểu thơ đuờng là phù hợp, còn thơ tình, tôi thích bảy hay tám chữ.

Ở nhà, có lẽ chỉ có tôi là thừa hưởng cái gien văn chương “vớ vẩn”  đó của cha. Nhưng vì cha  gắt nên tôi dấu nhẹm. Người ta– tuổi học trò- viết bài đăng báo là hãnh diện khoe gia đình. Còn tôi, không dám. Dấu kín bưng. Cha tôi không hay gì hết ráo. Nhưng tôi vẽ vời lung tung trong tập thì cha  biết. Cha la “ Lo học cho có nghề đàng hoàng. Văn sĩ hay hoạ sĩ, đa số gian truân, lao đao. Có khi nổi tiếng thì đã chết rồi. Còn sống thì nghèo khổ. . ”

Tôi nghe lời ngay tắp lự. Chả là “bổn cô nuơng” cũng sợ nghèo mà nên chỉ lâu lâu vẽ tí chơi. Cũng uổng, coi như cha tôi đã giết từ trứng nuớc một hoạ sĩ lừng danh của VN !

  Nhưng viết , còn khuya đi  bố  của con ơi. Tôi lén cha, lai rai. Với tôi ngày đó, viết chỉ để giải trí và  kiếm tiền đãi bạn bè ăn bò viên. Báo Chính Luân trả nhuận bút khá nhất. Một bài chừng hai trang A 4 là tám trăm ngàn. Tiền dạy lớp 10 ở trường tư là 500. 000/1giờ. Tôi ngoáy bút đâu đến một  giờ . Chỉ khoảng nửa giờ là xong một bài cho Chính Luận

Tôi cũng viết lai rai chuyện tình cho báo khác. Chuyện tình thì toàn là “cô bé” bịa. Cứ một câu nói, một tình huống có thực nào đó là tôi thêu dệt thành một chuyện tình lâm ly bi đát ngay tút suỵt! Còn bản thân mình thực sự ngoài đời thì em hiền còn hơn ma soeu ! Mà hồi sinh viên, tôi thuộc loại xí xọn nên cũng nhiều đuôi. Do vậy mỗi đuôi đều đuợc  tôi cho vô truyện của mình  hết ráo.

 Cha tôi hoàn toàn không ngờ con gái lén mình viết báo. Nhưng cha biết tôi khá văn. Nên thỉnh thoảng ông đem thơ ra và hỏi “Có hay không”.  Trời đất, hỏi nguời ta thơ mình có hay không! Mà chỉ hỏi tôi thôi chớ mấy mạng kia trong nhà coi như dùi đục chấm mắm cáy!  Vì cha biết họ thực tế, không văn chương thơ thẩn như tôi. Tôi xem và phán tỉnh bơ “Thơ bố thì cũng khá (!!) nhưng bài nào cũng có một câu bị gãy”  “Bố cô!” Tôi chạy “ Sao bố hỏi , con nói thiệt lại chửi. Lần sau con không nói nữa đâu”.   Đó là sự thật. Cha tôi làm thơ cũng hay. Nhưng trong  tám câu thế nào cũng có một  câu gượng ơi là gượng, ép ơi là é !

 Cha tôi còn “thần sầu” ở chỗ –  ông phán xanh dờn :

Trung học: cấam không có bạn trai. Cái khoản này được bốn đứa con gái chấp hành nghiêm chỉnh.

Đại học:  đuợc  quyền có bạn trai nhưng cấm không cho đến nhà. Trời đất, “gian ác” kinh khủng chưa? Không cho đến nhà thì làm sao tiếp xúc nhiều để biết tên đó có thuộc anh em với Sở Khanh không? Cái khoản này đuợc  bà chị tôi nghiêm chỉnh thi hành. Tôi cũng thi nghiêm chỉnh không  kém chị một ly ông cụ nào cả. Nhưng năm thứ hai,  tên T “mắc toi”, cái tên ngang tàng bướng bỉnh, không sợ ai, đã lợi dụng lúc tôi đang ở truờng, hăn đến nhà tỉnh bơ. Sau đó hắn về truờng “Tôi mới đến nhà LC đấy. Gặp ba LC ” Tôi sợ xanh mặt. Về nhà, rón rén đi vào, chờ cơn thịnh nộ của ông bố “hắc ám”. Nhưng lạ, ông chỉ đơn giản “Hồi nãy có thằng T đến đấy”. Cho đến giờ phút này, tôi cũng không hiểu vì sao cha tôi không la? Vì sao cha tôi xé bỏ luật của người ? Đương nhiên từ đó về sau, mấy tên con trai khác, nghe tin T đến được là cũngtheo gót. Vậy l : trong gia đình, chị tôi bị siết. Và tôi đỡ hơn bà chị được một khoản !

Đậu trung học: trả ¼ tự do. Tú tài một: trả tiếp ¼. Tú tài 2: trả tiếp ¼. Đại học: trả nốt ¼ còn lại. Lúc đó mới đuợc  quyền tìm hiểu để lập gia đình.

 Thế đó, có ông bố nào “dễ sợ”  như cha tôi không? Vậy mà chúng tôi tuân răm rắp. Cũng ngộ thật, ngộ hơn nữa là  sau này tôi phán y chang với hai nhóc của tôi! Năm 96, tôi đang hùng hồn thuyết “Lên đại học mới đuợc phép cho bạn trai hay gái đến nhà. Chúng mày nghe rõ chưa? Còn bây giờ là cấm!”  Hai nhóc cuời. Thêm thằng em- đệ tử- cũng cuời. Tôi quát “Chúng mày cuời cái gì” Thằng con tôi kính cẩn “ Bẩm bà Tổng, con đang là sinh viên ạ” Mải thuyết  moral, tôi quên mất tiêu thằng nhóc mới lên đại học. Tôi cứ tưởng nó còn trung học. Nhưng có lẽ con trai tôi cũng ớn bà mẹ hắc ám (giống tôi ớn cha mẹ mình ngày xưa!) nên không bao giờ đưa bạn gái về nhà. Năm 98, từ Úc về VN chơi, cũng chỉ báo cho mẹ đi đón, không dám cho bồ ra.  Có lẽ  tôi bị lây cái hắc của cha tôi!

 Nhưng tôi còn nhớ, cha tôi đã đưa tôi đi thi tú tài hai. Nói nào ngay, ông chở tôi đi rồi ông đến hội đồng kia vì ông là Chánh Chủ Khảo ở đó. Mẹ tôi không chú ý tôi đi thi ra sao, đi bằng cách gì. Nhớ lại ngày đó cha đưa đi thi, thấy lòng cũng cảm động. Sau đó ông nhờ bạn bè xem điểm trước cho tôi. Tôi thì ngày xưa mê học nên cũng hồi hộp muốn biết truớc điểm.

 Cha tôi định cư Canada năm 93. Năm 2000, tôi đang ở Mỹ, ông gọi từ Canada “ Này, tôi cho cô 500 US, cô sang Canada đi”. Thế đó, ông tưởng tôi không có tiền mua vé bay. Hôm sau tôi phải đi từ San Jose  đến Los Angeles làm thủ tục sang Canada nhưng tụi Ca- na- điên phát ghét, đòi thêm nhiều giấy tờ mà tôi đang để ở VN nên tôi phải huỷ bỏ.  

 Giờ này đây, tôi cũng không biết mình có cám ơn cha đã cấm gắt gao cái khoản “bạn trai” để mình lo học hay không nữa? Chắc chỉ một phần. Vì những mối tình thuở sinh viên thì mới đẹp.  Mà hồi đó bị siết quá, tôi không có mảnh nào vắt vai. Anh nào theo cũng tránh né.  Khi ra truờng thì  dường như đầu óc chai sạn hơn, tính toán hơn.

Mà thôi, những gì cha mẹ muốn, đều xuất phát từ lòng thương mà ra. Có ai muốn vì điều A mà con mình khổ đâu?

Tất cả, chẳng qua là cái số.

Hoàng Lan Chi

*** Thương nhớ Hà-Tiên

 “miền duyên hải mến yêu tận cùng
trên nẻo đường quê hương đất nước”

An-Tiêm MAI-LÝ-CANG
(Paris)


Hòn Phụ-Tử khi xưa

LTG – Đất phương Nam xưa nay vốn thường được người ta nói đến nhiều nhất là vùng kinh tế lúa gạo cốt lõi ở miền đồng bằng châu thổ sông Cửu-Long chín nhánh chảy ra bể cả. Và người ta cũng thường hay ví bản đồ nước Việt bây giờ như là hình hài của một con tằm xinh đẹp đang bám mình vào lục địa Á-Châu chính do nhờ lượng đất phù sa tô bồi hằng bao thế kỷ trôi qua, và nay mảnh đất Hà-Tiên mới đã được thành hình.

An-Tiêm MAI-LÝ-CANG
(Paris)

 

Và bây giờ, thử nhìn vào vị trí bản đồ hình cong chữ “S” thì mọi người đều thấy rằng con đường biển cả bao la trên quê hương yêu dấu của nước ta kéo dài từ bãi Tục-Lãm xuống tận miền duyên hải cuối cùng trên nẻo đường đất nước, là phải dừng chân lại ở tại dải đất Hà-Tiên. Một vùng đất phương Nam thổ ngơi trù phú, vườn ruộng cây trái xinh tươi, lại còn nổi tiếng có sắc màu phong thủy hài hòa và những thắng cảnh nên thơ trữ tình, quyện lấy cùng với những kỳ quan thiên nhiên tuyệt vời, huyền ảo.Ngược dòng thời gian, ngày xưa vào năm (1832) thì Hà-Tiên vốn là một tỉnh trong Nam-Kỳ Lục-Tỉnh dưới triều đại của vua Minh-Mạng. Tuy nhiên, sau đó trải qua nhiều thời đại cải cách về địa lý hành chánh, thì giờ đây Hà-Tiên đã bị khép mình trở thành một huyện biên thùy ở miền duyên hải cuối cùng của miền Tây-Nam tổ quốc. So với phố cổ Hội-An ở duyên hải miền Trung (nằm cạnh quần thể lâu đài hình tháp của cố vương quốc Chămpa) vốn là một tụ điểm du lịch nổi tiếng có tầm vóc quốc tế từ lâu, thì Hà-Tiên ở đất phương Nam bây giờ chỉ là một thành phố nhỏ hẹp. Và hẻo lánh, nép mình bên bể cả nhưng lúc nào cũng sẵn sàng túc trực đón chào du khách trong nước tìm đến tham quan. Lợi thế may mắn của Hà-Tiên bây giờ, đó là nhờ dải đất miền duyên hải nầy nằm cạnh Phú-Quốc hoang sơ trù mật, một hòn đảo ngọc hiện đang còn tích trữ tiềm tàng rất nhiều tài nguyên thiên nhiên quý báu của quốc gia. Và có đầy tiềm năng để khai thác về kinh tế, mở mang đáp ứng nhu cầu du lịch trong tương lai ra thế giới bên ngoài. Tuy nhiên, nói riêng về mặt khác thì Hà-Tiên cũng đã có một thời từng là một cái nôi hội tụ được rất nhiều thành phần mặc khách tao nhân từ khắp mọi miền tìm đến giao lưu dưới mái nhà hội ngộ Tao-Đàn Chiêu-Anh-Các*.Và cùng nhau đã để lại cho đời sau nhiều thi phẩm rất là lý thú, tuyệt vời.

Đi thực tế, người nào muốn tìm hiểu về Hà-Tiên mau lẹ thì hãy lướt nhanh qua xem một đoạn văn miêu tả sau đây của Đông-Hồ đã viết: – “Ở đó (Hà-Tiên), kỳ thú thay, như gồm hầu đủ hết. Có một ít hang sâu động hiểm của Lạng-Sơn. Có một ít ngọn đá chơi vơi giữa biển của Hạ-Long. Có một ít núi vôi ở Ninh-Bình, một ít thạch thất sơn môn của Hương-Tích.Có một ít Tây-Hồ, một ít Hương-Giang. Có một ít chùa chiền của Bắc-Ninh, lăng tẩm của Thuận-Hóa. Có một ít Đồ-Sơn, cửa Tùng, có một ít Nha-Trang, Long-Hải. Ở đây không có một cảnh nào to lớn đầy đủ, ở đây chỉ nhỏ nhắn, xinh xinh, mà cảnh nào cũng có.” Do vậy, người ta có thể nói rằng non nước Hà-Tiên quả là một nơi biểu tượng cho nhiều danh lam thắng cảnh VN hội tụ lại trên dải đất nhỏ bé nầy.


Hà-Tiên một góc nhìn

Thị xã Hà-Tiên ngày nay trực thuộc tỉnh Kiên-Giang nằm cách trung tâm thành phố Rạch-Giá 93km, tiếp giáp biên thùy Campuchia với đường ven biên về phía Tây. Hà-Tiên có đường ven biển phía Nam chạy dài 22km giáp vịnh Thái-Lan, có sông Giang-Thành dài 23km. Lại còn có vũng Đông-Hồ, núi Tô-Châu, Bình-San, Thạch Động, bãi biển Mũi Nai, và cạnh đó còn có hòn Phụ-Tử v.v. Và kinh Vỉnh-Tế (nối liền Châu-Đốc với Hà-Tiên) dài hơn 90km là một công trình thủy lợi lớn lao nhất của triều đình nhà Nguyễn bắt đầu khởi sự từ thuở thời vua Gia-Long trị vì. Còn dải đất Hà-Tiên khi xưa, thì được người Chân-Lạp gọi tên là Mang-Khảm với đầy những huyền thoại ly kỳ về không gian cảnh sắc.


Mũi Nai

Ngày nay, có rất nhiều khách đi phượt lúc ban đầu khi vừa mới đặt gót chân lên thành phố Hà-Tiên, thì đã tỏ ra ngay sự thất vọng khi nhìn thấy quang cảnh phố thị không có dáng vẻ gì đặc biệt ngoài số ít ngôi nhà cổ xưa, lác đác các vách tường mái ngói ngả màu phủ rêu phong xám xịt. Bên cạnh đó là cảnh quan sinh hoạt nơi chợ búa êm đềm, đường sá không có lưu lượng giao thông ồn ào như nhiều nơi phố thị có nhiều nhà cao tầng khang trang khác. Tuy nhiên, không phải vì thế mà người ta không thể nhìn thấy có những nét quyến rũ nên thơ của nó chính là sự lặng lẽ, yên lành, chậm chạp, êm đềm bên cạnh bể khơi bao la chuyển hóa được lòng người làm cho họ tìm lại được một cảm giác nhẹ nhàng, thư thái.

Quả vậy, sau khi rời khỏi trung tâm thị xã Hà-Tiên cách đó không xa, thì người ta mới có dịp mục kích được đâu là cảnh trí màu sắc ở nơi đây tuyệt đẹp y như là hình ảnh của một bức tranh họa đồ.

Cách đây vài thập niên, khi nước nhà chưa thực sự hoàn toàn thống nhất thì Hà-Tiên là một vùng đất buôn lậu xuyên quốc gia lý tưỏng cho những thành phần tránh né pháp luật ở nơi chợ trời biên giới. Dạo ấy, đường sá hư hỏng xuống cấp nặng nề vì chiến tranh tàn phá chớ không được trùng tu mở rộng như thời buổi bây giờ. Do vậy, vào thời kỳ đó thì cái tên Hà-Tiên chỉ được nhiều người nghe qua vậy thôi, chứ cũng ít có người muốn phiêu lưu đến đó để tìm hiểu đâu là nước non cảnh đẹp ở nơi nầy. Còn bây giờ, với phương tiện giao thông thuận tiện hơn thì người ta thường dùng tỉnh lộ 955 nếu đi từ Châu-Đốc, hoặc quốc lộ 80 nếu đi từ Long-Xuyên hay Rạch-Giá xuống Hà tiên rồi dùng tàu cao tốc để thực hiện mau lẹ cuộc hành trình đi ra đảo Phú-Quốc. Và như hầu hết tất cả du khách đã từng đến Phú-Quốc rồi, thì sẽ không bao giờ quên được Bãi Sao là một thắng cảnh tuyệt vời có dải cát mịn màng trắng tinh chạy dài theo ven biển màu xanh nhấp nhô sóng nhẹ nhàng. Bờ biển thì có vực nước sâu từ từ khi lội ra xa, thật là lý tưởng cho người tắm biển có dịp nhìn thấy rõ từng đàn sứa, đàn và cá lội tung tăng dưới làn nước trong veo tận đáy biển. Và cũng như lời đồn không sai, là ai đã đến Phú-Quốc mà chưa biết được Bãi Sao thì phải kể như là cần phải trở lại thêm một lần nữa.


Bãi Sao

Trở lại bối cảnh không gian về lịch sử, xã hội, chính trị, văn hóa và nhân văn được thành hình trên dải đất Hà-Tiên ngày trước (ngày nay là gồm toàn bộ diện tích của tỉnh Kiên-Giang) là cả một giai thoại vô cùng kỳ thú, vì nó đã góp phần rất nhiều vào kho tàng tinh hoa phong phú của miền đất phương Nam. Giờ đây, nếu lấy cái mốc thời gian vào năm 1708 khi mà Mạc-Cửu ( 1655-1735) hoàn toàn thần phục chúa Nguyễn và xin dâng đất cầu thân thì được chúa Nguyễn-Phúc-Chu ban cho chức Tổng binh, và từ đó tính cho đến nay đã được là 300 năm.

Đối với tinh thần truyền thống cao đẹp của người VN ta từ thuở xa xưa, là luôn luôn lúc nào cũng trọng nghĩa mến tài, chiêu hiền đãi sĩ, đãi ngộ công lao. Vì thế cho nên, vào ngày 7-9-2008 thì nhhân dân cùng chính quyền sở tại cũng đã có tổ chức một buổi lễ khai mạc tượng đài Mạc-Cửu ở Hà-Tiên để vinh danh, và cũng để nhằm dành cho họ Mạc một chỗ ngồi xứng đáng trong lịch sử mở mang miền đất phương Nam.


Tượng đài Mạc-Cửu

Mạc-Cửu nguyên là một viên bại tướng của nhà Minh khi xưa ở bên Tàu, sau đó đã vượt biên tìm đường đi xin tị nạn chính trị nhà Thanh chạy ra ở nước ngoài. Và trong những thập niên dài, họ Mạc từng bôn ba ở Cao-Miên làm nghề bán buôn gặp thời cơ phát đạt trở thành một vị đại gia có rất nhiều thế lực ở tại phủ Nam-Vang vào thời buổi bấy giờ. Rồi ông còn qua lại Xiêm-La do thám tình hình, để mong tìm hậu thuẫn hầu mưu cầu nghiệp cả. Tuy nhiên, cuối cùng Mạc-Cửu quyết định trở về mảnh đất Hà-Tiên hoang vu để dung thân cùng với nhiều lý do, là dùng để chiêu tập những lưu dân tứ xứ hầu để biến thành những tụ điểm dinh điền, khẩn hoang lập ấp, tạo dựng khu trù mật và phát triển thương mại. Tuy nhiên, chủ đích của Mạc-Cửu còn đi xa hơn là muốn lợi dụng địa thế Hà-Tiên, để dùng làm căn cứ chiến lược về quân sự để chờ ngày trở về với giấc mơ phục quốc (phản Thanh phục Minh). Cho dù thế nào đi nữa, thì tiết tháo của một kẻ sĩ Hán tộc chắc chắn cũng sẽ không bao giờ có thể làm cho ông quên được hận thù quân xâm lăng đất nước của ông vào lúc bấy giờ.

Hơn thế nữa, Mạc-Cửu là một con người có tâm hồn hoài cố quốc, vốn từng có đầu óc thông minh hiểu biết nhìn xa trông rộng, biết dựa vào sức mạnh về quân sự của triều đình chúa Nguyễn lúc bấy giờ để sinh tồn. Vì thế cho nên lịch sử cần nên cân nhắc, để đặt lại vấn đề dâng đất của Mạc-Cửu có phải là dụng ý câu móc thời gian trong hoàn cảnh lực bất tòng tâm mà đành phải chọn lấy mảnh đất Hà-Tiên để dung thân trên quê hương thứ nhì của cuộc đời mình. Vì trong lúc bấy giờ, thì nước Xiêm-La luôn luôn lúc nào cũng dóm ngó, chờ thời cơ làm áp lực dụng binh để tranh giành hòng muốn chiếm đoạt cho kỳ được dải đất miến duyên hải Hà-Tiên xinh tươi màu mở.


Núi Tô-Châu

Do vậy, người ta có thể nói rằng trường hợp dâng đất cầu thân của Mạc-Cửu vào năm 1708 phải được coi như là một ngoại lệ chưa từng có xảy ra trong lịch sử nước ta, vì lúc bấy giờ, Hà-Tiên vốn là một vùng đất còn hoang sơ vô chủ. Trường hợp đó có khác rất nhiều với trường hợp trước đó của vua Chế-Mân dâng đất Ô, Lý của Chiêm-Thành để cầu hòa, tuy rằng cũng đã cưới được Huyền-Trân công chúa (1306). Có khác với trường hợp của vua Chey Chetta II nước Chân-Lạp muốn cầu hòa và xin cưới được công chúa Ngọc-Vạn (1620). Để rồi sau đó chấp thuận cho chúa Sãi được lập ra một đồn thuế ở vùng Prei-Kor thuộc Gia-Định bây giờ, và một địa điểm dinh điền ở Mô-Xoài thuộc Bà-Rịa ngày nay. Về sau, lại còn cho phép người dân ỏ xứ Đàng Trong dễ dàng di dân lần xuống đất phương Nam vùng Biên-Hòa bây giờ, để phá rừng định cư lập nghiệp lâu dài. Do vậy, xét cho cùng thì người ta có thể suy luận rằng Mạc-Cửu chính là một nhà chính trị tài ba có tầm nhìn khôn khéo, biết đo lường thời cuộc tương lai trong khi đang bị lâm vào cái thế chẳng đặng đừng.

Tuy nhiên, điều không ai có thể phủ nhận là dưới thời dòng họ Mạc được triều đình chúa Nguyễn tin cậy trao trọn cho mọi toàn quyền hành để cai quản giang sơn một cõi trên dải đất Hà-Tiên, thì vùng đất nầy đã trở nên một thương cảng sầm uất, nhộn nhịp. Hơn khoảng ba thập niên sau khi Mạc-Cửu qua đời, thì các thương thuyền ở xa xôi cũng như giáo sĩ phương Tây, lúc bấy giờ, như Bá-Đa-Lộc (Béhaine de Pigneau) cũng đã thường xuyên tới lui Hà-Tiên. Và có thành lập ra một chủng viện đơn sơ ngay tại Hòn Đất quy tụ được chừng vài chục giáo dân người Việt, Hoa, Xiêm-La vào năm 1765. Và hai năm sau (1767), ông cũng đã có dung dưỡng cho cho vị hoàng tử Xiêm-La đến đây để tị nạn chính trị. Sang đến năm 1774, ông lại được Mạc-Thiên-Tứ cho phép mở ra một họ đạo cũng ở tại Hòn Đất và tự do đi lại truyền giáo khắp nơi.

Trở lại dưới thời kỳ Mạc-Thiên-Tứ (hay Tích) kế nghiệp, thì lại mở rộng bến cảng thêm ra để cho các thương thuyền từ Khmer, Mã-Lai, Nam-Dương, Xiêm-La, Miến-Điện, Ấn-Độ, Nam Trung-Hoa lui tới dễ dàng, và ngày càng thường xuyên đến cập bến nhiều hơn. Các tiệm tùng tạp hóa của người Việt lẫn cùng các lưu dân Hoa-Ấn mọc dài ra theo ven biển, các gian hàng bán quà thủ công lưu niệm, các quán xá sáng chiều nhậu nhẹt rất đông người. Cộng thêm vào lúc đó, là những tiếng đồn từ nơi nhả ngọc phun châu của Tao-Đàn Chiêu-Anh-Các đã bay xa làm cho có nhiều kẻ sĩ ở khắp bốn phương nghe tin kéo nhau tìm đến giao lưu hội ngộ ở Hà-Tiên, và tạo dịp cho phố thị nầy trở nên thành tụ điểm của một chốn thi đàn tao nhã.


Mộ Mạc-Thiên-Tứ trên núi Bình-San

Tao-Đàn Chiêu-Anh-Cácdo Trần-Trí-Khải tự Hoài-Thủy là người sáng lập ra vào năm 1736, và đề cử Mạc-Thiên-Tứ tự là Sĩ-Lân làm Tao-Đàn chủ soái (còn riêng về nghiệp võ, thì người ta thường gọi là Mạc-Thiên-Tích). Mạc-Thiên-Tứ là một nhân vật có bản lĩnh văn võ song toàn, và cũng là tác giả nổi tiếng của tập thơ “Hà-Tiên thập cảnh khúc vịnh”** được diễn tả bằng thơ nôm và theo thể thơ tiếng Việt. Và riêng về bài thơ “Hà-Tiên thập cảnh tổng vịnh” cũng của danh sĩ họ Mạc sau đây, có thể được coi như là đã giới thiệu lên được trọn vẹn về non nước ở nơi nầy:

Mười cảnh Hà-Tiên rất hữu tình
Non non nước nước gẫm nên xinh
Đông-Hồ, Lộc-Trĩ luôn dòng chảy
Nam-Phố, Lư-Khê một mạch xanh
Tiêu-Tự, Giang-Thành, chuông trống ỏi
Châu-Nham, Kim-Dữ cá chim quanh
Bình-San, Thạch-Động là rường cột
Sừng sựng muôn năm cũng để dành

Thạch-Động

Mạc-Thiên-Tích (1718-1780) lên thay cha kế nghiệp năm 1735, vào lúc mới được 29 tuổi. Và đã được chúa Nguyễn-Phúc-Trú phong chức Tổng binh Đại đô đốc để tiếp tục khai khẩn đất đai, mở mang văn hiến vùng đất Hà-Tiên, song song với mục đích án ngữ quân sự, bảo vệ quốc phòng làm tiền đồn cho đạo quân chúa Nguyễn ở phương xa. Vào lúc bấy giờ, thì địa lý Hà-Tiên tuy đã trực thuộc hẳn về giang san chúa Nguyễn nhưng cũng vẫn hãy còn có những dải đất hoang vu chưa được khai thác mở mang.Do vậy, cho nên vẫn còn được coi như là một vùng tranh chấp của tứ chiến giang hồ ở khắp bốn phương anh hùng hão hán. Trong số đó có đạo quân của Xiêm-La, thậm chí có cả Khmer đã nhiều lần đưa quân sang giao chiến chiếm đoạt Hà-Tiên. Tuy nhiên, cuối cùng thì nhờ có sự yểm trợ mạnh mẽ của đạo quân triều đình chúa Nguyễn đánh bại đạo quân Xiêm-La mà Hà-Tiên mới được tái chiếm lại, để cho Mạc-Thiên-Tích còn có thêm một thời để tiếp tục cai quản mở mang tiểu quốc nầy trở thành một nơi trù phú về sau. Và mãi cho đến năm 1776, khi đạo quân Tây-Sơn của Vua Quang-Trung (1753-1792) tổng tiến công truy kích tàn quân của chúa Nguyễn vào đến đất phương Nam, thì Mạc-Thiên-Tích mới bỏ Hà-Tiên, để chạy sang Xiêm-La tị nạn chính trị nhưng sau đó vì bị bạc đãi cho nên ông phải cam đành chọn lấy con đường tự sát. Chính vì vậy, mà ngày nay ngôi mộ không có thi hài của ông ở Bình-San chỉ còn có mang một tính cách tượng trưng mà thôi.

Tuy nhiên, ngày nay trong danh sách danh nhân từng góp phần làm sáng giá cho mảnh đất Hà-Tiên, thì người ta không bao giờ có thể không nhắc đến một trong những kẻ sĩ đặc biệt tài hoa khác. Đó là nhà văn, nhà thơ Đông-Hồ Lâm-Tấn-Phát (1906-1969).


Nhà lưu niệm Đông Hồ

Sự nghiệp văn chương của Đông-Hồ sớm được người ta biết đến từ năm 1920 với những thể loại như thơ, ký, tiểu thuyết. Và lần lượt tiếp theo sau đó, là trong thời kỳ nhiều năm làm báo cũng như lúc giảng dạy ở tại trường Đại-Học Văn-Khoa Sài-Gòn. Văn phong trong bút tích của Đông-Hồ trong tình tự về lịch sử hình thành của quê hương trên dải đất Hà-Tiên, thì phải nói là có sức hút gợi cảm lạ kỳ dành cho người đọc. Lúc nào cũng bình dị rõ ràng mà phong phú, đậm đà miêu tả tính chất nhân văn rặc của miền đất phương Nam. Đặc biệt, là những tài liệu sưu khảo về tổ chức của phong trào Tao-Đàn Chiêu-Anh-Các được tung ra trên các báo chí, vào lúc bấy giờ, như là một quả châu soi sáng lại cả một góc trời văn hiến của tiểu quốc Hà-Tiên từng đã nằm yên trong một giấc ngủ lâu dài gần 150 qua, nay đã được chính ông là một đứa con bản địa làm sống lại. Do vậy, người ta có thể nói rằng các công trình sưu khảo của ông còn để lại bây giờ chính là những tài liệu vô cùng phong phú, có nhiều giá trị cơ sở xuất xứ và tính thuyết phục.


Nhà văn
Đông-Hồ Lâm-Tấn-Phát

Nữ sỉ
Mộng-Tuyết Thái-Thị-Úc

Hiện nay, bên cạnh dòng sông Đông-Hồ lặng lẽ ở Hà-Tiên thập cảnh đã có ngôi “Nhà lưu niệm Đông-Hồ” với một không gian thi phú lưu trữ, trưng bày các hình ảnh, kỷ vật, sách báo của tác giả và phu nhân là nữ sĩ Mộng-Tuyết Thái-Thị-Úc (1914-2007) – tác giả của một tác phẩm tiểu thuyết bi thương là “Nàng Ái-Cơ trong chậu úp”. Nội dung cốt truyện của tác phẩm nầy đã được tác giả dựa vào giai thoại lưu truyền trong mối tình éo le, đẫm lệ giữa danh nhân Mạc-Thiên-Tứ và nàng thứ cơ Phù-Cừ. Và sau cùng, là hình ảnh chứng tích của mái chùa Phù-Dung ngày nay là nơi giải trừ nghiệp chướng, để kết thúc cho một cuộc tình không vẹn tròn hạnh phúc giữa đôi uyên ương tài tử giai nhân.


Chùa Phù-Dung một thời huyền thoại

Về sau, tác phẩm nổi danh nầy đã được hai nhà soạn giả Kiên-Giang và Thế-Châu đưa vào kịch nghệ cổ nhạc. Và biên soạn công phu ra thành tuồng hát dưới nhan đề “Áo cưới trước cổng chùa”, và được nghệ sĩ điêu luyện Lệ-Thủy (huy chương vàng giải Thanh-Tâm 1964)*** xuất sắc trình diễn vai chính đã từng làm rơi lệ hàng triệu khán giả say mê nghệ thuật sân khấu cải lương.


Nghệ sĩ Lệ-Thủy

Và giờ đây, mới đó mà đã hơn ba thế kỷ trôi qua từ dạo cái tên Phương-Thành (tên gọi xưa của Hà-Tiên) thực sự không còn nữa, thì mảnh đất Hà-Tiên bây giờ đã bị lột xác thay da biết bao lần. Từ một dải đất thiên nhiên núi rừng và thú dữ, Hà-Tiên đành phải chịu chào thua trước sức tiến của con người lần luợt kéo đến khai phá mở mang. Thị xã Hà-Tiên (nói riêng) ngày nay, chiếu theo nghị định tái cấu trúc đơn vị hành chánh địa phương vào ngày 8-7-1998, sau khi điều chỉnh địa giới hành chánh thì chỉ còn thu hẹp lại trong vòng đai diện tích chỉ có 89.548,5 ha, với con số nhân khẩu là 62.162, và bao gồm có 6 xã và một thị trấn. Và mặc dù là một vùng đất hẹp, không có nguồn tài nguyên địa phương lợi ích gì đáng kể ngoài việc nuôi trồng thủy sản, nhưng lợi thế của Hà-Tiên bây giờ là một thành phố nằm ở đoạn cuối cùng trên đường du lịch xuyên Việt của các công ty tổ chức lữ hành thường xuyên những tuyến tham quan.

Vi thế, cho nên ngày nay có rất nhiều du khách một khi đã đến đây thì họ sẽ không bao giờ bỏ lỡ những cơ hội để tai nghe mắt thấy rõ ràng từ cảnh đồng bằng, vũng, vịnh, hang động, núi sông, hải đảo xinh đẹp nên thơ nằm trong tầm địa lý ở quanh vùng. Nhất là, cảnh quan chiêm ngưỡng Bình-San nơi có lăng mộ của dòng học Mạc nhìn xuống núi Voi Phục giữa bể khơi trời nước bao la. Hơn thế nữa, rồi đây trong tương lai lại có thêm những công trình lấn biển ngoạn mục đã và đang được thi công ra sức tiến hành. Và đây sẽ là nơi lần mọc lên một cảnh quan của khu đô thị mới có tầm vóc hiện đại, xứng đáng với hình ảnh của một thành phố du lịch phát triển được nhiều lợi thế diệu kỳ của thiên nhiên ưu đãi.

 


Thạch-Động thôn vân

Lộc-Trĩ thôn cư

Do vậy, cho nên đúng vào thời điểm nầy thì Hà-Tiên đã biết cựa mình lợi dụng thế mạnh của một vùng địa lý đặc biệt có một không hai ở phương Nam. Để ra sức kết cấu, hoàn chỉnh từ các cơ sở hạ tầng hầu mong theo kịp bước đáp ứng nhu cầu với các dịch vụ đầu tư khai thác du lịch đang phát triển trong thị xã. Vả lại, về mặt khác thì Hà-Tiên lại còn cũng phải cố gắng làm sao cho bằng được để có thể thành lập ra thêm nhiều hơn nữa những tổ chức hữu hiệu để nhằm bảo tồn. Duy trì và phát huy về bản sắc văn hóa một thời vàng son rực rỡ địa phương từ hồi hơn quá thế kỷ trôi qua, từng đã được lịch sử văn học nước nhà đương nhiên thừa nhận, là dải đất nầy khi xưa từng được mệnh danh là một tiểu quốc văn hiến****. Thêm vào đó, là Hà-Tiên bây giờ cũng đã có cửa khẩu trên quốc lộ 80 được trùng tu ăn thông qua nước bạn láng giềng Campuchia, rất khá thuận tiện cho sự giao thông giữa hai chiều hơn ngày trước. Và cũng còn có đường tàu cao tốc rút ngắn được rất nhiều thì gìờ đi tới cùng các hải đảo, nhất là Phú-Quốc.

Tuy nhiên, trên con đường phát triển mở mang, hiện đại hóa địa phương, thì Hà-Tiên cũng bị lâm vào tình trạng gặp phải có những trường hợp bất khả kháng là đã làm cho ảnh hưởng đến môi trường sinh thái, và làm mất lần vẻ mỹ quan của một vài thắng cảnh thiên nhiên. Mặt khác, bên cạnh đó thì Hà-Tiên còn vô tình gặp phải có những bài toán khó khăn, nan giải cũng như ở nhiều vùng miền khác về mặt tệ đoan ảnh hưởng đến an sinh xã hội, làm xáo trộn rất nhiều vào cuộc sống của đồng bào sở tại. Nguyên nhân chính, đó là do có sự thành hình của những ngôi nhà casino nguy nga mọc dài theo bên kia biên giới.


Casino Hà-Tiên Vegas

Theo tổ chức phân chia về địa lý hành chánh hiện nay, thì Việt-Nam đã có tới 10 tỉnh Tây-Nam ven biên giáp giới với lãnh thổ Campuchia chạy dài 1270 km, và gồm có 13 cửa khẩu quốc tế đường bộ chính nằm trải dài ra theo chiều dài giữa hai biên giới. Tuy nhiên, về phía bên kia phần đất của Campuchia song song với phần đất Việt-Nam, thì chính phủ quốc gia nầy đã có chủ trương cho phép đầu tư xây cất lên rất nhiều casino lớn nhỏ ở rải rác từ ngang độ vĩ tuyến từ ở Gia-Lai xuống tận Kiên-Giang để nhằm mục đích thu hút con bạc VN sang qua vui thú đỏ đen.

Từ lâu, người ta được biết (nói riêng) là trong kế hoạch đầu tư ấy thì ngoại mục đích họ tìm cách thu lợi nhuận, thì chính phủ Campuchia còn nhằm vào chủ yếu khác là để chứng minh rõ ràng về đường phân ranh giữa hai lãnh thổ quốc gia. Và sự kiện nầy đã từng được chính phủ nước bạn khẳng định, cho rằng mỗi casino là chứng tích của một cột mốc biên giới rất thực tế và vĩnh cữu.

Casino Hà-Tiên Vegas là một sòng bạc có tầm vóc hoành tráng được xây dựng lên tới 9 tầng lầu, nằm phía bên kia cửa khẩu Hà-Tìên chỉ độ chừng vài trăm mét, và được chính thức khai trương vào tháng 9-2009. Hệ thống bên trong gồm có 160 phòng nghỉ hiện đại, có sân khấu nhạc sống hấp dẫn với sự hiện diện của các ca sĩ Campuchia và Việt-Nam hằng ngày sang qua biểu diễn, kể cả những màn thoát y bốc lửa để phục vụ con bạc. Sòng bạc mở cửa 24 trên 24 giờ với đầy đủ trò chơi games, bàn chơi bài, chơi qua mạng như nào là Poker, Xì-Dzách, Midi v.v. Và còn có cả trường gà, để dành cho cả những người ham thích môn nầy.


Những màn ca vũ bốc lửa bên trong casino nhằm chiêu dụ con bạc

Trong những năm đầu tiên kể từ ngày ra đời của casino nầy, thì hàng ngày đã có hơn cả ngàn người Việt-Nam sang qua để tham quan, mua dâm và đánh bạc. Do vậy, mà thành phố Hà-Tiên vào lúc bấy giờ đã vô tình được tự khoác lên mình một chiếc áo tô màu sặc sỡ, phồn vinh giả tạo qua những hình ảnh sinh hoạt phố phường ồn ào, nhộn nhịp hơn bao giờ hết. Tuy nhiên, theo dòng chảy của thời gian thì ngày nay giai đoạn háo hức, hỗn độn ấy đã không còn. Các con bạc VN lần hồi đã bị tán gia phá sản rất nhiều, có kẻ thế thân mượn tiền đã bị casino giam giữ làm con tin chờ ngày gia đình đem bạc tiền sang để chuộc mạng. Người nào không có khả năng, phương tiện chi trả được thì sẽ bị hệ thống đầu gấu casino hành xác đánh đập mang thương tích nặng nề. Và thậm chí, còn có những con nợ vô cùng hối hận đến nỗi quá quẫn trí, cho nên đành phải chọn lấy con đường tự hủy diệt lấy thân mình.

Dẫu sao, những bi kịch đó cũng chỉ là cái giá phải trả theo vòng xoáy của hiện trạng sinh hoạt xã hội điạ phương lúc bây giờ. Và cũng như ngược dòng thời gian từ hơn 35 năm về trước, thì thành phố Hà-Tiên nầy cũng đã một lần từng bị cánh quân diệt chủng cận kề tràn qua xâm lấn gieo tai họa cho bao gia đình vô tội. Tuy nhiên, giờ đây đối với bản tính của người dân ở xứ Hà-Tiên lúc nào cũng hiền hòa, hiếu khách. Và có thói quen là luôn luôn thức dậy cùng lúc với ánh mặt trời mọc lên trên biển cả, thì họ đã tự nhìn thấy rõ ràng hơn ai hết, là con đường nào dễ dàng để lướt qua được mọi khó khăn, khắc phục để gặt hái thành công.

Sau cùng, hình ảnh Hà-Tiên hôm nay sẽ được kết thúc bằng một buổi họp chợ đêm ven theo bờ biển, hoặc tùy theo sự lựa chọn theo đoàn người đi câu mực, hay soi đâm cua, ghẹ về khuya. Tại khu chợ đêm, du khách thường hay đứng ngay bên bờ biển nhìn cảnh bóng trăng treo trên bể cả lăn tăn gợn sóng vàng, và họ ít khi phải đắn đo để lựa chọn cho mình một vài món quà lưu niệm đem về sau chuyến tham quan, vì đa số mặt hàng ở đây thường có giá rất bình dân. Và các món nhậu hải sản đơn giản thì cũng phục vụ bình dân ngay tại các vỉa hè với đầy đủ ngao sò ốc hến, khô cá đuối, khô cá thiều, khô mực, bánh canh chả ghẹ, bún gỏi cá trích v.v. Còn trái cây thì đặc biệt còn có xoài Miên, và đường thốt nốt.

Tuy nhiên, cuộc hành trình của bạn không thể kéo dài. Vậy bạn hãy ráng nhanh tay lẹ chân lợi dụng cơ hội, để khám phá ra thêm nhiều hơn nữa về huyền thoại xa xưa của dải đất từng có những nàng tiên xuất hiện xinh đẹp tuyệt trần. Biết đâu ở tận vùng sâu vùng xa nào đó, bây giờ cũng vẫn hãy còn có những nàng công chúa đang mơ màng trong giấc ngủ tình yêu, để trông chờ một vị hoàng tử của lòng mình từ phương xa đến đặt nụ hôn, để cùng nhau gá duyên tơ tóc hạnh phúc lâu dài. Và hẳn bạn đã từng được nghe, nếu ngày xưa người ta thường nói :

Hà-Tiên đi dễ, khó về.
Trai đi có vợ, gái về có con

thì Hà-Tiên bây giờ cũng vẫn hãy còn luôn luôn luyến lưu những ý nghĩa lời thơ tình tự dân gian, không phân chia biên giới.

An-Tiêm MAI-LÝ-CANG
(Paris)

* – Tao-Đàn Chiêu-Anh-Các quy tụ được nhiều tác giả với nhiều thi phẩm gồm có: Hà-Tiên thập vịnh, Hà-Tiên thập cảnh khúc vịnh, Thụ-Đức-Hiên tứ cảnh và Minh bột di ngư.

**- “Hà-Tiên thập cảnh khúc vịnh” là 10 bài thơ xướng của Mạc-Thiên-Tứ làm ra vào năm 1737 theo thể loại thất ngôn bát cú và được chia ra với các tựa đề: Kim-Dữ lan đào, Bình-San điệp thúy, Tiêu-Tự thần chung, Giang-Thành dạ cổ, Thạch-Động thôn vân, Châu-Nham lạc lộ, Đông-Hồ ấn nguyệt, Nam-Phố trừng ba, Lộc-Trĩ thôn cư, Lư-Khê ngư bạc. Sau đây là nguyên văn:

1. Kim-Dữ lan đào
Một dẫy non xanh nước bích liền
Giăng ngang cho mạch đẹp sông Tiên
Đông-Nam sóng biển bằng trang cả
Trên dưới trăng trời sáng rực lên
Rồng cá vẫy vùng trong cõi nước
Đá cây xan xát khắp ven miền
Nghìn thu tiếng gió quanh chân sóng
Đậm nhạt trăng treo nét lạ nhìn.

2. Bình-San điệp thúy
Cây xanh ngăn ngắt vút cao cao
Ngọn dựng bình giăng đẹp mĩ miều
Mây sáng vây quanh hình núi rõ
Mưa tàn thêm nổi bóng non theo
Đất trời bền vững nền linh tú
Mây khói vời xa nỗi ước ao
Danh thắng Hà-Tiên đâu dám bảo
Cây ngàn mơn mởn biết xanh gieo

3. Tiêu-Tự thần chung
Lác đác trời tàn nhạt ánh sao
Chuông chùa xa vắng tiếng đưa vào
Mơ màng cõi tục người tiên lẫn
Đồng vọng bờ cây bến nước xao
Hạc để tiếng vương cành gió thoản.
Quạ đưa lời gởi ngọn trăng cao
Gối nghiêng giấc tỉnh đêm mê mộng
Sớm giục canh gà tin khát khao

4. Giang-Thành dạ cổ
Gió cuốn trời cao mây lạnh tung
Sông dài vây tỏa khí anh hùng
Lâu thuyền dãi bóng trăng sương lạnh
Trống mõ cầm canh sóng nước trong
Kim giáp đã nhờ đêm chặt chẽ
Cẩm bào cho được chốn thung dung
Lược thao đem đáp tình minh chúa
Nước Việt biên thùy vững núi sông

5. Thạch-Động thôn vân
Xanh xanh ngọn đá chạm thiên hà
Động bích long lanh ngọc chói lòa
Chẳng hẹn khói mây thường lẩn quất
Không ngăn cây cỏ mặc la đà
Phong sương càng dãi màu tươi đẹp
Nhật nguyệt chi ngừng bóng lại qua
Chót vót tinh hoa đây đã hẳn
Theo chiều gió lộng vút cao xa

6. Châu-Nham lạc lộ
Bóng rợp mây dâm phủ núi non
Bay la bay lả trắng hoàng hôn
Góc trời thế trận giăng cây cỏ
Đóa ngọc hoa rơi khắp bãi cồn
Trăng dãi non treo làn thác đổ
Chiều tà cát lẫn ánh mây tuôn
Trên đường bay nhảy bao xuôi ngược
Nghĩ cảnh dừng chân bến nước còn

7. Đông-Hồ ấn nguyệt
Khói lạnh mây tan cõi diểu mang
Một vùng phong cảnh giữa hồng quang
Trời xa mặt sóng in đôi bóng
Biển bạc vành gương dọi bốn phương
Rỗng đã sánh cùng trời bát ngát
Sâu còn so với biển mênh mang
Cá rồng tỉnh giấc chi tan vỡ
Một tấm lòng băng vẫn chói chang

8. Nam-Phố trừng ba
Một vùng xanh ngát một doành khơi
Bãi nối màu thu tiếp sắc trời
Mưa khéo mây đem về kết tụ
Gió nào cho sóng động tăm hơi
Biển hâng hẩng sáng triều tuôn dẫy
Buồm nhẹ nhàng đưa khỏi thoảng trôi
Vực thẳm cá rồng còn ẩn náu
Êm đềm nước ngậm bóng trăng soi

9. Lộc-Trĩ thôn cư
Lều tre giấc tỉnh gió lay mình
Tiếng quạ ồn chi trước mái tranh
Ráng xế treo ngang khung cửa tím
Cây vườn che lợp luống rau xanh
Tánh rần mộc mạc hươu nai dại
Lòng thích thơm tho nếp tẻ thanh
Ai đó hỏi thăm nơi chốn ở
Lưng trâu tiếng sáo lặng làm thinh

10. Lư-Khê ngư bạc
Bóng chiều nắng ngả dòng sông thẳm
Rạch Vược đèn ngư khói chập chùng
Bến cũ nhấp nhô thuyền đỗ sóng
Vờ xa san sát lưới phơi trăng
Cánh tơi sáo thấm sương pha buốt
Mái trúc chèo khuya nước sáng trưng
Lồng lộng vời trông cười thử hỏi
Cá rồng vùng vẫy chốn nầy chăng

(bản dịch của Đông-Hồ Lâm-Tấn-Phát)

*** – Nữ nghệ sĩ Lệ-Thủy có tất cả là 10 danh hiệu, giải thưởng hạng nhất. Trong đó, có ba giải được coi như là vẻ vang trên con đường sự nghiệp là: giải Thanh-Tâm 1964, giải Kim-Khánh 1974 và giải A1 năm1980. Trong năm 2012, Lệ-Thủy vừa được mang thêm danh hiệu là nghệ sĩ nhân dân. Trước đó, năm 1993 Lệ Thủy cũng đã từng được mang danh hiệu là nghệ sĩ ưu tú.

****- Phủ-Biên tạp lục năm Bính-Thân 1776 của Lê-Quý-Đôn.


Tượng các nàng tiên ở Hà-Tiên
**********************************

 

Thơ Lục Bát Còn, Tiếng Việt Còn

Lê Hữu

BIEN NUOC

Hỡi cô tát nước bên đàng,
sao cô lại múc trăng vàng đổ đi?
(“Trăng quê”, Bàng Bá Lân)

“Cho tôi xem qua bài lục bát nào của anh/chị, tôi sẽ nói được ít nhiều về anh/chị.” Câu ấy tôi vẫn nói với những người làm thơ quen biết, và có lý do để mạnh miệng như vậy. Không chỉ “văn là người” mà cả đến thơ cũng là “người”. Hơn thế nữa, bài lục bát ấy cũng nói cho tôi biết ít nhiều về “tay nghề” của tác giả.

Thế nhưng, vì sao là lục bát mà không phải thể thơ nào khác? Chỉ vì, thơ lục bát “dễ làm, khó hay”, và là một thử thách cho người làm thơ. Qua một bài lục bát, dẫu tân, cổ kiểu nào, bản lãnh của người làm thơ thể hiện rõ nét hơn bất kỳ thể thơ nào khác.

I. Từ Ca Dao Đến Hồn Nhiên Lục Bát

Thơ lục bát dễ làm, khó hay, nhiều người vẫn đồng ý như vậy, nhưng không chắc đã đồng ý với nhau thế nào gọi là “hay”.

Biết thế nào là bài thơ, câu thơ hay? Khen một bài thơ hay cũng giống như khen bức tranh đẹp, dễ rơi vào chủ quan. Người này nói đẹp, người kia nói không đẹp. Đẹp xấu, hay dở thế nào là tùy thuộc cảm quan nghệ thuật, khuynh hướng thẩm mỹ của từng người. Cũng tựa như nghe nhạc vậy, người yêu bài này, kẻ thích bài kia. Người yêu “tuyệt phẩm bolero”, kẻ thích “dòng nhạc thính phòng”… Mỗi người mỗi tánh mỗi ý, câu thơ có chạm được vào trái tim người yêu thơ hay không là tùy vào cung bậc cảm xúc của từng người.

Thơ lục bát cũng có lục bát sến, lục bát sang, lục bát truyền thống, lục bát hiện đại, lục bát cổ điển, lục bát tân kỳ, lục bát dung tục, lục bát tấu hài… Mỗi người “tự chọn” lấy những bông hoa mình yêu thích trên cánh đồng thơ lục bát.

Nhiều bài, nhiều câu lục bát được lắm người tán tụng, trầm trồ, thế nhưng tôi đọc chẳng thấy chỗ nào hay ho hoặc chỉ hay vừa vừa. Ngược lại, nhiều bài, nhiều câu lục bát tôi yêu thích nhưng không chắc đã được người khác chia sẻ. Tôi nhớ, một tờ báo mạng “chuyên trị” về thơ lục bát có tuyển chọn ra “1.000 câu thơ lục bát để đời”, hoặc một tờ báo khác làm công việc bình chọn “99 bài thơ lục bát hay nhất thế kỷ”. Không rõ việc bình chọn dựa trên những tiêu chuẩn nào và kết quả thế nào, riêng tôi vẫn cho là việc này không dễ và kết quả việc “bình bầu cá nhân xuất sắc” ấy không chắc được sự đồng thuận của người yêu thơ và làm thơ, nhất là những nhà thơ không thấy… tên mình trong số tác giả được tuyển chọn.

Dường như những bài thơ hay ngày càng ít đi, nhiều lắm chỉ nhặt ra được một đôi câu trong một bài. Người đọc khó mà nhớ được trọn bài thơ nào là vậy. Bài lục bát duy nhất tôi nhớ được trọn bài là “Hoa cỏ may”của thi sĩ Nguyễn Bính, gồm một câu “lục” và một câu “bát”:

Hồn anh như hoa cỏ may
một chiều cả gió bám đầy áo em

Thơ hay, một hai câu cũng hay.

Người viết nhớ đâu ghi đó những câu lục bát dẫn ra trong bài. Người đọc, như trên đã nói, có thể thấy hay hoặc không hay, thấy thích hoặc không thích. Việc dẫn giải những câu thơ trích dẫn, nếu có, chỉ vắn tắt. Dù sao, “bắt” được một, hai câu lục bát hay, với người yêu thơ, cũng là điều thú vị. Mong được như vậy.

1. Lục Bát Dân Gian

Hỡi cô tát nước bên đàng,
sao cô múc ánh trăng vàng đổ đi?

Có tài liệu nói rằng câu thơ trên không phải là câu ca dao quen thuộc như nhiều người vẫn tưởng mà là câu lục bát trong bài thơ “Trăng quê” của thi sĩ Bàng Bá Lân in trong thi tập đầu tay Tiếng Thông Reo, xuất bản năm 1934 ở Hà Nội. (Câu thơ Bàng Bá Lân có khác hai chữ: Sao cô lại múc trăng vàng đổ đi?).

Lại có người cho rằng câu ca dao Trăng bao nhiêu tuổi trăng già / Núi bao nhiêu tuổi gọi là núi non? là câu thơ của thi sĩ Tản Đà.

Những nhầm lẫn này cho thấy nhiều câu lục bát về tình tự dân tộc rất gần với ca dao.  

Từ lúc nào, từ nơi sâu thẳm nào trong tâm hồn người Việt đã thấm đẫm nguồn thơ lục bát bàng bạc trong kho tàng ca dao, trong nhiều bài đồng dao, trong lời mẹ ru con bên vành nôi. Nguồn thơ lục bát, trong nghĩa ấy, là nguồn cội dân tộc.

Tôi nhớ đã phải lòng lục bát từ thuở được làm quen với những câu ca dao trữ tình mà nhiều người quen gọi là “lục bát dân gian”. Bên dưới là những câu lục bát thẳng cánh cò bay mà không khéo lắm người lại tưởng rằng… ca dao.

Không trầu mà cũng chẳng cau,
làm sao cho thắm môi nhau thì làm
   

(Được yêu như thể ca dao, Nguyễn Duy)

Lòng anh quanh quẩn bờ rào,
như con bươm bướm bay vào bay ra     

(Cảm ơn, Viên Linh)  Hay là:

Thôi thì em chẳng yêu tôi,

leo lên cành bưởi nhớ người rưng rưng     

(Động hoa vàng, Phạm Thiên Thư)

(“Nhớ người rưng rưng” mới thật là hay, không phải “khóc người rưng rưng” như lời của bài nhạc phổ thơ).

Trăng tròn từ thuở mười lăm

em tròn từ thuở anh nằm tương tư     

(Trăng, Bắc Phong)  Hay là:

Chỉ tại con mắt lá răm
nên tằm mới chịu ăn nằm với dâu…

Chỉ tại cái nết không chừa
thế nên trúc cứ lẳng lơ với mành
    

(Trăm dâu cứ đổ đầu tằm, Ngô Tịnh Yên)

Mùa thu mây trắng xây thành
Tình em mầu ấy có xanh da trời
    

(Thu 1954, Hoàng Hải Thủy)

Cái đẹp của thơ lục bát là vẻ đẹp tự nhiên, không cầu kỳ kiểu cọ, không chải chuốt điệu đàng.

Cái hay của thơ lục bát là cái hay của vẻ đơn sơ, bình dị, như tâm hồn chân chất mộc mạc của người dân Việt.

2. Lục Bát Qua Cầu Gió Bay

“Mỗi người Việt là một thi sĩ”, tôi ngờ rằng “thi sĩ” trong câu nói ấy nhiều phần là thi sĩ của thơ lục bát, của những lời thơ tựa những lời lẽ người ta thốt ra một cách tự nhiên mà nghe thật ngọt ngào, dịu dàng và êm tai.

Anh đã có vợ hay chưa
mà anh ăn nói gió đưa ngọt ngào?     

(Ca dao)

Theo cái nghĩa này, ai cũng có thể làm thơ được dễ dàng mà không nhất thiết phải là thi sĩ, thậm chí không nghĩ rằng mình đang làm thơ. Già trẻ lớn bé gì cũng đều làm thơ lục bát được, và trong số những bài thơ ấy ta nhặt ra được không ít những lời thơ “gió đưa ngọt ngào”.

Câu thơ lục bát hay là câu thơ đọc “vèo” một cái thấy hay hay, đến chừng ngoái lại mới hay là mình vừa bước “qua cầu gió bay” một… câu lục bát.

Cái hay trong thơ lục bát là cái hay tự nhiên, hoặc được dụng công thật khéo để mang vẻ tự nhiên. Nhiều câu lục bát đọc lên nghe khơi khơi, nghe thật hồn nhiên như… lục bát:

Còn điếu thuốc này nữa thôi,

đốt lên anh chúng ta ngồi hút chung     

(Chuyện mùa xuân muộn, Thái Phương Thư)

Tôi về đây nhớ chiều xanh,

con chim nào hót trên cành khô kia    

(Giọng sầu, Hoài Khanh)  Hay là:

Đi trong chiều cuối tháng tư,

nắng Montréal đẹp y như Sài Gòn     

(Dạo phố Sainte Catherine, Luân Hoán)  

Tháng mười gió bén như dao
Cắt rơi chiếc lá thả vào lòng tôi
    

(Nhớ nhà, Quan Dương)

Tình ơi, về lại tháng ba
ghé thăm một chút cho ta đỡ buồn
Lục trong ngăn kéo, thỏi son
tình đi ngày ấy hãy còn bỏ quên
    

(Tình ơi, Lâm Chương)  Chưa hết:  

Lòng còn thơm ngọn gió quê

thổi đâu từ thuở bờ tre mới trồng     

(Năm mới, Phan Ni Tấn)

Trầu ơi, xanh lá cho mau
cho duyên con gái thắm màu vôi yêu
    

(Chiều thơm, Như Thương)  Vẫn chưa hết:.

Mùa thu có lá ngô rơi,

có đôi người mới thành đôi vợ chồng     

(Hoa bưởi xóm Chùa Đào, Y Dịch).  

Mười năm không trở lại nhà

Bóng trưa nghiêng đổ, tiếng gà trong mơ     

(Trăng ý, Tần Hoài Dạ Vũ)

Những câu lục bát như thể “gió đưa cành trúc la đà”, như thể “cánh cò bay lả bay la” trên ruộng lúa mênh mông.

II.  Ngôn Ngữ Thơ Lục Bát

Ngôn ngữ thơ là chữ nghĩa, hình ảnh, ý tưởng … chỉ có ở trong thơ hơn là trong đời thực. Có điều, khi đọc, nghe, ta cảm thấy như là có thực, có ý nghĩa và chấp nhận được; hơn thế nữa, lại còn rung cảm vì thứ ngôn ngữ ấy. Bất kỳ cách diễn đạt nào làm cho người ta đọc ra thơ, nghe ra thơ, hiểu ra thơ muốn “nói” điều gì, đều là ngôn ngữ thơ.

1. Chữ Và Nghĩa:

Thường thì nói đến ngôn ngữ người ta dễ nghĩ đến tiếng nói và chữ viết. Chữ nghĩa ở trong thơ lắm khi không giống như ở bên ngoài đời thường.

Tôi vịn câu thơ mà đứng dậy     

Ngoài đời, chẳng ai nói như vậy cả. Câu thơ (của Phùng Quán) không phải là cây gậy, cây nạng mà “vịn” vào được.

Câu thơ hay thường có ý tứ mới, lạ, diễn đạt bằng chữ nghĩa mới, lạ, và nghe rất “thơ”.

Mành tương phất phất gió đàn

Hương gây mùi nhớ, trà khan giọng tình     

(Truyện Kiều, Nguyễn Du)

Lối đi vừa chớm tiêu điều

mùa nghiêng bóng nhỏ ngày xiêu cội dài
phố chiều gió
vọng bàn tay

ru anh về với đôi ngày lãng quên    

 (Bài ru,Trần Dạ Từ)

Những “gây”, “khan”, “nghiêng”, “xiêu”, “vọng”, “ru” ấy chỉ tìm thấy ở trong thơ.

Tóc người chảy suốt cơn mưa
Ngực thơm hoa bưởi, môi
đưa bão về     

(Chân dung, Du Tử Lê)

Em đi sông gọi tiếng thầm
Lục bình
chia nhánh đá trầm mình đau

Em đi trời xuống thật sâu

Mây chia trong tóc, gió nhầu trên vai    

 (Xóa bình minh, Trần Mộng Tú)

Những “chảy”, “đưa”, “gọi”, “chia”, “trầm”, “xuống”, “nhầu” ấy cũng chỉ tìm thấy ở trong thơ. “Mây chia”, “gió nhầu”…, ngoài đời chẳng ai nói thế bao giờ.

Tôi vào chùa, quá tam quan

Phật ngồi im lặng, liễu bàng hoàng xanh
(Thực, Không đôi bờ, Trần Mộng Tú)

Câu thơ đọc lên nghe… bàng hoàng. Đâu chỉ có Phật, đến cả Chúa cũng bàng hoàng:

Tiếng em hát giữa giáo đường,

Chúa về trong những thánh chương bàng hoàng     
(Động hoa vàng, Phạm Thiên Thư)

Dường như cô bé rất hiền,

tay ngoan cặp sách, mắt viền ngây thơ

Dường như ai đó tình cờ

theo chân guốc nhỏ bất ngờ sau lưng     

(Tiểu thư, Như Thương)

Chữ “ngoan” dùng như là động từ, nghe hay hay, ngồ ngộ (những người làm thơ khác chắc sẽ viết “tay ôm cặp sách”). Và động từ “viền” ấy nữa, nghe cũng mới, cũng lạ. Đến hai chữ “bất ngờ” thì thật là… bất ngờ, cứ như là bất ngờ quay đầu lại bỗng giật mình thấy anh chàng đứng ngay sau lưng mình tự lúc nào.

Những chữ nghĩa và cách nói lạ lùng ấy chỉ nghe, chỉ thấy ở trong thơ.

Chữ nghĩa cần có sự phát minh, sáng tạo hơn là lặp lại rập khuôn người đi trước. Những vô thường, vô vi, phù vân, phù ảo, hư ảo, hư không, tà huy, miên trường… mà người làm thơ cố đưa vào bằng được trong thơ mình thường có một vẻ gì khập khiễng, gượng gạo như một kiểu tạo dáng kém tự nhiên, đôi lúc khiến câu thơ tối tăm, khó hiểu.

Thường, thơ khó hiểu thì khó hay; thơ tạo dáng thì khó tạo được cảm xúc.

Thơ hay, “thì”, “mà”, “là”… cũng hay, nhất là với thể thơ lục bát thuần Việt. Chẳng hạn:

Con sông nào đã xa nguồn

thì con sông đó sẽ buồn với tôi     
(Dòng sông của tôi, Hoài Khanh)

Ví dù gối đã lìa chăn

thì chăn gối cũng bao lần với nhau
Ví dù trước đã lìa sau

thì sau trước trước sau sao vẫn là     
(Minh khúc, 89, Nguyễn Tất Nhiên)

Chiều nay ngang cổng nhà ai
nhủ lòng tôi chỉ nhìn cây trúc đào
Nhưng mà không hiểu vì sao
gặp người xưa lại nhìn nhau mỉm cười
    

(Trúc đào, Nguyễn Tất Nhiên).   

“Nhưng mà không hiểu vì sao”… những từ ngữ Hán-Việt, những từ ngữ sáo mòn thời thượng, vẫn cứ được nhiều người làm thơ yêu chuộng. Chữ nghĩa bình dân làm thơ kém hay chăng? Chưa hết:

Tiếng em cười tự thu nào

mà nghe rúc rích bên rào giậu thưa

Em gọi tôi ở ngoài mưa

hay cơn gió lạnh nào vừa qua sông?     
(Thu xưa, Đynh Trầm Ca)

Tôi về khép lại căn phòng

thấy trong lồng ngực như không có gì

Trái tim đã bỏ tôi đi

ai mà nhặt được gửi về dùm tôi    
(Gửi, Nguyễn Trọng Tạo)  Hay là:

Chết đi còn sợ xứ người
là ta sợ cái nổi trôi đã từng
Quê nhà em có về không
cho ta về với nằm cùng nghĩa trang?
   

(Về cùng, Hoàng Lộc)

Mai kia mốt nọ ngang nhà,
có còn liếc trộm như là hồi xưa?
E chừng sớm nắng chiều mưa,
chuyện hồi xưa đã ngày xưa mất rồi
(Phụ phàng, Trần Huy Sao).  

Vẫn chưa hết, những câu lục bát “nhưng mà”, “mà sao”, “tại vì”, “cũng vì”…

Cũng vì mắt ngó trời xanh

cho nên mắt cũng long lanh màu trời

Cũng vì mắt ngó biển khơi

cho nên mắt cũng xa vời đại dương    
(Ngón tay hoa, Trụ Vũ)

2. Ý Tưởng

Câu thơ đẹp thường có mang theo ý thơ đẹp. Ý tưởng mờ nhạt, có mới mà không hay, hoặc có hay mà không mới, thường kém sức hấp dẫn. Ý tưởng cần sáng tạo hơn là vay mượn.

Một ngày nắng đẹp bình yên

Sớm mai thấy mặt trời lên hiền lành     
(Không đề, Tế Hanh)

Câu lục bát của nhà thơ Tế Hanh, có người khen hay, có người chê “nhạt”, chê “hiền lành” quá.

Cà phê nhớ bữa hôm nay

Chén trà xin hẹn ngày rày năm sau     

(Bên quán cà phê, Bùi Giáng)

Câu lục bát của “trung niên thy sỹ” Bùi Giáng, được “cải biên” khá vô tư từ câu lục bát của Nguyễn Du (hoặc “tư tưởng lớn gặp nhau” không chừng):

Chén đưa nhớ bữa hôm nay

Chén mừng xin đợi ngày rày năm sau     

(Truyện Kiều, Nguyễn Du)

Câu thơ hay như bông hoa lạ và đẹp nở ra từ… lục bát, đôi lúc gây bất ngờ và thú vị:

Biệt ly dù ở ga nào,

cho tôi ngồi một toa tàu lãng quên     

(Hôm nay, Nguyễn Tất Nhiên)

Em đi mang theo nụ cười,

tôi ngồi nhìn thấy khoảng đời trống không     

(Cát bụi, Phổ Đức)

Dấu thu kinh tự còn mê,

em mang tà áo bốn bề là trăng     

(Thu vô lượng, Nghiêu Minh)

Áo dài bồng bềnh, chơi vơi như dải trăng thu huyền ảo. Chưa hết:

Khi buồn vẽ mặt bôi râu
nhìn xem lũ quỷ không đầu xưng vương
Khi em đảo ngược thần hồn
thấy tôi cải tạo mười năm chưa về
    

(Bài ca dao về trăng, Lâm Hảo Dũng)

Có ai ngồi quán mong chờ
lắng nghe đàn khảy tình thơ ít nhiều
Bây giờ ghế ngả bàn xiêu
dưới chân nhện hóng, tơ thiều hết ngân
    

(Tọa độ người, Hoàng Xuân Sơn).  

Chưa hết:

Em về nơi ấy có tôi
chưa tìm đã thấy buông trôi tình cờ
Mất rồi lại có trong mơ
vừng trăng tím ngát bao giờ có em
    

(Nơi có, Lưu Nguyễn Đạt)

Tình đến rồi đi, tình mất hay còn, tình thực hay mơ, như bóng trăng huyền hoặc.

Tóc mây Hà Nội năm nào

em đem từng sợi buộc vào đời anh
Bây giờ tóc bạc, tóc xanh

tình xưa anh vẫn quẩn quanh tìm hoài     

(Tóc rối, Nhất Tuấn)

Tình như “tóc rối”, biết đàng nào mà gỡ.

3. Hình Ảnh

Hình ảnh tô đậm thêm những tình ý trong thơ. Ý tưởng đẹp, minh họa bằng hình ảnh đẹp, thường đọng lại về lâu về dài trong tâm tưởng người yêu thơ.

Người lên ngựa, kẻ chia bào   

Rừng phong thu đã nhuốm màu quan san    

 (Truyện Kiều, Nguyễn Du)

Dấu chàng theo lớp mây đưa
Thiếp nhìn rặng núi ngẩn ngơ nỗi nhà
    

(Chinh phụ ngâm khúc, Đoàn Thị Điểm)

Chưa hết, những câu thơ tả tình tả cảnh, kẻ ở người đi…

Mù sương phi cảng não nề

Thôi anh ở lại buồn về em mang     

(Khúc ly đình, Cao Thị Vạn Giả)

Bellevue ơi, Bellevue ơi,

xa ngươi ta nhớ lưng trời thông reo

Đồi nghiêng, dốc đổ, chân đèo

bước đi ngoảnh lại nhìn theo bóng người     

(Bellevue 1, Chu Trầm Nguyên Minh)

Hình ảnh, có khi là bức tranh thơ tĩnh lặng.

Mở trang kinh. chỉ thấy mây
thiền tâm thanh tịnh niệm ngay di đà
tranh hoàng hôn. cảnh tuyết sa
giọt vàng giọt đỏ. nhạt nhòa giọt tôi
    

(Chép một tờ kinh, Lữ Quỳnh)

Có khi là bức tranh nhiều màu sắc, sinh động.

Môi cười vết máu chưa se,

cành hoa gạo cũ nằm nghe nắng hiền

Anh nằm nghe bước em lên,

ngoài song lá động, trên thềm áo bay     

(Khi nàng đến, Trần Dạ Từ)

Trong phút giây chờ đợi bước chân người tình khe khẽ đến bên hiên nhà, chàng tưởng chừng nghe được cả tiếng gió lay động vạt áo và tiếng lá nhẹ rơi bên thềm nhà vắng.

Có khi là “chiều rơi trên đường vắng”…

Chiều rơi từng vạt mong manh,

chân đi vừa chạm khúc quanh, chiều tàn    

(Đường hành hương, Phan Ni Tấn)   

Có khi là áo trắng xôn xao mùa tựu trường. Áo trắng như đàn bướm trắng trong nắng sân trường.

Sáng nay áo trắng tựu trường,

gót chân cuống quýt cả hương cúc vàng     

(Ánh mắt tựu trường, Đoàn Vị Thượng)

4. Âm Điệu:

Âm điệu trong thơ có thể là vần điệu, nhịp điệu hay nhạc điệu.

(a) Vần điệu

Vần điệu là yếu tố hàng đầu để nhận diện thơ lục bát và cũng tạo sắc thái riêng cho thể thơ này. Câu thơ có vần có điệu dễ quyến rũ người yêu thơ, quyến rũ những tâm hồn nhạy bén với thơ, không cứ gì là thi nhân. Tác giả “Bướm trắng”, từng cho mình là “người thừa trong làng thơ”, vẫn có những khi tức cảnh sinh tình mượn câu lục bát để gửi gấm những nỗi niềm.

Mắt mờ lệ nhớ người xưa,

mười năm thương nhớ bây giờ chưa nguôi

Trông hoa lại nhớ đến người,

hoa xưa, xuân cũ biết đời nào quên     
(Nhớ Hoàng Đạo, Nhất Linh)

Thơ hay đến từ cảm xúc chân thực. Chỉ cảm xúc thực mới truyền được cảm xúc đến người đọc. Cảm xúc giả tạo hoặc vay mượn dễ nhận biết, tựa bức tranh vô hồn.

Nhớ em là nhớ quê nhà,
bát canh rau đắng mẹ già còn không?
    

(Lúc nhớ, Hoàng Lộc)

Nhớ em dào dạt biển sông,

làm sao con sóng trong lòng bình yên?    
(Điệp khúc 68, Xuân Chung)

Quê nhà, mẹ già, biển sông, con sóng, chỉ đơn sơ là vậy nhưng khơi dậy những nỗi niềm trăn trở và nhớ nhung da diết.   

Thủ pháp gieo vần lưng (yêu vận) là nét đặc sắc trong thơ lục bát, làm biến đổi hẳn về tiết tấu, nhịp điệu câu thơ, nghe như một nốt trầm trong câu nhạc hay một “bước nhỏ ngập ngừng”.

Sao em không chọn mùa đông

mà đi lấy chồng lại đúng mùa thu?
(Thu xưa, Đynh Trầm Ca)

Tôi còn có một mùa đông

Em ở với chồng tận cuối cơn mưa     

(Tận cuối cơn mưa, Đồng Đức Bốn)

Người phu quét lá bên đường,

quét cả nắng vàng, quét cả mùa thu     

(Góp lá mùa xuân, Trịnh Công Sơn)

Câu thơ, cũng nhờ vậy, có thêm nhạc tính.

Bài này không nhằm đi sâu vào phân tích về âm luật, các thủ pháp gieo vần, ngắt nhịp trong thể thơ lục bát.

(b) Nhịp điệu:

Nhịp điệu là tiết tấu của câu thơ. Câu, chữ trong thơ lục bát thường được ngắt theo nhịp chẵn, đôi lúc nhịp lẻ tùy thuộc cách thể hiện tình ý trong thơ và cũng để tránh sự đơn điệu.

Đò qua sông / chuyến đầu ngày,

người qua sông / mặc áo dài buông eo    

(Chuyến đò Cửu Long, Nguyễn Tất Nhiên).  

Em giờ là / của người ta

Của riêng tôi / một chậu hoa cúc tần     

(Bên giậu cúc tần, Nguyễn Đại Nghĩa)

Có khi là những tiểu đối nhịp nhàng tạo khoảng cách đều đặn và tiết tấu dìu dặt cho thơ.

Khi chén rượu / khi cuộc cờ

Khi xem hoa nở / khi chờ trăng lên     
(Truyện Kiều, Nguyễn Du)

Rượu mời ta rót cho ta

Bạn gần không đến / bạn xa chưa về

Rót nghiêng năm tháng vào ly

Mắt nheo bóng xế / tay che tuổi buồn     
(Ðêm cuối năm uống rượu một mình, Thanh Nam)

Về khuya tiếng nói âm thầm
em nghiêng mái tóc cho gần vai anh
Nhạc lên men rượu si tình

ngẩn ngơ khói thuốc / bồng bềnh ý thơ     

(Bài ca M.L., Hoàng Anh Tuấn)

Có khi là nhịp cầu nối liền chữ thứ sáu và chữ thứ bảy trong câu “bát”, tạo cảm giác đong đưa, mượt mà.

Miệng người tự bữa môi cong
Mắt người tự bữa ngước
đong đưa nhìn    

 (Hiện thể, Bùi Giáng)

Ở đây mưa trắng không gian,
mưa vùi dập mộng, mưa
tan tác đời     

(Buộc áo giữa đường, Trần Mộng Tú)

Nhiều lắm, những nhịp cầu nối lênh đênh, dập dềnh.

Em đi phố cũng ngậm ngùi

rừng kêu, núi gọi, sóng vùi dập sông
(Rừng trú ngụ em, Trần Yên Hòa)

Tây Bắc chiều núi lặng thinh
Se-at-tle đó mây
lênh đênh về     

(Chào Tây Bắc, Nguyễn Nam An)

Lối đi vàng nhạt mùa thu
Nghe lau lách động niềm
u uất buồn     

(Trông theo, Hoài Khanh)

(c) Nhạc điệu:

“Thi trung hữu nhạc”, tôi ngờ rằng “thi” trong câu ấy nhiều phần là thơ lục bát. Các nhạc sĩ chuộng phổ thơ vẫn nói rằng phổ nhạc một bài lục bát không phải dụng công nhiều vì trong thơ đã sẵn có nhạc.

Thử đọc, đọc thành tiếng chứ không đọc thầm, một đôi câu lục bát, ta nghe được những nốt, những thanh âm trầm bổng, nhịp nhàng uyển chuyển đến từ vần điệu, nhịp điệu và ngữ điệu trong thơ. Những yếu tố này khiến câu lục bát giàu nhạc tính hơn bất cứ thể thơ nào.

Nhẹ bàn tay, nhẹ bàn tay
Mùi hương hàng xóm bay đầy mái đông
Nghiêng nghiêng mái tóc hương nồng
Thời gian lặng rót một dòng buồn tênh
    

(Thơ sầu rụng, Lưu Trọng Lư)

Nghe thơ, như nghe vẳng lên trong đầu lâng lâng tiếng nhạc.

Ngủ đi em, mộng bình thường

Ru em sẵn tiếng thùy dương mấy bờ     

(Ngậm ngùi, Huy Cận)

Đèo cao cho suối ngập ngừng

Nắng thoai thoải nắng, chiều lưng lửng chiều    

(Đường rừng chiều, Nguyễn Bính)

Tai nương nước giọt mái nhà,
nghe trời nằng nặng, nghe ta buồn buồn
    

(Buồn đêm mưa, Huy Cận)

Câu thơ nghe… “lưng lửng”, “buồn buồn” làm sao!

Câu thơ đậu trong điệu hò,

hồn tôi đậu giữa lòng đò trăng soi     

(Trong khi chờ thanh xuân, Phan Ni Tấn)

Tiếng thơ nghe dạt dào như con đò nhỏ dập dềnh trên sóng, như mái chèo nhẹ khua nước đêm trăng. Chưa hết:

Tôi đang mơ giấc mộng dài,

đừng lay tôi nhé cuộc đời xung quanh     

(Năn nỉ, Lệ Lan)

Mưa như từng giọt rượu hờ,
đêm trong thành phố ai chờ chờ ai
Mưa thưa tựa áo lụa trời,
ôm quanh da thịt chân người người qua
    

(Mưa mùa hạ, Trịnh Công Sơn)

Nghe tiếng thơ, tưởng nghe được tiếng mưa đêm rơi đều về ngang thành phố.

Có khi câu “lục” trong thơ toàn vần “bằng”, cho một cảm giác mênh mang, xa vắng.

Hơi đàn buồn như trời mưa

Các anh tắt nốt âm thừa đi thôi     

(Các anh, Thâm Tâm)

Ôi thông xanh, ôi hồng đào
Phong rêu mấy thuở hồn nào không đau
    

(Thu ngây, Cung Trầm Tưởng).

Bây giờ môi anh cô đơn

Nhớ em nhớ cả nụ hôn dịu dàng     

(Nhớ, Vũ Thành)   

Hay là:   

Tôi vào chùa, tâm phân vân

Tiếng chuông vỡ giữa Thực, Không đôi bờ    

(Thực, Không đôi bờ, Trần Mộng Tú)

Còn chăng là mây lang thang

trên đồi gió hú bạt ngàn rừng thông

Còn chăng là đêm mênh mông

người ngồi nhớ một dòng sông cạn rồi     

(Người thi sĩ ấy không còn làm thơ, Phạm Cao Hoàng)

Thơ, nhạc và tranh nhiều lúc vượt ra ngoài biên giới của ngôn ngữ. Cái làm cho thơ “không biên giới” là ý tưởng và hình ảnh (đôi lúc chữ nghĩa) hơn là vần điệu, nhịp điệu hay nhạc điệu. Đọc một bài thơ hay của nước ngoài ta thấy nhiều phần cái hay là hay về ý tưởng hoặc hình ảnh. Bài thơ tiếng Việt chuyển ngữ sang tiếng nước ngoài cũng chỉ chuyển tải được những tình ý, hình ảnh ở trong thơ hơn là âm điệu. Thơ trở thành tiếng nói chung thông qua ý tưởng và hình ảnh. Trên hết vẫn là ý tưởng. Khi không còn nghe ra âm điệu, “lục bát tính” cũng không còn, khiến cái đẹp, cái hay của thơ lục bát cũng hao hụt đi ít nhiều.

Thơ là sự bay bổng của ngôn ngữ. Ngôn ngữ nào bay lên được thì gọi là thơ. Bay đi đâu? Hẳn là bay ra ngoài thế giới ngôn ngữ của đời thường. Thơ bay bổng làm con người cũng muốn bay bổng theo. Đọc được, bắt được một câu thơ, một ý thơ hay thật là sảng khoái, có cảm giác lâng lâng, bềnh bồng tựa hồ… bay là là trên không.

Cái cách tạo cho người ta cảm giác ấy, là thơ, là nghệ thuật của thơ. Và người làm thơ phô diễn cái nghệ thuật ấy bằng ngôn ngữ thơ.

***

Bài này không đề cập đến những biến thể biến thái, cách tân cách điệu về cấu trúc của thể thơ lục bát. Những công trình khai phá hay thử nghiệm nào để làm thơ lục bát thêm phong phú và hấp dẫn cũng đáng được hoan nghênh. Có điều, những canh tân đổi mới này nhiều phần thiên về hình thức hơn là nội dung, thường là những kiểu sắp chữ, sắp hàng, xuống dòng, cách quãng, ngắt nhịp, đôi lúc đi quá đà như chẻ nhỏ hay chẻ vụn câu, chữ trong thơ. Những cách trình diễn lạ mắt ấy ít nhiều đánh mất lục bát tính. Câu thơ lắm lúc đọc nghe trúc trắc, gập ghềnh, tựa như chạy xe trườn lên những cái “bump” gồ ghề trên mặt đường.

Người yêu thơ, vẫn trông đợi nơi thơ cái “tân nội dung” hơn là tân hình thức. Một bài thơ, câu thơ hay không bao giờ cũ, như cái đẹp còn ở lại với ta mãi.

Thơ trích ra trong bài này là những câu thơ “mẫu”, chỉ nhằm minh họa phần nào cái đẹp, cái hay của thơ lục bát trên cánh đồng thơ bát ngát, mênh mông. Xin cám ơn tác giả những câu thơ người viết mạn phép trích dẫn. Chắc chắn là tôi đã quên sót nhiều bài, nhiều câu lục bát hay, và còn nhiều, rất nhiều bài lục bát thật hay nữa tôi chưa được biết tới.  

Thơ lục bát không bao giờ cũ, không bao giờ lỗi thời, không bao giờ cạn nguồn. Nguồn thơ lục bát là vô tận.

Thơ lục bát là thơ nội hóa. Yêu thơ lục bát là yêu “hàng nội”, là “ta về ta tắm ao ta”.

Thơ lục bát là kho tàng thi phú của riêng người Việt mình, không sợ ai đánh cắp, bắt chước hay cạnh tranh được, cũng là niềm tự hào về bản sắc và tính độc lập trong ngôn ngữ và thi ca của dân tộc Việt.

Thơ lục bát có thể được kể thêm vào những món “đặc sản” trong văn hóa truyền thống của người Việt như áo dài, như nón lá và cả những món ăn “quốc hồn quốc túy”.

“Truyện Kiều còn, tiếng Việt còn”, ta vẫn nghe vậy. “Tiếng Việt” vẫn còn đây, trong mọi sinh hoạt của cộng đồng người Việt ở hải ngoại. Truyện Kiều là danh tác, không ai phủ nhận. Có điều trường thi lục bát này, cũng như nhiều áng văn chương “cổ điển” khác, e không có sức hấp dẫn và “hợp khẩu vị” của thế hệ người Việt trẻ trung sinh trưởng hoặc trưởng thành ở nước ngoài.

Sau Truyện Kiều, nối gót cụ Nguyễn Du, các thế hệ thi nhân đã mang đến cho đời nhiều thi phẩm lục bát hay, giá trị với đề tài, nội dung gắn liền với cuộc sống quanh ta.

Nếu được phép đề nghị, các trường dạy tiếng Việt cho học sinh người Mỹ gốc Việt ở hải ngoại, ngoài các bài giảng về tục ngữ, ca dao, có thể thêm vào bài giảng về thể thơ lục bát truyền thống của người Việt mình. Các thầy cô giáo có thể dạy cho các em, các cháu, cái đẹp cái hay của thơ lục bát, gieo vào lòng các em tình yêu thơ lục bát, và qua đó, gieo vào lòng các em tình yêu tiếng Việt.  

Hơn thế nữa, ngoài các bài tập làm văn, thầy cô có thể dạy các em… tập làm thơ. Sao không? Không gì bằng dẫn dắt các em đi vào thế giới thi ca bằng cách làm quen với thể thơ lục bát. Nếu cần, phát huy thêm bằng các hình thức tổ chức thi đua làm thơ lục bát về những đề tài gần gũi, thiết thực. Các bậc phụ huynh hẳn sẽ vui lắm khi thấy con em mình… biết làm thơ lục bát (và người yêu thơ lại có thêm nhiều bài thơ hay lục bát). Thiết tưởng đấy cũng là phương cách “bảo tồn và phát huy tiếng Việt” như mục tiêu của hầu hết các trường dạy tiếng Việt ở nước ngoài hiện nay.

Khi mà con cháu chúng ta biết làm thơ lục bát, biết yêu thơ lục bát và biết tự hào về thơ lục bát như tự hào về bản sắc văn hóa của dân tộc Việt thì ta có thể yên tâm là tiếng Việt mến yêu sẽ còn mãi còn hoài, chẳng mất đi đâu được.

“Thơ lục bát còn, tiếng Việt còn”, chúng ta có lý do để tin như vậy.

Lê Hữu

*** Ấy À …/ Cuộc Tình Chiều

Trương Thị Thanh Tâm

Ấy À …

Tim còn nhớ ” ấy “ngày xưa
Mắt mờ mờ đục, nửa vừa yêu thương
Nhớ người, tim giận mà vương
Quýêt lòng chẳng muốn…chờ hương mặn nồng
Trời xanh, còn tiếc tuổi hồng
Nên biết trao lòng…lắng đọng tình riêng
Chiều nay mưa nắng từng miền
Yêu thương trở giấc, tên điền vào tim
” ấy ” ơi tim đã lồng tên
Ước mơ còn lại ta tròn tơ duyên
Cái ngày ” ấy ” đổi lại tên
Tình yêu những tưởng cạn nguồn…rồi xa
Nhớ ngày tim đã tiễn đưa
“Ấy ” về bên đó, tim chưa trở về
Vẫn còn ngồi lại bàn kê
Nhớ đôi mắt ” ấy ” môi kề ban trưa
Tay nào lạ lẫm làm mưa
Tay nào đan gối, để đưa tình về…?

Cuộc Tình Chiều

               ***

Hạnh phúc trong tay người không nắm giữ
Giọt lệ buồn tôi nghe mắt cay cay
Một đêm say,không biết người mê, tỉnh?
Thôi tan rồi bao giấc mộng trong tôi
Cuộc tình chiều nghe thấm mặn bờ môi
Mi khép lại cuộc tình xa xôi quá
Người dưng ơi, sao giờ nghe xa lạ
Giận hờn nầy,mãi mãi sẽ quên nhau
Thôi cũng đủ, một lần thôi…cũng đủ
Kỷ niệm buồn, khép lại những trang thư
Đời ngắn ngủi, sao không lần tha thứ!
Để vuông tròn khi định mệnh se duyên
Dẫu đến sau cũng có chút muộn phiền
Tình bất chợt, ru hồn trong nỗi nhớ
Cũng đành thôi, bởi trái tim mở ngõ
Tóc phai màu, còn để lướt vào sâu!
Chút ray rức nên mua lấy ưu sầu
Buông hay bỏ khác gì nhau đâu chứ
Kỷ niệm buồn xin giữ lấy vì nhau…
Trái tim nhỏ từ đây, thôi khép lại!

            Trương Thị Thanh Tâm

 

*** TÌNH NỔNG SAY

aodaitrang 1Cảm Nhận
ca khúc TÌNH NỔNG SAY
Nhạc & Lời Khê Kinh Kha

Ca khúc này anh sáng tác riêng cho bạn học của anh- vợ chồng Anh Tuấn, Ý lan- cũng như dành tặng cho bao đôi lứa yêu nhau. Tác giả đã đưa những điều không thể như:

 Vương tay anh hái trăng vàng
Cài lên mái tóc cho nàng (là nàng ) thêm duyên
Yêu em anh đón mây ngàn
Anh đem ( là đem ) dâng giữa tim nàng (là) tình nồng say
Giăng tay anh hứng ( ánh ) mặt trời
Tô môi ( là môi ) em thắm cho đời ( là đời) thêm hương

Để nói lên tình yêu dành cho nàng nhiều biết bao nhiêu Và vì tình yêu này ta có thể vượt qua tất cả những gì khó khăn nhất để đến được bên nàng:

yêu em, yêu cả đất trời
yêu em, yêu cả cuộc đời
yêu nhau, yêu nhau em hỡi một đời ( là đời ) có nhau
có nhau giữa chốn đường trần
có yêu thương trong trái tim nồng
có trăm năm trong nghĩa vợ chồng em ơi!

Trong cái gắn bó của tình yêu đôi lứa không thể không nói đến những chia sẽ ngọt bùi một lòng dìu nhau qua mưa nắng cuộc đời nguyện thủy chung son sắt trọn tình lứa đôi:

yêu em chia sẽ trần gian
dù bao ( dù bao) mưa nắng một lòng ( là lòng) thủy chung
yêu em anh hiến dâng nàng
con tim ( là tim) son sắt dâng nàng là tình trăm năm

Với những khó khăn không thể như vậy nhưng vì tình yêu dành cho nàng quá lớn tác giả vẫn thấy hân hoan yêu đời nếu không nói là tác giả đã quá hạnh phúc khi dâng nàng tình yêu và tác giả đón nhận mọi việc tưởng chừng như không thể đó một cách nhẹ nhàng đơn giản như một điều tất yếu:

tình tang con bướm qua mành
ngàn năm sông núi trọn tình lứa đôi

Những hình ảnh mộc mạc của thiên nhiên được tác giả đưa vào lời ca khúc để diễn tả tình yêu tuy đơn sơ thôi nhưng không phải vì thế mà không có sự bức phá mảnh liệt của đôi lứa Ca khúc với giai điệu mang âm hưởng dân ca Bắc bộ, một giai điệu thật phù hợp mà lại gần gủi với những gì lời ca khúc muốn nói

Và giai điệu này đã được ca sĩ Ý Lan xử lý thật tài tình khiến cho người nghe thấy vui lây với cái hạnh phúc mà ca sĩ Ý Lan truyền qua cho chúng ta theo từng nốt nhạc

Cám ơn nhạc sĩ KKK đã tặng cho bao đôi lứa yêu nhau một ca khúc ca ngợi tình yêu thật nồng nàn, duyên dáng

29/6/2013

 

LIVE BY Y’ LAN

xuân tình

 Hoàng xuân sơn

hoa_hong_cau_vong_5_ejcc bán cầu. một nửa mặt em
nửa kia tôi đến
lạ miền thu dung
những con sông chẩy kỳ cùng
lối đi cỏ muộn
về chung lữ trình
lên đồi trải nghiệm phong linh
nghe xanh lễ nhạc                  tang             tình
dao ca
chào em. một nốt hương òa
dưới chân. kín.  vỡ sương sa
lục hồng
giữ đời phi lộ không không
là mình có được tang bồng
thuỷ
ch0..ung

 hoàng xuân sơn
tháng 4/2018

*** Trả Lời Một Câu Hỏi

Trương Thị Thanh Tâm 

            ***
1anhveLàm sao quên được cuộc tình!
Làm sao không nhớ người mình từng yêu 
Làm sao xoá được tình chiều 
Một khi tim đã có nhiều xuyến xao 
Tình đâu là mãi chiêm bao 
Tay trong tay, nụ hôn sao thật gần 
Làm sao tránh được nụ hôn!
Khi tình đã đến, một lần trao nhau 
Nếm vào mới biết tình đau 
Dỡ  dang mới biết cái điều…đến sau 
Hoàng hôn tóc đã phai màu 
Đâu còn say đắm, thuở nào còn xanh 
Tuổi chiều như một bức tranh 
Chỉ nhìn và ngắm, chở tình được đâu!?
Cớ sao cứ mãi ưu sầu 
Không quên cứ nhớ, mà đau một mình!
              Trương Thị Thanh Tâm 
                          Mytho

*** Ý Tưởng về Thi Ca

Chân Phương tuyển dịch

hoa 1 

** La poésie est une pratique de la vigilance dans tous les actes de la vie quotidienne devenus contemplation, un exercice spirituel, un sacerdoce. Michel JOURDAN

Thơ là thực tập canh thức trong mọi hành vi đời sống thường ngày đã trở thành chiêm nghiệm. Thơ là thể dục tâm linh, một chức vụ tôn nghiêm.

** La poésie, c’est la lutte contre l’usure, non seulement l’usure des mots, mais à l’occasion de cette usure-là, celle de toute notre vie. Lutte contre la routine, contre la répétition monotone de nos gestes quotidiens. Maxime ALEXANDRE

Thơ là chống trả sự xói mòn, không chỉ xói mòn từ ngữ mà thông qua đó là sự xói mòn của trọn một đời người. Chống lại tập quán, sự lặp đi lặp lại nhàm chán những động tác thường ngày của chúng ta.

** On est accoutumé à dire que le poète est le voyageur qui est parti pour le Pays des Chimères.Cela est faux. Le poète est parmi les rares voyageurs d’ici-bas qui sont partis pour le Pays de la Vie, quittant le Royaume des Apparences pour celui des Réalités spirituelles, – les seules éternelles. Le poète est un réaliste dans le plus haut sens spirituel du terme. Malcolm de CHAZAL

Người ta có thói quen cho rằng nhà thơ là lữ khách đi về Xứ Hoang Đường. Nói thế là sai. Trong đám lữ hành hiếm hoi của thế gian này, nhà thơ là kẻ đi tìm Vùng Đất của Sự Sống, rời xa Vương Quốc của Sắc Tướng để tìm Vương Quốc các Thực Thể tâm linh – duy nhất vĩnh hằng.Nhà thơ là kẻ tin vào thực hữu hiểu theo nghĩa tâm linh cao nhất của từ này.

** Un grand poète est intraduisible, et c’est là sa force. Parce qu’une fois que nous l’avons lu, et obligatoirement mal traduit, son pays d’origine nous reste interdit et ensorcelant…Poète est un homme qui nous donne envie d’aller vivre chez lui, mais chez lui n’est nulle part. Georges PERROS

Không thể dịch một nhà thơ lớn, và đấy là uy lực của thi nhân. Bởi vì sau khi chúng ta đọc ông xong và tất nhiên là đã dịch không đạt lắm, quê nhà nguyên quán của ông vẫn là nơi chốn cấm kỵ và rù quyến mãnh liệt chúng ta…Nhà thơ là kẻ khiến ta thèm muốn được sống dưới mái nhà của ông – nhưng mái nhà đó thì không biết đâu mà tìm.

** Notre Rimbaud, ce n’est pas lui, c’est nous-mêmes, voilà le vrai, c’est le vagabond que nous fumes en puissance, nous qui ne nous serons jamais évadé de la chambre bourgeoise où nous sommes né, où nous demeurons, où nous mourrons: c’est cela le mythe Rimbaud. … Que de fois l’avons-nous rencontré, ce Rimbaud-là, et nous sommes passé sur l’autre trottoir! Francois MAURIAC.

Rimbaud của chúng ta chính là ta chứ không phải hắn. Kẻ hoang đàng đích thực nằm trong khả tính của chúng ta – những người không bao giờ trốn khỏi gian phòng tư sản nơi chúng ta sinh ra, cư ngụ và chết đi: đấy là huyền thoại Rimbaud… Bao nhiêu lần không biết chúng ta đã gặp hắn, gã Rimbaud ấy, và chúng ta đã lánh qua vỉa hè bên kia đường!

** La poésie, c’est autre chose. La poésie, c’est la recherché passionnelle et comblée

De quelque chose que l’on sait ne jamais atteindre. GUILLEVIC

Thơ là cái khác. Thơ là sự truy tìm đắm đuối và toại nguyện một điều mà ta biết là sẽ chẳng bao giờ đạt được. GUILLEVIC

** Le language de la poésie ne dit pas, ne décrit pas, ne raconte pas, ne porte aucun

message: il rayonne. Jacques ANCET

Ngôn ngữ của thơ không lên tiếng, không mô tả, không trần thuật, không mang bất cứ một thông điệp nào: nó rực sáng.ANCET

** La poésie n’est pas de la littérature. La poésie est révélation. Elle est révélation car ce

qui n’existe pas, c’est l’inconnu. GAMONEDA

Thơ không phải là văn chương. Thơ là khải ngộ… Khải ngộ bởi vì cái không hiện hữu là điều bất khả tri. GAMONEDA

** Rien ne vaut d’être dit en poésie que l’indicible: c’est pourquoi l’on compte beaucoup

sur ce qui se passé entre les lignes. Pierre REVERDY

Trong thơ chỉ có vô ngôn là điều đáng nói lên: vì vậy ta chú trọng đến những gì nằm giữa các dòng chữ. REVERDY

** La poésie est une solitude, et nous sommes des moines qui échangeons des silences.

Jean COCTEAU

Thơ là nỗi cô độc, và chúng ta là những tu sĩ trao đổi im lặng với nhau. COCTEAU

** De même que les Sociétés commencent par la poésie et finissent par elle, l’homme est recu dans ses bras et près de la tombe lui consacre ses derniers efforts et en recoit les dernières consolations et ses emotions les plus douces. Alfred de VIGNY

Cũng như các xã hội bắt đầu và kết thúc bằng thi ca – được thơ đón vào vòng tay, con người khi gần xuống mồ cống hiến nỗ lực cuối cùng cho thi ca và nhận trở lại những an ủi chung cuộc cùng các xúc cảm êm dịu nhất.

** LE POÈTE, le véritable grand poète, c’est celui qui écrit non seulement des poèmes, mais l’évangile avec sa vie.

C’est celui qui brille, non comme un volcan dévorant de son feu lui-même et ceux qui l’entourent, mais comme un diamant qui concentre le plus de lumière divine – il est dur, mais ne fond que dans le plus pur feu électrique du sacrifice.

C’est celui qui ne méprise que la réalité corrompue, il est saint parmi les pécheurs, noble parmi les lâches, libre parmi les esclaves.

C’est celui qui après chaque orage se relève plus fort et après chaque larme, comme après la rosée, se redresse plus sain. – Tel est LE POÈTE !
Kornel UJEJSKI (nhà thơ Balan 1823-1897)

THI NHÂN, nhà thơ lớn thứ thiệt, là kẻ không chỉ viết ra những bài thơ mà còn viết thành kinh câu chuyện đời mình.

Đó là kẻ rực sáng, không như một hỏa sơn tự thiêu đốt làm cháy những người vây quanh, mà rực sáng như viên kim cương nơi ánh sáng thần linh tụ về nhiều nhất. Và cứng như kim cương, kẻ chỉ tan chảy trong ngọn lửa tinh ròng nhất của sự hy sinh.

Đó là kẻ chỉ khinh bỉ hiện thực thối nát, thánh thiện giữa bọn tội lỗi, cao cả giữa lũ hèn, tự do giữa bầy nô lệ.

Đó là kẻ sau mỗi cơn bão táp lại đứng lên cường tráng hơn trước và sau mỗi lần rơi lệ, như sau cơn mưa móc, lại bật thẳng thanh khiết hơn. – THI NHÂN là như thế đó !

(dịch để tặng các bạn thi sĩ gần xa)

*** Phạm Duy Và Tôi

pham duy va toiHoàng Lan Chi 

 

Thuở bé tôi đã yêu nhạc Phạm Duy. Có lẽ vì PHạM DUY có nhiều nhạc quê hương rất hay mà tôi thì yêu quê hương vô cùng. Tình ca của PHạM DUY cũng phong phú đa dạng.

Năm 2002 nếu tôi nhớ không  lầm, tôi viết bài Cảm nhận cho “Tình Ca”. Mục đích của tôi bấy giờ là muốn giới trẻ biết yêu quê hưong qua những nhạc phẩm của PHạM DUY hơn là nghe những loại nhạc vớ vẩn rên siết phận người hay đả kích chiến tranh. Vô tình PHạM DUY đọc được và chú làm quen tôi. Duyên văn nghệ từ đó. Sau này tôi viết thêm một số cảm nhận cho Quê Nghèo, Tình Hoài Hương…

Năm 2003, Phạm Duy về nước và đến quán nhạc Dòng Thời Gian của cô bạn tôi. Nơi đây cũng là nơi tôi gặp người đàn bà có giọng hát hay và rất giống Thái Thanh. Vào thời điểm 2003, chị đã chọn hát nhạc Phạm Duy trong lúc các nơi khác đang còn thịnh hành nhạc TCS. Từ tôi mà Phạm Duy  biết thêm chị, (Thuý Nga) và biết thêm Đào Minh, chủ quán Dòng Thời Gian. Phạm Duy  ở trọ một khách sạn trên đường Đồn Đất thì phải và bình dị với áo nâu, ngồi quán cà phê vỉa hè.

Chúng tôi có một số hình lưu niệm với PHạM DUY và gia đình ở đây. Có hôm  chúng tôi theo Phạm Duy đến nhà Lưu Trọng Văn chơi và gặp Nhạc Sĩ Nguyễn Văn Tý. Duyên tình của Phạm Duy với Lưu Trọng Văn là “ Nào đâu có trăm năm mà chờ với đợi”! Nghĩa là Phạm Duy đang dùng dằng thì Lưu Trọng Văn gửi bài thơ ấy và Phạm Duy đã quyết định “Về thôi, nào có trăm năm mà chờ đợi”! Phạm Duy khi về nước năm này đã đem theo bài ” Về thôi” do Phạm Duy phổ thơ Lưu Trọng Văn cho tôi nghe.

Duy Cường, Phạm Duy, Lưu Trọng Văn-Lan Chi – hàng sau Đào Minh và Thuý Nga
Duy Quang-Phạm Duy -Lan Chi- Thuý Nga
3 người đàn bà ‘vô danh” của Phạm Duy năm 2003 ( cách gọi của Phạm Duy khi chưa về VN và gặp Thuý Nga, Đào Minh, Lan Chi )
Phạm Duy vỉa hè áo nâu giản dị khi về Việt Nam

Phạm Duy giản dị áo nâu ở quán cà phê lề đường gần khách sạn

NS Nguyễn Văn Tý- Lan Chi -Phạm Duy tại nhà Lưu Trọng văn 2003
Lan Chi -Phạm Duy- Hoạ sĩ Kim Khải- Thuý Nga

Tại quán Dòng Thời Gian của Đào Minh

Phạm Duy với cô bé từ Canada về hát Người Về
Phạm Duy với một kiến trúc sư yêu nhạc Phạm Duy
Phạm Duy với ca sĩ Huy Tâm
Phạm Duy và Thuý Nga ( người hát nhạc Phạm Duy rất hay)
Hồi đó Phạm Duy đối với tôi là dễ thương dù đôi khi ông có hơi ngông. Ông gửi tôi nhiều tài liệu về cái gọi là “Gió Tanh Mưa Máu”. Tôi chỉ xem và không  ý kiến.

Rồi đẩy đưa nhiều chuyện để có khi tôi và ông tranh luận. Chỉ nho nhỏ. Nhưng có vẻ ông khá “nhường tôi”. Có gì đâu, chỉ là xoay quanh vài vấn đề đạo đức.

Khi tôi hỏi về chuyện ngày xưa, biện luận cho cái “đào hoa”, ông viết:

“Tôi đã được nhiều người (Lan Chi khuyên bé Quỳnh Chi : nghe nhạc, đừng tìm hiểu cá nhân, hiểu theo nghĩa là chỉ nên “yêu đàn” mà thôi đấy nhé… ) cho rằng tôi có một đời sống rất là “phóng túng”, hiểu theo nghĩa “bê bối”.  Lạy Chúa và Mô Phật, tôi thách đố ai dám tuyên bố tôi là kẻ nghiện rượu, nghiện thuốc lá, nghiện sì ke hay nghiện thuốc phiện (nguyên cái vụ này, tôi đã đạo đức hơn nhiều ông nghệ sĩ) … Còn nghiện đàn bà thì khỏi cần nói vì tôi đã nói rồi, nhưng tôi xin thưa rằng với những bạn muốn hiểu tôi rằng : tôi chưa hề phụ tình ai, tôi chưa hề có một bà nào hắt hủi rồi nguyền rủa tôi khi xa tôi… Everything is OK, xa nhau, rồi gặp lại nhau “bốn mắt đều có đuôi”… 
 
Tôi xin nói ngay tôi rằng trong đời tôi, có ba điều tôi tôn thờ : nghệ thuật, vợ con và người tình, đời tôi phải vững như cái kiềng ba chân. Không vì nghệ thuật mà bỏ vơ con, bỏ người tình… không vì vợ con mà bỏ người tình và nghệ thuật… không vì người tình mà bỏ nghệ thuật và vơ con.
Do đó có bao giờ vợ con tôi kết án tôi đâu? Tôi kính yêu một triệu lần vợ tôi (ngày bà còn sống và sau khi bà qua đời), khi các con kể lại rằng bà á thánh này đã có lần bảo các con : tao biết hết chuyện bố mày nhưng để cho bố mày có hứng làm nghệ thuật.-PhạmDuy” (1)

Phải nói thật là tôi đã “nghiêng ngả” khi đọc những tâm sự đó của Phạm Duy. Hay cũng có khi không  phải tôi nghiêng ngả mà chỉ vì ở tuổi ngoài 50, tôi không còn những suy nghĩ khắt khe như tuổi đôi mươi? Phải, những người khác đã đam mê rượu, chè, cờ bạc thì cái khoản “trai gái” mà Phạm Duy vướng vào, cũng chỉ là lẽ thường tình? Tất nhiên tôikhông  ủng hộ những mối tình bên lề xã hội của Phạm Duy! Tôi chỉ muốn nói, cô Thái Hằng quả là một phụ nữ tuyệt vời, xứng đáng với mỹ từ “Á thánh” mà Phạm Duy tặng cô. Viết đến đây tôi lại nhớ ký giả Bùi Bảo Trúc đã nói một câu rất hay trong đêm nhạc Vũ Đức Nghiêm “ Xin cảm ơn chị Vũ Đức Nghiêm. Vì sự bao dung của chị mà  chúng tôi có được một nhạc phẩm hay đến thế!”. Cả hội trường vỗ tay. Vâng, suy cho đến cùng, nếu không  có sự bao dung của các bóng hồng sau lưng các nhạc sĩ  thì có lẽ kho tàng âm nhạc Việt Nam sẽ thiếu vắng nhiều tác phẩm hay! Ngoài ra, sự ví von cuộc đời như kiềng ba chân ( vợ, người tình và nghệ thuật), cá nhân tôi thấy “mến” Phạm Duy vì sự thành thực của ông.

Còn khi biện luận cho “tục ca” ông đã ngậm ngùi “Có thể tôi lầm khi tự phá mình” làm tôi nao lòng. Nhưng ông cũng dí dỏm khi “chọc quê” tôi là “ Cô Quỳnh Couteau đã chửi Bộ KH mà còn sợ nghe tiếng chửi xã hội của người khác hay sao”. Vâng, tại sao nhiều người lúc đó như Chu Tử, như Thương Sinh đã chửi xã hội vì không  chịu được sự thối nát, và khi Phạm Duy dùng âm nhạc để chửi thì lại bị chửi! Tôi không  nghe Tục Ca nên không  biết nó tục thế nào nhưng có lẽ người Việt quen với hình thức dùng âm nhạc để đấu tranh, để tình tự, để vỗ về mà không  quen dùng âm nhạc để “nói tục” chăng? Dù sao, tôi không  ý kiến vì ông đã nói với tôi, ông không hề in, thu cassette. Thế là đủ.

Sách, báo, phim, ảnh ngọai quốc tràn vào sau khi cụ Diệm chết, thanh niên, trung niên, lão niên ùa chạy theo văn minh vật chất, người ta coi đạo đúc, luân lý như pha. (khôi hài nhất là những vị phi-đạo đức này phê bình nguời khác thiếu đạo đức !). Có thể tôi lầm khi tự phá mình (phá thần tượng) (1) để làm mười bài tục ca nhưng xin mọi người hiểu rõ lý do của bài hát NHÌN L… ! Cô Quỳnh Couteau đã chửi Bộ Kế Hoạch, thế mà vẫn còn sợ nghe tiếng chửi rủa xã hội của người khác. Thương Sinh, Chu Tử cũng là những văn nhân giỏi lắm, nhưng một trong những lý do chửi bới của các vị đó cũng có thể vì họ muốn bán báo chạy hơn. Tôi làm tục ca, không thu vào cassette hay tape thương mại, không in ra bản nhạc, còn không muốn phổ biến nhiều. Je les avait chantées pour mon plaisir. Thế là khóai rồi !!!”(1)
 
Về những câu nói này nọ, khi tôi hỏi về việc nghe tin đồn rằng ông phát biểu này nọ ở Úc, Phạm Duy viết cho tôi:
 
“Về chuyện kiêu ngạo khíến “Lan Chi phải van chú đừng phát biểu kiêu ngạo… thì Lan Chi có thể tin được rằng, tôi không dại gì mà phát biểu trên sân khấu (hay trước đám đông) nhất là “kỳ ở Úc vừa qua rằng nhạc PHạM DUY là nhất”.  Tôi điên mà phát biểu như vậy à ?”(1)
 
Từ mail này của Phạm Duy, tôi thực hiện bài học “Hỏi đích danh và không nghe tin đồn”. Sau này, trong chốn phong ba của hải ngoại, nhiều lần nghe đồn, tôi hỏi lại và nhờ thế “giải oan” được cho vài người!

Cuối cùng, Phạm Duy viết:

“Cuối cùng, tôi xin hỏi câu này : Lan Chi đã đọc đầy đủ cả BA cuốn HỒI KÝ của tôi, có đọan nào thấy tôi nói tới chuyện sáng tác trong WC không ? Có những đọan nào tôi tỏ vẻ tự kiêu, tự mãn không ?”(1)

Đúng thế, cuốn hồi ký của Phạm Duy là cả một công trình văn học mà tôi nghĩ hiếm có người nào ở tuổi ông, thời đại ông, có thể thực hiện được. Bài viết thứ tự, lớp lang, chữ nghĩa rõ ràng và đặc biệt nét “khoa học” tuyệt vời trong đó. Thường thì một bản nhạc dính líu đến nhiều thứ, từ tác giả đến thính giả rồi xã hội rồi hoàn cảnh. Nếu không có một óc tổ chức, rất dễ bị rối rắm. Thế nhưng hồi ký của Phạm Duy không  hề làm độc giả lạc vào mê hồn trận.

Còn về cái tự kiệu tự mãn thì đúng là tôi chưa tìm thấy ở hồi ký Phạm Duy ( vì tôi chưa đọc hết nhưng tôi tin lời Phạm Duy, trong đó chỉ là những tài liệu âm nhạc được ghi lại). Và bên ngoài thì cứ xem Phạm Duy viết cho tôi như sau:

“Nhưng tôi rất vui vì Lan Chi đã có một bài viết rất hay về một bài hát của tôi… nhất là vì Lan Chi khéo dạy Quỳnh Chi, kéo Quỳnh Chi trở về với những giá trị nghệ thuật đích thực. Hiện nay nghệ thuật ở VN (trong hay ngòai nứơc) đang lâm vào tình trạng suy thóai, ai là người thực sự yêu nước yêu dân, yêu tuổi trẻ thì cùng nhau đi tìm lối thóat ở những giá trị còn đang bị lấp liếm bởi lũ đạo đức giả, lũ chính trị gia lạc hậu.Nói với Quỳnh Chi cho tôi địa chỉ, tôi sẽ gửi tặng CD với đa số ca khúc nghe bằng MP3 qua đường Bưu Điện.” (1)
 
Nói cách khác, Phạm Duy “bày tỏ” sự cám ơn dành cho tôi, người viết cảm nhận nhạc Phạm Duy. Trên thực tế, với “tài ba, danh tiếng” chừng đó, Phạm Duy có cần cư xử với tôi như thế không? Tôi nghĩ là không! Nhưng Phạm Duy trân trọng, Phạm Duy hiểu tôi cần cho giới trẻ biết yêu quê hương qua những dòng nhạc của mình và Phạm Duy sẵn sàng gửi CD qua Úc cho “người Việt trẻ Quỳnh Chi”!

Năm 2004, tôi qua Mỹ và đến Cali trước khi bay qua Virginia. Tôi gọi cho Phạm Duy và hẹn ngày đến chơi. Buổi tối đi cùng anh chị họ đến.  Tại đây gặp Đức, người con trai út trong gia đình hoàn toàn không hoạt động gì đến âm nhạc. Đúng như ông viết, gia đình ông là một điều hiếm thấy ở Mỹ: đại gia đình quây tụ. Một điều tôi cũng nhận thấy ở gia đình ông: từ Duy Quang đến Duy Minh, Duy Cường, người nào cũng nhũn nhặn, dễ thương. Ấy là tôi nói khi tôi gặp ông cùng ba con trai ở quán cà phê Dòng Thời Gian.

Tại nhà Phạm Duy năm 2004
Duy minh-Lan Chi tại nhà Phạm Duy 2004
Duy Đức -Lan Chi tại nhà Phạm Duy 2004
GS Nguyễn Ngọc Bích- Phạm Duy- Lan Chi tại Virginia 2004

Năm 2005, báo chí hải ngoại ồn ào vụ Phạm Duy định về nước. Một người bạn nằng nặc đòi tôi xoá những gì tôi viết về Phạm Duy. Nhưng “Học Trò”, người yêu nhạc, thành viên kỳ cựu của web Đặc Trưng thì phản đối “Chị không  được xoá. Những gì chị đã viết, đã công bố, nó không  còn là của chị nữa. Đó là những rung cảm của chị trước một nhạc phẩm, chị viết ra chia sẻ và những người khác sẽ biết được cái hay của nhạc phẩm đó thông qua chị..”. (2005). Tôi nghe lời Học Trò,  không  xoá.

Sau đó, dường như trước khi Phạm Duy về Việt Nam sinh sống khoảng vài tháng, tôi có gọi  điện thoại đến.  Phạm Duy nói rằng thường thì lúc này ông không muốn gặp ai nên đã từ chối nhiều người, nhưng với tôi thì ông tiếp. Phạm Duy chỉ ngắn gọn về việc mình có thể sẽ về nước. Tôi nói mọi người đang lên án, Phạm Duy bực mình “ Cuộc đời tôi mà sao cứ phải sống theo người khác? Tôi đã xin cho tôi được vui buồn một mình tôi kia mà”.

Thật tình, Phạm Duy nghĩ gì về CS, tôi nghĩ ai cũng đoán được nhưng căn cứ vào hiện tượng bên ngoài thì nhiều người lên án vì cho đó là đã làm hoen ố chính nghĩa quốc gia.

Năm 2009, một người bạn viết cho tôi: “Về ông Phạm Duy, tôi không hề có ý phê bình ai cả, mỗi người có cách chọn lựa cho mình. Ông ấy đã chọn như thế, và hãy để cho thời gian trả lời. Người mình thương ai thương cả lối đi…
Tôi chỉ có một cái nhìn khác về Phạm Duy, ông ấy đơn thuần là ngưòi cha rất thương con và tìm lối thoát cho con mình… và ông ta đã chọn con đường chết để mong con mình được sốngNhạc sĩ Phạm Duy là người cha nhân ái, ông kiếm tiền bằng nhạc của ông và nuôi nấng các con và gia đình đầy đủ. Bà Thái Hằng đúng là một hiền mẫu và ông Phạm Duy  phong á thánh cũng không ngoa. Tôi yêu quý ông từ nhạc phẩm đến đời sống thực, ông không che đậy dấu giếm điều gì, thích là nói, nghĩ là làm.”(2)

Sau khi về Việt Nam, ông có nhiều điều này nọ. Cũng người bạn ghét ông, đả kích này nọ với tôi và tôi lặng thinh. Tuy vậy tôi đồng ý với một người bạn khác khi anh viết cho tôi  rằng: “Những gì ông tuyên bố, có thể có ít xích ra nhiều, vì ông phải nói thế thôi. Đây là một trò chơi, trò Game, nhà nước và ông cả hai đều khôn ngoan và cả hai đều tính toán.”(3)

Một người bạn khác khi nghe kể vụ tôi không xoá bài viết về Phạm Duy, anh viết cho tôi“Thưa chị, tôi biết chị yêu nhạc Phạm Duy cũng như biết bao người khác. Nhưng chị hãy giữ những gì chị đã viết về ông là những gì trung thực của tháng ngày chị cảm nhận, rung động về một tài hoa lớn của đất nước. Những người chung quanh không thể muốn chị làm theo cách của họ. Tôi nghĩ nhân cách Hoàng Lan Chi là Hoàng Lan Chi.”(4)
 
Cảm ơn anh bạn về những giòng chữ trên.

Tôi đã để “chú Phạm Duy” ngủ yên trong tôi từ khi ông về Việt Nam. Nhưng nhạc Phạm Duy  nhất là nhạc quê hương thì không bao giờ mất. Với tôi, (một người viết thơ cho quê hương năm 14t thay vì viết thư tình), thì đến giờ phút này, chưa một nhạc phẩm nào sánh được với “Tình Ca”!

Năm 2009 bàng bạc nỗi nhớ, nỗi buồn, tôi thực hiện chương trình “Phạm Thiên Thư với Ngày Xưa Hoàng Thị và Đưa Em Tìm Động Hoa Vàng”, ngoài là Phạm Thiên Thư nhưng trong thực ra là tôi nhớ người Nhạc Sĩ.

Hè 2011, đã sáu năm trôi qua.

Hoa phượng tím đã úa tàn. Cuộc đời, nhạt nhoà như mầu hoa phượng, có thể xem như bắt đầu đếm ngược được rồi chăng.

Tôi không thể khoan dung với những kẻ đang thở không  khí tự do và phản bội. Nhưng“một người cha chọn con đường chết mong con mình sống” như bạn tôi nhận xét thì hôm nay, lòng tôi không dưng chùng xuống và tôi vẫn nghĩ rằng, một mai khi không còn bóng bạo tàn, những giòng tâm sự thật sẽ được bày tỏ. Tôi tin thế.

Hè 2011

(Tôi viết cho tôi và xin miễn không tranh luận)

(1) Trích từ mail Phạm Duy gửi Lan Chi những năm 2003-2005

(2) (3) (4) : trích từ mail  ba bạn hữu.

*** Không có anh

Hạnh Nguyên

aodaiKhông có anh gió chiều như đứng lặng
Mưa giăng đầy từng hạt nặng trên vai
Mắt mi cay nghe nổi nhớ u hoài
Như cỏ dai bên đường phai màu úa

Không có anh mây hồng không trôi nữa
Bầu trời trong đã vần vũ mây sầu
Rồi kéo về đổ xuống lệ mưa ngâu
Như khóc chuyện tình sâu nàng Chức Nữ

Không có anh lạnh từ đâu chiếm ngự
Và đông về tuyết phủ mãnh hồn đơn
Không có anh , khi em dỗi em hờn
Ai vuốt tóc , ôm choàng vai âu yếm

HanhNguyen

Thơ THỦY ĐIỀN

 THỦY ĐIỀN

00ao dai trang

SÀI GÒN ” HÒN NGỌC VIỄN ĐÔNG “

Có ai yêu Việt Nam
Bằng chính người con Việt
Có ai xa quê hương
Mà lòng không luyến tiếc
Có ai rời quê nhà
Mà chẳng chút nhớ nhung
Chỉ có gió, mây, sóng, bão bập bùng
Dân tộc khác giòng, khác màu da, ánh mắt
Còn bao nhiêu, đều là con cháu
Giống Lạc Hồng, văn hóa bốn ngàn năm
Đều biết thương, yêu nước Việt xa xăm
Nơi cắt rốn, chôn nhau một thuở
Ta cúi xuống lắng nghe đất thở
Có họ hàng, chòm xóm, sông quê
Nơi ra đi, còn chốn mà về
Ôi ! Ký ức, một trời kỷ niệm
Có ai đã lên thuyền xa bến
Quay về nhìn Hòn Ngọc Viễn Đông
Tình yêu người còn giữ trong tâm
Sài Gòn đó, một thời vang bóng……!

TA NỢ NHAU

Anh nợ em lời hứa ban đầu
Anh nợ em chiếc nhẫn đeo tay
Anh nợ em, hai chiếc áo dài
Nụ hôn thắm trong ngày lễ cưới
Em nợ anh một lần sau cuối
Đi theo chồng chẳng nói một câu
Em nợ anh lời nói ngọt ngào
Ta sẽ mãi muôn đời muôn kiếp
Ta nợ nhau trong vòng oan nghiệt
Để một đời lại phải thương đau
Trả nợ nhau xin hẹn kiếp sau
Là huề hết. Đúng không em hỡi ?

 CHIỀU VỀ

 Chiều về, con nước dâng lên
Những bông hoa tím bồng bềnh theo sau
Hoàng hôn ngả bóng chân cầu
Con thuyền rẽ sóng về đâu? Từng đoàn
Chiều về khói tỏa hương cơm
Ánh đèn loe loét ấm hồn tình quê
Cha ngồi se điếu thuốc rê
Mẹ ngồi bên trẻ kể về thời thơ
Ông cha cực khổ vô bờ
Đêm về, tựa gối, vội chờ ngày sang
Chợ phiên, vác cuốc lên ngàn
Kiếm từng hạt gạo, vô vàn khó khăn
Thời nay chẳng phải tảo tần
Cơm, canh no đủ, khỏi cần cày sâu.

ĐÊM TRĂNG NHỚ MẸ

Đêm về, nhìn ánh trăng treo
Là lòng nhớ mẹ, quê nghèo xa xa
Nhớ bà thức suốt đêm tà
Nắn từng viên bánh “ngọc ngà” cúng trăng
Mười lăm là đúng ngày rằm
Nồi chè trôi nước cúng dâng phật, trời
Cầu cho vận nước êm xuôi
Cầu nhà no ấm, người người hiển vinh
Xa quê, xa cách muôn nghìn
Trăng lên con mãi đứng nhìn. Rồi mơ….
Ước gì con vẫn còn thơ
Ngồi bên gối mẹ, ngóng chờ được ăn
Một viên trôi nước đậu xanh
Nước đường vàng óng… thanh thanh vị gừng.

PHÚT BAN ĐẦU

Nhớ hôm ấy, môi hồng em trao tặng
Phút ban đầu nồng thắm một nụ hôn
Em thẹn thùng, rồi ghì chặt tay ôm
Anh đỏ mặt, bàng hoàng như cơn mộng
Rồi hai đứa lặng im từng khoảng trống
Không một lời, người áp sát vào nhau
Giữa đêm sương tiếng gió thổi rì rào
Anh liên tưởng một ngày không xa lắm
Rồi yên lặng, lặng yên truyền hơi ấm
Em ngả người, anh thắt chặt vòng tay
Ngước nhìn anh em nhẹ giọng thở dài
Đừng đánh mất mối tình dầu anh nhỉ
Tối đêm ấy, ra về trong suy nghĩ
Đã yêu rồi, người ấy cũng đang yêu
Tuy cho nhau dù ít hoặc đã nhiều
Nếu mai lỡ, phút đầu luôn nhớ mãi.

TRƯỜNG TÔI ĐÓ

Trường tôi đó, nằm ven tỉnh lộ
Giữa đoạn đường Chợ Gạo – Mỹ Tho
Có bảng xanh, mấy dòng chữ trắng
Ghi tên trường Nông Nghiệp (NLS) thật to
Trường tôi đó, không to, không nhỏ
Có mảnh vườn, thửa ruộng, hồ ao
Có cây xanh, bóng mát, hàng rào
Có ba dãy, văn phòng, lớp học
Trường tôi đó, một thời ngang dọc
Những chàng trai áo sẩm, vai bùn
Những cô gái áo nâu, quần túm
Đang thực hành nông trại giữa trưa
Trường tôi đó, là nơi đất hứa
Đất và người là bạn kề vai
Những “nông gia” đất nước tương lai
Mang kiến thức dựng xây đời mới.

THỦY ĐIỀN
(CHLB Đức)

*** Tình Sầu Phượng Hồng

Thơ Khê Kinh Kha

phuongdochiều rơi trên ngọn cỏ
hồng tươi như môi em
hồng tươi như Phượng Hồng
mình anh chờ trước ngỏ

áo em trong gió lộng
cho hồn anh chơi vơi
tóc em bay giữa trời
rối cả hồn thơ tôi

trang thư viết đêm nào
ngại ngùng không dám trao
từng buổi tan trường đó
từng bước chân về theo

tháng ngày con nước lũ
quê hương cơn sóng gào
đời chia trăm lối rẽ
lối nào mình có nhau ?

tôi làm người phiêu lãng
phương trời xa qúa xa
ngôi trường xưa bỏ lại
bỏ cả trời đón đưa
bỏ cả Phượng Hồng đỏ
Phượng Hồng của tim tôi …

hai mươi năm gió thoảng
áo sờn vai nắng mưa
tình em còn xao động
chút hương tình xa xưa

đường xưa chân bước ngại
chiều nắng nhạt vàng phai
cỏ cây buồn hiu hắt
chim trời chao cánh bay

hai mươi năm trờ lại
tình xưa vẫn mộng nhiều
áo em ngày xưa ấy
về đâu hỡi em yêu ?

sân trường xưa ghé lại
người thầy xưa đã gìa
nhìn nhau mà ái ngại
lệ buồn ôi xót xa

rưng rưng thầy kể lại
quê hương từ dạo ấy
xóm làng rách tả tơi
đàn chim non tan rã
từng người ra đi mãi
kẻ chết trong trại xa
“ăn năn” và “cải tạo”
người về thân tàn tạ
đời đo bằng ngô khoai
tình đo bằng bát gạo

một mùa mưa nước lũ
đêm, Phượng Hồng đặt nôm
Nưóc cao và giận dữ
cuồn trôi cả Phượng Hồng

xác trôi đền cuối làng
mẹ gìa ôm xác con
đem chôn sau vườn vắng
cạnh cây bưởi xanh non

hai mươi năm trở lại
tình em thoảng hương xưa
mái tóc dài trong gió
giờ như áng mây xa

hai mươi năm trở lại
nén nhang buồn hắt hiu
bên mộ em lệ ướt
lần đọc thư tình xưa

những trang thư úa vàng
giờ thấm thêm lệ anh
cho tình thêm mặn đắng
cho lòng thêm xác xơ
em ơi tình vẫn sóng
trong ngưỡng hồn đã khô
em ơi đời bước vội
những bước chân hững hờ
làm sao níu kéo lại
những tháng ngày xa xưa
em ơi chờ tôi nhé
thiên thu có tôi về

gío thoảng hưong hoa bưởi
từng cánh theo gió xoay
hay em vừa bước đến
ngồi sát tựa đôi vai

em ơi ngồi cạnh tôi
ngồi cạnh Phượng Hồng ơi …
em ơi cầm tay tôi
cầm tay Phượng Hồng ơi

nắng chiều ửng đỏ Phượng Hồng
tôi đi trong gío nhớ hương bưởi nồng
từ nay trên khắp nẻo đường
có người trai Việt mang hồn non sông

khê kinh kha

*** CÁI TINH THẦN ĐẶC BIỆT CỦA TIẾNG VIỆT

  BS NGUYỄN HY VỌNG

Theo các nhà ngữ học thì tiếng Mỹ là thứ tiếng nói vay mượn rất nhiều từ ngữ của các tiếng khác trên khắp thế giới, vì vậy mà nó rất dồi dào và sống động, nó là tiếng nói số một của loài người hiện nay
    Theo tôi thì tiếng Việt cũng không thua kém chi.
Nó đang đứng thứ 12 về số đông người nói [83 triệu] và đang lan ra khắp thế giới tự do từ cái biến cố 1975.
    Nó có một nguồn gốc rất là đa dạng vì qua 2,3 ngàn năm nó đã mượn rất nhiều tiếng Tàu mà xài, rồi gần đây lại còn mượn hàng trăm tiếng một của Pháp mà nói, bây giờ đã trở thành tiếng Việt rồi, thí dụ như béret, kaki, kilo, gara, accu, v.v… Các bạn có thể kể ra vài trăm tiếng như thế
    Hiện nay tiếng Việt lại còn đang dùng rất nhiều tiếng Anh Pháp Mỹ vay mượn như computer, battery, charge, v,v,, mượn như thế sau này một thời gian sẽ Việt hoá và trở thành tiếng Việt luôn.
    Đó là một điều hay, rất hay, tiếng Việt dồi dào thêm, có thêm nhiều cách nói, nhiều ngữ vững, nhiều cách phô bày tư tưởng.
    Nhưng ta nên để ý rằng dù có nói bao nhiêu thứ tiếng khác nhau đi nữa, ta cũng chỉ có một thứ chữ abc hiện nay để viết, ta không còn viết chữ Nôm nữa, ta không còn viết chữ Tàu nữa, ta không còn biết chữ khoa đẩu là chữ gì nữa, và sẽ không bao giờ.
    Như trong câu nói sau đây : cho xe vô gara, rồi check giùm cái bình điện, nếu hết charge  thì câu điện giùm, vô nhà coi công to [compteur] tháng này tiền nước bao nhiêu.  Có đến 6 ngôn ngữ khác nhau của cả thế giới trong câu nói ngắn đó mà ta không ngờ ! [Việt, Tàu, Pháp, Anh, Mỹ]
Một chuyện lạ hơn nữa là, cách đây mấy ngàn năm, ngoài tiếng Tàu ra, ông bà ta còn dùng và xài không biết bao nhiêu là tiếng nước ngoài ở Đông nam Á châu mà ta cứ tưởng đâu là tiếng Việt của ta, không ngờ đó là tiếng nói của biết bao ngôn ngữ láng giềng, mà lại không phải là tiếng Tàu.
Thí dụ ta nói tha thiết thiết tha đó là tiếng Thái
                    vắng vẻ, đó cũng là tiếng Thái luôn
                    đủng đỉnh, vâng, cũng là tiếng Thái !
                    vơ vẩn vẩn vơ, đó là tiếng Lào đó bạn oi
                    chân tay, chân mây. nó là tiếng Khmer đó
                    một ngày, một hai ba bốn năm, đó cũng là tiếng Miên luôn !
Cụ Nguyễn gia Thiều cách đây gần 200 năm đã viết :
                   “Trẻ tạo hoá đành hanh quá ngán”
                    [đành hanh là tiếng gốc Chàm đó bạn ơi, có nghĩa là ganh ghét, ganh tị]
Cụ Nguyễn Trãi cách đây gần 600 năm nói:
                    Tuy rằng bốn bể cũng anh tam,
                    [Đó là tiếng Mã lai hiện nay đó bạn ơi, có nghia là thằng em trai]
Hay là : Hai chữ công danh tiếng vả vê 
Đó là tiếng Lào xưa đó, vả vê có nghĩa là trống vắng, mà bây giờ người Việt không còn ai nói nữa
Người Việt  nói cái  dùi cui hay đùi cui thì 250 triệu người Indonesia và Malay cũng nói là đulkul  … y hệt!
Hai tiếng Nôm na mà ai cũng cho là Nôm là Nam , vậy thì  na là gì ? mọi người đều lờ đi !
Thật ra, Nôm và na  đều có nghĩa gốc là xưa, cũ, lâu đời…đã có từ lâu.
[Các tiếng Lào Thái Khmer đều có ghi hai tiếng “nôm na” và đều giải thích như vậy]
Tiếng Nôm là tiếng nói xưa của người nước ta, đã nói như vậy từ lâu, truớc khi ông bà ta gặp người Tàu.
Còn nhiều nữa, rất nhiều nữa, cả thảy 27 ngàn 400 tiếng Việt như vậy, ta đã cùng nói cùng xài chung, dùng chung, của không biết bao nhiêu là ngôn ngữ anh em chung quanh ta, đến nỗi là không có một tiếng Việt nào mà lại không có chung đồng nguyên [gốc gác] với một vài ngôn ngữ khácở miền Đông nam Á này
Các tiếng nói Đông nam Á [Khmer, Lào, Thái, Chàm, Malay, Indonesia, Nùng, Hmong Bahnar, Rhade, v.v.. bao bọc tiếng Việt trong một vòng dây thân ái của tình anh emngôn ngữ chung giòng chung họ hàng mà chúng ta không ngờ đến đó thôi.
Nhưng tiếng Việt có một điểm rất lạ, dễ thì dễ mà khó cũng thật là khó, vì  ta tưởng là ta viết đuợc tiếng Việt là ta hiểu được tiếng Việt ,
Thật ra ta không hiểu tiếng mẹ đẻ của chúng ta nó ra làm sao cả :
– ta nói đau đớn  mà ta không hiểu đớn là gì, [đớn là tiếng Mon có nghia là đau cái đau của lòng mình]
– ta nói rộn rịp mà không hiểu rịp là gì,  [rịp là bận việc], gốc tiếng Lào Thái đó bạn ơi
– ta nói săn sóc , chăm sóc mà ta chẳng hiểu săn là gì mà sóc là gì. Săn là  theo dõi, sóc là  sức khoẻ # health [gốc Sanskrit / Pali đó]
Có cả thảy chừng 10 ngàn tiếng Việt gốc gác như thế !
Thành thử dù cho ta có biết viết chữ Nôm, hay chữ Tàu đi nữa, ta vẫn không thể nào bíết ý nghĩa của mỗi từ ngữ trong tiếng Việt của ta đâu!
Biết thêm vài ba ngàn  tiếng Pháp, tiếng Anh, chữ Tàu chữ Nôm thì cũng tốt thôi, ta sẽ trở thành một thứ học giả “bất đắc dĩ”, nhưng đừng tưởng rằng như vậy là đã hiểu thông suốt tiếng Việt.
Cái này đòi hỏi phải có một trình độ và khả năng hiểu biết ý nghĩa nguồn gốc của mỗi chữ mỗi âm, mỗi từ trong tiếng Việt  mà con số lên đến gần 10 ngàn tiếng đơn như vậy.
 Chỉ có một cách qua được cái khó khăn vuợt bực đó.
Đó là phải có một bộ từ điển nguồn gốc tiếng Việt, tham khảo khắp cả 58 thứ tiếng lớn nhỏ ở  nam Á châu, từ tiếng Thái Lào, Khmer, Miến, Malay, Indonesia cho đến những tiếng nói thiểu số với vài ba trăm ngàn người, tiếng Muờng, tiếng Nùng, tiếng Hmong, tiếng Chàm …Chúng nó đều có đóng góp âm thanh, giọng nói và ý nghĩa gốc gác,  hay làm nguồn cội ban đầu cho mọi từ, mọi ngữ trong tiếng  Việt.
Và đó là bộ Từ điển nguồn gốc tiếng Việt, sắp xuất bản mà chúng tôi xin phổ biến  truớc một ít từ ngữ nguồn gốc Việt để các bạn và quý vị xem cho vui.
              
BS Nguyễn Hy Vọng

*** Chiều Kiên Giang

Nhật Quang

bien sang som

 

Biển chiều nay chập chùng muôn sóng gọi
Thổi qua hồn nghe thoảng tựa chiêm bao…
Hương quê mẹ ngạt ngào trong hơi thở
Bóng hoàng hôn níu giọt nắng lao xao

Chiều Kiên Giang, người quên hay còn nhớ?
Chuỗi tháng ngày ôm kỷ niệm…vời xa
Vẫn ấp ủ…trong trái tim một thuở
Dẫu trăm năm đời chưa dễ nhạt nhòa

Chiều Kiên Giang, lụa là khoe sắc phố
Dáng liễu mềm ngà ngọc nét kiêu sa
Ta mê đắm vấp làn mi khao khát
Đóa xuân thì, ôm vóc lụa thướt tha

Biển chiều nay, bâng khuâng màu nắng nhạt
Bờ cát dài trải mộng ước yêu thương
Làn gió khẽ mơn man vạt tóc rối
Môi hôn nồng chạm nhẹ chút vấn vương

Đêm Kiên Giang, sương rơi bờ vai lạnh
Câu hẹn thề lưu luyến nửa mùa trăng
Đêm chia xa, chuyến xe đời hiu quạnh
Nơi góc trời, vương ánh mắt buồn trông.

Nhật Quang
(Sài Gòn)

*** Cò bay 13.000 km mỗi năm về thăm bạn đời

                           

Câu chuyện tình cảm động của đôi cò Klepetan và Malena tiếp tục làm tan chảy biết bao trái tim trên khắp thế giới. Năm nay, lần thứ 16, chú cò tận tụy Klepetan lại bay hàng ngàn cây số trở về quê nhà để thăm người bạn đời thương tật không thể bay.

 

stork-couple-love-klepetan-malena-croatia
(Ảnh: Domagoj Sever)

Câu chuyện bắt đầu cách đây hơn 20 năm, khi một người đàn ông góa vợ tốt bụng Stjepan Vokic sinh sống trong một ngôi làng nhỏ ở Brodski Varoš, Croatia tìm thấy một con cò cái bị thương nặng do thợ săn săn bắt. Ông Vokic quyết định trao cho nó cuộc đời thứ hai bằng cách chăm sóc và nuôi dưỡng nó. Rồi ở trên mái nhà của người đàn ông này, tình yêu giữa Malena và Klepetan đã chớm nở.

 

Doi-co-8

Lúc đầu, có vẻ như mối quan hệ của cặp đôi này sẽ không đi đến đâu bởi lẽ Malena không thể di cư cùng ‘nửa kia’ của mình vào cuối mùa hè. Tuy nhiên, tình yêu của chúng vẫn tồn tại. Mỗi năm, Klepeton rời Malena để di cư đến Nam Phi, ‘ủy thác’ việc chăm sóc bạn đời của mình cho ông Vokic, và bay trở về tổ ấm với ‘tình yêu’ của mình mỗi độ tháng Ba về.
Trong suốt 16 năm qua, mỗi năm một lần khi Xuân về, chú cò Klepetan tận tụy bay hàng ngàn cây số từ Nam Phi về tổ của mình ở Croatia để thăm Malena – nửa kia của nó

 

Doi-co-5

Hơn 23 năm trước, ông Stjepan Vokic đã chăm sóc và nuôi Malena sau khi cánh của nó bị thợ săn làm tổn thương

 

%C3%94ng-Ko-vic-v%C3%A0-c%C3%B2-Malena
(Ảnh: Jana Water)

Ông Stjepan đã mang đến cho cò Malena không chỉ một cuộc đời thứ hai, mà còn giúp nó có cơ hội gặp được bạn đời của mình. Trên mái nhà của ông, tình yêu giữa Malena và Klepetan đã đơm hoa kết trái

Doi-co-7

Doi-co
(Ảnh: Ivo Biocina)
Vì Malena không thể bay được, nên khả năng duy trì bền lâu mối quan hệ này rất mỏng manh

Tuy nhiên, tình yêu của cặp vợ chồng cò này vẫn tồn tại suốt 16 năm qua

 

Doi-co-3

(Ảnh: Alan Stankovic)

Cuối mỗi mùa hè, Klepetan để Malena lại ‘nhờ’ ông Stjepan chăm sóc để di cư đến Nam Phi xa xôi

 

Bay-co

(Ảnh: Alan Stankovic)

Nhưng suốt 16 năm qua, không năm nào Klepetan không trở về thăm bạn đời của mình mỗi độ xuân

 

*** Một Đời Me Ru Con

Ca Khúc
MỘT ĐỜI ME RU CON
Nhạc & Lời Khê Kinh Kha
Ca sĩ Quỳnh Lan Trình Bày
Video Bởi Bình Yên

http://www.youtube.com/watch?v=Vfk3ffMhjo4

mẹ ngồi ru trong đêm

mưa hắt hiu qua lỏng
lời mẹ ru bên song
ru con vừ khôn lớn
một đời me ru con
ru bao nhiêu nỗi niềm…

ru qua giòng nước cuốn

tiềng hát rơi ngoài hiên …

Roses for Mom

Joe Hùng Nguyễn

HOA HONG 1MINH

John stopped by the flower shop to place an order for some roses for his mom who lives about 400 miles from him. As he stepped out of his car, he saw a little girl crying in front of the shop. He came over and asked her why she was crying.

– I want to buy a rose to give to my mother – she sobs – but I only have 75 cents, a rose costs 2 dollars.

He smiled and said to her:

– Come into the shop and I will buy you some.

John told her to pick out some roses that she likes, he paid for her

and then placed an order of dozen roses to send to his mother. He felt happy that he found some beautiful roses he knows his mom would love. He pictures her smiling when she receives them

As they walked out the flower shop, John asked her if she needs a drive home.

She smiles happily and said:

– Yes, please drive me my mom’s house, I will give her these beautiful rioses.

She showed John the way and to his surprise they ended up in a cemetery, where there was a newly buried grave.

She said:

– This is my mom’s house.

She gently placed the roses on the grave and murmured: :

– Mom, I love you and I miss you a lot.

Then she hugged and kissed the grave stone. ——-.

=====
John hurried back to the flower shop, cancelled the delivery. He took the dozen roses with him and decided that he will surprise his mom.

That afternoon he drove all the way to deliver her his love. He would hug her, kiss her and tell her that he loves and misses her a lot, just like that little girl said to her mom’s grave.

“Whoever believes in me, will do the works that I do.” (John 14:12)

Love is not only what one says, nor cites, nor recites,
But also what one’s done that shows: I truly love you.

Have you hug and kiss your Mom today?
 

Happy Mother’s Day to all the Wonderful Mothers.

 

*** Thuở Mẹ Ru -LIVE – Ca Sĩ Ánh Tuyết

Thuở Mẹ Ru
Sáng Tác: Khê Kinh Kha
Trình Bày Ca Sĩ Ánh Tuyết

thuở mẹ ru

1)
mẹ ngồi ru con đêm khuya mưa tới
mẹ ngồi ru con ru tình sông núi
mẹ ngồi ru con đong đưa năm tháng
vào nôi

mẹ ngồi ru con âm vang tiếng hát
mẹ ngồi ru con ru lòng sỏi đất
mẹ ngồi ru con ru thêm mái tóc
bạc phơ

thuở mẹ ru
ru gió qua sông
ru mưa về nguồn
ru mây qua rừng
ru trăng âm thầm
ru con nghiêng nằm
ru mãi nghìn năm
ru mãi nghìn năm

 

lời mẹ ru con lênh đênh trong gío
lời mẹ ru con chan hòa nước mắt
lời mẹ ru con câu thơ ngây ngất
hồn con

lời mẹ ru con bên hiên trăng xuống
lời me ru con qua đời mưa nắng
lời me ru con êm như tiếng suối
đầu non

2)
mẹ dạy cho con đôi chân con đứng
mẹ dạy cho con đôi bàn tay nắm
mẹ dạy cho con non sông hơn bốn
ngàn năm

mẹ dạy cho con con tim son sắt
mẹ dạy cho con tấm lòng yêu mến
mẹ dạy cho con trên môi tiếng nói
Rồng Tiên

một ngày con đi mang thân phiêu lãng
mẹ ngồi bâng khuâng ru ngày hoang vắng
một lòng thương con bao la như cả
vầng trăng

giờ mẹ thâu đêm rưng rưng thương nhớ
giờ mẹ âm u như ngọn nến úa
một đời mênh mông trăm năm thân xác
là bao

Khê Kinh Kha

*** Hoa hồng tặng Mẹ / Con Để Dành Phòng Khi Đau Ốm

hoa_hong_cau_vong_5_ejccHoa hồng tặng Mẹ

Anh dừng lại tiệm bán hoa để gửi hoa tặng mẹ qua đường bưu điện. Mẹ anh sống cách chỗ anh khoảng 300km. Khi bước ra khỏi xe, anh thấy một bé gái đang đứng khóc bên vỉa hè. Anh đến và hỏi nó sao lại khóc.

– Cháu muốn mua một hoa hồng để tặng mẹ cháu – nó nức nở – nhưng cháu chỉ có 75 xu trong khi giá một hoa hồng đến 2 đôla.

Anh mỉm cười và nói với nó:

– Đến đây, chú sẽ mua cho cháu.

Anh liền mua hoa cho cô bé và đặt một bó hồng để gửi cho mẹ anh. Xong xuôi, anh hỏi cô bé có cần đi nhờ xe về nhà không. Nó vui mừng nhìn anh và trả lời:

– Dạ, chú cho cháu đi nhờ đến nhà mẹ cháu.

Rồi nó chỉ đường cho anh đến một nghĩa trang, nơi có một phần mộ vừa mới đắp. Nó chỉ ngôi mộ và nói:

– Đây là nhà của mẹ cháu.

Nói xong, nó ân cần đặt nhánh hoa hồng lên mộ.

Tức thì, anh quay lại tiệm bán hoa, hủy bỏ dịch vụ gửi hoa vừa rồi và mua một bó hồng thật đẹp. Suốt đêm đó, anh đã lái một mạch 300km về nhà mẹ anh để trao tận tay bà bó hoa.

Con Để Dành Phòng Khi Đau Ốm

Câu chuyện về một bà mẹ già ở Miền Tây, vùng đồng bằng Sông Cửu Long. Chồng mất sớm, bà ở vậy nuôi con được 25 năm. Lúc đứa con gái lớn khôn thành danh ở Mỹ, tháng nào cũng gửi về cho bà một lá thư và 200$ tiêu xài.

Hết xuân này đến xuân kia, cô con gái luôn viện cớ này cớ nọ, không chịu về thăm người mẹ thương yêu. Khi người mẹ mất, cô về làm đáng tang rất to nhưng tuyệt nhiên cô không rơi một giọt nước mắt.

Đến khi mở chiếc rương mà bà cụ luôn để ở đầu giường, bỗng cô òa lên khóc nức nở, ôm lấy quan tài mẹ mình hét lên như điên dại: “Mẹ…Mẹ ơi…”

Mọi người vây nhau xem trong chiếc rương có gì. À, thì ra là những tờ đô-la mới toanh còn buộc dây. Và còn một mảnh giấy đã úa vàng, viết nguệch ngoạc được dán dính lại với tấm hình cô con gái lúc mới lọt lòng:

“Tiền nhiều quá, mẹ xài không hết con à. Mẹ nhớ con lắm, mỗi khi nghe tiếng xe ông-đa (honda) là mẹ chạy ra. Lần nào cũng không phải là con hết. Số tiền này mẹ để lại cho con, CON ĐỂ DÀNH PHÒNG KHI ĐAU ỐM nghe con.”

Cô con gái đã có tất cả những gì một người phụ nữ có thể có: tiền, danh vọng, địa vị, chồng thành đạt, con ngoan. Nhưng cô đã mất một điều vô cùng thiêng liêng: MẸ!

Sưu tầm

NI SƯ ĐẠI ÁI ĐẠO NHẬP NIẾT BÀN

HOA SEN dtmToàn Không

     Ni sư Đại Ái Đạo là người nuôi dưỡng Phật từ lúc mới sinh ra sau khi Phật Mẫu qua đời, sau này bà được Tôn giả A Nan xin Phật cho phép bà được thành lập Ni đoàn với điều kiện phải tuân thủ những điều lệ do Phật đưa ra; từ đó, bà điều hành Ni đoàn tu hành một cách tinh tấn nghiêm trang, và đã có tới 500 vị Ni là bậc A La Hán (bậc Thánh).

      Khi Bà và Ni đoàn đang ở chùa Cao Đài trong thành Tỳ Xá Ly, bà nghe một vị Tỳ kheo (Tăng) nói: “Không đầy 3 tháng nữa, đức Thế Tôn sẽ Niết Bàn tại rừng Sa La nước Câu Thi Na Kiệt”. Bà liền nghĩ: “Ta không kham nhìn thấy Như Lai diệt độ, nay ta nên diệt độ trước”. Bà liền đi đến chỗ Phật tại giảng đường Phổ Hội xứ Tỳ Xá Ly, cúi lạy rồi nói:

– Con nghe Thế Tôn (Phật) sẽ diệt độ tại rừng Sa La xứ Câu Thi Na Kiệt. Nay con không kham thấy Thế Tôn diệt độ. Cúi xin Thế Tôn cho con diệt độ trước.

      Khi ấy Đức Phật im lặng chấp thuận, bà Đại Ái Đạo nói:

– Từ nay, con không còn thấy tôn nhan Thế Tôn, cũng không còn thấy chư Phật tương lai nữa. Con không còn tái sinh, vĩnh viễn ở chỗ an vui..

      Bà Đại Ái Đạo làm lễ dưới chân Phật xong đi quanh Phật bảy vòng, đi quanh đại chúng Tỳ kheo ba vòng rồi lui; bà trở về bảo các Tỳ kheo Ni:

– Ta muốn vào Niết Bàn vô vi, vì Thế Tôn chẳng bao lâu sẽ diệt độ, các vị nên tùy nghi.

      Khi đó Tỳ kheo Ni Sai Ma hướng dẫn 500 Tỳ kheo Ni đến chỗ Phật, tất cả làm lễ Phật, rồi Ni sư Sai Ma thưa:

– Chúng con nghe nói Thế Tôn không bao lâu nữa sẽ diệt độ, chúng con không kham nhẫn thấy Thế Tôn diệt độ. Cúi xin Thế Tôn cho phép chúng con diệt độ trước. Nay chúng con vào Niết Bàn chính là phải lúc. 

      Đức Phật im lặng chấp thuận, các Tỳ kheo Ni thấy Phật hứa khả, liền làm lễ Phật, đi nhiễu quanh ba vòng rồi trở về. Trong khi ấy, Ni sư Đại Ái Đạo trải tọa cụ tại nơi đất trống, bay lên hư không; ở trong hư không, bà ngồi, nằm, đi, đứng, nửa thân dưới phát ra khói, nửa thân trên phát ra lửa, hoặc nửa thân dưới phát ra lửa, nửa thân trên phát ra khói, hoặc nửa thân dưới phát ra khói, nửa thân trên phát ra nước. Hoặc hông bên phải tuôn ra lửa, hông bên trái tuôn ra khói, hoặc hông bên phải tuôn ra nước, hông bên trái tuôn ra lửa, hoặc hông bên phải tuôn ra khói, hông bên trái tuôn ra nước; hoặc phiá trước phun khói, phiá sau phun nước, hoặc phiá trước phun lửa, phiá sau phun khói, hoặc phiá trước phun nước, phiá sau phun lửa; hoặc toàn thân phóng lửa, hoặc toàn thân phóng khói, hoặc toàn thân phóng nước.

      Sau khi làm đủ thứ biến hóa, bà Đại Ái Đạo trở xuống tòa ngồi kiết già, vào chính định nhập từ Sơ thiền cho tới Tưởng tri diệt (10 bậc thiền). Lại từ Tưởng tri diệt trở lại tới Sơ thiền. Rồi lại từ Sơ thiền lên tới Tứ thiền, liền diệt độ; khi ấy trời đất chấn động, nhạc trời nổi lên, muôn hoa trời rải xuống chỗ đạo tràng, bấy giờ Ni sư Đại Ái Đạo đã 100 tuổi thọ.

      Tỳ kheo Ni sư Sai Ma và 500 Ni, đều là bậc thượng thủ về đến nơi thì Ni sư Đại Ái Đạo đã diệt độ xong. Mỗi vị đều trải tọa cụ nơi đất trống theo thứ lớp, rồi cùng bay lên hư không, trên hư không ngồi, nằm, đứng, đi, làm 18 phép thần biến (như trên đã diễn tả). Rồi tất cả đều trở về tòa ngồi kiết già nhập Sơ thiền cho tới Tưởng tri diệt, và cho tới diệt độ; lúc ấy, trời đất chấn động, nhạc Trời nổi lên, muôn hoa Trời rải xuống chỗ đạo tràng. 

      Trong khi ấy trong thành Tỳ Xá Ly có Đại tướng Du Da Đề và năm trăm thanh niên (quân nhân) đang tụ họp. Từ xa, họ trông thấy cảnh Tỳ kheo Ni làm 18 phép thần biến trên không trung như thế, thì họ ngạc nhiên, vui mừng, chắp tay vái về phiá ấy.

      Lúc ấy Thế Tôn bảo Tôn giả A Nan:

– Thầy đến chỗ Đại tướng Da Du Đề bảo hoan hỷ sắm cho: “Giường nằm, bình tô lạc, bình dầu, xe hoa, xe hương, xe gỗ củi cho đủ để thiêu 500 người, vì bà Đại Ái Đạo và 500 Tỳ kheo Ni đã diệt độ”.

     Tôn giả A Nan nghe thì buồn khóc than “Bà Đại Ái Đạo và chúng Tỳ kheo Ni sao diệt độ nhanh chóng thế!”, Tôn giả liền đến chỗ Đại tướng, Đại tướng thấy Tôn giả đến, liền chào hỏi:

– Chào Tôn giả A Nan, Tôn giả đến đây thật rất qúy, Tôn giả muốn dạy điều gì mà đến bất ngờ thế này?

      Tôn giả A Nan nói:

– Chào Đại tướng, tôi do Phật sai đến.

      Rồi Tôn giả nói cho Đại tướng nghe tất cả những điều Phật đã bảo, Đại tướng nghe nói xong thì buồn khóc mà nói:

“Ni sư Đại Ái Đạo, Ni sư Sai Ma, và năm trăm Tỳ kheo Ni diệt độ nhanh chóng qúa, từ nay ai sẽ giáo hóa và chỉ dạy chúng tôi bố thí?”

      Sau khi Tôn giả A Nan ra về, Đại tướng cho sắm sửa chuẩn bị đầy đủ các thứ cần thiết xong đi đến chỗ Phật, cúi lạy rồi thưa:

– Thế Tôn chỉ dạy con chuẩn bị các thứ, nay đã xong.

      Phật bảo:

– Ông hãy đến chùa Cao Đài để đưa thân bà Đại Ái Đạo và năm trăm Tỳ kheo Ni ra khỏi thành đến chỗ đất trống, Ta muốn cúng dường Xá Lợi ở đó.

      Đại tướng Da Du Đề đáp:

– Xin vâng, thưa Thế Tôn.

      Đại tướng liền đến chỗ đạo tràng của bà Đại Ái Đạo, thấy các vị Tỳ kheo Ni vẫn ngồi kiết già mà tịch, Đại tướng bảo năm trăm thanh niên cùng nhau đưa các vị lên giường.

      Cùng lúc ấy Phật dẫn chúng Tỳ kheo đến, Thế Tôn bảo Tôn giả A Nan và La Vân:

– Các thầy khiêng thân của bà Đại Ái Đạo lên giường, ta sẽ đích thân cúng dường.

      Khi ấy Phạm Thiên Vương, Đế Thích, biết ý Thế Tôn, liền đem theo Thiên chúng đến cúi lạy rồi mỗi vị đứng một bên Phật. Tỳ sa Môn Thiên vương đem theo Qủy Thần Dạ Xoa. Đề địa lại Tra Thiên vương đem theo Càn thát Bà. Tỳ lâu Lặc Thiên Vương đem theo Cưu bàn Trà. Tỳ lâu ba Xoa Thiên vương đem theo Long Thần. Và các chư Thiên các tầng Trời đều đến chỗ Thế Tôn cúi lạy (Chỉ có người nào đã đắc lậu tận mới nhìn thấy các thành phần vừa nêu ra).

      Thích đề hoàn Nhân và Tỳ Sa Môn Thiên vương trước Phật vái rồi nói:

– Cúi xin Thế Tôn, chớ nhọc thân, chúng con sẽ cúng dường Xá Lợi.

      Phật bảo:

– Thôi, thôi, Thiên vương, Như Lai tự biết; đây là việc Ta phải làm, chẳng phải hàng Trời, Qủy Thần, Rồng mà làm được, vì sao? Cha mẹ sinh con nhiều lợi ích cho con, ân trọng dưỡng nuôi, bú mớm ẵm bồng, cần phải báo ân; như thế, Như Lai nên tự cúng dường, chẳng ai làm thay được.

      Tỳ Sa Môn Thiên vương bảo năm trăm Qủy đi lấy củi thơm chiên đàn, các Qủy liền mau chóng đi lấy mang tới chỗ hỏa thiêu.

      Khi ấy, Thế Tôn khiêng một chân giường, Nan Đà, A Nan, La Vân mỗi người một chân, bay lên hư không đến chỗ hỏa thiêu (Đây là do thần lực của Phật, vì Tôn giả A Nan chưa có thần thông). Bốn chúng có Chư Thiên Thần hỗ trợ khiêng 500 Thánh Ni đến chỗ hỏa thiêu; tất cả Trời người, Thần, Qủy, Long và nhân dân đến chỗ trà tỳ có vô số kể, không thể tính hết được.

      Khi tới nơi Qủy đã mang một số củi chiên đàn tới trước rồi, Thế Tôn lấy củi chiên đàn chất trên thân bà Đại Ái Đạo và mọi người cũng làm cũng lấy gỗ củi chất lên thân năm trăm Tỳ kheo Ni. Sau khi hết thảy năm trăm thân Xá Lợi Thánh Ni hỏa thiêu xong, Thế Tôn nói kệ: 

Tất cả hành vô thường,

Có sinh ắt có diệt,

Không sinh thời không diệt,

Diệt này là vui tột.

     Đức Phật bảo Đại tướng:

– Nay ông đem Xá Lợi của năm trăm Tỳ kheo Ni xây tháp để mọi người tưởng nhớ, sẽ được phúc vô lượng.

      Rồi Thế Tôn nói pháp vi diệu, khuyến khích cho chư Thiên và nhân dân được hoan hỷ; có vô số Trời, Người được dứt trần cấu, đắc pháp nhãn thanh tịnh, tất cả đều vui vẻ cúi lạy Phật rồi ra về; Đại tướng Da Du Đề sau đó cho nhặt Xá Lợi đem về xây tháp để mọi người tưởng nhớ.

 

Ghi chú: Trước đó, hai Tôn giả Thượng thủ của Phật là Đại Trí Xá Lợi Phất và Đại Mục Kiên Liên cũng đã nhập diệt không lâu.,.

*** ĐỨA CON LAI….HẢI TẶC

Nguyễn Cát Thịnh

30-4tobucket.jpg

Xong tú tài, tôi vào Saigon cư ngụ trong đại học xá Minh Mạng Chợ Lớn để tiếp tục việc học. Sau này có một anh sinh viên dự bị y khoa được xếp chung phòng.
Khi ra trường phải động viên vào quân đội, tôi nhường anh chân gia sư dạy kèm 2 học sinh trung học, một trai một gái. Họ là con của một ông Trung Tá bộ tổng tham mưu và bà chủ một công ty nhập cảng vải lụa.

Cuộc biển dâu xảy ra. Tôi và ông Tr/T đều bị nhập trại “tập trung học tập cải tạo”. Tôi “học tập” một thời gian không dài lắm, có lẽ vì cấp bậc nhỏ ít nợ máu. Ông Tr/T bị chuyển ra trại tù miền Bắc.

Được trả tự do nhưng không việc làm, lê lết ở các quán cà phê vỉa hè, một ngày nọ tình cờ gặp lại bạn. Bấy giờ anh đã là bác sĩ tại một bệnh viện thuộc quận nhất của thành phố.
Và câu chuyện bắt đầu từ đây.
Chuyện kể, khi cô học trò nhỏ không còn nhỏ nữa thì quan hệ giữa cậu cựu gia sư và tiểu thư tân sinh viên văn khoa đã bước vào giai đoạn anh anh-em em (âu cũng là điều dễ hiểu). Gia đình cả hai bên đều hoan hỉ, trông đợi ngày đại đăng khoa và tiểu đăng khoa.
Thế nhưng thời cuộc đã đảo lộn tất cả. Ông bố Trung Tá đi không biết ngày về. Bà mẹ mất cơ sở kinh doanh. Cậu con trai lớn tìm lãng quên trong những con hẻm nhầy nhụa. Tiểu thư tuy vẫn còn đậm nét tiểu thư nhưng chớm trầm cảm vì cuộc sống đã nhuộm đỏ giấc mơ hồng. Cậu bác sĩ chung tình đeo thêm gánh nặng phiền muộn.
Rồi phong trào vượt biển rầm rộ khắp nơi.
Trong lần đi thăm nuôi cuối cùng, bà Trung Tá đưa tiểu thư và cậu bác sĩ ra tận trại tù Hoàng Liên Sơn dò hỏi ý chồng. Ông Trung Tá bỗng trở nên lạc quan sau những năm tháng tuyệt vọng. Ông biết sức khỏe và bệnh trạng của ông, biết ngày tàn không còn xa. Ông không những đồng ý với vợ mà còn mong vợ phải thực hiện chuyến đi cho các con bằng mọi giá.
Bà đã được cha mẹ cậu bác sĩ thuận kết sui gia. Nhân tiện gặp ông, bà và ông tác thành luôn cho đôi trẻ. Đối với cả hai gia đình, họ đã nên duyên vợ chồng.
Ông xin các con hứa, trong bất kỳ hoàn cảnh nào, lúc vui buồn hay lúc cùng cực cũng phải gắn bó, không được chối bỏ nhau. Đôi trẻ kín đáo cúi đầu quỳ lạy thay lời thề chung thủy.
Bạn tôi cùng vợ và người anh vợ đăng ký chuyến đi bán chính thức của người Hoa. Khi ra đến bến bãi một sự việc diễn ra ngoài dự tính của nhóm tổ chức. Chỉ những người Hoa chính gốc mới được nhận. Người Hoa giả mạo bị loại ra.
Chủ tàu là một đại gia có mẹ già mang bệnh kinh niên nên cần thầy thuốc. Hắn hối lộ để xin đặc ân cho hai vợ chồng bạn tôi nhưng họ chỉ chấp nhận một người. Dùng dằng mãi, cuối cùng một mình bạn tôi lên tàu.
Chuyến hải hành tương đối êm ả đưa người chồng đến đảo Bidong Mã Lai. Người anh vợ và người vợ trở về buồn hiu hắt.
Anh may mắn được gia đình một luật sư làm việc trong chính quyền tiểu bang Michigan bảo lãnh qua Mỹ.

Sau hơn 2 năm ôn luyện bài vở, anh được nhận vào nội trú để hoàn tất bằng hành nghề.
Người vợ đi thêm 2 chuyến nữa không thành công.

Chuyến sau cùng chủ tàu gọi đi khẩn cấp. Người anh trai còn mải vui chốn giang hồ không kịp nhận tin, đành đi chuyến sau. Tôi đến chơi đúng thời điểm. Bà Tr/T cho tôi trám chỗ, đồng hành với vợ người bạn.
Đâu có ai ngờ một chuyến đi định mệnh đang chờ đợi!!!
Con tàu chạy vòng vo 2 ngày 3 đêm vẫn chưa nhìn thấy đất đảo như hoạch định. Tàu trôi, trôi như vô tận. Tài công thú nhận không có kinh nghiệm lái đường biển..
Buổi trưa, vừa nhai xong một nhúm cơm và uống một nắp nước do tàu cấp phát thì mọi người dưới hầm nghe nhiều tiếng chạy thình thịch náo động trên boong tàu. Qua kẽ hở, biết tàu đã bị hải tặc xâm chiếm không biết từ lúc nào. Họ hoàn toàn làm chủ tình hình. Trong vòng một tiếng đồng hồ không gặp kháng cự, những tên hải tặc đã đủ thì giờ lục lọi tìm kiếm vàng bạc và giở trò khả ố với những đàn bà con gái nằm la liệt trên sàn tàu mà trước đó đã được ưu tiên dời lên vì kiệt sức.
Sau khi đã chiến thắng được sự sợ hãi tột cùng ban đầu, một số thanh niên còn khỏe mạnh họp lại tính chuyện phản công. Đám hải tặc vẫn còn e dè, chặn cửa hầm chưa dám xuống.
Để chiến đấu, mỗi người tự trang bị vũ khí cho mình. Với kìm búa gậy sắt gậy gỗ, họ phá bật nắp cửa hầm, reo hò vùng lên quyết sinh tử khiến đám hải tặc rúng động. Biết không địch nổi số đông áp đảo, không đợi lệnh, các tên hải tặc chen nhau nhảy xuống biển bơi về tàu của chúng, xả máy rút lui.
Tôi cố tìm nguời vợ của bạn.

Một tên hải tặc mang vết sẹo dài trên vai trái bước ra từ phòng lái đầu hàng. Cô gái trong phòng nằm trên tấm nệm cao su vẫn còn loã thể chính là người tôi tìm.

Một tên nữa cũng chậm chân nên bị bắt giữ vì còn mải nhập thiên thai. Tên có sẹo có lẽ là đầu đảng, xá lạy xin đái công chuộc tội bằng cách hướng dẫn tài công lái đúng đường, cặp vào đảo Tarempa Nam Dương.
Ngoại trừ những người bị nhốt dưới hầm, tất cả đàn ông đều bị trói gô chân tay. Một phụ lái bị giết chết vì kháng cự. Chủ tàu bị ném xuống biển vì cố che chở cho con gái nhỏ sắp bị hãm hiếp. Hai phụ nữ hoảng hốt nhảy xuống biển tự vận để bảo toàn trinh tiết.. Mười một phụ nữ trẻ bị liên tục thay phiên hãm hiếp, riêng người vợ của bạn tôi được tên đầu đảng giành độc quyền. Một nam thanh niên trượt chân rơi xuống biển và năm thanh niên khác bị thương khi chiến đấu. Hai hải tặc bị bắt giữ nhưng trốn thoát khi tàu vừa cặp bến vào đảo Tarempa.
Chính quyền địa phương đưa tàu qua đảo Kuku tạm trú. Một tháng sau được chuyển sang đảo Galang.
Chút vốn liếng tiếng Anh sót lại từ thời trung học giúp tôi tìm được một việc làm trong văn phòng Cao Ủy Tỵ Nạn LHQ. Có cơ hội thuận tiện, tôi tường trình trung thực những gì đã xảy ra.
Tôi thuyết phục các phụ nữ bị làm nhục ra trước ủy ban điều tra quốc tế đối chứng với lời khai của tôi nhưng chỉ có người vợ của bạn và một người vợ của anh thợ máy đồng ý. Tiếng kêu tuy yếu ớt được ghi nhận.
Người vợ của bạn tôi suy sụp khủng hoảng tinh thần cực độ khi biết đã mang thai. Cô nài nỉ tôi tìm mọi cách giúp phá nếu không sẽ tự vận. Tôi thật sự khổ sở giữa nên hay không nên. Nếu nên thì cũng không biết làm sao. Phương tiện y tế hạn chế, dễ gây hậu quả xấu cho người mẹ.
Sau một đêm dài trằn trọc tôi quyết định viết một lá thư kể toàn bộ sự việc diễn tiến trên tàu, nhờ gửi khẩn cho người chồng. Năm tuần lễ sau nhận được hồi âm. Anh cho biết vị luật sư bảo lãnh anh đã tích cực vận động với các dân biểu và nghị sĩ tiểu bang cũng như liên bang lên tiếng với bộ ngoại giao Hoa Kỳ, thỉnh cầu can thiệp trực tiếp trường hợp của vợ anh để xin được đi định cư trong thời gian sớm nhất trước khi tiên liệu xấu xảy ra. Anh tha thiết xin vợ đừng phá thai, sẵn sàng nhận vai trò làm cha.
Tôi đã được phái đoàn Canada chấp nhận và thông báo ngày đi định cư nhưng phải xin đình hoãn.

Sáu tháng vận động đã có kết quả. Anh bạn tôi đi cùng với nhân viên lãnh sự quán HK tại Singapore đến Galang. Qua thủ tục đặc biệt, mang được người vợ đến Mỹ.

Đứa bé được sinh ra trên đất Mỹ với khai sinh mang họ của bạn tôi.
Trong buổi hội ngộ tiệc thôi nôi, vợ chồng anh bạn và người anh vợ cùng tôi đồng thuận tuyệt đối giữ bí mật mọi chuyện để sự phát triển tâm sinh lý của đứa trẻ không bị ảnh hưởng và sẽ lớn lên như một người Việt Nam trong một gia đình Việt tỵ nạn.
Thỉnh thoảng có dịp thăm viếng tôi tưởng như nhìn thấy hạnh phúc thật sự trong gia đình họ. Cậu bé lớn lên trong tình yêu tràn đầy của cha lẫn mẹ.
Sinh kế đã làm giảm tần xuất liên lạc giữa chúng tôi một thời gian. Mỗi năm chỉ còn nhớ đến nhau qua những tấm thiệp xuân. Cho đến một lần, thay vì nhận được thiệp thì là một lá thư dài kể lại tai nạn thảm thương cướp mất người vợ.
Thường ngày người chồng nhắc nhở vợ dùng thuốc đều đặn vì hậu chấn thương trên biển cả khiến người vợ cần được săn sóc tâm thần và tâm lý trị liệu lâu dài.  Lần đó người chồng đi dự hội thảo chuyên môn ở tiểu bang xa nhà.. Người vợ đã bỏ thuốc nhiều ngày, giữa đêm mưa gió đi lang thang ngoài bờ sông không tự kiểm soát được, ngã xuống nước trôi mất tích..
Vợ chết. Bệnh trầm cảm truyền qua anh. Mặc cảm có tội luôn luôn ám ảnh. Anh dồn hết tình thương cho đứa bé, nay đã trở thành một thiếu niên.
Đến lúc đứa con phải xa nhà vì học vấn anh không thể đương đầu với nỗi buồn gặm nhấm, trầm cảm nặng hơn.
Nhiều năm nữa trôi qua. Tin buồn khác lại đến. Bạn tôi qua đời sau một thời gian ngắn nhuốm bệnh. Anh biết bệnh mình trầm kha, nhưng buông xuôi không quan tâm chữa trị, có lẽ muốn gặp vợ để giữ trọn lời thề năm xưa. 

***

Đứa con từ chuyến vượt biển của người vợ bạn tôi  năm xưa nay đã là người lớn. Cha mẹ đều mất. Bác ruột di cư sang Úc theo vợ. Tôi trở thành người thân duy nhất để chàng thanh niên, tức đứa bé ngày xưa, xả tâm tình. Chúng tôi xem nhau như chú cháu.

Những lá thư qua lại làm tôi lây những ưu tư của một người trẻ nghĩ về thân phận mình. Sau đây là một số trích đoạn từ những lá thư của cháu từ nước Mỹ với ông chú, thư viết bằng Anh ngữ, và do tôi trích dịch:
.. . .

Chú ơi! Từ lúc bắt đầu hiểu biết cháu đã linh cảm có điều gì rất nghịch lý trong gia đình cháu. Hạnh phúc như con bướm lượn lờ trên những bông hoa mời chào, ngập ngừng muốn đậu rồi lại bay đi.

Cha cháu chiều chuộng cháu hơn những đứa trẻ cùng trang lứa. Mẹ cháu hay vuốt tóc, hôn cháu trong không gian tĩnh lặng, nói nhỏ, con của mẹ, mẹ yêu con, lặp đi lặp lại.
Nhưng cũng có đôi lúc cháu bắt gặp cặp mắt thất thần của mẹ nhìn ra cõi xa xăm.

Mẹ rất sợ sông, biển. Những kỳ đi nghỉ hè cha luôn luôn tránh vùng biển.
Cha săn sóc mẹ từ miếng ăn giấc ngủ. Mẹ biếng ăn, cha bỏ bữa. Mẹ mất ngủ, cha “hầu quạt”. Mẹ buồn, cha làm hề, dí ngón tay lên trán gọi mẹ là cô bé bướng bỉnh, mẹ mỉm cười gọi cha là cậu giáo khó tính, thế là buồn tiêu tan. Cha biết làm cho mẹ vui vẻ hoạt bát qua những viên thuốc mà cha gọi là thuốc tiên, bắt mẹ uống mỗi ngày (sau này cháu mới biết là những thuốc trị tâm thần).

Mấy đứa bạn của cháu thắc mắc tại sao cha mẹ cháu đều có nước da sáng, cao lớn, mũi thẳng mà cháu thì sậm da, người tròn thấp, cánh mũi to.
Cháu muốn quên mà không quên được cái hình hài không giống ai của cháu. Có phải cháu là con ngoại hôn của mẹ không chú? Hay cháu là con nuôi? Hay là cháu đến từ một hành tinh khác?

.. . .
– Chú không hiểu tại sao cháu lại có những suy nghĩ lẩm cẩm như thế. Chuyện giống hay không giống là quyền của… ông trời. Cố học thành tài nối nghiệp cha.
.. . .
Chú ạ. Cháu báo cho chú tin động…. ông trời. Cháu đã xin thử DNA. Ông trời đã sụp đổ trước mắt cháu! Kết quả đúng như cháu hoang mang lo sợ. Cháu không có liên quan phụ hệ với cha cháu!
.. . .
– Chú hiểu tâm trạng của cháu. Nếu chia sẻ được xin cho chú chia sẻ. Chú nhớ có đọc ở đâu đó:

Cha không được định nghĩa như người đã tạo ra đứa trẻ, mà khác hơn thế, là người dang rộng vòng tay và dành thì giờ nuôi nấng đứa trẻ bằng cả tâm trí và tình yêu. Huyết thống không luôn luôn làm nên người cha. Chữ cha phải thoát ra từ tấm lòng. Ai cũng có thể tạo ra một đứa trẻ nhưng cha đúng nghĩa nhất chính là người đã nuôi nấng đứa trẻ.
Không liên hệ máu mủ không làm cho người cha kém tình phụ tử. Xác nhận một người cha đích thực, không phải ở DNA, mà ở trong trái tim người ấy.

.. . .
Cháu cám ơn chú đã mở mắt cho cháu. Nghĩ lại, cháu không còn vướng mắc chuyện… ông trời nữa. Nhưng chú ơi! Giòng máu đang chảy trong người cháu là của ai? Cháu muốn biết và cháu biết chắc chắn chú biết.
.. . .
Lá thư của chàng trai khiến tôi phải trăn trở thao thức. Không thể chối cãi là tôi và cha mẹ cháu đã giấu diếm nguồn gốc của cháu.

Tôi sẽ tiếp tục giữ hay phá lời thề khi phải trả lời cháu?
Tôi đặt lên bàn cân, một bên là sự đòi hỏi chính đáng của cháu, một bên là lời cam kết với vợ chồng bạn. Cháu đã trưởng thành, có suy nghĩ chín chắn.. Sẽ mang tội với cháu nếu vẫn giữ điều bí mật. Vì thế tôi khấn vái vong linh hai người bạn, xin đựợc giải lời thề giúp tôi thanh thản tiết lộ sự thật, từ tình sử thơ mộng của hai người cho đến thảm kịch trong chuyến đi định mệnh.
.. . .
Cháu xin lỗi đã ngưng liên lạc với chú khá lâu. Cả năm nay cháu đi đi về về giữa Mỹ và Thái Lan.
Cháu thuê thám tử tư quyết tìm ra tên hải tặc đã mang tai họa cho gia đình cháu.
Bà ngoại cháu trước khi qua đời vẫn tin tưởng cha mẹ cháu sống hạnh phúc và rất hãnh diện về đứa cháu ngoại. Ông ngoại cháu đã chết trong trại tù không lâu sau lần thăm nuôi, chắc không yên tâm nhắm mắt.
Ông bà nội từng kỳ vọng ở đứa cháu đích tôn một ngày về vinh quy bái tổ, làm rạng danh dòng họ. Ở bên kia thế giới hai cụ có phẫn nộ vì chi nhánh con cháu chính thống đã thay máu từ đây?

Mọi người đều bị lừa dối.
Cháu có nhờ cô thông dịch viên, đang theo học khoa ngôn ngữ đại học Chulalongkorn, trợ giúp. Cô này có hoàn cảnh hơi giống cháu. Cha là hải tặc hoàn lương. Mẹ là thuyền nhân suýt bị nạn trên biển như mẹ cháu.
Nhờ thám tử và cô bạn, cháu đã tìm thấy và trực diện với người gieo giọt máu oan nghiệt cho mẹ cháu. Bây giờ ông ta đã trở thành một nhà sư, trụ trì ngôi chùa nhỏ trong một làng đánh cá.
Cháu tham khảo các luật sư của Mỹ và Thái với ý định đưa ông ra toà án để đòi lại công lý cho các nạn nhân, trong đó có mẹ cháu.

.. . . 
Chú ơi giúp cháu.
Tiến thối lưỡng nan!

Nếu bị kết án, ông sư già có thể phải vào tù, trả giá cho tội lỗi trong quá khứ. Nhưng điều đó có đổi lại bình an cho cháu không? Nên hay không nên tiến hành thủ tục pháp lý?
Cháu lâm vào tình trạng y hệt như chú khi xưa (phân vân giữa việc nên hay không nên giúp mẹ cháu phá thai).
Chú ơi, có bao giờ chú hối hận vì đã không giúp mẹ trục thai nhi cháu không? Nếu không có cháu trên đời thì sao chú nhỉ? Cha mẹ cháu sẽ sống trong thiên đàng hạnh phúc với những đứa con kết tinh từ tình yêu.

Chú có nghĩ rằng cháu đang nuôi đau khổ vì nan giải?

Chú ơi, cháu là ai?
Việt Nam hay ngoại tộc Việt Nam?

Thái Lan ư? Ô nhục!
Mỹ ư? Chỉ trên giấy tờ!

Những đứa con lai Mỹ dù có bị kỳ thị nhưng vẫn không bị khước từ giòng máu Việt. Còn cháu, cháu có đựợc cái hãnh diện giới thiệu với mọi người “tôi là người Mỹ gốc Việt”?
Cháu muốn ra biển hét thi với sóng, gào lên, hỏi ông trời! Tôi là ai? Tôi là ai? Tôi là ai?

.. . .
– Chú rất thán phục sự quyết tâm và ý chí của cháu. Có lương tâm dẫn dắt, cháu hãy đi theo, làm những gì cháu thấy nên làm. Nếu cháu muốn được tư vấn thì đừng chê quan niệm lỗi thời của chú nhé.

Thời của cha mẹ cháu cũng như chú, không thiếu những chứng tích của tội ác man rợ.  Cũng không thiếu những chứng tích đau thương bi thảm. Trong số này, có số phận của những đứa con lai hải tặc.
Người ta thường tìm cách che dấu thứ mà người ta muốn quên. Nhưng cháu, một trong những đứa con đó, đã dũng cảm nói lên tiếng nói của con người, bình đẳng như mọi người của thế gian này.
Giáo lý Phật Đà dạy ta dùng từ bi và tha thứ để đối phó với nghịch cảnh. Lòng từ bi không chấp nhận hành động sai nhưng có thể tha thứ cho người làm sai.
Chính cháu là người đau khổ nhất, không được gì, đúng không? Mong cho ông sư hải tặc rục xương trong tù? Tất cả chỉ làm tinh thần cháu kiệt quệ.
Cháu ạ, Kinh Pháp Cú 5 có câu:
Hận thù diệt hận thù,

Đời này không có được,
Từ bi diệt hận thù
Là định luật ngàn thu.

Có phải cháu muốn tìm sự bình an? Nếu cháu chưa sẵn sàng mở lòng bao dung thì cũng đừng để tâm bị xáo trộn. Tâm là cốt lõi của cuộc sống. Với tâm thanh tịnh thì hạnh phúc sẽ tìm đến. Với tâm bất ổn thì đau khổ sẽ bám không rời.

Vị sư già cũng đi tìm bình an như cháu. Câu kinh tiếng kệ là những tiếng than khóc tạo thành một vòng kín vô hình nhốt ông. Ông ta đang thi hành hình phạt nặng nề nhất của lương tâm. Cứ để ông ta thụ án. Cháu đâu cần phải cố sức bắt tội nguời có tội. Vào tù hay thoát khỏi tù là quyền của…ông trời!
.. . .
Thưa chú,
Chú đã giải tỏa đám mây u ám vần vũ trên đầu cháu. Cho cháu thấy ở phía trước một con đường sáng sủa hơn. Hành trang đeo trên vai cũng nhẹ hơn.
Cháu hối tiếc những ngày còn cha mẹ, cháu đã không mang đến cho các người tiếng cười hạnh phúc. Không có dịp thầm thì bên tai các người, cha mẹ ơi con yêu cha mẹ.
.. . .
Cha cháu đã đón nhận cháu như một quà tặng quí giá của tạo hoá. Mẹ cháu cũng mang nặng đẻ đau như các bà mẹ khác. Chú tin rằng ơn này còn nặng hơn ơn nghĩa sinh thành.

Phải vinh danh những người cha vĩ đại có trái tim thánh. Phải cúi đầu ngưỡng mộ và cảm thông cho những người mẹ bất hạnh. Người mẹ can đảm, mạnh mẽ đứng dậy sau khi bị vùi dập, cùng với người cha cưu mang, nuôi nấng sinh linh “lạ”, thay giòng máu ô nhiễm trong hài nhi bằng giòng máu vô nhiễm của tâm hồn.

.. . .
Chú đọc cho cháu thống kê của LHQ, tìm thấy trong thư viện, để cháu có cái nhìn tổng thể.

Khoảng 839,000 người Việt Nam đã vượt biển trên những chiếc thuyền mong manh từ 1975 đến 1997. 
Phỏng chừng 300,000 đến 400,000 người không đến được bến bờ tự do.
Chỉ riêng năm 1981 Cao Ủy Tỵ Nạn LHQ báo cáo: 15,479 thuyền nhân đến Thái Lan đi trên 452 con tàu. 
Trong đó 349 tàu đã bị hải tặc tấn công, trung bình mỗi tàu 3 lần. 578 phụ nữ bị hãm hiếp. 228 phụ nữ bị bắt cóc. 881 chết hoặc biệt tích.
Con số thai nhi do hải tặc không được báo cáo chính xác vì bản chất phụ nữ Việt hiền lành, chịu đựng. Đa phần do xấu hổ nhục nhã nên không khai báo.

.. . .
Cháu đoán, những bào thai ấy nếu sống sót bây giờ đã trở thành những thanh niên, trung niên bằng hoặc hơn tuổi cháu. Họ có thể đã lập gia đình và có con cái.

Chú ơi, có ai mang cùng tâm trạng như cháu? Hỏi mãi một câu hỏi “Tôi là ai”?

.. . .
Thảm trạng lịch sử đã sang trang chưa? Có nên hâm lại chuyện cũ không? Chú không biết.

Tội ác, theo thời gian, có thể dần dần bị quên lãng nhưng chứng tích tội ác là những đứa con lai… hải tặc hiện hữu khắp nơi.
Chú nêu vấn đề với cộng đồng, mong câu hỏi “Tôi là ai?” của cháu sẽ được trả lời.
Bằng lòng với số phận? Sống để bụng chết mang theo?

Nghĩ sao?

30/04/ 2018

Nguyễn Cát Thịnh

Tự tình khúc / Xa Xôi

Lâm Thúy Anh

8bd0a-000000000000aotranggiaoduong

Tự tình khúc

Tháng tám mùa thu, em của anh

Ngày mưa và nắng rất trong lành

Em sinh ra đó , trời mang gió…

Làm chiếc hôn thầm nhẹ mong manh

                  *@*

Tháng tám lụa là đẹp như tranh

Vàng mơ từng tia nắng long lanh

Nắng tươi hôn phớt hồng đôi má

Rất khẽ như tơ chạm qua mành…♥

 Xa Xôi

   Thôi thì ta đã xa nhau

           Còn chi mong đợi nhạt màu nhớ thương

Đã đành số kiếp còn vương

Mai về trời có đoạn trường mưa tuôn

*@*

Hỡi người đừng lệ sầu tuôn

Để thiên thần mãi vẫn luôn nhớ người

Cách xa thiên vạn cung trời

Nhắn mây gởi gió đôi lời tình yêu

*@*

Dẫu rằng tình đã cô liêu

Riêng ta lòng vẫn thật nhiều lụy vương…♥

9 địa điểm rùng rợn nhất Sài Gòn

 

1sg222Hầu hết các địa điểm này đều gắn liền với những câu chuyện thương tâm, oan khuất ngút trời…

 

Ít ai biết rằng, hầu hết các địa điểm này đều gắn liền với những câu chuyện thương tâm, oan khuất ngút trời. Vì thế, ít người dám lui tới và lâu dần bức màn tang tóc với những câu chuyện bí ẩn càng làm cho những nơi này thêm hoang phế…

Gần đây, các bạn trẻ và nhiều diễn đàn thường rỉ tai nhau về 9 địa điểm mang tin đồn ma ám vô cùng ghê rợn tại Sài Gòn. PV Một thế giới đã tìm đến 9 địa điểm này và ghi lại những câu chuyện ít ai biết ngoài những tin đồn ma ám.

1. Chuyện dùng trinh nữ trấn yểm 4 góc chung cư 727 – Trần Hưng Đạo

Địa điểm đầu tiên và có thể nói là nơi đáng sợ nhất Sài Gòn đó chính là khách sạn Building President – mà nay đã trở thành chung cư 727 nằm trên đường Trần Hưng Đạo, phường 1, quận 5. Sở dĩ vậy, vì theo các cao niên cư trú lâu năm tại Sài Gòn – Chợ Lớn thì Building President gắn liền với một loại thuật phong thủy cổ quái, được áp dụng để trấn yểm tòa nhà.

Khách sạn Building President được ông Nguyễn Tấn Đời – một đại gia giàu có nhất phương Nam lúc bấy giờ, đầu tư khởi công vào năm 1960. Theo bản thiết kế, khách sạn gồm 13 tầng, chia làm 6 tòa và ngăn ra thành 530 phòng.

Giai thoại truyền miệng rằng, khi nhận được bản thiết kế, cộng sự của ông Nguyễn Tấn Đời là một người Pháp đã tỏ ra rất lo ngại với con số 13 tầng, vốn được cho là xui rủi theo quan niệm phương Tây. Nhưng ông Đời không mấy quan tâm và vẫn cho xây đúng 13 tầng theo bản vẽ.

Ngay khi tầng 13 đang đặt những viên gạch cuối cùng thì hàng loạt tai nạn chết người xảy ra. Khi thì nhân công bị rớt giàn giáo, lúc lại bị điện giật trụy tim… án mạng liên tiếp khiến cho tầng 13 mãi mà chẳng thể xây xong.

Đứng trước nguy cơ Building President không thể hoàn thành kịp tiến độ và giới chức chế độ cũ lúc bấy giờ cũng đang rục rịch vào cuộc điều tra, ông Đời liền cho tạm ngưng thi công tầng 13. Sau đó, mời về một thầy pháp sư, cho công nhân nghỉ phép liên tục 3 ngày để làm phép và trấn yểm tòa nhà.

Cụ Lưu Phục Chấn, 72 tuổi, ngụ tại đường Nguyễn Thi, phường 13, quận 5 kể lại: “Dạo xây khách sạn lớn, gia đình tôi có ông cậu ở gần đó. Cậu hay kể lại rằng, thầy pháp đã cho người đến bệnh viện mua lại xác của 4 trinh nữ, đem về chôn ở 4 góc của khách sạn để trấn tại 4 hướng”.

Cũng theo lời cụ Chấn, thì đây không phải là “tin đồn lẻ tẻ” mà nó lan rộng khắp khu Chợ Lớn, Sài Gòn. Điều này khiến Building President trở nên nổi như cồn bởi những câu chuyện thêu dệt về thuật phong thủy cổ quái, hồn ma trinh nữ và cả oan hồn của nhân công bỏ mạng tại đây.

Qua bao phen lận đận, cuối cùng khách sạn Building President cũng được khánh thành. Bấy giờ, quân đội Mỹ liền thuê lại toàn bộ khu nhà bề thế này để dành làm nơi nghỉ ngơi cho lính của họ. Nhưng không hiểu sao, tầng 13 vẫn không được đưa vào sử dụng.

Tầng 12, Mỹ cải tạo thành quán bar, nhà hàng, nơi vui chơi cho lính. Đến ngày giải phóng, khu khách sạn đồ sộ được sung vào công quỹ. Hơn 400 phòng khách sạn được cải tạo thành nhà ở và cấp cho cán bộ, công nhân viên nhà nước. Tầng 12 khó có thể sử dụng được nên bị khóa lại, còn tầng 13 thì bỏ hoang vĩnh viễn.

Nhưng những tin đồn ma ám còn bởi chung cư 727 quá cũ đến mức có thể sập bất cứ lúc nào. Quả thật, chung cư 727 mang trong mình cái vẻ thâm u, cũ kỹ đến đáng sợ. Có những nơi bỏ hoang lâu ngày, mùi rác, mùi ẩm mốc, xác động vật chết bốc lên nồng nặc. 

Chưa kể đến chuyện ma cỏ, chỉ cần mới bước vào khu chung cư, người ta đã dễ dàng bị choáng bởi mùi hôi tanh cùng thứ không khí lạnh lẽo do ít ánh sáng và thiếu hơi người.

 

2. Thai phụ bên cửa sổ ngôi nhà số 24 – Lý Thái Tổ

Ngôi nhà số 24 – Lý Thái Tổ bỏ hoang đã lâu cũng lọt vào danh sách những địa điểm đáng sợ nhất Sài Gòn. Nhưng ít ai biết, nơi đây gắn liền với một án mạng gia đình hết sức thương tâm.

Chỉ vì người con tâm thần giận cả nhà “bắt uống thuốc” mà 7 mạng người trong căn nhà số 24, mặt tiền đường Lý Thái Tổ đã ra đi tức tưởi trong cơn hỏa hoạn kinh hoàng. Hơn 13 năm về trước, đây là một cửa hàng bán xe máy khá sung túc.

Nhưng rạng sáng cận ngày lễ Giáng sinh năm ấy, ngọn lửa bùng cháy, thiêu chết 7 mạng người trong đó có một phụ nữ mang thai và đứa trẻ mới tròn 3 tuổi. Cả gia đình bị thiêu sống, chỉ có người em trai bị mắc bệnh tâm thần của gia chủ và người mẹ già thoát khỏi ngọn lửa kinh hoàng.

Nhưng càng đau đớn hơn, khi thủ phạm của vụ hỏa hoạn lại chính là người em trai tâm thần kia. Khi được hỏi, tại sao lại phóng hỏa đốt nhà, anh ta hướng đôi mắt lơ ngơ về phía người hỏi và trả lời: “Tại không cho đi theo chơi, tại bắt uống thuốc hoài à”.

Và kể từ đó, ngôi nhà luôn cửa đóng then cài, còn hai mẹ con người đàn ông tâm thần kia thì đi đâu biệt tích. Chính vì thế, những lời đồn đại kỳ dị về ngôi nhà số 24, đường Lý Thái Tổ cứ thế lan ra. 

Ông Trần Quốc Hưng, ngụ phường 2, quận 3, gần ngôi nhà này tỏ vẻ e dè kể lại: “Chuyện xảy ra quá lâu rồi, mà ánh mắt của cô con gái trong nhà này vẫn làm tôi ám ảnh. Lúc xảy ra hỏa hoạn, chúng tôi nhìn thấy cô gái mặc váy ngủ, bụng mang dạ chửa, tay bồng đứa con trai 3 tuổi đứng ngay cửa sổ. Chúng tôi la hét bảo cô nhảy xuống, hay ném đứa con xuống, vì ngôi nhà này chỉ có 2 tầng thôi, té xuống thì trường hợp xấu nhất là sẽ sảy thai, chứ không đến nỗi chết.

Nhưng cô gái lại chạy vào trong ngọn lửa, vẻ mặt hoảng loạn vô cùng. Sau đó cô lại ôm con trở ra cửa sổ, ánh mắt bình thản nhìn xuống phía dưới, mặc cho mọi người la hét, cô vẫn đứng yên nhìn. 

Lúc này một số người cho rằng, cô gái và cả đứa con đã chết rồi, bên cửa sổ chỉ là linh hồn của cô thôi. Náo loạn một lúc nữa thì không thấy cả 3 mẹ con đâu hết”.

Theo ông Hưng, chính hành động lạ lùng đó của cô gái nạn nhân vụ hỏa hoạn mà ngôi nhà bị đồn thổi là có ma. Người dân sống gần ngôi nhà số 24 cho biết, họ thường xuyên nghe thấy tiếng động lạ phát ra từ phía bên trong ngôi nhà. 

Một số người còn khẳng định, vẫn thường thấy một thai phụ lảng vảng trên bao lơn của ngôi nhà còn ám đen những vệt khói của trận hỏa hoạn hơn mười mấy năm về trước.

3. Hố chôn tập thể tại công viên Lê Thị Riêng

Với hàng cây xanh mướt mắt, hồ câu cá, khu trò chơi thiếu nhi… công viên Lê Thị Riêng vốn là trung tâm vui chơi, giải trí quen thuộc của người dân TP.HCM. Nhưng ít ai biết, công viên này xưa kia chính là nghĩa trang Đô Thành, sau đổi tên thành nghĩa trang Chí Hòa.

Nghĩa trang Đô Thành rộng 25 ha, cổng chính hướng ra đường Lê Văn Duyệt (nay là đường Cách mạng tháng 8) thuộc khu Chí Hòa – Hòa Hưng của Sài Gòn – Gia Định. 

Theo các cao niên cư trú tại đây nhiều năm thì xưa kia, nghĩa trang Đô Thành vốn là vùng đất linh thiêng. Đặc biệt là trong thời kỳ chiến tranh, hàng loạt nấm mồ không tên mọc lên tại đây.

 Nghĩa trang Đô Thành xưa giờ đã trở thành công viên Lê Thị Riêng

Ông Phan Thành Tài, 62 tuổi, ngụ Cư xá Bắc Hải gần công viên Lê Thị Riêng kể lại: “Nghĩa địa mà bị đồn là có ma là chuyện thường, không có ma mới là chuyện lạ. Huống hồ chi trước giải phóng, nghĩa trang Đô Thành còn có cái hố chôn tập thể vào Tết Mậu Thân .

Chính vì thế, nên dân vùng này vẫn hay truyền miệng những câu chuyện huyền bí về những âm hồn , bị chôn tập thể nên chẳng siêu sinh, thường xuyên hiện về lởn vởn khóc than. 

Các cao niên còn kể lại, nổi tiếng nhất vẫn là chuyện ban đêm, oan hồn hiện hình thành những người bưng thúng bánh chưng, bánh giò đứng trên đường Lê Văn Duyệt. Người âm cứ đứng đó chờ có người mua rồi “dẫn” họ vào trong mộ ngủ qua đêm. 

Bà & Cháu

Trương Thị Thanh Tâm 

hoa tigon
Một đời há chẳng vui gì 
Dăm ba câu nói, cười khì là xong 
Cuộc đời nào có thong dong 
Sáng ngày mở mắt, gạo đong chưa kìa 
Hôm qua bà hứa sẽ dìa 
Vậy mà túi rổng, có quà gì đâu!
Thôi đành lặn lội qua cầu 
Còn dăm đồng lẻ, mua xâu bắp nè 
Chắc là cháu sẽ khóc nhè 
Bà không thương cháu, hội hè bà quên 
Cháu đây còn muốn bắt đền 
Bộ đầm, váy mới làm duyên bạn bè 
Cháu ơi, bà khất lại nhe 
Lần sau bà hứa, khi về bà mua 
Đời bà nhiều lắm thiệt thua 
Ăn trên ngồi trước, bà chưa có phần 
Quanh năm suốt tháng buồn lần 
Nợ cơm, nợ áo, nợ tiền trót vay 
Tuổi bà thất thập lai hy 
Đâu còn sức khoẻ, bải buôi kiếm tiền 
Nhìn con, nhìn cháu ưu phiền 
Đời sao còn kẻ lắm tiền để tiêu 
Còn bà nhà cửa liêu xiêu 
Cháu con phận bạc, tiêu điều xác xơ!
               Trương Thị Thanh Tâm 
                               Mytho

*** Nợ nhau kiếp nào ….

Thư viện của bài

This gallery contains 1 photo.

Lanney Trần

Cali, ngày … tháng …

Những dòng chữ viết dang dở xen kẽ lẫn nhau giữa lúc tỉnh giấc với nước mắt và khi ngất đi chẳng biết bao lâu. Một tí gì đó để lại cho những người bạn của tôi có thể hiểu thêm về người con gái thầm kín năm xưa. Bố tôi nói đây là chặng đường Thập Giá mà Chúa muốn tôi phải vượt qua …, tôi chỉ ước ao đến những bụi calla lilies trắng ở cuối con đường …

Tôi kg biết mình đã ngủ bao lâu, chỉ nghe tiếng mẹ gõ cửa phòng, “Vy ơi, có bạn con đến thăm con nè…”. Một dòng sóng điện từ đâu chạy khắp người tôi, tôi mừng rỡ hớn hở, vui sướng gồng mình ngồi dậy, “anh đã đến thật sao…” Nụ cười của niềm hạnh phúc hiện sẵn trên môi chờ đợi cánh cửa phòng hé mở, tiếng của mẹ lại vang lên, “nó ngủ trong phòng đó, con cứ vào đi.” Cánh cửa phòng hé mở, niềm vui trong thoáng chốc đã vụt tắt, kg phải là người tôi đang mong mỏi chờ đợi…
Tiếp tục đọc

*** MÙA ĐÔNG LƯU VONG NỖI NHỚ QUÊ HƯƠNG RAY RỨT

Ngô Quốc Sĩ

00snow

Nỗi nhớ quê hương của người Việt lưu vong thật da diết. Xa quê hương, dân Việt vẫn luôn luôn canh cánh bên lòng hình ảnh đất mẹ dấu yêu đang trải qua bao tang tóc dưới bàn tay lũ con hoang đã bị tha hóa, đánh mất bản chất con người nói chung và con người Việt Nam nhói riêng. Thi ca yêu nước đã chuyên chở đầy đủ tâm trạng nhớ thương ray rứt đó, tiêu biểu là những vần thơ truyền cảm của Văn Nguyên Dưỡng qua bài Chiếc Áo Kinh Cừu Trong Giá Đông.

Thực ra bài thơ Chiếc Áo Khinh Cừu chỉ là một chấm nhỏ trong gia tài văn chương thắm đượm tình tự quê hương của nhà thơ nhà văn Vĩnh Định- Văn Nguyên Dưỡng, cũng là sĩ quan quân đội Việt Nam Cộng Hòa, đã từng cầm súng chiến đấu bảo vệ tự do miền Nam trước cuộc xâm lăng của cộng sản Bắc Việt. Ông đã đóng góp cho nền văn học lưu vong nhiều tác phẩm giá trị bằng tiếng Việt cũng như tiếng Anh, tiêu biểu như Vùng Đêm Sương Mù , Trường Ca Trên Bãi Chiến , Lessons from the Vietnam War, Inside An Lộc: The Battle to Save Saigon …
Trở lại bài thơ Chiếc Áo khinh Cừu trong Giá Đông, nhà thơ đã thể hiện tâm trạng “nhớ về” và “nhớ thương” những gì đã bỏ lại sau lưng khi rũ áo chiến binh, rời bỏ quê hương trong ngậm ngùi và tủi nhục.
Nhớ về thì trước hết là nhớ chiếc áo trận đã từng lấm bụi gió sương, lấm bùn chinh chiến và lấm máu quân thù, nay đã bạc màu theo năm tháng, chỉ còn lại như một kỷ niệm giữa mùa tuyết trắng xứ người:
Một mùa Đông nữa mỗi hoàng hôn
Bông tuyết rơi rơi lấp bụi hồng
Chiếc áo khinh cừu nay đã bạc
Nghìn trùng thiên lý trắng mênh mông
Chiến bào mang theo làm kỷ niệm, không biết là áo thực hay áo ảo như mộng mơ, làm nhớ thêm chiến bào bỏ lại nơi quê hương đọa đày. Bỏ lại chiến bào là bỏ lại tất cả. Thế nên nhớ về chiến bào là nỗi nhớ mông lung, như thể bao quát cả qúa khứ. Nào là mộng hải hồ của người trai thời loạn. Nào là đất nước thống khổ điêu linh. Nào là người thân và người yêu trong xóm nhỏ:
Phấn tuyết chập chùng gợi nhớ nhung
Nhớ mông lung mà nhớ vô cùng
Nhớ bỏ chiến bào trong phố nhỏ
Bỏ lại em yêu mắt não nùng
Còn nhớ thương thì hẳn đó là hình bóng người em yêu đã phải nhỏ lệ vì xa anh, đã từng khô môi vì ngăn cách, đến nỗi nhan sắc tàn tạ theo gió sương:
Nhớ giọt lệ nào trên má xanh
Môi nhạt vành khô cắn nửa vành
Mái tóc buông dài che nửa mặt
Một đêm sao… biến sắc khuynh thành
Da diết nhất là nỗi nhớ thương quê hương chìm lửa khói, điêu tàn trong hoang vắng đến nỗi trăng sao cũng phải rưng rưng ngấn lệ:
Trong hụt hẫng sa trường chợt biến
Lửa bập bùng còn sáng trấn biên
Cớ sao dinh lũy thành hoang vắng
Trăng não nùng lênh láng mái hiên
Thương quê hương, thương phố cũ, và thương cho chiếc áo khinh cừu em gửi tặng anh, như để sưởi ấm thân xác và tâm hồn anh nơi sa trường, nhưng tiếc thay, anh không dám mặc, sợ hoen lấm màu tuyết trắng tinh anh, trắng như hồn em thơ ngây:
Nhớ trăng xưa ta trấn cổ thành
Đêm đêm gió lạnh trống tàn canh
Khinh cừu em gởi không hề mặc
Vì trắng màu tuyết trắng tinh anh
Nhớ về đất mẹ, nhớ thương em gái thiên thần tuyết trắng, nhà thơ đã chợt quay trở về với thân phận lưu vong, thương cho chính mình bơ vơ nơi cõi lạ, lòng tan nát vì thương em thương nước thương nhà, nhưng chỉ một mình ôm mối sầu riêng:
Rồi một sớm ta vào cõi lạ
Đông lạnh lùng se siết thịt da
Đói cơm vẫn giữ lòng chung thủy
Nước mất nhà tan ta biết ta
Đau đớn nhất là mối sầu mãi là sầu riêng, không biết chia sẻ với ai, bởi lẽ cuộc sống lưu vong nơi đất lạ không có người tri kỷ! Thôi đành đêm đêm ôm chiếc áo trận đã bạc màu để tìm hơi ấm, như thể ôm người yêu, chờ ngày về gặp lại em nơi quê mẹ ngàn thương:

Thấm thoát phong sương đã bấy mùa
Đói lạnh cơ hàn trải nắng mưa
Tấm áo hằng đêm ôm sưởi ấm
Chờ ngày trở lại với người xưa
Nhưng oái oăm thay! “Thời gian có hứa mấy khi”, lúc về nơi ấy thì tất cả đã đổi thay! Em đã rời bến cũ, sang thuyền khác, vui duyên mới, để lại cho anh giòng sông tang thương và giòng đời đớn đau:
Trở về bến cũ thuyền đã sang
Sông dậy tang thương sóng xếp hàng
Lớp lớp trùng trùng đau thế sự
Em hỡi làm sao nỡ phũ phàng
Tìm về quê hương, mong gặp lai hình bóng cũ thì ôi thôi! Người yêu đã sang ngang! Có trách ai phũ phàng thì cũng vô ích! Văn Nguyên Dưỡng, nhà thơ, nhà binh, đành quay trở về chốn tạm dung để tiếp tục sống, tiếp tục phần đời còn lại với chiếc áo khinh cừu đã bạc màu, qua những mùa đông lạnh giá, mà nhớ về thương về quê hương đang rên xiết dưới gót thù trong giặc ngoài:
Đông đến đông này đã mấy đông
Tuyết trắng mênh mông đến chạnh lòng
Mảnh áo khinh cừu vai đã nặng
Hồn quê còn lãng đãng mang mang
Hồn quê còn lãng đãng mang mang. Đó là tâm trạng của Văn Nguyên Dưỡng nói riêng và của người Việt xa xứ nói chung, kể cả trên 90 triệu đồng bào đang bị lưu đày trên chính quê hương tại quê nhà. Nhưng điều đáng nói là một khi hồn Việt còn, thì nước Việt cũng vẫn còn. Dù hôm nay, đất nước đang lọt vào tay bọn con hoang phản bội công ơn tổ tiên, đánh mất bản chất Việt Nam, nhưng hồn Việt vẫn còn mất nước chỉ là tạm thời, và công cuộc đấu tranh dành lại đất tổ sẽ thành tựu một ngày không xa..

** Chồng tôi

Dương Ngọc Ánh

untitled  
 

Thực sự càng vào tuổi già chàng càng “ ngớ ngẫn” và hay quên. Ngày xưa khi chàng còn trai trẻ thì có lẽ có “hạnh kiểm” hơn trong những ngày tháng muộn màng. Thưở ấy (dưới mắt chàng) tôi có một dáng dấp không đến nỗi tệ. Bây giờ chàng đã quên mất cô vợ ngày ấy; thay vào đó là những cái nhìn ngẩn, nhìn ngơ cho những cô gái chân dài bất tận, không liên hệ chi với chàng, mà còn khen rối rít,“con nhỏ đó có cặp giò ngon dễ sợ!” Đi ngoài đường thấy gái đẹp thì chàng quên bẳng là đang đi với vợ mà tưởng rằng tôi là thằng bạn nối khố của chàng, “ Trời! Trời! Ngó cái mông thiệt đã!” Có khi tôi đã thấy chàng nhìn chăm chăm mấy cô gái phô bày cặp ngực, khêu gợi, căng đầy nhựa sống; rồi chàng nhìn theo trong kính chiếu hậu tiếc ngẩn tiếc ngơ; tôi cũng đoán được chàng đang suy nghĩ gì!
 
     Có phải ông cha ta đã nói: “Gìa thì phải nên nết”. Hình như đây chỉ là một giả thuyết? “Cụ” nhà tôi bây giờ còn “tinh nghịch” hơn xưa. Cụ đã cùng với những cụ khác dấu diếm gởi cho nhau những tấm hình táo bạo, những khúc phim “đặc sắc” để chiêm ngưỡng, rồi cười đùa khoái trá như những cậu học sinh trung học ngỗ ngáo. Nếu bị phát giác thì cụ lại chối leo lẻo “No, I’m a good guy!” Mỗi lần có hình khỏa thân hấp dẫn hay phim “nghèo” là trong làng bằng hữu của chồng tôi thật nhộn nhịp, rộn ràng:
 
     “Mày cho tao xin phim này đi. Mày upload lên megaupload thì rất thuận tiện vì tao có premium account với thằng này.”  Ngay cả những anh thường hơi thẹn thùng trong chuyện đóng góp và tán dóc cũng trồi lên, “Thằng … trồi lên chỉ khi nào nó ngửi thấy mùi : dâm , vú … Tôi còn nhớ khi cụ nhà tôi gởi tựa đề của cuốn sách 365 sex positions lên mail group của cụ thì gần như suốt một tuần các cụ đã tranh cãi và thảo luận sôi nổi về đề tài nầy còn hơn những bài luận văn chính trị cuối mùa văn hóa hồi các cụ còn mài đũng quần ở Đà lạt! Chưa đủ, có cụ còn chôm nguyên cuốn sách trình làng với đầy đủ hình ảnh chi tiết. Có cụ còn muốn vớt vát cho cái lém lĩnh của mình bằng sự trấn an của khoa học:- Nói có sách, mách có chứng. Mỗi ngày chỉ cần 10 phút coi hình thiếu vải thì hạ huyết áp, tránh được bệnh tim. Bí quyết sống lâu đây rồi, mỗi ngày chỉ 10 phút thôi, không phải tin đồn bậy bạ mà có nghiên cứu đàng hoàng. Đã có gan coi hình tươi mát mà còn sợ “thượng mã phong!”
 
     Đàn ông, theo y học chứng minh-đầu óc của họ lúc nào cũng đầy dẫy chuyện gió trăng và hơi hám đàn bà lúc nào cũng vương vấn trong những cuộc đối thoại. Không sai tí nào! Khi chồng tôi dự định mua máy hình, anh hỏi loại máy hình gì tốt, đẹp và bền, thì ngay lập tức các đồng môn của anh xúm lại khuyên bảo : “Nhu cầu của mỗi người khác nhau, vấn đề là mình phải biết nhu cầu của mình là gì thì mới chọn lựa được sản phẩm thích hợp. Có người thích em trắng, kẻ thích em đen, người chuộng da rám nắng, kẻ thích vú bự, người mê ăn quýt. Tùy theo khẩu vị mà chọn hàng. Nhưng nói gì thì nói họ vẫn thuộc làu câu ca dao tục ngữ gối đầu giường “Ta về ta tắm ao ta…” Rồi lại phụ đề thêm Việt Ngữ:  “Cái này là nói mấy em chân dài, nói phở thôi. Cơm nhà dù sao vẫn chắc bụng, no lâu. Phở dĩ nhiên, nấu vừa mất thời gian lại còn tốn kém nhưng anh nào cũng khoái “ăn vụng”. Điều nầy không phải không đáng sợ.
 
     “ Trên bảo dưới không nghe.” Đây là điều đáng quan tâm nhất của các đấng mày râu khi họ đến tuổi về già. Tôi thấy đức lang quân của tôi thường nhận được những lời chia xẻ của bạn bè để làm thế nào mà “ trẻ mãi không già” Chưa đủ, họ còn truyền cho nhau những loại rượu, có khi luôn cả những thang thuốc truyền kỳ để cùng tìm hiểu bí quyết về huyền sử ái ân. Khi có dịp gặp nhau thì lại thì thầm, mách nước xem thử kết quả có ly kỳ như họ nghĩ hay không. Lạ lùng thay tôi chưa nghe anh nào thật sự thố lộ là những chung rượu thần kỳ và các liều thuốc nổi danh lịch sử đã làm cho họ cải lão hoàn đồng! Đức lang quân của tôi cũng đã dại khờ, liều mạng tu gần nữa chai rượu của một người bạn quý cho anh để đi tìm kết quả. Nhưng chàng đã quên mất rằng hai anh em, thằng lớn, thằng nhỏ, cùng một tuổi thì thuốc tiên, phép lạ cũng phải bó tay.
 
     Chồng tôi có một đặc điểm là biết “vâng lời” vợ. Một phần là nhờ anh ở phương tây khá lâu nên không ít thì nhiều anh cũng có tiêm nhiễm về nếp sống văn minh nơi xứ người. Kỷ niệm ngày cưới, sinh nhật hoặc ngày của tình yêu mà quên là anh “lãnh nợ”. Để tránh khỏi mua quà tầm bậy anh thường cẩn thận hỏi trước (thà mất lòng trước được lòng sau!) , “ Em thích qùa gì cho sinh nhật của em?”. Tiền đâu anh mua hột xoàn, kim cương; tiền đâu anh mua xe hơi, nhà lầu hay những món quà đắt giá! Nhưng dại gì mà nói, anh phải tự suy nghĩ để đem lại sự ngạc nhiên vui thích cho mình- “Không cần đâu anh! Em đâu thiếu gì!”  Ông chồng tôi thở phào nhẹ nhõm, cứ thế mà làm theo, chẳng quà cáp gì ráo. Tưởng vâng lời như thế thì được điểm tốt, nhưng chiến tranh lạnh đã xảy ra. Anh lại ngây thơ thăm hỏi, “ Sao em lạnh lùng như băng giá?” Khi chiến tranh bùng nổ thì anh trả lời “ Em nói em không cần gì hết mà tại sao bây giờ không vui! Em nói sao thì anh nghe vậy có gì mà hờn giận, trách móc………?.
 
     Nếu cho rằng anh là một ông chồng “lý tưởng”- nghĩa là: đẹp trai, vạm vỡ, hào hoa, phong nhã, đa tình, lãng mạng thì có lẽ anh sẽ được chấm hạng dưới trung bình; cũng có thể gọi là hạng chót! Nhưng anh là một người thật thà. Ngày xưa anh yêu tôi vì tôi có mái tóc thật dài, xõa ngang lưng, thơm mùi quyến rũ. Ngày hôm nay tôi càng cố gìn giữ bao nhiêu, thì hàng chục sợi tóc đáng thương cứ cuốn theo chiều gió mà bay mãi. Chải tóc cho tóc mượt thì chỉ thấy nền nhà phủ đầy những sợi tóc khô khan của tuổi đời. Anh bây giờ không còn vuốt tóc tôi như ngày xưa mà còn bảo: “ tóc em sao rụng quá cỡ vậy? Vài năm nữa không đội tóc giả thì cũng thành ni cô! Nghe mà nóng gà, muốn nổi tam bành lục tặc.
 
     Một điểm đặc biệt và “đáng yêu” của chồng tôi là anh rất thẳng thắng phải nói rằng- “toạc móng heo”. Tôi có một cái tính là thích ăn mặt hơi hở hang, có lẽ cũng muốn níu kéo một tí gì trước khi xã hội xếp mình vào dĩ vãng. Nhưng khi mặc áo đầm , váy ngắn hoặc áo cổ rộng tròn phơi bày thì sẽ được anh thẳng thắn khuyên nhủ:- “ Em mặc như vậy có ngày trúng gió bất tử.” Anh làm tôi cụt hứng – tưởng rằng ăn mặc mát mẻ sẽ làm anh gợi cảm và nhìn tôi như những đàn bà trẻ đẹp khác. Thiệt chán còn hơn ăn cơm nếp nát.
 
     Về nghệ thuật, chồng tôi có một cái nhìn rất khác người. Khi đi mua sắm, tôi thường “mời” anh đi theo, trước thì để xách đồ, sau là làm “cố vấn thời trang”. Có lẽ là vì được nhờ nên anh đóng góp ý kiến rất nhiệt tình. Áo quần hơi có bông ba màu sắc thì anh bảo “sao không mua thêm vài cái lư hương lập miếu lên đồng cho đủ bộ”. Khi mua nịt da bảng bự cho hợp thời trang thì anh đến bên tôi nói nhỏ “anh thấy tiệm kia bán nịt còn cho thêm cái khiên, cây kiếm và đôi sandal. Em mua để đóng phim Gladiators coi được lắm”. Còn mua quần nhiều túi thì anh chêm vào: “ Được đó! Mua cái quần này thì đi chợ khỏi cần trolley”. Tức muốn chết người.
 
     Đủ thói hư tật xấu, mất nết thiếu hạnh kiểm nhưng tôi biết rằng anh chỉ vui rôm rả với bạn bè. Có lẽ nhờ vậy mà lúc nào tôi thấy anh và các bạn vẫn luôn luôn trẻ mãi. Dù sáu hay bảy bó, không là chuyện lớn. Ngày nào anh và các bạn còn nhìn được hình tươi mát; ngày nào mắt còn rõ để phân biệt được bầu, mướp cam, bưởi thì không thể gọi là già; ngày nào còn xách đồ được cho vợ, còn hơi để làm “cố vấn thời trang” là ngày đó còn hạnh phúc. Ra đường nhìn gái còn khen là đầu óc còn sáng suốt (khi nào nhìn đàn ông thành đàn bà thì tôi mới run). Sự sống trên trái đất này sẽ không tồn tại nếu không có những người như chồng tôi và bạn bè của anh.

Dương Ngọc Ánh

*** Mùa xanh xưa

 Bùi Thụy Đào Nguyên

 

Em mãi là hai mươi tuổi
Anh mãi là mùa xanh xưa.*.

Anh đi.Vuông nhà tẻ lạnh
Loay hoay chán lại ra vườn
Tưới gốc cam già anh bón,
Tỉa cành quýt nhỏ em thương.

Càng nhớ thêm ngày chia biệt
Nói gì khi đã rẽ chia
Bấc lạnh lùng lay gác hẹp,
Trái rung rẩy rụng sau hè?

Nhớ gì khi câu thơ cũ:
“Sẽ mãi là mùa xanh xưa…”
Có gì từa tựa ý thơ,
Chắp mãi sao vần chẳng hiệp ?

Có gì khi ngay trang viết
Bóng hoa, bóng trái ửng hồng
Mà ong bướm xa nào biết ,
Bỏ quên mùa cũ phai xanh …

Bùi Thụy Đào Nguyên

*Thơ Quang Dũng

*** Trở Cờ

Thủy Điền

 

00cogai hinh ve   Hôm nay, người hắn rất lạ hơn mọi khi, trong rất sạch sẽ, ăn mặc chĩnh tề, đầu chải tém, miệng nhe cái hàm răng nửa giả, nửa thật, hát vu vơ cười lia lịa như mới vừa trúng số. Thường thường sáng sớm bước chân vào hãng hắn ít chào hỏi ai, ngược lại hôm nay gặp ai hắn cũng bắt tay vui vẻ, làm mọi người rất ngạc nhiên và sững sốt. Rồi tự hỏi? Cái thằng nầy hôm nay chắc ăn trúng một quả gì đấy.

      Hắn là người có gia đình, có vợ, có con đàng hoàng, nhưng bấy lâu nay vì vui tính, đa tình hắn lẹo tẹo với cô hàng xóm của hắn. Hồi đầu hắn chỉ nghĩ vui qua loa rồi đường ai nấy đi, chuyện ai nấy làm, nhà ai nấy ở. Nhưng vì ham vui nên chuyện tình cảm càng ngày càng lúng sâu mà không thể nào thoát ra được.

      Nàng cũng thế là người phụ nữ không chồng mà lại có con, nàng quen hắn qua tình hàng xóm, gặp nhau như ăn cơm bữa. Trong những lúc giao du, vui, cộng nét hài hước, quả tim hắn đã vô tình để lọt vào mắt nàng và từ đó hai người đã có những chuyến qua, lại vượt đèn đỏ bất thường. Với những lần ấy nàng cũng nghĩ cạn cợt như hắn. Ai dè ………………………!

      Câu chuyện xảy ra khá lâm ly trong nhiều năm, cũng may là vợ hắn chưa một lần hay biết. Một hôm ngồi uống bia một mình bên Bankon, gương mặt hắn trầm xuống, suy nghĩ và thầm bảo: Đàn ông như hắn là hạng người không tốt, đáng được khinh bỉ, hổ thẹn với vợ, con. Hắn quyết định phải xa lánh người đàn bà ấy và trở về với cuộc sống bình thường được. Nhưng phải làm sao?

      Thường thì vài ba ngày họ gặp nhau một lần hay điện thoại. Nhưng cả mấy tháng nay hắn cố tình lẫn tránh nàng và nàng cũng chẳng ngó ngàng gì với hắn. Hắn ngỡ dần dần mọi chuyện có thể đi qua, nhưng cũng cần thời gian. Cơn vui chưa dứt thì tai nạn tình ái đã đến.

      Bỗng dưng đang làm việc, hắn nhận một cú phon thật choáng váng:

– Hôm qua anh đi phố với vợ anh phải không ?

– Đâu có, anh ở nhà mà.

– Đừng chối, em thấy tất cả, mua cái gì và làm cái gì, tình quá chứ.

– Em nói oan cho anh rồi, chắc em thấy ai rồi hoán gà lên.

– 100% đừng chối nữa, anh hãy mau sắp xếp mà dẫn em đi phố ngay đi, em đang cần một ít hàng.

– Thú thật, anh không quen đi phố, hơn nữa anh không có thời giờ, mong em hiểu, khi khác đi nhé.

– Bao giờ ?

– Anh sẽ gọi cho em sau, còn bây giờ anh phải làm việc. 

– Nói phải nhớ nhé.

– Chào em.

      Một tuần sau, hắn gọi cho nàng, rồi nói vòng vo tam quốc nội dung là tránh né việc đi phố. Nàng tức giận :

– Thôi, thì anh đừng bao giờ gặp mặt hay điện thoại cho tôi nữa, tôi sẽ không bao giờ tin anh. Hắn giả vờ:

– Có gì đâu mà nóng giận thế em.

Tiếng điện thoại bỗng dưng cúp ngang chỉ còn nghe Tít….tít… tít. Hắn nửa vui, và nửa sợ. Vui là gì mọi chuyện sẽ được giảm dần đi, sợ là không biết nàng sẽ quậy vào lúc nào mà còn tránh đỡ.

      Buổi chiều cuối tuần, đang vui trong bàn rượu với bạn bè, nàng gọi đến. Hắn xin phép và ra phía ngoài để nói chuyện với nàng.

– Em muốn ngày mai anh đi phố mua sắm cùng em có được không?

– Tuần rồi anh đã nói là anh sẽ sắp xếp để đi, em cúp điện thoại ngang hông và không cần anh nữa. Nếu không cần nữa thì gọi lại làm gì. Hay nhất là ta nên chia tay ngay, chuyện đi phố, đi phường bây giờ không còn trong đầu anh nữa, em đừng chờ đợi cho tốn công.

– Khốn nạn. Rồi cúp điện thoại.

      Khi gọi điện thoại xong, hắn trở vào bàn nhậu, nhậu tiếp và mừng thầm, thế là mình đã Trở cờ. Hy vọng những điều tốt đẹp sẽ đến bên tay.

Thủy Điền

06-05-2018

 

*** TRUYỆN NGẮN TRẦN HỮU HỘI

MANG VIÊN LONG

TRUYỆN NGẮN TRẦN HỮU HỘI –

Những Trang Viết Hiện Thực Đời Sống Tâm Huyết.

           Trần Hữu Hội người làng An Lưu, huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị, nhưng vừa lớn lên đã phải trôi dạt nhiều nơi vì chiến tranh; từ Biên Hòa, Đà Nẵng, Ninh Thuận rồi Sài Gòn. Bút danh Trạch An của anh được ghép hai tên làng của cha và mẹ (Thượng Trạch – An lưu).

Giống như một số người cầm bút khác, anh đã có đam mê văn học từ thuở còn học lớp 12, nên dạo ấy đã lập bút nhóm Hội Hữu, cùng các bạn học sinh, sinh viên tại Ninh Thuận cùng sinh hoạt văn nghệ; với sự giúp đỡ của họa sĩ – điêu khắc gia Phạm Văn Hạng. Bút nhóm đã xuất bản tuyển tập thơ văn, do nhà văn Trần Hữu Ngũ trình bày bìa và in roneo. Tuy vậy, anh thật sự dành thời gian cho việc sáng tác chỉ từ năm 2010, khi bị bệnh tắc động mạch chị, phải cắt bỏ chân phải. Anh tham gia đăng bài ở các trang website.. trong và ngoài nước và sinh hoạt văn nghệ với nhóm Quán Văn, từ dạo đó…:

Năm 2014, anh cho giới thiệu tập truyện đầu tay “Hạt Mầm Trót Vay” Sang năm 2015, xuất bản tập “Số Mạng”. Những truyện ngắn của anh hầu hết là ghi lại, phản ảnh đời sống hiện thực chung quanh; từ gia đình, quê nhà, tình yêu, đến những đổi thay, chuyển biến xã hội, của thời cuộc ngày càng phức tạp, đau buồn! Ngoài truyện ngắn, Trần Hữu Hội thường viết bút ký, tạp bút, về nhiều lãnh vực quan thiết của đời sống. Trần Hữu Hội còn sáng tác thơ – những bài thơ trữ tình, hồn nhiên, trong sáng của anh, được nhiều bạn đọc yêu thích.

Trong giới hạn một bài ghi nhận ngắn, tôi chỉ xin chia sẻ đôi điều về tính chất các truyện ngắn của Trần Hữu Hội – đó là “những trang viết hiện thực đời sống tâm huyế”  mà chỉ có người cầm bút chân chính, vô tư có trách nhiệm, mới trang trải hết lòng mình.

Thãm trạng gia đình, được tác giả quan tâm nhiều hơn, với nhiều chi tiết hiện thực chân xác. Có thể nói đây là một vấn nạn xã hội đau buồn, mà tất cả người đọc đang quan tâm: “Chỉ sau khi sinh đứa con hai năm, cô ấy bắt đầu ngoại tình với một cán bộ tài chính huyện, họ có chung một đường dây huê hụi lớn trong vùng, trên danh nghĩa làm ăn, họ gần gũi nhau cho đến khi tôi bắt gặp, ngay trong phòng ngủ ngôi nhà mình! Ngôi nhà đứng tên cô ấy nên tòa tịch biên sau khi họ bỏ trốn, tôi về ở với Mẹ!”..( Người Khách Cuối Năm)

Nền tảng đạo đức xã hội chao đảo, những giá trị luân lý bị lãng quên, thì sẽ ảnh hưởng đến hạnh phúc gia đình là điêu không thể tránh khỏi: “…Ba năm trước, tôi mới biết cô ấy đang ở Buôn Ma Thuột, đứa con trai của tôi và cô ấy phải vào tù vì dính vào một vụ cướp! Tôi tìm lên thăm con…Biết sự tình là trong đám thanh thiếu niên của vụ án, con tôi chưa đủ tuổi thành niên, nhưng muốn lo lót trước khi tòa xử, phải chạy một khoản tiền mà cô ấy không có hay không muốn bỏ ra, tôi phải trở về bán lô đất và căn nhà này…Nhưng rồi cũng không lo được cho đứa con thoát vòng tù tội! Tiền mất tật mang, nó ra tòa lãnh án bốn năm tù giam! Cô ấy lại cùng chồng mới trốn đi lần nữa! Họ đã có với nhau hai đứa con… Không đành bỏ con tù tội không ai thăm nuôi, tôi mua một đám đất nhỏ, dựng một cái chòi…rồi hàng ngày đi làm thuê, vừa nuôi bản thân vừa dành dụm hàng tháng đi thăm con trong tù!”. ( Người Khách Cuối Năm)

Hạnh phúc tìm lại được trong đời sống cũng quá gian truân, ngắn ngủi, bất hạnh: “Chúng tôi nâng niu từng ngày niềm hạnh phúc muộn màng. Hai chúng tôi cùng mong mỏi một đứa con cho trọn vẹn hạnh phúc chồng vợ…Nàng mang thai sau một năm chung sống. Đứa con lớn dần, là con trai và đã được năm tháng! Tôi không để cô ấy làm một việc gì, cực chẳng đã phải đi xe máy như đi chợ thì tôi chở đi…Khi tôi lo lắng ngăn ngừa tai họa từ hướng này thì bằng ngã khác, tai ương ập đến với chúng tôi!”.

Với giọng văn giản dị, chân thành – tác giả từ tốn kẻ tiếp về nỗi khổ đau, mất mát thưởng bất ngờ ập đến cho đời sống mọi người: ”Năm đó cũng vào những ngày cuối năm, trước lễ giáng sinh vài hôm, trong một lần tắm, cô ấy bị ngã trong phòng tắm, bụng cô ấy dập vào bồn cầu…Tôi kinh hãi nhìn cô ấy đớn đau trong máu và nước! Khi đến bệnh viện thị xã, thì cả cô ấy lẫn thai đều quá yếu. Buộc phải mổ đưa thai ra để chăm cho mẹ… :
– Không thể cứu được cháu, chị vẫn còn hôn mê nhưng đã qua cơn nguy kịch. Anh đem cháu về rồi sáng mai trở lại!
” ( Người Khách Cuối Năm)

Kết thúc câu chuyện, Trần Hữu Hội cho Thuyết – nhân vật trong truyện, nghĩ hộ mình một cách vô vọng về cuộc đời, mà lẽ ra, tác giả nên có một hướng đi tích cực hơn: “Anh ngẫm nghĩ: hạnh phúc của kiếp con người, bao giờ cũng mong manh ngắn ngủi, nhưng nỗi bất hạnh thì xem chừng như trùng trùng, vô tận!!!”.

Bên cạnh các vấn nạn lớn, Trần Hữu Hội, cũng đã dành cho tình bạn, tình quê những trang viết đầy cảm xúc. Truyện ngắn “Bạn Già” tuy được viết với ít chi tiết hơn, đơn giản hơn, có thể nghĩ là “khô và đơn điệu” – nhưng là một truyện ngắn hay của anh. Truyện kể về hai người bạn đồng hương Quảng Trị – Phúc và Tấn, cùng học chung thời Tiểu học, Trung học, rồi cùng tha phương vì chién tranh lan rộng, đe dọa cuộc sống an bình: “Cả hai cùng sinh ra từ Quảng Trị, một tỉnh miền Trung giáp ranh với vĩ tuyến 17, nơi con sông ngăn chia hai miền Nam Bắc. Sự kiện lịch sử này xảy ra hai năm trước khi cả hai chào đời, không phải sinh ra cùng một nơi. Tấn ở huyện Triệu Phong, một vùng lúa gần biển, còn Phúc ở Cam Lộ, một huyện vùng cao.

Chiến tranh liên miên và rồi năm 1972, khi phe bên kia tấn công vào tỉnh lỵ này, họ chạy vào Huế, rồi Đà Nẵng, ở trong những trại tạm cư. Chuyện về lại chốn chôn nhau cắt rốn ngày càng xa vời, vả lại rồi cũng đạn bom tang tóc bởi chiến tranh chưa thôi, nhiều gia đình cùng nhau di dân, vào khai hoang lập cư trong vùng rừng núi này, dưới sự chăm lo của một Linh Mục.

Ba năm được sống gần nhau ở khu trại tạm cư, được ngồi chung lớp. Rồi “Phúc vào Đại học sư phạm Sài Gòn, ngành Khoa Học. Tấn lên Viện Đại Học Đà Lạt, cũng khoa sư phạm, ban Việt- Hán”.

Biến cố 1975 đã làm thay đổi cuộc đời họ, như bao cuộc đời khác “ –“Chưa tròn niên khóa thì biến cố 75 ập đến. Tấn không thể tiếp tục việc học hành, anh trở về với gia đình. Cha đi học tập cải tạo, là lao động chính trong nhà, anh vừa đi nghĩa vụ khai hoang, thủy lợi… vừa giúp mẹ làm rẫy. Phúc ở lại Sài gòn tham gia các phong trào Thanh Niên, nghe đâu là một trong những phần tử tiến bộ của đoàn Thanh Niên Thành phố, có lần được tuyên dương trên báo Sài Gòn!”.

Một lần Tấn đi buôn, vào Sài Gòn tìm thăm Phúc. Lẽ ra đó là cuộc hội ngộ hạnh phúc nhất của đôi bạn đồng hương, nhưng lại là một lần hội ngội buồn bã, bởi vì Phúc nay là một cán bộ nhà văn hóa, còn Tấn là “một con buôn”. Phúc đã “lên giọng” với Tấn: “đi buôn như thế là tiếp tay với gian thương làm lũng đoạn thị trường”. Trong lúc Tấn “bất lực không cãi lại được trước những từ ngữ, lập luận xa lạ mà Phúc đưa ra. Anh chỉ đơn giản muốn cho Phúc hiểu rằng là không đi buôn thì không có cái gì ăn, kể cả nước mắm!”.

Tấn đã phải trải qua một đêm thao thức, chua xót nơi xứ lạ:“Tấn ra ga Bình Triệu, nằm gối đầu lên ba cái bao tải đựng mỳ lát cuộn lại mà hận thằng bạn, những lý luận về kinh tế nghe thật chặt chẽ nhưng không có điều nào phù hợp với thực tế của cuộc sống nơi Tấn ở. Phúc không chịu nhận ra là cái đói khổ hầu như đã tràn khắp nông thôn”.

Làm cán bộ được vài năm, Phúc lại vào ngồi tù mấy năm vì “giải quyết công việc theo cảm tính và sai nguyên tắc” – rồi từ trại tù về quê. Rồi lại ra đi. Một đêm “Phúc khoanh hai tay co gối, một cơn gió nhẹ làm sương đêm thêm lạnh, bình trà bằng thiếc của cái quán vỉa hè không đủ giữ hơi nóng, đã lạnh ngắt từ lúc nào! Anh ao ước có một góc nhỏ nào đó, đẩy chiếc xích lô vào rồi ngã lưng kéo một giấc qua đêm. Lâu nay anh khá yên ấm dưới cầu thang của chung cư Thanh Đa. Đêm nay lại có đợt truy quét những người không hộ khẩu, làm nhốn nháo những kẻ vô gia cư trú ngụ nơi đây, thường thì vài hôm có khi cả tuần rồi đâu lại vào đó, nhưng lần này xem ra quyết liệt hơn, cả chục chiếc xe chở đám vô gia cư về quận ngay trong đêm”. Phúc may mắn gặp được bà cụ tốt bụng bán quán nước nhỏ bên góc phố, thương tình che chở, cho ăn cho ngủ – Phúc đã nhận nơi nầy làm nhà, và gắn bó với bà cụ, cùng cô cháu gái của bà đang gặp bất trắc, đau lòng trong tình yêu, khi đã mang thai sắp sinh con, mà người yêu vắng bặt. “Bà cụ đã quá quen với những chuyện muộn phiền trong cuộc đời khốn khổ, cam phận chấp nhận thêm chuyện dại dột của đứa cháu, nhưng bà lo lắm, cái bụng quá to so với vóc người ốm yếu xanh xao của nó!” (…)

Một ngày, Phúc đã tìm về thăm Tấn ngày xưa ở quê – đây là một đêm hạnh phúc mà hơn 30 năm trải qua biết bao thăng trầm, khổ đau, đôi “Bạn Già” mới được hưởng trọn vẹn. Hãy nghe tác giả kể lại – thật xúc động:

“- Ở lại, ở lại với tao, tụi mình nằm chung như cái hồi trai trẻ. Qua tết là tụi mình sáu chục rồi, có chết cũng được ghi là “hưởng thọ” thay vì “hưởng dương” trên tờ cáo phó, mau thiệt!
-Ừ mau thiệt, đi ngủ, mày còn gác như hồi xưa không?
-Bỏ lâu rồi nhưng đêm nay tau kẹp cổ mày cho nó sướng.
-Ừ, cho mày kẹp.
Hai cái thân già xiêu vẹo dìu nhau đi trong bóng đêm mờ mờ hơi sương, lành lạnh buổi cuối đông
.”.

Đưa vào tác phẩm nhiều chi tiết, nhiều tình huống phức tạp, theo tôi không phải là điều cần thiết cho một truyện ngắn hay – mà trái lại, cần cô đọng, với ít chi tiết nhưng mới lạ, cùng tư tưởng sâu sắc quan yếu cho đời sống muốn giải bày, mới là một truyện ngắn tốt. Trần Hữu Hội đã phần nào làm được điều đó ở một số truyện ngắn của anh hôm nay……

Tháng 4.2018.
MANG VIÊN LONG

“Ý TRỜI”

Trần Xuân Thời

hoanghon bien

Luận Về “Ý TRỜI”

Chúng ta thường đinh ninh rằng mọi việc ở đời đều do Đấng Thiêng liêng quan phòng. Nhưng quan phòng không có nghĩa là định đoạt. Quan phòng hiểu theo nghĩa quan sát, nhận định, hướng dẫn, chứ không hiểu theo nghĩa quyết định, vì Tạo hóa đã cho chúng ta lý trí để suy xét và tự do để hành động. Chỉ khi nào con người có tự do hành động mới chịu trách nhiệm về hành động cuả mình. “God, in the beginning, created man, he made him subject to his own free choice” (Sir14:15.)

Con người hữu lý khi tin rằng “Hoàng thiên bất phụ hão tâm nhân” (Trời không phụ người hiền đức) hay phúc họa ở đời do phản dưởng có điều kiện (conditioned feed back) tuỳ thái độ của con người. Khổng Tử viết “Vi thiện giả, Thiên báo chi dĩ phúc, vi bất thiện giả, Thiên baó chi dĩ hoạ” (Ai làm lành thì Trời báo phúc cho, ai làm điều chẳng lành thì Trời lấy họa mà báo cho) và Luận Ngữ ghi “ Bất tri Thiên mệnh vô dĩ vi quân tử giã” ( Không biết mệnh Trời thì không phải là người quân tử).

Ý niệm về “Ý Trời” là ý niệm chung của dân gian được hiểu qua nhiều ý nghĩa khác nhau tùy theo tín ngưởng. Chúng ta thử xét qua các ý nghĩa thông thường bàn bạc trong triết lý nhân gian.

Người ta thường nói:

“Sinh tử hữu mệnh, phú qúy tại Thỉên”

hay

“Sống chết bởi tại trời, giầu nghèo là cáỉ số. Dẫu ai ruộng sâu, trâu nái, đụn luá, kho tiền, cũng bất quá thủ tài chi lỗ”. Của cải thế gian là những vật hư nát nên những kẻ vi phú thường bất nhân không lo phần linh hồn thì cũng như những tên mọi giữ của!

Nếu tin hoàn toàn vào số mạng thì chúng ta đã tin vào thuyết định mệnh (determinism). Một khi tin vào số mệnh thì con người có thể có thái độ tiêu cực buông thả, không cố gắng, nhưng không tự trách mình mà phó thác cho số mệnh:

“Cũng liều nhắm mất đưa chân,

Thử xem con tạo xoay vẫn đến đâu.”

Tại sao con người tin vào số mệnh? Có lẻ khi con người được tạo dựng nên ở thế trần cảm thấy mình quá yếu đuối trước những mãnh lực thiên nhiên, tai ương khốn khó như bão tố, động đất, hạn hán, lụt lội, bệnh tật, thú dữ… đối với con người cổ sơ đó là những thiên tai trời định.

Từ những sự bất lực đó, con người đã tìm giải đáp và cũng là nguồn an ủi là tin vào thần linh. Thần linh có rất nhiều loại như thần hiền, thần dữ, thủy thần, hà bá, sơn thần, thổ thần…. và con người thờ nhiều vị thần khác nhau tạo nên tình trạng đa thần (polytheism) trong đạo giáo dân gian.

Người Trung Hoa có tục ném thiếu nữ xuống sông tế thần Hà Bá, để thần hà bá vui lòng, bớt giận, khỏi gây thủy tai, lụt lội mỗi khi sông Hoàng Hà hay sông Dương Tử ngập lụt. “Hà bá lấy vợ”. Biết bao thiếu nữ chết oan vì sự sùng bái mê tín dị đoan này. Người Việt có truyện Sơn Tinh, Thủy Tinh để giải thích nạn lụt lội hàng năm ở sông Nhị Hà.

Ngoài tín niệm chung của nhân gian, có những tín niệm có hệ thống như các hệ thống tín lý của Khổng Học, Phật Học, Lão Học. Trừ các tăng sĩ, nho sĩ, trí thức; đa số người bình dân Việt pha trộn cả ba học thuyết vào với nhau, hữu sự vái tứ phương, trong cuộc sống hàng ngày như: “Lạy Trời, lạy Phật, lạy Thiên Tiên Thánh Giáo, lạy Ông Bà, Cha Mẹ…. ban cho con được tai qua nạn khỏi.” Nhất là những lúc gặp khốn khó thập tử nhất sinh.

Khổng học là một triết thuyết về cách xử thế dựa trên nhân, lễ, nghĩa, trí, tín… Khổng học tin vào Mệnh Trời (God’s Mandate). Trời trong tâm trí người bình dân là Ngọc Hoàng, là Thượng Đế. “Thuận Thiên giả tồn, nghịch Thiên giả vong”. Thuận Thiên thì sống chống Thiên thì chết.

Sống theo mệnh trời là sống có trung, hiếu, tiết, nghĩa nhằm hướng đến cái chí thiện ở đời. Từ triết thuyết và luân lý làm người tốt và hữu dụng, triết lý giáo dục theo quan niệm của Nho học cốt đào tạo con người trở nên chí thiện “Đại học chi dạo, tại minh minh đức, tại thân dân. tại chi ư chí thiện.”, chứ không chỉ học lục nghệ để mưu sinh.

Khổng học còn là một triết thuyết về phương pháp trị quốc an dân. Chương trình giáo dục của Trung Hoa và Việt Nam suốt mấy ngàn năm văn hiến đều lấy Khổng học làm căn bản như dùng Tứ Thư, Ngũ Kinh làm sách giáo khoa cho sĩ tử. Văn võ bá quan trong các triều đại đều là những người xuất thân tu cửa Khổng, sân Trình, lấy Khổng học làm phương châm hướng dẫn hành động.

Ngưòi bình dân không cần đào sâu ý nghĩa của Thượng Đế trong Khổng học, thường chỉ tin vào Thượng Đế là đấng thiêng liêng, tạo nên vũ trụ, trên tất cả mọi loài thể hiện qua lời cầu khẩn: “Lạy Trời mưa xuống, lấy nước tôi uống, lấy ruộng tôi cầy, lấy bát cơm đầy, lẩy khúc cá to”.

Phật học, không giải thích số mệnh là do Trời, mà nhấn mạnh vào ý niệm “Nghiệp Chướng” (Karma). Karma, hay nghiệp chướng, là một ý niệm đã có từ hàng ngàn năm trong giáo thuyết của Ấn Độ Giáo (Hinduism) trước khi Đức Phật ra đời.

Ấn Độ giáo tin vào thuyết, luân hồi, nghiệp chướng và nhiều vị thần thánh khác nhau mà thần Siva là vị thần có nhiều quyền lực nhất.

Sau Đại Hội Phật Học kỳ thứ II ở Ấn Độ thì Phật học chia làm hai môn phái Tiểu Thừa (Hynayana) và Đại Thừa (Mahayana).

Môn phái Tiểu Thừa khai triển mạnh ở Ấn Độ, Tích Lan, Thái Lan, Miến điện….Môn phái Đại Thừa (Mahayana) của Phật học không phát triển mạnh ở Ấn Độ mà phát triển qua Trung Hoa, Việt Nam…..

Theo thuyết “Nghiệp chướng” thì mọi việc xảy ra ở đời này đều do kiếp trước truyền lại, nói khác đi là do tiền định. Con người vốn sinh ra và lẩn quẩn trong vòng tử sinh, sinh tử. Chết đi rồi lại đầu thai vào người khác hoặc sinh vật khác gọi là luân hồi (rebirth hay reincarnation). Nếu kiếp này sống ác đức, tội lỗi, thì khi chết có thề hoá thân ra con ruồi, con muỗi, con trâu, con bò…. để làm thân trâu ngựa, cho đến khi được giải nghiệp, mới chấm dứt kiếp luân hồi. Có lẽ vì hoá kiếp như vậy cho nên chúng ta không biết loài thú là hiện thân của những linh hồn tội lỗi nào đó. Như vậy trong sinh vật có linh hồn vì thế không được sát sinh.

Nói khác đi, những gì mình chịu đựng hôm nay là do hậu qủa của tiền kiếp (pre life), nghiệp báo. Ví dụ có người tin, sở dĩ chúng ta tha hương là vì nghiệp báo, ông bà chúng ta đã chiếm đất Chàm, đất Chân Lạp, giết hại biết bao dân lành nay bị nghiệp báo… Ca dao cũng có câu “Trời làm một chuyện lăng nhăng, ông hoá ra thằng, thằng hoá ra ông.” Câu ca dao nầy ứng nghiệm cho Nam Việt Nam sau 1975.

Nghiệp báo cũng là một loại định mệnh do kiếp trước ăn ở thất đức để lại. Do đó nhân sinh phải tím cách giải nhiệp.

Phần tích cực của thuyết Nghiệp báo là dù “Đã mang lấy nghiệp vào thân, cũng đừng trách lẫn trời gần trời xa” nhưng mà nếu có “thiện tâm”, tu tâm, tích đức, ăn hiền ở lành để tạo lập công đức có thể đạt đến trạng thái giải nghiệp (mosha). Nghĩa là thoát ra khỏi vòng luân hồi nghiệp chướng vào cõi vô vi, niết bàn… hay cõi Tây Phương cực lạc… Khi đó “Buổi sáng, sau khi thức giấc, có thể chu du qua ba ngàn đại thiên thế giới mà còn đủ thì giờ trở về ăn sáng.”

Phương pháp hay nhất là tu tiên, đến chốn cùng cốc thâm sơn để tu luyện, như Đức Phật đã bỏ gia đình, vợ con, cha mẹ đế nghiệp của tiểu quốc Ca Tì La Vệ để lên núi tu luyện theo như sấm truyền “Đức Phật sinh ra có 32 tướng tốt. Nểu làm vua thì được vị, nếu xuất gia tu hành thì sẻ thành Phật.”

Phật có nghĩa là người đắc đạo, thoát khỏi tục lụy xích xiềng của thế trần và nhất là thoát vòng nghiệp chướng (mosha) và hiện nay đã có hàng hà sa số chư vị Phật ngao du trên ba ngàn đại thiên thế giới.

Giải thích về sự hiện hữu của vũ trụ và con người, Phật học cho rằng vũ trụ và con người tự không mà có (The universe is from nothing). Bàn về thánh thần, Thượng Đế, Đức Phật bảo đồ đệ chuyện đời chưa hiểu được, làm sao có thể hiểu được chuyện thần thánh. Triết học ngày nay gọi những người có đồng tư tưởng là những người thuộc môn phái “Bất khả tri luận” (Agnosticism) khác với chủ trương vô thần (Atheism) của Epicure. Môn phái vô thần không tin có thần linh, duy vật, con người không có linh hồn, như bao nhiêu sinh vật khác, chết là hết !

Phật học chủ trương có thoát được nghiệp chướng hay không là do sức con người tự tạo lấy, “tự lực cánh sinh” (self help approach), không nhờ vaò thánh thần nào giúp sức vì không biết được có thần thánh hay không… Cũng do quan niệm thiếu tính cách thần linh mà Phật học không phát triển mạnh được ở Ấn Độ, vì Ấn Độ là thế giới của thần linh, mà phát triển qua các quốc gia khác.

Phật học thiên về tu thân, tích đức để thoát vòng nghiệp chướng, lo tu luyện cá nhân để mưu cầu phần rỗi mà không bận rộn về đời sống vật chất, xa lấn thất tình lục dục. Sỡ dĩ cuộc đời khổ cực là vì ham muốn và không thỏa mãn đ ược sự ham muốn, cho nên phương pháp hay nhứt là giệt sự ham muốn thì bớt khổ.

Đời là bể khổ vì luân hồi nghiệp chướng, muốn thoát bể khổ phải tu trì để được đắc đạo, thoát cảnh tái sinh. Người bình dân thường nói “Người hiền chết sớm, kẻ dữ sống lâu”, có lẽ hàm dưõng ý nghĩa chết sớm để thoát trần ai khổ lụy là có phước, kẻ dữ sống lâu để bị đọa đày, để đền tội. Vì nghiệp chướng quá nặng nề?

Phật học không đề cập đến Trời, Thượng Đế, nên ý niệm “Ý Trời” có phần thể hiện hậu quả của nghiệp chướng do tiền kiếp để lại. Có nghĩa là người bình dân, nếu gặp trở ngại, đời sống khó khăn, gặp nhiều cảnh tai ương có thể an ủi bằng câu “Tại vì nghiệp chướng của tôi như vậy”. Hoặc tại vì luật nhân quả, nghiệp báo, kiếp trước làm ác, báo hại khiến kiếp sau lãnh đủ.

Người theo Khổng học có thể giải thích “Ý Trời” là ý của Thượng Đế. Thượng Đế đã an bài mọi sự. “Chung cục thì chỉ cũng tại Trời.” (Nguyễn Du). Kinh Thi ghi “Thượng đế rất lớn soi xuống dưới rất rõ ràng, xem xét bốn phương, tìm sự khốn khó của dân mà cưú giúp- Hoàng Hỹ Thượng Đế, lâm hạ hữu hách, giám quan tứ phương, cầu dân chi mạc.” Điều gì dân chúng ước ao thì Trời cũng chiều theo. “Dân chi sở dục, Thiên tất tòng chi“. Cầu thì được, xin thì cho, gõ thì mở. Đã là người, ai cũng đều là con của Trời. “Phàm nhân giai, vân Thiên chi tử “. Người là tiểu vũ trụ trong đại vũ trụ của Trời Đất và cả hai là Một.“

Quan niệm của Nho Sĩ thường có tính cách tích cực hơn là tiêu cực. Con người phải cố gắng hết sức mình làm việc, nếu không đạt được thành công thì không còn tự trách mình mà an ủi bằng mệnh số, đó là do “Ý Trời” như Nguyễn Công Trứ trong lúc hàn vi thường tự an ủi: “Hữu kỳ đức, ắt Trời kia chẳng phụ.”

Người Công Giáo khi nói đến “Ý Trời” tức nói đến “Ý Chúa”. Nhiều người nhớ câu “Sợi tóc trên đầu rơi xuống cũng là do ý của Chúa”. Người Công Giáo tin rằng Thượng Đế là đấng tạo nên trời đất, muôn vật.

Ý Trời trong quan niệm của người Công giáo là kết quả công việc làm theo thánh ý Thượng Đế. Vi phạm luật lệ không phải là do ý trời. Tại sao? Tại vì Thượng đế sinh ra con người đã cho con người có lý trí để suy xét, và có tự do để hành động.

Vì vậy, tiêu diệt tự do cá nhân là trái với Thiên lý.

Không có có công mà được thưởng, không có tội mà bị tù đăy, cấm cố, là vô nhân đạo cho nên người Công giaó chống độc tài đảng trị là làm theo Thiên ý.

Giáo hội quan niệm những kẻ theo chủ thuyết độc tài CS thì không còn là giáo hữu chân chính. Khi bản Tuyên Ngôn Quốc Tế Cộng Sản ra đời năm 1848, Đức Giáo Hoàng Piô thứ IX, ( 1846-1878) đã tuyên bố ” That infamous doctrine of so called Communism which is absolutely contrary to the natural law itself, and if once accepted would utterly destroy the rights, property and possessions of all men and even society itself.” Cái học thuyết xấu xa gọi là chủ nghĩa Công sản hoàn toàn trái với luật tự nhiên, và môt khi được chấp nhận, nó sẽ tiêu giệt hết dân quyền, tài sản, quyền sở hữu của nhân loại và chính xã hội loài người.

Thế thì với lý trí để suy xét, tự do hành động, con người phải chịu trách nhiệm về hành vị của mình. Giả thử Chúa sinh ra mọi người bình thường có thân thể và trí tuệ giống nhau nhưng đời sống mỗi người lại khác nhau có phải đó là tại ý trời hay không?

Yes and No. Có và không. Có vì Ý Trời là ý mà Chúa an bài cho mỗi người, bất kể lương hay giáo một vị thể khác nhau trong xã hội để mỗi người một việc thi hành nhiệm vụ mà Trời đã giao phó vì tất cả nhân loại đều là con Trời.

Tuy nhiên, phải lưu ý là khi Trời giao phó sự việc cho mỗi cá nhân, dựa vào khả năng riêng biệt của mỗi người do sự cố gắng, tự tạo và cho con người tự do hành động. Hành động thành công hay thất bại là do cá nhân. Những cá nhân có thành tâm thiện chí thường là những người sáng suốt vì tâm hồn được bình an, tâm trí được thông minh rất dễ thành công.

Không phải là ý Trời, nếu ngược lại những cá nhân thích sống ích kỷ, hay ganh tị, không hiểu vai trò đã được giao phó, có thái độ thù hận ganh ghét thì tâm hồn bối rối, mất sự bình an, từ đó kém sáng suốt, vụng về và cá nhân phải chịu trách nhiệm về thái độ của mình.

Nếu chúng ta biếng nhác, không chịụ học hỏi, không chịu làm việc để lâm vào tình trạng đói khổ, thua sút mọi người, say sưa, phạm tội, trí tuệ lụn bại, thiếu sáng suốt, làm việc ngoài vòng cương tỏa, không làm việc hết mình, không theo thánh ý Thượng Đế, thì kết quả chúng ta phải gánh lấy, không phải là ý Trời.

Như thế, những gì con người thực hiện với thành tâm thiện ý tức là làm việc thiện theo thánh ý Chúa, kết qủa đạt được hoàn hảo hay không, không phải là quan trọng, điều quan trọng là chúng ta có cố gắng hay không? Có được ơn Chúa soi sáng, được sự bình an trong tâm hồn, có cảm được sự hữu dụng của đời sống?

Thánh Phao Lồ trước khi trở thành Kitô hữu đã tự ý giết hại Kitô hữu. Khi trở thành tông đồ của Chúa vẫn cảm thấy ân hận về những việc ông đã làm (1Tim 1: 2-15).

Thiên Chúa đã chọn Phao Lổ để nhắn nhủ nhân loại là kẻ có tội lỗi như Phao Lô cũng còn thánh hóa được. Trong thư gởi tín hữu Thành Corinto, Thánh Phao Lổ đã viết: “Tôi không xứng đáng được gọi là Tông Đồ của Chúa, nhưng nhờ ơn Phúc Ngài ban, tôi mới được như ngày hôm nay”. “I am… not worthy to be called an apostle… but by the grace of God, I am what I am (1Corinthians 15: 19-10).

Như vậy, tội lỗi của quá khứ không nhất thiết làm cản trở cuộc sống trong tương lai, miễn là có thành tâm hối cải sẽ được trở thành người hữu dụng. Ý niệm nầy đã được hội nhập vào môn triết pháp. Luật pháp Tây phương dựa trên nhân bản vừa ngăn ngừa tội phạm (determent) vừa gúp phạm nhân tái tạo (restoration) lại cuộc sống, cho phạm nhân “a second chance” dựa trên sự cố gắng cá nhân của mỗi người.

Luật pháp nhân bản không chủ trương ”thà giết lầm hơn bỏ sót hay trí, phú , địa hào, đào tận gốc, trốc tận rễ ”mà ngược lại chủ trương “ thà bỏ sót hơn giết lầm”, cho phạm nhân hưởng lợi nếu bằng chứng buộc tội chưa minh bạch (benefit of doubt).

Trời tạo nên con người và rất chính xác khi điều khiển vũ trụ, cũng như biết rõ người nào thích hợp để được giao phó trách nhiệm, sự xứng đáng đó dựa trên công việc, sức cố gắng của mỗi cá nhân.

Trời phán xét dựa trên công việc của mỗi người, chứ không phải dựa vào lời đàm tiếu của người khác. “God judges us by what we do, not by what others say”.

Về phương diện vũ trụ, sự chính xác của Thượng Đế thật mầu nhiệm, sự vận hành cua các tinh tú, mặt trời, mặt trăng, quả đất đều được sắp xếp vận hành trong qũy đạo một cách chính xác. Các nhân vật thông thái, các khoa học gia về vũ trụ là những người khâm phục sự mầu nhiệm của Hoá Công và nhờ vào sự chính xác của Hoá công mà họ đoán trúng những hiện tượng sắp xảy ra.

Họ là những người chịu tìm tòi học hỏi, cố gắng tìm hiểu sự vận hành của vũ trụ để đem kiến thức truyền lại cho hậu thế.

Thượng đế đã tạo nên mọi sự, mọi sự đã có sẵn, phần còn lại là bổn phận của con người phải tìm tòi học hỏi để hiểu biết ý định của Thiên Chúa. “Không biết mệnh Trời thì không phải là người quân tử – Bất tri Thiên mệnh, vô dĩ vi quân tử giã” (Luận Ngữ)

Ví dụ, trong năm 1993, các nhà thiên văn học đã biết được rằng ngày 3 tháng 11 năm 1994 sẽ có Nhật thực kéo dài 4 phút, 51 giây. Nhật thực (eclipse) sẽ được thấy toàn điện ở các qụốc gia Bolivia, Brazil, và biển Nam Đại Tây Dương.

Đó là hiện tượng về thiên văn, về sự vận hành của vũ trụ do Thiên Chúa tạo dựng. Sở dĩ các nhà Thiên-văn-học tiên liệu một cách đích xác mà không sợ sai là vì sự vận hành của vũ trụ do Thiên Chúa tạo dựng một cách chính xác. Đến giờ phút nào thì hiện tượng gì xảy ra, đó là “Ý Trời” trong sự vận hành trật tự chung của vũ trụ. (moral order of the universe).

Con người có nhiệm vụ tìm hiểu và đoán được Ý Trời, nếu không thì xem như chưa tu luyện đủ để đạt đến giai đoạn “Nhi tri Thiên Mệnh”.

Thịnh, suy thay đổi như bốn muà Xuân, Hạ Thu, Đông theo luật tuần hoàn của Tạo hóa. Chớ nản lòng, hết cơn bỉ cực sẽ tới hồi thái lai.

Sau khi nghe Thúy Kiều tâm sự “Giác Duyên nghe nói rụng rời” và cùng Tam Hợp Đạo Cô khuyên nhủ Kiều:

“Sư rằng “Phúc họa đạo Trời

Cỗi nguồn cũng ở lòng người mà ra

Có Trời mà cũng có ta

Tu là cõi phúc, tình là giây oan” (Nguyễn Du)

Ai dày công tu thân, tích đức, cố gắng học hỏi, làm việc sẽ hiểu được Thiên Ý, hiểu được sự vận hành của vũ trụ, hiểu đươc thế thái nhân tình, hiểu được phương cách làm việc, hiểu được đường hướng phải làm, được chương trình, kế hoạch phải thực hiện. Lòng Trời ở trong lòng mỗi người. “Nhất nhân chi tâm, tức Thiên địa chi tâm”

Thiên Chúa bảo chúng ta đừng bao giờ nãn lòng, (not lose your heart: Luke 18:1), phải cố gắng làm việc, học hỏi (obligation to study) và cầu nguyện (pray) để được ơn Thiên Chúa, được sự bình an trong tâm hồn, để được soi sáng, thì dù kết quả có thế nào chăng nữa vẫn thể hiện thiện ý, vì:

“Thiện căn ở tại lòng ta

Chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài

Có tài mà cậy chi tài

Chữ tài nằm với chữ tai một vần.”

Có tài chế ra nguyên tử để làm điều thiện như làm máy phát điện, dụng cụ chữa bệnh…. là hợp “Ý’Tròi”. Nhưng dùng tài để chế vũ khí sát thương, bom nguyên tử sát hại nhân loại tức là phản “Ý Trời” là gây tai họa thì Thiên bất dung gian.

Có khoa học mà vô lương tâm sẽ gây bại hoại cho tâm hồn “Science sans conscience n’est que ruine de l’âme”.

Sau mùa Đông giá rét, nhân dịp Xuân về, muôn hoa đua sắc thắm thể hiện Ý Trời. Chúng ta hãy làm việc hữu ích cho nhân quần xã hội, với thiện tâm, trong tình yêu nhân hậu, giữ tình đồng hương, nghĩa đồng bào.

Các học thuyết của Nho, Thích, Lão và Thần học không đối nghịch mà dung hợp thể hiện sự viên mãn ( fulfilment) về nhân sinh quan và vũ trụ quan của nhân loại từ Đông sang Tây, từ Nam chí Bắc trong tiến trình “Tri Thiên Mệnh”.

Đức Giáo Hoàng Gioan Phao Lồ II, vào đầu tháng 11 năm 1999, đã công bố Tông Thư: Giáo Hội tại Á Châu:

“Giáo hội Công giáo tỏ lòng cung kính và ngưởng mộ tất cả truyền thống tinh thần của các Tôn Giáo Á Châu “thể hiện tinh thần tôn trọng liên tôn, hoà nhi bất đồng.

Luôn giữ tâm thường an lạc, dù vật đổi sao dời, chúng ta vẫn yên tâm sống đức hạnh “phú qúy bất năng dâm, bần tiện bất năng di, uy vũ bất năng khuất” có chí thì nên, măc dù:

“Cõi trần thế cuộc chiêm bao

Công hầu khanh tướng xôn xao trong vòng

Tranh nhau chỉ vì hơi đồng

Giết nhau vì miếng đỉnh chung ở đời”

Lạc quan, tin tưởng, quyết chí tu thân và hành động chính trực là nhiệm vụ chung của chúng ta thì thân sẽ không tật bệnh, tâm sẽ không phiền não, kết quả thế nào chăng nữa thì cũng có thể yên tâm vì chúng ta đã làm việc hết mình, phần còn lại là do “Ý Trời” vậy.

“Gẫm thay muôn sự tại Trời.

Trời kia đã bắt làm người có thân.

Bắt phong trần phải phong trần

Cho thanh cao mới được phần thanh cao” (Nguyễn Du)

Luôn luôn lấy hy vọng làm nguồn sống

“Trời đâu riêng khó cho ta mãi

Vinh nhục dù ai cũng một lần.”

Trần Xuân Thời .

(theo TQH)

*** Chợt Buồn Màu Hoa Tím

Trương Thị Thanh Tâm

            aotrang2-kkk
Trời hôm nay không mưa mà thiếu nắng 
Dù nắng mưa vẫn nhớ hẹn với người 
Ngày cuối tuần chỉ gặp một lần thôi 
Ghế đá công viên, hoa Bằng Lăng nở tím 
Một ít son bờ môi cong ngọt lịm 
Ngọn gió chiều, ve vuốt má hồng tươi 
Nhìn lại trong gương môi nở nụ cười 
Đôi mắt biếc long lanh trời thương nhớ 
Tóc buông dài một thời hoa mới nở 
Gío cợt đùa mặc nắng sớm hờn ghen 
Vầng trăng nghiêng đâu sánh với ánh đèn…
Đêm phố thị nồng nàn mùi son phấn 
Kỷ niệm cũng trôi theo dòng nước lớn 
Lời hẹn thề như cánh lá vàng bay 
Trời bão giông, xa cách một vòng tay 
Đời dâu bể còn ít nhiều nuối tiếc 
Có gặp lại giã vờ chưa quen biết 
Kỷ niệm ngày nào,  bong bóng vỡ trong mưa 
Khi trở về qua con phố ngày xưa 
Đường Bằng Lăng chợt buồn màu hoa tím.
                Trương Thị Thanh Tâm 
                                Mytho 

*** MỘT CON TIM

Khê Kinh Kha

00chungminh

xin khép lại những mãnh tình đã vỡ
góp dùm anh những giọt lệ hao gầy
cất đi cưng những muộn phiền năm tháng
ngồi bên anh mình bắt đầu từ đây

dù gian khó xin trọn đời gắn bó
như gíó mây ngàn đời vẫn có nhau
như sỏi đá không bao giờ xa cách
như trùng dương và con sóng bạc đầu

dù dĩ vãng có trăm nghìn chua xót
dù hôm nay mình có lắm sầu đau
xin cưng hãy tựa vào tôi cưng nhé
nghiêng cuộc tình vào giữa đời nhau

ngồi bên nhau mình chia sẻ măn nồng
đời mênh mông thân thế phận cỏ hèn
giữa gian lao mình cùng chia cơm áo
cầm tay nhau mình bước qua núi sông

ngồi xuống đây, bên anh. cưng yêu hỡi
đời có nhau ta cùng tát biển đông
ngồi bên anh, cưng hỡi, sát tim nồng
chỉ hai đứa mình, cùng một con tim

Khê Kinh Kha