Hoàng Hải Thủy và ngọn sông đào

BE SANG SONGTắm mát sông đào

Hoàng Hải Thủy

Một trong những lạc thú ở đời của tôi là đọc những bài, những truyện tôi viết đăng trên báo. Ngày xưa, những năm tôi còn xuân sắc, tôi thường để dành việc ấy để làm vào những giờ khuya. Sàigòn chín, mười giờ tối, đi chơi về, tắm, mặc bộ đồ ngủ còn thơm mùi nắng, ủi láng coóng – những năm từ 1958 đến 1963, thời kỳ phong độ nhất cuả đời tôi, thời tôi làm nhân viên toà soạn nhật báo Sàigònmới, thời tôi viết tiểu thuyết phóng tác, phóng sự cho nhiều báo, tôi quen chỉ mặc bộ pijama một đêm, tối hôm sau bận bộ pijama khác, vì bộ pijama tôi măc ngủ đêm hôm trước không còn thẳng nếp – tôi vào giường nằm, hút năm, bẩy điếu Philip Morris Vàng hay Lucky Ba Hàng Chữ, mở tờ báo có bài của tôi ra đọc. Tôi khoan khoái nhìn những dòng chữ tôi viết hiện lên trên giấy bằng chữ in, gọn, ngăn nắp, sáng đẹp.

Ðấy là chuyện tôi đọc những bài tôi viết in trên báo những năm xưa, những năm vàng son của đời tôi trước 1975. Từ ngày nón cối, giép râu, lính cái đít bự như cái thúng, ngơ ngáo kéo vào Sàigòn, tôi mất cái lạc thú đó, lạc thú được đọc bài viết của tôi đăng trên báo. Có thể nói là tất cả các văn nghệ sĩ Quốc Gia Việt Nam Cộng Hoà đều bị Bắc Việt Cộng cấm viết, không những chỉ bị cấm viết mà thôi, nhiều người còn bị bắt đi tù.

Biết rồi! Khổ lắm! Nói mãi! Chuyện tù đày kể mãi chẳng ai còn muốn nghe. Hai mươi ba năm sau ngày 30 Tháng Tư 1975, liêu lạc ở xứ người, hôm nay, tôi viết bài này để nói lên một chuyện.

Ðó là chuyện những năm 1920, 1922, khi bọn Nga Cộng, ngày đó được gọi bằng cái tên là bọn Bôn-sê-vích, chiếm quyền ở nước Nga, cái gọi là “bức màn sắt” lập tức được buông xuống bao trùm nước Nga khốn khổ khốn nạn. Không một tin tức nào từ trong nước Nga được thoát ra thế giới bên ngoài, trừ những tin do bọn Nga Cộng truyền đi. Người thế giới gần như hoàn toàn không biết gì về những sự kiện xẩy ra trong nuớc Nga, về tình cảnh khổ cực dưới ách cộng sản của người dân Nga. Tình trạng câm nín, mù mịt ấy kéo dài từ năm 1920 mãi cho đến những năm đầu thập niên 1960 – 40 năm sau – mới có lẻ tẻ vài ba truyện ngắn có tính cách chống Cộng được viết trong nước Nga lọt qua được bức màn sắt ra thế giới bên ngoài. Tính cách chống Cộng sản trong những văn phẩm ngắn ấy mờ nhạt, không có gì đáng kể. Vào thời ấy, những năm 1950, 1960, một truyện ngắn được viết trong nước Nga Xô-viết  không ca tụng chủ nghĩa cộng sản, không nâng bi bọn đảng viên cộng sản, không trình bày cuộc sống tươi đẹp đầy hướng đi lên cuả người dân Nga đã được người thế giới tự do coi là “truyện có nội dung chống Cộng”. Tiêu biểu là một truyện vưà của Vladimir Dutdinsev, được dịch ra tiếng Anh với cái tên ‘A New Year Fable’: Chuyện Ðầu Năm. Tôi đọc A New Year Fable năm 1961, trong đó tôi chỉ thấy có tí ti chống Cộng như sau:

Hai người yêu nhau đi chơi trong miền quê. Tâm trạng linh tinh của nhân vật “Chàng.”  Chàng hỏi nàng:

– Em có yêu chồng em không?

Nàng không trả lời.

Chàng lại hỏi:

– Em có yêu Ðảng Cộng sản không?

Nàng cũng không trả lời. Tác giả không cho nữ nhân vật trả lời nhưng người đọc cũng dễ dàng biết câu trả lời của nàng. Tất nhiên nàng không yêu chồng nàng nên nàng mới ngoại tình với chàng, nàng không yêu chồng nàng mặc nhiên nàng cũng không yêu Ðảng Cộng sản.

Năm xưa ấy, năm 1961, sự hiểu biết của tôi về chính trị đựng không đầy cái lá mít, nhưng tôi cũng ngạc nhiên khi thấy Vladimir Dutdinsev dám viết mấy câu như thế. Tôi nghĩ sống trong chế độ cộng sản, tất cả mọi người đều yêu Ðảng Cộng sản, tại sao Vladimir Dutdinsev dám cho nhân vật trong truyện đặt câu hỏi “Có yêu Ðảng hay không?” Hỏi như thế là phản động, là chết. Phải mười năm sau, năm 1970, thế giới mới thấy Nga Xô-viết có một nhà văn chống Cộng thực sự, nhà văn đó là Alexandre Solzhenytsin.

Cộng sản Tầu chiếm Trung Quốc năm 1948, bức màn tre lập tức buông xuống bao phủ Trung Quốc. Trong 50 năm không có một tiếng nói, một văn phẩm chống Cộng nào từ trong bức màn tre Tầu lọt được ra thế giới. Mãi đến thập niên 1990 mới có vài ba nhân viên ngoại giao Tầu Cộng sang làm việc ở Âu châu, bỏ nhiệm sở, xin tị nạn, ở lại, viết một số bài lên án Tầu Cộng. Những nhân vật Tầu ấy viết chống Tầu Cộng ở những nước tự do dân chủ Pháp, Anh; trước sau, cho đến năm 1990, ngay cả đến bây giờ năm 2003, tôi không thấy có tác phẩm văn nghệ nào, dù chỉ là một truyện ngắn, một bài tiểu luận, chống Tầu Cộng, viết  từ trong nước Tầu gửi ra ngoài.

Với Quốc Gia Việt Nam Cộng Hoà tình hình khác hẳn. Bắc Việt Cộng kéo vào Sàigòn, đường liên lạc bằng thư từ giữa Sàigòn với Paris, London, New York, Sydney..vv..không bị đứt ngang. Chỉ một tháng sau ngày 30 Tháng Tư 1975 những cánh thư từ các nước dân chủ Âu Mỹ đã tới tấp bay về Sàigòn, và những cánh thư của người Sàigòn đã bay loạn cào cào đi khắp nơi. Chỉ một năm sau, năm 1976, đã có những bài viết mô tả cuộc sống tuyệt vọng, đau thương của những người Sàigòn được viết từ Sàigòn gửi ra nước ngoài. Những bài viết ngắn thôi, nhưng có ngôn từ chống Cộng mạnh và rõ rệt; trong những bài viết ấy không chỉ có những cảnh sống cực khổ, tuyệt vọng cuả nhân dân VNCH, những việc làm tàn ác của những người Bắc Việt Cộng đối với nhân dân Quốc gia VNCH bại trận, mà còn mô tả sự thù ghét, nặng hơn nữa là sự khinh bỉ những người cộng sản cuả nhân dân Quốc Gia VNCH. Trong số những người viết những bài ấy ngay từ năm 1976 có tôi.

Năm 1976, 1977, sau hai năm tù vì tội gửi tác phẩm ra nước ngoài, khi trở về mái nhà xưa tôi còn viết bài gửi ra nước ngoài nhiều hơn trong những năm 1982, 1983. Tôi viết bài, gửi ra ngoại quốc qua đường bưu cục như mọi người, gửi đi mà không biết chắc thư mình gửi có đến tay những người bạn mình ở nước ngoài hay không. Và trong 20 năm sống mỏi mòn ở Sàigòn tôi không được hưởng niềm sung sướng được đọc những bài tôi viết in sáng đẹp trên giấy. Hai mươi năm sau năm 1975 bánh xe lãng tử đưa tôi đến Hoa Kỳ, tôi vẫn không được đọc những bài tôi viết gửi sang Hoa Kỳ những năm 1981, 1982. Những năm ấy tôi ký tên rởm dưới những bài tôi viết: Con Trai Bà Cả Ðọi, Yên Ba, Ngụy Công Tử, Văn Kỳ Thanh, Hồ Thành Nhân, tôi gửi bài nhiều nhất cho hai tờ Văn Nghệ Tiền Phong của Hồ Anh, và tờ Ðất Mới do Thanh Nam chủ biên ở Seattle. Năm 1994 khi tôi đến Hoa Kỳ, tờ Ðất Mới đã đình bản từ lâu, Thanh Nam đã qua đời, tôi không có điều kiện lục tìm trong những kho báo cũ những bài tôi viết ở trong nước từ mười mấy năm trước.

Hoàng Hải Thủy

Bộ sưu tập | Bài này đã được đăng trong Tap but và được gắn thẻ . Đánh dấu đường dẫn tĩnh.

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s