30-4tobucketBIẾT NGƯỜI, BIẾT TA…

 cao xuân thức
Kính dâng linh hồn Thầy Mẹ
 
Mùa Đông 2016 bắt đầu ngày 21 tháng 12; Trước đó vài ngày tiết trời trở lạnh, mưa nhẹ, gió Santa Ana trở về. Mãi tới hôm nay vẫn mưa và lạnh. Nhìn bầu trời man mác buồn, tôi bỗng nhớ lại hình bóng, dáng dấp, giọng nói của Thầy Mẹ tôi và quá khứ đời mình; Mới đây đã 74. Thầy Mẹ đã vắng nhà quá lâu: Mẹ từ 12/27/1972; Riêng lúc Thầy tôi ra đi ngày 05/19/1976, tôi còn ở trong ngục tù việt cộng. Nghe kể lại Thầy tôi nhắc tên sáu đứa con trai vào những ngày tháng cuối; trong khi tất cả còn trong ngục tù việt cộng. Chỉ có bà chị gái bên cạnh giường lúc Thầy tôi vĩnh viễn xa nhà. Thử hỏi còn nỗi buồn nào to lớn hơn nỗi buồn này? Còn nỗi đau nào đớn đau hơn? Mất cha, mất mẹ là vĩnh viễn mất đi. Buồn ơi là buồn! Đau ơi là đau! Nhanh quá đi thôi. Chưa làm được gì cho ra hồn.
Người viết không tham lam tự thuật hết mãnh đời của bản thân mà chỉ ghi sơ lược điều đã thấy, đã gặp và đã làm- còn sót lại đâu đó trong tiềm thức.
1-     ĐẸP LẮM CUỘC ĐỜI MỘT NÔNG DÂN: 1942-1954.
Sinh tháng 7 năm Nhâm Ngọ/1942 tại làng H.P. Quãng Bình Việt Nam; Trong một gia đình nông dân: Suốt ngày chân lấm tay bùn, và lợi tức phó thác cho thiên nhiên thời tiết; công việc hằng ngày như cày bừa, cắt cỏ. Đi nôm, đi xúc. Đào hang cua, hay mò bắt cua đồng. Không may thọc tay vào hang gặp phải rắn nước; sợ hết hồn vội rút tay ra, bỏ của chạy lấy người. Đến mùa gặt. Gặt lúa. Bó lại. Gánh về. Đem phơi. Đập lúa. Xay lúa. Gĩa gạo.
 Vụ lúa xong. Đến vụ trồng khoai lang, khoai mì, và gieo bắp. Đây là món ăn dặm với cơm, nếu vụ lúa được mùa. Ngược lại, nếu vụ lúa mất mùa; Lang, mì, bắp sẽ lên ngôi thành món ăn chính mỗi ngày cho đến vụ lúa năm sau.
 Mẹ tôi thêm cái nghề nuôi tằm, do đó còn phải lo hái lá dâu làm thức ăn cho tằm; Đến lúc tằm nhả tơ, lo thu hoạch tơ và dệt tơ đan áo; Được cái là tằm sau khi nhả hết tơ trở thành con nhộng, luộc hay chiên ăn rất ngon.
Thầy tôi thêm nghề “Thầy thuốc Bắc”. Sau này văn minh hơn gọi là” Bác sĩ Đông Y”. Mỗi lần khách tới, tôi phải chơi loanh quanh để khi, Thầy cần tôi đem nướng vài món thuốc như bạch truật, cam thảo…và quế…Tôi thích ăn lén vài miếng quế vì có vị cay cay và thơm…Dọc theo hiên nhà có đến cả chục khúc gỗ rỗng lòng nuôi ong, treo lủng lẵng và khi đến mùa thu hoạch mật, tôi được ăn những xác đã vắt hết mật.; Nhưng vẫn còn vị ngọt. Có một điều thật lạ cho đến bây giờ tôi vẫn không hiểu được; nhưng rất thích thú khi nó xảy ra lúc đó; Sự việc như thế này: Mỗi khi thấy đàn ong bay qua nhà, Thầy tôi kêu to: có ong, có ong…lập tức cả nhà mỗi người cầm hai cái chén ăn cơm hay nắp nồi cà cà vào nhau và cứ thế làm liên tục; từ từ đàn ong sà xuống và tụ lại trên một cành cây nào đó. Thầy tôi bắc thang leo lên tìm con ong chúa và bắt nó cột vào bọng ong treo sẵn bên cạnh: Từ từ các cô chú ong khác chui vào. Và bọng ong này sẽ được di dời vào hiên nhà.
 Ngày loay hoay ngoài đồng ruộng, đêm lo tới giếng làng múc nước và gánh về cho ngày mai v.v… Cứ thế mà xoay vần cho tới khi lên giường đi ngủ: Không mộng mị, không mất ngủ, không đi tiểu tiện đêm … Không cần thuốc cao máu, cao đường, cao cholesterol, nhức mỏi hay thuốc ngủ …Đúng là trời sinh voi sinh cỏ…Càng đi gặp bác sỉ càng sinh nhiều thứ bịnh như thời nay? Có vài người nói với tôi như thế.
 Tình yêu trai gái thường nãy nở những đêm đến nhà hàng xóm giúp nhau đạp lúa, xay lúa…Hay qua mai mối. Không có cái cảnh anh đứng chờ em khi tan trường về; hay mời em đi ăn, đi xi nê; Xin cho anh số điện thoại; hay ta quen nhau đêm  Noel năm nào…như trong một vài nhạc bản. Tôi còn nhớ lúc đó đã gần 9 hay 10 tuổi, đi chăn bò, chăn trâu gặp ngày nắng gắt cả đám trai lẫn gái tuột hết áo quần ào nhảy xuống suối tắm tỉnh bơ. Nay ở Mỹ, mấy đứa cháu trai lẫn gái mới lên hai lên ba, khi cha mẹ hay ông bà cởi áo quần chúng đem vào phòng tắm đã mắc cỡ và lớn hơn tí nữa là chúng chỉ cho thay áo quần nơi riêng tư. Té ra càng văn minh càng rắc rối.
 2-     VIỆT MINH CHỦ TRƯƠNG: THÀ GIẾT LẦM – HƠN THA LẦM:
Khoảng năm 1949-1950: Việt Minh tấn công vào làng khi giáo dân cả làng đang tham dự Lễ Giao Thừa Tết Nguyên Đán.
 Nó bao vây nhà thờ. Nội bất xuất; ngoại bất nhập. Tôi và Mẹ tôi không đi lễ đêm; nên không bị kẹt trong nhà thờ. Thế nên chứng kiến được cảnh đi hôi của, của “bộ đội cụ hồ” và dân làng bên cạnh hùa theo ăn ké. Chúng tay cầm súng, cầm mác, tay cầm gậy dâm đâm thọc thọc từ ngoài vườn đến tận trong nhà để tìm kiếm của cải chôn giấu…Thật hao hao giống như cảnh 30/4/1975 tại Saigòn và các tỉnh thị miền Nam và miền Trung.
 Thầy tôi và các anh lớn tuổi tan tác nhau kể từ đêm đó. Mạnh ai người đó thoát thân để chạy vào vùng Quốc Gia kiểm soát. May mà tất cả vượt thoát an toàn. Còn lại Mẹ tôi và tôi, côi cút với nhau suốt nhiều năm sau đó.
 Mẹ tôi với tấm thân nhỏ thó nhưng lo toan mọi thứ từ trong ra ngoài; Thương Mẹ quá. Tuy còn nhỏ tôi trốn Mẹ đi lên giếng Làng múc và gánh nước về dùng hằng ngày. Mẹ nhìn tôi và hỏi” Sao con gánh được?” Con phải nghỉ nhiều lần trên đường. Mẹ ngoảnh mặt đi hướng khác. Dường như Bà khóc vì thương tôi. Kể từ đó ngoài việc nấu cơm quét dọn và hái dâu nuôi tằm tôi có thêm công việc gánh nước. Nấu cơm lúc đó khi nào cạn nước, phải xới cơm lên và phần trên cũng phải độn khoai lang khô hay khoai mì. Lý do: Đến bửa ăn, trên mâm cơm có cơm độn như thế; mới khỏi bị cán bộ cụ hồ hạch hỏi đủ điều và có thể bị đấu tố vì cho là còn chôn giấu của cải mới ăn cơm trắng. Nếu lâu lâu mua được thịt cá, Mẹ bảo phải để phía trong đừng dọn lên mâm. Dĩ nhiên phần cơm trắng phía dưới nồi cũng phải để phía trong. Qủa thật chuyên khó tin mà có thật dưới thời sống với Việt Minh/Việt Cộng.
  Thế rồi khoảng năm 1953-1954, một hôm mẹ tôi nói nhỏ; Sáng sớm mai Mẹ đem con vào gặp Thầy và các anh con. Hôm sau giữa đêm khuya, hai mẹ con âm thầm rời nhà xuống bến ghe. Vừa rạng sáng từ xa xa đã thấy Quãng Khê. Súng nổ và người chèo đò cho ghe cập vào. Cả ghe bị bắt. Ở tù trong nhà dân vài ba tháng. Trong thời gian đó mỗi lần máy bay bà gìa Pháp lên; chúng tôi phải chạy ra vườn chui vào mấy cái nấm mộ ngụy trang; Chỉ chui ra khi không còn tiếng ù ù từ máy bay.
Vào một buổi trưa, du kích tới bảo mẹ con tôi ra về. Hai mẹ con đi bộ qua nhiều cánh đồng về nhà. May mà nhà vẫn cửa đóng then gài chưa có chủ mới.  Sau lần vượt thoát thứ nhất thất bại. Bẵng đi một thời gian, mẹ con lại ra đi trong đêm tối lần thứ hai. Thành công. Lúc đó tôi còn nhỏ lắm nhưng đủ để nhớ những sự kiện mà lúc đó tôi coi rất dửng dưng. Thật nó ghê gớm đến rùng mình khi viết những dòng này: Kinh nghiệm qua vụ thảm sát Tết Mậu Thân 1968 ở Huế và thật nhiều vụ lẻ tẻ đây đó trên 4 vùng chiến thuật mà tôi đã chứng kiến khi tôi phục vụ thời Việt Nam Cộng Hòa. Nhiều lương dân chết oan ức bởi cộng sản chủ trương: ”Thà giết lầm mười người còn hơn tha lầm một người!!!”  
3-     NGÀY NAY HỌC TẬP – NGÀY MAI GIÚP ĐỜI: 20/07/1954 -30/4/1975.
–        Hiệp định Genève 20/07/1954: Mẹ con vừa vào tỉnh lỵ Đồng Hới khoảng đầu năm 1954: Lại khăn gói di cư vào Nam qua đường bộ từ Đồng Hới vượt cầu Hiền Lương tới Đông Hà, Quảng Trị.
–        Vài tuần sau từ Đông Hà vào tạm trú trong thành nội Huế ngay bên cạnh sông Hương. Tôi còn nhớ ở đó có nhiều căn nhà có súng đại bác đúc bằng đồng đen và nhà không có xây tường xung quanh.
–        Ở đây một thời gian, đoàn người được xe lửa chở từ Huế vào Đà Nẵng. Đây là lần đầu tiên được ngồi trên xe lửa. Không khác chi anh Mường anh Mán về thành như Việt Minh về Hà Nội 1954 và như Việt Cộng từ Bắc vào Nam 1975.
–        Tạm trú trong khuôn viên nhà thờ Chánh Toà Đà Nẵng một thời gian; chúng tôi lên Tàu chiến Pháp vào Nha Trang khoảng cuối năm 1954 đầu năm1955. Tàu neo ngoài khơi bãi biển Nha Trang khoảng giữa Bộ Tư Lịnh Quân Khu II và TTHL Hải Quân ở NhaTrang.
Từ đó tôi nhập học trường Thánh Tâm tại ngã Sáu Nhà Thờ Đá., trường Nam Nam Tiểu học Nha Trang lớp Nhì và lớp Nhất; Trung Học Võ Tánh từ Đệ Thất tới Đệ Nhất B (1957-1964). Tôi có rất nhiều kỷ niệm tại Nha Trang. Tôi gặp nhiều vị thầy Cô đáng kính tại ba trường vừa nêu: Cô Ngâm dạy Lớp Nhì, Thầy Khải dạy Lớp Nhất (Nam Tiểu học Nha Trang), Thầy Tuệ dạy Sử, Thầy Minh dạy Lý Hóa, Thầy Liễm dạy Toán (Cả ba Thầy dạy Đệ Nhất Võ Tánh) và Thầy Điểm, Giám Thị và nhiều nhiều nữa…Kỳ thi day go và tiết kiệm được nhiều tiền cho gia đình là thi đậu vào Lớp Đệ Thất Trường Công lập Trung Học Võ Tánh niên khóa 1957-1958.
–        Sau Nha Trang vào Sài gòn. Năm đầu vừa ghi danh học Trường Luật để chuẩn bị thi vào Học Viện Quốc Gia Hành Chánh và Đại học Khoa Học để chuẩn bị thi vào trường kỹ sư Phú Thọ ngành Công Chánh.
 
Cuối cùng quyết định vào Học Viện Quốc Gia Hành Chánh vì chịu ảnh hưởng, hình ảnh oai vệ của ông Tỉnh Trưởng Khánh hòa năm cuối lớp Nhất khi lên lãnh phần thưởng danh dự do ông ta trao. Tôi còn nhớ Tỉnh Trưởng tên là Nguyễn Trân.
 
Suốt thời gian ba năm tại Học Viện: Học trình mỗi năm đầy đủ 12 tháng, không nghỉ Hè. Năm thứ nhất học tại Học Viện. Năm thứ hai đi thực tập tại địa phương. Năm thứ ba trở về Học Viện: Học lý thuyết, chọn đề tài làm luận án; và tùy theo đề tài đã chọn, sinh viên về các Bộ Phủ liên quan vừa thực tập vừa thu thập tài liệu để hoàn thành luận án đã chọn. Điểm luận án chiếm hệ số khá cao khi tốt nghiệp. Tôi chọn “Hệ Thống Các Trường Tư Thục Tại Việt Nam” do Giáo sư Tạ Văn Tài đỡ đầu. Tiếc thay Ông bị động viên đi Thủ Đức. Luận văn của tôi do một vị giáo sư khác đọc. Tất nhiên bị bất lợi.
 
Sau khi tốt nghiệp Học Viện Quốc Gia Hành Chánh; Tổng Nha Công Vụ đến chủ tọa buổi chọn nhiệm sở phục vụ. Một danh sách dài các nhiệm sở có nhu cầu và một danh sách sinh viên tốt nghiệp. Sinh viên tốt nghiệp hạng cao nhất chọn trước và tiếp tục cho đến sinh viên cuối cùng. Tôi chọn một cơ quan tại Trung Ương và về trình diện cuối năm 1968…Vài tháng sau, đầu năm 1969 tham dự khóa 2/69 trừơng Sĩ Quan Trừ bị Thủ Đức. Trước khi vào Thủ Đức, sinh viên sĩ quan phải qua 6 tuần hay 8 tuần huấn nhục tại trung tâm huấn luyện tân binh ở Quang Trung. Tại đây tôi sợ nhất là Bò Hỏa Lực, chà láng và ngày nào cũng Cá Mối Dưa Leo làm chuẩn trong khẩu phần ăn. Ở Quân trường Thủ đức tôi sợ nhất là tập thể dục chạy vòng quanh Vũ Đình Trường. Chạy muốn tắt hơi. Cũng có sinh viên bị kiệt sức té xuống, chứ không phải nói đùa. Thích nhất lúc ra thực tập ngoài bãi tập, lén mua chè, mua nước…
 
Cực ơi là cực, nhất là những lúc ra tuyến ứng chiến đêm quanh trường gặp trời mưa. Nằm trong Ụ phòng thủ mà nước cứ rơi tí tách vào mình…. Cuối cùng cũng tốt nghiệp với lon chuẩn úy. Kiến thức hấp thụ được từ quân trường Thủ Đức và từ Học Viện Quốc Gia Hành Chánh góp phần rất lớn cho sự thành công sau này khi va chạm thực tế trong cuộc sống đời thường ở Việt Nam và cả ở Mỹ.
 Đó là” TỰ TIN”: Chìa khóa mở được tất cả cánh cửa, nếu muốn.
 Tôi tự đánh gía con người của tôi là kết tinh của khí thiêng sông núi từ những dãy núi trùng điệp, những con sông bao quanh làng, những cánh đồng lúa bao la ở hai hướng đông tây; Và cũng được kết tụ nền văn hóa, văn minh đa dạng tại thành thị thông qua chương trình giảng huấn từ những ngôi trường các cấp ở Nha Trang và Sài Gòn. Xuất phát từ gia đình nông dân, nguồn gốc của dân tộc và nhân bản. Trưởng thành từ các ngôi trường ở thành thị, nguồn gốc của khai phóng. Như vậy tôi đã được hấp thụ một nền giáo dục dân tộc, nhân bản và khai phóng ngay từ đầu đời. Và quyết tâm bảo vệ bằng mọi gía.
 
4-     GIẶC TỪ BẮC VÔ NAM; 30/04/1975 – 1984:
Thế rồi cộng sản ngoài Bắc phản bội những cam kết Hòa Ước Paris 1973 xua quân đánh cướp Miền Nam Việt Nam ngày 30 tháng 4 năm 1975. Từ đó một số quân cán chính Việt Nam Cộng Hòa và đồng bào vượt thoát ra khỏi nước. Tuyệt đại bộ phận kẹt lại. Quân Cán Chính bị tù tội. Đồng bào bị lưu đày đi vùng gọi là kinh tế mới nhưng thực chất là loại trại tù trá hình.
 Một thảm họa đã bắt đầu bao trùm cả Miền Bắc từ 1954 và như con siêu vi trùng ung thư lan rộng xuống Miền Nam 1975, khiến cả nước trở thành con bịnh ung thư. Việt Nam chết dần chết mòn bởi siêu vi trùng ung thư Bắc Kinh và Việt cộng.
 Những con bò vàng, ruồi xanh, như những con đĩa khát máu từ Bắc tràn vào nhân danh “Giải Phóng” phân tán khắp hang cùng ngõ hẻm, vơ vét tài sản, của cải, khí tài, qúy kim, vàng bạc không chừa một thứ gì; đưa về Bắc chia chác nhau giữa những đảng viên cao cấp trong cái gọi là Bộ Chính trị và Trung Ương Đảng. Mặc kệ cho “bộ đội cụ hồ “xác còn trải dài trên đường mòn hồ chí minh tới rừng sâu kênh lệch khắp 4 Vùng chiến thuật của Miền Nam Việt Nam.
 Phần tôi lúc đó tay trắng lại hoàn trắng tay. Bèn lên xích lô “đổi mồ hôi kiếm bát cơm” cho mình và gia đình.
 Không bao lâu sau cũng bị lùa vào trại tù tập trung. Lao động khổ sai bắt đầu từ 1975 đến 1982. Ngày ra khỏi trại tù thật không dám ngoảnh đầu nhìn lại. Vừa đi vừa chạy một phần cho sớm gặp lại vợ con, phần kia sợ “Nó” đổi ý bắt lại!!!
 Ra khỏi “trại tù nhỏ “gặp phải “trại tù lớn hơn” tại địa phương Phường Khóm.
 Suy đi nghĩ lại: Vượt biên là con đường duy nhất. Nhưng vàng không có; dù chỉ một tí ti ti như hạt cát. Làm sao đây? Khôn không bằng may; Chó ngáp phải ruồi!!! Số là: Một hôm vừa đạp xích lô về nghe vợ nói nhỏ “Cháu Đống từ Mỹ gửi cho bốn chỉ vàng và ngày mai có người đến nhà giao”. Đúng là được tin vui giữa mùa tuyệt vọng. Bên cạnh đó nhờ tiết kiệm từ tiền đạp xích lô và bán nước mát ở Chợ lớn, nên chúng tôi mua thêm được một chỉ. Tạm thời như ổn. Người ta vượt biên nhiều lượng; nhưng tôi chỉ cần năm chỉ. Chuyện lạ bốn phương!!!?
 Ông bà nói” Họa vô đơn chí, phước bất trùng lai”. Nhưng tôi lại gặp một điều may kế tiếp. Có người mốc ngoặc tôi vượt biên với hai điều kiện: Làm thuyền trưởng, và phải có hộ khẩu ở Sài Gòn/ TP HCM. Vì giấy tờ làm thuyền trưởng phải được Sở giao Thông Vận Tải cấp. Muốn thế phải có hộ khẩu. Thật tình cả hai điều kiện đều rất khó khăn với tôi. Nhưng tôi vẫn gật đầu chấp nhận. Đối với việc xin nhập hộ khẩu tại Saì Gòn/tphcm lúc đó qúa khó với dân thường chứ đừng nói chi đến” Hạng Tù nguy hiểm” mà giấy tha ghi rõ “Đương sự không được cư ngụ trong Thành phố…” Thế nhưng tôi có hộ khẩu nhờ một đồng nghiệp trước 1975 giúp. Đúng là ở hiền gặp lành. Còn điều kiện làm thuyền trưởng cũng lắm gian nan; Vì tôi gốc dân hành chánh, không biết tí gì về kỷ thuật hải hành…Làm sao đây?
 Một liều ba bảy cũng liều. Nhu cầu vượt biên để thoát ra khỏi trại tù lớn, thôi thúc tôi phải mưu sinh thoát hiểm. Không còn người bạn hải quân nào ở lại; tôi bèn đạp xích lô ra đường Lê Lợi và dọc theo những đường bày bán sách báo củ; Tìm mua tất cả sách liên quan tới ngành hàng hải. May qúa! Tôi vớ được cuốn tựa đề” Kỷ Thật Đi Biển”. Bản dịch từ một tác giả nước ngoài. Về nhà nằm đọc rất kỷ. Những điều trong sách cộng với kiến thức thụ huấn từ Trường Sĩ Quan Trừ Bị Thủ Đức về mưu sinh thoát hiểm, về địa hình, cách nhìn sao trời: Sao Mai, Sao Hôm, cách nhìn mây trên bầu trời, kể cả chim bay từ hướng nào đến hướng nào, cách xem địa bàn, chấm tọa độ, đo tốc độ Tàu chạy. Đó là nhiệm vụ thuyền trưởng bất đắc dĩ như tôi. Còn lái Tàu có tài công, sửa Tàu có thợ máy… Nhờ thế tôi rất tự tin khi đem Tàu ra khơi đúng vào thời gian tháng 12 năm 1984 lúc đài khí tượng loan báo: biển động cấp 11 hay 12. Tôi nghĩ chỉ có thời gian biển động mới hy vọng an toàn hơn vì không ai nghĩ – kể cả công an đường sông, công an đường biển- có thằng diên nào dám vượt biên lúc đó.
 Tôi còn nhớ trước khi vượt qua khỏi cửa biển Vũng Tàu, bác tài công hỏi tôi: Cho Tàu chạy bên trái hay bên phải. Tôi thoáng nghĩ, bên trái sẽ dễ bị nhận diện vì tương đối gần bờ biển Vũng Tàu đang có Tàu công an đường biển đậu và rất gần với các Tàu nước ngoài đang đậu, đèn sáng như ban ngày chờ được hướng dẫn vào cảng Saì Gòn. Còn bên phải xa xa trong bờ là chiếc Tàu sắt của công an đường biển, nỗi tiếng ông thần bắt vượt biện. Nếu lái về bên phải tức là phải đổi hướng chệch về phải; gây nghi ngờ, nếu có kẻ địch đang quan sát. Tôi quyết định cứ cho Tàu chạy bên trái; Không được đổi hướng, không giảm hay tăng tốc đô và cứ hướng về phía trước.
 Qua được cửa tử này coi như may mắn lắm. Nhưng ra ngoài khơi, gío lớn, con Tàu đu đưa như chiếc lá hay cái võng nằm. Khi sóng lớn đưa Tàu lên cao chót vót như đang trên đỉnh đồi nhìn xuống xung quanh nước đen ngòm: Khi đến chu kỳ Tàu bị sóng hạ xuống, Tàu nằm sâu xuống như trong thung lũng và xung quanh nước biển cao bao vây. Cứ thế mà con Tàu trồi lên tụt xuống gần cả ngày đầu tiên từ lúc ra khỏi cửa biển Vũng Tàu. Qua một đêm đến rạng sáng hôm sau, biển bỗng dưng yên lắng như trên mặt hồ. Gặp Tàu buôn to lớn. Nó nhìn qua ống dòm và bỏ đi. Tàu cứ thế chạy thêm một ngày nữa và qua đêm thứ hai, rạng sáng ngày thứ ba, tôi thấy chim biển bay trên trời…
 Rồi xa xa hình như có hòn đảo. Tôi dặn anh em quan sát thật kỷ xem có cờ VC hay không? Vì tôi e sợ có thể là Côn đảo. Cuối cùng đó là đảo Pula Laut của Indonesia. Đây là hòn đảo nhỏ nhất của Indo. gần Việt Nam nhất: Mục tiêu chúng tôi đã chấm trên bản đồ. Những bà con dưới hầm Tàu được từ từ cho lên phía trên sàn Tàu. Nỗi vui mừng hiện rõ trên nét mặt, ánh mắt của mọi người.
Qủa đúng là đi tìm sự sống trong sự chết.
 Bất ngờ là yếu tố căn bản trong binh pháp đề thành công. Và nhờ áp dụng yếu tố bất ngờ đã đem đến thành công. Tới được Ga Lăng/ Indonesia và đến Mỹ 1985 với căn cước tị nạn Cộng Sản Việt Nam. Đời tôi là một chuỗi dài vượt biên… Và thề không bao giờ trở lại cho đến khi không còn cờ máu trên mãnh đất hình chữ S thân thương.
 5-     CUỘC CHIẾN MỚI TẠI MỸ TỪ 1985:
Tôi gọi là cuộc chiến mới vì tôi vẫn quan niệm trong thế giới tư bản rất ư là tự do nên muốn sống còn, phải biết tự lực mưu sinh. Trong quân trường Thủ Đức tôi có học bài Mưu Sinh Thoát Hiểm. Tôi nghĩ như thế và áp dụng vào thực địa tại Mỹ. Luật đào thãi rất thực tế tại đây. Lười biếng, lừa lọc, lấy đầu heo nấu cháo, nịnh trên đạp dưới, mượn hoa cúng Phật, không thể tồn tại và vươn lên.
 Thế cho nên phải nghe, phải hiểu, phải viết, và nói được tiếng bản xứ là điều kiện tiên quyết, là điều kiện ắt có và đủ để tồn tại và vươn lên làm người tại xứ sở tạm dung này. Phải vừa đi học vừa đi làm. Dù lúc mới đến Mỹ 1985; lương giờ chỉ có $3.50/giờ. (Chưa khấu trừ/deduction gì cả). Vậy cũng đủ để nuôi bản thân và cứ vài tháng gửi một thùng quà về nuôi vợ con ở Việt Nam. Nghĩ lại không khác gì lúc làm một nông dân thời thơ ấu, mỗi sáng sớm ngồi trên lưng trâu lửng thững ra đồng; Thời nay hằng ngày “lái xe đi cày” kiếm tiền trả nợ áo cơm. Chỉ đổi mới từ con trâu ra chiếc xe hơi!!!
 Suy nghĩ như thế và quyết chí thực hiện.
 Tôi đã làm tại hảng điện tử Hitachi ở Anaheim, Hãng Tiện ở Santa Ana, Bịnh viện điên ở Costa Mesa, Sở Xã Hội County Los Angeles và cùng thời gian làm tại Los Angeles từ 1989-2011, tôi ghé học Real Estate Courses ở El Camino College, Torrance; Và hành nghề địa ốc bán thời gian từ 1991; Và full time từ 2012 cho tới nay sau khi nghỉ hưu 2011.
 Nhìn lại chặng đường đã qua; qủa thật ba chìm bảy nỗi chin long đong. Cứ mỗi lần té xuống thật đau; Gượng dậy. Đứng lên. Tiếp tục đi về phía trước. Chưa môt lần ngưng nghỉ. Ngưng nghỉ đồng nghĩa với đầu hàng.
 
Cũng thế; Cuộc chiến chống chế độ hung tàn, bất nhân bất nghĩa, ác với dân, hèn với giặc hiện đang do đảng cộng sản Việt nam giành độc quyền lãnh đạo, vẫn đang tiếp tục không ngưng nghỉ cho đến thắng lợi cuối cùng; Dù phải kéo dài tới thế hệ con cháu chúng ta. Có như thế chúng ta mới bảo vệ được những gía trị dân tộc, nhân bản và khai phóng; Đó là bảo vệ được Việt Nam
 Thật vậy, Tổ Tiên mình nói:
” Cái nhà là nhà của ta
Ông Cố Ông Cha lập ra,
Các con hãy gìn giữ lấy,
Muôn năm với nước non nhà”
 Và:
“Công Cha như núi Thái Sơn,
Nghĩa Mẹ như nước trong nguồn chảy ra,
Một lòng thờ Mẹ, kính Cha cho tròn chữ hiếu mới là đạo con’’
 
Kính chúc bình an và ấm no đến với mọi gia đình, mọi người và đặc biệt đồng bào thân thương ở Việt nam.
 cao xuân thức, mùa Đông 2016.
Bộ sưu tập | Bài này đã được đăng trong hoi ky, tho và được gắn thẻ . Đánh dấu đường dẫn tĩnh.

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s